<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>T.Van &#187; Tháng 4 &#8211; 2006</title>
	<atom:link href="http://t-van.net/wordpress/category/thang4/2006-4/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://t-van.net/wordpress</link>
	<description>Trang Nha T.Van</description>
	<lastBuildDate>Fri, 03 Sep 2010 04:56:07 +0000</lastBuildDate>
	<generator>http://wordpress.org/?v=2.8</generator>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
			<item>
		<title>Ba Mươi Năm . . . Hồn nửa khuya</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2006/04/bamuoi-3/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2006/04/bamuoi-3/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 23 Apr 2006 02:18:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[4]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 4 - 2006]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2006/04/22/ba-m%c6%b0%c6%a1i-nam-h%e1%bb%93n-n%e1%bb%ada-khuya/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2006/04/bamuoi-3/"><img align="left" hspace="5" width="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb2.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image002" title="clip_image002" /></a><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image0022.jpg"></a>
Hành khúc : Vó Câu Muôn Dặm – Tranh của Trần Thanh Châu
.Viết thêm của tác gỉa :
Đà Lạt. Nốt nhạc có độ rung sâu lắng nhất trong bản nhạc đời của nhiều người đã từng một thời trải qua những năm tháng đẹp nhất của tuổi trẻ nơi thành phố ấy. Nốt nhạc mà, mỗi khi vang lên, đều mang đến những cảm xúc tươi rói như mình chỉ vừa mới chia tay với Đà Lạt ngày hôm qua, như vừa chia tay với Đà lạt lúc nãy.
Với tôi, Đà lạt còn là một người tình.
Ba mươi năm, hồn nửa khuya đau đáu
Tôi trở mình theo nỗi nhớ em
 
Hôm nay¸nỗi nhớ Đà lạt đã không còn quay quắt như mấy mươi năm về trước, vì sau một lần bước chân trở lại Đà Lạt ngày tôi ra khỏi trại tù, tôi[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image0022.jpg"><img style="border-right-width: 0px; margin: 5px 0px 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="clip_image002" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb2.jpg" border="0" alt="clip_image002" hspace="12" width="244" height="166" align="left" /></a></p>
<p><strong>Hành khúc : Vó Câu Muôn Dặm</strong> – Tranh của Trần Thanh Châu</p>
<p>.<strong><em><span style="text-decoration: underline;">Viết thêm của tác gỉa :</span></em></strong></p>
<p>Đà Lạt. Nốt nhạc có độ rung sâu lắng nhất trong bản nhạc đời của nhiều người đã từng một thời trải qua những năm tháng đẹp nhất của tuổi trẻ nơi thành phố ấy. Nốt nhạc mà, mỗi khi vang lên, đều mang đến những cảm xúc tươi rói như mình chỉ vừa mới chia tay với Đà Lạt ngày hôm qua, như vừa chia tay với Đà lạt lúc nãy.</p>
<p>Với tôi, Đà lạt còn là một người tình.</p>
<p><em>Ba mươi năm, hồn nửa khuya đau đáu</em></p>
<p><em>Tôi trở mình theo nỗi nhớ em</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>Hôm nay¸nỗi nhớ Đà lạt đã không còn quay quắt như mấy mươi năm về trước, vì sau một lần bước chân trở lại Đà Lạt ngày tôi ra khỏi trại tù, tôi biết rằng Đà-lạt-người-tình-năm-xưa của tôi đã chết . Lần ấy, tôi rời Đà lạt mang theo trong tim mình cái hồn Đà lạt của riêng tôi, như người ta hốt cốt bỏ vào trong hũ.</p>
<p>Thế là Đà Lạt đã ở bên tôi muôn đời. Mỗi khi rảnh rỗi, như lúc này, tôi mở tim mình , lấy cái hồn Đà lạt ra ngắm nghía cho đỡ nhớ.</p>
<p>Bài viết dưới đây được viết từ nhiều năm về trước, cũng trong một lúc rảnh rỗi ngồi ngắm nghía, ve vuốt cái hồn Đà lạt ( hay cái hồn ướt sũng sương mù Đà lạt của tôi ). Vì là cái hồn Đà Lạt rất riêng của tôi, nên có nhiều chi tiết rất riêng tư về một khỏang đời, với những người bạn cũng của khỏang đời ấy.</p>
<p>Nhưng, hình như sau một cuộc bể dâu, nhiều cái riêng đã trở thành cái chung từ lúc nào không hay. Hãy cứ đổi tên những con người thành cái tên quen thuộc của mình. Hãy cứ đổi những địa danh, những tên trường thành những địa danh, những tên trường quen thuộc của mình. Các bạn sẽ thấy chúng ta đều ở cùng tần số một nốt nhạc xưa, một nốt nhạc khi vang lên¸không ai bảo ai chúng ta đều dừng chân lại nghe ngóng:</p>
<p><em>Có phải là Đà lạt đấy không ?</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>T.Vấn</em></p>
<p><em>(Tháng 2-2009)</em></p>
<p><strong><em>● Gởi các bạn NT3 để nhớ đến nhau.</em></strong></p>
<p><strong><em>• Ba mươi năm hồn nửa khuya đau đáu . .</em></strong> .</p>
<p><em>( t. vấn )</em></p>
<table border="0" cellspacing="0" cellpadding="0">
<tbody>
<tr>
<td valign="top">M</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>ới đêm nao mù sương Đà Lạt, đạp hàng rào kẽm gai vọng gác Đông Quan, kéo cao cổ áo dã chiến – không phải chỉ vì lạnh, mà còn muốn che bớt đi màu xanh phu–la quấn cổ, che bớt đi con cá ( có đuôi ) đen trên ve áo – rồi đập bước chân rộn rã trên hè phố khuya Đà Lạt. Đôi khi chỉ vì thèm ly cà phê Tùng đắng chát. Hoặc cốc sữa đậu nành nóng hổi dốc Phan Đình Phùng. Nhưng trên tất cả , vẫn là thèm hơi ấm người tình nhỏ ( đã ngậm ngùi chưa hỡi những người xưa của một thời tuổi trẻ ? ). Vậy mà bây giờ đã 30 năm có lẻ. Nghe như có chút gì đắng ở cổ họng. Nghe như có chút gì nhói ở trong tim. Thế cũng đã xong cho một đời trai. Bạn bè tôi giờ đứa nào tóc cũng đã hai màu. Đàn anh tôi giờ ai tóc cũng đã hai màu. Đàn em tôi đứa nào giờ tóc cũng đã một màu rưỡi hoặc mấp mé bờ muối tiêu.</p>
<p>Đã 15 năm qua, ngay từ khi mới đặt chân đến bến bờ tự do, tôi đã có ý định viết lại những kỷ niệm của một đời phiêu bạt. <em>Sợ mai này trí nhớ tiêu hao</em>. Bị thời gian mài mòn, kỷ niệm sẽ chỉ còn là một khuôn mặt không rõ nét giữa một thành phố mù sương không rõ nét. Thế rồi cuộc sống gia đình với mọi lo toan đời thường ( ôi cái lý do mà ai cũng muốn vin vào đó khi sắp sửa chết đuối giữa biển đời xứ lạ ) đã cuốn tôi đi theo nó như củi mục lênh đênh trên dòng sông nước cạn. Tôi buông bút buông tay. Tôi buông cả đời tôi cho nợ áo, nợ cơm, nợ xe, nợ nhà. Tôi đã để mặc tôi đi lạc trên đất khách. Thỉnh thoảng có những lúc chuyếnh choáng hơi men bên bạn bè và những câu chuyện xưa được nhắc lại. Nhưng cũng vẫn chỉ một thoáng ngậm ngùi. Rồi thôi. Cho đến hôm đầu năm ,kéo cả gia đình đi Denver thăm bọn Huế Khỉ, Song Bèo Nhèo và Khuê Thợ Điện. Trong cơn cảm khái của bạn bè cũ gặp lại nhau sau gần hơn 30 năm, tôi chợt nhận diện lại được mình. Và ý định cầm bút viết về bạn bè đồng khóa lại lởn vởn trong đầu. Về nhà, điện thoại cho Lý Phước Hồng, xin lỗi hôm anh em Dallas họp mặt cuối năm, Châu văn Đẳng có báo cho hay, nhưng vì bận chuẩn bị đi Denver nên không dự được. Tôi nhờ Hồng mượn Đặng Hiếu Sinh tập Kỷ Yếu, copy rồi gởi cho tôi một bản. Nhận được bản copy Kỷ Yếu qua đường Bưu Điện, mới giật mình. Không ngờ trí nhớ mình còm cõi đến như thế. Ý định ban đầu là viết một bài có nhắc đến tên của tất cả 165 thằng khóa 3. Nhưng không dễ dàng gì. Lực bất tòng tâm. Chẳng lẽ bó tay. Nhân vừa rồi mới liên lạc được với Đoàn văn Mã Ngựa ở Louisiana. Nghe Mã nhắc đến T. với màu rượu Courvoisier. Và bài viết “ <em>trong cơn say cuối năm</em> “ trên tờ báo Tỉnh hai đứa cùng phụ trách ở Long An hơn 25 năm về trước. Nghe Mã đọc một đoạn thơ T. viết khi đi ngang Cổng Lam Sơn Trường ĐH/ CTCT. Bài thơ mà Trần Hữu Thạnh vẽ minh họa Cổng Lam Sơn có cô gái tóc dài đứng cô đơn giữa buổi chiều Đà Lạt nắng vừa tắt.</p>
<p><em>Thế rồi tôi ngồi vào bàn viết. Cần gì phải nhắc tên từng đứa. Một thành phố. Một mái trường. Và một người tình. Cùng những đêm trốn phố. Thế đã đủ chưa cho một khoảng đời kỷ niệm ?</em></p>
<p><strong><em>•Nhắm mắt, cho tôi tìm một thoáng hương xưa . . .</em></strong></p>
<p><em>(Phạm đình Chương ) </em></p>
<p>Tôi rời Đà Lạt ngày ra trường với những nỗi nhớ đã được chuẩn bị sẵn ngay trong đêm cuối thức trắng cùng bạn bè ôn lại kỷ niệm. Vì ngày mai, không biết rồi có còn được gặp lại nhau để hàn huyên nữa hay không. Tôi xa Đà Lạt với nhiều nỗi nhớ và cũng đã nhiều lần trở lại Đà Lạt sau đó để chất cho nặng thêm những nỗi nhớ của mình. Vẫn T. của Thư Viện Yersin những buổi chiều Sài Gòn – Đà Lạt áo Manteau trắng phủ kín lối về trường xưa qua cổng Lam Sơn còn nghe tiếng hô nghiêm dõng dạc của Lê Hà Thọ cùng điệu nhạc Hồn Tử Sĩ Đêm Truy Điệu trước ngày Lễ Tốt Nghiệp có áo mũ xênh xang, có áo xanh áo đỏ, có nước mắt lẫn nụ cười, có lời từ biệt não lòng giữa những hẹn hò tái ngộ. Vẫn T. của những đêm Đà Lạt lạnh cóng tay ôm nhau co ro lần xuống dốc Phan đình Phùng uống ly sữa đậu nành vỉa hè mà mơ mơ màng màng thấy hồn những thằng trốn phố – kìa người lùn nhất khóa Phạm ngọc Yên, kìa Nguyễn-Thế-Cường-người-yêu-của-Cúc, đứa trung sĩ đứa chuẩn úy – lãng đãng ẩn hiện trong đám sương mù trước mặt. “ <em>ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới.</em> “ Vẫn T. của những buổi sáng thức giấc vội vàng chạy vào trường cho kịp giờ leo lên chiếc xe cam nhông phạn xá ra phố lấy bánh mì và bơ điểm tâm cho sinh viên. Vẫn T. của những đêm trực gác Chúc Động, Đông Quan, Tây Đô, Đông Đô . . . nghe Trương Minh Hòa Sì-Lô nhóp nhép cơm phạn xá mà nhớ em quay quắt. Vẫn T. của những đêm trốn phố nhưng chưa lần nào bị tóm cổ. Dẫu có một lần xém chết. Đó là lần cả khóa đi công tác tại Quảng Ngãi đầu năm 1973. Nhớ T., nhớ Đà Lạt, tôi mượn tạm Hoàng kim Thiện sợi dây chuyền đem ra tiệm cầm đồ lấy 5 ngàn leo lên chuyến xe đò cuối cùng rời Quảng Ngãi đi Quy Nhơn. Ngang qua Cửa biển Sa Huỳnh lúc vừa tan khói súng một trận đánh đẫm máu. Mướn khách sạn ngủ đêm tại Quy Nhơn. Sáng hôm sau lò dò ra bến xe lấy vé về Nha Trang, quê hương của Nguyễn Tài-Dạo-Phố ( hãy ngủ yên đi Tài, tao thề không quấy rầy mày thêm một lần nào nữa ). Rồi từ Nha Trang về Đà Lạt. Một tuần sau, sợ tôi chết trước ngày ra trường, T. ăn cắp tiền của mẹ mua vé máy bay cho tôi trở ra Quảng Ngãi. Chuyến bay từ Liên Khàng đi Đà Nẵng. Đến phi trường Đà Nẵng, vừa bước ra khỏi khoang máy bay, thấy một chiếc xe Jeep chờ sẵn trên cổng quân sự. Trên xe là Liên Đoàn Trưởng Sinh Viên Thiếu Tá Nghiêm Viết Thành, Trung úy K2 Phụ Tá Trưởng Toán Văn Nghệ Nguyễn Đức Phương ( người gỉa gái đẹp nhất Đà Lạt và là tác giả câu nói bất hủ “ Phạt thì bảo là ác, không phạt thì bảo là gà “ – Đồng Trưởng Toán Văn nghệ Tiền Phương là Trường-Sơn-Dã-Mã Trần ngọc Hoàn và Nhạc-Trưởng-đẹp-trai-nhất-Đà-Lạt Đào quang Hùng) và K3 Nguyễn đỗ Tiến . Nhanh như cắt, tôi lẩn vào đám hành khách tay xách nách mang thoát ra lối dân sự. Rồi tức tốc đón xe thồ ra bến xe để về ngay Quảng Ngãi. Tối đó, Nguyễn đỗ Tiến chỉ mặt. Phúc bẩy đời nhà mày ông Thành lúc đó ngó đi chỗ khác. Thì ra, Thiếu tá Nghiêm viết Thành ra phi trường để về lại Đà Lạt vì hôm trước đã có Trung Tá Nguyễn thanh Nhung Trưởng Khối Khóa Sinh ra thay chỉ huy đoàn công tác. Vị đàn anh hiền lành Nguyễn đức Phương hôm đó cũng thấy tôi , nhưng lờ đi. Người chấp nhận mang tiếng Gà hơn là mang tiếng Ác. Sau này, gặp lại Niên trưởng Phương ở Trại Long Giao, nhắc lại chuyện xưa chúng tôi cười hả hê. Đại úy Đào Ngọc Tố, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2 SVSQ , hôm trước ngày Lễ Tốt Nghiệp K3 21 tháng 4 năm 1973, gặp tôi ở quán cà phê Tùng, đã cho tôi biết là ông cũng biết về chuyến “ đi phép động trời “ của tôi, nhưng nghĩ rằng ngày ra trường đã gần kề, nên lờ đi. Nghe hú vía và thấm thía. Quãng thời gian ra trường của tôi từ 21 tháng 4 năm 1973 cho đến 21 tháng 3 năm 1975 là một chuỗi những chuyến đi bất chợt từ Sài Gòn lên Đà Lạt sáng thứ bảy rồi lại đáp chuyến xe đò tài 1 từ Đà Lạt trở lại Sài gòn ngày hôm sau chủ nhật. Trong túi luôn luôn có một xấp Sự vụ lệnh đóng mộc đơn vị sẵn, ký tên sẵn ( tất nhiên là chữ ký giả ). Chỉ có ngày đi ngày về là để trống. Mỗi lần xe ngừng tại Đồn Quân Cảnh Prenn là mỗi lần tim tôi thắt lại. Chỉ sợ anh chàng Quân Cảnh tinh mắt nhận ra đơn vị là một tỉnh vùng 3 sao lại đi công tác ở một tỉnh vùng 2. Cũng may, chưa lần nào bị tổ trác. Vì hên hay vì Quân cảnh lờ mờ. Có lẽ cả hai. Những ngày gần cuối tháng 3 năm 1975 , tôi có mặt tại Đà Lạt để mua cặp lon trung úy mới tinh tại cửa hiệu Chị Chúc rồi tự gắn lên ve áo của mình với sự chứng kiến của T.. Cũng vừa lúc để túc trực tại Nhà xác Bệnh Viện Tiểu Khu với 3 SVSQ K5 mới qua đời vì một tai nạn đáng tiếc. Trưa hôm sau, vào trường đúng giờ cơm trưa. 3 khóa 4,5, 6 đang đi diễn hành trước giờ vào Phạn xá. Vẫn cờ quạt kiếm cung. Vẫn bài hát quen thuộc “ đoàn người tưng bừng về trong sương gió . . .”. Tôi đứng bên cạnh Sĩ Quan Trực Liên Đoàn Đại Úy Đào Ngọc Tố. Ông bảo bữa nay tụi nó đi đàng hoàng hơn mọi ngày, tại vì có niên trưởng ở xa về chứng kiến. Nghe thật thấm thía. Vào Phạn Xá thấy mấy trăm đôi mắt chú mục nhìn vào mình, đứng nghiêm chào. Nghe SVSQ trực Phạn Xá đọc thực đơn hôm nay gồm có nước mắm Phan Thiết, chuối La Ba , trà Blao , chúc các SVSQ thực đơn, ăn ngon. Bữa cơm có thịt heo kho, có cà rốt xào, có ớt tươi, đặc biệt của SVSQ trực Phạn xá móc từ trong túi áo dã chiến ra. Ngày hôm sau nữa, vào trường tranh luận với nhóm Lê quốc Hùng K4 về đề tài Đà Lạt Tuyên Đức sẽ là vùng trái độn cho một giải pháp chính trị nhằm chấm dứt cuộc chiến. Trong lúc đó, đường bộ Sài Gòn – Đà Lạt đã bị cắt. Sau đó, được Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Nguyễn Quốc Quỳnh can thiệp cho đi chuyến máy bay quân sự cuối cùng rời phi trường Cam Ly về Sài Gòn. Mới chân ướt chân ráo về đến đơn vị, nghe đài phát thanh quân đội loan tin Đà Lạt Tuyên Đức đã di tản chiến thuật ngày cuối cùng của tháng 3. Vừa đang lo lắng , thì nhận tin T. và gia đình đã về được Sài Gòn bằng chuyến bay dân sự cuối cùng ngày 1 tháng 4 năm 1975. T. kể hai quân trường Đà Lạt đang trên đường về Sài Gòn. Tôi tiếc mình không ở lại Đà Lạt để chứng kiến những giây phút lịch sử ấy. Dẫu sao thì cũng cám ơn Thần Ái tình. Nếu trái tim không bị rướm máu vì trúng tên thì dù cho nỗi nhớ Đà Lạt và Trường Xưa có mạnh cách mấy chưa chắc tôi đã đóng hụi chết cho hãng xe đò Sài gòn – Đà Lạt hàng tháng. Với tôi, 3 khái niệm : Người Tình, Trường Xưa và Đà Lạt là Một. Cả ba đã trộn lẫn vào nhau để tạo thành một quãng đời đáng sống nhất, đáng nhớ nhất của tôi. Suốt gần 9 năm trong tù, từ Nam ra Bắc, từ Bắc vào Nam, tôi gậm nhấm kỷ niệm Đà Lạt từng ngày, từng giờ, từng phút, từng giây để quên đói, quên rét, quên khổ, quên nhục và để . . . nhớ em.</p>
<p><strong><em>•Kỷ niệm cũ, vẫn còn nguyên vẹn đó.</em></strong></p>
<p><em>( Nguyễn đình Toàn ) </em></p>
<p>Tôi trở lại Đà Lạt lần cuối cùng một ngày cuối tháng 3 năm 1989. Đi đến đâu cũng thấy mình đang dẫm lên bước chân của chính mình, của T. và của bạn bè gần 20 năm về trước. Đi đến đâu cũng thấy rưng rức những kỷ niệm. Ngược đường Hàm Nghi, đi ngang qua căn nhà trước đó 17 năm , T. đã ở đây để đón tôi những đêm trốn phố. Cũng từ căn nhà đó, T. đã khóc giọt nước mắt đàn bà lần đầu tiên. Vượt dốc Võ Tánh, ngang chùa Linh Sơn, nhớ hồn ma Sử Xuân Vĩnh Lộc. Một ngày cuối tháng 3 năm 1973, quan tài của Lộc đã được quàn ở chùa này. Đến trước cổng trường ( cũ ), lặng lẽ nhìn vào, thấy mình đang đứng cô đơn giữa Vũ Đình Trường, đầu đội mũ nhựa, tay đeo găng trắng, nách cặp gậy chỉ huy , nhưng từ hai hốc mắt đen thui lại chảy xuống hai hàng lệ đỏ như máu. Bước xế qua trường Bùi thị Xuân , thấy sân trường vắng hoe, không một bóng áo len xanh, không một đôi má đỏ. Và kia là đường lên Viện Đại học. Nhớ T. buổi chiều giảng đường Năng Tĩnh nụ hôn đầu đời quấn quýt, để từ đó nhớ nhung nhung nhớ.Thế đấy. <em>Kỷ niệm vẫn còn nguyên vẹn đó</em>. Như mới hôm qua. Như mới vừa lúc nãy. Tôi hôn tay mình. Vẫn còn thơm mùi da thịt em trinh nữ. Tôi gọi tên bạn bè. Nghe đâu đó trong gió có tiếng ời ơi đáp lại. Lồng lộng cả đồi Thông Thiên Học. Tôi gọi tên tôi. Nghe đâu đó có tiếng vọng lời nhắn nhủ nhau hôm tập họp lần cuối cùng ở sân Liên Đoàn Sinh Viên trước khi tan hàng cố gắng. <em>Nếu chúng ta không làm được gì tốt đẹp cho quân trường Mẹ thì nguyện sẽ không làm</em> <em>điều gì xấu hổ cho trường Mẹ</em>. Tôi thấy mình đứng cạnh quan tài Sử Xuân Vĩnh Lộc trước cổng chùa Linh Sơn, nhìn từng thằng bạn đến thắp nhang vái lạy. Tôi thấy Lâm quang Thiện, Lưu Xuân Quới, Hoàng Trai, Phạm anh Tuấn, Nguyễn văn Sáu, Trương quang Lý, Lâm quang Mầu, Lê văn Phú, Nguyễn văn Xuân, Trần văn Thành, Lê văn Nho, Nguyễn hữu Thụy, Nguyễn Tài xếp một hàng dọc chờ đến phiên mình. Đã gần 20 năm không gặp, kể từ ngày chia tay năm ấy. Nhưng tôi chẳng thấy đứa nào già đi cả. Khuôn mặt chúng nó trẻ y hệt như vừa nhẩy trong Kỷ Yếu ra.Thằng nào cũng đẹp trai. Riêng Vĩnh Lộc dường như hàm răng có đỡ hô một chút. Tội nghiệp ông Quận Trưởng Mỏ Cày của tụi tao. Tôi thấy chúng nó cười. Vẫn nụ cười ngày xưa. Mẹ kiếp, trong lúc mình rưng rưng muốn khóc. Muốn bắt chước Vũ trọng Khảo chửi thề. Cười cái đầu b… tao đây này. Nhưng lại thôi. Để chúng nó yên nghỉ. Chấp làm gì những thằng sớm lìa bỏ bạn bè. Chấp làm gì những thằng sớm lìa bỏ người tình. Chấp làm gì những thằng sớm lìa bỏ cuộc chơi. Hay là chúng mày sớm biết trước cuộc chơi sẽ có cái kết cuộc buồn thảm như thế này. Vậy thì, hãy để tụi tao – những thằng còn sống ( hay chưa chết ) – yên nghỉ. Rest in Peace. Buddies.</p>
<p><em>Buổi chiều hôm ấy. Một buổi chiều tháng 3 năm 1989. Tôi như người mắc bệnh mộng du giữa một Đà Lạt hoang tàn. Không T.. Không bạn bè. Không hiện tại. Không tương lai. Chỉ còn dĩ vãng. Sau chuyến đi Sài gòn Đà Lạt lần cuối cùng ấy, tôi tự nhủ lòng sẽ không bao giờ quay lại chốn này một lần nào nữa. Và tôi đã giữ lời . Cho đến ngày hôm nay. Lần đó, trước khi rời Đà Lạt, tôi đã để một buổi chiều đi bộ lang thang khắp hang cùng ngõ hẻm Đà Lạt. Mong tìm lại những khuôn mặt quen biết cũ còn nấn ná đâu đó. Nhưng tôi không gặp ai. Hay có lẽ có gặp, nhưng tôi không nhận ra ai và cũng không ai nhận ra tôi. Tôi có đi tới đi lui nhiều lần ở phố Hoàng Diệu., mong tìm lại những người thiếu nữ năm xưa. Nhưng chẳng còn ai. Đã lâu quá rồi còn gì. Tôi mang tâm trạng của Từ Thức quay trở lại làng cũ thì biển xanh đã biến thành ruộng dâu, trường xưa đã biến thành trại lính. Còn người xưa thì đã khuất núi vì mòn mỏi đợi chờ. Y hệt những giấc mơ tôi thường gặp những ngày còn ở tù. </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><strong><em>•Tôi trở mình theo nỗi nhớ em . . .</em></strong></p>
<p><em>( t. vấn )</em></p>
<p>Tôi viết những dòng này mà sống mũi cay xè. Đầu tôi đã bạc một nửa. Có thể, sáng mai, tôi sẽ không tìm thấy một sợi đen nào. Tôi nhớ đoạn văn đâu đó của Hoàng Ngọc Tuấn. Kỷ niệm vùi chôn dưới đáy giếng. Mỗi lần muốn giở ra xem lại, phải xước da chảy máu vì những viên đá nhọn thời gian bám hai bên thành giếng. Ở một nghĩa nào đó, tay tôi đang rỉ máu. Những vết xước thật êm ái và dễ chịu. Ôi cái tuyệt vời của thú đau thương. Hạnh phúc là còn có kỷ niệm để được đau đớn, để được hân hoan. Là còn có bạn bè để chia sẻ, để nghĩ về và để tìm đến nhau thi thoảng. Là còn có người tình một thời tấm mẳng nay đã biền biệt phương nào ( để ảo tưởng rằng người ấy vẫn còn nuôi trong tim hình bóng cũ ). Chao ôi cuộc sống với muôn vàn những hệ lụy. Chẳng ai có thể cứ ngồi đó mà ôm hoài quá khứ . Chỉ còn lại được những đêm trở mình theo nỗi nhớ. Những đêm nhè nhẹ rời khỏi giường, ra ngồi trên bàn viết, mắt đăm đăm nhìn vào trang giấy trắng trước mặt mà thấy hiển hiện những hình bóng xưa tưởng như đã chết đuối trong tiềm thức. Rồi soi bóng mình trong tiền kiếp.</p>
<p>“ <em>Còn thấy gì, sáng mai đây thôi ta còn bạn bè . . .</em> “ Tôi biết mình còn có bạn bè. Tôi biết mình còn có những đàn anh, những đàn em . Chúng tôi có chung những kỷ niệm . Chúng tôi ở trong cùng một quá khứ. Này Đinh Thiện Chí K4. Một đêm nào năm xưa ở nhà Nguyễn đỗ Tiến Oklahoma, nhìn cậu ôm chai rượu gật gù kể về những ngày xưa thân ái ấy, tôi nhớ mình có nói với nhau rằng phải có ai đó cầm bút ghi lại những kỷ niệm . <em>Kẻo mai này . . . trí nhớ tiêu hao.</em></p>
<p><em>Hình như bài viết này đã làm phần nào công việc đó. Dẫu cho những người được nhắc tên phần lớn là K3. Nhưng có hề gì đâu phải không Chí ? Đà Lạt vẫn là của mọi người để nhớ. Trường xưa</em> <em>vẫn là của mọi người để thương. Tháng Tư Định Mệnh vẫn là của mọi người để uất ức. Những người tình vẫn là của riêng từng người để bùi ngùi.</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><strong><em>•Tạ ơn đời, tạ ơn em …</em></strong></p>
<p><em>( vô danh )</em></p>
<p>Có những người tình nay là những người bạn đời. Có những người tình mãi mãi ở trong quá khứ. Mệnh nước nổi trôi cuốn theo những mảnh đời. Anh hùng và thục nữ. Tôi chắp tay ngưỡng mộ những người-tình-người-bạn-đời trải bao năm tháng bể dâu , vẫn thủy chung bên cạnh người xưa một thời Worsted, Jasper. Tôi nghiêng mình chia sẻ những éo le của định mệnh đã đẩy đưa những người tình hôm qua nay chỉ còn là kỷ niệm. Tôi cúi đầu khâm phục lòng độ lượng của những người bạn đời hôm nay, tuy không phải là những người tình của hôm qua, nhưng đã đến với chúng tôi trong khoảng đời gian nan nhất, khi chúng tôi “ <em>đã mất tất cả, chỉ còn có nhau</em> “. Không một mảy may mặc cảm. Chia sẻ từng giọt đắng, từng giọt ngọt, từng giọt vui, từng giọt sầu.</p>
<p><em>Khi tôi viết những dòng này, người mẹ tuyệt vời của các con tôi đang giả vờ say ngủ. Để cho tôi được một mình trong cuộc hành trình tìm về quá khứ. Ôi đẹp biết bao nếu cuộc đời này ai cũng biết bao dung, ai cũng biết độ lượng. Xin Tạ Ơn đời. Xin Tạ Ơn nhau. Xin tạ ơn em. Nhờ em, tôi biết mình đã lên bờ.</em></p>
<p>Hơn 30 năm về trước, tôi yêu vô cùng một đoạn thơ và còn nhớ tới bây giờ, nhưng không nhớ tên tác giả ( Sau này, tôi đã được nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng , một người thầy học cũ của tôi ở trường Petrus Ký xác nhận rằng chính ông là tác giả đọan thơ trích dẫn dưới đấy .T.Vấn ). Tôi chép lại ở đây, gởi đến tất cả những bạn bè, những đàn anh, những đàn em, như một lời tạm biệt. Gởi đến tất cả những người-tình-người-bạn-đời thủy chung, như một lời xưng tụng. Gởi đến tất cả những người tình hôm qua, như một lời xin tha thứ cho nhau. Gởi đến tất cả những người bạn đời của hôm nay, như một lời tri ân. Gởi đến tất cả những người quen và không quen ở thành phố ấy năm xưa, nơi có một ngôi trường tên là Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, như một lời chào thân ái. Tôi cũng không quên gởi đến những anh em bạn bè đã nằm xuống nơi quê nhà và quê người, như một lời đưa tiễn.</p>
<p><em>Nào còn gì đâu, cầm lấy tay tôi</em></p>
<p><em>Nào còn gì đâu, cầm lấy hồn tôi</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Này đây những lời yêu thương thứ nhất</em></p>
<p><em>Chia nhau mỗi người làm vốn sinh nhai.</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>T. Vấn</p>
<p>(Tháng 4 quê người)</p>
<p>© T.vấn 2006</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2006/04/bamuoi-3/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>(Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975) chiến tranh đã chấm dứt chưa ?</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2006/04/chientranh/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2006/04/chientranh/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 16 Apr 2006 02:11:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[4]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 4 - 2006]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2006/04/15/sau-ngy-30-thng-4-nam-1975-chi%e1%ba%bfn-tranh-d-ch%e1%ba%a5m-d%e1%bb%a9t-ch%c6%b0a/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2006/04/chientranh/"><img align="left" hspace="5" width="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb3.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image002" title="clip_image002" /></a><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image0023.jpg"></a>
Rồi hết chiến tranh – Tranh của Trần Thanh Châu
Bây giờ là Tháng Tư. Nơi xứ người thì đất trời đang vào Xuân. Còn ở quê nhà mùa khô đã bắt đầu từ lâu, kèm theo với cái nóng bốc lửa. Mùa Khô. Mùa Mưa. Những âm vang của một thời chiến tranh. Hẳn những người chiến binh năm xưa nay vẫn còn nhớ.
Nhưng chiến tranh đã chấm dứt hẳn chưa ? 
1.
Đối với người Mỹ, cuộc chiến tranh ở Việt Nam khiến hơn 58 ngàn con em của họ phải trở về trên những chiếc hòm kẽm có phủ quốc kỳ 3 màu xanh đỏ trắng thì , một cách chính thức, nó đã chấm dứt ngày 23 tháng 4 năm 1975 khi Tổng Thống Gerald Ford dõng dạc tuyên bố trước hàng ngàn sinh viên ( với sự tham dự của đông đủ[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image0023.jpg"><img style="border-right-width: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: 0px; border-left-width: 0px; margin-right: 0px" title="clip_image002" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb3.jpg" border="0" alt="clip_image002" hspace="12" width="91" height="244" align="left" /></a></p>
<p><strong><em>Rồi hết chiến tranh – Tranh của Trần Thanh Châu</em></strong></p>
<p>Bây giờ là Tháng Tư. Nơi xứ người thì đất trời đang vào Xuân. Còn ở quê nhà mùa khô đã bắt đầu từ lâu, kèm theo với cái nóng bốc lửa. Mùa Khô. Mùa Mưa. Những âm vang của một thời chiến tranh. Hẳn những người chiến binh năm xưa nay vẫn còn nhớ.</p>
<p><em>Nhưng chiến tranh đã chấm dứt hẳn chưa ? </em></p>
<p><strong>1.</strong></p>
<p>Đối với người Mỹ, cuộc chiến tranh ở Việt Nam khiến hơn 58 ngàn con em của họ phải trở về trên những chiếc hòm kẽm có phủ quốc kỳ 3 màu xanh đỏ trắng thì , một cách chính thức, nó đã chấm dứt ngày 23 tháng 4 năm 1975 khi Tổng Thống Gerald Ford dõng dạc tuyên bố trước hàng ngàn sinh viên ( với sự tham dự của đông đủ phóng viên truyền thanh truyền hình quốc tế) của trường Đại Học Tulane ở thành phố New Orleans thuộc Tiểu bang Louisiana : &#8221; <em>Đối với Hoa Kỳ, chiến tranh Việt Nam đã kết thúc . . . &#8220;.</em></p>
<p><span id="more-261"></span></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> </em></p>
<p>Đối với hai bên tham chiến ở Việt Nam, thì chỉ một tuần sau lời tuyên bố nói trên của vị Tổng thống Mỹ, chiến tranh cũng đã được coi như là chấm dứt ( ít nhất là trên ý nghĩa không còn tiếng súng nổ ) vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 khi lá cờ vàng ba sọc đỏ bị kéo xuống khỏi nóc Tổng Thống Phủ Việt Nam Cộng Hòa cùng với lời đầu hàng tuyên đọc bởi vị tổng thống cuối cùng của nền cộng hòa.</p>
<p>Từ Luân Đôn, phóng viên của đài phát thanh lừng danh ( thời bấy giờ ) BBC phát đi một bản tin với câu kết thúc thật nhẹ nhõm rằng thế là đã xong một cuộc chiến tranh kéo dài 30 năm giữa hai miền Nam Bắc Việt Nam.</p>
<p>Đối với người lính miền Bắc, nỗi ám ảnh đi B (tức bị thuyên chuyển vào trong Nam để chiến đấu) cũng đã chấm dứt từ ngày ấy.</p>
<p>Đối với người lính miền Nam, tuy vẫn còn bao ẩn ức, nhưng cũng tự an ủi mình rằng hòa bình rồi, bỏ súng , cởi áo trận về làm người dân dã, xây dựng lại cuộc đời.</p>
<p><em>Nhưng có thật là chiến tranh đã chấm dứt từ những ngày ấy ?</em></p>
<p><strong>2. </strong></p>
<p>Bao nhiêu bút mực đã đổ ra cho 30 năm cuộc chiến tranh tương tàn, thì cũng bấy nhiêu bút mực ( thậm chí còn hơn nữa ) hiện đang đổ ra cho hơn 30 năm sau cuộc chiến. Ai cũng ảo tưởng rằng từ nay ( sau ngày hết chiến tranh ) đất nước đã quy về một mối, đã &#8221; <em>sạch bóng ngoại bang</em> &#8220;, chỉ còn những người Việt với nhau như những anh em ruột thịt trong gia đình có chung một người mẹ Việt Nam. Nhưng chẳng may, trong thực tế , lại là &#8220;<em>cả nước đã quy về một mối, một</em> <em>mối hận thù một mối đau thương</em>&#8221; ( thơ Nguyễn Chí Thiện ). Và từ lòng người ( Việt Nam ) một dòng sông chia cắt thành hình , giống hệt như giòng Bến Hải ngăn rẽ hai miền Nam Bắc những ngày chiến tranh.</p>
<p><em>Chúng ta đã qua một thời binh lửa.</em> Và thời binh lửa cũng đã qua nhưng hơn 30 năm sau vẫn còn những điều phải nói về những ngày binh lửa ấy. Vết thương cũ vừa kéo da non, chưa kịp lành miệng hẳn thì lại bị cào rách. Cứ thế kéo dài từ năm này qua năm nọ. Và có thể, cứ thế mà truyền từ thế hệ này cho đến thế hệ nối tiếp. Vì năm nào mà chẳng có tháng 4, và tháng 4 nào mà không có ngày 30, theo ý nghĩa ngày đó không phải là ngày chấm dứt một cuộc chiến tranh, mà là ngày mở đầu, ngày đánh dấu một giai đoạn &#8221; <em>cả nước quy về một mối, một mối hận thù một mối đau thương &#8220;. </em></p>
<p><em> </em></p>
<p>Nhưng ai là người phải chịu trách nhiệm về thảm kịch 31 năm sau chiến tranh, và có thể sẽ là 35 năm, 40 năm, 60 năm sau chiến tranh ?</p>
<p><em>Những ngón tay từ bên ngoài ( nước ) chỉ về bên trong, và &#8211; không có gì ngạc nhiên &#8211; những ngón tay từ bên trong ( nước ) chỉ lại ra bên ngoài. Đơn giản là vì đất nước bây giờ đã &#8221; sạch bóng ngoại bang &#8221; nên không còn Tây hay Mỹ để đổ tội lên đầu đế quốc. </em></p>
<p>Tôi có cảm tưởng như sẽ không bao giờ có một lối thoát cho những bế tắc hiện nay. Bởi vì, ở trong nước, ngay cả những người có tư tưởng dân chủ , không bằng lòng sự ngự trị độc tôn của đảng Cộng sản, vẫn cho rằng sự đối đầu với chế độ cộng sản ở trong nước của cộng đồng người Việt Hải Ngoại &#8211; cầm đầu bởi những viên chức &#8221; thua trận &#8221; của VNCH &#8211; là một sự đối đầu nhằm &#8221; <em>phục hồi danh nghĩa cho cái thực thể chính trị ( Việt nam Cộng Hòa – T. Vấn nhấn mạnh ) ấy, qua đó lôi kéo những thành phần khác vào quỹ đạo của mình, xây dựng lực lượng, hy vọng có được cơ hội trở về tái tạo cơ đồ &#8221; ( Lữ Phương : Chiến tranh Việt Nam : chủ quyền quốc gia, xung đột ý thức hệ và hòa giải dân tộc. Diễn đàn Talawas. 30-5-2005 ).</em> Nói gì đến những người đã từng một thời cầm súng ở một bên chiến tuyến. Nói gì đến những người cầm quyền ở trong nước, đang bám vào bất cứ cái phao tuyên truyền nào có thể bám được.</p>
<p>Bởi vì, ở ngoài nước, vẫn còn những người chỉ sống bằng quá khứ, thứ quá khứ vang bóng một thời ( và không có gì khó hiểu khi phần lớn những người này chưa hề một lần nếm mùi cải tạo, chưa hề biết đến bao hiểm nguy nhọc nhằn của vượt biên, chưa hề đau nỗi đau mất vợ, mất con trên biển cả ) , không ngớt đao to búa lớn , mắt trả mắt , răng đền răng.</p>
<p><strong>3.</strong></p>
<p>Tôi đã nhiều lần nhìn những hình ảnh các cựu chiến binh từ cuộc chiến Việt Nam ôm nhau xóa bỏ mọi hận thù. Nhưng, thật mỉa mai, những cựu binh ấy chỉ là những cựu binh trong quân đội Mỹ và quân đội miền Bắc. Hình ảnh &#8221; <em>hòa giải</em> “ giữa hai kẻ thù cũ được đưa lên trang nhất những tờ báo quốc doanh ở trong nước ( Việt Nam ) , những tờ báo lớn và cũng nặng về quảng cáo thương trường của nước Mỹ, như một dấu hiệu thật đẹp đẽ cho một thời kỳ mới, thời kỳ sống chung hòa bình và cùng nhau phát triển. Chẳng bao lâu sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, thế giới ( chứ không phải Việt Nam ) mau chóng nhận ra rằng, tuy người Mỹ thua cuộc chiến tranh ( Việt Nam ), nhưng chủ nghĩa tư bản đã thắng ( ở Việt Nam ). Trên cơ sở những thị trường mới cần khai thác cho những công ty kinh doanh của Mỹ và nguồn thuế lợi tức tuy chưa phải là béo bở nhưng đầy hứa hẹn, người Mỹ đã bắt tay lại với kẻ cựu thù.</p>
<p>Phía Việt Nam, trước nguy cơ bị mất quyền lãnh đạo vì đất nước ngày một lún sâu vào nghèo đói, lạc hậu, mảnh đất màu mỡ ươm mầm cho những cuộc nổi dậy của nhân dân, giới chức lãnh đạo đã không còn lựa chọn nào khác ngoài đổi mới cấu trúc kinh tế chỉ huy , một sự đổi mới nhằm cứu vãn vai trò chính trị độc đảng , chứ không phải nhằm cứu vãn cuộc sống khốn khổ của người dân như lâu nay đảng vẫn thường rêu rao ( đất nước ngày nay có thay da đổi thịt cũng chỉ là một sự ăn theo, kẻ có cơm ( giới cầm quyền ) , người có cháo ( quần chúng nhân dân ). Và , cũng như người Mỹ, người cộng sản choàng vai qua ôm kẻ cựu thù cũng chỉ nhằm hưởng chút &#8221; <em>văn minh</em> &#8221; của chủ nghĩa tư bản.</p>
<p>Cho nên, không lạ gì khi tôi vẫn chưa nhìn thấy hai kẻ cựu thù có liên hệ máu mủ ( vì cùng một bọc trứng của Mẹ Âu Cơ đẻ ra ) ôm nhau giải hòa sau hơn 30 năm cuộc chiến chấm dứt.</p>
<p><em>Tôi cũng không hy vọng gì nhìn thấy hình ảnh ấy xẩy ra trong một tương lai gần.</em></p>
<p><strong>4.</strong></p>
<p>Cũng thời điểm này năm ngoái, việc trở về Việt Nam sinh sống của một nhạc sĩ tiếng tăm ra đi từ tháng 4 năm 1975 đã gây khá nhiều những tranh cãi, nhất là với cộng đồng người Việt hải ngoại.</p>
<p>Đối với người nhạc sĩ nói trên , ông tin rằng sự trở về của mình là một hành động khép lại quá khứ, nhìn về tương lai. Trong một cuộc phỏng vấn, ông nói rằng nhà nước Việt Nam đã chìa tay ra rồi ( ông ám chỉ nghị quyết 36 ), cho nên bây giờ là lúc phải chọn con đường về với quê hương.</p>
<p>Ở một nghĩa nào đó, thì sự việc ông trở về và được nhà nước Việt Nam hoan nghênh, dành cho mọi sự dễ dãi ( tuy vẫn giới hạn ) là một biểu tượng của sự hòa giải giữa hai cựu thù . Một bên, là người nhạc sĩ đã từng đi theo kháng chiến ( dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản ), rồi bỏ kháng chiến về thành, viết những bài hát &#8221; phản động &#8220;, rồi một lần nữa, chạy trốn ra khỏi nước, tiếp tục viết những bài ca kết án người anh em bên kia. Và một bên, đã từng lên án người nhạc sĩ bằng những lời lẽ nặng nề nhất dành cho kẻ thù ( không ai biết số phận của ông ra sao nếu ông không nhanh chân chạy ra khỏi nước những ngày cuối tháng 4 năm 1975 ).</p>
<p>Nhưng, ai cũng nhìn thấy cái dụng ý của nhà nước Việt Nam trong trường hợp người nhạc sĩ tiếng tăm này. Qua ông, giới cầm quyền trong nước nhìn về cái túi tiền và tiềm năng của cộng đồng người Việt hải ngoại. Về phía người nhạc sĩ, ông hiểu rằng 80 triệu người dân trong nước vẫn là khối thưởng ngoạn âm nhạc to lớn hơn nhiều khi so sánh với 3 triệu người Việt hải ngoại sống rải rác khắp nơi trên thế giới.</p>
<p><em>Cũng như hai cựu thù Mỹ- Việt , cuộc hòa giải giữa người nhạc sĩ và chính quyền cộng sản cũng chỉ đặt trên cơ sở trục lợi ( lẫn nhau ) ? ? ?</em></p>
<p><strong>5.</strong></p>
<p>Mới đây nhất, có một sự kiện rất đáng chú ý ở trong nước, nhưng nhà cầm quyền đã vội cho chìm xuồng .</p>
<p>Người nhạc sĩ nhắc đến ở trên, trước khi chính thức ổn định cuộc sống tại quê nhà, ông đã có những hợp đồng phổ biến và trình diễn kho tàng sáng tác âm nhạc đồ sộ của mình với một công ty kinh doanh văn hóa phẩm trong nước. Và ngay sau khi được sự cho phép của nhà nước, công ty này đã liên tục tổ chức nhiều đêm đại nhạc hội dành cho riêng ông ở nhiều thành phố lớn trong nước ( phía Nam), giá vé tham dự đạt tới mức cao kỷ lục ( 5 trăm ngàn đồng (VN)/ 1 vé ). Tất cả đều đạt được sự thành công vang dội, cả về mặt tài chính lẫn nghệ thuật. Ngoài ra, một công ty khác cũng đã mua 10 nốt nhạc đầu trong một bài hát nổi tiếng của người nhạc sĩ với giá 100 triệu đồng (VN). Những sự kiện vừa nêu, chưa từng xảy ra trong mọi hoạt động văn hóa văn nghệ ở Việt Nam. Vì thế, chúng gây một phản ứng ngược nơi những người hoạt động âm nhạc trong nước, thu gọn lại là những người đã từng một thời ở về phe đối nghịch với người nhạc sĩ. Họ cảm thấy mình bị bỏ rơi, bị quên lãng, trước sự ưu ái của quần chúng trong nước dành cho người nhạc sĩ này. Từ mặc cảm bị bỏ rơi ( bởi quần chúng ) , họ đã công khai bầy tỏ sự ấm ức, bất mãn trước những gì người nhạc sĩ &#8221; phản động &#8221; , nay trở về được hưởng. Đúng hơn, đó là tâm trạng ganh tị, hờn dỗi, rồi tin rằng bao năm hy sinh gian khổ cho cách mạng để đến bây giờ họ bị đối xử không bằng &#8221; <em>một người từng bỏ kháng chiến theo thực dân Pháp, khi Pháp rút lại theo Ngô Đình Diệm và khi ngụy quyền sụp đổ lại chạy qua Mỹ. Và tại đó, đã viết hàng loạt bài kêu gọi chống cộng, với giọng điệu sặc mùi hiếu chiến. Nay, thấy Việt Nam vươn lên mạnh mẽ, lại xin trở về ! hà cớ gì phải tung hô, xưng tụng đến thế !&#8221; ( Nguyễn Lưu &#8211; Báo Đầu Tư &#8211; 13-03-2006) </em>. Người công khai nêu lên luận điểm &#8221; phản tuyên truyền &#8221; trên là một hội viên hội nhạc sĩ Việt Nam, ngành lý luận , đã từng đoạt giải thưởng về sáng tác ( âm nhạc ), về lý luận, về phê bình. Bài viết có nhiều dẫn chứng sai lầm rất ấu trĩ, khó có thể tin được tác giả của nó đã từng đoạt nhiều giải thưởng lý luận , phê bình, nhưng có những đoạn văn khiến tôi phải suy nghĩ khi liên tưởng đến việc những cựu thù ( Nam, Bắc Việt Nam ) đến nay vẫn chưa bắt tay nhau giải hòa :</p>
<p><em>&#8221; . . . Đất nước đang đổi mới, chúng ta chấp nhận việc khép lại quá khứ để xây dựng tương lai, nhưng việc ấy không đồng nghĩa với việc bỏ quên tất cả, từ những hy sinh gian khổ đến những bài học máu xương . . .</em></p>
<p><em>. . . Tôi đọc Nam Cao và tâm đắc với nhận xét : Những thằng chuyên ác chỉ có thể hết làm việc ác nếu chúng không còn đủ sức để làm ác. Bây giờ, P.D. cũng là như vậy.Một Việt Nam đang vươn lên, môi trường này đang sống động và có vị thế mới đã có thể làm mềm lòng mọi kẻ vốn kỳ thị với dân tộc này, tất nhiên đủ sức làm &#8221; kẻ chạy đi &#8221; mong được trở về . . . &#8221; (Nguyễn Lưu &#8211; Báo Đầu Tư &#8211; 13-03-2006).</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>Tôi tin rằng tác giả bài báo nói trên đủ hiểu biết để nhận định được rằng, sự thành công của người nhạc sĩ từ hải ngoại trở về là do chính tài năng của ông, và rằng , trong sáng tác và thưởng ngoạn văn hóa nghệ thuật không thể đem công trạng ( cho đất nước) hay chính kiến để thay thế cho tài năng và xúc cảm. Chẳng qua cũng chỉ là vì cái hàng rào ngăn cách ở trong lòng người, hệ qủa của bao nhiêu năm chiến tranh phe quốc phe cộng, rồi trong nước ngoài nước, cái hàng rào ấy đã làm cho con người ta mụ đi vì hận thù.</p>
<p>Đó mới chỉ là có vài người lên tiếng, còn bao nhiêu người nữa đứng trong bóng tối gật gù, ngầm tán thưởng, sợ công khai nói ra thì lại mang tiếng là ganh tị, hẹp hòi.</p>
<p>Phía chính quyền cố tình cho chìm xuồng vụ việc , là vì sợ cái bẫy &#8221; khúc ruột ngàn dặm &#8221; không còn hiệu nghiệm (?).</p>
<p><em>Đau xót thật, vì, dẫu cho có là cường điệu , chắc cũng không xa sự thật bao nhiêu .</em></p>
<p><strong>6.</strong></p>
<p>Trở lại câu hỏi : Chiến tranh Việt Nam ( đối với người Việt Nam ) đã thực sự chấm dứt chưa , nếu trả lời : RồI, thì hẳn nhiên không ai có thể chối cãi được.</p>
<p>Nhưng nếu câu trả lời là : CHƯA, cũng không hẳn đã sai.</p>
<p><em>Vì nếu thực sự chiến tranh đã chấm dứt rồi, thì cái ngày 30 tháng 4 hàng năm đã chẳng cứ ám ảnh chúng ta mãi như thế !</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>T.Vấn</p>
<p>( Tháng 4- 2006)</p>
<p>©T.Vấn 2006</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2006/04/chientranh/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Người Mỹ giàu nhất thế giới và tuổi trẻ ở Việt Nam</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2006/04/nguoimy/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2006/04/nguoimy/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 09 Apr 2006 02:07:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[4]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 4 - 2006]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2006/04/08/ng%c6%b0%e1%bb%9di-m%e1%bb%b9-giu-nh%e1%ba%a5t-th%e1%ba%bf-gi%e1%bb%9bi-v-tu%e1%bb%95i-tr%e1%ba%bb-%e1%bb%9f-vi%e1%bb%87t-nam/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2006/04/nguoimy/"><img align="left" hspace="5" width="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb4.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image002" title="clip_image002" /></a><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image0024.jpg"></a>
Người giàu nhất hành tinh ( chữ của báo chí Việt Nam ở trong nước ) – Bill Gates, chủ tịch và là Kiến Trúc Sư Trưởng phần mềm công ty Microsoft, một công ty phần mềm máy điện tóan lớn nhất thế giới – đã đến thăm Việt Nam – một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới – hôm thứ bảy 22 tháng 4 năm 2006.
Chuyến ghé thăm chưa đầy 24 tiếng đồng hồ của một nhà tư bản lớn nhất lịch sử của chủ nghĩa tư bản vào một trong 4 nước cộng sản cuối cùng của chủ nghĩa cộng sản giữa lúc nước này đang diễn ra kỳ đại hội đảng tòan quốc đã để lại nhiều điều đáng suy nghĩ .
1.
Các hãng thông tấn lớn như AP, Reuters, AFP đưa tin về sự kiện Bill Gates tới thăm Việt[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image0024.jpg"><img style="border-right-width: 0px; margin: 5px 0px 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="clip_image002" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb4.jpg" border="0" alt="clip_image002" hspace="12" width="182" height="226" align="left" /></a></p>
<p>Người giàu nhất hành tinh ( chữ của báo chí Việt Nam ở trong nước ) – Bill Gates, chủ tịch và là Kiến Trúc Sư Trưởng phần mềm công ty Microsoft, một công ty phần mềm máy điện tóan lớn nhất thế giới – đã đến thăm Việt Nam – một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới – hôm thứ bảy 22 tháng 4 năm 2006.</p>
<p>Chuyến ghé thăm chưa đầy 24 tiếng đồng hồ của một nhà tư bản lớn nhất lịch sử của chủ nghĩa tư bản vào một trong 4 nước cộng sản cuối cùng của chủ nghĩa cộng sản giữa lúc nước này đang diễn ra kỳ đại hội đảng tòan quốc đã để lại nhiều điều đáng suy nghĩ .</p>
<p><strong>1.</strong></p>
<p><em>Các hãng thông tấn lớn như AP, Reuters, AFP đưa tin về sự kiện Bill Gates tới thăm Việt Nam. &#8220;Bill Gates thăm Việt Nam, thúc đẩy phần mềm bản quyền&#8221; là tựa đề một bài viết của AFP.</em><em> </em></p>
<p><em>Theo AFP, Bill Gates đến Việt Nam hôm thứ Bảy, 22/4/2006 để tăng cường việc sử dụng phần mềm bản quyền của Microsoft. AFP cho biết 90% phần mềm ở Việt Nam là ăn cắp bản quyền.</em></p>
<p><span id="more-265"></span></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> </em></p>
<p>Có lẽ, nhìn từ góc độ của một nhà kinh doanh, đây là mục đích chính của việc ông Bill Gates có mặt ở Việt Nam. Một ấn bản phần mềm như hệ điều hành Windows XP ( có kèm theo Service pack 2 ) , gía ở Mỹ là khỏang 299 đồng đô la , thì ở Việt Nam , một ấn bản có chức năng tương tự được in ra làm nhiều triệu ấn bản phụ , chỉ bán có chưa tới 2 đồng đô la Mỹ ( tức khỏang 30 ngàn đồng Việt Nam ). Trong thực tế, đó là một hình thức ăn cắp sở hữu trí tuệ. Tất nhiên, xét trên khía cạnh đạo đức và cả luật pháp, việc làm ấy là không thể chấp nhận được. Nhưng, với thực tế Việt nam, việc làm ấy cũng đã giúp được nhiều sinh viên nghèo có cơ hội học hỏi được những thành tựu của của khoa học kỹ thuật thế giới. Theo sự ước tính của một chuyên gia làm việc ở Bộ Khoa Học Công Nghệ ( Việt Nam ), thì gía thành để cài đặt hợp pháp hệ điều hành Windows ( XP ) và phần mềm Microsoft Office vào trong máy điện tóan cá nhân ( personal computer – PC) ở Việt Nam vào khỏang 500 đô la Mỹ, tương đương với khỏang 7 triệu bạc Việt Nam , và để có số tiền đó, một viên chức cấp trung lương thiện phải nhịn ăn nhịn mặc trong một năm . So sánh như vậy, để “ cảm thông “ cho một thực tế không thể tránh khỏi ở một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới, mà thu nhập quốc dân của cả một năm vẫn chưa bằng số tài sản mà ông chủ tịch công ty phần mềm Microsoft hiện đang làm chủ.</p>
<p>Nhưng kinh doanh là kinh doanh. Kinh doanh khác với từ thiện. Mặc dù ông ông Bill Gates đã dùng một phần lớn tài sản kếch sù của mình để tài trợ nhiều công tác từ thiện trên quy mô tòan thế giới, từ những quỹ từ thiện nhằm giúp đỡ các quốc gia châu Phi cho đến các chương trình nghiên cứu nhằm đối phó với bệnh AIDS trên quy mô tòan cầu, và cả những quỹ học bổng cho những sinh viên nghèo nhưng hiếu học , đặc biệt ở các quốc gia Á Phi. Và mặc dù, trong di chúc sọan sẵn , ông Bill Gates đã chỉ cho mỗi đứa con của mình 10 triệu đô la trong tổng số gần 53 tỷ đô la trị gía gia tài. Số còn lại ông muốn chúng được chi dùng vào những việc công ích cho nhân lọai, mà theo lời ông , <em>số tiền đó quay lại với thế giới theo những cách ý nghĩa và hiệu quả nhất</em>.</p>
<p>Nhà tư bản lớn nhất trong lịch sử chủ nghĩa tư bản muốn những công dân trẻ tuổi của một trong những nước cộng sản nghèo nhất thế giới hiểu rằng, để trở nên giàu có, góp phần của mình vào công cuộc dựng xây đất nước, dựng xây thế giới, trước hết người ta phải học bài học sống và làm việc theo luật pháp.</p>
<p>Mà bài học cụ thể nhất ông muốn những người trẻ Việt Nam hiểu được rằng hãy tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ của người khác, dù người ấy sinh sống ở bất cứ nơi đâu trên hành tinh này.</p>
<p><strong>2.</strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p>Báo chí Việt Nam trong 24 tiếng đồng hồ của ngày 22 tháng 4 năm 2006 đã lên cơn sốt “ <em>Bill</em> <em>Gates – Ngài tỉ phú “</em> . Trên tất cả trang nhất những tờ báo phát hành ở những thành phố lớn Sài Gòn, Hà Nội là hình chân dung <em>“ ngài tỉ phú “</em> với tiểu sử, sự nghiệp bằng những lời lẽ ca ngợi vốn trước đây chỉ để dành cho những lãnh tụ đảng và nhà nước.</p>
<p>Tại Hà Nội, hàng ngàn sinh viên xếp hàng từ sáng sớm trước trường Đại Học Bách Khoa ( nơi Bill Gates sẽ đến để trò chuyện giao lưu với sinh viên ) để chỉ thỏa mãn ước vọng nhìn thấy tận mặt thần tượng của mình. Cả thành phố xôn xao vì cái tin người giàu nhất thế giới đang có mặt và sẽ đi ngang qua một góc phố nào đó. Bên trong hội trường , hơn một ngàn sinh viên đã kẻ đứng người ngồi chen lấn nhau . Bên ngòai, một biển người hò reo khi vừa thấy bóng thần tượng của mình. Ai cũng cố xấn tới đằng trước để nhìn cho rõ. Một tờ báo ở Mỹ đã ví cuộc tiếp đón của giới trẻ Hà Nội dành cho Bill Gates giống như cuộc tiếp đón những ngôi sao nhạc Rock.</p>
<p>Buổi giao lưu của Bill Gates bên trong hội trường trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội đã được phát trực tiếp qua những máy truyền hình màn ảnh rộng ở khắp nơi trong khuôn viên trường học. Chỗ nào cũng thu hút những khuôn mặt sinh viên chăm chú, ngưỡng mộ. Một sinh viên được nhận 1 trong 10 học bổng ( trị gía tổng cộng 10 học bổng là 13 ngàn US$ ) Bill Gates trao trong buổi giao lưu đã cho biết rằng anh cảm thấy sung sướng và hãnh diện được bắt tay ngài tỉ phú hơn cả cái học bổng mà bấy lâu nay anh thèm khát và phấn đấu học tập để có được.</p>
<p>Buổi chiều cùng ngày nhà tỉ phú còn được đưa đi thăm một xã nhỏ thuộc tỉnh Bắc Ninh, quê hương của Quan Họ. Tại đây, ông được mời ăn trầu, nghe hát quan họ Bắc Ninh và ngắm các cô gái trẻ đẹp trong bộ áo Tứ Thân cùng chiếc khăn mỏ quạ.</p>
<p><strong>3. </strong></p>
<p>Cuộc ghé thăm Việt Nam của tỉ phú Bill Gates diễn ra cùng lúc với Đại Hội đảng cộng sản Việt Nam kỳ 10 tại Hà Nội. Cùng khu khách sạn Hilton ( nơi ông Bill Gates ở ), còn có nhà khách sang trọng dành cho các đại biểu đảng bộ từ khắp nơi về dự đại hội. Buổi sáng hôm thứ bảy 22 tháng 4, trong lúc cả thành phố xôn xao nhốn nháo ngòai đường để nhìn mặt ông Bill Gates, thì một đòan xe sang trọng chở những đại biểu đi ngang, khiến người ta lầm tưởng đó là đòan xe của Bill Gates. Còn phái đòan Bill Gates thực sự thì chen chúc nhau trong chiếc xe van “ cà tàng “ 12 chỗ ngồi rất quen thuộc với những người dân quê nghèo lam lũ.</p>
<p><em>Không ai ngờ rằng người giàu nhất hành tinh lại giản dị đến như thế.</em></p>
<p><strong>4.</strong></p>
<p>Với giới trí thức và giới trẻ Việt Nam hiện nay, Bill Gates là người điển hình cho sự sáng tạo, thông minh, mạo hiểm. Sự thành công của công ty phần mềm Microsoft do chính ông là người thành lập và điều hành đã là bằng chứng cho thấy, một con người có thể thay đổi được cục diện không những của một đất nước, mà còn có ảnh hưởng lớn tới tòan bộ sự phát triển của nhân lọai và không chỉ trong một thế hệ, mà còn ảnh hưởng tới cả đường hướng phát triển của các thế hệ nối tiếp. Cho nên, không có gì ngạc nhiên khi ông Bill Gates được giới trẻ Việt Nam coi như thần tượng của họ.</p>
<p>Trong khi nói chuyện với ông , sinh viên nào cũng xin ông những lời khuyên , làm cách nào để . . . làm gìau mau chóng , cho bản thân và cho đất nước.</p>
<p>Tất nhiên, những lời khuyên của ông rất chính xác, vì chúng được rút ra từ kinh nghiệm của chính bản thân ông, từ chính những con người đã và đang làm việc với ông để xây dựng nên một thế giới phát triển vượt bậc như ngày hôm nay.</p>
<p><em>Nhưng hẳn ông sẽ thiếu một kinh nghiệm để có thể cho giới trẻ , đặc biệt là ở Việt Nam, một lời khuyên xác đáng. Đó là lời khuyên làm thế nào để vươn lên, vượt qua được những rào cản</em> <em>không hề có trong xã hội Mỹ ( mà ông Bill Gates đã từ đó gầy dựng sự nghiệp ) mà chỉ có ở xã hội Việt Nam đương đại : chế độc chính trị độc tài, sự vươn lên của những người trẻ không phải đo bằng tài năng , sáng tạo, đột phá, mạo hiểm ( như ông Bill Gates là tấm gương mẫu mực ) mà bằng dòng dõi gia đình &#8211; con ông cháu cha, quen biết &#8211; , bằng đồng tiền chạy chọt, mua danh bán tước, bằng đồng tiền tham nhũng của cha mẹ để có thể có điều kiện được xuất ngọai, du học ở những trường đại học nổi tiếng trên thế giới.</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>Trong điều kiện xã hội như thế, thì liệu những lời khuyên của ông cho người trẻ Việt Nam như : cố gắng học tập, bền chí, tin tưởng vào chính mình, nắm bắt mọi khả năng kỹ thuật hiện có v..v… có đem lại được những kết qủa tốt đẹp như trong xã hội Mỹ mà ông đã trưởng thành hay không . Chắc trong chưa tới 24 tiếng đồng hồ ngắn ngủi ở Việt Nam, ông Bill Gates không biết tới được những khó khăn rất đặc thù nói trên, mà cái đầu óc dù thông minh tột bậc của ông cũng khó mà tưởng tượng ra được. Hay có thể ông cũng được biết đến, nhưng ông cũng đành chịu thua. Và có lẽ , hơn ai hết, ông hiểu rằng bài học về lòng trung thực, không chiếm đọat trái phép sở hữu trí tuệ của người khác ( ở đây là những phần mềm quan trọng trong hệ điều hành máy điện tóan mà công ty của ông đã sáng tạo ra ) cũng rất khó cho những người trẻ Việt Nam noi theo. Bởi vì, nếu không “ ăn cắp “ , thì chắc chắn họ sẽ không có phương tiện để thực hành những lời khuyên tốt đẹp khác của ông, nhất là lời khuyên hãy tiếp cận với những phát minh khoa học kỹ thuật mới nhất ( trong đó có hệ thống mạng lưới tòan cầu Internet ).</p>
<p><em>Nói một cách khác, nhìn từ bản thân của Bill Gates, người ta sẽ đi tới nhận định rằng, sự thành công của một con người không chỉ tùy thuộc vào ý chí của người ấy, mà còn tùy thuộc vào cả môi trường mà người ấy đang sống, đang nỗ lực học tập, làm việc . Môi trường ấy, đồng một lúc vừa đề ra những thử thách ( challenge) để trui rèn nghị lực những thành viên của mình, đồng thời cũng mở toang mọi cánh cửa của cơ hội để cho tuổi trẻ tung cánh.</em></p>
<p>Thế giới con người thế kỷ 20 may mắn đã có một Bill Gates sinh ra và trưởng thành ở nước Mỹ.</p>
<p>Gỉa sử có những Bill Gates người Việt Nam, hội đủ những đức tính hơn người của Bill Gates người Mỹ , liệu, trong bối cảnh xã hội Việt Nam hiện nay, có thể tạo nên được những thành công vang dội như Bill Gates người Mỹ hay không ?</p>
<p>Câu trả lời dưồng như đã có sẵn.</p>
<p><strong>5.</strong></p>
<p>Ông Bill Gates đã rời khỏi Việt Nam và hứa hẹn sẽ quay lại. Đại hội đảng cộng sản yên tâm tiếp tục cuộc bầu bán theo kịch bản sọan sẵn. Có bao nhiêu con người trong số gần 200 con người đã và sẽ ở vào những vị trí quyền lực lãnh đạo cao nhất của đất nước , trong thoáng giây yên lặng của một ngày họp hành sôi nổi bỗng chợt nghĩ đến một điều nghịch lý vừa xảy ra. Anh chàng tư bản gộc nhất thế giới đến thành phố này, bao nhiêu tinh hoa của mảnh đất nghìn năm văn vật đổ xô ra đường để chiêm ngưỡng , chào đón, hoan hô. Ngay cả đến những người dân bình thường nhất của thành phố cũng biết rằng có một người gìau nhất hành tinh vừa ghé qua. Và anh ta, ngài tỉ phú kia – kẻ đến từ nước Mỹ đế quốc , ra đường trên một chiếc xe “ cà tàng “ 12 chỗ ngồi, vậy mà chiếc xe cứ lăn từng bước chậm chạp trên lối vào trường Đại Học Bách khoa để nhận sự chiêm ngưỡng của hàng hàng những con người đứng chật cứng hai bên đường chào đón , vẫy tay. Trong khi đó, đòan xe sang trọng chở những đại biểu đảng, những vị lãnh đạo của đất nước cứ lướt qua êm ái trước những con mắt thờ ơ của mọi thần dân. Và có bao nhiêu người trẻ, trong số những người trẻ cuồng nhiệt vì sự có mặt của Bill Gates, thực sự quan tâm đến những gì đang diễn ra ngay ở trong trung tâm thành phố với sự có mặt của những con người chễm chệ trong đòan xe bóng lộn mà họ thóang thấy sáng nay trên đường phố trong lúc chờ xem mặt người đến từ Mỹ quốc ?</p>
<p><strong>6.</strong></p>
<p>Tôi có đọc được đâu đó rằng, nếu nước Mỹ là mảnh đất của những cơ hội thì Việt Nam ( ngày nay ) là mảnh đất của những điều nghịch lý.</p>
<p>Không biết những người trẻ ở Việt Nam có đồng ý với nhận xét đó không ?</p>
<p>© T.Vấn 2006</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2006/04/nguoimy/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
