<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>T.Van &#187; Tháng 4 &#8211; 2007</title>
	<atom:link href="http://t-van.net/wordpress/category/thang4/2007-4/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://t-van.net/wordpress</link>
	<description>Trang Nha T.Van</description>
	<lastBuildDate>Fri, 03 Sep 2010 04:56:07 +0000</lastBuildDate>
	<generator>http://wordpress.org/?v=2.8</generator>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
			<item>
		<title>Thêm một ngày 30 tháng 4</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2007/04/thoimotngay/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2007/04/thoimotngay/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 30 Apr 2007 22:38:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[4]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 4 - 2007]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2007/04/thm-m%e1%bb%99t-ngy-30-thng-4/438/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2007/04/thoimotngay/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb14-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image002" title="clip_image002" /></a>&#160;
● <i>Chợt nghe từ đáy hồn thương tích      Vẳng tiếng kèn truy điệu mộng xưa</i><i> </i>
( Thanh Nam )
<a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00215.jpg"></a>
<b>1.</b>
Tháng 4 . Lại tháng 4. Tháng 4 năm 2007 hay tháng 4 năm 1975 dường như không khác nhau nhiều lắm. Sau ngày ấy, thời gian không còn chuyển động nữa. Nó đã bị đóng băng. Duy chỉ có không gian là thay đổi. Mỹ, Pháp, Na Uy , Úc . . . chứ không phải Việt Nam. 
Còn con người ? hình như cũng không khác xưa nhiều lắm. Những mái tóc đen nay đổi màu bạc trắng, dấu chỉ duy nhất của thời gian. Có lẽ , chính ở khía cạnh này, chúng ta chứng kiến một bi kịch lớn nhất của thời đại, của dân tộc và của chính mình. 32 năm mà tưởng chừng như mới hôm qua. Trong trường hợp[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p>● <i>Chợt nghe từ đáy hồn thương tích      <br />Vẳng tiếng kèn truy điệu mộng xưa</i><i> </i></p>
<p>( Thanh Nam )</p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00215.jpg"><img style="border-right-width: 0px; margin: 35px 0px 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="clip_image002" border="0" hspace="12" alt="clip_image002" align="left" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb14.jpg" width="244" height="168" /></a></p>
<p><b>1.</b></p>
<p>Tháng 4 . Lại tháng 4. Tháng 4 năm 2007 hay tháng 4 năm 1975 dường như không khác nhau nhiều lắm. Sau ngày ấy, thời gian không còn chuyển động nữa. Nó đã bị đóng băng. Duy chỉ có không gian là thay đổi. Mỹ, Pháp, Na Uy , Úc . . . chứ không phải Việt Nam. </p>
<p>Còn con người ? hình như cũng không khác xưa nhiều lắm. Những mái tóc đen nay đổi màu bạc trắng, dấu chỉ duy nhất của thời gian. Có lẽ , chính ở khía cạnh này, chúng ta chứng kiến một bi kịch lớn nhất của thời đại, của dân tộc và của chính mình. 32 năm mà tưởng chừng như mới hôm qua. Trong trường hợp này, ký ức con người là một tai họa. </p>
</p>
<p>Cảm giác chông chênh của ngày tháng ám ảnh trên mọi suy nghĩ của những người ít nhiều dính líu đến biến cố lịch sử khó quên ấy. Chỉ vì quá khứ nặng hơn hiện tại. <i>Dù những xác chết đã chỉ còn là những mẩu xương khô khốc. Dù những nấm mồ chôn sơ sài góc rừng, ven suối, bờ mương đã không còn có thể nhận ra được nữa. Dù có những góa phụ, tử sĩ đôi lúc quên rằng mình đã một thời là góa phụ, tử sĩ.</i></p>
<p>Tôi đã hơn một lần đặt câu hỏi : Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chiến tranh đã chấm dứt chưa ? Trong câu hỏi, đã chứa đựng sẵn một phần của câu trả lời. </p>
<p>Dư vị sau cuộc chiến, giữa hai bên đối nghịch cùng máu đỏ da vàng, quả thực không ngọt ngào gì.Bên thua trận không tin rằng mình thua vì bất tài, vì đã không dốc sức chiến đấu , mà là vì bị bán đứng bởi đồng minh, bị bỏ rơi bởi các cấp chỉ huy. Bên thắng trận , vừa phải trả cái gía quá đắt cho sự thắng trận, vừa bị nhồi nhét một thứ ý thức hệ lấy hận thù (giai cấp) làm nền tảng, nên đã phạm nhiều sai lầm trong cách hành xử sau ngày tiếng súng chấm dứt, và cùng lúc, bỏ qua nhiều cơ hội hòa giải , đòan kết dân tộc để xây dựng đất nước vốn đã kiệt quệ vì chiến tranh kéo dài. Trong con mắt kẻ thắng trận, cái được thua sau cùng không phải là giữa người Việt với nhau. </p>
<p><i>Và có lẽ, đó là nguồn gốc của mọi hệ lụy từ bấy đến nay.</i></p>
<p>32 năm đã trôi qua. Người chết thì cũng đã chết. Chết trong cuộc chiến, chết trước ngày 30 tháng 4 năm 75 hay chết sau ngày đó, chết trên đường vượt biên vì súng đạn của công an biên phòng, mã tấu của hải tặc, hay chết vì sóng, bão, đói, khát , chết vì bệnh tật nơi vùng kinh tế mới hay các trại cải tạo , cũng chẳng có gì khác nhau. Vì cái chết nào cũng có ý nghĩa cuối cùng là hết. Chỉ tội cho người còn sống. Họ sẽ còn bị cuộc chiến ấy ám ảnh cho đến ngày xuôi tay nhắm mắt. Kẻ chiến thắng có cái ám ảnh của kẻ chiến thắng. Người chiến bại cũng có cái ám ảnh dành cho người chiến bại.</p>
<p>Hình ảnh một vị linh mục hai tay bị còng, đứng trước tòa án của kẻ chiến thắng, vẫn dõng dạc lên tiếng phủ nhận sự hiện hữu của chế độ, chỉ làm gia tăng cường độ nỗi ám ảnh của kẻ chiến thắng. Bàn tay đưa ra bịt lấy miệng vị linh mục, là một phản ứng rất bản năng. Hành động ấy biểu trưng cho bản chất của chế độ, đồng thời cũng biểu lộ sự sợ hãi mà kẻ chiến thắng đã mang trong lòng từ 32 năm nay, kể từ ngày họ tiến vào Sài Gòn, treo lá cờ đỏ trên nóc Tổng thống phủ của người chiến bại. Hơn ai hết, họ nhìn thấy sự bất lực của mình trong việc chinh phục một nửa đất nước có nền văn hóa cao hơn . Vì thế, mới có những sự kiện đốt sách, lừa những thành phần ưu tú nhất của phe bại trận vào những nhà tù không biết ngày về, đẩy dân chúng miền Nam vào những khu kinh tế mới nơi rừng thiêng nước độc, cải tạo công thương nghiệp nhằm bần cùng hóa lớp thị dân vốn là cái gai dưới con mắt kẻ cai trị.</p>
<p>Với kẻ chiến bại, nỗi ám ảnh của cuộc chiến 30 năm là điều tất nhiên. Cái cách mà cuộc chiến kết thúc, đã làm cho nỗi ám ảnh ấy càng thêm khắc nghiệt. Nhiều người tin rằng, thế cờ có thể lật ngược được, và 32 năm lưu vong xứ người, họ đã cố nhúm lên ngọn lửa hâm nóng ước vọng của một ngày trở về. Năm tháng qua đi, tuổi đời ngày một chồng chất, cảm giác bất lực cũng tăng dần theo với nỗi ám ảnh về một sứ mạng không bao giờ được chu tòan. Và họ nghĩ đến việc giao phó trách nhiệm ấy cho thế hệ nối tiếp, thế hệ chỉ biết đến chiến tranh qua những hồi ức mờ nhạt của tuổi ấu thơ, qua những lời kể của cha anh, qua những trang sách đọc lõm bõm vì mớ từ vựng tiếng Việt ít ỏi của mình.</p>
<p>&#160;</p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image0045.jpg"><img style="border-right-width: 0px; margin: 30px 5px 0px 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="clip_image004" border="0" hspace="12" alt="clip_image004" align="left" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image004_thumb4.jpg" width="213" height="244" /></a></p>
<p><b>2.</b></p>
<p>Những hình ảnh bi tráng nhất của ngày 30 tháng 4 năm 1975 vẫn còn được lưu trữ . Và chúng sẽ được sống lại vào những ngày kỷ niệm hàng năm. Bên thắng trận sẽ chỉ xem , chỉ phô bày những hình ảnh nào được coi là hào hùng, vinh quang và cố tình bỏ qua một bên bao hình ảnh đau thương mất mát để có được những giây phút lịch sử ấy. Bên thua trận sẽ giở ra những hình ảnh não lòng nhất trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến, để tự tra vấn mình tại sao lại có thể cho phép những điều ấy xảy ra, và cũng để tự an ủi mình rằng , cuộc chiến đã kết thúc theo sự sắp xếp của những thế lực bên ngòai, chứ không phải vì mình tài hèn sức mọn. Trong lịch sử dân tộc, đã từng có cuộc phân tranh Trịnh –Nguyễn ở thế kỷ 17 kéo dài hơn 40 năm , nhưng con sông Gianh ngăn đôi hai bên Trịnh Nguyễn 400 năm xưa hay con sông Bến Hải ngăn đôi hai miền Nam Bắc 30 năm về trước cũng không khó vượt qua bằng lằn ranh vô hình ngăn chia lòng người Việt Nam như hiện nay. Oan nghiệt kéo theo oan nghiệt. Thiên kiến và cố chấp là những tác nhân không thể tránh khỏi. Những bài học lịch sử vừa cay đắng, vừa khó nuốt, nên ít người chịu đựng được. Những bài học ấy, nếu trước đây ( 20 năm, 30 năm về trước ) không học được, thì bây giờ lại càng không thể học được. Và thế là bi kịch một thế hệ cứ kéo dài. Cho đến ngày họ nhắm mắt nằm xuống, đem theo xuống mồ những hệ lụy của một thời chiến tranh. Có lẽ, chỉ đến khi ấy, may ra thế hệ kế tiếp mới thóat ra khỏi được cái bóng quá lớn, quá ảm đạm của cha anh, mà cương quyết phủ sạch lớp bụi qúa khứ, đi con đường thẳng tắp của thế hệ mình, không có những ngã rẽ của cố chấp, của hận thù, của kẻ Nam người Bắc, của kẻ trong nước, người ngoài nước, của những bảng giá trị đã lỗi thời nhưng vẫn còn tồn tại nhờ vào thái độ hèn nhát không dám nhận rằng đó là sai lầm chết ( bao con ) người của một thời nhiễu nhương. </p>
<p><b>3. </b></p>
<p>Xét cho cùng, kẻ chiến thắng ngày 30 tháng 4 năm 1975 không cần thiết phải rùm beng kỷ niệm ngày thắng trận của mình mấy chục năm sau ngày cuộc chiến kết thúc để che dấu nỗi sợ hãi có gốc rễ từ 32 năm trước. Ngày nay, cái nhân cho một sự bùng nổ làm tan vỡ chế độ không nằm ở Little Sài Gòn, Sydney, Paris hay Oslo. Nó nằm ở ngay chính trong lòng chế độ, ở Hà Nội, ở Sài Gòn. Những phong trào đòi dân chủ, đòi xóa bỏ chế độ độc đảng, có nguồn gốc ngay từ trong nước và được đề xướng, xiển dương bởi nhiều người đã từng một thời gắn bó với chế độ và những người trẻ tuổi. Những phong trào ấy không có gốc rễ gì từ cuộc chiến tranh 30 năm . Vì thế, những đòi hỏi của họ không xuất phát từ óan thù, sân hận lưu cửu trong suốt 32 năm sau chiến tranh. Đó là những đòi hỏi chính đáng , đến từ sự phát triển tất yếu của thời đại , đến từ những nhu cầu bức bách nhất của dân tộc , không phân biệt người Nam kẻ Bắc, không phân biệt trước đây họ sinh sống ở bên nào khi cuộc chiến tranh Quốc Cộng nổ ra. </p>
<p>Vấn đề không phải là hóan đổi vị trí , để kẻ thắng trận ngày 30 tháng 4 cúi đầu chịu làm người chiến bại và người chiến bại năm xưa nay bước ra khỏi bóng tối tay giơ cao ngọn cờ tự do dân chủ, cho dù, thực sự cũng sẽ đến lúc mọi thế lực độc tài tòan trị phải lui bước nhường chỗ cho dân chủ, cho tự do theo đúng với cái tầm mà thời đại đã vạch ra . Chính thế hệ những người trẻ &#8211; cả trong nước lẫn ngòai nước – đã tạo nên xu thế ấy, đã kiên trì tranh đấu bằng mọi hình thức tùy nơi tùy lúc, kể cả hình thức dùng khoa học kỹ thuật xuyên thủng lớp màn sắt mà nhà cầm quyền trong nước đã dựng nên hòng ngăn chặn không cho những tư tưởng dân chủ phóng khóang từ ngòai nước từ từ thẩm thấu vào nếp suy nghĩ của những người dân sinh sống trong nước. Nếu cần phải xác định người chiến thắng, thì chính họ &#8211; những người trẻ ở cả trong lẫn ngoài nước – là những người chiến thắng. Và cũng có nghĩa là dân tộc chiến thắng. Một chiến thắng mang đúng ý nghĩa của chiến thắng. Một chiến thắng không cần biết đến có hay không những kẻ chiến bại. Một chiến thắng mang lại trọn vẹn những ước mơ ngàn đời của những người con xứ Việt : đất nước có dân chủ, tự do, người dân được sống trong ấm no, hạnh phúc. </p>
<p><b>4.</b></p>
<p>Chúng ta đã chôn cất người chết. Tất nhiên, người chết – nhất là những người chết vì chiến tranh – đáng được tưởng nhớ đến nhưng không ai sống với người chết.</p>
<p>Chúng ta đã cố quên đi những nỗi đau, dù không thể một sớm một chiều, nhưng dẫu cho chúng vẫn canh cánh bên lòng, cũng không ai muốn sống với những nỗi đau, vì như thế có nghĩa là tự hủy họai chính mình.</p>
<p>Và dù người chết ( đồng bào, đồng đội ) và những nỗi đau ( thể xác lẫn tâm hồn ) có ám ảnh chúng ta đến thế nào đi chăng nữa, thì – một cách công bằng – chúng ta không có quyền buộc những thế hệ nối tiếp phải nhớ đến những người chết , theo cái cách như chúng ta đã nhớ, phải đau những nỗi đau, theo cái cách như chúng ta đã đau. Họ có sứ mạng riêng của thời đại họ sống. Và chắc chắn, họ cũng sẽ có những trăn trở nhức nhối trong khi hòan thành sứ mạng ấy, như chúng ta đã từng trăn trở nhức nhối trong thời đại của mình. Đừng bắt họ mang thêm gánh nặng của quá khứ một cách không cần thiết.</p>
<p>Lịch sử đã sang trang. Những người trẻ sẽ hòan thành những điều chúng ta chỉ mơ ước. Điều đó quan trọng hơn rất nhiều so với mặc cảm thắng bại trong tâm tưởng chúng ta, mỗi khi đối diện với ngày 30 tháng 4 trên tờ lịch hàng năm. </p>
<p>T.Vấn</p>
<p>Tháng 4 -2007</p>
<p>© T.Vấn 2007</p>
<p><a name="top"></a><b>Chú thích của tác giả :</b></p>
<p><i>Bài viết trên đây được phổ biến từ dịp tháng 4 năm ngóai (2007). Tiếp theo sau sự xuất hiện chính thức của nó trên diễn đàn Talawas và Việt Norway, tác giả bài viết còn thấy nó tái xuất hiện rải rác trên một vài trang mạng hải ngọai, dưới dạng chữ viết cũng như thu thanh để đọc trên radio (audio- xin giới thiệu bài thu thanh có cùng tên ở bên dưới), thậm chí cả trong một vài diễn đàn riêng với sự góp ý tự do của thành viên ( trong thời đại của Google, tác giả chỉ cần google tên tác gỉa hoặc tên bài viết, hoặc một hai chữ khóa (keyword) là có thể biết số phận đứa con tinh thần của mình. Cũng nhờ vậy, tác giả còn được biết mình” </i>là tên bồi bút của Việt cộng, dùng lời lẽ ngon ngọt ru ngủ tuổi trẻ hải ngọai để chúng quên hết đi thù hận bọn CS khát máu “ ( trích ý kiến của một độc gỉa ). <i>Tác giả của bài viết này thật ngạc nhiên khi được mách cho biết là mình là “ bồi bút của Việt cộng “. Kể ra thì ơ hải ngọai mình cũng có nhiều “ trò vui “ không thua gì ở trong nước.</i></p>
<p><i>Tác giả chỉ buồn phiền ở một điều duy nhất. Người buộc tội tác giả là “ bồi bút Việt Cộng “ chỉ đọc có một đọan, trích dẫn có một đọan để rồi đi đến kết luận nói trên.</i></p>
<p><i>Tuy nhiên, việc bài viết tái xuất hiện ở nhiều nơi, cả thế giới ảo( báo mạng) lẫn thế giới thực ( báo viết ) chứng tỏ không hẳn nhiều người có ý nghĩ giống như vị độc gỉa khó tính nói trên. </i></p>
<p><i>Lại “ thêm một ngày 30 tháng Tư “ đến với chúng ta. Nhận thấy những vấn đề tác giả nêu lên cách đây một năm qua bài viết này vẫn còn nguyên tính thời sự, vẫn còn chưa có dấu hiệu gì cho thấy một lối ra giữa chập chùng những mê cung của bao rối rắm, tác giả lại xin được đưa bài viết lên trang nhất để mời mọi người cùng suy niệm với tác giả.</i></p>
<p><i>T.Vấn</i></p>
<p><i>Tháng 4-2008</i></p>
<p><i>Tháng 4-2009</i></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2007/04/thoimotngay/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Ba Mươi năm . . . Xin trả nợ người</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2007/04/bamuoi-2/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2007/04/bamuoi-2/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 28 Apr 2007 04:08:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[4]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 4 - 2007]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2007/04/27/ba-m%c6%b0%c6%a1i-nam-xin-tr%e1%ba%a3-n%e1%bb%a3-ng%c6%b0%e1%bb%9di/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2007/04/bamuoi-2/"><img align="left" hspace="5" width="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb1.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image002" title="clip_image002" /></a><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image0021.jpg"></a>
Tiếc Thương &#8211; Ảnh của Nguyễn Ngọc Hạnh
 
▪ Ơi em áo cũ duyên không nợ
Ai phụ ai mà . . . mơ trăm năm
(T. Vấn )
▀Có một thời chúng ta nói yêu nhau thật dễ dàng. Làm như con người ta sinh ra đời để yêu nhau, và chỉ có yêu nhau mà thôi. Có một thời, khi chúng ta nói yêu nhau, là đã chấp nhận cho mình một định mệnh. Đó là sự chia ly. Đó là nỗi lo sợ cho những điều không may ẩn đằng sau những nụ hôn tuy nồng nàn nhưng vội vã, những bàn tay kiếm tìm muốn bù đắp cho đầy mọi bất trắc của ngày mai, những đam mê trần thế ao ước nhau một lần để tưởng đó là . . . trăm năm. Một mối tình không trọn vẹn, rất nhiều khi không[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image0021.jpg"><img style="border-right-width: 0px; margin: 10px 0px 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="clip_image002" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb1.jpg" border="0" alt="clip_image002" hspace="12" width="163" height="244" align="left" /></a></p>
<p><strong>Tiếc Thương &#8211; Ảnh của Nguyễn Ngọc Hạnh</strong></p>
<p><em> </em></p>
<p>▪ <em>Ơi em áo cũ duyên không nợ</em></p>
<p><em>Ai phụ ai mà . . . mơ trăm năm</em></p>
<p><em>(T. Vấn )</em></p>
<p>▀Có một thời chúng ta nói yêu nhau thật dễ dàng. Làm như con người ta sinh ra đời để yêu nhau, và chỉ có yêu nhau mà thôi. Có một thời, khi chúng ta nói yêu nhau, là đã chấp nhận cho mình một định mệnh. Đó là sự chia ly. Đó là nỗi lo sợ cho những điều không may ẩn đằng sau những nụ hôn tuy nồng nàn nhưng vội vã, những bàn tay kiếm tìm muốn bù đắp cho đầy mọi bất trắc của ngày mai, những đam mê trần thế ao ước nhau một lần để tưởng đó là . . . trăm năm. Một mối tình không trọn vẹn, rất nhiều khi không phải là sự bội bạc.</p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Có biết đâu niềm vui,</em></p>
<p><em>đã nằm trong thiên tai</em></p>
<p><em>(</em> <em>Nguyễn đình Toàn )</em>.</p>
<p>Mà sự bội bạc , dẫu cho không bao giờ là đức hạnh của con người, nhưng cũng có lúc rất cần thiết để giúp chúng ta quên đi những tan vỡ trong cuộc đời.</p>
<p><em>Thôi thì em chẳng yêu tôi.</em></p>
<p><em>Leo lên cành bưởi khóc người rưng rưng</em></p>
<p><em>(Phạm Thiên Thư). </em></p>
<p><em> </em></p>
<p>Tôi muốn nói đến những mối tình trong một thời chiến tranh đã qua, dẫu đã 30 năm. <em>Ba mươi năm, một giấc ngủ đông muộn màng</em>. Nhưng vẫn còn những người sống sót. Và những hệ lụy. Hẳn nhiên, không ai có thể cứ gậm nhấm mãi những đau khổ mất mát của mình, của người , và cùng lúc, sống trọn vẹn cho hiện tại với những trách vụ hàng ngày phải chu toàn , nhưng , con người ai chẳng có một dĩ vãng.</p>
<p>Như con chim bói cá/Trên cọc nhọn trăm năm/Tôi tìm đời đánh mất/ Trong vũng nước cuộc đời.( Du Tử Lê ).</p>
<p><em>Quả thật, để làm người sống sót , không phải dễ dàng gì !</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><strong><em>Hỡi những người con gái năm xưa ! Những người con gái ở cả hai bên của một cuộc</em></strong> <strong><em>đối đầu</em></strong>. Những thân phận , cũng khóc cười theo mệnh nước nổi trôi như những người trai một hôm giã nhà để đi vào nơi gió cát. Những trái tim cô gái trẻ, dõi theo từng bước chân của người chồng, người yêu, mà cứ quặn thắt lại mỗi khi nghe tiếng ì ùng của đại pháo ở một nơi chốn nào thật xa xôi, thật xa lạ, nhưng thoáng chốc, đã trở nên thật gần gủi, thật quen thuộc. Những ước mơ ngập tràn tâm hồn thể xác, để chỉ đêm đêm nuốt lệ thở dài, mơ một ngày đất nước thanh bình , đón người từ cõi chết trở về, cùng nhau nối tiếp cuộc vui dang dở.</p>
<p>Ta về như lá rơi về cội</p>
<p>Bếp lửa nhân quần ấm tối nay</p>
<p>Chút rượu hồng đây xin rưới xuống</p>
<p>Giải oan cho cuộc biển dâu này</p>
<p>( Tô Thùy Yên ).</p>
<p><em> </em></p>
<p>Cuối cùng thì ngày ấy đã đến. Dù không hẳn là ngày đất nước thanh bình như mơ ước. Dù chỉ là ngày tiếng súng thôi không còn nổ. Nhưng cũng vẫn là ngày cuối cùng của một thời binh lửa.</p>
<p><strong><em>Hỡi những người con gái năm xưa ! những người con gái ở cả hai bên của một cuộc</em></strong> <strong><em>đối đầu</em></strong>. Cho tôi được khóc cùng với em. Vì đã có những người chồng, người yêu lỗi hẹn không về. Họ đã ở lại đâu đó trên mảnh đất quê hương. Bìa rừng, bờ ruộng hoang, con truông nhỏ, ngọn đồi cỏ cháy, hay con đường mòn dọc dãy Trường Sơn hùng vĩ. Trên ngực áo trận, phía có trái tim ẩn náu, vẫn còn bức thư tình dang dở viết cho em trong lúc chờ giờ giao chiến với những kẻ thù chưa một lần biết mặt. Theo năm tháng, tôi biết là hình hài chàng đã rữa nát, nhưng bức thư , với <em>ba lô làm bàn nên nét chữ không ngay ( Trần Thiện Thanh )</em>, vẫn còn nguyên vẹn như tình yêu mà chàng đã dành cho em từ ngày ấy.</p>
<p>Trong giờ thứ 25 của cuộc chiến, tôi đã nhìn thấy những thây người như thế của cả hai bên, nằm vất vưởng trên Quốc Lộ 4. Tôi đã nhìn thấy, những cô gái thật trẻ, ngồi khóc thảm thiết bên những xác người. <em>Và tôi đã thật sự ngạc nhiên, khi thấy mình vẫn còn sống sót.</em></p>
<p><strong><em>Hỡi những người con gái năm xưa ! những người con gái ở bên thất trận của cuộc đối</em></strong> <strong><em>đầu</em></strong>. Cho tôi được đau khổ cùng em cho đến ngày nỗi đau ấy mãi mãi nằm yên trong quá khứ. Vì đã có những người chồng, người yêu trong những ngày hỗn loạn cuối cùng của cuộc chiến, đã không thể có một chọn lựa nào khác hơn là đành buông trôi tất cả để ra đi , với hy vọng một ngày về . <em>Còn sống là còn có ngày gặp</em> <em>nhau</em>. Nhưng cũng như âm dương cách trở của cuộc tử biệt, hai bên của một bờ đại dương mênh mông ngày ấy sinh ly nào ai dám nghĩ đến một tương lai hội ngộ. Người đi kẻ ở. Ôi những ngày ấy, những ngày mà một đời người chỉ một lần kinh qua cũng quá đủ để không bao giờ muốn sống lại một lần thứ hai. Sau đó là biết bao thảm kịch, để đêm đêm người con gái trẻ ấy oằn mình trong nỗi tuyệt vọng khôn cùng.</p>
<p>Và cũng có rất nhiều những người chồng người yêu trở về. Cuộc hạnh ngộ ngắn ngủi với nỗi đe dọa thường trực đã khiến niềm vui đoàn tụ tan nhanh như bọt nước. Rồi chàng lại ra đi, bước chân vào một địa ngục để không bao giờ biết đến có hay không ngày trở về, dù cho tiếng súng trận đã hoàn toàn im ắng. <em>Người đi đã yên phận</em> <em>người đi, nhưng còn người ở lại ?</em> Tôi biết nói gì cùng em đây khi tuổi xuân thì của em lặng lẽ ra đi như năm tháng nối đuôi nhau ra đi, mà chàng thì cứ biền biệt mãi phương nào, hay đã vùi thây trong một góc rừng nào đó của miền thượng du Việt Bắc xa xăm và xa lạ ? Ai nỡ trách cứ gì em khi em không còn chọn lựa nào khác ngoài tự lo liệu lấy chính mình. Tôi hiểu. <em>Em bước chân ra đi mà lòng nặng trĩu</em>.</p>
<p><em>Ơi em áo cũ duyên không nợ. </em></p>
<p><em>Ai phụ ai mà . . . mơ trăm năm </em></p>
<p><em>( T. Vấn ).</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Hỡi những người con gái năm xưa ! những người mà mãi cho đến ngày hôm nay vẫn là những xử nữ. </em>Những người mà cuộc chiến chinh ba mươi năm đã lấy đi hết những người yêu trong mộng, mà cuộc biển dâu sau khi tiếng súng chấm dứt đã khiến em ngao ngán nhìn chung quanh một lũ người không ra người, ngợm không ra ngợm. Để đêm đêm em cô đơn cùng cực , cô đơn đến nỗi không có lấy một mảnh tình con mà thương mà nhớ, mà mơ mà mộng. Và tuổi xuân em không ngồi đó chờ em quyết định. Mỗi ngày qua, em ngồi bên song cửa . . . tuyệt vọng. <em>Cho đến một ngày, nhìn những sợi tóc bạc trên mái tóc một thời mướt đen óng ả, em thở dài hiểu rằng thế là</em> <em>hết</em>. Tôi tiếc cho tâm hồn em trinh nguyên , thể xác em trinh nguyên, chưa một lần biết đến hạnh phúc tột đỉnh của phút giây hai tâm hồn hai thể xác hòa với nhau làm một. Tôi tiếc cho cuộc đời em đã phí hoài trong những tháng năm vô vọng. Thà rằng em nép mình dưới cửa thiền hay trong một dòng tu kín. Thà rằng em phụ bạc hay người ta lỗi hẹn. Thà rằng . . . Những cái thà rằng thật độc ác. Liệu trên đời này có được niềm vui nào bù đắp cho những mất mát tội nghiệp của em ? Tôi ước gì tìm được câu trả lời.</p>
<p>30 năm sau một cuộc chiến 30 năm. Chiều dài 60 năm của lịch sử một đất nước, cũng là chiều dài 60 năm của những mảnh đời dang dở. . . . <em>có bao nhiêu. Sáu mươi năm cuộc đời ( Y Vân ).</em> Hơn bao giờ hết, trong những ngày này, tôi nhớ nhiều về em, cô gái trẻ năm xưa.</p>
<p>ba mươi năm tình nửa khuya đau đáu.</p>
<p>Tôi trở mình theo nỗi nhớ em</p>
<p>(T.Vấn)</p>
<p>Xin những người thiếu nữ năm xưa, nay ở bất cứ nơi nào trên quả đất này , hãy dành một phút giây mà nghĩ về quá khứ, và nếu có thể khóc được, hãy cứ để mặc nước mắt lăn dài trên gò má một thời rất đỏ của tuổi hoa niên.</p>
<p><em>Cũng xin gởi đến nhau một lời tha thứ.</em></p>
<p><strong><em>Vận nước nổi trôi nên bao nhiêu anh hùng và thục nữ đã lập lờ như củi mục trên dòng sông nước cạn. Định mệnh đưa chúng ta ,mỗi người về mỗi ngả. Ở hai bên Đông Tây của một bến bờ. </em></strong></p>
<p><strong><em> </em></strong></p>
<p>Và em ơi, tôi muốn được mượn lời nhà thơ tình tuyệt vời của thời đại chúng ta Phạm Thiên Thư để gởi em những nỗi lòng ấp ủ từ ba mươi năm nay.</p>
<p><em>Thì thôi tóc ấy phù vân</em></p>
<p><em>Thì thôi lệ ấy còn ngần dáng sương</em></p>
<p><em>Thì thôi mù phố xe đường</em></p>
<p><em>Thôi thì thôi nhé đoạn trường thế thôi</em></p>
<p><em>( Phạm Thiên Thư )</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>Tôi gọi em, &#8211; <strong>những người con gái năm xưa, ở cả hai bên oan nghiệt của một cuộc</strong> <strong>đối đầu</strong> – là đóa hoa sầu.</p>
<h3>Đọan trường sổ gói tên Hoa</h3>
<h3>Xưa là gịot lệ &#8211; nay là hạt Châu</h3>
<h3>( Đọan Trường Vô Thanh – Phạm Thiên Thư )▄</h3>
<h3>© T.Vấn 2006</h3>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2007/04/bamuoi-2/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Mụ Phù Thủy và đôi môi mềm *</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2007/04/muphuthuy/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2007/04/muphuthuy/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 14 Apr 2007 22:33:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[4]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 4 - 2007]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2007/04/m%e1%bb%a5-ph-th%e1%bb%a7y-v-di-mi-m%e1%bb%81m/428/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2007/04/muphuthuy/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image0024_thumb1-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image002[4]" title="clip_image002[4]" /></a><h3>&#160;</h3>
<i>(hay Đọc “ Lục Bát Khỏa Thân “</i>
<i>Của Ngô Tịnh Yên.**)</i>
<i></i>
<a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00242.jpg"></a>
<b>1.</b>
<b>Người đi soi cội tìm nguồn</b>
<b>Nghe trong cơ thể hao mòn khớp xương</b>
<b>( Ngô Tịnh Yên )</b>
<i></i>
<i>Tập thơ không dày lắm – 20 bài -. Như lời tác giả, con số 20 tượng trưng cho tuổi đôi mươi, tuổi của tình yêu. 20 bài Lục Bát Khỏa Thân.</i>
Tại sao là <i>Lục Bát Khỏa Thân</i> ?
Nói đến Lục Bát, người ta nghĩ ngay đến hai câu thơ nằm kề. Câu Sáu là Adam, mở lòng mình ra, mở cả thân xác mình ra để đón câu tám – E-và – bước vào cõi Thiên đường , bước vào lấp cho đầy chỗ cụt của xương sườn. Cái vần của <b><i>Nguồn</i></b> trong câu Sáu – <i>Người đi soi cội tìm <b>nguồn</b></i> – phải vận với <b><i>Mòn</i></b> trong câu Tám[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<h3>&#160;</h3>
<p><i>(hay Đọc “ Lục Bát Khỏa Thân “</i></p>
<p><i>Của Ngô Tịnh Yên.**)</i></p>
<p><i></i></p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00242.jpg"><img style="border-right-width: 0px; margin: 0px 15px 0px 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="clip_image002[4]" border="0" alt="clip_image002[4]" align="left" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image0024_thumb1.jpg" width="125" height="161" /></a></p>
<p><b>1.</b></p>
<p><b>Người đi soi cội tìm nguồn</b></p>
<p><b>Nghe trong cơ thể hao mòn khớp xương</b></p>
<p><b>( Ngô Tịnh Yên )</b></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Tập thơ không dày lắm – 20 bài -. Như lời tác giả, con số 20 tượng trưng cho tuổi đôi mươi, tuổi của tình yêu. 20 bài Lục Bát Khỏa Thân.</i></p>
<p>Tại sao là <i>Lục Bát Khỏa Thân</i> ?</p>
<p>Nói đến Lục Bát, người ta nghĩ ngay đến hai câu thơ nằm kề. Câu Sáu là Adam, mở lòng mình ra, mở cả thân xác mình ra để đón câu tám – E-và – bước vào cõi Thiên đường , bước vào lấp cho đầy chỗ cụt của xương sườn. Cái vần của <b><i>Nguồn</i></b> trong câu Sáu – <i>Người đi soi cội tìm <b>nguồn</b></i> – phải vận với <b><i>Mòn</i></b> trong câu Tám – <i>Nghe</i> <i>trong cơ thể hao <b>mòn</b> khớp xương</i> – Cái mẩu xương bị lấy ra – tình nguyện cho lấy ra – để được bàn tay mầu nhiệm biến thành kỳ quan tuyệt vời nhất trong sự nghiệp sáng tạo của Thượng Đế. Dẫu cho sau đó là cả một nhân loại dại khờ suốt chiều dài lịch sử của mình.</p>
</p>
<p>Khỏa Thân là một đất trời trọn vẹn, một đất trời của thuở hồng hoang trong vườn địa đàng. Khỏa thân là thực tại bằng xương bằng thịt của khái niệm Tình Yêu, là điều kiện Đủ của nhị nguyên triết học, của nhị nguyên trời đất, nhị nguyên âm dương, của nhị nguyên Trăng và Mật , của nhị nguyên Lục Bát và Khỏa Thân.Như những nét minh họa của nữ họa sĩ tiếng tăm Nguyễn thị Hợp, nằm rải rác suốt tập thơ mỏng manh. Những “ .. <i>Giai nhân nằm phơi lõa thể . Bên Ni phố vắng . . . “ (Phạm Duy ).</i></p>
<p> <i></i>
<p><i><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image0044.jpg"><img style="border-right-width: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="clip_image004[4]" border="0" alt="clip_image004[4]" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image0044_thumb.jpg" width="244" height="230" /></a></i></p>
<p><b>2.</b></p>
<p> <b></b>
<p>Cầm tập thơ, tôi có cảm tưởng hai người nữ – thi sĩ và họa sĩ – đang đùa cợt nhân loại đàn ông chúng tôi,một nhân loại của những tên đàn ông ngờ nghệch, những tên đàn ông vốn nòi tình &#8211; ai mà không phải nòi tình trừ phi người ấy không có tim và không có một thân xác . . . bình thường ? – những tên đàn ông tuy cha mẹ sinh ra nhưng bà mụ cợt nhả lén đặt một nốt ruồi bên ngực trái ( chỗ ở của trái tim ) và một nốt ruồi chỗ khởi đầu của cuộc nhân sinh ba vạn sáu ngàn ngày ngắn ngủi. </p>
<p>Đùa cợt hơn tất cả là trang bìa. Màu ngồn ngộn chết người của da thịt , màu trắng của gối chăn và màu hồng nhạt của tình yêu. <i>Ôi món xa xỉ của những người đạo</i> <i>đức ( giả)</i> . Cái màu sắc tổng hợp ấy đã ám ảnh tôi từ lúc đủ trưởng thành để nhìn người nữ bằng con mắt của một người nam, nghĩa là đã từ lâu lắm rồi &#8211; có thể đã từ nhiều ngàn năm về trước, thuở chưa có bộ kinh tình Kama Sutra , Ananga Ranga, hay trường tình Tantra – nay hiển hiện lồ lộ trên trang bìa tập thơ. Những sắc màu và hình ảnh nhảy múa như cây đũa độc ác mà đầy quyến rũ của Mụ Phù Thủy.</p>
<p><i>Làm tôi nhớ đến thuở đầu đời làm bài thơ vụng dại có nhan đề “ Mụ phù thủy và đôi môi mềm “ đăng trên Đặc San Xuân trường Trung Học Petrus Ký niên khóa 69-70 khiến vài thằng bạn choai choai cùng trang lứa cứ chạy theo hỏi một câu rất” con nít”: Tại sao phù thủy mà môi lại mềm được hả mày ? Hỡi ôi cái lũ bạn đang còn cắp sách đến trường để học hỏi những điều khôn ngoan ấy chưa đủ . . . ngờ nghệch để hiểu rằng trên thế gian này duy nhất có một điều người ta cần sự ngờ nghệch để hiểu cho đến tận cùng là “ Tình Yêu “. Vậy thì làm sao tôi có thể cắt nghĩa cho chúng hiểu tuy là phù thủy mà môi vẫn cứ mềm. Còn mềm hơn bất cứ môi . . . mềm là đằng khác – môi em mềm cho giấc ngủ anh thương ( NĐT) –</i></p>
<p><i>Thuở ấy, tôi đã nhiều đêm khó ngủ khi nghĩ đến những đôi môi mềm, nhất là môi mềm của phù thủy. Bây giờ, những thằng bạn tôi ngày ấy, chắc hẳn đã đủ “ ngờ nghệch “ để tự mình trả lời cho câu hỏi “ ngờ nghệch “ năm xưa.</i></p>
<p> <i></i>
<p><i>( Những người bạn “ ngờ nghệch” ở Petrus Ký năm xưa của tôi nay có người đã là ông nội, ông ngọai, có người vẫn tiếp tục “ ngờ nghệch “, dù bao nhiêu năm lao vào trường đời vẫn chẳng học hỏi được gì hơn – trong lãnh vực tình yêu. Có đôi dịp, gặp lại nhau, câu chuyện về những ngày hoa niên đẹp đẽ ấy đi lòng vòng thế nào rồi cũng quay lại với những “ đôi môi mềm” tưởng tượng, những buổi chiều Sài Gòn chợt mưa chợt nắng tâm hồn lũ choai choai đột nhiên muốn “ nổi lọan”, “ đi hoang “. Những buổi chiều hè nhau trốn học để chẳng làm gì khác hơn là quanh quẩn trước cửa trường con gái Gia Long, Trưng Vương chờ đón những thiếu nữ chưa hề một lần quen biết, với cái rạo rực thật đáng yêu là cầu may làm quen được một người, để trong những đêm khó ngủ, tưởng tượng ra trăm ngàn chuyện thần tiên như lời “sấm truyền” đã phán : Chốn khuê phòng Petrus Ký bắt chí Gia Long &#8211; và cả Trưng Vương nữa- )***</i></p>
<p> <i></i>
<p><b>3.</b></p>
<p>Lần dở những trang thơ. Những trang thơ mong manh như những thân xác E-và trong cơn lốc thời gian âm ỉ. Trang <i>Thả Lá Đề Thơ</i> bên cạnh một tác phẩm nhiếp ảnh tuyệt vời của Nhiếp ảnh gia Hồng Nga ( lại một nữ nghệ sĩ nữa – tôi tự hỏi ! ). Nhìn giai nhân trong ảnh- <i>rõ ràng trong ngọc trắng ngà / giữa trời lồ lộ một toà</i> <i>thiên nhiên ( Nguyễn Du )</i> &#8211; tôi liên tưởng ngay đến cái Hữu Hạn của con người và cái Vô Hạn của Nghệ Thuật. Rồi đây, một trăm năm sau, một ngàn năm sau, hình hài này, sáng tạo tuyệt vời của Thượng Đế này, sẽ trở thành cát bụi, sẽ là hư không. Nhưng bức ảnh nghệ thuật sẽ bất diệt, sẽ còn lại mãi mãi, sẽ tươi trẻ mãi mãi như <i>Tuổi Xuân</i> ( tên bức ảnh trong tập thơ ) , như vào giây phút diệu kỳ trang tuyệt thế giai nhân từ từ trút bỏ xiêm y , từ từ ngồi xuống cho người nghệ sĩ ghi lại hình ảnh sẽ được lưu giữ cho nhiều thế hệ mai sau – miễn là Lịch sử không đẻ ra thêm những Tần Thủy Hoàng nào nữa .</p>
<p>Tôi đọc trang Thả Lá Đề Thơ.”. . . <i>Từ đó . . .trái khôn ngoan đã biến thành trái dại khờ. Bao kẻ dại khờ đã yêu nhau trên trái đất này từ ấy đến nay ? Tôi cũng là một trong những kẻ dại khờ đó, tình nguyện dại khờ . . . vui vẻ dại khờ . . . “</i></p>
<p><i>(Thả lá đề thơ – Ngô Tịnh Yên )</i></p>
<p> <i></i>
<p>Thế ra, tôi đã nghi oan cho cho những nữ nghệ sĩ khả ái của chúng ta. Tôi tưởng các vị đùa cợt chúng tôi – một lũ nhân loại đàn ông dại khờ – Thế ra, tác giả NTY cũng là một trong những kẻ dại khờ đó. <i>Tình nguyện dại khờ. Vui vẻ dại khờ.</i></p>
<p>Tôi tưởng … chỉ có chúng tôi – lũ đàn ông tội nghiệp – mới là những kẻ dại khờ.</p>
<p>Thế ra, các dòng sông, mọi lách nguồn, đều chảy về một chỗ trũng. Thế ra, những tư tưởng . . . lớn cũng đều gặp nhau ở một chỗ rất bé nhỏ nào đó ( ngoài trần gian ngắn ngủi này ).</p>
<p><b>4.</b></p>
<p><b><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image0054.jpg"><img style="border-right-width: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="clip_image005[4]" border="0" alt="clip_image005[4]" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image0054_thumb.jpg" width="244" height="193" /></a></b></p>
<p><i>Đôi ta buộc đất vào trời</i></p>
<p><i>Cho hai người hóa một người mà thôi</i></p>
<p><i>(Ngô Tịnh Yên )</i></p>
<p>Khởi thuỷ là Thượng Đế. Và sau đó là con người với hình ảnh Thượng Đế. Khởi Thuỷ là Vườn Địa Đàng với hai con người khôn ngoan. Và sau đó là Trần gian với những mơ ước về vườn địa đàng và lũ con cháu dại khờ. Kể từ bao giờ, mà những thân xác đầm đìa mồ hôi hạnh phúc kia hiểu ra được rằng :</p>
<p><i>Đôi ta buộc đất vào trời</i></p>
<p><i>Cho hai người hóa một người mà thôi</i></p>
<p><i>( Trăng Mật. Ngô Tịnh yên )</i></p>
<p> <i></i>
<p>Phải chăng từ giây phút :</p>
<p><i>Một trang sách mở kinh tình</i></p>
<p>Đôi vòng tay mở tử sinh khôn lường</p>
<p><i>Phút giây hội ngộ vô thường</i></p>
<p><i>Nghìn năm bốc cháy trên hương phấn người</i></p>
<p><i>( Kama Sutra. Ngô Tịnh Yên )</i></p>
<p><i>Cho hai người hóa một người mà thôi</i>. Hay nói như Trịnh Công Sơn (?) . <i>Tim tôi về</i> <i>trọ giữa buồng ngực em</i>. </p>
<p>Ngôn ngữ thăng hoa hay tình yêu thăng hoa ? hay thân xác thăng hoa ? Dường như – với tôi – Ngô Tịnh Yên đã cho cả ba thăng hoa cùng một lúc. Với nhân loại , sự thăng hoa của thân xác và tình yêu trong cùng một sát na là chuyện không có gì mới lạ. Chỉ có điều người ta ngại nói ra. Qua ngôn ngữ, thi sĩ đã xoá nhòa ranh giới của trời và đất bằng cái phất tay rất phù thủy ( với môi mềm lâm râm khấn thần chú: Om Mani Padme Hum – án ma ni bát di hồng &#8211; ).( Theo Giáo Sư Tạ Chí Đại Trường trong “ Sex và Triều đại “– Tạp chí Văn Học số 125 và các số kế tiếp – thì án ma ni bát di hồng / Om Mani Padme Hum có nghĩa là thanh tịnh: thân, khẩu,ý nhưng nguyên gốc lại mang hình thức tính dục là “ châu báu nằm trong hoa sen “ , một cách nói thanh tao hơn của câu : “ cái lingam nằm trong cái yoni”. ).</p>
<p>Lại nhớ đến năm xưa thuở 17 tuổi. Tôi say mê truyện ngắn “ Tiếng hát lên trời “ của Hoàng Ngọc Tuấn viết về một nữ ca sĩ lừng danh đương thời. Trong truyện, nhân vật xưng tôi ( hay tác giả ) bày tỏ ước mơ được là gói thuốc Salem nằm trong túi aó của nàng ca sĩ. Cái ước mơ thật đáng yêu làm sao. Gần 40 năm từ ngày ấy, nay nàng ca sĩ chắc chắn không còn trẻ nữa. Khuôn ngực chắc chắn không còn đầy như ngày xưa nữa. Nhưng, nếu tôi được phép viết lại câu chuyện, tôi cũng sẽ giữ nguyên ước mơ được là gói thuốc nằm mãi mãi trên ngực áo nàng. Vì dẫu cho “ thời gian nhuộm thịt da ngời” vẫn “ còn đôi xúc giác gọi thời đam mê “ ( NTY).</p>
<p> <i></i>
<p>Tình yêu là một sự kết hợp ( và dâng hiến ) trọn vẹn. Cả thể xác lẫn tâm hồn. Đã đành là hai trái tim rung động. Nhưng cả hai thể xác cũng run rẩy – thật bất hạnh cho những ai không thốt lên được lời run rẩy – Khi “ phút yêu mê rờn rợn khắp châu thân “, khi cơn hồng thuỷ dìm ngập cả vũ trụ, cũng là lúc dòng nham thạch phun lên từ ngọn núi lửa đốt cháy hết nhân loại để muôn vật trở về lại thuở hồng hoang. Đó là lúc :</p>
<p>Cánh sát na chạm địa đàng</p>
<p><i>Đôi ta trôi giữa hỗn mang đất trời</i></p>
<p><i>( Uyên ương. Ngô Tịnh yên )</i></p>
<p>Đó là lúc đất trời giao hoan để sinh thành ra vũ trụ với hạt giống tình yêu nẩy mầm từ chỗ sâu kín nhất của tâm hồn và chỗ sâu kín nhất của thể xác:</p>
<p>Kiếp xưa của đất là trời</p>
<p>Trời không có đất nghe trời buồn thiu</p>
<p><i>Nên đôi ta phải biết yêu</i></p>
<p><i>Cho hai thân thể sớm chiều tương tư</i></p>
<p>(Hài Hoà. Ngô Tịnh Yên )</p>
<p>Từ “ <i>cho hai người hóa một người mà thôi </i>“ đến “ <i>cho hai thân thể sớm chiều tương</i> <i>tư</i> “ nếu tính theo thời-gian-không-trọng-lượng thì chỉ là khoảnh khắc của một sát-na – cái khoảnh khắc không thể đo lường được bằng bất cứ dụng cụ hi-tech nào của đương đại. Nhưng so chiều dài của một nhân loại có sinh có diệt, có hợp có tan, sinh rồi diệt, diệt rồi sinh, hợp rồi tan, tan rồi hợp , thì – quả thật – tiến trình từ “hoá một người mà thôi” cho đến “ hai thân thể sớm chiều tương tư “ là một chiều dài có thể xuyên suốt nền văn minh hỗn mang cho đến điện tử rồi từ điện tử lại trở về hỗn mang. Về không gian, đó là một tiến trình vừa vượt khỏi những giới hạn quy ước về đất và trời, về thiên đàng và địa giới, vừa thu gọn trọn vẹn trong một khoảng vừa đủ cho “ <i>chân run? Mắt liếc? Tay ghì? Môi trao?”:</i></p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image0074.jpg"><img style="border-right-width: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="clip_image007[4]" border="0" alt="clip_image007[4]" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image0074_thumb.jpg" width="130" height="244" /></a></p>
<p>Thịt da không ở nhân gian</p>
<p><i>Tay</i><i> bên Thiên Trúc chân sang Niết bàn</i></p>
<p><i>Cánh sát na chạm địa đàng</i></p>
<p><i>Đôi ta trôi giữa hỗn mang đất trời </i></p>
<p><i>( Uyên ương. Ngô Tịnh Yên )</i></p>
<p>Người nghệ sĩ &#8211; qua nghệ thuật – đã nâng cái trần tục (?) lên thành cái thoát tục, nâng cái hữu hạn trần gian lên thành cái vô hạn vũ trụ, nâng cái ngắn ngủi phút giây lên thành cái thiên thu vạn kiếp. . .</p>
<p>Thời gian nhuộm nẻo đi về</p>
<p><i>Mà sao trực giác chẳng hề đổi thay</i></p>
<p><i>Người yêu có mái tóc mây</i></p>
<p>Trói thời gian lại bằng dây ái tình</p>
<p><i>( Giác Quan thứ 7. Ngô Tịnh Yên )</i></p>
<p>Lại giật mình soi bóng mình trong gương. Những món tóc bạc đã bắt đầu xuất hiện. Hai bên đuôi con mắt loáng thoáng những dấu chân chim. Một cảm tưởng mơ hồ rằng sinh lực của mình cũng đã hao mòn đi theo năm tháng. Vụt qua trong trí nhớ một câu chuyện buồn đọc đâu đó.Câu chuyện về đôi vợ chồng gìa. Để kỷ niệm 50 năm ngày cưới, thay vì tổ chức tiệc tùng mời khách khứa đến tham dự, thì ông bà quyết định ngồi bên nhau ôn lại quãng đời chung từ những ngày họ còn lén cha lén mẹ hẹn hò.</p>
<p><i>Hình ảnh vợ chồng gìa – hai mái đầu bạc trắng – trong buổi chiều vàng lặng lẽ giữa khu vườn đầy hoa vàng lặng lẽ, rất lặng lẽ ngồi bên nhau ôn lại những năm tháng cũ, từ những ngày xanh cho đến những ngày vàng. Chợt một con gà trống từ đâu xao xác chạy đến nhảy lên lưng con gà mái. Rồi những âm thanh gù gù. Cụ bà đưa mắt lén nhìn cụ ông. Cũng vừa lúc bắt gặp cụ ông cũng đang đưa mắt nhìn mình. Hai bàn tay nhăn nheo hiểu ý xiết chặt cùng với hai tiếng thở dài . . . não nuột.</i></p>
<p> <b><i></i></b>
<p><b>5.</b></p>
<p>Lục Bát như cô gái vừa đẹp, vừa duyên dáng mặn mà nhưng cũng khá là đỏng đảnh. Lần đầu tiên đến với thơ, người ta tưởng chừng như dễ dàng chinh phục được nàng Lục Bát. Nhưng không phải vậy. Càng lưu luyến với thơ, càng thấy rằng khó mà đến gần được cái hồn của Lục Bát . Cái mà Thi sĩ Luân Hoán gọi là “ uyên nguyên căn bản “. Từ xưa tới nay có bao nhiêu người làm thơ, nhưng chạm tay được vào Lục Bát – theo tôi – không hẳn là có nhiều. Với tôi, Ngô Tịnh Yên chỉ cần kiễng chân lên một chút nữa là có thể với tới được cái hồn Lục Bát mà nhiều người làm thơ thèm khát. Trong tập 20 bài này, có những bài mà duyên nữ tính bộc lộ rất rõ nét, từ vần điệu đến câu chữ. Bằng vào cảm quan của một kẻ thuộc . . . nòi tình, tôi nhận ra ngay cái nét nữ kia. </p>
<p>Thí dụ như bài Hôn:</p>
<p><i>Yêu nhau yêu cái răng khôn</i></p>
<p><i>Lỡ mai răng lệch biết hôn chỗ nào</i></p>
<p><i>Yêu cái răng khểnh thấp cao</i></p>
<p><i>Nếu như răng lệch chỗ nào mình hôn</i></p>
<p><i>Đã yêu đâu sợ mất còn . . .</i></p>
<p>Răng long đầu bạc vẫn hôn như thường</p>
<p><i>( Hôn. Ngô Tịnh Yên )</i></p>
<p>Có những bài lại nhẹ nhàng mộc mạc ý nhị như Ca dao :</p>
<p><i>Chỉ tại con mắt lá dăm</i></p>
<p><i>Nên tằm mới chịu ăn nằm với dâu</i></p>
<p><i>Còn tôi có tại gì đâu</i></p>
<p><i>Cũng đòi bắt chước theo dâu với tằm</i></p>
<p>. . . . . . . . . </p>
<p><i>chỉ tại cái nết không chừa</i></p>
<p><i>thế nên trúc cứ lẳng lơ với mành</i></p>
<p><i>còn tôi gỉa bộ vô tình</i></p>
<p><i>cũng đòi bắt chước trúc mành lăng nhăng</i></p>
<p><i>. . . . . . . . .</i></p>
<p><i>ghét tôi cũng chẳng ăn nhằm</i></p>
<p><i>trăm dâu cứ đổ đầu tằm là xong</i></p>
<p><i>(Trăm dâu cứ đổ đầu tằm. Ngô Tịnh Yên )</i></p>
<p>Làm nhớ đến câu Ca Dao đọc lên nghe như da thịt có gai : <i>Kim chích vô thịt thì đau, thịt chích vô thịt nhớ nhau trọn đời.</i></p>
<p>Một tập thơ có 20 bài, mà được đến như thế, tưởng cũng là . . . hơi nhiều.</p>
<p><b>6.</b></p>
<p>Anh bạn thân họ Đặng gởi cho tôi tập thơ Ngô Tịnh Yên với hàng chữ trên trang đầu : “ Gởi T.Vấn đọc chơi để biết rằng mình cũng đang Trăng với Mật”. Hôm sau, tôi gởi lại cho anh vài hàng trong bức điện thư, đại ý tập thơ đã gây cho tôi một ấn tượng khá mạnh mẽ. Tôi cũng đùa với anh đôi câu về <i>Trăng với chả Mật</i>. Chúng tôi đều ” <i>cùng một lứa bên trời lận đận</i> “, vừa vượt qua ngưỡng cửa ngũ thập tri thiên mệnh được vài năm. Đam mê còn nguyên vẹn đó , nhưng “ <i>con đom đóm chỉ sáng ngàn đêm vui “ (thơ NTY ).</i> Tôi cũng đưa tập thơ cho nàng và bảo em hãy đọc đi để nghĩ về Trăng với Mật của chúng mình.</p>
<p>Ôi cuộc sống hàng ngày với những thói quen đều đặn và . . . đều đặn. Đôi lúc, những thói quen đều đặn ấy đã che lấp đi cái “ chất sống “ đích thực của đời sống. Cuối cùng, dường như chúng ta chỉ sống với những thói quen, dù tẻ nhạt. Chúng ta ít khi sống đời sống đích thực mà lẽ ra chúng ta không nên để vuột khỏi tay, dù một giây, trong cuộc nhân sinh ngắn ngủi này.</p>
<p><i>Chỉ cho đến lúc, những thói quen hàng ngày ấy bị phá vỡ, thì e rằng có quá . . . muộn chăng. Tôi muốn nói đến cả những thói quen tình cảm và . . . ân ái vợ chồng.</i></p>
<p> <i></i>
<p>Lục Bát Khỏa Thân, trong một chừng mực nào đó, đã gợi cho tôi nhớ rằng, mình nên chú ý hơn nữa tới những gì đằng sau thói quen đều đặn ấy.</p>
<p>. . . Hình như, với Lục Bát Khỏa Thân, các tác giả – thi sĩ, hoạ sĩ, ảnh sĩ – đã tiếp tay làm cho Trăng của chúng tôi sáng hơn, mật của chúng tôi ngọt hơn, dù không cần phải có món văn chương thi-hoạ-hình xa xỉ này , trăng mật của chúng tôi vẫn cứ là trăng mật. Dù biết sẽ đến một ngày “ <i>thời gian nhuộm nẻo đi về</i> “ ( NTY ), nhưng biết đâu, nếu chúng tôi cứ siêng năng niệm câu thần chú của thi-sĩ-phù-thủy” <i>trói thời gian lại bằng dây ái tình</i> “ thì . . .</p>
<p>Biết đâu . . . ▄</p>
<p>­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­</p>
<p>* “ Mụ Phù Thủy và đôi môi mềm “ : tên một bài thơ đăng trong Đặc san Xuân Canh Tuất trường Petrus Ký NK 69-70.</p>
<p>** Trăng Mật . thơ Ngô Tịnh Yên. N &amp; M phát hành 2002. California-USA. Không đề gía bán.</p>
<p>*** Một cách rất tình cờ, tôi liên lạc được với mấy người bạn P.Ký năm xưa, nay ở rải rác khắp nơi trên thế giới. Kẻ ở Canada, người Úc Đại Lợi, kẻ ở Pháp, rồi Na-Uy, và phần lớn còn lại ở Mỹ. Có anh lại còn “ ngờ nghệch “ làm thơ . . . tình nữa. Và, tin hay không tin, khối anh P.Ký đã bị câu sấm “ <i>chốn khuê phòng Petrus Ký bắt chí Gia Long</i> “ vận vào người, khiến yêu ai thì cứ yêu nhưng phải lấy Gia Long làm vợ ( trong đó có kẻ viết bài này ).- T.Vấn (t.van@prodigy.net).</p>
<p>© T.Vấn 2006</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2007/04/muphuthuy/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Cha ăn mặn, con khát nước</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2007/04/chaan/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2007/04/chaan/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 08 Apr 2007 04:15:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[4]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 4 - 2007]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2007/04/07/cha-an-m%e1%ba%b7n-con-kht-n%c6%b0%e1%bb%9bc/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2007/04/chaan/"><img align="left" hspace="5" width="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image002" title="clip_image002" /></a>( Nhân câu chuyện trong trò chơi truyền hình “ Ai là triệu phú ?” và kết quả bình chọn “ 100 bài thơ hay nhất thế kỷ “ )
<a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002.jpg"></a>Cô Nguyễn thị Tâm, Giảng viên Đại Học, trong chương trình “ Ai là triệu phú “ của Truyền hình Hà Nội ngày 09-01-2007
1.
Theo sự giới thiệu của một người bạn, tôi vào Truyền Hình Internet (WWW.VTC.COM.VN ) , chọn chương trình VTV3 phát đi từ Hà Nội ngày 9 tháng 1 năm 2007, để xem trò chơi truyền hình “ Ai là triệu phú “ ( một mô phỏng của chương trình “ Who wants to be a millionaire ?” rất nổi tiếng trên đài truyền hình ABC , Hoa Kỳ) . Tôi đặc biệt chú ý đến phần trả lời của thí sinh Nguyễn thị Tâm , 23 tuổi, giảng viên trường đại học sư[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>( Nhân câu chuyện trong trò chơi truyền hình “ Ai là triệu phú ?” và kết quả bình chọn “ 100 bài thơ hay nhất thế kỷ “ )</p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002.jpg"><img style="border-right-width: 0px; margin: 5px 0px 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="clip_image002" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb.jpg" border="0" alt="clip_image002" hspace="12" width="219" height="167" align="left" /></a><em>Cô Nguyễn thị Tâm, Giảng viên Đại Học, trong chương trình “ Ai là triệu phú “ của Truyền hình Hà Nội ngày 09-01-2007</em></p>
<p><strong>1.</strong></p>
<p>Theo sự giới thiệu của một người bạn, tôi vào Truyền Hình Internet (WWW.VTC.COM.VN ) , chọn chương trình VTV3 phát đi từ Hà Nội ngày 9 tháng 1 năm 2007, để xem trò chơi truyền hình “ Ai là triệu phú “ ( một mô phỏng của chương trình “ Who wants to be a millionaire ?” rất nổi tiếng trên đài truyền hình ABC , Hoa Kỳ) . Tôi đặc biệt chú ý đến phần trả lời của thí sinh Nguyễn thị Tâm , 23 tuổi, giảng viên trường đại học sư phạm Thái Bình . Trong 7 câu hỏi đầu , cô Tâm đã tỏ ra khá bình tĩnh , và vượt qua tương đối suôn sẻ. Câu hỏi số 8 ( với phần thưởng trị gía 5 triệu đồng ) có nội dung như sau :</p>
<p><strong><em>&#8220;Trong tứ trụ của Tự Lực Văn Đoàn: ai là người không phải anh em ruột với ba người kia ?&#8221;</em></strong><strong><em> </em></strong></p>
<ol>
<li><strong><em>Thạch Lam. B. Hòang Đạo. C. Nhất Linh. D. Khái Hưng</em></strong><em> </em></li>
</ol>
<p><strong><em> </em></strong></p>
<p><span id="more-247"></span></p>
<p><strong><em><br />
</em></strong>Khuôn mặt khả ái của cô nữ giảng viên Đại học Sư Phạm có vẻ ngơ ngác , chứng tỏ cô không có một đầu mối nào khả dĩ giúp cô trả lời câu hỏi. Tôi nghe cô gái tự nói với mình :<em><br />
- Tự Lực Văn Đoàn . . . Thạch Lam nghe quen quen. Nhất Linh . . .em nghe thiên nhiều về cải lương. Khái Hưng thì lạ quá, không biết.</em></p>
<p>Rồi cô yêu cầu người điều khiển chương trình để được xử dụng quyền xin trợ giúp cuối cùng của cô. Cô muốn hỏi ý kiến người bạn không có mặt trong phòng quay, một người bạn, theo lời cô, đọc văn rất nhiều. Người bạn này của cô Tâm khi nghe câu hỏi, bằng một giọng tự tin, đã trả lời ngay không chút do dự : phương án B Hòang Đạo. Lẽ tất nhiên, vì cô giảng viên không biết một chút gì về Tự Lực Văn Đòan , nên cô không có sự suy nghĩ nào khác ngoài nghe theo người bạn giỏi văn của mình. Người điều khiển chương trình ( ông Lại văn Sâm ) chờ cho cô gái khẳng định lần cuối câu trả lời của mình xong ( Hòang Đạo ), mới hé cho cô biết rằng, người bạn trai của cô hiện có mặt trong phòng quay lại chọn phương án C Nhất Linh. Còn ông, lại có một “phương án” khác hẳn với hai câu trả lời của họ. Sau vài phút dành cho quảng cáo tài trợ, họ quay trở lại chương trình . Ông Sâm cho biết đây là “ <em>một câu hỏi khó. Chỉ có 14% khán giả có mặt trả lời đúng. 86% trả lời sai “</em> . Câu trả lời đúng là phương án D Khái Hưng .</p>
<p>Tự Lực văn đòan, ngòai vai trò tiên phong trong lãnh vực văn học những năm 1930, đánh dấu một thời kỳ cách tân quan trọng của văn học Việt nam tiền bán thế kỷ 20, họ còn gây ảnh hưởng rộng lớn và lâu dài đến đa số thanh niên trí thức về tư tưởng, xã hội thí dụ như : tinh thần tự lực, đả phá hủ tục, phổ biến và nghệ thuật hóa việc xử dụng chữ Quốc ngữ v..v.</p>
<p>86% số khán gỉa có mặt trong chương trình “ Ai là triệu phú “ trả lời sai câu hỏi về Tự lực văn đòan, một con số đáng suy nghĩ . Riêng thí sinh Nguyễn thị Tâm, cô giảng viên trẻ tuổi xinh đẹp của trường đại học sư phạm Thái Bình, lại có ý nghĩ liên hệ cái tên Nhất Linh ( tức nhà văn, nhà họat động cách mạng chống Pháp nổi tiếng Nguyễn tường Tam , từng giữ chức bộ trưởng ngoại giao trong Chính phủ Liên Hiệp Kháng Chiến Lâm Thời do ông Hồ chí Minh thành lập ngày 01-01-1946 tại Hà Nội ) với một khái niệm “ thiên nhiều về cải lương “ nào đó thì vấn đề không chỉ còn là câu trả lời sai của một thí sinh trong cuộc thi kiến thức như “ Ai là triệu phú “ nữa.</p>
<p>Nhìn cô gái trẻ xinh đẹp trong chiếc áo màu đỏ thật tươi thắm ,mới 23 tuổi đã là một giảng viên đại học , bẽn lẽn rời khỏi tiền trường, tôi không khỏi cảm thấy ngậm ngùi .</p>
<p>Lẽ ra, câu hỏi ấy phải là câu hỏi khá dễ dàng với đa số cử tọa . Lại càng dễ dàng hơn rất nhiều so với trình độ một giảng viên đại học, dù là giảng viên dạy môn Sinh học như cô Tâm. Giai đọan từ năm 1930 cho đến 1945 là một giai đọan quan trọng trong lịch sử Việt Nam về các phương diện chính trị, xã hội , văn hóa. Nổi bật nhất là lãnh vực văn học với sự ra đời của Tự Lực Văn Đòan (1933) . Họ đã thổi một luồng không khí hòan tòan mới vào sinh họat văn học nghệ thuật nước ta lúc ấy, qua các tác phẩm văn học và các tờ báo Phong Hóa, Ngày nay. Không biết đến những sinh họat văn hóa trong giai đọan này, là một lỗ hổng kiến thức đáng tiếc. 86% cử tọa có câu trả lời sai về Tự Lực Văn Đòan. Vậy trách nhiệm thuộc về ai ?</p>
<p><strong> </strong></p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image004.jpg"><img style="border-right-width: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="clip_image004" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image004_thumb.jpg" border="0" alt="clip_image004" hspace="12" width="244" height="184" /></a><em>Tập thơ “ 100 bài thơ hay nhất thế kỷ “ vội vã ra đời giữa sự phê bình gay gắt của ngay chính dư luận trong nước.</em></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong>2.</strong></p>
<p>Cũng vừa mới đây, ở trong nước, ngày 3-3-2007, cuộc thi tuyển chọn <strong>100 Bài Thơ Viêt Nam Hay Nhất Thế Kỷ</strong> do Trung tâm Văn hóa Doanh nhân và nhà xuất bản Giáo dục phối hợp tổ chức trong hai năm đã kết thúc. Cuộc tuyển chọn này dựa trên ý kiến đóng góp của công chúng đọc thơ và yêu thơ ở trong nước ( hiểu nghĩa một nước Việt nam thống nhất liền một dại dải từ Nam chí Bắc ). Người tham dự gởi đến ban tổ chức sự bình chọn của mình về những bài thơ Việt Nam nào, theo họ, là hay nhất thế kỷ 20 ( tương tự như hình thức People’s Choice Awards trong các giải thưởng về điện ảnh, âm nhạc, truyền hình của Hoa Kỳ ) .</p>
<p>Trong danh sách 100 bài được bình bầu, mỗi tác gỉa chỉ có một bài được chọn. Đứng đầu danh sách , không theo thứ tự ABC (trật tự sắp xếp tên tác gỉa của ban tổ chức ) là tác gỉa Hồ chí Minh với bài thơ chữ Hán Nguyên Tiêu. Về chi tiết “ thú vị “ này, một nhà phê bình văn học ở trong nước đã nhanh chóng nhận xét : “ . . .<em>Trong 100 bài thơ được chọn thì 99 bài là thơ tiếng Việt, 1 bài là thơ tiếng Hán. Không biết khi tiến hành cuộc thi, ban tổ chức có định nghĩa thơ Việt Nam thế kỷ XX là thơ do người Việt viết bằng tiếng Việt và bằng tiếng nước ngoài hay không. Tôi tin là không có quy định đó vì nếu đề ra như vậy thì bất khả thi. Mà đã không có quy định đó thì sự tuyển chọn một bài này đã là phạm quy, phạm luật thơ. Và là sự bất nhất. Bất nhất giữa tiếng Việt và tiếng ngoại quốc. Bất nhất giữa lãnh tụ và thi nhân. Bất nhất giữa chính trị và thơ ca. Sự bất nhất này còn bị đẩy lên khi bài đó phá trật tự bảng chữ cái tên tác giả để đứng đầu danh sách. Thơ ca đòi hỏi được đối xử với tư cách thơ ca. Nhà thơ Hồ Chí Minh có thể có bài được chọn, nhưng không phải là bài chữ Hán, và đứng tên trong danh sách theo đúng thứ tự tên mình. Danh như vậy cũng là không chính. “ ( Phạm xuân Nguyên : Danh xưng một tuyển thơ – Diễn đàn Talawas -08-03-2007 ).</em></p>
<p>Về phương diện địa lý giữa hai miền Nam Bắc ( hay đúng hơn , phương diện phân chia ý thức hệ do cuộc chiến tranh Quốc Cộng 20 năm 1954-1975 ), trong danh sách chỉ có các nhà thơ sau đây sinh họat văn nghệ ở miền Nam : Bùi Giáng, Nguyên Sa, Phạm Thiên Thư. Nhà thơ Vũ Hòang Chương, Đinh Hùng , Á Nam Trần Tuấn Khải( 3 ông này di cư vào Nam 1954) có tên trong danh sách nhưng vẫn có thể xếp các ông vào danh sách những nhà thơ Tiền Chiến ( đây là một sự xếp lọai rất tương đối ) với Hòang Cầm, Văn Cao, Xuân Diệu, Hồ Dzếnh, Chế Lan Viên, Huy Cận v…v. Ngòai ra, phải kể đến một người sinh sống ở hải ngọai từ những năm 1960 ( ông từ Sài gòn đi du học). Đó là ông Nguyễn bá Chung, hiện là giáo sư giảng dạy ở trường Ðại Học Massachusetts ở Boston, Hoa Kỳ. Ông cũng có tên trong danh sách này với bài thơ Quê Hương. Cũng cần nói thêm, ông Nguyễn bá Chung là người liên quan đến vụ William Joint Center, tức vụ việc trung tâm này thực hiện dự án nghiên cứu những nỗ lực xây dựng và tái xây dựng diện mạo cộng đồng Việt Nam hải ngoại đã một thời lôi cuốn sự chú ý của báo chí Việt khắp nơi. Phần lớn độc gỉa hải ngoại chỉ biết đến ông Chung là một gíao sư đại học . Rất ít người biết ông Chung đã từng dịch và xuất bản thơ chữ Hán sang Việt ngữ và Anh ngữ.</p>
<p>Như vậy, trừ tác gỉa Hồ chí Minh , danh sách 99 bài thơ hay nhất thế kỷ của 99 nhà thơ Việt Nam vừa được ( một bộ phận ) công chúng Việt Nam tuyển chọn và in ra thành sách có tên 3 nhà thơ của miền Nam ( tính theo lằn ranh phân chia trước tháng 4 năm 1975), 64 nhà thơ của miền Bắc ( cũng theo lằn ranh vừa nói ) , số còn lại là những nhà thơ thuộc về những tác gỉa Tiền chiến ( gồm cả những nhà thơ của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm và các cụ Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Tản Đà ). Con số “ vênh “ này, được nhà thơ Nguyễn trọng Tạo ở trong nước ( ông cũng có tên trong danh sách 100 này ) nhận xét : “<em>Quá ít những nhà thơ miền Nam rất nổi tiếng, có đóng góp cho sự cách tân thơ Việt từ sau 1954 đến nay. Tôi nghĩ, cho dù bây giờ họ ở đâu, làm gì, thì những bài thơ có giá trị của họ vẫn còn đó. Nếu thực sự muốn chọn những bài thơ hay của dân tộc Việt thế kỷ XX thì dứt khoát phải căn cứ vào bài thơ mới bảo đảm khách quan. Điểm này rõ ràng là không vô tư với Thơ.” ( Nguyễn trọng Tạo – Diễn Đàn Forum 14-03-2007 ).</em></p>
<p><strong>3.</strong></p>
<p>Rất nhiều những khuyết điểm của việc tổ chức bình chọn 100 bài thơ hay nhất thế kỷ của Trung tâm Văn hóa Doanh nhân và nhà xuất bản Giáo dục đã được nhiều nhà phê bình trong nước chỉ ra. Thí dụ , vấn đề tính tương đối và đôi khi thiên kiến của một phần công chúng tham gia việc bình chọn. Thơ văn, nhất là thơ, chuyên chở những suy nghĩ và cách xử dụng ngôn từ rất đặc thù của từng thi sĩ và thời đại mà thi sĩ ấy sống, cho nên, về phía người đọc, để bình phẩm một bài thơ, cũng đòi hỏi một tần số và trình độ đồng cảm nào đó với thi sĩ. Kết quả <em>3 miền Nam/64 miền Bắc</em> nêu trên là một phản ánh chính xác thành phần và trình độ của công chúng tham gia vào việc bình chọn các bài thơ mà họ ưa thích. Nó chỉ ra khía cạnh “ bình dân “ ( chữ của nhà thơ Nguyễn trọng Tạo ) của công chúng ấy, chứ không phải tinh cách nghiêm túc cần thiết cho danh xưng “ 100 Bài Thơ Hay Nhất Thế Kỷ “.</p>
<p>Mặt khác, chỉ dựa vào ý kiến công chúng ( people’s choice) , mà vội vã cho in ấn và công bố tập thơ “ 100 Bài Thơ Hay Nhất Thế Kỷ “ là một việc làm chỉ nhằm kiếm lợi nhuận, không phải là một công trình văn hóa đứng đắn của một nhà xuất bản trực thuộc bộ Giáo Dục (1).</p>
<p>Trong mọi lãnh vực của văn học nghệ thuật, việc bình chọn những tác phẩm xuất sắc, luôn luôn là công việc của những nhà chuyên môn, dựa trên trình độ và thái độ thưởng ngọan khách quan để bảo đảm chất lượng cao nhất cho sự bình chọn ấy. Tất nhiên , sự bình chọn của công chúng , tuy cũng quan trọng ( vì một tác phẩm văn học nghệ thuật , trước hết, là phục vụ công chúng ) nhưng không hẳn là yếu tố quyết định. Theo dõi cuộc thi tuyển lựa tài năng mới của trung tâm Thúy Nga Paris vừa qua, người xem nhìn thấy ngay sự khác biệt giữa sự lựa chọn của công chúng ( thí sinh David Meng ) và sự lựa chọn của Ban Giám Khảo ( thí sinh Trịnh Lam ). Ở Trịnh Lam, đó là tài năng có được do sự luyện tập, học hỏi bền bỉ và triển vọng của một bước tiến xa hơn nữa trong sự nghiệp nghệ thuật của anh. Ở David Meng, đó là năng khiếu, lòng yêu tiếng Việt của một người có nguồn gốc từ Kampuchia. Có thể chính sự kiện này khiến anh có cảm tình với những khán gỉa bình chọn cho anh. Một cách khách quan, tôi vẫn nghĩ sự lựa chọn của Ban Giám Khảo cuộc thi do trung tâm Thúy Nga Paris tổ chức chính xác hơn.</p>
<p>Trong số các bài thơ của các tác gỉa được chọn trong tập thơ “ 100 Bài Thơ Hay Nhất Thế Kỷ “, độc gỉa trung bình ( như tôi ) dễ dàng nhận ra nhiều sự lựa chọn không “bình thường” chút nào. Thí dụ như nhà thơ Hữu Loan. Ông có bài “ Màu Tím Hoa Sim “ đã đi vào huyền thọai. Người ta chỉ cần nói : tác gỉa Màu Tím Hoa Sim thì ai cũng hiểu đó là ám chỉ nhà thơ Hữu Loan. Nhưng bài thơ được chọn trong danh sách 100 bài thơ lại là bài “ Đèo cả “ . Nhà thơ Phạm Thiên Thư cũng có tên trong danh sách với bài “ Cổ lũy cô thôn “ . Nhưng hầu như bất cứ ai yêu thơ Phạm thiên Thư đều biết đến và yêu thích bài “ Đưa em tìm động hoa vàng “ hay “ Ngày xưa Hòang thị “ .</p>
<p><strong>4.</strong></p>
<p>Sự kiện <strong><em>3 nhà thơ miền Nam / 64 nhà thơ miền Bắc</em></strong> trong danh sách tập thơ 100 bài còn cho thấy một khía cạnh khác trong chính sách văn hóa của nhà nước Việt Nam. Trước tháng 4 năm 1975, độc gỉa miền Bắc vốn đã <em>“ được bảo vệ không cho bị nhiễm nọc độc của lọai văn hóa ủy mị, đồi trụy, phản động thời tiền chiến “</em>, lại càng không thể biết chút gì về các sinh họat văn hóa nghệ thuật của miền Nam . Trong khi đó, ở miền Nam, tuy có hạn chế, nhưng người dân vẫn có thể biết ít nhiều về tình hình sinh họat văn hóa, xã hội , chính trị ở miền Bắc. Những tác phẩm văn học nghệ thuật của Tự Lực Văn Đòan, của các tác giả tiền chiến, bao gồm cả nhóm Nhân Văn Giai Phẩm và các tác gỉa cộng tác đắc lực với chế độ miền Bắc lúc ấy như: Tô Hòai, Nguyễn Tuân, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Lưu hữu Phước, Trần Hòan v..v.. đều được xuất bản và tự do lưu hành ở miền Nam. Nhờ vậy, nhìn vào danh sách 100 bài thơ , một độc gỉa trung bình sinh sống ở miền Nam dễ dàng nhận ra ngay thành phần của các tác gỉa được bình chọn. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, với chính sách phần thư nhằm “ tiêu diệt nọc độc Mỹ-Ngụy “ của chính quyền, nhưng thực ra là xóa sạch những thành tựu văn hóa của nửa nước thuộc về một ý thức hệ đối địch, nên tòan thể độc gỉa miền Bắc và lớp độc gỉa miền Nam trưởng thành sau tháng 4 năm 75, không biết chút gì về sinh họat văn học nghệ thuật của miền Nam trước 1975.</p>
<p>Với cuộc thi tuyển chọn 100 bài thơ hay nhất thế kỷ vừa rồi, giả sử rằng , về mặt tổ chức, những người gởi ý kiến tới tham dự là có thật và được ban tổ chức đúc kết một cách trung thực, không đánh tráo, không lừa gạt công luận, thì kết quả vừa được công bố cũng đồng thời là một bằng chứng cho sự tác hại bởi chính sách ngu dân của chế độ cộng sản. Một bộ phận rất quan trọng của công chúng thưởng ngọan văn học nghệ thuật trong nước đã không hay biết gì về 20 năm thành tựu của văn học miền Nam, bao gồm cả những thành tựu không mảy may dính líu gì đến vấn đề tranh chấp ý thức hệ Quốc-Cộng, đến cuộc chiến tranh đối đầu Nam Bắc 1954-1975. Cả những thành tựu của văn hóa Việt Nam trước năm 1945, như nhóm Tự Lực Văn Đòan, các nhà văn nhà thơ tên tuổi khác, nếu được xem như hỗ trợ cho ý thức hệ cộng sản ( thí dụ như những tác phẩm phê phán xã hội của nhà văn Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố ) , thì mới được cho truyền bá , lưu hành . Còn ngược lại, thì cũng chịu chung số phận là những cái tên xa lạ với lớp công chúng thưởng ngọan văn hóa hôm nay. Và vì thế, sự kiện cô giảng viên trường đại học sư phạm Thái Bình không hề bíêt đến những tên tuổi Khái Hưng, Nhất Linh, Hòang Đạo, Thạch Lam không có gì đáng ngạc nhiên, và chắc chắn, không phải lỗi của cô.</p>
<p>Cũng may là cuộc tuyển chọn này được tổ chức và đúc kết vào năm 2007. Nếu nó được tổ chức vào năm cuối cùng của thế kỷ 20 , thì chưa chắc Bùi Giáng , Phạm thiên Thư, Nguyên Sa đã có mặt trong danh sách. Và chắc chắn, những Hòang Cầm, Lê Đạt, Phùng Quán, Hữu Loan, Quang Dũng, Hòang Hưng sẽ càng không thể có mặt. (2)</p>
<p>Và tất nhiên, không ai mong mỏi những thành tựu văn hóa (Việt nam ) xây dựng bởi những người Việt sống ngoài đất nước được công luận trong nước ghi nhận. Rất đơn giản, là vì trong nước không có cơ hội giao tiếp với sinh họat văn hóa ngòai nước. Nếu có, những giao tiếp ấy đều bị qua một cái sàng lọc khá tinh vi như Người Viễn Xứ ( một trang mạng tuyên truyền xám nhằm đối tượng là người Việt hải ngọai của nhà nước VN hiện nay) hay chỉ nhằm phục vụ cho những ý đồ chính trị của giới cầm quyền. Ngược lại, tuy sinh sống ở bất cứ nơi đâu ngòai quê hương của mình, người Việt đều biết rất tỏ tường về những gì xẩy ra trong nước, bao gồm mọi sinh họat văn hóa, văn học nghệ thuật.</p>
<p>Do đó, sự kiện không có tên một nhà thơ nào sinh sống ở hải ngoại trong danh sách 100 bài thơ hay nhất thế kỷ ( ngoại trừ Nguyên Sa đã qua đời và trường hợp rất đặc biệt của ông Nguyễn Bá Chung ) là một điều rất bình thường. Nó chỉ chứng minh thêm sự hiện hữu của cái hố sâu phân cách người trong nước và người ngoài nước.</p>
<p><strong>5.</strong></p>
<p>Lỗ hổng kiến thức đáng tội nghiệp của cô giảng viên đại học sư phạm hay khả năng đánh gía văn học nghệ thuật một cách phiến diện của một tầng lớp thưởng ngọan trong nước vào thời điểm của kỷ nguyên thông tin hóa tòan cầu có gốc rễ sâu xa từ sự du nhập và thực thi chủ nghĩa cộng sản ở nước ta. Những tác hại tương tự rồi sẽ từ từ bộc lộ mỗi khi có cơ hội. Chỉ không công bằng lắm với các thế hệ mai sau khi mà “ đời cha ăn mặn, đời con khát nước “. Sự bối rối ngượng ngùng của cô giảng viên đại học trước hàng bao nhiêu cặp mắt khán gỉa đang chăm chú theo dõi chương trình “ Ai là triệu phú “ khi không trả lời được câu hỏi mà cả một thế hệ người Việt sinh sống ở miền Nam chỉ cần học xong lớp 10 hệ 12 năm trung học phổ thông là có thể trả lời được một cách dễ dàng , hay tầm nhìn hạn hẹp của một lớp công chúng thưởng ngọan thơ ở trong nước qua sự bình chọn 100 bài thơ hay nhất thế kỷ, chỉ là hệ quả từ lỗi lầm của các bậc cha anh của họ.</p>
<p>Không bao giờ quá muộn khi người ta muốn sửa chữa những lỗi lầm.</p>
<p>(1) 100 năm văn học không phải là khỏang thời gian ngắn để có thể dễ dàng làm công việc tuyển chọn những viên ngọc quý nhất , lại càng là công việc không thể dựa hòan tòan vào sự lựa chọn của công chúng thưởng ngọan , dù là công chúng thưởng ngọan có trình độ. Không ai không biết điều này. Vì thế, tôi không thể không đặt câu hỏi về việc làm của nhà xuất bản Gíao dục và Đào tạo. Có thể không phải vì lợi nhuận đâu, mà vì một ý đồ khác, một ý đồ phục vụ cho những quan điểm chính trị thiển cận nào đó.</p>
<p><em>(2) </em>Viết xong đọan này, tôi mới được đọc bài “ Không nói thì thôi, nói thì phải “ uốn lưỡi” . . . ngàn lần “ của nhà thơ Hòang Hưng trên Talawas ngày 26-03-2007, trong đó có đọan : “<em>mặc dù rất nhiều khiếm khuyết trong việc tuyển chọn 100 bài thơ hay thế kỷ XX của Trung tâm Văn hoá Doanh nhân, tôi vẫn ghi cái tâm của Lê Lựu <strong>khi anh đưa vào đó bài “<a href="http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=9542&amp;rb=08">Lời mẹ dặn</a>” &#8211; một “Tuyên ngôn Nhân văn&#8221; của nhà thơ Phùng Quán và bài “Người về” &#8211; viết về tâm trạng người tù của tôi.</strong>” . </em>Đọc tới đây, tôi thấy có điểm trong bài viết này của mình bị phủ định, có điểm lại được xác định. Điểm bị phủ định là phần gỉa định của tôi về tính trung thực của Ban tổ chức ( không đánh tráo ). Điểm được xác định là tên nhà thơ Hòang Hưng trong danh sách 100 bài là nhờ <em>“cái tâm của Lê Lựu” </em>. Tôi lại liên tưởng đến câu trả lời của ông Lê Lựu, giám đốc Trung tâm Văn hóa Doanh nhân, trong cuộc phỏng vấn của báo Tuổi Trẻ ngày 07-03-2007. Câu hỏi là : <em></em></p>
<p><em>Nhiều người ngỡ ngàng vì kết quả đã được công bố, nhiều bài thơ hay, đi vào tâm thức nhiều thế hệ đã không có tên trong danh sách, và cũng có nhiều bài thơ&#8230; lạ (ví dụ như Hữu Loan có tên trong danh sách không phải bằng Màu tím hoa sim bất hủ mà lại là Đèo Cả). <strong>Liệu kết quả có tuyệt đối là sự bầu chọn của độc giả?</strong></em></p>
<p>Nhà văn Lê Lựu dường như cố tình tránh trả lời vào ý chính , ông nói :</p>
<p><em>Vì phối hợp với NXB Giáo Dục nên tuy đối tượng bầu chọn là tất cả những ai yêu thơ nhưng thực tế vẫn chủ yếu là sinh viên và học sinh trung học tham gia. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng có một hội đồng thẩm định để đọc và so sánh những thư bình chọn của bạn đọc gửi đến với hàng trăm tuyển tập thơ đã in trước đó, chủ yếu để xem có độ chênh nào đáng kể không, có tên tuổi lớn nào bị bỏ sót không. Và đáng mừng là không có ai bị bỏ sót, độ chênh trong các bình chọn của độc giả và của các người làm tuyển chọn thơ chuyên nghiệp không lớn lắm. Trong số 100 bài đã được chọn cuối cùng, thật ra chỉ chênh với các danh sách khác khoảng 5-7 bài.</em></p>
<p>Tôi hơi thắc mắc, “ <em>đọc và so sánh “ </em>thôi sao, có tôn trọng tuyệt đối sự bầu chọn của độc gỉa hay không ? có đánh tráo hay không ( dù là đánh tráo với thiện ý, với “cái tâm” như trường hợp của nhà thơ Phùng Quán và Hòang Hưng dẫn ở trên ) ?</p>
<p>© T.Vấn 2007</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2007/04/chaan/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
