<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>T.Van &#187; Tháng 3 &#8211; 2008</title>
	<atom:link href="http://t-van.net/wordpress/category/thang3/2008-3/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://t-van.net/wordpress</link>
	<description>Trang Nha T.Van</description>
	<lastBuildDate>Fri, 03 Sep 2010 04:56:07 +0000</lastBuildDate>
	<generator>http://wordpress.org/?v=2.8</generator>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
			<item>
		<title>Khỏang cách oan khiên</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2008/03/khoangcach/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2008/03/khoangcach/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 26 Mar 2008 18:33:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[3]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 3 - 2008]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2008/03/26/kh%e1%bb%8fang-cch-oan-khin/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2008/03/khoangcach/"><img align="left" hspace="5" width="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image001-thumb17.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image001" title="clip_image001" /></a><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image00117.jpg"></a>
Tưởng niệm – tranh Trần Thanh Châu ( Seattle)

Chút rượu hồng đây xin rưới xuống
Giải oan cho cuộc biển dâu này
( Ta Về &#8211; Tô Thùy Yên)
1.
Nước Mỹ cần tới 42 năm để hàn gắn những vết thương gây ra bởi cuộc nội chiến Nam Bắc. Cuộc chiến hai miền của Việt Nam mới chấm dứt được có 32 năm. Cho nên, cũng không lạ gì nếu vẫn còn hiện hữu những hố sâu chia rẽ hai bên sau cuộc chiến. Và hiện tượng trên còn xảy ra ở một thế hệ sinh ra khi cuộc chiến đã tàn lụi từ lâu. Mới đây, trên một trang nhật ký mạng ( Blog ), một thanh niên Sài Gòn nhận định rằng người miền Bắc ( Hà Nội ) thô lỗ, có giọng nói kỳ cục, lái xe ẩu tả và không có khiếu[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image00117.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 5px 10px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image001" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image001-thumb17.jpg" border="0" alt="clip_image001" width="244" height="186" align="left" /></a></p>
<p><strong>Tưởng niệm – tranh Trần Thanh Châu ( Seattle)</strong></p>
<p><em></em></p>
<p><em>Chút rượu hồng đây xin rưới xuống</em></p>
<p><em>Giải oan cho cuộc biển dâu này</em></p>
<p><em>( Ta Về &#8211; Tô Thùy Yên)</em></p>
<p><strong>1.</strong></p>
<p>Nước Mỹ cần tới 42 năm để hàn gắn những vết thương gây ra bởi cuộc nội chiến Nam Bắc. Cuộc chiến hai miền của Việt Nam mới chấm dứt được có 32 năm. Cho nên, cũng không lạ gì nếu vẫn còn hiện hữu những hố sâu chia rẽ hai bên sau cuộc chiến. Và hiện tượng trên còn xảy ra ở một thế hệ sinh ra khi cuộc chiến đã tàn lụi từ lâu. Mới đây, trên một trang nhật ký mạng ( Blog ), một thanh niên Sài Gòn nhận định rằng người miền Bắc ( Hà Nội ) thô lỗ, có giọng nói kỳ cục, lái xe ẩu tả và không có khiếu thẩm mỹ. Lập tức, anh ta nhận được những câu trả lời giận dữ, kể cả những đe dọa về tính mạng, dưới dạng text gởi đến số điện thọai di động của mình.</p>
<p><span id="more-209"></span></p>
<p>Và rồi , các cư dân trẻ trong thế giới ảo có địa chỉ thật ở hai miền Việt Nam nhập cuộc . Bên Nam bênh  miền Nam, bên Bắc bênh miền Bắc, chỉ trích lẫn nhau. Câu chuyện nhỏ nói trên phản ánh một thực tại do hậu quả từ một trong những nguyên nhân là sự chênh lệch trong phát triển của hai miền từ những ngày trước khi chiến tranh chấm dứt. Người Sài Gòn thường tự hào về di sản tự do họ được thừa hưởng từ chế độ đã sụp đổ, về những cơ hội tiếp xúc với văn minh thế giới trước miền Bắc rất lâu . Mặt khác, vị trí của thành phố Sài Gòn – vốn là thủ đô dưới thời VNCH – khiến người Sài Gòn năng động hơn, phóng khóang hơn khi đối diện với nhiều vấn đề thiết thực của đời sống, nhất là về kinh doanh thương mại. Thế giới phương Tây biết đến Sài Gòn nhiều hơn Hà Nội, dù Hà Nội hiện nay là thủ đô của Việt nam Cộng sản, vì, theo lời một số người ( ngọai quốc ) thường đi lại vùng Đông nam Á, Sài Gòn có cái nét của một thiếu nữ dễ thương, hiểu biết khi so sánh với người đàn bà luống tuổi Hà Nội bẵn tính, thiếu thân thiện. Ngược lại, người Hà Nội tự hào mình xuất thân từ mảnh đất ngàn năm văn vật, nơi xuất phát của một nền văn hóa có chiều dầy lịch sử. Họ cho rằng người Hà Nội có chiều sâu hơn người Sài Gòn vốn ruột để ngòai da, ham vui. Tất nhiên, khác biệt ý thức hệ trong 30 năm của cuộc chiến tranh không phải là không để lại nhiều dấu ấn trong mối quan hệ giữa hai miền, dù nay đã thành một nước thống nhất , nhưng chỉ thống nhất trên phương diện địa lý, còn về nhiều phương diện khác, nhất là văn hóa, chắc chắn khó có thể nói đến thống nhất được, có chăng là nền văn hóa miền nào cao hơn, sẽ từ từ đồng hóa bên có nền văn hóa thấp hơn.</p>
<p>Lịch sử Việt Nam từ 30 năm trở lại đây đã cho thấy rất rõ điều đó. Miền Bắc , sau chiến thắng 1975, đã làm đủ mọi cách để kéo miền Nam xuống cho ngang tầm với miền Bắc , từ kinh tế, xã hội, nếp sống, cho đến những lãnh vực cao hơn như văn hóa, ngôn ngữ, âm nhạc, tôn giáo. Nhưng dù là kẻ thắng trận, với quyền lực trong tay thông qua các biện pháp hành chính, cưỡng bức hoặc những đợt càn quét giới trí thức, đốt sách, đẩy những thành phần ưu tú của miền Nam vào các trại cải tạo, có thể thành công trong việc bần cùng hóa đời sống kinh tế, nhưng vẫn phải chịu thua về phương diện văn hóa. Tôn giáo, dù bị kiểm sóat chặt chẽ bời đủ mọi cơ quan, từ chính quyền cho đến các tổ chức ngọai vi ngụy trang dưới hình thức các đòan thể tôn giáo, vẫn phát triển sâu rộng trong mọi từng lớp dân chúng. Ngôn ngữ ngày càng Sài Gòn hóa, dù cho có lúc người ta phải sử dụng những từ du nhập từ miền Bắc , mang một nội dung khá xa lạ với người dân miền Nam. Phong cách giao tế, ăn mặc, xử sự , thời gian đầu do những suy xụp về kinh tế đã khiến người miền Nam phải nhượng bộ tính cách duyên dáng cố hữu của riêng mình, nhưng dần dà khi cuộc sống hàng ngày được cải thiện, phong cách hào phóng của người miền Nam lại được mọi người dùng làm khuôn mẫu xã hội. Trong lãnh vực âm nhạc cũng vậy, những lọai nhạc gọi là ủy mị, ướt át trước đây bị kết án và cấm lưu hành, nay đã trở lại chiếm vị trí còn cao hơn trước đây trong xã hội miền Nam. Điều rất dễ hiểu, lọai nhạc ấy gần gủi với tâm hồn con người, dù đó là con người đã từng bị thứ chính trị hận thù giai cấp làm cho tâm hồn bị xơ cứng. Đám tang nhạc sĩ Trịnh công Sơn, một người đã từng bị chính quyền Cộng sản kết án vì những tác phẩm âm nhạc của mình, diễn ra vào tháng 4 năm 2001 với sự thương tiếc của hàng triệu người Việt Nam ở cả hai miền Nam Bắc , cùng với những nghi thức tưởng niệm rầm rộ đã là một bằng chứng rõ nét nhất cho sự ưu thắng của nền văn hóa ở trình độ cao hơn, dù nền văn hóa ấy ở về bên phe bị thua trận. Gần đây, ở Sài Gòn người ta đã lần lượt cho in lại những quyển sách xuất bản ở miền Nam trước 1975, những quyển sách mà khi mới vào tiếp thu Sài Gòn, chính quyền Cộng sản đã vội vã cho lệnh thu gom lại và thiêu hủy. Ngọn lửa phần thư năm xưa đã không thể đốt hết được những tinh túy văn hóa kết tụ trong tim, trong óc con người nền văn hóa ấy, và trải qua bao cuộc bể dâu, chúng vẫn còn được tàng trữ dưới mọi hình thức để chứng minh sự bất tử , sự tất thắng của những gì thuộc về con người đích thực.</p>
<p><strong>2.</strong></p>
<p>Cuộc tranh luận gay gắt của một nhóm thanh niên hai miền Nam Bắc, ngòai những khác biệt thực tế trong các lãnh vực văn hóa, xã hội như đã nêu ở trên, nó còn cho thấy một một mạch đối kháng ngầm giữa hai bên , hệ quả từ cuộc chiến tranh Nam Bắc kéo dài từ 1955 cho đến ngày cuối cùng của tháng 4 năm 1975.</p>
<p>Thế hệ những người sinh ra, trưởng thành trong thời gian này, dù tình nguyện hay bị bắt buộc, cũng đã trực tiếp tham gia vào cuộc chiến ấy, đến nay phần lớn vẫn còn sống và đã hình thành nên hai phe đứng ở hai bên của một lằn ranh tồn tại từ những ngày chiến tranh khốc liệt đó. Triển vọng cho một cuộc hòa giải thực sự giữa hai bên vẫn còn rất mong manh, nếu không muốn nói là khó mà thực hiện được. Ngòai những trở ngại tự thân đến từ những người lính trước đây mặc hai màu áo khác nhau, trở ngại lớn nhất vẫn là từ nhà cầm quyền trong nước hiện nay, vốn không bao giờ thực tâm muốn hòa giải, dù miệng lưỡi vẫn ngày ngày hô to khẩu hiệu hòa giải, thứ chính quyền mà một người trí thức trẻ ở trong nước đã mô tả “ . . . <em>chưa bao giờ trong lịch sử, những người lãnh đạo đất nước lại hèn nhát, bảo thủ đến cùng như lúc này. Thà mất nước chứ nhất định không chịu từ bỏ con đường sai, không chịu mất quyền lực, và chưa bao giờ mỗi lần con số ít ỏi những người dân Việt dám cất lên tiếng nói lương tâm lại cảm thấy cô đơn, lẻ loi giữa cộng đồng và bất lực như lúc này! . . . “  ( trích </em>Song Chi’s Blog<em> ) .</em>Chiến tranh chấm dứt đã hơn 30 năm, nhưng những tranh chấp giữa người Việt với nhau vẫn chưa chấm dứt. Cuộc đối đầu triền miên không bao giờ dứt ấy, ít nhiều đã ảnh hưởng những thế hệ trẻ, sinh ra sau chiến tranh, tuy không tham dự trực tiếp cũng vẫn vô hình chung, chọn cho mình một phía để đứng, vì cha anh của họ đã từng đứng về phía ấy, đã từng đổ máu, hy sinh, và bên phía thua trận thì cũng đã từng bị tù đầy, lưu vong . Cái lằn ranh ngăn chia những người trẻ ấy tuy có vô hình hơn, nhưng không thể phủ nhận rằng nó không hiện hữu. Tất nhiên, một người trẻ hiện sinh sống ở Việt Nam, có cha hay anh là lính Cộng Hòa, tuy không dám công khai bênh vực cha anh mình mỗi khi nghe những lời phỉ báng, nhưng tận thâm tâm vẫn mang một nỗi hậm hực khó chịu, cho đến khi nỗi hậm hực khó chịu ấy có cơ hội và điều kiện để bùng nổ, phát tác dưới hình thức nào đó.</p>
<p>Sự ưu thắng của văn hóa miền Nam, tức bên thua trận, lại càng khơi sâu thêm mặc cảm tranh chấp giữa những người sống ở hai bên lằn ranh ý thức hệ ngày ấy. Bên thua, có thêm lý do để xoa dịu nỗi đau thất trận và cảm giác được ủi an những ngày cuối đời phải kéo dài kiếp sống lưu vong. Bên thắng, cái tự hào của người chiến thắng năm xưa hiên ngang bước trên đường phố tràn ngập cờ đỏ chào đón “ người giải phóng “ đã không còn được nguyên vẹn. Ít nhiều, lòng tự hào ấy đã bị tổn thương. Cả hai bên, người nào cũng đã gìa nua, tuổi tác. Và vì gìa nua tuổi tác, đầu óc không còn “ chỗ trống ‘ để tiếp nhận những ý tưởng mới, những ý kiến khó chấp nhận. Cái hệ quả hiển nhiên ấy, ngòai việc đẩy hai thế hệ già nua càng xa thêm lằn ranh khiến họ có thể đưa tay cho nhau nắm nếu điều kiện chín mùi, còn gây nên một khỏang cách “ khó chịu “ cho thế hệ con cháu những người đó. Tất nhiên, thế hệ trẻ không thể ghét bỏ nhau như cha anh mình, vì họ không có những lý do chính đáng để ghét bỏ lẫn nhau, nhưng đã chắc gì họ có thể bắt tay nhau như những người bạn thực sự.</p>
<p>Oan khiên ấy, sẽ còn tồn tại đến bao giờ ?</p>
<p><strong>3.</strong></p>
<p>Những ngày này, một số người làm văn học ở cả trong lẫn ngòai nước đang cố gắng làm cây cầu nối bước qua khỏang cách oan khiên ấy, trước hết, là chính họ đến với nhau. Cố gắng ấy phát xuất từ những thiện chí và ước muốn đáng ngưỡng mộ. Nhưng, oan nghiệt thay, cùng một lúc, mọi người đều nhìn thấy cái chênh vênh của những cố gắng ấy. Họ như những người đang đi trên dây xiếc giữa một bên là văn học, và bên kia là chính trị. Từ trong nước ra đến hải ngọai, văn học và chính trị là hai mặt của một đồng tiền, hay nói theo lời một người viết văn ở hải ngọai, văn học và chính trị là hai mặt của đời sống. Người ta không thể làm văn chương mà không nhìn thấy ông chính ủy ngồi chểm chệ trước mặt, hay những “ taboo chính trị “ của người Việt hải ngoại như những thanh gươm <em>Damoclès </em>treo lơ lửng trên bầu trời phố Bolsa.</p>
<p>Mà đã không thể tách rời được thuộc tính  đầy bất trắc của chính trị, thì liệu thế cân bằng , hay đúng hơn sự độc lập của văn chương , sẽ có được mức độ khả tín như thế nào hầu  làm tròn vai trò “ <em>chiếc cầu bắc qua khỏang cách oan khiên</em> “ như người ta mong đợi ?</p>
<p><em>© T.Vấn 2008 </em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2008/03/khoangcach/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Nỗi thống khổ của Con Người</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2008/03/noithong/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2008/03/noithong/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 15 Mar 2008 18:28:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[3]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 3 - 2008]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2008/03/15/n%e1%bb%97i-th%e1%bb%91ng-kh%e1%bb%95-c%e1%bb%a7a-con-ng%c6%b0%e1%bb%9di/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2008/03/noithong/"><img align="left" hspace="5" width="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image001-thumb16.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image001" title="clip_image001" /></a>Ghi chú thêm của tác gỉa : Mùa Phục Sinh năm 2004, nhân sự ra đời của cuốn phim gây một tiếng vang khá lớn trong dư luận :  Cuộc Khổ Nạn của Chúa (  The Passion of the Christ )  của  Đạo diễn kiêm diễn viên điện ảnh nổi tiếng người Mỹ Mel Gibson , bài viết này đã được viết trong những suy niệm về chính nỗi thống khổ của con người. Năm nay, cũng nhân mùa Phục Sinh, tác giả muốn được gởi gấm lại những suy niệm của mình, như một cách nhìn lại những gian truân, nhọc nhằn mà đời một con người, không ai có thể tránh khỏi. 
<a href="http://www.wix.com/k3junsu/kerygma">www.wix.com/k3junsu/kerygma</a>

T. Vấn ( Mùa Phục sinh 2008)
<a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image00116.jpg"></a>
&#8221; . . . Babylone, bên dòng sông xưa cũ,
 Ngồi nức nở, mà tưởng nhớ,
 Si-on ơi ! . . .
Thưa Cha! Con[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><em><span style="text-decoration: underline;">Ghi chú thêm của tác gỉa</span></em><em> : Mùa Phục Sinh năm 2004, nhân sự ra đời của cuốn phim gây một tiếng vang khá lớn trong dư luận :  <strong>Cuộc Khổ Nạn của Chúa</strong> (  The Passion of the Christ )  của  Đạo diễn kiêm diễn viên điện ảnh nổi tiếng người Mỹ Mel Gibson , bài viết này đã được viết trong những suy niệm về chính nỗi thống khổ của con người. Năm nay, cũng nhân mùa Phục Sinh, tác giả muốn được gởi gấm lại những suy niệm của mình, như một cách nhìn lại những gian truân, nhọc nhằn mà đời một con người, không ai có thể tránh khỏi. </em></p>
<p><em><a href="http://www.wix.com/k3junsu/kerygma">www.wix.com/k3junsu/kerygma</a><br />
</em></p>
<p><em>T. Vấn ( Mùa Phục sinh 2008)</em></p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image00116.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 0px 5px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image001" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image001-thumb16.jpg" border="0" alt="clip_image001" width="204" height="136" align="left" /></a></p>
<p><em>&#8221; . . . Babylone, bên dòng sông xưa cũ,</em></p>
<p><em> Ngồi nức nở, mà tưởng nhớ,</em></p>
<p><em> Si-on ơi ! . . .</em></p>
<p><em>Thưa Cha! Con đã làm xong nhiệm vụ.</em></p>
<p>Câu nói của Đấng Cứu Thế, được thốt ra trên cây Thập Tự , trước lúc trút hơi thở cuối cùng. Sau đó là sấm chớp , dông bão,mưa lũ, động đất. Những lâu đài miếu đền nghiêng đổ. Những khuôn mặt kiêu ngạo hả hê chợt  méo xệch kinh hoàng.</p>
<p>Thế là sự Cứu Chuộc đã hoàn tất, cùng với hình ảnh Phục Sinh rực sáng trong Hang Mộ. Thứ ánh sáng tinh khiết , rực rỡ. Và sự khởi đầu của Thế Giới. Một thế giới đầy rẫy những tội lỗi cần phải được cứu chuộc.</p>
<p><span id="more-205"></span></p>
<p>Đó là những hình ảnh cuối cùng trong cuốn phim hiện đang được dư luận Mỹ chú ý tới nhiều nhất trong số những phim về tôn giáo &#8211; The Passion of the Christ ( Cuộc Khổ Nạn của Chúa ) của Đạo diễn kiêm diễn viên điện ảnh nổi tiếng người Mỹ Mel Gibson &#8211; Thực ra, nội dung phim không có gì mới. Đó là câu chuyện về những khổ hình nhục mạ mà Chúa đã phải chịu đựng trong 12 tiếng cuối cùng trước khi bị đóng đinh trên cây Thập Giá. Từ hơn 2000 năm nay, câu chuyện đã được kể đi kể lại dưới nhiều hình thức khác nhau, bằng các phương tiện nghệ thuật khác nhau, và với cả những khả năng kỹ thuật khác nhau. Nhưng tựu trung, thông điệp chính của câu chuyện vẫn là Sự Phục Sinh, cứu cánh của mọi khổ nạn, nhất là sự Khổ Nạn của Đấng Cứu Thế, người đã vâng mệnh cha mình xuống trần thế làm người . Bằng sự khổ nạn trần thế ấy, Chúa cứu rỗi nhân loại .</p>
<p>Tất nhiên, khả năng nghệ thuật kể chuyện càng cao, kỹ thuật minh họa cho truyện  kể càng cao, thì tác động của truyện kể càng lớn ở đối tượng ( trong trường hợp này là người xem phim , cả Thiên Chúa Giáo lẫn không Thiên Chúa Giáo ). Tôi cũng không loại trừ phần ảnh hưởng bởi cách nhìn câu chuyện của người thực hiện truyện kể.</p>
<p>Trong suốt hai tiếng đồng hồ ngồi xem cuốn phim, với tiếng khóc bị nén lại của những người ngồi chung quanh vang bên tai tôi, và khi đèn trong rạp bật sáng, nhìn những khuôn mặt khán giả thật sự vẫn còn những nét xúc động, cộng với những cảm xúc của cuốn phim tác động lên tôi, tôi ra về mà cõi lòng nặng nề những ưu tư .</p>
<p>Tôi hiểu rằng, sự hy sinh của Thiên Chúa là vô cùng cao cả. Vì tình yêu con người, và sự reo rắc tình yêu giữa con người, kể cả những thù hận cũng cần phải được tha thứ. Lạy Cha trên trời, xin cha hãy thứ tha cho những kẻ đang hành hạ con, vì họ không biết họ đang làm gì !. Tôi hiểu rằng, để xứng đáng với sự hy sinh cao cả ấy, con người chúng ta phải biết rút ra những bài học về yêu thương đã được dạy từ 2000 năm trước. Nhưng trước một thế giới hỗn loạn về lòng thù hận, một thế giới mà con người đã tìm được những hình thức gây khổ nạn cho nhau đau đớn gấp ngàn lần, thì chính nỗi thống khỗ của con người có đi đến cứu cánh cuối cùng của cuộc đời mình là sự phục sinh những giá trị nhân bản cao quý nhất đã có từ nhiều ngàn năm trước?.</p>
<p>Sáng nay(02-03-04), các đài truyền hình lớn nhất nước Mỹ đưa tin về một loạt những vụ nổ bom tự sát ( suicide bombers) tại Thánh Địa Karbala  ở Iraq trong lúc hàng trăm ngàn người Hồi Giáo hệ Shia đang tụ họp để cầu nguyện trong một nghi thức tôn giáo long trọng. Hàng trăm người chết. Nhiều trăm người khác bị thương. Trên màn ảnh truyền hình, tôi nhìn thấy một người đàn ông ngồi kêu khóc như điên như dại bên những vỡ nát của gạch ngói, của xác người, và có thể cả những niềm tin nào đó trong lòng ông. Tôi chợt nhớ đến một câu trong Kinh Thánh. Bên bờ Si-on ta ngồi ta khóc. Tôi chợt nhớ đến đôi mắt của người diễn viên đóng vai Bà Mary trong cuốn phim của Gibson khi nhìn con mình bị tra tấn hành hạ. Tôi chợt nhớ đến một cảnh trong phim lúc Chúa bị kẻ dữ dùng roi quất vào thân mình, từng miếng thịt bị rứt ra trên thân thể đầm đìa những máu và đất. Nỗi đau ấy, nỗi đau của sự mất mát những người thân yêu nhất, nỗi đau của chính da thịt mình bị rứt ra từng mảnh, đang được lập lại , trên nhiều phần đất của thế gian.</p>
<p>Bài học từ 2000 năm trước cũng chưa được nhân loại thực sự nhận chân giá trị.</p>
<p>Sự khổ nạn của Chúa là để chứng minh cho một  Cuộc Phục Sinh. Nhưng sự Thống Khổ của con người là để chứng minh cho điều gì ?</p>
<p>Hôm Thứ Tư tuần trước là Thứ Tư Lễ Tro. Tôi làm việc buổi chiều , về đến nhà rất khuya, do đó, buổi sáng thường thì tôi dậy trễ. Ngày thứ Tư  là một ngày thường trong tuần, tôi vẫn phải đi làm. Và với người Công Giáo như tôi, việc đi lễ vào ngày này là bắt buộc. Do đó, buổi sáng thứ Tư này, tôi phải từ bỏ giấc ngủ muộn buổi sáng để đến nhà thờ. Thân xác bèo bọt của tôi &#8211; dù cho những dấu tro mà vị Linh Mục hành lễ đã đánh dấu trên trán tôi để nhắc nhở rằng tất cả những gì thuộc về trần thế này chỉ là cát bụi mà thôi &#8211; vẫn ườn ra vì thiếu đi giấc ngủ thường ngày. Nó không cho tâm hồn tôi sự thanh thản và sáng suốt cần thiết để chiêm nghiệm sự tạm bợ của cõi trần cùng với sự nhất thời của ham muốn xác thân, dẫu cho ham muốn ấy chỉ là nằm xuống ngủ một giấc cho đã đời. Cũng trong buổi sáng Thứ Tư Lễ Tro này, cuốn phim Cuộc Khổ Nạn của Chúa được chính thức trình chiếu trên khắp các rạp hát ở nước Mỹ . Tại thành phố Wichita của tôi, buổi sáng này, ngay ở xuất chiếu đầu tiên, đã có một người phụ nữ chết ngay trong rạp lúc ở gần cuối cuốn phim.</p>
<p>Nguyên nhân cái chết của bà, sau đó được xác nhận là do bà bị bệnh tim lớn ( enlarged heart ), nhưng thời điểm về cái chết của bà quả là điều làm tôi phải suy nghĩ. Mọi thứ đều tạm bợ ở cõi trần gian này, kể cả niềm vui lẫn nỗi buồn, kể cả hạnh phúc lẫn đau khổ. Vậy thì việc tận hưởng những niềm vui, những hạnh phúc của cuộc đời trần thế là điều tôi có thể hiểu được, nhưng còn chịu đựng những thống khổ mất mát vì một cõi trần tạm bợ lại là điều làm tôi cứ mãi tra vấn mình.</p>
<p>Chúa chịu khổ nạn để cứu chuộc nhân loại.Do đó, Sự Khổ Nạn của Chúa là để mở đường  cho một cuộc Phục Sinh. Còn sự Thống Khổ của con người ? có phải đó là con đường đưa đến sự hủy diệt của chính nhân loại hay không ?</p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image0032.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image003" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image003-thumb2.jpg" border="0" alt="clip_image003" width="244" height="182" /></a></p>
<p><strong><em>Sự Khổ Nạn của Chúa là để mở đường cho Cuộc Phục Sinh. Cùng một lúc, tôi đặt ra câu hỏi cho chính mình : Nhưng sự Thống Khổ của con Người là để chứng minh cho điều gì ?</em></strong></p>
<p>Câu hỏi tưởng chừng như rất khó để tìm câu trả lời &#8211; may ra có thể thỏa mãn cho chính tôi &#8211; thì rất tình cờ &#8211; liệu cuộc đời này có cái gì có thể gọi là tình cờ không ? &#8211; tôi đọc được một bài viết trên tờ báo địa phương về những hoạt động của một người mà tháng 9 năm ngoái ( 2003 ) , đã mất một lúc người vợ và 4 đứa con nhỏ  trong một trận mưa lụt ở Tiểu Bang Kansas ( Tôi có một bài viết nhân thảm kịch này trên Ca Dao số  66 tháng 9 &#8211; 2003  với nhan đề &#8221; Cuộc sống này quá đỗi mong manh &#8221; ).</p>
<p>Người đàn ông ấy, người chồng của một phụ nữ vừa đẹp vừa đức hạnh và là cha của 4 đứa con tuổi từ 1 cho đến 11 xinh xắn, ngoan ngoãn, người đàn ông khốn khổ trong khoảnh khắc đã mất đi hết những người thân yêu nhất đời mình vì cơn thịnh nộ của trời đất. Bây giờ, ông sống ra sao sau nỗi thống khổ tưởng chừng như trên cõi đời này không còn có nỗi thống khổ nào lớn hơn nỗi thống khổ của ông &#8211; ngoại trừ nỗi thống khổ của Chúa lúc bị đóng đanh trên cây thập giá, đã thốt lên : Thưa Cha trên trời, nếu quả đúng như ý cha muốn vậy, thì con xin bằng lòng! &#8211; Nỗi thống khổ mà, tưởng chừng như không sức con người nào chịu đựng nổi, dù người ấy có can trường mạnh mẽ đến chừng nào . . .</p>
<p>Thế nhưng, ông đã khiến tôi ngạc nhiên. Từ ngạc nhiên đến ngưỡng mộ. Và biết ơn, vì hình như cuộc sống của ông hiện nay, đã một cách gián tiếp , trả lời cho sự dằn vặt của chính tôi, mỗi khi chứng kiến sự đau khổ của con người : Sự thống khổ của con người là để chứng minh cho điều gì ?</p>
<p>Với ông &#8211; người đàn ông khốn khổ của thảm kịch trên Xa Lộ xuyên bang I-35 đã gây chấn động và làm đổ biết bao  nước mắt của cư dân vùng Kansas, Missourri, Texas &#8211; , chìa khóa mở ra mọi cánh cửa dẫn ông đi tìm nguyên nhân của nỗi thống khổ của mình là Đức Tin. Là Niềm Tin vào sự Cứu rỗi. Nguyên nhân cùng đích của  mọi nguyên nhân. Sự Cứu rỗi trên hết mọi sự cứu rỗi</p>
<p>Và Tình yêu thương, cho gia đình, cho đồng loại.</p>
<p>Chính Niềm Tin đã vực ông dậy, sau cái đêm kinh hoàng, bất lực nhìn vợ và con của mình bị nước lũ cuốn trôi đi. Chính Niềm Tin đã giữ ông đứng vững trên hai chân của mình, trong những ngày sau đó trở về căn nhà ở Liberty, Missourri &#8211; Tổ ấm ngày nào của gia đình ông rất mực hạnh phúc thương yêu nhau. Nay hoàn toàn trống vắng tiếng cười trẻ thơ, tiếng hát dỗ con dịu dàng của người vợ. Càng trống vắng hơn nữa, khi tất cả mọi thứ trong nhà đều nguyên vẹn như lần cuối cùng mọi người rời khỏi nhà cho một chuyến du hành xa, sẵn sàng chờ đón mọi người trở về như những lần đi xa trước. Ong nói rằng hằng đêm &#8211; từ bao nhiêu tháng nay, và sẽ còn bao nhiêu tháng nữa, bao nhiêu năm nữa, hay sẽ là suốt phần đời còn lại của ông ? &#8211; ông vẫn ôm mặt khóc lặng lẽ một mình giữa căn nhà quen thuộc ấy, quen thuộc từ tiếng bước chân của từng người, từ hơi thở của từng người. Nỗi đau ấy lớn quá, nặng nề quá, kinh khủng quá, không thể không khóc, cho dẫu cảm giác được giải thoát chỉ là khoảnh khắc. Như người bị ngộp nước dưới dòng sông đau khổ, thỉnh thoảng ông cần ngoi lên, để hớp lấy chút không khí, rồi lại tiếp tục bị nỗi thống khổ hành hạ.</p>
<p>Nhưng ông không cho phép mình bị hủy hoại bởi nỗi bất hạnh ấy. Có ích gì không khi lại tự tay mình đánh mất đi một cuộc đời nữa ? Trong nỗi tận cùng của khổ đau, ông hiểu rằng , cuộc sống là niềm tin và sự vượt qua mọi thử thách.</p>
<p>Robert Rogers của Missourri, người đàn ông có niềm tin mãnh liệt, người đứng dậy từ một-cõi-chết-kinh-khủng-hơn-sự-chết, bây giờ đã trở thành người đi rao giảng niềm tin ( Motivational Speaker ). Ong còn soạn nhạc, chủ trương một Website cổ súy cho nỗ lực của con người tự mình tạo dựng lấy niềm tin trong cuộc sống và quay lại đại học để hoàn tất chương trình Cao học về Quản trị ông bỏ dở lúc lập gia đình.</p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image005.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image005" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image005-thumb.jpg" border="0" alt="clip_image005" width="244" height="113" /></a></p>
<p><em>…Tôi hồi tưởng lại những tháng năm vô vọng trong địa ngục trần gian. Những năm tháng tưởng chừng như không còn gì nữa để khắc khoải trông mong. Tương lai thì không biết có một ngày về hay không, còn thực tại thì chỉ biết có một điều vĩ đại trên hết mọi điều vĩ đại : ĐÓI. Một hôm ,không chịu nổi cái nóng đốt cháy hết các lỗ chân lông của miền Trung Du Bắc Việt, tôi lăn ra bất tỉnh giữa mảnh ruộng trơ những gốc rạ. Những người bạn tù khiêng tôi vào để nằm dưới gốc cây. Cho rằng tôi không thể qua khỏi và biết tôi có đạo, họ tìm cách để một tù nhân linh mục ở lại bên tôi. Vị linh mục kiên nhẫn xoa nắn khắp người tôi cho đến khi tôi tỉnh lại. Thấy tôi mở mắt, ông nhoẻn miệng cười nói : &#8221; Này anh bạn trẻ, tôi biết anh chỉ vì đói mà ngất đi thôi. Tôi có cái kẹo nhỏ, anh hãy cầm lấy mà ngậm. &#8221; Rồi ông đưa tôi viên kẹo bột. Sau này, tôi biết nó xuất xứ từ một nhà Chung ở ngoài Bắc. Quả nhiên, viên kẹo bột thô sơ như thần dược. Tôi cảm thấy tỉnh như sáo. Vị linh mục lại hỏi tôi : &#8221; Này anh bạn, trông anh còn trẻ lắm, anh bao nhiêu tuổi rồi ? &#8221; Tôi đáp : &#8221; Thưa cha, tôi có cùng một số tuổi với Chúa của cha khi Ngài bị đóng đinh trên cây thập giá ! &#8220;. Vị linh mục lặng lẽ đáp : &#8221; Nhưng sau đó, Ngài đã sống lại. Còn anh, anh không định đứng dậy đi cho hết đoạn đường thánh giá của mình hay sao ? &#8220;. Tôi chợt tỉnh ngộ. Vài tháng sau, chúng tôi được chuyển trại từ Bắc vào Nam. Tôi được biên chế về Toán Lâm sản, tức làm công việc đốn gỗ ngoài trại. Lợi dụng công việc lao động hàng ngày không có cán bộ công an đi theo kiểm soát, tôi được vị linh mục giao cho một nhiệm vụ khá nguy hiểm : tìm cách liên lạc với bên ngoài để mang bánh thánh vào trại cho ông cử hành lễ mỗi sáng chủ nhật. . .</em></p>
<p>Còn lại một mình giữa mênh mông của Trời, của bao la nước lũ dâng lên chung quanh mình trong đêm định mệnh ấy, Robert Rogers đã gào khóc : &#8221; Tại sao lại là tôi ? tại sao lại là tôi ? hỡi Chúa ! ( Why me ? why me ? oh God ! ) &#8220;.</p>
<p>Giờ đây, trên  bục thuyết trình, trước mặt ông là hàng ngàn con người với hàng ngàn nỗi thống khổ khác nhau, ông mạnh dạn kêu lên : &#8221; Tại sao lại không là tôi ? ( Why not me ? ). Nỗi đau mất mát vẫn sẽ mãi âm ỉ cho đến ngày tôi nhắm mắt nằm xuống, và dẫu cho tôi không bao giờ hiểu được những gì đã xảy ra với tôi, với gia đình tôi, nhưng Đấng Tối  Cao đã chọn tôi, thì tôi xin nhận. &#8221;</p>
<p>Tôi nhớ lại đoạn cuối trong cuốn phim của Gibson, lúc Chúa sắp trút hơi thở cuối cùng. Lạy Cha! Nếu quả thật đó là ý Cha, thì con xin bằng lòng.</p>
<p>Tôi nhớ lại câu nói của vị linh mục một buổi trưa hè miền rừng núi Trung Du Bắc Việt nhiều năm về trước. Anh không định đứng dậy đi cho hết đoạn đường thánh giá của mình hay sao ?</p>
<p><em>Tôi đã đứng dậy, tiếp tục cuộc hành trình. Cho đến hôm nay.</em></p>
<p>©T.Vấn 2004-2008</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2008/03/noithong/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Hậu Người Tình Khói Sương</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2008/03/haunguoi/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2008/03/haunguoi/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 08 Mar 2008 18:16:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[3]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 3 - 2008]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2008/03/08/h%e1%ba%adu-ng%c6%b0%e1%bb%9di-tnh-khi-s%c6%b0%c6%a1ng/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2008/03/haunguoi/"><img align="left" hspace="5" width="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image001-thumb15.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image001" title="clip_image001" /></a><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image00115.jpg"></a>
 
 
LỐI VÀO HỆ LỤY
Ai đẩy Thúy Kiều vào lầu xanh ? Ai đưa Alisha (1) vào khung cửa hẹp ? Cố Trung Niên Thi Sĩ Bùi Giáng đã đặt ra những câu hỏi này và cũng đã &#8230; đặt ra những câu trả lời. Đi theo  “ vết chân điên “ của người qúa cố, tôi cũng tự “ đặt cho mình “ những câu hỏi : Ai đã đưa tôi vào con đường nghiện ngập thuốc lá ?  Ai đã đẩy tôi vào trò chơi đánh bạc với chính cuộc sống của mình ? “ Trí điên “ và “ Lực điên “ của tôi không thể sánh được với bực Tiền Bối họ Bùi nên tôi không thể “ đặt “ được những câu trả lời. Dẫu sao, tôi cũng biết mình muốn gì khi đặt ra những câu hỏi đó.
Từ nhiều năm[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong><em> </em></strong></p>
<p><strong><em> </em></strong></p>
<p><em> </em></p>
<p><em><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image00115.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 5px 10px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image001" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image001-thumb15.jpg" border="0" alt="clip_image001" width="244" height="188" align="left" /></a></em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><strong><em>LỐI VÀO HỆ LỤY</em></strong></p>
<p>Ai đẩy Thúy Kiều vào lầu xanh ? Ai đưa Alisha (1) vào khung cửa hẹp ? Cố Trung Niên Thi Sĩ Bùi Giáng đã đặt ra những câu hỏi này và cũng đã &#8230; đặt ra những câu trả lời. Đi theo  “ <em>vết chân điên</em> “ của người qúa cố, tôi cũng tự “ <em>đặt cho mình</em> “ những câu hỏi : <strong><em>Ai đã đưa tôi vào con đường nghiện ngập thuốc lá ?  Ai đã đẩy tôi vào trò chơi đánh bạc với chính cuộc sống của mình ? </em></strong>“ <em>Trí điên “ và “ Lực điên</em> “ của tôi không thể sánh được với bực Tiền Bối họ Bùi nên tôi không thể “ đặt “ được những câu trả lời. Dẫu sao, tôi cũng biết mình muốn gì khi đặt ra những câu hỏi đó.</p>
<p>Từ nhiều năm qua, tôi đã bỏ hút.</p>
<p><span id="more-197"></span></p>
<p>Nhưng hình như cái “ <em>Hiện thực</em> “ quái ác ấy vẫn chưa hẳn đã buông tha tôi. Tiền bối Mark Twain (2) đã từng “ <em>đại ngôn</em> “ : “ <em>Bỏ thuốc ư ? Chuyện nhỏ. Ta đã từng bỏ cả trăm lần “. ( Giving up smoking is easy. I’ve done it hundreds of times ).</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>Tôi cai thuốc một cách  “ <em>chay tịnh</em> “ ( cold turkey ). Không cần phải nhờ vả đến Nicoderm (3). Dù là thuốc dán ( patches ) hay thuốc cao ( gum ). Bỏ một cách ngon ơ. Như gã sở khanh quất ngựa truy phong khi đã chán ngấy bộ mặt sầu thảm của người tình gìa hay khi biết rằng trương mục tiết kiệm của cụ bà đã cạn. Vậy mà, nhiều năm sau tôi vẫn còn “ <em>ngửi</em> “ được cái “ <em>quyến rũ chết người</em> “ của khói thuốc. Tôi vẫn còn cảm được “ <em>phút yêu mê rờn rợn khắp châu thân</em> “ của ma lực “ <em>tình yêu sương khói “.</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>Hôm nọ, tôi gặp một người bạn cũ từ thuở cùng nhau tập tành hút thuốc. Sau khi tay bắt mặt mừng, anh móc túi lấy ra gói thuốc và mời tôi ( như ngày xưa chúng tôi vẫn làm ). Một phản xạ rất tự nhiên, tôi móc một điếu và châm lửa từ tay anh. Điếu thuốc kẹp giữa hai ngón tay. Động tác thật quen thuộc và vô cùng thiện nghệ. Rít một hơi thật mạnh vào buồng phổi trong như thủy tinh vì đã mấy năm không bị vẩn đục bởi khói thuốc, tôi lâng lâng với cảm giác dễ chịu đến chết người. Đột nhiên, tôi sực nhớ mình đã nói lời vĩnh biệt với “ người tình khói sương “ từ lâu lắm rồi, hình như từ một tiền kiếp nào đó thật xa xăm. Trước đôi mắt ngạc nhiên của người bạn cũ, tôi vội dí nát điếu thuốc dưới chân, như Eva tàn nhẫn đạp nát đầu con rắn tội lỗi nhiều ngàn thế kỷ trước.</p>
<p><em>Và sau đó, tôi dập mình ăn năn.  Mea Culpa, Mea Culpa, Mea maxima Culpa . Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi , lỗi tại tôi mọi đàng.</em></p>
<p><strong>HÃY NHÌN VÀO NHỮNG DỮ KIỆN</strong></p>
<p>Khoa học đã chứng minh, cũng như Cocaine và Heroin, chất Nicotine có tác dụng gây nghiện ( addictive ). Ngày thứ Năm của tuần lễ thứ ba trong tháng Mười hàng năm  là ngày toàn nước Mỹ từ bỏ thuốc lá ( Great American Smoke Out ). Cho đến nay, người ta đã làm lễ kỷ niệm lần thứ 31 ngày phát động phong trào khuyến khích việc bỏ thuốc. Phong trào này đã có những sự thành công đáng kể. Chỉ trong một thế hệ thôi – về mặt xã hội – thuốc lá đã bị loại ra ngoài bảng chuẩn mực những hành vi. Những người chủ xướng đã không qúa cường điệu khi nói rằng thành tựu này chính là kết quả của một cuộc cách mạng văn hóa ( cultural revolution ). Hiện nay ở nước Mỹ đã có 45 triệu người bỏ thuốc trong tổng số khỏang chừng 90 triệu người hút. Một con số rất đáng khích lệ. Ngoài ra, những nỗ lực này đã cứu sống hàng chục ngàn người và chứng minh rằng, một cao trào xã hội có thể tạo nên những thay đổi đáng kể. Là một người đã từng cùng với cái gạt tàn thuốc bầu bạn lâu năm như hình với bóng, tôi toàn tâm toàn ý ủng hộ sự thay đổi này.</p>
<p>Hút thuốc là một thói quen chết người. Dẫu cho đã có những tiến bộ trong quan niệm về con người xã hội, thói quen này vẫn còn bám rễ sâu xa ở các nền văn hóa. Hiện nay, có ước lượng khỏang độ 47 triệu người Mỹ hút thuốc. Mỗi năm. Có 400 ngàn người chết vì các chứng bệnh liên quan đến thuốc lá, gây phí tổn khoảng 50 tỉ Mỹ kim về chăm sóc y tế ( so với Anthrax, lẽ ra thuốc lá phải gieo rắc kinh hoàng hơn mới phải ). Trên phạm vi thế giới, khoảng 3 triệu người chết hàng năm vì thuốc lá, chiếm tỉ lệ 20 phần trăm trong con số tử vong. Bất kể các sự kiện này, các tổ hợp sản xuất thuốc lá vẫn tiếp tục bành trướng thị trừơng trên thế giới. Châu Á dự trù sẽ gia tăng 20 phần trăm số người hút thuốc trong thập niên tới. Phần lớn là ở giới trẻ.</p>
<p>Nhiều người nghĩ rằng mình có quyền làm bất cứ điều gì mình muốn, miễn là không gây phương  hại đến người khác. Nhưng thực ra , sự “ <em>gây phương hại cho người</em> <em>khác ấy </em>“, đôi khi đã không được quan tâm đúng mức hoặc bỏ lơ. Khói thuốc ( secondhand smoke ) là một thí dụ. Đã từ lâu, khói thuốc đã được chứng minh là nguy hiểm chết người. Người không hút thuốc, khi hít thở phải khói thuốc, đôi khi bị ảnh hưởng nặng hơn chính người hút thuốc. Và công chúng ( trong đó có chúng ta ) phải trả phí tổn bảo hiểm sức khỏe ngày một tăng. Trong đó có một phần trách nhiệm gây ra bởi những người hút thuốc.</p>
<p>Các tổ hợp thuốc lá khổng lồ đã che giấu từ lâu những khám phá của họ về ảnh hưởng độc hại của việc hút thuốc. Tờ Wall Street Journal gọi đó là “ <em>chiến dịch đánh</em> <em>lạc hướng dư luận trường kỳ nhất trong lịch sử thương mại Hoa Kỳ</em> “.</p>
<p>Mặc cho sự trừng phạt của pháp lý với số tiền phạt vạ khổng lồ, các hãng thuốc lá vẫn bình chân như vại. Họ tiếp tục làm giàu bằng cách buôn bán tử thần. Họ vẫn tìm cách chỉa thị trường vào giới thanh niên bằng những phương cách uyển chuyển hơn.</p>
<p>Đối với tuổi mới lớn, làm dáng thời thượng phải là hút thuốc. Trên phim ảnh , người ta lại thấy các ngôi sao trẻ tuổi phì phà khói thuốc. Lớp trẻ mới lớn dễ bị lôi cuốn sớm vào những cạm bẫy, và sau đó – hơi trễ – đã khám phá ra rằng, tập hút thuốc thì rất dễ, nhưng từ bỏ nó thì quả là chuyện gian nan.</p>
<p><strong>E LÒNG CÒN NẶNG NỢ</strong><strong> </strong></p>
<p>Tôi đã bỏ thuốc. Bởi vì tôi không muốn tiếp tục ném cuộc đời mình vào một canh bạc mà phần thua hầu như nắm chắc. Hồi đó, mỗi buổi sáng thức dậy, sau cái “ <em>tuyệt vời</em> <em>của hơi thuốc đầu ngày là cảm giác nặng nề khó thở đè nặng lên ngực</em>.” Tôi đã hiểu rằng, nếu cứ tiếp tục như thế này, tai hoạ sẽ bắt tôi phải trả giá. Tôi muốn được ở bên cạnh vợ tôi … lâu lâu hơn một chút ( vì chúng tôi yêu nhau qúa muộn màng ). Tôi muốn được nhìn thấy các con tôi lớn lên, trưởng thành trưóc khi tôi nhắm mắt.</p>
<p>Nói một cách khác, tôi muốn được sống. Sống vui sống khỏe. Vì có khỏe mới vui được.</p>
<p>Dẫu có thế nào, tôi cũng chỉ là con người với những vĩ  đại và nhỏ bé. Và sự mềm yếu. Thỉnh thoảng tôi sẽ bập bập vài hơi xì-gà. Hoặc tệ hơn nữa, trong những giây phút yếu lòng, tôi sẽ lén vài hơi thuốc lá. Nếu tôi có làm vậy, cũng chỉ chứng minh rằng, thuốc lá làm con người ta nhu nhược biết chừng nào. Hoặc nói ngược lại, thuốc lá có cái sức mạnh của “ Sinh tử phù “. Một khi đã bị cấy vào cơ thể, anh hùng hào kiệt cỡ nào cũng bị sa cơ. Huống gì là tôi.</p>
<p>Nhưng dẫu sao, tôi cũng biết được là tôi muốn gì.</p>
<p><strong><em>CHÚ THÍCH : </em></strong></p>
<p><strong><em> </em></strong></p>
<p>(1)        Alisha, tên một nhân vật trong tác phẩm “ Khung Cửa hẹp “ của nhà văn Pháp        André Gide. Bản dịch tiếng Việt của Vân Mồng ( tức Bùi Giáng )</p>
<p>(2)        Mark Twain, Đại văn hào Mỹ</p>
<p>(3)        Nicoderm, tên thương mại của một loại thuốc dùng giúp người cai thuốc lá.</p>
<p>© T.Vấn 2008</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2008/03/haunguoi/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Nhân một cái chết</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2008/03/nhanmot/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2008/03/nhanmot/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 04 Mar 2008 18:10:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[3]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 3 - 2008]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2008/03/04/nhn-m%e1%bb%99t-ci-ch%e1%ba%bft/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2008/03/nhanmot/"><img align="left" hspace="5" width="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image001-thumb14.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image001" title="clip_image001" /></a><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image00114.jpg"></a>
 
Lệnh tha khỏi trại – tranh của Trần Thanh Châu (Seattle)
 
Thanh Minh trong tiết tháng Ba
Lễ là Tảo mộ, hội là Đạp Thanh
( Đọan trường tân thanh- Nguyễn Du )
 
 
1.
Tháng Ba. Trời vẫn rét ngọt. Những mảng tuyết đổ từ dạo cuối tháng 2 vẫn còn để lại vài cụm trắng xóa trên sân cỏ vàng úa vì buốt lạnh chung quanh nhà. Năm nay, mùa đông tòan cầu khắc nghiệt hơn bình thường . Dịp cuối năm ta vừa qua, Trung quốc đã chịu đựng những cơn bão tuyết khủng khiếp chưa từng thấy hàng trăm năm nay, khiến cả triệu khách lữ hành phải bị kẹt cứng trong các nhà ga, các trạm xe lửa, với tâm trạng bồn chồn , khó chịu vì sợ rằng họ có thể không trở về nhà kịp để đón giao thừa sau cả năm[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image00114.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 5px 10px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image001" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image001-thumb14.jpg" border="0" alt="clip_image001" width="244" height="156" align="left" /></a></strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong><em>Lệnh tha khỏi trại – tranh của Trần Thanh Châu (Seattle)</em></strong></p>
<p><strong><em> </em></strong></p>
<p><em>Thanh Minh trong tiết tháng Ba</em></p>
<p><em>Lễ là Tảo mộ, hội là Đạp Thanh</em></p>
<p><em>( Đọan trường tân thanh- Nguyễn Du )</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><strong>1.</strong></p>
<p>Tháng Ba. Trời vẫn rét ngọt. Những mảng tuyết đổ từ dạo cuối tháng 2 vẫn còn để lại vài cụm trắng xóa trên sân cỏ vàng úa vì buốt lạnh chung quanh nhà. Năm nay, mùa đông tòan cầu khắc nghiệt hơn bình thường . Dịp cuối năm ta vừa qua, Trung quốc đã chịu đựng những cơn bão tuyết khủng khiếp chưa từng thấy hàng trăm năm nay, khiến cả triệu khách lữ hành phải bị kẹt cứng trong các nhà ga, các trạm xe lửa, với tâm trạng bồn chồn , khó chịu vì sợ rằng họ có thể không trở về nhà kịp để đón giao thừa sau cả năm trời đi làm ăn xa .</p>
<p>Ở miền Bắc Việt nam, có nơi đến cả trâu bò cũng lăn ra chết vì lạnh. Huống chi người. Nhất là người gìa. Mùa đông năm 1978, tại trại cải tạo Phong Quang, tỉnh Hòang Liên Sơn, tọa lạc gần sát biên giới Trung quốc và nằm ngay dưới chân núi Sa Pa ( nghe đồn tuyết phủ trắng đỉnh vào những tháng mùa đông ) tôi đã biết thế nào là cái ác nghiệt của mùa đông đất Bắc, cái ác nghiệt của Đói và Lạnh là hai kẻ thù đáng sợ lúc nào cũng phối hợp với nhau trong thế liên hòan để giết lần mòn những người tù cải tạo với trọng lượng hơi của cơ thể không ai hơn được 40 kí lô dù người cân có hào phóng cách mấy. Càng đói lại càng lạnh và càng lạnh thì lại càng đói cồn cào, đói tới mức muốn bỏ cả ngón tay vào miệng mà nhai. Trước mắt tôi, nhiều người tù tuổi tác thi nhau rơi rụng. Thân gìa yếu, làm sao chịu nổi sự hủy họai của mùa đông, cộng thêm với cái đói triền miên tích tụ từ nhiều năm và trên người mang bao bệnh tật không có thuốc men chữa chạy. Mỗi buổi trưa, đứng từ trong phòng giam có những hàng chấn song bằng sắt lạnh cóng , nhìn ra bên ngòai thấy chiếc xe tang màu sắc diêm dúa chở chiếc quan tài “ duy nhất “ ( *) của trại, bên trong là tấm thân xác nhỏ bé gầy gò của một người tù gìa xấu số nào đó vừa chết đêm qua. Cứ mỗi lần như thế tôi lại chép miệng lẩm bẩm một câu nói phát ra từ vô thức : <em>Thế là đã xong một kiếp người. </em>Nhiều lần, co ro dưới 7 lớp quần áo giẻ rách mặc chòang lên nhau vẫn không đủ ấm, và cái đói cồn cào gan ruột, tôi đã nghĩ đến giây phút mình nằm trong chiếc quan tài đó. <em>Chắc là nhẹ nhàng lắm ( Thân nhẹ nhàng như mây </em>như lời một bài hát của nhạc sĩ TCS<em>). </em>Vì trọng lượng của tất cả các thứ trên thân xác tôi lúc ấy, bao gồm tóc tai bờm xờm cứng như cỏ khô phủ trên cái đầu vừa trống rỗng ( vì trong đó không có một ý tưởng nào chứng tỏ tôi là một cây lau cây sậy biết suy nghĩ như lời định nghĩa của Pascal về con người ) vừa đầy ắp ( những ham muốn trần tục muốn được ăn no, muốn được mặc ấm) , cộng thêm với bộ xương bọc da đen nhẻm chắc không hơn được 35 kí lô, nhẹ hơn cả trọng lượng của đứa con gái 10 tuổi của tôi bây giờ. Vậy mà cuối cùng tôi vẫn sống để 30 năm sau đứng giữa cánh đồng tuyết phủ trắng xóa nơi một mảnh đất xa lạ mà nhớ về chuyện xưa để ngẫm chuyện nay.</p>
<p><strong>2.</strong></p>
<p>Mùa đông năm nay, cái lạnh khác thường của miền Bắc Việt nam cũng được đánh dấu bằng sự ra đi vĩnh viễn của một người gìa 86 tuổi. Đó là nhà họat động dân chủ nổi tiếng từ trong nước ra đến hải ngọai Hòang Minh Chính. Phần tiểu sử của ông có thể được ghi nhận tóm lược như sau :</p>
<p><em>“ . . . Cuộc đời của Cụ là một chuỗi dài những năm tháng đấu tranh gian khổ, chiến đấu liên tục vì nền độc lập của đất nước. Cụ là một chiến sĩ kiên cường đấu tranh cho tự do dân chủ hóa đất nước, đến tận hơi thở cuối cùng.<br />
Cụ Hoàng Minh Chính đã đến với chủ nghĩa cộng sản bằng trái tim của một thanh niên yêu nước, dũng cảm khát khao vì độc lập cho dân tộc, và Cụ cũng đã từ bỏ chủ nghĩa cộng sản bằng trái tim của một trí thức yêu nước .<br />
Mọi thứ có thể đổi thay, nhưng trái tim yêu nước, lòng tận tụy vì nhân dân của Cụ Hoàng Minh Chính không bao giờ thay đổi.<br />
Trái tim yêu nước và lòng tận tụy vì nhân dân của Cụ, cũng như tất cả những gì mà cuộc đời cụ đã trải qua, rồi sẽ được ghi vào lịch sử. Cụ xứng đáng được ghi nhận trang trọng trong trang sử của dân tộc Việt Nam. Hậu thế sẽ phán xét công bằng.<br />
Cụ đã sống xứng đáng một kiếp người. Cụ đã thực hiện được lời của người xưa “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” nghĩa là giàu sang không sa đọa, nghèo khó không chuyển lay, uy vũ không khuất phục”.<br />
</em>(Trích điếu văn của luật sư Trần Lâm đọc trong tang lễ nhà họat động dân chủ Hoàng Minh Chính)</p>
<p>Tang lễ của ông diễn ra ngày 16-02-2008 tại Hà Nội được nhiều người mô tả là lặng lẽ, tuy số người tham dự lên đến 500 người . Họ là những người cùng chí hướng với ông Hòang Minh Chính, đến từ nhiều miền khác nhau của đất nước, như Hải Phòng, Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng và Hà Nội. Con số nói trên phải kể là rất đáng khích lệ, so với không khí chính trị nặng nề, khó thở như hiện nay ở trong nước và những nỗ lực ngăn cản, thậm chí can thiệp thô bạo ( như việc một người họat động dân chủ ở hải ngọai về nước tham dự đám tang ông Hòang Minh Chính đã bị Công an buộc lên phi cơ rời khỏi Việt nam ngay lập tức ) của nhà cầm quyền cộng sản trong nước.</p>
<p>Đọc những tin tức về cái chết của một người họat động dân chủ rất can đảm ở trong nước, lại được xem những hình ảnh về tang lễ của ông trên mạng, tôi nhớ đến mùa đông 30 năm trước đứng bên chấn song cửa sổ buồng giam nhìn những cái chết lướt qua dưới bầu trời xám xịt buồn thiu và câu nói ngẫu nhiên từ vô thức. <em>Thế là đã xong một kiếp người.</em></p>
<p>Một kiếp người đã xong, nhưng những vấn đề mà kiếp người ấy đặt ra cho những người còn sống, cho các thế hệ mai sau, chắc chắn là chưa thể xong được. Hay đúng hơn, nó chỉ mới bắt đầu.</p>
<p>Tại sao , một con người “ . . . <em>đến với chủ nghĩa cộng sản bằng trái tim của một thanh niên yêu nước, dũng cảm khát khao vì độc lập cho dân tộc . . . “ </em>để rồi sau đó : “<em> cũng đã từ bỏ chủ nghĩa cộng sản bằng trái tim của một trí thức yêu nước . . . “ ?</em></p>
<p>Cho đến ngày hôm nay, sau sự sụp đổ không thể tránh khỏi của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa từ Liên xô cho đến các nước cộng sản Đông Âu những năm cuối 80s, đầu 90s, hay trước sự khác biệt quá rõ ràng về mức phát triển giữa hai miền Bắc và Nam Hàn với hai thể chế đối nghịch nhau, tưởng cũng đã quá đủ để người ta hiểu được lý do tại sao một người yêu nước như ông Hòang Minh Chính phải đi lại con đường lý tưởng khác với con đường thời trẻ ông đã theo đuổi. Đó không phải là sự lầm đường của một con người. Mà là sự lầm đường của cả một thế hệ. Sự lầm đường hiện đang được ngụy biện bằng mọi hình thức gỉa dối của ngôn từ . Lịch sử một đất nước luôn có những giai đọan thăng, trầm, những sai lầm trong các quyết định sinh tử liên quan đến tòan thể nhân dân của các tập đòan cầm quyền từng thời đại , nhưng cố tình bao che, ngụy biện cho sai lầm chết người của mình thì cho đến nay, lịch sử Việt nam chỉ ghi nhận được có một trường hợp của đảng cộng sản Việt nam.</p>
<p>Việc nước là việc chung của bao con người, đâu phải của riêng một nhóm, một đảng, một tập đòan. Ý thức được điều cơ bản ấy, ông Hòang Minh Chính đã ra khỏi đảng cộng sản. Những giây phút cuối cùng trong cuộc đời, ông vẫn còn nhắn lại được cho người còn sống qua một đọan băng thâu thanh <em>“ . . . Tôi chúc các bạn thành công trong cuộc chiến đấu giành tự do, độc lập và hạnh phúc cho tất cả người Việt Nam . “. </em></p>
<p><strong>3.</strong></p>
<p>Những cái chết trong chiến tranh là điều không thể tránh khỏi, khi người lính đã chọn lựa một con đường mà anh tin rằng đó là con đường đúng nhất để phục vụ tổ quốc, thì mọi sự hy sinh đều đáng được tuyên dương , dù ở bên này hay bên kia của chiến tuyến. Dù sao, chiến tranh luôn luôn chỉ là giải pháp cuối cùng khi người ta không còn lựa chọn nào khác . Và những cái chết trong chiến tranh, vì không thể tránh khỏi, chỉ chứng minh tính bi kịch của thân phận con người.</p>
<p>Nhưng những cái chết năm xưa trong trại cải tạo vùng biên giới , sau khi tiếng súng đã chấm dứt, là sự nhắc nhở đến bản chất vô nhân của một chế độ. Những cái chết hôm nay của những người họat động dân chủ ở trong nước như ông Hòang Minh Chính, nằm xuống rồi mà mắt vẫn mở trừng trừng vì không an lòng với tương lai các thế hệ mai sau, là một sự nhắc nhở đến bản chất tham quyền cố vị để trục lợi của cùng một chế độ ấy .</p>
<p>Chính vì thế mà những người chết còn cần phải được nhắc đến. Vì những cái chết ấy là hệ quả của bao sai lầm chết người, của sự thiếu phục thiện trong việc nhìn nhận lại lịch sử. Nhắc đến những người chết, chính là sự quan tâm thiết thực đến người còn sống. Vì sau mọi tội ác, sự quan tâm cần phải được dành cho người sống sót. Chứ không phải người chết. Càng không phải là kẻ sát nhân.</p>
<p><em>T.Vấn</em></p>
<p><em>Tháng 3- 2008</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>_________________________________-</p>
<p>* Gọi là chiếc quan tài duy nhất , vì đây là chiếc quan tài được dùng cho tất cả tù cải tạo chết trong trại. Dưới đáy quan tài là một tấm ván có thể rút ra hoặc đẩy vào được. Xác người chết được cho vào quan tài trước sự chứng kiến của mọi người. Sau đó, cho lên xe tang do trâu kéo ra nghĩa địa ( thường là khu đất trống ngòai rìa trại ). Đến trước một cái hố đã đào sẵn, 2 anh tù hình sự khiêng quan tài ra khỏi xe tang, mỗi người đứng ở một bên đầu hố. Anh tù hình sự thứ 3 ( thường là trưởng tóan ) rút tấm ván đáy quan tài ra. Xác người chết rơi xuống hố. Sau khi hố chôn người chết được lấp đất đầy , chiếc quan tài rỗng được khiêng trở lại xe tang và cho kéo về lại trong trại, sẵn sàng được dùng cho người chết kế tiếp.</p>
<p>© T.Vấn 2008</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2008/03/nhanmot/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
