<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>T.Van &#187; 11</title>
	<atom:link href="http://t-van.net/wordpress/category/thang11/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://t-van.net/wordpress</link>
	<description>Trang Nha T.Van</description>
	<lastBuildDate>Fri, 03 Sep 2010 04:56:07 +0000</lastBuildDate>
	<generator>http://wordpress.org/?v=2.8</generator>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
			<item>
		<title>20 năm bức tường &#244; nhục sụp đổ</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2009/11/20-nam-b%e1%bb%a9c-t%c6%b0%e1%bb%9dng-nh%e1%bb%a5c-s%e1%bb%a5p-d%e1%bb%95/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2009/11/20-nam-b%e1%bb%a9c-t%c6%b0%e1%bb%9dng-nh%e1%bb%a5c-s%e1%bb%a5p-d%e1%bb%95/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 10 Nov 2009 04:47:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[11]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 11 - 2009]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2009/11/20-nam-b%e1%bb%a9c-t%c6%b0%e1%bb%9dng-nh%e1%bb%a5c-s%e1%bb%a5p-d%e1%bb%95/1676/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2009/11/20-nam-b%e1%bb%a9c-t%c6%b0%e1%bb%9dng-nh%e1%bb%a5c-s%e1%bb%a5p-d%e1%bb%95/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/11/clip_image002_thumb3-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image002" title="clip_image002" /></a>Nhưng có lẽ, sự có mặt của bà thủ tướng đương nhiệm của nước Đức Angela Merkel mang một ý nghĩa đặc biệt nhất. 20 năm trước, bà là 1 người trong dòng người đông đảo từ Đông Đức vượt qua bức tường Berlin, đặt chân lên mảnh đất tự do mới hôm qua chỉ cách một bức tường. Người phụ nữ Đông Đức ấy, sau bao nhiêu năm bị kềm kẹp trong guồng máy độc tài cộng sản, đã thốt lên “ trước khi niềm vui tự do ập đến, đã có biết bao nhiêu con nguời chịu đau khổ “.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/11/clip_image0023.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 0px 15px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image002" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/11/clip_image002_thumb3.jpg" border="0" alt="clip_image002" width="244" height="154" align="left" /></a></p>
<p><strong><em>Những quân cờ Domino làm bằng foam, mỗi quân cao 2.5 m, rộng 1.0m, dầy .40 m, nặng khỏang 20k,được trình bày dưới hình thức tác phẩm nghệ thuật dựng dọc theo lằn vết bức tường Berlin 20 năm trước.</em></strong></p>
<p>Kỷ niệm 20 năm ngày bức tường Berlin sụp đổ, 09-11-2009 ,đêm trước ngày lễ chính thức sẽ được tổ chức rầm rộ, hôm thứ Hai 08-11-2009, những nhân vật lịch sử đã tụ họp nhau lại tại địa điểm lịch sử 20 năm xưa : Cổng Brandenburger Tor. Những M. Gorbachov – nhân vật lừng danh của thời kỳ đổi mới chấm dứt cuộc chiến tranh lạnh, Lech Walesa – cựu thủ lãnh công đòan Ba lan, Helmut Kohl – vị thủ tướng đầu tiên của nước Đức thống nhất .</p>
<p><span id="more-1676"></span></p>
<p>Nhưng có lẽ, sự có mặt của bà thủ tướng đương nhiệm của nước Đức Angela Merkel mang một ý nghĩa đặc biệt nhất. 20 năm trước, bà là 1 người trong dòng người đông đảo từ Đông Đức vượt qua bức tường Berlin, đặt chân lên mảnh đất tự do mới hôm qua chỉ cách một bức tường. Người phụ nữ Đông Đức ấy, sau bao nhiêu năm bị kềm kẹp trong guồng máy độc tài cộng sản, đã thốt lên “ trước khi niềm vui tự do ập đến, đã có biết bao nhiêu con nguời chịu đau khổ “.</p>
<p>Bà là một trong những người đau khổ đó. Bức tường đã sụp đổ. Chế độ độc tài đã sụp đổ. 20 năm sau, đứng giữa mảnh đất lịch sử, ngổn ngang những hồi ức, người ta không thể không cảm hòai.</p>
<p>Thời gian 20 năm đâu đã đủ dài, thế mà bao nhiêu điều không thể xẩy ra, đã xẩy ra. Người phụ nữ trong đám đông 4 triệu người Đông Đức chỉ trong thời gian 72 tiếng đồng hồ của tháng 11 năm ấy từ Đông Đức lạc hậu bước chân qua viếng thăm Tây Đức tân tiến đã lặng người khi nhìn thấy sự phát triển vượt bực của một nửa đất nước “ bị bọn tư bản kềm kẹp”. Có lẽ đó cũng là tâm trạng của nhiều người miền Bắc Việt Nam, sau khi chiến tranh chấm dứt, đã có dịp ghé thăm miền Nam sau hơn 20 năm “ dưới sự thống trị của Mỹ Ngụy “ .</p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/11/clip_image0042.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image004" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/11/clip_image004_thumb2.jpg" border="0" alt="clip_image004" width="409" height="257" /></a></p>
<p>Chỉ một năm sau, nước Đức đã thống nhất. Bức tường Berlin dài 155 kilômét đã bị hạ xuống hòan tòan. Thay thế vào đó, là bức tường lòng ( Wall in the Mind ). Người Đông Đức cảm thấy mình bị xem là kẻ nhìn lên so sánh với người Tây Đức. Những tiện nghi bình thường trong đời sống hàng ngày của người Tây Đức lại là xa xỉ phẩm trong đời sống người Đông Đức. Nhiều người Đông Đức còn xem việc thống nhất nước Đức đơn giản là sự sát nhập Đông Đức vào Tây Đức. Người Tây Đức, sau niềm vui đòan tụ ban đầu , là một chuỗi những chia sẻ kiểu “ miền Bắc nhận Hàng “ của Việt nam ( vế thứ hai trong câu đồng dao quen thuộc của Việt Nam sau 1975 “ miền Nam nhận Họ, miền Bắc nhận Hàng “ ). Dần dà, sự chia sẻ biến niềm vui thành gánh nặng ( cả tinh thần lẫn vật chất ) cho người phía Tây.</p>
<p>Từ bấy đến nay, thời gian đã xuất sắc hòan thành nhiệm vụ. Cuộc sống ngày một thăng hoa, nhất là về vật chất, sự no đủ được chia đều cho mọi người qua một định chế chính trị tạo cơ hội cho mọi người cơ hội làm việc để tồn tại và đóng góp. Và nhất là cơ hội được vươn lên. The Wall of Mind tự nó đã dần dần tan biến đi. Người phụ nữ Đông Đức 20 năm trước, nay là vị Thủ Tướng của nước Đức thống nhất.</p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/11/clip_image006.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image006" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/11/clip_image006_thumb.jpg" border="0" alt="clip_image006" width="384" height="268" /></a></p>
<p><strong><em>Bà thủ tướng Đức </em></strong><strong><em>Angela Merkel</em></strong><strong><em> đang ký chữ ký kỷ niệm trên một mảnh còn lại của bức tường nhân lễ kỷ niệm 20 năm</em></strong></p>
<p>Năm 1975, nước Việt Nam thống nhất . Con sông Bến Hải ngăn chia 2 miền Nam Bắc tuy không bị lấp đầy, nhưng ai cũng hiểu sẽ không còn cách chia dân tộc nữa. Nhưng bức tường lòng ngăn chia kẻ Nam người Bắc lại sừng sững xuất hiện, với khỏang cách ngày chỉ rộng thêm chứ không hẹp lại. 20 năm sau ngày đất nước thống nhất, với nguyên tắc chia đều sự nghèo khó, cả nước đi giật lùi. Chỉ đến khi Đảng cầm quyền giật mình nhìn lại, ý thức rằng phải đổi mới hay mất quyền lãnh đạo, đất nước mới tạm không đi giật lùi.</p>
<p>Chỉ một thời gian ngắn thóat khỏi ách Cộng sản, người dân Đông Đức đã chễm chệ ngồi đằng sau tay lái chiếc BMW bóng lộn, thay cho chiếc Trabant xấu xí ạch đụi ( Good-bye Trabant *, Hello BMW ).</p>
<p>Sau 20 năm cả nước Việt Nam tròng vai đeo vào ách Cộng sản, bữa cơm gạo trắng có cá có thịt đã nhường chỗ cho Bo Bo với nước muối. Những chiếc xe gắn máy đủ kiểu đã biến mất, thay vào đó là những chiếc xe đạp đủ lọai thô sơ.</p>
<p>Ngày nay, 20 năm sau ngày bức tường Berlin sụp đổ, 35 năm sau ngày Việt nam thống nhất, nhiều bài học đã được rút ra. Chủ nghĩa cộng sản hết đường tồn tại. Nhưng vẫn còn những quốc gia bất hạnh. Trong đó, Việt Nam là một. Thực ra, ở những quốc gia còn tự nhận mình đi theo con đường Cộng sản thì đó cũng là thứ cộng sản chỉ còn cái tên giả hình. Nó đã vất đi những điều tốt đẹp nhất ( nếu có ) của chủ nghĩa Cộng sản nguyên thủy để giữ lại  những điều tệ hại nhất pha trộn với chủ nghĩa tư bản sơ khai, mà mục đích đầu tiên là củng cố sự độc quyền lãnh đạo, sau đó mới đến phúc lợi của tòan dân.</p>
<p>Với một thế hệ người dân Đức, sự kiện bức tường Berlin sụp đổ 20 năm trước đã là sự kiện lớn nhất trong lịch sử mà họ sẽ không bao giờ quên. Với thế giới, nhất là những quốc gia cựu cộng sản Đông Âu, sự kiện bức tường Berlin cũng mang một ý nghĩa trọng đại không kém. Sự sụp đổ của bức tường là sự sụp đổ của một quân bài Domino, sau đó sẽ là một lọat những quân bài Domino khác. Những gì xẩy ra sau đó chỉ là sự đương nhiên.</p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/11/clip_image007.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image007" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/11/clip_image007_thumb.jpg" border="0" alt="clip_image007" width="362" height="272" /></a></p>
<p><strong><em>Ông Lech Walesa, cựu thủ lãnh Công Đòan Đòan Kết Ba Lan đang xô ngã quân bài Domino đầu tiên trong số 1000 quân bài tượng trưng trong buổi lễ kỷ niệm 20 năm bức tường Berlin sụp đổ</em></strong> (Ảnh : talawas)</p>
<p>20 năm, nhìn lại sự kiện bức tường Berlin để xót xa cho thân phận đất nước Việt Nam.</p>
<p>Hãy xem những bức hình đối chiếu sau đây, để thấy 20 năm, chỉ 20 năm thôi, người Đức đã bước những bước nhẩy vọt như thế nào.</p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/11/clip_image008.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image008" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/11/clip_image008_thumb.jpg" border="0" alt="clip_image008" width="404" height="404" /></a></p>
<p><strong><em>Lối vào cổng Brandenburg Gate &#8211; Trên : June 6, 1989; Dưới : 10-2009</em></strong></p>
<p><strong><em> </em></strong></p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/11/clip_image009.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image009" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/11/clip_image009_thumb.jpg" border="0" alt="clip_image009" width="489" height="489" /></a><strong><em> </em></strong></p>
<p><strong><em> </em></strong></p>
<p><strong><em>Trên :Trạm kiểm sóat Charlie tháng 6-1968, phân chia ranh giới Đông ( khu vực Xô-Viết)- Tây ( khu vực Hoa Kỳ )</em></strong></p>
<p><strong><em>Dưới : ngày nay</em></strong></p>
<p><strong><em> </em></strong></p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/11/clip_image010.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image010" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/11/clip_image010_thumb.jpg" border="0" alt="clip_image010" width="468" height="468" /></a><strong><em> </em></strong></p>
<p><strong><em>Invalidenstrasse , Trên : November 9, 1989, </em></strong></p>
<p><strong><em>Dưới : July 21, 2009</em></strong></p>
<p><strong><em> </em></strong></p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/11/clip_image011.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image011" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/11/clip_image011_thumb.jpg" border="0" alt="clip_image011" width="455" height="455" /></a><strong><em> </em></strong></p>
<p><strong><em>Trên: người dân Tây Bá Linh chào đón dân Đông Bá Linh vượt bức tường và trạm kiểm sóat ngày 9-11-1989.</em></strong></p>
<p><strong><em>Dưới : cùng vị trí ấy ngày nay</em></strong></p>
<p><strong><em>_________________________________</em></strong></p>
<p><em>* Trabant</em><em> là tên chiếc xe được chế tạo ở Đông Đức từ năm 1957.Năm 1991, Trabant được chính thức khai tử. Sau biến cố bức tường Berlin tháng 11 năm 1989, chiếc xe Trabant được coi là biểu tượng cho sự sụp đổ của nhà nước cộng sản Đông Đức và của cả hệ thống các nước cộng sản trên </em><em>th</em><strong><em><img class="alignleft size-full wp-image-1680" title="180px-Bundesarchiv_Bild_183-B0503-0015-001,_Sachsenring_Trabant_601" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/11/180px-Bundesarchiv_Bild_183-B0503-0015-001_Sachsenring_Trabant_601.jpg" alt="180px-Bundesarchiv_Bild_183-B0503-0015-001,_Sachsenring_Trabant_601" width="180" height="131" /></em></strong><em>ế giới, chỉ vì nhiều người dân Đông Đức đã lái chiếc xe này qua thăm Tây Đức .<br />
</em></p>
<p><em>© T.Vấn 2009</em></p>
<p><img src="file:///C:/Users/VANTRU%7E1/AppData/Local/Temp/moz-screenshot.png" alt="" /></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2009/11/20-nam-b%e1%bb%a9c-t%c6%b0%e1%bb%9dng-nh%e1%bb%a5c-s%e1%bb%a5p-d%e1%bb%95/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Đời người sống đến bao l&#226;u ?</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2009/11/d%e1%bb%9di-ng%c6%b0%e1%bb%9di-s%e1%bb%91ng-d%e1%ba%bfn-bao-lu/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2009/11/d%e1%bb%9di-ng%c6%b0%e1%bb%9di-s%e1%bb%91ng-d%e1%ba%bfn-bao-lu/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 02 Nov 2009 15:47:39 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[11]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 11 - 2009]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2009/11/d%e1%bb%9di-ng%c6%b0%e1%bb%9di-s%e1%bb%91ng-d%e1%ba%bfn-bao-lu/1639/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2009/11/d%e1%bb%9di-ng%c6%b0%e1%bb%9di-s%e1%bb%91ng-d%e1%ba%bfn-bao-lu/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/11/clip_image002_thumb1-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image002" title="clip_image002" /></a><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/11/clip_image0021.jpg"></a>
1.
“ Đời sống bắt đầu bằng mỗi buổi sáng thức dậy, bất kể ngày hôm qua chúng ta đã thành công hay thất bại hay cứ luẩn quẩn loay hoay cho qua một ngày.Đời sống là nơi người ta đến để học, chứ không phải để cố quên đi những gì đã kinh qua.
Đời sống là một tạo phẩm của Thượng Đế, và nếu bạn được cơ may biết đến Ngài, hãy đừng cố giải mã những mê cung của trời đất. Hãy nhìn xung quanh , bạn sẽ thấy Ngài đang nô đùa với con trẻ của bạn. Hãy ngước nhìn bầu trời, bạn sẽ thấy Ngài đang dạo bước trong mây, đang giang tay ra giữa sấm sét và đang bước xuống giữa cơn mưa. Nhìn những bông hoa, bạn sẽ thấy Ngài đang mỉm cười, rồi Ngài vươn mình lên, vẫy tay với[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/11/clip_image0021.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 0px 15px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image002" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/11/clip_image002_thumb1.jpg" border="0" alt="clip_image002" width="187" height="122" align="left" /></a></p>
<p><strong>1.</strong></p>
<p><em>“ Đời sống bắt đầu bằng mỗi buổi sáng thức dậy, bất kể ngày hôm qua chúng ta đã thành công hay thất bại hay cứ luẩn quẩn loay hoay cho qua một ngày.Đời sống là nơi người ta đến để học, chứ không phải để cố quên đi những gì đã kinh qua.</em></p>
<p><em>Đời sống là một tạo phẩm của Thượng Đế, và nếu bạn được cơ may biết đến Ngài, hãy đừng cố giải mã những mê cung của trời đất. Hãy nhìn xung quanh , bạn sẽ thấy Ngài đang nô đùa với con trẻ của bạn. <span id="more-1639"></span>Hãy ngước nhìn bầu trời, bạn sẽ thấy Ngài đang dạo bước trong mây, đang giang tay ra giữa sấm sét và đang bước xuống giữa cơn mưa. Nhìn những bông hoa, bạn sẽ thấy Ngài đang mỉm cười, rồi Ngài vươn mình lên, vẫy tay với bạn khi ở trên những đỉnh cây cao.</em></p>
<p><em>Đời sống là vị thầy vĩ đại của sự thật. Sự thật của người này chưa chắc đã là sự thật của người kia. Sự thật của một quốc gia này có thể là sự gian dối nơi một quốc gia khác.</em></p>
<p><em>Đời sống ngắn ngủi nhưng những hệ quả của việc chúng ta làm, điều chúng ta nói sẽ còn đó mãi mãi. Thế giới rất cần nhiều hơn nữa tinh thần bằng hữu và sự thứ tha. Sức mạnh của sự dịu dàng vẫn còn là điều hiếm thấy.</em></p>
<p><em>Hãy nhớ rằng độ dài của đời sống không phải được đo bằng ngày tháng, mà chính bằng những điều tốt đẹp đời sống ấy mang lại cho đồng lọai. Một cuộc sống trống rỗng vẫn được coi là ngắn ngủi dù nó kéo dài hàng thế kỷ.</em></p>
<p><em>Có những điều thật tốt đẹp, thật to lớn trong tất cả chúng ta nếu như chúng ta biết mở mắt và nhìn quanh.Và vẫn luôn có sự hiện hữu của những điều xấu xa. Nhưng những điều xấu xa không bao giờ chiến thắng. </em></p>
<p><em>Sẽ đến một ngày ánh sáng, sự thật, sự công chính và những điều tốt đẹp thống trị thế giới, đẩy lùi sự độc ác và những thứ xấu xa vào bóng tối mãi mãi.</em></p>
<p><em>Đời sống tự nó sẽ dạy chúng ta biết chuẩn bị đón nhận thứ tương lai mà chúng ta mong đợi và cuộc hành trình dắt chúng ta vào thế giới mới lạ ấy..</em></p>
<p><em>Mọi thứ trên đời này đều tuyệt vời. Và những gì tuyệt vời phải là công chính.</em></p>
<p><em>Lẽ huyền bí của trời đất mãi mãi huyền bí. Đấng tạo Hóa sẽ là người duy nhất mở toang mọi cánh cửa huyền bí của vũ trụ.</em></p>
<p><em>Thế giới này chẳng phải là một nhà tù, cũng không phải là nơi người ta thư giãn, hay đúng hơn đó là nơi người ta phải nghe những mệnh lệnh và sống có kỷ luật..</em></p>
<p><em>Đối với con người, thế giới này là nơi tốt đẹp nhất để sống.”</em></p>
<p>( Walter Breuning – bài diễn văn đọc nhân dịp sinh thứ 113 tại Great Falls, Montana – Theo : The Great Falls Tribune . T.Vấn chuyển ngữ)</p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/11/clip_image004.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image004" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/11/clip_image004_thumb.jpg" border="0" alt="clip_image004" width="422" height="290" /></a></p>
<p><em>Walter Breuning trong lần sinh nhật thứ 113 hôm 21 tháng 9 năm 2009</em></p>
<p>Đó là bức Thông Điệp gởi đến tòan thế giới của Người già nhất nhân lọai , Walter Breuning, trong ngày sinh nhật thứ 113 hôm 21 tháng 9 năm 2009 vừa qua tại thành phố Great Falls, tiểu bang Montana. Ông sinh ngày 21 tháng 9 năm 1896. Đó là một thời điểm xa lắc, vượt quá chu kỳ 100 năm của cuộc nhân sinh mà người ta có thể hình dung được. Năm 1986 , tức là chỉ 2 năm sau Thế Vận Hội Olympic ( hiện đại ) đầu tiên được khai diễn ( 1894 tại Hy Lạp ), 1 năm sau khi Quang tuyến X ( X-Ray ) được phát minh ( 1895 do Giáo sư người Đức Wilhelm Conrad Roentgen ). Cũng năm đó, 1896, tốc độ tối đa trên đường phố đô thị cho người lái xe là 2mph (2 mile-per-hour), vượt quá tốc độ ấy là sẽ bị phạt (*). Khi thế chiến thứ nhất bùng nổ ( 1914), Walter chưa đủ tuổi để nhập ngũ, nhưng đến thời đệ nhị thế chiến ( 1939 ) thì ông lại quá tuổi phải động viên. Từ bấy đến nay, bao nhiêu nước đã chảy dưới chân chiếc cầu Ryan Island ở Great Falls, Montana, người của trăm năm Walter Breuning vẫn còn đứng đó, mắt đăm chiêu nhìn về quá khứ hơn 100 năm đời mình mà suy ngẫm những tinh chất cô đọng nhất của đời sống.</p>
<p>Được hỏi về bí quyết sống lâu, ông Walter Breuning trả lời : “ <em>Tôi cho rằng các bạn nên rời khỏi bàn ăn dù vẫn còn cảm thấy đói “.</em></p>
<p>Cao 5 foot 8, nặng 125 pounds, từ 35 năm nay mỗi ngày ông chỉ ăn có 2 bữa : buổi điểm tâm thật no và bữa ăn trưa bình thường. Và ông không ăn tối. Thay vào đó, ông uống nhiều nước và ăn nhiều trái cây.</p>
<p>Ông Breuning cũng nói thêm rằng chịu khó làm việc siêng năng cũng giúp cho cơ thể khỏe mạnh. Ông làm 2 jobs cho đến năm 66 tuổi và vẫn tiếp tục làm việc cho đến năm 99 tuổi. Từ đó ông nghỉ ngơi vì mắt yếu dần, không đọc chữ được nữa. Để giữ cho đầu óc tiếp tục họat động, ông bỏ nhiều thì giờ nghe radio.</p>
<p>113 tuổi, 113 năm làm người. 113 năm biết bao những biến cố, những đổi thay, ông vẫn sống được, vẫn chịu đựng được những hồn ma quá khứ, thì quả là một sự thử thách.</p>
<p>Tôi không nghĩ những người cùng thời ông gìa còn sống đến hôm nay. Thọ 113 tuổi như ông rất hãn hữu. Ông có cô đơn không khi nhìn quanh ( may quá mắt ông đã mờ ) chẳng có ai ngoài “ lũ trẻ ranh “ cách biệt ông từ 3 đến 4 thế hệ ?</p>
<p>Người ta nói đời người như cuốn sách. Có lẽ đời ông Walter là cuốn sách dầy nhất . Nhưng độ dày mỏng của một quyển sách không nói được giá trị cao hay thấp của những gì được viết trong đó. May thay, trong ngày sinh nhật thứ 113, người gìa nhất thế giới đã cô đọng quyển sách đời mình chỉ trong một trang giấy với câu cuối cùng đáng ghi nhớ : “<em>Đối với con người, thế giới này là nơi tốt đẹp nhất để sống.”</em></p>
<p><strong><em>2.</em></strong></p>
<p><em>Kinh Tứ Thập Nhị Chương có thuật chuyện Đức Phật hỏi các thầy Tỷ kheo:</em></p>
<p><em>- Đời người sống bao lâu?</em></p>
<p><em>Một thầy đáp:</em></p>
<p><em>- Trong vài ngày.</em></p>
<p><em>Đức Phật lắc đầu bảo:</em></p>
<p><em>- Ông chưa hiểu đạo.</em></p>
<p><em>Một vị khác nói:</em></p>
<p><em>- Trong khoảng một bữa ăn.</em></p>
<p><em>Đức Phật cũng lắc đầu bảo:</em></p>
<p><em>- Ông chưa hiểu đạo.</em></p>
<p><em>Một vị khác nói:</em></p>
<p><em>- Đời người trong hơi thở.</em></p>
<h5><em>Đức Phật khen vị ấy rằng:</em><em> </em></h5>
<h5><em>- Hay thay, ông mới là người hiểu đạo.</em></h5>
<p>( Phan Minh Đức – báo Giác Ngộ số 482- trích lại từ Phatphapdaithua.com )</p>
<p>Bài giảng của Đức Phật được hiểu theo lối suy nghĩ của người thường hàm nghĩa đời người ngắn ngủi như một hơi thở. Vạn vật có đó, mất đó. Cả thế gian này cũng vậy. Hiểu thế để con người biết sống cho trọn vẹn hơn, hướng về tha nhân nhiều hơn, và để bớt bi lụy mỗi khi đối diện với sự mất mát ( người thân, của cải, danh vọng . . .) và đồng thời sẵn sàng đón nhận cái chết không thể tránh khỏi sẽ đến với mình vào bất cứ lúc nào.</p>
<p>Khi ấy, mọi sự đều trở nên vô nghĩa. Kể cả cuộc sống 113 năm của người già nhất thế giới. Không ai biết ông Walter sẽ sống đến bao nhiêu tuổi, nhưng chắc chắn sẽ có một ngày cả thế giới nghe đến cái tin ông qua đời. Vào cái ngày ông Walter chết, thế giới tuyệt vời mà ông phải giã biệt vẫn cứ tuyệt vời như nó đã từng tuyệt vời trong 113 năm ( hay hơn nữa ) ông làm người. Liệu thế giới xa lạ mà ông sẽ bước vào nó có tuyệt vời như thế giới mà ông vừa chia tay không ? không ai biết được, kể cả ông già 113 tuổi tích lũy những khôn ngoan của con người.</p>
<p><em>Vì thế, ông bảo, </em><em>thế giới này là nơi tốt đẹp nhất để sống. Và như đức Phật đã dậy, đời người chỉ trong một hơi thở. </em></p>
<p><strong>3.</strong></p>
<p>Như ông Walter đã bảo : <em>Đời sống bắt đầu bằng mỗi buổi sáng thức dậy, bất kể ngày hôm qua chúng ta đã thành công hay thất bại hay cứ luẩn quẩn loay hoay cho qua một ngày.</em></p>
<p>Hôm nay, tôi học được một điều mới. Mỗi ngày tôi đều có thể bắt đầu lại được đời mình. Và qua những lời dậy của Đức Phật, tôi cũng hiểu được rằng đời người ngắn như hơi thở.</p>
<p>Cho nên, tôi sẽ trân quý nó từng khỏanh khắc mà tôi còn nhận biết đó là đời sống. Ngay đến người sống qua 3 thế kỷ ( 19, 20 và 21 ) Walter Breuning cũng bảo rằng độ dài của đời sống không đo bằng năm tháng mà bằng những điều tốt đẹp mà đời sống ấy đem đến cho đồng lọai. Tôi bỗng nhớ lại mình của mấy chục năm về trước. Khi cùng bạn bè chào từ gĩa ngôi trường ở một thành phố miền cao, tôi đã tự hứa với lòng mình rằng, nếu tôi không làm được điều gì vinh danh cho trường mẹ, thì cũng sẽ cố gắng hết sức để không làm bất cứ điều gì xấu hổ cho trường mẹ.</p>
<p>Ngày hôm nay, sau khi đã có mặt trong đời sống này 60 năm, tôi không thể quả quyết rằng tôi đã làm được gì tốt đẹp cho đồng lọai. Nhưng liệu tôi có thể tự an ủi mình rằng, thôi thì ít nhất mình cũng đã không làm hại bất cứ ai không ?</p>
<p>Tôi không nghĩ rằng mình sẽ dễ dàng tìm được câu trả lời thỏa đáng.</p>
<p>T.Vấn</p>
<p>*<em>Ở nước Anh, từ năm 1865 cho đến năm 1896, những chiếc locomotives ( tiền thân của những chiếc automobiles hiện đại sau này ) khi di chuyển trên đường lộ phải có một người cầm cờ đỏ đi bộ phía trước và giới hạn ở tốc độ 2 dặm một giờ ( 2/MPH) trong đô thị, khu cư dân và 4 dặm một giờ ở những nơi khác. Do đó, đạo luật này có tên là Red Flag Act ban hành năm 1865. Theo đó, người cầm cờ đỏ đi trước chiếc xe khỏang 50 m, báo cho khách bộ hành, xe ngựa phải để ý tránh đường cho chiếc xe tự động đang chạy tới. Ngày 28 tháng 1 năm 1896, Walter Arnold , một người Anh ở thành phố East Peckham, Kent đã trở thành người tài xế đầu tiên ở nước Anh đã bị phạt vì chạy xe quá tốc độ. Trên đường với giới hạn 2/MPH, ông đã chạy 8/MPH. Kết quả, 1 viên cảnh sát rượt theo Arnold bằng xe đạp và biên phạt ông này 1 bảng Anh. Cũng từ đó, các giới chức thành phố biết được một cách mới để tăng thêm thu nhập cho ngân sách.</em></p>
<p><em>© T.Vấn 2009</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2009/11/d%e1%bb%9di-ng%c6%b0%e1%bb%9di-s%e1%bb%91ng-d%e1%ba%bfn-bao-lu/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Ch&#250;t vụn vỡ cuối Thu</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2008/11/chutvun/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2008/11/chutvun/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 28 Nov 2008 15:08:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[11]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 11 - 2008]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2008/11/cht-v%e1%bb%a5n-v%e1%bb%a1-cu%e1%bb%91i-thu/1076/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2008/11/chutvun/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb43-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image001" title="clip_image001" /></a><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00145.jpg"></a>
Mầm thơ ô trọc, từ nguyên thủy
Tịch mịch âm dương, một cõi người
 ( Ngọc Phi)
1.
Người ta không thể chỉ sống bằng những hòai niệm, dù người ta ấy là những thân phận lưu vong, những cái cây bị trốc gốc, đi quẩn đi quanh cũng lại chạm phải bốn bức tường của hồi ức. Nhưng khi thời tiết trở mùa, khi những chiếc lá vàng đang thi nhau rơi rụng báo hiệu thu sắp tàn và ngọn gió đã mang theo với nó cái hơi lạnh đến rùng mình thì những hoài niệm lại có lý do chính đáng để chiếm hữu những khoảnh khắc cô tịch của đêm khuya, làm đắng thêm vị chát của cốc rượu trăn trở mỗi khi nhìn những mùa của đất trời chuyền tay nhau quyền thống trị vạn vật muôn loài, như những viên cai ngục lạnh[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00145.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 0px 15px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image001" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb43.jpg" border="0" alt="clip_image001" width="244" height="184" align="left" /></a></p>
<p><em>Mầm thơ ô trọc, từ nguyên thủy</em></p>
<p><em>Tịch mịch âm dương, một cõi người</em></p>
<p><em> ( Ngọc Phi)</em></p>
<p><strong>1.</strong></p>
<p>Người ta không thể chỉ sống bằng những hòai niệm, dù người ta ấy là những thân phận lưu vong, những cái cây bị trốc gốc, đi quẩn đi quanh cũng lại chạm phải bốn bức tường của hồi ức. Nhưng khi thời tiết trở mùa, khi những chiếc lá vàng đang thi nhau rơi rụng báo hiệu thu sắp tàn và ngọn gió đã mang theo với nó cái hơi lạnh đến rùng mình thì những hoài niệm lại có lý do chính đáng để chiếm hữu những khoảnh khắc cô tịch của đêm khuya, làm đắng thêm vị chát của cốc rượu trăn trở mỗi khi nhìn những mùa của đất trời chuyền tay nhau quyền thống trị vạn vật muôn loài, như những viên cai ngục lạnh lùng trao và nhận đủ số lũ tù nhân có mặt trong những lần họp giao ca.</p>
<p>Những ngày cuối cùng của tháng Mười Một. Cũng là khi chiếc lá cuối cùng lìa khỏi cành. Thành phố ướt nhẹp vì những cơn mưa thu lún phún. Lạ lùng thay, trong cái ảm đạm buồn hiu của thời tiết tháng Mười Một, thứ thời tiết mà những người trẻ cứ ghét cay ghét đắng, tôi lại thấy mình thèm sống như chưa bao giờ được sống. Dù có lúc, nửa đêm ngồi mắt nhắm mắt mở bên bàn phím, đưa tay vuốt ve mái tóc nửa bạc nửa nâu xỉn mà tự hỏi : <em>Ta đã làm gì đời ta từ bấy lâu ? </em>Hay có lẽ vì hình ảnh tấm thân gầy đét chỉ có xương và da của một người thân nằm chờ chết trên giường bệnh khiến tôi chạnh lòng nghĩ đến chính mình, đến giây phút mình cũng sẽ nằm như thế. Bất lực, tuyệt vọng, sợ hãi. Càng đi gần hết con đường ( đời ), càng mong cho nó dài thêm ra. Âu cũng là cái lẽ thường tình của con người. Ham sống, sợ chết. Dù có lúc muốn bỏ quách cả trần gian mà đi.</p>
<p>Rồi thì chiếc lá nào cũng phải lìa cành. Rồi thì ai cũng phải ra đi. Dù có tha thiết yêu thương trần gian điên dại này cách mấy. Chia tay chẳng phải là đặc tính của mùa thu đó sao ? Hình như tôi đã nén lòng để không thốt ra điều buồn bã ấy vào tai người bệnh.</p>
<p><em>Em ra đi mùa thu. </em></p>
<p><em>Mùa thu không trở lại. </em></p>
<p><em>Lá úa khóc mùa thu. </em></p>
<p><em>Đo sầu ngập tim tôi. </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>( Phạm Trọng – Em ra đi mùa thu ).</em></p>
<p><em></em>Câu hát cũ dưng không chẩy về chỗ trũng nhất trong tâm hồn tưởng chừng đã khô khốc . Một người thân nằm đó đợi giờ lên đường về nơi miên viễn. Một mùa thu nữa đang trút lớp áo vàng để chuẩn bị thu mình ẩn náu cái giá lạnh của mùa đông đang xào xạc bước chân trên những lối đi ngập lá.</p>
<p>Cuộc chia tay nào cũng có nước mắt. Giờ đây, đứng co ro giữa buổi chiều xám xịt một ngày cuối thu, nhìn con đường vắng tanh vắng ngắt trước mặt, nghĩ đến giây phút tiễn người ( thân) ra đi ( mãi mãi ), tôi không biết liệu mình có còn chút nước mắt nào cho cuộc chia tay ấy không ? Và nếu có, liệu giọt nước mắt hiếm hoi ấy là cho người đi hay cho mùa thu đi, hay cho chính mình rồi cũng sẽ ra đi, sợ rằng khi ấy chẳng còn ai nhớ đến sự hiện hữu của một con người đã từng đến với đời này.</p>
<p>Bỗng bật lên trong đầu câu thơ của người thầy học cũ mới đọc được, khi ông viết về một người thầy của mình.</p>
<p><em>Đừng choàng hoa cho một người đã chết.<br />
Hãy yêu một người đang sống.</em></p>
<p><em>( Nguyển Xuân Hoàng _ Thầy tôi)</em></p>
<p><em>Tôi muốn được nói thêm. Hãy yêu một người sắp chết. Và nếu người ấy chết đi, hãy mang đến đôi giọt nước mắt thay vì vòng hoa. Hoa sẽ khô dù là hoa vạn thọ. Nhưng nước mắt sẽ thấm </em><em>thấu </em><em>xuống </em><em>tận </em><em>lòng đất giúp thanh tẩy linh hồn. </em></p>
<p>Nhiều lúc, tôi thấy mình thật may mắn. Vì đã không để lạc mất chút góc hồn cải lương rất đáng yêu từ những ngày thơ ấu. Nhờ vậy, đôi lúc tôi tìm được niềm vui ngay trong những hoàn cảnh đau buồn nhất. Tưởng tượng ra tôi đang thì thầm bên tai người bệnh rằng, thôi nhé, hãy an lòng ra đi, đừng bận tâm gì đến những bụi bậm của cuộc đời. Trường đời trăm vạn đường rẽ ngang , rẽ dọc. Nhưng đường nào rồi cũng sẽ dẫn đến huyệt sâu. Nhiều năm trước, chúng ta là những trẻ nhỏ háo hức vào đời. Nhiều năm sau, chúng ta đã là những ông già chậm chạp lê bước trên khoảng cuối của con đường đi ra khỏi cuộc đời. Mùa thu đã đến và cũng sắp đi. Điều an ủi là mình đã có cơ hội để dọn mình. Không như những kẻ chết bất đắc kỳ từ vì tai nạn xe cộ, vì chiến tranh súng đạn, vì trăm thứ bất trắc khác của xã hội con người.</p>
<p><em>Tưởng tượng ra khoảnh khắc rất cải lương ấy mà tôi muốn chảy nước mắt. Thứ nước mắt hạnh phúc vì biết rằng mình vẫn còn chảy được nước mắt.</em></p>
<p><strong>2.</strong></p>
<p>Trong cái cảm hoài của một ngày cuối thu, một ngày cuối tháng Mười Một, tôi hiểu rằng cái khoảnh khắc âm âm u u của thời tiết ấy là cần thiết cho đời sống chộn rộn ồn ào. Như một nhạc sĩ nào đó đã từng nhận xét rằng, thật may mắn trong âm nhạc đã có những dấu lặng, dấu nghỉ. Nếu không, sẽ là một tai họa cho lỗ tai người nghe. Nhưng yên lặng, ngơi nghỉ để lấy sức cho cuộc tranh sống ngày mai hay yên lặng, ngơi nghỉ để đi dần vào cõi chết lại mang đến những tâm cảnh và tâm thức khác nhau.</p>
<p>Thời gian gần đây, trong những dịp gặp gỡ bạn bè, điểm danh kẻ còn người mất, tôi đã thầm cám ơn những đấng thần linh khuất mặt vì thấy mình vẫn còn đủ sức khỏe nâng ly rượu chát tiễn những mùa đi và đón những mùa về. Nhưng lẫn trong niềm hoan lạc  mong manh ấy, tôi đã hình dung đến lúc mình không còn đủ sức để làm những điều mình muốn làm nữa. Vì thế, có nhiều đêm buồn ngủ đến rã người, tôi vẫn chưa muốn lên giường. Chỉ sợ giấc ngủ lấy đi chút thì giờ hiếm hoi còn sót lại. Chỉ sợ cái mảnh sân con sau nhà đầy lá vàng chưa kịp hốt khiến lọn tuyết trắng xóa đầu mùa rơi xuống sẽ mất đi nét trong trắng tinh tuyền mà mỗi năm tôi có thể ngồi hàng giờ chiêm ngưỡng. Chỉ sợ trang viết dở dang chưa kịp hoàn tất, chưa kịp ký tên đề ngày, những bức thư chưa kịp hồi âm, những dự tính chưa kịp thành hình, những hẹn hò gặp gỡ chưa kịp thực hiện. Càng sống lâu, người ta càng hối hả. Càng thức khuya, tôi lại càng thấy đêm không đủ dài. Dẫu đó là cái đêm cuối thu buồn bã đầy trăn trở, ly rượu chát trên tay phải rót thêm nhiều lần.</p>
<p><strong>3.</strong></p>
<p>Chỉ đến khi nhận ra sự may mắn của mình tôi mới chợt nhớ rằng mùa thu , tháng Mười Một, cũng là dịp để nói lên lời cám ơn . Cám ơn trời đất, cám ơn cuộc đời, cám ơn loài người. Được hay Thua cũng phải cám ơn. Còn hay Mất cũng phải cám ơn. Vì Được Thua, Còn Mất trong đời sống không có ý nghĩa gì hệ trọng khi mà người ta rồi sẽ phải buông hết để mà đi. Tương tự như vậy là sợi chỉ mong manh ngăn chia giữa hạnh phúc và khổ đau. Cái biên giới mỏng như một sợi chỉ ấy rất dễ dàng vượt qua. Một chút chuếnh choáng của chén rượu đêm tàn thu cũng đủ để một chân bên này bờ tuyệt vọng và một chân ở bên kia niềm vui của cái háo hức lên đường.</p>
<p>Bao nhiêu năm lặn hụp giữa những hệ lụy của phận người, cũng là bấy nhiêu năm tôi không quên cám ơn những hệ lụy ấy. Nhờ nỗi đau khổ, con người trở nên người hơn. Nhờ nỗi đau khổ, người ta mới biết trân trọng hạnh phúc. Nhờ nỗi đau khổ, người ta trân quý hơn sự hiện hữu của mình. Nhất là khi người ta phải đối diện với chặng cuối con đường. Chỉ tội nghiệp cho những kẻ nhận ra mình đang già đi mà cuộc đời thì vẫn còn trẻ mãi, mình đang chuẩn bị để kết thúc mà cuộc đời thì lúc nào cũng chỉ như mới bắt đầu. Cũng may, còn có vòng tay nhân hậu của những người thân thuộc nhất, những người nhìn mình không chỉ như một sinh vật biết ăn, biết thở, cái vòng tay ấy sẽ chìa ra cho mình trong những lúc mình cần đến nhất. Nếu không có vòng tay nhân hậu ấy, hẳn cõi người ta sẽ trở nên khủng khiếp biết chừng nào.</p>
<p><strong>4.</strong></p>
<p>Tạ ơn cũng có nghĩa là bởi mang nợ nên mới tạ ơn. Nợ tình, nợ tiền, nợ cơm, nợ áo, nợ đời. Có những món nợ không chỉ nói hai chữ cám ơn thế là xong. Có những món nợ không cần đến hai chữ cám ơn mà tâm hồn vẫn cứ phơi phới. Có những món nợ xin được trả mà người cứ không nhận. Có những món nợ đã trả rồi, cả vốn lẫn lời, mà lòng sao vẫn không yên. Mà người vẫn cứ nhắc.</p>
<p>Và cuối cùng, có một món nợ chỉ trả xong khi nhắm mắt. Đó là một sự tạ ơn toàn hảo. Vì từ nay mọi hệ lụy đã là cơn gió thoảng qua, cơn gió cuối thu xào xạc con đường ngập xác lá trước hiên nhà.</p>
<p>Gió cuốn đi cả tờ lịch mỏng báo hiệu mùa Thu đã chết trong cái đêm cuối cùng của tháng Mười Một .</p>
<p>Ước gì tôi biết được có bao nhiêu linh hồn giã biệt trần gian trong buổi tàn thu đầy thảng thốt.</p>
<p>T.Vấn</p>
<p>© T.Vấn 2008</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2008/11/chutvun/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Nh&#226;n ng&#224;y cựu chiến binh . . .</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2008/11/nhanngay/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2008/11/nhanngay/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 15 Nov 2008 15:04:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[11]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 11 - 2008]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2008/11/nhn-ngy-c%e1%bb%b1u-chi%e1%ba%bfn-binh/1072/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2008/11/nhanngay/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb42-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image001" title="clip_image001" /></a>Thực ra, từ khi có lịch sử , thế giới chưa một ngày không có chiến tranh. Và khắp nơi trên địa cầu, người ta không xa lạ gì với hình ảnh các cựu binh ngồi trầm tư bên nhau lặng lẽ lau nước mắt khi nhớ đến những đồng đội khuất mặt. Sống chết ở đời là điều bình thường, nhưng sự ra đi của những người lính, những cái chết non , những cái chết không an lành, những cái chết cô đơn không có người thân bên cạnh để vuốt mắt, không bao giờ cho phép lương tâm kẻ sống sót yên nghỉ.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00144.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 10px 15px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image001" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb42.jpg" border="0" alt="clip_image001" width="244" height="244" align="left" /></a></p>
<p><em> Người chiến sĩ cuối cùng</em></p>
<p><em> Không còn ai vuốt mắt</em></p>
<p><em> ( Ngọc Phi )</em></p>
<p>Như thường lệ hàng năm, đúng 1 tuần trước ngày lễ Cựu Chiến binh Hoa Kỳ 11 tháng 11, mấy người bạn cùng sở làm vốn là cựu binh lại gởi đến tôi chiếc áo T-shirt màu đen có huy hiệu POW-MIA và hàng chữ : <em>You are not Forgotten</em>. Đó vừa là món quà, vừa là sự nhắc nhở. Và năm nào cũng vậy, chúng tôi đều tụ họp nhau lại, kẻ mặc chiếc áo T-Shirt ngày còn trong quân ngũ, kẻ đội chiếc mũ cũ kỹ đầy dấu vết thời gian, người trịnh trọng trong bộ quân phục còn những nếp ủi thẳng thớm, tay đặt lên ngực, mắt hướng về phía lá cờ to tướng chiếm nguyên một góc phòng, lắng nghe bài quốc ca quen thuộc . Rồi sau đó là  phút tưởng niệm những người đã bỏ mình vì tổ quốc. Năm nào cũng vậy, cũng những lễ nghi quen thuộc, nhưng nỗi xúc động vẫn cứ tràn đầy như thể đó là lần đầu tiên. Chúng tôi cùng chia sẻ với nhau ý nghĩ đó khi quây quần lại bên bàn cà phê. Có người nào đó nhắc đến chiến tranh Việt Nam hơn 30 năm trước, đến bức tường đá đen ở khu nghĩa trang quốc gia, đến cuộc chiến tranh ở Iraq, ở Afghanistan hiện vẫn còn tiếp diễn cùng với những thiệt hại về nhân mạng xẩy ra hàng ngày.</p>
<p>Bất kể mọi bài học đẫm máu của lịch sử, chiến tranh vẫn cứ xảy ra trên mặt đất loài người. Bất kể những tính toán thiếu chính xác về cuộc chiến tranh Việt Nam hơn 30 năm trước , dẫn đến con số 58 ngàn quân nhân Mỹ hy sinh cho mảnh đất châu Á xa xăm , ngày nay người Mỹ lại có mặt ở mảnh đất đầy hận thù Iraq, tốn bao nhiêu tiền của, hy sinh hàng ngàn người lính trẻ, cũng chỉ để rước lấy nhiều cay đắng từ phía những người được họ đến cứu giúp. Dầu vậy, những người bạn cựu chiến binh của tôi, vốn mang trong người tinh thần kỷ luật của người lính, vẫn chỉ có mối quan tâm lớn nhất đến những người lính trẻ của họ còn đang xông pha giữa lằn tên mũi đạn nơi hực  lửa hận thù ấy. Họ không một lời oán trách những người có trách nhiệm đã gây ra cuộc chiến tranh . Và tôi, người lính cũ của cuộc chiến tranh Việt Nam, cuộc chiến đã gây cay đắng cho người Mỹ còn nặng nề hơn cuộc chiến Iraq hiện nay, phải nghiêng mình ngưỡng mộ tấm ân tình huynh đệ chi binh nơi những người lính già . Hơn ai hết, họ hiểu được nỗi cô đơn của người lính trở về từ một cuộc chiến đã khiến người dân nước họ ngao ngán. 30 năm trước, với tư cách những cựu binh của chiến tranh Việt Nam, họ đã không có cái vinh dự mà những cựu binh của chiến tranh thế giới lần thứ nhất, lần thứ hai được hưởng. Khi mà người dân ngao ngán vì gánh nặng và sự thiệt hại của một cuộc chiến tranh mà họ cho rằng sự tham dự của nước họ vào cuộc chiến tranh ấy là một sự tính toán sai lầm của chính phủ, người lính trở về từ cuộc chiến ấy thường không tránh khỏi sự lãnh đạm, dù rằng nỗi nhọc nhằn gian khổ của người lính trong bất cứ cuộc chiến tranh nào đều giống nhau.</p>
<p>Chiến tranh là sản phẩm của những phân tích và quyết định chính trị, nhưng những binh đoàn lại là câu chuyện sống chết của những con người. Phản chiến hay không phản chiến, ủng hộ chiến tranh hay không ủng hộ chiến tranh, cái lẽ tự nhiên rất  bình thường là người ta nên dừng lại mỗi khi gặp một người mặc quân phục, dù là ở phi trường, bến xe bus, hay một góc phố bận rộn, để bắt tay và cám ơn sự xả thân phục vụ của những người lính trẻ. Nhưng người ta cũng phải thông cảm cho sự cay đắng của thân nhân những người lính đã nằm xuống. Không một lý lẽ gì có thế biện minh được cho những cái chết non ấy.</p>
<p>Vì thế, khi phát động một cuộc chiến tranh, những người có trách nhiệm cần nhiều đắn đo suy tính. Một trong những đắn đo đó, và có lẽ là sự đắn đo quan trọng nhất, đó là liệu mục đích của cuộc chiến tranh ấy có đủ chính đáng để chịu đựng sức nặng của những oan hồn – dân cũng như lính -, sức nặng của bao nỗi thống khổ đến với từng cá nhân, từng gia đình bị cuốn trong cơn lốc ác nghiệt ấy . Cộng thêm vào sức nặng ấy là nỗi cô đơn của những người vợ trẻ, nỗi cô đơn của những bà mẹ nuôi con một mình, cảm giác đau đớn không chịu đựng nổi của những ông bố bà mẹ mất con, mỗi khi thức giấc nhìn cuộc sống xám xịt trước mắt  mà mong cho ngày cuối cùng của đời mình đến càng sớm càng tốt. Và còn phải kể thêm những thương binh què cụt sống quãng đời dài dằng dặc trong sự tàn phế,  những cựu binh tuy lành lặn thể xác nhưng đầu óc luôn cần đến những liều thuốc an thần.</p>
<p>Câu chuyện về chiến tranh quanh bàn cà phê nhân ngày lễ cựu Chiến Binh Hoa Kỳ lại buộc tôi phải liên tưởng đến cuộc chiến 30 năm trước của đất nước mình. Nếu như những người phát động cuộc chiến tranh ấy tiên đoán được cái gánh nặng mà dân tộc Việt Nam phải chịu đựng, cả trong và sau chiến tranh, liệu họ có đủ nhẫn tâm mà cứ tiếp tục mở rộng và kéo dài cuộc chiến, tiếp tục ném cả một thế hệ tuổi trẻ vào lò lửa hận thù ? Điều đau xót là ngay khi tiếng súng chưa chấm dứt, người ta đã nhìn ra cái cái vô nghĩa trong những mục đích mà cuộc chiến ấy nhắm tới. Để rồi sau gần 20 năm kiệt quệ vì gánh nặng hậu chiến, những người đã từng mạnh tay phát động cuộc chiến hủy diệt ấy, lại phải mở cửa để rước chính kẻ thù năm xưa quay trở lại giúp tái thiết đất nước. Có nghĩa là hàng mấy triệu con người ở cả hai bên chiến tuyến năm xưa đã bị hy sinh thật oan uổng. Chưa kể đến những hậu quả đáng sợ mà người sống sót phải đối đầu.</p>
<p>Bài học lịch sử còn đó, nhưng chẳng có người nào chịu để mắt chiêm nghiệm.</p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00277.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 5px 0px 0px 10px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image002" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb72.jpg" border="0" alt="clip_image002" width="244" height="124" align="right" /></a></p>
<p>Trong mớ hồi ức còn vang vọng tiếng súng nổ, tiếng khóc than, tiếng rên rỉ đau đớn, tôi lại được chứng kiến những hình ảnh thật quen thuộc với bất cứ một người Việt Nam nào từng sống sót qua cuộc chiến. Trên những con đường đất nghèo nàn của thành phố Goma, xứ Congo bên Châu Phi, bên cạnh những chiếc xe tăng đen đúa, những người lính tay súng lăm lăm là những đoàn người chạy giặc, tay xách nách mang, những đứa trẻ thất thểu chân đất, vẻ mặt kinh hoàng bám chặt lấy bàn tay cha mẹ, những cụ già chậm chân rớt lại  phía sau. Và xa xa là ánh chớp những quả đạn pháo làm tung mặt đường, trộn lẫn thây người cùng bụi bậm bay mù. Cuộc chiến sắc tộc âm ỉ từ mấy năm nay đã đến hồi bộc phát dữ dội. Từ cuối tháng 8 , cả triệu người dân Congo bỏ nhà bỏ cửa chạy loạn, trong đó 60 phần trăm là trẻ con, người già yếu, bệnh tật. Họ sống trong những điều kiện vệ sinh tối thiểu nhất, thường xuyên khan hiếm nước sạch, thực phẩm.</p>
<p>Mục đích nào của cuộc chiến hiện đang diễn ra dưới con mắt quan sát của cả thế giới đủ lý và tình để biện minh cho sự đau khổ của hàng triệu con người vốn đã khốn khổ vì nghèo nàn , lạc hậu ? Và những người có trách nhiệm gây nên cuộc chiến, đã suy xét tường tận trước khi cho nổ phát súng khai hỏa chưa, hay đơn giản chỉ là để thỏa mãn những mục tiêu chính trị mà quên đi sức nặng của nối đau khổ mà người dân ( cũng như người lính trực tiếp trên chiến trường ) phải gánh chịu ?</p>
<p>Đã đành, chiến tranh thời nào cũng có. Nhưng khi con người tiến đến một giai đoạn tiến hóa như hiện nay, hẳn phải  liệt mầm mống gây ra chiến tranh vào loại những vi trùng ung  thư nguy hiểm nhất cho nhân loại và phải nỗ lực tìm mọi phương thức hầu ngăn ngừa và chữa trị.</p>
<p>Nếu không làm được điều đó, thì nhiều ngàn năm tiến hóa của nhân loại sẽ mãi mãi nằm trong nguy cơ bị hủy diệt toàn diện. Thực ra, từ khi có lịch sử , thế giới chưa một ngày không có chiến tranh. Và khắp nơi trên địa cầu, người ta không xa lạ gì với hình ảnh các cựu binh ngồi trầm tư bên nhau lặng lẽ lau nước mắt khi nhớ đến những đồng đội khuất mặt. Sống chết ở đời là điều bình thường, nhưng sự ra đi của những người lính, những cái chết non , những cái chết không an lành, những cái chết cô đơn không có người thân bên cạnh để vuốt mắt, không bao giờ cho phép lương tâm kẻ sống sót yên nghỉ.</p>
<p>Quả thật, để làm người sống sót sau một cuộc chiến, không phải dễ dàng gì.</p>
<p>T.Vấn</p>
<p>( Ngày Cựu Chiến Binh 2008)</p>
<p>© T.Vấn 2008</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2008/11/nhanngay/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Chuyến xe cuối c&#249;ng</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2008/11/chuyenx/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2008/11/chuyenx/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 08 Nov 2008 15:00:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[11]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 11 - 2008]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2008/11/chuy%e1%ba%bfn-xe-cu%e1%bb%91i-cng/1066/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2008/11/chuyenx/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb41-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image001" title="clip_image001" /></a><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00143.jpg"></a>
Người da trắng, vàng, đen
 Năm ngón tay, ngón dài ngón ngắn
Tro bụi chỉ một màu. 
 ( Thiền ca – Phạm Doanh)
1.
Một người thân của tôi đang ở vào giai đoạn cuối cùng của bệnh ung thư phổi. 3 năm trước, sau khi rời phòng chẩn đoán của bệnh viện với bản án tử hình như từ trời rơi xuống phán quyết rằng anh chỉ còn từ 6 tháng đến 1 năm để sống, anh đã cương quyết từ chối bản án, cương quyết từ chối cả những phương cách trị liệu mà các bác sĩ chẩn bệnh đề nghị. Ngay ngày hôm đó, anh dứt khoát bỏ hút thuốc lá, một thói quen của hơn 40 năm mà trước đó , anh không hề có ý định từ bỏ, và dù khi quyết định ném hết những gói thuốc chưa kịp hút vào thùng[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00143.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 0px 15px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image001" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb41.jpg" border="0" alt="clip_image001" width="187" height="244" align="left" /></a></p>
<p><em>Người da trắng, vàng, đen<br />
</em><em> </em><em>Năm ngón tay, ngón dài ngón ngắn<br />
</em><em></em><em>Tro bụi chỉ một màu. </em></p>
<p><em> ( Thiền ca – Phạm Doanh)</em></p>
<p><strong>1.</strong></p>
<p>Một người thân của tôi đang ở vào giai đoạn cuối cùng của bệnh ung thư phổi. 3 năm trước, sau khi rời phòng chẩn đoán của bệnh viện với bản án tử hình như từ trời rơi xuống phán quyết rằng anh chỉ còn từ 6 tháng đến 1 năm để sống, anh đã cương quyết từ chối bản án, cương quyết từ chối cả những phương cách trị liệu mà các bác sĩ chẩn bệnh đề nghị. Ngay ngày hôm đó, anh dứt khoát bỏ hút thuốc lá, một thói quen của hơn 40 năm mà trước đó , anh không hề có ý định từ bỏ, và dù khi quyết định ném hết những gói thuốc chưa kịp hút vào thùng rác, anh không tin rằng bệnh ung thư phổi mà anh đang mắc phải có gốc rễ từ thói quen chết người ấy. Theo anh, đó là một thứ định mệnh mà anh, một con người trong số hàng tỉ con người , đã chẳng may phải gánh chịu. Nói theo ngôn ngữ của đời sống : <em>Trời kêu ai nấy dạ. </em></p>
<p>Sống với nhau trong sự nghèo khổ, côi cút, thiếu thốn đủ thứ từ những cái vật chất nhỏ nhặt đến những nhu cầu tình cảm tối thiểu nhất, hơn ai hết, tôi hiểu sự thành thực trong những xác tín của anh về đời sống. Nhưng cái nghị lực mà anh tự một mình chống chỏi lấy số phận nghiệt ngã của mình cũng khiến tôi ngạc nhiên.</p>
<p>Đầu tiên là việc bỏ thuốc, không một chút do dự, khổ sở hay khoảnh khắc ngần ngại. Là một kẻ đã từng “ dan díu “ với người tình khói sương tròn trịa 30 năm , tôi ngưỡng mộ sức mạnh nghị lực ấy, dù công bằng mà xét, bản án ung thư phổi có góp phần đáng kể giúp anh một tay trong việc đó. Theo những nghiên cứu y khoa mới đây, thì ở người đã hút thuốc lá rồi bỏ, trong thời gian 12 năm sau khi bỏ thuốc, tỉ lệ mắc bệnh ung thư phổi vẫn cao hơn so với người chưa bao giờ hút thuốc. Do đó, việc bỏ hút thuốc ngay trong ngày mình bị chẩn đoán ung thư phổi , không có ý nghĩa nào khác hơn tính cách biểu trưng của nó. Như anh nói, cùi rồi thì đâu có sợ lở nữa, nhưng ít nhất, nếu  có thua  ( mà phần thua anh đã nắm chắc trong tay), thì mình cũng đã không chịu bó tay dễ dàng.</p>
<p>Kế đến, tuy không chấp nhận những phương pháp điều trị thông thường mà hiện nay y khoa có thể cung cấp được như xạ trị , hóa trị , mà anh cho rằng chúng chỉ khiến anh kiệt sức mà chóng chết hơn thôi, nhưng anh vẫn nhờ các em của chúng tôi bên Việt Nam đi tìm mua những loại dược thảo theo sự mách bảo ( qua Internet )của những người mắc bệnh như anh vẫn còn đủ sức cầm cự từ nhiều năm nay với niềm hy vọng sẽ kéo dài hơn nữa cuộc chiến không cân sức này. Mặt khác, anh bắt đầu tập thể dục hàng ngày, một việc mà anh chưa bao giờ làm trước đó. Mỗi ngày, sau khi đi làm về, anh đến một trung tâm thể dục, ở đó vài tiếng đồng hồ tập luyện theo sự hướng dẫn của các chuyên viên. Mùa đông, anh tập chịu đựng cái lạnh ( mà anh cho rằng đó là kẻ thù độc ác nhất của người bị bệnh phổi)  bằng cách ở ngoài trời dưới cái lạnh cắt da trong một khoảng thời gian mà anh có thể chịu đựng được.</p>
<p>6 tháng đã qua đi, anh vẫn đi làm việc bình thường như người không bị bệnh. Rồi 1 năm, thời hạn tối đa của bản án tử hình đã đến. Anh vẫn sống, làm việc, ăn uống , vui chơi , dù đôi lúc vẫn cảm thấy được sự hiện diện của con vi trùng ung thư đang ẩn trốn trong cơ thể qua vài triệu chứng khó chịu trong người. Rồi 2 năm trôi qua trong sự an tâm ( giả tạo ) của mọi người trong gia đình. Đến năm thứ ba, những triệu chứng khó ở ngày càng nhiều. Anh vẫn cố gắng đi làm chờ đến ngày hoàn tất xong thủ tục xin hưu trí. Khi anh chính thức cầm tờ giấy hưu trí trong tay, cũng là lúc anh biết rằng, dù có một nghị lực lớn đến như thế nào chăng nữa, anh không thể làm hơn được những gì anh đã làm.</p>
<p>Sau hai lần vào bịnh viện, anh quyết định không trở vào đó một lần nào nữa trong những ngày còn lại ngắn ngủi của đời mình. Các con của anh đã thu xếp để bố nằm ở nhà mà khi cần, vẫn có y tá đến chăm sóc cho những việc mà người không có kiến thức y khoa không làm được.</p>
<p>Cuộc chiến đã đến hồi sắp kết thúc. Lượng được sức mình, anh đành giương cờ trắng xin đầu hàng.</p>
<p><strong>2.</strong></p>
<p>Ngồi bên giường người bệnh, nắm lấy bàn tay vốn thô ráp của anh, tôi nghĩ đến một đời làm lụng cực nhọc, một đời nghèo khổ thiếu thốn từ thuở còn cắp sách đi học cho đến khi trưởng thành, lập gia đình, rồi đến cuộc sinh ly tử biệt tháng 4 năm 1975, vợ con anh đã lỡ cuộc hẹn xuống tàu ngày cuối cùng của chiến tranh, để anh chỉ có một mình vất vưởng trên xứ người những ngày ấy oan nghiệt, ai biết được có một ngày cha lại gặp con, vợ lại gặp chồng. <em>Đoạn trường ai có qua cầu mới hay</em>. Trong mấy trăm ngàn người may mắn ra đi những ngày hoang mang hỗn độn ấy, không ít người ở trong hoàn cảnh của  anh .Có nhiều người đã tìm mọi cách để quay về , tin tưởng rằng dù thế nào họ vẫn được ở bên cạnh vợ con. Nhưng họ đã lầm, như cả một nửa đất nước đã lầm . 5 ngàn người từ Mỹ trở về trên chiếc tàu Việt Nam Thương Tín cập bến cảng Sài Gòn một ngày tháng 9 năm 1975 , chưa kịp nhìn lại mặt vợ con và những người thân thuộc, đã lần lượt theo nhau biến mất trong những nhà tù trên khắp miền đất nước. Riêng anh, một thứ linh tính không giải thích được đã khiến anh không có mặt trong số những người đó. Và cuộc sống xứ người cuốn anh theo nó với bao lo toan trước mặt. Thời gian sau này, anh đã làm tròn bổn phận người cha với những đứa con ở Việt Nam. Thế cũng đã xong cái nỗi ray rức khôn nguôi của thân phận một con người bị cuốn trong cơn lốc lịch sử, tất cả đều ngoài tầm tay lựa chọn của chính mình, để rồi mọi bước kế tiếp trong cuộc sống của mình đều bị ám ảnh bởi những mất mát về tình cảm, những băn khoăn về bổn phận lẽ ra phải chu toàn, và cả những chua xót khó lòng có thể chia sẻ cùng ai.</p>
<p>Giờ đây, anh nằm đó, bất lực. Ánh mắt vốn trước đây đầy tự tin , thứ hành trang duy nhất mà gia đình nghèo khổ của chúng tôi có thể cho anh khi anh bước vào đời, đã chỉ biểu lộ một sự cam chịu. Anh đã sẵn sàng để ra đi bất cứ lúc nào. Dù gần gủi anh khá thường, tôi vẫn không thể tưởng tượng ra được con người hiện nằm đó, thân thể đang từ từ khô kiệt, lại là con người mới chỉ vài tháng trước đây vẫn còn làm việc quần quật, nhanh nhẹn như một con sóc. Nhưng cái cứng cỏi của tâm hồn đã 60 năm nay hiện diện như cỏ hoang mọc dại trong cuộc đời này dường như không suy xuyển nhiều lắm. Những ngày này anh sống thật an bình. Không còn những lo toan đời thường. Không còn những ray rức ám ảnh phát xuất từ biến cố 30 tháng 4 năm 1975 định mệnh gây nên bước rẽ oan nghiệt cho gia đình anh. Không còn cả những nuối tiếc về đời sống ngắn ngủi của mình. 60 năm làm người, anh chưa một lần nghĩ đến sự hưởng thụ cho riêng mình. Với anh, sống là làm tròn bổn phận . Và theo anh, anh đã chu tất những nghĩa vụ đó với gia đình, với những người thân.</p>
<p>Thêm một lần nữa, tôi kinh ngạc trước sự thanh thản đến kỳ lạ ở anh, một người biết mình sắp sửa vĩnh biệt trần gian để ra đi vào một cõi mà không ai đã đặt chân đến có cơ hội quay lại kể cho người đời biết đôi điều về nơi chốn ấy. Khi nghe được ý nghĩ của tôi, anh mỉm cười nhắc lại sự kiện anh đặt chân lên tàu ra đi hơn 33 năm trước. Lúc ấy, cũng như bây giờ, anh đâu đã biết cái gì chờ đợi anh nơi mảnh đất xa lạ. Liệu có giúp ích gì thêm được cho kẻ ra đi không khi cứ chuốc lấy thêm những lo âu không cần thiết. Sớm muộn thì mọi người đều phải đối diện với giây phút này của đời mình. Ai xong trước thì đi trước. Ai xong sau sẽ đi sau. Chỉ mong thể xác không đau đớn . Và tâm hồn không vướng bận những hệ lụy.</p>
<p>Người chưa hề cầm một quyển sách nào trên tay ngoại trừ Thánh Kinh và vài quyển sách kỹ thuật, đã giúp tôi nhìn thấu đáo hơn một vấn đề đã từng được bàn cãi trong hàng ngàn pho sách từ hàng nhiều thế kỷ nay.</p>
<p><strong>3.</strong></p>
<p>Cơn gió tháng 10 đã mang theo với nó chút hơi lạnh. Trời lại sắp vào Thu. Khoảng thời gian cho vạn vật chuẩn bị thu mình giữ lại năng lượng của mùa hè vừa đi qua hầu đối phó với mùa đông sẽ đến. Chu kỳ đất trời lại sắp hoàn tất một vòng quay nữa. Trong cái chập choạng của hoàng hôn, cả hoàng hôn của đất trời lẫn hoàng hôn của đời mình, tôi đang đối diện với giai đoạn tạm gọi là hoàng hôn của định mệnh làm người : Bệnh trong chu trình Sinh, Lão, Bệnh, Tử tương hợp với bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông của Trời Đất. Trải hàng ngàn năm , chu trình này đã quay không biết bao nhiêu vòng. Vì lẽ đó, thế giới ngày nay tồn tại trên hương hồn biết bao con người đã nối đuôi nhau bước lên chuyến xe cuối cùng của cuộc hành trình làm người. Đi về đâu trên chuyến xe đó ? Câu hỏi được đặt ra từ khi có con người. Và đến nay, có nhiều câu trả lời khác nhau. Dù vậy, người ta vẫn tiếp tục hỏi.</p>
<p>Bên ngoài căn phòng im ắng đến tê người, những giọt nắng chiều đã biến mất tự bao giờ. Chỉ còn lại hai người , cách nhau chỉ có một tuổi, ngồi bó gối đăm chiêu như cách đây 40 năm họ đã ngồi với nhau đăm chiêu bên cạnh xác người cha vừa trút hơi thở cuối cùng.</p>
<p>40 năm sau, một trong hai người đã dọn mình xong để sẵn sàng ra đi. Trời tối dần. Đi về đâu trong bóng đêm thăm thẳm đang sắp sửa bủa vây ? Tôi nhớ lại sự so sánh mà anh nhắc đến việc 33 năm trước đây anh xuống tàu ra đi.</p>
<p>Tôi chợt tỉnh ngộ. Trong hai kẻ ngồi bên nhau giây phút này đây, chính tôi mới là kẻ cần được an ủi. Tôi khẽ khàng đỡ cho anh nằm xuống. Căn phòng đã tràn ngập bóng tối. Đứng bên cạnh giường, nghe hơi thở yếu ớt của người bệnh, tôi hình dung ra giây phút mình sẽ vuốt đôi mắt anh lần cuối cùng, như ngày xưa anh đã vuốt mắt cho người cha tội nghiệp của chúng tôi. Tôi không biết lúc ấy mình còn nước mắt để khóc nữa hay không. Nhưng có nước mắt tiễn đưa hay không của đứa em lúc nào cũng tưởng mình khôn hơn anh mình thì mặc cho thân xác lạnh giá nằm đó, khi ấy linh hồn anh đã thảnh thơi lên chuyến xe cuối cùng về một nơi, mà khi còn sống, anh không bận tâm suy nghĩ đến.</p>
<p>Thôi vậy nhé ! Khi anh đi, tôi sẽ đứng ở sân ga để vẫy tay chào anh lần cuối. Lần này thì chắc chắn là anh sẽ mãi mãi an bình. Amen!</p>
<p><em>T.Vấn</em></p>
<p><em>Tháng 10-2008</em></p>
<p>© T.Vấn 2008</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2008/11/chuyenx/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tạ ơn tr&#234;n người vẫn thương người</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2007/11/taontren/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2007/11/taontren/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 17 Nov 2007 01:59:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[11]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 11 - 2007]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2007/11/t%e1%ba%a1-%c6%a1n-trn-ng%c6%b0%e1%bb%9di-v%e1%ba%abn-th%c6%b0%c6%a1ng-ng%c6%b0%e1%bb%9di/1021/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2007/11/taontren/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb36-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image001" title="clip_image001" /></a><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00138.jpg"></a> 
Có tin vui giữa giờ tuyệt vọng
Bao sinh linh nhận phép giải oan.
Xiết tay nhau cúi đầu gạt lệ.
Tạ ơn Trên. Người vẫn thương người .
( Trầm Tử Thiêng)
 
1.
Cả nước Mỹ đang nô nức chuẩn bị cho những ngày lễ hội hàng năm. Chỉ riêng trong dịp lễ Tạ Ơn năm nay, theo ước tính sẽ có khỏang hơn 37 triệu người sử dụng các phương tiện máy bay, xe lửa, xe bus hay xe nhà để đi thăm viếng thân nhân, bạn bè . Rồi sau 4 ngày cuối tuần của Lễ Tạ Ơn, là những kế họach của từng gia đình chuẩn bị cho việc mua sắm quà cáp mừng tháng mười hai với những ngày nghỉ lễ dài hạn Giáng Sinh, Năm Mới. Một không khí lao xao chộn rộn hiện diện khắp nơi, từ trường học, chợ búa[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><em><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00138.jpg"><img style="border-right-width: 0px; margin: 0px 15px 0px 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="clip_image001" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb36.jpg" border="0" alt="clip_image001" width="244" height="184" align="left" /></a></em><em> </em></p>
<p><em>Có tin vui giữa giờ tuyệt vọng<br />
Bao sinh linh nhận phép giải oan.<br />
Xiết tay nhau cúi đầu gạt lệ.<br />
Tạ ơn Trên. Người vẫn thương người .</em></p>
<p><em>( Trầm Tử Thiêng)</em></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong>1.</strong></p>
<p>Cả nước Mỹ đang nô nức chuẩn bị cho những ngày lễ hội hàng năm. Chỉ riêng trong dịp lễ Tạ Ơn năm nay, theo ước tính sẽ có khỏang hơn 37 triệu người sử dụng các phương tiện máy bay, xe lửa, xe bus hay xe nhà để đi thăm viếng thân nhân, bạn bè . Rồi sau 4 ngày cuối tuần của Lễ Tạ Ơn, là những kế họach của từng gia đình chuẩn bị cho việc mua sắm quà cáp mừng tháng mười hai với những ngày nghỉ lễ dài hạn Giáng Sinh, Năm Mới. Một không khí lao xao chộn rộn hiện diện khắp nơi, từ trường học, chợ búa cho đến tận ngóc ngách mỗi gia đình. Nhưng ở đâu đó bên kia vùng biển phía Nam của quả địa cầu, nhiều người khác đã không được cái may mắn như đồng lọai của mình sống bên trời tây.</p>
<p>Những ngày giữa tháng mười một, người ta ghi nhận một cơn bão xóay ( cyclones) có sức tàn phá kinh khủng đã đổ bộ vào Bangladesh, một quốc gia nhỏ bé nghèo nàn ở vùng nam Á vốn thường xuyên bị lũ lụt vào mùa mưa. Hàng chục ngàn người chết, chưa kể số mất tích . Hàng triệu người phải bỏ cửa bỏ nhà di tản ra khỏi vùng bão lụt, sống màn trời chiếu đất, thiếu thốn mọi nhu cầu căn bản nhất cho cuộc sống hàng ngày. Đây không phải là lần đâu tiên quốc gia nghèo nàn bị tàn phá bởi thiên tai. Năm 1970, gần 500 ngàn người chết vì bão xoáy. Năm 1991, cũng có khỏang 140 ngàn người thiệt mạng vì bão và lũ lụt . Ngòai thiệt hại về nhân mạng, còn có sự thiệt hại về tài sản , nhà cửa, các cơ sở sản xuất ,kinh tế, mà một quốc gia nghèo như Bangladesh phải cần một thời gian rất dài mới có thể hồi sức được.</p>
<p>Trong khí đó, Việt Nam cũng chia sẻ chung một số phận với Bangladesh. Chỉ trong vòng một tháng, từ tháng mười đến nay, miền trung của đất nước đã phải trải qua 6 cơn lũ. Những cơn lũ nối tiếp nhau, với mực nước ngày càng cao, và sự thiệt hại cũng tăng lên theo tỉ lệ thuận với với độ dâng cao của lũ. Tính cho đến nay, chỉ riêng tỉnh Quảng nam, con số người chết và mất tích đã lên đến gần 30 người . Hàng ngàn nhà cửa bị thiệt hại hay bị nước cuốn trôi. Trong lúc các nơi bị thiên tai vẫn còn đang chật vật với hậu quả của bão lụt, thì những cơn bão vẫn tiếp tục từ ngòai khơi quần đảo Phi Luật tân tiến nhanh về phía Nam biển Đông, đe dọa những tàn phá còn lớn hơn nữa vào những ngày cuối cùng của tháng mười một.</p>
<p>Mọi sinh họat khu bị bão và đe dọa bị bão đình trệ. Chợ búa , trường học đóng cửa để lo chạy bão. Rồi đến mối lo những ngày sắp tới đối diện với tình trạng mất việc làm, thiếu thu nhập có nghĩa là thiếu ăn, thiếu mặc và cả việc tệ nạn xã hội theo với hậu quả không tránh khỏi của lũ lụt mà gia tăng.</p>
<p>Cũng lại không thể không nhớ đến câu ca buồn thảm từ một bài hát đã ra đời từ mấy chục năm trước về mảnh đất nghèo miền trung vốn thường bị “<em>trời hành cơn lụt mỗi năm “ </em>và cái số phận nghiệt ngã của người dân sống trong vùng bão lụt. Năm 2006, bão Chanchu đã cuốn trôi bao nhiêu là nhà cửa tài sản của người dân cùng với hàng trăm mạng sống con người, nay lại đến mùa bão 2007. Tôi đọc lại những điều mình viết hơn một năm về trước, vẫn thấy chúng đúng một cách xót xa :</p>
<p>“ . . . Chuyện bão ở những làng ven biển chuyên sống bằng nghề chài lưới vốn không có gì lạ. Nhiều gia đình cha truyền con nối với nhiều thế hệ ngày đêm lênh đênh trên sông , trên biển , cho nên , cái lời nguyền rủa “ <em>nhất phá sơn lâm, nhì đâm hà bá</em> “ cũng chẳng làm họ nao núng , nghĩ đến việc bỏ nghề , dù biết “ <em>sinh nghề, tử nghiệp</em> “ . 50 năm trước, 30 năm trước, 20 năm trước, 10 năm trước, bão đã từng gieo tang thương cho nhiều gia đình ngư dân trên miền Duyên Hải Việt Nam. Nhưng không phải vì thế mà người ta ( các giới chức chính quyền ) cứ để mặc cho những mất mát đau thương ấy tiếp tục tái diễn hàng năm , khi mà khoa học kỹ thuật ngày nay đã có thể tiên đóan một cách chính xác mọi thay đổi của thiên nhiên, khiến những “ cơn thịnh nộ “ khủng khiếp trong quá khứ như gió xóay ( tornado), sóng thần ( tsunami ) và bão cấp 8 ( hurricane ) nay đã không còn gây nên những thiệt hại về nhân mạng như xưa nữa.</p>
<p><em>Sống giữa thời đại bùng nổ về thông tin , về khả năng thần sầu của kỹ thuật. mà sao vẫn còn những thảm cảnh lẽ ra có thể tránh được. . . “ (</em>Con bão đầu mùa và một miền quê hương nghèo khó – Tháng 8-2006 ).</p>
<p><strong>2.</strong></p>
<p>Tất nhiên, như thường lệ mỗi khi có thiên tai , nhân tai xẩy ra ở bất cứ nơi đâu trên mặt đất lòai người, người ta lại không quên hướng tấm lòng, chìa một bàn tay nâng đỡ về nơi đó. Tại Bangladesh, đã có sự hiện diện của nhiều tổ chức từ thiện trên thế giới như World Bank, Save The Children, World Vision, Red Crescent, Red Cross v..v… cùng với những thứ thật cần thiết cho người bị nạn như thực phẩm, quần áo, chăn màn, thuốc men . Nhiều tổ chức và chính quyền các quốc gia trên thế giới cũng cam kết gởi viện trợ khẩn cấp đến Bangladesh. Tổ chức World Bank cam kết 250 triệu Mỹ kim, nước Anh cam kết 15 triệu, nước Mỹ cam kết hơn 2 triệu viện trợ khẩn cấp. Riêng Saudi Arabia cam kết 100 triệu Mỹ kim giúp Bangladesh hồi phục sau cơn bão. Ngòai ra, Hải Quân Hoa Kỳ cũng đã phái tới Bangladesh hai chiếc tàu cứu hộ, mỗi chiếc chở theo 20 máy bay trực thăng dành cho công việc giải cứu và vận chuyển thực phẩm , thuốc men.</p>
<p>Riêng ở Việt Nam, vì tầm mức thiệt hại do bão chưa tới mức cần đến sự quan tâm của thế giới, nên phần lớn những họat động cứu trợ chỉ đến từ trong nước và trong cộng đồng người Việt hải ngọai. . Riêng Hoa Kỳ, đã cam kết 900 trăm ngàn Mỹ kim để giúp phục hồi lại cuộc sống bình thường của người dân vùng bão lụt, trong đó bao gồm việc “ <em>giúp xây dựng lại nhà cửa bị hư hại, cung cấp hạt giống, con giống , khôi phục ruộng đồng , làm sạch các giếng nước và sửa hệ thống cung cấp nước. Số tiền cũng sẽ được sử dụng để thay thế sách giáo khoa và dụng cụ học tập bị lũ lụt cuốn trôi, sưa sang các phòng học . . . “ ( trích lời phát biểu của Đại sứ Mỹ ở Việt Nam Michael W. Michalak)</em> . Ở hải ngọai, nhiều tổ chức xã hội , tôn giáo của người Việt nam tị nạn Cộng sản cũng đã vì đồng bào ruột thịt mà đứng ra vận động các chương trình từ thiện như từ bao lâu nay họ vẫn làm mỗi khi có những họan nạn xảy ra cho người dân trong nước. Những tấm lòng máu chảy ruột mềm lại có dịp chia sẻ, các đòan thể xã hội lại lên đường đổ xô về vùng bị nạn. Và một lần nữa, câu hát cũ lại vang lên : “ . . . <em>tạ ơn trên người vẫn thương người . . . “ </em></p>
<p><em><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00311.jpg"><img style="border-right-width: 0px; margin: 45px 0px 0px 10px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="clip_image003" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image003_thumb11.jpg" border="0" alt="clip_image003" width="244" height="161" align="right" /></a></em></p>
<p><strong>3.</strong></p>
<p>Nghe lại câu hát “ tạ ơn trên người vẫn thương người “ giữa những ngày buốt gía tháng mười một và không khí xôn xao của mùa lễ Tạ Ơn , tôi nhớ mình có đọc đâu đó nỗi ưu tư của một người về căn bệnh gọi là vô cảm. Thứ căn bệnh khiến người ta trở nên thờ ơ với nỗi đau của đồng lọai. Tác gỉa còn đi xa hơn nữa khi liệt kê những triệu chứng đáng sợ của bệnh vô cảm : thấy điều tốt không ủng hộ, nghe điều xấu không lên án, gặp chuyện bất bình thì vội lãng xa để khỏi liên lụy hoặc khư khư một thái độ mũ ni che tai. Nếu một xã hội vô cảm là một xã hội băng hoại về đạo đức thì một con người vô cảm là biểu tượng của sự sống thuần túy vật chất, là một thi hài biết thở và là kẻ phá họai những gía trị cao quý nhất phân biệt sự hiện hữu của con người và các lòai sinh vật khác. Không thể phủ nhận rằng, ở bất cứ đâu, bất cứ thời đại nào cũng có những người chỉ biết sống cho mình và không hề quan tâm đến người khác. Nhưng khi nó chỉ là biểu hiện ích kỷ của một con người riêng lẻ, thì đó là sự bình thường. Khi nó là biểu hiện chung của một tập thể, một xã hội, thì nguồn gốc của nó thường không phải bản tính vị kỷ mà là hậu quả của một cơ chế làm tha hóa con người.</p>
<p>Xét cho cùng, cái nhân quần biết chọn hạnh phúc của sự cho đi, sự chia sẻ vẫn là số đông và thường được thấy cả khi người ta có rất ít để chia sẻ. Vì thế, hình ảnh rõ nét nhất trong những ngày cả nước Mỹ xum họp gia đình bên bàn tiệc đầy ắp thức ăn cùng với hoa quả cho buổi tiệc Tạ Ơn là hình ảnh những người đội mũ len đỏ của Santa ( ông gìa No-en) , đứng ở những nơi công cộng đông đảo người qua lại, tay rung chuông , với cái thùng tiền bên cạnh. Họ thu nhận lòng hảo tâm của mọi người để giúp cho những kẻ kém may mắn, thiếu thốn cùng được hưởng niềm vui no đủ trong những ngày lễ hội cuối năm. Một tấm lòng nhân hậu không thể cảm thấy ấm khi có người đang bị lạnh, không thể cảm thấy niềm vui trọn vẹn trong khi còn nhiều người khác chịu đựng những khổ đau, bất kể khổ đau ấy là do tai trời , ách nước hay sự độc ác của con người. Khi ấy, sự chia sẻ chính là cách hữu hiệu nhất để đạt được cảm giác an bình thanh thản trong lòng mà người cho đi nhận trở lại.</p>
<p>Vả lại, con người chỉ thực sự tồn tại khi còn biết yêu thương và chia sẻ.</p>
<p>© T.Vấn 2007</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2007/11/taontren/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Đọc lại những ghi ch&#233;p cũ</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2007/11/doclai/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2007/11/doclai/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 15 Nov 2007 14:51:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[11]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 11 - 2007]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2007/11/d%e1%bb%8dc-l%e1%ba%a1i-nh%e1%bb%afng-ghi-chp-cu/1062/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2007/11/doclai/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb40-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image001" title="clip_image001" /></a><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00142.jpg"></a>
Ký Ức Mùa Thu – Tranh : Vũ Dương
 
1.
Không biết “ ma đưa lối, quỷ đưa đường “ thế nào, mà, theo lời một người bạn của tôi, lúc này tôi bị ám ảnh bởi mấy chữ “ chiến tranh”, “ lính tráng “ hơi . . . bị nhiều. Những ghi chép ngổn ngang trên bàn, cũng là về chiến tranh, hay chí ít cũng là về những chính trị gia mang gốc lính,  những sự kiện còn mới toanh, chưa kịp khô trên đầu lưỡi mấy vị xướng ngôn viên của các đài truyền hình, truyền thanh trên tòan thế giới. Và, kể cả những bài viết ở trang Chính, vốn được thai nghén rất nghiêm túc, công phu ( và định kỳ ) , cũng không thiếu mấy chữ chiến tranh. Có lẽ là tại vì cuộc chiến tranh ở Iraq hiện nay[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00142.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 0px 20px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image001" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb40.jpg" border="0" alt="clip_image001" width="195" height="244" align="left" /></a></p>
<p><strong>Ký Ức Mùa Thu – Tranh : Vũ Dương</strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong>1.</strong></p>
<p>Không biết “ ma đưa lối, quỷ đưa đường “ thế nào, mà, theo lời một người bạn của tôi, lúc này tôi bị ám ảnh bởi mấy chữ “ chiến tranh”, “ lính tráng “ hơi . . . bị nhiều. Những ghi chép ngổn ngang trên bàn, cũng là về chiến tranh, hay chí ít cũng là về những chính trị gia mang gốc lính,  những sự kiện còn mới toanh, chưa kịp khô trên đầu lưỡi mấy vị xướng ngôn viên của các đài truyền hình, truyền thanh trên tòan thế giới. Và, kể cả những bài viết ở trang Chính, vốn được thai nghén rất nghiêm túc, công phu ( và định kỳ ) , cũng không thiếu mấy chữ chiến tranh. Có lẽ là tại vì cuộc chiến tranh ở Iraq hiện nay luôn chiếm lĩnh trang nhất các tờ báo , khiến không thể quên đi bóng ma cuộc chiến tranh Việt Nam hay chăng ? dù thế nào, thì anh bạn tôi cũng kín đáo khuyến khích tôi bằng câu nói của một ai đó mà anh ta không nhớ, đại khái nói người ta có thể đưa tôi ra khỏi quân đội nhưng không một ai có thể đưa quân đội ra khỏi tôi ( ai nhớ được xin làm ơn mách dùm ). Một anh bạn khác , là dân bóp cò chuyên nghiệp, số vết thương trên người anh ta có thể nhiều hơn số lần anh ta ngủ chung giường với vợ trong suốt thời gian anh phục vụ trong quân đội, thì lại bị ám ảnh bởi những vết thương trên thân thể ( không phải của anh ) của những người đồng đội của mình. Bây giờ, không còn bị bóp cò , anh “ bóp chuột”. Những bài anh ta viết về thương phế binh (VNCH) và vấn đề giúp đỡ cho họ luôn làm nhức nhối người đọc ( có lòng). Vậy thì, nếu tôi có bị ám ảnh bởi “ những vết thương cũ “, chắc cũng chẳng có gì . . . bất thường. Quý độc gỉa của trang T.Vấn sẽ còn tiếp tục “bị” đọc thêm nữa những bài về chiến tranh ( cũ cũng như mới ) . Xin được “ cảnh giác “ trước.</p>
<p><strong>2.</strong></p>
<p>Tôi sợ bóng mình. Tôi là kẻ mắc bệnh tâm thần chăng mà lại đi sợ bóng mình ? Tôi đi tìm ai trên bức tường đá đen khắc tên hơn 58 ngàn tử sĩ không phải người Việt trên mảnh đất Việt của cuộc chiến tranh 30 năm khốc liệt ? Có anh bạn độc miệng bảo chắc là hắn ta đang tìm xem có tên mình trong đó không ? Nhưng cần gì phải đi tìm. Cái bóng của tôi hiện rõ mồn một trên bức tường đá nặng nề, có nhắm mắt cũng nhìn thấy. Chắc có lẽ vì vậy mà tôi sợ chăng ? Cứ tưởng mình là một bóng ma từ quá khứ hiện về. Quá khứ của những ngày cuối cùng tháng 4 năm 1975, cũng là những ngày cuối cùng của những hòai vọng tuổi trẻ không bao giờ trở thành sự thật, những ước mơ cho mình cho đời chết non tức tưởi. Mà cái thứ chết non bao giờ cũng rất linh thiêng. Vì thế, chúng cứ hiện về ám ảnh. Rất nhiều khi, kẻ sống sót sau một cuộc tương tàn lại bất hạnh hơn người đã nằm xuống. Thử đọc lại chương cuối cùng Qua Đồi Trinh Nữ của Thảo Nguyên xem. Tôi thấy thà làm người nằm dưới mộ hơn là làm kẻ thóat chết đi vuốt mắt từng đồng đội của mình . Để rồi mấy chục năm sau, nỗi ám ảnh ấy cứ bám theo mình, hành hạ mình, làm ma nhát mình. Như vậy không sợ sao được ?</p>
<p><strong>3.</strong></p>
<p>Tháng Mười Một. Còn có lễ Tạ Ơn. Dịp để nhìn lại chung quanh và chính mình. Mà biết ơn Ơn Trên vẫn ưu ái cho mình một chỗ tồn tại trên cuộc đời vốn quá đỗi mong manh . Biết ơn những người thân yêu vẫn độ lượng ban phát hào phóng lòng thương hàng ngày. Biết ơn cuộc đời và bạn hữu, vẫn còn nhìn mình khác hơn là sự hiện hữu của một sinh vật. Biết ơn thế giới ảo, tuy Ảo nhưng vẫn chừa cho mình một chỗ Thực để hàng đêm bẹo hình bẹo dạng làm ma nhát những kẻ yếu bóng vía, sợ đọc được những hàng chữ của mình sẽ bị tẩu hỏa nhập ma, đi bằng hai tay còn hai chân thì chổng ngược trên trời như lão quái tây Độc Âu Dương Phong của văn hào lừng danh Kim Dung. Biết ơn những người quen và không quen xa gần vẫn thỉnh thỏang ghé qua căn lều cỏ, suốt bốn mùa không có rượu ( dù nhạt ), không có thơ ( dù thơ dỏm), chỉ có những hàng chữ khô khan chọc vào mắt, lắm khi làm chảy máu , có khi lại làm chảy nước mắt. Cuối cùng , biết ơn một nước Mỹ vừa giàu có vừa thừa mứa tự do, để không bao giờ có tình trạng cúp điện ( vì điện là cái nền vững chắc trên đó thế giới ảo tồn tại ) , cũng không bao giờ có bức tường lửa ngăn đường những lãng tử muốn ngược xuôi đông đòai sau một ngày bận rộn những áo cùng cơm, những biu (bill) cùng bọng, vì không có những con đường thênh thang thì căn lều cỏ này sẽ vắng vẻ còn hơn cõi lòng chủ nhân của nó.Thế chẳng phải là hạnh phúc đó sao ? Tuyệt vời hơn nữa là cái hạnh phúc được nói lên những lời tạ ơn. Có phải thế không ?</p>
<p><strong>4</strong><strong>.</strong></p>
<p>Lại sắp hết tháng mười một. Thời gian cứ như bay như thổi. Mới đó mà sắp một năm nữa qua đi. Bao nhiêu việc phải làm vẫn còn nguyên đó. Vậy mà cứ hẹn lần hẹn lữa. Thôi để ngày mai. Thôi để tháng tới. Thôi để . . . Cho đến khi không còn lần lữa được nữa. Nhìn những tờ lịch vơi dần như sinh lực của mình cũng đang vơi dần mà tôi bất gíac rùng mình. Năm cùng tháng tận cũng có nghĩa là sức mỏn hơi tàn. Vậy mà có người bạn gìa vẫn còn chơi trống bỏi được. Tài thật. Nhưng mà có ích gì không khi cứ cố bám lấy cái mà mình không còn khả năng nắm giữ được nữa ? Ngày vui đã qua mau , rồi thì ngày buồn cũng qua mau thôi ( cái ông Nguyễn ngọc Ngạn nói cứ như thánh ! ) . Hay nói theo kiểu ông thầy sáu Vũ Thành An , lâu rồi đời mình cũng . . . tiêu. Nhưng tiêu sao được khi còn bao nhiêu việc phải làm, còn bao nhiêu món nợ chưa trả hết ? chẳng lẽ bắt con cháu chúng è lưng ra gánh ? Thật lạ lùng! Việc của cả năm lại cứ dồn vào tháng cuối cùng. Việc của cả đời cũng cứ dồn vào lúc sắp sửa chào vĩnh biệt cuộc đời . Phải chi có được một cuộc đời khác dự trữ thì tuyệt vời biết mấy !</p>
<p><strong>5</strong><strong>.</strong></p>
<p>Nếu không có những nỗi buồn, thì mấy ai biết rằng mình đã trọn vẹn sống một kiếp người. Và vì thế, trong những ngày giờ cuối cùng của tháng mười một, với tin tức thời tiết báo cho biết nhiệt độ trong đêm có thể sẽ xuống rất thấp, và từ phía Bắc đang hình thành cơn bão tuyết  có thể sẽ khiến các trường học phải đóng cửa vào sáng hôm sau, tôi có thể hình dung ra tiếng reo vui hồn nhiên của các con tôi khi biết chúng sẽ không phải đến trường. Còn tôi thì cũng yên tâm cuộn tròn mình trong chăn, không phải lò dò dậy sớm khăn áo mũ mãng nặng chình chịch trên người, mở cửa nhà để xe lạnh ngắt mà lo sưởi ấm xe trước khi luôn miệng nhắc các con nhớ mặc thêm áo ấm kẻo lại sổ mũi nhức đầu. Không có những trận bão tuyết thì mùa đông chắc chưa phải là mùa đông trọn vẹn.</p>
<p>Vì thế, tôi trân trọng chào đón trận tuyết đầu mùa tuyệt đẹp ( dù đã khiến 18 người tử vong ) đến với thành phố nhỏ bé này ngay ngày đầu tiên của tháng 12.</p>
<p>© T.Vấn 2007</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2007/11/doclai/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Từ bức tường đ&#225; đen</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2007/11/tubuctuong/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2007/11/tubuctuong/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 11 Nov 2007 01:55:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[11]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 11 - 2007]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2007/11/t%e1%bb%ab-b%e1%bb%a9c-t%c6%b0%e1%bb%9dng-d-den/1015/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2007/11/tubuctuong/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb65-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image002" title="clip_image002" /></a><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00269.jpg"></a>
 Mộ chí ai, còn đâu khói hương
Đất cũ cày lên nỗi óan hờn
Túy ngọa sa trường hay nuốt lệ
 Một đời chinh chiến cũng tang thương
( Ngọc Phi – Tạ núi sông )
 
<a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00270.jpg"></a>
 
1.
Như thường lệ hàng năm, đầu tháng 11, mấy người bạn cùng sở làm vốn là cựu chiến binh lại tụ họp nhau bàn các công việc cần thiết cho ngày lễ Veteran Day ( 11/11) sắp đến. Cũng như mọi năm, công việc của chúng tôi thường là cập nhật hóa danh sách cựu chiến binh trong sở , thực hiện một kỷ vật nào đó để trao cho các cựu chiến binh tham dự ngày họp mặt chính thức và sọan một đề tài để suy niệm. Năm nay, đề tài mà chúng tôi hướng tới là Bức tường đá đen ghi tên hơn 58 ngàn người[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00269.jpg"><img style="border-right-width: 0px; margin: 10px 20px 0px 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="clip_image002" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb65.jpg" border="0" alt="clip_image002" width="244" height="164" align="left" /></a></strong></p>
<p><em> Mộ chí ai, còn đâu khói hương</em></p>
<p><em>Đất cũ cày lên nỗi óan hờn</em></p>
<p><em>Túy ngọa sa trường hay nuốt lệ</em></p>
<p><em> Một đời chinh chiến cũng tang thương</em></p>
<p><em>( Ngọc Phi – Tạ núi sông )</em></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00270.jpg"></a></strong></p>
<p><strong><em> </em></strong></p>
<p><strong>1.</strong></p>
<p>Như thường lệ hàng năm, đầu tháng 11, mấy người bạn cùng sở làm vốn là cựu chiến binh lại tụ họp nhau bàn các công việc cần thiết cho ngày lễ Veteran Day ( 11/11) sắp đến. Cũng như mọi năm, công việc của chúng tôi thường là cập nhật hóa danh sách cựu chiến binh trong sở , thực hiện một kỷ vật nào đó để trao cho các cựu chiến binh tham dự ngày họp mặt chính thức và sọan một đề tài để suy niệm. Năm nay, đề tài mà chúng tôi hướng tới là Bức tường đá đen ghi tên hơn 58 ngàn người lính Mỹ đã hy sinh trong chiến tranh Việt Nam. Trong lúc trao đổi ý kiến, một anh bạn Mỹ đã từng có 5 năm phục vụ ở Việt Nam, 2 lần bị thương, đưa cho chúng tôi xem bức hình chụp Chiến Thương Bội Tinh ( Purple Heart) mà anh nhận được trong lần bị thương thứ nhì, rồi ngậm ngùi nhắc đến những người bạn kém may mắn của mình trong trận chiến khốc liệt năm nào, nay tên của họ đã nằm yên nghỉ mãi mãi trên mặt đá đen bóng lưỡng của bức tường tưởng niệm các chiến binh Mỹ bỏ mình trong cuộc chiến Việt Nam. Anh cũng cố moi trí nhớ kể câu chuyện một người lính miền Nam đã không quản ngại cơn mưa đạn điên cuồng đến từ mọi phía, chạy đến bên anh giúp băng bó vết thương và dìu anh lui ra phía sau trận địa. Anh đã ngất đi vì đau đớn và mất quá nhiều máu. Và vì thế, anh bạn cựu binh Mỹ của tôi đã không thể biết được tên tuổi, đơn vị người lính vô danh ấy, cũng như không thể nhớ được khuôn mặt người đã cứu mạng sống của mình. Anh kết luận, trên bãi chiến trường, những cử chỉ đơn giản như của người lính VNCH bình thường ấy, là những hành động có tầm mức lớn lao của sự sống và cái chết. Nhờ vậy, anh còn sống để nhận tấm huy chương của vết thương, và ngày hôm nay nhớ đến những đồng đội của mình có tên được khắc trên bức tường đen ảm đạm.</p>
<p>Câu chuyện cũ đã 40 năm. Có thể từ bấy đến nay, mỗi năm cứ đến ngày lễ cựu chiến binh là anh lính Mỹ may mắn ấy lại nhớ đến những khỏanh khắc khó quên của cuộc đời quân ngũ và câu chuyện người lính miền Nam cứu mạng. Nhưng bao lâu nhân lọai còn chiến tranh, những câu chuyện cũ tương tự như câu chuyện của anh bạn cựu binh Mỹ đã tham chiến ở Việt Nam, vẫn còn nguyên những giá trị như khi chúng vừa mới xẩy ra. Vì vậy, mới có sự hiện hữu của những đài tưởng niệm chiến tranh, những quân nhân bỏ mình vì tổ quốc, và đặc biệt, nước Mỹ còn có bức tường đá khắc tên 58, 256 tử sĩ ( và mất tích) trong chiến cuộc Việt Nam.</p>
<p>Năm nay cũng là năm kỷ niệm lần thứ 25 bức tường đá được xây dựng ở khu lưu niệm các cựu binh Mỹ tham dự chiến tranh Việt Nam ở thủ đô Washington, D.C. Bức tường gồm hai đọan, mỗi đọan dài 75 mét nối nhau theo hình chữ V với kinh phí gần 9 triệu đô la hòan tòan do sự đóng góp tự nguyện của các tổ chức thiện nguyện và khỏang hơn 275 ngàn cá nhân , được hòan tất ngày 01 tháng 11 năm 1982. Ngày 11 tháng 11 năm 1984, tòan bộ khu Tưởng Niệm gồm : Bức Tường ( the Wall), Tượng “ Ba Người Lính “ ( The Three Servicemen) và Kỳ Đài ( The Flag) được chính thức chuyển giao cho bộ Nội An Hoa Kỳ và trở thành Đài Tưởng Niệm Quốc Gia. Từ đó, theo truyền thống hàng năm, nghi thức “ Xứơng danh “ ( Reading of the Names – đọc những tên được khắc trên bức tường đá ) được bắt đầu từ ngày 6 tháng 11 cho đến ngày 10 tháng 11. Riêng năm nay, để kỷ niệm 25 năm bức tường đá, sẽ có cuộc diễn hành của các cựu binh Hoa Kỳ từng tham chiến ở Việt Nam. Họ cũng đạt lời mời trân trọng đến Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Hải Ngọai tham gia vào cuộc diễn hành.Tổ chức chính thức này của những người lính VNCH đã nhận lời với sự hợp tác của trên 50 tổ chức hội đòan khắp nơi trên nước Mỹ. Như vậy là lần đầu tiên sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, những người lính Việt Mỹ trước đây đã từng sát cánh bên nhau trên trận địa nay lại được dịp sánh vai nhau trên những đường phố thủ đô Hoa Kỳ để cùng nhau nhớ đến những chiến hữu đã nằm xuống cho lý tưởng chung.Theo lịch trình, sáng ngày 11 tháng 11, lúc 11 giờ sáng, nghi lễ chính thức được mở đầu bằng cuộc diễn hành khởi đi từ góc đường số 7 ( 7<sup>th</sup> Street) và chấm dứt ở khu vực Đài Tưởng Niệm Washington ( Washington Monument ).Sau đó, là nghi thức đặt vòng hoa tưởng niệm tại bức tường đá đen để kết thúc phần nghi lễ chính thức.</p>
<p><strong>2.</strong></p>
<p><strong><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00425.jpg"><img style="border-right-width: 0px; margin: 10px 0px 0px 5px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="clip_image004" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image004_thumb24.jpg" border="0" alt="clip_image004" width="244" height="218" align="right" /></a></strong></p>
<p>Tháng 6 năm ngóai, tôi đã có dịp đặt bàn tay mình vào bức tường đá đen có dấu tay của hàng triệu triệu du khách khắp nơi trên thế giới. Chung quanh tôi, rất nhiều du khách người Mỹ đứng trầm tư, kể cả những đứa trẻ cũng im lặng ngơ ngác nhìn những cái tên chi chít trên mặt tường. Những cái tên của những người lính đã đến một nơi thật xa lạ, đem mạng sống của chính mình ra bảo vệ tự do và sự sống còn của những người mà có lẽ họ không bao giờ biết mặt. Hay ít nhất, đó cũng là ý nghĩ trong đầu của đa số những chiến binh Mỹ khi chào từ biệt gia đình để lên đường bước vào cuộc chiến thật khốc liệt nơi mảnh đất gọi là Việt Nam. Tranh cãi hay không tranh cãi, đúng hay sai thì họ cũng đã nằm xuống vĩnh viễn. Và chắc chắn, họ đã không bị quên lãng. Sự hiện diện của bức tường trước mặt tôi là bằng chứng cho sự không quên lãng của các thế hệ tương lai. Người chết nào cũng đáng nhớ. Nhất là những người chết vì tổ quốc và vì sự sống còn của người khác. Bức tường đá khắc tên hơn 58 ngàn người lính Mỹ hy sinh trong chiến tranh Việt nam, theo lời một cựu binh Mỹ khác may mắn sống sót , là nơi “ <em>danh dự nhưng thiếu bóng dáng của vinh quang, có nỗi buồn nhưng chẳng mảy may giận dữ, có thứ quá khứ mà người ta sẽ phải nhớ mãi mãi về sau, có một tương lai mà chưa thế hệ nào được nhìn thấy, có sự mất mát mà chỉ một số ít người có thể hiểu được, có sự cứu rỗi mà không phải ai cũng nhận ra, có một thứ quá khứ chỉ một số ít người đã kinh qua, nhưng lại có thứ tương lai mà ai ai cũng có thể rút tỉa được những điều bổ ích . . . ( Bob Gura – Cựu binh Mỹ phục vụ ở Việt Nam từ 1966-1967) .</em></p>
<p>Từ bức tường đá đen, bài học đã được rút tỉa cho các thế hệ non trẻ :</p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image0068.jpg"><img style="border-right-width: 0px; margin: 0px 20px 0px 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="clip_image006" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image006_thumb8.jpg" border="0" alt="clip_image006" width="244" height="161" align="left" /></a></p>
<p><em>Chính là người lính</em></p>
<p><em>Chứ không phải các phóng viên</em></p>
<p><em>Đã đem đến cho chúng ta tự do ngôn luận</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Chính là người lính,</em></p>
<p><em>Chứ không phải các nhà thơ</em></p>
<p><em>Đã đem đến cho chúng ta tự do tư tưởng</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Chính là người lính</em></p>
<p><em>Chứ không phải những kẻ tổ chức biểu tình</em></p>
<p><em>Đã đem đến cho chúng ta sự tự do bày tỏ</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Chính là người lính,</em></p>
<p><em>Đã đứng nghiêm chào lá quốc kỳ, </em></p>
<p><em>Đã vì lá quốc kỳ mà hy sinh</em></p>
<p><em>Để quan tài của mình được lá quốc kỳ ấy bao phủ</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>( Vô Danh )</p>
<p>Một cựu binh Mỹ vô danh nào đó, khi đến viếng thăm Bức Tường, đã để lại những câu thơ ngắn nhưng đầy ý nghĩa về sự hy sinh của người lính.</p>
<p><strong>3.</strong></p>
<p>Hơn 58 ngàn nguời lính Mỹ hy sinh vì chiến tranh Việt Nam đã được ghi tên trên bức tường Tưởng Niệm, và sẽ được nhắc nhở mãi mãi trong lịch sử các cuộc chiến tranh của nước Mỹ, cũng như được tưởng nhớ bởi nhiều thế hệ trẻ nước Mỹ trong tương lai. Những người chiến binh VNCH, những người đã chiến đấu với sự can trường không kém người bạn đồng minh, thậm chí còn can trường hơn, chịu gian khổ nhiều hơn vì họ chiến đấu cho chính đồng bào họ, cho tương lai của chính con cháu họ và cũng đã nằm xuống với lòng yêu nước cao quý không kém , dường như không được may mắn như những bạn đồng minh Mỹ quốc. Trong cuộc chiến khốc liệt ấy, họ ở về phía bên thất trận. Trong chiến tranh, rất nhiều khi sự thắng thua không nói được gì về phẩm chất một quân đội. Những người lính VNCH đã thua, có thể vì họ không may mắn được chỉ huy bởi những nhà lãnh đạo tầm cỡ, có thể vì những lý do không nằm ở trên chiến trường, nhưng chắc chắn một điều họ đã không hèn nhát. Hơn 30 năm sau khi cuộc chiến kết thúc, những cái nhìn đầy thiên kiến, thiển cận và ác ý vẫn tiếp tục hướng về những con người – nhất là những người đã nằm xuống – lẽ ra phải được dành một vị trí xứng đáng trong lòng dân tộc. Thái độ thiếu công bằng ấy không chỉ đến từ phía những người từng một thời là những kẻ thù , mà còn đến cả từ phía những người từng một thời là bạn, là đồng minh. Tất nhiên, nguồn gốc của những thiên kiến ấy không phải là không có gốc rễ từ những sai lầm của thiểu số lãnh đạo quân đội (VNCH), và cả ở cung cách can thiệp thô bạo, lộ liễu của các chính sách Mỹ trong thời kỳ chiến tranh, vốn đã không giúp ích gì làm tốt đẹp hơn hình ảnh quân đội miền Nam đối với thế giới, mà lại còn là “ <em>gánh nặng trầm kha không thể nào vượt thắng ( cho quân đội VNCH): là một đồng minh bất xứng, ngu dốt và gây rối một cách đáng kinh ngạc, dưới hình thức cái chính phủ Hoa Kỳ “ ( Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa : 1968-1975 – bài của Bill Laurie, Sử Gia – bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Tiến Việt).</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>Không một người lính nào cầm súng, ra trận để mong được tổ quốc ghi ơn. Vì như vậy có nghĩa là họ đã không may mắn sống sót trở về. Nhưng, lịch sử sẽ không là một lịch sử xứng đáng nếu không có những con người bước vào trận địa với một niềm tin duy nhất : phục vụ cho tổ quốc. Tổ quốc ấy có thể là ảo tưởng một xã hội chủ nghĩa không có cảnh người bóc lột người của cô chiến sĩ miền Bắc Đặng thùy Trâm, có thể là viễn tưởng một đất nước tự do không có những gông cùm độc tài cộng sản của người lính miền Nam. Tuy đối nghịch nhau trên trận địa, nhưng cả hai đã mang trong lòng mình niềm mơ ước trong sáng cho tổ quốc, cho nên họ đáng được kính trọng và tưởng nhớ như nhau. Cái Đúng Sai trong cuộc đối đầu ấy thuộc về những kẻ ngồi ở một chỗ an tòan nhất để phát động chiến tranh, kéo dài chiến tranh và chấm dứt chiến tranh.</p>
<p>Đừng quy trách nhiệm ấy trên vai những người lính.</p>
<p><strong>4.</strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image0072.jpg"><img style="border-right-width: 0px; margin: 5px 15px 0px 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="clip_image007" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image007_thumb2.jpg" border="0" alt="clip_image007" width="184" height="126" align="left" /></a></p>
<p>Mỗi lần có dịp tham dự những nghi lễ trang trọng nơi sở làm, khi đứng nghiêm chào tay trước lá quốc Kỳ Mỹ và truy điệu những tử sĩ của ba trăm năm lập quốc Hoa Kỳ, tôi lại chạnh nghĩ đến ngày lễ cựu chiến binh của quân lực VNCH, đến những tử sĩ Việt nam đã chết cho tổ quốc, đến những người lính còn sống đã không có mảnh đất riêng để cắm lá quân kỳ mà một thời chúng tôi đã không quản ngại xương máu giữ cho lá quân kỳ ấy hiên ngang phấp phới giữa hàng quân. Cái cảm gíac ấy thật ngậm ngùi. Ngậm ngùi hơn khi nghĩ đến những hồn tử sĩ đang vất vưởng đâu đó giữa cõi hỗn mang gió thổi ù ù , không biết khi nào là giờ linh thiêng và nẻo đường nào là lối dẫn về Kỳ Đài năm xưa, nơi những hàng quân được tập họp, có tiếng hô nghiêm dõng dạc và sự im lặng rợn người.</p>
<p><em>Và những thế hệ Việt Nam ngày mai, ai là người còn nhớ đến số phận nghiệt ngã của tiền nhân sinh sống ở miền Nam nửa cuối thế kỷ 20 ?</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Hãy khóc cùng tôi này em nhé</em></p>
<p><em>Non sông hoa gấm đã xa rồi</em></p>
<p><em>Chinh chiến cũng qua rồi em hỡi</em></p>
<p><em>Thiên thu còn giọt lệ cho đời</em></p>
<p><em>( Ngọc Phi )</em></p>
<p>© T.Vấn 2007</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2007/11/tubuctuong/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>V&#224;i cảm nghĩ nh&#226;n đọc một người l&#237;nh viết về chiến tranh</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2006/11/vaicamnghi/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2006/11/vaicamnghi/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 29 Nov 2006 06:10:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[11]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 11 - 2006]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2006/11/vi-c%e1%ba%a3m-nghi-nhn-d%e1%bb%8dc-m%e1%bb%99t-ng%c6%b0%e1%bb%9di-lnh-vi%e1%ba%bft-v%e1%bb%81-chi%e1%ba%bfn-tranh/1057/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2006/11/vaicamnghi/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb39-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image001" title="clip_image001" /></a><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00141.jpg"></a>
Người lính – Tranh của Trần Thanh Châu
( Trích đoạn bài nói chuyện trong buổi ra mắt truyện dài Qua Đồi Trinh Nữ của nhà văn Thảo Nguyên Nguyễn Bá Thuận ngày 20 tháng mười một năm 2004 tại thành phố Dallas &#8211; Texas và 6 tháng ba năm 2005 tại thành phố San Jose- CA.)
. . .Truyện dài QUA ĐỒI TRINH NỮ của Thảo Nguyên là tác phẩm viết về chiến tranh của một người trong cuộc, theo cái nghĩa trung thực nhất và giản dị nhất của người trong cuộc. Cuộc chiến 30 năm đã chấm dứt cách đây 30 năm. Khoảng thời gian 60 năm một đời người ngắn ngủi chưa đủ dài hay sao để ngày hôm nay, cách xa bãi chiến trường cũ hàng nửa vòng quay quả đất, những người sống sót sau một cuộc chiến  vẫn còn tiếp tục[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00141.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 0px 15px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image001" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb39.jpg" border="0" alt="clip_image001" width="244" height="164" align="left" /></a></p>
<p><em>Người lính – Tranh của Trần Thanh Châu</em></p>
<p>( <em>Trích đoạn bài nói chuyện trong buổi ra mắt truyện dài Qua Đồi Trinh Nữ của nhà văn Thảo Nguyên Nguyễn Bá Thuận ngày 20 tháng mười một năm 2004 tại thành phố Dallas &#8211; Texas và 6 tháng ba năm 2005 tại thành phố San Jose- CA.)</em></p>
<p>. . .Truyện dài QUA ĐỒI TRINH NỮ của Thảo Nguyên là tác phẩm viết về chiến tranh của một người trong cuộc, theo cái nghĩa trung thực nhất và giản dị nhất của người trong cuộc. Cuộc chiến 30 năm đã chấm dứt cách đây 30 năm. Khoảng thời gian 60 năm một đời người ngắn ngủi chưa đủ dài hay sao để ngày hôm nay, cách xa bãi chiến trường cũ hàng nửa vòng quay quả đất, những người sống sót sau một cuộc chiến  vẫn còn tiếp tục nói và viết về nó. Tôi gọi đây là thảm kịch chưa từng có tiền lệ trong lịch sử hàng ngàn năm chiến tranh của đất nước chúng ta. Tiếng súng đã im từ ngày 30 tháng 4 năm 1975, nhưng cái ngày quê hương thanh bình  mà những nhân vật nửa thực nửa hư trong Qua Đồi Trinh Nữ &#8211; còn sống hay đã chết &#8211; mong đợi ấy, mà tất cả chúng ta mong đợi ấy , chưa hẳn đã đến. Chính vì thế , mà chúng ta &#8211; những kẻ sống sót &#8211; phải lưu vong quê người , sau nhiều năm tháng bị lưu đầy ngay trên chính quê hương của mình. Cơn lốc chiến tranh, tàn bạo như chính tên gọi của nó, đã không chừa một ai trên đường đi hủy diệt con người, từ thể xác &#8211; những người đã nằm xuống -, đến tâm linh &#8211; tức chúng ta, những người còn sống sót. Chính vì thế,viết về cuộc chiến tranh ấy, không phải là nhắc đến những ngày vinh quang cũ &#8211; làm sao gọi là vinh quang cho được khi đồng bào máu mủ của mình ở cả hai miền đã chịu bao tang tóc điêu linh chỉ vì sự ngông cuồng của một thứ chủ nghĩa vay mượn từ bên ngoài nay đã hoàn toàn dãy chết vì chính sự ngông cuồng của no. Viêt về cuộc chiến tranh ấy, không phải chỉ nhắc đến cái hào hùng của một thời vó câu yên ngựa. Đã đành là hào hùng, nhưng cái hào hùng trọn vẹn thuộc về những người đã nằm xuống. Những người còn sống, đã từng mặc chiếc áo trận của chính mình, nhưng không phù hiệu đơn vị, không cầu vai, không cấp bực, lê bước chân trần lưu đầy trên khắp nẻo quê hương từ Nam Quan cho đến Cà Mau qua các nhà tù tiền sử dựng lên vội vàng sau ngày miền Nam thua trận, thì cái hào hùng ấy , dù chúng ta thú nhận hay không thú nhận , cũng phần nào không được gọi là trọn vẹn. Và chắc chắn đó chẳng phải là trọng tâm khi người lính cầm bút viết về những ngày tháng ấy. Càng không phải sự nuối tiếc một thứ quá khứ mà có người đã khuyên chúng ta hãy quên nó đi. Có ai lại đi nuối tiếc một quá khứ gian khổ nhọc nhằn, ranh giới giữa sống và chết chỉ cách nhau có một hàng rào kẽm gai, và bao khổ đau mất mát không một thứ bút mực ngôn ngữ nào có thể diễn đạt đầy đủ.</p>
<p><em>Vậy thì tại sao lại cần phải viết về cuộc chiến mà ai cũng muốn nó hãy ngủ yên trong quá </em><em>khứ ?</em></p>
<p>Cần thiết là vì, thứ nhất, cuộc chiến ấy liên quan sinh tử đến hầu như tất cả những người Việt Nam ở cả hai miền Nam Bắc. Cuộc chiến ghi một dấu ấn khủng khiếp đến tất cả những người tham dự trực tiếp vào cuộc chiến, tự nguyện hay bắt buộc, ở cả hai miền Nam Bắc. Ở một tầm mức to lớn như thế, một trăm năm sau, lịch sử sẽ vẫn còn bàn cãi, tranh luận, phẩm bình.</p>
<p>Thứ hai, tầm vóc hủy diệt, vô luân của cuộc chiến, không chỉ trong chiến tranh, mà còn sau chiến tranh, dù đã 30 năm. Chiến tranh nào mà không có những tàn bạo phi nhân, những chết chóc hủy diệt. Nhưng cái tiền lệ chưa từng có trong lịch sử  của cuộc chiến này nằm ở những gì xảy ra sau chiến tranh. Mức độ tàn bạo vô luân đã được đẩy lên đến mức giới hạn của sức tưởng tượng con người. Hàng trăm ngàn người bị ngược đãi, nhục hình trong các trại cải tạo. Cả miền Nam bị bóc lột, đày đọa như những ngoại nhân ngay trên quê hương của mình. Hàng triệu người liều mình vượt biển, băng rừng,  bỏ nước ra đi, tìm sự sống trong cái chết, mang trong lòng niềm tin: Tự Do hay là Chết. Và cho đến ngày hôm nay, là bi kịch kẻ trong nước người ngoài nước, nghi kỵ nhau, chỉ trích nhau, thù hằn nhau.</p>
<p>Thứ ba, bên thua trận lại là những người cầm ngọn cờ giương cao những lý tưởng cao cả nhất của nhân loại: Tự Do, Công Bằng , Bác Ai. Kẻ thắng trận, hay kẻ tự cho mình là bên thắng trận, đã để lộ bộ mặt giả nhân giả nghĩa sau khi chiếm được thế thượng phong. Bức bình phong của họ là chủ nghĩa cộng sản đã không còn đánh lừa được ai. Và giờ đây, trên quê hương, nơi chúng ta phải bỏ ra đi vì, trên đất nước của mình, chúng ta không được quyền nặng lòng với quê hương, nơi ấy, vẫn còn tiếp tục những đày đọa, khổ ải, nghèo đói, bất công.</p>
<p>Thứ tư, những bài học xương máu của cuộc chiến vừa qua, cần được nghiền ngẫm, rút tỉa, hầu tránh cho dân tộc, và cả nhân loại, ở những thế hệ sau, không còn phải đau nỗi đau của cha ông.</p>
<p>Vì những lý do nêu trên, bên cạnh những công trình biên khảo đứng đắn, nghiêm cẩn, rất cần thiết phải có những tác phẩm văn học viết về cuộc chiến vừa qua, như truyện dài Qua Đồi Trinh Nữ của nhà văn Thảo Nguyên . Vì văn học, với khả năng  thẩm thấu lòng người trực tiếp , và tùy thuộc ở trình độ nghệ thuật, nhiều khi có ảnh hưởng lớn hơn rất nhiều công trình biên khảo cộng lại. Đã đành, hiện nay có rất nhiều những Đặc San, Nội San của từng tập thể , từng binh chủng, quân trường, nơi đó,qua những hồi ký, tùy bút,  những bài viết về chiến tranh, tấm lòng người lính được dàn trải, những u ẩn được tỏ bầy, những trạng huống xác thực được kể lại, nhưng thiếu đi tầm mức khái quát cần thiết của một tác phẩm dài hơi, và quan trọng hơn hết, chỉ với tới được những đối tượng rất giới hạn  là anh em bạn bè mình trong cùng một môi trường sinh hoạt, giao lưu. Trong khi đó, công chúng rộng rãi, cả hôm nay và ngày mai, cả trong nước lẫn ngoài nước, đều xứng đáng được đáp ứng cho nỗi quan tâm của mình, xứng đáng được quyền biết đến những gì đã xảy ra trong cuộc chiến tranh 30 năm cốt nhục tương tàn, nhất là , với những người còn nặng trĩu một tấm lòng.</p>
<p>Giá trị nhân bản của một tác phẩm viết về chiến tranh như Qua Đồi Trinh Nữ nằm ở chỗ nó chuyển tải được nỗi đau của nhân vật, lính cũng như dân, sự khủng khiếp của chiến tranh,  đến người đọc. Người đọc Qua Đồi Trinh Nữ, khi gấp trang cuối cùng lại, không thể không ngậm ngùi tưởng tượng hình ảnh nhân vật chính quỳ xuống hôn từng ngôi mộ đắp sơ sài bên đồi trinh Nữ . Trong những ngôi mộ ấy là hình hài đẫm máu của người con gái rất mực yêu thương, là thi thể không toàn thây của những người lính thuộc quyền, thà chết, không chịu lùi bước trước bạo lực , không chịu bỏ rơi bạn đồng ngũ. Hình ảnh ấy, qua sự khắc họa của Thảo nguyên, đã trở thành Sử Thi và mang một giá trị vượt thời gian và không gian, vì qua đó, người ta sẽ làm hết sức để tránh cho những nỗi đau ấy, sự khủng khiếp ấy, tái diễn.</p>
<p>Chúng ta đã trải qua một cuộc chiến tranh, và hai cuộc lột xác đổi đời: một lần là lưu đày quê nhà và một lần là lưu vong quê người. Ngần ấy tuổi đời và thương đau, chúng ta hiểu hơn ai hết rằng, chúng ta có thể chôn cất hận thù, chúng ta có thể chôn cất quá khứ, như chúng ta đã chôn cất người chết,  nhưng chúng ta không thể chôn cất những nỗi đau. Đã bao nhiêu năm rồi, đâu phải mới hôm qua, đâu phải mới tháng trước, vậy mà, mỗi khi trái gió trở trời, mỗi khi nghe tiếng khóc quen thuộc, những nỗi đau từ dưới đáy mồ đã chôn cất từ lâu, lại thức dậy nhắc nhở , tra tấn, hành hạ, đay nghiến và than van. Người lính già chấp nhận nỗi đau ấy cho riêng mình. Ong sẽ mang theo nó xuống mồ một ngày không xa. Nhưng ông không muốn thế hệ con cháu ông phải đau nỗi đau của ông, và ông tin rằng, không quản ngại những nhọc nhằn cuối đời lưu lạc, một chút đóng góp nhỏ nhoi của mình, biết đâu, có thể góp phần cứu chuộc được cả một nhân loại đang bước dần đến ngày Phán  Xử Cuối  Cùng. Theo tôi, đấy là giá trị và chỗ đứng của Qua Đồi Trinh Nữ. Tác phẩm ,viết cho hương hồn những người đã nằm xuống, cảnh tỉnh người còn sống, để cho sự nằm xuống ấy, không trở thành vô nghĩa.</p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00276.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 5px 0px 10px 10px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image002" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb71.jpg" border="0" alt="clip_image002" width="244" height="184" align="right" /></a></p>
<p>Nhà văn Thảo Nguyên ( người đứng thứ nhất, bên tay phải ) trong buổi lễ ra mắt tác phẩm QĐTN tại thành phố San Jose , CA ngày 6 tháng 3 năm 2005.</p>
<p>Vấn đề cuối cùng đặt ra ở đây, khi người lính cầm bút viết về một thời cầm súng của mình, thì chiến tuyến, có làm giới hạn tầm nhìn của tác giả hay không ? Vấn đề quả thật là khá tế nhị. Bởi vì, ngay trong cách đặt vấn đề, đã hàm chứa phần nào tính một chiều của câu trả lời. Đã có rất nhiều những tác phẩm chiến tranh mang giới hạn ấy.Nhất là những tác phẩm gọi là văn chương tuyên truyền được viết bởi phần lớn các nhà văn miền Bắc. Mặt khác, viết về chiến tranh trên tư cách kẻ ngoài cuộc, kẻ đứng từ trên cao ở một chỗ thật an toàn nhìn xuống, thì cũng giống như người ngồi xem một cuốn phim chiến tranh được thực hiện bởi các đạo diễn tài ba của Holywood, với đầy đủ những xảo thuật của kỹ thuật hiện đại, rồi quay qua trang giấy trắng, viết như tường thuật lại cuốn phim mình vừa được coi. Rất bao quát, rất khách quan, nhưng vô hồn.</p>
<p>Với tầm vóc bi tráng có một không hai trong lịch sử của cuộc chiến ba mươi năm vừa qua, khi người trong cuộc viết về cuộc chiến mà mình tham dự, giá trị đích thực của tác phẩm nằm ở những điều mà nếu không phải là người trong cuộc, thì không một nhà văn nào có thể diễn đạt được thực tại ấy một cách chân thực nhất. Những thực tại ấy, đôi khi vượt lên trên mọi giới hạn của chiến tuyến, của tầm nhìn. Nói cách khác, phải sống cái chết của cuộc chiến, mới hiểu được hết cái chết của sự sống những ngày ấy. Phải đọc , với tấm lòng thật rộng mở, những chương cuối cùng của Qua Đồi Trinh Nữ, mới nhận chân được rằng, phải là người trong cuộc, phải là người lính cầm súng, phải là người biết căm thù cái ác, phải là người biết khóc, biết đau, mới viết được những trang sách như thế. Không một nhà văn nào, dù tài ba đến đâu, nếu không phải là người xông pha hòn tên mũi đạn, có thể diễn đạt được như Thảo Nguyên đã diễn đạt.</p>
<p>Mấy lúc gần đây, giới văn học hải ngoại và một số tác giả ngoại quốc, nhắc nhiều đến tác phẩm viết về chiến tranh của một nhà văn trong nước hiện nay. Đó là tác phẩm Nỗi Buồn Chiến Tranh của Bảo Ninh. Cũng như Thảo Nguyên, Bảo Ninh là một người cầm súng, chỉ khác là ông ở trong lực lượng Quân đội Cộng Sản từ Bắc vào Nam. Nói cách khác, Bảo Ninh cũng là người trong cuộc, viết về cuộc chiến mà mình tham dự. Tôi không nói dài dòng về tác phẩm của Bảo Ninh, nhưng sự chấp nhận, tuy vẫn còn chưa rộng rãi, của một số tác giả hải ngoại cũng như ngoại quốc đối với tác phẩm của Bảo Ninh, chứng tỏ rằng, chiến tuyến, tầm nhìn, chưa hẳn đã giới hạn  giá trị nhân bản của một tác phẩm viết về chiến tranh bởi người đã từng trực tiếp tham dự cuộc chiến tranh ấy.</p>
<p><em>Chiến tranh là sự nguyền rủa của định mệnh con người, là những lỗ hổng oan nghiệt của lịch sử chỉ được lấp đầy bởi những xác người, kẻ xấu cũng như người tốt. Vì thế, không </em><em>một  người</em><em> có lương tri nào ưa thích chiến tranh, kể cả những người hăm hở bước vào cuộc chiến, cũng chỉ là để hoàn tất số phận nghiệt ngã của mình. Vì thế, với người lính trực tiếp trên chiến địa, không hề có một cuộc chiến tranh sai hay đúng, không hề có sự căm thù giữa người và người, dù là ở hai bên của một cuộc đối đầu. Có căm thù chăng, là sự căm thù điều ác, đã đẩy đưa cho hai người không hề biết mặt nhau quyết giết nhau để sinh tồn. Cái sai hay đúng của một cuộc chiến là cái sai và đúng của những người đã gây ra cuộc chiến, trực tiếp hay gián tiếp. Vì thế, đối với người lính, chiến tranh không phải là kết quả của việc thành bại luận anh hùng. Vì thế, khi viết về chiến tranh, người lính không bận tâm tô hồng chuốt lục cho một thực tại máu, nước mắt và nỗi đau, thể xác cũng như tâm hồn. Với tác phẩm Qua Đồi Trinh Nữ, người lính Thảo Nguyên </em><em>chỉ ,</em><em>- qua thân phận mình và đồng đội, còn sống hay đã chết, &#8211; gởi đến các thế hệ mai sau bức thông điệp của lòng nhân ái và về sự hy sinh cao quý của những người đã nằm xuống cho lý tưởng Tự Do, đồng thời, cảnh tỉnh rằng, sự hy sinh nào cũng cao quý, nhưng tốt nhất, đừng để sự hy sinh ấy phải xảy ra.</em></p>
<p>Có lẽ đó cũng là lời cầu nguyện hằng đêm của tất cả những con người còn tin tưởng có một Đấng Tối cao khuất mặt.</p>
<p>©T.Vấn 2006</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2006/11/vaicamnghi/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Gọi m&#227;i t&#234;n nhau</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2006/11/goimai/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2006/11/goimai/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 26 Nov 2006 01:47:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[11]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 11 - 2006]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2006/11/g%e1%bb%8di-mi-tn-nhau/1025/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2006/11/goimai/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb66-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image002" title="clip_image002" /></a><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00271.jpg"></a>
• Áo xưa dù nhầu, cũng xin bạc đầu, gọi mãi tên nhau . . .
( Trịnh Công Sơn )
 
1.
 
Sáng nay, tôi thức dậy sớm hơn thường lệ. Tôi định bụng sẽ ghé nhà quàn thành phố viếng linh cữu vợ một người bạn. Chị vừa mới mất vì cơn Stroke bất ngờ. Sau khi làm xong công việc vệ sinh cần thiết buổi sáng, nhìn đồng hồ, tôi thấy vẫn còn qúa sớm. Nhưng không khí trong lành của một ngày đầu thu, cùng với những ý nghĩ ngổn ngang về người chết, khiến tôi bước chân ra khỏi nhà. Tôi quyết định ghé qua một tiệm sách, nơi đó có một góc nhỏ bán cà phê, với ý nghĩ là tôi sẽ có dịp quan sát sự sống của buổi sáng – thời khắc bắt đầu cho một ngày bận rộn – trước[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00271.jpg"><img style="border-right-width: 0px; margin: 0px 15px 0px 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="clip_image002" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb66.jpg" border="0" alt="clip_image002" width="194" height="244" align="left" /></a></p>
<p><strong><em>• Áo xưa dù nhầu, cũng xin bạc đầu, gọi mãi tên nhau . . .</em></strong></p>
<p><strong><em>( Trịnh Công Sơn )</em></strong></p>
<p><strong><em> </em></strong></p>
<p><strong>1.</strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p>Sáng nay, tôi thức dậy sớm hơn thường lệ. Tôi định bụng sẽ ghé nhà quàn thành phố viếng linh cữu vợ một người bạn. Chị vừa mới mất vì cơn Stroke bất ngờ. Sau khi làm xong công việc vệ sinh cần thiết buổi sáng, nhìn đồng hồ, tôi thấy vẫn còn qúa sớm. Nhưng không khí trong lành của một ngày đầu thu, cùng với những ý nghĩ ngổn ngang về người chết, khiến tôi bước chân ra khỏi nhà. Tôi quyết định ghé qua một tiệm sách, nơi đó có một góc nhỏ bán cà phê, với ý nghĩ là tôi sẽ có dịp quan sát sự sống của buổi sáng – thời khắc bắt đầu cho một ngày bận rộn – trước khi nhìn thấy sự chết ở nhà quàn. Tôi cho rằng, để quan sát một sự vật, một sự việc – cách dễ nhất và đúng nhất là đặt các vật, các việc tương phản bên cạnh nhau. Thí dụ, đặt một người đàn ông cạnh một người đàn bà, để quan sát người này hoặc người kia. Tương tự như vậy, với sự sống và sự chết. Với tôi, một thư viện, một tiệm sách đúng nghĩa, đó là nơi tôi sẽ tìm đến để chiêm nghiệm về sự sống và cái chết. Bởi vì, khi đắm mình trong không khí đặc biệt của thư viện hoặc tiệm sách, tôi luôn cảm tưởng có một thế giới người chết quẩn quanh. Sáng nay,tôi chọn hiệu sách, vì ở đây, tôi có thể nhấm nháp chút cà phê ấm một buổi sáng đầu thu se se lạnh. Để biết chắc chắn rằng mình vẫn còn sống, vẫn còn tỉnh táo nếm được cái vị đắng hạnh phúc, vẫn còn sờ được cái ấm áp hạnh phúc, ngửi được cái mùi thơm hạnh phúc, dù chỉ là của cà phê. Để tự nhắc nhở mình hãy yêu thương lấy cuộc đời này. Để tự khuyên nhủ mình rằng, những khuôn mặt đồng loại đang hối hả bước vào một ngày sống kia đáng yêu biết bao, dẫu cho, đôi lúc họ có làm cho mình bực bội. Và cũng có thể, ngày mai, trong số ấy, có người lặng lẽ biến mất khỏi trần gian này, không ai biết không ai hay. Và biết đâu, một trong số người lặng lẽ biến mất ấy, có thể là chính mình.</p>
<p><strong>2. </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p>Tôi rời tiệm sách có quán cà phê với những chiêm nghiệm rất triết lý trong đầu để hướng về phía nhà quàn thành phố, một địa điểm yên tĩnh – dĩ nhiên – bao bọc chung quanh bằng những hàng cây lá đã bắt đầu úa vàng. Tôi tưởng tượng, khi đứng trước mặt người chết – một nửa trên của linh cửu luôn mở ra trong giờ viếng – những ý tưởng tôi quan sát, suy ngẫm sáng nay, sẽ được dịp đối chọi, cọ sát với hình ảnh cái chết hiện hữu , dù là trong không khí thật tinh khiết của nhà quàn nước Mỹ. Nhưng tôi đã bị bất ngờ. Đúng hơn, tôi cảm thấy bị hụt hẫng. Trong cái tịch mịch, tưởng chừng như có thể nghe thấy được cả âm thanh của sự im lặng, anh bạn tôi đứng đó. Một mình. Mắt đăm đăm nhìn vào thi thể người vợ đã bỏ anh ra đi mãi mãi. Anh như không nghe tiếng bước chân rất nhẹ của tôi. Cũng không có một cử chỉ gì chứng tỏ anh biết có người mới đi vào. Tôi nhìn hai khuôn mặt. Một của người chết nằm đó, được chải chuốt trang điểm lại trông rất đẹp. Lúc sinh thời, chị vốn là một người có nhan sắc. Mắt chị nhắm lại, thanh thản nhẹ nhàng , như người nằm ngủ. Còn khuôn mặt kia là của người đàn ông chồng chị. Nhợt nhạt, mệt mỏi, và đôi mắt trống rỗng vô hồn. Nhưng trong đó, tôi nhìn thấy cả một trời thống khổ. Một sự mất mát không gì có thể bù đắp được. Họ đã đi bên nhau hơn 40 năm trời, trải qua nhiều năm tháng vui buồn, sướng khổ. Họ đã có với nhau những mặt con. Đứa còn sống, đứa đã chết. Đứa đã trưởng thành, có mái gia đình riêng. Đứa nhỏ nhất cũng đã hơn 18 tuổi. Nay, một người ra đi, bỏ một người ở lại. Người ra đi đã yên phận người ra đi. Còn người ở lại ? Hiển nhiên nỗi đau mất mát là không thể đo lường được. Bấy nhiêu cũng đã đủ để đánh gục ông gìa trên 60 tuổi kia . Chưa kể đến cuộc sống của anh những ngày sắp tới. Tất cả là một sự đảo lộn. Hơn 40 năm chung sống vợ chồng, cũng có những lúc cơm chẳng lành canh chẳng ngọt, nhưng anh đã quen có người bạn đời đi bên cạnh. Nhìn con người khốn khổ đang đứng thất thần, tôi tự hỏi, anh cần bao lâu để có thể điều chỉnh lại cuộc đời mình, một cuộc đời thiếu đi bóng dáng người vợ ? Anh bỗng ngước nhìn tôi. Qua cái nhìn, tôi biết rằng, những ý nghĩ của tôi về anh là đúng. Là bạn của nhau từ nhiều năm, chúng tôi ít khi cần đến sự trung gian của ngôn ngữ.</p>
<p>Mới vừa lúc nãy, trong góc quán cà phê của tiệm sách, lòng tôi đã tràn ngập cái hạnh phúc được sống, được tận hưởng ân sủng trần gian là cầm trên tay ly cà phê nóng trong một buổi sáng đầu thu se se lạnh, thì bây giờ đây, tôi lại có cảm tưởng cái chết là một sự giải thoát. Vì khuôn mặt người chết thanh thản qúa, nhẹ nhàng qúa. Mà người còn sống kia, là anh bạn tôi, đau đớn qúa, thống khổ qúa.Trong khoảnh khắc, những chiêm nghiệm triết lý của tôi về sự sống và sự chết bỗng trở nên mờ nhạt và vô nghĩa. Trước nỗi đau khổ của con người, mọi suy nghĩ thuần lý đều bất lực và hèn mọn.</p>
<p><strong>3. </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p>Tôi ôm vai anh bạn tôi, chúng tôi ngồi xuống, im lặng. Không lời lẽ nào cần thiết trong lúc này. Tôi nhớ đến câu chuyện do chính Trịnh Công Sơn kể lại về bài hát “ Hạ Trắng ‘ ông viết ra trong tình huống nào. Dạo đó, ông ở Huế và bị một cơn sốt nặng. Trong nhiều ngày, ông nằm sốt mê man không biết gì. Nhưng có lúc ông như ngửi thấy mùi dạ lý hương và lạc vào khu rừng hoa trắng. Tỉnh dậy, ông thấy bên cạnh mình có bó hoa dạ lý hương. Ông biết chủ nhân những bông hoa ấy là ai. Khi hết bệnh, nghe tin bố một người bạn hấp hối, ông đến thăm. Cụ không có bệnh gì ngoài nỗi nhớ thương người vợ vừa mới mất. Hai ông bà tuy già nhưng vẫn ngủ bên cạnh nhau trên sập gụ xưa. Một hôm, cụ bà xuống bếp nấu nước pha trà cho cụ ông, chẳng may bị gío, ngã chết. Mấy người con vội đưa mẹ về nhà mình để tẩm liệm, chôn cất và dấu cụ ông. Ông cụ thức dậy, hỏi mẹ đâu, các con trả lời bà cụ đang ở bên nhà một người con khác để chăm sóc hộ đưá cháu bị bệnh. Vài ngày sau, cụ hỏi các con có phải mẹ chết rồi phải không. Mọi người òa khóc. Từ đó, cụ không ăn uống gì cả để đợi ngày theo cụ bà về cõi vĩnh hằng. Câu chuyện ám ảnh TCS, và sau đó, kết hợp giấc mơ hoa trắng với mối tình già cảm động này, ông viết bài Hạ Trắng, trong đó có câu “ <em>…áo xưa dù nhầu, cũng xin bạc đầu gọi mãi tên nhau . . .</em> “.</p>
<p>Tôi đưa tay lên sờ những món tóc bạc của anh. Dường như chỉ trong một đêm, mà tóc của anh đã bạc trắng. Anh ngước mặt nhìn tôi lần nữa, tỏ ý cám ơn. Không cần đến trung gian của ngôn ngữ, chúng tôi đã hiểu nhau. Trước khi đứng dậy ra về, tôi hỏi anh còn nhớ hai câu thơ nổi tiếng của vua Tự Đức khóc bà Bằng Phi <strong><em>Đập cổ kính ra tìm lấy bóng, xếp tàn y lại để dành hơi (*) </em></strong>không<strong><em> , </em></strong>Anh gật đầu.</p>
<p>Ra tới cửa, tôi quay đầu ngó lại. Anh bạn tôi vẫn bất động như một pho tượng. Tôi nhẹ tay khép cánh cửa nặng nề của nhà quàn lại, để cho anh được một mình với chị. Trong đầu tôi văng vẳng tiếng hát Lệ Thu – người mà TCS nhận xét là hát bài Hạ Trắng hay hơn Khánh Ly – <em>aó xưa dù nhầu, cũng xin bạc đầu gọi mãi tên nhau . . .</em></p>
<p>Hình như trời đang đổ những giọt mưa thu nhè nhẹ. Tôi thấy mặt kính lão của mình bị nhoà đi. Chẳng hiểu đó là do nước mưa hay nước mắt.</p>
<p><em>Nếu là nước mắt, thì hạnh phúc cho tôi biết bao !</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>© T.Vấn 2006</em></p>
<p>Chú thích : * Mới đây, tôi đọc được bài “ Văn đạo . . . Đạo văn “ của nhà phê bình văn học Đặng Tiến đăng trên Talawas ngày 22-11-2006 nói về tác giả của hai câu thơ tôi trích dẫn ( mà tôi cho là của vua Tự Đức ) ở đây, xin trích dẫn đọan ông nói về hai câu thơ này như sau :</p>
<p>“ . . .</p>
<p><em>Đập cổ kính ra tìm lấy bóng</em><br />
<em>Xếp tàn y lại để dành hơi</em></p>
<p>Đây không phải là thơ Tự Đức mà là thơ Nguyễn Gia Thiều. <em>Từ điển văn học</em>, nhà xuất bản Thế Giới, 2004, cũng ghi nhầm, tôi đã có bài góp ý, đăng ở nhiều báo, trong và ngoài nước, không nghe ai cải chính. Nay xin nhắc lại.<br />
Bài thơ nôm &#8220;Khóc Thị Bằng&#8221; không phải của Tự Đức. Ngô Tất Tố đã chứng minh điều này từ năm 1941, trong cuốn <em>Thi văn bình chú</em>, Lê Mạc Tây Sơn, in lại lần thứ ba, Sài Gòn, 1957, trang 91. Những tuyển tập, toàn tập Ngô Tất Tố xuất bản gần đây không nhắc gì đến cuốn <em>Thi văn bình chú</em> này. Ngoài ra, (dường như) Trần Danh Án (1754-1794) có dịch bài thơ nôm của Nguyễn Gia Thiều ra chữ Hán. Hai câu nói trên:</p>
<p><em>Phá toái lăng hoa tầm cựu ảnh</em><br />
<em>Tùng phong khâm thử hộ dư hương</em></p>
<p>Sở dĩ có sự gán ghép là vì (dường như) Tự Đức thường ưa sửa thơ thiên hạ, khi nhuận sắc có sửa hai chữ <strong><em>mảnh gương </em></strong>thành <strong><em>cổ kính </em></strong>và <strong><em>manh áo</em></strong> thành <strong><em>tàn y</em></strong>, rồi xếp vào hồ sơ của mình, nên Dương Quảng Hàm mới nhầm ra thơ Tự Đức và trong giáo trình văn học đã ghi là của Dực Tông, rồi người sau cứ truyền tụng như thế. Ngoài Ngô Tất Tố, các chuyên gia thơ cung đình triều Nguyễn, như Phan Văn Dật, Bửu Cầm, đều nói không phải của vua, vì trong thư khố, không tìm thấy vết tích gì bài thơ này, và tên họ một bà phi nào tương tợ. Hơn nữa giọng thơ trữ tình bay bướm, khó có thể là giọng Tự Đức. Sinh thời học giả Hoàng Xuân Hãn cũng nói vậy .</p>
<p>( Tôi dè dặt dùng chữ “ dường như “ vì không có văn liệu trong tay ) . . . “</p>
<p>Đặng Tiến</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2006/11/goimai/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
