<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>T.Van &#187; 3</title>
	<atom:link href="http://t-van.net/wordpress/category/thang3/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://t-van.net/wordpress</link>
	<description>Trang Nha T.Van</description>
	<lastBuildDate>Fri, 03 Sep 2010 04:56:07 +0000</lastBuildDate>
	<generator>http://wordpress.org/?v=2.8</generator>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
			<item>
		<title>Về c&#225;i chết của một nh&#224; thơ</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2010/03/v%e1%bb%81-ci-ch%e1%ba%bft-c%e1%bb%a7a-m%e1%bb%99t-nh-th%c6%a1/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2010/03/v%e1%bb%81-ci-ch%e1%ba%bft-c%e1%bb%a7a-m%e1%bb%99t-nh-th%c6%a1/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 31 Mar 2010 04:22:44 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[3]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 3- 2010]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2010/03/v%e1%bb%81-ci-ch%e1%ba%bft-c%e1%bb%a7a-m%e1%bb%99t-nh-th%c6%a1/1929/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2010/03/v%e1%bb%81-ci-ch%e1%ba%bft-c%e1%bb%a7a-m%e1%bb%99t-nh-th%c6%a1/"><img align="left" hspace="5" width="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2010/03/clip_image002_thumb3.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image002" title="clip_image002" /></a>&#160;
<a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2010/03/clip_image0023.jpg"></a>
<i>Tôi là cây gỗ vuông chành chạnh/</i>
<i>suốt đời đã làm thất bại mọi âm mưu đẽo tròn/</i>
<i>để muốn tùy tiện lăn long lóc thế nào thì long lóc /</i>
<i>( Chuyện Di Tề- thơ Hữu Loan -1988 )</i>
<b>1.</b>
Nhà thơ Hữu Loan, tác giả bài thơ bất hủ “ Màu tím hoa sim “ , vừa mới qua đời, hưởng thọ 95 tuổi. 
Những ngày sau trận địa chấn kinh hoàng ở Haiti, vùi thây hơn 200 ngàn người chỉ trong khỏanh khắc của định mệnh, khiến hơn một triệu người sống sót lâm vào cảnh địa ngục cả thể xác lẫn tinh thần, thì thêm một cái chết nữa, của một người thọ đã đến 95 tuổi, ở một phần đất hiu quạnh của một đất nước nhiễu sự, thì chắc gì đã khiến người ta thêm mũi lòng ?
 

Dù ông ta[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2010/03/clip_image0023.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 0px 10px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image002" border="0" alt="clip_image002" align="left" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2010/03/clip_image002_thumb3.jpg" width="85" height="113" /></a></p>
<p><i>Tôi là cây gỗ vuông chành chạnh/</i></p>
<p><i>suốt đời đã làm thất bại mọi âm mưu đẽo tròn/</i></p>
<p><i>để muốn tùy tiện lăn long lóc thế nào thì long lóc /</i></p>
<p><i>( Chuyện Di Tề- thơ Hữu Loan -1988 )</i></p>
<p><b>1.</b></p>
<p>Nhà thơ Hữu Loan, tác giả bài thơ bất hủ “ Màu tím hoa sim “ , vừa mới qua đời, hưởng thọ 95 tuổi. </p>
<p>Những ngày sau trận địa chấn kinh hoàng ở Haiti, vùi thây hơn 200 ngàn người chỉ trong khỏanh khắc của định mệnh, khiến hơn một triệu người sống sót lâm vào cảnh địa ngục cả thể xác lẫn tinh thần, thì thêm một cái chết nữa, của một người thọ đã đến 95 tuổi, ở một phần đất hiu quạnh của một đất nước nhiễu sự, thì chắc gì đã khiến người ta thêm mũi lòng ?</p>
<p> <span id="more-1929"></span>
</p>
<p>Dù ông ta là một nhà thơ, nhưng thơ phú liệu có giúp ích được gì không, khi người ta hàng ngày phải đối đầu với những khó khăn của đời sống, của công ăn việc làm, của bao trăn trở trước những vấn nạn chưa tìm được câu trả lời của một thực tại Việt Nam rối rắm, mà người xa quê hương cũng như kẻ trong nước vẫn ngày đêm khắc khỏai ?</p>
<p>Lịch sử một đất nước, cũng như lịch sử một nhân lọai, có những giai đọan chấn thương quyết liệt để lại những dấu ấn khó quên trong tâm thức những thế hệ chẳng may phải kinh qua cơn chấn thương ấy. Có lẽ điều đáng nói nhất về cái chết của nhà thơ là ở vị trí của ông, thái độ của ông, nhân cách của ông , trong một giai đọan chấn thương của đất nước Việt Nam. Nói đến ông , là nói đến giai đọan lịch sử ấy, là nói đến nỗi đau chung của ít nhất 2 thế hệ đã kinh qua những ngày tháng đen tối nhất đời mình . Ông sống gần một thế kỷ ( <b><i>02/04/1916 – 18/03/2010</i></b> ), sáng suốt cho đến cả những ngày cuối cùng của cuộc đời, để là một nhân chứng sống cho những não trạng lịch sử mà rất nhiều thế hệ mai sau sẽ còn nhắc đến, bàn luận, tranh cãi.</p>
<p><b>2.</b></p>
<p><i>Hữu Loan tên thật là Nguyễn Hữu Loan, sinh tại quê ở làng Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông học thành chung ở Thanh Hóa</i><i>, </i><i>sau đó đi dạy học và tham gia Mặt trận bình dân năm 1936, tham gia Việt Minh ở thị xã Thanh Hóa (nay là thành phố Thanh Hóa).      <br />Năm 1943, ông về gây dựng phong trào Việt Minh ở quê và khi cuộc Cách mạng tháng Tám nổ ra, ông làm Phó chủ tịch Uỷ ban khởi nghĩa huyện Nga Sơn. Sau Cách mạng tháng Tám, ông được cử làm Uỷ viên Văn hóa trong Uỷ ban hành chính lâm thời tỉnh Thanh Hóa, phụ trách các ty: Giáo dục, Thông tin, Thương chính và Công chính. Kháng chiến chống Pháp, Hữu Loan tham gia quân đội Nhân dân Việt nam, phục vụ trong Đại đoàn 304. Sau năm 1954, ông làm việc tại Báo Văn nghệ trong một thời gian.       <br />Trong thời gian 1956-1957, ông tham gia Phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm do nhà văn Phan Khôi chủ trương. Ông sáng tác những tác phẩm lên án thẳng thắn và quyết liệt đến những tiêu cực của các cán bộ cộng sản nịnh hót</i><i>, </i><i>đố kỵ, ám hại nhau v.v&#8230; như tác phẩm </i><i>“ </i><i>Cũng những thằng nịnh hót</i><i> </i><i>“ </i><i>và truyện ngắn </i><i>“ </i><i>Lộn sòng</i><i>” </i><i>. Trong tác phẩm của mình, ông coi mình là nạn nhân của xã hội cộng sản và phê phán xã hội này một cách kịch liệt.      <br />Sau khi phong trào Nhân Văn Giai Phẩm bị dập tắt vào năm 1958, nhà thơ Hữu Loan phải vào trại cải tạo vài năm. Cuối đời ông sống tại quê nhà.</i><i> (Nguồn: Wikipedia.org)</i><i></i></p>
<p>Bài thơ Màu Tím Hoa Sim là bài thơ khóc người vợ trẻ ( người vợ đầu ) đã qua đời trong lúc ông đang trên đường chinh chiến. Hãy nghe ông kể :</p>
<p><i>Ba tháng sau ( ngày cưới ) , tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồng (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lấy tấm áo bị nước cuốn đi nên trượt chân té xuống sông chết đuối! Con nước lớn đã cuốn em đi vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại cho tôi nỗi đau không gì có thể bù đắp nổi! Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi. ( Hữu Loan và Hoa Sim- Tự truyện Hữu Loan ).</i></p>
<p>Người vợ trẻ đã chết. Đó là điều bi thảm. Nhưng bi thảm hơn nữa, ông không được tự do khóc cho nỗi đau của đời mình:</p>
<p><i>Nỗi đau ấy tôi phải giấu kín trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn&#8230; Dường như càng kìm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm tư gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong tôi được dịp bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng. Hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi, chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra:      <br />Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội       <br />Những em nàng có em chưa biết nói       <br />Khi tóc nàng đang xanh&#8230;       <br />&#8230;Tôi về không gặp nàng&#8230; </i>    <br />( Hữu Loan và Hoa Sim- Tự truyện Hữu Loan ).</p>
<p>Kể từ đây, với nỗi đau người vợ chẳng may vắn số, và nỗi uất ức đã bị cấm đóan không được công khai khóc thương cái chết của chính vợ mình, cuộc đời nhà thơ Hữu Loan đã bắt đầu một khúc ngoặt quan trọng, quyết định chỗ đứng của ông trong một giai đọan lịch sử nhiễu nhương, góp phần tạo những huyền thọai chung quanh bài thơ , để rồi người đời tiếp tục truyền tụng bài thơ ấy hơn 50 năm nay(1), được nhiều nhạc sĩ nổi tiếng phổ thành nhạc (2), rồi trở thành bài thơ đắt giá nhất lịch sử văn học Việt Nam với sự kiện năm 2004, Công ty Vitek VTB ở Việt Nam đề nghị mua bản quyền bài Màu Tím Hoa Sim của ông với giá 100 triệu đồng ( tiền Việt nam thời gía 2004) (3). </p>
<p>Con đường đi kháng chiến chống Pháp, giành độc lập cho quê nhà là con đường mà bất cứ người thanh niên yêu nước nào cũng phải lựa chọn. Hữu Loan cũng là một trong số những người trai yêu nước ấy. Ông đã say sưa lao theo lý tưởng của người trai thời lọan. Nhưng, với cái chết của “người vợ bé bỏng”, đồng thời cũng là cơ hội để ông nhìn ra bộ mặt lừa phỉnh của những người khởi xướng kháng chiến. Lý tưởng của họ không phải là giải phóng đất nước khỏi sự đô hộ của ngọai bang, mà là sự áp đặt chủ nghĩa ngọai lai Cộng sản trên đất nước sau khi giành được quyền cai trị.</p>
<p>Ông kể : “<i>Đó là cái thời 1955 ‒ 1956 khi phong trào Văn nghệ sĩ chống Ðảng bắt đầu bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, và đồng thời chống những Văn nghệ sĩ bồi bút đang tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca tụng Ðảng để kiếm chút cơm thừa canh cặn của chế độ. Làm thơ phải có cái tâm mà phải là cái tâm linh thật thiêng liêng thì mới có thơ hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải làm về Ðảng, ca tụng Ðảng, ca tụng cộng sản, ca tụng cái buôn bán chiến tranh. Bởi vì cái đánh nhau là cái dễ kiếm chác lắm. Mà kiếm chác ở cái chiến tranh ấy thì khó kiểm tra lắm cho nên những cái bọn ăn bẩn ấy bao giờ cũng chủ trương chiến tranh, buôn bán chiến tranh. Mà tôi thì tôi thấy cái đấy là cái khổ dân nhất nên tôi chống hết sức. Lúc giờ người ta đang một tí là đề cao Hồ Chí Minh, hai tí là đề cao Hồ Chí Minh&#8230; trong khi tôi lại đề cao cái Tình Yêu. Tôi khóc người Vợ tử tế với mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó khóc như vậy, nó cho là khóc cái tình cảm riêng</i><i> . . . </i>( Hữu Loan và Hoa Sim- Tự truyện Hữu Loan ).</p>
<p>Thế là ông mạnh dạn phủi tay với cách mạng. Ông về quê, đi cầy, đập đá, thồ xe kiếm sống qua ngày. Ông hăng hái tham gia nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, sánh vai cùng với những Phùng Quán, Trần Dần, Hòang Cầm, Nguyễn hữu Đang . . . đòi hỏi tự do sáng tác cho văn nghệ sĩ, để rồi bị trù dập, bị theo dõi ( thậm chí âm mưu ám sát ), rồi bị tù đày. Tuy vậy, ông vẫn sống, sống mạnh sống hùng, không quy lụy, không đầu hàng. Và rồi “<i>Cuộc đời đẩy đưa, định mệnh dắt tôi đến với một người phụ nữ khác, sống cùng tôi đến ngày hôm nay. Bà tên Phạm Thị Nhu, cũng là một người phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Bà vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố điền chủ của Việt Minh.”</i></p>
<p>Cũng chính theo lời kể của Hữu Loan, cha mẹ bà Nhu là địa chủ nhưng rất giàu lòng nhân đạo, rất yêu nước thương người. Đã nhiều lần ông bà cho tá điền gánh gạo đến giúp đỡ bộ đội, giúp đỡ dân nghèo. Đợt cải cách ruộng đất “ long trời lở đất “, ông bà bị đấu tố, bị nhục mạ, rồi bị chôn sống chỉ để hở “ <i>có cái đầu lên thôi. Xong, họ cho trâu kéo bừa qua lại hai cái đầu cho đến chết.</i><i>” </i>Bà Nhu, lúc bấy giờ mới 17 tuổi, được tha chết nhưng bị đuổi ra khỏi nhà đi lang thang, không ai dám chứa chấp hay thuê mướn làm công, vì “ cách mạng “ cấm không cho giúp đỡ con cái địa chủ cường hào. Từ xa, biết được câu chuyện thảm thương xảy ra cho gia đình người địa chủ tốt bụng, ông đã lặn lội về xã xem cô con gái họ sinh sống ra sao. Ông gặp cô lang thang rách rưới đi lượm mót củ khoai cái bắp còn sót đâu đó trên đồng làm thức ăn qua ngày. Tấm lòng nhà thơ quá xúc động, ông quyết định đem cô về quê mình, bất chấp mọi lịnh cấm của cách mạng ông lấy cô Nhu làm vợ. Từ bấy đến nay, trải bao sóng gió vùi dập của những cơn lốc cách mạng, họ vẫn ở bên nhau cho đến giây phút nhà thơ nhắm mắt lìa đời, quây quần chung quanh là 10 người con và hơn 30 đứa cháu nội ngọai.</p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2010/03/clip_image003.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image003" border="0" hspace="12" alt="clip_image003" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2010/03/clip_image003_thumb.jpg" width="326" height="389" /></a></p>
<p>Năm 1988, sau hơn 30 năm “ ở ẩn “, từ chối những “ <i>ve vãn, mời mọc gia nhập hội nhà văn</i> “, cương quyết không <em>chịu tham gia học tập, kiểm điểm,</em><em> không làm đơn xin khôi phục lại đảng tịch</em><em>, </em>ông tái xuất giang hồ, theo chân nhóm văn nghệ sĩ tình Lâm Đồng làm cuộc hành trình dài gần một năm trời đi dọc suốt ba miền đất nước đòi hỏi tự do sáng tác, tự do báo chí, tự do xuất bản và đởi mới thực sự.</p>
<p>Năm 2007, trong một cử chỉ nhằm gián tiếp phục hồi cho nhóm Nhân văn Giai Phẩm, nhà nước Việt Nam quyết định trao giải thưởng văn học nghệ thuật cho nhà văn nhà thơ: Hòang Cấm, Lê Đạt, Trần Dần và Phùng Quán. Riêng Hữu Loan, tuy có tên trong danh sách đề cử của Hội đồng chấm giải, nhưng vào giờ chót đã bị lọai ra mà không ai được biết lý do. Có lẽ, nhờ vậy, nhân cách sáng ngời của Hữu Loan vẫn trọn vẹn cho đến giây phút cuối cùng.</p>
<p><b>3.</b></p>
<p>Nhà thơ đã nằm xuống, nhưng vẫn còn đó những vấn đề lịch sử mà nhắc đến tên ông, người ta không thể không nghĩ đến, thí dụ như cuộc Cải Cách Ruộng Đất làm chết oan hơn 500 ngàn người chưa được những kẻ trách nhiệm sòng phẳng với lịch sử, như sự lỗi thời và tội làm trì trệ đất nước của chủ nghĩa Cộng sản chưa được đảng cầm quyền thực tâm nhìn nhận . </p>
<p>Vì thế, viết về cái chết của nhà thơ, không phải chỉ nói đến một nhân cách rực rỡ vừa lịm tắt , mà còn là sự nhắc nhở nỗi hổ thẹn của một chế độ chưa bao giờ là sự lựa chọn của tòan dân. Bao lâu những chấn thương lịch sử ấy chưa được chữa lành, ngòai giá trị văn học vĩnh cửu của bài thơ Màu tím hoa sim, cái tên Hữu Loan đi kèm theo ấy còn gợi nhắc đến một thời kỳ bi thảm nhất của đất nước chúng ta.</p>
<p>T.Vấn</p>
<p>(1)Theo những câu chuyện truyền khẩu, sau khi làm bài thơ Màu tím hoa sim, Hữu Loan qúa đau khổ nên sinh bệnh. Một người lính cận vệ của ông ( có lẽ lúc đó ông đã giữ chức Chính trị viên Tiểu đòan ) đem áo bẩn đi giặt, thấy bài thơ ấy trong túi, bèn chịu khó chép lại. Thời gian sau, khi đòan quân di chuyển ngang qua huyện nhà ( người vợ chết ), anh ta trao bản sao bài thơ ấy cho bà mẹ vợ ông. Từ đó, bài thơ được truyền đi từ người nọ sang người kia, mà không một ai, kể cả Hữu Loan, biết được số phận vừa bi vừa tráng của nó sau này.</p>
<p>(2)bài thơ đã được phổ nhạc với :</p>
<p>-Những đồi hoa sim– Dzũng Chinh (Đây là bài nhạc phổ mà Hữu Loan cho rằng gần gủi hơn với tâm tình của ông , nổi tiếng nhất với giọng ca Phương Dung)</p>
<p>-Áo anh sứt chỉ đường tà- Phạm Duy ( Nổi tiếng nhất với giọng ca Thái Thanh, Elvis Phương)</p>
<p>-Chuyện hoa sim- Anh Bằng ( Nổi tiếng nhất với giọng ca Như Quỳnh)</p>
<p>-Màu tím hoa sim- Duy Khánh ( Duy Khánh hát giao duyên cùng bài thơ qua giọng ngâm Hồng Vân)</p>
<p>(3)Theo lời viên giám đốc công ty Vitek ( Viet Technology Corporation ), công ty của ông chọn bài thơ này trong số rất nhiều bài thơ viết về chiến tranh, vì đó là “ <i>tiếng lòng của một người lính chiến khóc vợ</i> “. Mặt khác, cũng theo ông, thì việc mua bản quyền bài thơ cũng là một hình thức bảo vệ sản phẩm văn hóa, công ty Vitek sẽ lưu giữ và phổ biến bản chuẩn nhất để tác phẩm khỏi bị mai một. ( Theo Thy Nga, phóng viên RFA). </p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2010/03/v%e1%bb%81-ci-ch%e1%ba%bft-c%e1%bb%a7a-m%e1%bb%99t-nh-th%c6%a1/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>M&#249;a lốc x&#243;ay</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2010/03/ma-l%e1%bb%91c-xay/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2010/03/ma-l%e1%bb%91c-xay/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 17 Mar 2010 13:33:38 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[3]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 3- 2010]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2010/03/ma-l%e1%bb%91c-xay/1924/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2010/03/ma-l%e1%bb%91c-xay/"><img align="left" hspace="5" width="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2010/03/clip_image002_thumb2.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image002" title="clip_image002" /></a>&#160;
<a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2010/03/clip_image0022.jpg"></a>
<i>Cơn lốc xóay hình phễu đang cuốn sạch mọi thứ trên đường đi</i><i></i>
<b>1.</b>
Hình như những ngày tháng mùa đông đã thấm mệt sau một chuỗi những hòanh hành và những con số kỷ lục được ghi nhận. Một mùa đông lạnh gía nhất từ mấy chục năm nay. Nhiều người gìa lặng lẽ qua đời. Cái lạnh đã kết thúc cuộc đời họ nhanh hơn dự trù. Cái nhanh hơn ấy, có ý nghĩa dịu dàng với một số người này, nhưng lại là độc ác với một số người khác . 
 
Cũng như những trận bão tuyết. Có kẻ ít khi được ngồi trong nhà ấm áp nhìn ra bên ngòai một màn tuyết trắng xóa, thấy thiên nhiên đẹp như một bài thơ (1). Có người mỗi tối đón nghe tin tức dự báo khí tượng, sáng dậy thật sớm lo cạo tuyết[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2010/03/clip_image0022.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 0px 15px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image002" border="0" alt="clip_image002" align="left" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2010/03/clip_image002_thumb2.jpg" width="119" height="79" /></a></p>
<p><i>Cơn lốc xóay hình phễu đang cuốn sạch mọi thứ trên đường đi</i><i></i></p>
<p><b>1.</b></p>
<p>Hình như những ngày tháng mùa đông đã thấm mệt sau một chuỗi những hòanh hành và những con số kỷ lục được ghi nhận. Một mùa đông lạnh gía nhất từ mấy chục năm nay. Nhiều người gìa lặng lẽ qua đời. Cái lạnh đã kết thúc cuộc đời họ nhanh hơn dự trù. Cái nhanh hơn ấy, có ý nghĩa dịu dàng với một số người này, nhưng lại là độc ác với một số người khác . </p>
<p> <span id="more-1924"></span>
<p>Cũng như những trận bão tuyết. Có kẻ ít khi được ngồi trong nhà ấm áp nhìn ra bên ngòai một màn tuyết trắng xóa, thấy thiên nhiên đẹp như một bài thơ (1). Có người mỗi tối đón nghe tin tức dự báo khí tượng, sáng dậy thật sớm lo cạo tuyết ngập đầy trước sân nhà.</p>
<p>Dù sao thì những ngày đầu tháng Ba, thời tiết đã ấm áp hơn. Nhưng lại đáng lo hơn. Cũng tháng này hàng năm, người ta bắt đầu chuẩn bị đối phó với những cơn lốc xóay (Tornado). Theo các phân tích khoa học, khi có một nguồn khí lạnh ở trên đi xuống và một luồng khí ấm ở dưới đi lên, khi ấy là điều kiện tuyệt hảo cho lốc xóay hình thành. Mùa đông vừa qua, do độ lạnh bất thường, đã làm cho không khí trở nên ẩm ướt hơn . Và khi nhiệt độ mặt đất ấm dần lên, độ ẩm do lạnh kéo dài sẽ bắt tay tương tác với luồng hơi ấm ấy, tạo chuyển động mạnh. Kết quả là những trận gió xóay bất ngờ, nhiều khi không thể tiên đóan sớm hơn cho người ta có đủ thì giờ đi tìm nơi trú ẩn. Khi ấy, thảm họa thiên nhiên gây thiệt hại khó lường. Trên thế giới, Hoa Kỳ là nước có con số lốc xóay cao nhất và số thiệt hại về lốc xóay cũng cao nhất. Phần lớn, những cơn lốc xóay xẩy ra ở khu vực miền Trung Tây. Theo thống kê thì, “ <i>Trận lốc xoáy tồi tệ nhất ở Mỹ xảy ra ngày 18 tháng 3 năm 1925. Cùng một lúc 7 lốc xoáy đã xuất hiện ở 3 </i><i>tiểu </i><i>bang Illinois, Mis</i><i>s</i><i>ou</i><i>r</i><i>i, Indian</i><i>n</i><i>a làm 740 người thiệt mạng và phá huỷ nhiều cấu trúc hạ tầng. Một thảm hoạ lốc xoáy khác cũng đáng nhớ không kém xảy ra vào ngày 3 tháng 4 năm 1974, nó là tập hợp của 148 lốc xoáy nhỏ, giết chết 315 người từ bắc Alabama đến Ohio. “</i></p>
<p>Tháng Ba năm 1991, khi tôi và gia đình vừa đặt chân đến Wichita, Kansas, ngày hôm sau đã được một trận gió xóay hung dữ chào đón. Tuy tai qua nạn khỏi, nhưng cũng đã được một phen hú vía. Chẳng lẽ, chưa kịp sống đã chết hay sao ! Tuy nhiên, ở một ngôi làng lân cận , nhiều căn nhà đã bị phá hủy và nhiều người chết. Lúc ấy, vừa rời khỏi cuộc sống kềm kẹp và nghèo khổ ở quê nhà, tôi mang tâm trạng háo hức của người chuẩn bị làm lại cuộc đời nơi mảnh đất nhiều hứa hẹn, thì những buổi nghe còi hụ phải chạy vội xuống hầm nhà tìm nơi trú ẩn đã như những gáo nước lạnh tạt vào mặt làm nguội dần những háo hức tội nghiệp ấy. Bao nhiêu năm phải lo đối phó với con người, tôi đã quên bẵng thiên nhiên, một thế lực vô hình mà đầy quyền năng.</p>
<p>Con người hung dữ với nhau , đã đành. Đôi khi thiên nhiên, cũng hung dữ với người không kém.</p>
<p><b>2.</b></p>
<p>Khác với chiến tranh, sự độc ác của thiên nhiên không có dấu hiệu dễ dàng cho người ta nhận diện. Như trường hợp những cơn lốc xóay, chúng thường đến ban đêm, khi khí lạnh hội tụ đủ để bắt tay với nhiệt độ ấm từ dưới đất bốc lên. Khi ấy, mọi người đang say nồng trong giấc ngủ sau một ngày làm việc (2). Thần chết đến thình lình. Lưỡi hái vung lên ngọt xớt. Không ai có thì giờ cảm được sự đau đớn. Kể ra đó cũng là một ân sủng của . . . trời. Như cũng độ này dăm năm trước, một cơn gió xóay thổi ngang qua đầu tôi, đúng lúc tôi vừa ngồi xuống bàn viết chuẩn bị những dòng đầu tiên cho bài viết thường kỳ. Trong cơn bất chợt, tôi chỉ nghe được một âm thanh váng cả đầu óc, rồi sau đó là sự im lặng . . . đáng sợ. Chỉ mãi ngày hôm sau, tôi mới biết cơn lốc xóay hung dữ đã đổ bộ xuống một ngôi làng lân cận, san bằng ngôi làng ấy thành bình địa, đồng thời luỡi hái tử thần lấy đi gần 10 mạng người. Theo dòng người hú hồn vì thóat chết, tôi đã ghé thăm công trình hủy họai ấy của thiên nhiên. Đó là ngôi làng tôi đã từng có dịp đến công tác cho sở, từng ngồi uống cà phê ở cái quán duy nhất trong khu downtown cũ kỹ, từng giơ tay chào hỏi người qua kẻ lại trên đường phố một buổi chiều mùa hè êm ả năm nào. Hai năm sau đó, tôi cũng đã có dịp quay trở lại thăm ngôi làng , nay đã trở thành một thành phố hiện đại , kiểu mẫu. Nhờ sự thẳng tay của thiên nhiên, con người có dịp làm lại cuộc sống của mình : đẹp hơn, tiện nghi hơn, khoa học hơn.</p>
<p>Nhưng bù lại, có những cái mất khó thể đền bù. Như con người, như những kỷ niệm mà một sớm một chiều đã bỗng biến mất. </p>
<p>Tôi đã từng đứng ngẩn ngơ trước căn nhà tuổi thơ của mình , nhìn nó bốc cháy, rồi từ từ sập hẳn xuống, cùng với căn nhà là biết bao những kỷ niệm, những trang lưu bút của bạn bè, của mình. Năm Mậu Thân 1968, chiến tranh đi vào thẳng thành phố để cho người dân ở đó biết thế nào là chiến tranh. Những người anh em bên kia, thừa hành lệnh của cấp trên điên cuồng, đã biến đường phố thành những bãi chiến trường, biến những ngôi nhà dân thành công sự chiến đấu, biến người dân thành những tấm bia đỡ đạn. Để rồi, sau khi họ rút đi, hoặc ngã gục đâu đó trong những con hẻm cụt, là những đổ nát không phương gì hàn gắn, dù sau đó, nơi những xóm nhà cháy tan hoang đã mọc lên những tòa chung cư nhiều tầng sừng sững. Nhưng đổ nát vẫn cứ là đổ nát, nhất là trong những tâm hồn non trẻ, thứ đổ nát sẽ hằn sâu những dấu ấn theo đuổi họ suốt đời.<u> </u>Chiến tranh chẳng bao giờ là một kinh nghiệm ngọt ngào, dù là kẻ thắng hay thua trong trận chiến. </p>
<p>Có lẽ, chịu đựng sự hủy họai của thiên nhiên dễ dàng hơn chịu đựng sự độc ác của con người chăng ?</p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2010/03/clip_image0041.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image004" border="0" alt="clip_image004" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2010/03/clip_image004_thumb1.jpg" width="356" height="231" /></a></p>
<p><i>Một cảnh tan hoang đổ nát vì lốc xóay ở Kansas</i><i></i></p>
<p><b>3.</b></p>
<p>Dầu vậy, sự mất mát vẫn cứ là mất mát. Và mất mát nào cũng làm người ta đau lòng. Hàng năm, vào mùa gió xóay, ngoài những cảnh giác , nhắc nhở nhau phải cẩn thận, chú ý đến những đổi thay của thời tiết, người dân thành phố vẫn không quên nhắc đến những người đã chết vì gió xóay, những cái chết thình lình, không được báo trước . Có sự khác biệt nào không giữa cái chết vì chiến tranh, cũng bất thình lình, cũng không báo trước và không ngờ với những cái chết từ trời rơi xuống ? Một bà mẹ đã nói về cái chết vì lốc xóay của con mình như là “ sự quan hòai của Thượng Đế “ . Khi nghe còi hụ vang rền khắp khu phố, cả gia đình bà đã chạy xuống tầng hầm căn nhà ( basement ) để tìm chỗ trú ẩn an tòan. Đứa con nhỏ nhất, 9 tuổi , ngồi giữa hai người anh của mình. Bên ngòai, cái cây cạnh nhà bị gió cuốn trốc gốc, ngã đè lên bệ thông khói của lò sưởi. Lớp gạch bị sức nặng của cây , làm sập mái nhà và rơi xuống tận dưới hầm trú ẩn. Đứa bé ngồi giữa hai anh bị gạch đè chết , còn hai người anh chỉ bị sây sát nhẹ. Với người mẹ, cái chết của đứa con là một sự mất mát khó bù đắp, nhưng ý tưởng về một sự lựa chọn của Thượng đế, phần nào an ủi được nỗi đau của người mẹ. Dù vậy, nhiều năm sau bà cũng vẫn không thể trở về mảnh đất cũ, nơi vốn tọa lạc căn nhà của bà lúc trước cơn thảm họa, dù chỉ là để viếng thăm. Nhìn những bức hình chụp ngay sau khi cơn lốc xóay sát nhân đi qua, tôi liên tưởng đến những bãi chiến trường. Chỉ khác, ở đây không có sự chống cự của phía thua trận. Tôi đã từng bước đi giữa những đổ nát của chiến tranh, chân rón rén sợ đạp lên những mảnh xương, mảnh thịt nạn nhân của bom đạn vô tình. Tôi cũng đã bước đi giữa những hoang tàn của thảm họa thiên nhiên, chân cũng rón rén sợ dẫm lên những mảnh kỷ niệm của từng căn nhà , của từng người còn sống hay đã chết. Đó là những mất mát không thể bù đắp. Con người và quá khứ. Cái cảm giác đau nhói khi đứng nhìn cảnh tan hoang rụi cháy của căn nhà tuổi thơ năm xưa lại trở về. Ngay từ dạo ấy, một phần đời của tôi đã chết theo với sự đổ nát của căn nhà. Mọi thứ đẹp đẽ &#8211; dù rất hiếm hoi – cũng đã bị chôn vùi trong đó. </p>
<p>Vượt thóat được những ám ảnh của chiến tranh, tôi lại thấy mình bị những bóng đen của gió xóay rình mò sau lưng. Như cái đêm tôi ngồi xuống bàn viết nghe tiếng vỗ cánh của thần chết chói chang trên đầu mấy năm trước.</p>
<p>Lời cầu kinh hằng đêm vẫn được ( tôi ) lẩm nhẩm, vì không biết lần này thì cái bóng đen kịt hình phễu đáng sợ kia có đủ độ lượng tha cho tôi như lần trước hay không ?</p>
<p>T.Vấn</p>
<p>( Mùa gió xóay 2010)</p>
<p>(1)Anh bạn chủ báo Ca Dao là một trong những con người lãng mạn đáng yêu ấy. Nhìn tờ bìa số báo 234 với tấm hình chụp cảnh thành phố Dallas ngập trong tuyết, tôi hiểu sự thích thú của anh ta khi được nhìn những lọn tuyết quyến rũ rơi xuống từ bầu trời mùa đông xám ngắt. Đã bao năm nay, Dallas mới được đẫm mình trong tuyết. Còn tôi, cứ mỗi mùa đông là cánh tay lại thêm phần “ vạm vỡ “, nhờ xúc tuyết , dọn đường, cạo kính xe mỗi buổi sáng.</p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2010/03/clip_image0061.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image006" border="0" alt="clip_image006" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2010/03/clip_image006_thumb1.jpg" width="191" height="244" /></a></p>
<p>(2)Vì thế, từ ngày định cư ở thành phố Wichita, Kansas, cái nôi của những trận lốc xóay đáng kính và đáng sợ, tôi đã trở nên ngoan đạo hơn. Hàng đêm, trước khi đi ngủ, tôi đã chịu khó ngồi đọc kinh, cầu nguyện <i>“ xin chúa hãy gìn giữ tôi ban ngày cũng như ban đêm, kẻo phải chết tươi ăn năn tội chẳng kịp . . . “ .</i> Người tỏ ra hài lòng nhất là mẹ của các con tôi. Bà cụ tin rằng, nhờ sự “ giáo dục “ của vợ mà tôi đã càng ngày càng khác xưa. Điều này có đúng không thì hẳn chỉ có . . . Chúa mới biết được mà thôi.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2010/03/ma-l%e1%bb%91c-xay/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Liệu người ta c&#243; thể chết v&#236; . . . buồn ?</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2010/03/li%e1%bb%87u-ng%c6%b0%e1%bb%9di-ta-c-th%e1%bb%83-ch%e1%ba%bft-v-bu%e1%bb%93n/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2010/03/li%e1%bb%87u-ng%c6%b0%e1%bb%9di-ta-c-th%e1%bb%83-ch%e1%ba%bft-v-bu%e1%bb%93n/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 03 Mar 2010 05:20:12 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[3]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 3 - 2009]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2010/03/li%e1%bb%87u-ng%c6%b0%e1%bb%9di-ta-c-th%e1%bb%83-ch%e1%ba%bft-v-bu%e1%bb%93n/1908/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2010/03/li%e1%bb%87u-ng%c6%b0%e1%bb%9di-ta-c-th%e1%bb%83-ch%e1%ba%bft-v-bu%e1%bb%93n/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2010/03/clip_image002_thumb-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image002" title="clip_image002" /></a>&#160;
<a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2010/03/clip_image002.jpg"></a>
Tranh : <a href="http://commons.wikimedia.org/wiki/Vincent_van_Gogh">Vincent van Gogh</a> (1853-1890)
<i>Buồn , như ly rượu đầy</i>
<i>Không có ai cùng cạn</i>
<i>Buồn , như ly rượu cạn</i>
<i>Không còn rượu để say</i>
<i></i>
<i>( Buồn – Y Vân )</i>
<b></b>
<b>1.</b>
Tháng 2, tháng ngắn nhất trong năm, sắp sửa qua đi. Nhưng mùa đông vẫn còn ở lại. Những ngày lạnh cao điểm vẫn còn chờ phía trước. Một buổi chiều , ngồi cô đơn trong quán cà phê Starbucks vắng người, nhìn ra bên ngòai những cụm tuyết trắng xóa bay lả tả, tôi chợt cảm thấy buồn . . . muốn khóc.
 
 Kể cũng lạ, đã mấy chục năm nay, bận rộn với bao vất vả lo toan của cuộc sống, tôi ít khi mang cảm giác buồn, cái cảm giác của những ngày trai trẻ, ngồi trong quán cà phê – khi vỉa hè, khi sang[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2010/03/clip_image002.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 0px 15px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image002" border="0" alt="clip_image002" align="left" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2010/03/clip_image002_thumb.jpg" width="125" height="157" /></a></p>
<p>Tranh : <a href="http://commons.wikimedia.org/wiki/Vincent_van_Gogh">Vincent van Gogh</a> (1853-1890)</p>
<p><i>Buồn , như ly rượu đầy</i></p>
<p><i>Không có ai cùng cạn</i></p>
<p><i>Buồn , như ly rượu cạn</i></p>
<p><i>Không còn rượu để say</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>( Buồn – Y Vân )</i></p>
<p><b></b></p>
<p><b>1.</b></p>
<p>Tháng 2, tháng ngắn nhất trong năm, sắp sửa qua đi. Nhưng mùa đông vẫn còn ở lại. Những ngày lạnh cao điểm vẫn còn chờ phía trước. Một buổi chiều , ngồi cô đơn trong quán cà phê Starbucks vắng người, nhìn ra bên ngòai những cụm tuyết trắng xóa bay lả tả, tôi chợt cảm thấy buồn . . . muốn khóc.</p>
<p> <span id="more-1908"></span>
<p> Kể cũng lạ, đã mấy chục năm nay, bận rộn với bao vất vả lo toan của cuộc sống, tôi ít khi mang cảm giác buồn, cái cảm giác của những ngày trai trẻ, ngồi trong quán cà phê – khi vỉa hè, khi sang trọng lịch lãm – nhìn những mảng nắng xiên qua ô cửa kính, hay những giọt mưa từ cơn mưa vội vã làm ướt cả người từ đầu đến chân, nghĩ đến hiện tại vô vọng không lối thóat, nghĩ đến tương lai chết ngộp trong cuộc chiến khốc liệt , nghĩ đến những mối tình không có ngày mai, tôi đã biết buồn. Nỗi buồn của thế kỷ. Nỗi buồn của thế hệ. <i>Buồn đến độ chỉ . . . muốn chết.</i></p>
<p>Ngày ấy, thanh niên thế hệ chúng tôi, buồn thì có buồn thật, buồn đến nẫu người, buồn da diết cả não trạng, buồn phờ phạc cả thân xác, buồn chín rục trái tim, và như đã nói, buồn đến độ chỉ muốn chết, nhưng trong trí nhớ còm cõi của mình, tôi không thể moi ra được xem trong đám bạn bè của mình, có ai chết vì buồn không. Nhiều người đã nằm xuống, vì bom đạn chiến tranh, vì tù đày thiếu ăn thiếu thuốc men, vì bệnh tật hiểm nghèo, vì lao mình vào biển cả vượt biên, nhưng hình như không có ai chết vì buồn, kể cả buồn vì thất tình.</p>
<p>Nhiều năm sau, cuộc sống giúp tôi quên bẵng đi những nỗi buồn. Để một buổi hòang hôn , bỗng chợt nhớ đến nỗi buồn thế kỷ, với cảm giác quay quắt đến độ . . . muốn chết. Đó chỉ là một lối nói cường điệu của văn chương, hay, trong thực tế đời thường, con người ta có thể chết vì buồn ?</p>
<p>Các khoa học gia hiện đại đã có câu trả lời.</p>
<p>Hai nhà nghiên cứu của Viện đại học Luân Đôn , Annie Britton và Martin Shipley, đã kết luận công trình nghiên cứu kéo dài 25 năm của mình về trạng thái buồn nản mà con người thường xuyên phải đối phó rằng, sự buồn nản, tự mình nó chưa đủ để làm cho người ta chết, nhưng nó là nguyên nhân chính dẫn đến việc uống rượu say sưa, nghiện hút thuốc lá, sử dụng các lọai ma túy, thuốc an thần hoặc bị suy nhược tâm lý. Từ đó, dẫn đến bệnh tim mạch và các căn bệnh nan y khác , con đường ngắn nhất đến tử vong.</p>
<p>Mặt khác, có một sợi dây nối liền trạng thái buồn bã của cân não đến các sinh họat ăn uống, ngủ nghỉ, giải trí và làm việc của một con người. Người mang tâm trạng buồn bã, chán chường không thiết ăn, ngủ không ngon giấc, lười biếng tập thể dục, lúc nào cũng ủ rũ, mệt mỏi, nguyên nhân cho những rối lọan tim mạch. Theo Christopher Cannon, giáo sư phụ giảng về Y khoa tại trường đại học Harvard , Hoa Kỳ, thì trạng thái buồn bã kích thích một số hóoc môn trong cơ thể tiết ra, gây Stress cho tim, khiến sự họat động của tim không được bình thường.</p>
<p>Một nhà nghiên cứu khác, Giảng viên Sandi Mann thuộc trường đại học Lancashire, kết luận rằng sự buồn chán không phải là không độc hại. Nó liên kết với những hình thái dồn nén tâm lý khác , làm tăng áp huyết và giảm sự miễn nhiễm của cơ thể.</p>
<p>Bà nói thêm :” <i>Nhưng ai mà chả có lúc buồn bã, chán nản. Thế nên, chỉ có những người buồn kinh niên, buồn muôn thuở, mới phải lo lắng đến việc có thể chết vì buồn mà thôi .”</i></p>
<p><b>2.</b></p>
<p>Như vậy là tôi đã phần nào tìm được lời giải đáp cho thắc mắc phi . . . văn chương của mình. Dù, trong thực tế, sự buồn tẻ vì những đơn điệu của cuộc sống, và nỗi buồn ( do những mất mát, những hòan cảnh đau thương người ta phải trải qua ) có khác nhau. Nhưng hai thứ ấy vẫn có chung một đặc tính là chỉ những kẻ cứ suốt đời ngồi gậm nhấm nỗi buồn của mình ( buồn vong quốc, buồn tha hương, buồn vì chí lớn không thành, buồn vì danh không tọai v…vv ) mới có thể chết . . . vì bệnh tật do sự buồn bã chán chường gây ra. Còn những kẻ buồn vẩn vơ <i>( tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn – thơ Xuân Diệu</i> ) ( như tôi ), buồn có lúc , buồn như một thứ . . . thời thượng, làm dáng ( trong văn chương ) thì vẫn cứ sống để thỉnh thỏang . . . được buồn.</p>
<p>Thế hệ của chúng tôi, tuy không may mà lại may. Ngày xưa, tuy mang tâm trạng buồn bã chán chường nhưng thời thế không cho phép chúng tôi cứ ngồi đó than khóc cho nỗi buồn thế kỷ của mình. Chúng tôi phải lăn xả vào cuộc chiến, chiến đấu hàng ngày với cái chết, sự thương tật, nên không có thì giờ nhiều cho nỗi buồn. Đến khi chiến tranh chấm dứt, hầu hết phải chịu đựng những khổ sở về vật chất ( thiếu ăn thiếu mặc, thiếu tiện nghi đời sống ) trong những trại cải tạo, nên một lần nữa, chúng tôi có rất ít thì giờ nghĩ đến những nỗi buồn ( xa gia đình, nhớ người yêu . . .) của mình. Những năm tháng khốn khổ ấy, giúp chúng tôi hiểu được rằng những dằn vặt thể xác vẫn dễ chịu hơn những dằn vặt về tinh thần. Nhờ vậy, chúng tôi sống sót.</p>
<p>Đến bây giờ, lúc chiều tàn của cuộc đời, lại may mắn có được những phương tiện kỹ thuật hiện đại sẵn sàng bên cạnh, như các phương tiện giải trí truyền hình,phim ảnh, như máy điện tóan và đường truyền Internet, nơi chúng tôi có thể xa lánh những nỗi buồn của mình bằng cách vùi đầu vào những trang điện tử ưa thích, những họat động giao lưu trong những nhóm thư mạng ( Mailgroups ).</p>
<p>Hãy thử tưởng tượng những người già sống quạnh quẽ trong căn nhà thênh thang, con cái đã trưởng thành, đã bay nhảy khắp tứ phương, người bạn đời có thể đã bỏ mình ra đi từ lâu hoặc còn sống thì cũng chỉ như cái bóng già nua bên cạnh. Nếu không có những họat động giúp mình quên đi những buồn tẻ hàng ngày, thì chắc chắn , quá khứ sẽ thống trị cùng với những điều bất như ý của nó. Người ta sẽ chết dần mòn ( theo nghĩa đen thực sự của cái chết ) vì buồn bã chán chường, vì cô đơn quạnh quẽ. Đó là một thực tại mà rất nhiều người già Việt nam sinh sống ở hải ngọai đang phải trải qua.</p>
<p>Các nhà nghiên cứu, trong khi chỉ ra những hệ quả nguy hại đến sức khỏe vì sự buồn bã, cũng đã căn cứ vào khám phá của mình, khuyên người ta nên tích cực tham gia nhiều các hình thức sinh họat xã hội mỗi khi có cảm giác buồn chán, vì sự mất mát của người thân, vì công ăn việc làm đình trệ do suy thóai kinh tế, vì nhiều những nguyên nhân khác trong đời sống.</p>
<p>Thực ra, những khám phá khoa học nói trên, dù đã được tiến hành một cách nghiêm túc trong thời gian 25 năm ( từ 1985 đến 2009 ) , cũng không nói được điều gì mới.(*) Công trình nghiên cứu ấy chỉ khẳng định tác hại chết người của buồn bã chán chường. Cuộc sống hàng ngày đã cho người ta nhiều dịp nhìn thấy tác hại ấy. Bởi vì buồn vốn là một thuộc tính của con người . Trong đời một con người, ai mà không trải qua những trạng thái buồn bã, chán chường. Không phải chỉ thóang qua, mà có khi trạng thái ấy kéo dài đến mức không thể chịu đựng nổi.Không phải chỉ một lần, mà rất nhiều lần trong cõi trần ai mà người ta chào đời bằng tiếng khóc oa oa. Có kẻ đã tự tìm cái chết để giải thóat mình khỏi những nỗi buồn dằn vặt, day dứt. Như vậy, buồn đến . . . chết người thì có gì là lạ !</p>
<p><b>3.</b></p>
<p>Nói đi thì phải nói lại. Cuộc sống lúc nào cũng kéo người ta đi theo với nó, nhiều khi phải rảo bước đi theo cuộc sống khiến người ta chóng mặt. Tuy không có thì giờ để buồn bã chán chường nhưng, nếu sống chỉ để chạy theo nó mòn hơi thì cũng . . . chán chường không kém. Thế nên, người ta cần những lúc dừng lại. Những lúc ngồi vẩn vơ, những lúc cảm thấy một nỗi buồn không đâu xâm chiếm tâm hồn, những lúc ngỏanh nhìn quá khứ mà tiếc nuối, mà mong ngày hôm qua quay trở lại . Và vì nỗi mong ước ấy là vô vọng, nên người ta trở nên chán chường mọi thứ của hiện tại, dù chung quanh mình đầy đủ những thứ xa xỉ của một thời xưa thiếu thốn, nghèo khổ. Có lẽ, đó là nỗi buồn lành mạnh. Nỗi buồn giúp người ta trở nên người hơn, nỗi buồn giúp thi vị hóa những thói quen nhàm tẻ hàng ngày.</p>
<p>Thế nên, thỉnh thỏang trong những dịp hiếm hoi không bận bịu với thời khóa biểu công việc dầy đặc của mình, tôi vẫn cố tìm thì giờ cho những nỗi buồn. Thí dụ như cái ngày cuối cùng của tháng Hai hôm nay, trời đổ tuyết trắng xóa đường phố, tôi ngồi trong quán cà phê quen thuộc, nhấm nháp ly cà phê ưa thích, nhìn ra bên ngòai lạnh lẽo để cảm hơn nữa sự ấm áp bên trong, và để mặc cho nỗi buồn cuối ngày tràn ngập trong hồn. </p>
<p>Chỉ tiếc rằng tuyến nước mắt đã khô cạn theo với chiều dài một đời người, nên tôi chẳng còn chút nào nhỏ ra làm ẩm ướt thêm buổi cuối ngày nhòe nhọet vì tuyết và vì buồn. Dù thực sự, tôi đang cảm thấy buồn . . . muốn khóc.</p>
<p>Và hẳn là, nỗi buồn “ thời thượng “ hôm nay, chẳng thể làm ngắn hơn những ngày – vốn đã ngắn &#8211; còn lại của đời tôi.</p>
<p>(*)<i>Điều làm tôi ngạc nhiên là báo chí từ Anh đến Mỹ đã đối xử với công trình nghiên cứu 25 năm của hai giáo sư Annie Britton và Martin Shipley như là một khám phá mới mẻ về tác dụng nguy hại của sự buồn chán. Khởi đi từ một bản tin ngắn của hãng thông tấn AP ( Associateed Press ) với tiêu đề : Can you really be bored to death ?, tất cả các báo lớn ở Mỹ ( như tờ USA Today ), ở Anh ( như tờ The Guardian ) đều đăng lại tin này. Trong thế giới ảo (internet ), chỉ với từ khóa là tên vị giáo sư tác gỉa công trình nghiên cứu được điền vào mục tìm kiếm của Google, tôi đã nhận được kết quả hàng mấy trăm trang mạng , từ các cơ quan nghiên cứu y khoa cho đến xã hội học, đến những trang Blog cá nhân, trang nào cũng đăng lại bản tin của AP với những lời bình, thêm mắm thêm muối của người đọc. Làm như, chỉ cho đến hôm nay, sau khi công trình nghiên cứu của Annie Britton và Martin Shipley được công bố, thế giới phương Tây mới biết được rằng người ta có thể chết vì buồn nản. Trong khi đó, Việt Nam mình ai cũng biết – dù lõm bõm – buồn nản chán chường là một trong những nguyên nhân gây chết người đáng sợ. T.Vấn</i></p>
<p><i>© T.Vấn 2010</i></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2010/03/li%e1%bb%87u-ng%c6%b0%e1%bb%9di-ta-c-th%e1%bb%83-ch%e1%ba%bft-v-bu%e1%bb%93n/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Xin chào người phụ nữ hôm nay</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2009/03/xinchao-2/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2009/03/xinchao-2/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 20 Mar 2009 18:44:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[3]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 3 - 2009]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2009/03/20/xin-cho-ng%c6%b0%e1%bb%9di-ph%e1%bb%a5-n%e1%bb%af-hm-nay/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2009/03/xinchao-2/"><img align="left" hspace="5" width="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image002-thumb13.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image002" title="clip_image002" /></a><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image00213.jpg"></a>
Hôm rồi, do một tình cờ trong quan hệ nghề nghiệp, tôi gặp lại người phụ nữ mà tôi được biết trước đây vài năm. Đó là một phụ nữ rất đáng chú ý. Đẹp, tự tin, lưu loát . Cô nói tiếng Anh như một người được sinh ra trên mảnh đất này và giọng nói , cách dùng chữ tiếng Việt của cô khiến người nghe không thể tin rằng cô sống ngòai đất nước đã 25 năm nay. Và giỏi. Cô làm chủ một căn nhà ở khu vực thượng lưu của thành phố với lối kiến trúc, cách bầy biện chứng tỏ một cá tính rất mạnh mẽ của người chủ. Cũng tình cờ, chúng tôi có cơ hội trò chuyện khá lâu, lâu hơn mức độ xã giao bình thường. Buổi nói chuyện giữa chúng tôi đã xóay quanh vai trò và sự[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image00213.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 5px 10px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image002" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image002-thumb13.jpg" border="0" alt="clip_image002" width="182" height="244" align="left" /></a></p>
<p>Hôm rồi, do một tình cờ trong quan hệ nghề nghiệp, tôi gặp lại người phụ nữ mà tôi được biết trước đây vài năm. Đó là một phụ nữ rất đáng chú ý. Đẹp, tự tin, lưu loát . Cô nói tiếng Anh như một người được sinh ra trên mảnh đất này và giọng nói , cách dùng chữ tiếng Việt của cô khiến người nghe không thể tin rằng cô sống ngòai đất nước đã 25 năm nay. Và giỏi. Cô làm chủ một căn nhà ở khu vực thượng lưu của thành phố với lối kiến trúc, cách bầy biện chứng tỏ một cá tính rất mạnh mẽ của người chủ. Cũng tình cờ, chúng tôi có cơ hội trò chuyện khá lâu, lâu hơn mức độ xã giao bình thường. Buổi nói chuyện giữa chúng tôi đã xóay quanh vai trò và sự trưởng thành của người  phụ nữ Việt nam trung niên sống trên những mảnh đất ngòai quê hương. Theo cô, đó là một bước ngoặt đáng kể. Nó đã đưa người phụ nữ ( Việt Nam ) thóat ra khỏi cái bóng người đàn ông che phủ suốt mấy ngàn năm nay. Trên mọi lãnh vực của đời sống, từ vai trò người đi làm mang đồng tiền về nhà (bread winner), đến các họat động chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học, đâu đâu cũng thấy bóng dáng người phụ nữ ( Việt Nam ) – nếu không nổi bật lên hẳn –thì cũng xác định được chỗ đứng rất bình đẳng bên cạnh người đàn ông ( vốn thường được coi là, tự coi mình là – chủ tể ).</p>
<p>Cô đọc cho tôi nghe những cái tên phụ nữ giữ những vị trí quan trọng trong chính quyền (Mỹ), những vị đang vận động ra tranh cử vào các chức vụ dân cử cấp liên bang, những vị đã thành danh trong lãnh vực sinh họat văn hóa, nghệ thuật xứ người v.v.. .Điều cô muốn nhấn mạnh, đây là những người đứng hai chân trên hai nền văn hóa hòan tòan khác nhau : văn hóa Việt Nam và những nền văn hóa không phải Việt Nam. Đó là thế hệ những người phụ nữ Việt Nam vượt hẳn các thế hệ đàn chị của mình ( ra khỏi nước khi  đã bận bịu với gia đình, tuổi tác không còn trẻ để học hành ) về phương diện năng lực xã hội, cửa ngõ thuận lợi nhất để họ chen vai thích cánh cùng nam giới, chứng tỏ khả năng tự điều chỉnh của mình và đồng thời , hòan thành cuộc cách mạng nữ giới đã được khởi xướng từ nửa cuối thế kỷ trước. Nói cách khác, người phụ nữ Việt Nam ( ở ngòai nước ) đã hòan tòan vượt thóat khỏi bốn bức tường gia đình và tự khẳng định được cho mình chỗ đứng ngòai căn nhà truyền thống ấy.  Nhìn người phụ nữ trẻ ( vừa phải) ấy say mê nói về những điều còn gây khá nhiều tranh cãi ( trong giới đàn ông chúng tôi ), tôi ngạc nhiên không hiểu cô tìm đâu ra được sức mạnh để nâng đỡ cô trong cuộc đấu tranh gai góc hàng ngày, như người ta thường nói thân gái dặm trường.  Khi được hỏi về cuộc sống riêng, cô tự tin trả lời rằng còn gì hạnh phúc hơn sau một ngày bươn chải bận rộn, buổi chiều được hòan tòan tự do với một quyển sách hay, một dĩa nhạc ưa thích và ly rượu đỏ dịu dàng sóng sánh trên tay, cùng với sự cô đơn cần thiết trong khỏanh khắc tuyệt diệu nhất của một ngày sống. Nhìn tôi với ánh mắt như có sự thách thức, cô bảo đó là chính là  nơi chốn và là lúc cô tìm thấy cái sức mạnh mà tôi nói đến. Tôi giật mình thấy trong những điều cô nói, không có chỗ cho người đàn ông. Về điều này, cô cũng xác định rằng , người phụ nữ hiện đại có quyền không chọn mua bất cứ thứ gì để rồi sau đó hối hận vì mình đã mua lầm ( cô muốn ám chỉ hôn nhân – quả là một ý tưởng đáo để ).Và hạnh phúc – với cô – phải là hạnh phúc tuyệt đối trong khuôn khổ một sự tự do tuyệt đối. Ngòai ra, cô cũng đang dự định viết  sách nữa. Vì cô cho rằng mình có ý tưởng, cái ý tưởng nhạy bén, tinh tế của  người phụ nữ. Và cô cười, nụ cười tự tin , coi mọi chuyện đều vừa ở trong tầm tay, rồi nói, <em>chỉ cần tập luyện cách diễn đạt.</em><em> </em></p>
<p><em>Buổi nói chuyện với người phụ nữ trẻ này đã giúp tôi nhìn rõ hơn vai trò tiên phong của một phụ nữ khác, có lẽ cũng cùng độ tuổi với cô, đã là một hiện tượng nổi bật lên trong cộng đồng người Việt hải ngọai từ nhiều năm nay. </em></p>
<p>Nhân câu chuyện về một người phụ nữ còn gợi trong đầu tôi nhiều suy ngẫm, tôi lại nhớ đến một người phụ nữ Việt Nam lừng danh khác. Bà thuộc về thế hệ đàn chị của người phụ nữ trong câu chuyện của tôi nói đến ở trên. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 , khi theo gót đòan quân chiến thắng từ miền Bắc vào tiếp thu Sài Gòn, ngay lúc đó bà đã biết rằng trong suốt mấy chục năm cả một nửa đất nước đã bị lừa gạt. Kể từ khi ấy, mầm “ <em>làm giặc</em> “ đã được ươm trong đầu “ <em>người đàn bà răng đen mắt tóet”</em>. Với thời gian, cái mầm ấy đã khai sinh ra “ <em>một chiến sĩ đấu tranh</em> <em>cho dân chủ</em> “.Không cần đến cương lĩnh giải phóng phụ nữ, không cần đến nhu cầu “ <em>phá bỏ cái bóng người đàn ông phủ lên người đàn bà đã mấy nghìn năm</em> “, không cần đến cái tự do tuyệt đối nhằm chứng minh sự độc lập tuyệt đối của người phụ nữ hiện đại, bà đã khẳng định vị trí nổi bật của mình – một người đàn bà Việt Nam răng-đen-mắt-tóet- trong lãnh vực từ trước tới nay chỉ &#8211; một cách mặc nhiên – dành cho người đàn ông vì tính cách khốc liệt, không khoan nhượng, không thương xót của nó. Đó là lĩnh vực “ <em>làm giặc</em> “. Cũng chính đức tính thường thấy ở người phụ nữ Việt Nam ( lòng kiên nhẫn, khả năng chịu đựng ) – theo lời bà- đã giúp bà sống còn cho đến nay. Trước đây , bà đã từng nhiều năm trải qua một cuộc chiến tranh có súng đạn, có mìn bom hầm hố, và tất nhiên có người chết, có nhà cửa xóm làng tan hoang. Sống sót trở về chưa hẳn đã là sự may mắn theo cái nghĩa anh thợ cày lau kiếm, ngày ngày vui thú bên nương dâu, cái cày, con trâu và người vợ trẻ, tự do hưởng khí trời. Là người sống sót, con “ mắt tóet” của bà nhìn thấy ngay rằng, trên đất nước từ nay đã thu về một mối của mình, người ta không được quyền làm người, chữ Người viết hoa.</p>
<p>Và người phụ nữ ấy đã chọn cho mình con đường làm giặc, để giúp cho dân của bà ( trong đó có gần một nửa là đàn ông ) “ <em>mở mắt ra và biết sống cuộc sống con người</em>. “, dù biết rằng, khi chọn con đường “ <em>làm giặc</em>”, có nghĩa là chọn một con đường chết , con đường không có lối ra.</p>
<p>Đồng ý hay không đồng ý với quan điểm của bà về nhiều vấn đề &#8211; và đôi khi những quan điểm ấy bộc lộ một cách quá “ kiêu hãnh”  &#8211; nhưng sự can đảm ở người phụ nữ ấy là điểm ít người phủ nhận. Bà đã khiến nhiều người đàn ông tai to mặt lớn trong nước kiềng mặt, vì “ con giun xéo lắm cũng quằn “, nhất là con giun ấy lại là một người phụ nữ có giọng nói rất khỏe, một trái gan rất to, một khả năng lập luận rất . . . không đàn bà, một vốn sống rất thật và một khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ rất sắc bén.</p>
<p>Bây giờ thì  &#8211; người phụ nữ có  “ <em>rất nhiều cái rất</em> “ ấy , sau khi được cho ra khỏi nước tham dự Liên Hoan Văn Học Quốc Tế theo lời mời của chi hội Văn Bút Hoa Kỳ tại thành phố New York hôm tháng 4 vừa rồi, bà quyết định ở lại Pháp  &#8211; theo lời bà- để có điều kiện hòan tất những dự tính văn học của bà.</p>
<p>Ở trong nước, hẳn có nhiều người đàn ông thở phào nhẹ nhõm khi nghe tin này.</p>
<p>Mới đây, người đàn bà “ làm giặc “ đã cho ra đời một tác phẩm đồ sộ, công trình của nhiều năm thai nghén trong nỗ lực “ giúp cho dân của bà mở mắt ra và biết sống cuộc sống con người” . Từ mảnh đất truyền thống văn học thế giới là Pháp quốc, bà đã gởi tiếng nói của mình đến khắp thế giới. Đó là tác phẩm “ Đỉnh cao chói lọi “ , một tác phẩm tiểu thuyết trộn lẫn giữa hư cấu và những sự kiện, nhân vật lịch sử.</p>
<p>Như tôi đã viết ở trên, rất khó để có sự đồng thuận hòan tòan với những điều bà phát biểu trong tác phẩm của mình, nhưng tự thân những tiếng nói dõng dạc ấy, đã là một thách thức rất lớn cho những kẻ cầm quyền mà tiếng nói ấy muốn truyền đạt tới . Mặt khác, không thể bỏ qua được cái “ ma lực “ của chữ nghĩa mà bà đã sử dụng một cách thành thạo trong những tác phẩm của mình. Rồi đây, các thế hệ Việt nam mai sau, không ít thì nhiều, sẽ nhìn lịch sử ( hôm nay ) qua lăng kính của người đàn bà rất sắc sảo này. Một sự thực khác cũng khó có thể phủ nhận là thế giới đã “ mở mắt “ khi nhìn về chế độ tòan trị ở Việt Nam , phần lớn là nhờ những nhà văn phản kháng như bà – những người đã từng sống trong lòng chế độ- .</p>
<p>Thời thế đã thay đổi. Ngày nay, người phụ nữ có mặt ở những nơi trước đây là chỗ người đàn ông thường chiếm đa số. Họ đã chứng tỏ bản lĩnh của người đồng hành ( chứ không phải của người thuộc “ phái yếu” )với người đàn ông trong mọi lãnh vực của đời sống. Từ chỗ chỉ biết sống vì chồng, vì con, nay họ đã bước ra ngòai cánh cửa gia đình để còn biết sống cho mình, cho đời, cho đất nước.</p>
<p>Ý niệm về một người đàn ông thành công có bóng dáng người vợ đảm đang của mình luôn đứng đằng sau khó có thể áp dụng cho người phụ nữ thành công, vì có lẽ, ít có người đàn ông nào chịu là cái bóng cho vợ của mình. Có lẽ là do tâm thức  “ gia trưởng “ chưa thể một sớm một chiều xóa bỏ được sau mấy ngàn năm ngự trị của một nền văn hóa xem người đàn bà chỉ là “ thứ yếu “ .</p>
<p>Hàng năm, còn có ngày 8 tháng 3 là ngày Quốc tế Phụ Nữ, được chính thức công nhận bởi cơ quan Liên Hiệp Quốc từ năm 1975. Hai năm sau, các quốc gia thành viên trên thế giới đã được kêu gọi nên dành một ngày để trân trọng những nỗ lực phi thường của người phụ nữ nhằm giải phóng chính mình, góp phần phát triển thế giới  ngày một tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người.</p>
<p>Thực ra, với người phụ nữ Việt nam, không đợi tới những phong trào giải phóng phụ nữ trên tòan thế giới thúc đẩy, họ đã trưởng thành theo với từng giai đọan lịch sử của đất nước , cả ở hai nghĩa xã hội và chính trị. Và không thể không nhắc đến những người phụ nữ vợ con tù cải tạo sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 ở miền Nam. Họ đã cùng một lúc đảm nhận vai trò người chồng, người cha, và người mẹ của gia đình trong một hòan cảnh hết sức khắc nghiệt. Tôi muợn một đọan viết rất hình tượng của nhà văn Phùng Nguyễn để diễn tả những người phụ nữ ấy như sau :</p>
<p><em>“ . . . </em><em>bà là người vợ trẻ có chồng đi xa. Bà là người mẹ có con đi xa. Bà là người em có anh đi xa. Rất xa và không hẹn ngày về. Người đàn bà, cô đơn và sợ sệt trong những ngày đầu của dâu bể, nay phải đương cự với những thảm họa vô cùng lớn lao, một mình. Nước mất nhà tan,  người chồng, người cha đang gánh vác gông xiềng ở một xó rừng nào đó, không hẹn ngày về. Và những đứa con thơ phải nuôi nấng, phải bảo bọc. Ngoài kia, cùng với những khẩu hiệu ồn ào sắt máu vọng ra không ngưng nghỉ  từ loa phóng thanh, là cả một hệ thống bạo lực võ trang tận răng sẵn sàng nghiến nát tất cả những gì có thể được xem là chướng ngại của chế độ. Và đêm đến, là tiếng chân dọa nạt, tiếng gõ cửa rụng tim, tiếng quát tháo rợn người, và tiếng than van uất nghẹn. Nhưng người vợ trẻ, nạn nhân của một thời điêu linh cùng cực, giữa gọng kềm của một thế lực hung bạo, sau cùng đã không cho phép mình gục ngã. Bởi vì có quá nhiều điều cần phải được chống đỡ bởi chính bờ vai mỏng manh trên tấm thân gầy yếu vì đói khát của nàng. Và bằng vào tình yêu và sự can trường không thể giải thích được, nàng gượng dậy và bắt đầu cuộc chiến đấu mới. Và chiến thắng. Nỗi đau nước mất nhà tan, nỗi đau sinh ly tử biệt, nàng nuốt ngược vào. Nỗi kinh hoàng dành cho thế lực hung tàn, nàng đạp xuống. Núi đồi hiểm trở, nàng bước lên, vượt hàng ngàn cây số để tìm đến chồng đến cha đến anh và mang đến họ thẻ đường, bịch muối, những gừng cay, những khô mặn, và trên hết,  hy vọng. Vào những buổi tối, phía sau bức vách rách nát hoặc trống trải ở một nơi nào đó giữa lòng đô thị cũ đông đúc hay vùng kinh tế mới hoang vắng, từng mảnh và từng mảnh, nàng tháo gỡ những nọc độc văn hóa đang tìm cách xâm nhập trí não đứa con thơ bởi nền giáo dục hồng hơn chuyên. Và như thế, ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng tháng khác, năm này qua năm khác, nàng gìn giữ cho mình, cho người chồng đi xa, xuyên qua đứa con, ước mơ về một tương lai tươi sáng.  Người đàn bà, đối diện với những thử thách vô cùng to lớn, những đe dọa vô cùng khủng khiếp, đã không cho phép mình gục ngã. Nàng nhìn thẳng vào nỗi sợ, và khuất phục nó</em><em>. . .  Trích từ “ Nạn Nhân “ – Phùng Nguyễn . Tạp chí điện tử Damau.Org )”. </em></p>
<p>Năm 2008, trong ngày Hội Ngộ cựu Tù Nhân Chính trị ở thành phố Dallas do một người phụ nữ đáng nể trọng tổ chức, tôi có dịp nhìn thấy khuôn mặt những người đàn bà mà nhà văn Phùng Nguyễn đã mô tả. Thời gian đã để lại những dấu ấn không thể tránh khỏi, nhưng nét cứng cỏi năm xưa vẫn còn đậm nét. Giờ đây, hồi tưởng lại, tôi bất giác muốn so sánh vẻ cứng cỏi “ lịch sử “ của những người phụ nữ vợ con tù cải tạo năm xưa và vẻ tự tin thật mạnh mẽ nơi người phụ nữ trẻ mà tôi được trò chuyện.</p>
<p>Hình như cô đã thừa hưởng được “ kinh nghiệm  đắt gía “ ấy nơi người mẹ, người chị của mình.</p>
<p>T.Vấn</p>
<p>( Tháng 3-2009)</p>
<p>© T.Vấn 2009</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2009/03/xinchao-2/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>“ Tôi đã đánh mất mình “</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2009/03/toida/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2009/03/toida/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 07 Mar 2009 23:43:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[3]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 3 - 2009]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2009/03/ti-d-dnh-m%e1%ba%a5t-mnh/558/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2009/03/toida/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb11-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image001" title="clip_image001" /></a>&#160;
<a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00113.jpg"></a>
<i>Biết rằng cố quên là sẽ nhớ </i><i></i>
<i>N</i><i>ên dặn lòng cố nhớ &#8230; để đừng quên</i><i></i>
<i></i>
<i>( Vô danh Thị )</i>
<i></i>
Cách đây hơn 100 năm, ở thành phố Frankfurt, Đức quốc, có một người phụ nữ , chỉ được biết đến với cái tên là Mrs. Auguste D. Ở tuổi 51, bà bỗng nhiên quên hết mọi việc đã xẩy ra của 51 năm làm người, thậm chí bà không nhớ đến cả cái tên của mình. Tại Viện an dưỡng tâm thần của thành phố Frankfurt, bà được một nhà Tâm lý học trị liệu trẻ tuổi, tên là Alois Alzheimer, chăm sóc . Trong lúc cố gắng tìm cách hồi phục trí nhớ của bà, Alzheimer đã liên tục hỏi tên bà là gì. Người đàn bà tội nghiệp 51 tuổi cố hết sức để nhớ lại tên của mình, nhưng[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00113.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 0px 20px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image001" border="0" alt="clip_image001" align="left" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb11.jpg" width="177" height="244" /></a></p>
<p><i>Biết rằng cố quên là sẽ nhớ </i><i></i></p>
<p><i>N</i><i>ên dặn lòng cố nhớ &#8230; để đừng quên</i><i></i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>( Vô danh Thị )</i></p>
<p><i></i></p>
<p>Cách đây hơn 100 năm, ở thành phố Frankfurt, Đức quốc, có một người phụ nữ , chỉ được biết đến với cái tên là Mrs. Auguste D. Ở tuổi 51, bà bỗng nhiên quên hết mọi việc đã xẩy ra của 51 năm làm người, thậm chí bà không nhớ đến cả cái tên của mình. Tại Viện an dưỡng tâm thần của thành phố Frankfurt, bà được một nhà Tâm lý học trị liệu trẻ tuổi, tên là Alois Alzheimer, chăm sóc . Trong lúc cố gắng tìm cách hồi phục trí nhớ của bà, Alzheimer đã liên tục hỏi tên bà là gì. Người đàn bà tội nghiệp 51 tuổi cố hết sức để nhớ lại tên của mình, nhưng bà chỉ có thể thốt lên chữ “ Mrs.”, rồi ngừng tại đó. Lần cuối cùng, bà đã buồn bã nói “ Tôi đã đánh mất mình rồi ! “ ( I have lost myself !).</p>
<p>5 năm sau đó, “ Mrs. Auguste D.” qua đời. Nhà Tâm Lý Học Trị Liệu Alzheimer , quá bị ám ảnh bởi trường hợp mất trí nhớ khác thường của bệnh nhân mà ông chăm sóc , đã xin được nghiên cứu bộ não của bà sau khi bà mất. Khám phá của ông được trình bày vào năm 1907 về chứng bệnh mất trí nhớ do tuổi gìa gây ra được đặt theo tên ông : Alzheimer.</p>
<p>Từ đó, thế giới biết đến chứng bệnh Alzheimer. Cũng từ đó, câu nói của bệnh nhân được phát hiện đầu tiên về căn bệnh mất trí nhớ được ghi nhận như một ”tuyên ngôn triết học” : <i>tôi đã đánh mất mình rồi !</i></p>
<p>Mất trí nhớ quả là một điều đáng sợ hãi. Điều gì xẩy ra nếu một buổi sáng thức dậy, bỗng nhiên mình không còn nhớ được một chút gì của ngày hôm qua, không còn nhớ gì về nguyên nhân sự có mặt của mình trên cõi đời này, không còn nhận biết được những người thân yêu, không còn nhớ đến cả tên tuổi của mình, như người phụ nữ Đức ở thành phố Frankfurt hơn 100 năm trước.</p>
<p>Nhẹ hơn một chút là những khỏanh khắc “ senior moments “ ( để đâu quên đó ) làm cho nhiều lúc phải bực mình vì những trở ngại trong sinh họat hàng ngày. Thí dụ như đến giờ đi làm rồi mà không nhớ được đã bỏ quên chìa khóa xe ở đâu , cái bóp trong đó có bằng lái xe để ở đâu v..v..</p>
<p>Có khi lại là sự bất lực trong việc cố moi trí nhớ để nhận biết một cái tên vừa nghe nói đến, một khuôn mặt vừa gặp ngòai đường, một sự kiện xẩy vào cái lúc, cái nơi mà mình phải biết, phải nhớ, không nhiều thì ít. Vậy mà trong đầu chỉ là một cái hố sâu đen ngòm, không có gì hết ngòai những dấu hỏi to tướng. </p>
<p>Thế nhưng vẫn có những trường hợp ngược lại. Thí dụ như câu chuyện về một người có trí nhớ “ siêu đẳng “ trích dẫn sau đây :</p>
<p><i>Năm 20 tuổi, cô gái Elina Markand (người Đức) bị tai nạn. Khi tỉnh dậy, Elina bỗng nói tiếng Italy rất thông thạo, mặc dù trước đó cô chưa từng học một ngoại ngữ nào. Cô còn tự nhận mình là Rozetta Caste Liani, công dân Italy, và yêu cầu được trở về thăm quê hương.      <br />Về tới &quot;nhà&quot;, Elina mới biết rằng người có tên Rozetta Caste đã mất từ năm 1917. Đón cô là một bà già lụ khụ, xưng là con gái của Rozetta Caste. Elina chỉ tay vào bà già, nói: “Đây là Fransa, con gái tôi!”. Lúc ấy, tất cả mọi người đều giật mình, vì người đàn bà này quả thực tên là Fransa, đúng như Elina gọi. ( Trích : <a href="http://WWW.24x7">WWW.24&#215;7</a> )       <br /></i>Lịch sử Danh nhân Việt nam cũng đã ghi nhận trường hợp Lê Quý Đôn, nhà văn hóa lỗi lạc, một bộ óc thông minh phi thường và một trí nhớ siêu phàm. Tương truyền rằng, năm 14 tuổi, ông đã làu thông Ngũ Kinh, hoặc một quyển sách vừa đọc qua một lần ông đã có thể kể lại vanh vách không sai một chi tiết. </p>
<p>Nhớ nhiều, luôn luôn là một điều tốt. Khi ấy, bộ óc là một quyển sách lưu trữ những gì được ghi chép qua mọi sự kiện xẩy ra trong cuộc sống hàng ngày. Ngày nay, người ta còn tìm tòi các phương pháp để giúp mau nhớ, hoặc giữ cho trí nhớ tồn tại được lâu.</p>
<p>Nhưng, nhớ nhiều, nhớ dai, đôi khi lại là một kinh nghiệm không lấy gì làm thú vị, thậm chí, là một tai họa. Đời người ai cũng có những kỷ niệm vui và những kỷ niệm buồn. Kỷ niệm vui, muốn nhớ đã đành. Nhưng không ai muốn nhớ những kỷ niệm buồn ( như lời một bài hát : <i>Người ơi, khi cố quên là khi lòng nhớ thêm . . .). </i></p>
<p>Câu chuyện một người phụ nữ tên Jill Price, 42 tuổi, sống ở Los Angeles, Hoa Kỳ , là một thí dụ sống về “ tai họa của trí nhớ “ :</p>
<p><i>. . . </i><i>Sau khi người ta đưa ra một ngày bất kỳ trong quá khứ, Jill Price sẽ nói ngay những sự kiện mà bà đã trải qua, nhìn thấy hay nghe được trong ngày đó. Bà nhớ rất nhiều kỷ niệm của tuổi thơ, phần lớn những ngày từ lúc 9 đến 15 tuổi, và sau đó ký ức của bà không hề có một chỗ trống. &quot;Từ ngày 5/2/1980 tôi nhớ được tất cả. Đó là một ngày thứ ba.&quot;</i></p>
<p><i>Jill nhớ cả những sự kiện được giới truyền thông tường thuật lại nếu bà từng nghe được chúng trong quá khứ. Bà có thể trả lời mà không cần suy nghĩ, từ ngày tháng, con số đến cả một câu chuyện về các sự kiện như chiếc máy bay Concorde của Pháp rơi lúc nào và ở đâu, O.J. Simpson bị bắt vào ngày nào hay chiến tranh vùng Vịnh bùng nổ lúc nào.</i></p>
<p><i>&quot;Người ta nói với tôi rằng, cô thật là tuyệt vời, có một trí nhớ hoàn hảo thật là tuyệt. Nhưng nó cũng đáng sợ lắm, vì mỗi từ xấu, lỗi lầm, thất vọng, tất cả sợ hãi và đau đớn vẫn hiện diện ở hiện tại một cách tàn nhẫn&quot;, bà cười.</i></p>
<p><i>Với Jill, thời gian không làm lành được những vết thương. &quot;Tôi không nhìn lại quá khứ qua một khoảng cách. Nó có thể gợi lên cùng những xúc cảm giống nhau vào mọi thời điểm, giống như một bộ phim lẫn lộn lung tung không bao giờ chấm dứt, có thể xâm chiếm tôi hoàn toàn. Và nó không có một nút tắt.&quot;</i></p>
<p><i>Những mảnh vỡ ký ức cứ trào dâng không ngừng, tự động và không thể kiểm soát được, giống như một vòng vô hạn trong đầu. Thỉnh thoảng nó được một cái gì đó khởi động, như mùi vị, bài hát, từ ngữ. Nhưng ký ức cũng thường tự ập đến. Vô số hình ảnh từ quá khứ &#8211; từ tươi đẹp tới đáng sợ, từ quan trọng tới tầm thường &#8211; đuổi bắt nhau một cách lộn xộn trong &quot;màn hình nội tâm&quot; của bà và thỉnh thoảng còn xua đuổi hoàn toàn hiện tại. </i></p>
<p><i>&quot;Tất cả những cái đó gây mệt mỏi đến mức không thể tưởng tượng được&quot;, bà tâm sự. Trong cuộc đời Jill cũng có nhiều tai họa như xung đột gia đình, căn bệnh ung thư của người mẹ hay cái chết đột ngột của người chồng. Những ký ức buồn thảm cứ theo đuổi bà liên tục. ( trích : VnEpress ).</i></p>
<p>Chính Jill cũng phải thú nhận rằng sở hữu một trí nhớ tuyệt vời vừa là một ân sủng đến từ Thượng đế, vừa là một sự nguyền rủa khó lòng chịu đựng. Để đối phó với những ẩn ức hàng ngày, bà viện dẫn đến những hồi ức tươi đẹp trong quá khứ từ những ngày ấu thơ, những ngày sống êm đềm bên người chồng yêu dấu. Mặt khác, mỗi một lầm lẫn , dù nhỏ nhặt trong hiện tại đều nhắc nhở bà đến những sai lầm khó tha thứ trong quá khứ. Mỗi lần như vậy, bà cảm thấy kiệt sức tưởng như không thể đứng dậy nổi. </p>
<p>Người ta không thể thay đổi quá khứ. Nó đã xẩy ra và sự xẩy ra đã hòan tất. Nhớ đến quá khứ như sự nhắc nhở về một lỗi lầm cần được tránh trong tương lai là một điều cần nhớ, nên nhớ. Nhưng nhớ đến quá khứ với một khả năng ghi chép chính xác như một đọan băng được thu lại thì ở nhiều trường hợp, như bà Jill, là tai họa của trí nhớ, thứ tai họa khiến người ta có thể phát điên hoặc đưa đến những chứng bệnh tâm thần khác. Điều này giải thích tỉ lệ khá cao mắc bệnh trầm cảm của những cựu binh Mỹ trở về từ chiến trường Việt nam ( trước đây ) hay chiến trường Iraq ( hiện nay ). Đã có một thời báo chí Mỹ thường xuyên nhắc đến “ Hội chứng Việt Nam “ khi đưa tin về những trường hợp tâm lý bất ổn của cựu binh Mỹ sau chiến tranh Việt nam.</p>
<p><i>Trông người lại nghĩ đến ta</i>. Ký ức hơn 30 năm chiến tranh, ký ức những ngày tháng sống dưới sự kìm kẹp của chính quyền Cộng sản Việt nam, ký ức về những ngày lênh đênh trên biển cả vừa đói, vừa khát, vừa sợ lọt vào tay hải tặc, chỉ biết trông mong vào phép lạ đến từ trời vẫn không chịu phai nhòa trong tâm thức người Việt hải ngọai . Thứ trí nhớ ấy đã hành hạ chúng ta mỗi khi đối diện với một con số ngày tháng quen thuộc ( 30 tháng 4 ), với một hình ảnh tượng trưng cho chế độ ( lá cờ ) hoặc đôi khi chỉ vì những nhắc nhở bâng quơ. Từ đó, chúng ta bị lệ thuộc vào những cảm tính được biểu lộ bằng những hình thức khó tạo được sự thông cảm nơi những người chưa từng kinh qua những hòan cảnh mà chúng ta đã kinh qua.</p>
<p>Đắng cay về những đau khổ cũ có lẽ chỉ là một cách nói văn vẻ , trừu tượng về một tâm thức luôn bị dằn vặt bởi những gì đã xẩy ra trong quá khứ , tâm thức không thể quên được quá khứ, không muốn quên đi quá khứ . Nói cách khác, đó là thứ tâm thức bị khống chế bởi chính hồi ức mà một thời nó đã góp phần tạo ra.</p>
<p>Từ câu chuyện người phụ nữ thành Frankfurt nước Đức với câu nói buồn bã “ <i>Tôi đã đánh mất mình</i> “ đến câu chuyện những “ <i>tù nhân của quá khứ</i> “ như người đàn bà trung niên của thành Los Angeles nước Mỹ cách nhau cả trăm năm đã chỉ nổi bật lên được cái tên Alzheimer, nay đã trở thành quen thuộc với cả thế giới vì người ta sợ “ <i>đánh mất mình</i> “ chứ không ( hay chưa ) sợ làm “ <i>tù nhân của quá khứ</i> “ .</p>
<p>Tôi, một người Việt Nam chẳng may thuộc về cái thế hệ sống trong thời đại nhiễu nhương nhất của lịch sử, hiện đang bước vào ngưỡng cửa của nguy cơ “ <i>đánh mất mình</i> “ ( với những triệu chứng rất thuyết phục của bệnh mất trí nhớ Alzheimer ) lại không nhìn thấy cái tên Alzheimer là đáng sợ mà lại ngao ngán nhìn bóng tối của quá khứ cứ ngày một dầy đặc thêm .</p>
<p>Tôi trộm nghĩ, thà rằng tôi “ <i>đánh mất mình</i> “ vì mất trí nhớ còn hơn là “ <i>tự giam mình</i> “ trong nhà tù kiên cố của qúa khứ. Đằng nào cũng “ <i>mất mình</i> “ thì mất mà không biết mình mất vẫn dễ chịu hơn “ <i>còn mình</i> “ mà kể như đã mất trong “ <i>ngục tù của đau thương</i> “.</p>
<p>© T.Vấn 2009</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2009/03/toida/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Khỏang cách oan khiên</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2008/03/khoangcach/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2008/03/khoangcach/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 26 Mar 2008 18:33:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[3]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 3 - 2008]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2008/03/26/kh%e1%bb%8fang-cch-oan-khin/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2008/03/khoangcach/"><img align="left" hspace="5" width="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image001-thumb17.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image001" title="clip_image001" /></a><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image00117.jpg"></a>
Tưởng niệm – tranh Trần Thanh Châu ( Seattle)

Chút rượu hồng đây xin rưới xuống
Giải oan cho cuộc biển dâu này
( Ta Về &#8211; Tô Thùy Yên)
1.
Nước Mỹ cần tới 42 năm để hàn gắn những vết thương gây ra bởi cuộc nội chiến Nam Bắc. Cuộc chiến hai miền của Việt Nam mới chấm dứt được có 32 năm. Cho nên, cũng không lạ gì nếu vẫn còn hiện hữu những hố sâu chia rẽ hai bên sau cuộc chiến. Và hiện tượng trên còn xảy ra ở một thế hệ sinh ra khi cuộc chiến đã tàn lụi từ lâu. Mới đây, trên một trang nhật ký mạng ( Blog ), một thanh niên Sài Gòn nhận định rằng người miền Bắc ( Hà Nội ) thô lỗ, có giọng nói kỳ cục, lái xe ẩu tả và không có khiếu[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image00117.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 5px 10px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image001" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image001-thumb17.jpg" border="0" alt="clip_image001" width="244" height="186" align="left" /></a></p>
<p><strong>Tưởng niệm – tranh Trần Thanh Châu ( Seattle)</strong></p>
<p><em></em></p>
<p><em>Chút rượu hồng đây xin rưới xuống</em></p>
<p><em>Giải oan cho cuộc biển dâu này</em></p>
<p><em>( Ta Về &#8211; Tô Thùy Yên)</em></p>
<p><strong>1.</strong></p>
<p>Nước Mỹ cần tới 42 năm để hàn gắn những vết thương gây ra bởi cuộc nội chiến Nam Bắc. Cuộc chiến hai miền của Việt Nam mới chấm dứt được có 32 năm. Cho nên, cũng không lạ gì nếu vẫn còn hiện hữu những hố sâu chia rẽ hai bên sau cuộc chiến. Và hiện tượng trên còn xảy ra ở một thế hệ sinh ra khi cuộc chiến đã tàn lụi từ lâu. Mới đây, trên một trang nhật ký mạng ( Blog ), một thanh niên Sài Gòn nhận định rằng người miền Bắc ( Hà Nội ) thô lỗ, có giọng nói kỳ cục, lái xe ẩu tả và không có khiếu thẩm mỹ. Lập tức, anh ta nhận được những câu trả lời giận dữ, kể cả những đe dọa về tính mạng, dưới dạng text gởi đến số điện thọai di động của mình.</p>
<p><span id="more-209"></span></p>
<p>Và rồi , các cư dân trẻ trong thế giới ảo có địa chỉ thật ở hai miền Việt Nam nhập cuộc . Bên Nam bênh  miền Nam, bên Bắc bênh miền Bắc, chỉ trích lẫn nhau. Câu chuyện nhỏ nói trên phản ánh một thực tại do hậu quả từ một trong những nguyên nhân là sự chênh lệch trong phát triển của hai miền từ những ngày trước khi chiến tranh chấm dứt. Người Sài Gòn thường tự hào về di sản tự do họ được thừa hưởng từ chế độ đã sụp đổ, về những cơ hội tiếp xúc với văn minh thế giới trước miền Bắc rất lâu . Mặt khác, vị trí của thành phố Sài Gòn – vốn là thủ đô dưới thời VNCH – khiến người Sài Gòn năng động hơn, phóng khóang hơn khi đối diện với nhiều vấn đề thiết thực của đời sống, nhất là về kinh doanh thương mại. Thế giới phương Tây biết đến Sài Gòn nhiều hơn Hà Nội, dù Hà Nội hiện nay là thủ đô của Việt nam Cộng sản, vì, theo lời một số người ( ngọai quốc ) thường đi lại vùng Đông nam Á, Sài Gòn có cái nét của một thiếu nữ dễ thương, hiểu biết khi so sánh với người đàn bà luống tuổi Hà Nội bẵn tính, thiếu thân thiện. Ngược lại, người Hà Nội tự hào mình xuất thân từ mảnh đất ngàn năm văn vật, nơi xuất phát của một nền văn hóa có chiều dầy lịch sử. Họ cho rằng người Hà Nội có chiều sâu hơn người Sài Gòn vốn ruột để ngòai da, ham vui. Tất nhiên, khác biệt ý thức hệ trong 30 năm của cuộc chiến tranh không phải là không để lại nhiều dấu ấn trong mối quan hệ giữa hai miền, dù nay đã thành một nước thống nhất , nhưng chỉ thống nhất trên phương diện địa lý, còn về nhiều phương diện khác, nhất là văn hóa, chắc chắn khó có thể nói đến thống nhất được, có chăng là nền văn hóa miền nào cao hơn, sẽ từ từ đồng hóa bên có nền văn hóa thấp hơn.</p>
<p>Lịch sử Việt Nam từ 30 năm trở lại đây đã cho thấy rất rõ điều đó. Miền Bắc , sau chiến thắng 1975, đã làm đủ mọi cách để kéo miền Nam xuống cho ngang tầm với miền Bắc , từ kinh tế, xã hội, nếp sống, cho đến những lãnh vực cao hơn như văn hóa, ngôn ngữ, âm nhạc, tôn giáo. Nhưng dù là kẻ thắng trận, với quyền lực trong tay thông qua các biện pháp hành chính, cưỡng bức hoặc những đợt càn quét giới trí thức, đốt sách, đẩy những thành phần ưu tú của miền Nam vào các trại cải tạo, có thể thành công trong việc bần cùng hóa đời sống kinh tế, nhưng vẫn phải chịu thua về phương diện văn hóa. Tôn giáo, dù bị kiểm sóat chặt chẽ bời đủ mọi cơ quan, từ chính quyền cho đến các tổ chức ngọai vi ngụy trang dưới hình thức các đòan thể tôn giáo, vẫn phát triển sâu rộng trong mọi từng lớp dân chúng. Ngôn ngữ ngày càng Sài Gòn hóa, dù cho có lúc người ta phải sử dụng những từ du nhập từ miền Bắc , mang một nội dung khá xa lạ với người dân miền Nam. Phong cách giao tế, ăn mặc, xử sự , thời gian đầu do những suy xụp về kinh tế đã khiến người miền Nam phải nhượng bộ tính cách duyên dáng cố hữu của riêng mình, nhưng dần dà khi cuộc sống hàng ngày được cải thiện, phong cách hào phóng của người miền Nam lại được mọi người dùng làm khuôn mẫu xã hội. Trong lãnh vực âm nhạc cũng vậy, những lọai nhạc gọi là ủy mị, ướt át trước đây bị kết án và cấm lưu hành, nay đã trở lại chiếm vị trí còn cao hơn trước đây trong xã hội miền Nam. Điều rất dễ hiểu, lọai nhạc ấy gần gủi với tâm hồn con người, dù đó là con người đã từng bị thứ chính trị hận thù giai cấp làm cho tâm hồn bị xơ cứng. Đám tang nhạc sĩ Trịnh công Sơn, một người đã từng bị chính quyền Cộng sản kết án vì những tác phẩm âm nhạc của mình, diễn ra vào tháng 4 năm 2001 với sự thương tiếc của hàng triệu người Việt Nam ở cả hai miền Nam Bắc , cùng với những nghi thức tưởng niệm rầm rộ đã là một bằng chứng rõ nét nhất cho sự ưu thắng của nền văn hóa ở trình độ cao hơn, dù nền văn hóa ấy ở về bên phe bị thua trận. Gần đây, ở Sài Gòn người ta đã lần lượt cho in lại những quyển sách xuất bản ở miền Nam trước 1975, những quyển sách mà khi mới vào tiếp thu Sài Gòn, chính quyền Cộng sản đã vội vã cho lệnh thu gom lại và thiêu hủy. Ngọn lửa phần thư năm xưa đã không thể đốt hết được những tinh túy văn hóa kết tụ trong tim, trong óc con người nền văn hóa ấy, và trải qua bao cuộc bể dâu, chúng vẫn còn được tàng trữ dưới mọi hình thức để chứng minh sự bất tử , sự tất thắng của những gì thuộc về con người đích thực.</p>
<p><strong>2.</strong></p>
<p>Cuộc tranh luận gay gắt của một nhóm thanh niên hai miền Nam Bắc, ngòai những khác biệt thực tế trong các lãnh vực văn hóa, xã hội như đã nêu ở trên, nó còn cho thấy một một mạch đối kháng ngầm giữa hai bên , hệ quả từ cuộc chiến tranh Nam Bắc kéo dài từ 1955 cho đến ngày cuối cùng của tháng 4 năm 1975.</p>
<p>Thế hệ những người sinh ra, trưởng thành trong thời gian này, dù tình nguyện hay bị bắt buộc, cũng đã trực tiếp tham gia vào cuộc chiến ấy, đến nay phần lớn vẫn còn sống và đã hình thành nên hai phe đứng ở hai bên của một lằn ranh tồn tại từ những ngày chiến tranh khốc liệt đó. Triển vọng cho một cuộc hòa giải thực sự giữa hai bên vẫn còn rất mong manh, nếu không muốn nói là khó mà thực hiện được. Ngòai những trở ngại tự thân đến từ những người lính trước đây mặc hai màu áo khác nhau, trở ngại lớn nhất vẫn là từ nhà cầm quyền trong nước hiện nay, vốn không bao giờ thực tâm muốn hòa giải, dù miệng lưỡi vẫn ngày ngày hô to khẩu hiệu hòa giải, thứ chính quyền mà một người trí thức trẻ ở trong nước đã mô tả “ . . . <em>chưa bao giờ trong lịch sử, những người lãnh đạo đất nước lại hèn nhát, bảo thủ đến cùng như lúc này. Thà mất nước chứ nhất định không chịu từ bỏ con đường sai, không chịu mất quyền lực, và chưa bao giờ mỗi lần con số ít ỏi những người dân Việt dám cất lên tiếng nói lương tâm lại cảm thấy cô đơn, lẻ loi giữa cộng đồng và bất lực như lúc này! . . . “  ( trích </em>Song Chi’s Blog<em> ) .</em>Chiến tranh chấm dứt đã hơn 30 năm, nhưng những tranh chấp giữa người Việt với nhau vẫn chưa chấm dứt. Cuộc đối đầu triền miên không bao giờ dứt ấy, ít nhiều đã ảnh hưởng những thế hệ trẻ, sinh ra sau chiến tranh, tuy không tham dự trực tiếp cũng vẫn vô hình chung, chọn cho mình một phía để đứng, vì cha anh của họ đã từng đứng về phía ấy, đã từng đổ máu, hy sinh, và bên phía thua trận thì cũng đã từng bị tù đầy, lưu vong . Cái lằn ranh ngăn chia những người trẻ ấy tuy có vô hình hơn, nhưng không thể phủ nhận rằng nó không hiện hữu. Tất nhiên, một người trẻ hiện sinh sống ở Việt Nam, có cha hay anh là lính Cộng Hòa, tuy không dám công khai bênh vực cha anh mình mỗi khi nghe những lời phỉ báng, nhưng tận thâm tâm vẫn mang một nỗi hậm hực khó chịu, cho đến khi nỗi hậm hực khó chịu ấy có cơ hội và điều kiện để bùng nổ, phát tác dưới hình thức nào đó.</p>
<p>Sự ưu thắng của văn hóa miền Nam, tức bên thua trận, lại càng khơi sâu thêm mặc cảm tranh chấp giữa những người sống ở hai bên lằn ranh ý thức hệ ngày ấy. Bên thua, có thêm lý do để xoa dịu nỗi đau thất trận và cảm giác được ủi an những ngày cuối đời phải kéo dài kiếp sống lưu vong. Bên thắng, cái tự hào của người chiến thắng năm xưa hiên ngang bước trên đường phố tràn ngập cờ đỏ chào đón “ người giải phóng “ đã không còn được nguyên vẹn. Ít nhiều, lòng tự hào ấy đã bị tổn thương. Cả hai bên, người nào cũng đã gìa nua, tuổi tác. Và vì gìa nua tuổi tác, đầu óc không còn “ chỗ trống ‘ để tiếp nhận những ý tưởng mới, những ý kiến khó chấp nhận. Cái hệ quả hiển nhiên ấy, ngòai việc đẩy hai thế hệ già nua càng xa thêm lằn ranh khiến họ có thể đưa tay cho nhau nắm nếu điều kiện chín mùi, còn gây nên một khỏang cách “ khó chịu “ cho thế hệ con cháu những người đó. Tất nhiên, thế hệ trẻ không thể ghét bỏ nhau như cha anh mình, vì họ không có những lý do chính đáng để ghét bỏ lẫn nhau, nhưng đã chắc gì họ có thể bắt tay nhau như những người bạn thực sự.</p>
<p>Oan khiên ấy, sẽ còn tồn tại đến bao giờ ?</p>
<p><strong>3.</strong></p>
<p>Những ngày này, một số người làm văn học ở cả trong lẫn ngòai nước đang cố gắng làm cây cầu nối bước qua khỏang cách oan khiên ấy, trước hết, là chính họ đến với nhau. Cố gắng ấy phát xuất từ những thiện chí và ước muốn đáng ngưỡng mộ. Nhưng, oan nghiệt thay, cùng một lúc, mọi người đều nhìn thấy cái chênh vênh của những cố gắng ấy. Họ như những người đang đi trên dây xiếc giữa một bên là văn học, và bên kia là chính trị. Từ trong nước ra đến hải ngọai, văn học và chính trị là hai mặt của một đồng tiền, hay nói theo lời một người viết văn ở hải ngọai, văn học và chính trị là hai mặt của đời sống. Người ta không thể làm văn chương mà không nhìn thấy ông chính ủy ngồi chểm chệ trước mặt, hay những “ taboo chính trị “ của người Việt hải ngoại như những thanh gươm <em>Damoclès </em>treo lơ lửng trên bầu trời phố Bolsa.</p>
<p>Mà đã không thể tách rời được thuộc tính  đầy bất trắc của chính trị, thì liệu thế cân bằng , hay đúng hơn sự độc lập của văn chương , sẽ có được mức độ khả tín như thế nào hầu  làm tròn vai trò “ <em>chiếc cầu bắc qua khỏang cách oan khiên</em> “ như người ta mong đợi ?</p>
<p><em>© T.Vấn 2008 </em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2008/03/khoangcach/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Nỗi thống khổ của Con Người</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2008/03/noithong/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2008/03/noithong/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 15 Mar 2008 18:28:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[3]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 3 - 2008]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2008/03/15/n%e1%bb%97i-th%e1%bb%91ng-kh%e1%bb%95-c%e1%bb%a7a-con-ng%c6%b0%e1%bb%9di/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2008/03/noithong/"><img align="left" hspace="5" width="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image001-thumb16.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image001" title="clip_image001" /></a>Ghi chú thêm của tác gỉa : Mùa Phục Sinh năm 2004, nhân sự ra đời của cuốn phim gây một tiếng vang khá lớn trong dư luận :  Cuộc Khổ Nạn của Chúa (  The Passion of the Christ )  của  Đạo diễn kiêm diễn viên điện ảnh nổi tiếng người Mỹ Mel Gibson , bài viết này đã được viết trong những suy niệm về chính nỗi thống khổ của con người. Năm nay, cũng nhân mùa Phục Sinh, tác giả muốn được gởi gấm lại những suy niệm của mình, như một cách nhìn lại những gian truân, nhọc nhằn mà đời một con người, không ai có thể tránh khỏi. 
<a href="http://www.wix.com/k3junsu/kerygma">www.wix.com/k3junsu/kerygma</a>

T. Vấn ( Mùa Phục sinh 2008)
<a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image00116.jpg"></a>
&#8221; . . . Babylone, bên dòng sông xưa cũ,
 Ngồi nức nở, mà tưởng nhớ,
 Si-on ơi ! . . .
Thưa Cha! Con[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><em><span style="text-decoration: underline;">Ghi chú thêm của tác gỉa</span></em><em> : Mùa Phục Sinh năm 2004, nhân sự ra đời của cuốn phim gây một tiếng vang khá lớn trong dư luận :  <strong>Cuộc Khổ Nạn của Chúa</strong> (  The Passion of the Christ )  của  Đạo diễn kiêm diễn viên điện ảnh nổi tiếng người Mỹ Mel Gibson , bài viết này đã được viết trong những suy niệm về chính nỗi thống khổ của con người. Năm nay, cũng nhân mùa Phục Sinh, tác giả muốn được gởi gấm lại những suy niệm của mình, như một cách nhìn lại những gian truân, nhọc nhằn mà đời một con người, không ai có thể tránh khỏi. </em></p>
<p><em><a href="http://www.wix.com/k3junsu/kerygma">www.wix.com/k3junsu/kerygma</a><br />
</em></p>
<p><em>T. Vấn ( Mùa Phục sinh 2008)</em></p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image00116.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 0px 5px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image001" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image001-thumb16.jpg" border="0" alt="clip_image001" width="204" height="136" align="left" /></a></p>
<p><em>&#8221; . . . Babylone, bên dòng sông xưa cũ,</em></p>
<p><em> Ngồi nức nở, mà tưởng nhớ,</em></p>
<p><em> Si-on ơi ! . . .</em></p>
<p><em>Thưa Cha! Con đã làm xong nhiệm vụ.</em></p>
<p>Câu nói của Đấng Cứu Thế, được thốt ra trên cây Thập Tự , trước lúc trút hơi thở cuối cùng. Sau đó là sấm chớp , dông bão,mưa lũ, động đất. Những lâu đài miếu đền nghiêng đổ. Những khuôn mặt kiêu ngạo hả hê chợt  méo xệch kinh hoàng.</p>
<p>Thế là sự Cứu Chuộc đã hoàn tất, cùng với hình ảnh Phục Sinh rực sáng trong Hang Mộ. Thứ ánh sáng tinh khiết , rực rỡ. Và sự khởi đầu của Thế Giới. Một thế giới đầy rẫy những tội lỗi cần phải được cứu chuộc.</p>
<p><span id="more-205"></span></p>
<p>Đó là những hình ảnh cuối cùng trong cuốn phim hiện đang được dư luận Mỹ chú ý tới nhiều nhất trong số những phim về tôn giáo &#8211; The Passion of the Christ ( Cuộc Khổ Nạn của Chúa ) của Đạo diễn kiêm diễn viên điện ảnh nổi tiếng người Mỹ Mel Gibson &#8211; Thực ra, nội dung phim không có gì mới. Đó là câu chuyện về những khổ hình nhục mạ mà Chúa đã phải chịu đựng trong 12 tiếng cuối cùng trước khi bị đóng đinh trên cây Thập Giá. Từ hơn 2000 năm nay, câu chuyện đã được kể đi kể lại dưới nhiều hình thức khác nhau, bằng các phương tiện nghệ thuật khác nhau, và với cả những khả năng kỹ thuật khác nhau. Nhưng tựu trung, thông điệp chính của câu chuyện vẫn là Sự Phục Sinh, cứu cánh của mọi khổ nạn, nhất là sự Khổ Nạn của Đấng Cứu Thế, người đã vâng mệnh cha mình xuống trần thế làm người . Bằng sự khổ nạn trần thế ấy, Chúa cứu rỗi nhân loại .</p>
<p>Tất nhiên, khả năng nghệ thuật kể chuyện càng cao, kỹ thuật minh họa cho truyện  kể càng cao, thì tác động của truyện kể càng lớn ở đối tượng ( trong trường hợp này là người xem phim , cả Thiên Chúa Giáo lẫn không Thiên Chúa Giáo ). Tôi cũng không loại trừ phần ảnh hưởng bởi cách nhìn câu chuyện của người thực hiện truyện kể.</p>
<p>Trong suốt hai tiếng đồng hồ ngồi xem cuốn phim, với tiếng khóc bị nén lại của những người ngồi chung quanh vang bên tai tôi, và khi đèn trong rạp bật sáng, nhìn những khuôn mặt khán giả thật sự vẫn còn những nét xúc động, cộng với những cảm xúc của cuốn phim tác động lên tôi, tôi ra về mà cõi lòng nặng nề những ưu tư .</p>
<p>Tôi hiểu rằng, sự hy sinh của Thiên Chúa là vô cùng cao cả. Vì tình yêu con người, và sự reo rắc tình yêu giữa con người, kể cả những thù hận cũng cần phải được tha thứ. Lạy Cha trên trời, xin cha hãy thứ tha cho những kẻ đang hành hạ con, vì họ không biết họ đang làm gì !. Tôi hiểu rằng, để xứng đáng với sự hy sinh cao cả ấy, con người chúng ta phải biết rút ra những bài học về yêu thương đã được dạy từ 2000 năm trước. Nhưng trước một thế giới hỗn loạn về lòng thù hận, một thế giới mà con người đã tìm được những hình thức gây khổ nạn cho nhau đau đớn gấp ngàn lần, thì chính nỗi thống khỗ của con người có đi đến cứu cánh cuối cùng của cuộc đời mình là sự phục sinh những giá trị nhân bản cao quý nhất đã có từ nhiều ngàn năm trước?.</p>
<p>Sáng nay(02-03-04), các đài truyền hình lớn nhất nước Mỹ đưa tin về một loạt những vụ nổ bom tự sát ( suicide bombers) tại Thánh Địa Karbala  ở Iraq trong lúc hàng trăm ngàn người Hồi Giáo hệ Shia đang tụ họp để cầu nguyện trong một nghi thức tôn giáo long trọng. Hàng trăm người chết. Nhiều trăm người khác bị thương. Trên màn ảnh truyền hình, tôi nhìn thấy một người đàn ông ngồi kêu khóc như điên như dại bên những vỡ nát của gạch ngói, của xác người, và có thể cả những niềm tin nào đó trong lòng ông. Tôi chợt nhớ đến một câu trong Kinh Thánh. Bên bờ Si-on ta ngồi ta khóc. Tôi chợt nhớ đến đôi mắt của người diễn viên đóng vai Bà Mary trong cuốn phim của Gibson khi nhìn con mình bị tra tấn hành hạ. Tôi chợt nhớ đến một cảnh trong phim lúc Chúa bị kẻ dữ dùng roi quất vào thân mình, từng miếng thịt bị rứt ra trên thân thể đầm đìa những máu và đất. Nỗi đau ấy, nỗi đau của sự mất mát những người thân yêu nhất, nỗi đau của chính da thịt mình bị rứt ra từng mảnh, đang được lập lại , trên nhiều phần đất của thế gian.</p>
<p>Bài học từ 2000 năm trước cũng chưa được nhân loại thực sự nhận chân giá trị.</p>
<p>Sự khổ nạn của Chúa là để chứng minh cho một  Cuộc Phục Sinh. Nhưng sự Thống Khổ của con người là để chứng minh cho điều gì ?</p>
<p>Hôm Thứ Tư tuần trước là Thứ Tư Lễ Tro. Tôi làm việc buổi chiều , về đến nhà rất khuya, do đó, buổi sáng thường thì tôi dậy trễ. Ngày thứ Tư  là một ngày thường trong tuần, tôi vẫn phải đi làm. Và với người Công Giáo như tôi, việc đi lễ vào ngày này là bắt buộc. Do đó, buổi sáng thứ Tư này, tôi phải từ bỏ giấc ngủ muộn buổi sáng để đến nhà thờ. Thân xác bèo bọt của tôi &#8211; dù cho những dấu tro mà vị Linh Mục hành lễ đã đánh dấu trên trán tôi để nhắc nhở rằng tất cả những gì thuộc về trần thế này chỉ là cát bụi mà thôi &#8211; vẫn ườn ra vì thiếu đi giấc ngủ thường ngày. Nó không cho tâm hồn tôi sự thanh thản và sáng suốt cần thiết để chiêm nghiệm sự tạm bợ của cõi trần cùng với sự nhất thời của ham muốn xác thân, dẫu cho ham muốn ấy chỉ là nằm xuống ngủ một giấc cho đã đời. Cũng trong buổi sáng Thứ Tư Lễ Tro này, cuốn phim Cuộc Khổ Nạn của Chúa được chính thức trình chiếu trên khắp các rạp hát ở nước Mỹ . Tại thành phố Wichita của tôi, buổi sáng này, ngay ở xuất chiếu đầu tiên, đã có một người phụ nữ chết ngay trong rạp lúc ở gần cuối cuốn phim.</p>
<p>Nguyên nhân cái chết của bà, sau đó được xác nhận là do bà bị bệnh tim lớn ( enlarged heart ), nhưng thời điểm về cái chết của bà quả là điều làm tôi phải suy nghĩ. Mọi thứ đều tạm bợ ở cõi trần gian này, kể cả niềm vui lẫn nỗi buồn, kể cả hạnh phúc lẫn đau khổ. Vậy thì việc tận hưởng những niềm vui, những hạnh phúc của cuộc đời trần thế là điều tôi có thể hiểu được, nhưng còn chịu đựng những thống khổ mất mát vì một cõi trần tạm bợ lại là điều làm tôi cứ mãi tra vấn mình.</p>
<p>Chúa chịu khổ nạn để cứu chuộc nhân loại.Do đó, Sự Khổ Nạn của Chúa là để mở đường  cho một cuộc Phục Sinh. Còn sự Thống Khổ của con người ? có phải đó là con đường đưa đến sự hủy diệt của chính nhân loại hay không ?</p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image0032.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image003" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image003-thumb2.jpg" border="0" alt="clip_image003" width="244" height="182" /></a></p>
<p><strong><em>Sự Khổ Nạn của Chúa là để mở đường cho Cuộc Phục Sinh. Cùng một lúc, tôi đặt ra câu hỏi cho chính mình : Nhưng sự Thống Khổ của con Người là để chứng minh cho điều gì ?</em></strong></p>
<p>Câu hỏi tưởng chừng như rất khó để tìm câu trả lời &#8211; may ra có thể thỏa mãn cho chính tôi &#8211; thì rất tình cờ &#8211; liệu cuộc đời này có cái gì có thể gọi là tình cờ không ? &#8211; tôi đọc được một bài viết trên tờ báo địa phương về những hoạt động của một người mà tháng 9 năm ngoái ( 2003 ) , đã mất một lúc người vợ và 4 đứa con nhỏ  trong một trận mưa lụt ở Tiểu Bang Kansas ( Tôi có một bài viết nhân thảm kịch này trên Ca Dao số  66 tháng 9 &#8211; 2003  với nhan đề &#8221; Cuộc sống này quá đỗi mong manh &#8221; ).</p>
<p>Người đàn ông ấy, người chồng của một phụ nữ vừa đẹp vừa đức hạnh và là cha của 4 đứa con tuổi từ 1 cho đến 11 xinh xắn, ngoan ngoãn, người đàn ông khốn khổ trong khoảnh khắc đã mất đi hết những người thân yêu nhất đời mình vì cơn thịnh nộ của trời đất. Bây giờ, ông sống ra sao sau nỗi thống khổ tưởng chừng như trên cõi đời này không còn có nỗi thống khổ nào lớn hơn nỗi thống khổ của ông &#8211; ngoại trừ nỗi thống khổ của Chúa lúc bị đóng đanh trên cây thập giá, đã thốt lên : Thưa Cha trên trời, nếu quả đúng như ý cha muốn vậy, thì con xin bằng lòng! &#8211; Nỗi thống khổ mà, tưởng chừng như không sức con người nào chịu đựng nổi, dù người ấy có can trường mạnh mẽ đến chừng nào . . .</p>
<p>Thế nhưng, ông đã khiến tôi ngạc nhiên. Từ ngạc nhiên đến ngưỡng mộ. Và biết ơn, vì hình như cuộc sống của ông hiện nay, đã một cách gián tiếp , trả lời cho sự dằn vặt của chính tôi, mỗi khi chứng kiến sự đau khổ của con người : Sự thống khổ của con người là để chứng minh cho điều gì ?</p>
<p>Với ông &#8211; người đàn ông khốn khổ của thảm kịch trên Xa Lộ xuyên bang I-35 đã gây chấn động và làm đổ biết bao  nước mắt của cư dân vùng Kansas, Missourri, Texas &#8211; , chìa khóa mở ra mọi cánh cửa dẫn ông đi tìm nguyên nhân của nỗi thống khổ của mình là Đức Tin. Là Niềm Tin vào sự Cứu rỗi. Nguyên nhân cùng đích của  mọi nguyên nhân. Sự Cứu rỗi trên hết mọi sự cứu rỗi</p>
<p>Và Tình yêu thương, cho gia đình, cho đồng loại.</p>
<p>Chính Niềm Tin đã vực ông dậy, sau cái đêm kinh hoàng, bất lực nhìn vợ và con của mình bị nước lũ cuốn trôi đi. Chính Niềm Tin đã giữ ông đứng vững trên hai chân của mình, trong những ngày sau đó trở về căn nhà ở Liberty, Missourri &#8211; Tổ ấm ngày nào của gia đình ông rất mực hạnh phúc thương yêu nhau. Nay hoàn toàn trống vắng tiếng cười trẻ thơ, tiếng hát dỗ con dịu dàng của người vợ. Càng trống vắng hơn nữa, khi tất cả mọi thứ trong nhà đều nguyên vẹn như lần cuối cùng mọi người rời khỏi nhà cho một chuyến du hành xa, sẵn sàng chờ đón mọi người trở về như những lần đi xa trước. Ong nói rằng hằng đêm &#8211; từ bao nhiêu tháng nay, và sẽ còn bao nhiêu tháng nữa, bao nhiêu năm nữa, hay sẽ là suốt phần đời còn lại của ông ? &#8211; ông vẫn ôm mặt khóc lặng lẽ một mình giữa căn nhà quen thuộc ấy, quen thuộc từ tiếng bước chân của từng người, từ hơi thở của từng người. Nỗi đau ấy lớn quá, nặng nề quá, kinh khủng quá, không thể không khóc, cho dẫu cảm giác được giải thoát chỉ là khoảnh khắc. Như người bị ngộp nước dưới dòng sông đau khổ, thỉnh thoảng ông cần ngoi lên, để hớp lấy chút không khí, rồi lại tiếp tục bị nỗi thống khổ hành hạ.</p>
<p>Nhưng ông không cho phép mình bị hủy hoại bởi nỗi bất hạnh ấy. Có ích gì không khi lại tự tay mình đánh mất đi một cuộc đời nữa ? Trong nỗi tận cùng của khổ đau, ông hiểu rằng , cuộc sống là niềm tin và sự vượt qua mọi thử thách.</p>
<p>Robert Rogers của Missourri, người đàn ông có niềm tin mãnh liệt, người đứng dậy từ một-cõi-chết-kinh-khủng-hơn-sự-chết, bây giờ đã trở thành người đi rao giảng niềm tin ( Motivational Speaker ). Ong còn soạn nhạc, chủ trương một Website cổ súy cho nỗ lực của con người tự mình tạo dựng lấy niềm tin trong cuộc sống và quay lại đại học để hoàn tất chương trình Cao học về Quản trị ông bỏ dở lúc lập gia đình.</p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image005.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image005" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image005-thumb.jpg" border="0" alt="clip_image005" width="244" height="113" /></a></p>
<p><em>…Tôi hồi tưởng lại những tháng năm vô vọng trong địa ngục trần gian. Những năm tháng tưởng chừng như không còn gì nữa để khắc khoải trông mong. Tương lai thì không biết có một ngày về hay không, còn thực tại thì chỉ biết có một điều vĩ đại trên hết mọi điều vĩ đại : ĐÓI. Một hôm ,không chịu nổi cái nóng đốt cháy hết các lỗ chân lông của miền Trung Du Bắc Việt, tôi lăn ra bất tỉnh giữa mảnh ruộng trơ những gốc rạ. Những người bạn tù khiêng tôi vào để nằm dưới gốc cây. Cho rằng tôi không thể qua khỏi và biết tôi có đạo, họ tìm cách để một tù nhân linh mục ở lại bên tôi. Vị linh mục kiên nhẫn xoa nắn khắp người tôi cho đến khi tôi tỉnh lại. Thấy tôi mở mắt, ông nhoẻn miệng cười nói : &#8221; Này anh bạn trẻ, tôi biết anh chỉ vì đói mà ngất đi thôi. Tôi có cái kẹo nhỏ, anh hãy cầm lấy mà ngậm. &#8221; Rồi ông đưa tôi viên kẹo bột. Sau này, tôi biết nó xuất xứ từ một nhà Chung ở ngoài Bắc. Quả nhiên, viên kẹo bột thô sơ như thần dược. Tôi cảm thấy tỉnh như sáo. Vị linh mục lại hỏi tôi : &#8221; Này anh bạn, trông anh còn trẻ lắm, anh bao nhiêu tuổi rồi ? &#8221; Tôi đáp : &#8221; Thưa cha, tôi có cùng một số tuổi với Chúa của cha khi Ngài bị đóng đinh trên cây thập giá ! &#8220;. Vị linh mục lặng lẽ đáp : &#8221; Nhưng sau đó, Ngài đã sống lại. Còn anh, anh không định đứng dậy đi cho hết đoạn đường thánh giá của mình hay sao ? &#8220;. Tôi chợt tỉnh ngộ. Vài tháng sau, chúng tôi được chuyển trại từ Bắc vào Nam. Tôi được biên chế về Toán Lâm sản, tức làm công việc đốn gỗ ngoài trại. Lợi dụng công việc lao động hàng ngày không có cán bộ công an đi theo kiểm soát, tôi được vị linh mục giao cho một nhiệm vụ khá nguy hiểm : tìm cách liên lạc với bên ngoài để mang bánh thánh vào trại cho ông cử hành lễ mỗi sáng chủ nhật. . .</em></p>
<p>Còn lại một mình giữa mênh mông của Trời, của bao la nước lũ dâng lên chung quanh mình trong đêm định mệnh ấy, Robert Rogers đã gào khóc : &#8221; Tại sao lại là tôi ? tại sao lại là tôi ? hỡi Chúa ! ( Why me ? why me ? oh God ! ) &#8220;.</p>
<p>Giờ đây, trên  bục thuyết trình, trước mặt ông là hàng ngàn con người với hàng ngàn nỗi thống khổ khác nhau, ông mạnh dạn kêu lên : &#8221; Tại sao lại không là tôi ? ( Why not me ? ). Nỗi đau mất mát vẫn sẽ mãi âm ỉ cho đến ngày tôi nhắm mắt nằm xuống, và dẫu cho tôi không bao giờ hiểu được những gì đã xảy ra với tôi, với gia đình tôi, nhưng Đấng Tối  Cao đã chọn tôi, thì tôi xin nhận. &#8221;</p>
<p>Tôi nhớ lại đoạn cuối trong cuốn phim của Gibson, lúc Chúa sắp trút hơi thở cuối cùng. Lạy Cha! Nếu quả thật đó là ý Cha, thì con xin bằng lòng.</p>
<p>Tôi nhớ lại câu nói của vị linh mục một buổi trưa hè miền rừng núi Trung Du Bắc Việt nhiều năm về trước. Anh không định đứng dậy đi cho hết đoạn đường thánh giá của mình hay sao ?</p>
<p><em>Tôi đã đứng dậy, tiếp tục cuộc hành trình. Cho đến hôm nay.</em></p>
<p>©T.Vấn 2004-2008</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2008/03/noithong/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Hậu Người Tình Khói Sương</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2008/03/haunguoi/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2008/03/haunguoi/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 08 Mar 2008 18:16:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[3]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 3 - 2008]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2008/03/08/h%e1%ba%adu-ng%c6%b0%e1%bb%9di-tnh-khi-s%c6%b0%c6%a1ng/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2008/03/haunguoi/"><img align="left" hspace="5" width="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image001-thumb15.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image001" title="clip_image001" /></a><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image00115.jpg"></a>
 
 
LỐI VÀO HỆ LỤY
Ai đẩy Thúy Kiều vào lầu xanh ? Ai đưa Alisha (1) vào khung cửa hẹp ? Cố Trung Niên Thi Sĩ Bùi Giáng đã đặt ra những câu hỏi này và cũng đã &#8230; đặt ra những câu trả lời. Đi theo  “ vết chân điên “ của người qúa cố, tôi cũng tự “ đặt cho mình “ những câu hỏi : Ai đã đưa tôi vào con đường nghiện ngập thuốc lá ?  Ai đã đẩy tôi vào trò chơi đánh bạc với chính cuộc sống của mình ? “ Trí điên “ và “ Lực điên “ của tôi không thể sánh được với bực Tiền Bối họ Bùi nên tôi không thể “ đặt “ được những câu trả lời. Dẫu sao, tôi cũng biết mình muốn gì khi đặt ra những câu hỏi đó.
Từ nhiều năm[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong><em> </em></strong></p>
<p><strong><em> </em></strong></p>
<p><em> </em></p>
<p><em><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image00115.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 5px 10px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image001" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image001-thumb15.jpg" border="0" alt="clip_image001" width="244" height="188" align="left" /></a></em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><strong><em>LỐI VÀO HỆ LỤY</em></strong></p>
<p>Ai đẩy Thúy Kiều vào lầu xanh ? Ai đưa Alisha (1) vào khung cửa hẹp ? Cố Trung Niên Thi Sĩ Bùi Giáng đã đặt ra những câu hỏi này và cũng đã &#8230; đặt ra những câu trả lời. Đi theo  “ <em>vết chân điên</em> “ của người qúa cố, tôi cũng tự “ <em>đặt cho mình</em> “ những câu hỏi : <strong><em>Ai đã đưa tôi vào con đường nghiện ngập thuốc lá ?  Ai đã đẩy tôi vào trò chơi đánh bạc với chính cuộc sống của mình ? </em></strong>“ <em>Trí điên “ và “ Lực điên</em> “ của tôi không thể sánh được với bực Tiền Bối họ Bùi nên tôi không thể “ đặt “ được những câu trả lời. Dẫu sao, tôi cũng biết mình muốn gì khi đặt ra những câu hỏi đó.</p>
<p>Từ nhiều năm qua, tôi đã bỏ hút.</p>
<p><span id="more-197"></span></p>
<p>Nhưng hình như cái “ <em>Hiện thực</em> “ quái ác ấy vẫn chưa hẳn đã buông tha tôi. Tiền bối Mark Twain (2) đã từng “ <em>đại ngôn</em> “ : “ <em>Bỏ thuốc ư ? Chuyện nhỏ. Ta đã từng bỏ cả trăm lần “. ( Giving up smoking is easy. I’ve done it hundreds of times ).</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>Tôi cai thuốc một cách  “ <em>chay tịnh</em> “ ( cold turkey ). Không cần phải nhờ vả đến Nicoderm (3). Dù là thuốc dán ( patches ) hay thuốc cao ( gum ). Bỏ một cách ngon ơ. Như gã sở khanh quất ngựa truy phong khi đã chán ngấy bộ mặt sầu thảm của người tình gìa hay khi biết rằng trương mục tiết kiệm của cụ bà đã cạn. Vậy mà, nhiều năm sau tôi vẫn còn “ <em>ngửi</em> “ được cái “ <em>quyến rũ chết người</em> “ của khói thuốc. Tôi vẫn còn cảm được “ <em>phút yêu mê rờn rợn khắp châu thân</em> “ của ma lực “ <em>tình yêu sương khói “.</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>Hôm nọ, tôi gặp một người bạn cũ từ thuở cùng nhau tập tành hút thuốc. Sau khi tay bắt mặt mừng, anh móc túi lấy ra gói thuốc và mời tôi ( như ngày xưa chúng tôi vẫn làm ). Một phản xạ rất tự nhiên, tôi móc một điếu và châm lửa từ tay anh. Điếu thuốc kẹp giữa hai ngón tay. Động tác thật quen thuộc và vô cùng thiện nghệ. Rít một hơi thật mạnh vào buồng phổi trong như thủy tinh vì đã mấy năm không bị vẩn đục bởi khói thuốc, tôi lâng lâng với cảm giác dễ chịu đến chết người. Đột nhiên, tôi sực nhớ mình đã nói lời vĩnh biệt với “ người tình khói sương “ từ lâu lắm rồi, hình như từ một tiền kiếp nào đó thật xa xăm. Trước đôi mắt ngạc nhiên của người bạn cũ, tôi vội dí nát điếu thuốc dưới chân, như Eva tàn nhẫn đạp nát đầu con rắn tội lỗi nhiều ngàn thế kỷ trước.</p>
<p><em>Và sau đó, tôi dập mình ăn năn.  Mea Culpa, Mea Culpa, Mea maxima Culpa . Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi , lỗi tại tôi mọi đàng.</em></p>
<p><strong>HÃY NHÌN VÀO NHỮNG DỮ KIỆN</strong></p>
<p>Khoa học đã chứng minh, cũng như Cocaine và Heroin, chất Nicotine có tác dụng gây nghiện ( addictive ). Ngày thứ Năm của tuần lễ thứ ba trong tháng Mười hàng năm  là ngày toàn nước Mỹ từ bỏ thuốc lá ( Great American Smoke Out ). Cho đến nay, người ta đã làm lễ kỷ niệm lần thứ 31 ngày phát động phong trào khuyến khích việc bỏ thuốc. Phong trào này đã có những sự thành công đáng kể. Chỉ trong một thế hệ thôi – về mặt xã hội – thuốc lá đã bị loại ra ngoài bảng chuẩn mực những hành vi. Những người chủ xướng đã không qúa cường điệu khi nói rằng thành tựu này chính là kết quả của một cuộc cách mạng văn hóa ( cultural revolution ). Hiện nay ở nước Mỹ đã có 45 triệu người bỏ thuốc trong tổng số khỏang chừng 90 triệu người hút. Một con số rất đáng khích lệ. Ngoài ra, những nỗ lực này đã cứu sống hàng chục ngàn người và chứng minh rằng, một cao trào xã hội có thể tạo nên những thay đổi đáng kể. Là một người đã từng cùng với cái gạt tàn thuốc bầu bạn lâu năm như hình với bóng, tôi toàn tâm toàn ý ủng hộ sự thay đổi này.</p>
<p>Hút thuốc là một thói quen chết người. Dẫu cho đã có những tiến bộ trong quan niệm về con người xã hội, thói quen này vẫn còn bám rễ sâu xa ở các nền văn hóa. Hiện nay, có ước lượng khỏang độ 47 triệu người Mỹ hút thuốc. Mỗi năm. Có 400 ngàn người chết vì các chứng bệnh liên quan đến thuốc lá, gây phí tổn khoảng 50 tỉ Mỹ kim về chăm sóc y tế ( so với Anthrax, lẽ ra thuốc lá phải gieo rắc kinh hoàng hơn mới phải ). Trên phạm vi thế giới, khoảng 3 triệu người chết hàng năm vì thuốc lá, chiếm tỉ lệ 20 phần trăm trong con số tử vong. Bất kể các sự kiện này, các tổ hợp sản xuất thuốc lá vẫn tiếp tục bành trướng thị trừơng trên thế giới. Châu Á dự trù sẽ gia tăng 20 phần trăm số người hút thuốc trong thập niên tới. Phần lớn là ở giới trẻ.</p>
<p>Nhiều người nghĩ rằng mình có quyền làm bất cứ điều gì mình muốn, miễn là không gây phương  hại đến người khác. Nhưng thực ra , sự “ <em>gây phương hại cho người</em> <em>khác ấy </em>“, đôi khi đã không được quan tâm đúng mức hoặc bỏ lơ. Khói thuốc ( secondhand smoke ) là một thí dụ. Đã từ lâu, khói thuốc đã được chứng minh là nguy hiểm chết người. Người không hút thuốc, khi hít thở phải khói thuốc, đôi khi bị ảnh hưởng nặng hơn chính người hút thuốc. Và công chúng ( trong đó có chúng ta ) phải trả phí tổn bảo hiểm sức khỏe ngày một tăng. Trong đó có một phần trách nhiệm gây ra bởi những người hút thuốc.</p>
<p>Các tổ hợp thuốc lá khổng lồ đã che giấu từ lâu những khám phá của họ về ảnh hưởng độc hại của việc hút thuốc. Tờ Wall Street Journal gọi đó là “ <em>chiến dịch đánh</em> <em>lạc hướng dư luận trường kỳ nhất trong lịch sử thương mại Hoa Kỳ</em> “.</p>
<p>Mặc cho sự trừng phạt của pháp lý với số tiền phạt vạ khổng lồ, các hãng thuốc lá vẫn bình chân như vại. Họ tiếp tục làm giàu bằng cách buôn bán tử thần. Họ vẫn tìm cách chỉa thị trường vào giới thanh niên bằng những phương cách uyển chuyển hơn.</p>
<p>Đối với tuổi mới lớn, làm dáng thời thượng phải là hút thuốc. Trên phim ảnh , người ta lại thấy các ngôi sao trẻ tuổi phì phà khói thuốc. Lớp trẻ mới lớn dễ bị lôi cuốn sớm vào những cạm bẫy, và sau đó – hơi trễ – đã khám phá ra rằng, tập hút thuốc thì rất dễ, nhưng từ bỏ nó thì quả là chuyện gian nan.</p>
<p><strong>E LÒNG CÒN NẶNG NỢ</strong><strong> </strong></p>
<p>Tôi đã bỏ thuốc. Bởi vì tôi không muốn tiếp tục ném cuộc đời mình vào một canh bạc mà phần thua hầu như nắm chắc. Hồi đó, mỗi buổi sáng thức dậy, sau cái “ <em>tuyệt vời</em> <em>của hơi thuốc đầu ngày là cảm giác nặng nề khó thở đè nặng lên ngực</em>.” Tôi đã hiểu rằng, nếu cứ tiếp tục như thế này, tai hoạ sẽ bắt tôi phải trả giá. Tôi muốn được ở bên cạnh vợ tôi … lâu lâu hơn một chút ( vì chúng tôi yêu nhau qúa muộn màng ). Tôi muốn được nhìn thấy các con tôi lớn lên, trưởng thành trưóc khi tôi nhắm mắt.</p>
<p>Nói một cách khác, tôi muốn được sống. Sống vui sống khỏe. Vì có khỏe mới vui được.</p>
<p>Dẫu có thế nào, tôi cũng chỉ là con người với những vĩ  đại và nhỏ bé. Và sự mềm yếu. Thỉnh thoảng tôi sẽ bập bập vài hơi xì-gà. Hoặc tệ hơn nữa, trong những giây phút yếu lòng, tôi sẽ lén vài hơi thuốc lá. Nếu tôi có làm vậy, cũng chỉ chứng minh rằng, thuốc lá làm con người ta nhu nhược biết chừng nào. Hoặc nói ngược lại, thuốc lá có cái sức mạnh của “ Sinh tử phù “. Một khi đã bị cấy vào cơ thể, anh hùng hào kiệt cỡ nào cũng bị sa cơ. Huống gì là tôi.</p>
<p>Nhưng dẫu sao, tôi cũng biết được là tôi muốn gì.</p>
<p><strong><em>CHÚ THÍCH : </em></strong></p>
<p><strong><em> </em></strong></p>
<p>(1)        Alisha, tên một nhân vật trong tác phẩm “ Khung Cửa hẹp “ của nhà văn Pháp        André Gide. Bản dịch tiếng Việt của Vân Mồng ( tức Bùi Giáng )</p>
<p>(2)        Mark Twain, Đại văn hào Mỹ</p>
<p>(3)        Nicoderm, tên thương mại của một loại thuốc dùng giúp người cai thuốc lá.</p>
<p>© T.Vấn 2008</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2008/03/haunguoi/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Nhân một cái chết</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2008/03/nhanmot/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2008/03/nhanmot/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 04 Mar 2008 18:10:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[3]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 3 - 2008]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2008/03/04/nhn-m%e1%bb%99t-ci-ch%e1%ba%bft/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2008/03/nhanmot/"><img align="left" hspace="5" width="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image001-thumb14.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image001" title="clip_image001" /></a><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image00114.jpg"></a>
 
Lệnh tha khỏi trại – tranh của Trần Thanh Châu (Seattle)
 
Thanh Minh trong tiết tháng Ba
Lễ là Tảo mộ, hội là Đạp Thanh
( Đọan trường tân thanh- Nguyễn Du )
 
 
1.
Tháng Ba. Trời vẫn rét ngọt. Những mảng tuyết đổ từ dạo cuối tháng 2 vẫn còn để lại vài cụm trắng xóa trên sân cỏ vàng úa vì buốt lạnh chung quanh nhà. Năm nay, mùa đông tòan cầu khắc nghiệt hơn bình thường . Dịp cuối năm ta vừa qua, Trung quốc đã chịu đựng những cơn bão tuyết khủng khiếp chưa từng thấy hàng trăm năm nay, khiến cả triệu khách lữ hành phải bị kẹt cứng trong các nhà ga, các trạm xe lửa, với tâm trạng bồn chồn , khó chịu vì sợ rằng họ có thể không trở về nhà kịp để đón giao thừa sau cả năm[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image00114.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 5px 10px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image001" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image001-thumb14.jpg" border="0" alt="clip_image001" width="244" height="156" align="left" /></a></strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong><em>Lệnh tha khỏi trại – tranh của Trần Thanh Châu (Seattle)</em></strong></p>
<p><strong><em> </em></strong></p>
<p><em>Thanh Minh trong tiết tháng Ba</em></p>
<p><em>Lễ là Tảo mộ, hội là Đạp Thanh</em></p>
<p><em>( Đọan trường tân thanh- Nguyễn Du )</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><strong>1.</strong></p>
<p>Tháng Ba. Trời vẫn rét ngọt. Những mảng tuyết đổ từ dạo cuối tháng 2 vẫn còn để lại vài cụm trắng xóa trên sân cỏ vàng úa vì buốt lạnh chung quanh nhà. Năm nay, mùa đông tòan cầu khắc nghiệt hơn bình thường . Dịp cuối năm ta vừa qua, Trung quốc đã chịu đựng những cơn bão tuyết khủng khiếp chưa từng thấy hàng trăm năm nay, khiến cả triệu khách lữ hành phải bị kẹt cứng trong các nhà ga, các trạm xe lửa, với tâm trạng bồn chồn , khó chịu vì sợ rằng họ có thể không trở về nhà kịp để đón giao thừa sau cả năm trời đi làm ăn xa .</p>
<p>Ở miền Bắc Việt nam, có nơi đến cả trâu bò cũng lăn ra chết vì lạnh. Huống chi người. Nhất là người gìa. Mùa đông năm 1978, tại trại cải tạo Phong Quang, tỉnh Hòang Liên Sơn, tọa lạc gần sát biên giới Trung quốc và nằm ngay dưới chân núi Sa Pa ( nghe đồn tuyết phủ trắng đỉnh vào những tháng mùa đông ) tôi đã biết thế nào là cái ác nghiệt của mùa đông đất Bắc, cái ác nghiệt của Đói và Lạnh là hai kẻ thù đáng sợ lúc nào cũng phối hợp với nhau trong thế liên hòan để giết lần mòn những người tù cải tạo với trọng lượng hơi của cơ thể không ai hơn được 40 kí lô dù người cân có hào phóng cách mấy. Càng đói lại càng lạnh và càng lạnh thì lại càng đói cồn cào, đói tới mức muốn bỏ cả ngón tay vào miệng mà nhai. Trước mắt tôi, nhiều người tù tuổi tác thi nhau rơi rụng. Thân gìa yếu, làm sao chịu nổi sự hủy họai của mùa đông, cộng thêm với cái đói triền miên tích tụ từ nhiều năm và trên người mang bao bệnh tật không có thuốc men chữa chạy. Mỗi buổi trưa, đứng từ trong phòng giam có những hàng chấn song bằng sắt lạnh cóng , nhìn ra bên ngòai thấy chiếc xe tang màu sắc diêm dúa chở chiếc quan tài “ duy nhất “ ( *) của trại, bên trong là tấm thân xác nhỏ bé gầy gò của một người tù gìa xấu số nào đó vừa chết đêm qua. Cứ mỗi lần như thế tôi lại chép miệng lẩm bẩm một câu nói phát ra từ vô thức : <em>Thế là đã xong một kiếp người. </em>Nhiều lần, co ro dưới 7 lớp quần áo giẻ rách mặc chòang lên nhau vẫn không đủ ấm, và cái đói cồn cào gan ruột, tôi đã nghĩ đến giây phút mình nằm trong chiếc quan tài đó. <em>Chắc là nhẹ nhàng lắm ( Thân nhẹ nhàng như mây </em>như lời một bài hát của nhạc sĩ TCS<em>). </em>Vì trọng lượng của tất cả các thứ trên thân xác tôi lúc ấy, bao gồm tóc tai bờm xờm cứng như cỏ khô phủ trên cái đầu vừa trống rỗng ( vì trong đó không có một ý tưởng nào chứng tỏ tôi là một cây lau cây sậy biết suy nghĩ như lời định nghĩa của Pascal về con người ) vừa đầy ắp ( những ham muốn trần tục muốn được ăn no, muốn được mặc ấm) , cộng thêm với bộ xương bọc da đen nhẻm chắc không hơn được 35 kí lô, nhẹ hơn cả trọng lượng của đứa con gái 10 tuổi của tôi bây giờ. Vậy mà cuối cùng tôi vẫn sống để 30 năm sau đứng giữa cánh đồng tuyết phủ trắng xóa nơi một mảnh đất xa lạ mà nhớ về chuyện xưa để ngẫm chuyện nay.</p>
<p><strong>2.</strong></p>
<p>Mùa đông năm nay, cái lạnh khác thường của miền Bắc Việt nam cũng được đánh dấu bằng sự ra đi vĩnh viễn của một người gìa 86 tuổi. Đó là nhà họat động dân chủ nổi tiếng từ trong nước ra đến hải ngọai Hòang Minh Chính. Phần tiểu sử của ông có thể được ghi nhận tóm lược như sau :</p>
<p><em>“ . . . Cuộc đời của Cụ là một chuỗi dài những năm tháng đấu tranh gian khổ, chiến đấu liên tục vì nền độc lập của đất nước. Cụ là một chiến sĩ kiên cường đấu tranh cho tự do dân chủ hóa đất nước, đến tận hơi thở cuối cùng.<br />
Cụ Hoàng Minh Chính đã đến với chủ nghĩa cộng sản bằng trái tim của một thanh niên yêu nước, dũng cảm khát khao vì độc lập cho dân tộc, và Cụ cũng đã từ bỏ chủ nghĩa cộng sản bằng trái tim của một trí thức yêu nước .<br />
Mọi thứ có thể đổi thay, nhưng trái tim yêu nước, lòng tận tụy vì nhân dân của Cụ Hoàng Minh Chính không bao giờ thay đổi.<br />
Trái tim yêu nước và lòng tận tụy vì nhân dân của Cụ, cũng như tất cả những gì mà cuộc đời cụ đã trải qua, rồi sẽ được ghi vào lịch sử. Cụ xứng đáng được ghi nhận trang trọng trong trang sử của dân tộc Việt Nam. Hậu thế sẽ phán xét công bằng.<br />
Cụ đã sống xứng đáng một kiếp người. Cụ đã thực hiện được lời của người xưa “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” nghĩa là giàu sang không sa đọa, nghèo khó không chuyển lay, uy vũ không khuất phục”.<br />
</em>(Trích điếu văn của luật sư Trần Lâm đọc trong tang lễ nhà họat động dân chủ Hoàng Minh Chính)</p>
<p>Tang lễ của ông diễn ra ngày 16-02-2008 tại Hà Nội được nhiều người mô tả là lặng lẽ, tuy số người tham dự lên đến 500 người . Họ là những người cùng chí hướng với ông Hòang Minh Chính, đến từ nhiều miền khác nhau của đất nước, như Hải Phòng, Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng và Hà Nội. Con số nói trên phải kể là rất đáng khích lệ, so với không khí chính trị nặng nề, khó thở như hiện nay ở trong nước và những nỗ lực ngăn cản, thậm chí can thiệp thô bạo ( như việc một người họat động dân chủ ở hải ngọai về nước tham dự đám tang ông Hòang Minh Chính đã bị Công an buộc lên phi cơ rời khỏi Việt nam ngay lập tức ) của nhà cầm quyền cộng sản trong nước.</p>
<p>Đọc những tin tức về cái chết của một người họat động dân chủ rất can đảm ở trong nước, lại được xem những hình ảnh về tang lễ của ông trên mạng, tôi nhớ đến mùa đông 30 năm trước đứng bên chấn song cửa sổ buồng giam nhìn những cái chết lướt qua dưới bầu trời xám xịt buồn thiu và câu nói ngẫu nhiên từ vô thức. <em>Thế là đã xong một kiếp người.</em></p>
<p>Một kiếp người đã xong, nhưng những vấn đề mà kiếp người ấy đặt ra cho những người còn sống, cho các thế hệ mai sau, chắc chắn là chưa thể xong được. Hay đúng hơn, nó chỉ mới bắt đầu.</p>
<p>Tại sao , một con người “ . . . <em>đến với chủ nghĩa cộng sản bằng trái tim của một thanh niên yêu nước, dũng cảm khát khao vì độc lập cho dân tộc . . . “ </em>để rồi sau đó : “<em> cũng đã từ bỏ chủ nghĩa cộng sản bằng trái tim của một trí thức yêu nước . . . “ ?</em></p>
<p>Cho đến ngày hôm nay, sau sự sụp đổ không thể tránh khỏi của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa từ Liên xô cho đến các nước cộng sản Đông Âu những năm cuối 80s, đầu 90s, hay trước sự khác biệt quá rõ ràng về mức phát triển giữa hai miền Bắc và Nam Hàn với hai thể chế đối nghịch nhau, tưởng cũng đã quá đủ để người ta hiểu được lý do tại sao một người yêu nước như ông Hòang Minh Chính phải đi lại con đường lý tưởng khác với con đường thời trẻ ông đã theo đuổi. Đó không phải là sự lầm đường của một con người. Mà là sự lầm đường của cả một thế hệ. Sự lầm đường hiện đang được ngụy biện bằng mọi hình thức gỉa dối của ngôn từ . Lịch sử một đất nước luôn có những giai đọan thăng, trầm, những sai lầm trong các quyết định sinh tử liên quan đến tòan thể nhân dân của các tập đòan cầm quyền từng thời đại , nhưng cố tình bao che, ngụy biện cho sai lầm chết người của mình thì cho đến nay, lịch sử Việt nam chỉ ghi nhận được có một trường hợp của đảng cộng sản Việt nam.</p>
<p>Việc nước là việc chung của bao con người, đâu phải của riêng một nhóm, một đảng, một tập đòan. Ý thức được điều cơ bản ấy, ông Hòang Minh Chính đã ra khỏi đảng cộng sản. Những giây phút cuối cùng trong cuộc đời, ông vẫn còn nhắn lại được cho người còn sống qua một đọan băng thâu thanh <em>“ . . . Tôi chúc các bạn thành công trong cuộc chiến đấu giành tự do, độc lập và hạnh phúc cho tất cả người Việt Nam . “. </em></p>
<p><strong>3.</strong></p>
<p>Những cái chết trong chiến tranh là điều không thể tránh khỏi, khi người lính đã chọn lựa một con đường mà anh tin rằng đó là con đường đúng nhất để phục vụ tổ quốc, thì mọi sự hy sinh đều đáng được tuyên dương , dù ở bên này hay bên kia của chiến tuyến. Dù sao, chiến tranh luôn luôn chỉ là giải pháp cuối cùng khi người ta không còn lựa chọn nào khác . Và những cái chết trong chiến tranh, vì không thể tránh khỏi, chỉ chứng minh tính bi kịch của thân phận con người.</p>
<p>Nhưng những cái chết năm xưa trong trại cải tạo vùng biên giới , sau khi tiếng súng đã chấm dứt, là sự nhắc nhở đến bản chất vô nhân của một chế độ. Những cái chết hôm nay của những người họat động dân chủ ở trong nước như ông Hòang Minh Chính, nằm xuống rồi mà mắt vẫn mở trừng trừng vì không an lòng với tương lai các thế hệ mai sau, là một sự nhắc nhở đến bản chất tham quyền cố vị để trục lợi của cùng một chế độ ấy .</p>
<p>Chính vì thế mà những người chết còn cần phải được nhắc đến. Vì những cái chết ấy là hệ quả của bao sai lầm chết người, của sự thiếu phục thiện trong việc nhìn nhận lại lịch sử. Nhắc đến những người chết, chính là sự quan tâm thiết thực đến người còn sống. Vì sau mọi tội ác, sự quan tâm cần phải được dành cho người sống sót. Chứ không phải người chết. Càng không phải là kẻ sát nhân.</p>
<p><em>T.Vấn</em></p>
<p><em>Tháng 3- 2008</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>_________________________________-</p>
<p>* Gọi là chiếc quan tài duy nhất , vì đây là chiếc quan tài được dùng cho tất cả tù cải tạo chết trong trại. Dưới đáy quan tài là một tấm ván có thể rút ra hoặc đẩy vào được. Xác người chết được cho vào quan tài trước sự chứng kiến của mọi người. Sau đó, cho lên xe tang do trâu kéo ra nghĩa địa ( thường là khu đất trống ngòai rìa trại ). Đến trước một cái hố đã đào sẵn, 2 anh tù hình sự khiêng quan tài ra khỏi xe tang, mỗi người đứng ở một bên đầu hố. Anh tù hình sự thứ 3 ( thường là trưởng tóan ) rút tấm ván đáy quan tài ra. Xác người chết rơi xuống hố. Sau khi hố chôn người chết được lấp đất đầy , chiếc quan tài rỗng được khiêng trở lại xe tang và cho kéo về lại trong trại, sẵn sàng được dùng cho người chết kế tiếp.</p>
<p>© T.Vấn 2008</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2008/03/nhanmot/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Người tình Khói Sương</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2007/03/nguoitinh/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2007/03/nguoitinh/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 26 Mar 2007 18:02:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[3]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 3 - 2007]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2007/03/26/ng%c6%b0%e1%bb%9di-tnh-khi-s%c6%b0%c6%a1ng/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2007/03/nguoitinh/"><img align="left" hspace="5" width="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image002-thumb12.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image002" title="clip_image002" /></a><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image00212.jpg"></a>
Họa phẩm Marynka Smoking ( 1980) của họa sĩ người Mỹ Kitaj Ron B
<h4>Khúc dạo đầu của một cuộc chia tay</h4>
Sau gần 30 năm hút thuốc lá ( kể cả gần 10 năm hút thuốc lào trong trại cải tạo ), với trung bình một ngày một gói , tôi đã bỏ hút. Lý do bỏ khá bất ngờ và đơn giản. Đứa con gái nhỏ 5 tuổi thấy tôi vừa ra ngoài vườn hút thuốc xong, bước chân vào đến cửa là ho sặc sụa. Nó nói sao bố không bỏ hút thuốc đi. Bố sẽ chết sớm nếu bố cứ tiếp tục hút thuốc. Câu nói này nguyên văn là từ cửa miệng bà cụ thân sinh ra các con tôi. Và cũng chẳng phải là lần đầu tiên con tôi lập lại lời nói của mẹ. Nhưng lần này thì khác. Nhìn con[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image00212.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 0px 10px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image002" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image002-thumb12.jpg" border="0" alt="clip_image002" width="151" height="222" align="left" /></a></p>
<p>Họa phẩm <cite>Marynka Smoking ( 1980) của họa sĩ người Mỹ </cite><strong>Kitaj Ron B</strong></p>
<h4>Khúc dạo đầu của một cuộc chia tay</h4>
<p>Sau gần 30 năm hút thuốc lá ( kể cả gần 10 năm hút thuốc lào trong trại cải tạo ), với trung bình một ngày một gói , tôi đã bỏ hút. Lý do bỏ khá bất ngờ và đơn giản. Đứa con gái nhỏ 5 tuổi thấy tôi vừa ra ngoài vườn hút thuốc xong, bước chân vào đến cửa là ho sặc sụa. Nó nói sao bố không bỏ hút thuốc đi. Bố sẽ chết sớm nếu bố cứ tiếp tục hút thuốc. Câu nói này nguyên văn là từ cửa miệng bà cụ thân sinh ra các con tôi. Và cũng chẳng phải là lần đầu tiên con tôi lập lại lời nói của mẹ. Nhưng lần này thì khác. Nhìn con qua những dòng nước mắt ( chảy vì ho ) và nỗi khó chịu ở trong cổ, tôi chợt nẩy ý định: hay là mình thử bỏ thuốc ?</p>
<p>Và ý nghĩ cai thuốc lởn vởn mãi trong đầu tôi suốt cả một buổi sáng. Tôi vẫn còn mấy gói thuốc nguyên chưa hút hết. Bỏ cả thì uổng quá. Vả lại, nếu để đó thì khi cơn ghiền lên lại chịu thua vì thuốc vẫn còn sẵn trong tầm tay. Nhưng tôi lại nghĩ, nếu đã không kềm chế được cơn ghiền thì dù thuốc không có sẵn ở trong nhà , tôi chỉ cần vài phút lái xe là có thể mua thuốc tại bất cứ tiệm xăng nào trong thành phố.</p>
<p>Còn nhớ một lần, đang trên đường đi làm, giữa xa lộ nườm nượp xe cộ, sắp tới chỗ exit để đến sở làm, tôi bỗng sực nhớ là đã bỏ quên gói thuốc ở trên bàn ăn. Cái sực nhớ ấy đã làm tâm thần tôi bấn loạn. Chưa bao giờ tôi ra khỏi nhà mà không có gói thuốc trong người. Chỉ còn khoảng 15 phút nữa là tới giờ làm việc. Tôi không có đủ thì giờ để ghé lại một trạm xăng mua thuốc. Nếu không mua, làm sao tôi có thể chịu đựng hơn 8 tiếng đồng hồ liên tục không có thuốc lá. Mãi hoảng hốt với ý nghĩ liệu có thể ghé đâu để mua thuốc mà vẫn kịp giờ vào làm suýt chút nữa tôi đã gây tai nạn. Tôi thản nhiên sang lane để xuống exit mà không ngoái đầu nhìn lại để thấy có một chiếc Sport đang trờ tới với tốc độ khá nhanh. May mà tiếng kèn xe đã làm tôi tỉnh thức và kịp thời bẻ tay lái về bên trái. Tôi nhận được một ngón giữa đỏ chót với nét mặt hầm hầm của cô gái Mỹ trẻ đẹp lái chiếc Sport. Và tôi vẫn có thì giờ liếc thấy bàn tay phải của cô cầm điếu thuốc lá đang đỏ.</p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image004.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 0px 10px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image004" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image004-thumb.jpg" border="0" alt="clip_image004" width="244" height="244" align="left" /></a></p>
<p>Cuối cùng tôi cũng đủ nhanh nhẹn để xoay sở mua được gói thuốc lá từ một tiệm Grocery gần đó và vào sở làm chỉ trễ có vài phút. Xem thế thì biết, khi đặt vấn đề cai thuốc, đầu tiên phải đặt câu hỏi : Mình có thắng mình được không ? Lúc ấy, tôi không có câu trả lời quả quyết. Tôi chỉ nghĩ đến lúc mình thua cuộc trước mặt con mình. Nỗi xấu hổ với vợ tôi thì không nhiều lắm. Vì vợ tôi đã chứng kiến tôi thua cuộc nhiều lần. Kể cả những thua cuộc thầm kín. Còn nỗi xấu hổ với chính mình. Dường như, với tôi cũng không thành vấn đề cho lắm. Vì tôi đã quá quen thuộc với “ cái tôi chẳng nên trò trống gì” rồi. Nhưng với đứa con gái 5 tuổi thì khác. Nó coi tôi như thần tượng. Trong cái trí óc non nớt của con tôi , không có chỗ cho cái “ không thể “ của bố nó. Tôi mường tượng câu hỏi ngây thơ của con một khi tôi thử cai thuốc nhưng thất bại : Tại sao bố KHÔNG THỂ bỏ thuốc được hả bố ? Tôi sẽ trả lời sao với con ? Và tất nhiên, tôi không muốn phá đổ thần tượng của con tôi.</p>
<p>Nhưng trước hết, tại sao lại phải bỏ hút thuốc ? Tôi tự đặt cho mình câu hỏi này và cũng không có được câu trả lời đầy đủ.</p>
<h5>Ba Mươi năm tình lận đận</h5>
<p>Thuốc lá là người tình khói sương thân thiết của tôi đã 30 năm. Chúng tôi chưa hề rời xa nhau, phụ rẫy nhau dù 1 ngày. Kể cả những lúc tôi đói nghèo, quần áo 1 bộ, cơm ăn 1 bữa. Thuở ban đầu lưu luyến ấy, nàng mặc áo màu xanh – màu xanh Bastos – nằm chễm chệ bên ly cà phê phin đậm đặc, trong quán cà phê nhỏ Chung cư Nguyễn Thiện Thuật Sài Gòn với cô gái thâu ngân có nét đẹp liêu trai của Bồ Tùng Linh. Đôi mắt cô to, mái tóc bới cao. Trông cô giống hệt đào cải lương Mỹ Châu nổi tiếng lúc bấy giờ của Sài Gòn cuối thập niên 60s. Hình như, đối với tôi ( và những người bạn cùng trang lứa thuở ấy ) gói thuốc lá Bastos xanh và ly cà phê phin đậm đặc làm cho tôi có nam tính hơn dưới mắt cô.</p>
<p>Ngày tháng và những mùa thi nối đuôi nhau đến rồi nối đuôi nhau đi. Hằng đêm, chúng tôi – tôi, gói thuốc Bastos xanh, ly cà phê đậm đặc và cô thâu ngân của quán cà phê chung cư – vẫn ngồi đó, nhìn nhau. Cho đến một hôm, cô gái không còn ngồi ở chỗ hằng đêm cô vẫn ngồi nữa, mà thay vào đó một cô gái khác , khá lớn tuổi hơn. Tôi cũng bỏ chỗ hằng đêm tôi vẫn ngồi để đến một chỗ khác. Vì những mùa thi đã chấm dứt với tôi, tôi không cần những ly cà phê phin đậm đặc nữa, thay vào đó là ly sữa ngọt nóng bỏ vào đó một chút cà phê đắng lạnh. Còn người tình khói sương mặc áo Bastos xanh ? vẫn là nàng an ủi tôi cho hết chuỗi ngày &#8230; phiền muộn vì thất tình cô gái thâu ngân quán cà phê không tên ở chung cư Nguyễn thiện Thuật.</p>
<p>Rồi chiến cuộc ngày một trở nên ác liệt. Cùng với những chàng trai cùng trang lứa, chúng tôi – tôi và người tình khói sương ( làm sao mà thiếu vắng nàng cho được )- giã từ bút nghiên lên đường nhập ngũ. Lúc này, nàng hiện thân là những Pall Mall, Lucky Strikes, Winston, Salem &#8230;v..v. Có những câu thơ rất ngộ nghĩnh dựa trên tên của nàng được truyền tụng rộng rãi trong giới lính tráng chúng tôi. Chẳng hạn như : Phải Anh Là Lính Mời Anh Lên Lầu ( Pall Mall ), Sao Anh Làm Em Mệt, Mà Em Làm Anh Sướng ( SaLem), hoặc Chiếc Áo Phong Sương Tình Anh Nặng, Nặng Áo Thư Sinh Phụ Áo Chàng ( Capstan ). Dù nàng mang bất cứ tên gì , bao giờ nàng cũng ở bên cạnh tôi chứng kiến những nhọc nhằn hiểm nguy của đời lính. Cùng với người tình khói sương, tôi băng rừng vượt núi, vào sinh ra tử, hãnh diện làm nhiệm vụ của người trai thời ly loạn.</p>
<p>Rồi cuộc chiến chấm dứt một cách tức tưởi. Và những năm tháng tù đầy. Từ Nam ra Bắc, từ Bắc vào Nam. Bên cạnh tôi vẫn là người tình khói sương yêu dấu ấy, dẫu cho nàng có hiện thân dưới hình dạng xấu xí của thuốc rê, thuốc lào hay lá tàu bay phơi khô thái mỏng tẩm nước thuốc lào hay nửa phần khoai mì lát đổi lấy 6 con ruồi sơ sinh ( từ này không có trong Tự Điển Việt Nam trước năm 75, có nghĩa : thuốc lào được vê thành từng phần hút , nhỏ bằng hạt đậu đen trông giống như con ruồi mới từ dòi lột xác ) đều vẫn không làm phai nhạt nỗi đam mê sặc sụa của tôi với khói sương. Nhưng mãi đến những năm tháng này, tôi mới thực sự nhận chân và đánh giá đúng sức hấp dẫn và ảnh hưởng của khói sương đối với những kẻ say mê nàng. Có người đã bán rẻ phẩm cách cũng chỉ vì không cầm cự nổi nỗi nhớ nhung khói sương. Có người thân tàn ma dại vì đã đem cả phần ăn chết đói của mình hàng ngày đi đổi lấy chút khói nhớ nhung. Trong bất cứ lá đơn xin quà gởi về nhà từ trại cải tạo, trong phần liệt kê hàng hóa, tên của nàng bao giờ cũng được nhắc đến đầu tiên và gạch đít nhiều lần : 1 ký thuốc rê Gò Vấp, 4 bánh thuốc lào 888 loại 250g 1 bánh hoặc sang hơn nữa là thuốc lá thơm Samit ..v..v.</p>
<p>Rồi đến những ngày lang thang vất vưởng ở Sài Gòn. Những ngày người tình khói sương bị đày đọa thành những Mai, những Đà Lạt, những gói thuốc quấn tay đủ loại bởi những thằng chết đói cũng như tôi. Tôi vẫn ngày ngày cùng nàng gắn bó bên những quán cóc vỉa hè bụi bậm, bên những ly cà phê bắp rang chát ngắt, bên những xị ruợu Cây Lý uống vào đái ra máu, bên những thân phận bạn bè cũng chẳng khá gì hơn, bên những câu chuyện về một nước Mỹ hào phóng, bên những câu chuyện về những chuyến vượt biên nhưng không bao giờ có đủ 1 chỉ vàng chung trước cho chủ tàu ..v..v và ..v..v. Và rồi, hết cơn bỉ cực tới hồi thới lai. Một buổi trưa nóng chảy mỡ và nồng nặc hơi người của phi trường Tân Sơn Nhất, chúng tôi áo lớn quần dài cà vạt chỉnh tề bước chân lên máy bay để hân hoan làm một kiếp lưu vong nơi đất khách quê người. Đồng thời cũng hân hoan vĩnh biệt những Mai, những Đà Lạt, những gói thuốc quấn tay vụng về,- những dấu tích của một chuỗi ngày khốn khổ – để hân hoan chào mừng những ngày sắp tới no đủ những 555, những Pall Mall, những Lucky Strikes, những Malboros, những &#8230; Lúc này đây, thuốc lá được mua từng cây chứ không phải từng gói.</p>
<p><em>Những tưởng rằng thời oanh liệt của người tình khói sương là đây. </em></p>
<h5>“ Cái &#8230; hút ngày nay đã hỏng rồi “</h5>
<p>Nhưng nỗi hân hoan kéo dài không bao lâu. Nước Mỹ có thể là đất của những cơ hội cho tất cả mọi thứ ngoại trừ thuốc lá.Mỉa mai thay, nước Mỹ lại là nơi tọa lạc của hãng thuốc lá lớn nhất thế giới, Phillips Morris. Người hút thuốc lá ở Mỹ bị làm khó đủ điều. Họ bị cấm không được hút thuốc ở những nơi công cộng, sở làm, trong quán ăn, quán cà phê, trên máy bay, trong xe Bus. Về nhà, họ bị vợ ( hoặc chồng ) cấm ( hoặc tự họ cấm ) không cho hút thuốc ở trong nhà. Mỗi khi mối sầu tương tư sương khói trở giấc là họ phải ra ngoài vườn, trước cửa nhà hoặc nhà để xe, bất kể thời tiết nóng hay lạnh, tuyết hay mưa, hay bão táp. Nếu không thì chỉ có nước nhịn.</p>
<p>Ôi đau xót thay cho những mối tình khói sương nơi Mỹ quốc. Thế mới biết, cuộc đời chẳng cho ai được niềm vui trọn vẹn. Luôn luôn có một điều gì đó trắc trở. Và tôi cũng không là một ngoại lệ. Ngay chính vợ tôi cũng phải thú nhận rằng , khi xưa, lúc còn ở Việt Nam, nụ hôn tuyệt vời là nụ hôn có mùi thuốc lá, nhất là thuốc lá thơm mua lẻ từng điếu và hình ảnh nam tính nhất phải là hình ảnh điếu thuốc kẹp tay tì lên chiếc cằm cương nghị với khuôn mặt lẩn khuất sau màn khói thuốc trắng nhạt. Và sau mỗi lần chúng tôi yêu nhau, nàng lại gắn lên môi tôi điếu thuốc lá thơm – mà nàng đã mua sẵn và dấu ở đâu đó từ bao giờ – Để rồi, cả hai chúng tôi, kẻ hút người ngửi, lim dim tận hưởng những dư vị của loài dã thú khi yêu nhau. Vậy mà giờ đây, hết vợ đến con chê miệng bố hôi mùi thuốc quá. Đến sở làm 8 tiếng, có được 15 phút nghỉ giữa giờ thì mất hết 10 phút chạy từ chỗ làm ra ngoài chỗ quy định cho hút thuốc và chạy về lại. Chỉ còn 5 phút vừa hút thuốc vừa ăn vội miếng snack cho đỡ đói lòng. Ngày xưa, gói thuốc hộp vuông bao giờ cũng có một vị trí trang trọng ngay trên ngực áo. Gói thuốc càng đắt tiền càng làm “tăng giá trị” của người hút nó. Ngày nay, gói thuốc phải được cất ở chỗ kín đáo. Ít người thấy, ít người biết.</p>
<p><em>Hút thuốc, giờ đây trên đất Mỹ, như một tội tình.</em></p>
<p><em>“ Cái hút ngày nay đã hỏng rồi. </em></p>
<p><em>Mười người xưa hút, chín người thôi .”</em></p>
<h5>Lời tạ tình cho em</h5>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image006.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 10px 0px 0px 10px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image006" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip-image006-thumb.jpg" border="0" alt="clip_image006" width="244" height="244" align="right" /></a></p>
<p>Chưa bao giờ, trong 30 năm sương khói, mối tình chung thủy của tôi với người đẹp khói sương, phải trải qua giai đoạn thử thách oan nghiệt như bây giờ. Bỏ nàng ư ? Cuộc đời còn có niềm vui nào khác đâu mà từ với bỏ . Tiếp tục cuộc tình duyên 30 năm ư ? Ái ân gì mà lúc nào cũng vụng vụng trộm trộm như kẻ gian phu. Còn đâu cái dáng vẻ sảng khoái của một chiều xưa tóc bời lộng gió, điếu thuốc trên môi mắt đăm đăm nhìn về phương trời vô định, mơ ngày mai pháo rộn đường vui ?</p>
<p>Cuối cùng, sau nhiều ngày đêm trăn trở, vật vã, tôi đã hoàn tất xong bức tuyệt mệnh thư gửi đến người tình 30 năm có lẻ:</p>
<p><em>Em yêu dấu,</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>Ngàn đời vĩnh biệt em, người tình khói sương của 30 năm ân ái mặn nồng. Xin em nhận những lời tạ lỗi chân thành nhất từ trái tim đã bao phen đau đớn, khó thở vì nỗi đam mê em ngự trị. Nhưng dẫu đau đớn tôi nào dám hờn giận gì em, hay đoái hoài gì đến cuộc đời bỏ đi của chúng ta. Tôi mang tiếng phụ tình cũng chỉ vì tình thương con quá bao la. Em đã sống với tôi hơn 30 năm. Quá đủ cho một đời người ngắn ngủi. Xin hãy nhường phần đời còn lại của tôi cho con tôi, đứa con gái bé bỏng cần cha như cần hơi thở. Mai sau, nếu có gặp nhau, xin hãy xem nhau như hai người xa lạ. Nếu tôi có yếu lòng, muốn được hôn đôi môi trong trắng thơm mùi thuốc lá của em, dù chỉ một lần, xin hãy vì con tôi mà thẳng tay từ chối. Hệ lụy cuộc đời nhiều lắm em ơi. Tôi không muốn mãi mãi lún sâu vào hệ lụy em một lần nữa. Ơi người tình khói sương một thời yêu dấu !</p>
<p><em>Vĩnh biệt !</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Mỹ Quốc, một ngày ảm đạm.</em></p>
<p>© T. Vấn 2006</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2007/03/nguoitinh/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
