<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Nguyễn Kỳ Dzương &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<atom:link href="https://t-van.net/author/nguyenkydzuong/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://t-van.net</link>
	<description>Văn Học và Đời Sống</description>
	<lastBuildDate>Thu, 12 Jun 2025 16:15:48 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.7.5</generator>

<image>
	<url>https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/02/t-van-favicon.png?strip=all&#038;resize=32%2C32</url>
	<title>Nguyễn Kỳ Dzương &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<link>https://t-van.net</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Nguyễn Kỳ Dzương: Viết thêm về người bạn thân thiết: nhà thơ Trần Ngọc Tự</title>
		<link>https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-viet-them-ve-nguoi-ban-than-thiet-nha-tho-tran-ngoc-tu/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Kỳ Dzương]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 13 Jun 2025 09:01:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[tưởng niệm Trần Ngọc Tự]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=81129</guid>

					<description><![CDATA[Từ Trái: Nguyễn Kỳ Dzương, Nguyễn Hữu Tiện và Trần Ngọc Tự Năm ngoái, vào tháng tám 2024, tôi bắt đầu ngồi xuống hối hả gõ bàn phím để ghi lại những phần đời của định mệnh của tôi. Khi hoàn tất phần viết nháp của mình, tôi gửi sang cho bạn Trần Ngọc Tự, [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/tran-ngoc-tu-hinh-3.jpg?strip=all&w=2560"><img fetchpriority="high" decoding="async" width="314" height="404" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/tran-ngoc-tu-hinh-3.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-81064" style="width:384px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/06/tran-ngoc-tu-hinh-3-233x300.jpg 233w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/tran-ngoc-tu-hinh-3.jpg?strip=all 314w" sizes="(max-width: 314px) 100vw, 314px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Từ Trái: Nguyễn Kỳ Dzương, Nguyễn Hữu Tiện và Trần Ngọc Tự</em></p>



<p>Năm ngoái, vào tháng tám 2024, tôi bắt đầu ngồi xuống hối hả gõ bàn phím để ghi lại những phần đời của định mệnh của tôi. Khi hoàn tất phần viết nháp của mình, tôi gửi sang cho bạn Trần Ngọc Tự, tin rằng với vốn liếng chữ nghĩa có bề dầy gấp một ngàn lần vốn liếng chữ nghĩa của tôi, bạn ấy sẽ có những lời phê bình, nhận xét quý báu, giúp tôi đánh bóng cuốn hồi ký này – nhưng không, bạn ấy đã viết hẳn cho tôi năm trang giới thiệu tác phẩm của tôi với độc giả. Đó là những chữ Trần Ngọc Tự viết cho tôi tháng 11/2024. Đến tháng 12/2024 bạn ấy viết một bài thơ đăng trên mạng của bạn Trương Văn Vấn, người chủ biên của trang chủ <em>https://t-van.net/</em> mà tôi trích một đoạn dưới đây: (Ngọc Tự viết như những lời tạ từ thế gian!)</p>



<p>&#8230; sân ga vắng lặng quạnh quẽ</p>



<p>cũng hiu hắt như hôm tôi bước lên chuyến tầu này để đi hành trình cuối</p>



<p>không một lời chào giã từ</p>



<p>và cũng đâu phải là một điều cần thiết</p>



<p>cho một người và với một người</p>



<p>đã đến cuộc đời rồi lặng thầm ra đi</p>



<p>thoảng qua như viên sỏi ném xuống mặt hồ</p>



<p>thoáng gợn lên chút sóng xôn xao rồi im ắng</p>



<p>không dấu tích nào để lại</p>



<p>và có gì để quên để nhớ</p>



<p>thì xin cho tôi được tạ lỗi muộn màng</p>



<p>với bạn hữu thân quen còn ở lại</p>



<p>khi quá tệ bạc không một lời nói chia tay tạ từ</p>



<p>mà đã từng có cùng nhau thật nhiều những thân tình bằng hữu quá đỗi thắm thiết</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;vô vàn&nbsp;&nbsp;&nbsp;</p>



<p>qua được bao nhiêu năm tháng trần gian</p>



<p>bây giờ chung quanh chỉ còn một nỗi thinh lặng mênh mang</p>



<p>tôi bâng khuâng nhìn tấm bảng xiêu vẹo ghi hàng chữ lạnh lùng khô khốc:&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;<em>“ga cuối cuộc đời”</em></p>



<p>một cơn gió nhẹ thổi tung lớp bụi đất bay bay</p>



<p>có phải tôi đã vừa về lại nơi chốn cũ này</p>



<p>thôi vậy thế cũng là xong.</p>



<p>&nbsp;&nbsp; &nbsp;&nbsp;<strong>ngọctự</strong></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;<em>(Richmond, Texas)</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp; Tháng 12/2024.</em></p>



<p>Trần Ngọc Tự – người bạn trân quý của tôi – năm 75, đã bóc sáu cuốn lịch đầu tiên như hàng ngàn quân, cán, chính VNCH khác. Trong số đó, có tôi!</p>



<p>Chưa dừng lại ở đó, Ngọc Tự lại phải bóc thêm bốn cuốn lịch khác khi bị bắt lần nữa, cùng với nhiều văn nghệ sĩ Sài Gòn trước 1975, với một tội danh nghe như trò đùa nghiệt ngã của thời cuộc: “Xung kích cầm bút”.</p>



<p>Nếu quý vị từng đọc hồi ký của tôi, từ trang 68 đến 77, chắc còn nhớ đến người bạn tù bất khuất – Dương Hùng Cường (tức Dê Húc Càn) – người đã bóc ba cuốn lịch đầu tiên với tôi ở trại tù Long Khánh. Sau này, anh cũng như Trần Ngọc Tự, bị bắt lại với cùng một tội danh có một không hai trên thế giới ta bà này (!), và cuối cùng, chết thê thảm trong khám Phan Đăng Lưu dưới bàn tay tàn bạo của chế độ cộng sản!</p>



<p>Trong những lần hiếm hoi liên lạc qua thư từ hay bài vở, Trần Ngọc Tự vẫn giữ giọng điệu hóm hỉnh, không một lời than vãn về căn bệnh quái ác đang âm thầm rút dần sinh lực của bạn. Tự sống ở Richmond, Texas – còn tôi thì ở miền Bắc California. Xa cách về không gian, lại thêm sự tiết kiệm lời nói của bạn, thì làm sao tôi biết được, hả trời?</p>



<p>Giờ đây, “chàng Không Quân xóm nhỏ” bạn tôi đã vỗ cánh bay xa. Chỉ khi Tự ra đi, người vợ hiền mới nghẹn ngào cho tôi hay rằng, bài viết gửi về nhận xét tác phẩm của tôi là những dòng chữ cuối cùng anh còn đủ sức gõ cho đời. Kể từ hôm đó, Tự lặng lẽ từ chối ăn uống, ra vào bệnh viện như người khách buồn ghé lại “hotel không trăng sao”, để rồi lịm dần đi trong những lần cấp cứu vô vọng&#8230;</p>



<p>Giờ thì có hello hay goodbye gì nữa cũng đã muộn rồi, phải không Tự?</p>



<p>Nhưng tôi tin rằng, đâu đó trên cao xanh, bạn vẫn còn mỉm cười – nụ cười hiền lành của một người lính đã từng hiên ngang chiến đấu, từng sống và viết cho lẽ phải – và giờ đây, yên nghỉ như một người tự do.</p>



<p>Một điều đáng tiếc cho tôi là vào tháng Ba 2025, khi cuốn sách của tôi được in xong, tôi xin địa chỉ để gửi sang “khoe” với bạn tôi, thì có lẽ trong lúc đầu óc đang lơ-tơ-mơ, bạn ấy text cho tôi địa chỉ xưa như trái đất. Tôi đã gửi đến đó, và dĩ nhiên cuốn sách của tôi chưa bao giờ đến tay bạn. Hôm nay, tôi gửi sang cuốn khác cho hiền nội của bạn, khẩn cầu chị ấy nhét vào túi hành lý của bạn tôi để nó đem theo về nơi chốn bình yên.</p>



<p><strong>Nguyễn Kỳ Dzương</strong><strong></strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nguyễn Kỳ Dzương: Vĩnh Biệt Người Bạn Thân Yêu – Nhà Thơ Trần Ngọc Tự</title>
		<link>https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-vinh-biet-nguoi-ban-than-yeu-nha-tho-tran-ngoc-tu/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Kỳ Dzương]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 10 Jun 2025 09:41:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[tưởng niệm Trần Ngọc Tự]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=81005</guid>

					<description><![CDATA[Trần Ngọc Tự (đeo kính) bưng mâm quả trong đám cưới của tác giả (1972) TV&#38;BH: VĨNH BIỆT NHÀ THƠ NGỌC TỰ __________ Tôi đang ngậm ngùi viết những dòng này để tiễn đưa một người bạn vừa vĩnh viễn rời xa trần thế – Trần Ngọc Tự – người mà suốt bao năm qua, [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/X4o1HiPa-image001.jpg?strip=all&w=2560"><img decoding="async" width="446" height="610" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/X4o1HiPa-image001.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-81006" style="width:380px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/06/image001-219x300.jpg 219w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/X4o1HiPa-image001.jpg?strip=all 446w" sizes="(max-width: 446px) 100vw, 446px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Trần Ngọc Tự (đeo kính) bưng mâm quả trong đám cưới của tác giả (1972)</em></p>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><strong><a href="https://t-van.net/tvbh-vinh-biet-nha-tho-ngoc-tu/">TV&amp;BH: VĨNH BIỆT NHÀ THƠ NGỌC TỰ</a></strong></p>



<p>__________</p>



<p>Tôi đang ngậm ngùi viết những dòng này để tiễn đưa một người bạn vừa vĩnh viễn rời xa trần thế – Trần Ngọc Tự – người mà suốt bao năm qua, vẫn tự gọi mình là “anh chàng Không Quân xóm nhỏ.”</p>



<p>Chúng tôi cùng nhập ngũ khóa 3/69, cùng sống nhịp sống quân trường bên nhau suốt thời gian Huấn Luyện Căn Bản Quân Sự tại quân trường Quang Trung. Từ những ngày đầu gian khó, chúng tôi đã là đôi bạn không rời, chia sẻ từng bữa cơm, từng nỗi nhọc nhằn nơi thao trường, từng trận sốt rét âm ỉ, và cả những giây phút hiếm hoi cười vang khi cùng đùa giỡn với định mệnh.</p>



<p>Sau đó, chúng tôi được chuyển lên trường Bộ Binh Thủ Đức, vẫn ở cùng với nhau trong một trung đội, cùng đại đội. Trong những ngày huấn nhục căng thẳng, chúng tôi luôn tìm cách đứng cạnh nhau, chỉ để khi vào “nhà bàn”, được cùng chia nhau phần cơm đơn sơ, mà sao khi ấy lại thấy ấm lòng đến thế. Tôi lớn con hơn bạn hiền, háu đói, và không ngần ngại nhận thêm phần cơm bạn chia sẻ – một tình bạn hồn nhiên, không ngượng ngùng, không cần lời cảm ơn.</p>



<p>Có hôm, Tự nói tôi không phải chạy sang khu gia binh ăn cơm như thường lệ. “Hôm nay tao đãi mày một bữa ngon lành!” – tôi còn nhớ như in ánh mắt tinh nghịch của bạn. Hóa ra hôm đó cu cậu được phân công theo Ban Ẩm Thực đi chợ, làm công tác “kiểm thực”. (Đây là quy chế của quân trường, sinh viên sĩ quan phải luân phiên đi theo Ban Ẩm Thực, ra chợ, kiểm soát để chắc chắn nhà bếp tiêu tiền đúng tiêu chuẩn, mua thức ăn vệ sinh và an toàn.) Hôm đó, thế nào nhà bếp cũng có phần tặng đặc biệt cho sinh viên kiểm thực. Nhờ vậy, bữa cơm hôm đó của hai đứa có thêm mấy con cá mú chiên giòn – món quen thuộc của quân trường, mà hôm ấy lại ngon lạ lùng. Những niềm vui nhỏ bé như vậy, giờ nghĩ lại, sao thấy quý giá vô cùng.</p>



<p>Ngọc Tự không chỉ là bạn thân, mà còn là một thi sĩ, một nghệ sĩ đầy đam mê. Khi còn ở Quang Trung, mỗi khi đại đội đến phiên tổ chức văn nghệ, chúng tôi luôn là cặp bài trùng: Bạn tôi làm đạo diễn kiêm tác giả, tôi làm phụ tá, kiêm diễn viên chính! Nhờ bạn, tôi biết thế nào là ánh đèn sân khấu, là thơ ca có thể làm dịu đi sự khốc liệt của đời lính.</p>



<p>Sau khi tốt nghiệp Thủ Đức, chúng tôi đều được tuyển về Không Quân. Ngọc Tự học ngành Chiến Tranh Chính Trị, phục vụ tại phi trường Tân Sơn Nhứt. Tôi được theo học khóa sĩ quan căn bản Quân Cảnh, về làm việc ở Biên Hòa. Mỗi đứa một hướng, nhưng tình bạn vẫn không hề phai nhạt.</p>



<p>Trong tấm ảnh cưới của vợ chồng tôi năm 1972, người bưng mâm quả chính là thi sĩ Trần Ngọc Tự. Người đứng bên cạnh, đeo bông trắng, là tôi – chú rể Nguyễn Kỳ Dzương – đi cùng phù rể là bạn Ngô Kim Hùng. Hình ảnh ấy bây giờ như nhói vào tim tôi khi nhìn lại.</p>



<p>Tháng Tư năm nay, tôi vừa hoàn tất cuốn hồi ký <em>“</em><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-lao-tu-cai-tao-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-hoi-ky/"><em>Lao Tù Cải Tạo &amp; Những Phần Đời Của Định Mệnh”</em>, </a>đúng dịp 50 năm tưởng niệm Tháng Tư Đen. Trong đó, tôi dành những trang chân thành để kể về cuộc đời lận đận, bất khuất của bạn hiền Trần Ngọc Tự – người đã hai lần vào tù chỉ vì giữ vững cây bút và niềm tin. Lần đầu, bạn bị giam suốt 6 năm, từ 1975 đến 1981. Lần thứ hai, bị bắt cùng một số văn nghệ sĩ miền Nam với tội danh mơ hồ “bọn xung kích cầm bút” (sic!), và lại chịu thêm 4 năm đày đọa. Mười năm thanh xuân, Ngọc Tự cống hiến cho văn chương và lý tưởng, nhưng phải trả giá bằng những năm tháng giam cầm trong tăm tối.</p>



<p>Nhà thơ Trần Ngọc Tự cũng chính là người viết lời giới thiệu cho hồi ký của tôi. Bài viết ấy, giản dị mà sâu sắc, góp phần nâng đỡ tinh thần tôi suốt hành trình hoàn thành cuốn sách. Tôi không hề biết rằng, đó cũng là áng văn sau cùng bạn còn để lại cho đời. Khi viết những dòng ấy, bạn đã yếu lắm, nhưng vẫn không một lời than vãn, không hé lộ nỗi đau riêng đang gặm nhấm thân thể.</p>



<p>Hôm nay, khi hay tin bạn đã “vỗ cánh bay xa”, lòng tôi se thắt. Những dòng chữ này, tôi viết không chỉ để tưởng niệm một người bạn, mà còn là lời nhắn gửi đến tất cả: <strong>Khi còn có thể nói lời cảm ơn, đừng do dự. Hãy nói ra, khi còn có nhau.</strong> Đừng để đến một ngày như tôi hôm nay, đứng lặng giữa khoảng trống vô hình, không còn cơ hội nói lời tạ từ.</p>



<p><strong>Vĩnh biệt người bạn thủy chung, người thi sĩ cầm bút không run tay giữa gió bão cuộc đời – Trần Ngọc Tự.</strong><br>Xin cho bạn yên nghỉ trong vầng sáng của thơ ca, và trong tình yêu thương mà bạn đã để lại cho thế gian này.</p>



<p>Tình thân,</p>



<p><strong>Nguyễn Kỳ Dzương, </strong><strong></strong></p>



<p>California, Ngày 7 Tháng Sáu, 2025</p>



<p></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nguyễn Kỳ Dzương: LAO TÙ CẢI TẠO &#038; NHỮNG PHẦN ĐỜI CỦA ĐỊNH MỆNH (HỒI KÝ)</title>
		<link>https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-lao-tu-cai-tao-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-hoi-ky/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Kỳ Dzương]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 15 Dec 2024 06:17:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Giới Thiệu Tác Phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[hồi ký cải tạo]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=75925</guid>

					<description><![CDATA[XIN BẤM VÀO ĐÂY: Nguyễn Kỳ Dzương: LAO TÙ CẢI TẠO &#38; NHỮNG PHẦN ĐỜI CỦA ĐỊNH MỆNH (HỒI KÝ) Lời nói đầu của tác giả Thưa quý độc giả: Tôi viết tập hồi ký này năm 2024, hy vọng sẽ được hoàn tất và xuất bản năm sau, 2025, như một trong những cột [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/11/HKCT-NKDZ-BIA-TRUOC.jpg?strip=all&w=2560"><img decoding="async" width="683" height="1024" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/11/HKCT-NKDZ-BIA-TRUOC-683x1024.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-75926" style="width:513px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/11/HKCT-NKDZ-BIA-TRUOC-200x300.jpg 200w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/11/HKCT-NKDZ-BIA-TRUOC-683x1024.jpg?strip=all 683w, https://cdn.t-van.net/2024/11/HKCT-NKDZ-BIA-TRUOC-768x1152.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2024/11/HKCT-NKDZ-BIA-TRUOC-1024x1536.jpg 1024w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/11/HKCT-NKDZ-BIA-TRUOC.jpg?strip=all 1280w" sizes="(max-width: 683px) 100vw, 683px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p class="has-text-align-center"><strong>XIN BẤM VÀO ĐÂY:</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>Nguyễn Kỳ Dzương: LAO TÙ CẢI TẠO &amp; NHỮNG PHẦN ĐỜI CỦA ĐỊNH MỆNH (HỒI KÝ)</strong></p>



<div data-wp-interactive="core/file" class="wp-block-file"><object data-wp-bind--hidden="!state.hasPdfPreview" hidden class="wp-block-file__embed" data="https://cdn.t-van.net/2025/05/Dzuong-Nguyen-Memoires-May-2025.pdf" type="application/pdf" style="width:100%;height:600px" aria-label="Embed of Dzuong Nguyen Memoires May 2025."></object><a id="wp-block-file--media-0c0da67d-0815-4956-8bfe-d102b596cab7" href="https://cdn.t-van.net/2025/05/Dzuong-Nguyen-Memoires-May-2025.pdf" class="mcloud-attachment-80440">Dzuong Nguyen Memoires May 2025</a><a href="https://cdn.t-van.net/2025/05/Dzuong-Nguyen-Memoires-May-2025.pdf" class="wp-block-file__button wp-element-button mcloud-attachment-80440" download aria-describedby="wp-block-file--media-0c0da67d-0815-4956-8bfe-d102b596cab7">Download</a></div>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><strong><em>Lời nói đầu của tác giả</em></strong></p>



<p>Thưa quý độc giả:</p>



<p>Tôi viết tập hồi ký này năm 2024, hy vọng sẽ được hoàn tất và xuất bản năm sau, 2025, như một trong những cột mốc đánh dấu đúng 50 năm Miền Nam Việt Nam bị bức tử. Những quân nhân (đủ mọi cấp bậc) như chúng tôi, và dĩ nhiên rất nhiều công chức chính phủ, cán bộ Quốc Gia (nếu chưa chạy thoát được <em>trước hoặc trong </em>ngày 30/4 Đen) đều đã phải chịu chung số phận nghiệt ngã, bị đày đọa bởi những người của “bên thắng cuộc”. Dù nói thế nào để tự biện minh, tự an ủi lấy mình, thì mình cũng bị mang tiếng là đã “đầu hàng”. Vẫn biết là cuộc chiến đã đến hồi kết thúc – kết quả của những lần “đi đêm”, mua bán, đổi chác trên các bàn hội nghị của một số cường quốc – chỉ để quân đội của Hoa Kỳ rút chân ra khỏi chiến trường Việt Nam một cách an toàn – nhưng khi nhớ lại, chúng ta vẫn đau đáu trong lòng.</p>



<p>Khi quý độc giả đọc được những hàng chữ này nói về “Lao Tù Cải Tạo &amp; Những Phần Đời Của Định Mệnh” của tôi, trong đó, rất nhiều lần, chính tôi đã là nạn nhân, hoặc là chứng nhân của những khổ đau – thì đều hiểu rằng tôi đã thoát khỏi cái vòng trầm luân khổ ải đó và đang định cư ở một nơi mà Tự Do được bảo vệ, nhân phẩm con người được đề cao và những quyền làm người – cho dù ở mức tối thiểu – luôn được tôn trọng.</p>



<p>Tôi không có tài viết văn và thú thật, đây cũng là lần đầu tiên trong đời, gõ bàn phím để viết một cuốn hồi ký. Có một điều tôi phải thưa trước là những mẩu truyện tôi viết trong này, <strong><em>đều là sự thật</em></strong>, vì vậy nó chỉ có thể ngắn như thế này. Nếu tôi có tài thêm thắt vào những “tình tiết éo le”, “trời trăng, mây nước”, thì có khi cuốn tự truyện này đã dài hơn, và hay hơn nhiều. Tôi cũng phải xác minh một điều là tôi không hề muốn nói xấu bà con, đồng hương của tôi ở ngoài Bắc. Những điều tôi nói ra ở trong tuyển tập của những phần đời của tôi dù sao, tình cờ, nó liên quan đến những ông cán bộ, hoặc các anh vệ binh từ ngoài Bắc vào.</p>



<p>Tôi đặt tên của tập hồi ký này là “Lao Tù Cải Tạo &amp; Những Phần Đời Của Định Mệnh” để nói nhiều về những năm tháng trong lao tù của csVN cùng những phần đời trong định mệnh của tôi: có lúc an bình, lúc tủi hận, lúc ngụp lặn trong bể khổ, trong đày đọa, trái với những lúc cuộc đời được thăng hoa, sống lạc quan và đem công sức ra phụng vụ xã hội.</p>



<p>Tôi sẽ dẫn quý độc giả đi qua từng phần đời của tôi theo thứ tự thời gian. Có nhiều lúc tôi hoàn toàn mất đi ý niệm về thời gian vì đang sống trong địa ngục ngay trên trần gian này. Có những lúc tôi bị lưu đày ngay trên quê hương mình. Quý độc giả sẽ chứng kiến từng phần đời đó của tôi qua lời văn rất giản dị, tự nhiên, vì như đã nói ở trên, đây tất cả là <em>sự thật, rất thật</em>.</p>



<p>Trước khi đi vào phần chính của cuốn tự truyện này, tôi cũng xin được ngỏ lời cảm ơn nhiều anh chị em, bạn bè, thân hữu, văn hữu, đã khuyến khích tôi viết tập hồi ký này, trong đó tôi muốn được nhắc đến các bạn: <em>Huỳnh Hồng Hiệp, Trần Ngọc Tự, Trương Văn Vấn, Huỳnh Lương Thiện, Nguyễn Trung Cao, Nguyễn Hùng Anh, và (người bạn vong niên) Hoàng Cơ Định&#8230;</em></p>



<p>Tháng Chín 2024</p>



<p>Oakland, California, U.S.A.</p>



<p><strong>Nguyễn Kỳ Dzương</strong></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/11/HKCT-NKDZ-BIA-SAU.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="683" height="1024" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/11/HKCT-NKDZ-BIA-SAU-683x1024.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-75928" style="width:531px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/11/HKCT-NKDZ-BIA-SAU-200x300.jpg 200w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/11/HKCT-NKDZ-BIA-SAU-683x1024.jpg?strip=all 683w, https://cdn.t-van.net/2024/11/HKCT-NKDZ-BIA-SAU-768x1152.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2024/11/HKCT-NKDZ-BIA-SAU-1024x1536.jpg 1024w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/11/HKCT-NKDZ-BIA-SAU.jpg?strip=all 1280w" sizes="(max-width: 683px) 100vw, 683px" /></a></figure></div>]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nguyễn Kỳ Dzương: NHỮNG PHẦN ĐỜI CỦA ĐỊNH MỆNH (17- HẾT)</title>
		<link>https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-16-het/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Kỳ Dzương]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 03 Dec 2024 06:08:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[hồi ký cải tạo]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=75902</guid>

					<description><![CDATA[PHẦN MƯỜI BẢY: ĐỜI BINH NGHIỆP Trước khi viết đoạn cuối của tập hồi ký này, tôi thiết tưởng cũng nên nhắc đến một phần đời của định mệnh. Trong phần đời này, tôi đã trải qua 6 năm phục vụ trong Không Lực VNCH. Tôi đã được định mệnh đãi ngộ “hậu hĩnh” vì [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/08/HOI-KY-CAI-TAO.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1002" height="613" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/08/HOI-KY-CAI-TAO.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-73498" style="width:610px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/08/HOI-KY-CAI-TAO-300x184.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2024/08/HOI-KY-CAI-TAO-768x470.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/08/HOI-KY-CAI-TAO.jpg?strip=all 1002w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p class="has-text-align-center"><strong>PHẦN MƯỜI BẢY: ĐỜI BINH NGHIỆP</strong></p>



<p>Trước khi viết đoạn cuối của tập hồi ký này, tôi thiết tưởng cũng nên nhắc đến một phần đời của định mệnh. Trong phần đời này, tôi đã trải qua 6 năm phục vụ trong Không Lực VNCH. Tôi đã được định mệnh đãi ngộ “hậu hĩnh” vì những hoạt động của tôi trong thời gian này đều đưa đến những kết quả tốt đẹp, được cấp trên và bạn bè quý mến.</p>



<p>Lúc mới tốt nghiệp từ trường BB Thủ Đức với cái lon chuẩn úy mới toe, tôi về trình diện đơn vị ở phi trường Biên Hòa. Hôm đó, hình như có tất cả 4 anh chuẩn úy bước vào văn phòng của đại úy (Đ/u) Nguyễn Đức Tân. Chúng tôi làm đúng thủ tục đứng nghiêm, chào, xưng tên tuổi xong. Đ/u Tân nói:</p>



<p>&#8211; Các cậu cứ về nghỉ, tôi sẽ sắp chỗ làm cho các cậu sau. Cậu Dzương ngồi xuống đấy.</p>



<p>Trong văn phòng của ông chỉ có hai bàn làm việc. Tôi chưa hiểu chuyện gì nhưng vẫn cứ phải làm theo lệnh của ông, kéo ghế ra ngồi, chờ ông giao cho công việc. Đ/u Tân bận rộn với công việc, có lẽ ông không nhớ là có anh “lính mới” đang ngồi đó chờ lệnh.</p>



<p>Tôi ngồi một lúc, không biết làm gì, làm bộ ra ngoài, sang phòng làm việc của các anh trong Ban Điều Hành, tán chuyện gẫu. Các anh này đều là hạ sĩ quan, họ làm việc lâu năm ở đây cho nên công việc có vẻ trôi chảy, đều đặn. Họ đều gọi tôi là thiếu úy, thay vì chuẩn úy! Họ cũng có vẻ nể phục vì không biết tại sao ông trưởng đoàn, Đ/u Tân lại ưu ái tôi đến vậy. Âu cũng là định mệnh.</p>



<p>Những ngày sau đó, tôi đã có cơ hội chứng tỏ khả năng của tôi qua một vài việc. Tôi được giới thiệu và gặp thiếu tá (Th/t) Tạ Văn Thái, Liên đoàn trưởng Liên đoàn phòng thủ phi trường. Một hôm, chúng tôi có buổi họp với một đại úy cố vấn người Mỹ. Tôi trao đổi câu chuyện với ông cố vấn này một cách tự nhiên, trôi chảy. Cả Th/t Thái và Đ/u Tân rất hài lòng với khả năng Anh Ngữ của tôi.</p>



<p>Cuộc đời binh nghiệp của tôi bắt đầu như vậy. Về làm việc tại phi trường Biên Hòa nhưng tôi vẫn mua “cua” ở trường Luật về học tiếp. Nhờ vậy, tôi lấy xong năm cuối của chương trình cử nhân Luật. Cũng nhờ vậy, tôi được cử đi học thêm khóa huấn luyện sĩ quan căn bản Quân Cảnh ngoài trường QC Vũng Tàu. Về lại phi trường Biên Hòa, với bằng tốt nghiệp và chỉ số lương của ngành Quân Cảnh, nhưng tôi lại được cả Th/t Thái và Đ/u Tân ưu ái, giữ lại làm việc tại văn phòng với hai ông, không phải ra đứng “gác cổng” phi trường cùng với anh em và những sĩ quan QC khác.</p>



<p>Từ khi có tôi về làm việc, Th/t Thái nhờ tôi thay ông đi họp hành quân và tình báo mỗi buổi sáng trên Phòng Hành Quân Sư Đoàn do Chuẩn tướng Huỳnh Bá Tính chủ tọa.</p>



<p>Đại úy Hill, cố vấn cho Liên đoàn phòng thủ phi trường lại còn muốn mời tôi làm “sĩ quan liên lạc” giữa hai lực lượng phòng thủ. Lúc đó, năm 1970, phi trường Biên Hòa có ba lực lương chính làm việc chung với nhau: Sư đoàn 3 Không Quân chịu trách nhiệm tác chiến. Bộ chỉ huy Kỹ Thuật &amp; Tiếp Vận, chịu trách nhiệm bảo trì phi cơ, Không Đoàn 6251st Hoa Kỳ (cộng thêm một phần của Lữ Đoàn Một Kỵ Binh Không Vận Hoa Kỳ).</p>



<p>Tuyến phòng thủ phi trường được chia làm hai, một nửa vòng đai do lực lượng phòng thủ KQVN đảm trách, một nửa kia do lực lượng phòng thủ Mỹ đảm trách. Từ đó, tôi được trang bị hai máy “bộ đàm” (walki talki <em>Motorola</em>). Danh hiệu dùng để gọi trên máy của tôi là <em>Bạch Đằng 1</em> trên hệ thống Việt Nam, và <em>Blue 15</em> trên hệ thống của Mỹ. Hai chiếc máy này phát thanh suốt ngày đêm, trao đổi mệnh lệnh giữa các đơn vị và các giới chức. Những ngày vợ tôi mới từ Sài Gòn dọn vào cư xá sĩ quan sống với tôi, hay than phiền là không ngủ được vì hai chiếc máy này reo réo suốt đêm! Sau rồi cũng phải quen thôi.</p>



<p>Trải qua 6 năm làm việc tại phi trường Biên Hòa, qua 4 “đời” liên đoàn trưởng, tôi vẫn giữ chức vụ sĩ quan phụ tá liên đoàn trưởng.</p>



<p>Khi có nhu cầu thuyết trình trước các phái đoàn ngoại quốc đến thăm phi trường, bao giờ tôi cũng được ưu tiên đề cử lo công việc này. Trước khi toàn bộ các lực lượng Hoa Kỳ triệt thoái khỏi Việt Nam năm 1973, tôi được Không Lực Hoa Kỳ trao tặng huy chương <em>“Air Commendation Medal”</em> ghi nhận sự hợp tác hữu hiệu của tôi.</p>



<p>Văn phòng làm việc của tôi ở dưới nhà. Văn phòng làm việc vủa thiếu tá Thái ở trên lầu. Đây là căn nhà bằng bê tông cốt sắt kiên cố nhất trong phi trường. Căn nhà này được dùng làm Bộ Chỉ Huy phòng thủ phi trường. Trước cổng văn phòng có hai xe “Jeep”. Một của Trung tá Thái&nbsp; và một là của Trung úy Dzương.</p>



<p>Tôi vẫn luôn nhớ đến các vị chỉ huy trực tiếp của tôi: Tr/t Tạ Văn Thái, Tr/t Nguyễn Quan Vĩnh, và Tr/t Lý Thành Ba, Tr/t Nguyễn Đức Tân, và Tr/t Nguyễn Vĩnh Tấn. Ngoài vai trò là những vị chỉ huy trực tiếp của tôi, họ là những người anh sống thân thiết, đầy tình nghĩa anh em với tôi. Vì thế, trong 6 năm làm việc tại Biên Hòa, từ ngày về nhận đơn vị, cho đến ngày mất nước, tôi chưa hề bị đổi đi đơn vị khác làm việc.</p>



<p>Khi chiến tranh leo thang trầm trọng, bộ chỉ huy (BCH) phòng thủ của chúng tôi được làm cho kiên cố hơn bằng cách chất thêm nhiều lớp bao cát ở trên nóc và nhiều lớp bao cát ở chung quanh. Từ đó, BCH phòng thủ trở thành BCH của cả sư đoàn 3 KQ.</p>



<p>Chuẩn tướng (Ch/t) Huỳnh Bá Tính, tư lệnh sư đoàn, đại tá (Đ/t) Tường, tư lệnh phó, và nhiều sĩ quan cao cấp của sư đoàn 3 KQ thường đến đây làm việc.</p>



<p>Trong tinh thần phục vụ tận tụy, tôi ở lại phi trường cho đến tối 27 tháng Tư, 1975. Khi chiến sự leo thang nhanh chóng, tất cả sĩ quan và binh sĩ cư ngụ trong các khu gia binh đều cho vợ con di tản về quê trước. Tôi cũng gửi vợ con tôi về sống bên ngoại ở Ngã Ba Ông Tạ, Sài Gòn.</p>



<p>Tôi còn nhớ, đêm hôm đó chúng tôi bị việt cộng pháo kích khoảng 2000 quả đạn pháo, đủ loại, từ 122 ly, đến súng cối, đến đại bác 130 ly từ xa. Trong hầm chỉ huy của chúng tôi lúc đó còn Ch/t Huỳnh Bá Tính, Ch/t Từ Văn Bê, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ Huy Kỹ Thuật &amp; Tiếp Vận KQ, Đ/t Tường, và một vài vị đại tá mà tôi không nhớ tên. Tôi định về nhà thay quần áo, có chết cũng chết sạch, nhưng vc pháo dữ quá, các tướng tá khuyên tôi không nên đi ra ngoài vào lúc này. Chúng tôi ở trong hầm chờ đến sáng, đi thị sát tình hình rồi sẽ quyết định. Trời đã sáng. Hai chiếc trực thăng đậu phía sau hầm chỉ huy đã nổ máy. Ch/t Huỳnh Bá Tính rủ tôi cùng bay ra hạm đội 7 của Hải quân Hoa Kỳ đang đợi ngoài khơi. Tôi từ chối.</p>



<p>Chiều hôm đó, tôi và một số anh em binh sĩ còn lại, chạy xe khắp phi trường, xả súng bắn vào những máy bay bất khả dụng, còn để lại phi trường. Mục đích của chúng tôi là không để sau này vc còn có thể sử dụng. Chúng tôi cũng chạy xe GMC, chở các thùng xăng đầy trên đó, chạy đến các “hangar” bảo trì, vũ khí, và đạn dược, đạp thùng phuy xăng xuống, thẩy lựu đạn lân tinh và bỏ chạy.</p>



<p>Chúng tôi nghe trong máy truyền tin mệnh lệnh cuối cùng: Tất cả rời khỏi phi trường, ra tập trung ở sân vận động Biên Hòa. Trước khi rút lui, chúng tôi chất mấy can săng vào trong BCH, thẩy lựu đạn “lân tinh” vào và bỏ chạy, mục đích là đốt cháy tất cả tài liệu mật của phi trường Biên Hòa.</p>



<p>Nói về hàng ngũ sĩ quan còn ở lại với nhau, chúng tôi, tối hôm đó chỉ còn hai trung úy: Lê Thanh Du và tôi, và chừng độ 25 anh em binh sĩ, cùng chạy ra ngoài sân vận động ngủ qua đêm. Sáng hôm sau, chúng tôi trở vô phi trường. Tòa nhà dùng làm hầm chỉ huy những ngày trước đã bị cháy rụi, sập xuống hoàn toàn. Một chiếc trực thăng quần trên đầu chúng tôi một lúc thì cũng bay mất.</p>



<p>Lúc đó, trong người tôi còn dắt 10 trái lựu đạn “mini” và còn đeo hai khẩu súng ngắn. Bạn Lê Thanh Du còn đeo một khẩu súng lục và một cây súng trường M-16. Chúng tôi quyết định chạy về Bộ Tư Lệnh KQ ở Tân Sơn Nhứt xem có lệnh lạc gì khác không. Từ Biên Hòa, chúng tôi về đến phi trường Tân Sơn Nhứt khoảng 3 giờ chiều 29 tháng Tư.</p>



<p>Chúng tôi chạy một vòng trong phi trường, không còn ai. Máy vô tuyến đã im tiếng từ hôm qua, không còn lệnh lạc gì nữa. Lê Thanh Du, tôi và chừng 25 anh em binh sĩ chạy theo chúng tôi từ Biên Hòa về, lẳng lặng cởi bỏ áo giáp, nón sắt, súng đạn, xếp vào trạm kiểm soát của Quân Cảnh ở cổng Phi Long. <em>Chúng tôi ứa nước mắt, đứng nghiêm, chào nhau lần cuối cùng, tản hàng, ai về nhà nấy. Tôi còn tận tụy với chính nghĩa Quốc Gia cho tới giờ thứ 25.</em></p>



<p>Đêm hôm đó, tôi chở vợ con chạy ra Bến Bạch Đằng nhưng thấy người ta đông quá, không dám lên tàu Hải Quân. Chạy về Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ thì không vào được. Nhìn những chiếc trực thăng đáp xuống nóc tòa đại sứ đón những người đã vào được bên trong mà chúng tôi như mất hồn vì trong thâm tâm, chúng tôi đều biết rằng cuộc đời đã đến lúc vô vọng. <strong>Sáng 30 tháng Tư, nghe lệnh đầu hàng. Chấm hết.</strong></p>



<p>Với những lời đồn đãi của người dân Miền Nam trước khi chế độ VNCH chấm dứt – về sự tàn ác của vc, tôi chuẩn bị tư tưởng cho những gì xấu nhất có thể xảy ra. Khi thì sống bên ngoại, khi thì sống ở nhà nội. Tôi còn đầy đủ hai khẩu súng ngắn của tôi và 5 trái lựu đạn mini. (5 trái kia, trước khi chia tay ở trong phi trường Tân Sơn Nhứt, tôi đưa cho Lê Thanh Du, người bạn thân thiết, sống với tôi cho đến giờ phút cuối trên Biên Hòa.)</p>



<p>Tôi cũng muốn nói thêm là trong thời bình, mỗi năm, tôi đều ra quân trường Đồng Đế dự thi bắn súng “Colt 45” với các tay thiện xạ của các quân, binh chủng khác. Tôi luôn chiếm được giải thưởng “Thiện xạ Ưu hạng của Toàn Quân”. Lúc này, ở nhà với tâm trạng rối bời, tôi nói với bố mẹ tôi rằng:</p>



<p>&#8211; Nhỡ đang đêm mà chúng nó gõ cửa, bắt con đi, thì con sẽ chống cự đến cùng. Khi không còn chống cự được nữa, con sẽ tung lựu đạn cho chết cả hai bên. Bố mẹ tôi bằng lòng.</p>



<p>Chuyện đó đã không xảy ra.</p>



<p>Khi tình hình có vẻ không còn nguy hiểm, tôi đạp xe dọc theo bến Bạch Đằng thả xuống sông từng nắm cơ phận rời của hai khẩu súng, cùng 5 trái lựu đạn của tôi, không chịu nạp theo lệnh của “Nhà Nước”.</p>



<p>Viết đến đây, tôi nhớ các bạn trong đời binh nghiệp của tôi. Tôi muốn nhân dịp này, cám ơn tấm chân tình của mọi người – những người bạn mà thuở đó, chúng tôi đã thân nhau đến cái độ có thể “mày tao, chi tớ” với nhau. Bây giờ thì người còn, người mất. Tôi vẫn muốn tri ân các bạn, không biết các bạn có dịp đọc cuốn hồi ký này của tôi không:</p>



<p>Vũ Ngô Khánh Truật, Vũ Duy Tỳ, Vũ Viên Hoàng, Trần Ngọc Tự, Trần Như Lâm, Trần Xuân Sơn, Lê Dzũng, Nguyễn Văn Phát, Nguyễn Văn Cung, Nguyễn Thái Công, Nguyễn Hữu Thiện, Nguyễn Hoàng Hải, Ngô Kim Hùng, Ngô Hưng Tâm, Lê Thanh Du, Bùi Xuân Bắc, và nhiều nữa&#8230;</p>



<p><em>Sau cùng, tôi cũng phải cám ơn hiền nội của tôi, người đã “đầu ấp tay gối” với tôi suốt 52 năm qua. Người đã gian truân, chịu đựng đắng cay, chắt chiu nuôi tôi suốt 5 năm bị đày đọa trong các trại lao tù cải tạo của cộng sản. Định mệnh đã muốn chia cắt chúng tôi, kéo chúng tôi ra khỏi cuộc đời của nhau nhưng với trái tim trọn vẹn là của nhau, với tấm lòng sắt son, quyết chí tìm về với nhau, chúng tôi đã thắng định mệnh.&nbsp;&nbsp; Đến bây giờ, chúng tôi vẫn “tương kính như tân”. Chúng tôi đang chung sống yên bình dưới bóng mát của hạnh phúc.</em></p>



<p>Giấc mơ Mỹ của tôi đã trọn vẹn. Bây giờ đến giấc mơ Việt:</p>



<p>Tôi mơ một ngày nào “tay bắt mặt mừng” với quý độc giả, quý đồng hương, những người bạn trân quý của tôi – trên mảnh đất quê hương Việt Nam hình chữ S <strong><em>rợp bóng Cờ Vàng.</em></strong><strong><em></em></strong></p>



<p><strong>Nguyễn Kỳ Dzương</strong></p>



<p><strong>(Hết)</strong></p>



<p><strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh/">Kỳ 1</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-2/">Kỳ 2</a></strong> <a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-3/"><strong>Kỳ 3</strong></a> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-4/">Kỳ 4</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-5/">Kỳ 5</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-6/">Kỳ 6</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-7/">Kỳ 7</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-8/">Kỳ 8</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-9/">Kỳ 9</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-10/">Kỳ 10</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-11/">Kỳ 11</a></strong> <a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-12/"><strong>Kỳ 12</strong></a> <a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-13/"><strong>Kỳ 13</strong></a> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-14/">Kỳ 14</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-15/">Kỳ 15</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-16/">Kỳ 16</a></strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nguyễn Kỳ Dzương: NHỮNG PHẦN ĐỜI CỦA ĐỊNH MỆNH (16)</title>
		<link>https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-16/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Kỳ Dzương]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 26 Nov 2024 06:02:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[hồi ký cải tạo]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=75730</guid>

					<description><![CDATA[PHẦN MƯỜI SÁU: PHẦN ĐỜI CÓ BÌNH MINH Một hôm, ông chủ ghe về Cần Thơ họp với các trưởng toán, cho biết là mọi người phải nhắn khách xuống Cần Thơ để trong hai ngày nữa sẽ khởi hành. Tôi vội vàng nhắn khách của nhóm tôi, và dĩ nhiên, nhắn vợ con tôi [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/08/HOI-KY-CAI-TAO.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1002" height="613" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/08/HOI-KY-CAI-TAO.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-73498" style="width:626px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/08/HOI-KY-CAI-TAO-300x184.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2024/08/HOI-KY-CAI-TAO-768x470.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/08/HOI-KY-CAI-TAO.jpg?strip=all 1002w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p class="has-text-align-center"><em>PHẦN MƯỜI SÁU: PHẦN ĐỜI CÓ BÌNH MINH</em></p>



<p>Một hôm, ông chủ ghe về Cần Thơ họp với các trưởng toán, cho biết là mọi người phải nhắn khách xuống Cần Thơ để trong hai ngày nữa sẽ khởi hành. Tôi vội vàng nhắn khách của nhóm tôi, và dĩ nhiên, nhắn vợ con tôi xuống. Mặc dù chưa thanh toán tiền cho ông chủ ghe nhưng tôi cứ nhắn vợ con xuống, tìm cách năn nỉ ông chủ ghe sau. Khi vợ tôi xuống thì cũng có được ba cây vàng. Cả hai gia đình vơ vét, bán hết đồ trong nhà mới gom đủ ba cây. Tôi đưa ba cây vàng cho ông chủ ghe, trình bày hoàn cảnh. Tôi và ông làm việc với nhau đã đủ lâu để chúng tôi hiểu tâm tính của nhau. Ông cầm lấy vàng, không đòi thêm.</p>



<p>Từ lúc đó, mỗi khi di chuyển, tôi nhìn vợ tôi và cô nàng hiểu ý, dắt hai con đi theo, giữ khoảng cách xa xa. Chúng tôi mua đầy một con thuyền nhỏ những loại rau quả linh tinh, chất đầy khoang trước của ghe. Các ghe khác cũng trang bị xong. Chúng tôi nối đuôi nhau đi trên sông. Thỉnh thoảng, làm bộ ghé vào chợ chào hàng, thực ra để xuống chợ mua thức ăn trong ngày cho mọi người trong ghe. Ghe chạy hai ngày mới về tới Cà Mau. Ông chủ ghe xuất hiện, cho biết mọi thứ có vẻ thuận lợi, không phải lo.</p>



<p>Buổi tối hôm đó, ông cho lệnh xuất phát. Ông không đi trên ghe với chúng tôi, nói ông sẽ đi ghe khác. Chúng tôi được một ghe nhỏ, máy rất mạnh, chạy rất nhanh, dẫn đường ra cửa biển. Lúc đó, chúng tôi vứt hết số rau quả còn trên ghe cho nhẹ, để có thể theo kịp chiếc “taxi” kia. Chúng tôi kiểm lại số nước uống trên ghe. Cảm thấy không đủ nên thả gầu xuống múc nước lên đổ vào mấy cái “can” nhựa. Chúng tôi cứ theo nhau như vậy, len lỏi đi trong sông. Trời đã tối lắm. Lúc khoảng 2 giờ sáng thì chúng tôi ngừng lại. Anh chàng lái ghe nhỏ cho chúng tôi biết là cứ ém “quân” ở đây một lúc, chờ anh đi liên lạc với ghe lớn. Nói xong, anh phóng vụt đi.</p>



<p>Anh chàng này có lẽ quen việc lắm nên rất nhanh nhẹn, rành rõi đường đi trên sông. Một chút xíu sau thì anh trở lại, gọi chúng tôi theo sau. Anh dặn là phải theo đúng đuôi sóng của chiếc ghe của anh. Nếu đi trật, có thể vướng vào “đáy” (lưới) người ta cắm trên mặt biển, sẽ khó gỡ lắm. Chúng tôi cố căng mắt trong màn đêm để theo anh cho kịp. Khoảng bốn giờ sáng thì chúng tôi thấy anh taxi chạy chậm lại, anh xoẹt mấy ánh bật lửa. Ngoài kia, chắc là trên ghe lớn, cũng có mấy tia sáng xoẹt xoẹt trong màn tối mù mịt. Anh taxi lại ra hiệu cho chúng tôi theo. Khi đến gần&nbsp; chiếc ghe lớn, anh ghé lại. cặp vào ghe chúng tôi nói:</p>



<p>&#8211; Anh chị, bà con có còn tiền Việt thì cho tôi xin, bây giờ ra cửa biển rồi, tiền Việt đâu có ý nghĩa gì nữa. Chúng tôi cũng thấy cơ hội trước mắt rồi nên cũng không tiếc anh chàng này. Tất cả mọi người moi móc trong túi, trong giỏ, còn bao nhiêu tiền, đưa hết cho anh đó. Anh chàng chỉ đợi có thế, phóng vụt đi mất. Chúng tôi cặp vào ghe lớn, đàn bà trẻ em leo lên trước. Chúng tôi leo lên sau. Khi mọi người leo lên ghe lớn rồi mới biết là anh chàng lặng lẽ lái ghe nhỏ cho chúng tôi từ trong sông đi ra, không leo lên đi với chúng tôi. Anh ta cũng không xin xỏ gì, lặng lẽ quay mũi ghe vào, trở về. Trên ghe lớn, không ai có thì giờ kiểm soát xem toán mình ra tới nơi chưa, leo lên ghe chưa. Ghe đã nổ máy, ra khơi.</p>



<p>Anh chàng tài công nói chúng tôi xuống hầm hết để không bị nghi ngờ. Trời đã gần sáng rồi. Anh chàng thấy tôi tần ngần không xuống hầm theo vợ con tôi. Anh hất hàm nói:</p>



<p>&#8211; Ê, anh này, anh có nghe tôi nói xuống hầm hết không? Tôi hơi bất bình vì thái độ của anh đối với tôi.</p>



<p>Có lẽ vì trời còn tối quá, anh chàng không trông rõ sự cách biệt tuổi tác với tôi. Tôi trả lời:</p>



<p>&#8211; Ông chủ ghe nói tôi làm thuyền trưởng, kiểm soát trật tự trên ghe. Tôi mà xuống dưới thì ai trách nhiệm trên này? Anh chàng không nói gì thêm. Tôi ngồi cạnh anh trong khoang lái, quan sát. Được một lúc, có lẽ ghe đã chạy ra khỏi cửa biển an toàn. Tôi hỏi anh:</p>



<p>&#8211; Ghe mình có bản đồ, địa bàn không? Anh nói “có, trong hộc đó”.</p>



<p>Anh chỉ tay cho tôi lấy ra. Tôi lấy ra được một cái địa bàn lớn, và một tờ bản đồ. Tôi nói anh bắt đầu dán bản đồ lên và dùng địa bàn, định hướng bản đồ. Anh này có vẻ ngạc nhiên, tại sao tôi lại “ra lệnh” cho anh ta. Anh nói:</p>



<p>&#8211; Anh biết thì anh làm đi. Tôi lẳng lặng đóng tấm bản đồ xuống mặt “bàn”. Để cái địa bàn vào giữa bản đồ. Quay quay để tìm hướng. Anh tài công quan sát, có vẻ hài lòng. Tôi cho bản đồ và địa bàn cùng hướng với nhau xong, tôi nói:</p>



<p>&#8211; Bây giờ, anh cứ ráng giữ hướng này mà đi, từ Cà Mau, lấy 250 đến 270 độ là đến Thái Lan. Anh chàng không trả lời.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/11/8NirDhXO-image002.jpg?strip=all&fit=220%2C255&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="220" height="255" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/11/8NirDhXO-image002.jpg?strip=all&fit=220%2C255" alt="" class="wp-image-75731" style="width:390px;height:auto"/></a></figure></div>


<p>Bây giờ, có lẽ ghe đã bắt đầu ra khỏi cửa biển, sóng càng ngày càng mạnh hơn. Đây là lúc tôi ngoái cổ lại, nhìn thấy một dải đất màu trắng mờ mờ trong ánh sáng chênh vênh của sương sớm. Tôi biết đây là dải đất cuối cùng của quê hương tôi. Đây có lẽ là lần cuối cùng trong cuộc đời, tôi còn nhìn thấy quê hương.</p>



<p>Ghe đi được một lúc nữa, trời đã có những ánh nắng nhợt nhạt và ánh bình minh bắt đầu ló dạng. Tôi nhìn mà hết hồn. Trong đêm, chưa nhìn thấy biển cả, chỉ thấy một màu đen như có ai bịt mắt. Bây giờ nhìn thấy đại dương lần đâu tiên, sao nó rộng lớn mênh mông đến như vậy? Thân phận con người trước hoàn cảnh này mới thấy mình quá bé nhỏ. Nhìn quanh, chỉ một màu nước biển xanh thẫm, không còn thấy bờ bến đâu nữa. Sóng càng xô mạnh vào mạn thuyền. Nhiều người đã tự động chui lên từ dưới khoang thuyền, ói mửa hàng loạt. Ói mửa xong thì cũng nằm sóng xoài trên khoang trước của ghe. Đuổi họ cũng không xuống nữa. Họ nói, ở dưới đó nồng nặc mùi dầu hôi và đã có nhiều nước tràn vào thuyền. Tôi nhảy xuống, thứ nhất là để xem vợ con tôi thế nào, thứ hai là để đốc thúc thanh niên trẻ tát nước dưới lòng ghe. Một ông khách có vẻ cũng lớn tuổi hơn đám trẻ, cứ ỳ ra đó, không chịu tham gia tát nước. Tôi nói với ông:</p>



<p>&#8211; Nếu anh không tham gia tát nước với đám trẻ, lát nữa ghe chìm thì anh cũng chết. Trước khi ghe chìm, tất cả chúng tôi đều chết, tôi sẽ là người thảy anh xuống nước trước.</p>



<p>Ông ta miễn cưỡng ngồi dậy, chuyền những gầu nước từ tay anh em, chung vai đổ nước ra ngoài.</p>



<p>Tôi thấy thuyền có vẻ chòng chành, chạy trở lên khoang lái thì thấy chính anh “tài công” cũng ói mửa, nằm vật vã dưới sàn. Tôi đẩy anh sang một bên, nhảy vào thay anh cầm lái. Cái bánh lái của chiếc thuyền này không phải là cái “vô lăng” có nhiều cái tay nắm chĩa ra ngoài như ở các thuyền lớn. Ở đây, người lái phải với tay ra sau lưng, điều khiển cái cần lái dài, chuyền ra sau, móc với bánh lái ở dưới nước.</p>



<p>Tôi cố giữ lại thăng bằng cho chiếc ghe xong thì nhờ chú thanh niên đứng gần (anh chàng phụ máy) giữ bánh lái cho tôi. Tôi với tay lấy cái bịch nylon tôi mang theo, trong đó đựng gạo sấy, tôm khô, và một sợi dây dù dài. Tôi nói chú phụ máy tìm cho tôi cái búa và mấy cây đinh. Tôi lấy dây dù buộc chặt chung quanh người xong, dùng búa, đinh đóng chặt hai đầu dây vào khoang thuyền. Tôi nói với chú phụ máy:</p>



<p>Tôi phải buộc người tôi vào thế này chứ nếu mà sóng lớn hất tôi xuống biển thì cả ghe này sẽ chết. Tôi còn sống thì mọi người sẽ sống. Chú phụ máy, chú Thảo, nghe xong nức lòng giúp tôi mọi thứ. Anh chàng xưng là “tài công”, theo ông chủ ghe quảng cáo với tôi lúc ở trên bờ là: Đã tuyển được một tài công, trước đây là một “Hải Quân Trung Úy”, thuộc lòng đường đi biển từ Cà Mau sang Thái Lan! Hóa ra ông “hải quân trung úy” giờ này nằm sóng sượt như đã chết rồi vậy!</p>



<p>Chiếc ghe cũng cứ “phành phạch”, nhẹ nhàng (nhưng chầm chậm) lướt sóng. Khi trời sáng bạch thì ghe chúng tôi đã đi được khá xa bờ. Không có một dấu chấm nào trên đường chân trời. Phải nói thêm là trong đời tôi chưa bao giờ cầm lái một chiếc ghe, chạy trong sông cũng chưa, nói gì chạy ngoài biển như thế này. Cũng may, tới giờ này thì biển vẫn êm, sóng cũng giảm độ mạnh, không như lúc mới ra khỏi cửa biển.</p>



<p>Ghe chạy một lúc nữa thì tiếng máy “ho” hù hụ. Anh chàng Thảo nói tôi tắt máy để anh lặn xuống xem chuyện gì xảy ra. Nhân lúc này, vợ tôi từ dưới khoang chui lên, đưa cho tôi mấy miếng củ đậu.</p>



<p>&#8211; Tìm mãi mới mò được mấy miếng củ đậu này, gọt sẵn rồi. Anh ăn lấy sức. Tôi vừa khát nước, vừa đói, cắn ngay một miếng lớn, tôi lập tức phun ra vì miếng củ đậu này “tẩm” đầy mùi dầu ghe máy. Vợ tôi nói, ở dưới đó, cái gì cũng tẩm đầy mùi dầu như vậy! Đành phải nhắm mắt mà ráng nuốt vậy.</p>



<p>Chú Thảo ngoi lên, cho biết là “chân vịt” bị cuốn đầy rong rêu, rác rến, lá dừa từ trong sông nên không quay được. Bây giờ thì em đã cắt hết, nó quay được rồi. Anh thử xem sao? Máy lại nổ. Con thuyền Định Mệnh vẫn chòng chành chạy được. Đêm thứ hai trên biển tương đối êm ả. Khi thấy một ngọn đèn đỏ chớp chớp ở xa, bà con trong ghe cứ đòi chạy về hướng đó, biết đâu đó là giàn khoan dầu của nước ngoài? Tôi do dự nhưng cuối cùng cũng phải chiều mọi người. Chiếc đèn đỏ đó cũng đang chạy về phía chúng tôi! Như vậy là không phải dàn khoan dầu rồi. Bây giờ có chạy cũng trễ vì chiếc thuyền kia cao, lớn, và lướt sóng nhanh vô cùng. Gần đến chúng tôi, trên ghe nổ một loạt súng, ra lệnh chúng tôi ngừng lại. Hóa ra, đây là bọn cướp biển Thái Lan. Bọn cướp này thực ra không phải là người Thái. Chúng nó người Mã Lai, sống ở một làng chài sát biên giới Thái/Mã Lai. Chúng quấn “xà rông”, đeo những chuỗi hạt quái dị trên cổ. Mặt mũi bặm trợn. Bọn cướp thả một cái thang dây xuống, bắt chúng tôi theo nhau leo lên ghe của chúng. Tôi còn kịp nói với mấy anh em trẻ:</p>



<p>&#8211; Nếu chúng hỏi “tài công” hay “thuyền trưởng” đâu thì đừng chỉ tôi. Chúng vứt tôi xuống biển thì không ai tiếp tục lái ghe.</p>



<p>Chúng tôi đã leo lên ghe của bọn cướp biển. Ghe của chúng lớn vô cùng. Chúng tập trung tôi trên boong trước. Chúng lấy một sợi dây thừng căng giữa sàn. Một tên cầm cái sô bằng tôn, một tay cầm một khẩu súng nhỏ, khoác khoác tay, bảo chúng tôi bỏ vàng, đồng hồ, dây chuyền, tiền bạc vào cái sô đó, xong đi sang bên kia sợi dây thừng.</p>



<p>Trước khi xuống ghe ở Cần Thơ, vợ tôi có lấy kim băng cài một nhẫn vàng một chỉ vào lưng quần thằng con trai lớn của chúng tôi. Trên ghe cướp biển, tôi làm bộ xỉu, nằm lê lết trên sàn. Tôi nhìn hai thằng con trai tôi, ra hiệu cho hai đứa lẳng lặng bò sang bên kia sợi dây thừng. Bọn cướp không để ý hai đứa trẻ nhỏ. Hai đứa con tôi bò sang bên kia an toàn. Sau khi lục soát hết mọi người trên ghe, chúng ra hiệu cho chúng tôi trở về thuyền của mình. Mọi người trở về thuyền an toàn, mới biết là đã có thằng cướp xuống ghe, lục soát hết mọi thứ. Chúng lấy đi cái máy “đuôi tôm” chúng tôi cài bên cạnh ghe, chọc thủng hết các thùng dầu dự trữ để tìm vàng có thể dấu trong đó, vứt hết địa bàn và bản đồ của chúng tôi xuống biển.</p>



<p>Chúng thòng xuống ghe cho chúng tôi một nồi cháo trắng lớn và một vài con cá khô, xong chúng chỉ chúng tôi đi hướng đó&#8230;Tôi liếc mắt tìm sao Bắc Đẩu thì biết ngay, hướng đó là đi ra biển, trong khi chúng tôi đang muốn đi vào bờ. Tôi đợi cho chúng chạy khuất rồi quay mũi ghe đi theo hướng định đi. Tôi nói với bà con là từ bây giờ trở đi, lái theo hướng nào là quyết định của tôi, không đuổi theo đèn đỏ nào hết. Mọi người im lặng. Cũng may một điều là bọn cướp chỉ chủ trương lục soát, lấy của cải vật chất. Chúng không làm hại ai, không bắt cóc ai theo chúng như những truyện chúng tôi được nghe. Bây giờ tôi chỉ còn lái ghe bằng kiến thức đi biển học được trong tù. Ghe vẫn đang trôi êm đềm.</p>



<p>Đến gần sáng thì một trận bão hay biển động vì lý do gì tôi không biết. Chiếc ghe của chúng tôi lúc thì bị đội lên đỉnh sóng, nhìn xuống hai bên thì nước sâu như trên lầu ba nhìn xuống. Lúc ở dưới chân sóng, nhìn lên thì hai bên bờ nước cao bằng năm lần chiếc ghe của chúng tôi. Tôi nghĩ bụng, nếu luồn dưới chân sóng mà đi thì may ra thoát, chứ nếu đi xuôi theo luồng sóng thì nó lật úp ngay. Chống cự với sóng như vậy trong một thoáng, chắc chỉ độ 10 phút, thì biển đêm lại êm trở lại. Không thể hiểu nổi đó là hiện tượng gì. Cứ thế mà trời sáng dần trở lại. Trời sáng thì có nỗi sợ khác: Biển mênh mông, không bờ, không bến nào. Nhân lúc trời yên gió lặng, tôi cho vợ con tôi lên trên khoang với tôi, hít thở không khí trong lành.</p>



<p>Nhân lúc biển êm, nhiều người đã “tranh thủ” làm những việc cần thiết! Nồi cháo của bọn cướp cũng đã được thanh toán hết. Có người tình nguyện nấu cơm cho mọi người ăn. Sờ đến bịch gạo thì hỡi ôi, nó thấm đầy nước biển lẫn với dầu máy! Từ hôm qua đến nay, tôi cũng chỉ mới “cạp” được mấy miếng củ đậu, chưa có thêm gì vào bụng.</p>



<p>Trời tối dần. Lại một nỗi lo sợ mới. Tuy vậy, nhờ trời, hôm ấy biển rất êm. Có một đàn cá heo, hình như gặp ghe chúng tôi, đàn cá có vẻ dzui lắm. Nó đua nhau nhảy lên mặt nước đùa với chúng tôi. Chúng húc rầm rầm vào thành ghe và như muốn “chạy đua” với chúng tôi. Cũng vui được một lúc thì đàn cá cũng tản đâu mất hết, trả lại sự yên lặng của mặt biển.</p>



<p>Khi tôi nói về một nỗi lo sợ mới ban ngày: đó là khó đoán phương hướng. Mặt trời thì chói chang, cứ phải lấy một cây gậy, cột cho đứng giữa khoang thuyền, nhìn theo bóng của nó mà đọc phương hướng. Cũng may là không có gió lớn, chứ nếu có, với độ dạt của gió thì lại phải biết đọc hướng và trừ hao khoảng cách dạt của gió. Tôi vẫn buộc chặt người vào khoang lái. Trời ban ngày nóng quá mà không dám cởi áo vì vết thẹo dài trên ngực, kết quả của đòn thù của thằng Dũng vệ binh. Một ngày nữa sắp tàn. Mặt trời chuẩn bị “lặn” xuống biển, hắt ra những tia nắng đỏ cuối cùng của ngày.</p>



<p>Anh chàng “tài công” giờ thì đã tỉnh táo nhưng tuyệt đối không có ý muốn giúp tôi cầm lái. Chú Thảo cũng khinh hắn ra mặt nhưng anh chàng tài công cũng đành phải làm mặt lỳ ra thôi. Thảo bây giờ thay tôi làm trật tự. Chú cầm can nước đi rót cho từng người theo một số lượng cố định, không phung phí. Gọi là nước “ngọt” nhưng loại nước mà chúng tôi thả gầu xuống sông múc lên, lúc sắp ra cửa biển nên thật ra là nước lợ, pha trộn giữa nước sông và nước biển. Có còn hơn không!</p>



<p>Đêm thứ ba lênh đênh trên biển đã bắt đầu. Thỉnh thoảng, chúng tôi thấy những ngọn đèn đỏ chớp chớp ở xa xa nhưng không ai đòi lái về hướng đó. Mấy can nước cũng vơi dần. Cũng nhờ ban đêm không nóng nên cũng không khát nước như ban ngày. Chắc lúc đó khoảng bốn giờ sáng, chúng tôi thấy một ngọn núi mờ mờ trong đêm. Ở dưới chân núi cũng có một bóng đèn đỏ chớp chớp nhưng chúng tôi vẫn chạy vào hướng đó vì có ngọn núi tức là sắp đến đất liền. Độ 5 giờ sáng thì ngọn núi hiện ra rõ thêm. Ngọn đèn cũng phát ra từ một cột ăng ten sắt cao. Chúng tôi cảm thấy như là sắp sống lại. Càng gần bờ thì chúng tôi thấy một đám người lố nhố, vẫy chúng tôi vào. Gần hơn nữa thì nghe họ gọi bằng tiếng Việt! Anh em trên ghe nói:</p>



<p>&#8211; Ông ơi, ông lái làm sao mà trở về Vũng Tàu rồi. Tôi nghe cũng điếng cả người, nhưng ngẫm nghĩ lại: theo góc độ mà tôi lái ba ngày nay, thì đây không thể là Vũng Tàu được, mặc dù trông ngọn núi mờ mờ trong sương sớm, cộng với cái cột đèn ăng ten cao nữa, trông giống Vũng Tàu thật. Khó hiểu quá.</p>



<p>Khi trời sáng hẳn thì chúng tôi nhận ra những người trên bờ đang vẫy tay gọi chúng tôi vào đều ăn mặc như người Thái, tức là đàn ông, đàn bà gì cũng mặc “xà rông”. Như vậy, đây là bờ biển Thái Lan rồi. Tôi cho ghe đâm thẳng vào bờ. Những thanh niên, trai tráng nhảy xuống trước, phụ đỡ đàn bà trẻ em xuống sau. Tôi thấy vợ con an toàn ở dưới rồi tôi mới nhảy xuống.</p>



<p>Ngay sau đó, cảnh sát Thái đến. Họ tập trung chúng tôi vào một chỗ, bắt đầu lấy lý lịch và lập thủ tục. Tôi sung sướng và hãnh diện khai tên thật của tôi! Cũng chỉ một lúc sau thì một anh Cao Ủy Tỵ Nạn đến. Anh ấy mang cho chúng tôi một ít nồi, xoong, chảo, và mấy bao gạo. Một số đồng hương đã đến đây trước mang nước ngọt, nước đá ra tiếp tế chúng tôi. Ôi, Đức Mẹ ôi, sao một ly cô ca và nước đá lạnh có thể ngon đến như vậy? Bình tâm trở lại, anh chàng Cao Ủy đến nói chuyện với tôi. Anh hỏi tôi cần gì nữa không? Tôi kéo anh ra một chỗ, hỏi anh giúp tôi đánh điện về cho gia đình tôi ở Việt Nam được không? Anh nói “Được”. Tôi thảo ngay một bức điện ngắn, đưa cho anh. Anh chào tôi và hứa ngày mai trở lại.</p>



<p>Đây là giải đất cực Nam của Thái Lan, trước khi sang bên kia biên giới Mã Lai. Vùng đất này có tên là Narathiwat. Đã có 5 ghe khác đến vùng đất này trước chúng tôi. Họ cho biết đây là một trại tỵ nạn bán chính thức. Cảnh sát địa phương hay vào làm tiền. Ai có tiền thì có khi còn được hộ tống ra phố mua bán lặt vặt. Có vài người Hoa có lẽ có tiền, hay ra phố mua mì gói, cà phê về bán lại cho bà con trong trại ăn thêm, bên cạnh những thức ăn Cao Ủy cung cấp.</p>



<p>Năm người chủ ghe đến trước chúng tôi họp thành Ban Đại Diện trại, tiếp xúc với ông Cao Ủy mỗi khi ông xuống. Từ khi ghe chúng tôi vào trại, ma mới cũng hay bị ma cũ bắt nạt, đành chịu lép vế. Hai hôm sau, anh Cao Ủy (người Singapore) trở lại. Anh ôm theo một thùng giấy, trong đó có dép “Nhật”, quần áo, một ít thuốc tây chữa cảm cúm&#8230;Anh họp tất cả các chủ ghe cũ lại, giới thiệu tôi là chủ ghe mới. Anh tuyên bố với tất cả mọi người:</p>



<p>&#8211; Kể từ hôm nay, khi tôi đến đây, các ông không cần gặp tôi nữa. Tôi chỉ nói chuyện với ông này (chỉ tôi) và nếu có lệnh mới, ông này sẽ nói lại với các ông.</p>



<p>Tôi cũng không hiểu vì sao tôi được chú ý đặc biệt như vậy. Có lẽ vì khả năng sinh ngữ của tôi chăng? Khi nói chuyện với nhau, chúng tôi hiểu nhau rành mạch. Cũng kể từ hôm đó, các ông chủ ghe cũ hay mời tôi ăn sáng, uống cà phê với các ông. Chúng tôi không bị nhìn bằng cặp mất khinh khi nữa. Trong hộp dép Nhật mà anh Cao Ủy mang vào cho tôi hôm trước, chỉ có hai chiếc dép cùng bên “phải” vừa chân tôi. Đành phải lấy mà đi vậy!</p>



<p>Hơn một tuần sau, anh chàng Singapore trở lại. Anh cho tôi biết là bức điện tín đã được gửi đi ngay hôm tôi mới vào bờ, anh đã quên không nói với tôi. Anh cho biết là sáng mai, sẽ có hai ghe được chở vô trại tỵ nạn chính ở Songkhla. Tôi thông báo cho các ghe kia. Mọi người háo hức mong chờ ghe mình được gọi ngày mai. Họ ăn uống tưng bừng tối hôm đó, mặc dù chưa biết ai đi, ai ở. Ghe chúng tôi mới vào trại được hai tuần nên biết thân phận mình, cũng phải đợi vài tháng nữa nên mọi người ăn cơm xong, đi ngủ ngay.</p>



<p>Sáng ra thì đã thấy một đoàn xe đò Thái xếp hàng ngoài trại. Anh chàng Cao Ủy gặp tôi, đưa danh sách hai ghe sẽ lên đường hôm nay. Nhìn vào danh sách, tôi tá hỏa, hô anh em trong ghe của tôi chuẩn bị, sắp xếp đồ đạc, hôm nay lên đường. Một chiếc ghe khác cũng được đi cùng chúng tôi. Các ông chủ ghe kia buồn rười rượi. Tôi gặp và phân bua với các ông là tôi không có ý xin đi trước. Đây hoàn toàn là quyết định của ông Cao Ủy. Hình như không ai muốn tin lời phân bua của tôi. Họ nhìn tôi hằn học.</p>



<p>Đoàn xe chở chúng tôi mất cả ngày đường mới tới Songkhla. Trại cho đón chúng tôi. Một số anh em trật tự trại cầm sẵn gậy gộc, chuẩn bị “chào đón”. Nếu nhận diện được tên việt công nào trà trộn trong số những “thuyền nhân” mới vào trại thì sẽ được chào đón tận tình – như chúng đã từng làm với người Miền Nam khi mới vào “giải phóng”!!!</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/11/5f4F70vd-image003.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="800" height="600" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/11/5f4F70vd-image003.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-75732" style="width:602px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/11/image003-300x225.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2024/11/image003-768x576.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/11/5f4F70vd-image003.jpg?strip=all 800w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Hình trên là tấm hình gia đình chúng tôi do Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc (UN HCR) chụp để làm thủ tục nhập trại và rồi sẽ được đi định cư ở một đệ tam quốc gia. Tác giả, người chồng/cha trong gia đình trông gầy còm, ốm yếu vì vừa trải qua 5 năm trong lao tù cộng sản, trốn trại và vượt biên sang được đến đây. Hình chụp 44 năm trước khi tôi bắt đầu đặt bút viết tập hồi ký này, có khi trông còn già, còn hom nhem hơn bây giờ nữa? Khổ thật!</p>



<p>Lúc chúng tôi vào trại tỵ nạn Songkhla thì đã có khoảng 13 ngàn người Việt, phần đông là “thuyền nhân” và một ít người được chuyển đến từ các trại dành cho người trốn khỏi Việt Nam bằng đường bộ. Sau khi “chiếm” được một khoảng “đất” trên bờ biển làm chỗ ở trong khi chờ đợi được dọn vào trong lều plastic, gia đình chúng tôi sống trong cảnh “màn trời, chiếu đất” mất mấy tuần. Tôi tình nguyện vào giúp việc trong Ban Thông Dịch và Thủ Tục của trại. Tôi gặp lại anh bạn Hàn Bỉnh Quang, thời VNCH là giáo sư dạy Anh Văn trong trường Sinh Ngữ Quân Đội. Anh ân cần giới thiệu tôi với anh trưởng ban Thông Dịch hiện tại. Tôi có vẻ được “trọng dụng” hơn một chút. Chỉ sau một tuần, anh trưởng ban, anh Lãm, được sang Mỹ định cư. Tôi lên thay thế, làm trưởng ban.</p>



<p>Anh bạn Cao Ủy Tỵ Nạn người Singapore thỉnh thoảng cũng có ghé thăm tôi trong trại. Các anh em khác trong ban ngạc nhiên lắm vì một ông Cao Ủy “quyền hành toàn cõi” Đông Nam Á như vậy mà lại quá thân thiết với tôi. Trong chức vụ, tôi được làm việc nhiều với các phái đoàn ngoại quốc đến để cứu xét hồ sơ cho bà con Việt Nam đi tỵ nạn. Các phái đoàn đặc biệt quý mến tôi. Họ đưa giấy tờ chuẩn thuận sẵn, nói tôi lúc nào muốn đến định cư tại quốc gia của họ thì chỉ việc ra Bangkok trình giấy thì sẽ được đi. Họ đại diện các nước Pháp, Canada, và Thụy Điển. Ý tôi vẫn muốn chờ phái đoàn Mỹ nên cứ nhận giấy tờ của họ nhưng chưa muốn quyết định.</p>



<p>Cơ hội làm việc với phái đoàn Mỹ đã đến: Anh chàng trưởng phái đoàn được bà con ở đây gọi là “thằng gà đá” vì hồ sơ xin tỵ nạn ở Mỹ đến tay của anh rất dễ bị bác. Trên hai cánh tay của anh ta có xâm hình hai con gà trống! Tôi chắc anh chàng này là một sĩ quan CIA cao cấp, rất giỏi tiếng Việt, nhưng vẫn hay giả vờ là không biết, vẫn phải nhờ một cô thông dịch viên người Việt đi theo.</p>



<p>Tôi khai lý lịch của tôi bao gồm thời gian phục vụ trong Không Lực VNCH, 5 năm trong ngục tù cộng sản, trốn trại và vượt biên sang được đến đây. Tôi không quên nói về 3 năm tôi làm việc cho cơ quan USAID tại Sài Gòn. Ông trưởng phái đoàn đã phỏng vấn hàng ngàn người trước tôi nên ông cũng “rành sáu câu” nên ông không hỏi thêm. Duy chỉ có chi tiết tôi đã từng làm việc cho USAID thì ông nói ông sẽ về kiểm chứng với Washington D.C., nếu đó là sự thực thì ông sẽ giúp tôi. Hai ngày sau, ông trở lại, tươi cười nói với tôi là ông đã gọi về USAID và họ xác nhận những lời khai của tôi là đúng. Ông đóng mộc chấp thuận cho gia đình chúng tôi vào định cư ở nước Mỹ. Ông nói tôi phải đợi đến đợt sắp tới, khi có đủ số người đi định cư, họ sẽ thuê một máy bay chở chúng tôi đi. Chỉ hai tháng sau, gia đình chúng tôi đã đáp xuống phi trường Oakland.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/11/image005.png?strip=all&fit=204%2C181&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="204" height="181" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/11/image005.png?strip=all&fit=204%2C181" alt="" class="wp-image-75734" style="width:452px;height:auto"/></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Tác giả cùng vợ và hai con trai vừa ra khỏi trại tỵ nạn, bay từ Bangkok đến phi trường Oakland,</em></p>



<p class="has-text-align-center"><em>Tháng Chín, năm 1980</em></p>



<p>Tôi đang lơ mơ nghe nhạc từ máy iPad của tôi. Máy phát ra một bài hát do Trần Thái Hòa, Thế Sơn, và Lam Anh trình bày. Bài hát mang tên “Belle”, tựa đề Việt và lời Việt là “Thằng gù nhà thờ Đức Bà”, phỏng theo tiểu thuyết cùng tên do đại văn hào Victor Hugo, người Pháp, viết năm 1831, đã được quay thành phim với nhiều ấn bản khác nhau. Phim mà tôi được xem ở Sài Gòn (hình như năm 1960) do Gina Lollobrigida và Anthony Quinn thủ hai vai chính.</p>



<p>Thằng Gù Nhà Thờ Đức Bà <em>(Belle)</em></p>



<p><em>Nàng là một nhan sắc tuyệt thế giữa nhân gian</em><em>.</em></p>



<p><em>Nàng là bông hoa mỹ miều hóa công đã ban tặng!</em></p>



<p><em>Ôi! Như cánh chim tuyệt vời giữa xuân ngời rực rỡ khung trời!</em></p>



<p><em>Tôi thấy đang mở rộng dưới chân mình địa ngục tăm tối!</em></p>



<p><em>Hồn tôi đắm đuối với nét khoe tươi gợn trên áo nàng!</em></p>



<p><em>Ngàn muôn giáohuấn, tín ngưỡng, đứctin bỗng dưng phaitàn!</em></p>



<p><em>Ai? Nào ai dám nói đứng trước dung nhan nàng không rung động?</em></p>



<p><em>Là đang nói dối, giấu diếm con tim khát khao vô vọng!</em></p>



<p><em>Tôi ước ao một lần bước chân thật gần đến bên nàng!</em></p>



<p><em>Đan ngón tay vào dòng tóc êm đềm tựa suối thiên đàng!</em></p>



<p>Nghe đến đây, tôi giật mình. Hồn tôi ngước lên, thấy nàng Esméralda, tuyệt thế giai nhân như trong mộng của tôi, đứng trên đồi vẫy tôi lên. Tôi cố leo lên mãi mà không với được tới nàng. Nhìn xuống, tôi thấy anh gù Quasimodo, mà cũng chính là tôi, đang gục chết bên dòng suối. Tôi nghĩ bụng: Không thể được! Không thể được! Tôi còn phải về với gia đình tôi. Hồn tôi cố gắng bay xuống. Tôi chạm vào thân xác tôi. Tôi tỉnh dậy. Đây là cô nàng Esméralda hay là Đức Mẹ đang vẫy gọi tôi? Tôi không rõ.</p>



<p>Chính cảm giác này đã khiến tôi trỗi dậy, ý muốn viết lại tập hồi ký này, kể từng chi tiết trong các phần đời của định mệnh của tôi – đã trở nên mãnh liệt hơn cả những lời khuyến khích của các bạn tôi.</p>



<p>Tôi ngồi xuống, hối hả gõ vào bàn phím&#8230;.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/11/fnUrDHWe-image007.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1021" height="672" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/11/fnUrDHWe-image007.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-75733" style="width:596px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/11/image007-300x197.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2024/11/image007-768x505.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/11/fnUrDHWe-image007.jpg?strip=all 1021w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p><em>Hình chụp (hai năm sau khi được định cư ở Hoa Kỳ) cùng vợ và hai con trai trong lễ tốt nghiệp văn bằng Cao Học chuyên khoa Giáo Dục (M.Ed.) từ viện đại học University of San Francisco, viện đại học danh tiếng nhất thành phố SFO được các linh mục Dòng Tên thành lập năm 1885. Lúc đó, mới sang Mỹ, chưa có bạn nên không có ai đến chúc mừng!</em></p>



<p><strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh/">Kỳ 1</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-2/">Kỳ 2</a></strong> <a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-3/"><strong>Kỳ 3</strong></a> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-4/">Kỳ 4</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-5/">Kỳ 5</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-6/">Kỳ 6</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-7/">Kỳ 7</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-8/">Kỳ 8</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-9/">Kỳ 9</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-10/">Kỳ 10</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-11/">Kỳ 11</a></strong> <a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-12/"><strong>Kỳ 12</strong></a> <a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-13/"><strong>Kỳ 13</strong></a> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-14/">Kỳ 14</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-15/">Kỳ 15</a></strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nguyễn Kỳ Dzương: NHỮNG PHẦN ĐỜI CỦA ĐỊNH MỆNH (15)</title>
		<link>https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-15/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Kỳ Dzương]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 19 Nov 2024 06:08:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[hồi ký cải tạo]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=75590</guid>

					<description><![CDATA[Phần Mười Lăm: “Phần Đời Bị Lưu Đày” Tôi chờ cho mọi người đi hết mới mò ra đường, gặp một anh xe ôm. Tôi hỏi: &#8211; Anh ơi, giờ này anh còn chạy không? Anh xe ôm trả lời: &#8211; Giờ này mới là giờ kiếm tiền của tôi. Anh muốn đi đâu? Tôi [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/08/HOI-KY-CAI-TAO.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1002" height="613" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/08/HOI-KY-CAI-TAO.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-73498" style="width:588px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/08/HOI-KY-CAI-TAO-300x184.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2024/08/HOI-KY-CAI-TAO-768x470.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/08/HOI-KY-CAI-TAO.jpg?strip=all 1002w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p class="has-text-align-center"><strong><em>Phần Mười Lăm: “Phần Đời Bị Lưu Đày”</em></strong></p>



<p>Tôi chờ cho mọi người đi hết mới mò ra đường, gặp một anh xe ôm. Tôi hỏi:</p>



<p>&#8211; Anh ơi, giờ này anh còn chạy không? Anh xe ôm trả lời:</p>



<p>&#8211; Giờ này mới là giờ kiếm tiền của tôi. Anh muốn đi đâu? Tôi trả lời:</p>



<p>&#8211; Tôi muốn về khu Nhà Thờ Ba Chuông, gần cổng xe lửa số sáu. Anh xe ôm nhìn tôi, hỏi lại:</p>



<p>&#8211; Sao bữa nay đi xa dữ vậy? Có việc cần hả? Thôi được, tôi chỉ lấy anh 5 đồng.</p>



<p>Tôi nhảy lên sau xe của anh. Chúng tôi len lỏi qua các khu phố buôn bán nhộn nhịp về ban đêm.&nbsp; Tôi không ngờ là sau năm năm, thành phố Sài Gòn lại có nhiều quán nhậu và quán cà phê đêm như vậy. Về đến khu Nhà Thờ Ba Chuông, anh nói:</p>



<p>&#8211; Lúc nào muốn xuống thì nói tôi nhé. Tôi đâu có thể mường tượng ra được là quán cà phê của người bạn mà vợ tôi nói hôm trước ở đâu. Tôi nói với anh xe ôm:</p>



<p>&#8211; Thôi, hay là anh cho tôi xuống đây cũng được. Chúng tôi chào nhau. Anh phóng xe đi mất.</p>



<p>Vừa đi tôi vừa cố moi trí nhớ xem vợ tôi nói anh bạn ấy tên gì. Chịu.</p>



<p>Tôi chợt nhận ra rằng cả khu phố này, hai bên đường, dễ chừng có đến cả trăm tiệm cà phê mở buổi tối. Bây giờ mà lết từng tiệm, nói ra mật khẩu thì rát cả họng, không biết đã có cơ may tìm ra chưa.</p>



<p>Nghĩ vậy, nhưng tôi vẫn phải đi từng tiệm một. Vào nhà hàng nào, tôi cũng xin được gặp ông chủ. Những quán chỉ có “bà chủ” thì thủ tục xong rất lẹ. Tôi cám ơn, xin lỗi là tôi vào không đúng tiệm. Những tiệm có “ông chủ” thì nhiêu khê hơn.</p>



<p>Ông chủ quán cà phê ra hất hàm hỏi tôi:</p>



<p>&#8211; Xin việc làm hả, không có mướn. Tôi nói mật khẩu, ông xua tay:</p>



<p>&#8211; Đã nói là không mướn mà! Tôi lết từng quán cà phê bên đường, có lẽ đã khuya lắm rồi, vẫn chưa gặp may.</p>



<p>Bây giờ thì chỉ còn một số ít quán mở về khuya. Tôi nhìn thấy một cái quán nhỏ, bước vào, gặp “ông chủ”. Ông hỏi tôi muốn uống gì? Tôi nói: <em>“Tôi là Kỳ, mới ở Long Khánh về”</em>. Ông chủ ôm chầm lấy tôi:</p>



<p>&#8211; Anh về an toàn rồi hả? Ngồi đây, uống đỡ một ly nước chanh, tôi lấy xe đạp chạy sang nhà anh báo cho chị ấy biết.</p>



<p>Sao định mệnh cuối cùng cũng chiều tôi thế này nhỉ? Cám ơn Đức Mẹ.</p>



<p>Chỉ độ nửa tiếng sau, vợ tôi đạp xe đạp theo anh sang tiệm. Chúng tôi nhìn nhau nghẹn ngào. Anh bạn lẳng lặng rút lui để chúng tôi tự nhiên. Cũng may, lúc đó đã khuya lắm rồi nên quán không có khách. Chúng tôi thổn thức nói nhau nghe những nhớ nhung. Một lúc sau vợ tôi nói phải về chuẩn bị cho tôi vài thứ, ngày mai có mà dùng.</p>



<p>Bây giờ anh bạn, tên Thăng, (bây giờ anh ta giới thiệu, tôi mới nhớ ra!) kể với tôi rằng:</p>



<p>&#8211; Lúc tôi sang nhà, chỉ gặp bà ngoại mấy đứa. Bà cụ nói chị đang ở trong nhà thờ cầu nguyện cho anh. Để bà vào nói cho chị ấy nghe. Sau đó thì chị ấy đạp xe sang đây gặp anh đấy. Tôi nắm tay, cám ơn lòng tốt của anh. Anh Thăng cho biết tiệm chỉ có bấy nhiêu thước vuông, vợ chồng con cái anh ngủ trên gác, cũng có diện tích bằng dưới nhà nên anh nói tôi cảm phiền, sau khi đóng của, chịu khó kê mấy cái ghế lại với nhau, lấy chỗ ngủ. Anh cũng chỉ cho tôi mảnh bếp đàng sau, chỉ đủ để một người tắm ban đêm. Anh bảo tôi cứ tự nhiên. Tôi hỏi anh nhà có cửa sau không? Tôi chuồn khi cần. Anh cho biết: nhà chỉ có vậy, không có cửa sau.</p>



<p>Tối hôm đó rồi cũng ổn thỏa. Tôi kê mấy chiếc ghế nằm cũng được. Lâu lắm không nghe tiếng xe cộ chạy trong đêm nên cũng khó ngủ.</p>



<p>Sáng sớm, tôi xin phép chủ quán, đi lanh quanh gần khu đó cho biết. Tôi thấy một xe đẩy, hành nghề ép <em>plastic</em> giấy tờ khổ nhỏ, lấy liền. Tôi đưa tờ giấy “Chứng Minh Nhân Dân” của tôi cho anh chủ xe, nói muốn ép plastic tờ giấy này cho chắc ăn. Anh chủ xe cầm tờ giấy, xem xong, hỏi tôi:</p>



<p>&#8211; Anh mua tờ giấy này ở đâu vậy?</p>



<p>Tôi hỏi lại:</p>



<p>&#8211; Sao anh lại hỏi tôi mua ở đâu? Giấy thật mà?</p>



<p>Anh chủ xe nói:</p>



<p>&#8211; Thời buổi bây giờ người ta dùng giấy tờ giả, tên giả nhiều lắm. Anh đừng lo. Tôi không báo cáo anh đâu nhưng tờ giấy này làm giả vụng về quá sức. Anh coi nè: hàng số đỏ ở trên góc phải, đóng vụng về quá, không thẳng hàng. Công an mà nó nhìn vào thì biết ngay là giấy chứng minh giả. Anh sẽ bị lôi thôi to. Tôi toát mồ hôi, chưa biết nói sao thì anh chủ gian hàng lại nói:</p>



<p>&#8211; Nếu anh cần một bộ giấy tờ giả mà làm thật “xịn” thì tôi chỉ chỗ cho, tính rẻ thôi. Tôi lúng túng nói với anh:</p>



<p>&#8211; Nếu vậy thì tôi chờ vợ tôi tiếp tế tiền đã rồi mới có thể chi nổi. Bây giờ, trong túi tôi chỉ có mấy đồng bạc lẻ. Anh chủ xe bình thản nói:</p>



<p>&#8211; Việc này tôi quen rồi, đừng ngại. Lúc nào có tiền thì ra đây tìm tôi. Trong khi chờ đợi thì hủy tờ giấy này đi. Thà làm bộ nói để quên ở nhà, câu giờ rồi hãy hay, còn hơn là trình tờ giấy này ra thì bị “tóm” ngay.</p>



<p>Tôi thẫn thờ trở về quán cà phê của anh Thăng, nói cho anh biết cả sự việc. Anh nói, như vậy thì tay này có chỗ làm thật. Phải tin hắn thôi. Chút xíu nữa, nếu chị chưa sang đây thì tôi chạy sang nói hộ cho.</p>



<p>Sáng hôm đó, dĩ nhiên là vợ tôi sốt ruột lắm, lo cho hai đứa con xong là đạp xe sang bên quán cà phê gặp tôi ngay. Tôi chưa kịp nói với vợ tôi về chuyện giấy tờ giả thì vợ tôi kéo tay tôi đi ngay.</p>



<p>Chúng tôi chở nhau trên chiếc xe đạp. Vợ tôi nói là sang nhà anh này, anh ấy hứa sẽ giúp chỗ tạm trú, sẽ lo cho giấy tờ giả trong khi chờ đợi sắp xếp cho xuống ghe, đi vượt biển. Lúc ấy, tôi mới biết là vợ tôi đã “nạp” cho anh này năm cây vàng. Theo anh ấy hứa thì với 5 cây vàng, anh ấy sẽ lo cho tôi và đứa con trai lớn của tôi đi trước. Anh chàng này tên là “Anh Thìn”. Anh ấy nổi tiếng là đã đưa được nhiều người vượt biên an toàn. Chỉ cần Anh Thìn “vui lòng” cầm tiền đặt cọc là gia đình đã yên trí rồi.</p>



<p>Vợ chồng chúng tôi đến nhà anh lúc khoảng hơn 12 giờ trưa. Người giúp việc nói là “cô cậu” còn đang ngủ trên lầu, yêu cầu vợ chồng chúng tôi chịu khó đợi. Chúng tôi sốt ruột ngồi đợi. Khoảng hai tiếng sau, “cậu chủ” mới đủng đỉnh đi xuống. Vợ tôi gặp được cậu mừng lắm. Giới thiệu đây là chồng tôi mới về tới hôm qua, xin anh sắp xếp chỗ ở giúp. “Anh Thìn” thản nhiên nói:</p>



<p>&#8211; Rất tiếc là “đường giây” của tôi đang bị động, những việc tôi hứa với chị hôm trước, bây giờ tạm hoãn đã. Vài hôm sau đến gặp tôi, sẽ tính tiếp. Máu trong người tôi sôi lên. Nghe như vậy là biết “tiền mất, tật mang” rồi. Mình là con cá, vào rọ của người ta rồi, mà thân phận của tôi bây giờ lại đang ở vào thế kẹt, chịu mất toi thôi. Tôi thầm nghĩ, ngày xưa, thái độ hách dịch của mày với một sĩ quan Quân Cảnh, quyền hành một cõi như tao, tao tát cho vỡ mặt. Bây giờ thì “ngậm đắng nuốt cay” vậy. Năm cây vàng bốc hơi ngay từ hôm đó. (Hồi đó, 5 cây vàng là cả một gia tài cho một gia đình rồi.) Những lần sau, xin hẹn gặp, bao giờ cũng bị từ chối! Bây giờ vợ chồng chúng tôi đều ở thế kẹt. Tiền (và vàng) thì không còn. Lấy đâu ra mà đi vượt biên? Chả lẽ chỉ đợi đến ngày bị bắt lại?</p>



<p>Chỗ ở (quán cà phê) của vợ chồng anh Thăng không thể là nơi trú ngụ an toàn. Mỗi ngày có cả chục người khách khác nhau ra vào. Buổi tối thì lại kê mấy cái ghế với nhau mà ngủ. Các phương tiện vệ sinh khác cũng quá giới hạn. Tôi phải tính cách khác.</p>



<p>Tôi nhớ lại hình ảnh của bến xe đò. Mỗi đêm, hàng nghìn người mướn chiếu ngủ la liệt trên lề đường. (Trong phim Doctor Zhivago cũng vậy, hàng ngàn người chờ đợi ở ga xe lửa mỗi đêm.) Tôi bàn với vợ tôi, hay là để tôi trà trộn vào dòng người đi buôn bán, ngày thì la cà cho hết thì giờ. Đêm cứ ra bến xe đò lục tỉnh, mướn một cái chiếu ngủ qua đêm rồi tính tiếp.</p>



<p>Từ đó, tôi trở thành một người vô gia cư, ban ngày thì la cà, tìm cách đi vệ sinh “chùa” ở các hàng, quán. Đến gần tối thì trở về bến xe đò. Sở dĩ tôi chọn bến xe đò là vì với số người đi, lại mỗi ngày đông như vậy, không ai thèm xét giấy tờ của ai. Một cái chiếu không đủ dài cho tôi duỗi chân cũng mất hai mươi xu. Tôi dùng hai chiếc dép cao su làm gối, không sợ bị lấy mất. Khoảng ba giờ sáng là người ta đã xô lấn, có khi đạp cả lên thân thể mình mà họ cũng không thèm để ý. Họ giữ chỗ để lát nữa mua vé xe đi lục tỉnh! Một lon gô nước để đánh răng, rửa mặt, cũng mất hai mươi xu nữa. Một ngày vô vị như vậy vẫn cứ trôi qua. Được cái là vỉa hè Sài Gòn thân thương hồi đó “khai” không thể tả nổi! Riết rồi cũng phải quen thôi. Thỉnh thoảng vợ tôi cũng đạp xe lang thang ra bến xe tìm tôi, tiếp tế cho ít tiền. Vợ chồng lại rủ nhau đi ăn cơm trưa. Một đĩa cơm lạp xưởng là rẻ nhất, chỗ nào cũng có bán, giá chỉ có một đồng.</p>



<p>Vợ tôi kể là mẹ tôi phát giác ra là cái giấy căn cước giả mà vợ tôi mang lên trại cho tôi làm quá dở, quá lộ liễu. Tôi mà mang cái giấy đó đi đường thì bị bắt sớm. (Cũng may là có lẽ nhờ Đức Mẹ che chở, hôm tôi trốn về từ Phước Long, đi quá giang xe bộ đội mới thoát được, chứ nếu mua vé xe đò, tự đi về thì đã bị tóm lại ngay từ hôm đó). Nghĩ như vậy cho nên mẹ tôi lên trại, dự định làm bộ thăm nuôi, đưa cho tôi căn cước mới. Khi mẹ tôi lên đến trại thì tôi đã đi trốn được hai hôm. Trại giữ mẹ tôi lại, đổ tội là mẹ tôi cố ý lên đưa tôi về. Mẹ tôi làm bộ khóc bù lu bù loa, nói:</p>



<p>&#8211; Tôi giao con tôi cho Cách Mạng giáo huấn nó, mong nó trở thành người tốt, mau chóng trở về với gia đình. Bây giờ, trại để cho nó trốn, tôi bắt đền Cách Mạng!</p>



<p>Vừa nói, bà cụ vừa làm bộ đưa cho anh vệ binh đứng gần mấy chục bạc, nói:</p>



<p>&#8211; Tôi không biết ai, bây giờ có chú, tôi gửi chú mấy chục này, khi nào con tôi nó trở về thì nhờ chú đưa cho nó hộ tôi. Tôi cám ơn chú. Anh vệ binh cầm được số tiền lớn như vậy thì mừng rơn, làm bộ quát tháo:</p>



<p>&#8211; Bà già này lắm chuyện quá. Thôi bà đón xe đò mà đi về đi. Chúng tôi không chịu trách nhiệm về con bà.</p>



<p>Mẹ tôi thoát ra được khỏi trại, ba chân bốn cẳng chạy ra đường đón xe về Sài Gòn ngay.</p>



<p>Làm cái thân vô gia cư này được vài hôm thì vợ tôi dẫn bố tôi đến tìm tôi. Bố tôi nhìn thấy thằng con ngày xưa “cậu cả” như thế mà bây giờ đang sống kiếp lưu đày như thế này thì xót quá. Bố tôi nói:</p>



<p>&#8211; Thôi con cầm cái giấy chứng minh nhân dân này đỡ, hôm nay đi theo bố về Gia Kiệm, bố đã nói với một người quen ở đó, họ chịu cho con ở nhờ.</p>



<p>Vợ tôi lại nghẹn ngào chia tay tôi. Bây giờ ở gần thế này mà còn khó gặp, mai kia ở mãi tận Gia Kiệm thì làm sao? Tuy vậy, vợ tôi tin ở bố tôi. Biết đâu chỗ này là nơi trú ngụ tốt cho tôi trong khi chờ đợi cơ hội mới.</p>



<p>Bố con tôi lên xe đò về Gia Kiệm. Người quen ở đây thực ra đã cùng sống trong một xóm với gia đình chúng tôi ở Ngã Tư Bảy Hiền. Anh ấy tên là anh Niệm. Anh Niệm gặp tôi mừng lắm. Anh nói:</p>



<p>&#8211; Hôm trước nghe bác nói muốn gửi thằng con trai trốn từ trại cải tạo về, tôi không nhớ là ai. Hóa ra là cậu. Thế thì vui quá rồi, cứ ở đây với gia đình chúng tôi. Từ hôm ấy, tôi có chỗ ăn, chỗ ở đàng hoàng. Từ hôm đó, tôi nghiệm lại những biến chuyển mới nhất trong đời tôi gần đây, tôi nghĩ, có thể đây là ơn phước của Đức Mẹ ban cho tôi thực chăng?</p>



<p>Tự nhiên, tôi được ăn trắng mặc trơn. Các cháu con anh Niệm cũng có vẻ quý mến tôi lắm. Nhiều buổi sáng, tôi muốn phụ chị Niệm thái rau cho heo ăn, hoặc làm một vài công việc nhẹ, chị ấy nhất định không cho. Tôi mặc một bộ quần áo “bà ba” vải đen, tay cầm cuốn sách kinh, (tướng mạo trông “thư sinh” ra phết), đi tới đi lui trong nhà, cố đọc cuốn sách kinh để có thêm kiến thức về đạo Thiên Chúa Giáo. Thỉnh thoảng, mấy bà hàng xóm sang chơi, trông thấy tôi, các bà chào:</p>



<p>&#8211; Chào cha ạ. Cha ở đâu về nghỉ vậy? Tôi vội trả lời:</p>



<p>&#8211; Ấy, các bác đừng gọi cháu là cha. Cháu đang học kinh kệ chứ có phải là cha ở đâu về đâu!</p>



<p>Hình như càng cải chính thì các bà càng không muốn tin. Đi ra, đi vào vẫn gọi tôi bằng “cha”. Thỉnh thoảng, các bà lại sai con cháu đưa sang cho tôi một đĩa xôi, hay vài quả chuối, có khi cả một cái đùi gà. Mãi rồi cũng quen, không muốn cải chính nữa. Anh Niệm cũng nói:</p>



<p>&#8211; Hay là cậu không cần cải chính nữa. Các bà có nói với tôi là các bà biết là “cha” mới chịu chức “chui” ở địa phận nào đó, về đây nghỉ, đợi đi nhận “xứ”. Cứ để các bà nghĩ vậy, có khi lại tốt cho cậu. Nhỡ công an phường mở cuộc khám xét, các bà sẽ báo ngay để cậu liệu mà “chuồn”.</p>



<p>Tôi ở với gia đình anh Niệm được độ hai tuần. Anh Niệm cho con gái thứ nhì của anh đi lấy chồng. Trong đám cưới, một người em ruột của anh Niệm về dự đám cưới cháu. Hóa ra quả đất tròn thật. Người em này là bạn chơi với tôi lúc anh ấy ở nhà anh Niệm trong xóm tôi. Chúng tôi nhận ra nhau, mừng mừng tủi tủi. Bạn này tên Phạm Văn Đường, tốt nghiệp cao học Luật Khoa Sài Gòn, hồi xưa cũng có làm cho USAID như tôi, hiện đang làm trưởng phòng phòng nhân viên của hãng Nike ở Sài Gòn. Anh Đường nói với tôi:</p>



<p>&#8211; Ở đây coi vậy chứ cũng không chắc đã an toàn cho ông đâu. Hay là về nhà tôi ở, Cư Xá Thanh Đa, tôi quen với tất cả công an phường, hy vọng tôi đỡ đần cho ông được.</p>



<p>Tôi lại chào anh chị Niệm, theo bạn Đường về Thanh Đa. Lại được ơn Đức Mẹ che chở? Về Thanh Đa, vừa yên trí hơn, mà nhất là được gần vợ con, gia đình hơn. Nhà anh chị Đường ở lầu bốn trong cư xá. Hai căn nhà hai bên phải, trái, là hai bà chị ruột của vợ anh Đường. Hai bà nói:</p>



<p>&#8211; Chú cứ ở đây, đừng lo. Đường nó quen công an phường ở đây rồi. Lỡ bất thần họ đi xét nhà thì chúng tôi thò đầu sang hành lang phía sau báo động, chú cũng trốn kịp.</p>



<p>Gia đình chúng tôi thỉnh thoảng cũng thay nhau đến thăm chúng tôi. Định mệnh của tôi hóa ra cũng không quá khắt khe với tôi.</p>



<p>Một hôm, có anh công an phường đến tìm anh Đường, thấy tôi, anh ta cũng không hỏi gì. Tôi lánh mặt vào phía trong nhà. Lúc về, anh Đường nói tôi:</p>



<p>&#8211; Họ muốn bảo lãnh mấy người quen bị công an Thành bắt. Họ muốn nhờ tôi tìm người làm hộ con dấu giả. Tôi muốn xem mẫu con dấu. Anh Đường đưa tôi tờ giấy có đóng con mộc thật. Tôi xem xong, hỏi:</p>



<p>&#8211; Những việc như thế này thì họ trả mình bao nhiêu tiền?</p>



<p>Anh Đường bảo anh chưa biết. Anh hỏi tôi:</p>



<p>&#8211; Thế ông định làm gì? Tôi nhìn qua con dấu, tôi biết là tôi có thể làm được. Với tài vẽ tỷ mỉ của tôi, tôi bảo đảm là không ai có thể biết đây là dấu giả.</p>



<p>Anh Đường đạp xe đi một lúc, trở về nói với tôi:</p>



<p>Công An họ muốn trả hai trăm đồng một con dấu. Ông dám làm không? Tôi nhận lời liền.</p>



<p>Không ai có thể ngờ là tôi dám nhận việc này. Nhiều người cứ tưởng là tôi sẽ dùng củ khoai, khắc con dấu giả vào đấy. Nhưng không, tôi có một phương cách “thần kỳ” hơn:</p>



<p>Tôi dùng một tờ <em>stancil</em>, loại giấy lúc trước, mình hay dùng để quay <em>ronéo</em>. Tôi thức khuya, lúc hàng xóm đã đi ngủ mới bắt tay vào việc. Lầu bốn, nhà của vợ chồng Đường nóng như thiêu. Hai vợ chồng thay phiên nhau đứng quạt cho tôi làm việc. Tôi nhìn con dấu “thật” để vẽ con dấu “giả”. Tôi cố gắng làm thật tỷ mỉ. Mọi chi tiết đều đúng y như “đúc”. Tôi mua một hộp <em>tampon</em> mực đỏ về, đặt “con dấu” <em>stencil</em> lên mặt mực đỏ của <em>tampon</em>, đặt một tờ giấy nháp lên, lấy lòng bàn tay ấn nhẹ, mực đỏ từ dưới thấm lên trên, qua nét vẽ của tôi ở tờ <em>stencil</em>. Một cái triện đỏ đã được in lên tờ giấy nháp, trông y như thật! Bạn Đường của tôi phục “sát đất”. Ngày hôm sau, Đường lại làm thân con thoi, đem mẫu dấu giả đi cho công an xem. Họ chịu quá, đặt tiền ngay cho tôi thực hiện công việc “phạm pháp” này. Một thằng trốn tù, bây giờ lại tiếp tay với công an, bán giấy tờ giả cho người muốn mua. Đây cũng là một phần của định mệnh chăng?</p>



<p>Từ hôm ấy, vợ của anh Đường không phải bưng thúng xôi ra đầu hẻm bán nữa. Chúng tôi có thể mua những món ăn ưng ý hơn. Tôi cũng làm cho tôi một bộ giấy tờ giả, dùng tên giả là Nguyễn Minh Kỳ, tên của hai đứa con trai của tôi. Trong giấy, tôi là cán bộ nhà nước, chức vụ trung úy. Bây giờ đi ra đường, không sợ thằng tây nào!</p>



<p>Vợ tôi tìm đến gặp tôi ở nhà anh Đường, cho tôi biết là mới gặp được mẹ một người bạn, chồng chị ấy cũng đang ở trong trại cải tạo. Bà cụ nêu ý kiến, hay là để tôi có thêm chỗ ẩn náu, thỉnh thoảng tôi cứ về nhà ông bà để thay đổi chỗ ở cho an toàn. Tôi lại có thêm chỗ ở mới. Tôi về gặp ông bà. Ông bà rất vui, lại còn cho tôi mượn chiếc xe đạp để có cái mà đi lại. Nhà ông bà ở đường Lạc Long Quân, gần Ngã Tư Bảy Hiền. Thỉnh thoảng, tôi đạp xe từ nhà nọ sang nhà kia, từ cư xá Thanh Đa về Ngã Tư Bảy Hiền, cũng “bở hơi tai”. Bà cụ biết tôi có ý muốn rửa tội, theo đạo Công Giáo, trước khi đi vượt biên, có nơi mà gửi gấm linh hồn. Vợ chồng cùng một tôn giáo cũng tiện hơn. Bà hay giúp đỡ giáo xứ gần nhà cho nên quen thân với Cha Sở. Bà nói, “để tao lo cho nó”.</p>



<p>Ông bà nhận làm cha mẹ linh hướng của tôi, đỡ đầu cho tôi rửa tội, theo đạo.</p>



<p>Một lễ cưới “chạy làng” được tổ chức âm thầm trong nhà thờ của họ Đạo. Cha Sở làm chủ tế. Thầy giúp lễ đánh đàn “organ” cho lễ cưới. Khách được mời rất giới hạn, chỉ có mẹ vợ tôi cùng bà chị ruột. Bên tôi thì cũng chỉ có bố mẹ tôi tham dự. Chúng tôi, trong bộ quần áo đơn giản, khoác tay nhau đi lên cung Thánh trong bài “Oui, Devant Dieu”</p>



<p><em>Oui devant dieu devant les hommes</em><em>.</em><em> Oui pour mes jours je te les donne</em><em>.</em><em> Et plus que tout mieux que personne</em><em>.</em><em> </em><em>Je t&#8217;aimerai toujours</em><em>.</em><em> </em><em>Je t&#8217;aimerai toujours</em><em>&#8230;.</em><em> Jusqu&#8217;à mon dernier jour</em><em>.</em></p>



<p>Tôi mang cái tội <em>đa sầu, đa cảm</em> sẵn nên cảm động quá sức! Đang bị tù khổ sai, biệt xứ, mà được nắm tay người vợ thủy chung, chính thức kết hôn trước bàn thờ Thiên Chúa.</p>



<p>Lúc Cha xứ bảo chúng tôi cầm tay nhau, trao đổi câu thề hứa:</p>



<p><em>Tôi Dz&#8230; nhận em H&#8230;làm vợ, và hứa sẽ giữ long chung thủy với em, khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, &nbsp;khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khỏe, để yêu thương và tôn trọng em mọi ngày suốt đờ itôi.</em></p>



<p><em>Tôi H&#8230; nhận anh Dz&#8230; làm chồng, và hứa sẽ giữ lòng chung thủy với anh, khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khỏe, để yêu thương và tôn trọng anh mọi ngày suốt đời tôi.</em></p>



<p>Tôi đã nghẹn ngào, nước mắt cứ tuôn rơi, không nói nổi nên lời.</p>



<p>Sau tiệc cưới, cả hai gia đình chúng tôi và Cha Xứ, thầy giúp lễ, kéo nhau về nhà cha mẹ đỡ đầu của tôi, ngả một bữa tiệc vui nhỏ. Cha Xứ nói với tôi:</p>



<p>&#8211; Tớ nói thật với cậu: Hôm nay, cậu mà có mệnh hệ gì thì cậu đi về Thiên Đường thẳng rẵng. Cậu đã ở trong luyện ngục 5 năm rồi, bây giờ chắc đã được thanh tẩy sạch các tội lỗi. Trong một ngày mà cậu chịu 4 bí tích Công Giáo: Bí tích Rửa Tội, Chịu Mình Thánh Chúa, Thêm Sức, và Hôn Phối, còn muốn gì nữa?</p>



<p>Quả thực, suốt năm năm bị đày đọa trong cái địa ngục trần gian cộng sản, tôi đã có nhiều dịp suy ngẫm lại quá khứ của mình. Có những điều mình không nên làm – mà mình đã làm. Có những điều mà mình nên làm – thì mình lại chưa làm. Tôi rất ân hận với những điều đó. Tôi tự dằn vặt mình với những thiếu sót trong quá khứ, với cha mẹ, vợ con, anh em bạn bè và nhiều điều đáng tiếc trong khi thi hành nhiệm vụ của một người trai thời chiến đang phục vụ trong quân ngũ.</p>



<p>Những ngày sau đó, vào các Chúa Nhật, tôi thức dậy thật sớm, đi xem lễ thứ nhất, lúc 5 giờ sáng. Tôi luôn luôn quỳ trên cùng để không ai nhìn thấy mặt.</p>



<p>Một buổi sáng, sau lễ, tôi nán lại, đợi mọi người ra về hết, mới làm dấu, đứng dậy, ra về. Một cô bé chừng 8 tuổi, lên hàng ghế, khều vai tôi, nói nhỏ:</p>



<p>&#8211; Bác ra phía sau nhà thờ, ba con đang đợi bác ở ngoài đó. Tôi nghĩ bụng: không lẽ đây là giây phút Tự Do sau cùng của tôi? Công an đã có mặt ở ngoài đó? Tôi nói với cháu bé:</p>



<p>&#8211; Ừ, con cứ ra ngoài trước, chút xíu bác sẽ ra sau.</p>



<p>Chậm chậm lê bước nặng trĩu ra ngoài nhà thờ, một anh chàng trông rất quen thuộc, nhảy lại, nắm tay tôi, kéo tôi về nhà anh, cũng gần nhà thờ.</p>



<p>Câu đầu tiên anh ta hỏi là:</p>



<p>&#8211; Ngày xưa, ở Biên Hòa, ông đã có vợ rồi, sao bây giờ lại cưới “bà” khác?</p>



<p>Tôi nhận ra, đây là anh Toàn, thượng sĩ, phòng Văn Thư của chúng tôi trong phi trường.</p>



<p>Anh Toàn cho biết bây giờ, anh đang đạp xe xích lô sống qua ngày. Vợ anh thì buôn bán lặt vặt ở chợ Tân Bình. Tôi vui cười trả lời:</p>



<p>&#8211; Vẫn bà ấy đấy thôi. Ngày xưa, tôi được phép chuẩn của Tòa Giám Mục Sài Gòn, cho đạo ai nấy giữ, bây giờ mới làm phép hôn phối thực thụ. Anh Toàn thở phào. Anh cho biết là thấy có người lạ mặt đi lễ, anh đã quan sát tôi từ lâu. Tôi cũng thú thực là chúng tôi đang tìm đường vượt biên. Anh đãi tôi một chầu bánh cuốn bà hàng xóm bán. Xong anh bắt tay tôi, chúc người bổn đạo mới được nhiều ơn phước của Chúa và Mẹ Maria.</p>



<p>Trong khi đó thì bà xã tôi vẫn tìm đường giây đi vượt biên. Tôi được một cái hẹn gặp một ông chủ ghe, cũng có thành tích giúp được nhiều chuyến vượt biên êm thắm. Ông chủ ghe là một người dân xứ Gò Công, có một bộ “răng dzàng sáng chói”. Ông gặp tôi thì có vẻ chịu ngay. Tôi cũng thật thà nói với ông: ngày xưa, tôi là một sĩ quan Quân Cảnh, “võ nghệ đầy mình”! Ông nói:</p>



<p>&#8211; Nếu vậy thì cho chú làm “thuyền trưởng”, trách nhiệm an ninh trật tự trên ghe. Chú đi miễn phí, nhưng thím và hai đứa nhỏ thì 6 “cây”. Giá đặc biệt cho chú đó. Không biết làm cách nào mà vợ tôi có thể “xoay” được 6 cây nhưng tôi vẫn nhận lời bừa.</p>



<p>Ông muốn ngay hôm đó, tôi phải đi theo ông về Cà Mau cho quen đường và ông sẽ giới thiệu với những người trưởng toán khác. Vợ tôi đạp xe về, còn tôi thì theo ông ra bến xe đò.</p>



<p>Tôi theo ông chủ ghe xuống Cà Mau, quan sát địa hình. Sau đó, ông đưa tôi một ít tiền, nói tôi về bến Ninh Kiều, Cần Thơ, gặp mấy người nữa cho ông. Vào thời điểm đó, lúc nào tôi cũng mặc một cái áo màu xanh lá cây của bộ đội, một chiếc quần tây “bèo”, chân đi đôi dép cao su đen, để qua mắt “bàn dân thiên hạ”. (Cũng may là tôi vẫn giữ giọng Bắc xưa nay, bây giờ chỉ phải học thêm mấy “từ” của các ông 75 nữa, dễ ẹc).</p>



<p>Tôi về Cần Thơ, ra bến Ninh Kiều, theo sự chỉ dẫn của ông chủ ghe, tìm gặp mấy người trưởng toán kia không khó. Mỗi người trưởng toán chúng tôi có nhiệm vụ móc nối và đưa đón khách (đã đóng tiền) của ông chủ ghe. Theo chương trình, chúng tôi sẽ đi từng ghe nhỏ, trên ghe là toán khách của mình. Mỗi ghe sẽ giả vờ đi bán trái cây, rau quả, đi trong sông, từ bến Ninh Kiều ra tới Cà Mau. Nếu đúng dự trù thì sẽ được đón bởi các ghe “taxi”, hướng dẫn ra ngoài cửa biển, leo lên ghe lớn đã đợi sẵn ở ngoài đó, và nổ máy, ra khơi.</p>



<p>Chương trình nghe đơn giản và dễ dàng như vậy, nhưng dĩ nhiên không phải vậy! Nếu dễ dàng và đơn giản như vậy thì “cột đèn” nó cũng đi hết rồi!</p>



<p>Từ hôm đó, ông chủ không cho tôi về Sài Gòn nữa. Ông bắt tôi phải ở Cần Thơ để làm trung gian cho ông. Khi ông cần nhắn ai hoặc cần làm việc gì thì tôi sẽ là người đảm nhiệm.</p>



<p>Hai lần tôi thoát công an địa phương trong gang tấc. Một lần ở Cần Thơ và một lần ở Cà Mau. Cũng từ hôm đó, tôi không được về Sài Gòn, phải đi tới, đi lui Cà Mau, làm việc với ông chủ ghe. Tôi không được gặp mặt bố mẹ và các em tôi. Tôi cũng không có cơ hội chào tạm biệt vợ chồng anh Đường.</p>



<p>Tôi cũng phải tạm dừng ở đây để nói lên lòng chân thành biết ơn của tôi đối với anh chị Niệm, vợ chồng bạn Phạm Văn Đường, anh Thăng, cha mẹ đỡ đầu của tôi, Cha Xứ, thầy giúp lễ, cha mẹ, họ hàng hai gia đình, và nhiều ân nhân “không biết tên” nữa đã âm thầm an ủi, giúp đỡ tôi có thêm can đảm, nghị lực, để vượt qua những chướng ngại trong cuộc đời bị lưu đày trên chính xứ sở của mình.</p>



<p>(Còn Tiếp)</p>



<p><strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh/">Kỳ 1</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-2/">Kỳ 2</a></strong> <a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-3/"><strong>Kỳ 3</strong></a> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-4/">Kỳ 4</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-5/">Kỳ 5</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-6/">Kỳ 6</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-7/">Kỳ 7</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-8/">Kỳ 8</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-9/">Kỳ 9</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-10/">Kỳ 10</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-11/">Kỳ 11</a></strong> <a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-12/"><strong>Kỳ 12</strong></a> <a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-13/"><strong>Kỳ 13</strong></a> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-14/">Kỳ 14</a></strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nguyễn Kỳ Dzương: NHỮNG PHẦN ĐỜI CỦA ĐỊNH MỆNH (14)</title>
		<link>https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-14/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Kỳ Dzương]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 12 Nov 2024 06:09:20 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[hồi ký cải tạo]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=75491</guid>

					<description><![CDATA[Phần Mười Sáu: “Đã Bước Chân Đi Chẳng Trở Về” (2) Đang lơ tơ mơ, vừa leo xuống triền dốc, vừa suy nghĩ miên man, bất thần, tôi trượt chân, cả thân thể cứ thế mà “trôi” xuống dốc. Tôi cố giang hai chân ra, tìm cách ngáng vào vật gì trên đường để có [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/08/HOI-KY-CAI-TAO.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1002" height="613" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/08/HOI-KY-CAI-TAO.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-73498" style="width:548px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/08/HOI-KY-CAI-TAO-300x184.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2024/08/HOI-KY-CAI-TAO-768x470.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/08/HOI-KY-CAI-TAO.jpg?strip=all 1002w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><strong><em>Phần Mười Sáu: “Đã Bước Chân Đi Chẳng Trở Về” (2</em>)</strong></p>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Đang lơ tơ mơ, vừa leo xuống triền dốc, vừa suy nghĩ miên man, bất thần, tôi trượt chân, cả thân thể cứ thế mà “trôi” xuống dốc. Tôi cố giang hai chân ra, tìm cách ngáng vào vật gì trên đường để có thể dừng lại được. Càng như vậy thì thân thể tôi càng quay, không cách gì gượng được. Thân thể tôi trôi như vậy bao lâu tôi không nhớ rõ.</p>



<p>Tôi mơ màng nghe như có tiếng cười nói. Khi mở mắt ra, tôi thấy một ngôi nhà thờ, có người lố nhố đứng trong đó. Còn có người vẫy tay gọi tôi vào. Tôi cố đứng lên, đi về phía nhà thờ. Tự nhiên, tôi thấy dáng một người phụ nữ mặc áo dài trắng. Trông dáng người rất quen. Tôi nhìn kỹ thì thấy áo dài trắng đang chuyển dần thành màu xanh. Tôi nhớ lại, đúng đây là hình ảnh Đức Mẹ mà các bạn của tôi: Linh, Uyển, Vang, Thái và anh Ninh Thế Đồng trong trại đã chỉ cho tôi xem khi dạy đức tin Công Giáo cho tôi. Tôi cầu xin:</p>



<p>&#8211; Phải Đức Mẹ đây không? Xin Mẹ cứu giúp con ra khỏi chốn nguy hiểm này. Đó là lần đầu tiên tôi xin ơn Đức Mẹ.</p>



<p>Bóng dáng người phụ nữ áo xanh cứ lui dần lên triền dốc. Tôi vừa bò, vừa cố leo lên để đến gần được người phụ nữ đó. Người ấy lấy tay chỉ về một hướng. Tôi không biết đó là ám chỉ gì. Trong khi lơ lửng trên sườn đồi như vậy, tôi nhìn xuống thì thấy rõ ràng thân thể tôi đang gục ngã bên bờ suối. Tôi nhủ thầm: “Không thể được. Không thể được. Tôi còn phải về với gia đình tôi. Tôi không chết ở đây như thế này được”. Tôi cố tìm cách xuống gần thân thể gục ngã dưới kia. Mọi chuyện sao khó vậy? Có một quãng không xa mà mãi tôi không xuống tới được. Cuối cùng, tôi chạm được vào thân xác tôi. Tôi còn đang mơ màng, không biết chuyện nãy giờ là sự thực hay chỉ là một cơn ác mộng.</p>



<p>Có một bàn tay chạm vào ngực tôi. Tôi hất bàn tayra, choàng dậy. Tôi nghe người đó nói:</p>



<p>&#8211; Người này chưa chết. Thân thể còn đang nóng.</p>



<p>Đó là một người đàn ông. Ông hỏi tôi:</p>



<p>&#8211; Cậu đi đâu mà té đập đầu vào thân cây, bất tỉnh nãy giờ, tôi cố lay cậu dậy đấy.</p>



<p>Tôi ngồi dậy, hỏi ông:</p>



<p>&#8211; Những người khác đâu hết rồi?</p>



<p>Ông trả lời:</p>



<p>&#8211; Nãy giờ chỉ có mình tôi ở đây với cậu. Con bé cháu tôi nó về trước rồi. Tôi nhìn quanh, tìm ngôi nhà thờ không thấy đâu cả. Tôi hỏi ông:</p>



<p>&#8211; Ngôi nhà thờ hồi nãy tôi thấy đâu rồi? Người đàn ông mỉm cười:</p>



<p>&#8211; Đúng là cậu mê man nhìn thấy ảo ảnh thôi. Ở đây làm gì có nhà thờ nào.</p>



<p>Tôi kể cho ông nghe những gì tôi nhìn thấy trong “mơ”. Có lẽ ông cũng là một người Công Giáo nên ông có vẻ tin tôi lắm. Ông nói:</p>



<p>&#8211; Vậy là Đức Mẹ cứu cậu thật rồi đấy. Cậu vô trong rừng này làm gì vậy?</p>



<p>Tôi trả lời:</p>



<p>&#8211; Tôi vào đây kiếm củi với mấy anh bạn, bất ngờ lạc nhau. Chúng tôi có hẹn, nhỡ có lạc thì ra xã Đức Hạnh, gặp nhau ở quán bà Lài bán bánh cuốn.</p>



<p>Người đàn ông nói:</p>



<p>&#8211; Tôi cũng ở xã Đức Hạnh, nhưng ở đầu bên này, xóm bà Lài ở đầu bên kia, đi bộ mất khoảng nửa tiếng. Nếu cậu muốn thì đi theo tôi về Đức Hạnh. Người đàn ông không có vẻ nguy hiểm gì nên tôi theo đi ông. Bây giờ thì hoàn toàn đi tay không. Bi đông nước văng đâu mất. Bịch cơm khô và con dao rựa cũng văng đâu mất. Như thế cũng hay, đỡ sợ lộ tông tích.</p>



<p>Về tới xã Đức Hạnh, ông mời tôi vào nhà ông chơi, uống ly nước trà rồi ông chỉ đường cho đi. Vào tới nhà, tôi thấy có bàn thờ Chúa và Mẹ Maria. Tôi đang quan sát thì giật mình, thấy hình ảnh của người phụ nữ khuôn mặt khả ái mặc áo dài xanh hồi nãy. Tôi hỏi cô:</p>



<p>&#8211; Có phải hồi nãy cô đúng trên đồi chỗ tôi ngã không? Cô trả lời:</p>



<p>&#8211; Hồi nãy, anh làm em sợ quá. Trông anh như người mất hồn, nhất định muốn đến gần em. Mắt anh mở to nhưng hình như không nhìn thấy gì.</p>



<p>Tôi kể lại giấc mơ hồi nãy cho chú cháu cô nghe một lần nữa. Ông chú bảo tôi:</p>



<p>&#8211; Hay là cậu ở lại dùng bữa cơm với chú cháu chúng tôi. Sau đó, tôi chỉ đường cho mà đi. Tôi nhận lời.</p>



<p>Cô cháu gái nói với tôi:</p>



<p>&#8211; Em cũng có một người anh trai, cỡ trạc tuổi anh, trước đây là sĩ quan, làm cho đại tá Lưu Yểm ở đây. Anh ấy đi học tập năm năm rồi chưa được về.</p>



<p>Tôi giật mình nghĩ bụng, hay là họ đang dò hỏi tôi? Tuy vậy, sau đó họ không nhắc đến chuyện ấy nữa. Tôi phải làm bộ khai lý lịch của tôi:</p>



<p>&#8211; Tôi là một giáo viên ở trên thành phố nhưng lương không đủ sống. Anh em bạn rủ nhau về đây, kiếm củi, đốt thành than rồi chở về thành phố bán, kiếm thêm chút đỉnh.</p>



<p>Ông chú nghe nhưng cũng không hỏi thêm. Có thể ông đang quan sát tôi xem mức độ thật thà của tôi đến đâu. Thời buổi nhiễu nhương này không tin ai được. Biết đâu trong óc ông đang có câu hỏi: “Thằng em ở vào cái lứa tuổi này sao không đi lính, sao không đi cải tạo mà giờ này ở đây”? Tuy vậy, ông vẫn giữ thái độ bình thản, vô hại. Tôi cảm thấy nên xin phép rút lui là vừa. Tôi nói lời cáo từ và đứng dậy.</p>



<p>Ông chú bảo tôi:</p>



<p>&#8211; Hay là cậu thay đôi giày ra, đi đôi dép này vào cho thoải mái?</p>



<p>Ông đưa cho tôi một đôi dép plastic màu nâu. Tôi nghĩ thật nhanh:</p>



<p>&#8211; Người đàn ông này tinh đời thật. Tôi mà mang đôi bốt này ra xã Đức Hạnh thì khó mà hòa mình vào với người dân ở đây. Tôi lý nhí cám ơn ông, bỏ đôi giày lại, mang đôi dép ra đường.</p>



<p>Tối hôm đó, tôi tìm một cái sạp chợ ở chỗ kín đáo, cố dỗ giấc ngủ. Tôi cũng tự hài lòng với những giây phút “tạm” được Tự Do. Nếu các bạn tôi ở trong trại biết được tôi đã gặp Đức Mẹ và đã được cứu giúp thì niềm tin của họ lại càng mãnh liệt hơn. Tôi chìm vào giấc ngủ.</p>



<p>Trời chưa sáng hẳn mà tôi đã nghe người ta nói lao xao chung quanh. Tôi vội vàng nhỏm dậy, hòa mình vào những người buôn bán. Họ bắt đầu một ngày vất vả mới. Tôi đi về phía bìa rừng, nơi tôi chôn bộ quần áo. Gần đến nơi thì tôi thấy một tờ giấy nhỏ nhét vào kẽ thân cây. Tờ giấy viết: “Tôi sẽ trở lại”.</p>



<p>Anh Tưởng là người chí tình thật. Đã giúp thì giúp cho trót. Tôi ẩn mình vào một góc vắng, kiên nhẫn chờ đợi. Quả nhiên, lúc ấy khoảng 10 giờ sáng. Anh Tưởng, vị cứu tinh của tôi, đang đến gần điểm hẹn. Tôi nhảy ra mừng rỡ nắm lấy tay anh. Anh Tưởng nói:</p>



<p>&#8211; Tôi biết anh bị lạc nhưng chắc chắn thế nào anh cũng sẽ tìm cách ra được đến đây. Tôi đã đảo qua chỗ này hai buổi sáng nay. Thôi, vào thay quần áo rồi đi theo tôi. Anh ngồi xuống vệ đường chờ tôi. Đối với xã Đức Hạnh này thì anh đã là người quen nên anh rất bình thản. Tôi vào trong rừng, đến chỗ tôi chôn bộ quần áo ngày xưa. May quá, chúng còn nguyên vẹn. Tôi thay quần áo xong, ra chỗ anh Tưởng hỏi:</p>



<p>&#8211; Sao, anh thấy giống người Sè Goòng chưa? Anh Tưởng nói:</p>



<p>&#8211; Giờ này mà còn đùa được? Đi theo tôi.</p>



<p>Tôi đi theo anh được một quãng. Chúng tôi đang ở gần một con đường đất. Một anh thanh niên lái xe gắn máy chạy tới. Anh hỏi:</p>



<p>&#8211; Anh bạn của anh đây hả anh Tưởng? Chờ mấy ngày hôm nay rồi bây giờ mới gặp!</p>



<p>Anh Tưởng nói tôi:</p>



<p>&#8211; Thôi, tạm biệt. Chúc anh đi bằng an. Người bạn này sẽ giúp anh chặng kế tiếp.</p>



<p>Chàng thanh niên nói tôi leo lên xe, anh sẽ chở đi tiếp. “Lốp” sau xe gắn máy của anh chàng này có một chỗ bị phình bụng. Khi chạy, nó cứ “cà giựt, cà giựt”. Tôi áy náy quá, hỏi sao anh không thay nó đi. Anh chàng trả lời:</p>



<p>&#8211; Thời buổi này, cái gì cũng đắt đỏ. Chạy được ngày nào hay ngày đó. Lúc nào không chạy nổi nữa thì phải kiếm tiền thay nó sau.</p>



<p>Anh cho tôi biết là anh “chạy hàng xách” tức là ai muốn mua cái gì thì anh lùng cho ra và mua cho họ. Ai muốn bán cái gì cũng vậy. Lúc thường, không có ai tìm mua cái gì thì anh cứ chạy ra tỉnh, mua vài ba món đồ gia dụng, thuốc men, về bán lại cho bà con trong xã. Cứ như vậy mà sống qua ngày, không có ngày mai. Ngày xưa, anh cũng là lính.</p>



<p>Bây giờ anh mới hỏi tôi:</p>



<p>&#8211; Tôi biết anh là bạn thân của anh Tưởng, nhưng không biết ý định của anh. Anh đang định làm gì?</p>



<p>Tôi nói “Tôi cần về thành phố trong ngày hôm nay. Tôi sẽ gửi anh một số tiền nhỏ, hy vọng sẽ đủ để anh thay cái ruột xe mới”. Bất ngờ, anh hỏi tôi:</p>



<p>-Có phải anh đang chạy trốn khỏi trại tù trong đó không?</p>



<p>Đến nước này thì tôi biết rằng tôi không nên giả vờ với anh này nữa. Tôi thú thật:</p>



<p>&#8211; Anh biết rồi đó, tôi và anh Tưởng đều đang bị cải tạo. Gia đình anh Tưởng ở xa nên anh không có ý trốn trại. Gia đình tôi ở ngay trong Sài Gòn nên tôi thử thời vận, về đến thành phố rồi tính sau.</p>



<p>Anh chàng quay lại hỏi tôi:</p>



<p>&#8211; Bây giờ anh có sợ không? Tôi trả lời:</p>



<p>&#8211; Người sợ bây giờ là anh chứ không phải là tôi. Tôi trốn trại và nếu tôi bị bắt lại, tôi xứng đáng với cái tội của tôi. Còn anh, anh vô tình tiếp tay cho thằng trốn trại, nếu bị bắt thì quả thực anh gặp xui.</p>



<p>Anh chàng nói:</p>



<p>&#8211; Tôi nói thật với anh. Theo như tôi hứa với anh Tưởng, tôi sẽ chở anh ra đến bến xe đò Phước Long, thả anh ở đó, anh tự mua vé mà về Sài Gòn. Nhưng coi cái dáng người khác thường của anh, cộng với cái bộ điệu lúng túng của anh, sau năm năm không tiếp xúc với người bên ngoài, trông biết ngay. Đứng sớ rớ ở đó thế nào cũng bị bắt lại. Thôi được, nếu anh không sợ thì tôi sẽ chở anh ra đến trạm công an đầu tiên. Tôi quen với mấy anh công an ở đây, tôi sẽ nhờ họ gửi anh lên chuyến xe đò đầu tiên về Sài Gòn.</p>



<p>Mới nghe, tôi cũng choáng người. Mình là thằng trốn tù mà lại loanh quanh ở trong trạm công an. Không biết sống được mấy phút. Chúng tôi cứ “lọc cọc” chạy như vậy một thời gian khá lâu. Tình trạng cái bánh xe như vậy không thể chạy nhanh được. Anh chàng tốt bụng này chưa hỏi tên tôi, mà tôi cũng không hỏi tên anh.</p>



<p>Chúng tôi đã đến được trạm công an. Anh công an vừa thấy anh bạn này thì chạy ra nói:</p>



<p>&#8211; Cho tao mượn cái xe mày phóng một vòng coi. Nói xong là anh ấy nhảy lên xe, phóng mất.</p>



<p>Đây là lúc tôi moi tiền ra trả cho anh chàng tốt bụng. Tôi nói với anh:</p>



<p>&#8211; Tôi và anh chưa hề biết tên nhau, mà có lẽ cũng không cần, vì bây giờ tôi đang dùng tên giả trong giấy tờ. Nhưng tôi phải cám ơn anh rất nhiều. Đây là chặng đầu tiên trong hành trình trốn trại của tôi. Bây giờ chỉ biết cầu may rủi thôi. Chúc anh luôn khỏe, và may mắn trong cuộc sống.</p>



<p>Khi đó thì anh chàng công an trạm vừa về đến. Người thanh niên nói với anh công an:</p>



<p>&#8211; Tao có ông anh cần về thành phố ngày hôm nay. Lát nữa, có xe đò chạy ngang, nhờ mày gửi anh ấy lên xe dùm.</p>



<p>Anh công an thản nhiên:</p>



<p>&#8211; Ờ thì mày cứ nói anh ấy ở đây, lát nữa tao sẽ tính hộ.</p>



<p>Anh chàng thanh niên quay xe, chào tôi rồi phóng mất.</p>



<p>Tôi làm bộ mệt mỏi, ngồi ngủ gật trong góc.</p>



<p>Độ nửa tiếng sau, một xe Molotova chạy đến. Một anh bộ đội cầm lái và hai anh khác ngồi bên cạnh trong buồng lái. Phía sau xe đã có một vài người đi làm ruộng, rẫy về, đi quá giang. Anh công an hỏi:</p>



<p>&#8211; Xe có đi về thành phố không? Người trên xe trả lời:</p>



<p>&#8211; Xe này chỉ chạy về đến Bình Dương thôi. Anh công an quay vào hỏi tôi:</p>



<p>&#8211; Anh gì ơi: Xe không về thành phố mà chỉ chạy đến Bình Dương thôi, anh có muốn đi không? Tôi vội vàng nói:</p>



<p>&#8211; Cho tôi theo với, về được đến đâu hay đến đó. Thế là tôi nhảy lên phía sau xe. Cũng là một chiếc xe Molotova! Những chiếc xe này đã từng chở tôi vào tù, bây giờ lại chở tôi đi trốn tù!</p>



<p>Thỉnh thoảng, xe ngừng lại để cho những người quá giang đi xuống. Lúc tôi lên xe thì đã có khoảng mươi người. Bây giờ thì con số này cứ nhỏ dần. Người sau cùng bám vào thành xe chỉ là tôi. Khi xe đi qua các trạm công an, tôi không xuống xe như hành khách xe đò. Trạm công an hỏi:</p>



<p>&#8211; Ai trên xe đó? Người bộ đội trong buồng lái nói:</p>



<p>&#8211; Anh này ở trạm công an trên gửi về Bình Dương. Trạm gác khoác tay bảo:</p>



<p>&#8211; Vậy thì thôi, đi đi.</p>



<p>Xe đi qua liên tiếp ba trạm công an khác. Cũng một câu hỏi và cũng một câu trả lời.</p>



<p>Chừng độ năm giờ chiều ngày hôm đó thì xe về đến Bình Dương. Xe đậu trước cửa một “Doanh Trại Quân Đội Nhân Dân Việt Nam”. Tôi không biết đây đã là Bình Dương nên chưa nhảy xuống xe. Một trong ba anh bộ đội nói vọng lên:</p>



<p>&#8211; Đến Bình Dương rồi, chúng tôi không đi đâu nữa. Sao anh chưa xuống xe? Tôi nhanh trí trả lời:</p>



<p>&#8211; Nãy giờ tôi đứng lâu quá nên đang còn tê chân. Chút xíu nữa tôi xuống mà. Các anh bộ đội bỏ đi vào trong trại.</p>



<p>Chỉ đợi có thế, tôi nhảy xuống xe, đi bộ vào khu phố chiều.</p>



<p>Tôi thấy một quán mì nhỏ ven đường. Tôi vào quán, gọi một tô mì, một ly cà phê sữa, và một điếu thuốc lá. (Thời buổi khó khăn nên người ta chỉ mua từng điếu thuốc một. Hiếm khi ai có khả năng mua hẳn một gói thuốc lá). Cũng xin nói thêm ở đây là tôi đâu có biết hút thuốc. Ngày xưa, lúc ở cạnh bạn Nguyễn Vĩnh Linh, tôi có tập nhưng không hút được và bỏ luôn từ đó. Hôm nay, tôi biết ít ra, tôi cũng được Tự Do hơn ba ngày rồi. Tôi tự thưởng cho mình đủ mùi vị của cuộc đời: Một tô mì, ly cà phê, và thuốc lá! Còn gì bằng?</p>



<p>Ăn tô mì xong, đang nhâm nhi ly cà phê và điếu thuốc lá. Chú Ba, chủ tiệm, đến hỏi tôi: “Nị ở đâu ra vậy”? Tôi hỏi:</p>



<p>&#8211; Sao chú lại hỏi tôi ở đâu ra? Chú Ba nói:</p>



<p>&#8211; Cánh tay áo của nị có vết máu. Tôi nhìn xuống thì quả thật, cánh tay áo trong bên trái của tôi có vết máu thật. Chắc chắn đây là một con vắt trong rừng đã bám được vào tôi, hút máu no nê và đã rụng đi mất! Tôi nói với chú:</p>



<p>&#8211; À, tôi gãi quá nó chảy máu vậy chứ không sao. Hôm trước, bà xã tôi cẩn thận, có gói thêm cho tôi một áo khoác mỏng. Tôi chôn tất cả trong rừng và lúc đi cũng có mang theo. Bây giờ có cái mà dùng. Tôi khoác cái áo mỏng ra ngoài áo sơ mi, che vết máu đi và hỏi chú:</p>



<p>&#8211; Chú tính tiền cho tôi đi và chỉ tôi đường đi ra bến xe đò. Chú tính tiền xong nói:</p>



<p>&#8211; Ở phía đó, đi chừng hai mươi phút là đến nhưng giờ này thì họ không bán vé nữa đâu. Hết giờ rồi. Lại một cơn buồn ập đến. Vui chưa được bao lâu! Tôi chào chú và đi về hướng chú chỉ.</p>



<p>Trên đường đi, không bao lâu, tôi thấy một chú bé chừng 12 tuổi, đang gánh một gánh củi nhỏ. Tôi chận chú lại hỏi:</p>



<p>&#8211; Nè cháu, còn bao xa nữa thì tới bến xe hả cháu? Thằng nhỏ nhìn tôi nói:</p>



<p>&#8211; Mèng ơi, giờ này mà chú còn định ra bến xe đò. Họ đóng cửa rồi. Nếu chú muốn đón xe đò thì cứ đứng đây, cầm đồng bạc vẫy vẫy vầy nè, xe họ ngừng lại, chú đưa tiền cho anh lơ xe, họ cho chú lên hà! Tôi đưa cho thằng bé mấy đồng lẻ như để cám ơn nó nhưng thằng bé không cầm, chào tôi rồi gánh củi đi luôn.</p>



<p>Quả thực, một lúc sau, có một chiếc xe đò nhỏ chạy tới. Tôi làm như lời thằng bé nói, cầm đồng bạc vẫy vẫy. Chiếc xe ngừng lại. Chú lơ xe hỏi tôi:</p>



<p>&#8211; Anh Hai muốn về đâu dzậy? Tôi hỏi lại:</p>



<p>&#8211; Vậy xe chạy về đâu? Chú lơ xe cho biết là sẽ ghé Biên Hòa rồi về tới Bình Triệu là không đi nữa. Quá đẹp rồi còn gì? Tôi leo lên xe. Mọi người phải nhích thêm cho tôi có chỗ ghé cái mông vào. Khi xe đã chạy, tôi mới thử tìm hiểu xem những người đi trên xe này thuộc thành phần nào. Tôi giật mình vì ngoài những bà con buôn thúng bán bưng, còn có cả mấy anh bộ đội! Phải cẩn thận mới được.</p>



<p>Có lẽ tôi cũng ngủ gà ngủ gật được một lúc. Đến Biên Hòa, đất ngày xưa của tôi, mấy anh bộ đội xuống xe hết. Bây giờ chỉ còn những người thường với nhau. Lòng tôi lâng lâng, tưởng tượng đến cái giây phút tôi được trùng phùng với gia đình. Chợt nghĩ ra cái điều mà vợ tôi dặn:</p>



<p>&#8211; Nếu may mắn mà trốn được về đến Sài Gòn thì tìm đến quán cá phê của anh Thăng ở gần Cổng Xe Lửa Số Sáu, dùng “mật khẩu” “<em>Tôi là Kỳ, từ Long Khánh về</em>” thì anh ấy sẽ nhận ra và sẽ đến nhà báo tin hộ.</p>



<p>Lúc đó, việc trốn trại của tôi hãy còn mơ hồ, nên điều vợ dặn, tôi không chú ý lắm. Bây giờ nghĩ mãi không ra tên của anh chủ quán là gì. Cùng lắm thì cứ vào các quán cà phê, nói mật khẩu, nếu đúng thì anh chàng đó sẽ nhận ra. Ung dung với ý nghĩ đó, tôi thiu thiu dỗ giấc ngủ tiếp.</p>



<p>Khi xe về đến khu nhà thờ Bình Triệu thì cũng là lúc vừa tan lễ. Cả hàng trăm giáo dân ùa ra đường. Tôi cũng trà trộn vào đám người ấy. Tôi cũng có ý vào nhà thờ, tạ ơn Đức Mẹ nhưng nghĩ bụng, chả lẽ tạ ơn mà vào tay không.Thôi thì đợi hôm nào có cả vợ, sắm của lễ đầy đủ rồi vào viếng Đức Mẹ sau. Dù sao, có lòng thành thì Mẹ cũng chứng cho rồi!</p>



<p>Đến đây, tôi xin được nói lên tấm lòng biết ơn chân thành của tôi đối với anh Nguyễn Huy Tưởng và nhiều ân nhân “không biết tên” đã giúp tôi thoát được kiếp sống đọa đày trong cái-gọi-là “trại cải tạo” của cộng sản VN.</p>



<p>(Còn Tiếp)</p>



<p><strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh/">Kỳ 1</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-2/">Kỳ 2</a></strong> <a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-3/"><strong>Kỳ 3</strong></a> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-4/">Kỳ 4</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-5/">Kỳ 5</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-6/">Kỳ 6</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-7/">Kỳ 7</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-8/">Kỳ 8</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-9/">Kỳ 9</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-10/">Kỳ 10</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-11/">Kỳ 11</a></strong> <a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-12/"><strong>Kỳ 12</strong></a> <a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-13/"><strong>Kỳ 13</strong></a></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nguyễn Kỳ Dzương: NHỮNG PHẦN ĐỜI CỦA ĐỊNH MỆNH (13)</title>
		<link>https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-13/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Kỳ Dzương]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 05 Nov 2024 07:49:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[hồi ký cải tạo]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=75331</guid>

					<description><![CDATA[Phần Mười Lăm: “Đã Bước Chân Đi Chẳng Trở Về” (1) Tôi vẫn đang trong thời kỳ dưỡng bệnh, vẫn được làm công việc nhẹ. Trước đây, đã lâu, vợ tôi có mang lên cho tôi một bộ quần áo thường, gồm một áo sơ mi xanh nhạt, một quần ka ki màu vàng đậm, [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/08/HOI-KY-CAI-TAO.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1002" height="613" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/08/HOI-KY-CAI-TAO.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-73498" style="width:562px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/08/HOI-KY-CAI-TAO-300x184.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2024/08/HOI-KY-CAI-TAO-768x470.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/08/HOI-KY-CAI-TAO.jpg?strip=all 1002w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p class="has-text-align-center"><strong><em>Phần Mười Lăm: “Đã Bước Chân Đi Chẳng Trở Về” (1</em>)</strong></p>



<p>Tôi vẫn đang trong thời kỳ dưỡng bệnh, vẫn được làm công việc nhẹ. Trước đây, đã lâu, vợ tôi có mang lên cho tôi một bộ quần áo thường, gồm một áo sơ mi xanh nhạt, một quần ka ki màu vàng đậm, và một cái áo khoác ngoài mỏng. Tôi đã gói trong hai lớp bao nylon, chôn xuống một cái hố cạnh bìa rừng, gần xã Đức Hạnh. Chưa biết có bao giờ sẽ phải dùng đến nó nhưng có vẫn hơn không.</p>



<p>Một anh bạn thân trong tổ, anh Nguyễn Huy Tưởng, người hay ra sóc Thượng buôn thịt heo về phân phối cho anh em. Anh Tưởng cũng là người đã dám mạo hiểm đi trong đêm, sang bên kia đám cháy rừng để xóa vết tích đám cháy do tổ chúng tôi gây nên. Tôi và anh Tưởng rất thân nên tôi có thổ lộ với anh về ý định trốn trại của tôi. Tôi cũng hay đi rừng nhưng so với anh Tưởng thì khả năng đi rừng của tôi còn thua xa. Anh nghe xong ý định muốn trốn trại của tôi, anh hứa sẽ giúp khi nào tôi sẵn sàng thực hiện việc này. Anh rất thản nhiên nghe và coi như đó cũng là chuyện nhỏ. Anh Tưởng có gia đình ở tận ngoài Quảng Nam nên, theo anh, việc trốn trại, anh có thể thực hiện dễ dàng – nhưng ra đến ngoài rồi đi đâu, về đâu, mới là vấn đề.</p>



<p>Tôi và anh Tưởng rủ nhau đi rừng, ra xã Đức Hạnh. Trên đường đi, anh chỉ cho tôi những cái mốc cần phải nhớ. Đó có thể là một cái cây cao, có thể là một cái chòi canh lúa của người Thượng, có thể là một ghềnh đá dưới bờ suối, v&#8230;v&#8230;Anh Tưởng cũng nhấn mạnh là muốn tìm hướng đi chính xác, luôn luôn phải đối chiếu hai điểm để xác định hướng đi vì một trong hai vật mà mình dùng để làm cột mốc, có thể thay đổi vì biết đâu một ngày nào đó, người ta quyết định đốn ngã cái cây cao mình vẫn ghi nhớ để làm cột mốc, tìm mãi không thấy đâu thì sẽ bị hoảng loạn. Phải bình tĩnh để tìm vật đối chiếu thứ hai thôi. Tôi không nhớ anh Tưởng này ngày xưa đã từng là Biệt Kích hay Thám Báo gì không mà anh ấy có kinh nghiệm “sinh tử” loại đó.</p>



<p>Từ đó, mỗi lần đi ra sóc Thượng tôi luôn cố nhớ một vài cột mốc, vì thế, tôi trở thành yên tâm hơn.</p>



<p><em>(</em><em>Vào những năm 1974, 1975, Phước Long là một trong số 11 tỉnh bao quanh Biệt Khu Thủ Đô Sài Gòn-Gia Định</em><em>.</em><em> </em><em>Ở cách Sài Gòn khoảng&nbsp;150 cây</em><em> số</em><em>&nbsp;về phía Bắc, Phước Long có địa giới giáp với Bình Long (phía Tây), Quảng Đức (phía Đông), Long Khánh (phía Nam) và Campuchia (phía Bắc) và nằm trong địa bàn tác chiến của Quân khu III (Quân đoàn III) của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa.</em><em>)</em></p>



<p>Tôi trao đổi với anh Tưởng về kế hoạch trốn trại của tôi. Tôi cũng chia sẻ với anh là bà xã tôi cho biết, trên đường quốc lộ từ Phước Long về tới Bình Dương, đã có tất cả 5 nút chặn của công an. Tất cả mọi hành khách trên xe đều phải xuống xe, đi bộ và trình giấy trong trạm kiểm soát. Nếu không bị gây khó dễ vì những nghi ngờ của công an trạm – thì sẽ được sang bên kia trạm kiểm soát, lên xe và tiếp tục hành trình.</p>



<p>Anh Tưởng cũng có hiểu biết về địa hình của Phước Long. Anh nói nếu vậy thì nguy hiểm quá. Thực ra, lúc đầu, anh Tưởng có nghĩ đến cách là đưa tôi ra đến điểm hẹn gần xã Đức Hạnh, móc nối một người quen, chở tôi bằng xe gắn máy ra bến xe, mua vé, lên xe đò và thẳng đường về Biên Hòa. Bây giờ có thêm tin tức về những nút chặn của công an trên đường về, anh sẽ tính cách khác cho tôi. (Như đã có lần tôi nói, anh Tưởng quê ở tận Quảng Nam, mà dân xã Đức Hạnh, cũng từ Quảng Nam, đã được Tổng Thống Ngô Đình Diệm cho vào khai khẩn ruộng đất ở vùng này nên anh Tưởng cũng kết bạn với một vài đồng hương ở đây.)</p>



<p>Tôi cũng đang suy nghĩ về lộ trình trốn trại của mình. Anh Tưởng không có ý trốn trại nên chúng tôi chỉ trao đổi suy nghĩ để giúp chuyến đi của tôi an toàn. Sau cùng, chúng tôi đồng ý với nhau là cứ đi về phía Nam của Phước Long là có thể sẽ gặp Long Khánh, hay Bình Dương, hoặc nếu may lắm, thì gặp Biên Hòa. Từ đó tìm đường về Sài Gòn. Dĩ nhiên, trong chương trình của tôi và anh Tưởng, khi tôi về đến Sài Gòn sẽ tìm cách móc nối lại với gia đình rồi sẽ tính tiếp.</p>



<p>Chúng tôi đều thấy rõ là những người bạn trốn trại gần đây, không người nào bị bắt lại. Kết luận (ngây thơ) của chúng tôi là thành phố Sài Gòn, giờ này chưa có hệ thống kiểm soát người dân quy mô, cứ về tới nơi đã rồi sẽ có cách!</p>



<p>Tôi càng tìm cớ đi ra ngoài nhiều hơn. Các bạn của tôi cũng thương tôi nên cũng chiều, để tôi tự tung tự tác! Miễn làm sao lúc 7 giờ tối, cán bộ trại điểm danh, tôi có mặt để hô “có” một tiếng cho các bạn đỡ lo sợ, áy náy dùm. Tôi nhờ một người bạn thân mỗi ngày phơi hộ ít cơm bo bo thành cơm khô. (Tôi không muốn bác Răng để ý tôi làm việc này làm gì.) Tôi sẽ ngào với đường và ruốc, đựng trong lon “gô” mang theo mình khi quyết định đi trốn. Một nắm cơm khô loại này (và một vài hớp nước lạnh) cũng có thể giúp no bụng được cả ngày.</p>



<p>Tôi cũng hay mua quà về tặng anh em như một hình thức âm thầm cám ơn họ trước. Khi thì vài cục đường thẻ, khi thì một hai lon gạo nếp, lúc thì một nửa trái mít. Ai cần thuốc rê hay thuốc tây thì tôi cũng có thể mua về từ xã Đức Hạnh. Người nào có ý muốn bán lại quần áo hay món gì khác thì tôi cũng giúp làm người trung gian. Anh em cũng có chỗ trông chờ, nhờ vả. Cuộc sống ở trong trại (khổ sai) này chỉ mong được bình an như vậy.</p>



<p>Đặc biệt, ông tù trưởng sóc Thượng là người hài lòng nhất với món quà của tôi. Đó là một lọ muối xả ớt, tôi đặt mua từ ngoài xã Đức Hạnh. Người Thượng vốn đã quý muối bọt của người miền xuôi vì trên núi cao, họ không có cách gì để làm ra muối được. Khi cần dùng muối, họ phải cạo lớp màng trắng bên trong ruột của cây tre, hay ở đây, là cây lồ ô. Loại “muối” này chỉ có tính tượng trưng vì cái lớp màng trắng này chỉ có vị hơi mặn, không biết có bằng được một phần mười so với muối bọt của chúng ta ở dưới đồng bằng hay không. Tôi mang lọ muối ra tặng ông tù trưởng. Ông nếm thử và vô cùng thích thú. Ông cười hở cả mảng lợi đỏ của ông. Ông nói cái muối này chấm được hết mọi thứ, từ lòng heo, lòng gà, thịt heo, đến các loại trái cây v&#8230;v&#8230; Ông lại sai cô con gái đi xuống suối múc môt gầu nước lên, chuẩn bị hai cái sừng trâu để chúng tôi uống rượu. Ông không quên sai một “tà lọt” của ông đi chuẩn bị cho chúng tôi một đĩa lòng gà luộc. Cô con gái cũng đặc biệt hứng thú với công việc phục vụ chúng tôi. Có lẽ người con hiếu thảo nào cũng vậy, làm việc gì cho cha mẹ mình vui là một niềm hạnh phúc cho họ (hay là cô muốn chiều đãi tôi? Tôi không biết.) Hôm ấy trước khi về, tôi có hẹn là sẽ trở lại. Cô con gái tặng cho tôi một cái vòng bằng chỉ đỏ gồm những sợi chỉ màu se lại với nhau. Cô nói phải để cô đích thân đeo vào cổ tay cho tôi và bắt tôi hứa không được tháo ra. Cô gái này kể cho tôi nghe là cô cũng có ra xã Đức Hạnh để trao đổi, mua bán với người kinh vào đầu mùa lúa. Cô không thích người kinh vì theo cô nói, họ hay bắt nạt và không thành thật với cô. Cô cũng xưng hô với tôi theo như cách của cha cô: Gọi tôi bằng “bác sĩ” nhưng xưng “tao”. Cô có vẻ tránh chữ “tao” khi nói chuyện với tôi. Cô có cảm tưởng rằng chữ này không đúng trong những dịp nói chuyện với nhau, nhưng không tiện hỏi tôi là cô nên xưng thế nào và tôi cũng không muốn sửa cho cô.</p>



<p>Thời gian càng qua đi nhanh bao nhiêu thì chúng tôi đều biết là ngày chúng tôi sẽ bị đưa về Hàm Tân cho công an “quản lý” thì càng gần bấy nhiêu. Tôi biết rằng mình phải quyết định thôi. Từ đó, tôi ra sức tẩm bổ để dự trữ sức lực. Tôi mua được một con gà từ xã Đức Hạnh, đã được làm sạch. Mấy người bạn của tôi rất vui, đề nghị làm một nồi cà ri gà lớn, chia sẻ với anh em một bữa cho tưng bừng. Dĩ nhiên, ngoài anh Tưởng, không ai biết dụng ý của tôi là dùng nồi cà ri gà này nói thay cho lời tạm biệt! Hôm ấy, chúng tôi nấu một nồi cơm nếp lớn, lúc gần chín thì lấy mỡ của con gà đổ vào, trộn đều, béo ngậy, khỏi chê. Nồi cà ri gà được tiếp đón nồng hậu. Ai nấy cười nói vui vẻ. Tôi cũng có phần cảm thấy áy náy vì mình không dám nói thật dụng ý của mình.</p>



<p>Tôi trở về trại sau một chuyến đi kiếm củi cho “bếp”. Tôi thử sức của mình bằng cách vác một thân củi lớn và dài hơn khả năng thực sự của tôi. Về đến nơi, quẳng bịch xuống mặt đất. Các bạn tôi trông thấy la lên:</p>



<p>&#8211; Mày khùng hả Dz? Sao tự đày đọa thân xác dữ vậy? Vác cây củi cỡ đó, có ngày sụm xương sống mà mang tấm thân tàn phế suốt đời, con ạ.</p>



<p>Trắc nghiệm của tôi đã thành công. Với sức khỏe trong tình trạng hiện tại của tôi, tôi chắc chắn sẽ vượt qua được những thử thách trong tương lai gần.</p>



<p>Hai hôm sau, tôi lại ra sóc Thượng. Thú thật, tôi không hề có tình ý gì với cô con gái ông tù trưởng nhưng dù sao nếu nói tôi không để ý đến cô thì cũng không đúng. Mà cô bé ấy thì còn có vẻ mong ngóng tôi ra chơi lắm. Mỗi lần thấy bóng dáng tôi từ xa là cô nàng vội vàng sửa chữa, thu dọn lại chỗ ngồi của cha cô với tôi. Có hôm, tôi đánh bạo, hỏi tên cô là gì. Ông tù trưởng trả lời thay cho cô:</p>



<p>&#8211; Tao đặt tên nó là “Lan Rừng”. Ôi, cái tên thật là thơ mộng. Cô không hỏi tên tôi. Cô thấy gọi tôi là “bác sĩ” cũng hay.</p>



<p>Sau một chầu nhậu lòng gà luộc chấm với muối xả ớt, tôi ra về và hẹn sẽ trở lại năm ngày nữa. Cả ông tù trưởng và cô Lan Rừng bắt tôi phải hứa sẽ đến đây lại.</p>



<p>Tối hôm đó, tổ tôi có tổ chức họp tổ và bầu tổ trưởng mới. Họ nhất định lưu lại chức vụ tổ trưởng cho tôi. Tôi tìm cách thoái thác. Tôi nói rằng:</p>



<p>&#8211; Các anh em thương tôi thì tôi cám ơn, nhưng hồi này, tình hình sức khỏe của tôi không được khá. Tôi sợ nhận chức vụ này rồi mai kia, anh em lại phải bầu người mới thôi. Tôi có cảm tưởng đây là lời cuối cùng tôi trần tình với anh em trong tổ. Vài ngày nữa thì họ sẽ nghiệm ra lời nói của tôi hôm nay.</p>



<p>Tôi quyết định sẽ ra đi vào Chúa Nhật tuần đó. Tôi chọn ngày này vì chúng tôi chỉ phải làm một nửa chỉ tiêu của thường ngày. Còn dư nhiều thì giờ để làm những việc khác.</p>



<p>Tối hôm trước, tôi gọi Uyển và Phúc ra một chỗ, đưa cho hai bạn này số lương thực khô và một ít thuốc tây tôi còn lại và dặn:</p>



<p>&#8211; Sáng mai, lúc đi làm, có nhìn thấy tao thì cũng chỉ làm ngơ, đừng nhìn nhau kẻo tao bịn rịn, không đi được, hoặc nhỡ có thằng “ăng ten” nào thấy ánh mắt mình trao đổi, nó sẽ nghi. Sau khi tao trốn đi rồi, có thể nó sẽ báo cáo với trại là mày biết mà không tố cáo, liên lụy, tội cho mày. Uyển nghẹn ngào bắt tay tôi, chúc tôi may mắn.</p>



<p>Phần thuốc tây còn lại, tôi có ý định sẽ mang theo ra sóc Thượng, tặng lại cho ông tù trưởng. Tôi cũng nói với anh Đệ, người đội trưởng của chúng tôi:</p>



<p>&#8211; Ngày mai tôi sẽ trốn trại. Nếu 7 giờ tối mà chưa thấy tôi về, trại không điểm danh thì anh lờ đi hộ tôi, giữ đến ngày mai. Còn nếu xui lắm, trại điểm danh tối hôm đó, thì anh đành phải báo cáo với họ là tôi vắng mặt. Anh Đệ cũng là một trong những bạn thân của tôi ở trong này. Tôi biết anh không nỡ tố giác “âm mưu” của tôi đêm ấy nên tôi đã nói thật với anh. Tôi cũng nói là sáng mai, khi thức dậy, tôi sẽ cuốn chăn màn của tôi, luồn sang cho anh. Anh cứ giữ lấy mà dùng.</p>



<p>Buổi tối hôm ấy tôi vẫn ngủ được như thường, không hề trằn trọc gì cả. Tôi cũng không hiểu tại sao. Tôi và anh Tưởng đã hẹn nhau sẽ đi (làm) cùng đường, kẻ trước người sau, như một sự tình cờ. Anh sẽ dẫn tôi đi đường khác, ra xã Đức Hạnh. Ở đó, tôi sẽ đào số quần áo lên, đi bộ theo anh, xuyên qua xã Đức Hanh, về phía Nam. Đến khu biên giới của xã Đức Hạnh và một xã khác, sẽ có người đón tôi, dẫn đường tôi đi tiếp.</p>



<p>Sáng Chúa Nhật, ngày của định mệnh đã bắt đầu. Tôi thức dậy sớm, cuốn chăn màn, luồn sang giường anh Đệ như đã hứa. Làm mọi thủ tục buổi sáng như thường lệ để không ai nghi. Tôi cũng vẫn trong bộ đồ lính của VNCH như mọi ngày. Hôm nay, tôi còn trang bị một dây lưng loại lớn, đeo “bi đông” nước. Chân thì cũng xỏ đôi “bốt đờ xô” như thường ngày. (Đột nhiên, tôi nhớ vợ con quá mức. Đôi bốt này vợ tôi mang lên cho tôi cũng là một kỳ công: Bà xã tôi phải nhờ hai người cùng đi chuyến xe thăm nuôi chồng, mỗi người mang hộ một chiếc giày vì vợ tôi đã vừa khiêng, vừa vác hai bao tải đồ thăm nuôi cho tôi. Hai chiếc bốt nhà binh này trở thành “quá tải”. Cũng may là hai chị kia sẵn lòng giúp, tôi mới có đôi bốt này mà đi làm rừng.) Ngoài con dao rựa là vật liền thân của tôi, hôm nay tôi còn đeo theo một túi vải nhỏ. Những người ở ngoài sẽ không biết được trong đó đựng những gì. Đi làm việc ở ngoài rừng, mang theo cây cuốc, hay con dao rựa, và một túi vải nhỏ cũng không có gì lạ.</p>



<p>Tôi và anh Tưởng đã nhìn thấy nhau, anh Tưởng rảo bước đi trước. Tôi theo sau, đi sâu vào trong rừng. Từ từ thì mọi người cũng tản mát hết. Mỗi người có công việc riêng của mình.</p>



<p>Lần này, anh Tưởng dẫn tôi đi theo con đường rừng mới, tôi chưa đi bao giờ. Chúng tôi phải lội qua con suối nhỏ, chỉ ướt đến đầu gối. Tôi sợ ướt giày vớ, có khi cả ngày chưa khô nổi, sẽ khó chịu lắm, nên tôi nói anh Tưởng chờ tôi chút xíu, tôi tháo giày ra, đi chân không sang bên kia, rồi đi giày vào lại, sẽ đi theo anh. Có lẽ anh Tưởng không nghe tôi nói nên anh lội qua con suối rồi, cứ rảo bước đi. Sang đến bên kia bờ suối, tôi không thấy anh Tưởng. Dĩ nhiên là tôi không thể bắc loa tay mà gọi anh được, chỉ hy vọng anh đang ẩn nấp đâu đó, đang quan sát tôi. Ngóng mãi không thấy anh Tưởng, tôi phải liều mình, lặng lẽ đi loanh quanh xem may ra gặp lại anh.</p>



<p>Chỉ có một khoảnh khắc ngắn, tôi đã có cảm tưởng thời gian như vô tận. Biết đi hướng nào bây giờ? Sao anh này đi nhanh dữ vậy? Đợi mãi không thấy nhau, tôi phải quyết định cứ liều nhắm hướng mà đi. Trong rừng thì chỗ nào cũng giống chỗ nào. Không thể tìm ra dấu vết gì quen thuộc hết. Tôi cũng thầm cầu mong anh Tưởng bình an, không gặp sự nguy hiểm nào.</p>



<p>Tôi cứ lò mò nhắm hướng đi, có lẽ cũng phải cả hơn một giờ đồng hồ rồi mà chưa thấy quang cảnh nào quen thuộc hết. Tôi vẫn thầm cầu mong là đi đúng hướng về xã Đức Hạnh, và sẽ gặp anh Tưởng ở đó.</p>



<p>Đi cái kiểu lần mò như vậy thì không đi nhanh được. Có lẽ tôi chỉ cách bờ suối, cái chỗ lạc nhau khoảng một cây số. Sốt ruột quá, nhưng biết làm sao bây giờ. Đang suy nghĩ luẩn quẩn trong óc thì nghe có tiếng gọi, tôi mừng quá, đứng lại, hỏi “có phải anh Tưởng đó không”?</p>



<p>Người mới gọi tôi không phải là anh Tưởng. Đó là hai anh du kích Thượng. Họ mặc quần áo bộ đội và có trang bị hai khẩu súng AK-47. Họ đến gần tôi và hỏi:</p>



<p>&#8211; Mày trốn trại hả? Tôi đáp:</p>



<p>&#8211; Không, tôi định ra sóc Thượng gặp ông tù trưởng. (Tôi nhanh trí chuyển mục đích chuyến đi của tôi.)</p>



<p>Hai người du kích không tin, họ nói:</p>



<p>&#8211; Trông mày giống như đang đi trốn trại. Đi theo tao, về giao cho ông tù trưởng rồi tùy ông ấy tính.</p>



<p>Tôi nói với họ:</p>



<p>&#8211; Thật mà, tôi có ý định ra chơi với ông ấy đây. Các anh bắt tôi rồi lát nữa ông ấy cũng thả tôi ra mà. Tôi có trốn trại đâu.</p>



<p>Hai anh chàng này vẫn nghi ngờ. Họ bắt tôi đi trước, hai người theo sau. Họ dắt tôi về sóc Thượng. (Không biết đây là cứu tinh của tôi hay là một tai họa mới?)</p>



<p>Về tới sóc Thượng thật! Hú vía. Ông tù trưởng đúng trên nhà sàn cao, nhìn xuống hỏi:</p>



<p>&#8211; Hai đứa mày dắt ông bác sĩ đi đâu đó?</p>



<p>Tôi nói vọng lên:</p>



<p>&#8211; Tôi nói với hai anh này là tôi đang trên đường ra gặp ông mà hai anh ấy không tin, nhất định bắt tôi về đây giao cho ông. Anh ấy nghi ngờ là tôi trốn trại!</p>



<p>Ông tù trưởng quát:</p>



<p>&#8211; Hai đứa mày để ông bác sĩ ở đây với tao, đi đâu thì đi đi!</p>



<p>Tôi quay lại, mỉm cười với hai anh du kích:</p>



<p>&#8211; Hai anh thấy không? Tôi đã nói là tôi ra đây chơi với ông tù trưởng của các anh mà.</p>



<p>Có lẽ hai anh chàng này có tiếp xúc nhiều với bộ đội nên khá rành tiếng người miền xuôi. Hai anh chàng này mất hứng, định quay đi, chợt thấy cô con gái ông tù trưởng chạy ra vẫy vẫy. Họ tưởng là cô vẫy họ, họ đáp lại bằng tiếng Thượng. Cô cũng đáp lại một tràng dài. Hai anh chàng du kích có vẻ tức tối, bỏ đi một nước.</p>



<p>Trong bụng tôi như có lửa đốt vì đã trễ lắm rồi mà chưa ra được tới xã Đức Hạnh, không biết anh Tưởng còn chờ tôi ở đó không? Nghĩ vậy, nhưng tôi vẫn phải làm bộ vui, leo lên nhà của ông tù trưởng.</p>



<p>Tôi kể cho ông nghe sự việc xảy ra. Ông nói từ bây giờ trở đi, tôi không phải sợ những anh du kích nữa, ông sẽ dặn họ. Cô con gái thì vui lắm, cô đem một thanh “cơm lam” ra khoe tôi. Cô nói:</p>



<p>&#8211; Hôm nay “tao” cho bác sĩ ăn thử món cơm của người chúng tao. Cô lấy con dao nhỏ chẻ thanh cơm lam ra, cơm còn nóng hổi, thơm phức mùi nếp mới. Cô trải ra chiếc lá chuối, rắc một chút muối tôi mang đến hôm trước. Ông tù trưởng và tôi cùng bốc ăn. Cô con gái sung sướng nhìn chúng tôi ăn ngon lành. Quả thực, đã lâu lắm tôi mới được thưởng thức một bữa cơm nếp ngon miệng như vậy. Tôi vốn thích ăn xôi nên tuy bữa cơm đơn sơ, đạm bạc nhưng với ánh mắt trìu mến của cô con gái Thượng, tôi cảm thấy ngon hơn những nắm xôi tôi thường mua ở xã Đức Hạnh. Nhớ đến xã Đức Hạnh, tôi giật mình nghĩ bụng: Mình không thể chiều thể xác quá như thế này. Phải đi thôi.</p>



<p>Ông tù trưởng vẫn tưởng tôi có nhiều thì giờ như mọi khi nên tỏ ý luyến tiếc khi tôi nói phải xin phép đi một chút, nếu xong việc sớm tôi sẽ quay lại. Cô con gái cũng giật mình. Cô quay vào trong đem ra hai thanh cơm lam còn nóng, có lẽ cô mới nướng xong, vỏ cây tre đã cháy đen. Cô lấy lá chuối bịt đầu ông tre, lấy lạt buộc chặt, trao cho tôi và nói:</p>



<p>&#8211; Bác sĩ cầm về ăn. Nếu ăn không hết, cứ lấy lá này đậy lại, để một hai ngày cũng còn ăn được. Tôi cám ơn và chào hai cha con ông. Hai thanh cơm lam nằm yên trong cái túi vải tôi mang theo.</p>



<p>Tôi phải chú thích thêm ở đây: Cơm lam là một hình thức nấu cơm đặc biệt của người miền thượng du. Họ lấy một khúc tre (ở vùng này là lồ ô) cưa hai đầu, một đầu giữ lại cái mắt tre, dùng như đáy nồi, phía trên cưa bỏ mắt để cho gạo vào. Có khi là gạo tẻ, có khi là gạo nếp. Gạo đã được trộn với nước sẵn. Họ lấy lá bít đầu trên cho gạo không thể trào ra khi nấu. Lá chuối hoặc lá tre cũng được. Sau đó, họ thẩy vào bếp lửa. Thanh tre cháy đen ở ngoài và cơm ở trong thì cũng vừa chín tới. Những thanh cơm lam này thưởng tỏa ra mùi thơm lừng, trông vừa lạ mắt, lại vừa rất ngon.</p>



<p>Tôi chào hai cha con ông tù trưởng xong là ba chân bốn cẳng chạy về phía xã Đức Hạnh. Bây giờ có lẽ đã trễ lắm, chắc phải hơn ba giờ chiều. (Hồi ở Long Khánh, cán bộ trại đã tịch thu hết đồng hồ, dây chuyền, vàng bạc của chúng tôi và lúc chuyển trại lên đây, họ “quên” không trả lại nên chúng tôi đều trở lại thời “đồ đá”, chỉ còn biết nhìn bóng mặt trời mà đoán giờ!)</p>



<p>Bình thường, tôi chỉ mất khoảng một giờ đồng hồ để đi từ sóc Thượng ra tới xã Đức Hạnh. Nếu ra tới nơi mà không gặp được anh Tưởng thì tôi vẫn còn thì giờ kịp trở lại trại trước khi điểm danh.</p>



<p>Đi không được bao lâu, lại nghe tiếng gọi. Lại là hai anh chàng du kích Thượng. Lần này, họ thay quần áo nguyên thủy của họ, nghĩa là chỉ mặc một cái khố, vai đeo cái “gùi” bằng nan tre, tay cầm cái gậy đi đường rừng. Tôi giật mình, suy nghĩ thật nhanh. Chắc đây mới là điềm xấu. Tôi lấy con dao rừng của tôi chém thật mạnh vào một thân cây gần đó. Lưỡi dao lún xâu vào thân cây.</p>



<p>Hai người Thượng xấn đến gần tôi. Một người giật lấy cái bao vải trên vai tôi. Người ấy có vẻ tức tối lắm, cầm hai ống cơm lam đập thật mạnh vào một thân cây gần đó. Hai ống cơm lam bể tan, cơm trắng văng tung tóe. Tôi chưa kịp phản ứng gì thì người thứ hai giật cái vòng tay chỉ đỏ của tôi, ném xuống đất. Hóa ra hai anh này ghen với tình cảm của hai cha con ông tù trưởng dành cho tôi. Một cây gậy vụt mạnh lên đầu tôi. Tôi kịp thời lách sang một bên. Cây gậy chỉ đập xuống vai trái của tôi.</p>



<p>Tôi nhẩy ra phía sau, hỏi:</p>



<p>&#8211; Tại sao hai anh đánh tôi?</p>



<p>Hai người họ không trả lời, vung gậy đập tôi rối rít. Giờ này thì tôi biết rằng có đôi co cũng vô ích. Phải phản đòn thôi.</p>



<p>Tôi nhảy lui lại phía sau, quan sát tình hình xem nên hạ thằng nào trước. Người đập hai ống cơm lam của tôi còn đang đứng gần tôi. Tôi bám vào cây gậy của anh này, phóng mình lên, đá một phát bằng gót giày bốt vào cạnh sườn của anh ta. Anh chàng này không ngờ tôi ra đòn nhanh như vậy, ngã xuống đất, ôm cạnh sườn có vẻ đau đớn lắm. Anh chàng thứ hai cũng có vẻ chột dạ, bỏ đi thì cũng quê quá, mà ở lại thì bây giờ coi như còn có một mình. Anh ấy nhìn tôi bằng ánh mắt căm hờn. Trong đầu tôi cũng thoáng qua một ý nghĩ. Hai đứa mày làm lỡ cơ hội của tao. Giờ lại còn chặn đường gây sự với tao. Mày phải nếm mùi thất bại đau đớn. Thực lòng, tôi hận hai thằng này lắm nhưng dĩ nhiên tôi không muốn hạ độc thủ. Người còn lại nhảy đến trước mặt tôi, định dùng gậy đâm vào vùng bụng tôi một đòn nữa. Tôi giật được cây gậy và chụp ngay lấy cổ tay hắn. Người giỏi Judo, hoặc Aikido thì đều biết rằng khi nắm được cổ tay của địch thủ thì phần thắng đã có thể tới 50 phần trăm. Khốn nỗi là họ mặc “quần áo” kiểu dân tộc thiểu số, không có cổ áo hay tay áo để dùng đòn vai hay đòn hông. Nhanh như chớp, tôi đành phải áp dụng đòn chí tử của Judo, đó là đòn “hy sinh” Tomoe Nage. Tôi té xuống đất trước, kéo anh này ngã theo, dùng chân phải đá vào hạ bộ và thẩy anh này 180 độ. Thú thực, trong lúc thập tử nhất sinh như thế này, tôi vẫn còn nghĩ được là chỉ nên làm họ sợ thôi, không cần giết họ. Khi đà ngã của cả hai đến gần mặt đất, tôi giựt ngược cánh tay của anh này lại, tránh cho đầu anh không bị đập xuống đất. Đầu bị đập xuống đất trong trường hợp này, không bể đầu thì cũng gãy cổ, chết ngay tại chỗ. Lúc còn học trong trường, khi thực tập với các bạn, thầy chỉ cho đạp vào “bẹn” hoặc phần trên của đùi chứ không cho đạp vào hạ bộ. Lúc này, tôi chỉ muốn loại hai anh này ra khỏi cuộc càng sớm càng tốt thôi.</p>



<p>Giờ này thì cả hai người Thượng vẫn còn nằm trên mặt đất rên la. Họ không ngờ là đã ăn hiếp lầm người. Tôi đứng lên, nhổ con dao ra, chỉ vào mặt hai người nói:</p>



<p>&#8211; Tao không có trốn trại. Lần này, tao không muốn giết hai đứa mày, nhưng lần sau, gặp tao thì cũng tránh mặt tao ra.</p>



<p>Tôi quay gót bước đi sau khi cầm hai cây gậy của hai đứa nó vứt xuống triền dốc. Bây giờ, hơi tỉnh táo lại một chút mới kịp nhận ra là trời trong rừng đã chập choạng tối. Hai người này biết là tôi có ý định ra xã Đức Hạnh và có thể, khi họ đứng dậy được, họ cũng sẽ tìm về hướng đó để “phục kích” tôi. Nghĩ vậy cho nên thay vì đi xuống dưới triền dốc, tôi đi ngược lên trên đồi. Cứ đợi xem tình hình thế nào đã.</p>



<p>Thoáng một cái mà trời đã tối hẳn. Cơ hội trở về trại không còn nữa rồi. Tôi tức cái định mệnh oái oăm của tôi quá. Tự nhiên thì xảy ra những chuyện không đâu, mất thì giờ và vuột mất cơ hội. Từ bây giờ trở đi, tôi chỉ còn biết trông nhờ vào chính khả năng của tôi để giành sự sống. Tôi leo lên một cành cây, dự trù sẽ ngủ qua đêm ở trên này. Sáng ra, ở trên cao quan sát phía dưới cũng dễ mà không sợ bị lộ.</p>



<p>Trong giấc ngủ chập chờn, thỉnh thoảng tôi nghe thấy tiếng xe của cả một đoàn “công voa”, rầm rầm chạy ngoài đường. Lúc khác thì lại nghe thấy tiếng voi thét trong đêm khuya, hình như một con voi và một con hổ đang quần nhau dưới đất. Gần sáng thì lại nghe tiếng anh em trong trại gọi nhau ơi ới, rõ ràng có cả tiếng của Uyển, Linh, anh Đồng, anh Tuyến, lại có cả tiếng nói vọng lại rất mơ hồ của Lộc và Bé. Thiếp đi một lúc sau thì lại thấy tiếng của bạn Tiêu Quang Hiền và của Nguyễn Hữu Phương, đồng môn trường Quân Cảnh với tôi, khuyến khích tôi cứ giữ chức vụ tổ trưởng. Choàng tỉnh dậy thì cảnh vật vẫn còn yên tĩnh trong hơi sương sớm. Tôi nhắm mắt, cố tìm lại giấc mơ dở dang xem Lộc và Bé định nói gì với tôi.</p>



<p>Tôi cảm thấy bụng đói cồn cào mới nhớ ra là từ lúc ra khỏi nhà ông tù trưởng cho đến giờ, chưa ăn thêm miếng nào vào bụng. Tôi lấy lon gô ra, bốc một nắm cơm bo bo ngào đường và ruốc bỏ vào miệng, vừa nhai từ từ, vừa ngẫm nghĩ về những phần đời trước trong cái định mệnh này, không biết nó sẽ kéo mình về đâu. Vậy mà trời đã sáng bạch tự bao giờ. Tôi vẫn ngồi trên cành cây cao, quan sát bên dưới xem có ai đi làm rừng ở khu vực này vào giờ này không. Cảnh vật vẫn yên tĩnh. Thỉnh thoảng chỉ có tiếng chim bay vụt vì một cái cử động của tôi. Từ đây, tôi cũng chưa thể định hướng được xem xã Đức Hạnh ở phía nào. Nhìn bao quát toàn cảnh vật thì cũng chỉ thấy toàn rừng là rừng. Chỉ một điều tôi chắc chắn là xã Đức Hạnh phải ở phía đồng bằng dưới chân đồi.</p>



<p>Dễ chừng đã khoảng một giờ đồng hồ trôi qua, tôi cầu mong đừng có ai đi qua khu vực này, nhất là hai anh chàng du kích Thượng. Nhất định tôi phải tìm cách định hướng về Đức Hạnh. Nghĩ vậy, tôi tuột xuống khỏi thân cây, coi lại dao rựa, thức ăn, nước uống đầy đủ và bắt đầu đi xuống đồi. Những kiến thức đi rừng tôi học được khi còn ở Long Khánh hình như không giúp được tôi trong trường hợp này. Có biết hướng Bắc ở đâu theo vị trí của sao Bắc Đẩu đã thấy trong đêm qua thì cũng như không – vì đứng ở vị trí này, tôi đâu có biết xã Đức Hạnh nằm ở hướng nào? Định mệnh ơi, dẫn dắt tôi đi với.</p>



<p>Xuống đến gần chân đồi, tự nhiên tôi nghe tiếng nước róc rách. Tôi đứng lại để nghe xem đây có phải là ảo tưởng không. Quả thật, đây là tiếng nước suối chảy. Tôi cứ theo trườn đồi mà đi xuống hướng có tiếng nước chảy. Càng xuống gần, tôi càng nhận thấy đây là một con suối thật. Đúng là <em>cái kiếp con tằm đến thác hãy còn vương tơ</em>! Tôi liên tưởng ngay, đây chắc chắn là phần hạ nguồn của con suối mà cô con gái ông tù trưởng hay múc nước lên, pha rượu cho chúng tôi uống. Con người <em>đa sầu đa cảm</em> của tôi nghĩ ngay đến bốn câu thơ tôi trích ra ở đây. Ai cũng biết là tôi muốn tâm sự điều gì rồi!</p>



<p>(Còn Tiếp)</p>



<p><strong>Phụ Chú:</strong></p>



<p>1.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/11/image002.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="715" height="459" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/11/image002.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-75333" style="width:489px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/11/image002-300x193.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/11/image002.jpg?strip=all 715w" sizes="(max-width: 715px) 100vw, 715px" /></a></figure></div>


<p><em>(Vào những năm 1974, 1975, Phước Long là một trong số 11 tỉnh bao quanh Biệt Khu Thủ Đô Sài Gòn-Gia Định. Ở cách Sài Gòn khoảng 150 cây số về phía Bắc, Phước Long có địa giới giáp với Bình Long (phía Tây), Quảng Đức (phía Đông), Long Khánh (phía Nam) và Campuchia (phía Bắc) và nằm trong địa bàn tác chiến của Quân khu III (Quân đoàn III) của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa.)</em></p>



<p>2.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/11/image003.png?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="465" height="451" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/11/image003.png?strip=all" alt="" class="wp-image-75334" style="width:273px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/11/image003-300x291.png 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/11/image003.png?strip=all 465w" sizes="(max-width: 465px) 100vw, 465px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Đòn Tomoe Nage, ảnh minh họa lấy từ Internet xuống.</em></p>



<p>3. </p>



<p>Thiếp tại Tương giang đầu</p>



<p>Chàng tại Tương giang vỹ</p>



<p>Tương tư bất tương kiến</p>



<p>Đồng ẩm Tương giang thủy</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nguyễn Kỳ Dzương: NHỮNG PHẦN ĐỜI CỦA ĐỊNH MỆNH (12)</title>
		<link>https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-12/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Kỳ Dzương]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 29 Oct 2024 06:40:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[hồi ký cải tạo]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=75177</guid>

					<description><![CDATA[Những Phần Đời Của Định Mệnh: “Con giun xéo lắm cũng oằn” Cán bộ trại thẩy vào phòng biệt giam cho tôi một cái chậu bằng plastic cỡ trung bình, như những cái chậu được bán ở ngoài chợ. Chỉ có điều là cái chậu này sứt mẻ, trầy trụa, có lẽ đã bị phế [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/08/HOI-KY-CAI-TAO.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1002" height="613" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/08/HOI-KY-CAI-TAO.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-73498" style="width:578px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/08/HOI-KY-CAI-TAO-300x184.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2024/08/HOI-KY-CAI-TAO-768x470.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/08/HOI-KY-CAI-TAO.jpg?strip=all 1002w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p class="has-text-align-center"><strong><em>Những Phần Đời Của Định Mệnh: “Con giun xéo lắm cũng oằn”</em></strong></p>



<p>Cán bộ trại thẩy vào phòng biệt giam cho tôi một cái chậu bằng plastic cỡ trung bình, như những cái chậu được bán ở ngoài chợ. Chỉ có điều là cái chậu này sứt mẻ, trầy trụa, có lẽ đã bị phế thải từ lâu. Miệng chậu rách một hai đường, họ đã phải lấy dây thép buộc chúng lại với nhau, trông méo mó, thảm hại. Khi vứt cái chậu này vào cho tôi, họ cũng không nói để làm gì. Tôi phải tự sử dụng trí óc “sáng tạo” của mình: Biến cái chậu này thành cái cầu tiêu di động! (Các đỉnh cao trí tuệ cũng chỉ có thể sáng tạo tài tình đến thế này mà thôi!)</p>



<p>Mấy hôm sau, nó trở thành “ép-phê” ngược: nó bốc mùi khắp cả phòng! Tôi phải chõ mũi ra ngoài thở và lớn tiếng kêu trại cho tôi ra tắm rửa. Một vệ binh đi ngang, mở cửa, chưa kịp hỏi là tôi cần gì – thì dội ngược trở ra, mở toang cánh cửa cho tôi ra ngoài, chỉ hướng cái giếng mà tôi có thể ra đó mà tắm giặt.</p>



<p>Một tuần sau, trại thả cho tôi từ trại tù nhỏ, trở về trại tù lớn. Trong suốt thời gian tôi bị biệt giam như vậy, tôi chưa hề bị gọi lên hỏi cung hay điều tra thêm gì về cái vụ trốn trại của anh bạn Quang. Không hiểu sao họ lại bắt tôi đem vào phòng biệt giam như vậy? Chịu!</p>



<p>Về bên trại, tôi hỏi thăm về bạn Quang. Các bạn tôi kể cho nghe rằng chỉ khoảng nửa tiếng sau, khi mọi người đang nối đuôi nhau trên đường đi làm thì một người đi xe Honda chạy ngược chiều, chỉ một thoáng, anh ấy vòng xe lại và Quang đã nhẩy lên sau xe và họ biến mất trên con đường đất đỏ mịt mù.</p>



<p>Bác Răng có vẻ hậm hực với chuyện này lắm vì có lẽ bác cũng ghen với anh bạn Quang này, sao nó có người lên tận rừng Phước Long này đón nó về? Trong khi bác chưa được một lần có người lên thăm. Thỉnh thoảng, lúc rảnh rỗi, bác lại đem tên Quang ra mà lèm bèm, lẩm bẩm những gì chúng tôi nghe không rõ.</p>



<p>Có lần, tôi giả vờ hỏi bác Răng: “Bác có lên trại báo cáo là tôi đổi việc làm hôm đó để cho Quang vượt ngục không”? Bác trợn mắt, thề sống thề chết là “tao không làm việc đó”. Tôi thản nhiên nói với bác: “Nếu sau này, tôi phát giác ra một manh mối nào là bác đã lên báo cáo tôi, khiến tôi bị biệt giam và bị hành hạ một tuần như vậy, tôi sẽ không để bác yên”.</p>



<p>Mùa Thu trong rừng đã bắt đầu. Cái se se lạnh vào lúc sương sớm còn lãng đãng trên các ngọn cây. Chúng tôi thức dậy, sửa soạn vào rừng đi làm. Anh bạn Tiến “thi sĩ” ngâm nga vài câu. Có nhiều người hỏi: “Giờ này mà còn lãng mạn như vậy”? Anh bạn Tiến nói: “thì cũng phải thi vị hóa cuộc sống này để còn có ý chí mà sống chứ”? Có lẽ như vậy thật các bạn ạ. Cứ yêu đời đi.</p>



<p>Nhắc lại cái chuyện cứ yêu đời đi&#8230; tôi nhớ lại trước đây mấy tháng, trước khi có đợt thả hơn một trăm tù từ trại của chúng tôi về, có một anh bạn (đã được thả trong đợt đó) có tên là Danh. Anh này trước đây là một dược sĩ quân y. Anh chàng này cũng được thăm nuôi, tiếp tế đầy đủ nhưng mặt mũi lúc nào cũng thiểu não, sưng xỉa. Anh thấy tôi hay cười nói “linh tinh” với anh em, bạn bè. Tôi hay “đàn đúm” với Tiến “thi sĩ”, với Hậu “đàn thùng” và chính tôi cũng phụ trách đánh “đại hồ cầm” cho các buổi họp mặt, văn nghệ bỏ túi. Tôi cũng hay được mời chè, cháo, cà phê – hay ít lắm, cũng có chầu uống trà với anh em. Anh ấy có vẻ ghen tức với tính “quảng giao” của tôi và dĩ nhiên, không thích thái độ của tôi. Mỗi lần gặp nhau, anh ấy hay nói: “chúc anh vẫn luôn có được cái vui vẻ, vô tư như vậy”! (Hay là anh này mỉa mai tôi về cái việc hay bị bắt lên trại, có khi bị biệt giam, có khi còn bị đánh bầm dập.) Tôi cũng không muốn bào chữa cho thái độ bất cần đời của tôi như vậy. Không biết anh bạn này được thả về với gia đình rồi, có vui hơn tý nào không, hay là lại băn khoăn, đau khổ vì cuộc sống trong chế độ cộng sản không được như ý muốn? Trong trại, tôi chưa bao giờ thấy anh bạn này cười!</p>



<p>Như đã nói thoáng qua trong phần trên, mùa Thu trong rừng đang trở lại với chúng tôi. Chúng tôi lại phải tìm cách đối phó với đàn muỗi rừng vào buổi sáng sớm như thế này. Nhiều anh có sẵn mầm mống bệnh sốt rét trong người thì lại đang lo. Chúng tôi được trại cho lệnh phải chuẩn bị cho việc “niên hoan” mừng ngày Hai tháng Chín.</p>



<p>Trại cho lệnh thiết lập một cái bàn thờ (người cộng sản vô thần mà cũng muốn lập cái bàn thờ) giữa sân trại. Các cán bộ cho biết là buổi chiều hôm trước, trại sẽ đưa bức ảnh của “Bác” sang để giữa bàn thờ. Chúng tôi nghe xong thì cũng “vô tư”, không để ý đến nữa. Chỉ hy vọng là trại sẽ lại cho mỗi người tù một miếng thịt heo to bằng hai ngón tay như những năm trước.</p>



<p>Chiều hôm đó, hai anh vệ binh trịnh trọng khiêng một tấm ảnh khổ lớn, có đóng sẵn khung, bọc trong một tấm vải đỏ. Kêu chúng tôi phụ trang trí lên bàn thờ. Tấm ảnh này được người nào đó “thổi” cho nét mặt hồng hào, béo tốt, râu ria oai vệ, khác hẳn 100% với những gì mà chúng tôi biết trước đây. Ăn gì mà béo tốt hồng hào thế? Hay là được bác Mao tặng cho mấy con chuột “hà nàm” nuôi bằng củ sâm Cao Ly? Trước khi về, các anh vệ binh còn dặn chúng tôi là phải “bảo quản” tốt bức ảnh, cùng bàn thờ của bác. Chúng tôi không thể hiểu nổi anh này dặn điều gì. Phải “ướp” bằng “formol” cho cái hình này tươi tốt hay sao?</p>



<p>Thời gian rồi cũng từ từ trôi. Ngắm bức ảnh vô duyên đó mà bàn luận mãi cũng chán. Chúng tôi tắt đèn đi ngủ.</p>



<p>Sáng sớm hôm mùng Hai tháng Chín, chúng tôi nghe anh em gọi nhau hớt hải: “Có thằng nào phá bàn thờ”!</p>



<p>Chúng tôi chạy túa ra xem. Má ơi, thằng nào mà ăn gan trời thế này? Nó lấy một bịch nylon đựng đầy chất thải của con người vào buổi sáng, đập vào tấm ảnh “bác” trên bàn thờ. Chất vàng chảy nhầy nhụa trên khuôn mặt oai vệ hôm qua, khiến cho bức ảnh này trở thành chân dung của “bá tước Dracula”, chỉ thiếu hai cái răng nanh nữa thôi. Chúng tôi chờ trời sập mà thôi.</p>



<p>Một thoáng sau, một số vệ binh xách AK-47 chạy sang. Các anh cán bộ cũng được báo cáo, lấp sấp theo sau. Họ nhìn thấy tấm ảnh của “bác” yêu quý của họ trong ấn tượng khủng khiếp, không thể tin được là việc này xảy ra trong ngày trọng đại thế này. Mặt họ tái đi vì giận dữ. Chúng tôi cũng lẳng lặng bỏ về, nhưng dĩ nhiên là họ không để cho việc này qua đi êm thắm như vậy. Các anh vệ binh lên đạn, chĩa súng về phía chúng tôi hét:</p>



<p>&#8211; Các anh đứng đó. Việc làm ngay bây giờ của các anh là đem tấm ảnh “bác” xuống, rửa sạch sẽ, lau khô xong đem sang trại trả chúng tôi. Hôm nay, không có liên hoan gì hết. Tất cả nghỉ lao động, vào họp tổ “khẩn trương” tìm cho ra thủ phạm việc này.</p>



<p>Chúng tôi tản mát. Tổ trực lo việc gỡ tấm ảnh xuống, đem ra giếng rửa và lau khô. Tổ nọ đổ tổ kia xem ai có trách nhiệm đem bức ảnh sang trả. Không tổ nào muốn làm việc này. “Thằng” nào có “tài” “ném c&#8230;dấu tay” hay vậy không biết!</p>



<p>Chúng tôi được nghỉ lao động đã bốn ngày. Ngày nào cũng phải “làm bộ” họp tổ và “tìm cho ra thủ phạm”. Các anh nuôi vẫn phải lo củi lửa để nấu cơm, nấu nước cho anh em.</p>



<p>Cán bộ trại bắt đầu sốt ruột và họ khủng bố chúng tôi thêm bằng cách, bất thần, xuất hiện giữa đêm khuya, hò hét, bắt chúng tôi thức dậy, ra ngoài sân, sắp hàng ngay ngắn xong, ngồi tại chỗ cho đến sáng. Đây hẳn nhiên là cuộc đấu trí giữa hai bên. Một bên thì tức lồng lộn, một bên thì nhởn nhơ (ra cái điều ân hận)!</p>



<p>Đúng như chúng tôi nghĩ, thế nào họ cũng bày mưu ly gián, làm bộ hỏi cung người này thì bên kia bức phên tre, người khác cũng nghe. Họ cho biết là họ đã có kết luận, đã tìm ra thủ phạm. Những người bị gọi lên vẫn nghĩ là người kia đã khai thay cho mình. Bác Răng cũng không tránh khỏi bị cán bộ trại gọi lên. Bác run rẩy, phân bua với anh em:</p>



<p>&#8211; Tao có làm gì đâu mà họ nghi tao, gọi tao lên làm gì?</p>



<p>Chúng tôi “dọa” cho bác sợ hơn một chút:</p>



<p>&#8211; Biết đâu? Những lúc bác lên nói chuyện với các bộ quản giáo, bác nói hớ cái gì đó khiến họ nghi bác thì sao?</p>



<p>Bác Răng nhăn nhó bước đi. Mặt bác Răng này lúc nào cũng sần sùi ửng đỏ nhưng hôm nay, trình diện trại trở về, mặt bác tái xanh, có lẽ không phải vì sợ, mà vì tức tối. Bác đã tốn bao nhiêu công sức báo cáo những chuyện xảy ra bên trại tù cho các ông cán bộ, thế mà hôm nay bác cũng bị dọa nạt như ai!</p>



<p>Cả tuần sau, không thấy biến chuyển gì mới. Chúng tôi vẫn muốn ra rừng làm việc cho bớt cuồng chân cuồng cẳng nhưng chưa được lệnh đi. Buổi sáng hôm đó, một anh vệ binh chạy sang trại, thổi còi tập họp và ra lệnh cho chúng tôi lên hội trường “học tập”.</p>



<p>Hội trường đã có kê sẵn một cái bàn dài dành cho cán bộ quản giáo hoặc các ông “chính trị viên”. Chúng tôi ngồi đợi trong yên lặng.</p>



<p>Một lúc sau, một phái đoàn cũng gồm năm người vào hội trường. Một cán bộ ra lệnh cho chúng tôi đứng dậy. Ông đứng giữa, biểu diễn một vài động tác “thao diễn cơ bản” của cái quân đội “nhà quê” của ông. Trông vụng về, ngố nghế và buồn cười. Ông trình ông cán bộ chủ tọa xong, cho chúng tôi ngồi xuống và ông cũng ngồi lên bàn với mấy ông kia. (Ngày xưa chúng tôi tập bắn bia bằng những hình vẽ vc với bộ răng “cải mả” làm sao thì bây giờ mấy ông này giống y như vậy! Ngoài Bắc ăn ngô nhiều quá chăng?)</p>



<p>Ông chủ tọa hắng giọng xong, đỏ mặt nói:</p>



<p>&#8211; Tôi được các cán bộ quản giáo báo cáo về sự “cố” xảy ra trong trại các anh ngày 2 Tháng 9 vừa qua. Tôi không ngờ là Đảng và Nhà Nước cố gắng giáo huấn, cải tạo các anh, mong có ngày các anh trở thành người công dân tốt của “xã hội tiên tiến” này, mở đường cho các anh có ngày trở về đoàn tụ với gia đình – thế mà, khi nghe báo cáo, chúng tôi hoàn toàn thất vọng. Đến bây giờ thì chúng tôi không nghi ngờ gì nữa. Chúng tôi không bao giờ có thể cải tạo được các anh. Tư duy của bọn đế quốc, của cái bọn tay sai, bán dân, hại nước, đã ngấm vào dòng máu, vào não trạng của các anh. Điều này tôi sẽ phải báo cáo lên “trên” nữa và tôi chắc chắn rằng sẽ có “phương án” đối xử thích đáng với các anh. Các anh sống dưới sự quản giáo của quân đội chúng tôi cũng là cái điều may mắn cho các anh. Mai đây, chúng tôi giao các anh cho đơn vị công an thì cuộc sống các anh sẽ khác lắm, các anh cứ chuẩn bị tinh thần đi.</p>



<p>Mấy tuần rồi, tự nhiên chúng tôi nghe nguồn tin là chúng tôi sẽ bị chuyển trại về vùng Hàm Tân, dưới sự quản trị của công an. Nghe nói ở đó sống trong vòng rào kẽm gai, họ có nhiều cách đày đọa mình hơn. Hôm nay, ông cán bộ này vô tình hé ra quyết định của “trên” của ông.</p>



<p>Chúng tôi buồn bã trở về trại. Tâm trạng vốn đã não nề, bây giờ lại càng não nề, căng thẳng hơn. Chúng tôi nhủ lòng, bây giờ cuộc sống đã mất niềm vui, không cần phải cố gắng “đạt” chỉ tiêu nữa, chỉ làm cầm chừng đợi bị đưa về Hàm Tân.</p>



<p>Vết thương nằm ngang trên ngực của tôi vẫn là một vết bỏng, luôn đau rát. Cái thẹo đó dài khoảng 5 phân, đỏ ửng như muốn rỉ máu. Tôi cứ lấy cớ bị thương, hay lên trại xin khám bệnh. Tôi khai là đã bị vệ binh Dũng đánh. Chính vết thương này làm cho tim tôi đập bất thường. Tôi đã bị té xỉu hai lần bên trại (vết thương ở ngực thì làm sao ảnh hưởng đến tim được!). Ông y sĩ Bắc Việt cũng không biết nên làm thế nào. Rõ ràng ông ấy biết vết thẹo ấy đau lắm nhưng thuốc Xuyên Tâm Liên – Ka Pê Xiline của ông không chữa được bệnh này. Ông phê chuẩn cho tôi được làm việc nhẹ.</p>



<p>Anh em bên trại cũng thương thân phận méo mó của tôi nên để tự tôi tìm việc gì làm được thì làm. Tôi vẫn được anh em cho giữ chức tổ trưởng. Thường thì tôi đảm trách việc chẻ tre làm lạt hoặc đan lát nhẹ nhẹ. Có khi thèm đi ra ngoài quá, cũng nói với anh em là tôi đi kiếm củi cho bếp.</p>



<p>Không biết làm sao các bạn tôi có được lời của bài hát “Sài Gòn Ơi Vĩnh Biệt” do Nam Lộc sáng tác ngay từ khi còn đang ngồi trên chuyến máy bay rời Việt Nam ngày 27 Tháng Tư, 1975. Bài hát từ bên trại tỵ nạn dội về Việt Nam. Chúng tôi chuyền tay nhau chép bài hát này. Hay hơn nữa là các bạn có khả năng đàn hát cũng đã hát được bản nhạc này. Hóa ra tâm hồn cũng có một điểm chung, hễ yêu văn nghệ, và có cùng tâm sự, là dễ tìm đến nhau. Lời của bản nhạc này đánh động đến tâm can của chúng tôi và vì thế chúng tôi đều thuộc lòng.</p>



<p>Tôi được phân công làm việc nhẹ và các bạn của tôi cũng thương tôi nên tôi có nhiều thì giờ để “lén” ra sóc Thượng. Mục đích của tôi là ra đấy mua thêm thức ăn về “tẩm bổ” cho thân thể khỏe mạnh hơn, nhỡ có quyết định trốn trại thì còn có sức mà đối phó với nghịch cảnh. Tôi càng thân với họ hơn. Ông tù trưởng vẫn thích “nhậu” với tôi. Đôi khi, sau khi nhậu với ông vài “sừng”, tôi vẫn còn đủ thì giờ “phóng” ra xã Đức Hạnh, cũng để mua thêm những thứ lặt vặt. Anh em biết tôi hay phóng ra đó và họ cũng hay gửi tôi mua dùm thức ăn, vật dụng linh tinh. Thỉnh thoảng, tôi cũng mua vài món ăn mang về cho bác Răng. Bác ấy vui lắm, không để ý đến thời khóa biểu đi lại trong trại của tôi nữa.</p>



<p>Như đã nói ở phần trên, càng ngày, ý định trốn khỏi nơi đày đọa này càng mãnh liệt hơn, vì thế mà tôi hay lợi dụng thời khóa biểu rộng rãi, chạy ra xã Đức Hạnh và sóc Thượng cho quen đường đi và cũng để ước lượng thời gian từ điểm nọ sang điểm kia mất trung bình bao lâu. Cứ học thêm được cái nào hay cái nấy!</p>



<p>Cán bộ trại hay có thói quen bất ngờ cho điểm danh vào lúc 7 giờ tối. Mùa khô thì hãy còn sớm, ngày còn dài, nhưng vào mùa mưa thì trời sập tối sớm. Trong rừng, trời nhá nhem tối đã không nhìn rõ mặt nhau. Khi các ông này điểm danh, đọc đến tên ai thì người đó chỉ việc trả lời “có” là đủ. Tôi hay la cà ngoài xã Đức Hạnh, có khi về trễ, hôm ấy lại có điểm danh thì các bạn tôi cứ việc hô to “có” thì mấy ông cán bộ cũng chẳng hay biết gì. Có lẽ các ông này cũng chơi cái trò khủng bố, dọa nạt cho “phải phép” nên thực ra cũng không chú ý lắm.</p>



<p>Có hôm trời đã tối, với tâm hồn “nghệ sĩ” và bất cần đời sẵn có, tôi miên man ngắm nhìn con suối ở gần sóc Thượng, chợt nhớ đến hai câu thơ:</p>



<p>Hỡi cô tát nước bên đàng,<br>Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?*</p>



<p><em>* </em><em>Ở trên là hai câu thơ cuối trong bài&nbsp;</em><em>“</em><em>Tiếng hát trong trăng</em><em>”</em><em>, trích trong tập&nbsp;</em><em>“</em><em>Tiếng thông reo</em><em>”</em><em>&nbsp;của thi</em><em> sĩ Bàng Bá Lân</em><em> in năm 1934. Sau đó nhiều người đã thuộc và truyền miệng rộng rãi nên được nhầm tưởng là ca dao.</em><em></em></p>



<p>Mặc dù ở đây không có cô thôn nữ nào đang tát nước nhưng mà <em>con tằm đến thác hãy còn vương tơ (!)</em>, tức cảnh sinh tình, mơ màng nghĩ: nhỡ bây giờ có cô con gái (để bộ ngực trần) của ông tù trưởng ra suối này tắm thì làm sao đây hở trời? Cô này có lẽ cũng có để ý đến tôi – dù sao cũng là “bác sĩ” cơ mà? Đang say sưa tưởng tượng thì chợt nhớ ra là bây giờ chắc cũng quá 7 giờ tối rồi, phải “trốn” giấc mộng, ba chân bốn cẳng chạy về trại. May quá, hôm ấy mấy ông cán bộ lại không điểm danh. Mấy thằng bạn tôi cảnh cáo, bắt tôi phải hứa, dù thế nào cũng ráng về trại sớm. Tôi kể lại cho các bạn ấy giấc mơ dưới ánh trăng vàng của tôi ở ngoài suối. Mấy đứa nó không thèm nghe mà còn nói:</p>



<p>&#8211; Mày không phải là <em>con tằm đến thác hãy còn vương tơ</em> đâu, mà là con giun, xéo lắm cũng oằn đấy. Cán bộ trại mà nó “xéo” cho mày vài trận nữa thì chỉ có mà “lết” chứ không còn chân mà rong chơi nữa đâu.</p>



<p>Của đáng tội, không phải tôi mê rong chơi trong khi các bạn tôi vẫn bị bó chân bó cẳng trong trại tù. Một phần các bạn ấy không có điều kiện rộng rãi thì giờ như tôi, cũng có thể các bạn ấy không có nhu cầu đi ra ngoài mua bán linh tinh như tôi, v&#8230;v&#8230; Vấn đề thực ra là một hình thức trả thù tiêu cực của tôi. Ông đây cứ trốn tụi bay, cứ qua mặt được tụi mày lúc nào hay lúc ấy. Ít ra thì tao cũng có được những giây phút gọi là “Tự Do” với trời trăng, mây nước. Đơn giản là vậy.</p>



<p>(Còn Tiếp)</p>



<p><strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh/">Kỳ 1</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-2/">Kỳ 2</a></strong> <a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-3/"><strong>Kỳ 3</strong></a> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-4/">Kỳ 4</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-5/">Kỳ 5</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-6/">Kỳ 6</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-7/">Kỳ 7</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-8/">Kỳ 8</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-9/">Kỳ 9</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-10/">Kỳ 10</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-11/">Kỳ 11</a></strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nguyễn Kỳ Dzương: NHỮNG PHẦN ĐỜI CỦA ĐỊNH MỆNH (11)</title>
		<link>https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-11/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Kỳ Dzương]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 23 Oct 2024 06:47:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[hồi ký cải tạo]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=75038</guid>

					<description><![CDATA[Phần Mười Một: “Tôi Đang Ở Đâu?” Sau khi Linh đi thoát được (tôi đoán, và cầu nguyện như vậy) hơn một tháng thì tôi lại được thăm nuôi. Tôi hỏi tình hình gia đình sinh sống ở nhà. Vợ tôi cho biết là bây giờ cái gì cũng hiếm, từ thịt, cho đến gạo, [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/08/HOI-KY-CAI-TAO.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1002" height="613" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/08/HOI-KY-CAI-TAO.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-73498" style="width:678px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/08/HOI-KY-CAI-TAO-300x184.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2024/08/HOI-KY-CAI-TAO-768x470.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/08/HOI-KY-CAI-TAO.jpg?strip=all 1002w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p class="has-text-align-center"><strong><em>Phần Mười Một</em></strong><strong><em>: </em></strong><strong><em>“</em></strong><strong><em>Tôi</em></strong><strong><em> Đang Ở Đâu?”</em></strong></p>



<p>Sau khi Linh đi thoát được (tôi đoán, và cầu nguyện như vậy) hơn một tháng thì tôi lại được thăm nuôi. Tôi hỏi tình hình gia đình sinh sống ở nhà. Vợ tôi cho biết là bây giờ cái gì cũng hiếm, từ thịt, cho đến gạo, đường, bột, cho tới thuốc tây. Tiền kiếm ra thì khó mà chi tiêu, đã hà tặn, hà tiện lắm nhưng vẫn chật vật. Vì có hai con còn nhỏ, vợ tôi lại phải chi thêm tiền cho cái vụ thuê người trong xóm thay mình đi công tác “thủy lợi”. Mấy đợt đổi tiền, nó lột hết của mình rồi còn đâu? “Nhà Nước” bắt đầu cho thân nhân ở nước ngoài gửi quà về. Họ biết là họ không nuôi nổi dân cho nên họ đã phải “mở cửa” cho hàng nước ngoài tuồn về, dân có cái mà sống. Nhà nước cũng có thêm tiền mà củng cố dã tâm của họ. Tuy vậy, họ vẫn giới hạn hai ký cho mỗi gói quà. Cái chuyện đi ra phi trường lãnh quà từ nước ngoài gửi về cũng là một sự ngao ngán khác. Thân nhân phải mang đủ thứ chứng từ như: hộ khẩu, giấy chứng minh nhân dân, giấy khai sinh, có khi cũng bị hạch hỏi về sự “liên hệ” với người nước ngoài, v&#8230;v&#8230;Mọi người phải xếp hàng từ lúc năm giờ sáng. Khi bưng được gói quà ra khỏi cổng thì cũng đã hơn hai giờ trưa! Có nhiều con buôn vây kín chung quanh mình để dành mua gói quà đó. Chen lấn tránh né họ cũng lại là một vấn đề. Về đến nhà rồi thì phải lần mò từng đường kim mũi chỉ của chiếc quần Jean xem bên kia có gài được chỉ vàng nào vào đó không. Các ống thuốc đánh răng cũng phải moi cho kỹ vì người dân đã truyền nhau những mánh khóe dấu tiền, dấu vàng như thế nào để qua mặt nhà nước. Người trong nước bây giờ chỉ còn biết trông chờ vào những gói quà từ nước ngoài gửi về. Dĩ nhiên gia đình nào không có thân nhân ở nước ngoài thì chỉ còn nước cố bươn chải nuôi nhau.</p>



<p>Tôi kể lại chuyện bạn Linh trốn như thế nào. Vợ tôi giật mình nói:</p>



<p>&#8211; Chết thật, bây giờ cái gì cũng khó, một đoạn đường từ đây về nhà cũng phải đi qua ít nhất năm trạm công an kiểm soát. Bây giờ họ có đủ loại công an, từ công an cơ động, đến công an kinh tế, thôi thì đủ loại công an. Họ muốn hạch sách, mè nheo thế nào thì cũng ráng mà tránh né. Không được thì lại phải chìa ra cái “thủ tục đầu tiên”. Mình tính đi theo con đường anh Linh đi thì chỉ có chết. Thôi, mình quên cái ý định trốn trại đi.</p>



<p>Từ khi sang trại này, trại cán bộ ở xa nên mọi sinh hoạt của bọn tù chúng tôi cũng tương đối dễ chịu. Hình như cái việc thỉnh thoảng có thằng tù trốn trại cũng không là mối quan tâm của cán bộ. Sau bốn năm “giải phóng” Miền Nam, có lẽ người cộng sản Miền Bắc cũng dần dần cảm nghiệm được rằng người dân Miền Nam trước đây sống rất sung túc. Không phải dùng cái muổng dừa ăn cơm như họ vẫn được nghe khi ở ngoài Bắc. Cái tụi tù này nó cũng còn cái nét phong lưu, “tiểu tư sản” nhưng cũng rất vô hại.</p>



<p>Tôi ở với vợ suốt đêm ở ngoài nhà thăm nuôi. Về sau này, tụi cán bộ nó cũng biết là tụi tù nó cũng nhiều mánh thủ thân lắm. Không nên mò mẫm vợ con nó mà thiệt thân. Nhà thăm nuôi cũng nhờ thế mà có nhiều sinh hoạt vui vẻ giữa tù nhân, vợ con, và bạn bè trong trại. Khi có gia đình lên thăm, chúng tôi được cái “đặc quyền” hưởng thụ. Anh em xúm ra giúp gánh quà vào trại, lo nấu nướng, chế biến thức ăn hộ, mang ra cùng thưởng thức đêm văn nghệ với nhau. Chúng tôi mất một tay đàn kiệt xuất là Tạ Kỳ Linh nhưng vẫn còn bạn Tiến và Hậu. Ăn cơm tối xong còn thưởng thức bánh, trà hoặc cà phê.</p>



<p>Vợ chồng chúng tôi nằm trong mùng nghe đàn, hát cùng những tiếng kêu thảng thốt của bầy chim lạc tổ. Ở thành phố, lúc trước chỉ lo làm ăn, nuôi con cái, không được cái thú ngắm trăng đêm – qua cành lá cùng tiếng rì rào, thủ thỉ. Tôi lại tưởng tượng rồi chăng? Tôi đang chập chờn qua tiếng thủ thỉ của vợ hay tiếng thì thầm của gió đây? Tôi vừa ôm chặt vợ trong tay, ngửi mùi mái tóc quen thuộc, nhớ lại câu thơ “Ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới” trong bài thơ Dạ Khúc của Thanh Tâm Tuyền. Chưa chia tay mà đã nghĩ tới lúc ly biệt và tiếp tục “trùng trùng xa cách” nhau. Cuộc đời vốn đã là vô thường. Sống ở cái xã hội bấp bênh này khiến cho người ta không thể tính toán điều gì trước cho tương lai. Ngày hôm nay còn trong vòng tay nhau, ngày mai, sự bất hạnh nào đó có thể xảy ra, mọi chuyện sẽ thay đổi. Vợ tôi thì đã ngủ thiêm thiếp mà tôi thì vẫn chập chờn vì cái ý định trốn trại của tôi vẫn luôn lởn vởn trong đầu. Tôi ôn lại những chuyến trốn trại của các bạn tôi. Có những bạn ra đi rồi vào thiên thu vĩnh viễn. Nhiều bạn hình như đi được trót lọt vì không thấy trại tuyên bố là đã bắt lại được. Có nhiều bạn tù đã trốn, tưởng đâu như dễ dàng, nhưng rồi cũng bị bắt trở lại, bị biệt giam một thời gian. (Chuyện này cũng xảy ra trong trại tôi và chắc chắn cũng xảy ra ở nhiều trại khác như nhưng tôi không có bạn thân trong trường hợp này, và do đó, không can dự trực tiếp nên không viết vào đây.)</p>



<p>Bây giờ, trong đầu óc tôi, điều hoang mang nhất, khó nghĩ nhất là: có trốn về thành phố an toàn nhưng rồi sẽ ăn, ở đâu? Ai mà dám chứa quả bom nổ chậm này. Công an phường mà khám phá ra việc chứa chấp người tù trốn trại thì cả gia đình chứa chấp mình đều bị liên lụy. Điều càng không thể nào nghĩ đến là trốn về xóm cũ ở. Mặc dù hàng xóm có thương và có muốn bao che nhưng, theo vợ tôi nói, công an phường nó hay rình rập lắm. Sống theo kiểu đầy đủ, sung túc như ngày xưa là tụi nó kéo đến hạch sách, đòi “chia lại” ngay. Cái chữ “chia lại” này du nhập từ ngoài Bắc vào: Thấy người khác có chút “thu nhập” khá là phường sẽ xin “chia lại” chút đỉnh. (Cái việc thu nhập này có thể là từ việc làm ăn buôn bán thành công, có khi là được lãnh lương cao khi vì làm nhân viên cho một công ty ngoại quốc, cũng có khi chỉ vì thân nhân khá giả ở nước ngoài gửi quà về liên tục.) Một cái trò tống tiền hợp pháp, chỉ có ở nước cộng sản! Sau này, người nhà phải nhắn người nước ngoài gửi quà về cho những tên khác nhau trong gia đình để thay phiên nhau đi lãnh quà, trước khi về đến nhà thì đã tìm cách tẩu tán, kẻo công an phường biết được là sẽ kéo đến “hỏi thăm”.</p>



<p>Trong đêm, chúng tôi không nhớ là anh em đã giải tán lúc nào. Sáng ra đã thấy sân trước được dọn dẹp sạch sẽ củi lửa. Bạn tôi lại còn chu đáo, gánh nước ra cho chúng tôi đánh răng, rửa mặt, lại còn có sẵn hai nắm xôi đậu phọng, món xôi tôi vẫn thích. Cũng sắp đến giờ xe đò vòng trở lại đón thân nhân đưa về thành phố. Vợ tôi không nuốt nổi miếng xôi. Mặt mũi thẫn thờ, thân thể lạnh ngắt, run rẩy. Vợ tôi cứ khuyên tôi nên bỏ ý định trốn trại vì cô ấy có linh tính là lần này gặp nhau, có thể không bao giờ gặp lại. Tôi nghe thấy mà não lòng. Chả lẽ định mệnh này lại khắt khe với chúng tôi như vậy sao?</p>



<p>Nói những lời “gở” như vậy nhưng vợ tôi vẫn đưa cho tôi cái túi nylon nhỏ trong đó đựng căn cước giả và một ít tiền đi đường – nhỡ tôi vẫn giữ ý định trốn trại thì có cái mà dùng.</p>



<p>Xe đò cũng vừa tới. Các bà vợ, bà nào bà nấy nước mắt dàn dụa, líu ríu theo nhau leo lên xe đò. Bao nhiêu quà cáp giao cho chồng hết rồi, bây giờ về tay không nhưng bước chân vẫn nặng nề. Nhiều cánh tay vẫy vẫy trong tâm trạng ngậm ngùi, đau xót.</p>



<p>Tôi băn khoăn quá mức. Càng ngày tôi càng có ý định trốn thoát khỏi cái nơi đày đọa này.</p>



<p>Hồi này, các bạn tôi đồn nhau là có một anh vệ binh mới từ ngoài Bắc vào, gia nhập trại này để cai quản chúng tôi. Anh chàng này còn rất trẻ, tên là Dũng, lại có đem theo bà mẹ. Các bạn tôi nói tay này có lòng hận thù quá khích với tù Miền Nam. Khi có cơ hội là anh ta bắt tù quỳ xuống, lấy thắt lưng quất không tiếc tay. Các bạn tôi đặt cho hắn cái tên “mỹ miều” là Dũng “Đa Kao”. Tôi cảm thấy thật phí phạm khi cho thằng này cái tên đó. Nó không đáng một xu nào khi so sánh với nhân vật Dzũng Đa Kao của Vũ Mộng Long Duyên Anh. Hình như gia đình bà cụ mẹ của Dũng này có ý định vào Miền Nam sinh sống hay sao mà lại mang theo cả một thằng con trai nữa. Nó chừng mười một, mười hai tuổi. Thằng bé này có tài hỗn láo “thiên phú”. Nó thấy chúng tôi là nó ngoác cái mồm ra chửi. Nó nhìn thấy những người đáng tuổi cha, chú nó mà nó vẫn xưng “mày tao” với chúng tôi. Thằng nhỏ lèm bèm những gì chúng tôi không hiểu. Có thể là những bài tuyên truyền “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào” học được ngoài Bắc, nó chỉ nhớ mỗi đoạn một vài hàng, nó thấy chúng tôi, nó muốn ráp lại những lời cái loa Bắc Việt ra rả trong xóm nó – nhưng với số tuổi của nó và với cái đầu óc ấu trĩ của nó, nó không không ráp lại thành câu được. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn hiểu là nó chửi chúng tôi.</p>



<p>Thỉnh thoảng nhớ lại thằng bé này, tôi cũng thông cảm tại sao người dân sống ở ngoài Miền Bắc vẫn để lòng căm thù bọn Mỹ-Ngụy vì những trận bom thả xuống Hà Nội và các căn cứ chiến lược ngoài vĩ tuyến 17 những năm 67-68 – nhưng vẫn không ngờ là chính sách của nhà nước dạy người dân nhỏ nhen, căm thù và ác độc đối với người Miền Nam như vậy. Chả trách gì những “đấng” được ca tụng như ông Tố Hữu, trong trí tưởng của ông toàn là “giết” và “máu” – đã ảnh hưởng vào tâm tưởng của những đứa trẻ đáng lẽ còn được hưởng sự trong trắng ngây thơ.</p>



<p>&#8230;&#8230;&#8230;.</p>



<p><em>Mau mau lên đứng dậy!<br>Gươm gươm đâu, tuốt ra<br>Súng súng đâu, vác chạy<br>Cứu cứu đồng bào ta!<br><br>Giết giết quân xâm lược!<br>Mau xung phong! Xung phong!<br>Cờ bay lên cứu nước<br>Máu giặc phải thành sông!</em><em> &#8230;&#8230;. (Tố Hữu – 1945)</em></p>



<p>Một hôm, tôi vác cái rựa sắc như nước của tôi, đi ra rừng làm việc theo sự phân công hôm nay. Đi cạnh tôi là người bạn cùng tổ, tay này vác cái cuốc trên vai. Chúng tôi đang vừa đi vừa nói chuyện vui vẻ thì thấy mẹ con thằng Dũng đi ngược chiều. Người bạn tôi đang kể chuyện say sưa, quay sang tôi hỏi:</p>



<p>&#8211; Mày thấy truyện hợp lý không? Vừa hỏi, bạn tôi vừa quay sang tôi. Cái cuốc của người bạn quơ trước mặt bà cụ. Thằng Dũng hét lên:</p>



<p>&#8211; Thằng tù này, mày định ám sát mẹ tao hả? Nó vừa nói, vừa có vẻ như sắp rút cái dây lưng của nó ra.</p>



<p>Tôi nóng mặt quá, tôi cũng hét lên:</p>



<p>&#8211; Anh em đứng lại, xem thằng này nó định làm gì? Các bạn tôi, nhóm đi trước, nhóm đi sau, đều đứng lại xem chuyện gì xảy ra. Tôi xấn ngay lại sát cạnh thằng Dũng hỏi lớn:</p>



<p>&#8211; Mày định làm gì bạn tao? Tay tôi cầm cái cán rựa dài dứ dứ vào mặt nó. Bà mẹ nó sợ quá, thấy chúng tôi đông, lại thấy tôi đứng sát thằng con bà với gương mặt có vẻ nhất định ăn thua. Bà kéo tay nó đi nói:</p>



<p>&#8211; Thôi con, người ta có làm gì mẹ đâu mà con đứng lại gây sự. Thôi đi con. Vừa đi, bà vừa kéo tay thằng con. Thằng nhóc cũng biết là không phải lúc ra oai nên nghe theo mẹ, sải bước quay đi. Các bạn tôi kể lại rằng lúc đó mắt tôi có lửa nên thằng Dũng Đa Kao đành phải nhịn. Ít ra cũng phải dzậy chứ?</p>



<p>Hồi này, trại hay lùa chúng tôi đi xem chiếu bóng ban đêm. Lúc này, trại chúng tôi chỉ còn chừng hơn một trăm anh em. Khi được gọi đi xem phim, chúng tôi “rồng rắn” nối đuôi nhau đi trong đêm tối của rừng già vùng Phước Long này. Đội cán bộ chiếu phim cũng có máy phát điện riêng. Họ căng tấm vải trắng lên thành xe Molotova của họ và bắt đầu chiếu phim. Lần đầu tiên chúng tôi được nghe hai chữ “thuyết minh”. Hóa ra nó có nghĩa là phim chạy tới đâu, anh chiếu phim giải thích (và phiên dịch) tới đó.</p>



<p>Chúng tôi được xem những phim thần thoại của Rumani. Phim chúng tôi nhớ nhất là phim “Trẻ mãi không già”. Sau này chúng tôi đổi tên cho hợp với hoàn cảnh hiện tại của chúng tôi thành: “Ở mãi không về” để có cái mà đùa giỡn với nhau. Khi đi xem xi nê thì chúng tôi phải đi bộ trong rừng khoảng nửa cây số. Phần đông những thước phim cán bộ trại cho chúng tôi xem đều mang chủ đích tuyên truyền (rẻ tiền!), thí dụ như cuốn phim (dzô dziên) “Thép đã tôi thế đấy”! Một phim nữa mà tôi nhớ là phim do Việt Nam đóng, mang tên “Đến hẹn lại lên”. Không phải là phim hay nhưng ít ra cũng do người Việt đóng, thấy cô tài tử đẹp thì trông cũng “đã” hơn. Một đêm, khi hết phim, chúng tôi kéo nhau về theo đường cũ trong rừng, tình cờ lại nghe giọng của thằng nhỏ mất dạy đang nói ở gần đó. Hình như nó đang đi với một anh bộ đội nào khác. Chúng tôi âm thầm quan sát, đúng lúc nó đứng lại đi tè bên gốc cây, anh bộ đội kia cũng không để ý, cứ vậy mà đi. Chúng tôi nhào ngay đến, bế xốc nó lên, người thì cầm tay, người thì cầm chân, vừa làm bộ quăng nó, vừa đếm, một, hai, ba, vừa nói để nó nghe: “nào anh em mình vứt nó xuống giếng nước gần đó cho nó chết đuối đi cho rồi”. (Làm gì có giếng nước nào trong rừng già Phước Long này!) Thằng nhỏ sợ quá, lạy van rối rít: “các chú tha cho con”. Chúng tôi đặt nó xuống đất hỏi: “bây giờ mày có muốn chửi chúng tao nữa không?” Thằng bé muốn đái thêm lần nữa, lạy lục: “Không, con không chửi các chú nữa, tha cho con”.</p>



<p>Từ hôm đó, Dũng Đa Kao cũng không dám ra oai với chúng tôi. Đặc biệt là thằng nhỏ, từ hôm đó, thấy chúng tôi, không dám mở miệng chửi bới gì hết! Thằng nhỏ này đến bây giờ, lúc tôi viết hồi ký này, chắc cũng phải hơn năm mươi tuổi. Mẹ con nó sống ở trong Miền Nam này lâu chắc chắn nó đã sáng mắt ra nhiều rồi mà không cần đi khám bác sĩ mắt.</p>



<p>Đời tù và định mệnh vẫn theo sát thân phận tôi. Đời sống trong trại tù vẫn lập đi lập lại một cách buồn tẻ. Ngày nào cũng phải ráng “đạt” chỉ tiêu. Chúa Nhật nào cũng phải làm nửa ngày để lập công dâng “Bác”. Có nghĩa là sức lao động của chúng tôi bị bóc lột sáu ngày một tuần, cộng với nửa ngày Chúa Nhật, được “lao động vinh quang”!</p>



<p>Tôi vẫn tiếp tục tìm cách ra sóc Thượng để mua bán, đổi chác. Ông tù trưởng vẫn tiếp đón tôi nồng hậu. Tôi vẫn mang theo những loại thuốc men căn bản để chăm sóc cho trẻ em trong sóc. Từ trại mới này đến xã Đức Hạnh cũng gần. Chúng tôi vẫn có đủ mọi thứ cần thiết để sống qua ngày. Chỉ có điều là lâu lắm, chúng tôi không ra quán “Ba Cô” vì không có nhu cầu.</p>



<p>Các công tác vẽ vời cho trại cũng không còn. Tôi lại trở lại cái kiếp con tằm nhả tơ! Hàng ngày vẫn phải vác rựa ra rừng. (Không hiểu sao, tôi vẫn thích con rựa này hơn các dụng cụ đi rừng khác!) Những người bạn thân thiết dần dần bị chuyển đi nơi khác, hoàn toàn không còn biết gì về nhau. Tôi không còn hay ngâm thơ cho bạn bè nghe. Đã lâu, chúng tôi không được thăm nuôi nên những buổi tối có văn nghệ bỏ túi cũng không còn. Hậu vẫn còn đàn, hát nhưng không có nhiều hứng thú như trước, toàn những bài hát ra nước mắt. Chúng tôi rỉ tai nhau là phải cẩn thận với một anh bạn tù hơi lớn tuổi, có tên là “bác Răng”. Anh bạn này lớn tuổi hơn chúng tôi nhiều. Trước đây, có thể là một con lai của thời Pháp thuộc. Tên của anh ta, theo chúng tôi đoán, có thể từ nguyên thủy là “Jean” nhưng người mẹ không nói được tiếng nước ngoài nên đọc thành “Răng”. Trông bạn này thì chắc chắn ai cũng biết là anh ta là con lai. Da mặt lúc nào cũng sẩn đỏ, mũi cao, mắt xanh. Anh bạn này không chơi với ai. Thủ cuộc sống riêng tư rất kỹ. Tay này rất ích kỷ, chưa được ai thăm nuôi bao giờ, hay ghen tuông với anh em. Sáng, trưa, chiều, tối, chỉ ngồi chồm hổm trên phản ngủ, nhìn anh em như kiểu con diều hâu nhìn đàn gà con. Thoạt đầu, chúng tôi cũng không để ý, trời sanh tính mà. Càng về sau chúng tôi càng nghi ngờ và quan sát thì quả thực, anh này hay lên trại cán bộ. Những gì chúng tôi nói bên này thì bên kia họ biết hết. Chúng tôi có nhẹ nhàng nhắn một cách tế nhị với anh là anh nên bỏ việc làm của mình. Không được cái quyền lợi gì hơn chúng tôi đâu. Anh không muốn nghe và dĩ nhiên, không thay đổi cách sống.</p>



<p>Một buổi tối, một trong những người bạn của chúng tôi được gọi ra thăm nuôi. Chúng tôi nói là sẽ có một buổi văn nghệ bỏ túi, đàn hát với nhau cho vui. Chúng tôi muốn mời “bác Răng” ra chơi, có thức ăn từ thành phố mang lên, có trà, có cà phê, v&#8230;v&#8230; Bác Răng nghe bùi tai, tham gia với chúng tôi. Bác cũng được “chiêu đãi” ăn uống như chúng tôi. Bác có vẻ vui lắm. Tàn tiệc, chúng tôi rủ nhau về trại. Trên đường về, bất ngờ, một anh đá vào lưng bác Răng. Bác té sấp xuống và chưa kịp hiểu điều gì. Cùng lúc đó, chúng tôi xúm lại, đấm, đạp cho bõ tức. Vừa đánh, chúng tôi vừa truyền cho bác lời cảnh cáo: “Nếu từ nay mà còn tiếp tục lên trại làm ăng ten, báo cáo sinh hoạt của tù thì lần sau sẽ siết cổ cho đến chết”. Bác Răng hiểu chuyện và từ đó, chơi với chúng tôi như chưa có chuyện gì xảy ra. (Trại mất đi một cần ăng ten! Bác Răng với những ngón tay, ngón chân sưng phồng to lên nên vẫn được miễn đi lao động).</p>



<p>Hôm nay, chúng tôi cũng sắp hàng đợi các anh vệ binh đến phân chia công tác. Tôi cũng vẫn mang theo cái vật bất ly thân của tôi là con rựa cán dài, sắc như nước trên vai. Sau khi lãnh công tác trong ngày, chúng tôi chuẩn bị lên đường. Một anh bạn của tổ khác chạy lại nói với tôi: “Anh có thể cho tôi đổi công tác, sang tổ anh đi làm rừng được không”? Anh bạn tên Lê Huỳnh Quang. Tôi không thắc mắc gì, gật đầu đồng ý vì tôi cũng nghĩ là chắc anh này cần đi làm rừng để thừa cơ hội, chạy đâu đó mua thêm thức ăn. Tôi cắt cử một bạn trong tổ tôi sang tổ kia thay thế cho anh. Trong ngày hôm đó, anh Quang này biến mất!</p>



<p>Trời ơi, tại sao lần nào có người trốn trại là có tôi liên lụy trong đó? Sau này, nghĩ lại mới nhớ ra rằng lúc tôi và anh bạn này trao đổi câu chuyện, bác Răng đứng gần đó, đã chứng kiến.</p>



<p>Hai hôm sau, cán bộ trại cho gọi tôi lên. Những lần trước, có người trốn trại, cán bộ quản giáo đâu còn quan tâm nữa mà sao lần này, lại gọi tôi lên? Tôi lên tới trại quản giáo, được một anh vệ binh dẫn vào phòng ông thủ trưởng. &nbsp;Vệ binh Dũng đã chờ sẵn ở đó, lấy mũi súng AK đâm vào giữa ngực tôi. Tôi né sang một bên. Vết đâm thành một vết thương dài trên ngực. Vết thương xé màng ngực tôi, máu không chảy nhưng vết thương rát như lửa bỏng. Tôi làm bộ ngã xuống đất để tránh đòn thù tiếp theo. Ông thủ trưởng xuất hiện kịp thời. Ông quát Dũng: “Không đánh nữa”! (Cho tới hôm nay, khi viết lại tập hồi ký này, vết thương trên ngực tôi vẫn còn “sống”. Đã gần nửa thế kỷ, nó vẫn lớn lên theo ngày tháng. Tôi không bao giờ dám cởi trần trước mặt ai, ngay cả trong khi đi tắm biển! Ở bên Mỹ, các bác sĩ gọi chứng bệnh này là “keloid scar”, không thể chữa được. Thỉnh thoảng đi chích một mũi thuốc cho nó không mọc thêm ra nhưng không hiệu quả.)</p>



<p>Tôi lại bị biệt giam. Có mỗi một lần, cán bộ hỏi tôi là tại sao những người trốn tù gần đây xảy ra trong trại, luôn có tôi (trực tiếp hay gián tiếp) ra tay giúp họ? Tôi rơi vào hoàn cảnh “tình ngay mà lý gian”. Quả thực, nghĩ lại thấy hồi bạn Linh của tôi chạy mất theo em bé Trang, cũng có mặt tôi ở đó. Bây giờ, đến anh bạn này, tôi “cố tình” đổi công tác cho anh để anh ta trốn mất. Tôi biết là anh chàng vệ binh Dũng này vốn đã muốn trả thù tôi, không nghe lời biện minh của tôi. Ông thủ trưởng cũng vẫn là người tốt nhưng không bênh cho tôi được. Tội của tôi rành rành ra đó. Những ngày ở trong bóng tối của phòng biệt giam, sống “không bằng chết”, dự tính trốn trại của chính tôi lại lớn mạnh hơn bao giờ hết. Tôi căm phẫn và nhất định khi được trả về trại, tôi sẽ thực hiện ý định của mình.</p>



<p>Đây là phòng biệt giam nằm trong trại cán bộ nên mỗi ngày, thay vì do anh em đưa cơm, tôi được vệ binh tiếp sức cho một đĩa cơm trắng với một miếng cá khô nướng. Tự nhiên, không cầu mà được ăn cơm trắng với miếng cá “khô” (khô thật) nướng thơm phức. Tuy nhiên, đó cũng là đĩa cơm duy nhất trong ngày. Phòng biệt giam này không có khe cửa để lùa đĩa cơm vào như những lần tôi bị biệt giam trước đây. Vệ binh lùa đĩa cơm dưới cửa buồng. Các anh ấy nhớ lúc nào thì lùa đĩa cơm vào cho tôi lúc ấy, không đúng giờ.</p>



<p>Có những đêm, nằm lơ mơ dỗ giấc ngủ. Tôi thấy mờ mờ hình bóng của bố mẹ tôi, hình như ông bà đang cười với tôi và hình như có vẻ muốn nói gì đó nhưng hình ảnh cứ thế mà mờ nhạt dần. Những giấc mơ sau, tôi được thấy cả gia đình tôi, vợ tôi tươi cười khoe hai đứa con đã lớn. Khuôn mặt của các em tôi lần lượt hiện ra trong hoạt cảnh đang xúm nhau lại chụp ảnh với nhau, trong đó có cả bà ngoại tôi. Các em tôi chụp xong, khoe tôi tấm ảnh. Tôi hỏi:</p>



<p>&#8211; Ủa, sao trong tấm ảnh này không có anh? Các em tôi buồn buồn nói:</p>



<p>&#8211; Anh đi học tập đã lâu rồi còn đâu?</p>



<p>Trong những giấc ngủ ấm ức, chập chờn như vậy, tôi lại cảm thấy hạnh phúc vì tôi được gặp lại mọi khuôn mặt trong gia đình tôi – người còn sống, cũng như người đã mất. Có hôm, tôi lại thấy tôi bị tra tấn, có người cầm cục than hồng ấn vào ngực tôi. Mùi cháy khét lẹt và đau rát của cục than hồng trên ngực tôi đánh thức tôi choàng dậy, ôm lấy ngực. (Từ đó cho đến nay, khi tôi viết hồi ký này, năm 2024, vết thương vẫn đau rát cái kiểu cục than hồng di lên đó.)</p>



<p>Thêm một điều lạ nữa là những con chuột thích gặm ngón chân tôi. Không đêm nào mà chúng nó không đi rảo một vòng, dừng lại, gặm ngón chân tôi một chút rồi chạy mất.</p>



<p>Trong những lúc đầu óc bồng bềnh không có một chút gì về cái thực tại mà tọi đang sống trong đó,</p>



<p>tôi tự hỏi <strong><em>“Tôi đang ở đâu”?</em></strong></p>



<p>(Còn Tiếp)</p>



<p><strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh/">Kỳ 1</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-2/">Kỳ 2</a></strong> <a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-3/"><strong>Kỳ 3</strong></a> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-4/">Kỳ 4</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-5/">Kỳ 5</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-6/">Kỳ 6</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-7/">Kỳ 7</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-8/">Kỳ 8</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-9/">Kỳ 9</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-10/">Kỳ 10</a></strong></p>



<p></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>

<!--
Performance optimized by W3 Total Cache. Learn more: https://www.boldgrid.com/w3-total-cache/?utm_source=w3tc&utm_medium=footer_comment&utm_campaign=free_plugin

Page Caching using Disk: Enhanced 

Served from: t-van.net @ 2026-05-22 16:11:58 by W3 Total Cache
-->