<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Trần Yên Hạ &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<atom:link href="https://t-van.net/author/tranyenha/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://t-van.net</link>
	<description>Văn Học và Đời Sống</description>
	<lastBuildDate>Mon, 23 Feb 2026 07:06:01 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.7.5</generator>

<image>
	<url>https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/02/t-van-favicon.png?strip=all&#038;resize=32%2C32</url>
	<title>Trần Yên Hạ &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<link>https://t-van.net</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Trần Yên Hạ: NỖI NHỚ MÙ KHƠI</title>
		<link>https://t-van.net/tran-yen-ha-noi-nho-mu-khoi/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Trần Yên Hạ]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 23 Feb 2026 06:22:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[hồi ức]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=87290</guid>

					<description><![CDATA[Tranh: Quê Nhà (Nguồn: artnam.vn) 1. Những cơn gió mùa đông se sắt lạnh luôn gợi trong tôi cảm giác buồn man mác. Một năm lại đi qua. Một cái Tết không chờ lại đến. Mấy mươi năm sống trên quê hương mới giờ đây như đã cũ, không biết từ lúc nào tôi không [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/02/que-nha.jpg?strip=all&w=2560"><img fetchpriority="high" decoding="async" width="800" height="799" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/02/que-nha.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-87293" style="width:560px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/02/que-nha-768x767.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/02/que-nha.jpg?strip=all 800w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Tranh: Quê Nhà (Nguồn: artnam.vn)</em></p>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><strong>1.</strong></p>



<p>Những cơn gió mùa đông se sắt lạnh luôn gợi trong tôi cảm giác buồn man mác. Một năm lại đi qua. Một cái Tết không chờ lại đến. Mấy mươi năm sống trên quê hương mới giờ đây như đã cũ, không biết từ lúc nào tôi không còn cảm giác nôn nao nhớ nhà khi Tết đến. Xem youtube, nghe những bài hát mừng xuân rộn ràng, nhìn cảnh người dạo chơi, mua bán trên phố hoa trong những ngày sắp Tết ở Sài Gòn, một chút nhớ gợn lên trong lòng tôi nhưng hình như có cái gì hơi lạ lẫm. Đâu là nhà, là nơi để nhớ khi mỗi dịp Xuân về. Tất cả đã xa thẳm, mù khơi.</p>



<p>Buổi tối, ngồi trong căn phòng ấm cúng thả hồn theo dòng nhạc với tiếng hát khàn đục của Lệ Thu qua bài hát&nbsp;&nbsp;“12 Tháng Anh Đi”&nbsp;&nbsp;lòng tôi chợt bồi hồi nhớ lại thời tuổi trẻ và những tháng năm với bước chân miệt mài chinh chiến.</p>



<p><em>“Tháng Giêng xuôi quân ra Huế<br>Cố Đô hoang vu điêu tàn<br>Bãi học chiều, em vắng bóng<br>Tóc thề vội quấn khăn tang<br></em></p>



<p><em>Tháng Hai về trấn ven đô<br>Chong mắt hỏa châu, giữ cầu<br>Gió thoảng vào hơi rượu mạnh<br>Qua làn sương ánh đèn mầu &#8230;.”</em></p>



<p><strong>Tết năm 1971</strong></p>



<p>20 tuổi tôi rời bỏ giảng đường, bước chân vào quân ngũ. Sau ba tháng đổ mồ hôi trên thao trường, tiểu đoàn tân binh chúng tôi được điều động biệt phái cho biệt khu thủ đô ra ven biên vùng quận 8, phân thành những chốt trấn thủ an ninh cho Sài Gòn đón Tết. Nhận hai tuần lương khô, ngồi trên đoàn xe hành quân chạy qua thành phố nhộn nhịp chuẩn bị đón xuân lòng chợt se thắt nhớ ba mẹ, nhớ chị em kỳ lạ. Khi được thả xuống vị trí đóng quân là cánh đồng mênh mông chỉ toàn gốc rạ sau mùa gặt hoang vắng, nhìn xa xa thấp thoáng những căn nhà của nông dân ẩn hiện trong chòm cây mờ mờ làn khói cơm chiều, buồn chi lạ. Tiểu đội chúng tôi được lệnh nhanh chóng đào chiến hào bên bờ ruộng, cạnh cái chòi vịt nhỏ bỏ hoang khi chiều đã xuống. Chuẩn bị xong nơi ở anh em mệt nhoài, bụng đói meo.</p>



<p>Chúng tôi lấy nón sắt làm ghế, ngồi quanh nhau chia từng phần lương khô. Bữa ăn đầu tiên của người lính trẻ trên địa hình chiến tuyến với những nụ cười hồn nhiên, đùa giỡn, chọc ghẹo nhau như thời lên chín lên mười. Buổi tối, sau khi phân chia ca gác đêm mọi người phải giữ yên lặng, không được nói cười, không được hút thuốc. Giường ngủ là tấm “poncho” trải trên đất ruộng lởm chởm gốc rạ khô, bên cạnh là khẩu M16 sẵn sàng chiến đấu khi cần. Nhìn lên bầu trời đêm, hàng hàng lớp lớp những vì sao lóng lanh, phía xa xa là ánh đèn thành phố tỏa một vầng sáng lung linh cả một góc trời. Lòng chợt nao nao với nỗi buồn mông lung tựa câu hát êm như lời ru.</p>



<p>“<em>Gió thoảng vào hơi rượu mạnh<br>Qua làn sương ánh đèn mầu &#8230;.”</em></p>



<p>Đêm 30 Tết. Mọi người ngồi lặng lẽ gác giặc với tâm tư nặng trĩu. Bầu trời tối đen, chỉ chập chờn ánh sáng những vì sao yếu ớt và vài vệt đèn vàng leo lét từ thôn xóm xa xa mờ ảo, thỉnh thoảng vọng về tiếng súng. Tôi lặng người trong nỗi nhớ nhà xao xiết. Đây là đêm giao thừa đầu tiên tôi xa gia đình. Thèm quá không khí gia đình ấm cúng. Thèm được ngồi bên ba mẹ, bên chị, bên em trong căn nhà nhỏ thân yêu, trước bàn thờ nhang khói tỏa mùi thơm, bên cạnh chiếc bàn đầy những món ăn tràn ngập hương vị ngày Tết.</p>



<p>Sáng mùng một Tết, sau phiên gác đêm mệt nhừ chúng tôi lăn ra ngủ&nbsp;&nbsp;cho đến khi mặt trời đứng bóng. Ngồi giữa cánh đồng khô xa thành phố, nhìn quanh vài đồng đội còn say ngủ trong tấm “poncho”&nbsp;&nbsp;quấn quanh người tôi thì thầm&nbsp;&nbsp;“Một năm cũ đã trôi qua”.</p>



<p>Mùng ba Tết, tiểu đội di chuyển đến nơi khác, gần xóm nhà dân. Buổi tối vào lập chốt canh theo bìa cây khu xóm lưa thưa. Mấy ngày qua ăn toàn lương khô ngán tận cổ, tôi nghe thèm thức ăn tươi nên đi loanh quanh tìm hái rau dại, chợt thấy con rạch nhỏ cạnh bờ ruộng có một cái lợp bắt tôm cá đặt bên bờ nước. Cách một khoảng khá xa có căn nhà ẩn sau bờ chuối. Vì bụng đói lại thiếu chất tươi nên trong đầu tôi nẩy lên ý tưởng trộm tôm cá trong lợp này để anh em có một bữa ăn Tết đặc biệt ngon lành. Nhưng ngay lúc ấy tâm trạng tôi lại bị dằng co giữa “Chánh và Tà”. Nhìn thấy những con tôm nhỏ nhảy soi sói trong lợp thật khó lòng ngăn được nỗi thèm thuồng nhưng tôi vẫn băn khoăn tự hỏi, không biết nhà kia có nghèo lắm không? Nếu mình trộm hết cái lợp nầy, biết đâu cả nhà hôm nay chỉ ăn rau luộc cầm hơi. Nhưng… cuối cùng cái bản ngã xấu xí đã lấn áp cái gọi tính bổn thiện. “Bọn mình đã vất vả canh gác để giữ cho thôn xóm yên bình ăn Tết thì một cái lợp cá cho bữa ăn đang thiếu thốn cũng công bình thôi mà”. Để chấm dứt sự dần dừ tôi quyết định thật nhanh là lội xuống rạch giở lợp. Tôm cá không nhiều nhưng nhìn chúng nhảy tung tóe thật  hấp dẫn. Một người bạn tháo nón sắt, đổ tôm cá vào gần đầy. Tôi dặn, chừa lại một ít nếu lấy hết chủ nhà sẽ biết mình ăn trộm, xấu hổ lắm. Tôi đặt lợp vào chỗ cũ, cả bọn nhanh chân “rút lui chiến thuật” không để lại dấu vết. Thế là trưa hôm đó được ăn Tết với “seafood” luộc và rau dại hái quanh bờ. Bữa cơm Tết ngon nhất của những “người lính học trò” trên cánh đồng ven biên nhớ đời.</p>



<p>Hôm sau lại thòm thèm và ý tưởng trộm lợp lại lảng vảng trong đầu. Hy vọng chủ nhà không biết nên tôi và một đồng đội mon men trở lại chỗ cũ. Cái lợp vẫn đặt nơi đó. Chúng tôi đi về phía căn nhà để thăm dò tình hình, nếu không có ai thì sẽ trở lại trút lợp lần nữa. Bỗng nhìn thấy một cụ già bước ra, ông vẫy tay gọi:</p>



<p>“Mấy chú lính ơi, bác muốn gặp mấy chú, đến đây đi”.</p>



<p>Tôi bối rối, lo sợ nói với người bạn:</p>



<p>“Chết cha, ông ta biết mình trộm cá. Nhớ, phải chối quyết liệt không nhận tội”.</p>



<p>Tôi đi đến gần ông mà nghe lạnh tóc gáy dù trời đang nắng chang chang. Đối diện với người nông dân khoảng sáu mươi trong chiếc áo sơ mi xám bạc màu dù nét mặt ông rất hiền nhưng tôi vẫn run trong câu nói lắp bắp:</p>



<p>“Dạ… mừng tuổi bác… nhà… ăn Tết vui không bác?”.</p>



<p>Ông tươi cười:</p>



<p>“Cũng thường thôi cháu. Bác có thằng con trạc tuổi các cháu đi lính ở tận vùng hai không về ăn Tết cùng gia đình nên cũng buồn. Trưa nay bác muốn mời các cháu đến nhà ăn một bữa với gia đình bác”.</p>



<p>Tôi và người bạn nhìn nhau bối rối. Ông tiếp lời:</p>



<p>“Nhà bác chuẩn bị rồi. Mong các cháu không chê”.</p>



<p>“Dạ cám ơn Bác, tụi cháu về gọi anh em”.</p>



<p>Chúng tôi kéo đến căn nhà lợp lá. Ngoài sân, đàn gà và con chó chạy lăng xăng, ngơ ngác nhìn những người khách lạ. Ông bà đứng trước cửa thân mật mời chúng tôi vào. Trên bàn, mâm cơm đã dọn sẵn, có gà trộn gỏi bắp chuối, thịt kho trứng, bánh Tét và tôm cá luộc. Ông đon đả, chân tình:</p>



<p>“Nhà bác không có mỹ vị cao lương để thiết đãi các cháu đã về đây giữ an bình cho thôn xóm, chỉ có chừng nầy thôi mời các cháu ăn thiệt tình nha”.</p>



<p>Tôi thật sự xấu hổ khi nhìn thấy đĩa tôm cá trên bàn -có lẽ lấy từ cái lợp chúng tôi đã trộm- và chợt nghĩ  “chắc ông biết nên muốn tháu cáy bọn mình đây”. Trong suốt bữa ăn, ông luôn miệng nhắc đến người con đang chinh chiến phương xa với niềm xúc động.</p>



<p>“Thấy các cháu, bác nhớ thằng Bình con bác đi lính biệt động quân biên phòng, không biết nó có được ăn Tết không!”.</p>



<p>Giọng ông như nghẹn lại, đôi mắt già rươm rướm lệ. Câu nói đơn sơ ấy như có sợi tơ mong manh nào đó xiết nhẹ trái tôi. Chắc nơi quê nhà xa xôi mẹ tôi cũng không ngừng lau nước mắt mỗi&nbsp;&nbsp;khi nghe&nbsp;&nbsp;thấy câu hát quen thuộc</p>



<p><em>Con biết bây giờ mẹ chờ tin con<br>Khi thấy mai đào nở vàng bên nương<br>Năm trước con hẹn đầu xuân sẽ về<br>Nay én bay đầy trước ngõ<br>mà tin con vẫn xa ngàn xa</em></p>



<p>Tôi nhìn ông với nụ cười ấm áp như để chia sẻ nỗi niềm riêng. Ngay phút giây ấy tôi chợt muốn thú tội đã trộm lợp của ông nhưng không đủ can đảm nói ra. Uống cạn ly rượu nhỏ cay cay, tôi cúi đầu cám ơn ông. Chân bước nhưng lòng còn ở lại với chút ray rứt không yên.</p>



<p><strong>Tết 1974</strong></p>



<p>3 năm sau tôi ra đơn vị về tiểu đoàn biệt lập trấn giữ chốt biên phòng biên giới Việt Miên vùng Núi Dài Châu Đốc. Nhớ lại, từ ngày rời gia đình vào quân ngũ chưa năm nào tôi được ăn Tết ở nhà hay thành phố. Tết vẫn đến buồn thiu giữa đồng hoang trên vùng đất Chương Thiện hay bảy núi biên phòng. Những bữa cơm Tết cùng đồng đội với cá khô hay chút thịt chồn, thịt thỏ rừng săn bắt được đã gọi là thịnh soạn lắm nhưng không sao sánh được với bữa ăn tình nghĩa quân dân ngày Tết ven biên Sài Gòn năm xưa. Mỗi lần Tết về là mỗi lần tôi nhớ nhà da diết, vì dù ở nơi đâu, dù đang làm gì, đã là người Việt Nam nếu không được về nhà ăn Tết hẳn ai ai cũng đều có nỗi nhớ như nhau.</p>



<p><strong>2.</strong></p>



<p>Năm mươi năm trôi qua, thế sự đổi dời. Quê hương thân yêu nơi mình sinh ra và lớn lên thật sự đã mất nên đành chọn nơi nầy làm chốn dung thân. Bốn mươi hai cái Tết không mời vẫn lặng lẽ đến trong cuộc đời không ít gian truân của tôi. Những cái Tết được tổ chức trong các cộng đồng người Việt trên mảnh đất xa lạ nầy cũng không gợi cho tôi nỗi nhớ sâu thẳm tận cùng như ngày xưa đã từng nhớ. Nếu có chăng chỉ là những thương nhớ, xót xa vì giờ đây mẹ cha đã khuất còn chị em tuổi đã về chiều, xa cách trùng dương.</p>



<p>Kỷ niệm xưa chợt trở về cho lòng tôi thoáng chút bâng khuâng. Chắc ông cụ chủ lợp đặt cá của mấy mươi năm về trước không còn nữa và cánh đồng ven biên giờ đã trở thành phố xá. Các bạn “lính học trò” đi gác giặc năm nào có người đã mất trong chiến tranh, trong lao tù, có người đã gửi nắm xương tàn trên đường vượt biên hay khắc khoải với kiếp sống truân chuyên ở đâu đó trên quê hương nghèo nàn.</p>



<p>Và với tôi, nỗi nhớ Tết đã trở thành mù khơi.</p>



<p><strong>Đặng Hiếu Sinh (TYH)</strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Đặng Hiếu Sinh: TỰ DO hay là CHẾT</title>
		<link>https://t-van.net/dang-hieu-sinh-tu-do-hay-la-chet/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Trần Yên Hạ]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 21 Mar 2024 06:42:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Ghi Chép]]></category>
		<category><![CDATA[thuyền nhân]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=70200</guid>

					<description><![CDATA[9 thuyền nhân và chiếc ghe được kéo lên tàu Buổi sáng ngồi nhâm nhi tách cà phê nóng bên cửa sổ, đọc tin chiến sự Ukraine với nhiều điều đáng buồn và đáng lo vì quân đội kiên cường của đất nước tang thương này đang thiếu sự yểm trợ vũ khí để chiến [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/03/h2.jpg?strip=all&w=2560"><img decoding="async" width="1024" height="785" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/03/h2-1024x785.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-70201" style="width:496px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/03/h2-300x230.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/03/h2-1024x785.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2024/03/h2-768x589.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/03/h2.jpg?strip=all 1080w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em> 9 thuyền nhân và chiếc ghe được kéo lên tàu</em></p>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Buổi sáng ngồi nhâm nhi tách cà phê nóng bên cửa sổ, đọc tin chiến sự Ukraine với nhiều điều đáng buồn và đáng lo vì quân đội kiên cường của đất nước tang thương này đang thiếu sự yểm trợ vũ khí để chiến đấu với nước Nga của Putin. Không biết tình hình cuộc chiến tự vệ chống quân xâm lăng của Ukraine ra sao? Nếu Putin thắng thì số phận người lính và dân Ukraine thế nào?</p>



<p>Nhìn ra sân thấy cây đào đã nở hoa trắng xóa. Tháng ba, hoa đào nở nơi xứ sở tự do này nhưng tháng ba năm xưa lại bắt đầu cho những bi thương mà miền Nam phải hứng chịu vì đồng minh bỏ rơi và kết thúc là nỗi oan nghiệt của 30 tháng 4. Người chết. Kẻ tù tội. Hằng triệu đồng bào đã liều mình vượt đại dương trên những phương tiện mong manh và đã có biết bao người đã bỏ mình trên biển cả vì hai chữ TỰ DO.&nbsp;</p>



<p><em>Tự do ơi tự do! tôi trả bằng nước mắt<br>Tự do hỡi tự do! anh trao bằng máu xương<br>Tự do ơi tự do! em đổi bằng thân xác.<br>Vì hai chữ tự do ta mang đời lưu vong (*)</em></p>



<p>49 năm qua, thế hệ đầu tiên -nhân chứng của cuộc hành trình tìm tự do nầy đã lần lượt ra đi, có còn ai nhớ đến!.</p>



<p>&nbsp;Người viết chợt nhớ&#8230;</p>



<p>Khoảng giữa năm 2023, qua phương tiện truyền thông nhiều người đã biết câu chuyện chiếc&nbsp;ghe bằng gỗ dài 6 mét, không máy móc, chỉ có hai mái chèo và một cánh buồm đơn sơ&nbsp;đã đưa 9 người trẻ vượt thoát cộng sản vào năm 1984, được một tàu buôn Pháp cứu vớt. Chiếc ghe này đã được lưu giữ ở viện Bảo tàng Hải Dương Pháp tại Le Havre 38 năm qua. Ngày&nbsp;14 tháng 11 năm 2022, người Pháp đã trao tặng chiếc ghe cho ông Châu Thụy, Giám đốc Viện Bảo Tàng&nbsp;Di Sản Người Việt (Vietnamese Heritage Museum) tại California.</p>



<p>Duyên may đưa đẩy, người viết gặp được anh Phùng Tài, người thanh niên trẻ đi trên chiếc ghe “lịch sử” đó đang sống tại Dallas và anh đã dành thời gian để kể lại cuộc hành trình mà “vì hai chữ tự do ta mang lưu vong” của anh và cũng phần nào giải đáp những thắc mắc của người viết sau khi đọc bài tường thuật sơ lược trên báo chí.</p>



<p><strong>Đặng Hiếu Sinh( ĐHS): Chào anh Tài, lúc đi vượt biên anh bao nhiêu</strong><strong>&nbsp;tuổi và trên ghe có bao nhiêu người?</strong></p>



<p><strong>Phùng Tài (PT):</strong>&nbsp;Lúc đó tôi hơn 22 tuổi. Đi cùng với tôi có 8 người, trong đó có 3 phụ nữ và một bé trai khoảng 12 tuổi. Tám người nầy đều là họ hàng với nhau.</p>



<p><strong>ĐHS: Theo bài tường thuật, đây là chiếc ghe nhỏ đi trên sông. Làm sao các anh có được chiếc ghe có buồm mà lại không có máy?</strong></p>



<p><strong>PT:</strong>&nbsp;Chiếc ghe này được gia đình Nguyên (anh Nguyên là chủ ghe cũng là người tổ chức và lái) đã mua lại của người hàng xóm, gốc Trà Cổ, Bắc Việt&nbsp;&nbsp;-Người làngTrà Cổ và người làng Xuân Ninh thuộc Móng Cái, Hải Phòng rất giỏi trong việc đóng và lái thuyền buồm. Chiếc ghe là nơi Nguyên cư ngụ, lênh đênh nay đó mai đây trong thời gian trốn tránh nghĩa vụ quân sự và cuối cùng được dùng làm phương tiện vượt biên. Cả nhóm chúng tôi đều nghèo, không có tiền mua máy. Ghe chỉ có 4 cột chèo trước sau và 1 cột buồm chỉ dùng khi có gió.</p>



<p><strong>ĐHS: Trong những ngày ra khơi, ghe có gặp trở ngại gì không và điều gì là động lực mạnh mẽ nhất giúp các bạn vượt qua khó khăn?</strong></p>



<p><strong>PT</strong>: Dạ, có rất nhiều trở ngại không lường được trước đại dương mênh mông mà chiếc ghe thì quá bé nhỏ, mong manh. Có ngày giông gió, sấm chớp nổi lên ầm ầm, chiếc ghe của chúng tôi bị nhồi như chiếc lá theo từng đợt sóng, đưa chúng tôi lên vút cao rồi nhấn chúng tôi xuống sâu thẳm. Mỗi lần như thế ruột gan ai cũng bị đảo lộn và bao nhiêu tiếng nôn ọe nổi lên giữa những tiếng kêu thất thanh Giê-Su, Maria. Sóng càng lúc càng mạnh, mọi người đều bị ướt sũng và thấm lạnh, nhìn quanh chỉ thấy biển một màu trắng xóa, không biết đâu là phương hướng. Sau đó, có người đề nghị “Hay là tìm cách quay về, chuẩn bị chu đáo hơn rồi tiếp tục ra đi”. Nhưng sự phản đối quyết liệt từ hai cô gái “Em thà chết chứ không quay về”, cộng thêm đức tin, lòng trông cậy và phó thác mạng sống của mình trong tay Chúa nên chúng tôi quyết định tiếp tục đi bất chấp mệt mỏi, hiểm nguy đang ngày đêm rình rập.</p>



<p><strong>ĐHS: Đến khi nào các anh mới gặp được tàu buôn Pháp và cuộc cứu cấp xảy ra như thế nào?</strong></p>



<p><strong>PT:</strong>&nbsp;Đến ngày thứ tư kể từ lúc khởi hành mọi người đều đã kiệt sức sau khi phải liên tục đối đầu với những cơn sóng to gió lớn thì chúng tôi mới thấy tàu lớn và cố gắng đánh tín hiệu cấp cứu nhưng họ làm ngơ, không cứu. Mãi đến tối ngày thứ bảy, một tàu Pháp khi nhận tín hiệu cấp cứu bằng đèn pin do tôi đánh đi đã dừng lại và vớt chúng tôi lên. Nhìn thấy chiếc ghe nhỏ không có máy nên họ kéo cả ghe lên tàu. Đây là tàu chở hàng mang tên Cetra Corona của công ty Chargeurs Réunis Pháp trên đường đi sang Nhật. Sau 17 ngày ở trên tàu<strong>,&nbsp;</strong>chúng tôi được đưa lên bờ tại cảng Nagoya để vào trại tỵ nạn đầu tiên ở Omura tỉnh Nagasaki.</p>



<p><strong>ĐHS: Anh ở trại tỵ nạn Nhật bao lâu?</strong></p>



<p><strong>PT</strong>: Trại Omura là nơi tạm trú. Người tỵ nạn sẽ rời đi nếu có hội đoàn hay cơ quan nào đến nhận. Tôi được Linh mục người Ý bảo lãnh đến Niigata. Sống ở đó một năm rưỡi, học tiếng Nhật và đi làm.</p>



<p><strong>ĐHS: Thời gian ở Nhật, anh có kỷ niệm nào đáng nhớ nhất?</strong></p>



<p><strong>PT:&nbsp;</strong>Nhắc đến Niigata tôi nhớ một kỷ niệm dở khóc, dở cười vì bất đồng ngôn ngữ. Một hôm, tôi đến cửa hàng tạp hoá mua trứng gà. Không thấy trứng mà không biết làm sao hỏi, tôi bèn đưa tay ra phía sau mông và cất tiếng “cục cục cục tác”, rồi đưa bàn tay ra phía trước. Người Nhật bán tạp hoá cười to và nói “Wakarimashita” (tôi đã hiểu). Một vị khách hàng có mặt lúc ấy cười rộ lên. Tôi cũng cười cho đỡ “quê”.</p>



<p><strong>ĐHS: Làm thế nào anh được sang Mỹ?</strong></p>



<p><strong>PT</strong>: Dạ, tôi được người anh bảo lãnh.</p>



<p><strong>ĐHS: Cơ duyên nào giúp anh tìm lại được chiếc ghe ở Pháp?</strong></p>



<p><strong>PT:</strong>&nbsp;Được biết chiếc ghe đã chuyển vào Viện Bảo Tàng Hàng Hải Le Harve, nên sau khi định cư ở Mỹ hàng năm tôi vẫn liên lạc với ông bà giám đốc Viện. Những năm sau đó tôi bị mất liên lạc, có thể do ông bà đã già không còn làm việc ở đó, nên thư của tôi bị trả lại và tôi cũng vô tình làm mất quyển sổ địa chỉ. Sau đó, ông Châu Thụy, giám đốc Viện Bảo Tàng&nbsp;Di Sản Người Việt muốn có chiếc ghe vượt biên để làm biểu tượng cho Viện nên đã liên lạc với tôi. Chúng tôi qua Pháp, tìm đến Viện bảo tàng và “gặp” lại chiếc ghe đã được gìn giữ suốt 38 năm.</p>



<p><strong>ĐHS: Làm sao ông Châu Thụy biết anh và chiếc ghe nầy đang được lưu giữ ở Pháp?</strong></p>



<p><strong>PT:</strong>&nbsp;Trước đây tôi thường viết hồi ký đưa lên “internet”, ông Thụy đọc được nên tìm tôi và tỏ ý mong ước có được chiếc ghe cho Viện.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/03/H1.jpg?strip=all&w=2560"><img decoding="async" width="1024" height="584" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/03/H1-1024x584.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-70202" style="width:642px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/03/H1-300x171.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/03/H1-1024x584.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2024/03/H1-768x438.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/03/H1.jpg?strip=all 1080w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em> Chiếc ghe trong viện Bảo tàng sau 38 năm</em></p>



<p></p>



<p><strong>ĐHS: Làm sao chứng minh cho họ tin anh chính là thuyền nhân&nbsp;&nbsp;trên ghe đó?</strong></p>



<p><strong>PT</strong>: Nhờ trước kia tôi đã từng liên lạc nên họ tin. Hơn hết là họ nhìn thấy niềm cảm xúc vô bờ của tôi khi sờ được chiếc ghe. Thật sự, tôi đã không kềm nén được sự xúc động nên đã khóc rất lâu. Được biết, trước đây đã có 2 nhóm người đến gặp và ngỏ ý muốn xin chiếc ghe nhưng họ từ chối vì sợ nhóm người này dùng vào mục đích xấu. Lúc ấy, tôi lo lắng không biết có được nhận lại chiếc ghe không, hoặc phải trả một khoản tổn phí nào nhưng cuối cùng khi ông giám đốc Raw vỗ vai tôi và nói “Kể từ ngày hôm nay chiếc ghe nầy thuộc về lịch sử các anh” thì tôi biết rằng họ cho không.&nbsp;&nbsp;Ngoài ra, họ còn sốt sắng giúp đỡ chúng tôi trong việc tìm công ty chuyên chở để đưa ghe về Mỹ.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/03/H3.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="609" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/03/H3-1024x609.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-70203" style="width:616px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/03/H3-300x178.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/03/H3-1024x609.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2024/03/H3-768x457.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/03/H3.jpg?strip=all 1080w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Ông Raw, Phùng Tài và ông Châu Thụy</em></p>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><strong>ĐHS: Tổn phí chuyên chở về Mỹ chắc không phải là con số nhỏ?</strong></p>



<p><strong>PT</strong>: Viện Bảo tàng Di Sản Người Việt đã làm thủ tục nhận và chuyển về Mỹ. Tôi không biết chính xác nhưng hình như khoảng 50 ngàn đô. Ông Châu Thụy cũng gặp nhiều khó khăn trong việc vận động cho đủ số tiền, vì có rất nhiều thuyền nhân không còn nhớ đến và tha thiết lắm với công việc này. Tôi nghĩ rằng, chiếc ghe nhỏ nầy là một vật chứng sống thật nhất cho con cháu thuyền nhân biết tại sao chúng được sinh ra ở đây.</p>



<p><strong>ĐHS: Qua câu chuyện vượt biên và nhất là thấy được chiếc ghe là một chứng tích sống thực, các con anh nghĩ gì và có ảnh hưởng gì đến cuộc sống của cháu ?</strong></p>



<p><strong>PT:</strong>&nbsp;Tôi có ba đứa con, hai trai, một gái. Hai con trai đã phục vụ trong quân đội Hoa Kỳ. Tôi tin rằng chúng hiểu rõ chế độ cộng sản qua việc đánh đổi mạng sống vì tự do của cha ông.</p>



<p><strong>ĐHS:</strong>&nbsp;Thay mặt đọc giả Trẻ, xin cám ơn anh Tài đã chia sẻ câu chuyện về cuộc hành trình tìm tự do thật liều lĩnh và gian nan của anh. Chúc anh và gia đình luôn bình an, hạnh phúc.</p>



<p>&#8212;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</p>



<p><em>(*) Trích lời trong nhạc phẩm “Xin Đời Một Nụ Cười” của nhạc sĩ Nam Lộc.</em></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Đặng Hiếu Sinh: Không chơi với “Hamburger”</title>
		<link>https://t-van.net/dang-hieu-sinh-khong-choi-voi-hamburger/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Trần Yên Hạ]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 07 Jul 2023 11:05:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[phiếm]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=64130</guid>

					<description><![CDATA[Ảnh (https://elements.envato.com/) -Hello! Hello! Xin thông báo “tình trạng khẩn trương”. -Cái gì? Cái gì dzậy? Thấy mọi người ngơ ngác, xôn xao, anh Đang cố nhịn cười: -Có gì đâu, chỉ muốn cho mọi người biết… tài xế đang buồn ngủ. Có tiếng thở phào nhẹ nhõm: -Ông nội này ác thiệt, làm tôi [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/07/hamburger.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="316" height="211" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/07/hamburger.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-64131" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/07/hamburger-300x200.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/07/hamburger.jpg?strip=all 316w" sizes="(max-width: 316px) 100vw, 316px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Ảnh (https://elements.envato.com/)</em></p>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>-Hello! Hello! Xin thông báo “tình trạng khẩn trương”.</p>



<p>-Cái gì? Cái gì dzậy?</p>



<p>Thấy mọi người ngơ ngác, xôn xao, anh Đang cố nhịn cười:</p>



<p>-Có gì đâu, chỉ muốn cho mọi người biết… tài xế đang buồn ngủ.</p>



<p>Có tiếng thở phào nhẹ nhõm:</p>



<p>-Ông nội này ác thiệt, làm tôi muốn đứng tim.</p>



<p>-Ở đó mà thiện với ác. Tôi lái xe mấy tiếng đồng hồ rồi, mệt muốn chết. Ai nấy ngủ ngon lành, đã vậy còn ngáy ro ro như chọc tức người ta. Nè! hổng ai chịu nói chuyện mà cứ lo ngủ, một hồi nữa là tui cho cả đám ngủ giấc ngàn thu, chứ hổng phải “Yêu anh, yêu đến ngày thu” như cô ca sĩ Ngọc Lan thầm thì, tha thiết nãy giờ đâu. Mấy người… sung sướng quá mà!</p>



<p>-Ừa! ừa… sướng thiệt. He!he!!!</p>



<p>Phe nam vươn vai sảng khoái. Phe nữ &nbsp;lao xao lục lọi, tìm kiếm thức ăn. Anh Hậu chồm tới, vừa đặt gói xôi lạp xưởng được nén tròn trong bao “sandwich” vào tay tài xế, giả lả khơi chuyện:</p>



<p>-Tụi mình đã sống ở Mỹ hơn nửa đời người, quý vị có công nhận cuộc sống ở đây quá sung sướng không?</p>



<p>Anh Phan nhanh nhẩu:</p>



<p>-Ha!ha!!! Sướng quá đi chứ. Như tụi mình bây giờ được thong thả ngao du, được ngồi trên chiếc xe rộng rãi, chạy êm ru, được ăn xôi lạp xưởng, nhắm nháp cà phê, có tài xế lái xe an toàn, đưa mình đến nơi cần đến mà không phải trả tiền.</p>



<p>-Anh Phan nói làm tôi nhớ lại một chuyến đi từ Amsterdam đến Paris bằng chiếc xe 7 chỗ ngồi của người bạn cách đây gần chục năm. Thật ra, nó chỉ bằng hai phần ba chiếc SUV tại Mỹ thôi. Băng ghế rất chật, chân hơi dài một chút phải co rút lại mới đủ chỗ. Ngồi co ro chừng hai tiếng đã tê chân muốn chết. Chưa kể là khi bụng râm ran hay muốn “xả bình” phải nín thở chịu trận, chạy xe thật xa mới có “restroom”. Tới đó còn phải sắp hàng trả tiền, chờ đến phiên.</p>



<p>Anh Phan tiếp:</p>



<p>-Nói một cách đầy đủ, trọn vẹn là ở nhà Mỹ, đi xe Mỹ, lái xe trên xa lộ Mỹ, đổ xăng Mỹ và quan trọng nhất là xài nhà vệ sinh Mỹ không phải trả một xu nào mà lại sạch sẽ, an toàn. Còn nơi nào ngon hơn không?</p>



<p>Tiếng cười, tiếng nói xôn xao làm bầu không khí vui tươi, rộn rã và thời gian như lướt nhanh dưới ánh nắng chói chang càng lúc càng gay gắt. Nói nhiều, cười nhiều, chắc cũng tiêu hao năng lượng, nên anh Hậu -hoạt náo viên chính thức trong cuộc trò chuyện- lên tiếng:</p>



<p>-Mấy giờ rồi mà sao cái bụng của tôi nó kêu rột rẹt. Xin đề nghị ghé qua McDonald&#8217;s, thưởng thức cái Hamburger nóng hổi, sau đó “xả bình” rồi đi tiếp nha bà con.</p>



<p>Sau tiếng “OK” đồng loạt thì có tiếng phản đối mạnh mẽ.</p>



<p>-Không. Tôi không chơi với Hamburger.</p>



<p>-Ủa! nó có gây thù, chuốc oán gì với chị mà chị nghỉ chơi với nó hả chị Hoa?</p>



<p>-Thì… tại vì… tôi không thích.</p>



<p>Chị Khánh chen vào:</p>



<p>-Hoa à! hồi nãy anh Phan đã nói, tụi mình đang rất sung sướng vì được tận hưởng mọi tiện nghi của Mỹ phải không? Rõ ràng&nbsp; Hoa đang mặc quần Jean hiệu Levi , mang giày Nike, xách bóp Michael Kors… và chắc chắn là ở nhà Mỹ, nhưng sao không chịu ăn…</p>



<p>Chị Hoa cướp lời:</p>



<p>-Đúng! nhưng tôi không ăn Hamburger. Quý vị cứ ăn thức ăn Mỹ. Còn tôi… khà! Khà!&#8230;một gói xôi lạp xưởng cũng đủ ấm lòng chiến sĩ.</p>



<p>-Tôi đả đảo chị Hoa vì tội không chơi với Hamburger. Ai đồng ý giơ tay lên.</p>



<p>-Tôi..</p>



<p>-Tôi nữa….</p>



<p>Chị Hoa đâu dễ dàng thua cuộc:</p>



<p>&nbsp;-Đây là đất nước tự do, tôi có quyền chọn món ăn tôi thích, sao mọi người ép tôi ăn món tôi không thích? Hồi xưa, khi ở tù về tội vượt biên, tôi còn được tự do ăn chuột, cóc nhái, cào cào. Tụi công an có tiếng là ác ôn còn chưa cấm hay ép tôi ăn món gì, sao mấy người độc tài thế?.</p>



<p>Anh Phan cũng quyết liệt không kém:</p>



<p>-Kính thưa chị Hoa, ở đây không có độc tài hay ác ôn, mà chỉ &nbsp;muốn nói đến sự “công bằng”. Tôi nhớ, có lần chị kể, &nbsp;bạn trai người Mỹ của con gái chị, đến nhà ăn cơm tấm bì, sườn, chả ngon lành, còn khen nước mắm ngon, khiến chị thích thú. Từ đó, chị có cảm tình đặc biệt với cậu ta và sẵn sàng OK, nếu nó ngỏ ý cưới con gái chị, dù trước đó chị nói như đinh đóng cột, rể của chị phải là người Việt Nam. Thử hỏi, nếu thằng bé chê nước mắm hôi quá, chắc chị không cho nó đặt chân đến nhà chị nữa, phải không? Người Mỹ ăn thức ăn Việt Nam, vậy thì người Việt mình cũng phải biết thưởng thức món ăn Mỹ mới công bằng chứ.</p>



<p>Anh Biên -người được bạn bè gọi là “nhà thông thái”- tự nãy giờ im ỉm như ngà ngà say… ngủ, cất giọng sang sảng như ông thầy giáo đang trên bục giảng.</p>



<p>-Hamburger là một món “fast food” có vai trò lịch sử với thành công vật chất của người Mỹ trong buổi ban đầu, khi nước Mỹ bắt đầu gây dựng nền kinh tế cho đến hôm nay. Nhờ vậy, chúng ta mới được hưởng những tiện ích sung sướng như bây giờ. Hamburger cũng là một đặc trưng của nền ẩm thực, nó thể hiện tính cách phóng khoáng, hiện đại, năng động,&nbsp; không màu mè kiểu cách, không phô trương, không quá chú trọng về hình thức của văn hóa xã hội Mỹ. Nhờ đó, chúng ta mới được sống thỏai mái ở đây, đúng không? Chị Hoa thử nghĩ, nếu giờ này chị còn sống trong cái văn hóa “nước mắm, nón cối, áo vàng” thì đời chị…. Dù là Hoa hay bông, chắc cũng sẽ rơi tả tơi từng cánh.</p>



<p>Cả xe cười ồ lên trong khi tài xế ghé xe vào bãi đậu. Chị Hoa ráng vớt vát cú chót:</p>



<p>-Công nhận anh Biên “lẻo mồm”. Ồ không!&#8230; tôi xin nói lại… anh Biên “dẻo mồm” thật. Có lý lắm, nhưng… xin lỗi… Hoa vẫn giữ vững lập trường… không ăn Hamburger, chỉ xin mượn chỗ để “xả bình” thôi.</p>



<p>-Không ăn món Mỹ thì không được dùng nhà vệ sinh Mỹ. Vậy mới công bằng.</p>



<p>-Cũng được… nhưng nói trước nhé, lỡ như…. &nbsp;tôi có “xả” trên xe ráng chịu nhé.</p>



<p>-Nhưng đây cũng là xe Mỹ, Hoa ơi.</p>



<p>Một trận cười kéo dài khi mọi người hăm hở tiến vào McDonald&#8217;s.</p>



<p>Sau khi no bụng với chiếc Hamburger nóng hổi, đầy đủ chất lượng -trừ chị Bông kiên quyết tử thủ với gói xôi-&nbsp; câu chuyện ăn uống lại bắt đầu trong cuộc hành trình tiếp theo. Anh Đăng kể:</p>



<p>-Hồi năm hai ngàn…. lâu lắm… &nbsp;một lần tôi phải vào tiệm Cici’Pizza, để ăn cái món mà tôi ghét cay, ghét đắng. Theo tôi, đây là món ăn dở chưa từng thấy, trong khi vợ con tôi thì thưởng thức tận tình và luôn miệng khen ngon. Đã lỡ được khen là “người đàn ông lý tưởng, chiều vợ, chiều con hết mình”, nên tôi phải nín thở qua sông, chấp nhận mỗi tuần ăn Pizza một, hai lần. Nín thở riết chắc có ngày cũng chết queo, nên tôi nghĩ ra cách giải quyết. Cứ mỗi lần đi ăn, tôi đem theo cái hủ nhỏ, đựng chút nước tương pha thêm cục chao nhỏ, dùng làm nước chấm, thay vì dùng “Salad dressing”. Không ngờ, nhờ món “nước sauce đặc biệt” này mà dần dà tôi thấy Pizza không đến nỗi tệ, dù có chút “quê quê” khi thấy hai mẹ con nó nhìn nhau cười chím chím. Rồi không biết từ lúc nào tôi hòa nhập vui vẻ với vợ con và Pizza giờ đã trở thành món khoái khẩu của tôi.</p>



<p>-Cuối cùng thì anh Đăng cũng phải thua. Đúng là&nbsp; “ghét của nào, trời trao của ấy” phải không chị Hoa?</p>



<p>Vẫn là chị Hoa bảo thủ:</p>



<p>-Tôi không giống anh Đăng đâu. Tôi là con cháu của Hai Bà Trưng, là người phụ nữ kiên cường, nhất định không chơi với Hamburger, nên dù trời có trao, tôi cũng nhất định không lấy.</p>



<p>-Ở Mỹ, xài đồ Mỹ, tận hưởng cái không khí tự do không bao giờ có thể tìm thấy được trên chính quê hương mình, nhưng nhất định không ăn món truyền thống của dân Mỹ. Thật tội nghiệp cho Hamburger. Nó có tội tình gì mà bị kỳ thị quá vậy ta?</p>



<p>Tiếp lời anh Phan, là câu “khều” nhẹ của anh Biên -nhưng không biết có đánh động nổi “ý chí kiên cường” của chị Hoa không?</p>



<p>-“<em>Dù ai nói ng</em><em>ả</em><em>, nói nghiêng. Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân”</em>. &nbsp;Không biết câu nói này đúng với tâm sự của Hamburger hay chị Hoa?. Theo tôi thì Hamburger vẫn hiên ngang góp mặt trên thị trường “fasfood”. Còn chị Hoa nhà mình thì mãi mãi mất đi cái thú ăn nhanh trong cuộc sống vốn đầy tất bật, nếu không chịu thử một lần, phải không bà con?.</p>



<p><strong> Đặng Hiếu Sinh</strong></p>



<div style="height:500px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>©T.Vấn 2023</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Đặng Hiếu Sinh: CHUYỆN CÁI ĐẦU GỐI</title>
		<link>https://t-van.net/dang-hieu-sinh-chuyen-cai-dau-goi/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Trần Yên Hạ]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 20 Jun 2023 10:21:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[ký]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=63255</guid>

					<description><![CDATA[Cái đầu gối &#8211; Tranh: Andrea Radai (Nguồn: art/Painting) -Ê! nghe nói ông thay đầu gối mới rồi phải không? Tin giả hay tin thiệt vậy? -Thiệt trăm phần trăm. -Đau không? -Muốn biết thì làm thử đi. -Đến giờ tôi vẫn an toàn trên xa lộ, mắc gì mà thử. Tại mấy ông cứ [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/06/knees1.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/06/knees1.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-63256" width="385" height="289" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/06/knees1-300x225.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2023/06/knees1-768x576.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/06/knees1.jpg?strip=all 770w" sizes="(max-width: 385px) 100vw, 385px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Cái đầu gối &#8211; Tranh: Andrea Radai</em></p>



<p class="has-text-align-center"><em>(Nguồn: art/Painting)</em></p>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><strong>-Ê! nghe nói ông thay đầu gối mới rồi phải không? Tin giả hay tin thiệt vậy?</strong></p>



<p>-Thiệt trăm phần trăm.</p>



<p><strong>-Đau không?</strong></p>



<p>-Muốn biết thì làm thử đi.</p>



<p>-Đến giờ tôi vẫn an toàn trên xa lộ, mắc gì mà thử. Tại mấy ông cứ ham trèo đèo Ba Dội <em>(*)</em>thì gối phải mòn thôi. Đùa cho vui, chứ thật ra đâu phải tại leo trèo mà theo định luật tự nhiên, vật gì xài nhiều quá cũng hao mòn phải không ông? Anh chị tôi bị đau, đã điều trị đủ cách, từ tập vật lý trị liệu đến bấm huyệt, tiêm chất nhờn vào đầu gối, uống thuốc đủ loại, bớt được một thời gian rồi đau trở lại. Bác sĩ khuyên nên mổ thay khớp nhưng hai ông bà sợ, vì không biết chân có phục hồi được không hay phải ngồi xe lăn suốt đời, nên tôi gọi thăm và nhờ ông chia sẻ kinh nghiệm để tôi biết đường mà góp ý cho anh chị tôi.</p>



<p>Từ bốn năm trước, đangngồi xổm mà đứng lên, tôi cảm thấy có chút khó khăn, dần dà đến lúc phải tựa vào vật gì cao mới đứng dậy được. Cách đây hơn hai năm, chạy thấy đau mà đi cũng đau, gặp bác sĩ chuyên khoa cho chụp X-ray, mới biết là “gối đã mòn”.</p>



<p>Khi bác sĩ khuyến cáo, nên mổ để thay khớp gối mòn bằng một khớp giả và đưa cho tôi xem hình. Bác sĩ giải thích, đây là một chất tổng hợp như nhựa với titanium ở giữa. Vì titanium nhẹ, không gỉ và bền hơn thép gấp mười lần, cũng không phản ứng với hệ thống miễn dịch của con người. Nghe có lý nhưng vẫn thấy sợ, nên tôi xin tiêm thuốc vào đầu gối. Sáu tháng trôi qua, thuốc tiêm được dùng từ loại nhẹ đến loại mạnh nhưng cơn đau hình như ngày càng nhiều khi đi đứng, nên phải uống thêm thuốc giảm đau. Cuối cùng đành phải nghe lời khuyên của bác sĩ: Giải phẫu.</p>



<p>&nbsp;Vài người bạn can ngăn:</p>



<p>-Đừng mổ, cứ chích thuốc thế nầy cũng tạm ổn. Còn mổ, có chắc chắn sẽ đi lại bình thường như trước không? Lỡ… ngồi xe lăn luôn thì sao?</p>



<p>Nhà tôi hỏi:</p>



<p>-Anh có sợ không?</p>



<p>Vì “sĩ diện hão” nên tôi trả lời một cách hùng hồn:</p>



<p>-Xưa nay, em thấy anh có sợ cái gì không?</p>



<p>Em không biết tôi đang “miệng hùm gan… thỏ” nên vẫn trao cho tôi ánh mắt đầy khâm phục như thuở nào. Nói thật lòng là tôi sợ. Ngoài sợ đau, tôi còn sợ phải nằm trên giường, không thể làm được việc gì kể cả vệ sinh cá nhân. Nhà tôi thì yếu ngoe, làm sao có thể đỡ tôi dậy và dìu tôi đi. Vì vậy, tôi lo chuẩn bị đủ loại thiết bị cho người khuyết tật như xe lăn, xe đẩy, gậy… để có thể tự mình chăm sóc. Có cái mua, có cái bạn bè đem tặng với “lòng từ bi bất ngờ”:</p>



<p>-Nè! coi như đây là quà sinh nhật tặng trước cho ông đó nha.</p>



<p>Hừ! xưa nay, có bao giờ nó quà cáp để mừng ngày mình đến cõi đời này đâu mà bây giờ lại ra vẻ quan tâm…chắc là để cười trên nỗi đau khổ của mình… Đúng là thằng bạn trời đánh.</p>



<p>Hai tuần lễ trước khi giải phẫu, tôi cố gắng hoàn tất -khá nhiều- việc nhà, vì nghĩ rằng sớm nhất cũng phải vài tháng mới có thể làm việc trở lại. Thế là một danh sách -không ngắn- gồm những chuyện phải làm trong mười hai ngày. Nào là sửa chữa bồn rửa mặt và một vài chỗ hư hao trong nhà, che chắn, lắp ráp hệ thống tưới nước tự động và thức ăn cho bầy chim cút đang đẻ trứng mỗi ngày -một công việc mà xưa nay nhà tôi chưa bao giờ đụng tay đến-, dời cây kiểng vào nhà để phòng ngừa cơn lạnh có thể bất chợt ập đến … và&nbsp; bài vở để nộp cho BBT Trẻ… Chưa hết, còn phải dành thời gian tham dự ba tang lễ của người thân quen. Hai đám ở Dallas, một đám ở Houston vào ngày thứ hai mà sáng thứ Tư thì tôi sẽ phẫu thuật.</p>



<p>Trước đó một ngày, tôi phải đến phòng mạch bác sĩ để lấy máu, đo đạc tim mạch và chụp X-ray đầu gối với đủ thế nghiêng ngửa. Sáu giờ sáng hôm sau, con gái cùng nhà tôi “lên xe tiễn anh đi ”. Ngoài mặt tỏ ra ung dung nhưng thật sự trong lòng tôi hồi hộp và lo lắng đủ thứ. Cái lo đầu tiên là vấn đề tiểu tiện. Anh bạn có kinh nghiệm cho biết “Mổ xong là phải vô nước biển. Nước biển vô rồi thì mắc đi tiểu nhưng lại không đi được, nên họ đặt ống để lấy nước tiểu… khó chịu lắm”.</p>



<p>Sau khi tháo gỡ các vật dụng cá nhân trao cho người nhà và vẫy tay giã từ, tôi được đưa vào phòng mổ. Ở đó, bác sĩ vui vẻ trò chuyện và sau cùng ông nói sẽ chích một mũi thuốc vào đùi để tôi không cảm thấy đau nhức.</p>



<p>Một lúc sau, y tá đẩy tôi đến căn phòng có vợ con đang vui vẻ ngồi chờ. Với chút ngạc nhiên, tôi thắc mắc:</p>



<p>-Ủa, có mổ gì đâu. Họ đẩy anh đi vòng vòng rồi đưa vào đây.</p>



<p>Nhà tôi cười:</p>



<p>-Anh mổ xong rồi, nhìn chân nè.</p>



<p>Lúc ấy, tôi mới thấy cái đầu gối quấn băng và dây chuyền thuốc vào tay. Thật sự, tôi chỉ nhớ những diễn biến từ lúc được bác sĩ xoa vùng đầu gối, nói sẽ chích thuốc và tiếp đó là được đưa vào phòng gặp vợ con.</p>



<p>Nhà tôi cho biết, họ đưa tôi vào phòng mổ lúc 7giờ 30 sáng và &nbsp;đưa lên phòng lúc 10 giờ sáng. Tôi ngạc nhiên khi thấy mình hoàn toàn tỉnh táo và không cảm thấy đau đớn chút nào. Buổi trưa, sau khi ăn xong, bác sĩ đến khám và y tá báo cho biết&nbsp; tôi sẽ ở lại một đêm để được chăm sóc và theo dõi sức khỏe. Khoảng 4 giờ chiều, y tá đến tháo dây chuyền thuốc, bảo tôi ngồi dậy, bước xuống giường, tựa vào cây nạng bốn chân, bước đi theo cô. Cảm giác hơi đau nơi đầu gối nhưng tôi vẫn bước &nbsp;chầm chậm được khoảng năm phút.</p>



<p>Điều tôi lo sợ lúc trước là đường tiểu, tuy hơi khó nhưng vẫn “thông thương”, không có gì trở ngại. Đêm ngủ lại bệnh viện, tôi đã tự mình vào “restroom” vài lần mà không cần ai trợ giúp.&nbsp;</p>



<p>Hôm sau, khoảng 4 giờ chiều, tôi được xuất viện. Nhân viên bệnh viện làm thủ tục và giới thiệu “Home Health care”để tôi được tập luyện tại nhà.</p>



<p>Xuống xe, tôi bước vào nhà với chiếc xe đẩy có bánh xe, nằm trên sofa xem tivi, ngồi dậy ăn uống, làm vệ sinh cá nhân một mình và lên giường ngủ bình thường với cơn đau nhè nhẹ, không có gì đáng để ầm ỉ. Tôi bắt đầu tập một số động tác đã được hướng dẫn lúc ở bệnh viện. Hôm sau, có y tá từ Home Health care đến khám và làm thủ tục để gửi chuyên viên vật lý trị liệu đến nhà, hướng dẫn tôi tập luyện hai lần một tuần. Bác sĩ có cho thuốc giảm đau nhưng khi nào bị đau nhiều tôi mới dùng. Sau một tuần, tôi đã đi trong nhà không cần gậy và thường xuyên thực hành các bài tập.</p>



<p>Đôi khi nhìn lại đủ thứ dụng cụ đã sắm sửa cho người “tập đi” nhưng không dùng hết, tôi tự cười thầm về nỗi lo xa “trật đường rầy” của mình. Lại phải tốn chỗ cất đi. Đúng là lẩm cẩm!</p>



<p>Tuần thứ hai tôi đã đi chợ và lái xe vào tuần lễ thứ ba. Hôm nay, ngày thứ hai mươi sáu tôi đã ra vườn làm việc nhẹ, nhưng mọi hoạt động không lâu quá một tiếng. Đứng hay ngồi lâu, đầu gối bị tê nên phải đổi động tác. Trong ngày vẫn tiếp tục tập những bài tập co duỗi chân thường xuyên.</p>



<p>Tôi muốn nhắn gửi những ai đang có nỗi khổ vì cái đầu gối nên quyết định giải phẫu thay khớp mới nếu bác sĩ khuyến cáo. Càng sớm thì thời gian phục hồi càng nhanh, để không phải chịu đựng đau đớn trong những bước đi khó khăn suốt hơn hai năm qua như tôi, mà còn bị bạn bè “chế nhạo”:</p>



<p><em>Xưa&nbsp;đeo súng nặng vượt trùng sơn (1)</em></p>



<p><em>Trận mạc vào ra biết mấy lần</em></p>



<p><em>Giờ leo núi thấp cây côn nhẹ</em></p>



<p><em>Mấp&nbsp;mé bên&nbsp;đèo&nbsp;đã rủn chân (2)</em></p>



<p>Với nền y khoa tiên tiến bây giờ, tôi tin rằng việc giải phẫu thay khớp gối không có gì đáng sợ và thời gian phục hồi rất nhanh nếu mình có đủ sức khỏe như anh bạn đã cổ võ tinh thần tôi:</p>



<p><em>Những tưởng phen này&nbsp;đã hết gân</em></p>



<p><em>Ngờ&nbsp;đâu thay gối vững như thần</em></p>



<p><em>Có ai&nbsp;đầu gió khơi hương pháo</em></p>



<p><em>Ta ngẩng&nbsp;đầu rồng nhảy múa lân&#8230; (3)</em></p>



<p>&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8211;</p>



<p><em>(*) “Hiền nhân quân tử ai mà chẳng, mỏi gối chôn chân cũng muốn trèo” (Đèo Ba Dội-Thơ Hồ Xuân Hương)</em></p>



<p><em>(1) Trùng sơn: biệt danh truyền tin</em></p>



<p><em>(1-2-3) Thơ Yên Đông</em></p>



<p><strong>ĐẶNG HIẾU SINH</strong></p>



<div style="height:500px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>©T.Vấn 2023</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Đặng Hiếu Sinh: CHUYẾN VỀ QUÁ KHỨ</title>
		<link>https://t-van.net/dang-hieu-sinh-chuyen-ve-qua-khu/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Trần Yên Hạ]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 25 May 2023 11:59:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[bút ký]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=61675</guid>

					<description><![CDATA[Đáp chuyến bay của Southwest, vợ chồng tôi đến Santa Ana thăm người chú họ trước khi đến San Jose tham dự đại hội kỷ niệm 50 năm khóa 3/ SVSQ/ ĐHCTCT Đà Lạt ra trường. Đây là ông chú họ của Nhà tôi đã cùng ở tù tại trại Vườn Đào, Mộc Hóa. Lúc [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<div class="wp-block-image"><figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/05/H.-2.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/05/H.-2-1024x684.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-61676" width="512" height="342" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/05/H.-2-300x200.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/05/H.-2-1024x684.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2023/05/H.-2-768x513.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2023/05/H.-2-1536x1026.jpg 1536w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/05/H.-2.jpg?strip=all 1920w" sizes="(max-width: 512px) 100vw, 512px" /></a><figcaption><em>50 Năm Hội Ngộ San Jose (Ảnh: Tác Giả)</em></figcaption></figure></div>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Đáp chuyến bay của Southwest, vợ chồng tôi đến Santa Ana thăm người chú họ trước khi đến San Jose tham dự đại hội kỷ niệm 50 năm khóa 3/ SVSQ/ ĐHCTCT Đà Lạt ra trường.</p>



<p>Đây là ông chú họ của Nhà tôi đã cùng ở tù tại trại Vườn Đào, Mộc Hóa. Lúc ấy, ông chỉ biết cô cháu gái của mình có người yêu là một chàng thiếu úy, xuất thân từ trường đại học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt. Đã có vài lần cầm thư của tôi từ bác phát thư đem vào nhà cho Nàng, nên ông biết tên tôi. Khi vào trại Vườn Đào, nghe nói có một số sĩ quan CTCT nên ông dò hỏi và được biết tôi có mặt trong đám tù binh ở đây. Ông nhờ người nhắn tin và nhân lúc trại bị lũ lụt, sự kiểm soát lỏng lẻo, tôi đã bơi sang trại 4 để tìm gặp ông. Sau đó tôi vượt trại, ông được thả về. Mệnh đời trôi nổi cũng phải gần hai mươi năm sau mới được tin nhau trên đất Mỹ.</p>



<p>Vài ngày ngắn ngủi bên nhau, đêm từng đêm vui buồn theo biết bao chuyện đã qua. Nhà tôi kể:</p>



<p>-Con nhớ lúc Thím ghé thăm có anh S ở đó. Má giới thiệu với Thím “đây là cháu của chị”. Một lúc sau, chờ S ra phòng khách Thím nhỏ giọng báo tin “Thím mới đi thăm chú tuần trước. Chú cho hay S trốn trại rồi, N có tin tức gì không?”. Con phải ra vẻ buồn rầu “dạ không” mà nói thầm trong bụng “Anh đang ở trước mặt Thím kìa”.</p>



<p>-Hồi đó, hai đứa mới là bồ nhau chứ chưa cưới nên thím đâu biết mặt S ra sao!.</p>



<p>Những tiếng cười ròn rã vang lên. Tình cảm họ hàng sao mà ấm áp.</p>



<p>Bốn ngày sau, chúng tôi rời Nam Cali với Thuật &#8211; khóa đàn em.&nbsp; Ngồi trên xe ngắm cảnh trùng trùng đồi núi hai bên xa lộ 5 từ Los Angeles đến San Jose thật hùng vĩ. Một bên hướng Tây là dãy đồi núi dài bất tận, bên hướng đông là những cánh đồng mênh mông trồng nho và các nông sản khác, thẳng tấp những con đường cơ giới hóa nông nghiệp&nbsp;mà nước Mỹ đã có từ trăm năm.</p>



<p>Khi đến gần San Jose, Thuật nói, anh lắng nghe sẽ ngửi thấy mùi tỏi thoang thoảng. Đây là Gilroy, vùng trồng tỏi nổi tiếng. Mỗi năm đều có tổ chức&nbsp;Lễ Hội Tỏi diễn ra vào ba ngày cuối tuần sau cùng của tháng Bảy. Trong những ngày lễ hội có trưng bày nhiều mặt hàng như xà bông làm từ tỏi hoặc các chai mật ong tỏi, rượu ngâm tỏi cũng được đông đảo khách ghé mua. Chúng tôi ghé qua một gian hàng bán tỏi bên lề đường, ngắm những dây treo các củ tỏi no tròn trông rất hấp dẫn và nhiều sản phẩm công nghệ tỏi nhưng giá không rẻ chút nào.</p>



<p>Đến San Jose, bước vào căn nhà rộng rãi đủ chỗ cho&nbsp;ba cặp và một chàng độc thân đã thuê sẵn, chúng tôi&nbsp;&nbsp;háo hức chờ giờ đến điểm hẹn, nơi tổ chức &nbsp;kỷ niệm 50 năm ngày ra trường, bạn bè chia tay đi muôn lối.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; ***</p>



<p>Vừa bước vào cửa hội trường, gặp ngay người bạn đến từ Atlanta. Anh chàng vẫn gầy như xưa, khuôn mặt có già đi nhưng&nbsp; cái lý lắc của thuở thanh xuân vẫn còn đọng lại đâu đó. Tôi đấm vai Hùng:</p>



<p>-Sến trông bảnh quá ta. Ủa, dẫn em nào theo đây, sao không giống cô trợ lý hồi xưa?</p>



<p>-Thằng mắc dịch, bà xã tao “cô Kem Hạnh Tâm” đây. Mày giỡn kiểu nầy bả tưởng thiệt, về nhà chắc bộ xương cách trí của tao bầm dập hết.</p>



<p>Lúc ở quân trường Hùng hay ngân nga nhạc Chế Linh, Duy Khánh nên chết danh là Hùng Sến.</p>



<p>Không khí của tiền đại hội &#8211; đêm tâm giao &#8211; vô cùng náo nhiệt. Tay bắt, mặt mừng, đâu đây có những ngấn lệ trong đôi mắt già nua khi gặp lại bạn xưa mấy mươi năm xa cách.</p>



<p>Góc kia là Cơ đến từ Canada. Anh chàng có nụ cười hiền lành và đôi mắt một mí, điển trai không thua tài tử Hồng Kông, nay thì…&nbsp;<em>“thôi rồi, còn chi anh ơi</em>…” chỉ còn lại tóc gió thôi bay với cái đầu bóng láng. Nhớ thời đó, sinh viên sĩ quan chỉ được ăn sáng với bánh mì baguette và bơ đường. Ăn hoài nên ngán tận cổ. Vậy mà khi trở về phòng chuẩn bị đi học, hầu như lúc nào hắn cũng có một “cà -men” cơm chiên bơ, vàng cháy ngon lành ai thấy cũng thòm thèm. Nếu người nào muốn được ăn ké thì phải trao đổi với hắn cái gì đó, chẳng hạn như một trái ớt sừng trâu chín đỏ. Ớt cay xé lưỡi mà hắn ăn như ăn dưa leo. Bởi vậy, thay vì tên Tiêu Khôn Cơ, bạn bè đặt cho hắn biệt danh Tiêu Không Cay.</p>



<p>Gặp Pháp, giọng nói đặc sệt Quảng Trị với dáng người tròn trịa hơn xưa, khuôn mặt không thay đổi nhiều và là trưởng ban tổ chức cuộc hội ngộ 50 năm nầy. Nhìn Pháp, tôi nhớ lại một kỷ niệm dở khóc, dở cười. Hồi còn sinh viên, chúng tôi không có người thân ở Đà Lạt, lại chưa có bạn gái nên cứ cuối tuần là lang thang ngoài phố, chẳng biết làm gì. Một hôm, Pháp đưa tôi và Hồng đến một biệt thự trên đường Trần Hưng Đạo có bác quản gia là người đồng hương của Pháp. Nhà kín cổng cao tường, lối đi trải đầy sỏi trắng và vườn hoa hồng rất đẹp. Ăn trưa xong, ông đưa chúng tôi lên phòng ngủ sang trọng, thơm phức, trên tường treo chân dung hai cô tiểu thư xinh đẹp là ái nữ của vị đại gia chủ nhà. Chúng tôi nhìn ngẩn ngơ và thầm mơ ước…</p>



<p>Xế trưa, xuống phòng khách uống cà phê được bác giới thiệu một người bạn vừa đến chơi. KHÁCH có nhã ý mời chúng tôi đến biệt thự Hồng Lan &#8211; nơi ông ở &#8211; vào ngày mùng 3 để ăn Tết với gia đình ông. “Nhà chỉ có hai con gái thôi, đừng ngại”. Nghe ông nói, “ba thằng” lòng mừng như mở hội và nghĩ rằng, chắc ông già thấy mình ngon lành nên muốn ghép cho con gái. Thế là những tuần kế tiếp, chúng tôi không dám xài tiền để dành mua quà đi “xem mắt” và cùng thỏa thuận, tên nào may mắn được lọt vào mắt tiểu thư thì hai tên kia không được tranh giành.</p>



<p>Sáng mùng 3 Tết, ba chàng “ngự lâm” ôm một lẵng dâu và cam thật to, gọi taxi đến biệt thự với biết bao hứng thú, hồi hộp. Hiên ngang sóng bước trên lối vào nhà mà mắt láo liên nhìn vào khung cửa sổ màu xanh để tìm kiếm dáng ngà thục nữ. Vợ chồng KHÁCH đón tiếp ân cần, chúng tôi dở hết các chiêu của “những người đàn ông lịch lãm” học được từ các lớp dạy phong cách của cô giáo Alice Kiều Oanh. Từ các thế ngồi, cách bắt tay, nói chuyện. Chúng tôi nóng lòng diện kiến hai tiểu thư nhưng không dám hỏi. Sau tuần trà nước, đèn nhang thắp bàn thờ tổ tiên và trao cho nhau những lời chúc tết tốt đẹp, ông bà gọi:</p>



<p>&nbsp;-Thủy, Tiên ra chào khách.</p>



<p>“Ba thằng” nín thở, chuẩn bị nụ cười thật tươi để lấy lòng người đẹp. Nhưng…. hỡi ơi, Thủy và Tiên chỉ là hai cô nhóc tì 8 tuổi và 6 tuổi. Lúc đó, nhìn nét mặt quê độ và sượng sùng của hai thằng bạn, tôi ráng kềm chế để không phát ra tiếng cười sặc sụa.</p>



<p>KHÁCH giới thiệu:</p>



<p>-Hai con gái của chúng tôi. Hai con khoanh tay mừng tuổi các chú đi.</p>



<p>-Năm mới, con mừng tuổi các chú. Chúc các chú phát tài, sống lâu trăm tuổi.</p>



<p>Thất vọng tràn trề nhưng cũng phải móc hết mớ tiền ít ỏi trong ví lì xì cho hai bé. Sau nầy hỏi ra mới biết KHÁCH chỉ là quản gia.</p>



<p>Đang cụng ly với nhóm Khải, Chân, Đê đến từ Boston, bỗng có cú đập vào vai từ phía sau, tôi giật mình quay lại.</p>



<p>-Nhớ tao không?</p>



<p>-Cấn chứ ai. Chà! có phải nhờ ăn mề hột vịt lộn mà mày còn sống khỏe đến bây giờ?</p>



<p>Một kỷ niệm vui lại hiện về. Hồi đó, cứ mỗi chiều là có một tiểu đội SVSQ với súng ống, nghi lễ chỉnh tề, đi theo nhịp quân hành từ doanh trại đến sân Vũ Đình Trường làm lễ chào cờ. Ông thượng sĩ Kèn lười biếng, không chịu thổi kèn quân hành hết đoạn đường đi mà phải đếm nhịp bằng miệng. Ông Kèn là người mỗi tối thường lén đến doanh trại của SVSQ để bán hột vịt lộn. Vì thế, để dụ dỗ ông chúng tôi phải hứa hẹn sẽ mua hàng của ông. Biết Cấn là người nghiện hột vịt lộn nên hôm nào có Cấn trong đội, tôi không đếm 1,2,3,4 mà đếm 10, hột, vịt, lộn… Thế là ông thượng sĩ hăng hái thổi kèn và tối hôm đó, khoảng chín giờ, ông vào phòng ngủ, nơi chúng tôi đang ngồi học, rao nho nhỏ “Lộn đây, lộn đây”. Đã hứa thì phải mua và mua đúng 10 hột như đã ra dấu buổi chiều.&nbsp; Cấn là người duy nhất trong phòng có tiền trả mà hắn chỉ ăn cái mề, còn phần vịt con, lòng đỏ, muối tiêu, rau răm, bọn tôi chia nhau ăn miễn phí.</p>



<p>Và còn biết bao nhiêu câu chuyện vui buồn của tuổi thanh xuân, thời chinh chiến, tù đày anh em kể hoài không hết.</p>



<p>Hôm sau là ngày đại hội chính thức với sự tham dự đông đảo của các cựu SVSQ và gia đình, đặc biệt là các cháu thế hệ thứ hai. Lồng trong bữa dạ tiệc là một chương trình văn nghệ phong phú với chủ đề “Trôi Theo Vận Nước”, gồm những màn hoạt cảnh diễn tả lại cuộc chiến bảo vệ miền nam tự do và cảnh tù đày mà cha ông của các cháu đã trải qua như một bi hùng ca cảm động đã làm rơi lệ con cháu và khách tham dự.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; ***</p>



<p>Năm mươi năm xưa, những chàng trai trẻ &#8211; giờ mái tóc phủ đầy sương &#8211; đã quỳ xuống Vũ Đình Trường trong tiếng kèn loa dập dồn để nhận trên vai trách nhiệm bảo quốc an dân mà nay phải thổn thức:</p>



<p><em>Ba mươi năm về lại</em></p>



<p><em>Tóc bạc nợ tóc xanh</em></p>



<p><em>Gươm kiếm xưa mài mãi</em></p>



<p><em>Không trả nổi oan khiên…</em></p>



<p><em>Ba mươi năm về lại</em></p>



<p><em>Hát đợi ngày nắng lên</em></p>



<p><em>Tôi về đây tìm lại</em></p>



<p><em>Trái tim VN ơi!(*)</em></p>



<p>Nhưng không phải 30 năm mà đã 50 mươi năm rồi. Anh em quy tụ về đây để gặp gỡ lần nầy như trở về quá khứ.  Một quá khứ có vui, có buồn, có nụ cười và nước mắt của những con người còn mang nặng trái tim Việt Nam để cảm nhận được niềm hạnh phúc. Thứ hạnh phúc nhỏ nhoi của tuổi xế chiều nhưng vẫn còn đủ nồng nàn cho cuộc hành trình còn lại trong ánh sáng le lói cuối đời.</p>



<p><strong>Đặng Hiếu Sinh</strong></p>



<p><em>&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;-</em></p>



<p><em>*”30 năm về lại” thơ N.T. Thanh Bình, nhạc Vĩnh Điện</em></p>



<div class="wp-block-image"><figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/05/H.4.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/05/H.4-768x252.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-61677" width="768" height="253" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/05/H.4-300x99.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/05/H.4-768x252.jpg?strip=all 1024w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/05/H.4-768x252.jpg?strip=all 768w, https://cdn.t-van.net/2023/05/H.4-1536x505.jpg 1536w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/05/H.4.jpg?strip=all 1920w" sizes="(max-width: 768px) 100vw, 768px" /></a><figcaption><em>Truy Điệu Những Bạn Bè đã nằm xuống (Ảnh: Tác Giả)</em></figcaption></figure></div>



<div class="wp-block-image"><figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/05/H.3.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/05/H.3-768x336.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-61678" width="768" height="337" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/05/H.3-300x131.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/05/H.3-768x336.jpg?strip=all 1024w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/05/H.3-768x336.jpg?strip=all 768w, https://cdn.t-van.net/2023/05/H.3-1536x673.jpg 1536w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/05/H.3.jpg?strip=all 1920w" sizes="(max-width: 768px) 100vw, 768px" /></a><figcaption><em>Nhớ lại những ngày tháng gian khổ trong lao tù </em>(<em>Ảnh: Tác Giả)</em></figcaption></figure></div>



<div class="wp-block-image"><figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/05/H.1.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/05/H.1-768x326.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-61679" width="768" height="326" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/05/H.1-300x127.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/05/H.1-768x326.jpg?strip=all 1024w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/05/H.1-768x326.jpg?strip=all 768w, https://cdn.t-van.net/2023/05/H.1-1536x651.jpg 1536w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/05/H.1.jpg?strip=all 1920w" sizes="(max-width: 768px) 100vw, 768px" /></a><figcaption><em>Và những chàng trai trẻ của 50 năm trước (1973-2023) &#8211; </em>(<em>Ảnh: Tác Giả)</em></figcaption></figure></div>



<div style="height:500px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>©T.Vấn 2023</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Đặng Hiếu Sinh: NGƯỜI TÙ BINH THÂN THIẾT</title>
		<link>https://t-van.net/dang-hieu-sinh-nguoi-tu-binh-than-thiet%ef%bf%bc/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Trần Yên Hạ]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 08 Jun 2022 21:29:16 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Ghi Chép]]></category>
		<category><![CDATA[tưởng niệm hoài ziang duy]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=56201</guid>

					<description><![CDATA[Gửi Hoài Ziang Duy và Nguyễn Đức Tân Chiều thứ Sáu, đang ngồi sắp chương trình cho buổi dạ tiệc gây quỹ sắp tới thì nhận được một cuộc gọi từ số lạ. Tôi ngó lơ, vì đầu óc đang lu bu với những hàng tên, con số. Nhưng rồi chợt nghĩ “Biết đâu là [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<div class="wp-block-image"><figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/06/cao-pho.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" width="540" height="828" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/06/cao-pho.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-56217" srcset="https://cdn.t-van.net/2022/06/cao-pho-196x300.jpg 196w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/06/cao-pho.jpg?strip=all 540w" sizes="(max-width: 540px) 100vw, 540px" /></a></figure></div>



<div class="wp-block-image"><figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/06/H.1-HZD-Trung-Doan-15.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/06/H.1-HZD-Trung-Doan-15-753x1024.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-56202" width="291" height="395" srcset="https://cdn.t-van.net/2022/06/H.1-HZD-Trung-Doan-15-221x300.jpg 221w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/06/H.1-HZD-Trung-Doan-15-753x1024.jpg?strip=all 753w, https://cdn.t-van.net/2022/06/H.1-HZD-Trung-Doan-15-768x1044.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2022/06/H.1-HZD-Trung-Doan-15-1130x1536.jpg 1130w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/06/H.1-HZD-Trung-Doan-15.jpg?strip=all 1412w" sizes="(max-width: 291px) 100vw, 291px" /></a><figcaption><em>Nhà văn Hoài Ziang Duy (1972)</em></figcaption></figure></div>



<div style="height:25px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><em>Gửi Hoài Ziang Duy và Nguyễn Đức Tân</em></p>



<p>Chiều thứ Sáu, đang ngồi sắp chương trình cho buổi dạ tiệc gây quỹ sắp tới thì nhận được một cuộc gọi từ số lạ. Tôi ngó lơ, vì đầu óc đang lu bu với những hàng tên, con số. Nhưng rồi chợt nghĩ “Biết đâu là một mạnh thường quân nào có lòng hảo tâm muốn ủng hộ”. Tôi bấm nút và một giọng nói quen quen vang lên:</p>



<p>-Anh Tài ở DC đây. Mới thấy chú nói chuyện trên đài SBTN và có số phone, anh mừng quá nên gọi liền.</p>



<p>&nbsp;Sau vài câu thăm hỏi, anh báo tin người em trai là Hoài Ziang Duy đang bệnh nặng.</p>



<p>-Chú gọi thăm và khuyên nó đừng đi. Bị té hoài mà anh nói không được.</p>



<p>Biết tôi là bạn tù thân thiết của Duy, nên anh Tài nhờ tôi nhắc nhở. Nỗi buồn ập đến trong một thoáng bàng hoàng. Tuổi già lặng lẽ đến, rồi lần lượt sẽ là những cuộc chia ly biền biệt. Tôi thẫn thờ rất lâu trong khoảng không thinh lặng, hồi ức chợt ùa về.</p>



<p>Nhớ thời tuổi trẻ đã xa khuất, mù khơi, Hoài Gziang Duy và tôi bước vào cuộc chiến:</p>



<p><em>Nửa đêm kẻng giục, quân ra trận<br>Kinh động cả lòng đêm tối bưng<br>Nhận lấy ba ngày cơm gạo sấy</em></p>



<p><em>Không buồn chỉ một chút bâng khuâng (*)</em></p>



<p>Tôi gặp Hoài Ziang Duy tại trại tù Vườn Đào. Chúng tôi bị nhốt chung trong đội Ba, là đội dành riêng cho những người lính được xếp vào loại “ác ôn, nguy hiểm”, gồm các sĩ quan ngành chính trị, tình báo và an ninh quân đội. Nhóm tù nầy bị kiểm soát kỹ, không cho ra ngoài lao động vì sợ trốn thoát. Thế là chúng tôi được “Ở Không”. Ở không… để đếm thời gian dài thăm thẳm. Để ngậm ngùi nhớ lại những tháng năm cũ, với giày sô, áo trận, với bạn bè đậm đà tình đồng đội. Để cuồn cuộn trong tâm trí câu hỏi không có lời giải đáp “Cuộc đời mình rồi sẽ ra sao?”. Để nung nấu trong lòng những toan tính vượt trại, để tìm lại sự tự do đã bị tước đoạt một cách tức tưởi.</p>



<p>Thế rồi, tôi trốn thoát khỏi trại Vườn Đào vào đầu năm 1979, trước khi bạn bè còn lại bị chuyển đến trại Xuyên Mộc, trong đó có Hoài Ziang Duy. Sau hai mươi bảy năm mới có duyên gặp lại anh ở DC. Không thể tả hết nỗi vui mừng của hai người bạn cùng mang số phận bất hạnh trong một đoạn đời lao đao theo vận nước tang thương, tưởng không còn cơ hội tương phùng. Qua cuộc trò chuyện, tôi được biết Hoài Ziang Duy vẫn tiếp tục sáng tác và cho ra đời nhiều tác phẩm giá trị như Ông Tướng Sang Sông, Lối Đi Dưới Lá Đời Thà Như Mưa, Bốn Ngàn Năm Chen Lấn v.v… Những tác phẩm gói ghém tâm tư khắc khoải của người chiến sĩ VNCH ngày đêm xông pha trong khói lửa chiến chinh với ý chí kiêu hùng, giờ đây chỉ còn lại những tiếng thở dài chua xót khi nhìn lại quãng đời mình đã đi qua trong niềm cay đắng.</p>



<p>&nbsp;Nhớ lại những ngày anh em nhớn nháo trong trại tù Vườn Đào, tuổi đời chưa đến ba mươi. Tất cả đều có chung một quá khứ để nuối tiếc, bùi ngùi. Có chung một tâm trạng, một nỗi buồn mất nước và cuối cùng là cùng chung một phận số nghiệt ngã, hẩm hiu.</p>



<p>Năm 1977, cơn đại lụt chưa từng có trong lịch sử. Giữa biển nước Đồng Tháp Mười mênh mông,&nbsp;nằm trên bè cỏ cao tận nóc nhà, chúng tôi vẫn sống sót,&nbsp;dù phải ngoi ngóp chống chọi với cái đói khi bị quản trại cắt phần bobo để cứu đói cho dân (thật hay giả chỉ có bọn chúng biết!). Sau khi nước rút, ổn định lại chỗ nằm, chúng tôi biết rằng mạng sống của những người tù như con kiến trong tay đám vệ binh, chỉ cần bóp nhẹ là kết thúc một mạng người như trò chơi, mà chúng lại được tuyên dương như vừa lập được chiến công vĩ đại. Đại tá Nguyễn Đức Xích, Đại úy Quách Dược Thanh, còn nhiều người nữa đã bị giết chết một cách tàn nhẫn và dễ dàng như cái phủi tay.</p>



<p>Lúc ấy, Hoài Ziang Duy, Nguyễn Đức Tân (hiện đang cư ngụ tại Fort Worth, Texas) và tôi đã lén lút làm thơ, phổ nhạc, để trải lòng với những thao thức của người lính trẻ bị ép buộc buông súng trong niềm uất nghẹn, những ưu tư về quê hương, đất nước đang tan tác trong tay giặc, những nỗi nhớ khôn nguôi về người tình yêu dấu, không biết có còn ngày gặp lại. Chúng tôi viết và cất giấu trong kẽ vách lá với mong ước sẽ có cơ hội gửi ra ngoài, để một mai nếu không bao giờ được trở về thì vẫn còn để lại một vài dấu ấn của đời chiến sĩ bị lưu đày.</p>



<p>Mỗi lần nhớ về Hoài Ziang Duy -người bạn tù văn, thi sĩ tài hoa -tôi lại nhớ đến một bài thơ của anh mà tôi yêu thích nhất. Bài thơ đã được Thy Phương (Nguyễn Đức Tân) phổ nhạc. Chúng tôi rủ nhau ra góc vắng để hát và góp ý sửa chữa từng chữ, từng câu cho phù hợp với nốt nhạc mà vẫn chuyên chở được nỗi xót xa, uất hận của những người trai trẻ phải mang thân tù đày bởi vận nước điêu linh.</p>



<div class="wp-block-image"><figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/06/H.3-Ban-nhac-viet-trong-tu-1.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/06/H.3-Ban-nhac-viet-trong-tu-1-768x376.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-56203" width="768" height="376" srcset="https://cdn.t-van.net/2022/06/H.3-Ban-nhac-viet-trong-tu-1-300x147.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2022/06/H.3-Ban-nhac-viet-trong-tu-1-1024x501.jpg 1024w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/06/H.3-Ban-nhac-viet-trong-tu-1-768x376.jpg?strip=all 768w, https://cdn.t-van.net/2022/06/H.3-Ban-nhac-viet-trong-tu-1-1536x752.jpg 1536w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/06/H.3-Ban-nhac-viet-trong-tu-1.jpg?strip=all 1920w" sizes="(max-width: 768px) 100vw, 768px" /></a></figure></div>



<p><strong>&nbsp;Ngồi lại gần nhau&nbsp;</strong>(**)</p>



<p><em>Tôi là người tù binh trẻ tuổi<br>Của cuộc tình nội chiến mấy mươi năm<br>Hai mươi năm ru tình khúc da vàng<br>Tôi có gì đâu ngoài một đời lính thú</em></p>



<p><em>Buổi nay đây sau chiến trường yên ngủ<br>Ngựa đã buồn, tiếng hí dội không xa<br>Ủ trong một trận mưa già<br>Trăng hoa thế sự rồi xa muộn màng<br>Thôi nay xong phận lỡ làng<br>Giấc chiêm bao cũng ngỡ ngàng ngây ngô<br>Tráng sĩ hề! đã buông gươm xếp giáp<br>Núi rừng ơi! nghe run gió mưa buồn<br>Ngẩng lên trời một đời kiếp cô đơn<br>Cười với ta một giòng lệ nóng<br><br>Tôi có người yêu bé bỏng<br>Mối duyên đầu dan díu chuyện yêu đương<br>Buổi đi tóc quyện tình trường<br>Tình chàng ý thiếp còn vương bên lòng<br>Nay đã hết một đời cơn gió lộng<br>Giã từ thôi vũ khí ngủ bên đường<br>Ngày trở về chắc lạnh áo hơi sương<br>Nghe xa lạ một đời ta đã mỏi</em></p>



<p><em>Nầy người bạn tôi ơi<br>Tôi với anh cùng chung dòng nước lũ<br>Đôi mắt buồn sao gợi nhớ xa xăm<br>Nhớ lắm không mời anh hút ấm lòng<br>Trông khói thuốc lãng quên đời còn lại<br>Nầy anh nhé! tưởng như tình khờ dại<br>Ôi tháng ngày hiu hắt buổi qua đi<br>Nói chi thôi những sâu kín đôi lời<br>Cùng hơi thở<br>Người tù binh thân thiết.</em></p>



<p>Trong tập truyện “<em>Còn Không Lối Quay Về</em>” xuất bản năm 2017, Hoài Ziang Duy đã viết những dòng đầy cảm xúc khi nhớ đến Tân, người bạn đã trốn thoát khỏi trại tù Xuyên Mộc&nbsp;<em>“Đêm nay, tôi có niềm vui thức dậy. Không ai nghĩ người bạn tưởng đã mất đi ở một chốn rừng sâu vượt trại. Bây giờ mới có tin. Là thật, là còn sống….Thời gian và không gian ngày cũ, những ngày lén lút làm những bài thơ, bài nhạc, và hát trong sinh hoạt trại tù. Tôi đã mang theo tập nhạc phổ thơ ở chuyến đi đầu tiên qua cửa xét hỏi. Tôi trân quý những dòng tâm huyết của người không còn trên cõi đời nầy, như tôi thường nói với bạn hữu. Vậy mà bây giờ, sau hai mươi lăm năm, chúng tôi mới có tin nhau.”</em></p>



<p>Chúng tôi, sau cuộc đổi đời oan nghiệt đã phải nuốt uất hận vào lòng để cố gắng vượt qua biết bao gian truân, tủi nhục. Và giờ đây, khi cuộc sống tạm ổn định trên&nbsp;quê hương thứ hai, rồi sẽ phải chuẩn bị cho một chuyến đi khác cũng đầy khắc khoải:</p>



<p><em>Thì đi, lầm lũi đi vô định<br>Ở cuối trời kia, vẫn cuộc chơi (*)</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; *****</p>



<p><em>Hoài Ziang Duy thân mến,</em></p>



<p><em>Tôi tin rằng khi đọc được những dòng chữ nầy anh sẽ vui, vì biết rằng quanh anh vẫn còn nhiều bạn hữu. Bạn chinh chiến Trung đoàn 15, Sư đoàn 9. Bạn tù đày chia nhau từng hơi thuốc. Bạn văn chương vẫn còn đâu đó với những dòng văn, ý thơ trang trải nỗi lòng trên các văn đàn. Với sự kiên cường của một chiến binh ngoài trận địa, với khí phách của người tù binh trẻ tuổi, cùng bè bạn lặng câm ôm mộng lớn, với nghĩa khí của người cầm bút đã sống tử tế với cái nghiệp của mình. Như anh đã viết: “</em>Tôi đã sống trọn vẹn với vai trò cầm bút chính mình. Nó là sự đeo đẳng mà mấy chục năm qua, từ thuở ấu thời cho đến bây giờ vẫn không ngừng nghỉ. Tôi không nghĩ là nỗi đam mê, bởi đam mê chỉ có giai đoạn thời khắc qua tuổi tác thời gian. Còn ở đây, nó đi liền với đời sống, ăn ngủ, cùng chung một nhịp đập ở sự sống con người… Có điều an ủi là bạn bè trong giới văn nghệ, không gặp vẫn thấy vui, vẫn thấy một tình thân thiết tìm nhau. Nó không có biên giới đất đai lãnh thổ, tuổi tác.”</p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tôi tin rằng với ý chí mạnh mẽ đã được hun đúc trong anh từ bao thăng trầm dâu bể, anh sẽ không bỏ cuộc chơi nầy. Và còn một điều quan trọng nhất trong cuộc đời, đó là cô giáo</em>&nbsp;<em>dịu hiền bên anh từ thời áo trận, mà ý tình đã được anh gửi gấm qua những lời thơ buồn thê thiết</em></p>



<p>Năm xưa anh cầm lấy tay em<br>Năm ngón tay nồng nàn nỗi nhớ<br>Tình yêu trong chiến cuộc trao nhau<br>Khác gì thân gác trọ<br>Ở một thuở vào nơi gió cát&nbsp;<br>Có giữ được bao lâu&nbsp;<br>….</p>



<p>Năm nầy anh cầm lấy tay em<br>Năm ngón tay đau khi tiết trời trở lạnh<br>Bàn tay xưa một thời chở che<br>Đã già theo&nbsp;<br>Nhọc nhằn tủi nhục (***)</p>



<p><em>…<br>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Những dòng tâm sự của anh như lời tạ tình chân thật nhất mà tôi tin rằng người vợ nào cũng sẽ mỉm cười trong dòng lệ chứa chan niềm hạnh phúc &nbsp;</em>“Tuổi học trò, em chưa biết đắn đo chọn lựa. Khi lấy nhau, em chưa biết sợ làm góa phụ ngây thơ… Nếu ở thời chiến, tôi không có thời gian gần gũi trong tình nghĩa vợ chồng. Lúc mất hết, mất luôn cả danh vọng, sự nghiệp. Và mất luôn cả miền Nam. Thì giờ đây, bên em là tôi. Tôi bên em. Em giữ gìn như gìn giữ một tình yêu chung thủy ban đầu”.</p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Hoài Ziang Duy ơi, anh không mất gì hết. Vẫn còn đó người tình muôn thuở &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;đang cận kề bên anh. Hãy nắm tay, dìu nhau đi hết đoạn đường đời không còn dài lắm ở phía trước.</em></p>



<p>Yêu đã bao chiều vẫn thấy yêu</p>



<p>Ngàn năm mưa vẫn nói trăm điều</p>



<p>Bâng khuâng nghe chút tình chăn chiếu</p>



<p>Ai lấp ban đầu nỗi tịch liêu”. (****)</p>



<p><strong>Đặng Hiếu Sinh</strong></p>



<p>Ngày &nbsp;29 tháng 5 năm 2022</p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; &#8212;&#8212;&#8212;</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;(*) Trích “Trước Giờ Tiếp Viện” thơ Trần Hoài Thư</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; &nbsp;(**) “Ngồi Lại Gần Nhau” thơ của HZDuy, khi phổ nhạc đổi tựa thành “Tình Yên Ngủ”</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; (***) Trích “Bàn Tay Có Điều Chưa Nói Hết” thơ HZD</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; (****) Trích “Mưa Bay Trong Đời” thơ Hoài Ziang Duy</em></p>



<p><strong>Chú Thích</strong>: Nhà văn Hoài Ziang Duy đã qua đời ngày 1 tháng 6 năm 2022 ở Hoa Thịnh Đốn, Hoa Kỳ sau một thời gian lâm bạo bệnh.</p>



<div class="wp-block-image"><figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/06/H.2-HZD-va-Vo-nam-1972-4.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/06/H.2-HZD-va-Vo-nam-1972-4-768x1024.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-56204" width="384" height="512" srcset="https://cdn.t-van.net/2022/06/H.2-HZD-va-Vo-nam-1972-4-225x300.jpg 225w, https://cdn.t-van.net/2022/06/niR4368Z-H.2-HZD-va-Vo-nam-1972-4-768x1024.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2022/06/H.2-HZD-va-Vo-nam-1972-4-1152x1536.jpg 1152w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/06/H.2-HZD-va-Vo-nam-1972-4.jpg?strip=all 1440w" sizes="(max-width: 384px) 100vw, 384px" /></a><figcaption>Vợ chồng Hoài Ziang Duy (1972)</figcaption></figure></div>



<div class="wp-block-image"><figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/06/H.4-HZD-Vo-DHS-Ngan-Binh-1.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/06/H.4-HZD-Vo-DHS-Ngan-Binh-1-1024x605.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-56205" width="512" height="303" srcset="https://cdn.t-van.net/2022/06/H.4-HZD-Vo-DHS-Ngan-Binh-1-300x177.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/06/H.4-HZD-Vo-DHS-Ngan-Binh-1-1024x605.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2022/06/H.4-HZD-Vo-DHS-Ngan-Binh-1-768x454.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2022/06/H.4-HZD-Vo-DHS-Ngan-Binh-1-1536x907.jpg 1536w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/06/H.4-HZD-Vo-DHS-Ngan-Binh-1.jpg?strip=all 1920w" sizes="(max-width: 512px) 100vw, 512px" /></a><figcaption><em>Vợ chồng Hoài Ziang Duy (bên trái) và <br>vợ chồng Đặng Hiếu Sinh &#8211; Ngân Bình (2015)</em></figcaption></figure></div>



<p>©T.Vấn 2022</p>



<p></p>



<p><strong>PHƯƠNG THẢO HUYỀN: HOÀI ZIANG DUY, NGƯỜI TÌNH THƠ VĂN</strong></p>



<p>(<strong>Nguồn: http://www.phamcaohoang.com)</strong></p>



<p>Tôi biết Anh từ lâu lắm. Ở cái thuở còn bé, chưa biết mộng mơ, chưa biết văn chương nghệ thuật là gì. Chỉ biết có sách, có chữ là đọc, là xem. Cho qua thời gian trong lúc trông coi cửa tiệm. Tôi đọc ngấu nghiến những chuyện Tàu, từ Tam Quốc Chí đến Chung Vô Diệm… Tôi xem sách hình Tàu một cách thông thạo… Rồi quay sang các tờ nhật báo, tuần báo… Đọc không sót chữ nào, từ trang tin tức bên ngoài, tới tin rao vặt cũng không chừa… Tôi dần đi vào thế giới văn thơ.</p>



<p>Tôi đọc bài văn, tôi thưởng thức bài thơ bằng thái độ an nhiên, không rộn ràng như khi vừa giải xong một bài toán khó, hoặc cố tìm hay nghiên cứu một cách giải ngắn gọn hơn, khoa học hơn. Vậy mà, thơ Anh, chuyện Anh đã làm tôi bồi hồi. Lúc đó tôi không sao giải thích được. Chỉ biết ở đấy có một tâm tình đồng cảm, một chất sống ray rứt, một nội tâm phong phú, đang muốn bứt xé, tuôn tràn…Tôi biết Hoài Ziang Duy dù chưa một lần biết mặt Anh.</p>



<p>Tôi đã gặp Anh, trong buổi tiệc văn nghệ, báo chí của trường. Tôi có chút không vui. Hoài Ziang Duy trong tôi không là Anh, người con trai trước mặt. Khuôn mặt thật sáng với nụ cười tự tin, trang phục tươm tất, chiếc đồng tiền trên má tạo nét trẻ thơ, mà tôi không thấy trong văn thơ Anh. Ở đó có trái tim uất nghẹn sao? Ở đó có sự cô đơn, cần người chia sẻ sao? Tôi thật sự không cảm nhận được những điều ấy trên nhân dáng Anh lúc bấy giờ.</p>



<p>Và rồi chúng tôi quen nhau qua những cánh thư văn nghệ. Bàn chuyện văn chương, trao đổi sách báo mới xuất bản, tôi tập tành làm thơ tình dưới sự khuyến khích của Anh. Tình cảm thật trong sáng giữa chúng tôi. Sau đó, tôi biết về Anh nhiều hơn, hoàn cảnh gia đình và cuộc sống hiện tại, đã kéo chúng tôi lại gần nhau.</p>



<div class="wp-block-image"><figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/06/hzd-pch.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" width="512" height="281" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/06/hzd-pch.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-56206" srcset="https://cdn.t-van.net/2022/06/hzd-pch-300x165.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/06/hzd-pch.jpg?strip=all 512w" sizes="(max-width: 512px) 100vw, 512px" /></a></figure></div>



<p class="has-text-align-center"><em>Hoài Ziang Duy &#8211; Phương Thảo Huyền (Đỗ Bình)</em></p>



<p class="has-text-align-center"><em>thời mới yêu nhau (1968)</em></p>



<p>Mẹ mất khi Anh vừa lên sáu. Ba đi dạy, ở vậy với đàn con. Người chị duy nhất theo nghiệp cha và nuôi lớn hai đứa em nhỏ, chưa nghĩ đến phận mình. Mấy anh trai lần lượt vào đời với cuộc sống riêng. Anh lớn lên trong sự bảo bọc của ba, của chị mình. Anh trưởng thành, cũng là lúc người chị vu quy, mức lương hưu của ba không thể nuôi Anh vào đại học. Anh đã dùng tiền nhuận bút, để tự sắm cho mình bộ đồng phục đi học (chỉ có một bộ, nên phải giặt ủi kịp thời, để không bị phạt) Anh luôn trang bị cho mình một phong thái đủ đầy, từ tinh thần đến vật chất, để lấp đầy tự ái cá nhân, để ba không buồn, để chị được vui. Nhưng bên trong Anh, là nỗi khát khao có được sự bình yên, vượt thoát cõi tối tăm, cô đơn buồn nản. Và Anh đã đưa hết vào văn thơ.</p>



<p>Trong tâm thức Anh, ba là người cha tuyệt vời. Hình ảnh người cha bàng bạc trong chuyện. Từ “Bên Trường Giác Đấu” với cảnh người cha đi nuôi con bị thương mất cả hai chân:”Con hãy sống cùng ba. Đời ba bây giờ chỉ có mình con, ba sẽ đẩy con đi chơi. Buổi chiều, buổi sáng con vẫn thấy mặt trời, vẫn thấy cuộc đời mà…” Đến “Ông Tướng Sang Sông” với việc bốc mộ cho cha (trang 74-76) Hoặc trong “Đâu Cõi Đi Về” Hay qua “Đám Tang Chữ Nghĩa”</p>



<p>Hình ảnh người đàn bà trong văn thơ Anh thật nhiều. Đậm nét nhất là sự dịu hiền của người Mẹ. Anh mất Mẹ khi còn rất nhỏ, nhưng Anh vẫn nhớ hoài sự yêu thương của Mẹ dành cho mình. Anh không nhớ mặt Mẹ từng đường nét, nhưng bút mực Anh đã vẽ lên từng khuôn mặt Mẹ dịu dàng. Qua hầu hết những chuyện Anh đều có Mẹ, có Dì, có Chị. Như trong Cánh Lá Ưu phiền, Chị, Nghe Những Tự Tình…</p>



<p>Lời thơ Anh mượt mà, câu văn Anh trau chuốt. Anh dùng chữ rất bén và ý nghĩa.</p>



<p>Anh làm ai kia thao thức bởi:</p>



<p><em>Buổi nay em không đến làm anh cô đơn</em></p>



<p><em>Mây bay đi có những lúc buồn</em></p>



<p><em>Nói khẽ, bây giờ nhớ bé quá</em></p>



<p><em>Phải làm sao cho con mắt nhẹ cười…</em></p>



<p>(Chuyện kể &#8211; Lá tình thư)</p>



<p>Anh cũng đã làm rơi bao nhiêu nước mắt của nhiều người, khi nghe con trẻ đọc bài:</p>



<p><em>Buồn trông con nhện giăng tơ</em></p>



<p><em>Mà thương người cũ đợi chờ bao năm</em></p>



<p><em>Là sâu kín nỗi âm thầm</em></p>



<p><em>Bước hành lang gõ giọng trầm chân khua…</em></p>



<p>(Ca Dao)</p>



<p>Và cũng khúc khích cười vì Anh:</p>



<p><em>Cười em, em như thỏ</em></p>



<p><em>Dũi trốn nhìn bóng nhau</em></p>



<p><em>Chờ trăng tình mới tỏ</em></p>



<p><em>Cũng xế lòng anh đau…</em></p>



<p>(Chào em con chim nhỏ)</p>



<p>Hay ganh tỵ với “Tình nhân xưa”</p>



<p><em>Ta sống xứ người câu thăm hỏi</em></p>



<p><em>Châu Đốc có còn thơ ấu xưa</em></p>



<p><em>Có đem theo gió Cầu Quan gọi</em></p>



<p><em>Tĩnh lặng Bồ Đề cội giấc trưa</em></p>



<p>(Bài Tình Nhân Xưa)</p>



<p><em>Để rồi vẫn là nỗi nhớ:</em></p>



<p><em>Sáng thức dậy</em></p>



<p><em>Đứng lên từ quá khứ</em></p>



<p><em>Chỗ em nằm là chỗ trống đời ta</em></p>



<p><em>Chiều hôm qua nắng tìm chim bỏ xứ</em></p>



<p><em>Trong mắt em</em></p>



<p><em>Giọt nước đọng bên nhà</em></p>



<p>(Thương Lấy Đời Nhau)</p>



<p>Anh khó tánh và nguyên tắc, nhất là trong văn chương chữ nghĩa. Anh không thích câu “viết chơi” &#8220;làm chơi” mà Anh luôn khẳng định việc mình làm, mình viết là “thiệt” là đúng. Nếu không biết nhiều, người ta sẽ cho Anh là tự cao, tự phụ, nhưng nếu biết đoạn đường làm việc của Anh, từng bài thơ, từng đoản văn Anh dệt thành, thì cảm giác trên không còn nữa.</p>



<p>Anh yêu việc viết lách hơn mọi thứ trên đời. Ngày còn đi học, Anh có khiếu về Y Dược, chỉ cần nhìn qua viên thuốc, đọc các dược liệu… là Anh nhớ mãi. Nhưng Anh biết hoàn cảnh gia đình, nên chỉ ghi danh học Luật. Rồi tổng động viên. Khi ra trường Thủ Đức, vào chiến trường hiểm nguy, Anh vẫn viết. Khi đi tù cải tạo, Anh vẫn làm những bài thơ, tâm hồn Anh vẫn hoài rung động trước mọi thứ, kể cả khi thân xác đã hao mòn. Anh đã sử dụng châm cứu trong ngục tù, để cứu giúp bạn bè chung cùng cảnh ngộ. Khi về, Anh tiếp tục…Cứ ngỡ Anh sẽ quên đi việc viết lách, nào ngờ khi sang được Mỹ, Bob Johnson (người được Anh châm cứu trị hết bệnh tuyến tiền liệt) đã tìm cách bảo trợ Anh đi học lại, nhưng Anh từ chối. Và trở lại làm nghề mình yêu thích: Viết văn, làm thơ.</p>



<p>Viết Văn, đối với Anh không khó, bởi trong môi trường sống, Anh luôn tích tụ trong đầu, những hình ảnh đặc trưng để làm tư liệu khi cần. Anh có thói quen đặt tựa bài trước (tựa bài Anh luôn là niềm hãnh diện trong tôi, vì lạ và rất hay) Anh ngồi trước máy, gõ nhẹ, xuyên suốt, thời gian không kịp trôi theo từng con chữ, không gian như ngưng đọng theo Anh…Anh ít nói, ít bạn bè, nên mọi thứ Anh dành hết cho các nhân vật của mình. Anh vào vai chính, thủ luôn vai phụ. Lời nói, biểu cảm khi dịu dàng lúc cộc lốc, có cả câu chửi thề, nói tục. Anh phân hoá từng vai một, rất xuất thần, cho mỗi vai một nhiệm vụ để cưu mang, bộc bạch những gì Anh mong ước. Viết xong, in ra và đọc lại. Bôi đi xoá lại cho hoàn chỉnh theo ý mình. Và tôi vẫn là người xem đầu tiên. Anh lắng nghe lời tôi góp ý, ban đầu còn nhân nhượng, càng về sau càng quyết liệt, bảo vệ ý mình và cuối cùng vui vẻ với nhau bên đứa con tinh thần mới.</p>



<p>Ngược lại, khi làm thơ Anh rất thoải mái, chỉ thoáng chút là xong. Ở thơ, Anh không cần sống cho ai, cho lý tưởng gì. Chỉ cho Anh, một mình Anh thôi. Trong Anh, thơ nhạc vốn là một, thơ tuôn ra với âm sắc lên xuống tự nhiên, hoà quyện cùng nhau, một cách thuần thục. Nhưng chưa đủ, thời gian kế mới là đáng nể, Anh trau chuốt lại từng ngôn từ, so sánh lại từng giai điệu…Nên thơ Anh rất đặc biệt, trong thanh có sắc, trong buồn có chút hy vọng.</p>



<p>Với tôi, cả thơ lẫn văn Hoài Ziang Duy đã chinh phục trái tim nầy. Anh đã đặt vào đó tất cả tâm huyết mình, những suy tư, những dằn vặt không mở nổi. Để rồi, người đọc tự tìm một câu trả lời cho riêng mình, không ai giống ai.</p>



<p>Riêng tôi, cho đến bây giờ vẫn còn câu thắc mắc: Không biết có phải mối tình đầu quá êm đẹp, một hạnh phúc đến thật gọn nhẹ, không cần phải tranh đấu, đã làm Anh thật yên bình, không cần nghĩ suy nữa. Và tôi đã không tìm thấy mình trong những tác phẩm của Anh ???</p>



<p><strong>Phương Thảo Huyền</strong></p>



<p>Virginia, tháng 5/2022</p>



<p></p>



<p><strong>Giới thiệu &#8220;Còn Không Chốn Quay Về&#8221; của Hoài Ziang Duy</strong></p>



<p><em>Bài BÍCH NGA</em></p>



<div class="wp-block-image"><figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/06/con-khong.jpg?strip=all&fit=300%2C475"><img loading="lazy" decoding="async" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/06/con-khong.jpg?strip=all&fit=300%2C475" alt="" class="wp-image-56209" width="300" height="475"/></a></figure></div>



<p>Hoài Ziang Duy là một cây bút quen thuộc trong giới văn học, từng là người lính trận Sư đoàn 9 Bộ Binh.<br>Ông viết văn, làm thơ rất sớm. Thời trung học, ông bắt đầu viết truyện để kiếm tiền trang trải cuộc sống cho bản thân. Cứ mỗi ngày, mở tờ báo ra coi là thấy bài của ông. Hồi đó, mỗi lần có truyện ngắn đăng báo, ông được trả nhuận bút 300 đồng. Ông thường gởi bài cho các báo Tia Sáng, Ngày Mới, Dân Ta, Dân Tiến, Tiểu Thuyết Thứ Năm, Sống, Sóng Thần, Đời, và các tạp chí văn học… Sau khi đi lính, ông chỉ còn thời gian viết cho các tạp chí, đều đặn nhất là tạp chí Trình Bày của Thế Nguyên.&nbsp;</p>



<p>Sang Mỹ năm 1991, vài năm sau, ông gởi bài cho Nguyễn Mộng Giác (báo Văn Học) và Khánh Trường (Hợp Lưu). Nguyễn Mộng Giác liên tục giới thiệu truyện và thơ của ông. Vì nghĩa tình đó, ông độc quyền gởi bài mới cho Văn Học ròng rã suốt 15 năm cho đến ngày báo đóng cửa. (Trích Lương Thư Trung, Da Màu)<br>&#8220;Còn Không Chốn Quay Về&#8221; là cuốn sách kể về thân phận người lính, trước, sau, và những hệ lụy cuộc đời từ ngày đâu mất nước, cho đến thời gian sống trên xứ người. &#8220;Còn Không Chốn Quay Về&#8221; viết về một thời quá khứ, về thân phận những người trong cuộc.<br>Theo tác giả, tập sách này có thể giúp cho những người tuổi trẻ hôm nay cảm thông hơn về một thế hệ cùng tuổi trước đây ở miền Nam Việt Nam, vai trò những người mặc áo lính. Hầu hết những bài viết đều là những câu chuyện thực, về cuộc sống hành quân, buồn vui đồng đội trong chiến tranh, và những xót xa thực tế ở những tháng năm còn lại.<br>Sách dày 308 trang, gồm 20 truyện ngắn và tự truyện. Qua tập sách này, tác giả Hoài Ziang Duy muốn gởi tới độc giả chút kỷ niệm về một thời chiến trận, tâm tình của người viết ở tuổi xế chiều. Tất cả chỉ giản dị và bình thường như trong cuộc sống đời thường.<br>Tác phẩm của Hoài Ziang Duy được xuất bản:<br>A. Tác phẩm ở hải ngoại:<br>Ông Tướng Sang Sông (Alpha 1999)<br>Lối Đi Dưới Lá Đời Thà Như Mưa (Thân Hữu 2007)<br>Bốn Ngàn Năm Chen Lấn (Thư Ấn Quán 2010)<br>Những Bài Thơ Tháng Tư (CD Thân Hữu 2014)<br>Còn Không Chốn Quay Về (Thân Hữu 2017)<br>B. Góp mặt trong:<br>Tuyển Tập 14 Tác Giả (Văn Tuyển 2000)<br>Thơ Miền Nam Trong Thời Chiến (Thư Ấn Quán 2007)<br>Văn Miền Nam Trong Thời Chiến (Thư Ấn Quán 2009)<br>14 Tác Giả, Mỗi Người Một Vẻ (Sách Phỏng Vấn Trẻ 2012)<br>Bình Long Anh Dũng, Nhận Diện Anh Hùng (DVD Dân Sinh Media 2012)<br>Người Đồng Hành Quanh Tôi (Tủ Sách Tác Giả, Tác Phẩm, 2013)<br>ARVN Soldiers Poetry &amp; Song Ngữ Anh Việt (Tiếng Quê Hương 2016)</p>



<p><strong>Còn Không Chốn Quay Về (trích đoạn):</strong></p>



<p><em>Giờ nầy Khánh Ly hát bản Ru Ta Ngậm Ngùi. Cô đứng hát trên sân cỏ quán Văn, khán giả ngồi dưới. Còn tôi đang ngồi trước màn hình nhỏ. Thời gian, không gian Sài Gòn ngày trước.</em><br><em>Trong đêm, tôi thấy lòng bâng khuâng, khi những hình ảnh năm xưa tạo cảm giác bồi hồi. Ba-mươi bảy năm qua, một thoáng nào đó, nó ru ta ngậm ngùi với những mất mát qua đi, đi qua đời nhau trong chiến tranh, đi trên nỗi buồn một thời ấu thơ vội vàng đánh mất.</em><br><em>Như đêm này tôi chợt hỏi. Còn không chốn quay về?</em><br><em>Về đâu? Về đâu?</em><br><em>Cái âm thanh rớt vào khoảng không nghe xa lạ.</em><br><em>Không gian xưa không còn nữa. Không là chốn hẹn hò.</em><br><em>Tôi muốn sống bằng tâm tình ngày cũ. Có được đâu khi mà không còn ai chung cùng một đời sống, không còn ai chia sẻ chốn này. Quê nhà đã xa, dù lòng chưa lạ. Tôi đâu muốn đi về một thời chiến tranh, ở đó cầm bút, cầm súng vào thân chung cùng mặt trận.</em><br><em>Tôi đang sống trên đất nước tự do, có người Mỹ, người bạn đồng minh, những người trước đây cùng tham chiến ở Việt Nam. Bản thân họ vẫn có niềm tự hào vì lý tưởng tự do cùng chúng tôi chung vai chiến đấu, cho dù giới truyền thông trước đây tiếp tay thành phần phản chiến bóp méo sự thật, bôi lọ hào khí chiến đấu của quân lực miền Nam, khiến con dân người Mỹ dự phần không nhận được sự ủng hộ, đồng tình ở chiến tranh Việt Nam. Tôi vẫn không tin, bởi trước mắt tôi những người Mỹ, những người bạn quốc gia đồng minh khác. Họ vẫn vui vẻ nói về sự có mặt của mình ở chiến trường năm xưa.</em><br><em>[&#8230;]</em><br><em>Có phải buồn không, cái giá phải trả ở cuộc chiến đất nước mình? Mấy mươi năm sau, những bí mật an ninh quốc phòng có thời hạn đã được giải mã, để thấy quân đội miền Nam bị bỏ rơi như thế nào. Sau cùng là một lời xin lỗi. Miền Nam đã thua tại mặt trận chính trị Hoa Thịnh Đốn. Do chính họ, chính giới người Mỹ. Sự thế đã rồi.</em><br><em>Cũng bằng thực tế hôm nay. Bắc Việt Nam với niềm tự hào chiến thắng, thắng Mỹ, chiếm miền Nam. Nay lại đưa thành phần của hải lực không quân, chuyên viên, công an các ngành đến đất nước Hoa Kỳ cho người Mỹ thua cuộc huấn luyện. Sự đời lắm éo le, như bàn tay với hai mặt trên dưới, cho chúng ta nhìn thấy. Còn về phía thắng cuộc, có cần suy gẫm lại không để thiệt phân chuyện ai thắng ai?</em><br><em>[&#8230;]</em><br><em>Mấy mươi năm qua chiến tranh đã lụn tàn theo thời gian, lòng người xa xứ cũng nguôi ngoa, do phải đương đầu với cuộc sống trước mặt. Thời gian và tuổi về chiều là lúc chúng ta nhìn lại. Bây giờ, bên gia đình, bạn hữu có những điều thường tình để nói, dù nhỏ nhặt, nhưng lại là điều cần thiết trong cuộc sống còn.</em><br><em>Thế hệ chúng ta với ba phần tư cuộc đời là sống cho quá khứ. Một phần tư còn lại chia hai, một phần sống cho tương lai, một nửa là đợi chờ trong thực tại. Nói vậy để thấy khi bất chợt với tần số cùng nhịp đập. Nghe lại bài hát cũ, ở cùng tâm trạng, khua dậy nỗi niềm tưởng chừng đã yên, để rồi sống theo cái tám mươi phần trăm thường tình của một con người như mọi người.</em><br><em>Còn không chốn quay về?</em><br><em>Về đâu, về đâu?</em><br><em>Về nơi chốn bước chân ra đi, về với quê hương ngậm ngùi? Đâu có ai đi hết, biết hết mọi miền đất nước dân tộc mình. Đi qua trong thời chiến chinh bom lửa, chết chóc. Đi qua một thời tuổi trẻ. Điểm son không phải là nụ hồng, vết son môi. Điểm son là những chấm tọa độ trên phóng đồ nối liền kéo dài. Đi không biết ngày mai, không biết điểm dừng lại ở cuộc chiến. Bây giờ đã đi quá xa, quá đà. Đi như thể một đi không trở lại, thì câu hỏi về đâu cho ngày sau vẫn là điều phân vân, không thành câu trả lời dứt khoát trước cảnh đời nầy.</em><br><em>Từ những ngày đầu tiên đến xứ người, coi như lần nữa phải làm lại. Khác chăng một chặng đường đời đã đổi, đã đi qua những tủi nhục đau thương trong chốn lao tù. Khác chăng bây giờ, một thân xác không còn trẻ như ngày nào, và một tâm tình bi thương ai oán. Khi ngày đó tương lai tuột dốc xuống tận cùng hố thẳm, khi tình đời đối diện với thiện ác, bạn thù. Trong cơ cực chịu đựng với hoàn cảnh trái ngang, con người cũng hiện thực với khí tiết, ươn hèn.</em><br><em>[&#8230;]</em><br><em>Tôi đã viết, nói nhiều điều lan man. Có phải tôi đang nói với chính mình, những bế tắc, vòng lẩn quẩn không thoát được ở đời sống bủa vây. Xã hội nầy, thế giới nầy có những điều khó hiểu hơn sự gỉản dị đơn thuần đang sống. Bốn câu thơ tôi viết trước đây. Khi nói ra nhận mình người nước Việt. Chỗ trú chân vẫn lạc địa chỉ buồn. Cảm ơn đời chỗ dung thân lớn. Nhưng nhỏ nhoi tội lấy cội nguồn.</em><br><em>Chia sẻ với tôi điều nầy, như một tâm tình cảm thông.</em></p>



<p><strong>(Nguồn: http://www.viendongdaily.com)</strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Trần Yên Hạ: Hạnh Phúc Trong Tay (Những câu chuyện từ đời sống)</title>
		<link>https://t-van.net/tran-yen-ha-hanh-phuc-trong-tay-nhung-cau-chuyen-tu-doi-song/</link>
					<comments>https://t-van.net/tran-yen-ha-hanh-phuc-trong-tay-nhung-cau-chuyen-tu-doi-song/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Trần Yên Hạ]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 15 Nov 2019 06:06:11 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Tủ Sách T.Vấn & Bạn Hữu]]></category>
		<category><![CDATA[trần yên hạ]]></category>
		<category><![CDATA[tủ sách tv&bh]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=41211</guid>

					<description><![CDATA[Xin Bấm Vào Đây Để Mở Hoặc Tải Về Máy Trần Yên Hạ: Hạnh Phúc Trong Tay (Những câu chuyện từ đời sống) Giới Thiệu: TỰA Trần Yên Hạ viết không nhiều. Đơn giản vì chàng không phải là nhà văn, nhà thơ, dù đã từng là chủ nhiệm tạp chí Ca Dao hơn 10 [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong>Xin Bấm Vào Đây Để Mở Hoặc Tải Về Máy</strong></p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://cdn.t-van.net/2023/06/Hanh-Phuc-Trong-Tay-final-bia.pdf"><strong>Trần Yên Hạ: Hạnh Phúc Trong Tay </strong></a></p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://cdn.t-van.net/2023/06/Hanh-Phuc-Trong-Tay-final-bia.pdf"><strong>(Những câu chuyện từ đời sống)</strong></a></p>
<p style="text-align: center;">
<p style="text-align: center;"><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/11/Hanh-Phuc-Trong-Tay-final-bia.pdf" target="_blank" rel="noopener"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-41214" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/11/bia-truoc-Hanh-Phuc-trong-tay-194x300.jpg?strip=all" alt="" width="194" height="300" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/11/bia-truoc-Hanh-Phuc-trong-tay-194x300.jpg?strip=all 194w, https://cdn.t-van.net/2019/11/bia-truoc-Hanh-Phuc-trong-tay-768x1187.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/11/bia-truoc-Hanh-Phuc-trong-tay.jpg?strip=all 1242w" sizes="(max-width: 194px) 100vw, 194px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/11/Hanh-Phuc-Trong-Tay-final-bia.pdf" target="_blank" rel="noopener"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-41213" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/11/bia-sau-HPTT-194x300.jpg?strip=all" alt="" width="194" height="300" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/11/bia-sau-HPTT-194x300.jpg?strip=all 194w, https://cdn.t-van.net/2019/11/bia-sau-HPTT-768x1187.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/11/bia-sau-HPTT.jpg?strip=all 1242w" sizes="(max-width: 194px) 100vw, 194px" /></a></p>
<p><strong>Giới Thiệu:</strong></p>
<p style="text-align: center;"><strong>TỰA</strong></p>
<p><strong>T</strong>rần Yên Hạ viết không nhiều. Đơn giản vì chàng không phải là nhà văn, nhà thơ, dù đã từng là chủ nhiệm tạp chí Ca Dao hơn 10 năm trời ở khu vực Dallas – FtWorth, dù đã từng lăn lộn với những người viết văn, làm thơ ở khắp nơi, dù đã, đang và sẽ (cho đến ngày nhắm mắt) chia chung một mái nhà với nhà văn nữ Ngân Bình. Người thích đọc (sách, báo), kể cả nhiều người viết (văn, thơ, truyện) biết đến nhà văn Ngân Bình (lẽ dĩ nhiên rồi). Những nhà họat động xã hội, giới sinh họat văn hóa, sinh họat cộng đồng ở vùng Dallas – Fort Worth) hẳn nhiều người quen thuộc – thậm chí rất quen thuộc &#8211; với cái tên Đặng Hiếu Sinh &#8211; ông chồng nhà văn Ngân Bình -, nhưng ít ai biết chàng ta cũng chính là Trần Yên Hạ, tác giả lọat bài viết về gia đình, bài phóng sự cộng đồng v…v.</p>
<p>Gia tài chữ nghĩa của Trần Yên Hạ (Đặng Hiếu Sinh, “ông Ngân Bình”) cũng khá  bộn bề nhưng ở đây tác giả chỉ cố gắng lọc lựa, sao cho đủ gói gọn trong một tập sách cầm ít nặng tay (và ít mỏi tay) mà quý độc giả đang sắp sửa lần giở.</p>
<p>Không phải là nhà văn, không phải là nhà thơ, vậy Trần Yên Hạ viết những gì?</p>
<p>Câu trả lời rất đơn giản: chàng kể lại những câu chuyện, những cảnh đời có thực, mà nhờ đi nhiều nơi, gặp gỡ nhiều người nhiều giới nhiều lứa tuổi khác nhau, chàng đã có dịp nghe, thấy, cảm, nghĩ và bằng cái tâm của một nhà họat động xã hội, chàng trăn trở.</p>
<p>Khác với nhà văn, khi kể lại một câu chuyện (có thật hay tưởng tượng), thường ông (bà) ta khái quát hóa nhân vật, đôi khi hư cấu thêm một số tình tiết trước khi gởi đến độc giả câu chuyện mình kể, để vừa đáp ứng đòi hỏi văn chương vừa chuyển tải ý đồ của tác giả gói ghém trong tác phẩm (văn chương). Với Trần Yên Hạ, vốn không phải nhà văn, cầm bút không phải để làm văn chương, nên những câu chuyện trong tập sách này được chàng kể lại như nó đã xẩy ra, không thêm thắt hư cấu cho tình tiết, không “nhào nặn” vẽ râu vẽ nốt ruồi cho nhân vật, không lái hướng đi đến kết cục của câu chuyện theo ý mình (ý đồ của người kể chuyện).</p>
<p>Không ngừng lại ở đó, chàng còn “lợi dụng” lúc tình cảm của người đọc đang khóc cười với câu chuyện (thật), đang để cảm xúc thương yêu giận ghét dâng trào, chàng buộc người đọc phải đối diện với thực tế ấy bằng những lời bàn (kiểu Mao Tôn Cương – người có những lời bình sau mỗi chương sách của bộ Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa). Đôi khi, những lời bình cuối mỗi câu chuyện ấy của Trần Yên Hạ khiến độc gỉa có cảm tưởng chàng ta “dậy đời”, hoặc “thừa thãi”. Là một người gần gủi với Trần Yên Hạ, từ thuở chàng còn ở tuổi đôi mươi, mắt sáng môi tươi tóc bời lộng gió, tôi tin bạn mình sống thật những điều mình viết, từng kinh qua một cuộc đời nhiều thăng trầm, nhiều sóng gio, nhưng trái tim sôi nổi luôn hướng đến những điều tốt đẹp chung quanh mình, vì trái tim ấy hằng tin ở sự tử tế, ở sự hiểu biết, ở lòng vị tha quên mình.</p>
<p>Nói cách khác, Trần Yên Hạ viết những gì mình sống, nghĩ, cảm.</p>
<p>Ở phần Hai của tập sách nhỏ là tập hợp vài truyện ngắn chọn lọc của Trần Yên Hạ. Người đọc tinh ý, nếu đã từng quen, biết, nghe nói đến Đặng Hiếu Sinh – sẽ nhận ra ngay đó là những “tự truyện” của tác giả, ở những đoạn đời khác nhau. Dù là tự truyện, không hề có những tình tiết thêm thắt hư cấu gây “cao trào” theo thủ pháp kể truyện, nhưng chính sự chân thật trong cách kể của Trần Yên Hạ đã lôi cuốn người đọc từ đầu chí cuối.</p>
<p>Tác phẩm nhỏ này trên tay độc giả, như con người tác giả tự phơi bày chính mình một cách mộc mạc, thật thà.</p>
<p>Hãy mở ra, đọc và cảm nhận, để cùng với tác giả, chúng ta thêm vững tin vào sự tốt đẹp của cuộc đời.</p>
<p><strong>T.Vấn</strong></p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://t-van.net/?cat=343" target="_blank" rel="noopener"><strong>Tủ Sách T.Vấn &amp; Bạn Hữu</strong></a></p>
<p><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/11/30-tac-pham-11-2017.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" class="size-medium wp-image-33418 aligncenter" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/11/30-tac-pham-11-2017-300x229.jpg?strip=all" alt="" width="300" height="229" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/11/30-tac-pham-11-2017-300x229.jpg?strip=all 300w, https://cdn.t-van.net/2017/11/30-tac-pham-11-2017-768x586.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2017/11/30-tac-pham-11-2017-1024x782.jpg 1024w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/11/30-tac-pham-11-2017.jpg?strip=all 600w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></a></p>
<p>©T.Vấn 2019</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/tran-yen-ha-hanh-phuc-trong-tay-nhung-cau-chuyen-tu-doi-song/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Trần Yên Hạ: Như Mẹ vẫn còn đây</title>
		<link>https://t-van.net/tran-yen-ha-nhu-me-van-con-day/</link>
					<comments>https://t-van.net/tran-yen-ha-nhu-me-van-con-day/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Trần Yên Hạ]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 12 May 2019 05:05:11 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[mẹ]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=39402</guid>

					<description><![CDATA[Mẹ và Con &#8211; Tranh: Thanh Châu Tiếng chuông reo đánh thức giấc ngủ chập chờn của buổi sáng Chúa nhật, tôi nhắc vội điện thoại. Tiếng chị Hai nghẹn ngào trong khoảng âm thanh thật xa xôi: -Em đó phải không&#8230;chị mới đưa mẹ vô bệnh viện cứu cấp. Mẹ bị mệt và khó [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/05/que-huong.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter  wp-image-39403" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/05/que-huong-300x194.jpg?strip=all" alt="" width="394" height="255" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/05/que-huong-300x194.jpg?strip=all 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/05/que-huong.jpg?strip=all 581w" sizes="(max-width: 394px) 100vw, 394px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><em>Mẹ và Con &#8211; Tranh: Thanh Châu</em></p>
<p>Tiếng chuông reo đánh thức giấc ngủ chập chờn của buổi sáng Chúa nhật, tôi nhắc vội điện thoại. Tiếng chị Hai nghẹn ngào trong khoảng âm thanh thật xa xôi:</p>
<p>-Em đó phải không&#8230;chị mới đưa mẹ vô bệnh viện cứu cấp. Mẹ bị mệt và khó thở, bây giờ đang hôn mê&#8230;</p>
<p>Qua vài lời trao đổi ngắn ngủi, tôi gác điện thoại với tâm trạng đầy lo âu. Giờ này, nhà tôi và các con vẫn đang say ngủ. Tôi bước ra phòng làm việc, đầu óc miên man nghĩ về mẹ. Cách đây một tuần, có một đêm, tôi bỗng nhớ mẹ vô cùng. Nỗi nhớ se thắt, bồn chồn làm tôi không ngủ được. Hôm qua, lại mơ thấy người bạn -đã chết rồi- nằm mê man trên giường. Một nỗi lo sợ ghê gớm bỗng vây quanh tôi. Không lẽ, đây là một điềm báo trước mẹ tôi sẽ&#8230;.  Với số tuổi tám mươi sáu, sức khỏe yếu đuối, mong manh, liệu tôi có còn nhìn thấy mẹ? Chưa bao giờ tôi cảm thấy những câu thơ quen thuộc của Trần Trung Đạo lại hàm chứa tất cả nỗi xao động trong lòng tôi như hôm nay.</p>
<p><em>Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người,</em></p>
<p><em>Tiếng ai như thể tiếng mưa rơi,</em></p>
<p><em>Nếu mà tôi đổi thời gian được,</em></p>
<p><em>Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.</em></p>
<p>Mẹ ơi! mẹ sẽ khỏe lại. Con tin như vậy. Mẹ sẽ trở về nhà, ngồi ăn miếng trầu cay như thuở nào, để chờ  vợ chồng con và hai cháu nội về ngồi quanh mẹ.</p>
<p>Suốt ngày Chúa nhật, tôi lẩn quẩn trong nhà thờ với những công việc như bình thường. Tôi đi dọn từng bao rác, cắt cỏ và thầm thì xin cùng Chúa “Lạy Chúa! xin đừng đem mẹ con đi”.  Tôi sợ ở nhà với gương mặt ủ rũ sẽ làm mọi người trong gia đình lo lắng. Tôi sợ tiếng chuông điện thoại reo và giọng nói tắt nghẹn, nức nở của chị tôi từ Việt Nam.</p>
<p>Và rồi thời gian trôi đi, chỉ còn vài tiếng đồng hồ nữa tôi sẽ ra phi trường để về thăm mẹ. Trong khi nhà tôi đang sửa soạn hành trang, thì tin khủng bố từ TV đã làm tôi choáng váng. Lửa cháy! Máy bay đâm vào tòa cao ốc. Gạch đá đổ xuống. Những cột khói cao mịt mù. Chuyện gì đã xảy ra nơi đây? và chuyện gì sẽ xảy ra ở bên kia trời quê hương cho mẹ?</p>
<p>Cuối cùng, chuyến đi bị hủy bỏ.</p>
<p>-Mẹ đã hôn mê ba ngày rồi. Hồi sáng này mẹ hơi tỉnh và hỏi chị, em con có về kịp không?</p>
<p>Tiếng chị Hai vang lên trong điện thoại. Tôi bật khóc. Mẹ ơi! làm sao con về được? Con đang bình an nơi đây, xem tin tức ở New York tang tóc và tin tức từ Việt Nam, mẹ đang thoi thóp từng hơi thở mà lòng đau như dao cắt. Đất nước này đang lâm nguy! Việc làm của con chỉ còn đếm từng ngày! Và từng giờ trôi qua để rồi con sẽ mất mẹ! Chưa bao giờ những chuỗi âu lo đè nặng trên vai tôi như hôm nay. Xin Chúa cho con đừng gục xuống.</p>
<p>Vậy mà điều tôi lo sợ đã đến. Mẹ tôi vĩnh viễn ra đi sau mười lăm ngày tỉnh tỉnh, mê mê ở bệnh viện. Mẹ đã đợi chờ tôi mòn mỏi, để rồi tôi không bao giờ về kịp nữa. Tôi vẫn nhớ hoài dáng mẹ ngồi co ro trước cửa với hai dòng lệ chảy dài trên má, khi tôi quỳ xuống, ôm mẹ giã từ để trở về Mỹ trong lần đầu tiên trở về thăm -đâu ngờ, đó cũng là lần vĩnh biệt. Mẹ ôm đầu tôi vào ngực và hỏi:</p>
<p>-Chừng nào con về nữa?</p>
<p>Con vẫn muốn về, nhưng rất sợ những buổi sáng chia tay như năm nào. Kể từ nay và mãi mãi đến ngày nhắm mắt, con sẽ chẳng bao giờ còn được thấy mẹ khóc hay cười.</p>
<p>Hơn ba mươi năm, kể từ ngày ba nằm xuống, vai mẹ mỗi ngày gầy đi vì gồng gánh biết bao nỗi thương đau, chia lìa. Con chợt nhớ lời thơ,</p>
<p><em>Nắng mưa từ buổi tang chồng</em></p>
<p><em>Tơ tằm rút mãi cho lòng héo hon.</em></p>
<p><em> </em>Và cũng kể từ đó, con của mẹ đã rời xa mẹ. Hết chinh chiến lại bị tù đày, rồi lưu lạc nơi đất khách quê người. Mẹ mừng cho con, vì thoát được cuộc đời tăm tối, nhưng lại tủi buồn vì con mãi biền biệt phương xa. Con còn nhớ, có lần theo đoàn quân đi ngang thành phố, con xin dừng xe, chạy vội vào nhà thăm mẹ vài phút. Mẹ ôm con, bật khóc khi nhét vội vào túi con chai dầu gió và nói:</p>
<p>“Con đi ngoài trời, đêm hôm mưa gió, ráng giữ gìn cho ấm, kẻo bệnh hoạn không ai lo cho con”.</p>
<p>Con thì cười cho cái lẩm cẩm của mẹ:</p>
<p>“Con như vầy mà bệnh sao được, mẹ đừng lo!”.</p>
<p>Nhớ hồi bé, khi học xong tiểu học, vì làng mình không có trường, con phải đi học khá xa. Lần nào về, mẹ cũng đưa con ra bến xe với đôi mắt đỏ hoe và lần nào con cũng đòi nghỉ học ở nhà. Những lúc đó mẹ cười trong nước mắt và nói:</p>
<p>“Mười một tuổi rồi mà theo mẹ làm gì, ráng đi học để biết chữ với người ta, mẹ sẽ dành cho con nguyên một nhánh quýt đường con thích”.</p>
<p>Khi về nhà, việc đầu tiên là con chạy ngay ra vườn, hái những trái quýt đường chín mộng ngọt lịm. Nhưng khi nhìn thấy một đám cỏ chừng vài mét vuông mà ba để dành cho con, con lại nhăn nhó, phụng phịu. Ba muốn con tập làm việc để giúp đỡ gia đình, nhưng con lúc nào cũng thích những nhánh quýt đường hơn là đám cỏ. Quýt thì ăn nhanh, nhưng đám cỏ thì làm hoài không hết. Mẹ phải lén ba, nhổ cỏ giúp con. Nhưng khi có mẹ làm thì con biến mất theo đám bạn đi bắn chim. Con hư như vậy mà chưa lần nào mẹ rày la con. Ngoại trừ những lần con nhăn nhó, vì mẹ muốn con phải luôn luôn làm vui lòng những người khách không mời, từ dưới quê lên, ở nhờ để trị bệnh. Lúc đó, nhà mình mới lên tỉnh, còn nghèo và chật hẹp lắm, mà hầu như tháng nào cũng có vài người đến tá túc. Mẹ luôn dạy dỗ con về lòng nhân hậu, yêu thương, sự hy sinh và giúp đỡ người khác.</p>
<p>Mẹ ơi! mẹ mất lâu rồi mà đến hôm nay con vẫn không muốn tin đó là sự thật. Con ngồi đây một mình trơ trọi. Chưa bao giờ con cảm thấy mình nhỏ bé, yếu đuối như bây giờ. Ước gì, con nhỏ lại như ngày xưa, để còn được dựa vào cánh tay độ lượng của mẹ.</p>
<p>Giờ này, chắc mẹ đang ở với Chúa, hẳn mẹ thấy và biết con đang làm gì. Xin mẹ hãy cầu nguyện cho con luôn xứng đáng với tình yêu mẹ đã cho và  không phụ lòng thương mến của những người thân yêu. Cảm tạ Thiên Chúa đã cho con niềm tin, để biết rằng, sự ra đi của mẹ không phải là hết “<em>Sự sống của mẹ  không mất, nhưng chỉ đổi thay”,</em> như lời hát kinh cầu và  chính mẹ vẫn còn đang sống cuộc đời của con.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Trần Yên Hạ</strong></p>
<p><em>(Viết trong ngày giỗ Mẹ)</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2019</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/tran-yen-ha-nhu-me-van-con-day/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Trần Yên Hạ: Cái Ô Trầu của Mẹ</title>
		<link>https://t-van.net/tran-yen-ha-cai-o-trau-cua-me/</link>
					<comments>https://t-van.net/tran-yen-ha-cai-o-trau-cua-me/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Trần Yên Hạ]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 06 May 2019 05:32:45 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[mẹ]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=39325</guid>

					<description><![CDATA[Rổ Rau &#8211; Tranh: Thanh Châu       Không biết mẹ tôi ăn trầu từ bao giờ, nhưng mỗi lần nhớ đến những ngày còn lẽo đẽo theo mẹ, tôi lại nhớ đến hình ảnh mẹ mặc chiếc quần lãnh đen và chiếc áo bà ba sậm màu, ngồi trên thềm gạch hiên nhà trước  -thường [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/05/Ben-ro-rau-muong-crop.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter  wp-image-39326" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/05/Ben-ro-rau-muong-crop-300x223.jpg?strip=all" alt="" width="410" height="305" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/05/Ben-ro-rau-muong-crop-300x223.jpg?strip=all 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/05/Ben-ro-rau-muong-crop.jpg?strip=all 498w" sizes="(max-width: 410px) 100vw, 410px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><em>Rổ Rau &#8211; Tranh: Thanh Châu</em></p>
<p>      Không biết mẹ tôi ăn trầu từ bao giờ, nhưng mỗi lần nhớ đến những ngày còn lẽo đẽo theo mẹ, tôi lại nhớ đến hình ảnh mẹ mặc chiếc quần lãnh đen và chiếc áo bà ba sậm màu, ngồi trên thềm gạch hiên nhà trước  -thường gọi là hàng ba-  têm miếng trầu vàng, cuốn lại rất vén khéo. Những lá trầu luôn luôn được xếp cẩn thận trong một cái ô trầu đan bằng mây có ba ngăn, đựng vài qủa cau, con dao nhỏ và bình vôi trắng. Tôi là người được mẹ tín cẩn nhất để sai đi lấy và cất cái ô trầu cho mẹ. Đó là những buổi chiều nắng đã tắt sau đọt cây cau gầy xa xa ở cuối sân nhà, nhưng trời vẫn còn đủ sáng và mát mẻ cho hai chị tôi chơi lò cò xủi trên khoảng sân rộng dùng để phơi lúa, cũng là sân banh mà chỉ có tôi là cầu thủ duy nhất, với trái banh là quả bưởi non. Phía  góc sân trái, dưới gốc cây cam xum xuê  lá, trái nặng trĩu cành, đứa em gái nhỏ hai tuổi của tôi đang cầm cành cây khô, đùa giỡn với đàn gà con cùng bà vịt xiêm già nặng nề, chậm chạp đi từng bước mà tôi có cảm tưởng sắp té ngã về phía sau.</p>
<p>Đôi khi, mẹ sai tôi đi hái cho mẹ vài lá trầu.Vườn trầu sát bờ ao, trên một khu đất chừng bốn, năm mét vuông được rào bằng tre xung quanh, bên trong có năm thân cây khô chôn xuống đất cho những dây trầu leo quanh. Hình như mẹ tôi chỉ có hai việc chính phải làm hằng ngày là chăm sóc chúng tôi, nấu cơm và tưới vườn trầu. Những lúc mẹ ngồi ăn trầu, tôi thường ngồi bên táy máy cái ô trầu và nhìn đôi môi đẹp nhuộm đỏ của mẹ mà thán phục, vì có lần tôi lén ăn trầu đã bị cay và say đến chóng mặt. Có lẽ, thời gian hạnh phúc an lành nhất của mẹ là những ngày còn sống ở miền quê thanh bình, lúc tôi còn thơ ấu. Mẹ ở quê nhưng chưa hề làm việc lam lũ ngoài đồng. Ba tôi đã sắp xếp thế nào đó để có tiền thuê người giúp việc đồng áng mà gia đình vẫn có lúa ăn dư dả quanh năm.</p>
<p>Ba tôi là một người lịch thiệp. Ông bà nội mất sớm. Mới mười tuổi ba đã trở thành một đứa trẻ mồ côi. Ông lưu lạc nhiều nơi khi sống cùng bác tôi, là một thầy giáo phải đổi chỗ vì nghề nghiệp. Đến năm hai mươi tuổi, người tự lập và đi theo đoàn tàu buôn bán từ tỉnh nầy qua tỉnh khác. Cho đến một ngày -ngày định mệnh  an bài-  tàu bỏ neo tại làng ngoại tôi và người thanh niên lãng tử đã dừng bước giang hồ vì đôi mắt đẹp và nụ cười duyên dáng. Đó là mẹ tôi!</p>
<p>Tôi không biết rõ mối tình của ba mẹ bắt đầu ra sao. Mẹ tôi chỉ kể rằng, ông bà ngoại rất dễ, không đòi hỏi lễ nghi khó khăn như thời đó.  Ngoại nói, ba tôi là người có ăn học, thông minh, tháo vát và ông bà tin ba sẽ mang hạnh phúc đến cho mẹ tôi. Những ngày chiến tranh, mẹ tôi rất khổ cực với năm đứa con còn nhỏ dại, mà ký ức non nớt của một đứa bé chẳng hề lưu lại một chút gì trong tôi. Nhưng từ khi bắt đầu có trí khôn thì  tôi biết rằng tôi đang sống trong một gia đình rất hòa thuận, êm ấm. Thường, sau những bữa ăn chiều, mẹ tôi hay ngồi trước hàng ba ăn trầu, ba tôi vừa nhâm nhi tách nước trà, vừa đọc báo, thỉnh thoảng người ngừng lại trao đổi với mẹ vài câu gì đó rất dịu dàng, mà cũng rất tương đắc.</p>
<p>Thưở bé, ngày đau khổ nhất của tôi lúc có lẽ là ngày đầu tiên đi học. Lúc lên sáu, ba muốn tôi phải đi học vỡ lòng tại trường thầy Chu, một ông thầy bé tí teo, lúc nào cũng đội cái nón nỉ màu nâu. Gọi là trường tư, nhưng thật ra chỉ là một căn nhà lá sơ sài với vài cái bàn đóng bằng tre và chỉ có khoảng mười lăm đứa nhóc tì như tôi. Buổi chiều, ba tôi nói với mẹ:</p>
<p>-Ngày mai mình sửa soạn quần áo cho thằng Hiếu đi học. Anh đã mua cho con tập vở và viết rồi.</p>
<p>Nghe vậy, tôi hoảng hốt chạy đến ôm cổ mẹ mếu máo:</p>
<p>-Con hổng chịu đi học đâu, con muốn ở nhà.</p>
<p>Mẹ kéo tôi ngồi vào lòng, xoa đầu, hỏi bằng giọng ngọt ngào:</p>
<p>-Con ở nhà làm gì?</p>
<p>Tôi đưa tay quẹt nước mắt, nói gọn gàng:</p>
<p>-Con muốn đi cỡi bò như thằng Khuyên.</p>
<p>Nhưng dù có khóc lóc thế nào thì tôi cũng phải đi học. Mẹ cho tôi mặc bộ đồ mới, lại thêm đôi guốc dông dành cho người lớn. Nhìn đôi mắt nghiêm nghị của ba, tôi không dám khóc, mặt xụ lại như cái rổ méo -mẹ nói vậy. Ba ôm tôi, âu yếm dỗ dành:</p>
<p>-Con ráng đi học để biết chữ đọc báo cho ba nghe.</p>
<p>Nói xong người lên chiếc xe đạp đi làm việc ở làng. Ba tôi là xã trưởng mà thời đó nghe người ta gọi là ông Quản. Tôi nhìn theo ba, tấm tức khóc:</p>
<p>-Mẹ ơi! Con không muốn đi học đâu.</p>
<p>Mẹ quỳ xuống ôm hôn tôi, vỗ về:</p>
<p>-Con đừng khóc, mẹ sẽ đưa con đi học, con trai mà khóc người ta cười chết.</p>
<p>Dần dần rồi cũng quen. Thỉnh thoảng tôi hay trốn học đi cỡi bò với thằng Khuyên. Mỗi lần mẹ có dịp đi đâu xa thì tôi cũng xin nghỉ học cho bằng được để theo mẹ, với lý do là mang cái ô trầu cho mẹ.</p>
<p>Những năm tháng êm đềm trong thanh bình thời thơ ấu lặng lẽ trôi đi và khi lên đến bậc trung học tôi phải rời gia đình lên tỉnh học. Cũng thời gian đó, Việt cộng nổi lên đánh phá làng xã. Vùng tôi ở gọi là vùng xôi đậu. Một tai họa lại giáng xuống gia đình tôi. Ba tôi bị Việt cộng bắt đi trong một đêm về đánh phá làng. Mẹ gầy guộc hẳn đi. Ngày nào cũng khóc vì không biết số phận của ba tôi ra sao. Đến khi được một người quen thân đi theo du kích cho biết ba tôi vẫn còn sống và đang bị giam ở một nơi nào đó, mẹ tôi mới tạm an tâm.</p>
<p>Năm sau, tôi về thăm nhà vào dịp hè. Một buổi trưa, cả nhà đang quây quần bên mâm cơm ở gian sau thì có tiếng chó sủa dữ dội. Mọi người nhìn ra ngõ, thấy một người đàn ông cao lớn, mặc bộ quần áo đen, đội nón lá đang lầm lũi bước vào. Tưởng là ba, tôi mừng quá chạy ùa ra. Nhưng không phải, đó là người cậu họ ở một làng xa đến thăm. Cậu đi thẳng vào nhà, nắm tay mẹ kéo ra sân sau, thì thầm gì đó trước sự ngơ ngác của mấy chị em tôi. Nói xong, cậu quay đi vội vàng, không kịp trả lời mấy câu hỏi vớ vẩn của tôi. Mẹ bước trở vào, với khuôn mặt thoáng nét rạng rỡ lẫn lo âu. Mẹ cho biết, ba tôi đang bị giam lỏng ở vùng Việt cộng không xa lắm, đêm nay sẽ có người bạn giúp ba trốn thoát, do đó, chúng tôi phải rời nhà ngay, để đón ba tôi tại công sở của quận vào ngày mai.</p>
<p>Mẹ sai tôi chạy sang nhà dì Bảy báo tin  gấp, còn chị Tư thì sắp xếp các đồ dùng cần thiết. Mẹ và dì Bảy ôm nhau trong nước mắt chia tay đầy nghẹn ngào đau xót. Đối với mẹ, sắp gặp lại ba là một niềm vui sướng, nhưng phải bỏ lại nhà cửa, sản nghiệp mà ba mẹ đã gầy dựng hơn hai mươi năm cũng là một quyết định thật đau lòng. Để tránh sự tò mò của hàng xóm, chúng tôi chia làm hai nhóm. Mẹ và em tôi sẽ đi trước bằng đường ruộng. Chị Tư cùng tôi sẽ đi sau bằng đường trong xóm và hẹn gặp nhau tại đồn dân vệ ở Cống Đá. Mẹ vội vã dắt em tôi đi giữa tiếng khóc não nuột của dì Bảy. Chị tôi vừa xếp hành trang, vừa khóc thút thít. Tôi nhìn quanh căn nhà, chợt thấy ô trầu của mẹ còn ở trên tấm phản, vội chạy nhanh ra sau vườn, hái vội một nắm trầu vàng nhét vào ô trầu và mang đi.</p>
<p>Gia đình tôi được đoàn tụ trong nước mắt nghẹn vui mừng. Chúng tôi dắt dìu nhau lên thành phố. Bỡ ngỡ. Lạc loài. Và ba mẹ tôi lại bắt đầu vất vả lập nghiệp với đôi bàn tay trắng. Một hôm, sau bữa ăn tối, trong căn nhà chật hẹp vừa mới thuê, mẹ tôi mang ô trầu ra, vừa têm trầu vừa nói với giọng đầy xúc động:</p>
<p>-Nếu không có thằng Hiếu thì không còn ô trầu này. Đây là kỷ niệm duy nhất trong nhà mình còn sót lại, cho tới chết mẹ cũng vẫn giữ cái ô trầu này.</p>
<p>Tôi nhìn ô trầu đan cẩn thận bằng mây, nay đã lên nước nâu bóng láng với chút hãnh diện. Phải công nhận cái ô trầu đẹp thật, tính ra, nó đã cận kề với mẹ ít nhất là mười hai năm.</p>
<p>Lúc ấy, gia đình tôi sống nhờ vào một cửa hàng nhỏ bán thức ăn sáng. Mỗi sáng, tôi thức dậy từ bốn giờ để đến lò mổ heo, lấy bộ lòng ngon nhất đem về cho chị  tôi nấu cháo. Xong, vội vàng ra mở cửa hàng, nấu một nồi nước sôi thật to, pha một bình cà phê, rồi trở về nhà sửa soạn đi học. Có khi ngồi chờ nước sôi tôi ngủ gà, ngủ gật trên ghế, cho đến khi chị tôi mang cháo ra, nhéo vào tai  một cái đau điếng tôi mới giật mình.</p>
<p>Cuộc sống tuy khó nhọc nhưng chúng tôi rất hài lòng, chỉ có ba tôi thường hay trầm ngâm thả hồn về dĩ vãng. Ba thường ao ước cất được một căn nhà nơi thành phố cho gia đình, rồi trở về xây dựng lại ngôi chợ ở làng xưa thì  mới an lòng nhắm mắt. Và mơ ước này của ba tôi đã được toại nguyện. Sau khi theo đoàn quân về bình định làng xưa, cất xong chợ, trường học, ba tôi trở về nhà nghỉ ngơi một thời gian rồi người rời bỏ chúng tôi vĩnh viễn sau cơn bệnh ngắn ngủi trong lúc tôi đang thụ huấn quân sự ở một quân trường xa xôi, không kịp về để nhìn thấy người cha thân yêu lần cuối cùng. Những nghiệt ngã của cuộc đời từ đó lại đổ trên vai mẹ tôi, làm cho mắt mẹ mờ, tóc mẹ bạc và nụ cười như tắt hẳn trên môi. Nhất là từ khi tôi bị bắt vào trại cải tạo, vượt trại và ra đi biền biệt.</p>
<p>Hai mươi năm sau, ngồi trên phi cơ trở lại quê xưa, tôi cứ miên man tưởng tượng ra nụ cười nhòa lệ của mẹ khi bất ngờ ôm thằng con trai vào lòng sau bao năm dài xa cách mà tưởng chừng như giấc mơ. Chắc mẹ sẽ vuốt từng sợi tóc bạc màu của tôi và mẹ sẽ khóc, như một chiều xa xôi nào đó, mẹ tìm đến thăm khi tôi vừa trốn khỏi trại giam và đang lẩn tránh vào một nơi hẻo lánh. Hai mẹ con gặp nhau được ba ngày, đêm nào mẹ cũng ôm tôi vào lòng như hồi còn bé và tóc tôi đã ướt  đẫm nước mắt của mẹ. Những  giọt nước mắt đau xót, muộn phiền như cõi lòng tan nát của mẹ, khi nhìn thấy tương lai của con mình đang chìm vào tăm tối tuyệt vọng.</p>
<p>Tôi thầm cám ơn nhà tôi đã sắp xếp cho tôi chuyến đi này trong hoàn cảnh gia đình còn khó khăn. Khi thấy hình ảnh mẹ tôi lom khom với chiếc gậy trong cuốn video do người chị họ đi về Việt Nam mang qua, nhà tôi nói:</p>
<p>-Em không muốn mình phải hối hận cả đời vì không còn dịp để gặp mẹ.</p>
<p>Tôi nghe lòng quặn đau, nhớ đến hai con gái thương yêu bật khóc khi tôi cúi xuống hôn từ giã để bước lên phi cơ. Rồi tôi tự hỏi, không biết mẹ đã bao lần quặn đau trong cuộc đời vì những gánh nặng phân ly sinh tử. Hai người anh và đứa em trai của tôi qua đời khi còn nhỏ. Ba tôi vĩnh biệt ngàn thu. Tôi vẫn còn sống nhưng đã nghìn trùng biệt xứ.</p>
<p>Khi về ngang bến phà Cần Thơ, chợt nhớ đến cái ô trầu của mẹ, tôi tự nhủ, lần nầy nhất định tôi sẽ ghé chợ mua một xấp trầu ngon nhất và tự tay sắp vào ô trầu cho mẹ như những ngày còn bé, một điều mà tôi đã quá vô tình trong những năm tháng thưởng thành ở quê nhà.</p>
<p>&#8230; Sau nỗi vui mừng đoàn tụ, tôi sực nhớ gói trầu tự nãy giờ bỏ quên trong đám hành lý ngỗn ngang. Nhìn quanh quất, chẳng thấy ô trầu của mẹ đâu, tôi hỏi:</p>
<p>-Cái ô trầu mẹ đâu rồi?</p>
<p>Mẹ lặng thinh ngơ ngác.</p>
<p>-Hình như mẹ đã quên mất với cái tuổi tám mươi hai. Mẹ quên nhiều chuyện lắm em ạ!</p>
<p>Chị Hai trả lời rồi kể tiếp:</p>
<p>-Em còn nhớ không, sau tháng tư bảy mươi lăm, em bị đưa đi cải tạo ở Chi Lăng một năm rưỡi. Không thư từ tin tức, mẹ buồn lo gầy sút người, tóc bạc hết. Khi nhận được lá thư đầu tiên của em, chị mới thấy mẹ nở một nụcười.</p>
<p>Tôi chợt lặng hồn nhớ về dĩ vãng nghiệt ngã trong những năm bị tù đày. Giọng chị tôi vẫn đều đều như tiếng vọng từ một quá khứ xa xôi.</p>
<p>-Chị còn nhớ, trong thư em viết Mẹ và các chị đừng lo, lúc này nhờ cách mạng chăm sóc tốt nên em mập lắm, nặng tới bốn mươi ký. Em còn nằm mơ thấy mẹ cầm một tán đường thẻ vàng cười với em. Chị biết, em nói vậy có nghĩa là đã ốm đi mười tám ký. Lúc đó, nhà mình không có tiền, chị Tư bán chiếc nhẫn cưới, chị bán mấy cái áo dài để mua thức ăn và có tiền xe để mẹ và chị đi thăm em. Đến chiều, kiểm lại đồ đạc lần cuối, mới chợt nhớ chưa có đường thẻ cho em. Tiền thì không còn đủ mà cũng không biết mượn ai, mẹ liền sai thằng Vũ đem ô trầu sang bà Tám đổi một ký đường thẻ vàng, vì có lần bà trầm trồ cái ô trầu của mẹ và hỏi mua ở đâu&#8230;</p>
<p>Tôi bước tới, lấy gói trầu đặt lên bàn tay khô cằn của mẹ mà không ngăn được những dòng nước mắt nghẹn ngào:</p>
<p>-Mẹ ơi!</p>
<p><strong>Trần Yên Hạ</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2019</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/tran-yen-ha-cai-o-trau-cua-me/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Trần Yên Hạ: Những chặng đường chông gai</title>
		<link>https://t-van.net/tran-yen-ha-nhung-chang-duong-chong-gai/</link>
					<comments>https://t-van.net/tran-yen-ha-nhung-chang-duong-chong-gai/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Trần Yên Hạ]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 10 Apr 2019 05:40:28 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[chuyen thang 4]]></category>
		<category><![CDATA[chuyện tù]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=39067</guid>

					<description><![CDATA[                                           Âm Vang &#8211; Tranh: Thanh Châu  Lại một lần nữa nghe lời Hảo, bỏ đơn vị đang biệt phái là Bộ Tư Lệnh Quân đoàn 4 để về Vĩnh Long với hắn. Bạn bè chinh chiến hai năm mới gặp lại. Thằng gầy, thằng đen, thằng nào cũng &#8220;bụi&#8221; như lính đào binh, nhưng [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong>   <a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/04/AM-VANG-1.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="wp-image-39068 aligncenter" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/04/AM-VANG-1-300x243.jpg?strip=all" alt="" width="406" height="329" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/04/AM-VANG-1-300x243.jpg?strip=all 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/04/AM-VANG-1.jpg?strip=all 643w" sizes="(max-width: 406px) 100vw, 406px" /></a>                                        </strong></p>
<p style="text-align: center;"><em>Âm Vang &#8211; Tranh: Thanh Châu</em></p>
<p> Lại một lần nữa nghe lời Hảo, bỏ đơn vị đang biệt phái là Bộ Tư Lệnh Quân đoàn 4 để về Vĩnh Long với hắn. Bạn bè chinh chiến hai năm mới gặp lại. Thằng gầy, thằng đen, thằng nào cũng &#8220;bụi&#8221; như lính đào binh, nhưng mặt mày vẫn non choẹt với lon Trung uý chưa kịp rửa. Gặp nhau, nhậu một trận đã đời rồi chia tay vội vã vì cơn lũ Tháng Tư  75 uà đến &#8230; cho đến hôm nay, ba mươi năm sau, vẫn có người chưa gặp lại!</p>
<p>Cái quyết định ngu dại nhất trong đời &#8220;bại binh&#8221; cuả tôi là đem theo một tháng gạo, cùng Lý Phước Hồng đón xe lôi đi ở tù! Có lẽ trên thế gian nầy, chưa có đoạn quân sử quốc gia nào ghi chép những điều kỳ quái như thế.  Sau một tháng &#8220;học tập&#8221; tại trường Phan Thanh Giản Cần Thơ, mấy tên tù binh lơ láo như tôi tưởng được thả về, không ngờ lại bị đưa thẳng vào trại Chi Lăng, nhốt ở đó một năm sáu tháng, không cho thư từ, thăm viếng. Bài học thuộc lòng đầu tiên là đói&#8230; Đói đến nỗi không dám cười, thân hình chỉ còn da bọc xương. Bài học thứ hai là ăn cây cỏ dại, chuột cống lang &#8230; thoi thóp qua ngày!</p>
<p>Ở Chi lăng một năm, tôi đã có ý nghĩ phải tìm cách trốn thoát. Đây là vùng núi và biên giới, mà tiểu đoàn tôi đã quần nát dấu chân, tôi nghĩ sẽ dễ dàng vượt qua biên giới. Biết đâu, ở đó có quân kháng chiến.</p>
<p>Năm thứ hai (1976) &#8230; mới sáu giờ sáng, tôi còn nằm nướng trên manh vải bố dưới đất thì Nguyễn Văn Sáu ở phòng cạnh bên bước vào, nằm xuống cạnh tôi. Thoáng chút ngạc nhiên &#8220;Mầy làm gì dậy sớm vậy?”. Tôi cất giọng nhừa nhựa trong cơn lười biếng. Sáu không trả lời, kéo tấm mền của tôi đắp ké. Tôi lơ mơ trong giấc ngủ chập chờn, vì bắt đầu có nhiều người thức dậy nói chuyện, đùa giỡn. Sáu nằm bên tôi khoảng một tiếng rồi lặng lẽ bỏ đi. Tôi cũng quên đi nhanh chóng việc nầy. Cho đến ba hôm sau thì có tin một toán bốn người đã chui rào vượt trại, trong đó có Sáu! Chừng đó, tôi mới nhớ lại và hối tiếc, tại sao mình lại vô tâm đến thế? Có thể Sáu muốn nói điều gì? Một lời trối trăn vì con đường đi muôn vàn nguy hiểm?  Toán cuả Sáu đi ngay con đường có bãi mìn ngập nước từ lâu. Đây cũng chính là con đường tôi đã gỉa vờ đi hái rau muống dại và có ý định sẽ trốn thoát bằng lối đó.</p>
<p>Hai ngày sau, bọn cán bộ thông báo đã bắt được ba trong bốn tên vượt trại. Tôi và Hồng lo sợ có Sáu trong đó, tìm cách dò hỏi nhưng không có tin gì. Cầu mong cho Sáu được bình yên! Mãi đến gần mười tám năm sau, khi đến Mỹ, tôi mới được tin  Sáu đã thật sự bình yên ở nơi nào đó, qua cái chết trên đường vượt biên, sau khi trở về với người vợ thân yêu một thời gian ngắn.</p>
<p>***</p>
<p>Hai tháng sau khi Sáu trốn đi, lòng tôi buồn nao nao. Nhìn đỉnh Thiên Cấm Sơn mù mù trong sương chiều, nơi tôi đã từng thức trắng đêm canh giặc để giữ yên thành phố. Cũng nơi đó, biết bao chàng trai trẻ với lý tưởng kiêu hùng đã bỏ lại thịt xương. Thế mà xương trắng, máu đào và những hy sinh, những chiến tích lừng lẫy cũng tan loãng như mây trời. Tôi bỗng nghe thèm quá một khẩu súng &#8211; <em>Súng xưa đâu, thép lạnh lùng</em> (1*)-  Bởi tôi muốn rời khỏi trại tù nầy, đi về Thiên Cấm Sơn, về bên kia biên giới. Có lẽ, những chiến sĩ, những đồng đội của tôi còn đâu đó!  Rồi tôi nghe se thắt cả cõi lòng khi nhớ đến mẹ và đứa em gái nhỏ vừa mới xong trung học, không biết sẽ sống bằng cách nào. Tôi nhớ đến người yêu ở Sài Gòn chưa biết tin. Giờ nầy, chắc em đang ngỡ ngàng với cuộc đổi đời đầy cay đắng!</p>
<p>Một buổi sáng, tiếng gọi tập họp của tên cán bộ đầy hách dịch:</p>
<p>-Đội 5, cho năm người đi lao động. Từ tên nầy, một, hai, ba, bốn, năm &#8211; có tôi trong đó.</p>
<p>Tên vệ binh chừng mười bảy tuổi, mang khệ nệ khẩu AK dẫn đầu cùng năm tên tù ra khỏi cổng rào chừng một, hai cây số.</p>
<p>-Các anh &#8216;nàm&#8217; mỗi người một &#8216;nuống&#8217; đất trồng khoai, cao 3 tấc, ngang 3 tấc, mỗi &#8216;nuống&#8217; dài từ hàng cây “lầy” đến hàng cây kia. &#8216;Nàm&#8217; xong sớm thì nghỉ sớm. Rõ chưa?</p>
<p>Tôi cuốc đất một cách uể oải vì đói. Ở đây, nhìn dãy núi thật gần. Mây mù vần vũ, trời lại mưa.</p>
<p>-Thưa cán bộ, trời mưa!.</p>
<p>-Đã biết! không cần báo cáo. Nhưng các anh phải &#8216;nàm&#8217; xong mới  được về.</p>
<p>Tên vệ binh trùm đầu bằng tấm poncho và đến ngồi co ro bên gốc cây, cạnh nơi tôi đang cuốc. Trời sấm sét, mưa mù mịt. Dãy núi đã biến mất trong làn mưa, chỉ còn loé lên những lằn ánh sáng và tiếng nổ chát chúa nơi hướng núi. Tôi nhớ ba năm trước, lần đánh chiếm lại Núi Dài, đạn bom long trời, lở đất, như cơn sấm sét thịnh nộ ngày hôm nay. Nước mưa thấm lạnh cả thân thể gầy gò, vậy mà lòng tôi bỗng nóng ran như lửa đốt. Một ý nghĩ chợt hiện lên “Sao không nắm lấy cơ hội này để trốn thoát?” Một cán cuốc đập mạnh. Chính xác. Quyết liệt. Vào cái đầu đang trùm poncho xoay lưng lại, tước khẩu AK và chạy về phía núi. Không biết mấy người bạn tù đằng kia sẽ phản ứng ra sao? Tôi nghĩ nhanh, bắt bốn người  kia đi theo một khoảng xa, khi đã an toàn,  ai muốn trở lại trại, tuỳ ý.</p>
<p>Nhìn lại cái khối tròn nhô lên trong tấm poncho, tôi cắn chặt răng. Một cú đập đủ kết liễu mạng người hay ít ra cũng làm cho bất tỉnh. Tôi vận dụng sức lực lên đôi tay, giơ cuốc lên &#8230; rồi lại cuốc đất<em>.</em> Tại sao thằng vệ binh nầy lại ngồi im? Tại sao nó không lên giọng phách lối đáng ghét?  Tôi cố moi trong đầu óc. Tìm.  Kiếm.  Nhớ&#8230; những điều khiến tôi căm thù. Rồi tôi nhớ đến nét mặt và giọng nói đểu giả của tên thiếu tá chính ủy Trần Thâu khi lên lớp &#8220;Bọn ngụy các anh chuyên cướp của giết hại dân lành, tội lỗi của các anh biển Đông rửa cũng không sạch&#8221;.  Hừ! đúng là cái bọn ngậm máu phun người. Bây giờ, ta mới thật sự là kẻ giết người, ta giết bọn bây, cái bọn vừa ăn cướp, vừa la làng! Tôi giơ cuốc lên. Một ánh chớp và tiếng gầm run chuyển đất trời. Tôi lại nghĩ&#8230; nhà thằng nhóc nầy chắc ở miền quê Bắc Việt. Không chừng, mẹ nó cũng đang cuốc đất, trồng khoai, lê lết cuộc sống đói nghèo trong cái xã hội chủ nghĩa. Không chừng, em nó cũng vừa bỏ học để tìm miếng ăn.  Chiếc cuốc chợt run rẩy trong tay tôi.</p>
<p>Tên vệ binh vẫn ngồi co ro bên gốc cây, ôm khẩu súng dựa vai. Hình như nó đang ngủ.  Năm tên tù ướt loi ngoi thất thểu trở về trại. Cái đói vẫn hành hạ bọn tôi một cách tàn nhẫn.</p>
<p>Hai ngày sau, vào một buổi chiều trời vừa sập tối, một loạt AK nổ vang phía Khung 4. Bản tin chuyền nhanh sáng hôm sau, thiếu úy Tuấn bị kiết lỵ, xin đi cầu tiêu, bị tên vệ binh non choẹt  nổ nguyên băng đạn AK vào người khi anh đang quằn mình trong cơn đau bụng vật vã. Tuấn chết tại chỗ, nơi bờ rau muống vừa vượt ngọn. Cán bộ tập họp thông báo, thằng Tuấn cực kỳ phản động, dám giựt khẩu súng của vệ binh để trốn trại, đã đền tội.</p>
<p>Ai cũng biết anh Tuấn có đệ nhị đẳng huyền đai Thái Cực đạo. Nhưng cả tuần nay anh bị kiết lỵ, đi đứng không nổi, nói gì đến chuyện giựt súng, trốn trại! Tôi mở to đôi mắt, nhìn trừng trừng vào tên vệ binh giết người vừa được thăng cấp. Kẻ chiến bại không đủ tàn nhẫn để nện một cán cuốc. Kẻ chiến thắng thì sẵn sàng nhả đạn vào một con người không chút oán thù để lập &#8220;chiến tích&#8221;. Tôi nhìn hắn, hai tay nắm chặt, tự hứa với lòng &#8220;<em>Mai ta đi đòi lại kiếp làm người!&#8221;</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>***</p>
<p>Sau khi thoát khỏi nạn đói nhờ liều mạng ăn chuột cống lang, tôi thấy khoẻ ra, nên bắt đầu luyện tập thể lực để chờ thời cơ. Sáng nào cũng chạy mấy chục vòng sân. Tôi gặp Hồ cũng chạy (sau nầy khi qua đảo, nghe Hồ trốn trại ở Xuyên Mộc, mới nhớ lại chuyện cũ. Thì ra, nó cũng như mình)</p>
<p>Ở Chi Lăng hai năm, tôi được gặp nhiều bạn cùng khóa như Thạnh, Nghệ, An, Điều, Nẫm, Nhơn, Tiễn, Long,  Hồ&#8230; Lúc đó, Nghệ ăn chay trường, hắn ta có tài kể chuyện rất có duyên. Cả nhóm hay ngồi say mê nghe Nghệ kể chuyện &#8220;Tam Quốc Chí&#8221;. Không ngờ, hắn cũng có đầu óc kinh tế, nên đến đoạn gây cấn &#8220;Trận Xích Bích&#8221;, hắn làm eo, làm xách, anh em phải lo lót ít rau muống hay đọt lang để chấm tương mới chịu kể tiếp. Dù được chiều chuộng, nhưng hắn cũng thường dở hơi bất tử. &#8220;Tui mệt quá, ngày mai kể tiếp!&#8221;. Cái thằng! ăn chay trường mà toan tính như  &#8220;ác nhân&#8221;. Có lần tôi đè hắn ra, hăm he sẽ đổ &#8220;dầu hợi&#8221; (mỡ heo) vào miệng hắn. Nghe đến dầu hợi hắn sợ lắm, bắt làm gì cũng làm.</p>
<p>Anh em gặp nhau vui vẻ chẳng bao lâu lại phải chia tay. Tôi bị đưa đến trại Vườn Đào, Mộc Hóa và bị xếp vào diện ác ôn, nguy hiểm, nên không hề được đi ra ngoài công tác, cứ quanh quẩn trong vòng rào, thật khó mà trốn  thoát như dự định. Ở Vườn Đào, tôi tìm được người đồng chí hướng là Nguyễn Đức Tân. Hai đứa bàn kế hoạch, làm sao được xung vào toán mổ heo trong dịp gần Tết (1978) để có cơ hội ra ngoài bờ kinh, từ đó vọt về Cát Lái. Thời cơ đến, ban nhà bếp đang tìm người biết mổ heo. Chúng tôi khai là có nhiều kinh nghiệm “gia truyền”, nhưng giờ chót Tân không được chọn. Một mình ra ngoài, tôi vừa thất vọng, vừa khổ sở, vất vả với hai con heo. Thật sự, trong đời chưa hề đụng đến con heo thì làm sao mà biết mổ. Cuối cùng, đành phải trở lại trại, sau khi chôm chỉa bộ lòng và hai lít rượu đế chia cho mấy thằng bạn.</p>
<p>Sau cơn đại lụt ở Vườn Đào khoảng tháng 6 năm 1978, lòng tôi nôn nóng như ai cào cấu. Phải làm sao đi trong năm nay, vì nghe đâu sẽ bị chuyển đến một trại kiên cố hơn nhiều. Lần nầy, tôi tập họp được ba người bạn. Nguyễn Thạch Bửu, nhiệm vụ tích trữ tiền bạc và thuốc men. Trần Bạch Đằng liên lạc bên ngoài để đưa cả bọn về Vũng Tàu rồi ra rừng Long Khánh (nghe tin có nhóm kháng chiến ngoài đó). Nguyễn văn Tước tích trữ lương khô và cung cấp vật liệu khi tôi cần.Tôi  phụ trách việc đào hầm và chịu trách nhiệm hướng dẫn nhóm về đến Mỹ Tho. Rồi từ Mỹ Tho người của Đằng sẽ đưa về Long Khánh. Đồng ý kế hoạch, chúng tôi bắt đầu thực hiện. Thời điểm để trốn thoát là dịp Tết năm 1979. Chúng tôi tình nguyện gia nhập đội văn nghệ và đăng ký trình diễn vũ khúc Hahiti tự sáng tác. Lợi dụng thời gian ban quản giáo cho phép nhóm được tách riêng ở một góc vắng để tập vũ trong giờ các tù nhân khác nghe đọc sách, chúng tôi cùng nhau bàn bạc kế hoạch. Sau khi đã quyết định, chúng tôi bắt đầu hành động từng bước với lời thề &#8220;Một là thoát, hai là sẽ chống cự đến chết, nhất định không để bị bắt lại và bị hành hạ chết dần mòn như bao nhiêu anh em đi trước&#8221;.</p>
<p>Trước hết là chuẩn bị sức khoẻ để đủ sức băng rừng vượt suối khi cần. Ở trại Vườn Đào, chỉ có mấy cái ao nước tiểu quanh các dãy nhà và ao này sẽ ngập đầy khi con nước lớn.  Mỗi ngày, chúng tôi tập bơi lặn vài tiếng trong cái ao bẩn thỉu đó với tư thế bị trói hai tay. Khu trại Vườn Đào có hai vòng đai. Bên trong cùng là dãy nhà của tù vì được cất giữa đồng hoang, nên bên ngoài những dãy nhà là ao nước. Bao bọc dãy nhà của tù là bờ đê cao, có rào cẩn thận với dãy doanh trại cuả vệ binh. Từ bờ đê trại, vệ binh có một vòng đai cho &#8220;tù&#8221; trồng rau cải, ao cá, cầu xí. Bên ngoài cùng là những lớp rào và vọng gác cuả vệ binh. Ban ngày chúng cho &#8220;tù&#8221; tự do sinh hoạt ở vòng đai ngoài. Vệ binh gác ngoài cùng. Đến sáu giờ chiều thì lùa hết vào trong doanh trại, có bờ đê rào chặt chẽ, đèn điện sáng và hệ thống doanh trại vệ binh canh gác thật nghiêm ngặt. Làm thế nào có thể ở lại bên ngoài an toàn sau sáu giờ để khi vệ binh vào gác bên trong, ta sẽ thoát? Ngồi núp lại dưới hầm cầu thì đã có hai người vượt thoát. Trốn trong hầm ngầm dưới mặt nước ao, trước khi vệ binh lùa vào trong là thượng sách.</p>
<p>Để tránh sự chú ý cuả đám &#8220;ăng-ten&#8221;, chỉ một mình tôi đào hầm  -kiểu hầm ngầm dưới ao cuả VC. Hầm có cửa vào nằm dưới mặt nước, chỉ cần lặn xuống nước thì biến mất trong hầm. Địa điểm hầm được chọn gần ngay dãy trại cuả vệ binh để tránh sự dòm ngó cuả bọn chỉ điểm. Ròng rã suốt một tháng tôi mới đào hầm xong, vì mỗi khi có bạn tù đến gần thì phải ngưng để làm việc khác.  Tôi chôn giấu quần áo, lương khô, thuốc men ở một liếp rau, dùng cỏ khô đậy cửa hang lại kỹ lưỡng, chờ giờ thuận tiện để xuất phát. &#8220;Kế hoạch hành quân&#8221; quyết định sẽ bắt đầu vào chiều 28 tháng chạp năm 1978.</p>
<p>Theo kế hoạch, đúng 5 giờ 25 chiều, bốn người sẽ ngồi chăm bón rau gần hầm, khi thấy không  có ai chú ý thì tôi sẽ phóng xuống ao vào hầm trước,  lần lượt  Đằng, Bửu, Tước sẽ theo sau. Nhưng cho đến 5 giờ 15, tôi vẫn chưa rời khỏi phòng được, vì T, một tên &#8220;ăng-ten&#8221; khét tiếng cuả đội 3 cứ quanh quẩn nhìn tôi bằng cái nhìn dò xét. Trong lòng tôi nơm nớp lo sợ, không lẽ anh ta đã đánh hơi được cái gì? Nếu mình ra ngoài, hắn đi theo thì tiêu tan kế hoạch. Tôi phải đánh lạc hướng bằng cách đi tắm, và chăm sóc con gà sắp đẻ mà tôi đã nuôi mấy tháng nay. Đến 5giờ 30, có một người bạn kéo T. đi đánh pingpong ở đội 5 (T. hiện ở CaLi. Không biết anh ta có lần nào bị ray rứt vì những chuyện đã làm?). Khi hắn đi khuất, tôi bỏ con gà, chạy một mạch ra điểm hẹn. Đến nơi thì hỡi ôi!  cả người tôi lạnh toát!. Đằng đang ướt loi ngoi ngồi cạnh bên Bửu và Tước, giã vờ nhổ cỏ. Gần đó, anh Đức đang cuốc đất và vài người nữa đang chăm sóc luống rau, câu cá. Tôi hỏi, Đằng cho biết là đã đến giờ hẹn mà không thấy tôi, nên liều mạng xuống ao trước, nhưng không thấy cửa, lại leo lên bờ ngồi đó. Nhận thấy tình hình không thể chui vào hầm lúc nầy, tôi bảo Đằng phải vào thay quần áo thật nhanh và trở lại, đừng để người xung quanh chú ý. Khoảng mười phút sau, Đằng trở ra. Chỉ còn mười phút nữa. Vài người gần đó đã đi vào trại. Chỉ còn anh Đức đang cuốc đất cách chúng tôi chừng mười lăm mét. Chưa biết tính sao thì Trần Văn An lù lù đi tới và ngồi xuống cạnh tôi. Lại thêm một rối rắm nữa. Với cái giọng cà tửng, An nói:</p>
<p>-Tao ngồi chơi với mầy, chừng nào mầy vô, tao vô luôn.</p>
<p>Suốt mấy năm ở trại, chưa bao giờ An chơi kiểu nầy, vậy mà ngay phút giây sinh tử cuả bọn tôi, không biết ma xui, quỷ giục làm sao hắn lại xuất hiện. Tôi không hề sợ An khai báo nếu biết sự thật, nhưng tôi sợ An sẽ xúc động, không giấu được nét lo âu, có thể làm  bọn &#8220;ăng-ten&#8221; chú ý, nên năn nỉ hắn:</p>
<p>-Mầy vô trước nấu trà thơm, tao sẽ mang bánh ngọt qua, anh em mình nhâm nhi tối nay.</p>
<p>Thấy An có vẻ chần chừ, tôi đẩy An đi mà lòng chợt bồi hồi, không biết có còn gặp lại nhau nữa không?</p>
<p>Chỉ còn mười phút phù du. Anh Đức vẫn thản nhiên cuốc xới. Cuối cùng, tôi phải quyết định táo bạo. Bước lại gần anh, tôi nói nhỏ:</p>
<p>-Anh vào ngay đi, đừng ở đây bị liên lụy, tụi tôi vượt trại ngay bây giờ.</p>
<p>Anh Đức ngưng cuốc nhìn tôi, mặt tái xanh:</p>
<p>-Vượt trại?</p>
<p>-Ừ! ngaycái ao nầy. Coi như anh chưa từng nghe tôi nói gì, đi ngay đi.</p>
<p>Anh Đức buông cuốc đi một mạch. Anh là người rất hiền lành và tốt bụng nên đã không báo cáo để hại bạn. Nếu tình cờ đọc được những dòng chữ nầy, xin anh Đức nhận nơi đây lời cảm ơn muộn màng của chúng tôi.</p>
<p>Ngay tức khắc, chúng tôi lặn xuống ao, chui vào hầm. Cái hầm rất nhỏ, vừa đủ cho bốn người ngồi ôm nhau thật sát. Chúng tôi chỉ mặc vỏn vẹn chiếc quần đùi. Mực nước cao sát cằm. Cảm giác đầu tiên giống như bị cù lét, nhột nhạt không thể tả. Cái nhột nhạt do ôm nhau ở dưới nước làm cả bốn người không thể nín  cười được, dù không ai muốn cười trong hoàn cảnh nầy. Càng cố nín cười không thành tiếng, thân mình càng bị run lên và cọ quẹt vào nhau nên, càng nhột nhạt. Càng nhột, lại càng cười. Khoảng hơn mười phút sau, cơn cười mới lắng dần vì ngộp thở. Bọn tôi mệt lã vì thiếu không khí, do lỗ thông hơi quá nhỏ.  Khi vào hầm thử thì chỉ có mình tôi và mực nước thấp, nên không lường được hậu quả nầy. Cả bọn phải dùng tay móc thêm lỗ thông hơi nhưng vẫn không đủ không khí để thở.</p>
<p>Không thể chờ đợi đến gần khuya cho thật an toàn như kế hoạch, tôi quyết định phải chui ra, ngay khi ánh sáng từ lỗ hỏng hơi mờ nhạt. Có lẽ, lúc ấy khoảng hơn bảy giờ. Tôi bới tìm túi quần áo đã chôn dấu, bơi qua hồ cá tra, lần lượt cả bọn bò ra khỏi các hàng rào. Trời tối dần. Nhìn lại vòng đai canh gác, đèn điện sáng choang, thấp thoáng bóng dáng mấy tên vệ binh qua lại và văng vẳng tiếng lao xao của anh em bên trong. Chúng tôi tiếp tục bò đi trong rừng cỏ hoang của đồng tháp chừng một cây số mới dám đứng lên. Quay nhìn một lần nữa khu trại tù với ánh đèn lấp loáng. Vĩnh biệt mi, trại tù hắc ám đang giam hãm cả một thế hệ trai trẻ.</p>
<p>Phiá trước là đồng hoang tối đen như mực. Tương lai mình sẽ về đâu? Tôi tự hỏi với một thoáng hoang mang, nhưng dù sao, lòng đã quyết, không thể tiếp tục khuất phục trước kẻ thù. Cỏ lác cao tận cổ, chúng tôi nắm chặt tay đi hàng ngang vì sợ lạc. Có nhiều lần, bốn tên bất ngờ bị lọt xuống trủng sâu làm điếng hồn, rồi lại bò lên đi tiếp. Đi liên tục khoảng bốn tiếng trong bóng đêm dầy đặc, không nhìn thấy gì ở xung quanh. Có lẽ, Ơn Trên đã làm phép lạ, nên bốn thằng chúng tôi, chỉ vỏn vẹn chiếc quần đùi, đi chân không, chen giữa rừng cỏ lác cao ngang đầu, bằng những bước hối hả, vậy mà không ai bị thương tích hay sướt da. Chúng tôi định hướng được Sài Gòn qua vùng sáng lớn nhất. Nhờ định phương hướng bằng sao trời, chúng tôi tìm ra được hướng Cai lậy và Mỹ Tho, nên quyết định đi về con đường lộ xe chạy &#8211; từ Cai lậy đến Vườn đào- rồi băng qua lộ, xuống đồng luá, đi về Trung Lương, từ đó, tìm xe đến  Mỹ Tho. Tiếp tục bước chân trần trên cỏ lát và bóng đêm, cho đến khi cả bọn bị lọt tủm xuống một ao nước sâu mới biết rằng đã kề cận với xóm nhà ven con kinh.</p>
<p>Bơi qua con kinh, tiếp tục đi khoảng hai tiếng nữa về hướng đèn Mỹ Tho thì gặp con kinh lớn cặp ven lộ Cai Lậy. Lúc đó, xem đồng hồ là hai giờ ba mươi sáng. Tôi nghĩ, nếu tiếp tục băng qua lộ đá xuống đồng, đi về Trung Lương như kế hoạch cũ thì có thể đến sáng, cả bốn người còn lang thang giữa đồng. Khu đó là đồng luá, những người làm việc sẽ thấy, vậy chẳng khác nào “lạy ông con ở bụi nầy!&#8221;.  Vì thế, tôi quyết định lên lộ đá, đi thẳng ra Cai lậy, đón xe về Mỹ Tho, vì nghĩ rằng bọn cán bộ không bao giờ ngờ chúng tôi dám trốn ra Cai lậy.</p>
<p>Chúng tôi qua lộ đá, tìm chỗ tắm rửa, thay quần áo sạch. Lần nầy, thay đổi chiến thuật là đi công khai. Vừa đi, vừa nói chuyện, đuà giỡn ỏm tỏi như mới đi nhậu về. Thỉnh thoảng, cũng có vài căn nhà ven lộ thức dậy, chuyển hàng xuống ghe. Gặp một chiếc xe máy ba gác chở hàng, chúng tôi đón lại xin quá giang ra chợ. Người đàn ông lớn tuổi không hề thắc mắc, chở chúng tôi đi. Đến Cai Lậy chợ cũng vừa họp. Sau khi mua cho mỗi người một đôi dép, chúng tôi tản ra như bốn người xa lạ, theo xe lam ra đến Mỹ Tho lúc sáu giờ ba mươi sáng.</p>
<p>Khi ghé vào tiệm hủ tiếu ăn sáng &#8211; có lẽ, đây là tô hủ tiếu và ly cà phê ngon nhất trong đời tôi &#8211;  mới khám phá ra tai cuả tôi và Tước còn dính bùn đất. Sau khi ních một bụng no nê, cả bọn nhìn nhau cười thoải mái, dù chưa biết chuyện gì sẽ xảy ra kế tiếp. Ăn xong, ba chúng tôi ngồi chờ Đằng tìm địa điểm, nơi sẽ đón bọn tôi. Một tiếng sau, Đằng trở lại cho biết, ở nhà đó, không người nào có tên như mẹ Đằng đã nói. Đến tìm đúng số nhà, nhưng chủ nhà không biết gì cả, và họ lại là người Tàu không rành tiếng Việt &#8211; Sau nầy mới biết, trong lần thăm nuôi chót, mẹ Đằng chưa kịp nói đủ mật mã để nhận diện ở Mỹ Tho thì đã bị cán bộ đuổi về. Chúng tôi quá đỗi kinh hoàng, vì không biết đi đâu và sẽ làm gì trong hoàn cảnh nầy. Biết tìm đâu ra chỗ trú ngụ an toàn trong khi chờ Đằng liên lạc với mẹ của anh ở Vũng Tàu? Gần bốn năm trong tù, nay trở về phố lạ, chúng tôi lạc lõng, ngơ ngáo thật tội nghiệp. Ly cà phê bỗng đắng đến rợn người.</p>
<p>Đang miên man suy nghĩ phải giải quyết thế nào, tự nhiên tôi chợt nhớ số nhà cuả Phan Tấn Lộc, người bạn tù cùng tổ khi anh tâm sự về  gia đình. Lộc còn một mẹ già, vợ và hai đứa con nhỏ. Để ba người bạn ngồi lại, tôi vội đón xích lô tìm nhà Lộc. Đến con hẻm nhỏ, tìm đúng số nhà, tôi bước vào thì gặp một bác người Nam còm cõi, áo có nhiều miếng vá. Tôi đoán là mẹ cuả Lộc, nên hỏi vài câu để thăm dò. Khi biết đúng là bà, tôi thú thật là bạn của Lộc đang ở trong tình huống cùng đường. Vừa nghe qua, bà đứng dậy, chạy đến, ôm đầu tôi nghẹn ngào trong nước mắt:</p>
<p>-Con ơi là con! tội nghiệp các con, cứ đưa anh em đến đây đi rồi tính sau.</p>
<p>Tôi xúc động đến lặng người, không nói được lời cám ơn! Lòng can đảm và tình thương vô biên cuả một người mẹ già xa lạ đã cứu chúng tôi trong lúc nguy nan.</p>
<p>Trở lại quán ăn, chúng tôi bàn tính làm sao để cả bốn thanh niên lạ mặt vào nhà bà mà không bị  hàng xóm để ý. Hôm đó là ngày hai mươi chín Tết, chúng tôi giả dạng là những người cháu họ của bà từ  miền Tây đến thăm với nhành mai, dưa hấu trên tay, cười nói vui vẻ bước vào con hẻm. Căn nhà thuê thật chật hẹp nằm trong dãy nhà cuối hẻm gồm bốn căn, ngăn cách nhau bằng những tấm vách gỗ. Từ ngày Lộc đi tù, gia đình chỉ còn bà mẹ và vợ với hai đứa con nhỏ năm, bảy tuổi. Chị Lộc phải đi bán vé số để sinh sống qua ngày. Nhà nghèo đến độ bà mẹ già lom khom ra chợ, nhặt lá cải vụn bị loại bỏ, đem về làm dưa chua ăn Tết, nhặt từng cọng lá chuối khô, rơm rác bỏ phế ở để làm củi. Bao nhiêu tiền bán vé số cuả chị Lộc đều dành mua thực phẩm đi thăm nuôi Lộc. Gia đình chỉ sống lây lất qua ngày bữa cháo, bữa rau không đầy bụng.</p>
<p>Hôm đó, chúng tôi trú ngụ trong phòng của chị  Lộc &#8211; thật ra chỉ là một chiếc  giường tre, được ngăn bằng  tấm màn vải &#8211; để chờ chị  Lộc đi Bến Tre liên lạc với người bà con, nhờ họ báo cho mẹ của Đằng ở Vũng Tàu tìm cách đưa chúng tôi đi khỏi Mỹ Tho. Chúng tôi nằm chờ tin. Một ngày, một đêm chầm chậm trôi qua chừng như nghẹt thở! Đến trưa ngày hôm  sau –ba mưoi Tết-  chị Lộc trở về nhà, với nét  mặt hốt hoảng chị cho  biết,  bé Thành, con trai nhỏ của chị, sang khoe với đứa bạn ở căn nhà sát vách &#8220;nhà tao có bốn chú trốn tù&#8221;. Mẹ của đứa bé nghe được liền cho chị Lộc biết. Không bao lâu, có một tên công an trẻ đi đến nhà bên cạnh, chẳng biết làm gì, rồi hắn lại đi một cách vội vã. Trong lo âu, hồi hộp, chúng tôi bàn cách đối phó, nếu bị khám nhà bất ngờ và tìm cách ra khỏi căn nhà nầy mà không phải đi bằng lối ra vào duy nhất là con hẻm nhỏ phía trước. Đây là con hẻm cụt, phía sau dãy nhà chị Lộc là một cái ao nước đen, không có đường đi. Xóm nhà trong hẻm nầy chỉ có mấy căn, ai cũng biết nhau. Hai ngày qua, chúng tôi im phăng phắc trong nhà, bây giờ tự nhiên có bốn người thanh niên lạ bước ra, rất dễ bị để ý và nghi ngờ. Bên phải nhà chị Lộc là một căn nhà lầu cao, có rào kẽm gai bao quanh. Chị Lộc cho biết, nhà nầy có cô gái tên Nhung là bạn thân của chị.  Tôi thầm nghĩ, đường thoát ra ngoài đã có chút ánh sáng.</p>
<p>Vách nhà chị Lộc bằng gỗ cũ kỹ, sát với hàng rào kẽm gai nhà bên cạnh. Nếu được sự thương tìnhcủa chị Nhung, chúng tôi sẽ cắt vách, cắt rào, chui qua nhà chị là có thể đi thẳng ra đường lớn phía trước, không phải qua con hẻm. Đánh bạo một ván bàn tẩy, tôi xin chị Lộc mời chị Nhung sang để nhờ chị giúp đỡ. Nhìn bốn  tên tù vượt ngục quá đỗi thảm thương, nên chị Nhung đồng ý. Chị trở về nhà, cắt một lỗ rào, bên nầy tôi cắt một lỗ ván dưới ngay gầm giường và chui qua sân sau nhà chị Nhung. Từ nhà chị Nhung, chúng tôi tản ra phố Mỹ Tho đến một giờ đêm mới trở lại để dò la tình hình. Thấy có vẻ bình thường, chúng tôi chui rào, qua vách để trở lại nhà chị Lộc. Đêm hôm sau cũng “di tản” như thế. Ban ngày, thay phiên nhau gác ở cửa trước và lúc nào cũng trong tư thế sẵn sàng chui qua lỗ rào thoát thân, nếu công an tới khám nhà.</p>
<p>Đến sáng ngày mùng hai Tết, mẹ của Đằng nhận được tin đã đến đưa chúng tôi đi Vũng Tàu. Mọi người đều mừng khi vượt qua được một đoạn đường khó khăn. Mẹ và vợ của Lộc đã tiễn chúng tôi đi với hàng nước mắt. Ôm vai tôi, mẹ của Lộc nói:</p>
<p>-Mẹ cầu cho các con đi bình an vô sự. Khổ cho các con!</p>
<p>Tôi chỉ biết cầu Chúa ban phước lành cho người mẹ già và gia đình nhân ái nầy. (Năm 1987, gia đình Lộc đã được một người quen cho đi vượt biên. Hiện nay, anh chị Lộc rất thành công tại SC).</p>
<p>Khi ngang qua Sài Gòn, tôi xin được vài mươi phút để ghé thăm Nguyệt, người con gái tôi yêu và yêu tôi, đã mòn mỏi đợi chờ tôi suốt tám năm qua. Lúc ấy, tôi đang học quân sự ở Đà Lạt. Ra trường, nhận đơn vị chiến đấu, ngày từng ngày đối diện với cái chết, tôi không dám nghĩ đến chuyện kết hôn. Trong những năm tôi đi tù, em đã ba lần tìm kiếm để thăm tôi. Lần thăm cuối cùng ở Vườn Đào, tôi đã nhét vào tay em một lá thư thay lời vĩnh biệt, vì tôi không biết tương lai mình ra sao khi vượt trại. Gặp nhau, hai đứa nghẹn ngào, không nói được những gì cần phải nói đã đến phút chia tay. Em &#8211; người con gái yếu đuối với tình yêu bất hạnh. Tôi &#8211; người trốn tù biệt xứ hôm nay. Cuộc tình này rồi sẽ đi về đâu?  Vừa ngỡ ngàng như đang trong giấc mơ, vừa hoang mang không biết nên hy vọng hay tuyệt vọng trong niềm đau hay hạnh phúc. Trong thời khắc ngắn ngủi còn lại, chúng tôi lặng yên như khối đá, tay nắm tay, không nói được một lời.</p>
<p><em>“Em lặng nhìn rất vội lúc chia phôi,</em></p>
<p><em>Tôi mạnh bước mà nghe hồn nhỏ lệ” (2*)</em></p>
<p>Chỉ hai câu thơ nầy mới diễn tả trọn vẹn tâm trạng chúng tôi trong giây phút cuối cùng còn được nhìn thấy nhau. Nhìn em nhạt nhòa trong dòng nước mắt, với câu hỏi như lời ai oán “Bao giờ mình sẽ gặp lại hở anh?”.Tôi lắc đầu “Anh không biết!” rồi vội vã ra khỏi cổng rào. Nhưng chỉ vài bước tôi quay lại, cầm tay em nói một cách quả quyết “Anh tin mình sẽ có ngày gặp lại”, rồi cúi đầu bước nhanh vào dòng người đang ngược xuôi trên đường phố. Những giọt nước mắt nghẹn ngào, đau xót cùng với tình yêu chung thủy, nồng nàn cuả em trong những ngày tháng cùng cực, bi thảm ấy đã là sợi chỉ hồng tươi thắm, cột chặt cuộc đời chúng tôi vào nhau cho đến ngày hôm nay và suốt quãng đời còn lại.</p>
<p>Ở Vũng Tàu mười ngày, cứ đêm đến, để an toàn, bốn anh em chúng tôi phải trèo tường lên nóc nhà để ngủ. Ngày qua ngày, chúng tôi chờ đợi trong lo âu hồi hộp mà vẫn không liên lạc được với nhóm kháng chiến nào! Khi hỏi ra mới biết, sự thật mẹ Đằng cũng chỉ nghe đồn thôi chứ chưa hề gặp họ. Đến nước nầy đành phải trở lại Sài gòn để tìm chỗ nương thân.</p>
<p>Trở lại nhà Nguyệt, tôi được ba má em đón tiếp ân cần và sẵn sàng chứa chấp cho đến khi nào có đường đi. May mắn cho tôi, lại một lần nữa gặp được tấm lòng nhân hậu vô lượng. Sáu tháng trôi qua vẫn chưa bắt liên lạc được với đường dây kháng chiến nào. Tình yêu chúng tôi càng thêm tha thiết, mặn nồng. Em nhất quyết, dù ở bất cứ hoàn cảnh nào cũng chờ đợi tôi và chỉ yêu một mình tôi. Thế là chúng tôi vui vẻ đánh ván bài liều: làm lễ hỏi &#8211; thật kín đáo, chỉ trong gia đình &#8211; và tìm đường vượt biên.</p>
<p>Ba tháng sau, tôi bắt được đường dây vượt biên ở Rạch Sỏi, nhưng vì không đủ tiền tôi đành bỏ lại sau lưng mối tình sâu đậm, một mình dấn thân vào nơi sóng gió. Đêm chia tay nhau, em chỉ toàn nước mắt và nước mắt. Tôi bước chân đi mà lòng đau như cắt.</p>
<p>Trên đường đưa ra tàu lớn ở Sông Cái, chiếc ghe nhỏ chở  tôi và Bửu bị chận bắt ở đồn công an Rạch Sỏi, với đầy đủ  hải bàn và hải đồ trên ghe. Tôi nghĩ, nếu lọt vào tay bọn chúng thì chỉ có một con đường duy nhất là chết. Vì vậy, lợi dụng lúc tên công an đang mò mẫm từng chữ để viết báo cáo, tôi ngầm ra hiệu cho bác lái tàu. May mắn thay, bác bắt được ý tôi. Bất thần tôi phóng xuống ghe, bác tài giật máy và chiếc ghe lướt đi giữa những làn đạn bay vun vút trên đầu.</p>
<p>Về lại Sài gòn sau hai tuần lưu lạc, nhìn người vợ chưa cưới của mình héo hắt như cọng cỏ khô mà lòng tôi xót xa, bồi hồi. Gặp lại nhau, em mừng vui như tôi vừa sống lại. Ngay giây phút ấy, tôi nói với em, sẽ không bao giờ tôi đi một mình nữa, dù ở lại có chết cũng cam lòng. Từ đó, tôi bắt đầu một cuộc phiêu lưu để tìm đường vượt biên. Tôi lặn lội, tìm kiếm những bạn bè ở vùng sông biển để rủ rê, bàn tính kế hoạch. Nhưng với hai bàn tay trắng, không một đồng dính túi, bạn bè, đứa nào cũng nghèo xác, nghèo xơ, nên cuối cùng tôi đành phải vào làm công cho một lò đường ở ven sông Cửu Long, thuộc tỉnh Vĩnh Bình, để chờ thời cơ. Nhớ những ngày vác mía trầy trụa đôi vai, đầu bù tóc rối mà thương cho những người cơ cực trong cuộc sống.</p>
<p>Gặp lúc chủ lò đường làm ăn khó khăn, nợ nần tứ phía, không biết cách nào giải quyết, tôi khuyên nên tổ chức vượt biên, tìm khách đóng đủ số vàng đang cần, để lại cho gia đình trả nợ rồi ra đi. Người chủ đồng ý, chúng tôi bắt tay nhau tiến hành, sửa chữa chiếc ghe &#8220;cà dom&#8221; nhỏ, dài chín mét, ngang hai mét. Tôi đi một vòng để tìm người góp tiền vượt biên. Lặn lội tìm bạn bè khắp nơi từ Châu Phú, Long Xuyên, qua Phụng Hiệp, Cần Thơ, Long Hải đến đâu cũng gặp tình cảnh nghèo xác xơ của những người bạn mới ra tù. Từ giã bạn, tôi bước đi mà lòng chua xót, tội nghiệp bạn mà cũng tội nghiệp cho chính thân mình.</p>
<p>Tôi bắt đầu học lái ghe trên sông và đi qua lại các trạm biên phòng nhiều lần để dò đường. Từ sông ra biển không có gì đáng ngại. Nhưng ra đến ngoài biển thì làm sao lái tàu đến nơi? Một bài toán nan giải. Những ngày về Sài gòn, tôi lang thang trong chợ sách cũ để tìm&#8230; Ngày từng ngày vẫn hững hờ trôi qua. Bỗng một hôm, tôi nhìn thấy quyển sách có nhan đề &#8220;Cách xử dụng hải bàn khi đi biển&#8221; treo lơ lửng trên sợi dây trước cửa hàng  sách. Chúa ơi! có phải Ngài đang ra tay! Tôi cầm ngay cuốn sách và hỏi giá. Cô bán sách tươi cười với đôi mắt có đuôi:</p>
<p>-Chỉ có tám mươi đồng thôi anh ơi! .</p>
<p>Móc hết tiền trong túi, chỉ vỏn vẹn có mười đồng. Tôi năn nỉ:</p>
<p>-Cô làm ơn cho tôi đặt tiền cọc và cất quyển sách này vào trong dùm, chiều nay tôi sẽ trở lại mua.</p>
<p>Tôi chạy đi tìm Nguyệt, lúc đó đang làm việc ở trường Dược. Hai đứa tìm Tuyết Nga, đứa em nuôi, cầu cứu. Nga cũng không có tiền, nên cho mượn chiếc máy may để đem cầm. Tôi trở lại mua sách với tất cả sự hân hoan và niềm hy vọng.</p>
<p>Trở lại Vĩnh Bình, tôi tiếp tục nghiên cứu, sửa chữa chiếc ghe và trôi nổi, thao dợt nhiều ngày tháng trên sông. Ngày 19 tháng 3 năm 1982, vợ chồng tôi xuống tàu ra khơi khi đứa con gái đầu lòng vừa sinh được một tháng mười tám ngày. Vượt qua một đêm sóng gió kinh hoàng, tưởng cả tàu đã chìm nghỉm trong những lượn sóng đen ngòm như bàn tay tử thần vươn tới. Sau ba ngày lênh đênh trên biển chẳng biết đâu bờ bến, chỉ nhìn sao và hải bàn, định hướng Nam mà đi. Nước uống và lương thực trên tàu đã gần cạn, tôi vô cùng lo lắng. Đến đêm thứ ba, nhiều người trên ghe nhìn thấy ánh sáng chợt hiện, chợt tắt ở hướng Đông, mọi người cho rằng đó là đất liền, nên yêu cầu tôi đổi hướng. Tôi hoang mang, vì theo hải đồ phải đi hướng Nam mới đến Nam Dương (Indonesia), còn hướng Đông thì vào vô tận&#8230; làm sao tôi dám đổi hướng với những dự đoán mơ hồ. Nhưng nếu tôi vẫn giữ hướng nầy và nếu tàu đi biền biệt &#8230;? Trong nỗi phân vân lo lắng tôi chắp tay cầu nguyện <em>&#8220;Khi xưa Thánh GiuSe và Mẹ Maria đã đưa Chúa vượt biên sang Ai Cập để tỵ nạn, nay chúng con cũng vượt biển nguy nan. Con xin phó thác trong tay Chúa, xin Ngài cho một dấu hiệu để con biết đường nào đúng để đi!&#8221;</em>. Vài phút sau, một ánh sao băng từ giữa bầu trời rơi xuống chân trời thật chậm, đủ để tôi nhìn vào hải bàn và thấy đúng ngay hướng ghe đang đi. Tôi mừng rỡ, vì tin rằng đó là dấu chỉ nhiệm mầu. Và bằng niềm tin vững vàng, tôi thông báo với mọi người rằng tôi quyết định không đổi hướng.</p>
<p>Ngày hôm sau, chiếc ghe nhỏ mỏng manh giữa trùng dương mang theo ba mươi ba người, trong đó có một đứa bé vừa ra đời, chưa tròn hai tháng và một em bé còn trong bụng mẹ, gặp được tàu giàn khoan của Mỹ. Chiếc tàu lớn đã vớt chúng tôi, vì có người phụ nữ đang chuyển bụng sắp sinh con và sau đó đã đưa chúng tôi vào đảo Kuku, Indonesia.</p>
<p>Vừa tới bờ, sắp xếp xong chỗ ở, tôi bước vào căn nhà nguyện nghèo nàn trên đảo, hai bên vách đầy những hàng chữ nguệch ngoạc tạ ơn. Tôi quỳ phục xuống đất, nước mắt tuôn trào. Trong những dòng nước mắt hạnh phúc vì đã vượt qua được muôn ngàn gian truân, nguy hiểm, có những giọt lệ xót xa khi biết rằng mình đã bỏ lại quê hương thân yêu ở phía sau, nơi đó có mẹ già và anh chị em, biết đến bao giờ mới gặp lại []</p>
<p><strong>Trần Yên Hạ<br />
</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em>(1*) thơ Thảo Nguyên</em></p>
<p><em>(2*) thơ Uyên Thao</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> </em></p>
<p>©T.Vấn 2019</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/tran-yen-ha-nhung-chang-duong-chong-gai/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>

<!--
Performance optimized by W3 Total Cache. Learn more: https://www.boldgrid.com/w3-total-cache/?utm_source=w3tc&utm_medium=footer_comment&utm_campaign=free_plugin

Page Caching using Disk: Enhanced 

Served from: t-van.net @ 2026-04-24 06:20:53 by W3 Total Cache
-->