<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Trịnh Y Thư &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<atom:link href="https://t-van.net/author/trinhythu/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://t-van.net</link>
	<description>Văn Học và Đời Sống</description>
	<lastBuildDate>Tue, 07 Apr 2026 22:03:04 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.7.5</generator>

<image>
	<url>https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/02/t-van-favicon.png?strip=all&#038;resize=32%2C32</url>
	<title>Trịnh Y Thư &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<link>https://t-van.net</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>James Joyce: Ngày lễ Ivy trong phòng họp ủy ban [1] (Trịnh Y Thư chuyển ngữ)</title>
		<link>https://t-van.net/james-joyce-ngay-le-ivy-trong-phong-hop-uy-ban-1-trinh-y-thu-chuyen-ngu/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Trịnh Y Thư]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 11 Apr 2026 06:14:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[truyện dịch]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=88185</guid>

					<description><![CDATA[Lão Jack gom những mảnh than vụn lại bằng một tấm bìa cứng rồi khéo léo rải lên đống than đang trở màu bạc trắng. Khi đống than được phủ sơ sài, gương mặt lão chìm vào bóng tối; nhưng khi lão cúi xuống quạt lò, ánh lửa tỏa lên soi cái bóng lom khom [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/04/download.jpg?strip=all&fit=297%2C148&w=2560"><img decoding="async" width="297" height="148" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/04/download.jpg?strip=all&fit=297%2C148" alt="" class="wp-image-88187" style="width:545px;height:auto"/></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Lão Jack gom những mảnh than vụn lại bằng một tấm bìa cứng rồi khéo léo rải lên đống than đang trở màu bạc trắng. Khi đống than được phủ sơ sài, gương mặt lão chìm vào bóng tối; nhưng khi lão cúi xuống quạt lò, ánh lửa tỏa lên soi cái bóng lom khom của lão lên bức tường đối diện và khuôn mặt lão dần hiện ra. Đó là khuôn mặt của một ông già, rúm ró, râu ria lởm chởm. Đôi mắt tèm hem lúc nào cũng ươn ướt có con ngươi màu xanh của lão chớp chớp nhìn vào lửa, cái miệng nhểu nhão khép mở, lúc khép, nó nhóp nhép như đang nhai cái gì. Khi than đã bén lửa, lão dựng tấm bìa vào tường, thở dài, nói:</p>



<p>“Được rồi, thưa ông O’Connor.”</p>



<p>Ông O’Connor là một người đàn ông chưa già lắm nhưng tóc đã hoa râm, da mặt lốm đốm mụn, ông vừa cuốn xong một điếu thuốc lá gọn gàng, nhưng khi nghe lão Jack cất tiếng, ông ngẫm nghĩ sao đó lại tháo ra rồi lại từ tốn cuốn lại, và sau một thoáng cân nhắc, quyết định liếm mép giấy.</p>



<p>“Ông Tierney có nói khi nào ông ấy quay lại không?” ông hỏi bằng cái giọng the thé.</p>



<p>“Chẳng thấy nói gì sất.”</p>



<p>Ông O’Connor gắn điếu thuốc lên môi, thò tay vào túi áo. Ông lấy ra một xấp thẻ mỏng.</p>



<p>“Để tôi lấy diêm cho ông,” ông già nói.</p>



<p>“Chẳng cần, tôi dùng cái này đốt thuốc được rồi.”</p>



<p>Ông chọn một tấm, nhìn xuống hàng chữ:</p>



<p>BẦU CỬ HỘI ĐỒNG THÀNH PHỐ<br>KHU VỰC ROYAL EXCHANGE</p>



<p><em>Ông Richard J. Tierney, P.L.G., trân trọng mong nhận được lá phiếu và sự ủng hộ của quý vị trong cuộc bầu cử sắp tới tại khu vực Royal Exchange.</em></p>



<p>Ông O’Connor được đại diện của ông Tierney thuê đi vận động cử tri ở một khu vực trong thành phố, nhưng vì thời tiết hôm nay xấu và đôi ủng bị thấm nước, nên suốt cả ngày ông chỉ ngồi bên lò sưởi trong văn phòng ủy ban nằm trên phố Wicklow cùng với Jack, lão quản gia già. Hai người ngồi như thế cho đến lúc trời tối dần. Hôm đó là ngày mồng Sáu tháng Mười [1], ngoài trời lạnh lẽo và ảm đạm.</p>



<p>Ông O’Connor xé một tấm thẻ, châm lửa, đốt thuốc. Ánh lửa chiếu lên huy hiệu hình chiếc lá thường xuân màu xanh lục đậm, bóng loáng, cài trên ve áo ông. Ông già giương mắt chăm chú nhìn, rồi lại cầm tấm bìa uể oải quạt lửa lò trong lúc ông kia hút thuốc.</p>



<p>Lão bỗng nói, “Thật chán, nuôi con cái bây giờ sao mà khó khăn thế chứ không biết. Nào ai ngờ nó lại thành ra như thế! Tôi đã cho nó theo học trường Christian Brothers, cố gắng hết sức mình vì nó, ấy thế mà nó chẳng chịu học hành gì cả, suốt ngày chỉ rượu chè, chơi bời bậy bạ. Nói có Giời làm chứng đấy, tôi đã cố hết sức dạy dỗ nó nên người tử tế.”</p>



<p>Lão mệt mỏi đặt tấm bìa xuống chỗ cũ.</p>



<p>“Chỉ tiếc là bây giờ tôi già rồi, không thì đã uốn nắn nó lại. Lúc còn sức tôi quất roi vào lưng nó. Còn mẹ nó thì… ông biết đấy, bà ấy nuông chiều nó đủ điều…”</p>



<p>“Ấy, chính thế mới làm hư con cái,” O’Connor nói.</p>



<p>“Chắc chắn là thế rồi,” ông già đáp. “Mà nào có được lời cảm ơn, chỉ toàn những câu hỗn láo, xấc xược. Hễ thấy tôi có chút rượu vào mồm là nó ra mặt khinh nhờn tôi ngay [2]. Thế gian này rồi sẽ ra sao khi con cái đối xử với cha mình như vậy?”</p>



<p>“Thằng con ông năm nay bao nhiêu tuổi rồi?” O’Connor hỏi.</p>



<p>“Mười chín.”</p>



<p>“Sao ông không cho nó đi làm cái nghề gì đi?”</p>



<p>“Từ dạo nó bỏ học tôi nào dám có một lời mắng nhiếc cái thằng say ấy bao giờ. Tôi bảo nó, ‘Tao không nuôi mày nữa đâu. Tự mà đi kiếm việc đi.’ Nhưng hễ có việc kiếm được tí tiền là nó lại đi uống rượu sạch.”</p>



<p>Ông O’Connor lắc đầu thông cảm. Ông già im lặng nhìn vào lửa.</p>



<p>Bỗng có kẻ mở cửa, gọi to:</p>



<p>“Xin chào! Đây có phải phòng họp của Hội Tam Điểm không?”</p>



<p>“Ai đấy?” ông già hỏi.</p>



<p>“Sao các ông lại ngồi trong tối?” giọng nói ấy vang lên.</p>



<p>“Có phải anh Hynes đấy không?” ông O’Connor hỏi.</p>



<p>“Phải. Sao lại ngồi trong phòng tối om om thế này?” Hynes nói, vừa nói vừa tiến gần đến phía có ánh sáng lò sưởi.</p>



<p>Anh là một thanh niên cao gầy với hàng ria mép màu nâu nhạt. Trên vành mũ và cổ áo khoác ngoài kéo dựng che kín cổ lấm tấm vài giọt mưa.</p>



<p>“Mat này, tình hình đến đâu rồi?” anh hỏi ông O’Connor.</p>



<p>Ông O’Connor lắc đầu. Ông già rời lò sưởi, đi chập choạng trong phòng mang đến hai chân nến, châm lửa rồi đặt xuống mặt bàn. Căn phòng trơ trụi hiện ra, ánh lửa trong lò sưởi mất đi màu sắc tươi vui. Trên tường chỉ thấy treo bản tuyên cáo tranh cử. Giữa phòng đặt chiếc bàn nhỏ, trên chất đầy giấy tờ lộn xộn.</p>



<p>Ông Hynes đứng tựa vai vào bệ lò sưởi:</p>



<p>“Hắn đã thanh toán tiền nong cho các anh chưa?”</p>



<p>“Chưa. Cầu xin Chúa đừng để tối nay hắn bỏ rơi bọn tôi.”</p>



<p>Hynes cười.</p>



<p>“Ồ, hắn sẽ trả thôi. Đừng lo.”</p>



<p>“Tôi chỉ mong hắn đàng hoàng nếu thật sự muốn làm ăn,” ông O’Connor nói.</p>



<p>“Còn Jack, ông nghĩ sao?” Hynes hỏi ông già, giọng đượm chút mỉa mai.</p>



<p>Ông già quay lại ngồi xuống ghế cạnh lò sưởi, nói:</p>



<p>“Dù sao chăng nữa thì hắn cũng có tiền. Không như cái gã thợ dạo khố rách áo ôm kia.”</p>



<p>“Gã thợ dạo nào?”</p>



<p>“Colgan đấy,” ông già nói, giọng khinh bỉ.</p>



<p>“Chỉ vì Colgan là dân lao động nên ông nói thế à?” Hynes hỏi. “Sự khác biệt giữa một người thợ hồ lương thiện và một chủ quán là gì, hử? Người lao động cũng có quyền ngồi trong Hội đồng Thành phố như bất cứ ai khác chứ, phải không nào? Thậm chí còn xứng đáng hơn mấy tên <em>shoneen</em> [3] lúc nào cũng ngả mũ khom lưng khúm núm trước mặt bất kỳ ai có chức vị? Mat, không phải vậy sao?” Ông Hynes quay sang phía ông O’Connor.</p>



<p>“Tôi nghĩ anh nói đúng,” ông O’Connor đáp.</p>



<p>“Ông ta là người thẳng thắn, lương thiện, không hề có trò luồn cúi. Ông ta tranh cử vào đó để đại diện cho tầng lớp lao động. Còn cái ông mà các anh đang làm việc cho đây này, ông ta chỉ muốn kiếm chác chức vị nào đó thôi.”</p>



<p>“Tất nhiên giai cấp lao động cần được đại diện,” ông già nói.</p>



<p>“Người lao động,” Hynes tiếp, “xưa nay toàn bị đá đít mà chẳng được hưởng xu teng lợi lộc nào. Nhưng chính giới lao động tạo ra mọi thứ. Người lao động đâu có đi tìm những chức vị béo bở cho con cháu họ. Người lao động không lôi danh dự Dublin xuống bùn chỉ để lấy lòng một ông vua Đức.”</p>



<p>“Ý anh là sao?” ông già hỏi.</p>



<p>“Ông không biết à? Họ đang định soạn diễn văn chào mừng Edward Rex nếu năm tới ông ta đến đây thăm viếng. Cớ gì ta phải khom lưng khấu đầu trước một ông vua ngoại bang?”</p>



<p>“Người của chúng tôi sẽ không bỏ phiếu tán thành bài diễn văn ấy,” O’Connor nói. “Ông ta tranh cử với danh nghĩa người theo Chủ nghĩa Dân tộc.”</p>



<p>“Không tán thành à?” Ông Hynes nói. “Chờ xem. Tôi biết hắn quá mà. Có phải cái gã Tricky Dicky Tierney [4] ranh ma quỷ quyệt không?”</p>



<p>“Lạy Chúa! Joe ạ, có lẽ anh đúng,” ông O’Connor nói. “Riêng tôi thì tôi chỉ mong hắn xuất hiện tối nay với túi tiền.”</p>



<p>Ba người im lặng. Ông già lại cời đống than trong lò sưởi. Hynes giở mũ giũ nước rồi bẻ cổ áo để lộ huy hiệu lá thường xuân cài trên ve.</p>



<p>“Nếu người này còn sống,” anh nói, chỉ vào chiếc lá, “ta đã chẳng phải bàn chuyện chào mừng chào miếc gì cả.”</p>



<p>“Đúng vậy,” O’Connor nói.</p>



<p>“Chao ôi, xin Chúa ban phước lành cho những ngày ấy!” ông già Jack thốt lên. “Thời đó mới thật là có sinh khí chứ chẳng như bây giờ.”</p>



<p>Căn phòng lại chìm vào im lặng. Đột nhiên, một người đàn ông thấp bé nhưng dáng điệu nhanh nhẹn, với cái mũi luôn khụt khịt và đôi tai lạnh buốt xô cửa bước vào. Ông ta tiến thẳng đến lò sưởi, xoa tay vào nhau như muốn xẹt tia lửa từ đôi bàn tay.</p>



<p>“Các cậu này, tối nay không có tiền đâu!” ông nói.</p>



<p>“Ông Henchy, ngồi xuống đây đã nào,” ông già mời, đoạn đứng lên nhường chiếc ghế.</p>



<p>“Ồ, ông Jack, đừng đứng dậy, Jack, ông ngồi yên đấy.” Ông Henchy nói, khẽ gật đầu chào ông Hynes, đoạn ngồi xuống ghế ông già nhường.</p>



<p>“Anh đã đi hết phố Aungier chưa?” ông hỏi ông O’Connor.</p>



<p>“Rồi,” ông O’Conner trả lời, thò tay vào túi trên túi dưới tìm tờ tuyên cáo.</p>



<p>“Có gặp Grimes không?”</p>



<p>“Có.”</p>



<p>“Thế nào? Hắn định bầu cho ai?”</p>



<p>“Hắn không hứa mà chỉ nói, ‘Tôi không nói cho ai biết tôi sẽ bỏ phiếu cho ai.’ Nhưng tôi nghĩ sẽ ổn.”</p>



<p>“Sao ổn được?”</p>



<p>“Hắn hỏi ai là những người đề cử; tôi nói, và có nhắc tên Cha Burke. Chắc là ổn thôi.”</p>



<p>Ông Henchy lại khụt khịt mũi, xoa hai tay gần đống lửa rồi kêu lên:</p>



<p>“Chúa ơi, Jack, xin ông ít than nữa được không. Chắc than vẫn còn chứ?”</p>



<p>Ông già đi ra.</p>



<p>“Chẳng ăn thua gì đâu,” ông Henchy lắc đầu. “Tôi nhờ thằng bé đánh giày, nó bảo, ‘Khi nào thấy công việc chạy tốt cháu sẽ không quên ông đâu, ông tin chắc đi.’ Đồ nhãi ranh, mới tí tuổi đầu đã tinh ma! Nhưng, than ôi, cũng phải thôi, nó làm gì khác hơn được cơ chứ?”</p>



<p>“Mat, tôi đã bảo anh mà, Tricky Dicky Tierney là một tên ranh ma quỷ quyệt.” Ông Hynes nói.</p>



<p>“Ranh như quỷ ấy,” Henchy nói. “Đâu phải vô cớ mà hắn có cặp mắt lợn! Cho ma quỷ bắt hồn hắn đi. Tại sao hắn không trả tiền như một người đàng hoàng mà cứ nói ‘À, ông Henchy này, tôi phải đi nói chuyện với ông Fanning… Ồ, tôi tốn nhiều tiền lắm rồi.’ Đồ quỷ con! Chắc hắn quên chuyện hồi ông già hắn còn bán đồ cũ ở phố Mary’s Lane.”</p>



<p>“Có chuyện ấy thật ư?” ông O’Connor hỏi.</p>



<p>“Chắc chắn luôn,” ông Henchy nói. “Ông không bao giờ nghe chuyện ấy à? Sáng Chủ nhật nào cũng thế, trước khi tiệm mở cửa cho khách hàng vào mua sắm quần áo cũ, và, <em>moya</em>! có sẵn mấy chai rượu giấu ở một góc xó nào đó. Ông hiểu ra chưa? Đấy, hắn nhìn thấy ánh sáng cuộc đời từ đó.”</p>



<p>Ông già Jack quay lại với vài cục than, ông rải đều mỗi chỗ một cục trong lò sưởi.</p>



<p>“Thế này thì chịu sao nổi,” ông O’Connor nói. “Hắn muốn ta làm việc không công cho hắn à?”</p>



<p>“Chịu thôi! Tôi bó tay,” ông Henchy đáp. “Chắc về nhà sẽ thấy thừa phát lại đứng chờ sẵn ở cửa.”</p>



<p>Hynes cười, đẩy vai khỏi bệ lò sưởi, đứng thẳng lên, chuẩn bị ra về.</p>



<p>“Rồi sẽ ổn khi vua Eddie đến đây. Thôi nhé, các cậu, tôi đi đây. Hẹn gặp sau. Bye-bye.”</p>



<p>Anh bước chầm chậm ra khỏi phòng. Cả ông Henchy lẫn ông già, không ai buồn cất tiếng chào, nhưng khi cửa gần khép, ông O’Connor gọi với theo:</p>



<p>“Bye, Joe.”</p>



<p>Henchy đợi một lúc rồi hất đầu về phía cửa ra vào, hỏi nhỏ:</p>



<p>“Anh nghĩ hắn vào đây làm gì?”</p>



<p>“Chao ôi, tội nghiệp Joe mà, hắn cũng túng thiếu như bọn ta thôi,” ông O’Connor vừa nói vừa ném mẩu tàn thuốc lá vào đống lửa.</p>



<p>Ông Henchy khạc đờm trong họng rồi nhổ một bãi nước bọt to tướng và mạnh đến nỗi lửa trong lò suýt bị dập tắt, từ đống than nổi lên tiếng xì xì như phản đối.</p>



<p>“Nói thật nhé,” ông nói, “tôi nghi hắn thuộc phe bên kia. Có khi là gián điệp của Colgan không chừng. Đi dò la xem ta thế nào. Họ không nghi ngờ anh. Anh hiểu ra chưa?”</p>



<p>“A, Joe là người đàng hoàng, tử tế, anh đừng lo viển vông” ông O’Connor lại nói.</p>



<p>“Cha hắn thì tử tế, đáng kính thật,” ông Henchy thừa nhận. “Ôi, cái lão già Larry Hynes tội nghiệp! Thời của lão, lão từng làm được khối việc hữu ích! Nhưng tôi e anh bạn của chúng ta đây thì không được mười chín ka-ra [5]. Tiên sư bố nhà nó. Nghèo thì hiểu được, nhưng cái tồi bại tôi không hiểu nổi là con người như vậy mà lại đi ăn bám thiên hạ. Không lẽ hắn chẳng có chút tự trọng nào sao?”</p>



<p>“Tôi chẳng bao giờ tỏ ra nồng nhiệt tiếp đãi hắn mỗi khi hắn tới đây,” lão Jack nói. “Cứ để hắn làm việc cho phe hắn và đừng mò tới đây dò la làm gì.”</p>



<p>Ông O’Connor nói một cách gượng gạo trong lúc vấn một điếu thuốc mới:</p>



<p>“Tôi nghĩ Joe Hynes là người ngay thẳng. Lại có tài viết lách. Ông nhớ bài anh ta viết chứ?”</p>



<p>“Mấy tay <em>hillsiders-fenians</em> [6] này khôn ngoan quá hóa nguy hiểm, nếu anh hỏi tôi thì tôi sẽ nói như thế,” ông Henchy nói. “Tôi tin rằng phân nửa bọn họ ăn lương của Lâu đài [7].”</p>



<p>“Khó mà biết,” ông già nói.</p>



<p>“Ồ, tôi biết chắc mà. Chó săn của Lâu đài cả…” ông Henchy nói. “Tôi không muốn nói thằng cha Hynes này là vậy… Không, tiên sư bố nó, tôi nghĩ hắn có vẻ khá hơn… Nhưng có một nhà quý tộc bé người mắt lác, chắc hẳn anh biết tôi đang nói về nhà ái quốc nào rồi chứ.”</p>



<p>Ông O’Connor gật gù.</p>



<p>“Nếu ông muốn nghe thì tôi có thể kể cho ông biết về một thằng dòng dõi trực hệ của Thiếu tá Sirr [8]! Ồ, máu trong tim của một nhà ái quốc! Đó là một thằng sẵn sàng bán rẻ đất nước mình chỉ lấy bốn đồng xu, ái chà, rồi còn quỳ mọp xuống mà tạ ơn Đấng Ky-Tô Toàn Năng vì đã có một đất nước để mà bán.”</p>



<p>Bỗng có tiếng gõ cửa.</p>



<p>“Vào đi!” ông Henchy nói.</p>



<p>Một người trông giống một linh mục nghèo hoặc một diễn viên nghèo xuất hiện ở ngưỡng cửa. Ông mặc một bộ quần áo đen được cài khuy kín mít quanh thân hình thấp bé, và không thể biết ông ta đeo cổ cồn linh mục hay cổ áo dân thường, vì cổ chiếc áo choàng sờn cũ với những chiếc khuy phản chiếu ánh nến, che kín cổ của ông. Ông đội chiếc mũ tròn bằng nỉ cứng màu đen. Khuôn mặt lấm tấm những giọt nước mưa, trông như khoanh pho-mát vàng bủng nhúng vào nước, trừ hai đốm hồng nơi gò má. Ông đột ngột há cái miệng rất dài ra để biểu lộ vẻ thất vọng, đồng thời mở to đôi mắt xanh lam sáng rực để tỏ vẻ vui mừng và ngạc nhiên.</p>



<p>“Ồ, Cha Keon!” ông Henchy bật dậy khỏi ghế. “Có phải Cha đấy không? Xin mời Cha vào!”</p>



<p>“Ồ, không, không, không!” Cha Keon đáp nhanh, mím môi như đang nói với một đứa trẻ.</p>



<p>“Cha không vào ngồi một chút sao?”</p>



<p>“Không, không, không!” Cha Keon nói, bằng một giọng dè dặt, khoan dung và mềm mại như nhung. “Đừng để tôi làm phiền các ông! Tôi chỉ đang đi tìm ông Fanning…”</p>



<p>“Thưa Cha, ông ấy đang ở quán Black Eagle,” ông Henchy đáp lời. “Nhưng Cha không vào ngồi một lát được sao?”</p>



<p>“Không, không, xin cảm ơn. Chỉ có tí việc thôi,” Cha Keon nói. “Cảm ơn nhiều nhé.”</p>



<p>Ông lui ra khỏi cửa, ông Henchy cầm một chân nến, ra cửa soi đường tiễn ông xuống cầu thang.</p>



<p>“Ồ, xin đừng phiền!”</p>



<p>“Nhưng cầu thang tối lắm.”</p>



<p>“Không, không, tôi thấy được mà… Thật cảm ơn.”</p>



<p>“Cha đi được chứ?”</p>



<p>“Được, được&#8230; Cảm ơn… Cảm ơn.”</p>



<p>Ông Henchy trở lại, đặt nến lên bàn rồi ngồi xuống chỗ cũ bên lò sưởi. Căn phòng lại rơi vào im lặng trong vài khoảnh khắc.</p>



<p>“John này,” ông O’Connor nói, tay châm thuốc bằng một tấm thẻ bìa khác.</p>



<p>“Hử?”</p>



<p>“Ông ta… chính xác là cái gì vậy?”</p>



<p>“Anh hỏi tôi câu dễ hơn tí được không,” ông Henchy đáp.</p>



<p>“Fanning với ông ta xem ra có vẻ kết nhau lắm. Tôi thấy hai người &nbsp;hay trò chuyện với nhau ở quán Kavanagh’s. Ông ta có thật là linh mục không?”</p>



<p>“Ừm, có lẽ thế… Tôi nghĩ ông ta là cái mà người ta gọi là ‘con chiên đen [9]’. Tạ ơn Chúa, ta không có nhiều loại người như vậy! Nhưng cũng có một vài… Ông ta là kẻ bất hạnh kiểu nào đó…”</p>



<p>“Vậy ông ta sống bằng cách nào?” ông O’Connor hỏi.</p>



<p>“Lại thêm một bí ẩn nữa.”</p>



<p>“Ông ta có liên quan tới một nhà nguyện hay nhà thờ hay tổ chức nào không…?”</p>



<p>“Không,” ông Henchy nói, “tôi nghĩ ông ta tự bươn chải kiếm sống… Chúa tha tội cho tôi,” ông nói thêm, “thế mà tôi cứ tưởng ông ta mang theo cả chục lọ bia đen.”</p>



<p>“Giá có tí rượu uống lúc này thì cũng thú ra phết đấy nhỉ?” ông O’Connor nói.</p>



<p>“Tôi cũng đang khát khô cả cổ họng đây này,” lão Jack nói.</p>



<p>“Tôi đã nhắc thằng bé đánh giày ba lần bảy lượt,” ông Henchy nói, “bảo nó giao một chục lọ bia đen. Vừa nãy tôi định nhắc nó thêm một lần nữa, mà thấy nó cứ đứng dựa vào quầy, hai tay áo xắn lên, hăng say nói giăng nói cuội gì đó với lão Nghị viên Cowley.”</p>



<p>“Sao ông không nhắc nó thêm?” ông O’Connor hỏi.</p>



<p>“À, chỉ vì tôi không muốn cắt ngang câu chuyện giữa nó với Nghị viên Cowley. Tôi đợi đến khi bắt được ánh mắt nó rồi mới nói, ‘Về cái việc nhỏ tôi có nói với cậu ấy mà…’ ‘Sẽ ổn thôi, thưa ông H.,’ nó bảo tôi&#8230; Ối chà, cái thằng nhóc tì hỉ mũi chưa sạch ấy chắc lại quên béng mất rồi.”</p>



<p>“Chắc có đám gì đang diễn ra chỗ đó,” ông O’Connor trầm ngâm. “Hôm qua tôi thấy cả ba người, họ bàn tán sôi nổi ở góc phố Suffolk.”</p>



<p>“Tôi thì biết tỏng cái trò cỏn con họ đang chơi,” ông Henchy nói. “Thời buổi bây giờ muốn được phong làm Thị trưởng thì phải chi tiền cho các ‘Bố Thành phố.’ Thế rồi họ sẽ cho ông làm Thị trưởng. Chúa ơi! Tôi đang hết sức nghiêm túc nghĩ đến chuyện mình sẽ trở thành một ‘Bố Thành phố’ đây. Ông thấy sao? Tôi có hợp với cái chức ấy không?”</p>



<p>Ông O’Connor bật cười.</p>



<p>“Còn chuyện tiền bạc…”</p>



<p>“Từ Dinh Mansion đánh xe tứ mã ra, oách phải biết!” ông Henchy nói, “trong bộ lễ phục lộng lẫy của tôi, còn lão Jack đây đứng phía sau, đầu đội bộ tóc giả rắc phấn bột. Được chứ, hả?”</p>



<p>“Và cho tôi làm bí thư của anh nhé, John.”</p>



<p>“Được ngay! Tôi sẽ bổ nhiệm Cha Keon làm Cha Tuyên úy riêng. Ta sẽ có một đảng phái gia đình.”</p>



<p>“Thật đấy, ông Henchy ạ,” ông lão nói, “trông ông còn bảnh hơn khối người trong số bọn họ. Có lần tôi nói chuyện với lão Keegan, người gác cổng cho Dinh Thị trưởng ấy mà. Tôi hỏi lão, ‘Này ông Pat, ông thấy ông chủ mới thế nào? Dạo này không thấy ông chơi bời gì nữa.’ Lão trả lời tôi, ‘Chơi bời cái con khỉ tiều! Cái thằng cha sống nhờ mùi giẻ chùi dầu [10] ấy mà chơi với bời cái đếch gì.’ Thế rồi hai ông biết lão ta kể gì với tôi nữa không? Tôi xin thề trước Chúa rằng tôi chẳng thể nào tin nổi.”</p>



<p>“Cái gì?” cả ông Henchy lẫn ông O’Connor cùng hỏi.</p>



<p>“Lão ta nói với tôi, ‘Ông nghĩ sao về một Thị trưởng Dublin mà phải sai người đi mua một cân sườn cừu về ăn bữa tối? Như thế mà gọi là sống sang trọng đấy à?’ Tôi kêu trời trong lúc lão nói thêm, ‘Ông nghĩ xem, một cân sườn được chở tới Dinh Thị trưởng!’ ‘Trời đất!’ tôi nói. ‘Giờ thì cái hạng người nào đang nắm quyền thế ở chốn này đây?’”</p>



<p>Đúng lúc ấy có tiếng gõ cửa, một cậu trai thò đầu vào.</p>



<p>“Gì đấy?” ông lão hỏi.</p>



<p>“Quán Black Eagle giao hàng,” cậu ta nói, lách người bước vào đặt một cái giỏ xuống sàn, tiếng chai lọ va vào nhau kêu lách cách. Ông lão giúp cậu ta chuyển đống chai từ giỏ lên bàn và đếm đủ số lượng. Xong, cậu ta khoác giỏ lên tay, hỏi:</p>



<p>“Có vỏ chai trả lại không ạ?”</p>



<p>“Vỏ chai gì?” ông lão hỏi lại.</p>



<p>“Chẳng lẽ không để chúng tôi uống đã sao?” ông Henchy nói.</p>



<p>“Người ta bảo cháu hỏi vỏ chai.”</p>



<p>“Mai quay lại lấy,” ông lão nói.</p>



<p>“Này cậu!” ông Henchy gọi, “cậu chạy sang quán O’Farrell mượn giùm chúng tôi cái mở nút chai, nói là cho ông Henchy mượn nhé. Bảo ông ấy chúng tôi không giữ lâu đâu. Cứ để giỏ ở đây.”</p>



<p>Cậu trai đi ra ngoài. Ông Henchy xoa tay vui vẻ, nói:</p>



<p>“Thôi, cũng được, hắn ta không đến nỗi nào. Dù sao cũng giữ lời hứa.”</p>



<p>“Nhưng không có cốc uống,” ông lão nói.</p>



<p>“Ồ, chuyện đó không hề chi, ông Jack ạ,” ông Henchy nói. “Xưa nay khối người tử tế vẫn tu rượu trong chai mà.”</p>



<p>“Dù sao có còn hơn không,” ông O’Connor nói.</p>



<p>“Hắn ta không phải hạng người tồi tệ,” ông Henchy nói, “chỉ vì lão Fanning vay tiền hắn ta nhiều quá. Cũng thuộc loại người tốt đấy, theo cái kiểu tầm thường chật hẹp của mình.”</p>



<p>Cậu trai quay lại với cái mở nút chai. Ông lão mở ba chai và đang trả lại cái mở nút thì ông Henchy nói với cậu ta:</p>



<p>“Cậu có muốn uống chơi một chút không?”</p>



<p>“Dạ, cháu xin ông,” cậu trai đáp.</p>



<p>Ông lão miễn cưỡng mở thêm một chai nữa đưa cho cậu ta.</p>



<p>“Cậu bao nhiêu tuổi rồi?” ông hỏi.</p>



<p>“Dạ, mười bảy.”</p>



<p>Thấy ông lão không nói gì thêm, cậu cầm lấy chai, nói:</p>



<p><br>“Cháu xin kính chúc ông Henchy mạnh khỏe ạ,” cậu ngửa cổ tu một hơi cạn chai bia, xong, đặt cái chai không lên bàn và lau miệng bằng tay áo. Sau đó cậu ta cầm cái mở nút chai, lách người ra cửa, miệng lẩm bẩm một câu chào gì đó.</p>



<p>“Đấy, bao giờ cũng bắt đầu như thế,” ông lão nói.</p>



<p>“Lưỡi mỏng của cái nêm [11] đấy mà, các ông hiểu không?” ông Henchy nói.</p>



<p>Ông lão chia ba chai đã mở nút cho mọi người, và họ cùng uống một lượt. Uống xong, mỗi người đặt chai của mình lên bệ lò sưởi trong tầm tay, rồi hít một hơi dài khoan khoái.</p>



<p>“À, hôm nay tôi làm được khá nhiều việc tốt,” ông Henchy nói sau một lúc im lặng.</p>



<p>“Thế à?”</p>



<p>“Này nhé, tôi kiếm chắc được một hai phiếu ở phố Dawson, Crofton đi với tôi. Nói nhỏ thôi nhé, Crofton (dĩ nhiên ông ta là người tử tế), nhưng làm vận động tranh cử thì hoàn toàn vô tích sự. Một câu để ném cho chó, ông ta cũng chẳng nói được. Cứ đứng đó giương mắt ếch nhìn người ta trong lúc tôi nói chuyện.”</p>



<p>Ngay lúc ấy có hai người đàn ông bước vào phòng. Một người rất béo, bộ quần áo may bằng vải len <em>serge</em> [12] màu xanh lam dường như sắp bật tung ra khỏi thân hình béo tròn béo trục. Ông có khuôn mặt phì nộn phảng phất một con bê, với đôi mắt xanh nhìn trân trân và bộ ria lốm đốm bạc. Người kia trẻ hơn nhiều và gầy gò, mặt dài, râu ria nhẵn nhụi. Ông ta mặc áo cổ kép dựng đứng rất cao, đầu đội mũ <em>bowler</em> [13] vành rộng.</p>



<p>“Chào ông Crofton!” ông Henchy nói với người đàn ông béo. “Vừa nhắc đến quỷ là quỷ có mặt…”</p>



<p>“Bia bọt ở đâu ra thế?” người trẻ hỏi. “Bò đẻ à?”</p>



<p>“Ồ, lẽ dĩ nhiên Lyons là kẻ ngửi thấy mùi rượu bia trước ai hết!” ông O’Connor cười nói.</p>



<p>“Các anh vận động cử tri kiểu thế này đấy à?” ông Lyons nói mỉa, “trong lúc tôi với ông Crofton ở ngoài kia lạnh cóng, mưa gió mà vẫn phải đi kiếm phiếu?”</p>



<p>“Quỷ tha ma bắt nhà anh,” ông Henchy nói, “tôi ấy à, chỉ cần năm phút là tôi kiếm được nhiều phiếu hơn hai anh kiếm trong suốt một tuần lễ.”</p>



<p>“Ông Jack đâu, khui thêm hai chai bia đen nữa,” ông O’Connor nói.</p>



<p>“Khui sao được,” ông lão nói, “cái mở nút, thằng giao hàng nó đem trả mất rồi.”</p>



<p>“Chờ chút, chờ chút!” ông Henchy nói, bật nhanh dậy. “Các anh đã bao giờ thấy cái mẹo nhỏ này chưa?”</p>



<p>Ông lấy hai chai bia đặt lên thành lò sưởi rồi ngồi lại bên lửa và uống thêm một ngụm. Ông Lyons ngồi lên mép bàn, đẩy mũ ra sau gáy và đung đưa chân.</p>



<p>“Chai nào của tôi?” ông ta hỏi.</p>



<p>“Chai này,” ông Henchy nói.</p>



<p>Ông Crofton ngồi xuống một cái thùng, nhìn chằm chằm vào chai còn lại trên thành lò sưởi. Ông im lặng vì hai lý do. Lý do thứ nhất, tự nó đã đủ: ông chẳng có gì để nói. Lý do thứ hai: ông cho rằng những người cộng tác với ông đây không xứng tầm thế của mình. Trước đây ông từng đi vận động bầu cử cho ông Wilkins thuộc đảng Bảo thủ, nhưng khi phe Bảo thủ rút ứng viên và, vì phải chọn một trong hai ứng viên tệ lậu, ông chọn người đỡ tệ hơn; từ đó ông chuyển sang ủng hộ ứng viên Quốc gia, ông được thuê làm việc cho ông Tierney.</p>



<p>Vài phút sau trong phòng vang lên một tiếng “poóc!” nho nhỏ như tạ lỗi khi nút chai bia của ông Lyons bật ra. Ông ta nhảy khỏi bàn, đến bên lò lửa, cầm chai đem lại bàn.</p>



<p>“Ông Crofton này, tôi vừa nói với anh em ở đây,” ông Henchy nói, “rằng hôm nay chúng ta kiếm được kha khá phiếu.”</p>



<p>“Anh kiếm được của những ai?” ông Lyons hỏi.</p>



<p>“Này nhé, Parkes một phiếu, Atkinson hai phiếu, và cả lão Ward ở phố Dawson nữa. Một ông già không đến nỗi tệ, đúng kiểu quý tộc xưa, dân Bảo thủ chính hiệu! Ông ta bảo tôi, ‘Nhưng ứng viên của ông là người Quốc gia mà?’ Tôi đáp lời, ‘Ông ấy là người đứng đắn, và ủng hộ bất cứ điều gì có lợi cho đất nước mình. Ông ấy là người đóng những khoản thuế lớn. Ông ấy có nhiều nhà cửa trong thành phố và ba cơ sở kinh doanh, chẳng phải chính lợi ích của ông ấy là hạ mức thuế cho thấp sao? Ông ấy là công dân tốt và được kính trọng, nể vì, là thành viên Hội đồng Cứu tế, và không thuộc phe phái nào, tốt hay xấu hay lơ lửng.’ Phải nói chuyện với họ như thế mới có hiệu quả.”</p>



<p>“Còn bản kiến nghị gửi lên nhà Vua thì sao?” ông Lyons hỏi, liếm mép sau khi ực một ngụm bia.</p>



<p>“Nghe tôi nói đây,” ông Henchy nói. “Điều đất nước này cần, như tôi trình bày với lão Ward, là tư bản. Nhà Vua đến đây có nghĩa là tiền bạc sẽ đổ vào đất nước mình. Dân Dublin sẽ được hưởng lợi. Hãy nhìn các nhà máy dưới bến cảng kìa, tất cả đều nằm im không sản xuất gì cả! Hãy trông vào số tiền có trong nước để khôi phục các ngành công nghiệp cũ, nhà máy xay, xưởng đóng tàu, nhà máy sản xuất. Ta cần tư bản.”</p>



<p>“Nhưng John,” ông O’Connor nói. “Tại sao ta phải chào mừng Vua nước Anh? Chẳng phải chính Parnell đã…”</p>



<p>“Parnell chết rồi. Bây giờ tôi nhìn vấn đề như thế này. Ông vua này lên ngôi sau khi bà mẹ già của ông ta ôm lấy ngai vàng cho đến khi ông ta bạc tóc. Ông ta là người từng trải, và có ý tốt với ta. Theo tôi, ông ta là người vui tính, đàng hoàng, không màu mè vớ vẩn. Ông ta chỉ tự nhủ, ‘Bà già chưa bao giờ đi thăm cái đám dân Ireland mọi rợ ấy. Nhân danh Chúa, ta sẽ tự đi thăm họ xem thế nào.’ Thế mà ta lại định sỉ nhục ông ta khi ông ta đến đây trong chuyến viếng thăm hữu nghị ư? Hử? Ông Crofton, có đúng thế không nào?”</p>



<p>Ông Crofton khẽ gật đầu.</p>



<p>“Nhưng dù sao đi nữa,” ông Lyons chen vào, bắt bẻ, “đời tư của Vua Edward, anh biết đấy, đâu phải là…”</p>



<p>“Chuyện cũ rồi, bỏ qua đi,” ông Henchy nói. “Cá nhân tôi, tôi ngưỡng mộ ông ta. Ông ta cũng chỉ là một tay giang hồ bình thường như anh với tôi. Ông ta thích nhâm nhi rượu, có thể hơi trăng hoa một chút, và là tay thể thao cừ khôi. Tiên sư nó, người Ireland chúng ta chẳng lẽ không chơi đẹp được sao?”</p>



<p>“Nghe thì hay lắm,” ông Lyons nói. “Nhưng thử nhìn vào trường hợp của Parnell xem.”</p>



<p>“Nhân danh Chúa,” ông Henchy nói, “có gì giống nhau giữa hai trường hợp đâu?”</p>



<p>“Ý tôi là,” ông Lyons nói, “chúng ta có lý tưởng của mình. Thế thì tại sao ta lại đi dàn chào đón tiếp một người như vậy? Anh có nghĩ rằng Parnell vẫn xứng đáng là lãnh tụ của chúng ta không sau tất cả những gì ông làm? Vậy thì tại sao ta lại phản bội lý tưởng của Parnell bằng cách đón tiếp trọng thể Edward Đệ Thất?”</p>



<p>“Hôm nay là ngày giỗ Parnell,” ông O’Connor chen vào, “xin các anh đừng khơi lại chuyện xào xáo nữa. Ông đã qua đời và bây giờ ai cũng ngưỡng vọng ông – ngay cả phe Bảo thủ,” ông xoay sang phía ông Crofton.</p>



<p>“Poóc!” Nút chai của ông Crofton bật ra. Ông đứng dậy khỏi chiếc thùng bước đến lò sưởi. Khi quay lại với “chiến lợi phẩm” trên tay, ông nói bằng giọng trầm:</p>



<p>“Phe chúng tôi kính trọng ông Parnell, vì ông ấy là một quý ông.”</p>



<p>“Crofton, anh nói đúng đấy!” ông Henchy to giọng, có phần gay gắt. “Ông Parnell là người duy nhất có thể giữ cái chuồng mèo ấy trong trật tự. ‘Lũ chó! Nằm xuống! Lũ chó ghẻ! Nằm xuống.’ Ông đối xử với chúng nó như thế đấy. Joe! Vào đi! Vào đi!” ông gọi to khi thấy ông Hynes đứng lấp ló ở ngưỡng cửa.</p>



<p>Ông Hynes chậm rãi bước vào.</p>



<p>“Ông Jack, mở thêm một chai bia đen nữa cho ông Hynes,” ông Henchy nói. “À quên, không có cái mở nút! Đây, đưa tôi một chai, tôi đặt lên lò sưởi.”</p>



<p>Ông lão đưa cho ông một chai nữa và ông đặt nó lên thành lò sưởi.</p>



<p>“Joe, ngồi xuống đi,” ông O’Connor nói, “chúng tôi đang nói về Thủ lĩnh.”</p>



<p>“Phải rồi, phải rồi!” ông Henchy nói.</p>



<p>Ông Hynes ghé mông ngồi lên mép bàn cạnh ông Lyons nhưng không nói gì.</p>



<p>“Dù sao cũng có một người,” ông Henchy nói, “đã không phản bội ông ấy. Thề với Chúa, Joe, tôi nói giùm anh đấy! Không, thề với Chúa, anh mới là kẻ trung thành với Lãnh tụ!”</p>



<p>“À, Joe,” ông O’Connor đột nhiên nói. “Đọc cho chúng tôi nghe bài thơ anh làm – anh nhớ chứ? Anh có đem theo trong người không?”</p>



<p>“Ồ, phải đấy!” ông Henchy nói. “Đọc đi. Đọc đi. Crofton, anh đã nghe bài thơ Joe làm bao giờ chưa? Nghe đi, tuyệt lắm.”</p>



<p>“Joe, cho anh em nghe đi,” ông O’Connor nói. “Ngại ngùng gì, chỗ anh em cả.”</p>



<p>Ông Hynes hình như không nhớ bài thơ họ đang yêu cầu ông đọc, nhưng sau một chặp suy nghĩ, ông bảo:</p>



<p>“Ồ, cái đó… Cũ lắm rồi.”</p>



<p>“Thôi, anh bạn ơi, đọc nhanh đi!” ông O’Connor nói.</p>



<p>“Suỵt, suỵt,” ông Henchy nói. “Nào, Joe! Đọc đi, cho anh em nghe.”</p>



<p>Ông Hynes ngần ngừ một lát. Rồi im lặng, ông từ tốn gỡ mũ khỏi đầu đặt xuống bàn và đứng dậy. Hình như ông đang nhẩm lại bài thơ trong đầu, và sau một lúc khá lâu, ông đọc, giọng dõng dạc:</p>



<p><strong>CÁI CHẾT CỦA PARNELL</strong><strong><br></strong><em>6 tháng Mười, 1891</em></p>



<p>Ông hắng giọng một hai lần rồi mới bắt đầu đọc bài thơ:</p>



<p><em>Ông đã chết. Vị Vua Không Vương Miện của chúng ta đã chết.<br>Hỡi Erin </em>[14]<em>, hãy than khóc trong đau thương<br>Vì người nằm chết kẻ mà bọn gian ác<br>Giả hình thời nay đã hạ bệ.</em></p>



<p><em><br>Ông nằm chết bởi lũ chó hèn<br>Mà chính ông từng nâng lên vinh quang từ bùn lầy;<br>Và hy vọng của Erin, giấc mộng của Erin<br>Tiêu tan trên giàn hỏa táng của quân vương nàng.</em></p>



<p><em><br>Trong cung điện, túp lều hay gian nhà tranh<br>Trái tim Ireland ở bất cứ nơi đâu<br>Đều cúi mình trong tang tóc – bởi ông đã đi rồi<br>Người lẽ ra định đoạt vận mệnh nàng.</em></p>



<p><em><br>Ông muốn Erin của mình rạng danh,<br>Lá cờ xanh tung bay hiển hách,<br>Những chính khách, thi sĩ và chiến binh của nàng<br>Được tôn vinh trước các dân tộc trên thế giới.</em></p>



<p><em><br>Ông ôm giấc mơ (than ôi, chỉ là giấc mơ!)<br>Về Tự do; nhưng khi ông cố<br>Nắm lấy hoài bão ấy, sự phản bội<br>Đã tước đi điều ông yêu quý.</em></p>



<p><em><br>Ô nhục thay những bàn tay hèn nhát<br>Đã đánh đập Minh Chúa của mình hoặc bằng một nụ hôn<br>Bán rẻ ông cho đám đông ô hợp<br>Của những cha ghẻ xu phụ – chẳng phải bạn ông.</em></p>



<p><em><br>Nguyện nỗi nhục muôn đời thiêu đốt<br>Ký ức của những kẻ tìm cách<br>Làm hoen ố và bôi nhọ danh xưng cao quý<br>Của người đã khinh miệt họ trong niềm kiêu hãnh.</em></p>



<p><em><br>Ông ngã xuống như những vĩ nhân từng ngã,<br>Hiên ngang, không nao núng đến phút cuối,<br>Và cái chết nay đã kết nối ông<br>Với những anh hùng của Erin thuở trước.</em></p>



<p><em><br>Đừng để tiếng tranh chấp quấy nhiễu giấc ngủ ông!<br>Ông yên nghỉ thanh thản: không còn đau đớn phận người<br>Hay tham vọng cao xa nào thúc đẩy<br>Ông đã chinh phục đỉnh vinh quang.</em></p>



<p><em><br>Họ đã đạt được mưu đồ: họ hạ ông xuống<br>Nhưng Erin, hãy lắng nghe đây, linh hồn ông có thể<br>Trỗi dậy từ ngọn lửa như Phượng Hoàng<br>Khi bình minh ló rạng,</em></p>



<p><em><br>Ngày triều đại của Tự do đến với chúng ta<br>Và vào ngày ấy, Erin có thể<br>Nâng chén mừng vui<br>Chỉ còn một nỗi buồn – ký ức về Parnell.</em></p>



<p>Đọc xong bài thơ, ông Hynes lại ngồi xuống mép bàn. Có một khoảng lặng rồi tiếng vỗ tay vang lên; ngay cả ông Lyons cũng vỗ tay. Tiếng vỗ tay kéo dài một lúc. Khi dứt, tất cả mọi người trong phòng đều im lặng uống tiếp.</p>



<p>“Poóc!” Nút chai của ông Hynes bật ra, nhưng ông vẫn ngồi trên bàn, mặt đỏ bừng, đầu trần. Hình như ông không nghe thấy lời mời uống.</p>



<p>“Joe, hay lắm!” ông O’Connor nói, thò tay vào túi áo rút giấy vấn điếu và bao thuốc để che giấu xúc động.</p>



<p>“Crofton, anh thấy sao?” ông Henchy kêu lên. “Hay chứ? Hả?”</p>



<p>Crofton nói rằng đó là một bài thơ rất hay.</p>



<p><em>(Trịnh Y Thư dịch từ ấn bản </em>Dubliners<em>, NXB Alfred A. Knoff, 1991.)</em></p>



<p>*</p>



<p><em><strong>Chú thích của người dịch:</strong></em></p>



<p>[1]&nbsp; <em>Ivy Day</em>, mùng 6 tháng 10, là ngày giỗ Charles Stewart Parnell, một nhà lãnh đạo theo Chủ nghĩa Dân tộc Ireland, được biết đến với biệt danh “Ông vua không ngai của Ireland”, người đã đấu tranh cho quyền tự trị của Ireland. Sau khi ông qua đời năm 1891 sau một vụ xì-căng-đan tình dục, những người theo ông đã tưởng niệm ông hằng năm vào ngày này. Họ lấy hình ảnh chiếc lá trường xuân làm biểu hiệu, nên gọi là Ivy Day.</p>



<p>[2]&nbsp; Trong nguyên tác là câu “<em>He takes th’upper hand of me whenever he sees I’ve a sup taken</em>”, một câu nói đặc trưng giọng điệu dân Dublin. Joyce sử dụng câu nói kiểu bình dân này để thể hiện sự oán giận và tính cách dễ tổn thương của ông già Jack, đồng thời, làm nổi bật động lực xã hội giữa những người dân Dublin thuộc tầng lớp lao động.</p>



<p>[3]&nbsp; <em>shoneen, </em>một từ tiếng lóng, ám chỉ kẻ xu phụ, người Ireland nhưng quỵ luỵ, luồn cúi người Anh để xin chút bổng lộc, quyền lợi hay địa vị.</p>



<p>[4]&nbsp; Tổng thống Richard Nixon của Hoa Kỳ bị các đối thủ chính trị gọi là Tricky Dick. Hỗn danh này ám chỉ tai tiếng của ông về việc sử dụng các thủ đoạn vô nguyên tắc, thao túng và lừa dối trong suốt sự nghiệp chính trị của mình, bắt đầu từ vụ tranh cử vào Thượng viện năm 1950 và lên đến đỉnh điểm trong vụ bê bối Watergate.</p>



<p>[5]&nbsp;&nbsp; “Mười chín ka-ra” là cụm từ tiếng lóng, ý mỉa mai con người giả tạo, thực chất là người chẳng ra gì.</p>



<p>[6]&nbsp; <em>hillsiders-fenians: Hillsiders, </em>nghĩa đen, là dân sống ở vùng đồi núi, một tiếng lóng, thường mang tính chế giễu, dùng để ám chỉ người theo chủ nghĩa dân tộc Ireland cổ hủ, sống ở vùng nông thôn. Trong ngôn ngữ chính trị ở Dublin thời của Joyce, gọi ai đó là <em>hillsiders</em> có thể ngụ ý rằng họ chân thành nhưng thiếu hiểu biết. Từ <em>Fenians </em>dùng để chỉ một thành viên hoặc người ủng hộ Hội Huynh Đệ Fenian, cánh quân cách mạng thiên về bạo lực của chủ nghĩa dân tộc Ireland vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Khi được ghép đôi, cụm từ này gộp hai loại người theo chủ nghĩa dân tộc. Trong ngữ cảnh của truyện ngắn này, nó phản ánh tính cách bè phái chính trị ở Dublin, sự căng thẳng giữa chủ nghĩa dân tộc truyền thống và khí hậu chính trị mới mẻ, thực dụng hơn, và cách thế các nhân vật chế giễu đối thủ để thể hiện lòng trung thành của chính họ. Đó là một cụm từ ngắn gọn, nhưng chứa đựng cả một bức tranh chính trị.</p>



<p>[7]&nbsp; Trong thế giới Dublin của Joyce, và trong ngôn ngữ chính trị Ireland nói chung, “Lâu đài” là từ viết tắt của “Lâu đài Dublin”, tức là trụ sở trung tâm chính quyền Anh tại Ireland. Đây là một trong những thuật ngữ mang nhiều ý nghĩa hơn nghĩa đen của nó. Đối với những người theo chủ nghĩa dân tộc Ireland, “Lâu đài” tượng trưng cho bộ máy quan liêu, sự tham nhũng, sự bảo hộ của nước ngoài, sức nặng ngột ngạt của chính quyền thuộc địa. Vì vậy, từ này không bao giờ có hàm nghĩa trung lập. Nó luôn luôn đóng vai trò chính trị. Các nhân vật của Joyce sử dụng “Lâu đài” như một loại ngôn ngữ chính trị. Buộc tội ai đó là “Lâu đài” hoặc “được Lâu đài hậu thuẫn”, có nghĩa là họ liên kết với lợi ích của Anh quốc, đi ngược lại quyền lợi dân tộc, họ là kẻ cơ hội hoặc bị mua chuộc, thỏa hiệp, họ không thực sự theo chủ nghĩa dân tộc.</p>



<p>[8]&nbsp; Thiếu tá Henry Charles Sirr [1764-1841] là một nhân vật có thật trong lịch sử Ireland. Ông ta từng giữ chức Thị trưởng Dublin, thực chất là người đứng đầu cơ quan an ninh cảnh sát, vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Ông ta trở nên khét tiếng vì vai trò của mình trong việc đàn áp Liên minh Ireland, nhóm cách mạng đứng sau cuộc nổi dậy năm 1798. Ông đích thân bắt giữ lãnh tụ Edward Fitzgerald, một trong những thủ lĩnh của cuộc nổi dậy, hành động này khiến ông trở thành biểu tượng cho sự đàn áp của Anh ở Ireland. Đối với dân tộc Ireland, Sirr là một kẻ phản quốc.</p>



<p>Trong truyện ngắn này của Joyce, việc nhắc đến Thiếu tá Sirr không phải là về bản thân con người đó mà là về những gì ông ta đại diện, nó ám chỉ sự phản bội, làm chó săn, tay sai cho ngoại bang quay lại đàn áp dân tộc mình.</p>



<p>[9]&nbsp; Trong tiếng Anh thông dụng, cụm từ “cừu/ chiên đen” là một thành ngữ chỉ người bị xem là kẻ lạc loài trong gia đình, nhóm hoặc cộng đồng, thường là vì họ bị xem là nguồn gốc của sự xấu hổ, rắc rối hoặc nhục nhã. Trong bối cảnh của Joyce ở tập truyện <em>Dubliners</em>, cụm từ này mang cùng một ý nghĩa nhưng với sắc thái chính trị hoặc xã hội sắc bén hơn. Việc gọi ai đó là “cừu/ chiên đen” ở Dublin thời Joyce thường hàm ý họ đã phản bội kỳ vọng của nhóm hoặc họ đã đi ngược lại với số đông về chính trị hoặc xã hội, và bị bạn bè, người thân xem thường. Tiếng Việt sử dụng nhóm từ tương đương, tuy không sát nghĩa lắm, là “con chiên ghẻ.”</p>



<p>[10]&nbsp; Trong nguyên tác, Joyce sử dụng một thành ngữ Ireland, <em>on the smell of an oil-rag</em>. Là một trong những thành ngữ sống động tuyệt vời của người Ireland mà các nhân vật của Joyce thường dùng như thể ai cũng hiểu chính xác nghĩa của nó. Nó có nghĩa là ai đó cực kỳ tiết kiệm, có thể sống sót gần như không cần gì, hoặc keo kiệt đến mức chỉ cần một lượng nhỏ cũng đủ để sống qua ngày. Trong thế giới của Joyce, ở truyện ngắn <em>Ivy Day in the Committee Room</em>, nó thường có nghĩa là: một lời châm chọc về tính keo kiệt của ai đó; một cách chế giễu một nhân vật chính trị hoặc đồng nghiệp vì tính bủn xỉn, đặc biệt là trong việc trả tiền hoặc giúp đỡ người khác. Joyce yêu thích những thành ngữ này vì chỉ trong một câu văn giản dị mà chúng bộc lộ giai cấp, thái độ và tính cách nhân vật. Thành ngữ tiếng Việt có ý nghĩa tương tự là “vắt cổ chày ra nước.”</p>



<p>[11]&nbsp; Trong nguyên tác là thành ngữ “<em>The thin edge of the wedge.</em>” Đây là một trong những phép ẩn dụ ngắn gọn nhưng rất hiệu quả, nhất là trong các cuộc thảo luận chính trị. Đó là lý do vì sao nó lại phù hợp trong bối cảnh truyện ngắn này. Ý nghĩa cốt lõi của thành ngữ đề cập đến một khởi đầu nhỏ, tưởng chừng như vô hại, nhưng có nguy cơ dẫn đến một phát triển lớn hơn, nghiêm trọng hơn nhiều. Trong thế giới của Joyce, nó thường ám chỉ sự nghi ngờ về động cơ của ai đó; lo lắng về sự xâm nhập hoặc thao túng chính trị; cảm giác rằng những hành động nhỏ – phiếu bầu, ân huệ, liên minh – có thể tích tụ thành điều gì đó nguy hiểm hơn. Các nhân vật của Joyce luôn lo lắng về việc ai đang giành được ảnh hưởng, ai đang bán đứng và ai đang thay đổi lòng trung thành. Thành ngữ “Lưỡi mỏng của cái nêm” đã nắm bắt hoàn hảo tâm trạng đó. Tôi không&nbsp; tìm được thành ngữ tiếng Việt nào có ý nghĩa tương tự nên đành dịch theo nghĩa đen và chú thích nơi đây.</p>



<p>[12]&nbsp; Vải len <em>serge</em> là loại vải dệt chéo bền chắc, thường được làm từ len chải kỹ, dùng cho đồng phục quân đội, áo vét hay áo khoác dài.</p>



<p>[13]&nbsp; <em>bowler hat</em>: Mũ quả dưa.</p>



<p>[14]&nbsp; <em>Erin</em>: Nội dung bài thơ, “Erin” đơn giản chỉ là một cái tên thơ ca ám chỉ quốc gia Ireland. Nó bắt nguồn từ chữ “<em>Éire</em>” tiếng Ireland, có nghĩa là Ireland. Trong thơ ca mang nặng màu sắc Dân tộc chủ nghĩa thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, <em>Erin</em> là hiện thân, là hình ảnh lý tưởng hóa của Ireland – một người mẹ, một thiếu nữ, hoặc một quốc gia đau khổ mang tính biểu tượng. Nó mang nặng ý nghĩa cảm xúc: lòng yêu nước, nỗi nhớ, sự hy sinh và khát vọng tự do dân tộc.</p>



<p>*</p>



<p><em><strong>Lời người dịch</strong></em></p>



<p><em>Ivy Day in the Committee Room</em> của <strong>James Joyce</strong> là một truyện ngắn tưởng như chỉ xoay quanh vài người đàn ông ngồi uống bia và tán gẫu về chính trị bầu cử, nhưng thực chất nó là một <strong>bản chẩn đoán lạnh lùng về tình trạng chính trị Ireland cuối thế kỷ XIX</strong>. Joyce không tranh luận trực tiếp; ông chỉ cho thấy sự suy đồi, xuống cấp biểu hiện bởi lời nói, thái độ, và sự dung tục tầm thường của các nhân vật.</p>



<p>Biểu tượng trong truyện là cái huy hiệu hình lá trường xuân gắn trên ve áo các nhân vật. Họ làm thế để thể hiện lòng trung thành và tưởng nhớ Parnell. Thời gian truyện chính là ngày giỗ vị lãnh tụ nổi tiếng nhất của dân tộc Ireland thởi cận đại. Truyện sử dụng ngày này để nhấn mạnh chủ đề về sự thờ ơ chính trị và sự suy tàn của chủ nghĩa dân tộc Ireland. <em>Ivy Day</em> nói lên ký ức về một lãnh tụ đã mất, nhưng <em>ivy</em> là loại dây leo, nó <strong>bám vào thứ khác để sống</strong><strong>,</strong> gợi ý Ireland, sau khi Parnell chết, đang sống bám vào quá khứ. Nó cũng là cây <strong>xanh mãi, không bao giờ úa vàng, ngụ ý </strong>ký ức về Parnell vẫn còn, nhưng chỉ tồn tại như <strong>nghi thức,</strong> không còn sức mạnh chính trị.</p>



<p>Chủ đề lớn của tập truyện <em>Dubliners</em> là sự <strong>tê liệt xã hội</strong><strong>,</strong> và truyện ngắn này là ví dụ chính trị tiêu biểu, rõ ràng nhất. Dùng phân cảnh căn phòng họp của Ủy ban Vận động Tranh cử của một ứng viên đang tranh cử vào Hội đồng Thành phố, Joyce vẽ một căn phòng lạnh tối, ít than củi, không tiền, các nhân viên chờ đợi trong vô vọng, v.v. Đây không chỉ là bối cảnh, nó chính là <strong>ẩn dụ cho Ireland</strong>. Các nhân vật, không ai thèm làm gì, lười nhác, trời mưa gió suốt ngày ngồi lì trong phòng chứ không ra ngoài đi kiếm phiếu; không lý tưởng thật sự mà chỉ tranh luận về những đề tài vặt vãnh trong cuộc sống vốn rất nghèo nàn; rồi khi có bia đem đến thì mừng rỡ như trẻ con được mẹ đi chợ mua quà.</p>



<p>Chính trị đã trở thành công việc thuê mướn, không còn là phong trào giải phóng. Chính trị như nghề kiếm ăn, hầu hết những người trong phòng là người đi vận động cử tri bỏ phiếu, nhưng họ quan tâm đến tiền hơn là chính sách, sẵn sàng đổi phe, nghi ngờ lẫn nhau, nói xấu ứng viên của chính mình. Joyce đang phơi bày sự chuyển đổi từ chủ nghĩa dân tộc đầy đam mê (thời Parnell) sang chính trị thực dụng, vụ lợi. Các lãnh đạo mới không phải anh hùng mà chỉ là những con buôn chính trị, dùng chức vị để trục lợi bản thân.</p>



<p>Sau cái chết của Parnell, phong trào tranh đấu giải phóng dân tộc Ireland <strong>tan rã thành nhiều phe phái. </strong>Thế hệ những người tiếp nối nghi ngờ, công kích nhau, sa vào những tranh luận vô ích và vô bổ. Joyce muốn nói: Kẻ thù lớn nhất của Ireland không phải nước Anh, mà là sự chia rẽ nội bộ. Đây là một nhận định rất táo bạo vào thời Joyce.</p>



<p>Trong truyện, ta có thể nhìn vào cuộc tranh luận về việc chào đón Vua Anh để thấy sự phân hóa đã dẫn đến sự biến dạng tiêu cực của lý tưởng dân tộc. Có hai quan điểm: Nhóm thực dụng (Henchy) cho rằng nhà Vua đến tức là đem tiền đầu tư vào xứ sở, nhờ đó kinh tế phát triển. Còn nhóm lý tưởng (Hynes) thì chống đối việc đó vì cho rằng tại sao phải cúi đầu trước ngoại bang, chẳng lẽ không thấy nhục nhã ư? Đây là xung đột cổ điển thường thấy trong các phong trào giành độc lập.</p>



<p>Joyce không đứng hẳn về phía nào, ông chỉ cho thấy cuộc tranh luận đã trở nên nông cạn. Không ai nói về tự do thực sự mà chỉ nói về tiền, việc làm, lợi ích. Nói khác đi, Chủ nghĩa Dân tộc đã bị “thị trường hóa.”</p>



<p>Lúc Hynes đọc bài thơ về Parnell là khoảnh khắc duy nhất có linh hồn, căn phòng thay đổi, mọi người im lặng, xúc động, vỗ tay. Nhưng Joyce rất tinh quái. Các nhân vật sau đó tiếp tục uống bia. Không có hành động. Không có sự thức tỉnh. Chỉ là hoài niệm, một hoài niệm khô cứng, cạn kiệt, máy móc. Thông điệp Joyce muốn gửi cho chúng ta có vẻ tàn nhẫn: Con người chúng ta giỏi tưởng niệm hơn là hành động.</p>



<p>Joyce đang phê phán ai? Câu trả lời là khá bất ngờ. Ông<strong>không chỉ phê phán chính trị gia, mà toàn xã hội Ireland. </strong>Những người trong căn phòng là tầng lớp dưới trung lưu, lao động, công chức nhỏ, vận động viên bầu cử, kẻ thất nghiệp, vv. Họ đại diện cho <strong>quốc gia thu nhỏ</strong><strong>. </strong>Không ai là phản diện. Tất cả đều tầm thường, ù lì, tê liệt.</p>



<p>Đây là kiểu bi kịch Joyce rất ưa thích triển khai trong các tác phẩm của ông. Không có kẻ ác, chỉ có sự nhỏ bé, tầm thường.</p>



<p>Ý nghĩa lớn hơn trong truyện ngắn này không chỉ nói về Ireland đầu thế kỷ XX, nó nói về một quy luật chính trị phổ quát. Sau khi một lãnh tụ vĩ đại chết đi thì điều gì thường xảy ra. Nó là sự mất phương hướng của phong trào; lý tưởng bị thay thế bằng chiến thuật; những lãnh tụ mới thì tầm thường, trong lòng đầy nghi kỵ, đố kỵ; cán bộ phân hóa, phân tâm, chia rẽ, luôn bới móc, thêu dệt cái xấu của nhau; ký ức trở thành nghi lễ, nghi lễ trở thành mẫu mực quan trọng hơn tất cả các hình thức đấu tranh khác.</p>



<p>Tôi có thể thấy mô hình này lặp lại trong rất nhiều quốc gia thuộc thế giới thứ ba từng có thời sống dưới ách cai trị của thực dân. Thậm chí, tôi còn thấy nó trong cái-gọi-là sinh hoạt chính trị-văn hóa của các cộng đồng người Việt ở hải ngoại, nơi tôi hiện đang sinh sống. Đó là lý do vì sao tôi thấy Joyce vẫn mới, vẫn hiện đại. Thông điệp của Joyce không trở nên lỗi thời, mà vẫn là bài học đau đớn cho chúng ta suy ngẫm.</p>



<p>Điểm thứ hai đáng suy nghĩ trong truyện ngắn này là bài thơ ở phần cuối truyện. Tại sao Joyce sử dụng nó?</p>



<p>Bài thơ được viết theo phong cách trữ tình Dân tộc chủ nghĩa gắn liền với những người ủng hộ Parnell. Việc sử dụng tên gọi “Erin” báo hiệu một thứ chủ nghĩa Dân tộc lãng mạn; nỗi đau buồn trước sự phản bội chính trị. Bài thơ mang giọng điệu cao cả, u buồn và lý tưởng. Nó gợi lên hình ảnh Erin/ Ireland, Parnell, ngôn ngữ của sự hy sinh, sự phản bội, vận mệnh quốc gia dân tộc, vv.</p>



<p>Nhưng không gian nơi bài thơ được đọc là một căn phòng chật hẹp, tồi tàn, có những nhân vật đang uống bia, luôn mồm phàn nàn về tiền bạc, tranh cãi nhau về những lời đồn đại, sự thù hận và những mưu đồ chính trị nhỏ nhặt. Sự tương phản này thật tàn khốc. Sự vĩ đại của bài thơ rơi vào một không gian mà không ai sống đúng với lý tưởng của nó. Mặc dù nó tạm thời nâng tầm không gian căn phòng, và trong khoảnh khắc ngắn ngủi, những người trong phòng im lặng, lắng nghe, xúc động, nhưng ngay sau đó, mọi thứ vẫn ỳ ra như cũ, không hề có sự thay đổi nào, một ý thức tỉnh thức cũng không!</p>



<p>Joyce cố tình cho thấy những nhân vật trong phòng hầu như không thể có được niềm tin chính trị chân chính, thế nhưng bài thơ lại gợi lên hình ảnh Ireland vĩ đại, huyền thoại – “Erin” – mà họ thề trung thành, đem tâm huyết ra phục vụ.</p>



<p>Đây chính là một trong những khoảnh khắc giàu ý nghĩa nhất trong truyện ngắn, và Joyce đã dàn dựng với dụng ý mỉa mai tinh tế. Giọng điệu nội dung của bài thơ và khung cảnh xung quanh cố tình đối chọi nhau, và sự căng thẳng đó là chìa khóa để hiểu được cốt lõi cảm xúc của câu chuyện; một khoảnh khắc cảm xúc chân thành chỉ càng làm nổi bật việc các nhân vật đã đi xa khỏi những lý tưởng mà họ từng tuyên bố tôn vinh.</p>



<p>Ẩn ý trung tâm của truyện ngắn có thể gói trọn trong một câu đơn giản: <strong>Ireland không bị đánh bại, mà bị trì trệ. </strong>Những người còn lại chỉ đại diện cho sự chờ đợi, sự tầm thường, nói nhiều nhưng không hành động. – TYT</p>



<p></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Trịnh Y Thư: Nguyễn Viện: Tiểu thuyết Có những kẻ đi mãi không về – Cuộc trốn chạy trong mê cung Lịch sử</title>
		<link>https://t-van.net/trinh-y-thu-nguyen-vien-tieu-thuyet-co-nhung-ke-di-mai-khong-ve-cuoc-tron-chay-trong-me-cung-lich-su/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Trịnh Y Thư]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 14 Mar 2026 05:09:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[giới thiệu tác phẩm]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=87632</guid>

					<description><![CDATA[1. Trong văn học, hành vi “thoát khỏi chiến tranh” hay “thoát khỏi cuộc sống” thường được thể hiện một cách gián tiếp, thông qua các phép ẩn dụ gợi lên sự rút lui, tan biến, siêu thoát hoặc quên lãng chứ không phải là sự chạy trốn theo nghĩa đen. Tuy vậy, trong cuốn [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/03/ni3VvtC3-image001.jpg?strip=all&w=2560"><img fetchpriority="high" decoding="async" width="687" height="1024" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/03/image001-687x1024.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-87633" style="width:471px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/03/image001-201x300.jpg 201w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/03/image001-687x1024.jpg?strip=all 687w, https://cdn.t-van.net/2026/03/image001-768x1145.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2026/03/image001-1030x1536.jpg 1030w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/03/ni3VvtC3-image001.jpg?strip=all 1288w" sizes="(max-width: 687px) 100vw, 687px" /></a></figure></div>


<p>1.</p>



<p>Trong văn học, hành vi “thoát khỏi chiến tranh” hay “thoát khỏi cuộc sống” thường được thể hiện một cách gián tiếp, thông qua các phép ẩn dụ gợi lên sự rút lui, tan biến, siêu thoát hoặc quên lãng chứ không phải là sự chạy trốn theo nghĩa đen. Tuy vậy, trong cuốn tiểu thuyết <em>Có những kẻ đi mãi không về</em> của nhà văn Nguyễn Viện, ta thấy đó là một cuộc chạy trốn thật sự ra khỏi những thực tại tàn bạo, khốc liệt của chiến tranh, của đời sống. Nó không phải giấc ngủ hay giấc mơ để tạm thời quên đi những nhọc nhằn, khổ ải do đời sống đem lại, như giấc ngủ của <em>Iliad</em> của Homer, hoặc như Shakespeare từng nói: “<em>Giấc ngủ hàn gắn những vết thương lòng</em>.”</p>



<p>Con người trong thiên truyện này của nhà văn Nguyễn Viện không được quyền ngủ, hắn phải tỉnh thức, tỉnh thức để nhận lãnh tất cả mọi khổ đau, bầm dập của cái-gọi-là đời sống, và tỉnh thức để biết đường trốn chạy ra khỏi cái mê cung kinh hoàng của chiến tranh, của những thế lực phi nhân tính, phi đạo đức luôn sẵn sàng đè bẹp những tâm hồn yếu đuối chỉ có một mong ước duy nhất là được sống, được sống như con người.</p>



<p>Cuốn tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Viện va chạm đến vấn đề cốt lõi của cuộc sống hiện đại: tại sao sống như một con người lại khó khăn đến thế; tại sao sống là trốn chạy, là bế tắc, một nghịch lý hết thuốc chữa khi những tiến bộ về cả mặt khoa học lẫn tư tưởng đều đạt được những thành tựu lớn lao chưa từng thấy trong lịch sử?</p>



<p>2.</p>



<p>Thạch Xung, nhân vật chính diện của cuốn tiểu thuyết, người con của núi rừng, sinh ra trong một ngôi làng hẻo lánh heo hút ở vùng cao, với cái tên hoang dã, như chính nó, Rume. Mẹ gã trao thân cho một người đàn ông được mọi người trong làng gọi là “ông Thày” và sinh ra gã. Bà được gả cho một người đàn ông khác trong làng trước khi gã ra đời. Bởi thế trong suốt thời thơ ấu và niên thiếu gã mặc nhiên xem người đàn ông đó là cha mình. Cùng lúc có một người đàn bà khác cũng hiến dâng thân xác cho “ông Thày” và sinh ra một người con gái tên Thị. Ngôi làng mang một khí hậu hiện thực huyền ảo, “… <em>ẩn khuất giữa đám cây rừng ấy chưa bao giờ lạnh lẽo. Nó luôn được sưởi ấm bởi những hơi thở nóng của đàn bà ở Rume. Bởi không một người đàn bà nào không bị xao xuyến bởi ánh mắt dịu dàng của Thày</em>…” Và nặng mùi dục tính, “<em>Mùi ma mị của bà hoà quyện với mùi rừng man dại nhồi ông lên xuống giữa chơi vơi của đất trời. Mơ và thật. Bà Mắm rất tự hào vì được ông yêu. Như ân sủng. Như biệt đãi. Cho dẫu niềm tự hào ấy vẫn phải che giấu như bóng tối trong lô cốt, nhưng vẫn làm cho thần thái bà trở nên rạng ngời</em>.” (Tiểu đoạn 1: <em>Cái lô cốt ở Rume</em>).</p>



<p>Tình cảm khắng khít giữa Thạch Xung và Thị theo thời gian ngày càng nảy nở, nhưng không có một tình huống&nbsp; “Trăm năm cô đơn” nào xảy ra, mà thay vào đó là chiến tranh. Chiến tranh ập đến kéo theo tất cả những chết chóc, đổ vỡ, chia lìa, tan tác. Làng Rume bị chặt khúc ra từng mảnh bởi cả hai phe, Quốc gia lẫn Giải phóng. Ông Thày bị cắt đầu vì bị tình nghi là Việt gian, các người khác như bầy chim vỡ tổ, mỗi người tìm một phương lánh nạn. Thạch Xung và Thị cũng bị cuốn trôi theo cơn thác lũ ấy về thành phố chạy trốn, kiếm miếng ăn, nhưng mất liên lạc với nhau một thời gian dài.</p>



<p>Nhà văn Nguyễn Viện dành khá nhiều câu chữ trong cuốn tiểu thuyết để nói về cuộc chiến tranh ấy, tuy vậy, ông không hề đả động gì đến việc cuộc chiến xảy ra như thế nào; năm tháng, những biến cố trọng đại cũng không được moi ra từ lịch sử hoặc ký ức, mà chỉ nói về những hệ lụy đau đớn do cuộc chiến gây ra. Điều này không lạ. Bởi sứ mệnh (nếu có) của tiểu thuyết không phải minh họa cho Lịch sử, mà là lấp đầy những chỗ trống do Lịch sử vô tình hay cố ý bỏ quên. Nguyễn Viện nhìn chiến tranh với con mắt kinh hoàng tột độ, “… <em>Con người bị ném vào chiến tranh như miếng thịt ném cho thú dữ trong sở thú.</em>” Ở một đoạn khác, ông viết:</p>



<p><em>“Đao kiếm hay súng ống, xưa nay vẫn là thứ vũ khí để giết người và nó gắn bó với lịch sử con người như một thuộc tính. Một cám dỗ huỷ diệt, mãnh liệt và ám ảnh. Vì thế, vũ khí mỗi ngày một tinh vi và hiệu quả hơn. Nó cũng lôi cuốn con người hơn. Mang đao kiếm hay súng ống không chỉ là tự vệ hay giết người, mà nó nâng cấp và thị uy bản ngã.” </em>(Tiểu đoạn 5: <em>Thành phố</em>).</p>



<p>Đọc đến đây, tôi bỗng nhớ một câu viết của nhà văn Mỹ Henry Miller, “<em>Chúng ta giết nhau vì chúng ta hãi sợ chính cái bóng của mình, sợ rằng nếu chúng ta sử dụng một chút lý trí, chúng ta sẽ phải thừa nhận rằng những nguyên tắc cao cả của chúng ta là sai lầm</em>.”</p>



<p>Đoạn văn trên của Nguyễn Viện là tiếng dội từ vách núi vọng về của câu nói của Henry Miller, mà tôi hiểu như sau:</p>



<p>Chiến tranh là sự hủy diệt mang tính biểu tượng đối với kẻ khác, nhưng bạo lực không bắt nguồn từ sức mạnh hay niềm tin, mà từ nỗi sợ hãi. Sợ hãi khi nhận ra khả năng tàn ác của chính mình. Sợ hãi khi thừa nhận rằng chúng ta không trong sạch về mặt đạo đức như chúng ta tuyên bố. Sợ hãi rằng “kẻ thù” không hoàn toàn ở bên ngoài, mà phản ánh điều gì đó chưa được giải quyết bên trong chúng ta. Bằng cách phóng chiếu bóng tối này ra bên ngoài, chúng ta biến xung đột nội tâm thành xung đột ngoại tại. Kẻ thù trở thành một vật chứa tiện lợi cho những gì chúng ta không thể chịu đựng được ở chính mình. Do đó, bạo lực là một hình thức trốn tránh tâm lý.</p>



<p>Đoạn, cái “bản ngã được nâng cấp” của Nguyễn Viện hay cái “nguyên tắc cao cả” của Henry Miller là gì, và tại sao chúng ta hãi sợ nó là sai lầm?</p>



<p>Đây là lời buộc tội cốt lõi. Miller không tấn công các nguyên tắc nói chung, mà là các nguyên tắc được tôn vinh – những lý tưởng được nâng lên vượt quá sự phê phán và tách biệt khỏi thực tế. Chúng trừu tượng (quốc gia, sứ mệnh, cách mạng, tự do, sự trong sạch, sự tiến bộ, hệ tư tưởng, vv.) Họ đòi hỏi sự hy sinh – nhưng không bao giờ từ những kẻ định nghĩa chúng. Họ biện minh cho sự tổn hại là cần thiết, không thể tránh khỏi. Nói cách khác, chiến tranh, việc giết chóc tiếp diễn không phải vì con người thiếu hệ thống đạo đức, mà vì họ bám víu vào chúng quá cứng nhắc. Bạo lực trở thành một cơ chế phòng vệ để bảo vệ hình ảnh bản thân về mặt ý thức hệ.</p>



<p>Tại đây, ý thức hệ được trừu tượng hóa; những lý luận đạo đức, luân lý thông thường bị đàn áp, dẹp bỏ; bạo lực được biện minh như một nguyên tắc. Và, khốn nạn thay! Ranh giới giữa nguyên tắc và tội ác mỏng manh hơn chúng ta nghĩ.</p>



<p>Câu chuyện “ông Thày” bị cắt đầu trong thiên tiểu thuyết không là một biểu tượng ẩn dụ, không là một sản phẩm của tưởng tượng. Nó từng thật sự xảy ra nhiều lần trong thời chiến tranh Việt Nam, từ nhiều phe phái, không riêng gì phe Việt Minh hay Cộng sản. Cắt đầu người, một hành động tàn bạo kinh khiếp, bạn đừng nghĩ nó chỉ xảy ra vào thời Trung cổ phong kiến, nó từng xảy ra vào thời gọi là văn minh hiện đại. Câu hỏi được đặt ra là, tại sao con người lại có thể tàn ác, nhẫn tâm như thế với đồng loại?</p>



<p>Câu hỏi này đã được chính nhà văn Nga Aleksandr Solzhenitsyn hỏi, và câu trả lời của ông giản dị là: Nó chính là cái ý thức hệ.</p>



<p>Theo Solzhenitsyn, nguyên uỷ của tội ác là ý thức hệ. Ý thức hệ cung cấp kẻ ác sự bền bỉ và quyết tâm, bằng mọi giá, phải tiêu diệt tất cả những kẻ cản trở bước đường của mình. Nó được bao bọc bởi lớp hào quang giả tạo rồi trang trọng đưa lên ban thờ. Từ đó kẻ gây tội ác cứ việc an tâm gây tội ác mà lương tâm chẳng hề bị cắn rứt, bởi hắn chỉ cần vái lạy, nhân danh cái ý thức hệ đó thì bất cứ việc gì, dù tàn độc cách mấy, hắn vẫn có thể thản nhiên làm được. Cái ác tiềm ẩn trong DNA của mỗi chúng ta, với ý thức hệ như thùng phuy dầu xăng, chỉ cần một tia lửa nhỏ lóe lên cũng đủ cho nó biến thành đám cháy lớn thiêu đốt bất kỳ thứ gì nằm cản đường cản lối nó.</p>



<p>3.</p>



<p>Những người con của núi rừng bỏ chạy về thành phố, một nơi chốn hỗn loạn, xã hội suy đồi đến tận đáy đất đen, mọi giá trị truyền thống bị lật nhào, không lý tưởng, mọi ý nghĩa tiêu tan, người ta giẫm đạp lên nhau mà sống, con trai làm du đãng, con gái làm đĩ, hoặc khá lắm thì buông thả, sao cũng được, miễn sống. “<em>Một chủ nghĩa hiện sinh được hiện thực hoá đồng hành trong cuộc chiến giữa chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa tư bản</em>.” Tác giả viết như thế ở tiểu đoạn 7.</p>



<p>“… <em>Trong cơn lốc xoáy ấy, Thạch Xung không muốn cầm súng vì tổ quốc hay một lý tưởng nào, chàng cũng không muốn cầm súng như cách để kiếm miếng ăn, hoặc giết người để bảo vệ cách sống của mình. […] Chiến tranh là một mâu thuẫn và nó tạo ra những mâu thuẫn khác. Hơn bao giờ hết, những mâu thuẫn nội tại xé vụn Thạch Xung. Và đó là một Thạch Xung du đãng. Từ chối làm nghĩa vụ công dân. Phủ nhận thực tại. Mỗi bước đi của Thạch Xung là một hố thẳm&#8230; Và chàng trở thành hố thẳm, bất khả vãn hồi</em>.” (Tiểu đoạn 7: <em>Những ngã ba lạc lối</em>).</p>



<p>Thế là Thạch Xung bắt đầu cuộc trốn chạy của mình, trốn chạy theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Gã bị phe Quốc gia bắt lính. Đào ngũ. Bị đuổi, bơi qua sông trốn, gặp ngay thằng em Thạch Xâm chĩa AK vào đầu, lại bơi ngược về phía Quốc gia. Lại chạy. Chạy thục mạng. Chạy miết. Cho đến khi trở thành một tay du đãng khét tiếng.</p>



<p>Tiếng tăm gã được đồn thổi, và các thế lực chính trị thuộc cả hai phe tìm đến gã mời mọc, chèo kéo, thậm chí dọa nạt. Nhưng gã cương quyết và khôn khéo chối từ, “<em>Tôi không đủ cao cả để hy sinh thân mình cho điều gì. Sự thật, tôi là kẻ sợ chết. Nên tôi sẽ không thể làm gì nguy hiểm đến an nguy của tôi. Tôi cũng không muốn gây nợ máu với ai</em>.” (Tiểu đoạn 8: <em>Những giấc mơ bụi bặm</em>).</p>



<p>Thế nhưng, do hoàn cảnh và thời thế đưa đẩy, bỗng một hôm Thạch Xung trở thành một nhân vật chính trị sáng giá. Và, kết quả đáng buồn là gã ngày càng bị cuốn hút sâu vào vũng lầy của những thủ đoạn, mưu toan chính trị đen tối. “<em>Chính trị vẫn là bán mình cho quỷ</em>.” Gã phải quỵ lụy “điếu đóm” các nhân vật như cụ Dunhill, lão Hà Việt bên cốc rượu hay bàn đèn thuốc phiện. Gã cảm thấy chán ngán và cuối cùng, chịu đựng hết nổi, gã bỏ lại tất cả, đi lập một cái am và giả dạng thầy tu. Gã lại bắt đầu một cuộc trốn chạy mới.</p>



<p>“<em>Thạch Xung không muốn bị cuốn vào cuộc sát phạt địch-ta… Nhưng địch hay ta sẽ chẳng có bên nào cho con người quyền lựa chọn</em>.” (Tiểu đoạn 8: <em>Những giấc mơ bụi bặm</em>). Đó là bi kịch của chiến tranh Việt Nam.</p>



<p>Chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến phức tạp, có kẻ nhìn nó dưới góc độ một cuộc chiến ủy nhiệm giữa hai khối Tư bản và Cộng sản trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh toàn cầu. Sự thật là sau khi tách cái vỏ bọc mạ vàng giả, gạt bỏ tất cả những khẩu hiệu tuyên truyền, đại loại như “chống Mỹ cứu nước” hoặc “bảo vệ tiền đồn tự do”, thì cuộc chiến ấy hiện nguyên hình là một cuộc nội chiến, anh em giết nhau, không hơn không kém. Sự lựa chọn bi thảm của một con người trong cuộc nội chiến xuất phát từ sự xung đột giữa nghĩa vụ đạo đức, bản sắc cá nhân và lưỡi răng cưa tàn bạo của cỗ máy lịch sử vô nhân tính. Không giống như các cuộc chiến tranh thông thường chống lại kẻ thù rõ ràng từ bên ngoài, nội chiến làm tan vỡ chính khung cảnh đạo đức. Nó xóa bỏ sự phân biệt giữa “chúng ta” và “họ”, biến hàng xóm thành kẻ thù, anh em thành đối địch, và lương tâm cá nhân thành một chiến trường tranh chấp khốc liệt. Bi kịch không chỉ nằm ở sự đau khổ hay mất mát, mà còn ở sự không thể tránh khỏi việc lựa chọn sai lầm, lựa chọn nào cũng là một lựa chọn mà cuối cùng đều đưa đến những hậu quả đau đớn, những thảm cảnh, chẳng những cho mình mà còn cho bao người khác.</p>



<p>Nó không phải sự tự do lựa chọn giữa thiện và ác; thay vào đó, con người buộc phải lựa chọn giữa những điều tốt đẹp nhưng lại mâu thuẫn với nhau. Lòng trung thành với gia đình có thể xung đột với lòng trung thành với phe phái mình ủng hộ; lòng trung thành với nguyên tắc đạo đức có thể mâu thuẫn với sự sống còn; lòng trung thành với sự thật có thể gây nguy hiểm cho những người thân yêu. Bất kể con đường nào được lựa chọn, hắn đều phản bội điều gì đó thiết yếu đối với bản sắc của mình. Hành động lựa chọn không giải quyết được xung đột, nó vĩnh viễn bị đóng đinh vào tính cách của hắn.</p>



<p>Nội chiến cũng phá hủy chuẩn mực của sự rõ ràng về đạo đức. Trong lý luận đạo đức thông thường, trách nhiệm dẫn đến một khuôn khổ giá trị ổn định. Nội chiến phá vỡ khuôn khổ đó. Mỗi bên đều tuyên bố tính hợp pháp, công lý và sự cần thiết. Sự tuyên truyền, đe dọa, nỗi sợ hãi, lòng bất mãn, vv., làm méo mó nhận thức, khiến hắn gần như không thể biết liệu mình đang bảo vệ công lý và chính nghĩa hay đang phá hoại cho đất nước trở nên tan hoang. Người chọn một phe thường làm như vậy trong điều kiện bất ổn cực đoan, bởi biết rằng sự phán xét trong tương lai – bởi lịch sử hoặc bởi lương tâm của chính mình – có thể lên án hắn.</p>



<p>Một khía cạnh bi thảm khác là sự cưỡng bức được ngụy trang dưới dạng lựa chọn. Trong một cuộc nội chiến, trung lập thường bị xem là phản bội. Một con người có thể bị buộc phải chiến đấu không phải vì hắn tin tưởng, mà vì từ chối có nghĩa là chết, tù đày, gia đình bị liên lụy. “Sự lựa chọn” của hắn trở thành hành động sinh tồn chứ không phải niềm tin. Tuy nhiên, ngay cả hành động bị cưỡng bức cũng để lại hệ quả đạo đức. Hắn phải sống với những gì mình đã làm, ngay cả khi hắn chưa bao giờ thực sự muốn điều đó. Bi kịch xuất hiện ở đây từ khoảng cách giữa ý chí và trách nhiệm: hắn phải chịu trách nhiệm về những hành động mà hắn không thể nào tránh khỏi.</p>



<p>Chiến đấu trong một cuộc nội chiến thường đòi hỏi phải phi nhân hóa những người từng thân quen – những người nói cùng một ngôn ngữ, chia sẻ cùng phong tục, cùng một lịch sử. Giết một kẻ thù như vậy gây ra vết thương sâu sắc hơn so với giết một người lạ, bởi nó hủy diệt một thế giới chung. Ngay cả khi mục đích là chính đáng, hành động đó vẫn làm xói mòn bản chất đạo đức của con người. Hắn không chỉ đối mặt với nguy cơ tử vong, mà còn đối mặt với nguy cơ trở thành một người vong thân không thể nào hoàn toàn hòa giải với con người trước đây của mình.</p>



<p>Nội chiến cũng đặt ra một lựa chọn bi thảm giữa hành động và tội lỗi. Hành động là tham gia vào bạo lực và bất công; không hành động là cho phép bạo lực và bất công hoành hành không kiểm soát. Điều này phản ánh một vở bi kịch Hy Lạp cổ điển, trong đó mọi hành động có thể đều vi phạm một giá trị thiêng liêng nào đó. Con người bị mắc kẹt trong một tình thế tiến thoái lưỡng nan về đạo đức, nơi hắn làm gì hay không làm gì đều có tội như nhau. Bi kịch của hắn không phải là hắn lựa chọn sai lầm, mà vì cái thế giới hắn ở bên trong đã được cài đặt để bất kỳ chọn lựa nào cũng sai lầm.</p>



<p>Cái bi kịch ấy không chấm dứt sau khi chiến tranh kết thúc. Con người phải sống trong một xã hội có những ký ức khác biệt so với hắn. Người chiến thắng viết nên lịch sử; người thua cuộc mang theo sự im lặng. Những hành động từng được ca ngợi là anh hùng có thể sau này bị coi là tội ác, hoặc ngược lại. Hòa giải đòi hỏi sự quên lãng, nhưng lương tâm lại chống lại sự xóa bỏ. Con người trở thành một mâu thuẫn sống – vừa là người tham gia vừa là người chứng kiến, vừa là nạn nhân vừa là thủ phạm – không thể hoàn toàn biện minh hay hoàn toàn hòa giải. Theo nghĩa này, lựa chọn bi thảm của con người trong chiến tranh không phải là một khoảnh khắc mà là một trạng thái tê liệt kéo dài suốt đời. Nó tiết lộ một sự thật cơ bản về đời sống đạo đức của con người dưới áp lực cực đoan: rằng bi kịch không phát sinh từ sự yếu đuối về tính cách, mà từ những tình huống mà trật tự đạo đức tự thân sụp đổ. Nội chiến cho thấy sự mong manh của đạo đức, và cái giá phải trả để giữ được nhân tính khi lịch sử không cho phép ai có được một đôi bàn tay sạch sẽ và sự minh triết trong sáng.</p>



<p>Tôi đã đọc cuốn tiểu thuyết <em>Có những kẻ đi mãi không về</em> của nhà văn Nguyễn Viện (hay bất cứ một cuốn sách lịch sử cũng như văn học nào về chiến tranh Việt Nam) với tâm trạng như trên.</p>



<p>4.</p>



<p>Cuộc chiến nào cuối cùng rồi cũng kết thúc, nhưng gã Thạch Xung không tìm được nơi chốn an thân mà vẫn tiếp tục cuộc trốn chạy.</p>



<p>Thời chiến tranh lúc chạy về thành phố, gã gặp lại Thị, và khi biết ra hai người là anh em cùng cha khác mẹ, gã xem Thị như người em gái. Thị được xem là hoa khôi trong các chốn ăn chơi có lính Mỹ lui tới và được một người lính Mỹ tên James yêu thương lấy làm vợ. Thị theo anh ta về Mỹ sinh sống. Thạch Xung cũng gặp một cô gái tên Mimi Đen, một cô gái lớn lên trong thời loạn, sống buông thả, bất cần. Cô gái bám chặt gã trong bất kỳ cảnh huống nào, dù là khi gã đội lốt tu hành. Cuộc sống như bào ảnh. “<em>Không phải sống, cũng không phải chết. Một cảnh giới vượt thoát mọi giới hạn, nhưng không phải niết bàn, mà chỉ là nhất thể hoá ba la mật, chân như thực tại.</em>” (Tiểu đoạn 10: <em>Đào thoát</em>).</p>



<p>Cuộc sống ấy, như chúng ta đều biết, là một cuộc sống không có ngày mai, ngay cả khi đất nước thống nhất, hòa bình trở lại, khi xã hội đầy bất công, phi lý, khi con người bị phân biệt đối xử như súc vật. Gã vẫn sống với Mimi Đen, cả hai bươn chải kiếm sống, tình yêu ấy vẫn còn, nhưng là một thứ tình yêu bị đầu độc.</p>



<p>“<em>Tình yêu để kết sinh hoa trái nhưng tình yêu đã bị đầu độc. Bản năng và khao khát làm mẹ của Mi bị bóp chết nhưng nàng không dám ép Thạch Xung, bởi nàng biết hiện tại của họ mong manh bất trắc, mà tương lai thì không ai dám tin</em>.” (Tiểu đoạn 13: <em>Đường dài</em>).</p>



<p>Cứ thế diễn tiến, phần I của cuốn tiểu thuyết chấm dứt với những nốt nhạc đượm buồn, chua xót trong câu nói của Thạch Xâm: “<em>Chiến tranh hay hoà bình, lịch sử hay cuộc sống vẫn là cái cối xay thịt</em>.” (Tiểu đoạn 13: <em>Đường dài</em>).</p>



<p>Trong phần II của cuốn tiểu thuyết, Thạch Xung từ chủ thể ngôi thứ ba trở thành ngôi thứ nhất, và lúc này đã là một ông già bảy mươi tuổi. Từ hòa bình tới chiến tranh rồi trở lại hòa bình, nhưng bao giờ ông cũng cảm thấy bị mắc kẹt giữa gọng kềm của kiếp sống. Hòa bình là một cuộc chiến khác không tiếng súng. Thế rồi, ông tự an ủi rằng dẫu sao ông sống sót, và ông tìm về sống trong ngôi làng Rume xưa cũ của ông. Rất khó khăn cho ông làm thế, không chỉ vì tiền bạc mà còn bởi một ký ức mà ông muốn xóa nhòa. Trở về ngôi làng xưa là một cách thế hòa giải với chính con người ông, bởi nó chính là món bảo vật linh thiêng nuôi dưỡng tâm hồn ông suốt đời người. “<em>Tôi đã gìn giữ cái huyền hoặc ấy cho suốt cuộc đời mình như một thứ gia bảo. Đồng thời, tôi cũng bị dập vùi trong hiện thực khốc liệt của con người, một cách trần trụi nhất mà tôi không thể trốn chạy, dù tôi luôn trốn chạy</em>.” (Tiểu đoạn 1, Phần II: <em>Ký ức của mùi</em>).</p>



<p>Lúc này Mimi Đen đã qua đời, Thị sống ở bên kia đại dương, những người thân yêu chẳng còn ai, ông Thạch về quê cũ Rume mua đất, dựng nhà làm lại từ đầu. Ngày ngày ông đi chăn bò, trồng rau, trồng cây, sống với những người dân quê lam lũ nhưng chân chất. Ông cũng vui vì có người bạn già, ông Giải phóng, vốn là người theo cách mạng dạo trước nhưng bị đánh bật ra ngoài như bao kẻ khác. Ông tạm ổn trong tuổi già, tự an ủi bằng ý nghĩ, “<em>Con người có thể tàn ác, bất chấp… nhưng tính người sẽ không bao giờ mất đi.</em>” (Tiểu đoạn 3, Phần II: <em>Mùi ở chân mây</em>). Ông an phận, vui với cuộc sống bình dị nơi thôn dã cho dù một hôm cơ ngơi của ông bị nhà nước nhân danh sự phát triển kinh tế cho xe ủi đất đến ủi bằng, cướp sạch. Ông chỉ cười, tự giễu, “… <em>Tôi chỉ là kẻ trốn chạy. Luôn luôn trốn chạy. Nên chẳng chẳng làm gì ra hồn</em>.” (Tiểu đoạn 5, Phần II: <em>Mùi chuột đồng</em>).</p>



<p>Ông Thạch cũng vui vì có một tình yêu khác với người phụ nữ thông minh lịch lãm tên Lữ Thảo, nhưng Lữ Thảo đến đến đi đi và cuối cùng cô đi luôn, không bao giờ trở lại. Chẳng còn thiết tha chạy theo cuộc sống nữa, ông dựng một cái am tre mãi tận thượng nguồn xa vắng của dòng suối, đêm đêm gõ mõ tụng kinh. Niềm an ủi sau cùng là trong những ngày cuối đời ông có người đàn bà quê mùa gốc Miên săn sóc ông, chính cô là người viết hai chữ THẠCH XUNG lên mộ chí của ông bên bờ suối. Kết thúc một đời người.</p>



<p>5.</p>



<p>Cuốn tiểu thuyết được viết với một văn phong bàng bạc tính hiện thực huyền ảo, đôi khi như phi thực, tuy không sử dụng những thủ pháp hiện đại như siêu hư cấu hoặc dòng ý thức. Chủ yếu của cuốn tiểu thuyết vẫn là miêu thuật một câu chuyện. Câu chữ mạnh mẽ, có lúc sống sượng, như muốn lột tả tính cách tàn bạo của điều muốn thuật. Cấu trúc truyện được viết theo tự sự biên niên, có những đoạn chuyển mạch bất ngờ. Bối cảnh truyện là lịch sử nhưng không đi sâu vào biến cố, cũng không đào sâu tâm lý nhân vật. Tự sự được sử dụng như những nét chấm phá trên một toàn cảnh dàn trải rộng lớn, và những chấm phá tự sự đó nối kết nhau để tạo nên mặt dệt của cuốn truyện.</p>



<p>Nhà văn Nguyễn Viện có tham vọng tóm gọn một đời người trong cuốn tiểu thuyết trên bốn mươi nghìn từ ấy, từ lúc sinh ra đời cho đến khi nhắm mắt xuôi tay trở về cát bụi. Cuốn tiểu thuyết là khúc giao hưởng buồn bã nói lên toàn bộ sự phi lý của kiếp người. Sống là trốn chạy. Sống trong thất lạc. Mọi chọn lựa đều vô nghĩa, đều đem đến cho bản thân sự hủy diệt.</p>



<p>Tự thân cuộc sống vốn là vô nghĩa, nó dửng dưng với ta một cách phi lý. Câu hỏi mang tính hiện sinh là, ta phải làm gì khi đối đầu với nó. Triết gia Jean-Paul Sartre có câu trả lời rất giản dị và dễ hiểu: Bởi hiện thể đi trước bản thể, điều đó có nghĩa là sự quan tâm hàng đầu cho mỗi cá nhân là chính cá nhân đó – một con người (“hiện thể”) độc lập trong hành động và có trách nhiệm, có ý thức – không phải cái gì thuộc về nhãn hiệu, vai trò, khuôn mẫu, định nghĩa, hoặc những phân loại ước định khác gán ghép lên cá nhân đó (“bản thể”). Đời sống thực sự của cá nhân mới đích thực là cái cấu tạo nên “chân bản thể” của hắn, không phải một bản thể do kẻ khác tùy tiện áp đặt lên hắn, định nghĩa hắn là gì. Do đó, con người, xuyên qua ý thức bản thân, kiến tạo nên giá trị cho chính mình và định hình một ý nghĩa cho cuộc sống.</p>



<p>Nói cho cùng, sống là đấu tranh và cuộc đấu tranh không hẳn là toàn bộ câu chuyện.</p>



<p>Chúng ta không ngừng cố gắng vượt qua cuộc sống bởi vì sự đấu tranh gắn liền với ý nghĩa. Nỗi đau, những nỗ lực và sự bất định là cái giá phải trả cho việc quan tâm đến điều gì đó – sự sống còn, tình yêu, sự phát triển, phẩm giá. Nếu không có gì quan trọng, sẽ không có đấu tranh… nhưng cũng sẽ không có lý do để thức dậy mỗi sáng.</p>



<p>Sự đấu tranh là bằng chứng của giá trị. Chúng ta không chiến đấu vì những điều vô nghĩa đối với mình. Chính việc cuộc sống cảm thấy khó khăn có nghĩa là có điều gì đó quan trọng trong đó.</p>



<p>Hơn nữa, chúng ta được tạo hóa ban cho hy vọng. Về mặt sinh học và tâm lý, con người được tạo ra để tìm kiếm sự giải thoát, sự cải thiện và những khả năng – ngay cả sau thất bại. Hy vọng không phải ngây thơ; nó là khả năng thích nghi.</p>



<p>Sự phát triển chỉ xảy ra khi có sự kháng cự. Sức mạnh vật thể, kỹ năng, tính cách, trí tuệ – tất cả đều hình thành bởi vì có điều gì đó chống lại.</p>



<p>Những khoảnh khắc quý giá bù đắp cho sự nỗ lực. Niềm vui, sự kết nối, vẻ đẹp, tiếng cười, tình yêu – những điều này không xóa bỏ nỗi đau khổ, nhưng chúng khiến nỗi đau khổ trở nên đáng chịu đựng.</p>



<p>Chính sự lựa chọn là sức mạnh. Ngay cả khi chúng ta không thể kiểm soát hoàn cảnh, việc lựa chọn cách phản ứng mang lại cho cuộc sống cảm giác chủ động thay vì chỉ đơn thuần là chịu đựng. Chúng ta không vượt qua cuộc sống để chiến thắng nó, mà để tham gia vào cuộc sống. Để nói rằng, “Tôi vẫn ở đây. Tôi vẫn đang lựa chọn.”</p>



<p>Và đôi khi, vào những ngày khó khăn hơn, câu trả lời đơn giản và nhẹ nhàng hơn: Chúng ta cố gắng bởi vì việc dừng lại, bỏ cuộc, là cái gì tồi tệ hơn là tiếp tục.</p>



<p>Khác với nhân vật Billy Pilgrim, trong cuốn tiểu thuyết <em>Lò sát sinh số Năm</em> của nhà văn Mỹ Kurt Vonnegut, từ chiến trận trở về tâm trí trở nên không bình thường, sống với những giấc mơ hoảng loạn, Thạch Xung của Nguyễn Viện may mắn hơn. Sau chừng ấy khổ đau và tuyệt vọng, ông vẫn tỉnh táo tìm được niềm vui an tĩnh ở cuối đời và có cái chết tương đối êm ả. Ta còn mong muốn gì hơn thế?</p>



<p><em>– </em><strong>Trịnh Y Thư</strong></p>



<p>(California, Trọng Đông, 2026)</p>



<p>*</p>



<p><em>Có những kẻ đi mãi không về</em></p>



<p>Tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Viện</p>



<p>Nhân Ảnh xuất bản</p>



<p>Giá US$20.00</p>



<p>Sách có bán trên amazon.com. Xin bấm vào đường dẫn sau:</p>



<p><a href="https://www.amazon.com/C%C3%B3-Nh%E1%BB%AFng-M%C3%A3i-Kh%C3%B4ng-Vietnamese/dp/B0GRD5W4W6/ref=sr_1_1?crid=36M9DPNUC7Z1F&amp;dib=eyJ2IjoiMSJ9.hw5oqTnpvmyytwz6xti00t03RJ3K76pCIDpqpLOOI_GNve4mfPaBI0jeMaQYZE1gYMM7k1b9TGajD1p-RO2zzH6wBv1L08KOKt06buWJoOOq_MUazRghpOe5HiS4xs2-MBWyjRLvaPt1Biuis6HiEZDIpQOF_QJG5m5R8IchHmOd6v2Lp-xYTTLM-1U7RYe_3NvBPiRT-ac5WNGmcyMLFkkH1BBPiiaaC6oDzthca9g.spW3tXzF5v_1yoFwJ-YHeMi5bPuNyPUKFnrsxJfRORI&amp;dib_tag=se&amp;keywords=Co+nhung+ke+di+mai+khong+ve&amp;qid=1772912358&amp;sprefix=co+nhung+ke+di+mai+khong+ve%2Caps%2C186&amp;sr=8-1">Amazon.com: Có Những Kẻ Đi Mãi Không Về (Vietnamese Edition): 9798295678660: Vien, Nguyen: Books</a></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Trịnh Y Thư: Tino Cao: Người không khoan nhượng với Lịch sử truyền thống</title>
		<link>https://t-van.net/trinh-y-thu-tino-cao-nguoi-khong-khoan-nhuong-voi-lich-su-truyen-thong/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Trịnh Y Thư]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 05 Mar 2026 07:37:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[phê bình]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=87514</guid>

					<description><![CDATA[1. Giải Văn Việt lần thứ Mười Một, năm 2025, thể loại Nghiên cứu Phê bình đã được công bố hôm 3/3/2026: Nhà phê bình Tino Cao. Trong tư cách là một trong năm thành viên Ban Xét giải, tôi xin có đôi điểu nhận xét đơn sơ về nhà phê bình Tino Cao. Một [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/03/image001.png?strip=all&w=2560"><img decoding="async" width="382" height="197" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/03/image001.png?strip=all" alt="" class="wp-image-87515" style="width:536px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/03/image001-300x155.png 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/03/image001.png?strip=all 382w" sizes="(max-width: 382px) 100vw, 382px" /></a></figure></div>


<p>1.</p>



<p>Giải Văn Việt lần thứ Mười Một, năm 2025, thể loại Nghiên cứu Phê bình đã được công bố hôm 3/3/2026: Nhà phê bình Tino Cao.</p>



<p>Trong tư cách là một trong năm thành viên Ban Xét giải, tôi xin có đôi điểu nhận xét đơn sơ về nhà phê bình Tino Cao.</p>



<p>Một nhà phê bình văn học không chỉ đơn thuần là người “yêu sách vở” hay có vốn từ vựng phong phú, biết khéo léo sử dụng những thuật ngữ văn học lạ tai để tô điểm cho bài nghiên cứu phê bình của mình mang vẻ hàn lâm trí tuệ, mà là người biết kết hợp chặt chẽ giữa trí tuệ với một loại cảm thông giàu trí tưởng tượng. Họ có thể phân tích một văn bản một cách chính xác đồng thời cảm nhận được những cộng hưởng về mặt cảm xúc, lịch sử và văn hóa của nó.</p>



<p>Tôi rất tâm đắc với quan niệm “đọc” của nhà phê bình văn học Bùi Vĩnh Phúc. Theo anh, một tác phẩm văn học là một thế giới “mở”, nó cho phép người đọc đi vào bằng những cánh cửa khác nhau, một thế giới chấp định, bởi nó có thể chứa đựng trong đó muôn trùng lớp nghĩa; ý nghĩa của nó không bao giờ là một ý nghĩa chung cuộc, dứt khoát, nó có thể thay đổi tùy theo cái nhìn, góc nhìn của người đọc, tùy theo thái độ quan sát, trải nghiệm sống, tri thức, tâm lý của người đọc ấy.</p>



<p>Tino Cao là một người đọc, một nhà phê bình như vậy. Anh mở một cánh cửa đi vào cõi văn chương mà không chấp nhận, hoàn toàn không khoan nhượng, một chủ thuyết hay chủ nghĩa nào. Cái đọc của anh là một khả thể cá thể, nó chấp nhận những khả thể khác, không nhất thiết phải giống anh, bằng một cánh cửa khác, cùng đi vào ngôi nhà văn chương. Cái anh tìm kiếm không phải chân lý, mà là một trong nhiểu khả lý khác nhau.</p>



<p>Anh đọc kỹ, chăm chú, nhận thấy những mô-típ, chủ đề, sự thay đổi giọng điệu và những lựa chọn cấu trúc mà người đọc thông thường bỏ sót. Anh giải thích cách một văn bản tạo ra hiệu ứng của nó như thế nào, không chỉ là những gì xảy ra, mà những gì <em>không</em> xảy ra. Đó chính là những câu chữ không được viết xuống, những dấu lặng trong tấu khúc giao hưởng, những ý nghĩa giữa những hàng chữ, mà nếu ta không nhận thức được thì tác phẩm văn học đối với ta trở thành xơ cứng, nhạt nhẽo, thậm chí vô nghĩa.</p>



<p>Phê bình truyện ngắn <em>Lòng trần</em> của nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ, Tino Cao viết: “<em>Nguyễn Thị Thụy Vũ triển khai toàn bộ cấu trúc truyện như một phép thử về giới hạn của đạo đức và về sự bất khả của việc tách linh hồn ra khỏi thân thể. Tác phẩm không đặt câu hỏi ‘Con người có thể thoát tục hay không’ mà truy xét một vấn đề sâu hơn: bản thể của con người được cấu thành bởi điều gì, tinh thần hay thân xác, hay chính là sự căng kéo giữa hai miền ấy</em>.”</p>



<p>Chính những suy ngẫm như thế đã làm nên nhà phê bình. Tino Cao không chỉ lặp lại những ý kiến ​​thời thượng hay những quan điểm chính thống trong giới học thuật, anh tự sắm cho mình một thứ triết lý, không hẳn phải nằm trong một triết hệ tiên nghiệm, mà rất đời thường.</p>



<p>Cũng trong bài viết về Nguyễn Thị Thụy Vũ, anh viết: “<em>Cái tên </em><em>Lòng trần</em><em>&nbsp;vì thế không phải là một tiếng thốt cảm thán mà là một cách định nghĩa. Con người, dù ở đâu, dù khoác áo gì, vẫn mang trong mình một lòng trần không thể xóa. Và chính lòng trần ấy là nơi bắt đầu của mọi nhận thức, mọi đạo lý, mọi ý tưởng sáng tạo cho nghệ thuật được xuất hiện và đồng hành với con người trong cõi nhân sinh</em>.”</p>



<p>Tôi nghĩ đây chính là điểm mạnh của Tino Cao trong lĩnh vực phê bình. Anh không dựa nhiều vào các triết luận Tây phương (nhiều khi rất xa lạ với người đọc Việt Nam), mà là những nhận thức đời thường, vốn từng ăn sâu vào tâm thức người đọc, nhờ đó, dễ tiếp cận và tiếp nhận hơn.</p>



<p>Trong thiên tiểu luận về truyện ngắn <em>Tặng phẩm của dòng sông</em>&nbsp;của nhà văn quá cố Nhật Tiến, anh viết: “… <em>vì thế không chỉ là truyện ngắn hiện thực về chiến tranh. Nó là một văn bản suy tưởng về sự phân rã của đạo đức và của ký ức, về nhân dạng con người khi bị hoàn cảnh ép đến khô kiệt.&nbsp;[…] </em><em>Tặng phẩm của dòng sông</em><em>&nbsp;không chỉ là một lát cắt hiện thực mà còn khắc vào ký ức người đọc hình ảnh một vùng tối của lịch sử, nơi nhân tính phải cầm cự trước một hiện thực phi lý đến nghẹt thở.”</em><em></em></p>



<p>Nhận thức về lịch sử và văn hóa, nhà phê bình hiểu thế giới mà một văn bản xuất phát từ đó: chính trị, ngôn ngữ, những căng thẳng xã hội, thực tại phi lý. Đặt một tác phẩm trong bối cảnh lịch sử văn học để cho thấy nó phản ánh hoặc thách thức các truyền thống trước đó như thế nào. Lịch sử, trong mắt Tino Cao, không hẳn chỉ là nghịch cảnh tàn bạo, mà còn va chạm đến bản thể con người bị phân rã toàn diện khi đứng trước vực thẳm. Bi kịch của Lịch sử không hẳn chỉ ở cảnh máu lửa khổ đau mà ở chỗ nhân tính bị triệt tiêu.</p>



<p>2.</p>



<p>Nói Tino Cao không xem triết học là yếu tố quan trọng trong phê bình văn học là không hoàn toàn đúng đắn. Sự thật là anh đã đem tư tưởng Triết học Hiện sinh của Jean-Paul Sartre và Albert Camus làm nền tảng cho luận điểm của mình về dục tính trong các tác phẩm tiểu thuyết của nhà văn Nhật Bản Haruki Murakami. Trong mắt nhìn của anh, khoảnh khắc hai thân thể nhập vào nhau trong tiểu thuyết Murakami là khoảnh khắc vong thân, khi “<em>con người đối diện rõ ràng nhất với sự cô đơn tuyệt đối của bản ngã, mà tự nó, đã là cốt lõi sâu thẳm của tồn tại</em>.” Nó mang sắc thái của “<em>địa ngục là tha nhân</em>” trong Triết học Hiện sinh của Jean-Paul Sartre, hay, xa lạ và khó liên tưởng hơn, là cái phi lý của hiện tồn trong Triết học Hiện sinh Phi lý của Albert Camus. Sự cô đơn của con người đến từ lòng khát khao muốn nhận thức một ý nghĩa bên trong một vũ trụ hoàn toàn dửng dưng, im lặng. Con người là một “kẻ lạ” sống trong một thế giới phi lý, vô ý nghĩa, nhưng theo Camus, thì phản ứng thích hợp để đối đầu với sự phi lý là hãy sống cho có mục đích và mãnh liệt, hầu tạo ra ý nghĩa của riêng ta trong một vũ trụ không có ý nghĩa nào.</p>



<p>Triết học và Phê bình Văn học luôn gắn bó mật thiết với nhau, cả hai đều là những ngành học cùng chia sẻ mối quan tâm sâu sắc đến ý nghĩa, sự diễn giải và bản chất của trải nghiệm con người. Triết học cung cấp cơ sở luận giải cho những câu hỏi mà Phê bình đặt ra, bởi Phê bình không bao giờ chỉ là câu hỏi “Cuốn sách này có hay không?” mà là “Văn bản này tiết lộ điều gì.” Hầu như tất cả những phạm trù Triết học như Chân lý, Bản sắc, Đạo đức, Tự do, Quyền lực, Cái Đẹp, vv., đều ít nhiều giao thoa với văn học. Một nhà phê bình khi đặt câu hỏi “Cuốn tiểu thuyết này nói gì về thân phận con người?” thì mặc nhiên người đó đã đang mặc áo triết gia rồi.</p>



<p>Tino Cao là một nhà phê bình như thế.</p>



<p>Tuy vậy, mặc dù có nêu tư tưởng Hiện sinh làm cơ sở lý luận cho văn chương của Murakami, của Nguyễn Tuân trong tác phẩm Chùa đàn, vv., nhưng Tino Cao có vẻ “mặn mà” hơn với Triết học Đông phương được thể hiện trong hệ tư tưởng Phật giáo Đại thừa. Có lẽ bởi thế anh đã dành khá nhiều câu chữ viết về hai vị cao tăng danh tiếng trong lịch sử Phật giáo Việt Nam thời hiện đại: Thích Tuệ Sỹ và Thích Trí Quang. Anh đặc biệt kính ngưỡng Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ. Trong bài viết nhan đề <em>Nhớ Thầy trong Piano Sonata 14</em>, anh viết: “<em>Trước mặt tôi không phải một nhân vật được bao phủ bởi nhiều huyền thoại mà là một người gầy gò, tĩnh lặng và an nhiên đến lạ. Ánh mắt Thầy sáng trong và chất chứa sự sâu lắng của một người đã đi qua nhiều biến cố mà không để chúng xô lệch phần cốt lõi bên trong.</em>” Và, ở một đoạn khác, “… <em>Ở đó có cái gì gần với huyền ảo, nhưng không phải huyền bí tôn giáo. Nó gần với cảm thức rằng có những người đã đi qua đến tận bên lề của cái-gọi-là thực tại, nhìn rõ bộ mặt bấp bênh của nó, rồi quay về với một cái nhìn trong sáng hơn.</em>”<em></em></p>



<p>Nói cho cùng, “<em>bên lề của cái-gọi-là thực tại” </em>của Tuệ&nbsp; Sỹ phải chăng chính là <em>“vũ trụ dửng dưng, im lặng” </em>của Camus, và hành động “<em>quay về với một cái nhìn trong sáng hơn</em>” của Đông phương thì đồng nghĩa với hành trạng “<em>phản ứng thích hợp để đối đầu với sự phi lý là hãy sống cho có mục đích và mãnh liệt, hầu tạo ra ý nghĩa của riêng ta trong một vũ trụ không có ý nghĩa nào” </em>của Tây phương?</p>



<p>Tino Cao dấn thêm một bước nữa đi sâu hơn vào biện biệt đạo-đời trong bài tiểu luận <em>Huyền thoại Duy-ma-cật: Triết học của trí tuệ bất nhị và đời sống nhập thế.</em></p>



<p><em>Huyền thoại Duy-ma-cật </em>là một chuyên luận của Tuệ Sỹ, mà theo Tino Cao, tác phẩm không chỉ là một thiên khảo cứu về kinh điển Đại thừa mà còn là một cuộc đối thoại mở giữa triết học, văn chương và tâm linh. Anh lý luận, “<em>vì đạo không nằm ngoài cuộc sống mà chính là cách con người hiện diện trong từng hoàn cảnh với sự tỉnh thức và trí tuệ</em>” nên “<em>người giác ngộ không cần trốn khỏi thế giới mà cần thấy rõ bản chất của nó bằng con mắt không phân biệt. Tự do, theo tinh thần ấy, không đến từ sự cắt đứt với đời mà từ khả năng sống giữa đời mà không bị đời chi phối.”</em></p>



<p>Kỳ thực, ý niệm này không mới, nó chính là tư tưởng chủ đạo trong khái niệm “<em>Cư trần lạc đạo</em>”, vốn là một trong những ý niệm đẹp đẽ và độc sáng nhất trong tư tưởng Phật giáo Việt Nam, thể hiện triết lý tâm linh của Tôn giả Trần Nhân Tông một cách rõ ràng đáng kinh ngạc. Thoạt nhìn có vẻ đơn giản, nhưng hàm ý của nó lại vô cùng sâu sắc.</p>



<p>“<em>Cư trần lạc đạo</em>” xuất phát từ bài <em>Cư trần lạc đạo phú</em> của vua Trần Nhân Tông, và ta có thể hiểu theo nghĩa đen là: “Sống trong thế gian, nhưng hãy vui hưởng trong Đạo.” Nó thể hiện một nhận thức cốt lõi của truyền thống Thiền học Trúc Lâm: Bạn không cần phải trốn tránh thế gian để đạt được giác ngộ. Bạn có thể sống trọn vẹn trong xã hội – làm việc, cai quản, nuôi dạy gia đình, yêu đương, đối mặt với xung đột – mà vẫn có thể tu tập hoàn thiện để giác ngộ. Đây là khác biệt lớn lao so với định kiến ​​về sự từ bỏ thế tục trong Phật giáo.</p>



<p>Triết lý đằng sau khái niệm của Trần Nhân Tông dựa trên ý tưởng: Giác ngộ không ở nơi khác. Ngài bác bỏ ý tưởng cho rằng giải thoát tâm linh đòi hỏi phải rời bỏ xã hội, phải từ bỏ trách nhiệm, phải lui về non cao rừng thẳm hay vào chùa sinh sống, vv. Thay vào đó, cái “thế giới bụi bặm” (<em>trần</em>) này tự nó là lĩnh vực, môi trường tu tập, tự nó là nơi chốn cho ta hành đạo. Điều này phù hợp với sự nhấn mạnh của Thiền tông về tính bất nhị: Không có sự phân biệt nghiêm ngặt giữa thiêng liêng và trần tục.</p>



<p>Đó cũng là ý nghĩa mà Tino Cao rút tỉa từ cuốn sách của Tuệ Sỹ khi anh viết, “… <em>Kinh nghiệm bất nhị mà Duy-ma-cật nêu ra không khiến con người rút lui khỏi thế giới mà giúp họ hiện diện trong thế giới với sự tỉnh táo. Đó là khả năng tham dự mà không bị cuốn trôi, biết phân biệt đúng sai nhưng không dựng lên bức tường hận thù, biết dấn thân mà không để mình bị đốt cháy trong cơn giận dữ hay ảo tưởng cứu rỗi</em>.”</p>



<p>Lý thuyết là vậy, nhưng thực hành là chuyện khác. Đem ánh sáng trí tuệ của Phật học vào đời sống hằng ngày – sống giữa đời trần tục mà không đánh mất cái tâm, hành đạo giữa đời hầu tìm kiếm con đường giác ngộ – không phải là chuyện ai cũng làm được một cách dễ dàng.</p>



<p>3.</p>



<p>Tino Cao không dừng ngòi bút của mình tại đường biên thông thường của văn chương chữ nghĩa, anh là người quan tâm đến xã hội với tất cả&nbsp; những xô lệch của Lịch sử, những điều tàn bạo phi lý của chiến tranh. Với tấm lòng nhân hậu và cái nhìn nhân bản, anh đã kết nối văn chương của nhà văn Han Kang (giải Nobel Văn học, 2024) với cuộc thảm sát người dân Palestine tại Dải Gaza trong thời điểm hiện tại. Anh viết, “… <em>Đọc Han Kang lúc này không còn là một thao tác đánh giá Nobel đã lựa chọn “đúng” hay “sai” mà là một nỗ lực đặt lại câu hỏi căn bản hơn về khả năng và giới hạn của văn chương khi đối diện với thảm sát. Văn chương làm chứng vận hành ra sao khi bạo lực không phải là sự kiện đã khép lại mà là một tiến trình được tổ chức, hợp thức hóa và tái diễn dưới những hình thức khác nhau của quyền lực đế quốc và các thiết chế phụ thuộc vào nó</em>.”</p>



<p>Đối với Tino Cao, văn chương không thuần túy chỉ là một nghệ thuật làm đẹp nhằm thỏa mãn các nhu cầu trí thức, mà phải “<em>gắn chặt với hiện tại khi mà bạo lực chiến tranh vẫn tiếp diễn và không ngừng tìm kiếm sự hợp thức hóa</em>.”</p>



<p>Tôi chẳng thể nào không đồng ý với anh, bởi văn học luôn là một trong những phương thức mạnh mẽ nhất của nhân loại để chống lại nỗi kinh hoàng của chiến tranh, không phải bằng cách lên án sự tàn bạo của nó (sự tàn bạo, chính nó đáng bị phỉ nhổ rồi), mà bằng cách làm cho nó trở nên hữu hình, dễ liên tưởng suy ngẫm và biến thành lời kêu gọi cấp bách về mặt đạo đức. Khi nhìn vào các nền văn hóa và các thế kỷ khác nhau, bạn sẽ thấy cùng một mô hình: văn học trở thành một lực lượng đối trọng với bạo lực, bởi vì nó có thể làm được những điều mà các bài phát biểu chính trị, số liệu thống kê và báo cáo chiến trường không thể làm được.</p>



<p>Văn học khôi phục lại bộ mặt con người mà chiến tranh đã xóa bỏ.</p>



<p>Chiến tranh biến con người thành những con số, mục tiêu, hoặc đưa ra những khái niệm trừu tượng như “kẻ thù”, “chiến thắng” hoặc “sự hy sinh”, “đấu tranh”, vv., trong lúc văn học đảo ngược quá trình đó. Một cuốn tiểu thuyết, một bài thơ, một cuốn hồi ký mang lại tên tuổi, ký ức, đời sống nội tâm, sự mâu thuẫn, nỗi sợ hãi và hy vọng của con người trở lại với thực tại. Đây là lý do vì sao những tác phẩm như <em>Tất cả yên tĩnh tại mặt trận miền Tây</em> của Erich Maria Remarque; <em>Lò sát sinh số Năm</em> của Kurt Vonnegut; <em>Những thứ họ mang theo</em> của Tim O’Brien; <em>Nỗi buồn chiến tranh</em> của Bảo Ninh, hay cuốn hồi ký tù <em>Đêm giữa ban ngày</em> của Vũ Thư Hiên, cùng rất nhiều tác phẩm chiến tranh khác, mang tính phản kháng mạnh mẽ. Những tác phẩm văn học này khẳng định rằng mỗi con người, mỗi nạn nhân, là một ý thức nội tại có ý nghĩa, chứ không phải một biểu tượng, một con số vô cảm trong Lịch sử.</p>



<p>Cùng một biểu cảm như vậy, và với giọng điệu đầy thách thức, Tino Cao viết, “… <em>Giá trị của văn chương nằm ở việc phá vỡ trạng thái chấp nhận đã trở nên quen thuộc đối với thế giới đang tồn tại</em>.”</p>



<p>Tino Cao cũng quan tâm đến khí hậu và môi trường của các sinh hoạt tri thức trong quốc gia Việt Nam. Trong bài viết, nửa tường thuật nửa phê bình, <em>Việt Nam học và câu hỏi về cơ chế tri thức</em>, anh đưa ra nhận xét về một mâu thuẫn mà người trong giới xưa nay đều thấy rõ: “… <em>Tri thức được khuyến khích nhưng vẫn phải được kiểm soát; học thuật được tôn vinh nhưng không được phép vượt khỏi khung giới hạn của hệ tư tưởng</em>.”</p>



<p>Điều này là hiển nhiên, bởi đè nặng lên đất nước Việt Nam cho đến ngày nay, hơn năm mươi năm sau khi chiến tranh chấm dứt, vẫn là một cơ cấu thể chế độc tài đảng trị, toàn trị, công an trị. Mọi phản biện đều bị quy chụp là phản động, và có thể bị tù đày, thậm chí chết chóc. Bởi thế, theo anh, “… <em>tri thức ở Việt Nam chưa bao giờ được xem như một lực lượng độc lập. Nó được gắn vào những mục tiêu chính trị, phát triển hoặc tuyên truyền, và vì thế, vai trò của học giả bị thu hẹp vào việc hợp thức hóa những định hướng đã được xác lập.</em>” […] <em>Khoảng cách giữa nghiên cứu và hành động, đó là vấn đề cốt lõi nhất của học thuật Việt Nam hiện nay. Các viện nghiên cứu không được vận hành như trung tâm tri thức độc lập mà như cánh tay nối dài của bộ máy hành chính. Nhà nghiên cứu không phải là người đặt câu hỏi mà là người viết báo cáo. Họ bị cuốn vào vòng xoáy của “nghiệm thu, đánh giá, tổng kết”, thay vì được khuyến khích phản biện, thảo luận, hoặc đặt vấn đề mới.</em>”</p>



<p>Những nhận xét và yêu cầu của Tino Cao trong bài viết nêu trên là chính xác và đúng đắn, không ai có thể phản bác lại được, nhưng thử hỏi, với một cơ chế lãnh đạo đất nước xem văn học, nói riêng, học thuật, nói chung, là công cụ tuyên truyền cho chính trị, thì biết đến bao giờ và làm thế nào tri thức Việt Nam mới có tự do trong tư tưởng, độc lập trong việc làm?</p>



<p>4.</p>



<p>Phải nói thêm về một ưu điểm khác nữa của Tino Cao, đó là, văn phong của anh mạch lạc, hấp dẫn và thường rất trau chuốt; ngoài phạm vi lý luận, Phê bình ở đây trở thành một hình thức văn học. Anh rất xứng đáng được giải Văn Việt, thể loại Nghiên cứu Phê bình năm 2025 này.</p>



<p>Ngoài ra, cũng xin thú thực với anh cùng các độc giả rằng tôi đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc xét giải, bởi giữa ba nhà phê bình được vào chung kết – Tino Cao, Nguyễn Hồng Anh và Đinh Thanh Huyền – tôi đã cảm thấy vô cùng lúng túng, không biết chọn ai, vì ai cũng có ưu điểm, vượt trội hơn bình thường. Nhưng rồi, tiếng chuông báo hiệu hết giờ của anh Hoàng Dũng réo gọi hối thúc bên tai khiến tôi phải lật đật đặt bút xuống…</p>



<p>Khó khăn. Lúng túng. Nhưng vui mừng. Vui mừng vì nhìn thấy sự trưởng thành, lớn mạnh của ngành Phê bình Văn học Việt Nam; dần dà nó thoát ra khỏi cái bóng ma ý thức hệ chính trị khiếp hãi, mà trong suốt bao nhiêu năm đè nặng lên tâm thức người viết và người đọc. Xin cảm ơn tất cả. Vì tất cả đã giúp người đọc nhìn nhận văn học như một phần của cuộc đối thoại rộng lớn hơn về ý nghĩa của việc làm người.</p>



<p>– <strong>Trịnh Y Thư</strong></p>



<p>(Tháng Hai, 2026)</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>J. Joyce: Một tai nạn thương tâm (Trịnh Y Thư chuyển ngữ)</title>
		<link>https://t-van.net/j-joyce-mot-tai-nan-thuong-tam-trinh-y-thu-chuyen-ngu/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Trịnh Y Thư]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 25 Feb 2026 06:22:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[truyện dịch]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=87324</guid>

					<description><![CDATA[Ông James Duffy cư ngụ ở Chapelizod [1] vì ông muốn sống càng xa càng tốt thành phố nơi ông là một công dân, và trong mắt ông, tất cả các vùng ngoại ô khác của Dublin đều chẳng dễ chịu, yên ả tí nào, trông nó mới mẻ một cách lố bịch, lại còn [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/02/kLVet7fc-image001.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="990" height="555" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/02/kLVet7fc-image001.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-87325" style="width:724px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/02/image001-300x168.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2026/02/image001-768x431.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/02/kLVet7fc-image001.jpg?strip=all 990w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Ông James Duffy cư ngụ ở Chapelizod [1] vì ông muốn sống càng xa càng tốt thành phố nơi ông là một công dân, và trong mắt ông, tất cả các vùng ngoại ô khác của Dublin đều chẳng dễ chịu, yên ả tí nào, trông nó mới mẻ một cách lố bịch, lại còn để lộ bộ mặt khoa trương một cách giả tạo. Phòng ông thuê nằm trong một ngôi nhà cũ kỹ, u ám. Từ cửa sổ phòng, ông có thể nhìn thấy khu nhà máy chưng cất rượu đã bỏ hoang từ lâu, hoặc phóng tia mắt ra xa về phía con sông cạn nước mà thành phố Dublin được xây dựng lên trên. Trên những bức tường cao của căn phòng không trải thảm, chẳng có tranh ảnh nào được treo. Ông tự mua sắm mọi đồ đạc trong phòng: một chiếc giường sắt màu đen, một bệ rửa mặt cũng bằng sắt, bốn chiếc ghế mây, một giá treo quần áo, một thùng đựng than, một tấm chắn và những thanh sắt cời lửa lò sưởi, một chiếc bàn vuông vức trên đó là bàn làm việc của ông. Mấy kệ gỗ trắng ăn vào hốc tường làm thành tủ sách. Giường ngủ được phủ bằng vải màu trắng, một tấm khăn hai màu đen đỏ phủ chân giường. Một chiếc gương nhỏ treo trên bệ rửa mặt. Ban ngày, một chiếc đèn chụp màu trắng đứng như món vật trang trí duy nhất trên bệ lò sưởi. Những cuốn sách trên kệ gỗ trắng được sắp xếp từ dưới lên trên theo khổ sách từ lớn đến nhỏ. Bộ <em>Wordsworth Toàn Tập</em> [2] nằm ở một đầu kệ dưới cùng và một bản sao <em>Sách giáo lý Maynooth, </em>được khâu vào bìa vải một cuốn sổ tay, nằm ở đầu kệ trên cùng. Các vật dụng dùng để viết luôn ở trên bàn. Trong ngăn kéo bàn có một bản dịch ở dạng bản thảo vở kịch <em>Michael Kramer </em>của<em> Hauptmann</em>, những chú thích hướng dẫn dàn dựng sân khấu được viết bằng mực tím và một tập giấy nhỏ được ghim lại bằng một chiếc ghim bằng đồng. Trên những mảnh giấy rời này, lâu lâu một hàng chữ được biên xuống và, trong một khoảnh khắc trớ trêu, tiêu đề một quảng cáo cho <em>Bile Beans </em>được dán lên tờ đầu tiên. Khi nhấc nắp bàn lên, một mùi hương thoang thoảng tỏa ra – mùi của những cây bút chì làm bằng gỗ bách hương còn mới, hoặc mùi một lọ keo, một quả táo chín nẫu bị bỏ quên.</p>



<p>Ông Duffy cảm thấy hãi sợ bất cứ điều gì cho thấy sự rối loạn về thể chất hoặc tinh thần. Một bác sĩ thời trung cổ có lẽ sẽ gọi ông là người bị sao Thổ chiếu mệnh [3]. Khuôn mặt ông, hằn trên đó là toàn bộ câu chuyện về những năm tháng của mình, mang màu nâu của những con phố Dublin. Trên cái đầu dài và khá to mọc mái tóc đen khô và bộ ria mép màu hung không che hết cái miệng khó nhìn. Gò má ông cũng khiến khuôn mặt trở nên có vẻ khắc nghiệt; nhưng không hề có sự khắc nghiệt trong đôi mắt; ánh mắt ông, khi nhìn thế giới từ bên dưới đôi lông mày màu hung, tạo ấn tượng về một người đàn ông luôn cảnh giác chào đón bản năng cứu rỗi ở người khác nhưng thường thất vọng. Đôi khi ông ở ngoài xa thân thể mình, xem xét hành động của chính mình với cặp kính cận thị đầy vẻ nghi ngờ. Ông có thói quen tự thuật kỳ lạ khiến ông thi thoảng nghĩ ra trong đầu một câu ngắn về bản thân mình có chủ ngữ ở ngôi thứ ba và vị ngữ ở thì quá khứ. Ông không bao giờ bố thí cho người ăn xin, bước đi của ông vững vàng, trên tay luôn cầm một cây can bằng gỗ phỉ rắn chắc.</p>



<p>Trong nhiều năm trời ông làm thu ngân cho một ngân hàng tư nhân tọa lạc trên phố Baggot. Sáng sáng ông đáp xe điện từ Chapelizod đến chỗ làm việc. Buổi trưa, ông ghé tiệm Dan Burke’s dùng bữa trưa – một cốc bia nhẹ và một khay nhỏ bánh quy làm bằng bột dong [4]. Đến bốn giờ, được tự do, ông dùng bữa tối tại một quán ăn ở phố George, nơi ông cảm thấy an toàn tách ra khỏi xã hội của đám trai gái trẻ trung trang phục bảnh bao, lộng lẫy ở Dublin, tiệm ăn cũng có sự trung thực nhất định trong thực đơn. Buổi tối, ông dành thời gian ngồi dạo chiếc đàn piano của bà chủ nhà dưới lầu hoặc đi bách bộ quanh vùng ngoại ô thành phố. Ông thích nhạc Mozart, vì vậy đôi khi ông đi xem một vở <em>opera</em> hoặc nghe một buổi hòa nhạc: đây là thú vui tiêu khiển duy nhất trong cuộc đời ông.</p>



<p>Ông không có bạn, không đi nhà thờ, không tín ngưỡng. Ông sống cuộc sống tinh thần của mình mà không có bất kỳ giao tiếp nào với người khác, ông chỉ đến thăm bà con họ hàng vào dịp Giáng Sinh và đưa họ ra nghĩa trang khi họ qua đời. Ông thực hiện hai nghĩa vụ xã hội này chỉ vì muốn lưu giữ một phẩm giá cũ xưa nhưng không hề nhượng bộ thêm bất cứ điều gì đối với các quy ước điều chỉnh cuộc sống xã hội. Ông cho phép mình nghĩ rằng trong một số trường hợp nhất định, ông sẽ cướp ngân hàng của mình nhưng, vì trường hợp này chắc chắn không bao giờ xảy ra, nên cuộc sống của ông diễn ra đều đặn – một câu chuyện không có cuộc phiêu lưu nào.</p>



<p>Một buổi tối, ông thấy mình ngồi cạnh hai người phụ nữ trong nhà hát Rotunda. Người nghe thưa thớt, không khí im ắng, như bằng chứng đau buồn về sự thất bại. Người phụ nữ ngồi cạnh ông đảo mắt nhìn quanh gian sảnh vắng tanh một hai lượt rồi thốt:</p>



<p>“Đáng tiếc, đêm nay chẳng có ai đến dự! Thật đáng buồn khi phải hát cho những băng ghế trống nghe.”</p>



<p>Ông xem lời nhận xét đó của người đàn bà như lời mời mọc nói chuyện. Ông ngạc nhiên khi thấy bà có vẻ tự nhiên, thoải mái chứ không ngượng ngùng lắm. Trong lúc nói chuyện, ông cố ghi nhớ hình ảnh bà thật sâu vào ký ức. Khi biết rằng cô gái trẻ ngồi bên cạnh là con gái bà, ông đoán mình phải trẻ hơn bà một hai tuổi gì đó. Khuôn mặt bà, hẳn là rất đẹp, mang vẻ thông minh, hiểu biết. Đó là một khuôn mặt trái xoan với những đường nét rõ ràng, sắc sảo. Đôi mắt xanh lam rất sẫm và kiên định. Ánh mắt hai người bắt đầu bằng một nét thách thức nhưng rồi trở nên bối rối như thể đang cố tình làm ra vẻ ngất ngây, bộc lộ trong giây lát một tính khí vô cùng nhạy cảm. Nhưng ánh mắt ấy nhanh chóng kềm chế lại, bản chất nửa kín nửa hở trở về với sự thận trọng, và chiếc áo khoác lông cừu hàng <em>astrakhan</em> của bà, ôm trọn bầu ngực đầy đặn, tỏ lộ nét thách thức rõ rệt hơn.</p>



<p>Ông gặp lại bà vài tuần sau đó tại một buổi hòa nhạc ở Earlsfort Terrace và lợi dụng những giây phút cô con gái không để ý, ông tỏ ra thân mật với bà hơn. Bà nói bóng gió một hai lần về chồng mình nhưng giọng điệu bà không phải để biến sự ám chỉ đó thành lời cảnh báo. Tên bà là Sinico. Ông tổ năm đời của chồng bà là dân Leghorn đến đây lập nghiệp. Chồng bà là thuyền trưởng một con tàu buôn đi lại giữa Dublin và Hà Lan; và họ có một người con.</p>



<p>Trong lần tình cờ gặp lại bà lần thứ ba, ông thu hết can đảm để hẹn hò với bà. Bà giữ hẹn. Đấy là lần đầu tiên trong số nhiều lần hẹn hò; họ luôn gặp nhau vào buổi tối và chọn những nơi vắng vẻ, yên tĩnh nhất để cùng nhau đi dạo. Tuy nhiên, ông Duffy không thích những hành động lén lút như vậy, ông cảm thấy buồn bực trong lòng vì cứ phải gặp nhau một cách thầm kín, và ông đòi đến nhà bà. Thuyền trưởng Sinico lịch sự tiếp ông, lại còn mời ông đến thăm viếng thường xuyên hơn vì ông ta nghĩ rằng ông Duffy đang theo đuổi cô con gái của ông bà. Ông đã loại bà vợ mình ra khỏi căn phòng tình cảm, ông thực sự suy nghĩ như thế nên ông chẳng bao giờ ngờ có ai khác quan tâm đến bà. Ông chồng thường xuyên vắng nhà đi xa, cô con gái thì bận đi dạy nhạc nên ông Duffy có nhiều cơ hội để tận hưởng cuộc sống với người phụ nữ. Cả ông và bà đều chưa từng có bất kỳ cuộc phiêu lưu nào như vậy trước đây nên cả hai đều không nhận ra bất kỳ sự sai trái nào. Lâu dần, suy nghĩ của ông thấm nhập quấn quýt tâm trí bà. Ông cho bà mượn sách, gieo vào đầu óc bà những ý tưởng, chia sẻ cuộc sống trí tuệ của mình với bà. Và bà chịu khó lắng nghe, không bỏ sót điều gì.</p>



<p>Đôi khi, để đáp lại, bà tiết lộ một số sự thật về cuộc sống của chính bà. Với sự quan tâm gần như của một người mẹ, bà thúc giục ông hãy bộc lộ nhiều hơn tính cách bản chất mình: bà trở thành người giải tội cho ông. Ông kể với bà rằng trong một thời gian, ông đã tham gia các cuộc họp của Đảng Xã hội Ireland, nơi ông cảm thấy mình là một nhân vật nổi bật trong đám hàng chục công nhân viên &nbsp;sôi nổi tranh luận trong một căn gác xép dưới ánh sáng lù mù của ngọn đèn dầu. Đến khi đảng chia thành ba phe nhóm, mỗi phe có một người lãnh đạo riêng và họp hành trong một căn gác xép riêng thì ông ngừng tham gia. Ông nói rằng các cuộc thảo luận của những công nhân ấy là quá e dè nhút nhát; họ chỉ quan tâm nhiều đến vấn đề lương lậu và thu nhập. Ông cảm thấy rằng họ là những người theo chủ nghĩa hiện thực cứng nhắc và họ bày tỏ sự phẫn uất trước một sự việc vốn là sản phẩm của thói hưởng thụ nằm ngoài tầm với của chính họ. Ông nói với bà rằng sẽ không có một cuộc cách mạng xã hội nào có thể xảy ra ở Dublin trong vài thế kỷ nữa.</p>



<p>Bà hỏi tại sao ông không viết ra suy nghĩ của mình. Để làm gì cơ chứ, ông hỏi lại bà, với sự khinh miệt. Để ganh đua với bọn thích nói năng hoa mỹ, không có khả năng suy nghĩ liên tục trong sáu mươi giây à? Để tự khuất phục trước những lời chỉ trích của một tầng lớp trung lưu chậm hiểu đã giao phó đạo đức của mình cho cảnh sát và nghệ thuật của mình cho các ông bầu ư?</p>



<p>Ông thường đến thăm bà trong ngôi nhà nhỏ ở ngoại ô Dublin; họ thường dành buổi tối cho riêng họ. Dần dần, khi những suy nghĩ của họ quyện rối vào nhau, họ nói về những chủ đề ít xa lạ hơn. Tình tri kỷ của bà giống như lớp đất ấm áp bao quanh loài kỳ hoa dị thảo. Nhiều lần bà không thắp đèn mà cứ để bóng tối phủ lên hai người. Bóng tối tràn ngập căn phòng kín đáo, sự cô lập của họ, âm nhạc rung động trong tai họ gắn kết họ lại với nhau. Sự kết hợp này tôn vinh ông, làm mờ nhạt những góc cạnh thô ráp trong tính cách của ông, khiến đời sống tinh thần ông như sôi động lên. Đôi khi ông bắt gặp mình đang lắng nghe âm thanh giọng nói của chính mình. Ông nghĩ rằng, trong mắt bà, ông vươn lên tầm vóc thiên thần; và khi ông cảm nhận bản chất nồng ấm của người đàn bà truyền sang ông càng lúc càng tăng, ông bỗng nghe thấy một tiếng nói lạ lùng vô cảm mà ông nhận ra là của chính mình, nó nhấn mạnh vào nỗi cô đơn không thể chữa lành trong tâm hồn ông. Nó nói rằng ta không thể trao cho ai khác cái của chính mình: ta là của riêng ta. Kết thúc những buổi nói chuyện này là, trong một đêm nọ, người đàn bà đã thể hiện tất cả mọi dấu hiệu của tình cảm nồng nhiệt khác thường, bà nắm lấy bàn tay ông rồi âu yếm áp lên má mình.</p>



<p>Ông Duffy rất đỗi ngạc nhiên. Cách bà diễn giải lời ông nói khiến ông vỡ mộng. Suốt một tuần ông không đến thăm bà, đoạn ông viết thư xin bà ra gặp. Vì không muốn cuộc nói chuyện lần cuối này bị ảnh hưởng bởi sự việc đáng tiếc xảy ra lần trước, họ gặp nhau tại một tiệm bánh nhỏ gần cổng Công viên. Lúc đó là mùa thu, tiết trời đã lạnh giá nhưng họ vẫn cuốc bộ loanh quanh trên những con đường trong Công viên suốt gần ba giờ đồng hồ. Họ đồng ý chấm dứt mối quan hệ: ông nói rằng mọi ràng buộc đều là ràng buộc vào nỗi buồn. Khi ra khỏi Công viên, họ giữ im lặng bước về phía trạm xe điện; nhưng tại đây, bà lên cơn run rẩy dữ dội đến nỗi, vì sợ bà lại ngã lăn xuống mặt đất, ông vội vã chào tạm biệt rồi quay lưng bước thẳng. Vài ngày sau, ông nhận được một bưu kiện đựng sách và nhạc của mình.</p>



<p>Bốn năm trời trôi qua. Ông Duffy trở lại với lối sống đều đặn tẻ nhạt như trước. Căn phòng ông vẫn chứng kiến mỗi ngày sự ngăn nắp thứ tự trong tâm hồn ông. Một vài bản nhạc mới được đặt trên giá nhạc ở phòng dưới lầu và trên kệ sách có thêm hai tập sách của Nietzsche: <em>Thus Spake Zarathustra </em>và <em>The Gay Science</em> [5]. Ông hiếm khi viết nữa, tập giấy trắng vẫn nằm nguyên trong ngăn kéo bàn làm việc. Một trong những câu ông viết hai tháng sau cuộc nói chuyện lần cuối giữa ông với bà Sinico, có nội dung như sau: Tình yêu giữa đàn ông và đàn ông là không thể vì không có quan hệ tình dục, còn tình bạn giữa đàn ông và đàn bà cũng không thể vì phải có quan hệ tình dục. Ông tránh đi dự các buổi hòa nhạc vì sợ gặp bà ở đó. Cha ông mất; một nhân viên cấp dưới của ngân hàng nghỉ hưu. Sáng sáng ông vẫn lấy xe điện vào thành phố, mỗi tối vẫn đi bộ từ thành phố về nhà sau bữa ăn tối nhẹ ở Phố George và đọc báo để tráng miệng.</p>



<p>Một buổi tối, khi ông đang cầm cái nĩa sắp sửa cho vào miệng miếng thịt bò muối bắp cải thì ông phải buông nĩa xuống. Hai mắt ông dán chặt vào hàng chữ in trên tờ báo ấn bản buổi tối ông dựa hờ lên bình đựng nước. Ông bỏ lại miếng thức ăn trên đĩa rồi chăm chú đọc hàng chữ. Sau đó, ông uống một ngụm nước, đẩy đĩa thức ăn sang một bên, trải tờ báo xuống bàn trước mặt mình, chống hai khuỷu tay lên bàn và đọc đi đọc lại bản tin đó. Bắp cải bắt đầu có một lớp mỡ trắng lạnh đọng trên đĩa. Cô gái phục vụ đến bàn lễ phép hỏi ông phải chăng món ăn tối nay nấu không được ngon miệng lắm sao. Ông vội bảo cô nó rất ngon và ông gượng gạo cố nuốt vài miếng. Sau đó, ông đứng dậy móc ví trả tiền và bước ra ngoài.</p>



<p>Ông bước nhanh dưới trời hoàng hôn tháng Mười Một, cây can bằng gỗ phỉ chắc nịch của ông gõ xuống mặt đất phát ra những tiếng lạch cạch đều đều, chiếc khăn lụa hiệu <em>Mail </em>màu thổ hoàng &nbsp;nằm lấp ló trong túi bên chiếc áo khoác ngoài bó sát người. Đến đoạn đường vắng vẻ từ cổng Công viên đến Chapelizod, ông bước chậm lại. Cây can gõ xuống mặt đất nhẹ hơn và hơi thở ông phát ra không đều, như hòa với tiếng thở dài, ngưng tụ trong không khí lạnh buổi chớm đông. Về đến nhà, ông lập tức lên phòng ngủ rút tờ báo từ trong túi ra và đọc lại bản tin dưới ánh sáng yếu ớt từ cửa sổ hắt vào. Ông không đọc to thành tiếng mà mấp máy môi như một linh mục đọc lời cầu nguyện trong kinh <em>Secreto</em>. Dưới đây là bản tin ông đọc:</p>



<p>CÁI CHẾT CỦA MỘT PHỤ NỮ TẠI SYDNEY PARADE<br>MỘT TAI NẠN THƯƠNG TÂM</p>



<p>Hôm nay tại Bệnh viện Thành phố Dublin, Phó giám định y khoa (khi ông Leverett vắng mặt) đã tiến hành giảo nghiệm tử thi bà Emily Sinico, bốn mươi ba tuổi, người đã tử vong tại trạm ga Sydney Parade vào tối qua. Bằng chứng cho thấy người phụ nữ, trong khi cố băng qua đường ray, đã bị đầu máy chuyến tàu mười giờ từ ga Kingstown húc ngã, mặc dù lúc đó chiếc tàu chạy rất chậm nhưng bà bị thương ở đầu và bên phải, dẫn đến tử vong.</p>



<p>Ông James Lennon, người lái tàu, cho biết ông đã làm việc cho công ty đường sắt trong mười lăm năm. Khi nghe tiếng còi báo hiệu của người gác cổng, ông đã cho tàu chuyển động và chỉ một hai giây sau đó ông thắng vội vì nghe tiếng kêu lớn. Tàu đang chạy rất chậm.</p>



<p>Anh P. Dunne, một nhân viên khuân vác đường sắt, khai rằng khi tàu sắp khởi hành, anh ta thấy một người phụ nữ cố vượt qua đường ray. Anh ta chạy về phía bà ấy và hét lên, nhưng trước khi anh ta có thể với tới bà, thì bà đã bị vướng vào bộ đệm của đầu máy và ngã xuống đất.</p>



<p>Một nhân viên điều tra hỏi anh ta: “Anh có nhìn thấy người phụ nữ đó ngã không?”</p>



<p>Thì anh ta trả lời: “Có.”</p>



<p>Trung sĩ Cảnh sát Croly khai rằng khi đến nơi, ông thấy nạn nhân nằm trên sân ga, và dường như đã chết. Ông bèn đưa thi thể người đàn bà vào phòng đợi trong khi chờ xe cứu thương đến.</p>



<p>Cảnh sát trưởng ty 57E cũng xác nhận như thế.</p>



<p>Bác sĩ Halpin, trợ lý phẫu thuật tại Bệnh viện Thành phố Dublin, khai rằng người chết bị gãy hai xương sườn dưới và bị bầm tím nghiêm trọng ở vai phải. Ông cũng tìm thấy vết thương trên đầu phía bên phải khi bị ngã. Tuy vậy, các vết thương không đủ nặng để gây tử vong ở một người bình thường. Theo ông, người phụ nữ chết có thể là do sốc và tim đột ngột ngừng hoạt động.</p>



<p>Ông H. B. Patterson Finlay, thay mặt cho công ty đường sắt, bày tỏ sự hối tiếc sâu sắc về tai nạn. Ông bảo công ty luôn thực hiện mọi biện pháp phòng ngừa để ngăn chặn mọi người tùy tiện băng qua đường ray, muốn băng qua thì phải tìm cầu bắc ngang. Công ty cho đặt bảng lưu ý tại mọi sân ga, và tại các lối đi cắt ngang đường sắt đều có cổng lò xo. Người phụ nữ xấu số ấy có lẽ có thói quen băng qua đường ray vào ban đêm lúc tối trời từ sân ga này sang sân ga khác và xét đến một số tình tiết khác của vụ việc, ông không nghĩ rằng các viên chức đường sắt phải chịu trách nhiệm.</p>



<p>Thuyền trưởng Sinico, nhà ở Leoville, Sydney Parade, chồng của người xấu số, cũng đưa ra bằng chứng. Ông khai rằng người đàn bà đó chính là vợ ông. Ông không ở Dublin vào thời điểm xảy ra tai nạn vì ông mới từ Rotterdam về sáng hôm đó. Họ lấy nhau được hai mươi hai năm và sống hạnh phúc cho đến khoảng thời gian hai năm trước đây thì vợ ông bắt đầu có những thói quen không kiềm hãm được.</p>



<p>Cô Mary Sinico nói gần đây mẹ cô có thói quen ra ngoài vào ban đêm để mua rượu. Cô, trong tư cách một nhân chứng, đã nhiều lần cố khuyên bảo mẹ và đã thuyết phục bà tham gia Liên đoàn Phụ nữ. Hôm xảy ra tai nạn, một giờ sau cô mới về nhà.</p>



<p>Hội đồng xét xử đã đưa ra phán quyết phù hợp với bằng chứng y khoa và tuyên bố ông Lennon hoàn toàn vô tội.</p>



<p>Phó giám định y khoa cho biết đây là một tai nạn vô cùng đau lòng và bày tỏ sự cảm thông sâu sắc cùng chia buồn với thuyền trưởng Sinico và con gái ông. Ông khẩn thiết khuyến cáo công ty đường sắt thực hiện các biện pháp mạnh mẽ và hiệu quả hơn để ngăn ngừa khả năng xảy ra những tai nạn tương tự trong tương lai. Và không ai bị quy lỗi trong vụ này.</p>



<p>*</p>



<p>Ông Duffy rời mắt khỏi tờ báo nhìn ra quang cảnh buổi tối ảm đạm ngoài cửa sổ. Dòng sông nằm lặng lẽ bên cạnh nhà máy chưng cất rượu bỏ hoang, lâu lâu một ngọn đèn bật lên trong một ngôi nhà nào đó trên đường Lucan. Thật là một kết cuộc đau buồn! Toàn bộ câu chuyện về cái chết của bà khiến ông kinh hãi và ông cảm thấy kinh hãi khi nghĩ rằng mình đã từng nói với bà về những điều ông xem là thiêng liêng. Những câu chữ sáo rỗng, những biểu hiện vô nghĩa của sự đồng cảm, những lời lẽ thận trọng của một phóng viên nhà báo, tất cả được khéo léo diễn đạt để che giấu những chi tiết về một cái chết tầm thường, thô bỉ. Nó tấn công dạ dày ông. Bà không chỉ hạ thấp bản thân mình; mà còn hạ thấp ông nữa. Ông nhìn thấy vùng đất bẩn thỉu của những thói hư tật xấu nơi con người bà, khốn khổ và thối tha. Người tri kỷ của tâm hồn ông! Ông nghĩ đến những kẻ nhếch nhác, những con người bê tha, bệ rạc chân đi khập khiễng ông từng thấy cầm ly cốc đến cho người phục vụ trong quán rượu rót đầy. Chúa ơi, thật là một kết cuộc đáng buồn! Rõ ràng là bà không đủ sức sống, không còn bất kỳ sức mạnh nào cho mục đích sống nữa, một con mồi dễ dàng cho những thói quen tật xấu, một bãi phế thải hoang tàn mà nền văn minh này đã được nuôi dưỡng. Làm thế nào bà lại có thể chìm sâu xuống đất đen như thế được! Phải chăng ông đã hoàn toàn tự lừa dối mình về con người bà? Ông nhớ lại cơn cảm xúc không trấn áp nổi của bà cái đêm hôm đó và ông đã diễn dịch nó theo một ý nghĩa khắc nghiệt hơn ông từng làm, và bây giờ ông cảm thấy chẳng hối tiếc chút nào về con đường mình đã chọn.</p>



<p>Ánh sáng tàn dần và suy nghĩ trong trí óc bắt đầu tản mác, ông nhớ lúc bàn tay bà chạm vào tay mình. Cú sốc ban đầu tấn công dạ dày ông bây giờ quay ra đánh mạnh vào các dây thần kinh. Ông vớ chiếc áo khoác ngoài, đội mũ rồi đi ra ngoài. Không khí lạnh phả vào mặt mũi ông ở ngưỡng cửa; nó len lỏi vào tay áo khoác. Đến quán rượu đầu cầu Chapelizod, ông bước vào trong gọi một cốc <em>hot punch</em> [6].</p>



<p>Người chủ quán lễ độ phục vụ nhưng không dám bắt chuyện. Có năm sáu người trong tiệm, toàn dân thợ thuyền, họ đang bàn luận về giá trị bất động sản của một người giàu có ở Quận Kildare. Họ uống rượu trong những chiếc cốc lớn và hút thuốc liên miên, chốc chốc họ khạc nhổ xuống sàn rồi dùng đôi ủng dưới chân hất mạt cưa lấp lên bãi nhổ. Ông Duffy ngồi trên chiếc ghế cao bên cạnh quầy rượu, hai mắt nhìn đám thợ, nhưng ông không thấy họ và cũng chẳng nghe họ đang nói gì. Một lúc sau, họ đồng loạt đứng lên bỏ ra về và ông gọi thêm một cốc rượu nữa. Ông ngồi đó rất lâu. Tiệm yên tĩnh. Người chủ quán nằm lăn trên quầy vớ tờ <em>Herald </em>ra đọc, vừa đọc vừa ngáp dài. Thi thoảng, người ta nghe thấy tiếng xe điện chạy rầm rì trên con đường vắng bên ngoài.</p>



<p>Ông ngồi đó ôn lại quãng thời gian ngắn ngủi với bà, hai hình ảnh trái ngược thay phiên nhau hiện về tâm trí ông. Bà đã chết, không còn tồn tại, và đã trở thành một ký ức. Ông bắt đầu cảm thấy có điều gì không ổn trong lòng. Ông tự hỏi khi đó mình có thể làm điều gì khác không. Ông chẳng thể nào tiếp tục vở hài kịch lừa dối với bà; không thể sống với bà một cách công khai. Ông đã làm những gì có vẻ như là tốt nhất cho ông. Ông phải chịu trách nhiệm như thế nào? Giờ đây bà đã chết, ông hiểu cuộc sống của bà hẳn cô đơn đến mức nào, đêm này qua đêm khác ngồi một mình trong căn phòng đó. Cuộc sống ông cũng cô đơn như thế thôi, cho đến khi ông nhắm mắt xuôi tay, không còn tồn tại, trở thành một ký ức – nếu còn có ai nhớ đến ông.</p>



<p>Hơn chín giờ tối ông mới rời khỏi tiệm rượu. Đêm lạnh lẽo và u ám. Ông bước vào Công viên qua cổng số một và đi dọc dưới những hàng cây khẳng khiu trụi lá. Ông đi lại những lối đi buồn thảm nơi bốn năm trước họ hay đi. Trong bóng tối hình như bà ở gần ông hơn. Có lúc ông cảm thấy giọng nói bà rót vào tai ông, tay bà chạm tay ông. Ông dừng chân đứng lại, lắng nghe. Tại sao ông lại tước đi mạng sống của bà? Tại sao ông lại kết án tử hình bà? Ông cảm thấy con người đạo đức của mình đang tan vỡ thành từng mảnh vụn.</p>



<p>Khi lên đến đỉnh đồi Magazine, ông dừng chân dõi tia mắt theo con sông chảy lững lờ về phía Dublin, nơi có những ngọn đèn nhấp nháy cháy đỏ trông ấm áp trong đêm lạnh. Ông nhìn xuống con dốc, chỗ chân đồi, trong bóng tối của bức tường Công viên, ông thấy vài cặp trai gái đang nằm ôm nhau. Những mối tình vụng trộm và tham lam đó khiến ông chỉ cảm thấy tuyệt vọng. Ông gặm nhấm sự thật thẳng băng của cuộc đời mình; ông cảm thấy như mình đã bị ném ra khỏi bữa tiệc đời sống. Có một người đàn bà hình như đã yêu ông và ông đã thẳng thừng từ chối cuộc sống hạnh phúc với người đó: ông đã gieo tội lỗi ô nhục lên người đàn bà, và kết cuộc là một cái chết đáng xấu hổ. Ông biết rằng những cặp trai gái nằm quấn quýt nhau dưới bức tường đang theo dõi ông và họ chỉ mong ông biến mất trong tầm mắt họ. Không ai muốn có ông; ông là kẻ bị ruồng bỏ khỏi bữa tiệc đời sống. Ông ngước mắt nhìn dòng sông lấp lánh màu xám xịt, uốn khúc chảy về phía Dublin. Bên kia sông, ông thấy một đoàn tàu hỏa chở hàng uốn éo chạy ra khỏi ga Kingsbridge, trông nó giống một con sâu có cái đầu rực lửa luồn lách trong bóng tối, một cách ngoan cố và khó nhọc. Nó chậm chạp đi qua khỏi tầm mắt; nhưng ông vẫn nghe trong tai tiếng động cơ xình xịch lặp đi lặp lại âm tiết tên người đàn bà.</p>



<p>Ông quay lại con đường đi lúc nãy, tiếng con tàu từng nhịp vẫn vang động trong tai ông. Ông bắt đầu nghi ngờ tính xác thực của những điều ký ức mách bảo ông. Ông dừng lại dưới một gốc cây để nhịp điệu đó lắng xuống. Trong bóng tối, ông không cảm thấy người đàn bà ở gần ông nữa, giọng nói bà cũng không còn vo ve trong tai ông. Ông đợi vài phút. Lắng nghe. Ông không nghe gì cả: màn đêm hoàn toàn im lặng. Ông lại lắng nghe: vẫn hoàn toàn im lặng. Ông cảm thấy chỉ có mình ông ở đó. Trong cô đơn.</p>



<p><em>(Trịnh Y Thư dịch từ ấn bản </em>Dubliners<em>, NXB Alfred A. Knoff, 1991.)</em></p>



<p>*</p>



<p><em>Chú thích của người dịch:</em></p>



<p>[1]&nbsp; Tên một ngôi làng ngoại ô Dublin, Ireland, tọa lạc trong thung lũng rừng cây ven sông Liffey, gần cánh đồng Strawberry Beds và công viên Phoenix. Tuy không nêu rõ địa danh từng nơi, nhưng có lẽ Joyce đã sử dụng bối cảnh vùng đất này trong thiên truyện.</p>



<p>[2]&nbsp; William Wordsworth [1770-1850]: Thi sĩ Anh thời kỳ Lãng mạn.</p>



<p>[3]&nbsp; Câu này trong nguyên tác là “<em>A medieval doctor would have called him saturnine</em>” để mô tả tính cách của ông Duffy. Bởi thời Trung cổ ở châu Âu, người ta tin tưởng rằng tính cách con người là do ảnh hưởng của các hành tinh. Ví von ông Duffy với người sao Thổ, câu văn ám chỉ một người có bản chất u sầu, tâm trạng bất thường, có cái gì bí ẩn nung nấu trong nội tâm. Với một câu văn ngắn ngủi, Joyce đã mô tả gần như toàn vẹn tính cách của nhân vật ông sắp thuật.</p>



<p>[4]&nbsp; <em>Arrowroot</em>: Bột dong, còn gọi là bột hoàng tinh.</p>



<p>[5]&nbsp; Friedrich Nietzsche [1844-1900]: Triết gia Đức.</p>



<p>[6]&nbsp; <em>Hot punch</em>: Thức uống nóng pha rượu, là một loại đồ uống ấm áp, thơm ngon, thường được phục vụ trong thời tiết lạnh hoặc vào các dịp lễ, kết hợp rượu mạnh (thường là <em>rum</em>, <em>brandy</em> hoặc <em>gin</em>) với nước nóng, nước ép trái cây họ cam quýt, đường và các loại gia vị như quế và nhục đậu khấu. Thức uống này được pha chế để uống nóng, với sự kết hợp hài hòa giữa hương vị trái cây và rượu.</p>



<p>*</p>



<p><em>Lời người dịch:</em></p>



<p>Thiên truyện này của James Joyce dễ đọc, nhưng khó nhằn và khó nuốt.</p>



<p>Dễ đọc vì, ngay khi vào truyện, Joyce đã cho chúng ta thấy rất rõ cuộc sống, tính cách, tâm lý các nhân vật như thế nào. Họ là ai, làm gì. Trước hết là ông Duffy, ông độc thân, sống một cuộc đời cẩn trọng và chỉn chu ngăn nắp; ông giữ nhà cửa gọn gàng, ăn uống tại cùng một nhà hàng và đi làm mỗi ngày trên cùng một tuyến đường. Ông có đời sống như một nhà tu khổ hạnh. Và bà Sinico, một người đàn bà nhiều tình cảm, nhưng sống cô độc vì chồng làm thuyền trưởng một tàu buôn, thường xuyên vắng nhà.</p>



<p>Ông Duffy có quan hệ với bà Sinico, nhưng đó là một quan hệ trên tình bạn một chút nhưng không có tình yêu bởi ông Duffy không cho nó cơ hội xảy ra. Nhưng ông không thể chịu đựng tính cách nổi nênh vô định hướng trong mối quan hệ đó, nó khiến cuộc sống ngăn nắp của ông bị xáo trộn. Bà Sinico khơi dậy trong lòng ông Duffy những cảm xúc nồng ấm mới mẻ, nhưng khi bà có một cử chỉ thân mật, ông phản ứng lại với sự ngạc nhiên và ông nhanh chóng quyết định cắt đứt quan hệ với bà. Cử chỉ của bà Sinico cho thấy một sự thật khác tồn tại, và sự thật này khiến ông Duffy sợ hãi. Đó là để chấp nhận sự có mặt của bà trong cuộc sống, mở tâm hồn ra cho tình yêu cùng các cảm xúc sâu sắc ùa vào trái tim mình, ông phải thay đổi hoàn toàn cuộc sống mình, phải ném bỏ chiếc ghế ngã mạn cao vòi vọi với những nguyên tắc cứng nhắc, cũ mòn để điều chỉnh lại thành một con người và cuộc sống khác, một điều ông không thể làm được.</p>



<p>Ông trở lại cuộc sống cô độc với một chút nhẹ nhõm. Và, bốn năm sau, khi đọc trên báo tin bà Sinico qua đời trong một tai nạn đau thương tội nghiệp, ông đã phản ứng với cú sốc và sự ghê tởm, giống như khi bà chạm vào tay ông. Cái chết bi thảm của bà Sinico cho thấy chiều sâu cảm xúc mà bà sở hữu, điều ông Duffy sẽ không bao giờ hiểu hay chia sẻ được vì cái ngã mạn của ông quá lớn. Nó chỉ khiến ông Duffy tỉnh ngộ phần nào sau khi ông vào quán rượu uống hai cốc rượu, đoạn ra ngoài đi bộ dọc theo những con đường ngày xưa ông bà hay đi dạo, vừa đi vừa suy nghĩ. Ông nhận ra rằng chính cuộc sống như thầy tu với trật tự và sự đúng mực đã loại bỏ bà ra khỏi cuộc đời mình, và nó đã ngăn cản ông sống trọn vẹn. Ta tưởng, sau khi tỉnh ngộ, ông sẽ thay đổi cuộc đời mình. Nhưng không. Giống như các nhân vật khác trong <em>Dubliners </em>trải qua sự giác ngộ, ông Duffy không được truyền cảm hứng để bắt đầu một giai đoạn mới trong cuộc đời, mà thay vào đó, ông cay đắng chấp nhận sự cô đơn để tiếp tục kiếp sống cũ mòn.</p>



<p>Truyện ngắn <em>Một tai nạn thương tâm</em> của Joyce kết thúc ở nơi nó bắt đầu, với ông Duffy một mình. Sự lặp đi lặp lại tẻ nhạt đó cuối cùng đã mang đến cho ông Duffy cái chết trong cuộc sống: cái chết của một người từng khơi dậy khát vọng được ở bên cạnh một người khác. Khi còn sống, bà Sinico đã tiếp sức cho ông và, thông qua sự thân mật của bà, đã gần như sưởi ấm trái tim lạnh giá của ông. Tuy nhiên, chỉ khi chết, bà mới thành công trong việc làm bật lên cái vòng luẩn quẩn cô đơn của ông, cho ông thấy rõ hơn bản ngã mình. Bi kịch của câu chuyện này có ba khía cạnh. Thứ nhất, ông Duffy phải đối mặt với cái chết bi thảm trước khi có thể suy nghĩ lại về lối sống và quan điểm của mình. Thứ hai, việc thừa nhận những vấn đề trong lối sống khiến ông nhận ra lỗi lầm của mình: bà Sinico chết vì đau buồn do chính ông gây ra. Thứ ba, có lẽ bi thảm nhất, ông Duffy không thay đổi được quan điểm sống mà ông đã tạo ra cho mình. Ông bị tê liệt, và ông bất chấp những lời tự thú và cảm giác tội lỗi của mình. Bởi ngã mạn ông quá lớn.</p>



<p>Lưu ý, Joyce đã lựa chọn những cái tên mang tính biểu tượng trong thiên truyện. Để thể hiện chủ đề u ám của câu chuyện về tình yêu tan vỡ và sự cô đơn, ông cho nhân vật chính cái tên Duffy. Duffy bắt nguồn từ tiếng Ireland có nghĩa là tối tăm, gợi lên tâm trạng ảm đạm, u buồn mà câu chuyện diễn ra trong cuộc sống của ông. Khu ngoại ô nơi ông Duffy sinh sống, Chapelizod, lấy tên từ tiếng Pháp, Chapel d’Iseult. Iseult là một nhân vật trong cặp tình nhân nổi tiếng Tristan và Iseult, mối tình bi thảm của họ được xếp vào một trong những thiên tình sử kinh điển nhất trong văn học và âm nhạc Tây phương. Sự xuất hiện của cái tên này trong câu chuyện, với tư cách là khu phố nơi ông Duffy sinh sống – nơi ông cố tình chọn để tránh xa sự ồn ào náo nhiệt của Dublin – là biểu tượng cho tình yêu đơn phương và cái chết của bà Sinico với cuộc sống khép kín của ông Duffy.</p>



<p>Trong thời gian dịch thiên truyện kinh điển này của Joyce, vào đầu năm 2026, tôi cũng được xem một vở kịch nổi tiếng, <em>Who’s Afraid of Virginia Woolf</em> của kịch tác gia Edward Albee trên sân khấu kịch South Coast Repertory, Nam California. Cả hai, thiên truyện của Joyce và vở kịch của Albee, viết cách nhau hơn nửa thế kỷ, từ hai bối cảnh rất khác nhau, nhưng đều có chung một nghiệm số: sự bế tắc đến bi thảm của cuộc sống hôn nhân hiện đại, và điều đó vẫn tồn tại cho đến ngày hôm nay. Sống với nhau phải chăng là cho nhau sự đau đớn, là đẩy nhau vào vũng lầy, là hủy diệt nhau?</p>



<p>Thiên truyện của Joyce, tôi bảo dễ đọc nhưng khó nhằn, khó nuốt, là vì vậy. Nó chiếu rọi một cách sâu sắc và không khoan nhượng vào bản chất tâm hồn chúng ta: chúng ta không có khả năng vứt bỏ cái ngã mạn cao nghều nghệu kia đi để đem hạnh phúc cho người khác. &nbsp;– TYT</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Trịnh Y Thư: PHẾ TÍCH CỦA ẢO ẢNH &#8211; Thơ – Ấn bản III (VĂN HỌC PRESS tái bản, 2026)</title>
		<link>https://t-van.net/trinh-y-thu-phe-tich-cua-ao-anh-tho-an-ban-iii-van-hoc-press-tai-ban-2026/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Trịnh Y Thư]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 05 Feb 2026 06:37:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[giới thiệu sách]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=86804</guid>

					<description><![CDATA[Văn Học Press 22 Agostino, Irvine, CA 92614 USA • vmail: +1-949-981-3978 email: vanhocpress@gmail.com • Facebook: Van Hoc Press Trân trọng giới thiệu: PHẾ TÍCH CỦA ẢO ẢNH Thơ – Ấn bản III TRỊNH • Y • THƯ VĂN HỌC PRESS tái bản, 2026 (Được tăng bổ với những bài thơ làm trong thời gian [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/01/7EBCZXRR-image001.png?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="500" height="771" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/01/7EBCZXRR-image001.png?strip=all" alt="" class="wp-image-86805" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/01/image001-195x300.png 195w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/01/7EBCZXRR-image001.png?strip=all 500w" sizes="(max-width: 500px) 100vw, 500px" /></a></figure></div>


<p></p>



<p><strong>Văn Học</strong><strong> Press</strong><strong></strong></p>



<p><strong>22 Agostino, Irvine, CA 92614 USA </strong><strong>• vmail: +1-949-981-3978</strong></p>



<p><strong>email: </strong><a href="mailto:vanhocpress@gmail.com"><strong>vanhocpress@gmail.com</strong></a><strong> • Facebook: Van Hoc Press</strong><strong></strong></p>



<p>Trân trọng giới thiệu:</p>



<p><strong>PHẾ TÍCH CỦA ẢO ẢNH</strong></p>



<p>Thơ – Ấn bản III</p>



<p>TRỊNH • Y • THƯ</p>



<p>VĂN HỌC PRESS tái bản, 2026</p>



<p>(Được tăng bổ với những bài thơ làm trong thời gian gần đây, cùng Nhận định của các nhà thơ Du Tử Lê, Nguyễn Thị Khánh Minh và Nguyễn Đức Tùng).</p>



<p>Tranh bìa:</p>



<p><em>ĐINH TRƯỜNG CHINH</em></p>



<p><em>Phố Mùa Đông, sơn dầu trên bố, 20” x 30”, 2019</em></p>



<p>Phụ bản:</p>



<p><em>DUY THANH – ĐINH CƯỜNG – NGUYÊN KHAI –</em></p>



<p><em>PHAN CHÁNH KHÁNH</em></p>



<p>Ảnh chân dung:</p>



<p><em>NGUYỄN BÁ KHANH</em></p>



<p>Thư pháp:</p>



<p><em>NGỌC DUNG</em></p>



<p>oOo</p>



<p>Thơ Siêu thực của họ Trịnh là một thứ lãng mạn mới mà, cốt lõi là mối ràng buộc giữa con người, thiên nhiên, siêu hình… vốn ẩn tàng trong tiềm thức và những giấc mơ thoát khỏi sự trì kéo thô kệch của ý thức.</p>



<p><em>– Du Tử Lê </em><em>[1942-2019]</em><em>, </em>nhà thơ.</p>



<p>Điều tôi cảm thấy và hiểu được ẩn dụ nghịch lý của tiêu đề <em>Phế tích của ảo ảnh</em>, như một lối tự vệ và hóa giải khắc khoải nội tại của tác giả. Và cho cả chúng ta. Để tha thứ, nhưng, tha thứ không phải là lãng quên, mà là định hướng nhân bản cho cuộc sống ngay bây giờ và tương lai. Điều ấy chỉ Thơ làm được.</p>



<p><em>– Nguyễn Thị Khánh Minh, </em>nhà thơ.</p>



<p>Trịnh Y Thư quan tâm đến sự chính xác, tiết kiệm chữ, nhưng anh cũng để cho khả năng nhạy cảm với mặt trái của xã hội, sự tra tấn, nỗi đau khổ làm bùng vỡ ngôn ngữ. Anh ý thức về sự hữu hạn của kiếp người, thứ sự thật tương đối, về cái chết, mặt tối đen của số phận, các ảo tưởng. Trịnh Y Thư thuộc những nhà thơ hiện đại, tiến rất xa tới gần các biên giới, trở thành một người lạ, đôi khi.</p>



<p><em>– Nguyễn Đức Tùng</em>, nhà thơ.</p>



<p>@@@</p>



<p>Sách không bán, chỉ dành tặng thân hữu.</p>



<p><a href="mailto:trinhythu@gmail.com">trinhythu@gmail.com</a></p>



<p><a href="mailto:vanhocpress@gmail.com">vanhocpress@gmail.com</a></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Sách Mới: ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của PHAN TẤN HẢI</title>
		<link>https://t-van.net/sach-moi-duoi-bat-mot-mui-huong-cua-phan-tan-hai/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Trịnh Y Thư]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 23 Jan 2026 07:41:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[giới thiệu sách]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=86653</guid>

					<description><![CDATA[                        Văn Học Press &#38; VIỆT BÁO FOUNDATION PR 01/22/2026 SÁCH MỚI Trân trọng giới thiệu: ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG Tuyển Tập PHAN TẤN HẢI VĂN HỌC PRESS &#38; VIỆT BÁO FOUNDATION đồng xuất bản, 2026 oOo Đuổi bắt một mùi hương? Tôi nghĩ nó sẵn đó rồi. Trong nếp ta sống ở đây [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/01/ZDqrVvEp-image003.png?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="512" height="727" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/01/ZDqrVvEp-image003.png?strip=all" alt="" class="wp-image-86654" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/01/image003-211x300.png 211w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/01/ZDqrVvEp-image003.png?strip=all 512w" sizes="(max-width: 512px) 100vw, 512px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><strong>                        Văn Học Press &amp;</strong> <strong>VIỆT BÁO FOUNDATION</strong></p>



<p>PR 01/22/2026</p>



<p>SÁCH MỚI</p>



<p>Trân trọng giới thiệu:</p>



<p><strong>ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG</strong></p>



<p>Tuyển Tập</p>



<p>PHAN TẤN HẢI</p>



<p>VĂN HỌC PRESS &amp; VIỆT BÁO FOUNDATION đồng xuất bản, 2026</p>



<p>oOo</p>



<p><em>Đuổi bắt một mùi hương?</em> Tôi nghĩ nó sẵn đó rồi. Trong nếp ta sống ở đây và bây giờ, một thứ “vô tận hương” bay cao, bay xa, bay ngược chiều gió…?</p>



<p><strong>– </strong><strong>BS Đỗ Hồng Ngọc</strong></p>



<p>Nếu không phải là một hành giả Thiền, nếu không có tâm nguyện xiển dương Thiền Tông như Cư Sĩ Nguyên Giác thì đã không có những nỗ lực và tận tụy miệt mài qua nhiều năm tìm đọc các nguồn dữ liệu từ các bản dịch Anh ngữ của những bài Kinh này để chuyển sang Việt ngữ và giới thiệu đến độc giả Việt Nam.</p>



<p><strong>– </strong><strong>Tâm Huy Huỳnh Kim Quang</strong><strong></strong></p>



<p>Phan Tấn Hải có lối cấu trúc truyện hư hư thực thực, không gian lẫn thời gian, cái hấp dẫn của nó là bắt đầu từ mấu chốt thực, rồi lan man đi vào mơ, rồi tan như ảnh ảo. Một bút pháp không bút pháp, chỉ giản dị như nghĩ tới đâu thì kể tới đó, không kỹ xảo, không hoa mỹ, nhưng văn có hấp lực ở chỗ chữ vô cùng bình thường nhưng sức chở thì sâu xa, độc đáo.</p>



<p><strong>– </strong><strong>Nguyễn Thị Khánh Minh</strong><strong></strong></p>



<p>Cho dù là một thiên khảo luận công phu về Thiền học hay một bản tin ngắn viết cho báo, anh luôn cẩn trọng với chữ nghĩa bằng tất cả tâm, trí của mình. Điều bất ngờ cho người đọc chúng ta là, chính ở loại hình sáng tác văn xuôi, truyện ngắn hoặc tùy bút, nét tài hoa thơ mộng cùng sự tưởng tượng phong phú bỗng trỗi dậy từ ngòi bút của anh.</p>



<p><strong>– </strong><strong>T</strong><strong>rịnh Y Thư</strong></p>



<p>@@@</p>



<p>Sách có bán trên BARNES &amp; NOBLE</p>



<p>416 trang, bìa mềm, 6” x &nbsp;9”, giá bán: US$25.00</p>



<p>Xin bấm vào đường dẫn sau:</p>



<p><a href="https://www.barnesandnoble.com/w/duoi-bat-mot-mui-huong-phan-tan-hai/1149240376?ean=9798260319826">https://www.barnesandnoble.com/w/duoi-bat-mot-mui-huong-phan-tan-hai/1149240376?ean=9798260319826</a></p>



<p>Nhóm từ tìm kiếm: duoi bat mot mui huong, phan tan hai</p>



<p>Hoặc liên lạc với NXB qua địa chỉ email sau để mua sách có chữ ký của tác giả:</p>



<p><a href="mailto:vanhocpress@gmail.com">vanhocpress@gmail.com</a></p>



<p></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Trịnh Y Thư: Thiệp mời Ra Mắt Sách</title>
		<link>https://t-van.net/trinh-y-thu-thiep-moi-ra-mat-sach/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Trịnh Y Thư]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 18 Nov 2025 07:19:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[ra mắt sách]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=85054</guid>

					<description><![CDATA[]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/11/TM_RMS_TYT_JPG-hinh.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="545" height="663" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/11/TM_RMS_TYT_JPG-hinh.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-85056" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/11/TM_RMS_TYT_JPG-hinh-247x300.jpg 247w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/11/TM_RMS_TYT_JPG-hinh.jpg?strip=all 545w" sizes="(max-width: 545px) 100vw, 545px" /></a></figure></div>

<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/11/TM_RMS_TYT_JPG.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="657" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/11/TM_RMS_TYT_JPG-1024x657.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-85055" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/11/TM_RMS_TYT_JPG-300x193.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/11/TM_RMS_TYT_JPG-1024x657.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2025/11/TM_RMS_TYT_JPG-768x493.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/11/TM_RMS_TYT_JPG.jpg?strip=all 1212w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Trịnh Y Thư: THEO DẤU THƯ HƯƠNG II (Tạp luận)</title>
		<link>https://t-van.net/trinh-y-thu-theo-dau-thu-huong-ii-tap-luan/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Trịnh Y Thư]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 20 Oct 2025 06:52:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[giới thiệu sách]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=84420</guid>

					<description><![CDATA[Văn Học Press 22 Agostino, Irvine, CA 92614 USA • vmail: +1-949-981-3978 email: vanhocpress@gmail.com • Facebook: Van Hoc Press PR 10/20/2025 SÁCH MỚI Trân trọng giới thiệu: THEO DẤU THƯ HƯƠNG II Tạp luận TRỊNH • Y • THƯ VĂN HỌC PRESS xuất bản, 2025 oOo Lời ngỏ: Căn cứ vào nhan đề cuốn sách [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/image001.png?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="512" height="771" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/image001.png?strip=all" alt="" class="wp-image-84421" style="width:430px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/10/image001-199x300.png 199w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/image001.png?strip=all 512w" sizes="(max-width: 512px) 100vw, 512px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><strong>Văn Học</strong><strong> Press</strong><strong></strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>22 Agostino, Irvine, CA 92614 USA </strong><strong>• vmail: +1-949-981-3978</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>email: </strong><a href="mailto:vanhocpress@gmail.com"><strong>vanhocpress@gmail.com</strong></a><strong> • Facebook: Van Hoc Press</strong><strong></strong></p>



<p class="has-text-align-center">PR 10/20/2025</p>



<p class="has-text-align-center">SÁCH MỚI</p>



<p class="has-text-align-center">Trân trọng giới thiệu:</p>



<p class="has-text-align-center"><strong>THEO DẤU THƯ HƯƠNG II</strong></p>



<p class="has-text-align-center">Tạp luận</p>



<p class="has-text-align-center">TRỊNH • Y • THƯ</p>



<p class="has-text-align-center">VĂN HỌC PRESS xuất bản, 2025</p>



<p>oOo</p>



<p><em>Lời ngỏ:</em></p>



<p>Căn cứ vào nhan đề cuốn sách đang cầm trên tay, bạn đọc có thể đoán biết cuốn sách này là tiếp nối cuốn tạp luận <em>Theo dấu thư hương</em> xuất bản năm 2022 của tôi.</p>



<p>Quả đúng vậy, bởi nội dung cuốn sách vẫn là sự tiếp nối việc đọc sách trong ba năm qua của tôi, một hành trình, đúng hơn, một thói quen tôi gìn giữ được qua bao năm tháng. Trong <em>Lời ngỏ</em> của cuốn sách trước, tôi có sử dụng một trích ngôn của văn hào Gustave Flaubert: “Hãy đọc sách để mà sống!” Nhưng tại thời điểm này, tôi muốn thay vào đó bằng câu nói: “Hãy đọc để biết mình chưa chết”, để quên đi tất cả những điều nhiếu nháo ngoài kia và cả trong lòng, để yêu quý sự cô đơn.</p>



<p>Thi hào Octavio Paz của xứ Mexico từng nói, “Chỉ con người mới biết cô đơn.” Đọc sách, như một thái độ đối với cô đơn, không hẳn chỉ đơn thuần là thú vui hay hoạt động trí tuệ, mà còn là sự định hướng nội tâm có chủ đích, một phương cách khẳng định bản thân, chứ không phải trốn tránh thực tại hay tự cô lập. Đọc sách cho tôi cái thú được cô đơn nhưng tôi không cảm thấy cô độc, như văn hào Hemingway từng nói, “Không có người bạn nào chung thủy như một cuốn sách.” Cuốn sách luôn là người bạn đồng hành thân thiết. Tiếng nói của tác giả, người kể chuyện và các nhân vật trở thành những người bạn đồng hành xuyên thời gian và không gian với tôi. Marcel Proust cũng từng nói rằng đọc sách là “phép màu hữu ích của sự giao tiếp giữa cô đơn.” Vì vậy, cô đơn không hề trống rỗng, nó được lấp đầy bởi sự hiện diện của những người khác thông qua sách.</p>



<p>Đọc sách đích thực – đọc chậm rãi, suy ngẫm, đắm chìm, và sau đó viết xuống những ý tưởng của mình về cuốn sách – thường đòi hỏi sự cô đơn. Chính trong sự cô đơn, tâm trí có thể nán lại, đặt câu hỏi và tìm ra ý nghĩa. Hình thức cô đơn này không phải sự rút lui tự cô lập, càng không phải sự tự hủy bản ngã, mà là sự gắn kết sâu sắc giữa bản thân với thế giới. Trong một thế giới phi lý luôn bị khuấy động bởi vô vàn điều vô nghĩa, đọc sách trở thành một hành động tĩnh lặng, kháng cự. Nó thể hiện một thái độ phản kháng đối với không-thời-gian; ý nghĩa của nó đằng sau là “Tôi chọn sự tĩnh lặng, tôi chọn không bị cuốn đi.”</p>



<p>Đọc sách còn là cuộc đối thoại với chính mình. Trong cô đơn, đọc sách có nghĩa là tự phản chiếu. Những con chữ trên trang giấy khơi dậy những suy nghĩ, ký ức và cảm xúc, mời gọi người đọc bước vào một cuộc đối thoại nội tâm. Đây là lý do tại sao tôi luôn tìm sách để đọc trong những thời điểm khó khăn như hiện đang vướng phải ở buổi hoàng hôn đời người; nó giúp tôi hiểu rõ hơn trải nghiệm nội tâm.</p>



<p>Sự cô đơn của việc đọc sách trở thành chất xúc tác cho việc định hình và tái định hình đời sống nội tâm. Đọc sách cũng khiến bật lên những khía cạnh triết học, đặc biệt là sách văn học và triết học, bởi nó giúp chúng ta tiếp cận với những câu hỏi hiện sinh như cái chết, ý nghĩa cuộc sống, tình yêu, sự vong thân. Tính cách đối đầu này chỉ có thể xảy ra trong một tâm trạng quán chiếu cô đơn; nhưng nó giúp ta đối mặt không phải trong tuyệt vọng, mà trong sự thấu hiểu lẫn nhau. Tóm lại, như một thái độ đối với cô đơn, không phải đối đầu lại mà hòa nhập vào, đọc sách không chỉ là hành động đơn độc mà là cách sống trong cô đơn một cách có ý nghĩa. Nó biến cô đơn thành kết nối, dửng dưng thành suy ngẫm, và im lặng thành đối thoại.</p>



<p>Như đã thưa trong <em>Lời ngỏ</em> của tập sách trước, tôi không phải con mọt sách, cái đọc của tôi giới hạn lắm, vì tôi chỉ đọc những gì tôi thích, và thích nhất là đọc sách của bằng hữu văn chương. Hai người tôi luôn quý mến và quý trọng trong suốt nhiều năm qua là nhà văn Ngô Thế Vinh và nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh. Cả hai đều có chỗ đứng rất riêng trong cõi văn, cõi thơ của mình, và giữa họ với tôi có mối giao tình rất quý. Bởi thế chẳng có gì ngạc nhiên tôi dành khá nhiều câu chữ ưu ái trong tập sách cho hai vị ấy.</p>



<p>Ngoài ra, tôi cũng dành nhiều tình cảm tốt đẹp cho các nhà văn, nhà thơ khác như Đỗ Hồng Ngọc (tức Đỗ Nghê), duyên, Lê Chiều Giang, Vũ Thư Hiên, Khuất Đẩu, Nguyễn Đức Tùng. Các tác phẩm của họ đã để lại dấu ấn rất lớn trong trái tim tôi.</p>



<p>Riêng trường hợp nhà văn Khuất Đẩu thì là cái duyên, bởi tuy nghe danh tiếng ông từ lâu nhưng tôi chưa bao giờ có duyên đọc trọn vẹn một tác phẩm nào của ông, và cũng chưa từng một lần gặp gỡ. Thế rồi tình cờ tôi được một người bạn cho mượn tập truyện của ông, và tôi đã nghiền ngẫm đọc để có bài viết trong cuốn sách. Khi bài viết xuất hiện, ông đã biên cho tôi một lá thư viết tay chí tình. Điều đó khiến tôi ấm lòng, vì biết tuy xa cách cả một đại dương nhưng vẫn có thể có những tâm hồn cùng chia sẻ với nhau về những điều gì đó trong cuộc nhân sinh.</p>



<p>Tôi cũng thích đọc sách lịch sử, nhưng chính những chuyện xảy ra bên lề lịch sử hay bị chính sử gạt sang một bên, bôi xóa, bóp méo, khiến tôi cảm thấy thôi thúc muốn nói lên cảm nghĩ của mình. Kết quả là những bài viết như <em>Sự lãng quên, Tiếng nói như là kết nối giữa hiện tại với quá khứ</em>.</p>



<p>Đặc biệt trong tập sách này, ngoài những bài viết về văn học nghệ thuật, tôi có hai bài viết về khoa học kỹ thuật. Điều này không lạ, bởi thời sinh viên, tôi theo học ban Khoa học, và sau khi ra trường, tôi lăn lộn gần như suốt cuộc đời đi làm kiếm cơm trong các tập đoàn công ty công nghệ điện tử cho đến khi về hưu gần đây. Khoa học, nhất là Vũ trụ học, vẫn là đề tài cho tôi tìm đọc hằng ngày.</p>



<p>Từ năm 2021, tôi cộng tác với <em>Việt Báo Daily News</em>, một cơ sở báo chí của cộng đồng người Việt hải ngoại tại Miền Nam California, với bút danh Trịnh Khải Nguyên-Chương. Trong số những bài báo có tính cách thông tin, tôi chọn ra được vài ba bài đắc ý để in chung vào tập sách.</p>



<p>Nói chung, tập sách không có một chủ đề nhất quán, thậm chí, nó là khá lan man, từ chủ đề này nhảy sang chủ đề khác một cách tùy tiện, tùy hứng. Nhưng nhờ vậy, theo tôi, nó đỡ nhàm chán, vốn là một trong những lý do chính khiến người đọc ngày càng ít đi.</p>



<p>Với cuốn sách, tôi hy vọng tạo được nhịp cầu thông cảm giữa tôi và bạn đọc. Một lần nữa, tôi xin bày tỏ lòng tri ân đến tất cả những tác giả có trong tập sách, đã cho tôi nguồn cảm hứng viết những dòng chữ này.</p>



<p>– <em>Trịnh Y Thư</em></p>



<p>(2025)</p>



<p>@@@</p>



<p>Sách có bán trên BARNES &amp; NOBLE</p>



<p>294 trang, bìa mềm, 5.5” x &nbsp;8.5”, giá bán: US$20.00</p>



<p>Xin bấm vào đường dẫn sau:</p>



<p><a href="https://www.barnesandnoble.com/w/theo-dau-thu-huong-ii-trinh-y-thu/1148217340?ean=9798319699602">https://www.barnesandnoble.com/w/theo-dau-thu-huong-ii-trinh-y-thu/1148217340?ean=9798319699602</a></p>



<p>Từ tìm kiếm: theo dau thu huong II, trinh y thu</p>



<p>Hoặc liên lạc với tác giả / NXB qua địa chỉ email sau để mua sách có chữ ký của tác giả:</p>



<p><a href="mailto:trinhythu@gmail.com">trinhythu@gmail.com</a></p>



<p><a href="mailto:vanhocpress@gmail.com">vanhocpress@gmail.com</a></p>



<p></p>



<p></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Trịnh Y Thư: Tiếng nói như là kết nối giữa hiện tại với quá khứ</title>
		<link>https://t-van.net/trinh-y-thu-tieng-noi-nhu-la-ket-noi-giua-hien-tai-voi-qua-khu/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Trịnh Y Thư]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 28 Aug 2025 05:14:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[lịch sử]]></category>
		<category><![CDATA[tiếng Việt]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=83203</guid>

					<description><![CDATA[Ảnh (Tác Giả gởi) 1. Bối cảnh cuộc di dân vĩ đại của loài người Sau nhiều nghiên cứu trong các ngành Khảo cổ học, Nhân chủng học, Di truyền học, ngày nay chúng ta biết là tất cả con người trên mặt đất, mọi màu da sắc tộc, đều là di duệ của giống [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/08/4a12P38i-image002.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="432" height="174" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/08/4a12P38i-image002.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-83204" style="width:680px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/08/image002-300x121.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/08/4a12P38i-image002.jpg?strip=all 432w" sizes="(max-width: 432px) 100vw, 432px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Ảnh (Tác Giả gởi)</em></p>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><strong>1. Bối cảnh cuộc di dân vĩ đại của loài người</strong></p>



<p>Sau nhiều nghiên cứu trong các ngành Khảo cổ học, Nhân chủng học, Di truyền học, ngày nay chúng ta biết là tất cả con người trên mặt đất, mọi màu da sắc tộc, đều là di duệ của giống người Homo sapiens, sau nhiều triệu năm từ loài khỉ, loài vượn tiến hóa mà thành. Giống Homo sapiens xuất hiện ở châu Phi cách nay khoảng 200.000-300.000 năm. Họ bắt đầu từng nhóm di cư ra khỏi châu Phi cách nay vào khoảng 60.000-70.000 năm, có thể là qua eo biển Bab el-Mandeb ở Sừng châu Phi hoặc bán đảo Sinai. Làn sóng này sau nhiều chục nghìn năm đã định cư ở phần còn lại của thế giới và là tổ tiên của tất cả con người hiện đại không phải người châu Phi. Dần dà họ vào Trung Đông và Nam Á. Họ lai giống với người Neanderthal ở Trung Đông và với người Denisova ở châu Á. (Cả hai giống người Neanderthal và Denisova đều đã tuyệt chủng từ lâu). Cách nay khoảng 50.000-45.000 năm họ đến Đông Nam Á và Úc. Người Úc bản địa (aboriginal) là di duệ trực tiếp của những di dân đầu tiên này. Cũng vào khoảng thời gian này họ vào châu Âu và thế chỗ hoặc lai giống với người Neanderthal. Khoảng 40.000-30.000 năm cách nay, họ vào Siberia và Đông Á. Có người ở Bắc Á và Siberia, có người mở rộng sang Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản. Đến 20.000-15.000 năm cách nay, họ vào châu Mỹ qua con đường từ Siberia men theo dải băng Bering (ngày nay là eo biển Bering) trong thời kỳ Băng hà cuối cùng. Họ có mặt ở châu Mỹ, từ bắc chí nam, vào khoảng 13.000 năm cách nay. Họ tỏa ra đại dương vào Châu Đại Dương xa xôi và quần đảo Thái Bình Dương cách nay khoảng từ 3.500 đến 1.000 năm. Tộc Polynesian đến Hawaii, đảo Easter và New Zealand gần đây nhất, vào khoảng 1.000 năm cách nay.</p>



<p>Vào khoảng 10.000 năm cách nay, trong thời kỳ Đồ Đá Mới/ Neolithic, con người bắt đầu phát minh ra nông nghiệp. Quá trình chuyển đổi này có thể bắt đầu ở một số nơi trên thế giới một cách độc lập, không ai dạy ai, bao gồm: Trung Đông (ngày nay là Iraq, Syria, Israel và các khu vực xung quanh) vào khoảng năm 9.500-8.500 trước, với các loại cây trồng như lúa mì, lúa mạch và các loại đậu; Trung Quốc, trồng lúa và kê vào khoảng 8.000-7.000 năm trước; Trung Mỹ, ngô, đậu và bí vào khoảng 7.000-5.000 năm trước. Vùng Andes/Amazon, châu Phi cận Sahara, và New Guinea cũng chứng kiến ​​sự phát triển độc lập của nông nghiệp.</p>



<p>Nông nghiệp có ý nghĩa gì? Nó quan trọng như thế nào, và ảnh hưởng của nó ra sao đối với biến trình tiến hóa của văn minh con người? Sự khởi đầu của nông nghiệp đánh dấu một trong những thay đổi sâu xa nhất trong lịch sử loài người và biểu thị một số thay đổi quan trọng. Nó chuyển đổi từ cuộc sống du mục sang định cư. Trước khi có nông nghiệp, con người sống nhờ săn bắt hái lượm, thường xuyên di chuyển để tìm kiếm thức ăn. Nông nghiệp cho phép người ta định cư tại một nơi, dẫn đến sự phát triển của làng xã và cuối cùng là đô thị như ngày nay. Nguồn cung cấp thực phẩm ổn định hỗ trợ dân số lớn hơn. Có nhiều thực phẩm hơn khiến dân số gia tăng đáng kể. Sự phát triển của các xã hội theo đó trở nên phức tạp: Thực phẩm dư thừa cho phép chuyên môn hóa lao động dẫn đến chế độ nô lệ và tiền tư bản, hệ thống phân cấp xã hội, thương mại và sự thành lập của các đơn vị nhà nước. Những tiến bộ về văn hóa và công nghệ cũng theo đó phát triển. Chữ viết, toán học và kiến ​​trúc đồ sộ thường theo sau nông nghiệp. Các khu định cư lâu dài cho phép tích lũy kiến ​​thức và văn hóa.</p>



<p>Tóm lại, sự ra đời của nông nghiệp cách nay khoảng 10.000 năm đánh dấu sự khởi đầu của nền văn minh như chúng ta biết, làm thay đổi sâu rộng mối quan hệ giữa con người với môi trường, với nhau và với chính thời gian.</p>



<p><strong>2. Con người có mặt tại Đông Nam Á từ bao giờ?</strong></p>



<p>Căn cứ vào niên biểu trên thì con người đã có mặt ở Đông Nam Á (Miến Điện, Thái Lan, Kampuchia, Lào, Việt Nam) từ 50.000 đến 45.000 năm cách nay, có nghĩa là từ 10.000 đến 15.000 năm trước khi có những nhóm di dân khác tràn vào miền đất ngày nay là Trung Quốc. Đây là điểm rất đáng chú ý cho chúng ta có cái nhìn chính xác hơn về nguồn gốc dân tộc Việt Nam.</p>



<p>Người Lạc (vẫn được xem là tổ tiên của 100 triệu dân Việt Nam ngày nay) là giống dân đã có mặt tại đất Bắc Bộ từ nhiều nghìn năm trước hay là người từ nơi khác di cư đến? Câu hỏi này đã được nhiều người tìm kiếm câu trả lời, nhất là trong giới học thuật người Pháp vào đầu thế kỷ XX. Ông Leonard Aurousseau dựa vào một số thư tịch cổ của Trung Hoa cho rằng sau khi nước Việt (của Câu Tiễn) bị nước Sở diệt cuối thời Xuân Thu thì người Việt phải lưu vong xuống miền Giang Nam ở rải rác thành các các nhóm Bách Việt, mà Lạc Việt là một thành phần dân tộc như vậy. Một học giả khác, ông Claudius Madrolle, cho rằng người Lạc là người Mân Việt (vào quãng tỉnh Phúc Kiến ngày nay) do đi thuyền chở hàng hóa xuống buôn bán ở xứ Lê Động (Hải Nam) rồi không trở về quê cũ mà lập nghiệp ở vùng đất mới, lâu ngày thành dân Lạc.</p>



<p>Ức thuyết của hai học giả người Pháp nói trên phần nhiều đã bị bác bỏ. Có nhiều giả thuyết khác nữa, nhưng không giả thuyết nào dựa vào chứng cứ mà chỉ là những phiếm đoán mơ hồ, thậm chí hàm hồ, dựa trên những thư tịch cổ xưa không chính xác vì chính những thư tịch đó là do người đời sau viết lại theo những nhận định chủ quan, thiên kiến.</p>



<p>Khác với quan điểm thông thường cho rằng người Việt cổ đại là từ phương bắc di dân xuống miền nam, với thuyết “Out of Africa” và những nghiên cứu, khảo sát mới nhất, con người đã có mặt ở vùng Đông Nam Á cách ngày nay khoảng từ 50.000 đến 45.000 năm. Những khai quật gần đây nhất cho biết là suốt thời kỳ Đá Cũ, tại vùng Bắc Bộ và bắc Trung Bộ, đã xuất hiện nhiều bộ lạc sống bằng săn bắt, hái lượm. Họ cư trú trong hang động, mái đá ngoài trời, ven sông suối, trên một địa bàn khá rộng từ Sơn La, Lai Châu, Yên Bái, Bắc Giang đến Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Trị. Các di tích của các bộ lạc hoang sơ này được các nhà khảo cổ học gọi chung là Văn hóa Sơn Vi.</p>



<p>Bước sang thời kỳ Đá Mới, do kỹ thuật chế tác đồ đá cải tiến, văn hóa Sơn Vi nhường chỗ cho văn hóa Hòa Bình-Bắc Sơn. Họ mở rộng địa bàn cư trú rải rác suốt Bắc Bộ và bắc Trung Bộ ngày nay.</p>



<p>Cách nay khoảng 6.000 đến 5.000 năm, tức là vào hậu kỳ Đá Mới, phần lớn các bộ lạc này đã bước vào giai đoạn nông nghiệp trồng lúa. Theo nhận định của khoa Nhân chủng học thì việc phát minh ra nông nghiệp trên thế giới là tự phát, không ai học ai. Con người lúc đó đã có ít nhiều nhận thức về môi trường xung quanh, và trí khôn họ đủ cho họ tự mày mò tìm kiếm những phương pháp làm ra thực phẩm ngoài việc bắt cá dưới nước hoặc săn bắt, hái nhặt trên cạn. Sự thật là phải mất đến bốn, năm nghìn năm dân Lạc mới hoàn thiện phương pháp canh tác. Và phương pháp của họ không giống các nơi khác, nó là phương pháp mà cho đến đầu thế kỷ XX các dân tộc thiểu số ở Bắc Việt Nam còn dùng.</p>



<p>Người Trung nguyên đầu tiên vào đất Lạc đã tỏ ra khá kinh ngạc về lối canh tác này của người dân. Thư tịch cổ của Trung Hoa như sách <em>Quảng Châu Ký</em> chép rằng đất Giao Chỉ có ruộng, theo nước thủy triều lên xuống mà làm. Có lẽ họ tháo nước vào ruộng cho cỏ bị ngâm lũn đi, rồi lại tát nước ra cho cạn và cuốc hay cày lên để trồng lúa. Lối trồng trọt như thế, sử sách Trung Hoa gọi là hỏa canh (cày bằng lửa), thủy nậu (bừa bằng nước). Canh nông thường đi đôi với mục súc, có nhiều chứng cứ người Lạc đã nuôi gia súc như chó, mèo, trâu, bò, dê, lợn, gà.</p>



<p>Nói chung, lúc An Dương Vương Thục Phán đem quân xâm lăng đất Lạc thì dân Lạc đã có một nền kinh tế nông nghiệp khá vững vàng, có nghĩa là, đã có một xã hội quy củ, nền nếp. Sử cũ ta gọi đó là nước Văn Lang với họ Hồng Bàng mười tám đời Hùng Vương cùng các sự tích Lạc Long Quân-Âu Cơ, Thánh Gióng, Sơn Tinh-Thủy Tinh, vv. Nhưng đó chỉ là truyền thuyết hoang đường, phần nhiều do người đời sau dựa trên sự tích truyền khẩu rồi thêu dệt thêm ra, khó có thể xem là lịch sử, hoặc dễ dãi hơn, gọi là huyền sử là cùng. Ngay cả cái tên Văn Lang cũng chưa chắc có thật. Có người bảo đó là nước Dạ Lang do đọc sai mà thành Văn Lang. Có người bảo Văn Lang là “người vẽ/xăm mình” vì thấy dân bắt cá dưới nước ở đó có tục “cạo tóc xăm mình”. Tất cả chỉ là ức thuyết, không có gì là xác thực.</p>



<p>Tuy nhiên ta có thể hình dung ra được một tổ chức xã hội của cái vùng đất vào thuở hồng hoang đó. Khoa học Nhân chủng cho ta biết trong thời kỳ mông muội và dã man, nhất là sau khi chế độ nông nghiệp đã thành hình và phát triển vững chắc, thì thị tộc là cơ sở, là đơn vị cơ bản của tổ chức xã hội. Có ba hình thái tổ chức xã hội dựa trên cơ sở thị tộc, đó là bào tộc, bộ lạc và bộ lạc liên hiệp. Mỗi bào tộc bao gồm một số thị tộc cùng huyết thống, mỗi bộ lạc lại bao gồm một số bào tộc cùng huyết thống. Và sau cùng là bộ lạc liên hiệp do nhiều bộ lạc liên minh lại với nhau bởi nhu cầu cộng sinh cộng hưởng hoặc vấn đề phòng vệ an ninh. Cái “nước” gọi là Văn Lang ấy có lẽ chỉ là một bộ lạc liên hiệp.</p>



<p><strong>3. “Lạc” hay “Hùng”</strong></p>



<p>Kỳ thực, vì lúc đó người Việt cổ đại chưa có văn tự nên chúng ta không biết tên gọi “nước” ấy, “dân tộc” ấy là gì. Chữ “Lạc” là do sách sử Trung Hoa đầu tiên viết xuống, và cái giả thuyết về chữ “Lạc” là chuyện khá khôi hài. Có người ở thời hiện đại đưa ra giả thuyết sau: Khi người Trung nguyên đầu tiên vào Bắc Bộ, họ gặp người dân làm ruộng nước ở đấy, và khi biết những người dân này gọi “nước” là “rạc”, họ bèn gọi thứ ruộng ấy là “rạc điền”, tức là “ruộng nước”, nhưng vì âm giọng của họ không có âm “r”, tất cả đều được phát âm thành “l”, nên “Rạc điền” biến thành “Lạc điền” và sau đó họ gọi vua quan trong nước là Lạc Vương, Lạc Tướng, Lạc Hầu, vv, như ta thấy đầy dẫy trong sách vở. Cách giải thích từ “r” biến thành “l” này làm chuyện tiếu lâm mua vui trên bàn nhậu thì được, chứ khó thuyết phục được ai.</p>



<p>Một cách nghiêm túc, hàn lâm hơn, Giáo sư Trần Huy Bích giải thích với tôi như sau:</p>



<p>“Theo&nbsp;<em>Thủy Kinh Chú</em>, dẫn&nbsp;<em>Giao Châu Ngoại Vực Ký</em>: ‘Đất Giao Chỉ ngày xưa khi chưa đặt thành quận huyện (một cách nói ám chỉ đất ấy chưa thuộc quyền cai trị của triều đình Trung nguyên), đất đai có ruộng lạc(土地有雒田&nbsp;=&nbsp;<em>thổ địa hữu lạc điền</em>).’ Chữ <em>lạc</em> này tiếng Hoa phát âm là <em>luó</em>, rất giống âm <em>lúa</em> trong tiếng Việt. Người Trung nguyên thấy ruộng trồng lúa, hỏi người địa phương, ‘Đây là ruộng gì?’ Sau khi được trả lời là ‘ruộng lúa’ người Trung nguyên bèn ghi là&nbsp;雒&nbsp; 田&nbsp;và đọc là <em>luó tián</em> (ruộng trồng <em>luó</em>), đúng với điều nghe được. (Khi chúng ta đọc thành <em>lạc điền</em> theo âm Hán-Việt, chúng ta đã làm sai âm thanh phần nào). Từ chữ <em>lạc điền</em>, tác giả&nbsp;<em>Giao Châu Ngoại Vực Ký</em>&nbsp;đặt thêm những tiếng <em>Lạc dân</em>&nbsp;雒 民&nbsp;(dân ăn lúa), rồi Lạc Vương 雒 王, Lạc Hầu 雒 侯, Lạc Tướng 雒 將.&nbsp;Tất cả đều từ chữ <em>lúa</em> (<em>luó</em>) mà ra.</p>



<p>Các sách cổ của Trung nguyên không thống nhất cách viết chữ <em>luó</em> để chỉ <em>lúa</em>.&nbsp;<em>Quảng Châu Ký</em>&nbsp;viết là &nbsp;交趾有<strong>駱</strong>田&nbsp; (Giao Chỉ hữu lạc điền). Tuy cùng phát âm là <em>luó</em>, hai chữ&nbsp;&nbsp;雒&nbsp;và&nbsp;&nbsp;<strong>駱</strong>&nbsp;là những chữ khác nhau. Điều ấy không ngăn được sự kiện tác giả&nbsp;<em>Quảng Châu Ký</em>&nbsp;gọi người Việt cổ là Lạc nhân, rồi từ đó có Lạc Vương, Lạc Hầu, Lạc Tướng. Những tiếng ấy đều do các tác giả Trung nguyên đặt cho những người sống trên đất Việt cổ. Về sau, có thể có học giả Trung Hoa nhận ra những chỗ dị biệt ấy nhưng không thể sửa lại sách xưa.”</p>



<p>Ngoài ra, còn có nhiều ức thuyết khác nhằm giải thích sự xuất hiện của chữ “Lạc”, kể cả thuyết cho rằng vật tổ tô-tem của người Lạc cổ đại là giống chim lạc, có thấy trên mặt trống đồng. Nhưng chim lạc là giống chim gì, tại sao lại là vật tổ tô-tem của một giống dân, thì không ai nêu rõ, hơn nữa, tôi thấy hình vẽ con chim gọi-là “lạc” ấy trên mặt trống đồng trông giống con cò nhiều hơn, một giống chim có rất nhiều tại các vùng sông nước Bắc Việt Nam. Nếu bảo cò là vật tổ của dân Lạc thì có lẽ tôi tin hơn, vì nó luôn xuất hiện trong cuộc sống hằng ngày của người dân, trước kia cũng như bây giờ.</p>



<p>Thế rồi từ “Lạc Vương” chẳng hiểu vì sao một hôm bỗng biến thành “Hùng Vương”! Và cũng được giải thích là chữ “Lạc” và chữ “Hùng” viết khá giống nhau nên bị nhầm! Trời ạ! Các cụ thầy đồ và các quan ngự sử dài lưng tốn vải suốt ngày ngồi rung đùi ngâm thơ đọc sách thánh hiền mà lại để sai như thế được chăng? Tôi tự hỏi. Đây là quốc hiệu chứ có phải chuyện tiếu lâm tầm phào đâu, mà các cụ có thể tắc trách như vậy được! Thật là cái mớ bòng bong! Chẳng biết đâu mà lần.</p>



<p>Xin lỗi quý bạn đọc vì cái tật hay bỡn cợt của tôi. Để trở lại không khí nghiêm túc, tôi lại cầu cứu đến Giáo sư Trần Huy Bích, và được Giáo sư cho biết như sau:</p>



<p>“<em>Cựu Đường Thư</em>, soạn trong đời Hậu Tấn, năm 945 DL, dẫn sách <em>Nam Việt Chí,</em> nói rằng: ‘Đất Giao Chỉ xưa có quân trưởng gọi là Hùng Vương&nbsp;交 趾 之 地&nbsp;[…] 舊 有 君 長 曰 雄 王&nbsp;(Giao Chỉ chi địa […] cựu hữu quân trưởng viết Hùng Vương.)’ Tới đây Lạc Vương đã bị đổi thành Hùng Vương, vì chữ Hùng này&nbsp;<strong>雄</strong>&nbsp;viết khá giống chữ Lạc&nbsp;雒&nbsp;trong&nbsp;<em>Giao Châu Ngoại Vực Ký.”</em></p>



<p>Giáo sư Trần cũng cho biết thêm: “Hậu Tấn là một triều đại rất ngắn trong lịch sử Trung Hoa, chỉ được 2 triều vua, cai trị trong 11 năm, từ 936 đến 946 DL. Triều đại này nằm trong giai đoạn Thập Quốc Ngũ Đại, môt giai đoạn hỗn loạn sau khi nhà Đường sụp đổ. Khi ấy Trung Hoa chia thành 10 nước nhỏ, ở phương Bắc có 5 nhà Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu tranh giành nhau. <em>Cựu Đường Thư</em> soạn năm 945 DL là năm áp chót của nhà Hậu Tấn. Lúc ấy ngoài tác giả có lẽ không ai khác quan tâm đến chuyện vị vua thời cổ của đất Giao Chỉ nên được viết là&nbsp;雒 王&nbsp;(Lạc Vương) hay&nbsp;<strong>雄</strong><strong> </strong>王&nbsp;(Hùng Vương.) Khi soạn&nbsp;<em>Cựu Đường Thư</em>&nbsp;và&nbsp;gọi các vị vua đầu của đất Giao Chỉ là&nbsp;雄 王&nbsp;(Hùng Vương) thay vì&nbsp;雒 王&nbsp;(Lạc Vương) như trong&nbsp;<em>Giao Châu Ngoại Vực Ký</em>,&nbsp;các tác giả của&nbsp;<em>Cựu Đường Thư</em>&nbsp;đã dựa theo cuốn&nbsp;南 越 誌&nbsp;(<em>Nam Việt Chí</em>) của&nbsp;<strong>沈</strong><strong> </strong><strong>怀</strong><strong> </strong><strong>远</strong><strong> </strong>(Thẩm Hoài Viễn) đời Lưu Tống [420-479 DL].”</p>



<p>Vậy người Trung Hoa đầu tiên dùng danh hiệu&nbsp;Hùng Vương để chỉ các vua đầu của đất Việt cổ&nbsp;là&nbsp;Thẩm Hoài Viễn, sống vào thế kỷ V.&nbsp;Lúc ấy Giao Châu còn đang bị đô hộ.</p>



<p>Theo một nhà sử học danh tiếng khác cũng trong thời hiện đại là giáo sư Trần Quốc Vượng thì chữ “Hùng” là phiên âm của chữ “Khun”, có lẽ đọc là “Khờ-hun”, một từ cổ trong ngữ hệ Nam-Á, có nghĩa là tù trưởng, thủ lĩnh.</p>



<p>Nói chung, sau hai, ba nghìn năm, ta vẫn lúng túng về danh xưng của dân tộc trong thời cổ đại, và có lẽ chẳng bao giờ có câu trả lời thỏa đáng. Cụm từ Lạc-Việt là do người Trung nguyên đặt cho ta, và chúng ta đành ôm lấy nó mà chẳng có chọn lựa nào khác. Trong bài viết này, tôi sử dụng từ “Lạc” để ám chỉ dân tộc ấy. Gọi thế là khiên cưỡng chỉ vì không có cách gọi nào khác cho chính xác hơn.</p>



<p>Trở lại thắc mắc “Lạc” hay “Hùng”? Cái nào đúng hơn? Tôi nghĩ tùy bạn thôi. Cả hai đều đúng, và cả hai đều không đúng, cả hai đều do người phương bắc đặt cho ta. Dân gian thì thích chữ “Hùng” hơn vì nghe nó có vẻ… hùng dũng; và hằng năm tôi vẫn được nhắc nhở đi dự lễ Quốc tổ Hùng Vương có các thiếu nữ xinh như mộng mặc áo dài kim tuyến lóng lánh, đội vương miện à-la-mode-Nam-Phương-Hoàng-hậu ca múa lả lướt trên sân khấu nhìn đã mắt, hòa quyện với tiếng nhạc Cha-cha-cha và Bolero nghe đã tai, sau đó được ăn chả giò và mì xào tôm thịt ngon đã miệng.</p>



<p><strong>4. “Việt” hay “không-Việt”?</strong></p>



<p>Một điều chắc chắn, vào cái thuở hoang sơ ấy người dân không tự gọi mình là “người Việt”. Chữ “Việt” thoạt kỳ thủy là do người Trung nguyên phương bắc đặt ra để gọi một cách tùy tiện và phiếm chỉ tất cả các dân tộc sinh sống ở phía nam sông Dương Tử hoặc từ rặng Ngũ Lĩnh trở xuống, tức là các miền Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây và Bắc Bộ nước ta ngày nay, bất luận các dân tộc ấy có cùng một nguồn gốc hoặc huyết thống hay không. Nó chỉ xuất hiện từ thời Xuân Thu, vì trước đó, vào thời nhà Hạ, nhà Thương, họ gọi các giống dân này là Man. Man hay Việt là một và chỉ là cái tên gộp chung một cách rất mơ hồ, phiếm định, cũng như họ gọi các dân tộc tiếp giáp với họ ở miền Tây Bắc, vùng thảo nguyên Trung Á, là Hồ; hoặc các dân tộc khác ở lưu vực sông Hoài, phía nam sông Hoàng Hà, là Di.</p>



<p>Vì nhận định sai lầm nên các sử gia của ta hễ thấy chữ “Việt” là nhận ngay đó là nguồn gốc, tổ tiên dân tộc Việt Nam, thí dụ như trường hợp nước Việt Thường. Các sử gia ta thấy tên Việt Thường trong sách xưa thì cho rằng đó là quốc tổ của giống Bách Việt, và chép truyện Việt Thường hiến trĩ trắng cho vua nhà Chu vào sử. Cố học giả lỗi lạc Đào Duy Anh phản bác luận điểm này; ông cho rằng Việt Thường là một nước chư hầu nhỏ của nhà Chu, nằm khoảng giữa hai nước lớn là Sở và Việt (Câu Tiễn), chứ không phải tiền thân của Lạc Việt hay Lâm Ấp (Chiêm Thành) như nhiều người nhận định sai. Người Việt Thường, cũng như người Việt (Câu Tiễn), do đó, là người Trung nguyên, hoặc đã bị đồng hóa với Trung nguyên từ lâu, chứ không phải tổ tiên chúng ta. Từ rất sớm trong lịch sử, các nước như Sở, Ngô, Việt, và hàng chục các chư hầu nhỏ hơn ở Hoa Nam và Tây Vực đã bị hút sâu vào quỹ đạo văn hóa Trung nguyên. Người Trung nguyên sớm phát minh ra văn tự và vì chiến tranh liên miên nên văn minh và văn hóa họ phát triển rực rỡ. Khi các vua Võ Vương, Văn Vương sáng lập nhà Chu vào khoảng thế kỷ XII TCN, Trung nguyên đã là một đế quốc phong kiến rộng lớn hùng mạnh, văn minh cao độ, học thuật phát triển, và chẳng có gì lạ nếu các dân tộc nhỏ yếu hơn xung quanh lần lượt quy phục họ, sẵn sàng để họ đồng hóa.</p>



<p>Chữ “Việt” xuất hiện nhiều từ khi Câu Tiễn nổi lên xưng bá ở vùng Chiết Giang. Theo các thư tịch Trung Hoa cổ thì tổ tiên Câu Tiễn vốn họ Mi, gốc người nước Sở; nói cách khác, họ là người Trung nguyên, sinh sống trong một nước chư hầu của nhà Chu, chẳng dính dáng gì đến đám dân lúc đó đang sống ở vùng Bắc Bộ. Có thể trong đám con cháu của Câu Tiễn, sau khi nước Việt của ông ta bị nước Sở diệt, có kẻ bồng bế kéo nhau sang Bắc Bộ tị nạn, theo thuyết của ông Aurousseau. Hoặc người Mân Việt, thuộc tỉnh Phúc Kiến ngày nay, trong suốt mấy trăm năm có những đợt di cư tìm đất sống mới, trôi giạt vào cửa bể Quảng Ninh, Hải Phòng, vv, và trở thành cư dân vĩnh viễn, theo thuyết của ông Madrolle. Nhưng không hề có chứng cứ gì cho thấy họ là người xây dựng nên cái-gọi-là nước Lạc Việt. Họ là dân Trung nguyên hoặc liên hệ xa gần với người Trung nguyên, đến sinh sống trên vùng đất mà sau này được gọi là Lạc Việt. Đóng góp của họ vào Lạc Việt chỉ xoay quanh các cải thiện kinh tế nhằm nâng cao mức sống và du nhập văn hóa, kỹ thuật mới, nhất là kỹ thuật đúc trống đồng của người Mân Việt.</p>



<p><strong>5. Tiếng nói định đoạt cho bản sắc dân tộc</strong></p>



<p>Con người cổ đại không ngừng mạo hiểm đi tìm đất sống, như chúng ta ngày nay được biết qua các khám phá mới trong các ngành Khảo cổ và Nhân chủng. Vì vậy, chẳng có gì thái quá nếu ta nhận định rằng vùng Bắc Bộ lúc đó là mảnh đất thu hút nhiều giống dân nhập cư từ nhiều nơi khác đổ về do khí hậu ấm áp, nhiều sông ngòi, đất đai phù sa màu mỡ, lắm bảo vật quý hiếm như ngà voi, sừng tê, châu báu, vv. Theo số liệu của <em>Hán Thư</em> và <em>Hậu Hán Thư </em>mà giáo sư Lê Mạnh Hùng liệt kê trong bộ sử <em>Nhìn lại Sử Việt</em> của ông, thì vào năm 2 DL (thời Hán thuộc), quận Giao Chỉ có 746.237 nhân khẩu, trong khi quận Nam Hải (tỉnh Quảng Đông ngày nay) chỉ có 94.235 miệng ăn, tức là dân số Giao Chỉ đông gấp bảy lần dân số Nam Hải.</p>



<p>Từ trước đó, những cuộc di dân âm thầm kéo dài trong nhiều trăm năm, có lẽ nhiều hơn, và chỉ bùng nổ để lại dấu vết rất lớn trong lịch sử với cuộc xâm lăng của Thục Phán. Nhờ kỹ thuật chế tác nỏ tinh xảo của xứ Thục, Thục Phán đánh chiếm vùng đất này một cách dễ dàng, nhưng chỉ ít năm sau đó, vì không biết giữ tướng giỏi là Cao Thông và khinh nhờn để gián điệp xâm nhập, đánh cắp kỹ thuật làm nỏ, Thục Phán bị Triệu Đà đánh bại. Từ đó phần đất này là nội thuộc của người phương bắc, mãi cho đến hơn nghìn năm sau, Ngô Quyền mới giành lại được chủ quyền đất nước.</p>



<p>(Từ lâu, ít nhất là từ giữa thế kỷ XX, nhà Triệu của Triệu Đà đã không được xem là một quốc triều của sử Việt. Điều này đúng, vì Triệu Đà là một tướng Tần, cát cứ ở vùng Hoa Nam dựng lên nước Nam Việt. Nhưng nếu xét từ cùng luận điểm ấy thì nhà Thục của Thục Phán cũng không thể xem là quốc triều, vì Thục Phán là hậu duệ của vua nước Thục (vùng Tứ Xuyên ngày nay), bị nhà Tần chiếm đất, chạy xuống Hoa Nam dựng lên nước Tây Âu.)</p>



<p>Lúc Ngô Quyền lên ngôi vua, mở đầu cho thời kỳ tự chủ của dân tộc, thì giang san của họ Ngô khác xưa nhiều, con người cũng đổi khác, không thuần chủng như xưa mà lai tạp rất nhiều. Duy một điều không khác: tiếng nói! Chính tiếng nói đã định đoạt cho bản sắc dân tộc và xác định họ là ai trong cộng đồng nhân loại.</p>



<p>Trong bộ sách đồ sộ <em>The History of the Vietnamese/ Lịch sử Người Việt</em>, học giả lỗi lạc người Mỹ K.W. Taylor, khi bàn về nguồn gốc dân tộc Việt Nam, đã cho rằng người Việt nguyên thủy – tức là người Lạc sinh sống rải rác trong vùng Bắc Bộ và bắc Trung Bộ – nói một thứ ngôn ngữ mà thuật ngữ khoa Nhân chủng học/ Dân tộc học gọi là <em>Proto-Viet-Muong</em>. Ngôn ngữ này là một ngữ chi của ngữ tộc Môn-Khmer, vốn xuất phát từ đồng bằng sông Mã (Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay) và dần dà thâm nhập ra Bắc. Nhưng cũng có giả thuyết khác cho rằng người Lạc đến từ vùng đồi núi phía Bắc và phía Tây sông Hồng, họ nói một thứ ngôn ngữ cổ có họ hàng với ngôn ngữ Khmu, một nhánh của Môn-Khmer, mà ngày nay vẫn được các sắc dân thiểu số Bắc Việt Nam và Lào sử dụng. Mặt khác, An Dương Vương Thục Phán và những người Âu (còn gọi là Tây Âu) khi vào chiếm đất đai của người Lạc thì lại nói một thứ tiếng khác, có quan hệ xa gần với ngữ tộc Tai-Kadai. Tiếng này có họ hàng với tiếng Lào và tiếng Thái. Nói chung, tiếng nói của người Lạc lúc đó thuộc ngữ hệ Nam-Á (Austro-Asiatic), khác tiếng Trung nguyên phương bắc vốn thuộc ngữ hệ Hoa-Tạng (Sino-Tibet), thậm chí, nó cũng khác với tiếng nói của các giống dân Bách Việt khác. (Thục Phán khi đem quân vào Lạc Việt ắt phải nhờ thông ngôn mới hiểu người Lạc nói gì.)</p>



<p>Muốn biết tiếng nói ấy như thế nào, bao nhiêu phần giống, chỗ nào khác với tiếng Việt ngày nay, có lẽ ta nên tìm đến đồng bào Mường. Tại sao? Vì người Mường ngày nay chính là di duệ hoặc một nhánh bà con xa gần với người Lạc, họ còn giữ được ít nhiều phong tục, tiếng nói, tập quán của tổ tiên.</p>



<p>Ngay nay chúng ta biết cấu trúc và ngữ pháp tiếng Việt khác xa cấu trúc và ngữ pháp tiếng Hán. Điều đáng cho chúng ta suy ngẫm là, vì sao, sau hơn một nghìn năm bị thống trị, bị ép buộc đồng hóa, người Việt không để mất tiếng nói ấy. Trong khi đó, chỉ sau vài ba trăm năm bị người Anglo-Saxon từ lục địa phía nam sang lấn đất, người Celtic (người Anh cổ đại) chỉ còn biết nói tiếng Anglo-Saxon; và gần thời đại chúng ta hơn, người Ireland sau khi bị người Anh đô hộ cũng trong vài ba trăm năm, bây giờ hầu như cả nước chẳng còn ai nói tiếng Ireland. Người thổ dân da đỏ Bắc Mỹ cũng vậy, chỉ sau hơn một trăm năm bị người da trắng khống chế, chẳng mấy ai còn nhớ tiếng nói của tổ tiên mình.</p>



<p>Có nhiều yếu tố khiến người Việt không bị người Hán đồng hóa dù bị đô hộ trên một nghìn năm, trong đó, yếu tố tiếng nói là quan trọng nhất. Vì không muốn bị đồng hóa nên không để mất tiếng nói, hay vì không bị đồng hóa do những điều kiện ngoại tại khác nên tiếng nói không bị mất? Khảo sát quan hệ nhân quả đó nằm ngoài phạm vi bài viết và cũng nằm ngoài khả năng người viết, vì vậy xin miễn bàn. Điều thú vị là chẳng những người Việt không bị đồng hóa mà cha ông những người phương bắc nhập cư, như Lý Bôn, Triệu Quang Phục, Phùng Hưng, vv, lại hội nhập với cộng đồng người Việt, trở thành người Việt, họ đứng lên khởi nghĩa chống lại triều đình phương bắc. Những người như các vị anh hùng này là một bộ phận không nhỏ của dân tộc, nhưng thay vì giữ tiếng nói phương bắc của họ, họ nói tiếng Việt. Họ còn có công phong phú hóa tiếng Việt bằng cách tạo ra rất nhiều từ Hán-Việt. Việc này xảy ra vào thời Đường thuộc, nên cách phát âm tiếng Hán-Việt chính là cách phát âm tiếng Hán thời Đường, rất khác với cách phát âm của người Trung Quốc thời nay.</p>



<p><strong>6. Vài cảm nghĩ từ bàn viết lữ thứ</strong></p>



<p>Việc kết nối với tổ tiên thông qua ngôn ngữ có thể diễn ra ở nhiều cấp độ, bởi ngôn ngữ không chỉ là công cụ giao tiếp mà còn mang theo ký ức, thế giới quan và bản sắc. Dù chỉ chia sẻ được một bộ phận rất nhỏ của ngôn ngữ đó cũng có thể kết nối bạn với thế giới của tổ tiên mình. Ngôn ngữ thường mã hóa các giá trị văn hóa (ví dụ, các thuật ngữ về quan hệ họ hàng hoặc ẩn dụ gắn liền với đất đai, tâm linh hoặc cộng đồng). Bằng cách chia sẻ ngôn ngữ, bạn tái hiện một phần thế giới tinh thần của họ. Đây không hẳn chỉ là một thao tác ngôn ngữ mà còn là việc tham gia vào cùng một nhịp điệu và hình ảnh mà tổ tiên bạn đã trải qua. Ngay cả khi ý nghĩa nguyên thủy không rõ ràng, có những đứt đoạn, phân mảnh mơ hồ, việc nắm bắt nhịp điệu, âm điệu, cú điệu vẫn có thể mang theo sức nặng cảm xúc. Từ ngữ thông dụng thường lưu giữ những lịch sử đã bị lãng quên. Khám phá nguồn gốc của những từ ngữ này có thể tiết lộ cách tổ tiên bạn nhìn nhận bản thân và thế giới của họ. Việc đặt lại hoặc lấy lại tên tổ tiên cũng là một cách mạnh mẽ để hiện thân cho mối liên kết đó. Ngôn ngữ định hình cử chỉ, biểu cảm, thái độ, thậm chí, cả cách liên hệ với khoảng không nghìn trùng im lặng. Bằng cách nói hoặc lắng nghe ngôn ngữ của tổ tiên, bạn có thể nhận thấy sự thay đổi trong tư thế, nhịp điệu suy nghĩ hoặc âm giọng cảm xúc của mình, gần giống như đang sống trong sự hiện diện của họ. Ngay cả khi bạn chỉ biết những đoạn rời rạc, việc sử dụng ngôn ngữ của tổ tiên trong cuộc sống hằng ngày tạo ra một cầu nối sống động. Một lời chào, cách xưng hô với người lớn tuổi, hoặc gọi tên các món ăn bằng ngôn ngữ đó có thể biến những hành động đời thường thành những nghi lễ tưởng nhớ nho nhỏ. Về bản chất, việc kết nối với tổ tiên thông qua ngôn ngữ không phải là sự thông hiểu tuyệt đối mà là về mối quan hệ. Ngay cả một từ, một lời khấn khứa hay một điệu hát cũng có thể đóng vai trò như sợi chỉ dài xuyên suốt kết nối bạn qua nhiều thế hệ.</p>



<p>Tôi cảm thấy may mắn vì tôi vẫn có thể kết nối với tổ tiên tôi qua tiếng nói. Nó giúp tôi vững tin hơn vào giá trị những gì tôi hằng tin tưởng và đam mê theo đuổi. Nó phả sức sống vào một người viết lưu vong, cô đơn, tại một bàn viết lữ thứ, cách xa quê hương cả một đại dương rộng lớn.</p>



<p>Từ nhận định của giáo sư K.W. Taylor trong bộ sách của ông về người Việt cổ đại, tôi có cảm hứng viết bài này. Đây là một bài tản mạn, không phải một thiên khảo luận, mặc dù đôi lúc tôi có bị sa đà vào những điều tôi thường suy ngẫm. Một trong những điều ấy là, tổ tiên tôi chẳng phải một dân tộc oai hùng gì, họ chẳng để lại một di tích, di chỉ văn minh rực rỡ nào, bốn nghìn năm văn hóa chẳng qua chỉ là một kiểu nói khuôn sáo cũ mòn nhằm vuốt ve tự ái dân tộc, họ chẳng để lại một công trình kiến trúc, thành quách vĩ đại nào, họ chẳng ảnh hưởng bao nhiêu đến sự tiến bộ nói chung của nhân loại, thậm chí, một hệ thống văn tự cũng không có, họ chẳng có một nhân vật kiệt hiệt đầu đội trời chân đạp đất như Đại đế Alexander bên trời Tây hay Tần Thủy Hoàng bên trời Đông, với những chiến tích hiển hách, tên tuổi vang rền cho đến ngày hôm nay. Họ chỉ là những người dân lam lũ cần cù, ngày ngày vắt mồ hôi ngoài đồng ruộng để kiếm miếng ăn. Họ chỉ để lại cho chúng ta vài cái trống đồng trông hay hay, ngồ ngộ. Và tiếng nói.</p>



<p>Tiếng nói ấy, dĩ nhiên, theo thời gian thay đổi, tiến hóa nhiều, mỗi thời đại đều có những từ mới nhập vào dòng chính và nhiều từ cũ bị đào thải, không mấy ai sử dụng nữa. Cách diễn tả, biểu hiện, cách phát âm chắc cũng đổi khác, nhưng cái cơ bản của tiếng nói, mà Giáo sư Taylor gọi là Proto-Viet-Muong, vẫn ở nguyên đấy; ví dụ ta nói “Mẹ đi chợ về” chứ không nói “Mẹ về từ chợ.” Trật tự thời gian luôn là yếu tố quan trọng trong tiếng Việt. Tiếng Việt cũng không phải một ngôn ngữ chặt chẽ như tiếng Pháp, hơn nữa, nó phải vay mượn gần như toàn bộ từ vựng cho những khái niệm và ý niệm trừu tượng từ tiếng nước ngoài, như tiếng Hán. Nhưng nó tồn tại sau nhiều nghìn năm, mặc dù có thời nó bị ngăn chặn, rẻ rúng, xem thường. Điều gì khiến nó không bị mai một như rất nhiều tiếng nói khác trên thế giới? Như tiếng Aramaic, ngôn ngữ nói của Đức Chúa Giê-su. Đức tin Đức Chúa rao giảng lan tỏa khắp thế gian suốt hơn hai nghìn năm qua, nhưng thử hỏi tiếng nói của Ngài thì còn ai biết nữa không.</p>



<p>Tôi mong được bạn trả lời cho câu hỏi trên. Trong lúc chờ đợi bạn cho tôi câu trả lời, tôi tiếp tục nói chuyện với tổ tiên tôi bằng thứ tiếng nói tuy bất toàn nhưng lại rất gần gũi với trái tim tôi.</p>



<p><strong>– Trịnh Y Thư</strong></p>



<p>(08/2025)</p>



<p><em>Ghi chú:</em></p>



<p>Cảm tạ Giáo sư Trần Huy Bích và chị Ngọc Dung đã giúp tra cứu nhiều thông tin hữu ích cho tác giả trong bài viết này.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngô Thế Vinh: CREATIVE WORLD OF SOUTH VIETNAM AND OVERSEAS (Bản Anh Ngữ: ERIC HENRY)</title>
		<link>https://t-van.net/ngo-the-vinh-creative-world-of-south-vietnam-and-overseas-ban-anh-ngu-eric-henry/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Trịnh Y Thư]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 09 Aug 2025 09:50:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[TÁC PHẨM MỚI]]></category>
		<category><![CDATA[ngô thế vinh]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=82740</guid>

					<description><![CDATA[CREATIVE WORLD OF SOUTH VIETNAM AND OVERSEAS1954 – 1975 TO THE PRESENT Author:&#160;Ngô Thế VinhTranslator:&#160;Eric Henry Copy Editor: Trần Thị Nguyệt MaiJacket Painting by Tạ TỵCover Design by Uyên NguyênPublishing Group: Việt Ecology Press &#38; Văn Học PressLanguage: ‎ EnglishPrint length: ‎628 pagesSoftcover – colorPrice: $55 USD Book released on&#160;https://www.amazon.com Reviews: ·         Dr. Eric Henry, translator: This [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/08/Sach-image.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="678" height="1024" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/08/Sach-image-678x1024.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-82741" style="width:456px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/08/Sach-image-199x300.jpg 199w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/08/Sach-image-678x1024.jpg?strip=all 678w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/08/Sach-image.jpg?strip=all 721w" sizes="(max-width: 678px) 100vw, 678px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p class="has-text-align-center">CREATIVE WORLD OF SOUTH VIETNAM AND OVERSEAS<br>1954 – 1975 TO THE PRESENT</p>



<p class="has-text-align-center">Author:&nbsp;Ngô Thế Vinh<br>Translator:&nbsp;Eric Henry</p>



<p class="has-text-align-center"><br>Copy Editor: Trần Thị Nguyệt Mai<br>Jacket Painting by Tạ Tỵ<br>Cover Design by Uyên Nguyên<br>Publishing Group: Việt Ecology Press &amp; Văn Học Press<br>Language: ‎ English<br>Print length: ‎628 pages<br>Softcover – color<br>Price: $55 USD<br><br>Book released on&nbsp;<a rel="noreferrer noopener" target="_blank" href="https://www.amazon.com/Creative-World-South-Vietnam-Overseas/dp/B0FJ2Z9ZRH/">https://www.amazon.com</a></p>



<p><br>Reviews:<br><br>·         <strong>Dr. Eric Henry, translator</strong>: This book is a translation of a collection of personal, literary, and journalistic vignettes of Vietnamese individuals who have made notable contributions to literature, art, and science. It is a rich source of information on the social, cultural, and political history of South Vietnam, as well as the individual careers of its human subjects. The people described for the most part came into prominence in the period 1954 – 1975. After the fall of the South to North Vietnamese forces in 1975, most of them were imprisoned for some number of years in communist reeducation camps after 1975. Later, in the 1980s, some of them made their way to the U.S., and most continued to be creatively active.</p>



<p>·&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;<strong>Trịnh Y Thư, writer, poet</strong>:&nbsp;The book entitled Creative World of the South Vietnam and Overseas 1954-1975 to the Present (2025) originally known as Portraits of Literature, Art, and Culture written by the eminent writer Ngô Thế Vinh with English translation by the American scholar Eric Henry is a unique book in a sense that it presents to the general readers the fresh images of many personalities including writers, novelists, poets, journalists, painters, musician and other cultural figures, who, by all accounts, have been among the most respected and influential intellectuals in Vietnam.</p>



<p>·&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;<strong>Dr. Nguyễn Duy Chính</strong>:&nbsp;This book is a valuable trove of rare and authentic information, vividly portraying more than one generation of writers from South Vietnam. Dr. Eric Henry’s translation closely follows the original, though inevitably, some culturally rich Vietnamese details could not be fully conveyed. Even so, it remains a commendable effort by a foreign scholar deeply devoted to Vietnamese culture. A book well worth having on the shelf of anyone who still holds memories of a historical period slowly fading into oblivion.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>

<!--
Performance optimized by W3 Total Cache. Learn more: https://www.boldgrid.com/w3-total-cache/?utm_source=w3tc&utm_medium=footer_comment&utm_campaign=free_plugin

Page Caching using Disk: Enhanced 

Served from: t-van.net @ 2026-04-24 08:09:28 by W3 Total Cache
-->