<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>T.Van &#187; Tháng 7 &#8211; 2006</title>
	<atom:link href="http://t-van.net/wordpress/category/thang7/2006-7/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://t-van.net/wordpress</link>
	<description>Trang Nha T.Van</description>
	<lastBuildDate>Fri, 03 Sep 2010 04:56:07 +0000</lastBuildDate>
	<generator>http://wordpress.org/?v=2.8</generator>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
			<item>
		<title>Sài Gòn và Hoàng Ngọc Tuấn</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2006/07/saigonva/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2006/07/saigonva/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 29 Jul 2006 02:34:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[7]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 7 - 2006]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2006/07/si-gn-v-hong-ng%e1%bb%8dc-tu%e1%ba%a5n/554/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2006/07/saigonva/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb10-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image001" title="clip_image001" /></a><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00112.jpg"></a>
● Gởi người bạn trẻ N. ở Sài Gòn
● Mai ta chết dưới cội đào
Khóc ta xin nhỏ lệ vào thiên thu
( Đưa em tìm Động Hoa Vàng – Phạm Thiên Thư )
 
 
● Lời người viết : Đã đến ngày giỗ đầu của nhà văn Hòang Ngọc Tuấn. Ông chết ngày 9 tháng 7 năm 2005 tại Sài Gòn. Nhân đọc được một tin trên báo ở Sài Gòn như sau :
 



SÁCH “BEST SELLER” CỦA&#8230; NGƯỜI ĐÃ KHUẤT!









<a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00233.jpg"></a>
Gần đúng 1 năm sau ngày nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn qua đời (ngày giỗ 4/6 âm lịch), NXB Trẻ vừa tái bản tập truyện ngắn Hình như là tình yêu của anh (trước đó NXB Trẻ đã từng tái bản tác phẩm của Hoàng Ngọc Tuấn vào những năm 1989, 1996, 2000&#8230;). 
Hình như là tình yêu là tuyển truyện tập hợp[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00112.jpg"><img style="border-right-width: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: 0px; border-left-width: 0px; margin-right: 0px" title="clip_image001" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb10.jpg" border="0" alt="clip_image001" hspace="12" width="144" height="179" align="left" /></a></p>
<p>● <em>Gởi người bạn trẻ N. ở Sài Gòn</em></p>
<p><em>● Mai ta chết dưới cội đào</em></p>
<p><em>Khóc ta xin nhỏ lệ vào thiên thu</em></p>
<p><em>( Đưa em tìm Động Hoa Vàng – Phạm Thiên Thư )</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>● <span style="text-decoration: underline;">Lời người viết</span> : Đã đến ngày giỗ đầu của nhà văn Hòang Ngọc Tuấn. Ông chết ngày 9 tháng 7 năm 2005 tại Sài Gòn. Nhân đọc được một tin trên báo ở Sài Gòn như sau :</em></p>
<p><em> </em></p>
<table border="0" cellspacing="0" cellpadding="0">
<tbody>
<tr>
<td width="428" valign="top">SÁCH “BEST SELLER” CỦA&#8230; NGƯỜI ĐÃ KHUẤT!</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<table border="0" cellspacing="0" cellpadding="0">
<tbody>
<tr>
<td width="428" valign="top"></td>
</tr>
<tr>
<td valign="top"><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00233.jpg"><img style="border-right-width: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: 0px; border-left-width: 0px; margin-right: 0px" title="clip_image002" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb32.jpg" border="0" alt="clip_image002" hspace="10" width="144" height="202" align="left" /></a></p>
<p><em>Gần đúng 1 năm sau ngày nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn qua đời (ngày giỗ 4/6 âm lịch), NXB Trẻ vừa tái bản tập truyện ngắn Hình như là tình yêu của anh (trước đó NXB Trẻ đã từng tái bản tác phẩm của Hoàng Ngọc Tuấn vào những năm 1989, 1996, 2000&#8230;). </em></p>
<p>Hình như là tình yêu là tuyển truyện tập hợp những truyện ngắn hay nhất của Hoàng Ngọc Tuấn viết trước 1975: Hình như là tình yêu, Sinh nhật, Cô bé treo mùng, Tiếng hát hoang đường, Mai Khôi, Thiên đường nhỏ dại, Khi thương màu lá, buổi chiều Hạ Lan, Tiểu muội&#8230; Dù được viết từ hơn 30 năm trước nhưng những truyện ngắn của Hoàng Ngọc Tuấn vẫn đầy sức cuốn hút với thế hệ trẻ hôm nay bởi một giọng văn trong sáng và giàu tình cảm lồng trong những chuyện tình hết sức lãng mạn, đầy chất thơ. Sinh thời, Hoàng Ngọc Tuấn sống lặng lẽ, đơn độc&#8230;; hiện tượng sách của anh trở thành &#8220;best seller&#8221; âu cũng đền đáp lại một chút gì đó cho người đã khuất!</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p><em>Mảnh tin nhỏ trên báo lại làm tôi bâng khuâng, bèn lục lại bài viết về ông năm ngóai, trong lúc còn ở Việt Nam, như một nén hương thắp nhớ đến ông nhân ngày giỗ đầu của một nhà văn thần tượng của tuổi trẻ Việt nam trong suốt nửa cuối thập kỷ 1960 cho đến nửa đầu thập kỷ 1970.</em></p>
<p><em>Một lần nữa, tôi xin hẹn gặp ông “ <strong>ở một nơi ai cũng quen nhau</strong> “.</em></p>
<p><em>T.Vấn</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>______________________________________</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>Như vậy là nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn đã qua đời ở tuổi xấp xỉ 60 trong những ngày tôi có mặt ở Sài Gòn. Nói cách khác, nếu tôi biết được tin đó, chắc chắn là tôi sẽ dò hỏi để tìm đến nhà ông, đốt cho ông một nén hương. Nén hương của một người ông không hề quen biết, một độc giả mỗi lần nhớ đến những kỷ niệm thời trai trẻ của mình là lại nhớ đến những truyện ngắn tuyệt vời của ông, những nhân vật của ông và cái tên : Hoàng Ngọc Tuấn.</p>
<p>Một buổi sáng nhàn nhã trong mấy tuần lễ đưa các con tôi về Việt Nam thăm gia đình, tôi mượn thằng em chiếc xe “A Còng“ len lỏi giữa rừng xe hối hả hỗn loạn như người Sài Gòn chính tông để đến một trong những quán cà phê quen thuộc với tôi từ những ngày tôi còn lang thang vất vưởng ở thành phố này mười mấy năm về trước.Vẫn thói quen cũ tưởng chừng như không hề có quãng thời gian gián đoạn bao nhiêu năm, tôi dừng lại bên lề đường, mua mấy tờ báo phát hành trong ngày, rồi đủng đỉnh gởi xe, vào quán , kéo ghế ngồi xuống, gọi một ly cà phê đá ( <em>em làm ơn pha nhạt</em> <em>nhạt cho tôi nhé !</em> – khác hẳn với ngày xưa là lời yêu cầu cà phê <em>phải pha thật đậm</em> .), vất cái chìa khóa xe lên bàn ( không có gói thuốc lá và chiếc hộp quẹt Gas kèm theo ), rồi mở báo ra đọc.</p>
<p>Hàng chữ in đậm “ <strong>Hình Như Là Tình Yêu</strong> “ đập vào mắt tôi.</p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00413.jpg"><img style="border-right-width: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto" title="clip_image004" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image004_thumb12.jpg" border="0" alt="clip_image004" hspace="12" width="161" height="244" /></a></p>
<p><strong><em>Tập truyện ngắn Hình Như Là Tình Yêu của nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn vừa được nhà xuất bản Trẻ in lại, như một nén tâm hương gửi đến tác giả vừa mất tròn mươi ngày.</em></strong></p>
<p>Tôi biết tin ông chết trong hoàn cảnh như vậy. Hệt như gần 40 năm về trước, tôi biết đến và say mê những truyện ngắn của ông cũng ở những quán cà phê cả vỉa hè lẫn ghế mây, vừa đọc vừa trầm tư những hình bóng cô gái trong mơ qua làn khói thuốc đen, vừa ngó bâng quơ ra “ <em>đường phố nhảy múa với màu áo và hình người qua lại. Khi ngọn đèn ở ngã tư đường bật sang màu xanh, đoàn xe cộ hối hả hướng về phía</em> <em>trước chen chúc nhau trong tiếng còi ồn ào. Con đường của thành phố bao giờ cũng quay cuồng trong tiếng động náo nhiệt . . . “ ( Hình như là tình yêu – Hoàng Ngọc Tuấn).</em></p>
<p>Hơn 40 năm qua đi, sau khi đã trải nhiều những cuộc gặp gỡ vừa “ <em>hình như là tình</em> <em>yêu *</em> “ vừa “ <em>thực sự là tình yêu</em> “ , sau khi đã nhiều phen chết lên chết xuống vì cái gọi là tình yêu , sau khi đã được ma đưa lối, bị quỷ đưa đường , lần mò đến căn “ <em>nhà có hoa Mimosa vàng *</em> “ , cầm được tay “ <em>cô bé treo mùng</em> * “ , để rồi “ <em>cuối cùng như em muốn</em> * “ , tôi ngu si ngỏ “ <em>lời cầu hôn</em> * “ , và rồi điều phải đến đã đến, một “ <em>hôn lễ</em> &#8220;  đã được cử hành trong đó có tôi là nhân vật chính, và cũng sau bao nhiêu những thăng và trầm của đời sống, tôi đã đi xa và đã trở về, tóc đổi màu, mắt nặng nề cặp kính lão, ngồi cô đơn bên lề thành phố cũ , đọc được tin về cái chết của một người mà cả tuổi trẻ Sài Gòn những năm 70s không ai là không biết tới.</p>
<p>Tôi ngước nhìn đường phố quen thuộc. Vẫn cái ồn ào hỗn độn của 40 năm về trước. Vẫn “ <em>quay cuồng trong tiếng động náo nhiệt</em> “ như trong một đoạn văn của Hoàng Ngọc Tuấn . Và những con người trẻ tuổi đang hăm hở góp phần của mình trong dòng sống bất tận ngoài kia, phải chăng họ là kết quả của những mối tình có mầm mống từ những trang viết về tình yêu nóng bỏng, ướt đẫm một thời, những tập truyện ngắn , mà, có một thời ( để yêu), những người trẻ Sài Gòn nhịn ăn lấy tiền mua sách tặng nhau, như cố tìm trong ấy cái ẩn dụ về hai kẻ <em>hình như . . . đã yêu</em> <em>nhau</em>, cái ẩn dụ về một thành phố ( Sài Gòn) , nơi ấy , <em>ai cũng . . . quen nhau</em>, cái ẩn dụ về một cuộc chiến dai dẳng khiến cho có những người chưa kịp có một thời để yêu đã vội bước chân vào nơi ( gió cát ) , <em>ở đó, họ- những người trẻ Sài Gòn 40 năm về trước &#8211; chỉ có một thời để chết và một thời để nhớ mãi khôn nguôi</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>.</em></p>
<p><strong><em>Nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn</em></strong></p>
<p><strong><em> </em></strong></p>
<p>Tờ báo đưa cái tin ông mất đề ngày 22 tháng 7 năm 2005, với câu văn ngắn ngủi đến phát bực “ <em>vừa mất tròn mươi ngày “**</em> . Tôi trả tiền cà phê, hỏi cô chủ quán trông chưa già lắm , vừa hỏi vừa đưa tờ báo có in hình tập truyện ngắn “ Hình như là tình yêu “ dầy 500 trang vừa được nhà xuất bản Trẻ ở Sài Gòn tái bản lại , <em>em có</em> <em>biết cái ông già viết quyển sách này chết hồi nào không</em> ? Cô chủ quán nheo nheo mắt nhìn , rồi ngượng nghịu lắc đầu : <em>dạ, cháu không biết ! mà cháu cũng chả biết ông này là ai!</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>Tôi cám ơn cô gái, bước vội qua bên kia đường, len lỏi giữa những dòng xe dầy kìn kịt, bước vào một nhà sách khá lớn , đầy ắp những cậu thanh niên, những cô thiếu nữ ra dáng dấp sinh viên. Tôi thấy ai cũng chăm chú đọc một quyển sách nào đó. Thì ra họ đang đọc cọp, vì sinh viên làm sao có tiền mua đủ những quyển sách mà mình thích. Tôi tìm đến kệ sách truyện, với tay cầm quyển <strong>Hình Như Là Tình Yêu</strong> còn thơm mùi mực mới, tiện thể hỏi bâng quơ một cậu trai xớ rớ gần đó, <em>Này em, em có</em> <em>bao giờ đọc tác giả này không ? ông ấy viết về tuổi trẻ hay lắm</em> ! Cậu bé mặt đầy những mụn dậy thì, ngơ ngác nhìn tôi rồi nhìn quyển sách, <em>dạ không! Cháu chỉ thích</em> <em>Nguyễn Nhật Ánh thôi</em>! Tôi vẫn chưa chịu thua. <em>Mà hình như ông ấy vừa mới chết thì</em> <em>phải ? em có đọc báo Tuổi Trẻ thường không</em> ? Mặt cậu bé cởi mở hơn. <em>Ngày nào</em> <em>cháu cũng đọc đủ loại báo hết chú</em>. Tôi vớt vát lần cuối. <em>Vậy em có để ý đến cái tin</em> <em>báo đăng ông ấy chết không</em> ? Cậu bé cười hồn nhiên. <em>Ai mà để ý đến chuyện sống</em> <em>hay chết của mấy ông viết truyện hả chú? Mà mấy ông nhà báo cũng không huởn mà</em> <em>đăng đâu chú ơi</em>! Tôi trả cậu bé lại với những quyển sách đọc cọp dở dang, bỏ tập truyện ngắn của Hòang Ngọc Tuấn vào kệ , mắt bắt gặp một loạt những quyển truyện của Nguyễn Nhật Ánh được in thật đẹp, thật “ sang trọng “ , nằm kiêu sa bên quyển sách cô độc của Hoàng Ngọc Tuấn ( nhưng ít nhất, sách của Hoàng Ngọc Tuấn đã được tái bản ).</p>
<p><em>Vậy là thời của những kẻ như tôi đã hết</em>. Tuổi trẻ Sài Gòn bây giờ đã có những thần tượng mới. Những người trẻ yêu nhau bây giờ đã có những cách tỏ tình mới. Buồn bã vì những ý tưởng đó, tôi bỏ dự định nhờ một người bạn học cũ sống ở Sài Gòn hỏi lại toà soạn tờ báo về ngày qua đời của Hoàng Ngọc Tuấn.</p>
<p>Thực ra, không phải đợi đến những ngày giáp mặt lại với cái thành phố đầy ắp những kỷ niệm một thuở ấu thời tôi mới nhận ra rằng Hoàng Ngọc Tuấn của tôi đã chết từ tháng 4 năm 1975 rồi. Trước đó, một cách tình cờ , tôi đọc được bài viết của một người bạn của ông hiện còn sống ở Việt Nam . Bài viết kể lại , sau 1975, ông vẫn sống ở Sài Gòn, một cuộc sống hết sức thiếu thốn và vất vả. Ông không còn viết được bất cứ một truyện ngắn nào nữa cả. Những năm 1980s, cuộc sống của ông có phần khấm khá nhờ được tờ báo lớn nhất thành phố đặt hàng cho ông viết đủ loại bài : Tin tức điện ảnh, người mẫu, bóng đá, quyền anh, các loại tiểu phẩm có xuất xứ từ những tờ báo ngoại quốc nhập chui v..v… Dạo sau này, với sự phát triển của mạng lưới Internet, cuộc mưu sinh bằng lối viết bài như của Hoàng ngọc Tuấn không còn ăn khách nữa, ông quay sang đắp đổi qua ngày bằng những bài kể chuyện cổ tích, những mẩu chuyện vui cười, gửi cho các tờ báo thiếu nhi, khi được đăng, khi không với đồng nhuận bút khá khiêm tốn . Những năm cuối đời ông tiều tụy vì chứng bệnh nan y, và vẫn còn độc thân. Một trong những người viết chuyện về tình yêu hay nhất của thời đại đã sống độc thân cho đến lúc nhắm mắt lìa đời. Trong khi đó, những kẻ say mê văn ông thì đã – dù đôi lúc con tim có bùi ngùi – nên vợ nên chồng, có con có cái thành đạt , trưởng thành, và chúng cũng đã từng thích thú với những tập truyện ngắn của ông được đặt trang trọng trên những giá sách ở nhà cha mẹ ( như trên kệ sách của kẻ viết bài này . Cũng chẳng lạ gì khi nhà thơ tình tuyệt vời nhất thế kỷ Phạm Thiên Thư lại là một nhà sư. Những ngày ở Sài Gòn, tôi vẫn không thu xếp nổi lấy một buổi để đến quán cà phê Phạm Thiên Thư , dù một người bạn mới quen đã có nhã ý đưa tôi đến gặp ông để nhận trực tiếp từ tay ông một tập thơ mới nhất (?), nghe nói, nhà thơ tình thần tượng của tôi nay đã có gia đình riêng như mọi người. Tôi nghĩ, có như thế mới hợp với lẽ đời &#8211; và cả lẽ đạo nữa ).</p>
<p>Thôi thì, dù sao tôi cũng đang có mặt tại thành phố của ông và của tôi, thành phố mà chúng ta đã có những năm tháng không thể quên. Từ thành phố này, ông đã viết nên những tác phẩm để đời , để đời cho tên tuổi ông và cho cả tuổi trẻ của chúng tôi. Chúng tôi mang ơn ông, và tôi tin rằng, ở một nghĩa nào đó ông cũng mang ơn chúng tôi, bằng cớ, sau khi chúng tôi không còn ở thành phố này nữa( đi tù, vượt biên, xuất ngoại v..v.. ), ông đã thôi không viết ( ít nhất là những truyện về tình yêu ) . Bây giờ, thân xác bọt bèo của ông đã thực sự tan biến vào hư không. Nhưng tên của ông và những điều ông viết, vẫn còn đó, vừa trên giá sách vừa trong tâm tưởng người đọc. Với chúng tôi, những kẻ cùng thời với ông, ông và tác phẩm của ông vẫn chiếm một chỗ trang trọng . Với tuổi trẻ Sài Gòn hôm nay, họ không biết ông nhiều mà chỉ biết có Nguyễn Nhật Ánh, nhưng một người bạn của ông bám trụ Sài Gòn từ dạo ấy , chẳng nói rằng, Nguyễn Nhật Ánh phần nào có hơi hướng của Hoàng Ngọc Tuấn đó sao.</p>
<p>Vậy xin ông hãy thanh thản ra đi. Hay đúng hơn, xin ông hãy thanh thản trở về nơi mà từ đó, gần 6o năm xưa ông bước chân ra đi đem theo hạnh phúc đến cho đời này, nơi đó, như tên một tác phẩm của ông , là “ <em>một nơi ai cũng quen nhau .”</em></p>
<p><strong><em>Thưa nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn, sớm muộn gì tôi cũng sẽ đi gặp ông và chúng ta sẽ làm quen với nhau nơi đó, phải không ?</em></strong></p>
<p><strong><em> </em></strong></p>
<p>T. Vấn</p>
<p>Sài Gòn, Việt Nam – Wichita, Hoa Kỳ</p>
<p><strong>*</strong> <em>Những chữ trong ngoặc kép và in nghiêng là tên những truyện ngắn nổi tiếng của Hoàng Ngọc Tuấn. </em></p>
<p><strong><em>**</em></strong><em> Mãi cho đến khi bài này được hoàn tất, người viết – trong lúc lang thang vào trang Diễn Đàn Đặc Trưng ở trên mạng, tình cờ đọc được mẩu tin của chị Bích Huyền nói về cái chết của nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn – mới biết đích xác là ông qua đời vì ung thư thực quản vào lúc 15 giờ ngày 9 tháng 7 năm 2005 tại Sài Gòn. Linh cửu nhà văn đã được đưa về quàn ở chùa Long Hoa , Quận 10 và dự tính sẽ hỏa táng tại Bình Hưng Hòa. Bức hình chân dung nhà văn cũng được lấy từ bài viết của chị Bích Huyền trên trang mạng Đặc Trưng. Xin lỗi chị Bích Huyền đã không xin phép trước. ( T. Vấn).</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>© T.Vấn 2006</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2006/07/saigonva/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Sài Gòn và những trang sách cũ</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2006/07/saigonvanhung/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2006/07/saigonvanhung/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 13 Jul 2006 02:28:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[7]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 7 - 2006]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2006/07/si-gn-v-nh%e1%bb%afng-trang-sch-cu/547/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2006/07/saigonvanhung/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb31-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image002" title="clip_image002" /></a>khi cầm những quyển sách cũ trên tay, tôi không chỉ nghĩ đến giá trị văn hóa tư tưởng mà chúng hàm chứa đã khẳng định sự tồn tại cần thiết của chúng, mà còn trân trọng cả những trang giấy ố vàng, những cái gáy sách sờn bạc, vì những dấu vết quá khứ ấy là chứng tích của bao nhiêu con người, trải qua bao thời đại, đã từng đặt bàn tay mình trên những trang sách, đã từng trăn trở suy tư, đã từng băn khoăn thao thức. Ở một nghĩa nào đó, với tôi, những quyển sách cũ ẩn dấu sự sống của một lịch sử dân tộc, sự tồn tại tâm linh của một nền văn hóa . . .]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00232.jpg"><img style="border-right-width: 0px; margin: 0px 10px 0px 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="clip_image002" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb31.jpg" border="0" alt="clip_image002" width="244" height="185" align="left" /></a></p>
<p>●<em>T.Vấn</em></p>
<p>● <em>Đừng tưởng rằng sau một cuộc phần thư, cái còn lại chỉ là đống tro </em></p>
<p><em>tàn của quá khứ . . .</em></p>
<p>Ngày xưa, ở nước Trung Hoa phong kiến, có bạo chúa Tần Thủy Hoàng đốt sách , chôn học trò. Ngày nay, ở Việt Nam giữa thế kỷ 20 , cũng có những bạo chúa đi theo con đường dại dột của Tần Thủy Hoàng, cũng đốt sách, cũng tìm cách chôn học trò ( trí thức ) bằng những hình thức trấn áp, lưu đày, cưỡng bức.</p>
<p>Dù cuộc đốt sách chôn học trò của Tần Thủy Hoàng có tàn bạo đến đâu, thì nước Trung Hoa vẫn còn giữ được những di sản văn hóa, lưu truyền những tư tưởng sáng chói khiến ngày nay cả thế giới ngưỡng mộ, tìm hiểu và học hỏi.</p>
<p>Thế còn cuộc đốt sách , tiêu diệt hết những văn hóa phẩm, &#8221; <em>những tàn dư, nọc độc của nền văn</em> <em>hóa Mỹ Ngụy đồi trụy</em> &#8221; của những Tần Thủy Hoàng tân thời thì sao ?</p>
<p><strong> </strong></p>
<p><em>Đừng tưởng rằng sau một cuộc phần thư, cái còn lại chỉ là đống tro tàn của quá khứ !</em></p>
<p>Đó là ý nghĩ cứ chập chờn trong đầu tôi trong những ngày tháng 7 nắng cháy da ( năm rồi), có mặt ở Sài Gòn, mỗi ngày đều say mê bước vào những cửa hàng sách cũ trên đường Hồng Thập Tự cũ ( nay là Nguyễn thị Minh Khai ), tay mân mê những quyển sách giấy đã ố vàng, mắt nhắm lại mà như thấy hết những ngày ấy Sài Gòn, mũi hít sâu cái mùi giấy cũ ẩm mốc, và tâm tư là của anh học trò nghèo gần 40 năm về trước, mê sách hơn bất cứ thứ gì trên đời.</p>
<p>Con đường Hồng Thập Tự cũ, chỗ có tòa nhà rất lớn của Hội Hồng Thập Tự Việt Nam ( nay là trụ sở một công ty trang trí nội thất ), ngó qua bên kia là bệnh viện phụ sản Từ Dũ, lúc nào cũng đông đảo người qua lại. Đây là quãng đường quen thuộc của tôi trong suốt 7 năm mài đũng quần ( vá) trên ghế Trung Học ở trường Petrus Ký . Nhiều năm sau đi lại cũng trên con đường ấy, tôi như người mộng du. Phố xá đã thay đổi quá nhiều ( <em>bao nhiêu năm rồi chứ đâu phải mới</em> <em>hôm qua</em> ) , hàng cây hai bên đường có chỗ đã bị đốn đi , thay vào bằng những cây trẻ hơn. Quán cà phê ghế đẩu trong sân che của một biệt thự cũng không còn nữa ( tất nhiên!). Nhưng dường như bây giờ khúc đường này có nhiều nhà sách hơn. Từ những nhà sách lớn có các cô gái trẻ bán hàng tha thướt trong những chiếc áo dài xanh ( nhưng khuôn mặt thì luôn thiếu vắng nụ cười) cho đến những quán sách nhỏ hơn , có tính cách gia đình . Và bên cạnh đó, là những cửa hàng sách cũ, chật hẹp, ẩm mốc . Ở đây, người ta có thể tìm lại được những quyển sách hiếm hoi xuất bản từ những năm 60s hay 70s ở Sài Gòn mang tên những nhà xuất bản An Tiêm, Lá Bối, Khai Trí, Giao Điểm, Văn .v..v.. Chúng lẫn ở trong hàng hàng lớp lớp sách cũ chồng lên nhau, nhưng khi hỏi chủ nhân tiệm sách tên một quyển sách nào đó, tôi ngạc nhiên khi nhận được câu trả lời rất quả quyết là họ có hay không có quyển đó. Chứng tỏ , tuy không sắp xếp sách vở theo một thứ tự khoa học, nhưng người bán biết và nhớ những gì họ có.</p>
<p><em>Và cả khả năng thẩm định giá trị những quyển sách cũ hằng 30 năm, 40 năm nữa. </em></p>
<p>Cầm quyển Ý Thức Mới Trong Văn Nghệ và Triết Học của Phạm Công Thiện ( quyển sách đã là sách gối đầu giường của rất nhiều người trẻ những năm ấy ) do nhà An Tiêm (hay Lá Bối ?) xuất bản khoảng năm 1964 hay 1965 ở Sài Gòn, gáy đã long được dán lại bằng nhiều lớp băng keo ( tape) , trang trong có nhiều chỗ bị mối mọt lỗ chỗ, chủ nhân của nó cho tôi biết đây là quyển thứ hai ông &#8221; có &#8221; được. Quyển thứ nhất ông đã &#8221; nhượng &#8221; lại cho một người quen với giá ba trăm ngàn Việt Nam ( tương đương 20 đô la Mỹ), mà quyển ấy so với quyển tôi đang cầm trên tay còn tệ hơn nhiều : mất trang, bìa chỉ là một tờ giấy trắng với tên tác phẩm viết bằng tay. Tôi còn hỏi ông một số tác phẩm nổi tiếng khác thời ây, ông trả lời vanh vách và cho biết, phần lớn ông đều đã có cơ hội &#8221; cầm xem lại &#8221; , và , một cách hãnh diện , ông cho biết, &#8220;hiện nay chúng đã nằm rất trang trọng trong những tủ sách ở rải rác khắp nơi trên toàn thế giới.&#8221;</p>
<p>Ở một tiệm sách cũ khác, cũng ở gần đó, tôi nhìn thấy có vài số tạp chí Thiếu Nhi của ông Nguyễn Hùng Trương ( tức ông Khai Trí, chủ nhân nhà sách Khai Trí lớn nhất Sài Gòn thời ấy. Ong Khai Trí vừa qua đời ở Sài Gòn hồi đầu năm ngóai ) và nhà văn Nhật Tiến xuất bản từ năm 1971. Chủ nhân cho tôi biết, họ vừa bán xong nguyên bộ tạp chí Thiếu Nhi nhiều tập, vì thế tôi chỉ còn thấy vài quyển lẻ nằm đó. Họ cũng vui vẻ chỉ cho tôi qua gian hàng sách cũ bên kia đường, nơi đó, tôi có thể tìm thấy nhiều hơn những quyển sách cũ. Và nơi đây, cha con tôi đã say mê lê la ngồi phệt xuống đất cầm từng số báo Tuổi Ngọc của nhà văn quá cố Duyên Anh. Với con tôi, đó là những hình vẽ con gái mà nó cho là &#8221; cool &#8221; , và nhất là hàng chữ ngoài bìa mỗi số báo : <em>Tuổi Ngọc, tuần báo của tuổi vừa lớn. </em>Nó<em> </em>nghĩ rằng sẽ tìm thấy nhiều điều thú vị trong đó. Còn tôi, là cảm giác nôn nao khó tả, khi lật từng trang giấy ố vàng, thỉnh thoảng bắt gặp đôi hàng chữ viết tay ( chỉ là ngày tháng, hay một hai câu thơ mơ mộng, hay đơn giản chỉ một cái tên . . . con gái ), mà mường tượng ra chủ nhân trước đây của những số báo Tuổi Ngọc này là những cô cậu mới lớn ngày ấy, nay , nếu còn sống, hẳn đã là những ông lão, bà lão già nua tóc bạc ( như tôi ). Lật vội qua những trang thư độc giả, tôi bắt gặp vài cái tên nay đã trở nên quen thuộc với độc giả trẻ trong nước. Tôi cũng nhìn thấy tên một người bạn học từ năm đệ thất ( lớp 6 ) ở Petrus Ký. Một cây bút học trò rất có hạng trên các trang bích báo ( báo tường ) của lớp, báo Xuân của trường. Ước ao của anh khi lớn lên sẽ trở thành nhà văn chuyên viết truyện cho tuổi thơ, mặc dù, tuổi thơ của anh rất ảm đạm. Mẹ chết sớm, bố là phu đạp xích lô, và không buổi chiều nào ông trở về nhà mà không say khướt. Nhưng đến năm đệ ngũ ( lớp <img src='http://t-van.net/wordpress/wp-includes/images/smilies/icon_cool.gif' alt='8)' class='wp-smiley' /> , sau một buổi đánh nhau dữ dội có đổ máu với băng du đãng khu vực Nguyễn Hoàng của một nhóm học sinh Petrus Ký, mà anh bạn tôi là người cầm đầu, lớp Ngũ 6 của Petrus Ký chúng tôi mất luôn người bạn nhà văn học trò. Anh bỏ học mà cả lớp không ai hiểu nguyên do. Rồi những giờ học căng thẳng của của một trường trung học luôn luôn có tỉ số học sinh thi đậu tú tài cao nhất thành phố đã cuốn chúng tôi chìm nghỉm trong những trang vở học trò. Anh bạn nhà văn thời hoa niên cũng ra khỏi tâm trí tôi hằng mấy chục năm. Chỉ đến hôm nay, sau bao nhiêu chặng đường đời có đầy đủ nước mắt nụ cười, về lại thành phố tuổi thơ , đi trên con đường đi học ngày nào, cầm quyển báo ố vàng thấy tên bạn mình tôi mới nhớ rằng mình đã có một người bạn như thế. Thành thực mà nói, nếu bây giờ chúng tôi có gặp lại nhau đâu đó, chưa chắc chúng tôi đã nhận ra nhau.</p>
<p>Khệ nệ ôm nguyên một chồng báo Tuổi Ngọc trên tay, tôi nói bâng quơ với chủ nhân cửa hàng sách cũ về những đợt thu gom sách báo chế độ cũ hồi 1975 của chính quyền cộng sản sau khi tiếp thu Sài Gòn, những buổi các cán bộ văn hóa thành phố, phường khóm phát động thanh niên sinh viên học sinh gom sách báo lại và đốt như đốt những uế vật ghê tởm. 30 năm, một cuộc phần thư với mưu toan chôn vùi lịch sử trong những đống tro tàn, chôn vùi những thành tựu văn hóa của một nửa nước Việt Nam vì sợ rằng với tính đa dạng, phóng khoáng, nhân bản và tự do của nó, kẻ thắng trận trên mặt trận quân sự sẽ trở thành kẻ bại trận ngay trên mảnh đất mình vừa chiếm đoạt trên một mặt trận khác . Nhưng vô ích. Những thứ tôi đang có trên tay là một chứng minh. Chúng đã sống sót như chúng tôi đã sống sót. Với sự bảo bọc nuôi dưỡng của lòng dân. Bất giác tôi nhớ đến những chuyến xe lửa chuyển tù từ Bắc trở lại miền Nam những năm 82, 83. Chuyến ra Bắc, chúng tôi bị nhốt trong những toa chở súc vật hay hàng hóa. Đi ngang qua những địa danh nổi tiếng trong cuộc chiến tranh vừa qua trên lãnh thổ phía Bắc, chúng tôi được dàn chào bằng những viên gạch ném lên từ hai bên đường. Hơn 5 năm sau , trên đường trở lại quê nhà, chúng tôi cũng được dàn chào một cách cuồng nhiệt hơn bằng những gói bánh, trái cây, thuốc lá ném tới tấp vào cửa sổ xe lửa từ những con người mà 5 năm trước có lẽ cũng là họ đã ném đá vào chúng tôi. Một nhà văn miền Bắc, sau này đã thú nhận rằng không phải đợi lâu, ngay sau khi theo chân đoàn xe tăng tiến vào thành phố Sài Gòn, bà đã biết rằng mình và mấy chục triệu dân miền Bắc đã bị lừa gạt từ bao nhiêu năm nay . Và cuộc đốt sách chưa từng có trong lịch sử Việt Nam chỉ là một hành động ngu xuẩn hòng cố sức che dấu sự lừa dối của giới cầm quyền.</p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00412.jpg"><img style="border-right-width: 0px; margin: 0px 10px 0px 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="clip_image004" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image004_thumb11.jpg" border="0" alt="clip_image004" width="244" height="184" align="left" /></a></p>
<p>Sau này, những người vượt thoát được từ 1975 đã tìm cách tái bản lại một số sách báo cũ của miền Nam trước 1975 dưới hình thức photocopy những ấn bản mà họ mang theo được hay in ấn lại hoàn toàn mới và phát hành khắp nơi ở hải ngoại. Công việc ấy cũng góp phần phổ biến và gìn giữ những di sản văn hóa dân tộc cho cả người Việt sinh sống ở ngoài nước lẫn trong nước. Và bây giờ, với mạng lưới điện toán toàn cầu, rất nhiều những bộ sách cũ xuất bản ở miền Nam trước chính biến 1975 đã được đánh máy lại, đưa lên các trang thư viện điện tử, hình thành nên một sự giao lưu văn hóa khắp nơi , từ trong nước cho đến hải ngoại ( tất nhiên, vẫn có những hạn chế từ trong nước vì các bức tường lửa &#8211; firewall &#8211; tạo ra bởi nhà cầm quyền nhằm ngăn chận người trong nước tiếp xúc với các luồng sóng cổ vũ cho dân chủ tự do ở bên ngoài).</p>
<p><em>Trước một tình hình như thế, liệu những cuộc phần thư của các bạo chúa Tần Thủy Hoàng đương thời có đạt được mục đích là tiêu diệt hết thảy những giá trị văn hóa đối nghịch với đường lối của họ và nhằm ngu dân để dễ bề cai trị hay không ? </em></p>
<p>Thực ra, câu trả lời KHÔNG đã có sẵn trong đầu của chính những người đề xướng ra các nỗ lực tuyệt vọng nói trên, nhưng họ vẫn cứ nhắm mắt thực hiện vì , xét cho cùng, họ không còn sự lựa chọn nào khác để cứu vãn một chế độ mà , nếu không có nó, họ không thể tồn tại.</p>
<p>Với tôi, khi cầm những quyển sách cũ trên tay, tôi không chỉ nghĩ đến giá trị văn hóa tư tưởng mà chúng hàm chứa đã khẳng định sự tồn tại cần thiết của chúng, mà còn trân trọng cả những trang giấy ố vàng, những cái gáy sách sờn bạc, vì những dấu vết quá khứ ấy là chứng tích của bao nhiêu con người, trải qua bao thời đại, đã từng đặt bàn tay mình trên những trang sách, đã từng trăn trở suy tư, đã từng băn khoăn thao thức. Ở một nghĩa nào đó, với tôi, những quyển sách cũ ẩn dấu sự sống của một lịch sử dân tộc, sự tồn tại tâm linh của một nền văn hóa và trên hết, mang ý nghĩa rất cụ thể về một bóng dáng tiền nhân hàng chục năm, hàng trăm năm về trước đã từng hiện hữu.</p>
<p>Chẳng phải chúng ta hằng năm, cứ vào độ đầu xuân , lại giở bài thơ &#8221; Ong Đồ &#8221; của Vũ Đình Liên ra mà bâng khuâng cảm khái :</p>
<p><em>Những người muôn năm cũ</em></p>
<p><em>Hồn ở đâu bây giờ</em></p>
<p><em>( Ông Đồ &#8211; Vũ Đình Liên)</em></p>
<p>Đó sao ? ?</p>
<p>© T.Vấn 2006</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2006/07/saigonvanhung/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tháng 6 và những ghi chép ở Dallas</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2006/07/thangsauva/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2006/07/thangsauva/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 06 Jul 2006 02:25:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[7]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 7 - 2006]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2006/07/thng-6-v-nh%e1%bb%afng-ghi-chp-%e1%bb%9f-dallas/542/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2006/07/thangsauva/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb30-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image002" title="clip_image002" /></a>&#160;
<i>Dẫu rằng sông cạn đá mòn</i>
<i>Con tằm đến thác cũng còn vương tơ</i>
<i>(Đọan Trường Tân Thanh &#8211; Nguyễn Du)</i>
<i></i>
<i></i>
<i></i>
<a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00231.jpg"></a><i></i>
<b>1.</b>
<b></b>
Tháng 6, Dallas nắng đổ lửa. Caí nóng phương Nam lúc nào cũng làm chảy mỡ. Vậy mà gia đình tôi năm nào cũng chỉ đợi dịp này để xuôi Nam. Riêng năm nay thì nhân một dịp người bạn cũ của tôi làm đám cưới cho con. Đó cũng là cái cớ hết sức chính đáng cho những cuộc viễn du mùa hè đã thành thông lệ với gia đình tôi . Trong lúc những người bạn cùng lứa tuổi đã làm sui, đã lên chức nội ngoại, hoặc ít nhất thì đứa con nhỏ nhất cũng đã ngấp nghé ngưỡng cửa đại học, còn tôi thì đứa lớn nhất mãi đến sang năm mới ở năm cuối . .[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p><i>Dẫu rằng sông cạn đá mòn</i></p>
<p><i>Con tằm đến thác cũng còn vương tơ</i></p>
<p><i>(Đọan Trường Tân Thanh &#8211; Nguyễn Du)</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i></i></p>
<p><i></i></p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00231.jpg"><img style="border-right-width: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: 0px; border-left-width: 0px; margin-right: 0px" title="clip_image002" border="0" hspace="12" alt="clip_image002" align="left" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb30.jpg" width="244" height="164" /></a><i></i></p>
<p><b>1.</b></p>
<p><b></b></p>
<p>Tháng 6, Dallas nắng đổ lửa. Caí nóng phương Nam lúc nào cũng làm chảy mỡ. Vậy mà gia đình tôi năm nào cũng chỉ đợi dịp này để xuôi Nam. Riêng năm nay thì nhân một dịp người bạn cũ của tôi làm đám cưới cho con. Đó cũng là cái cớ hết sức chính đáng cho những cuộc viễn du mùa hè đã thành thông lệ với gia đình tôi . Trong lúc những người bạn cùng lứa tuổi đã làm sui, đã lên chức nội ngoại, hoặc ít nhất thì đứa con nhỏ nhất cũng đã ngấp nghé ngưỡng cửa đại học, còn tôi thì đứa lớn nhất mãi đến sang năm mới ở năm cuối . . . Middle School( lớp 8). </p>
<p>Nói cách khác, những người bạn của tôi &#8211; như anh bạn mới gả con ở Dallas &#8211; đã bước vào giai đoạn chuẩn bị nghỉ ngơi, gặt hái thành quả của nhiều năm gieo trồng , còn tôi thì trước mặt là cả một đoạn đường dài nữa phải bươn chải khi mà tuổi gìa cứ xồng xộc đến như người khách không mời. Đã đành , ai cũng phải trải qua giai đoạn vất vả lo lắng cho con cái từ lúc chúng được sinh ra cho đến khi trưởng thành có thể bay nhảy một mình. Nhưng ở trường hợp của tôi, cha già con mọn, chẳng phải vì ham vui muốn kéo dài thời độc thân , mà chỉ vì số phận phải nổi trôi theo . . . vận nước. Vì nổi trôi, nên mọi sự đều trễ nải. Nhưng cũng nhờ vậy, từng tuổi này &#8211; <i>cuối thời kỳ tri</i> <i>thiên mệnh</i> &#8211; tôi vẫn cảm thấy mình còn trẻ, còn sẵn sàng những cuộc viễn du mỗi khi hè về theo với sự háo hức của lũ trẻ vừa tạm rời ghế nhà trường. Và nhờ vậy, tôi có cảm tưởng mình cũng đang &quot; nghỉ hè&quot; như những cô cậu học sinh đang túa ra khỏi cổng trường sau buổi học cuối cùng , mắt còn long lanh ngấn lệ vì lời chia tay thầy cô bạn bè vẫn vương vất đâu đó theo với niềm vui 3 tháng sắp tới sẽ không phải bận tâm về những bài tập và điểm A cuối mỗi học kỳ. Ít nhất đó cũng là tâm trạng của các con tôi khi được bố đến trường đón vào buổi học cuối cùng. Và tôi, cảm gíac nhẹ nhõm còn là vì &#8211; trong 3 tháng hè &#8211; tôi không phải thức khuya hằng đêm sau khi đi làm về để xem lại những bài tập ở nhà của chúng, không phải dậy sớm sáng hôm sau đưa chúng đến trường , rồi trở về nhà cố dỗ lại giấc ngủ ít ỏi bị ngắt quãng . Kể ra, đó cũng là một cảm gíac hết sức thảnh thơi cho một người lúc nào cũng tin rằng mình không có đủ thì giờ cho bất cứ công việc gì như tôi, dù, thực ra , với 3 tháng hè &quot; thảnh thơi &quot;, rồi thì tôi cũng vẫn biết mình chẳng thể hoàn tất được việc gì cho nên hồn. Ngoại trừ ,tủ sách cứ tràn lan thêm những quyển sách, những tờ tạp chí mới thu thập được đây đó, sức chứa của chiếc laptop cứ nhỏ dần lại vì thì giờ hằng đêm trước đây bận kiểm tra bài vở của con cái nay được dùng để lang thang thế giới ảo, gặp bất cứ thứ gì vừa ý cũng tha về cất trong máy, từ một bài viết tâm đắc, một bài thơ thú vị đến bản nhạc kỷ niệm hay một bức hình có nhiều ý nghĩa. Để sáng hôm sau vẫn cứ giấc ngủ muộn, chập chờn nửa tỉnh nửa mê những ý tưởng chắp vá về một bài viết sẽ viết khi có dịp.</p>
<p>Vì thế, cũng như các cô cậu học sinh nhỏ tuổi, tôi cần những dịp nghỉ hè thực sự, bước chân ra khỏi nhà để có thể dứt khoát với những công việc &#8211; vừa tự nguyện vừa bắt buộc &#8211; ấy.</p>
<p><b>2.</b></p>
<p><b></b></p>
<p>Vài ngày ngắn ngủi ở Dallas, ngoài cuộc gặp gỡ những người bạn cũ và chén rượu thâu đêm, tôi còn được dịp đi theo anh bạn báo bổ ở thành phố này dự một buổi tiếp xúc với những người thực hiện và các nghệ sĩ của chương trình nhạc do trung tâm Asia tổ chức lần đầu tiên ở Dallas. Buổi gặp gỡ thật thú vị và bổ ích với tôi. Lần đầu tiên ( ở hải ngoại ) tôi được tận mắt nhìn cái cực nhọc của những người làm văn nghệ trình diễn, những công việc chuẩn bị vừa về kỹ thuật, vừa về nghệ thuật mà người xem không có dịp biết tới , nếu chỉ ngồi ở hàng ghế khán gỉa ngó lên sân khấu hay ngồi ở nhà, xem chương trình trình diễn qua đĩa DVD. Để có một màn trình diễn của một hay nhiều người diễn ( gồm cả vũ công, ban nhạc ) , đã có công sức của rất nhiều người làm việc trong các lãnh vực nghệ thuật ( âm nhạc như phối âm phối khí, hướng dẫn phong cách trình diễn như đạo diễn , trang phục hóa trang v. . . ) , kỹ thuật ( âm thanh, hình ảnh, chạy cảnh, tính toán giờ giấc sao cho không có thời gian chết trên sân khấu v…v). Đó là chưa kể, trước đó, rất nhiều thì giờ và tim óc dành cho việc soạn thảo chương trình, chọn bài, chọn nghệ sĩ, phối hợp với người giới thiệu chương trình, cử người đi khắp nơi ( trên thế giới) để thu thập tài liệu sống ( về một tác gỉa nào đó được giới thiệu trong chương trình v..v..) , rồi thu gom nghệ sĩ về một nơi cho việc tập dợt v..v..</p>
<p>Ngần ấy công việc đòi hỏi thì giờ, tài năng, công sức và nhất là tiền bạc.Theo lời cô Diệu Quyên , một phụ nữ duyên dáng, lịch thiệp và lưu loát , và cũng là một trong những người điều hành chính của trung tâm Asia, thì chi phí cho chương trình trình diễn như chương trình vừa rồi ở Dallas, tổng số cũng phải lên đến một triệu Mỹ Kim ( con số này bao gồm cả chi phí thực hiện DVD sẽ phát hành trong tương lai gần ). Con số đó không phải nhỏ đối với một trung tâm luôn đặt nặng nghệ thuật tính cho những chương trình phục vụ công chúng của mình như trung tâm Asia. Do đó, để duy trì sự tồn tại của những trung tâm nghệ thuật như Asia, cần sự yểm trợ thiết thực của người thưởng ngoạn , thí dụ như không dễ dãi tiêu thụ những sản phẩm sao chép bất hợp pháp công sức ( vừa tài năng, tấm lòng lẫn tiền bạc ) của những người thực sự làm nên sản phẩm nghệ thuật ấy. Xét cho cùng, lẽ công bằng ở đời buộc chúng ta phải đền bù xứng đáng và sòng phẳng những gì chúng ta thụ hưởng. Hơn thế nữa, sự tồn tại vững mạnh của các trung tâm văn hóa nghệ thuật còn là sự bảo đảm rằng nhu cầu thưởng ngoạn nghệ thuật của công chúng sẽ luôn luôn được thoả mãn. Chắc chẳng khó khăn gì với cuộc sống ngày một nâng cao của người Việt hải ngoại khi trả số tiền đúng với công sức của người thực hiện một sản phẩm , nhất là một sản phẩm nghệ thuật.</p>
<p>Và, cũng sau hơn 30 năm, tôi được nhìn lại hình ảnh hậu trường của người nghệ sĩ, cái hình ảnh được diễn tả rất đúng trong câu &quot; <i>đời nghệ sĩ lăn lóc gió sương</i> &quot; . Chen chúc trong dãy hành lang hẹp của một rạp hát khá cũ kỹ của thành phố Dallas, các nghệ sĩ từng được cả cộng đồng người Việt Hải Ngoại lẫn trong nước ái mộ , kẻ đứng người ngồi (xổm), hối hả ăn vội bữa cơm chiều đựng trong những hộp To Go, để còn kịp chuẩn bị cho vai diễn của mình trong buổi tổng dợt. Người điều hành Asia cho chúng tôi biết là các anh chị em đã phải vất vả như thế cả tuần lễ, ngày nào cũng từ sáng sớm cho đến tối khuya để bảo đảm cho buổi diễn chính thức thành công trọn vẹn.</p>
<p><b>3. </b></p>
<p>Tháng 6, Dallas. Trời nắng như thiêu như đốt bên ngoài, bên trong rạp hát cũ kỹ nhưng lại rất bề thế ( và đẹp, nếu được chăm sóc kỹ lưỡng ), những nghệ sĩ vẫn như những con thiêu thân lăn xả vào ánh đèn (sân khấu) , dù chỉ là một buổi tổng dượt ( không có khán gỉa). Những giọng hát vẫn ngọt ngào, những động tác biểu diễn vẫn trọn vẹn, và những người làm việc âm thầm đằng sau tấm màn nhung của sân khấu vẫn miệt mài chăm chú với công việc của mình. Tôi hiểu, đã là kiếp tằm thì phải nhả tơ. Cho đến lúc không còn nhả tơ được nữa. Tôi nhìn quanh và nhận ra những khuôn mặt quen thuộc từ mấy chục năm nay, từ những ngày chúng tôi ( tôi và những khuôn mặt nghệ sĩ qúa quen thuộc ấy ) tóc còn xanh, đuôi con mắt còn xa lạ với những vết rạn chân chim, nay, dấu vết thời gian đã in hằn nét mệt mỏi , nhưng họ vẫn rất trịnh trọng có mặt, chờ đến phiên của mình bước lên sân khấu. Tôi đến trước mặt từng người, bắt tay, và chào hỏi bằng chính cái tên quen thuộc của họ, như một cử chỉ trân trọng rằng, việc biết đến tên tuổi của họ ở một người hòan toàn xa lạ (như tôi), là lời cám ơn chân thành đến những kiếp tằm đã gần hết một đời nhả tơ, rằng, công sức đem niềm vui đến cho đời của họ sẽ không đi vào lãng quên, dù ngày hôm nay, khuôn mặt kia không còn trẻ trung nữa, giọng hát kia không còn ngọt ngào như thuở nào nữa. Nhưng, một cách hết sức thành thực , tôi vẫn nghĩ rằng, nếu có ai có thể mặc cả với thời gian để làm chậm lại quá trình lão hóa ( của thể xác ), thì người đó hẳn phải là những nghệ sĩ tên tuổi đang ngồi giữa ánh đèn ma quái của sân khấu kia. Trông họ không khác nhiều lắm với hình ảnh của chính họ hơn 30 năm xưa, dù bây giờ, có người đã làm bà nội, bà ngoại, dù sau năm 75, nhiều người trong số họ đã trải qua nhiều quãng đời cay đắng, cơ cực.</p>
<p>Phải chăng đó là phần thưởng của ánh đèn sân khấu cho những con tằm vẫn một đời tận tuỵ ?</p>
<p><b>4.</b></p>
<p><b></b></p>
<p>Anh đèn sân khấu có ma lực của riêng nó. Một khi đã đứng trên sân khấu cuí đầu chào khán gỉa giữa tiếng vỗ tay rộn rã, khó ai có thể rứt ra được mà không bị thương tích, đau đớn, dằn vặt. Hệt như thứ hào quang lấp lánh của chữ nghĩa, thứ hào quang khiến cho người nghiện chữ có cảm gíac như lên đồng mỗi khi ngồi vào bàn viết. Như một ngẫu nhiên kỳ lạ, đầu óc tôi chưa dứt ra được cái chập chờn nửa hư nửa thực của ánh đèn sân khấu và những con thiêu thân tội nghiệp ( hay rất đáng trân trọng ?) thì lại có dịp gặp một người trẻ định cư ở Dallas, cũng thường xuyên bị cơn mê chữ nó hành hạ. Dưới con mắt tôi, trăn trở với chữ nghĩa là một cử chỉ đẹp , nhất là với những người trẻ ở Hải Ngoại. Ở một nghĩa nào đó, là tấm lòng của họ vẫn còn hướng về quê cha đất tổ. Như những người nghệ sĩ trình diễn ( mà tôi đã có cơ hội gặp trong đêm gặp gỡ của trung tâm Asia) , bao nhiêu năm xa xứ cũng vẫn không làm họ nguôi cơn thèm được cất tiếng hát cho người đồng bào của mình nghe. Lại càng thêm ấm lòng hơn, khi tôi thấy trong số những nghệ sĩ ấy, có người còn rất trẻ, hẳn là được sinh ra, hoặc, ít nhất , trưởng thành ở haỉ ngoại. Vậy mà giọng hát Việt vẫn mượt mà , tưởng chừng như họ vẫn ngày ngày uống nước từ những dòng sông quê hương, vẫn ăn miếng cơm nấu từ những hạt gạo trên đồng lúa Việt Nam , vẫn thở cái không khí thiên nhiên thơm mùi rạ mới cắt. Anh bạn trẻ mà tôi vừa được quen biết cũng mang cái dáng dấp đáng yêu ấy trên phương diện chữ nghĩa. Anh thừa hiểu rằng, chữ nghĩa ngày nay ( nơi hải ngoại) không mang lại aó cơm , không mang lại cả chút hư danh phù phiếm. Vì thế, còn trăn trở được, còn đánh vật được với chữ nghĩa hằng đêm, chẳng qua, cũng là một chút lòng. Với người, với mình, với đất nước. Anh ưu tư về một tương lai không sáng sủa lắm cho những người trẻ tuổi hơn anh ở haỉ ngoại . Chỉ 10 hay 20 năm nữa thôi, khi những người thuộc thế hệ chúng tôi nằm xuống, còn bao nhiêu người biết rung động khi nghe tiếng ca, lời nhạc Việt Nam vang lên giữa mảnh đất quê người tuyết phủ trắng xóa, và chắc chắn , sẽ còn ít hơn nữa những người cầm tờ báo tiếng Việt trên tay, say sưa đọc từng trang viết như say sưa những trang thư tình.</p>
<p><b>5.</b></p>
<p><b></b></p>
<p>Quá đủ cho một chuyến đi . . . nhân dịp hè. Từ Dallas , tôi và gia đình quay về lại Wichita với những bề bộn nhiều hơn cả lúc đi. Đó là chưa kể đến dự định thăm viếng vài người bạn học, bạn tù, bạn lính cư ngụ chung quanh khu vực Dallas đã mấy mươi năm nay chưa gặp lại.Tất nhiên, những dự định ấy đã không thành. Cũng may, tôi chưa nói với ai (trong số những người bạn ấy ) về chuyến đi này.</p>
<p>Tôi hiểu rằng, ở tuổi tôi, người ta không còn nữa những giờ ra chơi, nói gì đến những ngày hè thanh thản. Vì thế, niềm vui đích thực, cho mỗi chuyến đi xa, hẳn phải đến từ những gặp gỡ với cả người quen lẫn không quen, và những ghi chép ( trong hồn ) về những giây phút ngắn ngủi ấy.</p>
<p><i>Bởi, rất đơn giản, đó chính là đời sống.</i></p>
<p><i></i></p>
<p>T. Vấn</p>
<p>( Tháng 6-2006)</p>
<p>© T.Vấn 2006</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2006/07/thangsauva/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Hai màu áo, một tâm hồn.</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2006/07/haimau/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2006/07/haimau/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 02 Jul 2006 02:23:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[7]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 7 - 2006]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2006/07/hai-mu-o-m%e1%bb%99t-tm-h%e1%bb%93n/539/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2006/07/haimau/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb29-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image002" title="clip_image002" /></a>&#160;
<a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00230.jpg"></a>
<i>■</i><i> Gởi một thế hệ tuổi trẻ Việt Nam</i>
<i>&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160; ● . . . Vì non xanh nước biếc vẫn trơ gan&#160; cùng tuế nguyệt, vì dân&#160; vẫn là cái gốc trên đó mồ mả cha ông làng quán họ hàng lề thói tập tục tồn tại , và cũng từ đó những chế độ cầm quyền ra đời, nên cuộc ra đi nào cũng phải chứa cái mầm của sự trở về.&#160; </i><i>( T.Vấn</i><i> – <b>Trở về hay ra Đi ?</b> )</i>
<b>1.</b>
Hôm Lễ Chiến Sĩ Trận Vong Hoa Kỳ ( Memorial Day ) cuối tháng 5 vừa qua, thấy tôi hì hục bắc thang treo lên hai bên cửa nhà hai lá cờ, một bên là lá cờ Mỹ, và bên kia là lá cờ Việt Nam, đứa con gái nhỏ của tôi buột miệng hỏi tôi đại ý Bố ơi, tại sao nhà[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00230.jpg"><img style="border-right-width: 0px; margin: 0px 15px 0px 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="clip_image002" border="0" alt="clip_image002" align="left" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb29.jpg" width="160" height="244" /></a></p>
<p><i>■</i><i> Gởi một thế hệ tuổi trẻ Việt Nam</i></p>
<p><i>&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160; ● . . . Vì non xanh nước biếc vẫn trơ gan&#160; cùng tuế nguyệt, vì dân&#160; vẫn là cái gốc trên đó mồ mả cha ông làng quán họ hàng lề thói tập tục tồn tại , và cũng từ đó những chế độ cầm quyền ra đời, nên cuộc ra đi nào cũng phải chứa cái mầm của sự trở về.&#160; </i><i>( T.Vấn</i><i> – <b>Trở về hay ra Đi ?</b> )</i></p>
<p><b>1.</b></p>
<p>Hôm Lễ Chiến Sĩ Trận Vong Hoa Kỳ ( Memorial Day ) cuối tháng 5 vừa qua, thấy tôi hì hục bắc thang treo lên hai bên cửa nhà hai lá cờ, một bên là lá cờ Mỹ, và bên kia là lá cờ Việt Nam, đứa con gái nhỏ của tôi buột miệng hỏi tôi đại ý Bố ơi, tại sao nhà mình lại treo hai lá cờ, trong khi tất cả những nhà khác trong khu vực chung quanh, có nhà không treo cờ, có nhà chỉ treo một lá cờ Mỹ, riêng nhà mình lại có cả cờ Việt Nam nữa ? Tôi cố tìm lời lẽ thật bình dị , dễ hiểu, lâu lâu phải chêm vào một số từ tiếng Mỹ để phụ giải thích cho con tôi hiểu rằng, vì mình là người Việt Nam sống trên đất Mỹ, có nghĩa là mình vẫn còn một&#160; tổ quốc khác để nhớ về trong những dịp lễ lậy có tính cách quốc gia như ngày Lễ Chiến Sĩ Trận Vong, tức ngày tưởng nhớ đến những người con đất nước đã bỏ mình để bảo vệ tổ quốc, những chiến sĩ đã nằm xuống cho lý tưởng tự do, dân chủ, độc lập và quyền được sống như một con người bình đẳng của dân tộc. </p>
<p>Lá cờ Mỹ là dành&#160; nhớ đến những người đã chết dưới lá cờ này để ngày nay chúng ta có được một mảnh đất tự do, thịnh vượng dung chứa hơn hai triệu người Việt Nam. Những người chết dưới lá cờ Mỹ không phải chỉ bao gồm những công dân Mỹ, mà còn có cả những người đến từ nhiều quốc gia khác trên thế giới, trong đó có cả các thanh niên Việt Nam, họ đã chiến đấu và hy sinh cho tổ quốc thứ hai của họ. Lá cờ Việt Nam là để nhớ đến những chiến sĩ Việt Nam đã hy sinh, đang hy sinh để bảo vệ tổ quốc Việt Nam , cho người Việt Nam được sống tự do trong một đất nước dân chủ, độc lập và mọi người được nhìn nhận bình đẳng với tư cách một con người. </p>
<p>Và vì thế, việc treo hai lá cờ trong những ngày lễ lớn, dù người Việt Nam ấy hiện sinh sống bất cứ nơi đâu trên toàn thế giới, là một cử chỉ nhớ về cội nguồn, nhớ về nơi từ đó mình được sinh ra ( hay cha mẹ mình được sinh ra ) , từ đó mình (hay cha mẹ mình ) bước chân ra đi và đó cũng sẽ là nơi mình sẽ trở về, như đứa con trở về nhà cha mẹ. Và đồng thời cũng là một cử chỉ đầy tính cách văn hóa , <i>trọng nghĩa thủy chung , ăn trái nhớ kẻ trồng cây </i>của người Việt Nam.</p>
<p><i>Hai màu cờ, nhưng vẫn chỉ một tâm hồn, một con người.</i></p>
<p>Đời một con người, từ lúc được sinh ra cho đến lúc chết đi, có nhiều dấu mốc năm tháng, không thể quên, không muốn quên. Thí dụ như&#160; ngày sinh, được ghi nghiêm túc trên trang sổ hộ tịch, được cha mẹ bạn bè thầy cô nhớ đến hàng năm. Một dân tộc, hay một quốc gia, cũng có đời sống riêng như của một con người. Ngày thành lập nước, hay còn gọi là ngày Quốc Khánh, cũng được ghi trang trọng trong những trang Hiến Pháp. Và hàng năm, các con dân trong nước, vẫn làm lễ kỷ niệm . Đó là sinh hoạt cao nhất về văn hóa của một dân tộc. Do đó, những ngày Lễ Quốc Gia hàng năm, không chỉ là dịp mọi người nghỉ ngơi, đi lại thăm viếng gặp gỡ gia đình bạn bè, mà trên hết, và trước hết, mọi người có dịp suy nghĩ về quá khứ của dân tộc, trong đó có quá khứ cá nhân mình. Không ai có thể tự tách mình ra khỏi dòng sống dân tộc. Vận nước nổi trôi sẽ kéo theo những mảnh đời trôi nổi. Vận nước điêu linh sẽ kéo theo những hậu quả đau đớn, chia lìa, chết chóc cho muôn dân trăm họ.</p>
<p><b><i>T</i></b><b><i>ổ</i></b><b><i> qu</i></b><b><i>ố</i></b><b><i>c&#160; nh</i></b><b><i>ư</i></b><b><i> chi</i></b><b><i>ế</i></b><b><i>c thuy</i></b><b><i>ề</i></b><b><i>n. </i></b></p>
<p><b><i>Và nhân dân&#160; nh</i></b><b><i>ư</i></b><b><i> nh</i></b><b><i>ữ</i></b><b><i>ng ng</i></b><b><i>ườ</i></b><b><i>i đi trên chi</i></b><b><i>ế</i></b><b><i>c thuy</i></b><b><i>ề</i></b><b><i>n </i></b><b><i>ấ</i></b><b><i>y.</i></b></p>
<p><b>2.</b></p>
<p>Ngày 4 tháng 7 hàng năm là Lễ Độc Lập ( Independence Day )của Hoa Kỳ, mảnh đất đang dung chứa hơn hai triệu người Việt Nam sống xa quê hương từ hơn 30 năm nay. Trên mảnh đất rộng lớn này với một khoảng thời gian là 30 năm, cộng đồng Việt Nam đã bám rễ, trưởng thành và sinh sôi về mọi mặt đời sống. Trong đó, mặt quan trọng nhất là hình thành nên một thế hệ người Việt thứ hai xinh xắn, giỏi giang, học thức và thành đạt, theo cả hai nghĩa xã hội lẫn con người. Để đạt được thành quả này, sau chỉ 30 năm đặt chân lên xứ người, giá trị truyền thống Việt Nam đã đóng một vai trò không nhỏ. Đó là nền tảng gia đình luôn hỗ trợ, dìu dắt con em mình cho đến ngày chúng thực sự đủ cứng cáp mà bước vào đời. Chính người Mỹ bản xứ cũng đã nhận định,&#160; bí quyết cho mọi thành công vượt bậc của tuổi trẻ Việt nam di dân nằm ở ngay chính trong gia đình mà chúng vừa bước ra. Về phương diện này, người Mỹ phải nhìn vào các sắc dân tị nạn Châu Á mà rút ra những bài học về giá trị gia đình ( family values ).</p>
<p>Với thế hệ thứ nhất, vốn mang <i>tâm </i><i>thức&#160; lưu</i><i> vong</i>, hay nói cách khác, sống nơi xứ người nhưng cõi lòng vẫn hướng về quê nhà cũ, thì hình ảnh lá cờ Việt Nam là hình ảnh thiêng liêng không thể thiếu, dù nằm sâu trong tâm khảm hay biểu lộ ra bên ngoài trong những dịp lễ lậy hội hè. <b><i>Nó là tấm căn cước về nguồn gốc của một cộng đồng, một quần thể, là quyển gia phả truyền từ đời nọ sang đời </i></b><b><i>kia</i></b><b><i>.</i></b><b> </b>Trong khi đó, hình ảnh lá cờ Mỹ ( hay nước định cư ) mang ít nhiều tính luân lý, tính ước lệ và tính nghi thức đối với thế hệ này. Điều dễ hiểu, quá nửa đời người họ đã sống, chiến đấu, hy sinh, đổ&#160; máu cho lá cờ quê nhà thứ nhất. Còn lá cờ của quê hương thứ hai, chưa đủ yếu tố thực tiễn&#160; và thời gian để đi vào máu tủy của thế hệ này.</p>
<p>Với thế hệ thứ hai, ngược lại, mang tâm thức băn khoăn về chính mình. Sinh ra ( hay chí ít, trưởng thành ) trên mảnh đất không phải là mảnh đất chôn nhau cắt rốn của cha mẹ, họ lớn lên, đi học , chơi đùa , nói cùng ngôn ngữ&#160; với lũ trẻ người bản xứ, hấp thụ văn hóa người bản xứ, và từ đó, cư xử như người bản xứ. Nhưng khi về đến mái nhà cha mẹ, họ phải thích nghi với một nền văn hóa hoàn toàn khác biệt. Dần dà, khi những khác biệt ấy ngày càng trở nên đối chọi nhau, <i>họ đã có lúc tự hỏi mình là người Việt Nam hay là người </i><i>Mỹ ?</i><i> </i><i>dù</i><i> mình sinh ra ở nước Mỹ nhưng thực ra, mình từ đâu đến ?</i> Tất nhiên, trong thực tế, vấn đề không đến nỗi trầm trọng như nhiều nhà tâm lý học lo sợ. Với sự giúp đỡ của gia đình, và đạo đức&#160; <b><i>chị</i></b><b><i> bảo em vâng , em</i></b> <b><i>ngã chị nâng</i></b> , họ cũng đã vượt qua những giai đoạn khủng hoảng ấy một cách dễ dàng. Tuy nhiên, đối với họ,&#160; cái hình ảnh về một quê nhà của tổ tiên, mà biểu trưng là lá cờ Việt Nam, không thể nào có được chỗ đứng vững chắc và thiêng liêng như chỗ đứng trong lòng thế hệ thứ nhất. Ngược lại, lá cờ Mỹ, hình ảnh quê hương hiện họ đang sinh sống, lại chiếm một chỗ đáng kể trong lòng họ, như với bao người dân bản xứ khác. Thực tế ấy là hợp lý, hợp tình và dễ hiểu.</p>
<p><i>Làm sao những người trẻ Việt Nam sinh ra, trưởng thành ngoài đất nước, lại có thể có được cái cảm giác nổi da gà khi đứng nghiêm trang nhìn về lá quốc kỳ Việt Nam nếu chúng chưa từng bao giờ có những cơ hội gần gủi, nhìn, nghe, </i><i>sờ ,</i><i> mó , cảm&#160; và hiểu được thế nào là cuộc sống Việt Nam, con người Việt Nam, đất nước Việt Nam.</i><i></i></p>
<p><b>3.</b></p>
<p><i>Nhưng cây có cội, nước có nguồn</i>. Dù hình ảnh lá cờ Việt Nam chỉ chiếm vị trí thứ hai trong tâm hồn những người trẻ Việt Nam sinh ra, lớn lên ở hải ngoại, nó vẫn là cái nền trên đó, một con người xác định nguồn gốc của mình ( kể cả người bản xứ, họ vẫn phân&#160; biệt các sắc tộc di dân theo cách gọi Vietnamese-American, hay Korean-American, Chinese-American v..v.. ), từ đó , xác định cho mình những trách vụ xã hội khác , liên quan đến mảnh đất còn lưu giữ mồ mả cha ông mình, còn có những người thân thuộc mà họ gọi bằng chú, bác, cô , dì, cậu , mợ, anh chị em họ (cousins) sinh sống, còn có những dấu tích khó quên của một thời chiến tranh binh lửa tù ngục mà cha anh họ đã từng trải qua, đã từng phấn đấu để ngày nay gây dựng cho họ một vị trí khiến người bản xứ cũng phải ganh tị, thèm thuồng. </p>
<p>Vì thế, đối với những người trẻ Việt Nam trưởng thành nơi hải ngoại, những ngày lễ Quốc Gia lớn như ngày Lễ Độc Lập 4 tháng 7 của Hoa Kỳ<i>, <b>ngoài những chiêm nghiệm cần thiết về quá khứ quốc gia mình đang sinh sống, còn cần phải có cả những suy nghĩ liên quan đến quá khứ quốc gia mà cha mẹ mình từ đó ra đi.</b></i></p>
<p><b>4.</b></p>
<p>Trong lịch sử 30 năm người Việt định cư trên đất Mỹ, đã có hàng ngàn người trẻ thành đạt , vươn tới&#160; những vị trí chính trị, xã hội đáng kể trong mọi tổ chức dân sự cũng như chính quyền vì những đóng góp hữu hiệu và to lớn cho sự giàu mạnh của mảnh đất họ đang sinh sống. Có người được bổ nhậm vào các chức vụ lãnh đạo cao cấp trong chính phủ, các chức vụ cố vấn quan trọng trong guồng máy hành pháp, tư&#160; pháp và kể cả lập pháp. Có người đã được bầu vào những chức vụ dân cử , địa phương cũng như&#160; liên bang , góp phần nêu tiếng nói cộng đồng mình trong sinh hoạt dân chủ trưởng thành và lâu đời . Có người tình nguyện tham gia quân đội, tình nguyện cầm súng chiến đấu cho nước Mỹ và có người đã bỏ mình vì tổ quốc thứ hai của họ. Có người, bằng tài năng và sự tháo vát, đã nhanh chóng tạo được một chỗ đứng trang trọng trong các sinh hoạt văn hóa, thể thao, nghệ thuật v..v.. Và ngoài ra, còn hàng chục ngàn những chuyên viên trung cấp, cao cấp có mặt trong mọi lãnh vực hoạt động kinh tế, khoa học , giáo dục, quân sự&#160; của guồng máy một xã hội văn minh nhất, tiên tiến nhất thế giới.</p>
<p>Trong số những người trẻ đầy tài năng và đáng ngưỡng mộ ấy, có không ít người luôn ý thức mình là một người Việt Nam, mình có trách vụ với cộng đồng từ đó mình hiện hữu và thành đạt, xa hơn nữa, họ còn nhìn về nguồn gốc quê hương ở tít tắp bên kia bờ đại dương, với những mơ ước một ngày góp bàn tay đem lại cơm no, áo ấm, và cả dân chủ, dân quyền cho những người đồng bào chưa một lần biết mặt ấy. </p>
<p>Ngày lễ Lao Động ( Labor Day ) 2004, tại thành phố Baghdad, thủ đô của Iraq, một người trẻ Việt Nam 32 tuổi tình nguyện phục vụ&#160; trong quân đội Hoa Kỳ, đã dựng trước doanh trại mình trú đóng lá cờ Việt Nam , với mục đích mà theo như anh nói “ <i>dù là một quân nhân Hoa Kỳ đã phục vụ 7 năm trong quân ngũ, tôi vẫn không quên nguồn gốc Việt Nam của mình. Tôi muốn góp phần của mình trong cuộc chiến đấu cho tự do của tất cả mọi dân tộc.&#160; </i><i>“ ,</i> và anh cũng không quên “ <i>nhân danh cá nhân tôi, và tất cả các quân nhân Mỹ gốc Việt đang tham dự vào cuộc chiến tranh chống khủng bố toàn cầu, tôi sẽ không bao giờ bỏ mất di sản Việt Nam và nguyện sẽ theo bước chân cha anh chúng tôi tiếp tục chiến đấu cho Tự Do và Dân Chủ . . . “.</i></p>
<p>Một người trẻ khác, đến Mỹ năm mới 10 tuổi với người cha còn kẹt lại trong các Trại cải tạo ở Việt Nam, anh đã trưởng thành trong những hồi ức về người cha mình, một sĩ quan phi công cấp bực Trung Tá trong Quân Đội VNCH. Tốt nghiệp Đại Học, anh tình nguyện theo học trường sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ và trở thành người Việt Nam đầu tiên có bằng phi công trực thăng của binh chủng lừng danh này. Anh xuất ngũ với cấp bậc Thiếu Tá Trừ Bị. Ngoài những hoạt động với một công ty dịch vụ y tế do anh thành lập, thì giờ còn lại anh dùng để viết sách, viết báo với những đề tài về chiến tranh Việt Nam, về những gốc rễ đã khiến anh đi theo bước chân người cha dù là ở một đất nước thanh bình như nước Mỹ. Tháng 5 năm 2005, anh đã xuất bản một quyển sách nói về cuộc hành trình của anh từ những ngày thơ ấu ở quê nhà cho đến lúc anh trở thành người sĩ quan&#160; trong quân đội Hoa Kỳ. Trên bìa quyển&#160; sách, anh đặt trang trọng tấm ảnh của anh trong bộ quân phục sĩ quan&#160; đứng cạnh người cha đã trải gần hết đời mình trong chiến tranh, trong tù đày. Quyển sách nhanh chóng có tên trong danh&#160; sách&#160; Best sellers và chinh phục dư luận cả Việt lẫn Mỹ. Đó là bằng chứng tuyệt đẹp về sự trân trọng của tuổi trẻ đối với các thế hệ cha anh, dù họ giỏi giang hơn và thành đạt hơn, nhất là về tấm lòng luôn hướng về cội rễ tổ tiên. </p>
<p><b>5.</b></p>
<p>Tôi không biết, với thế hệ thứ hai Việt Nam ở hải ngoại, sẽ là một gánh nặng quá sức hay một cơ hội tuyệt vời thách đố bản lĩnh của họ trước <b>nhiệm vụ kép</b>, vừa cố gắng vươn lên trong xã hội xứ người, vừa cố gắng bảo tồn bản sắc dân tộc truyền thống&#160; để khi thời cơ thuận tiện , họ sẽ trang bị đủ cho mình một tấm lòng với đất nước quê hương mà sẵn lòng đem tài năng về phục vụ . </p>
<p><i>Để sẵn sàng cho con em mình đối đầu với nhiệm vụ kép đầy khó khăn ấy, thế hệ thứ nhất phải chuẩn bị chúng ngay từ bây giờ. </i><i>Trước khi quá muộn.</i> <i></i></p>
<p>Và ngày lễ, như ngày lễ Độc Lập 4 tháng 7, phải là dịp để chiêm nghiệm những bài học của cả hai dân tộc. Nếu không, <b><i>cái căn cước chúng ta mang </i></b><b><i>theo</i></b><b><i> từ quê nhà sẽ có nguy cơ mờ dần rồi mất hẳn một khi thế hệ thứ nhất xuôi tay nằm xuống. </i></b><b><i>▄</i></b></p>
<p><i>© T.Vấn 2006</i></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2006/07/haimau/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
