<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>T.Van &#187; Tháng 9 &#8211; 2006</title>
	<atom:link href="http://t-van.net/wordpress/category/thang9/2006-9/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://t-van.net/wordpress</link>
	<description>Trang Nha T.Van</description>
	<lastBuildDate>Fri, 03 Sep 2010 04:56:07 +0000</lastBuildDate>
	<generator>http://wordpress.org/?v=2.8</generator>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
			<item>
		<title>New Orleans : Một năm sau cơn bão Katrina</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2006/09/neworleansmotnamsau/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2006/09/neworleansmotnamsau/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 30 Sep 2006 06:04:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[9]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 9 - 2006]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2006/09/new-orleans-m%e1%bb%99t-nam-sau-c%c6%a1n-bo-katrina/761/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2006/09/neworleansmotnamsau/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb48-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image002" title="clip_image002" /></a>■ I know what it means to miss New Orleans.
( Frank Greene – 63 tuổi – cư dân New Orleans) 
 
<a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00252.jpg"></a>
 
(Ảnh : www.tampabays10.com)
1.
Đã một năm, kể từ ngày trận bão Katrina tàn phá một cách không thương tiếc hai tiểu bang Louisiana và Mississippi, mà nơi thiệt hại nặng nhất là thành phố du lịch lừng danh New Orleans. Những ngày ấy, dù giữa trăm ngàn lời ai điếu khóc thương cho thành phố nhiệt đới đang chìm dần dưới làn nước bạc, vẫn có niềm hy vọng về viễn ảnh một ngày mai tái tạo những di tích nóng bỏng và ướt đẫm hơi thở các cô gái ngực trần đến từ khắp nơi trên thế giới nhân ngày lễ hội Mardi Gras, khu French Quarter với những quán xá, những nhà hàng, những ngọn đèn đường vàng vọt vì tiếng kèn buồn thảm[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>■ <em>I know what it means to miss New Orleans.</em></p>
<p><em>( Frank Greene – 63 tuổi – cư dân New Orleans)</em><em> </em></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00252.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 5px 15px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image002" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb48.jpg" border="0" alt="clip_image002" width="244" height="164" align="left" /></a></strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><em>(Ảnh : www.tampabays10.com)</em></p>
<p><strong>1.</strong></p>
<p>Đã một năm, kể từ ngày trận bão Katrina tàn phá một cách không thương tiếc hai tiểu bang Louisiana và Mississippi, mà nơi thiệt hại nặng nhất là thành phố du lịch lừng danh New Orleans. Những ngày ấy, dù giữa trăm ngàn lời ai điếu khóc thương cho thành phố nhiệt đới đang chìm dần dưới làn nước bạc, vẫn có niềm hy vọng về viễn ảnh một ngày mai tái tạo những di tích nóng bỏng và ướt đẫm hơi thở các cô gái ngực trần đến từ khắp nơi trên thế giới nhân ngày lễ hội Mardi Gras, khu French Quarter với những quán xá, những nhà hàng, những ngọn đèn đường vàng vọt vì tiếng kèn buồn thảm của người nhạc sĩ đứng cô đơn ở một góc phố và con đường Bourbon tràn ngập người say rượu, các cô gái mặc áo hở lưng và những rác rưởi vất ra từ những cửa hàng. Những ngày ấy, hòa điệu cùng với <em>những người mà New Orleans vốn là một phần máu thịt khiến họ không thể nghĩ đến một ngày mất New Orleans ( như tôi đã từng không nghĩ đến một ngày sẽ mất thành phố Sài Gòn)</em> , giữa lúc New Orleans còn chìm trong biển nước , tôi đã tin tưởng rằng s<em>au khi nước rút đi, sẽ trơ ra một New Orleans đầy ắp rác rưởi, xác người xác thú, một New Orleans nồng nặc sự rữa nát của quá khứ. Cũng chẳng sao, người ta sẽ dọn dẹp sạch sẽ thành phố. Người ta sẽ dựng nên những căn nhà đẹp đẽ hơn, đồ sộ hơn, ngăn nắp hơn . Những con đường sẽ thẳng tắp hơn, bằng phẳng hơn, rộng rãi hơn . Chuyện đó chẳng có gì khó với nước Mỹ.</em></p>
<p>Ngày ấy, tôi cũng đã từng tự hỏi mình<em>: Nhưng có thật là New Orleans vẫn còn sống với những người từng mê đắm New Orleans như tôi không ? Dù chỉ một lần gặp gỡ ? Dù chỉ một lần đập bước chân trên những hè phố khuya thơm mùi nước hoa của những cô gái và men bourbon của những khách lãng du ? Dù lần gặp gỡ duy nhất ấy chỉ xảy ra khi trên mái tóc thưa thớt của tôi đã hai màu sương muối ? Lần ấy – đâu đã xa xôi gì cho lắm đâu, mới mùa hè năm trước đây thôi – ngất ngây giữa tiếng kèn nghèn nghẹn, giữa tiếng hát mơ hồ của người ca sĩ đang gập mình trên bàn phím dương cầm ở một quán nhạc bên kia đường, tôi đã hẹn với lòng nhất quyết sẽ trở lại nơi này một lần, nhiều lần nữa.</em></p>
<p>Đúng một năm sau ngày tự đặt cho mình câu hỏi ấy, tôi đã có câu trả lời. Một câu trả lời buồn bã và mệt mỏi. Như giọng nói uể ỏai của người bạn tôi bên kia đầu dây điện thọai, một cư dân của New Orleans cương quyết bám trụ từ ngày ấy đến nay. Căn nhà của anh bị ngập gần lên tới mái vẫn chưa sửa chữa được gì. Mùi ẩm mốc của tấm thảm lót nhà vẫn gợi một thứ ký ức chỉ muốn quên. Các công ty bảo hiểm viện dẫn đủ lý lẽ luật lệ để tìm cách chạy làng. Chính phủ thì không cung cấp đủ ngân sách ( như đã hứa ) cho việc tái thiết(1). Nhiều khu vực vẫn chỉ mới được dọn dẹp sơ sài. Hầu như phần lớn trong tổng số khỏang 78,000 căn nhà và chung cư bị hư hại nặng nề vì bão Katrina vẫn ở tình trạng như căn nhà người bạn tôi. Họ chở đợi khỏan tiền bồi thường từ các hãng bảo hiểm,trợ cấp tái thiết từ chính phủ Liên bang, hay sự xét duyệt chấp thuận cho vay từ các ngân hàng . Không ít người trong số đó, đang phân vân không biết nên sửa chữa lại hay bỏ quách đó rồi dọn đi xứ khác làm ăn.</p>
<p>Đó cũng là tâm trạng người bạn của tôi, một người đã từng kinh qua rất nhiều cuộc tản cư chạy lọan, đã hơn một lần nhìn tài sản một đời chắt chiu của mình chìm trong biển lửa, và gần đây nhất ( năm ngóai ) lại nhìn căn nhà và chiếc xe không kịp lấy đi chìm dưới biển nước.</p>
<p>Tình hình các thành phố nằm dọc theo bờ Mississippi từ vịnh St.Louis cho đến Biloxi cũng không khá gì hơn. Một năm sau, mới chỉ có 5% số nhà cửa bị thiệt hại được xây dựng lại.</p>
<p><strong>2.</strong></p>
<p>Sự hồi sinh của một thành phố không chỉ là việc dọn dẹp những đổ nát, xây dựng lại nhà cửa, phố xá mà còn là sự trở về của những cư dân đã bỏ đi để tránh mưa bão lụt lội. Như đàn chim vỡ tổ bay đi lánh nạn, khi không còn hiểm nguy nữa thì lại rủ nhau quay về tổ ấm cũ.</p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00420.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 10px 15px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image004" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image004_thumb19.jpg" border="0" alt="clip_image004" width="244" height="184" align="left" /></a></p>
<p><em>(Ảnh : www.tampabays10.com)</em></p>
<p><em>Cả ở khía cạnh này, thành phố New Orleans vẫn chưa được hồi sinh, có thể, sẽ không bao giờ hồi sinh.</em></p>
<p>Căn cứ theo số người ghi tên xử dụng gas, điện, nước hiện nay của thành phố New Orleans, thì trong tổng số 455,000 dân số thời kỳ tiền Katrina, mới chỉ có chưa tới một nửa cư dân trở về lại mái nhà xưa. Nhiều khu chung cư vẫn trống huếch trống hóac. Không có tiếng trẻ con chơi đùa, không có các cụ gìa ngồi phì phèo thuốc lá trước hàng hiên. Nhiều con đường hai bên cỏ dại mọc đầy, vì thiếu bước chân người qua lại. Những khu vực lân cận New Orleans còn tệ hơn nữa. Thí dụ như St. Bernard</p>
<p>parish, dân số hiện nay chỉ vào khỏang 20,000 so với 65,000 thời kỳ trước Katrina.</p>
<p>Tiền bạc ( để tái thiết nhà cửa và bắt đầu lại cuộc sống) mới chỉ là một mặt của vấn đề. Cư dân lâu đời của những thành phố như New Orleans, sau cơn bão Katrina, như con chim bị tên một lần, mang tâm trạng sợ hãi mỗi khi mùa bão đến, lo lắng cho sự tái diễn một thảm họa. Không ít người quyết định dời đi nơi khác để bắt đầu lại cuộc sống, dù thành phố mình bỏ đi đã từng là mảnh đất dung chứa nhiều thế hệ của gia đình. Ít nhất, họ cũng rũ bỏ được cái ám ảnh về một thảm họa thiên nhiên mỗi khi nhìn trên tờ lịch thấy tháng 8 trở về.</p>
<p>Từ hậu quả dân số ngày càng ít ỏi, là một nền kinh tế không có máu. Dù ít người, nhân công không nhiều, nhưng công việc cũng không vì thế mà dễ kiếm. Nhiều hãng xưởng tìm cách dọn đi nơi khác. Các ngành phục vụ công cộng suy thoái, vì số du khách đã không còn đông đảo như xưa. Riêng ở New Orleans, số công việc đã giảm đi hơn 30% so với thời kỳ trước Katrina. Triển vọng ảm đạm của một nền kinh tế như thế hẳn không thể là lý do để kéo những người bỏ đi trở về. Vì thế, trong số hơn 100,000 nạn nhân Katrina hiện đang lánh nạn ở thành phố Houston, tiểu bang Texas, một năm sau , con số 100,000 ngàn vẫn không có dấu hiệu thay đổi.</p>
<p>Mặt khác, còn vấn đề các phúc lợi công cộng. Ít dân, ngân sách sẽ thuyên giảm, các dịch vụ như an ninh đường phố, cứu hỏa, cũng sẽ kém hữu hiệu. Sống giữa một khu phố vắng vẻ, tâm trạng bất an khiến người ta khó sống khi mường tượng ra sự thiếu thốn an ninh của gia đình.</p>
<p>Như vậy, những cư dân làm nên nét đặc thù một thành phố ( như New Orleans ) đã không trở về, đã không muốn trở về. Có người, bấy lâu cương quyết bám trụ, bất chấp cơn cuồng nộ của trời đất, nay nhìn quanh quất, thấy chẳng còn ai, lại phân vân không biết nên ở hay bỏ đi .</p>
<p>Như người bạn của tôi. Một năm sau, anh không còn sự cương quyết đã khiến tôi vô cùng ngưỡng mộ . Căn nhà chưa được sửa chữa, công việc bấp bênh đã đành, nhưng còn những con người đã từng một thời làm náo nhiệt những khu phố đỏm dáng thì sao vẫn chưa thấy quay về . Qua ống nghe điện thọai, tôi nhận được âm thanh của tiếng thở dài.</p>
<p><strong>3.</strong></p>
<p>Nhưng tình hình không phải là tuyệt vọng ở khắp mọi nơi mà cơn bão Katrina đã thổi qua. Ít nhất, sự hồi sinh đã xảy ra ở một cộng đồng Việt Nam sinh sống ở Versailles, một ngôi làng nằm về hướng Đông New Orleans, cách trung tâm thành phố khỏang 13 dặm. Ngôi làng tuy nhỏ, nhưng ngay từ đầu năm nay ( tháng 1/2006) đã có hơn 1,000 người trở về, dựng lại hàng trăm căn nhà. Ngay lối vào khu vực, 24 cơ sở kinh doanh đã mở cửa trở lại, gồm các tiệm ăn, tiệm tạp hóa và ngay cả một văn phòng nha khoa. Trẻ em đã trở về, ghi danh đi học tại các trường công và tư lập. Ngòai ra, các công ty ở New Orleans thường đến cộng đồng Versailles để tuyển mộ nhân viên mà họ đang cần ngay một cách rất dễ dàng.</p>
<p>Nguyên nhân nào đã khiến một cộng đồng nhỏ bé, như cộng đồng Việt Nam ở Versailles, hồi sinh nhanh chóng, trong khi những khu vực chung quanh vẫn im lìm như một bãi tha ma ?</p>
<p>Ký gỉa Lance Hill (2) đã viết trong Louisiana Weekly như sau :</p>
<p><em>“ Sự hồi sinh của Versailles phần lớn là nhờ vào Giáo Xứ Nữ Vương Maria , với vị chánh xứ là linh mục Nguyễn Thế Viễn. Trước Katrina, giáo xứ này là trung tâm sinh họat tôn gíao và xã hội của hơn 4,000 người Việt Nam sinh sống trong khỏang 950 căn nhà chung quanh phạm vi một dặm của ngôi nhà thờ. Theo cha Viễn, có khỏang 1,000 người hiện sinh sống ở Versailles, cộng thêm với cũng khỏang 1,000 người nữa đang lục tục trở về vùng xung quanh New Orleans và đã sẵn sàng để xây dựng lại nhà cửa.</em></p>
<p><em>. . . Ngay từ những ngày đầu di tản, cộng đồng Versailles đã chuẩn bị một kế họach cùng nhau quay về và tái thiết ngôi làng. Chính quyết định cùng nhau trở về đã là một yếu tố quan trọng nhất giúp cư dân vượt qua được nỗi lo ngại rằng sự tái đầu tư của họ vào xây dựng lại ngôi làng có thể thất bại vì sau đó, ngôi làng đã không thể hồi sinh. Họ tin tưởng rằng, nếu họ mau chóng quay về và bắt đầu lại cuộc sống, chính quyền thành phố và các công ty điện nước sẽ cung cấp cho họ những nhu cầu cần thiết.</em></p>
<p><em>. . . Cộng đồng người Việt nam đã hồi sinh bất chấp mối đe dọa về lũ lụt có thể xảy ra trong tương lai, bất chấp những tốn kém rất lớn một khi cơ quan FEMA đòi hỏi họ phải nâng cao nền nhà họ đang ở để có thể đáp ứng được tiêu chuẩn đề ra bởi các công ty bảo hiểm trước khi họ bằng lòng bán ra các hợp đồng bảo hiểm lũ lụt. Tất cả những khó khăn đó dường như chẳng mảy may suy xuyển quyết tâm của cộng đồng người Việt Nam. Họ đã không chờ cho các cơ quan chính quyền bảo họ nên về hay không và khi nào thì nên quay về. . . .” (3)</em></p>
<p>Sau khi ghi nhận những sự kiện, Lance Hill tự đặt câu hỏi :</p>
<p><em>“. . . Liệu chúng ta học được gì từ phép lạ vừa xảy ra ở làng Versailles ( Versailles miracle ) ? Cộng đồng nhỏ bé người Việt có nhiều tính chất đặc thù giúp họ thành công trong việc tái dựng lại cuộc sống, mà một số tính chất ấy có thể đem áp dụng ở các cộng đồng khác. Trước hết, đó là tính chất một nền văn hóa đặt quyền lợi tập thể trên quyền lợi cá nhân, và trách nhiệm của mỗi cá nhân trong cộng đồng đó là phải giúp đỡ mọi người mỗi khi gặp khó khăn. Điều đó bắt nguồn từ ý thức rằng sự tồn tại của một cá nhân luôn luôn lệ thuộc vào sự tồn tại của cộng đồng mà cá nhân đó thuộc về.</em></p>
<p><em>. . . Có lẽ, yếu tố quan trọng nhất đưa đến phép lạ Versailles là cộng đồng người Việt đã không chỉ trông chờ vào sự cứu giúp của chính quyền. Trước hết, họ dựa vào chính mình . . . “(4)</em></p>
<p>Lance Hill hỏi một cư dân của Versailles rằng liệu ông có lo ngại rồi đây sẽ lại còn lũ lụt nữa và thế là bao công khó của ông sẽ lại trôi đi theo làn nước bạc, tác gỉa nhận được câu trả lời rất “ Việt Nam “ : “ <em>Đấy, như ông biết ! chúng tôi đã vượt thóat khỏi Việt Nam. Chúng tôi đã vượt thóat khỏi New Orleans. Giờ đây, chúng tôi đã quay trở về. Trở về để tiếp tục sinh sống nơi đây. “(5)</em> Anh nhà báo người Mỹ lại hỏi tiếp , nếu chính quyền thành phố mang xe hủ lô ( Bulldozer ) đến ủi sập làng thì sao ? Người Việt Nam ấy cười to , trả lời bằng cách hỏi ngược lại : “ <em>Liệu họ có dám ủi sập những căn nhà có người sinh sống ở trong đó hay không ? “(6)</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>Nghe thế, Lance Hill kết luận – <em>Ông ta nói có lý !(7)</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><strong>4.</strong></p>
<p>Một năm sau cơn bão thế kỷ Katrina. Một năm đủ dài để xóa tan mọi ảo vọng, đủ dài để bắt mọi người phải mở to mắt nhìn vào thực tại ( trong đó có tôi ). Bài học từ Versailles, xét cho cùng, dù New Orleans có học được, dù Biloxi có học được, cũng chỉ mang về những cư dân với trái tim héo úa và nụ cười ảm đạm như những đám mây giông trên bầu trời New Orleans hay Biloxi trong mùa bão. Theo tôi, người ta còn cần một thứ khác hơn nữa để làm sống lại New Orleans. Một thứ gì đó thật trừu tượng mà con số 110 tỉ Mỹ Kim Quốc Hội Hoa Kỳ phê chuẩn cho việc tái thiết hậu Katrina cũng không thể đem nó về được. Gần nửa thế kỷ trước, Louis Amrstrong ( Nhạc sĩ Jazz huyền thọai đã gắn liền tên tuổi của mình với New Orleans ) đã hỏi : “ <em>Do you know</em> <em>what it means to miss New Orleans</em> ? “ . Những ngày cuối tháng 8 năm 2006 có một cư dân 63 tuổi sinh ra, lớn lên ở New Orleans và vẫn còn tiếp tục bám trụ đã đưa ra câu trả lời . <em>I know what it means to miss New Orlean</em>. Đôi mắt ông gìa 63 tuổi thật xa vắng. Ông bảo <em>cái hồn thành phố đã vĩnh viễn ra đi, còn lại chỉ là mảnh đất xơ xác không một chút sinh lực. Vậy mà vẫn có người cứ mơ mộng rằng rồi đây New Orleans sẽ hồi sinh. Với tôi, New orleans đã chết rồi. Chết thật rồi.</em></p>
<p>Biết rằng New Orleans đã chết rồi, vậy mà ông gìa vẫn cương quyết bám trụ. Tôi lại nhớ đến người bạn tội nghiệp của mình. Tuy không sinh ra ở mảnh đất này, nhưng anh cũng hết lòng với nó không thua gì ông già “ New-Orleansian “ chính gốc nói trên. Liệu đây có đáng là một bài học cho những người khác noi theo không ?</p>
<p>Hay họ cũng chỉ là những ông gìa gàn dở lẩm cẩm chỉ sống bằng chút vang bóng của những ngày xưa cũ ?</p>
<p>T. Vấn</p>
<p>( Mùa bão 2006)</p>
<p>(1) Thực ra, ngay sau khi con bão Katrina tạm nguôi cơn thịnh nộ, chính phủ Liên Bang đã chi 25 tỉ đô la cho việc cứu trợ, trong đó, chỉ có 117 triệu đến được tay các nạn nhân ở New Orleans và các cuộc điều tra sau đó cho thấy, đã có ít nhất 2 tỉ bị lãng phí trong các công việc cứu trợ không thực sự liên quan đến người cần giúp đỡ. Tính đến nay ( tháng 8/2006), số tiền được phê chuẩn cho việc tái thiết cho những khu vực bị hư hại là 110 tỉ, nhưng mới chỉ có 44 tỉ được xử dụng. Cơ quan FEMA ( Federal Emergency Management Agency ) đã dùng 6 tỉ trong số tiền 44 tỉ này để cung cấp trực tiếp đến gấn 950,000 nạn nhân những chi phí về chỗ ở tạm thời. Đây là con số trợ cấp cao nhất cho nạn nhân những thảm họa thiên nhiên trong lịch sử Hoa Kỳ.</p>
<p>(2 ) Lance Hill, gốc gác từ Belleville , Kansas, hiện là gíao sư phụ giảng môn lịch sử ở đại học Tulane, New Orleans. Ông còn phụ trách mục bình luận trên tờ Louisiana Weekly phát hành ở New Orleans.</p>
<p>(3)(4)(5)(6)(7) Trích dịch từ : The Miracle of Versailles: New Orleans Vietnamese Community Rebuilds của Lance Hill . Louisiana Weekly. 23-1-2006</p>
<p>© T.Vấn 2006</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2006/09/neworleansmotnamsau/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Chuyện một gia đình di dân gốc Việt</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2006/09/chuyenmot/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2006/09/chuyenmot/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 23 Sep 2006 06:01:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[9]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 9 - 2006]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2006/09/chuy%e1%bb%87n-m%e1%bb%99t-gia-dnh-di-dn-g%e1%bb%91c-vi%e1%bb%87t/755/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2006/09/chuyenmot/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb47-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image002" title="clip_image002" /></a>Thế hệ chúng tôi , ở trong một hòan cảnh và hệ lụy lịch sử tuy khắc nghiệt, nhưng sự lựa chọn cho mình con đường trong lòng quê hương dân tộc không phức tạp như những người trẻ hôm nay ở hải ngọai. Vì ít nhất, chúng tôi sống trong lòng dân tộc. Chúng tôi chia nhau những khốn khó, những vui buồn với nhân dân mình. Ngày nay, cũng do hòan cảnh lịch sử, chúng tôi sống trên mảnh đất tha hương với tâm thức lưu vong, có nghĩa là tuy ra đi, chúng tôi vẫn mang theo bên mình hình ảnh của quê hương .  . . .]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00251.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 5px 20px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image002" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb47.jpg" border="0" alt="clip_image002" width="244" height="148" align="left" /></a></p>
<p><em>Hai chị em người Mỹ gốc Việt, có cùng ngày sinh nhật là 4 tháng 7</em></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong>1. </strong></p>
<p>Hôm 4 tháng 7, ngày Lễ Độc lập của Hoa Kỳ, một tờ báo địa phương đưa lên trang nhất hình ảnh hai chị em người Mỹ gốc Việt, tay cầm hai lá cờ sao ba màu xanh đỏ trắng, khuôn mặt tươi cười rạng rỡ. Kèm theo đó là một bài viết về gia đình hai cô gái nhỏ. Người cha , từ Việt Nam, sau biến cố 30 tháng tư năm 1975, ông phải tạm bỏ gia đình lại phía sau , vượt thoát đến Mỹ tháng 5 -1975. 5 năm sau, gia đình ông táo bạo tìm mọi cách vượt biên để đòan tụ với ông tại Mỹ. Ở mảnh đất rộng của rộng lòng này, họ đã cùng nhau gầy dựng một mái gia đình theo như truyền thống của văn hóa Việt Nam. Họ có với nhau 9 người con, tuổi từ 31 xuống tới người trẻ nhất là 10 tuổi . Trong số 9 người con ấy, có 3 người sinh vào cùng một ngày, chỉ khác năm : mùng 4 tháng 7. Vì thế, trong lúc những anh chị em khác mừng ngày sinh nhật của mình chỉ với đèn cầy, bánh cake , thì 3 người con này, ngòai đèn cầy, bánh cake quen thuộc, họ còn có thêm pháo bông (fireworks) mừng ngày họ chào đời hàng năm.</p>
<p>Một trong 3 người có may mắn sinh ra vào ngày 4 tháng 7 là một cô gái 18 tuổi. Từng tuổi này, sống trong một gia đình còn cố gắng duy trì những nếp văn hóa mang theo từ quê hương , cô đã cảm nhận được sự sâu xé trong tâm hồn mình. Một bên là gốc rễ Việt nam , dù nơi đó, theo lời cha cô kể lại, không có những thứ cô và các anh chị em mặc nhiên thụ hưởng nơi đây , mà thiêng liêng hơn hết là Tự Do. Cũng vì lý do đó mà cha mẹ cô đã phải bỏ lại tất cả sản nghiệp, bà con thân thuộc , mồ mả cha ông đi lập nghiệp ở một nơi không người thân kẻ thuộc. Mặt khác, sinh ra , rồi được cắp sách đến trường, có những quan hệ xã hội trong môi trường hòan tòan khác hẳn với nếp sinh họat , nếp nghĩ của một mái gia đình chen chúc bên nhau với 9 anh chị em ruột thịt, chung đụng nhau đủ mọi thứ, kể cả những riêng tư thầm kín, khiến cô có lúc tự hỏi chính mình : <em>mình là người Việt hay người Mỹ ?</em></p>
<p>Cô thú nhận rằng, các người anh chị lớn của cô còn ít nhiều biết nói và đọc, viết tiếng Việt, cũng như có những hiểu biết về lịch sử, văn hóa Việt Nam. Từ cô gái 18 tuổi này trở xuống , tiếng Việt của họ chỉ vừa đủ cho những sinh họat thường ngày trong nhà , không ai biết nhiều về đất nước nơi cha mẹ mình sinh ra bằng những kiến thức của họ về nước Mỹ, mà hàng năm vào ngày 4 tháng 7, họ cùng với gần 300 triệu người Mỹ ăn mừng Lễ Độc Lập , đồng thời cùng với gia đình ăn mừng sinh nhật của 3 người con trong nhà.</p>
<p>Cô gái 18 tuổi còn thố lộ rằng, đã nhiều lần cô có ý định cùng với cha mẹ về thăm Việt nam để được tận mắt nhìn thấy mảnh đất có tên gọi Việt Nam rất quen thuộc với cô, nhưng cô e dè, sợ sệt vì cô không biết nhiều về những tập tục văn hóa, khiến cô có thể nói hoặc làm điều gì đó gây sự xúc phạm nơi những người cô tiếp xúc.</p>
<p><strong>2.</strong></p>
<p>Cô gái trẻ 18 tuổi , cùng với những người anh chị em của mình trong một gia đình Việt Nam ở thành phố nơi tôi sinh sống đã được giới truyền thông địa phương nêu bật lên như một điển hình của sự hội nhập với dòng sống nơi họ ngụ cư. Họ chụp bức hình rất đẹp hai chị em cùng có ngày sinh nhật 4 tháng 7 cầm hai lá cờ Mỹ trên tay. Với họ, sự trùng hợp ngẫu nhiên cùng với lý do sự có mặt của gia đình di dân điển hình ấy trên mảnh đất này là bằng chứng hùng hồn nhất cho những giá trị rất cao quý mà ngày kỷ niệm lễ độc lập hàng năm hướng về. Vì những giá trị ấy, những giá trị có tên Tự Do , Dân Chủ, Công Bằng, Bình Đẳng mà ngày 4 tháng 7 trở thành ngày lễ long trọng , mà gia đình di dân Việt nam nói trên có mặt từ hơn 30 năm nay . Với người Mỹ bản xứ, đó là một kết hợp đầy ý nghĩa và đáng trân trọng. Và, nếu họ không bận tâm lắm về việc gia đình ấy có còn giữ được bản sắc riêng của dân tộc mình khi đã hòan tất quá trình hội nhập thì cũng là một điều dễ hiểu. Chính họ, nhiều trăm năm trước, cũng là một thành phần di dân đến từ một góc nào đó của thế giới.</p>
<p><strong>3.</strong></p>
<p>Nhưng, tôi vẫn cảm thấy điều gì đó khiến cứ băn khoăn mãi khi đọc câu chuyện về một gia đình Việt Nam sinh sống trong cùng thành phố.</p>
<p>Cô gái trẻ, đáng yêu biết bao khi cô nở nụ cười thật tươi trên trang nhất tờ báo. Cô cảm thấy thật sung sướng được sinh ra, lớn lên và có cùng ngày sinh với đất nước đang dung chứa gia đình gồm cha mẹ và 9 người anh chị em của cô.</p>
<p>Đáng yêu hơn nữa, cô còn có những trăn trở của một người Việt Nam sinh sống trên mảnh đất xa quê. Cái trăn trở đến từ tâm thức khắc khỏai về nguồn cội của mình, về trách nhiệm của mình với mảnh đất mình ao ước được nhìn thấy, được đặt chân đến nhưng còn e dè, sợ sệt vì thấy nó sao xa lạ quá.</p>
<p>Cũng trên trang viết nhỏ này, tôi đã có lần nói đến nhiệm vụ kép của những người trẻ Việt nam sinh ra và lớn lên ở hải Ngọai : <em>vừa cố gắng vươn lên nơi xứ người, vừa phải cố gắng bảo tòan</em> <em>bản sắc dân tộc</em>. Nhiệm vụ ấy có thể là một gánh nặng quá sức cho họ, cũng có thể là một cơ hội thách thức rất quý báu để cho những người trẻ ấy trui rèn chính mình. Nhưng, có công bằng không, khi chúng ta &#8211; những người cha, người mẹ, người anh, người chị &#8211; cứ để mặc cho con em mình dọ dẫm , mò mẫm lấy những điều lẽ ra chúng ta có thể cầm lấy tay họ, chỉ cho họ con đường gần nhất để thực hiện trọn vẹn trọng trách mà thời đại đã giao phó cho họ ?</p>
<p>Như cô gái trẻ ở trên, chỉ cần những người thân thuộc trong gia đình cô, cầm tay dẫn dắt, thì những e dè, sợ sệt chắc chắn chẳng thể là một chướng ngại trong quá trình về nguồn mà cô đang dọ dẫm.</p>
<p><strong>4.</strong></p>
<p>Thế hệ chúng tôi , ở trong một hòan cảnh và hệ lụy lịch sử tuy khắc nghiệt, nhưng sự lựa chọn cho mình con đường trong lòng quê hương dân tộc không phức tạp như những người trẻ hôm nay ở hải ngọai. Vì ít nhất, chúng tôi sống trong lòng dân tộc. Chúng tôi chia nhau những khốn khó, những vui buồn với nhân dân mình. Ngày nay, cũng do hòan cảnh lịch sử, chúng tôi sống trên mảnh đất tha hương với tâm thức lưu vong, có nghĩa là tuy ra đi, chúng tôi vẫn mang theo bên mình hình ảnh của quê hương . Nhờ vậy, ở những gia đình còn nặng lòng với đất nước, con em của họ cũng chia xẻ được phần nào cái hồn đất nước đi theo cùng với cha mẹ anh em qua truyền thống gia đình, qua ngôn ngữ xử dụng hàng ngày, qua nếp sống vương vất ít nhiều tập tục, lề thói Việt Nam, qua sự cư xử chan hòa tình nghĩa với nhau trong mọi quan hệ xã hội. Ở những gia đình đó, sự trăn trở của con em họ có phần bớt gay gắt, không phải vì sự đối kháng giữa hai nền văn hóa ít khốc liệt hơn, mà nhờ sự hỗ trợ của hồn nước tích lũy dần dần trong tâm thức của họ. Nói cách khác, mái gia đình truyền thống Việt nam trên mảnh đất xứ người là một sự chuẩn bị chu đáo nhất cho những người trẻ hòan thành nhiệm vụ kép trong tương lai. Một nhiệm vụ mà, sự thành bại của nó, là kết quả sự đầu tư đúng đắn của thế hệ cha anh.</p>
<p>5.</p>
<p>Kế thừa di sản ( của người đi trước ), đồng thời giữ gìn và phát huy di sản ấy luôn luôn là nhiệm vụ của kẻ đi sau. Nhưng, trước hết, thế hệ đi trước phải biết hòan thiện những thành đạt của thế hệ mình, biết đào luyện những thế hệ kế thừa, bằng tinh thần vì hạnh phúc của những thế hệ mai sau chứ không phải nhằm thỏa mãn những cảm tính nhất thời ngắn hạn của thời đại mình.</p>
<p>Tôi biết rằng, không dễ dàng gì cho những người trẻ hôm nay ( như cô gái trong câu chuyện 4 tháng 7 của tôi) có sự chọn lựa riêng cho mình về những gì mình sẽ kế thừa.</p>
<p><em>Về Nguồn. Một sứ mạng , thực ra, không phải lúc nào cũng dễ dàng. Khác với những thế hệ cha anh, mà sự ra đi của họ đồng nghĩa với một sự lựa chọn, thế hệ trẻ Việt Nam sinh trưởng ở nước ngòai không có sự lựa chọn ấy. Vì thế, khi lựa chọn Trở Về ( đúng hơn là một cuộc đi tìm kiếm chính mình ), những người trẻ đã phải đương đầu với cái rào cản vô hình là qúa khứ của cha anh, một thứ quá khứ ít nhiều đã bị nhiễm độc bởi không chỉ cuộc chiến 30 năm mà còn bởi những gì xảy ra trong 30 năm sau khi tiếng súng chấm dứt. ( T.Vấn &#8211; Xin Chào Việt Nam)</em></p>
<p>Có lẽ vì những rào cản đó, mà cô gái trẻ ở cùng thành phố với tôi và nhiều những người trẻ khác vẫn còn mang tâm thức e dè, sợ sệt khi nhìn về nguồn gốc của mình.</p>
<p><em>© T.Vấn 2006</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2006/09/chuyenmot/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Di dân và bản sắc nước Mỹ</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2006/09/didan/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2006/09/didan/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 16 Sep 2006 05:57:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[9]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 9 - 2006]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2006/09/di-dn-v-b%e1%ba%a3n-s%e1%ba%afc-n%c6%b0%e1%bb%9bc-m%e1%bb%b9/751/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2006/09/didan/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb46-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image002" title="clip_image002" /></a>Công luận Mỹ, tuy không hài lòng với những diễn biến của tình hình di dân hiện nay, nhưng phần lớn, đều nhận ra một điều : họ ( và cả chúng ta, những di dân đến từ Việt Nam ) đang sống trong một nước Mỹ với rất nhiều những thay đổi, không chỉ ở trên bề mặt như thành phần kinh tế, sắc tộc mà còn diễn ra sâu xa ở những lãnh vực văn hóa, xã hội, truyền thống. Ngày nay, ngay ở trên nước Mỹ, họ có thể ăn một tô phở chính gốc của người Việt Nam ( không cần phải cầu kỳ như cựu Tổng thống Clinton mấy năm về trước ghé tận Sài Gòn mới được thưởng thức món ăn phổ thông nhất ấy ) . . .]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00250.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 0px 20px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image002" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb46.jpg" border="0" alt="clip_image002" width="244" height="161" align="left" /></a></p>
<p><strong>1.</strong></p>
<p>Một nhà báo Mỹ, trong khi quan sát những cuộc xuống đường gần đây của các tổ chức ủng hộ cho quyền di dân ở những thành phố lớn như Los Angeles ( CA), Phoenix ( Arizona ), Atlanta ( GA) đã đặt câu hỏi :</p>
<p><em>Đất nước này là đất nước của ai vậy ? tại sao những người từ những nước khác, nhập cư vào Mỹ một cách bất hợp pháp, rồi tiếp tục sinh sống bất hợp pháp , lại có quyền đòi hỏi rằng nước Mỹ, không những phải cho phép họ sinh sống hợp pháp nơi đây, mà còn phải yểm trợ họ bằng tiền đóng thuế của những công dân Mỹ sống theo luật pháp ? Có phải chúng ta đã trở nên điên khùng rồi không ? </em></p>
<p><em>Hãy đọc một hàng tiêu đề lớn trên một tờ báo về cuộc biểu tình ở Phoenix. &#8221; Hàng ngàn người xuống đường đòi quyền Di Dân ? &#8220;</em></p>
<p><em>Quyền gì mà họ nói đến ở đây vậy? nếu họ có mặt ở đây bất hợp pháp, họ chỉ có một quyền duy nhất là rời khỏi đất nước này, vì theo Hiến Pháp của nước Mỹ, họ không có quyền gì hết. Tương tự như, một người Mỹ không có lý do gì để đòi hỏi được hưởng những quyền lợi của một công dân Mexico nếu người ấy chọn sinh sống một cách bất hợp pháp trên nước Mexico . Những người biểu tình ở Los Angeles đã trương lá cờ của Mexico, điều đó cho chúng ta biết đâu là nguồn cội của họ. Đã có những người bỏ xưởng làm không lý do, những học trò bỏ lớp để tham gia vào các cuộc biểu tình. Những người ấy phải được yêu cầu chứng minh rằng họ là những di dân hợp pháp. Bằng không, phải có những biện pháp để trục xuất họ về nước.( Cal Thomas- Tribune Media Services) </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><strong>2.</strong></p>
<p>Cũng một nhà báo Mỹ khác, lại có những ý kiến trái ngược.</p>
<p><em>Bằng cách nhìn thật kỹ ý nghĩa ở đằng sau những cuộc biểu tình đòi quyền di dân ở những thành phố lớn khắp nước Mỹ những ngày gần đây, người ta nhận ra một điều là chính cộng đồng những người Hispanic ( gồm người Mexico và những di dân đến từ các quốc gia Nam Mỹ ) đã gởi một thông điệp rất kịp thời nhắc nhở mọi người về một thành phần đáng kể trong cộng đồng di dân người Mỹ mà bấy lâu nay họ thường bị quên lãng. Từ trước tới nay, họ ( những người di dân bất hợp pháp ) vốn không có đại diện chính thức trong các cuộc tranh cãi ở Quốc Hội liên quan đến vận mệnh của chính họ và gia đình. Nhiều cuộc khảo sát đã cho thấy rằng, luận điểm chính nhất mà những người chủ trương trục xuất người di dân bất hợp pháp về nước đã không có cơ sở vững chắc. Luận điểm ấy cho rằng, những người di dân hợp pháp ( cùng với người Mỹ chính gốc ) tỏ ra không bằng lòng với sự hiện diện của những người nhập cư bất hợp pháp , vì những người này đã làm cho công ăn việc làm khan hiếm hơn, cũng như làm cho việc định cư hợp pháp ở nước Mỹ trở nên khó khăn hơn . Một công ty trưng cầu ý kiến chuyên nghiệp, vừa hòan tất cuộc khảo sát 800 người di dân hợp pháp sống ở 47 tiểu bang, đến từ 43 quốc gia khác nhau trên toàn thế giới. Con số 800 người nói trên được lựa chọn như vậy nhằm phản ánh trung thực tổng số 26 triệu người di dân hợp pháp hiện đang sống trên nước Mỹ. Kết quả cuộc trưng cầu ý kiến cho thấy, 81% trong số 800 người di dân hợp pháp nói trên cho rằng 11 triệu người di dân bất hợp pháp đang làm những công việc, mà họ ( cùng với các công dân Mỹ khác ) không muốn làm , và chỉ có 11% cho rằng những người này ( di dân bất hợp pháp ) đã chiếm mất những công việc lẽ ra họ (di dân hợp pháp và công dân Mỹ ) có thể có được. </em></p>
<p><em>Liên quan đến tình hình kinh tế nước Mỹ, 73% cho rằng những người di dân bất hợp pháp đã giúp đưa kinh tế lên cao nhờ vào việc họ đã chấp nhận những công việc lao động lương thấp, và 17% phần trăm nói rằng việc những người này ( di dân bất hợp pháp ) chấp nhận làm việc với mức lương rất thấp đã khiến cho kinh tế ( nước Mỹ ) trở nên tồi tệ vì mức lương tối thiểu không tăng lên được.( David Broder- Washington Post Writer group)</em></p>
<p><strong>3.</strong></p>
<p>Thực ra, vấn đề di dân , &#8211; không chỉ vấn đề nên hay không nên trục xuất những người di dân bất hợp pháp đang sinh sống ở nước Mỹ &#8211; hiện là một đề tài nóng bỏng trong công luận Mỹ. Phần lớn dân chúng Mỹ không bằng lòng với sự có mặt bất hợp pháp của những người đến từ các nước khác, với lý do đơn giản là vì nước Mỹ là một quốc gia đặt căn bản trên luật pháp, bất cứ điều gì trái luật đều không chấp nhận được. Nhưng khi đối diện với những khó khăn trong việc trục xuất những khách không mời mà đến, tức 11 triệu người bao gồm cả gia đình của họ, trước hết là về mặt ngân sách, có thể lên tới hàng mấy trăm tỉ Mỹ Kim, và kéo dài cả hàng chục năm trước khi công việc có thể hoàn tất , con số đó khiến nhiều người chóng mặt, và, đồng thời khiến họ thêm phẫn nộ. Mặt khác, ngay cả vấn đề phong tỏa biên giới với Mexico nhằm ngăn chặn làn sóng người nhập cư bất hợp pháp từ cửa ngõ nước này vẫn không phải là không có những tranh cãi. Đề nghị dựng một hàng rào cố định ngăn chia hai nước dọc theo biên giới đã bị phê bình là khôn g thực tế và có phần tàn ác, dã man, vì đã hoàn toàn làm ngơ trước tình cảnh &#8221; mười phần chết chín &#8221; của những người vẫn cố tìm cách đi tìm một thiên đường Mỹ quốc. Đề nghị tăng cường thêm lực lượng 11 ,000 ngàn nhân viên cảnh sát tuần phòng biên giới vẫn gây sự không tin tưởng nơi những người thực tế, vì họ cho rằng nó ngốn thêm vào ngân sách và chưa hẳn đã mang lại hiệu quả mong đợi vì , từ trước tới nay , lực lượng ấy vẫn không ngăn nổi làn sóng người vượt biên giới, dựa trên con số 4 triệu người di dân bất hợp pháp đầu những năm 80 đã phóng vọt lên 11 triệu người ở năm 2006.</p>
<p><em>Nhưng có lẽ, ở phía dưới đáy những cuộc tranh luận ấy, người ta có thể nhận ra một vấn đề sâu xa hơn , liên quan đến tất cả những làn sóng di dân đến nước Mỹ từ đầu thế kỷ 20, trong đó bao gồm cả những người di dân hợp pháp lẫn không hợp pháp, mà vấn đề kinh tế và luật pháp chỉ là bề mặt. Đó là vấn đề bản sắc nước Mỹ ( American Identity ).</em></p>
<p><strong>4.</strong></p>
<p>Có thể đặt vấn đề bản sắc nước Mỹ trong khuôn khổ nỗi lo sợ thầm kín của người Mỹ trước làn sóng người nhập cư đã không chịu đồng hóa vào dòng sống ( invasion without assimilation ) -dù chỉ mới hơn 300 năm tuổi &#8211; , của nước Mỹ, mà cụ thể nhất là vấn đề ngôn ngữ. Nhiều người Mỹ rất khó chịu trước việc những người di dân nói tiếng Tây ban Nha ( Spanish) đã không nỗ lực học tiếng Anh, ngôn ngữ chính thức của nước Mỹ. Theo họ, để trở thành một công dân Mỹ, điều kiện tiên quyết là người ấy phải nói, nghe , đọc và viết tiếng Anh, nếu không hoàn toàn thông thạo, thì ít nhất, cũng phải ở mức căn bản. Mặt khác, vấn đề gìn giữ phong tục tập quán truyền thống của những người di dân đến từ nhiều nước khác nhau, không phải là không có vấn đề tranh cãi. Một mặt, những người ủng hộ thì cho rằng việc những người di dân duy trì phong tục tập quán riêng của họ, từ cách ăn, cách mặc, cách tổ chức và kỷ niệm những ngày lễ dân tộc ( của người di dân ) làm phong phú thêm nền văn hóa vốn đã rất đa dạng của nước Mỹ. Nhưng cũng không ít người Mỹ cho rằng việc duy trì những nét rất riêng ấy từ quê hương gốc của những người di dân đã đe dọa tính tổng thể của nền văn hóa mang nét đặc trưng của người Mỹ, dù nét đặc trưng ấy vốn nguyên thủy cũng chỉ là sự pha trộn văn hóa từ nhiều dân tộc khác nhau.</p>
<p>Sự việc lá cờ của nước Mexico và một số các quốc gia Châu Mỹ La Tinh khác được những người biểu tình &#8221; đòi quyền di dân &#8221; phất lên trong khi xuống đường tuần hành ở những thành phố lớn ( nhất là ở Los Angeles ) thời gian vừa qua ( điển hình là ngày &#8221; không có những di dân &#8221; Thứ hai 1 tháng 5 -2006 ) lại càng làm cho vấn đề bản sắc Mỹ trở nên nổi cộm hơn. Dường như tình hình , thêm một lần nữa, trở nên phức tạp , khi, mới đây nhất, việc bản Quốc ca Mỹ ( The Star-Spangled Banner ) được một số ca sĩ nổi tiếng gốc Latin hát bằng tiếng Tây Ban Nha và thâu thanh, rồi sau đó được phát trên các đài phát thanh nói tiếng Tây Ban Nha đã gây nên nhiều sự phản đối trên toàn nước Mỹ, kể cả Tổng Thống Mỹ G. Bush. Ông cho rằng bản quốc ca của nước Mỹ phải được hát bằng tiếng Anh , chứ không phải một thứ ngôn ngữ nào khác ( Cần biết thêm rằng, ngoài bản quốc ca The Star-Spangled Banner , nước Mỹ còn có những bản nhạc khác, thông dụng không kém và thường được hát trong những dịp lễ lậy, chính thức hay không chính thức, đó là các bài America the Beautiful hay Amazing Grace, God Bless America. Nhạc sĩ Phạm Duy đã viết lời Việt cho những bài hát này và trình diễn vào những năm cuối thập kỷ 70 khi ông và gia đình còn đi đây đó lưu diễn khắp nước Mỹ.).</p>
<p><strong>5.</strong></p>
<p>Công luận Mỹ, tuy không hài lòng với những diễn biến của tình hình di dân hiện nay, nhưng phần lớn, đều nhận ra một điều : họ ( và cả chúng ta, những di dân đến từ Việt Nam ) đang sống trong một nước Mỹ với rất nhiều những thay đổi, không chỉ ở trên bề mặt như thành phần kinh tế, sắc tộc mà còn diễn ra sâu xa ở những lãnh vực văn hóa, xã hội, truyền thống. Ngày nay, ngay ở trên nước Mỹ, họ có thể ăn một tô phở chính gốc của người Việt Nam ( không cần phải cầu kỳ như cựu Tổng thống Clinton mấy năm về trước ghé tận Sài Gòn mới được thưởng thức món ăn phổ thông nhất ấy ), nghe nhạc truyền thống của người Mexico, mướn một cuốn phim Ấn Độ , hay vào thăm viếng một đền thờ của người Hồi Giáo, thực tập tiếng Tây Ban Nha ở bất cứ thành phố nào họ dừng chân. Vấn đề là liệu họ có khả năng tự điều chỉnh với những thay đổi ấy không. Và không phải là không có cảm giác sợ hãi trước những biến đổi, rồi sự sợ hãi ấy biến thành phản ứng tự nhiên như khó chịu, thậm chí, tìm cách ngăn chận , khiến ác cảm nảy sinh giữa những công dân Mỹ &#8221; truyền thống &#8221; và công dân Mỹ &#8221; mới &#8220;.</p>
<p>Nếu lịch sử nhân loại là một bài học thường xuyên cần được cập nhật, thì đã đến lúc người ta cần nhìn những quần thể con người dưới khía cạnh &#8221; động &#8221; ( move), chứ không phải khía cạnh &#8221; tĩnh &#8221; ( static) . Ngôn ngữ con người là một chất lỏng, nó &#8220;chảy&#8221; và có thể được &#8220;chứa&#8221; dưới bất cứ &#8220;vỏ đựng&#8221; nào . Văn hóa cũng thế, nó không ngừng chuyển thể. Và con người, &#8211; do chiến tranh, do nguồn thực phẩm, do sự nẩy sinh những cơ hội, những hy vọng &#8211; di chuyển, tái định cư. Đó là khuôn mặt mới của thế giới ngày nay,nhất là ở nước Mỹ, một quốc gia có mức sống ( vật chất ) ở trong số những quốc gia dẫn đầu thế giới . Và hơn nữa, Mỹ còn là mảnh đất, bất cứ ai, bằng tài năng và sự kiên trì, đều có thể thành công. Do đó, không ngạc nhiên nếu khuôn mặt bản sắc nước Mỹ thay đổi nhanh chóng, với làn sóng người từ khắp nơi trên thế giới &#8211; hợp pháp hay không hợp pháp &#8211; đổ về .</p>
<p><strong>6.</strong></p>
<p>Từ đó, vấn đề thách đố lớn nhất với xã hội Mỹ ( trong đó bao gồm những người di dân từ mọi quốc gia nguyên gốc ) là khả năng tự điều chỉnh và hội nhập ở các nhóm thành viên cấu thành xã hội đa chủng và liên hiệp ( united). Những đạo luật ( hợp thức hóa người di dân bất hợp pháp hay trục xuất họ về nước ) vẫn chỉ là giải quyết vấn đề về mặt luật pháp. Còn về mặt cấu trúc xã hội, để giải quyết vấn đề ấy đòi hỏi một nỗ lực cao hơn những phát biểu mị dân kiếm phiếu của các vị dân cử.</p>
<p><em>Toàn xã hội (Mỹ) phải nhìn ra được cốt lõi của vấn đề là : làn sóng người ồ ạt đến định cư ở nước Mỹ không hề đe dọa bản sắc dân tộc của nước Mỹ, mà chính sự thẩm thấu và hội nhập ấy là bản sắc dân tộc của người Mỹ, như đã được minh chứng từ ngày đầu tiên nước Mỹ được thành lập cho đến nay.▪</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>©T.Van 2006</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2006/09/didan/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Những tình khúc một thời nhiễu nhương</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2006/09/nhungtinh/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2006/09/nhungtinh/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 09 Sep 2006 05:53:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[9]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 9 - 2006]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2006/09/nh%e1%bb%afng-tnh-khc-m%e1%bb%99t-th%e1%bb%9di-nhi%e1%bb%85u-nh%c6%b0%c6%a1ng/747/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2006/09/nhungtinh/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb17-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image001" title="clip_image001" /></a>Lời Tựa Tuyển Tập Nhạc &#8221; Mười Lăm Tình Khúc- Chiến Mã Ca &#8221; của Nhạc sĩ Trần Lê Việt
 
 
<a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00119.jpg"></a>
Chiến Mã -Tranh củaTrần Thanh Châu
■Ngựa về gục khóc Trường      Giang lạnh
Gươm súng đưa chàng theo núi sông
Chiến tranh, thời nào cũng có. Nhưng trong thời đại của chúng tôi, nó được gắn liền với hình ảnh bi tráng nhất mà trí tưởng tượng của loài người có được. Chúng tôi, một thế hệ tuổi trẻ Việt Nam, sinh ra, lớn lên và trưởng thành trong và bởi chiến tranh. Vết chàm bi tráng ấy, cùng với vận nước nổi trôi, đã ám ảnh chúng tôi suốt một thời tuổi trẻ. . .
Những buổi đến lớp học, thấy mỗi ngày một đứa lặng lẽ biến mất. Chúng nó &#8211; tình nguyện hay bị bắt buộc &#8211; theo nhau đi vào cuộc chiến. Những buổi[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><em>Lời Tựa Tuyển Tập Nhạc &#8221; Mười Lăm Tình Khúc- Chiến Mã Ca &#8221; của Nhạc sĩ Trần Lê Việt</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00119.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 0px 20px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image001" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image001_thumb17.jpg" border="0" alt="clip_image001" width="171" height="244" align="left" /></a></p>
<p><strong>Chiến Mã -Tranh củaTrần Thanh Châu</strong></p>
<p>■<em>Ngựa về gục khóc Trường      Giang lạnh</em></p>
<p><em>Gươm súng đưa chàng theo núi sông</em></p>
<p>Chiến tranh, thời nào cũng có. Nhưng trong thời đại của chúng tôi, nó được gắn liền với hình ảnh bi tráng nhất mà trí tưởng tượng của loài người có được. Chúng tôi, một thế hệ tuổi trẻ Việt Nam, sinh ra, lớn lên và trưởng thành trong và bởi chiến tranh. Vết chàm bi tráng ấy, cùng với vận nước nổi trôi, đã ám ảnh chúng tôi suốt một thời tuổi trẻ. . .</p>
<p><em>Những buổi đến lớp học, thấy mỗi ngày một đứa lặng lẽ biến mất. Chúng nó &#8211; tình nguyện hay bị bắt buộc &#8211; theo nhau đi vào cuộc chiến. Những buổi chiều Sài Gòn chợt mưa chợt nắng chia tay người yêu mà không biết chắc rằng lần hẹn tới có còn đến với nhau được nữa hay không. Những đêm dài chiến địa, nốc chai rượu đế cay xè, căng mắt mệt mỏi nhìn vào khoảng tối hư không  chờ đợi những kẻ thù không một lần biết mặt. Những giọt nước mắt quệt vội cho người bạn vừa nằm xuống đâu đó trên một vùng đất  xa lạ bỗng chốc trở nên quen thuộc với người thành phố . . .</em></p>
<p>Và khi tiếng súng không còn nổ trên những mảnh ruộng khô cằn, trong những làng mạc phố xá đìu hiu, thì chúng tôi &#8211; những kẻ chẳng may sống sót &#8211; tiếp tục phí phạm tuổi trẻ của mình trong những nhà tù tiền sử trải dài trên khắp miền đất nước. Trong những năm tháng tủi nhục, qua thân phận nửa thú nửa người ,  chúng tôi đau xót hiểu được hơn ai hết, cái cảm thức lưu đày ngay trên chính quê hương của mình, miền quê hương mà chúng tôi đã góp một phần đời &#8211; mà bạn bè chúng tôi, có những đứa đã góp cả cuộc đời &#8211; để chiến đấu  bảo vệ. Rồi sau đó là những năm tháng vất vả long đong với miếng cơm manh áo, và những chuyến tìm đường vượt biên thất bại sau khi được thả ra khỏi nhà tù nhỏ để bước vào một nhà tù khác rộng lớn hơn. Một lần nữa, chúng tôi bị bắt buộc làm người ăn nhờ ở đậu, người tạm trú ngay trong căn nhà chúng tôi được sinh ra, trong thành phố chúng tôi lớn lên, trên quê hương chúng tôi đã đổ máu gìn giữ.</p>
<p>Cuối cùng là cuộc lưu vong tự nguyện. Chúng tôi hân hoan rời bỏ địa ngục &#8211; quê nhà chúng tôi năm ấy &#8211; để bước vào một cuộc đời mới. Nơi đây, hình như chúng tôi có tất cả, chỉ thiếu tuổi trẻ  và những khát vọng đội đá vá trời đã từng sôi sục trong buồng ngực chúng tôi năm xưa, dù là trong những ngày tháng tù đày. Và thế là lại bắt đầu cho những ngày tháng dằn vặt mới. Chúng tôi chưa đủ già để chỉ sống với quá khứ và chờ ngày về với đất  (khách), nhưng chúng tôi cũng không còn đủ trẻ để có thể hăm hở bước về phía trước mong khâu vá những đổ vỡ. Vở BI KỊCH THỜI ĐẠI  đang ở cao độ của xung đột kịch tính. Để diễn tả toàn bộ tính chất thời đại của vở kịch bi tráng này, đã có nhiều người &#8211; ngoài cuộc cũng như trong cuộc &#8211; xử dụng nhiều phương tiện văn học nghệ thuật khác nhau như văn, thơ, hồi ký, biên khảo, âm nhạc. Trong số này, âm nhạc &#8211; do khả năng truyền đạt rộng rãi và dễ dàng &#8211; đã được chú ý nhất, tuy số tác phẩm không nhiều .</p>
<p>. . . Và tôi có trong tay, tập CHIẾN MÃ CA  của Trần Lê Việt, gồm 15 bài hát mà Tác giả muốn được gọi là những tình khúc ,theo cái nghĩa không thông thường và nguyên thủy của tên gọi &#8211; <em>nỗi lòng của con người được diễn đạt bằng sự hòa hợp của âm thanh và ngôn ngữ.</em> 15 Tình khúc này được thai nghén, sinh đẻ và nuôi dưỡng trong suốt chiều dài hơn  một phần tư thế kỷ của cơn lốc lịch sử &#8211; bị cuốn trong cơn lốc ấy là tác giả và bạn bè &#8211; với khoảng không gian cũng rộng không kém &#8211; từ miền đất lưu đày quê nhà đến lưu vong quê hương của người &#8211; Là người trong cuộc &#8211; <em>trong thời buổi điêu linh ấy</em> <em>ai mà không phải là người trong cuộc</em> &#8211; Trần Lê Việt đã nói lên, cho chính mình và cho bạn bè, những nỗi lòng bi thiết nhất về quê hương, về thân phận, về tình yêu và về bè bạn. Từng ấy hệ lụy, trên bối cảnh có một không hai trong lịch sử hiện đại , tưởng phải tốn thật nhiều giấy mực mới có thể ghi lại trọn vẹn được. Nhưng chúng tôi &#8211; những người lính năm xưa mang cùng số phận nghiệt ngã như tác giả &#8211; hình như  đã thấy lại được chính mình  trong những bài hát ấy. Có những bài, khi hát lên, quá khứ đau thương của chúng tôi từ nhiều năm về trước như sống lại . Vì chúng đã từng được cất lên trong những nhà tù khổng lồ từ Bắc vào Nam, trên những chuyến xe chuyển tù xếp cá hộp với từng cổ tay gầy giơ xương bị còng chung một cái còng số 8. Có những bài hát về thân phận tuổi trẻ chúng tôi cùng những ước mơ tình yêu ngày mới lớn bị thui chột vì chiến tranh, vì tù đày. Có những bài hát về nỗi cô đơn của chúng tôi những ngày lưu vong quê người, thèm được ngồi bên bạn bè để nhắc chuyện người chuyện đời thương đau, để cùng nhìn về đại dương, ta thấy bóng quê nhà ở đó. Chúng tôi gậm nhấm những vết thương chưa thành sẹo ấy trong cân não mình qua âm vang những bài hát của quá khứ , của hiện tại , để tự nhủ lòng rằng trái tim già nua này đây chưa hẳn đã nguội lạnh , vì nó vẫn còn biết đau đớn, biết khao khát, biết nói lời yêu thương với cuộc đời . . .</p>
<p>Trong ý nghĩa đó, CHIẾN MÃ CA   là chứng từ  sống về một thời đại nhiễu nhương, là kinh cầu hồn cho một thế hệ tuổi trẻ Việt Nam tội nghiệp . . .</p>
<p>T. Vấn</p>
<p>( Trích  Về một thời bi tráng )</p>
<p>© T.Vấn 2006</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2006/09/nhungtinh/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Ân sủng Trần Gian</title>
		<link>http://t-van.net/wordpress/2006/09/ansung/</link>
		<comments>http://t-van.net/wordpress/2006/09/ansung/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 02 Sep 2006 05:46:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[9]]></category>
		<category><![CDATA[Tháng 9 - 2006]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://t-van.net/wordpress/2006/09/n-s%e1%bb%a7ng-tr%e1%ba%a7n-gian/743/</guid>
		<description><![CDATA[<a href="http://t-van.net/wordpress/2006/09/ansung/"><img align="left" hspace="5" width="100" height="100" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb45-100x100.jpg" class="alignleft wp-post-image tfe" alt="clip_image002" title="clip_image002" /></a><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00249.jpg"></a>
■ Gởi linh hồn Bé Alexandra Scott, ở Vườn Địa Đàng, như một lời đưa tiễn em. Gởi bé Arabella Uhry ở New York, như một lời cám ơn em đã giúp tôi nhìn ra sự hèn mọn của chính mình.
● Tuổi thơ thơm như sách mới
sáng như gương soi trên mặt trời.
( Trầm Tử Thiêng )
Và rồi những ngày hè đã qua đi. Mùa khai trường lại trở về. Trên đường phố lại thấy xuất hiện những chiếc xe chở học sinh quen thuộc, và sáng sáng, quanh những ngã tư gần khu vực trường học, cảnh kẹt xe lại tái diễn với sự nhẫn nại thường lệ của cư dân thành phố. Hôm đầu tuần, đưa các con tôi đi mua sắm vật dụng sách vở cho năm học mới tại chợ Wal-mart, nhìn những em nhỏ xôn xao ríu rít bên[...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00249.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 0px 15px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image002" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image002_thumb45.jpg" border="0" alt="clip_image002" width="244" height="175" align="left" /></a></p>
<p>■ <em>Gởi linh hồn Bé Alexandra Scott, ở Vườn Địa Đàng, như một lời đưa tiễn em. Gởi bé Arabella Uhry ở New York, như một lời cám ơn em đã giúp tôi nhìn ra sự hèn mọn của chính mình.</em></p>
<p><em>● Tuổi thơ thơm như sách mới</em></p>
<p><em>sáng như gương soi trên mặt trời.</em></p>
<p><em>( Trầm Tử Thiêng )</em></p>
<p>Và rồi những ngày hè đã qua đi. Mùa khai trường lại trở về. Trên đường phố lại thấy xuất hiện những chiếc xe chở học sinh quen thuộc, và sáng sáng, quanh những ngã tư gần khu vực trường học, cảnh kẹt xe lại tái diễn với sự nhẫn nại thường lệ của cư dân thành phố. Hôm đầu tuần, đưa các con tôi đi mua sắm vật dụng sách vở cho năm học mới tại chợ Wal-mart, nhìn những em nhỏ xôn xao ríu rít bên cha bên mẹ quanh những dãy hàng xếp dành riêng cho &#8216; Back To School &#8220;, lòng tôi cứ nao nao nhớ về những năm tháng học trò của riêng mình và văng vẳng trong trí nhớ đang ngày một hao mòn đoạn mở đầu bài văn &#8221; <strong>Tôi đi học</strong> &#8221; bất hủ của nhà văn Thanh Tịnh .</p>
<p><em>. . . Hàng năm , cứ vào độ cuối Thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường. . .</em></p>
<p>Trời đất xứ người vẫn chưa vào Thu. Cái nóng mùa hè vẫn còn vất vưởng trên những vòm cây, ngọn cỏ . Nhìn khuôn mặt háo hức của các con tôi với tập vở mới, cặp sách mới, dù rằng thực sự chúng chưa bao giờ thiếu thốn những thứ ấy, và nỗi bồn chồn mong gặp lại được những bạn bè cũ chia tay từ buổi học cuối cùng mấy tháng trước &#8211; mặc dù, tận trong lòng chúng, âm vang những ngày tháng vui chơi thoải mái của mùa hè vẫn còn quyến luyến chưa chịu ra đi &#8211; tôi bùi ngùi cảm nhận một cách sâu sắc rằng trẻ thơ là ân sủng của trần gian, dù trần gian ấy là bao ngàn năm về trước hay thế kỷ 21, là một ngôi làng êm đềm nhỏ bé của Việt Nam nghèo khổ hay một thành phố nhộn nhịp của nước Mỹ giàu mạnh. Ai cũng có một tuổi thơ để nhớ về, dù đó là một tuổi thơ buồn thảm hay đầy ắp những may mắn mà trần gian này có thể ban phát được. Trẻ thơ, ân sủng của trần gian và là viên ngọc nạm trên khuôn mặt đời lỗ chỗ những hầm hố của hận thù, dối trá, bon chen, ganh tị . . .</p>
<p>Nước Mỹ, những ngày cuối hè xôn xao với sự chuẩn bị cho năm học mới, lo lắng cho phòng học máy lạnh cũ không đủ hơi mát, lo lắng cho phương tiện vận chuyển đưa học trò đến trường, lo lắng đến từng bữa ăn sắp tới cho cả những học trò nghèo không đủ tiền trả cho bữa ăn trưa của mình. Nước Mỹ, niềm mơ ước của tuổi thơ. Nhưng nước Mỹ, những ngày đầu mùa khai trường năm nay, đã vô tình , quên đi một em bé đáng thương hơn bất cứ một em bé nào ở tuổi học trò trên đất Mỹ.</p>
<p><strong><em>Bé Alexandra Scott</em></strong></p>
<p><strong><em> </em></strong></p>
<p><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00419.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 10px 15px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image004" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image004_thumb18.jpg" border="0" alt="clip_image004" width="235" height="168" align="left" /></a></p>
<p>Đó là một bé gái mới 8 tuổi, và cuộc đời em chỉ kéo dài có 8 năm. Có nghĩa là em sẽ không bao giờ được lớn lên để có giây phút ngoảnh nhìn lại hôm qua mà nao nao cho một thời hoa niên học trò đã mất. Cuộc đời em kéo dài có 8 năm, nhưng đó là 8 năm của một đời người mà ý chí phấn đấu và sự thành tựu có lẽ vượt hơn cả những đời người mà chiều dài năm tháng không đem lại chút ý nghĩa nào.</p>
<p>8 năm về trước, ngày Thôi Nôi của em đến trong nỗi lo lắng của cha mẹ em vì họ vừa được bác sĩ gia đình báo tin rằng em bị mắc một chứng bệnh rất hiểm nghèo &#8211; ung thu óc- mà y khoa hiện thời vẫn chưa có cách gì chế ngự. Dù vậy, em không chịu nằm yên phó mặc cho định mệnh. Lên 4 tuổi,- ngoài một nghị lực phi thường chịu đựng những đớn đau thể xác do căn bệnh gây ra- , em còn có sáng kiến và tự mình làm một quầy bán nước chanh để gây quỹ lấy tiền trả cho các chi phí về nghiên cứu, thí nghiệm cách điều trị các chứng bệnh ung thư ở trẻ em. Năm đầu tiên, em gây được số tiền $2,000 cho quỹ. Sau 4 năm, riêng mình em với những nỗ lực phấn đấu của mình, quỹ đã lên đến $200,000. Đến giữa năm 2004, trên khắp các tiểu bang của nước Mỹ, lan rộng sang cả Canada và Pháp, các quầy nước gây quỹ tương tự như sáng kiến ban đầu của em bé gái can đảm, đả mọc lên như một biểu tượng của sức phấn đấu của em, và số tiền quỹ đã lên đến $750,000. Đứa bé gái tội nghiệp, trước khi thở hơi cuối cùng đã mơ ước rằng số tiền sẽ lên đến $1,000,000. Một hãng chế tạo xe hơi nổi tiếng của Bắc Mỹ đã cam kết gíup em thỏa ý nguyện cuối cùng.</p>
<p>. . . Sau 8 năm làm một đứa trẻ thơ, một trẻ thơ không được hưởng niềm vui của trẻ thơ mà lẽ ra em phải được hưởng, giây phút cuối đời ngắn ngủi em được nằm trên chiếc ghế sofa quen thuộc, vây quanh là cha và mẹ và những người thân yêu nhất, mở mắt lần cuối cùng nhìn thế gian , nhìn hàng cây quen thuộc xanh lá mùa hè đang đung đưa ngoài cửa sổ, nghe tiếng xôn xao cười nói của những em bé cùng trang lứa đang nô đùa chạy nhảy trong giờ ra chơi, em mỉm cười ra đi. Lời ước nguyện của em đã được chấp nhận. Em không muốn thế gian này sẽ có những đứa trẻ bất hạnh như em. Ở trên cao kia, Đấng khuất mặt, cảm động vì tấm lòng cao cả và sự phấn đấu của em , đã cất đi cho em sự đau đớn của giây phút cuối cùng, sự đau đớn mà trong 8 năm làm người em đã bao nhiêu lần oằn mình chịu đựng, sự đau đớn mà em chỉ sợ sẽ làm em không thể mỉm cười được khi nói lời từ giã thế gian.</p>
<p>Tôi không biết, trước khi nhắm mắt lìa đời, em có nhận được thư an ủi của một em bé gái khác, người mà- cũng như em &#8211; mới chỉ lên 8 tuổi năm nay, cảm nhận được sự may mắn của mình, đã tình nguyện viết thư an ủi những trẻ em mắc bệnh nan y trên đất Mỹ.</p>
<p>Tôi tin rằng họ đã có cơ hội liên lạc với nhau.</p>
<p><strong><em> </em></strong><a href="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image0065.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 15px 25px 0px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image006" src="http://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image006_thumb5.jpg" border="0" alt="clip_image006" width="151" height="216" align="left" /></a></p>
<p><strong><em></em></strong></p>
<p><strong><em>Arabella Uhry ở New York</em></strong></p>
<p>Đó là một bé gái Trung Hoa, được người hảo tâm nhặt lên từ một đống rác trên đường phố xơ xác của một nước Tàu Cộng Sản, chỉ vài giờ sau khi&#8221; bị &#8221; sinh ra, mà có lẽ cha mẹ em không dám nuôi em trong nhà, vì chính sách một con tàn bạo của chính quyền . Điều may mắn xảy đến cho em là được một gia đình người Mỹ ở New York nhận làm con nuôi. Một hôm, người mẹ nuôi của em nói cho em biết rằng, có những đứa trẻ bằng tuổi em chẳng may bị những chứng bịnh không thể chữa khỏi, như thế, thật là bất hạnh cho chúng vì chúng không thể cắp sách đến trường, không thể chạy nhảy vui đùa ca hát như em. Em tự nghĩ rằng mình là kẻ may mắn, phải nghĩ đến những người không được may mắn như mình. Với sự giúp đỡ của mẹ,em bắt đầu thu thập tên tuổi, địa chỉ của những trẻ thơ bị bệnh nan y và gởi đi những lá thư, những bưu thiếp với nội dung rất đơn giản: Hỏi thăm, chúc mau lành bệnh, khuyến khích người nhận hãy cầu nguyện v .. v.. ( Liệu chúng ta sẽ mong đợi gì hơn ở một bé gái 8 tuổi ngoài những lời lẽ đẹp đẽ như vậy, những lời lẽ mà ngay chính người lớn chúng ta vẫn còn hà tiện với nhau, nói gì đến lòng tử tế thực sự ). Khởi đầu là với một em bé bị bướu não ở Kansas. Em liên lạc, an ủi cho đến khi em bé tội nghiệp này qua đời hồi tháng 9 năm 2003. Em vẫn tiếp tục sự đóng góp nhỏ bé của mình, tình nguyện gia nhập một tổ chức thiện nguyện chuyên giúp đỡ các em bé bị bệnh hiểm nghèo. Hiện giờ, em đang là cầu nối cho hai em bé gái khác sắp sửa từ giã cõi đời tiếp xúc với nhau. Ở tuổi lên 8 của em bé gái Mỹ gốc Trung Hoa này, phần lớn trẻ sẽ luôn bận tâm về việc mình sẽ nhận được những gì, nhưng riêng em, em quan tâm đến mình có thể làm được gì cho người khác nhiều hơn . . .</p>
<p>Đã bao lần rồi tôi không biết nhàm chán khi đặt bút xuống viết lại câu Trẻ thơ là ân sủng của trần gian. Và cái chết của những trẻ thơ, tôi không bao giờ tin một cách đơn giản rằng đó chỉ là cái chết như hàng triệu cái chết mỗi ngày trên mặt đất con người. Không, cái chết của trẻ thơ chỉ là sự ra khỏi chỗ mà con mắt trần gian có thể nhìn thấy được. Và con người , dù rất không xứng đáng, nhưng sẽ vẫn tiếp tục được ban cho an sủng quý giá này.</p>
<p>Khi tôi viết những dòng này, thì trên đất nước tôi, có biết bao em bé không được cắp sách đến trường, có biết bao em bé buổi tối đi ngủ với cái bụng lép kẹp, có biết bao em bé không có được một mái nhà để che trên đầu, có biết bao em bé mắc những căn bệnh hiểm nghèo chờ chết trong cô đơn, tuyệt vọng và sự túng quẫn của cha mẹ.</p>
<p>Ngày mai, trên đường đưa các con tôi đến trường cho buổi học đầu tiên, tôi sẽ nhắc lại với chúng những điều này.</p>
<p>T. Vấn</p>
<p>(Mùa Khai Trường 2004)</p>
<p>© T.Vấn 2006</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://t-van.net/wordpress/2006/09/ansung/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
