<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Trịnh Y Thư &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<atom:link href="https://t-van.net/author/trinhythu/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://t-van.net</link>
	<description>Văn Học và Đời Sống</description>
	<lastBuildDate>Sat, 05 Sep 2026 05:07:15 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.7.7</generator>

<image>
	<url>https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/02/t-van-favicon.png?strip=all&#038;resize=32%2C32</url>
	<title>Trịnh Y Thư &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<link>https://t-van.net</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>GIỚI THIỆU SÁCH MỚI: LANG THANG NGHÌN DẶM (Tập 2) của NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH</title>
		<link>https://t-van.net/gioi-thieu-sach-moi-lang-thang-nghin-dam-tap-2-cua-nguyen-thi-khanh-minh/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Trịnh Y Thư]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 06 Sep 2026 06:26:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Ghi Chép]]></category>
		<category><![CDATA[giới thiệu sách]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=91846</guid>

					<description><![CDATA[Văn Học Press 22 Agostino, Irvine, CA 92614 USA • vmail: +1-949-981-3978 email: vanhocpress@gmail.com • Facebook: Van Hoc Press Trân trọng giới thiệu: LANG THANG NGHÌN DẶM Tập 2 NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH VĂN HỌC PRESS xuất bản, 2026 @@@ LỜI GIỚI THIỆU Lang Thang Nghìn Dặm Tập 2: Một thời của thơ mộng, ly [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/09/image002.png?strip=all&w=2560"><img fetchpriority="high" decoding="async" width="501" height="723" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/09/image002.png?strip=all" alt="" class="wp-image-91847" style="width:395px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/09/image002-208x300.png 208w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/09/image002.png?strip=all 501w" sizes="(max-width: 501px) 100vw, 501px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p class="has-text-align-center"><strong>Văn Học</strong><strong> Press</strong><strong></strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>22 Agostino, Irvine, CA 92614 USA </strong><strong>• vmail: +1-949-981-3978</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>email: </strong><a href="mailto:vanhocpress@gmail.com"><strong>vanhocpress@gmail.com</strong></a><strong> • Facebook: Van Hoc Press</strong><strong></strong></p>



<p class="has-text-align-center">Trân trọng giới thiệu:</p>



<p class="has-text-align-center">LANG THANG NGHÌN DẶM Tập 2</p>



<p class="has-text-align-center">NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH</p>



<p class="has-text-align-center">VĂN HỌC PRESS xuất bản, 2026</p>



<p class="has-text-align-center">@@@</p>



<p><strong>LỜI GIỚI THIỆU</strong></p>



<p><strong>Lang Thang Nghìn Dặm Tập 2: Một thời của</strong> <strong>thơ mộng, ly tán</strong></p>



<p><em>Phan Tấn Hải</em></p>



<p>Tác phẩm Lang Thang Nghìn Dặm Tập 2 của Nguyễn Thị Khánh Minh một lần nữa cho thấy sức làm việc không ngừng nghỉ và tâm hồn cực kỳ thơ mộng của tác giả, nơi ngòi bút của chị hiển lộ sự trân trọng vẻ đẹp ngôn ngữ Việt qua các bài tản văn về nhiều tác giả và tác phẩm.</p>



<p>Nơi sách này, chúng ta sẽ đọc qua mắt nhìn của Nguyễn Thị Khánh Minh (NTKM) về các tác giả:</p>



<p>&#8212; Đỗ Hồng Ngọc, một chàng Đỗ Nghê làm thơ rất &#8220;tinh nghịch, mộc mạc, giản dị, đằm thắm, cảm động&#8221; &#8212; và là một người viết về Thiền để mời độc giả &#8220;chậm lại, nghe tiếng trái tim, cho ta năng lực để thấm thía được hết những đau khổ và hạnh phúc, mới tu học được bốn tâm vô lượng&#8221;;</p>



<p>&#8212; Ngô Thế Vinh, qua Mặt Trận Ở Sài Gòn, nơi NTKM viết là &#8220;Chữ của Ngô Thế Vinh là chữ sống. Văn Ngô Thế Vinh đầm đẫm cái đẹp bi thương đến não nùng. Đẹp, đến từ cảm xúc trung thực, ở tình tự nhân bản, ở trái tim nhân ái, ở sự hiểu biết sáng suốt, sâu sắc và trầm tĩnh&#8221;;</p>



<p>&#8212; Đặng Mai Lan, người &#8220;đã dẫn tôi vào một cõi hư hư thực thực với bóng đêm, với tiếng thầm của nước mắt chảy trên gò má, với tiếng sương rơi, tiếng dế gõ khuya, tiếng cười rúc rích trong lá, với tiếng chuông tình yêu lao xao tàng cây&#8221;;</p>



<p>&#8212; Trịnh Y Thư, người viết &#8220;trữ tình mà không thiếu ánh sáng lóng lánh của trí tuệ. Có đủ cả hai như thế là do Trịnh Y Thư vừa có tâm hồn nhạy cảm của nhà thơ vừa có nội lực dồi dào của tri thức&#8221;;</p>



<p>&#8212; Đặng Thơ Thơ, người ghi lại &#8220;một hiện tại chứa đựng vẻ đẹp của miên viễn, vẻ đẹp tâm linh của thiên nhiên, của đồ vật, nhìn thấy được qua hơi thở của sự sống, chẳng phải nhà văn đã lôi ra cho chúng ta thấy cái đẹp thường hằng trong mong manh? Đó là tuệ giác về vô thường&#8221;;</p>



<p>&#8212; Trần Mộng Tú, người có dòng thơ ghi lại &#8220;Sự cảm thụ thời gian được thể hiện hết sức hồn nhiên, tự nhiên, nên nó hết sức trẻ, cho dù sau nó là ẩn ý sự tàn phai&#8221;;</p>



<p>&#8212; Nguyên Yên, người viết &#8220;bình luận ký tên thật Nina Hòa Bình Lê với cái nhìn sắc bén, can đảm và nhân ái, người đọc còn được biết đến Thơ của cô, với bút danh Nguyên Yên. Một tiếng thơ gây ngạc nhiên bởi ý tưởng, hình ảnh độc đáo, giản dị, mạnh mẽ, trữ tình&#8221;;</p>



<p>&#8212; Cao Vị Khanh, người &#8220;không ngại xát thêm muối vào vết thương, để khơi gợi lòng biết ơn, để lưu giữ gốc rễ, để nhắc nhớ và để bao dung với hận thù, tạo nên một dòng thơ bi tráng trong mạch thơ lưu vong. Đấy là bóng của nhà thơ Cao Vị Khanh, ẩn hiện trên dặm dài con chữ&#8221;;</p>



<p>&#8212; Lê Giang Trần, qua thi tập Trạm Người Quá Bước, &#8220;là nỗi lưu đày của thân phận ly hương, và nỗi trôi giạt phận Người. Thế ra nhà thơ, cũng như triệu người Việt tha phương chịu tới hai lần lưu vong. Cái lưu vong nguyên thủy kiếp người. Cái lưu vong của nghiệp, phần Việt Nam&#8221;;</p>



<p>&#8212; Nguyễn Đức Cường, một nhà thơ &#8220;ngẩn ngơ bởi tiếng vọng của chợt thấy, và, lặng yên bình an trong tiếng thầm thì, Ta Xa Nhau Thành Thơ. Một hành trình khởi đi từ cảm thức hiện sinh, và nơi đến của cảm thức tâm linh. Một cuộc hóa thân nhiệm mầu ở cuối cuộc hành trình, để người thơ gặp lại tiếng khóc đầu tiên và nấm mồ nên thơ của khói sương mộng huyễn&#8221;;</p>



<p>&#8212; Phan Tấn Hải, người viết truyện &#8220;hư hư thực thực, thời gian thì phi tuyến tính, cái hấp dẫn là bắt đầu từ mấu chốt thực, rồi lan man vào mơ, rồi tan như ảnh ảo, đó là không khí của hiện thực huyễn ảo&#8230; Như mùi hương ẩn mật, như vạt nắng sớm trong lời kinh Pháp Cú&#8221;;</p>



<p>&#8212; Khế Iêm, người làm thơ đã &#8220;thấu cảm được hiệu quả cùng sự bất lực của lời đối với ý tưởng và cảm xúc của mình, sự tích lũy kinh nghiệm ấy khiến dặm trường của ngôn ngữ thơ là cuộc thể nghiệm chữ không ngừng. Ngôn ngữ thơ Khế Iêm là một hành trình theo đuổi, tìm tòi&#8230;&#8221;;</p>



<p>@@@</p>



<p>Phần 2 của tuyển tập được Nguyễn Thị Khánh Minh đặt nhan đề là Tâm Hương, nơi chị ghi lại suy nghĩ và các bài thơ chị tặng các bạn văn đã rời cõi này, trong đó có Nguyễn Tôn Nhan (rời cõi này năm 2010), Trương Thìn (2012), Nguyễn Xuân Hoàng (2014), Phùng Nguyễn (2015), Đinh Cường (2016), Du Tử Lê (2019), Nguyễn Lương Vỵ (2021), Huỳnh Ngọc Chiến (2021), Cung Tiến (2022), Lê Thiết Cương (2015).</p>



<p>Và đặc biệt là lời Nguyễn Thị Khánh Minh ghi lại một kỷ niệm năm 2009 khi chị được hội kiến cố Hòa Thượng Tuệ Sỹ, người đã ra đi năm 2023. Nhà thơ nữ họ Nguyễn kể rằng cơ duyên này là sau buổi ra mắt tập thơ Bùa Hương của chị tại quán cà phê Du Miên, lúc đó in chỉ với 50 ấn bản do Ý Thức Bản Thảo ấn hành 2009. Nhà thơ Lữ Kiều sau đó đưa nhà thơ đến chùa Già Lam để hội kiến Thầy Tuệ Sỹ.</p>



<p>Nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh ghi lại, trích: &#8220;Rồi, chúng tôi được nghe và thấy Sư ngồi đàn, một Thiền Sư gõ trên phím những nốt nhạc âm vang lời kinh hồi hướng, một Nhà Thơ gõ trên phím những nốt nhạc của tâm hồn, Sư ngồi đó, Sư đang ở đó, như vừa mới đến, như vừa ra đi trong âm ba tiếng nhạc ôi, Như Lai đâu có đi có đến… Không gian thời gian như nhập lại một dòng trôi vi diệu… Năm tháng vẫn như nụ cười trong mộng… Thời gian tiếng dương cầm, như đang đọng từng hạt vàng trong nắng Già Lam. Đó Ngày Mộng của tôi. Ngày mộng khởi duyên cho bao thiện lành trong từng bước tu hướng về Người&#8230;&#8221;</p>



<p>Độc giả sẽ tìm thấy giá trị văn học trong tuyển tập Lang Thang Nghìn Dặm Tập 2 qua những dòng chữ thơ mộng của Nguyễn Thị Khánh Minh, sẽ cảm nhận những buồn vui của các tác giả trong một thời sáng tác đầy ly tán, và sẽ nghe được những âm vang lịch sử &#8212; như khi tự thấy mình đang ngồi trong tiếng đàn của Thầy Tuệ Sỹ.</p>



<p>Từng dòng chữ của Nguyễn Thị Khánh Minh là cả một khung trời thơ mộng rất mực hy hữu, nơi chúng ta sẽ ngưng lại ở nhiều trang để suy nghĩ: vì sao các dòng văn xuôi của phê bình văn học trong ngòi bút của chị lại có sức mạnh của thi ca như thế. Hy hữu. Cực kỳ hy hữu.&nbsp;</p>



<p>@@@</p>



<p>Sách có bán trên BARNES &amp; NOBLE</p>



<p>358 trang, bìa mềm, 6”x 9”, giá bán: US$30.00</p>



<p>Xin bấm vào đường dẫn sau:</p>



<p><a href="https://www.barnesandnoble.com/w/lang-thang-nghin-dam-2-nguyen-thi-khanh-minh/1151017230?ean=9798182553803">Lang thang nghin dam 2 | Barnes &amp; Noble®</a></p>



<p>Từ tìm kiếm: lang thang nghin dam 2, nguyen thi khanh minh</p>



<p>– Văn Học Press</p>



<p><a href="mailto:vanhocpress@gmail.com">vanhocpress@gmail.com</a></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Trịnh Y Thư: Bùi Vĩnh Phúc: Phê bình Văn học như là một hành động của tình yêu</title>
		<link>https://t-van.net/trinh-y-thu-bui-vinh-phuc-phe-binh-van-hoc-nhu-la-mot-hanh-dong-cua-tinh-yeu/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Trịnh Y Thư]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 29 Apr 2026 06:53:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[phê bình]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=88590</guid>

					<description><![CDATA[1. Nhà Phê bình Văn học, anh là ai? Làm thế nào để viết về một nhà phê bình văn học? Đó là câu hỏi lởn vởn, thậm chí quay quắt, trong trí óc tôi từ lúc được tin tạp chí Ngôn Ngữ, một tạp chí chuyên đề văn học có uy tín lớn xuất [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/04/BIA-sach-BUI-VINH-PHUC.jpg?strip=all&w=2560"><img decoding="async" width="684" height="1024" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/04/BIA-sach-BUI-VINH-PHUC-684x1024.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-88315" style="width:392px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/04/BIA-sach-BUI-VINH-PHUC-200x300.jpg 200w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/04/BIA-sach-BUI-VINH-PHUC-684x1024.jpg?strip=all 684w, https://cdn.t-van.net/2026/04/BIA-sach-BUI-VINH-PHUC-768x1149.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/04/BIA-sach-BUI-VINH-PHUC.jpg?strip=all 864w" sizes="(max-width: 684px) 100vw, 684px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><strong>1. Nhà Phê bình Văn học, anh là ai?</strong></p>



<p>Làm thế nào để viết về một nhà phê bình văn học? Đó là câu hỏi lởn vởn, thậm chí quay quắt, trong trí óc tôi từ lúc được tin tạp chí <em>Ngôn Ngữ</em>, một tạp chí chuyên đề văn học có uy tín lớn xuất bản và lưu hành ở hải ngoại, dự định thực hiện một ấn bản đặc biệt về nhà phê bình Bùi Vĩnh Phúc, và tôi có ý định tham gia, đóng góp cái gì đó cho số báo ấy. Tham gia vì giữa tôi và Bùi Vĩnh Phúc chẳng xa lạ gì nhau. Sự thật là chúng tôi đã có mối giao tình văn chương từ rất lâu khi cùng sinh hoạt trong giới văn học nghệ thuật từ những năm đầu thập kỷ ’80 thế kỷ trước. Lúc đó anh là cây bút chủ lực của tờ tạp chí <em>Văn Học</em> do nhà văn Nguyễn Mộng Giác biên tập và điều hành. Thoạt đầu anh được biết đến với những bài tùy bút và thơ, nhưng dần dà, không rõ do một cơ duyên nào, anh bước sang lãnh vực Phê bình Văn học, và từ đó cho đến nay, không thể hoài nghi hay chối cãi được, anh nghiễm nhiên được xem là một trong số rất ít, rất hiếm hoi các cây bút phê bình đúng nghĩa và sắc bén nhất của văn học Việt Nam hải ngoại.</p>



<p>Trong buổi Ra Mắt Sách cuốn <em>9 Khuôn Mặt . 9 Phong Khí Văn Chương</em> của Bùi Vĩnh Phúc tại Quận Cam, California đầu năm 2024, trong phần phát biểu, tôi có hỏi cử tọa một câu rằng, “Để trở thành nhà phê bình văn học, có khó không?”</p>



<p>Câu hỏi đưa ra chỉ là một thách thức, nhưng xem ra khá thừa thãi và không thuận lý cho lắm, bởi như chúng ta đều biết, để trở thành một nhà phê bình văn học, không chỉ đơn thuần là đi theo con đường cố định cũ mòn, khen chiếu lệ hoặc chê bai qua loa một tác phẩm nào đó theo cảm tính thiên kiến hoặc quan hệ cá nhân, mà là xây dựng kỹ năng, bản lĩnh và uy tín theo thời gian, một thời gian rất dài, lắm khi dài cả đời người.</p>



<p>Nhà phê bình chẳng những phải trải qua một quá trình đọc sách sâu rộng bao phủ các thời kỳ khác nhau – cổ điển, hiện đại, đương đại – mà còn phải am hiểu tường tận các loại hình văn bản của các thể loại văn học như thơ, truyện, tiểu thuyết, ký (văn học), tùy bút, tản văn, kịch, tiểu luận, v.v. Rồi các nền văn hóa và truyền thống, bạn cũng cần phải có một số vốn kiến thức tối thiểu. Bạn không chỉ đọc để giải trí mà để nhận biết cách thức hoạt động của các tác phẩm và mối liên hệ giữa chúng với các tác phẩm khác. Phải có một tư duy phân tích sắc bén, nhà phê bình đặt ra những câu hỏi như: Tác phẩm này đang khám phá những chủ đề hay ý tưởng nào? Ngôn ngữ, cấu trúc và phong cách tạo nên ý nghĩa như thế nào? Tác phẩm đưa ra những giả định nào về xã hội, bản sắc, quyền lực hay đạo đức? Cái nhìn về Lịch sử trong tác phẩm là gì, chủ đích của tác giả chỉ là miêu thuật Lịch sử hay Lịch sử là cái cớ để tác giả nói về những suy nghiệm khác? Điều này có nghĩa là phải chứng minh quan điểm dựa trên cơ sở và nội dung của văn bản trong một bối cảnh toàn diện, chứ không chỉ dựa vào sở thích hay thiên kiến cá nhân.</p>



<p>Kiến thức về Triết học, về lý thuyết và bối cảnh văn học là cần thiết. Hầu hết các nhà phê bình đều sử dụng ít nhất một số lý thuyết, chẳng hạn như Chủ nghĩa Hình thức (thao tác nội tại của văn bản); Phê bình Lịch sử hoặc Văn hóa; các phương pháp tiếp cận Nữ quyền luận, Cấu trúc luận, Giải Cấu trúc luận, Hậu Thuộc địa luận, hoặc Mác-xít luận, v.v.</p>



<p>Đọc những tiểu luận hoặc chuyên luận của Bùi Vĩnh Phúc trong suốt bao năm qua trên sách báo, mà thể hiện rõ ràng và thuyết phục nhất là bộ sách đồ sộ <em>9 Khuôn Mặt . 9 Phong Khí Văn Chương</em> của anh được <em>Văn Học Press</em> xuất bản năm 2024, không nghi ngờ, cũng không nghi ngại, tôi có thể nói tất cả những điều trên đều có mặt trong cái viết của Bùi Vĩnh Phúc trong tư cách một nhà phê bình văn học.</p>



<p>Định nghĩa thế nào là Phê bình Văn học, Bùi Vĩnh Phúc có đưa ra một nhận định thú vị và độc sáng. Trong bài tiểu luận đặc sắc “Về Tính Vũ Đoán trong Viết, Đọc, và Thẩm Thức Văn Chương”, anh bảo đọc sách là một sự vũ đoán, chấp định. Anh viết, “<em>Và chính là từ sự chấp định này, ký hiệu (ngôn ngữ) nói chung và văn bản văn học nói riêng, mang tính đa nghĩa, mơ hồ và nhập nhằng trong cái nghĩa tích cực của nó.</em>”</p>



<p>Theo anh, đây chính là cơ sở cốt lõi làm nên tính cách Phê bình Văn học đúng nghĩa. Anh viết:</p>



<p><em>“Mở một trang sách, bước vào thế giới của chữ nghĩa, con người đã đẩy cửa để bước vào một thế giới khác, cũng đầy ắp những ký hiệu. Những ký hiệu trong sách cũng đòi hỏi phải được giải mã, lột vỏ. Có thế, chúng mới có thể dâng hiến cho người đọc cái tinh chất của chúng, cái chất ngọt, cay, đắng, chát, mặn mà, thơm tho, nồng đượm, hay cái cảm giác thô ráp, mềm mại, sắc lẻm, xù xì… của cuộc đời.”</em></p>



<p>Đối với Bùi Vĩnh Phúc, một tác phẩm văn học là một thế giới “mở”, nó cho phép người đọc đi vào bằng những cánh cửa khác nhau, một thế giới chấp định, bởi nó có thể chứa đựng trong đó muôn trùng lớp nghĩa, ý nghĩa của nó không bao giờ là một ý nghĩa chung cuộc, dứt khoát, nó có thể thay đổi tùy theo cái nhìn, góc nhìn của người đọc, tùy theo thái độ quan sát, trải nghiệm sống, tri thức, tâm lý của người đọc ấy.</p>



<p>Tôi không thể không đồng ý với anh về luận điểm này.</p>



<p>Khi đọc cuốn tiểu thuyết <em>Jane Eyre</em> của nữ sĩ Charlotte Brontë, nhà phê bình Mác-xít đánh giá tác phẩm dựa trên những quan hệ tương tác kinh tế để từ đó đề xuất những luận đề xã hội. Nhưng đọc cùng cuốn sách, nhà phê bình Nữ quyền luận sẽ nhìn khác, hắn tập trung vào tình huống và tâm lý ứng xử giữa các nhân vật khác giới tính để luận giải những mâu thuẫn nam nữ trong một bối cảnh xã hội nào đó.</p>



<p>Sự thú vị khi đọc những tác phẩm văn học là chỗ đó.</p>



<p>Bùi Vĩnh Phúc không dừng lại ở ý nghĩa vũ đoán, chấp định của việc đọc, anh tiến sâu vào trọng tâm vai trò người phê bình. Anh viết, “<em>Văn bản là cái được nói ra, nhưng trong cái được nói ra đó có hàm chứa những cái không được nói ra. Cái nói ra dựa vào cái không được nói ra. Có một sự chồng lên nhau giữa cái được nói ra và cái ẩn kín bên trong, cái lùi khuất khỏi tiền trường sân khấu. Đó là cái không được phát ngôn, tức sự im lặng. Văn bản là một không gian, một hiện trường được tổ chức theo các quy luật ngôn ngữ. Nó che đậy ở bên dưới nó những cái vắng mặt, những kho tàng được chôn giấu, ẩn kín. Bởi vậy, đọc hay phê bình văn học là đi tìm cái bị che giấu kia, đi tìm cái vắng mặt, cái không hề hiện diện tại hiện trường</em>.”</p>



<p>Đọc một tác phẩm văn học là đọc giữa những hàng chữ, là nắm bắt một vài từ hay nhóm từ hay ý tưởng làm điểm nhấn để từ đó thăng hoa lên các suy nghiệm sâu sắc hơn. Có nghĩa là độc giả phải sáng tạo cùng với tác giả.</p>



<p>Một tác phẩm tiêu biểu đòi hỏi độc giả phải “đồng sáng tạo” với tác giả là cuốn <em>Dubliners</em> của nhà văn James Joyce. Khi viết cuốn sách này, Joyce mới ngoài 20 tuổi, nhưng tác phẩm ấy của ông đã được xem là lời kêu gọi dân tộc Ireland hãy tỉnh thức, hãy thoát ra khỏi cõi u mê, thoát ra tình cảnh trì trệ, bảo thủ đi ngược lại mọi tiến bộ về mặt dân sinh lẫn tư tưởng, để kiến tạo đất nước. Tuy nhiên, trong suốt 15 truyện ngắn, ta không hề thấy một từ, một ý nào Joyce viết cho thấy ông đang kêu gọi ai đó đứng lên làm cách mạng cả. Sự tinh tế và nhất là nghệ thuật văn chương cao độ hiếm thấy của Joyce, may mắn thay, đã không biến tác phẩm của ông thành một văn bản tuyên truyền chính trị thấp kém và rẻ tiền. Nhờ vậy, dù ra đời từ cả trăm năm trước, tác phẩm vẫn có sức thu hút người đọc, bởi, như Bùi Vĩnh Phúc nói, “… <em>đọc hay phê bình văn học là đi tìm cái bị che giấu kia, đi tìm cái vắng mặt, cái không hề hiện diện tại hiện trường</em>.” Chính “cái bị che giấu” đã khiến tác phẩm có sức mạnh trường tồn bền bỉ, mà người đọc, người phê bình, có trách nhiệm tìm ra, chỉ ra cho mọi người cùng thấy.</p>



<p>“<em>Cái bị che giấu, cái vắng mặt</em>”, đối với thơ ca, là tất cả, bởi chủ ý của thơ ca là tiếp lực khả năng gợi cảm của ngôn từ hầu biểu hiện những cảm xúc, cảm quan, cảm thức nằm ngoài đường biên của ý thức hằng ngày. Mỗi bài thơ là một thực thể độc lập được ngôn ngữ dàn xếp, hòa giải một cách phức hợp, có nghĩa là, bài thơ có thể ám chỉ cái gì có thật, hoặc nó chẳng ám chỉ điều gì, nó chỉ hiện hữu ở hình thức mà chính nó được trình bày. Nói cách khác, ngôn ngữ thơ kiến tạo một không gian thơ và bất cứ thứ gì phi-thơ (biện biệt cho một ý đồ, một ý thức hệ, chẳng hạn) nhảy vào thế chỗ đều trở thành vô nghĩa một cách ngớ ngẩn, đáng buồn cười. Một bài thơ thường có những khoảng trống, giống như một khúc nhạc thường có những dấu lặng, nhưng chính những khoảng trống đó giúp ta có một lối thẩm thức độc lập và độc đáo cho chính ta. Đó chính là sự thú vị khi đọc thơ.</p>



<p>Khởi đi từ ý niệm “<em>cái vắng mặt</em>” của Bùi Vĩnh Phúc, tôi có một suy nghĩ như vậy về thơ ca, nói riêng, và văn học, nói chung. Kỳ thực, đọc hay thưởng thức bất kỳ một tác phẩm nghệ thuật nào khác, như hội họa, âm nhạc, ta đều bị chi phối dưới hình thức thẩm thức, lý giải rất chủ quan, mang tính vũ đoán của mỗi chủ thể người thưởng ngoạn, và nhờ vậy tác phẩm biến thành một thế giới với vô số chiều kích lý thú.</p>



<p><strong>2. Phê bình Văn học và Triết học</strong></p>



<p>Triết học có ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài đến Phê bình Văn học, nó định hình tính cách nhà phê bình hiểu văn học, diễn giải văn bản và đánh giá giá trị của chúng. Triết học cung cấp những câu hỏi cơ bản mà Phê bình Văn học đặt ra: Ý nghĩa là gì? Chân lý được thể hiện trong nghệ thuật như thế nào? Ngôn ngữ có thể phản ánh chính xác thực tại không? Ví dụ, Plato và Aristotle đã đặt nền móng Triết học ban đầu – Plato xác lập những vấn nạn thơ ca với sự hoài nghi vì cho rằng đó là sự bắt chước, trong khi Aristotle bảo vệ nó như một hình thức tri thức có ý nghĩa. Những ý tưởng này vẫn còn vang vọng trong các cuộc tranh luận về Chủ nghĩa Hiện thực, sự mô phỏng và mục đích của văn học.</p>



<p>Nhiều trường phái Phê bình Văn học lớn có nguồn gốc trực tiếp từ tư tưởng Triết học: Phê bình Mác-xít phát triển từ Triết học của Karl Marx, tập trung vào giai cấp, quyền lực và hệ tư tưởng trong các văn bản. Phê bình Phân tâm học dựa trên những ý tưởng Triết học của Freud về vô thức và hành vi con người. Phê bình Hiện sinh dựa trên các triết gia Hiện sinh như Sartre và Camus, nhấn mạnh đến sự tự do, sự lựa chọn và sự tha hóa. Cấu trúc luận và Hậu Cấu trúc luận dựa trên các ý tưởng Ngôn ngữ học và Triết học từ các tư tưởng gia như Saussure, Derrida và Foucault, đặt câu hỏi về ý nghĩa ổn định và ý định của tác giả. Vân vân.</p>



<p>Triết học ảnh hưởng đến tính cách các nhà phê bình nhìn nhận mối quan hệ giữa tác giả, văn bản và người đọc. Ví dụ, Hiện tượng học (Heidegger, Gadamer) nhấn mạnh vai trò của người đọc trong việc tạo ra ý nghĩa, trong khi Triết học Hậu Hiện đại thách thức ý tưởng về một cách diễn giải duy nhất, cố định.</p>



<p>Nói chung, Triết học cung cấp cho Phê bình Văn học xương sống trí tuệ. Nó cung cấp các lý thuyết, khái niệm và phương pháp mà các nhà phê bình sử dụng để phân tích văn bản, biến Phê bình Văn học thành một cuộc khảo sát có kỷ luật, quy tắc chứ không chỉ đơn thuần là ý kiến, thiên kiến ​​cá nhân. Nếu không có Triết học, Phê bình Văn học sẽ thiếu hẳn chiều sâu, sự mạch lạc và tính nghiêm túc.</p>



<p>Bùi Vĩnh Phúc là nhà phê bình luôn có ý thức về Triết học khi viết về thơ văn của một tác giả nào đó. Trong một chuyên luận dài hơi (và có lẽ đầy đủ nhất) về thi sĩ Thanh Tâm Tuyền, anh viết: “… <em>Nhìn một cách nào đó, Thanh Tâm Tuyền là một hữu thể bị ‘giam giữ’ trong đời sống. Nhưng, nói như thế là một nghịch ngôn, một oxymoron, vì sống là sống cùng và sống với. Con người là một hữu-thể-tại-thế, một hữu-thể-ở-đó (</em>Dasein<em>), nói như Heidegger. Vì thế, bảo rằng nhà thơ bị ‘giam giữ’ trong đời sống thì chỉ là một cách nói. Có ‘giam giữ’ thì mới có ý thức ‘vượt thoát’, muốn chặt đứt ‘xích xiềng.</em>’”</p>



<p>Xuyên suốt tập chuyên luận <em>9 Khuôn Mặt . 9 Phong Khí Văn Chương</em>, ngoài Thanh Tâm Tuyền, ta thấy Bùi Vĩnh Phúc đã sử dụng thấu đáo Triết học ngôn ngữ làm cơ sở lý luận để nói về thơ văn của các tác giả nổi tiếng Miền Nam Việt Nam một thời, như Mai Thảo, Vũ Khắc Khoan, Võ Phiến, Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Xuân Hoàng, Phạm Công Thiện, Bùi Giáng, Tô Thùy Yên. Ảnh hưởng của Triết học đến Phê bình Văn học hiển thị rõ rệt trên mặt bằng ngôn ngữ. Các nhà tư tưởng như Wittgenstein và Derrida đã ảnh hưởng đến ngòi bút phê bình của anh trong việc xem xét sự mơ hồ, phép ẩn dụ và sự bất ổn của ngôn ngữ, dẫn đến phân tích văn bản chi tiết và sự hoài nghi về ý nghĩa tuyệt đối.</p>



<p>Với tôi, tập chuyên luận nói trên của Bùi Vĩnh Phúc là một tác phẩm cột mốc trong quá trình đọc và viết, chẳng riêng gì ở hải ngoại, mà phải xếp chung vào dòng chảy liên lỉ của văn học Việt Nam.</p>



<p><strong>3. Phê bình như là một thao tác sáng tạo</strong></p>



<p>Viết phê bình, bạn phải sở hữu một kỹ năng viết xuất sắc. Một nhà phê bình giỏi thường viết rõ ràng và thuyết phục, phải cân bằng giữa sự sâu sắc và dễ hiểu, hầu có thể giải thích những ý tưởng phức tạp mà không mơ hồ hay khoa trương. Phê bình là một hình thức văn học phi hư cấu, đồng thời hàm chứa một ý thức sáng tạo trong đó, và chính bởi thế, phong cách trở nên rất quan trọng.</p>



<p>Bùi Vĩnh Phúc có một phong cách rất riêng khi viết tiểu luận, Phê bình Văn học, và đó là phong cách thơ. Rất thơ.</p>



<p>Nhan đề bài chuyên luận về thi sĩ Thanh Tâm Tuyền: “<em>Cái Tôi kỳ việt và Âm bản Thành phố/Tình yêu trong thơ tự do Thanh Tâm Tuyền”, </em>và<em> “</em><em>Cái Tôi ẩn mật và Dương bản Thiên nhiên ngày vây hãm trong ‘Thơ ở đâu xa’ của Thanh Tâm Tuyền</em>.”</p>



<p>Hay vài câu điển hình trong bài viết về thi sĩ Phạm Công Thiện: “… <em>Một ly rượu nho màu đỏ </em>bordeaux<em> có mùi vị say sưa mềm mại của nắng thơm màu hổ phách, có mùi gió biển ngất ngây của những hải ngạn xa xôi, có những đêm sâu ủ mùi nguyệt bạch. Tịch mịch hồng. Và có mặt trời (nếu mặt trời có thực) quay lông lốc theo vòng thiên địa. Ực một hớp rượu ấy vào người, nếu người ta đang yêu đời, đang yêu những cây trái trần gian, người ta sẽ thấy là đời có thêm vị ngọt</em>.”</p>



<p>Đó là những câu chữ trong một bài thơ hay một bài tản mạn, chứ không phải phê bình.</p>



<p>Nhưng không phải vì thế mà văn phê bình của anh thiếu tính hàn lâm. Kỳ thực, nó rất uyên áo và luôn để lại trong tâm trí người đọc những suy nghiệm thâm trầm nhưng vô cùng mãnh liệt. Kết hợp hai thuộc tính gần như bất khả hòa nhập ấy – hàn lâm và thơ mộng – lại là cái gì rất đỗi tự nhiên, rất đỗi đẹp đẽ, rất đỗi hài hòa, rất đỗi sáng tạo trong văn phê bình Bùi Vĩnh Phúc.</p>



<p>Phải chăng ngoài tài viết phê bình, anh còn là một nhà thơ và người viết tùy bút, tản văn xuất sắc?</p>



<p>(Phạm vi bài viết này chỉ đóng khung trong lãnh vực phê bình của Bùi Vĩnh Phúc, nên đành chịu sự thiếu sót không nhắc đến Bùi Vĩnh Phúc trong tư cách nhà thơ, người viết văn xuôi hay nhà Ngôn ngữ học.)</p>



<p><strong>4. Phê bình Văn học như là một hành động của tình yêu</strong></p>



<p>“<em>Một nền văn học không có phê bình là một nền văn học kém may mắn</em>.” Nhà văn Võ Phiến đã từng ngậm ngùi chua xót thốt câu nói ấy về nền văn học Miền Nam thời kỳ 1954-1975. Ở đây xin hiểu thêm cho ông Võ. Ông bảo, “<em>Trên báo chí vẫn có những bài điểm sách, giới thiệu, phê bình; nhưng hầu hết là những bài của giới sáng tác nhận xét lẫn nhau</em>…” Đoạn ông nói thêm, “… <em>nhà phê bình lấy việc phát huy được cái hay cái đẹp của người khác làm sự thành công của mình, xem những bất công, lầm lẫn, thiếu sót trong sự nhận xét người khác như sự thất bại của chính mình</em>…”</p>



<p>Ta có thể đem định nghĩa trên của ông Võ áp dụng vào bản thân Bùi Vĩnh Phúc được chăng?</p>



<p>Nói cho cùng, Phê bình Văn học là nghệ thuật lắng nghe một tác phẩm văn học một cách chăm chú cho đến khi nó bắt đầu “lên tiếng.” Đó không phải sự phân tích lạnh lùng mà là sự quan sát tỉ mỉ, giống như áp vỏ sò vào tai và nghe thấy tiếng đại dương mà bạn không bao giờ ngờ tới. Nhà phê bình đồng hành cùng bài thơ, cuốn tiểu thuyết, thiên truyện ngắn, vở kịch – không chỉ hỏi điều gì xảy ra, cái gì được miêu thuật trong tác phẩm, mà còn hỏi tại sao điều đó lại quan trọng, tại sao nó làm đẹp cho cuộc nhân sinh, và nó “thở” như thế nào. Ý nghĩa lung linh giữa các dòng chữ, trong những khoảng lặng, trong những mô-típ âm thanh và hình ảnh, chờ đợi một người đủ kiên nhẫn để nhận ra. Người đó chính là nhà phê bình.</p>



<p>Ở bình diện cao đẹp, nhân bản nhất, Phê bình Văn học là một hành động của tình yêu. Nó xem câu chữ, văn bản như những sinh vật “sống”, được định hình bởi lịch sử, văn hóa và khát vọng của con người, khát vọng được sống như một con người. Một ẩn dụ trở thành một cánh cửa cho ta bước vào ngôi nhà tráng lệ của sáng tạo và nghệ thuật; sự lựa chọn của nhân vật trở thành một tấm gương cho ta thấy tất cả những cái tốt lành-xấu xa, hạnh phúc-khổ đau trong cuộc nhân sinh. Nhà phê bình không tuyên bố chân lý cuối cùng mà đưa ra một cách nhìn, một ngọn đèn được chiếu rọi ở một góc độ nhất định để những bóng tối mới xuất hiện. Sự bất đồng không phải là thất bại ở đây – nó là bằng chứng cho thấy tác phẩm vẫn sống động và có khả năng mang nhiều ý nghĩa khác nhau, rất xứng đáng cho ta mở cuộc dò thám, truy tìm vào đáy sâu của bản ngã.</p>



<p>Bởi thế, phê bình trở thành một loại thơ ca riêng. Nó mượn âm nhạc của tác phẩm mà nó nghiên cứu, đáp lại bằng suy nghĩ thay vì vần điệu, bằng sự thấu hiểu, đồng cảm thay vì cốt truyện. Trong khi sáng tác văn học hỏi “nếu như”, thì Phê bình Văn học hỏi “điều này có ý nghĩa gì đối với chúng ta?” Giữa hai câu hỏi này, văn học tiếp tục tồn tại – được diễn giải không ngừng, được đổi mới không ngừng.</p>



<p>Con đường Bùi Vĩnh Phúc chọn đi không dễ dàng chút nào, nó đầy chông gai trắc trở là đằng khác. Nhưng tôi biết chắc anh rất tự tin vào con đường anh chọn lựa cho chính mình. Đối với anh, Phê bình Văn học là một hành động của tình yêu. Bên trong nhân dáng con người thư sinh, mặt mũi hiền lành, nhân hậu, miệng luôn sẵn một nụ cười ấy là một tâm hồn sôi động yêu chữ nghĩa, quý văn chương. Anh xuýt xoát tuổi tôi, tức là đã “thất thập cổ lai hy”, nhưng tôi đồ tình yêu ấy vẫn nóng bỏng chảy rát trong huyết quản anh. Và, để kết thúc bài viết khiêm tốn, sơ sài này cho ấn bản đặc biệt của <em>Ngôn Ngữ</em> về anh, tôi xin trích một câu văn nữa của anh mà tôi xem nó chính là tâm nguyện của anh khi chọn ngòi bút Phê bình Văn học:</p>



<p>“<em>Tôi mong người đọc có thể thấy hay cảm nhận được cái sức sống đẹp tươi và đầy màu sắc của một vùng trời đất hoa cỏ quê hương, nói riêng, và của cõi sống văn chương con người, nói chung. Cái cõi sống ấy, người viết và người đọc, ở nơi nào và thời nào, tôi tin, cũng đều muốn hướng đến. Trong đó, tất cả – người viết và người đọc, cái viết và cái đọc, cái được viết và cái được đọc – đều hạnh phúc quây quần và ca hát hạnh ngộ cùng nhau</em>.”</p>



<p><em>– </em>Trịnh Y Thư</p>



<p>(Tháng Giêng, 2026)</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>James Joyce: Ngày lễ Ivy trong phòng họp ủy ban [1] (Trịnh Y Thư chuyển ngữ)</title>
		<link>https://t-van.net/james-joyce-ngay-le-ivy-trong-phong-hop-uy-ban-1-trinh-y-thu-chuyen-ngu/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Trịnh Y Thư]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 11 Apr 2026 06:14:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[truyện dịch]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=88185</guid>

					<description><![CDATA[Lão Jack gom những mảnh than vụn lại bằng một tấm bìa cứng rồi khéo léo rải lên đống than đang trở màu bạc trắng. Khi đống than được phủ sơ sài, gương mặt lão chìm vào bóng tối; nhưng khi lão cúi xuống quạt lò, ánh lửa tỏa lên soi cái bóng lom khom [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/04/download.jpg?strip=all&fit=297%2C148&w=2560"><img decoding="async" width="297" height="148" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/04/download.jpg?strip=all&fit=297%2C148" alt="" class="wp-image-88187" style="width:545px;height:auto"/></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Lão Jack gom những mảnh than vụn lại bằng một tấm bìa cứng rồi khéo léo rải lên đống than đang trở màu bạc trắng. Khi đống than được phủ sơ sài, gương mặt lão chìm vào bóng tối; nhưng khi lão cúi xuống quạt lò, ánh lửa tỏa lên soi cái bóng lom khom của lão lên bức tường đối diện và khuôn mặt lão dần hiện ra. Đó là khuôn mặt của một ông già, rúm ró, râu ria lởm chởm. Đôi mắt tèm hem lúc nào cũng ươn ướt có con ngươi màu xanh của lão chớp chớp nhìn vào lửa, cái miệng nhểu nhão khép mở, lúc khép, nó nhóp nhép như đang nhai cái gì. Khi than đã bén lửa, lão dựng tấm bìa vào tường, thở dài, nói:</p>



<p>“Được rồi, thưa ông O’Connor.”</p>



<p>Ông O’Connor là một người đàn ông chưa già lắm nhưng tóc đã hoa râm, da mặt lốm đốm mụn, ông vừa cuốn xong một điếu thuốc lá gọn gàng, nhưng khi nghe lão Jack cất tiếng, ông ngẫm nghĩ sao đó lại tháo ra rồi lại từ tốn cuốn lại, và sau một thoáng cân nhắc, quyết định liếm mép giấy.</p>



<p>“Ông Tierney có nói khi nào ông ấy quay lại không?” ông hỏi bằng cái giọng the thé.</p>



<p>“Chẳng thấy nói gì sất.”</p>



<p>Ông O’Connor gắn điếu thuốc lên môi, thò tay vào túi áo. Ông lấy ra một xấp thẻ mỏng.</p>



<p>“Để tôi lấy diêm cho ông,” ông già nói.</p>



<p>“Chẳng cần, tôi dùng cái này đốt thuốc được rồi.”</p>



<p>Ông chọn một tấm, nhìn xuống hàng chữ:</p>



<p>BẦU CỬ HỘI ĐỒNG THÀNH PHỐ<br>KHU VỰC ROYAL EXCHANGE</p>



<p><em>Ông Richard J. Tierney, P.L.G., trân trọng mong nhận được lá phiếu và sự ủng hộ của quý vị trong cuộc bầu cử sắp tới tại khu vực Royal Exchange.</em></p>



<p>Ông O’Connor được đại diện của ông Tierney thuê đi vận động cử tri ở một khu vực trong thành phố, nhưng vì thời tiết hôm nay xấu và đôi ủng bị thấm nước, nên suốt cả ngày ông chỉ ngồi bên lò sưởi trong văn phòng ủy ban nằm trên phố Wicklow cùng với Jack, lão quản gia già. Hai người ngồi như thế cho đến lúc trời tối dần. Hôm đó là ngày mồng Sáu tháng Mười [1], ngoài trời lạnh lẽo và ảm đạm.</p>



<p>Ông O’Connor xé một tấm thẻ, châm lửa, đốt thuốc. Ánh lửa chiếu lên huy hiệu hình chiếc lá thường xuân màu xanh lục đậm, bóng loáng, cài trên ve áo ông. Ông già giương mắt chăm chú nhìn, rồi lại cầm tấm bìa uể oải quạt lửa lò trong lúc ông kia hút thuốc.</p>



<p>Lão bỗng nói, “Thật chán, nuôi con cái bây giờ sao mà khó khăn thế chứ không biết. Nào ai ngờ nó lại thành ra như thế! Tôi đã cho nó theo học trường Christian Brothers, cố gắng hết sức mình vì nó, ấy thế mà nó chẳng chịu học hành gì cả, suốt ngày chỉ rượu chè, chơi bời bậy bạ. Nói có Giời làm chứng đấy, tôi đã cố hết sức dạy dỗ nó nên người tử tế.”</p>



<p>Lão mệt mỏi đặt tấm bìa xuống chỗ cũ.</p>



<p>“Chỉ tiếc là bây giờ tôi già rồi, không thì đã uốn nắn nó lại. Lúc còn sức tôi quất roi vào lưng nó. Còn mẹ nó thì… ông biết đấy, bà ấy nuông chiều nó đủ điều…”</p>



<p>“Ấy, chính thế mới làm hư con cái,” O’Connor nói.</p>



<p>“Chắc chắn là thế rồi,” ông già đáp. “Mà nào có được lời cảm ơn, chỉ toàn những câu hỗn láo, xấc xược. Hễ thấy tôi có chút rượu vào mồm là nó ra mặt khinh nhờn tôi ngay [2]. Thế gian này rồi sẽ ra sao khi con cái đối xử với cha mình như vậy?”</p>



<p>“Thằng con ông năm nay bao nhiêu tuổi rồi?” O’Connor hỏi.</p>



<p>“Mười chín.”</p>



<p>“Sao ông không cho nó đi làm cái nghề gì đi?”</p>



<p>“Từ dạo nó bỏ học tôi nào dám có một lời mắng nhiếc cái thằng say ấy bao giờ. Tôi bảo nó, ‘Tao không nuôi mày nữa đâu. Tự mà đi kiếm việc đi.’ Nhưng hễ có việc kiếm được tí tiền là nó lại đi uống rượu sạch.”</p>



<p>Ông O’Connor lắc đầu thông cảm. Ông già im lặng nhìn vào lửa.</p>



<p>Bỗng có kẻ mở cửa, gọi to:</p>



<p>“Xin chào! Đây có phải phòng họp của Hội Tam Điểm không?”</p>



<p>“Ai đấy?” ông già hỏi.</p>



<p>“Sao các ông lại ngồi trong tối?” giọng nói ấy vang lên.</p>



<p>“Có phải anh Hynes đấy không?” ông O’Connor hỏi.</p>



<p>“Phải. Sao lại ngồi trong phòng tối om om thế này?” Hynes nói, vừa nói vừa tiến gần đến phía có ánh sáng lò sưởi.</p>



<p>Anh là một thanh niên cao gầy với hàng ria mép màu nâu nhạt. Trên vành mũ và cổ áo khoác ngoài kéo dựng che kín cổ lấm tấm vài giọt mưa.</p>



<p>“Mat này, tình hình đến đâu rồi?” anh hỏi ông O’Connor.</p>



<p>Ông O’Connor lắc đầu. Ông già rời lò sưởi, đi chập choạng trong phòng mang đến hai chân nến, châm lửa rồi đặt xuống mặt bàn. Căn phòng trơ trụi hiện ra, ánh lửa trong lò sưởi mất đi màu sắc tươi vui. Trên tường chỉ thấy treo bản tuyên cáo tranh cử. Giữa phòng đặt chiếc bàn nhỏ, trên chất đầy giấy tờ lộn xộn.</p>



<p>Ông Hynes đứng tựa vai vào bệ lò sưởi:</p>



<p>“Hắn đã thanh toán tiền nong cho các anh chưa?”</p>



<p>“Chưa. Cầu xin Chúa đừng để tối nay hắn bỏ rơi bọn tôi.”</p>



<p>Hynes cười.</p>



<p>“Ồ, hắn sẽ trả thôi. Đừng lo.”</p>



<p>“Tôi chỉ mong hắn đàng hoàng nếu thật sự muốn làm ăn,” ông O’Connor nói.</p>



<p>“Còn Jack, ông nghĩ sao?” Hynes hỏi ông già, giọng đượm chút mỉa mai.</p>



<p>Ông già quay lại ngồi xuống ghế cạnh lò sưởi, nói:</p>



<p>“Dù sao chăng nữa thì hắn cũng có tiền. Không như cái gã thợ dạo khố rách áo ôm kia.”</p>



<p>“Gã thợ dạo nào?”</p>



<p>“Colgan đấy,” ông già nói, giọng khinh bỉ.</p>



<p>“Chỉ vì Colgan là dân lao động nên ông nói thế à?” Hynes hỏi. “Sự khác biệt giữa một người thợ hồ lương thiện và một chủ quán là gì, hử? Người lao động cũng có quyền ngồi trong Hội đồng Thành phố như bất cứ ai khác chứ, phải không nào? Thậm chí còn xứng đáng hơn mấy tên <em>shoneen</em> [3] lúc nào cũng ngả mũ khom lưng khúm núm trước mặt bất kỳ ai có chức vị? Mat, không phải vậy sao?” Ông Hynes quay sang phía ông O’Connor.</p>



<p>“Tôi nghĩ anh nói đúng,” ông O’Connor đáp.</p>



<p>“Ông ta là người thẳng thắn, lương thiện, không hề có trò luồn cúi. Ông ta tranh cử vào đó để đại diện cho tầng lớp lao động. Còn cái ông mà các anh đang làm việc cho đây này, ông ta chỉ muốn kiếm chác chức vị nào đó thôi.”</p>



<p>“Tất nhiên giai cấp lao động cần được đại diện,” ông già nói.</p>



<p>“Người lao động,” Hynes tiếp, “xưa nay toàn bị đá đít mà chẳng được hưởng xu teng lợi lộc nào. Nhưng chính giới lao động tạo ra mọi thứ. Người lao động đâu có đi tìm những chức vị béo bở cho con cháu họ. Người lao động không lôi danh dự Dublin xuống bùn chỉ để lấy lòng một ông vua Đức.”</p>



<p>“Ý anh là sao?” ông già hỏi.</p>



<p>“Ông không biết à? Họ đang định soạn diễn văn chào mừng Edward Rex nếu năm tới ông ta đến đây thăm viếng. Cớ gì ta phải khom lưng khấu đầu trước một ông vua ngoại bang?”</p>



<p>“Người của chúng tôi sẽ không bỏ phiếu tán thành bài diễn văn ấy,” O’Connor nói. “Ông ta tranh cử với danh nghĩa người theo Chủ nghĩa Dân tộc.”</p>



<p>“Không tán thành à?” Ông Hynes nói. “Chờ xem. Tôi biết hắn quá mà. Có phải cái gã Tricky Dicky Tierney [4] ranh ma quỷ quyệt không?”</p>



<p>“Lạy Chúa! Joe ạ, có lẽ anh đúng,” ông O’Connor nói. “Riêng tôi thì tôi chỉ mong hắn xuất hiện tối nay với túi tiền.”</p>



<p>Ba người im lặng. Ông già lại cời đống than trong lò sưởi. Hynes giở mũ giũ nước rồi bẻ cổ áo để lộ huy hiệu lá thường xuân cài trên ve.</p>



<p>“Nếu người này còn sống,” anh nói, chỉ vào chiếc lá, “ta đã chẳng phải bàn chuyện chào mừng chào miếc gì cả.”</p>



<p>“Đúng vậy,” O’Connor nói.</p>



<p>“Chao ôi, xin Chúa ban phước lành cho những ngày ấy!” ông già Jack thốt lên. “Thời đó mới thật là có sinh khí chứ chẳng như bây giờ.”</p>



<p>Căn phòng lại chìm vào im lặng. Đột nhiên, một người đàn ông thấp bé nhưng dáng điệu nhanh nhẹn, với cái mũi luôn khụt khịt và đôi tai lạnh buốt xô cửa bước vào. Ông ta tiến thẳng đến lò sưởi, xoa tay vào nhau như muốn xẹt tia lửa từ đôi bàn tay.</p>



<p>“Các cậu này, tối nay không có tiền đâu!” ông nói.</p>



<p>“Ông Henchy, ngồi xuống đây đã nào,” ông già mời, đoạn đứng lên nhường chiếc ghế.</p>



<p>“Ồ, ông Jack, đừng đứng dậy, Jack, ông ngồi yên đấy.” Ông Henchy nói, khẽ gật đầu chào ông Hynes, đoạn ngồi xuống ghế ông già nhường.</p>



<p>“Anh đã đi hết phố Aungier chưa?” ông hỏi ông O’Connor.</p>



<p>“Rồi,” ông O’Conner trả lời, thò tay vào túi trên túi dưới tìm tờ tuyên cáo.</p>



<p>“Có gặp Grimes không?”</p>



<p>“Có.”</p>



<p>“Thế nào? Hắn định bầu cho ai?”</p>



<p>“Hắn không hứa mà chỉ nói, ‘Tôi không nói cho ai biết tôi sẽ bỏ phiếu cho ai.’ Nhưng tôi nghĩ sẽ ổn.”</p>



<p>“Sao ổn được?”</p>



<p>“Hắn hỏi ai là những người đề cử; tôi nói, và có nhắc tên Cha Burke. Chắc là ổn thôi.”</p>



<p>Ông Henchy lại khụt khịt mũi, xoa hai tay gần đống lửa rồi kêu lên:</p>



<p>“Chúa ơi, Jack, xin ông ít than nữa được không. Chắc than vẫn còn chứ?”</p>



<p>Ông già đi ra.</p>



<p>“Chẳng ăn thua gì đâu,” ông Henchy lắc đầu. “Tôi nhờ thằng bé đánh giày, nó bảo, ‘Khi nào thấy công việc chạy tốt cháu sẽ không quên ông đâu, ông tin chắc đi.’ Đồ nhãi ranh, mới tí tuổi đầu đã tinh ma! Nhưng, than ôi, cũng phải thôi, nó làm gì khác hơn được cơ chứ?”</p>



<p>“Mat, tôi đã bảo anh mà, Tricky Dicky Tierney là một tên ranh ma quỷ quyệt.” Ông Hynes nói.</p>



<p>“Ranh như quỷ ấy,” Henchy nói. “Đâu phải vô cớ mà hắn có cặp mắt lợn! Cho ma quỷ bắt hồn hắn đi. Tại sao hắn không trả tiền như một người đàng hoàng mà cứ nói ‘À, ông Henchy này, tôi phải đi nói chuyện với ông Fanning… Ồ, tôi tốn nhiều tiền lắm rồi.’ Đồ quỷ con! Chắc hắn quên chuyện hồi ông già hắn còn bán đồ cũ ở phố Mary’s Lane.”</p>



<p>“Có chuyện ấy thật ư?” ông O’Connor hỏi.</p>



<p>“Chắc chắn luôn,” ông Henchy nói. “Ông không bao giờ nghe chuyện ấy à? Sáng Chủ nhật nào cũng thế, trước khi tiệm mở cửa cho khách hàng vào mua sắm quần áo cũ, và, <em>moya</em>! có sẵn mấy chai rượu giấu ở một góc xó nào đó. Ông hiểu ra chưa? Đấy, hắn nhìn thấy ánh sáng cuộc đời từ đó.”</p>



<p>Ông già Jack quay lại với vài cục than, ông rải đều mỗi chỗ một cục trong lò sưởi.</p>



<p>“Thế này thì chịu sao nổi,” ông O’Connor nói. “Hắn muốn ta làm việc không công cho hắn à?”</p>



<p>“Chịu thôi! Tôi bó tay,” ông Henchy đáp. “Chắc về nhà sẽ thấy thừa phát lại đứng chờ sẵn ở cửa.”</p>



<p>Hynes cười, đẩy vai khỏi bệ lò sưởi, đứng thẳng lên, chuẩn bị ra về.</p>



<p>“Rồi sẽ ổn khi vua Eddie đến đây. Thôi nhé, các cậu, tôi đi đây. Hẹn gặp sau. Bye-bye.”</p>



<p>Anh bước chầm chậm ra khỏi phòng. Cả ông Henchy lẫn ông già, không ai buồn cất tiếng chào, nhưng khi cửa gần khép, ông O’Connor gọi với theo:</p>



<p>“Bye, Joe.”</p>



<p>Henchy đợi một lúc rồi hất đầu về phía cửa ra vào, hỏi nhỏ:</p>



<p>“Anh nghĩ hắn vào đây làm gì?”</p>



<p>“Chao ôi, tội nghiệp Joe mà, hắn cũng túng thiếu như bọn ta thôi,” ông O’Connor vừa nói vừa ném mẩu tàn thuốc lá vào đống lửa.</p>



<p>Ông Henchy khạc đờm trong họng rồi nhổ một bãi nước bọt to tướng và mạnh đến nỗi lửa trong lò suýt bị dập tắt, từ đống than nổi lên tiếng xì xì như phản đối.</p>



<p>“Nói thật nhé,” ông nói, “tôi nghi hắn thuộc phe bên kia. Có khi là gián điệp của Colgan không chừng. Đi dò la xem ta thế nào. Họ không nghi ngờ anh. Anh hiểu ra chưa?”</p>



<p>“A, Joe là người đàng hoàng, tử tế, anh đừng lo viển vông” ông O’Connor lại nói.</p>



<p>“Cha hắn thì tử tế, đáng kính thật,” ông Henchy thừa nhận. “Ôi, cái lão già Larry Hynes tội nghiệp! Thời của lão, lão từng làm được khối việc hữu ích! Nhưng tôi e anh bạn của chúng ta đây thì không được mười chín ka-ra [5]. Tiên sư bố nhà nó. Nghèo thì hiểu được, nhưng cái tồi bại tôi không hiểu nổi là con người như vậy mà lại đi ăn bám thiên hạ. Không lẽ hắn chẳng có chút tự trọng nào sao?”</p>



<p>“Tôi chẳng bao giờ tỏ ra nồng nhiệt tiếp đãi hắn mỗi khi hắn tới đây,” lão Jack nói. “Cứ để hắn làm việc cho phe hắn và đừng mò tới đây dò la làm gì.”</p>



<p>Ông O’Connor nói một cách gượng gạo trong lúc vấn một điếu thuốc mới:</p>



<p>“Tôi nghĩ Joe Hynes là người ngay thẳng. Lại có tài viết lách. Ông nhớ bài anh ta viết chứ?”</p>



<p>“Mấy tay <em>hillsiders-fenians</em> [6] này khôn ngoan quá hóa nguy hiểm, nếu anh hỏi tôi thì tôi sẽ nói như thế,” ông Henchy nói. “Tôi tin rằng phân nửa bọn họ ăn lương của Lâu đài [7].”</p>



<p>“Khó mà biết,” ông già nói.</p>



<p>“Ồ, tôi biết chắc mà. Chó săn của Lâu đài cả…” ông Henchy nói. “Tôi không muốn nói thằng cha Hynes này là vậy… Không, tiên sư bố nó, tôi nghĩ hắn có vẻ khá hơn… Nhưng có một nhà quý tộc bé người mắt lác, chắc hẳn anh biết tôi đang nói về nhà ái quốc nào rồi chứ.”</p>



<p>Ông O’Connor gật gù.</p>



<p>“Nếu ông muốn nghe thì tôi có thể kể cho ông biết về một thằng dòng dõi trực hệ của Thiếu tá Sirr [8]! Ồ, máu trong tim của một nhà ái quốc! Đó là một thằng sẵn sàng bán rẻ đất nước mình chỉ lấy bốn đồng xu, ái chà, rồi còn quỳ mọp xuống mà tạ ơn Đấng Ky-Tô Toàn Năng vì đã có một đất nước để mà bán.”</p>



<p>Bỗng có tiếng gõ cửa.</p>



<p>“Vào đi!” ông Henchy nói.</p>



<p>Một người trông giống một linh mục nghèo hoặc một diễn viên nghèo xuất hiện ở ngưỡng cửa. Ông mặc một bộ quần áo đen được cài khuy kín mít quanh thân hình thấp bé, và không thể biết ông ta đeo cổ cồn linh mục hay cổ áo dân thường, vì cổ chiếc áo choàng sờn cũ với những chiếc khuy phản chiếu ánh nến, che kín cổ của ông. Ông đội chiếc mũ tròn bằng nỉ cứng màu đen. Khuôn mặt lấm tấm những giọt nước mưa, trông như khoanh pho-mát vàng bủng nhúng vào nước, trừ hai đốm hồng nơi gò má. Ông đột ngột há cái miệng rất dài ra để biểu lộ vẻ thất vọng, đồng thời mở to đôi mắt xanh lam sáng rực để tỏ vẻ vui mừng và ngạc nhiên.</p>



<p>“Ồ, Cha Keon!” ông Henchy bật dậy khỏi ghế. “Có phải Cha đấy không? Xin mời Cha vào!”</p>



<p>“Ồ, không, không, không!” Cha Keon đáp nhanh, mím môi như đang nói với một đứa trẻ.</p>



<p>“Cha không vào ngồi một chút sao?”</p>



<p>“Không, không, không!” Cha Keon nói, bằng một giọng dè dặt, khoan dung và mềm mại như nhung. “Đừng để tôi làm phiền các ông! Tôi chỉ đang đi tìm ông Fanning…”</p>



<p>“Thưa Cha, ông ấy đang ở quán Black Eagle,” ông Henchy đáp lời. “Nhưng Cha không vào ngồi một lát được sao?”</p>



<p>“Không, không, xin cảm ơn. Chỉ có tí việc thôi,” Cha Keon nói. “Cảm ơn nhiều nhé.”</p>



<p>Ông lui ra khỏi cửa, ông Henchy cầm một chân nến, ra cửa soi đường tiễn ông xuống cầu thang.</p>



<p>“Ồ, xin đừng phiền!”</p>



<p>“Nhưng cầu thang tối lắm.”</p>



<p>“Không, không, tôi thấy được mà… Thật cảm ơn.”</p>



<p>“Cha đi được chứ?”</p>



<p>“Được, được&#8230; Cảm ơn… Cảm ơn.”</p>



<p>Ông Henchy trở lại, đặt nến lên bàn rồi ngồi xuống chỗ cũ bên lò sưởi. Căn phòng lại rơi vào im lặng trong vài khoảnh khắc.</p>



<p>“John này,” ông O’Connor nói, tay châm thuốc bằng một tấm thẻ bìa khác.</p>



<p>“Hử?”</p>



<p>“Ông ta… chính xác là cái gì vậy?”</p>



<p>“Anh hỏi tôi câu dễ hơn tí được không,” ông Henchy đáp.</p>



<p>“Fanning với ông ta xem ra có vẻ kết nhau lắm. Tôi thấy hai người &nbsp;hay trò chuyện với nhau ở quán Kavanagh’s. Ông ta có thật là linh mục không?”</p>



<p>“Ừm, có lẽ thế… Tôi nghĩ ông ta là cái mà người ta gọi là ‘con chiên đen [9]’. Tạ ơn Chúa, ta không có nhiều loại người như vậy! Nhưng cũng có một vài… Ông ta là kẻ bất hạnh kiểu nào đó…”</p>



<p>“Vậy ông ta sống bằng cách nào?” ông O’Connor hỏi.</p>



<p>“Lại thêm một bí ẩn nữa.”</p>



<p>“Ông ta có liên quan tới một nhà nguyện hay nhà thờ hay tổ chức nào không…?”</p>



<p>“Không,” ông Henchy nói, “tôi nghĩ ông ta tự bươn chải kiếm sống… Chúa tha tội cho tôi,” ông nói thêm, “thế mà tôi cứ tưởng ông ta mang theo cả chục lọ bia đen.”</p>



<p>“Giá có tí rượu uống lúc này thì cũng thú ra phết đấy nhỉ?” ông O’Connor nói.</p>



<p>“Tôi cũng đang khát khô cả cổ họng đây này,” lão Jack nói.</p>



<p>“Tôi đã nhắc thằng bé đánh giày ba lần bảy lượt,” ông Henchy nói, “bảo nó giao một chục lọ bia đen. Vừa nãy tôi định nhắc nó thêm một lần nữa, mà thấy nó cứ đứng dựa vào quầy, hai tay áo xắn lên, hăng say nói giăng nói cuội gì đó với lão Nghị viên Cowley.”</p>



<p>“Sao ông không nhắc nó thêm?” ông O’Connor hỏi.</p>



<p>“À, chỉ vì tôi không muốn cắt ngang câu chuyện giữa nó với Nghị viên Cowley. Tôi đợi đến khi bắt được ánh mắt nó rồi mới nói, ‘Về cái việc nhỏ tôi có nói với cậu ấy mà…’ ‘Sẽ ổn thôi, thưa ông H.,’ nó bảo tôi&#8230; Ối chà, cái thằng nhóc tì hỉ mũi chưa sạch ấy chắc lại quên béng mất rồi.”</p>



<p>“Chắc có đám gì đang diễn ra chỗ đó,” ông O’Connor trầm ngâm. “Hôm qua tôi thấy cả ba người, họ bàn tán sôi nổi ở góc phố Suffolk.”</p>



<p>“Tôi thì biết tỏng cái trò cỏn con họ đang chơi,” ông Henchy nói. “Thời buổi bây giờ muốn được phong làm Thị trưởng thì phải chi tiền cho các ‘Bố Thành phố.’ Thế rồi họ sẽ cho ông làm Thị trưởng. Chúa ơi! Tôi đang hết sức nghiêm túc nghĩ đến chuyện mình sẽ trở thành một ‘Bố Thành phố’ đây. Ông thấy sao? Tôi có hợp với cái chức ấy không?”</p>



<p>Ông O’Connor bật cười.</p>



<p>“Còn chuyện tiền bạc…”</p>



<p>“Từ Dinh Mansion đánh xe tứ mã ra, oách phải biết!” ông Henchy nói, “trong bộ lễ phục lộng lẫy của tôi, còn lão Jack đây đứng phía sau, đầu đội bộ tóc giả rắc phấn bột. Được chứ, hả?”</p>



<p>“Và cho tôi làm bí thư của anh nhé, John.”</p>



<p>“Được ngay! Tôi sẽ bổ nhiệm Cha Keon làm Cha Tuyên úy riêng. Ta sẽ có một đảng phái gia đình.”</p>



<p>“Thật đấy, ông Henchy ạ,” ông lão nói, “trông ông còn bảnh hơn khối người trong số bọn họ. Có lần tôi nói chuyện với lão Keegan, người gác cổng cho Dinh Thị trưởng ấy mà. Tôi hỏi lão, ‘Này ông Pat, ông thấy ông chủ mới thế nào? Dạo này không thấy ông chơi bời gì nữa.’ Lão trả lời tôi, ‘Chơi bời cái con khỉ tiều! Cái thằng cha sống nhờ mùi giẻ chùi dầu [10] ấy mà chơi với bời cái đếch gì.’ Thế rồi hai ông biết lão ta kể gì với tôi nữa không? Tôi xin thề trước Chúa rằng tôi chẳng thể nào tin nổi.”</p>



<p>“Cái gì?” cả ông Henchy lẫn ông O’Connor cùng hỏi.</p>



<p>“Lão ta nói với tôi, ‘Ông nghĩ sao về một Thị trưởng Dublin mà phải sai người đi mua một cân sườn cừu về ăn bữa tối? Như thế mà gọi là sống sang trọng đấy à?’ Tôi kêu trời trong lúc lão nói thêm, ‘Ông nghĩ xem, một cân sườn được chở tới Dinh Thị trưởng!’ ‘Trời đất!’ tôi nói. ‘Giờ thì cái hạng người nào đang nắm quyền thế ở chốn này đây?’”</p>



<p>Đúng lúc ấy có tiếng gõ cửa, một cậu trai thò đầu vào.</p>



<p>“Gì đấy?” ông lão hỏi.</p>



<p>“Quán Black Eagle giao hàng,” cậu ta nói, lách người bước vào đặt một cái giỏ xuống sàn, tiếng chai lọ va vào nhau kêu lách cách. Ông lão giúp cậu ta chuyển đống chai từ giỏ lên bàn và đếm đủ số lượng. Xong, cậu ta khoác giỏ lên tay, hỏi:</p>



<p>“Có vỏ chai trả lại không ạ?”</p>



<p>“Vỏ chai gì?” ông lão hỏi lại.</p>



<p>“Chẳng lẽ không để chúng tôi uống đã sao?” ông Henchy nói.</p>



<p>“Người ta bảo cháu hỏi vỏ chai.”</p>



<p>“Mai quay lại lấy,” ông lão nói.</p>



<p>“Này cậu!” ông Henchy gọi, “cậu chạy sang quán O’Farrell mượn giùm chúng tôi cái mở nút chai, nói là cho ông Henchy mượn nhé. Bảo ông ấy chúng tôi không giữ lâu đâu. Cứ để giỏ ở đây.”</p>



<p>Cậu trai đi ra ngoài. Ông Henchy xoa tay vui vẻ, nói:</p>



<p>“Thôi, cũng được, hắn ta không đến nỗi nào. Dù sao cũng giữ lời hứa.”</p>



<p>“Nhưng không có cốc uống,” ông lão nói.</p>



<p>“Ồ, chuyện đó không hề chi, ông Jack ạ,” ông Henchy nói. “Xưa nay khối người tử tế vẫn tu rượu trong chai mà.”</p>



<p>“Dù sao có còn hơn không,” ông O’Connor nói.</p>



<p>“Hắn ta không phải hạng người tồi tệ,” ông Henchy nói, “chỉ vì lão Fanning vay tiền hắn ta nhiều quá. Cũng thuộc loại người tốt đấy, theo cái kiểu tầm thường chật hẹp của mình.”</p>



<p>Cậu trai quay lại với cái mở nút chai. Ông lão mở ba chai và đang trả lại cái mở nút thì ông Henchy nói với cậu ta:</p>



<p>“Cậu có muốn uống chơi một chút không?”</p>



<p>“Dạ, cháu xin ông,” cậu trai đáp.</p>



<p>Ông lão miễn cưỡng mở thêm một chai nữa đưa cho cậu ta.</p>



<p>“Cậu bao nhiêu tuổi rồi?” ông hỏi.</p>



<p>“Dạ, mười bảy.”</p>



<p>Thấy ông lão không nói gì thêm, cậu cầm lấy chai, nói:</p>



<p><br>“Cháu xin kính chúc ông Henchy mạnh khỏe ạ,” cậu ngửa cổ tu một hơi cạn chai bia, xong, đặt cái chai không lên bàn và lau miệng bằng tay áo. Sau đó cậu ta cầm cái mở nút chai, lách người ra cửa, miệng lẩm bẩm một câu chào gì đó.</p>



<p>“Đấy, bao giờ cũng bắt đầu như thế,” ông lão nói.</p>



<p>“Lưỡi mỏng của cái nêm [11] đấy mà, các ông hiểu không?” ông Henchy nói.</p>



<p>Ông lão chia ba chai đã mở nút cho mọi người, và họ cùng uống một lượt. Uống xong, mỗi người đặt chai của mình lên bệ lò sưởi trong tầm tay, rồi hít một hơi dài khoan khoái.</p>



<p>“À, hôm nay tôi làm được khá nhiều việc tốt,” ông Henchy nói sau một lúc im lặng.</p>



<p>“Thế à?”</p>



<p>“Này nhé, tôi kiếm chắc được một hai phiếu ở phố Dawson, Crofton đi với tôi. Nói nhỏ thôi nhé, Crofton (dĩ nhiên ông ta là người tử tế), nhưng làm vận động tranh cử thì hoàn toàn vô tích sự. Một câu để ném cho chó, ông ta cũng chẳng nói được. Cứ đứng đó giương mắt ếch nhìn người ta trong lúc tôi nói chuyện.”</p>



<p>Ngay lúc ấy có hai người đàn ông bước vào phòng. Một người rất béo, bộ quần áo may bằng vải len <em>serge</em> [12] màu xanh lam dường như sắp bật tung ra khỏi thân hình béo tròn béo trục. Ông có khuôn mặt phì nộn phảng phất một con bê, với đôi mắt xanh nhìn trân trân và bộ ria lốm đốm bạc. Người kia trẻ hơn nhiều và gầy gò, mặt dài, râu ria nhẵn nhụi. Ông ta mặc áo cổ kép dựng đứng rất cao, đầu đội mũ <em>bowler</em> [13] vành rộng.</p>



<p>“Chào ông Crofton!” ông Henchy nói với người đàn ông béo. “Vừa nhắc đến quỷ là quỷ có mặt…”</p>



<p>“Bia bọt ở đâu ra thế?” người trẻ hỏi. “Bò đẻ à?”</p>



<p>“Ồ, lẽ dĩ nhiên Lyons là kẻ ngửi thấy mùi rượu bia trước ai hết!” ông O’Connor cười nói.</p>



<p>“Các anh vận động cử tri kiểu thế này đấy à?” ông Lyons nói mỉa, “trong lúc tôi với ông Crofton ở ngoài kia lạnh cóng, mưa gió mà vẫn phải đi kiếm phiếu?”</p>



<p>“Quỷ tha ma bắt nhà anh,” ông Henchy nói, “tôi ấy à, chỉ cần năm phút là tôi kiếm được nhiều phiếu hơn hai anh kiếm trong suốt một tuần lễ.”</p>



<p>“Ông Jack đâu, khui thêm hai chai bia đen nữa,” ông O’Connor nói.</p>



<p>“Khui sao được,” ông lão nói, “cái mở nút, thằng giao hàng nó đem trả mất rồi.”</p>



<p>“Chờ chút, chờ chút!” ông Henchy nói, bật nhanh dậy. “Các anh đã bao giờ thấy cái mẹo nhỏ này chưa?”</p>



<p>Ông lấy hai chai bia đặt lên thành lò sưởi rồi ngồi lại bên lửa và uống thêm một ngụm. Ông Lyons ngồi lên mép bàn, đẩy mũ ra sau gáy và đung đưa chân.</p>



<p>“Chai nào của tôi?” ông ta hỏi.</p>



<p>“Chai này,” ông Henchy nói.</p>



<p>Ông Crofton ngồi xuống một cái thùng, nhìn chằm chằm vào chai còn lại trên thành lò sưởi. Ông im lặng vì hai lý do. Lý do thứ nhất, tự nó đã đủ: ông chẳng có gì để nói. Lý do thứ hai: ông cho rằng những người cộng tác với ông đây không xứng tầm thế của mình. Trước đây ông từng đi vận động bầu cử cho ông Wilkins thuộc đảng Bảo thủ, nhưng khi phe Bảo thủ rút ứng viên và, vì phải chọn một trong hai ứng viên tệ lậu, ông chọn người đỡ tệ hơn; từ đó ông chuyển sang ủng hộ ứng viên Quốc gia, ông được thuê làm việc cho ông Tierney.</p>



<p>Vài phút sau trong phòng vang lên một tiếng “poóc!” nho nhỏ như tạ lỗi khi nút chai bia của ông Lyons bật ra. Ông ta nhảy khỏi bàn, đến bên lò lửa, cầm chai đem lại bàn.</p>



<p>“Ông Crofton này, tôi vừa nói với anh em ở đây,” ông Henchy nói, “rằng hôm nay chúng ta kiếm được kha khá phiếu.”</p>



<p>“Anh kiếm được của những ai?” ông Lyons hỏi.</p>



<p>“Này nhé, Parkes một phiếu, Atkinson hai phiếu, và cả lão Ward ở phố Dawson nữa. Một ông già không đến nỗi tệ, đúng kiểu quý tộc xưa, dân Bảo thủ chính hiệu! Ông ta bảo tôi, ‘Nhưng ứng viên của ông là người Quốc gia mà?’ Tôi đáp lời, ‘Ông ấy là người đứng đắn, và ủng hộ bất cứ điều gì có lợi cho đất nước mình. Ông ấy là người đóng những khoản thuế lớn. Ông ấy có nhiều nhà cửa trong thành phố và ba cơ sở kinh doanh, chẳng phải chính lợi ích của ông ấy là hạ mức thuế cho thấp sao? Ông ấy là công dân tốt và được kính trọng, nể vì, là thành viên Hội đồng Cứu tế, và không thuộc phe phái nào, tốt hay xấu hay lơ lửng.’ Phải nói chuyện với họ như thế mới có hiệu quả.”</p>



<p>“Còn bản kiến nghị gửi lên nhà Vua thì sao?” ông Lyons hỏi, liếm mép sau khi ực một ngụm bia.</p>



<p>“Nghe tôi nói đây,” ông Henchy nói. “Điều đất nước này cần, như tôi trình bày với lão Ward, là tư bản. Nhà Vua đến đây có nghĩa là tiền bạc sẽ đổ vào đất nước mình. Dân Dublin sẽ được hưởng lợi. Hãy nhìn các nhà máy dưới bến cảng kìa, tất cả đều nằm im không sản xuất gì cả! Hãy trông vào số tiền có trong nước để khôi phục các ngành công nghiệp cũ, nhà máy xay, xưởng đóng tàu, nhà máy sản xuất. Ta cần tư bản.”</p>



<p>“Nhưng John,” ông O’Connor nói. “Tại sao ta phải chào mừng Vua nước Anh? Chẳng phải chính Parnell đã…”</p>



<p>“Parnell chết rồi. Bây giờ tôi nhìn vấn đề như thế này. Ông vua này lên ngôi sau khi bà mẹ già của ông ta ôm lấy ngai vàng cho đến khi ông ta bạc tóc. Ông ta là người từng trải, và có ý tốt với ta. Theo tôi, ông ta là người vui tính, đàng hoàng, không màu mè vớ vẩn. Ông ta chỉ tự nhủ, ‘Bà già chưa bao giờ đi thăm cái đám dân Ireland mọi rợ ấy. Nhân danh Chúa, ta sẽ tự đi thăm họ xem thế nào.’ Thế mà ta lại định sỉ nhục ông ta khi ông ta đến đây trong chuyến viếng thăm hữu nghị ư? Hử? Ông Crofton, có đúng thế không nào?”</p>



<p>Ông Crofton khẽ gật đầu.</p>



<p>“Nhưng dù sao đi nữa,” ông Lyons chen vào, bắt bẻ, “đời tư của Vua Edward, anh biết đấy, đâu phải là…”</p>



<p>“Chuyện cũ rồi, bỏ qua đi,” ông Henchy nói. “Cá nhân tôi, tôi ngưỡng mộ ông ta. Ông ta cũng chỉ là một tay giang hồ bình thường như anh với tôi. Ông ta thích nhâm nhi rượu, có thể hơi trăng hoa một chút, và là tay thể thao cừ khôi. Tiên sư nó, người Ireland chúng ta chẳng lẽ không chơi đẹp được sao?”</p>



<p>“Nghe thì hay lắm,” ông Lyons nói. “Nhưng thử nhìn vào trường hợp của Parnell xem.”</p>



<p>“Nhân danh Chúa,” ông Henchy nói, “có gì giống nhau giữa hai trường hợp đâu?”</p>



<p>“Ý tôi là,” ông Lyons nói, “chúng ta có lý tưởng của mình. Thế thì tại sao ta lại đi dàn chào đón tiếp một người như vậy? Anh có nghĩ rằng Parnell vẫn xứng đáng là lãnh tụ của chúng ta không sau tất cả những gì ông làm? Vậy thì tại sao ta lại phản bội lý tưởng của Parnell bằng cách đón tiếp trọng thể Edward Đệ Thất?”</p>



<p>“Hôm nay là ngày giỗ Parnell,” ông O’Connor chen vào, “xin các anh đừng khơi lại chuyện xào xáo nữa. Ông đã qua đời và bây giờ ai cũng ngưỡng vọng ông – ngay cả phe Bảo thủ,” ông xoay sang phía ông Crofton.</p>



<p>“Poóc!” Nút chai của ông Crofton bật ra. Ông đứng dậy khỏi chiếc thùng bước đến lò sưởi. Khi quay lại với “chiến lợi phẩm” trên tay, ông nói bằng giọng trầm:</p>



<p>“Phe chúng tôi kính trọng ông Parnell, vì ông ấy là một quý ông.”</p>



<p>“Crofton, anh nói đúng đấy!” ông Henchy to giọng, có phần gay gắt. “Ông Parnell là người duy nhất có thể giữ cái chuồng mèo ấy trong trật tự. ‘Lũ chó! Nằm xuống! Lũ chó ghẻ! Nằm xuống.’ Ông đối xử với chúng nó như thế đấy. Joe! Vào đi! Vào đi!” ông gọi to khi thấy ông Hynes đứng lấp ló ở ngưỡng cửa.</p>



<p>Ông Hynes chậm rãi bước vào.</p>



<p>“Ông Jack, mở thêm một chai bia đen nữa cho ông Hynes,” ông Henchy nói. “À quên, không có cái mở nút! Đây, đưa tôi một chai, tôi đặt lên lò sưởi.”</p>



<p>Ông lão đưa cho ông một chai nữa và ông đặt nó lên thành lò sưởi.</p>



<p>“Joe, ngồi xuống đi,” ông O’Connor nói, “chúng tôi đang nói về Thủ lĩnh.”</p>



<p>“Phải rồi, phải rồi!” ông Henchy nói.</p>



<p>Ông Hynes ghé mông ngồi lên mép bàn cạnh ông Lyons nhưng không nói gì.</p>



<p>“Dù sao cũng có một người,” ông Henchy nói, “đã không phản bội ông ấy. Thề với Chúa, Joe, tôi nói giùm anh đấy! Không, thề với Chúa, anh mới là kẻ trung thành với Lãnh tụ!”</p>



<p>“À, Joe,” ông O’Connor đột nhiên nói. “Đọc cho chúng tôi nghe bài thơ anh làm – anh nhớ chứ? Anh có đem theo trong người không?”</p>



<p>“Ồ, phải đấy!” ông Henchy nói. “Đọc đi. Đọc đi. Crofton, anh đã nghe bài thơ Joe làm bao giờ chưa? Nghe đi, tuyệt lắm.”</p>



<p>“Joe, cho anh em nghe đi,” ông O’Connor nói. “Ngại ngùng gì, chỗ anh em cả.”</p>



<p>Ông Hynes hình như không nhớ bài thơ họ đang yêu cầu ông đọc, nhưng sau một chặp suy nghĩ, ông bảo:</p>



<p>“Ồ, cái đó… Cũ lắm rồi.”</p>



<p>“Thôi, anh bạn ơi, đọc nhanh đi!” ông O’Connor nói.</p>



<p>“Suỵt, suỵt,” ông Henchy nói. “Nào, Joe! Đọc đi, cho anh em nghe.”</p>



<p>Ông Hynes ngần ngừ một lát. Rồi im lặng, ông từ tốn gỡ mũ khỏi đầu đặt xuống bàn và đứng dậy. Hình như ông đang nhẩm lại bài thơ trong đầu, và sau một lúc khá lâu, ông đọc, giọng dõng dạc:</p>



<p><strong>CÁI CHẾT CỦA PARNELL</strong><strong><br></strong><em>6 tháng Mười, 1891</em></p>



<p>Ông hắng giọng một hai lần rồi mới bắt đầu đọc bài thơ:</p>



<p><em>Ông đã chết. Vị Vua Không Vương Miện của chúng ta đã chết.<br>Hỡi Erin </em>[14]<em>, hãy than khóc trong đau thương<br>Vì người nằm chết kẻ mà bọn gian ác<br>Giả hình thời nay đã hạ bệ.</em></p>



<p><em><br>Ông nằm chết bởi lũ chó hèn<br>Mà chính ông từng nâng lên vinh quang từ bùn lầy;<br>Và hy vọng của Erin, giấc mộng của Erin<br>Tiêu tan trên giàn hỏa táng của quân vương nàng.</em></p>



<p><em><br>Trong cung điện, túp lều hay gian nhà tranh<br>Trái tim Ireland ở bất cứ nơi đâu<br>Đều cúi mình trong tang tóc – bởi ông đã đi rồi<br>Người lẽ ra định đoạt vận mệnh nàng.</em></p>



<p><em><br>Ông muốn Erin của mình rạng danh,<br>Lá cờ xanh tung bay hiển hách,<br>Những chính khách, thi sĩ và chiến binh của nàng<br>Được tôn vinh trước các dân tộc trên thế giới.</em></p>



<p><em><br>Ông ôm giấc mơ (than ôi, chỉ là giấc mơ!)<br>Về Tự do; nhưng khi ông cố<br>Nắm lấy hoài bão ấy, sự phản bội<br>Đã tước đi điều ông yêu quý.</em></p>



<p><em><br>Ô nhục thay những bàn tay hèn nhát<br>Đã đánh đập Minh Chúa của mình hoặc bằng một nụ hôn<br>Bán rẻ ông cho đám đông ô hợp<br>Của những cha ghẻ xu phụ – chẳng phải bạn ông.</em></p>



<p><em><br>Nguyện nỗi nhục muôn đời thiêu đốt<br>Ký ức của những kẻ tìm cách<br>Làm hoen ố và bôi nhọ danh xưng cao quý<br>Của người đã khinh miệt họ trong niềm kiêu hãnh.</em></p>



<p><em><br>Ông ngã xuống như những vĩ nhân từng ngã,<br>Hiên ngang, không nao núng đến phút cuối,<br>Và cái chết nay đã kết nối ông<br>Với những anh hùng của Erin thuở trước.</em></p>



<p><em><br>Đừng để tiếng tranh chấp quấy nhiễu giấc ngủ ông!<br>Ông yên nghỉ thanh thản: không còn đau đớn phận người<br>Hay tham vọng cao xa nào thúc đẩy<br>Ông đã chinh phục đỉnh vinh quang.</em></p>



<p><em><br>Họ đã đạt được mưu đồ: họ hạ ông xuống<br>Nhưng Erin, hãy lắng nghe đây, linh hồn ông có thể<br>Trỗi dậy từ ngọn lửa như Phượng Hoàng<br>Khi bình minh ló rạng,</em></p>



<p><em><br>Ngày triều đại của Tự do đến với chúng ta<br>Và vào ngày ấy, Erin có thể<br>Nâng chén mừng vui<br>Chỉ còn một nỗi buồn – ký ức về Parnell.</em></p>



<p>Đọc xong bài thơ, ông Hynes lại ngồi xuống mép bàn. Có một khoảng lặng rồi tiếng vỗ tay vang lên; ngay cả ông Lyons cũng vỗ tay. Tiếng vỗ tay kéo dài một lúc. Khi dứt, tất cả mọi người trong phòng đều im lặng uống tiếp.</p>



<p>“Poóc!” Nút chai của ông Hynes bật ra, nhưng ông vẫn ngồi trên bàn, mặt đỏ bừng, đầu trần. Hình như ông không nghe thấy lời mời uống.</p>



<p>“Joe, hay lắm!” ông O’Connor nói, thò tay vào túi áo rút giấy vấn điếu và bao thuốc để che giấu xúc động.</p>



<p>“Crofton, anh thấy sao?” ông Henchy kêu lên. “Hay chứ? Hả?”</p>



<p>Crofton nói rằng đó là một bài thơ rất hay.</p>



<p><em>(Trịnh Y Thư dịch từ ấn bản </em>Dubliners<em>, NXB Alfred A. Knoff, 1991.)</em></p>



<p>*</p>



<p><em><strong>Chú thích của người dịch:</strong></em></p>



<p>[1]&nbsp; <em>Ivy Day</em>, mùng 6 tháng 10, là ngày giỗ Charles Stewart Parnell, một nhà lãnh đạo theo Chủ nghĩa Dân tộc Ireland, được biết đến với biệt danh “Ông vua không ngai của Ireland”, người đã đấu tranh cho quyền tự trị của Ireland. Sau khi ông qua đời năm 1891 sau một vụ xì-căng-đan tình dục, những người theo ông đã tưởng niệm ông hằng năm vào ngày này. Họ lấy hình ảnh chiếc lá trường xuân làm biểu hiệu, nên gọi là Ivy Day.</p>



<p>[2]&nbsp; Trong nguyên tác là câu “<em>He takes th’upper hand of me whenever he sees I’ve a sup taken</em>”, một câu nói đặc trưng giọng điệu dân Dublin. Joyce sử dụng câu nói kiểu bình dân này để thể hiện sự oán giận và tính cách dễ tổn thương của ông già Jack, đồng thời, làm nổi bật động lực xã hội giữa những người dân Dublin thuộc tầng lớp lao động.</p>



<p>[3]&nbsp; <em>shoneen, </em>một từ tiếng lóng, ám chỉ kẻ xu phụ, người Ireland nhưng quỵ luỵ, luồn cúi người Anh để xin chút bổng lộc, quyền lợi hay địa vị.</p>



<p>[4]&nbsp; Tổng thống Richard Nixon của Hoa Kỳ bị các đối thủ chính trị gọi là Tricky Dick. Hỗn danh này ám chỉ tai tiếng của ông về việc sử dụng các thủ đoạn vô nguyên tắc, thao túng và lừa dối trong suốt sự nghiệp chính trị của mình, bắt đầu từ vụ tranh cử vào Thượng viện năm 1950 và lên đến đỉnh điểm trong vụ bê bối Watergate.</p>



<p>[5]&nbsp;&nbsp; “Mười chín ka-ra” là cụm từ tiếng lóng, ý mỉa mai con người giả tạo, thực chất là người chẳng ra gì.</p>



<p>[6]&nbsp; <em>hillsiders-fenians: Hillsiders, </em>nghĩa đen, là dân sống ở vùng đồi núi, một tiếng lóng, thường mang tính chế giễu, dùng để ám chỉ người theo chủ nghĩa dân tộc Ireland cổ hủ, sống ở vùng nông thôn. Trong ngôn ngữ chính trị ở Dublin thời của Joyce, gọi ai đó là <em>hillsiders</em> có thể ngụ ý rằng họ chân thành nhưng thiếu hiểu biết. Từ <em>Fenians </em>dùng để chỉ một thành viên hoặc người ủng hộ Hội Huynh Đệ Fenian, cánh quân cách mạng thiên về bạo lực của chủ nghĩa dân tộc Ireland vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Khi được ghép đôi, cụm từ này gộp hai loại người theo chủ nghĩa dân tộc. Trong ngữ cảnh của truyện ngắn này, nó phản ánh tính cách bè phái chính trị ở Dublin, sự căng thẳng giữa chủ nghĩa dân tộc truyền thống và khí hậu chính trị mới mẻ, thực dụng hơn, và cách thế các nhân vật chế giễu đối thủ để thể hiện lòng trung thành của chính họ. Đó là một cụm từ ngắn gọn, nhưng chứa đựng cả một bức tranh chính trị.</p>



<p>[7]&nbsp; Trong thế giới Dublin của Joyce, và trong ngôn ngữ chính trị Ireland nói chung, “Lâu đài” là từ viết tắt của “Lâu đài Dublin”, tức là trụ sở trung tâm chính quyền Anh tại Ireland. Đây là một trong những thuật ngữ mang nhiều ý nghĩa hơn nghĩa đen của nó. Đối với những người theo chủ nghĩa dân tộc Ireland, “Lâu đài” tượng trưng cho bộ máy quan liêu, sự tham nhũng, sự bảo hộ của nước ngoài, sức nặng ngột ngạt của chính quyền thuộc địa. Vì vậy, từ này không bao giờ có hàm nghĩa trung lập. Nó luôn luôn đóng vai trò chính trị. Các nhân vật của Joyce sử dụng “Lâu đài” như một loại ngôn ngữ chính trị. Buộc tội ai đó là “Lâu đài” hoặc “được Lâu đài hậu thuẫn”, có nghĩa là họ liên kết với lợi ích của Anh quốc, đi ngược lại quyền lợi dân tộc, họ là kẻ cơ hội hoặc bị mua chuộc, thỏa hiệp, họ không thực sự theo chủ nghĩa dân tộc.</p>



<p>[8]&nbsp; Thiếu tá Henry Charles Sirr [1764-1841] là một nhân vật có thật trong lịch sử Ireland. Ông ta từng giữ chức Thị trưởng Dublin, thực chất là người đứng đầu cơ quan an ninh cảnh sát, vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Ông ta trở nên khét tiếng vì vai trò của mình trong việc đàn áp Liên minh Ireland, nhóm cách mạng đứng sau cuộc nổi dậy năm 1798. Ông đích thân bắt giữ lãnh tụ Edward Fitzgerald, một trong những thủ lĩnh của cuộc nổi dậy, hành động này khiến ông trở thành biểu tượng cho sự đàn áp của Anh ở Ireland. Đối với dân tộc Ireland, Sirr là một kẻ phản quốc.</p>



<p>Trong truyện ngắn này của Joyce, việc nhắc đến Thiếu tá Sirr không phải là về bản thân con người đó mà là về những gì ông ta đại diện, nó ám chỉ sự phản bội, làm chó săn, tay sai cho ngoại bang quay lại đàn áp dân tộc mình.</p>



<p>[9]&nbsp; Trong tiếng Anh thông dụng, cụm từ “cừu/ chiên đen” là một thành ngữ chỉ người bị xem là kẻ lạc loài trong gia đình, nhóm hoặc cộng đồng, thường là vì họ bị xem là nguồn gốc của sự xấu hổ, rắc rối hoặc nhục nhã. Trong bối cảnh của Joyce ở tập truyện <em>Dubliners</em>, cụm từ này mang cùng một ý nghĩa nhưng với sắc thái chính trị hoặc xã hội sắc bén hơn. Việc gọi ai đó là “cừu/ chiên đen” ở Dublin thời Joyce thường hàm ý họ đã phản bội kỳ vọng của nhóm hoặc họ đã đi ngược lại với số đông về chính trị hoặc xã hội, và bị bạn bè, người thân xem thường. Tiếng Việt sử dụng nhóm từ tương đương, tuy không sát nghĩa lắm, là “con chiên ghẻ.”</p>



<p>[10]&nbsp; Trong nguyên tác, Joyce sử dụng một thành ngữ Ireland, <em>on the smell of an oil-rag</em>. Là một trong những thành ngữ sống động tuyệt vời của người Ireland mà các nhân vật của Joyce thường dùng như thể ai cũng hiểu chính xác nghĩa của nó. Nó có nghĩa là ai đó cực kỳ tiết kiệm, có thể sống sót gần như không cần gì, hoặc keo kiệt đến mức chỉ cần một lượng nhỏ cũng đủ để sống qua ngày. Trong thế giới của Joyce, ở truyện ngắn <em>Ivy Day in the Committee Room</em>, nó thường có nghĩa là: một lời châm chọc về tính keo kiệt của ai đó; một cách chế giễu một nhân vật chính trị hoặc đồng nghiệp vì tính bủn xỉn, đặc biệt là trong việc trả tiền hoặc giúp đỡ người khác. Joyce yêu thích những thành ngữ này vì chỉ trong một câu văn giản dị mà chúng bộc lộ giai cấp, thái độ và tính cách nhân vật. Thành ngữ tiếng Việt có ý nghĩa tương tự là “vắt cổ chày ra nước.”</p>



<p>[11]&nbsp; Trong nguyên tác là thành ngữ “<em>The thin edge of the wedge.</em>” Đây là một trong những phép ẩn dụ ngắn gọn nhưng rất hiệu quả, nhất là trong các cuộc thảo luận chính trị. Đó là lý do vì sao nó lại phù hợp trong bối cảnh truyện ngắn này. Ý nghĩa cốt lõi của thành ngữ đề cập đến một khởi đầu nhỏ, tưởng chừng như vô hại, nhưng có nguy cơ dẫn đến một phát triển lớn hơn, nghiêm trọng hơn nhiều. Trong thế giới của Joyce, nó thường ám chỉ sự nghi ngờ về động cơ của ai đó; lo lắng về sự xâm nhập hoặc thao túng chính trị; cảm giác rằng những hành động nhỏ – phiếu bầu, ân huệ, liên minh – có thể tích tụ thành điều gì đó nguy hiểm hơn. Các nhân vật của Joyce luôn lo lắng về việc ai đang giành được ảnh hưởng, ai đang bán đứng và ai đang thay đổi lòng trung thành. Thành ngữ “Lưỡi mỏng của cái nêm” đã nắm bắt hoàn hảo tâm trạng đó. Tôi không&nbsp; tìm được thành ngữ tiếng Việt nào có ý nghĩa tương tự nên đành dịch theo nghĩa đen và chú thích nơi đây.</p>



<p>[12]&nbsp; Vải len <em>serge</em> là loại vải dệt chéo bền chắc, thường được làm từ len chải kỹ, dùng cho đồng phục quân đội, áo vét hay áo khoác dài.</p>



<p>[13]&nbsp; <em>bowler hat</em>: Mũ quả dưa.</p>



<p>[14]&nbsp; <em>Erin</em>: Nội dung bài thơ, “Erin” đơn giản chỉ là một cái tên thơ ca ám chỉ quốc gia Ireland. Nó bắt nguồn từ chữ “<em>Éire</em>” tiếng Ireland, có nghĩa là Ireland. Trong thơ ca mang nặng màu sắc Dân tộc chủ nghĩa thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, <em>Erin</em> là hiện thân, là hình ảnh lý tưởng hóa của Ireland – một người mẹ, một thiếu nữ, hoặc một quốc gia đau khổ mang tính biểu tượng. Nó mang nặng ý nghĩa cảm xúc: lòng yêu nước, nỗi nhớ, sự hy sinh và khát vọng tự do dân tộc.</p>



<p>*</p>



<p><em><strong>Lời người dịch</strong></em></p>



<p><em>Ivy Day in the Committee Room</em> của <strong>James Joyce</strong> là một truyện ngắn tưởng như chỉ xoay quanh vài người đàn ông ngồi uống bia và tán gẫu về chính trị bầu cử, nhưng thực chất nó là một <strong>bản chẩn đoán lạnh lùng về tình trạng chính trị Ireland cuối thế kỷ XIX</strong>. Joyce không tranh luận trực tiếp; ông chỉ cho thấy sự suy đồi, xuống cấp biểu hiện bởi lời nói, thái độ, và sự dung tục tầm thường của các nhân vật.</p>



<p>Biểu tượng trong truyện là cái huy hiệu hình lá trường xuân gắn trên ve áo các nhân vật. Họ làm thế để thể hiện lòng trung thành và tưởng nhớ Parnell. Thời gian truyện chính là ngày giỗ vị lãnh tụ nổi tiếng nhất của dân tộc Ireland thởi cận đại. Truyện sử dụng ngày này để nhấn mạnh chủ đề về sự thờ ơ chính trị và sự suy tàn của chủ nghĩa dân tộc Ireland. <em>Ivy Day</em> nói lên ký ức về một lãnh tụ đã mất, nhưng <em>ivy</em> là loại dây leo, nó <strong>bám vào thứ khác để sống</strong><strong>,</strong> gợi ý Ireland, sau khi Parnell chết, đang sống bám vào quá khứ. Nó cũng là cây <strong>xanh mãi, không bao giờ úa vàng, ngụ ý </strong>ký ức về Parnell vẫn còn, nhưng chỉ tồn tại như <strong>nghi thức,</strong> không còn sức mạnh chính trị.</p>



<p>Chủ đề lớn của tập truyện <em>Dubliners</em> là sự <strong>tê liệt xã hội</strong><strong>,</strong> và truyện ngắn này là ví dụ chính trị tiêu biểu, rõ ràng nhất. Dùng phân cảnh căn phòng họp của Ủy ban Vận động Tranh cử của một ứng viên đang tranh cử vào Hội đồng Thành phố, Joyce vẽ một căn phòng lạnh tối, ít than củi, không tiền, các nhân viên chờ đợi trong vô vọng, v.v. Đây không chỉ là bối cảnh, nó chính là <strong>ẩn dụ cho Ireland</strong>. Các nhân vật, không ai thèm làm gì, lười nhác, trời mưa gió suốt ngày ngồi lì trong phòng chứ không ra ngoài đi kiếm phiếu; không lý tưởng thật sự mà chỉ tranh luận về những đề tài vặt vãnh trong cuộc sống vốn rất nghèo nàn; rồi khi có bia đem đến thì mừng rỡ như trẻ con được mẹ đi chợ mua quà.</p>



<p>Chính trị đã trở thành công việc thuê mướn, không còn là phong trào giải phóng. Chính trị như nghề kiếm ăn, hầu hết những người trong phòng là người đi vận động cử tri bỏ phiếu, nhưng họ quan tâm đến tiền hơn là chính sách, sẵn sàng đổi phe, nghi ngờ lẫn nhau, nói xấu ứng viên của chính mình. Joyce đang phơi bày sự chuyển đổi từ chủ nghĩa dân tộc đầy đam mê (thời Parnell) sang chính trị thực dụng, vụ lợi. Các lãnh đạo mới không phải anh hùng mà chỉ là những con buôn chính trị, dùng chức vị để trục lợi bản thân.</p>



<p>Sau cái chết của Parnell, phong trào tranh đấu giải phóng dân tộc Ireland <strong>tan rã thành nhiều phe phái. </strong>Thế hệ những người tiếp nối nghi ngờ, công kích nhau, sa vào những tranh luận vô ích và vô bổ. Joyce muốn nói: Kẻ thù lớn nhất của Ireland không phải nước Anh, mà là sự chia rẽ nội bộ. Đây là một nhận định rất táo bạo vào thời Joyce.</p>



<p>Trong truyện, ta có thể nhìn vào cuộc tranh luận về việc chào đón Vua Anh để thấy sự phân hóa đã dẫn đến sự biến dạng tiêu cực của lý tưởng dân tộc. Có hai quan điểm: Nhóm thực dụng (Henchy) cho rằng nhà Vua đến tức là đem tiền đầu tư vào xứ sở, nhờ đó kinh tế phát triển. Còn nhóm lý tưởng (Hynes) thì chống đối việc đó vì cho rằng tại sao phải cúi đầu trước ngoại bang, chẳng lẽ không thấy nhục nhã ư? Đây là xung đột cổ điển thường thấy trong các phong trào giành độc lập.</p>



<p>Joyce không đứng hẳn về phía nào, ông chỉ cho thấy cuộc tranh luận đã trở nên nông cạn. Không ai nói về tự do thực sự mà chỉ nói về tiền, việc làm, lợi ích. Nói khác đi, Chủ nghĩa Dân tộc đã bị “thị trường hóa.”</p>



<p>Lúc Hynes đọc bài thơ về Parnell là khoảnh khắc duy nhất có linh hồn, căn phòng thay đổi, mọi người im lặng, xúc động, vỗ tay. Nhưng Joyce rất tinh quái. Các nhân vật sau đó tiếp tục uống bia. Không có hành động. Không có sự thức tỉnh. Chỉ là hoài niệm, một hoài niệm khô cứng, cạn kiệt, máy móc. Thông điệp Joyce muốn gửi cho chúng ta có vẻ tàn nhẫn: Con người chúng ta giỏi tưởng niệm hơn là hành động.</p>



<p>Joyce đang phê phán ai? Câu trả lời là khá bất ngờ. Ông<strong>không chỉ phê phán chính trị gia, mà toàn xã hội Ireland. </strong>Những người trong căn phòng là tầng lớp dưới trung lưu, lao động, công chức nhỏ, vận động viên bầu cử, kẻ thất nghiệp, vv. Họ đại diện cho <strong>quốc gia thu nhỏ</strong><strong>. </strong>Không ai là phản diện. Tất cả đều tầm thường, ù lì, tê liệt.</p>



<p>Đây là kiểu bi kịch Joyce rất ưa thích triển khai trong các tác phẩm của ông. Không có kẻ ác, chỉ có sự nhỏ bé, tầm thường.</p>



<p>Ý nghĩa lớn hơn trong truyện ngắn này không chỉ nói về Ireland đầu thế kỷ XX, nó nói về một quy luật chính trị phổ quát. Sau khi một lãnh tụ vĩ đại chết đi thì điều gì thường xảy ra. Nó là sự mất phương hướng của phong trào; lý tưởng bị thay thế bằng chiến thuật; những lãnh tụ mới thì tầm thường, trong lòng đầy nghi kỵ, đố kỵ; cán bộ phân hóa, phân tâm, chia rẽ, luôn bới móc, thêu dệt cái xấu của nhau; ký ức trở thành nghi lễ, nghi lễ trở thành mẫu mực quan trọng hơn tất cả các hình thức đấu tranh khác.</p>



<p>Tôi có thể thấy mô hình này lặp lại trong rất nhiều quốc gia thuộc thế giới thứ ba từng có thời sống dưới ách cai trị của thực dân. Thậm chí, tôi còn thấy nó trong cái-gọi-là sinh hoạt chính trị-văn hóa của các cộng đồng người Việt ở hải ngoại, nơi tôi hiện đang sinh sống. Đó là lý do vì sao tôi thấy Joyce vẫn mới, vẫn hiện đại. Thông điệp của Joyce không trở nên lỗi thời, mà vẫn là bài học đau đớn cho chúng ta suy ngẫm.</p>



<p>Điểm thứ hai đáng suy nghĩ trong truyện ngắn này là bài thơ ở phần cuối truyện. Tại sao Joyce sử dụng nó?</p>



<p>Bài thơ được viết theo phong cách trữ tình Dân tộc chủ nghĩa gắn liền với những người ủng hộ Parnell. Việc sử dụng tên gọi “Erin” báo hiệu một thứ chủ nghĩa Dân tộc lãng mạn; nỗi đau buồn trước sự phản bội chính trị. Bài thơ mang giọng điệu cao cả, u buồn và lý tưởng. Nó gợi lên hình ảnh Erin/ Ireland, Parnell, ngôn ngữ của sự hy sinh, sự phản bội, vận mệnh quốc gia dân tộc, vv.</p>



<p>Nhưng không gian nơi bài thơ được đọc là một căn phòng chật hẹp, tồi tàn, có những nhân vật đang uống bia, luôn mồm phàn nàn về tiền bạc, tranh cãi nhau về những lời đồn đại, sự thù hận và những mưu đồ chính trị nhỏ nhặt. Sự tương phản này thật tàn khốc. Sự vĩ đại của bài thơ rơi vào một không gian mà không ai sống đúng với lý tưởng của nó. Mặc dù nó tạm thời nâng tầm không gian căn phòng, và trong khoảnh khắc ngắn ngủi, những người trong phòng im lặng, lắng nghe, xúc động, nhưng ngay sau đó, mọi thứ vẫn ỳ ra như cũ, không hề có sự thay đổi nào, một ý thức tỉnh thức cũng không!</p>



<p>Joyce cố tình cho thấy những nhân vật trong phòng hầu như không thể có được niềm tin chính trị chân chính, thế nhưng bài thơ lại gợi lên hình ảnh Ireland vĩ đại, huyền thoại – “Erin” – mà họ thề trung thành, đem tâm huyết ra phục vụ.</p>



<p>Đây chính là một trong những khoảnh khắc giàu ý nghĩa nhất trong truyện ngắn, và Joyce đã dàn dựng với dụng ý mỉa mai tinh tế. Giọng điệu nội dung của bài thơ và khung cảnh xung quanh cố tình đối chọi nhau, và sự căng thẳng đó là chìa khóa để hiểu được cốt lõi cảm xúc của câu chuyện; một khoảnh khắc cảm xúc chân thành chỉ càng làm nổi bật việc các nhân vật đã đi xa khỏi những lý tưởng mà họ từng tuyên bố tôn vinh.</p>



<p>Ẩn ý trung tâm của truyện ngắn có thể gói trọn trong một câu đơn giản: <strong>Ireland không bị đánh bại, mà bị trì trệ. </strong>Những người còn lại chỉ đại diện cho sự chờ đợi, sự tầm thường, nói nhiều nhưng không hành động. – TYT</p>



<p></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Trịnh Y Thư: PHẾ TÍCH CỦA ẢO ẢNH (THƠ)</title>
		<link>https://t-van.net/trinh-y-thu-phe-tich-cua-ao-anh-tho/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Trịnh Y Thư]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 23 Mar 2026 21:01:32 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[TÁC PHẨM MỚI]]></category>
		<category><![CDATA[thơ trịnh y thư]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=87845</guid>

					<description><![CDATA[TV&#38;BH vừa nhận được tập thơ: PHẾ TÍCH CỦA ẢO ẢNH của nhà văn, nhà thơ Trịnh Y Thư, một cây bút lỗi lạc của văn học hải ngoại và cũng là một bỉnh bút sung sức của trang Văn Học và Đời Sống T.Vấn &#38; Bạn Hữu.  Sách dày 200 trang, không bán, chỉ [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/03/IMG_5954.jpeg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="1015" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/03/IMG_5954-1024x1015.jpeg?strip=all" alt="" class="wp-image-87846" style="width:580px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/03/IMG_5954-300x298.jpeg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/03/IMG_5954-1024x1015.jpeg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2026/03/IMG_5954-768x762.jpeg 768w, https://cdn.t-van.net/2026/03/IMG_5954-1536x1523.jpeg 1536w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/03/IMG_5954.jpeg?strip=all 1920w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>TV&amp;BH vừa nhận được tập thơ: <strong>PHẾ TÍCH CỦA ẢO ẢNH</strong> của nhà văn, nhà thơ Trịnh Y Thư, một cây bút lỗi lạc của văn học hải ngoại và cũng là một bỉnh bút sung sức của trang Văn Học và Đời Sống T.Vấn &amp; Bạn Hữu.  Sách dày 200 trang, không bán, chỉ dành tặng thân hữu. Đôc giả của TV&amp;BH nếu muốn có bản in giấy, xin liên hệ với tác giả sẽ được nhận sách gửi qua bưu điện. Sách tặng không tính tiền sách, nhưng nếu ai muốn ủng hộ bưu phí thì xin gửi 5 usd sau khi nhận sách. Ngoài ra, nhà thơ Trịnh Y Thư có nhã ý gởi tới độc giả ấn bản điện tử. Xin quý độc giả bấm vào đường dẫn bên dưới.</p>



<p><strong>Văn Học</strong><strong>&nbsp;Press</strong><strong></strong></p>



<p><strong>22 Agostino, Irvine, CA 92614 USA • vmail: +1-949-981-3978</strong>  <strong>email: <a href="mailto:trinhythu@gmail.com">trinhythu@gmail.com</a></strong></p>



<p><strong>email:&nbsp;</strong><a href="mailto:vanhocpress@gmail.com"><strong>vanhocpress@gmail.com</strong></a><strong>&nbsp;• Facebook: Van Hoc Press</strong><strong></strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>Trịnh Y Thư: PHẾ TÍCH CỦA ẢO ẢNH (THƠ)</strong></p>



<div data-wp-interactive="core/file" class="wp-block-file"><object data-wp-bind--hidden="!state.hasPdfPreview" hidden class="wp-block-file__embed" data="https://cdn.t-van.net/2026/03/PTCAA_3rd_ed_Final.pdf" type="application/pdf" style="width:100%;height:600px" aria-label="Embed of PTCAA_3rd_ed_Final."></object><a id="wp-block-file--media-d1762039-f23c-462f-bdfc-d219d283e89b" href="https://cdn.t-van.net/2026/03/PTCAA_3rd_ed_Final.pdf" class="mcloud-attachment-87851">PTCAA_3rd_ed_Final</a><a href="https://cdn.t-van.net/2026/03/PTCAA_3rd_ed_Final.pdf" class="wp-block-file__button wp-element-button mcloud-attachment-87851" download aria-describedby="wp-block-file--media-d1762039-f23c-462f-bdfc-d219d283e89b">Download</a></div>



<p></p>



<p>Trân trọng giới thiệu:</p>



<p><strong>PHẾ TÍCH CỦA ẢO ẢNH</strong></p>



<p>Thơ – Ấn bản III</p>



<p>TRỊNH • Y • THƯ</p>



<p>VĂN HỌC PRESS tái bản, 2026</p>



<p>(Được tăng bổ với những bài thơ làm trong thời gian gần đây, cùng Nhận định của các nhà thơ Du Tử Lê, Nguyễn Thị Khánh Minh và Nguyễn Đức Tùng).</p>



<p>Tranh bìa:</p>



<p><em>ĐINH TRƯỜNG CHINH</em></p>



<p><em>Phố Mùa Đông, sơn dầu trên bố, 20” x 30”, 2019</em></p>



<p>Phụ bản:</p>



<p><em>DUY THANH – ĐINH CƯỜNG – NGUYÊN KHAI –</em></p>



<p><em>PHAN CHÁNH KHÁNH</em></p>



<p>Ảnh chân dung:</p>



<p><em>NGUYỄN BÁ KHANH</em></p>



<p>Thư pháp:</p>



<p><em>NGỌC DUNG</em></p>



<p>oOo</p>



<p>Thơ Siêu thực của họ Trịnh là một thứ lãng mạn mới mà, cốt lõi là mối ràng buộc giữa con người, thiên nhiên, siêu hình… vốn ẩn tàng trong tiềm thức và những giấc mơ thoát khỏi sự trì kéo thô kệch của ý thức.</p>



<p><em>– Du Tử Lê&nbsp;</em><em>[1942-2019]</em><em>,&nbsp;</em>nhà thơ.</p>



<p>Điều tôi cảm thấy và hiểu được ẩn dụ nghịch lý của tiêu đề&nbsp;<em>Phế tích của ảo ảnh</em>, như một lối tự vệ và hóa giải khắc khoải nội tại của tác giả. Và cho cả chúng ta. Để tha thứ, nhưng, tha thứ không phải là lãng quên, mà là định hướng nhân bản cho cuộc sống ngay bây giờ và tương lai. Điều ấy chỉ Thơ làm được.</p>



<p><em>– Nguyễn Thị Khánh Minh,&nbsp;</em>nhà thơ.</p>



<p>Trịnh Y Thư quan tâm đến sự chính xác, tiết kiệm chữ, nhưng anh cũng để cho khả năng nhạy cảm với mặt trái của xã hội, sự tra tấn, nỗi đau khổ làm bùng vỡ ngôn ngữ. Anh ý thức về sự hữu hạn của kiếp người, thứ sự thật tương đối, về cái chết, mặt tối đen của số phận, các ảo tưởng. Trịnh Y Thư thuộc những nhà thơ hiện đại, tiến rất xa tới gần các biên giới, trở thành một người lạ, đôi khi.</p>



<p><em>– Nguyễn Đức Tùng</em>, nhà thơ.</p>



<p>@@@</p>



<p>Sách không bán, chỉ dành tặng thân hữu.</p>



<p><a href="mailto:trinhythu@gmail.com">trinhythu@gmail.com</a></p>



<p><a href="mailto:vanhocpress@gmail.com">vanhocpress@gmail.com</a></p>



<p></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Trịnh Y Thư: Nguyễn Viện: Tiểu thuyết Có những kẻ đi mãi không về – Cuộc trốn chạy trong mê cung Lịch sử</title>
		<link>https://t-van.net/trinh-y-thu-nguyen-vien-tieu-thuyet-co-nhung-ke-di-mai-khong-ve-cuoc-tron-chay-trong-me-cung-lich-su/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Trịnh Y Thư]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 14 Mar 2026 05:09:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[giới thiệu tác phẩm]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=87632</guid>

					<description><![CDATA[1. Trong văn học, hành vi “thoát khỏi chiến tranh” hay “thoát khỏi cuộc sống” thường được thể hiện một cách gián tiếp, thông qua các phép ẩn dụ gợi lên sự rút lui, tan biến, siêu thoát hoặc quên lãng chứ không phải là sự chạy trốn theo nghĩa đen. Tuy vậy, trong cuốn [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/03/ni3VvtC3-image001.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="687" height="1024" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/03/image001-687x1024.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-87633" style="width:471px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/03/image001-201x300.jpg 201w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/03/image001-687x1024.jpg?strip=all 687w, https://cdn.t-van.net/2026/03/image001-768x1145.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2026/03/image001-1030x1536.jpg 1030w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/03/ni3VvtC3-image001.jpg?strip=all 1288w" sizes="(max-width: 687px) 100vw, 687px" /></a></figure></div>


<p>1.</p>



<p>Trong văn học, hành vi “thoát khỏi chiến tranh” hay “thoát khỏi cuộc sống” thường được thể hiện một cách gián tiếp, thông qua các phép ẩn dụ gợi lên sự rút lui, tan biến, siêu thoát hoặc quên lãng chứ không phải là sự chạy trốn theo nghĩa đen. Tuy vậy, trong cuốn tiểu thuyết <em>Có những kẻ đi mãi không về</em> của nhà văn Nguyễn Viện, ta thấy đó là một cuộc chạy trốn thật sự ra khỏi những thực tại tàn bạo, khốc liệt của chiến tranh, của đời sống. Nó không phải giấc ngủ hay giấc mơ để tạm thời quên đi những nhọc nhằn, khổ ải do đời sống đem lại, như giấc ngủ của <em>Iliad</em> của Homer, hoặc như Shakespeare từng nói: “<em>Giấc ngủ hàn gắn những vết thương lòng</em>.”</p>



<p>Con người trong thiên truyện này của nhà văn Nguyễn Viện không được quyền ngủ, hắn phải tỉnh thức, tỉnh thức để nhận lãnh tất cả mọi khổ đau, bầm dập của cái-gọi-là đời sống, và tỉnh thức để biết đường trốn chạy ra khỏi cái mê cung kinh hoàng của chiến tranh, của những thế lực phi nhân tính, phi đạo đức luôn sẵn sàng đè bẹp những tâm hồn yếu đuối chỉ có một mong ước duy nhất là được sống, được sống như con người.</p>



<p>Cuốn tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Viện va chạm đến vấn đề cốt lõi của cuộc sống hiện đại: tại sao sống như một con người lại khó khăn đến thế; tại sao sống là trốn chạy, là bế tắc, một nghịch lý hết thuốc chữa khi những tiến bộ về cả mặt khoa học lẫn tư tưởng đều đạt được những thành tựu lớn lao chưa từng thấy trong lịch sử?</p>



<p>2.</p>



<p>Thạch Xung, nhân vật chính diện của cuốn tiểu thuyết, người con của núi rừng, sinh ra trong một ngôi làng hẻo lánh heo hút ở vùng cao, với cái tên hoang dã, như chính nó, Rume. Mẹ gã trao thân cho một người đàn ông được mọi người trong làng gọi là “ông Thày” và sinh ra gã. Bà được gả cho một người đàn ông khác trong làng trước khi gã ra đời. Bởi thế trong suốt thời thơ ấu và niên thiếu gã mặc nhiên xem người đàn ông đó là cha mình. Cùng lúc có một người đàn bà khác cũng hiến dâng thân xác cho “ông Thày” và sinh ra một người con gái tên Thị. Ngôi làng mang một khí hậu hiện thực huyền ảo, “… <em>ẩn khuất giữa đám cây rừng ấy chưa bao giờ lạnh lẽo. Nó luôn được sưởi ấm bởi những hơi thở nóng của đàn bà ở Rume. Bởi không một người đàn bà nào không bị xao xuyến bởi ánh mắt dịu dàng của Thày</em>…” Và nặng mùi dục tính, “<em>Mùi ma mị của bà hoà quyện với mùi rừng man dại nhồi ông lên xuống giữa chơi vơi của đất trời. Mơ và thật. Bà Mắm rất tự hào vì được ông yêu. Như ân sủng. Như biệt đãi. Cho dẫu niềm tự hào ấy vẫn phải che giấu như bóng tối trong lô cốt, nhưng vẫn làm cho thần thái bà trở nên rạng ngời</em>.” (Tiểu đoạn 1: <em>Cái lô cốt ở Rume</em>).</p>



<p>Tình cảm khắng khít giữa Thạch Xung và Thị theo thời gian ngày càng nảy nở, nhưng không có một tình huống&nbsp; “Trăm năm cô đơn” nào xảy ra, mà thay vào đó là chiến tranh. Chiến tranh ập đến kéo theo tất cả những chết chóc, đổ vỡ, chia lìa, tan tác. Làng Rume bị chặt khúc ra từng mảnh bởi cả hai phe, Quốc gia lẫn Giải phóng. Ông Thày bị cắt đầu vì bị tình nghi là Việt gian, các người khác như bầy chim vỡ tổ, mỗi người tìm một phương lánh nạn. Thạch Xung và Thị cũng bị cuốn trôi theo cơn thác lũ ấy về thành phố chạy trốn, kiếm miếng ăn, nhưng mất liên lạc với nhau một thời gian dài.</p>



<p>Nhà văn Nguyễn Viện dành khá nhiều câu chữ trong cuốn tiểu thuyết để nói về cuộc chiến tranh ấy, tuy vậy, ông không hề đả động gì đến việc cuộc chiến xảy ra như thế nào; năm tháng, những biến cố trọng đại cũng không được moi ra từ lịch sử hoặc ký ức, mà chỉ nói về những hệ lụy đau đớn do cuộc chiến gây ra. Điều này không lạ. Bởi sứ mệnh (nếu có) của tiểu thuyết không phải minh họa cho Lịch sử, mà là lấp đầy những chỗ trống do Lịch sử vô tình hay cố ý bỏ quên. Nguyễn Viện nhìn chiến tranh với con mắt kinh hoàng tột độ, “… <em>Con người bị ném vào chiến tranh như miếng thịt ném cho thú dữ trong sở thú.</em>” Ở một đoạn khác, ông viết:</p>



<p><em>“Đao kiếm hay súng ống, xưa nay vẫn là thứ vũ khí để giết người và nó gắn bó với lịch sử con người như một thuộc tính. Một cám dỗ huỷ diệt, mãnh liệt và ám ảnh. Vì thế, vũ khí mỗi ngày một tinh vi và hiệu quả hơn. Nó cũng lôi cuốn con người hơn. Mang đao kiếm hay súng ống không chỉ là tự vệ hay giết người, mà nó nâng cấp và thị uy bản ngã.” </em>(Tiểu đoạn 5: <em>Thành phố</em>).</p>



<p>Đọc đến đây, tôi bỗng nhớ một câu viết của nhà văn Mỹ Henry Miller, “<em>Chúng ta giết nhau vì chúng ta hãi sợ chính cái bóng của mình, sợ rằng nếu chúng ta sử dụng một chút lý trí, chúng ta sẽ phải thừa nhận rằng những nguyên tắc cao cả của chúng ta là sai lầm</em>.”</p>



<p>Đoạn văn trên của Nguyễn Viện là tiếng dội từ vách núi vọng về của câu nói của Henry Miller, mà tôi hiểu như sau:</p>



<p>Chiến tranh là sự hủy diệt mang tính biểu tượng đối với kẻ khác, nhưng bạo lực không bắt nguồn từ sức mạnh hay niềm tin, mà từ nỗi sợ hãi. Sợ hãi khi nhận ra khả năng tàn ác của chính mình. Sợ hãi khi thừa nhận rằng chúng ta không trong sạch về mặt đạo đức như chúng ta tuyên bố. Sợ hãi rằng “kẻ thù” không hoàn toàn ở bên ngoài, mà phản ánh điều gì đó chưa được giải quyết bên trong chúng ta. Bằng cách phóng chiếu bóng tối này ra bên ngoài, chúng ta biến xung đột nội tâm thành xung đột ngoại tại. Kẻ thù trở thành một vật chứa tiện lợi cho những gì chúng ta không thể chịu đựng được ở chính mình. Do đó, bạo lực là một hình thức trốn tránh tâm lý.</p>



<p>Đoạn, cái “bản ngã được nâng cấp” của Nguyễn Viện hay cái “nguyên tắc cao cả” của Henry Miller là gì, và tại sao chúng ta hãi sợ nó là sai lầm?</p>



<p>Đây là lời buộc tội cốt lõi. Miller không tấn công các nguyên tắc nói chung, mà là các nguyên tắc được tôn vinh – những lý tưởng được nâng lên vượt quá sự phê phán và tách biệt khỏi thực tế. Chúng trừu tượng (quốc gia, sứ mệnh, cách mạng, tự do, sự trong sạch, sự tiến bộ, hệ tư tưởng, vv.) Họ đòi hỏi sự hy sinh – nhưng không bao giờ từ những kẻ định nghĩa chúng. Họ biện minh cho sự tổn hại là cần thiết, không thể tránh khỏi. Nói cách khác, chiến tranh, việc giết chóc tiếp diễn không phải vì con người thiếu hệ thống đạo đức, mà vì họ bám víu vào chúng quá cứng nhắc. Bạo lực trở thành một cơ chế phòng vệ để bảo vệ hình ảnh bản thân về mặt ý thức hệ.</p>



<p>Tại đây, ý thức hệ được trừu tượng hóa; những lý luận đạo đức, luân lý thông thường bị đàn áp, dẹp bỏ; bạo lực được biện minh như một nguyên tắc. Và, khốn nạn thay! Ranh giới giữa nguyên tắc và tội ác mỏng manh hơn chúng ta nghĩ.</p>



<p>Câu chuyện “ông Thày” bị cắt đầu trong thiên tiểu thuyết không là một biểu tượng ẩn dụ, không là một sản phẩm của tưởng tượng. Nó từng thật sự xảy ra nhiều lần trong thời chiến tranh Việt Nam, từ nhiều phe phái, không riêng gì phe Việt Minh hay Cộng sản. Cắt đầu người, một hành động tàn bạo kinh khiếp, bạn đừng nghĩ nó chỉ xảy ra vào thời Trung cổ phong kiến, nó từng xảy ra vào thời gọi là văn minh hiện đại. Câu hỏi được đặt ra là, tại sao con người lại có thể tàn ác, nhẫn tâm như thế với đồng loại?</p>



<p>Câu hỏi này đã được chính nhà văn Nga Aleksandr Solzhenitsyn hỏi, và câu trả lời của ông giản dị là: Nó chính là cái ý thức hệ.</p>



<p>Theo Solzhenitsyn, nguyên uỷ của tội ác là ý thức hệ. Ý thức hệ cung cấp kẻ ác sự bền bỉ và quyết tâm, bằng mọi giá, phải tiêu diệt tất cả những kẻ cản trở bước đường của mình. Nó được bao bọc bởi lớp hào quang giả tạo rồi trang trọng đưa lên ban thờ. Từ đó kẻ gây tội ác cứ việc an tâm gây tội ác mà lương tâm chẳng hề bị cắn rứt, bởi hắn chỉ cần vái lạy, nhân danh cái ý thức hệ đó thì bất cứ việc gì, dù tàn độc cách mấy, hắn vẫn có thể thản nhiên làm được. Cái ác tiềm ẩn trong DNA của mỗi chúng ta, với ý thức hệ như thùng phuy dầu xăng, chỉ cần một tia lửa nhỏ lóe lên cũng đủ cho nó biến thành đám cháy lớn thiêu đốt bất kỳ thứ gì nằm cản đường cản lối nó.</p>



<p>3.</p>



<p>Những người con của núi rừng bỏ chạy về thành phố, một nơi chốn hỗn loạn, xã hội suy đồi đến tận đáy đất đen, mọi giá trị truyền thống bị lật nhào, không lý tưởng, mọi ý nghĩa tiêu tan, người ta giẫm đạp lên nhau mà sống, con trai làm du đãng, con gái làm đĩ, hoặc khá lắm thì buông thả, sao cũng được, miễn sống. “<em>Một chủ nghĩa hiện sinh được hiện thực hoá đồng hành trong cuộc chiến giữa chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa tư bản</em>.” Tác giả viết như thế ở tiểu đoạn 7.</p>



<p>“… <em>Trong cơn lốc xoáy ấy, Thạch Xung không muốn cầm súng vì tổ quốc hay một lý tưởng nào, chàng cũng không muốn cầm súng như cách để kiếm miếng ăn, hoặc giết người để bảo vệ cách sống của mình. […] Chiến tranh là một mâu thuẫn và nó tạo ra những mâu thuẫn khác. Hơn bao giờ hết, những mâu thuẫn nội tại xé vụn Thạch Xung. Và đó là một Thạch Xung du đãng. Từ chối làm nghĩa vụ công dân. Phủ nhận thực tại. Mỗi bước đi của Thạch Xung là một hố thẳm&#8230; Và chàng trở thành hố thẳm, bất khả vãn hồi</em>.” (Tiểu đoạn 7: <em>Những ngã ba lạc lối</em>).</p>



<p>Thế là Thạch Xung bắt đầu cuộc trốn chạy của mình, trốn chạy theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Gã bị phe Quốc gia bắt lính. Đào ngũ. Bị đuổi, bơi qua sông trốn, gặp ngay thằng em Thạch Xâm chĩa AK vào đầu, lại bơi ngược về phía Quốc gia. Lại chạy. Chạy thục mạng. Chạy miết. Cho đến khi trở thành một tay du đãng khét tiếng.</p>



<p>Tiếng tăm gã được đồn thổi, và các thế lực chính trị thuộc cả hai phe tìm đến gã mời mọc, chèo kéo, thậm chí dọa nạt. Nhưng gã cương quyết và khôn khéo chối từ, “<em>Tôi không đủ cao cả để hy sinh thân mình cho điều gì. Sự thật, tôi là kẻ sợ chết. Nên tôi sẽ không thể làm gì nguy hiểm đến an nguy của tôi. Tôi cũng không muốn gây nợ máu với ai</em>.” (Tiểu đoạn 8: <em>Những giấc mơ bụi bặm</em>).</p>



<p>Thế nhưng, do hoàn cảnh và thời thế đưa đẩy, bỗng một hôm Thạch Xung trở thành một nhân vật chính trị sáng giá. Và, kết quả đáng buồn là gã ngày càng bị cuốn hút sâu vào vũng lầy của những thủ đoạn, mưu toan chính trị đen tối. “<em>Chính trị vẫn là bán mình cho quỷ</em>.” Gã phải quỵ lụy “điếu đóm” các nhân vật như cụ Dunhill, lão Hà Việt bên cốc rượu hay bàn đèn thuốc phiện. Gã cảm thấy chán ngán và cuối cùng, chịu đựng hết nổi, gã bỏ lại tất cả, đi lập một cái am và giả dạng thầy tu. Gã lại bắt đầu một cuộc trốn chạy mới.</p>



<p>“<em>Thạch Xung không muốn bị cuốn vào cuộc sát phạt địch-ta… Nhưng địch hay ta sẽ chẳng có bên nào cho con người quyền lựa chọn</em>.” (Tiểu đoạn 8: <em>Những giấc mơ bụi bặm</em>). Đó là bi kịch của chiến tranh Việt Nam.</p>



<p>Chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến phức tạp, có kẻ nhìn nó dưới góc độ một cuộc chiến ủy nhiệm giữa hai khối Tư bản và Cộng sản trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh toàn cầu. Sự thật là sau khi tách cái vỏ bọc mạ vàng giả, gạt bỏ tất cả những khẩu hiệu tuyên truyền, đại loại như “chống Mỹ cứu nước” hoặc “bảo vệ tiền đồn tự do”, thì cuộc chiến ấy hiện nguyên hình là một cuộc nội chiến, anh em giết nhau, không hơn không kém. Sự lựa chọn bi thảm của một con người trong cuộc nội chiến xuất phát từ sự xung đột giữa nghĩa vụ đạo đức, bản sắc cá nhân và lưỡi răng cưa tàn bạo của cỗ máy lịch sử vô nhân tính. Không giống như các cuộc chiến tranh thông thường chống lại kẻ thù rõ ràng từ bên ngoài, nội chiến làm tan vỡ chính khung cảnh đạo đức. Nó xóa bỏ sự phân biệt giữa “chúng ta” và “họ”, biến hàng xóm thành kẻ thù, anh em thành đối địch, và lương tâm cá nhân thành một chiến trường tranh chấp khốc liệt. Bi kịch không chỉ nằm ở sự đau khổ hay mất mát, mà còn ở sự không thể tránh khỏi việc lựa chọn sai lầm, lựa chọn nào cũng là một lựa chọn mà cuối cùng đều đưa đến những hậu quả đau đớn, những thảm cảnh, chẳng những cho mình mà còn cho bao người khác.</p>



<p>Nó không phải sự tự do lựa chọn giữa thiện và ác; thay vào đó, con người buộc phải lựa chọn giữa những điều tốt đẹp nhưng lại mâu thuẫn với nhau. Lòng trung thành với gia đình có thể xung đột với lòng trung thành với phe phái mình ủng hộ; lòng trung thành với nguyên tắc đạo đức có thể mâu thuẫn với sự sống còn; lòng trung thành với sự thật có thể gây nguy hiểm cho những người thân yêu. Bất kể con đường nào được lựa chọn, hắn đều phản bội điều gì đó thiết yếu đối với bản sắc của mình. Hành động lựa chọn không giải quyết được xung đột, nó vĩnh viễn bị đóng đinh vào tính cách của hắn.</p>



<p>Nội chiến cũng phá hủy chuẩn mực của sự rõ ràng về đạo đức. Trong lý luận đạo đức thông thường, trách nhiệm dẫn đến một khuôn khổ giá trị ổn định. Nội chiến phá vỡ khuôn khổ đó. Mỗi bên đều tuyên bố tính hợp pháp, công lý và sự cần thiết. Sự tuyên truyền, đe dọa, nỗi sợ hãi, lòng bất mãn, vv., làm méo mó nhận thức, khiến hắn gần như không thể biết liệu mình đang bảo vệ công lý và chính nghĩa hay đang phá hoại cho đất nước trở nên tan hoang. Người chọn một phe thường làm như vậy trong điều kiện bất ổn cực đoan, bởi biết rằng sự phán xét trong tương lai – bởi lịch sử hoặc bởi lương tâm của chính mình – có thể lên án hắn.</p>



<p>Một khía cạnh bi thảm khác là sự cưỡng bức được ngụy trang dưới dạng lựa chọn. Trong một cuộc nội chiến, trung lập thường bị xem là phản bội. Một con người có thể bị buộc phải chiến đấu không phải vì hắn tin tưởng, mà vì từ chối có nghĩa là chết, tù đày, gia đình bị liên lụy. “Sự lựa chọn” của hắn trở thành hành động sinh tồn chứ không phải niềm tin. Tuy nhiên, ngay cả hành động bị cưỡng bức cũng để lại hệ quả đạo đức. Hắn phải sống với những gì mình đã làm, ngay cả khi hắn chưa bao giờ thực sự muốn điều đó. Bi kịch xuất hiện ở đây từ khoảng cách giữa ý chí và trách nhiệm: hắn phải chịu trách nhiệm về những hành động mà hắn không thể nào tránh khỏi.</p>



<p>Chiến đấu trong một cuộc nội chiến thường đòi hỏi phải phi nhân hóa những người từng thân quen – những người nói cùng một ngôn ngữ, chia sẻ cùng phong tục, cùng một lịch sử. Giết một kẻ thù như vậy gây ra vết thương sâu sắc hơn so với giết một người lạ, bởi nó hủy diệt một thế giới chung. Ngay cả khi mục đích là chính đáng, hành động đó vẫn làm xói mòn bản chất đạo đức của con người. Hắn không chỉ đối mặt với nguy cơ tử vong, mà còn đối mặt với nguy cơ trở thành một người vong thân không thể nào hoàn toàn hòa giải với con người trước đây của mình.</p>



<p>Nội chiến cũng đặt ra một lựa chọn bi thảm giữa hành động và tội lỗi. Hành động là tham gia vào bạo lực và bất công; không hành động là cho phép bạo lực và bất công hoành hành không kiểm soát. Điều này phản ánh một vở bi kịch Hy Lạp cổ điển, trong đó mọi hành động có thể đều vi phạm một giá trị thiêng liêng nào đó. Con người bị mắc kẹt trong một tình thế tiến thoái lưỡng nan về đạo đức, nơi hắn làm gì hay không làm gì đều có tội như nhau. Bi kịch của hắn không phải là hắn lựa chọn sai lầm, mà vì cái thế giới hắn ở bên trong đã được cài đặt để bất kỳ chọn lựa nào cũng sai lầm.</p>



<p>Cái bi kịch ấy không chấm dứt sau khi chiến tranh kết thúc. Con người phải sống trong một xã hội có những ký ức khác biệt so với hắn. Người chiến thắng viết nên lịch sử; người thua cuộc mang theo sự im lặng. Những hành động từng được ca ngợi là anh hùng có thể sau này bị coi là tội ác, hoặc ngược lại. Hòa giải đòi hỏi sự quên lãng, nhưng lương tâm lại chống lại sự xóa bỏ. Con người trở thành một mâu thuẫn sống – vừa là người tham gia vừa là người chứng kiến, vừa là nạn nhân vừa là thủ phạm – không thể hoàn toàn biện minh hay hoàn toàn hòa giải. Theo nghĩa này, lựa chọn bi thảm của con người trong chiến tranh không phải là một khoảnh khắc mà là một trạng thái tê liệt kéo dài suốt đời. Nó tiết lộ một sự thật cơ bản về đời sống đạo đức của con người dưới áp lực cực đoan: rằng bi kịch không phát sinh từ sự yếu đuối về tính cách, mà từ những tình huống mà trật tự đạo đức tự thân sụp đổ. Nội chiến cho thấy sự mong manh của đạo đức, và cái giá phải trả để giữ được nhân tính khi lịch sử không cho phép ai có được một đôi bàn tay sạch sẽ và sự minh triết trong sáng.</p>



<p>Tôi đã đọc cuốn tiểu thuyết <em>Có những kẻ đi mãi không về</em> của nhà văn Nguyễn Viện (hay bất cứ một cuốn sách lịch sử cũng như văn học nào về chiến tranh Việt Nam) với tâm trạng như trên.</p>



<p>4.</p>



<p>Cuộc chiến nào cuối cùng rồi cũng kết thúc, nhưng gã Thạch Xung không tìm được nơi chốn an thân mà vẫn tiếp tục cuộc trốn chạy.</p>



<p>Thời chiến tranh lúc chạy về thành phố, gã gặp lại Thị, và khi biết ra hai người là anh em cùng cha khác mẹ, gã xem Thị như người em gái. Thị được xem là hoa khôi trong các chốn ăn chơi có lính Mỹ lui tới và được một người lính Mỹ tên James yêu thương lấy làm vợ. Thị theo anh ta về Mỹ sinh sống. Thạch Xung cũng gặp một cô gái tên Mimi Đen, một cô gái lớn lên trong thời loạn, sống buông thả, bất cần. Cô gái bám chặt gã trong bất kỳ cảnh huống nào, dù là khi gã đội lốt tu hành. Cuộc sống như bào ảnh. “<em>Không phải sống, cũng không phải chết. Một cảnh giới vượt thoát mọi giới hạn, nhưng không phải niết bàn, mà chỉ là nhất thể hoá ba la mật, chân như thực tại.</em>” (Tiểu đoạn 10: <em>Đào thoát</em>).</p>



<p>Cuộc sống ấy, như chúng ta đều biết, là một cuộc sống không có ngày mai, ngay cả khi đất nước thống nhất, hòa bình trở lại, khi xã hội đầy bất công, phi lý, khi con người bị phân biệt đối xử như súc vật. Gã vẫn sống với Mimi Đen, cả hai bươn chải kiếm sống, tình yêu ấy vẫn còn, nhưng là một thứ tình yêu bị đầu độc.</p>



<p>“<em>Tình yêu để kết sinh hoa trái nhưng tình yêu đã bị đầu độc. Bản năng và khao khát làm mẹ của Mi bị bóp chết nhưng nàng không dám ép Thạch Xung, bởi nàng biết hiện tại của họ mong manh bất trắc, mà tương lai thì không ai dám tin</em>.” (Tiểu đoạn 13: <em>Đường dài</em>).</p>



<p>Cứ thế diễn tiến, phần I của cuốn tiểu thuyết chấm dứt với những nốt nhạc đượm buồn, chua xót trong câu nói của Thạch Xâm: “<em>Chiến tranh hay hoà bình, lịch sử hay cuộc sống vẫn là cái cối xay thịt</em>.” (Tiểu đoạn 13: <em>Đường dài</em>).</p>



<p>Trong phần II của cuốn tiểu thuyết, Thạch Xung từ chủ thể ngôi thứ ba trở thành ngôi thứ nhất, và lúc này đã là một ông già bảy mươi tuổi. Từ hòa bình tới chiến tranh rồi trở lại hòa bình, nhưng bao giờ ông cũng cảm thấy bị mắc kẹt giữa gọng kềm của kiếp sống. Hòa bình là một cuộc chiến khác không tiếng súng. Thế rồi, ông tự an ủi rằng dẫu sao ông sống sót, và ông tìm về sống trong ngôi làng Rume xưa cũ của ông. Rất khó khăn cho ông làm thế, không chỉ vì tiền bạc mà còn bởi một ký ức mà ông muốn xóa nhòa. Trở về ngôi làng xưa là một cách thế hòa giải với chính con người ông, bởi nó chính là món bảo vật linh thiêng nuôi dưỡng tâm hồn ông suốt đời người. “<em>Tôi đã gìn giữ cái huyền hoặc ấy cho suốt cuộc đời mình như một thứ gia bảo. Đồng thời, tôi cũng bị dập vùi trong hiện thực khốc liệt của con người, một cách trần trụi nhất mà tôi không thể trốn chạy, dù tôi luôn trốn chạy</em>.” (Tiểu đoạn 1, Phần II: <em>Ký ức của mùi</em>).</p>



<p>Lúc này Mimi Đen đã qua đời, Thị sống ở bên kia đại dương, những người thân yêu chẳng còn ai, ông Thạch về quê cũ Rume mua đất, dựng nhà làm lại từ đầu. Ngày ngày ông đi chăn bò, trồng rau, trồng cây, sống với những người dân quê lam lũ nhưng chân chất. Ông cũng vui vì có người bạn già, ông Giải phóng, vốn là người theo cách mạng dạo trước nhưng bị đánh bật ra ngoài như bao kẻ khác. Ông tạm ổn trong tuổi già, tự an ủi bằng ý nghĩ, “<em>Con người có thể tàn ác, bất chấp… nhưng tính người sẽ không bao giờ mất đi.</em>” (Tiểu đoạn 3, Phần II: <em>Mùi ở chân mây</em>). Ông an phận, vui với cuộc sống bình dị nơi thôn dã cho dù một hôm cơ ngơi của ông bị nhà nước nhân danh sự phát triển kinh tế cho xe ủi đất đến ủi bằng, cướp sạch. Ông chỉ cười, tự giễu, “… <em>Tôi chỉ là kẻ trốn chạy. Luôn luôn trốn chạy. Nên chẳng chẳng làm gì ra hồn</em>.” (Tiểu đoạn 5, Phần II: <em>Mùi chuột đồng</em>).</p>



<p>Ông Thạch cũng vui vì có một tình yêu khác với người phụ nữ thông minh lịch lãm tên Lữ Thảo, nhưng Lữ Thảo đến đến đi đi và cuối cùng cô đi luôn, không bao giờ trở lại. Chẳng còn thiết tha chạy theo cuộc sống nữa, ông dựng một cái am tre mãi tận thượng nguồn xa vắng của dòng suối, đêm đêm gõ mõ tụng kinh. Niềm an ủi sau cùng là trong những ngày cuối đời ông có người đàn bà quê mùa gốc Miên săn sóc ông, chính cô là người viết hai chữ THẠCH XUNG lên mộ chí của ông bên bờ suối. Kết thúc một đời người.</p>



<p>5.</p>



<p>Cuốn tiểu thuyết được viết với một văn phong bàng bạc tính hiện thực huyền ảo, đôi khi như phi thực, tuy không sử dụng những thủ pháp hiện đại như siêu hư cấu hoặc dòng ý thức. Chủ yếu của cuốn tiểu thuyết vẫn là miêu thuật một câu chuyện. Câu chữ mạnh mẽ, có lúc sống sượng, như muốn lột tả tính cách tàn bạo của điều muốn thuật. Cấu trúc truyện được viết theo tự sự biên niên, có những đoạn chuyển mạch bất ngờ. Bối cảnh truyện là lịch sử nhưng không đi sâu vào biến cố, cũng không đào sâu tâm lý nhân vật. Tự sự được sử dụng như những nét chấm phá trên một toàn cảnh dàn trải rộng lớn, và những chấm phá tự sự đó nối kết nhau để tạo nên mặt dệt của cuốn truyện.</p>



<p>Nhà văn Nguyễn Viện có tham vọng tóm gọn một đời người trong cuốn tiểu thuyết trên bốn mươi nghìn từ ấy, từ lúc sinh ra đời cho đến khi nhắm mắt xuôi tay trở về cát bụi. Cuốn tiểu thuyết là khúc giao hưởng buồn bã nói lên toàn bộ sự phi lý của kiếp người. Sống là trốn chạy. Sống trong thất lạc. Mọi chọn lựa đều vô nghĩa, đều đem đến cho bản thân sự hủy diệt.</p>



<p>Tự thân cuộc sống vốn là vô nghĩa, nó dửng dưng với ta một cách phi lý. Câu hỏi mang tính hiện sinh là, ta phải làm gì khi đối đầu với nó. Triết gia Jean-Paul Sartre có câu trả lời rất giản dị và dễ hiểu: Bởi hiện thể đi trước bản thể, điều đó có nghĩa là sự quan tâm hàng đầu cho mỗi cá nhân là chính cá nhân đó – một con người (“hiện thể”) độc lập trong hành động và có trách nhiệm, có ý thức – không phải cái gì thuộc về nhãn hiệu, vai trò, khuôn mẫu, định nghĩa, hoặc những phân loại ước định khác gán ghép lên cá nhân đó (“bản thể”). Đời sống thực sự của cá nhân mới đích thực là cái cấu tạo nên “chân bản thể” của hắn, không phải một bản thể do kẻ khác tùy tiện áp đặt lên hắn, định nghĩa hắn là gì. Do đó, con người, xuyên qua ý thức bản thân, kiến tạo nên giá trị cho chính mình và định hình một ý nghĩa cho cuộc sống.</p>



<p>Nói cho cùng, sống là đấu tranh và cuộc đấu tranh không hẳn là toàn bộ câu chuyện.</p>



<p>Chúng ta không ngừng cố gắng vượt qua cuộc sống bởi vì sự đấu tranh gắn liền với ý nghĩa. Nỗi đau, những nỗ lực và sự bất định là cái giá phải trả cho việc quan tâm đến điều gì đó – sự sống còn, tình yêu, sự phát triển, phẩm giá. Nếu không có gì quan trọng, sẽ không có đấu tranh… nhưng cũng sẽ không có lý do để thức dậy mỗi sáng.</p>



<p>Sự đấu tranh là bằng chứng của giá trị. Chúng ta không chiến đấu vì những điều vô nghĩa đối với mình. Chính việc cuộc sống cảm thấy khó khăn có nghĩa là có điều gì đó quan trọng trong đó.</p>



<p>Hơn nữa, chúng ta được tạo hóa ban cho hy vọng. Về mặt sinh học và tâm lý, con người được tạo ra để tìm kiếm sự giải thoát, sự cải thiện và những khả năng – ngay cả sau thất bại. Hy vọng không phải ngây thơ; nó là khả năng thích nghi.</p>



<p>Sự phát triển chỉ xảy ra khi có sự kháng cự. Sức mạnh vật thể, kỹ năng, tính cách, trí tuệ – tất cả đều hình thành bởi vì có điều gì đó chống lại.</p>



<p>Những khoảnh khắc quý giá bù đắp cho sự nỗ lực. Niềm vui, sự kết nối, vẻ đẹp, tiếng cười, tình yêu – những điều này không xóa bỏ nỗi đau khổ, nhưng chúng khiến nỗi đau khổ trở nên đáng chịu đựng.</p>



<p>Chính sự lựa chọn là sức mạnh. Ngay cả khi chúng ta không thể kiểm soát hoàn cảnh, việc lựa chọn cách phản ứng mang lại cho cuộc sống cảm giác chủ động thay vì chỉ đơn thuần là chịu đựng. Chúng ta không vượt qua cuộc sống để chiến thắng nó, mà để tham gia vào cuộc sống. Để nói rằng, “Tôi vẫn ở đây. Tôi vẫn đang lựa chọn.”</p>



<p>Và đôi khi, vào những ngày khó khăn hơn, câu trả lời đơn giản và nhẹ nhàng hơn: Chúng ta cố gắng bởi vì việc dừng lại, bỏ cuộc, là cái gì tồi tệ hơn là tiếp tục.</p>



<p>Khác với nhân vật Billy Pilgrim, trong cuốn tiểu thuyết <em>Lò sát sinh số Năm</em> của nhà văn Mỹ Kurt Vonnegut, từ chiến trận trở về tâm trí trở nên không bình thường, sống với những giấc mơ hoảng loạn, Thạch Xung của Nguyễn Viện may mắn hơn. Sau chừng ấy khổ đau và tuyệt vọng, ông vẫn tỉnh táo tìm được niềm vui an tĩnh ở cuối đời và có cái chết tương đối êm ả. Ta còn mong muốn gì hơn thế?</p>



<p><em>– </em><strong>Trịnh Y Thư</strong></p>



<p>(California, Trọng Đông, 2026)</p>



<p>*</p>



<p><em>Có những kẻ đi mãi không về</em></p>



<p>Tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Viện</p>



<p>Nhân Ảnh xuất bản</p>



<p>Giá US$20.00</p>



<p>Sách có bán trên amazon.com. Xin bấm vào đường dẫn sau:</p>



<p><a href="https://www.amazon.com/C%C3%B3-Nh%E1%BB%AFng-M%C3%A3i-Kh%C3%B4ng-Vietnamese/dp/B0GRD5W4W6/ref=sr_1_1?crid=36M9DPNUC7Z1F&amp;dib=eyJ2IjoiMSJ9.hw5oqTnpvmyytwz6xti00t03RJ3K76pCIDpqpLOOI_GNve4mfPaBI0jeMaQYZE1gYMM7k1b9TGajD1p-RO2zzH6wBv1L08KOKt06buWJoOOq_MUazRghpOe5HiS4xs2-MBWyjRLvaPt1Biuis6HiEZDIpQOF_QJG5m5R8IchHmOd6v2Lp-xYTTLM-1U7RYe_3NvBPiRT-ac5WNGmcyMLFkkH1BBPiiaaC6oDzthca9g.spW3tXzF5v_1yoFwJ-YHeMi5bPuNyPUKFnrsxJfRORI&amp;dib_tag=se&amp;keywords=Co+nhung+ke+di+mai+khong+ve&amp;qid=1772912358&amp;sprefix=co+nhung+ke+di+mai+khong+ve%2Caps%2C186&amp;sr=8-1">Amazon.com: Có Những Kẻ Đi Mãi Không Về (Vietnamese Edition): 9798295678660: Vien, Nguyen: Books</a></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Trịnh Y Thư: Tino Cao: Người không khoan nhượng với Lịch sử truyền thống</title>
		<link>https://t-van.net/trinh-y-thu-tino-cao-nguoi-khong-khoan-nhuong-voi-lich-su-truyen-thong/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Trịnh Y Thư]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 05 Mar 2026 07:37:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[phê bình]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=87514</guid>

					<description><![CDATA[1. Giải Văn Việt lần thứ Mười Một, năm 2025, thể loại Nghiên cứu Phê bình đã được công bố hôm 3/3/2026: Nhà phê bình Tino Cao. Trong tư cách là một trong năm thành viên Ban Xét giải, tôi xin có đôi điểu nhận xét đơn sơ về nhà phê bình Tino Cao. Một [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/03/image001.png?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="382" height="197" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/03/image001.png?strip=all" alt="" class="wp-image-87515" style="width:536px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/03/image001-300x155.png 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/03/image001.png?strip=all 382w" sizes="(max-width: 382px) 100vw, 382px" /></a></figure></div>


<p>1.</p>



<p>Giải Văn Việt lần thứ Mười Một, năm 2025, thể loại Nghiên cứu Phê bình đã được công bố hôm 3/3/2026: Nhà phê bình Tino Cao.</p>



<p>Trong tư cách là một trong năm thành viên Ban Xét giải, tôi xin có đôi điểu nhận xét đơn sơ về nhà phê bình Tino Cao.</p>



<p>Một nhà phê bình văn học không chỉ đơn thuần là người “yêu sách vở” hay có vốn từ vựng phong phú, biết khéo léo sử dụng những thuật ngữ văn học lạ tai để tô điểm cho bài nghiên cứu phê bình của mình mang vẻ hàn lâm trí tuệ, mà là người biết kết hợp chặt chẽ giữa trí tuệ với một loại cảm thông giàu trí tưởng tượng. Họ có thể phân tích một văn bản một cách chính xác đồng thời cảm nhận được những cộng hưởng về mặt cảm xúc, lịch sử và văn hóa của nó.</p>



<p>Tôi rất tâm đắc với quan niệm “đọc” của nhà phê bình văn học Bùi Vĩnh Phúc. Theo anh, một tác phẩm văn học là một thế giới “mở”, nó cho phép người đọc đi vào bằng những cánh cửa khác nhau, một thế giới chấp định, bởi nó có thể chứa đựng trong đó muôn trùng lớp nghĩa; ý nghĩa của nó không bao giờ là một ý nghĩa chung cuộc, dứt khoát, nó có thể thay đổi tùy theo cái nhìn, góc nhìn của người đọc, tùy theo thái độ quan sát, trải nghiệm sống, tri thức, tâm lý của người đọc ấy.</p>



<p>Tino Cao là một người đọc, một nhà phê bình như vậy. Anh mở một cánh cửa đi vào cõi văn chương mà không chấp nhận, hoàn toàn không khoan nhượng, một chủ thuyết hay chủ nghĩa nào. Cái đọc của anh là một khả thể cá thể, nó chấp nhận những khả thể khác, không nhất thiết phải giống anh, bằng một cánh cửa khác, cùng đi vào ngôi nhà văn chương. Cái anh tìm kiếm không phải chân lý, mà là một trong nhiểu khả lý khác nhau.</p>



<p>Anh đọc kỹ, chăm chú, nhận thấy những mô-típ, chủ đề, sự thay đổi giọng điệu và những lựa chọn cấu trúc mà người đọc thông thường bỏ sót. Anh giải thích cách một văn bản tạo ra hiệu ứng của nó như thế nào, không chỉ là những gì xảy ra, mà những gì <em>không</em> xảy ra. Đó chính là những câu chữ không được viết xuống, những dấu lặng trong tấu khúc giao hưởng, những ý nghĩa giữa những hàng chữ, mà nếu ta không nhận thức được thì tác phẩm văn học đối với ta trở thành xơ cứng, nhạt nhẽo, thậm chí vô nghĩa.</p>



<p>Phê bình truyện ngắn <em>Lòng trần</em> của nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ, Tino Cao viết: “<em>Nguyễn Thị Thụy Vũ triển khai toàn bộ cấu trúc truyện như một phép thử về giới hạn của đạo đức và về sự bất khả của việc tách linh hồn ra khỏi thân thể. Tác phẩm không đặt câu hỏi ‘Con người có thể thoát tục hay không’ mà truy xét một vấn đề sâu hơn: bản thể của con người được cấu thành bởi điều gì, tinh thần hay thân xác, hay chính là sự căng kéo giữa hai miền ấy</em>.”</p>



<p>Chính những suy ngẫm như thế đã làm nên nhà phê bình. Tino Cao không chỉ lặp lại những ý kiến ​​thời thượng hay những quan điểm chính thống trong giới học thuật, anh tự sắm cho mình một thứ triết lý, không hẳn phải nằm trong một triết hệ tiên nghiệm, mà rất đời thường.</p>



<p>Cũng trong bài viết về Nguyễn Thị Thụy Vũ, anh viết: “<em>Cái tên </em><em>Lòng trần</em><em>&nbsp;vì thế không phải là một tiếng thốt cảm thán mà là một cách định nghĩa. Con người, dù ở đâu, dù khoác áo gì, vẫn mang trong mình một lòng trần không thể xóa. Và chính lòng trần ấy là nơi bắt đầu của mọi nhận thức, mọi đạo lý, mọi ý tưởng sáng tạo cho nghệ thuật được xuất hiện và đồng hành với con người trong cõi nhân sinh</em>.”</p>



<p>Tôi nghĩ đây chính là điểm mạnh của Tino Cao trong lĩnh vực phê bình. Anh không dựa nhiều vào các triết luận Tây phương (nhiều khi rất xa lạ với người đọc Việt Nam), mà là những nhận thức đời thường, vốn từng ăn sâu vào tâm thức người đọc, nhờ đó, dễ tiếp cận và tiếp nhận hơn.</p>



<p>Trong thiên tiểu luận về truyện ngắn <em>Tặng phẩm của dòng sông</em>&nbsp;của nhà văn quá cố Nhật Tiến, anh viết: “… <em>vì thế không chỉ là truyện ngắn hiện thực về chiến tranh. Nó là một văn bản suy tưởng về sự phân rã của đạo đức và của ký ức, về nhân dạng con người khi bị hoàn cảnh ép đến khô kiệt.&nbsp;[…] </em><em>Tặng phẩm của dòng sông</em><em>&nbsp;không chỉ là một lát cắt hiện thực mà còn khắc vào ký ức người đọc hình ảnh một vùng tối của lịch sử, nơi nhân tính phải cầm cự trước một hiện thực phi lý đến nghẹt thở.”</em><em></em></p>



<p>Nhận thức về lịch sử và văn hóa, nhà phê bình hiểu thế giới mà một văn bản xuất phát từ đó: chính trị, ngôn ngữ, những căng thẳng xã hội, thực tại phi lý. Đặt một tác phẩm trong bối cảnh lịch sử văn học để cho thấy nó phản ánh hoặc thách thức các truyền thống trước đó như thế nào. Lịch sử, trong mắt Tino Cao, không hẳn chỉ là nghịch cảnh tàn bạo, mà còn va chạm đến bản thể con người bị phân rã toàn diện khi đứng trước vực thẳm. Bi kịch của Lịch sử không hẳn chỉ ở cảnh máu lửa khổ đau mà ở chỗ nhân tính bị triệt tiêu.</p>



<p>2.</p>



<p>Nói Tino Cao không xem triết học là yếu tố quan trọng trong phê bình văn học là không hoàn toàn đúng đắn. Sự thật là anh đã đem tư tưởng Triết học Hiện sinh của Jean-Paul Sartre và Albert Camus làm nền tảng cho luận điểm của mình về dục tính trong các tác phẩm tiểu thuyết của nhà văn Nhật Bản Haruki Murakami. Trong mắt nhìn của anh, khoảnh khắc hai thân thể nhập vào nhau trong tiểu thuyết Murakami là khoảnh khắc vong thân, khi “<em>con người đối diện rõ ràng nhất với sự cô đơn tuyệt đối của bản ngã, mà tự nó, đã là cốt lõi sâu thẳm của tồn tại</em>.” Nó mang sắc thái của “<em>địa ngục là tha nhân</em>” trong Triết học Hiện sinh của Jean-Paul Sartre, hay, xa lạ và khó liên tưởng hơn, là cái phi lý của hiện tồn trong Triết học Hiện sinh Phi lý của Albert Camus. Sự cô đơn của con người đến từ lòng khát khao muốn nhận thức một ý nghĩa bên trong một vũ trụ hoàn toàn dửng dưng, im lặng. Con người là một “kẻ lạ” sống trong một thế giới phi lý, vô ý nghĩa, nhưng theo Camus, thì phản ứng thích hợp để đối đầu với sự phi lý là hãy sống cho có mục đích và mãnh liệt, hầu tạo ra ý nghĩa của riêng ta trong một vũ trụ không có ý nghĩa nào.</p>



<p>Triết học và Phê bình Văn học luôn gắn bó mật thiết với nhau, cả hai đều là những ngành học cùng chia sẻ mối quan tâm sâu sắc đến ý nghĩa, sự diễn giải và bản chất của trải nghiệm con người. Triết học cung cấp cơ sở luận giải cho những câu hỏi mà Phê bình đặt ra, bởi Phê bình không bao giờ chỉ là câu hỏi “Cuốn sách này có hay không?” mà là “Văn bản này tiết lộ điều gì.” Hầu như tất cả những phạm trù Triết học như Chân lý, Bản sắc, Đạo đức, Tự do, Quyền lực, Cái Đẹp, vv., đều ít nhiều giao thoa với văn học. Một nhà phê bình khi đặt câu hỏi “Cuốn tiểu thuyết này nói gì về thân phận con người?” thì mặc nhiên người đó đã đang mặc áo triết gia rồi.</p>



<p>Tino Cao là một nhà phê bình như thế.</p>



<p>Tuy vậy, mặc dù có nêu tư tưởng Hiện sinh làm cơ sở lý luận cho văn chương của Murakami, của Nguyễn Tuân trong tác phẩm Chùa đàn, vv., nhưng Tino Cao có vẻ “mặn mà” hơn với Triết học Đông phương được thể hiện trong hệ tư tưởng Phật giáo Đại thừa. Có lẽ bởi thế anh đã dành khá nhiều câu chữ viết về hai vị cao tăng danh tiếng trong lịch sử Phật giáo Việt Nam thời hiện đại: Thích Tuệ Sỹ và Thích Trí Quang. Anh đặc biệt kính ngưỡng Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ. Trong bài viết nhan đề <em>Nhớ Thầy trong Piano Sonata 14</em>, anh viết: “<em>Trước mặt tôi không phải một nhân vật được bao phủ bởi nhiều huyền thoại mà là một người gầy gò, tĩnh lặng và an nhiên đến lạ. Ánh mắt Thầy sáng trong và chất chứa sự sâu lắng của một người đã đi qua nhiều biến cố mà không để chúng xô lệch phần cốt lõi bên trong.</em>” Và, ở một đoạn khác, “… <em>Ở đó có cái gì gần với huyền ảo, nhưng không phải huyền bí tôn giáo. Nó gần với cảm thức rằng có những người đã đi qua đến tận bên lề của cái-gọi-là thực tại, nhìn rõ bộ mặt bấp bênh của nó, rồi quay về với một cái nhìn trong sáng hơn.</em>”<em></em></p>



<p>Nói cho cùng, “<em>bên lề của cái-gọi-là thực tại” </em>của Tuệ&nbsp; Sỹ phải chăng chính là <em>“vũ trụ dửng dưng, im lặng” </em>của Camus, và hành động “<em>quay về với một cái nhìn trong sáng hơn</em>” của Đông phương thì đồng nghĩa với hành trạng “<em>phản ứng thích hợp để đối đầu với sự phi lý là hãy sống cho có mục đích và mãnh liệt, hầu tạo ra ý nghĩa của riêng ta trong một vũ trụ không có ý nghĩa nào” </em>của Tây phương?</p>



<p>Tino Cao dấn thêm một bước nữa đi sâu hơn vào biện biệt đạo-đời trong bài tiểu luận <em>Huyền thoại Duy-ma-cật: Triết học của trí tuệ bất nhị và đời sống nhập thế.</em></p>



<p><em>Huyền thoại Duy-ma-cật </em>là một chuyên luận của Tuệ Sỹ, mà theo Tino Cao, tác phẩm không chỉ là một thiên khảo cứu về kinh điển Đại thừa mà còn là một cuộc đối thoại mở giữa triết học, văn chương và tâm linh. Anh lý luận, “<em>vì đạo không nằm ngoài cuộc sống mà chính là cách con người hiện diện trong từng hoàn cảnh với sự tỉnh thức và trí tuệ</em>” nên “<em>người giác ngộ không cần trốn khỏi thế giới mà cần thấy rõ bản chất của nó bằng con mắt không phân biệt. Tự do, theo tinh thần ấy, không đến từ sự cắt đứt với đời mà từ khả năng sống giữa đời mà không bị đời chi phối.”</em></p>



<p>Kỳ thực, ý niệm này không mới, nó chính là tư tưởng chủ đạo trong khái niệm “<em>Cư trần lạc đạo</em>”, vốn là một trong những ý niệm đẹp đẽ và độc sáng nhất trong tư tưởng Phật giáo Việt Nam, thể hiện triết lý tâm linh của Tôn giả Trần Nhân Tông một cách rõ ràng đáng kinh ngạc. Thoạt nhìn có vẻ đơn giản, nhưng hàm ý của nó lại vô cùng sâu sắc.</p>



<p>“<em>Cư trần lạc đạo</em>” xuất phát từ bài <em>Cư trần lạc đạo phú</em> của vua Trần Nhân Tông, và ta có thể hiểu theo nghĩa đen là: “Sống trong thế gian, nhưng hãy vui hưởng trong Đạo.” Nó thể hiện một nhận thức cốt lõi của truyền thống Thiền học Trúc Lâm: Bạn không cần phải trốn tránh thế gian để đạt được giác ngộ. Bạn có thể sống trọn vẹn trong xã hội – làm việc, cai quản, nuôi dạy gia đình, yêu đương, đối mặt với xung đột – mà vẫn có thể tu tập hoàn thiện để giác ngộ. Đây là khác biệt lớn lao so với định kiến ​​về sự từ bỏ thế tục trong Phật giáo.</p>



<p>Triết lý đằng sau khái niệm của Trần Nhân Tông dựa trên ý tưởng: Giác ngộ không ở nơi khác. Ngài bác bỏ ý tưởng cho rằng giải thoát tâm linh đòi hỏi phải rời bỏ xã hội, phải từ bỏ trách nhiệm, phải lui về non cao rừng thẳm hay vào chùa sinh sống, vv. Thay vào đó, cái “thế giới bụi bặm” (<em>trần</em>) này tự nó là lĩnh vực, môi trường tu tập, tự nó là nơi chốn cho ta hành đạo. Điều này phù hợp với sự nhấn mạnh của Thiền tông về tính bất nhị: Không có sự phân biệt nghiêm ngặt giữa thiêng liêng và trần tục.</p>



<p>Đó cũng là ý nghĩa mà Tino Cao rút tỉa từ cuốn sách của Tuệ Sỹ khi anh viết, “… <em>Kinh nghiệm bất nhị mà Duy-ma-cật nêu ra không khiến con người rút lui khỏi thế giới mà giúp họ hiện diện trong thế giới với sự tỉnh táo. Đó là khả năng tham dự mà không bị cuốn trôi, biết phân biệt đúng sai nhưng không dựng lên bức tường hận thù, biết dấn thân mà không để mình bị đốt cháy trong cơn giận dữ hay ảo tưởng cứu rỗi</em>.”</p>



<p>Lý thuyết là vậy, nhưng thực hành là chuyện khác. Đem ánh sáng trí tuệ của Phật học vào đời sống hằng ngày – sống giữa đời trần tục mà không đánh mất cái tâm, hành đạo giữa đời hầu tìm kiếm con đường giác ngộ – không phải là chuyện ai cũng làm được một cách dễ dàng.</p>



<p>3.</p>



<p>Tino Cao không dừng ngòi bút của mình tại đường biên thông thường của văn chương chữ nghĩa, anh là người quan tâm đến xã hội với tất cả&nbsp; những xô lệch của Lịch sử, những điều tàn bạo phi lý của chiến tranh. Với tấm lòng nhân hậu và cái nhìn nhân bản, anh đã kết nối văn chương của nhà văn Han Kang (giải Nobel Văn học, 2024) với cuộc thảm sát người dân Palestine tại Dải Gaza trong thời điểm hiện tại. Anh viết, “… <em>Đọc Han Kang lúc này không còn là một thao tác đánh giá Nobel đã lựa chọn “đúng” hay “sai” mà là một nỗ lực đặt lại câu hỏi căn bản hơn về khả năng và giới hạn của văn chương khi đối diện với thảm sát. Văn chương làm chứng vận hành ra sao khi bạo lực không phải là sự kiện đã khép lại mà là một tiến trình được tổ chức, hợp thức hóa và tái diễn dưới những hình thức khác nhau của quyền lực đế quốc và các thiết chế phụ thuộc vào nó</em>.”</p>



<p>Đối với Tino Cao, văn chương không thuần túy chỉ là một nghệ thuật làm đẹp nhằm thỏa mãn các nhu cầu trí thức, mà phải “<em>gắn chặt với hiện tại khi mà bạo lực chiến tranh vẫn tiếp diễn và không ngừng tìm kiếm sự hợp thức hóa</em>.”</p>



<p>Tôi chẳng thể nào không đồng ý với anh, bởi văn học luôn là một trong những phương thức mạnh mẽ nhất của nhân loại để chống lại nỗi kinh hoàng của chiến tranh, không phải bằng cách lên án sự tàn bạo của nó (sự tàn bạo, chính nó đáng bị phỉ nhổ rồi), mà bằng cách làm cho nó trở nên hữu hình, dễ liên tưởng suy ngẫm và biến thành lời kêu gọi cấp bách về mặt đạo đức. Khi nhìn vào các nền văn hóa và các thế kỷ khác nhau, bạn sẽ thấy cùng một mô hình: văn học trở thành một lực lượng đối trọng với bạo lực, bởi vì nó có thể làm được những điều mà các bài phát biểu chính trị, số liệu thống kê và báo cáo chiến trường không thể làm được.</p>



<p>Văn học khôi phục lại bộ mặt con người mà chiến tranh đã xóa bỏ.</p>



<p>Chiến tranh biến con người thành những con số, mục tiêu, hoặc đưa ra những khái niệm trừu tượng như “kẻ thù”, “chiến thắng” hoặc “sự hy sinh”, “đấu tranh”, vv., trong lúc văn học đảo ngược quá trình đó. Một cuốn tiểu thuyết, một bài thơ, một cuốn hồi ký mang lại tên tuổi, ký ức, đời sống nội tâm, sự mâu thuẫn, nỗi sợ hãi và hy vọng của con người trở lại với thực tại. Đây là lý do vì sao những tác phẩm như <em>Tất cả yên tĩnh tại mặt trận miền Tây</em> của Erich Maria Remarque; <em>Lò sát sinh số Năm</em> của Kurt Vonnegut; <em>Những thứ họ mang theo</em> của Tim O’Brien; <em>Nỗi buồn chiến tranh</em> của Bảo Ninh, hay cuốn hồi ký tù <em>Đêm giữa ban ngày</em> của Vũ Thư Hiên, cùng rất nhiều tác phẩm chiến tranh khác, mang tính phản kháng mạnh mẽ. Những tác phẩm văn học này khẳng định rằng mỗi con người, mỗi nạn nhân, là một ý thức nội tại có ý nghĩa, chứ không phải một biểu tượng, một con số vô cảm trong Lịch sử.</p>



<p>Cùng một biểu cảm như vậy, và với giọng điệu đầy thách thức, Tino Cao viết, “… <em>Giá trị của văn chương nằm ở việc phá vỡ trạng thái chấp nhận đã trở nên quen thuộc đối với thế giới đang tồn tại</em>.”</p>



<p>Tino Cao cũng quan tâm đến khí hậu và môi trường của các sinh hoạt tri thức trong quốc gia Việt Nam. Trong bài viết, nửa tường thuật nửa phê bình, <em>Việt Nam học và câu hỏi về cơ chế tri thức</em>, anh đưa ra nhận xét về một mâu thuẫn mà người trong giới xưa nay đều thấy rõ: “… <em>Tri thức được khuyến khích nhưng vẫn phải được kiểm soát; học thuật được tôn vinh nhưng không được phép vượt khỏi khung giới hạn của hệ tư tưởng</em>.”</p>



<p>Điều này là hiển nhiên, bởi đè nặng lên đất nước Việt Nam cho đến ngày nay, hơn năm mươi năm sau khi chiến tranh chấm dứt, vẫn là một cơ cấu thể chế độc tài đảng trị, toàn trị, công an trị. Mọi phản biện đều bị quy chụp là phản động, và có thể bị tù đày, thậm chí chết chóc. Bởi thế, theo anh, “… <em>tri thức ở Việt Nam chưa bao giờ được xem như một lực lượng độc lập. Nó được gắn vào những mục tiêu chính trị, phát triển hoặc tuyên truyền, và vì thế, vai trò của học giả bị thu hẹp vào việc hợp thức hóa những định hướng đã được xác lập.</em>” […] <em>Khoảng cách giữa nghiên cứu và hành động, đó là vấn đề cốt lõi nhất của học thuật Việt Nam hiện nay. Các viện nghiên cứu không được vận hành như trung tâm tri thức độc lập mà như cánh tay nối dài của bộ máy hành chính. Nhà nghiên cứu không phải là người đặt câu hỏi mà là người viết báo cáo. Họ bị cuốn vào vòng xoáy của “nghiệm thu, đánh giá, tổng kết”, thay vì được khuyến khích phản biện, thảo luận, hoặc đặt vấn đề mới.</em>”</p>



<p>Những nhận xét và yêu cầu của Tino Cao trong bài viết nêu trên là chính xác và đúng đắn, không ai có thể phản bác lại được, nhưng thử hỏi, với một cơ chế lãnh đạo đất nước xem văn học, nói riêng, học thuật, nói chung, là công cụ tuyên truyền cho chính trị, thì biết đến bao giờ và làm thế nào tri thức Việt Nam mới có tự do trong tư tưởng, độc lập trong việc làm?</p>



<p>4.</p>



<p>Phải nói thêm về một ưu điểm khác nữa của Tino Cao, đó là, văn phong của anh mạch lạc, hấp dẫn và thường rất trau chuốt; ngoài phạm vi lý luận, Phê bình ở đây trở thành một hình thức văn học. Anh rất xứng đáng được giải Văn Việt, thể loại Nghiên cứu Phê bình năm 2025 này.</p>



<p>Ngoài ra, cũng xin thú thực với anh cùng các độc giả rằng tôi đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc xét giải, bởi giữa ba nhà phê bình được vào chung kết – Tino Cao, Nguyễn Hồng Anh và Đinh Thanh Huyền – tôi đã cảm thấy vô cùng lúng túng, không biết chọn ai, vì ai cũng có ưu điểm, vượt trội hơn bình thường. Nhưng rồi, tiếng chuông báo hiệu hết giờ của anh Hoàng Dũng réo gọi hối thúc bên tai khiến tôi phải lật đật đặt bút xuống…</p>



<p>Khó khăn. Lúng túng. Nhưng vui mừng. Vui mừng vì nhìn thấy sự trưởng thành, lớn mạnh của ngành Phê bình Văn học Việt Nam; dần dà nó thoát ra khỏi cái bóng ma ý thức hệ chính trị khiếp hãi, mà trong suốt bao nhiêu năm đè nặng lên tâm thức người viết và người đọc. Xin cảm ơn tất cả. Vì tất cả đã giúp người đọc nhìn nhận văn học như một phần của cuộc đối thoại rộng lớn hơn về ý nghĩa của việc làm người.</p>



<p>– <strong>Trịnh Y Thư</strong></p>



<p>(Tháng Hai, 2026)</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>J. Joyce: Một tai nạn thương tâm (Trịnh Y Thư chuyển ngữ)</title>
		<link>https://t-van.net/j-joyce-mot-tai-nan-thuong-tam-trinh-y-thu-chuyen-ngu/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Trịnh Y Thư]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 25 Feb 2026 06:22:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[truyện dịch]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=87324</guid>

					<description><![CDATA[Ông James Duffy cư ngụ ở Chapelizod [1] vì ông muốn sống càng xa càng tốt thành phố nơi ông là một công dân, và trong mắt ông, tất cả các vùng ngoại ô khác của Dublin đều chẳng dễ chịu, yên ả tí nào, trông nó mới mẻ một cách lố bịch, lại còn [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/02/kLVet7fc-image001.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="990" height="555" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/02/kLVet7fc-image001.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-87325" style="width:724px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/02/image001-300x168.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2026/02/image001-768x431.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/02/kLVet7fc-image001.jpg?strip=all 990w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Ông James Duffy cư ngụ ở Chapelizod [1] vì ông muốn sống càng xa càng tốt thành phố nơi ông là một công dân, và trong mắt ông, tất cả các vùng ngoại ô khác của Dublin đều chẳng dễ chịu, yên ả tí nào, trông nó mới mẻ một cách lố bịch, lại còn để lộ bộ mặt khoa trương một cách giả tạo. Phòng ông thuê nằm trong một ngôi nhà cũ kỹ, u ám. Từ cửa sổ phòng, ông có thể nhìn thấy khu nhà máy chưng cất rượu đã bỏ hoang từ lâu, hoặc phóng tia mắt ra xa về phía con sông cạn nước mà thành phố Dublin được xây dựng lên trên. Trên những bức tường cao của căn phòng không trải thảm, chẳng có tranh ảnh nào được treo. Ông tự mua sắm mọi đồ đạc trong phòng: một chiếc giường sắt màu đen, một bệ rửa mặt cũng bằng sắt, bốn chiếc ghế mây, một giá treo quần áo, một thùng đựng than, một tấm chắn và những thanh sắt cời lửa lò sưởi, một chiếc bàn vuông vức trên đó là bàn làm việc của ông. Mấy kệ gỗ trắng ăn vào hốc tường làm thành tủ sách. Giường ngủ được phủ bằng vải màu trắng, một tấm khăn hai màu đen đỏ phủ chân giường. Một chiếc gương nhỏ treo trên bệ rửa mặt. Ban ngày, một chiếc đèn chụp màu trắng đứng như món vật trang trí duy nhất trên bệ lò sưởi. Những cuốn sách trên kệ gỗ trắng được sắp xếp từ dưới lên trên theo khổ sách từ lớn đến nhỏ. Bộ <em>Wordsworth Toàn Tập</em> [2] nằm ở một đầu kệ dưới cùng và một bản sao <em>Sách giáo lý Maynooth, </em>được khâu vào bìa vải một cuốn sổ tay, nằm ở đầu kệ trên cùng. Các vật dụng dùng để viết luôn ở trên bàn. Trong ngăn kéo bàn có một bản dịch ở dạng bản thảo vở kịch <em>Michael Kramer </em>của<em> Hauptmann</em>, những chú thích hướng dẫn dàn dựng sân khấu được viết bằng mực tím và một tập giấy nhỏ được ghim lại bằng một chiếc ghim bằng đồng. Trên những mảnh giấy rời này, lâu lâu một hàng chữ được biên xuống và, trong một khoảnh khắc trớ trêu, tiêu đề một quảng cáo cho <em>Bile Beans </em>được dán lên tờ đầu tiên. Khi nhấc nắp bàn lên, một mùi hương thoang thoảng tỏa ra – mùi của những cây bút chì làm bằng gỗ bách hương còn mới, hoặc mùi một lọ keo, một quả táo chín nẫu bị bỏ quên.</p>



<p>Ông Duffy cảm thấy hãi sợ bất cứ điều gì cho thấy sự rối loạn về thể chất hoặc tinh thần. Một bác sĩ thời trung cổ có lẽ sẽ gọi ông là người bị sao Thổ chiếu mệnh [3]. Khuôn mặt ông, hằn trên đó là toàn bộ câu chuyện về những năm tháng của mình, mang màu nâu của những con phố Dublin. Trên cái đầu dài và khá to mọc mái tóc đen khô và bộ ria mép màu hung không che hết cái miệng khó nhìn. Gò má ông cũng khiến khuôn mặt trở nên có vẻ khắc nghiệt; nhưng không hề có sự khắc nghiệt trong đôi mắt; ánh mắt ông, khi nhìn thế giới từ bên dưới đôi lông mày màu hung, tạo ấn tượng về một người đàn ông luôn cảnh giác chào đón bản năng cứu rỗi ở người khác nhưng thường thất vọng. Đôi khi ông ở ngoài xa thân thể mình, xem xét hành động của chính mình với cặp kính cận thị đầy vẻ nghi ngờ. Ông có thói quen tự thuật kỳ lạ khiến ông thi thoảng nghĩ ra trong đầu một câu ngắn về bản thân mình có chủ ngữ ở ngôi thứ ba và vị ngữ ở thì quá khứ. Ông không bao giờ bố thí cho người ăn xin, bước đi của ông vững vàng, trên tay luôn cầm một cây can bằng gỗ phỉ rắn chắc.</p>



<p>Trong nhiều năm trời ông làm thu ngân cho một ngân hàng tư nhân tọa lạc trên phố Baggot. Sáng sáng ông đáp xe điện từ Chapelizod đến chỗ làm việc. Buổi trưa, ông ghé tiệm Dan Burke’s dùng bữa trưa – một cốc bia nhẹ và một khay nhỏ bánh quy làm bằng bột dong [4]. Đến bốn giờ, được tự do, ông dùng bữa tối tại một quán ăn ở phố George, nơi ông cảm thấy an toàn tách ra khỏi xã hội của đám trai gái trẻ trung trang phục bảnh bao, lộng lẫy ở Dublin, tiệm ăn cũng có sự trung thực nhất định trong thực đơn. Buổi tối, ông dành thời gian ngồi dạo chiếc đàn piano của bà chủ nhà dưới lầu hoặc đi bách bộ quanh vùng ngoại ô thành phố. Ông thích nhạc Mozart, vì vậy đôi khi ông đi xem một vở <em>opera</em> hoặc nghe một buổi hòa nhạc: đây là thú vui tiêu khiển duy nhất trong cuộc đời ông.</p>



<p>Ông không có bạn, không đi nhà thờ, không tín ngưỡng. Ông sống cuộc sống tinh thần của mình mà không có bất kỳ giao tiếp nào với người khác, ông chỉ đến thăm bà con họ hàng vào dịp Giáng Sinh và đưa họ ra nghĩa trang khi họ qua đời. Ông thực hiện hai nghĩa vụ xã hội này chỉ vì muốn lưu giữ một phẩm giá cũ xưa nhưng không hề nhượng bộ thêm bất cứ điều gì đối với các quy ước điều chỉnh cuộc sống xã hội. Ông cho phép mình nghĩ rằng trong một số trường hợp nhất định, ông sẽ cướp ngân hàng của mình nhưng, vì trường hợp này chắc chắn không bao giờ xảy ra, nên cuộc sống của ông diễn ra đều đặn – một câu chuyện không có cuộc phiêu lưu nào.</p>



<p>Một buổi tối, ông thấy mình ngồi cạnh hai người phụ nữ trong nhà hát Rotunda. Người nghe thưa thớt, không khí im ắng, như bằng chứng đau buồn về sự thất bại. Người phụ nữ ngồi cạnh ông đảo mắt nhìn quanh gian sảnh vắng tanh một hai lượt rồi thốt:</p>



<p>“Đáng tiếc, đêm nay chẳng có ai đến dự! Thật đáng buồn khi phải hát cho những băng ghế trống nghe.”</p>



<p>Ông xem lời nhận xét đó của người đàn bà như lời mời mọc nói chuyện. Ông ngạc nhiên khi thấy bà có vẻ tự nhiên, thoải mái chứ không ngượng ngùng lắm. Trong lúc nói chuyện, ông cố ghi nhớ hình ảnh bà thật sâu vào ký ức. Khi biết rằng cô gái trẻ ngồi bên cạnh là con gái bà, ông đoán mình phải trẻ hơn bà một hai tuổi gì đó. Khuôn mặt bà, hẳn là rất đẹp, mang vẻ thông minh, hiểu biết. Đó là một khuôn mặt trái xoan với những đường nét rõ ràng, sắc sảo. Đôi mắt xanh lam rất sẫm và kiên định. Ánh mắt hai người bắt đầu bằng một nét thách thức nhưng rồi trở nên bối rối như thể đang cố tình làm ra vẻ ngất ngây, bộc lộ trong giây lát một tính khí vô cùng nhạy cảm. Nhưng ánh mắt ấy nhanh chóng kềm chế lại, bản chất nửa kín nửa hở trở về với sự thận trọng, và chiếc áo khoác lông cừu hàng <em>astrakhan</em> của bà, ôm trọn bầu ngực đầy đặn, tỏ lộ nét thách thức rõ rệt hơn.</p>



<p>Ông gặp lại bà vài tuần sau đó tại một buổi hòa nhạc ở Earlsfort Terrace và lợi dụng những giây phút cô con gái không để ý, ông tỏ ra thân mật với bà hơn. Bà nói bóng gió một hai lần về chồng mình nhưng giọng điệu bà không phải để biến sự ám chỉ đó thành lời cảnh báo. Tên bà là Sinico. Ông tổ năm đời của chồng bà là dân Leghorn đến đây lập nghiệp. Chồng bà là thuyền trưởng một con tàu buôn đi lại giữa Dublin và Hà Lan; và họ có một người con.</p>



<p>Trong lần tình cờ gặp lại bà lần thứ ba, ông thu hết can đảm để hẹn hò với bà. Bà giữ hẹn. Đấy là lần đầu tiên trong số nhiều lần hẹn hò; họ luôn gặp nhau vào buổi tối và chọn những nơi vắng vẻ, yên tĩnh nhất để cùng nhau đi dạo. Tuy nhiên, ông Duffy không thích những hành động lén lút như vậy, ông cảm thấy buồn bực trong lòng vì cứ phải gặp nhau một cách thầm kín, và ông đòi đến nhà bà. Thuyền trưởng Sinico lịch sự tiếp ông, lại còn mời ông đến thăm viếng thường xuyên hơn vì ông ta nghĩ rằng ông Duffy đang theo đuổi cô con gái của ông bà. Ông đã loại bà vợ mình ra khỏi căn phòng tình cảm, ông thực sự suy nghĩ như thế nên ông chẳng bao giờ ngờ có ai khác quan tâm đến bà. Ông chồng thường xuyên vắng nhà đi xa, cô con gái thì bận đi dạy nhạc nên ông Duffy có nhiều cơ hội để tận hưởng cuộc sống với người phụ nữ. Cả ông và bà đều chưa từng có bất kỳ cuộc phiêu lưu nào như vậy trước đây nên cả hai đều không nhận ra bất kỳ sự sai trái nào. Lâu dần, suy nghĩ của ông thấm nhập quấn quýt tâm trí bà. Ông cho bà mượn sách, gieo vào đầu óc bà những ý tưởng, chia sẻ cuộc sống trí tuệ của mình với bà. Và bà chịu khó lắng nghe, không bỏ sót điều gì.</p>



<p>Đôi khi, để đáp lại, bà tiết lộ một số sự thật về cuộc sống của chính bà. Với sự quan tâm gần như của một người mẹ, bà thúc giục ông hãy bộc lộ nhiều hơn tính cách bản chất mình: bà trở thành người giải tội cho ông. Ông kể với bà rằng trong một thời gian, ông đã tham gia các cuộc họp của Đảng Xã hội Ireland, nơi ông cảm thấy mình là một nhân vật nổi bật trong đám hàng chục công nhân viên &nbsp;sôi nổi tranh luận trong một căn gác xép dưới ánh sáng lù mù của ngọn đèn dầu. Đến khi đảng chia thành ba phe nhóm, mỗi phe có một người lãnh đạo riêng và họp hành trong một căn gác xép riêng thì ông ngừng tham gia. Ông nói rằng các cuộc thảo luận của những công nhân ấy là quá e dè nhút nhát; họ chỉ quan tâm nhiều đến vấn đề lương lậu và thu nhập. Ông cảm thấy rằng họ là những người theo chủ nghĩa hiện thực cứng nhắc và họ bày tỏ sự phẫn uất trước một sự việc vốn là sản phẩm của thói hưởng thụ nằm ngoài tầm với của chính họ. Ông nói với bà rằng sẽ không có một cuộc cách mạng xã hội nào có thể xảy ra ở Dublin trong vài thế kỷ nữa.</p>



<p>Bà hỏi tại sao ông không viết ra suy nghĩ của mình. Để làm gì cơ chứ, ông hỏi lại bà, với sự khinh miệt. Để ganh đua với bọn thích nói năng hoa mỹ, không có khả năng suy nghĩ liên tục trong sáu mươi giây à? Để tự khuất phục trước những lời chỉ trích của một tầng lớp trung lưu chậm hiểu đã giao phó đạo đức của mình cho cảnh sát và nghệ thuật của mình cho các ông bầu ư?</p>



<p>Ông thường đến thăm bà trong ngôi nhà nhỏ ở ngoại ô Dublin; họ thường dành buổi tối cho riêng họ. Dần dần, khi những suy nghĩ của họ quyện rối vào nhau, họ nói về những chủ đề ít xa lạ hơn. Tình tri kỷ của bà giống như lớp đất ấm áp bao quanh loài kỳ hoa dị thảo. Nhiều lần bà không thắp đèn mà cứ để bóng tối phủ lên hai người. Bóng tối tràn ngập căn phòng kín đáo, sự cô lập của họ, âm nhạc rung động trong tai họ gắn kết họ lại với nhau. Sự kết hợp này tôn vinh ông, làm mờ nhạt những góc cạnh thô ráp trong tính cách của ông, khiến đời sống tinh thần ông như sôi động lên. Đôi khi ông bắt gặp mình đang lắng nghe âm thanh giọng nói của chính mình. Ông nghĩ rằng, trong mắt bà, ông vươn lên tầm vóc thiên thần; và khi ông cảm nhận bản chất nồng ấm của người đàn bà truyền sang ông càng lúc càng tăng, ông bỗng nghe thấy một tiếng nói lạ lùng vô cảm mà ông nhận ra là của chính mình, nó nhấn mạnh vào nỗi cô đơn không thể chữa lành trong tâm hồn ông. Nó nói rằng ta không thể trao cho ai khác cái của chính mình: ta là của riêng ta. Kết thúc những buổi nói chuyện này là, trong một đêm nọ, người đàn bà đã thể hiện tất cả mọi dấu hiệu của tình cảm nồng nhiệt khác thường, bà nắm lấy bàn tay ông rồi âu yếm áp lên má mình.</p>



<p>Ông Duffy rất đỗi ngạc nhiên. Cách bà diễn giải lời ông nói khiến ông vỡ mộng. Suốt một tuần ông không đến thăm bà, đoạn ông viết thư xin bà ra gặp. Vì không muốn cuộc nói chuyện lần cuối này bị ảnh hưởng bởi sự việc đáng tiếc xảy ra lần trước, họ gặp nhau tại một tiệm bánh nhỏ gần cổng Công viên. Lúc đó là mùa thu, tiết trời đã lạnh giá nhưng họ vẫn cuốc bộ loanh quanh trên những con đường trong Công viên suốt gần ba giờ đồng hồ. Họ đồng ý chấm dứt mối quan hệ: ông nói rằng mọi ràng buộc đều là ràng buộc vào nỗi buồn. Khi ra khỏi Công viên, họ giữ im lặng bước về phía trạm xe điện; nhưng tại đây, bà lên cơn run rẩy dữ dội đến nỗi, vì sợ bà lại ngã lăn xuống mặt đất, ông vội vã chào tạm biệt rồi quay lưng bước thẳng. Vài ngày sau, ông nhận được một bưu kiện đựng sách và nhạc của mình.</p>



<p>Bốn năm trời trôi qua. Ông Duffy trở lại với lối sống đều đặn tẻ nhạt như trước. Căn phòng ông vẫn chứng kiến mỗi ngày sự ngăn nắp thứ tự trong tâm hồn ông. Một vài bản nhạc mới được đặt trên giá nhạc ở phòng dưới lầu và trên kệ sách có thêm hai tập sách của Nietzsche: <em>Thus Spake Zarathustra </em>và <em>The Gay Science</em> [5]. Ông hiếm khi viết nữa, tập giấy trắng vẫn nằm nguyên trong ngăn kéo bàn làm việc. Một trong những câu ông viết hai tháng sau cuộc nói chuyện lần cuối giữa ông với bà Sinico, có nội dung như sau: Tình yêu giữa đàn ông và đàn ông là không thể vì không có quan hệ tình dục, còn tình bạn giữa đàn ông và đàn bà cũng không thể vì phải có quan hệ tình dục. Ông tránh đi dự các buổi hòa nhạc vì sợ gặp bà ở đó. Cha ông mất; một nhân viên cấp dưới của ngân hàng nghỉ hưu. Sáng sáng ông vẫn lấy xe điện vào thành phố, mỗi tối vẫn đi bộ từ thành phố về nhà sau bữa ăn tối nhẹ ở Phố George và đọc báo để tráng miệng.</p>



<p>Một buổi tối, khi ông đang cầm cái nĩa sắp sửa cho vào miệng miếng thịt bò muối bắp cải thì ông phải buông nĩa xuống. Hai mắt ông dán chặt vào hàng chữ in trên tờ báo ấn bản buổi tối ông dựa hờ lên bình đựng nước. Ông bỏ lại miếng thức ăn trên đĩa rồi chăm chú đọc hàng chữ. Sau đó, ông uống một ngụm nước, đẩy đĩa thức ăn sang một bên, trải tờ báo xuống bàn trước mặt mình, chống hai khuỷu tay lên bàn và đọc đi đọc lại bản tin đó. Bắp cải bắt đầu có một lớp mỡ trắng lạnh đọng trên đĩa. Cô gái phục vụ đến bàn lễ phép hỏi ông phải chăng món ăn tối nay nấu không được ngon miệng lắm sao. Ông vội bảo cô nó rất ngon và ông gượng gạo cố nuốt vài miếng. Sau đó, ông đứng dậy móc ví trả tiền và bước ra ngoài.</p>



<p>Ông bước nhanh dưới trời hoàng hôn tháng Mười Một, cây can bằng gỗ phỉ chắc nịch của ông gõ xuống mặt đất phát ra những tiếng lạch cạch đều đều, chiếc khăn lụa hiệu <em>Mail </em>màu thổ hoàng &nbsp;nằm lấp ló trong túi bên chiếc áo khoác ngoài bó sát người. Đến đoạn đường vắng vẻ từ cổng Công viên đến Chapelizod, ông bước chậm lại. Cây can gõ xuống mặt đất nhẹ hơn và hơi thở ông phát ra không đều, như hòa với tiếng thở dài, ngưng tụ trong không khí lạnh buổi chớm đông. Về đến nhà, ông lập tức lên phòng ngủ rút tờ báo từ trong túi ra và đọc lại bản tin dưới ánh sáng yếu ớt từ cửa sổ hắt vào. Ông không đọc to thành tiếng mà mấp máy môi như một linh mục đọc lời cầu nguyện trong kinh <em>Secreto</em>. Dưới đây là bản tin ông đọc:</p>



<p>CÁI CHẾT CỦA MỘT PHỤ NỮ TẠI SYDNEY PARADE<br>MỘT TAI NẠN THƯƠNG TÂM</p>



<p>Hôm nay tại Bệnh viện Thành phố Dublin, Phó giám định y khoa (khi ông Leverett vắng mặt) đã tiến hành giảo nghiệm tử thi bà Emily Sinico, bốn mươi ba tuổi, người đã tử vong tại trạm ga Sydney Parade vào tối qua. Bằng chứng cho thấy người phụ nữ, trong khi cố băng qua đường ray, đã bị đầu máy chuyến tàu mười giờ từ ga Kingstown húc ngã, mặc dù lúc đó chiếc tàu chạy rất chậm nhưng bà bị thương ở đầu và bên phải, dẫn đến tử vong.</p>



<p>Ông James Lennon, người lái tàu, cho biết ông đã làm việc cho công ty đường sắt trong mười lăm năm. Khi nghe tiếng còi báo hiệu của người gác cổng, ông đã cho tàu chuyển động và chỉ một hai giây sau đó ông thắng vội vì nghe tiếng kêu lớn. Tàu đang chạy rất chậm.</p>



<p>Anh P. Dunne, một nhân viên khuân vác đường sắt, khai rằng khi tàu sắp khởi hành, anh ta thấy một người phụ nữ cố vượt qua đường ray. Anh ta chạy về phía bà ấy và hét lên, nhưng trước khi anh ta có thể với tới bà, thì bà đã bị vướng vào bộ đệm của đầu máy và ngã xuống đất.</p>



<p>Một nhân viên điều tra hỏi anh ta: “Anh có nhìn thấy người phụ nữ đó ngã không?”</p>



<p>Thì anh ta trả lời: “Có.”</p>



<p>Trung sĩ Cảnh sát Croly khai rằng khi đến nơi, ông thấy nạn nhân nằm trên sân ga, và dường như đã chết. Ông bèn đưa thi thể người đàn bà vào phòng đợi trong khi chờ xe cứu thương đến.</p>



<p>Cảnh sát trưởng ty 57E cũng xác nhận như thế.</p>



<p>Bác sĩ Halpin, trợ lý phẫu thuật tại Bệnh viện Thành phố Dublin, khai rằng người chết bị gãy hai xương sườn dưới và bị bầm tím nghiêm trọng ở vai phải. Ông cũng tìm thấy vết thương trên đầu phía bên phải khi bị ngã. Tuy vậy, các vết thương không đủ nặng để gây tử vong ở một người bình thường. Theo ông, người phụ nữ chết có thể là do sốc và tim đột ngột ngừng hoạt động.</p>



<p>Ông H. B. Patterson Finlay, thay mặt cho công ty đường sắt, bày tỏ sự hối tiếc sâu sắc về tai nạn. Ông bảo công ty luôn thực hiện mọi biện pháp phòng ngừa để ngăn chặn mọi người tùy tiện băng qua đường ray, muốn băng qua thì phải tìm cầu bắc ngang. Công ty cho đặt bảng lưu ý tại mọi sân ga, và tại các lối đi cắt ngang đường sắt đều có cổng lò xo. Người phụ nữ xấu số ấy có lẽ có thói quen băng qua đường ray vào ban đêm lúc tối trời từ sân ga này sang sân ga khác và xét đến một số tình tiết khác của vụ việc, ông không nghĩ rằng các viên chức đường sắt phải chịu trách nhiệm.</p>



<p>Thuyền trưởng Sinico, nhà ở Leoville, Sydney Parade, chồng của người xấu số, cũng đưa ra bằng chứng. Ông khai rằng người đàn bà đó chính là vợ ông. Ông không ở Dublin vào thời điểm xảy ra tai nạn vì ông mới từ Rotterdam về sáng hôm đó. Họ lấy nhau được hai mươi hai năm và sống hạnh phúc cho đến khoảng thời gian hai năm trước đây thì vợ ông bắt đầu có những thói quen không kiềm hãm được.</p>



<p>Cô Mary Sinico nói gần đây mẹ cô có thói quen ra ngoài vào ban đêm để mua rượu. Cô, trong tư cách một nhân chứng, đã nhiều lần cố khuyên bảo mẹ và đã thuyết phục bà tham gia Liên đoàn Phụ nữ. Hôm xảy ra tai nạn, một giờ sau cô mới về nhà.</p>



<p>Hội đồng xét xử đã đưa ra phán quyết phù hợp với bằng chứng y khoa và tuyên bố ông Lennon hoàn toàn vô tội.</p>



<p>Phó giám định y khoa cho biết đây là một tai nạn vô cùng đau lòng và bày tỏ sự cảm thông sâu sắc cùng chia buồn với thuyền trưởng Sinico và con gái ông. Ông khẩn thiết khuyến cáo công ty đường sắt thực hiện các biện pháp mạnh mẽ và hiệu quả hơn để ngăn ngừa khả năng xảy ra những tai nạn tương tự trong tương lai. Và không ai bị quy lỗi trong vụ này.</p>



<p>*</p>



<p>Ông Duffy rời mắt khỏi tờ báo nhìn ra quang cảnh buổi tối ảm đạm ngoài cửa sổ. Dòng sông nằm lặng lẽ bên cạnh nhà máy chưng cất rượu bỏ hoang, lâu lâu một ngọn đèn bật lên trong một ngôi nhà nào đó trên đường Lucan. Thật là một kết cuộc đau buồn! Toàn bộ câu chuyện về cái chết của bà khiến ông kinh hãi và ông cảm thấy kinh hãi khi nghĩ rằng mình đã từng nói với bà về những điều ông xem là thiêng liêng. Những câu chữ sáo rỗng, những biểu hiện vô nghĩa của sự đồng cảm, những lời lẽ thận trọng của một phóng viên nhà báo, tất cả được khéo léo diễn đạt để che giấu những chi tiết về một cái chết tầm thường, thô bỉ. Nó tấn công dạ dày ông. Bà không chỉ hạ thấp bản thân mình; mà còn hạ thấp ông nữa. Ông nhìn thấy vùng đất bẩn thỉu của những thói hư tật xấu nơi con người bà, khốn khổ và thối tha. Người tri kỷ của tâm hồn ông! Ông nghĩ đến những kẻ nhếch nhác, những con người bê tha, bệ rạc chân đi khập khiễng ông từng thấy cầm ly cốc đến cho người phục vụ trong quán rượu rót đầy. Chúa ơi, thật là một kết cuộc đáng buồn! Rõ ràng là bà không đủ sức sống, không còn bất kỳ sức mạnh nào cho mục đích sống nữa, một con mồi dễ dàng cho những thói quen tật xấu, một bãi phế thải hoang tàn mà nền văn minh này đã được nuôi dưỡng. Làm thế nào bà lại có thể chìm sâu xuống đất đen như thế được! Phải chăng ông đã hoàn toàn tự lừa dối mình về con người bà? Ông nhớ lại cơn cảm xúc không trấn áp nổi của bà cái đêm hôm đó và ông đã diễn dịch nó theo một ý nghĩa khắc nghiệt hơn ông từng làm, và bây giờ ông cảm thấy chẳng hối tiếc chút nào về con đường mình đã chọn.</p>



<p>Ánh sáng tàn dần và suy nghĩ trong trí óc bắt đầu tản mác, ông nhớ lúc bàn tay bà chạm vào tay mình. Cú sốc ban đầu tấn công dạ dày ông bây giờ quay ra đánh mạnh vào các dây thần kinh. Ông vớ chiếc áo khoác ngoài, đội mũ rồi đi ra ngoài. Không khí lạnh phả vào mặt mũi ông ở ngưỡng cửa; nó len lỏi vào tay áo khoác. Đến quán rượu đầu cầu Chapelizod, ông bước vào trong gọi một cốc <em>hot punch</em> [6].</p>



<p>Người chủ quán lễ độ phục vụ nhưng không dám bắt chuyện. Có năm sáu người trong tiệm, toàn dân thợ thuyền, họ đang bàn luận về giá trị bất động sản của một người giàu có ở Quận Kildare. Họ uống rượu trong những chiếc cốc lớn và hút thuốc liên miên, chốc chốc họ khạc nhổ xuống sàn rồi dùng đôi ủng dưới chân hất mạt cưa lấp lên bãi nhổ. Ông Duffy ngồi trên chiếc ghế cao bên cạnh quầy rượu, hai mắt nhìn đám thợ, nhưng ông không thấy họ và cũng chẳng nghe họ đang nói gì. Một lúc sau, họ đồng loạt đứng lên bỏ ra về và ông gọi thêm một cốc rượu nữa. Ông ngồi đó rất lâu. Tiệm yên tĩnh. Người chủ quán nằm lăn trên quầy vớ tờ <em>Herald </em>ra đọc, vừa đọc vừa ngáp dài. Thi thoảng, người ta nghe thấy tiếng xe điện chạy rầm rì trên con đường vắng bên ngoài.</p>



<p>Ông ngồi đó ôn lại quãng thời gian ngắn ngủi với bà, hai hình ảnh trái ngược thay phiên nhau hiện về tâm trí ông. Bà đã chết, không còn tồn tại, và đã trở thành một ký ức. Ông bắt đầu cảm thấy có điều gì không ổn trong lòng. Ông tự hỏi khi đó mình có thể làm điều gì khác không. Ông chẳng thể nào tiếp tục vở hài kịch lừa dối với bà; không thể sống với bà một cách công khai. Ông đã làm những gì có vẻ như là tốt nhất cho ông. Ông phải chịu trách nhiệm như thế nào? Giờ đây bà đã chết, ông hiểu cuộc sống của bà hẳn cô đơn đến mức nào, đêm này qua đêm khác ngồi một mình trong căn phòng đó. Cuộc sống ông cũng cô đơn như thế thôi, cho đến khi ông nhắm mắt xuôi tay, không còn tồn tại, trở thành một ký ức – nếu còn có ai nhớ đến ông.</p>



<p>Hơn chín giờ tối ông mới rời khỏi tiệm rượu. Đêm lạnh lẽo và u ám. Ông bước vào Công viên qua cổng số một và đi dọc dưới những hàng cây khẳng khiu trụi lá. Ông đi lại những lối đi buồn thảm nơi bốn năm trước họ hay đi. Trong bóng tối hình như bà ở gần ông hơn. Có lúc ông cảm thấy giọng nói bà rót vào tai ông, tay bà chạm tay ông. Ông dừng chân đứng lại, lắng nghe. Tại sao ông lại tước đi mạng sống của bà? Tại sao ông lại kết án tử hình bà? Ông cảm thấy con người đạo đức của mình đang tan vỡ thành từng mảnh vụn.</p>



<p>Khi lên đến đỉnh đồi Magazine, ông dừng chân dõi tia mắt theo con sông chảy lững lờ về phía Dublin, nơi có những ngọn đèn nhấp nháy cháy đỏ trông ấm áp trong đêm lạnh. Ông nhìn xuống con dốc, chỗ chân đồi, trong bóng tối của bức tường Công viên, ông thấy vài cặp trai gái đang nằm ôm nhau. Những mối tình vụng trộm và tham lam đó khiến ông chỉ cảm thấy tuyệt vọng. Ông gặm nhấm sự thật thẳng băng của cuộc đời mình; ông cảm thấy như mình đã bị ném ra khỏi bữa tiệc đời sống. Có một người đàn bà hình như đã yêu ông và ông đã thẳng thừng từ chối cuộc sống hạnh phúc với người đó: ông đã gieo tội lỗi ô nhục lên người đàn bà, và kết cuộc là một cái chết đáng xấu hổ. Ông biết rằng những cặp trai gái nằm quấn quýt nhau dưới bức tường đang theo dõi ông và họ chỉ mong ông biến mất trong tầm mắt họ. Không ai muốn có ông; ông là kẻ bị ruồng bỏ khỏi bữa tiệc đời sống. Ông ngước mắt nhìn dòng sông lấp lánh màu xám xịt, uốn khúc chảy về phía Dublin. Bên kia sông, ông thấy một đoàn tàu hỏa chở hàng uốn éo chạy ra khỏi ga Kingsbridge, trông nó giống một con sâu có cái đầu rực lửa luồn lách trong bóng tối, một cách ngoan cố và khó nhọc. Nó chậm chạp đi qua khỏi tầm mắt; nhưng ông vẫn nghe trong tai tiếng động cơ xình xịch lặp đi lặp lại âm tiết tên người đàn bà.</p>



<p>Ông quay lại con đường đi lúc nãy, tiếng con tàu từng nhịp vẫn vang động trong tai ông. Ông bắt đầu nghi ngờ tính xác thực của những điều ký ức mách bảo ông. Ông dừng lại dưới một gốc cây để nhịp điệu đó lắng xuống. Trong bóng tối, ông không cảm thấy người đàn bà ở gần ông nữa, giọng nói bà cũng không còn vo ve trong tai ông. Ông đợi vài phút. Lắng nghe. Ông không nghe gì cả: màn đêm hoàn toàn im lặng. Ông lại lắng nghe: vẫn hoàn toàn im lặng. Ông cảm thấy chỉ có mình ông ở đó. Trong cô đơn.</p>



<p><em>(Trịnh Y Thư dịch từ ấn bản </em>Dubliners<em>, NXB Alfred A. Knoff, 1991.)</em></p>



<p>*</p>



<p><em>Chú thích của người dịch:</em></p>



<p>[1]&nbsp; Tên một ngôi làng ngoại ô Dublin, Ireland, tọa lạc trong thung lũng rừng cây ven sông Liffey, gần cánh đồng Strawberry Beds và công viên Phoenix. Tuy không nêu rõ địa danh từng nơi, nhưng có lẽ Joyce đã sử dụng bối cảnh vùng đất này trong thiên truyện.</p>



<p>[2]&nbsp; William Wordsworth [1770-1850]: Thi sĩ Anh thời kỳ Lãng mạn.</p>



<p>[3]&nbsp; Câu này trong nguyên tác là “<em>A medieval doctor would have called him saturnine</em>” để mô tả tính cách của ông Duffy. Bởi thời Trung cổ ở châu Âu, người ta tin tưởng rằng tính cách con người là do ảnh hưởng của các hành tinh. Ví von ông Duffy với người sao Thổ, câu văn ám chỉ một người có bản chất u sầu, tâm trạng bất thường, có cái gì bí ẩn nung nấu trong nội tâm. Với một câu văn ngắn ngủi, Joyce đã mô tả gần như toàn vẹn tính cách của nhân vật ông sắp thuật.</p>



<p>[4]&nbsp; <em>Arrowroot</em>: Bột dong, còn gọi là bột hoàng tinh.</p>



<p>[5]&nbsp; Friedrich Nietzsche [1844-1900]: Triết gia Đức.</p>



<p>[6]&nbsp; <em>Hot punch</em>: Thức uống nóng pha rượu, là một loại đồ uống ấm áp, thơm ngon, thường được phục vụ trong thời tiết lạnh hoặc vào các dịp lễ, kết hợp rượu mạnh (thường là <em>rum</em>, <em>brandy</em> hoặc <em>gin</em>) với nước nóng, nước ép trái cây họ cam quýt, đường và các loại gia vị như quế và nhục đậu khấu. Thức uống này được pha chế để uống nóng, với sự kết hợp hài hòa giữa hương vị trái cây và rượu.</p>



<p>*</p>



<p><em>Lời người dịch:</em></p>



<p>Thiên truyện này của James Joyce dễ đọc, nhưng khó nhằn và khó nuốt.</p>



<p>Dễ đọc vì, ngay khi vào truyện, Joyce đã cho chúng ta thấy rất rõ cuộc sống, tính cách, tâm lý các nhân vật như thế nào. Họ là ai, làm gì. Trước hết là ông Duffy, ông độc thân, sống một cuộc đời cẩn trọng và chỉn chu ngăn nắp; ông giữ nhà cửa gọn gàng, ăn uống tại cùng một nhà hàng và đi làm mỗi ngày trên cùng một tuyến đường. Ông có đời sống như một nhà tu khổ hạnh. Và bà Sinico, một người đàn bà nhiều tình cảm, nhưng sống cô độc vì chồng làm thuyền trưởng một tàu buôn, thường xuyên vắng nhà.</p>



<p>Ông Duffy có quan hệ với bà Sinico, nhưng đó là một quan hệ trên tình bạn một chút nhưng không có tình yêu bởi ông Duffy không cho nó cơ hội xảy ra. Nhưng ông không thể chịu đựng tính cách nổi nênh vô định hướng trong mối quan hệ đó, nó khiến cuộc sống ngăn nắp của ông bị xáo trộn. Bà Sinico khơi dậy trong lòng ông Duffy những cảm xúc nồng ấm mới mẻ, nhưng khi bà có một cử chỉ thân mật, ông phản ứng lại với sự ngạc nhiên và ông nhanh chóng quyết định cắt đứt quan hệ với bà. Cử chỉ của bà Sinico cho thấy một sự thật khác tồn tại, và sự thật này khiến ông Duffy sợ hãi. Đó là để chấp nhận sự có mặt của bà trong cuộc sống, mở tâm hồn ra cho tình yêu cùng các cảm xúc sâu sắc ùa vào trái tim mình, ông phải thay đổi hoàn toàn cuộc sống mình, phải ném bỏ chiếc ghế ngã mạn cao vòi vọi với những nguyên tắc cứng nhắc, cũ mòn để điều chỉnh lại thành một con người và cuộc sống khác, một điều ông không thể làm được.</p>



<p>Ông trở lại cuộc sống cô độc với một chút nhẹ nhõm. Và, bốn năm sau, khi đọc trên báo tin bà Sinico qua đời trong một tai nạn đau thương tội nghiệp, ông đã phản ứng với cú sốc và sự ghê tởm, giống như khi bà chạm vào tay ông. Cái chết bi thảm của bà Sinico cho thấy chiều sâu cảm xúc mà bà sở hữu, điều ông Duffy sẽ không bao giờ hiểu hay chia sẻ được vì cái ngã mạn của ông quá lớn. Nó chỉ khiến ông Duffy tỉnh ngộ phần nào sau khi ông vào quán rượu uống hai cốc rượu, đoạn ra ngoài đi bộ dọc theo những con đường ngày xưa ông bà hay đi dạo, vừa đi vừa suy nghĩ. Ông nhận ra rằng chính cuộc sống như thầy tu với trật tự và sự đúng mực đã loại bỏ bà ra khỏi cuộc đời mình, và nó đã ngăn cản ông sống trọn vẹn. Ta tưởng, sau khi tỉnh ngộ, ông sẽ thay đổi cuộc đời mình. Nhưng không. Giống như các nhân vật khác trong <em>Dubliners </em>trải qua sự giác ngộ, ông Duffy không được truyền cảm hứng để bắt đầu một giai đoạn mới trong cuộc đời, mà thay vào đó, ông cay đắng chấp nhận sự cô đơn để tiếp tục kiếp sống cũ mòn.</p>



<p>Truyện ngắn <em>Một tai nạn thương tâm</em> của Joyce kết thúc ở nơi nó bắt đầu, với ông Duffy một mình. Sự lặp đi lặp lại tẻ nhạt đó cuối cùng đã mang đến cho ông Duffy cái chết trong cuộc sống: cái chết của một người từng khơi dậy khát vọng được ở bên cạnh một người khác. Khi còn sống, bà Sinico đã tiếp sức cho ông và, thông qua sự thân mật của bà, đã gần như sưởi ấm trái tim lạnh giá của ông. Tuy nhiên, chỉ khi chết, bà mới thành công trong việc làm bật lên cái vòng luẩn quẩn cô đơn của ông, cho ông thấy rõ hơn bản ngã mình. Bi kịch của câu chuyện này có ba khía cạnh. Thứ nhất, ông Duffy phải đối mặt với cái chết bi thảm trước khi có thể suy nghĩ lại về lối sống và quan điểm của mình. Thứ hai, việc thừa nhận những vấn đề trong lối sống khiến ông nhận ra lỗi lầm của mình: bà Sinico chết vì đau buồn do chính ông gây ra. Thứ ba, có lẽ bi thảm nhất, ông Duffy không thay đổi được quan điểm sống mà ông đã tạo ra cho mình. Ông bị tê liệt, và ông bất chấp những lời tự thú và cảm giác tội lỗi của mình. Bởi ngã mạn ông quá lớn.</p>



<p>Lưu ý, Joyce đã lựa chọn những cái tên mang tính biểu tượng trong thiên truyện. Để thể hiện chủ đề u ám của câu chuyện về tình yêu tan vỡ và sự cô đơn, ông cho nhân vật chính cái tên Duffy. Duffy bắt nguồn từ tiếng Ireland có nghĩa là tối tăm, gợi lên tâm trạng ảm đạm, u buồn mà câu chuyện diễn ra trong cuộc sống của ông. Khu ngoại ô nơi ông Duffy sinh sống, Chapelizod, lấy tên từ tiếng Pháp, Chapel d’Iseult. Iseult là một nhân vật trong cặp tình nhân nổi tiếng Tristan và Iseult, mối tình bi thảm của họ được xếp vào một trong những thiên tình sử kinh điển nhất trong văn học và âm nhạc Tây phương. Sự xuất hiện của cái tên này trong câu chuyện, với tư cách là khu phố nơi ông Duffy sinh sống – nơi ông cố tình chọn để tránh xa sự ồn ào náo nhiệt của Dublin – là biểu tượng cho tình yêu đơn phương và cái chết của bà Sinico với cuộc sống khép kín của ông Duffy.</p>



<p>Trong thời gian dịch thiên truyện kinh điển này của Joyce, vào đầu năm 2026, tôi cũng được xem một vở kịch nổi tiếng, <em>Who’s Afraid of Virginia Woolf</em> của kịch tác gia Edward Albee trên sân khấu kịch South Coast Repertory, Nam California. Cả hai, thiên truyện của Joyce và vở kịch của Albee, viết cách nhau hơn nửa thế kỷ, từ hai bối cảnh rất khác nhau, nhưng đều có chung một nghiệm số: sự bế tắc đến bi thảm của cuộc sống hôn nhân hiện đại, và điều đó vẫn tồn tại cho đến ngày hôm nay. Sống với nhau phải chăng là cho nhau sự đau đớn, là đẩy nhau vào vũng lầy, là hủy diệt nhau?</p>



<p>Thiên truyện của Joyce, tôi bảo dễ đọc nhưng khó nhằn, khó nuốt, là vì vậy. Nó chiếu rọi một cách sâu sắc và không khoan nhượng vào bản chất tâm hồn chúng ta: chúng ta không có khả năng vứt bỏ cái ngã mạn cao nghều nghệu kia đi để đem hạnh phúc cho người khác. &nbsp;– TYT</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Trịnh Y Thư: PHẾ TÍCH CỦA ẢO ẢNH &#8211; Thơ – Ấn bản III (VĂN HỌC PRESS tái bản, 2026)</title>
		<link>https://t-van.net/trinh-y-thu-phe-tich-cua-ao-anh-tho-an-ban-iii-van-hoc-press-tai-ban-2026/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Trịnh Y Thư]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 05 Feb 2026 06:37:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[giới thiệu sách]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=86804</guid>

					<description><![CDATA[Văn Học Press 22 Agostino, Irvine, CA 92614 USA • vmail: +1-949-981-3978 email: vanhocpress@gmail.com • Facebook: Van Hoc Press Trân trọng giới thiệu: PHẾ TÍCH CỦA ẢO ẢNH Thơ – Ấn bản III TRỊNH • Y • THƯ VĂN HỌC PRESS tái bản, 2026 (Được tăng bổ với những bài thơ làm trong thời gian [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/01/7EBCZXRR-image001.png?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="500" height="771" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/01/7EBCZXRR-image001.png?strip=all" alt="" class="wp-image-86805" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/01/image001-195x300.png 195w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/01/7EBCZXRR-image001.png?strip=all 500w" sizes="(max-width: 500px) 100vw, 500px" /></a></figure></div>


<p></p>



<p><strong>Văn Học</strong><strong> Press</strong><strong></strong></p>



<p><strong>22 Agostino, Irvine, CA 92614 USA </strong><strong>• vmail: +1-949-981-3978</strong></p>



<p><strong>email: </strong><a href="mailto:vanhocpress@gmail.com"><strong>vanhocpress@gmail.com</strong></a><strong> • Facebook: Van Hoc Press</strong><strong></strong></p>



<p>Trân trọng giới thiệu:</p>



<p><strong>PHẾ TÍCH CỦA ẢO ẢNH</strong></p>



<p>Thơ – Ấn bản III</p>



<p>TRỊNH • Y • THƯ</p>



<p>VĂN HỌC PRESS tái bản, 2026</p>



<p>(Được tăng bổ với những bài thơ làm trong thời gian gần đây, cùng Nhận định của các nhà thơ Du Tử Lê, Nguyễn Thị Khánh Minh và Nguyễn Đức Tùng).</p>



<p>Tranh bìa:</p>



<p><em>ĐINH TRƯỜNG CHINH</em></p>



<p><em>Phố Mùa Đông, sơn dầu trên bố, 20” x 30”, 2019</em></p>



<p>Phụ bản:</p>



<p><em>DUY THANH – ĐINH CƯỜNG – NGUYÊN KHAI –</em></p>



<p><em>PHAN CHÁNH KHÁNH</em></p>



<p>Ảnh chân dung:</p>



<p><em>NGUYỄN BÁ KHANH</em></p>



<p>Thư pháp:</p>



<p><em>NGỌC DUNG</em></p>



<p>oOo</p>



<p>Thơ Siêu thực của họ Trịnh là một thứ lãng mạn mới mà, cốt lõi là mối ràng buộc giữa con người, thiên nhiên, siêu hình… vốn ẩn tàng trong tiềm thức và những giấc mơ thoát khỏi sự trì kéo thô kệch của ý thức.</p>



<p><em>– Du Tử Lê </em><em>[1942-2019]</em><em>, </em>nhà thơ.</p>



<p>Điều tôi cảm thấy và hiểu được ẩn dụ nghịch lý của tiêu đề <em>Phế tích của ảo ảnh</em>, như một lối tự vệ và hóa giải khắc khoải nội tại của tác giả. Và cho cả chúng ta. Để tha thứ, nhưng, tha thứ không phải là lãng quên, mà là định hướng nhân bản cho cuộc sống ngay bây giờ và tương lai. Điều ấy chỉ Thơ làm được.</p>



<p><em>– Nguyễn Thị Khánh Minh, </em>nhà thơ.</p>



<p>Trịnh Y Thư quan tâm đến sự chính xác, tiết kiệm chữ, nhưng anh cũng để cho khả năng nhạy cảm với mặt trái của xã hội, sự tra tấn, nỗi đau khổ làm bùng vỡ ngôn ngữ. Anh ý thức về sự hữu hạn của kiếp người, thứ sự thật tương đối, về cái chết, mặt tối đen của số phận, các ảo tưởng. Trịnh Y Thư thuộc những nhà thơ hiện đại, tiến rất xa tới gần các biên giới, trở thành một người lạ, đôi khi.</p>



<p><em>– Nguyễn Đức Tùng</em>, nhà thơ.</p>



<p>@@@</p>



<p>Sách không bán, chỉ dành tặng thân hữu.</p>



<p><a href="mailto:trinhythu@gmail.com">trinhythu@gmail.com</a></p>



<p><a href="mailto:vanhocpress@gmail.com">vanhocpress@gmail.com</a></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Sách Mới: ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của PHAN TẤN HẢI</title>
		<link>https://t-van.net/sach-moi-duoi-bat-mot-mui-huong-cua-phan-tan-hai/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Trịnh Y Thư]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 23 Jan 2026 07:41:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[giới thiệu sách]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=86653</guid>

					<description><![CDATA[                        Văn Học Press &#38; VIỆT BÁO FOUNDATION PR 01/22/2026 SÁCH MỚI Trân trọng giới thiệu: ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG Tuyển Tập PHAN TẤN HẢI VĂN HỌC PRESS &#38; VIỆT BÁO FOUNDATION đồng xuất bản, 2026 oOo Đuổi bắt một mùi hương? Tôi nghĩ nó sẵn đó rồi. Trong nếp ta sống ở đây [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/01/ZDqrVvEp-image003.png?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="512" height="727" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/01/ZDqrVvEp-image003.png?strip=all" alt="" class="wp-image-86654" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/01/image003-211x300.png 211w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/01/ZDqrVvEp-image003.png?strip=all 512w" sizes="(max-width: 512px) 100vw, 512px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><strong>                        Văn Học Press &amp;</strong> <strong>VIỆT BÁO FOUNDATION</strong></p>



<p>PR 01/22/2026</p>



<p>SÁCH MỚI</p>



<p>Trân trọng giới thiệu:</p>



<p><strong>ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG</strong></p>



<p>Tuyển Tập</p>



<p>PHAN TẤN HẢI</p>



<p>VĂN HỌC PRESS &amp; VIỆT BÁO FOUNDATION đồng xuất bản, 2026</p>



<p>oOo</p>



<p><em>Đuổi bắt một mùi hương?</em> Tôi nghĩ nó sẵn đó rồi. Trong nếp ta sống ở đây và bây giờ, một thứ “vô tận hương” bay cao, bay xa, bay ngược chiều gió…?</p>



<p><strong>– </strong><strong>BS Đỗ Hồng Ngọc</strong></p>



<p>Nếu không phải là một hành giả Thiền, nếu không có tâm nguyện xiển dương Thiền Tông như Cư Sĩ Nguyên Giác thì đã không có những nỗ lực và tận tụy miệt mài qua nhiều năm tìm đọc các nguồn dữ liệu từ các bản dịch Anh ngữ của những bài Kinh này để chuyển sang Việt ngữ và giới thiệu đến độc giả Việt Nam.</p>



<p><strong>– </strong><strong>Tâm Huy Huỳnh Kim Quang</strong><strong></strong></p>



<p>Phan Tấn Hải có lối cấu trúc truyện hư hư thực thực, không gian lẫn thời gian, cái hấp dẫn của nó là bắt đầu từ mấu chốt thực, rồi lan man đi vào mơ, rồi tan như ảnh ảo. Một bút pháp không bút pháp, chỉ giản dị như nghĩ tới đâu thì kể tới đó, không kỹ xảo, không hoa mỹ, nhưng văn có hấp lực ở chỗ chữ vô cùng bình thường nhưng sức chở thì sâu xa, độc đáo.</p>



<p><strong>– </strong><strong>Nguyễn Thị Khánh Minh</strong><strong></strong></p>



<p>Cho dù là một thiên khảo luận công phu về Thiền học hay một bản tin ngắn viết cho báo, anh luôn cẩn trọng với chữ nghĩa bằng tất cả tâm, trí của mình. Điều bất ngờ cho người đọc chúng ta là, chính ở loại hình sáng tác văn xuôi, truyện ngắn hoặc tùy bút, nét tài hoa thơ mộng cùng sự tưởng tượng phong phú bỗng trỗi dậy từ ngòi bút của anh.</p>



<p><strong>– </strong><strong>T</strong><strong>rịnh Y Thư</strong></p>



<p>@@@</p>



<p>Sách có bán trên BARNES &amp; NOBLE</p>



<p>416 trang, bìa mềm, 6” x &nbsp;9”, giá bán: US$25.00</p>



<p>Xin bấm vào đường dẫn sau:</p>



<p><a href="https://www.barnesandnoble.com/w/duoi-bat-mot-mui-huong-phan-tan-hai/1149240376?ean=9798260319826">https://www.barnesandnoble.com/w/duoi-bat-mot-mui-huong-phan-tan-hai/1149240376?ean=9798260319826</a></p>



<p>Nhóm từ tìm kiếm: duoi bat mot mui huong, phan tan hai</p>



<p>Hoặc liên lạc với NXB qua địa chỉ email sau để mua sách có chữ ký của tác giả:</p>



<p><a href="mailto:vanhocpress@gmail.com">vanhocpress@gmail.com</a></p>



<p></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Trịnh Y Thư: Thiệp mời Ra Mắt Sách</title>
		<link>https://t-van.net/trinh-y-thu-thiep-moi-ra-mat-sach/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Trịnh Y Thư]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 18 Nov 2025 07:19:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[ra mắt sách]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=85054</guid>

					<description><![CDATA[]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/11/TM_RMS_TYT_JPG-hinh.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="545" height="663" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/11/TM_RMS_TYT_JPG-hinh.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-85056" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/11/TM_RMS_TYT_JPG-hinh-247x300.jpg 247w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/11/TM_RMS_TYT_JPG-hinh.jpg?strip=all 545w" sizes="(max-width: 545px) 100vw, 545px" /></a></figure></div>

<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/11/TM_RMS_TYT_JPG.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="657" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/11/TM_RMS_TYT_JPG-1024x657.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-85055" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/11/TM_RMS_TYT_JPG-300x193.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/11/TM_RMS_TYT_JPG-1024x657.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2025/11/TM_RMS_TYT_JPG-768x493.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/11/TM_RMS_TYT_JPG.jpg?strip=all 1212w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>

<!--
Performance optimized by W3 Total Cache. Learn more: https://www.boldgrid.com/w3-total-cache/?utm_source=w3tc&utm_medium=footer_comment&utm_campaign=free_plugin

Page Caching using Disk: Enhanced 

Served from: t-van.net @ 2026-09-13 23:18:15 by W3 Total Cache
-->