<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>T.Van &#187; Tháng 3 &#8211; 2007</title>
	<atom:link href="http://t-van.net/wordpress/category/thang3/2007-3/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://t-van.net/wordpress</link>
	<description>Trang Nha T.Van</description>
	<lastBuildDate>Fri, 03 Sep 2010 04:56:07 +0000</lastBuildDate>
	<generator>http://wordpress.org/?v=2.8</generator>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
			<item>
		<title>Người tình Khói Sương</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2007/03/nguoitinh/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2007/03/nguoitinh/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 26 Mar 2007 18:02:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[3]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 3 - 2007]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2007/03/26/ng%c6%b0%e1%bb%9di-tnh-khi-s%c6%b0%c6%a1ng/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2007/03/nguoitinh/"><img align="left" hspace="5" width="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image002-thumb12.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image002" title="clip_image002" /></a><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image00212.jpg"></a>
Họa phẩm Marynka Smoking ( 1980) của họa sĩ người Mỹ Kitaj Ron B
<h4>Khúc dạo đầu của một cuộc chia tay</h4>
Sau gần 30 năm hút thuốc lá ( kể cả gần 10 năm hút thuốc lào trong trại cải tạo ), với trung bình một ngày một gói , tôi đã bỏ hút. Lý do bỏ khá bất ngờ và đơn giản. Đứa con gái nhỏ 5 tuổi thấy tôi vừa ra ngoài vườn hút thuốc xong, bước chân vào đến cửa là ho sặc sụa. Nó nói sao bố không bỏ hút thuốc đi. Bố sẽ chết sớm nếu bố cứ tiếp tục hút thuốc. Câu nói này nguyên văn là từ cửa miệng bà cụ thân sinh ra các con tôi. Và cũng chẳng phải là lần đầu tiên con tôi lập lại lời nói của mẹ. Nhưng lần này thì khác. Nhìn con[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image00212.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 0px 10px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image002" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image002-thumb12.jpg" border="0" alt="clip_image002" width="151" height="222" align="left" /></a></p>
<p>Họa phẩm <cite>Marynka Smoking ( 1980) của họa sĩ người Mỹ </cite><strong>Kitaj Ron B</strong></p>
<h4>Khúc dạo đầu của một cuộc chia tay</h4>
<p>Sau gần 30 năm hút thuốc lá ( kể cả gần 10 năm hút thuốc lào trong trại cải tạo ), với trung bình một ngày một gói , tôi đã bỏ hút. Lý do bỏ khá bất ngờ và đơn giản. Đứa con gái nhỏ 5 tuổi thấy tôi vừa ra ngoài vườn hút thuốc xong, bước chân vào đến cửa là ho sặc sụa. Nó nói sao bố không bỏ hút thuốc đi. Bố sẽ chết sớm nếu bố cứ tiếp tục hút thuốc. Câu nói này nguyên văn là từ cửa miệng bà cụ thân sinh ra các con tôi. Và cũng chẳng phải là lần đầu tiên con tôi lập lại lời nói của mẹ. Nhưng lần này thì khác. Nhìn con qua những dòng nước mắt ( chảy vì ho ) và nỗi khó chịu ở trong cổ, tôi chợt nẩy ý định: hay là mình thử bỏ thuốc ?</p>
<p>Và ý nghĩ cai thuốc lởn vởn mãi trong đầu tôi suốt cả một buổi sáng. Tôi vẫn còn mấy gói thuốc nguyên chưa hút hết. Bỏ cả thì uổng quá. Vả lại, nếu để đó thì khi cơn ghiền lên lại chịu thua vì thuốc vẫn còn sẵn trong tầm tay. Nhưng tôi lại nghĩ, nếu đã không kềm chế được cơn ghiền thì dù thuốc không có sẵn ở trong nhà , tôi chỉ cần vài phút lái xe là có thể mua thuốc tại bất cứ tiệm xăng nào trong thành phố.</p>
<p>Còn nhớ một lần, đang trên đường đi làm, giữa xa lộ nườm nượp xe cộ, sắp tới chỗ exit để đến sở làm, tôi bỗng sực nhớ là đã bỏ quên gói thuốc ở trên bàn ăn. Cái sực nhớ ấy đã làm tâm thần tôi bấn loạn. Chưa bao giờ tôi ra khỏi nhà mà không có gói thuốc trong người. Chỉ còn khoảng 15 phút nữa là tới giờ làm việc. Tôi không có đủ thì giờ để ghé lại một trạm xăng mua thuốc. Nếu không mua, làm sao tôi có thể chịu đựng hơn 8 tiếng đồng hồ liên tục không có thuốc lá. Mãi hoảng hốt với ý nghĩ liệu có thể ghé đâu để mua thuốc mà vẫn kịp giờ vào làm suýt chút nữa tôi đã gây tai nạn. Tôi thản nhiên sang lane để xuống exit mà không ngoái đầu nhìn lại để thấy có một chiếc Sport đang trờ tới với tốc độ khá nhanh. May mà tiếng kèn xe đã làm tôi tỉnh thức và kịp thời bẻ tay lái về bên trái. Tôi nhận được một ngón giữa đỏ chót với nét mặt hầm hầm của cô gái Mỹ trẻ đẹp lái chiếc Sport. Và tôi vẫn có thì giờ liếc thấy bàn tay phải của cô cầm điếu thuốc lá đang đỏ.</p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image004.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 0px 10px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image004" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image004-thumb.jpg" border="0" alt="clip_image004" width="244" height="244" align="left" /></a></p>
<p>Cuối cùng tôi cũng đủ nhanh nhẹn để xoay sở mua được gói thuốc lá từ một tiệm Grocery gần đó và vào sở làm chỉ trễ có vài phút. Xem thế thì biết, khi đặt vấn đề cai thuốc, đầu tiên phải đặt câu hỏi : Mình có thắng mình được không ? Lúc ấy, tôi không có câu trả lời quả quyết. Tôi chỉ nghĩ đến lúc mình thua cuộc trước mặt con mình. Nỗi xấu hổ với vợ tôi thì không nhiều lắm. Vì vợ tôi đã chứng kiến tôi thua cuộc nhiều lần. Kể cả những thua cuộc thầm kín. Còn nỗi xấu hổ với chính mình. Dường như, với tôi cũng không thành vấn đề cho lắm. Vì tôi đã quá quen thuộc với “ cái tôi chẳng nên trò trống gì” rồi. Nhưng với đứa con gái 5 tuổi thì khác. Nó coi tôi như thần tượng. Trong cái trí óc non nớt của con tôi , không có chỗ cho cái “ không thể “ của bố nó. Tôi mường tượng câu hỏi ngây thơ của con một khi tôi thử cai thuốc nhưng thất bại : Tại sao bố KHÔNG THỂ bỏ thuốc được hả bố ? Tôi sẽ trả lời sao với con ? Và tất nhiên, tôi không muốn phá đổ thần tượng của con tôi.</p>
<p>Nhưng trước hết, tại sao lại phải bỏ hút thuốc ? Tôi tự đặt cho mình câu hỏi này và cũng không có được câu trả lời đầy đủ.</p>
<h5>Ba Mươi năm tình lận đận</h5>
<p>Thuốc lá là người tình khói sương thân thiết của tôi đã 30 năm. Chúng tôi chưa hề rời xa nhau, phụ rẫy nhau dù 1 ngày. Kể cả những lúc tôi đói nghèo, quần áo 1 bộ, cơm ăn 1 bữa. Thuở ban đầu lưu luyến ấy, nàng mặc áo màu xanh – màu xanh Bastos – nằm chễm chệ bên ly cà phê phin đậm đặc, trong quán cà phê nhỏ Chung cư Nguyễn Thiện Thuật Sài Gòn với cô gái thâu ngân có nét đẹp liêu trai của Bồ Tùng Linh. Đôi mắt cô to, mái tóc bới cao. Trông cô giống hệt đào cải lương Mỹ Châu nổi tiếng lúc bấy giờ của Sài Gòn cuối thập niên 60s. Hình như, đối với tôi ( và những người bạn cùng trang lứa thuở ấy ) gói thuốc lá Bastos xanh và ly cà phê phin đậm đặc làm cho tôi có nam tính hơn dưới mắt cô.</p>
<p>Ngày tháng và những mùa thi nối đuôi nhau đến rồi nối đuôi nhau đi. Hằng đêm, chúng tôi – tôi, gói thuốc Bastos xanh, ly cà phê đậm đặc và cô thâu ngân của quán cà phê chung cư – vẫn ngồi đó, nhìn nhau. Cho đến một hôm, cô gái không còn ngồi ở chỗ hằng đêm cô vẫn ngồi nữa, mà thay vào đó một cô gái khác , khá lớn tuổi hơn. Tôi cũng bỏ chỗ hằng đêm tôi vẫn ngồi để đến một chỗ khác. Vì những mùa thi đã chấm dứt với tôi, tôi không cần những ly cà phê phin đậm đặc nữa, thay vào đó là ly sữa ngọt nóng bỏ vào đó một chút cà phê đắng lạnh. Còn người tình khói sương mặc áo Bastos xanh ? vẫn là nàng an ủi tôi cho hết chuỗi ngày &#8230; phiền muộn vì thất tình cô gái thâu ngân quán cà phê không tên ở chung cư Nguyễn thiện Thuật.</p>
<p>Rồi chiến cuộc ngày một trở nên ác liệt. Cùng với những chàng trai cùng trang lứa, chúng tôi – tôi và người tình khói sương ( làm sao mà thiếu vắng nàng cho được )- giã từ bút nghiên lên đường nhập ngũ. Lúc này, nàng hiện thân là những Pall Mall, Lucky Strikes, Winston, Salem &#8230;v..v. Có những câu thơ rất ngộ nghĩnh dựa trên tên của nàng được truyền tụng rộng rãi trong giới lính tráng chúng tôi. Chẳng hạn như : Phải Anh Là Lính Mời Anh Lên Lầu ( Pall Mall ), Sao Anh Làm Em Mệt, Mà Em Làm Anh Sướng ( SaLem), hoặc Chiếc Áo Phong Sương Tình Anh Nặng, Nặng Áo Thư Sinh Phụ Áo Chàng ( Capstan ). Dù nàng mang bất cứ tên gì , bao giờ nàng cũng ở bên cạnh tôi chứng kiến những nhọc nhằn hiểm nguy của đời lính. Cùng với người tình khói sương, tôi băng rừng vượt núi, vào sinh ra tử, hãnh diện làm nhiệm vụ của người trai thời ly loạn.</p>
<p>Rồi cuộc chiến chấm dứt một cách tức tưởi. Và những năm tháng tù đầy. Từ Nam ra Bắc, từ Bắc vào Nam. Bên cạnh tôi vẫn là người tình khói sương yêu dấu ấy, dẫu cho nàng có hiện thân dưới hình dạng xấu xí của thuốc rê, thuốc lào hay lá tàu bay phơi khô thái mỏng tẩm nước thuốc lào hay nửa phần khoai mì lát đổi lấy 6 con ruồi sơ sinh ( từ này không có trong Tự Điển Việt Nam trước năm 75, có nghĩa : thuốc lào được vê thành từng phần hút , nhỏ bằng hạt đậu đen trông giống như con ruồi mới từ dòi lột xác ) đều vẫn không làm phai nhạt nỗi đam mê sặc sụa của tôi với khói sương. Nhưng mãi đến những năm tháng này, tôi mới thực sự nhận chân và đánh giá đúng sức hấp dẫn và ảnh hưởng của khói sương đối với những kẻ say mê nàng. Có người đã bán rẻ phẩm cách cũng chỉ vì không cầm cự nổi nỗi nhớ nhung khói sương. Có người thân tàn ma dại vì đã đem cả phần ăn chết đói của mình hàng ngày đi đổi lấy chút khói nhớ nhung. Trong bất cứ lá đơn xin quà gởi về nhà từ trại cải tạo, trong phần liệt kê hàng hóa, tên của nàng bao giờ cũng được nhắc đến đầu tiên và gạch đít nhiều lần : 1 ký thuốc rê Gò Vấp, 4 bánh thuốc lào 888 loại 250g 1 bánh hoặc sang hơn nữa là thuốc lá thơm Samit ..v..v.</p>
<p>Rồi đến những ngày lang thang vất vưởng ở Sài Gòn. Những ngày người tình khói sương bị đày đọa thành những Mai, những Đà Lạt, những gói thuốc quấn tay đủ loại bởi những thằng chết đói cũng như tôi. Tôi vẫn ngày ngày cùng nàng gắn bó bên những quán cóc vỉa hè bụi bậm, bên những ly cà phê bắp rang chát ngắt, bên những xị ruợu Cây Lý uống vào đái ra máu, bên những thân phận bạn bè cũng chẳng khá gì hơn, bên những câu chuyện về một nước Mỹ hào phóng, bên những câu chuyện về những chuyến vượt biên nhưng không bao giờ có đủ 1 chỉ vàng chung trước cho chủ tàu ..v..v và ..v..v. Và rồi, hết cơn bỉ cực tới hồi thới lai. Một buổi trưa nóng chảy mỡ và nồng nặc hơi người của phi trường Tân Sơn Nhất, chúng tôi áo lớn quần dài cà vạt chỉnh tề bước chân lên máy bay để hân hoan làm một kiếp lưu vong nơi đất khách quê người. Đồng thời cũng hân hoan vĩnh biệt những Mai, những Đà Lạt, những gói thuốc quấn tay vụng về,- những dấu tích của một chuỗi ngày khốn khổ – để hân hoan chào mừng những ngày sắp tới no đủ những 555, những Pall Mall, những Lucky Strikes, những Malboros, những &#8230; Lúc này đây, thuốc lá được mua từng cây chứ không phải từng gói.</p>
<p><em>Những tưởng rằng thời oanh liệt của người tình khói sương là đây. </em></p>
<h5>“ Cái &#8230; hút ngày nay đã hỏng rồi “</h5>
<p>Nhưng nỗi hân hoan kéo dài không bao lâu. Nước Mỹ có thể là đất của những cơ hội cho tất cả mọi thứ ngoại trừ thuốc lá.Mỉa mai thay, nước Mỹ lại là nơi tọa lạc của hãng thuốc lá lớn nhất thế giới, Phillips Morris. Người hút thuốc lá ở Mỹ bị làm khó đủ điều. Họ bị cấm không được hút thuốc ở những nơi công cộng, sở làm, trong quán ăn, quán cà phê, trên máy bay, trong xe Bus. Về nhà, họ bị vợ ( hoặc chồng ) cấm ( hoặc tự họ cấm ) không cho hút thuốc ở trong nhà. Mỗi khi mối sầu tương tư sương khói trở giấc là họ phải ra ngoài vườn, trước cửa nhà hoặc nhà để xe, bất kể thời tiết nóng hay lạnh, tuyết hay mưa, hay bão táp. Nếu không thì chỉ có nước nhịn.</p>
<p>Ôi đau xót thay cho những mối tình khói sương nơi Mỹ quốc. Thế mới biết, cuộc đời chẳng cho ai được niềm vui trọn vẹn. Luôn luôn có một điều gì đó trắc trở. Và tôi cũng không là một ngoại lệ. Ngay chính vợ tôi cũng phải thú nhận rằng , khi xưa, lúc còn ở Việt Nam, nụ hôn tuyệt vời là nụ hôn có mùi thuốc lá, nhất là thuốc lá thơm mua lẻ từng điếu và hình ảnh nam tính nhất phải là hình ảnh điếu thuốc kẹp tay tì lên chiếc cằm cương nghị với khuôn mặt lẩn khuất sau màn khói thuốc trắng nhạt. Và sau mỗi lần chúng tôi yêu nhau, nàng lại gắn lên môi tôi điếu thuốc lá thơm – mà nàng đã mua sẵn và dấu ở đâu đó từ bao giờ – Để rồi, cả hai chúng tôi, kẻ hút người ngửi, lim dim tận hưởng những dư vị của loài dã thú khi yêu nhau. Vậy mà giờ đây, hết vợ đến con chê miệng bố hôi mùi thuốc quá. Đến sở làm 8 tiếng, có được 15 phút nghỉ giữa giờ thì mất hết 10 phút chạy từ chỗ làm ra ngoài chỗ quy định cho hút thuốc và chạy về lại. Chỉ còn 5 phút vừa hút thuốc vừa ăn vội miếng snack cho đỡ đói lòng. Ngày xưa, gói thuốc hộp vuông bao giờ cũng có một vị trí trang trọng ngay trên ngực áo. Gói thuốc càng đắt tiền càng làm “tăng giá trị” của người hút nó. Ngày nay, gói thuốc phải được cất ở chỗ kín đáo. Ít người thấy, ít người biết.</p>
<p><em>Hút thuốc, giờ đây trên đất Mỹ, như một tội tình.</em></p>
<p><em>“ Cái hút ngày nay đã hỏng rồi. </em></p>
<p><em>Mười người xưa hút, chín người thôi .”</em></p>
<h5>Lời tạ tình cho em</h5>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image006.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 10px 0px 0px 10px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image006" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image006-thumb.jpg" border="0" alt="clip_image006" width="244" height="244" align="right" /></a></p>
<p>Chưa bao giờ, trong 30 năm sương khói, mối tình chung thủy của tôi với người đẹp khói sương, phải trải qua giai đoạn thử thách oan nghiệt như bây giờ. Bỏ nàng ư ? Cuộc đời còn có niềm vui nào khác đâu mà từ với bỏ . Tiếp tục cuộc tình duyên 30 năm ư ? Ái ân gì mà lúc nào cũng vụng vụng trộm trộm như kẻ gian phu. Còn đâu cái dáng vẻ sảng khoái của một chiều xưa tóc bời lộng gió, điếu thuốc trên môi mắt đăm đăm nhìn về phương trời vô định, mơ ngày mai pháo rộn đường vui ?</p>
<p>Cuối cùng, sau nhiều ngày đêm trăn trở, vật vã, tôi đã hoàn tất xong bức tuyệt mệnh thư gửi đến người tình 30 năm có lẻ:</p>
<p><em>Em yêu dấu,</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>Ngàn đời vĩnh biệt em, người tình khói sương của 30 năm ân ái mặn nồng. Xin em nhận những lời tạ lỗi chân thành nhất từ trái tim đã bao phen đau đớn, khó thở vì nỗi đam mê em ngự trị. Nhưng dẫu đau đớn tôi nào dám hờn giận gì em, hay đoái hoài gì đến cuộc đời bỏ đi của chúng ta. Tôi mang tiếng phụ tình cũng chỉ vì tình thương con quá bao la. Em đã sống với tôi hơn 30 năm. Quá đủ cho một đời người ngắn ngủi. Xin hãy nhường phần đời còn lại của tôi cho con tôi, đứa con gái bé bỏng cần cha như cần hơi thở. Mai sau, nếu có gặp nhau, xin hãy xem nhau như hai người xa lạ. Nếu tôi có yếu lòng, muốn được hôn đôi môi trong trắng thơm mùi thuốc lá của em, dù chỉ một lần, xin hãy vì con tôi mà thẳng tay từ chối. Hệ lụy cuộc đời nhiều lắm em ơi. Tôi không muốn mãi mãi lún sâu vào hệ lụy em một lần nữa. Ơi người tình khói sương một thời yêu dấu !</p>
<p><em>Vĩnh biệt !</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Mỹ Quốc, một ngày ảm đạm.</em></p>
<p>© T. Vấn 2006</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2007/03/nguoitinh/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Nghĩ về những “cử chỉ đẹp” của nhà nước</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2007/03/nghivenhung/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2007/03/nghivenhung/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 17 Mar 2007 23:54:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[3]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 3 - 2007]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2007/03/nghi-v%e1%bb%81-nh%e1%bb%afng-c%e1%bb%ad-ch%e1%bb%89-d%e1%ba%b9p-c%e1%bb%a7a-nh-n%c6%b0%e1%bb%9bc/561/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2007/03/nghivenhung/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb12-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image001" title="clip_image001" /></a>Năm 1978, khi ở trại tù Phong Quang, tỉnh Hoàng Liên Sơn, tôi đã được nghe những tù nhân miền Bắc kể về những cơ cực mà bà Thụy An phải chịu đựng khi ở trại tù này và cả câu chuyện bà đã dùng cây nhọn (?) tự đâm mù mắt mình để phản đối sự đàn áp văn nghệ sĩ của giới cầm quyền.  Trong số bốn người được trao giải thưởng văn học nói trên, chỉ có hai người còn sống: Hoàng Cầm - năm nay đã trên 86 tuổi, và Lê Đạt – cũng đã trên 80 tuổi. Hai người khác, nhà văn Phùng Quán đã qua đời năm 1995 và Trần Dần, mất năm 1997.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p>(<strong>Nhân sự kiện bốn tác giả trong nhóm <i>Nhân văn–Giai phẩm</i> được tặng Giải thưởng nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2007)</strong></p>
<p><i>Tôi khóc những chân trời không có người bay</i>    <br /><i>Lại khóc những người bay không có chân trời</i>    <br />Trần Dần</p>
<p>&#160;</p>
</p>
<ol>
<li></li>
</ol>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00114.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; display: inline; margin-left: 0px; border-top: 0px; margin-right: 0px; border-right: 0px" title="clip_image001" border="0" hspace="12" alt="clip_image001" align="left" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb12.jpg" width="141" height="190" /></a>    <br />Nhà nước Việt Nam vừa công bố Giải thưởng văn học nghệ thuật năm 2007. Trong số những người được giải có tên bốn nhà thơ: Lê Đạt, Hoàng Cầm, Phùng Quán và Trần Dần. Riêng nhà thơ Hữu Loan, tác giả bài thơ “Màu tím hoa sim” nổi tiếng hơn nửa thế kỷ nay (bài thơ này cũng có <a href="http://www.vnn.vn/vanhoa/vandekhac/2004/12/354730/">trị giá tác quyền cao nhất trong lịch sử văn học Việt Nam:</a> 100 triệu đồng Việt Nam hiện hành), tuy cũng có tên trong danh sách đề cử nhận giải nhưng đã không nằm trong danh sách những người trúng giải. Tên tuổi những nhà thơ nói trên không xa lạ gì với người đọc miền Nam Việt Nam từ những năm trước 1975. Họ là những nhà văn thuộc nhóm <i>Nhân văn-Giai phẩm</i> (NVGP) được hình thành vào năm 1956 ở miền Bắc. Chủ trương của nhóm là đòi hỏi quyền tự do sáng tác cho người nghệ sĩ, không chịu lệ thuộc vào sự chỉ đạo của Đảng và nhà nước cộng sản. Vì thế, họ bị trù dập, bị buộc tội là kẻ thù của nhân dân, có người còn bị gán cho tội danh “gián điệp của Mỹ Diệm” <a href="http://www.hopluu.net/tryenhaingoai/thuyekhue1.htm">như nữ sĩ Thụy An</a> và bị đày vào những trại cải tạo. (Năm 1978, khi ở trại tù Phong Quang, tỉnh Hoàng Liên Sơn, tôi đã được nghe những tù nhân miền Bắc kể về những cơ cực mà bà Thụy An phải chịu đựng khi ở trại tù này và cả câu chuyện bà đã dùng cây nhọn (?) tự đâm mù mắt mình để phản đối sự đàn áp văn nghệ sĩ của giới cầm quyền).     <br />Trong số bốn người được trao giải thưởng văn học nói trên, chỉ có hai người còn sống: Hoàng Cầm &#8211; năm nay đã trên 86 tuổi, và Lê Đạt – cũng đã trên 80 tuổi. Hai người khác, nhà văn Phùng Quán đã qua đời năm 1995 và Trần Dần, mất năm 1997. Dư luận trong nước cho rằng hành động nói trên của nhà cầm quyền cộng sản đối với những cây bút chủ chốt của phong trào NVGP 50 năm về trước là “<i>một thái độ ứng xử, một cách nhìn mới, một tư duy mới, một lời xin lỗi cùng các tác giả…”</i> (<a href="http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=9358&amp;rb=0102">Báo<i> An ninh thủ đô</i>, số ra ngày 28 tháng 2 năm 2007)</a>. Trả lời phỏng vấn của báo chí, <a href="http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=9358&amp;rb=0102">nhà thơ Hoàng Cầm</a> nghĩ rằng thái độ đó của nhà nước với nhóm NVGP là “hơi chậm”, nhưng “chậm còn hơn không”. Còn <a href="http://vietnamnet.vn/vanhoa/tintuc/2007/02/666038/">nhà thơ Lê Đạt</a> thì cho rằng đây là “một cử chỉ đẹp” của nhà cầm quyền.     <br />Đáng tiếc hai nhà văn quá cố Trần Dần và Phùng Quán đã không còn cơ hội để bày tỏ thái độ của mình trước hành động được xem là “thiện chí” trên của cái chính thể đã từng vùi dập cuộc đời của hai ông.     <br />Trả lời câu hỏi: “<i>Thời gian đã qua lâu rồi, mọi chuyện cũng đã qua đi, có điều gì làm nhà thơ oán trách mỗi khi ngoái nhìn lại quá khứ?</i>”, nhà thơ Hoàng Cầm đã rất “khéo léo” khi phát biểu:     <br /><i>“Nếu có oán trách thì phải oán trách từ lâu rồi, khi mình đã biết mình, biết người, tôi không hề oán trách ai cả. Mỗi khi cầm bút viết văn, tôi luôn thầm nghĩ rằng con người ta phải biết yêu thương. Thù hận và ghét bỏ thì phải tránh cho xa. Một người nghệ sĩ có cái tâm biết yêu thương thì sáng tác mới hy vọng hay được. Còn nếu trong tâm anh còn thù hận, cái tâm không sáng thì văn chương cũng vứt đi. Một nhà thơ có thể mắc tội ăn cắp bị đưa ra toà, nhưng đó chỉ là sự nhất thời, cái căn bản là phải tìm xem cái tâm anh ta như thế nào, có trong sáng không. Một tác phẩm hay bao giờ cũng chảy ra từ cái tâm trong sáng, còn cái tâm u tối không bao giờ có tác phẩm tử tế được. Trên thế giới cũng vậy, những nhà văn lớn đều có cái tâm lớn. Hơn nữa đây là lỗi do sự ấu trĩ của một số cá nhân của một thời, chứ không phải đường lối của Đảng, Nhà nước là như thế. Bệnh ấu trĩ là bệnh khó tránh khỏi ở một Đảng mới cầm quyền. Trên thế giới ở một số nước cũng vậy, làm sao mà tránh được. Không phải lỗi của Đảng mà cũng không phải là lỗi của Nhân văn. Bây giờ nền kinh tế của ta đã trưởng thành, vững mạnh, người ta mới đủ bình thản để nhìn lại chuyện này. Đó là điều đáng mừng.” </i>(Báo<i> An ninh thủ đô</i>, số ra ngày 28 tháng 2 năm 2007)     <br />Riêng nhà thơ Hữu Loan, có lẽ ông chẳng bận tâm lắm đến cái gọi là “cử chỉ đẹp, tuy hơi chậm” này. Cả đời ông, mãi cho đến ngày hôm nay, vẫn là một thái độ bất khuất. <i>“Cái hồi ấy, ai cũng tôn vinh ông Hồ nhưng mà riêng tôi, tôi bới, chửi luôn ngay trước Đại hội. Cái bữa tôi bới như thế, giới phụ nữ hoan nghênh lắm. Họ mang bao nhiêu là hoa đến tặng, để đầy cái bàn của tôi, và nói rằng “Cái người nói thẳng, nói thật như ông là nên sống để cho dân nhờ, còn cái loại ăn điêu nói hớt thì nên chết lãng bay đi”. </i>(Nhà thơ Hữu Loan – <a href="http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2006/08/20/AnecdoteOverPoetHuuLoanP2_TNga">Trả lời phỏng vấn Đài RFA 20 tháng 8 năm 2006</a>). Trong suốt thời gian bị giới lãnh đạo văn nghệ Đảng trù dập, ông là người duy nhất không chịu tham gia học tập, kiểm điểm, mà tự bỏ tất cả, về quê thồ đá, làm ruộng kiếm sống. Đến nay, nhà thơ Hữu Loan vẫn không chịu làm đơn xin khôi phục lại đảng tịch.     <br />Vì thế, theo lời ông Thanh Thảo, một thành viên của hội đồng chấm giải văn học, người đã tận mắt nhìn thấy tên của năm người thuộc nhóm NVGP (Hữu Loan, Trần Dần, Phùng Quán, Hoàng Cầm, Lê Đạt) có tên trong danh sách được sự đồng thuận tuyệt đối của hội đồng, đề nghị cho nhận giải. Nhưng sau đó thì<i> “Người thứ 5 – Hữu Loan – đã bị gạt tên bởi Hội đồng quốc gia. Lý do không được công bố, và người ta chỉ có thể đoán vì thế này vì thế kia…” </i>(Thanh Thảo, <a href="http://213.251.176.152:8080/diendan/giot-muc-giot-doi/cuoc-111oi-va-van-hoc/"><i>Diễn đàn</i>, 25 tháng 2 năm 2007</a>).     <br /><b>2.</b>    <br />Trước đó, hôm 8 tháng 2 năm 2007, ông Nguyễn Hữu Đang, vị thủ lĩnh thực sự của nhóm NVGP, qua đời. Tang lễ, ngoài sự tham dự của những người ngưỡng mộ sự đảm lược của ông với tư cách thủ lĩnh NVGP, còn có vị đại diện của cấp lãnh đạo trung ương (Bộ Giáo dục và Đào tạo). Trong bài điếu văn đọc trước linh cữu người quá cố của vị đại diện này, có đoạn như sau: “<i>Từ tháng 11 năm 1954 đến tháng 4 năm 1958 làm biên tập viên tuần báo </i>Văn nghệ<i> &#8211; Hội Nhà văn Việt Nam. Trong thời gian này cụ mắc sai lầm tham gia nhóm Nhân văn-Giai phẩm. Sau khi được trở lại quyền công dân, cụ được Đảng, Nhà nước có chính sách đãi ngộ và chăm sóc chu đáo.</i> (Điếu văn cụ Nguyễn Hữu Đang, ông Quang Quý, đại diện Bộ Giáo dục và Đào tạo đọc lúc 11 giờ 30 ngày 10/2/2007 tại tang lễ ông Nguyễn Hữu Đang – Trích lại từ diễn đàn <a href="http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=9197&amp;rb=0401">talawas</a> ngày 12 tháng 2 năm 2007).     <br />Ông Nguyễn Hữu Đang qua đời năm ông 94 tuổi. Vì vụ NVGP, ông bị Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội xử án 15 năm tù giam (cùng với nhà văn Thụy An), nhưng thực ra, phải sau 18 năm lăn lóc hết nhà tù này đến nhà tù nọ, ông mới được thả. Ra tù, ông vẫn kiên quyết theo đuổi con đường đã chọn của mình. Cả thời tuổi trẻ bị đày ải chốn lao tù, đến khi được tự do thì tuổi đã già, ông không có cơ hội để lập một mái gia đình riêng. Một số nhà văn sinh sau đẻ muộn cảm phục tư cách ông, đã gọi ông là một bậc hào kiệt. Trong suy nghĩ của họ, ông chính là biểu trưng sống cho sĩ khí của sĩ phu Bắc Hà. Ông đã sống và chết như một nhân sĩ luôn trung thực và can đảm. Chung quanh quan tài ông là những vòng hoa chân thành nhất của những người ngưỡng mộ nhân cách ông. Mặc dù ông không có vợ con nhưng đứng bên quan tài ông để nhận lời chia buồn của thân hữu bạn bè, có hai người phụ nữ chít khăn tang thay chồng. Đó là vợ của hai nhà văn thuộc nhóm NVGP đã quá cố: Phùng Quán và Phùng Cung.     <br />Hà Nội sắp bước vào kỷ niệm một nghìn năm. Mảnh đất văn vật còn lại quá ít những người còn xứng đáng với danh hiệu sĩ phu Bắc Hà. Một trong những người hiếm hoi ấy vừa nằm xuống. Đau đớn thay, lời ai điếu đọc trước vong linh của người quá cố vẫn cứ lải nhải mấy lời đạo đức giả với một giọng điệu cạn tình cạn nghĩa: “<i>Trong thời gian này cụ mắc sai lầm tham gia nhóm Nhân văn-Giai phẩm“.</i>    <br />Và chỉ hơn hai tuần lễ sau những lời ai điếu đạo đức giả ấy, nhà nước chính thức trao giải thưởng văn học nghệ thuật cho những người đã từng một thời sát cánh cùng ông Nguyễn Hữu Đang trong vụ NVGP.     <br /><b>3.</b>    <br />Cũng những ngày cuối tháng hai vừa qua, cựu linh mục, nhà trí thức thiên tả nổi tiếng của Sài Gòn trước 75<a href="http://www.tienve.org/home/activities/viewActivities.do?action=viewnews&amp;newsId=119">, giáo sư Nguyễn Ngọc Lan qua đời</a>. Ông cũng thọ hơn 70 tuổi. Dù dưới thời Việt Nam Cộng hòa hay dưới thời cộng sản cai trị, ông cũng đều là cái gai trong mắt chính quyền. Chỉ khác một điều, dưới chế độ cộng sản, cựu linh mục Nguyễn Ngọc Lan không được tự do muốn làm gì thì làm như trước nữa. Dầu vậy, bằng mọi hình thức kháng cự mà ông có thể tận dụng để bảo vệ chính kiến của mình, ông đã chứng tỏ mình không giống như những nhà trí thức thiên tả khác như Lý Chánh Trung, Lý Quý Chung, v.v&#8230;     <br />Tin cựu linh mục Nguyễn Ngọc Lan từ trần, ở trong nước, không được biết đến nhiều. Trên phương tiện truyền thông chính thống, chỉ có bài viết của Trần Bạch Đằng, vốn là một chính ủy văn hóa mẫu mực, nhắc đến sự kiện này. Cần phải nghĩ như thế nào về thái độ này. Tôi xin dẫn ra đây ý kiến của một người đang sống trong nước:     <br />“<i>Tôi đang đi xa nhà, được tin anh Nguyễn Ngọc Lan vừa qua đời. Không quen biết anh nhiều &#8230; song tôi thấy xúc động, tôi hỏi: tin từ đâu?&#8230; Tin từ báo </i>Thanh niên<i>&#8230; Có lẽ là báo duy nhất hiện nay đưa tin này ở SG.</i>    <br /><i>Vào web </i>Thanh niên<i>, tìm thấy <a href="http://www.thanhnien.com.vn/Xahoi/2007/2/27/182964.tno">bài của ông Trần Bạch Đằng</a>. Đọc nhanh, tôi thấy phân vân, không tránh khỏi ý nghĩ: ‘nếu không phải ông này viết thì chắc báo này chẳng dám đưa tin’. Và tự hỏi:&#8230; nước mắt ấy là nước mắt nào đây?&#8230; Chắc người ta lại sắp ‘vinh danh’ Nguyễn Ngọc Lan, cũng như vừa trao giải thưởng lớn cho Trần Dần, Phùng Quán&#8230; Ông Trần Bạch Đằng hứa hẹn sẽ in lại tuyển tập Nguyễn Ngọc Lan&#8230;., dĩ nhiên những bài viết ca ngợi chế độ ta.</i>    <br /><i>Con người khi sống nhân cách bị/được nhân đôi, cuộc sống thì được chia vùng&#8230; Khi sống thì bị đày đọa vùi dập, đến khi chết thì được vinh danh&#8230; Chắc khi đọc điếu văn, ông đại diện Hội Kính Chúa Yêu nước sẽ nói: ‘ông đã đóng góp tốt cho cách mạng, song có thời kỳ bị sai lầm!</i>.<i>..’ </i>    <br /><i>Cái nước ta nó thế!” </i>(Nguyễn Minh Thọ <a href="http://213.251.176.152:8080/diendan/BanDocVaZD/nghe-tin-ong-nguyen-ngoc-lan">- <i>Diễn đàn Forum</i></a> 2 tháng 3 năm 2007)     <br />Dư luận ngoài nước, tất nhiên, cũng không hẳn đều đồng tình về trường hợp cựu linh mục Nguyễn Ngọc Lan và những hoạt động có lợi cho cộng sản của ông thời gian trước 1975. Nhưng ít nhất, có một sự tôn trọng người vừa nhắm mắt qua đời. Cái đúng &#8211; sai ở một con người nhiều khi rất khó để buông một phán xét dứt khoát như việc cầm cái búa lên mà đóng một lần cuối cùng chiếc đinh trên nắp quan tài. Đối với người sống thì may ra còn có dịp sửa chữa, xin lỗi, bù đắp. Người chết thì đã xong, có xin lỗi thì oan khuất cũng đã tạo, nghiệp chướng cũng đã xây. Vì thế, người Việt Nam có câu “Nghĩa tử nghĩa tận”. Chẳng ai đến trước linh cữu một người rồi mở miệng nói như một cái máy phát băng đã nhão: “<i>Có một thời ông/bà đã mắc sai lầm”. </i>    <br />Vậy mà điều ấy đã xảy ra, từ cửa miệng người đại diện Bộ Giáo dục và Đào tạo nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam – cái bộ vốn lãnh trách nhiệm giáo dục thế hệ trẻ nhân cách, tri thức.     <br /><b>4.</b>    <br />Cải cách ruộng đất. <i>Nhân văn-Giai phẩm</i>. Cải tạo công thương nghiệp. Những nhà tù khổng lồ mọc lên trên thân thể đất nước sau ngày 30 tháng 4 năm 1975. Cuộc chiến tranh 30 năm khốc liệt. Những thảm họa lẽ ra có thể tránh được. Những vết thương cứa vào lòng người, để lại những cơn đau âm ỉ. Mỗi khi trái gió trở trời, cái nhức buốt của vết thương cũ lại tấy lên như thể vẫn còn mưng mủ.     <br />Lần giở những trang sách cũ, nhìn nhận những sai lầm, theo cách nói của người trong nước hiện nay, là một thái độ sòng phẳng với quá khứ, để xây dựng niềm tin cho hiện tại và tạo sức mạnh hướng tới tương lai. Vấn đề đặt ra là: Liệu những con người đã từng vượt Trường Sơn vào Nam mang theo trong lòng ảo tưởng giải phóng một nửa đất nước “nghèo khó, bị kìm kẹp bởi Mỹ Ngụy”, lần này có dám vượt “Trường Sơn” một lần nữa, cái rặng Trường Sơn cao ngất được dựng nên từ những vị kỷ cá nhân, từ lòng kiêu hãnh giả tạo và từ những đồng đô-la Mỹ béo bở để mở mắt ra nhìn nhận những sai lầm chết (bao nhiêu con) người của mình mà đấm ngực thống hối?     <br />Đã chắc gì việc trao giải thưởng văn học nghệ thuật quốc gia cho các nhà văn trong nhóm NVGP là “<i>sự ghi nhận một thái độ trở về lại với sự thật, tôn trọng và nhìn thẳng vào sự thật, một ứng xử chính trị nhằm khẳng định một cách nhìn mới, một tư duy mới mở đường cho phát triển trong thời đoạn lịch sử mới? “ </i>như hiện nay dư luận trong nước đang cố nuôi hy vọng? Nếu quả thật như thế, sao mới trước đó hai tuần lễ, họ lại nỡ đứng trước quan tài ông Nguyễn Hữu Đang, thủ lãnh của nhóm NVGP, nói ra một lời tận tuyệt: <i>cụ mắc sai lầm tham gia nhóm Nhân văn-Giai phẩm</i>? Nếu quả thật như thế, sao họ lại gạt tên nhà thơ Hữu Loan ra khỏi danh sách nhận giải? Vì tác giả “Màu tím hoa sim” đã không “biết điều” như tác giả <i>Về Kinh Bắc</i> &#8211; nhà thơ Hoàng Cầm?     <br />Hay lại đành nói theo kiểu một nhà văn trong nước:<i> Cái nước mình nó thế.</i>    <br />_______________________________________________________________________________</p>
<p>&#160;&#160;&#160;&#160; © T.Vấn 2007</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2007/03/nghivenhung/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Về Một Cõi Người</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2007/03/vemot/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2007/03/vemot/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 10 Mar 2007 16:18:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[3]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 3 - 2007]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2007/03/10/v%e1%bb%81-m%e1%bb%99t-ci-ng%c6%b0%e1%bb%9di/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2007/03/vemot/"><img align="left" hspace="5" width="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image002-thumb11.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image002" title="clip_image002" /></a><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image00211.jpg"></a>
●Thế giới có triệu điều không hiểu
Càng hiểu không ra lúc cuối đời
Chẳng sao &#8211; khi đã nằm trong đất
Đọc ở sao trời sẽ hiểu thôi
( Mai Thảo &#8211; Không Hiểu)
1.
Cuộc sống quả thật kỳ diệu. Không khi nào thiếu những tấn trò đời. Không khi nào thiếu những niềm vui và nỗi buồn. Như một tiền trường lừng lững bất chấp mọi biến đổi của thời gian, trên đó những người cũ vừa ra đi thì đã có người mới sẵn sàng thế chỗ. Những con số này vừa biến mất thì những con số khác đã có mặt. Một năm mười hai tháng nối đuôi nhau kết thành một chuỗi bi kịch và hí kịch. Những diễn viên có kẻ khóc, có người cười. Có kẻ hăm hở tiến về phía trước, có người cứ ngoái nhìn phía sau mà[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image00211.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 0px 0px 0px 5px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image002" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image002-thumb11.jpg" border="0" alt="clip_image002" width="171" height="244" align="right" /></a></p>
<p><em>●Thế giới có triệu điều không hiểu</em></p>
<p><em>Càng hiểu không ra lúc cuối đời</em></p>
<p><em>Chẳng sao &#8211; khi đã nằm trong đất</em></p>
<p><em>Đọc ở sao trời sẽ hiểu thôi</em><em></em></p>
<p>( Mai Thảo &#8211; Không Hiểu)</p>
<p><strong>1.</strong></p>
<p>Cuộc sống quả thật kỳ diệu. Không khi nào thiếu những tấn trò đời. Không khi nào thiếu những niềm vui và nỗi buồn. Như một tiền trường lừng lững bất chấp mọi biến đổi của thời gian, trên đó những người cũ vừa ra đi thì đã có người mới sẵn sàng thế chỗ. Những con số này vừa biến mất thì những con số khác đã có mặt. Một năm mười hai tháng nối đuôi nhau kết thành một chuỗi bi kịch và hí kịch. Những diễn viên có kẻ khóc, có người cười. Có kẻ hăm hở tiến về phía trước, có người cứ ngoái nhìn phía sau mà thấy bạn đồng hành của mình lần lượt rơi rụng. Dù muốn dù không, dù vui vẻ chấp nhận hay lắc đầu hờn dỗi, tháng giêng cũng đã lừng lững bước vào đầu ngõ. Tháng giêng đã trở về như một ngày đông năm ngoái nó đã bỏ đi.Ra đi và Trở về. Như một đời người bước chân vào đời chỉ để một ngày nào đó trở về nơi từ đó ra đi.</p>
<p><span id="more-176"></span></p>
<p><strong>2.</strong><strong> </strong><strong></strong></p>
<p><em>. . . Những ngày đầu năm, nhân kỳ nghỉ Đông còn kéo dài qua đến cuối tuần, mấy người bạn già chúng tôi lại khề khà rủ nhau ngồi quanh bàn rượu nhạt. Gọi là rượu nhạt vì những sợi tóc bạc trên đầu và những viên thuốc cao máu, giảm mỡ,trợ tim uống đều đặn hàng ngày đã không cho phép chúng tôi chạm môi vào cái thứ chất lỏng quyến rũ sóng sánh màu hổ phách trong những chai rượu mạnh mà nhãn hiệu của chúng cho biết xuất xứ ở mãi tận bên trời tây. Tuy rượu nhạt, nhưng uống nhiều thì môi vẫn cứ mềm, và đêm vẫn cứ trắng, dù biết sáng hôm sau, khi thức dậy sẽ là cảm giác uể oải theo suốt cho đến cuối ngày. Tháng Giêng, điểm mốc mới cho cuộc hành trình cũ về phía mặt trời lặn. Như chén Hồ trường phẫn uất rót về Đông Phương hay rót về Tây phương. Giữa tâm thức lâng lâng nửa tỉnh nửa say, trong đầu tôi hiện ra mồn một những hàng tùy bút rất đẹp của Mai Thảo &#8221; . . . có Jack Daniels khai vị buổi chiều, có Hennessy đậm đà buổi tối, có Hồ trường thắm thiết phẫn uất rót về Đông phương, rót về Tây phương, và từ giọt lệ lăn ra nơi câu thơ bôn tẩu thất quốc, đến cái tăm rượu họp bạn sủi lên trên một nền trời lữ thứ . . . &#8220;</em><em></em></p>
<p>Và thế là nhiều năm về sau, cái hình ảnh &#8221; tăm rượu họp bạn nổi lên trên một nền trời lữ thứ &#8221; của nhà văn Mai Thảo lại được sống lại, tất nhiên, với con người khác và nơi chốn khác, nhưng chao ôi! Cái hồn &#8221; <em>phẫn uất rót về Đông Phương, rót về Tây phương của Hồ trường</em> &#8221; sao mà giống nhau đến thế! Hẳn người dưới mộ cũng đủ ủi an cho một mảnh hồn cô đơn cho đến giây phút cuối cùng. Tháng giêng! ừ thì tháng giêng! chúng tôi quây quần nhau lại để thấy tâm thức mình đã khác nhiều từ tháng giêng năm ngoái đến tháng giêng năm nay. Hư không, từ một khái niệm trừu tượng mơ hồ, nay đã cho thấy những dấu hiệu của một giai đoạn phôi thai định hình. Thơ, ngày trước là những lời tình yêu nồng cháy, nay, phút chốc đã nhìn thấy cái bạc phơ phảng phất giữa hàng chữ nặng nề tuổi hạc. Con mắt, trước kia long lanh những khát vọng vừa thanh cao vừa trần tục, nay, chỉ còn thấy cái hun hút của con đường một chiều thẳng tắp, không có những ngã rẽ khiến hồn đi lạc, chỉ có những trạm nghỉ chân mang tên tháng giêng làm điểm mốc cho chặng đường còn lại mỗi ngày mỗi ngắn hơn. Và đôi chân, ngày xưa lủng lẳng giày cỏ, trật vuột dép vỏ xe, mà đá vẫn cứ mềm, nay, giày da đi hoài không vẹt mỏ ( có đi đâu mà mòn vẹt, có chăng là những vết sướt vì đêm tháng giêng túy lúy men rượu nhạt vấp phải mảnh đá con trên đường về), mà đôi bàn chân cứ sưng múp lên như người bị phù thủng.</p>
<p><strong>3.</strong></p>
<p>Thực ra, mọi điều kỳ diệu chỉ là giả thuyết. Giả thuyết về một cõi người. Giả thuyết về một giả thuyết có thật hay không có thật. Thế đấy, dưng không mà buổi khề khà đầu năm của mấy người bạn già lại xoay quanh những điều gọi là kỳ diệu của cuộc sống, những điều gọi là giả thuyết . Có phải đó là nhờ chén rượu cay sóng sánh màu hổ phách chưa nhấp đã sợ mình sẽ say túy lúy càn khôn ? có phải đó là tà áo dài màu thiên thanh năm xưa chợt ẩn chợt hiện lung linh dưới đáy cốc, nhòe nhoẹt vì đoạn phim nhão cũ kỹ đã hơn ba mươi năm ? có phải đó là nhờ chặng nghỉ chân khi gần đến đích của con đường , sau khi thở một hơi nhẹ nhõm, đã nhận ra được điều kỳ diệu trên hết mọi điều kỳ diệu của cuộc sống này chính là khả năng nhìn tấn trò đời như một giả thuyết. Giả thuyết kể rằng, ngày xưa có chàng Lưu và chàng Nguyễn lạc vào chốn không có khởi đầu và kết thúc, không có tháng mười hai vì thế không có tháng giêng, không có nước mắt, vì thế không ai biết đến nụ cười. Nhưng giả thuyết lại không tìm ra được chỗ kết thúc cho chính mình, nên đành trả chàng Lưu và chàng Nguyễn trở lại trần gian, trở lại cõi người, sau nhiều trăm năm giam cầm hai chàng nơi miền vắng tanh vắng ngắt những điều kỳ diệu. Hẳn nhiên, hai chàng chấp nhận sự hữu hạn của cuộc đời mình như một sự đánh đổi lấy ý nghĩa làm người.</p>
<p><strong>4.</strong></p>
<p>Những người khách lữ hành thường không có thì giờ để nghỉ và nghĩ. Vì thế không có gì ngạc nhiên khi người ta sắp đi hết cuộc hành trình, thường tìm cách để nghỉ và nghĩ. Hay nói cách khác, lúc nghỉ là lúc nghĩ. Tương tự như hai anh chàng Lưu Nguyễn của giả thuyết, những anh bạn già của chúng tôi , sau gần hết một đời bon chen mỏi mệt, nay được dịp ngồi lại khề khà thì hiểu được rằng , hay giả bộ hiểu được rằng, những điều đổi thay của tấn trò đời- mà cụ thể nhất là những tấn trò mình đã kinh qua &#8211; không thể có một giá trị nào khác hơn là sự kỳ diệu tạo nên ý nghĩa cuộc đời này. Và để cho dễ sống , đừng bận tâm mơ về một cõi thiên thai đã giam cầm hai chàng Lưu Nguyễn, cõi ấy tuy có thật (?), nhưng chắc gì đã không có chỗ cuối con đường, nơi đó, người ta ngoảnh cổ nhìn lại , thấy rơi rụng dần những bạn đồng hành. Đã vậy, lại không có chén rượu sóng sánh màu hổ phách chưa uống đã sợ mình say túy lúy càn khôn. Nếu không tệ như vậy, hai chàng Lưu Nguyễn đã chẳng khóc lóc đòi về.</p>
<p>© T.Vấn 2007</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2007/03/vemot/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Từ tiếng Việt trên xứ người đến ngôn ngữ và lưu vong</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2007/03/tutieng/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2007/03/tutieng/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 03 Mar 2007 15:50:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[3]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 3 - 2007]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2007/03/03/t%e1%bb%ab-ti%e1%ba%bfng-vi%e1%bb%87t-trn-x%e1%bb%a9-ng%c6%b0%e1%bb%9di-d%e1%ba%bfn-ngn-ng%e1%bb%af-v-l%c6%b0u-vong/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2007/03/tutieng/"><img align="left" hspace="5" width="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image001-thumb13.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image001" title="clip_image001" /></a>Đọc những câu trả lời của nhà văn vừa đọat giải Nobel về văn chương, tôi lại chợt nhớ đến những thân phận Việt Nam lưu vong. 30 năm nay, cái mảnh hồn u uẩn của một quê hương bỏ lại sau lưng vẫn cứ bàng bạc trong hầu hết nhiều tác phẩm thành danh của dòng văn học hải ngọai. Cũng những trăn trở về một cội rễ ngày một phai nhạt dần trong những lớp ngừơi  trẻ sinh đẻ nơi xứ người,]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image00113.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 0px 10px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image001" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image001-thumb13.jpg" border="0" alt="clip_image001" width="170" height="244" align="left" /></a></p>
<p><strong>Vỉa hè Sài Gòn – Tranh : Trần Thanh Châu </strong></p>
<p><strong> ▪</strong><em>Tôi yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời . . .</em></p>
<p><em> ( Tình ca- Phạm Duy)</em></p>
<p><strong>1.</strong></p>
<p><em>Tiếng Việt trên xứ người</em>. Đó không phải là trăn trở chỉ của một số người viết lách ở hải ngọai , mà còn là mối ưu tư hàng đầu của nhiều những bậc cha mẹ có con cái sinh trưởng ngòai đất nước. Dù có cố gắng cách mấy trong việc bảo tồn tiếng mẹ đẻ , thì những người trẻ vẫn cứ xử dụng ngôn ngữ nơi mình sinh sống như là ngôn ngữ chính, còn ngôn ngữ mẹ đẻ ( tiếng Việt ) trở thành “ ngôn ngữ thứ hai “ ( second language). Hồi xưa, cha mẹ chúng bỏ nước ra đi, đến xứ sở mới phải học ngôn ngữ địa phương như là ngôn ngữ thứ hai ( thí dụ : English as a second language – ESL – lớp học này chắc chẳng xa lạ gì với hầu hết thế hệ thứ nhất người Việt định cư trên đất Mỹ ). Bây giờ thì ngược lại.</p>
<p><span id="more-171"></span></p>
<p>Hệt như thế hệ thứ nhất nói tiếng bản xứ bằng chất giọng đặc sệt Việt Nam, thế hệ thứ hai , thứ ba ( con cái chúng ta) nói tiếng Việt bằng chất giọng lơ lớ của dân bản xứ. Lớp già chúng ta khi phát biểu một câu nói bằng tiếng bản xứ, vốn có thói quen suy nghĩ ý tưởng của câu nói ấy bằng tiếng Việt ở trong đầu trước, rồi mới chuyển chúng sang tiếng bản xứ khi nói chuyện ( lâu hay mau của tiến trình chuyển ngữ ấy tùy thuộc vào khả năng sinh ngữ riêng từng người). Còn con cháu chúng ta khi cần nói một câu bằng tiếng Việt, phần lớn cũng sẽ có thói quen như cha mẹ chúng, nhưng ngược lại : suy nghĩ bằng tiếng bản xứ, rồi chuyển ý tưởng ấy sang tiếng Việt.</p>
<p>Đấy là nói về những người trẻ còn nói được tiếng Việt, còn đọc được tiếng Việt, còn viết được tiếng Việt. Còn những người , thậm chí đến không nói được tiếng Việt nữa thì sao ? Màu tóc màu da Việt Nam khiến những người trẻ ấy không bao giờ hội nhập được hòan tòan vào xã hội bản xứ, mặt khác, không nói được ngôn ngữ mẹ đẻ khiến họ trở nên xa lạ với đất nước vốn là nơi nguồn gốc của họ phát sinh. Kết cuộc, họ trở thành những kẻ đứng bên lề. Hình như, có rất nhiều bậc cha mẹ chúng ta coi nhẹ cái bi kịch này của con em mình. Rồi đây, cái giá phải trả cho sự sai lầm ấy không phải là nhỏ.</p>
<p>Một cách tình cờ, tôi đọc được bài thơ trích dưới đây của một cô gái Việt nam, theo cha mẹ lập nghiệp ở Mỹ năm cô mới lên 13 tuổi. Và đây là tâm tình của cô gái :</p>
<p><em>người ta nói:</em></p>
<p><em>em là thi sĩ việt nam của thế hệ cuối cùng</em></p>
<p><em>vì sau em,</em></p>
<p><em>tiếng việt sẽ chết.</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>tiếng việt sẽ chết</em></p>
<p><em>tôi nghe nói và không tin,</em></p>
<p><em>khi trở về phòng ngủ bên ngoài Little Saigon,</em></p>
<p><em>đặt mình xuống bên cạnh người tình da trắng,</em></p>
<p><em>người rất yêu tôi và yêu dân tộc tôi.</em></p>
<p><em>sau khi thỏ thẻ một câu ‘I love you’,</em></p>
<p><em>bỗng nhiên giận vô cớ</em></p>
<p><em>và làm tình với hắn trong tất cả căm hận của giống người da vàng.</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>tiếng việt sẽ chết</em></p>
<p><em>tôi nghe nói và không tin,</em></p>
<p><em>khi hớn hở tới hộp đêm gặp bạn bè,</em></p>
<p><em>những người bạn sinh ở Phan Rang, Củ Chi, Sài Gòn, Ðà Nẵng,</em></p>
<p><em>nhưng mang những tên anh ngữ pháp ngữ như Elle, Taylur, Nik, Etienne.</em></p>
<p><em>cả một đêm vui chơi nhậu nhẹt nhảy nhót,</em></p>
<p><em>tôi không một lần phát âm giọng mẹ đẻ.</em></p>
<p><em>khi hôn chia tay, tôi vang vửa một lời ‘ciao’ (1) -</em></p>
<p><em>không phải chào.</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>tiếng việt sẽ chết</em></p>
<p><em>tôi nghe nói và không tin,</em></p>
<p><em>khi len lỏi giữa dòng xe buổi chiều,</em></p>
<p><em>chợt vui mừng khi bỗng thấy bảng quảng cáo tiệm quần áo mới mở mang tên “Ra”,</em></p>
<p><em>để rồi chỉ thất vọng khi hiểu rằng “ra” có nghĩa “đời sống” trong ngôn ngữ Ai Cập,</em></p>
<p><em>không phải tiếng nước tôi.</em></p>
<p><em>. . . . . . . . . . . . . . . . . </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>tiếng việt sẽ chết</em></p>
<p><em>tôi nghe nói và không tin.</em></p>
<p><em><strong>Ðỗ Lê Anh Đào</strong></em></p>
<p><em>(1) ciao &#8211; tiếng Ý mang nghĩa chào hay tạm biệt.</em><strong> </strong></p>
<p><strong>2. </strong></p>
<p><strong>Ngôn ngữ và lưu vong</strong></p>
<p><em>Ngày 12 tháng 10 năm  2006, Hàn Lâm Viện Thụy Điển công bố người đọat giải Nobel về văn chương : Nhà văn người Thổ Nhĩ Kỳ Orhan Pamuk.  Bản tuyên bố quyết định trao giải cho ông của Hàn Lâm Viện Thụy Điển đặc biệt nhấn mạnh đến “ cuộc truy tìm cái mảnh hồn u uẩn của thành phố quê hương “ bàng bạc trong các tác phẩm của nhà văn lưu vong này. Trả lời cuộc phỏng vấn qua điện thọai của viên Tổng biên tập Trang Web Nobelprize.org chỉ vài giờ sau khi bản tin được công bố, Pamuk đã nói rằng thành phố Istanbul ( thủ đô Thổ nhĩ kỳ) nằm chênh vênh giữa biên giới của Đông và Tây, nó vừa huyền bí, vừa lạ lùng và rất không khoan nhượng. Mặt khác, thành phố đó cũng là một trong những thành phố hiện đại sớm sủa của thế giới mà tính hiện đại đã suy tàn nhanh hơn là người ta tưởng. Ông cho rằng sự đổ nát của quá khứ cũng góp phần dựng nền cái hồn u uẩn ấy, cùng với sự nghèo đói. </em></p>
<p><em><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image0031.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image003" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image003-thumb1.jpg" border="0" alt="clip_image003" width="198" height="244" /></a></em></p>
<p><em>Nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ Orhan Pamuk</em></p>
<p>Đọc những câu trả lời của nhà văn vừa đọat giải Nobel về văn chương, tôi lại chợt nhớ đến những thân phận Việt Nam lưu vong. 30 năm nay, cái mảnh hồn u uẩn của một quê hương bỏ lại sau lưng vẫn cứ bàng bạc trong hầu hết nhiều tác phẩm thành danh của dòng văn học hải ngọai. Cũng những trăn trở về một cội rễ ngày một phai nhạt dần trong những lớp ngừơi  trẻ sinh đẻ nơi xứ người, hai chân đứng ở trên hai mảnh đất Đông và Tây, nhưng cái chân phía bên phía Tây dường như vững chãi hơn, có ảnh hưởng hơn và sớm muộn gì cũng làm nghiêng ngả cái chân bên phía Đông.</p>
<p>Ở một điểm khác, sự thành công của Pamuk, theo ghi nhận của Hàn Lâm Viện Thụy Điển là cái cái cách nhà văn đặt vấn đề và giải quyết những xung đột của các nền văn hóa khác nhau mà Thổ Nhĩ Kỳ tượng trưng cho nền văn hóa nằm giữa hai lằn đạn. Theo Pamuk, Văn hóa ( thế giới ) là một sự pha trộn. Và thành phố quê hương của ông ( Istanbul) là sự pha trộn ấy.</p>
<p>Về mặt tinh thần, những cộng đồng người Việt sinh sống khắp nơi trên thế giới, theo định nghĩa văn hóa là sự pha trộn của Pamuk, cũng nằm trong phạm trù ấy. Hơn thế nữa, sự pha trộn còn đi sâu vào ngõ ngách từng gia đình, qua cách phục sức, thực phẩm ăn uống ngày, cách giao tế, ngôn ngữ xử dụng. Chỉ cần vào sinh họat chung với bất cứ gia đình người Việt nào sống ở hải ngoại, sẽ thấy rõ sự pha trộn “ văn hóa “ rất điển hình cho thế giới tòan cầu hóa ngày nay.</p>
<p>Nhưng liệu người Việt chúng ta  có giải quyết được những xung đột văn hóa ấy một cách hợp lý và cân bằng không, hay , khi các bậc trưởng thượng trong gia đình nằm xuống, con cháu sẽ chôn theo quan tài họ những “ <em>tàn dư  cũ kỹ</em> “ mà, theo họ, lẽ ra chúng phải được cất vào những ngăn kéo lịch sử từ lâu rồi.</p>
<p>Cũng trong cuộc phỏng vấn chớp nhóang của viên Tổng biên tập trang Web Nobelprize.Org, vấn đề ngôn ngữ đã được đặt ra và trả lời rất trung thực giữa hai bên người hỏi và người trả lời. Pamuk nhấn mạnh đến ngôn ngữ mà ông dùng để diễn tả  mảnh hồn u uẩn của quê hương ông, đó là tiếng Thổ nhĩ kỳ.</p>
<p><em>Không thể khác được, vì viết là kết quả của suy tưởng. Mà suy tưởng  kết thành bởi hai yếu tố : ngôn ngữ và hình ảnh. Do đó, dù ông là nhà văn lưu vong, có đôi tác phẩm viết bằng Anh ngữ, nhưng căn bản nhất để xác định căn cước một nhà văn phải là ngôn ngữ ông ta xử dụng . Nói cách khác, phải là ngôn ngữ mẹ đẻ.</em></p>
<p>Vài năm sau, có thể sẽ có một nhà văn Việt Nam được trao giải văn chương Nobel. Nếu đó là một nhà văn Việt Nam sống lưu vong, thì chắc hẳn – như nhà văn Thổ nhĩ Kỳ 54 tuổi nhận định – phải là người xử dụng tiếng Việt là ngôn ngữ chính trong các tác phẩm quan trọng nhất của mình.</p>
<p><strong>3.</strong></p>
<p>Ngôn ngữ vốn luôn luôn chuyển động. Những từ ngữ mới được sinh ra theo với sự phát triển của cuộc sống, đồng thời, một số từ ngữ cũng chìm dần vào quên lãng. Đó cũng chỉ là định luật đào thải trong lĩnh vực văn hóa. Số phận của tiếng Việt  ở ngòai đất nước cũng không thóat khỏi định luật ấy. Chỉ khác một điều là vì nó tồn tại ngòai môi trường quen thuộc , nên số từ ngữ mới được sinh ra thì ít, mà số từ ngữ bị bỏ quên không dùng đến thì lại hơi . . . nhiều. Chính bản thân tôi, đôi lúc đã phải lúng túng trong việc tìm một từ chính xác để dẫn giải một vấn đề nào đó. Đó là hệ quả của việc sống xa quê hương, không tiếp xúc thường xuyên với những cái rất vật chất , rất đời thường : nước, đất, thực phẩm , con người , những thứ tạo nên bản sắc một ngôn ngữ, một nền văn hóa. Đó là những khó khăn trong việc duy trì tiếng mẹ đẻ ở những người thuộc thế hệ đi trước, đến xứ người sinh sống khi ngôn ngữ ấy đã ăn vào da thịt, vào trí não.</p>
<p>Ở những người trẻ sinh trưởng tại hải ngọai, vấn đề này tưởng chừng như sẽ không có lối ra. Trong nhiều gia đình, thức ăn truyền thống cho lũ trẻ trong nhà không còn là cá kho, dưa xào, canh ngót nữa. Thay vào đó, là hambuger, french fries, coke. Những thứ này tuy vẫn có thể dịch sang tiếng Việt dễ dàng nhưng một phần do thói quen, một phần khác  &#8211; quan trọng hơn – tiếng Việt ( như bánh thịt băm, khoai tây chiên, nước ngọt ) không diễn tả được chính xác , không tạo được cái hồn cho món ăn được nói đến . Thế nên, lựa chọn cuối cùng vẫn là hamburger, french fries, coke. Đó mới chỉ là khía cạnh ăn uống trong môi trường sống hàng ngày. Ở khía cạnh học hành, chơi đùa, giao tiếp bè bạn của những người trẻ , vấn đề ngôn ngữ ( mẹ đẻ hay bản xứ ) thậm chí còn nổi cộm hơn nữa. Và thế là, tiếng mẹ đẻ cứ từ từ đội nón ra khỏi nhà mà không cần tới tác động của định luật đào thải xua đuổi. Tính chất pha trộn văn hóa ấy , như vết dầu loang, đi từ gia đình ra tới cộng đồng, kéo theo sự èo uột của tiếng Việt trên xứ người. Chả trách gì cô gái trẻ vừa buồn bã kêu lên:</p>
<p><em>tiếng việt sẽ chết</em></p>
<p><em>tôi nghe nói và không tin.</em></p>
<p>Cũng nên công bằng ghi nhận những nỗ lực rất đáng khích lệ của các trung tâm giảng dạy Việt ngữ có mặt khắp nơi ở  những thành phố lớn nhỏ nơi có người Việt cư ngụ, các nhà thờ, chùa chiền , ngòai công việc thờ phượng tôn giáo còn dùng uy tín, phương tiện sẵn có của mình để giúp các người trẻ có cơ hội rèn luyện tiếng mẹ đẻ, qua đó, làm quen và tìm hiểu thêm văn hóa tổ tiên, những lề thói tập tục cần lưu giữ, ít nhất là những gì cha mẹ chúng khi rời quê hương  đã mang theo.</p>
<p><strong>4.</strong></p>
<p>Ngôn ngữ, cùng với lối phục sức và cách chế biến thực phẩm là biểu trưng rõ nét nhất cho một dân tộc trong thế giới tòan cầu hóa ngày nay, mà cụ thể nhất là ở môi trường sống ngòai đất nước của những người thuộc dân tộc ấy. Người Việt sống xa quê hương, coi ngôn ngữ Việt như là căn cước về nguồn gốc. Cụ thể hơn nữa, tiếng Việt ngòai đất nước còn giữ vai trò chiếc cầu nối một người xa xứ với quê hương đất nước mình. Không nói được tiếng Việt, không đọc được tiếng Việt, không viết được tiếng Việt tức là cây cầu nối ấy không còn nữa.</p>
<p>Tôi không dám nghĩ đến một ngày nào trong tương lai, 30 năm, 50 năm sau, cái khái niệm quê hương Việt Nam bên kia nửa vòng quay trái đất chỉ còn là một khái niệm rất mơ hồ, rồi từ từ biến thành xa lạ, cho đến khi nó biến mất hẳn khỏi tâm tưởng người Việt sống ngòai đất nước.</p>
<p><em>Tiếng Việt chết, cũng có nghĩa là người Việt xa xứ không còn một mảnh đất để quay về. Có ai dám nghĩ đến và tin rằng điều ấy sẽ xẩy ra ?</em><em></em></p>
<p>T.Vấn</p>
<p><a href="http://t-van.net/">©</a> T.Vấn 2007</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2007/03/tutieng/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
