<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>ChatGPT &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<atom:link href="https://t-van.net/author/chatgpt/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://t-van.net</link>
	<description>Văn Học và Đời Sống</description>
	<lastBuildDate>Tue, 04 Aug 2026 16:09:17 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.7.7</generator>

<image>
	<url>https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/02/t-van-favicon.png?strip=all&#038;resize=32%2C32</url>
	<title>ChatGPT &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<link>https://t-van.net</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Cô tin anh là người đàn ông của đời mình&#8230;</title>
		<link>https://t-van.net/co-tin-anh-la-nguoi-dan-ong-cua-doi-minh/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[ChatGPT]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 07 Aug 2026 18:17:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[ChatGPT]]></category>
		<category><![CDATA[điểm sách]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=91024</guid>

					<description><![CDATA[Cô tin anh là người đàn ông của đời mình. Còn anh chỉ xem cô là người phụ nữ của&#8230; giai đoạn này. Liệu chuyện ấy có thể kéo dài? Trong tiểu thuyết I Want You to Be Happy, Jem Calder kể về một &#8220;mối quan hệ chưa chịu đặt tên&#8221; giữa hai người viết [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/07/q8a2BBhr-image003.jpg?strip=all&w=2560"><img fetchpriority="high" decoding="async" width="600" height="920" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/07/q8a2BBhr-image003.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-91025" style="width:358px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/07/image003-196x300.jpg 196w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/07/q8a2BBhr-image003.jpg?strip=all 600w" sizes="(max-width: 600px) 100vw, 600px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><strong>Cô tin anh là người đàn ông của đời mình. Còn anh chỉ xem cô là người phụ nữ của&#8230; giai đoạn này. Liệu chuyện ấy có thể kéo dài?</strong></p>



<p><em>Trong tiểu thuyết <strong>I Want You to Be Happy</strong>, Jem Calder kể về một &#8220;mối quan hệ chưa chịu đặt tên&#8221; giữa hai người viết trẻ cách nhau mười hai tuổi — một câu chuyện vừa buồn cười vừa buồn bã đến mức khó phân biệt đâu là tình yêu, đâu chỉ là sự cô đơn tìm được một nơi trú tạm.</em></p>



<p><strong>Lizzy Harding</strong></p>



<p>Tập truyện ngắn <em>Reward System</em> xuất bản năm 2022 của nhà văn Anh Jem Calder đầy rẫy hai kiểu nhân vật.</p>



<p>Những người phụ nữ luôn nhẫn nhịn.</p>



<p>Và những người đàn ông nói không biết mệt.</p>



<p>Phụ nữ trong truyện của Calder hiếm khi được <em>nói chuyện với</em>.</p>



<p>Họ chỉ được <em>nói vào mặt.</em></p>



<p>Đúng như giới từ mà Calder cố tình lựa chọn.</p>



<p>Họ phải nghe những bài diễn thuyết bất tận về việc nút bấm dành cho người đi bộ ở ngã tư thực chất chỉ là &#8220;giả dược&#8221;, biểu tượng của ảo tưởng rằng cá nhân có thể điều khiển cả hệ thống.</p>



<p>Phải nghe vì sao bây giờ chẳng ai còn nhắc đến khái niệm &#8220;đỉnh sản lượng dầu mỏ&#8221;.</p>



<p>Phải nghe các công ty công nghệ đang ngang nhiên bán dữ liệu cá nhân trong khi chẳng có cơ quan nào đủ sức bảo vệ chúng ta.</p>



<p>Rồi cũng chính bài độc thoại ấy, sau vài ly rượu, bất ngờ trượt thành một lời thú nhận vụng về:</p>



<p>&#8220;Trời ạ, Julia. Nếu đặt mình vào vị trí em mà phải nghe tôi thao thao bất tuyệt thế này thì đúng là ngượng chết. Xin lỗi nhé. Tôi biết em chẳng&#8230; ừm&#8230; Tôi chỉ là&#8230; thật sự thích em.&#8221;</p>



<p>Calder không viết để kết tội đàn ông &#8220;mansplaining&#8221;.</p>



<p>Điều khiến ông hứng thú hơn nhiều là tất cả những gì họ <em>không thể nói.</em></p>



<p>Họ càng thao thao về những nỗi ám ảnh riêng — những &#8220;đế chế La Mã&#8221; trong đầu mình — thì càng để lộ những khoảng trống tình cảm mà họ tuyệt vọng không biết gọi tên.</p>



<p>Phụ nữ trong truyện của Calder cũng chẳng khá hơn.</p>



<p>Họ suy nghĩ quá nhiều.</p>



<p>Nhưng lại giữ mọi kết luận cho riêng mình.</p>



<p>Không ai thật sự nói điều mình cần nói.</p>



<p>Và cuối cùng, không ai thắng cả.</p>



<p>Ngay trang đầu tiên của cuốn tiểu thuyết đầu tay <em>I Want You to Be Happy</em>, Chuck — ba mươi lăm tuổi — đã làm một việc trái hẳn bản tính.</p>



<p>Anh kể hết.</p>



<p>Trong một quán bar ở London, chỉ mới quen cô pha chế hai mươi ba tuổi vài phút, Chuck đã bắt đầu kể về cuộc chia tay với người yêu mười hai năm, người phụ nữ mà ba tháng trước vẫn còn là vị hôn thê của anh.</p>



<p><em>&#8220;Anh đã tự hứa sẽ không nhắc đến chuyện đó nữa. Vậy mà giờ đây anh lại đang nói về nó.&#8221;</em></p>



<p>Chỉ một câu đã giới thiệu gần như trọn vẹn con người Chuck.</p>



<p>Anh luôn nói một đằng.</p>



<p>Và sống một nẻo.</p>



<p>Cô gái pha chế tên Joey.</p>



<p>Calder đặt cô vào đúng mẫu nhân vật &#8220;cool girl&#8221; rồi lập tức cho thấy cô hoàn toàn không hợp với vai diễn ấy.</p>



<p>Sau nhiều phút Chuck phải gào lên át tiếng nhạc để kể lể về người yêu cũ, Joey chỉ cười:</p>



<p>&#8220;Không sao đâu. Em thích mà. Cũng giống lên máy bay ấy. Hành lý luôn được gửi trước.&#8221;</p>



<p>Sau một đêm lên giường khá&#8230; hụt hẫng — Chuck còn phải chữa ngượng bằng câu khẳng định đầy tuyệt vọng: <em>&#8220;Anh hoàn toàn bình thường.&#8221;</em> — hai người chào nhau mà chẳng cần ôm hôn.</p>



<p>Một cái tạm biệt không chạm.</p>



<p>Cả hai đều linh cảm đây sẽ là lần cuối gặp nhau.</p>



<p>Nhưng Chuck thì buồn chán.</p>



<p>Lại vừa suy sụp.</p>



<p>Ban ngày anh làm nghề viết quảng cáo.</p>



<p>Trong lòng luôn tin mình là một &#8220;người sáng tạo&#8221;.</p>



<p>Còn Joey&#8230;</p>



<p>Joey mới hai mươi ba tuổi.</p>



<p>Thế là một <em>situationship</em> bắt đầu.</p>



<p>Ban đầu họ chỉ hẹn nhau ở quán bar.</p>



<p>Rồi Joey sang nhà Chuck.</p>



<p>Rồi Chuck thuyết phục cô cho mình xem căn hộ của cô.</p>



<p>Việc đầu tiên anh làm là chê nó bừa bộn.</p>



<p>&#8220;Thế là anh đoán đúng. Em đúng kiểu người ăn ngay trên giường.&#8221;</p>



<p>Lần hiếm hoi Joey phản ứng lại.</p>



<p>Một khoảnh khắc ngắn ngủi phá vỡ thói quen đã hình thành từ buổi hẹn hò đầu tiên, khi mà:</p>



<p><em>&#8220;Đến một lúc nào đó trong đêm, việc đồng ý với tất cả những gì Chuck nói bỗng trở nên vô cùng quan trọng đối với cô.&#8221;</em></p>



<p>Đọc đến đây, người ta bắt đầu tự hỏi: <em>ngoài căn hộ rộng rãi của Chuck ra, Joey thực sự nhìn thấy điều gì ở người đàn ông này?</em></p>



<p>Thời gian đầu, mọi thứ vẫn còn đủ dễ thương để người đọc tiếp tục hy vọng.</p>



<p>Họ nhắn tin về Louise Glück và Frank O&#8217;Hara.</p>



<p>Joey dẫn Chuck đi dự tiệc Halloween.</p>



<p>Đến Giáng sinh thì tạm xa nhau.</p>



<p>Cả hai đều quay lại viết.</p>



<p>Joey làm thơ.</p>



<p>Chuck viết văn xuôi.</p>



<p>Họ cùng xem bộ phim tài liệu <em>HyperNormalisation</em> của Adam Curtis.</p>



<p>Joey khóc cho tương lai của chính mình.</p>



<p>Rồi anh trai Chuck nhờ trông chó ở vùng ngoại ô London.</p>



<p>Hai người cùng lên xe.</p>



<p>Và chuyến đi ấy khiến Joey tin rằng mối quan hệ đã bước sang một giai đoạn khác.</p>



<p>Điều đó hoàn toàn dễ hiểu.</p>



<p>Chỉ có điều, càng lúc Joey càng nhận ra Chuck là một người nghiện rượu cô độc, hầu như không có bạn bè.</p>



<p>Anh luôn nói mình thích cô.</p>



<p>Nhưng mọi hành động lại chứng minh điều ngược lại.</p>



<p>Tên cuốn tiểu thuyết vốn là một câu chia tay sáo rỗng.</p>



<p><em>&#8220;Anh chỉ muốn em được hạnh phúc.&#8221;</em></p>



<p>Và rốt cuộc, Calder cũng kể đúng một câu chuyện rất quen.</p>



<p>Một người đàn ông biết mình cần phải thay đổi.</p>



<p>Một người phụ nữ tin rằng mình có thể giúp anh thay đổi.</p>



<p>Một mối tình lưng chừng giữa hai con người chỉ&#8230; vừa đủ bất hạnh.</p>



<p>Và hoàn toàn không dành cho nhau.</p>



<p>Tiểu thuyết luân phiên góc nhìn giữa Chuck và Joey.</p>



<p>Một bên là cuộc đời đang lao dốc của Chuck.</p>



<p>Một bên là mối tình &#8220;thật sự&#8221; đầu tiên của Joey.</p>



<p>Trong khi cô bắt đầu tưởng tượng căn hộ họ sẽ sống chung một ngày nào đó, thì anh say đến mức ngất trong phòng tắm.</p>



<p>Bị công ty buộc nghỉ việc.</p>



<p>Nhưng lại nói dối Joey rằng mình vừa được thăng chức.</p>



<p>Có lúc Calder dường như quá say mê câu châm ngôn:</p>



<p><em>Mỗi câu chuyện luôn có hai phía.</em></p>



<p>Đúng là vậy.</p>



<p>Nhưng đọc lâu thì nó cũng bớt hấp dẫn.</p>



<p>Ở gần cuối truyện, Chuck nói với Joey:</p>



<p>&#8220;Anh nghĩ bọn mình chỉ đang vui vẻ bên nhau, rồi xem mọi chuyện đi đến đâu.&#8221;</p>



<p>Chính anh cũng bực mình vì phải viện đến một câu sáo rỗng để trả lời một câu hỏi sáo rỗng.</p>



<p>Tôi muốn tin Calder đang cố tình mỉa mai nhân vật của mình.</p>



<p>Chuck luôn tự tin quá mức.</p>



<p>Chưa xuất bản nổi cuốn sách nào.</p>



<p>Nhưng rất thích than phiền văn học đương đại ngày càng thiếu sáng tạo.</p>



<p>Ý tưởng thiên tài của anh là viết:</p>



<p><em>&#8220;một cuốn truyện vừa về một nhân vật có cuộc đời hơi giống mình, kể những trải nghiệm hiếm khi xuất hiện trong văn học đương đại&#8221;</em></p>



<p>— dù chính anh cũng thú nhận lâu rồi chẳng còn đọc văn học đương đại mấy nữa.</p>



<p>Người đọc chỉ muốn hỏi Chuck một câu.</p>



<p><em>Xin anh nói rõ hơn xem, những &#8220;trải nghiệm hiếm gặp&#8221; ấy là gì?</em><em></em></p>



<p>Và có lẽ câu hỏi ấy cũng dành cho chính Jem Calder.</p>



<p>Giống hệt nhân vật của mình, ông dường như luôn muốn khai sáng người đọc.</p>



<p>Chỉ có điều, đôi khi chính ông cũng chưa thật sự tìm được những từ ngữ cần thiết để nói hết điều mình muốn nói.</p>



<p>[T.Vấn biên tập; ChatGPT viết lại nội dung dựa trên bài điểm sách I WANT YOU TO BE HAPPY, tác giả: Jem Calder) của Lizzy Harding (<a href="https://www.nytimes.com/2026/07/16/books/i-want-you-to-be-happy-jem-calder.html">The NYT: &nbsp;She Thinks He’s Mr. Right. He Thinks She’s Ms. Right Now. Can It Last?]</a></p>



<p></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Andrew Weissmann: VƯƠNG QUỐC CỦA KẺ DỐI LỪA-CHƯƠNG 6: MỘT CON ĐƯỜNG PHÍA TRƯỚC</title>
		<link>https://t-van.net/andrew-weissmann-vuong-quoc-cua-ke-doi-lua-chuong-6-mot-con-duong-phia-truoc/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[ChatGPT]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 04 Aug 2026 06:47:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[ChatGPT DỊCH THUẬT - TỦ SÁCH THẾ GIỚI]]></category>
		<category><![CDATA[VƯƠNG QUỐC CỦA KẺ DỐI LỪA]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=91177</guid>

					<description><![CDATA[Nguyên Tác: LIAR’S KINGDOM Tác Giả: Andrew Weissmann (Chuyển ngữ tiếng Việt: ChatGPT; Hiệu đính (và chịu trách nhiệm): T.Vấn) TÁC GIẢ &#38; TÁC PHẨM CHƯƠNG 6 MỘT CON ĐƯỜNG PHÍA TRƯỚC Rồi sẽ đến lúc Trump rời khỏi chính trường, như điều cuối cùng cũng xảy ra với tất cả chúng ta. Nhưng những [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/06/hinh-bia.webp?strip=all&w=2560"><img decoding="async" width="474" height="717" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/06/hinh-bia.webp?strip=all" alt="" class="wp-image-90238" style="width:380px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/06/hinh-bia-198x300.webp 198w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/06/hinh-bia.webp?strip=all 474w" sizes="(max-width: 474px) 100vw, 474px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><strong>Nguyên Tác: LIAR’S KINGDOM</strong></p>



<p><strong>Tác Giả: Andrew Weissmann</strong></p>



<p><em>(Chuyển ngữ tiếng Việt: ChatGPT; Hiệu đính (và chịu trách nhiệm): T.Vấn)</em></p>



<p><a href="https://t-van.net/andrew-weissmann-vuong-quoc-cua-ke-doi-tra-gioi-thieu-tac-gia-tac-pham/"><strong>TÁC GIẢ &amp; TÁC PHẨM</strong></a></p>



<p><strong>CHƯƠNG 6</strong></p>



<p><strong>MỘT CON ĐƯỜNG PHÍA TRƯỚC</strong></p>



<p>Rồi sẽ đến lúc Trump rời khỏi chính trường, như điều cuối cùng cũng xảy ra với tất cả chúng ta. Nhưng những chính trị gia khác sẽ noi theo ông ta, bởi Trump đã chứng minh được hiệu quả của lời nói dối chính trị trắng trợn. Chúng ta phải phát triển một liều thuốc giải — một giải pháp vừa khôn ngoan vừa có thể đứng vững trước sự giám sát pháp lý theo chính hệ thống luật pháp của chúng ta. Bất kỳ giải pháp nào mà chúng ta đưa ra cũng phải tương thích với các giá trị và luật pháp của quốc gia này, đồng thời vượt qua được những kiểu thách thức pháp lý từng đánh sập nhiều phần của Đạo luật Stolen Valor.</p>



<p>Để xem xét những lựa chọn trước mắt, hãy thử hình dung ba đạo luật khả dĩ.</p>



<p>Trước tiên, hãy tưởng tượng rằng Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua một đạo luật liên bang mới theo truyền thống của “Đạo luật Hồ sơ Trong sạch” của Brazil. Hãy gọi đạo luật này là Đạo luật Sự thật trong Bầu cử (Truth in Elections Act — TEA) và mã hóa nó thành Điều 1001A, được đặt ngay sau điều luật hiện hành về khai gian tại Điều 1001 thuộc Tiêu đề 18 của Bộ luật Hoa Kỳ (nơi tập hợp nhiều đạo luật liên bang của quốc gia). Điều luật thực tế 1001 quy định:</p>



<p>“Bất kỳ ai, trong bất kỳ vấn đề nào thuộc thẩm quyền của bất kỳ cơ quan hay ban ngành nào của Hoa Kỳ, cố ý và có chủ đích làm sai lệch, che giấu hoặc che đậy một sự kiện trọng yếu bằng bất kỳ thủ đoạn, kế hoạch hay thiết bị nào; hoặc đưa ra bất kỳ tuyên bố hay trình bày sai sự thật, giả tạo hoặc gian dối nào; hoặc lập hay sử dụng bất kỳ văn bản hay tài liệu nào mà biết rõ có chứa nội dung sai sự thật, giả tạo hoặc gian dối, thì sẽ bị phạt tiền theo tiêu đề này hoặc bị phạt tù không quá năm năm, hoặc cả hai.”</p>



<p>Điều luật này đã được diễn giải rất rộng để bao trùm các lời nói dối với nhiều viên chức liên bang. Sau đây là một ví dụ từ hơn hai mươi năm làm công tố viên của tôi: Khi tôi cùng một đặc vụ FBI tiến hành thẩm vấn nhân chứng, tôi sẽ thông báo cho họ về các quyền và nghĩa vụ của mình, bao gồm cảnh báo rằng dù họ không tuyên thệ, nếu họ nói dối trong buổi thẩm vấn thì họ có thể phạm tội theo Điều 1001 và đối mặt với khả năng bị truy tố cũng như ngồi tù. Khá đáng sợ — nhưng nhiều khi đó chính là mục đích, nhằm khiến họ nhận thức rõ sự cần thiết phải nói thật.</p>



<p>Điều luật giả định mới của chúng ta, Điều 1001A hay TEA, mở rộng Điều 1001 hiện hành — mở rộng phạm vi áp dụng sang các lời nói dối nhắm trực tiếp vào hệ thống bầu cử của chúng ta:</p>



<p>“Bất kỳ ai cố ý và có chủ đích đưa ra tuyên bố hay trình bày sai sự thật, giả tạo hoặc gian dối về kết quả hay quy trình của bất kỳ cuộc bầu cử liên bang nào, với mục đích gieo rắc nghi ngờ về tính toàn vẹn của kết quả hay quy trình đó, sẽ phạm một vi phạm dân sự mà hình phạt có thể bao gồm việc cấm đảm nhiệm chức vụ dân cử trong thời hạn lên đến 8 năm. Để bị xác định là có trách nhiệm đối với hành vi này, chứng cứ phải được thiết lập vượt quá mọi nghi ngờ hợp lý. Người bị xác định có trách nhiệm theo điều luật này có thể ngay lập tức kháng cáo theo thủ tục rút gọn đối với phán quyết.”</p>



<p>TEA sẽ áp dụng cho tất cả các cuộc bầu cử liên bang, dù là vào Thượng viện, Hạ viện hay Nhà Trắng. Tuy nhiên, vì đạo luật mang bản chất dân sự nên người bị xác định có trách nhiệm sẽ không đối mặt với khả năng bị bỏ tù; họ chỉ đơn thuần bị cấm giữ chức vụ trong một khoảng thời gian nhất định.</p>



<p>Giờ hãy tưởng tượng rằng Quốc hội đã thông qua một đạo luật mới thứ hai, cũng là một đạo luật dân sự phản ánh tinh thần của yêu cầu “sự thật trong quảng cáo” dành cho các chính trị gia tại Brazil. Đạo luật giả định thứ hai này yêu cầu rằng, trong mọi cuộc bầu cử liên bang, ứng cử viên phải định kỳ công khai chứng nhận với Ủy ban Bầu cử Liên bang (FEC) rằng mọi khẳng định về mặt sự kiện mà họ đã đưa ra (hoặc khiến người khác đưa ra thay mặt mình) trong quá trình tranh cử đều là đúng sự thật. Bản chứng nhận phải cung cấp cho FEC cơ sở thực tế của các khẳng định đó. Nếu ứng cử viên không thể chứng nhận bất kỳ phát biểu nào mà mình đã đưa ra trên đường vận động tranh cử, thì ứng cử viên đó phải rút lại phát biểu ấy thông qua hồ sơ nộp cho FEC để công chúng và báo chí biết được việc rút lại đó trước ngày bầu cử. Hơn nữa, không ứng cử viên nào đủ điều kiện tranh cử nếu không thực hiện các hồ sơ bắt buộc; và các ứng cử viên tổng thống sẽ không đủ điều kiện nhận quỹ hỗ trợ liên bang nếu không nộp các chứng nhận này, đồng thời phải hoàn trả mọi khoản quỹ đã nhận. Đáng chú ý, vì việc cố ý và có chủ đích nộp hồ sơ gian dối cho một cơ quan liên bang vốn đã là tội phạm, nên nếu bản chứng nhận của ứng cử viên chứa đựng một nội dung sai lệch trọng yếu và cố ý, ứng cử viên đó sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự vì khai báo gian dối.</p>



<p>Cuối cùng, hãy tưởng tượng một đạo luật liên bang mới thứ ba mở rộng một đạo luật hiện hành khác của Hoa Kỳ, Điều 2383 thuộc Tiêu đề 18. Điều luật này quy định rằng những người bị kết án về các tội nổi loạn hoặc phản loạn sẽ không đủ điều kiện giữ chức vụ công. Đạo luật mới của chúng ta bổ sung đoạn được gạch dưới sau đây:</p>



<p>“Bất kỳ ai kích động, khởi xướng, hỗ trợ hoặc tham gia vào bất kỳ cuộc nổi loạn hay phản loạn nào chống lại thẩm quyền của Hoa Kỳ hoặc các đạo luật của Hoa Kỳ, hoặc tiếp tay hay hỗ trợ cho các hành vi đó, hoặc cố ý và có chủ đích vi phạm Điều 1001A của Tiêu đề 18 Bộ luật Hoa Kỳ (TEA), sẽ bị phạt tiền theo tiêu đề này hoặc bị phạt tù không quá mười năm, hoặc cả hai; đồng thời sẽ không đủ tư cách giữ bất kỳ chức vụ nào thuộc Hoa Kỳ.”</p>



<p>Đạo luật mới này bổ sung các hậu quả hình sự — chứ không chỉ đơn thuần là việc truất quyền tranh cử — đối với hành vi vi phạm đạo luật giả định đầu tiên của chúng ta, tức TEA.</p>



<p>Mỗi một trong ba đạo luật mới này sẽ, theo những cách khác nhau, giải quyết vấn đề mà nền dân chủ của chúng ta đang phải đối mặt từ các lời nói dối chính trị; và mỗi đạo luật đưa ra những cơ chế khác nhau để buộc người vi phạm phải chịu trách nhiệm. Dĩ nhiên, mặc dù cả ba mô hình đều là các đạo luật liên bang khả dĩ điều chỉnh các cuộc bầu cử liên bang, thì mỗi trong năm mươi bang của chúng ta cũng có thể ban hành các phiên bản tương tự của cả ba đạo luật ấy để điều chỉnh các cuộc bầu cử cấp bang tương ứng. Thực tế, nhiều bang hiện nay đã tước quyền giữ chức vụ dân cử của những người bị kết án về nhiều loại tội phạm khác nhau.</p>



<p>Ba đạo luật liên bang ấy sẽ đứng vững thế nào dưới chế độ hiến pháp của chúng ta? Dĩ nhiên, cách chắc chắn nhất để bảo đảm tính hợp hiến của các đạo luật này là sửa đổi Hiến pháp để minh thị cho phép các giải pháp như vậy. Nhưng tôi tránh đề xuất con đường đó vì tính bất khả thi về mặt thực tế của nó. Đã nhiều thập niên trôi qua kể từ lần cuối Hiến pháp được sửa đổi, và theo thiết kế đầy khôn ngoan, đây là một tiến trình khó khăn và quanh co. Đôi khi còn quá khó: ngay cả Tu chính án Quyền Bình đẳng được đề xuất cũng không thể tập hợp đủ ba phần tư số bang cần thiết để được phê chuẩn theo hiến pháp. Vì vậy, điều thực tế hơn là đặt câu hỏi liệu các giải pháp mang tính đạo luật này có thể vượt qua sự giám sát theo Hiến pháp hiện hành của chúng ta hay không.</p>



<p>Hai đạo luật giả định đầu tiên sẽ có khả năng chống chịu mạnh mẽ nhất trước các thách thức hiến pháp, trong khi đạo luật thứ ba sẽ dễ bị tổn thương nhất.</p>



<p>Hai đạo luật giả định đầu tiên chia sẻ một đặc điểm quan trọng của đạo luật truất quyền của Brazil — mô hình đem lại phương án khả thi nhất về mặt pháp lý cho cách mà chúng ta có thể răn đe các lời nói dối chính trị tại Hoa Kỳ. Đạo luật Brazil bảo vệ tính toàn vẹn của bầu cử, nhưng nó làm điều đó mà hoàn toàn không cấm đoán phát biểu. Hãy nhớ rằng các lời nói dối bầu cử của Bolsonaro đã dẫn tới việc ông bị cấm giữ chức vụ, nhưng đạo luật truất quyền của Brazil không hề cấm phát biểu của ông ngay từ đầu. Theo cùng cách đó, hai đạo luật giả định đầu tiên của Hoa Kỳ — TEA và đạo luật chứng nhận với FEC — cũng không cấm phát biểu.</p>



<p>Thay vào đó, các đạo luật này giới hạn khả năng của một người trong việc tranh cử vào chức vụ công — điều mà, khác với quyền tự do ngôn luận, không hề tồn tại như một quyền tuyệt đối tại cả Hoa Kỳ lẫn Brazil. Thay vì cấm bất kỳ ai phát biểu, hai đạo luật giả định đầu tiên của Hoa Kỳ, giống như Đạo luật Hồ sơ Trong sạch ở Brazil, đơn giản chỉ đặt ra một lựa chọn cho bất kỳ ai muốn tranh cử chức vụ liên bang: nếu muốn ra tranh cử, bạn không được nói dối. Ngược lại, nếu bạn muốn nói dối về cuộc bầu cử, bạn hoàn toàn tự do làm điều đó, nhưng nhà nước có lợi ích chính đáng khi xác định rằng lúc ấy bạn sẽ không thể tranh cử.</p>



<p>Việc cấm một người ra tranh cử dĩ nhiên là một hậu quả nghiêm trọng, cả đối với ứng cử viên đó lẫn đối với những cử tri muốn bỏ phiếu cho họ. Nhưng cũng như không ai ở Brazil — hay ngay tại Hoa Kỳ — có quyền tuyệt đối được tranh cử bất kỳ chức vụ nào, thì cử tri cũng không có quyền tuyệt đối được thấy một cá nhân cụ thể xuất hiện trên lá phiếu. Trên thực tế, Hiến pháp của chúng ta đặt ra những giới hạn về điều kiện cần thiết để tranh cử tổng thống; và như chúng ta biết từ phong trào Cấp tiến đầu thế kỷ XX, tồn tại vô số hạn chế mang tính đạo luật về việc ai có thể có tên trên lá phiếu. Đồng thời, nhiều bang hiện nay đã cấm những người bị kết án về nhiều loại tội phạm khác nhau được ra tranh cử chức vụ công.</p>



<p>Hai đạo luật giả định đầu tiên của Hoa Kỳ còn có thêm một lợi thế nữa khi so sánh với các đạo luật truất quyền mang tính hình sự: bởi vì hai đạo luật mới này là các đạo luật dân sự, mọi người chịu sự điều chỉnh của chúng đều có thể bị yêu cầu giải trình dưới lời tuyên thệ. Đúng là, trong cả vụ án dân sự lẫn hình sự tại Hoa Kỳ, chúng ta đều được hưởng đặc quyền theo Tu chính án Thứ Năm để từ chối trả lời những câu hỏi có thể khiến mình tự buộc tội trong một vụ án hình sự. Nhưng trong vụ kiện dân sự, khác với vụ án hình sự, việc từ chối đó có thể bị thẩm phán hoặc bồi thẩm đoàn suy diễn bất lợi cho bạn. Điều này có nghĩa rằng, trong bối cảnh của các đạo luật giả định của chúng ta, nếu một ứng cử viên từ chối giải thích cơ sở cho một khẳng định về mặt sự kiện, thì tòa án có thể suy đoán rằng khẳng định đó là sai sự thật hoặc không được đưa ra với thiện chí. Việc áp dụng suy đoán này đối với các ứng cử viên cho chức vụ công, những người từ chối giải thích bản thân mình, là đặc biệt thích đáng.</p>



<p>Một lợi ích đặc biệt quan trọng khác xuất phát từ việc hai đạo luật giả định đầu tiên là các đạo luật dân sự: chúng sẽ miễn nhiễm trước quyền ân xá của tổng thống. Chúng ta đã chứng kiến quyền ân xá của tổng thống xóa bỏ các vụ truy tố chính đáng đối với những chính trị gia tham nhũng, giám đốc điều hành doanh nghiệp, những kẻ nổi loạn, đồng minh chính trị, trùm ma túy, thậm chí cả kẻ giết người. Biện pháp truất quyền sẽ không bị loại lạm dụng này làm vô hiệu, bởi quyền ân xá chỉ áp dụng cho các vấn đề hình sự, chứ không áp dụng đối với trách nhiệm dân sự (và hoàn toàn không áp dụng đối với các vi phạm cấp bang, dù là hình sự hay dân sự). Vì vậy, một tổng thống sẽ không thể vô hiệu hóa hiệu lực của hai đạo luật giả định đầu tiên.</p>



<p>Đối với các ứng cử viên tổng thống, có một điều đặc biệt chính đáng trong đạo luật giả định thứ hai — không hẳn là một thế mạnh mang tính hiến pháp tự thân, mà đúng hơn là một lý do chính đáng cho sự tồn tại của nó. Các ứng cử viên tổng thống Hoa Kỳ đủ điều kiện nhận quỹ hỗ trợ tương ứng từ liên bang. Những người nộp thuế liên bang không nên bị buộc phải chi tiền để quảng bá cho một ứng cử viên đang nói dối trắng trợn với họ. Ủy ban Bầu cử Liên bang (FEC) vốn đã có nhiều yêu cầu kê khai đối với ứng cử viên cũng như các chế tài đối với việc không nộp báo cáo chính xác; đạo luật giả định thứ hai của chúng ta chỉ bổ sung thêm một yêu cầu nữa — một yêu cầu không hạn chế phát biểu của ứng cử viên về quan điểm hay chính sách mà họ cổ xúy. Nó chỉ hạn chế những lời nói dối của họ — tức các phát biểu sai sự thật về mặt thực tế.</p>



<p>Tạm gác yếu tố chính nghĩa sang một bên, đạo luật đầu tiên trong hai đạo luật khả thi của chúng ta sẽ dễ bảo vệ hơn về mặt hiến pháp so với đạo luật thứ hai — ít nhất là theo cách tôi đã viết chúng. Đó là bởi đạo luật giả định đầu tiên, TEA, không tìm cách điều chỉnh mọi lời nói dối chính trị; thay vào đó, giống như đạo luật Brazil mà nó mô phỏng theo, TEA được thiết kế riêng để chỉ nhắm vào những lời nói dối cố ý về quy trình bầu cử — cũng chính là những lời nói dối có khả năng gây thiệt hại lớn nhất cho nền dân chủ. Đạo luật giả định thứ hai của Hoa Kỳ không bị giới hạn ở các lời nói dối cố ý về quy trình bầu cử, vì vậy nó sẽ dễ bị Tòa án Tối cao soi xét hơn. Dĩ nhiên, nó có thể được soạn thảo để chỉ bao trùm các lời nói dối liên quan đến bầu cử, nhưng nhằm trình bày những khuôn khổ pháp lý khác nhau mà chúng ta có trong tay, tôi bắt đầu bằng phiên bản rộng hơn của mô hình luật này.</p>



<p>Phạm vi hạn chế của đạo luật giả định đầu tiên có thể trở nên quan trọng nếu một ngày nào đó TEA của chúng ta xuất hiện trước Tòa án Tối cao. Hãy nhớ cách tiếp cận cân bằng được phản ánh trong cả ba ý kiến của Tòa trong vụ Alvarez. Nếu đạo luật giả định của chúng ta được đưa ra trước Tòa án Tối cao, các thẩm phán sẽ cân nhắc lợi ích của chính phủ trong việc ban hành đạo luật ấy với phạm vi của đạo luật và những tổn hại mà nó có thể gây ra đối với quyền tự do ngôn luận được bảo vệ. Và việc thiết kế chặt chẽ hơn của TEA tương tự như Đạo luật Stolen Valor sửa đổi năm 2013 — phiên bản mà Quốc hội đã thu hẹp phạm vi để bảo đảm tính hợp hiến. Với tất cả sự tôn trọng đối với mong muốn của Quốc hội trong việc không làm mất giá trị biểu tượng của các huân chương quân sự — lợi ích chính phủ được viện dẫn trong vụ Alvarez — thì lợi ích ấy vẫn nhỏ bé hơn nhiều so với lợi ích của chúng ta trong việc duy trì niềm tin vào quy trình và kết quả bầu cử. Không có niềm tin ấy, sẽ không thể có những cuộc bầu cử được nhìn nhận là hợp pháp. Và nếu không có những cuộc bầu cử được xem là hợp pháp, sẽ không thể có một nền dân chủ vận hành đúng nghĩa.</p>



<p>Có một cuộc tranh luận quan trọng cần được tiến hành về việc liệu các đạo luật như hai đạo luật giả định đầu tiên mà tôi hình dung ở đây nên chỉ giới hạn ở những lời nói dối về quy trình bầu cử hay nên bao gồm cả các loại nói dối khác. Những người phản đối một đạo luật rộng bao trùm mọi lời nói dối sẽ lập luận rằng chỉ những lời nói dối nguy hại nhất mới nên bị áp dụng hình phạt truất quyền. Họ sẽ cho rằng cần một cách tiếp cận tinh tế hơn, một cách chỉ dành hình phạt cấm tranh cử cho những lời nói dối có khả năng gây hại nghiêm trọng nhất. Một số lời nói dối, những người chỉ trích này sẽ nói, có thể để cho cử tri tự đánh giá và không nên bị áp dụng biện pháp khắc nghiệt là truất quyền — chẳng hạn như những lời nói dối về chuyện tình dục, thành tích học tập từ nhiều thập niên trước, tài sản cá nhân, diện tích căn hộ trong Trump Tower hay số lượng người tham dự mít-tinh. Họ hoàn toàn có lý khi chỉ ra rằng một lệnh cấm pháp lý quá rộng sẽ ảnh hưởng đến tất cả chúng ta, chứ không chỉ ứng cử viên, bởi nó hạn chế lựa chọn bầu cử của cử tri.</p>



<p>Mặt khác, những người theo chủ nghĩa thuần túy hơn sẽ cho rằng bất kỳ lời nói dối nào của ứng cử viên cũng nên dẫn tới việc bị truất quyền. Chẳng phải chúng ta nên đòi hỏi sự thật tuyệt đối từ những người có đặc quyền đại diện cho công chúng Mỹ hay sao? Chẳng phải họ mắc nợ “chúng ta, nhân dân” một nghĩa vụ trung thành hay sao? Phải chăng chúng ta đã quá chai lì trước những lời nói dối đến mức không còn mong đợi sự thật nữa — dẫn đến một cử tri đoàn hoài nghi, sẵn sàng biện minh cho các lời nói dối chính trị bằng câu nói: “Ai mà chẳng thế”? Đã đến lúc phải chấm dứt tình trạng đáng buồn này, những người theo chủ nghĩa thuần túy ấy sẽ nói. Chúng ta nên tốt đẹp hơn — và xứng đáng với điều tốt đẹp hơn — thay vì mặc nhiên chấp nhận rằng các lãnh đạo của mình sẽ nói dối.</p>



<p>Tôi thừa nhận rằng, tận sâu trong lòng, tôi là một người theo chủ nghĩa thuần túy. Chúng ta sẽ không bao giờ chấp nhận việc một luật sư nói dối thân chủ của mình; đó sẽ là sự vi phạm nghĩa vụ pháp lý cơ bản về lòng trung thành và sự thẳng thắn đối với những người mà cô ấy đại diện. Chúng ta cũng nên đòi hỏi không ít hơn từ các ứng cử viên và chính trị gia, những người được cho là đại diện và phục vụ chúng ta. (Xin tha thứ cho phép so sánh này: tôi đã làm luật sư hơn bốn mươi năm.) Nhưng dù là người theo chủ nghĩa thuần túy trong tim, tôi cũng là một người thực dụng. Tôi muốn vấn đề này được giải quyết. Và điều đó có nghĩa là phải làm việc trong khuôn khổ của một hệ thống hiến pháp — một hệ thống đòi hỏi cách tiếp cận bền vững và triển vọng nhất đối với cuộc khủng hoảng trung thực của đất nước chúng ta.</p>



<p>Dù chúng ta chọn cách tiếp cận hẹp hay rộng, thì bằng cách này hay cách khác, chúng ta vẫn phải vạch ra một ranh giới giữa những lời nói dối mà chúng ta quyết định trừng phạt và những lời nói dối mà chúng ta không trừng phạt. Cách tiếp cận hiện nay là không vạch ra bất kỳ ranh giới nào cả. Hệ quả là những lời nói dối gây chết người cho tiến trình dân chủ đang sinh sôi và được quá nhiều người Mỹ nuốt trọn. Việc xác định nên đặt ranh giới ở đâu là quan trọng, nhưng điều quan trọng nhất là chúng ta phải hành động — dù là bằng phiên bản rộng hay hẹp của đạo luật giả định thứ hai. Tôi thích nói với mọi người rằng câu châm ngôn cũ “Nếu nó chưa hỏng thì đừng sửa” cũng đúng theo chiều ngược lại. Khi nó đã hỏng, bạn buộc phải sửa nó.</p>



<p>Còn một giải pháp được đề xuất nữa cho hệ thống đang trục trặc của chúng ta, đó là giải pháp nằm trong đạo luật giả định thứ ba. Theo nhiều cách, đây là giải pháp mang tính thuần túy nhất, nhưng cũng chính vì vậy mà sẽ khó thực hiện nhất tại Hoa Kỳ. Điều đó là hợp lý, bởi nó gây gánh nặng lớn nhất lên quyền tự do ngôn luận — ngay cả khi nó chỉ nhắm vào những lời nói dối cố ý về bầu cử. Chúng ta có thể dự đoán điều này với mức độ chắc chắn khá cao dựa trên cuộc thảo luận của Tòa án Tối cao trong vụ Alvarez về hiệu ứng “làm lạnh” đối với phát biểu được bảo vệ khi hình sự hóa ngay cả những phát biểu sai sự thật. Đúng là các thẩm phán chỉ gợi ý những chỉnh sửa nhỏ đối với Đạo luật Stolen Valor để làm cho nó hợp hiến. Nhưng cả ba ý kiến của Tòa đều lo ngại rằng việc điều chỉnh phát biểu sai sự thật về mặt thực tế có thể gây ra hiệu ứng làm lạnh đối với phát biểu trung thực. Trong vụ Alvarez, đa số thẩm phán không thấy mối lo ấy có ý nghĩa thực tế gì khi xử lý việc khai gian rằng mình đã nhận huân chương quân sự: làm sao việc cấm những lời nói dối như vậy có thể khiến phát biểu chân thật bị kiềm chế? Nhưng chúng ta không nên mong đợi cùng một kết luận khi nói đến phát biểu chính trị — dù là đúng hay sai.</p>



<p>Tòa án Tối cao hoàn toàn có thể chỉ ra rằng đạo luật giả định thứ ba của chúng ta, với các hình phạt hình sự gồm tiền phạt và tù giam đối với bất kỳ ai “cố ý và có chủ đích vi phạm” TEA, có thể gây hiệu ứng làm lạnh không chỉ đối với lời nói dối mà cả đối với phát biểu trung thực. Không khó để hình dung các ứng cử viên tự kiểm duyệt những phát biểu sắc bén trên đường vận động tranh cử — ngay cả khi những phát biểu ấy có thể là đúng — nhằm tránh nguy cơ phải đối mặt với những hậu quả đặc biệt nghiêm trọng từ đạo luật hình sự giả định của chúng ta. Và quả thực, Tòa chắc chắn sẽ đặc biệt quan ngại về hiệu ứng làm lạnh ấy trong bối cảnh bầu cử, điều sẽ khiến đạo luật giả định thứ ba của chúng ta càng khó vượt qua phép thử axit của hiến pháp.</p>



<p>Hơn nữa, mặc dù đạo luật giả định thứ ba của chúng ta bổ sung thêm một tội danh nữa (tức cố ý nói dối về bầu cử) vào hai tội mà Quốc hội đã hình sự hóa và trừng phạt bằng hình thức truất quyền (nổi loạn và phản loạn), vẫn tồn tại một khoảng cách rất lớn giữa các tội danh này. Hai tội sau không hề giống bất kỳ hoạt động nào được Hiến pháp bảo vệ, cũng không đặt ra cùng mức độ rủi ro gây hiệu ứng làm lạnh đối với phát biểu được bảo vệ theo Tu chính án Thứ Nhất. Hiến pháp không bảo vệ hành vi nổi loạn hay phản loạn — hoàn toàn ngược lại — nên xét về mặt pháp lý, các hoạt động đó rõ ràng có thể bị xử lý. Điều tương tự không thể nói về việc đưa ra một phát biểu sai sự thật về bầu cử — một hoạt động mà Hiến pháp có thể cũng không bảo vệ, nhưng lại nằm rất gần với các hoạt động được Hiến pháp bảo vệ (cụ thể là phát biểu thuộc phạm vi của Tu chính án Thứ Nhất).</p>



<p>Tất cả những điều này không có nghĩa là giả thuyết thứ ba hoàn toàn không có khả năng vượt qua được sự kiểm tra hợp hiến. Một lập luận để bảo vệ tính hợp hiến của mô hình thứ ba là nó không vi phạm những quan ngại mà Thẩm phán Alito đã nêu ra trong vụ Alvarez. Đối với Alito, vấn đề của việc điều chỉnh một số loại phát ngôn sai sự thật là nhà nước không có quyền bước vào lĩnh vực quyết định đâu là phát ngôn đúng và đâu là phát ngôn sai, ít nhất là khi nói đến việc cấm phát ngôn liên quan đến tôn giáo, lịch sử, triết học và những lĩnh vực tương tự. Alito bác bỏ quan điểm cho rằng không tồn tại sự thật khách quan; điều khiến ông lo ngại là việc nhà nước bảo chúng ta được phép và không được phép nói gì — một lập trường hoàn toàn đối nghịch với cách tiếp cận của Đức trong việc cấm phủ nhận Holocaust.</p>



<p>Giả thuyết thứ ba mà chúng ta đề xuất không làm phát sinh mối lo ngại đó. Đạo luật này giao cho bồi thẩm đoàn, chứ không phải chính phủ, quyền xác định rằng một phát biểu là cố ý sai sự thật. Khác với luật cấm phủ nhận Holocaust của Đức, nó không cấm phát ngôn về những chủ đề do chính phủ lựa chọn là cấm kỵ. Thay vào đó, nó vay mượn một phần từ luật phỉ báng hiện hành của Hoa Kỳ, nơi mà mỗi ngày các bồi thẩm đoàn dân sự vẫn phải quyết định chính xác cùng một vấn đề như vậy. Điều tương tự cũng đúng đối với vô số vụ truy tố hình sự về hành vi khai man với chính phủ, vốn vi phạm điều luật hiện hành tại Mục 1001. Và việc sử dụng Mục 1001 để truy tố một hồ sơ khai báo gian dối gửi lên FEC — loại hồ sơ mà mọi ứng cử viên đều buộc phải nộp theo mô hình luật thứ hai — hoàn toàn phù hợp với cách tiếp cận đó. Cả một cáo buộc theo Mục 1001 lẫn một cáo buộc theo mô hình thứ ba đều không tương tự với luật Holocaust của Đức, vốn phản ánh một tuyên bố mang tính kết luận của chính phủ rằng phát ngôn về một chủ đề nhất định là sai sự thật. Điều đó đi ngược lại lập luận của Alito. Còn đối với các đạo luật mới được đề xuất — dù là dân sự hay hình sự — thì không phải như vậy.</p>



<p><strong>BIỆN PHÁP BIỆN HỘ DỰA TRÊN QUYỀN MIỄN TRỪ</strong></p>



<p>Không khó để hình dung một tổng thống hay quan chức chính phủ khác đang tranh cử sẽ viện dẫn quyền miễn trừ để tránh bị truy tố vì vi phạm một đạo luật như TEA. Rốt cuộc, Donald Trump nổi tiếng vì đã bám víu vào chính lập luận này khi ông bị cáo buộc vi phạm các đạo luật hình sự liên bang có thật ngoài đời, và Tối cao Pháp viện phần lớn đã ủng hộ ông khi xây dựng khuôn khổ pháp lý mới của mình. Vì vậy, chúng ta cần chuẩn bị cho việc lập luận về quyền miễn trừ tương tự sẽ được dùng để thách thức việc thực thi một đạo luật giả định mới như TEA.</p>



<p>Tin tốt là hệ thống pháp luật Hoa Kỳ về quyền miễn trừ dân sự và hình sự của tổng thống — được thể hiện gần đây nhất qua phán quyết năm 2024 của Tối cao Pháp viện trong vụ án mang tên đáng nhớ <em>Trump kiện Hoa Kỳ</em> — sẽ không tạo ra nơi trú ẩn an toàn cho các ứng cử viên nói dối, kể cả những người đang nắm giữ chức vụ quyền lực nhất đất nước.</p>



<p>Hãy nhớ rằng vụ <em>Trump kiện Hoa Kỳ</em> phát sinh từ đơn kháng cáo của Trump trong một vụ truy tố hình sự liên bang tại Washington, DC, liên quan đến các trọng tội bắt nguồn từ nỗ lực của ông nhằm tiếp tục nắm quyền sau khi thua cuộc bầu cử năm 2020. Trump tuyên bố rằng ông có quyền miễn trừ đối với mọi cáo buộc trong vụ án đó. Nhưng cả cách Tối cao Pháp viện giải quyết vụ việc này, lẫn các quyết định về quyền miễn trừ trong các vụ dân sự, đều không trao cho các ứng cử viên chính trị một “lá bài thoát tù” để né tránh những ràng buộc của một đạo luật tước quyền ứng cử như TEA.</p>



<p>Đây là lý do vì sao các ứng cử viên không thể viện dẫn quyền miễn trừ. Trong vụ <em>Trump kiện Hoa Kỳ</em>, Tòa án chia các loại hành vi mà một tổng thống có thể thực hiện thành ba nhóm khác nhau.</p>



<p>Nhóm thứ nhất bao gồm những hành vi chính thức mà tổng thống thực hiện khi sử dụng quyền lực mà Hiến pháp trao riêng cho tổng thống. Quyền ân xá là một ví dụ như vậy. Những quyền lực này chỉ thuộc về tổng thống, và Quốc hội không có khả năng hạn chế quyền đó thông qua luật liên bang. Ví dụ, nếu Quốc hội thông qua một đạo luật cấm các tổng thống có dính líu đến tội phạm ban hành lệnh ân xá cho đồng phạm, thì dù chúng ta có thể thấy đạo luật ấy hợp lý đến đâu, Tối cao Pháp viện cũng sẽ tuyên nó là vi hiến; bởi nó xâm phạm một quyền lực mà Hiến pháp trao độc quyền cho tổng thống. Cách duy nhất để đạo luật đó vượt qua được sự kiểm tra hợp hiến là sửa đổi Hiến pháp.</p>



<p>Ở thái cực còn lại, trong vụ <em>Trump kiện Hoa Kỳ</em>, Tòa án cho rằng có một nhóm hành vi do tổng thống thực hiện nhưng không phải trong tư cách chính thức. Những hành vi này không được hưởng bất kỳ quyền miễn trừ nào. Việc một hành động được thực hiện khi một người đang là tổng thống không có nghĩa rằng nó là một phần trong chức năng chính thức của tổng thống. Tòa án đối xử với các hành động thuộc nhóm này giống như những hành động được thực hiện trước hoặc sau khi người đó làm tổng thống. Không có quyền miễn trừ nào áp dụng cho các hành vi mà người đó thực hiện khi tranh cử trước lúc đắc cử, hoặc khi đang là tổng thống nhưng hành động với tư cách một ứng cử viên tái tranh cử. Chúng ta cũng có một ví dụ thực tế: các cáo buộc chống lại Trump trong vụ án hình sự của bang New York — nơi ông bị kết tội làm giả hồ sơ kinh doanh để che giấu âm mưu giành chiến thắng trong cuộc bầu cử năm 2016 — sẽ thuộc nhóm này.</p>



<p>Nhóm thứ ba bao gồm những hành vi mà tổng thống thực hiện trong tư cách chính thức, nhưng nằm ngoài các lĩnh vực mà Hiến pháp trao độc quyền cho tổng thống. Có rất nhiều lĩnh vực như vậy — những vùng mà cả Quốc hội lẫn nhánh hành pháp đều có vai trò, chẳng hạn như chính sách y tế, giáo dục và nhập cư. Trong các lĩnh vực này, Tối cao Pháp viện trong vụ <em>Trump kiện Hoa Kỳ</em> cho rằng tổng thống ít nhất được hưởng quyền miễn trừ suy đoán đối với hành động của mình; quyền miễn trừ đó chỉ có thể bị bác bỏ nếu vụ truy tố hình sự “không gây ra ‘nguy cơ xâm phạm’ nào” đối với thẩm quyền tổng thống của ông.</p>



<p>Tối cao Pháp viện đã không quyết định vấn đề thực tế rằng hành vi cụ thể nào bị cáo buộc trong bản cáo trạng đối với Trump không phải là hành vi chính thức. Thay vào đó, họ trả lại câu hỏi đó cho tòa cấp dưới để xem xét trước tiên, nhưng phải áp dụng khuôn khổ pháp lý mà họ đã đặt ra. Tuy nhiên, ít nhất bốn thẩm phán đã nói rõ rằng họ sẽ không trao cho Trump quyền miễn trừ đối với hành vi bị cáo buộc là can thiệp vào quy trình bầu cử của các bang. Thẩm phán Amy Coney Barrett viết riêng để khẳng định rằng bà xem hành vi đó không được hưởng quyền miễn trừ, trong khi năm thẩm phán còn lại thuộc phe đa số đơn giản là chưa giải quyết vấn đề thực tế đó. Bất kể họ có thể phán quyết thế nào về việc áp dụng khuôn khổ pháp lý của mình vào các tình tiết cụ thể, Tòa án đã nói rõ rằng những hành vi không được thực hiện trong tư cách chính thức thì không được miễn trừ, và chỉ để ngỏ câu hỏi thực tế liệu hành vi đó có được thực hiện trong tư cách ấy hay không.</p>



<p>Tòa án sẽ áp dụng khuôn khổ ba phần này như thế nào đối với đạo luật liên bang giả định của chúng ta, Mục 1001A? Dĩ nhiên, vì Tối cao Pháp viện chỉ mới đưa ra quyết định về quyền miễn trừ của tổng thống vào tháng 7 năm 2024 và chưa có thêm án lệ nào phát triển từ đó trong thời gian ngắn kể từ đó, nên chưa có phán quyết nào trực tiếp giải quyết câu hỏi này. Dù vậy, có thể đưa ra một lập luận thuyết phục rằng quyết định đó đơn giản là không áp dụng cho đạo luật chống nói dối của chúng ta.</p>



<p>Thứ nhất, như bạn còn nhớ, TEA không phải là một đạo luật hình sự; thậm chí nó cũng không phải là một đạo luật dân sự điển hình buộc ứng cử viên phải bồi thường thiệt hại hay chịu các biện pháp khắc phục thông thường trong một vụ kiện dân sự. Quyết định về quyền miễn trừ hình sự trong vụ <em>Trump kiện Hoa Kỳ</em> đơn giản là không áp dụng cho một đạo luật dân sự, huống chi là một đạo luật chỉ áp đặt biện pháp tước quyền ứng cử. Và ngay cả nếu có áp dụng, quyền miễn trừ cũng không áp dụng đối với các hành vi được thực hiện trong tư cách ứng cử viên tranh cử, kể cả khi người đó đang tại chức và tái tranh cử.</p>



<p>Nhưng còn một lý do khác khiến người ta nghi ngờ khả năng dùng vụ <em>Trump kiện Hoa Kỳ</em> để vô hiệu hóa TEA: đại đa số những người tranh cử vào các chức vụ liên bang không phải là tổng thống Hoa Kỳ. Quyết định đó được xây dựng dựa trên tính chất đặc biệt của chức vụ tổng thống; vì thế, nếu đạo luật mới Mục 1001A được áp dụng đối với một ứng cử viên liên bang không phải là tổng thống đương nhiệm tái tranh cử, thì quyết định về quyền miễn trừ của tổng thống sẽ hoàn toàn không bảo vệ người đó.</p>



<p>Cho đến giờ, chúng ta đã xem xét câu hỏi liệu ba mô hình giả định này có thể vượt qua được sự kiểm tra pháp lý hay không. Nhưng liệu bất kỳ biện pháp giả định nào trong số đó có đáng để đánh đổi với những cái giá có thể thấy trước hay không? Các bác sĩ thường hỏi: liệu phương thuốc có còn tệ hơn căn bệnh? Điều này giống với hai câu hỏi mà tôi luôn tự đặt ra khi còn là công tố viên. Câu hỏi thứ nhất — và thường dễ trả lời hơn — là liệu tôi có tin rằng có đủ bằng chứng để truy tố và kết tội ai đó hay không. Câu hỏi thứ hai — và thường khó hơn — là liệu sau khi đã có đủ bằng chứng cần thiết, tôi có nên tiếp tục hay không. Người đang bị điều tra có nên bị truy tố về tội mà tôi có bằng chứng cho thấy họ đã phạm phải hay không?</p>



<p>Đó là câu hỏi mà giờ đây chúng ta sẽ chuyển sang xem xét tiếp theo.</p>



<p>(Còn Tiếp)</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Khi những cuốn sách do AI viết lặng lẽ chiếm lấy các hiệu sách</title>
		<link>https://t-van.net/khi-nhung-cuon-sach-do-ai-viet-lang-le-chiem-lay-cac-hieu-sach/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[ChatGPT]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 04 Aug 2026 06:46:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[ChatGPT]]></category>
		<category><![CDATA[Trí tuệ nhân tạo AI]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=91018</guid>

					<description><![CDATA[Ảnh: Carolina Moscoso (The NYT) Các nhà bán lẻ sách đang loay hoay tìm cách đối phó với làn sóng đầu sách do trí tuệ nhân tạo tạo ra – một cơn lũ đã bắt đầu làm thay đổi thị trường xuất bản nhanh hơn bất kỳ ai từng hình dung. Jess Michaels không phải [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/07/KqFVnz7Q-image001.jpg?strip=all&w=2560"><img decoding="async" width="600" height="600" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/07/KqFVnz7Q-image001.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-91019" style="width:504px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/07/image001-300x300.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2026/07/KqFVnz7Q-image001-150x150.jpg 150w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/07/KqFVnz7Q-image001.jpg?strip=all 600w" sizes="(max-width: 600px) 100vw, 600px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Ảnh: Carolina Moscoso (The NYT)</em></p>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><em>Các nhà bán lẻ sách đang loay hoay tìm cách đối phó với làn sóng đầu sách do trí tuệ nhân tạo tạo ra – một cơn lũ đã bắt đầu làm thay đổi thị trường xuất bản nhanh hơn bất kỳ ai từng hình dung.</em></p>



<p>Jess Michaels không phải là một tay mơ trong nghề viết.</p>



<p>Từ khi trở thành nhà văn chuyên nghiệp vào năm 1999, bà đã cho ra đời 117 tiểu thuyết tình cảm lịch sử, phần lớn tự xuất bản. Mười đầu sách từng lọt danh sách bán chạy của <em>USA Today</em>. Một lượng độc giả trung thành đủ để nhiều người mơ ước.</p>



<p>Thế nhưng giờ đây, Michaels đang nghĩ đến chuyện&#8230; dừng viết.</p>



<p>Không phải vì cạn ý tưởng.</p>



<p>Không phải vì độc giả quay lưng.</p>



<p>Mà vì bà có cảm giác mình đang bị chôn sống dưới một trận tuyết lở mang tên <strong>AI</strong>.</p>



<p>Theo bà, điều đáng sợ nhất không phải là trí tuệ nhân tạo có thể viết truyện. Điều đáng sợ là người ta đem chính tác phẩm của bà ném vào các mô hình ngôn ngữ, để rồi chỉ vài phút sau đã có thể tạo ra một cuốn tiểu thuyết &#8220;mang phong cách Jess Michaels&#8221; và tung lên thị trường với tốc độ chóng mặt.</p>



<p>Giữa vô số những bản sao ấy, tác phẩm của người viết thật gần như biến mất khỏi tầm mắt độc giả.</p>



<p>&#8220;Đó là cảm giác nghiền nát tâm hồn,&#8221; Michaels nói. &#8220;Như thể người ta xóa luôn sự tồn tại của các nhà văn.&#8221;</p>



<p>Khi những chatbot đầu tiên bắt đầu biết viết văn cách đây vài năm, giới xuất bản vẫn còn nuôi một niềm tin lạc quan.</p>



<p>Có lẽ tiểu thuyết sẽ là pháo đài cuối cùng.</p>



<p>Người đọc, họ nghĩ, vẫn sẽ nhận ra đâu là những câu chuyện được sinh ra từ cảm xúc con người. Máy móc có thể viết báo cáo, quảng cáo hay thư điện tử, nhưng làm sao có thể tạo nên một cuốn tiểu thuyết khiến người ta rung động?</p>



<p>Thực tế đang diễn ra lại chẳng chiều lòng ai.</p>



<p>Một nghiên cứu mới của các nhà khoa học máy tính cho thấy một phần đáng kể – và đang tăng rất nhanh – trong số những tiểu thuyết tự xuất bản trên Amazon hiện nay được viết một phần, hoặc gần như hoàn toàn, bởi trí tuệ nhân tạo.</p>



<p>Điều đáng nói hơn nữa là&#8230;</p>



<p>Độc giả vẫn đang mua chúng.</p>



<p>Giáo sư khoa học máy tính Tuhin Chakrabarty thuộc Đại học Stony Brook (SUNY), người dẫn đầu nhóm nghiên cứu, thừa nhận kết quả khiến chính ông cũng phải suy nghĩ.</p>



<p>Trong dòng sách giải trí đại chúng, từ truyện tình cảm đến giả tưởng hay trinh thám, AI đã len vào quá sâu đến mức phần lớn người đọc không còn đủ khả năng phân biệt đâu là văn chương do con người viết và đâu là sản phẩm của chatbot.</p>



<p>Nhóm nghiên cứu lựa chọn hơn mười bốn nghìn tiểu thuyết tự xuất bản trên Amazon trong giai đoạn từ đầu năm 2023 đến tháng 3-2026 rồi sử dụng Pangram – một trong những phần mềm phát hiện văn bản AI được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá đáng tin cậy nhất hiện nay – để phân tích.</p>



<p>Kết quả khiến không ít người trong ngành xuất bản lạnh gáy.</p>



<p>Hơn hai nghìn cuốn có trên một nửa nội dung được AI tạo ra.</p>



<p>Gần một nghìn cuốn gần như hoàn toàn do AI viết.</p>



<p>Theo ước tính của nhóm nghiên cứu, chỉ riêng những cuốn sách có ít nhất một phần tư nội dung do AI tạo sinh cũng đã mang về doanh thu lên tới hàng chục triệu đô la trong ba năm qua.</p>



<p>Nghiên cứu này chưa được bình duyệt học thuật, nhưng dường như đã xác nhận điều mà giới xuất bản e ngại từ lâu:</p>



<p>AI không còn là một hiện tượng bên lề.</p>



<p>Nó đã trở thành một phần của thị trường sách.</p>



<p>Amazon không cấm bán sách do AI tạo ra.</p>



<p>Nền tảng này chỉ yêu cầu tác giả tự xuất bản khai báo với Amazon rằng họ có sử dụng AI hay không.</p>



<p>Điều đáng chú ý là&#8230;</p>



<p>Thông tin ấy chỉ dành cho Amazon.</p>



<p>Độc giả hoàn toàn không được biết.</p>



<p>Amazon cũng giới hạn mỗi tài khoản chỉ được đăng tối đa mười đầu sách mỗi tuần.</p>



<p>Nghe có vẻ chặt chẽ.</p>



<p>Nhưng trong thời đại AI, mười cuốn sách mỗi tuần vẫn là một tốc độ mà ngay cả những nhà văn sung sức nhất cũng không thể nào theo kịp.</p>



<p>Người phát ngôn Josh Pflug cho biết Amazon vẫn áp dụng các quy định nghiêm ngặt đối với nội dung vi phạm và chủ động lẫn bị động gỡ bỏ những đầu sách không đáp ứng tiêu chuẩn, bất kể chúng được viết bởi AI hay con người.</p>



<p>Tuy nhiên, những con số từ nhiều nghiên cứu khác lại vẽ nên một bức tranh đáng lo hơn.</p>



<p>Một công trình của Cục Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia Hoa Kỳ (NBER) cho thấy sự bùng nổ của sách điện tử trên Amazon gần như song hành với sự gia tăng của văn bản do AI tạo ra.</p>



<p>Amazon không đồng tình với kết luận ấy.</p>



<p>Nhưng cũng không công bố số liệu nội bộ để phản bác.</p>



<p>Điều đáng ngại không chỉ nằm ở số lượng.</p>



<p>Mà còn ở chất lượng.</p>



<p>Một nghiên cứu khác phân tích khoảng sáu mươi nghìn đầu sách bán trên Amazon cho thấy tỷ lệ sách chứa văn bản AI đã tăng từ khoảng một phần tư năm 2023 lên hơn một nửa vào năm 2025.</p>



<p>AI xuất hiện nhiều nhất ở các dòng sách phi hư cấu như du lịch hay hướng dẫn thể thao ngoài trời.</p>



<p>Tiểu thuyết vẫn thấp hơn.</p>



<p>Nhưng đang tăng đều.</p>



<p>Đồng thời, điểm đánh giá trung bình của các đầu sách mới cũng đi xuống.</p>



<p>Nếu thị trường liên tục bị lấp đầy bởi những cuốn sách chất lượng thấp, người chịu thiệt cuối cùng vẫn là độc giả.</p>



<p>Trong khi đó, các vụ kiện bản quyền nhằm vào OpenAI, Anthropic, Google, Meta và xAI ngày càng nhiều.</p>



<p>Lập luận của các nhà văn và nhà xuất bản khá đơn giản:</p>



<p>Không chỉ dữ liệu của họ bị sử dụng để huấn luyện AI.</p>



<p>Chính những tác phẩm do AI tạo ra sau đó còn quay lại cạnh tranh trực tiếp với họ trên cùng một thị trường.</p>



<p>Làn sóng AI cũng đặt các nhà bán sách vào một tình thế đầy khó xử.</p>



<p>Amazon có vẻ chấp nhận nó như một thực tế mới.</p>



<p>Nhưng những nhà bán lẻ khác lại tìm cách giữ khoảng cách.</p>



<p>Tháng Năm vừa qua, James Daunt – Tổng giám đốc Barnes &amp; Noble – vô tình châm ngòi cho một cơn bão khi phát biểu trên chương trình <em>Today</em> rằng ông &#8220;không có vấn đề gì&#8221; với việc bán sách do AI tạo ra, miễn là được ghi nhãn rõ ràng.</p>



<p>Phản ứng dữ dội lập tức bùng nổ.</p>



<p>Nhiều độc giả và nhà văn cáo buộc Barnes &amp; Noble đang mở cửa cho &#8220;rác AI&#8221; tràn vào chuỗi hiệu sách lớn nhất nước Mỹ.</p>



<p>Sau đó, Daunt phải lên tiếng giải thích.</p>



<p>Barnes &amp; Noble chủ động loại bỏ các sách AI khỏi danh mục trực tuyến và không cố ý nhập chúng về bày bán.</p>



<p>Nếu có bán, thì cũng chỉ khi thật sự tồn tại nhu cầu từ khách hàng.</p>



<p>Mà theo ông&#8230;</p>



<p>Khả năng ấy rất thấp.</p>



<p>Thế nhưng chỉ cần vài thao tác tìm kiếm trên website Barnes &amp; Noble, người ta vẫn thấy những cuốn tiểu thuyết lãng mạn do AI sản xuất được bày bán công khai.</p>



<p>Chúng thậm chí còn ghi rõ trong phần giới thiệu rằng sách được tạo ra bằng &#8220;các công cụ AI dưới sự chỉ đạo của tác giả&#8221;.</p>



<p>Một số nhà bán lẻ khác quyết liệt hơn.</p>



<p>Andy Hunter – người sáng lập Bookshop – nói thẳng:</p>



<p>&#8220;Bạn có chấp nhận để kẻ lừa đảo qua mặt khách hàng của mình không? Câu trả lời phải là không.&#8221;</p>



<p>Bookshop yêu cầu các đơn vị phát hành như Ingram hay Draft2Digital lọc bỏ sách AI trước khi chuyển lên hệ thống.</p>



<p>Nhưng Hunter cũng thừa nhận đó gần như là một nhiệm vụ bất khả thi.</p>



<p>Với hơn tám trăm nghìn đầu sách tự xuất bản, chắc chắn sẽ luôn có những cuốn lọt lưới.</p>



<p>Rakuten Kobo cũng đang vật lộn với vấn đề tương tự.</p>



<p>Theo Giám đốc điều hành Michael Tamblyn, công ty đang đứng dưới một trận &#8220;tuyết lở&#8221; AI mà quy mô chỉ có thể ngày càng lớn hơn.</p>



<p>Năm ngoái, nền tảng tự xuất bản của Kobo từ chối gần một nửa số bản thảo gửi đến.</p>



<p>Trong số đó, khoảng 85% bị loại vì bị xác định là do AI tạo ra.</p>



<p>Tamblyn châm biếm:</p>



<p>&#8220;Đôi khi chỉ cần nhìn là biết đây không phải một nhà xuất bản. Đây chỉ là&#8230; ba mô hình ngôn ngữ lớn khoác chung một chiếc áo khoác dài.&#8221;</p>



<p>Nhưng không phải lúc nào cũng dễ nhận ra như vậy.</p>



<p>Các chatbot ngày càng viết mượt hơn.</p>



<p>Những tác nhân AI còn có thể tự động tạo hàng loạt tài khoản xuất bản khác nhau, khiến việc phát hiện ngày càng khó khăn.</p>



<p>Điều khiến nhiều người trong ngành lo nhất không phải là AI sẽ thay thế hoàn toàn nhà văn.</p>



<p>Mà là nó đang làm biến dạng cả hệ sinh thái mà những tác giả độc lập đã mất hàng chục năm mới gây dựng được.</p>



<p>Kris Austin, đồng sáng lập Draft2Digital, chứng kiến lượng bản thảo chất lượng thấp tăng vọt trong mười tám tháng qua. Theo ông, AI là một trong những nguyên nhân chính.</p>



<p>&#8220;Thứ &#8216;rác&#8217; chất lượng thấp ấy,&#8221; ông nói, &#8220;đang đe dọa phá hủy cộng đồng xuất bản độc lập mà biết bao người đã dày công xây dựng.&#8221;</p>



<p>Có lẽ điều đáng suy nghĩ nhất không phải là việc AI đã học cách viết sách.</p>



<p>Máy móc rồi sẽ ngày càng viết hay hơn, đó gần như là điều chắc chắn.</p>



<p>Điều đáng lo hơn là tốc độ mà chúng có thể tạo ra vô số cuốn sách đã bắt đầu làm đảo lộn chính cơ chế giúp độc giả tìm thấy những tác phẩm đáng đọc.</p>



<p>Trong một thị trường nơi mỗi ngày xuất hiện hàng nghìn đầu sách mới, thách thức lớn nhất không còn là <strong>viết được một cuốn sách</strong>.</p>



<p>Mà là <strong>để cuốn sách ấy được nhìn thấy</strong>.</p>



<p>Và chính ở điểm đó, nhiều nhà văn cảm thấy mình đang bước vào một cuộc chiến mà đối thủ không phải một tác giả khác.</p>



<p>Mà là một cỗ máy không biết mệt mỏi, không cần ngủ, không đòi nhuận bút và có thể sản xuất văn bản với tốc độ vượt xa mọi giới hạn của con người.</p>



<p>[T.Vấn biên tập; ChatGPT viết lại nội dung dựa trên bài báo của <strong>Alexandra Alter (</strong><a href="https://www.nytimes.com/2026/07/28/books/ai-bookselling-amazon.html"><strong>The NYT: </strong>How A.I. Books Sneak Their Way Into Stores 7/28/2026)]</a></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Cuộc đóng đinh Tiến sĩ Anthony Fauci lên thập giá</title>
		<link>https://t-van.net/cuoc-dong-dinh-tien-si-anthony-fauci-len-thap-gia/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[ChatGPT]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 31 Jul 2026 06:06:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[ChatGPT]]></category>
		<category><![CDATA[chính trị Mỹ]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=91062</guid>

					<description><![CDATA[https://billkingpiano.substack.com/p/the-crucifixion-of-dr-anthony-fauci (ChatGPT chuyển ngữ) billkingpiano.substack.com Tôi thật sự không tài nào hiểu nổi Rand Paul và cái đám điên rồ đi theo ông ta. Tôi không hiểu những màn diễn trò, sự truy bức, hay cuộc săn lùng bất tận nhằm tìm ra một người nào đó — bất kỳ ai — để đổ lỗi, [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/07/fauci.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="960" height="504" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/07/fauci.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-91063" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/07/fauci-300x158.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2026/07/fauci-768x403.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/07/fauci.jpg?strip=all 960w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><a href="https://billkingpiano.substack.com/p/the-crucifixion-of-dr-anthony-fauci">https://billkingpiano.substack.com/p/the-crucifixion-of-dr-anthony-fauci</a></p>



<p>(ChatGPT chuyển ngữ)</p>



<p><em>billkingpiano.substack.com</em></p>



<p>Tôi thật sự không tài nào hiểu nổi Rand Paul và cái đám điên rồ đi theo ông ta. Tôi không hiểu những màn diễn trò, sự truy bức, hay cuộc săn lùng bất tận nhằm tìm ra một người nào đó — bất kỳ ai — để đổ lỗi, miễn sao ngón tay không bao giờ chỉ về phía thứ chính trị liều lĩnh của chính họ.</p>



<p>COVID là có thật. Nó có thật khi lần đầu len lỏi vào cuộc sống của chúng ta, và đến nay nó vẫn là một thực tế đối với những người còn đang phải sống cùng những tổn thương mà nó để lại. Hàng triệu người đã chết. Hàng triệu người khác phải chịu đựng những cơn đau dữ dội do virus gây ra, sự đau đớn về thể xác, cảnh cô lập đáng sợ và bệnh tật kéo dài. Nhiều gia đình nhìn người thân biến mất sau cánh cửa bệnh viện mà không thể bước theo họ vào bên trong. Có những người thậm chí không bao giờ có cơ hội nói lời từ biệt.</p>



<p>Đó không phải là chính trị.</p>



<p>Đó là chuyện đã thực sự xảy ra.</p>



<p>Tôi luôn công khai lên tiếng chống lại đám người điên rồ đó. Có một người phụ nữ đặc biệt đã đăng những thứ nhảm nhí này suốt sáu năm qua, với hy vọng rằng một ngày nào đó Tiến sĩ Anthony Fauci sẽ bị tống vào nhà tù và cuối cùng bị xử tử. Phần lớn thời gian, tôi mặc kệ bà ta. Một người chỉ có thể tiêu hóa được chừng ấy sự ngu xuẩn thối rữa trước bữa sáng mà thôi.</p>



<p>Tuy nhiên, sự kiên trì của bà ta trong việc lan truyền thông tin sai lệch và những lời dối trá trắng trợn cũng cho chúng ta nhìn thấy phần nào tâm trí của một kẻ điên điển hình trong các đoàn xe tải biểu tình. Họ không muốn có câu trả lời.</p>



<p>Họ muốn một vụ treo cổ công khai.</p>



<p>Họ muốn một người nào đó bị đóng đinh lên thập giá.</p>



<p>Tháng Hai năm 2020, tôi đã chứng kiến anh trai mình chết dần trong đau đớn vì COVID. Lúc đó, chúng tôi còn chưa biết căn bệnh này cuối cùng sẽ được gọi là gì, hay nó sẽ mang ý nghĩa như thế nào đối với phần còn lại của thế giới, nhưng chúng tôi biết có điều gì đó nghiêm trọng đang xảy ra với Wayne.</p>



<p>Suốt tám năm, hầu như tối nào chúng tôi cũng gọi FaceTime cho nhau, mỗi người cầm một chiếc iPad. Hai chàng trai Indiana trò chuyện về thể thao, bản nhạc dành cho bass, các ban nhạc và những buổi biểu diễn. Khoảng cách hàng trăm dặm giữa chúng tôi dường như biến mất trong những cuộc trò chuyện đó. Chúng tôi có nhịp điệu quen thuộc của riêng mình, những câu đùa chỉ hai anh em mới hiểu, những cuộc trò chuyện bình thường giữa anh em mà chẳng ai thấy là đặc biệt — cho đến khi chúng không còn nữa.</p>



<p>Rồi chuyện đó xảy ra.</p>



<p>Louisville, Kentucky, có một đời sống về đêm sôi động, và hầu như đêm nào anh Wayne cũng mang cây bass ra ngoài, chơi nhạc ở bất cứ nơi nào âm nhạc dẫn anh đến. Louisville là một đầu mối giao nhau, một trung tâm đón du khách đến tham dự hội nghị, hòa nhạc và thưởng thức rượu bourbon Kentucky. Người từ khắp mọi nơi đi qua thành phố này.</p>



<p>Wayne sống giữa những nhạc công, đám đông, nhân viên quầy bar, nhân viên khách sạn, khách du lịch và dòng người không ngừng chuyển động của một thành phố biết cách thức trắng sau khi màn đêm buông xuống.</p>



<p>Một buổi tối, Wayne xuất hiện trên màn hình của tôi, quấn mình trong áo choàng tắm và kéo chăn kín quanh người. Anh đang ho. Ban đầu, anh xem đó chỉ là một cơn ho nặng — kiểu bệnh mà một nhạc công đi biểu diễn thường mắc phải và nghĩ rằng vài ngày sau sẽ tự khỏi.</p>



<p>Nhưng tình trạng nhiễm trùng cứ tiếp tục đào sâu.</p>



<p>Nó bám chặt vào phổi anh. Khuôn mặt anh thay đổi. Hơi thở trở nên nặng nhọc. Những cuộc trò chuyện thoải mái giữa chúng tôi biến mất, thay vào đó là những khoảng lặng kéo dài trong khi anh cố lấy lại hơi thở.</p>



<p>“Tôi cảm giác như có một khối xi măng nằm trong lồng ngực mình,” anh nói với tôi. “Tôi không thể hít hơi sâu. Tôi gần như không thở nổi.”</p>



<p>Một tuần sau, anh phải thở máy.</p>



<p>Rồi anh qua đời.</p>



<p>Chúng tôi không có cơ hội nói với nhau những lời cuối cùng. Không hề giống như trong điện ảnh. Chẳng có một cuộc chia tay đẹp đẽ nào giữa hai anh em khi mà mọi điều cần nói đều đã được nói ra.</p>



<p>Anh dần biến mất sau cơn sốt, tình trạng nhiễm trùng, những cỗ máy y tế và khoảng cách khủng khiếp giữa chúng tôi.</p>



<p>Rồi anh ra đi.</p>



<p>Nếu hôm nay bạn chỉ xem một đoạn video, hãy xem đoạn này. Nó xứng đáng điểm 10!</p>



<p>Chúng ta không phải những kẻ ngốc, mặc dù Donald Trump chắc chắn đã đối xử với chúng ta như thể ông ta tin rằng chúng ta là như vậy. Sự ngu xuẩn khi ấy thật khó tin.</p>



<p>Trong lúc một loại virus chết người lan qua các gia đình, thành phố, viện dưỡng lão, nơi làm việc và nhà thờ, những người Cộng hòa lại bận rộn chế ra các phương thuốc tại gia, quảng bá những trò lang băm y tế và biến sức khỏe cộng đồng thành một tiết mục khác trong gánh xiếc.</p>



<p>Chúng ta nhận được đúng những gì đã quá quen thuộc từ tên hề chỉ biết đến bản thân đó: đánh lạc hướng, dối trá, oán giận, đổ lỗi và những màn trình diễn tồi tệ.</p>



<p>Trong nỗ lực cứu lấy cái mông đáng thương của mình, Trump đã làm một việc giúp ông ta thoát hiểm về mặt chính trị, ít nhất là trong chốc lát. Ông ta thúc đẩy ngành công nghiệp dược phẩm hoạt động hết công suất.</p>



<p>Kết quả thật đáng kinh ngạc.</p>



<p>Khoa học, khi được tin tưởng, được cấp kinh phí và được phép làm công việc của mình, có thể tạo nên những điều phi thường. Các nhà nghiên cứu, bác sĩ, kỹ thuật viên, y tá và vô số người khác đã làm được điều mà những tên rao hàng chính trị không thể làm.</p>



<p>Họ bắt tay giải quyết vấn đề.</p>



<p>Ngay bên ngoài ánh đèn sân khấu, Rand Paul và đoàn diễu hành gồm những kẻ ngu ngốc của ông ta đang tìm kiếm một mục tiêu để đổ lỗi. Họ cần một nhân vật phản diện, bởi vì họ không thể thừa nhận rằng virus chẳng quan tâm đến hệ tư tưởng, số liệu thăm dò, tỷ suất người xem truyền hình hay những thuyết âm mưu nóng hừng hực trong đầu họ.</p>



<p>Và Tiến sĩ Fauci đứng đó, nói chính xác những gì hàng triệu người chúng ta cần nghe vào thời điểm ấy.</p>



<p>Ông nói cho chúng ta biết điều gì đã được xác định, điều gì vẫn chưa được biết và chúng ta có thể làm gì để bảo vệ bản thân cũng như bảo vệ lẫn nhau. Hàng triệu người đã lắng nghe. Hàng triệu người tuân theo các hướng dẫn. Hàng triệu người đến nay vẫn còn sống, vẫn đang thở bằng những lá phổi nguyên vẹn, bởi vì họ đã coi mối nguy hiểm ấy là nghiêm trọng.</p>



<p>Đúng vậy, cuộc sống trở nên bất tiện. Chúng ta đeo khẩu trang. Chúng ta ở nhà. Chúng ta bỏ lỡ những bữa tối, sinh nhật, buổi hòa nhạc, đám cưới, đám tang và các kỳ nghỉ lễ. Doanh nghiệp gặp khó khăn. Trường học đóng cửa. Con người trở nên cô đơn và sợ hãi.</p>



<p>Nhưng sự bất tiện không phải là áp bức.</p>



<p>Và sức khỏe cộng đồng không phải là chế độ chuyên chế.</p>



<p>Fauci khiến những kẻ lừa đảo rao bán phương thuốc lưu động trông giống như những tay bán thuốc dạo thời xưa, vừa lắc những chai thuốc vừa đứng trên thùng xe ngựa sơn màu.</p>



<p>Ivermectin.</p>



<p>Hydroxychloroquine.</p>



<p>Thuốc tẩy.</p>



<p>Thanh lọc bằng ánh sáng.</p>



<p>Những phương thuốc thần kỳ được chuyền từ kẻ lập dị này sang kẻ lập dị khác trên internet.</p>



<p>Một thứ ngu xuẩn thối rữa.</p>



<p>Tôi kinh hoàng chứng kiến một nhóm những kẻ có ý đồ xấu — trong đó có Rand Paul — biến các phiên điều trần tại Quốc hội thành những chương trình truyền hình rẻ tiền. Josh Hawley, Jim Jordan, Ted Cruz, Lindsey Graham và toàn bộ dàn đồng ca tự cho mình là chính nghĩa thi nhau diễn trước ống kính, trong khi những con quỷ nhỏ dường như đang nôn trào lên từ tận ruột gan của địa ngục.</p>



<p>Đó là một màn trình diễn ghê tởm không nên bị lãng quên.</p>



<p>Họ không cố gắng tìm hiểu bất cứ điều gì.</p>



<p>Họ không tưởng nhớ những người đã chết.</p>



<p>Họ không an ủi những gia đình đã mất cha mẹ, ông bà, chồng, vợ, chị em gái, anh em trai và con cái.</p>



<p>Họ đang sản xuất những đoạn video cho mạng xã hội. Họ đang nuôi dưỡng đám đông giận dữ và bảo đảm rằng sự phẫn nộ ấy tiếp tục chĩa về phía Fauci.</p>



<p>Tôi không nghi ngờ việc Fauci hiểu rõ ánh đèn và máy quay. Ông trở thành một nhân vật của công chúng, và tất nhiên, một yếu tố trình diễn cũng bắt đầu bao quanh ông. Trong một khoảng thời gian, ông là nhân vật trung tâm — siêu sao y tế đứng trước micro trong khi cả đất nước nín thở.</p>



<p>Nhưng ông đã không làm chúng ta thất vọng.</p>



<p>Ông đứng đó và trả lời các câu hỏi. Ông hứng chịu những cuộc tấn công. Ông cố gắng giải thích bản chất luôn thay đổi của khoa học cho một đất nước đã bị huấn luyện để xem mọi sự điều chỉnh đều là bằng chứng của một âm mưu.</p>



<p>Khoa học thay đổi khi bằng chứng thay đổi.</p>



<p>Đó không phải là tham nhũng.</p>



<p>Đó là cách khoa học vận hành.</p>



<p>Phía bên kia có Jim Jordan gào thét, Ted Cruz diễn cảnh phẫn nộ, Rand Paul đóng vai bác sĩ, còn Lindsey Graham lại dọn ra thêm một phần đạo đức giả đầy kịch tính.</p>



<p>Quả là một cuộc so tài cân sức làm sao.</p>



<p>Tôi tin rằng rất nhiều độc giả có câu chuyện COVID của riêng mình. Có người sống sót sau những ca bệnh kinh khủng. Có người vẫn đang sống với hậu quả của nó. Có người mất đi những người họ yêu thương.</p>



<p>Những người khác tránh được điều tồi tệ nhất, nhưng vẫn nhớ nỗi sợ hãi — cơn ho đầu tiên, nhiệt độ cơ thể tăng dần, cuộc gọi từ bệnh viện hay chiếc ghế trống bên bàn ăn gia đình.</p>



<p>Tôi tránh được COVID trong ba năm. Khi cuối cùng nó quật ngã tôi, tôi bị bệnh suốt sáu tuần trước khi vượt qua được.</p>



<p>Tôi đã may mắn.</p>



<p>Nhiều bạn bè, hàng xóm và những người xa lạ khác thì không. Họ chết trong khi các chính trị gia tranh cãi, những kẻ lừa đảo bán những câu chuyện hoang đường và các thương nhân thuyết âm mưu chất đầy rác rưởi lên internet.</p>



<p>Vì vậy, nếu tôi có vẻ đặc biệt tức giận với những tên hề cứ tiếp tục phun ra những điều nhảm nhí và van xin người ta hành quyết công khai Anthony Fauci, xin hãy thông cảm cho tôi.</p>



<p>Nếu tôi từ chối cười theo những trò đùa của họ hoặc lịch sự ngồi nghe những ảo tưởng của họ, thì đó là vì tôi biết lòng kiên nhẫn của mình đã được chôn xuống đất từ rất lâu rồi.</p>



<p>Tại sao lại có phiên điều trần này?</p>



<p>Bởi vì Trump muốn trả thù.</p>



<p>Người anh trai yêu quý của tôi đã ra đi.</p>



<p>Những cuộc gọi FaceTime hằng đêm đã không còn.</p>



<p>Những cuộc trò chuyện về thể thao, bản nhạc dành cho bass và các buổi biểu diễn đã không còn.</p>



<p>Giọng nói của Wayne ở đầu dây bên kia đã không còn.</p>



<p>Sẽ không còn những câu chuyện từ Louisville, không còn âm nhạc, không còn những buổi tối bình thường giữa hai anh em trai Indiana.</p>



<p>Nhưng sự thật thì vẫn còn.</p>



<p>Ít nhất, tôi nợ Wayne điều đó.</p>



<p>Tôi nợ anh ấy sự thật.</p>



<p>(Trích lại từ STLD GROUP)</p>



<p></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Andrew Weissmann: VƯƠNG QUỐC CỦA KẺ DỐI LỪA-CHƯƠNG 5: NHÌN RA THẾ GIỚI</title>
		<link>https://t-van.net/andrew-weissmann-vuong-quoc-cua-ke-doi-lua-chuong-5-nhin-ra-the-gioi/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[ChatGPT]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 29 Jul 2026 06:29:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[ChatGPT DỊCH THUẬT - TỦ SÁCH THẾ GIỚI]]></category>
		<category><![CDATA[VƯƠNG QUỐC CỦA KẺ DỐI LỪA]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=90840</guid>

					<description><![CDATA[Nguyên Tác: LIAR’S KINGDOM Tác Giả: Andrew Weissmann (Chuyển ngữ tiếng Việt: ChatGPT; Hiệu đính (và chịu trách nhiệm): T.Vấn) TÁC GIẢ &#38; TÁC PHẨM CHƯƠNG 5 NHÌN RA THẾ GIỚI Chúng ta hiếm khi nhìn ra bên ngoài đất nước mình để tìm kiếm sự chỉ dẫn. Sự né tránh này của người Mỹ [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/06/hinh-bia.webp?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="474" height="717" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/06/hinh-bia.webp?strip=all" alt="" class="wp-image-90238" style="width:372px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/06/hinh-bia-198x300.webp 198w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/06/hinh-bia.webp?strip=all 474w" sizes="(max-width: 474px) 100vw, 474px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><strong>Nguyên Tác: LIAR’S KINGDOM</strong></p>



<p><strong>Tác Giả: Andrew Weissmann</strong></p>



<p><em>(Chuyển ngữ tiếng Việt: ChatGPT; Hiệu đính (và chịu trách nhiệm): T.Vấn)</em></p>



<p><a href="https://t-van.net/andrew-weissmann-vuong-quoc-cua-ke-doi-tra-gioi-thieu-tac-gia-tac-pham/"><strong>TÁC GIẢ &amp; TÁC PHẨM</strong></a></p>



<p><strong>CHƯƠNG 5</strong></p>



<p><strong>NHÌN RA THẾ GIỚI</strong></p>



<p>Chúng ta hiếm khi nhìn ra bên ngoài đất nước mình để tìm kiếm sự chỉ dẫn. Sự né tránh này của người Mỹ có thể xuất phát từ việc chúng ta bị ngăn cách về mặt địa lý với phần lớn thế giới, hoặc từ niềm tin vào tính đặc biệt của nước Mỹ, hay người bạn đồng hành xấu xí hơn của nó: chủ nghĩa bài ngoại. Dù lý do là gì, chính chúng ta là những người chịu thiệt khi phớt lờ các giải pháp của những quốc gia khác đối với những vấn đề mà chúng ta cũng đang phải đối mặt. Chúng ta tự tước đi cơ hội học hỏi về những công cụ mới có thể giúp củng cố nền dân chủ của mình.</p>



<p>Đừng chỉ nghe tôi nói điều đó. Thẩm phán Tòa án Tối cao Ruth Bader Ginsburg tin rằng, cũng như kinh nghiệm của nước Mỹ có thể mang tính chỉ dẫn cho các quốc gia khác, thì “chúng ta cũng có thể học hỏi từ người khác” — từ những tòa án ở các nước đã tìm cách đo lường hành động của chính phủ dựa trên các quyền hiến định của chính quốc gia họ. Chúng ta có thể không phải lúc nào cũng đồng ý với các giải pháp của những nước khác cho những thách thức như những gì chúng ta đang đối mặt, và cũng có thể không phải lúc nào cũng thấy chúng phù hợp do sự khác biệt trong lịch sử, hệ thống pháp lý và chính trị riêng biệt của từng nước. Nhưng điều đó không biện minh cho việc chúng ta phớt lờ những bài học mà họ có thể mang lại chỉ vì một cảm giác tự tôn sai lầm, sự lười biếng hay chủ nghĩa bản địa.</p>



<p>Khi nói đến mối đe dọa từ những lời nói dối chính trị, các bài học ấy đặc biệt phong phú và đáng suy ngẫm. Một số quốc gia đã xây dựng những phương thức sáng tạo để đối phó với vấn đề này. Brazil, Pháp và Đức đưa ra ba mô hình hữu ích về cách xử lý những lời dối trá. Mỗi hệ thống đều khác nhau, nhưng tất cả đều tìm cách cân bằng — tương tự như điều mà Tòa án Tối cao yêu cầu trong vụ Alvarez — giữa việc ngăn chặn dối trá và duy trì sự bảo vệ mạnh mẽ cho các quyền cơ bản của con người, bao gồm quyền tự do ngôn luận. Khi chúng ta cân nhắc cách buộc các chính trị gia Mỹ phải chịu trách nhiệm cho sự gian dối mà không từ bỏ sự gắn bó mạnh mẽ của chính mình với Tu chính án Thứ nhất, sẽ rất hữu ích nếu xem xét cách ba quốc gia này đã điều hướng cùng một sự căng thẳng căn bản đó.</p>



<p><strong>VÍ DỤ BRAZIL</strong></p>



<p>Một dấu hiệu cho thấy Brazil có một giải pháp đặc biệt hiệu quả đối với thách thức từ những lời nói dối chính trị là Donald Trump đã phản đối nó một cách nghiêm túc — ít nhất là khi chiến lược đó được áp dụng đối với những lời dối trá chính trị của cựu tổng thống Brazil, Jair Bolsonaro. Trump phản chiếu một cách kỳ lạ trong các hành động của Bolsonaro. Vì vậy, trước tiên chúng ta hãy nhìn sang Brazil và Bolsonaro.</p>



<p>Trước khi tranh cử tổng thống vào năm 2018, Jair Bolsonaro đã dành gần ba thập niên đại diện cho Rio de Janeiro trong Quốc hội Brazil, nơi ông cổ súy chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa bảo thủ xã hội. Ông nhiều lần đưa ra những phát ngôn kích động nhằm vào phụ nữ, các nhóm thiểu số và nền dân chủ. Ông được cho là đã nói với một nữ nghị sĩ rằng ông sẽ không cưỡng hiếp bà ta vì “bà ta không xứng đáng vì quá xấu. Không phải gu của tôi.” Ông cũng được cho là đã nói rằng việc bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử ở Brazil sẽ không mang lại thay đổi mà những người ủng hộ ông mong muốn; thay vào đó, ông tuyên bố, mọi thứ sẽ thay đổi “vào ngày chúng ta bắt đầu một cuộc nội chiến”, ngay cả khi “một số người vô tội sẽ chết.” Theo ông, Quốc hội Brazil không hoạt động hiệu quả, vậy nên “hãy tiến hành đảo chính luôn đi.”</p>



<p>Bất chấp tất cả những lời miệt thị của mình đối với hệ thống bầu cử của đất nước, Bolsonaro tuyên bố tranh cử tổng thống vào tháng 7 năm 2018; hai tháng sau, một người đàn ông đã đâm ông vào bụng trong một buổi vận động tranh cử, nhưng ông hồi phục, tiếp tục chiến dịch và duy trì vị trí dẫn đầu trong các cuộc thăm dò. Với chiến thắng áp đảo, Bolsonaro được bầu làm tổng thống Brazil vào tháng 10 năm 2018. Trong nhiệm kỳ tổng thống, ông tiếp tục đi theo cùng một hướng như khi còn ở Quốc hội, tiếp tục công kích các thể chế dân chủ và hệ thống bầu cử Brazil.</p>



<p>Triều đại của Bolsonaro kết thúc vào năm 2022, khi ông tái tranh cử và thất bại. Không lâu sau đó, vào ngày 8 tháng 1 năm 2023, khoảng 5.000 người ủng hộ Bolsonaro đã xông vào các tòa nhà chính phủ trọng yếu tại thủ đô Brasilia của đất nước, bao gồm cả Quốc hội. Khi vào bên trong, họ phá hoại các phòng họp, đập vỡ cửa kính và tấn công nhiều sĩ quan cảnh sát. Những kẻ bạo loạn bị thúc đẩy bởi các cáo buộc sai sự thật về gian lận bầu cử trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2022 — những hành vi mờ ám mà họ tin rằng đã khiến Bolsonaro thất cử một cách oan uổng. Cuối cùng, hơn 1.400 người đã phải đối mặt với các cáo buộc hình sự vì hành động ngày hôm đó, trong đó những người tham gia chủ chốt nhận các bản án tù nhiều năm.</p>



<p>Thật khó để không nhìn Jair Bolsonaro như một phiên bản Brazil của Donald Trump, bao gồm cả các cuộc nổi loạn được tiến hành nhân danh họ và việc hạ thấp mức độ nghiêm trọng của hành vi tấn công tình dục đối với phụ nữ. Trên thực tế, ở cả hai quốc gia, hai người đàn ông này đều đã bị những người phụ nữ mà họ bôi nhọ kiện thành công tại tòa dân sự. Tuy nhiên, sự so sánh giữa hai chính trị gia chấm dứt ở hậu quả pháp lý đối với những lời nói dối về bầu cử của họ.</p>



<p>Brazil, không giống như Hoa Kỳ, cấm việc cố ý nói dối về hệ thống bầu cử tổng thống. Điều 22 của Luật Bổ sung số 64 của Brazil cấm “việc lạm dụng, sử dụng sai mục đích hoặc lợi dụng quyền lực kinh tế hay quyền lực công quyền, hoặc việc sử dụng không phù hợp các phương tiện hay công cụ truyền thông xã hội, nhằm phục vụ lợi ích của một ứng cử viên hoặc đảng phái chính trị.” Điều 23 còn quy định rằng “Tòa án sẽ hình thành nhận định của mình thông qua việc đánh giá tự do các sự kiện công khai và nổi tiếng, các dấu hiệu và giả định, cũng như chứng cứ được đưa ra, chú ý đến các tình huống hoặc sự kiện, kể cả khi không được các bên nêu ra hoặc viện dẫn, nhưng có liên quan đến lợi ích công về tính toàn vẹn của bầu cử.”</p>



<p>Nếu một người bị phát hiện vi phạm một trong hai điều luật này, luật pháp Brazil sẽ cấm họ ra tranh cử trong một khoảng thời gian nhất định. Chế tài này được cho phép theo một đạo luật riêng biệt thường được gọi là Luật Ficha Limpa hay “Luật Hồ sơ Sạch”. Đạo luật năm 2010 này ra đời sau những nỗ lực mạnh mẽ và hiệu quả của các tổ chức xã hội dân sự, các tổ chức phi lợi nhuận và các tổ chức tôn giáo, bao gồm việc thu thập được khoảng ba triệu chữ ký trong các kiến nghị yêu cầu cải cách bầu cử.</p>



<p>Luật Hồ sơ Sạch đã sửa đổi Luật Bổ sung số 64 bằng cách quy định cụ thể rằng việc bị kết án vì “lạm dụng quyền lực chính trị” hoặc “lạm dụng truyền thông” trong các chiến dịch bầu cử sẽ kéo theo thời hạn bắt buộc bị tước quyền ứng cử:</p>



<p>“Những người giữ chức vụ trong . . . nền hành chính công mà trục lợi cho bản thân hoặc cho bên thứ ba thông qua việc lạm dụng quyền lực kinh tế hoặc chính trị, và bị kết án bằng một phán quyết cuối cùng không thể kháng cáo hoặc bởi quyết định của một hội đồng xét xử tập thể, sẽ không đủ điều kiện tham gia cuộc bầu cử mà họ đang tranh cử hoặc đã được xác nhận kết quả, cũng như các cuộc bầu cử được tổ chức trong [tám] năm tiếp theo.”</p>



<p>Mô hình pháp lý của Brazil dựa trên tiền đề rằng quyền được tiếp cận thông tin trung thực trong bầu cử quan trọng hơn một quyền tự do ngôn luận tuyệt đối không giới hạn khi những lời dối trá có chủ ý được đưa ra và đe dọa trật tự dân chủ. Hãy hình dung nó như một đạo luật “sự thật trong quảng cáo”, nhưng được chuyển từ lĩnh vực bảo vệ người tiêu dùng sang lĩnh vực bảo vệ cử tri và tính toàn vẹn của bầu cử. Nguyên tắc này được ghi nhận trong Bộ luật Bầu cử Brazil và đã được củng cố thông qua các phán quyết tư pháp, phản ánh sự đồng thuận của xã hội về những hiểm họa của thông tin sai lệch.</p>



<p>Quả thật, việc áp dụng Luật Hồ sơ Sạch đối với một tổng thống Brazil là điều mang tính lịch sử. Nhưng điều đó không ngăn đất nước này truy tố Bolsonaro. Phiên tòa của ông không bị các tòa án trì hoãn quá mức, cũng không được bảo vệ bởi quyền miễn trừ tổng thống. Thay vào đó, ông được hưởng đúng thủ tục tố tụng, bị đưa ra xét xử tại tòa và bị kết luận là có trách nhiệm pháp lý.</p>



<p>Phiên tòa xét xử Bolsonaro trước Tribunal Superior Eleitoral, thường được gọi là TSE, liên quan đến hai cáo buộc cố ý đưa ra các phát biểu sai sự thật nhằm gieo rắc sự mất lòng tin của công chúng vào quy trình bầu cử, vi phạm trực tiếp điều 22 của Luật Bổ sung số 64. Cũng như tại Hoa Kỳ, các đạo luật này yêu cầu bên công tố phải chứng minh rằng các phát biểu của bị cáo không chỉ sai sự thật, mà còn được đưa ra một cách cố ý — điều mà chúng tôi gọi là mens rea của bị cáo, tức trạng thái tinh thần của họ. Luật không cấm các phát biểu được đưa ra trong niềm tin thiện chí nhưng sai lầm rằng cuộc bầu cử đã bị gian lận.</p>



<p>Phiên tòa đã tạo ra bằng chứng không thể bác bỏ rằng Bolsonaro liên tục và công khai tuyên bố hệ thống bỏ phiếu điện tử của Brazil đã bị gian lận thao túng. Nó cũng xác lập vượt ngoài nghi ngờ về tính chính xác và độ tin cậy của các máy bỏ phiếu điện tử của Brazil (cũng giống như thẩm phán Mỹ trong vụ Dominion đã kết luận đối với các máy bỏ phiếu của công ty đó). Các chuyên gia kỹ thuật độc lập đã nộp các báo cáo chi tiết xác minh rằng các máy hoạt động minh bạch và không có nguy cơ gian lận đáng kể nào, bất chấp các tuyên bố ngược lại của Bolsonaro.</p>



<p>Tòa án cũng được trình bày những bằng chứng mạnh mẽ cho thấy ý đồ của Bolsonaro — chứng minh rằng ông không tin vào chính các tuyên bố của mình về việc thao túng bầu cử. Tòa nhận định rằng, mặc dù Bolsonaro biết các quan chức bầu cử và nhiều cuộc kiểm toán lặp đi lặp lại đều không phát hiện gian lận nào ảnh hưởng đến kết quả bầu cử, ông vẫn nhiều lần tuyên bố ngược lại và làm như vậy trong các bối cảnh công khai nhằm phá hoại niềm tin vào cuộc bầu cử và kích động những người ủng hộ mình.</p>



<p>Trong phán quyết được năm trong số bảy thẩm phán của TSE đưa ra, tòa kết luận Bolsonaro phải chịu trách nhiệm pháp lý. Ý kiến đa số, do Thẩm phán Benedito Gonçalves soạn thảo, đã mổ xẻ tỉ mỉ các tuyên bố của Bolsonaro. Tòa án nhận thấy rằng ông, với đầy đủ nhận thức rằng mình đang nói dối, đã phát tán “thông tin sai lệch vì mục đích bầu cử” vi phạm các đạo luật của Brazil. Thẩm phán Gonçalves nhấn mạnh rằng hành động của Bolsonaro đã vượt xa phạm vi tu từ chính trị đơn thuần:</p>



<p>“Đã có sự lạm dụng quyền lực chính trị, do đích thân Jair Messias Bolsonaro thực hiện, người . . . đã sử dụng vị thế của mình với tư cách Tổng thống Cộng hòa, Nguyên thủ quốc gia và ‘tổng tư lệnh’ của các lực lượng vũ trang để khuếch đại tác động của chiến dịch thông tin sai lệch quy mô lớn về cuộc bầu cử Brazil được trình bày với cộng đồng quốc tế và cử tri.”</p>



<p>Phán quyết của tòa liên kết chiến dịch thông tin sai lệch của Bolsonaro với các cuộc tấn công vật lý do đám đông tiến hành nhằm vào Quốc hội và Tòa án Tối cao Brazil, thiết lập mối liên hệ trực tiếp giữa các cuộc tấn công và sự xói mòn niềm tin của công chúng vào quy trình bầu cử — sự ngờ vực mà các lời nói dối của tổng thống đã kích động.</p>



<p>Hình phạt mà tòa áp dụng đối với Bolsonaro không bao gồm án tù hay thậm chí tiền phạt, nhưng dù vậy vẫn rất đáng kể. Các thẩm phán TSE áp đặt lệnh cấm về điều kiện tranh cử trong tám năm đối với Bolsonaro, ngăn ông tìm kiếm hoặc nắm giữ chức vụ công cho đến tháng 10 năm 2030. Hai yếu tố tăng nặng hỗ trợ cho lệnh cấm tám năm này: các lời nói dối bầu cử liên quan đến chức vụ cao nhất đất nước, và chúng được phát tán bởi chính người đang giữ chức vụ cao nhất đó. Ý nghĩa của hình phạt này rất rõ ràng, và nó gửi đi một thông điệp mạnh mẽ: tại Brazil, việc cố ý lan truyền thông tin sai lệch về hệ thống bầu cử sẽ phải đối mặt với hậu quả pháp lý nghiêm trọng.</p>



<p>Hệ thống pháp lý Brazil chưa dừng lại với Bolsonaro. Giống như Hoa Kỳ, đất nước này có luật hình sự chống lại việc tham gia đảo chính. Và giống như Donald Trump, Bolsonaro bị truy tố hình sự về tội danh riêng biệt đó. Nhưng không giống Trump, vụ án của Bolsonaro thực sự đã được đưa ra xét xử.</p>



<p>Trước khi các thẩm phán Brazil đưa ra phán quyết trong vụ án thứ hai của Bolsonaro, Trump (nay là tổng thống trong nhiệm kỳ thứ hai) đã công khai công kích Brazil và vị thẩm phán chủ tọa. Ông áp thuế quan 50 phần trăm lên quốc gia này và áp đặt các biện pháp trừng phạt cá nhân đối với các thẩm phán. Không phải người ưa sự tế nhị, Trump nêu lý do cho các mức thuế quan này không phải là kinh tế (lý do được viện dẫn cho tất cả các mức thuế khác của Trump), mà là cách tòa án đối xử với Bolsonaro. Trong một lá thư gửi tổng thống Brazil, Trump nói rằng ông rất kính trọng Bolsonaro và, sử dụng một trong những biệt danh quen thuộc của mình, lên án cách đối xử với Bolsonaro là một “cuộc săn phù thủy” và “nỗi ô nhục quốc tế.” Tổng thống Mỹ không viện dẫn bất kỳ sự kiện nào để hỗ trợ cho các tuyên bố đó.</p>



<p>Không nao núng và không khuất phục, bốn trong số năm thẩm phán đã bỏ phiếu kết tội Bolsonaro. Ông bị tuyên án hai mươi bảy năm ba tháng tù giam. Trump lên án bản án là “khủng khiếp” và “có hại cho Brazil.” Tổng thống Brazil, Luiz Inácio Lula da Silva, không chấp nhận điều đó, đáp lại rằng “không ai đứng trên pháp luật.” Có lẽ hơi lạc quan, ông nói thêm rằng “thế giới đã thay đổi. Chúng ta không muốn một hoàng đế.”</p>



<p>Để đón đầu những người theo chủ trương America First có thể bác bỏ mô hình Brazil này vì xuất phát từ một quốc gia mà họ xem thường, tôi xin lưu ý rằng Vương quốc Anh cũng có một đạo luật lâu đời với hiệu lực tương tự. Người Anh áp dụng biện pháp tước quyền tranh cử đối với một số lời nói dối trong bầu cử, mặc dù họ hiếm khi phải dùng đến việc thực thi luật này.</p>



<p>Ban đầu được Quốc hội thông qua năm 1895, đạo luật của Anh quy định rằng, dù “trước hay trong một cuộc bầu cử”, một người sẽ bị coi là phạm tội nếu, “với mục đích tác động” đến cuộc bầu cử, người đó đưa ra “bất kỳ phát biểu sai sự thật nào về nhân cách hoặc hành vi cá nhân của một ứng cử viên”, trừ khi người đó có thể chứng minh rằng mình có cơ sở hợp lý để tin vào phát biểu đó và thực sự đã tin như vậy. Hiện nay đạo luật này được thể hiện trong Đạo luật Đại diện Nhân dân năm 1983 của Vương quốc Anh.</p>



<p>Năm 2010, các tòa án Anh đã tước chiến thắng trong cuộc tổng tuyển cử của một chính trị gia tên Philip Woolas trong cuộc đua giành ghế tại Hạ viện vì đã vu cáo đối thủ của mình, Robert Watkins, là dung túng bạo lực cực đoan, bao gồm cả việc ám sát Woolas. Woolas kháng cáo, cho rằng quyền tự do ngôn luận của mình bị vi phạm, nhưng tòa bác đơn với lý do rằng luật này chỉ áp dụng đối với phát ngôn sai sự thật, vốn không được hưởng sự bảo vệ đó. “Quyền tự do biểu đạt theo Điều 10 [của Công ước Nhân quyền liên quan đến tự do ngôn luận] không mở rộng tới quyền được gian dối và nói dối, nhưng [Đạo luật Nhân dân 1983] có phạm vi hẹp hơn vì nó đề cập đến các phát biểu sai sự thật liên quan đến nhân cách hoặc hành vi cá nhân của một ứng cử viên.” Tòa Bầu cử ra lệnh tổ chức bầu cử lại, và Woolas trở thành nghị sĩ đầu tiên bị tước ghế tại Hạ viện sau gần 100 năm.</p>



<h2 class="wp-block-heading">VÍ DỤ PHÁP</h2>



<p>Để bạn không nghĩ rằng Brazil và Vương quốc Anh là những trường hợp ngoại lệ trong việc hạn chế tư cách tranh cử của công dân mình, hãy nhìn sang bên kia đại dương, tới Pháp. Tại đó, Marine Le Pen, nữ chính trị gia cực hữu Pháp có sức hút đáng lo ngại, hiện đang bị cấm nắm giữ chức vụ dân cử trong vòng năm năm. Tội của bà không phải là nói dối, mà là tham ô — tuy nhiên, trong khi chúng ta tìm cách giải quyết cuộc khủng hoảng trung thực của nước Mỹ, nước Pháp cũng có điều để dạy chúng ta.</p>



<p>Theo luật pháp Pháp, việc bị kết án hình sự đối với một số tội danh nhất định — bao gồm tội bạo lực, gian lận và các tội liên quan đến bầu cử — có thể kéo theo hình phạt bổ sung là bị cấm tranh cử trong thời gian lên tới mười năm. Trong trường hợp của Marine Le Pen, bà và các đồng phạm bị kết án vào tháng 3 năm 2025 vì biển thủ hàng triệu euro, một trong những tội danh có thể dẫn tới việc bị tước quyền tranh cử. Tính đến thời điểm tôi viết những dòng này, bà đang kháng cáo bản án hình sự của mình, nhưng tòa án xác định rằng trong lúc chờ xét xử, xét đến mức độ nghiêm trọng của tội danh, lệnh cấm tranh cử trong năm năm vẫn có hiệu lực.</p>



<p>Mô hình của Pháp đặc biệt thú vị vì nhiều bang của Hoa Kỳ cũng có các đạo luật tương tự (tôi sẽ nói thêm ngay sau đây), và còn bởi vì Pháp là một quốc gia mà ngay cả Donald Trump cũng phải miễn cưỡng tôn trọng: một quốc gia được gọi là “thế giới thứ nhất,” chứ không phải — theo cách nói xúc phạm của ông — là một “hố cứt.” Vậy Pháp có thể dạy Hoa Kỳ điều gì về cách buộc những kẻ nói dối, đặc biệt là những người phát tán lời dối trá của mình trên sân khấu chính trị cao nhất quốc gia, phải chịu trách nhiệm?</p>



<p>Vụ Le Pen khác với vụ Bolsonaro ở nhiều khía cạnh — bao gồm, tất nhiên, việc hành vi mà tòa án trừng phạt trong trường hợp của bà không phải là lời nói dối cố ý về bầu cử. Nhưng giống như Brazil, Pháp hình sự hóa lời nói dối nhằm tác động đến một cuộc bầu cử, và tội danh này có thể bị xử phạt bằng việc tước quyền tranh cử — cụ thể là cấm người phạm tội ra tranh cử trong một khoảng thời gian nhất định. Điều L97 của Bộ luật Bầu cử Pháp quy định việc dùng “tin tức giả” hoặc “các thủ đoạn gian lận khác” nhằm tác động hay chuyển hướng phiếu bầu hoặc khiến “một hay nhiều cử tri không đi bỏ phiếu” là hành vi phạm tội. Pháp cũng giống Brazil ở chỗ không né tránh việc truy cứu trách nhiệm hình sự các cựu lãnh đạo chính trị của mình. Cựu tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy đã bị kết án, sau các phiên tòa đầy đủ thủ tục, không chỉ một mà tới ba lần vì hàng loạt tội nghiêm trọng.</p>



<p>Hệ thống của Pháp đưa ra lời giải đáp cho một trong những câu hỏi mà tôi thường xuyên được hỏi nhất, đặc biệt là sau khi Trump bị kết án ba mươi tư trọng tội theo luật của bang New York. Mọi người muốn biết làm thế nào Trump vẫn có thể đủ điều kiện tranh cử khi một người phạm trọng tội thậm chí còn không được bỏ phiếu ở nhiều bang trong nước. Nói cách khác, nếu một trọng phạm như Trump không thể bỏ phiếu, làm sao việc một trọng phạm như Trump ra tranh cử lại có thể hợp pháp? Câu hỏi này đặc biệt liên quan tới việc chúng ta tìm kiếm biện pháp khắc phục cho những lời dối trá chính trị, bởi các tội danh cấp bang dẫn đến bản án của Trump bắt nguồn từ kế hoạch lừa dối cử tri của ông trong giai đoạn trước cuộc bầu cử năm 2016. Phiên tòa đã đưa ra bằng chứng thuyết phục rằng, với sự trợ giúp của tờ National Enquirer, Trump tham gia vào một kế hoạch tung tin giả về các đối thủ chính trị của mình và “bắt rồi giết” những câu chuyện có thật nhưng bất lợi về chính bản thân ông.</p>



<p>Vậy tại sao Trump vẫn có thể tranh cử chức vụ liên bang sau khi bị kết án trong vụ này? Câu trả lời là, khác với Pháp, và khác với phần lớn năm mươi bang của chúng ta, Hoa Kỳ nhìn chung không có luật liên bang tước quyền tranh cử của một người sau khi bị kết án hình sự. Nhiều bang riêng lẻ có áp dụng việc tước quyền đối với các bản án hình sự cấp bang như gian lận, khai man và các tội liên quan đến suy đồi đạo đức, cấm vĩnh viễn hoặc tạm thời người bị kết án giữ chức vụ công tại bang đó. Nhưng luật của bang không thể cấm một người nắm giữ chức vụ liên bang.</p>



<p>Tôi nói rằng luật liên bang của chúng ta “nhìn chung” không tước quyền giữ chức vụ liên bang vì thực ra có một đạo luật liên bang áp dụng việc tước quyền như hệ quả của việc bị kết án. Hiến pháp Hoa Kỳ đã được sửa đổi sau Nội chiến để quy định rằng nếu một người tham gia nổi loạn hoặc phản loạn sau khi đã tuyên thệ nhậm chức, thì người đó sau này sẽ không đủ điều kiện nắm giữ chức vụ liên bang (trừ khi Quốc hội bỏ phiếu miễn trừ cho họ). Khoản 3 của Tu chính án thứ Mười bốn quy định:</p>



<p>“Không ai được… giữ bất kỳ chức vụ dân sự hay quân sự nào dưới quyền Hoa Kỳ hoặc bất kỳ bang nào, nếu trước đó người đó đã tuyên thệ… ủng hộ Hiến pháp Hoa Kỳ mà lại tham gia nổi loạn hoặc phản loạn chống lại Hiến pháp ấy, hoặc trợ giúp hay hỗ trợ các kẻ thù của nó.”</p>



<p>Điều khoản này của Hiến pháp đã dẫn tới một vụ kiện được theo dõi sát sao trong chiến dịch tranh cử tổng thống năm 2024. Vấn đề đặt ra là liệu một bang có thể áp dụng điều khoản này để cấm một ứng cử viên tranh cử chức vụ liên bang hay không, hay việc đó phải được thực hiện ở cấp liên bang. Sáu tháng trước cuộc bầu cử sơ bộ tổng thống của bang Colorado vào tháng 3 năm 2024, bốn thành viên Đảng Cộng hòa và hai cử tri độc lập tại Colorado đã nộp đơn yêu cầu tước quyền tranh cử tổng thống lần nữa của Trump. Tại phiên tòa ở tòa bang Colorado, họ đưa ra bằng chứng rằng Trump đã “phá vỡ quá trình chuyển giao quyền lực trong hòa bình” bằng cách cố ý tổ chức và kích động đám đông xông vào Điện Capitol khi Quốc hội đang họp để chứng nhận kết quả bầu cử ngày 6 tháng 1 năm 2021. Họ lập luận rằng điều khoản hiến pháp này áp dụng cho Trump vì sau khi tuyên thệ nhậm chức tổng thống năm 2017, ông đã cố ý kích động vụ xâm nhập Điện Capitol ngày 6 tháng 1 nhằm duy trì quyền lực. Họ cho rằng ngoại trưởng bang Colorado có nghĩa vụ loại tên ông khỏi lá phiếu bầu sơ bộ của bang, lưu ý tới ngôn ngữ cấm đoán trong Hiến pháp rằng “[k]hông ai được.”</p>



<p>Các tòa án bang Colorado đã ra phán quyết có lợi cho nguyên đơn, sau khi tòa sơ thẩm tổ chức điều trần và kết luận rằng Trump đã kích động nổi loạn. Kết luận thực tế này phù hợp với kết luận liên bang của đa số thành viên ở cả hai viện Quốc hội trong tiến trình luận tội lần thứ hai. Ngày 13 tháng 1 năm 2021, đa số Hạ viện đã bỏ phiếu luận tội Trump chính trên cơ sở này, bao gồm việc ông phát tán các tuyên bố sai sự thật về gian lận bầu cử. Dù Thượng viện không kết tội Trump với đa số hai phần ba cần thiết, vẫn có năm mươi bảy thượng nghị sĩ bỏ phiếu kết tội, bao gồm bảy thành viên Đảng Cộng hòa.</p>



<p>Tuy nhiên, các tòa án bang Colorado xử bất lợi cho Trump không phải là tiếng nói cuối cùng về vấn đề pháp lý này. Vụ việc được đưa lên Tòa án Tối cao Hoa Kỳ, nơi đã nhất trí đảo ngược các phán quyết của tòa cấp dưới. Quyết định đó là hợp lý: chỉ chính phủ liên bang mới có thể tước quyền nắm giữ chức vụ liên bang của một người. Một bang có thể thiết lập luật quy định việc tước quyền đối với các chức vụ của chính bang mình — điều mà phần lớn các bang thực sự đã làm. Nhưng một bang không được tự do áp dụng Hiến pháp liên bang đối với những người tìm kiếm chức vụ liên bang: việc đó thuộc về chính phủ liên bang và phải được xác định ở cấp quốc gia, để tránh tình trạng mỗi bang một kiểu. “Không có gì trong Hiến pháp,” các thẩm phán Tòa án Tối cao nhấn mạnh, “trao cho các bang bất kỳ quyền lực nào để thực thi Khoản 3 đối với các quan chức và ứng cử viên liên bang.”</p>



<p>Nhưng mặc dù Tòa án Tối cao đã đóng cánh cửa đối với phán quyết của Colorado, họ vẫn để ngỏ cánh cửa cho hành động ở cấp liên bang. Trong quyết định của mình, các thẩm phán nhận xét rằng hình phạt “tước quyền” trong Khoản 3 mang tính “phòng ngừa và nghiêm khắc,” nhưng đáng chú ý là họ không cho rằng điều đó là không phù hợp. Tòa không phản đối hình phạt tước quyền đối với hành vi nổi loạn hay phản loạn. Dù sao thì điều đó cũng nằm ngay trong Hiến pháp.</p>



<p>Tòa án cũng lưu ý rằng, trong lịch sử, cả Quốc hội lẫn các tiểu bang đều từng vận dụng chế tài truất quyền giữ chức vụ của Tu chính án thứ Mười bốn. Ngay sau khi tu chính án này được phê chuẩn, Quốc hội đã ban hành Đạo luật Thực thi năm 1870 (Enforcement Act of 1870), một đạo luật cho phép các công tố viên liên bang khởi kiện dân sự tại tòa án liên bang nhằm bãi nhiệm bất kỳ ai đang nắm giữ một số chức vụ nhất định — ở cấp liên bang hoặc tiểu bang — nếu vi phạm Mục 3 của tu chính án hiến pháp mới này. Ngoài ra, Quốc hội còn ban hành một đạo luật hình sự nhằm triển khai và mở rộng việc thực thi tu chính án, được mã hóa tại 18 U.S.C. § 2383. Đạo luật đó hiện vẫn còn hiệu lực. Nội dung của nó quy định như sau:</p>



<p>“Bất kỳ ai kích động, khởi xướng, hỗ trợ hoặc tham gia vào bất kỳ cuộc nổi loạn hay bạo loạn nào chống lại thẩm quyền của Hoa Kỳ hoặc các đạo luật của Hoa Kỳ, hoặc viện trợ hay tiếp tay cho các hành vi đó, sẽ bị phạt tiền theo quy định của bộ luật này hoặc bị phạt tù không quá mười năm, hoặc chịu cả hai hình phạt; đồng thời sẽ không đủ tư cách đảm nhiệm bất kỳ chức vụ nào thuộc Hoa Kỳ.”</p>



<p>Tuy nhiên, không một trong hai đạo luật này được sử dụng để truy tố Trump ở cấp liên bang. Đạo luật dân sự — Đạo luật Thực thi năm 1870 — đã bị bãi bỏ vào năm 1948 trong một cuộc tái tổ chức tổng thể hệ thống pháp luật, dường như vì quá lâu không còn được sử dụng. Và chính tình trạng “đắp chiếu” ấy cũng phần lớn giải thích vì sao đạo luật hình sự, điều 2383, không được Công tố viên Đặc biệt Jack Smith viện dẫn trong cuộc điều tra về các nỗ lực của Donald Trump nhằm lật ngược kết quả cuộc bầu cử tổng thống năm 2020. Theo như mọi người được biết, đạo luật này đơn giản là chưa từng được sử dụng để truy tố bất kỳ ai.</p>



<p>Hãy thử đặt mình vào vị trí của công tố viên đặc biệt trong chốc lát. Chỉ riêng việc Smith tìm cách truy tố một cựu tổng thống đã đủ gây tranh cãi dữ dội rồi. Nếu ông lựa chọn làm điều đó bằng một đạo luật chưa từng được kiểm nghiệm trong bất kỳ vụ án được công bố nào, mức độ tranh cãi hẳn sẽ còn leo thang hơn nữa — đặc biệt khi khả năng Trump tiếp tục tranh cử trong cuộc bầu cử năm 2024 vẫn còn treo lơ lửng. (Dĩ nhiên, cũng không khó để đưa ra những phản biện đối với các mối lo ngại ấy. Trước nay, chúng ta chưa từng có một cựu tổng thống nào bị đại bồi thẩm đoàn, với cơ sở hợp lý, cáo buộc đã thực hiện các hành vi kích động nổi loạn. Chính tính chất chưa từng có của hành vi phạm tội này có lẽ cũng đủ để biện minh cho việc sử dụng đạo luật theo một cách chưa từng có.)</p>



<p>Trong bản báo cáo cuối cùng của mình, Smith nêu thêm nhiều lý do khác cho việc không truy tố Trump theo điều 2383, bao gồm việc thiếu tiền lệ pháp lý xác định thế nào là một “cuộc nổi loạn” theo nghĩa của đạo luật hình sự này, cũng như câu hỏi liệu hành vi tìm cách tiếp tục nắm quyền có cấu thành hành vi đó hay không. Smith lưu ý rằng ông vẫn có trong tay những đạo luật hình sự khác đã được kiểm nghiệm và áp dụng ổn định qua thực tiễn, nên theo quan điểm của ông, không cần thiết phải dấn thân vào một vùng pháp lý vừa chưa được khai phá vừa đầy tranh cãi.</p>



<p>Dù đây có phải là một cơ hội bị bỏ lỡ hay không, thì thực tế vẫn là: ở cả cấp liên bang lẫn cấp tiểu bang, chúng ta đều đã có những ví dụ pháp lý đi theo mô hình của Pháp — tức cấm những người bị kết án về một số loại tội phạm nhất định ra tranh cử hoặc nắm giữ chức vụ công.</p>



<p><strong>VÍ DỤ ĐỨC</strong></p>



<p>Đức có một mô hình rất khác so với cả Brazil lẫn Pháp. Luật Đức cấm một chủ đề phát ngôn cụ thể: phủ nhận công khai sự tồn tại của Holocaust. Một số quốc gia châu Âu khác cũng làm như vậy, nhưng vai trò đặc biệt của Đức trong Holocaust khiến giải pháp pháp lý của nước này đặc biệt đáng để nghiên cứu. Hãy hình dung, như một phép so sánh rất thô, một đạo luật ở Hoa Kỳ cấm việc phủ nhận rằng cuộc bầu cử năm 2020 là kết quả của gian lận — tức là, một đạo luật cấm phát ngôn sai sự thật về một chủ đề cụ thể.</p>



<p>Trong khi Brazil áp dụng hình phạt truất quyền tranh cử đối với một số lời nói dối nhất định, thì Đức thẳng thừng cấm một số lời nói dối cụ thể. Vì vậy, luật chống phủ nhận Holocaust của Đức đại diện cho một sự can thiệp lớn hơn nhiều vào quyền tự do ngôn luận. Tuy nhiên, các tòa án Đức đã giữ nguyên hiệu lực của đạo luật này trước những thách thức pháp lý, dù Hiến pháp Đức có những bảo vệ rất mạnh mẽ đối với tự do ngôn luận. Lập luận của tòa án Đức trong vụ việc ban đầu đặc biệt hữu ích cho chúng ta khi tiếp tục tìm kiếm các mô hình trong cuộc chiến chống lại những lời dối trá chính trị. Chính Thẩm phán Ruth Bader Ginsburg từng gọi Tòa án Hiến pháp Đức là một “hình mẫu” của hoạt động giám sát hiến pháp như một “lá chắn chống lại chính quyền áp bức và các đa số bị kích động.” Vì vậy, việc xem xét cách Đức biện minh cho việc hạn chế một số loại phát ngôn sai sự thật có thể đem lại bài học về cách chúng ta xây dựng một đạo luật công bằng tại Hoa Kỳ.</p>



<p>Luật chống phủ nhận Holocaust của Đức quy định:</p>



<p>“Bất kỳ ai công khai hoặc trong một cuộc tụ họp tán thành, phủ nhận, hoặc giảm nhẹ một hành vi được thực hiện dưới chế độ Quốc xã … theo cách có khả năng gây xáo trộn trật tự công cộng, sẽ bị phạt tù đến năm năm hoặc bị phạt tiền.”</p>



<p>Đạo luật của Đức giải quyết được hai khiếm khuyết mà Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã chỉ ra trong vụ Alvarez đối với Đạo luật Stolen Valor năm 2005. Hãy nhớ rằng, trong vụ Alvarez, tòa án đã chỉ trích đạo luật Stolen Valor năm 2005 vì nó áp dụng cả đối với các cuộc trao đổi riêng tư, trong đó một người thì thầm giả dối với người khác rằng mình là người nhận huân chương quân sự. Ngược lại, luật Đức yêu cầu hành vi phủ nhận Holocaust phải được thực hiện công khai hoặc trong một “cuộc tụ họp” (nghĩa là một cuộc tụ họp đông người, công khai hoặc riêng tư) thì mới bị cấm theo luật.</p>



<p>Hơn nữa, luật Đức yêu cầu rằng tác hại từ lời nói bị điều chỉnh — tức là sự phủ nhận Holocaust — phải có khả năng dẫn đến “xáo trộn trật tự công cộng.” Điều này sẽ loại trừ những phát ngôn riêng tư, không đáng kể, vốn không có khả năng gây rối loạn xã hội.</p>



<p>Quốc hội Hoa Kỳ đã sử dụng ngôn ngữ tương tự, dù không hoàn toàn giống, khi sửa đổi Đạo luật Stolen Valor năm 2013 sau phán quyết Alvarez. Để giải quyết các lo ngại trong Alvarez, Quốc hội bổ sung yêu cầu rằng lời tuyên bố sai sự thật về huân chương quân sự phải được đưa ra với mục đích đạt được tiền bạc, tài sản, hoặc lợi ích hữu hình khác. Khi làm như vậy, Quốc hội đã đáp ứng được những quan ngại của các Thẩm phán. Nhưng sự khác biệt trong các lợi ích mà Hoa Kỳ và Đức lựa chọn bảo vệ lại rất đáng chú ý. Hệ thống pháp luật Đức quan tâm đến việc bảo vệ an toàn công cộng (“trật tự công cộng”), trong khi Hoa Kỳ lại định hướng nhiều hơn tới việc bảo vệ tài sản tư nhân (“tiền bạc, tài sản, hoặc lợi ích hữu hình khác”).</p>



<p>Dù có những khác biệt đó, luật chống phủ nhận Holocaust của Đức là một minh họa hoàn hảo cho lý do vì sao các nhà lập pháp Hoa Kỳ (và các luật sư cố vấn cho họ) nên bớt khép kín hơn. Hệ thống pháp luật của chúng ta hiếm khi dừng lại để xem xét xem chúng ta có thể học được gì từ các quốc gia khác đã vật lộn với những vấn đề tương tự và có thể đã nghĩ ra những cách giải quyết khác — thậm chí khôn ngoan hơn — cho cùng một vấn đề.</p>



<p>Trong trường hợp của Đạo luật Stolen Valor, đạo luật ban đầu được thông qua năm 2005, hơn một thập niên sau luật chống phủ nhận Holocaust của Đức năm 1994. Quốc hội rõ ràng đã không áp dụng những bài học từ luật Đức năm 1994 vào đạo luật năm 2005. Nếu họ làm vậy, họ có thể đã đưa vào Đạo luật Stolen Valor các giới hạn tương tự như trong luật Đức, để đạo luật không cấm các phát ngôn riêng tư và không đáng kể. Một đạo luật như vậy sẽ làm giảm nguy cơ vi phạm Tu chính án Thứ nhất của Hoa Kỳ, và do đó có khả năng chống đỡ tốt hơn trước thách thức hiến pháp của Xavier Alvarez — điều mà đến lượt nó có thể đã giúp Quốc hội không phải sửa đổi đạo luật vào năm 2013.</p>



<p>Nhờ một phần vào phạm vi áp dụng hạn chế hơn, luật chống phủ nhận Holocaust của Đức đã vượt qua được một thách thức hiến pháp tương tự như thách thức từng đánh đổ Đạo luật Stolen Valor nguyên thủy. Thách thức đó xuất phát từ một nhóm cực hữu của Đức, Đảng Dân chủ Quốc gia Đức (NPD), tổ chức đã mời nhà phủ nhận Holocaust người Anh David Irving phát biểu tại một cuộc tụ họp sắp diễn ra ở Munich. Tại đó, Irving được cho là dự định tuyên bố rằng việc thảm sát người Do Thái hàng loạt dưới thời Đệ Tam Đế chế chưa từng xảy ra. Chính quyền địa phương Munich phát hiện điều này, và cho phép cuộc họp của NPD tiếp tục nhưng cấm việc cổ xúy cho “Lời nói dối Auschwitz” — thuật ngữ được sử dụng ở Đức để chỉ hành vi phủ nhận Holocaust. NPD khởi kiện, cho rằng quyền tự do ngôn luận của họ theo hiến pháp Đức đã bị vi phạm, và Tòa án Hiến pháp Đức đã thụ lý vụ việc.</p>



<p>Bằng những lời lẽ hoàn toàn có thể được viết bởi chính Tòa án Tối cao Hoa Kỳ, tòa án Đức bắt đầu bằng cách phân biệt giữa ý kiến và sự kiện. Ý kiến, tòa án nhận định, khác với sự kiện bởi vì “chúng không thể được chứng minh là đúng hay sai.” Tự do biểu đạt, tòa tiếp tục, liên quan đến “sự hình thành quan điểm.” Tòa định nghĩa ý kiến theo nghĩa rất rộng: chúng được hưởng sự bảo vệ, bất kể chúng có “cơ sở vững chắc hay bị xem là cảm tính hoặc lý tính, có giá trị hay vô giá trị, nguy hiểm hay vô hại.”</p>



<p>Mặt khác, các tuyên bố về sự kiện lại thuộc về một phạm trù hoàn toàn khác — và theo tòa án Đức, cần phải chịu một tiêu chuẩn pháp lý cao hơn. Khác với ý kiến, các tuyên bố về sự kiện “có thể được kiểm chứng về tính chân thực,” tòa viết. Một lần nữa, bằng những lời lẽ dường như bước thẳng ra từ các ý kiến của nhiều Thẩm phán Tòa án Tối cao trong vụ Alvarez, tòa án nói rằng bản thân thông tin sai sự thật “không cấu thành một lợi ích đáng được bảo vệ.”</p>



<p>Tòa án Đức thẳng thắn thừa nhận rằng việc tách bạch giữa ý kiến và sự kiện trong những vấn đề phức tạp có thể rất khó khăn. Khi việc cố gắng phân tách chúng sẽ làm méo mó ý nghĩa của phát ngôn, thì tự do ngôn luận nên bảo vệ phát ngôn đó, tòa kết luận. Những tuyên bố làm mờ ranh giới giữa ý kiến và sự kiện nên được hưởng sự bảo vệ pháp lý, chẳng hạn như các đánh giá về mức độ tội lỗi hay trách nhiệm đối với các sự kiện lịch sử — vốn là “những đánh giá phức tạp không thể giản lược thành các tuyên bố sự kiện.”</p>



<p>Ở đây nữa, độc giả sẽ thấy sự tương đồng to lớn với Alvarez, nơi tất cả các Thẩm phán (kể cả ba vị bất đồng) đều bày tỏ lo ngại về tác động “làm lạnh” tiềm tàng đối với phát ngôn được bảo vệ, có thể phát sinh từ việc cấm phát ngôn cố ý sai sự thật, ngay cả khi bản thân phát ngôn đó không được hưởng sự bảo vệ. Tương tự Tòa án Tối cao của chúng ta trong Alvarez, tòa án Đức cũng nhìn sang luật phỉ báng để tìm ví dụ về cách pháp luật cân bằng giữa quyền tự do ngôn luận và quyền của những người bị ảnh hưởng bởi phát ngôn đó. “Khi các biểu đạt ý kiến bị xem là sự xúc phạm chính thức hoặc sự bôi nhọ,” tòa nhận định, “thì việc bảo vệ quyền nhân thân thông thường sẽ được đặt lên trên quyền tự do biểu đạt.”</p>



<p>Khi tòa án Đức nhắc tới quyền tự do biểu đạt — một trong nhiều quyền được bảo vệ theo hiến pháp Đức — thì ý niệm đó đối với chúng ta là hoàn toàn quen thuộc. Tương tự như vậy là các khái niệm về bình đẳng trước pháp luật, tự do tôn giáo, và quyền tự do hội họp và lập hội trong hiến pháp Đức. Luật Đức, bằng hệ thống thuật ngữ riêng của mình, còn công nhận rõ ràng những quyền không có trong Hiến pháp Hoa Kỳ: tính bất khả xâm phạm của phẩm giá con người; quyền sống, quyền toàn vẹn thân thể, và quyền phát triển “nhân cách” của mỗi người; quyền được giáo dục, quyền nghề nghiệp, và quyền riêng tư trong thư tín và viễn thông. Những quyền này có thể nghe có vẻ mơ hồ về ý nghĩa và cách áp dụng, nhưng điều tương tự cũng có thể nói về các quyền được ghi trong Tuyên ngôn Nhân quyền Hoa Kỳ. Vai trò của tòa án ở cả hai quốc gia là xác định ranh giới của các quyền đó, cũng như phải làm gì khi chúng va chạm và xung đột với nhau.</p>



<p>Áp dụng các quyền hiến định đó vào những tình tiết cụ thể của vụ phủ nhận Holocaust, tòa án Đức nhận thấy phát ngôn bị cấm — tuyên bố phủ nhận Holocaust mà David Irving đã bị ngăn không cho phát biểu khi sự kiện nơi ông dự định diễn thuyết bị hủy — là “rõ ràng sai sự thật” trước vô số lời khai nhân chứng, tài liệu, các phán quyết của tòa án trong nhiều vụ án hình sự, và các phân tích lịch sử.</p>



<p>Trong một chuyến thăm gần đây tới Đức, tôi đã gặp một vị thẩm phán từng tham gia vào quyết định của tòa án trong vụ này. Ông nhắc tôi về tầm quan trọng của một điểm đặc biệt trong vụ việc: tòa án không xử lý những cáo buộc mà tính xác thực của chúng vẫn còn đang tranh cãi một cách chính đáng. Đây là những sự kiện đã được xác lập; tồn tại cả một khối lượng đồ sộ chứng cứ về các sự kiện đó cùng với nhiều vụ án tư pháp đã giải quyết chúng, tất cả đều vượt khỏi sự nghi ngờ vào thời điểm bài phát biểu của David Irving tại cuộc họp NPD bị cấm. Tôi không thể không nghĩ rằng điều tương tự cũng có thể nói về những khẳng định liên tục của Trump rằng hệ thống bầu cử Hoa Kỳ đầy rẫy gian lận: có bằng chứng rõ ràng bác bỏ điều đó, chưa từng có bằng chứng nào được đưa ra để ủng hộ nó, và vô số vụ kiện đã bác bỏ nó.</p>



<p>Hơn nữa, trong vụ NPD, tòa án cũng bị thuyết phục bởi tác hại mà phát ngôn sai sự thật — tức là việc Irving phủ nhận Holocaust — sẽ gây ra đối với phẩm giá của các nạn nhân Holocaust. Phát ngôn phủ nhận Holocaust đã vi phạm quyền về phẩm giá con người được bảo vệ theo hiến pháp Đức. Bằng những lời lẽ đầy day dứt, tòa án viết:</p>



<p>“Sự kiện lịch sử rằng con người đã bị lựa chọn theo các tiêu chí của cái gọi là ‘Luật Nuremberg’ và bị tước đoạt tính cá nhân nhằm mục đích tiêu diệt đặt những người Do Thái đang sống tại Cộng hòa Liên bang [Đức] vào một mối quan hệ cá nhân đặc biệt với đồng bào của họ; những gì đã xảy ra khi đó vẫn hiện diện trong mối quan hệ ấy ngày nay. Đó là một phần trong nhận thức bản thân của họ khi được hiểu là thành viên của một nhóm người nổi bật bởi số phận của mình, và đối với họ tồn tại một trách nhiệm đạo đức đặc biệt từ phía tất cả những người khác; và điều này là một phần phẩm giá của họ. Sự tôn trọng đối với nhận thức bản thân đó, đối với mỗi cá nhân, là một trong những bảo đảm chống lại sự tái diễn của kiểu phân biệt đối xử này và tạo thành điều kiện nền tảng cho cuộc sống của họ tại Cộng hòa Liên bang… Đối với người liên quan, đây là sự phân biệt đối xử tiếp diễn đối với nhóm mà họ thuộc về, và với tư cách là một phần của nhóm, đối với chính họ.”</p>



<p>Lập luận đó, thấm đẫm lịch sử và tâm lý học, thật không may có thể áp dụng cho rất nhiều nhóm người khác nhau trong suốt lịch sử. Tôi không thể không nghĩ tới cách Tòa án Tối cao Hoa Kỳ mô tả những tổn hại của học thuyết “tách biệt nhưng bình đẳng” đã bị bác bỏ trong vụ Brown kiện Hội đồng Giáo dục: việc tách riêng trẻ em da đen “chỉ vì chủng tộc của các em tạo ra cảm giác thấp kém về vị thế của mình trong cộng đồng, điều có thể ảnh hưởng đến trái tim và tâm trí của các em theo cách khó có thể xóa bỏ.” Điều tương tự cũng có thể nói về bất kỳ ai bị phân biệt đối xử vì chủng tộc, giới tính, tôn giáo, nguồn gốc quốc gia, hay lựa chọn người mình yêu.</p>



<p>Nhưng mặc dù lập luận của tòa án có thể gây đồng cảm với độc giả Mỹ, tòa án trong vụ NPD lại đang hoạt động trong một môi trường pháp lý và chính trị khác với môi trường mà chúng ta đang sống ngày nay tại Hoa Kỳ. Điều tương tự cũng đúng với các tòa án trong những ví dụ mà chúng ta đã xem xét ở Pháp và Brazil. Cả ba quốc gia đều đưa ra những mô hình khác nhau để đối phó với vấn nạn dối trá chính trị: Brazil truất quyền nắm giữ chức vụ của một người nếu họ bị xác định có trách nhiệm đối với những lời dối trá bầu cử — điều mà Vương quốc Anh cũng áp dụng. Pháp truất quyền của những người bị kết án vì một số tội danh nhất định — những tội vượt xa các tội liên quan đơn thuần đến phát ngôn sai sự thật. Đức cấm phát ngôn về một chủ đề cụ thể nếu nó có thể ảnh hưởng tới an toàn công cộng.</p>



<p>Liệu chúng ta có thể học hỏi từ những quốc gia này khi cố gắng củng cố khả năng chống chịu của hệ thống bầu cử của mình không? Nói cách khác: liệu chúng ta có bị định mệnh phải sống trong một đất nước nơi các nhà lãnh đạo có thể nói dối cử tri mà không bị trừng phạt, hay vẫn có điều gì đó chúng ta có thể làm? Như chúng ta vừa thấy, các nền dân chủ nước ngoài đưa ra những mô hình có thể đem lại cảm hứng và hy vọng. Nhưng liệu bất kỳ giải pháp nào của họ đối với vấn đề phát ngôn sai sự thật có thể vượt qua được sự xem xét pháp lý tại Hoa Kỳ, xét theo Hiến pháp của chúng ta và phán quyết Alvarez hay không? Chúng có thể đáp ứng được các yêu cầu của Tu chính án Thứ nhất hay không? Và nếu có, mô hình nào trong số đó hứa hẹn nhất trong việc cứu nền dân chủ của chúng ta khỏi mối đe dọa dai dẳng của những lời dối trá chính trị?</p>



<p>Dù chúng ta lựa chọn công cụ nào, các quốc gia nước ngoài này đã cho chúng ta một bài học quan trọng: sự sẵn sàng sử dụng các giải pháp pháp lý sẵn có để buộc con người phải chịu trách nhiệm. Các quốc gia khác đã tổ chức những phiên tòa thực sự đối với các lãnh đạo chính trị của họ, chứ không phải những phiên tòa trình diễn. Chúng ta — ngoại trừ một tòa án hình sự ở New York — đã không làm được điều tương tự. Một Quốc hội mới có thể tạo ra những cải cách cho hệ thống Hoa Kỳ của chúng ta, nhưng mọi thứ sẽ trở nên vô nghĩa nếu các công cụ ấy bị teo tóp vì không được sử dụng.</p>



<p>Người ta cho rằng Napoleon Bonaparte từng nói: “Công cụ thuộc về người biết sử dụng chúng.” Khi chúng ta đối diện với câu hỏi cấp bách phải làm gì với Donald Trump và những lời dối trá của ông, câu châm ngôn này là một liều thuốc cần thiết. Câu hỏi về việc Hoa Kỳ cần có những công cụ gì là điều quan trọng, nhưng chỉ có công cụ mới thôi thì vô ích. Để vượt qua thử thách này, chúng ta sẽ cần cả lòng can đảm để sử dụng chúng.</p>



<p>(Còn Tiếp)</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Holden Caulfield – Cậu thiếu niên bất trị của văn học Mỹ đã bước sang tuổi 75</title>
		<link>https://t-van.net/holden-caulfield-cau-thieu-nien-bat-tri-cua-van-hoc-my-da-buoc-sang-tuoi-75/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[ChatGPT]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 28 Jul 2026 06:27:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[ChatGPT]]></category>
		<category><![CDATA[bắt trẻ đồng xanh]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=90962</guid>

					<description><![CDATA[Có lẽ chính Holden Caulfield sẽ là người đầu tiên nhăn mặt nếu biết thiên hạ đang long trọng kỷ niệm sinh nhật lần thứ 75 của The Catcher in the Rye. Với cậu, đó hẳn là đỉnh cao của sự &#8220;sến súa&#8221; – cái kiểu trịnh trọng mà Holden vốn ghét cay ghét đắng. [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/07/jd-salinger.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="444" height="640" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/07/jd-salinger.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-90964" style="width:392px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/07/jd-salinger-208x300.jpg 208w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/07/jd-salinger.jpg?strip=all 444w" sizes="(max-width: 444px) 100vw, 444px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Có lẽ chính Holden Caulfield sẽ là người đầu tiên nhăn mặt nếu biết thiên hạ đang long trọng kỷ niệm sinh nhật lần thứ 75 của <em>The Catcher in the Rye</em>. Với cậu, đó hẳn là đỉnh cao của sự &#8220;sến súa&#8221; – cái kiểu trịnh trọng mà Holden vốn ghét cay ghét đắng.</p>



<p>Nhưng biết đâu, giữa một thời đại mà những cánh đồng đang lần lượt nhường chỗ cho các trung tâm dữ liệu khổng lồ, thế giới lại cần thêm một chút &#8220;sến&#8221; như thế.</p>



<p>Hãy nâng một ly Scotch và soda để mừng cuốn tiểu thuyết già nua mà vẫn còn khỏe khoắn này. À không, Holden chắc sẽ chọn một ly sữa mạch nha hơn là rượu. Sau bảy mươi lăm năm, <em>The Catcher in the Rye</em> vẫn ngoan cường đứng vững trên sàn nhảy văn học: vượt qua những chiến dịch cấm sách từ phe bảo thủ, đồng thời cũng né được những làn sóng &#8220;hủy bỏ&#8221; từ phía cấp tiến.</p>



<p>Ảnh hưởng của nó thì kỳ lạ đến mức khó tin. Một đầu là nhà viết kịch John Guare, đầu kia là ban nhạc hard rock Guns N&#8217; Roses. Và lời nguyền rủa bất tận của Holden đối với những kẻ &#8220;giả tạo&#8221; dường như đã báo trước cả cơn sốt &#8220;sống thật&#8221; mà mạng xã hội ngày nay luôn rao giảng.</p>



<p>Dẫu gần như toàn bộ câu chuyện diễn ra giữa Manhattan hoa lệ, nơi J.D. Salinger lớn lên nhưng sớm rời bỏ, <em>The Catcher in the Rye</em> vẫn mang đầy đủ phẩm chất của một &#8220;Đại tiểu thuyết Mỹ&#8221;. Có lẽ càng &#8220;Mỹ&#8221; hơn nữa vì suốt ba phần tư thế kỷ, nó chưa từng bị Hollywood biến thành phim, mặc cho từ Billy Wilder cho đến Steven Spielberg đều từng cố gắng mua bản quyền.</p>



<p>Thế nhưng, bên dưới vẻ cổ điển ấy lại là một cuốn sách khá &#8220;bẩn&#8221; theo đúng nghĩa từng khiến phụ huynh và hội đồng giáo dục hoảng hốt: những mẩu móng tay, ria cạo dở, máu me, đánh rắm, say xỉn, nhìn trộm, mại dâm, ăn chơi và vô số tiếng lóng mà ngày nay nghe vừa lạ vừa mê hoặc.</p>



<p>Có những từ từng rất quen thuộc với nước Mỹ giữa thế kỷ XX giờ gần như biến mất. Chúng khiến cuốn sách mang dấu ấn thời đại rất rõ, đồng thời cũng trở thành cơn đau đầu đối với các dịch giả trên khắp thế giới. Dẫu vậy, <em>The Catcher in the Rye</em> chưa bao giờ ngừng được in và đến nay đã bán hơn tám mươi triệu bản.</p>



<p>Toàn bộ câu chuyện được kể bằng giọng tâm sự của Holden khi cậu đang điều trị sau một cơn suy sụp tinh thần ở California. Cậu hồi tưởng ba ngày lang thang sau khi bị đuổi khỏi trường nội trú Pencey Prep.</p>



<p>Trước <em>On the Road</em>. Trước <em>The Bell Jar</em>. Trước <em>The Graduate</em>.</p>



<p><em>The Catcher in the Rye</em> đã là cả một tâm trạng.</p>



<p>Lần đầu đọc cuốn sách khi còn nhỏ, tôi chỉ chăm chăm tìm những đoạn &#8220;người lớn&#8221; và những góc phố quen thuộc của New York. Nhưng đọc lại khi trưởng thành, tôi nhận ra sau vẻ hào nhoáng của Manhattan những năm 1950 là một nỗi cô đơn âm ỉ. Và đến khi trở thành cha mẹ trong thời đại DoorDash, điều khiến tôi kinh ngạc nhất không còn là Holden nổi loạn đến đâu, mà là một đứa trẻ mười sáu tuổi phải tự xoay xở với biết bao nhiêu biến cố.</p>



<p>Trong vẻn vẹn vài ngày, Holden bị bạn đánh, rồi bị một tên ma cô hành hung; nhảy nhót với khách du lịch; trượt băng ở Rockefeller Center; đi xem kịch Broadway; mơ chạy trốn lên miền quê; tìm kiếm lời khuyên từ những thầy giáo cũ mà đôi lúc lại nhận về những sự thân mật đầy khó xử; ngủ ở khách sạn, ngủ trên ghế ga Grand Central; kết bạn với các nữ tu; lang thang đến sở thú và đủ mọi địa danh của New York.</p>



<p>Rất lâu trước khi từ &#8220;sang chấn tâm lý&#8221; trở thành ngôn ngữ phổ biến, Holden đã mang trong mình nỗi đau mất em trai Allie vì bệnh bạch cầu. Cậu khinh ghét người anh D.B. vì bán mình cho Hollywood – cũng như chính Salinger chưa bao giờ tha thứ cho Hollywood sau khi Samuel Goldwyn biến truyện ngắn của ông thành bộ phim <em>My Foolish Heart</em>. Người duy nhất nhìn thấu Holden lại là cô em gái mười tuổi Phoebe, khi cô bé nói một câu đau đến tận tim:</p>



<p><em>&#8220;Anh chẳng thích cái gì cả.&#8221;</em></p>



<p>Đó gần như là bản chẩn đoán chính xác nhất về căn bệnh trầm cảm của Holden.</p>



<p>Điều thú vị là chính Salinger cũng giống hệt một trong những hiện vật bất động mà Holden ngắm nhìn trong Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên. Bức chân dung nổi tiếng của ông trên ấn bản đầu tiên – đôi mắt sâu, nụ cười nhẹ, chiếc áo khoác tweed – mãi mãi đóng băng ở một thời điểm. Chính ông sau này lại yêu cầu gỡ nó khỏi bìa sách càng sớm càng tốt.</p>



<p>Sau thành công vang dội của <em>The Catcher in the Rye</em>, Salinger làm điều trái ngược với hầu hết các nhà văn: ông trốn khỏi danh tiếng.</p>



<p>Ông lui về Cornish, bang New Hampshire, sống gần như ẩn dật, say mê triết học Vedanta, Thiền tông và tiếp tục viết về gia đình Glass, trong khi tránh né báo chí lẫn người hâm mộ hành hương đến tìm mình.</p>



<p>Chiếc mũ săn màu đỏ của Holden cuối cùng lại giống như biểu tượng cho chính số phận tác giả: từ người quan sát trở thành con mồi của truyền thông.</p>



<p>Frank Sinatra từng nổi tiếng với câu chuyện &#8220;Frank bị cảm&#8221;. Nhưng Salinger còn &#8220;lạnh&#8221; hơn thế: gần sáu mươi năm gần như biến mất khỏi đời sống công chúng.</p>



<p>Nhìn theo góc độ khác, ông giống một thiên tài của sự im lặng. Thỉnh thoảng mới bất ngờ tung ra một truyện ngắn, chẳng khác nào Beyoncé đột ngột phát hành một ca khúc mới khiến người hâm mộ phát sốt.</p>



<p>Ngày nay, <em>The Catcher in the Rye</em> đã có mặt bằng đủ mọi ngôn ngữ, từ tiếng Azerbaijan đến tiếng Việt. Có bìa lấy hình chiếc mũ đỏ, có bìa là đàn vịt trên hồ nước mà Holden luôn lo lắng mỗi mùa đông, có bìa lại chỉ là điếu thuốc lá lơ lửng.</p>



<p>Thế nhưng rồi cuốn sách cũng bước vào một chương đen tối khác của lịch sử. Một loạt sát thủ trong thập niên 1980 mang theo <em>The Catcher in the Rye</em>, nổi tiếng nhất là Mark David Chapman khi ám sát John Lennon.</p>



<p>Chỉ những tâm trí bệnh hoạn mới có thể coi đây là bản tuyên ngôn giết người.</p>



<p>Trên thực tế, cuốn tiểu thuyết này gắn với Thế chiến II sâu sắc hơn nhiều người tưởng. Holden đã được thai nghén từ trước chiến tranh, còn chính Salinger thì mang bản thảo theo mình khi đổ bộ lên Utah Beach trong ngày D-Day, sống sót qua rừng Hürtgen, trận Bulge và chứng kiến Dachau được giải phóng.</p>



<p>Sau khi trở về từ địa ngục ấy, ông phải đối diện một New York tưng bừng thời hậu chiến – nơi quảng cáo, tiêu dùng và xuất bản đều bùng nổ. Chính trong khoảng cách kỳ lạ giữa ký ức chiến tranh và sự phồn hoa ấy mà <em>The Catcher in the Rye</em> ra đời.</p>



<p>Ngay cái tên cuốn sách cũng là một hiểu lầm đẹp.</p>



<p>Holden nghe sai một câu thơ của Robert Burns rồi tưởng tượng mình là người đứng giữa cánh đồng lúa mạch, dang tay đỡ những đứa trẻ sắp rơi khỏi vách núi.</p>



<p>Sau khi biết Salinger từng trải qua chiến tranh, người ta khó tránh khỏi một cách đọc khác: có lẽ đó là giấc mơ sốt mê của một người sống sót, luôn tự hỏi vì sao mình còn sống còn những người khác thì không.</p>



<p>Ngay từ khi mới xuất bản, giới phê bình đã nhận ra sức mạnh khác thường của giọng kể Holden. Không ít nhà phê bình thậm chí còn bị lây nhiễm đến mức&#8230; viết bài phê bình bằng chính giọng văn của Holden.</p>



<p>Và đúng là giọng nói ấy có đôi chân rất dài.</p>



<p>Trước khi khái niệm &#8220;văn học thanh thiếu niên&#8221; ra đời, Holden đã trở thành người bạn đồng hành của biết bao thế hệ tuổi trẻ. Độ dài vừa phải, giọng kể như đang thủ thỉ với người đọc và cảm giác lạc lõng trước thế giới khiến cuốn sách gần như trở thành nghi thức trưởng thành của hàng triệu thiếu niên.</p>



<p>Tất nhiên, không phải ai ngày nay cũng còn yêu Holden.</p>



<p>Nhiều giáo viên hiện đại cho rằng cậu chỉ là một biểu tượng lỗi thời của đặc quyền nam giới da trắng.</p>



<p>Trong khi đó, chính đời tư của Salinger cũng ngày càng gây nhiều tranh cãi. Những mối quan hệ của ông với các cô gái trẻ tuổi, đặc biệt là Joyce Maynard, giờ đây khó có thể được nhìn bằng con mắt dễ dãi như trước thời #MeToo.</p>



<p>Vậy mà kỳ lạ thay, Salinger chưa bao giờ phải hứng chịu làn sóng lên án dữ dội như nhiều nhân vật khác.</p>



<p>Có lẽ bởi Holden mãi mãi chỉ là một cậu bé mười sáu tuổi.</p>



<p>Có lẽ bởi những lời tố cáo xuất hiện quá sớm, trước khi xã hội sẵn sàng lắng nghe.</p>



<p>Hoặc cũng có thể vì chính Salinger đã tự lưu đày mình khỏi thế giới từ rất lâu trước khi người khác kịp làm điều đó.</p>



<p>Cuối cùng, tác phẩm lớn thứ hai của đời ông có lẽ không phải là một cuốn tiểu thuyết nào nữa.</p>



<p>Mà là&#8230; sự im lặng.</p>



<p>Ông từng nói:</p>



<p>&#8220;Không xuất bản cũng có một sự bình yên kỳ diệu.&#8221;</p>



<p>Ba phần tư thế kỷ đã trôi qua. Holden Caulfield vẫn mười sáu tuổi. Còn độc giả thì già đi hết thế hệ này sang thế hệ khác.</p>



<p>Có lẽ đó chính là phép màu hiếm hoi của văn chương: nhân vật đứng yên, còn chúng ta thay đổi. Mỗi lần quay trở lại với Holden, điều khác đi không phải là cậu ấy.</p>



<p>Mà là chính chúng ta.</p>



<p>[T.Vấn biên tập &amp; ChatGPT thực hiện dựa theo một bài báo của <strong>Alexandra Jacobs: The NYT: </strong><a href="https://www.nytimes.com/2026/07/14/books/review/catcher-in-the-rye-75th-anniversary-salinger.html">Holden Caulfield, the Ultimate Adolescent, Is Turning 75</a>]</p>



<p>***</p>



<p>[Trích: DỰ ÁN HẠNH PHÚC của TVE_4U</p>



<p><strong>Lichan: NGƯỜI BẮT TRẺ GIỮA ĐỒNG XANH</strong><br><br>Nhìn tựa đề Bắt trẻ đồng xanh, tôi hình dung ra cảnh đuổi bắt trốn tìm của một bầy trẻ nhỏ trên cánh đồng xanh bát ngát đang vào mùa &#8211; thật sinh động, thật hồn nhiên và đẹp tuyệt vời.<br><br>Thế nhưng mọi thứ đều trái ngược ngay khi lật những trang đầu tiên. Cảm giác shock vì bị nhấn chìm trong những suy nghĩ chán chường, đầy những câu chửi thề cáu bẳn của Holden &#8211; nhân vật chính của truyện, cả cách xưng hô với người khác của Holden cũng rất chói tai, nó thô thiển, vô giáo dục lạ lùng!<br><br>Bắt trẻ đồng xanh là tự sự của Holden &#8211; sinh viên 18 tuổi, vừa bị đuổi khỏi trường dự bị đại hoc Pencey- Agerstown, thành phố Pennsylvania, vì thành tích bất hảo rớt bốn trên tổng số năm môn môn học .<br><br>Nếu có cuộc đuổi bắt nào ghi trong sách, thì có lẽ chính là những suy nghĩ lan man, rối rắm chạy lòng vòng trong đầu Holden sau khi biết mình bị đuổi học. Cậu rời trường, đến thành phố New York nhưng lại chẳng dám về nhà trước ngày bế giảng.<br><br>Holden chẳng thích gì, chán ghét tất cả, cậu có thể lảm nhảm hàng giờ liền trong cái đầu chứa đầy những &#8220;mắc dịch, dịch hạch, bỏ mẹ, thật thối, ối giời..&#8221;. Holden ghét sự giả dối đầy bộ tịch của người đời, ghét cả những thói hư tật xấu đang diễn ra quanh mình. Hãy thử nghe cậu nói.<br><br>“Ừ, tôi thì ghét trường học. Ôi giời, tôi ghét cay ghét đắng&#8230;”<br><br>“Nhưng không chỉ có thế. Tôi ghét sống ở New York các thứ. Xe taxi, xe đò trên Đại lộ Madison, với những thằng lái xe luôn luôn hét vào mặt bảo mình xuống cửa sau,<br><br>“Cô phải đi học một trường con trai thử mà xem. Cô thử đi&#8230;”<br><br>“Đầy cả tụi bộ tịch, và cô chỉ phải học để một ngày kia có thể mua được một chiếc Callidac trời đánh và cứ phải làm ra vẻ mình rất quan tâm đến trận đấu bóng, và suốt ngày chỉ nói về con gái, rượu và tình dục, và mọi người bám lấy nhau trong những bè đảng thối tha ấy”<br><br>&#8220;Một trong những lý do lớn nhất vì sao tôi rời trường Elkton Hills là vì, ở đấy xung quanh tôi chỉ toàn tụi bộ tịch. Đấy, lý do là thế đấy. Chẳng hạn ông già hiệu trưởng, ông Haas, đấy là thằng cha bộ tịch nhất tôi từng gặp trong đời. Còn bộ tịch gấp mười già Thurmer.&#8221;<br><br>Cứ lắng nghe Holden càu nhàu mãi rồi tôi cũng hiểu &#8211; ở một độ tuổi nhạy cảm, cậu thu người lại trong một góc hẹp mà phán đoán mọi việc quanh mình, cuộc sống với những mặt trái hiện rõ trước mắt làm cậu chán chường rồi sợ hãi, cậu như một giọt nước tinh khiết bám trên thành hồ, nhìn vào lòng hồ đầy những cặn bã, rong rêu mà hoảng sợ không muốn thảy mình vào cái hồ nhơ nhớp đó.<br><br>Holden của tuổi trẻ nổi loạn như một con nhím xù gai nhọn nhưng lại đầy tình cảm &#8211; cậu luôn nghĩ đến DB &#8211; người anh viết văn tài giỏi của mình, nhớ em Allie đã mất với chiếc găng tay trái của cầu thủ bóng chày viết đầy thơ, cậu mong được “cà riềng cà tỏi&#8221; với em Phoebe, hay muốn gọi điện thoại để hẹn gặp Jane Gallagher- cô bạn gái láng giềng thích chơi cờ đam. Holden nói về tình dục ngang phè như một tay chơi từng trải, nhưng thực chất vẫn là trai tân, gọi gái lên phòng chỉ để nói chuyện tầm phào, cậu lành đến nỗi bị tay dắt gái và ả gái gọi bắt chẹt đến thương.<br><br>Holden vẫn tự trào về mình “Tôi dốt đặc nhưng tôi đọc sách khá nhiều” hay “Tôi là cái thằng nói láo kinh khủng nhất mà bạn từng thấy trên đời. Khủng khiếp lắm ấy. Nếu tôi đang đi đến tiệm mua một tờ báo mà gặp ai hỏi tôi đi đâu, tôi cũng dám nói tôi đi xem hát lắm. Thật khiếp!” và &#8220;Tôi là thằng “rất nhát gan. Tôi cố đừng lộ ra thế, nhưng chính ra tôi rất nhát gan.” Điều làm tôi buồn cười nhất, tuy Holden chửi thề luôn miệng nhưng lại phản ứng rất mạnh khi thấy hai chữ &#8220;ĐM&#8221; viết trên tường trường nơi em Phoebe học “Tôi cứ muốn giết thằng nào đã viết những chữ ấy. Tôi tưởng tượng đấy là một thằng biến thái trời đánh thánh vật nào đã lẻn vào ban đêm rồi viết như thế trên tường. Tôi cứ tưởng tượng tôi đang bắt quả tang nó, và tôi đập cái đầu nó vào những bậc đá như thế nào, cho đến khi nó đầy cả máu me và chết ngoẻo cổ. Nhưng đồng thời tôi cũng biết tôi sẽ không có can đảm làm thế. Tôi biết như vậy. Điều ấy làm tôi càng rầu rĩ hơn. Tôi lại còn không đủ can đảm để chùi nó với bàn tay tôi nữa là khác, nếu bạn muốn biết sự thật. Tôi sợ một ông thầy giáo nào đó sẽ bắt gặp tôi đang xóa và tưởng chính tôi đã viết nó. Nhưng rốt cuộc tôi cũng xóa như thường.”<br><br>Holden ơi Holden! Cậu đã dẫn tôi qua mọi cung bậc của cảm xúc, từ bất ngờ, chán ghét, khó chịu, đến thấu hiểu, cảm thông, thích thú, rồi lo lắng, mong mỏi và da diết!<br><br>Nhớ Holden với câu hỏi vô cùng vớ vẩn về những con vịt trên hồ ở công viên trung tâm gần đường Nam Công Viên “Tôi đang thắc mắc không biết những con vịt sẽ đi về đâu, khi nước hồ đóng thành băng hết. Tôi tự hỏi có thằng cha nào mang cam nhông lại đem chúng đi đến một vườn thú hay gì không? Hay chúng chỉ bay đi là xong.”<br><br>Nhớ Holden chỉ là một đứa trẻ to xác khi bảo với em Phoebe.<br><br>“Em biết bài hát ‘Nếu một đứa nào bắt được đứa nào đang đến qua đồng lúa mạch xanh’ không?<br><br>Anh cứ tưởng tượng một bầy trẻ con chơi một trò chơi gì đó trong một đồng lúa mạch thật to. Hàng nghìn đứa trẻ con, và không có ai ở đấy &#8211; không có ai là người lớn, anh muốn nói vậy &#8211; trừ anh. Và anh thì đứng trên một mỏm đá điên khùng nào đó. Điều anh phải làm là, anh phải bắt tất cả những đứa trẻ nào chạy tới gần mỏm đá. Nghĩa là nếu chúng đang chạy mà không coi chừng chúng ở đâu, thì anh sẽ nấp ở một nơi nào đó rồi ra bắt lấy chúng. Anh sẽ làm như thế suốt ngày. Anh sẽ làm người “bắt trẻ đồng xanh các thứ. Anh biết thật là điên khùng, nhưng đấy là điều độc nhất anh muốn làm. Anh biết vậy là thật điên khùng.”<br><br>Ước muốn duy nhất đó đã nói lên khao khát bắt giữ những ký ức tuổi thơ của Holden, nhưng ai rồi cũng phải trưởng thành, dù giai đoạn chuyển tiếp này có khó khăn rồ dại đến đâu. Đến cuối cùng thì giọt nước tinh khiết đó cũng không thể bám mãi ở thành hồ, mà phải gieo mình hoà vào lòng hồ &#8220;Cuộc sống&#8221; nếu muốn tồn tại.<br><br>Holden rồi cũng quay về nhà, tiếp tục đi học, làm em của DB, làm anh của Phoebe &#8211; cùng khiêu vũ và cà riềng cà tỏi với em.<br><br>Holden ớ ẩm, chửi tục, hay lầm bầm phê phán, và chẳng tuân theo khuôn mẫu nào của cuộc sống, cậu cứ là chính cậu thôi. Cậu cũng chẳng bao giờ muốn hứa hẹn bởi cậu cho rằng &#8220;làm sao bạn có thể biết được bạn sẽ làm gì cho đến khi bạn làm thật? Câu trả lời là, bạn không thể biết &#8220;.<br><br>Bắt trẻ đồng xanh là tác phẩm lạ lùng có một không hai, bởi nhân vật chính của truyện &#8211; Holden &#8211; cũng lạ lùng chẳng giống ai, cậu vừa đáng trách lại vừa đáng yêu!<br><br><strong>Lichan &#8211; Happiness Project</strong><br><br>(Nguồn: Bản E-Book tập BẮT TRẺ ĐỒNG XANH &#8211; Chuyển ngữ: PHÙNG KHÁNH do Happiness Project thực hiện]</p>



<p><strong>ĐỌC THÊM</strong>:</p>



<p><strong><a href="https://t-van.net/d%e1%bb%93ng-xanh-v%e1%ba%abn-c%e1%bb%a9-xanh/">T.Vấn: Đồng xanh vẫn cứ xanh</a></strong></p>



<p><strong><a href="https://t-van.net/d%e1%bb%a9a-tr%e1%ba%bb-d-ng-xu%e1%bb%91ng-gi%e1%bb%afa-d%e1%bb%93ng-xanh/">T.Vấn: Đứa trẻ đã ngã xuống giữa đồng xanh</a></strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>TIẾNG ĐỜI: THỨ CÒN LẠI SAU KHI NGƯỜI TA CHẾT ĐI</title>
		<link>https://t-van.net/tieng-doi-thu-con-lai-sau-khi-nguoi-ta-chet-di/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[ChatGPT]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 26 Jul 2026 06:51:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Ghi Chép]]></category>
		<category><![CDATA[chính trị Mỹ]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=90696</guid>

					<description><![CDATA[&#8220;Gia súc rồi sẽ chết, người thân rồi sẽ chết, chính bản thân ngươi cũng sẽ chết. Nhưng có một điều không bao giờ chết: danh tiếng của người đã khuất.&#8221; — Hávamál À, phải rồi. Đây chính là phần mà hầu như ai cũng muốn lướt qua — đoạn kết của câu chuyện, khi [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/07/eVZgsn2J-graham.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="576" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/07/graham-1024x576.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-90697" style="width:612px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/07/graham-300x169.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/07/graham-1024x576.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2026/07/graham-768x432.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2026/07/graham-1536x864.jpg 1536w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/07/eVZgsn2J-graham.jpg?strip=all 1672w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><em>&#8220;Gia súc rồi sẽ chết, người thân rồi sẽ chết, chính bản thân ngươi cũng sẽ chết. Nhưng có một điều không bao giờ chết: danh tiếng của người đã khuất.&#8221;</em></p>



<p>— <em>Hávamál</em></p>



<p>À, phải rồi.</p>



<p>Đây chính là phần mà hầu như ai cũng muốn lướt qua — đoạn kết của câu chuyện, khi bạn không còn quyền chỉnh sửa bản thảo cuộc đời mình nữa.</p>



<p>Cái chết không hề thần thánh hóa một con người.</p>



<p>Nó chỉ đơn giản là đóng dấu kết sổ.</p>



<p>Như một con dấu sáp ép xuống cuốn biên niên mà chính bạn đã viết nên.</p>



<p>Không còn sửa chữa.</p>



<p>Không còn tô vẽ.</p>



<p>Không còn màn xưng tội phút cuối bên một thân xác đang nguội dần để mong mọi lỗi lầm được xóa sạch.</p>



<p>Chỉ còn lại tổng cộng của tất cả những lựa chọn bạn từng thực hiện, nằm đó như một cuốn sổ cái không cách nào đem đốt cho biến mất.</p>



<p>Vậy mà&#8230;</p>



<p>Hãy nhìn xem người sống ngày nay vội vã đến mức nào trong việc viết lại câu chuyện ấy.</p>



<p><em>&#8220;Đừng nói điều xấu về người đã khuất,&#8221;</em> họ bảo thế.</p>



<p>Một tay ôm lấy những chuẩn mực đạo đức giả tạo, tay kia thì cần mẫn lau sạch lịch sử.</p>



<p>Như thể im lặng chính là đức hạnh.</p>



<p>Như thể sự thật bỗng trở thành tàn nhẫn ngay khi một trái tim ngừng đập.</p>



<p>Không đâu, bạn thân mến.</p>



<p>Đó không phải là đạo đức.</p>



<p>Đó là kiểm soát câu chuyện.</p>



<p>Là nỗi sợ phải đối diện với điều mà lịch sử thực sự nói, một khi người ta thôi tô son trát phấn cho nó.</p>



<p><em>Hávamál</em> không chơi trò ấy.</p>



<p>Nó chẳng bận tâm đến cảm giác dễ chịu của bạn.</p>



<p>Điều nó quan tâm là những gì còn lại.</p>



<p>Danh tiếng.</p>



<p>Không phải danh tiếng theo nghĩa xây dựng thương hiệu.</p>



<p>Không phải những bài diễn văn trau chuốt.</p>



<p>Không phải hình ảnh được chăm chút kỹ lưỡng.</p>



<p>Mà là danh tiếng thật sự.</p>



<p>Con đường bạn đã rạch qua thế giới này.</p>



<p>Những vết nứt bạn để lại.</p>



<p>Những đám cháy bạn đã nhóm lên.</p>



<p>Những dấu vân tay còn in trên cuộc đời người khác và trên chính bộ xương của xã hội mà bạn góp phần tạo dựng.</p>



<p>Vậy nên, đừng giả vờ như chúng ta không biết mình đang nhìn vào điều gì.</p>



<p><strong>Charlie Kirk</strong> không xây dựng điều gì có thể gọi là đoàn kết.</p>



<p>Ông ta xây dựng một cỗ máy sống nhờ chia rẽ rồi gọi nó là mục đích.</p>



<p>Ông hiểu rất rõ quy luật của thị trường.</p>



<p>Phẫn nộ thì bán chạy.</p>



<p>Oán giận thì càng dễ lan rộng.</p>



<p>Và nếu gói tất cả những thứ ấy trong ngôn ngữ của Thượng Đế, bạn sẽ có một tấm khiên đủ dày để đẩy lùi mọi sự truy cứu trách nhiệm.</p>



<p>Nếu muốn, cứ gọi ông ta là một vị tử đạo.</p>



<p>Nhưng hãy hiểu mình đang làm gì.</p>



<p>Bạn không phải đang tôn vinh một cuộc đời.</p>



<p>Bạn đang tẩy trắng cuộc đời ấy.</p>



<p>Bạn đang biến xung đột thành thánh tích, rồi hy vọng chẳng ai nhận ra những vết máu còn loang dưới lớp áo choàng.</p>



<p>Còn <strong>Lindsey Graham</strong> thì sao?</p>



<p>À&#8230;</p>



<p>Trường hợp này gần như hoàn hảo đến mức đáng dùng làm ví dụ trong sách giáo khoa về sự sụp đổ đạo đức diễn ra ngay trước mắt mọi người.</p>



<p>Ngày 6 tháng 1 năm 2021.</p>



<p>Bạn vẫn còn nhớ chứ.</p>



<p>Đừng giả vờ là không.</p>



<p>Tòa nhà Quốc hội bị đám đông tràn vào.</p>



<p>Cửa kính vỡ tung.</p>



<p>Các nhà lập pháp tháo chạy.</p>



<p>Một đám đông được nuôi dưỡng, kích động và hướng mục tiêu rõ ràng lao thẳng vào xương sống của nền dân chủ Hoa Kỳ trước ánh mắt của cả thế giới.</p>



<p>Và Lindsey Graham đứng đó.</p>



<p>Đứng giữa hậu quả ấy.</p>



<p>Chỉ vừa đủ lâu để nếm được vị của sự thật.</p>



<p>Chỉ vừa đủ lâu để nhận ra ranh giới vừa bị vượt qua.</p>



<p>Trong một khoảnh khắc ngắn ngủi&#8230;</p>



<p>Ông đã nhìn thấy rất rõ.</p>



<p><em>&#8220;Tôi chỉ có thể nói một điều: </em><em>TÔI CHẲNG CÒN GÌ DÍNH LÍU ĐẾN ÔNG TA NỮA</em><em>. Đủ rồi.&#8221;</em></p>



<p><em>&#8220;Tổng thống Trump đã làm hoen ố nhiệm kỳ tổng thống của </em><em>ông ta</em><em>. Chính hành động của ông </em><em>ta</em><em> </em><em>nói lên điều ấy</em><em>.&#8221;</em></p>



<p>Rồi&#8230;</p>



<p>Khoảnh khắc ấy biến mất.</p>



<p>Bởi sự sáng suốt luôn là điều bất tiện khi quyền lực vẫn còn nằm trên bàn cờ.</p>



<p>Thế là ông lựa chọn.</p>



<p>Không phải một lần.</p>



<p>Không phải miễn cưỡng.</p>



<p>Mà lặp đi lặp lại.</p>



<p>Công khai.</p>



<p>Không chút xấu hổ.</p>



<p>Ông chọn từ bỏ lời tuyên thệ mà mình từng thề sẽ bảo vệ.</p>



<p>Ông chọn biện hộ cho chính điều mình vừa tận mắt chứng kiến.</p>



<p>Ông chọn đứng về phía lực lượng đã tìm cách nhổ bật tận gốc nguyên tắc thượng tôn pháp luật.</p>



<p>Một màn quay ngoắt 180 độ hoàn hảo đến mức, nếu nó không gây tác hại ghê gớm, người ta hẳn đã phải thán phục.</p>



<p>Thẳng một mạch từ sự tỉnh ngộ sang đồng lõa.</p>



<p>Nếu cần một từ dễ nghe hơn&#8230;</p>



<p>Cứ gọi đó là lòng trung thành.</p>



<p>Còn tôi&#8230;</p>



<p>Tôi gọi đúng tên của nó.</p>



<p>Đó là đầu hàng, khoác chiếc áo của chiến lược.</p>



<p>Là phản bội, nhưng được ngụy trang bằng một cái bắt tay.</p>



<p>Là một thượng nghị sĩ nhìn thấy ngọn lửa&#8230;</p>



<p>rồi quyết định chìa tay ra sưởi ấm bên nó.</p>



<p>Chính đó mới là danh tiếng còn lại sau ông.</p>



<p>Không phải những bài phát biểu.</p>



<p>Không phải những lời điếu văn.</p>



<p>Mà là khoảnh khắc ấy.</p>



<p>Lựa chọn ấy.</p>



<p>Cú ngoặt từ sự thật sang quyền lực.</p>



<p>Và giờ đây&#8230;</p>



<p>Những người đưa tang xuất hiện.</p>



<p>Những người viết diễn văn xuất hiện.</p>



<p>Những người chuyên tạo dựng huyền thoại xuất hiện.</p>



<p>Họ bắt đầu đánh bóng.</p>



<p>Làm mềm đi.</p>



<p>Viết lại.</p>



<p>Bọc tất cả trong thứ ngôn từ dịu dàng đến mức người ta gần như tin rằng chưa từng có điều gì sắc nhọn xảy ra.</p>



<p>Nhưng tôi&#8230;</p>



<p>không dịu dàng như thế.</p>



<p>Người chết không cần những lời dối trá của bạn.</p>



<p>Chính người sống mới cần.</p>



<p>Bởi chuyện này chưa bao giờ là để tôn vinh họ.</p>



<p>Nó là để bảo vệ thứ mà họ đã dựng nên.</p>



<p>Một hệ sinh thái chính trị sống nhờ sự bóp méo.</p>



<p>Nơi đức tin trở thành vũ khí.</p>



<p>Lòng yêu nước trở thành một bộ trang phục hóa trang.</p>



<p>Và sự thật&#8230;</p>



<p>trở thành thứ có thể đem ra mặc cả.</p>



<p>Nơi các &#8220;vị tử đạo&#8221; được sản xuất hàng loạt.</p>



<p>Nơi danh hiệu &#8220;người yêu nước&#8221; được quyết định bằng lòng trung thành với một cá nhân, chứ không phải với pháp luật.</p>



<p>Hãy nhìn thật kỹ.</p>



<p>Những bài điếu văn ấy không phải dành cho người đã chết.</p>



<p>Chúng dành cho cả một phong trào.</p>



<p>Đó là những bài giảng trong một giáo hội không thể thừa nhận điều mà chính mình đã làm.</p>



<p>Và người ta mong bạn sẽ ngoan ngoãn ngồi im trên hàng ghế giáo dân.</p>



<p>Không.</p>



<p>Tôi không hả hê trước cái chết.</p>



<p>Không cổ vũ bạo lực.</p>



<p>Không vui mừng trước mất mát.</p>



<p>Không xem sự chấm dứt một đời người là trò chơi.</p>



<p>Đó chưa bao giờ là điều tôi muốn nói.</p>



<p>Nhưng tôi cũng tuyệt đối từ chối tham gia vào lời dối trá rằng cái chết có thể cứu chuộc một di sản.</p>



<p>Không.</p>



<p>Nó không cứu chuộc.</p>



<p>Nó phơi bày.</p>



<p>Cả hai người đàn ông ấy đều đã đưa ra những lựa chọn làm sâu thêm sự chia rẽ, bình thường hóa nỗi sợ hãi và khuyến khích một quốc gia nhìn chính mình không còn như một cộng đồng, mà như một chiến trường.</p>



<p>Họ góp phần tạo nên một nền văn hóa nơi sự thật bị bẻ cong.</p>



<p>Nơi kẻ thù được tạo ra.</p>



<p>Nơi lòng trung thành với một con người quan trọng hơn lòng trung thành với hệ thống pháp luật gắn kết cả một đất nước.</p>



<p>Đó chính là cấu trúc họ để lại.</p>



<p>Đó là di sản của họ.</p>



<p>Và đây là điều mà không ai thích nói thành lời:</p>



<p>Sự im lặng chính là thứ giúp cấu trúc ấy tiếp tục đứng vững.</p>



<p>Mỗi lời nói được làm nhẹ đi.</p>



<p>Mỗi sự thật bị lược bỏ.</p>



<p>Mỗi câu <em>&#8220;bây giờ chưa phải lúc&#8221;</em>&#8230;</p>



<p>đều trở thành thêm một viên gạch xây nên huyền thoại.</p>



<p>Nhưng <em>Hávamál</em> không chờ một thời điểm thuận tiện.</p>



<p>Nó nói rất thẳng:</p>



<p>Điều còn sống sau bạn chính là tên tuổi của bạn.</p>



<p>Vì thế, câu hỏi chưa bao giờ là họ chết như thế nào.</p>



<p>Mà là&#8230;</p>



<p>giờ đây tên tuổi của họ đang mang theo điều gì.</p>



<p>Có những cái tên trở thành kim chỉ nam.</p>



<p>Có những cái tên trở thành lời cảnh báo.</p>



<p>Và cái chết—</p>



<p>dù được khoác lên bao nhiêu nghi thức trang trọng, dù được nói đến bằng giọng kính cẩn đến đâu—</p>



<p>cũng không có quyền quyết định bạn sẽ thuộc về loại nào.</p>



<p>Chính bạn đã quyết định điều đó.</p>



<p>Từ rất lâu trước khi trút hơi thở cuối cùng.</p>



<p><a href="https://www.facebook.com/wildcraftedivy?__tn__=%2Cd-UC*F"><strong>Ivy C. Mulligan</strong></a></p>



<p>(T.Vấn Biên tập; ChatGPT chuyển ngữ)</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>ĐÀO THOÁT KHỎI BẮC HÀN</title>
		<link>https://t-van.net/dao-thoat-khoi-bac-han/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[ChatGPT]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 25 Jul 2026 06:49:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[ChatGPT]]></category>
		<category><![CDATA[Bắc Hàn]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=90900</guid>

					<description><![CDATA[Kim Yu-mi, bên phải, đã đào thoát cùng một nhóm gồm hai con và mẹ của cô. Cuộc sống ở Hàn Quốc không hoàn toàn như họ tưởng tượng, nhưng họ không hề hối hận vì đã rời bỏ chế độ độc tài tàn bạo và chiến dịch tuyên truyền không ngừng nghỉ của Triều [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/07/Wbbz6oj1-image001.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="600" height="400" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/07/Wbbz6oj1-image001.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-90901" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/07/Wbbz6oj1-image001-300x200.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/07/Wbbz6oj1-image001.jpg?strip=all 600w" sizes="(max-width: 600px) 100vw, 600px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Kim Yu-mi, bên phải, đã đào thoát cùng một nhóm gồm hai con và mẹ của cô. Cuộc sống ở Hàn Quốc không hoàn toàn như họ tưởng tượng, nhưng họ không hề hối hận vì đã rời bỏ chế độ độc tài tàn bạo và chiến dịch tuyên truyền không ngừng nghỉ của Triều Tiên. Ảnh: Woohae Cho cho The New York Times</em></p>



<p><strong><a href="https://www.nytimes.com/2026/07/21/world/asia/south-korea-family-defection-escape.html?smid=nytcore-ios-share">The NYT: A Family’s Daring Escape From North Korea ‘to Live and Stand Tall’</a></strong></p>



<p>(ChatGPT chuyển ngữ. T.Vấn biên tập và hiệu đính)]</p>



<p><strong>Một gia đình liều mình đào thoát khỏi Bắc Hàn để &#8220;được sống và ngẩng cao đầu&#8221;</strong></p>



<p><em>Quyết tâm tìm tự do của họ trở nên sắt đá sau đại dịch, khi họ phải sống giữa nạn đói triền miên và chứng kiến những vụ hành quyết công khai diễn ra ngày càng thường xuyên.</em></p>



<p>Tác Giả:<strong>Choe Sang-Hun</strong><br><em>Tường thuật từ Seoul</em><br><br>Mưa quất như roi xuống chiếc thuyền gỗ ọp ẹp đang chao đảo giữa biển động. Động cơ gầm gừ, vật lộn với từng con sóng dữ. Trong màn đêm giông bão của ba năm trước, con thuyền ấy đang lặng lẽ rời khỏi Bắc Hàn.</p>



<p>Trên thuyền có chín người.</p>



<p>Trong đó có hai đứa trẻ còn rất nhỏ và một người phụ nữ đang mang thai sáu tháng.</p>



<p>Chỉ có hai người trong số họ thực sự biết đi biển.</p>



<p>Họ phải lẩn tránh tàu tuần tra, lao qua vùng biển được canh phòng nghiêm ngặt nhất thế giới.</p>



<p>Rồi, ngay sau khi con thuyền lắc lư vượt sang hải phận Nam Hàn, một chiến hạm cao tốc của hải quân Hàn Quốc bất ngờ lao tới, quần thảo quanh họ, xé tung mặt nước bằng những vòng cua gắt.</p>



<p>Những tay bắn tỉa trên tàu đã chĩa tia laser đỏ thẳng vào ngực ba người đàn ông đứng trên chiếc thuyền gỗ.</p>



<p>Từ loa phóng thanh vang lên một giọng nói:</p>



<p>— <em>&#8220;Các anh bị lạc à? Hay tàu bị hỏng máy?&#8221;</em></p>



<p>Những người Bắc Hàn đồng thanh hét trả lời:</p>



<p>— <em>&#8220;Xin hãy cứu chúng tôi! Chúng tôi đào thoát!&#8221;</em></p>



<p>Nhưng những chấm laser đỏ vẫn ghim chặt trên ngực họ.</p>



<p>Phía Nam Hàn không dám mạo hiểm.</p>



<p>Ba người đàn ông ấy đều mặc quân phục ngụy trang của quân đội Bắc Hàn — lớp vỏ bọc mà họ buộc phải sử dụng trong cuộc đào thoát sinh tử này.</p>



<p>Trong tuyệt vọng, họ hét xuống khoang thuyền chật hẹp, bảo những người còn lại bước lên boong để chứng minh đây chỉ là dân thường.</p>



<p>Hai đứa trẻ được bế lên đầu tiên.</p>



<p>Một bé gái năm tuổi.</p>



<p>Một bé trai ba tuổi.</p>



<p>Cả hai đều tái nhợt, người mềm nhũn vì say sóng.</p>



<p>Chỉ đến lúc ấy, những chấm laser đỏ mới biến mất.</p>



<p>Nhóm người đào thoát do Kim Il-hyeok và em trai Yi-hyeok dẫn đầu.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/07/QsgJOC9y-image005.jpg?strip=all&fit=288%2C192&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="288" height="192" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/07/QsgJOC9y-image005.jpg?strip=all&fit=288%2C192" alt="" class="wp-image-90903" style="width:430px;height:auto"/></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Kim Il-hyeok, một người đào thoát khỏi Triều Tiên, tại khu phố của ông ở Seoul vào tháng Sáu. Là một người hâm mộ K-Pop, ông từng bị bắt vì tội &#8220;tội phạm tư bản&#8221; ở Triều Tiên. Ảnh: Woohae Cho cho The New York Times.</em></p>



<p>Hai anh em, lúc ấy đều ngoài ba mươi tuổi, cùng mẹ ruột và gia đình nhỏ của mình lên đường.</p>



<p>Đi cùng họ còn có người bạn đời đang mang thai của Il-hyeok; vợ của Yi-hyeok; hai con nhỏ của họ; mẹ vợ và em trai vợ của Yi-hyeok.</p>



<p>Gia đình ấy đào thoát vào năm 2023, thuộc số rất ít người thành công sau khi nhà lãnh đạo Kim Jong-un áp đặt lệnh phong tỏa ngặt nghèo trong thời kỳ đại dịch COVID-19.</p>



<p>Họ đến được miền Nam, mang theo những hiểu biết hiếm hoi về một đất nước đã gần như hoàn toàn bị cắt đứt với thế giới bên ngoài.</p>



<p>Nhiều chi tiết trong cuộc vượt thoát của họ trước đây chưa từng được công bố.</p>



<p>&#8220;Đêm hôm đó,&#8221; Yu-mi — vợ của Yi-hyeok — nhớ lại, &#8220;chúng tôi đã vượt từ một biển tối tăm sang một biển của tự do.&#8221;</p>



<p><strong>Ước nguyện của người cha</strong></p>



<p>Trong nhiều tháng phỏng vấn tại Hàn Quốc, Il-hyeok vẫn giữ phong thái ngang tàng của một người từng tự nhận mình là &#8220;đứa chuyên gây rắc rối&#8221; ở Bắc Hàn.</p>



<p>Yu-mi thì trái ngược hẳn.</p>



<p>Mỗi khi kể chuyện, chị thường co hai chân sát vào người, giọng nói nhỏ nhẹ và dè dặt.</p>



<p>Mẹ chị — người xin được giấu tên dù đồng ý chụp ảnh — cân nhắc từng câu chữ.</p>



<p>Bà vẫn lo sợ rằng bất cứ điều gì mình nói cũng có thể ảnh hưởng đến những người thân còn ở lại miền Bắc.</p>



<p>Nhưng cả ba người đều có chung một sự quả quyết không lay chuyển khi giải thích vì sao họ buộc phải rời bỏ Bắc Hàn.</p>



<p>(Những thành viên khác trong đại gia đình từ chối trả lời phỏng vấn.)</p>



<p>Hai anh em sinh ra tại huyện <strong>Pyoksong</strong>, thuộc vùng tây nam Bắc Hàn.</p>



<p>Trong nạn đói kinh hoàng cuối thập niên 1990, cha của họ — một nhân viên an ninh đường sắt — thường trở về sau những chuyến công tác với những câu chuyện ám ảnh từ các tỉnh bị đói nặng nhất.</p>



<p>Ông kể rằng xác những đứa trẻ gầy trơ xương nằm chết bên ngoài các ga tàu đông cứng như những khúc gỗ.</p>



<p>Khi người ta quẳng chúng lên xe tải chở đi chôn, những thi thể ấy va vào thành xe phát ra những tiếng cộc cộc khô khốc như cá đông lạnh.</p>



<p>Chính người cha là người đầu tiên trong gia đình mất niềm tin vào tầng lớp cầm quyền — những kẻ không thể nuôi nổi chính nhân dân mình.</p>



<p>Một đêm, khi hai con trai đã trưởng thành, ông đưa họ lên một quả đồi.</p>



<p>Ông chỉ về phía những cụm ánh sáng lập lòe bên kia biên giới Nam Hàn.</p>



<p>Rồi nói:</p>



<p>&#8220;Đó mới là nơi chúng ta nên đến.&#8221;</p>



<p>&#8220;Để được sống&#8230; và được ngẩng cao đầu.&#8221;</p>



<p>Yu-mi lớn lên ở thị trấn ven biển <strong>Kangryong</strong>, cách đó không xa.</p>



<p>Từ nơi ấy, chị có thể nhìn thấy những chiếc máy bay lấp lánh dưới nắng khi cất cánh từ sân bay quốc tế Incheon ở phía bên kia mặt biển.</p>



<p>Một hình ảnh tưởng như ở rất gần.</p>



<p>Nhưng với người Bắc Hàn, đó lại là một thế giới không bao giờ với tới được.</p>



<p>Họ bị cấm đi lại.</p>



<p>Không có Internet.</p>



<p>Không có quyền tự do rời khỏi đất nước.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/07/HXjUytKQ-image007.jpg?strip=all&fit=288%2C192&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="288" height="192" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/07/HXjUytKQ-image007.jpg?strip=all&fit=288%2C192" alt="" class="wp-image-90904" style="width:502px;height:auto"/></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Yu-mi, cùng với mẹ vào tháng Sáu, đã mô tả cuộc đào tẩu của họ như việc vượt qua &#8220;từ một biển bóng tối đến một biển tự do.&#8221; (Nguồn ảnh: Woohae Cho cho tờ The New York Times)</em></p>



<p>Ngay từ mẫu giáo, trẻ em đã phải hát bài ca <strong>&#8220;</strong><em>Chúng ta chẳng có gì phải ghen tị&#8221;.</em></p>



<p>Trong khi đó, chính các em lại bị huy động đi gánh nước từ sông hoặc lên núi nhặt thảo dược và hạt thông.</p>



<p>Sau một ngày lao động dài, người lớn lại phải tham gia những buổi <em>&#8220;kiểm điểm </em><em>sinh hoạt</em><strong>&#8220;</strong> bắt buộc.</p>



<p>Ở đó, ai cũng phải viết bản tự phê bình và lời cam kết trung thành với chế độ.</p>



<p>Năm 2013, khi Kim Jong-un đến thăm một hòn đảo gần quê Yu-mi, binh lính và dân làng đồng loạt ùa xuống biển reo hò chào đón.</p>



<p>Yu-mi biết rõ tất cả chỉ là màn dàn dựng.</p>



<p>Theo lời chị, người dân bình thường hôm ấy thậm chí còn bị cấm bước chân ra khỏi nhà.</p>



<p>Giữa bầu không khí tuyên truyền ấy, một nền văn hóa ngầm vẫn âm thầm lan rộng.</p>



<p>Phim ảnh và phim truyền hình Hàn Quốc được chép vào những chiếc USB bí mật tuồn qua biên giới từ Trung Quốc.</p>



<p>Ở Kangryong, chúng còn đến bằng một con đường khác.</p>



<p>Các nhà hoạt động Nam Hàn thả những chai nhựa trôi theo dòng nước.</p>



<p>Bên trong là gạo.</p>



<p>Những cuốn Kinh Thánh cỡ nhỏ.</p>



<p>Và cả USB chứa phim Hàn Quốc.</p>



<p>Chính quyền cảnh báo rằng những chiếc chai ấy có chứa chất độc.</p>



<p>Nhưng sức hấp dẫn của văn hóa đại chúng Hàn Quốc vẫn ngày càng thắng thế.</p>



<p>Il-hyeok đặc biệt hâm mộ các nhóm K-pop như <strong>Girls&#8217; Generation</strong>.</p>



<p>Anh còn để kiểu tóc mohawk giống <strong>Taeyang</strong> của nhóm <strong>BigBang</strong>.</p>



<p>Vì thế, anh từng bị bắt với tội danh <em>&#8220;lối sống tư bản đồi trụy.&#8221;</em></p>



<p>Chỉ sau khi hối lộ, anh mới được thả.</p>



<p>Cái giá phải trả là mái tóc bị cạo sạch.</p>



<p>Có lần, anh cùng bạn bè lén xem bộ phim <strong>&#8220;Valkyrie&#8221;</strong>, trong đó Tom Cruise vào vai một sĩ quan Đức tham gia âm mưu ám sát Hitler.</p>



<p>Khi kế hoạch thất bại và những người tham gia bị xử tử, đám bạn của Il-hyeok đã khóc.</p>



<p>Với hai anh em, ý nghĩ đào thoát khỏi Bắc Hàn cũng nguy hiểm chẳng khác gì số phận của những người trong bộ phim ấy.</p>



<p>Cha họ từng cấm hai con lấy vợ.</p>



<p>Ông cho rằng gia đình càng đông người thì càng khó trốn thoát mà không bị phát hiện.</p>



<p>Sau đó, ông dùng các mối quan hệ để chuyển Yi-hyeok đến Kangryong.</p>



<p>Ở đó, Yi-hyeok học nghề hàng hải, bí mật ghi nhớ vị trí các chốt canh và tạo dựng quan hệ với quan chức địa phương.</p>



<p>Anh trở thành một <em>thợ lặn mũ sắt</em>, chuyên lặn xuống đáy biển khai thác hải sản bằng hệ thống ống dẫn khí từ mặt nước.</p>



<p>Chính tại đây, anh gặp Yu-mi.</p>



<p>Trong khi đó, Il-hyeok sống bằng nền kinh tế chợ đen.</p>



<p>Anh dùng tiền hối lộ để tìm cơ hội làm ăn và cũng dùng tiền để thoát khỏi rắc rối.</p>



<p>Anh mổ gia súc cho các nhà hàng.</p>



<p>Điều hành một mỏ vàng nhỏ.</p>



<p>Mua gạo bị lấy cắp từ kho dự trữ quốc gia rồi bán lại kiếm lời.</p>



<p>Nhưng càng sống trong hệ thống ấy, anh càng mất hết niềm tin vào nó.</p>



<p>Rồi đến năm 2014, cha anh đột ngột qua đời.</p>



<p>Giấc mơ đến Nam Hàn dường như cũng chết theo ông.</p>



<p>Nếu Il-hyeok luôn nóng nảy và bất an thì Yi-hyeok lại điềm tĩnh hơn nhiều.</p>



<p>Năm 2017, anh kết hôn với Yu-mi.</p>



<p>Không lâu sau, hai người có hai con.</p>



<p>Yi-hyeok gia nhập một công ty đánh cá thuộc quân đội và điều khiển ba chiếc tàu.</p>



<p>Bất chấp lệnh cấm của Liên Hiệp Quốc, thương lái Trung Quốc vẫn công khai đến Kangryong thu mua hải sản.</p>



<p>Chỉ cần một ngày đánh bắt thuận lợi, Yi-hyeok có thể kiếm được số tiền bằng cả năm lương của một công nhân bình thường.</p>



<p>Il-hyeok cũng bắt đầu yêu một cô giáo mẫu giáo.</p>



<p>Ý định đào thoát dần lùi xuống phía sau.</p>



<p>&#8220;Mỗi lần tôi nhắc đến chuyện đó,&#8221; Il-hyeok kể, &#8220;thằng em đều bảo tôi liệu cái miệng.&#8221;</p>



<p>Rồi đại dịch ập đến.</p>



<p><strong>Khởi đầu mới</strong></p>



<p>Trước khi họ đặt chân lên bờ, một sĩ quan Hải quân Hàn Quốc giơ nắm tay lên và hô lớn:</p>



<p><em>&#8220;Fighting!&#8221;</em><em></em></p>



<p>Từ tiếng Anh ấy — vốn được người Hàn Quốc dùng như một lời động viên, khích lệ — hoàn toàn xa lạ với những người vừa trốn chạy khỏi miền Bắc.</p>



<p>&#8220;Nhưng ông ấy mỉm cười và bắt tay từng người chúng tôi,&#8221; Yu-mi nhớ lại. &#8220;Thế là chúng tôi đoán rằng ông ấy đang chúc gia đình mình mọi điều tốt đẹp.&#8221;</p>



<p>Ở Hàn Quốc, Yu-mi theo học để lấy chứng chỉ kế toán và sau đó tìm được việc làm tại một trường học. Người em trai của cô ghi danh vào đại học, còn Yi-hyeok quay trở lại nghề lặn bằng mũ bảo hộ để khai thác hải sản.</p>



<p>&#8220;Anh trai tôi thường đùa rằng thiết bị lặn ở đây hiện đại đến mức anh ấy có thể ngủ một giấc dưới đáy biển nếu muốn,&#8221; Il-hyeok kể.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/07/pnyPLe8x-image011.jpg?strip=all&fit=288%2C192&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="288" height="192" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/07/pnyPLe8x-image011.jpg?strip=all&fit=288%2C192" alt="" class="wp-image-90906" style="width:516px;height:auto"/></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Kim Il-hyeok đang khoe những bức ảnh về lễ cưới của mình ở Seoul. Khi họ trốn thoát, vợ ông lúc đó đang mang thai sáu tháng. Ảnh: Woohae Cho cho tờ The New York Times.</em></p>



<p>Người bạn gái của Il-hyeok sinh đứa con đầu lòng của họ trên đất Hàn Quốc. Hai người kết hôn vào năm 2024, rồi không lâu sau lại đón thêm một bé gái nữa.</p>



<p>Il-hyeok vẫn đang loay hoay tìm chỗ đứng trong nền kinh tế thị trường của miền Nam. Anh làm đủ nghề để mưu sinh: khi thì phục vụ tại nhà hàng, lúc lái xe nâng, khi điều khiển máy xúc.</p>



<p>Việc bước chân vào một nền dân chủ ồn ào và náo nhiệt khiến họ không khỏi choáng ngợp.</p>



<p>Truyền hình có vô số kênh để lựa chọn — hoàn toàn trái ngược với miền Bắc, nơi người dân chỉ được phép xem các chương trình phát sóng của nhà nước.</p>



<p>Ngày trước, ở quê nhà, chiếc xe máy cũ của Il-hyeok từng là một biểu tượng đáng tự hào. Thế nhưng giờ đây, anh phải ngỡ ngàng khi nhìn thấy những xa lộ ken đặc ô tô đời mới.</p>



<p>Khắp các quảng trường trong thành phố, người dân xuống đường biểu tình.</p>



<p>Mẹ của Yu-mi thì kinh ngạc trước những chiếc vòi nước có thể chảy ra cả nước nóng lẫn nước lạnh.</p>



<p>Ngày đầu tiên đi làm tại một viện dưỡng lão, bà lúng túng khi đồng nghiệp nhờ lấy <em>&#8220;napkin&#8221;</em> — một từ tiếng Anh mà bà chưa từng nghe đến trong suốt cuộc đời mình.</p>



<p>Mẹ của hai anh em Il-hyeok còn sửng sốt hơn khi xem một bộ phim truyền hình Hàn Quốc có cảnh người vợ tát chồng.</p>



<p>Còn Il-hyeok thì, trong lần đầu tiên rời khỏi Seoul để đi nơi khác, đã cẩn thận gọi điện cho viên cảnh sát điều tra phụ trách hồ sơ của mình, xin phép được ra khỏi thành phố.</p>



<p>Người cảnh sát chỉ biết bật cười.</p>



<p>Rồi đến&#8230; những cuộc bầu cử.</p>



<p>Ở Bắc Triều Tiên, người dân mặc quần áo chỉnh tề, xếp hàng nhận lá phiếu chỉ có duy nhất một cái tên.</p>



<p>Họ bỏ phiếu vào ô <strong>&#8220;Đồng ý&#8221;</strong> bằng cả hai tay, rồi cúi đầu thật sâu trước chân dung cha và ông nội của Kim Jong-un — hai người từng cai trị đất nước trước ông.</p>



<p>Không ai dám bước tới ô <strong>&#8220;Không đồng ý.&#8221;</strong></p>



<p>Khi Il-hyeok và vợ lần đầu tiên đi bỏ phiếu với tư cách công dân Hàn Quốc vào tháng Sáu, họ thấy cử tri đến điểm bỏ phiếu trong quần đùi, dép lê, tai vẫn đeo tai nghe.</p>



<p>Tấm phiếu bầu trước mặt họ là cả một danh sách dài những cái tên.</p>



<p>Điều đó khiến họ gần như không biết phải bắt đầu từ đâu.</p>



<p>Nhưng Hàn Quốc cũng không phải là thiên đường.</p>



<p>Chỉ sau mười chín tháng đặt chân tới miền Nam, Yi-hyeok đã thiệt mạng trong một tai nạn khi đang lặn biển vào cuối năm 2024.</p>



<p>Mẹ của hai anh em và người vợ của Il-hyeok đều lần lượt được chẩn đoán mắc bệnh ung thư.</p>



<p>Il-hyeok cũng không giấu nổi sự thất vọng trước giá nhà đất leo thang ở Seoul.</p>



<p>Anh chắt chiu từng đồng, mong một ngày có thể đưa gia đình rời khỏi căn hộ thuê chật hẹp do chính phủ trợ cấp.</p>



<p>Thế nhưng, anh vẫn khẳng định rằng quyết định đào tẩu là lựa chọn <em>&#8220;đúng một trăm phần trăm.&#8221;</em></p>



<p>Trước khi qua đời, Yi-hyeok từng xuất hiện trên truyền hình, giải thích rằng anh bỏ trốn chỉ vì muốn các con mình không phải lớn lên trong nền giáo dục nhồi sọ của Bắc Triều Tiên.</p>



<p>Hiện nay, con gái anh đã học lớp Hai tại một trường tiểu học ở Hàn Quốc, còn cậu con trai đang học mẫu giáo.</p>



<p>Chính bọn trẻ là những người thích nghi nhanh nhất với cuộc sống mới.</p>



<p>Chẳng bao lâu, chúng đã mê tít những món ăn rất Hàn Quốc như gà rán và pizza.</p>



<p>&#8220;Chồng tôi đã trao cho mẹ con tôi thứ tự do mà anh từng hứa trước khi qua đời,&#8221; Yu-mi nói.</p>



<p>Hai anh em cũng đã hoàn thành tâm nguyện cuối cùng của người cha.</p>



<p>Đêm con thuyền rời khỏi Bắc Triều Tiên, họ mang theo cả hũ tro cốt của ông.</p>



<p><strong>Choe Sang-Hun</strong><br><em>Tường thuật từ Seoul</em><br><br></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Andrew Weissmann: VƯƠNG QUỐC CỦA KẺ DỐI LỪA-CHƯƠNG 4: DANH DỰ BỊ ĐÁNH CẮP</title>
		<link>https://t-van.net/andrew-weissmann-vuong-quoc-cua-ke-doi-lua-chuong-4/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[ChatGPT]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 22 Jul 2026 06:59:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[ChatGPT DỊCH THUẬT - TỦ SÁCH THẾ GIỚI]]></category>
		<category><![CDATA[VƯƠNG QUỐC CỦA KẺ DỐI LỪA]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=90837</guid>

					<description><![CDATA[Nguyên Tác: LIAR’S KINGDOM Tác Giả: Andrew Weissmann (Chuyển ngữ tiếng Việt: ChatGPT; Hiệu đính (và chịu trách nhiệm): T.Vấn) TÁC GIẢ &#38; TÁC PHẨM CHƯƠNG 4 DANH DỰ BỊ ĐÁNH CẮP Liệu chúng ta có thể làm gì để ngăn các chính trị gia nói dối về những sự kiện thực tế và buộc [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/06/hinh-bia.webp?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="474" height="717" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/06/hinh-bia.webp?strip=all" alt="" class="wp-image-90238" style="width:330px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/06/hinh-bia-198x300.webp 198w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/06/hinh-bia.webp?strip=all 474w" sizes="(max-width: 474px) 100vw, 474px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><strong>Nguyên Tác: LIAR’S KINGDOM</strong></p>



<p><strong>Tác Giả: Andrew Weissmann</strong></p>



<p><em>(Chuyển ngữ tiếng Việt: ChatGPT; Hiệu đính (và chịu trách nhiệm): T.Vấn)</em></p>



<p><a href="https://t-van.net/andrew-weissmann-vuong-quoc-cua-ke-doi-tra-gioi-thieu-tac-gia-tac-pham/"><strong>TÁC GIẢ &amp; TÁC PHẨM</strong></a></p>



<p><strong>CHƯƠNG 4</strong></p>



<p><strong>DANH DỰ BỊ ĐÁNH CẮP</strong></p>



<p>Liệu chúng ta có thể làm gì để ngăn các chính trị gia nói dối về những sự kiện thực tế và buộc họ phải chịu trách nhiệm nếu họ làm vậy không? Câu trả lời ngắn gọn là có. Ở đây, cũng như trong rất nhiều lĩnh vực khác, pháp luật có thể giúp chúng ta — nếu chúng ta cho phép nó làm như vậy. Lĩnh vực pháp luật không giống thế giới khoa học — một lĩnh vực mà cha tôi đã sống trọn đời. Trong khoa học, không có điều gì chúng ta làm có thể thay đổi sự tồn tại của lực hấp dẫn chẳng hạn. Nhưng trong pháp luật, chúng ta có thể kiến tạo thế giới theo cách chúng ta mong muốn.</p>



<p>Nhưng các đạo luật của Quốc hội không được viết trên một tấm bảng trắng. Có những hàng rào hiến định giới hạn những đạo luật mà Quốc hội có thể ban hành: đó là các ranh giới mà luật thành văn của Hoa Kỳ phải tuân theo. Tại trường luật nơi tôi giảng dạy — và thực ra ở tất cả các trường luật — sinh viên học về hệ thống phân cấp cơ bản của luật pháp quốc gia. Hiến pháp liên bang đứng ở vị trí cao nhất, còn các đạo luật của Quốc hội phải phục tùng nó. Điều này có nghĩa là Quốc hội không thể thông qua một đạo luật vi phạm Hiến pháp — ví dụ, một đạo luật không được xâm phạm quyền tự do ngôn luận được bảo đảm trong Tu chính án Thứ nhất. Đây là một nguyên tắc nền tảng của luật pháp Hoa Kỳ, vì vậy bất kỳ bước đi nào nhằm điều chỉnh phát ngôn của các chính trị gia bằng luật thành văn cũng phải đứng về phía đúng của Hiến pháp.</p>



<p>Điều này không đơn giản như nghe có vẻ vậy. (Chào mừng đến với ngành luật — nơi mọi thứ có thể nhanh chóng trở nên phức tạp.) Ở trường luật, sinh viên của tôi học rằng Hiến pháp hiếm khi đưa ra một câu trả lời rõ ràng và cụ thể cho một vấn đề pháp lý. Trong những trường hợp như vậy, các tòa án phải diễn giải văn bản Hiến pháp dựa trên chính ngôn từ của tài liệu đó cũng như sự kết hợp giữa bối cảnh lịch sử, thực tiễn, các nguyên tắc pháp lý và tiền lệ xét xử. Đã có vô số tranh luận được viết ra về cách mà các tòa án nên tiến hành quá trình “giải nghĩa” này.</p>



<p>Trong hệ thống phân quyền của chúng ta, Tòa án Tối cao là cơ quan phân xử tối hậu về cách diễn giải Hiến pháp. Các phán quyết của tòa tạo thành một hệ thống án lệ xác định những hàng rào hiến định đó. Một vụ việc có thể phát sinh nếu Quốc hội thông qua một đạo luật mà họ tin là phù hợp với Hiến pháp, nhưng một người bị ảnh hưởng bởi đạo luật ấy lại thách thức nó sau khi luật được ban hành. Vụ kiện yêu cầu các tòa án xác định liệu đạo luật đó có thực sự vượt qua được bài kiểm tra hiến pháp hay không. Các tòa án không được yêu cầu quyết định sự khôn ngoan của đạo luật — tức là liệu các thẩm phán có ban hành luật đó nếu họ ở trong Quốc hội hay không — mà chỉ xem liệu đạo luật ấy có vi phạm Hiến pháp hay không. Các thẩm phán được kỳ vọng chỉ quyết định vấn đề đó, ngay cả khi họ cho rằng đạo luật ấy thiếu khôn ngoan, ghê tởm hoặc tàn nhẫn.</p>



<p>Trong trường hợp cụ thể của chúng ta, để mọi việc thêm khó khăn, Tòa án Tối cao chưa trực tiếp giải quyết vấn đề một đạo luật có thể kiềm chế những lời nói dối chính trị như thế nào. Như giới luật sư chúng tôi thường nói, không có vụ án nào “trực tiếp liên quan.” Trường hợp gần nhất mà Tòa án từng xem xét là vụ United States v. Alvarez năm 2012. Khi chúng ta đối diện với câu hỏi làm thế nào để buộc Trump và các chính trị gia khác phải chịu trách nhiệm vì nói dối, vụ án này cung cấp chỉ dẫn tốt nhất về những lựa chọn trước mắt chúng ta.</p>



<p>Bị đơn trong vụ án tại Tòa án Tối cao này là Xavier Alvarez, một thành viên được bầu của Hội đồng Quản trị Khu Thủy lợi Three Valleys ở California. Trong một cuộc họp công khai của hội đồng năm 2007, Alvarez tuyên bố rằng ông đã được trao Huân chương Danh dự của Quốc hội, là một lính thủy đánh bộ nghỉ hưu và là cựu binh bị thương. Tất cả đều là bịa đặt. Thực tế, Alvarez có cả một lịch sử bịa chuyện ly kỳ: ông từng tuyên bố mình đã chơi khúc côn cầu chuyên nghiệp, từng kết hôn với một minh tinh Mexico, từng phục vụ trong lực lượng thủy quân lục chiến suốt hai mươi lăm năm và bị thương nhiều lần. Ông nói rằng mình đã giải cứu đại sứ Mỹ trong cuộc khủng hoảng con tin Iran và, như thể chừng đó chưa đủ oanh liệt, còn bị bắn vào lưng khi quay trở lại đại sứ quán để cứu lá cờ Mỹ. Tất cả đều bị cho là dối trá. Như Tòa án Tối cao nhận xét, nói dối “là thói quen của ông ta.”</p>



<p>Alvarez bị truy tố hình sự theo một đạo luật liên bang cụ thể, Đạo luật Stolen Valor năm 2005. Luật này quy định việc một người giả mạo “bằng lời nói hoặc văn bản rằng bản thân đã được trao bất kỳ huân chương hay huy chương nào do Quốc hội cho phép dành cho Lực lượng Vũ trang Hoa Kỳ” là một tội nhẹ. Hình phạt được tăng từ tối đa sáu tháng lên một năm tù nếu lời nói dối liên quan đến Huân chương Danh dự.</p>



<p>Nếu bạn nghĩ rằng lời nói dối của Trump về gian lận bầu cử tổng thống là một trường hợp cá biệt, hãy từ bỏ ý nghĩ đó khi nhìn vào cuộc khủng hoảng trung thực đã khiến Quốc hội ban hành Đạo luật Stolen Valor. Đạo luật này là phản ứng trước một “dịch bệnh những tuyên bố giả mạo về huân chương quân đội,” như lời một thẩm phán Tòa án Tối cao sau này nhận xét về vụ án. Chỉ trong một năm, hơn 600 cư dân bang Virginia đã giả mạo việc mình từng nhận Huân chương Danh dự. Đó mới chỉ là một năm ở một bang. Trong số 333 người được liệt kê trên mạng trong danh bạ Who’s Who là đã nhận một huân chương quân sự cao cấp, có tới một phần ba không thể xác minh được. Những giai thoại thực tế cũng chẳng khá hơn: một thẩm phán tuyên bố mình được trao không phải một mà là hai Huân chương Danh dự, dù thực tế ông chưa từng nhận cái nào — dẫu vậy ông vẫn trưng bày cả hai huy chương giả trong phòng xử án của mình.</p>



<p>Trước khi bị xét xử với cáo buộc vi phạm Đạo luật Stolen Valor, Alvarez đã nộp đơn yêu cầu bác bỏ vụ án chống lại ông. Ông lập luận rằng đạo luật này vi phạm Tu chính án Thứ nhất — chính xác là điều mà tôi cũng sẽ lập luận nếu tôi là luật sư bào chữa của ông ta. Đó là công việc của luật sư: nghĩ ra những lập luận sáng tạo và thiện chí để bảo vệ thân chủ. Bạn phải là người biện hộ nhiệt thành cho họ, nhưng luôn trong giới hạn của pháp luật và chịu ràng buộc bởi nghĩa vụ trung thực với tòa án. Bạn dốc toàn lực để bảo đảm thân chủ có được quyền được bào chữa hiệu quả và buộc chính phủ phải đáp ứng gánh nặng chứng minh tội lỗi vượt quá mọi nghi ngờ hợp lý.</p>



<p>Luật sư của Alvarez đã làm điều đó, nhưng yêu cầu của ông bị bác bỏ, ít nhất là ở cấp tòa sơ thẩm ban đầu. Sau khi thua kiến nghị, Alvarez nhận tội thay vì ra tòa xét xử — nhưng ông bảo lưu quyền kháng cáo dựa trên Tu chính án Thứ nhất. Ông thực hiện điều đó, và vào tháng 2 năm 2012, vụ kháng cáo của ông đã lên tới tận Tòa án Tối cao, trao cho các thẩm phán cơ hội quyết định liệu Đạo luật Stolen Valor năm 2005 có vi phạm Tu chính án Thứ nhất hay không.</p>



<p>Alvarez và luật sư kiên trì của mình đã thắng tại Tòa án Tối cao — nhưng quyết định của tòa chỉ tuyên đạo luật vi hiến trên những căn cứ hẹp, và chỉ yêu cầu chỉnh sửa nhẹ đối với đạo luật trong tương lai. Quốc hội đã ban hành những sửa đổi đó, và Đạo luật Stolen Valor năm 2013, được sửa đổi để phù hợp với phán quyết của Tòa án Tối cao, hiện vẫn còn hiệu lực. Nhưng với cá nhân Alvarez, đó là một chiến thắng lớn, vì luật hình sự mới ấy không thể áp dụng hồi tố đối với hành vi của ông.</p>



<p>Vụ Alvarez không tạo ra được một ý kiến đa số — nghĩa là không có ý kiến nào nhận được sự ủng hộ của ít nhất năm trong số chín thẩm phán Tòa án Tối cao. Như Thẩm phán Sandra Day O’Connor từng nói đùa nổi tiếng: “Cuối cùng thì, ở Tòa án Tối cao là chuyện đạt được năm phiếu.” Không có ý kiến nào trong vụ Alvarez đạt được con số năm đó. Nhưng lập luận trong ba ý kiến riêng biệt vẫn rất hữu ích đối với chúng ta, bởi chúng hé lộ những con đường khả dĩ phía trước cũng như những trở ngại tiềm tàng trong việc buộc các chính trị gia phải chịu trách nhiệm vì nói dối.</p>



<p>Ba ý kiến khác nhau trong vụ Alvarez là những gì tốt nhất mà Tòa án Tối cao để lại để định hướng cách chúng ta suy nghĩ về tính hợp hiến của các giải pháp khả dĩ cho mớ hỗn độn chính trị hiện nay. Nhưng có một điều hết sức rõ ràng: bởi không có ý kiến nào trong ba ý kiến thu thập được đủ năm phiếu thuận, nên không tồn tại một “án lệ ràng buộc” nào quy định dứt khoát pháp luật đòi hỏi điều gì. Chúng ta chỉ có sự chỉ dẫn từ ba nhóm thẩm phán khác nhau, và thậm chí không phải tất cả những thẩm phán đó hiện nay vẫn còn ngồi trên ghế Tòa án Tối cao.</p>



<p>Trong việc bảo vệ vụ truy tố Alvarez, chính phủ Hoa Kỳ được đại diện bởi luật sư kháng cáo hàng đầu của chính phủ, Tổng Biện lý Hoa Kỳ Donald Verrilli Jr. đầy đáng gờm. (Tôi gặp Verrilli lần đầu khi ông học trên tôi một khóa tại Trường Luật Columbia và là tổng biên tập của tạp chí luật. Khi ấy tất cả chúng tôi đều biết ông sẽ làm nên chuyện lớn.) Ông lập luận rằng lời nói sai sự thật có thể kiểm chứng được không phục vụ lợi ích nào của Tu chính án thứ Nhất và tự thân không đáng được Hiến pháp bảo vệ. Chính phủ cho rằng thông qua đạo luật này, Quốc hội đang theo đuổi mục tiêu hoàn toàn chính đáng là bảo vệ tính toàn vẹn của Huân chương Danh dự và những người thực sự nhận được nó. Rốt cuộc, Verrilli lập luận, tất cả những kẻ giả mạo nhận huân chương đang làm mất giá đồng tiền chung của xã hội, thậm chí có thể khiến công chúng nghi ngờ vô căn cứ đối với những anh hùng thực sự đã được trao huân chương. Đạo luật không cấm người dân chỉ trích quân đội, cũng không hạn chế phát biểu về việc trao huân chương nói chung hay về huân chương này đối với bất kỳ cá nhân nhận thưởng nào.</p>



<p>Sáu thẩm phán bác bỏ lập luận của chính phủ, với những lý do khác nhau, và cho rằng đạo luật vi phạm Tu chính án thứ Nhất. Dù điều đó nghe có vẻ như một thất bại nặng nề cho chính phủ, nhưng thực tế hoàn toàn không phải vậy. Cả sáu vị thẩm phán ấy đều đồng ý với một giải pháp điều chỉnh nhằm cứu vãn đạo luật chỉ với vài thay đổi nhỏ. Và ba vị thẩm phán bất đồng quan điểm thì sẽ giữ nguyên đạo luật như đã được viết. Vì vậy, trên thực tế, ngoại trừ một vài sửa đổi tương đối nhỏ, việc Quốc hội cấm phát ngôn sai sự thật về huân chương quân sự đã được cả chín thẩm phán chấp nhận.</p>



<p>Trong ba ý kiến của vụ Alvarez, ý kiến do Thẩm phán Anthony Kennedy (nay đã nghỉ hưu) soạn thảo là ý kiến thù địch nhất với tính hợp hiến của đạo luật Quốc hội, đồng thời cũng cảnh báo chúng ta về những trở ngại lớn nhất tiềm tàng đối với một đạo luật điều chỉnh phát ngôn chính trị. Ý kiến của Kennedy được Chánh án John Roberts và các Thẩm phán Ruth Bader Ginsburg cùng Sonia Sotomayor tham gia ký tên. (Thành phần Tòa án đã thay đổi kể từ năm 2012, và chỉ còn hai trong số bốn vị này vẫn còn tại nhiệm: Roberts và Sotomayor. Sự thay đổi nhân sự tương tự cũng ảnh hưởng đến sức sống tiềm tàng của hai ý kiến còn lại trong Alvarez.)</p>



<p>Ý kiến của Kennedy, về cốt lõi, là một sự mâu thuẫn và được hiểu rõ nhất qua câu ngạn ngữ cũ: “Những gì tôi làm chế giễu những gì tôi nói.” Kennedy mở đầu bằng việc tuyên bố rằng cách để xử lý lời nói dối của Alvarez là “phản biện bằng lời nói.” Ông giải thích: “Biện pháp chữa trị cho lời nói sai sự thật là lời nói đúng sự thật. Đó là diễn tiến bình thường trong một xã hội tự do.” Chúng ta biết rằng tư tưởng này bắt nguồn từ “thị trường ý tưởng” của Holmes. Nhưng cuối cùng, Kennedy lại sẽ chấp nhận một phiên bản mới của đạo luật mang dáng dấp kỳ lạ giống với chính đạo luật mà ông bỏ phiếu bác bỏ.</p>



<p>Kennedy buộc phải thừa nhận rằng Quốc hội từ lâu đã điều chỉnh lời nói, cả trong lĩnh vực dân sự lẫn hình sự, theo vô số cách mà Tòa án Tối cao đã phê chuẩn. Chẳng hạn, khi ai đó nói dối để thực hiện hành vi gian lận hoặc nhằm đạt được lợi ích vật chất, thì “đã được xác lập vững chắc rằng Chính phủ có thể hạn chế lời nói mà không xúc phạm Tu chính án thứ Nhất,” Kennedy viết. Đó là lý do tôi có thể truy tố những lời nói dối của Kenneth Lay và Jeffrey Skilling theo các đạo luật vượt qua được thử thách hợp hiến. Phỉ báng và lời nói gắn liền với hành vi phạm tội là những ví dụ khác về các loại phát ngôn không được Tu chính án thứ Nhất bảo vệ, Kennedy thừa nhận. Và chính khuôn khổ pháp lý ấy đã cho phép Dominion kiện Fox cũng như vụ Freeman/Moss kiện Giuliani.</p>



<p>Kennedy cũng buộc phải thừa nhận rằng các đạo luật về tội khai man có “tính hợp hiến không thể nghi ngờ.” Ông đưa ra hai lý do: những lời khai man theo định nghĩa là sai sự thật, và lời khai man “đối nghịch với công lý” vì nó khiến tòa án có nguy cơ đưa ra “một phán quyết không dựa trên sự thật.” Do đó, khai man phá hoại chức năng và vai trò của tòa án, vốn “là nền tảng của hệ thống pháp luật.” Kennedy đưa ra nhận xét tương tự đối với những tuyên bố sai sự thật, dù không dưới lời tuyên thệ, khi được đưa ra với các cơ quan liên bang (đạo luật đã được dùng để truy tố Martha Stewart, Paul Manafort và vô số người khác).</p>



<p>Nói cách khác, Kennedy buộc phải thừa nhận rằng Tòa án hầu như chưa bao giờ áp dụng một cách nhất quán nguyên tắc cho rằng phương thuốc tốt nhất chống lại lời nói dối là sự thật — mô hình của Holmes. Thay vào đó, pháp luật thường xuyên điều chỉnh bằng dân sự và thậm chí hình sự hóa lời nói sai sự thật.</p>



<p>Tuy nhiên, Kennedy lo ngại rằng lập trường của chính phủ trong vụ Alvarez sẽ mở đường cho việc hình sự hóa một phạm vi phát ngôn quá rộng, cho phép Chính phủ “lập ra danh sách các chủ đề mà phát ngôn sai sự thật sẽ bị trừng phạt.” Điều này khiến Kennedy kết luận rằng khi chính phủ tiến hành “điều chỉnh lời nói dựa trên nội dung,” các tòa án cần phải áp dụng “sự xem xét nghiêm ngặt.”</p>



<p>Dù Kennedy tỏ ra cảnh giác, nhưng tiêu chuẩn “xem xét nghiêm ngặt” được ông đề cao thực tế lại có thể được đáp ứng chỉ bằng vài thay đổi nhỏ đối với Đạo luật Stolen Valor. Vấn đề của đạo luật này, theo Kennedy, chỉ là nó quá rộng. Đối với ông, vấn đề nằm ở chỗ đạo luật có thể bao trùm cả những người phát biểu trong các bối cảnh mà thiệt hại là rất nhỏ, thậm chí không tồn tại. Nó áp dụng đối với những phát ngôn sai sự thật “ở bất kỳ thời điểm nào, tại bất kỳ nơi nào, với bất kỳ ai.” Mặc dù Xavier Alvarez đưa ra phát biểu của mình trong một diễn đàn công khai, nhưng về mặt kỹ thuật, đạo luật cũng áp dụng cả với một cuộc trò chuyện thì thầm riêng tư “trong nhà.” Hơn nữa, đạo luật không yêu cầu lời nói dối phải được đưa ra “nhằm đạt được lợi ích vật chất” hay “lợi thế” nào, mà bao gồm cả những lời khoác lác đơn thuần. Với những chỉnh sửa ấy, khẩu hiệu cho rằng “phương thuốc” đối với lời nói sai sự thật là lời nói đúng sự thật dường như có thể bị gạt sang một bên.</p>



<p>Đáng chú ý đối với mục đích của chúng ta, hai “tội lỗi” trong Đạo luật Stolen Valor năm 2005 mà Kennedy nêu ra sẽ không tạo trở ngại đối với một đạo luật điều chỉnh những lời nói dối về bầu cử. Một đạo luật mới điều chỉnh lời nói dối chính trị hoàn toàn có thể tránh được hai vấn đề mà Kennedy xác định trong Đạo luật Stolen Valor. Những lời nói dối chính trị mà chúng ta quan tâm là những lời được đưa ra trước công chúng và nhằm mục đích đạt được lợi thế bầu cử. Miễn là đạo luật mới không điều chỉnh lời nói thuần túy riêng tư, và lời nói bị hạn chế được thực hiện nhằm đạt lợi ích hay lợi thế vật chất nào đó, thì các vấn đề mà Kennedy nêu ra trong Alvarez sẽ không còn phù hợp. Thật vậy, sự khẳng định của Kennedy trong Alvarez rằng Quốc hội có lợi ích chính đáng trong việc điều chỉnh hành vi khai man cũng áp dụng tương tự đối với một đạo luật của Quốc hội nhằm hạn chế những lời nói dối phá hoại tiến trình bầu cử — nếu không muốn nói là còn áp dụng mạnh mẽ hơn. Sẽ là sự kiêu ngạo nghề nghiệp nếu chúng ta phân biệt trong hệ thống hiến pháp của mình rằng những đạo luật về phát ngôn sai sự thật ảnh hưởng đến một phiên tòa thì nguy hại hơn những lời nói dối ảnh hưởng đến lá phiếu của cử tri.</p>



<p>Hai ý kiến còn lại của Tòa án Tối cao trong vụ Alvarez, dù ít thù địch hơn với Đạo luật Stolen Valor năm 2005, vẫn rất quan trọng đối với mục đích của chúng ta. Chúng chứa đựng những suy ngẫm của năm thẩm phán khác về các loại quy định đối với phát ngôn mà họ lo ngại trong tương lai — từ đó cho chúng ta hình dung rõ hơn về những giới hạn mà một đạo luật điều chỉnh lời nói dối chính trị có thể sẽ phải tuân theo.</p>



<p>Thẩm phán Stephen Breyer — người từ đó cũng đã rời Tòa án — viết ý kiến thứ hai trong vụ Alvarez, một ý kiến đồng tình với Kennedy, nhưng không hoàn toàn vì cùng những lý do ấy. Thẩm phán Elena Kagan là vị thẩm phán duy nhất khác ký vào ý kiến của Breyer, vốn chọn một lập trường trung dung: đồng ý với kết luận của Kennedy rằng đạo luật quá rộng, nhưng Breyer áp dụng một tiêu chuẩn pháp lý mềm dẻo hơn, cho phép Quốc hội có khoảng linh hoạt lớn hơn trong việc điều chỉnh phát ngôn sai sự thật. Thay vì áp dụng tiêu chuẩn “xem xét nghiêm ngặt” như Kennedy (điều mà giới luật gia chúng tôi thường gọi là “strict scrutiny”), Breyer cho rằng một tiêu chuẩn thấp hơn — “xem xét trung gian” — mới là phép thử phù hợp.</p>



<p>Người ta hoàn toàn có thể đặt câu hỏi liệu mức độ xem xét thấp hơn mà Breyer đề xuất có thực sự cần thiết hay không, khi mà Quốc hội chỉ cần điều chỉnh rất nhỏ để khiến đạo luật đáp ứng tiêu chuẩn “nghiêm ngặt” mà Kennedy đưa ra. Tạm gác điểm tranh cãi đó sang một bên, cách tiếp cận trung dung của Breyer liên quan đến việc cân bằng nhiều yếu tố, phần lớn chỉ là lẽ thường được khoác lên lớp áo pháp lý. Ông xác định và cân nhắc nhiều lợi ích khác nhau: bản chất và tầm quan trọng của các mục tiêu của Đạo luật Stolen Valor, mức độ mà đạo luật đạt được các mục tiêu đó, những tác hại trực tiếp và gián tiếp đối với Tu chính án thứ Nhất do đạo luật gây ra, và liệu có những cách ít gây hại hơn để đạt được mục tiêu của Quốc hội hay không. Với những độc giả chưa từng học luật, đây là ví dụ điển hình cho việc trong một vụ án pháp lý thường tồn tại nhiều nguyên tắc và giá trị cạnh tranh lẫn nhau, cũng như lý do vì sao các tòa án khó có thể vạch ra một ranh giới cứng nhắc áp dụng cho mọi vụ việc trong tương lai. Các vụ án không được quyết định bằng những tuyên bố nguyên tắc rộng lớn và táo bạo, mà bằng việc cân bằng các giá trị cạnh tranh, có tính đến các tình tiết cụ thể của vụ việc.</p>



<p>Breyer thừa nhận lợi ích mạnh mẽ của chính phủ trong việc cấm các phát ngôn cố ý sai sự thật về việc nhận huân chương quân sự. Ông thẳng thắn đồng ý rằng những lời nói dối như vậy khó có thể được biện minh là đóng góp vào một cuộc thảo luận quan trọng về các ý tưởng. Ông viết rằng những phát biểu sai sự thật về mặt thực tế “ít có khả năng hơn những phát biểu đúng sự thật trong việc đóng góp giá trị cho thị trường ý tưởng.” Chính vì vậy, ông lưu ý rằng các án lệ trước đây của Tòa án Tối cao “thường xuyên nói hoặc hàm ý” rằng các phát biểu sai sự thật về thực tế chỉ được hưởng rất ít sự bảo vệ từ Tu chính án thứ Nhất. Chỉ vài năm trước đó, Tòa án đã từng tuyên bố rằng những phát biểu sai sự thật về thực tế “đặc biệt vô giá trị.” Thực tế, Tòa án thậm chí còn đi xa đến mức nói rằng những phát biểu như vậy “không xứng đáng được bảo vệ theo Hiến pháp.”</p>



<p>Tuy nhiên, Breyer có xác định một tác hại gián tiếp khả dĩ của Đạo luật Stolen Valor. Ngay cả khi các phát biểu sai sự thật về thực tế bản thân chúng có rất ít hoặc không có giá trị, đạo luật vẫn có khả năng gây hiệu ứng lạnh đối với phát ngôn trung thực và từ đó tạo ra tác động lan tỏa không thể chấp nhận được. Breyer thừa nhận rằng Đạo luật Stolen Valor đã giảm thiểu nguy cơ đó bằng cách chỉ áp dụng đối với những sự kiện rõ ràng và có thể kiểm chứng, chứ không áp dụng với việc biểu đạt ý tưởng về “triết học, tôn giáo, lịch sử, khoa học xã hội, nghệ thuật và những lĩnh vực tương tự.” Như Breyer viết: “Nguy cơ đàn áp các ý tưởng có giá trị thấp hơn khi, như ở đây, các quy định liên quan đến những phát biểu sai sự thật về các sự kiện dễ dàng kiểm chứng và không liên quan đến các lĩnh vực chủ đề đó.” Ý tưởng ở đây là, bằng việc hình sự hóa lời nói dối cố ý về việc nhận Huân chương Danh dự, chính phủ khó có khả năng làm người dân chùn bước trong việc bày tỏ quan điểm về những chủ đề khác, kể cả những chủ đề có liên hệ gần gũi như việc sử dụng, chức năng hay giá trị của quân đội hoặc tiêu chí trao thưởng của quân đội.</p>



<p>Sau khi giải thích những dè dặt này, Breyer chuyển sang mối lo ngại mà theo tôi mới thực sự là động lực cho ý kiến đồng tình của ông — việc truy tố có chọn lọc. Breyer lo rằng nếu Tòa án cho phép hình sự hóa những phát biểu sai sự thật, điều đó có thể vô tình trao “một vũ khí cho chính phủ.” Ông cho rằng “những người không được ưa chuộng” có thể sợ rằng chính phủ sẽ sử dụng vũ khí đó chống lại họ, chỉ truy tố những phát biểu sai sự thật khi chúng xuất phát từ các cá nhân hoặc tổ chức mà chính phủ không ưa thích. Đạo luật có thể nằm đó như khẩu súng của Chekhov, chờ được sử dụng chống lại các đối thủ chính trị. Trong “các bối cảnh chính trị,” Breyer nhận xét hoàn toàn đúng rằng lời nói dối thậm chí có thể gây hại nhiều hơn, bởi nguy cơ “tính chọn lọc mang tính kiểm duyệt” của phe đang cầm quyền. Breyer sắc sảo khi đảo ngược lập luận về tính phổ biến của lời nói dối, chỉ ra rằng việc truy tố có chọn lọc càng trở thành nguy cơ lớn hơn trong bối cảnh “sự lan tràn của các phát biểu sai sự thật.” Chính sự phổ biến của lời nói dối làm gia tăng nguy cơ rằng, khi chính phủ thực thi một đạo luật chống phát biểu sai sự thật, họ có thể chọn nhắm vào những kẻ mà họ xem là kẻ thù — tương tự như cách chúng ta từng chứng kiến cảnh sát ở một số địa phương sử dụng các vi phạm giao thông thông thường để nhắm mục tiêu có chọn lọc vào các nhóm thiểu số.</p>



<p>Tôi hoàn toàn đồng cảm với những lo ngại của Breyer. Chính quyền Trump nhiệm kỳ đầu và giai đoạn đầu của nhiệm kỳ thứ hai cho thấy những nỗi sợ như vậy không hề viển vông hay giả định. Khi nhánh hành pháp kêu gọi điều tra và truy tố các đảng viên Dân chủ, xem Đảng Dân chủ là mối đe dọa khủng bố nội địa, và tìm cách áp dụng pháp luật một cách ưu ái hơn đối với các đồng minh của tổng thống, chúng ta biết rằng việc truy tố có chọn lọc, ác ý và mang tính trả đũa là vấn đề hoàn toàn có thật. Chỉ cần nhìn vào ví dụ DOJ thậm chí từ chối điều tra “Sa hoàng Biên giới” Tom Homan, người được cho là bị bắt quả tang trong một chiến dịch gài bẫy khi nhận một túi của chuỗi thức ăn nhanh Cava chứa 50.000 đô la tiền mặt. Hoặc cứ hỏi James Comey, người mà chính quyền Trump, bằng một cách gượng ép, đã tìm cách truy tố bằng chính đạo luật về phát biểu sai sự thật như thứ vũ khí được lựa chọn. Kinh nghiệm của chính tôi trong cuộc điều tra Mueller đã cho tôi thấy ví dụ về một “phiên tòa trình diễn” đối với một đối thủ chính trị ở Ukraine: đó là vụ của Yulia Tymoshenko, đối thủ chính trị của Tổng thống Ukraine Viktor Yanukovych. Vụ truy tố bà bị phương Tây lên án rộng rãi như một ví dụ điển hình của truy tố có chọn lọc, không chỉ vì nghi ngờ về độ tin cậy của chứng cứ chống lại bà, mà còn vì tội danh đó vốn thường xuyên bị vi phạm nhưng hiếm khi bị thực thi.</p>



<p>Tuy nhiên, vấn đề trong phân tích của Breyer là nguy cơ rất thực của việc truy tố có chọn lọc tồn tại bất kể Đạo luật Stolen Valor năm 2005 có hiện diện hay không. Mối lo của Breyer không phải điều gì đặc thù đối với đạo luật này. Ở Hoa Kỳ, có hàng nghìn đạo luật hình sự hiện hành, bao gồm cả các tội liên quan đến phát biểu sai sự thật, có thể bị một tổng thống hoặc bộ trưởng tư pháp vô đạo đức biến thành công cụ. Đạo luật Stolen Valor chỉ là thêm một đạo luật nữa có thể bị lạm dụng. Không đạo luật nào trong số này là vi hiến chỉ vì chúng có thể bị lạm dụng bởi một nhánh hành pháp tha hóa. Bản thân đạo luật không bất hợp pháp; điều đáng lẽ phải bất hợp pháp chính là cách thức thực thi của kẻ lạm dụng. Giải pháp cho nỗi lo về truy tố có chọn lọc phải được xử lý trong chính cấu trúc pháp lý mà Tòa án Tối cao đã dựng lên để đánh giá các khiếu nại về truy tố có chọn lọc, ác ý và trả đũa do bị cáo nêu ra. Và cấu trúc ấy gần như bất khả xuyên thủng, đồng thời rất cần được cải cách.</p>



<p>Về lập luận của Breyer rằng nói dối là chuyện thường nhật (và do đó các đạo luật xử lý lời nói dối dễ bị biến thành công cụ lạm dụng), điều đó hoàn toàn không dẫn tới kết luận rằng chúng ta không nên điều chỉnh lời nói dối bằng bất kỳ cách nào. Chẳng lẽ chúng ta cũng nên ngừng điều chỉnh tội phạm một khi quyết định rằng chúng được thực hiện quá phổ biến? Lập luận tương tự đối với lời nói dối chính trị sẽ thật đáng kinh ngạc: điều đó có nghĩa là chúng ta không chỉ nên trông đợi chúng, mà còn phải dung túng chúng. Sự phổ biến là lý do để hành động, chứ không phải để khoanh tay đứng nhìn.</p>



<p>Breyer không đề cập tới một vấn đề liên quan đến truy tố có chọn lọc, nhưng điều đó đáng để được lưu ý. Điều gì xảy ra nếu đảng đang cầm quyền tìm cách quy trách nhiệm cho một thành viên của phe đối lập về một phát biểu đúng sự thật dưới vỏ bọc rằng nó là sai sự thật? Sẽ có gần như vô hạn những phát biểu như vậy mà một chính quyền tha hóa có thể lựa chọn để nhắm tới. May mắn thay, hệ thống tư pháp hình sự được thiết kế chính xác để xử lý vấn đề này. Có nhiều cơ chế kiểm soát được tích hợp sẵn, kết hợp với nhau nhằm ngăn cản một đảng thống trị truy tố thành công các đối thủ của mình. Các luật sư của Bộ Tư pháp có thể phản đối (một rào cản vốn theo truyền thống hoạt động hiệu quả, nhưng đã cho thấy có những lỗ hổng). Đại bồi thẩm đoàn (gồm các công dân bình thường) có thể từ chối truy tố mục tiêu của chính phủ vì thiếu căn cứ hợp lý. Chúng ta đã chứng kiến điều này lặp đi lặp lại trong chính quyền Trump nhiệm kỳ hai, dù hiện tượng ấy gần như chưa từng xuất hiện trong các chính quyền Cộng hòa hay Dân chủ thông thường. Một bồi thẩm đoàn xét xử (cũng được bố trí tương tự) có thể tuyên trắng án với lý do tội danh chưa được chứng minh vượt quá sự nghi ngờ hợp lý, và các tòa án có thể bác bỏ phán quyết có tội nếu thấy nó không được chứng cứ hỗ trợ đầy đủ.</p>



<p>Tuy nhiên, những cơ chế kiểm soát mang tính hệ thống như vậy chỉ là sự bảo vệ một phần trước mối nguy này — bởi ngay cả khi tất cả đều hoạt động, người bị nhắm tới vẫn sẽ phải chịu một cuộc điều tra tốn kém và mất thời gian, cùng khả năng bị đưa ra xét xử. Một lần nữa, cứ hỏi James Comey về khả năng này. Hơn nữa, chỉ riêng mối đe dọa về một cuộc điều tra và truy tố sai trái như vậy cũng có thể khiến người ta tự kiểm duyệt lời nói của mình — điều mà, dưới thời Trump, tôi cho rằng đang nhanh chóng xảy ra rồi.</p>



<p>Kịch bản ác mộng này là lý do Bộ Tư pháp có một quy định nội bộ được ghi trong Justice Manual rằng, như một vấn đề của “sự công bằng căn bản,” sẽ không có vụ truy tố nào “được khởi xướng chống lại bất kỳ ai trừ khi luật sư của chính phủ tin rằng chứng cứ có thể chấp nhận được là đủ để đạt được và duy trì một phán quyết có tội từ một người xét xử sự kiện vô tư.” Quy định này tồn tại nhằm ngăn việc một người phải đối mặt với cáo buộc khi chính phủ không có đủ lý do để tin rằng họ sẽ đạt được một bản án hợp lệ tại phiên tòa và có thể bảo vệ nó khi kháng cáo. Theo kinh nghiệm của tôi, quy tắc này (vốn là một chuẩn mực chứ không phải luật có thể cưỡng chế thi hành) đã được tuân thủ trong mọi chính quyền Dân chủ và Cộng hòa khác mà tôi từng làm việc cùng. Nó giúp ngăn chặn tình huống dường như đã rõ ràng xảy ra trong các vụ Letitia James và James Comey: ngay cả khi chính phủ đáp ứng tiêu chuẩn thấp về căn cứ hợp lý để có được cáo trạng từ đại bồi thẩm đoàn, họ không được phép truy tố một người trừ khi có đủ cơ sở để tin rằng họ có thể đáp ứng gánh nặng chứng minh cao hơn nhiều tại phiên tòa — chứng minh vượt quá sự nghi ngờ hợp lý trước một bồi thẩm đoàn nhất trí.</p>



<p>Các thẩm phán Tòa án Tối cao ký vào ý kiến thứ ba trong vụ Alvarez phản đối kết luận rằng đạo luật vi phạm Tu chính án Thứ nhất, nhưng bất chấp đánh giá đó, họ đã đưa ra những nhận xét liên quan trực tiếp tới việc điều chỉnh các lời nói dối chính trị. Thẩm phán Samuel Alito viết bản ý kiến phản đối, với sự tham gia của các Thẩm phán Clarence Thomas và Antonin Scalia, người sau này đã qua đời.</p>



<p>Ý kiến của Alito ca ngợi, một cách đúng đắn, quân đội và hệ thống huân chương. “Chỉ những người dũng cảm nhất trong những người dũng cảm mới được trao Huân chương Danh dự của Quốc hội,” ông viết trong câu mở đầu mạnh mẽ của bản phản đối, “thế nhưng hôm nay Tòa án lại cho rằng mọi người Mỹ đều có quyền hiến định để tuyên bố rằng mình đã nhận được phần thưởng độc nhất vô nhị này.” Trong cơn phẫn nộ cao độ, ông tiếp tục đặt câu hỏi liệu có hợp lý không khi Quốc hội kết luận rằng mục tiêu bảo vệ tính toàn vẹn của các huân chương quân sự xứng đáng được bảo vệ tương tự như cách pháp luật ngăn chặn việc làm giả “đồng hồ sang trọng và túi xách hàng hiệu.” Luật nhãn hiệu bảo vệ các mặt hàng xa xỉ chính hãng khỏi sự tràn lan của hàng nhái. Liệu các huân chương quân sự, Alito mỉa mai hỏi, lại không xứng đáng được bảo vệ như vậy sao?</p>



<p>Alito bác bỏ quan điểm của Kennedy rằng để Đạo luật Stolen Valor không bị quá rộng một cách không thể chấp nhận, đạo luật phải yêu cầu lời nói dối về việc được trao huân chương quân sự phải “gây ra thiệt hại cụ thể.” Theo Alito, mọi lời nói dối như vậy đều gây tổn hại cho những người thực sự nhận huân chương và cho chính hệ thống huân chương quân sự. Trong một màn phản bác đầy tính tu từ khác, Alito nhận xét rằng “trừ khi ngay cả một tổn thất tài chính nhỏ — chẳng hạn một đô la đưa cho một người vô gia cư giả vờ là cựu binh được trao huân chương — lại quan trọng hơn trong con mắt của Tu chính án Thứ nhất so với thiệt hại gây ra cho chính tính toàn vẹn của hệ thống huân chương quân sự, thì không có cơ sở nào để phân biệt giữa Đạo luật Stolen Valor và các đạo luật thay thế mà ý kiến đa số tương đối và ý kiến đồng tình dường như sẵn sàng duy trì.” Alito so sánh những lời nói dối mà Đạo luật Stolen Valor trừng phạt với tội khai báo gian dối với chính phủ, điều mà Tòa án Tối cao trước đây từng cho là hợp hiến ngay cả khi không có chứng minh về thiệt hại tài sản cho chính phủ hay lợi ích dành cho kẻ nói dối. Tòa án cho rằng đạo luật chống khai báo gian dối là hợp hiến vì nó đáp ứng nhu cầu bảo vệ chính phủ khỏi “sự bóp méo có thể phát sinh từ các hành vi lừa dối.” Với Đạo luật Stolen Valor cũng vậy, như Alito sắc sảo nhận xét.</p>



<p>Tuy nhiên, trong bản phản đối của mình, Alito thực sự cố tình thừa nhận rằng việc hình sự hóa lời nói dối có thể đặt ra những vấn đề liên quan đến Tu chính án Thứ nhất. Dù ông tin rằng những phát biểu sai sự thật về mặt thực tế không xứng đáng được Tu chính án Thứ nhất bảo vệ “vì chính bản thân chúng,” ông vẫn công nhận rằng cần phải mở rộng một mức độ “bảo vệ chiến lược” để đảm bảo có “không gian hô hấp cho lời nói được bảo vệ.” Nói cách khác, ông đồng ý với các thẩm phán khác rằng việc bảo vệ lời nói sai sự thật có thể là cần thiết để không làm nguội lạnh những phát biểu chân thật về các vấn đề công cộng. Alito đặc biệt cảnh báo chống lại các đạo luật hạn chế những phát biểu sai sự thật về các lĩnh vực như triết học, tôn giáo, lịch sử và khoa học xã hội. Theo quan điểm của ông, sự điều chỉnh như vậy sẽ “đặt ra nguy cơ nghiêm trọng và không thể chấp nhận được đối với việc đàn áp lời nói chân thật.” Ông lo ngại điều này không phải vì “không tồn tại thứ gọi là thật hay giả” hoặc vì “sự thật luôn bất khả xác định.” Đúng hơn, ông sợ hậu quả của việc cho phép nhà nước trở thành “trọng tài của sự thật.” Để minh họa, ông hỏi rằng nếu một số phát biểu sai sự thật về các sự kiện lịch sử có thể bị cấm, thì “mức độ chắc chắn về sự sai sự thật phải cao đến đâu thì lệnh cấm mới có thể được duy trì?” Và ai, ông hỏi, nên là người đưa ra sự đánh giá đó? Giống như các thẩm phán khác, Alito lo ngại rằng dù Đạo luật Stolen Valor có thể đáng giá, tòa án vẫn cần cảnh giác để nó không “mở cánh cửa cho nhà nước sử dụng quyền lực của mình cho các mục đích chính trị.”</p>



<p>Bất chấp những câu hỏi chính đáng đó, phản ứng của Quốc hội đối với phán quyết Alvarez — phiên bản năm 2013 của Đạo luật Stolen Valor — hiện vẫn có hiệu lực và đang được thực thi ngày nay. Đạo luật hình sự hóa các tuyên bố sai sự thật về huân chương quân sự, nhưng chỉ khi chúng được đưa ra “với ý định đạt được tiền bạc, tài sản hoặc lợi ích hữu hình khác.” Không phải mọi lời nói dối công khai về huân chương quân sự đều nằm trong phạm vi của đạo luật sửa đổi, và phiên bản mới của luật thậm chí còn ít có khả năng áp dụng cho các giao tiếp riêng tư hơn. (Trớ trêu thay, Xavier Alvarez — dù được miễn việc bị truy tố lại theo đạo luật sửa đổi — có thể đã đáp ứng các yêu cầu bổ sung này nếu ông bị truy tố theo phiên bản mới của luật, bởi vì có cơ sở thực tế để chính phủ cho rằng ít nhất một số phát biểu sai sự thật của ông được đưa ra nhằm “gian dối để đạt được những lợi ích nhất định.”)</p>



<p>Bộ Tư pháp đã khởi tố các vụ án hình sự theo Đạo luật Stolen Valor cải tiến năm 2013. Trong một vụ án, bị cáo Randall J. Montour, có lẽ để tăng triển vọng việc làm của mình, đã làm giả giấy chứng nhận giải ngũ quân đội để thể hiện rằng ông được giải ngũ danh dự và đã nhận nhiều huân chương Không quân, bao gồm cả Purple Heart. Đã thế, ông còn xin và nhận được biển số xe đặc biệt dành cho người nhận Purple Heart cho chiếc xe của mình. Thực tế, ông không được giải ngũ danh dự và cũng không nhận Purple Heart. Trong một vụ truy tố khác, bị cáo Derek Robert Hamm tự nhận mình là cựu thành viên Lực lượng Đặc nhiệm Lục quân đã “phục vụ nhiều đợt tại Iraq, Afghanistan” và các quốc gia khác. Ông khoe khoang rằng mình đã nhận không chỉ một mà nhiều huân chương quân sự: Purple Heart, Bronze Star, Silver Star và Distinguished Service Cross. Hình tượng đầy huân chương này được Hamm dùng để thu hút nhà đầu tư. Nhưng như bạn có lẽ đã đoán ra: tất cả đều là dối trá. Như các tòa án mô tả, Derek Hamm được cắt ra từ cùng một tấm vải với Xavier Alvarez. Có lẽ ông ta từng nghĩ: chơi lớn hoặc về nhà; nhưng giờ thì nhà chính là nhà tù. Ông bị truy tố vì vi phạm đạo luật năm 2013 (cùng các tội danh khác) và bị kết án mười một năm tù.</p>



<p>Mọi thách thức đối với phiên bản cải tiến năm 2013 của Đạo luật Stolen Valor đều đã bị bác bỏ. Chưa có thách thức pháp lý nào lên tới Tòa án Tối cao, nhưng nếu có thì khả năng thành công là cực kỳ thấp, xét đến tính hạn chế của những khiếm khuyết trong đạo luật năm 2005 được xác định trong Alvarez và những sửa đổi đã bịt kín các khoảng trống đó.</p>



<p>Đối với bất kỳ ai hy vọng ngăn Donald Trump và các chính trị gia khác tiếp tục gây tổn hại cho nền dân chủ Mỹ bằng những lời nói dối của họ, tiền lệ được thiết lập trong Alvarez cho thấy rõ rằng Hiến pháp không đặt những phát biểu sai sự thật ngoài mọi phạm vi điều chỉnh của Quốc hội. Điều đó có nghĩa là chúng ta — với tư cách nhân dân, hành động thông qua các đại diện quốc hội của mình — có thể ban hành các đạo luật để kiềm chế chúng, nếu chúng ta lựa chọn làm vậy. Và mặc dù những đạo luật ấy chắc chắn sẽ bị thách thức tại tòa, chúng vẫn có thể vượt qua sự xem xét nếu được đưa lên Tòa án Tối cao, miễn là phạm vi của chúng — và tác động của chúng đối với lời nói chân thật — được giới hạn.</p>



<p>Vậy chính xác thì chúng ta cân bằng điều đó như thế nào? Làm thế nào để xây dựng một đạo luật vừa bảo vệ tự do ngôn luận vừa buộc các chính trị gia phải chịu trách nhiệm?</p>



<p>Đây là những câu hỏi quan trọng. May mắn thay, chúng ta không đơn độc trong việc đặt ra và tìm lời giải cho chúng. Các quốc gia khác cũng đã đối mặt với mối đe dọa từ những lời nói dối chính trị — và không giống Hoa Kỳ, họ đã trực tiếp giải quyết vấn đề ấy. Những xã hội dân chủ khác đang đi trước chúng ta trong nỗ lực xử lý vấn đề phát ngôn chính trị sai sự thật mà vẫn trung thành với hiến pháp của mình, và họ đã làm điều đó theo nhiều cách khác nhau. Khi nền dân chủ của chính chúng ta đang loạng choạng trong bóng tối, những ví dụ này soi sáng nhiều con đường phía trước.</p>



<p>(Còn Tiếp)</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>AI có thể thay đổi cách các bác sĩ suy nghĩ như thế nào</title>
		<link>https://t-van.net/ai-co-the-thay-doi-cach-cac-bac-si-suy-nghi-nhu-the-nao/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[ChatGPT]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 20 Jul 2026 06:06:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[ChatGPT]]></category>
		<category><![CDATA[Trí tuệ nhân tạo AI]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=90623</guid>

					<description><![CDATA[The NYT: How A.I. Might Change the Way Doctors Think (ChatGPT chuyển ngữ. T.Vấn biên tập và hiệu đính)] AI có thể thay đổi cách các bác sĩ suy nghĩ như thế nào Tác Giả: Helen Ouyang(Helen Ouyang là bác sĩ và phó giáo sư y học cấp cứu.) Một trong những công việc đầu [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/07/wcyYxunu-image001.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="363" height="440" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/07/wcyYxunu-image001.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-90624" style="width:459px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/07/image001-248x300.jpg 248w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/07/wcyYxunu-image001.jpg?strip=all 363w" sizes="(max-width: 363px) 100vw, 363px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><a href="https://www.nytimes.com/2026/07/01/magazine/ai-medical-scribes-doctors.html">The NYT: How A.I. Might Change the Way Doctors Think</a></p>



<p>(ChatGPT chuyển ngữ. T.Vấn biên tập và hiệu đính)]</p>



<h2 class="wp-block-heading"><strong>AI có thể thay đổi cách các bác sĩ suy nghĩ như thế nào</strong></h2>



<p><strong>Tác Giả: </strong><strong>Helen Ouyang</strong><br><em>(</em><em>Helen Ouyang là bác sĩ và phó giáo sư y học cấp cứu.</em><em>)</em></p>



<p>Một trong những công việc đầu tiên đánh dấu bước khởi đầu của một sinh viên y khoa là học cách <strong>viết hồ sơ bệnh án lâm sàng (clinical note)</strong><strong>.</strong> Ngay cả trước khi học xong các môn giải phẫu học và sinh lý học, sinh viên đã được đưa đến giường bệnh cùng với một bác sĩ hướng dẫn, rồi được yêu cầu quay lại với một bản tường trình bằng văn bản về những gì đã diễn ra: bệnh nhân đã kể những gì, bác sĩ quan sát được điều gì, và sau này, khi đã có thêm kinh nghiệm, những chẩn đoán nào có thể giải thích các triệu chứng của bệnh nhân cũng như hướng điều trị thích hợp.</p>



<p>Khi còn học trường y, tôi cảm thấy công việc ấy giống như một nghi thức nhập môn trang trọng mà mình phải nỗ lực mới giành được — một trong những nghi lễ khiêm nhường, qua đó một sinh viên bắt đầu tập suy nghĩ và hành xử như một bác sĩ thực thụ.</p>



<p>Lúc đó, chúng tôi đến bệnh viện là để học. Chưa phải gánh trách nhiệm điều trị cho một danh sách bệnh nhân của riêng mình, nên chúng tôi có rất nhiều thời gian để viết những ghi chép ấy. Nhưng khi trưởng thành thành các bác sĩ nội trú, rồi sau đó là bác sĩ điều trị chính thức, khoảng thời gian ấy không còn nữa. Việc viết bệnh án cũng không còn mang lại cảm giác vinh dự như trước.</p>



<p>Nó trở thành một công việc mệt mỏi, dường như tách rời khỏi điều cốt lõi của nghề y: trò chuyện với bệnh nhân, suy nghĩ về các triệu chứng của họ và, nếu có thể, giúp họ khỏe lại. Nhiều người trong chúng tôi bắt đầu xem việc viết bệnh án là một công việc chẳng mấy liên quan đến việc chăm sóc người bệnh — thậm chí đôi khi còn cản trở việc ấy. Nếu lấy lại được tất cả những giờ đồng hồ đã mất cho việc ghi chép, liệu chúng tôi có thể chăm sóc bệnh nhân tốt hơn không?</p>



<p>Vì thế, khi bệnh viện nơi tôi làm việc với tư cách bác sĩ cấp cứu đưa vào sử dụng các trợ lý trí tuệ nhân tạo — những chương trình lặng lẽ lắng nghe cuộc trò chuyện giữa bác sĩ và bệnh nhân qua điện thoại rồi tự động tạo ra những bản ghi chép hoàn chỉnh và chi tiết — tôi rất háo hức muốn thử.</p>



<p>Vài năm trước đó, khi phỏng vấn giám đốc điều hành của một công ty hàng đầu chuyên phát triển <strong>AI ghi chép y khoa</strong>, tôi đã nghe nói về tiềm năng của công nghệ này. Khi ông mô tả sản phẩm của mình, tôi hình dung ra phiên bản bác sĩ mà mình sẽ trở thành: một người chữa bệnh tốt hơn, biết lắng nghe hơn, có thể ung dung dành nhiều thời gian hơn cho bệnh nhân bên giường bệnh, thay vì cúi gằm trước máy tính và gõ bàn phím liên tục.</p>



<p>(Và thú thật, tôi cũng ích kỷ hy vọng điều đó sẽ cải thiện cả những lần chính tôi đi khám bệnh. Mỗi năm tôi chỉ gặp bác sĩ của mình một lần, nhưng hầu như suốt buổi khám, mắt bà đều dán vào màn hình máy tính trong khi hai tay không ngừng gõ bàn phím.)</p>



<p>Đó cũng chính là viễn cảnh mà các công ty phát triển <strong>AI ghi chép y khoa</strong> đang quảng bá tới các cơ sở y tế.</p>



<p>Các công ty khởi nghiệp trong lĩnh vực này mọc lên ngày càng nhiều. Kể từ năm 2019, họ đã huy động được gần <strong>5 tỷ đô la Mỹ</strong>, với lời hứa vừa giúp giảm tình trạng kiệt sức của nhân viên y tế, vừa nâng cao hiệu quả hoạt động của toàn bộ hệ thống chăm sóc sức khỏe.</p>



<p>Trong một nghiên cứu được công bố năm ngoái, <strong>toàn bộ 43 hệ thống bệnh viện phi lợi nhuận tại Hoa Kỳ</strong> hoàn thành khảo sát đều cho biết họ đang phát triển, thử nghiệm hoặc đã triển khai các công cụ AI ghi chép.</p>



<p>Dĩ nhiên, không phải bác sĩ nào cũng sẽ lựa chọn sử dụng công nghệ này — mặc dù áp lực từ các tổ chức y tế trong tương lai có thể khiến việc sử dụng nó giống như một yêu cầu bắt buộc hơn là một lựa chọn cá nhân. Tuy vậy, tại một số phòng khám và khoa điều trị, tỷ lệ áp dụng đã lên tới <strong>80%</strong>.</p>



<p>Adam Rodman, giáo sư Trường Y Harvard và giám đốc các chương trình AI tại Viện Carl J. Shapiro về Giáo dục và Nghiên cứu, gần đây nhận xét trong một chương trình podcast rằng AI có lẽ là &#8220;<strong>công nghệ y học được tiếp nhận nhanh nhất trong lịch sử</strong>&#8220;.</p>



<p>Trong vô số khả năng đầy hứa hẹn mà AI mang lại cho y học — từ chẩn đoán các bệnh hiếm gặp, dự đoán nguy cơ mắc bệnh của từng cá nhân cho đến khám phá các loại thuốc mới — thì một trong những ứng dụng đã bám rễ vững chắc nhất trong ngành y hiện nay lại chính là khả năng <strong>lắng nghe cuộc trò chuyện giữa bác sĩ và bệnh nhân rồi nhanh chóng tạo ra hồ sơ bệnh án</strong>.</p>



<p>Quá trình này không đơn thuần chỉ là chép lại nguyên văn cuộc đối thoại đã được ghi âm. Một <strong>AI ghi chép y khoa</strong> sẽ <strong>trích lọc</strong>, <strong>tổng hợp</strong> thông tin từ cuộc trò chuyện ấy — đôi khi còn đưa ra cả cách diễn giải riêng — rồi tạo thành một văn bản được trình bày đúng cấu trúc và văn phong của một bệnh án lâm sàng.</p>



<p>Và phải nói rằng, bản bệnh án mà AI tạo ra <strong>đẹp đến mức khó chê</strong>.</p>



<p>Không còn lỗi chính tả. Ngữ pháp chuẩn xác. Câu văn đầy đủ, mạch lạc.</p>



<p>Rất nhiều bác sĩ cảm thấy hài lòng. Tôi cũng vậy.</p>



<p>Suy cho cùng, chẳng phải đó vẫn luôn là sức hấp dẫn lớn nhất của AI hay sao? Nó hứa hẹn giải phóng chúng ta khỏi tất cả những công việc tẻ nhạt, lặp đi lặp lại và tiêu tốn thời gian.</p>



<p>Chỉ đến sau này tôi mới bắt đầu tự hỏi: liệu trong quá trình ấy, có điều gì cũng đang âm thầm mất đi hay không?</p>



<p>Ít nhất ở thời điểm hiện nay, việc để AI viết bệnh án có lẽ là cách an toàn nhất để đưa công nghệ này vào hệ thống chăm sóc sức khỏe trên quy mô lớn. Đây là một ứng dụng có mức độ rủi ro thấp, còn rất xa so với viễn cảnh đáng sợ hơn nhiều là để máy móc tự đưa ra những quyết định sinh tử về điều trị.</p>



<p>Không có gì đáng ngạc nhiên khi các AI ghi chép y khoa lan rộng nhanh đến vậy.</p>



<p>Suốt nhiều năm, các hệ thống bệnh viện vẫn phải nghe các bác sĩ than phiền rằng máy tính đã trở thành vật cản giữa họ và bệnh nhân. Và giờ đây, cuối cùng họ cũng sẵn sàng đầu tư vào một công nghệ dường như hứa hẹn sẽ đưa mọi thứ trở lại như trước.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/07/20fkeT4v-image003.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="600" height="728" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/07/20fkeT4v-image003.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-90625" style="width:396px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/07/image003-247x300.jpg 247w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/07/20fkeT4v-image003.jpg?strip=all 600w" sizes="(max-width: 600px) 100vw, 600px" /></a></figure></div>


<p>Trong khoa Cấp cứu, cuộc trao đổi giữa bệnh nhân và bác sĩ hiếm khi diễn ra theo một trình tự mạch lạc, gọn gàng. Một bệnh nhân bắt đầu bằng việc kể về cơn đau ngực, rồi quay lại nhắc đến cơn sốt; sau đó mới nhớ ra mình đã tự ngừng uống một loại thuốc; đến khi người vợ gợi ý, ông mới kể thêm tiền sử gia đình có bệnh tim; rồi đúng lúc cuộc khám gần kết thúc, ông lại bổ sung thêm một triệu chứng nữa.</p>



<p>Thế nhưng, trợ lý AI lại có thể biến cuộc đối thoại vòng vo, ngập ngừng và rời rạc ấy thành một bản tóm lược lâm sàng gọn ghẽ, mạch lạc — tưởng như một phép màu. Toàn bộ sự lộn xộn rất con người của buổi khám được trả lại cho tôi chỉ chưa đầy một phút sau, dưới dạng một bản ghi hoàn chỉnh, sạch sẽ và được chấm câu không chê vào đâu được.</p>



<p>Trong một thời gian sau khi bắt đầu sử dụng AI ghi chép, vai trò của tôi trong việc tạo lập hồ sơ bệnh án dường như trở nên hết sức đơn giản: đọc bản nháp, sửa những chỗ sai và ký xác nhận. Nhanh biết bao. Dễ dàng biết bao.</p>



<p>Nhưng rồi chính quy trình ấy bắt đầu khiến tôi thấy bất an. Tôi dần nhận ra rằng việc <strong>biên tập một bản ghi do người khác tạo ra</strong> không đòi hỏi ở tôi cùng một kiểu tư duy như <strong>tự mình viết nên bản ghi ấy</strong>.</p>



<p>Tôi không còn phải tự lần theo diễn tiến của cuộc gặp với bệnh nhân, không còn phải nghiền ngẫm ý nghĩa của những thông tin mình vừa thu thập được. Thay vào đó, tôi chỉ đang kiểm tra một phiên bản mà người khác — hay đúng hơn là cỗ máy — đã hoàn thành sẵn cho mình.</p>



<p>Thoạt đầu, sự khác biệt ấy có vẻ rất nhỏ.</p>



<p>Dẫu sao thì bản ghi cũng được tạo ra từ chính những cuộc khám của tôi, từ những điều đã được nói trong phòng khám. Và sau đó tôi vẫn đọc lại, chỉnh sửa và hiệu đính những gì AI viết ra.</p>



<p>Nhưng theo thời gian, tôi mới nhận ra rằng <strong>một phần rất lớn quá trình tư duy của chính mình vốn đã gắn chặt với hành động viết bệnh án.</strong></p>



<p>Nhà tâm lý học hành vi, đồng thời là người đoạt Giải Nobel Kinh tế Daniel Kahneman, từng phân biệt hai phương thức phán đoán của con người.</p>



<p>Một là những trực giác nhanh chóng, gần như xuất hiện tức thì.</p>



<p>Hai là kiểu suy luận chậm rãi hơn, đòi hỏi nhiều nỗ lực hơn, luôn đặt câu hỏi và kiểm chứng lại những trực giác ban đầu ấy.</p>



<p><em>Người bác sĩ phải vận dụng cả hai.</em></p>



<p>Nhiều khi, ngay từ lúc bước vào phòng bệnh, tôi đã mơ hồ cảm nhận được chẩn đoán, dù lúc ấy chưa thể giải thích đầy đủ vì sao mình nghĩ như vậy. Nhưng chính trong quá trình viết bệnh án, tôi buộc mình phải chậm lại để thực hiện phần suy luận có chủ đích ấy.</p>



<p>Việc viết ghi chú giúp tôi hình thành lập luận chuyên môn của mình, rồi lại tự kiểm tra xem lập luận ấy có thật sự đứng vững hay không.</p>



<p>Nếu tôi nhận thấy mình đang cố gắng quá mức để giải thích cho qua những triệu chứng của bệnh nhân; cố gắng quá mức để gạt đi một dấu hiệu sinh tồn đáng lo; hoặc cố gắng quá mức để ép một kết quả bất thường vào một câu chuyện nghe có vẻ yên tâm hơn, thì có lẽ chính tôi cần phải xem xét lại kết luận của mình.</p>



<p>Liệu tôi đã thực sự loại trừ được khả năng nào đó một cách thuyết phục như mình tưởng chưa?</p>



<p>Liệu tôi có đang bám quá nhanh vào một chẩn đoán ban đầu?</p>



<p>Có thể bệnh nhân cần được hỏi thêm một câu nữa, khám thêm một lần nữa hoặc làm thêm một xét nghiệm nữa.</p>



<p>Cuối cùng, điều quan trọng là <strong><em>bạn phải tự thuyết phục được chính mình, trước khi thuyết phục bất kỳ ai khác.</em></strong></p>



<p>Khi phần lao động nhận thức ấy được giao cho máy móc đảm nhiệm, tôi dần nhận ra rằng công việc của mình cũng thay đổi theo.</p>



<p>Ngay cả khi tôi cố gắng nói thành lời toàn bộ lập luận chuyên môn của mình để AI ghi lại, thì việc ấy vẫn hoàn toàn khác với việc tự tay viết bệnh án.</p>



<p>Tôi không còn sử dụng từng câu chữ trong bản ghi để tự suy nghĩ về ca bệnh bằng chính ngôn từ của mình; để quyết định điều gì cần nhấn mạnh, điều gì nên diễn đạt nhẹ đi; hoặc để nhận ra ngay trong lúc viết rằng lập luận của mình đang bắt đầu gượng ép.</p>



<p>Khác với khi đọc ghi âm để soạn bệnh án, tôi cũng không còn nhìn thấy từng câu chữ của chính mình hiện lên trên màn hình theo thời gian thực.</p>



<p>Với bản ghi do AI tạo ra, tôi chỉ còn làm công việc <strong><em>kiểm toán sau cùng</em></strong><strong><em>.</em></strong></p>



<p>Nó giống như trò chơi &#8220;Tìm Waldo&#8221; vậy.</p>



<p>Điều gì đang bị thiếu?</p>



<p>Bản ghi này có đi chệch hướng không?</p>



<p>Nếu có thì chệch ở chỗ nào?</p>



<p>Điều đó lại càng khó hơn bởi bản nháp của AI luôn xuất hiện với giọng văn trôi chảy, tự tin và đầy sức thuyết phục.</p>



<p>Nó nghe <strong><em>quá đúng</em></strong>.</p>



<p>Sự thay đổi trong tư duy ấy không phải bắt đầu khi AI hoàn thành bản ghi.</p>



<p>Nó đã bắt đầu ngay từ trong phòng khám.</p>



<p>Bởi vì tôi biết AI đang ghi âm, nên tôi không còn lắng nghe bệnh nhân theo cách trước đây nữa.</p>



<p>Trước khi AI xuất hiện, trong lúc bệnh nhân kể chuyện, tôi luôn âm thầm dựng nên trong đầu một mạch diễn biến, ghép từng mảnh thông tin lại với nhau để biết câu hỏi tiếp theo cần đặt là gì.</p>



<p>Khi có AI bên cạnh, công việc ấy bị trì hoãn.</p>



<p><em>Cứ để máy làm.</em></p>



<p>Và tâm trí tôi bắt đầu lơi đi.</p>



<p>Trong khoa Cấp cứu, khi bệnh nhân được bàn giao từ bác sĩ này sang bác sĩ khác lúc đổi ca, chúng tôi thường có cảm giác mình hiểu họ kém hơn; bởi bệnh nhân ấy đã được &#8220;lọc&#8221; qua cách kể của một người khác.</p>



<p>Khi AI âm thầm hoạt động ở hậu trường, một điều tương tự cũng xảy ra.</p>



<p>Ngay cả khi tôi là bác sĩ đầu tiên khám cho bệnh nhân, họ vẫn bắt đầu đem lại cho tôi một cảm giác kỳ lạ — như thể <strong><em>họ không còn hoàn toàn là bệnh nhân của chính tôi nữa.</em></strong></p>



<p>Sự thay đổi ấy trong phòng khám còn khiến tôi băn khoăn vì một lý do khác.</p>



<p>Cỗ máy đang lắng nghe.</p>



<p>Điều khiến tôi lo không hẳn là các đoạn ghi âm ấy có thể xuất hiện trước tòa nhiều năm sau. (Chúng tôi được cho biết các bản ghi chỉ được lưu trong ba tháng.)</p>



<p>Điều làm tôi bất an là cuộc gặp gỡ ấy không còn hoàn toàn giống với điều mà y học, ở tầng sâu nhất của nó, vốn phải là:</p>



<p><strong>một cuộc trao đổi riêng tư giữa hai con người.</strong></p>



<p>Phòng bệnh phải là nơi có thể chứa đựng nỗi sợ hãi, sự xấu hổ và cảm giác tội lỗi; nơi cưu mang những điều con người chỉ dám nói ra trong những thời khắc bệnh tật sâu kín nhất.</p>



<p>Tôi từng nghe những người mẹ thú nhận rằng họ cảm thấy oán giận chính đứa con mới sinh của mình.</p>



<p>Từng nghe những người bạn đời thú nhận chuyện ngoại tình.</p>



<p>Từng nghe bệnh nhân ung thư nói rằng họ đã sẵn sàng ra đi, nhưng người thân thì vẫn chưa thể buông bỏ.</p>



<p>Từng nghe một người lái tàu điện ngầm kể trong nước mắt về người đàn ông đã gieo mình xuống đường ray ngay trước đầu tàu của ông.</p>



<p>Khi mọi lời nói đều được ghi âm — cho dù bản ghi ấy chỉ nằm trong một cỗ máy — thì dường như vẫn có điều gì đó bị mất đi.</p>



<p>Trong những khoảnh khắc như thế, vốn có — hoặc ít nhất cũng nên có — một điều gì gần như thiêng liêng.</p>



<p>Việc hành nghề y còn dựa trên một kiểu trao đổi khác:</p>



<p>đó là sự trao đổi giữa các bác sĩ với nhau.</p>



<p>Năm ngoái, một đồng nghiệp của tôi khám lại cho một bệnh nhân mà trước đó tôi từng điều trị.</p>



<p>Sau khi đọc bệnh án của tôi, cô ấy nhắn tin:</p>



<p>&#8220;Mình cảm nhận được sự lo lắng của bạn.&#8221;</p>



<p>Đó chính là điều tôi hy vọng bản ghi ấy sẽ truyền tải:</p>



<p>không chỉ kết luận chuyên môn của tôi, mà còn cả sức nặng của những điều khiến tôi trăn trở — điều gì làm tôi lo ngại, điểm nào tôi vẫn chưa thật sự yên tâm.</p>



<p>Bản ghi bệnh án khi ấy đã thực hiện đúng điều mà Lawrence Weed từng kỳ vọng ở hồ sơ y khoa:</p>



<p><strong><em>&#8220;một phương tiện giao tiếp tồn tại cho mọi thời đại.&#8221;</em></strong><strong><em></em></strong></p>



<p>Giờ đây, khi đọc những bệnh án do AI tạo ra cho các đồng nghiệp khác, tôi không còn chắc mình thật sự biết họ đã nghĩ gì.</p>



<p>Những bản ghi quá dài dòng có thể biến một vấn đề rất đơn giản thành cả một thiên trường ca.</p>



<p>AI có thể dành sự chú ý ngang nhau cho một ngón chân bị va đập với những phát hiện phức tạp về bệnh thấp khớp hay các biến chứng ngoại khoa hiếm gặp.</p>



<p>Một bản ghi có thể được viết rất đẹp mà chưa chắc đã giúp người đọc hiểu rõ hơn.</p>



<p>Không ít lần tôi phải đọc lướt qua rất nhiều câu chữ bóng bẩy chỉ để cố tìm xem rốt cuộc điều gì mới là mối bận tâm thật sự của bác sĩ.</p>



<p><strong><em>Cuối cùng thì bác sĩ muốn nói điều gì?</em></strong><strong><em></em></strong></p>



<p><strong><em>Quan trọng hơn, họ thực sự đã nghĩ gì?</em></strong><strong><em></em></strong></p>



<p>Ngày nay, nếu muốn, chính bệnh nhân cũng có thể đọc ngay những bản ghi ấy trên ứng dụng trong điện thoại của mình — đôi khi ngay cả khi họ vẫn còn đang nằm trên băng ca trước mặt bạn.</p>



<p>Điều đó đôi lúc cũng gây ra những tình huống hơi khó xử, dù nhìn chung đây có lẽ vẫn là một bước tiến tích cực.</p>



<p>Dẫu vậy, ngôn ngữ y khoa vẫn có thể gây hiểu lầm hoặc khiến bệnh nhân hoang mang.</p>



<p>Có lẽ AI rồi đây có thể tự động chuyển những ghi chú chuyên môn ấy thành thứ ngôn ngữ dễ hiểu hơn, giúp giải thích các thuật ngữ và cách viết tắt vốn chỉ quen thuộc với giới y khoa.</p>



<p>Tôi nhớ có một bệnh nhân từng rất bức xúc khi đọc thấy trong bệnh án của mình dòng ghi: <strong>&#8220;+anorexia.&#8221;</strong></p>



<p>Điều vị bác sĩ muốn nói chỉ đơn giản là bệnh nhân <strong><em>ăn kém do bệnh cấp tính</em></strong><strong><em>.</em></strong></p>



<p>Nhưng bệnh nhân lại tưởng mình vừa được chẩn đoán mắc chứng <strong><em>chán ăn tâm thần (anorexia nervosa).</em></strong></p>



<p>Từ lâu, các ghi chú y khoa vẫn mang theo những cách diễn đạt và những thiên kiến riêng của người viết.</p>



<p>Có lẽ AI cũng có thể giúp loại bỏ bớt những cách dùng từ vô tình tạo nên sự kỳ thị ấy.</p>



<p>Hiện tại, dẫu vậy, hệ thống này vẫn chưa phải là không có sai sót.</p>



<p>Mới đây, một đồng nghiệp của tôi than phiền rằng AI đã gây ra một rắc rối mới khi tự ý ghi bệnh nhân của cô là <strong>&#8220;</strong><em>người nghiện rượu&#8221; (an alcoholic).</em> (Ít ra thì giờ đây bác sĩ cũng có thể tiện thể đổ lỗi cho cỗ máy: <em>AI viết đấy, chứ không phải tôi!</em>)</p>



<p>Chỉ mới vài năm trước, ngành y dường như đã bắt đầu nhận ra rằng những bệnh án cứng nhắc, rập khuôn theo mẫu không nhất thiết giúp cải thiện chất lượng chăm sóc bệnh nhân.</p>



<p>Ví dụ, phần <em>&#8220;đánh giá theo từng hệ cơ quan&#8221; (review of systems)</em> — một bảng kiểm các triệu chứng mà trước đây bác sĩ phải rà soát qua từng cơ quan trong cơ thể mỗi bệnh nhân — đã không còn là yêu cầu bắt buộc để phục vụ việc thanh toán bảo hiểm.</p>



<p>Chúng tôi cũng không còn phải ghi chép đầy đủ mọi đặc điểm nhỏ nhặt của, chẳng hạn, một cơn đau bụng chỉ để được hoàn trả đầy đủ chi phí điều trị.</p>



<p>Trọng tâm một lần nữa được đưa trở lại <em>quá trình lập luận chuyên môn của bác sĩ</em> (<em>medical decision-making</em>) — phần của bệnh án mà từ lâu các bác sĩ luôn xem là quan trọng nhất.</p>



<p>Vậy thì tại sao giờ đây chúng ta lại để AI đảm nhận chính công việc ấy?</p>



<p>Có lẽ cách mà AI được đưa vào sử dụng phần nào cho thấy câu trả lời.</p>



<p>Khi các trợ lý AI ghi chép được triển khai tại bệnh viện nơi tôi làm việc, một đoạn video đã được phổ biến nội bộ, trong đó một số đồng nghiệp của tôi hết lời ca ngợi sáng kiến này.</p>



<p>Ở phần cuối video, một bác sĩ đã liệt kê những lợi ích của hệ thống:</p>



<ul class="wp-block-list">
<li>năng suất làm việc tăng lên;</li>



<li>doanh thu tăng lên;</li>



<li>và cuối cùng mới là&#8230;</li>



<li>chất lượng chăm sóc bệnh nhân được cải thiện.</li>
</ul>



<p>Có thể thứ tự ấy chẳng mang ý nghĩa gì.</p>



<p>Nhưng giờ đây tôi bắt đầu tự hỏi:</p>



<p>Phải chăng bệnh án đang được giao cho AI không phải chủ yếu để giúp bác sĩ chăm sóc bệnh nhân tốt hơn, mà để theo đuổi mục tiêu <strong>nâng cao hiệu quả vận hành</strong> trong thêm một lĩnh vực nữa của nền y học hiện đại?</p>



<p>Cho đến nay, các nghiên cứu đều cho thấy những bác sĩ chủ động sử dụng AI ghi chép cảm thấy gánh nặng về công việc hồ sơ giảm đi rõ rệt và ít bị kiệt sức hơn.</p>



<p>Nhiều bác sĩ cũng cho biết công nghệ này giúp giảm đáng kể gánh nặng nhận thức.</p>



<p>Tôi hoàn toàn hiểu sức hấp dẫn ấy.</p>



<p>Bản thân tôi cũng nhiều lần bị cuốn theo, nhất là những lúc mệt mỏi, bởi đơn giản là nó khiến công việc trở nên nhẹ nhàng hơn — ít nhất là trong khoảnh khắc ấy.</p>



<p>Điều cho đến nay vẫn hầu như chưa được nghiên cứu là:</p>



<p>AI ghi chép ảnh hưởng đến <strong>quá trình nhận thức</strong> của bác sĩ ở mức độ sâu xa như thế nào.</p>



<p>Việc giao phó bệnh án cho AI liệu có đang làm xói mòn chính cách các bác sĩ tư duy và làm thay đổi quá trình họ xác định điều gì thực sự quan trọng?</p>



<p>Mối nguy không chỉ nằm ở khả năng AI có thể viết sai.</p>



<p>Điều đáng lo hơn là, bằng cách tạo ra những bản ghi trôi chảy và nghe rất hợp lý, AI có thể khiến chúng ta dễ dàng giao phó luôn một phần quá trình suy luận mà nghề y đòi hỏi, khiến chúng ta bớt đi công việc nhọc nhằn nhưng thiết yếu là tự mình vật lộn với những điều chưa chắc chắn.</p>



<p>Điều tôi lo ngại là, sớm hay muộn, sự mất mát ấy sẽ biểu hiện ngay trong chất lượng chăm sóc mà bệnh nhân nhận được.</p>



<p>Những buổi chiều nhất định trong những năm đầu học y vẫn còn in đậm trong ký ức tôi.</p>



<p>Các bệnh nhân đã được lựa chọn trước — có lẽ vì quá buồn chán khi phải nằm cả ngày trong bệnh viện — thường sẵn lòng dành thời gian cho chúng tôi, những sinh viên y khoa.</p>



<p>Chúng tôi rụt rè lặp đi lặp lại những câu hỏi còn vụng về (hẳn bệnh nhân cũng tự hỏi tại sao mình lại phải trả lời cùng một câu hỏi hết lần này đến lần khác), rồi thực hiện những thao tác khám lâm sàng còn lóng ngóng (còn chúng tôi thì thắc mắc tại sao không nghe thấy gì qua ống nghe, cho đến khi nhận ra mình đang áp nhầm mặt của ống lên người bệnh).</p>



<p>Dẫu vậy, chúng tôi vẫn thu thập được những &#8220;nguyên liệu&#8221; vô cùng quý giá vào những cuốn sổ nhỏ nhét trong túi áo blouse trắng.</p>



<p>Sau đó, chúng tôi cố gắng ghép những ghi chép rời rạc ấy thành một bản bệnh án có đầu có cuối, vật lộn trên từng trang giấy để hiểu xem bệnh nhân thực sự vừa kể cho mình điều gì.</p>



<p>Khi ấy tôi không hề biết rằng, chính trong những giờ phút ấy, tôi đang bắt đầu <strong>học cách tư duy như một bác sĩ.</strong></p>



<p>Điều khó khăn nhất luôn là con người bằng xương bằng thịt đang ngồi trước mặt chúng tôi.</p>



<p>Khác với những ca bệnh trong giáo trình, họ không hề biểu hiện đúng như sách vở nói.</p>



<p>Có người có quá nhiều triệu chứng.</p>



<p>Có người lại quá ít.</p>



<p>Có người mô tả cảm giác của mình bằng những ngôn từ chẳng hề giống những gì chúng tôi đã học thuộc.</p>



<p>Tại sao những triệu chứng này lại hướng đến chẩn đoán này mà không phải chẩn đoán khác?</p>



<p>Làm sao giải thích những dấu hiệu dường như không khớp ấy?</p>



<p>Những bản tổng hợp của chúng tôi khi ấy thường rất sơ sài, thậm chí hoàn toàn sai.</p>



<p>Đơn giản vì kiến thức y học của chúng tôi còn quá ít.</p>



<p>Nhưng điều đó không phải là điều quan trọng nhất.</p>



<p>Điều quan trọng là chính trong quá trình viết bệnh án ấy, chúng tôi bắt đầu học cách biến một tập hợp rời rạc gồm những lời kể chủ quan và những dấu hiệu trên cơ thể thành một điều có ý nghĩa.</p>



<p>Chúng tôi đang tiếp nối một truyền thống mà William Osler — một trong những giáo sư sáng lập Trường Y Johns Hopkins — đã góp phần xây dựng từ cuối thế kỷ XIX.</p>



<p>Theo ông, giáo dục y khoa không thể chỉ diễn ra trong giảng đường.</p>



<p>Sinh viên phải được đưa đến bên giường bệnh ngay từ những năm đầu và được dạy:</p>



<p><em>&#8220;Quan sát, ghi chép, hệ thống hóa và truyền đạt.&#8221;</em><em></em></p>



<p>Viết chính là một phần quan trọng của quá trình học nghề ấy, giúp biến những gì sinh viên nghe và thấy bên giường bệnh thành tri thức.</p>



<p>Như nhà nghiên cứu giáo dục Janet Emig từng viết trong bài luận nổi tiếng năm 1977:</p>



<p><em>&#8220;Viết là một hình thức học tập độc nhất vô nhị — không chỉ hữu ích, không chỉ đặc biệt, mà là độc nhất.&#8221;</em><em></em></p>



<p>Bệnh án của sinh viên hiếm khi thật sự trau chuốt.</p>



<p>Nhưng nó cho thấy một sự chuyển hóa mà nghề y đòi hỏi:</p>



<p>từ <strong>mô tả</strong>,</p>



<p>đến <strong>thấu hiểu</strong>,</p>



<p>rồi cuối cùng là <strong>phán đoán</strong>.</p>



<p>Qua đó có thể thấy người viết đã nhận ra điều gì, bỏ sót điều gì, đánh giá quá cao điều gì và xem nhẹ điều gì.</p>



<p>Lawrence Weed từng viết:</p>



<p><em>&#8220;Cách sinh viên tổ chức dữ liệu phải cho người thầy biết liệu người viết bệnh sử có nhìn thấy toàn bộ câu chuyện hay không.&#8221;</em><em></em></p>



<p>Khi làm việc với sinh viên tại khoa Cấp cứu, tôi luôn nhận ra từ những bản bệnh án còn đầy khiếm khuyết ấy cách mà một bác sĩ tương lai đang học để suy nghĩ.</p>



<p>Thế hệ bác sĩ mới đang trưởng thành trong một thế giới mà AI có thể tóm tắt tài liệu nghiên cứu, trả lời các câu hỏi chuyên môn và thậm chí đưa ra chẩn đoán.</p>



<p>Tôi không hề cho rằng sinh viên hay bác sĩ nội trú cần phải hoàn toàn tránh xa AI.</p>



<p>Những công cụ ấy có thể rất mới mẻ, nhưng thói quen dựa vào tài liệu tham khảo thì không.</p>



<p>Từ trước đến nay, bác sĩ vẫn luôn sử dụng các nguồn tra cứu, từ những cuốn sổ tay bỏ túi cho đến những bộ giáo trình dày cộp.</p>



<p>Trong khoa Cấp cứu, tôi cũng không ngần ngại tham khảo các nền tảng AI như <strong>OpenEvidence</strong> — một chatbot chuyên môn được huấn luyện trên các tài liệu y học đã qua phản biện khoa học.</p>



<p>Hơn bao giờ hết, chúng giúp tôi tiếp cận những thông tin mới nhất, dễ tìm hơn và phù hợp hơn với từng bệnh nhân cụ thể.</p>



<p>Theo cách ấy, AI giúp tôi quay trở lại bên giường bệnh với khả năng phán đoán sắc bén hơn, được trang bị bằng những bằng chứng khoa học cập nhật nhất.</p>



<p>Nhưng điều đó hoàn toàn khác với việc giao luôn cho AI viết bản bệnh án — nơi người bác sĩ, hoặc người sinh viên rồi sẽ trở thành bác sĩ, tự mình suy nghĩ về bệnh nhân.</p>



<p>Theo những gì tôi được biết, hiện nay sinh viên y khoa vẫn chưa sử dụng AI để viết bệnh án.</p>



<p>Dẫu vậy, tôi lo ngại rằng khi toàn ngành ngày càng quen với việc xem bệnh án là công việc AI có thể đảm nhiệm, thì chính việc <em>tự tay viết bệnh án</em> sẽ dần bị coi là không còn cần thiết.</p>



<p>Có lẽ vì thế mà một email tôi nhận được cách đây vài tháng khiến tôi cảm thấy vô cùng nặng lòng.</p>



<p>Email thông báo rằng các sinh viên y khoa năm thứ ba thực tập tại khoa Cấp cứu của chúng tôi sẽ <em>không còn phải viết bệnh án trong thời gian trực nữa.</em></p>



<p>Có thể rồi đây tôi sẽ tìm ra cách sử dụng AI ghi chép mà không để nó rút ngắn quá trình suy luận lâm sàng của mình.</p>



<p>Cũng có thể nếu việc chỉnh sửa bản ghi được thực hiện thật cẩn thận, nó vẫn sẽ khơi gợi được phần nào quá trình tư duy mà trước đây việc viết bệnh án từng đòi hỏi.</p>



<p>Hoặc cũng có thể tôi sẽ đơn giản bị cuốn theo làn sóng ấy, khi AI ghi chép không còn là một lựa chọn mà trở thành một chuẩn mực của cả hệ thống.</p>



<p>Trong y học, điều gì trở thành thông lệ thì sớm muộn cũng sẽ trở thành một phần trong cách thế hệ bác sĩ mới hiểu về nghề của mình.</p>



<p>Nếu việc viết bệnh án dần biến mất, những mất mát đi kèm có thể sẽ chưa bộc lộ ngay.</p>



<p>Chúng sẽ bị che khuất phần nào bởi những lợi ích trước mắt về hiệu quả công việc.</p>



<p>Nhưng rồi, đến một lúc nào đó, chúng ta có thể nhận ra rằng chính công việc tưởng chừng bình thường ấy đã góp phần quan trọng biết bao trong việc hình thành nên một người bác sĩ.</p>



<p><strong>Helen Ouyang</strong><br><em>(</em><em>Helen Ouyang là bác sĩ và Phó Giáo sư Y học Cấp cứu.</em><em>)</em><br><br></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>

<!--
Performance optimized by W3 Total Cache. Learn more: https://www.boldgrid.com/w3-total-cache/?utm_source=w3tc&utm_medium=footer_comment&utm_campaign=free_plugin

Page Caching using Disk: Enhanced 

Served from: t-van.net @ 2026-08-13 03:18:39 by W3 Total Cache
-->