<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Khải Triều &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<atom:link href="https://t-van.net/author/khaitrieu/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://t-van.net</link>
	<description>Văn Học và Đời Sống</description>
	<lastBuildDate>Tue, 17 Jun 2025 02:00:05 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.7.5</generator>

<image>
	<url>https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/02/t-van-favicon.png?strip=all&#038;resize=32%2C32</url>
	<title>Khải Triều &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<link>https://t-van.net</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Khải Triều: NGỌC TỰ và Tập Thơ: NHỮNG DÒNG CHỮ TỪ NĂM THÁNG</title>
		<link>https://t-van.net/khai-trieu-ngoc-tu-va-tap-tho-nhung-dong-chu-tu-nam-thang/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Khải Triều]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 17 Jun 2025 09:40:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[tưởng niệm Trần Ngọc Tự]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=81149</guid>

					<description><![CDATA[Ngọc Tự họ Trần, Trần Ngọc Tự, sinh ngày 06.9.1948 tại Văn Hải, Ninh Bình. Ngoài bút danh Ngọc Tự, trước đây còn ký Ninh Văn, Trần Ninh Bình. Làm thơ, viết văn từ cuối trung học. Trong nhóm chủ biên tập san sinh viên 1966–1968: Ý Thức (Luật Khoa), Đất Đứng (Quốc Gia Hành [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/Bia-truoc-1-nhung-dong.jpg?strip=all&w=2560"><img fetchpriority="high" decoding="async" width="600" height="798" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/Bia-truoc-1-nhung-dong.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-81150" style="width:460px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/06/Bia-truoc-1-nhung-dong-226x300.jpg 226w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/Bia-truoc-1-nhung-dong.jpg?strip=all 600w" sizes="(max-width: 600px) 100vw, 600px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Ngọc Tự họ Trần, Trần Ngọc Tự, sinh ngày 06.9.1948 tại Văn Hải, Ninh Bình. Ngoài bút danh Ngọc Tự, trước đây còn ký Ninh Văn, Trần Ninh Bình. Làm thơ, viết văn từ cuối trung học. Trong nhóm chủ biên tập san sinh viên 1966–1968: Ý Thức (Luật Khoa), Đất Đứng (Quốc Gia Hành Chánh). Trong ban biên tập tạp chí Quần Chúng 1967–1970 (bộ cũ &amp; bộ mới), tờ báo do cố Chuẩn tướng Lưu Kim Cương bảo trợ sáng lập, chủ nhiệm Cao Thế Dung. Viết cho Tuần báo Diễn Đàn Chính Đảng 1971, Chủ nhiệm Trương Vĩnh Lễ, Chủ bút Nhị Lang.</p>



<p>Nhập ngũ tháng 3/1969, ngành Chiến tranh Chính trị Không Quân. Viết cho các nội san của Quân chủng Không Quân: Lý Tưởng, Tập san Chính Huấn, Tập san Quân Huấn (Bộ Tư Lệnh Không Quân), Cánh Thép (Sư đoàn 5 KQ). Thư ký Tòa soạn sau cùng của tờ <em>Lý Tưởng</em> (1974 – 4/1975).</p>



<p>Các tác phẩm thơ ấn hành trước năm 1975 dưới hình thức ronéotype, phổ biến trong bạn hữu: <em>Quê hương tôi và em</em> (1968), <em>Điệp khúc đời</em> (1969), <em>Những mảnh tình rời</em> (1970), <em>Ở cuộc tình này</em> (1971). Sau ngày 30/4/1975, đi tù hai lần: tù cải tạo (6.1975 đến tháng 01.1981), án tù 4 năm (5.1984 – 5.1988), vì liên lạc và gửi bài cho Văn Bút Hải Ngoại, trong vụ án với các nhà văn, nhà báo, nhà thơ.</p>



<p>Ngọc Tự định cư tại Hoa Kỳ từ tháng 12/2006, hiện ở thành phố Richmond, Texas. Cộng tác với trang T.Vấn &amp; Bạn Hữu. Có hai tác phẩm do trang mạng này thực hiện ấn bản điện tử: <em>Những dòng chữ từ năm tháng – Thơ</em> (2016), <em>Những đoạn đời qua</em> (tập văn, 2017).</p>



<p>Có bài đăng rải rác trên trang mạng Hội Quán Phi Dũng và các đặc san Lý Tưởng (Úc Châu), Lý Tưởng (Hoa Kỳ).</p>



<p><em>(T.Vấn ghi)</em></p>



<p><strong>HAI THỜI KỲ TRONG THƠ NGỌC TỰ</strong></p>



<p>Có thể chia những thi phẩm của <strong>Ngọc Tự</strong> ra làm hai thời kỳ khá rõ ràng. Thời kỳ thứ nhất là những thi tập được viết khi còn ở trong nước, lúc chiến tranh vẫn đang diễn ra. Cuộc nội chiến kéo dài suốt 20 năm, từ 1955 đến 1975. Nhưng từ năm 1965, khi quân đồng minh có mặt trên chiến trường miền Nam, thì ở phía này đã bắt đầu xuất hiện thơ phản chiến — toàn những cây bút trẻ. Có những nhà thơ phản chiến đã ngả về bưng biền, nhưng cũng có một số khác khoác lên người chiếc áo lính QLVNCH. Đây là thế hệ tuổi trẻ, còn nặng cảm tính. Dẫu vậy, không thể phủ nhận ảnh hưởng của sự tuyên truyền từ phía Hà Nội.</p>



<p>Riêng Ngọc Tự, anh viết về chiến tranh với những đau thương, mất mát. Như thế, cũng có thể nói Ngọc Tự chống chiến tranh, nhưng không “phản chiến”.</p>



<p>Sang đến thời kỳ thứ hai, khi anh và gia đình sang định cư tại <strong>Hoa Kỳ</strong>, thì thơ của Ngọc Tự bộc lộ những nỗi ưu tư về cuộc đời nơi xứ người. Và anh như tha thiết với quê hương hơn, đau cái đau bị đồng minh bỏ rơi. Anh như thấy mình cô đơn hơn.</p>



<p>Tập thơ <em>Những dòng chữ từ năm tháng</em> gồm có: 7 bài trong tập <em>Những mảnh tình rời</em> (1970), 8 bài trong tập <em>Ở cuộc tình này</em> (1971), và 31 bài thơ viết sau tháng 4/1975.</p>



<p>Thật tình, khi tôi có ý định viết về một số nhà thơ Công giáo Việt Nam hiện nay, thì anh Trần Ngọc Tự là một trong những Kitô hữu có thơ in thành sách, tôi đã đọc và có thể sẽ nói với anh vài lời. Tuy nhiên, trong các tập thơ anh viết trước năm 1975, tôi không thấy có bài thơ đạo nào cả. Hoặc giả như có mà tôi chưa được đọc chăng?</p>



<p>Thế nhưng, khi Ngọc Tự sang sống ở Mỹ và nạn dịch Coronavirus xảy ra từ cuối năm 2019, thì anh đã viết một bài thơ đượm chất đạo Kitô – Giêsu. Đó là bài:</p>



<p><strong>LỜI NGUYỆN CẦU ĂN NĂN SÁM HỐI</strong></p>



<p><em>(chút suy ngẫm riêng tư nhỏ nhoi)</em></p>



<p><em>những tháng năm xưa quê hương binh đao lửa đạn</em></p>



<p><em>bản tin chiến sự và con số thương vong chết chóc nhẩy múa mỗi sớm mai</em></p>



<p><em>có phải đã từng là nỗi lo âu sợ hãi</em></p>



<p><em>nhắc nhớ thân phận mong manh nhỏ bé kiếp nguời</em></p>



<p><em>lúc cúi xuống và ngẩng đầu đối diện đất trời</em></p>



<p><em>cho đến khi qua hết thời đoạn cần thiết phải đánh động tâm thức nghĩ suy</em></p>



<p><em>và lúc tàn cơn binh lửa</em></p>



<p><em>vừa nhặt nhạnh sót lại được đây đó những nụ cười</em></p>



<p><em>đã vội quên thôi đâu còn nhận biết về điều bắt buộc</em></p>



<p><em>vẫn vang lời nhắc nhớ quen thuộc</em></p>



<p><em>(thân phận mong manh nhỏ bé kiếp người)</em></p>



<p><em>cũng đã lại dửng dưng với sự vô tình bất chợt</em></p>



<p><em>trước những lần các điều chuyện như dấu chỉ lặng thầm nối tiếp xẩy ra</em></p>



<p><em>cơn gió thoảng và mây bay qua</em></p>



<p><em>nơi mỗi con người và những con người</em></p>



<p><em>nơi cả một tôi</em></p>



<p><em>giữa thế trần tiếp tục mê mải quanh cuộc sống cuồng quay hối hả</em></p>



<p><em>bỗng mùa cơn đại dịch này đây</em></p>



<p><em>đã ập đến và tất cả mọi thứ như phải dừng lại thật quá đỗi bất ngờ</em></p>



<p><em>không một dự liệu</em></p>



<p><em>cũng chẳng còn chỗ cho sự thờ ơ</em></p>



<p><em>những mất mát đổ vỡ kinh hoàng tất bật</em></p>



<p><em>bao nỗi đe dọa vô hình mỗi ngày thường trực bủa vây rình rập</em></p>



<p><em>tưởng chừng tuyệt vọng trong run sợ bế tắc chưa lối thoát nào khả thi</em></p>



<p><em>chợt nhớ ra cơ may còn kịp thức tỉnh điều gì</em></p>



<p><em>vẫn với lời nhắc nhớ quen thuộc</em></p>



<p><em>vẫn đã biết và vẫn thường luôn là quên tuốt</em></p>



<p><em>(thân phận mong manh nhỏ bé kiếp người)</em></p>



<p><em>Chúa ơi giây phút này đây</em></p>



<p><em>xin cho tâm hồn con biết đến thống hối ăn năn</em></p>



<p><em>sống lại tâm thức luôn sẵn sàng</em></p>



<p><em>trọn vẹn trao dâng và tín thác</em></p>



<p><em>trông mong được ơn cứu thoát</em></p>



<p><em>để mà có thể cất bước đến thẳng trước cánh cổng thiên đàng</em></p>



<p><em>hay là sẽ mãi cô đơn lặng thinh ngay bậc thềm tối tăm hỏa ngục</em></p>



<p><em>nơi chỗ nào đang đợi chờ</em></p>



<p><em>câu hỏi một lần cuối cùng khẩn thiết</em></p>



<p><em>cho sự lựa chọn của mỗi một con người</em></p>



<p><em>hãy giật mình tỉnh ngộ để kịp thời sám hối ăn năn</em></p>



<p><em>trước khi đã quá muộn màng</em></p>



<p><em>nếu vẫn chìm sâu trong cao ngạo mê cuồng thách đố</em></p>



<p><em>bây giờ những cái chết đã không còn có đủ các lễ nghi và phần mộ</em></p>



<p><em>chừng như câu hỏi cũng đặt ra cho chính tôi</em></p>



<p><em>kẻ cũng đầy lòng tội lỗi</em></p>



<p><em>giữa mùa cơn đại dịch thống khổ này</em></p>



<p><strong>tháng 3/2020</strong><br><em>(Nguồn: T.Vấn &amp; Bạn Hữu)</em></p>



<p>Đây là một bài thơ bao gồm ngôn từ, cách suy nghĩ, diễn tả tâm trạng của tác giả — có thể nói là rất Ngọc Tự, trong thơ và trong cả những giao tiếp đời thường. Anh triết lý, và cũng như thể buông bỏ, ngay cả Thiên Đàng hay Hỏa Ngục tăm tối. Để nói về dịch Covid, anh nghĩ đến chiến tranh, đến tâm trạng của con người trong lửa đạn và trong cơn dịch, sự chết bao phủ, không còn chỗ, cũng như không còn các lễ nghi và phần mộ cho người chết. Thật bi đát cho phận người mong manh. Bài thơ cũng nói lên cái tâm lý chung của nhiều Kitô hữu trong những hoàn cảnh ngặt nghèo, thử thách cận kề bên mình.</p>



<p><strong>Ngọc Tự với chiến tranh</strong></p>



<p>Đại dịch Covid-19 và chiến tranh mà nhà thơ Ngọc Tự đã trải qua — tôi không biết, với anh, cái họa nào lớn hơn, cái họa nào gây khủng khiếp cho con người hơn, để rồi tác động đến tác giả và anh đã bật lên tiếng nói?</p>



<p>Tiếng nói của một tín hữu Kitô?<br>Hoặc do hoàn cảnh mà tác giả phải chọn lựa đất sống ở xứ người, mà đây lại là yếu tố chính, yếu tố của một tâm thức Việt khi xa nguồn cội?<br>Có lẽ cả hai.</p>



<p>Sẽ là thiếu sót và không hiểu được nhà thơ Ngọc Tự nếu chúng ta đọc thơ của anh một cách vội vã, như thể “cưỡi ngựa xem hoa”, hay như đi thăm rừng mà chỉ thấy rừng mà không thấy cây, không thấy được sự sống nơi các thân cây non đang muốn bứt luôn cả cái vỏ khô cằn bên ngoài nó.</p>



<p>Bài thơ <em>Lời tự nguyện đầu năm</em>, in ở đầu tập <em>Những mảnh tình rời</em>, tạp chí Quần Chúng xuất bản năm 1970, là một minh chứng. Tác giả xúc cảm quá mãnh liệt trước một hiện thực chiến tranh, lừa lọc, phản bội, điếm đàng. Thế nhưng, nhà thơ Ngọc Tự cũng vẫn còn một hy vọng: một con người mới, một mùa xuân mới, một khu rừng bình yên, và loài chim di trú tìm về.</p>



<p>Bài thơ diễn tả nỗi kinh hoàng của cõi người. Anh sợ hãi nó. Anh muốn chặt đôi tay,</p>



<p>“đôi tay cầm súng đạn nhắm chừng có da thịt người làm bia”; chọc mù đôi mắt:</p>



<p>“ta đã nhìn thấy chiến tranh,<br>ta đã nhìn thấy khốn khổ,<br>ta đã nhìn thấy muôn vàn vênh váo đê tiện”;</p>



<p>&nbsp;“hãy đẽo cả sống mũi này cho bằng phẳng<br>như một lần giật mìn quốc lộ<br>cái sống mũi thật thô bỉ chưa khi nào phập phồng hớn hở<br>sao chỉ ngửi toàn nồng nặc hơi người…”</p>



<p><strong>LỜI TỰ NGUYỆN ĐẦU NĂM</strong></p>



<p><em>bắt đầu thêm một thời gian nữa của thượng đế<br>bắt đầu thêm già nua cho đời</em></p>



<p><em>những điều nhớ – điều quên<br>ta đã đánh mất tuổi thơ ơi<br>ta đã đánh mất ta</em></p>



<p><em>không còn gì cho hôm nay</em></p>



<p><em>những gã điên khùng đã ngạo nghễ lớn tiếng<br>cất giọng cười tội nghiệp</em></p>



<p><em>xin chặt đứt dùm đôi tay này<br>đôi tay nâng niu tóc huyền thần thoại<br>đôi tay cầm súng đạn nhắm chừng<br>có da thịt người làm bia</em></p>



<p><em>đêm hay ngày<br>bây giờ cũng là lừa lọc</em></p>



<p><em>xin chọc thủng cho mù lòa dùm đôi mắt<br>ta đã nhìn thấy chiến tranh<br>ta đã nhìn thấy khốn khổ<br>ta đã nhìn thấy muôn vàn vênh váo đê tiện</em></p>



<p><em>xin chọc thủng luôn hai tai<br>không bao giờ còn phải nghe lời ngon ngọt độc dược<br>không bao giờ bom đạn còn làm giấc ngủ dở chừng<br>không bao giờ còn nghe khóc lóc thở than</em></p>



<p><em>hãy đẽo cả sống mũi này cho bằng phẳng</em><strong><em><br></em></strong><em>như một lần giật mìn quốc lộ<br>cái sống mũi thật thô bỉ chưa khi nào phập phồng hớn hở<br>sao chỉ ngửi toàn nồng nặc hơi người</em></p>



<p><em>xin chặt què dùm đôi chân, chớ nên nghĩ ngợi</em><strong><em><br></em></strong><em>sẽ chẳng bao giờ ta cất bước rình mò<br>mà rất có thể<br>không chừng đạp nhằm chông<br>hay một quả lựu đạn nghĩ là lần thắng cuộc</em></p>



<p><em>khóa cứng ngắc luôn cho cái mồm</em><strong><em><br></em></strong><em>không khi nào còn cổ vũ hoan hô<br>không khi nào còn cất lời nguyền rủa<br>không khi nào còn đọc được tuyên ngôn, diễn văn<br>không khi nào còn uống nhầm mật đắng<br>không khi nào còn chân thật tỏ tình<br>giữa muôn phản bội, điếm đàng</em></p>



<p><em>xin bửa đôi dùm trí óc ngu muội thật ngọt</em><strong><em><br></em></strong><em>sẽ chẳng bao giờ suy nghĩ như một kẻ già nua</em></p>



<p><em>thôi, hãy làm khô đặc trái tim</em><strong><em><br></em></strong><em>cho thân xác này hóa thành cây cỏ<br>khu rừng vô cùng bình yên<br>hoa bắt đầu nở nơi cuối chào<br>và loài chim di trú cũng lũ lượt bay về</em></p>



<p><em>đấy là một mùa xuân</em><strong><em><br></em></strong><em>có ai nghe thấy không?<br>thượng đế có nghe được không?<br>ngỏ lời chào năm vừa vội vã đi qua.</em></p>



<p><strong>“CÁI TÔI” TRONG THƠ NGỌC TỰ</strong></p>



<p>Cho dù nhà thơ Ngọc Tự đã đi qua hết cuộc chiến hào hùng, đã vào cửa ngục tù của thân “chiến bại”, và một lần nữa mang thân phận trí thức trẻ cầm bút, anh vẫn hết mực quyến luyến khi biết mình sẽ phải rời xa “xóm nhỏ” thân yêu – nơi bao năm gắn bó, đi về, ngày nắng hay mưa…</p>



<p><strong>MAI TÔI XA XÓM NHỎ</strong></p>



<p><em>“bỗng sao quạnh vắng cảnh nhà<br>quanh vuông chiếu cũ trải ra thiếu người”</em><br>— Ngọc Tự</p>



<p><em>mai tôi xa xóm nhỏ</em><em><br>mà bỗng nghe buồn rưng<br>buổi đi chân chưa bước<br>sao đã thấy ngập ngừng</em></p>



<p><em>mai tôi xa xóm nhỏ</em><em><br>chào căn nhà thân quen<br>bao tuổi tôi nơi đó<br>buồn vui và êm đềm</em></p>



<p><em>mai tôi xa xóm nhỏ</em><em><br>nhìn bầy cháu trẻ thơ<br>lòng già thêm trĩu nặng<br>giọt nước mắt thẫn thờ</em></p>



<p><em>mai tôi xa xóm nhỏ</em><em><br>chia tay bạn hữu ơi<br>bồi hồi xao xuyến quá<br>những tấm giao một thời</em></p>



<p><em>mai tôi xa xóm nhỏ</em><em><br>bỏ quên chuyện sông hồ<br>thây kệ quanh biển lớn<br>khuất triền sóng nhấp nhô</em></p>



<p><em>mai tôi xa xóm nhỏ</em><em><br>xin nhận chút bình yên<br>lời ân cần đưa tiễn<br>đi qua những muộn phiền</em></p>



<p><em>mai tôi xa xóm nhỏ</em><em><br>nào phải đâu biệt tùng<br>khi vẫy tay giã biệt<br>là nhắc buổi ngộ trùng.</em></p>



<p>Tháng 10/06<br><em>(Ký tên Ngọc Tự và đóng dấu đỏ)</em><br><em>(những ngày của cuộc đi)</em></p>



<p>Bài <em>Mai tôi xa xóm nhỏ</em> là bản viết tay của tác giả gửi cho tôi ngày 08/11/2006. Cuối bài có chữ ký và dấu đỏ của Ngọc Tự, bên dưới viết một hàng chữ để trong ngoặc đơn: <em>(những ngày của cuộc đi)</em>.</p>



<p>Ngoài bài thơ <em>Mai tôi xa xóm nhỏ</em>, nhà thơ Ngọc Tự còn gửi cho tôi mấy bài nữa, cũng viết tay, ký tên và đóng dấu đỏ, cùng dòng chữ trong ngoặc đơn: <em>(những ngày của cuộc đi)</em>.</p>



<p>Những bài thơ đó gồm:Tra vấn, Khi rời bến cũ, Khi xa quên hắn gửi, Khúc quân ca mới <em>(cuối bài tác giả ghi rõ: “trại Phong Quang, Bảo Thắng, Lào Cai, 1978”),</em>Ngày bạn đi <em>(viết về nhà thơ Phan Lạc Giang Đông khi ông qua đời tại Mỹ, ngày 09.11.2001)</em></p>



<p>Bài <em>Mai tôi xa xóm nhỏ</em> là nỗi lòng của nhà thơ Ngọc Tự đối với mái nhà và những người thân yêu còn ở lại. Còn bài <em>Khi rời bến cũ</em> là nỗi bâng khuâng của nhà thơ khi biết mình sẽ tới một bến đậu khác xa lạ — “nơi bến mới có bình yên”. Quả thật là rất xúc động khi anh viết:</p>



<p>chưa đi đã nhớ bến này<br>xuôi giòng viễn xứ tháng ngày hoài hương<br>bâng khuâng trước buổi lên đường<br>mơ ngày cố quận vấn vương tay chèo</p>



<p>(<em>Trích 4 câu cuối bài “Khi rời bến cũ” – Tháng 10/06. Ký tên Ngọc Tự và đóng dấu đỏ</em>)</p>



<p>Thấy chưa đủ để nói lên nỗi bồi hồi, quyến luyến khi biết mình sẽ phải rời xa nơi thân yêu này, nhà thơ – khi còn chưa rời bến cũ – mà đã “bâng khuâng trước buổi lên đường, mơ ngày cố quận vấn vương tay chèo”. Rất đậm đà tình nghĩa với xóm nhỏ và những điều lung linh mà chỉ có nhà thơ mới cảm nhận được trong cuộc đời qua hai thời kỳ lịch sử của dân tộc và của chính mình — những gì có được và những gì đã mất. Trong thời kỳ được viết thành sách này, của một cây bút nhiều trăn trở, nhà thơ Ngọc Tự bó thân trong thân phận “thua cuộc”, và anh gọi đó là: “Khúc quân ca mới.”</p>



<p><em>(Dẫn theo tập “Những dòng chữ từ năm tháng”, trang 76, ấn bản điện tử của Tủ sách T.Vấn &amp; Bạn Hữu, 2016)</em></p>



<p><strong>Khúc quân ca mới</strong></p>



<p><em>(Trại tù cải tạo Vĩnh Quang, Vĩnh Phú, 1980)</em></p>



<p><em>thế rồi đất nước bỗng xa khơi<br>chinh chiến ta đi tiếp một đời<br>bài hát tự do hồn phơi phới<br>chẳng chút nao lòng — Tổ quốc ơi</em></p>



<p><em>những nông trường từng sớm bình minh<br>cũng mồ hôi nhòe mắt lung linh<br>còn chặng cuối này qua cho nốt<br>đoạn đời hay đoạn đường chiến binh</em></p>



<p><em>như bước vào mùa huấn nhục mới<br>tay cuối dài thay khẩu súng trường<br>cấp hiệu nào thêm đời trai trẻ<br>nhơ mãi khôn nguôi những nẻo đường</em></p>



<p><em>ta thấy ta trong mắt đồng đội<br>vẫn còn chăng ánh lửa niềm tin<br>có chút gì bâng khuâng xao xuyến<br>đừng vội bối rối — hãy ngẩng nhìn</em></p>



<p><em>nụ cười vui giữa đời thương khó<br>vai áo tù ngỡ sắc chiến bào<br>hát nhẩm quân hành, mơ vào trận<br>mộng mãi cho đầy gối chiêm bao</em></p>



<p>Bốn câu cuối của bài thơ <em>Khúc quân ca mới</em>, đặc biệt câu:</p>



<p>“hát nhẩm quân hành, mơ vào trận”, đã diễn tả một cách thầm lặng mà thấm thía tâm trạng của một chiến binh trẻ, bao năm trời “vai áo tù” mà vẫn còn ngỡ sắc chiến bào. Nhà thơ Ngọc Tự đã thể hiện điều đó không chỉ bằng thi ngữ, mà còn bằng chính sứ mệnh cầm bút của mình.</p>



<p>Những ngày sống trên đất người — mà sao người ta cứ gọi là “đất lạ”, là “lưu vong”, hay “lưu đày”!? Còn người cũ ở lại nhà thì sao lại bị gọi là “lạc lõng”, là “ở bên lề”, v.v… Những câu nói đầy cảm tính, chủ quan, và như chưa thoát được phạm trù sai biệt.</p>



<p>Tuy nhiên, với những cá nhân đã sống, đã chịu đựng, đã lựa chọn, thì cái gọi là “lạ” ấy — của một miền đất mình vừa ký nhận cuộc sống chung thân, hay chiếc chiến bào bạc màu của người cũ ở lại, hoặc chỉ là chiếc áo mong manh của Socrates, người đã nhận chén thuốc độc và thản nhiên uống trước mặt bạn hữu — những hình ảnh đó mới thật sự nói lên chiều sâu nhân tính, phẩm cách và sự hiện hữu đau đớn của lịch sử trong lòng một con người.</p>



<p>Chỉ những cá nhân ấy, những con người của lịch sử ấy, mới hiểu được cái lẽ ấy nó tồn tại và lung linh trong cõi sâu của lòng họ như thế nào.</p>



<p>Cuộc chiến này nó khủng khiếp — đôi lúc nó cần đến đặc sủng của một Thiên Chúa làm người và chịu đóng đinh trên thập giá.</p>



<p>Và trong những ngày ở “đất lạ” ấy, nhà thơ Ngọc Tự vẫn tiếp tục đi tiếp nẻo đường thi ca mà anh đã mở ra khi còn ở nhà — một ngôi nhà đã trở nên thiêng liêng, trìu mến lạ thường, đến nỗi:</p>



<p>“buổi đi chân chưa bước – sao đã thấy ngập ngừng”</p>



<p><em>Cho nên từ Houston, Texas, anh viết:</em></p>



<p><strong>KẺ XA QUÊ NHẮN GỬI</strong></p>



<p><em>Kèm chú thích viết tay: “Gửi các bằng hữu nơi quê nhà – nhất là buổi sớm Chủ nhật.”</em></p>



<p><em>Mai bạn về thăm lại quê cũ</em><em><br>Cho ta gửi theo trọn nỗi lòng<br>Và rồi còn thêm gì nữa nhỉ?<br>Dường như cũng chỉ những hoài mong</em></p>



<p><em>Từ độ xa quê chiều hôm ấy</em><em><br>Trong ta thường khắc khoải khôn nguôi<br>Bao điều ngổn ngang loay hoay mãi<br>Lặng thầm theo mỗi buổi mây trôi</em></p>



<p><em>Ly rượu vơi đầy sao nhạt thếch</em><em><br>Bao giờ mới cạn sầu tha hương<br>Để ta rũ sạch bụi viễn khách<br>Dốc ngược cho khô đáy hồ trường</em></p>



<p><em>Đêm nay quê người như lạnh quá</em><em><br>Khẽ ép mẩu gió vào tim hoang<br>Không nghe chút thương thừa nồng ấm<br>Ta gọi ta — thảng thốt bàng hoàng</em></p>



<p><em>Bạn về thưa dùm lời khất hẹn</em><em><br>Rằng ta vẫn nhớ nợ quê xưa<br>Canh cánh bên lòng luôn thao thức<br>Đau đáu mãi thôi — biết sao vừa</em></p>



<p><em>Đêm Houston buồn tênh và xám ngắt</em><em></em></p>



<p>Bài thơ này anh đánh máy, có chữ ký và con dấu, kèm theo mấy dòng viết tay:<em>*</em><em> </em><em>“Gửi các bằng hữu nơi quê nhà – nhất là buổi sớm Chủ nhật.”</em></p>



<p>Hai câu cuối trong bài thơ trên, Ngọc Tự dùng hai trạng từ có nghĩa tương đương: canh cánh/đau đáu, để diễn tả tâm trạng của anh trong những ngày trước và sau buổi rời xa bến cũ hoặc xa xóm nhỏ, đó là những bâng khuâng, trăn trở, thao thức, u uẩn mà anh chưa biết mở ra với ai, vẫn còn đó, canh cánh bên lòng, đau đáu khôn nguôi.</p>



<p>Một con người tình cảm như thế, thì không thể là một kẻ coi xứ người là “đất hứa”! Nhà thơ Ngọc Tự đã mô tả tâm sự của mình, nói về cái tôi của mình, day dứt với những tâm tư day dứt, trăn trở với những trăn trở liên lỉ, như không bao giờ ngưng nghỉ, lặng thinh. Vì như thế là đánh mất mình, mà Ngọc Tự thì không bao giờ chấp nhận “đánh mất mình”.</p>



<p>Sau đây là mấy bài thơ của Ngọc Tự trong ý hướng đó:</p>



<p><strong>THOÁNG TRONG CHIỀU LUÂN LẠC</strong></p>



<p><em>Tháng 04/2007</em></p>



<p><em>loanh quanh cơm áo quên người<br>vai nghiêng bóng lệch rối bời hoàng hôn<br>thấp thỏm đi qua nỗi buồn<br>bước chân xiêu vẹo nghe hồn lặng thinh</em></p>



<p><em>chợt ra — bỗng thấy thương mình<br>bao mùa lưu lạc ngỡ hình như thôi<br>cầm bằng cũng đã pha phôi<br>quên nhà xa lắc cuối trời mây sương</em></p>



<p><em>thẫn thờ ngồi xuống bên đường<br>vu vơ vẫy gọi đoạn trường bâng khuâng</em></p>



<p><strong>SỚM MAI TÔI</strong></p>



<p><em>Tháng 01/2010</em></p>



<p><em>bần thần tay nắm nhẹ tay<br>bỗng như vừa thấy mình gầy hơn xưa<br>chắc rằng bao buổi nắng mưa<br>đã dần phai nhạt từng mùa tóc xanh</em></p>



<p><em>giờ thì vẫn giữa loanh quanh<br>còn đâu lưng vốn của cành bạc đời<br>thật thầm tôi gọi: tôi ơi<br>chỉ nghe vọng lại một trời quạnh hiu</em></p>



<p><strong>BÀI CHO TÔI</strong></p>



<p><em>xòe tay nhẩm đếm dại khôn<br>chừng như đời đã hoàng hôn bao giờ<br>loanh quanh giữa cõi ngẩn ngơ<br>riêng ta một chỗ ngu khờ nơi đâu</em></p>



<p><em>chập chùng vẫn đấy biển dâu<br>sóng xô chưa hết dãi dầu tháng năm<br>muộn màng còn chút ăn năn<br>bờ xa cát xóa vết hằn bước chân</em></p>



<p><em>cũng đành thương lấy một thân<br>văn chương nửa chữ, nông dân nửa cày</em></p>



<p>Trên đây quý bạn đọc đã thấy một Ngọc Tự, nhà thơ viết về cái tôi của riêng mình, vây bủa bởi những day dứt khi rời xa xóm cũ cũng như cái tôi của anh trên đất người. Chúng ta chưa gặp nhà thơ với những “cái tôi” khác trong nhân thế khổ đau này. Tuy nhiên, bài thơ dưới đây, Ngọc Tự đã có một quan điểm rất khác với những cái nhìn của anh mà chúng ta đã từng thấy. Cái “rất khác” ấy là cái tinh thần gắn bó với quê hương, tổ quốc ngàn đời yêu dấu, sau khi anh “ngụ cư” ở trên đất người. Ngọc Tự là thế.</p>



<p><strong>VÀI LỜI THƯA CỦA GÃ NGỤ CƯ</strong></p>



<p><em>— mùa bầu cử Tổng Thống Hoa Kỳ, Houston 10/2012 —</em></p>



<p><em>xin thưa với đất nước Hoa kỳ</em></p>



<p><em>cho tôi được bầy tỏ như một lời tạ lỗi</em></p>



<p><em>khi bây giờ quanh đây</em></p>



<p><em>rộn ràng vào mùa chuyển đổi</em></p>



<p><em>trong tôi vẫn một nguội lạnh dửng dưng</em></p>



<p><em>không chút tha thiết bận tâm Cộng Hòa hay Dân Chủ</em></p>



<p><em>những phát biểu và các điều tuyên ngôn quen thuộc chừng như đã cũ</em></p>



<p><em>(ôi những ông chính khách và thân phận nhược tiểu da vàng đất nước tôi)</em></p>



<p><em>có điều gì đó sao bỗng phải ngập ngừng</em></p>



<p><em>và nỗi quặn thắt rưng rưng</em></p>



<p><em>Việt Nam.</em></p>



<p><em>xin thưa với đất nưóc Hoa kỳ</em></p>



<p><em>cho tôi được bầy tỏ như một lời tạ lỗi</em></p>



<p><em>mặc bộ quần áo đẹp và bữa ăn ngon mỗi buổi</em></p>



<p><em>tôi hiểu về những ân cần từ tâm và vòng tay độ lượng bao dung</em></p>



<p><em>mà cũng không thể nào quên sự bội bạc quay lưng đến lạnh lùng</em></p>



<p><em>đã một thời bạn hữu đồng minh</em></p>



<p><em>ơi quê hương khổ hạnh</em></p>



<p><em>Việt Nam</em></p>



<p><em>xin thưa với đất nước Hoa kỳ</em></p>



<p><em>cho tôi được bầy tỏ như một lời tạ lỗi</em></p>



<p><em>khi long trọng giơ tay ngày tuyên thệ để nhận lấy điều thay đổi</em></p>



<p><em>tôi nghe điệu Folksong rộn rã quanh đây</em></p>



<p><em>và cũng ứ nghẹn trong tim bài ca vong quốc</em></p>



<p><em>tôi đã ở nơi đây qua những năm tháng dài lạnh buốt</em></p>



<p><em>chưa bao giờ nuốt trọn nổi mẩu hot dog và bánh pizza</em></p>



<p><em>quên sao được vuông sân nhỏ quê nhà</em></p>



<p><em>những bữa cơm khó nghèo qua suốt mùa binh đao lửa đạn</em></p>



<p><em>Việt Nam</em></p>



<p><em>xin thưa với đất nước Hoa kỳ</em></p>



<p><em>cho tôi được bầy tỏ như một lời tạ lỗi</em></p>



<p><em>gã ngụ cư tôi đã bạc đầu vẫn còn loay hoay mà hỏi</em></p>



<p><em>có thật hay không giấc mơ Mỹ và nỗi trằn trọc khôn cùng</em></p>



<p><em>tổ quốc là đây hay tổ quốc đã khuất nẻo mịt trùng</em></p>



<p><em>mong ngóng mãi một buổi về mỏi mòn vô vọng</em></p>



<p><em>cay đắng đến thế sao</em></p>



<p><em>chén rượu nhỏ người ly khách</em></p>



<p><em>vơi đầy thấp thoáng bóng cố hương</em></p>



<p><em>khôn khuây những chiều lặng thầm tưởng nhớ.</em></p>



<p><em>Việt Nam</em></p>



<p><em>xin thưa với đất nước Hoa kỳ</em></p>



<p><em>cho tôi được bầy tỏ như một lời tạ lỗi</em></p>



<p><em>cái lỗi lầm mà đâu thể nào sám hối</em></p>



<p><em>vậy ra tôi đã là kẻ ngụ cư tệ bạc đến vô cùng</em></p>



<p><em>sự tệ bạc chân thật và cần thiết</em></p>



<p><em>vì cội rễ này nên có một điều vẫn mãi phải tín trung</em></p>



<p><em>Việt Nam</em></p>



<p><em>ngọctự</em></p>



<p><em>mùa bầu cử. Houston 10/2012</em></p>



<p>Thực sự, những gì trong thơ Ngọc Tự chúng ta đã đọc –chỉ là những hình ảnh rời tuy đậm nét về những năm tháng nhà thơ đã trải qua: chiến tranh, ngục tù (2 lần), xóm nhỏ quê nhà v.v… Nhưng sẽ là thiếu sót, khi viết về Ngọc Tự mà bỏ qua một điều nó làm cho Ngọc Tự khác với người khác. “Cái khác” ấy, Ngọc Tự đã thể hiện nơi bài <em>Vài lời thưa của gã ngụ cư</em>. . Đó chính là cái “bao quát”. Qua bài thơ này, Ngọc Tự nói cho mình nhưng biết đâu, anh chẳng nói cho nhiều người, cả ở ngoài nước và người “ở lại”.</p>



<p><strong>Khải Triều</strong></p>



<p>(Trích trong tập NHỮNG NHÀ THƠ CÔNG GIÁO VIỆT NAM Tháng 9/2022)</p>



<figure class="wp-block-image size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/Bia-sau-1-nhung-dong.jpg?strip=all&fit=203%2C300&w=2560"><img decoding="async" width="203" height="300" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/Bia-sau-1-nhung-dong.jpg?strip=all&fit=203%2C300" alt="" class="wp-image-81151" style="width:355px;height:auto"/></a></figure>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Khải Triều: Nén Hương Lòng Cho Trần Ngọc Tự, Người Anh Em Vừa Rời Khỏi Chỗ “Ngụ Cư”!</title>
		<link>https://t-van.net/khai-trieu-nen-huong-long-cho-tran-ngoc-tu-nguoi-anh-em-vua-roi-khoi-cho-ngu-cu/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Khải Triều]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 13 Jun 2025 09:23:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[tưởng niệm Trần Ngọc Tự]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=81142</guid>

					<description><![CDATA[Tôi viết cho Tự những lời này, khi thân xác anh còn ở tại thế để cho thân nhân, như vợ con anh, như bằng hữu và những người yêu mến anh đến bên anh để cầu nguyện, chia buồn với những người trong gia đình của anh, trong lúc họ đang trống vắng, phiền [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/tran-ngoc-tu-hinh-7.jpg?strip=all&w=2560"><img decoding="async" width="640" height="480" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/tran-ngoc-tu-hinh-7.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-81068" style="width:556px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/06/tran-ngoc-tu-hinh-7-300x225.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/tran-ngoc-tu-hinh-7.jpg?strip=all 640w" sizes="(max-width: 640px) 100vw, 640px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Tôi viết cho Tự những lời này, khi thân xác anh còn ở tại thế để cho thân nhân, như vợ con anh, như bằng hữu và những người yêu mến anh đến bên anh để cầu nguyện, chia buồn với những người trong gia đình của anh, trong lúc họ đang trống vắng, phiền muộn vì người thân yêu vừa rời khỏi họ, nơi căn nhà của chốn “ngụ cư” như Trần Ngọc Tự nói thế trong một bài thơ. Anh nhận mình là một “gã ngụ cư” trên đất nước Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ.</p>



<p>Theo tín lý Kytô giáo, tôi tin vào mầu nhiệm của sự chết. Cái chết của con người không dừng lại ở sự “chấm hết” như cách nghĩ thông thường của người đời, nghĩa là “chết là hết”. Nghĩ như thế thì chỉ nghĩ về một mảng sống, đã quên lời “sống gửi thác về”. Về đâu? Không phải về với hư vô như các văn nghệ sĩ hay nói về mình như thế, một tâm niệm giả định thôi. Người ta thường nói “vong linh” của người chết. Cái “vong” của con người linh thiêng lắm.</p>



<p>Trần Ngọc Tự “ra đi” là điều tôi không ngờ. Bởi trong bữa tiệc chia tay với bạn hữu trước khi gia đình anh sang sống tại Hoa Kỳ, tháng 12/2006. Bàn tiệc hôm đó là một cái bàn dài, các bạn ngồi hai bên, có khoảng hơn 10 người. Ngọc Tự xếp tôi ngồi ở đầu bàn, đối diện với vợ chồng anh, chị Tuyết Nga, vợ anh. Một người bạn nào đó lên tiếng yêu cầu tôi nói vài lời chia tay với anh Tự. Các bạn khác đổ dồn mắt về phía tôi, vợ chồng Tự cũng đưa mắt nhìn tôi. Bị đẩy vào tình huống này như chưa bao giờ xảy ra cho tôi, đành phải đáp lễ với bạn hữu. Tôi nhìn vợ chồng anh chị Tự, rồi nhìn các bạn. Tôi chỉ nói được vài lời cách riêng giữa Tự và tôi thôi. Tôi nói: “Có lúc tôi đã nghĩ, khi nào tôi chết, tôi muốn có anh Tự ở bên tôi”. Lời này khiến anh Tự ngạc nhiên, anh nói, vì tôi nói thế, nên anh phải nghĩ cách nào đó…Rồi anh có dáng suy nghĩ.</p>



<p>Bây giờ thì Ngọc Tự đã “đi” trước tôi, anh ở tuổi 77, còn tôi 89. Ở cái tuổi như tôi, có nhiều điều, nhiều việc đã quên, nhưng lạ cho con người, có nhiều cái quên thì cũng còn đó những điều những việc còn nhớ. Vậy tôi nhớ những gì trong giao hảo thân tình với Ngọc Tự?</p>



<p>Lần theo thời gian, tôi gặp Trần Ngọc Tự 1,2 lần trước ngày tôi vào lính KQ/BTL/Khối CTCT đầu tháng 2/1967. Sau đó Trần Ngọc Tự được điều về ngay tại đơn vị tôi. Trong suốt thời gian hai chúng tôi cùng ở một đơn vị là Khối CTCT/BTLKQ, tôi vẫn giữ lễ với anh như mọi sĩ quan khác, vì tôi là lính. Tôi nhớ lời của nhà văn NĐT (xin miễn ghi cả tên) nói với tôi ngay trước mặt sĩ quan trưởng phòng. Ông đang ngồi đó, còn tôi ngồi ở cái bàn bên trái ông. NĐT đến trước trước mặt tôi nói: “Ông cứ ngồi đây suốt ngày, vô tình tố cáo tụi này “lặn”. Ông ám chỉ đến mấy người khác là văn nghệ sĩ cùng phòng. Tôi là lính bình thường, nên làm việc theo lệnh của chỉ huy trực tiếp trong thời kỳ chiến tranh. Nói điều này ở đây, tôi chỉ muốn xác định điều tôi giữ “lễ” với sĩ quan trẻ Trần Ngọc Tự, không có gì là khó hiểu. Có lẽ tôi vẫn thế cho tới bây giờ, như Ngọc Tự nhận xét sau lần anh từ Mỹ về, có đến thăm tôi.</p>



<p>Có một câu nói: Tình người quân tử nhạt như nước ốc.</p>



<p>Thời gian qua đi gần 10 năm sau, có lúc tôi là lính, thuộc quân số trong ban văn nghệ do một sĩ quan là Trần Ngọc Tự làm trưởng ban. Anh được trao cho tờ Lý Tưởng. Anh bảo tôi viết bài cho số Mùa Xuân. Sài Gòn thuở ấy, mùa Xuân nào, các Nhật báo cũng đều có số Tất Niên. Còn Tuần báo và các Tạp chí thì ra số đặc biệt. Tờ Nguyệt san Lý Tưởng cũng có ra số đặc biệt.</p>



<p>Thường thì người ta viết về con vật biểu tượng của năm mới, hay viết về những gì đã qua trong năm cũ và những gì của những ngày sắp đến v.v&#8230; Riêng tôi, không hiểu sao, tôi lại cứ nghĩ đến một đề tài mà mình viết trong dịp cuối năm. Đó là “<em>Năm cùng tháng tận”</em>, không nghĩ gì đến những việc khác nữa. Nhà thơ Kiêm Thêm, họ Trần, người Huế, sinh năm 1940, sống tại Hoa Kỳ, cùng khóa thi BTV, hạ sĩ quan đồng hóa, do BTL/KQ tổ chức vào khoảng năm 1966, (đầu năm 1967, tháng 2, chúng tôi nhập ngũ), và cùng đơn vị. Có lần nói với tôi, vẻ ngạc nhiên: “Tại sao ông cứ thích viết về cái đề tài này nhỉ?”. Tôi không nhớ đề tài này viết vào năm nào trên tờ báo Lý Tưởng Xuân, nhưng cái năm xảy ra biến cố lịch sử đưa đến ngày ngậm ngùi, uất hận 30 tháng 4 năm 1975, thì một sự kiện xảy ra tại Khối CTCT/BTL/KQ trong dịp chúng tôi chuẩn bị Tết. Đó là việc một Thiếu tá, dạy võ tại Võ đường Thần Phong, Tân Sơn Nhất, dựng cây nêu trước Văn phòng Khối. Vừa dựng lên thì cây nêu đổ, gẫy ở phần cuối. Ngay lúc đó, anh em trong đơn vị đã xì xào với nhau là điềm chẳng lành đây.</p>



<p>Trước ngày 30-04-1975, anh Tự nhờ tôi làm bõ “đỡ đầu” cho trưởng nam, theo Kitô giáo, trong nghi thức Rửa tội. Ngày đó anh ở bên nhà vợ, gần nhà thờ Hàng Xanh. Còn sau ngày 30-04-1975, từ trong nhà tù, anh nhắn về nhà, nhờ tôi “đỡ đầu” cho trưởng nam trong nghi thức “Bí tích Thêm Sức”, nhận ơn Thánh Linh. Cả hai Bí tích này, đối với người tín hữu Kitô giáo là một việc thiêng liêng, cao cả. Người “bõ” đỡ đầu cũng phải là một tín hữu, đạo đức, gương mẫu trong việc sống đạo. Kể lại việc này, tôi chỉ muốn nói rằng Trần Ngọc Tự lo lắng cho con trai của mình về mặt tinh thần và đã tín nhiệm tôi trong vai trò làm “bõ” cho cậu ấy.</p>



<p>Trước ngày gia đình anh sang Mỹ, chị Tuyết Nga, vợ anh dẫn con trai tới nhà thờ dòng Chúa Cứu Thế, trên đường Kỳ Đồng, Sài Gòn dự thánh lễ lúc 10 giờ sáng Chúa Nhật. Bình thường tôi cũng đi lễ tại nhà thờ này những chiều thứ bảy và sáng Chúa nhật, hôm đó tôi cũng đi lễ ở đây. Gặp chị tại nhà sách, chị chỉ vào Tuấn, con trai, nói với tôi: Nó đấy, anh muốn nói gì với nó thì cứ nói.</p>



<p>Còn sau ngày 30-04-1975, buổi chiều trước khi anh Ngọc Tự đi tập trung cải tạo, tôi lên Hàng Xanh gặp anh để chia tay, hai chúng tôi ra quán đầu ngõ uống cà phê thật lâu. Giờ tôi không còn nhớ những gì chúng tôi đã tâm sự với nhau buổi chiều hôm ấy.</p>



<p><em>Về vụ án văn nghệ, “liên lạc và gửi bài cho Văn Bút hải ngoại”</em> (theo bản tiểu sử của Trần Ngọc Tự trên trang T. Van &amp; BanHuu.)</p>



<p>Trần Ngọc Tự cũng nói cho tôi hay vụ này. Anh còn nói tôi đưa cho anh bản thảo cuốn sách tôi đã viết xong vào tháng 3 năm 1983, là cuốn “Công Giáo Miền Nam Việt Nam Sau 30-04-75”, anh sẽ chuyển sang Pháp cho Trần Tam Tiệp Trung tá An ninh KQ, như anh đang làm, qua cô Nhạn, nhân viên trẻ ở Bưu điện Sài Gòn do ông Tiệp giới thiệu. Mỗi lần chuyển, anh sẽ chép lại ít trang gửi đi, bản thảo của tôi giữ lại. Tôi nghĩ đường dây liên lạc này không an toàn. Tuy nhiên, nể Tự và ông Tiệp, tôi cũng đưa cho Tự một bài thơ. Bây giờ tôi không nhớ tên bài thơ này, viết về điều gì. Cũng không biết, ông Tiệp có đăng nó ở đâu hay không. Bởi vì lúc ấy, tôi đang “bận tâm” về cuốn sách của tôi. Rồi tôi nhận tin Tự bị bắt từ gia đình anh. Trần Ngọc Tự, cô Nhạn và một số nhân vật đáng kính ở Sài Gòn có liên quan đã ra tòa và sau mấy năm trong tù về, Ngọc Tự đến nhà tôi, anh kể khi nhân viên an ninh hỏi cung anh, họ có nhắc đến tôi, một ông già lùn hay đến anh là người thế nào. Anh trả lời họ là tôi thích việc anh làm, nhưng không tham gia.</p>



<p>Đoạn văn này tôi viết buông, không để trong ngoặc kép những lời Tự nói hay nhân viên an ninh hỏi cung Tự, họ có nhắc đến tôi. Nhưng tôi nghĩ rằng quý vị hiểu được những điều này. Tôi chỉ xin thưa: Tất cả đều là sự thật. Cả những gì tôi viết trong bài này về Trần Ngọc Tự với tôi, cũng đều là thật. Trần Ngọc Tự có thể làm chứng về điều này, tuy anh nằm đấy, nhưng vong linh của anh chưa đi xa đâu, bởi anh còn người vợ và những người con, các cháu nội, ngoại, những người thân yêu khác, cả bạn hữu nơi quê nhà và ở xứ sở nơi anh “ngụ cư”, vẫn đang hướng về anh, thương tiếc anh vô cùng.</p>



<p>Còn một vài điều nữa liên quan đến hai chúng tôi, cũng xin được kể lại cho trọn đôi bề thân tình.</p>



<p>Tôi có một người bạn rất thân, nhiều năm cùng ra vào trong căn gác trọ trên đường Nguyễn Thông (nối dài), nay là Trần Văn Đang, quận 3 Sài Gòn, đến bữa cùng nhau ra quán bình dân ăn bát cơm. Trong suốt nhiều năm như thế. Anh nhập ngũ tại Trường Võ bị Thủ Đức giữa mùa binh lửa. Ra đơn vị, anh về SĐ 21 BB. Rồi bom đạn đã cướp anh đi. Anh được đơn vị đưa xác về nhà vợ ở Cần Thơ. Lúc đó, vợ chồng anh mới có cậu con trai đầu lòng. Tôi được báo cho biết. Ngày tôi xuống Cần Thơ để dự vào việc an táng cho bạn, Ngọc Tự đi với tôi, dù chưa găp bạn tôi lần nào, là do anh quý tôi nên quý cả bạn tôi.</p>



<p>Khi vợ tôi sanh con gái đầu lòng, được mấy tuần, mâu thuẫn giữa vợ chồng tôi xảy ra. Vợ tôi bỏ về nhà mẹ, để con gái còn nhỏ như thế cho tôi. Tôi phải vắng mặt tại đơn vị khoảng một tuần lễ. Ngọc Tự biết, anh đã đến với tôi, gặp lúc tôi đang ru con gái ngủ trên võng. Sự có mặt của anh lúc đó, thật là quý.</p>



<p>Về báo chí, tôi không biết anh Tự có tham gia vào việc viết bài cho tờ Tạp chí Quần Chúng (bộ cũ) hay không (1968). Nhưng khi tôi được trao làm tờ này, (1969-tới khi báo bị tịch thu, 1970), anh Tự đã tham gia vào BBT. Cả khi tôi nhận lời cụ Trương Vĩnh Lễ làm tờ Tuần báo Diễn Đàn Chính Đảng, (1971) anh Tự thuộc BBT của báo này, một số bài anh viết cho tờ này, anh ký tên là Trần Ninh Bình, được người khó tính nhất trong BBT của báo, là một Luật sư. Ông ủng bộ Trần Ninh Bình.</p>



<p>Anh Trần Ngọc Tự thân mến,</p>



<p>Anh còn nằm đây, trên mảnh đất “ngụ cư”. Tôi không quên bài thơ này và đã nhắc đến trong một cuốn sách về Những nhà thơ Công giáo Việt Nam hiện nay, năm 2022. Tôi nghĩ rằng anh đã đọc và anh đã tha thứ cho tôi tất cả những vụng về, thiếu sót của tôi trong suốt quãng đời hai chúng ta quen nhau và tôi trở thành “bõ” đỡ đầu cho trưởng nam của vợ chồng anh là Trần Ngọc Tuấn. Vì anh từ trong tù đã chọn tôi làm việc này để anh được an tâm.</p>



<p>Giờ đây, tôi nghĩ rằng anh đã an tâm. Ngọc Tuấn đã ở bên anh chị ít năm nay và anh biết Tuấn đã trưởng thành. Còn tôi, khi anh T. Vấn báo tin cho tôi là anh mất, sáng thứ bảy, thì con gái tôi, cháu Phúc Thảo đã xin một thánh lễ cầu nguyện cho anh ngay. Thiên Chúa là Cha nhân từ, Ngài sẽ nhậm lời cầu của tất cả những người thân yêu của anh.</p>



<p>Vĩnh Biệt Trần Ngọc Tự</p>



<p><strong>Khải Triều</strong></p>



<p>(Viết vào ngày 12-6-2025, giáp lễ Thánh Antôn Pađôva)</p>



<p></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>KHẢI TRIỀU: NHỮNG NGƯỜI BẠN VĂN CHƯƠNG (Toàn Tập)</title>
		<link>https://t-van.net/khai-trieu-nhung-nguoi-ban-van-chuong-toan-tap/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Khải Triều]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 10 Jun 2025 15:39:29 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[NHỮNG NGƯỜI BẠN VĂN CHƯƠNG]]></category>
		<category><![CDATA[Những người bạn văn chương]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=81034</guid>

					<description><![CDATA[KHẢI TRIỀU: NHỮNG NGƯỜI BẠN VĂN CHƯƠNG (Toàn Tập) Xin Bấm vào Đây LỜI MỞ Xin thưa ngay với quý vị đang có quyển sách này trên tay, rằng đây không phải là một tác phẩm biên khảo về văn học, mặc dù người viết nhận đây là những người bạn văn chương của mình. [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/BIA-KT-3.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="784" height="1024" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/BIA-KT-3-784x1024.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-81036" style="width:408px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/06/BIA-KT-3-230x300.jpg 230w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/BIA-KT-3-784x1024.jpg?strip=all 784w, https://cdn.t-van.net/2025/06/BIA-KT-3-768x1003.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/BIA-KT-3.jpg?strip=all 896w" sizes="(max-width: 784px) 100vw, 784px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p class="has-text-align-center">KHẢI TRIỀU: NHỮNG NGƯỜI BẠN VĂN CHƯƠNG (Toàn Tập)</p>



<p class="has-text-align-center">Xin Bấm vào Đây</p>



<div data-wp-interactive="core/file" class="wp-block-file"><object data-wp-bind--hidden="!state.hasPdfPreview" hidden class="wp-block-file__embed" data="https://cdn.t-van.net/2025/06/NHUNG-NGUOI-BAN-VAN-CHUONG-FINAL.pdf" type="application/pdf" style="width:100%;height:600px" aria-label="Embed of NHUNG NGUOI BAN VAN CHUONG - FINAL."></object><a id="wp-block-file--media-e8f6e80e-138d-4865-ba57-f3849532db0a" href="https://cdn.t-van.net/2025/06/NHUNG-NGUOI-BAN-VAN-CHUONG-FINAL.pdf" class="mcloud-attachment-81035">NHUNG NGUOI BAN VAN CHUONG &#8211; FINAL</a><a href="https://cdn.t-van.net/2025/06/NHUNG-NGUOI-BAN-VAN-CHUONG-FINAL.pdf" class="wp-block-file__button wp-element-button mcloud-attachment-81035" download aria-describedby="wp-block-file--media-e8f6e80e-138d-4865-ba57-f3849532db0a">Download</a></div>



<p><strong>LỜI MỞ</strong></p>



<p>Xin thưa ngay với quý vị đang có quyển sách này trên tay, rằng đây không phải là một tác phẩm biên khảo về văn học, mặc dù người viết nhận đây là những <em>người bạn văn chương</em> của mình. Bởi vì mỗi người trong số 16 vị này, đều có tác phẩm, thơ hoặc văn. Có người chỉ có một tập thơ, một quyển sách hay có người bạn cách xa nhau cả 40 năm trời, nhưng khi gặp lại nhau thì trao cho nhau một cục USB, chứa những tài liệu về lịch sử v.v…Có thể gọi là tiểu thuyết lịch sử dài! Đấy như thể là một “cám dỗ”, một “sợi chỉ điều” để liên kết, để “ngồi xuống” với nhau trên trang sách này, nhất là trong thời buổi rất dễ phân tán, rất dễ “xa nhau” này vậy!</p>



<p>Mặc dù sách không phải là tác phẩm biên khảo văn học theo nghĩa chặt của ngành nghiên cứu văn học trong trường, nhưng người viết sẵn sàng đi vào một con đường khác, không phải là lối cũ, để thưởng thức những trang văn, thơ của bạn mình, rồi mạnh dạn giới thiệu với quý vị. Chỉ tiếc một điều, chúng tôi, tác giả, không còn nhiều thời gian để cùng với quý vị nhấp chén rượu có thể ngọt, có thể cay và cũng có thể là chua chát, tùy ở tâm thức mỗi vị, nơi những người bạn khác không cùng với 16 vị và chúng tôi đi trên con đường độc đạo, nhưng có những hoa thơm, đồng cỏ lạ, suối nước mát.</p>



<p>Vì vậy trong số 16 vị này, người viết đã có những kỷ niệm sâu đậm hoặc thoáng qua, nhưng đã như là “vụ-nổ-tình-cảm” nên thấm sâu vào nội tâm mình, có người hơn nửa thế kỷ, có người thì bốn mươi năm hay mười năm. Người viết rất yêu quý những mảnh tình cảm đặc biệt này, coi như ân nghĩa trong đời mình. Chính điều này đã thúc đẩy người viết, dù đã bước vào chặng cuối cuộc đời, cũng luôn thầm nhủ trong lòng là phải thực hiện cho xong quyển sách này.</p>



<p>Xin cảm ơn các bạn. Chính các bạn đã tạo thành những trang sách này. Cho nên, nó thuộc về các bạn. Với người đã “VỀ!”, đây là quà tặng của họ gửi chúng ta và xin trao cho đời.</p>



<p>Xin được nhắc lại với độc giả, chúng tôi viết cuốn sách này cũng như cuốn Những nhà thơ Công giáo Việt Nam hiện nay, năm 2022, chỉ với mục đích giới thiệu về những bài thơ cũng như một số nhà thơ, một số tác giả đã khuất, chúng tôi không làm công việc của nhà nghiên cứu hay biên khảo chuyên biệt. Chúng tôi nhớ đến lời trong Tin Mừng, (Lc 19, 11-28) nói về những nén bạc ông chủ trao cho những người làm công, rồi ông trẩy đi xa. Sau khi ông chủ trở về, ông gọi tất cả những người ông đã trao cho họ những nén bạc. Có người đem nén bạc ấy ra làm ăn, có sinh lời. Nhưng cũng có người đem chôn nén bạc nên không sinh lời. Tôi hiểu rằng, những tài liệu, sách báo tôi có từ trước kia và sau này là những <em>nén bạc</em> tôi đã nhận từ những yêu thương của bạn hữu trong các quan hệ ở đời, như tôn giáo và xã hội. Tôi đã đem ra <em>giới thiệu</em> với độc giả, chứ không <em>cất giấu</em> hay giữ làm của riêng mình. Tôi chỉ là người <em>làm công</em> cho Ông Chủ. Và tôi thấy có hạnh phúc, có an bình khi làm việc này.</p>



<p>Có mặt trong sách này là 16 khuôn mặt văn chương, cũng là 16 cây bút về thơ, văn, truyện, truyện lịch sử, có người đi từ buổi kháng chiến, Tự vệ thành, rồi thất vọng trên mảnh đất phương Nam; có người vì lý tưởng mà mất người tình; có nhà thơ mà tuổi trẻ là một võ sĩ địch muôn người, rồi trở nên nhà thơ có thơ trải dài trên Núi Cúi và khắp bờ biển Đông. Chúng ta cũng có nhà quan sát, lý luận về vấn đề dân chủ tại Việt Nam, về tranh chấp biển đông. Và có nhà thơ trở về từ hậu bán thế kỷ 20, không bao giờ thấy ông hồn nhiên sống với vợ và con cháu trong nhà. Viết mấy thi tập trường thiên về dân tình mà tác giả vẫn thôi khóc. Rồi sang đến xã hội mới, ông lại buồn chán vì nỗi thù hận từ hai cuộc chiến tranh đau thương và chia cắt.</p>



<p>Bây giờ, nhân loại đã bước vào năm 2000, mà thù hận nhau, chia rẽ nhau vẫn chưa hàn gắn được. Đó là một di sản chẳng ai muốn có và muốn để nó cứ diễn ra mãi, vì nó chỉ mang lại mất mát về tình đoàn kết và sự thân tình của con người với nhau. Nó cho thấy, xã hội ấy thiếu văn minh, thiếu nhân văn. Một xã hội như thê, hỏi ai là “kẻ sĩ”? Thời đương đại không còn “kẻ sĩ” như thời Cha, Ông mình. Nhưng, vẫn còn có những nhà thơ, những thi sĩ vốn nhận cái đau của dân tộc, của Tổ quốc, của người bần cùng, người đau khổ, nghèo đói làm cái đau của mình. Chúng tôi không tiện nói ra, nhưng độc giả có nhận thức, có lòng mộ mến văn chương và thi ca, hẳn cũng thấy được trong sách này, bóng dáng của những nhà thơ hay nhà văn có tấm lòng tha thiết, thương người cùng khổ. Có thể, đấy là những “Kẻ sĩ” thời đương đại.</p>



<p>Vì vậy, sách có nhiều thành phần, nhiều khuynh hướng: Công giáo, Phật giáo, Tin Lành, không tôn giáo và đạo gia tiên.</p>



<p>Sách có mấy tác giả đã khuất bóng, (6 người), chúng tôi viết về họ như nén hương lòng dâng lên vong linh họ, xin cho các tác giả này được về nơi vĩnh hằng.</p>



<p><strong>KHẢI TRIỀU</strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>PHẦN KẾT: KHẢI TRIỀU: NƠI ẤY VÀ TÔI</title>
		<link>https://t-van.net/phan-ket-khai-trieu-noi-ay-va-toi/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Khải Triều]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 03 Jun 2025 09:37:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[NHỮNG NGƯỜI BẠN VĂN CHƯƠNG]]></category>
		<category><![CDATA[Những người bạn văn chương]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=79929</guid>

					<description><![CDATA[KHẢI TRIỀU: NƠI ẤY VÀ TÔI Nơi Ấy… là quê hương, là làng cũ, là cố quận của tôi, là nơi tôi đã để lại một núm ruột&#8230;Rồi tôi phải rời xa! Đến nay, đã hơn 70 năm mà sao tôi vẫn nhớ làng cũ, nhớ đến Nơi ấy! Chắc chẳng có ai như tôi, [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/05/mgOyPSgX-image002.jpg?strip=all&fit=199%2C300&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="199" height="300" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/05/mgOyPSgX-image002.jpg?strip=all&fit=199%2C300" alt="" class="wp-image-79931" style="width:245px;height:auto"/></a></figure></div>


<p><strong>KHẢI TRIỀU: NƠI ẤY VÀ TÔI</strong></p>



<p><em>Nơi Ấy… là quê hương, là làng cũ, là cố quận của tôi, là nơi tôi đã để lại một núm ruột&#8230;Rồi tôi phải rời xa! Đến nay, đã hơn 70 năm mà sao tôi vẫn nhớ làng cũ, nhớ đến Nơi ấy! Chắc chẳng có ai như tôi, cùng thế hệ, cùng thời đã phải ra sân bay hay xuống tàu ra khơi ra đi, rồi từ 21 năm sau (1954-1975) hay sau đó nữa, đã hơn 20 lần tôi trở về. Tôi có những người bạn không bao giờ trở về vì những nỗi đau vẫn còn rỉ máu mỗi khi nhớ lại cảnh oan khiên của người thân.Tôi cũng có, quê tôi cũng có, còn nhiều đắng cay vì là làng Công giáo. Nhưng tôi vẫn về, cả đến bây giờ mắt đã mờ, chân đã rã rời. Vì tôi muốn ôm lấy tất cả những gì của một thời đắng cay. Có lẽ tôi là một trường hợp khác biệt. Bởi tôi đã được yêu thương, được phục vụ, được sống trong môi trường đạo đức phù hợp với bản tính của tôi chăng? Thế nhưng, hiện nay môi trướng ấy đang chìm dần vào quên lãng và cùng với não trạng chán chê của các thành phần trẻ, ra đời sau năm 1975, kéo nhau bỏ làng, lên tỉnh, lên thành…</em></p>



<p><em>Đường làng ở quê tôi, giờ đã có tên gọi, ngõ cũng có tên, có hẻm, có ngách và số nhà theo hẻm và theo ngách. Vì vậy, chất quê cũng theo đó mà mất. Thật ra, chất quê đã mất từ lâu rồi, nhưng bây giờ nó mới rõ ra như thế!</em></p>



<p><strong>Mùa Hè Năm 1954</strong></p>



<p>Tôi chưa hề quên mùa hè năm 1954, cái mùa hè cuối cùng của tuổi học trò của tôi ở quê nhà, có đủ cha mẹ, anh chị. Tuy nhiên, lần về nghỉ hè này, tôi đã gặp hai điều bất thường mà tôi mới thấy lần đầu. Hồi đó, chưa có con đường từ Ngã Ba Nguộn (nay là Phố Nguộn, kể từ sau ngày sáp nhập thành phố Hà Nội) về thẳng làng tôi như bây giờ, mà phải đi qua làng Văn Hội. Lần này, lúc tôi đi qua một cổng nhà ở Văn Hội thì nghe có tiếng người gọ<a>i:</a></p>



<p><em>“Chú Tùy đi học về đấy à ?”</em></p>



<p>Tôi quay đầu lại, mới biết là một thanh niên đang đứng ở cổng, nhìn tôi cười. Tôi không nhận ra anh ta là ai, sao ở làng trên này mà lại biết tôi? Hay anh là người cùng quê với tôi, lấy vợ người làng Văn Hội này? Mặc dù không biết rõ người gọi mình là ai, tôi vẫn mỉm cười chào lại anh.</p>



<p>Điều bất thường thứ hai là ngay khi tôi bước chân vào đến sân nhà mình, thì người đầu tiên tôi gặp là mẹ tôi, lúc ấy đang phơi thóc ở ngoài sân. Nghe tiếng tôi chào, mẹ quay nhìn tôi mà nói như giận:</p>



<p>“<em>Về làm gì, cha đã đi rồi, nhiều người cũng đã đi rồi</em>.”</p>



<p>Nghe mẹ nói thế, thật tình lúc ấy tôi chưa hiểu lời người nói. Tôi vội đi vào nhà, đặt cái va-li nhỏ đựng mấy bộ quần áo xuống mặt phản, rồi đi qua nhà người chị ở bên cạnh, ngõ phía trước. Tôi vừa bước chân lên hiên nhà người chị, thì mẹ tôi cũng vừa vào đến sân. Chị tôi lúc đó đang lúi húi ở dưới bếp, thấy có mẹ và tôi về&nbsp; thì vội bỏ lên nhà. Lúc này, mẹ tôi dịu giọng nói với tôi:</p>



<p><em>“Lúc nẫy thấy con về, mẹ mừng nhưng đang ở ngoài nắng, có mắng con mấy câu, con đừng giận mẹ. Có nhớ mẹ thì ở nhà mấy hôm thôi rồi lên với anh con ngay. Trong nhà xứ không còn ai nữa đâu. Làng người ta cũng đi nhiều lắm rồi”.</em></p>



<p>Thấy mẹ và chị nói chuyện về người này người kia ở làng đã lên cả ở Hà Nội hay xuống Hải Phòng, mà như không muốn cho tôi nghe, tôi xin phép về bên nhà thày mẹ tôi, rồi thay quần áo lên phản nằm nghỉ. Tôi đang thiêm thiếp ngủ thì nghe tiếng của mẹ nói:</p>



<p><em>“Bỏ lên bếp cho nó một bát cháo đậu xanh, lúc nào dậy nó ăn. Ở nhà này chỉ có mình nó là thương mẹ. Phải để nó đi thôi”.</em></p>



<p>Sau đó là yên lặng. Cái yên lặng của buổi trưa mùa hè ở nhà quê miền Bắc. Nhưng như bây giờ tôi mới hiểu, đó là cái yên lặng sau một quyết định về cuộc đời sau đó của tôi. Cũng chỉ bây giờ tôi mới hiểu những ánh mắt, những cái nhìn của hai người chị, nhìn tôi, khác thường nhưng trìu mến lắm, thương lắm. Chắc là cha mẹ tôi đã nói về việc tôi sắp đi xa.Tôi đã ngủ được một giấc, trở dậy thấy dễ chịu hơn. Tôi lấy nước rửa mặt. Nước trong bể lớn có mui vòng là nước mưa, còn nước ở bể con bên cạnh là nước gánh ở giếng ngoài làng về. Cả hai bể nước nói chung đều rất trong lành, nhưng tôi lấy nước ở bể lớn. Tôi vục cả mặt vào thau nước. Nước mát làm cho tôi thấy lòng nhẹ nhàng, như tan hết những bụi bặm trên đường đi bộ từ Ngã Ba Nguộn về đến nhà. Nhưng lời mẹ tôi nói lúc tôi vừa bước vào sân nhà là cha xứ đã đi rồi, lúc nầy tôi vẫn muốn vào nhà thờ và nhà xứ. Nghĩ thế, tôi liền mặc quần áo rồi đi ngay.</p>



<p>Khi tôi&nbsp; tới cái ngõ trước cửa nhà thờ, tôi thấy có một người đàn ông, đang đi theo sau tôi, cách xa vài chục mét. Tôi không thể phân biệt được người này có phải là người làng tôi hay người ở nơi khác đến, vì tôi vào ở hẳn trong Nhà Chung, từ năm 12 tuổi, nên không biết nhiều người ở ngoài làng. Lúc tôi đi tới bên hông nhà thờ, trước cửa nhà xứ, thì người đàn ông ấy cũng vào tới sân nhà thờ và đi về phía tôi. Tự dưng tôi bỏ ý định vào nhà xứ, chỉ dừng lại mấy phút trước cổng, vì biết rằng trong đó, nơi tôi đã sống chung với thầy giáo Yêm, anh Căn, anh Thiện, Nhân và Dánh cùng một vài anh em vào nhà xứ sau tôi, trong đó có anh Tùy, anh Giảng, anh Cánh và chú Thường…, nay người thì về nhà, người đi xa, không còn ai ở trong nhà xứ nữa, một khi không có linh mục, ngay đến hai ông bô giúp cha xứ việc cơm nước, nay cũng về với gia đình mình. Tôi thấy nao nao trong đầu, đưa mắt nhìn bâng khuâng vào bên trong, nhớ nhung, bồn chồn. Đôi chân như nặng nề hơn lúc ở nhà bước đi. Lúc ấy, sao mà như có lửa đốt trong lòng, chỉ mong vào ngay nhà xứ thôi. Tôi đi về phía cửa lên nhà mặc áo của các cha, các lễ sinh, ngồi xuống bậc thềm, bên cạnh là cây đại (hoa sứ), sắc hoa mầu trắng. Mấy cánh hoa rụng xuống trước mặt, tôi cầm lên một cánh, đưa lên mũi ngửi. Mùi hoa của cây đại được kể là đã có tuổi thọ, tỏa hương thơm dịu, tôi lại càng thấy nhớ về những năm tôi ở trong nhà xứ, rồi được cha xứ gửi đi trường Hoàng Nguyên, là ngôi trường đầu tiên tôi đi học xa nhà, ngoài trường làng. Người đàn ông tiếp tục đi về phía tôi. Khi đi ngang qua chỗ tôi ngồi, ông đưa mắt dò xét nhìn tôi. Lúc đó, tôi chỉ là một cậu học trò nhỏ, tính rụt rè, chẳng nghĩ suy gì về sự kiện sao người đàn ông này lại cứ theo tôi từ nẫy đến giờ? Ông ta ở đâu đến đây? Hay sau này tôi mới nghe nói, làng tôi cũng có những cán bộ theo VM từ trước, họ đã gieo rất nhiều đau thương cho người trong làng hoạt động tôn giáo, phục vụ nhà thờ, nhà xứ như thân phụ tôi. Khoảng năm 1995, tôi đem câu chuyện hè năm 1954 trở về quê, kể cho hai người bạn văn chương nghe, (Văn Thế Bảo và Ngứa Nhĩ Trần Nguyên Ánh) lúc chúng tôi ngồi uống cà phê với nhau, bấy giờ&nbsp; tôi mới hiểu&nbsp; hành tung của người đàn ông đi theo mình. Các bạn tôi đều cho rằng số tôi gặp may, còn được&nbsp; trở lại Hà Nội để có ngày hôm nay, gặp nhau tại đây. Còn như ở vùng các anh, Vĩnh Phú…, thời gian đó mà ở Hà Nội về là khó ra đi được nữa, mặc dù cũng chỉ là học trò về thăm nhà&nbsp; cả thôi. Một trong hai người bạn tôi, nói rằng cũng vì nhớ mẹ, nhớ nhà trở về mà thân chỉ chậm một chút là bị kẹt ở lại. Nghe bạn nói, tôi mới hiểu ra tại sao lúc thấy tôi về, mẹ tôi, dẫu mừng và thương tôi, cũng không cầm chế được một chút giận dỗi, đã mắng tôi “<em>về làm gì</em>”!</p>



<p>Tôi không sao ngờ được, đó lại là cái mùa hè cuối cùng trong đời học trò của tôi&nbsp; được trở về quê mấy ngày ngắn ngủi bên cha mẹ và anh chị.</p>



<p>Tôi nghỉ ở nhà mấy ngày rồi trở lên Hà Nội. Lúc này, ở Hà Nội và trong Hà Đông, người ta xôn xao về việc vào Nam. Trên nhiều con đường trong thành phố bày ra một hiện tượng khác thường là các khu “chợ trời”, bán đủ mọi thứ, như bàn, tủ, giường, ghế, bát đĩa, đồ sành đồ sứ và các loại hàng thủy tinh v.v…, toàn những thứ đắt tiền. Tình thế khó ở, Hội nghị Genève đang tới hồi chung cuộc, kết thúc cuộc chiến Việt-Pháp. Dư luận bàn tán về việc đất nước chia hai. Báo chí và nhất là Đài phát thanh trong nước cho truyền đi liên tục ngày đêm bản nhạc “Nhà Việt Nam”, trong đó có lời:</p>



<p><em>“Ai ơi đừng phân chia Nam-Bắc-Trung…”</em><em></em></p>



<p>Khi ấy, anh tôi đang ở trong Hà Đông, chạy đi chạy lại giữa Hà Đông và Hà Nội như con thoi. Một hôm, anh mang chiếc xe đạp nhôm nữ, mầu trắng, hai bánh có gắn lưới, tháo rời ra từng bộ phận, bỏ tất cả vào thùng gỗ, đóng đinh lại cẩn thận. Bên ngoài dán một tờ giấy, viết tên anh, còn địa chỉ gửi đến là Redemptoris (DCCT) số nhà và tên đường trong Sài-Gòn. Như vậy là anh em tôi chuẩn bị ra đi, anh bảo tôi thế.</p>



<p>Chiếc xe đạp này cũng có một lịch sử của nó. Đến bây giờ tôi già rồi mà vẫn nhớ nó. Để tôi kể vài lời, như chiếc xe này là một vật kỷ niệm đầu tiên trong đời tôi ở tuổi học trò. Đó là một hôm, tôi đi từ Nhà chung Hà Nội xuống Đền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp ở Thái Hà Ấp, dọc đường có một cô gái đi xe đạp cùng chiều, quay sang hỏi tôi:</p>



<p>-Chiếc xe này mua bao nhiêu ?</p>



<p>Tôi nhớ lời anh tôi nói, mua nó ở tiệm Vĩnh Lợi đường Phủ Doãn. Chủ tiệm này là ông Mai Văn Hàm, theo anh tôi, ông là thân nhân của Linh mục Gioan Baotixita Trần Đình Cung. (hay Trần <em>Trọng</em> Cung, theo danh sách các linh mục địa phận Hà Nội từ 1835 đến năm 2009), ngài là nghĩa phụ của anh, lúc đó đang ở Sở Kiện, sau khi làm Chính xứ Kẻ Lường, quê tôi. Giá chiếc xe là 2.000 đồng (Đông Dương), gần một năm tiền trọ học của tôi ở Hà Đông, nhưng ông Mai Văn Hàm đã bớt cho anh 200 đồng.</p>



<p>Đó là lần cuối cùng, cái mùa hè cuối cùng của năm ấy, tôi còn trọn cái hình hài học trò với chiếc xe đạp của con gái. Tôi không thể quên giai đoạn này. Tôi viết mấy lời về chiếc xe đạp, khi ra đi cũng mang theo nó vào Sài Gòn, để cám ơn anh tôi, người đã đưa tôi vào Sài Gòn.</p>



<p>Một hôm&nbsp; thân phụ chúng tôi lên Hà Nội muốn mang tôi về quê, song anh tôi xin với người để cho tôi đi vào Nam với anh, “<em>để chú ấy còn học</em>…”, cha tôi không ép.</p>



<p>Ngày 02.8.1954, chúng tôi lên máy bay ở phi trường Gia Lâm vào Sài Gòn, xuất phát từ Dòng Chúa Cứu Thế, Hà Nội. Chúng tôi đi cùng với cộng đoàn nhỏ trong Hà Đông của cha Matthêu Trần Trinh Khiết, chính xứ Hà Đông lúc bấy giờ, anh tôi thuộc cộng đoàn này. Người chị lớn của chúng tôi có mặt tiễn anh em tôi đi. Khi mọi người đã lên hết trên xe cam nhông để ra phi trường, chị tôi còn mua cho tôi một bát chè đậu đen. Xe chuyển bánh. Anh tôi vẫy tay chào chị, nước mắt trào ra. Hầu như mọi người trên xe cũng thế, ai cũng có người đưa tiễn. Trong tình cảnh đó, ai biết ra sao, người ở lại hay kẻ ra đi thương đau nhiều hơn.</p>



<p>Chiếc Dakota chở đoàn chúng tôi cất cánh từ phi trường Gia Lâm vào 2 giờ chiều trong ngày 02.8.1954 đó và đáp xuông phi trường Tân Sơn Nhất sau hơn 3 giờ bay, giờ còn rất sớm, để chúng tôi còn thời gian nhận phòng tạm trú. Đó là Trường Tiểu học Minh Mạng, nay là trườngTrung học cơ sởHoàng Văn Thụ, trên đường Nguyễn Tri Phương, quận 10. Ngôn ngữ miền Nam đầu tiên tôi đọc và nghe được là chữ “vô”, viết trên một miếng giấy dán trên cửa ra vào một văn phòng nhà trường. Đó là chữ “<em>Cấm Vô</em>”. Lần thứ hai là khi anh em chúng tôi đi lễ sớm tại nhà thờ Ngã Sáu, cách nơi tạm trú không bao xa. Đường xá Sài Gòn ngày đó rất ít xe cộ lưu thông, nhất lại là sáng sớm, nên chúng tôi đi bộ dưới mặt đường, thay vì đi trên vỉa hè, nhưng chúng tôi vẫn đi sát lề đường, tuy vậy vẫn làm một bác đạp xích lô khó chịu, ông quát lớn tiếng “<em>xích dzô</em>” khi đạp xe đi qua chúng tôi.</p>



<p>Hơn một tuần lễ sau, đoàn chúng tôi gia nhập Lực Lượng Thanh Niên Tự Do. Nếu tôi không lầm thì tổ chức này do ông Lê Khải Trạch đứng đầu và có nhiệm vụ đi đón đồng bào miền Bắc di cư vào đổ xuống ở các bến tàu hay phi trường rồi dẫn đồng bào về trại tạm trú. Công việc của họ sau đó là lập danh sách từng gia đình để phát thực phẩm và tiền mỗi ngày. Công việc này rất phức tạp vì có nhiều người đi và đến thường xuyên. Lý do là người cùng một nhà hay cùng một làng ra đi không cùng một chuyến tàu vào Nam, nên một lúc nào đó những người này đã đến được bến bờ và biết trại tạm cư nào có người thân của mình, thì họ xin chuyển về đó để được đoàn tụ, để sau này khi chấm dứt việc di cư trên toàn quốc theo hiệp định Genève, đi định cư ở đâu thì cũng có nhau. Cũng có trại tạm cư trở thành trại định cư, như trại Rạch Dừa, nơi chúng tôi công tác.</p>



<p>Đi tìm cộng đoàn đầu tiên của mình để cộng sinh, đó là đặc tính của xã hội nông nghiệp.</p>



<p>Trước ngày lên đường nhận công tác, anh trưởng đoàn của chúng tôi là Du, đã nói với chúng tôi vài lời nhắn nhủ mà cũng rất tâm tình. Anh bảo rằng <em>từ nay trở đi, chúng ta bước vào một khúc quanh mới, một đoạn đời mới. Điều quan trọng nhất là giữ vững niềm tin, hiệp nhất với nhau trong tình anh em như chúng ta vẫn thế từ trước tới giờ. Hãy cầu nguyện hằng ngày cho nhau.</em></p>



<p>Đúng ra tôi không thuộc cộng đoàn tu trì này. Sự liên hệ giữa cộng đoàn này và tôi, là do anh tôi ở trong cộng đoàn, nên anh tôi bảo sao hay cộng đoàn quyết định điều gì thì tôi cũng phải theo. Trong cộng đoàn chỉ có anh Du là người duy nhất đã theo đuổi con đường tu trì đạo hạnh mà anh đã đi từ ngày còn ở Hà Đông. Sau ngày chấm dứt công cuộc di cư, trại tạm cư Rạch Dừa trở thành trại định cư, đoàn công tác cũng chấm dứt nhiệm vụ, giải thể hoàn toàn, cộng đoàn tu trì cũng giải tán. Anh tôi ở lại trại, dạy học rồi cưới vợ tại đây. Còn anh Du gia nhập địa phận Cần Thơ. Kết quả là ngày 29.4.1967, anh thụ phong Linh mục. Lúc này, anh có tên gọi mới là Trần Đức Duy. Hơn 40 năm sau, kể từ ngày tôi rời xa anh và cộng đoàn ở Rạch Dừa về Sài Gòn học, thì ngày 17.03.1998, cha Duy của chúng tôi đột ngột đến thăm gia đình tôi ở giáo xứ NH, Tân Bình. Vợ chồng tôi xúc động đến khóc được. Tôi ngỏ lời xin cha làm phép bàn thờ và căn nhà chúng tôi mới mua được 4 năm. Ngài mở túi lấy sách ra làm ngay.</p>



<p>Xin trở lại việc chúng tôi ra Rạch Dừa, Vũng Tàu. Ngày lên đường, mỗi người trong chúng tôi lên một xe chuyên chở lớn của Mỹ, những xe này dùng để đi ra bến tàu chở người di cư về trại tạm cư mỗi khi có tàu từ Bắc vào cập bến. Vì cộng đoàn chúng tôi nhỏ, trên dưới mười người, nên không đủ người phục vụ một trại tạm cư như trại Rạch Dừa có khoảng 60 cái bạt của Mỹ, mỗi cái chứa từ 15 đến 20 người, nên được tăng cường thêm 4,5 người nữa, toàn là thanh niên. Dù là người ngoài cộng đoàn, ngày đó chúng tôi đều hợp nhất, sống chung, sinh hoạt chung.</p>



<p>Ngày chúng tôi lên xe ra Vũng Tàu, thì trại tạm cư Rạch Dừa chưa dựng bạt vì chưa có đồng bào di cư. Chúng tôi ra trước mấy tuần lễ để chuẩn bị mọi thứ, phối hợp với tòa hành chánh địa phương…Thời gian này, chúng tôi ở khách sạn bên hông chợ Vũng Tàu, ngày đó còn có tên là <em>Cap Saint-Jacques, </em>rất gần với bãi tắm trước, nên tôi thường ra tắm hoặc thơ thẩn trên bãi, có ngày thì ra Bến Đình, con đường sạch sẽ, nhiều cây cối, mát mẻ.</p>



<p>Rồi cũng đến một ngày, đoàn chúng tôi phải từ giã khách sạn, từ giã cái chợ trước mặt, bãi tắm và con đường ra Bến Đình, để trở về Rạch Dừa, bắt tay vào công việc đón tiếp đồng bào. Nơi ở của chúng tôi ngày đó là căn nhà bằng gỗ, khá rộng, thuộc làng Thắng Nhứt.</p>



<p>Ngoài công việc về sổ sách, ghi nhân khẩu hàng ngày, theo đó mà phát ra cho từng gia đình, căn cứ trên sổ sách và thực tế, nghĩa là người tị nạn phải có mặt, có đại diện chính quyền sở tại giám sát. Có đêm chúng tôi phải đi “canh trộm” bên ngoài một lều trại nào đó khi có tin báo là có mất trộm. Còn ban ngày thì có một cảnh sát địa phương về trại trực suốt ngày. Nhưng thời gian tôi làm việc ở đó, không có trường hợp nào cần đến cảnh sát can thiệp.</p>



<p>Tôi làm việc ở trại Rạch Dừa có mấy tháng thì nghỉ, vì anh tôi muốn thực hiện lời đã thưa với cha, là để cho anh mang tôi theo vào Nam để tôi còn học. Mặc dù đây là mục đích chính, song mãi về sau tôi mới hiểu còn một lý do khác mà tôi phải nghỉ việc sớm ở trại Rạch Dừa, đó là có một gia đình trong trại do tôi phụ trách, muốn gả con gái cho tôi. Bà mẹ cô gái đã có lần vừa cười vừa nói với tôi rằng, người ta hỏi “nó” có chồng chưa, bà bảo chồng nó đang làm việc trên phòng hành chính (bà ám chỉ tôi). Anh tôi vì muốn giữ thanh danh cho cộng đoàn chúng tôi và cũng chưa muốn tôi có vợ sớm. Lúc đó tôi mới 19 tuổi, cũng chưa hề để ý chuyện trai gái yêu đương.</p>



<p>Trước khi tôi từ giã trại về Sài Gòn học, tôi có vào văn phòng trại để chào người đại diện Chính quyền sở tại. Ông nói vài lời cám ơn tôi về thời gian tôi công tác ở trại, tuy không lâu, nhưng ông nói rằng, tôi dù còn nhỏ, song đã không mắc sai lầm nào, tác phong làm việc nghiêm túc.</p>



<p><strong>Trở Về Lần Thứ Nhất, Năm 1980</strong></p>



<p><strong>(Hay là: <em>26 Năm Sau</em>)</strong></p>



<p><strong>1/ NHỮNG CHUYỆN VUI BUỒN</strong></p>



<p>Lần trở về đầu tiên, sau 26 năm nổi trôi trên dòng đời, buồn nhiều hơn vui. Trở về, với mái nhà thân yêu của mình, nhưng phải có tấm giấy “bảo lãnh” của người nhà, mới được đặt chân lên mảnh đất thiêng liêng của Tổ tiên! Đó là điều kiện của thời thế, như thể mình không cùng một Tổ quốc, nhưng như một kẻ xa lạ, một người bên ngoài, không chung một giàn.</p>



<p>Tôi trở về trong tình cảnh thất thế, lẻ loi, cô đơn và trên hết: một người con của gia đình, của tổ quán, lạc đàn, không cùng số phận lao lung, không gánh chung thân phận của kiếp người trong thời chủ nghĩa…</p>



<p>Ngày đó, con tàu chở tôi rời ga Sài-Gòn vào một buổi chiều trong tháng 3 năm 1980. Không biết do tàu chạy chậm hay do tôi nôn nao chỉ mong sớm về tới quê, mà thời gian như không chiều một hành khách trên tàu như tôi. Khi tàu vào ga Phủ Lý, Đồng Văn rồi Phú Xuyên, tôi đã đứng lên ngồi xuống nhiều lần, kiểm điểm hành lý chuẩn bị xuống. Mặc dù tôi đã gửi điện báo về là xuống ga Hàng Cỏ, nhưng từ lúc tàu rời ga Phú Xuyên, tôi đã nhìn ra ngoài xem có người thân nào đứng đợi ở Ngã Ba Nguộn không, vì từ chỗ này có con đường đi về quê tôi, khoảng 3km. Lúc này trời đã chạng vạng tối, nhưng cũng sắp tới ga Tía, cách Hà Nội 26km, nên tàu đã chạy chậm lại, cho nên khi đi qua Ngã Ba Nguộn, tôi đã nhìn thấy chị Nhường của tôi và đứa cháu gái, đang đứng ở bên đường, nhìn theo đoàn tàu đi qua. Tôi gọi to tên chị mấy lần song cả hai mẹ con chị không ai có dấu hiệu gì là nghe thấy. Tôi quyết định xuống ga Tía, thay vì ga Hàng Cỏ, như đã báo điện về trước. Một chiếc xích lô duy nhất từ xa chạy tới chỗ tôi vừa nhảy xuống tàu, tôi nói với tài xế&nbsp; chở tôi xuống Ngã Ba Nguộn, chỗ chị Nhường và cháu tôi đang đứng.</p>



<p>Tới nơi, hai mẹ con chị vẫn còn đứng đó, bên kia đường. Tôi gọi tên chị hai ba lần chị mới nghe được, rồi nắm tay đứa con gái chạy sang chỗ tôi. Chị hỏi: “<em>Ông hỏi ai</em>?” Tôi biết chị không nhận ra tôi vì trời tối và vì ngày tôi ra đi còn là một đứa em út, một chú học trò dẫu đã 18 tuổi rồi, nhưng vì được bao bọc bởi tình thương trong gia đình, nên tôi vẫn thấy mình nhỏ bé, rụt rè và không suy nghĩ gì trước lúc khởi đầu cho một cuộc đời bất trắc, vô định. Nay đã vững vàng hơn, khác xa lắm ngày ấy, nên tôi nói: “<em>Em làTùy đây mà</em>”. Vừa nghe tên tôi, chị ôm chầm lấy tôi, nước mắt trào ra. Rồi nắm lấy tay tôi, vừa đi vừa kể lể nỗi lòng nhớ thương suốt bao nhiêu năm trời xa cách.</p>



<p>Năm đó bố Nguyễn Văn Cừ của chúng tôi còn, nên khi tới nhà chị ở đầu ngõ, chị đã nói ngay: “<em>Phải vào nhà tổ trước, chào thầy đã. Chắc giờ nầy thầy cũng đang mong em lắm</em>.” Đứa cháu gái đã đi đón tôi cùng với mẹ, đã chạy vào nhà tổ báo tin tôi về, nên lúc chị em tôi bước vào cổng sân nhà, tôi đã thấy người cha già đang đứng ở dưới mái hiên, tay vịn cột. Tôi vội chạy lại, ôm choàng lấy người, chỉ thốt lên được một tiếng “<em>Thầy</em>!” Mấy phút như thế im lặng. Những người nhà cũng đứng im chung quanh, rồi tôi dìu người vào trong nhà, cả thân mình người rung lên, bước đi không vững. Tuy vậy, trong suốt một tháng tôi ở nhà, sáng sớm nào cũng thế, khi nghe chuông nhà thờ đổ thì người trở dậy, mặc vội chiếc áo dài thâm, cầm lấy cây gậy tre rồi vào nhà thờ. Ngày nào cũng thế, cả mùa đông rét mướt và sương mù, người không bỏ một giờ kinh sáng nào bao giờ, như lời kể của anh chị tôi. Năm đó, người đã ngoài 80 tuổi, còn tôi 44, thế mà tôi không theo kịp người, mặc dù tôi đã đi thật nhanh. Có lẽ con đường đến nhà thờ đã nhập vào hồn của người.</p>



<p>Từ năm 1953, cha xứ quê tôi đã đi Hà Nội bởi tình hình đất nước ngày đó đang chuyển biến từng giờ, nên cha tôi được ban quyền lo việc bàn thánh, mở cửa Nhà Tạm để giáo dân chầu Thánh Thể trong các ngày Chủ nhật, thứ sáu và thứ bảy đầu tháng; dậy giáo lý hôn nhân cho các thanh niên nam nữ chuẩn bị kết hôn. Khi nào hết Mình Thánh Chúa,<strong> </strong>trường hợp có linh mục về cử hành thánh lễ, cho giáo dân chịu lễ và khi nào phải thay Mình Thánh Chúa, vì để lâu sẽ mốc, người đi nơi nào có linh mục, như xuống Hoàng Nguyên, lên Bằng Sở, Hà Nội. Từ năm 1965, sau khi du học ở nước ngoài về được ít năm, cha Giuse Đích Nguyễn Ngọc Oánh về Chuôn Trung dưới hình thức quản thúc, thì cha tôi xuống đó. Nhưng có lần cán bộ yêu cầu người không được vào Chuôn, để tránh việc tiếp xúc với cha Oánh. Cha tôi nói: Tôi già rồi không đi xa được. Cán bộ bảo: Cụ phải đi lên Hà Nội, chúng tôi sẽ cấp phương tiện cho cụ đi. Cha tôi trả lời: Tôi không cần tiền. Thấy cha tôi cương quyết như vậy, họ cũng thôi không ép buộc người nữa. Đấy là tôi nghe người nhà kể lại.            </p>



<p>Ngày tôi về đang là Mùa Chay, nên chiều ngày Thứ Năm Tuần Thánh, trong chiếc áo “Các phép”, cha tôi mở cửa Nhà Tạm để giáo dân chầu Thánh Thể. Lúc người bước lên bàn thờ cũng như khi bước xuống, tôi quỳ bên dưới mà hồi hộp quá chừng, có lúc tôi toan chạy lên để đỡ nâng bước chân người vì sợ người ngã. Tôi hiểu rằng người sắp ra đi.</p>



<p>Hai ngày sau là Lễ Vọng Phục Sinh, làng tôi không có thánh lễ, nên tôi theo người nhà và những người trong làng, cả mấy người bên họ mẹ tôi, ở ngoài Hà Thao ngoại, biết tôi về, cũng ghé nhà thăm tôi và cùng chúng tôi dõi theo ánh đèn bão vào Chuôn Trung dự thánh lễ nửa đêm. Nhà thờ nhỏ, số người dự lễ quá đông, nhưng tôi cũng lọt được vào trong lòng nhà thờ, ngồi bệt xuống đất như mọi người. Mặc dù chính quyền địa phương cấm cha Nguyễn Ngọc Oánh làm lễ trước giáo dân, song ngài không kêu gọi, nên giáo dân đến, ngài không thể đuổi họ về. Hơn nữa, bổn phận của linh mục là phải cử hành thánh lễ hằng ngày.</p>



<p><strong>2/ CẢNH NHÀ XỨ AN MỸ NGÀY ẤY</strong></p>



<p>Mùa hè năm 1954, tôi về thăm nhà rồi mấy tháng sau đó vào Sài-Gòn, nhà thờ và nhà xứ vẫn còn nguyên. Nhưng đến nay trở về, 26 năm qua đi, đứng trước khu vực của nhà xứ, từ ngoài sân nhà thờ đi vào, đột nhiên tôi dừng chân, ký ức dồn dập trở về. Không gian và những con người ngày đó mà chúng tôi chung sống, làm việc, học tập và thờ phượng. Nay, chỉ có tôi đứng lặng trên đất cũ. Tôi đã khóc nhiều. Khóc vì nhớ người xưa, khóc vì đắng cay, vì đổ vỡ. Toàn khu vực nhà xứ tan hoang. Dẫy nhà cha Đỗ Đức Hanh, nghĩa phụ của chúng tôi, và các cha tiền nhiệm của ngài ở, chính là ngôi nhà thờ bằng gỗ quí, mái ngói, dựng lên từ năm 1881, tức là trước khi cha già Chi xây nhà thờ lớn, chỉ còn những mảnh gạch vụn. Còn dẫy nhà của thầy giáo và chúng tôi ở, là một đống rơm to của ai để đấy; dẫy nhà bếp, nhà ở của bô Đệ, ông Mỡ, những người giúp việc các cha, cũng như nhà kho, có cối giã gạo bằng đá xanh, đã đổ xuống, được che chắn hờ hững bằng mấy tấm phên làm bằng nứa. Cổng nhà xứ và bức tường nhà xứ, ngăn cách khu nhà xứ với sân nhà thờ, cũng không còn hòn gạch nào trên nền móng cũ. Ngay bên cạnh cổng nhà xứ là cây hồng có tuổi thọ, thân cao đến 10m, chúng tôi không nhìn thấy quả của nó bao giờ, mà có thì cũng không ai dám trèo lên. Nhưng đôi khi có hoa rụng, nhỏ, sắc trắng và có vị ngọt, nay không còn cả gốc.</p>



<p>Tôi muốn đi tới tận nơi những chỗ cũ trong nhà xứ, nhưng trước cảnh đổ vỡ này, lòng tôi chùng xuống, nỗi đau không bao giờ tôi có thể nghĩ tới, nay nó là sự thực trước mặt…Hình bóng của một vị tu sĩ mặc áo chùng thâm, tóc trắng như sương mai, đặc biệt khuôn mặt sáng ngời tinh anh…như đang lặng lẽ bước đi ngoài hành lang trước cửa phòng của ngài. Tôi chột dạ…</p>



<p>Tôi không sao quên được những năm tháng cũ ở đây, dù thời gian khắc nghiệt đã muốn xóa đi tất cả. Bụi bặm của đất, bàn tay bạo tàn không thương tiếc của con người đã gây nên cảnh vật này.</p>



<p>Trở về lần này sau 5 năm kết thúc chiến tranh, tôi không thấy có người lạ mặt nào theo dõi, như mùa hè năm 1954. Có lẽ thế mà một cảm giác bình yên rất hiếm có trong cuộc đời tha hương của tôi từ bấy lâu nay, tôi đã đón nhận được lúc tôi đứng ở trên mảnh đất của nhà xứ. Chính xác hơn thì đó là trước cửa phòng của chúng tôi ở trước kia.</p>



<p>Một cơn gió nhẹ từ phía ao nhà xứ đưa vào, dẫn tôi lên nhà thờ phía cửa ngang.</p>



<p>Vừa bước vào bên trong, tôi phủ phục ngay xuống nền nhà thờ, nước mắt trào ra, nhỏ từng giọt nặng nề xuống nền đất thánh thiêng do Tổ tiên của dân làng chúng tôi, đã dày công tạo dựng. Tôi còn nhận ra một cách rõ ràng những dấu chân non của tôi ngày xưa ấy. Trên kia là ghế ngồi của riêng các chú giúp lễ chúng tôi. Cái thang bên cạnh bàn thờ còn đó, để lên thắp nến ở Tòa Đức Mẹ và các thánh hai bên tường gian cung thánh.Còn cái ghế dài ở giữa nhà thờ bên nam, ngay phía dưới toà giảng, cũng vẫn còn đó, mộc mạc, sơ sài. Ở đầu phía ngoài cái ghế dài này, tôi ngồi ở đó đọc sách vào các giờ kinh chiều hàng ngày.</p>



<p><strong>3/ CÂY HOA ĐẠI VÀ NHỮNG BẬC THỀM Ở ĐẦU NHÀ THỜ</strong></p>



<p>Còn có hai nơi tại đầu nhà thờ, tôi không hề quên, đó là phần mộ của cha già Chi [Tri] vị linh mục đã xây ngôi thánh đường lớn còn tồn tại đến nay, với kiến trúc phần lớn trong Giáo hội Công giáo La Mã hoàn vũ là hai mái và vòng cung Gothicque, khởi công từ năm 1914, mà mỗi lần trở về thăm nhà, tôi thường đến kính viếng, xin ngài cầu nguyện cho quê hương An Mỹ có lòng đạo sốt mến, trung kiên, can đảm hy sinh, làm chứng cho đức tin giữa một thế giới, một xã hội bao phủ mịt mù Chủ nghĩa đấu tranh, tinh thần văn hóa sự chết, vô thần và vật chất; xin ngài cầu nguyện cho ơn gọi linh mục, tu sĩ ngày một thêm có nhiều người hy sinh, tận hiến. Ngoài ra, tại hai bên cửa lên nhà mặc áo, còn có những bậc thềm, hai cây hoa đại hai bên, đã ghi nhiều kỷ niệm mà tôi cảm thấy khó quên. Những kỷ niệm này nằm trong quãng đời hạnh phúc nhất cuộc đời của tôi tại quê nhà!</p>



<p>Bậc thềm bên phải có cây hoa đại già (xem hình), là nơi tôi ngồi đọc kinh vào mỗi tối. Khi hoa nở đầy cành tỏa mùi hương dịu, cũng là lúc những chiếc lá trên cành rụng xuống, lòng tôi có tí xao động. Sau này khi tôi cầm bút làm thơ, viết văn tôi mới suy ngẫm về điều này. Còn bậc thềm bên trái, là nơi mỗi thánh lễ sớm mai, sau khi rước lễ, tôi lại ra đây, đứng ở bậc trên cùng sát với cửa ra vào nhà mặc ào, mắt nhìn về phía mặt trời mọc. Khi thấy vầng hồng nhô lên ở chân trời thì tôi trở vào nhà thờ, nhìn lên chiếc đồng hồ quả lắc treo trên tường, xem lúc ấy là mấy giờ, mấy phút, để sau khi tan lễ, tôi trình cho cha xứ, căn cứ vào đó, ngài sẽ điều chỉnh đồng hồ.</p>



<p>Sau này mỗi lần trở về thăm nhà, lúc đi đến đầu nhà thờ, tôi đều nhìn lên bậc thềm này hoặc lên ngồi ở đó một lúc để nhớ về việc xưa, lúc nào tôi cũng thấy cây hoa đại bên trái này nở hoa trắng tuyệt đẹp. Tôi có ý tưởng ngộ nghĩnh, có vẻ rất lãng mạn, là khi nào tôi chết, hồn tôi sẽ trở về bên gốc cây đại này, để tôi luôn ở bên cạnh Nhà Chúa, trên quê hương tôi, và hưởng được mùi hương dịu của hoa đại, được lá và hoa rụng trên hồn tôi, để tôi có giấc ngủ thiên thu êm đềm.</p>



<p>Ở trước cửa phòng tôi trong Sài Gòn, hiện có cây hoa đại và cây đa, cây đại thì mua ở ngoài, còn cây đa thì con gái tôi mang về từ một dịp về thăm quê, khi cây còn nhỏ. Điều này nói lên rằng, quê hương là một nửa bản thân tôi.</p>



<p>Cuốn phim của gần 30 năm đời tôi lênh đênh giữa dòng đời gian trá và hiểm nguy, trôi qua lặng lẽ trong tâm trí tôi lúc đó, trước sự hiện diện của Chúa Giêsu Thánh Thể trong Nhà Tạm.Tôi cảm tạ Chúa đã dẫn tôi về với gia đình, với người cha già sau bao nhiêu năm mong đợi. Nghĩ đến ngày tôi nằm trong phòng cấp cứu nhà thương lao Hồng Bàng [nay là Phạm Ngọc Thạch] mới năm trước đó thôi, tôi như còn bàng hoàng. Bệnh tôi mặc dù đã hết, song chưa hồi phục hoàn toàn, vì tôi ho ra quá nhiều máu, bác sĩ bảo tôi “thổ huyết”! Nhưng vì nhớ Bố và những người thân trong gia đình, tôi vẫn quyết định về. Hệ lụy là mấy ngày sau khi về nhà, tôi đã ho ra một cục máu nhỏ bên cạnh cái bể nước ngoài sân, làm tôi choáng váng đầu óc một lúc. Khác với lần đầu tôi cũng ho ra một giọt máu khi tôi dạy học trên Ban Mê Thuột năm 1960, tôi rất mệt, phải về Sài Gòn ngay, chứ không như lần này tại nhà tổ, tôi không thấy mệt lắm. Nghĩ đến đây, tôi đã cảm tạ và phó thác cho Chúa.</p>



<p>Sau những phút cầu nguyện, tôi đứng lên, đi chầm chậm một vòng trong lòng nhà thờ, tay chạm nhẹ vào những mảng tường bị thời gian làm xói mòn, lở loét để lộ ra gạch đỏ bên trong, những tấm cửa kính bị vỡ, khung gỗ thì hoen ố, bạc hết mầu sơn, đang trong tình trạng gẫy đổ. Tới chỗ cầu thang lên gác chuông, tôi dừng lại, chân thì muốn bước lên nhưng lòng thì bảo thôi. Tôi không e ngại điều gì, mà chỉ sợ đụng đến cát bụi phủ đầy các bậc thang, in dấu chân của một đứa con xa xứ đã lâu, nay trở về, sẽ làm dậy lên dấu thời gian buồn phiền. Đứng đó mà lòng hồi tưởng xưa kia mấy chú nhỏ chúng tôi thường trèo lên các tầng trên để bắt chim sẻ, và một lần hú vía trốn lính Tây về làng…</p>



<p><strong>4/ ĐI VĨNH PHÚ</strong></p>



<p>Nghỉ ở nhà mấy ngày, sau đó tôi đi Vĩnh Phú với chị Nguyễn Thị Thưởng, một người chị trong họ, thuộc chi tộc thứ nhất, thăm người em trai của bà, là Trung tá Nguyễn Văn Bang đang cải tạo ở trại Vĩnh Quang. Năm 1954, ông là sĩ quan trong quân đội Quốc gia, là “tù binh chiến tranh”, được trao đổi với tù binh bên Việt Minh theo Hiệp định Genève.Trở về với gia đình, lúc đó đã vào Sài-Gòn hết, ngoại trừ người chị ở lại, ông anh họ tôi tiếp tục phục vụ trong quân đội VNCH. Mấy năm sau này, hai lần ông đảm nhiệm chức vụ Quận trưởng, một là Quận Châu thành Bình Dương, hai là một quận ngoài Qui Nhơn. Cấp bậc của ông thời gian này là Trung tá.</p>



<p>Chúng tôi vừa lên tới ga Hàng Cỏ, thì tiếng hát của ca sĩ Khánh Ly vang lên một bản nhạc của Trịnh Công Sơn, trong lúc bị cấm ở Sài-Gòn. Ngày đó, xe lửa chạy tuyến đường Hà Nội-Vĩnh Phú còn chạy bằng than, vừa chạy vừa phun khói, máy nổ phành phạch, các toa tàu thì bụi bặm, thấy rất thô sơ và nghèo nàn. Dọc đường lên Vĩnh Phú, tôi nhìn thấy một tấm bảng đề hai chữ Nghĩa Lộ ở đầu một con đường dẫn vào bản. Tôi chỉ nhớ được địa danh này trong cả hai lượt đi và về, vì Nghĩa Lộ là quê hương của nhà văn Thế Phong. Chúng tôi lên tới Vĩnh Phú thì đã xế chiều. Sau khi trình giấy phép đi thăm, chúng tôi xuống Bến Ngọc đi đò dọc vào. Ở đò lên, chị em tôi lên xe trâu để vào trại. Lúc đó trời đã tối, chúng tôi vào nhà tạm trú nghỉ đêm. Sáng sớm hôm sau, bà chị tôi thức dậy thật sớm để làm thịt con gà mang từ nhà đi, nghĩ rằng ba chị em chúng tôi sẽ được ngồi ăn với nhau một bữa cơm ở trại tù. Tôi và người anh họ xa quê từ gần 30 năm nay rồi, còn bà chị thì ở lại với chồng&nbsp; con. Bây giờ mới gặp lại nhau trong tình cảnh thế này, nên giàu nghèo gì, thì bữa cơm hôm đó cũng phải có đĩa thịt gà luộc rắc lá chanh. Tất cả đều từ đồng quê thân yêu cả thôi.</p>



<p>Nhưng đến giờ thăm nuôi, bà chị tôi trình giấy phép thì cán bộ nói là người nhà của bà đã chuyển trại rồi. Không thể hỏi cán bộ được câu nào, và cũng không thể hỏi được ai. Một số người từ trong Sài-Gòn đi thăm nuôi người&nbsp; nhà, cũng ở trong trường hợp như người thân của chúng tôi, nghĩa là người thân của họ cũng đã chuyển trai! Họ cô thân lắm, nặng nề với những&nbsp; thức ăn và thuốc men cho chồng, ký cóp bao nhiêu ngày tháng. Chúng tôi cũng&nbsp; chỉ biết nhìn nhau thông cảm và lặng lẽ ra về.</p>



<p>Trong lần trở ra, lúc ngồi trên đò, có một phụ nữ nói giọng khác thường, giống như người nói lắp hay nói cà lăm, song không phải thế. Chị nói mãi mới bật ra được một tiếng, nặng nề và khô cùng với nét khổ sở hiện trên khuôn mặt cơ bần. Một người ngồi cạnh chị, hỏi:</p>



<p>-Tại sao lại nói khổ sở thế?</p>



<p>Chị trả lời:</p>



<p>-Do…d…o…do…đẻ&#8230;</p>



<p>Một bà ngồi gần chị, có vẻ hiểu chuyện, nói:</p>



<p>-Do kế hoạch hóa gia đình. Nhiều bà, nhiều chị mang thai bị y tá đến tận nhà, nó đè ra nó mổ ấy chứ. Giọng nói của chị này là biến chứng của việc đó. Nó làm cho người ta sợ không dám đẻ nữa.</p>



<p>Trên&nbsp; đường trở về Hà Nội, tàu dừng bánh ở một ga nhỏ. Tôi bước xuống tàu, vào một quán nước trong sân ga, gọi ly cà phê. Chưa uống hết một ly nhỏ thì có 3,4 thanh niên bước vào. Một cậu đi vòng trước mặt tôi, ngồi xuống ngay bên cạnh tay phải, còn mấy người kia ngồi&nbsp; bên trái tôi. Một cảm giác bất an chợt đến trong đầu, tôi đứng lên trả tiền nước, trở lên tàu, mấy phút sau tôi vẫn chưa hết ám ảnh về mấy thanh niên kia…</p>



<p>Tàu đã chuyển bánh…</p>



<p>Lần về này, chúng tôi bị đẩy lên toa chở hàng tồi tệ, người thì nhiều hàng hóa cũng nhiều, ai ngồi đâu cứ ngồi đấy. Chị em tôi ngồi ở giữa hai bên cửa. Ai nấy hình như cảnh giác rất cao, nên lúc nào cũng ôm chặt đồ đạc của mình vào lòng. Trời đã tối, tàu lại đang vào ga, nên chạy chầm chậm, nhưng không dừng lại. Cho nên, toa chúng tôi ngồi xảy ra cảnh hỗn độn. Kẻ lên tàu, người nhảy xuống. Kẻ gian thừa lúc trời tối và lộn xộn, nhảy lên tàu cướp giật hàng hóa, quẳng xuống cho đồng bọn đứng ở dưới. Bà chị tôi “ối” lên mấy tiếng “cướp!” “cướp!”, thùng quà chị mang đi đã bị lấy mất. Tôi ngồi gần đó mà không thể có phản ứng gì.</p>



<p>Cảnh này vừa dứt thì cảnh khác xảy ra, bất nhẫn vô cùng.</p>



<p>Tàu vẫn còn chạy chậm. Ở phía cửa, có mấy thanh niên mặc quần áo bộ đội ngồi bỏ thõng chân ra ngoài, choán hết lối lên xuống. Một vài cụ già bước chân lên tàu, nhưng đã bị một bộ đội đạp vào ngực làm cụ ngã ra phía sau. Còn mấy người kia vẫn ngồi im, không để cho một người nào lên.</p>



<p>Tận mắt nhìn thấy cảnh này, tôi lại nhớ chuyến tàu hôm trước từ ga Hàng Cỏ đi, toa tàu chúng tôi ngồi cũng đầy người, kẻ đứng người ngồi rất xô bồ. Giữa một toa tàu chở đầy những người lam lũ, quần áo bạc màu cũ kỹ, chắp vá nhiều mảnh, thì một thanh niên mặc áo sơ mi trắng, bỗng cất lên giọng kẻ cả. Hắn nói: “Cả nước cùng đi buôn như thế này thì làm sao mà khá được!” Liền đó, giọng một cụ già còn cứng cáp, đáp lại: “Chúng tôi không đi buôn thì lấy gì để sống?!”. Người thanh niên áo trắng lại nói: “Cả nhà tôi sống được nhờ làm cơ quan.” Vừa lúc đó tàu vào ga, người thanh niên bước xuống. Cụ già lúc nẫy, nói: “Giọng nói của hắn có vẻ như là đội trưởng.”</p>



<p>Gã “đội trưởng” này nói như thế và câu trả lời của một cụ ông, là một bày tỏ về tình trạng xã hội lúc đó rất ngặt nghèo, dân đói lắm, nên người người “đi buôn”, nhà nhà “đi buôn”, mặc dù nhà nước nghiêm cấm dân đi buôn, chỉ nhà nước độc quyền kinh doanh. Kinh tế chỉ có một thành phần thôi, là “quốc doanh”. Dân buôn bán là một “tội”, tội “bóc lột”, tội “tư sản”!</p>



<p><strong>5/ LẠI RA ĐI</strong></p>



<p>Tôi không sao quên được buổi sáng hôm ấy, một buổi sáng của tháng 3 âm lịch, trời còn những cơn gió mát dịu, êm ả ở đồng quê, nhưng bỗng dưng tại sân nhà tôi, xuất hiện một không gian thân tình kỳ lạ. Ở góc nhà và góc sân, bên cạnh cây bưởi già, những tiếng nói đầm ấm, những ánh mắt và những nụ cười nhìn tôi như để trao gửi cho tôi một tình cảm thân yêu, trước lúc tôi lại ra đi, lại rời xa họ, những người thân cận trong họ hàng nội ngoại của tôi.</p>



<p>Vâng, đó là một buổi sáng trong đời tôi, giữa lúc tôi là kẻ thất thế. Nhưng tôi vẫn được ôm ấp, được trao gửi thương yêu từ quê hương và họ hàng. Mọi người biết tôi sắp đi, nên đến nhà chào tôi. Trong số người có mặt, có cả người tôi không biết, vì họ sinh ra sau này; có cả bạn bè đã ở với nhau trong nhà xứ trước kia. Ai cũng muốn gặp tôi để trực tiếp nói vài lời chia tay, làm tôi không thể ngồi lâu bên cạnh cha tôi và một người anh trong họ của tôi, tóc đã bạc trắng. Chị Thin thì kéo tôi qua nhà chị ở bên cạnh. Một bạn cũ của tôi cũng theo sang. Chị tôi phàn nàn rằng sắp đến giờ rồi, phải đi ngay. “<em>Thôivề chào thầy đi. Chị hài lòng về em</em>”. Thế rồi chị cầm tay tôi kéo về bên nhà, không để một giây phút nào cho bạn tôi nói. Tôi đành xin lỗi anh.</p>



<p>Mọi người vẫn còn đứng ở sân. Tôi bước vội vào nhà, cúi mình xuống chào cha tôi và người anh họ: “<em>Xin thầy cho con đi!”,</em> rồi ôm lấy người, khóc trên vai áo người. Nước mắt của người cũng rơi xuống mặt tôi. Có tiếng khóc của các chị và các cháu tôi ở trong nhà.Tôi cầm tay người đứng lên, hướng về bàn thờ Chúa, rồi lại khóc, không thể đọc được một lời kinh nào. Các chị tôi khóc lớn tiếng. Người anh họ tôi nói: “<em>Chú ấy đi rồi chú ấy lại về. Thôi để yên cho chú ấy đi.”</em></p>



<p>Tôi bước qua ngưỡng cửa của mái nhà xưa, ra đứng dưới mái hiên, cúi chào mọi người, rồi quay về phía cha tôi đứng, bước nhanh tới ôm chầm lấy người. Các chị tôi lại khóc, gỡ tôi ra và nói: “<em>Gần tới giờ tàu chạy rồi</em>”, rồi kéo tôi đi. Những người có mặt lúc ấy, cũng tiễn chân tôi lên đầu làng rồi mới quay về. Các cháu tôi, một số theo tôi lên tới Ngã Ba Nguộn, một số lên xe đò cùng đi lên ga Hàng Cõ, tàu trong sân ga chuyển bánh mới trở về.</p>



<p>Lúc đứng trên xe đò, các chị và các cháu tôi vẫn khóc. Có tiếng người đàn ông nói: “<em>Ông này đi công tác xa hay sao mà người nhà khóc mãi thế</em>.”</p>



<p>Tới Văn Điển thì kẹt xe. Chị Nhường đứng bên cạnh, ghé sát vào tai tôi nói nhỏ: “<em>Emcầu nguyện đi kẻo kẹt đường thế này thì tàu nó chạy mất</em>.” Tôi thầm thĩ trong lòng kinh Lạy Cha. Đọc xong thì xe chạy lại như thường, kịp giờ tàu hỏa chạy.</p>



<p class="has-text-align-center"><strong><a>LỜI TẠ TỪ </a>TRĂM NĂM</strong></p>



<p>Cuối năm 2018 quê tôi mở một Hội làng, suốt một tuần lễ, mừng kỷ niệm ngôi nhà thờ 100 năm xây dựng (1914-2018). Và đầu năm 2019, ngôi nhà thờ này và bàn thờ đá được Cung hiến. Một Hồng y và một Tổng Giám mục của Tổng Giáo phận Hà Nội lần lượt về chủ sự hai buổi lễ này.</p>



<p>Nhân dịp này, tôi được cha chính xứ và Hội đồng Mục vụ giáo xứ mời về để cùng với BBT của làng viết một kỷ yếu về giai đoạn đã qua. &nbsp;Trong một buổi họp của BBT, có gần 20 người, cha xứ chủ sự. Cha xứ nói vài lời về việc sẽ phải làm, phải viết trong kỷ yếu. Ngài dùng phấn viết lên bảng những vấn đề sẽ phải có trong kỷ yếu, chỉ toàn những sự kiện và những ban hành giáo từ khoảng năm 1950 trở về trước và sau này, tức thời hiện tại. Có một người tuổi trạc 70, đứng lên đề nghị trao việc viết kỷ yếu cho tôi, vì là nhà văn,(ông nói đích danh tên tôi).Tôi thấy không có ai lên tiếng về cái dàn bài cha xứ viết trên bảng, bèn đứng lên nói về một vấn đề &nbsp;không thể thiếu trong kỷ yếu, ngoài các sự kiện và những người phục vụ giáo xứ trong thời gian qua. Vấn đề đó là con người…Kỷ yếu này, mừng 100 năm hay 200 năm, không chỉ có sự kiện này, sự kiện kia, mà quan trọng hơn là 100 năm qua, làng quê mình, về mặt đạo, đã có linh mục nào, tu sĩ nào làm được những gì cho giáo hội hay đã đóng góp gì cho đất nước về mặt văn hóa-giáo dục. Còn giáo dân, có ai ra gánh vác việc nước, việc xã hội không. Tôi nêu tên một vài vị tôi đã chọn trong miền Nam trước năm 1975 và miền Bắc từ năm 1945. Tất cả có 10 vị: về tôn giáo, có 3 linh mục, xã hội có 7 vị. Trong số 7 vị này, ở Hà Nội có 5, Sài Gòn 2. Mới chỉ nghe tôi nói đến tên một người trong Sài Gòn ra chấp chính ở thời kỳ Đệ I VNCH, (đã qua đời sau năm 1975 ở nước ngoài), thì một ông là cán bộ đảng viên thư ký BBT Kỷ yếu, chống đối liền với giọng điệu gay gắt, thù nghịch. Còn một giáo dân cũng trong BBT này thì từ tốn, nhẹ nhàng nói rằng ở làng cũng có người không thích ông X…(tên một nhân vật là đảng viên CS, tôi chọn, tham gia kháng chiến từ năm 1945 mà nay đã chết). Trước tình hình có vẻ căng thẳng, cha xứ và ông chánh trương cũng như những người khác, không có ai nói gì. Mọi người tự động bỏ về.</p>



<p>Ngày hôm sau, tôi vào nhà xứ chào cha để trở về nhà trong Sài Gòn, cha xứ không vui, nói “chuyện chung, ông cứ viết”. Trước đó mấy năm, một thầy Phó tế của làng, nay đã là linh mục, nói tôi cứ viết. Nhưng cha chính xứ hồi đó, đồng ý để tôi viết, song phải chuyển về cho ông kiểm duyệt. Vị tiền nhiệm của cha xứ này thì gạt bỏ Ban biên tập của giáo xứ, còn nói cha và thầy xứ là đủ. Nhưng mọi người đều nói, cha từ đâu tới, biết gì chuyện ở đây. Bởi vì, việc soạn một cuốn kỷ yếu 100 năm hay hơn là việc của làng này. Cha xứ nào cũng ôm lấy vì nghĩ đến chức vị của mình. Nên qua 3 thời kỳ cha chính xứ, làng vẫn chưa có cuốn kỷ yếu như mọi người mong đợi. Nói như thế, vì ở thời điểm đúng 100 năm, tức năm 2018, ngôi nhà thờ lớn đã hoàn thành việc xây dựng, tồn tại tới nay, một BBT cũ, đã soạn ra tập: “Lược sử Giáo xứ Lường Xá”, gần 30 trang, không in hình ảnh. Có in hình ảnh, thì tập này có hơn 70 trang. Có đầy đủ các Ban hành giáo từ thời kỳ 1950 trở về trước và cả hiện tại, với một số đoàn thể Công giáo tiến hành. Có điểm qua thời kỳ khó khăn, không có linh mục. Nhưng không đề cập tới các thời kỳ cải tạo nông nghiệp, Hợp tác xã Nông nghiệp, không kể tới giai đoạn cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ.</p>



<p>Một vài cuốn kỷ yếu của các giáo xứ trong hạt Phú Xuyên, cũng không nói đến các thời kỳ nhân dân bị khổ nạn này.</p>



<p>Năm 2023, tôi viết xong một tập sách về quê tôi, có nhan đề: “Đem tâm tình viết về làng đạo An Mỹ, xứ Lường Xá, Phú Xuyên, Hà Nội”. Sách dày 350 trang, có 5 Chương với các chủ đề (rút gọn):</p>



<p>Chương 1</p>



<p>Tiếng gọi từ trên cao, tức Ơn gọi theo Tin Mừng Chúa Giêsu</p>



<p>Chương 2</p>



<p>Những dấu ấn của trăm năm&nbsp;</p>



<p>Những địa danh trong tâm thức người dân An Mỹ từ xưa đến nay&nbsp;</p>



<p>(Hay là: Đất Lạc Việt, huyện Phú Xuyên trong lịch sử Việt Nam)</p>



<p>Tục lệ làng An Mỹ qua bản hương ước năm 1910&nbsp;&nbsp;</p>



<p>-Những ngày hội của làng&nbsp;</p>



<p>-Lễ mừng 100 năm xây nhà thờ (1914-2018)&nbsp;</p>



<p>-Lễ Cung hiến nhà thờ và bàn thờ đá ngày 24.02.2019</p>



<p>.Mấy dòng tiểu sử của cụ Lý Đức Thân, Kiến trúc sư vẽ kiểu nhà thờ Lường Xá&nbsp;</p>



<p>-Những dấu tích văn hóa cổ trong những ngôi nhà ba gian tại An Mỹ&nbsp;</p>



<p>Giáo họ Ngọc Lâu trong tâm tưởng tôi&nbsp;</p>



<p>Chương 3</p>



<p>Những hoài niệm và thương đau&nbsp;&nbsp;</p>



<p>Mùa hè năm 1954</p>



<p>&nbsp;Trở về lần thứ nhất, năm 1980&nbsp;&nbsp;</p>



<p>&nbsp;Cây đa quê hương&nbsp;</p>



<p>Từ giếng nước giữa làng thời xưa…</p>



<p>đến giáo xứ trong thời hiện tại</p>



<p>Một thời…không quên&nbsp;</p>



<p>-Về điều cho toàn xã hội: Hợp tác xã nông nghiệp&nbsp;</p>



<p>-Giáo xứ Lường Xá …một thời không có linh mục&nbsp;</p>



<p>&nbsp;Trắc ẩn &#8211; Cải cách ruộng đất, đấu`tố địa chủ.</p>



<p>&nbsp;Làng An Mỹ trong chiến tranh&nbsp;</p>



<p>Mõ làng&nbsp;</p>



<p>Hồn quê-Hồn nước&nbsp;&nbsp;</p>



<p>Chương 4</p>



<p>Con người và gia đình của làng An Mỹ-giáo xứ Lường Xá</p>



<p><strong>Những Nhân Vật Tiêu Biểu</strong></p>



<p>Đây là vấn đề gai góc và có nhiều ý kiến khác nhau. Cũng vì vậy, buổi họp của BBT kỷ yếu có cha xứ chủ sự và tôi được mời về, đã không thành. Nhưng tôi vẫn viết với tư cách cá nhân, theo ý kiến của cha xứ và một vài người khác trong BBT. Ý kiến hay là quan điểm của tôi về vấn đề này như sau:</p>



<p>Tôi chọn được 7 người, ở quê 5, còn ở Sài Gòn có 2. Thật ra, chẳng có ai được lòng hết mọi người trong làng, ưa người này, ghét ông kia. Khi tôi chọn và để họ ngồi chung trong sách của tôi, thì tôi không nghĩ đến cá tính và đời sống riêng tư của họ. Quan điểm của tôi như sau. Xin dẫn:</p>



<p>Chúng tôi hiểu rằng, đất nước đã kết thúc chiến tranh, thống nhất đất nước 48 năm rồi. Tuy nhiên, không phải tất cả mọi người thuộc dòng giống Việt, nhất là những thành phần đã trực diện với cuộc chiến vừa qua, bên này hay bên kia, bên thắng cuộc hay bên thua cuộc, đều đã có chung một nỗi lòng xót xa và ăn năn, vì chúng ta, Nam và Bắc đã mất mát quá nhiều, đau thương quá lớn, nên dù là 48 năm hay 100 năm cũng chưa chắc có người <em>quên!</em> Nhất là chưa chắc đã hàn gắn được vết thương của sự chia rẽ, thù hận! Nhưng, chúng tôi xác tín một điều: <em>tôn giáo nói chung, Công giáo nói riêng, cùng với sứ mệnh của văn học, nghệ thuật phải đi tiên phong trong việc chữa trị căn bệnh này.</em></p>



<p>Còn một điều chúng tôi cũng muốn nói vài lời cho cạn lòng mình. Đó là vấn đề muôn thuở: <em>Ưa thích</em> hay <em>ghét bỏ</em> một người nào. Đây là vấn đề hoàn toàn chủ quan. Tục ngữ Việt Nam có câu:</p>



<p><em>Thương nhau trái ấu cũng tròn</em></p>



<p><em>Ghét nhau bồ hòn cũng méo</em></p>



<p>Triết Gia Hy Lạp là Diogènes (412-323 TCN), được nghe kể nhiều về việc ông thắp đèn (hay đốt đuốc) ban ngày để <em>đi tìm người</em>. Tìm người mà ông muốn tìm. Chuyện không nghe nói ông có tìm được người theo ý ông không. Có lẽ không. Câu tục ngữ Việt Nam và chuyện triết gia Diogènes, là một ẩn dụ nói lên một điều: chẳng một ai sống làm vừa lòng hết mọi người. Được lòng người này, mất lòng người khác!</p>



<p>Những vị chúng tôi chọn in vào mục <em>Những nhân vật tiêu biểu của làng An Mỹ</em> trong 100 năm qua, chắc chắn cũng không phải là hoàn hảo mọi bề, có khi họ còn khuyết điểm nhiều hơn người dân bình thường khác. Cho nên, chúng tôi không phân biệt chính kiến, không phân biệt Quốc gia hay Cộng sản ở cái thời mà họ tham gia, mà chỉ coi đó là những con người tiêu biểu cho quê hương An Mỹ, giáo xứ Lường Xá. Chúng tôi chỉ dựa vào những gì là Công, được xã hội và giáo hội ghi nhận, chứ không nói đến những quan điểm riêng tư về xã hội hay về tôn giáo của những vị ấy. Càng không nói đến chuyện đời tư của những vị này.</p>



<p>Trong số những vị có mặt ở mục này, biết đâu chẳng có vị “<em>quay lưng</em>” lại với đức tin tôn giáo mà cha mẹ hay người bõ đỡ đầu họ đã thay mặt họ <em>lĩnh nhận </em>trong ngày họ được ẵm đến nhà thờ để nhận phép Rửa tội,hoặc cũng có thể họ đã chống lại đạo ấy theo chính sách bài tôn giáo hết sức gay gắt và thô bạo của một thời đã qua. Thế nhưng, quan điểm và lập trường của chúng tôi trong việc soạn mục này là: chỉ có tinh thần Tin Mừng, sống theo Chúa Giêsu là cùng đích của chúng tôi, hoàn toàn không có một ý tưởng chính trị<em> hữu</em> hay <em>tả</em> nào ở đây. Đối với Thiên Chúa thì không một ai bị loại trừ. Còn việc xét đoán hay phê phán, đó không phải là việc của bất cứ ai, ngoại trừ Thiên Chúa.</p>



<p>Trước đó, người viết đã nói đến các nhân vật về tôn giáo, như có linh mục nào là tiêu biều không.</p>



<p>V<em>ề tôn giáo (Có 3 Linh mục)</em></p>



<p><em>Về đời sống chính trị, hành chính, quân sự, kinh tế</em>(Có 7 người)</p>



<p>Những gia đình tiêu biểu về đời sống đạo (Có 6 gia đình)</p>



<p>Người làng An Mỹ sống tại Sài Gòn từ năm 1954 đến nay.</p>



<p>Vì thời thế: họ ra đi&nbsp;</p>



<p>Kết luận về sự hình thành nhà thờ An Phú tại quận Ba Sài Gòn.</p>



<p>Chương 5</p>



<p>Mấy Vấn Đề Khác&nbsp;&nbsp;</p>



<p>Làng An Mỹ đã mất và được những gì?&nbsp;</p>



<p><strong>Giã biệt quê hương&nbsp;</strong></p>



<p>1-Tôi rời xa quê nhà từ năm 18 tuổi, khi trở về thì tóc đã bạc, cảnh trí nơi ngày xưa mình gắn bó đã thay đổi. Tôi ra bờ hồ, nơi có tượng đài Đức Maria Hồn Xác lên trời, Bổn mạng quê hương tôi, nhìn&nbsp; lên Mẹ mà tâm tư:</p>



<p>Mẹ còn đây. Quê hương còn đây!</p>



<p>Ánh vầng dương vẫn tràn đầy Tin Yêu</p>



<p>Ôi quê hương! Vấn vương nhiều</p>



<p>Thơ tôi là tiếng quốc kêu đêm hè</p>



<p>Bao lần về. Bao lần đi</p>



<p>Đi về hai ngả biệt ly trăm chiều</p>



<p>Bâng khuâng nhớ bát cơm chiều</p>



<p>Hồi chuông tắt lửa đìu hiu cõi lòng</p>



<p>Ở nông thôn ngày xưa, lúc tác giả còn ở nhà, có ba hiện tượng rất ấn tượng. Đó là <em>tiếng chim quốc kêu</em> tại các rặng tre ở bờ ao. Nó trở nên biểu tượng của những tâm tư, những sĩ phu yêu nước, thấy lòng tan nát khi nhìn thấy đất nước bị nhấn chìm trong lửa máu chiến tranh, phận người lênh đênh, chìm nổi. Thời gian người ta nghe tiếng chim quốc kêu là vào trưa mùa hè, hoặc về đêm, nên nó gợi cho người ta nhớ đến bài ca dao “Đêm buồn”:</p>



<p>Đêm qua ra đứng bờ ao</p>



<p>Trông cá, cá lặn</p>



<p>Trông sao, sao mờ</p>



<p>Buồn trông con nhện giăng tơ</p>



<p>Nhện ơi! Nhện hỡi! Nhện chờ mối ai?</p>



<p>Buồn trông chênh chếch sao mai</p>



<p>Sao ơi! Sao hỡi! Nhớ ai sao mờ?!</p>



<p>Chữ “nhớ” ở đây là “nhớ nước”. Vì nước đã mất. Cũng có thể hiểu là tác giả bài ca dao “nhớ” đến những anh hùng trong lịch sử dân tộc, hoặc một lãnh tụ nào đó còn ẩn mặt. Nên hiểu, bài ca dao này xuất hiện trong thời kỳ Việt Nam bị Pháp đô hộ trong suốt 80 năm. Và có lẽ thế mà con chim kia gọi là “chim quốc”? Quốc là nước. Còn những chữ “chờ mối ai” ở câu trên là chờ một anh quân, xuất hiện cứu nước.</p>



<p>Thứ hai là “<em>bát cơm chiều</em>”, nó chứa đựng biết bao nhiêu là tình cảm và trìu mến đối với người xa quê. Thứ ba là “<em>hồi chuông tắt lửa</em>”. Sau buổi kinh chiều, đèn trong nhà thờ đều tắt. Đã hơn nửa thế kỷ nay, những điều này không thấy được nói đến trong văn học nữa. Vì thế cần được nhắc lại vì đó là những sắc thái đặc thù của nông thôn Việt Nam ở thời yên bình. Còn hồi chuông tắt lửa là một biểu hiện mầu nhiệm của đời sống tôn giáo, nó làm cho tâm hồn con người thấy nao nao lúc chiều về.</p>



<p>2- Với những người năm xưa đã khuất bóng và những người rời xa quê hương và những người thân trong bất cứ trường hợp nào, không trở về:</p>



<p><em>Ở đâu bây giờ những người năm cũ?</em></p>



<p><em>Gió từ tha ma dưới kia thổi về</em></p>



<p><em>Bờ tre xơ xác, ao hồ hoang lạnh</em></p>



<p><em>Cây đại ngoài sân có ai quét lá?</em></p>



<p><em>Một người cô đơn</em></p>



<p><em>Ngồi bên thềm đá</em></p>



<p><em>Tóc rũ gió lùa</em></p>



<p><em>Lệ ứa bờ mi</em></p>



<p><em>Lá vàng bay bay</em></p>



<p><em>Rơi trên bờ cỏ</em></p>



<p><em>Lá vàng rơi rơi</em></p>



<p><em>Rơi về cổ mộ</em></p>



<p><em>Nhớ người nằm đó</em></p>



<p><em>Trăm năm còn gì!</em></p>



<p><em>Lá rơi vào tim</em></p>



<p><em>Con tim rướm máu</em>.</p>



<ul class="wp-block-list">
<li>Sau khi nhận được một bức hình  từ quê nhà đăng trên facebook, ngôi nhà thờ có tháp chuông cao và hai mái của quê tôi với lời ghi: “<em>đón ánh hoàng hôn đầu thu 2018</em>”, tác giả cảm xúc viết bài thơ Trăm Năm, kèm một lời nhắn gửi người trẻ:</li>
</ul>



<p>TRĂM NĂM</p>



<p><em>Thu tới hoàng hôn êm dịu quá</em></p>



<p><em>U hoài cho lữ khách viễn du</em></p>



<p><em>Trăm năm còn đó người đâu tá?</em></p>



<p><em>Hỏi người hay ta hỏi ta!</em></p>



<p>.</p>



<p><em>Hỏi người hay ta lại hỏi ta?</em></p>



<p><em>Tình xưa hương lửa (1) đã phai nhòa?</em></p>



<p><em>Nhắn người năm cũ</em><em> (2)</em><em> bao vương vấn</em></p>



<p><em>Xưa hoàng hôn nay lại hoàng hôn.</em></p>



<p>.</p>



<p><em>Bây giờ ta lại hỏi ta</em></p>



<p><em>Trăm năm hồn cũ còn đâu nhỉ</em></p>



<p><em>Ai người biết được chỉ ta nhé</em></p>



<p><em>Lửa hương xin hãy nhóm lên đi.</em></p>



<p>&#8212;&#8212;&#8212;-</p>



<p><strong>Ghi chú:</strong></p>



<p>(1)<em>“</em>Tình xưa hương lửa<em>”: “hương lửa”: chỉ sự thăng hoa tinh thần (như lửa và hương bốc lên) trong phụng vụ. Ở đây chỉ&nbsp; sự gắn bó giữa nhà xứ, nhà thờ với tác giả từ những năm 1948-19</em><em>54</em></p>



<p><em>.</em>(2) “Nhắn người năm cũ”: <em>nhân cách hóa hai nơi này.</em><em> Đồng thời nhớ về những người cùng thời đã xa cách.</em></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>LỜI VIẾT CUỐI</strong></p>



<p>Tôi khởi sự viết cuốn sách này vào năm 2024, và xong vào tháng 2 năm 2025. Thời gian này, tình hình chính trị Việt Nam có nhiều thay đổi, chính xác hơn thì những thay đổi ấy thuộc về nội bộ đảng Cộng sản cầm quyền. Thế nhưng, vì họ toàn trị, cho nên những thay đổi ấy cũng ảnh hưởng lên toàn bộ đời sống chính trị ở Việt Nam, ảnh hưởng lên toàn bộ xã hội Việt Nam. Rồi việc Bộ trưởng Công An Tô Lâm từ Hà Nội bay vào Sài Gòn, hôm 01-7-2024, để chủ sự buổi lễ&nbsp; “Ra mắt Lực lượng Tham gia Bảo vệ An ninh, Trật tự ở cơ sở”. Đáng chú ý là buổi lễ được tổ chức trước chợ Bến Thành, nơi đã có lúc, (rạng sáng ngày 14-03-1966), trở thành Pháp trường cát, thời Nguyễn Cao Kỳ làm Thủ tướng, để xử bắn một tay đầu cơ gạo, đó là ông Tạ Vinh.</p>



<p>Kể từ buổi lễ này, Nhân viên Dân phòng, Dân phố hợp nhất vào lực lượng công an, một lực lượng vốn đã có gần 300.000 người. Mỗi 900 người dân thì có một nhân viên “bảo vệ”. Quá hoàn hảo!</p>



<p>Sự kiện thứ hai cũng xảy ra vào tháng 7/2024. Đó là việc, TBT Đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng qua đời (19-7-2024), ở tuổi 80. Mấy tháng sau, Bộ trưởng Công an, ông Tô Lâm ngồi ghế TBT đảng.</p>



<p>Hàng ngũ Đảng có nhiều thay đổi về nhân sự, chuẩn bị cho Đại hội Đảng lần thứ 14 họp vào đầu năm 2026.</p>



<p>Đấy là bối cảnh xã hội lúc tôi đang viết cuốn sách cuối cùng của tôi. Lúc này, mắt tôi đã mờ lắm, nhìn cảnh vật chung quanh, như nhìn qua một màn sương. Một buổi sáng nọ, tôi thức dậy thật trễ sau một đêm khó ngủ, tôi đã có ý tưởng “nghỉ thôi!”, dù sách chưa xong! Cũng đành! Do dự, đắn đo một lúc để có quyết định cuối cùng. Chợt, tôi nhớ đến một cuốn sách mỏng, luôn luôn ở trước mắt tôi, có tên là “Lời Vàng”-Từ Kinh Thánh- Sự khích lệ mỗi ngày, (nxb Mỹ Thuật, 2009).Tôi bước xuống giường, mở cánh tủ sách, cầm lên cuốn này, mở ra ngay. Tôi đọc trang bên trái, thấy tựa đề: “Kiên Trì”. Gấp sách lại ngay, để vào chỗ cũ. Tinh thần tôi tinh tấn lên, bừng dậy tư tưởng “Đừng sợ”!</p>



<p>Quyển sách “Những Người Bạn Văn Chương” của tôi, được hoàn thành trong tinh thần ấy. Với bất cứ người bạn nào có tên trong sách này, tôi đều thấy còn thiếu sót, chưa nói hết được những cảm nghĩ của họ về những gì họ bày tỏ trong những trang văn thơ của mình. Có người vừa viết tôi vừa khóc, nhớ đến những ngày xa xưa có nhau. Gặp nhau là duyên, nên nghĩa thiết, ân tình là ân điển từ trên cao.</p>



<p><strong>KHẢI TRIỀU</strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Khải Triều: TRẦN NGUYÊN ÁNH</title>
		<link>https://t-van.net/khai-trieu-tran-nguyen-anh/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Khải Triều]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 31 May 2025 09:32:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[NHỮNG NGƯỜI BẠN VĂN CHƯƠNG]]></category>
		<category><![CDATA[Những người bạn văn chương]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=79926</guid>

					<description><![CDATA[TRẦN NGUYÊN ÁNH (1934-2009) Trần Nguyên Ánh là tên thật, các bút danh: Ngứa Nhĩ, Muỗi Đói, ký dưới các bài thơ trào phúng, còn thơ về thiên nhiên, quê hương, bạn hữu, tình mẹ cha, ông bà…ký tên Trần Nguyên Anh. Tác phẩm: Tất cả còn là bản thảo, đánh máy hoặc viết tay. [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/05/image032.png?strip=all&fit=135%2C165&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="135" height="165" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/05/image032.png?strip=all&fit=135%2C165" alt="" class="wp-image-79927" style="width:127px;height:auto"/></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><strong>TRẦN NGUYÊN ÁNH</strong></p>



<p class="has-text-align-center">(1934-2009)</p>



<p>Trần Nguyên Ánh là tên thật, các bút danh: Ngứa Nhĩ, Muỗi Đói, ký dưới các bài thơ trào phúng, còn thơ về thiên nhiên, quê hương, bạn hữu, tình mẹ cha, ông bà…ký tên Trần Nguyên Anh.</p>



<p>Tác phẩm:</p>



<p>Tất cả còn là bản thảo, đánh máy hoặc viết tay. Riêng tập Mậu Tý Cảm Tác, 2008, có lẽ là thi tập cuối cùng của ông được in đẹp, nhiều hình ảnh những người thân trong nhà và các cháu ông đến thăm trong chuyến hai vợ chồng ông đi “hành hương” nhiều nơi trong nước. Trước hết là về quê nhà huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, thăm mấy cháu gọi tác giả là chú ruột, cậu ruột. Rất tình cảm và thương yêu. Hai ông bà còn đến chùa Giải Oan- Hội Yên Tử, đi thăm chùa Lim, Kinh Bắc; đi Vĩnh Yên thăm cháu, vào Hà Nội, qua ga Hàng Cỏ, bến xe Kim Mã, ra cầu Hiền Lương lịch sử chia cắt hai bờ Quốc-Cộng (1954-1975). Ông cũng đi &nbsp;tới bãi tắm Cửa Lò, Nghệ An; đến Đèo Ngang&nbsp; (có lẽ ông nhớ bài thơ của Bà huyện Thanh Quan) và đi Bình Phước thăm một người cháu ở Đồng Phú. Nơi nào hai vợ chồng tác giả đi tới, đều có ghi cả hình ảnh ở nơi đó, và viết bài thơ ghi là “cảm tác”.</p>



<p>Những tác phẩm khác:</p>



<p>-1-Dĩ vãng bang khuâng: gồm 21 bài thơ trữ tình, 11 bài trào phúng và 2 bài tạp bút. Tất cả viết trước năm 1975.</p>



<p>2-Tình quê I và Tình quê II. Tập I có 91 bài, tập II có 56 bài. Viết năm 1997.</p>



<p>3-Ngẫm đau cố sự: gồm 128 bài, thể bát cú và bát cú liên hoàn, lục bát.</p>



<p>4-Ly hương hoài cảm (3 tập), viết từ năm 1994-1996. Tập I: 61 bài, lục bát và thất ngôn bát cú. Tập II: 60 bài. Tập III: 67 bài.</p>



<p>5-Nhớ thương Hà Nội: gồm 59 bài, lục bát và thất ngôn bát cú. Theo tác giả, làm tập này để kỷ niệm 1.000 năm thành lập Đông Đô Thăng Long – Hà Nội (1010-2010) và 300 năm thành lập Sài Gòn, TP. Hồ Chí Minh (1698-1998).</p>



<p>6-Đời vô thường: gồm 59 bài, lục bát và thất ngôn bát cú. Viết năm 1998.</p>



<p>7-Văn chương giao cảm (2 tậ): gồm một số bài xướng họa với các nhà thơ thân hữu, từ năm&nbsp; 1996-1998.</p>



<p>8-Thơ vịnh danh nhân Việt Nam</p>



<p>9-Thơ Đường luật gieo vần trắc: 70 bài.</p>



<p>10-Sau cơn đau Mậu Dần (1998).</p>



<p>11-Tập hồi ký: gồm 3 thời kỳ:</p>



<p>-Tôi đi làm báo và phóng viên</p>



<p>-Tôi đi làm thợ xây dựng (sau ngày 30-4-1975)</p>



<p>-Dĩ vãng qua đi.</p>



<p><strong>Mấy bài thơ trong tập Mậu Tý cảm tác:</strong></p>



<p><strong>Nhớ Về Quê</strong></p>



<p>Tôi đi tha thẩn nhớ về quê</p>



<p>Xa cách bao năm mới trở về</p>



<p>Làng cũ thay tên nghe lạ hoắc</p>



<p>Đường xưa mất dấu thấy buồn ghê.</p>



<p>Ao đầm lấp hết – chia nhà ở</p>



<p>Hồ vực san bằng phóng lộ đi!</p>



<p>Dòng nước sông Hồng như nghẽn lại</p>



<p>Cát cồn nổi giữa ngập trăng khuya.</p>



<p><em>Mùa Hè 2008</em></p>



<p><strong>Về Thăm Làng Cũ</strong></p>



<p>Hai ngày lưu lại Đất Quê Cha</p>



<p>Thăm mộ Ông Bà, mộ Mẹ ta!</p>



<p>Mô đất vo tròn xuân hết lửa</p>



<p>Mảnh trời teo tóp Tết tàn hoa</p>



<p>Anh em xa khuất tình u uẩn</p>



<p>Chú bác không còn nghĩa nhạt pha</p>



<p>Giáp Ngọ Năm Tư sau Mẹ mất</p>



<p>Bỏ làng trốn chạy bọn quần ma!</p>



<p><em>(Đêm 10 tháng Giêng Mậu Tý)</em></p>



<p><em>Trang 10</em></p>



<p>Và bài sau đây, tác giả tặng tôi. Cũng vẫn là cảnh làng cũ của đất Bắc thời cũ, trước năm 1954. Nay không còn dấu xưa.</p>



<p><strong>Đến Thăm Bạn</strong></p>



<p>(Riêng tặng anh Khải Triều)</p>



<p>Đến bạn thăm nhau biết kể gì?</p>



<p>Cuộc đời biến đổi hợp phân ly</p>



<p>Sang Tây sống gửi trông trời biển</p>



<p>Rời Bắc ra đi nhớ Đất Quê</p>



<p>Làng mạc nghèo nàn xơ xác quá</p>



<p>Thôn trang hiu hắt lạnh lùng ghê</p>



<p>Lũy tre Ngày Trước đâu còn nữa</p>



<p>Miếu đổ, Chùa hoang, buồn tái tê.</p>



<p><em>Mùa Hè năm 2008</em></p>



<p><em>&nbsp;(Trang 44)</em></p>



<p><strong>Chữ Tâm Trong Thơ Trần Nguyên Anh (*)&nbsp;</strong></p>



<p>Anh Trần Nguyên Ánh và tôi có duyên hội ngộ từ năm 1960 tại Tòa soạn Nhật báo Dân Việt, đến nay, chỉ còn hai năm nữa là tròn 50 năm. Thời gian này kể dược là dài trong một đời người. Và có lẽ cũng ít có đôi bạn tâm giao như chúng tôi, thời gian dài như thế,, với những biến cố cuộc đời mỗi người, chảy theo dòng xoáy &nbsp;của thời cuộc, của đất nươc, hai chúng tôi hầu như vẫn có những cuộc gặp gỡ thân tình bên tách cà phê và có khi cả bên ly rượu nồng nữa.</p>



<p>Là bạn văn chương với nhau, nhưng chúng tôi không bận lòng đến chủ nghĩa này hay chủ nghĩa kia trong văn chương. Cái mà chúng tôi theo đuổi nhất, quan tâm tới nhất, đó là cách sống và cách thể hiện vai trò của người cầm bút trong thời đại của mình.</p>



<p>Sinh ra, lớn lên rồi già đi như lúc này, trong một bối cảnh của lịch sử dân tộc, gói gọn vào con số 70 năm, đầy nước mắt, đau thương, hận thù và chiến tranh… của từng phận người và của cả dân tộc, của cỏ cây, nơi thôn làng, bờ giếng, cây đa và lũy tre đến đình miếu và phần mộ.</p>



<p>Người thi sĩ hôm nay và nhà chí sĩ một thời nào đó xa xưa đã hội ngộ với nhau qua bài ca dao tạm gọi là “Đêm buồn”:</p>



<p>Đêm qua ra đứng bờ ao</p>



<p>Trông cá, cá lặn, trông sao, sao mờ.</p>



<p>Buồn trông con nhện chăng tơ,</p>



<p>Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai?</p>



<p>Buồn trông chênh chếch sao mai,</p>



<p>Sao ơi, sao hỡi, nhớ ai sao mờ?</p>



<p>Đêm đêm tưởng giải Ngân hà</p>



<p>Chuôi sao Tinh đẩu đã ba năm tròn?</p>



<p>Đá mòn nhưng dạ chẳng món</p>



<p>Tào Khê nước chảy hãy còn trơ trơ!</p>



<p>Tùy theo nhận thức của mỗi người mà bài ca dao này được hiểu như đó là nỗi lòng của một nhà ái quốc đêm ngày chờ mong minh chủ xuất hiện. Có người hiểu bài ca dao là nỗi lòng của của một người tình nhớ người tình. Điều này không phù hợp với bối cảnh của bài ca dao. Riêng tôi, nài ca dao làm tôi liên tưởng đến mấy câu thơ của Bà Huyện Thanh Quan:</p>



<p>Nhớ nước đau lòng con quốc quốc</p>



<p>Thương nhà mỏi miệng cái gia gia</p>



<p>Dừng chân đứng lại trời non nước</p>



<p>Một mảnh tình riêng ta với ta.</p>



<p>Sở dĩ tôi nhắc đến bài ca dao “Đêm buồn” và 4 câu thơ của Bà Huyện Thanh Quan trong bài “Qua Đèo Ngang” là vì xét về chữ Tâm trong thơ Trần Nguyên Anh, ông đã bộc lộ nỗi lòng của mình với nước non không chỉ trong một vài bài, mà là trong rất nhiều bài, đặc biệt trong hai tập: Nước Non Tâm Sự, Diễn Khúc Dân Tình. Tôi đã đọc được ở đây những đau thương của dân tộc Việt Nam kể từ thời kỳ kết thúc Chiến tranh Thế giới lần thứ hai (1939 – 1945), sau đó lại nổ ra cuộc chiến chống thực dân Pháp của Việt Nam và bây giờ ông vẫn đang tiếp tục:</p>



<p>Nhiều đêm thao thức đến canh ba,</p>



<p>Nhớ nước thương non, lại nhớ nhà.</p>



<p>Cha mẹ mất rồi nên thất thổ,</p>



<p>Anh em chia cắt phải vong gia.</p>



<p><em>(Hoài niệm 1998)</em></p>



<p>Nước và non hầu như không bao giờ thấy Trần Nguyên Anh dể cách biệt, như thể đó là hai thực thế khác biệt. Trái lại, hai thực thể hay hai chủ đề này trong thi ca của Trần Nguyên Anh, đã là một tương quan biện chứng. Nước loạn thì nhà không yên</p>



<p>Gió nào thương vách tranh thưa,</p>



<p>Mưa nào thương luống cải thưa trổ vồng.</p>



<p>Mấy dâu thương lấy mẹ chồng,</p>



<p>Bao giờ ngoại chủng thương đồng bào ta.</p>



<p><em>(Diễn khúc dân tình, </em><em>1990</em><em>)</em></p>



<p>Nhưng một nỗi đau khác là từ người đồng chủng, người trong một nước gây ra:</p>



<p>Đau lòng đất nước Văn Lang,</p>



<p>Âu Cơ mẹ hỡi chan chan lệ sầu!</p>



<p>Trăm con của mẹ giết nhau,</p>



<p>Sứ quân ngày trước – Cờ lau úa vàng!</p>



<p>.</p>



<p>Công hầu! Khanh tướng vẻ vang,</p>



<p>Một nhà vinh hiển chất ngàn xương khô!</p>



<p>Sông Gianh Trịnh-Nguyễn vết nhơ,</p>



<p>Lại thêm Bến Hải đôi bờ cách ngăn!</p>



<p>Thoắt đi hơn hai mươi năm,</p>



<p>Bảy nhăm thống nhất khó khan chất chồng!</p>



<p>Xác người vỗ sóng biển Đông,</p>



<p>Hồn kêu ơi ới &#8211; chết không có mồ!</p>



<p>Ngàn thu theo sóng vật vờ,</p>



<p>Dạt trôi kiếp sống bơ vơ xứ người!</p>



<p>Mất Quê hương! Mất Đất trời,</p>



<p>Mất cha, mất mẹ suốt đời lang thang!</p>



<p>Làm dân Do Thái bốn phương,</p>



<p>Trông về Đất tổ Hùng Vương não nùng.</p>



<p>Bầu ơi! Thương lấy bí cùng,</p>



<p>Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.</p>



<p>Thơ sầu viết mãi ngổn ngang,</p>



<p>Viêt bao giờ hết bà ng hoàng nước non?</p>



<p>Thật thế, hai câu thơ cuôi trên đây diễn tả rất rõ nỗi lòng của tác giả với đất nước, mà chiến tranh là một nỗi ám ảnh khôn nguôi. Cho nên, ở Trần Nguyên Anh, đề tài này cơ hồ như một cảm hứng vô tận giãi bày cái tâm của ông đến từng số phận con người, đến từng ngọn cỏ, lều tranh. Hầu như Trần Nguyên Anh không bỏ qua một vấn đề gì có liên quan đến con người. Trần Nguyên Anh có những cảm xúc sâu xa và mạnh mẽ&nbsp; khi viết về chiến tranh, vì chiến tranh là sự hủy diệt, đẩy phận người đến nỗi khốn cùng thê thảm nhất, đắng cay nhất.</p>



<p>Tôi chưa đọc được ở một thi sĩ nào cùng thế hệ chúng tôi, sinh ra trong thập niên 30,40 trong thế kỷ 20 lại quan tâm&nbsp; đến những vấn đề thiết thân đến con người và nước non như Trần Nguyên Anh.</p>



<p>Trước ngày ông sang Canada sống với con cháu, ông đã trao cho tôi hầu như mọi tác phẩm thơ của ông và tôi đã ghi ở phần tác phẩm trên đây.</p>



<p>Rồi năm 2008 ông về nước, Trần Nguyên Anh lại trao cho tôi tập Mậu Tý cảm tác (2008), hơn 60 bài và 2 bài cũ đã đăng trên tờ Nhật báo Tự Do năm 1959. Trong số hơn 60 bài này, nhiều nhất là ở vị trí tác giả là “du khách”, thấy sao nói vậy, cảnh trí nước non Việt Nam ngày nay (25 bài), như thăm Yên Tử, Côn Sơn, Tây thiên thiền viện (ở Vĩnh Yên), đền thờ Bát Đế&nbsp; (ở Đình Bảng, Bắc Ninh), thăm chùa Lim, Kinh Bắc, thăm Đầm Vạc (Vĩnh Yên), qua ga Hàng Cỏ (Hà Nội), qua Đèo Cả (Phú Yên), qua đèo Hải Vân (3 bài), qua Quảng Trị, cầu Hiền Lương, qua Đèo Ngang, nhớ Bà Huyện Thanh Quan, từ giã thành Vinh cảm tác, trên bãi tắm Cửa Lò (Nghệ An), ra Kinh Bắc, thăm Hà Nội.</p>



<p>Đề tài thứ hai là “Quê nhà”, 9 bài rồi đến “Tâm sự người ra đi”; “Tâm sự với nước non”; “Dân tình ngày nay”; “Tâm tư”; “Thời sự”.</p>



<p>Trong các đề tài này, nước non vẫn là chủ đề trong suốt hơn 60 bài thơ, đến cả đề tài Quê nhà hay nhập vai du khách trong suốt chuyến đi nhiều ngày của lần về thăm nhà năm 2008. Bài nào tôi cũng thấy Trần Nguyên Anh trải rộng cái tâm của mình ra, giãi bày với cảnh trí thiên nhiên, với quê nhà, với người thân.</p>



<p>Trở về thăm lại Đất Quê tôi</p>



<p>Hồi tưởng xa xưa có một thời</p>



<p>Hoa gạo đỏ lừng rơi trước ngõ</p>



<p>Lũy tre xanh biếc bóng nghiêng trời</p>



<p>Nhà xưa mất dấu – đầm ao lấp</p>



<p>Đường cũ không còn ruộng cát bồi</p>



<p>Mậu Tý soi gương đầu đã bạc,</p>



<p>Ngậm ngùi tâm sự mảnh trăng trôi,</p>



<p><em>Đêm 10 tháng Giêng Mậu Tý 2008</em></p>



<p>&nbsp;(Bài Về quê hồi tưởng, trang 11)</p>



<p>Trong những bài viết về Sài Gòn sau này, xin giới thiệu bài: “Sài Gòn ơi! Sài Gòn ơi!”:</p>



<p>Sài Gòn đẹp lắm! Sài Gòn ơi!</p>



<p>Đổi chủ thay tên, Nước ngậm ngùi</p>



<p>Băc Mỹ quê người – trông tuyết đổ</p>



<p>Việt Nam Đất Mẹ, ngắm mây trôi</p>



<p>Nhớ về miền Bắc buồn hay tủi?</p>



<p>Bỏ lại trời Nam khóc lộn cười!</p>



<p>Gởi trọn Tình Quê vào Sách sử</p>



<p>Mang sang&nbsp; Bắc Mỹ &#8211; Sài Gòn ơi!</p>



<p>(Tháng 4/2008)</p>



<p>Bài “Kiếp sống dân nghèo” (2), tác giả viết:</p>



<p>Nước Việt ba phần dẫu đổi thay</p>



<p>Cầu đường mở rộng – building đầy</p>



<p>Dân nghèo thành thị không nhà ở</p>



<p>Dân khó nông thôn chẳng ruộng cày</p>



<p>Chồng vợ cha con đi khiếu kiện</p>



<p>Anh em cô bác sống chua cay!</p>



<p>Lang thang lếch thếch đi cùng khắp</p>



<p>Phố chợ rừng thiêng – Đảng có hay?!</p>



<p>(Mùa hè 2008)</p>



<p>Càng đọc thơ của anh, tôi càng thấy chất chứa một tâm sự, một cõi lòng, một cái tâm đối với nước non, với quê nhà và với phận con người trong thời đại của mình, một thời đại nhiều gian lao và đau khổ.</p>



<p>&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;</p>



<p>(*) Bài Chữ tâm trong thơ Trần Nguyên Anh trên đây, tôi gửi cho trang báo điện tử NewVietArt, Pháp và đã đăng sau đó. Khi tôi được anh Trần Nguyên Ánh trao tặng tập Mậu Tý cảm tác thì thấy có bài này in ở đầu tập thơ. Khi in lại ở sách này, có sửa một vài chỗ.</p>



<p>Khải Triều</p>



<p>Sài Gòn – Việt Nam</p>



<p>Tháng 5-2008</p>



<p><strong>Mấy bài thơ khác trong tập Mậu Tý cảm tác:</strong></p>



<p><strong>Nhớ Về Quê</strong></p>



<p>Tôi đi tha thẩn nhớ về quê</p>



<p>Xa cách bao năm mới trở về</p>



<p>Làng cũ thay tên nghe lạ hoắc</p>



<p>Đường xưa mất dấu thấy buồn ghê.</p>



<p>Ao đầm lấp hết – chia nhà ở</p>



<p>Hồ vực san bằng phóng lộ đi!</p>



<p>Dòng nước sông Hồng như nghẽn lại</p>



<p>Cát cồn nổi giữa ngập trăng khuya.</p>



<p><em>Mùa Hè 2008</em></p>



<p><strong>Về Thăm Làng Cũ</strong></p>



<p>Hai ngày lưu lại Đất Quê Cha</p>



<p>Thăm mộ Ông Bà, mộ Mẹ ta!</p>



<p>Mô đất vo tròn xuân hết lửa</p>



<p>Mảnh trời teo tóp Tết tàn hoa</p>



<p>Anh em xa khuất tình u uẩn</p>



<p>Chú bác không còn nghĩa nhạt pha</p>



<p>Giáp Ngọ Năm Tư sau Mẹ mất</p>



<p>Bỏ làng trốn chạy bọn quần ma!</p>



<p><em>(Đêm 10 tháng Giêng Mậu Tý)</em></p>



<p><em>Trang 10</em></p>



<p><strong>Chiều Về Quê Mẹ</strong></p>



<p>Chiều về quê Mẹ nhớ ngày xưa</p>



<p>Có lũy tre xanh ngọn gió đùa</p>



<p>Kẽo kẹt võng đưa đầy ấn tượng</p>



<p>Vi vu sáo thổi đẹp như thơ</p>



<p>Đầm sen lá biếc hương thơm thoảng</p>



<p>Đồng lúa bông vàng nhụy ngát đưa</p>



<p>Thong thả trâu nằm nhai lại cỏ</p>



<p>Hoa soan đầy lối – sóng trăng mơ.</p>



<p><em>(Tháng 2-2008, tr.26)</em></p>



<p><em>&nbsp;</em>Và bài sau đây, tác giả tặng tôi. Cũng vẫn là cảnh làng cũ của đất Bắc thời cũ, trước năm 1954. Nay không còn dấu xưa.</p>



<p><strong>Đến Thăm Bạn</strong></p>



<p>(Riêng tặng anh Khải Triều)</p>



<p>Đến bạn thăm nhau biết kể gì?</p>



<p>Cuộc đời biến đổi hợp phân ly</p>



<p>Sang Tây sống gửi trông trời biển</p>



<p>Rời Bắc ra đi nhớ Đất Quê</p>



<p>Làng mạc nghèo nàn xơ xác quá</p>



<p>Thôn trang hiu hắt lạnh lùng ghê</p>



<p>Lũy tre Ngày Trước đâu còn nữa</p>



<p>Miếu đổ, Chùa hoang, buồn tái tê.</p>



<p><em>Mùa Hè năm 2008</em></p>



<p><em>&nbsp;(Trang 44)</em></p>



<p>TRẦN NGUYÊN ANH –</p>



<p><strong>Tiếng Kêu Đau Thương Trong Nền Thi Ca Việt Nam Hậu Bán Thế Kỷ XX</strong></p>



<p>Trên đây là nhan đề cuốn sách tôi viết về thơ của anh Trần Nguyên Anh. Có hai phần: một phần giới thiệu các chủ đề trong thơ Trần Nguyên Anh, như: Thơ trào phúng, trước và sau năm 1975, thơ trữ tình, gồm tình nhà, tình quê hương, tình non nước, tình thiên nhiên, tình bạn hữu. Sau đó là thơ viết về chiến tranh, viết về các vấn đề của xã hội. Trần Nguyên Anh còn có những bài thơ vịnh các danh nhân Việt Nam và Trung Quốc. Viết về bất kỳ nhân vật lịch sử và danh nhân nào, tác giả đều lột tả được chân dung của họ, rất đáng nể. Còn một phần khác là về tác giả, như gia phả, anh chị em trong nhà, đến các con của tác giả. Ở phần này, tôi viết về “Nhân sinh quan của tác giả Trần Nguyên Anh”.</p>



<p>Tôi gửi cuốn sách này cho trang báo điện tử NewVietArt. Trang mạng này đã đăng tải tất cả 9 kỳ, kể cả phần kết, nhưng lúc này (2025) mở ra thì thấy không có phần thơ trào phúng, Phần A, chỉ có Phần B thơ Trữ tình, Kỳ 3. Dưới đây là những trang dẫn từ trong bản thảo viết tay và một vài trang về thơ trào phúng của Trần Nguyên Anh. Nhưng, trước hết là Lời Mở.</p>



<p>Lời Mở:</p>



<p>(Có sửa)</p>



<p>Cách nay khoảng mười năm, anh Trần Nguyên Anh mang lại nhà cho tôi coi mấy tập thơ ông vừa làm xong, trong đó có hai tập Nước Non Tâm Sự và Diễn Khúc Dân Tình, cả hai đều là trường thiên, dài đến mấy ngàn câu, cùng lấy năm 1945 làm cái mốc thời gian cho sáng tác, kéo dài đến cuối năm 1989, 44 năm. Đối với một đời người, thì như người xưa nói “bảy mươi đã là quý”, thì 44 năm đã là nửa đời người, mà đây là một giai đoạn có quá nhiều biến cố đau thương xảy đến cho đất nước và cho đồng bào cả ba miền, vừa do ngoại nhân khác màu da vừa do người trong cùng dòng máu và màu da. Bây giờ, nhân loại đã bước vào năm 2000, mà thù hận nhau, chia rẽ nhau vẫn chưa hàn gắn được. Đó là một di sản chẳng ai muốn có và muốn để nó &nbsp;cứ diễn ra mãi, vì nó chỉ mang lại mất mát về tình đoàn kết và sự thân tình của nhau. Nó cho thấy, xã hội ấy thiếu văn minh, thiếu nhân văn. Một xã hội như thê, hỏi ai là “kẻ sĩ”? Thời đương đại không còn “kẻ sĩ” như thời Cha, Ông mình. Nhưng, vẫn còn có những nhà thơ, những thi sĩ vốn nhận cái đau của dân tộc, của Tổ quốc, của người bần cùng, người đau khổ, nghèo đói làm cái đau của mình. Chúng tôi không tiện nói ra, nhưng độc giả có nhận thức, có lòng mộ mến văn chương và thi ca, hẳn cũng thấy được trong sách này, bóng dáng của những nhà thơ hay nhà văn có tấm lòng tha thiết người cùng khổ.</p>



<p>Nhà thơ Trần Nguyên Anh đã tỏ bày với tôi về việc ông làm thơ, cụ thể là hai tập ông đã trao gửi cho tôi. Ông lặp đi lặp lại nhiều lần, việc ông ngồi thâu đêm, từ ngày này đến ngày khác, mượn vần thơ, cho dù rất mộc mạc, để giãi bày tâm tình của mình qua những biến cố trong suốt 44 năm trường ấy, chỉ với mục đích lưu lại cho đời sau về một thời đại mà chính ông đã sống hay đã trải qua. Trong đó, ông không phải là người đứng bên lề, mà thật sự vừa là nạn nhân vừa là chứng nhân.</p>



<p>Là nạn nhân của thời thế: Ngay những dòng thơ đầu tiên của tập Nước Non Tâm Sự, ông đã viết:</p>



<p>Mấy lời ta viết cho con,</p>



<p>Bài thơ Tâm sự nước non một mình</p>



<p>Bốn Nhăm (1945) cha bị cực hình</p>



<p>Là chứng nhân của thời đại:&nbsp; Những dòng thơ đầu tiên của tập Diễn Khúc Dân Tình, tác giả viết:</p>



<p>Kể từ Ất Dậu đến nay (1985)</p>



<p>Bốn mươi năm chẵn đổi thay mấy lần</p>



<p>Trào nào cũng khổ thằng dân</p>



<p>Sưu cao thuế nặng áo quần tả tơi</p>



<p>Ta buồn nhiều lúc lệ rơi</p>



<p>Giở trang sử cũ tiếp lời diễn ca.</p>



<p>Bốn Nhăm Mồng chín tháng Ba</p>



<p>Nhật đảo chính Pháp nước ta đổi đời.</p>



<p>Và cứ thế, tác giả diễn lại toàn bộ những biến cố, những sự kiện của lịch sử dân tộc. Vì thế, Trần Nguyên Anh là nhà thơ đầu tiên tôi biết trong giai đoạn này, đã dùng thi ca để viết lịch sử. Nói một cách chính xác hơn thì đó là cách mang tâm tình viết lịch sử. Và tôi đã nói với Trần Nguyên Anh: “Tôi sẽ viết về “tâm sự” của anh với nươc non và với những đau thương của người dân Việt, chẳng có ai đã để nhiều suy nghĩ về “nước non” và về “dân tình” như thế”. Tôi thấy thân phận tôi cũng nằm đâu đó trong những tập thơ của ông. Trần Nguyên Anh đã đem tâm tình để viết lịch sử bằng thơ, thì tôi cũng thấy phải lấy tâm tình mà viết về thơ của ông. Chỉ có điều, Trần Nguyên Anh là chỗ thâm giao với tôi, nên không tránh khỏi điều thiên lệch, nặng nhẹ. Tuy nhiên, điều này cũng có cái hay của nó là nhờ sự thâm giao ấy, tôi có được cái may mắn là ông tâm sự với tôi nhiều lần về quan điểm và lập trường của ông đối với những gì đã xảy ra gây đau thương cho đất nước và người dân. Một phần nào trong những điều tâm sự ấy, tôi đã đem vào sách này.</p>



<p>Quả thực, tôi hơi tham lam trong việc trích dẫn nhiều bài thơ của Trần Nguyên Anh. Đấy là khi tôi gửi đi cho tờ báo điện tử, còn khi đem vào sách này, thì trích dẫn nhiều sẽ làm cho sách nặng nề. Cho nên tôi sẽ giảm số bài trích dẫn, tôi cũng đã làm thế ở các tác giả trước đây.</p>



<p>Về mục đích của tôi khi viết về tác giả Trần Nguyên Anh. Trước hết, tôi chỉ muốn trao tặng cho ông và gia đình, để đáp ơn tri ngộ giữa chúng tôi từ mấy mươi năm qua, nửa thế kỷ rồi. Tôi không nghĩ sách sẽ được in và bày bán như một món hàng rẻ tiền. Văn chương Việt Nam vốn rẻ như bèo từ thuở nào rồi! Nếu coi sách này như một món hàng rẻ tiền đem bày bán, thì đó sẽ là điều làm thương tổ đến tác giả Trần Nguyên Anh, vì ông đã viết nó với tim óc, với ruột gan và biết đâu, có những trang giấy bản thảo của ông có cả lệ sầu mỗi khi nhớ đến Mẹ Cha, nghĩ đến nạn nhà của ông. Cho nên, nếu sách này vì bất kỳ lý do gì mà được phổ biến, được trở thành một “tác phẩm văn học” thì đó là ngoài ý định của tôi. Thứ hai, tất cả những tập thơ của Trần Nguyên Anh được dùng để viết sách này đều còn là bản thảo, đánh máy hoặc viết tay của chính tác giả, ngoại trừ tập “Dĩ vãng bâng khuâng”, gồm những bài thơ trào phúng và trữ tình, được thu thập từ những bài báo cũ xuất bản ở Sài Gòn, trước ngày 30-4-1975. Đã có lần Trần Nguyên Anh dự định xuất bản tập thơ này, song bị từ chối cấp giấy phép.</p>



<p>Viết quyển: Thơ Trần Nguyên Anh-Tiếng kêu đau thương trong nền thi ca Việt Nam hậu bán thế kỷ XX, tôi không coi kỹ thuật sáng tác của Trần Nguyên Anh là một vấn đề để đánh giá thơ của ông hay như thế nào, dở ở những điểm nào. Mặt này, xin dành cho những nhà nghiên cứu văn học chuyên biệt. Còn với tôi, vấn đề cảm thụ văn học là điều không thể lướt qua, nó phải đến với người đọc trước tất cả các yếu tố về nghệ thuật dùng ngôn từ…Vì những điều này đến sau việc cảm thụ một bản văn hay thơ.</p>



<p>(Khải Triều, 1995)</p>



<p>Một Vài Chủ Đề Trong Thơ Trần Nguyên Anh</p>



<p>Gồm có:&nbsp; trào phúng, nước non, chiến tranh, quê hương, tình nhà, bạn hữu, danh nhân, xã hội, tình yêu, thiên nhiên và chủ đề lịch sử. Trong các chủ đề này, đều có những khía cạnh khác nữa. Nhìn vào những chủ đề này, cũng có thể gọi đó là những đề tài trong thơ Trần Nguyên Anh, chúng ta cũng thấy được tấm lòng của tác giả, nhiều đề tài phát xuất từ cái tâm của ông đối với con người. Phải chăng, điều này ông chịu ảnh hưởng giáo lý nhà Phật. Người chị song sinh với ông là một ni sư đạo hạnh, trụ trì tại chùa Từ Nghiêm đường Bà Hạt, quận 10, Sài Gòn, pháp danh Như Hải. Tôi từng được ông dẫn lại chùa thăm bà chị ông và ở lại dùng cơm chay với nhà chùa, đặc biệt là vào ngày giỗ của các cụ thân sinh ra chị em ông.</p>



<p>Ở đây, tôi chỉ dẫn ít bài thơ của vài chủ đề trong thơ Trần Nguyên Anh.</p>



<p>A-Thơ trào phúng:</p>



<p>.Trước ngày 30 tháng 4 năm 1975:</p>



<p>Bài thơ trào phúng đầu tiên của Trần Nguyên Anh xuất hiện trên tờ Nhật báo Tự Do tại mục Đàn Ngang Cung, có tựa đề: “Đầu năm đi lễ chùa”, ký tên Ngứa Nhĩ, đã gây xôn xao trong giới Phật giáo vào thời kỳ 1959 tại Sài Gòn.</p>



<p>Sau này, trong tập thơ “Nước non Tâm sự”, khởi viết từ năm 1986 -1989, bản thảo đánh máy trang 25, tác giả đã đề cập tới chuyện này:</p>



<p>Bắt đầu năm tám (1958) mùa thu</p>



<p>Đi vào nghiệp bút làm thơ trữ tình</p>



<p>Chuyển sang trào phúng phê bình,</p>



<p>Bài thơ Đi lễ xuất hành đầu xuân</p>



<p>Gây nên một trận sóng ngầm</p>



<p>“Bảo ta là gã vô thần thoát ly”</p>



<p>Sự thật sai đúng lời kia</p>



<p>Hà quân biết rõ viết gì ở đây?</p>



<p>Hà quân trong câu cuối trên đây tưc là Hà Thượng Nhân, phụ trách mục Đàn Ngang Cung trên nhật báo Tự Do, đã cho đăng bài thơ này. Theo Trần Nguyên Anh viết trong tập “Nước non Tâm sự”, ông làm bài thơ “Đầu năm đi lễ chùa” là nhằm “phê bình những kẻ tu hành giả dạng, những kẻ đi lễ chỉ cầu tài, khấn lợi…Bài thơ đó bị hiểu một cách phiếm diện, nên Tổng hội Phật giáo lúc bấy giờ, Hội chủ là Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, kiến nghị lên Tổng thống Ngô Đình Diệm đưa tác giả ra tòa về tội phỉ báng Phật giáo và cho tác giả bài thơ ấy là cán bộ cộng sản (Nước non Tâm sự, trang 25 phần chú thích). Bài thơ “Đầu năm Đi lễ chùa” cho thấy một ngòi bút châm biếm mới trong làng báo ở Sài Gòn lúc bấy giờ. Tác giả không ngại sử dụng những từ ngữ nhằm phê phán cách gay gắt, những thói tục giả dối của con người trong khi chiêm bái và cầu khấn Phật.</p>



<p>Bài thơ “Đầu năm Đi lễ chùa” đã đưa tác giả của nó đi vào làng báo tại Sài Gòn một cách vững vàng, khởi sự cho nghiệp văn chương của ông..Năm 1960, nhật báo Dân Việt ra đời, do ông Phạm Văn Hiền làm chủ nhiệm, Trần Nguyên Anh được mời cộng tác, phụ trách mục thơ trào phúng “Trật Đường Rầy”, lấy bút hiệu là Ngứa Nhĩ.</p>



<p>Bài thơ Đầu năm đi lễ chùa</p>



<p>Mấy đứa đầu năm đến lễ chùa</p>



<p>Đứa thì niệm Phật, đứa Nam mô</p>



<p>Đứa cầu cửa Nải đầu nhô nhổm</p>



<p>Đứa ước chồng con đít gật gù</p>



<p>Đứa vái sau sư tay ái bẻ</p>



<p>Đứa ngồi cạnh tiểu mắt tình đưa</p>



<p>Đứa về đứa lại đông như hội</p>



<p>Đấy ngọn cờ nheo gió phất phơ</p>



<p>Thằng lưỡi</p>



<p>Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo</p>



<p>Mồm không vành mồm méo lung tung</p>



<p>Khôn ngoan nên vị anh hung</p>



<p>Đần ngu dại dột khốn cùng vì mi!</p>



<p>Nay đang buổi loạn ly láo nháo</p>



<p>Lưỡi tha hồ quay đảo đong đưa</p>



<p>Biết điều gọi dạ bảo thưa</p>



<p>Vợ con sung sướng say sưa rượu chè!</p>



<p>Lưỡi cứ thẳng chẻ hoe ăn nói</p>



<p>Thì đời tàn khan gói lang thang</p>



<p>Làm anh lãng khách ương gàn</p>



<p>Chu du thiên hạ đói tràn tả tơi!</p>



<p>Dẫu biết thế nhiều người họ vẫn</p>



<p>Đem tấm lòng thẳng thắn bàn ngang</p>



<p>Lưỡi này chẳng thích giàu sang</p>



<p>Chỉ mong được sống đàng hoàng tự do (!)</p>



<p>Bạn bè tốt thương cho là đủ</p>



<p>Chớ vắng nhau hót sỏ hót siên</p>



<p>Xun xoe bợ đỡ cấp trên</p>



<p>Lưỡi chơi ngầm vậy, anh em quá tồi</p>



<p>Đó là hạng lưởi dơi xỏ lá</p>



<p>Chuyên giở trò đểu giả lưu manh</p>



<p>Lòn lưng, gục mặt, nhe nanh</p>



<p>Hại người trung trực, chân thành, bạn ơi!</p>



<p>Ngán cho cái lưỡi thầy dùi!</p>



<p><strong>Sau Ngày 30-4-1975:</strong></p>



<p><strong>Lên Chùa Đi Lễ (4)</strong></p>



<p>Lên chùa đi lễ thấy người ta</p>



<p>Khấn vái cầu xin thành phú gia!</p>



<p>Vợ đẹp con khôn – vênh váo mặt!</p>



<p>Cửa cao nhà rộng mỡ màng da!</p>



<p>Oán thù chồng chất-lo vay trả!</p>



<p>Đâm chém tơi bời – hận toát ra!</p>



<p>Địa ngục do mình ai cứu được!</p>



<p>Tâm mê là giặc chẳng đâu xa!</p>



<p>Xuân Mậu Dần 1998</p>



<p>(Trong Đời vô thường)</p>



<p>Bài này tác giả dùng ý để mô tả những biểu hiện về một niềm tin tôn giáo của một thành phần xã hội. Hai câu hợp (7-8) tác giả chuyển sang y nhân quả của đạo pháp mà cũng là tư tưởng nhân bản. Kể từ bài “Đầu năm đi lễ chùa” năm 1959 đến bài trên đây, cách nhau 39 năm, cho thấy tư tưởng về tôn giáo của nhà thơ Phủ Vĩnh Tường vẫn nhất quán, nói được là sâu sắc hơn.</p>



<p><strong>B-Thơ trữ tình:</strong></p>



<p>Thơ trữ tình của Trần Nguyên Anh rất đa dạng, bao gồm các đề tài : Tình nhà – cha mẹ, anh chị, vợ chồng, con cái. Tình quê hương – hình ảnh quê hương của tác giả trong thời niên thiếu, với những hương vị của đồng quê, như hoa cau, hoa soan, hoa bưởi, bến đò và mùi quần áo mới trong ngày Tết Nguyên đán…Tình non nước – bằng tâm tình, ông ghi lại những giai đoạn lịch sử từ 1945 đến nay, trong đó ông không thể quên chiến tranh và những vấn đề&nbsp; xã hội, là hai tác nhân chính làm cho con người Việt Nam biến dạng, chai lỳ, ích kỷ và mất dần tính nhân bản.Hai đề tài khác trong thơ trữ tình của Trần Nguyên Anh là :thơ tình và thiên nhiên.</p>



<p><strong>1. Tình Nhà</strong> .</p>



<p>Đây là một trong hai chủ đề quan trọng nhất trong thi ca của Trần Nguyên Anh. Tác giả không dành một tác phẩm nào nhất định cho chủ đề này, mà trái lại, nó được nói đến ở hầu hết trong các sáng tác của ông. Cụ thể, đó là các thi tập : Diễn khúc dân tình, Đời vô thường, Ly hương hoài cảm (2 tập), Nước non tâm sự, Dĩ vãng bâng khuâng.</p>



<p>Những cuốn này mới là một nửa gia tài thi ca của Trần Nguyên Anh, tuy nhiên đó là những tập quan trọng. Trong những tập này, tôi thấy tâm tư của ông dành cho gia đình, bao gồm cha mẹ, vợ chồng và con cái được ông hết sức yêu thương và chăm lo cho họ. Đặc biệt trong những giai đoạn sau ngày 30-4-1975.</p>



<p>Sau đây là bài mở đầu cho tập Ly hương hoài cảm 1 :</p>



<p><strong>Suốt đời thương nhớ Mẹ Cha</strong></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; &nbsp;&nbsp;(Thay lời tựa để kính dâng hương hồn Song Thân,</p>



<p>Thúc Bá, Bào Huynh và Bào Đệ của tôi)</p>



<p>Từ khi Mẹ mất đến nay,</p>



<p>Vào Nam ta sống những ngày nhớ thương !</p>



<p>Lại mang cái nghiệp Văn chương,</p>



<p>Câu thơ viết mãi nỗi buồn lê thê !</p>



<p>Đã đành ai cũng phải đi,</p>



<p>Nghĩ công Cha Mẹ chút chi báo đền !</p>



<p>Nên lòng sầu nhớ triền miên,</p>



<p>Khi nghèo sầu ít, làm nên sầu nhiều !</p>



<p>Đi đâu ta cũng mang theo.</p>



<p>Bóng hình Cha Mẹ như diều với dây.</p>



<p>Trời cao biển rộng bao đầy,</p>



<p>Cũng không sánh đặng công Thầy, Mẹ Cha.</p>



<p>Máu xương Cha Mẹ sinh ra,</p>



<p>Thầy cho cái chữ nở hoa cuộc đời !</p>



<p>Cho nên nay đã già rồi,</p>



<p>Đầu hai thứ tóc ta ngồi làm thơ !</p>



<p>Nhớ Cha nhớ Mẹ vô bờ,</p>



<p>Nhớ Thầy dạy chữ u, ơ ban đầu !</p>



<p>Ngọn đèn thao thức đêm thâu,</p>



<p>Vợ con an giấc ngủ sâu êm đềm.</p>



<p>Ta ngồi ôm bóng trăng nghiêng,</p>



<p>Tưởng như Cha Mẹ còn bên cạnh mình.</p>



<p>Mơn man làn gió vô hình,</p>



<p>Thì thầm hiểu hết thâm tình của ta !</p>



<p>Suốt đời thương nhớ Mẹ Cha !</p>



<p>Đêm 19.7 Ất Hợi (1995)</p>



<p>Câu thứ 4 tính từ dưới lên, tác giả dùng chữ “còn” rất khéo và hay, nó biểu lộ được hết tâm tư mà ông đã trải ra trong bài thơ, nó cũng hợp với tựa đề “suốt đời…”.Tôi hơi khựng lại khi đọc đến chữ này. Và tôi thử thay vào chữ “ỡ” <em>: ở bên cạnh mình.</em></p>



<p>Chữ “ở” là vần trắc, hơi khó đọc. Chữ “còn” mới đích thực là Trần Nguyên Anh trong tình tự của ông với song thân mình. Riêng với mẫu thân của ông, tác giả mô tả người mẹ của mình đến từng chi tiết trong cuộc đời của bà như Trần Nguyên Anh. Bà như vẫn còn ở đâu đó chung quanh ông, nhất là trong cõi lòng sâu thẳm của ông. Vì vậy, những gì thuộc về người mẹ, những gì là của mẹ, tác giả đã kể ra với chúng ta, để những ai có mẹ sinh vào cuối thế kỷ XIX hay đầu thế kỷ XX mà bây giờ đã không còn, có dịp mà nhớ mẹ. Đó chẳng&nbsp; phải là điều hay, rất hay sao !</p>



<p>Dưới đây là hình ảnh người mẹ của Trần Nguyên Anh, tác giả vẽ lại người thiếu nữ Việt Nam ở nông thôn thời xưa, từ thời con gái cho đến khi có chồng có con, thật là kheo:</p>



<p><strong>Cho người mai sau</strong></p>



<p>Xuân thời con gái Mẹ tôi,</p>



<p>Quai thao nón nhị &#8211; áo dài tứ thân !</p>



<p>Bên trong áo cánh đồng lầm,</p>



<p>Cổ xây cái yếm trắng ngần trúc bâu !</p>



<p>Làm ruộng cái váy vải nâu,</p>



<p>Chơi xuân quần lãnh láng màu chéo go !</p>



<p>Thắt lưng bỏ múi thật to,</p>



<p>Cái bao ruột tượng Mẹ cho đựng tiền.</p>



<p>Bên sườn xà-tích làm duyên,</p>



<p>Ống vôi một chút – que têm lá trầu !</p>



<p>Cái khăn mỏ quạ bịt đầu,</p>



<p>Răng đen cắn chỉ &#8211; lâu lâu vấn trần !</p>



<p>Tóc dài chảy chấm gót chân,</p>



<p>Như giòng suối nhỏ mỗi lần Mẹ tôi,</p>



<p>Gội đầu xõa tóc hong phơi,</p>



<p>Gió rung nhè nhẹ bên người như tơ.</p>



<p>Mượt mà sợi nắng đong đưa,</p>



<p>Mẹ cầm lược gỡ &#8211; khẽ lùa tóc đen !</p>



<p>Khô rồi Mẹ tạm quấn lên,</p>



<p>Đuôi gà để chút làm duyên thật tình !</p>



<p>Má hồng ửng đỏ xinh xinh,</p>



<p>Không son không phấn gái thành đâu thua !</p>



<p>Đến khi đủ tuổi lên chùa,</p>



<p>Mẹ không ăn mặc như xưa nữa rồi !</p>



<p>Cho con tất cả cuộc đời,</p>



<p>Cho chồng tất cả cái thời xuân xanh.</p>



<p>Cho đời tất cả hy sinh,</p>



<p>Nhọc nhằn năm tháng tấm hình héo hon.</p>



<p>Lưng còng, tóc bạc, lòng son,</p>



<p>Một đời chung thủy nước non vững bền !</p>



<p>Mắt mờ, chân chậm đêm đêm,</p>



<p>Mẹ ru cháu ngủ cho quên nỗi buồn !</p>



<p>Chiến tranh mất mát đau thương,</p>



<p>Cha, chồng, con, cháu lên đường đánh Tây.</p>



<p>Năm nhăm con phải vào đây,</p>



<p>Tha hương càng nhớ các ngày ấu thơ.</p>



<p>Nhớ quên biết đến bao giờ,</p>



<p>Nghiêng đầu tóc cũng phơ phơ bạc rồi!</p>



<p>Ngổn ngang man mác việc đời,</p>



<p>Bên đèn ghi lại cái thời Mẹ tôi !</p>



<p>Dở hay cũng được mấy lời,</p>



<p>Gọi là di bút cho người mai sau !</p>



<p><em>Đầu năm 1996</em></p>



<p><em>(Trong : Ly hương hoài cảm 2)</em></p>



<p>Người Mẹ của Trần Nguyên Anh lớn lao quá, bao phủ lên tâm tư và cả cuộc đời của ông. Đi đâu, làm gì, ông cũng đều kể lể tâm sự về Mẹ, với Mẹ như thể bà còn sống và đang đọc thơ của ông :</p>



<p>Não lòng con lắm, Mẹ ơi,</p>



<p>Từ khi Mẹ mất cuộc đời của con !</p>



<p>Ruột gan sầu héo ron ron,</p>



<p>Tha hương ngàn dặm mỏi mòn nhớ thương.</p>



<p>Tái tê muôn khúc đoạn trường,</p>



<p>Phong trần gió bụi chán chường xuân sang !</p>



<p>Trích bài : Mây ngàn lãng đãng</p>



<p>(Trong : Ly hương hoài cảm 1)</p>



<p>Trên đây là 6 câu đầu của bài Mây ngàn lãng đãng. Những câu sau đó, tác giả giãi bày với Mẹ đoạn trường của mình, kể từ khi ông “xuống tàu vào Nam” theo dòng người “di cư” năm 1954-1955.</p>



<p>Người ta tự hỏi, đằng sau những nỗi nhớ thương Mẹ Cha cơ hồ như không bao giờ dứt, không bao giờ phai nhòa trong lòng tác giả, là gì ? Chắc hẳn phải có một nguyên nhân sâu xa hơn, trắc ẩn và đau thương hơn cái lẽ thường tình của kẻ ly hương, xa nhà.</p>



<p>Một con người chân thật như Trần Nguyên Anh, cái chân thật đôi khi trong giao tế, không phải là không có ngộ nhận. Mặc dù thế, ông vẫn bộc lộ nó, một cá tính mạnh mẽ, ngay thẳng ngay trong cuộc sống thường nhật cũng như thể hiện nó trong thi ca của ông. Cho nên đi tìm nguyên nhân sâu xa, trắc ẩn và đau thương của ông qua những bài thơ viết về người mẹ của ông, không có khó khăn gì. Chỉ có điều, xã hội đương thời vẫn không muốn người khác nói đến nó. Đấy là một lẽ cho thấy xã hội Việt Nam hiện giờ còn một nỗi u uẩn, chưa cởi mở, con người vẫn còn phải thu nhỏ mình lại trong giao tế bạn bè, giữ lời ăn tiếng nói, vẫn còn tình trạng nghi kỵ lẫn nhau.</p>



<p>Riêng với tôi, ông Trần Nguyên Anh đã nhiều lần nói&nbsp; cho tôi nghe, về một nỗi đau không chỉ của riêng gia đình ông mà là của cả một dân tộc. Bây giờ ông đã bộc lộ trong thơ và như thế là ông đã trao cho người đọc, hôm nay và mai sau :</p>



<p><strong>Mấy trang dông dài</strong></p>



<p>Bầm ơi ! Con nhớ thương Bầm,</p>



<p>Mỗi năm mỗi độ hè xuân con về.</p>



<p>Thăm Bầm mấy bữa con đi,</p>



<p>Một hình một bóng canh khuya Bầm buồn.</p>



<p>Trong khi đất nước quê hương,</p>



<p>Chiến tranh khói lửa bốn phương ngất trời !</p>



<p>…</p>



<p>Chín năm kháng chiến tuyệt vời,</p>



<p>Hòa bình lập lại chưa vui đã buồn !</p>



<p>Sục sôi trong cảnh đấu trường,</p>



<p>Mẹ ta ngã gục vì vương tội giàu !</p>



<p>Có dăm mẫu ruộng con trâu,</p>



<p>Nhà ngói cây mít, ao sâu mảnh vườn !</p>



<p>Quanh năm rau muống chấm tương,</p>



<p>Vại cà chĩnh mắm, cơm thường độn khoai.</p>



<p>Khác gì ăn uống trường trai,</p>



<p>Đi tu thờ Phật ở nơi chùa chiền.</p>



<p>Thịt thà, giỗ Tết cưới xin,</p>



<p>Mới hay vài miếng, gan tim gọi là !</p>



<p>Thế mà mắc tội toàn gia,</p>



<p>Cháu con địa chủ, ông cha mấy đời !</p>



<p>Bóc lột, ăn bám, trời ơi !</p>



<p>Khảo tra đầy đọa chết phơi nắng nồng.</p>



<p>Con mất cha, vợ mất chồng,</p>



<p>Anh em ruột thịt thấy không được cười !</p>



<p>Mới hôm nào đó Mẹ tôi,</p>



<p>Là Mẹ liệt sĩ được đời tôn vinh !</p>



<p>Hai trai, một rể hy sinh,</p>



<p>Đánh Tây mất tích đã kinh hoàng liền,</p>



<p>Sân đình đốt đuốc đêm đêm,</p>



<p>Trống khua, mõ đánh, giết tên tử thù !</p>



<p>Tôi từ Hà Nội thủ đô,</p>



<p>Về quê bị bắt giam vô chuồng bò !</p>



<p>Truy khai đủ thứ đủ trò,</p>



<p>Trâu vàng, cóc bạc, mâm to, nồi đồng !</p>



<p>“Tội cao hơn cả núi sông” !</p>



<p>Chất chồng mắc nợ nông dân lút đầu !</p>



<p>Ôi thương đau ! Quá thương đau !</p>



<p>…</p>



<p>Nhớ Bầm thơ viết miên man,</p>



<p>Dông dài tâm sự vài trang để đời …</p>



<p>Bính Tý 1996</p>



<p>(Trong: Ly hương hoài cảm 2)</p>



<p>Đây là một đề tài được tác giả nói đến nhiều lần trong các tập thơ khác nhau của ông, ngoài tập Ly hương hoài cảm 2 có bài trích dẫn trên đây, còn có Nước non tâm sự và Diễn khúc dân tình, nhất là trong tập Nước non tâm sự, khi đề cập đến cuộc sống của người dân, Trần Nguyên Anh cũng nhân dịp này nhắc lại cái nạn của gia đình mình, trong chiến dịch Cải cách Ruộng đất ở miền Bắc.</p>



<p>Mặc dù cùng nói đến một sự kiện ở một số tập khác nhau, song tác giả đều diễn tả một vài ý và các sự việc liên quan khác nhau. Nhưng dù sao vẫn không tránh được sự lặp lại cái tính chất chung của chủ đề là việc giới địa chủ bị đem ra đấu tố. Điều này tuy có làm giảm đi chính sự kiện mà nó là nguyên nhân gây cho tác giả những khắc khoải khôn nguôi về mẫu thân của mình, nhưng có lẽ Trần Nguyên Anh lại không mấy quan tâm đến mặt này, mà chỉ cảm thấy mình vẫn chưa nói hết được nỗi khổ trong cõi lòng mình về cái chết u uất của Mẹ.</p>



<p>Ở một vài đề tài khác cũng vậy, như “nước non”, “dân tình” cuộc sống đau thương và quẫn bách của người dân suốt trong cả hai cuộc chiến trải dài ra khắp Đông Dương, hay khi viết về bạn hữu, Trần Nguyên Anh đều viết không chỉ một bài, nhưng là nhiều bài, mổi bài một dịp, một hoàn cảnh khác nhau.</p>



<p>Dưới đây là một dẫn chứng khác về đề tài “nạn nhà” của Trần Nguyên Anh. Ở đây, tác giả còn cho thấy “nhân tình thế thái” khi “dậu đổ” thì “bìm leo”. Cái lẽ thường tình này không biết có nên buồn hay nên tha thứ, tố cáo hay là một hành động dùng ngôn ngữ để “tải đạo”, cái đạo làm người, người lương thiện, công bình và bác ái.</p>



<p>Nhớ khi tất cả toàn gia,</p>



<p>Tan đàn xẻ nghé người ta giập bằm.</p>



<p>Cha thì chết thảm thương tâm,</p>



<p>Mẹ thì mắc nạn mất gần mấy năm.</p>



<p>Hai anh biệt tích mất tăm,</p>



<p>Cửa nhà bị vét cái tăm chẳng còn.</p>



<p>Chị em, chú bác bà con,</p>



<p>Bìm leo dậu đổ &#8211; nước non vô tình.</p>



<p>Đất kia cũng phải quặn mình,</p>



<p>Trời kia cũng phải bất bình xót xa.</p>



<p>Chim kia cũng phải kêu la,</p>



<p>Giun kia cũng phải quặn ra hóa người.</p>



<p>Hoa kia đang nở rã rời,</p>



<p>Cây kia đang đứng chặt đôi cũng buồn.</p>



<p>Gẫy cành héo lá khô xương,</p>



<p>Mà con người ác hơn muông thú rừng.</p>



<p>Mẹ ta hết khóc thương chồng,</p>



<p>Khóc con, thương cháu mất ông từ rày.</p>



<p>Thương con côi cút đọa đày,</p>



<p>Gái trai cháu chắt, đâu đây chín người.</p>



<p>Cả nhà góa bụa, mồ côi,</p>



<p>Cả nhà tan nát ngút trời xót xa.</p>



<p>( Trong: Nước non tâm sự,</p>



<p>từ câu 1822 đến câu 1844)</p>



<p>Đọc đến đây tôi chợt nghĩ đến việc Đảng CSVN “sửa sai” việc đấu tố thành phần địa chủ, và sau đó là việc trả thù giữa những người bị tố và những người theo lời mớm của cán bộ tố sai, tố điêu, tố cả ông tổ của dòng họ người ta, dù ông tổ ấy đã chết từ bao đời. Trong tình hình chung của toàn xã hội miền Bắc thời đó như vậy, không biết mẫu thân của nhà thơ Trần Nguyên Anh đã xử trí như thế nào ? Để biết việc này, tôi đã đọc hết các tập thơ của ông và cuối cùng tôi dừng lại ở trang thứ 7 của tập Nước non tâm sự, từ câu 187 đến câu 203.Nhưng trước hết xin điểm qua nguyên nhân dẫn đến việc sửa sai.</p>



<p>Chiến dịch Cải cách Ruộng đất ở miền Bắc phạm nhiều lỗi lầm, gây nên bao oan ức trong nhân dân, kéo dài suốt mấy năm liền có nơi từ 1950 và đợt chót kết thúc vào cuối tháng 7 năm 1956, gọi là đợt Điện biên phủ. (Về Chiến dịch này, chúng tôi dựa theo cuốn : “Trăm hoa đua nở trên đất Bắc”, do tủ sách Mặt trận Bảo vệ Tự do Văn hóa, Sài-Gòn 1959, Phần I Chương I)</p>



<p>Bây giờ đọc lại mấy trang sử đau thương này, chúng tôi tự hỏi : Nếu như không có việc Stalin bị hạ bệ trong Hội nghị lần thứ 20 của Đảng Cộng sản Liên sô, không có các vụ nhân dân nổi dậy ở Poznan (Ba Lan ) ngày 28-6-1956, và vụ Budapest (Hungary) ngày 23-10-1956, đã ảnh hưởng mạnh trong hàng ngũ lãnh đạo Đảng ở Hà Nội lúc bấy giờ, thì liệu Cộng sản Bắc Việt có chịu “sửa sai” chiến dịch không ?</p>



<p>Bởi vì, người “anh em vĩ đại” của họ là Trung Công lúc bấy giờ “đã hoàn thành chiến dịch Cải cách ruộng đất từ mấy năm trước khi Đệ tam Quốc tế ban hành đường lối mới nên tình hình chính trị tương đối đã được ổn định. Hơn nữa Trung Cộng đã thanh trừng hết mọi phần tử trí thức đối lập trong vụ án Hồ Phong nên nắm vững được tình hình nội bộ để đối phó với làn sóng cách mạng từ Đông Âu tràn sang. Trái lại, khi Mikoyan, sứ giả của điện Kremlin sang Hà Nội để giải thích về “tân chính sách” thì cuộc cách mạng ruộng đất ở miền Bắc còn đang dở dang, và đang ở giai đoạn chót và mạnh nhất. Đứng trước tình thế đó ông Hồ Chí Minh đành trì hoãn việc ban bố chính sách mới và cứ để yên cho cuộc đấu tố tiếp diễn, vì không có lý gì (theo lời ông Hồ) lại “dội một gáo nước lạnh vào đầu cán bộ”.</p>



<p>Vì để quá lâu mới mở “súp páp” nên khi mở thì hơi sì phải mạnh hơn. Những nỗi oan ức mỗi ngày một chồng chất thêm đã gây trong dân chúng một không khí căm thù đối với chế độ mỗi ngày một sâu rộng.</p>



<p>Đùng một cái, ông Trường Chinh, Tổng bí thư Đảng, ông Hồ viết Thắng, Thứ trưởng phụ trách Cải cách ruộng đất đột nhiên bị cất chức; ông Võ nguyên Giáp phải đứng ra thay mặt trung ương Đảng công khai thú nhận sai lầm và hứa hẹn sửa chữa. Tiếp đến là tin cán bộ tập kết phá bóp cảnh sát Bờ Hồ, tin học sinh tập kết khởi loạn ở Ngã tư sở, và cuối cùng là “vụ Quỳnh Lưu”.</p>



<p>Chiến dịch sửa sai bắt đầu bằng việc giải thích bằng báo chí và bằng “học tập” về quyết nghị của Hội nghị lần thứ 20 Đảng CSLX, trong đó có nói đến “bệnh tôn sùng cá nhân” và “chính sách tập thể”. Việc thứ hai là “hạ bệ” ông Trường Chinh và ông Hồ viết Thắng, và thả ra 12 ngàn đảng viên bị cầm tù vì bị quy lầm là địa chủ, trong số đó có nhiều người đã bị lên án tử hình.</p>



<p>Ở nông thôn các đảng viên đi họp phải mang búa theo để “thảo luận” với nhau. Những địa chủ được tha về, thấy tình trạng làng xóm như vậy, vội vàng chạy ra thành phố ở nhờ các gia đình “tiểu tư sản” hồi kháng chiến đã trú ngụ tại nhà mình.Các bần cố nông, chót nghe lời Đảng “tố điêu”, nay sợ bị rạch mồm, cắt lưỡi, cũng vội vàng chạy ra thành phố để đạp xích lô và đi ở. Vì vậy nên dân số ở Hà Nội, Nam Định đột nhiên tăng gấp bội và không khí căm thù ở nông thôn lan ra thành phố, lây cho công nhân, tiểu tư sản, sinh viên và trí thức.(hết trích)</p>



<p>Riêng mẫu thân của nhà thơ họ Trần, bà đã thể hiện tinh thần nhà Phật :</p>



<p>Tiếng thơm biển cả Mẹ hiền,</p>



<p>Nhìn lên đã có khuôn thiêng trên đầu !</p>



<p>Nên ai chẻ tóc gieo cầu,</p>



<p>Gây muôn tội ác Mẹ đâu thù hằn !</p>



<p>Mấy lần pháp luật muốn rằng :</p>



<p>Sát nhân đền mạng, từ tâm Mẹ cười !</p>



<p>Tha cho tất cả Đạo trời,</p>



<p>Tôi già tôi muốn con tôi vuông tròn.</p>



<p>Không thù không oán là hơn,</p>



<p>“Ở ăn lấy chữ nghĩa nhơn làm đầu”</p>



<p>Nghe lời Mẹ dạy từng câu,</p>



<p>Dẫu cho tuổi dại nghĩa đâu tận tường !</p>



<p>Dần dần đèn sáng bên gương,</p>



<p>Thấm lời Mẹ dạy coi thường lợi danh !</p>



<p>Sống nghèo giữ vẹn lòng thanh,</p>



<p>Câu thơ nên chép để dành người sau.</p>



<p>Thư nhàn đọc đến hiểu nhau.</p>



<p>(Trong :Nước non tâm sự</p>



<p>từ câu 187 đến câu 203)</p>



<p>Trần Nguyên Anh</p>



<p>&nbsp;<strong>Tình Non Nước</strong><strong> Trong Thơ Trần Nguyên Anh</strong></p>



<p>Nước non tâm sự và Diễn khúc dân tình là hai tác phẩm chính, tác giả Trần Nguyên Anh giãi bày tâm sự của mình với nước non.</p>



<p>Tập Nước non tâm sự viết từ năm 1986 đến 1989, gồm 4 chương với 2195 câu. Khởi đầu ông đặt bút xuống là đã nói về gia đình của mình. Tôi coi đây là một chủ đề chính trong thi ca Trần Nguyên Anh, trong nhiều biến cố lịch sử của dân tộc cũng như trong nhiều hoàn cảnh của tác giả. Nó như một nguồn cảm hứng lúc nào cũng chỉ trào dâng để kết thành tiếng thơ đau thương. Còn tập Diễn khúc dân tình, tác giả viết từ năm 1985 đến 1995, gồm 4 chương với 1856 câu. Cả hai tập này, tác giả viết theo thể lục bát.</p>



<p>Mặc dù đây là hai tác phẩm chính tác giả gửi gấm tâm sự của mình về non nước, song chủ đề này cũng thấy tác giả nói đến trong những tập khác, như Dĩ vãng bâng khuâng, Đời vô thường, Ly hương hoài cảm, 2 tập.</p>



<p>Tôi thao thức đêm nay không ngủ,</p>



<p>Nghe mưa rơi thương nhớ vợ con</p>



<p>Lại buồn đến chuyện nước non,</p>



<p>Bắc Nam chia cắt đã tròn tám năm !</p>



<p>(1962)</p>



<p>Bài : Nỗi buồn về đêm</p>



<p>(Trong : Dĩ vãng bâng khuâng)</p>



<p>Khi nói đến lịch sử của Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ vừa qua, người ta đụng chạm đến những thương tích mà đến nay vẫn chưa lành được, ở cả hai phía với hai ý thức hệ mâu thuẫn. Đó là hai cuộc chiến tranh tại Đông Dương, nạn đói năm Ất Dậu (1945), chia cắt Nam-Bắc, hình thành rõ rệt hai lực lược đối kháng Quốc-Cộng, cách mạng ruộng đất ở miền Bắc, cho đến biến cố ngày 30-4-1975, đẩy cả triệu người vượt tuyến ra đi v.v…Tất cả đều được tác giả nói lên với một tâm tình của người yêu nước.</p>



<p>Ông không nghiêng về bên nào và cũng không đứng vào một tổ chức đảng phái chính trị nào. Ngay đến lãnh vực văn chương, ông cũng không theo một khuynh hướng nào. Ở đâu có bè phái, ở đó ông tìm đi. Vì thế người của phía nào đọc ông, hẳn không thể tránh được yêu hay ghét theo chủ quan. Ông thản nhiên. Vì ông chỉ có một mục đích duy nhất, là ghi lại bằng ngôn ngữ thi ca những gì đã xảy ra trong thời đại của mình, để người mai sau có đọc đến tất hiểu được tâm sự của ông.</p>



<p>Đó là ý của bài : “Làm sao xóa được vết nhơ !” trong tập Ly hương hoài cảm 2.</p>



<p>Bài thơ&nbsp; này có 31 câu, 8 câu đầu nối cả vần và ý được với 9 câu cuối bài, tạo thành một bài riêng khá hoàn chỉnh, nói lên cái tâm trạng của tác giả khi nhớ lại những biến cố xảy đến cho đất nước và cho gia đình ông. Còn đoạn giữa, tác giả nói đến việc xuống tàu di cư. Trên con tàu vượt đại dương mênh mông ấy, tác giả nhớ về cố hương, chỉ thấy “Sương đông gió bấc lạnh lùng…”</p>



<p>Ở đây xin giới thiệu cả bài 31 câu để thấy nét bút hoài cảm của tác giả, Trần Nguyên Anh.</p>



<p><strong>Làm sao xóa được vết nhơ !</strong></p>



<p>Biết bao nhiêu việc phải làm,</p>



<p>Nếu ta nấn ná thời gian qua rồi !</p>



<p>Buông tay nhắm mắt là thôi !</p>



<p>Nào ai hay biết cái thời của ta !</p>



<p>Sống trong bão táp mưa sa,</p>



<p>Sống trong ly loạn cửa nhà nát tan.</p>



<p>Sống trong giết chóc kinh hoàng,</p>



<p>Bắc Nam chia cắt dở dang tình đầu.</p>



<p>Tháng Giêng ta vội xuống tàu</p>



<p>Sau khi mẹ mất đớn đau vô cùng.</p>



<p>Trông về cố quận mịt mùng,</p>



<p>Sương đông gió bấc lạnh lùng chân mây.</p>



<p>Sông xàu núi chết bủa vây,</p>



<p>Biển gào sóng giận con tầu lênh đênh.</p>



<p>Đại dương bát ngát mông mênh,</p>



<p>Trên trời dưới nước quanh mình sao rơi !</p>



<p>Khói trăng ảnh ảo cuộc đời,</p>



<p>Ngổn ngang trăm nỗi rối bời ruột gan.</p>



<p>Tha phương kiếp sống lang thang,</p>



<p>Ruổi rong ngày tháng đi hoang cõi trần.</p>



<p>Cơm hàng cháo chợ không xuân,</p>



<p>Tóc xanh nhuốm bụi gian truân ngút sầu.</p>



<p>Một mình đèn trắng canh thâu,</p>



<p>Ta ngồi viết mãi ngàn câu thơ rồi !</p>



<p>Mà xem tâm sự bời bời,</p>



<p>Dù cho ta được thảnh thơi về già.</p>



<p>Nhưng mà thương nhớ Mẹ Cha,</p>



<p>Vẫn còn khắc khoải sơn hà chia đôi.</p>



<p>Linh Giang, Bến Hải hai thời,</p>



<p>Sử kia ai chép- Ngậm ngùi ngàn thu !</p>



<p>Làm sao xóa sạch vết nhơ ?</p>



<p>(1995)</p>



<p>Tuy nhiên, cái tình cảm của nhà thơ đất Phủ Vĩnh Tường đối với Nước non , không chỉ dừng lại ở cái tâm tư nặng trĩu u hoài về cảnh nhà đau thương, bởi vì ông cũng đặt mình vào hoàn cảnh chung của đất nước chiến tranh, phân rẽ, đói khát và thiên tai v.v…</p>



<p>Dưới đây là một bài thơ nói về vụ lụt năm Ất Dậu, tác giả chạnh lòng trước những bất hạnh của người dân.</p>



<p><strong>Ngổn ngang tâm sự</strong></p>



<p>Hôm nay lại đã vào thu,</p>



<p>Mùa thu Ất Dậu bao giờ ta quên !</p>



<p>Vỡ đê, chạy giặc suốt đêm,</p>



<p>Người người hớt hải réo tìm gọi nhau.</p>



<p>Nồi niêu bát chuyển lên cao,</p>



<p>Chó mèo, heo ngỗng lao đao cùng trời !</p>



<p>Gà bay tứ tán khắp nơi,</p>



<p>Lên cành cây đậu mưa rơi lạnh lùng !</p>



<p>Chỉ trong mươi tiếng là chừng,</p>



<p>Ruộng đồng trắng xóa mênh mông biển trời.</p>



<p>Trâu bò ngoi ngóp lội bơi,</p>



<p>Sóng xô, gió giật chết trôi bập bềnh !</p>



<p>Xanh xanh từng mảng lục bình,</p>



<p>Thiên tai địch họa dân tình xác xơ !</p>



<p>Nhà nhà đói rách láo lơ,</p>



<p>Kiếm ăn bắt ốc mò cua cả làng !</p>



<p>Lại thêm dịch tễ lây lan,</p>



<p>Trăm ngàn đau khổ bỏ làng kéo nhau</p>



<p>Lên rừng phá rẫy trồng rau,</p>



<p>Nhai khoai, nuốt sắn ốm đau gầy mòn !</p>



<p>Vàng da, sốt rét chồng con,</p>



<p>Lại về làng cũ chỉ còn da xương !</p>



<p>Năm mươi năm, ta vẫn buồn,</p>



<p>Bốn nhăm chết đói tai ương chất chồng.</p>



<p>Việt Minh khởi nghĩa thành công,</p>



<p>Sang trang sử mới, núi sông đổi đời !</p>



<p>Nay ta cũng đã già rồi,</p>



<p>Mất còn man mác, đất trời mông mênh !</p>



<p>Văn chương nặng một khối tình !</p>



<p>Thu Ất Hợi 1995</p>



<p>(Trong : Ly hương hoài cảm 1)</p>



<p>Non nước Việt Nam nhìn vào từ ngàn năm xưa đã là một giống nòi đấu tranh. Nhưng cũng thật huyền nhiệm, trong bao nhiêu là tang thương, bao nhiêu là cơ hàn, cùng quẫn, bao nhiêu là máu, nước mắt và xương khô thành sông, thành suối và&nbsp; núi đồi…Vây mà dân tộc dòng Bách Việt này lại trở nên một Văn Hiến chi bang ! Thời nào,&nbsp; giai đoạn lịch sử nào Dòng Giống này cũng xuất hiện những anh hùng kiệt xuất, chính trị có, quân sự có, văn học có v.v…Nhưng ở đây xin nói , chưa bao giờ chính trị trùm lấp sứ mệnh của Văn hiến. Vì chính trị chỉ là giai đoạn.</p>



<p>Nhà thơ Trần Nguyên Anh, trong tâm tư của ông, Nước non Việt còn câu ca giọng hát, còn lục bát, còn Nguyễn Du, còn Tản Đà v.v…</p>



<p><strong>Câu thơ lục bát</strong></p>



<p><em>(Kính dâng hương hồn hai cụ Nguyễn Du và Tản Đà)</em></p>



<p><em>TNA</em></p>



<p>Quê hương là núi là sông,</p>



<p>Là bài lục bát tuổi hồng thơm tho !</p>



<p>Là tiếng hát là giọng hò,</p>



<p>Là em đi học chữ O đầu đời !</p>



<p>Là anh là chị của tôi,</p>



<p>Là Kiều lận đận dập vùi bài thơ !</p>



<p>Mười lăm năm kiếp giang hồ,</p>



<p>Tiền Đường rửa sạch ai ngờ gặp nhau !</p>



<p>Tình chị trước, duyên em sau,</p>



<p>Ấy câu lục bát đổi sầu làm vui !</p>



<p>Là Nguyễn Du, cụ tuyệt vời,</p>



<p>Là đất, là nước, mẹ tôi, cha già !</p>



<p>Là Khắc Hiếu, cụ Tản Đà,</p>



<p>Là muôn triệu đóa mai hoa nở bừng !</p>



<p>Là xuân là Tết Vua Hùng,</p>



<p>Chẳng đâu có được điệu cùng thơ ta !</p>



<p>Đó là lục bát Tản Đà,</p>



<p>Đó là lục bát đậm đà Nguyễn Du !</p>



<p>Tháng 8 Ất Hợi 1995</p>



<p>(Trong : Ly hương hoài cảm 1)</p>



<p>Mấy bài thơ trích dẫn trên đây chỉ là những nỗi hoài cảm về Non nước của Trần Nguyên Anh, chợt xuất hiện ở đâu đó trong các thi tập bộn bề của ông, nó khởi phát từ một tâm tư đầy những khắc khoải về đất nước, về bối cảnh của một lịch sử mà ông là một nhân chứng. Xuất hiện đó, rồi lại chìm vào, ẩn khuất đi, để hòa nhập với cõi lòng u uẩn, mông lung, diệu dợi của một tình tự về gia đình.</p>



<p>Nếu nhìn một cách khái quát vào tình trạng gia đình Việt Nam từ mấy thập niên nay, nhất là từ sau khi Việt Nam hòa nhập vào dòng chảy với thế giới bên ngoài, trong xu hướng toàn cầu hóa, người ta thấy gia đình Việt Nam hiện đang có những biến chuyển mạnh mẽ, có những mâu thuẫn giữa các thế hệ trong cùng một gia đình, để từ đó, khách quan trong việc đánh giá quan điểm của Trần Nguyên Anh về gia đình. Có thể khẳng định, con tim và tình cảm của ông dành cho gia đình, là một yếu tố căn bản và rất quan trọng, nó là trụ cột bền vững đưa gia đình vượt qua những giai đoạn gian nan, nó tạo điều kiện để mọi thành phần trong gia đình thuận hòa, đùm bọc nhau và thăng tiến về mặt xã hội và tinh thần gia tộc là phẩm chất sắt son, như đá như non.</p>



<p>Cùng với tình tự gia đình, nỗi hoài cảm về Non nước của Trần Nguyên Anh còn thấy xuất hiện trong nhiều bài khác, nhiều đoạn thơ khác mang những nội dung riêng biệt, truyền cảm, để khẳng định tác giả rất nặng lòng với Nước với Non.</p>



<p><strong>Chiến Tranh Trong Thơ Trần Nguyên Anh</strong></p>



<p>Thế hệ của Trần Nguyên Anh là thế hệ của chiến tranh, cho nên ông đã là người lính, đã chứng kiến và trải qua những thời kỳ lửa đạn và chết chóc:</p>



<p>Loạn ly khói lửa lưng trời,</p>



<p>Tản cư chạy giặc rã rời quê hương !</p>



<p>Khắp nơi chết chóc đau thương,</p>



<p>Ruộng đồng hoang dại, xóm phường xác xơ !</p>



<p>&#8230;</p>



<p>Ruổi rong đi khắp sơn hà,</p>



<p>Sài-Gòn đã chán đi xa lại về !</p>



<p>Cao nguyên mưa gió lê thê,</p>



<p>Đồng bằng sông nước trăng khuya Bãi Xàu.</p>



<p>Bóng chiều đổ xuống sông sâu,</p>



<p>Con phà Vàm Cống qua cầu Nha Mân.</p>



<p>Vĩnh Long bến bắc dừng chân,</p>



<p>Tâm tình viễn khách mùa xuân bẽ bàng.</p>



<p>Buồn buồn ra biển Nha Trang,</p>



<p>Để nghe sóng vỗ trông sang rù rì.</p>



<p>Mồ hôi đẫm áo chia ly,</p>



<p>Làm thân lính chiến nghĩ gì tương lai ?</p>



<p>Trở lên Darlak lần hai,</p>



<p>Đêm nghe đại pháo rên dài từ xa.</p>



<p>Đường vào Gia Nghĩa phong ba,</p>



<p>Khói bom mù mịt thịt da tơi bời !</p>



<p>Đồi nào chồng chất xương phơi,</p>



<p>Suối nào nhuộm đỏ máu người Viêt Nam ?</p>



<p>(Trích từ bài Bàng hoàng nước non &#8211;</p>



<p>Trong: Ly hương hoài cảm 2)</p>



<p>Và sau một trận càn quét:</p>



<p>Còn bao nhiêu chuyện đêm đêm,</p>



<p>Sống thời ly loạn thắt tim giật mình.</p>



<p>Mở mắt ra lại còn kinh,</p>



<p>Trước cảnh chết chóc sinh linh ngập đồng.</p>



<p>Kẻ mất vợ người mất chồng,</p>



<p>Mất cha mất mẹ, mất ông mất bà.</p>



<p>Có làng chết sạch cả nhà,</p>



<p>Không ai chôn cất – giặc rà hung hăng.</p>



<p>Trên máy bay, dưới xe tăng,</p>



<p>Bộ binh đại pháo chúng giăng lưới cào.</p>



<p>Tiến ngang càn dọc thi nhau,</p>



<p>Đốt nhà đốt cửa ào ào lửa binh.</p>



<p>Lũy tre trơ gốc đau mình,</p>



<p>Thương măng nhớ lá khóc cành gẫy đôi.</p>



<p>Cây cam, cây ổi, đâu rồi ?</p>



<p>Cây chanh, cây quít giữa trời cháy da !</p>



<p>Cây bàng, cây mít hôm qua,</p>



<p>Giặc đà đốn ngã – mưa sa đất vùi !</p>



<p>Cây sung khô mủ trắng tươi,</p>



<p>Vì bom đạn chém gẫy đôi giữa vườn.</p>



<p>&#8230;</p>



<p>Đau thương nối tiếp đau thương,</p>



<p>Vắng hiu phố chợ, nát đường cái quan.</p>



<p>Trích trong: Diễn khúc dân tình</p>



<p>( từ câu 345-366 )</p>



<p>Nhưng cuộc chiến tranh gọi là kháng chiến chống thực dân Pháp ấy, không hoàn toàn là một cuộc khởi nghĩa, như bao cuộc khởi nghĩa khác trong lịch sử ngàn năm của dân tộc Việt. Thí dụ, cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (40-43), của Lê Lợi (thế kỷ 15), của Hoàng Hoa Thám, Phan Đình Phùng, Nguyễn Thái Học v.v&#8230;. ở Bắc và của Trương Định v.v&#8230; ở trong Nam. Mục đích của những cuộc khởi nghĩa này là giành lại chủ quyền cho đất nước, đem lại cho dân chúng tự do, no ấm, hạnh phúc, là những quyền căn bản và cao quý nhất cho bất cứ một dân một nước nào.Tư tưởng chủ đạo của những cuộc khởi nghĩa này là lòng yêu nước thương dân của những nhà ái quốc. Họ thấy người dân chịu muôn vàn đắng cay, cơ khổ dưới quyền cai trị của ngoại bang, nên một lòng đứng lên chiêu mộ nghĩa quân, tiến hành kháng chiến, hoàn toàn do sức của mình. Mặc dù đã thất bại trước kẻ thù cuồng bạo xâm lược, song cái gương yêu nước thì ngàn năm vẫn sáng ngời, không bị bụi thời gian làm mờ đi</p>



<p>Trái lại, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vào thời kỳ 1945-1954 mặc dù đã thành công, song cuộc kháng chiến này không phải chỉ có một mục đích và một lực lượng tham gia trực diện chiến đấu. Cho nên, nhà thơ Trần Nguyên Anh đã nói và nói nhiều đến những thống khổ của người dân Việt Nam do bất cứ phía nào gây ra. Tuy nhiên, ở vị trí người trong&nbsp; cả hai thời kỳ chiến tranh, Trần Nguyên Anh đã thấy những tang tóc và đau thương của bên này hay bên kia gây ra, nó xuất hiện nhãn tiền trước mặt trời và trước con mắt của người dân, nên ông không thể nói chung chung được. Chẳng hạn, bên phía quốc gia, tác giả đề cập đến ông vua Bảo Đại, những người trong vị trí Thủ tướng chính phủ, như Nguyễn Văn Tâm, Trần Văn Hữu, hay ở vị trí quyền cao như Phan Văn Giáo, Nguyễn Văn Xuân (Thiếu tướng), Bảy Viễn v.v…Còn bên phía Việt Minh, tác giả đề cập đến những cái chết oan uổng và tức tưởi vì nghi cho là Việt gian, gián điệp hay vô tình bỏ nón lá trên đầu xuống vừa lúc có tầu bay bà già bay qua. Cử chỉ này được cho là một ám hiệu chung quanh đấy có du kích, để quân Pháp ném bom, và nhảy dù. Trần Nguyên Anh cũng không bỏ qua cảnh Sài-Gòn ăn chơi về đêm, mở sòng bài Kim Chung Đại Thế Giới, trong tay Bảy Viễn.</p>



<p>Ngòi bút của ông có lúc tàn nhẫn, không do dự khi đề cập đến những thảm trạng&nbsp; do bên này hay bên kia gây ra cho dân chúng đã khốn cùng lại khốn cùng hơn. Chiến tranh dù là với mục đích cao cả, nhằm mưu ích cho dân cho nước, song với thực tiễn chết chóc, bần cùng thì chiến tranh vẫn là tai họa, bất nhân đối với con người. Đó là mặt trái của nó. Vì thế, những phê phán của Trần Nguyên Anh trong khi mô tả những hậu quả của chiến tranh về tai ương giáng xuống trên con người và môi trường sinh sống của con người, nó trong sáng và mang những giá trị nhân văn.</p>



<p>Sau những năm 50, tức là sau chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939-1945), báo chí có đăng một bản tin về tác giả quyển sách Giờ thứ 25. Tôi nhớ man mác rằng, khi tác giả người Lỗ-mã-ni&nbsp; này sang cư ngụ ở Pháp, ông chứng kiến những chuyện đau lòng xé ruột do con người gây ra cho con người trong lòng xã hội tư bản, nên ông đã phê phán nó gắt gao, nhưng ông đã bị phản đối. Ông bày tỏ nỗi chán chường, đại ý rằng, chẳng lẽ nhà văn chỉ được tố cáo tội ác một phía ! Sau đó, ông đi tu.</p>



<p>Chiến trận đi qua đâu, ở đó con người và cảnh vật chung quanh đều cùng một số phận: thảm thương, tiêu điều, khốn cùng, quằn quại.</p>



<p>Mịt mờ khói lửa chiến tranh,</p>



<p>Bom gào, đạn xé trời xanh thảm sầu.</p>



<p>Đồi xanh,núi đỏ, truông sâu,</p>



<p>Biến thành bãi trận, đỏ ngầu máu loang.</p>



<p>Xương phơi trắng xóa đồng hoang,</p>



<p>Bông xàu, cỏ úa, tóc tang một trời.</p>



<p>Đường đi vắng lặng bóng người,</p>



<p>Sân trường vắng bóng vui chơi học trò.</p>



<p>Bến quen vắng bóng con đò,</p>



<p>Đồng quen vắng bóng trâu bò lội qua.</p>



<p>Chùa quen vắng lạnh, sương sa,</p>



<p>Mõ chuông ai gõ, hôm qua giặc càn !</p>



<p>Cầu đường phá nát tan hoang,</p>



<p>Tù và báo giặc, dân làng tản cư.</p>



<p>Kẻ xuôi người ngược xác xơ,</p>



<p>Mẹ gồng con gánh bơ phờ tóc tai.</p>



<p>Mỏi chân gánh nặng đường dài,</p>



<p>Nồi niêu soong chảo gia tài bấy nhiêu.</p>



<p>Trước còn dắt díu trâu theo,</p>



<p>Sau con cũng bỏ – lưng&nbsp; đeo vết thù.</p>



<p>Trích trong: Diễn khúc dân tình</p>



<p>(Từ câu 108-127)</p>



<p>Cuộc kháng chiến chống Pháp, về phía Việt Nam, chúng ta có nhiều yếu tố đưa đến chiến thắng, ngoài yếu tố võ khí, đạn dược, chiến thuật tác chiến cũng như yếu tố địa thế, yếu tố tinh thần v.v…, còn một yếu tố không kém phần quan trọng, đó là “dân công”.</p>



<p>Trần Nguyên Anh đã mô tả việc này :</p>



<p>Tang thương khôn xiết kể ra,</p>



<p>Mạng người coi rẻ hơn là mạng giun.</p>



<p>Đêm đêm súng nổ đi đùm,</p>



<p>Ngày ngày đạn réo ì ùm, dân công.</p>



<p>Xe thồ uốn khúc như rồng,</p>



<p>Đoàn đoàn lớp lớp vượt sông băng ngàn.</p>



<p>Tải lương, tiếp đạn chiến trường,</p>



<p>Tải từng ký gạo, ký đường, cá khô.</p>



<p>Khi dãi nắng lúc dầm mưa,</p>



<p>Quản gì gian khổ ngủ bờ nằm gai.</p>



<p>Có người gánh nặng quằn vai,</p>



<p>Có người kéo súng tay chai máu bầm.</p>



<p>Có người vắt cắn sưng chân,</p>



<p>Có người sốt nóng hừng hừng vẫn đi.</p>



<p>Có người ong chém tê mê,</p>



<p>Có người đói lả không hề kêu than.</p>



<p>Vô vàn vất vả gian nan.</p>



<p>Trích trong: Diễn khúc dân tình</p>



<p>(Từ câu 255-271)</p>



<p>Chưa đầy mười năm sau cuộc kháng chiến chống Pháp, vết thương của con người trong toàn cõi chưa lành, lại tiếp đến cuộc kháng chiến chống “thực dân mới” là người Mỹ, mở màn vào năm 1960, kết thúc năm 1975. Trần Nguyên Anh lại một lần nữa làm người chứng của một giai đoạn lịch sử đấu tranh trên chiến trường, chính trường và trong ngành truyền thông, báo chí. Lần này ông mang trên người bộ áo chiến binh. Ngòi bút của ông vẫn không lệch về bên nào, mà lại còn đi vào những vấn đề sinh tử của cả hai bên. Làm như vậy, Trần Nguyên Anh cũng biết rằng chỉ thêm lận đận và đau khổ cho bản thân, nó đưa ông đến tính cách của những quan hệ biệt lập. Đấy chính là con đường ông đã thể hiện trong thi ca. Một phần nào nó giải thoát ông bao lâu ông chưa đạt tới con đường giải thoát trong tôn giáo.</p>



<p>Ôi ! buồn thay. Ôi ! chán thay,</p>



<p>Sầu ta chưa dứt, sầu này sầu chung.</p>



<p>Nước non khói lửa mịt mùng,</p>



<p>Bắc Nam chém giết chẳng ngừng đôi tay.</p>



<p>Công là đây ? Tội là đây ?</p>



<p>Dù thắng hay bại mai này sử ghi.</p>



<p>Riêng ta chẳng biết viết gì,</p>



<p>Nước non tâm sự não nề ruột gan.</p>



<p>Trong: Nước non tâm sự</p>



<p>(Từ câu 1005-1012)</p>



<p>Những bài thơ viết về chiến tranh của Trần Nguyên Anh còn nằm rải rác trong các thi tập khác của ông, tuy nhiên chủ yếu vẫn là ở tập Nước Non Tâm Sự, 4 chương 2195 câu. Và tập Diễn Khúc Dân Tình, 4 chương 1856 câu. Những lời phê phán gay gắt nhất, vẫn tập trung ở hai thời kỳ: 1945 và 1968. Còn một điều nữa cũng cần nói, đó chính là cách lãnh đạo, cách cai trị, cách điều hành cuộc chiến của phía Quốc gia, Bảo Đại và Nguyễn Văn Thiệu. Hai thời kỳ này, người Việt Nam, chính quyền Viêt Nam không nắm quyền chủ động. Cho nên xã hội cũng theo đó mà phân hóa, tệ nạn, đĩ điếm, con người biến chất. Điều thảm thương cho Dân tộc và Đất nước, những thành phần trong xã hội đã ngã quỵ trước một tương lai hầu như không còn tia sáng hy vọng, lại thuộc những thành phần lãnh đạo, một số trí thức, một số văn nghệ sĩ, và một vài vị của tôn giáo. Tất cả những điều này, đều là nỗi ray rứt của Trần Nguyên Anh.</p>



<p>Để khép lại phần này, xin giới thiệu với độc giả những câu thơ Trần Nguyên Anh viết về những ngày cuối cuộc chiến, tháng giêng năm 1973, khi đó ông công tác ở Đài phát thanh Sài-Gòn, lên Tây Ninh làm nhiệm vụ phóng viên. Ở bài này, ta cũng thấy nỗi lòng của tác giả.</p>



<p>Mùa xuân một chín bảy ba,</p>



<p>Hai lần ta đến Long Hoa Tây thành.</p>



<p>Trong khi khói lửa chiến tranh,</p>



<p>Ngùn ngụt lửa cháy trời xanh thảm sầu !</p>



<p>Trẻ già trai gái kéo nhau,</p>



<p>Chạy về Tòa Thánh đường đau đất quằn !</p>



<p>Hai bên bố trận dàn quân,</p>



<p>Giành dân lấn đất rần rần khắp nơi.</p>



<p>Nước non rách nát tơi bời,</p>



<p>Rừng loang máu đỏ xương phơi trắng ngàn !</p>



<p>Công tâm ai cũng than van,</p>



<p>Nồi da xáo thịt giang san chia lìa !</p>



<p>Sông Gianh ngày trước còn kia,</p>



<p>Ngày nay Bến Hải não nề ruột gan.</p>



<p>…</p>



<p>Công hầu, khanh tướng, quân vương,</p>



<p>Làm nên sự nghiệp đống xương đã đầy !</p>



<p>Nhớ lại ta viết gì đây ?</p>



<p>Thơ nào xóa được khói bay mù trời !</p>



<p>Bạc đầu vẫn dại mà thôi,</p>



<p>Viết ra, viết để mà chơi đó mà !</p>



<p>Lòng riêng riêng nhớ Mẹ Cha,</p>



<p>Sáu mươi hai tuổi vẫn là trẻ con !</p>



<p>Tây Ninh một mảnh nước non,</p>



<p>Bà Đen sừng sững một hòn núi xanh.</p>



<p>Hoàng hôn đổ xuống mong manh,</p>



<p>Giáng vàng lãng đãng Tây thành nhớ thương.</p>



<p>Từ Nam ra Bắc quê hương,</p>



<p>Sương mai dặm liễu con đường cái quan.</p>



<p>Nối liền đất nước Việt Nam,</p>



<p>Núi đồi trùng điệp vô vàn mến yêu !</p>



<p>Qua truông qua suối qua đèo,</p>



<p>Qua sông vượt biển bao triều thịnh suy !</p>



<p>Sử ngàn trang, ai chép ghi ?</p>



<p>Kẻ công người tội đèn khuya ta ngồi !</p>



<p>Lần trang sử đọc bồi hồi,</p>



<p>Dạy con dạy cháu làm người thủy chung !</p>



<p>Vẻ vang mười tám vua Hùng !</p>



<p>Trích bài: Thương nhớ Tây Ninh</p>



<p>(Trong:Ly hương hoài cảm 2)</p>



<p><strong>Nhân Sinh Quan Của Trần Nguyên Anh</strong></p>



<p>Nhân sinh quan là vấn đề của nhận thức, đặc biệt nơi các tôn giáo phổ biến, như nhân sinh quan Phật giáo, nhân sinh quan Ki-tô giáo, nhân sinh quan của thuyết Mác-xít v.v… Thuyết Hiện sinh với Jean Paul Sartre đã đưa ra một nhận thức về đời người và về mối tương quan giữa con người với con người.</p>



<p>Trần Nguyên Anh đã làm nhiều công việc để mưu sinh, song chỉ có văn chương, có thi ca là cái “nghề”, hay như trong làng văn thường nói, đây là cái “nghiệp”, ẩn đằng sau nỗi lòng của từng con người, của từng “cây bút”. Tuy vậy, cái nghề cầm bút chẳng giúp ông được bao nhiêu trong chuyện cơm cháo hằng ngày và chỉ có một thời, một giai đoạn trên mười năm ngắn ngủi, từ 1960-1975. Chính cuộc sống rày đây mai đó, đã nhiều phen ông toan gác bút, chỉ vì :</p>



<p>Mấy ai vui nổi mà thơ,</p>



<p>Bạn xưa vắng ngắt cười đùa cũng không.</p>



<p>Càng thêm chán chữ văn chương,</p>



<p>Viết là viết vậy – ai buồn đọc đây ?</p>



<p>Ba trăm năm nữa mai này,</p>



<p>Họa chăng có kẻ khóc vay một bài.</p>



<p>Chớ giờ thơ phú dễ “tai”</p>



<p>Nói năng cái miệng không quai khôn lường.</p>



<p>Ghét ghen tai vách mạch rừng,</p>



<p>Lương tâm khó sống cúi luồn ngả nghiêng.</p>



<p>Mới nên danh, mới nên quyền,</p>



<p>Mới nên chức phận ngồi trên hưởng nhiều.</p>



<p>Ta không buồn tủi ta nghèo,</p>



<p>Chỉ buồn non nước tiêu điều bấy năm.</p>



<p>Trong : Nước non tâm sự</p>



<p>(Chương 4, từ câu 21-34)</p>



<p>Trần Nguyên Anh mượn thi ca để bộc lộ tâm trạng của mình trước thời cuộc và cũng để nói lên một quan niệm về đời người. Cũng có đôi chỗ trong các thi phẩm của mình, tác giả lại cho rằng làm văn chương chỉ để mà chơi.</p>



<p>Dưới đây là một đoạn nữa tác giả nói đến vấn đề chủ đạo trong thi ca hay đúng hơn là nhân sinh quan của ông :</p>



<p>Ba trăm năm nữa ai người,</p>



<p>Khóc ai một tiếng, ai người ngủ yên.</p>



<p>Thơ ta cảm hứng triền miên,</p>



<p>Ta liên tiếp viết mười đêm chưa ngừng.</p>



<p>Thơ ta tâm sự não nùng,</p>



<p>Xót xa xuất phát tận cùng trái tim.</p>



<p>Thơ ta muốn thấy đời yên,</p>



<p>Lấy điều nhân nghĩa khuôn thiêng làm đầu.</p>



<p>Trọng người đạo đức cao sâu,</p>



<p>Ghét phường xiển nịnh mưu cầu danh hư.</p>



<p>…</p>



<p>Suốt đời ta chỉ ước mong,</p>



<p>Sống cho vẹn nghĩa thủy chung thật thà</p>



<p>Trong : Nước non tâm sự</p>



<p>(Chương 2, từ câu 123-138)</p>



<p>Mười ba năm làm công nhân dưới chế độ mới, hẳn cũng như một số người khác, ông phải va chạm và thấy nhiều điều bất như ý. Qua đó, ông nhớ đến những Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo, Hàn Tín&nbsp; v.v…</p>



<p>Dù ai khanh tướng công hầu,</p>



<p>Hay là nghèo khó bạc đầu ăn đong.</p>



<p>Buông tay nhắm mắt là xong,</p>



<p>Hơn chăng là một tấm lòng nghĩa nhân !</p>



<p>Sống thì giúp nước giúp dân,</p>



<p>Coi thường hư lợi phù vân hão huyền.</p>



<p>Không xu nịnh, không cửa quyền,</p>



<p>Không tham cái sống thấp hèn vinh thân.</p>



<p>Nguyễn Trãi là vị đại thần,</p>



<p>Giúp vua, giúp nước, cứu dân công trời !</p>



<p>Vậy mà tâm sự của Người,</p>



<p>Cũng đau, chua xót, thói đời quắt quay.</p>



<p>Huân công kể đến ai tày,</p>



<p>Thế mà vẫn bị đọa đày ghét ghen.</p>



<p>Chết vì những kẻ nhỏ nhen,</p>



<p>Nịnh vua, hại nước xiểm rèm người ngay !</p>



<p>Trần Nguyên Hãn ôi ! Thảm thay,</p>



<p>Phạm Văn Xảo ơi ! Đến nay vẫn buồn.</p>



<p>Kìa người Hàn Tín luồn trôn,</p>



<p>Dẫu công hãn mã mở đường Hán Lưu.</p>



<p>Mà rồi cũng bởi ghét yêu,</p>



<p>Rèm pha mà phải đến điều nát thây.</p>



<p>Còn ta như hạt bụi này,</p>



<p>“Hàng thần nếu phải đắng cay cũng thường !”</p>



<p>Trong : Nước non tâm sự</p>



<p>(Chương 3, từ câu 288-311)</p>



<p>Ở một đoạn thơ khác trong tập Diễn khúc dân tình, Trần Nguyên Anh phối hợp rất tài tình giữa cái lãng mạn với những&nbsp; nhân vật lịch sử trong truyện cũ, như Hạng Vương, Hàn Tín, Khương Duy, Khổng Minh, Tào Tháo, Từ Hải. Cũng ở đây, một Trần Nguyên Anh khác rõ nét, đăm chiêu, buồn phiền và cũng thật lãng mạn, cái lãng mạn của một kẻ phẫn thế mà cũng rất gắn bó với những vấn đề của&nbsp; lịch sử và của con người.</p>



<p>Sầu ai lên mãi chơi vơi,</p>



<p>Vút cao đỉnh nhớ lá rơi đỉnh sầu.</p>



<p>Vầng trăng thu, trắng đêm thâu,</p>



<p>Trải vàng trên sóng dưới cầu trăng trôi.</p>



<p>Sài-Gòn mười lăm năm trời,</p>



<p>Đổi thay mấy lớp cho đời buồn thêm.</p>



<p>Sương sa giọt nhớ giọt mềm,</p>



<p>Gió lay ngọn gió, cho rèm lay theo.</p>



<p>Ai nghe đời đổ reo neo,</p>



<p>Mà cho non nước nghiêng theo bóng ngàn.</p>



<p>Núi kia đứng nửa điêu tàn,</p>



<p>Lòng khe suối cạn tiếp làn sông khô.</p>



<p>Hạng Vương ngồi tiếc Ngu Cơ,</p>



<p>Đập tan chén ngọc bụi mù ngựa bon !</p>



<p>Mã chiến hí dựng đầu non,</p>



<p>Ba quân một dạ quyết tròn kiếm cung.</p>



<p>Sa cơ mạt lộ anh hùng,</p>



<p>Láo lơ tướng sĩ một lòng chết theo !</p>



<p>Hàn Tín nhớ nhục luồn kheo,</p>



<p>Mà quên Khoái Triệt đến điều nát thân.</p>



<p>Khương Duy tài uổng tính lầm,</p>



<p>Xương tàn trong lửa máu bầm tro than.</p>



<p>Mưu thần quân sự khôn ngoan.</p>



<p>Khổng Minh không thể lấy gan vá trời.</p>



<p>Gian hùng Tào Tháo mà thôi,</p>



<p>Mà sao cũng phải lệ rơi đầm đìa.</p>



<p>Từ Hải xé nửa sơn khê,</p>



<p>Nể lời nàng Thúy như bia chết trồng.</p>



<p>Trong : Diễn khúc dân tình</p>



<p>(Chương 4, từ câu 253-280)</p>



<p>Câu thứ tư từ trên xuống: “Trải vàng trên sóng, dưới cầu trăng trôi” &#8211; thật tuyệt!</p>



<p>hoặc, hai câu 13,14:</p>



<p>Hạng Vương ngồi tiếc Ngu Cơ,</p>



<p>Đập tan chén ngọc, bụi mù ngựa bon!</p>



<p>là mấy câu thơ hiếm có, cho thấy người viết được những lời thơ này là một thiên phú.</p>



<p><strong>&nbsp;Nhận xét</strong></p>



<p>Trong suốt thời gian làm việc tới nay, ở nhiều đoạn hay tiết mục, tôi đã có đôi lời nhận xét về những bài thơ được dùng để viết về Trần Nguyên Anh. Những nhận xét này, ít hay nhiều cũng là chủ quan, nhất là khi hai chúng tôi là chỗ thâm giao. Tuy nhiên chính vì điểm này mà tôi có thể nói tôi hiểu được tâm sự của tác giả, bên ngoài những ngôn ngữ trong tất cả các tập thơ của ông. Nhưng có những vấn đề khi đưa ra chỗ công khai, tôi phải cáo lỗi với tác giả là còn rất nhiều điều phải gác lại.</p>



<p>Có thể noi, Trần Nguyên Anh không phải là môt nhà thơ thuần túy, nhưng còn là một nhà đạo lý, mang tư tưởng truyền thống, dùng thi ca để phổ biến cái đạo làm người, trong đó cái đạo làm con, hiếu với các đấng sinh thành, nghĩa phu-thê là quan trọng, rồi đến tình bạn hữu, với Tổ quốc, với Nước non. Có lẽ ở điều này mà ông ít được “đón tiếp” nơi những người coi thơ văn là “số 1” của đời họ. Ông không có “tri kỷ” là nhà văn nhà thơ quan niệm thơ văn là “tất cả” như thế. Nhưng ông có hơn một người bạn tâm giao không thuộc làng văn thơ, mà là một người chân thật, có lòng mộ mến đạo lý nhà Phật, vị tha và tín trung với bạn hữu.</p>



<p>Thực ra, vấn đề đạo lý trong thơ Trần Nguyên Anh,&nbsp; không đơn giản hay chỉ thu hẹp lại trong một vài nguyên tắc cứng ngắc, như khi tác giả viết cho con cái, hoặc khi ông nhớ đến lời mẹ dạy bảo.</p>



<p>Chẳng hạn, với con cái, ông viết :</p>



<p>Ta thường dạy bảo đủ lời,</p>



<p>Trai thì trung hiếu, gái thời đảm đang.</p>



<p>Tính ăn, nết ở dịu dàng,</p>



<p>Thương chồng, nể vợ dịu dàng bảo nhau.</p>



<p>Chớ đừng học thói cơ cầu,</p>



<p>…</p>



<p>Nghĩa nhân học lấy làm đầu,</p>



<p>Chăm lo để phước ngày sau con nhờ.</p>



<p>Hay gì sống đục thác nhơ,</p>



<p>Tham danh ích kỷ tiếng dơ để đời.</p>



<p>Trong : Nước non tâm sự</p>



<p>(Chương 3, từ câu 659-680)</p>



<p>Về thân mẫu, ông viết :</p>



<p>Mẹ ta mỗi tuổi mỗi già,</p>



<p>Nỗi lo nuối tiếc xót xa thêm đầy !</p>



<p>Trán nhăn, má hóp thân gầy,</p>



<p>Tim gan khô héo, bàn tay cứng mòn !</p>



<p>Tấm lòng đau khổ sắt son,</p>



<p>Suốt đời tận tụy vì con, vì chồng.</p>



<p>Dù cho hoạn nạn gai chông,</p>



<p>Tản cư chạy giặc mấy đông nhọc nhằn !</p>



<p>Trăm ngàn thiếu thốn khó khăn,</p>



<p>Đói cơm khát nước cắn răng một mình !</p>



<p>Thủy chung vẹn nghĩa vẹn tình,</p>



<p>Giữ lời vàng đá hy sinh quá nhiều !</p>



<p>Sướng không căng, khổ không xiêu,</p>



<p>Quần nâu áo vải, nhiễu điều cũng nên !</p>



<p>Tiếng thơm biển cả mẹ hiền,</p>



<p>Nhìn lên đã có khuôn thiêng trên đầu !</p>



<p>Nên ai chẻ tóc gieo cầu,</p>



<p>Gây muôn tội ác mẹ đâu thù hằn.</p>



<p>…</p>



<p>Nghe lời mẹ dạy từng câu,</p>



<p>Dẫu cho tuổi dại nghĩa đâu tận tường !</p>



<p>Dần dần đèn sáng bên gương,</p>



<p>Thấm lời mẹ dạy coi thường lợi danh !</p>



<p>Sống nghèo giữ vẹn lòng thanh,</p>



<p>Câu thơ nên chép để dành người sau.</p>



<p>Trong : Nước non tâm sự</p>



<p>(Chương 1, từ câu 173-202)</p>



<p>Thật ra, vấn đề đạo lý trong thơ Trần Nguyên Anh nếu chỉ nhìn một cách hạn hẹp, trong khuôn khổ lễ giáo gia đình, thì chỉ chiếm một vị trí rất khiêm tốn, so với những đề tài khác, các chủ đề khác trong toàn bộ thi ca của ông. Những chủ đề này bao trùm lên tất cả, rộng hơn nhiều. Chẳng hạn, chiến tranh, xã hội, đời sống khốn cùng của người dân hai miền Nam-Bắc trải dài hơn nửa thế kỷ, từ 1945. Rồi đến những cuộc tranh chấp quyền lực giữa các phe phái ở miền Nam, từ 1954 – 1975, đến những hậu quả của hai cuộc chiến tranh tại Việt Nam trong hậu bán thế kỷ XX; còn tình trạng xã hội ở miền Nam thời kỳ có mặt của người Mỹ và đồng minh, cũng như trên toàn đất nước sau ngày mở cửa và hội nhập, hoàn cảnh đất nước nói chung ra sao, đạo lý băng rã đến đâu và con người quay cuồng trong đó, đổi thay thế nào v.v…đều được tác giả nói đến một cách tỉ mỉ, mà có lúc tôi đã nghĩ rằng nó không thích hợp lắm&nbsp; cho thi ca, nếu hiểu thi ca theo lối cổ điển, gắn liền với lãng mạn, mơ mộng, người thơ chỉ sống với trăng gió hay với mây bay đỉnh núi sương mù, nó được quan niệm là “nghệ thuật vị nghệ thuật”, còn tất cả những chuyện rắc rối trong cuộc đời, chỉ dành cho đám phàm phu tục tử, đám bình dân suốt ngày lam lũ, chẳng biết gì đến cái thú tiêu khiển thanh cao cầm kỳ thi họa !</p>



<p>Không, Trần Nguyên Anh đã đưa vào thơ tất cả mọi vấn đề, mọi khía cạnh của đời sống con người, những gì liên quan đến con người, ông đều quan tâm. Ngoài ra, những miền đất ông đã đi qua, những cảnh vật thiên nhiên đã làm ông cảm hứng, ngay đến chiếc áo bà ba, chiếc khăn rằn ri của người Nam Bộ, chiếc nón bài thơ xứ Huế, cũng như tà áo dài của con gái và phụ nữ Việt Nam. Ông viết :</p>



<p>Còn trời còn nước còn non,</p>



<p>Áo dài còn mãi – Vẫn còn Việt Nam.</p>



<p>Trần Nguyên Anh còn đề cập đến lãnh vực kinh tế, như nông nghiệp, thương nghiệp ; các công việc đồng áng xưa kia, như tát nước, nhổ mạ, trồng khoai; ông mô tả tiếng vồ đập đất, tiếng hò đập lúa, lo xàng lo xẩy; các loài hoa như soan, bưởi, cau, gạo, sim, vông vang, rau cải, bươm bướm, tiếng cóc, tiếng đàn tranh hay tiếng ru của mẹ.</p>



<p>Bởi vậy, trong thơ của Trần Nguyên Anh có một quê hương yên bình, đầm ấm và thương yêu, nhưng cũng có một quê hương trong máu lửa chiến tranh, trong đói khát và bần cùng.</p>



<p>Với những đề tài đó, Trần Nguyên Anh xứng đáng là một nhà thơ tiêu biểu trong hậu bán thế kỷ XX, về những gì liên quan đến con người, đến lịch sử và xã hội. Đọc thơ ông, người ta gặp được một cây bút rất gần gũi, rất thân cận với con người, với vận mệnh hưng phế của đất nước. Người ta khóc với nó, phẫn nộ với nó trong những giai đoạn đen tối, nghiệt ngã khi những con người nắm trong tay vận mạng của cả một dân tộc, đã bán rẻ lương tâm, sống giàu sang trên khổ đau của người khác. Mặc dù có đôi chỗ tác giả đã đơn giản hóa vấn đề, mà cũng có chỗ ông lại chi tiết nó, lại cường điệu nó, khiến làm giảm đi tính cách lịch sử, đồng thời giảm đi tính chất thi ca. Lại còn vì âm vận giữa các đoạn chuyển tiếp nên cũng không tránh được sự trùng lắp về ý, vô tình mắc vào sự gượng ép . Đấy là trường hợp của hai thi phẩm trường thiên tâm huyết của Trần Nguyên Anh : Nước non tâm sự và Diễn khúc dân tình.</p>



<p>Mặt khác, có những việc được tác giả điểm qua điểm lại, hầu như nói hoài mà không hết ý, ông cứ muốn phát triển rộng ra mãi. Phải công tâm mà nói, đó là một khuyết điểm trong nghệ thuật diễn tả. Song nó lại bộc lộ cái chân thân của Trần Nguyên Anh, rằng trong ông là tất cả, cái gì cũng tràn đầy. Ông không nghĩ đến sự rậm lời, ảnh hưởng đến hồn thơ của ông. Bởi như ông đã bày tỏ, ông không chủ ý làm văn chương theo quan điểm “Nghệ thuật vị nghệ thuật”,&nbsp; làm thơ sao cho trải chuốt, ngôn ngữ thơ mông lung, ai hiểu sao thì hiểu, song thơ chỉ là một phương tiện phù hợp với tính cách của ông, để giãi bày tâm tư về bao nhiêu vấn đề liên quan đến đời sống .Nó là “Nghệ thuật vị nhân sinh”, hay là theo lối nói trường phái, Trần Nguyên Anh là nhà thơ của “ Hiện thực chủ nghĩa.”? Thật ra, ông không ngả theo trường phái văn học nào, điều này chỉ là một nhận xét theo các chủ đề trong thơ của ông.</p>



<p>Ngoài tính chất “hiện thực”, Trần Nguyên Anh còn là một cây bút “lãng mạn” Quả thực, đây là một yếu tố để khẳng định tính thi sĩ trong ông.</p>



<p>Chúng tôi chọn hai đoạn thơ trong tập Nước non tâm sự và Diễn khúc dân tình, tác giả viết về&nbsp; tâm tư của kẻ xa quê hương và nỗi nhớ nhung của mình.</p>



<p>Đau thương cảm với u sầu,</p>



<p>Với chồng sách, ngọn đèn dầu hắt hiu.</p>



<p>Với sao khuya, với trăng treo,</p>



<p>Với khu nhà lá xóm nghèo xác xơ!</p>



<p>Đau thương cảm với bao giờ,</p>



<p>Người sau đọc đến ngẩn ngơ thương mình.</p>



<p>Bốn Nhăm (1945) Tám Tám (1988) lênh đênh,</p>



<p>Bốn ba năm ấy nặng tình hoài hương !</p>



<p>Khi quán gió, lúc cầu sương,</p>



<p>Dừng chân đứng ngó hàng dương ủ buồn.</p>



<p>Một màu bàng bạc mây truông,</p>



<p>Núi trùng điệp núi, đồi nương tiếp đồi.</p>



<p>Rừng chiều xào xạc lá rơi,</p>



<p>Thu không vượn hú rối bời lòng ai.</p>



<p>Xuân sang nghe tiếng thở dài,</p>



<p>Nát lòng thiếu phụ nhớ hoài chân mây.</p>



<p>Người phương Đông, kẻ phương Tây,</p>



<p>Uống chung giòng nước đầu này đầu kia.</p>



<p>Sầu ta cảm với sơn khê,</p>



<p>Ba mươi ba hạ, chưa về cố hương.</p>



<p>Sầu ta dằng dặc con đường,</p>



<p>Không ngăn cách núi sao buồn gớm ghê !</p>



<p>Trong : Nước non tâm sự</p>



<p>(Chương 4, từ câu 113-134)</p>



<p>Còn ở tập Diễn khúc dân tình, trước khi kết thúc toàn tập, tác giả cũng như muốn dừng lại sau gần hai ngàn câu thơ nói đến chiến tranh, chết chóc, đổ vỡ đau thương ; nói đến những nhân vật lãnh đạo đất nước của một thời&nbsp; như Bảo Đại, Nguyễn Văn Tâm, Trần Văn Hữu, Phan Văn Giáo, Bảy Viễn, Nguyễn Chánh Thi, Vương Văn Đông, Dương Văn Minh, Nguyễn Ngọc Thơ, Phan Khắc Sửu, Nguyễn Khánh, Phan Huy Quát, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Trần Văn Quang, Dư Quốc Đống, Ngô Du, Cao Văn Viên; nói đến Hiệp định Paris và nhóm ký giả miền Nam xuống đường đội nón đi “ăn mày” giả hiệu vì một luật lệ về kiểm duyệt báo chí…</p>



<p>Sau khi điểm qua những nhân vật trên và cái thời của họ bằng những câu thơ chua cay và tủi nhục, tác giả như thấm mệt nên ông cần một thoáng xả, đưa hồn về quê cũ, vì với tác giả, quê nhà là biểu tượng của yên vui, hạnh phúc cho dù quê cũ cũng đã trải qua hận thù, bão tố kinh hoàng!</p>



<p>Ba mươi sáu năm xa nhà,</p>



<p>Tưởng về trong mộng nhìn hoa bóng trời!</p>



<p>Trăng treo nửa mảnh trên đồi,</p>



<p>Sao rơi cuối ngõ càng khơi nỗi buồn.</p>



<p>Gió reo lá rụng bên đường,</p>



<p>Cho cây nhớ lá giọt sương đầm đìa.</p>



<p>Cho người nhớ cảnh ra đi,</p>



<p>Bên sông ly biệt hồn tê tái sầu.</p>



<p>Nhìn lên kìa bóng sao Ngâu,</p>



<p>Ngân hà một giải trên đầu vắt ngang.</p>



<p>Trời thu ảm đạm thu sang,</p>



<p>Gió thu hiu hắt trăng vàng xác xơ.</p>



<p>Mưa thu lành lạnh mịt mờ,</p>



<p>Mây thu xám ngắt sương thu úa xàu.</p>



<p>Sông thu quạnh quẽ bờ lau,</p>



<p>Non thu tím biếc một mầu tóc tang.</p>



<p>Người thu thân xác võ vàng,</p>



<p>Mắt thu ảm đạm tiễn chàng chinh phu !</p>



<p>Đỉnh thu gió hú ù-ù,</p>



<p>Hồn thu khắc khoải, thơ thu rã rời !</p>



<p>Trong : Diễn khúc dân tình</p>



<p>(Chương 4, từ câu 389-408)</p>



<p>Mặc dù chúng tôi xếp hai đoạn thơ trên đây vào loại thi ca lãng mạn trong thơ Trần Nguyên Anh. Tuy vậy, ở đây ta vẫn nhận ra cái tâm cảnh của tác giả, lúc ẩn lúc hiện. Nó vẫn chưa toát lên cái tính chất lãng mạn đích thực, cái lãng mạn vẫn thường được hiểu như một cách biểu hiện tính cách vượt ra ngoài hình thức diễn tả cổ điển, mực thước. Phải chăng cái tinh thần đạo lý và phần lý trí trong ông đã làm nên tính cá biệt này ?</p>



<p>Mặc dù vậy, tác giả vẫn lưu lại trong các tập thơ như Ly hương hoài cảm một vài bài đích thực là lãng mạn. Tôi gặp lại một hình bóng Liêu trai trong bài sau đây:</p>



<p><strong>Người qua trong mộng</strong></p>



<p>Sáng nay ta lại lên chùa,</p>



<p>Nắng vàng rực rỡ như tơ lụa tằm.</p>



<p>Ai nhìn đôi mắt đăm đăm,</p>



<p>Thẹn thuồng chẳng nói ngậm tăm không cười!</p>



<p>Ngoảnh đi, ta chợt bồi hồi,</p>



<p>Ấy người trong mộng đêm rồi ghé thăm.</p>



<p>Hình như cứ đến đêm rằm,</p>



<p>Nàng len lén lại khẽ nằm bên ta.</p>



<p>Ôi! thiên nhiên đúc một tòa,</p>



<p>Trắng ngần hơn tuyết hương sa lạ lùng.</p>



<p>Bồng bềnh tóc thả ngang lưng,</p>



<p>Gót sen nhẹ hẫng rèm tung mất rồi !</p>



<p>Trông lên thăm thẳm sao trời !</p>



<p>Mùa thu Ất Hợi 95</p>



<p>(Trong : Ly hương hoài cảm tập 1)</p>



<p><strong>Kết luận</strong></p>



<p>Tôi không có ý nói lời tổng kết về thi ca của Trần Nguyên Anh, vì tôi chưa có trong tay những bài thơ ông làm sau khi sang Canada. Những bài này hầu hết đã đăng trên tờ Khởi Hành xuất bản ở Hoa Kỳ. Mặt khác, tôi biết cái giới hạn của tôi trong lúc này, vì sức khỏe và tuổi tác. Đó là một điều làm tôi áy náy với anh linh người bạn thơ đã khuất của tôi.</p>



<p>Tuy nhiên, tôi hy vọng độc giả nào kiên nhẫn theo dõi các bài thơ trong mục thơ tuyển trên trang báo NewVietArt, đã đăng tải 9 kỳ báo cuốn sách tôi viết về Trần Nguyên Anh, cũng như các bài thơ trong loạt bài tôi viết đây, cũng tạm đủ dữ liệu để tự mình đánh giá thi ca Trần Nguyên Anh .</p>



<p>Điều sau cùng tôi muốn nói đến ở đây về Trần Nguyên Anh, đó là cá tính của ông, một cá tính mạnh mẽ. Ông rất dễ bộc lộ cá tính này về sự yêu, sự ghét, giữa cái thiện và cái ác, giữa bổn phận và vô trách nhiệm, giữa sự trung thực và giả trá.</p>



<p>Cuối cùng, tôi mượn chính lời của Trần Nguyên Anh trong bài thơ sau đây để khép lại loạt bài này :</p>



<p><strong>Sông hồ tự do</strong></p>



<p>(Tặng những Nhà thơ thật Nhà thơ)</p>



<p>Mùa Đông cái nắng miền Nam,</p>



<p>Vàng như tơ lụa giầu sang của trời.</p>



<p>Ai lên thượng giới rong chơi,</p>



<p>Cho ta lên với cùng vui một lần.</p>



<p>Chán ôi ! chán cõi hồng trần,</p>



<p>Câu thơ viết mãi phong trần càng đau.</p>



<p>Tiếc mình đẻ muộn sinh sau,</p>



<p>Tài thơ Siêu Quát ngàn câu đã thừa !</p>



<p>Tìm đâu tri kỷ nằm mơ,</p>



<p>Giữa đêm đốt đuốc soi bờ đại dương.</p>



<p>Sóng xô lớp lớp tang thương,</p>



<p>Trăng cau mặt đẹp nét buồn Tây Thi !</p>



<p>Phù Sai vì quá say mê,</p>



<p>Thành nghiêng nước mất Đài kia lật nhào!</p>



<p>Ai khôn? Ai dại? trước sau,</p>



<p>Trương Lương, Phạm Lãi công hầu cũng chê!</p>



<p>Nhẹ nhàng hai chữ đi về,</p>



<p>Ngàn năm Liệt truyện còn ghi người hiền.</p>



<p>Công thành thân thoái là Tiên,</p>



<p>Thoát vòng danh lợi hão huyền bẩn dơ.</p>



<p>Lên non cưỡi hạc nhởn nhơ,</p>



<p>Đi mây về gió Sông hồ Tự Do!</p>



<p>Vỗ bụng làm trống hết lo !</p>



<p>Mùa Đông Ất Hợi 1995 (Trong: Ly hương hoài cảm 1)</p>



<p><strong>Khải Triều</strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Khải Triều: THẾ PHONG</title>
		<link>https://t-van.net/khai-trieu-the-phong/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Khải Triều]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 27 May 2025 08:28:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[NHỮNG NGƯỜI BẠN VĂN CHƯƠNG]]></category>
		<category><![CDATA[Những người bạn văn chương]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=79923</guid>

					<description><![CDATA[Tên thật Đỗ Mạnh Tường. Sinh ngày 10-7-1932 tại Yên Bái trong giấy tờ tùy thân 1936 Khởi sự viết văn cuối 1952. Truyện ngắn đầu tiên Đời học sinh ký Tương Huyền đăng trên nhật báo Tia sáng ở Hà Nội (17-11-1952), Ngô Vân, Chủ nhiệm). Truyện dài đầu tiên in ở Sài Gòn: [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/05/image030.jpg?strip=all&fit=125%2C165&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="125" height="165" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/05/image030.jpg?strip=all&fit=125%2C165" alt="" class="wp-image-79924" style="width:153px;height:auto"/></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Tên thật Đỗ Mạnh Tường.</p>



<p>Sinh ngày 10-7-1932 tại Yên Bái trong giấy tờ tùy thân 1936</p>



<p>Khởi sự viết văn cuối 1952.</p>



<p>Truyện ngắn đầu tiên Đời học sinh ký Tương Huyền đăng trên nhật báo Tia sáng ở Hà Nội (17-11-1952), Ngô Vân, Chủ nhiệm).</p>



<p>Truyện dài đầu tiên in ở Sài Gòn: Tình Sơn Nữ (1954).</p>



<p>Tổng số trên 50 tác phẩm đủ thể loại: thơ, truyện, phê bình, khảo luận, dịch thuật.</p>



<p>Từ 1952, ở Hà Nội cộng tác với các nhật báo Tia sáng, Giang Sơn, tạp chí Quê hương, phóng viên các báo Thân Dân (Nguyễn Thế Truyền), Dân chủ (Vũ Ngọc Các) (Hà Nội: 1952-1954). Chủ nhiệm tuần báo Mạch Sống, Dương Hà chủ bút &#8211; báo chỉ xuất bản được một số rồi tự đình bản vào 1955 ở Sài Gòn.</p>



<p>Cộng tác viên, tạp chí ở Sài Gòn: Đời Mới, Nguồn Sống Mới, Văn Nghệ Tập San, Văn Hoá Á Châu, Tân Dân, Tạp chí Sống (Ngô Trọng Hiếu), Sinh Lực, Đời, Nhật Báo Sống, Tuần báo Đời (Chu Tử), Trình Bầy, Tiền Tuyến, Sóng Thần (Uyên Thao), Lý Tưởng,v.v… &#8211;</p>



<p>Đăng truyện ngắn Les Immondices dans la banlieue trên báo Le Monde Diplomatique (Paris 12-1970)</p>



<p>&nbsp; Đăng thơ trên tạp chí Tenggara, Kuala Lumpur &#8211; Malaysia) từ 1968-1972- sau in lại thành tập: Asian Morning, Western Music (Sài Gòn 1971, tựa Gs Lloyd Fernando).</p>



<p>(Dẫn từ NewsVietArt Việt Văn Mới Fr.)</p>



<p><strong>Thế Phong Với Khải Triều</strong></p>



<p>Khi tôi viết về anh Thế Phong ở cuốn sách cuối đời này của tôi, thì anh đã là Mục sư Tin Lành, hệ Cơ Đốc Phục Lâm. Tôi nghe tin này từ một người bạn, cũng là bạn văn chương với Thế Phong từ lúc Thế Phong mở ra cơ sở in ấn bằng Ronêô khoảng năm 1960 (hoặc trước hay sau năm này 1,2 năm gì đó). Còn tôi, thì anh Thế Phong đã cùng vợ dẫn tôi đến nhà thờ Tin Lành trên đường Trần Cao Vân từ rất sớm, khoảng ít lâu sau ngày 30-4-1975. Một người như Thế Phong, một nhà văn được coi là “phá phách” vào bậc nhất trong làng văn làng báo ở Sài Gòn từ thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa. Việc ông mở ra cơ sở xuất bản Đại Nam Văn Hiến, để in tác phẩm của mình và bạn hữu bằng Rônêô type, không xin giấy xuất bản của chính quyền, là một thái độ rất “ngông”, “phá phách”, không một cây bút nào của Sài Gòn ngay đó dám nghĩ đến, dù cho họ không ưa chế độ Sài Gòn ngày ấy, từ 1954-1975.</p>



<p>Tôi gặp anh Thế Phong cũng vào khoảng năm 1961, 1962 qua anh Cao Thế Dung. Thời gian này, Cơ sở xuất bản Đại Năm Văn Hiế đã in cho Cao Thế Dung tập thơ Khúc Ca Nhược Tiểu, in cho Đỗ Ngọc Trâm tập truyện Ba Mẹ Con (1962). Còn tôi thì năm 1963, Đại Nam Văn Hiến in tập thơ đầu tay là Người Ôm Mặt Khóc. Sang năm sau, 1964, Thế Phong lại in tiếp tập thơ thứ hai của tôi là Tiếng Hát Khuẩn Trùng. Lúc này, chế độ Ngô Đình Diệm đã sụp đổ, tờ Nhật báo Dân Việt tôi làm, khuynh hướng ủng hộ Ngô Đình Diệm phải đóng cửa. Tôi mất việc, lâm vào tình trạng nay đây mai đó.</p>



<p>Từ sau ngày chính quyền của Tổng thống Ngô Đình Diệm sụp đổ (tháng 11/1963) cho đến đầu tháng 2 năm 1967, tôi sẽ nói về thời gian mấy năm Sài Gòn xáo trộn ở bài Con Đường 70 Năm Chông Gai Của Tôi (Từ 1954-2024) ở sau phần các tác giả. Còn bây giờ xin trở lại với nhà văn Thế Phong in tập thơ “mở tay” của tôi.</p>



<p>Trước khi tôi viết tập thơ “mở tay”, có cái tên “Người Ôm Mặt Khóc”, tôi sống ở Ban Mê Thuột, dạy học, khoảng từ năm 1957-1960, tuổi từ 21 đến 24. Căn nhà trọ tôi thuê ở Ban Mê Thuột gần một nghĩa trang nhỏ. Tôi thường ra đấy viếng các mộ những đêm có trăng. Trăng ở Ban Mê Thuột ngày đó buồn lắm, không như ở Sài Gòn, nơi đô hội và ánh đèn khắp các đường phố. Vì thế, năm 1960 khi vào làm cho tờ Nhật báo Dân Việt, tôi đã làm thơ đăng trên trang Văn Nghệ Cuối Tuần do nhà văn Thanh Tùng phụ trách, tôi ký tên ở các bài thơ này là Trăng Rừng, đến nay, sau 60 năm mà vẫn có người gặp tôi là lại nhắc đến cái tên Trăng Rừng ngày ấy. Năm 1960 tôi về Sài Gòn, sau khi ho ra máu, nên xin nghỉ dạy học vì không muốn ảnh hưởng đến học trò. Về Sài Gòn được ít lâu, tôi cũng phải thuê một gác trọ để ở, có một người bạn mới ở cùng. Lần thứ hai, tôi lại ra máu lúc đêm khuya, người bạn chở tôi trên chiếc xe đạp cũ kỹ của anh vào phòng cấp cứu tại nhà thương lao Hồng Bàng. Y tá trích cho tôi một mũi thuốc rồi cho về.</p>



<p>Sau hai lần ra máu, tôi nhớ đến một người bạn ở Hà Đông, cùng đi trên chuyến máy bay, khởi hành từ sân bay Gia Lâm di cư vào Sài Gòn, chiều ngày 02-08-1954. Anh mắc bệnh lao, phải vào nhà thương lao Hồng Bàng nằm điều trị rồi qua đời tại đây. Khi tôi viết tập thơ Người Ôm Mặt Khóc vào năm 1963, và tập thứ hai năm 1964 Tiếng Hát Khuẩn Trùng, thì &nbsp;những lần ho ra máu của tôi và người bạn chết vì lao phổi này, đã ám ảnh &nbsp;tôi, đồng thời sự đổ vỡ của miền Nam Việt Nam sau cái chết của Tổng thống Ngô Đình Diệm cũng tác động đầu óc tôi.</p>



<p>Còn về tập thơ Người Ôm Mặt Khóc, chỉ là bản thứ hai tôi nhờ anh Thế Phong viết lời giơi thiệu và in. Bản lần dầu tiên tôi chưa có tựa đề, anh từ chối, và đưa lại tôi. Tôi xé bỏ tất cả gần 30 bài, rồi viết những bài thơ khác chỉ trong vòng ít tháng sau đó. Lần này thì anh Thế Phong, Chủ nhiệm Cơ sở xuất bản Đại Nam Văn Hiến tiến hành ngay việc đánh máy và cho in, nhưng anh không viết lời giới thiệu nào cả, cho đến khi mấy tháng sau đó, tôi tiếp tục gửi anh tập thơ thứ hai, tức là tập Tiếng Hát Khuẩn Trùng, 1964. Ở bìa 4 tập này, anh cho in bài “Thế Phong vào đề thơ Khải Triều qua “Người ôm mặt khóc” và “Tiếng hát khuẩn trùng”. Tôi đã trích dẫn phần mở đầu bài của Thế Phong đưa vào bài tôi viết trước đây, về “Thiền và tôi”. Nay, tôi in lại toàn phần của bài “vào đề…” này.</p>



<p>Ông viết: “<em>Một điều phải đính chính ngay ở đây. Đầu dòng những hàng chữ này. Là trong lần nói về cảm tưởng qua thơ Ninh Chữ tôi thất vọng về thơ anh. Hồi ấy, anh đưa hai chục bài cho tôi đọc trước khi in. Tôi được hân hạnh đề nghị viết giới thiệu cho anh. Vì một vấn đề tế nhị, tôi thoái thác là không cần thiết mấy. Thời gian ấy nhân lúc tỏ bày cảm tưởng qua “Miền lưu đày” của Ninh Chữ, tôi không dấu giếm những gì tôi nghĩ về thơ anh Khải Triều. Bằng chữ viết. Rồi đến khi anh trao ba mươi bài mới của “Người ôm mặt khóc” thì số bài trước kia đã loại bỏ hết, anh lột xác mới mẻ, một điều tôi không ngờ. Tập thơ đầu tay đã không cần đến sự làm dáng của đa số thi nhân của hầu hết thi nhân bây giờ. Bộc lộ tâm trạng bi đát tuổi trẻ, bệnh tật, ý nghĩ về đời sống liên hệ. Qua một kỹ thuật rất ư Khải Triều, lại thêm một bố cục nói lên một cái gì chua chát ở mỗi bài thơ, nó khác hẳn với bao cái chung chung mọi thi nhân lục lục thường tài dùng. Tôi nói đùa với anh “thế là tôi đã lầm” nhưng cái lầm đáng giữ lấy cố tật kia&#8230;Cảm ơn Khải Triều của bước đầu vào nghiệp thơ, không có mặc cảm ấu trĩ xử thế như tôi ban đầu. Anh đã trưởng thành trong thơ và cả lối đối xử văn nghệ”.</em></p>



<p><em>Còn một điều nữa trong thơ Khải Triều làm tôi ưa thích là mặc dầu hiện đang phải đi trên dây tử thần cuộc đời với một nghệ thuật cao mà dù có phải hụt chân té ngã,&nbsp; dù phải đối chọi với bao nguy hiểm đến với anh, tràn ngập rồi hy vọng ít hơn nhiều lần chán ngán, buồn khổ, bi đát, anh vẫn bình thản nhận phận. Nhận lấy nghiệp trong bùn nhơ, tanh tởm thân xác bệnh tật, phải chính bệnh hoạn làm thi nhân mất tinh thần lạc quan, yêu cuộc đời, ôm lấy nó để toát thành thơ.</em></p>



<p><em>Nơi yên nghỉ làm cho thi nhân tin tưởng là thi ca, là những phút lắng chìm yên tĩnh ở dưới chân Chúa. Cũng may là còn hai thứ đó. Tình yêu của anh đã hoàn toàn bị đặt ra ngoài vui thú của tuổi trẻ rồi. Tôi nghĩ đến đôi mắt anh đang nhìn vào hư vô thật huyền hoặc, xa xôi, mà sức hút xoáy hy vọng đáp lại, hoàn toàn không còn nữa. Không bao giờ còn nữa. Mà anh chẳng than van bao giờ nữa.</em></p>



<p><em>Song sắt, bức tường tù ngục nào đã làm thi nhân bình thản trong đau đớn hành hạ cả tâm tình và thể xác.</em></p>



<p><em>Tôi cũng đã trải qua những chiều buồn đau đớn, thả hồn mình trong tỏa rộng theo tiếng chuông nhà thờ, mà vẫn muốn như chống đỡ nó. Khác anh là vậy. Nhưng còn giống anh, gần anh, ở những thơ anh, thơ tôi, phản ảnh trung thực cảm nghĩ của một kẻ, dầu làm người bình thường, cũng không bao giờ nói dối, tự lừa mình và kẻ khác bằng going chữ tuyệt đẹp phản bội. Anh Khải Triều ơi! Tuy rằng anh khóc cuộc đời bằng hình ảnh ôm mặt; khóc đời mình bằng “tiếng hát khuẩn trùng”- mà điều trên không cần ôm mặt và điều hai đang nhờ thuốc trị liệu tiếng hát khun trùng.</em></p>



<p><em>Tôi viết vào đề cho anh vừa xẩm tối,&nbsp; nhưng nhìn sớm hơn thì ai cấm tôi nhìn thấy hừng đông tỏa rộng ở chân trời sáng rực ngày mai đây.</em></p>



<p><em>Saigon 14-1-64</em></p>



<p><strong>Từ Cái Thuở Ban Đầu Ấy…</strong></p>



<p>Tôi đã đọc ở một bài nào đó của anh Thế Phong, chỉ mấy năm gần đây, khoảng hơn 40 năm sau ngày miền Nam Việt Nam mất, 30-4-1975. Tôi cũng quên không nhớ bài ấy, anh Thế Phong viết về vấn đề gì, nhưng tôi lại nhớ mấy chữ liên quan đến tôi. Mấy chữ này là: “Khải Triều là nhà thơ trong Đại Nam Văn Hiến”. Có một chút vui nở lên trong cõi sâu của tôi, mặc dù tôi không biết trong Cơ sở Đại Nam Văn Hiến, có bao nhiêu nhà văn, nhà thơ cũng được anh Thế Phong, người sáng lập cơ sở này, xác nhận là người &nbsp;“của” mình ? Bây giờ tôi nghĩ rằng, từ khi tôi viết được hai tập thơ, 1963, 1964 cho đến nay, cũng đã khoảng 50 hay 60 năm trôi qua, tôi cũng đã viết thêm được một số bài nữa. Tôi đã chọn lọc, sửa chữa bài cũ về từ ngữ, bỏ đi ít bài, hợp lại được một tuyển tập. Tôi gửi cho anh T. Vấn, người sáng lập trang văn học T. Van &amp; Bạn Hữu (Hoa Kỳ). Anh T. Vấn đã thực hiện ấn bản điện tử vào năm 2016 và phổ biến trên toàn cầu.</p>



<p>Anh Thế Phong đã xem ấn bản điện tử này, sau đó, anh dã viết một bài về thơ tôi. Nhân đó, anh lần hồi tưởng về thời kỳ hai chúng tôi bắt đầu quen biết nhau cùng với anh Cao Thế Dung và Đỗ Ngọc Trâm, cả hai người này cũng có sách do Đại Nam Văn Hiến in. Riêng Đỗ Ngọc Trâm có tập truyện là Ba Mẹ Con mà Đại Nam Văn Hiến đã in vào năm 1962.</p>



<p>Dưới đây tôi lược trích bài của anh Thế Phong viết về tuyển tập thơ của tôi và thuở chúng tôi mới quen biết nhau. Bài anh đăng trên trang cá nhân, Tản mạn văn chương, ngày Thứ Hai, 3 tháng 10, 2016. Phần mở đầu, tác giả nói đến việc ông thiết lập cơ sở xuất bản Đại Nam Văn Hiến, khi in sách không xin giấy phép xuất bản. Đây là một việc làm vi phạm pháp luật. Thế Phong nhân đó nhắc đến ít người làm báo hay hội họa, như họa sĩ Tạ Tỵ, nhà báo Phan Nghị, là những người nhìn nhận cách làm của Thế Phong, được một số người ủng hộ. Sau đó, ông in tiểu sử và các sách của tôi. Những phần này tôi không in ở đây. Ngoài ra, tác giả cũng “tản mạn” chuyện của chính ông, chuyện của mấy người bạn thân của chúng tôi ở cái thời tất cả chúng tôi ai cũng nghèo, nhưng lại gắn bó, thân tình với nhau. Vì vậy, làm sao mà quên. Hôm nay, ở đây họ cũng có mặt. Nhưng còn hiện hữu trong cõi trần ai này, thì chỉ còn anh Thế Phong Đỗ Mạnh Tường và tôi, Khải Triều Nguyễn Văn Tuy. Cảm ơn anh Thế Phong, từ đó đến nay, hơn nửa thế kỷ đã qua, mà anh còn nhớ những bữa cơm tay cầm nhai bánh mì, mà vẫn không thiếu tách cà phê mỗi khi gặp nhau. Những chuyện bình thường, thì với anh, đã trở thành cái đẹp của văn chương. Vì nó thực quá!</p>



<p><strong>tản mạn văn chương / thếphong</strong></p>



<p><strong>&nbsp;Thứ Hai, 3 tháng 10, 2016</strong></p>



<p><strong>tuyển tập thơ khải triều [1963- 2016] (t-van./ ebook/ usa 2016)</strong></p>



<p><strong>một người nữ tu agnès</strong></p>



<p><strong>ẩn sau&#8217;người ôm mặt khóc&#8217;</strong></p>



<p><strong>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; (THƠ KHẢI TRIỀU, ĐẠI NAM VĂN HIẾN XB, SAIGON 1963)</strong></p>



<p><strong>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;THẾ PHONG</strong></p>



<p>lời dẫn:</p>



<p>&#8216;Người ôm mặt khóc&#8217; + &#8216;Tiếng hát khuẩn trùng&#8217;,2 thi tập in vào những năm 1963- 1964 (Đại Nam Văn Hiến xb, Saigon), dưới thời đệ 1 Cộng hòa+ sau đó &#8230;</p>



<p>Thật bất ngờ, trên Newvietart.com (France), có bài viết:</p>



<p>&#8216;Chuyện tình của AN/ Khải Triều&#8217;&#8211; món ăn tinh thần, đã trên dưới 50 năm xưa, làm dấy động tâm hồn tôi:</p>



<p>TRÊN KIA TIẾNG HÁT NỮ TU ĐƠN ĐIỆU</p>



<p>DƯỚI NÀY&nbsp; MỘT NGƯỜI ÔM MẶT KHÓC.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; (thơ Khải Triều &#8211; &#8216;Người ôm mặt khóc&#8217;)</p>



<p>Con người tác giả nhỏ thó, hơi thấp, khuôn mặt vuông vắn, thánh thiện, ăn nói chuẩn mực, tốt nết, tử tế với bạn bè, giúp đỡ tận tình &#8212; phía sau, ẩn nấp cả một trái tim, nàng nữ tu có tên&nbsp; AGNÈS.</p>



<p>Sao anh ta không viết 1 tập thơ; chẳng hạn, lấy tựa, &#8216;Où est tu? ma belle AGNÈS&#8217;, như Louis Aragon từng viết về &#8216;đôi mắt Elsa Triolet&#8217; . ( Les yeux d&#8217;Elsa Triolet) chẳng hạn vậy.&#8221; &#8211; lời thầm thì của tôi.&nbsp;</p>



<p>Thời kỳ 1962; Khải Triều + Cao thế Dung,&nbsp; từng thuê một căn gác nhỏ; khoảng 3 x 3 m2, trên đường Nguyễn Thông, (nay, đường Trần Văn Đang, phường 9, quận 3)&nbsp; chạy dọc theo ga xe lửa Chí Hòa, do dân tự ý chiếm dụng; làm nhà không cầu tiêu, bếp; thuê chỉ để ngủ. Chủ, một ý tá dạo tốt bụng, cho thuê 3 cậu học trò tự nhận, nhà ở xa; đến thuê trọ, để đi học.</p>



<p>Cả 3 anh bạn + tôi nữa gặp nhau; rủ đi cà-phê tán láo; vì, chẳng có việc làm; lại đang trốn lính &#8212; riêng tôi, sinh 1932; khai 1936 &#8212;&nbsp; từ đầu năm 1956, lệnh động viên ban ra,&nbsp; bị gọi đi quân dịch (nếu biết đọc+ biết viết; hoặc, không biết gì cả; còn có bằng trung học, tú tài trở lên, được gọi vào trường Sĩ quan trừ bị Thủ đức.) , vừa sợ bị bắt; lại lo áo cơm và, tôi còn&nbsp; thêm một tội lớn; in sách lậu không xin phép; đem sách bán công khai tại ngã 4 đại lộ Lê Lợi + Công lý (Saigon 1); đó là quán sách báo cô Nguyệt&nbsp; +&nbsp; nhà sách Portail-Xuân Thu + khách sạn Continental &#8212; khiến nhật báo Tiếng dân của trung tá Nguyễn văn Châu (giám đốc nha Chiến tranh tâm lý , thời tổng thống Ngô đình Diệm) loan tin 2 cột, trang nhất: &#8221; Nhà văn Thế Phong và kịch sĩ Năm Châu bị bắt đưa đi Trung tâm cải tạo Vĩnh long&#8217;tẩy não&#8217;.&#8221; (năm 1961)</p>



<p>Nhưng thực mà nói, tôi lo bụng đói hơn sợ bị bắt; vỉ, tự nhủ &#8216;bị bắt thì đã có chính phủ cho 2 bữa ăn; đỡ phải bữa đói, bữa no; như bây giờ &#8216;.</p>



<p>Nguyễn văn Tuy khi ấy, nổi hơn bút danh Khải Triều; &nbsp;tín hữu Công giáo trung tín; còn tay Cao thế Dung (hình như là sĩ quan đào ngũ), bút danh Cao Đan Hồ, cũng là tín đồ Công giáo &#8216;đi giẹo &#8216;. Còn một tay nữa, tên&nbsp; Đỗ Tất Phú; tôi không rõ anh ta theo đạo gì; sau, bị động viên vào Thủ đức, thế là anh ta đã có quân đội nuôi cơm 2 bữa, ắc-ê sáng đêm, tối ngày; trước đi được gắn lon thiếu úy (Câu này chưa rõ nghĩa, có lẽ Thế Phong muốn nói đến thời kỳ ấy, sau khi tốt nghiệp một khóa học ở Trường Võ bị Thủ Đức, các khóa sinh được gắn lon Chuẩn úy. Ít lâu sau, họ mới được mang lon Thiếu úy, KT ghi chú) &nbsp;Ít năm sau, Phú lấy vợ;&nbsp; rồi tử thương trên mặt trận sôi đọng vùng sông nước Cửu long.&nbsp;&nbsp; Một tác giả chỉ có một tập truyện ngắn &#8216;Ba Mẹ Con&#8217;, ký bút danh Đỗ Ngọc Trâm. (Đại Nam Văn Hiến xuất bản, năm 1962).</p>



<p>&nbsp;Bộ &#8216;tam chế&#8217; này; hình như có khi đói; chỉ đủ tiền mua bánh mì để gặm, nhấm; rồi nói chuyện văn chương, nghĩa lý, nào &#8216;phải thế này, thế kia&#8217;, tới chuyện &#8216;vá trời, lấp biển&#8217; sao cho gọn, cho đẹp; còn chuyện ái tình vụn thì không nói tới &#8211; thật ra; bụng đói rất kỵ tình.</p>



<p>Khải Triều không bao giờ nói tới bản năng xác thịt, chỉ nói bản năng tinh thần + niềm lo âu:</p>



<p>Như tôi hôm nay một tuần buồn chán</p>



<p>như tôi hôm nay một tuần không đọc báo</p>



<p>sợ hôm nay ngày mai nhà tù tiếp nhận thêm người &#8230;</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;thơ&nbsp;&nbsp; KHẢI TRIỀUT</p>



<p>Tiếp là, Đỗ Tất Phú bị gọi động viên đi Thủ đức, lời chúc mừng không nói ra; &#8216;thế là bạn ta đã có quân đội nuôi cơm 2 bữa rồi.&#8221;&nbsp;&nbsp;</p>



<p>Còn Cao Thế Dung giỏi tài ngoại giao, giỏi một cách thượng thừa; gặp ngay một tay người Công giáo thập thành, goá vợ;&nbsp; anh được cho ở nhờ, sát nách&nbsp; Nhà thờ Tân chí linh &#8212; cơm&nbsp; nuôi 2 bữa, trốn lính an toàn, còn chửi đổng :&#8217;bố tiên sư thằng quân cảnh, cảnh sát đặc biệt ; chúng bay có dám qua mặt cha xứ, lẻn vào nhà thờ Thiên chúa giáo để bắt lính chúng ông không; thì bảo ?&#8217; .</p>



<p>Và, chàng Cao thế Dung thấy tôi đang thất cơ lỡ vận, không dám về nhà thuê; vì, chưa có tiền trả tháng; cơm hàng khi có tiền, không, thì đành đến tìm thằng bạn tốt bụng, vui lòng cho&nbsp; bữa ăn sáng; là đủ cho một ngày &#8216;không cần ăn gì nữa&#8217; &#8212; đưa tôi lại giới thiệu với anh Phạm Quang Huyến, tay Công giáo này, lại nuôi&nbsp; thêm một thằng ăn bám.</p>



<p>Sau đó, tôi đem bản thảo thi tập &#8216;Khúc ca nhược tiểu/ Cao Đan Hồ [Cao thế Dung] tới tòa soạn tạp chí Văn hóa Á Châu (đã dọn về 34 Phạm đăng Hưng/ Dakao) xin anh &#8216;gác dan&#8217;, tên Khiêm; cho đánh máy nhờ stencil (giấy xáp) + tập truyện &#8216;Khu rác ngoại thành&#8217; của tôi. (sau, bản Anh ngữ &#8216;The Rubbish Tip outside the City/&nbsp; translated by Đàm Xuân Cận; tất cả 3 quyển , đều in rô-nê-ô, Đại Nam Văn hiến xuất bản).</p>



<p>Gia đình anh Cao thế Dung tới Mỹ đợt đầu, ngay sau ngày 30/4/ 1975:</p>



<p>&nbsp;&#8221;&nbsp; &#8230;&nbsp; Sau khi đến đất Mỹ năm 1975, mục tiêu chính của ông [ Cao Thế Dung] là tiếp tục học lại. Lợi dụng dịp đó, ông học và viết thông thạo tiếng Anh. Trước 1975, ông Cao Thế Dung cũng đã khá thông thạo Hán văn. Sau 1975, ông tiếp tục học Hán văn.&nbsp; Nói tóm lại; ngoài tiếng Việt, ông thông thạo 3 ngoại ngữ: Anh, Pháp, Hán văn.&nbsp;&nbsp; Ông có tài sưu tầm tài liệu; công phu sưu tầm của ông đã giúp ông thành lập được một thư viện&nbsp; &#8230;&nbsp; &#8212; mà các thư viện nổi tiếng, như Cornell + Georgetown đã đặt cọc. Nếu ông chấp thuận, họ sẽ dành cho ông cái tên &#8216;Cao Thế Dung Section&#8217; &#8230;&nbsp; Ông [Cao Thế Dung] không có nhu cầu tài chính. Tất cả 5 đứa con&nbsp; (3 trai + 2 gái) [ một cô lấy con trai ông Mạc&nbsp; Đình [ Hoàng Văn Chí]; soạn giả cuốn &#8216;Trăm hoa đua nở trên đất Bắc&#8217; xuất bản ở Saigon, trước 1963] ; tất cả 5 người con đều thành danh . Mỗi đứa con đều làm chủ một ngôi nhà khang trang . Ở mỗi nơi, ông đều có phòng ngủ riêng + phòng đọc sách. Riêng thư viện chính, ông đặt tại nhà trưởng nam &#8230; &#8220;. &#8221; (Vĩnh Liêm/&nbsp; Vài kỷ niệm về học giả Cao Thế Dung)</p>



<p>Anh Cao Thế&nbsp; Dung rất ít liên lạc với bạn bè cũ ở Việt Nam; có lẽ &#8216;tay văn sĩ làm chính trị&#8217; từng bị &#8216;ám sát hụt&#8217; (đạn trúng vào vai); anh rất đề cao cảnh giác; rất kín kẽ trong mọi giao dịch . Hình như ở Việt Nam, anh chỉ liên lạc vơi anh Nguyễn văn Tuy thì phải ?</p>



<p>Có tin, anh đậu tiến sĩ kinh tế; có kẻ xúc xiểm, &#8216;tốt nghiệp tiến sĩ từ một trường đại học không mấy tiếng tăm&#8217;.&nbsp;</p>



<p>&nbsp;Nhưng, trong sự nghiệp văn chương+ sử học+ tôn giáo; phải thừa nhận:Cao Thế Dung là tác giả nhiều đầu sách khảo cứu giá trị. Chẳng hạn, có một bộ sách Việt Nam Công giáo sử tân biên&nbsp; 1553- 2000 ( 3 tập) &#8212; thì ở Saigon, tại nhà sách Nhà thờ Chí Hoà (quận Tân bình/ tp. HCM) có bày bán (bản &#8216;used&#8217;); sách được khá nhiều người đọc mua.</p>



<p>Cuối năm 2006,&nbsp; anh Nguyễn văn Tuy báo tin cho tôi : &#8216;phu nhân anh Dung sẽ gửi tặng&nbsp; anh TP 100 usd; nhưng&nbsp; dưới tên một người khác&#8217; . Chẳng mấy ngạc nhiên; vì, giao dịch với ai; hoặc một việc gì; anh Dung rất &#8216;kín kẽ&#8217;.&nbsp;</p>



<p>Tay này quả là&#8217; một tay văn sĩ làm chính trị&#8217; luôn đề cao cảnh giác, có lần tôi nói đùa:&#8221;nếu thượng tọa Thích Tâm Châu được đưa vào một vai trong phim nào đó; thì, diễn viên thượng thặng, phải là anh, không thể ai khác. Anh có khuôn mặt vuông chữ điền, quai hàm bạnh ra; từ lời ăn, tiếng nói, giọng cười ; đều được chuẩn bị kỹ lưỡng, sắp sẵn, chậm nói ra lời &#8221; với tôi, anh là một ân nhân, như một nhân vật T4 . (thẩm phán Lượng, trong tập truyện THỦY &amp; T6 của tôi, đã xuất bản ở Sài gòn,&nbsp; năm 1967.)</p>



<p>Thời kỳ cơm áo đã ăn nhờ, ngủ đậu; thì lấy tiền đâu chữa bệnh, mua thuốc.</p>



<p>&nbsp;Có một buổi, tôi đau bụng quá trời; hóa ra bị đau tuột thừa; thôi thì, đành xin vào nhà thương thí cắt vậy. (thời đệ 1 Cộng hòa, đa số nhà thương đều có nhà thương thí, khám, chữa bệnh không mất tiền).</p>



<p>Tự&nbsp; vác thân đến Bệnh viện Bình dân, xe đạp khóa ngoài gốc cây, trước nhà thương;&nbsp; vạch túi quần, không có lấy một đồng bạc;&nbsp; thôi thì, cứ&nbsp; mặt dạn, mày dày; liều mạng đi thẳng tới phòng ghi danh; may sao, được đưa ngay&nbsp; vào phóng khám bệnh nằm trên giường bệnh, trải drap trắng tinh; bác sĩ khám xong, phán, &#8221; &#8230; chỉ chậm 1, 2 tiếng đồng nữa là cậu đi chầu Diêm vương rồi.&nbsp; Biết chưa, hả? &#8220;</p>



<p>Được cắt xong đâu đó, nằm nghỉ một hồi lâu; bác sĩ cho về.&nbsp; Bước xuống giường, đôi dép lào còn đấy, xỏ chân vào, lết chầm chậm ra khỏi bệnh viện &#8212; ra cổng, liếc mắt nhìn thẳng tới gốc cây,&nbsp; &#8216;chiếc xe đạp vẫn chình ình, bị xích ở gốc cậy bã đậu&#8217;. Tôi đạp xe về xứ đạo Tân chí Linh ở Ngã 3 ông Tạ ăn, nghỉ, qua đêm bình yên.&nbsp; Sáng hôm sau, lại đạp xe ra Thư viện Quốc gia để đọc sách; đợi chàng sinh viên trường Luật, tên Đào Minh Lượng chi tiền ăn. Nhìn thấy tôi, chàng rất lịch sự, gật đầu khẽ khàng; tới gần, giúi vội vào túi tôi ít tiền, chúc ăn &#8216;cơm tay cầm&#8217; ngon miệng&#8221;. (cơm tây cầm tay: bánh mì thịt) .</p>



<p>Cho tới khi Đào Minh Lượng được bổ nhiệm thẩm phán, làm chánh án thiếu nhi tại tòa án Saigon; chàng vẫn cấp tiền &#8216;cơm tây cầm tay&#8217; cho tôi, tới đầu năm 1965 mới thôi &#8212;&nbsp; vì tôi đã có việc làm Vũng tàu.</p>



<p>Ấy là, nhờ giáo sư dạy tiếng Anh, Nguyễn Mạnh Cường (chồng nhân vật tiểu thuyết &#8216;THỦY&amp;T6 của tôi;&nbsp; giới thiệu làm ở Trung tâm xây dựng nông thôn&#8217;) &#8212; lúc này tiền bạc rủng rỉnh; cơm 3 bữa; nằm giường nệm Mỹ trắng tinh; quần áo Mỹ phát; hông lủng lẳng khẩu Browning; lương 7000 VN đồng, ra quán Aux Délices tán tỉnh cô Tỵ, con chủ quán; suýt bị một tên đại úy VNCH cho đo ván &#8212; may nhờ được một đại úy Lượt, trưởng đồn quân cảnh Vũng tàu can thiệp; mới thoát nạn.</p>



<p>Và, đầu năm 1966 , tôi lấy vợ.&nbsp; (nghe tin này, cô Tỵ&nbsp; xịu mặt; ít lâu sau,&nbsp; cô lấy một tên Phi- líp-pin, theo chồng về Manila; mất luôn tin tức từ đấy). Đến cuối năm 1966,&nbsp; đúng tuổi bị động viên; bị cho thôi việc, lang thang về quê vợ ở Dalat &#8212; rồi vợ đẻ, thất nghiệp, suýt nữa được thiếu tá&nbsp; Nội an Dalat bổ nhiệm làm thị đoàn trưởng Xây dựng nông thôn; nhưng rất không may, bị đại úy Vũ đức Nghiêm, tỉnh đoàn trưởng &#8216;kỳ đà cản mũi&#8217;&#8211; thế là thất nghiệp trở về thất nghiệp, lao vào một giai đoạn thăng trầm, khổ sở điêu đứng, cả tinh thần + vật chất.&nbsp;</p>



<p>&nbsp;Trung sĩ 1 Không quân (không phi hành) Đỗ mạnh Tường, số quân: 600.595 (khai sinh thụt lại 4 tuổi)</p>



<p>&#8216;Cóc chết 3 năm quay đầu về núi &#8216; ; đành trở về Saigon ; nhờ trung tá&nbsp; Kq Vũ Đức Vinh+ cựu y sĩ phụ tá Quân y Không quân, bộ trưởng Chiêu hồi nhờ vả tư lệnh Không quân,&nbsp; sau được&nbsp; bộ Tổng tham mưu QLVNCH ra nghị định tuyển dụng, đồng hoá với cấp bậc trung sĩ, làm biên tập viên báo Lý Tưởng/ Kq.&nbsp;</p>



<p>Thế là, năm 1967,&#8217;Tôi đi dân vệ Mỹ&#8217; ký bút danh Đinh Bạch Dân được xuất bản;&nbsp; tiếp, bản dịch &#8216;I was an American militiaman&#8217;, bản Anh ngữ của giáo sư Đàm Xuân Cận. (tái bản, thay tựa &#8216;The Ordeal of an American militiaman&#8217;.)</p>



<p>tôi đi dân vệ Mỹ / đinh bạch dâ (bút ký, Đại Nam Văn Hiến xuất bản , Saigon&nbsp; 1967)</p>



<p>&#8212; bản dịch Anh ngữ&#8217; The Ordeal of an American militiaman/&nbsp; Đàm Xuân Cận dịch sang Anh ngữ, ký bút danh Thế Phong)…&nbsp;</p>



<p>Trở lại chuyện thi sĩ Khải Triều, được đồng hóa cấp bậc trung sĩ đồng hóa trước tôi khoảng 6 tháng, đầu năm 1967&#8211; chúng tôi gặp lại nhau ở bộ Tư lệnh Kq ở Tân sơn nhất; còn gặp đủ chàng hạ sĩ 1Trần quang Tịnh (thi sĩ Thanh Chương) + hạ sĩ 1 Kiều văn Bảng (nhà văn Hồ Phong) &#8212; gặp lại bạn văn cũ, trung úy Dương Quang Thuận (Huy Sơn) nữa.&nbsp; v.v &#8230;</p>



<p>Khải Triều- Nguyễn văn Tuy, qua bút danh An Tôn, tác giả &#8216;Công giáo miền Nam Việt Nam sau 30/4/1975&#8217;&nbsp; ( Dân Chúa xb, Hoa Kỳ 1988), linh mục Nguyễn tự Do đọc xong; đưa cho văn sĩ- cựu linh mục nhà Dòng Nguyễn ngọc Lan đọc, khiến Nguyễn ngọc Lan nhờ tôi, &#8221; tôi muốn được gặp tác giả viết cuốn sách ấy; viết về Công giáo Việt Nam, cực tốt; kể cả cái tựa&nbsp; sách &#8216;cực kỳ chính xác, hấp dẫn độc giả&#8217; &#8220;.</p>



<p>(nhưng cho đến khi qua đời vào 27/2/ 2007 cố văn sĩ, linh mục Lan vẫn không có cơ may gặp&nbsp; mặt tác giả An Tôn/&nbsp; Khải Triều &#8211; Nguyễn văn Tuy.)</p>



<p>Sau 30- 4- 1975,&nbsp; Saigon mất tên, đổi chủ mới; tôi là cựu hạ sĩ quan Không quân VNCH, rất sợ bị đưa đi &#8216;kinh tế mới&#8217;&#8211; vợ tôi vốn là công nhân viên đài Phát thanh Saigon, vẫn phải thủ cẳng ở đây, với công việc &#8216;hướng dẫn viên âm nhạc&#8217; (lương 20&nbsp; đồng tiền mới); để khỏi phải bị&nbsp; lùa đi &#8216;giãn dân&#8217;, hoặc &#8216;kinh tế mới&#8217;. Còn tôi, được giới thiệu làm &#8216;lơ xe thực thụ&#8217;&nbsp; tuyến xe buýt Saigon- Thủ đức; để có tiền góp với vợ, nuôi 5 con nhỏ, từ 2 đến 9 tuổi.</p>



<p>Còn cựu thượng sĩ không quân Nguyễn văn Tuy (Khải Triều) làm công nhân viên Công ty Đường sắt (tuyến đường Saigon- Mường Mán) &#8212; đôi ba lần,&nbsp; chúng tôi lợi dụng giờ nghỉ, uống cà- phê với nhau, ở sân ga Bình triệu. (thời kỳ này, tôi ở&nbsp; Đội 4/ Công ty xe khách thành gần ga Bình triệu)</p>



<p>Hôm nay, đọc &#8216;Chuyện tình của An&#8217; / Khải Triều&#8217; &#8212; nếu nước mắt còn, tôi chẳng tiếc gì ,&nbsp; không giỏ vài dòng nước mắt,&nbsp; để khóc câu chuyện tình như thế&nbsp; &#8212; một chuyện tình cao thượng, có tầm vóc từa tựa&nbsp; &#8216;Hồn bướm mơ tiên/ Khái Hưng ,&#8217;trong Tự lực văn đoàn.&nbsp; &nbsp;Giá có tay nào được cảm động với chuyện tình này, phóng tay viết thành&#8217; Chuyện tình nàng Agnès&#8217;, là rất hay &#8212;&nbsp; theo tôi, không ai làm tốt việc này hơn &#8216;chàng An Tôn&#8217; đâu ?</p>



<p>Qua vài dòng về bạn Khải Triều, một thi nhân trong Đại Nam Văn Hiến xuất bản cục, cũng đã trên dưới 60 năm nay : Khải Triều- Nguyễn văn Tuy, sinh 1936 tại Hà đông (nay sát nhập vào một Hànội) &#8212; từng theo học trường đạo Công giáo Dũng Lạc ở Hà Nội, tư thục Minh Tân ở Hà Đông; di cư vào Nam, học tiếp ở trường Trung học Trần Luc; rồi đi dạy, làm báo, viết văn làm thơ, đi lính Không quân; sau giải phóng làm công nhân đường sắt xe lửa;&nbsp;&nbsp; thôi việc về &#8216;làm thinh&#8217;; vợ góa, sống với con gái+ rể; chăm sóc 2 cháu ngoại 1 gái 1 trai; làm thơ tiếp, viết văn&nbsp; thêm, xuất bản tự túc&#8211; nay mới nhất &#8216;Tuyển tập thơ Khải Triều&#8217; (1963- 2016) &#8212; chàng cựu sĩ quan chiến tranh chính trị , trang chủ &#8216;T-Vấn + Bạn hữu&#8217; xuất bản ở Hoa Kỳ.</p>



<p>Nhớ lại, cách đây khoảng 4 năm, phu nhân anh qua đời; tôi tới viếng; gặp nữ danh ca Tâm Vấn; bật hồi tưởng lại cuốn tiểu thuyết GÁI HÀ NỘI / Nguyễn Minh Lang [1930- Hànội 2000] rất bay bướm; bìa, do Zuy Nhất phác họa giống hệt nữ danh ca + 2 đôi vòng tai &#8216;tổ bố&#8217; ; nội dung là chuyện tình của nàng + một văn sĩ tài hoa+ đào hoa + lãng mạn &#8216;hết xảy&#8217;. Nàng còn được đưa vào tiểu thuyết &#8216;Cánh hoa trước gió/ Nguyễn minh Lang (2 tập), một bộ truyện tình hay, hấp dẫn, lôi cuốn.&nbsp; Tuy không là chủ sở hữu đôi gò má cao; nhưng từng là vợ một tay làm từ điển uy tín, Thanh Nghị- Hoàng trọng Quy .(sau, bộ trưởng thông tin Mặt trận giải phóng miền Nam) &#8212; nay , đương kim phu nhân một bác sĩ tiếng tăm lừng lẫy, ông Nguyễn đan Quế [ 1940-&nbsp; ] hiện sống tại thành phố HCM.</p>



<p>Bây giờ, hãy cùng đọc một đoạn văn trong &#8216;Chuyện tình Agnès&#8217; :</p>



<p>&#8220;&#8230; một tay An (nhân vật, kiểu&#8217;protagoniste&#8217; trong văn chương)&nbsp; cầm ô, một tay nắm chặt tay Agnès.&nbsp; Anh cảm thấy hơi ấm trong tay người Agnès truyền qua người anh.&nbsp; Để tránh cơn mưa, An kéo Agnès vào bên ngôi mộ, có mai che &#8230; Họ lặng lẽ &#8230;&#8221; còn Agnès, cô bé người yêu của Chúa, thì:</p>



<p>&#8220;&#8230; khi nhận được thư chú gửi cho cháu; đọc đến đâu, cháu khóc đến đấy &#8230; Những trang thư chú chứa đầy nước mắt của cháu.&nbsp; Chiều hôm ấy, cháu vào nhà thờ; khóc nhiều hơn nữa , khóc suốt giờ [đọc] Kinh, khóc với Chúa; và, cảm tạ Chúa &#8230;&#8221;</p>



<p>hoặc:</p>



<p>&#8221; &#8230; trong lần về dự lễ &#8216;lễ khấn trọn đời của Agnès&#8217;, 2 người lặng lẽ bên nhau&#8230; người nữ tu kia với tiếng hát đơn điệu &#8230; còn anh; và, là &#8216;người ôm mặt khóc&#8217;; như trong bài thơ của anh, cách đây 49 năm, anh đã mất Agnès : &#8216;người nữ tu đích thật, chỉ đến trong đời anh, một linh hồn nặng đau thương &#8230;&#8221;</p>



<p>và tôi, Thằng phải gió &#8212; người viết bài này, dâng lời cầu nguyện :</p>



<p>&#8220;&#8230;&nbsp; Chúa ơi! theo luật Chúa; bây giờ bạn con là người tự do (đoạn tang vợ đã 4 năm); xin Chúa hãy trao Agnès cho &#8216;thằng bạn cô đơn thầm lặng của con, suốt 49 năm đợi chờ&#8217; &#8212; đây là “ý con, không phải là ý Chúa.&#8221;</p>



<p>&nbsp;thế phong&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</p>



<p>(Saigon, Oct.&nbsp; 3rd,&nbsp; 2016)</p>



<p>Về tác phẩm,</p>



<p>Nhà văn Thế Phong, với hơn 50 tác phẩm đủ thể loại: thơ, truyện, phê bình, khảo luận, dịch thuật. Anh xuất hiện như một hiện tượng văn học hi hữu tại Sài Gòn từ sau năm 1954 cho đến nay, 70 năm tròn. Ngòi bút của anh rất mạnh, “xông xáo” vào nhiều lãnh vực, gây ngộ nhận ở một vài người, khiến họ “khó chịu”,&nbsp; nên &nbsp;khoác cho anh cái áo “cao-bồi” văn nghệ. Anh cười thản nhiên. Anh là một nhà văn, nhà thơ sống rất thực, viết rất thực. Nên có thể nói, anh là một nhà văn phóng nhiệm trong văn chương và đôi khi cả trong giao tiếp chuyện trò. Trong số hơn 50 tác phẩm, ngoài cuốn biên khảo về Lược sử văn nghệ Việt Nam, là một tác phẩm văn học có bề dày rất đáng nể, công phu, rất tiện cho việc nghiên cứu, ông còn có cuốn Nửa Đường Đi Xuống, một cuốn sách nhiều người thích; cuốn Tôi Đi Dân Vệ Mỹ, cũng là một cuốn sách ít người có được một vị trí như anh để viết; anh còn dịch cuốn Việt Nam Bi Thảm Đông Dương, ký tên Đường Bá Bổn, nxb Thanh Niên. Giấy CNKHĐT: số 185/1528/CXB cấp ngày 9-9- 2005. Nguyên tác tiếng Pháp: Viet-nam, Latragédie Indochinoise, của Louis Roubaud, nxb Valois- Paris 1931.</p>



<p><strong>Khải Triều</strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Khải Triều: QUÁN TÂM</title>
		<link>https://t-van.net/khai-trieu-quan-tam/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Khải Triều]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 25 May 2025 09:24:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[NHỮNG NGƯỜI BẠN VĂN CHƯƠNG]]></category>
		<category><![CDATA[Những người bạn văn chương]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=79920</guid>

					<description><![CDATA[Những bài viết trên tờ Viễn Tượng Việt Nam (từ 2006-2009) Quán Tâm tên thật là Nguyễn Văn Nhật, tôi gặp anh trước thời kỳ anh viết cho tờ Viễn Tượng Việt Nam. Bẵng đi một dạo khá dài, tôi không gặp lại anh nữa, cũng quên không rõ thế nào. Thế nhưng, có lẽ [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/05/image028.png?strip=all&fit=123%2C165&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="123" height="165" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/05/image028.png?strip=all&fit=123%2C165" alt="" class="wp-image-79921" style="width:127px;height:auto"/></a></figure></div>


<p></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>Những bài viết trên tờ Viễn Tượng Việt Nam</strong></p>



<p class="has-text-align-center">(từ 2006-2009)</p>



<p>Quán Tâm tên thật là Nguyễn Văn Nhật, tôi gặp anh trước thời kỳ anh viết cho tờ Viễn Tượng Việt Nam. Bẵng đi một dạo khá dài, tôi không gặp lại anh nữa, cũng quên không rõ thế nào. Thế nhưng, có lẽ do duyên mà khoảng hơn một năm trước đây, từ một cuộc gọi qua điện thoại của một người anh em thân, tôi và anh Quán Tâm lại có dịp gặp nhau, ngồi uống cà phê trên đường Nguyễn Du, quận 1, trước cửa nhà thờ Đức Bà Sài Gòn. Mấy lần như thế và mấy lần anh Quán Tâm đến nhà tôi, mang cho tôi một tuyển tập gồm những bài anh viết (của riêng anh) &nbsp;đăng trên tờ Viễn Tượng Việt Nam, có khoảng hơn 30 bài. Ngoài ra, anh còn tặng tôi mấy tờ Viễn Tượng Việt Nam, và chuyển qua email của tôi mấy bài khác nữa.</p>



<p>Từ trong tuyển tập và những bài gửi rời khác, tôi thấy Quán Tâm viết về nhiều vấn đề, như: Vấn đề về dân chủ, Ý nghĩa của sự kiện Thái Hà và Tòa Khâm sứ ở Hà Nội, Chọn lựa ý nghĩa nào cho ngày 30-4? Văn hóa FPT, Bắt Luật sư Lê Công Định, Một giải pháp cho người Việt, Chính thống hay không chính thống, Đất nước luôn cần sự thực tâm vàđoàn kết, Lũ quétv.v…Qua những đề tài như trên, tôi nghĩ anh Quán Tâm là một nhà quan sát tinh tế, anh là một bỉnh bút của tờ Viễn Tượng Việt Nam, có nhiều bài nhất. Tờ Viễn Tượng Việt Nam (VTVN) ra được 35 số từ năm 2006 -2009 thì bị cấm.</p>



<p>Trong số hơn 30 bài nhà báo Quan Tâm gửi tôi, tất cả đều đã đăng trên tờ VTVN, tôi thấy anh đã chú tâm đến “vấn đề dân chủ”, nhưng chưa thấy anh bàn trực tiếp đến dân chủ&nbsp; tại Việt Nam hiện nay, mặc dù anh có những đóng góp ý kiến đối với Phong trào Dân chủ Việt Nam, trong nước cũng như ở hải ngoại. Ở các trường hợp này, tôi thấy Quán Tâm có những nhận xét tinh tế về những ý kiến, những hành vi vô tình hay cố ý phá hoại dối với những hoạt động thực sự cho dân chủ của những người có thiện chí và thực tâm về dân chủ cho dân tộc Việt Nam. Đối với các trường hợp cố ý phá hoại, nhà quan sát Quán Tâm nói thẳng, họ là người của nhà nước CSVN hiện nay.</p>



<p>Các bài viết về dân chủ của Quán Tâm, có 7 đề tài: Các vấn đề về dân chủ, Nhận định và góp ý với Phong trào Dân chủ Việt Nam, Vai trò nặng nề của Phong trào Dân chủ Việt Nam, Bước ngoặc mới đối với Phong trào Dân chủ Việt Nam, Nền dân chủ, sự tồn vong của nhân loại và hoàn cảnh Việt Nam, Nhìn về tương lai gần của Phong trào Dân chủ Việt Nam, Phong trào dân chủ và vấn đề báo chí.</p>



<p><strong>Vấn đề Dân Chủ</strong></p>



<p><em>Tác giả mở đầu bài này bằng cách nghĩ ngay đến cái cốt tủy của một nền dân chủ thực sự cho Việt Nam, rồi sau đó tác giả điểm qua về dân chủ trên thế giới, từ thượng cổ ở Hy Lạp, ở La Mã rồi thời Trung Cổ, tư tưởng Thiên Chúa giáo xuất hiện ở Âu châu; rồi cách mạng kỹ nghệ ở Anh, cách mạng Pháp, Hoa Kỳ. Rồi Đông phương với tư tưởng Phật giáo …Tác giả cũng nhìn thoáng qua các nước thuộc khối ASEAN…</em></p>



<p>&nbsp; &nbsp;“Trong phong trào đấu tranh cho một nền dân chủ của Việt Nam hiện nay, nhiều người tự nhận rằng mình đang tranh đấu cho dân chủ nhưng thật ra chưa hiểu thế nào là dân chủ. Họ nghĩ một cách đơn giản rằng, vì cộng sản là độc tài, do đó, chỉ cần dẹp được chính quyên cộng sản là lập tức có dân chủ.</p>



<p>“Vấn đề thật ra không dễ dàng như vậy. Vì nếu không xây dựng được một tinh thần dân chủ và một cơ chế dân chủ, sau khi dẹp được chính quyền cộng sản, đất nước vẫn dễ dàng rơi vào một hình thái độc tài khác. Những chế độ chính trị ở Đài Loan dưới thời Trung Hoa Quốc dân đảng, ở Singapore từ thời Lý Quang Diệu đến nay, ở Mã Lai trong thời Mahathir Mohamad, ở Indonesia dưới thời Sukarno rồi Suharto, ở Philipppine dưới thời Marcos, ở Myanmar dưới thời các tướng lãnh đương quyền… là những thí dụ cụ thể về các chính quyền không cộng sản nhưng vẫn độc tài. Nhiều chính quyền nhân danh sự ổn định, sự tiến bộ và nhu cầu phát triển kinh tế để áp đặt những đường lối phản dân chủ, thực thi quyền lực độc đoán, áp dụng những biện pháp dân chủ trá hình buộc dân chúng phải chấp nhận những chính sách cai trị hà khắc của một người, một nhóm người, một gia đình hay một đảng, kiểm soát tư tưởng của người dân, đẩy người dân vào tư thế là công cụ của nhà nước, không được phép trình bày chính kiến của mình.</p>



<p>“Không có gì khó hiểu khi hầu hết những thí dụ về các chế độ độc tài nói trên đều thuộc về các xứ Đông Nam Á thuộc khối Asean. Bài viết dưới đây mong muốn nêu lên một vài suy nghĩ liên quan đến thái độ cực đoan của những ngưởi đang hoạt động trong phong trào dân chủ.</p>



<p>“Hiểu một cách đơn giản, dân chủ có nghĩa là người dân làm chủ trong việc điều hành đất nước. Vấn đề đặt ra là người dân làm chủ như thế nào, theo cơ chế nào, và trên tinh thần nào. Vì chúng ta thấy, chính những quốc gia độc tài nhất lại được giới cầm quyền to mồm nhất trong việc rao truyền dân chủ” (Viễn Tượng Việt Nam tháng 2/2009)</p>



<p>Trở ngược lại lịch sử chính trị của loài người, chúng ta biết, ờ phương Tây, những thị dân thuộc các thị quốc Hy lạp đã từng xây dựng một chế độ dân chủ trực tiếp, nơi đó, tất cả mọi công dân đều được quyền tham gia ý kiến trong việc điều hành hoạt động của thịquốc. Tuy nhiên,không phải mọi con người sinh sống trong các thị quốc ấy đều có tư cách công dân. Vì thế, hình thái dân chủ trực tiếp dưới thời thị quôc Hy lạp chưa phải là một mô hình khả chấp. Đế quốc La Mã khi thành lập cũng đã áp dụng một hệ thống nghị viện có trách nhiệm đại diện cho một số công dân tham gia vào việc cai trị, nhưng chẳng bao lâu sau, các nghị viên trở thành tay sai cho những lãnh tụ chính trị khiến nền chính trị La Mã trở thành một chế độ quả đầu. Việc phát triển tư tưởng Thiên chúa giáo sau công nguyên vô tình lại là một nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự suy tàn của đế quốc La Mã. Ở phương Tây, quyền lực nhà chung trở nên lấn lướt thế quyền. Những vương quốc, công quốc, hầu quốc ra đời, cai trị lãnh địa của mình theo một chính sách độc tài dựa vào một thể chế quân chủ nhưng các vị vương hầu phải giành được sự ủng hộ của giáo hội Thiên chúa giáo La Mã mới có thể giữ được địa vị chính thống. Thời đại ấy được các sử gia gọi là thời trung cổ. Dưới thời trung cổ, giới tăng lữ và giới quý tộc sống đời sống xa hoa dâm dật trong sự cùng khổ của các tầng lớp lao động đã là một nguyên nhân khiến xã hội luôn biến động, dẫn đến những quan điểm chính trị tiến bộ hướng về quyền con người trong đó có quyền chính trị. Tuy nhiên, phải đến khi cuộc cách mạng kỹ nghệ ở Anh xảy ra rồi lan truyền khắp Tây Âu, tạo nên một giai cấp công nhân bị bóc lột tàn tệ, các triết gia châu Âu mới quan tâm đến một thể chế khác với thể chế đương đại. Họ đưa ra lý thuyết dân chủ và đào sâu vào những biện pháp mang tính cơ chế để bảo vệ quyền của người dân trước khuynh hướng lạm quyền muôn thủa của giới cầm quyền. Các cuộc cách mạng tư sản dân quyền ở Pháp, cách mạng lập quốc ở Hoa Kỳ đã được gợi hứng từ những tranh luận vê dân chủ của giới trí thức phương Tây thời bấy giờ.&nbsp; Cũng cần phải nói thêm, quan niệm dân chủ phần nào đã manh nha trong tư tưởng của giai cấp lãnh đạo ở Anh. Bản hiến ước Magna Carta do vương triêu Anh ban bố năm 1215 là bản văn đầu tiên được chính nhà cầm quyền xác lập những hạn chế của giới cầm quyền, cho thấy phương Tây có một truyền thống dân chủ tích cực từ rất sớm.</p>



<p>Ở phương Đông, quan điểm dân chủ cũng từng được các nhà tư tưởng nêu lên từ lâu, nhưng ở một hình thái mờ nhạt hơn, chủ yếu nhằm bảo vệ phần nào quyền con người trước sự lạm quyền của giới thống trị chứ chưa quan tâm đến việc phát triển thành một định chê. Tư tưởng Phật giáo tuy mang màu sắc dân chủ nhưng lại chỉ có thể áp dụng trong những cộng đồng nhỏ hẹp, khó có the xây dựng thành định chế cho quy mô quôc gia. Quan điểm Nho gia “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” chỉ khuyến khích nhà cầm quyền quan tâm đến thân phận người dân chứ vẫn cho rằng nhà vua là bậc được Trời giao trọng trách trị dân. Mạnh Tử tuy có nói đến việc dân chúng có thể giết một vị bạo chúa, nhưng không hề bàn đến việc sau đó cần xây dựng một thể chế nào khác với thể chế của kẻ bị coi là bạo chúa. Những tư tưởng Hôi giáo, Ấn giáo, Do Thái giáo đều không khuyến khích dân chủ.</p>



<p>Sau các cuộc cách mạng ở Pháp và ở Mỹ, tư tưởng dân chủ được cổ võ khắp thế giới phương Tây, nhưng trong lúc người Hoa Kỳ xây dựng được một hiến pháp thật sự dân chủ có tính cách uyển chuyển nên được áp dụng đến tận ngày nay, các quốc gia phương Tây khác vẫn loay hoay với những định chế nửa vời khiến dân chủ có lúc đi vào thoái trào. Chính trị phương Tây trong các thế kỷ 18 và 19 vẫn còn là nền chính trị dò dẫm để định hướng dân chủ. Dù sao, hình thức nghị viện cũng đã được áp dụng ở hầu hết các quốc gia phương Tây từ thời kỳ ấy…</p>



<p><em>Sang đến thời kỳ Pháp xâm chiếm Việt Nam và cai trị VN gần 100 năm, những cuốc kháng chiến của người Việt quốc gia, rồi đến Cộng sản xuất hiện, tác giả đã phân tích về hai lực lượng này trong cuộc chống thực dân. Những điểm khác nhau của hai phía, gọi chung là Quốc-Cộng, hoặc dựa theo đề tài, giữa dân chủ và độc tài. Phía dân chủ thất bại vì họ còn lương tâm, còn cái đạo làm người. Những người ở phía độc tài CS thì không, họ bất cần lương tâm, bất cần đạo làm người, miễn là họ đạt mục đích. Thật đau thương cho phía dân chủ, cuộc chiến thứ hai liền sau cuộc chiến chống thực dân, phía quốc gia dân chủ lại rơi vào thế thua, nhưng không do trên chiến trường mà thất thế từ phía đồng minh. Nhà báo Quán Tâm viết rằng “Nhà cầm quyền CS ngất ngây với chiến quả được sắp xếp trước, phởn phơ tưởng rằng mình thựcsự thắng trận và có sức mạnh vô địch chỉ nhờ tụng niệm kinh của Mác-Lênin, đã thừa thắng xông lên, xóa sổ miền Nam để sáp nhập vào miền Bắc” …</em></p>



<p><em>Tác giả Quán Tâm cũng điểm qua tình hình chính trị tại miền Nam Việt Nam từ sau năm 1954 đến năm 1975, qua hai nền Cộng Hòa. Ông viết:</em></p>



<p>“Khi cộng sản Việt Nam chiếm được một nửa đất nước, những nhà hoạt động dân chủ Việt Nam tập trung về miền Nam cố gắng xây dựng một thể chế dân chủ&nbsp; để đương đầu với cộng sản. Tiếc rằng họ vẫn thiếu đoàn kết và tiếp tục tham gia hoạt động chính trị trong một tinh thần lãng mạn nên chính quyền miền Nam rơi vào tay một viên cựu quan lại thủ cựu có tinh thần bè nhóm là ông Ngô Đình Diệm. Ông này nghĩ rằng mình được Trời trao cho thiên mệnh trị dân, đã tìm cách áp đặt một thể chế dân chủ nửa vời, mặc dù được chính quyền Hoa Kỳ ủng hộ nhưng cũng không chịu nghe theo những đề nghị thiết thực của Hoa Kỳ, xây dựng một chế độ gia đình trị có tính cách độc tài, kết quả là ông bị lật đổ và bị giết. Thời gian sau ông Diệm, chính quyền miền Nam hoàn toàn mất định hướng. Một mặt phải đối phó với cuộc xâm lăng của cộng sản miền Bắc lúc ấy đã trở nên công khai, mặt khác phải dung hoà những quan điểm chính trị của các nhóm khác biệt, miền Nam luôn luôn lúng túng trong mọi hoạt động, mặc dù hiến pháp nền đệ nhị cộng hoà của Việt Nam Cộng Hoà vẫn được đánh giá là bản hiến pháp có tính cách dân chủ và hoàn chỉnh nhất trong số những bản hiến pháp mà người Việt đã viết ra cho đến tận ngày nay.”…</p>



<p><em>Sau đó, tác giả Quán Tâm suy nghĩ về người dân ở miền Bắc trước năm 1975 và những đảng viên CS có tinh thần “phản tỉnh” đối với Phong trào Dân chủ hiện nay. Ông viết:</em></p>



<p>“Trên hết, những người sống ở miền Bắc trước ngày cộng sản vào chiếm Sài Gòn và những người đã từng chiến đấu trong hàng ngũ cộng sản cũng đã từng chịu đựng những gian khổ của cuộc chiến tranh, đã từng bị nhồi sọ những quan điểm cộng sản về dân chủ, dù sao cũng vẫn còn những cảm tình với chế độ mà họ đã sống qua. Do vậy, khi những người hoạt động cho dân chủ kêu gọi “tiêu diệt cho hết bọn cộng sản” thì rõ ràng sẽ không được sự đồng tình của rất nhiều người, không phải chỉ ba triệu đảng viên cộng sản có đảng tịch mà thôi.</p>



<p>Việc những người hoạt động cho dân chủ phê phán những người cộng sản đã phản tỉnh cũng là một thái độ hết sức thiển cận. Trong tranh đấu, chúng ta cần phải giành giật từng con người. Những người cộng sản đã phản tỉnh dù sao cũng nêu lên được những sai lầm và tội ác của cộng sản trong quá trình đảng cộng sản điều hành đất nước này với tinh thần cộng sản. Việc họ tiếp tục có cảm tình với gốc rễ cộng sàn của họ là điều tất nhiên, vì dù muốn dù không, đó cũng đã từng là lý tưởng một thời của họ. Điêu đáng quý ở họ là họ dám từ bỏ những quyền lợi đang được hưởng, đứng về phía nhân dân, chống lại những sai trái của bọn cầm quyền đương</p>



<p>thời, chịu đựng những sự bạc đãi của những kẻ đã từng là đồng chí của họ. Nỗi đau đó của họ là lớn. Chúng ta, những người hoạt động cho dân chủ, cần phải trân trọng nỗi đau ấy, cần lôi kéo họ đứng chung hàng ngũ, thay vì chửi bới, phê phán một cách hạ cấp theo kiểu hàng tôm hàng cá như một số người viêt giả danh dân chủ đang tìm cách chia rẽ họ với phong trào dân chủ, một điều có thể được nhận diện là sách lược cộng sản trong việc đối phó với phong trào dân chủ.</p>



<p>Những người hoạt động cho dân chủ cũng không cần phải rêu rao việc chống cộng nữa. Thật ra, ngày nay, tinh thần cộng sản nơi đảng cộng sản đã bị triệt tiêu rồi. Hiện chỉ còn một đảng độc tài Việt Nam câu kết với đảng độc tài Trung Quôc tìm cách khống chế dân tộc Việt Nam trong một chế độ toàn trị hà khắc. Về sách lược của nhà cầm quyền Hà Nội hiện nay, người ta có thể thấy được hai trường hợp. Trường hợp thứ nhất, nhà cầm quyềnHà Nội vẫn không thoát khỏi quán tính tư duy cộng sản, thấy rằng nhất thiết phải bám vào Trung Cộng mới có thể giữ vững quyền lực, họ sẽ tiếp tục xưng danh cộng sản cho đến khi chính đảng cộng sản TrungHoa cũng phải đổi tên. Trường hợp thứ hai, một khi họ an tâm được với Hoa Kỳ, họ sẽ từ bỏ quan hệ với Trung Quôc và họ sẵn sàng đổi tên đảng để vô hiệu hoá ngay những chiêu bài chống cộng.</p>



<p>Tóm lại, việc tranh đấu cho dân chủ không còn liên quan gì với việc chống cộng. Vấn đề của những nhà tranh đấu cho dân chủ là phải nỗ lực phổ biến lý tưởng dân chủ cho đông đảo quần chúng. Khối lượng sinh viên học sinh đang theo học trong các nhà trường do chính quyền Hà Nội điều hành phải là đối tượng đầu tiên tiếp nhận việc phổ biến lý tưởng dân chủ mà các nhà dân chủ nhắm tới. Đối tượng này hoàn toàn xa lạ với những cách nói hiện nay của các nhà dân chủ, họ xa lạ với biểu tượng lá cờ vàng ba sọc đỏ, họ không biết đến công nghiệp của những nhân vật như Ngô Đình Diệm hay Nguyễn Văn Thiệu, họ không quan tâm đến&nbsp; quân lực Việt Nam Cộng Hoà. Họ là những người cần được thoả mãn tự ái bằng việc Việt Nam trở thành vô địch Đông Nam Á về bóng đá hoặc bất kỳ một danh hiệu vớ vẩn nào khác vì họ đã chịu đựng quá lâu với những mặc cảm tự ti. Họ không phân biệt nổi điều gì nên hãnh diện và điều gì cần phải cảm thấy nhục nhã. Chính những nhà dân chủ phải làm cho giới trẻ phân biệt được cái gì là thiết thực, cái gì là phù hoa do nhà cầm quyền Hà Nội cố tình mớm cho họ để họ quên đi thân phận nô lệ mới của chính mình. Viec những nhà dân chủ không đi sâu vào tâm tư nguyện vọng của giới trẻ, hướng dẫn tư duy độc lập của giới trẻ, tiếp tục để cho giới trẻ bị nhà cầm quyền Hà Nội dìm sâu vào cơn say vật chất danh vọng và những vinh quang phù phiêm thì chính là lỗi của các nhà dân chủ. Việc các nhà dân chủ nhắc đi nhắc lại những huy hoàng ngày cũ chỉ là một hình thái trốn tránh trách nhiệm trước thực tại vì không đủ khả năng khơi dậy những tình cảm cao quý của giới trẻ ngày nay. Hơn lúc nào hết, chính những nhà dân chủ phải thấy được dã tâm của nhà cầm quyền Hà Nội khi chính quyền này xiển dương hết mức chủ nghĩa tiêu thụ, khi cho phép các kênh quảng cáo mở hết công suất khuyến khích giới trẻ lao đầu vào việc thể hiện chính mình, trong lúc cuộc sống ngày càng khó khăn. Từ đó, thay vì tán tụng nhau qua những hào quang ngày cũ, các nhà dân chủ cần lập một kế hoạch vạch trần âm mưu tha hoá giới trẻ của nhà cầm quyền Hà Nội, tìm những biện pháp hướng dẫn giới trẻ đến với những hoạt động có thực chất, có tính cách thúc đẩy tinh thần trách nhiệm công dân trong một cộng đồng. Như vậy, tinh thần dân chủ trong giới trẻ mới được khơi gợi. Trong một tương lai gần, nếu nhà cầm quyền Hà Nội tiếp tục chính sách ru ngủ thanh niên, tha hoá con người và nếu các nhà dân chủ cũng không làm gì để khắc phục tệ trạng này thì tình trạng bạo loạn chắc chắn sẽ nổ ra như một điều tất yếu. Vì năng lực nhà cầm quyền Hà Nội không thể nào làm dịu được cơn khát vật chất và danh vọng ở giới trẻ do chính họ thúc đẩy, khi cơn say ấy không được thoả mãn thì chính giới trẻ phải tấn công vào kẻ đã gây ra cơn say. Xã hội sẽ loạn lạc còn hơn tình trạng hiện nay, ít nhất là trong một thời gian mà không một thế lực nào kềm hãm nổi.</p>



<p>Nếu giới trẻ được giáo dục về tinh thần dân chủ đích thực, chắc chắn, một ngày không xa, giới trẻ sẽ cùng với những nhà dân chủ thực hiện việc thanh lý chế độ độc tài đang ngự trị trên đất nước này, trong một bối cảnh hoà bình, không gây đổ máu. Có lẽ đó là điều mà tất cả những người đã từng sống qua những thời chiến tranh đều mong muốn.</p>



<p>2.2009</p>



<p><strong>Nhận định và Góp ý với Phong trào Dân chủ Việt Nam</strong></p>



<p><em>Tác giả nhận định và góp ý, bằng cách tìm hiểu và mổ xẻ về những kẻ chiến thắng và kẻ thua; tiếp sau đó, tác giả tìm hiểu và mổ xẻ về mấy thành phần trong xã hội Việt Nam hiện nay, ở miền Bắc và miền Nam, sống ở trong nước và những người ra nước ngoài từ sau ngày 30-04-1975. Những người ở trong nước, tác giả xếp vào ba nhóm, người di tản ra nước ngoài cũng có ba nhóm tương tự như vậy</em><em></em></p>



<p><em>Về kẻ thắng, mở đầu bài viết, tác giả cho rằng cuộc chiến đẫm máu đã kết thúc từ ba mươi năm qua, song cuộc chiến chỉ chấm dứt trên chiến trường, còn trong lòng người thì vẫn còn âm ỉ. Bởi vì theo tác giả, kẻ chiến thắng vẫn kiêu ngạo cho mình là đỉnh cao của trí tuệ và lương tâm nhân loại. Đẩy vào các trại tù quân dân chính VNCH, chiến tranh biên giới, phía Tây nam và phía Bắc. Tác giả Quán Tâm cho rằng, rồi thì</em> <em>“</em>nhà cầm quyền Hà Nội nhận ra họ đã hoàn toàn bị cô lập bởi thế giới loài người tử tế, đến nỗi cuộc chiến tranh biên giới giữa Việt Nam với Trung Quốc chỉ được thế giới coi như chuyện riêng của hai đám côn đồ mệnh danh nhà nước.”</p>



<p><em>Rồi sau đó,</em></p>



<p>&nbsp;“Khi thấy rõ nguy cơ sẽ bị hất vào đống rác của lịch sử nếu không kịp thời có những chuyển biến khéo léo hơn, nhà cầm quyền Hà Nội vội vàng trâng tráo đem quyền làm người của công dân làm vật trao đổi để tìm kiếm sự bao dung của thế giới tư bản và tạo ra một đầu cầu để quy phục chính những thế lực mà họ đã từng lớn tiếng thoá mạ. Phẩm vật cống lễ của nhà cầm quyên Hà Nội để được thu nạp trở lại vào vị trí chư hầu của Trung Quốc chính là việc từ bỏ những quyền lợi ngoài biển Đông và những nhân nhượng trên đất liền”.</p>



<p>Kẻ chiến bại<em> –Tác giả nêu ra nguồn gốc của những người ông cho là chiến bai, như: </em>quân dân miền Nam, những người từng sinh sống ở miên Nam trong thời 9 năm kháng chiến chống Pháp nhưng đã nhận biết chân tướng cộng sản của chính quyền Việt Minh, những người đã rời bỏ quê hương miền Bắc để thực hiện cuộc di cư đau lòng trong các năm 1954-1955, những người đã sinh ra và lớn lên dưới thời miền Nam được đặt dưới sự quản lý của chính phủ Việt Nam Cộng Hoà, hiện nay còn ở trong nước hay đã bỏ xứ ra định cư ở nước ngoài – <em>Những thành phần này</em>, vẫn đòi hỏi kẻ chiến thắng phải có một lời giải thích về tất cả những tội ác mà cộng sản đã thực hiện, từ việc cải cách ruộng đất ở miền Bắc, đến cuộc tấn công tết Mậu Thân mà vết thương của vụ thảm sát ở Huế chưa liền miệng, những vụ bắn phá đặt bom đặt mìn gài lựu đạn ở các khu dân cư giết hại dân lành và trẻ thơ vô tội trong những năm từ 1965 đến 1975, việc cải tạo công thương nghiep ở miên Nam sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, việc lùa quân dân chính miền Nam đi tập trung trong những nhà giam địa ngục khi đã chiến thắng…</p>



<p><em>Rồi tác giả đề cập đến một quy luật của kẻ thắng, đó là họ</em> “có toàn quyền xây dựng đất nước theo quan điểm và chính kiến của mình, người thua sẽ dần dần phải quy phục. Nhưng cũng theo một quy luật khác, để giành được sự quy phục hoàn toàn của người thua, chính kẻ thắng phải đi trước một bước trong tiến trình hoà giải hoà hợp. Kẻ thắng phải chứng tỏ mình có thành tâm xoá bỏ hận thù, hoàn toàn không phân biệt đối xử. Chính kẻ thắng phải biết mở lối cho người thua hoà nhập vào quá trình phục hồi đất nước sau chiến tranh. Bi kịch của dân tộc Việt là kẻ thắng quá sức kiêu ngạo và tiếp tục mù quáng tin tưởng vào sức mạnh của bạo lực, tiếp tục ngu xuẩn giương cao ngọn cờ đã tả tơi là chủ nghĩa cộng sản. Vì kiêu ngạo, mù quáng và ngu xuẩn, kẻ thắng không thể giành được sự quy phục hoàn toàn của người thua.</p>



<p>Một bi kịch khác của dân tộc Việt là một bộ phận người thua sau khi mất hết về mặt chính trị, đã tập hợp lại được ở hải ngoại và thành công về kinh tế, đủ sức góp phần cưu mang kẻ thắng. Một bộ phận người thua trong cuộc tranh chấp quốc cộng ở Việt Nam khi sang định cư tại Mỹ và một số quốc gia khác đã tạo được một cuộc sống vững vàng và gần hai chục năm qua đã thường xuyên đóng góp cho đất nước mỗi năm hàng tỷ đô la Mỹ.</p>



<p><em>Sau đó, tác giả Quán Tâm thẳng thắn nói đến một số người thành danh, là kẻ ăn trên ngồi chốc thời còn ở miền Nam, dưới hai nền Cộng Hòa, theo tác giả, những người này vẫn chống Cộng cực đoan và không hề suy nghĩ tại sao miền Nam mất và nhất là không hiểu gì về người Cộng sản. Cho nên những hoạt chống Cộng ở bên ngoài chỉ như “múa gậy vườn hoang” thôi.</em></p>



<p>“Một nhóm người khác, sau khi sang đến Hoa Kỳ vẫn còn kinh hoàng về những thành công mà họ cho là thần thánh của cộng sản, cũng không nhận biết được lý do nào khiến cộng sản đã chiến thắng, khi được mua chuộc bởi nhà cầm quyền Hà Nội, đã vội vàng trở cờ lên tiếng ca ngợi cộng sản, ca ngợi nhà cầm quyền Hà Nội mà không hiểu rằng nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội chỉ sử dụng họ như những cái loa tuyên truyền rẻ tiền để có điều kiện đàn áp nhân dân trong nước.</p>



<p>Vẫn còn một nhóm người thứ ba là những người có ý thức, ở nơi có điều kiện tìm hiểu kỹ về lịch sử cuộc chiến tranh Việt Nam, đã nhận thức đúng về thực chất của cuộc chiến, đã phân tích để biết những sai lầm của cả hai nền cộng hoà dẫn đến sự thất bại tai hại ngày 30 tháng Tư năm 1975, hiểu kỹ những mưu mô thâm độc của cộng sản, biết sử dụng các biện pháp thích hợp để giúp đỡ nhân dân trong nước tiến hành cuộc đối đầu với nhà cầm quyền Hà Nội để đòi hỏi thực thi một nền dân chủ đích thực.</p>



<p>Những người thua còn lại trong nước cũng có đủ cả ba thành phần như những người thua đã định cư ở hải ngoại. Nhưng vì ở trong nước, hoặc phải chịu sự giám sát chặt chẽ của lực lượng mật vụ dầy đặc, hoặc được trực tiếp vỗ về bởi guồng máy tuyên truyền chính trị của cộng sản, phản ứng của mỗi nhóm cũng có những biến thái khác. Cũng có những kẻ cực đoan sẵn sàng manh động gây nguy hại cho mọi cố gắng phản kháng tích cực. Cũng có những kẻ đầu hàng để trở thành hàng chó săn chim mồi. Trên hết vẫn là những người biết nhẫn nhục nuôi mạng sống, tích cực đóng góp tài năng và<em> kiến thức cho việc xây dựng lại</em><em> </em><em>cuộc </em>sống, từng bước vươn lên bằng lòng tự trọng và nhân cách. Trực tiếp sống trong môi trường băng hoại của một xã hội do cộng sản điều hành, họ nhận thức rõ tính cách tha hoá của những con người cộng sản, miệng bi bô đạo đức nhưng bụng đầy những mưu mô gian xảo chỉ nhắm đến vinh thân phì gia. Có thể họ không bao giở nêu chính kiến, nhưng trong từng trường hợp có thể, những phát biểu của họ vẫn có ích cho việc xây dựng nhân cách những người gần gũi, nghĩa là họ vẫn có những đóng góp tuy gián tiếp nhưng xứng đáng cho sự phản kháng tích cực.</p>



<p>Trong hoàn cảnh của một chế độ độc tài, sự phản kháng phải là sự phản kháng tích cực. Nghĩa là người phản kháng phải bảo toàn được chính mình và những người đồng sự với mình. Việc hy sinh là điều bất đắc dĩ. Chính vì thế, những người phản kháng trong nước luôn luôn thận trọng. Và họ bắt buộc phải thể hiện sự phản kháng của mình bằng những biện pháp gián tiếp.</p>



<p>Trong bối cảnh của cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu, sự phản kháng của người dân rất dễ dàng bị chụp mũ khủng bố. Cho nên, chẳng những sự phản kháng phải mang hình thức tuyệt đối bất bạo động mà mọi hoạt động phản kháng còn phải ngăn ngừa có sự trà trộn của bọn khiêu khích, có thể châm ngòi cho sự manh động khiến nhà cầm quyền lấy cớ đàn áp. Cho đến nay, có thể thấy sự phản kháng tích cực nhất là việc tuyên truyền cho phong trào dân chủ, kết hợp với những vấn đề liên quan đến tình trạng xuống cấp của đạo đức, giáo dục và mọi hình thức hoạt động xã hội khác, như vụ bô xít và vụ mất đất liền, mất quyền lợi trên biển chẳng hạn.</p>



<p><em>Trước khi kết thúc bài viết, tác giả Quán Tâm còn nêu ra một vấn đề quan trọng, là văn nghệ. Làm sao những người hoạt động cho dân chủ trong môi trường người cộng sản đang cầm quyền, cho ra đời những bài hát cộng đồng chứa đựng một nội dung là những mầm mống của tinh thần dân chủ, để giới trẻ hay đoàn thanh niên CS ưa thích, để họ có thể hát vang lên ở bất cứ hoàn cảnh nào hay bất cứ môi trường nào, những bài hát về tinh thần yêu nước, yêu hòa bình, yêu thương nhau…</em></p>



<p>Chúng ta luôn luôn tin rằng theo thời gian, những quan điểm cực đoan sẽ dần dần bị cô lập. Những người có cái nhìn phóng khoáng về tình hình Việt Nam cần kết hợp lại với nhau, xác định một lộ trình tranh đấu cho dân chủ trên tinh thần không phân biệt xuất xứ, tôn trọng nhau, biết tham khảo lẫn nhau. Không vì khác đường lối hay khác nhóm mà phê phán nhau bằng những lời lẽ thiếu nhã nhặn. Được như thế, chắc chắn một ngày không xa, nền độc tài toàn trị phải cáo chung mà không cần đến bất kỳ một hoạt động bạo lực nào.</p>



<p>(22 tháng 4 năm 2009)</p>



<p><strong>Vai Trò Nặng Nề Của Phong Trào Dân Chủ Việt Nam</strong></p>



<p><em>Ở bài này, độc giả sẽ thấy một Quán Tâm có cái nhìn rất cởi mở về thành phần có khuynh hướng dân chủ và những tiếng nói về dân chủ cho Việt Nam. Khi Trung Quốc thành lập thành phố Tam Sa trên đảo Phú Lâm, tỉnh Hải Nam, cực Nam của Trung Quốc, ngày 24/7/2012. Hành động này đã bị quốc tế lên án. Đồng thời tác giả cũng đề cập đến những người “</em>vẫn lớn tiếng thóa mạ mọi biện pháp cai trị của đảng cộng sản Việt Nam và nhà cầm quyền Hà Nội<em>.</em> Điều này cho thấy phong trào dân chủ Việt Nam hiện nay là một phong trào rộng lớn và đang tiếp tục tăng trưởng. Nhưng đó cũng chính là tình thế khó khan và vai trò nặng nề của phong trào.”</p>



<p><em>Và tác giả đã nói đến những khó khan và nặng nề của phong trào dân chủ Việt Nam, không chỉ trong tổ chức, mà thực tế thì không thể thành lập một tổ chức quy củ được,&nbsp; theo tác giả, khó khăn này rất đa dạng, kể cả người đã mất mát quá nhiều vì cộng sản, mà bây giờ lên tiếng chửi rủa cộng sản VN và nhà cầm quyền Hà Nội và còn những thành phần khác nữa. Xin dẫn theo tác giả:</em></p>



<p><em>“</em>…với tính cách là một phong trào, những người hoạt động cho nền dân chủ Việt Nam không thể đặt ra nội quy, không thể buộc các thành viên của mình phải phải có kỷ luật, không có biện pháp chế tài khi các thành viên có những ngôn từ hay hành động không thích hợp. Hơn nữa, vì tôn trọng tự do của mọi thành viên, và vì sự hoạt động của các thành viên đều là tự nguyện, phong trào không thể ấn định những quy chế hoạt động, những hình thức thưởng phạt chặt chẽ nhằm tăng cường sức mạnh của phong trào. Chính vì thế, tiêng nói của phong trào là tiếng nói tản mạn của từng thành viên. Nếu may mắn trong một vài thời điểm nào đó những tiếng nói ấy có cùng tần số, có sự cộng hưởng thì tiếng nói của phong trào có sức mạnh. Còn thông thường những tiếng kêu rời rạc của từng người cuối cùng chỉ như những tiếng gào trong sa mạc. Không những thế, đã có lúc có những tiếng nói lạc điệu lại chỉ có tác dụng triệt tiêu âm hưởng chung. Trong hoàn cảnh ấy, từng người một trong phong trào dân chủ cần phải tự kềm chế, tự điều chỉnh đường hướng tư duy và hoạt động của mình, hướng tới lợi ích chung của dân tộc”</p>



<p>(Quán Tâm, Viễn Tượng Việt Nam, Tháng 3/2008)</p>



<p><em>Trên đây là những khó khăn có tính tổ chức, mọi việc đều tự phát và tự tình nguyện đóng góp ý kiến bằng tiếng nói. Tác giả không tránh né tiếng nói của họ vì tản mạn, nên chỉ như tiếng gào trong sa mạc. Tác giả còn phân tích có những tiếng nói ủng hộ dân chủ với một luận điệu chống Cộng cực đoan, cũng như có những đảng viên đảng cộng sản phản tỉnh, nhưng vẫn còn thấy cái quá khứ của mình, đánh Tây đánh Mỹ và đã đóng góp vào chiến thắng chung cuộc, đất nước thống nhất. Một vài thành phần khác và vài khía cạnh khác có tiếng nói ủng hộ dân chủ, là những yếu tố quý giá và cần trân trong, thì chúng tôi thấy, tác giả Quán Tâm có một tầm nhìn rất rộng, nhân bản, dân chủ lý tưởng và lãng mạn v.v…cũng thật khó mà hình thành. Vì trước hết nó tinh tuyền quá, cao vọng quá. Tác giả tiếp tục đề cập đến những thành phần khác, có những phân tích của tác giả, một người không thuộc hệ phái chính trị nào, một nhà quan sát tinh tế, sâu sắc, chẳng hạn khi ông nhận xét về hai nền cộng hòa ở miền Nam VN từ năm 1955 – 1975, và một số người miền Nam sau khi di tản sang Mỹ, họ vẫn triệt để chống cộng, mà chúng tôi có lúc nghĩ rằng ngôn ngữ của ông dành cho những người trước kia làm việc và chống cộng sản ở miền Nam, nay sống tại Hoa Kỳ, vẫn kịch liệt chống cộng, là nặng nề như thể ông bỏ qua vấn &nbsp;đề tâm lý và cuộc đời ly hương của những người này, không ít người rơi vào trầm cảm, buồn phiền khôn nguôi, có lẽ họ cũng đau lòng khi biết một người ở trong nước nhận xét về họ như thế, tuy là khách quan. Nhưng cái khách quan ấy khá tàn nhẫn. Có thể họ tự nghĩ, người viết bài báo này, có chịu ảnh hưởng của nhà cầm quyền Hà Nội không? Tuy nhiên, chúng ta đang dọc một Quán Tâm trên tờ Viễn Tượng Việt Nam, một tờ báo bị nhà cầm quyền cộng sản kết án là phản động, dược xuất bản bởi nhà tranh đấu cho Dân chủ và nhân quyền Việt Nam là ông Đoàn Viết Hoạt, sau thời gian bị tù, ông bị trục xuất sang Hoa Kỳ. Điều thứ hai, ông Quán Tâm cũng có những nhận xét vả chỉ trích đảng cộng sản và nhà cầm quyền Hà Nội rất gay gắt và nặng nề, chẳng những ở thời chiến tranh mà cả sau khi kết thúc cuộc chiến. Theo chúng tôi, tới đây, dân tộc Việt Nam, đất nước Việt Nam cần phải có những người không là người của một hướng chính trị đảng phái nào, mà chỉ có một lòng yêu nước như cha ông chúng ta từ ngàn năm về trước. Lý tưởng của chúng ta hôm nay là Dân chủ, Nhân quyền, Tự do, Hòa bình, Nhân ái.</em></p>



<p><em>Dưới đây, tác giả bàn về nhân sự của phong trào dân chủ Việt Nam:</em></p>



<p>“Trước hết, chúng ta cần nói về thành phần nhân sự của phong trào. Đã có lúc có những&nbsp; người cảm thấy rằng vì họ đã từng chống cộng mấy chục năm qua, đã có vai trò trong chính quyền miền Nam và đã mất mát tất cả khi chính quyền cộng sản tiến chiếm miền Nam, họ chính là những người hoạt động mạnh mẽ nhất cho dân chủ. Và thế là họ có quyền xem tất cả những ai có một chút dây dướng với cộng sản đều là kẻ thù. Thái độ này thể hiện rõ nhất nơi một vài “lãnh tụ” chống cộng hải ngoại. Từ một góc nhìn nào đó,&nbsp; người ta cũng có thể cho rằng, những vị “lãnh tụ” chống cộng hải ngoại ấy cũng chỉ là những người rao giảng một thứ dân chủ giả hiệu, tuy không cùng là thứ dân chủ mà đảng cộng sản Việt Nam và nhà cầm quyền Hà Nội trưng bầy. Xác định cho đúng, họ chỉ là những người chống cộng, và đôi khi, họ chống cộng chỉ vì những quyền lợi của họ đã bị cộng sản tước đoạt. Nên chăng phong trào dân chủ Việt Nam cũng không thể coi họ là các thành viên, và cần phải cảnh giác trước những lập luận của họ? Tất nhiên, khi họ từ bỏ lập trường quá khích, họ vẫn có những đóng góp tích cực đối với việc vận động cho nền dân chủ đích thực của người Việt.</p>



<p>“Trong thời gian qua, không ít những người cộng sản đã nhận thức được những sai lầm của chủ thuyết, những dối trá của lãnh đạo, những tội ác của đảng cộng sản đối với nhân dân, đối với dân tộc, đã can đảm và thẳng thắn bày tỏ tiếng nói của mình. Họ chấp nhận bị trù dập, bị giam cầm, bị đày đọa; họ cũng bỏ mất tất cả những gì họ đã xây dựng. Và có thể thấy, họ tự nguyện từ bỏ những quyền lợi ấy. Trong những phát biểu của họ, có thể họ còn dè dặt, có thể họ chưa thấy hết, có thể họ còn nể nang, do đó họ chưa thể kết tội thẳng những kẻ đã gieo rắc thảm họa cộng sản ở Việt Nam. Không những thế, dù sao họ cũng đã có một thời đứng dưới một lá cờ; có thể trong lúc đứng dưới lá cờ ấy, họ đã từng thực sự cảm nhận sự hào hung của cuộc chiến tranh vệ quốc, họ thực sự có những rung động khi họ nghĩ đến tham dự vào việc giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, cho nên họ vẫn còn có những tình cảm với lá cờ của mình. Tất cả những tình cảm đo, những người ủng hộ dân chủ phải biết trân trọng. Vì chính sự trân trọng những tình cảm đó mới làm cho người ủng hộ dân chủ khác với những người cộng sản quá khích, khác với những kẻ chuyên rao giảng các mặt hàng dân chủ giả hiệu. Lưu ý rằng việc trân trọng những tình cảm ấy không có nghĩa là phong trào dân chủ phải chấp nhận tất cả những phát biểu của họ. Cũng như những người chống cộng, đã từng đứng dưới la cờ khác, họ không thể chấp nhận lá cờ của đối phương. Nhưng, ngày nay có cả những người chống cộng và những người từng là cộng sản đều tập hợp quanh một phong trào, phong trào dân chủ Việt Nam. Tại sao chúng ta không thể xóa bỏ những dị biệt để cùng cất cao tiếng nói đòi hỏi một nền dân chủ đích thực?”</p>



<p><em>Còn thành phần trẻ, tác giả cũng nhận thấy họ cũng đang tập hợp chung quanh phong trào dân chủ Việt Nam, song ông cho biết, thành phần trẻ này </em>“đang hết sức hoang mang trước những tranh luận của lớp cha anh về Quốc –Cộng, về chính thống, về chính nghĩa, về hợp pháp, về hợp lòng dân…”</p>



<p><em>Và có lẽ chúng ta cũng nên một lần đọc lại lịch sử Việt Nam, theo cách nhìn của Quán Tâm, từ sau khi chấm dứt thế chiến thứ hai vào năm 1945. Từ đó đến nay, dân tộc Việt Nam chịu quá nhiều đau khổ. Cuốc chiến chống thực dân suốt chin năm (1945-1954) bị một thành phần mới nổi là Việt Minh-Cộng sản, có võ trang, được Liên Xô và Trung cộng triệt để giúp đỡ, đã hành động hết sức tàn bạo, diệt trừ hết các lực lượng cách mạng Quốc gia chống Pháp bằng chính sức lực của mình, nên rơi vào thế cô. Nhờ đó, lực lượng Việt Minh-Cộng sản coi như “cầm cờ đi đầu” trong cuộc chiến chống Pháp.</em></p>



<p><em>Tác giả Quán Tâm nhìn lại cả hai miền Nam Bắc từ sau ngày đó. Rất đắng cay, nhưng cần nói với các thành phần trẻ về giai đoạn này (từ 1954-1975), bởi các thành phần trẻ này bị bưng bít, chính quyền Cộng sản đã muốn xóa đi những mảng tối của lịch sử này. Nhưng cứ như những nhận xét của tác giả, thì cả hai chính quyền Quốc – Cộng đều có những sai lầm trong việc điều hành đất nước.</em></p>



<p><em>“</em>Xét lại lịch sử Việt Nam từ sau chiến tranh Thế giới lần thứ hai tới nay, thực ra chưa có một chính phủ nào thực sự chính thống, có chính nghĩa, hợp với lòng dân”.</p>



<p><em>Khi xét về việc cai trị đất nước của cả hai chính quyền ở Bắc cũng như ở Nam, tác giả có lời lẽ nặng quá, mà chỉ thấy ở bề ngoài thôi. Cho nên có thể ông sẽ gây xúc động, bực bội nơi những người có lòng trung thành với chế độ này hay chế độ kia. Chính điều này sẽ gây khó khan cho phong trào dân chủ Việt Nam mà tác giả chưa nghĩ tới.</em></p>



<p><em>Thế nhưng, theo tác giả Quán Tâm, vì </em>không thể để quá khứ<em> (của cả hai miền Quốc – Cộng</em>) tác động vào sự thống nhất của dân tộc. Nghĩa là cần phải đánh giá trung thực về quá khứ để nhận thức đúng một lần và rồi không nhắc lại nữa<em>.</em><em> Bởi ông cho rằng, </em>các chính quyền ở Việt Nam từ sau đệ nhị thế chiến tới nay đều thiếu tính chính thống, không có chính nghĩa và cũng chẳng hợp lòng dân. Từ đó, phong trào dân chủ Việt Nam không nên lệ thuộc vào bất kỳ một quá khứ nào trong lộ trình xây dựng một thể chế dân chủ mới. Để thống nhất lòng người, phong trào dân chủ Việt Nam cần hoạch định một đường lối chung, không thiên cộng sản và cũng không lấy những giá trị của Việt Nam cộng hòa trước đây làm chủ đạo. Những người thật tâm với một nền dân chủ đích thực cho dân tộc Việt cần nhận thức rõ là mọi bóng ma quá khứ đều không đáng để nhắc tới. Điều đó không có nghĩa là phủ nhận quá khứ, mà chỉ là không để quá khứ tác động vào sự thống nhất của dân tộc. (Quán Tâm, Viễn Tượng Việt Nam. Tháng 3/2008)</p>



<p><strong>Đất nước luôn cần sự Thực tâm và Đoàn kết</strong></p>



<p>Ở Việt Nam, ngày 27 tháng 7 hàng năm vẫn được nhà cầm quyền Hà Nội gọi một cách hoa mỹ là ngày thương binh liệt sĩ chỉ vì cách đây hơn nửa thế kỷ, vào ngày ấy, ông Hồ Chí Minh đã gửi một lá thư ngỏ cho những người bị tàn phế và thân nhân của những người bị chết thảm một cách vô ích trong cuộc chiến tranh Việt Pháp mà ông cùng đồng bọn đã cố tình châm ngòi nhằm mục đích tạo cơ hội giành độc quyền yêu nước cho ông và cho đảng cộng sản do ông tổ chức.</p>



<p><em>Trên đây là lời mở đầu của bài có tiêu đề trên, tác giả Quán Tâm nói vài lời về cuộc chiến tranh Việt – Pháp, để sau đó mới có ngày gọi là Thương binh liệt sĩ, do ông Hồ Chí Minh lập ra.</em></p>



<p><em>Sang đến thời ông Nguyễn Minh Triết làm Chủ tịch Nước, ông kêu gọi nhân dân nhân ngày 27 tháng 7 năm 2008, theo bài báo của Quán Tâm:</em></p>



<p><em>“…đồng bào và chiến sĩ cả nước hãy biểu thị mạnh mẽ hơn nữa lòng biết ơn”</em> đối với những người đượcgọi là thương binh liệt sĩ, gồmnhững người bị thương tật và chếtchóc trong tất cả những cuộc chiếntranh mà đảng cộng sản Việt Namđã trực tiếp hay gián tiếp phát độngsuốt từ 1945 đến 1991, thời điểmnhà cầm quyền Hà Nội rút quânkhỏi Cam Bốt. Bằng giọng lưỡi dụdỗ, ông ta nhắc đến dấu vết chiếntranh vẫn hiện hữu trên cơ thểnhững người lính trở về từ cuộcchiến khốc liệt và ông ta muốn tỏ<em> “lòng khâm phục những người đã góp phần làm nên sự tích anh hùng trong đấu tranh cách mạng, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; ngày nay lại nêu gương sáng trên trận tuyến mới không kém phần gian khổ, quyết liệt.” </em>và với giọng điệu tựhào, ông ta huênh hoang, <em>“…Đất nước được rạng rỡ như hôm nay là nhờ sự hy sinh của các anh hùng, liệt sĩ, đồng chí, đồng bào ta trong các cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc vĩ đại.”</em> Dùng ngoa ngữ, ông ta nóithêm rằng, <em>“…nhân dân ta luôn coi việc chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ…là bổn phận và trách nhiệm cao cả.”</em></p>



<p><em>Cũng vẫn với Nguyễn Minh Triết, tác giả nói đến chuyến thăm Hoa Kỳ của nhân vật này hồi tháng 6 năm 2007. Dịp này, ông đã nói đến cộng đồng người Việt ở nước ngoài là</em> <em>“…không thể tách rời với dân tộc Việt Nam. Họ là máu của máu Việt Nam và là thịt của thịt Việt Nam.”</em></p>



<p><em>Qua những lời nói trên cửa miệng của một Chủ tịch Nước, kẻ ở trong nước như chúng tôi còn cảm thấy rất bỉ ổi bởi đó không phải là sự thật trong cuộc sống của mỗi người dân bình thường ở miền Nam VN đã “bị-giải-phóng” và vẫn còn sống như kẻ ngoại thuộc, cho dù đã 50 năm trôi qua (1975-2025). Những lời từ Nguyễn Minh Triết nói, chỉ là lời ma mị, nhắm vào những đồng tiền nước ngoài mà thôi. Có lẽ không một ai quên được, ngay từ lúc khởi đầu đưa đến những cuộc vượt biên, họ đã bị kết án là xấu xa, là rác rưởi, không khác gì, trong cuộc di cư năm 1954, khi gần một triệu người dân miền Bắc bỏ quê nhà vào miền Nam tự do, họ cũng bị một trí thức hàng đầu của miền Bắc ngày ấy, viết sách nhỏ (Đổi Mới?), gọi họ là những đĩ điếm, rác rưởi thối tha, ra đi là miền Bắc được sạch!</em></p>



<p><em>Xin trở lại với Quán Tâm, tác giả viết tiếp nhân lời nói của Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết dịp ông này sang Hoa Kỳ năm 2007, tác giả bài báo trên tờ Viễn Tượng Việt Nam đã đề cập đến những người lính VNCH đã chết hay bị thương tật trong các cuộc chiến, cũng phải được chăm sóc và nhớ đến họ, nếu nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội thực sự muốn được lòng dân. Ông viết:</em></p>



<p>Qua lời kêu gọi ấy, người ta thấy ông Triết nhắc nhở mọi người Việt Nam phải biết ơn ngay cả những kẻ bị thương tật và chết chóc do phần lớn đã tham gia những cuộc chém giết chính đồng bào của họ, vì như những bản tổng kêt về các cuộc chiến tranh Đông Dương đã chỉ ra, mặc dù đối tượng của những cuộc chiến tranh do Hồ Chí Minh và đảng cộng sản phát động trong thời gian từ 1945 ñên 1975 là lính Pháp và lính Mỹ, thực ra đại đa số những người bị tiêu diệt bởi bộ đội của ông Hồ lại là thường dân và lính Việt Nam cộng hòa. Tất nhiên, trong chiến tranh thì cả hai phía đều có thương vong. Nhưng suốt ba mươi ba năm qua, sau khi hoàn tất việc cưỡng chiếm miền Nam, trong lúc luôn luôn nhắc nhở đến thương binh liệt sĩ cộng sản, nhà cầm quyền Hà Nội chưa hề nhắc một lời đến thân phận những người bị thương tật và thân nhân của những người chết và mất tích về phía <em>đối-phương-một-thời</em> của họ. Phải chăng những người ấy không phải là đồng bào của ông Triết cùng đồng bọn? Phải chăng những người ấy không hy sinh để bảo vệ tổ quốc, một tổ quốc theo định nghĩa của chính họ, cũng như những người cộng sản đã bảo vệ cái thứ tổ quốc theo định nghĩa của ông Hồ cùng đồng bọn? Mặc dù báo chí cộng sản vốn chỉ là công cụ tuyên truyền của nhà cầm quyền Hà Nội, gần đây, nhà báo Bùi Thanh trên tờ Tuổi Trẻ đã từng công nhận 58 người lính Việt Nam cộng hòa hy sinh trong cuộc hải chiến Hoàng Sa ngày 17 tháng 1 năm 1974 xứng đáng được xưng tụng là những người anh hùng bảo vệ đất nước. Dù sao đi nữa, ngày nay đất nước cũng đã thống nhất về mặt lãnh thổ, nhà cầm quyền Hà Nội nên có một cái nhìn đúng đắn hơn để tạo được sự thống nhất trong lòng người. Ấy là, nhà cầm quyền Hà Nội cần phải có một chính sách nhân đạo thật sự đối với thương binh và thân nhân của những tử sĩ đã hy sinh trong lúc họ chiến đấu dưới lá cờ vàng ba sọc đỏ, cũng như tất cả những người khác đã vô tình bị thương tật hay chết chóc giữa hai lằn đạn. Có như thế thì nhà cầm quyền Hà Nội mới có thể huy động được tâm trí của những người mà ông Triết đã gọi là máu của máu Việt Nam và thịt của thịt Việt Nam. Bởi vì ai cũng biết rằng đại đa số những người đã phải bỏ nước ra đi để đến nay tập hợp thành cộng đồng người Việt ở nước ngoài là những người đã phải chạy trốn sự trả thù tàn bạo giấu mặt của chính quyền cộng sản: sự kiện hàng trăm ngàn người phải đi học tập cải tạo sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 trong đó có hàng chục ngàn người chết mất xác ở những chốn rừng thiêng nước độc là chứng cớ hiển nhiên nhất. Như vậy, có lý nào cái bộ phận <em>“máu của máu Việt Nam và thịt của thịt Việt Nam” </em>ấy lại phảibiết ơn và có trách nhiệm chăm sócnhững kẻ đã tham gia vào việc truysát họ?6 Ngày nay không ai muốnkhơi lại những vết thương đau đớntrong chiên tranh, nhưng nếu nhàcầm quyền Hà Nội chỉ muốn kỷ công riêng những thương binh liệt sĩ cộng sản không thôi thì sự thống nhất trong lòng người sẽ không bao giờ có được. Mặt khác, có phải tất cả những người thương binh cộng sản đều được nhà cầm quyền Hà Nội thật lòng <em>“khâm phục”</em> như ông Triết đã nói hay không? Những người như ông Phạm Trung Phồn ở Thái Bình đang cùng các đồng đội của ông đòi hỏi những quyền lợi chính đáng mà đám quan chức địa phương đã cướp mất của họ có phải là thương binh cộng sản không? Nhà cầm quyền Hà Nội đã đối xử với những con người thật sự anh hùng này như thế nào? Những gì đã nói, nhà cầm quyền Hà Nội cũng nên cố gắng thực hiện, để giữ lại một chút niềm tin nếu còn có của những người thương binh liệt sĩ cộng sản, những người đã trực tiếp đổ máu xương xây đắp chiếc ngai vàng cho những người như ông Triết và&#8230;, chứ chưa nói đến những người đã từng là nạn nhân của những người như ông Triết và &#8230;</p>



<p><em>Ngoài chuyện về thương binh liệt sĩ, Nguyễn Minh Triết còn mắc cái tật huênh hoang nhàm chán và làm cho thiên hạ chê bai vì không nghĩ đến cái liêm sỉ của mình. Cái tật ấy, ông Triết nói đến sự rạng rỡ của đất nước hiện nay. Điều nay, khoảng một năm trước khi đi theo Karl Marx, Nguyễn Phú Trọng cũng đã huênh hoang, rằng chưa bao giờ đất nước được như ngày nay, làm cho dư luận nực cười, chê bai…, tác giả Quán Tâm mổ xẻ tỉ mỉ, nhiều khía cạnh của cuộc sống đối với những mặt phía sau của cái “rạng rỡ” mà ông Triết nói đến. Đấy mới là thực chất của xã hội Việt Nam 50 năm, sau ngày 30 tháng 4-1975. Tác giả kể tiếp:</em></p>



<p>Cũng trong lời kêu gọi ấy, ông Triết có nói đến sự rạng rỡ của đất nước Việt Nam ngày nay. Người ta không hiểu ông Triết nói đến sự rạng rỡ nào. Phải chăng đất nước Việt Nam ngày nay rạng rỡ vì đã có được một viên đảng trưởng đảng cộng sản vừa được vinh dự công nhận là công dân danh dự của thành phố tư bản Seoul, nơi mà cách đây không lâu báo chí bằng tiếng Hàn có nói đến sự nhục nhã của phụ nữ Việt Nam phải bán thân nuôi miệng nơi đất khách quê người? Phải chăng Việt Nam ngày nay rạng rỡ vì có tới vài trăm ngàn phụ nữ người Việt được tham gia vào lực lượng công nhân tình dục trên khắp các quốc gia Đông Nam và Bắc Á châu? Hay đất nước Việt Nam rạng rỡ vì nổi tiếng là nơi mà công nhân không có khả năng chuyên môn nên chỉ xứng đáng được trả đồng lương chết đói và nhờ đó mà có thể thu hút đầu tư trực tiếp của tư bản nước ngoài từ khắp nơi trên thế giới đến để tiếp tục bóc lột sức lao động người Việt, chia chác với những kẻ cầm chịch nền kinh tế? Hoặc đất nước này rạng rỡ vì có những viên chức thanh thản đòi hỏi tư bản ngoại quốc hối lộ hàng trăm ngàn đến hàng triệu đô la cho những hợp đồng phá hoại môi trường? Hay Việt Nam rạng rỡ nhờ có được những gương mặt vênh váo ngồi ghé vào chiếc ghế chủ tịch Hội Đồng Bảo an Liên hiệp quốc hồi tháng qua? Phải chăng sự rạng rỡ đến từ việc những kẻ đóng vai chủ tịch nước, thủ tướng chính phủ rồi chủ tịch quốc hội đã được hân hạnh tay bắt mặt mừng với những tay trùm tư bản trên khắp thế giới?</p>



<p>Người ta thấy rõ ràng nhà cầm quyền Hà Nội hiện nay đã hy sinh xương máu con dân để có điều kiện chơi trèo với những kẻ quyền quý khắp thế giới và lấy đó làm vinh dự. Trong khi đó, chính trên những phương tiện tuyên truyền cộng sản,&nbsp; người ta đã từng nghe tiếng kêu gào than khóc của nông dân mất đất mất ruộng vì nhà cầm quyền Hà Nội sính xây sân golf, sính dựng khán đài tổ chức thi hoa hậu hoàn vũ. Người ta đau lòng vì tình trạng ngày càng có nhiều sát thủ trẻ tuổi thản nhiên xông vào tận nhà dân lành chém giết bất kỳ ai chúng cho rằng <em>nhìn thấy ghét</em>. Người ta sốt ruột trước tình trạng học sinh phải bỏ học, hàng năm lên đến con số hàng trăm ngàn. Và người ta nghiến răng chịu đựng trong căm hận vì những biện pháp hành hạ con người được lũ tay chân của nhà cầm quyền Hà Nội sáng chế hàng</p>



<p>ngày theo từng chính sách chế độ được ban bố mà không hề quan tâm đến biện pháp mưu sinh của dân đen. Tóm lại, nhà cầm quyền Hà Nội đã không hoàn thành nghĩa vụ cao quý của một chính phủ là tạo cho công dân của mình một môi trường sống tốt đẹp khả dĩ đem lại sự phát triển cao nhất mọi năng lực cá nhân để đóng góp vào sự phát triển của đất nước, mà chỉ chạy theo những danh vị hão huyền với mong muốn <em>sánh vai cùng các cường quốc năm châu</em>.</p>



<p>Trong bối cảnh ấy, lời kêu gọi của ông Triết trở nên những lời kêu gọi nhục nhã. Vì lẽ người dân lại phải lấy <em>“lá rách đùm lá nát”</em> để lo cho thương binh và gia đình liệt sĩ trong lúc đám quan chức tiếp tục phè phỡn. Thật vậy, chính những công cụ tuyên truyên của nhà cầm quyền Hà Nội cho biết, trong ngày 27 tháng 7 năm nay,<em> “…Phó bí thư thường trực Thành ủy Nguyễn Văn Đua cùng Phó chủ tịch thường trực UBND TP Nguyễn Thành Tài đã đến thăm các cụ là mẹ VN anh hùng, thương binh, vợ liệt sĩ tại Trung tâm dưỡng lão Thị Nghè. Khi biết suất ăn của các cụ tại trung tâm chỉ 8.000đ/ngày, ông Nguyễn Văn Đua đã chỉ đạo ngay trong ngày phải nâng khẩu phần ăn lên 20.000đ/ngày.”</em> Thật lạ! Hình như đám quan chức này ở cung trăng mới về, cho nên mãi đến lúc ấy mới biết được rằng bao lâu nay, những người được chúng quan tâm chăm sóc vẫn chỉ được ăn cháo cầm hơi…</p>



<p>Người ta cũng còn nhớ đến việc nhà cầm quyền Hà Nội làm áp lực để các chính quyền sở tại dẹp bỏ những tượng đài, bi ký tưởng niệm những nơi thuyền nhân Việt Nam đặt chân tới trên bước đường vong quốc. Tất cả những hành động ấy chỉ cho thấy nhà cầm quyền Hà Nội chưa thật lòng trong việc dẹp bỏ quá khứ để cùng nhau xây dựng đất nước, trong lúc vẫn mong muốn lợi dụng thành quả lao động sáng tạo của những người đã từng bị ruồng rẫy.</p>



<p>Đất nước và dân tộc Việt Nam ngày nay đã vô cùng khác trước.</p>



<p>Về mặt con người, ngày nay dân số Việt Nam đã trên tám mươi triệu. Nếu trước đây người Việt có tâm lý ngại rời quê cha đất tổ thì ngày nay người Việt đã có mặt trên khắp thế giới vì nhiều lý do và động lực khác nhau. Việc hình thành những cộng đồng người Việt sinh sống trong những nền văn hóa khác nhau một mặt có thể đóng góp cho sự đa dạng của nền văn hóa Việt, mặt khác cũng sẽ phát sinh những cái nhìn cực đoan của những nhóm người chịu ảnh hưởng những nền văn hóa khác biệt. Trong khi đó, suốt ba mươi ba năm qua, nhờ đã giành được vai trò chính thống trên cả nước, nhà cầm quyền Hà Nội đã nỗ lực thi hành với sức mạnh không hạn chế những biện pháp tha hóa con người cùng với chính sách chia để trị, càng khoét sâu sự chia rẽ trong lòng dân tộc. Sự bùng nổ thông tin khiến cho những cố gắng bưng tai bịt mắt dân chúng của nhà cầm quyền Hà Nội không còn tác dụng nhưng cũng khiến cho nhận thức chung của người Việt chịu sự phân hóa nặng nề. Lịch sử bị xuyên tạc không chỉ bởi nhà cầm quyền mà chính những nhóm người có tham vọng với những chính kiến khác biệt cũng góp phần vào việc làm sai lạc mọi dữ kiện thật, khiến người dân không còn biết tin vào lập trường nào. Không chỉ thế hệ trẻ mà ngay cả những người lớn tuổi cũng cảm thấy mất phương hướng.</p>



<p>Về mặt lãnh thổ, nhà cầm quyền dung dưỡng việc phá hoại môi trường. Sông biển ô nhiễm, rừng núi tan hoang, ruộng vườn trơ trọi, đất nước không bảo đảm điều kiện sống an toàn của người dân Việt trong xứ. Thái độ nhu nhược của nhà cầm quyền Hà Nội trước những lấn lướt của người láng giềng phương Bắc khiến cho lãnh hải Việt Nam đang bị đe dọa, con đường ra biển của dân tộc có nguy cơ bị khóa chặt. Người ta còn nhớ rằng cách đây không lâu, viên Bộ trưởng Quốc phòng Trung quốc Trì Hạo Điền đã tuyên bố, đại ý nói rằng, ảnh hưởng của sức mạnh quân sự và kinh tế của Trung Quôc tác động đến nơi nào thì lãnh thổ Trung Quốc mở rộng đến nơi ấy. Thời gian qua, người ta đã chứng kiến những biện pháp dung dưỡng người Trung Quốc vào Việt Nam đầu tư với mục đích ngăn cản ngầm hoạt động đầu tư của phương Tây, là một trong những tai họa lâu dài của dân tộc về phương diện lãnh thổ.</p>



<p><em>Trong tình trạng ấy và trước một chính quyền toàn những kẻ chỉ biết vơ vét cho đầy túi tham, rồi mua nhà cửa ở nước ngoài, đưa vợ con sang đấy trước, tác giả đã đề cập đến vấn đề nước sẽ mất, dân tộc sẽ bị nô lệ. Đây không là điều bi quan, mà là một vấn đề của khả thể. Tác giả viết:</em></p>



<p>Có thể nói, mà không phải vì bi quan và có tính cách khích động, rằng đất nước và dân tộc Việt Nam đang đứng trước nguy cơ mất nước và nô lệ. Chưa bao giờ trong lịch sử Việt Nam, con người Việt Nam chịu sự chia rẽ trầm trọng như hiện nay. Chính sách chia để trị và những biện pháp tha hóa con người của nhà cầm quyền Hà Nội đã khiến dân chúng không còn biêt tin vào quan điểm nào. Trong trường hợp có biến, nhà cầm quyền Hà Nội không còn đủ tư cách huy động nhân tài vật lực đối phó với sự biến. Những nhóm phản kháng lẻ tẻ cũng không nhóm nào có được uy tín để hiệu triệu dân chúng và tìm kiếm sự ủng hộ quốc tế. Những tranh cãi về cờ vàng cờ đỏ mới đây càng làm cho tình trạng chia rẽ trở nên trầm trọng thêm.</p>



<p>Đối với những người dân bình thường đã chịu đựng vô số sai lầm của tất cả những lực lượng chính trị quân sự từng có vai trò trên đất nước này từ sau đệ nhị thế chiến, họ thấy cả hai lá cờ mà các nhóm chống đối nhau đang giương lên để làm biểu tượng cho những cuộc tranh cãi đều chẳng có giá trị gì. Thực ra, ngày nay lá cờ vàng ba sọc đỏ chỉ còn giá trị lịch sử là chính, nhưng cũng vì thế mà lá cờ đó trở thành thiêng liêng trong tâm khảm đại đa số những người Việt xa xứ, vì họ là những người quốc gia đã phải trốn sự truy bức cộng sản. Lá cờ vàng ba sọc đỏ vì thế trở thành biểu tượng để cộng đồng ấy nhớ về nguồn cội.</p>



<p>Việc nhà cầm quyền Hà Nội mượn những bàn tay nối dài tìm mọi biện pháp triệt hạ lá cờ vàng ba sọc đỏ ở những nơi có cộng đồng người Việt sinh sống trở thành một hành động cạn tàu ráo máng, khiến ngay cả những người bàng quan cũng</p>



<p>không thể chấp nhận được. Mặt khác, việc những người quốc gia có thái độ quá khích cực đoan trong việc bảo vệ lá cờ của mình cũng chưa phải là hành động khôn ngoan.</p>



<p>Xét vê mặt biến dịch của lịch sử, trận tuyến phân liệt quốc cộng của thời kỳ trước 1975 đã hoàn toàn trở thành quá khứ. Và dù có muốn làm nổi bật khía cạnh này hay khía cạnh khác của cuộc chiến tranh nồi da nấu thịt trước đây nhằm biện minh cho ưu điểm của bên này và phơi bày khuyết điểm của bên kia thì cũng có một sự thực không thể chối cãi là trong cuộc chiến tranh quốc cộng, phe quốc gia đã thua trắng về mọi mặt. Bởi vì sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, phe cộng sản đã giành được vai trò chính thống.</p>



<p>Nói như thế không có nghĩa là nhà cầm quyền Hà Nội hiện nay đã có được địa vị chính thống. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, họ chỉ mới giành được vai trò ấy mà thôi. Để rồi trong suốt ba mươi ba năm qua, họ đã không thể biến cái vai trò đã giành được thành một địa vị. Chỉ vì họ vẫn tiếp tục những chính sách độc tài tàn bạo. Và vì thế, hiện nay vẫn có một trận tuyến trước mặt họ, đó là thế tương tranh của dân chủ chống độc tài. Điều đáng buồn là những nhóm tranh đấu cho dân chủ vẫn chỉ là những nhóm lẻ tẻ, lại luôn luôn phê phán nhau với những lời lẽ không được lịch sự, cho thấy phần lớn đều bị tác động bởi chính sách chia để trị của nhà cầm quyền Hà Nội.</p>



<p>Đã đến lúc tất cả những người Việt yêu nước không đồng tình với chính sách độc tài đảng trị của nhà cầm quyền Hà Nội phải đoàn kết lại, không phải để chống đối nhà cầm quyền ấy mà để chống đối – một cách ôn hòa và bất bạo động – đường lối độc tài đảng trị đang ngày càng hủy hoại mọi khả năng đề kháng của dân tộc trước những nguy cơ của một thời kỳ nô lệ mới.</p>



<p>Nếu như trước đây, cũng trên những trang báo này, một nhận định đã được nêu lên cho rằng trong phong trào đấu tranh cho một nền dân chủ Việt Nam hiện nay có mặt mọi khuynh hướng chính trị và tôn giáo đã từng tham gia vào sinh hoạt chính trị ở Việt Nam cận đại, thì nay nhận định ấy cần được bổ sung, rằng phong trào dân chủ hiện nay chứa trong lòng nó đại biểu của mọi khuynh hướng chính trị, tôn giáo, văn hóa, xã hội và cả giáo dục nữa. Sự hiện diện của quá nhiều khuynh hướng khác biệt như thế là một điểm yếu, nhưng cũng là điểm mạnh của phong trào nếu những người hoạt động cho dân chủ biết cách dung hóa mọi quan điểm khác biệt để tạo thành một khối thống nhất, biết cảnh giác trước những âm mưu chia để trị của nhà cầm quyền Hà Nội.</p>



<p><em>Về hai lá cờ, tượng trưng cho những người Quốc gia, là Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ và tượng trưng cho nhà nước Cộng sản là Cờ Đỏ Sao Vàng, sẽ đi vào lịch sử một khi những người dân chủ cầm quyền, tác giả Quán Tâm mạnh bạo đề nghị một lá cờ mới. Ông viết:</em></p>



<p>Giải pháp cho vấn đề là một lá cờ mới đủ để làm biểu tượng cho khát vọng dân chủ của toàn dân. Xét về mặt lịch sử, lần đầu tiên sử Việt nói đến cờ là nói đến ngọn cờ vàng của bà Triệu thị Trinh ngồi trên mình voi phất lên hiệu triệu dân chúng chống quân Ngô. Mầu vàng lại là màu da của người Việt, một sắc dân châu Á. Hầu hết những tộc người sống trên đất Việt đều có thời sử dụng trống đồng và hầu hết những trống đồng đã được phát hiện đều có hoa văn cách điệu hình chim Lạc, một biểu tượng khác của người Việt. Hình chim Lạc cách điệu cũng có thể đặt lên nền vàng để thành một lá cờ. Ba hình vẽ cách điệu chim Lạc đuổi theo nhau trên một đường thẳng đủ tượng trưng cho ba miền Bắc Trung Nam và quá trình Nam tiến của dân tộc Việt. Phải chăng đây cũng là một gợi ý để các nhà hoạt động dân chủ tham khảo?</p>



<p><em>Và để khép lại bài viết của mình, tác giả kêu gọi toàn dân đoàn kết, không phải để chống nhà nước cộng sản, cho dù là ôn hòa, bất bạo động, nhưng là chống một chế độ độc tài đảng trị. Ông viết:</em></p>



<p>Vấn đề của dân Việt hiện nay là đoàn kết và thống nhất ý chí. Khát vọng dân chủ đã được người Việt nêu lên ngay từ sau khi Nhật đảo chính Pháp hồi tháng 3 năm 1945 nhưng đến nay người Việt trên khắp nước chưa hưởng được một ngày dân chủ. Tất cả những thể chế xưng danh dân chủ đã từng tác oai tác quái trên đất nước này đều chỉ là giả hiệu, chỉ riêng chính phủ Trần Trọng Kim thực sự có ý thức dân chủ và thực tâm xây dựng dân chủ thì lại chưa đủ thời gian để thoát ra khỏi gọng kềm lịch sử. Ngày nay, lịch sử cần được viết lại trang dân chủ. Và phải được viết lại một cách cấp bách nếu dân Việt không muốn tái diễn cảnh nô lệ. Cũng đã rõ là nhà cầm quyền Hà Nội hiện nay không muốn và cũng không đủ năng lực đáp ứng khát vọng ấy của toàn dân. Chính vì vậy, hơn lúc nào hết, những người hoạt động cho dân chủ cần phải đoàn kết lại. Mọi sáng kiến nhằm tạo sự đoàn kết và đem lại ý chí thống nhất cho phong trào dân chủ đều cần được nêu lên và thực thi. Chỉ khi phong trào dân chủ gây được sự đoàn kết thì mới đủ sức tạo áp lực dựa trên những biện pháp tranh đấu ôn hòa bất bạo động để nhà cầm quyền Hà Nội buộc phải thực tâm tiến hành những chính sách thiết thực, nhắm đến lợi ích của toàn dân, đem lại an toàn cho đất nước, tránh những tai họa cận kề.</p>



<p>Xin hãy cầu nguyện cho nhà cầm quyền Hà Nội tỉnh táo hơn để có thực tâm thi hành một chính sách đoàn kết. <em>(Tháng 9 năm 2008</em><em>)</em></p>



<p><strong>Chọn Lựa Ý Nghĩa Nào Cho Ngày 30 Tháng 4?</strong></p>



<p><em>Mở bài: Tác giả cho rằng, sự kiện ngày 30 tháng 4, dù đã trôi qua mấy chục năm, nhưng vẫn còn tranh cãi, cả hai phía còn có những người cực đoan, vẫn cho bên mình là phải. Ông viết</em></p>



<p>Mỗi khi được nhắc tới, sự kiện ngày 30 tháng 4 năm 1975 luôn luôn trở thành đề tài tranh cãi gay gắt không chỉ giữa những người đã từng đứng hai bên chiến tuyến Quốc-Cộng, mà còn cả giữa những người hoặc đã cùng theo cộng sản, hoặc đã cùng theo quốc gia. Hơn nữa, ngay cả những người trẻ chưa từng chứng kiến cuộc phân tranh bi thảm của người Việt từ 1945 đến 1975 cũng không thể đồng ý với nhau trước những cách nhận định khác nhau về sự kiện lịch sử này.</p>



<p><em>Rồi tác giả</em><em> nhận xet về những thành phần cực đoan và ôn hòa của cả hai phía Quốc- Cộng.</em></p>



<p><em>Với những người cực đoan, bên cộng sản: </em>ngày ấy là ngày chiến thắng mở ra một thời kỳ độc lập thống nhất cho cả nước, tiếp theo việc họ đã giành được độc lập cho một nửa nước hồi 20 tháng 7 năm 1954; ngược lại, bên kia, những người quốc gia, chỉ thấy đó là ngày đánh dấu sự chiến thắng của những điều xấu ác trước cuộc chiến đấu tuyệt vọng vì tự do dân chủ kéo dài suốt 21 năm của một khối người quyết tâm chống lại sự tàn bạo của độc tài cộng sản, cuối cùng phải buông xuôi vì không nhận được sự hỗ trợ của quốc tế mà còn bị phá quấy bởi chính những kẻ đứng chung hàng ngũ nhưng không xác định được một lý tưởng chuyên nhất. <em></em></p>



<p>Bên cạnh những quan điểm quá khác biệt ấy, vẫn còn những cách nhìn khác của những người có thể coi là ôn hòa và tỉnh táo hơn, những người dần dần nhận ra tính cách ủy nhiệm của cả hai cuộc chiến tranh đông dương, trải nghiệm được bản chất phi nhân của chủ nghĩa cộng sản, chứng kiến những thất bại thê thảm của đường lối xã hội chủ nghĩa trong việc xây dựng ñất nước, hiểu rõ âm mưu bọn lãnh đạo chỉ dùng chiêu bài để lừa mị nhân dân nhằm thỏa mãn cho những tham vọng cá nhân. Họ cũng nhận ra những sai lầm của phe quốc gia trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cộng sản.</p>



<p>Quân dội miền Bắc dang tiến vào Dinh Độc Lập ngày 30-4, 75</p>



<p><em>Tác giả nhận xet thêm về những người ôn hòa bên phía cộng sản. Tác giả muốn nói đến những đảng viên cộng sản “phản tỉnh”, có người hiện đang nằm trong ngục tù?</em> <em>Tác giả</em> <em>cho rằng những người này</em>, họ luôn luôn khắc khoải trước sự phi lý của cuộc chiến tương tàn khiến họ phải suy ngẫm về thân phận người Việt trong bàn cờ quốc tế, và khi hiểu ra, họ đã thẳng thắn đứng về phía nhân dân, chấp nhận những đày đọa, áp bức, trù dập, tiêu diệt của kẻ đương quyền. Vì họ đã từng đứng hẳn trên một chiến tuyến, có thể họ đã từng có những sai lầm đối với nhân dân trong lúc phục vụ dưới cờ, có thể họ vẫn mang những mặc cảm tự tôn khi nhớ lại những ngày hào hùng đứng dưới cờ, có thể họ vẫn còn mang những mặc cảm xấu hổ khi biết họ đã từng có tội với nhân dân nhưng họ vẫn phải tìm cách bào chữa, cũng có thể họ triệt để hơn trong việc thú nhận những tội lỗi của mình. Dù thế nào, họ cũng vẫn là những người đáng trân trọng.</p>



<p>Họ cũng có thể là những người ngay từ ban đầu đã mơ hồ cảm nhận những sai trái của cả hai phe cộng sản lẫn quốc gia khiến cả hai phe này đều tìm cách bóp nghẹt tiếng nói của họ, nhưng họ vẫn luôn luôn tìm cách đưa được tiếng nói ấy đến với cả hai phe và đến với nhân dân, cũng như đến với toàn thể loài người có lương tri. Chính vì thế, có thể họ đã từng bị săn đuổi bởi cả hai phe…Thế nhưng, bao lâu họ còn tiếp tục kiên trì lập trường trung đạo và còn cố gắng phát biểu những suy nghĩ trung thực của mình, không chao đảo bởi danh lợi cá nhân, không bị mua chuộc bởi những kẻ đương quyền, tiếng nói của họ thực sự cần được chú ý. Vì họ không trực tiếp tham gia việc điều khiển guồng máy chiến tranh của cả hai phía, có thể họ chưa từng gây nên tội ác đối với nhân dân. Nhưng không thể vì thế mà họ tự cho mình cái quyền bôi bác những người ở cả hai phía đã phản tỉnh.</p>



<p>Đối với những người này, ngày 30 tháng 4 năm 1975 chỉ là một mốc lịch sử như mọi mốc lịch sử khác.</p>



<p>Là một mốc lịch sử, ngày 30 tháng 4 năm 1975 có thể coi như ngày đánh dấu việc chấm dứt cuộc chiến tranh tương tàn kéo dài 30 năm giữa hai phe người Việt cận đại. Dù muốn hay không, kể từ ngày ấy, người Việt đã phải sống chung với nhau để cùng xây dựng lại đất nước.&nbsp;</p>



<p><em>Cái mốc lịch sử, ngày 30 tháng 4, Quán Tâm có cùng một quan điểm với nhiều nhà quan sát khác, ở trong cũng như ngoài nước, nếu nhà cầm quyền Hà Nội ở thời điểm ấy, tuyên bố xóa bỏ hận thù, thực tâm hòa giải dân tộc, để cùng nhau xây dựng đất nước, chăm lo đời sống cho nhân dân ấm no, và yêu thương nhau v.v…thì thật may, thật hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam. Nhưng, nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội đã không làm thế, tác giả Quán Tâm viết rằng:</em></p>



<p>“Việc nhà cầm quyền cộng sản ngay sau đó vội vàng áp dụng những chính sách phản động nhất để kéo lùi đà tiến của cả dân tộc chính là tội lỗi của cộng sản không thể nào ngụy biện bào chữa được. Sự ngoan cố duy trì chế độ chính trị phản động trong lúc buộc phải đổi mới chế độ kinh tế để có thể hội nhập với thế giới khiến tiếp tục làm suy kiệt nguyên khí quốc gia hiện nay lại là một tội lỗi mới của đảng cầm quyền, cũng sẽ không thể bào chữa được. Và chính vì thế, ngày 30 tháng 4 năm 1975 không thể nào có tư cách của một ngày thống nhất, bởi đã rõ: đường lối của kẻ chiến thắng không hề đem lại sự thống nhất trong lòng người, trái lại, càng khoét sâu tình trạng chia rẽ của dân tộc, một tình trạng chia rẽ chưa xảy ra đến mức có chiến tranh.</p>



<p><em>Tác giả tiếp tục suy nghĩ về ngày 30 tháng 4. Ông cho rằng, ngày này đạ làm cho một bộ phận người dân miền Nam</em> “ngỡ ngàng đến lúc ấy vẫn còn tưởng lầm về chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, không những thế, còn làm chính những thành viên của cái chính phủ và mặt trận tay sai này giũ sạch mọi ảo tưởng”. <em>Mặc dù vậy, tác giả cũng nêu ý kiến rằng “</em>chúng ta cũng không cần thiết phải nhìn nhận ngày ấy như một ngày quốc hận.” <em>Bởi mấy hàng chữ trước đó, tác giả tuy có nói đến những đau thương do cộng sản gây ra, cụ thể là tình trạng vượt biên, </em>cũng chỉ bằng những đau thương đã diễn ra hồi cải cách ruộng đất do chính quyền cộng sản thực hie65nh trên đất Bắc, do đó, chúng ta cũng không cần thiết phải nhìn nhận ngày ấy như một ngày quốc hận”.<em> Có lẽ tác giả nhằm đến mục đích tối hậu là lòng dân thống nhất, nên mọi thành phần khác chính kiến trước đây phải tự xóa bỏ những kỳ thị, hận thù, độc đoán. Bởi tác giả đang tranh đấu, một tính cách tự nguyện và độc lập, cho một nền dân chủ của Việt Nam mai này. Dẫu sao, chúng ta cũng ghi nhận, đó là quan điểm riêng của tác giả Quán Tâm…Nói như thế, nhưng tác giả đã có một ý tưởng khá lạ lùng, là thay vì Quốc Hận, thì từ nay, bắt đầu từ năm 2009, ngày 30 tháng 4 nên gọi là NGÀY QUỐC HỐI CỦA DÂN TỘC VIỆT trên toàn thế giới, nghĩa là ở bất kỳ nơi nào có người Việt Nam sinh sống. Sau đó, ông nói rằng vào đúng giờ trưa ngày 30 tháng 4 năm 2009 sẽ là ngày đầu tiên tổ chức Ngày Quốc Hối này, chính quyền cộng sản sẽ đứng ra tổ chức, đồng bào của các tôn giáo sẽ đến những nơi thờ tự để cầu nguyện, sau những hồi chuông trong cả nước vang lên v.v…Đây cũng là ý kiến riêng của tác giả, chúng tôi dành phần nhận xét cho độc giả.</em></p>



<p>Ngày 4 tháng 5 năm 2008</p>



<p><strong>Ý Nghĩa Của Sự Kiện Thái Hà Và Tòa Khâm Sứ</strong></p>



<p><em>Mặc dù bài viết này tương đối ngắn, khoảng 3 trang báo khổ giấy A4, nhưng một người dù không am hiểu kinh nhà Phật lắm, cũng nghĩ rằng, Quán Tâm, tác giả bài viết về sự kiện Thái Hà và Tòa Khâm Sứ Hà Nội là một tín hữu của Phật giáo. Cũng có thể ông không là một tín đồ thực sự của Phật giáo, nếu &nbsp;&nbsp;hiểu một Phật tử đúng nghĩa thì người ấy phải có Pháp danh, phải thỉnh Phật và Kinh về nhà và phải tụng kinh mỗi ngày; ngoài ra còn phải giữ Bát chánh đạo: Chánh kiến, chánh tư duy,chánh ngữ, chánh niệm, … Cho nên, một người lấy bút hiệu là Quán Tâm, ngôn ngữ của nhà Phật, viết về những sự kiện thuộc giáo hội Công giáo, thì đó là một điều cho thấy một dấu hiệu của đoàn kết tôn giáo mà điều này có được thì vấn đề đoàn kết dân tộc tất yếu cũng có được. Nhưng, nhà nước cộng sản đã gạt bỏ tất cả những ý niệm về đoàn kết, về hòa giải dân tộc theo những ý nghĩa thông thường của những người văn minh, nhân bản, tự do và dân chủ, để bắt người khác phải hiểu theo ý nghĩa về đoàn kết, về hòa giải theo lý luận của mình. Cho đến nay, trước một năm, sẽ diễn ra Đại hội XIV vào đầu năm 2026, thì mọi việc như cũ</em></p>



<p><em>Chúng tôi muốn nói đến tinh thần của bài báo, tác giả Quán Tâm. Tác giả chỉ nói đến đất đai mà nhà cầm quyền Hà Nội nói là của mình, dựa vào luật đất đai: Ruộng đất thuộc về nhân dân, nhà nước quản lý. Ý nghĩa triệt để hơn là quyền tư hữu của người dân bị tước đoạt, người dân trở thành nô lệ, bao nhiêu bất hạnh thì người nô lệ gánh chịu, tiếng khóc than sẽ rơi vào hoang mạc. Một ý nghĩa khác của sự kiện Thái Hà và Tòa Khâm sứ Hà Nội, đó là Công lý. Giáo dân Công giáo ở Thái Hà và nói chung là Hà Nội, trong chuyện đòi đất đai, cùng một trật họ cũng đòi cả công lý, không chỉ cho giáo dân thuộc Tổng Giáo phận, bao gồm 10 Giáo phận ở miền Bắc Hà Nội, mà còn cho cả đất nước, cho dân tộc, Kinh và đồng báo ít người.</em></p>



<p><em>Từ những sự việc xảy ra, tác giả viết: </em><em></em></p>



<p>Đứng về mặt hiện tượng, có vẻ như chính quyền thủ đô Hà Nội đã thắng trong cuộc tranh chấp vô tiền khoáng hậu vừa qua vì rõ ràng nguyện vọng dòi đất của giáo dân Thiên chúa giáo đã không thành đạt. Tuy nhiên, về mặt ý nghĩa của sự kiện thì vấn đề không đơn giản là sự thắng thua.</p>



<p>Trước hết, nếu không có sự kiên quyết của giáo dân Hà Nội, được sự hiệp thông của giáo dân cả nước và rất nhiều cộng đoàn Ki tô hữu trên khắp thế giới, các khu đất trong diện tranh chấp vốn ở vị thế đắc địa, trước đây thuộc quyền sở hữu tập thể của giáo hội Thiên chúa giáo Việt Nam, nay tuy vẫn còn là ‘sở hữu toàn dân’ nhưng có thể đã thuộc ‘quyền sử dụng’ vài chục năm của những kẻ được các vị quan chức tham nhũng của nhà cầm quyền Hà Nội ban phát. Điều này bất kỳ ai có trí hiểu biết thông thường và có quan tâm đến thời cuộc cũng hiểu rõ như thế, chỉ trừ những kẻ quen suy nghĩ bằng cái đầu của người khác mới hiểu ngược lại vì họ đã được người ta mớm cho những suy nghĩ ngược ngạo. Như vậy, trong cuộc tranh chấp vừa qua, tuy chính quyền thủ đô Hà Nội có vẻ giành được thế thượng phong vì đã dập tắt được đòi hỏi của giáo dân Thiên chúa giáo, nhưng những cán bộ cộng sản có thẩm quyền đã lỡ cam kết ban phát quyền sử dụng các khu đất ấy cho thuộc cấp hay cho các công ty đầu tư nước ngoài lại phải ngậm bồ hòn làm ngọt vì không thực hiện được cam kết của mình.</p>



<p>Thứ hai, trong quá trình xảy ra tranh chấp, vào lúc cao trào của cuộc tranh đấu do giáo dân thực hiện, chính quyền thủ đô Hà Nội đã phải viện đến khá nhiều hạ sách, kể cả biện pháp xấu xa nhất là việc khích động lòng căm thù lương giáo. Bằng trò ném đá dấu tay nhưng lại để lòi đuôi, chính quyền thủ đô Hà Nội mượn tay các tổ chức ngoại vi của đảng viết bài nhắc lại lịch sử hàm ý kết tội giáo dân Thiên chúa giáo Việt Nam đã từng đóng vai trò đạo quân thứ năm giúp thực dân Pháp xâm lăng nước ta; gián tiếp khích lệ những người không theo Thiên chúa giáo phản đối cuộc tranh đấu của giáo dân Hà Nội. Rất may, ngày nay người Việt đã hiểu rõ chính sách chia để trị của nhà cầm quyền Hà Nội nói chung, của chính quyền thủ đô Hà Nội nói riêng, nên đã không xảy ra việc người không theo đạo Thiên chúa phản ứng với cuộc tranh đấu chính đáng của giáo dân Hà Nội. Rốt cuộc, những bài viết có tính cách khích bác ấy chỉ đủ để là bằng chứng tố cáo dã tâm chia rẽ dân tộc của nhà cầm quyền Hà Nội miễn sao thỏa mãn tham vọng của họ bằng mọi giá.</p>



<p><em>Trong cuộc đòi lại đất đai và công lý của những giáo dân Hà Nội, nhà cầm quyền Hà Nội đã bầy ra nhiều trò ma quỷ, kể cả việc sử dụng linh mục công giáo để bênh vực việc làm sai trái của mình, nhưng nhà nước cộng sản chỉ có mặt tại Hà Nội từ sau ngày 20-7-1954 thôi, còn giáo hội Công giáo Việt Nam, ở Đàng Ngoài, chính thức được thành lập dưới danh xưng Địa phận Tây Đàng Ngoài và Nam Đàng Ngoài vào ngày 14-01-1846.&nbsp; Vì vậy, mọi giấy tờ, văn bản gốc về đất đai thuộc quyền sở hữu của giáo hội đã được thiết lập ngay ở thời kỳ này. Cho nên, chính quyền Hà Nội thua. Vì thua, nên Nguyễn Minh Triết, chủ tịch Nước, Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Chính phủ đã phải sang Vatican cầu xin ở đây giúp đỡ họ. Một lần nữa, Vatican mắc lừa cộng sản. Giáo dân Công giáo Việt Nam đau lòng lắm, đành gạt nước mắt nhìn vị Tổng Giám mục đáng kính yêu của họ là Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt rời Tòa Giám mục Hà Nội để lui về làm một Đan sĩ của Đan viện Thánh Mẫu Châu Sơn, tỉnh Ninh Bình. Cái thua thứ hai của chính quyền Hà Nội ngày ấy là khu đất Tòa Khâm sứ đã không thể trở thàh một khách sạn đàng điếm, đĩ thõa diễn ra ngày đêm của &nbsp;&nbsp;những kẻ nhiều tiền bạc. Nó đã trở thành công viên Hàng Trống. Vì thế, nay đất này thuộc sở hữu toàn dân…</em></p>



<p><em>Trong vụ việc ở Thái Hà và Tòa Khâm sứ Hà Nội, còn một khía cạnh khác liên quan đến giáo dân Công giáo thuở khai sinh. Họ bị gán cho tội “theo Tây” hay “thông đồng với thực dân”… Điều này không đủ mạnh theo ý muốn của Hà Nội trách nhiệm trong vụ ấy. Bởi vì, sử sách và nhiều chứng cứ cho thấy giáo dân vô can.</em></p>



<p><em>Tác giả Quán Tâm đã nhìn vào khía cạnh này, và đưa ra mấy vấn đề:</em></p>



<p>&nbsp;1.Việc Pháp xâm lược VN vốn là một bộ phận tât yểu của chinh sách thực dân phương Tây trong thế kỷ 19 khi nền tư bản non yếu của phương Tây bắt đầu đi tìm thị trường mới và nguồn nguyên liệu mới cho hoạt động kỹ nghệ của nó. Không ai phủ nhận việc các giáo sĩ Thiên chúa giáo hăm hở truyền đạo Chúa có mặt trong các đoàn quân viễn chinh phương Tây, nhưng không vì thế mà có thể kết luận rằng người Thiên chúa giáo Việt Nam sẵn lòng làm tay sai cho thực dân. Có thể khẳng định rằng: ban đầu, chính những chỉ dụ cấm đạo của vua chúa phong kiến Việt Nam đã góp phần đẩy người Thiên chúa giáo Việt Nam đứng về phía đối kháng với nhà cầm quyền; sau đó, chính những phong trào bình Tây sát Tả&nbsp; của các văn thân VN lại thực sự buộc người Thiên Chúa giáo Việt Nam phải lựa chọn một chỗ đứng nhọc nhằn là chống lại đồng bào mình. Người giáo dân Việt Nam trong giai đoạn dó chính là những nạn nhân.</p>



<p>2.Quá khứ không phải là cơ sở để kết luận toàn bộ tương lai. Mọi con người đều có khả năng thay đổi để trở nên tốt ñẹp hơn. Trong những hoàn cảnh không thuận lợi, có thể đã có những người Thiên chúa giáo Việt Nam góp công vào việc giúp đỡ thực dân Pháp xâm lược đất nước mình. Nhưng phải chăng chỉ có người Thiên Chúa giáo mới làm như thế? Trong hàng ngũ những người thỏa hiệp với Pháp ngay từ đầu, chẳng lẽ chỉ có những người Thiên chúa giáo mà thôi hay sao? Vì thế, việc gợi ý rằng người đồng bào Thiên Chúa giáo sẽ tiếp tục đóng vai trò đạo quân thứ năm của ngoại bang là một kết luận hoàn toàn ác ý, chỉ có mục đích gây chia rẽ dân tộc, chứ không chỉ là một nhận định chủ quan phiến diện mà thôi.</p>



<p>3.Đã công nhận mọi tôn giáo đều bình đẳng thì việc khích bác giữa các tôn giáo là vi phạm quyền bình đẳng của các tôn giáo. Đã công nhận các tôn giáo có quyền truyền giáo thì việc lên tiếng cảnh giác về âm mưu giành giật tín đồ giữa các tôn giáo cũng là vi phạm quyền tự do truyền giáo. Việc các tôn giáo phê phán các tín điều của nhau là vi phạm quyền tự do tín ngưỡng của người khác. Luật pháp Việt Nam công nhận quyền tự do có tôn giáo và không có tôn giáo, nhưng không vì thế mà người không có tôn giáo được quyền phê phán tín điều của người có tôn giáo. Việc sử dụng lịch sử để ám chỉ người theo tôn giáo này hay người theo tôn giáo kia đã có thời hành sử sai trái đối với dân tộc cũng là hành vi xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng.</p>



<p>Nay, xin trở lại với ý nghĩa của vụ Thái Hà và Tòa Khâm sứ Hà Nội.</p>



<p>Thứ ba, lâu nay truyền thông nhà nước cộng sản luôn chiếm ñộc quyền ban phát tin tức cho toàn dân. Tin tưởng vào vai trò ñộc quyền ñó, trong quá trình tranh chấp ñất ñai ở Thái Hà và Tòa Khâm sứ Hà Nội, chính quyền thủ ñô Hà Nội ñã mở hết công suất ñưa tin một chiều bằng cả báo viết, báo nói, báo ñiện tử và báo nghe nhìn. Tiếc thay cho họ, trong thời buổi bùng nổ thông tin, trước những sự kiện diễn ra quá rầm rộ ngay tại thủ ñô, người dân ñã buộc phải tìm hiểu sự thật bằng những kênh thông tin khác. Và họ ñã phát hiện tính cách dối trá của truyền thông nhà nước. Tất nhiên, không phải chỉ từ vụ Thái Hà và Toà Khâm sứ người dân mới biết rằng truyền thông nhà nước chỉ toàn dối trá, nhưng chính nhờ vụ Thái Hà và Tòa Khâm sứ mà số lượng người nhận thức ñược tính cách dối trá của truyền thông nhà nước ñã tăng lên gấp bội. Ý nghĩa quan trọng của vấn ñề là từ nay, sẽ ngày càng có nhiều người dân tìm ñến thông tin từ những nguồn phi quốc doanh.</p>



<p>Thứ tư, nhờ việc theo dõi thông tin của vụ Thái Hà và Tòa Khâm sứ trên những phương tiện truyền thông phi quốc doanh, những người lâu nay thiếu cảm tình với đồng bào Thiên Chúa giáo &#8211; vì khác tín ngưỡng và vì có sẵn thiên kiến do đã tiếp thu những luận điệu tuyên truyền ác ý – chứng kiến sự kềm chế và tính kỷ luật của người giáo dân trong quá trình tranh đấu, họ bắt đầu cảm phục tinh thần hy sinh của người đồng bào Thiên Chúa giáo của mình. Họ bắt đầu chuyển hoá nhận thức của họ về người đồng bào Thiên Chúa giáo. Họ bắt đầu xét lại những định kiến trước đây về người đồng bào Thiên Chúa giáo. Họ mơ hồ hiểu được tại sao vào năm 1954, hầu hết giáo dân Thiên Chúa giáo đều tìm cách rời bỏ miền Bắc vào Nam. Cũng xin nói thêm, không phủ nhận rằng lúc phong trào di cư 1954 nổ ra, những kẻ giúp đỡ tổ chức cuộc di cư đó như Edward Lansdale và Thomas Anthony Dooley III đã chế ra một khẩu hiệu cực kỳ ngu xuẩn rằng “Chúa đã vào Nam” để kích thích người Thiên Chúa giáo rời bỏ miền Bắc, những người bình tâm suy nghĩ đã nhận ra rằng, khẩu hiệu ấy chẳng những không phản ánh đúng lý do thôi thúc người miền Bắc di cư mà còn làm hại cho ý nghĩa chính trị của cuộc di cư vĩ đại năm nào.</p>



<p>Thứ năm, vào lúc cuộc đấu tranh của giáo dân Hà Nội lên đến đỉnh điểm của nó, chính quyền thủ đô Hà Nội lại bồi tiếp một thủ đoạn cực kỳ xấu xa bằng việc cắt xén câu nói trung thực của ngài Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt nói lên tình trạng nhục nhã của người Việt cầm hộ chiếu Việt Nam khi ra nước ngoài để vu cáo rằng ngài Tổng Giám mục không có tinh thần yêu nước, coi thường tư cách công dân Việt Nam. Khi các phương tiện truyền thông phi quốc doanh trưng ra đầy đủ lời phát biểu của ngài Tổng Giám mục, người dân hết sức ngỡ ngàng trước thói ‘cả vú lấp miệng em’ của chính quyền thủ đô Hà Nội. Từ đó, người dân Việt hiểurằng họ không còn có thể tin được bất kỳ một thông tin nào xuất phát từ hệ thống công quyền cộng sản. Một điều đáng chú ý là sau đó, báo Công Giáo và Dân Tộc, một tờ báo vốn được coi là cơ quan tuyên truyền ngoại vi của đảng cộng sản Việt Nam trong hệ thống tôn giáo vận, đã đăng tải nguyên văn bài phát biểu của ngài Tổng Giám mục, cho thấy có sự chuyển biến trong nhận thức của những người Thiên Chúa giáo vẫn phục vụ hoạt động tuyên truyền một chiều của đảng cộng sản.</p>



<p>Thứ sáu, mọi người đều biết rằng một trong những nỗi uất ức sâu sắc nặng nề nhất hiện diện trên khắp cả nước suốt hàng chục năm qua có nguyên nhân từ tình trạng cán bộ của đảng cộng sản Việt Nam và của nhà cầm quyền Hà Nội dựa vào quy định đất đai là sở hữu toàn dân để đẻ ra vô số những biện pháp chính quyền nhằm cướp bóc lúc trắng trợn lúc tinh vi cả đất đai lẫn nhà cửa của nhân dân. Việc khiếu kiện về đất đai và nhà cửa đã là nỗi nhức nhối của nhân dân khắp nước. Hành động của giáo dân Thiên Chúa giáo đòi đất tập thể chính là một cách bày tỏ thái độ thông cảm với những người bị cướp đoạt đất đai nhà cửa mang tính cách cá nhân. Việc nhà cầm quyền Hà Nội dùng thủ đoạn biến các khu đất tranh chấp thành công viên chứng tỏ sự thất lý trước giáo dân. Diều này có tính cách khích lệ đối với những người đang tiếp tục đòi công lý cho bản thân mình và gia ñình mình.</p>



<p>Thứ bảy, bản văn trình bày quan điểm của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam về hoàn cảnh đất nước cho thấy cơ cấu quyền lực cao nhất của giáo hội Thiên Chúa giáo ở Việt Nam đã nhận định một cách sắc sảo về những điều hết sức cụ thể trong tình hình Việt Nam hiện nay. Một trong những đề nghị của Hội Đồng Giám Mục là luật pháp cần phải điều chỉnh sao cho ‘người dân có quyền làm chủ tài sản, đất đai của họ, đồng thời người dân cũng phải ý thức trách nhiệm của mình dối với xã hội. ’ Ngoài ra, trong bản văn nói trên, Hội Đồng Giám Mục đã công khai nói đến việc thông tin bị truyền thông nhà nước bóp méo và cắt xén làm ảnh hưởng đến danh dự và uy tín của cá nhân cũng như tập thể. Bản văn này cũng đã được đăng tải công khai trên tờ Công Giáo và Dân Tộc. Đây là lần đầu tiên, những lời lẽ trực tiếp đánh thẳng vào tư cách lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam được đăng tải công khai trên báo do đảng cộng sản kiểm soát.</p>



<p>Thứ tám, sau khi đoàn đại diện của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam tiếp xúc với viên Thủ tướng đại diện cho nhà cầm quyền Hà Nội, truyền thông nhà nước lại đưa ra một thông báo hết sức trịch thượng trong khi sau đó Hội Đồng Giám Mục chỉ gửi chung cho giáo dân một lá thư đơn sơ cho rằng nhờ sự cầu nguyện của giáo dân mà cuộc gặp gỡ đã có sự trao đổi thẳng thắn khiến con đường đối thoại đã được khai mở sau một thời gian tưởng như bế tắc. Tuy vậy, các ngài vẫn nhắc nhở rằng giáo dân cần phải tiếp tục hiệp sức cầu nguyện vì ‘con đường đối thoại tìm về chân lý, công lý và lợi ích lâu dài của đất nước…đòi hỏi khôn ngoan và kiên nhẫn. ’ Lời lẽ của bức thư cho thấy người ta cần phải đọc giữa hai hàng chữ. Ý nghĩa của vấn đề là viên Thủ tướng kia vẫn đang cần sự thông cảm của các vị lãnh đạo tinh thần. Đây là một sự kiện vô cùng mới trong chế độ cộng sản.</p>



<p><em>Tác giả kết luận:</em></p>



<p>Trở lên là một số thông điệp mặc nhiên mà người quan sát có thể nhận ra từ sự kiện Thái Hà và Tòa Khâm sứ. Từ những thông điệp đó, người ta có thể nhận ra rằng trong tình hình hiện nay, những người đồng bào Thiên Chúa giáo đang chọn con đường thực sự đồng hành cùng dân tộc, cùng chia sẻ nỗi đau của những người dân thấp cổ bé miệng bị cường quyền bắt nạt. Và họ đã chứng tỏ rằng nếu có sự đoàn kết thì dù cho có bị bắt nạt, sự bắt nạt ấy cũng không thể quá thô bạo. Trên hết, để tìm được chân lý, công lý và lợi ích lâu dài cho đất nước, người đi tìm cũng cần phải khôn ngoan và kiên nhẫn. Và điều quan trọng là phải biết đối thoại. Người đồng bào Thiên Chúa giáo đã từng bị mang tiếng thông đồng với giặc. Bằng hành động dũng cảm cầu nguyện tìm chân lý, công lý và lợi ích lâu dài cho dân tộc, người đồng bào Thiên Chúa giáo xứng đáng được coi trọng như mọi con dân Hồng Lạc khác. Việc tiếp tục khơi gợi chuyện cũ với lối trình bày xuyên tạc lịch sử theo tính cách bới lông tìm vết để khích động căm thù luôn là những biện pháp xấu xa nhất, không xứng đáng với tư cách con Lạc cháu Hồng. Hy vọng những ai còn ngờ vực thiện ý của vụ tranh đấu Thái Hà và Tòa Khâm sứ phải biết nghĩ lại để thấy rằng đất đai chưa bao giờ là điều quan trọng, mà chân lý, công lý và lợi ích lâu dài của dân tộc mới đáng kể. &nbsp;(Viễn Tượng Việt Nam, Tháng 11-2008)</p>



<p>Nhận xét về tác giả Quán Tâm:</p>



<p>Trên đây là một số ít, rất ít, chưa được 1/3 số bài anh Quán Tâm viết và in trên tờ Viễn Tượng Việt Nam, sau đó anh đã gửi hết cho tôi, khi tôi ngỏ lời với anh là sẽ viết về anh cùng một số bạn hữu văn chương khác.</p>



<p>Anh Quán Tâm viết về nhiều đề tài, ký nhiều bút hiệu khác nhau như: Tâm Thông, Quang Phục…Trong số hơn 30 bài, đề tài về dân chủ là nhiều nhất, 08 bài, không kể còn một số bài khác mà phần nội dung, tác giả cũng đá động đến vấn đề dân chủ. Đấy là một chọn lựa chính xác của tác giả Quán Tâm, trong thời kỳ tờ Viễn Tượng Việt Nam xuất hiện, từ năm 2006-2009, ra được 36 số báo.</p>



<p>Một số bài ngoài đề tài dân chủ:</p>



<p>-Sánh vai cùng năm châu (Dịp Hội nghị APEC 14 do Việt Nam đăng cai) (VTVN tháng 12-2006)</p>



<p>-Học tập gì ở đạo đức Hồ Chí Minh</p>



<p>-Thảm họa cần báo động</p>



<p>-Tìm hiểu vấn đề Hoàng Sa-Trường Sa để có một thái độ thích hợp</p>



<p>-Từ hội thảo về tranh chấp chủ quyền biển Đông đến hành động để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ</p>



<p>-Tản mạn trước thềm Đại hội (ĐH 10 ĐCSVN)</p>



<p>-Nhận diện cuộc đảo chánh Bolshevik năm 1917 trong cuộc đấu tranh cho một nền dân chủ ở Việt Nam</p>



<p>-Nhân cái chết của ông Võ Văn Kiệt (Ký tên Quang Phục)</p>



<p>-Vài suy nghĩ nhân sự biến Tây Tạng</p>



<p>-Văn hóa FPT (ký tên Quang Phục)</p>



<p>-Chọn lựa ý nghĩa nào cho ngày 30 tháng 4 (ký tên Tâm Thông)</p>



<p>-Ý nghĩa của sự kiện Thái Hà và Tòa Khâm sứ (Tháng 11/2008)</p>



<p>v.v….</p>



<p>Trở lại về vấn đề dân chủ, một chọn lựa sáng suốt của Quán Tâm, bởi dân chủ là chuyện quan yếu hàng đầu của Việt Nam sau hàng trăm năm lệ thuộc, độc tài, chiến tranh, người dân Việt chịu bao nỗi oan khiên, uất ức mà không biết kêu đến ai! Bây giờ, mọi con tim, mọi tấm lòng phài gào thét lên bốn chữ: “Việt Nam Dân Chủ!” – “Việt Nam Dân Chủ!”&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</p>



<p><strong>NỀN DÂN CHỦ, SỰ TỒN VONG CỦA NHÂN LOẠI VÀ HOÀN CẢNH VIỆT NAM</strong></p>



<p><em>Với tiêu đề này, tác giả quan sát tình hình thế giới về nhiều vấn đề đã và vẫn đang xảy ra, ảnh hưởng đến sự tồn vong của nhân loại, trong đó có Việt Nam. Tác giả nhận xét cách tổng quát về tình hình những quốc gia dân chủ và những quốc giả do nhà cầm quyền độc tài lãnh đạo.</em></p>



<p><em>Trước hết, tác giả nói đến vụ quân khủng bố tấn công vào khách sạn Taj Mahal ở Mumbai, Ấn Độ hồi cuối tháng 11-2008, vụ khủng bố ngày 11-9-2001 ở Trung tâm Thương mại Quốc tế tại Nữu Ước; tác giả cũng nhắc đến “những người dân Việt vào độ tuổi trung niên đã từng sống ở miền Nam Việt Nam trước ngày 30 tháng 4 năm 1975 vẫn chưa thể nào quên được nỗi kinh hoàng mà bọn “gieo rắc sợ hãi” gây ra khi chúng tiến hành những hành động hoạt động nhằm đem lại tiếng vang về quyết tâm chống Mỹ của một bộ phận người Việt.</em></p>



<p><em>Rồi tác giả nói đến chiến dịch chống khủng bố, mà theo tác giả,</em> những hoạt động khủng bố chắc chắn là một trong những hoạt động tồi tệ nhất mà con người đã nghĩ ra từ lâu để sử dụng trong việc tranh giành quyền lực. <em>Bởi vậy, ông tỏ ra hoài nghi về những hành động của một số chính phủ trong việc chống khủng bố.</em></p>



<p><em>Ông viết:</em></p>



<p>Điều đáng nói là thái độ của các chính phủ trong việc tham gia vào chiến dịch chống khủng bố toàn cầu hiện nay đã khiến cho dư luận nghi ngờ rằng những kẻ cầm quyền chỉ sử dụng chiến dịch chống khủng bố như một chiêu bài để gia tăng sự đàn áp đối với những tổ chức đối lập chính trị ôn hòa. Dư luận còn nghĩ rằng chính các chính phủ đã tham gia vào việc nuôi dưỡng bọn khủng bố để có lý do duy trì áp lực kiểm soát trên các nhóm đối lập.</p>



<p><em>Sau đó tác giả đề cập đến một số lãnh vực có tính toàn cầu, như về </em>suy thoái kinh tế, đổ vỡ tín dụng liên quốc gia, sự phá sản của những đế chế tài chánh vững mạnh hàng đầu trên thế giới, nguy cơ cạn kiệt nguồn năng lượng, những xì căng đan về nhiễm độc thực phẩm, dược phẩm và sản phẩm biến đổi gien… đã làm gia tăng nỗi hoang mang của con người&#8230;.Có vẻ như sự dối trá đã trở thành một tiêu chuẩn đạo đức mới của quyền lực khiến cho mọi chính phủ đều thi nhau tiến hành những chính sách lừa gạt, lừa gạt dân chúng và lừa gạt những chính phủ khác. Ngay cả tổ chức quốc tế lớn nhất là Liên hiệp quốc cũng ngày càng mất uy tín. Trong khi đó, những vấn đề ảnh hưởng đến sự tồn vong của loài người đang ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn, đòi hỏi sự hợp tác chân thành của toàn thể loài người mới có khả năng giải quyết được; đó là vấn đề ô nhiễm môi trường, vấn đề giảm sút tài nguyên thiên nhiên, vấn đề diện mạo của quả đất bị biến ñổi, và trên hết là vấn đề suy thoái về nhân cách vì sự xâm lăng của thế giới ảo và của chủ nghĩa tiêu thụ.</p>



<p><em>Những vấn nạn này</em><em>, phải chăng là những dấu chỉ nhân loại sẽ bước vào tình trạng suy vong? Tất nhiên là không, cho tới nay, những nhà quan sát tỉnh táo, sáng suốt, chưa có một người nào khẳng định nhân loại đang đứng trước hố thẳm của diệt &nbsp;vong. Tác giả Quán Tâm cũng vậy. Ông nghĩ rằng: </em>Chính trong hoàn cảnh khẩn cấp này, đã thấy diễn ra những vận động của các tôn giáo nhằm tìm một giải pháp sống còn cho loài người. Vả đã từ lâu, không ít những tổ chức phi chính phủ vẫn có những đóng góp tích cực cho việc nhắc nhở loài người phải quan tâm đến cái nôi của mình. Tại các quốc gia có truyền thống dân chủ, dù sao cũng có các nhóm áp lực ở đó vẫn còn những con người minh triết đủ nhân cách và uy tín để tác động đến chính sách nhà nước giúp những kẻ cầm quyền biết chú tâm đến quyền lợi lâu dài của công dân họ nói riêng, đến sự tồn vong của loài người nói chung. Rất tiếc là ảnh hưởng của các tôn giáo và những tổ chức phi chính phủ đối với những xứ độc tài vẫn không đáng kể nên loài người vẫn thường xuyên đứng trên bờ vực của tình trạng tận thế.</p>



<p>Để cứu vãn số phận con người, việc tranh đấu cho dân chủ trên quy mô toàn thế giới, xóa bỏ các định chế độc tài đang tiếp tục bóp nghẹt mọi quan điểm đối lập của người dân, là cấp bách phải thực hiện bằng được.</p>



<p><em>Tác giả xác nhận rằng, nền chính trị ở các quốc gia có truyền thống dân chủ không hẳn là êm ả, có nơi có lúc, ở những nền chính trị đó, vẫn bị những thế lực ngầm, những ông tài phiệt câu kết với nhau áp chế, có thể khuynh đảo chính quyền nào yếu tay chèo. Tác giả nói đến những điều có thể làm được ở các nước dân chủ và không thể làm được ở các nước độc tài. Chẳng hạn ở Myanma và ở Trung Quốc. Vì thế, ông nói phải tranh đấu, ôn hòa, để có được dân chủ. Rồi tác giả nêu lên những thuộc tính của dân chủ. Nhà quan sát Quán Tâm cũng nêu lên một khuyết điểm của bản Hiến chương của tổ chức ASEAN. Ông cũng mạnh mẽ nói tiếng nói không e ngại và không sợ hãi của mình về tình trạng thê thảm của mọi mặt trong đời sống của người dân. Thí dụ:</em></p>



<p>…những xứ độc tài luôn luôn có những kẻ ngồi xổm lên luật pháp; luôn luôn có những kẻ bao che những nhóm người hưởng đặc quyền đặc lợi khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, gây ra ô nhiễm môi trường, đóng góp vào việc làm biến đổi khí hậu, hủy diệt môi sinh, tạo tình trạng bất ổn xã hội vì khoét sâu hố ngăn cách giàu nghèo, đẩy một bộ phận dân chúng lao vào con đường cướp bóc, làm tiền đề cho việc cung cấp nhân sự đối với các tổ chức khủng bố.<em></em></p>



<p><em>Sau cùng, tác giả nêu lên ý kiến, có hai trường hợp, Việt Nam có dân chủ.</em></p>



<p><em>Xin tiếp tục theo dõi những nhận xét của tác giả trong các vấn đề như nêu trên:</em></p>



<p>Nhân dân Việt Nam cũng đang ở trong hoàn cảnh buộc phải đòi hỏi dân chủ. Trong suốt gần bảy chục năm qua, tương tự các xứ sở độc tài khác, chính quyền ở Việt Nam chịu sự kiểm soát độc đoán của một đảng. Cũng nên nhắc lại rằng chỉ riêng một giai đoạn ngắn từ 1954 đến 1975 và riêng trong phạm vi miền Nam Việt Nam từ vĩ tuyến 17 xuống đến Cà Mau, một bộ phận người Việt đã xây dựng được một thể chế dân chủ tuy chưa hoàn chỉnh. Đảng kiểm soát chính quyền ở Việt Nam tự nhận là cộng sản nhưng thực ra đảng ấy chỉ là một nhóm cường hào kiểu mới ngay từ lúc nhen nhóm.</p>



<p>Rõ ràng, trong hoàn cảnh Việt Nam, đòi hỏi dân chủ là một đòi hỏi cấp thiết. Chỉ có dân chủ mới khiến chính quyền được sắp xếp lại trên tinh thần củng cố trách nhiệm của kẻ cai trị. Và chỉ có tinh thần trách nhiệm của kẻ cai trị mới ổn định được tình thế nghiêm trọng của xã hội Việt Nam mà không gây nên đổ máu. Có hai phương cách để thực hiện dân chủ. Phương cách tốt nhất là việc thực hiện dân chủ từ trên xuống. Nghĩa là nhà cầm quyền Hà Nội thực sự ý thức được tính cách nghiêm trọng của tình thế mà tự động tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý nghiêm túc để định ra một hiến pháp mới. Phương cách còn lại đòi hỏi nhiều hy sinh của những người có tâm huyết với đất nước. Trong mọi trường hợp, những người hoạt động cho một nền dân chủ đích thực của người Việt đều phải nỗ lực vận động.</p>



<p>Khi một nền dân chủ đích thực không thể thực hiện được ở Việt Nam trong một tương lai vài ba năm nữa, tình trạng suy thoái về nhân cách bởi sự xâm lăng của thế giới ảo và của chủ nghĩa tiêu thụ sẽ lan rộng như một cơn đại dịch, tác động đến tất cả mọi con người của xã hội Việt Nam. Lúc ấy, chuyện gì đến sẽ là điều mà ai cũng có thể suy đoán được.</p>



<p><em>Không biết có phải chủ quan hay không, tác giả nêu lên một tình trạng hoàn cầu (có Việt Nam) lâm nguy, để rồi ông đưa ra một giải pháp cứu vãn, đó là dân chủ.. Chỉ có dân chủ mới cứu vãn được con người trước nguy cơ diệt vong. Nhưng đấy chỉ là một giải pháp chính trị. Những gì có liên quan đến con người, còn phải có văn hóa nhân bản và tôn giáo. Tuy nhiên, đấy là tiền đề. Có dân chủ rồi sẽ có tự do tôn giáo, tự do lập hội, tự do ngôn luận, tự do báo chi v.v…</em></p>



<p><em>Trong số hơn 30 bài đã in trên tờ Viễn Tượng Việt Nam, chúng tôi cũng chỉ nêu lên một số bài trong phần nhận xét về Quán Tâm, tất cả đều cần đọc Tuy nhiên, chúng tôi đã nói với anh Quán Tâm rằng, do sức khỏe, tôi không thể điểm hết được, chỉ có thể với những vấn đề căn bản hiện nay thôi. Mà nhiều bài của anh đều có tính thời sự cách riêng với Việt Nam, thế mà chúng tôi lại chỉ điểm được ít bài quá, về dân chủ. Âu đó cũng là cách hợp tác với tác giả lưu tâm nhiều hơn về dân chủ.</em></p>



<p><em>Tác giả Quán Tâm có bài thơ có tính phiếm chỉ cần lưu lại, chúng tôi dùng để kết luận phần dành cho anh:</em></p>



<p><strong>Thơ QT</strong></p>



<p><strong>“Mừng” Hội Nhập</strong></p>



<p>Ý đồ cộng sản vẫn tinh khôi</p>



<p>Vọng tưởng còn nghe lạnh đất trời.</p>



<p>A pếch chập chờn cơn gió thoảng</p>



<p>A san lờ lững tảng mây trôi.</p>



<p>Núi Nùng khói quyện màu kim cổ</p>



<p>Sông Nhị dòng đưa giọng khóc cười</p>



<p>Ai thắng ai nay thôi chẳng nhắc</p>



<p>Giương buồm, bè mảng cũng ra khơi.</p>



<p>.</p>



<p>Giương buồm, bè mảng cũng ra khơi,</p>



<p>Quyết chí chen chân chốn chợ trời</p>



<p>Đi tắt đón đầu mưu một thuả,</p>



<p>Luồn sâu bám chặt kế muôn đời</p>



<p>Cựa mình mấy chốc bằng vai hổ,</p>



<p>Thở hắt vài hơi đáng mặt voi</p>



<p>Chiếc ghế Bảo an còn vắng chủ Dù cao, thử sức cứ trèo chơi</p>



<p>HẾT</p>



<p><strong>Khải Triều</strong></p>



<p></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Khải Triều: PHỔ ĐỨC</title>
		<link>https://t-van.net/khai-trieu-pho-duc/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Khải Triều]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 24 May 2025 09:19:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[NHỮNG NGƯỜI BẠN VĂN CHƯƠNG]]></category>
		<category><![CDATA[Những người bạn văn chương]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=79917</guid>

					<description><![CDATA[(1940-2013) &#160;Tên thật Lê Phước Độ, sinh tại Sài Gòn ngày 27 tháng 01 năm 1940 (nhằm 19 tháng Chạp Kỷ Mão-giờ Ngọ). Quê cha: Văn-Ly Điện-Bàn, Quảng Nam. Quê mẹ: Cai Lậy, Vĩnh Long. Xuất thân trường Hồ Ngọc Cẩn, Gia Định (1958). Thực nghiệp Hỏa xa (1959-1962). Công chức Bộ Chiêu Hồi (1963-1964). [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/05/image026.png?strip=all&fit=127%2C151&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="127" height="151" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/05/image026.png?strip=all&fit=127%2C151" alt="" class="wp-image-79918" style="width:159px;height:auto"/></a></figure></div>


<p></p>



<p>(1940-2013)</p>



<p>&nbsp;Tên thật Lê Phước Độ, sinh tại Sài Gòn ngày 27 tháng 01 năm 1940 (nhằm 19 tháng Chạp Kỷ Mão-giờ Ngọ). Quê cha: Văn-Ly Điện-Bàn, Quảng Nam. Quê mẹ: Cai Lậy, Vĩnh Long. Xuất thân trường Hồ Ngọc Cẩn, Gia Định (1958). Thực nghiệp Hỏa xa (1959-1962). Công chức Bộ Chiêu Hồi (1963-1964). Giảng viên Bộ Thanh Niên (Hòa Cầm và Đông Ba 1965). Biên tập viên Tổng Bộ Thông Tin (1966-1968).</p>



<p>Diễn viên ngâm thơ Ban Tao-Đàn và Thi Nhạc Giao Duyên Đài Truyền thanh Sài Gòn (1963-1967). Cùng thi sĩ Đinh Hùng ra tuần báo thơ đầu tiên tại Việt Nam: Tao – Đàn Thi &#8211; &nbsp;Nhân (1967). Cộng lực với nhà văn Hoàng Xuân Việt ra tuần báo Nhân-Xã và thực hiện chương trình Vấn Đề Của Chúng Ta trên truyền thanh và truyền hình. Hợp tác với nữ văn sĩ Nguyễn Thị Vinh qua các giai phẩm:&nbsp; Văn Hóa Ngày Nay, Tân Phong, Đông Phương. Cộng tác với Thượng tọa Thích Đức Nhuận trên Nguyệt san Vạn Hạnh, Hóa Giải. Năm&nbsp; 1969 Tổng Thơ ký Nguyệt san Tin Sách-Tiếng nói của Trung tâm Văn Bút Việt Nam. Cuối năm 1969 nhập ngũ, phóng viên báo chí quân đội, Cục Tâm lý chiến. Năm 1972 cùng danh ca Mộc Lan, nhà văn Hồ Trường An chủ trương Nhạc chủ đề trên vô tuyến truyền hình.</p>



<p>Trong 18 năm chủ trương cơ sở xuất bản Nhân Chứng, in gần 30 tác phẩm, hầu hết là thi ca và hợp tuyển văn thơ của hơn 100 tác giả hiện đại.</p>



<p>Đã xuất bản:</p>



<p>-Cung điệu ngàn phương (1963)</p>



<p>-Vòng thời gian (1964)</p>



<p>-Tiếng ca quê hương (1965)</p>



<p>-Linh hồn cỏ biếc (hợp tác với nữ sĩ Hoàng Hương Trang (1966)</p>



<p>-Hiện thân (1967)</p>



<p>-Nói cho con (1968)</p>



<p>-Giấu mặt (1969)</p>



<p>-Ba mươi hai bài lục bát (1970)</p>



<p>(Trích trong tập Tiếng thơ, 2001 của Phổ Đức)</p>



<p>Những tập thơ của Phổ Đức trên đây, xuất bản trước năm 1975, may ra chỉ còn tại nhà của ông. Còn chúng tôi thì không còn, sau biến cố ngày 30-04-1975. Hiện nay chúng tôi chỉ còn lưu trữ mấy tập thơ của Phổ Đức:</p>



<p>-Thơ-Những dòng sông đều chảy (2001)</p>



<p>-Hai mươi thế kỷ thơ (2001)</p>



<p>-Thơ của đời (2002)</p>



<p>-Những dòng thơ tưởng niệm (2000)</p>



<p>Phổ Đức Với Thơ Của Đời</p>



<p>Nhà thơ Phổ Đức có khuynh hướng, mỗi khi thực hiện một tác phẩm thi ca nào đó, ông đều đưa cả thơ của bạn hữu vào. Trường hợp hai tập thơ chúng tôi ghi ở trên đây: Hai mươi thế kỷ thơ, Thơ của đời thì khác. Tập Thơ của đời, ông viết về bạn hữu hoặc những vị ông kính trọng. Còn tập Hai mươi thế kỷ thơ, ông viết về nhiều đề tài trong cuộc sống của con người mà các bậc tiền bối từ những thế kỷ trước, đã trải qua và đã ghi lại trong mấy câu thơ. Đến tập Những dòng thơ tưởng niệm, Phổ Đức vừa đăng thơ của mình mang ý nghĩa “tưởng niệm”. Nhưng, bên cạnh đó, ông cũng in thơ của nhiều người khác hướng về “tưởng niệm” Như nhà thơ Thư Linh viết về Hiếu Chân khi nghe tin nhà báo này qua đời, như Ý Nhi viết bài Chiêm bao gặp Xuân Quỳnh, như Trần Hữu Nghiễm có bài Thăm lăng Mạc Cửu. Như vậy, Phổ Đức đã có công sưu tầm những bài của các vị khác, với một yếu tố là những bài này đã tạo nên trong ông niềm cảm xúc. Vì thế, những tập thơ của ông rất phong phú, đa dạng. Riêng về tập Hai mươi thế kỷ thơ, Phổ Đức cảm xúc về một bài nào đó của bất cứ tác giả nào, sống ở thời kỳ nào, thuộc về bất cứ một đề tài nào mà bài ấy đã chọn để sáng tác, ông tìm xem có tác giả nào khác cũng viết về đề tài ấy không, như “lao lý” hoặc “nhớ nhà”… Có hai tác giả hay chỉ có một tác giả đầu tiên ông gặp thì ông sẽ viết bài của mình, luôn luôn là ở cuối cùng. Nhưng đấy là công việc ở những trang sau. Chúng tôi giới thiệu cùng độc giả mấy bài thơ trong tập Thơ của đời trước.</p>



<p>Qua những dòng thơ này, độc giả sẽ nhận ra những cảm xúc của nhà thơ Phổ Đức dành cho những người ông gặp gỡ trong đời, dù họ ở trong bậc sống nào, thì ông vẫn rất chân thành và đồng cảm với họ.</p>



<p>Trước hết, tác giả viết về thi sĩ Vũ Hoàng Chương và Bùi Giáng:</p>



<p>Thi Sĩ Vũ Hoàng Chương</p>



<p>Không tu tiền hết phải ăn chay</p>



<p>Thi bá chẳng ngờ vận khốn thay</p>



<p>Văn bút lụi tàn thương giáng ngọc</p>



<p>Tao đàn hiu hắt nhớ đôi tay</p>



<p>Mây đen bao phủ trăng vừa khuất</p>



<p>Gió chướng chuyển vòng nắng cũng bay</p>



<p>Thi sĩ Vũ Hoàng Chương sống mãi</p>



<p>Sao “vèo” đáy nước lạnh chân mây.</p>



<p>Vũ Hoàng Chương sinh ngày 05-05-1916 tại Nam Định, từ trần tại Sài Gòn ngày 06-09-1976. Nhà thơ Phổ Đức viết mấy lời thơ này như một cử chỉ khóc Vũ Hoàng Chương ở thời kỳ “gió chướng” và “mây đen bao phủ”.</p>



<p>Dừng Bước Rong Chơi</p>



<p>(Tiễn biệt thi tài Bùi Giáng)</p>



<p>Chuồn chuồn châu chấu đã về</p>



<p>Vĩnh Trinh đất Quảng sơn khê mãi tìm</p>



<p>Phồn hoa phố thị cũng chìm</p>



<p>Ngũ Hành Sơn ngóng bóng chim cuối trời</p>



<p>Bước chân mục tử rong chơi</p>



<p>Chất đầy hệ lụy vai đời tồn sinh</p>



<p>Đạp trên thế thái nhân tình</p>



<p>Mặc ai khôn dại một mình ta điên</p>



<p>Thơ thần, rượu thánh, tay tiên</p>



<p>Ngữ ngôn phù thủy xuôi miền Cửu Long</p>



<p>Thu Bồn, Trung Phước chờ trông</p>



<p>Gót chân Sáu Giáng phiêu bồng đến nơi</p>



<p>Ta nằm đợi hứng giọt người</p>



<p>Hỡi bao kiều nữ xin mời đến thăm</p>



<p>Trăng khuya đất ấm ta nằm</p>



<p>Hương trời còn đọng trăm năm cõi về.</p>



<p><em>(Ga Sài Gòn-Thu Mậu Dần)</em></p>



<p>Nhà thơ Bùi Giáng sinh tại Duy Xuyên, Quảng Nam ngày 17-12-1926, mất tại Bệnh viện Chợ Rẫy, Sài Gòn ngày 07-10-1998.</p>



<p>Ở miền Nam Việt Nam trước đây, có ông Đạo Dừa. Nhà thơ Phổ Đức đã nhớ đến ông và đã có mấy lời về vị tu hành này như sau:</p>



<p>Về Thăm Bến Tre</p>



<p><em>tưởng niệm ông Đạo Dừa</em></p>



<p>Về thăm Cồn Phụng xứ Dừa</p>



<p>Nước song vẫn va7y6 người xưa xa rồi</p>



<p>Sóng trào, phà lướt mây trôi</p>



<p>Chơ vơ dấu cũ đât trời bao la</p>



<p>Đạo Dừa như huyền sử ca</p>



<p>Chuột mèo lồng đựng chung hòa niềm tin</p>



<p>Sau khi đất nước “hòa bình”</p>



<p>Người bao lao lý dứt tình chia xa</p>



<p>Nhân tài lịch sử quê ta</p>



<p>Rụng theo thời cuộc như hoa gió lùa</p>



<p>Bến Tre da trắng nước dừa</p>



<p>Về thăm Cồn Phụng nhớ mùa Tự Do!</p>



<p>“Đạo Dừa”&nbsp;là tên gọi ông&nbsp;Nguyễn Thành Nam (1910-1990), cũng là danh xưng một “tôn giáo” do ông sáng lập tại Bến Tre, miền Nam Việt Nam. Cũng đã có một số tín đồ. Hiện nay tại Cồn Phụng, vẫn còn di tích nơi ông Đạo Dừa ngồi tu ở trên một cái tháp, do chính ông dựng.</p>



<p>Ngẫu hứng</p>



<p>Tặng Tuệ Sĩ</p>



<p>Bao năm cuối bài đầu ghềnh</p>



<p>Vẫn tin dân tộc trổ cành tự do</p>



<p>Tâm hồn trong sáng như thơ</p>



<p>Xá gì lao lý đợi giờ phục hung.</p>



<p>Kính Tặng Thi Sĩ Y Sa</p>



<p>Cửa thiền</p>



<p>Tình rót hư không</p>



<p>Chảy vào tâm thức</p>



<p>Sầu đong chập chờn</p>



<p>Chuyện ngàn năm</p>



<p>Thoáng chiếc hôn</p>



<p>Y Sa thi sĩ</p>



<p>Nhập hồn Chân Như</p>



<p>Khóc Phan Lạc Giang Đông&nbsp;</p>



<p>Tiễn đi lần cuối chia xa</p>



<p>Ngày về chẳng lại sơn hà buồn trông</p>



<p>Mất rồi Phan Lạc Giang Đông</p>



<p>Cánh tay đã gãy má hồng lệ tuôn</p>



<p>Nhớ ngày cùng Vũ Phan Trường</p>



<p>Anh em kết nghĩa tìm đường tồn sinh</p>



<p>“Dòng sông vẫn chảy” (*) chung tình</p>



<p>Thi ca thế giới rạng danh xứ người</p>



<p>Ngày mai đất nước xanh tươi</p>



<p>Thuyền Giang Đôngt xuôi giữa trời Tự Do.</p>



<p><em>Ga Sài Gòn ngày 16-11-2001</em></p>



<p>(*) Những “Dòng sông đều chảy” (All Rivers Have Been flowing), dịch ra Anh văn của Lưu Bá Bắc đã được Ban giám khảo giải Thi ca Quốc tế chọn vào tranh chung kêt trong 10 ngàn thi sĩ. Thơ Đông là 1 trong 10 bài vào chung kết. Anh đã đọc bài tham luận trước 750 thi sĩ của các quốc gia trên thế giới về tham dự và Phan Lạc Giang Đông đã được kết nạp hội viên danh dự Thi ca Quốc tế và bằng khen của Tổng thống Hoa Kỳ, Bill Clinton.</p>



<p>Mừng Sinh Nhật Phan Lạc Hoàng Anh</p>



<p>Mắt tròn đen nhánh long lanh</p>



<p>Trán cao da trắng thông minh tuyệt vời</p>



<p>Tháng tư nhật nguyệt chung đôi</p>



<p>Mười một ngày đẹp chào đời tồn sinh</p>



<p>Đông-Nga cha mẹ hữu tình</p>



<p>Hoàng Anh tiếng hát đầu cành líu lo</p>



<p>Lớn lên yêu nhạc, họa, thơ</p>



<p>Nổi danh Phan lạc sáng bờ thời gian</p>



<p>Mỹ Tửu Hành</p>



<p>&nbsp;Thơ Phổ Đức tặng Lê Duy và bằng hữu</p>



<p>Em hãy cùng ta nâng cốc cạn</p>



<p>Uống cho say đủ lãng quên đời</p>



<p>Năm mươi năm viết tình chưa chán</p>



<p>Chan chứa thơ còn lấp lánh môi</p>



<p>.</p>



<p>Em nở hoa cười ta bỗng say</p>



<p>Say trong nhan sắc trổ thơ đầy</p>



<p>Bạn bè còn đó ai tri kỷ?!</p>



<p>Hãy lại cùng ta cạn chén này!</p>



<p>.</p>



<p>Thời đã thế &#8211; ta đâu phải thế!</p>



<p>Được gần em thấy lại mùa xuân</p>



<p>Thơ ta dù viết ngàn câu nữa</p>



<p>Cũng đổ không đầy mắt mỹ nhân</p>



<p>.</p>



<p>Mỹ tửu nhân hề vọng cố nhân!</p>



<p>Đời ta bao lớp bụi phong trần</p>



<p>Áo thơ dẫu ố màu tang hải</p>



<p>Nghĩa khí vẫn còn đọng chữ “tâm”</p>



<p>…..</p>



<p><em>(Tiết xuân Tân Tỵ ngày 25 tháng hai (19-03-2001)</em></p>



<p>Bài tặng Phạm Trần Anh</p>



<p>Hai mốt năm qua trọn nghĩa tình</p>



<p>Mặc ba đào sóng gió chông chênh</p>



<p>Vẫn vững tay chèo khi nước ngược</p>



<p>Thuyền vẫn đến bờ khi gió lên!</p>



<p>.</p>



<p>Xưa nay đời luận chi thành bại</p>



<p>Ngọn bút rung lên xóa hận thù</p>



<p>Hồn rượu núi sông say Tổ quốc</p>



<p>Đối mỹ nhân hề chí trượng phu!</p>



<p><em>Ga Sài Gòn – Lập đông 1998</em></p>



<p>Đại Nam Văn Hiến</p>



<p>Nhân Chứng, Tao Đàn cuốn hút tôi</p>



<p>Đại Nam Văn Hiến sáng danh rồi</p>



<p>Thế Phong mài bút công khai dựng</p>



<p>Văn Học Truyền Hình nghĩ cũng vui</p>



<p>.</p>



<p>Còn gì năm tháng dưới trăng sao</p>



<p>Từ lúc sinh ra mở mắt chào</p>



<p>Đến lúc bỏ đời còn tác phẩm</p>



<p>Của người liêm sỉ sống thanh cao</p>



<p>-Nhân Chứng: Cơ sở xuất bản do nhà thơ Phổ Đức lập</p>



<p>-Tao Đàn: Chương trình văn nghệ, ngâm thơ phát thanh tại Đài Phát thanh Sài Gòn thời VNCH do Thi sĩ Đinh Hùng chủ nhiệm với sự cộng tác của Phổ Đức.</p>



<p>-Đại Nam Văn Hiến: Cơ sở xuất bản dạng Ronêô (tránh kiểm duyệt của chính quyền thời Đệ I VNCH) do nhà văn Thế Phong lập.</p>



<p>Lên Bảo Lộc Thăm Vợ Chồng Sơn Núi</p>



<p>lộc châu</p>



<p>đồi núi</p>



<p>chập chùng</p>



<p>lên thăm Sơn núi</p>



<p>mịt mùng dốc cao</p>



<p>.</p>



<p>đồi thông</p>



<p>gió rít rì rào</p>



<p>tọa sơn mây phủ</p>



<p>Bờ Lao ngất trời</p>



<p>.</p>



<p>chè xanh</p>



<p>nương rẫy</p>



<p>xanh tươi</p>



<p>cà phê trĩu hạt</p>



<p>gọi mời khách thăm</p>



<p>.</p>



<p>động người</p>



<p>&nbsp;vách dựng</p>



<p>tối tăm</p>



<p>gió lên làm quạt</p>



<p>giường nằm trăng sao</p>



<p>.</p>



<p>mộ con</p>



<p>bên cổng</p>



<p>đón chào</p>



<p>kỳ hoa dị thảo</p>



<p>lao xao mỉm cười</p>



<p>.</p>



<p>thiên tài</p>



<p>về núi</p>



<p>rong chơi</p>



<p>vợ hiền tần tảo</p>



<p>quanh đời suối reo</p>



<p>.</p>



<p>đêm nằm</p>



<p>đọc sách</p>



<p>trăng treo</p>



<p>trường chay</p>



<p>chồng vợ</p>



<p>bản nghèo chim ca</p>



<p>đất trời</p>



<p>rừng núi bao la</p>



<p>bước chân lạc phố</p>



<p>còn xa nẻo về</p>



<p>.</p>



<p>thiền môn</p>



<p>dưới gốc Bồ Đề</p>



<p>lánh xa vọng động</p>



<p>sơn khê ẩn mình</p>



<p>.</p>



<p>đời khôn</p>



<p>phố thị chen chân</p>



<p>ngu ngơ ca hát</p>



<p>lâm tuyền</p>



<p>dưỡng tâm</p>



<p>.</p>



<p>về đây</p>



<p>“tịnh khẩu”</p>



<p>yên thân</p>



<p>lửa nuôi tịnh mịch</p>



<p>quen lần hư vô</p>



<p>…..</p>



<p>….</p>



<p>lời ru</p>



<p>vượn hót</p>



<p>đêm dài</p>



<p>bên đêm nguyệt động</p>



<p>trôi ngoài thời gian</p>



<p>.</p>



<p>mộng du</p>



<p>trên đỉnh mùa xuân</p>



<p>bước chân tục tử</p>



<p>đến gần tà dương</p>



<p>.</p>



<p>hoàng hôn</p>



<p>giăng kín Đại Lào</p>



<p>chở đầy tâm sự</p>



<p>mấy bao chàng về</p>



<p>.</p>



<p>Sơn núi</p>



<p>trở lại</p>



<p>Sơn khê</p>



<p><strong>Qua cầu Đại Giác</strong></p>



<p>nằm kề tịch liêu!</p>



<p>Phổ Đức</p>



<p>Tháng Giêng năm 2001</p>



<p>Trong hơn 20 năm tôi quen với anh Phổ Đức, sau năm 1975, qua anh Phan Lạc Giang Đông, tôi đã nhận ra cá tính rất dễ gần gũi của anh, đó là sự hiền lành, tôn trọng những khác biệt nơi mọi người. Chính vì những điều này mà nhà thơ Phổ Đức đã thực hiện được &nbsp;&nbsp;những Tuyển tập thơ, anh mời gọi được nhiều nhà thơ, thuộc các khuynh hướng văn học, lứa tuổi khác nhau, cả nam và nữ, đứng chung trong một tuyển tập, anh ghi trên đầu bìa sách là Nhiều Tác Giả, mỗi tập có khoảng trên, dưới &nbsp;50 nhà thơ. Có người góp 1 bài, có người 10 bài. Mỗi năm ra một tập. Anh tự đứng ra xin giấy phép xuất bản và hợp tác vơi nhà in. Bên Hoa Kỳ cũng có nhà thơ Như Hoa Lê Quang Sinh cũng thực hiện được những công trình văn học, tức các Tuyển tập thơ. Tập tôi nhận được do một ngưới bạn mang về cho, có nhan đề: Cụm Hoa Tình Yêu, Tập Thứ XI 2005. Bìa mầu nâu đất, chữ in ở bìa và gáy mạ vàng, quý phái. Mục lục ghi 168 tác giả, 693 trang, không tính bảng Mục lục.</p>



<p>Quả thật, đấy là những sự kiện đáng quý và trân trọng của những nhà thơ Việt Nam sau biến cố năm 1975, nay đã nửa thế kỷ.</p>



<p>Trở lại với nhà thở Phổ Đức, hầu như suốt mấy chục năm, ông miệt mài với thơ, sáng tác thơ cho mình và tặng bạn hữu cùng trong nghiệp văn chương, chữ nghĩa. Qua những trang thơ này, Phổ Đức thể hiện tình cảm của mình với bạn hữu. Ông hiểu cuộc đời, hiểu khuynh hướng sáng tác văn chương của bạn hữu. Những bài thơ được trích dẫn trên đây từ cuốn Thơ của đời, đã biểu hiện rõ điều này, dù với người chỉ có 4 câu như Tuệ Sĩ, dài hơn một chút như Y Sa, 8 câu và nhiều nhất là Sơn Núi tức nhà thơ Nguyễn Đức Sơn, sau năm 1975, nhà thơ này bỏ Sài Gòn, đem gia đình lên Bảo Lộc sống với cà phê, trà như một “ẩn sĩ”, và Phổ Đức đã rất thành công qua những lời thơ mô tả về cuộc sống của gia đình và nhất là con người Nguyễn Đức Sơn, theo quan điểm của ông.</p>



<p>Phổ Đức với Tập Hai Mươi Thế Kỷ Thơ</p>



<p>Sài Gòn 2001</p>



<p>Mở vào trang sách bên trong, ngoài trang tựa đề sách, độc giả gặp ngay trang in tất cả 170 tác giả có bài trong sách, xếp theo thứ tự A, B, C.</p>



<p>Chính xác thì đây là tập thơ xướng họa giữa các nhà thơ và Phổ Đức là người cuối cùng họa lại bài ấy. Đề tài là thiên nhiên, bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, những vấn đề trong cuộc sống của con người, như tình cảm cha mẹ, bạn hữu, tình yêu, nhớ nhà, trở về, làm thơ tặng bạn. Ngoài ra, còn lịch sử, huyền sử, tình sử, lao lý, ngẫu hứng, thi sĩ, người tình, khai bút xuân, chán, buồn, hoài niệm, vô thường v.v…Hai mươi thế kỷ thơ với 170 nhà thơ, 593 bài, chắc chắn không phải là tất cả, cũng chưa phải là nhiều. Nhưng, chỉ với sự làm việc miệt mài và âm thầm một mình, nhà thơ Phổ Đức đã cho thấy sự đam mê thi ca biết chừng nào. Còn phải kể đến tập Việt sử ca là một trường ca về lịch sử Việt Nam, từ đời Hồng Bàng đến nay gồm 60.000 câu. Một tập khác nữa là Một đời làm thơ, hồi ký (5 cuốn) (Chân dung – Tác phẩm 510 tác giả Văn Nghệ Sĩ Việt Nam mà ông ghi là Quý, Yêu, Thích nhất).</p>



<p>Dưới đây là mấy đoạn trích dẫn:</p>



<p>Về <em>Ngẫu hứng</em>, xin ghi lại đây ba bài: 1 là của Nguyễn Du (chữ Hán), số thứ tự bài là 214, sách trang 90; bài 2 là của Vũ Hoàng Chương, số thứ tự bài là 215, trang 90, bài 3 và cũng là bài cuối là của Phổ Đức, tên bài là Hồng Lĩnh quê người (chỉ quê của Nguyễn Du), sô thứ tự bài là 216, trang 90.</p>



<p>Ngẫu Hứng &#8211; 214</p>



<p>Nguyễn Du</p>



<p>Long Vĩ giang đầu ốc nhất gian</p>



<p>U cư sầu cư hốt tri &nbsp;hoan</p>



<p>Đặt nhân tâm kính minh như nguyệt</p>



<p>Xử sĩ môn tiền thanh giả sơn</p>



<p>Trầm thượng đôi thư phù bệnh cốt</p>



<p>Đăng tiền đẩu tửu khởi suy nhan</p>



<p>Táo đầu chung nhật vô yên hỏa</p>



<p>Song ngoại hoàng hoa tú khả san!</p>



<p>Niềm Vui Đến Tình Cờ! &#8211; 215</p>



<p><em>Vũ Hoàng Chương dịch</em></p>



<p>Long giang lều cỏ nhện tơ giăng</p>



<p>Buồn đến cùng vui chợt biết chăng?</p>



<p>Khuôn cửa nằm cao xanh ở núi</p>



<p>Gương lòng thoát tục sáng như trăng</p>



<p>Sách trên gối dở thân gầy hạc</p>



<p>Rượu trước đèn tôn nét trẻ măng</p>



<p>Bếp lạnh sớm chiều riêng cúc giậu</p>



<p>Hoa ngôn từ mắt xuống chân rang!</p>



<p>Hồng Lĩnh Quê Người! &#8211; 216</p>



<p>Hồng Lĩnh quê Người sương khói giăng</p>



<p>Thiên tài đất nước hiện đây chăng?!</p>



<p>Đầu khe mờ ảo chìm mây biếc</p>



<p>Đáy suối chập chờn nổi boáng trăng</p>



<p>Trước miếu hoang sơ bao liễu trúc</p>



<p>Sau đền hiu quạnh lắm tre măng</p>



<p>Tố Như người hỡi bao dâu bể</p>



<p>Răng rụng tuổi già trơ nướu răng!</p>



<p>Phổ Đức</p>



<p>Vận Nước -217</p>



<p>Mai Sơn Nguyễn Thượng Hiền</p>



<p>Bốn chục năm nay vị nước nòi</p>



<p>Nước nòi chưa mạnh quyết chưa thôi</p>



<p>Đà Long phát trận gươm ba tấc</p>



<p>Nam Định tương bom lửa một mồi</p>



<p>Cha đứa cắn gà cam cõng rắn</p>



<p>Mẹ thằng giày mả dám đem voi</p>



<p>Nào ai mảnh sỹ mưu thâm đó!</p>



<p>Góp sức đun tay để cứu đời.</p>



<p>&nbsp;Giống Nòi – 218</p>



<p>Nửa thế kỷ qua thương giống nòi</p>



<p>Thăng trầm đói khổ mãi chưa thôi!</p>



<p>Bốn lăm, hai triệu lăn ra chết</p>



<p>Năm bốn cắt chia&nbsp; lửa loạn mồi</p>



<p>Hỏa tiễn Nga Trung đêm pháo kích</p>



<p>Bom xăng Pháp Mỹ ngày giày voi</p>



<p>Tương tàn cốt nhục đau lòng Mẹ</p>



<p>Lịch sử tối tăm lệ xuống đời.</p>



<p>Phổ Đức</p>



<p>Khóc Hoàng Diệu – 416</p>



<p>Cô thành chống giữ một mình thôi!</p>



<p>Khẳng khái như ông được mấy người!?</p>



<p>Cựu lục nghìn năm gương tiết dọi</p>



<p>Cô thần một chén tấm trung phơi…</p>



<p>Thâu sinh ngày nọ thân còn thẹn</p>



<p>Nghịch tặc năm nay sợ rụng rời!</p>



<p>Nghìn thuở Nùng Sơn nêu chính khí</p>



<p>Anh hùng đến thế lệ cùng rơi!</p>



<p>Vô Danh Thị</p>



<p>Kính Anh Hùng Hoàng Diệu – 417</p>



<p>Thất thủ theo thành phải chết thôi!</p>



<p>Anh hùng bất khuất được bao người</p>



<p>Hiến thân Tổ Quốc danh muôn thuở</p>



<p>Vì nước quên mình dạ &nbsp;sắt phơi</p>



<p>Hoàng Diệu kiên cường luôn sống mãi</p>



<p>Sỷ liêm Thanh Giản chết không rời!?</p>



<p>Hành Sơn, Châu Đốc gương trung liệt</p>



<p>Hiển Thánh Kỳ đài nhật nguyệt rơi!</p>



<p>Phổ Đức</p>



<p>Thơ Phan Khôi Gửi Vũ Hoàng Chương &#8211; 268</p>



<p>Ngừng tim lặng óc bặt giòng tình</p>



<p>Tai mắt như không phải của mình</p>



<p>Thấy dưới ánh trăng muôn khúc nhạc</p>



<p>Nghe trong tiếng ếch một màu xanh</p>



<p>Suối tiên đắm đuối bao cho chán</p>



<p>Khối mộng vờn môn mãi chẳng thành</p>



<p>Thứ ấy từ lâu không có nữa</p>



<p>Ngủ say thức tỉnh dậy buồn tênh.</p>



<p>Thơ Họa Của Vũ Hoàng Chương – 269</p>



<p>Trời vô tâm quá đất vô tình!</p>



<p>Biết gửi vào đâu cái “chính mình”</p>



<p>Tiếng ếch đã trùm lên tiếng sóng</p>



<p>Màu đen lại ngả xuống màu xanh!</p>



<p>Uổng cho thơ dẫu bày trăm trận</p>



<p>Ngán nhẽ sầu khôn phá một thành</p>



<p>Tưởng tới nguồn đào thôi lại tiếc</p>



<p>Con thuyền đêm ấy nhẹ tênh tênh…</p>



<p>Sai Đường – 270</p>



<p>Trăm năm lửa hoạn đốt dân tình</p>



<p>Trái đắng của ai nuốt khổ mình</p>



<p>Cứ tưởng chặt xiềng may sống lại</p>



<p>Nào hay máu nhuộm chết màu xanh</p>



<p>Nghìn sau lịch sử công hay tội?</p>



<p>Nghĩa khí dấu lưu chuyện bại thành</p>



<p>Thế kỷ sang trang đời mở rộng</p>



<p>Kiếp người ngắn ngủi nghĩ buồn tênh!</p>



<p>Phổ Đức</p>



<p>Trông Núi Thạch Bị &#8211; 245</p>



<p>Nguyễn Trường Tộ</p>



<p>Gió táp mưa sa chẳng chuyển dời</p>



<p>Núi bia chót vót biết bao đời</p>



<p>Xếp quanh đỉnh núi tròn như đẽo</p>



<p>Đứng chặn ven sông thẳng tuyệt vời</p>



<p>Hầu tước vá trời còn sót lại</p>



<p>Phải rằng lấp bể đến đây thôi</p>



<p>Ví thêm ngọn nữa thành đôi đũa</p>



<p>Đất gọi bàn ăn rượu bể khơi!</p>



<p>Nguyễn Trường Tộ Tiên Sinh &#8211; 246</p>



<p>&nbsp;Biết bao vật đổi cát sông dời</p>



<p>Hiểu rộng nhìn xa tiếng để đời</p>



<p>Yêu nước canh tân thời hủ lậu</p>



<p>Thương dân mở cửa chí cao vời</p>



<p>Hôn quân mê ngủ nghe sàm nịnh</p>



<p>Trí thức đau nhìn nước mất thôi</p>



<p>Kẻ sĩ ẩn thân buồn thế cuộc</p>



<p>Quốc gia thuyền đắm bão trùng khơi.</p>



<p>Phổ Đức</p>



<p>Bị Giam Ở Núi Quan Âm – 264</p>



<p>Phan Bội Châu</p>



<p>Nếu chết xong đi cái cũng hay</p>



<p>Còn ta ta lại thích cho mày</p>



<p>Trời đâu có ngục cho thần thánh&nbsp;</p>



<p>Đất đá không đường ruổi gió mây</p>



<p>Tát cạn bể đông chèo tắc lưỡi</p>



<p>Mở quang ngàn bắc vẫy đôi tay</p>



<p>Anh em ai nấy xin thêm gắng</p>



<p>Công nghiệp ngàn thu há một ngày!</p>



<p>Người Yêu Nước – 265</p>



<p>Chết để cứu đời sống mới hay</p>



<p>Anh hùng thất thế cũng chao mày</p>



<p>Thơ thời nước mất đừng mơ mộng</p>



<p>Văn buổi tan nhà tránh khói mây</p>



<p>Hãy biến tình yêu thành lửa thép</p>



<p>Nung sôi thù hận thắng cầm tay</p>



<p>Phục hưng Tổ Quốc bằng tranh đấu</p>



<p>Chiến thắng Tự Do phải đến ngày!</p>



<p>Phổ Đức</p>



<p>Tây Hồ Di Thảo – 266</p>



<p>Tây Hồ-Phan Chu Trinh</p>



<p>Dằn vặt sao cho khỏi hội này</p>



<p>Một thân Nam Bắc lại Đông Tây</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Nước cờ đã bí mong toan gỡ</p>



<p>Giấc ngủ đang ngon giở khuấy rầy</p>



<p>Chiu chít càng thương gà mất mẹ</p>



<p>Lao đao chi sá cáo thành bầy</p>



<p>Ớ người chín suối thiêng chăng nhẻ?</p>



<p>Một nén tâm hương chẳng biết đây!</p>



<p>.</p>



<p>Nhớ Tây Hồ Tiên Sinh – 267</p>



<p>Một thân quyết cứu nước non này</p>



<p>Thoát khỏi xích xiềng của bọn Tây</p>



<p>Thất bại ngựa đà sai lối bước</p>



<p>Thành công xe phải đúng đường rầy</p>



<p>Dân đen thức tỉnh còn thưa thớt</p>



<p>Lũ trắng mưu mô đã kết bầy</p>



<p>Chí quyết thời cơ chưa chịu đến</p>



<p>Một mình cô lập tính sao đây!?</p>



<p>Phổ Đức</p>



<p>Cảnh Mỹ Tho – 397</p>



<p>Học Lạc</p>



<p>Trên cảnh Sài Gòn dưới Mỹ Tho</p>



<p>Đâu đâu phong cảnh cũng nhường cho</p>



<p>Lớn ròng chung rạch chia đôi ngả</p>



<p>Cũ mới phân nhau cũng một đò</p>



<p>Phố cất vẽ vời xanh tợ lục</p>



<p>Buồm dong lên xuống trắng như cò</p>



<p>Đắc tình trạo tử quên mưa nắng</p>



<p>Dắn dỏi đưa nhau tiếng hát hò!</p>



<p>Lái Thiêu – 398</p>



<p>Lái Thiêu tố nữ mít thơm tho</p>



<p>Măng cụt chủ vườn nửa bán cho</p>



<p>Hưng Định sầu riêng anh đợi khách</p>



<p>Cầu Ngang dâu chín chị chờ đò</p>



<p>Bình Dương công nghệ nam xanh áo</p>



<p>Thủ Đức nữ sinh trắng tựa cò</p>



<p>Du lịch từng đoàn vui múa nhảy</p>



<p>Bên sông vẳng hát ấm câu hò!</p>



<p>Phổ Đức</p>



<p>Tình Xuân Man Mác – 353</p>



<p>Huy Cận</p>



<p>Không cùng quê quán đất chôn nhau (*)</p>



<p>Nghĩa bạn trời cao với biển sâu</p>



<p>Hai chữ tri âm ta giữ lấy</p>



<p>Nghìn câu phú quý tớ không cầu</p>



<p>Thênh thang vũ trụ chim Hồng hộc</p>



<p>Lồng lộng trùng khơi cánh Hải âu</p>



<p>Tuổi lão hồn thơ nào có lão</p>



<p>Tình xuân man mác mộng ban đầu</p>



<p>Hà Nội 4/7/98</p>



<p>(*) Nơi chôn nhau cắt rốn</p>



<p>Đồng Cảm – 354</p>



<p>Nhạc thơ đồng cảm dễ thân nhau</p>



<p>Kết chặt thâm tình mấy độ sâu</p>



<p>Bể khổ bao người mong vượt song</p>



<p>Đoạn trường bao kẻ muốn qua cầu</p>



<p>Văn Khê khảm ngọc quanh nhà Việt</p>



<p>Huy Cận gieo vàng khắp đất Âu</p>



<p>Thơ, nhạc như tình không có tuổi</p>



<p>Còn nguyên giao cảm lúc ban đầu</p>



<p>Lê Thanh Thái</p>



<p>(Bỏ một bài số 355)</p>



<p>Trường Sinh – 356</p>



<p>Thế kỷ vơi dần mới gặp nhau</p>



<p>Phong ba hệ lụy cũng chìm sâu</p>



<p>Núi cao sừng sững bao quan tái</p>



<p>Sông cạn chông chênh mấy nhịp cầu!</p>



<p>Thế giới chuyển mình Nga, Mỹ, Úc</p>



<p>Hoàn cầu hợp tác Á, Phi, Âu</p>



<p>“Trường Giang” trùng điệp ngày sinh nhật!</p>



<p>Tiền chiến khai thơ lục bát đầu.</p>



<p>Vùng ga Sài Gòn 13/6/98</p>



<p>Phổ Đức</p>



<p>Ngày Xuân Thơ Rượu – 325</p>



<p>Tản Đà</p>



<p>Trời đất sinh ra rượu với thơ</p>



<p>Không thơ không rượu sống như thừa</p>



<p>Công danh hai chữ mùi men nhạt</p>



<p>Sự nghiệp trăm năm nét chữ mờ</p>



<p>Mạch nước sông Đà tim róc rách</p>



<p>Ngàn mây non Tản nước lơ mơ</p>



<p>Còn Thơ còn rượu còn Xuân mãi</p>



<p>Còn mãi Xuân còn rượu với Thơ.</p>



<p>Rượu Bên Thơ – 326</p>



<p>Trăm năm vui nhất rượu bên thơ!</p>



<p>Không rượu chẳng thơ kiếp sống thừa?</p>



<p>Thi sĩ say thơ còn sống mãi</p>



<p>Phú ông mê tiếng chỉ bia mờ!</p>



<p>Công danh chìm nổi như cơn mộng</p>



<p>Sự nghiệp thăng trầm tựa giấc mơ</p>



<p>Thơ rượu &#8211; rượu thơ &#8211; nguồn cảm hứng</p>



<p>Thi nhân bất tử vẫn còn thơ!</p>



<p>Phổ Đức</p>



<p>Anh hùng dân tộc – 321</p>



<p>Tương Phố</p>



<p>Anh hùng dân tộc có hay không?</p>



<p>Tháng đợi năm chờ mỏi mắt trông</p>



<p>Loạn khắp sa trường phơi vết máu</p>



<p>Thảm bao tâm địa vẫn hơi đồng</p>



<p>Đạn bom xáo trộn bầu trời đất</p>



<p>Tang tóc âm thầm cảnh núi song</p>



<p>Hỡi nước tình quê bao thắc mắc</p>



<p>Muôn vàn tâm sự…dưới trời Đông.</p>



<p>Thế kỷ 21 – 322</p>



<p>Thế kỷ hết rồi có thấy không?</p>



<p>Lòng dân chờ đợi mỏi mòn trông</p>



<p>Tự do kết trái xanh như núi</p>



<p>Dân chủ nở hoa trắng tựa đồng</p>



<p>Độc lập bốn ngàn khai dựng nước</p>



<p>Nhân Quyền hai mốt mở mang song</p>



<p>Bắt tay Thế giới cùng chung bước</p>



<p>Nhật Nguyệt huy hoàng rợp Á Đông.</p>



<p>Phổ Đức</p>



<p>Nàng Sách Của Tôi -145</p>



<p>Đông Hồ</p>



<p>Da ngọc ngà phô giấy nõn nường</p>



<p>Tóc huyền mụn gợn mực yêu đương</p>



<p>Dịu thon lưng uốn đường sông núi</p>



<p>Trinh sạch lòng pha chất tuyết sương</p>



<p>Xiêm áo phong phanh tờ lụa ngỏ</p>



<p>Phấn hồng thoang thoảng bụi hương vương</p>



<p>Nàng thơ kiều yiễm xuân kiều yiễm</p>



<p>Chữ gấm lời hoa gởi bốn phương.</p>



<p>Nàng Thơ &#8211; 146</p>



<p>Thi bá mê say được mấy nường?</p>



<p>Gợi bao tình sử chuyện yêu đương</p>



<p>Nụ cười cuốn hút hồn sông núi</p>



<p>Ánh mắt se lòng khách gió sương</p>



<p>Nhan sắc nàng thơ vừa phủ kín</p>



<p>Khiến tài thi sĩ mãi còn vương</p>



<p>Một lần giao hợp đêm kỳ ngộ&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</p>



<p>Tài tử giai nhân – thiên nhất phương.</p>



<p>Phổ Đức</p>



<p>Vẫn Yêu Đời – 485</p>



<p>Trần Văn Khê</p>



<p>Giữ gìn truyền thống đã lâu rồi</p>



<p>Máu nóng dồi dào chửa chịu vơi</p>



<p>Lắm lúc xa quê lòng bứt rứt</p>



<p>Đôi khi nhớ bạn dạ bùi ngùi</p>



<p>Thuyết trình Việt nhạc hơi còn mạnh</p>



<p>Biểu diễn Dân ca nhịp chẳng lơi</p>



<p>Cứ mỗi một năm thêm một tuổi</p>



<p>Tuổi cao mặc tuổi vẫn yêu đời!</p>



<p><em>Paris 17g 31/05/98</em></p>



<p>Tình Có Còn Chăng? – 486</p>



<p>Ngoảnh lại đa đoan sự đã rồi</p>



<p>Thời gian đong đếm những đầy vơi…</p>



<p>Có sinh có lão đành quy luật</p>



<p>Tri kỷ tri âm cũng ngậm ngùi</p>



<p>Vượt dốc qua đèo đà thử thách</p>



<p>Ngược dòng sóng gió chớ buông lơi</p>



<p>Thiên niên kỷ nữa nào ai biết</p>



<p>Tình có còn chăng giữa cuộc đời?</p>



<p><em>Vân Trang- Gia Định 30/05/98</em></p>



<p>Tình ChẳngCạn<em> – </em>487</p>



<p>“Sáu chục mùa xuân” quá bước rồi</p>



<p>Biết bao dâu bể nỗi đầy vơi…</p>



<p>Chuyện xưa ôn lại càng lưu luyến</p>



<p>Lối cũ vời trông những ngậm ngùi</p>



<p>Bằng hữu chi giao tình chẳng cạn</p>



<p>Văn chương gắn bó dạ không lơi</p>



<p>Vui câu xướng họa quên ngày tháng</p>



<p>Danh lợi bon chen mặc kệ đời!</p>



<p><em>Tôn Nữ Hỷ Khương- Sài Gòn 31/05/98</em></p>



<p>Thăng Long Thành Hoài Cổ -161</p>



<p>Bà Huyện Thanh Quan</p>



<p>Tạo hóa gây chi cuộc hý trường</p>



<p>Đến nay thấm thoát mấy tinh sương</p>



<p>Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo</p>



<p>Ngõ cũ lâu đài bóng tịch dương</p>



<p>Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt</p>



<p>Nước còn cau mặt với tang thương</p>



<p>Nghìn năm gương cũ soi kim cổ</p>



<p>Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.</p>



<p>Nhớ Huế -162</p>



<p>Chìm nổi bao năm lắm đoạn trường</p>



<p>Chiếc thân cô quạnh giữa mù sương</p>



<p>Chân trời lệ ứa mờ cung nguyệt</p>



<p>Góc biển sóng trào rạng thái dương</p>



<p>Thay lớp Tự do ôm khổ lụy</p>



<p>Đổi ngôi Dân chủ ngậm đau thương</p>



<p>Đứng làm Nhân chứng cơn tao loạn</p>



<p>Bao lớp phong ba dậy hý trường!</p>



<p>Phổ Đức</p>



<p>Huyền Sử &#8211; 572</p>



<p>Đinh Hùng</p>



<p>Thời đại hoàng kim đã phục hồi</p>



<p>Ta mừng bạo chúa sắp lên ngôi</p>



<p>Tìm thơ vương giả, Xuân lưu huyết</p>



<p>Mê dáng cung phi, nước ngậm cười</p>



<p>Nhìn suối hư linh tìm thấy mộng</p>



<p>Thiện tâm về ẩn chốn nào vui</p>



<p>Buồn riêng một bóng trăng huyền sử</p>



<p>Sao Thái Hòa xưa rụng xuống người.</p>



<p>Tình Sử &#8211; 573</p>



<p>Việt sử ca ngâm, lửa phản hồi</p>



<p>Một trăm chương đã sắp vào ngôi</p>



<p>Ba mươi năm viết, buồn sông núi</p>



<p>Sáu chục ngàn câu, đẹp tiếng cười!</p>



<p>Tổ quốc thăng trầm, trăng ứa lệ</p>



<p>Anh hùng cứu nước, mặt trời vui</p>



<p>Bốn ngàn năm Việt Nam Văn Hiến</p>



<p>Dân tộc tồn vinh bởi sức người!</p>



<p>Phổ Đức</p>



<p>Niềm Tin – 451</p>



<p>Nghiêm Phái Thư Linh</p>



<p>Tiếng vọng khuyên từ thuở hỗn mang</p>



<p>Lạc lòng âm hưởng lỗi cung đàn</p>



<p>Ai quân tử hiểu mình thua cuộc?</p>



<p>Ai tiểu nhân lầm bước kéo thang?</p>



<p>Kém chí thất cơ, đành phải chịu</p>



<p>Hận đời lỡ vận hết mơ màng</p>



<p>Hãy tin…tin chính thân tâm đã</p>



<p>Sự nghiệp lo gì cảnh nát tan!?</p>



<p>Thất Vận – 452</p>



<p>Đỏ đen cờ bạc, cóc cần tài</p>



<p>Lúc khốn đường cùng, trói cả tay</p>



<p>Nên biết ẩn thân chờ vận tốt</p>



<p>Còn hơn chường mặt đón thiên tai</p>



<p>Mười năm đại hạn, mây bao phủ</p>



<p>Một tháng tiểu niên, nắng kéo dài!</p>



<p>Chỉ biết trông chờ cung phúc đức</p>



<p>Trời qua đêm tối phải sang ngày!</p>



<p>Phổ Đức</p>



<p>Bền Chí – 453</p>



<p>Nghiêm Phái THƯ LINH</p>



<p>Sách đốt vì e nỗi bất tài?</p>



<p>Chôn thơ ném bút chịu xuôi tay</p>



<p>Hoa tươi cũng héo trong tao loạn</p>



<p>Lá úa tàn rơi giữa hỏa tai</p>



<p>Vận hạn tới…Trời mây xám phủ</p>



<p>Sắt son bền…mộng triệu xanh đài</p>



<p>Đừng than thở cố gây tin đức</p>



<p>Sẽ có tương lai đẹp vạn ngày!</p>



<p>Chờ Xuân – 65</p>



<p>Ôi hay xuân về trên xứ lạ</p>



<p>Mà lòng ta chửa thấy tầm xuân</p>



<p>Hay là chồi lộc theo băng rã</p>



<p>Cùng khối sương chờ cội Nhật Tân.</p>



<p>Ngô Mạnh Thu</p>



<p>Xuân Đợi – 66</p>



<p>Xuân đến ta nhớ người xứ lạ</p>



<p>Quê nhà sao chửa thấy mùa xuân</p>



<p>Năm mươi năm lòng người băng rã</p>



<p>Ta vẫn mơ một cội Nhật Tân.</p>



<p>Khải Triều</p>



<p>Xuân Sầu &#8211; 67</p>



<p>Xuân đến quê hương không tiếng pháo</p>



<p>Hồn ta khao khát thấy mùa xuân</p>



<p>Hai mươi năm nghĩa tình điên đảo</p>



<p>Đâu biết máy đời đã tối tân.</p>



<p>Phổ Đức</p>



<p>Về 03 bài thơ cuối cùng trên đây, kể từ bài “Chờ xuân” số 65 của tác giả Ngô Mạnh Thu, kế đến là bài của Khải Triều và cuối cùng là bài của Phổ Đức, chúng tôi xin nói vài lời về xuất xứ của ba bài này. Trước hết là ông Ngô Mạnh Thu, ông là nhạc sĩ trong Phong trào Du Ca tại miền Nam VNCH, trước năm 1975. Phong trào Du Ca gồm có một sô nhạc sĩ nổi tiếng, trong đó có nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang (Trưởng Phong trào), nhạc sĩ Phạm Duy, nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, Ngô Mạnh Thu, Anh Việt Thu, Nguyễn Quyết Thắng, Nguyễn Hữu Nghĩa, Giang Châu v.v…Sau ngày 30-04-1975, nhạc sĩ Ngô Mạnh Thu sang sống tại Hoa Kỳ. Vào một dịp Têt Nguyên đán, (Chúng tôi quên năm này) ông gửi về cho Phổ Đức và tôi chung một tấm thiệp là một vườn xuân, cảnh đẹp. Bên trong thiệp, ông viết mấy lời chúc tết cả hai chúng tôi. Trang bên, ông ghi bài thơ 4 câu mà Phổ Đức đặt tên là “Chờ xuân”. Ngày Mồng Hai Tết năm đó, Phổ Đức chở vợ đến nhà chúc Tết tôi. Ông trao cho tôi tấm thiệp chúc tết của Ngô Mạnh Thu, nhắc tôi họa lại bài ấy. Tôi đã viết 4 câu như ghi trên đây, rồi gửi Phổ Đức chuyển cho Ngô Mạnh Thu. Phổ Đức cũng đưa cho tôi xem 4 câu thơ của ông. Nay cả ba bài đã vào sách này. Ghi lại việc này, chúng tôi chỉ muốn nói rằng, bất cứ một tác phẩm văn chương nào, thơ, văn cũng đều có một lịch sử ra đời của nó.</p>



<p>Phổ Đức Với Những Dòng Thơ Tưởng Niệm</p>



<p>Thi phẩm này có hai phần, mặc dù tác giả không phân chia rạch ròi như trong các sách biên khảo. Anh cho in những bài thơ khoác áo tưởng niệm xen kẽ nhau, đang là bài của anh viết về sự ra đi của mẹ hay của cha mình; viết về một nhân vật lịch sử chính trị, anh hùng dân tộc nào đó, một thân hữu, một nhà thơ v.v…thì anh lại in những bài của người khác tiếp theo sau.</p>



<p>Trang đầu của tập thơ Những Dòng Thơ Tưởng Niệm, Phổ Đức đã kể ra những danh nhân mà ông gọi là “Nhị thập bát tú”. Đứng đầu là hai Đấng thiết lập ra Phật giáo (Thích-ca Mâu-Ni) và Kitô giáo (Chúa Kitô Giêsu), kế đến là:</p>



<p>-Quan Thế Âm</p>



<p>-Hai Bà Trưng</p>



<p>-Nguyễn Huệ</p>



<p>-Trần Bình Trọng</p>



<p>-Hoàng Diệu</p>



<p>-Nguyễn Trãi</p>



<p>-Trần Tế Xương</p>



<p>-Nguyễn Thái Học</p>



<p>-Khổng Tử</p>



<p>-Lão Tử</p>



<p>-Trang Tử</p>



<p>-Lý Bạch</p>



<p>-Yasunari Kawabata</p>



<p>-Ernest Hemingway</p>



<p>-Nguyễn Du</p>



<p>-Phan Thanh Giản</p>



<p>-Tư Mã Thiên</p>



<p>-Hàn Tín</p>



<p>-Kinh Kha</p>



<p>-Jean Paul Sartre</p>



<p>-Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu</p>



<p>-Nhất Linh Nguyễn Tường Tam</p>



<p>-Tam Ích</p>



<p>-Đinh Hùng</p>



<p>-Nguyễn Hiến Lê</p>



<p>Sài Gòn 1974</p>



<p>Trong danh sách “28 Vì Sao” này, nhà thơ Phổ Đức đã kể đến Đức Phật, Chúa Giêsu rồi đến các anh hùng dân tộc, các triết gia, nhà văn, thi sĩ, biên khảo, nhà chính trị, cả Kinh Kha, được mệnh danh là “tráng sĩ”, nhà sử học. Tất nhiên, đấy là quan điểm của ông nhưng chúng tôi thấy, không kể hai vị thuộc tôn giáo, thì 26 vị kế đó cũng là một “mẫu mực”, một “tấm gương” cho người sau. Nói cách khác, nhà thơ Phổ Đức lập ra bảng danh sách “Nhị Thập Bát Tú” này cũng là một biểu lộ về châu thân anh. Anh đã thể hiện cái châu thân này trong cuộc đời trong gia đình anh và với mọi người. Vì vậy, anh cũng là một tấm gương đáng quý.</p>



<p>Mấy Bài Thơ Tưởng Niệm Của Phổ Đức:</p>



<p>Mỗi vị trong “28 Vì Sao”, đều là một “điểm sáng” lưu lại cho đời, nhà thơ Phổ Đức đều viết 4 câu thơ, mô tả về “điểm sáng” này.</p>



<p>Thí dụ:</p>



<p>về Lão Tử:</p>



<p>Tranh bá đồ vương cũng hại đời</p>



<p>Sao bằng ngày tháng được rong chơi</p>



<p>Lưng trâu nghe sáo thiên nhiên vọng</p>



<p>Thoát vòng ảo hóa của buồn vui</p>



<p>Trang Tử:</p>



<p>Lòng người ai hiểu được về sau</p>



<p>Vợ chết mà vui chẳng thấy sầu</p>



<p>Danh lợi cũng tan như bọt biển</p>



<p>Con thuyền bào ảnh biết về đâu!?</p>



<p>Trong số “Nhị Thập Bát Tú”, Phổ Đức kể đến hai nhà văn là Nhất Linh và Tam Ích, phải tìm đến cái chết để chứng minh cho sự thật của mình. Tuy nhiên, trong dòng họ của Nguyễn Tường Tam, mãi về sau này, có vị đã bày tỏ về cái chết của ông trong hai tác phẩm hồi ký: Việt Nam một thế kỷ qua, Nguyễn Tường Bách và tôi. Bài viết của Ngô Thế Vinh đăng trên Văn Việt, ngày 25 tháng Chín, 2021. Theo tác giả Ngô Thế Vinh, Nguyễn Tường Bách là Bác sĩ và tôi, là cô giáo Hứa Bảo Liên, người bạn trăm năm của Nguyễn Tường Bách.</p>



<p>Trong bài viết của Ngô Thế Vinh, ông có chép lại một đoạn về cái chết của Nhất Linh, có lời nhận xét về cái chết này của Nguyễn Tường Bách. Xin được dẫn lại:</p>



<p>Cái Chết Của Nhất Linh 1963</p>



<p><em>“Năm 1948, tháng 7, tin đột ngột về anh Hoàng Đạo mất trên đường xe lửa từ Hồng Kông về Quảng Châu đã làm xúc động tới mỗi thớ tim của những người xa nước. Thì cũng một ngày tháng 7 nhưng là năm 1963, tôi bỗng nhận được một bức điện tín từ Thượng Hải đến, do anh Văn gửi – anh Vũ Đức Văn hiện dạy tại trường Ngoại Ngữ Học Viện. Ai ngờ, trong thư câu đầu là:&nbsp;‘được tin buồn là anh Nhất Linh Nguyễn Tường Tam đã qua đời.’ Tin này anh Văn cắt từ tờ báo L’Humanité của đảng cộng sản Pháp xuất bản ở Paris, đại ý nói ‘Nhà văn, nhà chính trị Nguyễn Tường Tam do vướng vào một vụ án chính trị đã tự sát. Ông đã từng là Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao trong chính phủ Liên Hiệp Việt Nam năm 1946…’</em></p>



<p><em>“Tin bất ngờ đã khiến tôi lặng người, không nén được nỗi đau thương trong lòng. Sao lại có thể như thế được? Một người anh thân yêu, một chiến hữu thân mật trong sự nghiệp văn chương và cách mạng, đã từng sống với nhau bao phút vui buồn, trong an bình cũng như trong gian truân, lưu lạc, có quan hệ không những là ruột thịt mà còn là sinh tử, đương còn hy vọng gặp lại nhau một ngày nào trong tổ quốc – nay đã mất người anh thân yêu, lỗi lạc, một anh tài đất nước, mà không thể về nhìn lại mặt anh lần cuối.”&nbsp;</em></p>



<p>Cũng trong cuộc phỏng vấn với LS Lâm Lễ Trinh (2005), Nguyễn Tường Bách – sau 17 năm sống ở Mỹ, cho rằng:&nbsp;<em>“Anh Nhất Linh đã tự mình từ giã cõi đời. Cách giải quyết này, trong thâm tâm tôi không tán thành lắm.”&nbsp;</em>Nguyễn Tường Bách nói rõ hơn, và cho rằng&nbsp;cách chọn lựa của Nhất Linh là đáng tiếc và tiêu cực. Nhất Linh có thể đi ra một nước ngoài dễ dàng, như sang Cam Bốt, khi thời thế thay đổi Nhất Linh có thể trở về, anh Tam đang còn tiềm năng để cống hiến, nhất là về lãnh vực văn chương văn hoá. “<em>Nghe nói trong đám tang anh rất lớn, dân chúng đổ ra đường để tiễn đưa một tinh anh của dân tộc. Nhưng đám tang dù lớn, dù đông tới đâu, cũng chẳng có ý nghĩa gì nữa, khi con người đã qua đời”.</em></p>



<p>Ngoài ra, Phổ Đức cũng viết về cái chết của Tư Mã Thiên, tác giả bộ sử: “Sử ký Tư Mã Thiên”, vẫn lưu lại cho hậu thế những luận điểm của ông về các ông Hoàng đế và các triều đại chính trị ở Trung Hoa cổ. Ngày nay vẫn chưa có bộ sử nào thay thế được bộ sử của Tư Mã Thiên. Phổ Đức viết về ba nhân vật này cũng là một biểu hiện của tinh thần tôn trọng sự thật trong cuộc đời ông.</p>



<p>Nhất Linh Nguyễn Tường Tam:</p>



<p>Tòa án sinh ra lắm ngục tù</p>



<p>Xử ai khôn dại biết ai ngu</p>



<p>“Đời ta lịch sử sau này xét”</p>



<p>Nghĩa khí dâng cao phải giã từ.</p>



<p>Tam Ích:</p>



<p>Oan nghiệt như vòng siết cổ đau</p>



<p>Nghìn xưa cho đến cả nghìn sau</p>



<p>Ra đi là thoát đường sinh lụy</p>



<p>Sách vở nằm trơ khóc mộ sầu.</p>



<p>Tư Mã Thiên</p>



<p>Nếu chết rũ xong được oán hờn</p>



<p>Thân dù bị thiến nhục nào hơn</p>



<p>Lất lây viết sử ngàn trang để</p>



<p>Vạn đại danh truyền với nước non.</p>



<p>Phổ Đức Với Việt Sử Ca</p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Chúng tôi in lại bài viết về cuốn Việt Sử Ca thay cho lời nhận xét về nhà thơ Phổ Đức. Bài này, chung tôi viết từ tháng 8 năm 1995. Phổ Đức đã in vào tập Hai Mươi Thê Kỷ Thơ.</em></p>



<p>Anh Phổ Đức và tôi chỉ mới gặp nhau cách nay mấy năm, nhưng tôi lại có một cái duyên là được anh trao cho đọc một bản thảo về một vở kịch hơn bốn ngàn câu với 40 màn (kịch thơ) viết về cuộc đời của Đức Phật dươi tựa đề Người Tái Tạo Đời, từ Đản sinh, xuất gia, thành đạo, thuyết pháp đến nhập niết bàn. Nay anh lại gửi tôi cuốn Việt Sử Ca và ngỏ ý nhờ tôi viêt lời bạt. Đã bảo là cái duyên với anh, nên tôi nhận lời. Những trang sách này viết về anh, nên đưa vào đây với một vài sửa chữa và bổ sung.</p>



<p>Theo sự hiểu biết hạn hẹp của tôi về lịch sử Việt Nam qua thi ca, thì cuốn Việt Sử Ca của nhà thơ Phổ Đức là dài hơi nhất trng ngành lịch sử học Việt Nam từ trước đến nay về loại này, nó vượt quá sự hiểu biết của tôi. Cho nên tôi sợ thất lễ với các bậc thức giả. Nhưng vì mến tấm lòng chân thành của tác giả nên tôi viết mấy lời này cũng với sự chân thành để đáp lại ý muốn của tác giả Phổ Đức.</p>



<p>Từ tập Người Tái Tạo Đời cho đến Việt Sử Ca, nhà thơ Phổ Đức đã chứng tỏ khả năng làm việc của anh rất là mãnh liệt. Anh thường nói với tôi, mình viết được cái gì trong lúc này thì cứ viết, chứ không nhất thiết là phải xuất bản ngay. Đó là một thái độ của sự khiêm nhường, một dấu hiệu của lòng say mê thi ca. Nhưng tôi thì lại mong rằng hai tác phẩm lớn này cần được ấn hành sớm, để độc giả nào có cái tâm hướng về Đức Phật sẽ tìm thấy trong Người Tái Tạo Đời một hướng đi cho cuộc đời của mình. Độc giả nào chọn ngành sử học, thì chẳng những sẽ tìm thấy trong Việt Sử Ca những dòng thơ mang tâm sự của tác giả mà còn như được sống cùng thời với những biến cố, những sự kiện và những nhân vật lịch sử của từng triều đại, từng thời kỳ. Bởi lẽ tất cả những yếu tố này, ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp cũng nối kết lại với nhau để hình thành một chủng tộc, một giống nòi, một văn hóa Việt Nam.&nbsp;</p>



<p>Chẳng hạn khi đọc đến đoạn kết tác giả viết về nhà Hồ, tôi thấy bất ngờ và hiểu tâm trạng của Phổ Đức như sau:</p>



<p>Đọc sử bài học đáng ghi</p>



<p>Việt Nam tranh đấu khởi đi một lòng</p>



<p>Dù mấy thế kỷ nô vong</p>



<p>Dân ta vẫn đứng thoát vòng Bắc phương</p>



<p>Làm vua chỉ một chặng đường</p>



<p>Đất nước trường cửu nhân quyền tự do</p>



<p>Quên mình vì nước dân lo</p>



<p>Biết rằng Tổ quốc chung cho mọi người</p>



<p>Độc tài chỉ giai đoạn thôi</p>



<p>Bạo tàn cũng đổ dưới trời đất Nam</p>



<p>Đây là bài học ghi lòng</p>



<p>Việt Nam đấu sử còn trong lâu dài</p>



<p>Mong sao đất nở nhân tài</p>



<p>Nước mới bền vững ngày mai huy hoàng</p>



<p>Vì là sử ca với suốt dọc dài lịch sử hàng nghìn năm từ đời Hồng Bàng cho tới nay mà tác giả lại muốn bảo lưu những sự kiện lịch sử của từng thời kỳ và triều đại những nhân vật từ vua chúa tới hàng sĩ phu, trung thần hay nịnh thần, những địa danh hay chiến trận và những nghi lễ, luật lệ phép nước v.v… nên tác giả khó tránh việc gượng ép trong vần điệu thi ca. Tuy nhiên, sơ khuyết này không làm giảm đi chất liệu lịch sử trong toàn bộ tác phẩm này, một công trình lớn lao. Ví dụ viết về vua Gia Long sau khi thống nhất đất nước:</p>



<p>Nguyễn Ánh sau 24 năm</p>



<p>Mới dứt được cả Tây Sơn trong ngoài</p>



<p>Nước nhà thống nhất trăng soi</p>



<p>Bắc Nam một dải tiếng còi xuyên sơn</p>



<p>Niên hiệu người đặt Gia Long</p>



<p>Tên nước người đổi Việt Nam anh hùng</p>



<p>Kinh đô đóng ở Phú Xuân…</p>



<p>Cuối chương XXXVII viết về tình thế Việt Nam từ năm Giáp Tuất về sau, tác giả phóng bút:</p>



<p>Nhân sĩ không có tài cao</p>



<p>Làm sao cứu nước khỏi vào thực dân</p>



<p>Tình hình phức tạp rối ben</p>



<p>Đất nước như một ngọn đèn gió chao</p>



<p>Triều đình ngó trước nhìn sau</p>



<p>Toàn lũ ăn hại rút đầu lòi lưng</p>



<p>Nếu nghe từ trước Canh Tân</p>



<p>Đời sau tránh họa hại dần cháu con</p>



<p>Thuốc sai giết một linh hồn</p>



<p>Nước sai giết cả núi sông đất trời</p>



<p>Văn sai viết giết bao người</p>



<p>Thơ sai hại cả muôn đời về sau.</p>



<p>Đọc Việt Sử Ca của nhà thơ Phổ Đức từ đầu đến những dòng thơ trên đây, tôi thường phải dừng lại để nhớ về chính sử. Nếu độc giả nào có hơi khó chịu vì gặp phải đâu đó những câu thơ gượng ép trong vần điệu thì sẽ được đền bù lại khi tác giả đã đi qua những sự kiện địa danh v.v…Bấy giờ mới là lúc tác giả bày tỏ tâm tư mình, mới là lúc anh thể hiện tính sáng tạo thi ca của anh.</p>



<p>Tháng 8-1995</p>



<p><strong>Vài Lời Cuối Với Anh Phổ Đức</strong></p>



<p>Như chúng tôi đã nói trên đây là, bài viết về Lịch sử ca là thay thế cho nhận xét chung của chúng tôi về nhà thơ Phổ Đức. Thế nhưng, chúng tôi vẫn còn như muốn viết thêm vài lời về anh. Bất cứ tác phẩm nào của Phổ Đức chúng tôi đã đề cập đến trong sách này, vẫn có điều chúng tôi còn muốn bàn đến hay trích dẫn để giới thiệu với độc giả. Bởi một điều: thành phần cầm bút chúng tôi, nếu ngoảnh mặt đi với sự thật hằng phơi bày trước mặt, để bán lương tâm cho điều gian trá, thì cũng có nghĩa những gì chúng tôi đã viết, nay tự mình xóa bỏ.&nbsp; Phổ Đức đã không làm thế và anh đã có nhiều bạn hữu. Phổ Đức đã ra đi ở tuổi 73. Nghĩa là anh không còn thực hiện được gì nữa, không nói gì được nữa. Những gì anh trao gửi chúng tôi, trách nhiệm của chúng tôi bây giờ là bảo tồn và trao lại cho độc giả. Nay chúng tôi làm việc này, nhưng không trọn vẹn. Cho nên chúng tôi áy náy. Vì thật sự, Phổ Đức đã sống cho bạn văn chương, sống với bạn văn chương. Chúng tôi chưa nói hết những điều này, cũng có nghĩa chúng tôi chưa nói được bao nhiêu những gì anh Phổ Đức dành cho bạn văn chương của mình.</p>



<p>Điều thứ hai chúng tôi học được ở Phổ Đức là, đọc các tác phẩm của anh, nhất là tập Hai Mươi Thế Kỷ Thơ và tập Những Dòng Thơ Tưởng Niệm, chúng tôi như được sống trở lại với các bậc anh hùng dân tộc, các bậc tiền bối về lãnh vực văn hóa, văn nghệ, từ đầu thế kỷ 20 và lên xa hơn một chút nữa. Phổ Đức thật phong phú về điều này và anh trân trọng nhắc đên các vị này.</p>



<p>Anh Phổ Đức! Dù bài viết này chưa đúng tầm của anh, cũng dâng lên anh như một nén tâm hương của tôi.</p>



<p><strong>Khải Triều</strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Khải Triều: PHAN LẠC GIANG ĐÔNG</title>
		<link>https://t-van.net/khai-trieu-phan-lac-giang-dong/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Khải Triều]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 20 May 2025 08:15:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[NHỮNG NGƯỜI BẠN VĂN CHƯƠNG]]></category>
		<category><![CDATA[Những người bạn văn chương]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=79914</guid>

					<description><![CDATA[Thơ- Những Dòng Sông Đều Chảy Sinh năm 1940 tại Sơn Tây. Ông là Út nam của sử gia Dương Tuyền Dã Phu Phan Lạc Vọng Húc. Sinh viên Ban Sử, Văn Khoa Đại Học Vạn Hạnh Sài Gòn. Dạy Văn Sử Địa tại các Tư thục: Cứu Thế, Hiếu Nghĩa Tân Văn Tân Việt, [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/05/image024.jpg?strip=all&fit=141%2C165&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="141" height="165" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/05/image024.jpg?strip=all&fit=141%2C165" alt="" class="wp-image-79915" style="width:183px;height:auto"/></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p class="has-text-align-center"><strong>Thơ- Những Dòng Sông Đều Chảy</strong></p>



<p>Sinh năm 1940 tại Sơn Tây. Ông là Út nam của sử gia Dương Tuyền Dã Phu Phan Lạc Vọng Húc. Sinh viên Ban Sử, Văn Khoa Đại Học Vạn Hạnh Sài Gòn. Dạy Văn Sử Địa tại các Tư thục: Cứu Thế, Hiếu Nghĩa Tân Văn Tân Việt, Thượng Hiền, Tinh Thần…</p>



<p>-Có chân trong Ban Biên tập các báo: Diễn Đàn Chính Đảng, Quần Chúng….</p>



<p>-Đã từng cộng tác với các tạp chí: Văn Mới, Hiện Tượng, Văn Nghệ Ngày Nay…</p>



<p>-Biên tập viên đầu tiên Bán Nguyệt san Lý Tưởng, Chính Huấn của Quân Chủng Không Quân/QLVNCH</p>



<p>Tác phẩm đã in trước 1975</p>



<p>-Trở mình, thơ. Lý Tưởng xuất bản 1966</p>



<p>-Đắc Khanh và màu sắc quê hương, thơ, BHK xb 1967</p>



<p>-Thông điệp, thơ, Đại Nam Văn Hiến in 1969</p>



<p>-Mười lăm năm Thi ca Quân đội, biên khảo, 1970</p>



<p>Di cảo:</p>



<p>-Thông điệp gửi Tổ Quốc, thơ</p>



<p>-Nhớ lại và suy nghĩ, Hồi ký</p>



<p>-Những ngày, những tháng, những năm</p>



<p>Ký, những khuôn mặt báo chí, văn nghệ</p>



<p>-Lực lượng dân tộc Việt Nam, tâm tình lịch sử</p>



<p>(Trích Hồi ký Phổ Đức &amp; Niên giám Văn nghệ sĩ Việt Nam Hài ngoại.)</p>



<p>Phan Lạc Giang Đông mất ngày 09-11-2001 tại Hoa Kỳ.</p>



<p>(tài liệu này in trong tập:</p>



<p>Phan Lạc Giang Đông-THƠ- Những Dòng Sông Đều Chảy- Việt Nam Tân Tỵ 2001)</p>



<p>Cố thi sĩ Phan Lạc Giang Đông là một nhà thơ nổi tiếng trước năm 1975, với các thi tập đã xuất bản gồm: Đắc Khanh và màu sắc quê hương, Trở mình, Thông điệp, Tiếng hát trên đồi cao. Ông sang Mỹ qua diện H.O từ năm 1994, và đã viết cho nhiều tờ báo tại Hoa Kỳ.<br>Đặc biệt một số bài thơ của Phan Lạc Giang Đông đã chuyển sang Anh Ngữ và được đăng trong các tuyển tập thi ca Hoa Kỳ, như: Thi tuyển ‘A blossom of Dreams’, Reaching Other Worlds. Riêng bài ‘Holly Park and the colors of my homeland’ của ông đã là bài thơ được đặt lên hàng đầu của thi tuyển quan trọng ‘A Celebration of poets’. Trước khi qua đời vào cuối năm 2001, thi sĩ họ Phan đã trở thành Hội Viên Ưu Tú của Hiệp Hội Thi Ca &#8220;International Society of Poets&#8221;.(Nguồn: Sài Môn Thi Đàn)</p>



<p>Tập thơ <em>Những Dòng Sông Đều Chảy,</em> dầy 250 trang, khổ 14 x 20cm, là tên một bài thơ của Phan Lạc Giang Đông sáng tác khi ông ở Hoa Kỳ. Ông gửi bài thơ này cho Tổng thống Bill Clinton, qua bản dịch sang tiếng Anh của Lưu Bá Bắc và được Tổng thống Hoa Kỳ chính thức gởi văn thư ngày 14 tháng 3 năm 2000 ca ngợi ông dùng thi ca đóng góp vào nền văn hóa đa dạng của đất nước Hoa Kỳ, thì tạp chí văn học VERSES SỐ 2 Vol.12 Mùa Hè nằm 2000 đã liệt kê nhà thơ Phan Lạc Giang Đông vào hàng thứ 13 trong danh sách 56 thi sĩ tại Mỹ được tuyển chọn là “Những Tác Giả Quốc Gia”. (Theo Việt Nam Times)</p>



<p>Trong dịp kỷ niệm 49 ngày mất của Thi sĩ Phan Lạc Giang Đông, người bạn thân của ông là nhà thơ Phổ Đức đã thực hiện một tuyển tập thơ của Phan Lạc Giang Đông, có hơn 30 bài. Kế đến là thơ của thân hữu của Đông, tất cả đều hướng về Phan Lạc Giang Đông sau khi ông mất. Chúng tôi thấy có Phổ Đức, Hoàng Vũ Đông Sơn, Hà Vũ Giang Châu, Ngọc Tự, Ánh Nguyệt, Nghiêm Phái-Thư Linh, Nguyễn Thị Vinh, Thanh Chương, Sông Thao (Tô Mặc Thao), Phạm Trần Anh, Nghi Yên, Giang Hải, Cấn Hùng, Cấn Đằng Phi, Sơn Hồng Hoa, Trần Văn Khang, Huy Bằng, Khải Thanh, Hà Yên Vu, Nguyễn Thanh Nhã, Vương Đàm, Hoàng Vân. Thế Phong, Khải Triều, Phương Nga…&nbsp;&nbsp;</p>



<p>Phan Lạc Giang Đông Với Khải Triều</p>



<p><strong>NHỚ PHAN LẠC GIANG ĐÔNG</strong></p>



<p><em>Trước ngày Phan Lạc Giang Đông đi Hoa Kỳ,</em><em> </em><em>theo diện H.O năm 1994, anh đưa cho tôi một tập giấy trắng, nhờ tôi viết những cảm nghĩ của tôi về anh từ trước cho đến nay, dù thế nào, anh cũng rất trân trọng nó. Tôi có một chút ngần ngại, song tôi cũng nhận lời anh. Cũng thời gian này, nhạc sĩ Ngô Mạnh Thu thực hiện cho Giang Đông một cuốn phim về những quan hệ trong thân hữu</em></p>



<p><em>Những gì tôi đã viết cho Phan Lạc Giang Đông ngày đó, đến khi anh mất tại xứ người được 49 ngày ( 9.11.2001 – 27.12.2001), nhà thơ Phổ Đức, đã thực hiện một Tuyển tập Thơ Văn của Phan Lạc Giang Đông và Thơ Văn của bằng hữu viết về những quan hệ của họ với Giang Đông, có trên 30 người được </em><em>g</em><em>hi trong mục lục tuyển tập này, dày 246 trang, không kể mục lục. Tuyển tập mang tên một bài thơ nổi tiếng cùa Phan Lạc Giang Đông sau ngày anh sang Hoa Kỳ. Đó là bài : “Những Dòng Sông Đều Chảy”, Lưu Bá Bắc chuyển sang Anh ngữ là: “All Rivers Have Been Flowing”. Anh còn một bài nữa, là : “Nỗi Khổ Tâm Của Wall Whitman” Sau khi hai bài này được phổ biến, anh nhận được thư mời của Hiệp Hội các Tác Giả và Nghệ Sĩ Quốc Tế mời anh trở thành hội viên chính thức của tổ chức này. Ban Giám Khảo Giải Thi Ca Quốc Tế đã tuyển chọn hai bài thơ của anh vào dự tranh chung kết.</em></p>



<p><em>Bài tôi viết cho Giang Đông đặt ở vị trí “Thay Lời Tựa”, trang 1. Tôi xin lỗi anh linh anh Giang Đông, được bỏ bớt mấy đoạn tôi tỏ bày với anh về tôi, vì những dòng tâm sự ấy tôi chỉ dành riêng cho anh.</em><em> </em><em>Nay đưa vào đây là chốn công khai rồi, không nên.</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Tháng 12/2001</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Anh Giang Đông thân mến,</p>



<p>1.- Buổi sáng hôm nay đi làm về, khi qua cầu Chà Và, tôi bỗng nhớ đến một nhân vật của Hồ Hữu Tường trong lúc đang nghĩ về anh. Rồi tôi bồn chồn, xao xuyến…</p>



<p>Chiếc cầu này tôi đã đi qua hàng ngày từ hơn 10 năm nay. Nhưng, ngày hôm nay, tôi có một cảm giác hơi lạ lùng. Nó như thôi thúc tôi phải cố gắng để “qua cầu”, mặc dù tuổi tôi đang về chiều, những buổi chiều có nắng quái gay gắt, có ma cô lờn vờn trong hoàng hôn tím…</p>



<p>2.- Anh Đông !</p>



<p>Tháng 2-1967, tôi nhập đơn vị anh sau một kỳ thi tuyển, tôi là một trong số 5 người đã “qua cầu”. Anh đến chào và mừng tôi vì trước đó đã gặp nhau tại nhà một người trong làng văn. Cử chỉ của anh làm cho tôi cảm thấy bớt cô đơn trong giai đoạn đầu của đời lính.</p>



<p>Tôi đã nhập tâm một lời nói của anh với một vị giáo sư già nua sau này : “<em>Tôi chưa nhập cuộc, nên không có mặc cảm…”</em> Nghe nói, vị giáo sư này là một trong số những người cầm bút ở Hà Nội đã kịch liệt lên án nhóm Nhân Văn – Giai Phẩm.</p>



<p>Đã từ rất lâu, khi chúng mình còn hàng ngày gặp nhau, chia sẻ với nhau ly cà phê sáng, buổi chiều, có khi cả buổi tối, lại đậm đà hơn nữa là bên ly rượu với rựa mận, bún măng, giồi chó…, tôi đã nhận ra chân tính của anh. Cái này nó làm cho những kẻ tài hèn còn đố kỵ không ưa. Vì họ chỉ nhìn thấy được&nbsp; ở anh những bề nổi của thời trai trẻ, mà không thấy được phần tâm tư, mặc dù phần này anh đã để lộ ra ngoài, đôi khi quyết liệt, gay gắt và cũng rất thiết tha bằng ngôn ngữ thi ca.</p>



<p>Có mấy nhà văn nhà thơ nào được dư luận đánh giá đúng mức khi họ còn sống đâu, và cũng chẳng có bao nhiêu tác giả bằng lòng với những gì họ đã công bố. Họ chỉ dừng viết sau lúc hai tay hai chân của họ đã buông xuôi và con tim ngừng lại ! Người đời, ngay cả hàng ngũ trí thức khoa bảng, thường lệch và có định kiến với người khác. Nhất là khi thời đại mới, ở Đông cũng như ở Tây, cắt đứt với truyền thống, với Đạo học, với Tiên tri hoặc Ngôn sứ. Thành ra, vấn đề con người trở nên phức tạp. Giá trị con người không còn được nhìn ở phương diện “tâm” mà chỉ còn ở bề nổi.</p>



<p>Chủ nghĩa danh và lợi được tôn vinh, bất cần kiêm ái và cứu chuộc.</p>



<p>Trí thức như thế, cũng chính là tác nhân làm sa đọa con người, xoay chiều tiến hóa của lịch sử con người, thay vì đi về hướng tâm linh, thì lại đẩy con người ngả theo chiều âm phủ, nên đã gây ra bao nhiêu tội ác.</p>



<p>Là thi sĩ, hãy khóc đi anh Giang Đông. Hãy gào thét và phẫn nộ.</p>



<p>Đến hôm nay, 1994, cái chân tính của anh càng rõ sau những tháng năm dài trong gian khổ, trong thử thách, trong xót xa và tủi nhục…Cho hay, thiên mệnh đã đến ngụ cư ở cung lòng ai, thì đã chiếm trọn tâm tư họ, trí não họ, để, dù có thăng trầm, có phiêu bạt nay Bắc mai Nam, người ấy&nbsp; cũng “hội”, cũng “ngộ” được với những bậc danh sĩ, hiền nhân, cũng như tham thông, cảm ngộ được với những bậc quốc lão trên quốc lộ cằn cỗi, nắng quái hay trên con tàu xuyên Việt mà anh đã đem hình hài thương đau ấy vào thơ. Đó là nỗi bi thảm của chúng ta hôm nay. Chúng ta đã bất lực trong chiến tranh và nay còn bất lực trước hàng trăm nghìn cảnh ngộ như thế. Chúng ta còn bất lực đứng nhìn những người mẹ già, những người cha đau mà khóc, tủi cực, xót xa.</p>



<p>Là thi sĩ, hãy khóc đi anh Giang Đông. Hãy gào thét. Hãy phẫn nộ và hãy sám hối.</p>



<p>Anh Đông thân,</p>



<p>Anh là người chịu đọc sách, cách riêng là Sử. Anh còn là người quảng giao, nhưng anh cũng ít có tri kỷ, ngoại trừ Phổ Đức. Thời gian ở trại tù, anh thân với anh Long và tôi thấy anh Long cũng rất mến mộ anh. Thế cũng đủ. Sau này anh muốn nhập cuộc, song đó chỉ là nỗi uất nghẹn riêng tư của anh. Bạn hữu thấu hiểu nỗi đau của anh, họ thương anh nhưng lại thêm một lần nữa nỗi bất lực khiến nó tràn vào thi ca. Anh mang nó đi theo.</p>



<p>Anh Giang Đông !</p>



<p>Tôi muốn nói với anh về những sơ khuyết của con người. Hễ là người thì không ai không có. Ở anh. Ở tôi. Ở bạn hữu của chúng ta. Tôi có cái khuyết điểm nặng nhất là nói “lỡ”. Cái này là khuyết điểm của mọi khuyết điểm, gây ngộ nhận, nên tôi biết không ai khuyết điểm hơn tôi. Vì vậy, chỉ với anh tôi mới thường ngồi lâu với ly cà phê. Tôi không ngại nói lỡ lời với anh, vì anh không quan tâm. Còn thì…, người đời là thế. Người ta đổ đầy vào lòng vào trí những cái khuôn đố kỵ, thị phi lắp sẵn để “nhốt” anh em bạn hữu vào đó. Một khi những con mồi đã bị hốt vào đó thì khó mà thoát ra. Nhưng chính họ cũng bị “đóng đinh” một trật cùng với nạn nhân. Có điều họ không thấy được thôi. Nói như thần học gia Đông Phương Kitô giáo là Anthony de Mello (người Ấn Độ) dòng Tên: họ <em>chưa thức tỉnh</em>.</p>



<p>Là con người, làm sao không có sơ khuyết nhỉ, anh Đông ! Cái khó là nhận ra, ngoài những biểu hiện làm người đố kỵ không chịu được, người thị phi lại càng không nữa, còn có cái gì cao hơn, đáng yêu hơn và cần phải trân trọng, cần phải nâng cao điều ấy lên khỏi cái tầm đố kỵ, thị phi. Đó là chỗ “sống chết có nhau” của những đôi tri kỷ, chỗ khác nhau của những tay tâm tư.</p>



<p>Trong lịch sử loài người, những vĩ nhân, những bậc anh hùng, những tay kiệt xuất, những thi bá, thi hào…, hỏi ai là người không có khuyết điểm, anh Đông nhỉ ? Có khi những vị này còn nhiều hơn thế nhân thường tình! Vậy sao chúng ta lại bị chính anh em mình “nhốt” vào những định kiến của họ, để đố kỵ, để loại trừ !?</p>



<p>Viết xong lời trên đây, bỗng dưng tôi như bị một ánh sáng lạ chiếu vào toàn thân, làm tôi dừng bút, đọc lại những chữ nghĩa vừa qua. Như một biểu hiện thường lệ của người có đạo Chúa Kitô khi bắt đầu thánh lễ, là đấm ngực 3 lần : “Lỗi tại tôi ! Lỗi tại tôi ! Lỗi tại tôi mọi đàng.” Tôi chợt nhận ra rằng, chính tôi cũng “đóng đinh” bạn hữu, đồng thời cũng “đóng đinh” chính tôi vào định kiến khi bảo người khác là đố kỵ và thị phi. Điều này có thật hay chỉ là xét đoán. Nếu là xét đoán thì tôi đã phạm vào Tin mừng của Chúa Giêsu : “ Đừng xét đoán…” (Mt 7, 1-5).</p>



<p>Một vài anh như Thanh Chương, Phổ Đức và anh Long, đã nói về những đức tính đáng trân trọng của anh. Hình tướng anh đó, lúc nào cũng như nhìn thấy kẻ thù ở phía trước, chứng tỏ đó là những dấu chỉ của một tâm hồn muốn thoát ra ngoài những tù túng, những bất công, những hạn cục của bản thân, của xã hội. Ngoài ra, còn phải nhập vào tâm tư anh để đồng cảm với anh qua ngôn ngữ thi ca của anh. Nó mạnh mẽ, sáng suốt và khẩn thiết cho một cuộc cách mạng nhân văn. Như thế mới không bị vướng ở bình diện giác quan, rất dễ sai lạc.</p>



<p>Anh Giang Đông thân,</p>



<p>Tôi nói ra những điều này vì chúng mình sắp chia tay. Anh đến xứ người ta, xa lạ với mình. Nơi ấy có thể là môi trường làm anh lớn dậy, mà nó cũng có thể làm anh chán chường, đắng cay. Nhưng tôi vẫn tin ở anh, tin ở phần chân tính của anh. Trên đất mới, anh có nhiều cơ hội để phát huy.</p>



<p>Dù thế nào đi nữa, anh hãy nhớ đến quê hương, đến tổ quốc, nơi còn chúng tôi đang khắc khoải như con cuốc kêu mùa hè…</p>



<p>3.-Anh Đông thân mến,</p>



<p>Chắc anh còn nhớ đến một nhân vật của Hồ Hữu Tường chứ ? Nhân vật ấy tiêu biểu cho tinh thần Việt Nam (?) Hay cho chính tác giả của nó (?). Hồ Hữu Tường để cho nhân vật của mình sang Hoa Kỳ, sang Tàu và Mạc Tư Khoa. Ở đâu người ta cũng kinh ngạc và nhân vật ấy được coi như một tân Trạng Nguyên của Việt Nam. Tôi nhớ đến nhân vật ấy mỗi lần đi du thuyết thiên hạ, làm cho Việt Nam rạng danh trên trường quốc tế. Qua đó, Hồ Hữu Tường cũng nặng lòng với Tổ Quốc lắm.</p>



<p>Cho nên, sau khi được anh trao tận tay tập này, tôi đã nhớ ngay đến nhân vật ấy : Phi Lạc. Thú thật với anh, tôi cũng không biết tại sao lại nhớ đến nhân vật Phi Lạc của Hồ Hữu Tường trong lúc đi đường. Tôi không có ý đem anh so sánh với Phi Lạc, vì nhân vật này không có thật, nó chỉ xuất hiện trong trí tưởng tượng của Hồ Hữu Tường. Vì thế, nếu như anh không thích thì tôi lấy làm phiền muộn lắm : tôi lại lỡ lời với anh !</p>



<p>4.- Anh Đông,</p>



<p>Gần 30 năm là bạn thân tình của nhau, trong đó cùng khoác một màu áo lính và cùng một đơn vị chiếm 1/3, tôi không quên ngày anh vào Võ Bị Thủ Đức, anh đã viết thư mời tôi xuống chơi vào buổi trưa bất cứ ngày nào trong tuần. Tôi phải xếp dịp này vào số những kỷ niệm tha thiết nhất trong đời tôi. Nên tôi đã xuống liền. Cũng như anh, Cao Thế Dung, gặp lúc phải vào trại Quang Trung về vấn đề quân dịch đối với trí thức Sài-Gòn, khoảng đầu thập niên 70, đúng 24 năm trước, viết thư gọi tôi vào chơi, tôi cũng đã vào thăm anh ấy ngay, mặc dù hôm đó là ngày Chúa nhật, tôi có buổi thi tốt nghiệp cuối cùng của một khóa học về Thần học sau mấy năm theo đuổi. Đến với anh buổi trưa hôm đó, anh em mình đi trong sân trường Võ Bị đầy nắng, lặng lẽ lắm, vì đang là giờ nghỉ, tôi biết anh nhớ bạn hữu ở bên ngoài, thèm gặp để tâm sự cho vơi sự trống trải bên trong. Còn Cao Thế Dung, khi tôi vào phòng nghỉ của anh ấy, tôi thấy phòng đầy người, toàn là trí thức Sài-Gòn thôi, được mời vào đây nghỉ vài tuần lễ rồi lại về nhà, chứ có phải nhập quân ngũ như anh em mình đâu. Tôi rất vô tình, chẳng mang theo một đồng quà bánh nào cho anh cũng như cho Cao Thế Dung. Nhưng tôi biết hai anh đã vui khi gặp tôi. Cả anh và Cao Thế Dung có lẽ cảm thấy mình không cô đơn. Chỉ đơn giản thế thôi. Riêng tôi, khi nhớ đến hai dịp này, tôi thấy ấm lòng vì biết mình không vô dụng đối với bạn hữu, dù chỉ với anh và Cao Thế Dung.</p>



<p>Còn 19 năm trở lại đây, anh đã bôn ba rày đây mai đó, nhọc nhằn vất vả, buồn phiền ray rứt trăm bề, tôi tưởng như anh không trụ được. Nhưng anh vẫn tỉnh táo, vẫn làm chủ được bản thân, vẫn nặng lòng với anh em gặp cảnh khó khăn…Cho tới lúc anh trao tận tay tôi tập giấy này, tôi biết anh đã “qua cầu”…</p>



<p>Thời gian còn lại trước mặt, anh có tự thắng được mình nữa không ở nơi đất khách quê người, xem ra cũng còn có nhiều điều phải lo toan. Anh đã sẵn sàng chưa?</p>



<p>5.- Anh Đông thân mến,</p>



<p>Anh có phải là người đúng như anh em tôi nói đến anh trong tập kỷ niệm này không ? Hay anh sẽ là một người khác, muốn vươn cao hơn ý nghĩ thường tình của chúng tôi. Nếu đúng như thế cũng là điều đáng mừng. Cần phải tự vượt hơn tầm nghĩ của đám đông, như ngôn ngữ thi ca của anh. Sắp sửa rồi đây, những ý tưởng và những dự định của anh sẽ gặp được hoàn cảnh và môi trường…</p>



<p>Tôi chúc anh mọi điều tốt lành trong những tháng ngày ở miền xa.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Khải Triều</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; &nbsp;&nbsp;&nbsp;(Ngày 8-4-1994. Tháng 11-2016 cập nhật)</p>



<p>Sau khi anh Phan Lạc Giang Đông được mời làm hội viên Hiệp Hội Các Tác Giả và Nghệ Sĩ Quốc Tế (International Society of Authors &amp; Artists), Đài phát thanh Á Châu Tự Do (RFA) phỏng vấn anh vào ngày 5-7-1998. Sau đó, nhà thơ Phan Lạc Giang Đông đã gửi nguyên văn bài phỏng vấn này về cho chúng tôi qua bản in trên tờ VietNam Times. Toàn văn bài phỏng vấn này cũng đã được nhà thơ Phổ Đức cho in vào cuốn Những Dòng Sông Đều Chảy, trang 89, nhân dịp kỷ niệm 49 ngày mất của Phan Lạc Giang Đông.</p>



<p>R.F.A: Xin anh cho thính giả biết&nbsp; về tiểu sử của anh</p>



<p>PLGĐ: Thưa anh, tôi sinh năm 1940 tại Hải Dương là quê ngoại, quê nội tôi ở Sơn Tây, cả hai đều ở miền Bắc của Việt Nam. Cụ thân sinh tôi là nhà văn kiêm sử gia Phan Vọng Húc, cụ thường viết trên bán nguyệt san Bách Khoa và Tân Phong ở miền Nam Việt Nam trước 1975 với bút hiệu Dương Tuyền Dã Phu. Cụ cũng là cố vấn cho Hội Nghiên cứu Dịch thuật ở Sài Gòn. Tôi cũng có người anh ruột là Tiến sĩ Sử học Phan Lạc Tuyên, cũng là một thi sĩ và đã theo chế độ Cộng sản sau khi cuộc binh biến 11.11.60 không thành.</p>



<p>Thưa anh, tôi rất hãnh diện về truyền thống nội ngoại tôi. Tôi chịu ảnh hưởng của bên nội, nên thích văn chương và mê thi ca, trong lúc bên ngoại tôi lại chuộng võ nghiệp. Ông ngoại tôi là cụ Đào Xuân&nbsp; Trụ, là là danh tướng của Tân Vương Quân Vụ Nguyễn Thiện Thuật thời kháng chiến chống thực dân Pháp.</p>



<p>Tôi tốt nghiệp Sử Địa tại Đại học Văn khoa Sài Gòn và sau, 1985 tôi học thêm về Ngữ Văn và Hán Nôm tại ại học Tổng hợp của chế độ Cộng sản.</p>



<p>Trước 30-04-1975, tôi là sĩ quan Không Quân QLVNCH. Ngoài ra, tôi đi dạy Sử Địa tại các trường Trung học Tư thục Cứu Thế, Hiếu Nghĩa, Thượng Hiền, Trí Tri…</p>



<p>Tôi bị chế độ Cộng sản bắt đi cải tạo sau khi miền Nam Việt Nam mất. Hiện nay tôi cư ngụ ở Seattle, Tiểu Bang Washington từ 1994.Tôi là biên tập viên văn học cho tuần báo Việt Nam Times (Việt Nam Thời Báo) của nhà báo Lê Công Đa</p>



<p>Về tác phẩm trước năm 1975, tôi có mấy tác phẩm:</p>



<p>-Đắc Khanh và màu sắc quê hương, in năm 1967</p>



<p>-Thi tập Thông Điệp, in năm 1969</p>



<p>-Tập biên khảo Mười Lăm Năm Thi ca Quân đội, in năm 1972</p>



<p>R.F.A : Được biết anh có hai bài thơ xuất sắc là Những Dòng Sông Đều Chảy và Walt Whitman’s Lament đã được Ban Giám Khảo Giải Thi Ca Quốc Tế tuyển chọn vào chung kết. Xin anh cho biết:</p>



<p>-Hoàn cảnh nào mà anh sáng tác hai bài thơ này ?</p>



<p>-Theo anh, những yếu tố nào đã giúp anh đạt được thành công trong hai bài thơ đó ?</p>



<p>PLGĐ : Thưa anh, hai bài thơ này tôi sáng tác trong bối cảnh xã hội nơi tôi đang sống, suy nghĩ và những hiện thực của cuộc sống đã cho tôi thể hiện qua thi ca. Theo tôi, sức mạnh của hai bài thơ này là cả hai đều phản ảnh trung thực hiện thực xã hội, đồng thời cũng do ngôn ngữ giản dị của nó. Vâng, thưa anh, tôi xin nhấn mạnh, đó là sự trung thực của thi ca và sự giản dị của ngôn ngữ thi ca.</p>



<p>R.F.A: Nói chung, thơ của anh có chịu ảnh hưởng của khuynh hướng thi ca hay của những thi hào nào hay không?</p>



<p>PLGĐ: Tôi không chịu ảnh hưởng của khuynh hướng thi ca nào cả. Tôi luôn nghĩ, trái tim nồng nàn và khối óc tuyệt vời, bén nhạy của thi nhân luôn luôn nhận mệnh lệnh của hiện thực xã hội đang sống, đang thở để sáng tác. Tôi cũng không chịu ảnh hưởng của nhà thơ nào cả, kể cả của Việt Nam và quốc tế. Tôi chỉ thích vài thi hào như Đỗ Phủ của Trung Hoa, Wall Whitman của Mỹ, Pushkin của Nga, và dĩ nhiên Cao Bá Quát và Nguyễn Du của Việt Nam.</p>



<p>R.F.A: Ngoài phương tiện Việt ngữ, có lẽ anh cũng sẽ tiếp tục nhờ tới Anh ngữ để giới thiệu các tác phẩm của anh?</p>



<p>PLGĐ: Vâng, theo tôi nghĩ thì bất cứ người nghệ sĩ nào cũng muốn những suy nghĩ và sang tác của mình được bay cao và bay xa, càng cao và càng xa càng tốt. Anh ngữ là ngôn ngữ quốc tế. Chính vì thế, nhất là người cầm bút rất cần đến Anh ngữ để đưa những tác phẩm của mình&nbsp; thoát khỏi những ranh giới của thôn xóm, phường xã, thoát khỏi những bảo thủ, địa phương và ngay cả biên cương nhỏ hẹp quốc gia, để hội nhập vào giòng văn học nghệ thuật thế giới, của nhân loại. Tôi đang nỗ lực để thực hiện bằng được công việc này.</p>



<p>R.F.A: &nbsp;Kế hoạch sắp tới của anh để đóng góp cho văn học nghệ thuật Việt Nam như thế nào?</p>



<p>PLGĐ: Để góp phần nhỏ vào sinh hoạt nghệ thuật Việt Nam, tôi đang cố gắng sang tác vài tác phẩm, về thi ca và về văn,, về biên khảo. Những tác phẩm này mong sao thể hiện được tính cách trung thực, phản ảnh trung thực những bi kịch của con người Việt Nam, của mỗi gia đình và của dân tộc Việt Nam trong suốt một thế kỷ hai mươi đau thương và đầy nghịch lý, nghịch cảnh.</p>



<p>Thưa anh, khát vọng và kế hoạch của tôi là như thế.</p>



<p>R.F.A: Cám ơn anh Phan Lạc Giang Đông.</p>



<p>Ghi chú của Khải Triều:</p>



<p>Nhân vật Phi Lạc tôi viết cho Phan Lạc Giang Đông trước khi anh sang Hoa Kỳ diện H.O năm 1994, xuất hiện trong trí tưởng tượng của Hồ Hữu Tường. Còn Phan Lạc Giang Đông, nhà thơ Việt Nam có thực bằng thân xác và qua thi ca, anh đã trở thành “Người của thi ca quốc tế” trên đất Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, cuối thế kỷ XX.</p>



<p>(Nhân kỷ niệm 15 năm ngày Phan Lạc Giang Đông mất : 9.11.2001 – 9.11.2016) KT</p>



<p><strong>THƠ PHAN LẠC GIANG ĐÔNG</strong></p>



<p>Dòng thi ca của nhà thơ Phan Lạc Giang Đông có thể chia thành hai nhánh, nhưng cũng vẫn là một dòng, nếu chỉ xét ở khía cạnh “vận động”. Vận động cái gì? Có vài bài ông làm trước năm 1975 và sau này, khi ông sang Hoa Kỳ theo diện H.O: tác giả này kêu gọi các nhà thơ hay người cầm bút nhập cuộc. Những nhà thơ thuộc dòng lương tâm, sự thật, lương thiện, nhân ái, vị tha…, nghĩa là họ thuộc hàng ngũ Chân, Thiện, Mỹ. Họ sống vì Chân, Thiện, Mỹ và tranh đấu cho Chân, Thiện, Mỹ…</p>



<p>Trong bài Người Cầm Bút Hôm Qua – Hôm Nay, chúng ta vẫn đi giữa rừng súng máy, nhà thơ Phan Lạc Giang Đông viết:</p>



<p>Bút chúng ta bất khuất</p>



<p>Nỗi đói-no vẫn tin ở nơi mình</p>



<p>Và bút thiêng vẫn sáng lửa quang vinh</p>



<p>Báo của ta-báo của chúng mình</p>



<p>Báo của nhân quần xã hội</p>



<p>Văn của ngày mai đi tới</p>



<p>Thơ của tình thương rực rỡ lòng son</p>



<p>Nhạc họa luôn luôn-và ý thế trận vẫn còn</p>



<p>Phải chiến đấu từng giây từng phút</p>



<p>Cuộc đấu tranh cả ngàn năm chưa dứt</p>



<p>Giữa cái đúng-cái sai</p>



<p>Cái đen trắng lập lờ</p>



<p>Cái giả dạng ngu ngơ thủ lợi</p>



<p>Cái ngụy quân tử</p>



<p>Luôn chơi trò múa rối…</p>



<p>(Trích từ cuốn: Những dòng sông đều chảy, do Phổ Đức thực hiện, Nghi Yên: Vi tính -Việt Nam Tân Tỵ 20001, trang 46)</p>



<p><strong>Trước Năm 1975</strong></p>



<p>Trước năm 1975, nhà thơ Phan Lạc Giang Đông đã có mấy thi phẩm và ông đã nhờ tôi viết bài giới thiệu để in vào một tập nào đó, nay tôi không còn một tập nào, nên không biết bài ấy in ở tập thơ nào. Cũng do điều này, nên tôi không có tài liệu để giới thiệu với độc giả về thơ của Phan Lạc Giang Đông viết trước năm 1975. Nhưng, may là trong cuốn sách “Văn Học Hiện Đại –Thi &nbsp;Ca Và Thi Nhân – của tác giả Cao Thế Dung, Quần Chúng xuất bản, Sài Gòn 1969, ông đã nhận định về thơ Giang Đông như sau. Tôi trích một đoạn để bù vào chỗ thiếu sót của mình:</p>



<p>“Thơ Phan Lạc Giang Đông mới xuất hiện gần đây. Thơ ông tiêu biểu cho một phẫn nộ của tuổi trẻ đô thị Miền Nam, đang là nhân chứng bất đắc dĩ của một thời nội chiến thê thảm nhất trong lịch sử dân tộc Việt. Thi ca trong giai đoạn này đã chuyển biến bất ngờ và lớn lao, với những hình tượng độc đáo, xuất phát từ cảnh ngộ đen tối của vận mệnh dân tộc giữa cơn nồi da xáo thịt và vong nô từ hai chiều hướng Nam, Bắc.</p>



<p>Năm 1967 cuộc chiến đang bước qua một giai đoạn thảm khốc. Miền Bắc bị phi cơ Mỹ oanh tạc ngày đêm. Miền Nam vẫn thê thảm trong bom đạn, máu lửa, tương tranh, phân hóa và sa đọa, tham nhũng…Trò bá đạo vẫn được công khai diễn ra từng ngày từng giờ từ bên này hay phía bên kia. Tuổi trẻ thì bơ vơ trước một thực tại bỉ ổi trong một xã hội đã bang rã tận cùng. Phan Lạc Giang Đông, một trong những người trẻ tuổi làm thơ-đã một lần dùng thi ca như một giải tỏa cơn dồn nén đau thương nhất của tuổi trẻ và thơ, qua thi tập Đắc Khanh và Mầu Sắc Quê Hương (1967) &#8211; đã trở thành thái độ biểu quyết dứt khoát thế đứng của tuổi trẻ, dù thế đứng ấy chơi vơi giữa khoảng lưng chừng, không bám víu vào đâu, dù là một hy vọng mong manh từ thực tại của nó… Thơ Phan Lạc Giang Đông trước hết thiên về khuynh hướng đấu tranh. Mà nói đến đấu tranh tất có bạn &#8211; có thù… Thơ tranh đấu xuất phát từ đó, và ở Phan Lạc Giang Đông đã thể hiện rõ đường hướng này qua bài Chúng Ta Đứng Lên Mặt Trời Đỏ Lửa:</p>



<p>Chúng ta ngồi đây, đêm tối bao vây</p>



<p>Chung quanh ta nhiều điều làm sao nói hết</p>



<p>Chung quanh ta nhiều khuôn mặt</p>



<p>Từng tháng ngày tiếp nối thiếu trăng sao</p>



<p>Chúng ta ngồi đây, cuộc chiến đấu này và hòa bình nhảy múa</p>



<p>Trên từng ô vườn thửa ruộng.</p>



<p>Chúng ta nhìn hòa bình</p>



<p>Ôi hòa bình vô cùng vĩ đại.</p>



<p>Chúng ta ngóng tương lai suốt đêm dài</p>



<p>Và tình thương nghiêng đổ trên vai</p>



<p>Lệ có khô trên mắt già, mắt trẻ</p>



<p>Tóc có xanh mùa lúa mới quê hương?</p>



<p>Chúng ta đợi chờ vào đêm thứ mấy?</p>



<p>Để nhìn, để nghĩ, để căm hờn</p>



<p>Lời đấu tranh bỗng sáng ngời bút thép</p>



<p>Lời thơ vang tiếng cồng</p>



<p>Chúng ta đã đứng lên</p>



<p>Mặt trời bỗng nhiên đỏ lửa</p>



<p>Ngàn triệu cánh tay tạo thành trì vững mạnh</p>



<p>Trùng trùng điệp điệp thi ca</p>



<p>Khi chúng ta đứng lên</p>



<p>Ngôn ngữ của chúng ta</p>



<p>Phải là của chúng ta.</p>



<p>(Sđd, tr.300)</p>



<p><strong>Sau Ngày 30-04-1975</strong></p>



<p>Sau ngày 30-04-1975, nhà thơ Phan Lạc Giang Đông chìm sâu vào một nỗi buồn, một nỗi đắng cay khôn nguôi và ông đã để lộ ra với người bạn tri kỷ của ông, là nhà thơ Phổ Đức trong hai bài thơ mà tôi in ở đầu mục dưới đây, nhất là bài in ở phần cuối bài này. Tôi cũng giới thiệu với độc giả một vài bài thơ mà Phan Lạc Giang Đông viết ở bên Hoa Kỳ, như một dấu ấn của quê mới. Nơi đây ông đã vươn mình lên, đã được ghi tên, đứng thứ 13 trong bảng danh sách các nhà thơ quốc gia của Hiệp Hội Thi Ca &#8220;International Society of Poets&#8221;, qua hai bài: Những Dòng Sông Đều Chảy và Nỗi Khổ Tâm Của Walt Whitman.</p>



<p><strong>Đêm Bên Phổ Đức</strong></p>



<p>Khuya nghiêng đèn phố ngủ vùi</p>



<p>Bâng khuâng chùng đến muôn lời với nhau</p>



<p>Ly buồn nói được mấy câu</p>



<p>Đức ơi! Phù thế &#8211; biển dâu – thăng trầm</p>



<p>Tuổi đời thì có bao năm</p>



<p>Cho ta cạn cả lời thăm ân tình</p>



<p>Quán khuya uống rượu phù sinh</p>



<p>Hai ta chắc cạn cả bình thơ ca</p>



<p>Cái còn – cái mất – cái ta</p>



<p>Cái mênh mông hẳn vẫn là có nhau.</p>



<p><em>(Công Trường Dân Chủ. 12 giờ khuya Ngây 06-04-Giáp Tuất (16-6-1994. Trích từ Thơ-Những Dòng Sông Đều Chảy, trang 99, Phổ Đức thực hiện dịp kỷ niệm 49 ngày nhà thơ Phan Lạc Giang Đông mất tại Seattle, Hoa Kỳ)</em></p>



<p><strong><br></strong><strong>Đêm Mưa Tuyết </strong><strong>Trên Quê Mới<br><br></strong>Mưa tuyết đầu trên quê tự do<br>mình ta và đêm lạnh hư vô<br>quanh quanh trắng cả trời bông tuyết<br>trắng cả tâm hồn dĩ vãng xưa.<br>*<br>đâu những lời trăng đâu tiếng em<br>đâu rồi lời nhạc gọi bao đêm<br>đêm nay cùng với trời mưa tuyết<br>tuyết phủ thêm dần nỗi nhớ thêm.<br>*<br>có nẻo quê nào nắng nhớ không ?<br>quê xưa ngọn lửa ấm tơ trùng<br>khát khao lời nói như bình dị<br>mà mắt sông hồ mong nhớ mong.<br>*<br>mưa tuyết mịt mờ dăng lối đi<br>khuya đêm qụanh vắng dáng em về<br>bao năm tóc đã vùi sương gió<br>quê mẹ bây giờ vẫn cách chia<br>*<br>trên nẻo đường về nghe tuyết rơi<br>bờ xa còn lạnh những đầy vơi<br>ở đây khát mãi lời xa gọi<br>nhưng vẫn chỉ là xa vắng thôi .<br>*<br>trắng tay đi giữa trời mưa tuyết<br>quê cũ xa rồi quê mới đây<br>ngở tưởng quê xa ngàn dặm thẳm<br>và rồi mất một thoáng thơ ngây .<br>*<br>đi giữa đêm mưa nghe tuyết đổ<br>xe lăn trầm lắng dẫn tôi về<br>có nghe bốn hướng trời thinh lặng<br>xe vẫn đi trong những não nề.<br>*<br>đêm nay tuyết đổ trên quê mới<br>tuyết trắng như lòng trắng đớn đau<br>khép áo thầm thương tôi nói nhỏ :<br>&#8221; Em và đất nước vẫn như nhau !”<br>.<br>Từ Thế Kỷ Đớn Đau Tôi Lớn Lên<br>Cùng Đất Nước Hoa Soan<br><br>Thế kỷ hai mươi<br>những đớn đau cho tôi khôn lớn<br>hiểu thế nào là đất nước của tôi<br>hiểu thế nào là những cuộc chơi<br>những ngôn ngữ tinh ma<br>những trò bịp bợm<br>những diễn viên<br>trên sân khấu đời ghê tởm<br>*<br>Tôi sinh ra &#8211; buổi bình minh nở s71m<br>núi và đồi trùng điệp bủa vây quanh<br>những dòng sông mãi mãi tươi xanh<br>đất thơm nức lòng tổ tiên mở rộng<br>lời ca hát nổ ròn trên mặt trống<br>những đoàn quân dân tộc vội lên đường<br>những nàng thơ trao vồn vã tình thương<br>những cánh áo bay &#8211; gió về đằm thắm<br>nét môi ấm nồng tình im lặng<br>ngực no đầy dòng sữa ái ân<br>ánh mắt đi về ấm lại những bàn chân<br>tiếng gươm súng sắc cờ chủ nghiã<br>tôi lớn lên bạn thù từ ngàn phía<br>lẽ phải rồi phải đứng hẳn về ai<br>đất nước và tôi &#8211; và bước đi dài<br>trái cay đắng vẫn ngọt từ tim mẹ<br>mặt trời sáng trí tu5ê cha đã hé<br>và chân trời Tổ Quốc đứng lên<br>*<br>Những bạn tôi cùng đất nước thiêng liêng<br>thế hệ ôm tròn mùa hoa mới<br>kẻ giả hiệu lũ con buôn sám hối<br>bọn hoạt đầu bày ma qủy tàn theo<br>cả cộng đồng cùng đất nước đang reo<br>ngàn triệu nỗi vui trên vai đời chiến đấu<br>những áng văn chương &#8211; nhữngtâm hồn yêu dấu<br>nàng thơ vẫn đẹp thủy chung<br>tôi trở về uống cạn nỗi hưng vong<br>làm lịch sử như cha ông dũng cảm<br>và đi suốt thu muôn ngàn ánh sáng<br>bừng nụ cười lúa gạo để nuôi quân<br>đẹp hoa đời thơm triệu mùa xuân<br>những thi sĩ văn nhân và danh tướng<br>những em bé trước ánh đèn vui sướng<br>học thêm giờ cho kịp chín tương lai<br>khắp non sông trên vạn ngả đi dài<br>thơ bằng hữu là Nguyễn Du thời đại<br>tôi về ngủ bên người tình thân ái<br>trước thềm nhà nắng nhẹ thoáng hoa soan .<br><strong>Từ Khổ Đau Thơ Tôi Lên Tiếng<br><br></strong>[Phổ nhạc bơở Nguyễn Văn Thành &#8211; trong Dân Chủ Ca]<br>Khi tiếng ru bị cắt ngang âm điệu<br>khi tiếng võng đưa bị ngưng lại bỗng dưng<br>khi tiếng kêu than khốn khó trùng trùng<br>khi khói lửa ngút ngàn<br>khi bạo tàn ngự trị<br>.<br>khi trọc phú tỏ bản năng ích kỷ<br>khi lũ thấp hèn cơ hội giàu nhanh<br>khi trưởng gỉa &#8211; học làm sang<br>thở nọc độc gian manh<br>khi cái bụng to hơn óc não<br>khi khoa bảng ưa ngồi nói láo<br>khi chính tri sa lông yêu nước đầu môi<br>khi diễn văn đọc mãi không thôi<br>nói điều gỉa &#8211; che manh tâm lừa đảo<br>khi trắng &#8211; đen mập mờ trâng tráo<br>thời suy vong ngôn ngữ văn chương<br>khi những tên nhảy múa trên đau thương<br>suốt thế kỷ Tổ Quốc đau từng chặng<br>suốt thế kỷ phủ đầy huyền hoặc<br>Người &#8211; dối &#8211; người<br>ma qủy tự tim đen<br>khi vòng vây là những bóng đêm<br>khi mọi việc khởi đi từ bao điều tính toán<br>khi đạo lý thở dài ngao ngán<br>khi chữ yêu thương thành sáo ngữ vô tình<br>khi sự thực sợ ánh sáng bình minh<br>khi im lặng trở thành cần thiết<br>.<br>là khi đó Thi Ca Hiểu Biết<br>phải rất cần lên tiếng báo nguy<br>.<br>ở xa xăm vời vợi nghĩ suy<br>Em hỏi tôi khi nào hạnh phúc<br>tôi biết trả lời sao<br>khi chung quanh ô nhục<br>tôi biết nói sao<br>khi những gì chân thực<br>đều nín thinh như tĩnh vật ngoan hiền<br>những tấm họa nào mầu sắc đảo điên<br>những đọan nhạc âm thanh nhạt thếch<br>Người lương thiện trở nên ngờ nghệch<br>đứng bâng khuâng giữa cõi oán hờn<br>.<br>Người Cầm Bút Không Cần Biết Thiệt Hơn<br>Vũ Khí Chính Là Thơ Lên Tiếng<br>là báo động<br>là việc làm biểu hiện<br>của vô vàn sắc mực đấu tranh.<br>.<br>Em có thể yêu tôi<br>bởi vần điệu trong lành<br>bởi bề ngoài đỏm dáng<br>bởi kịch diễn<br>bởi những điều thế nhân nhàm chán<br>bởi ngôn từ ngọt lịm đường hương<br>Nhưng em ơi &#8211; điều duy nhất phải hiểu nhau hơn<br>Là Bản Chất<br>Là Tận Cùng Dưới Đáy Tim Dũng Cảm<br>Người Văn Nghệ Đứng giữa vùng ánh sáng<br>viết nên hoa &#8211; nắng &#8211; trăng &#8211; sao<br>viết nên đời mới<br>gửi trao<br>cho Dân Tộc &#8211; Con Người &#8211; Nhân Lọai<br>ngọn Bút Thiêng<br>Vượt Qua Trở Ngại<br>Đồng hành cùng Lịch Sử Yêu Thương<br>.<br>Em yêu dấu ơi<br>Từ khổ đau<br>Thơ Tôi Lên Tiếng<br><br><strong>Tôi Mơ Ước </strong><strong>Nghe Đất Nước Hai Quê Ca Hát<br><br></strong>Tôi mơ ước thấy quê hai miền ca hát<br>sức sống trào lên từ nguồn nhịp thơ ca<br>nụ ân tình khởi từ những xót xa<br>mái tóc lúa đồng<br>bước chân đời vững chắc<br>*<br>nắng chảy đẹp trên cánh rừng xa tắp<br>hò reo sóng vỗ triền sông<br>thế kỷ hoàn toàn của bao nỗi chờ mong<br>phía Đông vỗ<br>trời Phương Tây chào đón<br>*<br>cô gái đẹp Việt Nam một sớm<br>trao vội chàng tuổi trẻ Viễn Tây<br>những nụ hôn pha men rượu ngát say<br>những nụ hôn nồng nàn đời mới<br>lòng bất khuất &#8211; vầng dương ló dạng<br>cánh hải hồ đại điểu tung bay<br>đón chào thế giới đổi thay<br>điệp khúc rộn ràng &#8211; nhớ nhung trao gởi<br>*<br>những lồng ngực trẻ thơ thắm vội<br>tóc bồng bềnh như gió ra khơi<br>những mái trường quê cũ của tôi<br>mãi mãi thơm<br>từng trang quê đời mới<br>những thôn xóm nghèo xưa<br>chuyển mình đi tới<br>những đàn trâu đứng ngắm cánh đồng xanh<br>những máy cày nổ ròn rã âm thanh<br>những xa lộ nối nhịp tim đất nước<br>*<br>những mồ hôi ngỏ lời chào Tổ Quốc<br>ngực căng đầy nghị lực để nuôi dân<br>những mùa Thơ nở theo những bàn chân<br>những vần điệu ca dao ủ lại đời Dân Chủ<br>*<br>xin đa tạ hai quê<br>Whitman ơi &#8211; đã đủ<br>xin cám ơn Hồng Lĩnh -Nguyễn Du<br>nàng Kiều về tô lại nét xuân xưa<br>chàng Kim Trọng biết ơn từng nhịp thở<br>*<br>thế kỷ mới của tôi<br>hoa ngày mai sẽ nở<br>những công viên thắm sắc đẹp tình thương<br>nắng Seattle<br>hay nắng ngàn phương<br>nắng Quảng Trị<br>Thừa Thiên<br>Phan Rang<br>Phan Thiết<br>nắng vẫn ngọt trên đồi thông xanh biếc<br>quê mới hôm nay thắm lại sắc cờ tươi<br>Nước Mỹ bao la &#8211; độc lập tuyệt vời<br>nước của Luther King<br>bài học nhiều nhân ái<br>ôi hai quê &#8211; thời đại vui trở lại<br>những trung tâm &#8211; đại học mở chân trời<br>đẹp rộn ràng trí tuệ đã ra khơi<br>*<br>tuổi trẻ Việt Nam ơi<br>công Cha và nghĩa Mẹ<br>dòng máu lưu dân vẫn nối tiếp đi- về<br>rực rỡ vô cùng<br>tình lớn hai quê</p>



<p><strong><br></strong><strong>Nỗi Khổ Tâm Của Walt Whitman</strong></p>



<p>Một tối trước Safeway</p>



<p>Dưới ánh đèn đường khuya</p>



<p>Hai mẹ con ôm ngủ</p>



<p>Bên tấm bảng xin đời</p>



<p>.</p>



<p>Khuya rồi-đâu còn người</p>



<p>Chỉ toàn màu của đêm</p>



<p>Chỉ còn gió rít lên</p>



<p>Từ Rainier sừng sững</p>



<p>.</p>



<p>Mẹ có mái tóc đẹp</p>



<p>Mẹ có đôi mắt hiền</p>



<p>Con có đôi má nghiêng</p>



<p>Thiếu thơ đời nho nhỏ</p>



<p>Whitman xưa muốn ngỏ</p>



<p>Triệu tình thương – nụ cười</p>



<p>Nay – vần điệu vắng rồi</p>



<p>Bởi người không có mặt!</p>



<p>.</p>



<p>Hai mẹ con ôm chặt</p>



<p>Đành nhịn đến ngày mai</p>



<p>Ở đâu – tiếng thở dài</p>



<p>dòng xe đường giá lạnh</p>



<p>Tối nay tôi sẽ về căn phòng nhỏ bé, rất nhỏ bé, rất đơn sơ và phải đọc lại bài Quy Khứ của Đào Tiềm</p>



<p>Tôi nhớ tới nhà nho Đào Mộng Nam, nhớ tới Phạm Quốc Bảo ở xa. Hạnh phúc cũng vẫn là một nỗi nhớ nhung đẹp đẽ mà đơn giản, không hậu ý. Có phải không những người bạn hiền?</p>



<p>Thôi, tôi trở về với chính tôi, cái nhỏ bé và bình thường để được nhìn hàng phong vàng, với ly cà phê đạm bạc và với cái xuề xòa của ông bạn P.K với những trái táo và ít muối trong bao giấy</p>



<p>Suy nghĩ về nhà Thánh Francis mãi tôi bèn có bài thơ rằng:</p>



<p>Nhà Thánh Francis</p>



<p>Có biết bao nhiêu người đứng đợi</p>



<p>đủ sắc màu, đủ chủng tộc anh&nbsp; em</p>



<p>có biết bao nhiêu người đã tới</p>



<p>bao năm rồi nay nhớ nhận thân quen</p>



<p>Mẹ Ấn kiều – già nua đứng đợi</p>



<p>bạn của tôi mỗi tối giữa mùa sương</p>



<p>em Tiệp Khắc – chị Ba Lan – anh Đức</p>



<p>cả Liên Xô, đều gặp những thân thương</p>



<p>.</p>



<p>ta đứng mãi giữa sáng trời lạnh giá</p>



<p>nghĩ về đâu sao trống vắng vô cùng</p>



<p>bao chữ nghĩa đã trở thành vô nghĩa</p>



<p>Chính nơi này mới có trái tim chungb</p>



<p>.</p>



<p>bao rỗng tuếch của từng trang lý luận</p>



<p>bao nhân danh và ngôn ngữ xa vời</p>



<p>bao son phấn, danh từ và kiều diễm</p>



<p>bỗng tàn phai và những trận mưa đời</p>



<p>.</p>



<p>Chính nơi đây</p>



<p>Nhà Thánh Francis</p>



<p>giữa Seattle – thành phố Hoa Kỳ</p>



<p>căn nhà nhỏ &#8211; không còn băng giá</p>



<p>lúc tới buồn nhưng hạnh phúc khi đi.</p>



<p><em>PLGĐ</em></p>



<p><strong><br></strong><strong>Những Dòng Sông Đều Chảy<br><br></strong><em>(Bài thơ này Phan Lạc Giang Đông đã gửi đương kim Tổng Thống Mỹ Bill Clinton &#8211; Và đã nhận được lời ngợi khen ngợi của vị Tổng Thống này)<br></em><br>Chiều mùa xuân<br>seattle &#8211; hôm nay nắng dậy<br>tôi đứng chờ bus về phía ấy<br>phía của những tình thương<br>phía của những giọng hát đầy ắp yêu đương<br>.<br>nắng chảy dài trên khắp nẻo đường<br>những mái tóc đen mun óng ả<br>Cô gái ý thắm chiều sâ biển cả<br>và sắc miền xa Địa Trung Hải rạt rào<br>Cô nói cười &#8211; những tiếng gửi trao<br>bà trung Hoa vội vàng &#8211; vất vả<br>vẫn niềm cần cù &#8211; và mọi thứ là tất cả<br>vòng hoa châu á đẹp tương lai<br>người Ethiopie vẫn ngôn ngữ và nắng không phai<br>trên nụ cười sắc quê hương xa tắp<br>những em bé Nhật &#8211; nắng nô đùa trên cặp<br>những công nhân Hung &#8211; Pháp &#8211; Đại Hàn<br>những cụ già Ấn Độ &#8211; Pakistan<br>lên xe xuôi về south &#8211; ngược North<br>tôi vẫn đứng đây<br>trước Post office<br>chờ xe &#8211; tìm ý thơ &#8211; từng ngôn ngữ một<br>chữ nào cho tôi<br>chữ nào cho bằng hữu<br>chữ nào cho nhân loại hôm nay<br>.<br>Muôn cái đảo điên &#8211; triệu nghịch lý<br>chua cay<br>những bóng ma vẫn rẫy đầy mọi chốn<br>nhân loại đau<br>tôi đau<br>đồng bào khốn đốn<br>hàng ngũ tôi ư- giả thực khó lừơng<br>tôi đứng chờ xe<br>nghe nhạc xa quê hương<br>từ thanh niên Da Đen &#8211; anh đang hát bài no tròn âm điệu<br>nỗi vần vũ của Phi- Châu<br>nỗi nhọc nhằn túng thiếu<br>nỗi nào trang trải năm châu<br><br>người cựu chiến binh<br>trên xe lăn<br>anh cắm lá cờ<br>kỷ niệm chiến trường Việt Nam lửa đạn thẳm sâu<br>anh nhìn tôi &#8211; với &#8216;mắt xanh trời biển sáng<br>hai nỗi lòng cùng nhịp trái tim<br>qua rồi những đêm đen &#8211; và nay tỏ rạng<br>chúng ta cùng nhìn về phía trước<br>tôi tặng anh điếu thuốc<br>anh trao tôi nụ cười<br>&#8221; happy &#8211; nice day &#8220;<br>lửa thơ nhạc reo vui<br>.<br>tôi vẫn đứng đây<br>hàng giò &#8211; yên lặng<br>xe số 7 số 3<br>xe số 6 số 13 , số tăng dần đường nắng<br>số của những lưu dân<br>thầm lặng<br>cần cù<br>chuyển lịch sử đi lên<br>bức hoạ hiện thực nào mà tôi chẳng nhớ tên<br>nhưng chắc chắn không là hư ảo<br>những building &#8211; những hình ốc đảo<br>giữa sa mạc mùa Xuân<br>một tiệm nào lưu được bước chân<br>cô gái tây Ban Nha mua đoá hồng thắm nhất<br>cô sẽ tặng cuộc nội chiến năm nào<br>nơi xứ cô &#8211; mái xương chất ngất<br>.<br>có phải chăng sự thật<br>người sinh viên Đài loan vẫn sát cạnh tôi<br>theo bên anh là thíu nữ sinh tươi<br>của bắc kinh hay Thiên tân gì đó<br>họ yêu nhau &#8211; giữa đại lộ hoa Kỳ bỏ ngỏ<br>xoá tan ranh giới Đỏ -Xanh<br>cả hai trao nhau những nụ hôn nhanh<br>rồi lên xe số 2 về Queen Anne thơ mộng<br>tôi vẫn đứng<br>hơn một giờ im lặng<br>đại lộ số 3<br>xuôi ngược gió Xuân về<br>bên kia đường<br>một chàng họa sĩ đam mê<br>chàng vẽ tấm tranh nhân lọai<br>không trường phái<br>không những gì phiền toái<br>tấm tranh nước mỹ tương lai<br>tấm tranh tất cả lưu dân<br>là những nhánh sông dài<br>rộng bát ngát xuôi về đại dương<br>đầy ắp tình thương<br>đầy ắp lời thơ &#8211; lời văn<br>đầy ắp tương lai hòa hợp<br>những dòng sông<br>muôn lớp<br>ca hát chảy ngày mai<br>.<br>tất cả chúng ta<br>không than ngắn thở dài<br>bóng đêm phải qua<br>bóng ma tàn lụi<br>người cầm bút khắp năm châu<br>trên toàn thế giới<br>đang viết từng dòng &#8230;cho nhân loại mùa vui .</p>



<p><strong>BÀ MẸ VIỆT NAM TRÊN CHUYẾN TÀU THỐNG NHẤT<br><br><br><br></strong>Trên những chặng đường xuôi Nam<br>ngược Bắc<br>những ga buồn của câm nín<br>thời gian<br>những điêu tàn<br>một thuở lầm than<br>những khác biệt<br>ngôn từ<br>ranh giới<br>những nghịch lý<br>trên quê hương<br>diêu vợi<br>những giả nhân<br>giả nghĩa<br>thiệt hơn<br>tôi đã đi suốt những chặng<br>căm hờn<br>của chuyên tàu Thống Nhất<br>*<br>Những điều trái<br>trở thành sự thực<br>những dối gian<br>thành lẽ sống con người<br>những diễn viên<br>diễn xuất không thôi<br>từ cha con<br>anh em<br>bè bạn<br>*<br>Ga Hàng Cỏ<br>vẫn tanh mùi hoang lọan<br>không phải bởi chiến tranh<br>mà bởi từ nụ cười<br>những nụ cười đau khổ<br>khôn nguôi<br>những u uất bao năm dài<br>câm nín<br>những xảo ngôn trở nên quyến luyến<br>những đắn đo<br>tính toán<br>tinh ma<br>khi tình người đã vĩnh viễn chia xa<br>khi dối trá trở thành nghệ thuật<br>*<br>những chặng dài xuôi Nam<br>chất ngất những vô Nam<br>như đến thiên đường<br>những ga<br>tàu qua<br>tạm biệt đau thương<br>tôi đã qua những chặng buồn khổ lụy<br>Nam Định là đây<br>Thanh Hoá là đây<br>Vinh trơ gầy trần trụi<br>men say<br>nỗi mê đắm trò chơi chiến thắng<br>Ga Đồng Hới<br>mắt ai còn cay đắng<br>ai nuốt sâu nỗi nghèo đói<br>nhục nhằn<br>*<br><br>Ở góc tàu<br>theo những tháng năm<br>một bà mẹ còng lưng đi xin ăn Nam Bắc<br>nước mắt mẹ nóng hờn tủi cực<br>chống gậy theo tàu<br>qua những bến bờ xa<br>mẹ xuôi Nam<br>nắng ấm nở hoa<br>lòng mẹ no<br>từng đồng tiền<br>gói bánh<br>&#8211; mẹ chán nản huy chương<br>thần thánh<br>bốn đứa con đã ngã xuống chiến trường<br>cũng chỉ vì Xã Hội<br>Quê Hương<br>những danh xưng<br>quyết tâm độc lập<br>những mỹ từ<br>đã phơi bày sự thực<br>tấm giấy ban khen<br>không đổi được một đồng<br>lũ cháu thơ vẫn đợi<br>vẫn trông<br>từng manh áo<br>bát cơm<br>ước mơ no<br>đủ<br>danh liệt sĩ như nỗi buồn<br>ủ rũ<br>trên đất mẹ xa xăm<br>theo ngày tháng heo mòn<br>*<br>Mẹ cô đơn<br>không còn một đứa con<br>không mộ ngày mai hy vọng<br>mẹ xuôi Mam<br>mẹ đi tìm sự sống<br>mẹ đi xin<br>từng tình cảm con người<br>mẹ xin những nụ cười<br>mẹ xin lòng chân thật<br>*<br>Đã mấy chục năm<br>mẹ thèm sự thật<br>đã mấy chục năm<br>đè nặng khổ đau<br>những ngôn từ<br>lừa bịp<br>theo nhau<br>phủ xuống<br>cuộc đời bị trị<br>nước mắt mẹ khô<br>suốt gần thế kỷ<br>mẹ chỉ còn một khát vọng<br>thương yêu<br>mẹ chỉ còn<br>no đủ<br>bữa cơm chiều<br>và giấc ngủ ở xó toa<br>trên chuyến tàu<br>mang tên THỐNG NHẤT !<br>*<br>Ơi mẹ<br>hơn bảy mươi- như bước đi<br>lật bật<br>túi xin ăn- theo mẹ<br>suốt chặng dài<br>từ Bắc vào Nam<br>mẹ có gặp một ai<br>đã biết mẹ là gia đình Cách Mạng<br>đã biết mẹ là tấm gương ngời sáng<br>của bà mẹ có bốn con đi diệt Mỹ<br>cứu quê hương<br>&#8211; ơi- mẹ Việt Nam- bao nỗi chán chường<br>tiếng quê hương đã trở nên sầu đắng<br>và đời mẹ đã hoàn toàn vắng lặng<br>nay chỉ còn no ấm<br>qua ngày<br>*<br>Mẹ già ơi<br>trong mắt mẹ nồng cay<br>trong tim mẹ héo hon<br>trong suốt đời bị trị<br>những bánh vẽ của phường ích kỷ<br>những tham lam<br>cuồng vọng thấp hèn<br>đã cướp của mẹ đi<br>những tình cảm thương yêu<br>đã đẩy mẹ<br>xuống vực sâu tăm tối<br>những con mẹ<br>chết vì lừa dối<br>&#8230;.<br>*<br>Mẹ vẫn đi qua những buôn<br>ga<br>tàu Thống Nhất<br>chở nỗi buồn<br>Cô quạnh<br><br>PHAN LẠC GIANG ĐÔNG<br>* Ga Đồng Hới 1984- ghi vội trên tàu lửa Thống Nhất.</p>



<p><strong>Mấy lời cuối:</strong></p>



<p><br>Thật tình, tôi chưa muốn dừng bút viết về Phan Lạc Giang Đông tại đây. Lý do đơn giản là tôi chưa nói được bao nhiêu về nhà thơ này. Anh còn nhiêu lắm, trước năm 1975 còn nguyên đấy. Ngoài mấy tập thơ đã in, có tập anh còn nhờ tôi viết bài giới thiệu, còn những bài thơ đăng trên tờ Bán Nguyệt San Quần Chúng, trên Tuần báo Diễn Đàn Chính Đảng mà tôi biết rõ vì chính tôi chọn. Sau ngày anh sang Mỹ, tiếp tục hoạt động văn nghệ, làm được bài nào, đăng báo rồi lại gửi những bài ấy về cho chúng tôi hoặc gửi về cho chị Phương Nga, người vợ sau này của anh. Có lẽ anh Đông gửi về cho chị Phương Nga nhiều hơn cả chúng tôi, đặc biệt là những tin tức về việc anh trở thành Hội viên chính thức Hiệp Hội Các Tác Giả và Nghệ Sĩ Quốc Tế. Sau này, chị Phương Nga lại chuyển cho tôi những tài liệu này. Nói như thế là để xin lỗi anh Đông về việc tôi không thực hiện được bao nhiêu những gì anh đã làm, đã viết sau bao nhiêu thương đau, như anh đã viết cho tôi trong thư đề ngày 05/10/2000, Seattle:</p>



<p>… “Anh ạ, đời Đông quá nhiều gian khổ, nhiều ngộ nhận và nghịch cảnh, bởi thế, chính những nỗi đau tự tâm can như vậy, đã cho Đông bền chí và nhẫn nhục. Phải, Nhẫn và Nhục, để tồn tại và đi tới Chân, Thiện, Mỹ…”</p>



<p><br>Cuối thư, anh nhắn nhủ với tôi vài lời về “cháu nhỏ”, tức con gái của anh với chị Phương Nga. “Cháu là NGUỒN AN ỦI CỦA ĐỜI ĐÔNG”. Tên cháu là Phan Lạc Hoàng Anh. Nay đã khôn lớn có tài văn chương như bố Đông.</p>



<p>Lời cuối thứ hai này, theo chúng tôi có lẽ không có lời nào của Thi sĩ Phan Lạc Giang Đông, buồn và ấn tượng bằng bài thơ ngắn của Thi sĩ họ Phan này. Nỗi buồn của ông được bộc lộ với người bạn tri kỷ trong một đêm cuối năm! Bài thơ còn cho thấy, dẫu trong tận cùng cay đắng, phiền muộn, thì trái tim của Thi sĩ vẫn còn hình ảnh của Tổ quốc, của dân tộc.</p>



<p>Ly Rượu Cuối Năm</p>



<p>Uống đi – ly rượu cuối năm</p>



<p>Vào câu chuyện cũ vẫn ngần ấy thôi</p>



<p>Sân nhà ôm trọn tình tôi</p>



<p>Mà anh Đức ạ &#8211; bao lời cho say?</p>



<p>Trường ơi bao nỗi đổi thay</p>



<p>Cuộn bay khói thuốc như mây giữa trời</p>



<p>Trái tim anh – Trái tim người</p>



<p>Trái tim Tổ quốc mềm môi sông hồ</p>



<p>Xin chào dân tộc trong thơ</p>



<p>Cái Liêm sỷ để tôn thờ mai sau</p>



<p>Nâng ly – tình nghĩa cùng nhau Uống đi cho trọn nhiệm màu anh em.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Khải Triều: PHẠM TRẦN ANH</title>
		<link>https://t-van.net/khai-trieu-pham-tran-anh/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Khải Triều]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 17 May 2025 08:11:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[NHỮNG NGƯỜI BẠN VĂN CHƯƠNG]]></category>
		<category><![CDATA[Những người bạn văn chương]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=79911</guid>

					<description><![CDATA[PHẠM TRẦN ANH Nguồn gốc Việt tộc (Khảo sử 1999) Thơ Phạm Trần &#38; Thi hữu Mẹ, tuyển tập thơ Tác giả Phạm Trần Anh bút hiệu Phạm Trần Quốc Việt sinh năm 1945 tại làng Cát Hạ, huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định. &#160;&#160;Di cư vào Nam năm 1954 và trưởng thành tại Sài [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/05/image022.jpg?strip=all&fit=135%2C165&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="135" height="165" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/05/image022.jpg?strip=all&fit=135%2C165" alt="" class="wp-image-79912" style="width:209px;height:auto"/></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p class="has-text-align-center"><strong>PHẠM TRẦN ANH</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>Nguồn gốc Việt tộc (Khảo sử 1999)</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>Thơ Phạm Trần &amp; Thi hữu</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>Mẹ, tuyển tập thơ</strong></p>



<p>Tác giả Phạm Trần Anh bút hiệu Phạm Trần Quốc Việt sinh năm 1945 tại làng Cát Hạ, huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định. &nbsp;&nbsp;Di cư vào Nam năm 1954 và trưởng thành tại Sài Gòn.&nbsp;</p>



<p>– Học Trường Trung học Nguyễn Trãi và Chu văn An từ 1956-1963 &nbsp;</p>



<p>– Tốt nghiệp Học viện Quốc Gia Hành Chánh Khóa 14 năm 1969.</p>



<p>– Cao Học 2 Chính Trị Xã Hội.&nbsp;</p>



<p>– Quản đốc Trung tâm Huấn luyện và Tu nghiệp công chức tỉnh Quảng Nam 1969.</p>



<p>– Tốt nghiệp Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức khóa 4 năm 1970&nbsp;</p>



<p>– Phó Quận trưởng Hành chánh quận Tam Bình Minh Đức, Trà Ôn tỉnh Vĩnh Long (1970-1973).&nbsp;</p>



<p>– Trưởng ty Hành Chánh kiêm Quản đốc Trung tâm Huấn luyện và Tu nghiệp công chức tỉnh Lâm Đồng 1973 – 1975.</p>



<p>– Hội viên Hội Văn Bút Quốc Tế.</p>



<p>– PCT Hội Quốc Tế Nghiên Cứu Biển Đông Nam Á.</p>



<p>– Biên Khảo Lịch sử và Văn hóa Việt Nam.</p>



<p>– Chủ Bút Tập san Văn Đàn Thời Đại.</p>



<p>– Quản đốc Trung tâm Huấn luyện và Tu nghiệp công chức tỉnh Quảng Nam 1969.</p>



<p>– Tốt nghiệp Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức khóa 4 năm 1970&nbsp;</p>



<p>– Phó Quận trưởng Hành chánh quận Tam Bình Minh Đức, Trà Ôn tỉnh Vĩnh Long (1970-1973).&nbsp;</p>



<p>– Trưởng ty Hành Chánh kiêm Quản đốc Trung tâm Huấn luyện và Tu nghiệp công chức tỉnh Lâm Đồng 1973 – 1975.</p>



<p>– CT Sáng lập Mặt Trận Người Việt Tự Do Diệt Cộng Phục Quốc 1975.</p>



<p>– CT Hội Bảo Vệ Tù Nhân Chính Trị Việt Nam trong các trại tù CS.</p>



<p>– Đồng sáng lập Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam.</p>



<p>– CT Hội Đồng Điều Hành Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam.</p>



<p>– Hội viên Hội Văn Bút Quốc Tế.</p>



<p>– PCT Hội Quốc Tế Nghiên Cứu Biển Đông Nam Á.</p>



<p>– CT Mặt Trận Dân Tộc Cứu Quốc.</p>



<p>– CT Hội Đồng Điều Hợp Đại Hội Diên Hồng Thời Đại 2014.</p>



<p>– Biên Khảo Lịch sử và Văn hóa Việt Nam.</p>



<p>– Phong Trào Toàn Dân Cứu Nước, LL Quốc Dân Dựng Cờ Dân Chủ..</p>



<p>– Đồng CT kiêm TTK Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam.</p>



<p>– Chủ Bút Tập san Văn Đàn Thời Đại.</p>



<p><strong>TÁC PHẨM:</strong></p>



<p>1. Nguồn Gốc Việt tộc (1999).</p>



<p>2. Việt Nam thời Lập quốc (2000).</p>



<p>3. Việt Nam thời Vong quốc (2001).&nbsp;</p>



<p>4. Việt Nam thời Độc Lập (2002).&nbsp;</p>



<p>5. Quốc Tổ Hùng Vương (2003).</p>



<p>6. Sử Thi Đại Việt Nam (2005).&nbsp;</p>



<p>7. Còn một chút gì (Thơ- 2006).&nbsp;</p>



<p>8. Cội Nguồn Việt tộc (Hoa Kỳ 2004).</p>



<p>9 Đoạn Trường Bất Khuất (2007).</p>



<p>10 Huyền tích Việt &nbsp;Nam (2008)</p>



<p>11. Sơn Hà Nguy Biến (2008).</p>



<p>12. Hoàng Sa Trường Sa, Chủ Quyền Lịch sử của Việt Nam (2009).</p>



<p>13. Chan Chứa Bao Tình.</p>



<p>14. History of Vietnam.</p>



<p>15. Vietnam, My Country.</p>



<p>16. Đế Quốc Mới Trung Cộng, Kẻ Thù Truyền Kiếp của Dân Tộc.</p>



<p>17. Tác Giả Tác Phẩm.</p>



<p>18. Lịch sử Việt-Danh Tướng Việt.</p>



<p>19. Văn Minh Việt-Danh nhân Văn hóa Việt.</p>



<p>(Internet)</p>



<p><strong>Phạm Trần Anh với Khải Triều</strong></p>



<p>(Qua Cuốn Nguồn Gốc Việt Tộc)</p>



<p>Tôi chỉ gặp được Phạm Trần Anh sau ngày anh ra tù. Anh ở trong tù những 20 năm từ sau ngày 30-04-1975. Ngay lần đầu gặp nhau, chúng tôi đã trở nên thân cận và quý mên nhau, có lẽ ở thời trước, chúng tôi đã biết nhau qua những sinh hoạt về báo chí, nhưng chỉ “kiến kỳ thanh, bất kiến kỳ hình”.</p>



<p>Tôi tiếp nhận cuốn Nguồn Gốc Việt Tộc, do tác giả, ông Phạm Trần Anh trao tay, vào một chiều mưa tầm tã, trong ngôi đình thờ Cao Lỗ, xây dựng từ mấy chục năm về trước trên đường Lãnh Binh Thăng. Hôm đó là ngày giỗ Mẹ Âu Cơ.</p>



<p>Mặc dù đây mới là bước khởi thảo, nhưng ông Phạm Trần Anh đã có công đóng góp vào những công trình tìm về cội nguồn của dân tộc, mà những người đi trước đã để lại, song chưa đủ thuyết phục, vì nhiều lý do, kể cả lý do quan điểm và thành kiến. Có thể nói, tác giả đã hoàn thành được một tác phẩm sử học có tính cách căn cơ nhất và cũng gay go nhất, đối với bất cứ nhà viết sử nào, có tham vọng. Đó là phải dầy công tìm tòi, đào bới, lần theo dấu vết thời gian đã bị bụi mù che phủ &nbsp;bởi cả ngàn năm lệ thuộc tàn phá và tiêu hủy. Còn phải kể đến vấn đề huyền sử, truyền thuyết của dân tộc Việt, một dân tộc có cả trăm nhành khác nhau, đã cư trú trên cả một vùng trung nguyên rộng lớn thuộc Trung Hoa cổ. Truy tìm dấu vết của Tổ Tiên Việt tộc chưa đủ, tác giả còn mạnh mẽ bài bác những quan điểm không đặt trên cơ sở dân tộc, chỉ dựa vào sử liệu của giới thống trị. Có lẽ điều này đã làm ông ray rứt hằng đêm, kéo dài hơn hai mươi năm trong thời kỳ lao lý của ông?</p>



<p>Thật ra, khó mà bảo đảm được tính khách quan tuyệt đối trong lãnh vực sử học, kể cả khoa học nữa. Nhưng trên cùng một sự kiện lịch sử, có thể có nhiều cách diễn giải. Mà cách nào cũng có người chấp nhận hay chống đối. Cách mà người chấp nhận đầu tiên, phải chăng chính là tác giả, người diễn giải?</p>



<p>Ông Phạm Trần Anh đã đứng ở quan điểm và lập trường dân tộc để khởi thảo cuốn sử của mình. Ông đã nhờ đến các ngành khảo cổ học, khảo tiền sử, ngôn ngữ học và phương pháp đo chỉ số sọ, cũng như phải mượn đến luận lý và tư tưởng trong huyền sử để tìm ra cội nguồn của dân tộc Việt. Cứ xem tác giả diễn giải sự việc cháu ngoại của vua Hùng là Thục Phán An Dương Vương (Âu Việt) hiệp nhất với Lạc Việt qua việc đánh đuổi Hùng Duệ Vương thứ 18, vì ham mê tửu sắc, bỏ bê việc nước, thành lập quốc gia (Âu Lạc hay Văn Lang?) “là một quyết định coi việc hợp nhất để tạo sức mạnh chống Bắc quân là trên hết hầu bảo tồn giống nòi”. Phải chăng đó là ý thức và trách nhiệm của mỗi người dân đối với dân tộc?&#8230; Và đây là tư tưởng chủ đạo của tác giả trong cuộc hành trình tìm về cội nguồn của dân tộc?</p>



<p>Theo tác giả thì đây mới chỉ là tác phẩm sơ thảo, song tác giả đã bước đi những bước đầu vững chắc, có cơ sở và tư tưởng chủ đạo. Có những đoạn những chương, người đọc không khỏi trạnh lòng nghĩ đến hiện thực của dân tộc của đất nước. Đã có hàng triệu người phải bỏ đất nước ngàn năm ra đi, sống rải rác khắp nơi. Lịch sử ngàn xưa lại tái diễn! Còn chính trên mảnh đất của Tổ tiên, con cháu đang lãng quên dần giống nòi!</p>



<p>Phải chăng qua cuốn Nguồn Gốc Việt Tộc, ông Phạm Trần Anh đã gửi gấm tâm tư của mình váo đó, để báo động về tình trạng tinh thần xa lìa nguồn gốc dân tộc, để chạy theo chủ thuyết ngoại lai vô thần hoặc một nếp sống thực dụng (chỉ một nếp sống này thôi) từ bên ngoài, của một vài thành phần vong thân trong xã hội Việt Nam ngày nay, nhất là thế hệ trẻ?</p>



<p>Khải Triều</p>



<p>(Ngày 30-08-1999)</p>



<p>Đây là ngày tôi viết “Vài cảm nghĩ về cuốn Nguồn Gốc Việt Tộc” của Phạm Trần Anh khi ông tặng tôi sách này. Trước ngày ông sang định cư tại Hoa Kỳ, ông đã in bài này vào cuốn Thơ Phạm Trần &amp; Thi hữu, trang trong ông ghi: “Giao Thừa Thiên Niên Kỷ 2000-2001”. Lần này, chép lại vào đây, tôi có bỏ mấy chữ, sau đó là mấy dấu chấm (…) và cũng sửa mấy chữ. Xin lỗi anh Phạm Trần Anh ở xa, không liên lạc được.</p>



<p><strong>Tập Thơ Phạm Trần &amp; Thi Hữu</strong></p>



<p>Tập thơ này gồm có hai phần. Một phần là các bài thơ (sáng tác và dịch của Phạm Trần Anh), lồng vào đó là một vài trang Thư pháp cũng của Phạm Trần Anh. Còn phần thứ hai là thơ của bạn hữu viết về Phạm Trần Anh. Bài của chúng tôi viết về cuốn Nguồn Gốc Việt Tộc được đưa vào phần này, trang 98. Tập thơ Phạm Trần &amp; Thi hữu chỉ phổ biến trong thân hữu của tác giả, trước khi ông sang Hoa Kỳ.</p>



<p>Ở trang 3, tác giả in hình ngôi Chùa Một Cột tại Hà Nội, dưới hình ông viết hai câu thơ:</p>



<p>Anh hùng kim cổ lưu quốc sử</p>



<p>Núi sông hùng vĩ tạo hồn thơ</p>



<p>Hai câu thơ này bộc lộ tinh thần trong một số sáng tác thơ của tác giả. Còn ở trang 7, là hình Trống đồng Ngọc Lũ, tác giả Phạm Trần viết 8 câu, tựa đề:</p>



<p>Thông Điệp Muôn Ngàn</p>



<p>Hoa Văn Hiến năm ngàn năm lịch sử</p>



<p>Tiếng Trống Đồng vang dội khắp trời Nam</p>



<p>Huyền Thoại Rồng Tiên thông điệp muôn ngàn</p>



<p>Văn Minh Việt mở đầu trang sử mới</p>



<p>Phùng Nguyên Đông Sơn trống đồng Ngọc Lũ</p>



<p>Hoa Văn Xưa in dấu mãi ngày nay</p>



<p>Bao nhiêu năm mới có được ngày này</p>



<p>Giòng Giống Việt vươn mình như Phù Đổng</p>



<p><em>Ngày 10 tháng Ba Kỷ Mão</em></p>



<p>Mùa Xuân luôn được hiểu là khởi đầu cho một thời kỳ con người và đất trời chứa chan hy vọng và tươi sáng, nhưng với Phạm Trần Anh, ông vẫn chẳng thấy cái không-thời của mùa Xuân như nó vẫn <em>là!</em></p>



<p>XUÂN</p>



<p>Xuân qua Xuân lại biết bao Xuân</p>



<p>Xuân đến sao ta thấy ngại ngần</p>



<p>Xuân này Xuân nữa bao Xuân nhỉ?</p>



<p>Xuân đến lòng ta chẳng thấy Xuân.</p>



<p><em>Xuân Gia Ray 1997</em></p>



<p><em>.</em></p>



<p>NGÀY VỀ</p>



<p>Khi em về nắng vàng nghiêng đỉnh tháp</p>



<p>Và chim muông che nửa sớm mai hồng</p>



<p>Mây tình cờ trong một thoáng thinh không</p>



<p>Có lửa thắp giữa nghìn trang sử biếc</p>



<p>.</p>



<p>Có sương khói trôi trên dòng nhã nhạc</p>



<p>Có vô cùng trong bóng lá mơn xanh</p>



<p>Có cả non cao trong bỗng chốc ân tình</p>



<p>Cho mắt nhớ dấu đi những ngày đá tảng</p>



<p>.</p>



<p>Và một sớm hồn nhiên nở xòa cánh mộng</p>



<p>Đưa anh về trên những dấu chân xưa</p>



<p>Hàng búp non thơm ký ức không ngờ</p>



<p>Cho biển biếc giữ mây trời nán lại</p>



<p>.</p>



<p>Em hiu hắt cho lòng ta se tái</p>



<p>Mây hồng kia thoát chốc có tan đi?</p>



<p>Cả ngàn năm đầy đọa kéo nhau về</p>



<p>Cho lá úa phủ đầy trên lán cỏ</p>



<p>.</p>



<p>Em băng giá ướp trong từng hơi thở</p>



<p>Và chia xa đến cả mắt em nhìn</p>



<p>Có mùa đông nào bão táp trong em?</p>



<p>Cho bóng núi xanh xao giữa lòng nghi hoặc?</p>



<p>1997&nbsp;&nbsp;</p>



<p>Bài thơ Ngày Về mang cả những nỗi đau như “đá tảng” đè trên thân mình ông trong những ngày lao tù, cả những tư tưởng về những “nghìn trang sử biếc” và “Cả ngàn năm đầy đọa kéo nhau về”. Tất cả vẫn có đấy!</p>



<p>Sau đây, xin giới thiệu với độc giả một bản thư pháp và bài thơ chữ Hán, tựa đề Trầm tư của Phạm Trần Anh. Bài thứ ba là của Phan Chu Trinh, Phạm Trần Anh cẩn dịch. Chúng tôi cảm nhận đây là nỗi lòng của tác giả với nước non. Điều này chúng tôi cũng đã thấy nơi các tác phẩm của ông, sau ngày sang định cư ở Hoa Kỳ, cả về những hoạt động chính trị của ông.&nbsp;</p>



<p>Nhà viết sử Phạm Trần Anh còn một tập thơ nữa, nhan đề là MẸ. Nhưng trong gần 150 trang giấy, ông chỉ in có 2 bài của mình, viết sau lúc được tin mẹ ông mất. Còn lại là những bài thơ của bạn hữu ông, viết tặng ông. Tất cả họ đều viết về Mẹ. Tập thơ độc đáo ở điểm này. Có thể đây là một tuyển tập thơ về MẸ, không lớn lắm, nhưng cũng có đến 38 tác giả có bài. Trong số này, Phạm Trần Anh cũng in một bài thơ viết về Mẹ của Lưu Trọng Lư.</p>



<p>Dưới đây là những lời của Phạm Trần Anh khi thực hiện tập thơ này, đặt ở trên danh sách các tác giả:</p>



<p><em>“Xin chân thành cảm tạ những ủi an chia sẻ nỗi buồn đau với Phạm Trần và gia đình. Để trân trọng những tình cảm cao quý đó, Phạm Trần trích đăng những bài thơ của các thân hữu và một số bài thơ hay về Mẹ như một lưu niệm nhân kỷ niệm bốn mươi chín ngày thân mẫu chúng tôi qua đời. Phạm Trần xin phép các tác giả được trích đăng trong tuyển tập “MẸ” này.</em></p>



<p>Hai bài thơ về Mẹ của Phạm Trần.</p>



<p>Bài 1 không có tựa đề.</p>



<p>Nhận được tin Mẹ mất lúc 2g35’</p>



<p>Chết lặng cả người!</p>



<p>Tai ù hoa mắt…</p>



<p>Đất trời như sụp đổ dưới chân…</p>



<p>Răng nghiến chặt…</p>



<p>Mím môi đau…</p>



<p>Không sao khóc nổi thành lời…</p>



<p>Nằm xấp trên giường…</p>



<p>Tự nhiên…</p>



<p>nước mắt…</p>



<p>dâng trào</p>



<p>hồn thơ!</p>



<p>Bài 2: KHÓC MẸ</p>



<p>Mẹ ơi…Mẹ đã đi rồi</p>



<p>Mẹ đi…con ở hỡi trời cao xanh!</p>



<p>Bao năm dưỡng dục sinh thành</p>



<p>Mẹ cha chỉ muốn…</p>



<p>“Thằng Anh” nên người!</p>



<p>.</p>



<p>Bây giờ con lớn khôn rồi</p>



<p>Mẹ Cha cưỡi Hạc về trời qui tiên!</p>



<p>Ngàn năm công đức mẹ hiền</p>



<p>Công cha dạy dỗ trước tiên làm người!</p>



<p>.</p>



<p>Dẫu cho vật đổi sao dời…</p>



<p>Đất trời sụp đổ muôn đời không quên!</p>



<p>Công cha nghĩa mẹ chưa đền</p>



<p>Nước non non nước chẳng quên lời thề!</p>



<p>.</p>



<p>Mẹ ơi…</p>



<p>Ngàn dặm sơn khê</p>



<p>hai mươi năm lẻ…</p>



<p>con về cuối Thu</p>



<p>À ơi…</p>



<p>nhớ mãi mẹ ru</p>



<p>“Nam nhi tri chí…</p>



<p>Trượng phu một lòng!”</p>



<p>Đời con…</p>



<p>phận số long đong</p>



<p>Ba chìm bảy nổi</p>



<p>chẳng mong ngày về</p>



<p>Sân si…</p>



<p>con lạc bờ mê…</p>



<p>Cuộc đời còn lại…</p>



<p>nguyện thề giác tha!</p>



<p>Trần gian…</p>



<p>ôi cảnh Ta bà…</p>



<p>Cúi đầu con lạy…</p>



<p>mẹ cha kiếp này!</p>



<p>Mẹ ơi!</p>



<p>Con không…</p>



<p>thốt nổi…</p>



<p>thành lời</p>



<p>Ruột đau…</p>



<p>quặn thắt…</p>



<p>rối bời…</p>



<p>Lòng con!</p>



<p><strong>Khi Tôi Viết Về Phạm Trần Anh</strong></p>



<p>Thật tình, đọc hai bài thơ Ngày về và bài Khóc mẹ của Phạm Trần Anh, tôi không giữ được lòng cảm xúc, nước mắt cứ từ từ ứa ra. Trong bài Khóc mẹ, anh nghĩ:</p>



<p>Đời con…</p>



<p>phận số long đong</p>



<p>Ba chìm bảy nổi</p>



<p>chẳng mong ngày về</p>



<p>bởi hai mươi năm lẻ, anh với cả ngàn cân hận thù, như “đá tảng” trên vai. Mấy ngàn năm lịch sử vẫn ngày đêm nung nấu tâm can. Còn tôi, đến nay vừa đúng 50 năm, tôi vẫn là một kẻ “được-nhắc-nhở, được-hỏi-thăm”. Tôi đã đi qua “mười năm trong cơn mê”, có lúc tưởng như gục ngã vì sức cùng lực kiệt.</p>



<p>Tôi không còn thời giờ để đọc sách của anh. Những gì tôi nói đến anh ở đây, đều là của anh trao tay trước khi anh rời xa đất mẹ với ngàn năm lịch sử anh mang theo. Sách của anh, tôi không có, mà những gì anh đang làm, tôi cũng không dám ghi lại tất cả, mặc dù đấy là những biểu hiện của một trí thức yêu nước, noi gương các bậc tiền nhân. Tôi thật đáng trách…</p>



<p><strong>Khải Triều</strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>

<!--
Performance optimized by W3 Total Cache. Learn more: https://www.boldgrid.com/w3-total-cache/?utm_source=w3tc&utm_medium=footer_comment&utm_campaign=free_plugin

Page Caching using Disk: Enhanced 

Served from: t-van.net @ 2026-06-24 15:04:16 by W3 Total Cache
-->