<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>T.Van &#187; Tháng 3 &#8211; 2009</title>
	<atom:link href="http://t-van.net/wordpress/category/thang3/2009-3/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://t-van.net/wordpress</link>
	<description>Trang Nha T.Van</description>
	<lastBuildDate>Fri, 03 Sep 2010 04:56:07 +0000</lastBuildDate>
	<generator>http://wordpress.org/?v=2.8</generator>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
			<item>
		<title>Liệu người ta c&#243; thể chết v&#236; . . . buồn ?</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2010/03/li%e1%bb%87u-ng%c6%b0%e1%bb%9di-ta-c-th%e1%bb%83-ch%e1%ba%bft-v-bu%e1%bb%93n/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2010/03/li%e1%bb%87u-ng%c6%b0%e1%bb%9di-ta-c-th%e1%bb%83-ch%e1%ba%bft-v-bu%e1%bb%93n/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 03 Mar 2010 05:20:12 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[3]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 3 - 2009]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2010/03/li%e1%bb%87u-ng%c6%b0%e1%bb%9di-ta-c-th%e1%bb%83-ch%e1%ba%bft-v-bu%e1%bb%93n/1908/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2010/03/li%e1%bb%87u-ng%c6%b0%e1%bb%9di-ta-c-th%e1%bb%83-ch%e1%ba%bft-v-bu%e1%bb%93n/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2010/03/clip_image002_thumb-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image002" title="clip_image002" /></a>&#160;
<a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2010/03/clip_image002.jpg"></a>
Tranh : <a href="http://commons.wikimedia.org/wiki/Vincent_van_Gogh">Vincent van Gogh</a> (1853-1890)
<i>Buồn , như ly rượu đầy</i>
<i>Không có ai cùng cạn</i>
<i>Buồn , như ly rượu cạn</i>
<i>Không còn rượu để say</i>
<i></i>
<i>( Buồn – Y Vân )</i>
<b></b>
<b>1.</b>
Tháng 2, tháng ngắn nhất trong năm, sắp sửa qua đi. Nhưng mùa đông vẫn còn ở lại. Những ngày lạnh cao điểm vẫn còn chờ phía trước. Một buổi chiều , ngồi cô đơn trong quán cà phê Starbucks vắng người, nhìn ra bên ngòai những cụm tuyết trắng xóa bay lả tả, tôi chợt cảm thấy buồn . . . muốn khóc.
 
 Kể cũng lạ, đã mấy chục năm nay, bận rộn với bao vất vả lo toan của cuộc sống, tôi ít khi mang cảm giác buồn, cái cảm giác của những ngày trai trẻ, ngồi trong quán cà phê – khi vỉa hè, khi sang[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2010/03/clip_image002.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 0px 15px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image002" border="0" alt="clip_image002" align="left" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2010/03/clip_image002_thumb.jpg" width="125" height="157" /></a></p>
<p>Tranh : <a href="http://commons.wikimedia.org/wiki/Vincent_van_Gogh">Vincent van Gogh</a> (1853-1890)</p>
<p><i>Buồn , như ly rượu đầy</i></p>
<p><i>Không có ai cùng cạn</i></p>
<p><i>Buồn , như ly rượu cạn</i></p>
<p><i>Không còn rượu để say</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>( Buồn – Y Vân )</i></p>
<p><b></b></p>
<p><b>1.</b></p>
<p>Tháng 2, tháng ngắn nhất trong năm, sắp sửa qua đi. Nhưng mùa đông vẫn còn ở lại. Những ngày lạnh cao điểm vẫn còn chờ phía trước. Một buổi chiều , ngồi cô đơn trong quán cà phê Starbucks vắng người, nhìn ra bên ngòai những cụm tuyết trắng xóa bay lả tả, tôi chợt cảm thấy buồn . . . muốn khóc.</p>
<p> <span id="more-1908"></span>
<p> Kể cũng lạ, đã mấy chục năm nay, bận rộn với bao vất vả lo toan của cuộc sống, tôi ít khi mang cảm giác buồn, cái cảm giác của những ngày trai trẻ, ngồi trong quán cà phê – khi vỉa hè, khi sang trọng lịch lãm – nhìn những mảng nắng xiên qua ô cửa kính, hay những giọt mưa từ cơn mưa vội vã làm ướt cả người từ đầu đến chân, nghĩ đến hiện tại vô vọng không lối thóat, nghĩ đến tương lai chết ngộp trong cuộc chiến khốc liệt , nghĩ đến những mối tình không có ngày mai, tôi đã biết buồn. Nỗi buồn của thế kỷ. Nỗi buồn của thế hệ. <i>Buồn đến độ chỉ . . . muốn chết.</i></p>
<p>Ngày ấy, thanh niên thế hệ chúng tôi, buồn thì có buồn thật, buồn đến nẫu người, buồn da diết cả não trạng, buồn phờ phạc cả thân xác, buồn chín rục trái tim, và như đã nói, buồn đến độ chỉ muốn chết, nhưng trong trí nhớ còm cõi của mình, tôi không thể moi ra được xem trong đám bạn bè của mình, có ai chết vì buồn không. Nhiều người đã nằm xuống, vì bom đạn chiến tranh, vì tù đày thiếu ăn thiếu thuốc men, vì bệnh tật hiểm nghèo, vì lao mình vào biển cả vượt biên, nhưng hình như không có ai chết vì buồn, kể cả buồn vì thất tình.</p>
<p>Nhiều năm sau, cuộc sống giúp tôi quên bẵng đi những nỗi buồn. Để một buổi hòang hôn , bỗng chợt nhớ đến nỗi buồn thế kỷ, với cảm giác quay quắt đến độ . . . muốn chết. Đó chỉ là một lối nói cường điệu của văn chương, hay, trong thực tế đời thường, con người ta có thể chết vì buồn ?</p>
<p>Các khoa học gia hiện đại đã có câu trả lời.</p>
<p>Hai nhà nghiên cứu của Viện đại học Luân Đôn , Annie Britton và Martin Shipley, đã kết luận công trình nghiên cứu kéo dài 25 năm của mình về trạng thái buồn nản mà con người thường xuyên phải đối phó rằng, sự buồn nản, tự mình nó chưa đủ để làm cho người ta chết, nhưng nó là nguyên nhân chính dẫn đến việc uống rượu say sưa, nghiện hút thuốc lá, sử dụng các lọai ma túy, thuốc an thần hoặc bị suy nhược tâm lý. Từ đó, dẫn đến bệnh tim mạch và các căn bệnh nan y khác , con đường ngắn nhất đến tử vong.</p>
<p>Mặt khác, có một sợi dây nối liền trạng thái buồn bã của cân não đến các sinh họat ăn uống, ngủ nghỉ, giải trí và làm việc của một con người. Người mang tâm trạng buồn bã, chán chường không thiết ăn, ngủ không ngon giấc, lười biếng tập thể dục, lúc nào cũng ủ rũ, mệt mỏi, nguyên nhân cho những rối lọan tim mạch. Theo Christopher Cannon, giáo sư phụ giảng về Y khoa tại trường đại học Harvard , Hoa Kỳ, thì trạng thái buồn bã kích thích một số hóoc môn trong cơ thể tiết ra, gây Stress cho tim, khiến sự họat động của tim không được bình thường.</p>
<p>Một nhà nghiên cứu khác, Giảng viên Sandi Mann thuộc trường đại học Lancashire, kết luận rằng sự buồn chán không phải là không độc hại. Nó liên kết với những hình thái dồn nén tâm lý khác , làm tăng áp huyết và giảm sự miễn nhiễm của cơ thể.</p>
<p>Bà nói thêm :” <i>Nhưng ai mà chả có lúc buồn bã, chán nản. Thế nên, chỉ có những người buồn kinh niên, buồn muôn thuở, mới phải lo lắng đến việc có thể chết vì buồn mà thôi .”</i></p>
<p><b>2.</b></p>
<p>Như vậy là tôi đã phần nào tìm được lời giải đáp cho thắc mắc phi . . . văn chương của mình. Dù, trong thực tế, sự buồn tẻ vì những đơn điệu của cuộc sống, và nỗi buồn ( do những mất mát, những hòan cảnh đau thương người ta phải trải qua ) có khác nhau. Nhưng hai thứ ấy vẫn có chung một đặc tính là chỉ những kẻ cứ suốt đời ngồi gậm nhấm nỗi buồn của mình ( buồn vong quốc, buồn tha hương, buồn vì chí lớn không thành, buồn vì danh không tọai v…vv ) mới có thể chết . . . vì bệnh tật do sự buồn bã chán chường gây ra. Còn những kẻ buồn vẩn vơ <i>( tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn – thơ Xuân Diệu</i> ) ( như tôi ), buồn có lúc , buồn như một thứ . . . thời thượng, làm dáng ( trong văn chương ) thì vẫn cứ sống để thỉnh thỏang . . . được buồn.</p>
<p>Thế hệ của chúng tôi, tuy không may mà lại may. Ngày xưa, tuy mang tâm trạng buồn bã chán chường nhưng thời thế không cho phép chúng tôi cứ ngồi đó than khóc cho nỗi buồn thế kỷ của mình. Chúng tôi phải lăn xả vào cuộc chiến, chiến đấu hàng ngày với cái chết, sự thương tật, nên không có thì giờ nhiều cho nỗi buồn. Đến khi chiến tranh chấm dứt, hầu hết phải chịu đựng những khổ sở về vật chất ( thiếu ăn thiếu mặc, thiếu tiện nghi đời sống ) trong những trại cải tạo, nên một lần nữa, chúng tôi có rất ít thì giờ nghĩ đến những nỗi buồn ( xa gia đình, nhớ người yêu . . .) của mình. Những năm tháng khốn khổ ấy, giúp chúng tôi hiểu được rằng những dằn vặt thể xác vẫn dễ chịu hơn những dằn vặt về tinh thần. Nhờ vậy, chúng tôi sống sót.</p>
<p>Đến bây giờ, lúc chiều tàn của cuộc đời, lại may mắn có được những phương tiện kỹ thuật hiện đại sẵn sàng bên cạnh, như các phương tiện giải trí truyền hình,phim ảnh, như máy điện tóan và đường truyền Internet, nơi chúng tôi có thể xa lánh những nỗi buồn của mình bằng cách vùi đầu vào những trang điện tử ưa thích, những họat động giao lưu trong những nhóm thư mạng ( Mailgroups ).</p>
<p>Hãy thử tưởng tượng những người già sống quạnh quẽ trong căn nhà thênh thang, con cái đã trưởng thành, đã bay nhảy khắp tứ phương, người bạn đời có thể đã bỏ mình ra đi từ lâu hoặc còn sống thì cũng chỉ như cái bóng già nua bên cạnh. Nếu không có những họat động giúp mình quên đi những buồn tẻ hàng ngày, thì chắc chắn , quá khứ sẽ thống trị cùng với những điều bất như ý của nó. Người ta sẽ chết dần mòn ( theo nghĩa đen thực sự của cái chết ) vì buồn bã chán chường, vì cô đơn quạnh quẽ. Đó là một thực tại mà rất nhiều người già Việt nam sinh sống ở hải ngọai đang phải trải qua.</p>
<p>Các nhà nghiên cứu, trong khi chỉ ra những hệ quả nguy hại đến sức khỏe vì sự buồn bã, cũng đã căn cứ vào khám phá của mình, khuyên người ta nên tích cực tham gia nhiều các hình thức sinh họat xã hội mỗi khi có cảm giác buồn chán, vì sự mất mát của người thân, vì công ăn việc làm đình trệ do suy thóai kinh tế, vì nhiều những nguyên nhân khác trong đời sống.</p>
<p>Thực ra, những khám phá khoa học nói trên, dù đã được tiến hành một cách nghiêm túc trong thời gian 25 năm ( từ 1985 đến 2009 ) , cũng không nói được điều gì mới.(*) Công trình nghiên cứu ấy chỉ khẳng định tác hại chết người của buồn bã chán chường. Cuộc sống hàng ngày đã cho người ta nhiều dịp nhìn thấy tác hại ấy. Bởi vì buồn vốn là một thuộc tính của con người . Trong đời một con người, ai mà không trải qua những trạng thái buồn bã, chán chường. Không phải chỉ thóang qua, mà có khi trạng thái ấy kéo dài đến mức không thể chịu đựng nổi.Không phải chỉ một lần, mà rất nhiều lần trong cõi trần ai mà người ta chào đời bằng tiếng khóc oa oa. Có kẻ đã tự tìm cái chết để giải thóat mình khỏi những nỗi buồn dằn vặt, day dứt. Như vậy, buồn đến . . . chết người thì có gì là lạ !</p>
<p><b>3.</b></p>
<p>Nói đi thì phải nói lại. Cuộc sống lúc nào cũng kéo người ta đi theo với nó, nhiều khi phải rảo bước đi theo cuộc sống khiến người ta chóng mặt. Tuy không có thì giờ để buồn bã chán chường nhưng, nếu sống chỉ để chạy theo nó mòn hơi thì cũng . . . chán chường không kém. Thế nên, người ta cần những lúc dừng lại. Những lúc ngồi vẩn vơ, những lúc cảm thấy một nỗi buồn không đâu xâm chiếm tâm hồn, những lúc ngỏanh nhìn quá khứ mà tiếc nuối, mà mong ngày hôm qua quay trở lại . Và vì nỗi mong ước ấy là vô vọng, nên người ta trở nên chán chường mọi thứ của hiện tại, dù chung quanh mình đầy đủ những thứ xa xỉ của một thời xưa thiếu thốn, nghèo khổ. Có lẽ, đó là nỗi buồn lành mạnh. Nỗi buồn giúp người ta trở nên người hơn, nỗi buồn giúp thi vị hóa những thói quen nhàm tẻ hàng ngày.</p>
<p>Thế nên, thỉnh thỏang trong những dịp hiếm hoi không bận bịu với thời khóa biểu công việc dầy đặc của mình, tôi vẫn cố tìm thì giờ cho những nỗi buồn. Thí dụ như cái ngày cuối cùng của tháng Hai hôm nay, trời đổ tuyết trắng xóa đường phố, tôi ngồi trong quán cà phê quen thuộc, nhấm nháp ly cà phê ưa thích, nhìn ra bên ngòai lạnh lẽo để cảm hơn nữa sự ấm áp bên trong, và để mặc cho nỗi buồn cuối ngày tràn ngập trong hồn. </p>
<p>Chỉ tiếc rằng tuyến nước mắt đã khô cạn theo với chiều dài một đời người, nên tôi chẳng còn chút nào nhỏ ra làm ẩm ướt thêm buổi cuối ngày nhòe nhọet vì tuyết và vì buồn. Dù thực sự, tôi đang cảm thấy buồn . . . muốn khóc.</p>
<p>Và hẳn là, nỗi buồn “ thời thượng “ hôm nay, chẳng thể làm ngắn hơn những ngày – vốn đã ngắn &#8211; còn lại của đời tôi.</p>
<p>(*)<i>Điều làm tôi ngạc nhiên là báo chí từ Anh đến Mỹ đã đối xử với công trình nghiên cứu 25 năm của hai giáo sư Annie Britton và Martin Shipley như là một khám phá mới mẻ về tác dụng nguy hại của sự buồn chán. Khởi đi từ một bản tin ngắn của hãng thông tấn AP ( Associateed Press ) với tiêu đề : Can you really be bored to death ?, tất cả các báo lớn ở Mỹ ( như tờ USA Today ), ở Anh ( như tờ The Guardian ) đều đăng lại tin này. Trong thế giới ảo (internet ), chỉ với từ khóa là tên vị giáo sư tác gỉa công trình nghiên cứu được điền vào mục tìm kiếm của Google, tôi đã nhận được kết quả hàng mấy trăm trang mạng , từ các cơ quan nghiên cứu y khoa cho đến xã hội học, đến những trang Blog cá nhân, trang nào cũng đăng lại bản tin của AP với những lời bình, thêm mắm thêm muối của người đọc. Làm như, chỉ cho đến hôm nay, sau khi công trình nghiên cứu của Annie Britton và Martin Shipley được công bố, thế giới phương Tây mới biết được rằng người ta có thể chết vì buồn nản. Trong khi đó, Việt Nam mình ai cũng biết – dù lõm bõm – buồn nản chán chường là một trong những nguyên nhân gây chết người đáng sợ. T.Vấn</i></p>
<p><i>© T.Vấn 2010</i></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2010/03/li%e1%bb%87u-ng%c6%b0%e1%bb%9di-ta-c-th%e1%bb%83-ch%e1%ba%bft-v-bu%e1%bb%93n/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Xin chào người phụ nữ hôm nay</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2009/03/xinchao-2/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2009/03/xinchao-2/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 20 Mar 2009 18:44:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[3]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 3 - 2009]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2009/03/20/xin-cho-ng%c6%b0%e1%bb%9di-ph%e1%bb%a5-n%e1%bb%af-hm-nay/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2009/03/xinchao-2/"><img align="left" hspace="5" width="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image002-thumb13.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image002" title="clip_image002" /></a><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image00213.jpg"></a>
Hôm rồi, do một tình cờ trong quan hệ nghề nghiệp, tôi gặp lại người phụ nữ mà tôi được biết trước đây vài năm. Đó là một phụ nữ rất đáng chú ý. Đẹp, tự tin, lưu loát . Cô nói tiếng Anh như một người được sinh ra trên mảnh đất này và giọng nói , cách dùng chữ tiếng Việt của cô khiến người nghe không thể tin rằng cô sống ngòai đất nước đã 25 năm nay. Và giỏi. Cô làm chủ một căn nhà ở khu vực thượng lưu của thành phố với lối kiến trúc, cách bầy biện chứng tỏ một cá tính rất mạnh mẽ của người chủ. Cũng tình cờ, chúng tôi có cơ hội trò chuyện khá lâu, lâu hơn mức độ xã giao bình thường. Buổi nói chuyện giữa chúng tôi đã xóay quanh vai trò và sự[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image00213.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 5px 10px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image002" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image002-thumb13.jpg" border="0" alt="clip_image002" width="182" height="244" align="left" /></a></p>
<p>Hôm rồi, do một tình cờ trong quan hệ nghề nghiệp, tôi gặp lại người phụ nữ mà tôi được biết trước đây vài năm. Đó là một phụ nữ rất đáng chú ý. Đẹp, tự tin, lưu loát . Cô nói tiếng Anh như một người được sinh ra trên mảnh đất này và giọng nói , cách dùng chữ tiếng Việt của cô khiến người nghe không thể tin rằng cô sống ngòai đất nước đã 25 năm nay. Và giỏi. Cô làm chủ một căn nhà ở khu vực thượng lưu của thành phố với lối kiến trúc, cách bầy biện chứng tỏ một cá tính rất mạnh mẽ của người chủ. Cũng tình cờ, chúng tôi có cơ hội trò chuyện khá lâu, lâu hơn mức độ xã giao bình thường. Buổi nói chuyện giữa chúng tôi đã xóay quanh vai trò và sự trưởng thành của người  phụ nữ Việt nam trung niên sống trên những mảnh đất ngòai quê hương. Theo cô, đó là một bước ngoặt đáng kể. Nó đã đưa người phụ nữ ( Việt Nam ) thóat ra khỏi cái bóng người đàn ông che phủ suốt mấy ngàn năm nay. Trên mọi lãnh vực của đời sống, từ vai trò người đi làm mang đồng tiền về nhà (bread winner), đến các họat động chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học, đâu đâu cũng thấy bóng dáng người phụ nữ ( Việt Nam ) – nếu không nổi bật lên hẳn –thì cũng xác định được chỗ đứng rất bình đẳng bên cạnh người đàn ông ( vốn thường được coi là, tự coi mình là – chủ tể ).</p>
<p>Cô đọc cho tôi nghe những cái tên phụ nữ giữ những vị trí quan trọng trong chính quyền (Mỹ), những vị đang vận động ra tranh cử vào các chức vụ dân cử cấp liên bang, những vị đã thành danh trong lãnh vực sinh họat văn hóa, nghệ thuật xứ người v.v.. .Điều cô muốn nhấn mạnh, đây là những người đứng hai chân trên hai nền văn hóa hòan tòan khác nhau : văn hóa Việt Nam và những nền văn hóa không phải Việt Nam. Đó là thế hệ những người phụ nữ Việt Nam vượt hẳn các thế hệ đàn chị của mình ( ra khỏi nước khi  đã bận bịu với gia đình, tuổi tác không còn trẻ để học hành ) về phương diện năng lực xã hội, cửa ngõ thuận lợi nhất để họ chen vai thích cánh cùng nam giới, chứng tỏ khả năng tự điều chỉnh của mình và đồng thời , hòan thành cuộc cách mạng nữ giới đã được khởi xướng từ nửa cuối thế kỷ trước. Nói cách khác, người phụ nữ Việt Nam ( ở ngòai nước ) đã hòan tòan vượt thóat khỏi bốn bức tường gia đình và tự khẳng định được cho mình chỗ đứng ngòai căn nhà truyền thống ấy.  Nhìn người phụ nữ trẻ ( vừa phải) ấy say mê nói về những điều còn gây khá nhiều tranh cãi ( trong giới đàn ông chúng tôi ), tôi ngạc nhiên không hiểu cô tìm đâu ra được sức mạnh để nâng đỡ cô trong cuộc đấu tranh gai góc hàng ngày, như người ta thường nói thân gái dặm trường.  Khi được hỏi về cuộc sống riêng, cô tự tin trả lời rằng còn gì hạnh phúc hơn sau một ngày bươn chải bận rộn, buổi chiều được hòan tòan tự do với một quyển sách hay, một dĩa nhạc ưa thích và ly rượu đỏ dịu dàng sóng sánh trên tay, cùng với sự cô đơn cần thiết trong khỏanh khắc tuyệt diệu nhất của một ngày sống. Nhìn tôi với ánh mắt như có sự thách thức, cô bảo đó là chính là  nơi chốn và là lúc cô tìm thấy cái sức mạnh mà tôi nói đến. Tôi giật mình thấy trong những điều cô nói, không có chỗ cho người đàn ông. Về điều này, cô cũng xác định rằng , người phụ nữ hiện đại có quyền không chọn mua bất cứ thứ gì để rồi sau đó hối hận vì mình đã mua lầm ( cô muốn ám chỉ hôn nhân – quả là một ý tưởng đáo để ).Và hạnh phúc – với cô – phải là hạnh phúc tuyệt đối trong khuôn khổ một sự tự do tuyệt đối. Ngòai ra, cô cũng đang dự định viết  sách nữa. Vì cô cho rằng mình có ý tưởng, cái ý tưởng nhạy bén, tinh tế của  người phụ nữ. Và cô cười, nụ cười tự tin , coi mọi chuyện đều vừa ở trong tầm tay, rồi nói, <em>chỉ cần tập luyện cách diễn đạt.</em><em> </em></p>
<p><em>Buổi nói chuyện với người phụ nữ trẻ này đã giúp tôi nhìn rõ hơn vai trò tiên phong của một phụ nữ khác, có lẽ cũng cùng độ tuổi với cô, đã là một hiện tượng nổi bật lên trong cộng đồng người Việt hải ngọai từ nhiều năm nay. </em></p>
<p>Nhân câu chuyện về một người phụ nữ còn gợi trong đầu tôi nhiều suy ngẫm, tôi lại nhớ đến một người phụ nữ Việt Nam lừng danh khác. Bà thuộc về thế hệ đàn chị của người phụ nữ trong câu chuyện của tôi nói đến ở trên. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 , khi theo gót đòan quân chiến thắng từ miền Bắc vào tiếp thu Sài Gòn, ngay lúc đó bà đã biết rằng trong suốt mấy chục năm cả một nửa đất nước đã bị lừa gạt. Kể từ khi ấy, mầm “ <em>làm giặc</em> “ đã được ươm trong đầu “ <em>người đàn bà răng đen mắt tóet”</em>. Với thời gian, cái mầm ấy đã khai sinh ra “ <em>một chiến sĩ đấu tranh</em> <em>cho dân chủ</em> “.Không cần đến cương lĩnh giải phóng phụ nữ, không cần đến nhu cầu “ <em>phá bỏ cái bóng người đàn ông phủ lên người đàn bà đã mấy nghìn năm</em> “, không cần đến cái tự do tuyệt đối nhằm chứng minh sự độc lập tuyệt đối của người phụ nữ hiện đại, bà đã khẳng định vị trí nổi bật của mình – một người đàn bà Việt Nam răng-đen-mắt-tóet- trong lãnh vực từ trước tới nay chỉ &#8211; một cách mặc nhiên – dành cho người đàn ông vì tính cách khốc liệt, không khoan nhượng, không thương xót của nó. Đó là lĩnh vực “ <em>làm giặc</em> “. Cũng chính đức tính thường thấy ở người phụ nữ Việt Nam ( lòng kiên nhẫn, khả năng chịu đựng ) – theo lời bà- đã giúp bà sống còn cho đến nay. Trước đây , bà đã từng nhiều năm trải qua một cuộc chiến tranh có súng đạn, có mìn bom hầm hố, và tất nhiên có người chết, có nhà cửa xóm làng tan hoang. Sống sót trở về chưa hẳn đã là sự may mắn theo cái nghĩa anh thợ cày lau kiếm, ngày ngày vui thú bên nương dâu, cái cày, con trâu và người vợ trẻ, tự do hưởng khí trời. Là người sống sót, con “ mắt tóet” của bà nhìn thấy ngay rằng, trên đất nước từ nay đã thu về một mối của mình, người ta không được quyền làm người, chữ Người viết hoa.</p>
<p>Và người phụ nữ ấy đã chọn cho mình con đường làm giặc, để giúp cho dân của bà ( trong đó có gần một nửa là đàn ông ) “ <em>mở mắt ra và biết sống cuộc sống con người</em>. “, dù biết rằng, khi chọn con đường “ <em>làm giặc</em>”, có nghĩa là chọn một con đường chết , con đường không có lối ra.</p>
<p>Đồng ý hay không đồng ý với quan điểm của bà về nhiều vấn đề &#8211; và đôi khi những quan điểm ấy bộc lộ một cách quá “ kiêu hãnh”  &#8211; nhưng sự can đảm ở người phụ nữ ấy là điểm ít người phủ nhận. Bà đã khiến nhiều người đàn ông tai to mặt lớn trong nước kiềng mặt, vì “ con giun xéo lắm cũng quằn “, nhất là con giun ấy lại là một người phụ nữ có giọng nói rất khỏe, một trái gan rất to, một khả năng lập luận rất . . . không đàn bà, một vốn sống rất thật và một khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ rất sắc bén.</p>
<p>Bây giờ thì  &#8211; người phụ nữ có  “ <em>rất nhiều cái rất</em> “ ấy , sau khi được cho ra khỏi nước tham dự Liên Hoan Văn Học Quốc Tế theo lời mời của chi hội Văn Bút Hoa Kỳ tại thành phố New York hôm tháng 4 vừa rồi, bà quyết định ở lại Pháp  &#8211; theo lời bà- để có điều kiện hòan tất những dự tính văn học của bà.</p>
<p>Ở trong nước, hẳn có nhiều người đàn ông thở phào nhẹ nhõm khi nghe tin này.</p>
<p>Mới đây, người đàn bà “ làm giặc “ đã cho ra đời một tác phẩm đồ sộ, công trình của nhiều năm thai nghén trong nỗ lực “ giúp cho dân của bà mở mắt ra và biết sống cuộc sống con người” . Từ mảnh đất truyền thống văn học thế giới là Pháp quốc, bà đã gởi tiếng nói của mình đến khắp thế giới. Đó là tác phẩm “ Đỉnh cao chói lọi “ , một tác phẩm tiểu thuyết trộn lẫn giữa hư cấu và những sự kiện, nhân vật lịch sử.</p>
<p>Như tôi đã viết ở trên, rất khó để có sự đồng thuận hòan tòan với những điều bà phát biểu trong tác phẩm của mình, nhưng tự thân những tiếng nói dõng dạc ấy, đã là một thách thức rất lớn cho những kẻ cầm quyền mà tiếng nói ấy muốn truyền đạt tới . Mặt khác, không thể bỏ qua được cái “ ma lực “ của chữ nghĩa mà bà đã sử dụng một cách thành thạo trong những tác phẩm của mình. Rồi đây, các thế hệ Việt nam mai sau, không ít thì nhiều, sẽ nhìn lịch sử ( hôm nay ) qua lăng kính của người đàn bà rất sắc sảo này. Một sự thực khác cũng khó có thể phủ nhận là thế giới đã “ mở mắt “ khi nhìn về chế độ tòan trị ở Việt Nam , phần lớn là nhờ những nhà văn phản kháng như bà – những người đã từng sống trong lòng chế độ- .</p>
<p>Thời thế đã thay đổi. Ngày nay, người phụ nữ có mặt ở những nơi trước đây là chỗ người đàn ông thường chiếm đa số. Họ đã chứng tỏ bản lĩnh của người đồng hành ( chứ không phải của người thuộc “ phái yếu” )với người đàn ông trong mọi lãnh vực của đời sống. Từ chỗ chỉ biết sống vì chồng, vì con, nay họ đã bước ra ngòai cánh cửa gia đình để còn biết sống cho mình, cho đời, cho đất nước.</p>
<p>Ý niệm về một người đàn ông thành công có bóng dáng người vợ đảm đang của mình luôn đứng đằng sau khó có thể áp dụng cho người phụ nữ thành công, vì có lẽ, ít có người đàn ông nào chịu là cái bóng cho vợ của mình. Có lẽ là do tâm thức  “ gia trưởng “ chưa thể một sớm một chiều xóa bỏ được sau mấy ngàn năm ngự trị của một nền văn hóa xem người đàn bà chỉ là “ thứ yếu “ .</p>
<p>Hàng năm, còn có ngày 8 tháng 3 là ngày Quốc tế Phụ Nữ, được chính thức công nhận bởi cơ quan Liên Hiệp Quốc từ năm 1975. Hai năm sau, các quốc gia thành viên trên thế giới đã được kêu gọi nên dành một ngày để trân trọng những nỗ lực phi thường của người phụ nữ nhằm giải phóng chính mình, góp phần phát triển thế giới  ngày một tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người.</p>
<p>Thực ra, với người phụ nữ Việt nam, không đợi tới những phong trào giải phóng phụ nữ trên tòan thế giới thúc đẩy, họ đã trưởng thành theo với từng giai đọan lịch sử của đất nước , cả ở hai nghĩa xã hội và chính trị. Và không thể không nhắc đến những người phụ nữ vợ con tù cải tạo sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 ở miền Nam. Họ đã cùng một lúc đảm nhận vai trò người chồng, người cha, và người mẹ của gia đình trong một hòan cảnh hết sức khắc nghiệt. Tôi muợn một đọan viết rất hình tượng của nhà văn Phùng Nguyễn để diễn tả những người phụ nữ ấy như sau :</p>
<p><em>“ . . . </em><em>bà là người vợ trẻ có chồng đi xa. Bà là người mẹ có con đi xa. Bà là người em có anh đi xa. Rất xa và không hẹn ngày về. Người đàn bà, cô đơn và sợ sệt trong những ngày đầu của dâu bể, nay phải đương cự với những thảm họa vô cùng lớn lao, một mình. Nước mất nhà tan,  người chồng, người cha đang gánh vác gông xiềng ở một xó rừng nào đó, không hẹn ngày về. Và những đứa con thơ phải nuôi nấng, phải bảo bọc. Ngoài kia, cùng với những khẩu hiệu ồn ào sắt máu vọng ra không ngưng nghỉ  từ loa phóng thanh, là cả một hệ thống bạo lực võ trang tận răng sẵn sàng nghiến nát tất cả những gì có thể được xem là chướng ngại của chế độ. Và đêm đến, là tiếng chân dọa nạt, tiếng gõ cửa rụng tim, tiếng quát tháo rợn người, và tiếng than van uất nghẹn. Nhưng người vợ trẻ, nạn nhân của một thời điêu linh cùng cực, giữa gọng kềm của một thế lực hung bạo, sau cùng đã không cho phép mình gục ngã. Bởi vì có quá nhiều điều cần phải được chống đỡ bởi chính bờ vai mỏng manh trên tấm thân gầy yếu vì đói khát của nàng. Và bằng vào tình yêu và sự can trường không thể giải thích được, nàng gượng dậy và bắt đầu cuộc chiến đấu mới. Và chiến thắng. Nỗi đau nước mất nhà tan, nỗi đau sinh ly tử biệt, nàng nuốt ngược vào. Nỗi kinh hoàng dành cho thế lực hung tàn, nàng đạp xuống. Núi đồi hiểm trở, nàng bước lên, vượt hàng ngàn cây số để tìm đến chồng đến cha đến anh và mang đến họ thẻ đường, bịch muối, những gừng cay, những khô mặn, và trên hết,  hy vọng. Vào những buổi tối, phía sau bức vách rách nát hoặc trống trải ở một nơi nào đó giữa lòng đô thị cũ đông đúc hay vùng kinh tế mới hoang vắng, từng mảnh và từng mảnh, nàng tháo gỡ những nọc độc văn hóa đang tìm cách xâm nhập trí não đứa con thơ bởi nền giáo dục hồng hơn chuyên. Và như thế, ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng tháng khác, năm này qua năm khác, nàng gìn giữ cho mình, cho người chồng đi xa, xuyên qua đứa con, ước mơ về một tương lai tươi sáng.  Người đàn bà, đối diện với những thử thách vô cùng to lớn, những đe dọa vô cùng khủng khiếp, đã không cho phép mình gục ngã. Nàng nhìn thẳng vào nỗi sợ, và khuất phục nó</em><em>. . .  Trích từ “ Nạn Nhân “ – Phùng Nguyễn . Tạp chí điện tử Damau.Org )”. </em></p>
<p>Năm 2008, trong ngày Hội Ngộ cựu Tù Nhân Chính trị ở thành phố Dallas do một người phụ nữ đáng nể trọng tổ chức, tôi có dịp nhìn thấy khuôn mặt những người đàn bà mà nhà văn Phùng Nguyễn đã mô tả. Thời gian đã để lại những dấu ấn không thể tránh khỏi, nhưng nét cứng cỏi năm xưa vẫn còn đậm nét. Giờ đây, hồi tưởng lại, tôi bất giác muốn so sánh vẻ cứng cỏi “ lịch sử “ của những người phụ nữ vợ con tù cải tạo năm xưa và vẻ tự tin thật mạnh mẽ nơi người phụ nữ trẻ mà tôi được trò chuyện.</p>
<p>Hình như cô đã thừa hưởng được “ kinh nghiệm  đắt gía “ ấy nơi người mẹ, người chị của mình.</p>
<p>T.Vấn</p>
<p>( Tháng 3-2009)</p>
<p>© T.Vấn 2009</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2009/03/xinchao-2/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>“ Tôi đã đánh mất mình “</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2009/03/toida/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2009/03/toida/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 07 Mar 2009 23:43:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[3]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 3 - 2009]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2009/03/ti-d-dnh-m%e1%ba%a5t-mnh/558/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2009/03/toida/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb11-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image001" title="clip_image001" /></a>&#160;
<a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00113.jpg"></a>
<i>Biết rằng cố quên là sẽ nhớ </i><i></i>
<i>N</i><i>ên dặn lòng cố nhớ &#8230; để đừng quên</i><i></i>
<i></i>
<i>( Vô danh Thị )</i>
<i></i>
Cách đây hơn 100 năm, ở thành phố Frankfurt, Đức quốc, có một người phụ nữ , chỉ được biết đến với cái tên là Mrs. Auguste D. Ở tuổi 51, bà bỗng nhiên quên hết mọi việc đã xẩy ra của 51 năm làm người, thậm chí bà không nhớ đến cả cái tên của mình. Tại Viện an dưỡng tâm thần của thành phố Frankfurt, bà được một nhà Tâm lý học trị liệu trẻ tuổi, tên là Alois Alzheimer, chăm sóc . Trong lúc cố gắng tìm cách hồi phục trí nhớ của bà, Alzheimer đã liên tục hỏi tên bà là gì. Người đàn bà tội nghiệp 51 tuổi cố hết sức để nhớ lại tên của mình, nhưng[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00113.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 0px 20px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image001" border="0" alt="clip_image001" align="left" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb11.jpg" width="177" height="244" /></a></p>
<p><i>Biết rằng cố quên là sẽ nhớ </i><i></i></p>
<p><i>N</i><i>ên dặn lòng cố nhớ &#8230; để đừng quên</i><i></i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>( Vô danh Thị )</i></p>
<p><i></i></p>
<p>Cách đây hơn 100 năm, ở thành phố Frankfurt, Đức quốc, có một người phụ nữ , chỉ được biết đến với cái tên là Mrs. Auguste D. Ở tuổi 51, bà bỗng nhiên quên hết mọi việc đã xẩy ra của 51 năm làm người, thậm chí bà không nhớ đến cả cái tên của mình. Tại Viện an dưỡng tâm thần của thành phố Frankfurt, bà được một nhà Tâm lý học trị liệu trẻ tuổi, tên là Alois Alzheimer, chăm sóc . Trong lúc cố gắng tìm cách hồi phục trí nhớ của bà, Alzheimer đã liên tục hỏi tên bà là gì. Người đàn bà tội nghiệp 51 tuổi cố hết sức để nhớ lại tên của mình, nhưng bà chỉ có thể thốt lên chữ “ Mrs.”, rồi ngừng tại đó. Lần cuối cùng, bà đã buồn bã nói “ Tôi đã đánh mất mình rồi ! “ ( I have lost myself !).</p>
<p>5 năm sau đó, “ Mrs. Auguste D.” qua đời. Nhà Tâm Lý Học Trị Liệu Alzheimer , quá bị ám ảnh bởi trường hợp mất trí nhớ khác thường của bệnh nhân mà ông chăm sóc , đã xin được nghiên cứu bộ não của bà sau khi bà mất. Khám phá của ông được trình bày vào năm 1907 về chứng bệnh mất trí nhớ do tuổi gìa gây ra được đặt theo tên ông : Alzheimer.</p>
<p>Từ đó, thế giới biết đến chứng bệnh Alzheimer. Cũng từ đó, câu nói của bệnh nhân được phát hiện đầu tiên về căn bệnh mất trí nhớ được ghi nhận như một ”tuyên ngôn triết học” : <i>tôi đã đánh mất mình rồi !</i></p>
<p>Mất trí nhớ quả là một điều đáng sợ hãi. Điều gì xẩy ra nếu một buổi sáng thức dậy, bỗng nhiên mình không còn nhớ được một chút gì của ngày hôm qua, không còn nhớ gì về nguyên nhân sự có mặt của mình trên cõi đời này, không còn nhận biết được những người thân yêu, không còn nhớ đến cả tên tuổi của mình, như người phụ nữ Đức ở thành phố Frankfurt hơn 100 năm trước.</p>
<p>Nhẹ hơn một chút là những khỏanh khắc “ senior moments “ ( để đâu quên đó ) làm cho nhiều lúc phải bực mình vì những trở ngại trong sinh họat hàng ngày. Thí dụ như đến giờ đi làm rồi mà không nhớ được đã bỏ quên chìa khóa xe ở đâu , cái bóp trong đó có bằng lái xe để ở đâu v..v..</p>
<p>Có khi lại là sự bất lực trong việc cố moi trí nhớ để nhận biết một cái tên vừa nghe nói đến, một khuôn mặt vừa gặp ngòai đường, một sự kiện xẩy vào cái lúc, cái nơi mà mình phải biết, phải nhớ, không nhiều thì ít. Vậy mà trong đầu chỉ là một cái hố sâu đen ngòm, không có gì hết ngòai những dấu hỏi to tướng. </p>
<p>Thế nhưng vẫn có những trường hợp ngược lại. Thí dụ như câu chuyện về một người có trí nhớ “ siêu đẳng “ trích dẫn sau đây :</p>
<p><i>Năm 20 tuổi, cô gái Elina Markand (người Đức) bị tai nạn. Khi tỉnh dậy, Elina bỗng nói tiếng Italy rất thông thạo, mặc dù trước đó cô chưa từng học một ngoại ngữ nào. Cô còn tự nhận mình là Rozetta Caste Liani, công dân Italy, và yêu cầu được trở về thăm quê hương.      <br />Về tới &quot;nhà&quot;, Elina mới biết rằng người có tên Rozetta Caste đã mất từ năm 1917. Đón cô là một bà già lụ khụ, xưng là con gái của Rozetta Caste. Elina chỉ tay vào bà già, nói: “Đây là Fransa, con gái tôi!”. Lúc ấy, tất cả mọi người đều giật mình, vì người đàn bà này quả thực tên là Fransa, đúng như Elina gọi. ( Trích : <a href="http://WWW.24x7">WWW.24&#215;7</a> )       <br /></i>Lịch sử Danh nhân Việt nam cũng đã ghi nhận trường hợp Lê Quý Đôn, nhà văn hóa lỗi lạc, một bộ óc thông minh phi thường và một trí nhớ siêu phàm. Tương truyền rằng, năm 14 tuổi, ông đã làu thông Ngũ Kinh, hoặc một quyển sách vừa đọc qua một lần ông đã có thể kể lại vanh vách không sai một chi tiết. </p>
<p>Nhớ nhiều, luôn luôn là một điều tốt. Khi ấy, bộ óc là một quyển sách lưu trữ những gì được ghi chép qua mọi sự kiện xẩy ra trong cuộc sống hàng ngày. Ngày nay, người ta còn tìm tòi các phương pháp để giúp mau nhớ, hoặc giữ cho trí nhớ tồn tại được lâu.</p>
<p>Nhưng, nhớ nhiều, nhớ dai, đôi khi lại là một kinh nghiệm không lấy gì làm thú vị, thậm chí, là một tai họa. Đời người ai cũng có những kỷ niệm vui và những kỷ niệm buồn. Kỷ niệm vui, muốn nhớ đã đành. Nhưng không ai muốn nhớ những kỷ niệm buồn ( như lời một bài hát : <i>Người ơi, khi cố quên là khi lòng nhớ thêm . . .). </i></p>
<p>Câu chuyện một người phụ nữ tên Jill Price, 42 tuổi, sống ở Los Angeles, Hoa Kỳ , là một thí dụ sống về “ tai họa của trí nhớ “ :</p>
<p><i>. . . </i><i>Sau khi người ta đưa ra một ngày bất kỳ trong quá khứ, Jill Price sẽ nói ngay những sự kiện mà bà đã trải qua, nhìn thấy hay nghe được trong ngày đó. Bà nhớ rất nhiều kỷ niệm của tuổi thơ, phần lớn những ngày từ lúc 9 đến 15 tuổi, và sau đó ký ức của bà không hề có một chỗ trống. &quot;Từ ngày 5/2/1980 tôi nhớ được tất cả. Đó là một ngày thứ ba.&quot;</i></p>
<p><i>Jill nhớ cả những sự kiện được giới truyền thông tường thuật lại nếu bà từng nghe được chúng trong quá khứ. Bà có thể trả lời mà không cần suy nghĩ, từ ngày tháng, con số đến cả một câu chuyện về các sự kiện như chiếc máy bay Concorde của Pháp rơi lúc nào và ở đâu, O.J. Simpson bị bắt vào ngày nào hay chiến tranh vùng Vịnh bùng nổ lúc nào.</i></p>
<p><i>&quot;Người ta nói với tôi rằng, cô thật là tuyệt vời, có một trí nhớ hoàn hảo thật là tuyệt. Nhưng nó cũng đáng sợ lắm, vì mỗi từ xấu, lỗi lầm, thất vọng, tất cả sợ hãi và đau đớn vẫn hiện diện ở hiện tại một cách tàn nhẫn&quot;, bà cười.</i></p>
<p><i>Với Jill, thời gian không làm lành được những vết thương. &quot;Tôi không nhìn lại quá khứ qua một khoảng cách. Nó có thể gợi lên cùng những xúc cảm giống nhau vào mọi thời điểm, giống như một bộ phim lẫn lộn lung tung không bao giờ chấm dứt, có thể xâm chiếm tôi hoàn toàn. Và nó không có một nút tắt.&quot;</i></p>
<p><i>Những mảnh vỡ ký ức cứ trào dâng không ngừng, tự động và không thể kiểm soát được, giống như một vòng vô hạn trong đầu. Thỉnh thoảng nó được một cái gì đó khởi động, như mùi vị, bài hát, từ ngữ. Nhưng ký ức cũng thường tự ập đến. Vô số hình ảnh từ quá khứ &#8211; từ tươi đẹp tới đáng sợ, từ quan trọng tới tầm thường &#8211; đuổi bắt nhau một cách lộn xộn trong &quot;màn hình nội tâm&quot; của bà và thỉnh thoảng còn xua đuổi hoàn toàn hiện tại. </i></p>
<p><i>&quot;Tất cả những cái đó gây mệt mỏi đến mức không thể tưởng tượng được&quot;, bà tâm sự. Trong cuộc đời Jill cũng có nhiều tai họa như xung đột gia đình, căn bệnh ung thư của người mẹ hay cái chết đột ngột của người chồng. Những ký ức buồn thảm cứ theo đuổi bà liên tục. ( trích : VnEpress ).</i></p>
<p>Chính Jill cũng phải thú nhận rằng sở hữu một trí nhớ tuyệt vời vừa là một ân sủng đến từ Thượng đế, vừa là một sự nguyền rủa khó lòng chịu đựng. Để đối phó với những ẩn ức hàng ngày, bà viện dẫn đến những hồi ức tươi đẹp trong quá khứ từ những ngày ấu thơ, những ngày sống êm đềm bên người chồng yêu dấu. Mặt khác, mỗi một lầm lẫn , dù nhỏ nhặt trong hiện tại đều nhắc nhở bà đến những sai lầm khó tha thứ trong quá khứ. Mỗi lần như vậy, bà cảm thấy kiệt sức tưởng như không thể đứng dậy nổi. </p>
<p>Người ta không thể thay đổi quá khứ. Nó đã xẩy ra và sự xẩy ra đã hòan tất. Nhớ đến quá khứ như sự nhắc nhở về một lỗi lầm cần được tránh trong tương lai là một điều cần nhớ, nên nhớ. Nhưng nhớ đến quá khứ với một khả năng ghi chép chính xác như một đọan băng được thu lại thì ở nhiều trường hợp, như bà Jill, là tai họa của trí nhớ, thứ tai họa khiến người ta có thể phát điên hoặc đưa đến những chứng bệnh tâm thần khác. Điều này giải thích tỉ lệ khá cao mắc bệnh trầm cảm của những cựu binh Mỹ trở về từ chiến trường Việt nam ( trước đây ) hay chiến trường Iraq ( hiện nay ). Đã có một thời báo chí Mỹ thường xuyên nhắc đến “ Hội chứng Việt Nam “ khi đưa tin về những trường hợp tâm lý bất ổn của cựu binh Mỹ sau chiến tranh Việt nam.</p>
<p><i>Trông người lại nghĩ đến ta</i>. Ký ức hơn 30 năm chiến tranh, ký ức những ngày tháng sống dưới sự kìm kẹp của chính quyền Cộng sản Việt nam, ký ức về những ngày lênh đênh trên biển cả vừa đói, vừa khát, vừa sợ lọt vào tay hải tặc, chỉ biết trông mong vào phép lạ đến từ trời vẫn không chịu phai nhòa trong tâm thức người Việt hải ngọai . Thứ trí nhớ ấy đã hành hạ chúng ta mỗi khi đối diện với một con số ngày tháng quen thuộc ( 30 tháng 4 ), với một hình ảnh tượng trưng cho chế độ ( lá cờ ) hoặc đôi khi chỉ vì những nhắc nhở bâng quơ. Từ đó, chúng ta bị lệ thuộc vào những cảm tính được biểu lộ bằng những hình thức khó tạo được sự thông cảm nơi những người chưa từng kinh qua những hòan cảnh mà chúng ta đã kinh qua.</p>
<p>Đắng cay về những đau khổ cũ có lẽ chỉ là một cách nói văn vẻ , trừu tượng về một tâm thức luôn bị dằn vặt bởi những gì đã xẩy ra trong quá khứ , tâm thức không thể quên được quá khứ, không muốn quên đi quá khứ . Nói cách khác, đó là thứ tâm thức bị khống chế bởi chính hồi ức mà một thời nó đã góp phần tạo ra.</p>
<p>Từ câu chuyện người phụ nữ thành Frankfurt nước Đức với câu nói buồn bã “ <i>Tôi đã đánh mất mình</i> “ đến câu chuyện những “ <i>tù nhân của quá khứ</i> “ như người đàn bà trung niên của thành Los Angeles nước Mỹ cách nhau cả trăm năm đã chỉ nổi bật lên được cái tên Alzheimer, nay đã trở thành quen thuộc với cả thế giới vì người ta sợ “ <i>đánh mất mình</i> “ chứ không ( hay chưa ) sợ làm “ <i>tù nhân của quá khứ</i> “ .</p>
<p>Tôi, một người Việt Nam chẳng may thuộc về cái thế hệ sống trong thời đại nhiễu nhương nhất của lịch sử, hiện đang bước vào ngưỡng cửa của nguy cơ “ <i>đánh mất mình</i> “ ( với những triệu chứng rất thuyết phục của bệnh mất trí nhớ Alzheimer ) lại không nhìn thấy cái tên Alzheimer là đáng sợ mà lại ngao ngán nhìn bóng tối của quá khứ cứ ngày một dầy đặc thêm .</p>
<p>Tôi trộm nghĩ, thà rằng tôi “ <i>đánh mất mình</i> “ vì mất trí nhớ còn hơn là “ <i>tự giam mình</i> “ trong nhà tù kiên cố của qúa khứ. Đằng nào cũng “ <i>mất mình</i> “ thì mất mà không biết mình mất vẫn dễ chịu hơn “ <i>còn mình</i> “ mà kể như đã mất trong “ <i>ngục tù của đau thương</i> “.</p>
<p>© T.Vấn 2009</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2009/03/toida/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
