T.Vấn

& Bạn Hữu

Văn Học và Đời Sống

Annie Ernaux: CHỈ LÀ NỖI ĐAM MÊ (Kỳ 3)

Share on facebook
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Rồi chàng cũng gọi đến để sắp xếp ngày giờ gặp gỡ – cú điện thoại được chờ đợi qúa lâu này không có một tác dụng gì với tôi nữa. Tôi đã bị bó khuôn trong cùng một trạng thái lo sợ như trước khi nghe điện thoại. Giờ đây, ngay chính giọng nói của chàng cũng không thể làm cho tôi sung sướng. Một cảm giác trống rỗng vô tận bao trùm; nó chỉ tạm tha cho tôi lúc quay cuồng trong ân ái. Thậm chí ngay cả giữa cơn mê đắm ấy, tôi vẫn lo sợ cái giây phút rồi sẽ đến: giây phút chàng sẽ ra đi. Tôi hưởng thụ lạc thú hiện tại như đang hứng chịu một cơn đau của tương lai.

Tôi đã từng mong sao cho cuộc tình này sớm chấm dứt; để tôi không còn bị ám ảnh bởi những cú điện thoại bất chợt gọi đến; để tôi không còn chịu đau khổ vì chờ đợi. Nhưng ngay lập tức, tôi lại nhận ra cái hậu quả không cách gì tránh khỏi một khi tôi quyết định chia tay với chàng: một chuỗi những ngày trống rỗng, không có một điều gì để chờ đợi. Thế nên, tôi lại nghĩ mình cứ nên tiếp tục và chấp nhận bất cứ cái giá nào phải trả – bằng lòng cho chàng có một phụ nữ khác, thậm chí vài phụ nữ khác. (Nói cách khác, sẵn lòng chấp nhận một nỗi đau khổ lớn hơn cả nỗi đau khổ mà tôi đang nhận chịu, nỗi đau khổ khiến tôi muốn lìa bỏ chàng.) So sánh với sự trống rỗng khủng  khiếp ấy, nỗi đau khổ hiện tại của tôi xem ra vẫn còn dễ chịu và cho dù sự ghen tuông có thế nào đi nữa thì tôi vẫn tin rằng, mình có họa điên mới muốn cắt đứt cuộc tình với chàng, vì, rồi đây một ngày nào đó nó cũng phải chấm dứt, – bằng cách này hay cách khác – ngoài sự kiểm soát của tôi: chàng rời Pháp về nước hoặc đơn giản hơn, không muốn gặp tôi nữa.

Tôi cũng cố tránh những dịp gặp gỡ chàng ở những nơi công cộng, nơi chàng không bao giờ đi một mình, vì tôi không thể chịu đựng được ý tưởng gặp chàng chỉ để gặp thế thôi. Cũng bởi lý do đó, tôi không có mặt ở một dịp lễ lạt chàng được mời đến, vì những ám ảnh của hình bóng chàng sẽ xuất hiện giữa đám đông: mỉm cười với bà này, gieo ánh mắt tình tứ với những bà kia, y hệt cách chàng đối xử với tôi ở lần gặp đầu tiên. Sau này, tôi nghe nói buổi lễ không có nhiều người tham dự. Tôi thở phào nhẹ nhõm và tỏ ra vui thích khi lập lại cử chỉ ấy, như thể đã có một sợi dây liên hệ giữa không khí buổi lễ, số phụ nữ được mời dự và một điều chỉ có thể xẩy ra một cách ngẫu nhiên: nói cách khác, chàng có tỏ ra thích thú mồi chài một chị đàn bà nào không; trong trường hợp này thì chỉ cần một người phụ nữ có mặt là đã quá đủ.

Tôi còn tìm cách để biết chàng làm những gì trong lúc rảnh rỗi hay thường đi đâu vào những ngày nghỉ cuối tuần. Tôi sẽ tự bảo mình, “hiện giờ chàng đang chạy bộ trong khu rừng Fontainebleau,” “chàng đang lái xe đi Deauville,” “chàng đang ngồi cạnh vợ ở bãi biển,” và đại loại cứ thế. Những thông tin như thế này làm cho tôi cảm thấy được an lòng. Tôi tin rằng nếu mình biết được chàng đang ở đâu, làm gì vào một khoảng thời gian nào đó, sẽ giúp tôi tránh khỏi bị dằn vặt bởi ý tưởng về sự lang chạ của chàng. (Ẩn sâu trong lòng, tôi cũng đã từng có một sự tin tưởng tương tự: biết được con mình đang ở đâu – trong một bữa tiệc hay một kỳ nghỉ lễ – là đủ để chúng an toàn, không gặp tai nạn, không ngộ thuốc hay chết đuối ngoài biển.)

Mùa hè năm đó, tôi không muốn đi nghỉ mát xa nhà với viễn ảnh mỗi sáng thức dậy, nghĩ đến mình sẽ trải qua suốt ngày trời mà không có cảm giác chờ đợi điện thoại chàng gọi đến. Nhưng từ bỏ những ngày nghỉ của mình cũng hàm nghĩa thú nhận rằng nỗi đam mê của mình dành cho chàng ở một mức độ còn lậm hơn kiểu nói “em đã phát điên vì yêu anh rồi đấy!”

Một hôm, bị thôi thúc bởi ý tưởng muốn dứt bỏ cuộc tình đau khổ này, tôi quyết định mua vé xe lửa và đặt phòng khách sạn ở thành phố Florence cho một chuyến đi dự trù trước cả hai tháng. Bằng cách này, tôi không phải tự mình chọn sự lìa xa chàng. Tôi tiên đoán giây phút lên đường của chuyến đi giống như trước đây tôi đã từng đoán trước tâm trạng của mình khi tham dự một cuộc thi ghi danh từ rất sớm nhưng lại không có một sự chuẩn bị chu đáo: một thứ tâm trạng chán nản hầu như tuyệt vọng. Nằm dài người trên chiếc giường của toa nằm, tôi cứ nhìn thấy mình ở trên cùng chuyến tàu, nhưng lại là chuyến quay về Paris tám ngày sau đó: ước vọng về một khoảng thời gian hạnh phúc tuyệt đỉnh, tuyệt đỉnh quá đến độ không bao giờ biến thành sự thật (tôi có thể chết ở Florence, hoặc có thể tôi sẽ không bao giờ gặp lại chàng lần nào nữa) càng khiến tôi mang một cảm giác lo sợ đến hãi hùng khi chiếc xe lửa mỗi lúc đưa tôi xa dần Paris và biến khoảng thời gian giữa hai chuyến đi và về trở nên không thể nào chịu đựng nổi.

Tệ hại nhất là tôi không thể nào cứ ở lì mãi trong khách sạn, chờ cho đến ngày trở về lại Paris. Tôi phải làm sao cho chuyến đi xa này là một chuyến đi nghỉ ngơi đúng nghĩa. Tôi phải đi thăm viếng những địa điểm văn hóa, những khu di tích lịch sử; tôi phải đi dạo phố, điều mà tôi thường làm mỗi khi đi nghỉ hè đây đó. Hàng giờ liền tôi đi dạo ở khu Oltrarno, khu vườn Boboli Gardens, lên tới cả quãng trường San Michelangelo và San Miniato. Thậm chí, tôi còn ghé vào cả 3 ngôi nhà thờ lúc nào cũng mở cửa cho khách thập phương. Ở mỗi nơi, tôi đều quỳ xuống cầu nguyện, xin một điều khác nhau với niềm tin tưởng rằng ít nhất sẽ có một điều mình cầu ước sẽ được đáp ứng (lẽ dĩ nhiên, cả 3 điều cầu ước đều có liên quan đến chàng). Cũng ở những nơi đó, tôi ngồi thinh lặng hồi lâu giữa sự yên tĩnh và mát mẻ, trí óc luôn chìm đắm trong các cuộc gặp gỡ tưởng tượng với chàng, ở nơi này nơi kia, ở lúc này lúc nọ (chẳng hạn một chuyến đi cùng nhau đến Florence, hay ra đón chàng ở phi trường 10 năm sau đó, đại loại những điều như vậy).

Tôi không hiểu tại sao người ta hay lục tìm các chi tiết về ngày tháng, về lịch sử ra đời của mỗi bức tranh trong các quyển sách hướng dẫn du lịch. Những điều đó chẳng có gì liên quan đến cuộc sống hàng ngày của họ. Cách tiếp cận của tôi với các tác phẩm hội họa thuần túy cảm xúc. Tôi đến thăm ngôi nhà thờ La Badia đơn giản chỉ vì nơi đó Dante đã gặp gỡ người yêu dấu của mình Beatrice lần đầu tiên. Những bức bích họa trên vách các bức tường của ngôi thánh đường Santa Croce ngày một nhòa dần đi đã làm tôi xúc động vì câu chuyện tình của chúng tôi rồi đây sẽ có cùng số phận  – sẽ nhòe nhoẹt và phai nhạt trong ký ức của chàng, và của tôi.

Trong các viện bảo tàng, tôi chỉ xem những gì liên quan đến tình yêu. Tôi đặc biệt chú ý đến những bức tượng đàn ông lõa thể. Ở những bức tượng này, tôi nhận ra hình dáng bờ vai, vòng lưng, dương vật của chàng. Và nhất là khoảng hơi hóp vào của vùng da thịt từ chân lên đến háng. Tôi đã không thể nào rời bước bỏ đi khi đứng xem bức tượng David của Michelangelo, lòng đầy cảm xúc ngưỡng mộ cái đẹp của thân xác một người đàn ông – chứ không phải đàn bà – được khắc họa một cách tuyệt vời. Người ta nói đến tình cảnh bị áp bức của người phụ nữ thời đó, nên không thể có một bức tượng hoàn mỹ như vậy khắc họa cơ thể người đàn bà. Cho dù là như vậy, tôi vẫn cảm thấy đó là một sự mất mát không thể nào cứu vãn nổi. (5)

Trên chuyến xe lửa về lại Paris, tôi có cảm tưởng đã sao chép toàn bộ những say đắm của nỗi đam mê tình ái riêng mình ở Florence, bằng những cuộc đi dạo trên các khu phố, chuyến viếng thăm viện bảo tàng; ở nơi đâu cũng đều có bóng dáng chàng hiện diện để tôi chia sẻ, ăn với chàng, ngủ với chàng trong cái khách sạn ồn ào trên bờ sông River Arno. Tôi chỉ cần đọc lại câu chuyện tình của một người đàn bà yêu say đắm một người đàn ông; đó cũng là câu chuyện của chính tôi. Tám ngày của chuyến đi một mình, không có sự tiếp xúc chuyện trò với bất cứ ai, – ngoại trừ những người phục vụ ở nhà hàng – với cái bóng của A luôn che phủ – làm tôi ngạc nhiên vì cũng có những gã đàn ông đến ve vãn mình: bộ họ không nhìn thấy bóng dáng chàng lúc nào cũng ẩn hiện bên trong thân xác của tôi sao? – Tôi nhìn tám ngày của chuyến đi ấy như là một thử thách để tình yêu của tôi dành cho chàng trở nên toàn vẹn hơn. Nói cách khác, đó là một cách để nuôi dưỡng tình yêu, nhưng lần này ở trong sự tưởng tượng và khao khát vì chàng đã không có mặt.

9

Sáu tháng trước, A đã rời Pháp trở về lại quê hương của chàng. Có lẽ, tôi sẽ không bao giờ gặp chàng được nữa. Thời gian đầu, sau khi chàng ra đi, mỗi khi thức giấc lúc 2 giờ sáng, tôi không buồn quan tâm mình còn sống hay đã chết. Cả người tôi đau ê ẩm. Tôi muốn nắm lấy cái đau, vất nó ra khỏi  cơ thể mình. Nhưng nó ở khắp cả người, chỗ nào cũng có nó. Lúc ấy, tôi ước gì có tên trộm nào đó bước vào phòng và giết phứt tôi đi cho rồi. Còn ban ngày, tôi phải cố tìm một việc gì đó để làm, hầu tránh sự nhàn rỗi; nếu không, tôi sẽ cảm thấy mình như bị “lạc” (cái từ này giờ đây mang những ý nghĩa mơ hồ: tinh thần bị suy sụp, bắt đầu nghiện rượu, và nhiều thứ khác tương tự). Với cùng một lý do ấy, tôi cố phục sức và trang điểm kỹ lưỡng chu đáo hơn; gắn thấu kính (contact lenses) thay vì đeo mục kỉnh, dù rằng tôi phải thu hết can đảm để làm việc này. Tôi không thể nào xem TV, đọc sách báo tạp chí; tất cả các tiết mục quảng cáo thương mại, bất kể giới thiệu về một loại nước hoa mới hay máy vi sóng, với tôi chỉ nói có một điều: một người đàn bà đang mong mỏi một người đàn ông. Thậm chí, mỗi khi đi ngang cửa hiệu bán quần áo lót phụ nữ, tôi đều tìm cách tránh né hoặc ngoảnh mặt đi chỗ khác.

Mỗi khi cảm thấy tuyệt vọng đến đỉnh điểm, tôi lại bị thôi thúc mãnh liệt bởi ý tưởng tìm đến một bà thầy bói nào đó nhờ họ xem cho tương lai của mình; đó là điều duy nhất tôi muốn làm trong khoảng thời gian này. Một hôm, tôi thử mở danh mục các nhà chiêm tinh trên mạng. Một danh sách rất dài. Có người tự quảng cáo, cho biết mình là người đã từng tiên đoán trận động đất xẩy ra ở San Francisco và biết trước cái chết của ca sĩ Dalida. Tôi viết ra giấy tên họ, địa chỉ, số điện thoại của họ mà lòng cảm thấy cùng một sự rộn rã như hồi mấy tháng trước đây tôi mặc thử chiếc áo đầm mới đón chàng, như thể tôi làm việc này là để cho chàng. Rồi thì tôi cũng chẳng tiếp xúc với bất cứ ông bà thầy bói nào. Tôi sợ rằng họ sẽ bảo tôi chàng không bao giờ quay lại nữa đâu. Chính tôi cũng ngạc nhiên với mình khi tự nghĩ: “mình cũng biết chàng sẽ không bao giờ quay về mà!” Dù sao, tôi không thấy có lý do nào khiến tôi không kết luận như vậy.

Một buổi tối, tôi thoáng nghĩ hay là mình nên đi thử xem coi có bị lây bệnh AID không: “Nếu có bị, thì ít nhất cũng là điều chàng đã lưu làm kỷ niệm cho mình.”

Tôi muốn được nhớ đến cơ thể chàng với tất cả sự hiện hữu của cơ thể mình – từ tóc xuống đến đầu các ngón chân. Tôi có thể hình dung một cách sống động mọi thứ thuộc về chàng: màu mắt xanh, lọn tóc lòa xòa trên trán, hình cong của đôi bờ vai. Tôi còn có thể cảm thấy được hàm răng của chàng, phía bên trong miệng chàng, hình dạng hai bên đùi, sự mềm mại của làn da của chàng.

Tôi  không nghĩ mình nhìn thấy sự khác biệt gì lớn lao giữa những hình ảnh tái hiện và những ảo giác tôi có về chàng, giữa hồi ức về chàng và sự nhung nhớ chàng đến điên cuồng.

Có hôm, nằm sấp trên giường, tôi đã tự làm cho mình đạt tới sự sướng khoái; chẳng hiểu sao, tôi lại cảm thấy đó là sự sướng khoái của chàng.

Sau đó, trong nhiều tuần lễ liên tiếp:

Tôi hay thức giấc lúc nửa đêm, rồi cứ nằm đó thao thức, đầu óc mù mờ lẫn lộn, không thể suy nghĩ được điều gì. Tôi muốn được thả xuôi mình trong giấc ngủ sâu, dài nhưng hình bóng chàng cứ lởn vởn trên đầu, trước mặt.

Tôi không muốn ngồi dậy chút nào, vì chỉ thấy trước mặt một ngày dài vô định. Tôi có cảm tưởng thời gian không còn dẫn đưa mình đi đến đâu nữa, mà chỉ làm cho mình trở nên già hơn với mỗi ngày qua đi.

Ở chợ, tôi thường hay tự nhắc nhở: “mình không cần mua mấy thứ đó nữa” (rượu whisky, cá hồi muối, và các thứ đại loại).

Nhìn mấy bộ áo, mấy đôi giày tôi đã sắm sửa để làm vui lòng một người đàn ông; giờ thì chúng chỉ là những thứ vô nghĩa, hiện hữu với một mục đích duy nhất là thỏa mãn nhu cầu thời trang. Liệu người ta có thể mong ước có được những thứ trang phục này, hay bất cứ thứ vật dụng nào khác mà không phải vì chúng có liên quan đến một con người, đến một mục đích yêu đương nào đó? Trước đây, tôi đã phải mua một chiếc khăn quàng cổ vì trời lạnh buốt xương: “chàng có bao giờ thấy chiếc khăn ấy đâu.”

Tôi không còn chịu đựng được sự gặp gỡ bất cứ một người nào khác. Những người mà tôi gặp là những người tôi quen biết qua mối quan hệ với A. Họ là một phần trong sự đam mê của tôi. Cho dù tôi không  cảm thấy có chút cảm tình nào với họ nhưng đôi khi tôi lại thấy họ gần gủi với mình hơn. Nhưng tôi lại không thể xem một chương trình truyền hình nào mà người giới thiệu, hay diễn viên có màu mắt, vẻ ngoài hay cách nói chuyện dí dỏm đã khiến tôi liên tưởng đến chàng. Những nét giống như chàng hiện hữu trong một người mà tôi chưa hề bao giờ quan tâm đến, với tôi, hầu như là một sự mạo danh. Tôi ghét những người như thế vì họ lúc nào cũng trông giống như A.

Tôi thề ước: nếu chàng liên lạc với tôi trước khi hết tháng, tôi sẽ biếu 500 quan cho một tổ chức từ thiện. Tôi tưởng tượng tôi và chàng gặp nhau trong một khách sạn, ở phi trường, hoặc chàng đã gởi cho tôi một bức thư. Tôi đã đáp lại những lời chàng chưa hề thốt, những câu văn chàng chưa hề bao giờ viết.

Nếu có lần nào tôi đến một nơi mà dạo trước tôi đã đến với sự có mặt của chàng, tôi sẽ mặc cùng một bộ trang phục như lần ấy, với niềm tin tưởng rằng những tình cảnh giống nhau như vậy sẽ tạo nên những cộng hưởng tương tự và chàng sẽ gọi cho tôi ngay sau đó. Để rồi, bước chân lên giường lúc nửa đêm với tâm trạng tuyệt vọng chán nản, tôi mới nhớ ra rằng, cả ngày hôm ấy tôi đã tin rằng chàng sẽ gọi đến.

Trong suốt những đêm mất ngủ, tôi thường đưa mình trở về lại Venice, nơi tôi đã đến đó nghỉ hè một tuần lễ trước khi gặp A. Tôi cố nhớ lại lịch trình, những nơi chốn tôi đã viếng thăm. Tôi tưởng tượng mình đang bước đi dọc theo đường đi bộ Zattere và vùng thung lũng của đảo Giudecca. Tôi hình dung lại căn phòng của khách sạn La Calcina, căng óc ra nhớ từng chi tiết: chiếc giường nhỏ xíu, cửa sổ phòng bị bức tường của tiệm cà phê Cucciolo che khuất, cái bàn có khăn phủ trên đó tôi để mấy quyển sách. Tôi còn nhớ rõ từng nhan đề mỗi quyển. Tôi có thể liệt kê những thứ đã có ở đó, từng thứ một, như thể muốn tái hiện một lần nữa mọi vật trong căn phòng tôi đã ở trước khi chuyện tình của tôi với A bắt đầu, với hy vọng làm như vậy sẽ giúp tôi thổi sự sống vào một chuỗi những sự kiện liên quan đến cuộc gặp gỡ của tôi với chàng. Và cũng chính vì nghĩ như vậy, thỉnh thoảng tôi mang cảm giác bị thôi thúc quay trở lại Venice, ở cùng một khách sạn, ở cùng một căn phòng như trước đó.

Trọn suốt thời kỳ này, tất cả những suy nghĩ, những việc làm của tôi đều có liên quan đến nỗ lực tái tạo những gì đã xẩy ra. Tôi muốn biến hiện tại thành quá khứ, mở lại lần nữa cánh cửa hạnh phúc.

Tôi hay đếm, “đã hai tuần rồi, năm tuần rồi từ khi chàng ra đi” hoặc “năm ngoái, cũng dạo này, mình đã ở đó, mình đã làm việc này.” Hễ có bất cứ dịp nào – khai trương một khu mua sắm mới, cuộc viếng thăm của Gorbachev đến Paris, chiến thắng của Chang ở giải quần vợt Pháp Mở Rộng Roland-Garros – là tôi lại nghĩ: “Lúc đó chàng có ở đây mà.” Tôi cố làm sống lại những khoảng thời gian ấy, dù tự chúng chẳng có ý nghĩa gì đáng kể – Mình đang đứng tại phòng lưu trữ ở La Sorbonne, mình đang đi bộ dọc theo đại lộ Voltaire, mình đang thử một cái váy ở tiệm Benetton – với những chi tiết sống động đến độ tôi ngạc nhiên tự hỏi sao mình lại không thể lẻn vào những khoảng thời gian ấy như người ta lẻn bước từ phòng này qua phòng khác. Cả trong những giấc mơ, tôi cũng mang cảm giác muốn đảo ngược thời gian. Tôi nói chuyện, cãi nhau với người mẹ đã qua đời của mình, dù là trong giấc mơ, tôi và mẹ đều biết rằng mẹ đã chết. Cũng chẳng có gì khác thường về việc này, mẹ tôi chết đã lâu rồi, chỉ là hơi lạ lạ một chút thôi. (Những giấc mơ gặp mẹ của tôi cũng xẩy ra vài lần.) Ở một lần khác, giấc mơ là về một bé gái nhỏ mặc bộ đồ bơi đột nhiên biến mất trong một buổi đi chơi. Sự mất tích của cô bé được tái diễn lại ngay sau đó. Cô bé được làm sống lại để lần tìm chuỗi sự kiện dẫn đến việc cô bé bị hãm hại chết. Tuy nhiên, với viên chánh án, biết rõ những gì thực sự xẩy ra làm cho việc tái tạo hiện trường trở nên phức tạp hơn. Ở những giấc mơ khác, tôi thấy mình bị lạc đường, bị thất lạc túi xách, hoặc không chuẩn bị kịp hành lý để đáp chuyến tàu sẽ khởi hành trong vài phút nữa. Tôi bắt gặp khuôn mặt của A, chàng bị những người chung quanh vây kín. Chàng không nhìn thấy tôi. Chúng tôi ngồi chung trong một chiếc taxi, tay tôi ve vuốt dương vật của chàng, nhưng nó cứ thu mình ủ rũ. Sau đó, chàng xuất hiện trước mặt tôi lần nữa. Lần này, sự thèm muốn của chàng được biểu lộ dũng mãnh. Chúng tôi ôm nhau trong một quán cà phê, ở giữa phố, bên cạnh một bức tường. Và chàng lẳng lặng vào sâu trong tôi mà không một lời han hỏi.

Vào những ngày cuối tuần, tôi bận rộn mình với những việc nặng quanh nhà, như làm vườn hoặc dọn dẹp lau chùi nhà cửa. Đến tối, tôi mệt lử, cả người ê ẩm; cảm giác giống như những buổi trưa chàng đến với tôi. Nhưng giờ đây, sự mệt mỏi trở nên rỗng tuếch, không có cảm giác nhớ nhung một cơ thể khác. Sự thiếu vắng này làm tôi vô cùng khó chịu.

(Còn tiếp một kỳ)

©T.Vấn 2023