<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>T.Van &#187; 5</title>
	<atom:link href="http://t-van.net/wordpress/category/thang5/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://t-van.net/wordpress</link>
	<description>Trang Nha T.Van</description>
	<lastBuildDate>Fri, 03 Sep 2010 04:56:07 +0000</lastBuildDate>
	<generator>http://wordpress.org/?v=2.8</generator>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
			<item>
		<title>Những cảnh đời quen thuộc</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2010/05/nh%e1%bb%afng-c%e1%ba%a3nh-d%e1%bb%9di-quen-thu%e1%bb%99c/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2010/05/nh%e1%bb%afng-c%e1%ba%a3nh-d%e1%bb%9di-quen-thu%e1%bb%99c/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 15 May 2010 04:52:54 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[5]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 5- 2010]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2010/05/nh%e1%bb%afng-c%e1%ba%a3nh-d%e1%bb%9di-quen-thu%e1%bb%99c/2001/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2010/05/nh%e1%bb%afng-c%e1%ba%a3nh-d%e1%bb%9di-quen-thu%e1%bb%99c/"><img align="left" hspace="5" width="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2010/05/clip_image002_thumb2.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image002" title="clip_image002" /></a>&#160;
( Đọc “ Net Em “ của Trần Yên Hòa )
<b></b>
<a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2010/05/clip_image0022.jpg"></a><b>1.</b>
Người cựu sĩ quan VNCH sau nhiều năm trong những trại cải tạo, quay trở về căn nhà xưa với mong ước được gặp lại vợ và hai đứa con gái thân yêu, chỉ thấy ngay trong phòng khách nhà mình, ngồi chễm chệ một người đàn ông lạ và ánh mắt xua đuổi của người vợ. Anh không còn lựa chọn khác nào đành bỏ đi tìm một chỗ nào đó để nương thân. Gần 10 năm anh cố bươn chải kiếm sống cho qua ngày, ôm trong lòng nỗi uất hận khó nguôi ngoai. 
 
Cho đến một hôm có tin về sự thỏa thuận giữa hai chính phủ Việt Mỹ về việc cho phép các cựu tù nhân trước đây đã từng ở trong các trại cải tạo Cộng sản từ 3 năm[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p>( Đọc “ Net Em “ của Trần Yên Hòa )</p>
<p><b></b></p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2010/05/clip_image0022.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 0px 5px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image002" border="0" hspace="12" alt="clip_image002" align="left" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2010/05/clip_image002_thumb2.jpg" width="70" height="116" /></a><b>1.</b></p>
<p>Người cựu sĩ quan VNCH sau nhiều năm trong những trại cải tạo, quay trở về căn nhà xưa với mong ước được gặp lại vợ và hai đứa con gái thân yêu, chỉ thấy ngay trong phòng khách nhà mình, ngồi chễm chệ một người đàn ông lạ và ánh mắt xua đuổi của người vợ. Anh không còn lựa chọn khác nào đành bỏ đi tìm một chỗ nào đó để nương thân. Gần 10 năm anh cố bươn chải kiếm sống cho qua ngày, ôm trong lòng nỗi uất hận khó nguôi ngoai. </p>
<p> <span id="more-2001"></span>
<p>Cho đến một hôm có tin về sự thỏa thuận giữa hai chính phủ Việt Mỹ về việc cho phép các cựu tù nhân trước đây đã từng ở trong các trại cải tạo Cộng sản từ 3 năm trở lên được đi định cư tại Mỹ. Đây là cơ hội để anh thóat khỏi sự bế tắc mà nếu tiếp tục sống trong nước dưới sự kềm kẹp của chế độ mới, anh và các bạn đồng cảnh của mình sẽ không bao giờ thóat ra khỏi được. Cũng như những bạn bè của mình, anh nộp đơn xin xuất cảnh. Trong hằng hà sa số những thứ giấy tờ cần thiết phải trình để xác minh nhân thân, anh bị lâm vào một tình huống khó xử : Vì đã có gia đình, anh phải kèm theo tên vợ và hai con trong danh sách xin xuất cảnh. Nếu đã ly dị, anh phải xuất trình giấy ly dị do tòa án phán quyết. Ngày ấy, bước chân ra khỏi căn nhà có người đàn ông lạ và ánh mắt lạnh lùng của người vợ, anh không hề nghĩ đến tờ giấy vô tri ( và vô nghĩa ) khai tử cuộc sống chung giữa anh và người đàn bà đã cho anh hai mặt con. Sự đau đớn của anh quá lớn để phải quan tâm đến mảnh giấy vụn vặt ấy. Bây giờ, muốn tìm một mảnh đất mới làm lại cuộc đời anh phải giải quyết sự việc về mặt pháp lý. Nghĩ đến những thủ tục giấy tờ rườm rà phải làm và khỏang thời gian chờ đợi để có tờ giấy ly dị trong tay, nhất là nghĩ đến hai đứa con của anh cũng rất cần phải thóat ra khỏi bản án vô thời hạn “ con em sĩ quan ngụy”, anh quyết định quay về gặp người vợ cũ , xin nàng bằng lòng “ xóa bài làm lại “ để nàng và hai con có thể lên đường đi Mỹ cùng với anh. Người đàn bà, sau một thóang ngỡ ngàng vì sự độ lượng ngòai sức tưởng tượng ấy, đã vui vẻ nhận lời. Anh cựu tù cải tạo tội nghiệp , bước ra khỏi nhà, <i>“ thở phào, như trút đi một gánh nặng. Con đường trước mặt anh đang thênh thang, anh quên đi những ngày đói rách ở trại cải tạo, quên hẳn Nương ( người bạn gái mới quen – ghi chú của T.Vấn ), quên hẳn ngày anh trở về có người đàn ông ngồi trên chiếc Sofa, quên hẳn câu xua đuổi của Nga ( người vợ “ cũ” – Ghi chú của T.Vấn ) phủ tràn trên mặt. Bây giờ , anh hạnh phúc “ ( Trần Yên Hòa . Net Em. Tập truyện. NXB Thế Kỷ 2009. Trang 210).</i></p>
<p>Câu chuyện trên là nội dung một truyện ngắn khá tiêu biểu cho sự lựa chọn đề tài của nhà văn Trần Yên Hòa , một cây viết rất sung sức ở hải ngọai. Chỉ trong vòng 10 năm kể từ ngày ông định cư tại Mỹ theo diện HO, ông đã cho xuất bản tổng cộng 6 tác phẩm, trong số đó có 1 truyện dài ( Mẫu Hệ . NXB Thế Kỷ 2004 ), 2 tập thơ ( Khan cổ gọi tình, Về . NXB Thế Kỷ 2001 ; Uyên Ương, Phượng Hề và Khát Vọng . NXB Thế Kỷ 2009) và 3 tập truyện ngắn ( Những chuyến mưa qua. NXB Thế Kỷ 2001; Áo gấm về làng. NXB Thế Kỷ 2004; Net Em. NXB Thế Kỷ 2009 ).</p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2010/05/clip_image0042.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; display: block; float: none; margin-left: auto; border-top: 0px; margin-right: auto; border-right: 0px" title="clip_image004" border="0" hspace="12" alt="clip_image004" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2010/05/clip_image004_thumb1.jpg" width="283" height="304" /></a></p>
<p>Net Em, tập truyện mới nhất của Trần Yên Hòa, gồm 17 truyện ngắn dàn trải những cảnh đời nghèo hèn, cơ nhỡ, cực khổ trong 222 trang giấy. Cũng như 2 tập truyện ngắn và 1 truyện dài đã xuất bản trước đây, Net Em xóay quanh những cảnh đời rất quen thuộc với độc giả. Giở bất cứ trang truyện nào, người đọc đều có thể liên tưởng đến , hoặc là chính bản thân mình, hoặc là những con người với những hòan cảnh sống mà mình đã từng quen biết, giao thiệp, từng đứng bên ngòai chứng kiến , từng nghe nói đến. Nhân vật của Trần Yên Hòa, phần lớn đều có thật trong đời sống, cái đời sống của một xã hội miền Nam chìm xuống tận bùn đen sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, cái đời sống của những công dân hạng nhì luôn luôn bị áp bức, bị tước mất những cơ hội để vươn lên, để kiếm miếng ăn đắp đổi qua ngày cho bản thân, cho gia đình. Dù vậy, họ vẫn phải đấu tranh mà sống, và quan trọng nhất, bằng những phương cách lương thiện, cái lương thiện theo ý nghĩa nhân bản của từ, chứ không dựa vào thứ luật lệ không ra luật lệ của nhà cầm quyền Cộng sản. Đời sống trong những trang truyện Trần Yên Hòa còn là những mảnh rất thật về ước vọng “ rời khỏi đất nước “ của những con người khốn khổ khốn nạn của đời sống ấy, từ những anh chàng cựu tù cải tạo thân sơ thất sở đạp xích lô, chạy hàng xách, làm nương làm rẫy cực nhọc từ sáng đến tối vẫn không đủ đem về hai bữa cơm cho gia đình cho đến những cô gái quê nghèo khổ, những bà vợ cải tạo “ trót nghe theo lời u mê “ đem con đi xây dựng kinh tế mới để chồng được tha về sớm nên mất nhà, mất cửa, mất hộ khẩu ở thành phố , rồi lang thang lếch thếch trong những căn nhà ổ chuột của thành phố và làm đủ thứ nghề không hề có tên gọi, miễn có được chút gì bỏ vào trong miệng ngáp ngáp qua ngày. Ai cũng muốn bỏ xứ mà đi, vì đó là cách duy nhất để đổi đời. Những người cựu tù với mảnh giấy ra trại và gia đình họ đã đành, còn có những cô gái , những người đàn bà tìm mọi cách để đuợc đứng chung trong tờ đơn xuất cảnh của những con người khốn khổ ngày nào. Rồi đến khi có phong trào lấy chồng Hàn quốc, lấy chồng Đài Loan để “ đổi đời “ cho bản thân, cho gia đình, những cô gái trẻ tội nghiệp ấy, khi phải lựa chọn, vẫn sẵn sàng chấp nhận làm vợ những ông già Việt kiều , tuy họ lớn tuổi hơn mình gấp nhiều lần, nhưng họ có đồng Đô La, thứ có gía trị cao nhất trong xã hội Việt Nam hiện nay , và quan trọng hơn nữa, để được xuất cảnh chính thức. Vài năm sau, những cô gái ấy có thể bảo lãnh cho cha mẹ, anh chị em mình ra nước ngòai sinh sống.</p>
<p><i>Những cảnh đời này, hẳn không xa lạ gì với chúng ta.</i></p>
<p><b>2.</b></p>
<p>Những trang truyện Trần Yên Hòa phản ánh một cách trung thực những hệ quả đau xót của một hòan cảnh lịch sử chưa hề có tiền lệ trong 4 ngàn năm tồn tại của đất nước Việt Nam. Những trang viết ấy thật quý gía cho các thế hệ mai sau. Độc gỉa của hôm nay, đọc Trần Yên Hòa để ngậm ngùi, để nhớ về một quá khứ chưa xa lắm của chính mình, của bạn hữu, của những người quen kẻ biết. Nỗi ngậm ngùi ấy có thể rồi sẽ nguôi ngoai với nhịp sống hối hả xứ người, có thể sẽ vẫn còn đọng trong cổ cái vị đắng thiên thu không thể rửa sạch. Mỗi người, tùy ở mức độ đau xót mà người ấy kinh qua, chọn cho mình một cách cảm nhận. Nhưng đó là vấn đề của người trong cuộc, của chúng ta, những người đã phải sống qua một giai đọan lịch sử thật khó quên. Đối với các thế hệ tương lai, những câu chuyện mà Trần Yên Hòa kể lại hôm nay, tuy mang tính cách hư cấu của văn chương, nhưng vẫn có giá trị như những chứng nhân của một thời đại mà tiền nhân của họ đã sống qua. Hẳn nhiên, họ vẫn có quyền đặt vấn đề về mức độ khả tín của những câu chuyện ấy. Người đương thời, rất dễ dàng nhìn thấy những sai sót trong sự ghi chép ấy, nếu có. Ở khía cạnh này, phải ghi nhận sự trung thực của tác gỉa. Tuy bản thân đã từng trải qua nhiều cảnh đời cơ cực như chính những nhân vật của ông đã trải qua, nhưng ông không cường điệu, không lên gân, không để cảm tính chi phối những trang viết của mình. Đôi khi, cách trình bày sự việc của ông khiến người đọc có cảm tưởng một sự cam chịu thật tội nghiệp. Như câu chuyện được trích dẫn ở đầu bài về một nhân vật của Trần Yên Hòa. Trước sự phản bội đành đọan của người vợ, anh cựu tù cải tạo chỉ biết lầm lũi ra khỏi nhà, không một lời phản kháng . Cho đến khi có chương trình HO dành cho cựu tù nhân và gia đình, vì con, anh về năn nỉ người đàn bà đã từng đuổi anh ra khỏi nhà đi với anh, trong lúc có bao nhiêu người phụ nữ khác sẵn sàng nhận lời mời ấy với bất cứ điều kiện gì mà anh đòi hỏi. Được người vợ “ cũ “ nhận lời đi chung, anh cảm thấy mình “ thật hạnh phúc “ (1). Nhưng, có thể cũng nhờ thái độ “ có vẻ như cam chịu ấy “, người đọc không biết nhiều về những cảnh đời cơ cực ở Việt nam những năm sau “ giải phóng “ sẽ đánh giá cao sự trung thực trong những câu chuyện của tác gỉa.</p>
<p>Truyện, về mặt văn học, vốn là hư cấu, dù dựa trên những con người và sự kiện có thật, vẫn là hư cấu. Nhưng, khi gập lại những trang truyện Trần Yên Hòa, tôi không có cảm tưởng mình đọc truyện. Cái đọng lại trong tôi là những cảnh đời có thật vừa được tác gỉa kể lể một cách thật từ tốn, chậm rãi. Phần khác, có lẽ cách kết cấu truyện của Trần Yên Hòa khiến tôi không có cảm tưởng mình đọc truyện văn học. </p>
<p>Kết cấu truyện trong Net Em, cũng như trong những tập truyện xuất bản trước đó, và kể cả truyện dài Mẫu Hệ, đơn giản, dễ đọc, dễ hiểu. Những tình tiết không chồng chéo, không đan mắt xích. Đọc Trần Yên Hòa, tôi không nhìn thấy cái chiều sâu ( vừa cần thiết, vừa không cần thiết ?) của một tác phẩm văn học mà nhiều nhà phê bình đòi hỏi. Ý tưởng trong truyện Trần Yên Hòa cũng vậy, chúng đơn giản, trắng đen rõ ràng. Ông không một chút xíu nào có vẻ “ làm dáng triết học “ như vài tác giả cùng thời. Văn phong ông sử dụng cũng rất phù hợp với kêt cấu truyện. Không màu mè hoa mỹ, không “ làm dáng hậu hiện đại “ , không “ đua đòi cách tân “, chân chất như một thanh niên “ tỉnh lẻ “, trong sáng như tâm hồn một con người chưa từng kinh qua bao thăng và trầm của thế sự. Đây cũng là một nét khá đặc thù của Trần Yên Hòa, nếu kể đến “ background “ của ông , vốn là một cựu sĩ quan chiến tranh chính trị, xuất thân từ một quân trường chính quy của quân đội VNCH.</p>
<p>Với kết cấu truyện và văn phong như vậy, những nhân vật của Trần Yên Hòa cũng không thể khác. Vì những câu chuyện ông kể đều có thật trong đời sống, nên những nhân vật đều như bước từ đời sống vào những trang truyện. Những người đàn ông, những người đàn bà của một thời nhiễu nhương, hay khi đã bước chân đi định cư xứ người đối đầu với thực tế, hoặc khi “ áo gấm về làng “ , người đọc thấy rõ đến độ có thể đặt tên mà không sợ lầm lẫn. Đời sống nội tâm của từng nhân vật, như kết cấu truyện, không một người nào cho thấy tác giả dụng công đào sâu. Có lẽ vì cuộc kiếm sống quá ư gay gắt chăng, nên không có thi giờ cho những thứ “xa xỉ” ấy, hay những nhân vật của Trần Yên Hòa cũng chỉ “ thường thường bậc trung “, đến rồi đi, đi rồi đến, từ đời sống bước vào trang truyện, từ trang truyện bước ra đời sống, không để lại dấu ấn gì khiến người đọc nhớ đến. Có nhớ chăng chỉ là cái cảnh đời , cái kiếp làm người, nhất là con người của một thời ngăn sông cấm chợ (2). Một khía cạnh khác trong những nhân vật của Trần Yên Hòa là Sex. Hầu như ở mỗi cơ hội thuận tiện, tác gỉa đều diễn tả sự thèm muốn về xác thịt của nhân vật. Đói thèm ăn, khát thèm uống, thiếu “ thịt “ thì thèm “ thịt “ cũng là điều bình thường. Ai cũng đều như thế cả, trừ những bậc tu hành (?), trẻ con, và người “ hết hơi hết sức “. Do đó, có thật cần thiết phải phô diễn cái tính” người “ (3) ấy của nhân vật trong mỗi câu chuyện hay không ? Nhưng, cũng phải công bằng với tác gỉa, có những câu truyện mà sex là cái nền để nhân vật tồn tại ( như truyện “ Kinh tế mới “ với nhân vật Phó Công An Dậu và người vợ viên sĩ quan đi cải tạo vắng chồng đã 3 năm ) , và Trần Yên Hòa cũng ít khi sa đà, dùng dằng ở những đoạn “ tả chân mùi mẫn “. </p>
<p><b>3.</b></p>
<p>Trần Yên Hòa chọn cái tên “ Net Em “ từ tên truyện ngắn đầu tiên làm tựa đề chung cho cả tập truyện. Truyện Net Em ( đúng tên là Cổ tích Net Em) kể về câu chuyện của nhân vật tên Tụy, cựu sĩ quan VNCH sinh sống ở Mỹ, nhờ mạng lưới Internet mà làm quen và cưới một cô gái trẻ ở một làng quê hẻo lánh Việt Nam. Đặt cái tên Net Em làm tên chung của cả tập truyện, hẳn ông cũng có ý nhấn mạnh đến đặc tính của mạng lưới điện tử đã nối liền con người ở khắp nơi trên thế giới về mọi phương diện , kể cả chuyện tình cảm cá nhân. Về phương diện Văn học, mạng điện tử đã làm một cuộc cách mạng lớn nhất thế kỷ. Đã có hẳn một nền văn học gọi là Văn học Mạng. Sự ra đời của mạng điện tử đã làm suy yếu hẳn hình thức văn học quy ước là sách in ( và báo in, tạp chí văn học in ). Vậy mà, lên mạng google cái tên Trần Yên Hòa, tôi chỉ nhận rải rác vài kết quả không đáng kể. Nhưng với 6 tác phẩm in xuất bản trong vòng 10 năm, thì cái tên Trần Yên Hòa, một cách bình thường, phải cho những kết quả lớn hơn thế rất nhiều cho xứng với số lượng tác phẩm của ông. Tôi chỉ có thể suy luận rằng ông không mặn mà lắm với việc phổ biến tác phẩm của mình trên mạng, và vẫn tha thiết với việc in ấn và xuất bản những đứa con tinh thần của mình.</p>
<p>Trong tình hình xuất bản sách báo èo uột hiện nay, với số người đọc ( tiếng Việt ) ngày càng ít ỏi ở hải ngọai, thì những cố gắng của nhà văn Trần Yên Hòa là một việc làm đáng được sự quan tâm của những ai còn tha thiết đến sự tồn vong của một nền văn học hải ngọai mà hình thức sách in vẫn còn là hình thức quy ước không thể thay thế được. Lại thêm một điều tôi ngưỡng mộ ở ông.</p>
<p>T.Vấn</p>
<p>(1)Những cảnh đời như thế này không xa lạ gì với anh em cựu tù cải tạo. Trong lúc chồng đang còn ở trong các trại tù không biết ngày nào trở về, vì nhiều hòan cảnh – đáng thương và không đáng thương – khác nhau, có những bà vợ đã không giữ được sự trung trinh. Phần lớn đều không đáng trách. Cuộc sống khó khăn và lũ ma quỷ mới đáng trách. Nhưng thái độ “ cam chịu “ như nhân vật của Trần Yên Hòa trong câu chuyện này – tuy cũng có thật ngòai đời – khá hiếm.</p>
<p>(2)Theo một số nhà phê bình văn học, bê nguyên mẫu từ đời sống vào văn học là tước đi tính văn học của tác phẩm. Nhân vật phải có tính khái quát cao, có nghĩa là nhà văn phải hư cấu nhân vật của mình dựa vào nhiều tính cách xã hội tiêu biểu cho một lớp người ( nhân vật ấy đại diện ) mà nhà văn quan sát được. Trong lúc còn những khác biệt về những cách nhìn khác nhau về vấn đề lý thuyết văn học, tưởng cũng nên bằng lòng với những gì cảm quan người đọc chấp nhận được. Thời gian sẽ cho biết một nhân vật tác phẩm có tính văn học hay không có tính văn học. Mặt khác, truyện của Trần Yên Hòa phản ánh rất thật đời sống của một giai đọan mà những con người sống trong đó hầu như đều có chung một số phận ( cụ thể là những con người thuộc về bên thua trận ), cho nên, theo tôi, cái số phận của những con người ấy đã chi phối, đã bao trùm lên mọi hành động, lời nói của những nhân vật của Trần Yên Hòa . Và cũng vì thế, những nhân vật của ông không có cơ hội khẳng định tính cách của riêng mình.</p>
<p>(3)Tôi sẽ phản đối hết sức mình nếu có ai khuyên tôi nên thay chữ “ tính người “ bằng chữ “ tính vật “ trong đọan văn này. T.Vấn</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2010/05/nh%e1%bb%afng-c%e1%ba%a3nh-d%e1%bb%9di-quen-thu%e1%bb%99c/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Nhớ những người đã nằm xuống</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2009/05/nhonhung/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2009/05/nhonhung/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 29 May 2009 23:54:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[5]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 5 - 2009]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2009/05/nh%e1%bb%9b-nh%e1%bb%afng-ng%c6%b0%e1%bb%9di-d-n%e1%ba%b1m-xu%e1%bb%91ng/491/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2009/05/nhonhung/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb22-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image002" title="clip_image002" /></a>Không một thế hệ nào được quyền mặc nhiên thừa hưởng những gì tiền nhân để lại. Dù người chết không bao giờ thức dậy đòi được trả ơn, nhưng thế hệ hôm nay cần phải nhớ đến cái ơn ấy, để biết rằng mình cũng phải góp phần của mình cho những thế hệ mai sau. Sợi dây đạo lý ấy xuyên suốt tòan bộ lịch sử nhân lọai, bất kể những khác biệt về tôn giáo, thế chế chính trị, hình thái xã hội của từng thời kỳ.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><em> </em></p>
<p><em><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00223.jpg"><img style="border-right-width: 0px; margin: 5px 10px 0px 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="clip_image002" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb22.jpg" border="0" alt="clip_image002" width="244" height="142" align="left" /></a></em></p>
<p><em>Hỡi những người đã chết hôm qua, </em><em><br />
Những người còn sống hôm nay,<br />
Xin hãy hát với nhau lời nguyện cầu</em><em> . . .</em></p>
<p><em>( Phạm Thế Mỹ )</em><em> </em></p>
<p><strong>1.</strong></p>
<p>Một người bạn, sau chuyến đi thăm Tượng đài kỷ niệm chiến tranh Việt nam ( The Vietnam Veterans Memorial Wall ) ở Nghĩa trang quốc gia Arlington hồi cuối tháng 4 vừa qua, gởi đến tôi những bức hình chị chụp được trong thời gian ở D.C.. Mặc dù đã từng đến đó một lần mấy năm trước đây, nhưng khi xem những bức hình vừa nghệ thuật, vừa chứa đựng những ý tưởng của một con người đã từng sống qua những ngày gian khổ nhất của chiến tranh, tôi vẫn thấy lòng mình chùng xuống. Hơn 30 năm trôi qua, mà những ám ảnh của cuộc chiến vẫn không phai nhạt chút nào.</p>
<p>Kể cả ở một người phụ nữ chân yếu tay mềm, chưa từng phải xông pha trong lửa đạn, như chị bạn của tôi. Nhưng chị cũng đã có người yêu, có bạn bè anh em, đi vào cuộc chiến. Có người trở về trong chiếc quan tài phủ lá quốc kỳ và hàng chữ tổ quốc ghi công, có người trở về thân thể không lành lặn. Và cũng có người , sau khi tiếng súng chấm dứt, đi vào những trại cải tạo và không bao giờ trở về. Là người chứng của lịch sử, chị mang trong lòng nỗi đau của tất cả những mất mát đó cộng lại.</p>
<p>Lặng lẽ xem đi xem lại những bức hình, tôi biết rằng hế hệ chúng tôi không bao giờ có thể rũ sạch được quá khứ để thanh thản sống cho ngày hôm nay. Quá khứ có mặt ngay ở trong góc cạnh mà những bức hình được chụp. Ở mỗi góc cạnh, tượng đài kỷ niệm chiến tranh ấy cho người xem một ý nghĩ khác nhau ( cho những người chưa từng trải qua chiến tranh ) , một hồi ức khác nhau ( cho những người đã hơn một lần nghe tiếng rít của bom đạn, nhìn thấy thây người ngã gục, ngửi thấy mùi thuốc súng khét nghẹt, mùi da thịt thối rữa, cảm thấy cái chết đang đứng ngay bên cạnh mình ).</p>
<p>Chúng tôi còn nợ một món nợ không thể trả được cho những người đã chết. Chúng tôi mang cái tội là kẻ sống sót sau một cuộc mê cuồng của lương tâm con người.</p>
<p>Hơn 58 ngàn người lính Mỹ bỏ mình trong chiến tranh Việt Nam, một cuộc chiến tranh nơi mảnh đất xa lạ mà cho đến tận bây giờ, nhiều người dân nước họ vẫn không hiểu tại sao chiến tranh ấy xẩy ra, tại sao nước Mỹ lại dính líu đến, và nhất là tại sao con em họ lại phải trực tiếp chiến đấu trong cuộc chiến tranh ấy, để rồi hàng trăm ngàn người trở về mang thương tích trong hồn, trên người. Trong số đó, hơn 58 ngàn trở thành tử sĩ.</p>
<p>Dù vậy, họ còn có bức tường đá đen ghi tên từng người nằm xuống , mang hình thức một nấm mồ tập thể , một đài tưởng niệm chiếm một chỗ vinh dự trong nghĩa trang quốc gia. Và hiển nhiên, trong trái tim của những thế hệ mai sau của nước Mỹ.</p>
<p>Nhưng còn những đồng đội của tôi, những người đã nằm xuống cho những lý tưởng cao đẹp nhất mà thế hệ chúng tôi hằng ôm ấp, những người cũng can trường chiến đấu cho đất nước đồng bào, cho dân tộc ? Có một chỗ nào vinh dự như thế dành cho họ không ? Có một ngày nào trang trọng trong năm để mọi người tưởng nhớ đến họ không ? Những đồng đội của tôi, như bao người lính khác của các bên tham gia cuộc chiến, cũng đã hy sinh tuổi trẻ, hy sinh cuộc đời cho những ước vọng cao quý nhất mà sự hy sinh ấy phải được coi là xứng đáng , có bức tường nào ghi lại tên tuổi của họ hay không ? Những thế hệ Việt Nam mai sau, có ai còn nhớ đến họ không ?</p>
<p><em>Hỡi người chiến sĩ</em></p>
<p><em>Đã để lại</em></p>
<p><em>Cái nón sắt bên bờ lau sậy này</em></p>
<p><em>Bây giờ anh ở đâu ? </em></p>
<p><em>Bây giờ anh ở đâu ?</em></p>
<p><em>( Người tình không chân dung – Lời : Dạ Chung; Nhạc: Hòang Trọng )</em></p>
<p><strong>2.</strong></p>
<p>Tháng 5 mở đầu cho những ngày hè rộn rã, những chuyến du lịch xa gần của mọi gia đình sau khi những cánh cửa trường khép lại ngày cuối cùng của niên học. Tháng 5 cũng là thời điểm nước Mỹ nhớ đến những con em của họ đã nằm xuống cho sự tồn vong của đất nước. Sự tưởng nhớ ấy vừa là một truyền thống, vừa là một thứ đạo lý mà không một người dân nào được phép quên lãng.</p>
<p>Cũng như thường lệ hàng năm, ngày thứ Hai cuối cùng của tháng 5, tôi cùng với các con treo lên trước cửa nhà hai lá cờ : Mỹ và Việt. Một lá cờ ghi nhớ những đồng đội của tôi đã nằm xuống cho tôi được sống sót, để cho các con của tôi được chào đời. Một lá cờ ghi nhớ những người lính đã hy sinh để ngày hôm nay tồn tại một đất nước tự do dân chủ nhất thế giới để gia đình tôi có một mảnh đất gọi là quê hương thứ hai. Năm nay, hai đứa con của tôi đã đủ cao để chúng có thể mỗi đứa tự leo lên một bên nhà treo lên hai lá cờ . Và chúng đã đủ trí khôn để biết hỏi tại sao , để suy ngẫm những câu trả lời.</p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image0031.jpg"><img style="border-right-width: 0px; margin: 0px 10px 0px 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="clip_image003" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image003_thumb1.jpg" border="0" alt="clip_image003" width="188" height="244" align="left" /></a></p>
<p>Thế hệ hôm nay đã may mắn không phải sống qua những năm tháng chiến tranh như thế hệ chúng tôi, nhưng họ không thể không biết đến , không có quyền không biết đến những gian khổ mà cha anh họ đã trải qua. Những giọt nước mắt của hôm qua , nếu biết trân trọng, sẽ làm cho nụ cuời hôm nay rạng rỡ hơn, ý nghĩa hơn. Hạnh phúc không từ trên trời rơi xuống. Nó được khám phá ra nhờ những đau khổ của người đi trược, sự hy sinh của người đã nằm xuống. Đó cũng là cái gía phải trả cho Tự Do.</p>
<p>Không một thế hệ nào được quyền mặc nhiên thừa hưởng những gì tiền nhân để lại. Dù người chết không bao giờ thức dậy đòi được trả ơn, nhưng thế hệ hôm nay cần phải nhớ đến cái ơn ấy, để biết rằng mình cũng phải góp phần của mình cho những thế hệ mai sau. Sợi dây đạo lý ấy xuyên suốt tòan bộ lịch sử nhân lọai, bất kể những khác biệt về tôn giáo, thế chế chính trị, hình thái xã hội của từng thời kỳ.</p>
<p><strong>3.</strong></p>
<p><em>Năm mươi năm . . .</em></p>
<p><em>Thật không năm mươi năm</em></p>
<p><em>Hồn cháy bỏng vết hằn tù nhân biệt xứ</em></p>
<p><em>Ngày đang hết chiều mờ bên quê cũ</em></p>
<p><em>Lóang đỏ nhừ đất lạ tiếp chân mây</em></p>
<p><em>Ta ở đây . . . </em></p>
<p><em>Lơ đãng những riêng tây</em></p>
<p><em>Nhịp thở nghẹn</em></p>
<p><em>Gợn hơi men Thống Khổ</em></p>
<p><em>Chuỗi Oan hận xuyên sâu tầng lịch sử</em></p>
<p><em>Người thiếp đau từng tấc dạ quê hương</em></p>
<p><em>Hòa Bình – Việt nam</em></p>
<p><em>Mất hút cuối con đường . . .</em></p>
<p><em>( Phan Nhật Nam )</em></p>
<p>Sống sót sau một cuộc chiến, sống sót sau những ngày tháng tù đày dài dằng dặc, người lính viết văn chua xót nhận ra một điều rõ nhất trong mảnh<em> hồn cháy bỏng vết hằn tù nhân biệt xứ : Hòa Bình- Việt Nam </em>đã <em>mất hút cuối con đường. </em></p>
<p>Chúng tôi đã không giữ được quê hương. Chúng tôi không giữ được mảnh đất trên đó có nấm mồ chung tưởng niệm những đồng đội chúng tôi đã nằm xuống. Nhưng kẻ ra đi nào mà không mang theo chút hồn u uẩn của quê hương ( đã đánh mất ), huống chi những <em>tù nhân biệt xứ </em>.</p>
<p>Nhân ngày Lễ Chiến sĩ Trận vong nơi mảnh quê hương thứ hai vừa tìm được, cùng với lá cờ thiêng liêng, tôi đốt lên nén hương lòng trước tượng đài đồng đội trong trái tim vụn vỡ, trên khuôn mặt trang trọng của bầy trẻ đang còn học bài học vỡ lòng về đất nước , trong cái bóng sừng sững của quê hương còn mang theo trong trí nhớ. Như một lời cầu nguyện cho nhau và gởi đến nhau. Như lời nhắc nhở gởi đến thế hệ mai sau.</p>
<p><em>Đừng bao giờ quên những cha anh nằm xuống cho sự hiện hữu cũa thế hệ hôm nay.</em></p>
<p>T.Vấn</p>
<p><em>© T.Vấn 2009</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2009/05/nhonhung/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Trở lại thành phố Xanh</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2009/05/trolai/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2009/05/trolai/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 16 May 2009 23:52:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[5]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 5 - 2009]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2009/05/tr%e1%bb%9f-l%e1%ba%a1i-thnh-ph%e1%bb%91-xanh/486/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2009/05/trolai/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb21-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image002" title="clip_image002" /></a>&#160;
<a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00222.jpg"></a>
<i>Hỏi rằng người ở quê đâu ?</i>
<i>Thưa rằng tôi ở rất lâu quê nhà</i>
<i>( Bùi Giáng )</i>
<i></i>
<b>1.</b>
Với tôi, thành phố như con người. Nó có sự sống của riêng nó. Một thành phố, dù lớn, dù nhỏ, dù làng quê hay đô thị, dù nguy nga tráng lệ hay nghèo nàn xơ xác, cái hồn của nó vẫn phảng phất trên từng góc đường, từng căn nhà, từng ngọn cây, từng thảm cỏ. Cảm thức nhớ nhung của kẻ đi xa hướng về thành phố thân quen chính là nhờ cái hồn ấy. Cũng một con đường, mà mỗi thành phố mỗi khác. Cũng một sân ga, mỗi nơi gợi những cảm thức không bao giờ trùng hợp. Cũng một quán cà phê có tên gọi giống nhau, có cùng một kiểu kiến trúc , một cách bầy biện bên trong ,[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00222.jpg"><img style="border-right-width: 0px; margin: 5px 10px 0px 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="clip_image002" border="0" alt="clip_image002" align="left" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb21.jpg" width="184" height="244" /></a></p>
<p><i>Hỏi rằng người ở quê đâu ?</i></p>
<p><i>Thưa rằng tôi ở rất lâu quê nhà</i></p>
<p><i>( Bùi Giáng )</i></p>
<p><i></i></p>
<p><b>1.</b></p>
<p>Với tôi, thành phố như con người. Nó có sự sống của riêng nó. Một thành phố, dù lớn, dù nhỏ, dù làng quê hay đô thị, dù nguy nga tráng lệ hay nghèo nàn xơ xác, cái hồn của nó vẫn phảng phất trên từng góc đường, từng căn nhà, từng ngọn cây, từng thảm cỏ. Cảm thức nhớ nhung của kẻ đi xa hướng về thành phố thân quen chính là nhờ cái hồn ấy. Cũng một con đường, mà mỗi thành phố mỗi khác. Cũng một sân ga, mỗi nơi gợi những cảm thức không bao giờ trùng hợp. Cũng một quán cà phê có tên gọi giống nhau, có cùng một kiểu kiến trúc , một cách bầy biện bên trong , mà mỗi nơi có một dáng vẻ khác, không lẫn vào nhau đuợc. </p>
</p>
<p>Tôi đã từng nhiều lần được đặt chân đến những thành phố nhỏ &#8211; có thể gọi là tỉnh lẻ &#8211; của nước Mỹ. Những thành phố còn mang dáng dấp của cái thời mà vào buổi chiều, người ta có thể ngồi trước hiên nhà thưởng thức không khí tịch mịch êm ả của một ngày sắp hết mà không sợ bị quấy nhiễu bởi tiếng xe cộ gầm rú , mùi khói xăng khét nghẹt và những khuôn mặt lầm lì thiếu thân thiện. Thời ấy chưa xa lắm, mà sao tường chừng như tôi chỉ biết đến nhờ thích đọc chuyện cổ tích.</p>
<p>Đó cũng là cảm gíac hụt hẫng của tôi khi trở lại thăm một thành phố mà 2 năm trước đây, đã bị gío xóay san thành bình địa chỉ trong khỏanh khắc của vài phút giây ngắn ngủi. Đọc lại những ghi chép dạo ấy, tôi nhớ được là mình “<i>tưởng tượng đến hình ảnh một thành phố hiện đại thay cho nét cổ kính cũ kỹ của thành phố vừa bị bão xóay biến thành bình địa kia, tôi bỗng thấy man mác một cảm giác tiếc nuối. Tôi tiếc hình ảnh cái tháp chuông cao nhìn thấy từ rất xa, trên đó nổi bật hai chữ : Big Well, giới thiệu cái giếng đào bằng tay sâu 109 bộ Anh , vốn từ lâu được công nhận là cái giếng đào bằng tay sâu nhất thế giới và là niềm kiêu hãnh của cư dân thành phố. Hình ảnh tiêu biểu ấy của Greensburg tương tự như những lũy tre xanh trên lối vào làng ở quê tôi ngày xưa. Tôi tiếc tiếng chuông ngân nga thánh thót cứ mỗi đầu giờ của chiếc đồng hồ già gần 100 tuổi tọa lạc ngay giữa trung tâm thành phố . Nó cho tôi cảm tưởng tiếng chuông thu không mỗi buổi chiều phát ra từ ngôi chùa quen thuộc của hồi ức tuổi thơ. Tôi tiếc vẻ cũ kỹ luộm thuộm của quán cà phê duy nhất nơi ấy, nó nhắc tôi đến những quán nước đầu làng quê tôi, nơi mọi người đi qua đều ghé lại, đôi khi chỉ để hút nhờ điếu thuốc lào từ chiếc điếu cày của bà hàng đon đả hay ngồi nhờ chiếc ghế chân cao chân thấp cho đỡ mỏi chân trước khi đi nốt đọan đường còn lại. Chính những ý tưởng ấy, cộng với sự thân thiện của những cư dân thành phố, khiến tôi không bao giờ có cảm tưởng mình là khách lạ khi đập bước chân trên những con đường ngắn hơn một nhịp thở. Kẻ lưu vong đã bắt gặp lại quê hương trên miền đất xa lạ, dù cái mang theo trong hồn chỉ là những mảnh vụn vỡ của một quê hương không còn nguyên vẹn.</i><i> “ </i></p>
<p>Hai năm sau, thành phố chỉ mới tạm hòan tất khu vực trung tâm thành phố. Nhìn trong đồ án , những con đường mới sẽ thẳng tắp, mặt nhựa phẳng như mặt thớt. Ở mọi góc đường, những cột điện ngòai chức năng truyền điện còn làm nhiệm vụ trang trí nên chúng sẽ được chăm chút kỹ lưỡng từ kiểu dáng đến màu sắc. Nhà cửa, khi xây dựng, các vật liệu phải hội đủ 3 yếu tố : bền, không ảnh hưởng đến sức khỏe người ở, và phải được tận dụng tối đa những chức năng của chúng . Và đặc biệt là những thảm cỏ xanh và những cây xanh phải là màu chủ đạo, theo đúng ý nghĩa nguyên thủy của cái tên ( <i>Green</i>sburg), cũng như đường hướng “ phát triển xanh “ nhằm mục đích đi tiên phong trong những nỗ lực bảo vệ môi trường và khát vọng về một “ hành tinh xanh “ ( Planet Green ) cho các thế hệ tương lai.</p>
<p>Sau cơn thịnh nộ của đất trời tháng 5 năm 2007, thành phố còn sót lại duy nhất tòa nhà cổ vốn trước đây được dùng làm trụ sở tòa án . Tòa nhà được xây cất từ năm 1915 với những tường gạch đôi đỏ sậm, tượng trưng cho lịch sử thành phố. Cũng vì vậy, tư tưởng chủ đạo – ngòai tiêu chuẩn xanh &#8211; trong đề án xây dựng lại thành phố được những người có trách nhiệm đặt nền trên tòa nhà cổ còn sống sót ấy. <i>Tính lịch sử, tính hiện đại, ước vọng cho tương lại, tưởng nhớ quá khứ .</i> Tất cả những yếu tố ấy phải được biểu hiện trong mô hình tương lai. Nhưng còn quá sớm để có thể nói đến sự thành công trong việc thực hiện đề án xây dựng ấy. Thành phố mới chỉ đi được những bước đầu trên con đường còn rất dài. Phác họa và ra sức thực hiện là một chuyện. Còn có đạt được hay không, lại là một chuyện khác. Như công việc tạc tượng. Bức tượng có thể trọn vẹn giống như phác họa trước khi bắt tay làm việc của người nghệ sĩ. Nhưng khi hòan tất, tổng thể tác phẩm được cảm thụ bới người xem lại có khi truyền đạt một nội dung khác hẳn với ý đồ của người nghệ sĩ.</p>
<p>Có lẽ vì vậy mà tôi mang cái tâm trạng hụt hẫng của một người đi xa, trở về mong tìm lại chút hồn thân quen cũ, những chỉ thấy những hình ảnh lạ lẫm, tưởng chừng như mình đã lạc vào một nơi chốn không hề có chỗ đứng trong mớ quá khứ hỗn độn đấy ứ những hòai niệm. Khung cảnh cũ đã bị tàn phá bởi thiên tai. Những phác họa cho cái mới đang còn trong giai đọan định hình. Cái hồn một địa danh được cảm thụ không phải chỉ do nghe thấy, ngửi thấy , mà còn phải nhìn thấy được.</p>
<p><b>2.</b></p>
<p>Buổi sáng tháng 5. Không khí tươi mát sau một trận mưa nhẹ đủ làm ướt những mầm xanh của cây cỏ. Vạn vật quanh tôi như đang háo hức đón những ngày hè rộn rã lại sắp trở về. Đã tháng 5, mà những trận rét vẫn chưa chịu dứt khóat ra đi. Dù vậy, những cơn bão xóay vẫn cứ “ <i>đến hẹn lại lên</i> “. Từ hôm cuối tháng 4, còi báo động thành phố đã phải hụ inh ỏi ít nhất là hai lần. Kèm theo đó là những cơn mưa tuy không lớn nhưng kéo dài. Cả hai lần đều là vào chiều ngày chủ nhật. Thế là cha con chồng vợ lại có dịp cùng nhau “ tìm nơi trú ẩn “ ( take shelter ) nơi tầng hầm của căn nhà cùng với tiếng thúc giục hối hả của người phát ngôn viên tin tức phát ra từ máy truyền hình nằm ở góc nhà. Mỗi lần “ chạy bão “ như vậy, tôi lại không thể không nhớ tới những ngày cuối tháng 4 năm 1975 chạy xuống hầm trốn pháo kích Việt Cộng. </p>
<p>Nhớ đến cái trận bão “ hút chết “ hai năm trước đây, tôi dùng một ngày nghỉ làm việc của mình để thăm viếng thành phố kỷ niệm. Tôi dừng chân lại ngay vị trí một ngọn đồi thấp mà hai năm trước, một buổi sáng tháng 5, tôi đã đứng để nhìn thành phố đổ nát hoang tàn chỉ sau một đêm đất trời thịnh nộ. Bên cạnh tôi, không còn cô gái Mỹ năm xưa đưa tay lau nước mắt, miệng nói ( bâng quơ) : “ <i>Dù sao thì cuộc sống vẫn cứ phải chảy về phía trước. Mình không thể cứ đứng ở đây mãi được.</i><i> “ </i>và rồi cô quày quả bỏ đi theo đúng với nghĩa đen của câu nói. Hai năm đã trôi qua, đứng ngay trên đỉnh đồi cũ, tôi như vẫn nghe câu nói của cô văng vẳng bên tai. Ừ nhỉ ! Cuộc sống như dòng sông. Nó chỉ chảy về phía trước . Dù cho con người có muốn đứng lại, nó cũng vẫn cứ chảy liên lỉ. Vì thế, cô gái Mỹ trẻ tuổi đã dứt khóat “ live on “ với đời mình. Nếu tôi là cô gái ấy, chưa hẳn tôi đã có đủ nghị lực để có quyết định dứt khóat như cô. Bốn ngàn năm lịch sử đất nước tôi nặng quá. Nó đè lên vai tôi như một định mệnh. Còn cô gái kia chỉ mới gần ba trăm năm đi khai khẩn đất hoang nên cô dễ dàng hất nó xuống đất mà <i>“ quày quả bỏ đi</i> “. Cùng lắm thì cô lại đi đến một vùng đất mới nữa để vỡ hoang, khai khẩn. Gỉa như tôi vẫn cứ đứng trên ngọn đồi này từ hai năm trước đây mà than khóc, thành phố tan hoang dưới kia vẫn cứ mỗi ngày hồi sinh. Giây phút này đây, tôi cay đắng hiểu hơn bao giờ hết cái nặng nề của quá khứ trên vai dân tộc mình. Chẳng trách gì hơn 30 năm sau chiến tranh , công cuộc tái xây dựng vẫn cứ ì ạch như con trâu già mệt mỏi lê chiếc cày thô sơ trên mảnh ruộng nhỏ hơn cả một bàn tay.</p>
<p>Tôi đi bộ dọc theo con đường nhỏ dẫn vào cửa thành phố. Tháp Big Well năm xưa ( mà tôi đã từng so sánh với lũy tre xanh đầu làng quê tôi ở Việt Nam ) nay được thay bằng một trụ cao sừng sững mang hình dáng cái bồn nước với tên thành phố màu xanh, từ ở xa hàng dặm đường đã có thể trông thấy nó. Dưới chân cột, vẫn ngổn ngang gạch ngói xây dựng. Dù vậy, màu xanh của cây cối chung quanh vẫn át đi vẻ tiêu điều. Bước qua một công trình xây dựng còn dở dang, nhìn bảng tên đường, tôi hình dung ra vị trí của quán cà phê “ cũ kỹ luộm thuộm “ hai năm trước đây tôi ghé vào mua ly cà phê ( mà tôi đã từng ví von như quán cóc đầu làng ). Đường phố buổi sáng vắng tanh. Không có những người thuộc lứa tuổi về hưu nhàn nhã tay cầm ly cà phê, chân dạo bước nhẹ nhàng trên con đường ( làng) quen thuộc , có gặp ai thì cũng đều là người quen với đôi câu chào hỏi thăm nhau buổi sáng, kể cả gã đàn ông châu Á lạ mặt là tôi cũng được hưởng cùng một sự đối xử. Bất giác, tôi nhớ hai câu thơ cũ của Vũ Đình Liên . <i>Những người muôn năm cũ. Hồn ở đâu bây giờ. </i></p>
<p>Từ vị trí quán cà phê cũ, nhìn xéo qua bên kia đường, tôi cố hình dung ra đọan lề đường lồi lõm, đã làm tôi súyt ngã xõng xòai khi mải đưa mắt chào và né bước nhường đường một ông gìa chậm chạp đi ngược chiều. Tôi vẫn nhớ như in đôi mắt hỏang hốt của ông khi nhìn tôi lọang chọang như sắp ngã , và câu hỏi dồn dập “ <i>ông có sao không ? “ </i>làm tôi vừa bối rối, vừa cảm động.<i> </i>Lúc ấy, không hiểu sao tôi bỗng nhớ đến thành phố quê hương mình một cách thật quay quắt. Giờ đây, hồi tưởng lại, tôi như còn sờ được cái cảm thức lạ lùng năm xưa. Có lẽ, vì vậy mà trong ghi chép của mình hai năm trước, tôi đọc được “ <i>Kẻ lưu vong đã bắt gặp lại quê hương trên miền đất xa lạ, dù cái mang theo trong hồn chỉ là những mảnh vụn vỡ của một quê hương không còn nguyên vẹn.</i><i> “ . </i></p>
<p>Tấn bi kịch của một người gìa. Đứng ở bất cứ vị trí nào cũng chỉ thấy quá khứ. Đặt chân lên bất cứ mảnh đất xa lạ nào cũng chỉ thấy quê hương. Thở ra bất cứ mối cảm hòai nào cũng chỉ tòan những điều bất như ý.</p>
<p><b>3.</b></p>
<p><i>Đất nước và con người</i>. Tôi đã sống quá lâu trên mảnh đất quê nhà để mỗi bước chân lãng du là một bước nhớ về căn nhà xưa, nhớ về thành phố xưa, nhớ về mảnh hồn xưa cứ bàng bạc trong từng hồi ức mong manh. Những thành phố tôi đã đi qua, đã quay lại, một lần , nhiều lần, kể cả thành phố bị gió xóay hủy họai và đang trên đường hồi phục này cũng chỉ làm tôi thêm nhớ nhung những thành phố quê hương tôi đã gắn bó do những đưa đẩy của định mệnh. Sài Gòn. Đà Lạt. Huế. Quảng Ngãi. Đà Nẵng. Long An. Sa Đéc. Và chuyến đi ngang ngọai ô thành phố Hà Nội trên chiếc xe vận tải chở tù từ hướng Vĩnh Phú tiến về ga xe lửa Bình Lục (?) , tỉnh Nam Định một ngày tháng 5 năm 1981. Lại tháng 5. Những tháng 5 hằn sâu trong ký ức. Những tháng 5 sống sót sau những tháng 4 ác nghiệt ( của người ) để chỉ sẵn sàng đối diện với sự ác nghiệt khác ( của trời ).</p>
<p>Sáng ngày 4 tháng 5 năm 2009 ( kỷ niệm đúng 2 năm thành phố Greensburg bị san thành bình địa 4-5-2007 ), trên đường từ Greensburg trở về lại Wichita, tôi nghe đài khí tượng loan báo về hướng đi của cơn bão sắp đến trong cái vần vũ của bầu trời cứ mỗi lúc một thêm âm u.</p>
<p>Buổi tối hôm đó, tôi đọc được tin cơn bão Chan-Hom ( Việt Nam đặt tên là cơn bão số 1 ) với cấp độ 9 đang từ ngòai khơi tiến vào bờ biển Việt Nam. “ <i>Sức gío mạnh nhất vùng gần tâm bão là cấp 10 ( 89-102km/giờ), giật cấp 11, cấp 12, vùng gió mạnh nguy hiểm ảnh hưởng trong bán kính khỏang 200km. Do ảnh hưởng của bão nên từ ngày 5-5-2009, vùng Nam biển Đông, quần đảo Trường sa và các tỉnh Nam Trung bộ có gió mạnh cấp 8, sau tăng lên cấp 10, biển động dữ dội “</i> ( Trích báo Tuổi Trẻ 05-05-2009).</p>
<p>Lại một lần nữa, xin được chào mừng tháng 5 và những cơn bão dữ.</p>
<p><i>T.Vấn</i></p>
<p><i>Tháng 5-2009</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>© T.Vấn 2009</i></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2009/05/trolai/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Những đứa con đi tìm mẹ</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2009/05/nhungdua/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2009/05/nhungdua/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 07 May 2009 23:50:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[5]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 5 - 2009]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2009/05/nh%e1%bb%afng-d%e1%bb%a9a-con-di-tm-m%e1%ba%b9/483/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2009/05/nhungdua/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb20-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image002" title="clip_image002" /></a>&#160;
<a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00221.jpg"></a>
<b>Chiến dịch nhân đạo Babylift tháng 4 năm 1975</b>
<b>1.</b>
Đối với những bà mẹ, chiến tranh là một con quái vật. Nó nuốt chửng con cái của họ. Cả những đứa đã trưởng thành lẫn những đứa còn đỏ hỏn phải bế trên tay. Ở bên này hay bên kia chiến tuyến, nỗi đau mất con của những bà mẹ đều giống nhau. Nhưng mất con, vì chúng đã đủ lớn và đi theo tiếng gọi của lý tưởng, của tổ quốc, trái tim người mẹ tuy có vụn vỡ hàng ngàn mảnh nhưng vẫn có thể chịu đựng được. Sau cuộc chiến, hàng trăm ngàn bà mẹ có con chết trận ôm di ảnh con mình trong căn nhà quạnh quẽ. Với họ, thắng hay thua trong cuộc chiến vừa chấm dứt chẳng mang một ý nghĩa gì trọng đại. Họ chỉ biết một điều[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00221.jpg"><img style="border-right-width: 0px; margin: 10px 10px 0px 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="clip_image002" border="0" alt="clip_image002" align="left" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb20.jpg" width="244" height="208" /></a></p>
<p><b>Chiến dịch nhân đạo Babylift tháng 4 năm 1975</b></p>
<p><b>1.</b></p>
<p>Đối với những bà mẹ, chiến tranh là một con quái vật. Nó nuốt chửng con cái của họ. Cả những đứa đã trưởng thành lẫn những đứa còn đỏ hỏn phải bế trên tay. Ở bên này hay bên kia chiến tuyến, nỗi đau mất con của những bà mẹ đều giống nhau. Nhưng mất con, vì chúng đã đủ lớn và đi theo tiếng gọi của lý tưởng, của tổ quốc, trái tim người mẹ tuy có vụn vỡ hàng ngàn mảnh nhưng vẫn có thể chịu đựng được. Sau cuộc chiến, hàng trăm ngàn bà mẹ có con chết trận ôm di ảnh con mình trong căn nhà quạnh quẽ. Với họ, thắng hay thua trong cuộc chiến vừa chấm dứt chẳng mang một ý nghĩa gì trọng đại. Họ chỉ biết một điều : <i>con của họ đã không trở về</i>. </p>
</p>
<p>Nhưng với những bà mẹ thất lạc con mình &#8211; trong lúc lọan lạc, trong lúc gồng gánh tản cư ra khỏi vùng bom đạn, hay đành phải đem con bỏ chợ, đem con đến cho những viện mồ côi, vì chiến tranh đã tàn phá nơi ăn chốn ở của bà, đã khiến không còn một phương tiện kiếm sống nào có thể giúp bà mỗi ngày đem thực phẩm về nhà, để lựa chọn cuối cùng không thể khác hơn là đưa chúng vào nơi ít nhất chúng được bữa ăn hàng ngày ,- thì nỗi đau tuy không xé lòng như những bà mẹ có con chết trong cuộc chiến, vì ít nhất bà còn có hy vọng có ngày nhìn lại mặt con , cái nỗi đau của cuộc sinh ly chứ không phải tử biệt, liệu có dễ dàng chịu đựng hơn không ?</p>
<p>Nỗi đau mất con nào cũng giống nhau, dù sinh ly hay tử biệt. Tử biệt, ôm di ảnh con, khóc cho nhòe nhọet hết cái khuôn mặt quá đỗi quen thuộc, quá đỗi thương yêu ấy, rồi lặng lẽ tập cho quen với quãng đời còn lại không còn đứa con dứt ruột đẻ ra ấy nữa . Sinh ly, xa con khi nó còn đỏ hỏn, khi nó cần đến nhất bàn tay chăm sóc của người mẹ, khi thế giới của nó lúc ấy chỉ duy nhất là bóng hình người mẹ, và rồi sau đó trong suốt quãng đời còn lại của bà, mỗi đêm nằm xuống dỗ gíâc ngủ, liệu tiếng gào xé lòng gọi mẹ của đứa con bị bỏ lại trong viện mồ côi hay hình ảnh bọc tã nhem nhuốc gói thân hình còm cõi của hài nhi thiếu sữa nằm chơ vơ trên bực thềm bước vào bệnh viện phụ sản, có làm cho bà không thể nhắm mắt được trong suốt nhiều năm tháng , dù cho bà đã có thêm những đứa con và có khả năng chăm sóc chúng đầy đủ như bà mong ước.</p>
<p>Hơn ba mươi năm sau chiến tranh, những câu chuyện về mẹ và con vẫn còn được nhắc đến. </p>
<p>Những đứa con đã yên nghỉ trong lòng đất, chắc chắn vẫn còn được nhớ đến bởi người mẹ của mình. Bao lâu người mẹ còn sống, nấm mồ con sẽ không bao giờ hương tàn khói lạnh, hồn đứa con vẫn ấm áp nhờ tấm lòng không bao giờ nguội lạnh của người mẹ gìa.</p>
<p>Những đứa con năm xưa phải xa lìa vòng tay mẹ, may mắn sống sót sau bao nhiêu biến thiên của đất, của trời, của người, nay lưu lạc khắp nơi trên tòan thế giới, hẳn không thể quên cái nguồn cơn khiến mình là đứa con bị bứt khỏi rễ mẹ năm xưa. Và chắc chắn, người mẹ của chúng, nếu còn sống , cũng vẫn nhớ đến giọt máu tội nghiệp mình bỏ rơi những ngày ấy binh đao.</p>
<p>Và có hay không, những cuộc đòan tụ, cái mong ước và là sự an ủi của hơn ba mươi năm trước khi bà gạt nước mắt , cương quyết dứt khỏi bàn tay nắm chặt tuyệt vọng của con, rồi quày quả bỏ chạy vì sợ cái định mệnh còn tàn nhẫn hơn nữa đổ ụp xuống con mình nếu bà chần chừ rồi đổi ý. </p>
<p><i>Trên đời này, liệu còn có cuộc chia tay nào đứt ruột hơn nữa không ?</i></p>
<p><b>2.</b></p>
<p>Những ngày đầu tháng 4 năm 1975, giữa một miền Nam xôn xao về những giải pháp chấm dứt cuộc chiến, hàng ngàn trẻ em mồ côi được chính phủ Hoa Kỳ tìm cách đưa chúng rời khỏi đất nước ( chiến dịch nhân đạo mang tên Babylift ) theo yêu cầu của các tổ chức từ thiện để tránh những thiệt hại có thể xẩy đến do chiến tranh đang tiến dần vào các thành phố lớn. Trong số đó, có đứa còn chưa biết nói, có đứa đã có chút trí khôn và trí nhớ để biết mình là ai và hiểu được thân phận lạc lòai của mình.</p>
<p>Giờ đây, những đứa trẻ năm xưa đã trưởng thành, đã mang một cái tên khác hẳn với cái tên do cha mẹ đẻ đặt cho. Hồi ức của 34 năm về trước vẫn cứ tươi rói như mới vừa xẩy ra với những đứa con lưu lạc ấy. </p>
<p>Lee Stefin, được biết dưới cái tên Việt là Đặng thị Hiệp khi còn ở Việt Nam, là con nuôi của một gia đình người Mỹ. Cô nguyên là con đẻ của một quân nhân Mỹ và người mẹ Việt Nam. Hiệp , lúc đó mới 9 tuổi, cùng với 2 đứa em trai ở trong số trẻ em được chiến dịch nhân đạo Babylift ngày ấy cứu vớt<i>. “ Mẹ tôi nói rằng có lẽ chúng tôi sẽ không bao giờ được gặp lại mẹ nữa, rằng tôi có bổn phận phải cố gắng hết sức giữ cho 3 chị em chúng tôi luôn ở bên nhau. Và đó là lần cuối cùng tôi gặp mẹ . Rồi máy bay cất cánh. Tôi nhìn ra cửa sổ và tự hứa với mình rằng rồi sẽ có ngày tôi trở lại mảnh đất này để tìm người mẹ thân yêu ” .</i></p>
<p>Trong bao năm trời, Lee, tức Hiệp, luôn nghĩ đến nguồn gốc của mình, và nhất là hình ảnh người mẹ khốn khổ trên một đất nước cũng khốn khổ không kém. <i>“ Tôi không thể không nghĩ đến mình là người được sinh ra ở Việt nam. (Tôi vừa là người Mỹ lẫn người Việt.) Tôi là cả hai . “ . </i>Mới đây, cùng với hai người bạn có cùng thân phận lạc lòai như mình, cùng rời đất nước trong chiến dịch Babylift tháng 4 năm 1975, Hiệp quay trở về Việt Nam để tìm lại người mẹ tội nghiệp năm xưa, để tìm lại gốc rễ của mình. Ở số tuổi trên 40 hiện nay, Hiệp nghĩ về quê hương Việt Nam như nghĩ về người mẹ của mình. Quê hương là mẹ. Tìm thấy mẹ là nhận lại được quê hương. Nhưng cô không gặp lại được mẹ mình. Hay đúng hơn, ở chuyến đi này, Hiệp chưa gặp lại được mẹ mình . Cô về lại đúng nơi chia tay mẹ năm xưa, với trí nhớ của một đứa trẻ 9 tuổi. <i>“ Khi mà mình sống ở một nơi thật xa và không một ai có những kỷ niệm như mình có, đôi lúc, mình có cảm tưởng giống như đang ở trong một giấc mơ do chính mình tưởng tượng ra. Giờ đây, đứng trước khung cảnh bấy lâu nay chỉ ở trong trí tưởng, mình mới tin đó là có thật. “</i> . Nhưng người mẹ mà cô khao khát muốn gặp lại, vẫn chỉ ở đâu đó trong những giấc mơ.</p>
<p>Liz Sowles, người bạn đồng hành của Hiệp, rời đất nước khi còn đỏ hỏn, có lẽ khỏang 6 tháng tuổi. “ <i>Hình như tôi được sinh ra vào tháng 10 (1974). Không có ai đoan chắc về điều này cả. Tôi bị bỏ nằm một mình trước cửa một bệnh viện phụ sản. Có người nhặt tôi lên rôi kể từ đó, mọi chuyện liên quan đến tôi chỉ là do phỏng đóan hoặc bịa đặt “. </i>Khi Liz, người không bao giờ được biết tên và họ Việt nam của mình, đặt chân lên bậc thềm bệnh viện phụ sản nơi cô bị bỏ rơi mấy mươi năm trước, đã bật khóc như một đứa trẻ. Có lẽ cũng là âm thanh tiếng khóc hài nhi Liz ngày nào. Cô có biết mẹ mình là ai đâu mà tìm, mà hỏi. Theo chân Hiệp trở về quê mẹ, để chỉ tin rằng mình cũng có một người mẹ. Chứ không phải từ đất chun lên, từ trời rơi xuống. Với Liz, hình ảnh bậc thềm một bệnh viện phụ sản ở Việt nam sẽ mãi mãi là hình ảnh quê hương của một người mẹ không bao giờ biết mặt. Dẫu sao, cô tự an ủi rằng mình cũng có một quê mẹ.</p>
<p>Nhưng vẫn có người may mắn hơn. Một cô gái được nhận làm con nuôi ở Úc , 28 năm sau đã tìm lại được người mẹ ruột của mình, nhờ vào bức thư đầy nước mắt của người mẹ trẻ nhét theo vào với mảnh tã quấn quanh người đứa con. Sau bao nhiêu những nỗ lực của đứa con , họ đã gặp lại nhau. Nhưng người mẹ không nói được tiếng Anh, đứa con gái không nói được tiếng Việt. Ngôn ngữ trao đổi giữa mẹ và con lại trở về như thuở nguyên sơ, khi con còn nằm trong vòng tay mẹ, khi con chưa biết nói và chưa hiểu tiếng người, nhưng người mẹ biết rất rõ con mình muốn gì và đứa con cũng biết rất rõ phải làm gì khi đói, khi khát, khi cần được mẹ âu yếm, bế bồng. Dù sao, cô gái người Úc gốc Việt ấy cũng quyết tâm học tiếng Việt, vì, như cô thố lộ, chỉ bằng cách ấy cô mới trọn vẹn tìm lại đuợc người mẹ ruột của mình.</p>
<p>Câu chuyện một cô gái khác tìm lại được mẹ của mình như một phép lạ. Năm 1968, cô mới 1 tháng tuổi, bị người vú nuôi đem cho một viện mồ côi ở Nha trang . Nơi đây, người ta đặt tên cô là Nguyễn thị Mỹ Liên. Năm 1972, Mỹ Liên được một gia đình người Mỹ nhận làm con nuôi và có tên mới là Joy My Lien Degenhardt. Năm 1993, Joy My Lien đến Việt nam để điều hành cơ sở viện trợ nhân đạo Degenhardt ( Degenhardt Foundation) do chính cha mẹ nuôi của cô thành lập. Trong lúc vừa làm công việc chính của mình là phải di chuyển khắp nơi để thực hiện các công tác cứu trợ ở 12 thành phố và tỉnh thành , cô vẫn tìm thời giờ lùng kiếm người mẹ mà cô chưa từng biết mặt. Trong 15 năm làm việc ở Việt nam, tuy chưa tìm ra được tông tích của mẹ, nhưng nhờ nỗ lực tìm kiếm ấy , cô đã nhận được hàng trăm bức thư từ những người mẹ có con cái bị thất lạc vì nhiều nguyên nhân khác nhau, mà phần lớn đều vì chiến tranh , lọan lạc. Cũng từ những đấu mối đó, Joy My Lien cùng với những cộng sự viên Việt Nam, đã giúp 17 bà mẹ đòan tụ được với những đứa con của mình. Số còn lại, tuy không tìm thấy con, cô đã giúp đỡ họ có một cuộc sống thỏai mái hơn. </p>
<p>Nhiều lần, Joy My Lien đến Nha Trang làm việc, thành phố quê hương năm xưa cô được sinh ra. Mỗi lần ghé Nha trang, cô đều đến ăn cơm ở nhà hàng quen thuộc P.B. Theo lời cô, nơi ấy chưa hẳn đã có thức ăn vừa miệng cô, nhưng ngày từ lần đầu tiên bước vào, cô đã có một linh cảm khó tả. Đó là lý do cô chọn nhà hàng P.B. để ăn mỗi khi đến Nha Trang. Lần cuối cùng ghé Nha trang, Joy My Lien không ghé qua nhà hàng ấy nữa. Cùng thời gian đó, nhà hàng P.B. đổi chủ. Tháng 12 năm 2008, sau bao nỗ lực tìm kiến mẹ ruột của mình, Joy My Lien biết được tông tích của mẹ. Đó chính là bà Bùi thị Lai Ninh, người chủ cũ của nhà hàng P.B. Gặp lại con mình, bà mẹ Bùi thị Lai Ninh chỉ nói được hai tiếng “ con ơi! “ rồi ngất xỉu. Joy My Lien Degenhardt Nguyễn thị Mỹ Liên không cần đến bất cứ chứng cớ nào, kể cả thử nghiệm DNA, để tin rằng chính bà Bùi thị Lai Ninh là mẹ ruột của mình. Bởi vì, theo câu nói bị ngắt quãng vì phải ngưng lại để lau nước mắt của cô, không một ai ngòai mẹ ruột của cô biết được rằng cô có một cái bớt ( birth-mark) màu nâu bên vai trái và 2 mụt ruồi bên vai phải. 41 năm , khỏang thời xa cách dài lê thê, vậy mà bà vẫn nhớ từng nét đặc biệt trên thân thể đứa con mất tích từ khi mới 1 tháng tuổi. </p>
<p>Chỉ có tấm lòng người mẹ mới chứng tỏ được điều khó tin ấy.</p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image0048.jpg"><img style="border-right-width: 0px; margin: 0px 0px 0px 10px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="clip_image004" border="0" alt="clip_image004" align="right" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image004_thumb7.jpg" width="244" height="184" /></a></p>
<p><i>Bà Bùi thị Lai Ninh ngất xỉu khi gặp lại đứa con gái Mỹ Liên sau 41 năm xa cách</i><i></i></p>
<p><b>3.</b></p>
<p>Thuờng thì chỉ có những người mẹ đi tìm con. Vì nước mắt vốn chảy xuôi. Và vì tình mẹ thương con ( cùng với người cha ) là thứ tình cảm duy nhất trên đời không hề biết đến đổi thay, bất kể mọi thăng trầm của thế sự. Nhưng hòan cảnh những bà mẹ Việt Nam trong và sau cuộc chiến đã không cho phép các bà làm công việc mà các bà hằng ao ước ấy khi lìa bỏ con năm xưa. Cho nên, những đứa con Việt nam lạc lòai đã phải đi tìm kiếm người mẹ của mình. Đồng thời, làm cuộc hành trình trở về nguồn.</p>
<p>Không phải tất cả những đứa con lạc lòai năm xưa vẫn nhớ đến nguồn gốc của mình. Không phải tất cả những đứa con trở về lại nơi sinh ra đều đã hưởng được niềm vui đòan tụ. Nhưng , ít nhất, chảy trong huyết quản chúng, vẫn là dòng máu Việt và tình mẫu tử truyền thống.</p>
<p>Những câu chuyện được kể lại ở trên chỉ là vài mẩu chuyện trong hàng trăm mẩu chuyện con đi tìm mẹ xẩy ra sau cuộc chiến tranh tàn khốc. Dẫu sao, sinh ly vẫn còn hơn là tử biệt. Bởi vì , còn sống là còn có ngày gặp nhau.</p>
<p>Xin cầu nguyện cho những đứa con chưa được gặp mẹ và những người mẹ đang mòn mỏi mong được nhìn lại đứa con lạc lòai năm xưa trước khi nhắm mắt lìa đời.</p>
<p><i>T.Vấn</i></p>
<p><i>( Tháng 5 – 2009)</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i><a href="http://t-van.net/">©</a> T.Vấn 2009</i></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2009/05/nhungdua/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Ngụ Ngôn Mẹ</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2008/05/ngungon/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2008/05/ngungon/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 22 May 2008 23:43:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[5]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 5 - 2008]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2008/05/ng%e1%bb%a5-ngn-m%e1%ba%b9/478/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2008/05/ngungon/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/mecon_thumb-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="mecon" title="mecon" /></a>Thế rồi, những ngày, những tháng, những năm cứ lần lượt trôi qua. Cuộc hành trình vào đời của bà mẹ và các đưa con của mình vẫn tiếp tục. Nhưng bây giờ, người mẹ trẻ không còn trẻ nữa. Bà trở nên bé nhỏ đi vì tấm lưng còng. Trong khi đó, các con bà đã trưởng thành, thân thể cao to cường tráng, với những bước đi vững chãi can trường. Mỗi khi gặp đọan đường gập ghềnh hiểm trở, chúng bế bà lên dễ dàng, vì bây giờ hình hài bà đã nhẹ như một sợi lông chim . . .]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a name="top"></a></p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/mecon.jpg"><img style="border-right-width: 0px; margin: 0px 15px 0px 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="mecon" border="0" alt="mecon" align="left" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/mecon_thumb.jpg" width="146" height="195" /></a> </p>
<p>&#160;</p>
<p><i></i></p>
<p><i>Mẹ bỏ ta đi,</i></p>
<p><i>Mẹ về cõi Phật Vô Ưu</i></p>
<p><i>Những đứa con tuổi năm mươi</i></p>
<p><i>Khóc như ngày mới lớn</i></p>
<p><i>( Ngọc Phi )</i></p>
<p>Dịp tháng 5 năm ngóai, tôi nhận được bức thư dưới đây từ một độc gỉa trẻ khi cô đọc bài “ Mồ côi mẹ liếm lá đầu đường “ trên Website <tt><a href="http://www.vnusps.org.Ki">www.vnusps.org</a> của Hội những nhân viên gốc Việt làm việc cho Bưu Điện Hoa Kỳ : </tt></p>
<p><tt></tt></p>
<p><tt>“ <i>Thưa chú T.Vấn, con tên Thơ Nguyễn. Tình cờ con có đọc bài “</i></tt><i>Mồ côi mẹ liếm lá đầu đường “ của chú mà con không thể nào cầm được nước mắt. Trong cuộc sống của đời người, ta thường trải qua bao nhiêu mất mát, thăng trầm, khổ nhọc nhưng niềm đau khi ta mất Mẹ có cái gì lớn lao và không sao tả hết được. Con còn Mẹ và cảm thấy được hạnh phúc hơn khi đọc xong bài của chú và nỗi cảm thông với chú khi không còn Mẹ nữa. Trong một năm, đối với con, thì ngày Mẹ Hiền là ngày thiêng liêng nhất. Vì con không biết rõ ngày sinh nhật của Mẹ, nên con đã chọn ngày Mẹ Hiền để làm những điều có ý nghĩa nhất và cũng là ngày để trả ơn Mẹ đặc biệt hơn. Mỗi ngày đi qua, dường như sự hy sinh của Mẹ ngày càng lớn hơn, thông qua những chuỗi ngày khi con sinh ra đời, lớn lên rồi lập gia đình. Không những ngày nay Mẹ con thương các con vô bờ bến mà nay phải thương yêu và giúp đỡ những người cháu lần lượt ra đời của bà. Ôi thật cao cả quá . . . “ </i></p>
<p><i></i></p>
<p>Bức thư “ ướt sũng “ nước mắt của cô gái trẻ, gợi cho tôi nhớ đến chính mình , thằng bé 10 tuổi theo sau quan tài mẹ mình khóc hết những giọt nước mắt trong cuộc đời làm người, để rồi sau đó không còn nước mắt mà khóc, kể cả khi bố tôi nằm xuống vì tai biến mạch máu não 8 năm sau đó. Sáng nay, đứa con gái 14 tuổi của tôi xin phép được ở lại trường sau giờ học vì mẹ của bạn cháu vừa qua đời vì bệnh tim. Mấy đứa bạn cùng lớp với cô gái nhỏ bất hạnh muốn được cùng nhau vào nhà nguyện của trường đọc kinh và cầu nguyện cho linh hồn người mẹ trẻ , và cũng muốn được có cơ hội chia sẻ nỗi đau ấy với bạn mình. Con gái tôi còn tỏ vẻ “ vui mừng “ khi buột miệng nói với bố “ may quá mẹ của mình chưa chết “ . Tôi hiểu tâm trạng của con khi nhớ đến hòan cảnh của chính mình. Thấy nỗi bất hạnh của người khác mới sực nhớ rằng mình là kẻ may mắn. </p>
<p>Cũng tình cờ, tôi đọc được một câu truyện ngụ ngôn về người mẹ của nhà văn Mỹ nổi tiếng ở tiền bán thế kỷ 20 Irene Temple Bailey , xin được kể lại ở đây như một món quà gởi đến những kẻ may mắn và cả những những người bất hạnh , nhân ngày Hiền Mẫu. Và bởi vì cô gái trẻ tên Thơ Nguyễn hay con gái của tôi, rồi cũng sẽ đến một ngày làm kẻ bất hạnh khóc hết nước mắt tiễn mẹ mình về nơi an nghỉ cuối cùng, nên câu chuyện ngụ ngôn này sẽ đóng vai trò chiếc vai cho các người con mất mẹ dựa vào đó mà tìm sự an ủi trong lúc họ cần đến nhất .</p>
<p><b><i>Ngụ Ngôn Mẹ</i></b></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Người mẹ trẻ đặt chân trên con đường đời . “ Đường còn xa không ? “ Bà hỏi. Người dẫn đường trả lời : “ Còn xa lắm, và đầy chông gai nữa . Bà sẽ già cỗi trước khi đi đến cuối con đường. Tuy vậy, cái cuối cùng bao giờ cũng tốt đẹp hơn lúc khởi đầu. “ Nhưng người mẹ trẻ tỏ ra sung sướng. Bà không tin rằng lại có điều gì tốt đẹp hơn những năm tháng bà được làm người mẹ. Vì vậy, bà thản nhiên vui đùa với các con, bẻ cho chúng những bông hoa tưoi thắm bên đường , tắm chúng trong những dòng suối trong mát. Nhìn những tia nắng mặt trời nhẩy múa xung quanh con mình, bà mẹ trẻ cảm thấy cuộc sống thật tuyệt vời , bà kêu lên : “ Liệu còn có điều gì đáng yêu hơn cuộc sống này nữa không ? “</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Rồi đêm đến. Bão tố, bóng tối phủ kín lối đi. Lũ trẻ run rẩy vì sợ hãi, vì lạnh. Người mẹ trẻ kéo các con lại gần, ôm ấp lấy chúng như gà mẹ ôm ấp đàn gà con. Các con của bà vui sướng “ Mẹ ơi, chúng con không sợ hãi nữa. Có mẹ ở bên, không điều gì có thể làm hại chúng con được “. Bà mẹ trẻ đáp : “ Các con đã làm mẹ vui hơn một ngày vui sướng nhất, vì mẹ đã dạy cho các con được sự can đảm “.</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Ngày rạng ánh bình minh. Trước mặt, là một ngọn đồi. Mấy mẹ con cứ leo, leo mãi, cho đến khi tất cả đều mệt lử, nhưng người mẹ trẻ luôn khuyến khích các con :” Hãy cố lên, chỉ cần một chút kiên nhẫn nữa thôi là chúng ta sẽ lên đến đỉnh đồi.” Lũ trẻ ngoan ngõan nghe lời mẹ, và khi tới nơi, chúng nói : “ Mẹ ơi, chúng con đã không thể leo đến đích được nếu không có mẹ !”. Người mẹ trẻ, đêm đó khi bà đặt mình nằm xuống, bà ngước nhìn các vì sao và nói : “ Ngày hôm nay còn tốt đẹp hơn cả ngày vừa qua. Các con của tôi đã học được sự kiên trì chịu đựng khi phải đối đầu với gian khổ. Ngày hôm qua, tôi đã ban cho chúng lòng can đảm, và ngày hôm nay chúng nhận được sức mạnh từ bài học kiên trì. “.</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Ngày kế tiếp, trên trời xuất hiện những đám mây kỳ lạ làm âm u cả mặt đất. Đó là những đám mây của chiến tranh, của thù hằn , của tội ác. Trong bóng tối âm u, lũ trẻ mò mẫm, sờ sọang, rồi trượt chân vấp té. Người mẹ trẻ bảo các con : “ Các con, hãy ngước mặt nhìn lên. Hãy đưa mắt về vùng ánh sáng ! “. Lũ trẻ nhìn, thấy ở trên đỉnh những đám mây đen là thứ hào quang chói lọi vĩnh cửu, nó đã dẫn lũ trẻ vượt ra khỏi sự che phủ của bóng tối , của mây đen. Đêm hôm đó, người mẹ hài lòng , nói : “ Ngày hôm nay là ngày vui sướng nhất trong đời. các con tôi đã học hỏi được tất cả những gì tôi có thể dậy dỗ chúng .”</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Thế rồi, những ngày, những tháng, những năm cứ lần lượt trôi qua. Cuộc hành trình vào đời của bà mẹ và các đưa con của mình vẫn tiếp tục. Nhưng bây giờ, người mẹ trẻ không còn trẻ nữa. Bà trở nên bé nhỏ đi vì tấm lưng còng. Trong khi đó, các con bà đã trưởng thành, thân thể cao to cường tráng, với những bước đi vững chãi can trường. Mỗi khi gặp đọan đường gập ghềnh hiểm trở, chúng bế bà lên dễ dàng, vì bây giờ hình hài bà đã nhẹ như một sợi lông chim. Và cuối cùng, họ đặt chân đến một ngọn đồi. Phía bên kia là những con đường sáng rực rỡ và những cánh cửa đời dát vàng mở rộng thênh thang. Bà mẹ bèn nói với các con : “ Mẹ đã đi đến cuối cuộc hành trình của mình. Chỉ đến bây giờ, mẹ mới tin rằng cái cuối cùng đẹp hơn sự khởi đầu, vì các con của mẹ đã có thể bước đi một mình, cũng như rồi đây con cái của các con sẽ biết bước đi một mình không cần các con dẫn dắt. “ Những đứa con liền nói với mẹ : “ Mẹ ơi ! Lúc nào mẹ cũng sẽ đi bên cạnh chúng con, kể cả khi mẹ đã khuất sau cánh cửa nước Trời. “ </i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Các đứa con của bà mẹ, đứng bất động nhìn theo bóng dáng mẹ bước đi một mình về phía cánh cổng. Rồi khi cánh cửa đã khép lại, họ bảo nhau : “ Chúng ta không còn nhìn thấy mẹ nữa, nhưng mẹ vẫn ở bên cạnh chúng ta. Một người mẹ, như mẹ của chúng ta, đẹp hơn một hồi ức dịu dàng. <b>Bà là Sự Hằng Sống .”</b></i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>( Nguyên tác : Parable of Motherhood by Temple Bailey *)</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>T.Vấn</i></p>
<p><i>Tháng 5-2008</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i></i></p>
<p><i></i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>*Irene Temple Bailey ( 1865-1953), nhà văn người Mỹ nổi tiếng với nhiều tác phẩm truyện ngắn và truyện dài. Năm 1933 là nhà văn có trị gía tác quyền cao nhất thế giới. Đặc biệt, bà chưa bao giờ lập gia đình. Những tác phẩm được bà viết ra với tất cả sự trân trọng, chính là những đứa con yêu quý của bà. &#8211; T.Vấn .</i></p>
<p><i>© T.Vấn 2008</i></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2008/05/ngungon/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Cơn bão dữ tháng 5 và tôi</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2007/05/conbao/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2007/05/conbao/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 25 May 2007 23:37:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[5]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 5 - 2007]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2007/05/c%c6%a1n-bo-d%e1%bb%af-thng-5-v-ti/475/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2007/05/conbao/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb19-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image002" title="clip_image002" /></a>&#160;
<i>▪ Quanh quẩn chân đi đường quạnh vắng</i>
<i>Loay hoay trong lớp bụi phong trần</i>
<i>Ta tìm một mái am tịnh ẩn</i>
<i>Gối đầu cho ấm chút tro than</i>
<i>( Ngọc Phi )</i>
<a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00220.jpg"></a>
<i>Thành phố Greensburg, Kansas, sau cơn bão lốc 04-05-2007</i>
<b>1.</b>
Mùa gió xóay ở Wichita. Trời lúc nào cũng xám xịt. Những đám mây đen vần vũ trên đầu có thể tụ lại thành những cái phễu khổng lồ ( Tornado ) bất cứ lúc nào. Đêm hôm thứ sáu, trong lúc tôi ngồi xuống bàn chuẩn bị bài viết thường lệ trong tuần thì những luồng gió vùn vụt lướt qua đầu. Đến một thành phố nhỏ về phía Tây, cách xa Wichita khỏang 100 dặm, chúng tụ lại thành cơn xóay, cuốn sạch thành phố nhỏ bé với dân số khỏang 1 ngàn 400 người. Trong khỏanh khắc vài phút, sự sống[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p><i>▪ Quanh quẩn chân đi đường quạnh vắng</i></p>
<p><i>Loay hoay trong lớp bụi phong trần</i></p>
<p><i>Ta tìm một mái am tịnh ẩn</i></p>
<p><i>Gối đầu cho ấm chút tro than</i></p>
<p><i>( Ngọc Phi )</i></p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00220.jpg"><img style="border-right-width: 0px; margin: 0px 10px 0px 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="clip_image002" border="0" alt="clip_image002" align="left" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb19.jpg" width="244" height="107" /></a></p>
<p><i>Thành phố Greensburg, Kansas, sau cơn bão lốc 04-05-2007</i></p>
<p><b>1.</b></p>
<p>Mùa gió xóay ở Wichita. Trời lúc nào cũng xám xịt. Những đám mây đen vần vũ trên đầu có thể tụ lại thành những cái phễu khổng lồ ( Tornado ) bất cứ lúc nào. Đêm hôm thứ sáu, trong lúc tôi ngồi xuống bàn chuẩn bị bài viết thường lệ trong tuần thì những luồng gió vùn vụt lướt qua đầu. Đến một thành phố nhỏ về phía Tây, cách xa Wichita khỏang 100 dặm, chúng tụ lại thành cơn xóay, cuốn sạch thành phố nhỏ bé với dân số khỏang 1 ngàn 400 người. Trong khỏanh khắc vài phút, sự sống biến mất . Chỉ còn lại những căn nhà đổ nát, những cái cây bị trốc gốc, ngổn ngang đây đó những chiếc xe bị gió quật nằm chỏng gọng. </p>
<p>Trung tâm chính của thành phố gồm tòa thị chính, trạm bưu điện, tiệm cà phê nơi hẹn hò buổi sáng của nhiều cư dân thành phố, giờ chỉ còn là khu đất trống. 10 người chết. Vài chục người bị thương. Con bão dữ được xếp lọai EF-5, tức thứ gió xóay có sức tàn phá mạnh nhất . Với tốc độ di chuyển 205 dặm một giờ, nó để lại dấu vết hủy hoại trên một chu vi 22 dặm dài và gần 2 dặm rộng . Cả thành phố đi tị nạn nơi khác. Các viên chức thành phố cam kết sẽ xây dựng lại thành phố trên những đống đổ nát vẫn chưa được dọn dẹp.</p>
<p><i>Điều gì xảy ra, nếu cơn lốc xóay tụ lại ngay trên đầu tôi ?</i></p>
<p>Ngày hôm sau, vài cú điện thọai, vài mảnh điện thư hỏi thăm. Nghe nói có bão lốc ở bên ấy , bình an không ? tất nhiên là tôi vẫn bình an, không có điều gì xẩy ra cả. Cơn lốc 30 tháng 4 không cuốn chết nổi tôi thì chỉ có cơn lốc nào hung dữ hơn may ra mới làm cho trần gian này nhẹ bớt đi một người thừa nữa. Buổi trưa hôm đó, đứng từ một vị trí tuy xa nhưng đủ cao để tôi nhìn được bao quát thành phố vừa tạm thời bị xóa mã số ( Zip Code ) trong danh sách nhận thư của bưu điện thành phố, tôi không hiểu có một ranh giới thực sự giữa sống và chết, giữa xây dựng và hủy hoại hay không . Mới hôm trước, trong một chuyến công tác ngắn ngủi tại thành phố chết mà tôi đang đứng trước mặt, tôi còn đi bộ tới lui mấy con đường bây giờ đã mất dấu nhìn không ra, còn giơ tay chào hỏi vài cư dân lớn tuổi bước ra từ cửa hàng cà phê duy nhất của khu phố. Nhà cửa, phố xá đã bị biến mất rồi nhưng trong số hơn chục người chết và mấy chục người bị thương phải nằm bệnh viện có những ông gìa tôi gặp hôm trước không ? Và, nếu như, cơn lốc xóay hôm qua ngừng lại trên đầu tôi ( với vị trí là một chấm rất nhỏ trên bản đồ thành phố ) , ai trong số những ông gìa mà tôi chào hỏi hôm trước sẽ đứng vào vai trò của tôi hiện giờ, và tự hỏi trong số người chết vì gió xóay liệu có gã đàn ông người châu Á lạ mặt xuất hiện trên đường phố cổ kính chưa hề biết đến bóng dáng của bất cứ người châu Á nào hay không ? </p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image0047.jpg"><img style="border-right-width: 0px; margin: 5px 10px 0px 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="clip_image004" border="0" alt="clip_image004" align="left" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image004_thumb6.jpg" width="244" height="184" /></a></p>
<p><i>Bức tượng ông thánh Joseph vẫn còn nguyên vẹn như một phép lạ giữa sự đổ nát chung quanh.</i></p>
<p><i></i></p>
<p>Cái chết, được coi như một sự chấm hết. Hay một sự khởi đầu ? Đứng giữa sự hoang tàn đổ nát mới xảy ra trong khỏanh khắc vài tiếng đồng hồ, người ta đã lên tiếng sẽ làm mọi cách để thành phố tái sinh. Đó vừa là một lời an ủi những gia đình nạn nhân, vừa là một lời hứa tái tạo lại sự sống trên cái chết. Bên cạnh tôi, một phụ nữ trẻ rơm rớm nước mắt. Nhà của cô ở trong đống hoang tàn đổ nát ấy, nhưng các viên chức chính quyền không cho các nạn nhân quay trở về nhà . Họ sợ những cành cây gẫy, nhưng bức tường chưa sập hết, có thể gây thêm thương tích cho người đến gần. Và cũng để ngăn ngừa những kẻ thừa nước đục thả câu ( looters) , mà thời nào, ở nơi nào cũng có. Đưa tay lên quệt nước mắt, cô nói ( bâng quơ ) . <i>Dù sao thì cuộc sống vẫn cứ phải chảy về phía trước. Mình không thể cứ đứng ở đây mãi được.</i></p>
<p>Rồi cô gái quầy quả bỏ đi, theo đúng với nghĩa đen của câu nói vừa thốt ra từ đôi môi tìm ngắt vì gió của cô.</p>
<p><b>2.</b></p>
<p>Tôi biết mình sẽ có cơ hội quay lại thành phố ấy một lần, nhiều lần nữa. Nếu thực sự, nó sẽ được người ta xây dựng lại. Có một điều chắc chắn, hình ảnh cũ kỹ của một thành phố nông nghiệp miền trung nước Mỹ sẽ không còn nữa. Các trụ sở cơ quan chính quyền, dịch vụ, quán xá hẳn sẽ mang bộ mặt hiện đại như ở các thành phố lớn. Khi ấy, liệu những ông già sáng sáng đến quán cà phê quen thuộc , &#8211; để uống ly cà phê nóng đầu ngày thì ít, nhưng để gặp gỡ người ta ( người ta ấy có thể là bất cứ ai, những bạn già quen thuộc hay gã đàn ông châu Á lạ mặt ) và không khí thân mật của một quán nước “đầu làng “ thì nhiều &#8211; , có thực sự hài lòng với nét tân kỳ của mảnh đất quen thuộc, của lối sống quen thuộc không ? Tôi đã từng được đặt chân đến nhiều thành phố nhỏ trong phạm vi đòi hỏi của công việc , được có cơ hội dạo bước trên những khu phố “ <i>đi dăm bước đã về chốn cũ</i> “ , được rất nhiều lần bắt gặp những ánh mắt ngạc nhiên của cư dân những thành phố , nhưng ẩn dấu đằng sau vẫn là vẻ hiền hòa thân thiện của người dân tỉnh lẻ. Họ không bao giờ đối xử với tôi như một khách lạ. Điều ấy làm tôi ấm lòng . Và cũng từ những bước chân khua êm ả trên những thành phố nhỏ bé ấy của một tiểu bang miền trung nước Mỹ, nhiều ý tưởng cho những bài viết của tôi được hình thành. Thấp thóang đằng sau nhiều hàng chữ tưởng như vô hồn, có nét nhân hậu đơn sơ của những thành phố cổ kính hiền hòa mà buớc chân người viết chúng đã đi qua.</p>
<p>Vì thế, tưởng tượng đến hình ảnh một thành phố hiện đại thay cho nét cổ kính cũ kỹ của thành phố vừa bị bão xóay biến thành bình địa kia, tôi bỗng thấy man mác một cảm giác tiếc nuối. Tôi tiếc hình ảnh cái tháp chuông cao nhìn thấy từ rất xa, trên đó nổi bật hai chữ : Big Well, giới thiệu cái giếng đào bằng tay sâu 109 bộ Anh , vốn từ lâu được công nhận là cái giếng đào bằng tay sâu nhất thế giới và là niềm kiêu hãnh của cư dân thành phố. Hình ảnh tiêu biểu ấy của Greensburg tương tự như những lũy tre xanh trên lối vào làng ở quê tôi ngày xưa. Tôi tiếc tiếng chuông ngân nga thánh thót cứ mỗi đầu giờ của chiếc đồng hồ già gần 100 tuổi tọa lạc ngay giữa trung tâm thành phố . Nó cho tôi cảm tưởng tiếng chuông thu không mỗi buổi chiều phát ra từ ngôi chùa quen thuộc của hồi ức tuổi thơ. Tôi tiếc vẻ cũ kỹ luộm thuộm của quán cà phê duy nhất nơi ấy, nó nhắc tôi đến những quán nước đầu làng quê tôi, nơi mọi người đi qua đều ghé lại, đôi khi chỉ để hút nhờ điếu thuốc lào từ chiếc điếu cày của bà hàng đon đả hay ngồi nhờ chiếc ghế chân cao chân thấp cho đỡ mỏi chân trước khi đi nốt đọan đường còn lại. Chính những ý tưởng ấy, cộng với sự thân thiện của những cư dân thành phố, khiến tôi không bao giờ có cảm tưởng mình là khách lạ khi đập bước chân trên những con đường ngắn hơn một nhịp thở. Kẻ lưu vong đã bắt gặp lại quê hương trên miền đất xa lạ, dù cái mang theo trong hồn chỉ là những mảnh vụn vỡ của một quê hương không còn nguyên vẹn.</p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image006.jpg"><img style="border-right-width: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="clip_image006" border="0" alt="clip_image006" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image006_thumb.jpg" width="244" height="169" /></a></p>
<p><i>Tháp quảng cáo Big Well trước con bão lốc 04-05-2007</i></p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image008.jpg"><img style="border-right-width: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="clip_image008" border="0" alt="clip_image008" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image008_thumb.jpg" width="244" height="184" /></a></p>
<p><i>Tháp quảng cáo Big Well sau con bão lốc 04-05-2007</i></p>
<p><b>3.</b></p>
<p>Tháng Năm. Tháng của những con bão hung dữ miền trung tây nước Mỹ. Tháng của những cuộc chia tay đột ngột giữa sống và chết, giữa dựng xây và hủy họai. Với tôi, cũng là tháng vừa vượt qua cơn bão dữ tháng Tư. Tháng Tư là tháng độc ác nhất ( <i>April is the cruellest month </i>. . . T.S. Eliot, The Wasteland) . Tháng của kẻ thù hành hạ kẻ thù và bạn bè hành hạ bạn bè. Tháng của những người chết đội mồ sống dậy và những nỗi đau vùi lấp từ lâu được đào lên để chúng đua nhau gào khóc. Tháng của những ngộ nhận và những lời chửi rủa của những anh em đã từng một thời đứng chung với nhau một chiến tuyến. Tôi đọc đâu đó có người viết rằng tháng Tư , cho dù khắc nghiệt, đã đi qua. Nhưng chiến tranh thì chưa. Và kèm theo câu văn “ ác nghiệt “ ấy, là mấy câu thơ của một cô gái thế hệ một rưỡi ( 1.5):</p>
<p><i>áp thân vào lòng đất và im lặng lắng nghe      <br />những âm thanh rung động từ chiến tranh sẽ khởi đầu       <br />những di khúc của những trái tim sắp vỡ       <br />những hủy diệt và những tàn tro       <br />tôi áp mình lắng nghe và ghi nhớ       <br />khi người ta quá sẵn sàng quên lãng những cuộc chiến của quá khứ       <br />để bắt đầu những cuộc chiến của tương lai.</i></p>
<p><i>( Đỗ Lê Anh Đào – Những điều khác biệt )</i></p>
<p>Hình như chúng ta chưa sẵn sàng quên lãng những cuộc chiến của quá khứ mà những cuộc chiến của tương lai đã bắt đầu. Hay, như tôi trong đêm thứ sáu mùng 4 tháng 5 năm 2007 , đã sống sót cơn bão dữ này chỉ để đối diện với những cơn bão dữ khác. Những bất trắc của đời sống ẩn hiện trên từng trang sách đời mở ra trước mặt. Cái bất trắc vừa kỳ thú vừa đe dọa. Cuộc sống muôn đời là thế : chúng ta ( tôi) chỉ có việc đi tới ( vì không có con đường đi lui). Đi cho đến khi nào không còn lối đi trước mặt.</p>
<p>Trở lại câu hỏi : <i>Điều gì xảy ra, nếu cơn lốc xóay tụ lại ngay trên đầu tôi ?</i></p>
<p>Trần gian này không có gì khiến người ta phải khó khăn lắm mới thốt được hai tiếng chia tay. Nhưng để cho thanh thản bước lên chuyến tàu cuối cùng về một sân ga cuối cùng, người ta cần phải tin rằng ( hay giả bộ tin rằng ) , người ta đã sống trọn vẹn phần đời của mình. Cái phần đời bao gồm các thứ bổn phận , các thứ hưởng thụ và các thứ cực hình. Là một tín đồ Thiên Chúa giáo, tôi cũng muốn được gặp vị đại diện Thiên Chúa để nói lời xưng tội cuối cùng.</p>
<p><i>Tôi hình dung ra cái cảnh linh hồn tôi ( lúc 9 giờ 40 phút tối thứ sáu mùng 4 tháng 5 ) đứng trên đỉnh của cái phễu (tornado) nhìn xuống nhân quần bên dưới ( trong đó có cái xác không tòan vẹn của tôi ) qua làn nước mưa dầy đặc ( Wichita và các vùng phụ cận chìm ngập trong mưa suốt 2 ngày thứ bày và chủ nhật ). Lẫn trong tiếng sấm chớp ầm ì, văng vẳng tiếng khóc của vợ con tôi và những người thân. Đến lúc ấy, tôi nghĩ đến khuyết điểm lớn nhất của mình là sợ những tiếng khóc thành tiếng. Cả đời tôi đã để cho những giọt lệ chảy ngược vào bên trong (hốc mắt). Nay đã đến lúc chúng có cơ hội trả thù tôi chăng ?</i></p>
<p><i>Tôi luôn ao ước được thảnh thơi khi ra đi. Nhưng thảnh thơi sao được khi còn biết bao nhiêu công việc phải làm vẫn chưa xong, việc nhà việc sở, việc làm cha , việc làm chồng, việc làm . . . người. Cả những trang viết dở dang , chưa xong phần kết và chưa ký tên đề ngày. </i></p>
<p>Vì thế, đêm hôm ấy, lúc tôi ngồi xuống bàn viết, cơn lốc độc ác ấy chỉ đi qua, mà không tụ lại . Thế là tôi có thêm một dịp lật qua trang viết khác, kể lại câu chuyện cơn bão dữ tháng 5 quen thuộc , và không quên ký tên , đề ngày. Ai biết được lần nào là lần cuối. Tháng 5 còn lại khá nhiều ngày chờ đợi những cơn lốc khác còn đang núp sau những đám mây đen rình mò. Dù vậy, tôi vẫn quyết không phụ rẫy Wichita.</p>
<p><i>Wichita, Kansas</i></p>
<p><i>Tháng 5, 2007</i></p>
<p>© T.Vấn 2007</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2007/05/conbao/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Thời của những kẻ sát nhân</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2007/05/thoicua/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2007/05/thoicua/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 12 May 2007 23:33:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[5]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 5 - 2007]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2007/05/th%e1%bb%9di-c%e1%bb%a7a-nh%e1%bb%afng-k%e1%ba%bb-st-nhn/466/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2007/05/thoicua/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb6-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image001" title="clip_image001" /></a>&#160;
<b><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image0018.jpg"></a></b>
<b></b>
<b>1.</b>
Cả nước Mỹ rúng động. Dưng không, có một anh di dân châu Á nổi điên, đem súng vào trường nơi anh ta theo học, bắn chết một lúc 32 mạng người, gồm 27 sinh viên và 5 giáo sư, đồng thời làm 7 người khác bị thương từ nhẹ đến nặng. Cả nước Mỹ cùng hỏi nhau câu hỏi : <i>tại sao anh ta lại làm như vậy ?</i>
Một nước Mỹ hùng cường, nơi tập trung hầu như những thành phần ưu tú nhất của thế giới, những bộ óc siêu đẳng có khả năng giải đáp bất cứ câu hỏi nào. Nay, đứng trước sự kiện tưởng chừng như vô lý nhất từ trước tới nay, họ chỉ còn biết tự hỏi mình , và hỏi nhau : <i>tại sao ? tại sao ?</i>
<i></i>
Cả nước Mỹ để tang trước bi kịch[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p><b><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image0018.jpg"><img style="border-right-width: 0px; margin: 15px 10px 0px 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="clip_image001" border="0" alt="clip_image001" align="left" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb6.jpg" width="244" height="184" /></a></b></p>
<p><b></b></p>
<p><b>1.</b></p>
<p>Cả nước Mỹ rúng động. Dưng không, có một anh di dân châu Á nổi điên, đem súng vào trường nơi anh ta theo học, bắn chết một lúc 32 mạng người, gồm 27 sinh viên và 5 giáo sư, đồng thời làm 7 người khác bị thương từ nhẹ đến nặng. Cả nước Mỹ cùng hỏi nhau câu hỏi : <i>tại sao anh ta lại làm như vậy ?</i></p>
<p>Một nước Mỹ hùng cường, nơi tập trung hầu như những thành phần ưu tú nhất của thế giới, những bộ óc siêu đẳng có khả năng giải đáp bất cứ câu hỏi nào. Nay, đứng trước sự kiện tưởng chừng như vô lý nhất từ trước tới nay, họ chỉ còn biết tự hỏi mình , và hỏi nhau : <i>tại sao ? tại sao ?</i></p>
<p><i></i></p>
<p>Cả nước Mỹ để tang trước bi kịch quốc gia ( national tragedy). Người ta thắp nến trong những buổi tụ họp công cộng, cầu nguyện trong các nhà thờ, treo cờ rũ ở khắp các công sở. Người ta ôm nhau khóc, chìa tay cho nhau nắm, và nói với nhau những lời yêu thương. Tất cả những biểu lộ ấy trong phút giây họan nạn chỉ có thể giúp người ta sống sót qua những giờ phút đau khổ nhất, thêm sức mạnh để khỏi ngã quỵ trước sự mất mát những người thân yêu. Nhưng, chắc chắn, câu hỏi “ Tại sao “ vẫn còn nguyên vẹn đó, chưa được trả lời. Bởi vì, đó không phải là một câu hỏi dễ được trả lời. Bởi vì, thế giới này có quá nhiều những người điên. Người điên nhân danh một đất nước như vị tổng thống Iran Mahmoud Ahmadinejad , thay vì ưu tiên cho các vấn đề dân sinh trong nước, lại dồn nỗ lực vào việc thách đố cả thế giới bằng cách thử nghiệm việc chế tạo bom nguyên tử , để mặc cho nhân dân đói rách, bệnh tật. Người điên nhân danh một niềm tin tôn giáo như ở Iraq , lấy sự bất an, chết chóc , khủng bố người khác làm thành tích để cho linh hồn mình được sống bình an đời đời . </p>
<p><i>Thời nào cũng có những người điên, những kẻ sát nhân. Nhưng người điên, kẻ sát nhân trong thời đại kỹ thuật tuyệt đỉnh này đã là mối đe dọa lớn nhất, khó tiên đóan nhất và hậu quả sự điên khùng của họ khó lường nhất.</i></p>
<p>32 người đã chết với đôi mắt mở lớn, kinh ngạc. Họ không hiểu sao mình lại bị chết một cách “ lãng nhách “ như vậy. Buổi sáng, họ đến trường, để học, để giảng dạy. Cuộc sống còn bao hứa hẹn phía trước. Bao ước vọng cho bản thân, cho gia đình, cho bạn bè, cho xã hội, cho đất nước, cho nhân lọai khắp nơi. Bỗng nhiên, trong khỏanh khắc , tất cả biến mất. Tưởng chừng như mặt đất vừa nứt ra , họ là những người chẳng may đứng gần đó bị lọt thỏm xuống vực sâu không đáy. Nhưng nếu thế, người ta đã có câu trả lời. Và không bận tâm ôm đầu, bóp trán, miệng không ngớt lẩm bẩm hai chữ tại sao . Thiên tai thì thời nào chẳng có, nơi nào chẳng có. Thí dụ như tháng 12 năm 2005 , trận Tsunami ở vùng biển Nam Á nhận chìm một lúc mấy trăm ngàn con người. Người ta đau đớn, nhưng không thắc mắc truy hỏi tại sao. Hay những quả bom nổ trên những đường phố của Bagdad, hàng trăm người banh xác mỗi ngày. Người ta cũng đau khổ, cũng giơ hai tay lên trời hỏi Alah : Tại Sao ? Và , đôi trường hợp, cùng lúc với câu hỏi được đặt ra, người ta đã tìm thấy câu trả lời.</p>
<p>Còn ở Virginia Tech, Blacksburg ? kẻ điên khùng, tên sát nhân là một thanh niên 23 tuổi, tên Seung-Hui Cho ,gốc Đại hàn. Từ xứ sở chưa lấy gì làm giàu có của mình, anh ta theo cha mẹ định cư, lập nghiệp ở Mỹ từ năm 8 tuổi. Như bất cứ một gia đình di dân nào, Tàu, Việt Nam, Đại hàn, từ châu Á, từ châu Phi , họ phải làm lụng vất vả để an cư lạc nghiệp. Nhưng các con cái của họ đều được đến trường như bao trẻ em Mỹ khác. Anh thanh niên Đại hàn này cũng đã tốt nghiệp Trung học, đã vào học đại học ở Virginia Tech. Theo nội dung cuốn băng hình tự thâu Cho để lại trước khi gây nên cuộc thảm sát khủng khiếp rồi tự sát, thì anh ta thù ghét những kẻ giàu có hơn mình, những kẻ đã hất hủi anh ta. Anh còn tự ví mình đang làm một sự hy sinh giống như chúa Jesus. Theo những kết quả điều tra sơ khởi, anh thanh niên gốc Nam Hàn có nhiều triệu chứng bị bệnh tâm thần và đã từng được điều trị về bệnh này mấy năm trước. Nhưng liệu những điều này có giúp người ta trả lời được câu hỏi quái ác “tại sao” không ? </p>
<p>Cha mẹ chị em ruột thịt của chính anh ta, cũng thú nhận rằng họ hòan tòan không thể hình dung và hiểu nổi những gì Cho đã gây ra cho cộng đồng Virginia Tech. Đó là những người sinh dưỡng hung thủ, đã từng chứng kiến cuộc đời 23 năm của anh ta, họ vẫn không thể hiểu nổi tại sao. Chị ruột của Cho, một thiếu nữ trí thức , tốt nghiệp đại học Princeton năm 2004, hiện nay làm việc hợp đồng cho bộ ngọai giao Hoa Kỳ đã thổ lộ. “ <i>Chúng tôi ( gia đình hung thủ ) vô cùng xấu hổ vì tội ác này. Chúng tôi tuyệt vọng, bơ vơ và mất hẳn chỗ bấu víu. Kẻ sát nhân này chính là người mà tôi đã cùng với anh ta lớn lên dưới mái gia đình. Vậy mà, giờ đây, tôi có cảm tưởng như tôi chưa bao giờ biết đến con người này. Gia đình chúng tôi lúc nào cũng là một mái ấm yên bình, hạnh phúc và thương yêu. Em tôi tuy có trầm lặng, khép kín nhưng cũng đã cố gắng để chan hòa với gia đình. Chúng tôi hòan tòan không hiểu được tại sao nó lại có thể làm một hành động bạo lực khủng khiếp như thế này.” ( theo Associated Press -20-04-2007)</i></p>
<p>Hiển nhiên, gia đình hung thủ cũng đau khổ, vì trước hết, họ mất chính anh ta , người con người em trong gia đình. Hơn thế nữa, nỗi đau khổ của gia đình những nạn nhân trong cuộc thảm sát còn là cơn ác mộng sẽ kéo dài cho chính họ. Họ hiểu rằng, con em của họ đã làm cho cả thế giới nhỏ lệ. </p>
<p><b>2.</b></p>
<p>Câu chuyện trên là bạo lực đến từ học trò, và xảy ra ở Mỹ. Tất nhiên, nó đã làm chảy nước mắt của nhiều người, vì có nhiều người chết, nhiều sự mất mát. Nhưng có một câu chuyện khác, xảy ra ở Việt Nam, không đến từ học trò, mà lại đến từ thầy ( cô giáo, thấy giáo ).Cũng lại một câu chuyện bạo lực khác, tuy không có ai chết cả, nhưng cũng đủ làm rơi nhiều nước mắt. Và rất nhiều những tiếng thở dài ngao ngán, rồi buồn bã, rồi cũng những câu hỏi : tại sao ? tại sao ?</p>
<p>Bé Hùynh ngọc Trâm, 10 tuổi, học sinh giỏi của lớp 5 trường tiểu học An Hiệp 2, thuộc xã An Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp, hôm cuối tháng 3 năm 2007 vừa qua bị tổng phụ trách Đội ( thầy gíao Lê văn Xem) áp giải lên công an xã để lấy khẩu cung do bị nghi lấy cắp 47,800 đồng quĩ lớp ( tiền VN hiện hành, tương đương 3 đô la Mỹ). Và đây là lời tường thuật sự việc của báo chí trong nước :</p>
<p><i>“ Do nghi bé Trâm và bé Thư (học sinh lớp 5/2, là cháu một giáo viên ở Trường tiểu học An Hiệp 2) lấy 47.800 đồng quĩ lớp, thầy Xem đã đưa hai em lên Công an xã An Hiệp. Theo lời Trâm kể với mẹ, trên đường đi thầy Xem dừng xe mấy lần dọa hai em nếu không nhận thì lên công an xã sẽ bị tra tấn. Cả hai vẫn nói không lấy số tiền này. </i></p>
<p><i>Đến nơi, Trâm bị tách ra đưa vào một phòng riêng. “Trong phòng có hai chú công an (theo một nguồn tin là ông Lê Văn Thanh &#8211; anh ruột thầy Lê Văn Xem, và ông Võ Thanh Phương là trưởng và phó Công an xã An Hiệp &#8211; PV). Một chú cầm cây giống như cảnh sát đập đập lên bàn, một chú hỏi có lấy tiền không và đưa ra một tờ giấy bảo ghi lời khai”. Bé Trâm vẫn bảo không lấy. </i></p>
<p><i>Một chú công an khẳng định: “Nhìn nét chữ này là biết ngay nét chữ lấy tiền rồi”. Trâm vẫn không nhận, lại bị dọa tiếp: “Không nhận thì kêu người nhà đem cơm đi. Mày không nhận tao nhốt trong đó luôn, không cho cha mẹ mày lãnh”. Sau đó, thầy Xem bước vào phòng dọa tiếp: “Không nhận thì ban đêm bị nhốt trong tù, ban ngày đem ra phơi nắng”. Quá sợ hãi, Trâm đã nhận. “ </i>( Vietnamnet.VN – Trách Nhiệm và Lương tâm –ngày 11-04-2007 )</p>
<p>Sau khi nhận “ tội” xong, bé Trâm được tha về. </p>
<p><i>“Rồi Trâm nức nở với mẹ: “Con không có lấy. Con nói với mẹ rồi, con không lấy. Tiền đó có phần con đóng góp nữa mà. Con sợ lắm. Con nhận để được về với ba mẹ&#8230;”.</i></p>
<p><i>Đêm ấy, bé Trâm đã liên tục lảm nhảm kêu: “Con không lấy mà, mấy chú công an đừng có bắt con&#8230;”. Sáng ra, cứ nghe tiếng xe là Trâm lại hoảng sợ, chui vào góc nhà&#8230; Tình trạng kéo dài cho đến bốn ngày sau chị Nga mới đưa con đi khám bệnh. Dù đã hai lần lên Bệnh viện Sức khỏe tâm thần TP.HCM khám bệnh, uống thuốc nhưng bé Trâm vẫn không khá hơn. Mẹ bé Trâm chỉ còn biết nuốt nước mắt: “Cha nó không biết chữ, chỉ biết ký mỗi cái tên. Thấy con học giỏi, ổng cưng lắm, hi vọng vào nó nhiều lắm&#8230;”. (</i>Vietnamnet.VN – Trách Nhiệm và Lương tâm –ngày 11-04-2007 )</p>
<p>Khi phóng viên của báo chí đến thăm hỏi, để làm phóng sự :</p>
<p><i>“ Vừa thấy người lạ (là tôi-PV), Trâm đã co rúm người lại, giật lùi nép người vào cuối giường, chụp con búp bê che mặt. Tôi nhẹ nhàng dỗ dành, Trâm càng sợ hãi, hết chúi nhủi vào góc giường lại vơ bất cứ thứ gì để che mặt lại, từ giỏ xách đến chăn, mền&#8230; Chị Nguyễn Thị Nga &#8211; mẹ bé Trâm &#8211; thì thào dỗ dành con thì bỗng “bốp”, con bé điên loạn giáng vào mặt mẹ rồi hét toáng lên nhói óc, mắt nhìn trừng trừng rồi kêu ư ử&#8230; </i></p>
<p><i>Các y, bác sĩ đến chăm sóc, khám bệnh cho em, Trâm cũng vùng vẫy, trốn chui nhủi hoặc xông vào đánh, tát. Rồi em chui xuống gầm giường. Một tay cho lên miệng cắn, tay còn lại chống đất bò loanh quanh. Những lúc không kích động, Trâm ngồi thu mình, đưa hết tay phải rồi tay trái lên miệng cắn. Hai tay em đầy những vết răng cắn sâu. Tôi nhìn cảnh đó mà không cầm lòng nổi&#8230; Trâm cũng bằng tuổi con gái tôi.” ( Lê Thanh Hà &#8211; Tuổi trẻ &#8211; ngày 11-04-2007 )</i></p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00219.jpg"><img style="border-right-width: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: 0px; border-left-width: 0px; margin-right: 0px" title="clip_image002" border="0" hspace="12" alt="clip_image002" align="left" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb18.jpg" width="154" height="204" /></a><i></i></p>
<p>Câu chuyện làm dư luận trong nước sôi sục. Các trang Blog ( nhật ký cá nhân )(1) , trong nhiều ngày, chỉ nhắc đến chuyện bé Trâm. Nhạc sĩ Tuấn Khanh (2) trên trang Blog của minh, đã không cầm được sự giận dữ :</p>
<p><i>“Ông Nguyễn Thiện Nhân ( bộ trưởng giáo dục và đào tạo – ghi chú của T.vấn ) , xin hãy từ chức đi. Tôi không thể là một người giỏi về đơn từ để gửi cho ông, tôi chỉ có thể nối dài tiếng khóc của cô bé 10 tuổi đó bằng lời hát của mình, trước khi nó bị vùi lấp trong ánh sáng đô thị và đèn flash trong những lễ hội biểu diễn thành đạt giáo dục ngày mai, ngày sau. Số phận của một con người dù chỉ mới có 10 năm sống, cũng phải được tính bằng hành trình thực thi tinh khiết nhất của đạo đức giáo dục, lương tâm và trách nhiệm.</i></p>
<p><i>Tôi không tin rằng xã hội Việt Nam chỉ còn lại sự buồn bã nhu nhược của đám đông hay vô tình tới mức chỉ thảng thốt kêu lên một tiếng oán thán rồi thôi. Xã hội này đã được hành động để xây dựng để tốt đẹp hơn và tôi nghĩ mình phải lên tiếng cho truyền thống đẹp đẽ đó với tất cả nghĩ suy của một công dân có trách nhiệm xã hội mình đang sống.” ( Tuan Khanh’s Blog – ngày 15-04-2007)</i></p>
<p>Bài hát nói về câu chuyện bé Trâm của nhạc sĩ Tuấn Khanh, mang tên 47.8 ( tức 47 ngàn 8 trăm – ghi chú của T.vấn ) , mau chóng được mọi người chuyền tay nhau. Trong đó có những câu:</p>
<p><i>Em, cho tôi hôn em trong nước mắt      <br />Đưa em ra khỏi rừng hoang       <br />Quên đi chua cay đang đợi chờ       <br />Ai, đã mang đi ngây thơ tuổi em       <br />Chôn sâu trong những đắng cay       <br />Nỗi đau một đời mang lấy       <br />Có bao nhiêu (x2) tháng ngày tuổi thơ em đã đổi lấy ánh mắt hận thù       <br />Có bao nhiêu (x2) bài học tình yêu em đã đổi lấy năm tháng hận thù       <br />Em đã ôm lấy &#8211; em đã mang lấy</i></p>
<p><i>(Tuấn Khanh – 47.8 )</i></p>
<p>Trên một trang Blog khác, tôi còn đọc được bài thơ :</p>
<p><i>Hãy cho tôi      <br />một lần       <br />được khóc       <br />khóc như một con       <br />người       <br />biết xót       <br />và biết đau       <br />Chới với đôi tay em       <br />cào xé xác thân trong cơn mê hoảng loạn       <br />Chới với đôi tay tôi       <br />không che chở được thơ ngây       <br />Ai đã nói với em       <br />về tuổi thần tiên       <br />những giấc mơ có thỏ bông, kẹo và ông mặt trời toả nắng?       <br />Giấc mơ em       <br />có cực hình       <br />tra khảo       <br />dùi cui       <br />vì những tờ giấy bạc màu trắng, màu xanh       <br />Bốn mươi bảy ngàn tám trăm       <br />3 tô phở       <br />một chầu cà phê       <br />một sinh linh nhỏ bé       <br />Bốn mươi bảy ngàn tám trăm       <br />Thảng thốt       <br />một ngày mai</i></p>
<p><i>(Le Hoang’s Blog- ngày 16-04-2007 )</i></p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image0046.jpg"><img style="border-right-width: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: 0px; border-left-width: 0px; margin-right: 0px" title="clip_image004" border="0" hspace="12" alt="clip_image004" align="left" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image004_thumb5.jpg" width="244" height="184" /></a><i></i></p>
<p>Đọc bài thơ của một người trẻ trong số hàng triệu triệu người trẻ sống ở trong nước, tôi bỗng thấy chữ nghĩa của mình vô dụng quá, tầm thường quá. <i>Bốn mươi bảy ngàn tám trăm.3 tô phở.một chầu cà phê.một sinh linh nhỏ bé. </i>Đứa con gái nhỏ của tôi cũng vừa 10 tuổi, cũng đang học lớp 5. Một bữa ăn trưa của con tôi trị gía hơn 47 ngàn 8 trăm đồng. Tôi chưa bao giờ nỡ một lần nặng lời với con tôi, kể cả khi nó có lỗi. Bé Trâm tội nghiệp và đứa con gái của tôi, chúng nó có khác gì nhau ? Bé Trâm và đứa con gái của tôi, cùng với hàng tỉ bé gái 10 tuổi học sinh lớp 5 trên cả hành tinh này có gì khác nhau ? Cái khác biệt, nếu có, chỉ là vì bé Trâm sống ở Việt Nam. Còn con tôi, “ may mắn không phải sống ở Việt Nam “ . Cha của bé Trâm “ . . .<i>không biết chữ, chỉ biết ký mỗi cái tên. Thấy con học giỏi, ổng cưng lắm, hi vọng vào nó nhiều lắm.” . </i>Tôi cũng đâu có khác gì cha của bé Trâm. Dù tôi biết hơn cái việc “ ký chữ ký tên của mình “ cũng không ngăn cản tôi đặt bao kỳ vọng vào con tôi, cũng không cho tôi cái quyền gì cao hơn quyền một người cha như cha bé Trâm. Biết bao nhiêu người cha có con gái 10 tuổi, học lớp 5 khi đọc câu chuyện này không nghĩ tới con gái của mình ? tưởng tượng con gái mình ở trong hòan cảnh của bé Trâm mà rùng mình. Và rồi, cùng với nhạc sĩ Tuấn Khanh, nói với bé Trâm : <i>Em, cho tôi hôn em trong nước mắt.</i></p>
<p><i>. . . bốn mươi bảy ngàn tám trăm. Thảng thốt. Một ngày mai . . .</i></p>
<p><i></i></p>
<p><b>3.</b></p>
<p>Bạo lực ở nhà trường nước Mỹ không phải là một đề tài mới. Từ mấy năm nay, nhiều vụ thàm sát đã xảy ra trong khuôn viên các trường học. Hầu như tất cả những hung thủ trong cuộc, đều là những người không bình thường về tâm lý và đều đủ tỉnh táo để chọn cho mình cái chết trước khi lọt vào tay nhà chức trách. Vì họ biết chắc, không thể thóat khỏi sự trừng phạt của công lý. Xã hội Mỹ có thể còn có nhiều khuyết điểm, nhưng về mặt này, những người thù ghét nước Mỹ nhất cũng không thể phản bác được. Nói cách khác, trên phương diện cơ chế, nước Mỹ , cùng với công luận Mỹ, không bao giờ khoan nhượng những hành động bạo lực ở nhà trường bất kể nguyên nhân, nguồn gốc và do ai gây ra. Chẳng may, tôi không thể có cùng nhận xét khi nói về nhà trường Việt Nam. Cái gốc rễ của một nền giáo dục công an trị đến từ một sự bạo lực có tính cách hệ thống, đến từ phương pháp chung nhà cầm quyền cai trị đất nước. Tính cách công an trị hiện hữu trong mọi sinh họat của đời sống người dân, trong đó có giáo dục. <i>     <br /></i>Seung-Hui Cho hành động dựa trên những mặc cảm cá nhân với ý chí ( bệnh họan ) muốn xác nhận với mọi người sự hiện hữu của mình bằng hành vi bạo lực của kẻ điên. Ông Tổng phụ trách đội (?) Lê văn Xem và hai ông Trưởng và Phó công an xã Lê văn Thanh và Võ thanh Phương hành động dựa trên chức năng guồng máy công an trị giao cho họ, với một ý chí ( cũng không kém phần bệnh họan) muốn xác nhận sự cai trị tuyệt đối của guồng máy ấy, dù đối tượng chỉ là một em bé gái 10 tuổi. Hâu quả việc làm của Seung-Hui Cho có thể chỉ gói gọn trong cái chết của 32 nạn nhân và những hệ quả do những sự mất mát ấy gây ra. Nhưng hậu quả việc làm của 3 ông Xem, Thanh và Phương không chỉ gói gọn trong việc em bé Trâm đã trở nên điên lọan , và không biết em có trở lại một con người bình thường như trước không. Nó cho người ta cơ hội nhận ra và nhìn rõ hơn cái hố sâu thăm thẳm của vô đạo đức, tệ hơn nữa, của vô cảm mà thế hệ trẻ hiện nay ở Việt Nam đang lao đầu đi xuống với sự hướng dẫn của các thầy cô giáo có tâm hồn của những viên công an. Nói cách khác, hành động ấy cũng có thể xem như một hành động sát nhân, lại là sát nhân có hệ thống với sự hỗ trợ của nhà nước. Nếu không sửa chữa, những nạn nhân tương tự như bé Trâm trong tương lai có thể lên tới con số không ai ngờ được. </p>
<p>Và tôi càng thông cảm hơn với sự giận dữ của những người còn lương tri ở trong nước ( như nhạc sĩ Tuấn Khanh ) khi đọc tin bà thứ trưởng giáo dục và đào tạo Đặng hùynh Mai , sau khi vào khảo sát tại chỗ sự việc bé Trâm, đã nhận định rằng, những hành vi bạo lực của giáo viên và hiệu trưởng , của công an chỉ là những “ hành xử chưa chuẩn “.</p>
<p>Có gì cường điệu không , khi tôi tin rằng chúng ta đang sống trong thời đại của những kẻ sát nhân ?</p>
<p>(1) Blog là một hình thức nhật ký cá nhân trên mạng lưới điện tử rất phổ biến ở những người trẻ tuổi hiện nay, nhất là giới trẻ ở Việt Nam, họ cần một chỗ để nói lên những suy nghĩ của riêng mình về nhiều vấn đề , trong đó có những vấn đề cấm kỵ với nhà cầm quyền. </p>
<p>(2) Nhạc sĩ Nguyễn tuấn Khanh ( sinh năm 1968 – không phải nhạc sĩ Tuấn Khanh tác gỉa nhiều bài nhạc nổi tiếng của miền Nam VN trước đây) được mệnh danh là người tiếp nối dòng nhạc Lê Hựu Hà, Nguyễn trung Cang. Năm 2001, ông được nhà báo Mỹ Amit Gilboa của tạp chí East Magazine chọn là 1 trong 10 người trẻ có ảnh hưởng lớn đến cộng đồng chung và được giải thưởng của <a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=%C4%90%C3%A0i_truy%E1%BB%81n_h%C3%ACnh_Rai_International&amp;action=edit">Đài truyền hình Ý Rai International</a> về những sáng tác và thành tựu âm nhạc của ông. Hiện nay, ông là người phụ trách chương trình Trò chơi âm nhạc của đài truyền hình VN ( trong nước ) </p>
<p>© T.Vấn 2007</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2007/05/thoicua/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Mồ côi mẹ liếm lá đầu đường</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2006/05/mocoi/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2006/05/mocoi/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 27 May 2006 23:29:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[5]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 5 - 2006]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2006/05/m%e1%bb%93-ci-m%e1%ba%b9-li%e1%ba%bfm-l-d%e1%ba%a7u-d%c6%b0%e1%bb%9dng/459/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2006/05/mocoi/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb5-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image001" title="clip_image001" /></a>Mồ côi mẹ liếm lá đầu đường
<i>▪ Mười năm tóc mẹ màu tang trắng</i>
<i>Trắng cả lòng con lúc nghĩ về</i>
<i>( Trần Trung Đạo)</i>
<i></i>
<i></i>
<a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image0017.jpg"></a>
Một người bạn tôi vừa mới mất mẹ. Mẹ anh đã thọ được 75 tuổi và có lẽ sẽ sống thêm vài năm nữa nếu bà không mắc phải căn bệnh tiểu đường dai dẳng. Trong những bức điện thư gửi cho tôi, anh biểu lộ một tâm trạng rất chán nản, buồn rầu. Thậm chí anh quyết định ngưng một số công việc thường ngày liên quan đến sách vở viết lách mà anh xem đó như là những khoảnh khắc hoàn toàn thoát tục, giúp anh tạm quên mọi phiền toái của cuộc sống. Tôi chẳng may mất mẹ từ năm 10 tuổi. Tất cả hồi ức của tôi về mẹ là hình ảnh người đàn bà vừa[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Mồ côi mẹ liếm lá đầu đường</p>
<p><i>▪ Mười năm tóc mẹ màu tang trắng</i></p>
<p><i>Trắng cả lòng con lúc nghĩ về</i></p>
<p><i>( Trần Trung Đạo)</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i></i></p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image0017.jpg"><img style="border-right-width: 0px; margin: 5px 0px 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="clip_image001" border="0" hspace="12" alt="clip_image001" align="left" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb5.jpg" width="176" height="244" /></a></p>
<p>Một người bạn tôi vừa mới mất mẹ. Mẹ anh đã thọ được 75 tuổi và có lẽ sẽ sống thêm vài năm nữa nếu bà không mắc phải căn bệnh tiểu đường dai dẳng. Trong những bức điện thư gửi cho tôi, anh biểu lộ một tâm trạng rất chán nản, buồn rầu. Thậm chí anh quyết định ngưng một số công việc thường ngày liên quan đến sách vở viết lách mà anh xem đó như là những khoảnh khắc hoàn toàn thoát tục, giúp anh tạm quên mọi phiền toái của cuộc sống. Tôi chẳng may mất mẹ từ năm 10 tuổi. Tất cả hồi ức của tôi về mẹ là hình ảnh người đàn bà vừa hơn 30 tuổi đời, tấm thân gầy đét khô quắt vì sự tàn phá của vi trùng ung thư, nằm thoi thóp đợi chết trong căn nhà tồi tàn thuộc khu xóm nghèo Vườn Chuối, Sài Gòn . Khi bà qua đời, tôi đã khóc những giọt nước mắt cuối cùng của tuổi thơ ngắn ngủi. Và sau đó, tôi sống cuộc đời mình như cỏ hoang mọc dại – <i>mồ côi mẹ liếm lá đầu đường</i> – Cho nên, đến bây giờ, đã sống gần hết một đời người, tôi vẫn như còn cảm được nỗi đau mất mẹ ở một người lớn tuổi như anh bạn tôi nó sâu sắc cỡ nào, chứ không đơn giản chỉ là cảm thức mất mát một người thân yêu, đã từng sống với mình bao nhiêu năm trời , đã từng gần gủi chia sẻ với mình bao đắng cay ngọt bùi .</p>
</p>
<p><b><i>Nỗi đau mất mẹ lớn hơn và khác hơn nhiều cái cảm thức thông thường ấy.</i></b></p>
<p><b><i></i></b></p>
<p>Hình tượng về người Mẹ quả thật lớn lao. Mẹ là chỗ khởi đầu của một con người. Từ đó anh ta ra đời, trưởng thành, làm những điều vĩ đại cho cuộc sống. Mẹ cũng là chỗ quay về của một đời người. Nhất là khi một người gặp nhiều điều không như ý trong cuộc sống. Mà trong cuộc đời này, mấy ai không có đôi lúc cảm thấy mình chỉ là chiếc bóng vật vờ đi bên lề cuộc đời, bị cuộc đời khinh bỏ, ganh ghét, những lúc ấy, chỉ có một nơi chốn để trở về, đó là căn nhà của mẹ. Căn nhà có thể nghèo nàn, đơn sơ, nhỏ bé nhưng đó vẫn là căn nhà của mẹ, từ đó, một đời người được sinh ra, nuôi dưỡng. Cũng như hình dáng người Mẹ – nhất là người mẹ Việt Nam – nhỏ bé, lam lũ, quê mùa, ít học nhưng tấm lòng thì bao la như biển Thái Bình và sự khôn ngoan của người mẹ thì hàng vạn pho sách thế gian này tích lũy được cũng chỉ là sự ghi chép những lời dạy của người mẹ truyền lại cho con.</p>
<p>Người mẹ của anh bạn tôi, là bóng cả che cho anh trong suốt hơn 50 năm làm người, nay bà bỏ cõi trần mà đi, cũng có nghĩa là anh đã mất đi một chỗ dựa vững chắc nhất trong đời mình.</p>
<p><b><i>Cái cảm thức chông chênh ấy chỉ xảy ra khi người ta mất mẹ .</i></b></p>
<p><i></i></p>
<p>Tôi đã từng chứng kiến cảnh một người mẹ lặn lội đường xa từ một làng quê miền Tây đến thăm con mình ở trại cải tạo Long Giao, trên tay bà chỉ có mỗi lon Guigoz mắm ruốc . Bà nghèo quá không thể lo hơn được nữa cho con. Nhìn hai tấm thân gầy gò ôm nhau khóc bên hàng rào kẽm gai – một của người mẹ, một của người con cải tạo – tôi hiểu hơn được một chút nỗi bất hạnh lớn lao của mình. Lúc ấy, tôi ước gì ít nhất mình cũng có một người mẹ nghèo như thế để được ôm, để được khóc. Tôi – <i>kẻ mồ côi liếm lá đầu đường</i> – được một cô gái trẻ và đẹp đến thăm . Cô mang cho tôi rất nhiều thứ : tình yêu, nước mắt, tấm lòng chung thủy ( cánh hoa mỏng manh trước gió của một thời oan nghiệt ), những túi quà nặng trĩu . Nhưng với tôi, cô gái ấy vẫn chỉ là một người con gái yêu tôi và tôi yêu. Mà tình yêu trong thời thổ tả ấy, với thân phận Từ Hải chết đứng , nhắm mắt đưa chân vào chốn lao tù không biết đến ngày về , thì làm sao trông cậy được vào nghị lực nhỏ nhoi của một người con gái . Sau lần gặp gỡ đó, tôi lầm lũi bước chân xuống tàu ra Bắc . Và tất nhiên, đường xa diệu vợi, thời gian cũng dài thăm thẳm, làm sao tôi dám nghĩ có một ngày được nhìn lại người con gái ấy. Nhưng tôi biết chắc chắn một điều, người mẹ nghèo khổ gầy gò tội nghiệp của anh bạn cùng tù, nếu sức khỏe bà cho phép, sẽ một ngày có mặt ở chốn đèo heo hút gió này thăm anh, có thể cũng chỉ với lon Guigoz mắm ruốc nhiều muối hơn và tấm thân gầy gò xơ xác hơn. Nhưng có hề gì, tấm lòng thương con to lớn của bà – cũng như bao bà mẹ khác -vượt lên trên hết những nhỏ bé phù phiếm ấy, vượt lên trên hết con đường thăm nuôi Bắc Nam vạn dặm, vượt lên trên hết những năm tháng dài dằng dặc có nằm mơ cũng không dám nghĩ đến một ngày về. Với bà, bất kể mọi đổi thay của thời thế, của đất trời, con của bà vẫn cứ mãi mãi là con của bà. Mà dẫu cho bà không thể một lần ra thăm con nơi đất Bắc, thì căn nhà của bà – túp lều tranh dột nát bên bờ ruộng cằn – vẫn sẽ là chỗ cho con bà trở về, nếu quả thật có một ngày về và nếu anh còn sống sót để trở về.</p>
<p>Còn tôi, tôi đã sống sót sau nhiều năm khổ ải và đã có một ngày về. Nhưng người con gái tôi yêu không còn đó để đón tôi ngày tôi thoát kiếp tù đày. Tôi không hề trách móc nàng, vì thử thách ấy lớn quá đối với rất nhiều người con gái của thế hệ tôi năm xưa. Ngay cả những người vợ còn đành chịu thua số phận, huống gì là những người tình. </p>
<p>Bước những bước chân buồn tênh trên đường ra khỏi cổng trại giam , tôi nghĩ đến bà mẹ già nghèo khổ và anh bạn cùng tù tôi đã gặp nhiều năm về trước. Anh về trước tôi vài tháng. Hẳn bước chân anh rất hân hoan cũng trên con đường đất đỏ tôi đang đi. Vì anh có một chỗ để trở về. Và biết mình sẽ được chào đón bằng cả một tấm lòng của người mẹ. Còn tôi, không còn mẹ để trở về. Và cũng không còn ai khác đón tôi ngày ra khỏi trại tù sau gần 9 năm biệt xứ. Thêm một lần nữa, tôi hiểu thêm được một chút nỗi bất hạnh lớn lao của mình. </p>
<p><b><i>Cái cảm thức hụt hẫng ấy – vì mất đi lòng tin tưởng rằng có một người luôn toàn tâm toàn ý nghĩ về mình – chỉ xảy ra khi người ta mất mẹ.</i></b></p>
<p>Từ bấy đến nay, đã bao nhiêu nước chảy qua cầu. Tôi đã gặp một người con gái sẵn lòng đi bên tôi trong suốt phần còn lại của cuộc đời. Khi mới gặp nhau, tôi thường dắt nàng ra ngồi bên mộ mẹ tôi để trò chuyện. Vì nghèo quá, ít khi nào chúng tôi có tiền để đi ngồi quán. Nhờ vậy, mộ mẹ tôi bớt đi vẻ hoang vu cỏ mọc ngập đầu từ những ngày tôi còn ở tù. Rồi tôi cũng dành dụm đủ tiền để mướn người hốt cốt cho mẹ tôi, cho bố tôi , bỏ vào hũ, và đem gởi ở một nhà thờ , trước ngày tôi cùng người con gái ấy rời nước ra đi. Tôi không có một tấm hình nào của mẹ mình. Hình như trong đời mẹ tôi, cũng chưa một lần bà ngồi xuống để cho người ta chụp một bức hình. Cho nên, trong đầu tôi, ngoài tấm thân gầy đét nằm chờ chết trên giường bệnh của bà, khuôn mặt của người mẹ là khuôn mặt người đàn bà nghèo xơ xác năm xưa tôi tình cờ nhìn thấy trong một buổi thăm nuôi ở trại Long Giao trước khi chúng tôi bị chuyển trại ra Bắc. Người mẹ nghèo này, năm nay nếu còn sống chắc cũng vào khoảng tuổi của người mẹ mới mất của anh bạn tôi. Và anh bạn tù năm nào, chắc cũng đã cho mẹ mình được những đứa cháu nội và nhắc lại cho chúng biết rằng, đã có những năm tháng tận cùng nhất cuộc đời của anh và anh đứng dậy được là nhờ ở tấm lòng người mẹ già đi thăm anh với chỉ một lon Guigoz mắm ruốc. Ôi hạnh phúc biết bao cho anh bạn tù năm xưa của tôi. Anh có được rất nhiều điều hãnh diện để kể cho con cháu anh nghe. </p>
<p>Hôm qua, trong một buổi họp mặt cuối tuần với mấy người bạn thân, nhân câu chuyện về tuổi già và cái chết đang chờ sẵn cuối đường, một người bạn của tôi đột nhiên ôm mặt thổn thức ngay trước mặt vợ con mình. Người mẹ già của anh hiện đang nằm thoi thóp trong một bệnh viện ở Việt Nam. Biết mẹ mình tuổi già như ngọn đèn leo lét, chỉ cần một cơn gió nhẹ thoảng qua cũng đủ kết thúc một cuộc đời chỉ biết đến chồng và con, nhưng nỗi đau của anh còn là sự cách trở cùng với muôn vàn những bề bộn hàng ngày khiến anh không thể bay về ngay được bên mẹ, nhìn mặt mẹ lần cuối, và hát cho mẹ nghe bài hát anh mới viết tặng mẹ mình :</p>
<p><i>Mẹ bỏ ta đi</i></p>
<p><i>Mẹ về cõi Phật vô ưu</i></p>
<p><i>Những đứa con tuổi năm mươi</i></p>
<p><i>Khóc như ngày mới lớn</i></p>
<p><i>( Thơ Ngọc Phi- Nhạc TLV)</i></p>
<p>Nhìn những giọt nước mắt già nua trên khuôn mặt kinh qua nhiều sóng gió cuộc đời của anh bạn, tôi lại hiểu thêm được một chút nữa nỗi bất hạnh lớn lao của mình. Tôi không có được tiếng khóc như ngày mới lớn ở tuổi năm mươi như những người bạn của tôi, vì tôi không còn mẹ già, dù là người mẹ già đang sẵn sàng để bỏ con đi bất cứ lúc nào. Có nỗi đau ấy còn hơn không có gì khiến mình có thể rơi nước mắt.</p>
<p><b><i>Những giọt nước mắt ở tuổi năm mươi như anh bạn tôi chỉ rơi xuống không e dè, không dấu diếm khi người ta nghĩ đến mẹ già đang chờ con về để nhìn con một lần cuối.</i></b></p>
<p><b><i></i></b></p>
<p>■ Trong những ngày đầu của tháng 5 hàng năm, các con tôi luôn xôn xao bàn tán với nhau nên mua món quà nào cho mẹ chúng nhân ngày Hiền Mẫu ( Mother’s Day). Có năm , thằng anh lớn của chúng ra chợ Wal-mart vác ngay cái vòng hoa giả ( vốn là để cho người ta đem ra cắm ở mộ người chết vì tháng 5 hàng năm cũng có ngày Lễ Chiến Sĩ Trận Vong – Memorial Day ) về, rồi mấy anh em hí hửng đem ra tặng cho mẹ , chúc mẹ sống đời với chúng con. Từ lần đó, năm nào chúng cũng xin tôi cho ý kiến về việc mua món gì tặng mẹ, rồi kín đáo xin phép mẹ rủ bố đi thư viện, nhưng thực ra là đi lùng mua một món gì đó cho ngày Hiền Mẫu. </p>
<p>Các con tôi còn quá nhỏ để tôi có thể giải thích những điều vượt khỏi tầm nhận thức của chúng về ý nghĩa to lớn của hình tượng người mẹ, mà hiện nay, chúng mặc nhiên thụ hưởng. Cho nên, tôi để chúng biểu lộ tình cảm biết ơn một cách vật chất nhiều hơn là tinh thần. Để đến một ngày nào đó ( mà tôi hằng nghĩ sẽ còn lâu lắm và ao ước rằng tôi không còn sống để chứng kiến ), chúng sẽ tự mình đau đớn hiểu được những mất mát mà bố của chúng đã chịu từ năm mới lên 10 tuổi .</p>
<p><i>Và kinh nghiệm cả cái cảm giác chông chênh, hụt hẫng mà anh bạn thân của tôi đang đóng cửa gậm nhấm trong những ngày anh vừa tròn 55 tuổi đời</i>.▄</p>
<p>T. Vấn </p>
<p>( Nhân ngày Hiền Mẫu)</p>
<p>© T.Vấn 2006</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2006/05/mocoi/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tính Luân Lý của khoa học kỹ thuật</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2006/05/tinhluan/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2006/05/tinhluan/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 22 May 2006 23:26:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[5]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 5 - 2006]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2006/05/tnh-lun-l-c%e1%bb%a7a-khoa-h%e1%bb%8dc-k%e1%bb%b9-thu%e1%ba%adt/456/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2006/05/tinhluan/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb4-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image001" title="clip_image001" /></a>&#160;
<a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image0016.jpg"></a>
<b>1.</b>
<b></b>
Mức độ phát triển của khoa học kỹ thuật , đặc biệt trong công nghệ thông tin, mà điển hình là mạng lưới toàn cầu ( Internet ) và sự lan rộng với tốc độ nhanh chưa từng thấy ở số lượng người xử dụng đã có những ảnh hưởng sâu sắc đến mọi hoạt động của xã hội con người, từ chính trị, quân sự ,kinh tế, đến văn hóa , xã hội, kể cả các hình thái giao lưu có tính cách cá nhân của con người như thư từ, quan hệ tình cảm, hẹn hò v.v..
Nhờ mạng lưới toàn cầu, một sự kiện nổi bật nào đó vừa xảy ra trên quả đất ( như động đất, chiến tranh, những cuộc tàn sát nhau vì lý do tôn giáo, địa phương v..v..), chỉ vài phút sau, cả thế giới đã biết[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image0016.jpg"><img style="border-right-width: 0px; margin: 25px 0px 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="clip_image001" border="0" hspace="12" alt="clip_image001" align="left" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb4.jpg" width="204" height="205" /></a></p>
<p><b>1.</b></p>
<p><b></b></p>
<p>Mức độ phát triển của khoa học kỹ thuật , đặc biệt trong công nghệ thông tin, mà điển hình là mạng lưới toàn cầu ( Internet ) và sự lan rộng với tốc độ nhanh chưa từng thấy ở số lượng người xử dụng đã có những ảnh hưởng sâu sắc đến mọi hoạt động của xã hội con người, từ chính trị, quân sự ,kinh tế, đến văn hóa , xã hội, kể cả các hình thái giao lưu có tính cách cá nhân của con người như thư từ, quan hệ tình cảm, hẹn hò v.v..</p>
<p>Nhờ mạng lưới toàn cầu, một sự kiện nổi bật nào đó vừa xảy ra trên quả đất ( như động đất, chiến tranh, những cuộc tàn sát nhau vì lý do tôn giáo, địa phương v..v..), chỉ vài phút sau, cả thế giới đã biết tường tận về sự kiện ấy, như thể nó vừa xảy ra bên khu vườn của người hàng xóm. </p>
<p>Vì thế , cùng một sự kiện xảy ra hiện nay và cách đây nhiều năm ( thuở chưa có truyền hình vệ tinh, mạng lưới toàn cầu ), người ta đã có những cách nhìn nhận khác biệt hẳn. Nguyên do chính của sự khác biệt không phải vì những cuộc chiến tranh hay tàn sát lẫn nhau xảy ra hiện nay khốc liệt hơn ngày trước, mà là vì ngày nay, người ta có thể xem bằng mắt, nghe bằng tai, đọc những tin tức còn nóng hổi về những sự chết chóc ấy trực tiếp trên truyền hình vệ tinh, trên mạng lưới điện tử. Ngồi trong căn phòng riêng của mình, người ta có thể cảm tưởng như mình đang đứng giữa những đổ nát của động đất, bão lụt hay thậm chí cả cảm giác ngửi được mùi thuốc súng đang nghi ngút ở một trận địa , hay cuồng nhiệt theo với những cổ động viên thể thao đang có mặt tại một sân chơi thể thao quốc tế nào đó. Nói cách khác, về mặt tâm lý, cái tác động tức thời ấy có một ảnh hưởng không nhỏ đến cách nhìn nhận sự việc so với thời mà người ta chỉ được biết đến những sự kiện vào sáng hôm sau, khi cầm tờ báo phát hành trong ngày trên đường vội vã đến sở làm. Mặt khác, phản ứng của người ta trước những sự kiện ấy cũng rất tức thời , nhanh chóng và có những tác động to lớn không kém cái cách người ta đón nhận chúng. Thí dụ như những chế độ độc tài đang tìm cách đàn áp, bịt miệng những tiếng nói dân chủ phản đối lại họ ( như Việt Nam, Trung Quốc . . . ) chẳng hạn. Một sự kiện vừa xảy ra ở những nơi đó, lập tức, nhờ mạng lưới toàn cầu, khắp nơi trên thế giới, những người ủng hộ tự do dân chủ đều đã có đầy đủ thông tin và có những phản ứng thích hợp. Điều ấy làm cho những người phản kháng không cảm thấy cô đơn và yên tâm vững bước trên đường tranh đấu. Ngược lại, phía giới cầm quyền độc tài, cũng phải e dè, tính toán, chứ không dám đàn áp bừa bãi như trước. Và để đối phó với mặt trận thông tin ấy, họ dựng lên những bức tường lửa ( firewalls) bằng kỹ thuật tin học tinh vi.</p>
<p><i>Từ đó, một vấn đề mới được đặt ra. Cùng một lúc, khoa học kỹ thuật phục vụ cho con người và khi nó ở trong tay những thế lực xấu, nó sẽ quay lại không chế con người. Nhận định này không có gì mới, nhưng ở tầm mức phát triển của mạng lưới toàn cầu hiện nay, tình trạng con dao hai lưỡi ấy thực sự đi vào từng ngõ ngách của đời sống con người.</i></p>
<p><b>2.</b></p>
<p><b></b></p>
<p>Hôm giữa tháng hai vừa rồi, 4 đại công ty hàng đầu trong lãnh vực thông tin kỹ thuật toàn cầu của nước Mỹ là Yahoo, Google, Microsoft và Cisco Systems đã phải ra điều trần trước Tiểu Ban về Quan hệ Quốc tế ( International Relations ) tại Hạ Viện Hoa Kỳ về mối quan hệ &quot; mật thiết &quot; (cozy) của họ với cơ quan cảnh sát kiểm soát mạng Internet của Trung Quốc. </p>
<p>Cisco Systems đã cung cấp cho Trung Quốc những trang thiết bị để chính quyền nước này sở hữu một hệ thống kiểm soát mạng lưới toàn cầu &#8211; mà, theo lời các chuyên gia &#8211; thuộc vào loại tinh vi nhất thế giới ( the world&#8217;s most sophisticated government-run Internet-filtering System). Hệ thống này nhằm theo dõi trực tiếp mọi sinh hoạt trong thế giới ảo của hơn 100 triệu người ghi danh xử dụng Internet trong tổng số 1 tỉ 3 trăm triệu người dân Trung Quốc . Đó là chưa kể hằng hà sa số những trang mạng do chính quyền thiết lập nhằm chi phối những giao lưu từ ngoài vào trong , từ trong ra ngoài trên siêu xa lộ thông tin.</p>
<p>Yahoo thì xác nhận rằng họ đã cung cấp tin tức cho nhà cầm quyền ( Trung Quốc ) dẫn đến sự bắt giữ và bản án 10 năm tù dành cho một trong những khách hàng của mình , một ký giả người Trung quốc. Mới đây, Tổ Chức Phóng Viên Không Biên Giới có bản doanh ở Pháp tố cáo Yahoo đã cung cấp những thông tin khiến một nhà hoạt động phản kháng hàng đầu của Trung Quốc phải nhận bản án 8 năm tù bởi nhà cầm quyền Cộng sản Trung Quốc.</p>
<p>Microsoft thì ngăn cản một trang Nhật Ký mạng ( blog) được nhiều người tham dự trên hệ thống MSN vì trang nhật ký này điều hành bởi một ký giả Trung Quốc với chủ trương phê phán nhà cầm quyền Cộng Sản.</p>
<p>Còn Google thì hôm tháng giêng đã lưu hành một ấn bản mới cho hệ truy tìm ( Google Search) rất được ưa thích trong thế giới ảo. Ấn bản mới của Google Search, đặc biệt chỉ dùng ở Trung Quốc, đã không cung cấp cho người có nhu cầu tìm kiếm trên mạng lưới điện tử những nội dung mà nhà nước Cộng sản Trung Quốc ngăn cấm thí dụ như những từ có đề tài liên quan đến cuộc nổi dậy Thiên An Môn, Phong trào Pháp Luân Công, hoặc Phong Trào đòi độc lập ở Tây Tạng v.v..</p>
<p>Cốt lõi của vấn đề &quot; hợp tác kỹ thuật &quot; giữa 4 công ty Hi-tech nói trên với nhà cầm quyền Trung Quốc mà Hạ Viện Hoa Kỳ muốn xoáy vào là khía cạnh luân lý ( morality) của việc hợp tác. Một dân biểu đã so sánh hành động của Yahoo tương tự như việc bắn tin cho Đức Quốc Xã ( Nazis) về nơi ẩn náu của Anne Frank (*).</p>
<p>Các nhà điều hành của 4 công ty này biện luận rằng, mặc dù họ không thích chế độ kiểm duyệt mạng lưới điện tử của nhà cầm quyền Cộng sản Trung Quốc , nhưng họ phải tôn trọng luật pháp nơi xứ sở họ hành nghề. Mặt khác, theo họ, được nhận những thông tin đã bị kiểm duyệt còn hơn là người xử dụng Internet ở Trung Quốc không nhận được thông tin nào cả.</p>
<p>Thực ra, vấn đề chính với các công ty tư bản này là lợi nhuận. Đối với người hoạt động kinh doanh, lợi nhuận trước đã, rồi sau đó hãy nói tới các vấn đề khác. Đó là điều mà các công ty Yahoo, Microsoft, Google và Cisco Systems đã không nhấn mạnh trong cuộc điều trần của họ trước hạ viện Hoa Kỳ.</p>
<p><b>3.</b></p>
<p>Mới đây, Yahoo lại một lần nữa giới thiệu Yahoo bằng tiếng Việt trên mạng lưới toàn cầu, mà họ gọi là Yahoo Việt Nam. Người xử dụng (tiếng Việt ) từ nay có thể mở hộp thư điện tử Yahoo bằng cách gõ vào Yahoo Việt Nam, ghi tên , mật mã như trước đây xử dụng Yahoo tiếng Anh, nhưng với trang Yahoo Việt Nam, tất cả các mệnh lệnh đều bằng tiếng Việt. Và kèm theo đó là những trang quảng cáo, tin tức, giải trí bằng tiếng Việt. Mọi dịch vụ này đều đến từ Việt Nam.</p>
<p>Vấn đề được đặt ra là liệu sự riêng tư ( privacy) vốn được tôn trọng tuyệt đối từ những quốc gia nơi người Việt hải ngoại cư ngụ sẽ ở mức độ nào khi họ xử dụng hệ thống Yahoo lọc ( filtering systems) bằng tiếng Việt trong những hoạt động giao lưu với người trong nước.</p>
<p><i>Tôi vốn không bao giờ đồng tình với quan điểm nhìn đâu &quot; cũng thấy Việt Cộng thâm nhập&quot; xem &quot; Việt Cộng như những phù thủy ba đầu sáu tay pháp thuật cao cường &quot;, nhưng trước sự kiện Trung Quốc đang làm chủ một hệ thống kiểm soát mạng lưới toàn cầu tinh vi vào bậc nhất thế giới với sự cung cấp công nghệ tin học ( cả phần cứng lẫn phần mềm ) của các công ty Hi-tech Hoa Kỳ ( vì lợi nhuận ), tôi cũng không loại trừ khả năng kiểm soát hoạt động Internet một cách</i> <i>hữu hiệu ( trong đó có hoạt động giao lưu về thư từ giữa trong và ngoài nước giữa người Việt với nhau, hay các trang mạng cổ vũ cho việc tranh đấu cho dân chủ ở Việt Nam ) của nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam với các hoạt động vừa nêu. Có tiền mua tiên cũng được. Không ai chối cãi rằng, nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam sẵn sàng dùng tiền của nhân dân để trang bị cho mình những vũ khí tinh xảo nhất hầu bảo vệ thành công sự tồn tại của chế độ, tức sự tồn tại và làm giàu của chính họ cùng với gia đình. Trên mạng lưới toàn cầu, mặt trận mà họ lo sợ nhất hiện nay, vũ khí ấy phải là kỹ thuật tin học .Về phía các công ty sở hữu chủ của những sản phẩm trí tuệ ấy, với bài học Trung Quốc, hẳn nhiên là họ không từ chối những cơ hội khiến giá cổ phần của công ty họ nhảy vọt mỗi ngày.</i></p>
<p>Do đó, không có gì khó hiểu và ngạc nhiên nếu một quốc gia mà theo lời viên Trưởng Văn Phòng Quỹ Tiền Tệ Quốc tế (IMF) tại Việt Nam đã công khai nhận định rằng phải cần tới 197 năm nữa mới có thể theo kịp Singapore về mặt phát triển kinh tế và thu nhập đầu người chỉ có 522 đô la Mỹ 1 năm lại có trong tay một hệ thống Hi-tech tinh xảo vào bậc nhất nhì thế giới ( sau Trung quốc ) để dùng nó làm công cụ kiểm soát, ngăn ngừa, và đàn áp các sinh hoạt tranh đấu cho dân chủ , tự do, nhân quyền trong nước và ngăn chận sự góp sức, chia lửa từ ngoài nước.</p>
<p><b>4.</b></p>
<p>Tất nhiên, dù là ở một xã hội vật chất như nước Mỹ, những thế lực của đồng tiền không phải là vạn năng. Trong tương lai gần, các giới chức lập pháp Hoa Kỳ sẽ có biện pháp để ngăn chặn những việc làm tương tự như của Yahoo, Google , Microsoft, Cisco Systems hiện nay. Một đạo luật đang được thai nghén, trong đó, các công ty dịch vụ Internet sẽ bị giới hạn trong những giao dịch với Trung Quốc và các quốc gia khác mà Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cho là vi phạm các quyền căn bản của con người như tự do tư tưởng, báo chí hay có những biểu hiện vi phạm nhân quyền khác ( trong danh sách đó, hẳn sẽ có tên Việt Nam ) . Chẳng hạn như, các công ty ấy sẽ được khuyến cáo nên dời địa điểm của máy chủ ( network servers) ra khỏi Trung Quốc ( chẳng hạn ) , dù cho việc làm ấy có làm cho thời gian nối mạng chậm lại ( ảnh hưởng đến phương châm làm việc của họ ). Trong thực tế, bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đang tìm cách có biện pháp với việc khai thác các thành tựu trong lãnh vực công nghệ ( technology) Mỹ của Trung Quốc.</p>
<p>Khoa học kỹ thuật phát triển nhằm mục đích giải phóng con người khỏi mọi sự chế ngự của thiên nhiên, và giúp con người cải thiện sinh hoạt hàng ngày của mình, để con người có thì giờ hưởng thụ cuộc sống vốn ngắn ngủi. Nhưng trước hết, khoa học kỹ thuật không thể tiếp tay cho một thiểu số con người chế ngự chính con người ( đa số ) , lại càng không thể tiếp tay duy trì sự tồn tại của thiểu số lấy bạo lực, áp bức làm công cụ cai trị.</p>
<p>Đã đến lúc người ta phải coi trọng hơn nữa những tiêu chuẩn đạo đức có tính phổ quát để hướng dẫn việc xử dụng thành tựu khoa học trong lãnh vực truyền thông , thông tin đại chúng , mà nổi bật hơn hết là mạng lưới toàn cầu. </p>
<p>________________________________________________________________</p>
<p>&#160;</p>
<p>* Anne Frank, tên một cô gái Đức gốc Do thái 15 tuổi bị buộc phải sống lẩn lút dưới hầm trong một tòa nhà ở thành phố Amsterdam, Hòa Lan, trong thời gian đệ nhị thế chiến để tránh sự tàn sát của cơ quan cảnh sát Đức Quốc Xã ( Gestapo). Trong thời gian này, cô đã viết nhật ký. Sau khi cô và gia đình bị bắt và bị đày vào trại tập trung, rồi chết trong trại 8 tháng sau đó, thân nhân may mắn còn sống sót của cô đã cho công bố tập nhật ký này. Tập nhật ký có tên &quot; Nhật Ký Anne Frank &quot; đã mau chóng được cả thế giới biết tới, được dịch sang 67 thứ tiếng và nằm trong danh sách những tác phẩm được biết đến nhiều nhất trên thế giới. Từ đó , cái tên Anne Frank trở thành biểu tượng tố cáo các chế độ độc tài, phi nhân như chế độ Đức Quốc Xã.</p>
<p>© T.Vấn 2006</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2006/05/tinhluan/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Chiến sĩ Trận Vong</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2006/05/chiensi/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2006/05/chiensi/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 13 May 2006 23:23:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[5]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 5 - 2006]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2006/05/chi%e1%ba%bfn-si-tr%e1%ba%adn-vong/453/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2006/05/chiensi/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb3-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image001" title="clip_image001" /></a>&#160;
<i>▪ Ngựa về gục khóc trường giang lạnh</i>
<i>Gươm súng đưa chàng theo núi sông</i>
<i>( Khúc Minh) </i>
<a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image0015.jpg"></a>George Patton, viên tướng lừng danh trong Đệ Nhị Thế Chiến của quân lực Mỹ, đã áp đảo toàn diện quân Đức quốc xã ở Châu Âu, cũng là người nổi tiếng về những lời hiệu triệu với quân sĩ của ông trước những trận đánh quyết định. Ông nói: “ <i>Người lính phục vụ hữu hiệu nhất cho Tổ Quốc mình không phải bằng cách chết cho tổ quốc, mà là chiến đấu hết sức mình để cho những người lính bên phe đối phương phải chết cho tổ quốc của họ.”</i>
<i></i>
Chiến tranh luôn luôn đồng nghĩa với chết chóc và hủy diệt. Vì đó là nhiệm vụ của người lính. <i>Bạc như dân, bất nhân như lính</i>. 
Như Patton đã nói, người lính phải làm[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p><i>▪ Ngựa về gục khóc trường giang lạnh</i></p>
<p><i>Gươm súng đưa chàng theo núi sông</i></p>
<p><i>( Khúc Minh) </i></p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image0015.jpg"><img style="border-right-width: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: 0px; border-left-width: 0px; margin-right: 0px" title="clip_image001" border="0" hspace="12" alt="clip_image001" align="left" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb3.jpg" width="184" height="126" /></a>George Patton, viên tướng lừng danh trong Đệ Nhị Thế Chiến của quân lực Mỹ, đã áp đảo toàn diện quân Đức quốc xã ở Châu Âu, cũng là người nổi tiếng về những lời hiệu triệu với quân sĩ của ông trước những trận đánh quyết định. Ông nói: “ <i>Người lính phục vụ hữu hiệu nhất cho Tổ Quốc mình không phải bằng cách chết cho tổ quốc, mà là chiến đấu hết sức mình để cho những người lính bên phe đối phương phải chết cho tổ quốc của họ.”</i></p>
<p><i></i></p>
<p>Chiến tranh luôn luôn đồng nghĩa với chết chóc và hủy diệt. Vì đó là nhiệm vụ của người lính. <i>Bạc như dân, bất nhân như lính</i>. </p>
<p>Như Patton đã nói, người lính phải làm hết sức để tiêu diệt kẻ thù, đem thắng lợi về cho tổ quốc mình. Nhưng trong chiến trận, cả bên thắng lẫn bên thua, đều có những tổn thương, mất mát. Và cái chết của những người lính trên trận địa – dù bên thắng hay bên thua – đều đáng ngưỡng mộ như nhau. Họ đều đã nằm xuống cho tổ quốc của họ. Họ đều đã đi vào cuộc chiến theo tiếng gọi của đất nước mình, dân tộc mình. </p>
<p>Vì thế, dân tộc nào cũng có ngày Lễ Chiến Sĩ Trận Vong để tưởng nhớ đến những người con của mình đã nằm xuống trên chiến trường.</p>
<p>Cuộc chiến tranh Việt Nam đã phân hóa nước Mỹ không chỉ giữa thế hệ chiến tranh cùng thời, mà còn gây tranh cãi ở cả thế hệ tiếp theo vốn rất mù mờ về những nguyên nhân khiến nước Mỹ đã đem hơn 2 triệu con em mình đi chiến đấu ở một vùng đất xa lạ tên gọi là Việt Nam. Trong số đó, hơn 58 ngàn đã trở về nhà trong những chiếc quan tài có phủ quốc kỳ. Khi chiến tranh chấm dứt, có hơn hai ngàn năm trăm chiến binh Mỹ tuy được báo cáo là chết hoặc mất tích trong chiến trận nhưng vẫn chưa tìm được xác hoặc chứng cứ xác định sự hy sinh của họ.Sau hơn 30 năm nỗ lực tìm kiếm, đến nay vẫn còn 1,870 người (MIAs) chưa được xác nhận .</p>
<p>Mặc cho những tranh cãi kéo dài, mặc cho những vết thương gọi là Hội Chứng Việt Nam vẫn còn mở miệng trong tâm thức thế hệ chiến tranh nay đã chuẩn bị về hưu, mặc cho nỗi ám ảnh về sự thua trận của một nước Mỹ hùng cường trước một đối thủ không cân sức, nước Mỹ vẫn tưởng nhớ đến những đứa con của mình đã nằm xuống trong cuộc chiến tranh ấy. Họ là những người đã hy sinh mạng sống của mình để đáp lời kêu gọi của Tổ Quốc. Nếu sự có mặt của nước Mỹ trên mảnh đất Việt Nam 30 năm về trước là một sự sai lầm, thì sự sai lầm ấy thuộc về các chính trị gia cầm quyền và họ phải chịu trách nhiệm với lịch sử. Đối với người lính, không hề có cuộc chiến tranh sai hay đúng, bởi vì xương máu của họ, sự sống của bản thân họ cùng với gia đình, không thể bị đem ra đánh cược trên một bàn cờ đúng sau thua được. </p>
<p>Tương tự như vậy là cuộc chiến tranh ở Iraq hiện nay. Một lần nữa, nước Mỹ lại đứng trước một cuộc chiến tranh hao tổn nhân lực, vật lực tuy không thực sự xẩy ra ngay trên đất Mỹ. Hàng ngày, các màn ảnh truyền hình truyền đi trực tiếp những cảnh bom đạn , chết chóc trên mảnh đất đầy bạo lực này. Đã có hơn 2,400 lính Mỹ nằm xuống nơi đây, trong đó, có cả một người Việt Nam trẻ tuổi tình nguyện gia nhập lực lượng Thủy Quân Lục Chiến Mỹ (Andrew Dang, 20 tuổi, gia nhập quân đội ngày 13 tháng 4 năm 2003, tử trận tại thành phố Faluja, Iraq, ngày 2 tháng 3 năm 2004 ). Tuy không hoàn toàn đồng ý với quyết định của chính Phủ Bush đưa quân tham chiến ở Iraq, nhưng dân Mỹ luôn trân trọng sự hy sinh của con em mình. Những người mãn hạn nhiệm vụ, sống sót trở về vẫn được đón tiếp như những anh hùng. Những người nằm xuống vẫn được đón tiếp bằng nước mắt, sự biết ơn và lòng ngưỡng mộ. </p>
<p><b><i>Đó là đạo lý của một quốc gia , một dân tộc, một tập thể. </i></b></p>
<p><i>Còn với những người Cộng sản thì sao ?</i></p>
<p>Sau ngày 30 tháng 4 , các nghĩa trang của quân đội miền Nam, nơi chôn cất những người lính đã nằm xuống cho một lý tưởng mà họ theo đuổi, đã bị những người Cộng sản chiến thắng san bằng, cào rỡ để dựng trại lính, xây nhà hoặc trồng tỉa. </p>
<p>Đó là những hành vi độc ác, thiếu văn hóa và không mã thượng. Truyền thống lâu đời của người Việt không tệ mạt như vậy. Chỉ vì những người theo Chủ nghĩa Cộng sản đã mù quáng đi theo một học thuyết khộng tưởng, vô luân, cổ vũ cho hận thù giai cấp nên đã không thừa nhận những giá trị nhân bản nền tảng cho sự tồn tại của thế giới con người. Họ cũng không thừa nhận và tôn trọng cả sự kiện là trong lúc còn chiến tranh, nhiều lần họ chứng kiến quân đội miền Nam – phe thù địch của họ – chôn cất tươm tất những đồng đội của họ đã ngã xuống tại chiến trường theo đúng truyền thống nghĩa tử là nghĩa tận của văn hóa Việt Nam.</p>
<p><i>Sự hy sinh của người lính trên chiến địa, dù ở bất cứ phe nào trong cuộc đối đầu, đều rất đáng được tôn trọng và ghi nhớ.</i></p>
<p>Sau chiến tranh, chế độ cầm quyền ở Việt Nam còn xử dụng số hài cốt lính Mỹ mà họ tìm thấy được như những món hàng mặc cả với chính phủ Hoa Kỳ, không đếm xỉa gì đến nỗi đau của thân nhân cha mẹ vợ con những người lính ấy, họ vẫn ngày đêm trông chờ được nhìn thấy dù chỉ là một đốt xương, chút kỷ vật quen thuộc để yên lòng rằng , quả thật người thân của họ đã không còn sống trên trần gian này.</p>
<p>Cũng những con người biến chất vì hận thù giai cấp ấy, bây giờ chính thức lên tiếng rêu rao về con số 300 ngàn bộ đội mất tích, tử thương trong chiến tranh đến nay vẫn chưa tìm được nơi họ đã nằm xuống hoặc những nấm mồ chôn vội vã với những dấu mốc cắm sơ sài nên đã hoàn toàn mất dấu. Tất nhiên, nỗi đau của thân nhân 300 ngàn tử sĩ nói trên cũng giống như nỗi đau của bất cứ một con người nào trên thế giới này có con em chồng cha chết trận. 30 năm qua, những người thân của họ cũng đã sẵn sàng tốn công tốn của để đi tìm, nhưng ngược lại với những người cùng cảnh ngộ bên Mỹ, họ không hề nhận được sự trợ giúp nào – hoặc nếu có thì rất nhỏ, không đáng kể &#8211; về phía chính quyền, những người đề xướng ra cuộc chiến tranh ấy để con em của họ phải hy sinh.</p>
<p>Thân nhân của những tử sĩ trong quân đội miền Nam lại càng thêm phần chua xót. Họ đã không còn một chính quyền để giúp họ trong công cuộc tìm kiếm chút dấu vết còn lại của người mất tích. Thậm chí, cuộc sống hàng ngày của họ còn bị đe dọa, hạn chế vì có con em chồng cha đi lính rồi hy sinh cho quân đội miền Nam.</p>
<p>Nhưng dù ở bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào, người ta cũng không được phép quên chồng cha con em của mình đã hy sinh trong cuộc chiến . Đạo lý con người, dù thuộc bất cứ nền văn hóa nào , cũng không cho phép người ta được coi nhẹ bổn phận ấy. Chính vì thế, mà chủ nghĩa cộng sản phi nhân vô thần phải bị cáo chung.</p>
<p>Nỗi đau của chiến tranh thì vô tận. Bởi vì lịch sử nhân loại được viết bằng máu và nước mắt của con người trải qua nhiều thế hệ, với những lỗ hổng chỉ được lấp đầy bởi hằng hà sa số xác người nằm xuống trên chiến địa. Bao lâu còn lịch sử nhân loại, sẽ vẫn còn những cuộc chiến tranh, vì đó là hoạt động tất yếu và cách thức chứng minh sự tồn tại duy nhất của mọi quần thể chủng tộc. Và tất nhiên, đội ngũ những oan hồn tử sĩ chập chờn trong cõi vô hình sẽ ngày một thêm đông đảo. </p>
<p><b><i>Không tôn trọng và tưởng nhớ những người lính đã nằm xuống cho sự tồn tại của một tập thể, một quốc gia, một dân tộc, thì tập thể ấy, quốc gia ấy, dân tộc ấy chỉ là một đàn thú hoang tụ tập nhau lại nhằm mục đích đi kiếm mồi</i></b> <b><i>mà thôi</i></b>.▄</p>
<p>© T.Vấn 2006</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2006/05/chiensi/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
