<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Phan Nhật Nam &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<atom:link href="https://t-van.net/author/phanhatnam/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://t-van.net</link>
	<description>Văn Học và Đời Sống</description>
	<lastBuildDate>Tue, 26 Apr 2022 02:10:40 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.7.7</generator>

<image>
	<url>https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/02/t-van-favicon.png?strip=all&#038;resize=32%2C32</url>
	<title>Phan Nhật Nam &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<link>https://t-van.net</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Phan Nhật Nam: Nghiệt phận Người Việt  . . .</title>
		<link>https://t-van.net/phan-nhat-nam-nghiet-phan-nguoi-viet/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phan Nhật Nam]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 25 Apr 2022 14:04:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[tưởng niệm 30 tháng 4]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=54781</guid>

					<description><![CDATA[Nghiệt phận Người Việt từ chiến tranh đến hết chiến tranh, 1- Chấp tay khẩn cầu Đức Bà Cho người mẹ bầu sữa ấm Trẻ sơ sinh bé nhỏ, mong manh Bồng bế chạy từ Gio Linh, Đông Hà, Quảng Trị Vượt Thạch Hãn Trúng đạn Pháo Đoàn Bông Lau miền Bắc Sữa mẹ ẫm [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<div class="wp-block-image"><figure class="aligncenter size-medium"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/04/AM-VANG-3.jpg?strip=all"><img fetchpriority="high" decoding="async" width="300" height="243" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/04/AM-VANG-3-300x243.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-54782" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/04/AM-VANG-3-300x243.jpg?strip=all 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/04/AM-VANG-3.jpg?strip=all 643w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></a><figcaption><em>Âm Vang &#8211; Tranh: Thanh Châu</em></figcaption></figure></div>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><strong>Nghiệt phận Người Việt từ chiến tranh đến</strong></p>



<p><strong>hết chiến tranh,</strong></p>



<p>1-</p>



<p>Chấp tay khẩn cầu Đức Bà</p>



<p>Cho người mẹ bầu sữa ấm</p>



<p>Trẻ sơ sinh bé nhỏ, mong manh</p>



<p>Bồng bế chạy từ Gio Linh, Đông Hà, Quảng Trị</p>



<p>Vượt Thạch Hãn</p>



<p>Trúng đạn</p>



<p>Pháo Đoàn Bông Lau miền Bắc</p>



<p>Sữa mẹ ẫm mùi máu nóng</p>



<p>Mắt chống ngược lên trời</p>



<p>Nắng ngày hè đỏ lửa không một bóng mây.</p>



<p>Đại Lộ Kinh Hoàng năm Bảy-mươi hai</p>



<p>2-</p>



<p>Dập đầu lạy Thượng Đế toàn năng</p>



<p>Cho con người còn đôi chân</p>



<p>Đủ sức chạy theo đoàn di tản</p>



<p>Khi bộ đội tràn vào&nbsp;</p>



<p>“giải phóng” Cao Nguyên, Đà Nẵng, Nha Trang..</p>



<p>Cặp nạng gỗ quăng chỏng chơ</p>



<p>Bên bờ Sông Ba hoảng loạn</p>



<p>Xác người nghẽn chật giòng sông..</p>



<p>3-</p>



<p>Bé mười ba..</p>



<p>Mấy mươi lần bị hiếp</p>



<p>Cha xé thân hải tặc quăng phăng xuống biển</p>



<p>Mẹ kinh hoàng loạn trí khản gào kêu</p>



<p>Góc bóng tối khoang thuyền dần ngập nước</p>



<p>Hỡi!</p>



<p>Có hay không?</p>



<p>Đấng siêu việt trên trời</p>



<p>Thiền sư/Đại thiền sư</p>



<p>Đến Hà Nội đốt trầm, thắp hương khấn nguyện</p>



<p>“Chủ tịch Hồ vô tận kính yêu”&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</p>



<p>4-</p>



<p>47 năm không dài bằng trí nhớ</p>



<p>Sàigòn bập bùng..</p>



<p>Lửa! Lửa!</p>



<p>Đốt hết sạch</p>



<p>Sách chồng chồng bốc cháy</p>



<p>Dân gục đầu nuốt nghẹn chén khổ bo bo</p>



<p>Lẫn khoai sùng, sắn mục.&nbsp;&nbsp;</p>



<p>Tổ Quốc ta ơi</p>



<p>Ôi vô vàn giàu đẹp</p>



<p>Khẩu hiệu giăng giăng đỏ vệt máu còn tươi</p>



<p>5-</p>



<p>Chữ không đủ trùng trùng cơn thống khổ</p>



<p>Viết không hết khóc ngất ngất vụn vỡ</p>



<p>Còn người không nơi đất nước Việt Nam?</p>



<p>Hà Nội âm u bóng đen khối lăng Sự Chết!</p>



<p><strong>Ngày 20 tháng 4, 2022</strong></p>



<p><strong>Lần Xuân Lộc, Long Khánh bị mất, 1975</strong></p>



<p><strong>Phan Nhật Nam</strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Phan Nhật Nam: Phần 1 : Từ Ukraine nhìn lại cuộc chiến Việt Nam với Nhà văn Phan Nhật Nam&#8221; on YouTube</title>
		<link>https://t-van.net/phan-nhat-nam-phan-1-tu-ukraine-nhin-lai-cuoc-chien-viet-nam-voi-nha-van-phan-nhat-nam-on-youtube/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phan Nhật Nam]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 24 Apr 2022 15:39:51 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Ghi Chép]]></category>
		<category><![CDATA[tưởng niệm 30 tháng 4]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=54798</guid>

					<description><![CDATA[https://youtu.be/WcGKbWp7to4]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<div style="height:40px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<div class="wp-block-image"><figure class="aligncenter size-medium is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/04/Tuong-niem-Thang-Tu-Den-Phan-1.jpg?strip=all"><img decoding="async" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/04/Tuong-niem-Thang-Tu-Den-Phan-1-300x211.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-54799" width="467" height="328" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/04/Tuong-niem-Thang-Tu-Den-Phan-1-300x211.jpg?strip=all 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/04/Tuong-niem-Thang-Tu-Den-Phan-1.jpg?strip=all 651w" sizes="(max-width: 467px) 100vw, 467px" /></a></figure></div>



<p class="has-text-align-center"><a href="https://youtu.be/WcGKbWp7to4 ">https://youtu.be/WcGKbWp7to4 </a></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Phan Nhật Nam: Nghiệt phận đàn bà trong chiến tranh . . .</title>
		<link>https://t-van.net/phan-nhat-nam-nghiet-phan/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phan Nhật Nam]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 22 Apr 2022 02:03:52 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[thơ phan nhật nam]]></category>
		<category><![CDATA[tưởng niệm 30 tháng 4]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=54762</guid>

					<description><![CDATA[Nghiệt phận đàn bà trong chiến tranh, dưới chế độ gọi là “cộng sản” 1- Vào buổi Tháng 5, năm 1945.. Đàn bà/Tất cả đàn bà Sinh vật nữ tuổi mới qua mười đến lão nhân sáu, bảy mươi, tám chục.. nơi Ba Lan, Lỗ, Hung, Đông Đức.. Đồng bị hiếp! Đặc mật lệnh Hồng [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<div class="wp-block-image"><figure class="aligncenter size-medium is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/04/gio-xoay.jpg?strip=all"><img decoding="async" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/04/gio-xoay-300x177.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-54763" width="429" height="250"/></a><figcaption><em>Gió Xoáy &#8211; Tranh: Thanh Châu</em></figcaption></figure></div>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><strong>Nghiệt phận đàn bà trong chiến tranh,</strong></p>



<p><strong>dưới chế độ gọi là “cộng sản”</strong></p>



<p>1-</p>



<p>Vào buổi Tháng 5, năm 1945..</p>



<p>Đàn bà/Tất cả đàn bà</p>



<p>Sinh vật nữ tuổi mới qua mười đến lão nhân sáu, bảy mươi, tám chục..</p>



<p>nơi Ba Lan, Lỗ, Hung, Đông Đức..</p>



<p>Đồng bị hiếp!</p>



<p>Đặc mật lệnh Hồng Quân xé toang quần phụ nữ</p>



<p>Trên đường tiến quân giải phóng Châu Âu!</p>



<p>Từ Stalin,</p>



<p>Bí Thư Tối Cao Sô-Viết.</p>



<p>Tìm đâu chữ nghĩa nhân từ Léon Tolstoy, của Dos?</p>



<p>Qua Thế Kỷ 21,</p>



<p>Thực hình thù “đại đế mới”</p>



<p>Putin!</p>



<p>Quân Nga toàn quyền hiếp dâm đàn bà, trẻ gái</p>



<p>Dưới mặt trời khốc liệt Ukraina!&nbsp;&nbsp;&nbsp; &nbsp;</p>



<p>2-</p>



<p>Miền Nam buổi sụp vỡ</p>



<p>Cảnh nước mất tan nhà</p>



<p>Lâm thân sơ, thất sở&nbsp;&nbsp;</p>



<p>Vây quanh khốn mù sa.&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</p>



<p>Long Thành, chồng tập trung</p>



<p>Anh gông cùm lấm nhục&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</p>



<p>Trên quê hương lưu đầy</p>



<p>Rừng rực lửa địa ngục.</p>



<p>Bốn con thơ khốn cùng&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</p>



<p>Sức người căng vượt sống&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</p>



<p>&nbsp;Tư trang bán sạch dần</p>



<p>&nbsp;Cây rừng khô lá rụng.&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</p>



<p>..</p>



<p>Tôi đi lên miền Bắc</p>



<p>Phận nghiệt cùng thậm ngặt&nbsp;&nbsp;</p>



<p>Thương em gái dãi dầu</p>



<p>Quê nhà xa bằng bặt&nbsp;&nbsp;</p>



<p>Rừng núi trời vào thu</p>



<p>Tù leo đồi đốn nứa&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</p>



<p>Bên đường đèo nghỉ đổ</p>



<p>Nghe chuyện buồn thương tâm&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</p>



<p>“..<em>Người chồng đi tập trung&nbsp;&nbsp;</em></p>



<p><em>Vợ ở nhà chết thảm&nbsp;&nbsp;&nbsp;</em></p>



<p><em>Bốn con nhỏ khốn cùng&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</em></p>



<p><em>&nbsp;Quay quắt bên thây cứng</em>!!”</p>



<p>&nbsp;Những tưởng nghe nhầm tai&nbsp;</p>



<p>Hốt hoảng gào hỏi lại</p>



<p>Ôi xiết bao kinh hãi&nbsp;&nbsp;&nbsp;</p>



<p>Đúng tên chồng em gái!!&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</p>



<p>..</p>



<p>Chuyện những <em>Đồi Hoa Sim</em> (*)&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</p>



<p>Nay thảm thiết lập lại</p>



<p>Không chết người ngục tù&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</p>



<p>Riêng mình em oan trái!&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</p>



<p>Tôi bật khóc trên đồi&nbsp;</p>



<p>Nhìn khoảng không vần vũ&nbsp;&nbsp;&nbsp;</p>



<p>Có còn không.. Đất, trời?!</p>



<p>Mây mang mang kéo lũ&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</p>



<p>Rừng chập chùng lá đổ&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</p>



<p>Sương dày vây khói xanh</p>



<p>Thật hay không đấy hở?!&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</p>



<p>Tạo Hóa nghiệt cùng đành!&nbsp;&nbsp;&nbsp;</p>



<p>&nbsp;Cháu tôi ai nuôi đây?</p>



<p>&nbsp;Bé nhất chưa biết nói</p>



<p>&nbsp;Chịu sao nổi đọa đày</p>



<p>&nbsp;Giữa trùng vây khổ đói&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</p>



<p>&#8230;</p>



<p>&nbsp;Năm năm ngày giỗ em&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</p>



<p>&nbsp;Ngục tối ngồi gục mặt</p>



<p>Nhói đau trũng ngực nặng</p>



<p>Em chết thật sao Khanh?</p>



<p><em>(*) Chuyện Thơ Hữu Loan,</em></p>



<p><em>Phận người nữ Việt Nam</em></p>



<p><em>trong chiến tranh (Việt Minh CS &#8211; Pháp, 1946-1954)</em>&nbsp;</p>



<p>Không biết ngày em chết-Phan Phương Khanh (1947-1976)</p>



<p>Nhớ cùng ngày Nước Mất-Nhà Tan</p>



<p><em>30 Tháng 4/1975-30 Tháng 4/1985</em></p>



<p>Ngục tối Trại Lam Sơn, Thanh Hóa.</p>



<p>Viết lại với thảm kịch Ukraina</p>



<p>Đất Mỹ, 15 Tháng 4/2022- Ngày mất Phan Rang</p>



<p><strong>Phan Nhật Nam</strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Phan Nhật Nam – Hè vẫn còn đỏ lửa</title>
		<link>https://t-van.net/phan-nhat-nam-he-van-con-do-lua/</link>
					<comments>https://t-van.net/phan-nhat-nam-he-van-con-do-lua/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phan Nhật Nam]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 18 Jul 2020 05:35:03 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Ghi Chép]]></category>
		<category><![CDATA[phan nhật nam]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=43852</guid>

					<description><![CDATA[&#160; Nhà văn Phan Nhật Nam (Nguồn: Sáng Tạo) Đỗ Trường Nếu buộc phải chọn hai gương mặt tiểu biểu nhất cho thơ văn chiến tranh của nền Văn học miền Nam, thì có lẽ, tôi nghĩ ngay đến nhà thơ Tô Thùy Yên và nhà văn Phan Nhật Nam. Tuy khác nhau về hoàn [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="posttitle">
<p>&nbsp;</p>
</div>
<div class="entry">
<p style="text-align: center;"><a href="https://vanhocnghethuat.files.wordpress.com/2017/09/phan_nhat_nam_3.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" class="size-medium wp-image-99029 aligncenter" src="https://vanhocnghethuat.files.wordpress.com/2017/09/phan_nhat_nam_3.jpg?w=300&amp;h=225" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" srcset="https://vanhocnghethuat.files.wordpress.com/2017/09/phan_nhat_nam_3.jpg?w=300&amp;h=225 300w, https://vanhocnghethuat.files.wordpress.com/2017/09/phan_nhat_nam_3.jpg?w=150&amp;h=113 150w, https://vanhocnghethuat.files.wordpress.com/2017/09/phan_nhat_nam_3.jpg 600w" alt="" width="300" height="225" data-attachment-id="99029" data-permalink="https://sangtao.org/2017/09/18/phan-nhat-nam-but-thep-muc-mau-trai-tim-lua/phan_nhat_nam_3/" data-orig-file="https://vanhocnghethuat.files.wordpress.com/2017/09/phan_nhat_nam_3.jpg" data-orig-size="600,450" data-comments-opened="0" data-image-meta="{&quot;aperture&quot;:&quot;0&quot;,&quot;credit&quot;:&quot;&quot;,&quot;camera&quot;:&quot;&quot;,&quot;caption&quot;:&quot;&quot;,&quot;created_timestamp&quot;:&quot;0&quot;,&quot;copyright&quot;:&quot;&quot;,&quot;focal_length&quot;:&quot;0&quot;,&quot;iso&quot;:&quot;0&quot;,&quot;shutter_speed&quot;:&quot;0&quot;,&quot;title&quot;:&quot;&quot;,&quot;orientation&quot;:&quot;0&quot;}" data-image-title="phan_nhat_nam_3" data-image-description="" data-medium-file="https://vanhocnghethuat.files.wordpress.com/2017/09/phan_nhat_nam_3.jpg?w=300" data-large-file="https://vanhocnghethuat.files.wordpress.com/2017/09/phan_nhat_nam_3.jpg?w=600" /></a><br />
<em>Nhà văn Phan Nhật Nam</em></p>
<p>(Nguồn: Sáng Tạo)</p>
<p><strong>Đỗ Trường</strong></p>
<p>Nếu buộc phải chọn hai gương mặt tiểu biểu nhất cho thơ văn chiến tranh của nền Văn học miền Nam, thì có lẽ, tôi nghĩ ngay đến nhà thơ Tô Thùy Yên và nhà văn Phan Nhật Nam. Tuy khác nhau về hoàn cảnh, xuất thân, song hai bác này có những nét khá tương đồng, kể từ khi mặc áo lính, cho đến những năm tháng tù đày (dài lê thê) sau chiến tranh. Nhìn lại văn học sử Việt Nam có ba người lính cầm bút tài năng: Cao Xuân Huy, Nguyễn Bắc Sơn, và Phan Nhật Nam đều có người cha ở bên kia của chiến tuyến. Tuy nhiên, cũng như Cao Xuân Huy, nhà văn Phan Nhật Nam đã phân định trách nhiệm rạch ròi của người lính, không hề có sự mâu thuẫn nội tâm, do dự trên đầu súng và cây viết như Nguyễn Bắc Sơn. Có thể nói, nếu không có cuộc chiến này, thì chưa chắc chúng ta đã có một Phan Nhật Nam nhà văn của ngày hôm nay. Thật vậy, chính chiến trường đạn bom, khói lửa, chết chóc và tù đày đã đưa ông đến với những trang văn. Và chỉ có đối diện với những trang giấy, Phan Nhật Nam mới giải tỏa được tâm lý cũng như cứu rỗi linh hồn người lính trận. Món nợ với đồng đội với đất nước, cùng cái trớ trêu của cuộc chiến này, ngay từ những ngày đầu cầm bút cho đến nay luôn ám ảnh và xuyên suốt sự nghiệp sáng tạo của Phan Nhật Nam. Do vậy, nếu đọc một cách có hệ thống, ta có thể nhận thấy những đặc điểm nổi bật trong văn thơ, cũng như con người Phan Nhật Nam: Chiến tranh đưa đến tan vỡ tâm hồn, và lẽ sống của người lính. Sự tàn khốc của cuộc chiến ấy dưới ngòi bút sắc sảo của Phan Nhật Nam hiện lên một cách trung thực, sinh động. Và không chỉ trên chiến trường, mà trong tăm tối ngục tù cũng vậy, ta luôn thấy sự giải thoát. Thật vậy, lời dự báo, hay sự phản kháng là con đường giải thoát của ông đôi khi có tính tiêu cực, nhưng nó bật lên cái chí khí, tính nhân đạo cao cả. Chính bởi những đặc điểm này, đã làm nên tên tuổi nhà văn thật vạm vỡ Phan Nhật Nam.<br />
<span id="more-125924"></span><br />
Phan Nhật Nam sinh năm 1943, tại Thừa Thiên – Huế. Sau khi đậu tú tài, ông vào lính và tốt nghiệp Trường võ bị Đà Lạt năm 1963. Với mười bốn năm khoác áo lính, và 14 năm tù cải tạo sau 1975. Hiện ông sống và viết văn tại Cali- Hoa kỳ.</p>
<p><a href="https://vanhocnghethuat.files.wordpress.com/2018/07/sach-phan_nhat_nam-1.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" class=" wp-image-107913 aligncenter" src="https://vanhocnghethuat.files.wordpress.com/2018/07/sach-phan_nhat_nam-1.jpg?w=300&amp;h=290" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" srcset="https://vanhocnghethuat.files.wordpress.com/2018/07/sach-phan_nhat_nam-1.jpg?w=300&amp;h=290 300w, https://vanhocnghethuat.files.wordpress.com/2018/07/sach-phan_nhat_nam-1.jpg?w=600&amp;h=580 600w, https://vanhocnghethuat.files.wordpress.com/2018/07/sach-phan_nhat_nam-1.jpg?w=150&amp;h=145 150w" alt="" width="453" height="439" data-attachment-id="107913" data-permalink="https://sangtao.org/2018/08/01/tu-dau-binh-lua/sach-phan_nhat_nam-1/" data-orig-file="https://vanhocnghethuat.files.wordpress.com/2018/07/sach-phan_nhat_nam-1.jpg" data-orig-size="1258,1218" data-comments-opened="0" data-image-meta="{&quot;aperture&quot;:&quot;0&quot;,&quot;credit&quot;:&quot;&quot;,&quot;camera&quot;:&quot;&quot;,&quot;caption&quot;:&quot;&quot;,&quot;created_timestamp&quot;:&quot;1533056434&quot;,&quot;copyright&quot;:&quot;&quot;,&quot;focal_length&quot;:&quot;0&quot;,&quot;iso&quot;:&quot;0&quot;,&quot;shutter_speed&quot;:&quot;0&quot;,&quot;title&quot;:&quot;&quot;,&quot;orientation&quot;:&quot;1&quot;}" data-image-title="sach-phan_nhat_nam-1" data-image-description="" data-medium-file="https://vanhocnghethuat.files.wordpress.com/2018/07/sach-phan_nhat_nam-1.jpg?w=300" data-large-file="https://vanhocnghethuat.files.wordpress.com/2018/07/sach-phan_nhat_nam-1.jpg?w=614" /></a></p>
<p>Tuy gian nan với khói lửa binh đao như vậy, nhưng có thể nói, Phan Nhật Nam viết đều, và khỏe, tập truyện nào của ông cũng hừng hực mang không khí, hơi thở của thời cuộc. <em>Dấu Binh Lửa, Dọc Đường Số 1, Ải Trần Gian, Dựa Lưng Nỗi Chết, Mùa Hè Đỏ Lửa, Tù Binh và Hoà Bình</em> được viết trước 1975 là những tác phẩm toàn bích, được nhiều người đọc, và yêu mến nhất. Với tôi, ở thể ký sự chiến trường này, không chỉ ở thời điểm đó, mà cả đến ngày nay, có lẽ chưa có tác giả, tác phẩm nào (kể cả hai phía) vượt qua được Phan Nhật Nam. Sau 1975 dù trong hoàn cảnh tù đày, hay khi đã định cư ở nước ngoài, bút lực của ông còn dồi dào và mãnh liệt lắm. Vẫn dòng chảy của mạch bút ký hàng loạt các tác phẩm mới được ra đời có tính chiêm nghiệm sâu sắc: <em>Chuyện Cần Được Kể Lại, Đường Trường Xa Xăm, Đêm Tận Thất Thanh, Những Cột Trụ Chống Giữ Quê Hương, Mùa Đông Giữ Lửa, Chuyện Dọc Đường, Phận Người Vận Nước…</em></p>
<p>Thế nhưng, có một điều làm cho người quan tâm, nghiên cứu đến văn học nước nhà luôn phải trăn trở. Bởi, thời gian này, những tác phẩm trước đây của Phan Nhật Nam đã bị khai tử, và những tác phẩm mới này của ông cũng bị cấm (tiệt) ở trong nước. Người đọc ở nước ngoài rất ít, dẫn đến nhiều hạn chế và thiệt thòi cho độc giả, cũng như cho nền Văn học Việt Nam. Tuy vậy, nếu phải đưa ra một tác phẩm tiêu biểu nhất của Phan Nhật Nam, thì với tôi chắc chắn là bút ký: Dấu binh lửa. Một tác phẩm đầu tay, được in ấn và phát hành năm 1969. Có thể nói, ngoài tính chân thực, giá trị nghệ thuật, và nhân đạo, Dấu binh lửa (còn) như một liều thuốc làm thức tỉnh người đọc đang gà gật trước cuộc chiến tang thương nhất của dân tộc.</p>
<p>Nói bút ký, hồi ký là thể loại văn học mang tính chân thực. Song nếu không có sự sáng tạo mang tính nghệ thuật cao, với sự quan sát tỉ mỉ, cùng tài năng miêu tả cảnh vật, tâm lý nhân vật, sự kiện được thông qua lăng kính, tư tưởng của tác giả, thì tác phẩm đó sẽ khô và rời như cơm nguội vậy. Điều này đã được minh chứng qua những tác phẩm tuyên truyền nhạt phèo: Bất Khuất về Nguyễn Đức Thuận của Trần Đĩnh trước đây, và Hồi ký của Võ Nguyên giáp do Hữu Mai chấp bút gần đây. Tuy nhiên, đọc tùy bút, hồi ký của Phan Nhật Nam, ta thấy khác hoàn toàn. Bởi, người đọc không chỉ thấy tài năng, sự sáng tạo, mà dường như thể loại văn học này đã được ông nâng lên một nấc cao mới về cả giá trị nội dung lẫn hình thức nghệ thuật.</p>
<p><b>Chiến tranh – sự đổ vỡ tâm hồn, và lẽ sống</b></p>
<p>Cùng lớn lên vào giai đoạn (đầu) khốc liệt của cuộc chiến, không như nhà văn Trần Hoài Thư cầm súng mặc áo lính là nghĩa vụ bắt buộc, với Phan Nhật Nam đó là sự tự nguyện, trách nhiệm của tuổi trẻ. Sự vô tư trong sáng đã mở cho người lính Phan Nhật Nam những ước mơ với chân lý, hiện thực. Tôi không dám nghĩ đây là lý tưởng, song chắc chắn đó là tâm lý chung, không chỉ riêng của Phan Nhật Nam ở cái buổi đầu đời ấy: “<em>Tôi đi lính năm mười tám tuổi … tôi tự động hăng hái, hãnh diện để trở thành một sinh viên sĩ quan với ý nghĩ đã chọn đúng cho mình hướng đi, một chỗ đứng dưới ánh mặt trời. Tôi có những rung động thật thành thực khi đi trong rừng thông, hương nhựa thông toả đặc cả một vùng đồi, sung sướng vì thấy đã đưa tuổi trẻ vào trong một thế giới có đủ mơ mộng và cứng rắn, một thế giới pha trộn những ước mơ lãng mạn hào hùng.</em>” (Dấu binh lửa). Tuy nhiên, những ước mơ lãng mạng và hào hùng ấy của người sĩ quan trẻ Phan Nhật Nam đã bị dập tắt ngay từ những trận chiến đầu. Chiến tranh không những giết chết thể xác, mà còn giết chết nhân phẩm, lòng tin của con người. Với thi pháp tự sự, nỗi thất vọng ấy đã được Phan Nhật Nam trải lên trang sách. Đọc lên ai cũng phải chạnh lòng, chua xót. Truyện Người chết dưới chân Chúa (Dấu binh lửa) có những đoạn văn miêu tả cảm động, diễn biến tâm lý sâu sắc, và thấm đẫm tình người như vậy của ông. Và cái tính chân thực, hồn nhiên của người lính, khi đọc Dấu binh lửa cứ làm cho tôi vẩn vơ suy nghĩ đến tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh và tác phẩm Vô đề của Dương Thu Hương. Có lẽ, khi viết những tác phẩm này, Bảo Ninh cũng như Dương Thu Hương chưa được đọc Dấu binh lửa. Nếu đã đọc, tôi nghĩ hành động của những người lính thám kích đối với các nữ bộ đội có lẽ, sẽ khác đi nhiều lắm trên những trang văn của họ. Dù là tiểu thuyết, một thể loại được phép hư cấu. Và đoạn trích dưới đây gợi lên nỗi buồn thất vọng (ban đầu) của nhà văn, nhưng phần nào nó cũng làm sáng tỏ thêm nhân cách, và sự cảm thông của người lính:</p>
<p>“<em>… Chị không hiểu được lời nói của tôi, một người Việt Nam ở cùng trên một mảnh đất. Chị tưởng tôi thèm muốn thân xác và đòi hiếp dâm! Tội nghiệp cho tôi biết bao nhiêu, một tên sĩ quan hai mươi mốt tuổi làm sao có thể biết đời sống đầy máu lửa và đớn đau tủi hổ đến ngần này.</em> <i>Tôi đi lính chỉ với một ý nghĩ: Đi cho cùng quê hương và chấm dứt chiến tranh bằng cách góp mặt. Thê thảm biết bao nhiêu cho tôi với ngộ nhận tủi hổ này.</i><em> Tôi muốn đưa tay lên gài những chiếc nút áo bật tung, muốn lau nước mắt trên mặt chị, nhưng chân tay cứng ngắc, hổ thẹn. Và chị nữa, người đàn bà quê thật tội nghiệp. Cảnh sống nào đã đưa chị vào cơn sợ hãi mê muội để dẫn dắt những ngón tay cởi tung hàng nút áo, sẵn sàng hiến thân cho một tên lính trẻ, tuổi chỉ bằng em út, trong khi nước mắt chan hòa trên khuôn mặt đôn hậu tràn kinh hãi.</em>” (Dấu Binh Lửa).</p>
<p>Không chỉ giật mình, trước cái chết phơi thây giữa đồng của những du kích quân tuổi mới mười bốn, mười lăm, mà người lính trẻ Phan Nhật Nam còn đau xót, thẫn thờ và thất vọng trước cái chết quá bi thảm cô gái trẻ vô tội. Những cái chết này như ngọn roi quất vào hồn nhà văn, người lính vậy. Đi sâu vào đọc ta có thể thấy, Phan Nhật Nam là một trong những nhà văn có tài miêu tả, mượn cảnh vật thiên nhiên để bộc lộ tư tưởng, giãi bày cảm xúc của mình. Ta hãy đọc lại đoạn trích dưới đây để thấy rõ tâm trạng của nhà văn trước cái chết bi thảm của đồng loại, cũng như tài năng sử dụng hình ảnh so sánh ẩn dụ của Phan Nhật Nam:</p>
<p>“<em>Khi tôi bước ra đàng sau nhà thờ, qua khu nhà ở của những người chết, một chiếc áo tím chắc hẳn của cô gái còn phơi phới bay trong gió… Nhìn ra xa, xác cô gái nằm thẳng trên sàn gạch, nắng thật sáng rọi lên rực rỡ. Người tôi ai cắm một lưỡi dao oan nghiệt vào tim, thật buồn. Tôi loay hoay đốt một điếu thuốc. Cái chết qủa bi thảm, nhưng hình ảnh của cô gái nằm chết khi chiếc áo còn bay trong gió vang vang nơi trí não tôi như một tiếng kêu thê thảm không dứt âm</em>” (Dấu binh lửa).</p>
<p>Bom đạn, khói lửa chiến trường chưa phải là điều đáng sợ, và nó không thể giết chết niềm tin, và lẽ sống của người lính trận. Nhưng chính cái khối ung nhọt ở nơi hậu phương kia mới giết chết linh hồn, và khát vọng của họ. Thật ra, vào thời điểm đó, không phải riêng Phan Nhật Nam đã nhận ra điều này, mà trên những trang văn của mình, Trần Hoài Thư cũng chọc thẳng vào cái khối ung nhọt này. Khi ông đã nhận ra, sự hy sinh cả một thế hệ để phục vụ cho những kẻ lãnh đạo không lương thiện, thiếu tài năng. Và hơn thế nữa, gần đây nhất bút ký Sau Cơn Binh Lửa của Trung tá, nhà văn Song Vũ cũng chỉ ra, những con sâu ở giới lãnh đạo thượng tầng, hay những ông vua tôn giáo này, góp phần không nhỏ dẫn đến sụp đổ của chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Thật vậy, đây cũng là một trong những nguyên nhân chính làm sụp đổ tâm hồn, phá vỡ niềm tin dẫn đến sự chán chường cho người lính Phan Nhật Nam:</p>
<p>“<em>Chúng tôi rời Sài Gòn trong thở dài nhẹ nhõm, một tháng ở Thủ Đô đủ để tạo thành sụp đổ tan hoang trong lòng, đủ thấy rõ sự phản bội của hậu phương, một hậu phương lừa đảo trên máu và nước mắt của người lính. Một tháng đủ để chúng tôi hiểu ti tiện hèn mọn của loại lãnh tụ ngã tắt, những anh hùng đường phố, những ông vua biểu tình theo ngẫu hứng, vua tôn giáo đầy thù hận và dục vọng… Một tháng “vỡ mặt” lính non cũng như lính già. Chúng tôi bây giờ biết rõ: Máu và đời sống của mình đã đổ ra cho một xã hội lừa lọc.</em>” (Dấu binh lửa)</p>
<p>Tôi không dám nói, sự đổ vỡ tâm hồn, lẽ sống của nhà văn Phan Nhật Nam là tâm trạng chung của những người lính trẻ lúc đó. Tuy nhiên, chiến tranh đã biến sự trong sáng, nhiệt huyết của một bộ phận giới trẻ trở nên hoài nghi và chán nản. Dù miền Nam khá cởi mở về suy nghĩ, và tư tưởng, nhưng trong lúc nước sôi lửa bỏng đó, viết thẳng tưng ra những điều này, quả thực phải nói đến dũng khí của nhà văn Phan Nhật Nam vậy.</p>
<p><b>Sự tàn khốc của chiến tranh, với nỗi ám ảnh của con người</b></p>
<p>Nếu ta đã đọc truyện ngắn, bút ký chiến trường của Trần Hoài Thư, hay Số Phận Con Người của nhà văn Nga Mikhail Sholokhov, thì có lẽ giảm đi được nỗi ám ảnh, khi đọc bút ký, văn xuôi của Phan Nhật Nam. Bởi, sự chết chóc về thể xác, và linh hồn ấy qua bút pháp hiện thực, với những hình ảnh so sánh sinh động, sắc như lưỡi dao cứa vào lòng người đọc vậy. Phải nói, Phan Nhật Nam có cái nhìn, quan sát rất sâu sắc và tỉ mỉ, khi miêu tả, hay trần thuật. Và Những Ngày Gãy Vụn là một trong những bút ký như vậy của ông. Đây là những trang văn rùng rợn nhất mà tôi đã được đọc. Đoạn trích dưới đây một lần nữa sẽ chứng minh nghệ thuật, tài năng lồng tâm trạng của mình vào cảnh vật, thiên nhiên của Phan Nhật Nam. Và thi pháp, thủ thuật này đã xuyên suốt sự nghiệp sáng tạo của ông:</p>
<p>“<em>Thoạt đầu còn e ngại nhưng đến xác thứ tư thứ năm lớp thịt nhũn của xác chết tiếp xúc với bàn tay hóa thành quen. Đi từ nơi để xác trở vào rừng, tôi không dám nhìn vào hai bàn tay của mình, thịt da người chết đã phết một lớp dầy trên da tay. Hai giờ chiều, xác chết đã nhặt được hết, tôi chà tay xuống mặt đất như muốn bóc hẳn lớp da. Thèm điếu thuốc lá nhưng không dám đưa bàn tay lên môi …trời miền Nam bắt đầu vào mùa mưa, đất đỏ từ lối đi vào đến nơi chứa xác lầy lội tưởng như có pha máu người. Thân nhân người chết than khóc, lăn lộn trên lớp bùn non, áo sô trắng lấm đất đỏ như dấy máu. Hơi đất, hơi người sống, người chết, mùi hương đèn lẫn lộn ngây ngấy nồng nặc, choáng váng…</em>”</p>
<p>Nếu ta thấy cái tĩnh khi đọc truyện ngắn, bút ký của Phạm Tín Anh Ninh, thì ta sẽ tìm được cái động trong bút ký của Phan Nhật Nam. Thật vậy, với lối hành văn phóng khoáng, dứt khoát nhưng truyền cảm, cùng khẩu ngữ trong sáng đơn giản, đọc lên tưởng chừng như có lửa vậy. Nó không chỉ sáng rực lên trên trang sách Phan Nhật Nam, mà còn cháy trong lòng người đọc. Cho nên, đã cầm sách của ông lên, thì thật khó mà bỏ xuống, khi chưa đọc đến trang cuối cùng. Và đến với Mùa hè đỏ lửa thì chiến tranh, nỗi đau, sự tàn nhẫn đã đến tận cùng, vượt qua sức tưởng tượng của con người. Vẫn với thủ pháp hình ảnh so sánh, Phan Nhật Nam cho ta thấy rõ, chiến trận với những cái chết, xác người ở Quảng trị dài dằng dặc, rùng rợn, tàn nhẫn gấp bội lần so với lò sát sinh, giết người tập thể của phát xít ở Auschwitz. Thật vậy, đọc mùa hè đỏ lửa, tôi không rõ đây là nỗi kinh hãi hay bản cáo trạng của Phan Nhật Nam:</p>
<p>“<em>Làm được gì bây giờ? Bịt mũi, che mồm, nhưng tất cả vô ích, hơi chết đọng trên da, chui vào mũi, bám trên áo, hơi chết hít vào phổi trôi theo máu. Tôi đang đứng trong lòng của sự chết. Tránh làm sao được, ai có thể ra khỏi khối không khí của nơi sống? Những cảnh chết tập thể của người Do Thái ở các trại tập trung gây nên niềm bàng hoàng xúc động vì người chứng kiến thấy được “xác người,” xác chồng chồng lớp lớp có thứ tự, gọn ghẽ nguyên vẹn…  9 cây số đường chết của Quảng Trị không còn được quyền dùng danh từ “xác chết” nữa, vì đây chết tan nát, chết tung tóe, chết vỡ bùng…</em>” (Mùa hè đỏ lửa)</p>
<p>Đọc Những Ngày Gãy Vụn được Phan Nhật Nam được viết sau thất bại đau đớn ở Đồng Xoài (1965), buộc tôi phải liên tưởng đến truyện ký Thế Hệ Chiến Tranh của Trần Hoài Thư. Ở cùng thời điểm, với hai mặt trận khác nhau, nhưng những người lính ấy có cùng chung một số phận. Bởi, họ phải thi hành mệnh lệnh của những người lãnh đạo quan liêu, và dốt nát. Cũng như Thế Hệ Chiến Tranh, đọc Những Ngày Gãy Vụn ngoài tính bi hài, ta còn thấy được tính cái tính quân kỷ của người lính giữa sự sống và cái chết, dù trong lòng tràn đầy mâu thuẫn, uất hận. Ta hãy đọc lại đoạn trích với ngôn ngữ, lời thoại mang đậm chất điện ảnh dưới đây để thấy rõ điều đó. Và đây cũng là một trong những đặc điểm tạo nên những câu văn sinh động trong văn xuôi Phan Nhật Nam:</p>
<p>“<em>Riêng chúng tôi ở đầu hàng quân đều nhận thấy rõ rằng: Địch đang dụ chúng tôi vào bẫy. Nhưng nhà binh là tuân lệnh, nguyên lý cứng nhắc đó không đủ để dẹp hết e ngại.</em></p>
<p><em>– Báo cáo không thể tiến thêm được nữa, địch quá đông, xin pháo binh. Tôi gọi về đại đội nói như hét.</em></p>
<p><em>– Không bắn pháo binh được, khu đồn điền có dân và có nhà thờ.</em></p>
<p><em>– Dân con mẹ gì! Tôi la muốn vỡ phổi để phản đối: Không phải dân đâu, toàn là Việt cộng thôi…</em></p>
<p><em>– Bộ chỉ huy hành quân quyết định không cho bắn, anh về đó mà kiện…</em>”</p>
<p>Và may mắn người lính ấy còn sống sót trở về, và nỗi ám ảnh, hoảng loạn chìm trong những cơn say. Và rượu là liều thuốc an thần tốt nhất cho người lính trận. Chập chờn ký ức hiện về, cùng những tình tiết hiện thực đan xen, buộc người lính Phan Nhật Nam phải độc thoại nội tâm, tự thú trên trang giấy trước mặt. Sự ám ảnh đó tạo nên những hình ảnh so sánh có tính kịch trường sân khấu, làm cho người đọc phải chờn chờn, rợn rợn.</p>
<p>Với nghệ thuật độc thoại nội tâm mang tính tự thú này, đã được Bảo Ninh làm xương sống dựng nên tiểu thuyết Nỗi Buồn Chiến Tranh của mình. Thật vậy, sự ám ảnh, la hét đập phá của người lính Phan Nhật Nam trong Dấu binh lửa, mấy chục năm sau ta bắt gặp lại hình ảnh đó từ Kiên (Bảo Ninh) trong Nỗi Buồn Chiến Tranh. Có lẽ, cũng như khoa học tự nhiên, bằng cách này hay cách khác có sự kế thừa của văn học ở đây chăng (?):</p>
<p>“<em>Đưa quan tài của Dũng lên máy bay, chào trước mộ của Kỳ và Đỗ lần cuối, sau một tuần lăn lộn với người chết, người tôi tan đi trong một cơn mê nồng nặc đầy hơi chết và lòng tràn giông bão. Những xác chết ám ảnh tôi đến kỳ quái, ngay trong giấc ngủ, sự yên lành cũng không có, tôi la hét, khóc lóc đập phá trong cơn mê. Và nỗi tỉnh thì không còn nữa, rượu uống vào hoài hoài, chưa bao giờ thấy rượu ngon và cần thiết đến thế — Một khỏang đời đã đổi tôi thành kẻ lạ rồi… Một tên hung bạo, trí não căm hờn và thù hận. Tôi chết một phần người trong tôi.</em>” (Dấu binh lửa)</p>
<p>Có thể nói, cuộc chiến tàn khốc vừa qua sản sinh ra nhiều nhà văn tài năng, ở cả hai phía. Số phận, cây viết của họ gắn liền với những tang thương, và vận mệnh của đất nước. Bỏ qua định kiến tư tưởng, chính trị, ta có thể thấy những người lính phía Bắc viết ký sự chiến trường tài năng như: Chu Cẩm Phong, hay Dương Thị Xuân Qúy…, nhưng rất tiếc, họ đã tử trận khi còn quá trẻ. Những người lính phương Nam: Phan Nhật Nam, Trần Hoài Thư… may mắn còn sống sót. Tù đày và nỗi ám ảnh sẽ đi đến hết cuộc đời họ. Tuy nhiên, các tác phẩm xương máu của họ vẫn còn đó trong lòng người. Âu cũng còn một chút may mắn cho nền Văn học Việt vậy.</p>
<p><b>Ngục tù- sự phản kháng, hay giải thoát bế tắc</b></p>
<p>Cũng như những người lính, nhà văn khác, sau 1975 Phan Nhật Nam buộc phải vào tù cải tạo. Tôi có tìm đọc được một số truyện ngắn của ông về thời gian này. Vẫn bút pháp hiện thực, với khẩu ngữ dân dã góc cạnh, do vậy những trang viết của ông được mọi tầng lớp đón nhận, và đi sâu vào lòng người đọc. Do hoàn cảnh tù đày, với độ lùi của thời gian, Phan Nhật Nam đi sâu vào thi ca có tính chiêm nghiệm: “<em>Bóng tối cóc ngồi gục./ Ừ thì Tâm có Phật!/ Sao trong ta cuồng lưu,/ Chẳng lẽ trời sinh người,/ Ðể chịu đời khốn khổ?/ Không thể dựng Ngôi Lời,/ Trần thế ngập gian dối./ Tôi đây ! Chúa trông đây!/ Tận đáy sâu khổ nhục/ Trần trụi ngỡ ma trơi/ Hỡi nào ra nhân dạng?!</em>” (Vào một buổi nào đó). Hay những câu thơ giãi bày tâm trạng u uất của kẻ trên đường bị đi lưu đày: “<em>Chen chúc lũ tù ngồi lăn lóc… /Ðầu gối đầu/ Xe lắc từng cơn/ Nhướng cao mắt, mở trợn trừng,/ Chung quanh núi đá, mịt mù đồng hoang./ Ðây là đâu? Mênh mang đất dữ,/ Trên quê hương chịu chữ đi đầy…</em>” (Nhập Lam Sơn). Tuy nhiên, với tôi Chuyện Công Cắn là truyện ngắn hay, và đặc trưng nhất của Phan Nhật Nam viết về những năm tháng tù tội, lưu đày. Đọc nó, ta thấy được tận cùng của sự khốn nạn. Nhân phẩm con người không bằng loài súc vật. Những hình ảnh dưới đây, cho ta thấy thân phận tủi nhục của người tù trốn trại, bị bắt nhốt vào cùm biệt giam sáu tháng:</p>
<p>“<em>Sáu tháng sau, Công được tháo cùm cho về buồng. Nó bò với hai tay, hai gối, nhích tới từng khoảng ngắn, xong nằm bẹp lên đất.. Quản giáo Chuyên đi theo, dùng chân đè lên lưng, đầu, đá vào hai chân lê lết, cong queo của nó nói lời khinh bỉ.. Mầy có thành con dòi cũng không trốn khỏi đây được. Tao có thể bắn chết mầy ngay bây giờ nhưng cho mầy sống để ăn cứt! Thằng Công lết chậm im lặng, mắt ráo hoảnh, không cảm giác, tròng đen khô như hòn than.</em>”</p>
<p>14 năm tù đày, cùm biệt giam trên đất Bắc chưa hẳn bởi can tội mặc áo lính, viết văn, hay Phan Nhật Nam từng là sĩ quan ở Ban liên hợp quân sự bốn bên, và đã ra nghị đàm ở Hà Nội, mà có lẽ còn do cái tính khí khái, thẳng tưng của ông. Có lẽ, ông đã đưa những đặc điểm, tính khí này vào những trang viết của mình. Do vậy, ta có thể thấy tính phản kháng luôn đậm nét trong truyện ngắn, văn xuôi của Phan Nhật Nam. Có thể nói, tôi đã đọc khá nhiều trang sách viết về cải tạo tù đày, nhưng ít thấy có sự phản kháng trực diện như Chuyện Công Cắn của Phan Nhật Nam. Có thể nói, ông luôn mở ra một lối thoát, và giải quyết bế tắc dù có mang tính tiêu cực. Đoạn trích rùng rợn dưới đây, vẫn trong truyện ngắn: Chuyện Công Cắn, sẽ chứng minh cho chúng ta thấy rõ điều đó:</p>
<p>“<em>Gã tù lê ống tre bươm trên sân cỏ, lúc lắc thân người rề rà hướng về phía hầm chứa phân khu kỹ luật.. Đổ vào đây.. Địt mẹ đổ vào đây!! Nhiền hét lớn chỉ vào hố chứa.. Mầy làm rơi vải tao bắt mầy phải ăn cho hết! Địt mẹ.. đồ ăn cứt!! Gã tù đã đến bên hố chứa phân, gã lóng cóng với ống bươm.. Phân, nước giải rơi vải tung toé.. Đổ xuống hố.. Địt mẹ thằng chó.. Nhiền xoay xoay chùm chìa khoá buồng giam tiến gần chực đánh.. Gã tù với một phản ứng nhanh nhẹn bất ngờ tạt ống bươm vào mặt Nhiền.. Tên nầy hét lớn hốt hoảng đưa tay vuốt những mảng phân thối, dòng nước dơ. Gã tù nhảy thoắt đến viên đá chận nắp hố phân. Nó nâng lên.. Đập mạnh xuống khuôn mặt lầy nhầy chất bẩn. Nhiền ngã quay quắt trên đất.</em></p>
<p><em>Thằng Công nhảy lên ngồi trên ngực Nhiền, thọc tay vào ổ mắt.. Móc ra!! Nó nuốt khối nhầy ươn ướt máu và cứt. Súng trên chòi canh nổ sắc, gọn, chính xác từng phát một. Lưng thằng Công ưỡn lên, nẫy nẫy…</em>”</p>
<p>Nếu nói giá trị cơ bản của văn học bao gồm giá trị hiện thực, và giá trị nhân đạo, thì  tôi cho rằng, những tác phẩm của Phan Nhật Nam không những hội đủ những đặc tính này, mà còn hơn thế nữa. Ngoài giá trị về văn học, những tác phẩm của ông còn ghi lại dấu ấn lịch sử thật rõ ràng. Cả cuộc đời Phan Nhật Nam lặn ngụp trong chiến tranh, kể cả thể xác lẫn tâm hồn. Có thể nói, chưa khi nào ông bước được ra khỏi cuộc chiến này. Thân phận, và linh hồn ông dường như cũng uống trọn nỗi khổ đau, oan trái của dân tộc vậy. Do đó, dù sức cùng lực kiệt Phan Nhật Nam vẫn cần mẫn đi tìm một lời giải, một lối thoát cho cuộc chiến, và con người…</p>
<p>Vâng! Và 45 năm hậu chiến, hè vẫn còn đỏ lửa trong ông là như vậy.</p>
<p>Leipzig ngày 15-7-2020<br />
<strong>Đỗ Trường</strong></p>
</div>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/phan-nhat-nam-he-van-con-do-lua/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Phan Nhật Nam: V&#245; Phiến &#8211; Một m&#236;nh, Mưa Đ&#234;m Cuối Năm..</title>
		<link>https://t-van.net/phan-nhat-nam-v-phien-mot-mnh-mua-dm-cuoi-nam/</link>
					<comments>https://t-van.net/phan-nhat-nam-v-phien-mot-mnh-mua-dm-cuoi-nam/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phan Nhật Nam]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 19 Oct 2015 15:06:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[đọc lại võ phiến]]></category>
		<category><![CDATA[tưởng niệm võ phiến]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=23943</guid>

					<description><![CDATA[Nhà văn Võ Phiến (1925-2015) I-Thân Thế Nhà văn Võ Phiến tên thật là Đoàn Thế Nhơn, sinh Ngày 20 Tháng 10, 1925 tại Làng Trà Bình, Huyện Phù Mỹ, Tỉnh Bình Định. Bút hiệu Võ Phiến do từ khuê danh của hiền nội, Bà Võ Thị Viễn Phố. Thời gian viết Bách Khoa ông [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h6><a href="http://songnews.net/images/file/hmB9F9PO0ggBALJL/tinh-chinh-218.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="float: none; margin-left: auto; display: block; margin-right: auto;" src="http://songnews.net/images/file/hmB9F9PO0ggBALJL/w438/tinh-chinh-218.jpg" alt="blank" width="300" height="450" /></a></h6>
<p align="center">Nhà văn Võ Phiến (1925-2015)</p>
<p><b>I-Thân Thế</b></p>
<p>Nhà văn Võ Phiến tên thật là Đoàn Thế Nhơn, sinh Ngày 20 Tháng 10, 1925 tại Làng Trà Bình, Huyện Phù Mỹ, Tỉnh Bình Định. Bút hiệu Võ Phiến do từ khuê danh của hiền nội, Bà Võ Thị Viễn Phố. Thời gian viết Bách Khoa ông còn ký bút hiệu Tràng Thiên trong văn phẩm chính luận hoặc biên khảo. Năm 1942 ra Huế học trường Thuận Hóa và bắt đầu viết văn. Bài tùy bút đầu tiên <i>Những Đêm Đông</i> viết năm 1943 đăng trên báo Trung Bắc Chủ Nhật ở Hà Nội, ký tên Đắc Lang. Vào thời điểm 1945, trong tình thế nhiễu nhương hỗn loạn trước, sau lần Thế Chiến Thứ Hai chấm dứt, khi Nhật đầu hàng đồng minh nơi mặt trận Châu Á trong ngày 2 Tháng 9, cũng như phần đông nếu không nói là hầu hết thanh niên người Việt cùng lứa tuổi, Võ Phiến gia nhập bộ đội Việt Minh. Đây là tổ chức cộng sản do Hồ Chí Minh thủ lãnh với chiêu bài đánh Nhật, giành độc lập dân tộc. Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, ra khi thấy ra mưu định không thực của Việt Minh, 1946 ông rời bỏ hàng ngũ ra Hà Nội tiếp học trường Văn Lang. Cuối năm 1946, ông trở về lại Bình Định tham gia kháng chiến chống Pháp khi chiến tranh Việt-Pháp bùng nổ vào ngày 19 tháng 12, 1946 từ Hà Nội.</p>
<p>Năm 1948, ông kết hôn với cô Võ Thị Viễn Phố, dạy học ở trường trung học bình dân Liên Khu V (Theo phân định hành chánh của nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thành hình ngày 2 tháng 9, 1945 tại Hà Nội) bao gồm các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên do bộ đội Cộng Sản Việt Minh kiểm soát phần lớn, Tuy nhiên, các thành thị, thị xã vẫn dưới quyền cai quản của giới chức hành chánh-quân sự Quốc Gia Việt Nam (1949-1955). Sau Hiệp Định Genève 20 tháng 7, 1954, vùng Nam-Ngãi-Bình-Phú trở về thuộc quyền kiểm soát của chính quyền quốc gia, cuối năm 1954, ông ra Huế làm việc tại Nha Thông Tin ít lâu rồi xin chuyển vào Quy Nhơn.</p>
<p>Tại Quy Nhơn, ông tự xuất bản hai tác phẩm đầu <i>Chữ Tình</i> (1956) và <i>Người Tù</i> (1957), gửi bài đăng trên hai tạp chí <i>Sáng Tạo</i> và <i>Bách Khoa</i> tại Sài Gòn. Từ tác phẩm thứ ba, <i>Mưa Đêm Cuối Năm</i> xuất bản năm 1958 tại Sàigòn, Võ Phiến dần giữ chỗ đứng hàng đầu trong văn giới Miền Nam với văn nghiệp sáng chói thể hiện tâm thức nhân ái, nhân bản. Ông cộng tác thường xuyên với các tạp chí Sáng Tạo, Thế Kỷ 20, Văn, Khởi Hành&#8230; Cùng với Nguyễn Hiến Lê, ông là một trong những cây bút trụ cột của Báo Bách Khoa, Chủ Bút Lê Ngộ Châu tập san văn học quan trọng của văn và báo giới Miền Nam cho đến 30 tháng 4, 1975. Năm 1962, Võ Phiến lập nhà xuất bản Thời Mới phần lớn in sách của ông.</p>
<p><b>II- Sự Nghiệp</b></p>
<p>Với sự nghiệp văn hóa lớn dài theo 21 năm của VNCH, chứng thực ý thức chính trị-xã hội nhân bản, tự do, khai phóng, Võ Phiến bị giới cầm quyền cộng sản Hà Nội kết án là “Nhà văn chống cộng số Một của miền Nam- Danh tính ông được (đúng ra là bị) nêu lên đầu bảng những nhà văn sẽ bị hành quyết ngay sau khi lực lượng  cộng sản chiếm đóng Sài Gòn. Những danh tính khác gồm các nhà văn Nguyễn Mạnh Côn, Chu Tử…Dẫu chỉ là hàng hậu bối, tên anh cũng được (bị) xếp vào hàng thứ 6. Bản danh sách khai tử nầy không biết do từ đâu mà có, và dẫu không được thi hành toàn vẹn, nhưng chẳng có ai thuộc thành phần văn nghệ sĩ miền Nam trong danh sách kia được an toàn sau 30 Tháng 4, 1975. Chu Tử Chu Văn Bình chết trên đường di tản; Nguyễn Mạnh Côn chết vào năm thứ hai tại trại tù; Hồ Hữu Tường, Vũ Hoàng Chương được đưa khỏi trại để về chết tại nhà.. Những văn nghệ sĩ thuộc thành phần quân đội như Đại Tá Phạm Văn Sơn trưởng Khối Quân Sử/Bộ Tổng Tham Mưu/QLVNCH; Thiếu Tá Nhà Thơ Thục Vũ, Đại Úy Nhạc Sĩ Minh Kỳ.. chết nhiều cách khác nhau do bị bức hại tại trại tù; những  người thủ đắc sức chiến đấu từ chữ nghĩa như Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên chịu án khổ sai trên dưới 10 năm; Nhà Văn Thảo Trường, Thiếu Tá Trần Duy Hinh chịu án tù lâu nhất ngang với hàng tướng lãnh (1975-1991).. Thế nên, từ kinh nghiệm sống/chết trong hàng ngũ cộng sản trước 1954, Võ Phiến phải tồn tại để tiếp tục cuộc chiến đấu trên mặt trận văn hóa mà lần thất trận quân sự 30 Tháng 4, 1975 chỉ là một chuyển tiếp bất khả kháng.. Võ Phiến rời khỏi nước một tuần trước ngày Sài Gòn bị chiếm đóng. Đến Mỹ thoạt tiên gia đình ông ở Minnesota, xong định cư và làm công chức thuế vụ tại Los Angeles. Tiếp tục xử dụng chữ, nghĩa như một vũ khí, Võ Phiến là một trong những người đầu tiên xây dựng nền văn học Việt Nam Hải Ngoại, chủ trương tập san Văn Học Nghệ Thuật từ 1978 đến 1979, tiếp theo từ 1985 đến 1986. Tờ Văn Học Nghệ Thuật do Võ Phiến chủ biên là nguyệt san văn học có uy tín, mở đầu cho một trào lưu văn học đích thực mà sau này trở thành Văn Học Việt Nam Hải Ngoại.</p>
<p>Tác Giả Võ Phiến là một nhà văn hàng đầu của Miền Nam trước 1975, của Văn Học Việt Nam hiện đại. Sự nghiệp của ông kéo dài hơn nửa thế kỷ từ Thế Kỷ 20 qua 21, gồm 18 tác phẩm sáng tác văn học được phân loại như sau. Tiểu thuyết: Giã Từ (Bách Khoa, Sàigòn, 1962); Một Mình (Thời Mới, Sàigòn 1965), Đàn Ông (Thời Mới, Sàigòn 1966); Nguyên Vẹn (Người Việt, CA, 1978).</p>
<p>Tác phẩm truyện ngắn: Chữ Tình (Bình Minh, Quy Nhơn, 1956); Người Tù (Bình Minh, 1957); Mưa Đêm Cuối năm (Tự Do, Sàigòn, 1958); Đêm Xuân Trăng Sáng (Nguyễn Đình Vượng, Sàigòn 1961); Thương Hoài Ngàn Năm (Bút Nghiên, Sàigòn 1962); Về Một Xóm Quê (Thời Mới, Sàigòn 1965); Truyện Thật Ngắn (Văn Nghệ, California, Sàigòn 1991). Thể loại tùy bút: Thư Nhà (Thời Mới, Sàigòn 1962); Ảo Ảnh (Thời Mới, Sàigòn 1967); Phù Thế (Thời Mới, Sàigòn 1969); Đất Nước Quê Hương (Lửa Thiêng, Sàigòn 1973); Thư Gửi Bạn (Người Việt, CA, 1976); Ly Hương (in chung với Lê Tất Điều, Người Việt, CA 1977);  Lại Thư Gửi Bạn (Người Việt, CA 1979); Quê (Văn Nghệ, CA 1992).</p>
<p>Bốn tác phẩm dịch thuật gồm: Hăm-bốn Giờ Trong Đời Một Người Đàn Bà (Stéfan Zweig, Thời Mới, Sàigòn 1963); Các Trào Lưu Lớn Của Tư Tưởng Hiện Đại (André Maurois, Thời Mới, Sàigòn 1964); Truyện Hay Các Nước (Hai tập cùng dịch với Nguyễn Minh Hoàng, Thời Mới, Sàigòn 1965); Ông Chồng Muôn Thuở, Dostoyevsky, Sàigòn 1973).</p>
<p>Tác Phẩm Tiểu Luận: Tiểu Thuyết Hiện Đại (Ký Tràng Thiên, Thời Mới, Sàigòn 1963); Văn Học Nga Xô Hiện Đại (Thời Mới, Sàigòn 1965); Tạp Bút (Ba tập, Thời Mới, Sàigòn 1965-66); Tạp Luận (Trí Đăng, Sàigòn 1973); Chúng Ta Qua Cách Viết (Giao Điểm, Sàigòn 1973); Viết (Văn Nghệ, CA 1993); Đối Thoại (Văn Nghệ, CA 1993).</p>
<p>Biên khảo: Văn Học Miền Nam Tổng Quan (Văn Nghệ, CA 1986), Văn Học Miền Nam, 6 tập gồm 3 tập về Truyện; 1 Ký; 1 Kịch &#8211; Tùy Bút; và 1 tập Thơ (Văn Nghệ, CA 1999).</p>
<p>Toàn bộ tác phẩm Võ Phiến được in lại trong Võ Phiến Toàn Tập gồm 9 cuốn (Văn Nghệ, CA 1993).</p>
<p>Năm 2010, Võ Phiến cho in Cuối Cùng, gồm tạp bút, và thơ mới viết của ông. Hóa ra đây là tác phẩm cuối cùng của Tác Giả Võ Phiến thật như tựa đề của cuốn sách</p>
<p>Đánh giá văn nghiệp của tự thân trong toàn cảnh chung của Miền Nam trước 30 tháng 4, 1975, Võ Phiến đã có kết luận chung quyết: <b><i>Trước và sau thời 1954-75 ở Miền Nam, không thấy ở nơi nào khác trên đất nước ta, văn học được phát triển trong tinh thần tự do và cởi mở như vậy. </i></b>Bởi thực tế 70 năm tính từ khi tổ chức nhà nước gọi là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thành hình tại Hà Nội vào ngày 2 tháng 9, 1945; tiếp giai đoạn cầm quyền từ 1954 trên nửa nước Miền Bắc; và cả nước sau 1975.. Đánh giá của Võ Phiến quả có một giá trị không thể phủ nhận được. Và nền văn học gọi là xã hội chủ nghĩa rốt cuộc chỉ sản xuất nên một thứ loại văn học (cũng đúng đối với tất cả những loại hình văn hóa-xã hội khác) đồng dạng, tầm phào, thô thiển.. khiến Phan Khôi, thủ lãnh Nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm, Hà Nội (1956-1957) đã đánh giá như một loại <i>hoa vạn thọ</i>. Đúng ra, chỉ là một loại hoa vạn thọ bằng giấy hàng mã rẻ tiền.</p>
<p><b>III-Kết Từ</b></p>
<p>Những ngày đơn độc trong bóng tối hầm giam suốt giai đoạn thăm thẳm (1981-1988) của 12 năm lưu đầy trên đất Bắc Việt, cũng như sau nầy vào những đêm mùa Đông nghe rõ từng âm động lách tách của hạt tuyết kết tụ hay vỡ tan trong vùng giá lạnh, yên tỉnh tột cùng nơi Minnesota.. Anh không có một cách thế sống nào khác trong hoàn cảnh <i>“sống tận cùng/với cái chết</i>” giăng giăng im lìm siết chặt bằng cách cho tâm trí rời ra khỏi thên xác để trở về nơi miền Nam với gia đình, với bằng hữu gần xa.. Nhưng cũng không cần phải nại đến với người thiết thân tại một cảnh sống tại một thời đểm không thể nào quên mà anh có thể <i>sống lại</i> với toàn thể đời sống Miền Nam không sai một chi tiết, không thiếu một cảm xúc, không quên một phản ứng, không bỏ sót một cảm xúc.. Anh <i>nhớ/sống</i> lại cảnh tượng cậu con út (sinh 1972) vừa bó vừa <b><i>liếm đất</i></b> nơi căn nhà mang số 27 Đường Trần Nhật Duật.. Nhìn con bò anh có xúc động lạ kỳ về <b>ĐẤT </b>để nên hiểu mối bàng hoàng tê liệt thần trí sau nầy – <i>Giờ thật chết với Quê Hương/Buổi mất Đất/Mất Nước </i>– <i>Con tên Ly/Ly tan/Ly biệt</i>. Từ hoài niệm về con, anh dẫn dắt tâm cảnh trở lại những ngày trước 30 tháng 4, 1975.. Từ nhà ở, góc đường Nguyễn Hùynh Đức/Trần Quang Diệu, anh đi đến Trần Quang Diệu nối dài, tới nhà Ông Hai (Phân biệt với Ông Cả, Nhà văn niên trưởng Doãn Quốc Sỹ) để nghe ra nhắn nhủ.. <i>Phải đi thôi! Anh phải đi thôi!</i> Lần đầu tiên anh nghe Ông Hai có âm nói cao hơn bình thường dẫu ánh mắt vẫn giữ nét trầm tĩnh, bình thản.. Vâng anh, chắc em phải đi thôi!</p>
<p>Những ngày nơi bóng tối, trong đơn độc anh nhớ rất đủ về Ông Hai trong hệ thống hoài niệm/sống/chết nầy. Và từ bóng tối, từ đêm thâu, từ mưa đêm cuối năm.. Tự nhiên anh nghĩ ra những lời..</p>
<p><i>Mưa Đêm Cuối Năm</i> nhớ thương ai (1)</p>
<p>Sợi ngắn, sợi dài..</p>
<p><i>Sợi tóc mai (2)</i></p>
<p>Sống/chết tìm gì nơi <i>Viễn Phố</i></p>
<p><i>Người Tù, Một Mình</i> ngồi đơn côi!</p>
<p><i>Hay quá! Hóa ra Ông Hai đã tiên tri đủ cho mình!</i> Hôm ấy, một đêm mưa lạnh trong bóng tối hầm giam Trại Thanh Cẩm, Thanh Hóa cuối năm 1986,  anh bật cười trong bóng tối với nước mắt chảy xuống khi nào không hay. Sau nầy đến Mỹ, anh được biết, Võ Phiến đã khóc hai lần: Một lần ở toà soạn Báo Bách Khoa trên đường Phan Đình Phùng, lần thứ hai trên tàu Messenger khi rời đảo Phú Quốc, giã từ quê hương..</p>
<p>Vâng, có những <i>Đàn Ông </i>đã bật khóc <i>Một Mình</i> khi <i>Giã Từ</i> chứ đâu phải riêng một <i>Người Tù</i> như anh trong <i>Mưa Đêm Cuối Năm (1) </i></p>
<p>Kính tưởng ngày Ông Hai về cõi Phật</p>
<p>Cali 28/9/2015</p>
<p><b>Phan Nhật Nam</b></p>
<p>(<i>1) Italic, các đầu sách của Võ Phiến </i></p>
<p>(2) <i>Tóc mai sợi ngắn, sợi dài..</i></p>
<p><i>Lấy nhau không đặng.. Thương Hoài Ngàn Năm</i></p>
<p>Ca dao, Võ Phiến lấy làm đề tựa cho sách của ông.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/phan-nhat-nam-v-phien-mot-mnh-mua-dm-cuoi-nam/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Phan Nhật Nam : ĐI VỀ HƯỚNG T&#194;Y&#8230;</title>
		<link>https://t-van.net/phan-nh%e1%ba%adt-nam-di-v%e1%bb%81-h%c6%b0%e1%bb%9bng-ty/</link>
					<comments>https://t-van.net/phan-nh%e1%ba%adt-nam-di-v%e1%bb%81-h%c6%b0%e1%bb%9bng-ty/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phan Nhật Nam]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 Nov 2013 10:47:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Phan Nhật Nam: Dấu Binh Lửa]]></category>
		<category><![CDATA[dbl]]></category>
		<category><![CDATA[phan nhật nam]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=15091</guid>

					<description><![CDATA[Chiếc máy bay quay mũi về phía thành phố, mặt trời sau lưng bắt đầu chìm xuống bìa rừng. Lấy con lộ đá làm chuẩn hai anh phi công bắt đầu cuộc đua, hai chiếc trực thăng đâm chéo vào nhau, lướt trên ngọn cây, gần như chạm sát mặt đường, vạch đá đỏ dưới [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><strong><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2013/11/clip_image002.gif"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2013/11/clip_image002_thumb.gif?strip=all&fit=354%2C381" alt="clip_image002" width="354" height="381" border="0" /></a></strong></p>
<p>Chiếc máy bay quay mũi về phía thành phố, mặt trời sau lưng bắt đầu chìm xuống bìa rừng. Lấy con lộ đá làm chuẩn hai anh phi công bắt đầu cuộc đua, hai chiếc trực thăng đâm chéo vào nhau, lướt trên ngọn cây, gần như chạm sát mặt đường, vạch đá đỏ dưới chân chạy ngược vùn vụt&#8230; Nhắm mắt, một ngày mệt mỏi và căng thẳng đang hết. Tôi sắp được nghỉ ngơi. Núi Bà Đen đã phủ hơi sương, khối đá, cây cỏ xanh rì thẩm dần vào bóng tối. Thành phố Tây Ninh vừa lên đèn.<br />
Tây Ninh, thành phố không giống một nơi nào của miền Nam càng không giống một thị trấn nào của miền Trung. Thành phố biên giới theo lộ đất đỏ đi Katum, theo quốc lộ 1 từ Gò Dầu Hạ tiếp đường 22&#8230; Tất cả mọi nẻo đều dẫn đến biên giới. Biên giới, đồng cỏ ngút ngàn lặng lẽ váng vất khắc khỏai, hai đồn lính nằm trơ trọi, tấm bảng viết hai chữ Việt, Miên. Biên giới, nghe nao nao trong lòng cơn bồi hồi khi chân bước lên mặt nhựa sát gần cây cản đường, trên đồng cỏ thấp thoáng bóng người tới lui im lặng. Biên giới, âm thanh mang vẻ ngỡ ngàng hờ hững và không gian như bị bít lối. Trong không khí đặc dị đó Tây Ninh buổi sáng gây gây rét, trời im không gió, không nắng, xe nhà binh, lính mang súng đầy ắp con phố chính, thành phố bắt đầu ngày với mùi đao binh, tăng dần độ nóng bởi khói xăng pha nhớt. Thành phố căng thẳng như viên đạn đã lên nòng. Sáng qua, chiều tới và&#8230; Đêm xuống. Đêm xuống mau, thành phố vắng, ngọn đèn vàng khu chợ, bóng người lính lao xao thoắt ẩn thoắt hiện, lính mang giày há mõm, áo rách, mặt đen bụi đỏ trầy trụa vì gai rừng, đâu đây vang tiếng cười lanh lảnh chông chênh. Uống đi&#8230; Hơn hai tháng không ngậm được cục nước đá, uống đi, mai theo Chinook vô lại biết đâu trưa là chết. Uống đi, đ.. má cứ tưởng tượng &#8220;nhai&#8221; được miếng bia thì chết cũng đáng&#8230; Ha, ha cho thêm một hộp nữa. Đêm Tây Ninh với những người lính sống giữa khe hở của sống chết.<br />
Tôi đứng trên đài cao, với một cái loa, lá cờ đỏ, những tấm bảng có kẻ chữ V,J,C,B&#8230; V là Vichy, Jackie, Carolyne, Barbara, những căn cứ hỏa lực cách biên giới vừa tầm súng cối địch. Zulu đây Nam Xương đang cần Class A. Zulu đây Nam Xương, Carolyne yêu cầu Hard-mission&#8230; Zulu là tôi, Nam Xương cũng là&#8230; tôi. Zulu là tôi khi ở trên đài, trên đường đi, trên trực thăng, trên bãi Fox&#8230; Nam Xương là tôi ở nhà, ở trung tâm hành quân nhận yêu cầu từ các căn cứ, nơi có lính dưới hầm, lính đang chong mắt chờ pháo, lính đang liếm môi chờ nước. Class A là thức ăn, hard-mission là khẩn cấp, là đạn, không có không được. Như con thoi chạy mãi trên trục lửa: Căn cứ &#8211; Thành phố. Đài kiểm soát &#8211; Bãi bốc hàng. Phi trường &#8211; Phòng hành quân. Tôi lái xe như gió, hét như sấm, lồng ngực nổ máu nóng, cổ họng nghẹt cứng vì khói và hơi nóng phản lực của phi cơ. Tôi mờ mắt vì trên cao độ mông lung thấy đạn phòng không đan một lưới lửa dưới thân tầu và căn cứ Vichy bập bùng khói bụi&#8230; Địch đang pháo kích.<br />
Ngày hết trở lại đêm, Tây Ninh âm ỉ như miếng sắt nóng đỏ đang nguội dần.<br />
Trong bóng tối của nhà xác, tôi đứng tần ngần bên một gói poncho im lặng. Gói xác người lạ lẫm, không có khối tròn của chiếc đầu. Phước đã chết vì một qủa B.40 nhắm thẳng vào mặt. Hai chiếc giày của người chết đóng lớp đất vàng có những cọng cỏ còn tươi dính vào kẽ dây giày. Người chết sớm hơn cỏ cây, chưa kịp khô. Buổi trưa, trước khi chết khỏang nửa giờ tôi còn nghe tiếng nói của Phước vọng qua loa khuếch đại máy truyền tin tại phòng hành quân&#8230;<br />
&#8211; Nam xương đó hả, cám ơn mi cho tao mấy hộp bia&#8230; Thôi nghe, tao đang &#8220;gom bi&#8221; (điều chỉnh pháo binh), hai ngày nữa ra gặp mi&#8230;- Hai ngày nữa, hai ngày nữa&#8230; Nghe lồng lộng trong không gian nỗi vui mừng sảng khoái tội nghiệp của kẻ sắp được uống nước đá, ăn cơm nóng và&#8230; quay cái cổ cho đã!!! Không có hai ngày hân hoan kia cho Phước nữa, chỉ còn nửa giờ cho một đời. Chỉ còn nửa giờ cho một người. Người rất muốn sống.<br />
Ở Tây Ninh, buổi trưa trong những giờ tạm nghỉ trên đường đi đến nhà ăn, ngang qua những căn nhà lợp tôn, tường cói mỏng, nơi nghỉ ngơi cho lính Mỹ sau ba tuần trong rừng. Đi ngang qua các căn phòng hé cửa, sau bức tường mỏng manh nghe từ trong đó giọng cười hăng hắc khoái trá của giống cái Việt Nam được chạm vào nơi kích thích chen lẫn tiếng gầm gừ của những người trẻ tuổi tóc vàng vừa đến tuổi thanh niên, những người đang tập uống rượu say đắm cuộc đời qua thân thể một phụ nữ da vàng mốc thếch.<br />
Sát biên giới, đuổi giặc ra khỏi biên thùy, đất đai như một kích thích tố cụ thể, lính Nhẩy dù chịu đựng như không thể chịu đựng hơn, tác chiến như không có đơn vị bộ binh nào tác chiến bằng. Cùng phối hợp hành quân với Sư đoàn Kỵ binh Không vận Mỹ, Sư đoàn Bộ binh số 1 của thế kỷ, tác phẩm toàn hảo nhất của Bộ trưởng Quốc phòng MacNamara; cũng là sản phẩm hãnh diện không nhược điểm của kỹ nghệ chiến tranh hiện đại. Đứng cạnh Không kỵ hay First CAV, những sư đoàn bộ binh Mỹ ngượng ngùng lép vế không cưỡng chế, Big Red One, Đệ Nhất Sư đoàn bộ binh với gần một thế kỷ truyền thống; Sấm Sét miền Viễn Tây,Sư đoàn 25 Bộ Binh, nổ lực chính của quân lực Mỹ trong trận chiến Cao Ly và ngay cả Thủy quân Lục chiến, biểu tượng anh dũng của quân lực Mỹ&#8230; Tất cả khi đứng trước First CAV cũng cảm thấy có một thua sút không bù trừ nỗi. Đệ Nhất Sư Đoàn Không vận có gần năm trăm phi cơ trực thăng, ba bộ chỉ huy lữ đoàn với khả năng tác chiến biệt lập có thể đảm trách vùng trách nhiệm cấp sư đoàn. Mỗi lữ đoàn Nhảy dù phối hợp với một lữ đoàn không kỵ, lữ đoàn tôi cùng với lữ đoàn 1 không kỵ Mỹ giữ vùng trách nhiệm bắc Tây Ninh, Lữ đoàn 1 Dù với 2 Không kỵ chịu phần Phước Long, Bình Long.<br />
Các khu vực trách nhiệm của mỗiTiểu đoàn Dù và Không kỵ chen lẫn nhau trải qua ba tỉnh Phước Bình, Bình Long và Tây Ninh. Nguyên tắc là phối hợp hành quân, nên vùng trách nhiệm của Mỹ và ta rộng ngang nhau, nặng ngang nhau vì được đo lường&#8230; ngang sức nhau. Nhưng đấy chỉ là nguyên tắc,thực tế thì khác xa, xa diệu vợi, xa ngút ngàn. Khả năng của Không kỵ Mỹ vô cùng, Dù Việt Nam hạn chế, căn cứ Mỹ được 175 ly yểm trợ trực tiếp và 105 ly yểm trợ tăng cường, trong khi Việt Nam thì trái lại. Căn cứ hỏa lực của Mỹ là một thành phố thu hẹp với trạm cứu thương, bãi trực thăng Chinook, bãi trực thăng VIP, đường tráng nhựa, nhà bếp nấu thức ăn nóng cho toàn tiểu đoàn và máy bay riêng cho tiểu đoàn trưởng, trực thăng võ trang ưu tiên yểm trợ, tiếp cứu. Blue Max, Pink Max (trực thăng võ trang) thường trực trên không phận của mỗi khu vực hành quân của từng tiểu đoàn để yểm trợ chiến thuật ngay phút đầu chạm địch. Nhảy Dù Việt Nam tuy gọi là phối hợp hành quân nhưng lẽ tất nhiên không thể có ưu tiên tuyệt đối như Mỹ, căn cứ hỏa lực được kiến tạo do sức của đôi tay và yếu tố quyết định chiến trường nằm trên mũi súng của mỗi người lính. Và cách xa vật chất của hai loại lính trong cùng một chiến trường, cùng cường độ là khỏang trống không thể bù. Lính Mỹ, áo quần dơ được trực thăng đem về Tây Ninh giặt, hai tuần trong rừng, một tuần tại căn cứ hỏa lực, một tuần được về Tây Ninh nghỉ; chiều có thức ăn nóng với khẩu phần ẩm thực số 1. Lính Dù áo quần vá bằng dây thép, băng keo, uống nước hố bom cũng là huyệt người chết, một tháng về căn cứ hỏa lực (mỗi tiểu đoàn có một căn cứ) tạm nghỉ để có thể ngước mặt nhìn trời không bị cây rừng che khuất và uống nước ống đạn mang từ Tây Ninh mang vào với tiêu chuẩn mỗi người một nón sắt. Cùng cường độ chiến trường, vận tốc hành quân, cùng gánh nặng nhiệm vụ, dù thua xa bao nhiêu phương tiện, thiếu bao nhu cầu cũng phải gắng đến đuối sức. Phải gắng hết lực — Danh dự quân lực, quốc gia nằm trong lần phối hợp này. Thế nên trên chiều rộng gần một trăm năm mươi cây số từ Tây Ninh qua Phước Long từ biên giới vào nội địa người lính Dù Việt Nam cong lưng xuống dưới gánh nặng có mùi vị ẩm mốc của nước mắm, thịt, gạo, mỡ, tay cắp súng. Tay thêm thùng đạn tăng cường, bấm đôi chân trên mặt đất — Đi và đụng địch. Đụng liên miên, đụng dài dài&#8230; Tiểu đoàn 7 đang hối ARA (ám danh gọi trực thăng võ trang) vào vùng thì quanh căn cứ Carolyne của tiểu đoàn 11 Cộng quân đang thổi kèn xung phong. Tiểu đoàn 2 Dù đang hô: Phải cho thêm kẹo cho gà cồ gấp. (đạn pháo 105). Gà cồ gáy, bánh chưng nổ, đom đóm gần hết (đạn 105, mìn nổ, mìn chiếu sáng hết&#8230;) Tất cả hối thúc dồn dập vang vang trong máy truyền tin, tôi như có cơn sấm dậy trong đầu, mệt nhọc bỏ qua, phải bỏ qua vì ngày ngày bay trên rừng xanh, ngày ngày đáp trên đất vỡ, tôi gặp bạn bè, tôi thấy lại lính cũ để nghe những tiếng nói, những câu than nhỏ&#8230; Khổ quá, khát quá. Tôi nhìn những chiếc má hóp, những sợi râu úa, những ánh mắt khô&#8230; Từ tháng Mười 69 đến hôm nay tháng Một 70 không nhìn thấy một mảnh trời quang huống gì là một ngày bình yên. Cộng quân thật thâm độc, chúng gom lực lượng nhất định đánh vỡ vòng đai bằng cách cường tập vào các căn cứ Nhảy dù. Nếu quân ta vỡ, Mỹ sẽ mất tinh thần theo. Đánh Nhảy dù còn là đòn tâm lý độc hại cốt chứng tỏ sự hận thù nhắm mạnh hẳn về một hướng. Nhưng quân ta cứng như khối thép, mạnh như cuồng phong, từ các căn cứ các đại đội càng ngày càng bung rộng, đánh ngày không được, đợi đêm đánh. Tại trung tâm hành quân người ta nghe nhưng lời đối thoại chắc nịch:<br />
&#8211; Tôi biết ở đấy có hai 12 ly 7 ( Phòng không 12 ly 7), Đại bàng (Vị chỉ huy) cho tôi và con cái (lính) ăn uống xong, đến đêm tôi sẽ xung phong.<br />
Những lời nói rất thường ở ngôn từ nhưng lồng lộng ý chí quyết thắng. Sự can trường hình như làm căng mạch máu đoàn quân vì tiến quân lên hướng Bắc nhưng thật ra đi về phía Tây của Việt Nam, đoàn quân đang dẫm lên phần đất mông lung linh diện của biên giới — Đất vô hình nhưng khí thiêng Tổ quốc hình như lẩn khuất quanh đây — Lính Nhảy dù mạnh vì mang trong lòng tâm thức — Đuổi giặc ra khỏi biên giới. Tâm lý đắm chìm không phân tích, luận lý nhưng thôi thúc mỗi người trong mỗi ngày mỗi phút đừng ngã xuống để tiến lên. Số vũ khí tịch thu làm Không kỵ ngất ngư. Không thể ngờ có sức chiến đấu tuyệt vời như thế trong những cơ thể chỉ bằng đứa bé ở Mỹ Châu. Lính Không Kỵ giật mình — Huyền thoại về Nhảy Dù Việt Nam là một huyền thoại có thật.<br />
Chiến dịch mở dài cho đến tháng Năm để tiến thành cuộc hành quân vượt biên đánh vào hậu cần Mặt Trận Giải Phóng ở đất Miên. Tôi không tham dự hành quân này và phải ra khỏi binh chủng. Mỗi ngày nơi phòng hành quân của chỗ làm mới nghe bàn tán xôn xao về những địa danh&#8230; Lưỡi Câu, Mõ Vẹt, đồn điền Mimot, Snoul&#8230; Tôi đứng ở trước tấm bản đồ phủ bụi dí ngón tay qua các điểm Tây Ninh, Katum, Sông Bé&#8230; thấy lại trước mắt dãy rừng miền đông Nam bộ chập chùng ngút ngàn mờ hơi khói, bập bùng những nấm khói đạn pháo binh và đoàn quân di chuyển âm thầm trong bóng lá, trên đất khô lẫn bụi vàng&#8230; Chỉ là hai tháng trước đây. Tôi vừa qua một cảnh đời của nghiệp lính.</p>
<p><strong>Tháng 2-1970. Tây Ninh.<br />
Căn Cứ Hỏa Lực Nhảy Dù Việt Nam</strong></p>
<p><strong>Phan Nhật Nam</strong></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/phan-nh%e1%ba%adt-nam-di-v%e1%bb%81-h%c6%b0%e1%bb%9bng-ty/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Phan Nhật Nam : L&#192;M G&#204; SAU CHIẾN TRANH</title>
		<link>https://t-van.net/phan-nh%e1%ba%adt-nam-lm-g-sau-chi%e1%ba%bfn-tranh/</link>
					<comments>https://t-van.net/phan-nh%e1%ba%adt-nam-lm-g-sau-chi%e1%ba%bfn-tranh/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phan Nhật Nam]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 26 Oct 2013 22:16:53 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Phan Nhật Nam: Dấu Binh Lửa]]></category>
		<category><![CDATA[dbl]]></category>
		<category><![CDATA[phan nhật nam]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=15051</guid>

					<description><![CDATA[Tổng thống Thiệu đọc thông điệp mới, báo hiệu một chính sách mở ngõ để Việt cộng tham dự vào hoạt động chánh trị của miền Nam, các chính khách, kinh tế gia chuẩn bị đường lối chính trị và kế hoạch kinh tế hậu chiến. Quân Việt Nam bắt đầu thay quân Mỹ. Những [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2013/10/clip_image00216.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2013/10/clip_image002_thumb16.jpg?strip=all&fit=304%2C400" alt="clip_image002" width="304" height="400" border="0" /></a><strong></strong></p>
<p>Tổng thống Thiệu đọc thông điệp mới, báo hiệu một chính sách mở ngõ để Việt cộng tham dự vào hoạt động chánh trị của miền Nam, các chính khách, kinh tế gia chuẩn bị đường lối chính trị và kế hoạch kinh tế hậu chiến. Quân Việt Nam bắt đầu thay quân Mỹ. Những hiện tượng dồn dập xảy đến báo hiệu về thế sống mới. Tôi cũng có những ý nghĩ &#8220;hậu chiến&#8221; cho bản thân. Hậu chiến, sẽ không còn những đụng độ lớn, Việt cộng sẽ hoạt động dưới một hình thức đấu tranh khác về chính trị, kinh tế, có thể hạ tầng cơ sở du kích vẫn được duy trì. Nhưng dù sao đi nữa, tôi sẽ không còn cơ hội để chết non. Lẽ tất nhiên vẫn có những cái chết lãng nhách như rơi máy bay, lính làm nổ lựu đạn, cướp cò, nhưng chắc chắn chẳng còn những cái chết &#8220;bảo đảm&#8221; như bây giờ. Hậu chiến đặt ra trước mặt chúng tôi những vấn đề thật rõ rệt, nhìn thẳng thì khó chịu nhưng tránh đi thì nó vẫn còn đấy, như một hiện sinh phi lý nói theo kiểu của ông Sartre. Hậu chiến, một số lính cũng như quan sẽ được giải ngũ, tôi không thuộc thành phần này, vì là lính nhà nghề, sẽ nói rõ số phận này sau. Mấy anh được giải ngũ sẽ làm gì? Chẳng làm được cái gì hết trọi. Trừ một số nhỏ bị động viên sẽ trở lại nhiệm sở cũ, đi dạy học&#8230; Tôi không dám bàn rộng đến khía cạnh kinh tế, chỉ thắc mắc mỗi điều: Xã hội lúc bấy giờ có đủ khả năng để thâu dụng số nhân lực không sản xuất đó hay không? Tôi muốn nói đến các anh đi lính từ năm mười tám tuổi, giải ngũ ra các ông đó có nghề gì? Tập họp nào thâu dụng được đám người không nghề chuyên môn, đã quen với bom đạn trên dưới mười năm.<br />
Hậu chiến, lính còn lại sẽ biến thành công chức; trung đội, đại đội, tiểu đoàn trưởng sẽ hàng ngày ngồi nhìn nhau tại hậu cứ, giày đánh bóng, búp nịt cũng đánh bóng kiểu như các sĩ quan ở quân trường. Lẽ tất nhiên rồi cũng sẽ quen đi. Nhưng thói quen nào được chấp nhận trong những tâm hồn đã chai cứng và cơ thể lệch lạc vì thương tích. Những người bạn thân hay không, khắp bốn vùng chiến thuật, ở các đơn vị chiến đấu, không ai không có mảnh đạn trong người. Dư và Năng ở Biệt động quân bị thương đến độ hết phương chữa, đứng bên cạnh cũng không nhận ra mặt. Gần gũi hơn là lũ bạn ở các tiểu đoàn Nhảy dù, không một thằng nào có thể gọi là mẹ tròn con vuông. Sơn &#8220;độc nhãn&#8221; người gầy như con mắm, con mắt bằng chai bỏ trong túi, vẫn hành quân chăm chỉ trong mười năm không một khóa học, phép thường niên do bệnh viện cấp. Đấy chỉ là hư hao thể chất, còn tâm hồn, âu cũng là khu rừng hoang cho cỏ lan. Không ai có thể tưởng được cảnh nổi loạn của Mễ, thưở đi học mẫu mực vào đến trường Võ Bị nên sinh viên sĩ quan cán bộ, con cưng của &#8220;Thạc sĩ Cơ bản thao diễn&#8221; Huỳnh Bửu Sơn, nhưng đến bây giờ trông cảnh nó chơi đòn giang hồ mọi người đều ngán ngẫm. Trời mùa đông ở Mỹ Chánh mưa giăng kín mặt sông, bên kia làng địch, Mễ cởi trần đeo súng Colt ở cổ, thổi phao bơi qua sông mua rượu. Chưa bao giờ tôi nghe nó thở than một điều gì nhưng trong đêm khuya, nơi căn trại vắng ở Tam Hiệp, trong bóng tối, nó ngồi im như một nỗi cô đơn.<br />
Đại loại lũ chúng tôi &#8220;hư&#8221; đến như thế, trong mười thằng có đến chín sau bao nhiêu năm đi làm quan không mua được một cái đồng hồ, không biết giờ tan sở Chính phủ ấn định là mấy giờ. Như vậy làm sao kéo chúng tôi vào trong một sinh hoạt đều đặn của trại lính biến thành công sở. Rồi cũng xẩy ra những tỵ hiềm, những xung khắc ti tiện, nhòm ngó đàn bà&#8230; Chúng tôi đi lính bao nhiêu năm, lẽ tất nhiên quá quen với đời sống kỷ luật; nhưng kỷ luật này co giãn, thay đổi theo mỗi hoàn cảnh của mỗi người, không có kỷ luật nào bắt lính nhịn đói hai ngày, nhưng luật của đại đội trưởng là phải la hét, quát tháo, kích thích binh sĩ, phải dựng đứng thân thể họ dậy và đẩy về đằng trước. Lẽ tất nhiên kỷ luật của quân đội sẽ vô cùng xuống giá trước cảnh &#8220;diễn nghĩa&#8221; của Lô cùng với cả trung đội cởi truồng say khướt trong một thửa ruộng ở Vĩnh Lộc, hay của Năng lúc ở tiểu đoàn 52 Biệt động quân, nhưng ai cấm được binh sĩ của chúng cảm phục và hãnh diện vì có những đại đội trưởng sáng gía hào hùng. Kỷ luật của chúng tôi bất thành văn chỉ có giá trị cho riêng mỗi người. Thế cho nên nếu bắt chúng tôi về lại với thứ nguyên tắc cứng nhắc vớ vẩn đại diện là mấy anh quân cảnh, hỏi thằng lính tác chiến nào nuốt nổi.<br />
Mãn sở rồi, cai, đội hồi hương<br />
Trai lui về làm ruộng&#8230;<br />
Hậu chiến thưở xưa được giải quyết êm đẹp như câu hò trên, nhưng hậu chiến bây giờ chúng ta sẽ làm được gì? Trung bình chúng tôi có tú tài, tú tài năm 1969 chỉ có thể đi làm thơ ký quèn, nhưng hậu quả trên dưới mười năm lính chúng tôi đã thành loại người để chỉ huy hoặc tuân lệnh. Giải ngũ trở lại với đời sống thường, nghe những anh già lẩm cẩm, những anh trai trẻ cù lần sai bảo chịu sao nổi?<br />
Lũ bạn chúng tôi ngồi nói chuyện với nhau, một người đi đến, dẫn thêm một tên bạn mới. Làm gì? Làm sở Mỹ. Tôi lúng túng khổ sở không biết gợi chuyện với hắn ta như thế nào! Trường hợp gặp một anh nhà binh không ở đơn vị tác chiến tôi cũng chả biết có chuyện gì để nói với. Kể cho nghe những ngày phá phách ở Pleiku, cho biết tin một thằng ở Biệt kích chưa được lên lon, làm sao anh ta hưởng ứng với được? Chúng tôi đã có một lối sống thành nếp với một số bạn bè hạn chế, thói quen tật xấu cũng như tính tốt của mỗi người đều được biết rõ, một người lạ xuất hiện gây nên một cảm giác khó chịu kỳ quặc, cũng như cái cảm giác lạc lõng ngơ ngác khi tôi bước chân vào một sân trường để xin cho đứa em vào học. Thế giới chúng tôi kín cửa dù có nhọc nhằn phiền muộn cũng đã một chỗ ngồi quen hơi.<br />
&#8220;Các anh là một giai cấp sĩ quan quí tộc&#8230;&#8221; Lúc xưa Đại Tá Huyến đã thổi chúng tôi lên như vậy. Sau này trong những ngày tang thương nhất của đời lính, đóng ở đài phát thanh Sài Gòn để chống biểu tình, căng chiếc võng ngủ ở chỗ nhà để xe của nhân viên trong đài, thấy giá trị của mình còn kém xa các anh thợ hát. Tôi đã gặp lại Đại Tá Huyến trong hoàn cảnh đó để đồng ý với ông ta rằng chúng tôi chẳng có tí ti &#8220;quý tộc&#8221; nào cả! Nhưng phải nói thật, ông đã gieo vào lòng trai trẻ của chúng tôi trong những năm đầu tiên niềm hãnh diện đích thực được làm một sĩ quan tình nguyện chọn binh nghiệp làm nghề &#8211; Một nghề đầy hy sinh và cao cả. Bố khỉ, đến năm nay thì chân lý cao cả kia trông yếu quá, lương quan ba &#8220;thiên thần mũ đỏ&#8221; không nuôi tấm thân tàm tạm, nhà phải đi ở thuê, nhỏ bằng hộp quẹt thở mạnh bung cả mái&#8230; Ở gần nhà có một bà nạ giòng, loại &#8220;nouveau riche&#8221; mở lò bánh mì, chẳng biết phát tài ra làm sao, con mẹ mua một lúc ba chiếc xe, trong đó có một chiếc Mercédes 220. Thấy cái nhan sắc hoàng hôn, trang điểm theo kiểu technicolor của đào ciné già cỡ 1930 ngự trên chiếc xe, thật đau lòng cho giai cấp quý tộc của tôi quá! Chưa hết, có một ông trung tá biết bà ta buôn bán phát tài đến xum xoe xin hùn vốn. Ôi! Tôi nghĩ ra tương lai cũng sẽ là một anh trung tá đi mở lò bánh mì hay làm trại heo với điều kiện có tiền làm vốn. Nhưng con đường đã vạch ra rồi đấy, bạn bè tôi thậm chí đến cả Lô &#8220;lọ rượu&#8221; còn xúi tôi chạy áp-phe&#8230; Chạy áp-phe, chắc chắn không bao giờ có được trong chương trình huấn luyện của trường Võ Bị Quốc Gia và Đại Tá Huyến ắt sẽ vô cùng ngạc nhiên khi thấy Lã Quý Trang, sĩ quan á khoa của khóa tôi, một thằng nghệ sĩ đầy mình hát hay chẳng kém Duy Trác vẫn chạp áp-phe đều đều. Tôi không biết rõ nó có kiếm được tí nào không, nhưng nghe lời thở than&#8230;<br />
&#8211; Không kiếm chác là đọi đấy mày ạ, tao vợ hai con rồi, nhà lại ở thuê&#8230;<br />
Thôi xong rồi, ngày nó cầm gươm đi diễn hành sao mà đẹp đến thế. Đời đã giết nét tài tử trong tâm chất của nó.<br />
Đấy, chưa là hậu chiến sĩ quan đã bơ vơ lếch thếch đến thế. Tưởng chỉ có ở trong tiểu thuyết Les frères của Karamazov, viên đại úy đi đòi nợ cho điếm. Hậu chiến chưa đến, nhưng con điếm trong xóm tôi đã đến nhà nhờ tôi lãnh dùm thằng chồng ma-cô của nó ra khỏi ty Cảnh sát. Xin Chúa hãy phù hộ cho con! May quá tôi cũng có vốn thanh liêm nên chối từ. Nhưng nếu hậu chiến, giải ngũ trong cảnh vợ con nheo nhóc, ai cản tôi áo hoa nón đỏ vào ty Cảnh sát lãnh hộ mấy thằng ma-cô kiếm tí tiền còm!</p>
<p><strong>Cuối năm 1969 </strong></p>
<p><strong>Phan Nhật Nam</strong></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/phan-nh%e1%ba%adt-nam-lm-g-sau-chi%e1%ba%bfn-tranh/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Phan Nhật Nam : NGƯỜI CHỈ HUY VỀ GI&#192;</title>
		<link>https://t-van.net/phan-nh%e1%ba%adt-nam-ng%c6%b0%e1%bb%9di-ch%e1%bb%89-huy-v%e1%bb%81-gi/</link>
					<comments>https://t-van.net/phan-nh%e1%ba%adt-nam-ng%c6%b0%e1%bb%9di-ch%e1%bb%89-huy-v%e1%bb%81-gi/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phan Nhật Nam]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 22 Oct 2013 23:16:23 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Phan Nhật Nam: Dấu Binh Lửa]]></category>
		<category><![CDATA[dbl]]></category>
		<category><![CDATA[phan nhật nam]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=14996</guid>

					<description><![CDATA[Có thể nói sếp cũ của tôi là một ông già, già nhất trong những người giữ nhiệm vụ chỉ huy đơn vị tác chiến. Ông đi lính từ một thuở thật xa, lâu lắm, cách đây hơn hai mươi năm lúc quân đội chỉ độc các loại commando, Lê-Dương, Nhẩy Dù thuộc địa&#8230; Đánh [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2013/10/clip_image00212.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2013/10/clip_image002_thumb12.jpg?strip=all&fit=404%2C271" alt="clip_image002" width="404" height="271" border="0" /></a><strong></strong></p>
<p>Có thể nói sếp cũ của tôi là một ông già, già nhất trong những người giữ nhiệm vụ chỉ huy đơn vị tác chiến. Ông đi lính từ một thuở thật xa, lâu lắm, cách đây hơn hai mươi năm lúc quân đội chỉ độc các loại commando, Lê-Dương, Nhẩy Dù thuộc địa&#8230; Đánh nhau bằng súng mút-cờ-tông từng phát một hay những cây FM đầu bạc bắn gật gù như ông già ho lao. Lúc chiến tranh còn nằm tít trên biên giới Lào &#8211; Việt &#8211; Trung, trận đánh toàn một cách xung phong ầm ầm, ào ào để giữ những làng, thị trấn mang tên lạ hoắc như Bản Hiu-Siu, Mường Phen, Thất Khê&#8230; Ông già sếp tôi thuở đó khởi nghiệp nhà binh với lon Cai ở Commando. Không rõ những ngày ở đơn vị đó ông có những gì đặc biệt, chỉ biết ông ta nhắc lại đoạn đời qua bằng một câu thật gọn: Cai thật trẻ&#8230; Giọng Bắc Kỳ khàn khàn xuống mạnh vào chữ mang đầy kiêu hãnh và tự tín. Tước hiệu &#8220;cai thật trẻ&#8221; hình như là nỗi hãnh diện đầu tiên và đích thực nên sau này khi đã đóng đến lon &#8220;quan Năm&#8221;, lúc say rượu, dù cơn say vào độ tơi bời tàn khốc, ông vẫn còn nhớ được: &#8220;Tao là Cai Hùng, đếch phải là trung tá cái củ c&#8230; gì ráo&#8230;&#8221;. Cai Hùng! Cai Hùng! Một tuổi trẻ gió bão nào đó đã đi qua.<br />
Lúc tôi đến đơn vị này, ông năm mươi tuổi; năm mươi tuổi để tất cả đầu tóc bạc trắng và những nếp nhăn cày sâu trên mặt, nhưng ông vẫn còn nguyên vẹn thái độ nồng nhiệt đối với đời sống của ngày trai trẻ. Thời gian về trước ông đã nổi tiếng với những câu chuyện như sau: Quan Ba Nhảy dù nhưng vẫn đánh một chiếc xe đạp thổ tả cọc cà cọc cạch rong chơi với một con gà ở đằng sau porte-bagages. Thú nuôi gà của ông đã lên đến cao độ đến nỗi ông ta mang biệt hiệu &#8220;Hùng gà chọi&#8221;. Nghe tiếng một con gà nào đó ở Bà Điểm nổi danh vì ngón đòn, ông lọc cọc chiếc xe vượt qua một quãng đường dài lồi lõm sống trâu để chứng kiến cho được ngón đòn của gà&#8230; Hãy nghe ông &#8220;luận&#8221; về gà: Nó là một guerrier, đấy là một combattant, không bao giờ lùi không bao giờ chịu thua&#8230; Đến chữ &#8220;thua&#8221; ông đưa một quả đấm lên trời, mắt long lên sòng sọc. Đúng là hình ảnh của một con gà chọi. Chẳng hiểu thằng nào gán cho ông cái biệt hiệu thật đúng phong phóc!!! Nó là một tay gan lì! C’est un type! Dù có bị đánh lê nhê, máu me đầm đìa, hắn ta vẫn nhẫn nha chiến đấu&#8230; Có con gà bị đánh mù mắt, hắn ta mù nhưng vẫn lừa đối thủ để kẹp lấy chiếc cổ và thế là a-lê-hấp nó phản đòn ngay. Ông có thể luận về gà đầy đủ chi tiết, nhại lại thế đứng,một ngón đòn hay của con gà&#8230; Không có gì phải bất tiện, hai tay là hai cánh gà, hai chân biến thành một cặp chân tưởng như có đủ cựa nhọn, đầu cúi xuống, ông diễn tả nhiệt tình và chi tiếp hấp dẫn của mỗi trận đấu. Thế giới loài gà nếu biết được sự ái mộ nồng nhiệt đó chắc hẳn không bao giờ buồn phiền nếu ở trong tường hợp &#8220;à la casserole&#8221; hay &#8220;à la gamelle&#8221;&#8230; sau khi bị thua trận. Sau đá gà là rượu, rượu là nước của ông, chiếc bi-đông sau lưng bao giờ cũng đầy rượu đế ngâm vài cục đường phèn. Nhấp một tí rượu, cắn một miếng cóc nhỏ là đủ sức đi thêm một đoạn đèo, vượt một rặng núi. Dừng quân, cởi chiếc nón sắt, ông rút bi-đông làm ngụm rượu, đốt điếu thuốc, loại thuốc đen Mélia hay Bastos ngồi lim dim đôi mắt&#8230;<br />
&#8211; Trung tá có ăn cơm không?<br />
Anh lính cần vụ lân la đến hỏi.<br />
&#8211; Tớ đ&#8230; cần! &#8211; Trung tá có mệt không?&#8230; &#8211; Mệt chó nào được, ngày rút từ Lào về tớ chạy bộ suốt bao nhiêu ngày đêm cũng chẳng bõ bèm gì&#8230; &#8211;<br />
&#8211; Chết mẹ&#8230; &#8211; Tụi lính xì xào&#8230;- Ông già lại nói chuyện bản Hiu-Siu thì chết cả lũ!<br />
Đúng ngay bong! Ông bắt đầu kể chuyện Bản Hiu-Siu ở bên Lào&#8230;<br />
&#8211; &#8220;Lúc đó tớ là thiếu úy, ban đêm Việt Minh ùa vào, dây kẽm gai giăng thấp chừng này, lính Bayonnette au canon! À la grenade&#8230; En assaut&#8230; Việt Minh lùa vào, mặc, tớ cứ tương lựu đạn đều đều&#8230;<br />
Ông ta đứng dậy ngay trên sườn núi biểu diễn thế ném lựu đạn và đâm lưỡi lê, ngừng một chút để hớp thêm tí rượu. Thiếu tá cố vấn Mỹ đến hỏi một điều gì đó, ông cụt hứng gắt um:<br />
&#8211; C&#8230; Đ.m cứ lẩm cà, lẩm cẩm cả ngày&#8230;<br />
Anh cố vấn de lui, mặt mũi thộn ra trông &#8220;quê&#8221; một cục. Ở Phú Thứ, Thừa Thiên năm 1967, ông chỉ huy tiểu đoàn tôi cùng tiểu đoàn 7 Nhảy dù tiến đánh vào khu giải phóng của vẹm, lúc tiểu đoàn 7 đụng trận, ông đứng trên thiết vận xa nhảy cỡn lên vì thích thú&#8230;<br />
&#8211; Đấy, tớ biết ngay, các chú (Việt cộng) đang ở chỗ này, nhất định là ở chỗ này&#8230; Thằng Bảy đụng ở đây, tớ dàn cậu (chỉ tiểu đoàn trưởng tôi) ở chỗ này là đi đoong đời các chú, tớ nghiền&#8230; Nghiền nát các chú ấy.<br />
Chữ &#8220;nghiền&#8221; được diễn tả bằng hai bàn tay bóp chặt vào nhau và kéo dài theo hơi thở, mồm ông méo hẳn lại để diễn tả cảnh tan nát của các anh Việt cộng. Đại loại là như thế, ông sống ở đời với thái độ &#8220;Tiếu Ngạo Giang Hồ&#8221;, nhân vật Lão Ngoan Đồng Chu Bá Thông chắc cũng đến độ của ông già sếp tôi mà thôi. Năm 1965 hành quân tại Đức Cơ khi rút ra Pleiku nghỉ, không hiểu bị lôi kéo thế nào ông đi theo mấy đại đội trưởng vào hội quán Phượng Hoàng để khiêu vũ! Lệnh ông tướng vùng bấy giờ cấm mặc quân phục vào hội quán, anh quân trấn trưởng nói năng ra làm sao, ông nổi sùng&#8230;<br />
&#8211; Đ.m Hùng đi hành quân chỉ có mỗi bộ quần áo nhà binh, không cho tớ mặc đồ trận thì tớ cởi truồng sao?<br />
Thuận tay ông đưa luôn một qủa dirrect, anh quân trấn trưởng nằm thẳng cẳng. Đóng quân ở Hương Trà, Huế, tiểu đoàn tôi làm tiệc mời ông ra hát. Hát không được thì tớ múa vậy! Nói là làm, ông đi một đường flammenco cũng lắc mông, lắc ngực, và kết thúc là một bài thuyết trình &#8220;Qu’est ce que L’armée?&#8221; Tiếp theo là những lời sỉ vả tàn tệ vua quan sĩ thứ người trong nước, ông nhớ đến ai ông chửi tơi bời hoa lá, chửi đích danh, chửi ngon lành, chửi như một cơn giận từ bao nhiêu lâu che dấu nay cho tuôn ra như dòng sông được mở&#8230; Đầu năm 1968, gần Tết Mậu Thân, lữ đoàn ông hết nhiệm vụ, từ Huế trở về Sài Gòn. Ông Tướng khu chiến thuật nhắc ông ở lại Huế để đón Tổng Thống cùng Thủ Tướng, ông hạ ngay một câu:<br />
&#8211; Tớ hết hành quân là tớ về, Tổng thống đâu có thương tớ bằng mẹ đĩ được!<br />
Nói xong ông leo lên tàu bay đi thẳng. Có một anh nhà báo lân la đến phỏng vấn&#8230;<br />
&#8211; Xin trung tá cho biết ý kiến về cuộc hành quân vừa qua?<br />
&#8211; Ý kiến hả&#8230;? &#8211; Đợi cho anh nhà báo sửa soạn ghi chép, ông &#8220;tuyên bố&#8221;: Sướng nhất là đêm Noel tớ say rượu gọi máy truyền tin qua Bến Hải chửi Võ Nguyên Giáp và Hồ Chí Minh!!<br />
Nhưng đằng sau những cơn say, những màn tiếu ngạo ồn ào trên, thật dễ dàng nhận được niềm thiết tha, mối nhiệt tình nồng nàn đối với quân đội và quê hương. Thật lạ lùng với hai mươi năm ở đơn vị tác chiến, thời gian bằng số tuổi của một gã trai trẻ, một gã trai trẻ cỡ tôi nhưng lòng hiu hắt như cơn nắng quái sắp tàn. Hơn hai mươi năm nhà binh với năm mươi tuổi, một mái tóc bạc trắng, ông vẫn có một nụ cười thật tươi để thêm vào câu chuyện. Thế nào là một cán bộ giỏi? Thế nào là những nguyên tắc căn bản để chỉ huy? Thế nào là DOC (Dirriger, Organiser, Controler) ông nói say sưa, dẫn giải từng điểm chi tiết về bổn phận của người trung đội trưởng, đại đội trưởng. Khói thuốc lá làm ánh mắt thành hiền hòa, ông nói sang sảng, trình bày mạch lạc. Ông gây nơi tôi một sự xúc động kỳ lạ, nỗi xúc động khám phá được niềm tin vẫn còn trong lòng một người giáo tóc bạc da nhăn với hơn hai mươi năm đi khắp rừng sâu núi cả quê hương. Hơn hai mươi năm gánh chịu cơn đau yếu đỏ lửa của tổ quốc, cơn đau yếu nhọc nhằn của dòng sống dân tộc chông chênh. Chiến tranh vẫn chưa đốn ngã niềm tin trong lòng ông&#8230; Tớ chỉ là Cai Hùng&#8230; Cai thật trẻ!! Sau này ông bị ra khỏi binh chủng vì một lý do nào đó tôi không hiểu nhưng điều này chắc chắn là một vết thương lớn nhất trong đời ông. Ông im lặng ngồi trong chiếc phòng con nhìn xuống chân đồi doanh trại cười gằn uất nghẹn đau đớn. Làm sao nói cho hết nỗi cay đắng của người lính già khi phải từ bỏ đơn vị, binh chủng cùng sống trên hai mươi năm lúc tóc còn xanh như niềm hy vọng đến nay mái đầu nhuốm bạc trắng. Không những vì một tuổi già nhưng cũng là lớp sương giá chồng chất lên sau khỏang thời gian binh biến. Thường ngày trong cơn say ông hay mò đến văn phòng chúng tôi để tìm người nói chuyện, nhưng trong thời gian này ông ngồi im như một kiêu hãnh bị xúc phạm, tiếng hét được ghìm xuống giữa kẽ răng thành những tiếng cười gằn nhức nhối như lưỡi dao đâm vào qủa tim đang mở miệng cười.<br />
Ông ra khỏi binh chủng, chỉ huy một đơn vị bộ binh nhưng vẫn mặc đồ ngụy trang và đội nón đỏ. Đâu còn là những kích thích về hình thức quyến rũ đối với ông. Nhưng phải nghe ông ta nói: &#8220;Tớ là Nhảy Dù&#8230; Tớ là Cai Hùng&#8230;&#8221; Tiếng &#8220;Nhảy Dù&#8221; nghe ngắn, chắc như xác định niềm hãnh diện có thật của một người đã sống hết đời cho tập thể. Sau một thời gian ở trung đoàn này ông bị tai nạn trầm trọng, tất cả cơ quan trong người bị đảo lộn. Ông phải chịu nhiều cuộc giải phẫu, thị giác trở nên yếu kém, mất phần lớn ý niệm về sự việc. Lúc chúng tôi đến thăm, ông không nhận ra, nhưng trong nỗ lực của trí nhớ, bỗng nhiên ông nhận ra Vinh &#8220;con&#8221;, viên sĩ quan nhỏ tuổi nhất được ông thương mến như con cháu. Ông nhận ra nó đồng thời với một giọng nói run run:<br />
&#8211; Tớ lúc này chỉ thấy mờ mờ nhân ảnh!<br />
Trong tận cùng của đổ vỡ, ông cũng không mất đặc tính khôi hài, dấu hiệu của tâm chất dũng mãnh dù hoàn cảnh đã đẩy đưa vào hố thẳm của tuyệt vọng. Sau này khi nhìn thấy được cảnh vật nhạt nhòa, ông đến trại thăm lại nhà cửa, hỏi thăm các hạ sĩ quan và lính cũ. Trí nhớ chưa phục hồi hẳn, ông mệt nhọc hỏi từng người với những câu nói rời rạc hỗn độn, sau cùng ông nói với tôi để xin người lính về giúp ông công việc riêng tại nhà. Lần đầu tiên nghe ông nói công việc liên quan đến gia đình. Khi tôi bảo người lính theo ông về nhà, ông vui vẻ ra mặt:<br />
&#8211; Quý hóa quá, thế mới biết anh em Nhảy dù luôn giúp đỡ nhau&#8230;!<br />
Lòng tôi trùng xuống như cơn mưa của ngày đông buồn bã. Tiễn ông xuống đồi, bóng người lính già khuất bụi mờ. Sau kiếp người đằng đẵng gian lao cho Tổ Quốc một khỏang trống xám đặc bụi mù.<br />
Tháng 5-1969. Hậu cứ Long Bình.<br />
<em>Hậu Từ: Về Trung Tá Đào Văn Hùng, Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn II Nhảy Dù &#8211; Sau 30-4-1975, lực lượng Cộng sản vào khu ngã Ba Ông Tạ truy lùng và xét xử ông cùng gia đình. Do thương trận từ trước (bị mù mắt và tê liệt) nên bộ đội CS chỉ xử tử người con trai của ông tại Lăng Cha Cả ngay sáng ngày 30-4-1975. </em><em></em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Phan Nhật Nam</strong></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/phan-nh%e1%ba%adt-nam-ng%c6%b0%e1%bb%9di-ch%e1%bb%89-huy-v%e1%bb%81-gi/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Phan Nhật Nam : TRONG RỪNG C&#194;Y L&#193; XANH</title>
		<link>https://t-van.net/phan-nh%e1%ba%adt-nam-trong-r%e1%bb%abng-cy-l-xanh/</link>
					<comments>https://t-van.net/phan-nh%e1%ba%adt-nam-trong-r%e1%bb%abng-cy-l-xanh/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phan Nhật Nam]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 13 Oct 2013 02:27:41 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Phan Nhật Nam: Dấu Binh Lửa]]></category>
		<category><![CDATA[dbl]]></category>
		<category><![CDATA[phan nhật nam]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=14934</guid>

					<description><![CDATA[Tranh : Trần Thanh Châu Chiến dịch mở được một tháng, đêm đầu tiên, một ngày đầu của tháng mười một, đóng ở ngã ba quận Xuân Lộc, nơi quốc lộ 1 và đường liên tỉnh đi Bình Giả gặp nhau. Đêm thật lạnh, đây là cực bắc của miền Nam và cực nam của [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><strong><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2013/10/clip_image0021.gif"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2013/10/clip_image002_thumb1.gif?strip=all&fit=404%2C275" alt="clip_image002" width="404" height="275" border="0" /></a></strong></p>
<p align="center"><strong>Tranh : Trần Thanh Châu</strong></p>
<p>Chiến dịch mở được một tháng, đêm đầu tiên, một ngày đầu của tháng mười một, đóng ở ngã ba quận Xuân Lộc, nơi quốc lộ 1 và đường liên tỉnh đi Bình Giả gặp nhau. Đêm thật lạnh, đây là cực bắc của miền Nam và cực nam của miền Trung. Bụi mù đất đỏ, rừng cao su xanh thẫm và hơi núi lạnh se sắt. Đã lâu lắm tôi không được hưởng cái lạnh này, mùa đông của miền Trung như kéo dài, xâm chiếm vào miền Nam nắng đỏ. Quốc lộ số 1, đường ra Phan Thiết, sông Phan&#8230; Bao lâu tôi không đi trên quãng đường này. Thưở mười bốn, mười lăm, tôi đã thân thiết con đường sắt chạy hun hút về phương nam, mỗi buổi chiều ở ga Đà Nẵng, tàu Sài Gòn ra lúc bảy giờ tối, trong nắng chiều chập choạng con tàu uể ỏai lười biếng như gã giang hồ tìm về nhà trọ, đi vào sân ga sau khi đã quành vòng để trở đầu về phía đèo Hải Vân. Tôi ngồi trên bãi cát ở nghĩa địa nhìn hành khách từ phương nam đến, mơ ước những chuyến đi xa, thật xa và để đến chiều bước vào một thành phố lạ trong ánh nắng cuối của ngày. Con đường sắt xuyên Việt, quốc lộ số 1 đối với tôi từ thuở bé đến bây giờ vẫn là những sinh vật linh động có tâm hồn, hơi thở, thân thích đầy kỷ niệm.<br />
Buổi chiều hôm nay, tôi thấy lại cảm giác bâng khuâng khi đọc trên trụ cây số ở vệ đường: Nha Trang &#8211; 526 cây số&#8230; Tưởng ra, thành phố có nắng tươi như lá non, những ngày bắt đầu lớn. Ngồi ởtrụ cây số nhìn con đường chạy hút mất xa như tìm lại người bạn đã lâu không gặp, một gã bạn giang hồ luôn luôn bị hoạn nạn nhưng sẵn sàng lao người vào vùng đầy gió bão. Quốc lộ 1, người bạn trong cơn đau ốm của quê hương. Trăng thượng tuần mọc ở góc trời, ốm yếu như người khốn khó&#8230;<br />
Từ ngày đầu tiên của cuộc hành quân, chúng tôi bỏ quốc lộ 1, tung quân hoạt động trong khu tam giác giới hạn bởi ba con đường, quốc lộ 15, đường liên tỉnh Bà Rịa — Long Khánh và đường Long Thành (Biên Hòa) &#8211; Long Giao. Bộ chỉ huy hành quân tiến dọc theo con đường đất đỏ chia đôi khu vực trên. Con đường chạy từ sân bay đồn điền ông Quế ra đến Long Thành thẳng góc với trục giao liên của Việt cộng từ sông Đồng Nai đến mật khu Hắc-Dịch. Một tháng trời đã qua, bây giờ chúng tôi tiến sát quốc lộ 15, cách quận Long Thành mười lăm cây số đường chim bay. Bộ chỉ huy hành quân thiếp lập trung tâm hỏa lực và tung các tiểu đoàn hoạt động sâu về hướng bắc, khu vực đồn điền An Viêng, làm thành phần an ninh xa cho các căn cứ quan trọng của Mỹ. Tình hình quân sự được xem là yên tĩnh, chỉ chạm địch nhẹ cấp trung đội, ngoại trừ lần tấn công để thử sức của một tiểu đoàn địch vào vị trí đóng quân của tiểu đoàn 5 Nhảy dù. Địch thất bại và từ đó tránh né hẳn với lực lượng chúng tôi. Tôi mất niềm thú vị nhẹ nhàng mỗi khi đêm xuống vì rút gần về Biên Hòa độ lạnh giảm theo, đồng thời sự giao dịch Việt &#8211; Đồng Minh càng ngày càng tệ. Lẽ tất nhiên từ lâu chúng tôi đã không khoái vụ &#8220;cố vấn Mỹ&#8221;, nhưng vì đấy là cái nợ bắt buộc phải chịu đựng, nay lại thêm vài chú Úc nữa thật khó chịu đành lòng.<br />
Chúng tôi là lính Nhảy dù, không tự kiêu, nhưng chẳng một ly tự ty nào với họ. Anh đại uý thâm niên nhất đám đi lính không đầy mười năm; ở lính lâu thì cũng chẳng có gì là quan trọng, nhưng nếu so sánh hai anh lính, dù khác từ màu da, quốc tịch, quân đội&#8230; Chúng tôi, người lính Việt Nam có kẻ gần hai mươi năm, kẻ sớm nhất cũng vài năm được trui luyện trong một cuộc chiến tranh ngặt nghèo lẽ tất nhiên hơn hẳn, hơn xa hẳn loại lính con nhà giàu bất kỳ Anh, Mỹ, Úc hay gì gì đi chăng nữa. Chúng tôi biết rằng khi đề cập đến khả năng để chỉ huy những lộ quân lớn với hàng ngàn công việc rắc rối về thiết kế và yểm trợ, chúng tôi chắc sẽ thua mấy anh ngoại quốc. Nhưng nếu kể đến khả năng từ tiểu đoàn trưởng trở xuống trong trận chiến du kích này, các anh da trắng chỉ có thể là học trò mà thôi. Thế thì cố vấn cái gì&#8230; Nỗi bực mình từ đấy cứ tăng lên. Xin trực thăng tải thương, viên thiếu uý Úc hỏi từ A đến Z&#8230; Ai? Bị thương giờ nào? Tọa độ? Bị thương nặng nhẹ? Ở đâu?&#8230; Gần hai mươi câu hỏi được hỏi một lúc, ghi ghi chép chép, mã hóa (1) hết cả thảy bản văn rồi mới lấy máy ra liên lạc. Một giờ trôi qua mới đủng đỉnh trả lời: &#8220;Có thể có trực thăng và không biết địa điểm di tản thương binh về đâu! Ai có thể chịu được? Tàu bay đến tản thương được một người, tôi mệt mỏi như chính mình thọ nạn. Hai ngày sau, hậu cứ hỏi di tản thương binh về đâu? Bố da trắng ngú ngớ như thằng ngọng, xong thật vắn tắt: Không biết. Không biết thì cắn răng mà chịu, chỉ có được chửi thề một câu.<br />
Sắp đến Noel rồi đấy. Noel, có một cái gì ấm áp đôn hậu bềnh bồng trong linh hồn. Tôi là kẻ ngoại đạo, nhưng đêm Thiên Chúa ra đời vẫn choáng ngập trong lòng một niềm hân hoan mới lạ. Âu cũng là lộc đời. Nhớ lại những Noel thưở bé, bảy tuổi đứng trông rừng lồng đèn của khu nhà thờ, chiếc áo len mới đan ấm áp và từ trong nhà thờ tiếng hát dặt dìu như cánh bay của thiên thần, Noel của những năm mới vào lính, nằm ở rừng Tân Phong với Hải, thấm thoát thế là bao nhiêu lâu&#8230;. Thôi, tôi đã vào một tuổi già. Một người đi gần đến bên tôi:<br />
&#8211; Có thư của em gái hậu phương gửi ra, ông có đọc không?<br />
&#8211; Đưa tôi xem thử&#8230;<br />
Đây là loại thư của các trường học cứ đến dịp lễ, Tết, bắt buộc học sinh phải viết trong giờ hiệu đoàn để gởi cho lính, một anh lính vô danh ở một nơi xa xôi &#8211; Cung cách yểm trợ tinh thần cho lính của Chánh phủ, giây liên lạc giữa học đường và quân đội. Thuở xưa tôi cũng đã khó nhọc vì viết những lá thư như vậy.Xem thử ra sao?<br />
Bây giờ trong lòng tôi là một cơn giận, giận ghê gớm, lá thư thay vì có những ý tình ngây ngô vụng về hay một vẻ khôn ngoan thơ dại như tôi nghĩ, nhưng không phải là như vậy. Thư này của một em xưng là học sinh Đệ Nhất (Nghĩa là đã đậu xong bằng tú tài I rồi) của trường Lê Văn Duyệt. Em viết thư để tỏ ra mình là một người lớn xưng tôi và gọi: Anh lính. Tóm tắt bức thư nói rõ cái bực dọc của kẻ bị bắt buộc viết thư cho một người không xứng đáng với mình &#8211; Một anh lính tồi tàn ở một nơi nào đó không biết. Thoạt tiên thì tôi giận, giận cùng mình&#8230; Học Đệ Nhất, thì mới là lớp của em út tôi, già lắm là hai mươi tuổi, thua tôi mười tuổi, một thế hệ&#8230; Thế mà nó lên mặt cao ngạo, trịch thượng, nếu không nói là mất dạy. Nhưng rồi xét cho cùng, tôi không trách đứa con gái nhỏ đó. Tôi không trách cứ, vì trách nhiệm là tầng lớp của cha mẹ, thầy giáo và xã hội đang nuôi dưỡng và giáo dục lớp tuổi cô bé đó. Tại sao cô gái nhỏ đó khinh lính? Vì từ học đường kéo ra đời sống bên ngoài, ngay cả đến cơ quan Chiến tranh chính trị quân đội có ai vẽ được chân dung đích thực của người lính Việt Nam? Chỉ có loại lính bột, lính kiểng, lính không có xương, giống như hình ảnh của hai em bé tặng một cành hoa hạng bét cho một anh lính văn phòng, tóc để dài như kép hát, mang áo giáp một cách vụng về, bức ảnh được chụp tại một doanh trại ở Gò Vấp, nhưng được ghi chú &#8220;Xuân ở tiền đồn&#8221;&#8230;<br />
Làm gì có loại lính Nhảy dù &#8220;nhảy xuống đất chơi&#8221;? Nhảy một saut là một điều nguy nan, saut thứ ngàn lẻ vẫn có tai nạn như thường&#8230; Nhảy tim sẽ to lên vì máu bị dồn mạnh, đứng đợi ở cửa máy bay người bị đun vào trong một vùng hờ hững mênh mông. Đó chỉ là kỹ thuật, huống gì nhảy một saut hành quân là bán hẳn đi phần số tuổi thanh xuân. &#8220;Thiên Thần Mũ Đỏ&#8221; cái tước vị này nếu dùng thật đứng đắn mới có giá trị kích thích niềm hãnh diện trong lòng người lính, chứ dùng như một vật công cộng, một thứ đầu môi chót lưỡi, thì hình ảnh người lính Nhảy dù còn là gì? Làm gì có những người lính &#8220;viết thư dưới trăng đại dương&#8221;, làm gì có hoa sóng, hoa rừng&#8230; Một ngàn lần, tôi đoan chắc như vậy không có loại lính kể trên. Nó chỉ qua hình ảnh của mấy anh kép hát&#8230; Tôi cũng cả quyết rằng hình ảnh người lính Việt Nam không phải hình ảnh của anh kép cải lương mặc áo lính in trên bìa bản nhạc, cũng không phải là hình tượng của các cô gái nhỏ làm thơ đăng ở báo Văn Nghệ Tiền Phong&#8230; Vậy trách đứa con gái nhỏ đó làm gì? Cả xã hội này còn ngộ nhận, xa lạ với chiến tranh và người lính huống gì một đứa trẻ chưa rời lớp học. Nhưng rồi trong một tương lai thật gần, cô con gái nhỏ đó có cha, có chú, một người anh một người yêu ở Quang Trung, Thủ Đức. Em vào đấy thăm và sẽ biết&#8230; Em sẽ chờ đợi một lá thư, một ngày phép. Một năm sau,người thân đó trở về như một con thú, như kẻ điên, kẻ xa lạ với loài người từ lâu lắm&#8230; Khi đó em sẽ hiểu và chắc rằng em phải hiểu rõ hơn lúc người thân của em được gửi về trong chiếc túi ny lông. Lúc đó em ắt biết thế nào là lính&#8230; Chắc chắn như thế, cô gái nhỏ ạ.</p>
<p><strong>Tháng 12-1968, Long Khánh</strong>.</p>
<p><strong>Phan Nhật Nam</strong></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/phan-nh%e1%ba%adt-nam-trong-r%e1%bb%abng-cy-l-xanh/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Phan Nhật Nam : NGHĨ VỀ MỘT KẺ TH&#217; KIỆT LỰC</title>
		<link>https://t-van.net/phan-nh%e1%ba%adt-nam-nghi-v%e1%bb%81-m%e1%bb%99t-k%e1%ba%bb-th-ki%e1%bb%87t-l%e1%bb%b1c/</link>
					<comments>https://t-van.net/phan-nh%e1%ba%adt-nam-nghi-v%e1%bb%81-m%e1%bb%99t-k%e1%ba%bb-th-ki%e1%bb%87t-l%e1%bb%b1c/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phan Nhật Nam]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 08 Oct 2013 21:20:07 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Phan Nhật Nam: Dấu Binh Lửa]]></category>
		<category><![CDATA[dbl]]></category>
		<category><![CDATA[phan nhật nam]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=14894</guid>

					<description><![CDATA[Xe chạy, bỏ Sài Gòn về An Phú Đông lòng không chút hứng thú. Sài Gòn thành phố nóng bức bụi bặm không xứng đáng gợi nên một chỗ xuất quân. Xe lính đi vào trận đánh ngang qua đường phố, đám đông hững hờ xa lạ, chẳng ai lưu ý đến đoàn người gươm [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><strong><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2013/10/clip_image0024.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2013/10/clip_image002_thumb4.jpg?strip=all&fit=396%2C311" alt="clip_image002" width="396" height="311" border="0" /></a></strong></p>
<p>Xe chạy, bỏ Sài Gòn về An Phú Đông lòng không chút hứng thú. Sài Gòn thành phố nóng bức bụi bặm không xứng đáng gợi nên một chỗ xuất quân. Xe lính đi vào trận đánh ngang qua đường phố, đám đông hững hờ xa lạ, chẳng ai lưu ý đến đoàn người gươm đao. Những cau mày bực dọc&#8230; Xe nhà binh bụi quá! Mới Mậu Thân đây, máu của chúng tôi đã đổ ra cho Thủ đô bạc bẽo này. Về phần tôi vì một chuyện lầm lẫn, phải đổi về đơn vị mới không thích hợp, tôi muốn trở về tiểu đoàn 7 Nhẩy dù, đơn vị đầu tiên, nhưng bây giờ phải ở với tiểu đoàn 2, lòng thật khó chịu. Không phải tôi chê gì tiểu đoàn này, đây là tiểu đoàn đánh giặc hách nhất của sư đoàn Dù, đánh ác liệt như tiểu đoàn 5 trong năm 1965, nhưng vì ở đây tôi không có bạn thân, yếu đuối là điểm nầy, luôn luôn phải có người thân sống cùng bên cạnh tôi mới linh hoạt được. Hơn nữa tiểu đoàn này đóng ở Sài Gòn, thành phố tôi ghê sợ đến đến xương cốt. Xe chạy trên đường lồi lõm đá, hai bên hàng dừa xanh, đến xã Thạnh Lộc vòng xuống để vào An Phú Đông. Bộ chỉ huy tiểu đoàn đóng quân bên cạnh đường liên tỉnh lên Lái Thiêu, các đại đội chia nhau rải đều khu vực. Tuần lễ đầu qua, các đại đội tuần tiễu lục soát, sáng đi chiều về chỗ đóng quân, tối lập hội, hội nhậu rượu. Từ bao lâu nay tôi đã luyện được biệt tài về tổ chức ăn nhậu, dù thiếu thốn cực khổ đến thế nào, rảnh rỗi tôi vẫn tổ chức được những cuộc ăn nhậu nổi đình đám bằng tất cả khôn khéo và thông minh &#8211; Nghề của chàng!!! Trong đời về mục ăn uống, tôi nghĩ chỉ thua mỗi mình ông Tản Đà, vì ngay những ngày tang thương rách rưới ở Bồng Sơn, bữa tiệc cũng có đủ tiết canh vịt, vịt trời hầm đu đủ, cá chép hấp. Quảng Điền, với những màn heo sữa quay, sườn chó nướng được thực thi đến mức tối đa cùng chục lít rượu nếp cẩm. Trong thống khoái hơi men với sự nhốn nháo một đám bạn bè, người cởi trần ngồi dưới một hàng mướp xanh, tôi thỏa thuê như con cá trong giòng nước. Những lần say rượu dưới chân núi Ngũ Tây, hòn núi đằng trước ngọn Ngự Bình Huế, gió thổi tiếng thông reo&#8230; Cơn say của mùa đông ở quận Phong Điền, trèo lên mái nhà cởi áo đứng hát trong đêm, hát thật to nhưng nghe buồn buồn những câu&#8230; Đại bác ru đêm&#8230; Trong khi Hiến &#8220;Chó xù&#8221; ngồi gảy đàn buồn chảy ra nước, gió miền Trung cuối năm lạnh giá và đại bác từ quận bắn đi xa&#8230; A! Những cơn say tuyệt đỉnh trên dòng sông Hương, đêm trung thu mờ mịt mưa giăng, ánh đèn dưới cầu Gia Hội chênh vênh vàng vọt, nằm trong khoang thuyền bồng bềnh tưởng người như tan biến vào cơn mưa. Này cơn say thần tiên ở Darkto, đêm mù mù sương muối, căn phòng đầy những tiếng hát buồn phiền khê nặc vang lên như một tiếng kêu thê thảm. Những ngày ở An Phú Đông này tôi lập lại những cơn say. &#8220;Đời là cơn say dài&#8221; — Từ khi tôi phán ra câu này, chúng &#8220;anh hùng&#8221; lấy làm một sự cảm phục. An Phú Đông, chiều trong hàng dừa, hàng chục chai bia ướp lạnh được uống vào với tận cùng thoả thuê, cá lóc nướng, tôm luộc, những cọng ngò gai thơm phức, những lá mùi xanh mát. Tôi đẩy mạnh cơn say lên tột đỉnh thênh thang.<br />
Những ngày bình yên đã hết. Tiểu đoàn nhận thêm khu vực trách nhiệm ở phía tây và bắc xã Thạnh Lộc, dọc theo rạch Bến Cát. Việt cộng một phần của chủ lực đã tấn công vào Sài Gòn trong dịp Mậu Thân cùng với lực lượng mới được tăng cường (xâm nhập từ vùng An Điền, Lái Thiêu tới) đang ẩn trốn ở vùng này, lực lượng này phải cố bám vùng ven đô để sau này dẫn đường cho những đơn vị khác tấn công vào dịp công kích đợt hai. Tiểu đoàn bắt đầu đụng địch. Sáng đi vào phía tây, cách con rạch khoảng năm trăm thước chạm ngay, súng nổ, lực lượng địch không đông nhưng vì không thể rút đi họ phải đóng chốt, trụ lại. Sau lưng là rạch Bến Cát, rạch Sơ Rô bên trái, dọc phải, một chiếc rạch lớn khác, Việt cộng như con thú bị kìm chân, phải đào hầm thật sâu, phòng thủ kiên cố và cố gắng tránh né chúng tôi tối đa. Nhưng các đại đội chúng tôi đã đến quá gần&#8230; Năm thước, bảy thước, họ bắt buộc phải nổ súng. Lính đứng lên xung phong, không được, sình ngập đến háng không thể rút chân để bước thêm một bước, người bị thương nằm cách gang tấc không thể rút về. Ta với địch cách nhau chiếc mương ba thước! Lùi ra xa dội bom. Bom đánh không trúng. Vào lại, anh Khiêm chết. Khiêm, người sĩ quan khóa 17, gã đàn anh tôi chịu nhất trong đám huynh trưởng, thông minh, phóng khoáng và khôi hài hóa tất cả mọi chuyện. Điểm này hợp với tôi quá, tưởng tượng một cảnh tranh luận nào đó, chỉ cần Khiêm với tôi cũng dư sức quạt ngã bất cứ một loại mồm loa mép giải nào.<br />
Nhưng anh Khiêm đã chết, chết như thể một câu khôi hài của thường ngày, chết như một cơn đùa trong buổi nhậu. Tôi nghe qua máy truyền tin tiếng của Khiêm:<br />
&#8211; Trình đích thân (Tiểu đoàn trưởng), tụi nó bắn tùm lum chưa lên được, đích thân để tôi &#8220;nhẩn nha&#8221; thì tôi mới tóm được&#8230; Súng tụi nó bằng sắt cơ mà!<br />
Thế rồi im bặt, người hiệu thính viên run run báo cáo:<br />
&#8211; Đại đội trưởng tôi bị&#8230; thương&#8230; Chết rồi!<br />
Tôi đem xác Khiêm về sau, mắt anh đã nhắm&#8230; Những chiếc râu xanh lởm chởm ở cằm người chết linh động như của đời sống đang còn thở. Nhưng anh chết thật. Rút quân ra ngày mai vào lại.<br />
Quân vượt qua chiếc rạch nhỏ, dàn hàng ngang lội thật nhanh, hết chiếc rạch đến bên kia là vườn cau, gắng lên! Ba người lính lên bờ trước đứng dậy. Một loạt đạn nỗ dòn&#8230; Hai bị thương. Tôi đang ở trong rạch lúng túng băn khoăn, cả đại đội nằm trong nước bùn im lặng, một cây nhỏ lung linh, người lính đeo máy nằm bên cạnh tôi trở mình, loạt đạn bay đến, những nhánh dừa nước rơi tung tóe. Bực mình quá tôi nổi liều, cầm trái M.72 đứng lên&#8230; Chiếc hoả tiễn công phá được phóng đi, một tràng đạn đáp lễ lại xé rách chiếc quần&#8230; Đ.m&#8230; Hầm tụi nó phá không nổi! Hỏi ý kiến Đại uý Liên, tiểu đoàn phó. Cho rút lui vòng tay phải đánh lên? Đồng ý. Tôi cho đại đội lui từng người một. Lẩm bẩm chửi thề.. Mẹ cha chúng mày còn một tí người cũng đòi dở chuyện. Vòng phía phải thật nhanh qua khu vườn mía, bao quanh đánh vào, Việt cộng bỏ chạy để lại ba xác chết nằm thẳng cẳng.<br />
Đúng như tôi ước đoán, Việt cộng ở đây chỉ còn khoảng một đại đội, nhưng một đại đội rải rác khắp một vùng rộng lớn được phân tán thành những tổ nhỏ, có nhiệm vụ phải bám thật chặt các bờ kinh, bờ rạch.Họ có đủ súng trang bị cho cả tiểu đoàn, cối 82 ly, 60 ly, đại liên 12 ly 7 vũ khí của lực lượng lớn nhưng quân số chỉ còn lại khoảng một đại đội, phân tán chui rúc vào những chiếc hầm kín đáo ngập đầy nước, trên có nắp, ngụy trang thật kỹ, ba lỗ nhỏ nhìn ra ba phía, lối vào hầm phủ đầy lá cây, thân dừa nước. Việt cộng chỉ còn có thế, nhưng họ không được lùi, không được thoát, phải bám thân chặt chiếc rạch để chết, cái chết chắc chắn sẽ xẩy đến theo thời gian! Tại sao? Có gì đâu&#8230; Họ kiệt lực, trăm phần trăm kiệt lực. Trung đoàn 101 đánh vào tiểu đoàn 5 Nhảy dù ở Tân Thới Hiệp, Hóc Môn suốt ba ngày không nuốt trôi được tiểu đoàn này, nhả ra và chạy về đây. Thành phần tấn công Gò Vấp, Xóm Mới hôm Tết, thất trận cũng chạy về đây&#8230; Tan nát, thiếu thốn, suy sụp nhưng họ biết rút về đâu nữa? Đường giao liên phải vượt sông Sài Gòn, một mục tiêu lộ liễu dưới phi cơ và tàu hải quân quan sát tuần tiễu thường trực. Cán bộ nằm vùng, dân chúng có cảm tình đã bị lùa ra khỏi vùng. Họ bơ vơ, lang thang, lếch thếch như một đám ma đói khát tuyệt vọng. Nhưng lệnh trên đã bắt buộc:phải bám sát địch, bảo toàn lực lượng để chuẩn bị tổng công kích đợt II! Tham vọng và nhu cầu chính trị đã quên mất con người trong hoàn cảnh nghiệt ngã. Súng cối, đại liên được moi lên từ vườn dừa, đám ruộng, tiểu đoàn phó, y sĩ trưởng, đại đội trưởng súng nặng bị bắt, hồi chánh hay bị tử thương. Việt cộng bị chúng tôi ép vào một thế đường cùng.<br />
Nhưng tháng Năm, Việt cộng cũng mở tổng công kích đợt hai, và kết quả như đã xẩy ra. Các anh bên kia, tôi muốn nói thật với hết cả chân tình trong lòng: Các anh đã hết sức. Sức mạnh huyền hoặc củaa Điện Biên thuở xưa không còn giá trị lúc này nữa. Các anh ôm mộng giải phóng, nhưng giải phóng cho ai? Các anh lao đầu vào cái chết với mục đích gì? Để chiến thắng? Ôi cái aỏ tưởng đó, giờ này các anh vẫn coi là sự thật sao? Các anh lấy gì để chiến thắng? Vũ khí, nhân mạng bị thiệt hại đến độ vô chừng. Nhưng các anh vẫn chiến đấu, điều đó đã xảy ra và đang xảy ra thật đau xót. Vì những người chỉ huy củaa các anh, những Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh vẫn nghĩ rằng các anh đang thắng, những người đó muốn chứng tỏ mình là một thứ ngoại hạng, tay kiệt liệt, tinh hoa của dân tộc, kết tụ của thông minh và thiên bẩm, loại &#8220;thiên tài chỉ huy&#8221; của cả dòng dân tộc un đúc. Ôi chính vì những người chỉ huy &#8220;thần thánh&#8221; đó tin rằng có chiến thắng và các anh đã phải chiến đấu. Các anh còn phải chiến đấu để cho đám phù thủy chính trị đặt những lá bài tháu cáy lên canh bạc hòa đàm &#8211; Những món tiền giấy trả bằng xương và máu của các anh. Lá bài tráo trở bảo chứng bởi quả tim hồng mơ ngày dân tộc được giải phóng. Các anh giải phóng hay làm điêu linh tổ quốc và hủy hoại cuộc sống? Các anh thật đáng tội nghiệp.<br />
Sau này tôi còn chứng kiến thêm nhiều lần các anh &#8220;thừa thắng xông lên&#8221;, những cao điểm, những chiến dịch Đông &#8211; Xuân, Hè &#8211; Thu mà thực ra chỉ là một loại lịch trình đã soạn thảo do một thứ chỉ huy u tối mê muội ảo tưởng của quá khứ và sách lược chính trị bỏ quên con người. Làm sao để có thể gọi là cuộc tấn công lớn của một cao điểm khi một đại đội của các anh chỉ còn trên dưới bốn chục người, mặc dù đủ vũ khí, bốn mươi người của các anh phải bố trí trên một trận tuyến dài hơn cây số, ba người một chiếc hầm, chui rúc ẩn trốn, gạo rang nước lã, bị thương cắn răng xuống chịu đựng, tự buộc vết thương bằng miếng vải rách và dòng máu tươi chảy ra, mặt xanh tái nhợt, nhạt sức sống từ từ tắt lịm khi bàn tay mở dần, mở dần phơi dưới ánh mặt trời những đường chỉ tay bất hạnh.<br />
Các anh chiến thắng ở đâu? Khi xác chết của các anh nằm lêu bêu vất vửơng suốt một vùng từ An Phú Đông lên đến Thạnh Lộc qua Tân Thới Hiệp, những xác chết trần truồng, co quắp, tênh hênh, chương sình thối tha đầy dòi bọ bên gốc dừa, sau liếp cửa, trong đụn rơm&#8230; Các anh chết ở đâu nhiều quá, lũ chó hoang tha hồ thỏa thuê với những phần đùi còn tím máu, chiếc đầu bị cấu xé dành giựt, từng tảng tóc xanh kéo lê lết trên khắp một vùng. Các anh đã chết trên một địa danh thật mỉa mai: An Phú Đông&#8230; An phú Đông nơi rừng dừa xanh vang tiếng súng&#8230; An Phú Đông nơi sử Việt viết trên máu hồng. Địa danh này các anh đã một lần thần thánh hóa, địa danh các anh đã xếp vào huyền thoại như sông Lô, Điện Biên. Các anh ở bên kia ơi, dòng đời đã thay đổi, những chiến thắng người Pháp thuở xưa đâu phải là yếu tố làm nên thắng lợi hôm nay. Bây giờ các anh đối diện với chúng tôi, một lũ &#8220;ngụy&#8221; nô lệ đánh giặc mướn, tay sai ngoại bang&#8230; A! Nhưng các anh có tự do nào? Đầu óc đầy thù hận cuồng tín được dẫn dắt vào một mục tiêu không tưởng, vô vọng. Mục tiêu được thiết kế, hoạch định từ trí não những lãnh tụ bị bao cứng bởi hào quang quá khứ, những người có lòng tin tưởng què quặt rằng, chính mình, một loại siêu nhân mà lịch sử dân tộc cần đến&#8230; Chúng tôi chiến đấu trong bi đát nhưng vẫn còn tự do nơi trái tim, trong khi các anh chỉ là một lũ người máy mê muội sâu vực đen của ảo tưởng. Tệ hơn nữa &#8211; Một lũ người máy bất lực.</p>
<p><strong>Tháng 3/1968. An Phú Đông &#8211; Gia Định. </strong></p>
<p><strong>Phan Nhật Nam</strong></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/phan-nh%e1%ba%adt-nam-nghi-v%e1%bb%81-m%e1%bb%99t-k%e1%ba%bb-th-ki%e1%bb%87t-l%e1%bb%b1c/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>

<!--
Performance optimized by W3 Total Cache. Learn more: https://www.boldgrid.com/w3-total-cache/?utm_source=w3tc&utm_medium=footer_comment&utm_campaign=free_plugin

Page Caching using Disk: Enhanced 

Served from: t-van.net @ 2026-09-10 05:26:40 by W3 Total Cache
-->