<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Vương Trùng Dương &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<atom:link href="https://t-van.net/author/vuongtrungduong/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://t-van.net</link>
	<description>Văn Học và Đời Sống</description>
	<lastBuildDate>Mon, 13 Apr 2026 16:38:47 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.7.5</generator>

<image>
	<url>https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/02/t-van-favicon.png?strip=all&#038;resize=32%2C32</url>
	<title>Vương Trùng Dương &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<link>https://t-van.net</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Vương Trùng Dương: Chuyện Vãn Trong Cõi Nhân Gian</title>
		<link>https://t-van.net/vuong-trung-duong-chuyen-van-trong-coi-nhan-gian/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Vương Trùng Dương]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 14 Apr 2026 06:52:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[TÁC PHẨM MỚI]]></category>
		<category><![CDATA[giới thiệu sách]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=88320</guid>

					<description><![CDATA[Lời Ngỏ Chuyện Vãn Trong Cõi Nhân Gian Trong vài thập niên qua, tất cả các bài viết của tôi cho các tờ báo đảm trách (chủ nhiệm, chủ bút, tổng thư ký) và cộng tác&#8230; Số bài viết đã phổ biến trên các websites blogs&#8230; Theo lời thân hữu và độc giả đề nghị [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/04/nhan-gian.jpg?strip=all&w=2560"><img fetchpriority="high" decoding="async" width="1024" height="696" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/04/nhan-gian-1024x696.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-88321" style="width:654px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/04/nhan-gian-300x204.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/04/nhan-gian-1024x696.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2026/04/nhan-gian-768x522.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/04/nhan-gian.jpg?strip=all 1400w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><strong>Lời Ngỏ</strong></p>



<p><strong>Chuyện Vãn Trong Cõi Nhân Gian</strong></p>



<p>Trong vài thập niên qua, tất cả các bài viết của tôi cho các tờ báo đảm trách (chủ nhiệm, chủ bút, tổng thư ký) và cộng tác&#8230; Số bài viết đã phổ biến trên các websites blogs&#8230; Theo lời thân hữu và độc giả đề nghị tôi nên thực hiện sách để phổ biến và lưu giữ.</p>



<p>Để đáp lại nhã ý đó, tôi chọn trong số các bài phiếm, ấn hành Ngẫm Chuyện Nhân Sinh. Các bài viết liên quan đến lãnh vực văn học nghệ thuật, âm nhạc, tác giả tác phẩm đã ấn hành 3 quyển: Văn Nhân &amp; Tình Sử, Âm Nhạc &amp; Người Muôn Năm Cũ và Người Lính &amp; Chiến Hữu Văn Nghệ khoảng một nghìn trang.</p>



<p>Tôi không có ý định viết sách, trong thời gian qua, những bài viết Chuyện Vãn cho tuần báo Saigon Nhỏ, tôi chọn hai mươi bốn bài hợp với thời gian tính, edit lại để thực hiện tác phẩm Chuyện Vãn: Trong Cõi Nhân Gian khoảng 350 trang.</p>



<p>Các bài viết liên quan đến cuộc sống xưa nay, Đông Tây&#8230; từng mẩu chuyện qua sách báo, giai thoại lịch sử, văn chương, âm nhạc, điện ảnh, kịch&#8230; liên quan đến đời thường giữa tha nhân và bản thân trong mọi sinh hoạt.</p>



<p>Về tình yêu, vẫn là đề tài muôn thuở của cuộc sống bàng bạc trong những lãnh vực như vừa nêu trên, ngoài các tác phẩm hiện thực, đặc biệt trong tác phẩm kiếm hiệp của Kim Dung với nhiều nhân vật trong chốn võ lâm&#8230; yêu, ghen &amp; hận với bao oan nghiệt, bi kịch mà trong nhân gian ít xảy ra những trường hợp ngang trái như vậy. Nói đến tình yêu thì hình ảnh tình si &amp; si tình, bệnh tưởng, tưởng nhớ mùi hương, cuộc tình thầy trò, cô giáo và học trò đã một thời gây xôn xao trong dư luận.</p>



<p>Các bậc tiền bối đã lưu lại hậu thế tấm gương xử sự trong cuộc sống nên dựa vào đó đến cập đến “ôn cố tri tân” người xưa sửa lưng, gà nòi gà chọi&#8230; Giữa bạn và thù muôn mặt cho thấy con người vì nhiều lý do đã thay đổi nhân tính.</p>



<p>Trong cuộc sống, chúng ta thường bắt gặp hình ảnh nổ như tạc đạn nghe điếc con ráy nhưng nhiều “nhân vật” mang kho đạn Long Bình ngày xưa nổ bằng mồm mà thành ngữ ta có câu “thùng rỗng kêu to”!</p>



<p>Viết về nữ lưu là vấn đề nhạy cảm và tế nhị nên dựa vào nhiều tác phẩm, lịch sử, mẩu chuyện người xưa để ghi lại. “Đông, Tây, kim, cổ&#8230; lưu lại không biết bao nhiêu hình ảnh, câu chuyện kinh hoàng, tình huống không thể ngờ khi nữ lưu nổi giận. Bản chất của nữ lưu hầu như nhu mì nhưng khi thấy sự phản bội, lọc lừa, đụng chạm sự phủ phàng, đôi khi phải đương đầu với nghịch cảnh&#8230; tình cảm đột biến, bất chấp tất cả để ra tay cho thỏa cơn cuồng nộ&#8230;”.</p>



<p>Thành ngữ “xướng ca vô loại” xưa nay cũng là đề tài tế nhị với quan niệm người xưa khắt khe, phiến diện, trong thời đại ngày nay trở thành lỗi thời nhưng cũng xảy ra nhiều trường hợp “con sâu làm rầu nồi canh”!&#8230;</p>



<p>Trong cuộc sống mỗi người, luôn luôn gặp trường hợp phúc và họa, nhớ và quên là lẽ thường tình. Tuy là chuyện vãn nhưng xoay quanh những khía cạnh trong cuộc sống, không lên án phê phán gắt gao và cũng không tôn vinh quá đáng mà chỉ dẫn chứng để suy ngẫm. Cuộc sống&nbsp;muôn mặt và mỗi người như bi hài kịch trên sân khấu trường đời! Có thất tình: hỉ (vui mừng), nộ (giận dữ), ai (bi thương), lạc (vui sướng), ái (yêu quý), ố (căm hận), dục (ham muốn). Lục dục về sáu ham muốn của con người: sắc dục, thính dục, hương dục, vị dục, xúc dục, pháp dục&#8230; trong đó có thanh dục và trọc dục trong ý nghĩ con người.</p>



<p>Quyển sách nầy đánh dấu 36 năm sống trên xứ người và ở tuổi tám mươi hai, với 330 trang, mỗi bài có nhiều hình ảnh minh họa theo nội dung vì vậy chọn lọc để thực hiện vì không biết nay mai còn minh mẫn và sức khỏe cho phép để tiếp tục sự nghiệp cầm bút.</p>



<p>Trân trọng</p>



<p>Little Saigon, 4/2026</p>



<p><strong>Vương Trùng Dương</strong></p>



<p>P.S: Sách dự trù phát hành hạ tuần tháng 4, 2026. Tôi chưa lần nào tổ chức RMS.</p>



<p>Liên lạc: Email&nbsp;<a rel="noreferrer noopener" target="_blank" href="mailto:vuongtrungduong20@gmail.com">vuongtrungduong20@gmail.com</a></p>



<p>Tel: (714) 222-8074</p>



<p>Ấn phí: 25 Mỹ kim + cước phí 5 Mỹ Kim</p>



<p>Quý độc giả ở xa trả qua Zelle</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Vương Trùng Dương: “Miss Saigon”, Vết Hằn Năm Tháng</title>
		<link>https://t-van.net/vuong-trung-duong-miss-saigon-vet-han-nam-thang-2/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Vương Trùng Dương]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 04 Apr 2026 06:30:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[vở nhạc kịch Miss Saigon]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=88096</guid>

					<description><![CDATA[Vở nhạc kịch (Opera, Musical Theatre) “Miss Saigon” từng gây tiếng vang một thời trên thế giới được thực hiện với hai nhạc sĩ Pháp Claude-Michel Schonberg (nhạc), Alain Boublil, Alain Boublil  và lời Richard Maltby, Jr. Đạo diễn Anh Cameron Mackintosh dàn dựng công phu, tốn kém trong lịch sử nhạc kịch. Với các [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/04/sg-2.jpg?strip=all&w=2560"><img decoding="async" width="847" height="1024" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/04/sg-2-847x1024.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-88098" style="width:490px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/04/sg-2-248x300.jpg 248w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/04/sg-2-847x1024.jpg?strip=all 847w, https://cdn.t-van.net/2026/04/sg-2-768x928.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/04/sg-2.jpg?strip=all 1080w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Vở nhạc kịch (Opera, Musical Theatre) “Miss Saigon” từng gây tiếng vang một thời trên thế giới được thực hiện với hai nhạc sĩ Pháp Claude-Michel Schonberg (nhạc), Alain Boublil, Alain Boublil  và lời Richard Maltby, Jr. Đạo diễn Anh Cameron Mackintosh dàn dựng công phu, tốn kém trong lịch sử nhạc kịch. Với <em>các</em> diễn viên ban đầu <strong>Lea Salonga</strong> (Kim), <strong>Simon Bowman</strong> (Chris), và <strong>Jonathan Pryce</strong> (The Engineer), Peter Polycarpou  (John), Claire Moore (Ellen), Isay Alvarez (Gigi), Keith Burns (Thuy), Monique Wilson (cô gái quán bar), Alvin Cousins (Tâm) và nhiều nhân vật phụ. Các ca sĩ diễn viên và trình bày bao gồm <strong>Claire Moore</strong> (Ellen), <strong>Hinton Battle</strong> (John) và <strong>Monique Wilson&#8230;</strong></p>



<p>Trải qua thời gian dài thực hiện, lần đầu tiên được trình diễn ở Theatre Royal, bên bờ sông Thames, London, Anh quốc vào tháng 9 năm 1989. Và, trong thời gian đầu đã thu về khoảng 8 triệu Mỹ kim cho thấy sự thành công của vở nhạc kịch. Vượt qua kỷ lục của vở nhạc kịch My Fair Lady. Sau đó sang Hoa Kỳ, Úc&#8230; Hơn bốn nghìn buổi trình diễn trong mười năm rồi tạm thời khép lại.</p>



<p>Năm 1976, Saigon bị “bức tử” nhưng cũng như Paris, London&#8230; đã gắn liền địa danh trên thế giới, có lẽ vì vậy nên chọn tên “Miss Saigon” cho vở nhạc kịch để gây sự chú ý.</p>



<p>Năm 2014 nhân kỷ niệm 25 năm thành lập, nhà sản xuất Cameron Mackintosh đã đưa vở nhạc kịch này trở lại ở hý viện Broadway, New York trong vài năm nhưng không thu hút được khán giả. Miss Saigon chấm dứt buổi trình diễn cuối cùng ở Broadway Theatre, New York vào ngày 31 tháng 12&nbsp; năm 2000.</p>



<p>Nhân dịp nầy, tôi đăng lại bài viết “Miss Saigon”, Vết Hằn Năm Tháng khi vở nhạc kịch nầy được trình diễn vào đêm 14 tháng Tư năm 2012, đại học Cal State Fullerton (CSUF) thực hiện và sau đó trình diễn vở nhạc kịnh nầy tại hý viện La Mirada Performing Arts Center tại Quận Cam, nữ diễn viên Jacqueline Nguyễn, người Việt đầu tiên đóng vai Kim.</p>



<p>Vào thời điểm năm 2001, tôi chưa đọc bài viết nào lên tiếng “những ẩn dụ tai hại, những trò lố lăng và phân biệt chủng tộc”, trong khi đó, khi xem vở nhạc kịch nầy, cảm thấy có điều gì khuất tất nên viết với tựa đề trên. Tên gọi Sài Gòn (Saigon) đã có từ ba trăm năm trong lịch sử đất nước bị “bức tử” được làm sống lại qua vở nhạc kịch nhưng hình ảnh “Miss Saigon” không được trong sáng!</p>



<p>*</p>



<p>Hình ảnh cô gái của thành phố bị xóa tên, mười bốn năm sau được đề cập, dàn dựng trên sân khấu kịch nghệ quốc tế, trải qua mười năm chu du khắp bốn phương trời, Miss Saigon là một trong những vở nhạc kịch được dàn dựng công phu và được lưu diễn rộng rãi nhất trên thế giới của thế kỷ XX.</p>



<p>Nhiều nữ diễn viên xuất sắc của Phi Luật Tân đóng vai Kim trong Miss Saigon nhưng sau chuyến viếng thăm của Claude Michel Schonberg, Miss Saigon mới được xuất hiện tại The Cultural Center of The Philippines ở thủ đô Manila từ tháng Mười năm 2000 đến tháng Ba năm 2001. Nghệ sĩ Lea Salonga trở về “tái xuất giang hồ” nơi quê nhà.</p>



<p>* Bổn Cũ Soạn Lại</p>



<p>Vở ca nhạc kịch Madame Butterfly của kịch tác gia lừng danh Ý Giacomo Puccini (1858-1924) xuất hiện lần đầu ngày 17 tháng 2 năm 1904 tại Milan, Ý, đánh dấu thời điểm vàng son của ca nhạc kịch đầu thế kỷ XX. Madame Butterfly thể hiện thời điểm 1900, bối cảnh ở Nagasaki, Nhật. Nội dung gồm ba màn, đề cập về mối tình của chàng sĩ quan viễn xứ Hoa Kỳ Benjamin Franklin Pinkerton đóng quân ở vùng trời thơ mộng Nagasaki của xứ Phù Tang. Nơi đây chàng gặp cô gái Phù Tang Cio-Cio-San &#8211; Madame Butterfly &#8211; ăn ở với nhau trong cuộc tình nửa chân nửa giả mà nàng thì dâng trọn trái tim mà chàng như bướm vờn hoa. Trở về cố quốc, chàng cưới vợ người bản xứ, trở thành Kate Pinkerton, chàng đưa vợ sang nơi đóng quân. Cio-Cio-San hạ sinh được đứa con &#8211; Trouble &#8211; giao cho Kate nuôi rồi tự vận. Tình yêu không có biên giới nhưng phong tục, đạo đức Á Đông và sự bội phản của người tình dị chủng đưa đẩy cô gái chọn cái chết để giải quyết vấn đề.</p>



<p>Khi trái bom nguyên tử trút xuống Hiroshima và Nagasaki, ngày 6 &amp; 9 tháng 8 &#8211; 1945, kết thúc Đệ Nhị Thế Chiến! Tuy Mỹ ra tay cứu Nhật nhưng tệ nạn xã hội, những cô gái Phù Tang trở thành “nạn nhân chiến cuộc” của bao chàng viễn chinh G.I Mỹ lan tràn trên đất nước. Hình ảnh Madame Butterfly của thuở nào được đề cập lại như để thức tỉnh trong tâm thức cô gái Phù Tang nhưng Cio-Cio-San trong sáng, tự trọng với trái tim lãng mạn nhưng cứng cỏi đâu còn, Geisha tràn ngập làm nhức nhối trong tâm hồn con cháu mang dòng giống Thái Dương thần nữ.</p>



<p>Vẫn hình ảnh chàng lính viễn chinh G.I Mỹ, năm xưa ở Nhật và Việt Nam tác động kịch tác gia biên tập, đạo diễn thực hiện cho ra đời nhạc kịch Miss Saigon. Chris về nước trên chuyến bay cuối cùng cùa ngày tàn cuộc chiến để lại bào thai cho Kim sống vất vưởng trong thân phận cô me Mỹ với đứa con lai trong thành phố bị xóa tên.</p>



<p>Màn mở, sân khấu với hình ảnh tầng trên của Tòa Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, nơi chiếc UH1 vừa đáp. Trong lúc hỗn độn, dòng người hòa trộn với dòng kẽm gai đong đưa bần bật rung dưới cánh quạt trực thăng. Không có bao nhiêu người được kéo vào lòng chiếc UH1, một số người bị xô ngược rơi xuống và chiếc UH vội vàng cất cánh. Đó là những hình ảnh sau cùng của người Mỹ và Việt Nam tại Sài Gòn vào những ngày cuối cùng 30 tháng 4.</p>



<p>Miss Saigon đề cập mối tình lang chạ giữa chàng lính viễn chinh G.I Mỹ. Danh xưng “Miss Saigon” nhưng Kim là cô gái quê nghèo, gia đình ly tán vì chiến tranh phải lên Sài Gòn kiếm sống, trở thành gái bán bar. Kim gặp Chris ở trong quán bar Mỹ, lính Hải Quân biệt phái làm việc tại Tòa Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn. Hai người cưới nhau trong vội vã khi Sài Gòn vào cơn hấp hối, Chris được lệnh ra đi, anh muốn đưa Kim theo nhưng bất lực, chiếc trực thăng cuối cùng cất cánh rời tòa Đại sứ Mỹ trước ánh mắt đau khổ của Kim với cái bào thai! Và sau đó sống vất vưởng trong thân phận cô me Mỹ với đứa con lai, bé Tâm trong thành phố bị xóa tên! Trở về Mỹ, Chris, lập gia đình với Ellen.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/04/sg-2.jpg?strip=all&w=2560"><img decoding="async" width="847" height="1024" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/04/sg-2-847x1024.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-88098" style="width:490px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/04/sg-2-248x300.jpg 248w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/04/sg-2-847x1024.jpg?strip=all 847w, https://cdn.t-van.net/2026/04/sg-2-768x928.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/04/sg-2.jpg?strip=all 1080w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p>Sau ngày Sài Gòn thất thủ, Kim gặp lại người yêu cũ thời học sinh ở quê, giờ là cán bộ Cộng Sản, tưởng như nối lại được mối tình hình học trò, nhưng ý thức hệ và với đứa con lai của Kim đã làm mối tình chấp nối ấy sớm tan vỡ. Trong một cơn giận dữ, anh chàng rút súng định giết đứa con lai, nhưng bỏ đi, vô ý để lại khẩu súng ngắn.</p>



<p>Trong cơn đau khổ tuyệt vọng ấy, tên “kỹ sư” (engineer) lại xuất hiện với những hứa hẹn tìm cho Kim một ánh sáng cuối đường hầm, nhưng thực chất chỉ là một tên ma cô đội lốt. Bởi thời gian Kim và Chris quen nhau đã có sự chứng kiến của tên “kỹ sư” chủ quán bar. Ba mươi tháng Tư, hắn thay áo ma cô thành “Cách mạng 30”, một thời gian chân tướng bị lộ lại tìm nơi bám, lại là Kim.</p>



<p>Ma cô tìm mọi cách đưa Kim và con trai vượt biển sang Thái Lan năm 1978 với mong muốn là tiếp xúc được với bộ phận di dân Mỹ để có cơ hội vào miền đất hứa. Mẹ con Kim đã đến Bangkok, trong thời gian chờ đợi để làm thủ tục di trú ở Tòa Đại Sứ Mỹ tại Thái Lan, hắn lừa và buộc Kim phải vào làm khu Pat Pong, địa điểm ăn chơi của Bangkok với lời giao ước cùng được đi Mỹ trong vị trí của người cha nuôi con lai.</p>



<p>Tình cờ John, anh MP bạn Chris ở Tòa Đại Sứ Mỹ ngày nào, lại gặp Kim tại khu Pat Pong, giờ John là nhân viên của bộ phận di trú. Biết Kim có con với Chris, John tận tình giúp đỡ và thông tin ngay cho Chris biết về hoàn cảnh của mẹ con Kim tại Thái Lan.</p>



<p>Chris đến Bangkok tìm Kim cùng người vợ Mỹ Ellen của mình. Rời Sài Gòn về Mỹ, Chris luôn nhớ về người vợ Việt, nhưng vẫn phải lập gia đình, Chris đem chuyện Kim kể hết vợ nghe, Ellen hối thúc Chris bay sang Bangkok tìm Kim với tình cảm của một người đàn bà. Chris vui mừng.</p>



<p>Chris thì đến nhà trọ, rồi khu Pat Pong&#8230; Được tin, Kim tìm đến khách sạn thì không gặp Chris, chỉ gặp Ellen. Cả hai đã ngỡ ngàng nhìn nhau, Kim bộc bạch tình cảm của mình với Chris giờ chỉ còn là nghĩa với sự kết nối của đứa con, Ellen cũng vui vì tìm được Kim theo ý nguyện của mình.</p>



<p>Nhưng bản tính của người đàn bà, sự ích kỷ của một người vợ trong Ellen lại trổi dậy, Ellen nặng lời với Kim, muốn dùng tiền để bù đắp sự mất mát của Kim, buộc Kim phải hy sinh xa con. Đau khổ, tuyệt vọng, Kim trở về nhà trọ và tự sát bằng chính khẩu súng mà người bạn tình cán bộ CS bỏ lại ngày nào.</p>



<p>Tiếng súng nổ xé lòng Chris, anh đến nhà trọ chậm mấy bước chân. Chris bế xác Kim trên tay trong nỗi đau tuyệt vọng!</p>



<p>* Khuôn Mặt Thời Đại</p>



<p>Miss Saigon đã đoạt được giải thưởng kịch nghệ Tony Awards (The Antoinette Perry Award ra đời từ năm 1947) vào năm 1991. Tony Awards 1991, Miss Saigon chiếm hầu hết trên nhiều bộ môn từ cốt truyện, âm nhạc, trang phục, ánh sáng, đạo diễn&#8230; Hai diễn viên chính Jonathan Pryce (Chris) và Lea Salonga (Kim) đạt được thành quả xuất sắc về diễn xuất trong 47 khuôn mặt thủ vai trình diễn trong nhạc kịch danh tiếng nầy. Từ đó, tiếng vang Miss Saigon được lan rộng khắp nơi để vở nhạc kịch có điều kiện hình thành và trình diễn trên thế giới.</p>



<p>Khi đạo diễn Cameron Mackintosh thực hiện vở nhạc kịch Oliver làm rạng danh cho nền kịch nghệ Anh quốc, ông bắt tay xây dựng Miss Saigon trong thế đứng của nhà đạo diễn và sản xuất có tên tuổi lẫy lừng. Với chi phí trên 5 triệu Mỹ kim để dàn dựng vở ca nhạc kịch cho thấy tầm vóc của Miss Saigon.</p>



<p>Nhân vật chính trong Miss Saigon là Kim do Lea Salonga, nữ ca sĩ Phi Luật Tân, với khuôn mặt và vóc dáng Á Châu qua nhiều cuộc tuyển lựa rất công phu cho phù hợp với hình ảnh “cô gái Sài Gòn”. Lea Salonga nổi tiếng qua tài nghệ diễn xuất nên đã lọt vào mắt xanh giới điện ảnh Hoa Kỳ. Lea Salonga thủ vai chính trong bộ phim Redwood Curtain với chân dung cô gái mang hai dòng máu Mỹ-Việt đã trình chiếu trên hệ thống truyền hình ABC vào hạ tuần tháng Tư, 1995.</p>



<p>Khi Miss Saigon vượt Đại Tây Dương đến Hoa Kỳ qua tay đạo diễn Nicholas Hytner, xuất hiện trên sân khấu Broadway vào giữa tháng Tư, 1991. Năm 1995, Miss Saigon được trình diễn khắp miền Tây Hoa Kỳ. Vào thời điểm hai mươi năm sau ngày mất nước, vở nhạc kịch đó xuất hiện ở Los Angeles, báo chí Việt ngữ không có nhận định, trên tờ Register có bài viết cho Miss Saigon khơi lại vết thương rướm máu, có tầm nhìn thiển cận về người Việt Nam và cả sự chia rẽ bởi sự lạnh nhạt của người Mỹ.</p>



<p>Trong mùa ca nhạc kịch “Absolutely Broadway” lại được trình diễn ở Orange County Perfoming Arts Center, Costa Mesa &#8211; kề cận với Little Saigon &#8211; trong suốt ba tuần lễ vào tháng Chín, 1999. Mika Nishida đóng vai Kim. Có vài mẩu tin loan báo cho sự trình diễn, hình như nó xa lạ với cộng đồng người Việt tị nạn.</p>



<p>Để chuẩn bị cho vở ca nhạc kịch xuất hiện ở Úc Châu, cuộc tuyển lựa tài tử lớn nhất của Úc với thời gian kéo dài 15 tháng qua với hai nghìn ứng viên để chọn nhân vật diễn xuất cho Miss Saigon. Nữ ca sĩ Philippine Joanna Ampil đã từng góp mặt trong hai năm đầu trong Miss Saigon ở London. Với 15 triệu Úc kim cho chi phí dàn dựng, tháng Hai, 1994 Miss Saigon xuất hiện trên sân khấu ở Sydney và được trình diễn khắp nơi.</p>



<p>Trong mười năm qua, nghệ sĩ đóng vai Kim, cô gái bán bar ở Sài Gòn, nhân vật chính được mang tên kịch bản, khởi đầu với Lea Salonga (Broadway, London), và từ đó dần dà xuất hiện trên sân khấu:</p>



<p>&#8211; Broadway: Joan Almedilla, Emy Baysic, Annette Calud, Kam Cheng, Chloe Stewart, Roxane Taga, Rona Fiueroa, Leila Florentino.</p>



<p>&#8211; 1st and 2nd USA National Tour: Melinda Chua, Kym Hoy, Deedee Lynn Magno, Michelle Nigalan, Mika Nishida, Christina Paras, Hazel Ann Raymundo, Kristine Remingo, Alex Lee Tano, Jennie Kwan, Jennifer Paz.</p>



<p>&#8211; London, Sydney: Joanna Ampil, Cezarah Campos, Ma-Anne Dionisio.</p>



<p>&#8211; London: Maya Barredo, Jennie Dederio, Roanne Monte, Meera Pokin, Jamie Rivera, Riva Salazar.</p>



<p>&#8211; Budapest: Eszter Biro. &#8211; Stuttgart: Aura Deva, Ruby Rosales, Leah de los Santos. &#8211; Tokyo: Minako Honda. &#8211; The Netherlands: Caselyne Francisco. &#8211; Toronto: Cornilla Luna. &#8211; Stockholm: Divina Sarkany. &#8211; Denmark: Pernille Peterson.</p>



<p>Trong khoảng bốn mươi diễn viên thủ vai Kim trong Miss Saigon, ngoài Lea Salonga nổi tiếng vì người đầu tiên và được giải Tony, có Ma-Anne Dionisio, Joanna Ampil, Cezarah Campos đều gốc Phi Luật Tân được đi kèm với tên tuổi vở nhạc kịch&#8230; Thế nhưng, nói đến Miss Saigon, thiên hạ vẫn liên tưởng đến diễn viên Lea Salonga.</p>



<p>* Vết Hằn</p>



<p>Hình như kịch nghệ không lôi cuốn được người Việt lưu vong nơi hải ngoại. (Trước năm 1975, ở miền Nam Việt Nam, về trình diễn thì kịch ngắn, hài kịch được phổ thông, các vở kịch và sách dịch tuy có nhiều nhưng đưa lên sân khấu chỉ có vài tác phẩm phổ biến ở Sài Gòn, các tỉnh, thành khác rất ít). Vì vậy nhạc kịch Miss Saigon được trình diễn khắp nơi trên thế giới, và ở Hoa Kỳ được trải rộng trên nhiều tiểu bang, có đông cộng đồng người Việt nhưng trong mười năm qua nó không được nhắc nhở đến qua sách báo. Giá vé ở sân khấu Broadway cũng vào loại bình thường từ 15 đến 75 Mỹ kim, có thể <em>“xem qua cho biết sự tình”</em> tầm vóc vở nhạc kịch của thế kỷ nhưng có lẽ chẳng mấy ai lưu tâm.</p>



<p>Như đã đề cập ở trên, nội dung cũng tầm thường, nhạt nhẽo, cô gái bán bar cặp bồ với chàng lính Mỹ, ăn ngủ với nhau, có đứa con lai. Nàng được chàng kỹ sư cặp bồ, lợi dụng ra khỏi nước, gặp lại nhân tình cũ, nàng giao trả đứa con cho vợ chồng chàng, bị từ chối, nàng tự tử. Nàng chết một cách lãng xẹt, không có chút tình mẫu tử gì cả, giao “của nợ” cho tình nhân cũ để sống với tình nhân mới không được toại nguyện nên uất ức?. Với người Việt thường dùng chữ ví von, mỉa mai “kỹ sư đào mỏ” cho loại người đàn ông lợi dụng lấy vợ nhằm ăn bám, trục lợi! Không hiểu đạo diễn dùng chữ nầy có ẩn ý gì không?</p>



<p>Khi có đạo quân Hoa Kỳ vào tham chiến ở Việt Nam, nhiều cây bút đã viết về chuyện gái bán bar mồi chài, ăn nằm với chàng G.I Mỹ, điển hình qua nhiều truyện ngắn trong tác phẩm Mèo Đêm của Nguyễn Thị Thụy Vũ. Bà từ Vĩnh Long lên Sài Gòn, dạy Anh văn cho các cô gái bán bar nên viết về các cô gái buôn hương bán phấn hoặc gái gọi (call girls) trá hình các cô chiêu đãi viên trong các snack-bar ở Sài Gòn.</p>



<p>Thế nhưng, cái tựa với danh xưng của vở ca nhạc kịch với tên Miss Saigon như sự khai thác thị hiếu để tò mò, chú ý. Thông thường, Miss đi cùng với địa danh như Miss California, Miss London, Miss America, Miss Universe&#8230; trong những cuộc thi để nói về nhan sắc, hình ảnh “cô gái” được chọn lọc trong cuộc thi tuyển nào đó. Đem Miss Saigon để gán hình ảnh cô gái bán bar, trong lúc đất nước chìm trong cảnh tao loạn, cô gái thuộc loại <em>“Thương nữ bất tri vong quốc hận”</em> như lời thơ Đỗ Mục để làm danh xưng địa danh là thủ đô của đất nước!. Nó không nói lên được cái gì đẹp đẽ, yêu thương, cao đẹp trong tình yêu, trong thuở chiến chinh với địa danh có ba trăm năm lịch sử gắn liền với mệnh hệ của quốc gia, dân tộc.</p>



<p>Sài Gòn dù bị xóa tên, người Việt lưu vong hầu hết đều lưu luyến và gìn giữ tên gọi đó, nó không bị mai một trong ngôn ngữ, lời nói và trong tâm tưởng. Đưa ra hình ảnh người đàn bà Việt Nam gắn liền với cái tên đi vào “lịch sử dân tộc” với khuôn mặt cô gái làng chơi, có làm tổn thương cho hàng triệu người Việt lưu vong?. Phải chăng đó là sự bôi bẩn rẻ tiền, thiếu thận trọng để khai thác đề tài trên sân khấu?.</p>



<p>Với nhiều diễn viên tuyển chọn đóng vai cô gái bán bar Kim trong Miss Saigon, nhiều diễn viên ở Á Châu, thật may không có diễn viên nào là người Việt Nam, như lời người bạn văn đã tâm sự: cứ để cho họ đóng vai Kim và, rước cái nhục thay cho ta!. Trong mười năm qua, tôi theo dõi để tìm hiểu xem có bài viết nào ca ngợi Miss Saigon trên báo chí Việt ngữ, may mà không có.</p>



<p>Tại miền Nam California, khi Miss Saigon trình diễn ở Los Angeles và Orange County không có bài báo nào đánh bóng để “câu” khán thính giả trên hệ thống truyền thông Việt ngữ. Điều đã qua rồi cũng may thôi, nếu họ muốn câu thì tha hồ bị nghe và bị chửi trong niềm đau khôn nguôi!. Nếu Sài Gòn vẫn hiện hữu với hình ảnh, tên tuổi của “hòn ngọc viễn đông”, có mang hình bóng nào xấu xa kết hợp cho bối cảnh, chẳng có gì để quan tâm. Danh xưng Sài Gòn dù bị xóa càng in đậm nỗi thương nhớ trong lòng người lưu vong. Có mấy ai vô cảm đến nơi chốn thân yêu bị xóa tên, yên nghỉ? Lợi dụng địa danh tan biến theo vận mệnh đau thương của đất nước để phơi bày khuôn mặt rẻ tiền, bê bối&#8230; làm sao không động lòng trắc ẩn?.</p>



<p>Tháng Tư lại đến, tháng Tư của định mệnh bi thương&nbsp; trong lịch sử đất nước! Bao nhiêu năm trôi qua, khi tấm màn nhung khép lại, ghi lại đôi dòng để đánh dấu thiên niên kỷ đã qua. Nhớ Sài Gòn nhưng ê chề Miss Saigon.</p>



<p>Với cái nhìn của người Pháp và Anh, họ quan niệm khác với người Việt lưu vong trong bi kịch của nhân thân trước và sau cuộc chiến trong khi đó có biết bao thân phận đáng thương của những người đàn bà chân chính lâm vào nghịch cảnh oan nghiệt thay vì cô gái bán bar!</p>



<p>Với tôi, nếu Kim làm việc ở USIS (Sở Thông Tin Hoa Kỳ (USIS &#8211; United States Information Service).JUSPAO (Joint United States Public Affairs Office), USAID (Cơ Quan Phát Triển Quốc Tế Hoa Kỳ &#8211; <strong><u>U.S. Agency For International Development</u>). </strong><u>JUSPAO (Văn Phòng Thông Tin Cộng Cộng Hoa Kỳ &#8211; Joint United States Public Affairs Office)</u> thường liên lạc với Tòa Đại Sứ nên gặp Chris có lẽ hợp lý và hình ảnh người đàn bà trong Miss Saigon đẹp hơn.</p>



<p><em>Little Saigon, 4,2026 (viết lại sau 20 năm)</em></p>



<p><strong>Vương Trùng Dương</strong></p>



<p><a href="https://www.google.com/search?q=C%C6%A1+quan+Ph%C3%A1t+tri%E1%BB%83n+Qu%E1%BB%91c+t%E1%BA%BF+Hoa+K%E1%BB%B3+%28USAID%29&amp;sca_esv=b78cf8500232fcdc&amp;sxsrf=ANbL-n6lCx_b9A5ytj_50D2mdIGcJS57_Q%3A1775089369767&amp;source=hp&amp;ei=2bbNaabhLIPPkPIPhNCmgQk&amp;iflsig=AFdpzrgAAAAAac3E6T4P0P9hf5FaCrIUzUHCHVIq3OaF&amp;ved=2ahUKEwij4Oak882TAxV8IkQIHRXzJC4QgK4QegQIAxAG&amp;uact=5&amp;oq=ca%C3%B9c+co+quan+hoa+ky+o+viet+nam+truoc+nam+1975&amp;gs_lp=Egdnd3Mtd2l6Ii5jYcO5YyBjbyBxdWFuIGhvYSBreSBvIHZpZXQgbmFtIHRydW9jIG5hbSAxOTc1MgcQIRigARgKMgUQIRirAkjdiwFQAFi4gQFwA3gAkAEBmAGGB6ABslKqAQ4xLjMzLjQuMS4zLjEuM7gBA8gBAPgBAZgCMKACqFTCAgoQIxiABBgnGIoFwgIHECMYJxjJAsICChAjGPAFGCcYyQLCAg4QLhiABBixAxjRAxjHAcICERAuGIAEGLEDGNEDGIMBGMcBwgILEAAYgAQYsQMYgwHCAgQQIxgnwgILEC4YgAQY0QMYxwHCAggQABiABBixA8ICERAuGIAEGLEDGNEDGMcBGIoFwgIFEAAYgATCAgQQABgewgIGEAAYBRgewgICECbCAgUQABjvBcICCBAAGIAEGKIEwgINECMY8AUYsAIYJxjJAsICChAAGIAEGLEDGA3CAgcQABiABBgNwgINEC4YgAQY0QMYxwEYDcICDRAuGIAEGMcBGA0YrwHCAgYQABgNGB7CAggQABgKGA0YHsICBhAAGBYYHsICCRAAGIAEGBMYDcICCBAAGBMYDRgewgIIEAAYCBgNGB7CAgoQABgIGAoYDRgewgILEAAYgAQYhgMYigXCAggQABiiBBiJBZgDAJIHDjMuMzQuMy4yLjMuMS4yoAf92gKyBw4wLjM0LjMuMi4zLjEuMrgH81PCBw8wLjguMTYuMTguNS4wLjHIB_wDgAgA&amp;sclient=gws-wiz&amp;mstk=AUtExfDeE07LEsU7Gj9kN_iYX7jXmUEeWDoUIlolYuh2_SZwVBFHNycqaSYLKhbmTVwC-hMAChdB8DvVuc0x7TpeGTCk1rfaB-5DJ0maDbHwY1fgYV8QBmy60rw45GwL1N1tgvTL8ZPy1GyaVHZPSf52YFrScviLEYDKVcSotFGMIfTHmZk&amp;csui=3">&nbsp;</a></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Vương Trùng Dương: Đại Tá Phan Văn Huấn, “Linh Hồn” Biệt Cách Nhảy Dù</title>
		<link>https://t-van.net/vuong-trung-duong-dai-ta-phan-van-huan-linh-hon-biet-cach-nhay-du/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Vương Trùng Dương]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 21 Mar 2026 06:38:14 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[tưởng niệm]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=87773</guid>

					<description><![CDATA[“Tôi chưa bao giờ vắng mặt trong bất cứ một trận đánh lớn nhỏ nào kể cả chiến trường An Lộc. Tôi chấp nhận hy sinh, đã nhiều lần bò sát đến từng vị trí phòng thủ để an ủi khuyến khích anh em chứ không chịu ngồi dưới hầm sâu để ra lệnh, do [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/03/vtd-1.jpg?strip=all&w=2560"><img decoding="async" width="1024" height="812" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/03/vtd-1-1024x812.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-87774" style="width:558px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/03/vtd-1-300x238.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/03/vtd-1-1024x812.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2026/03/vtd-1-768x609.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/03/vtd-1.jpg?strip=all 1080w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>“Tôi chưa bao giờ vắng mặt trong bất cứ một trận đánh lớn nhỏ nào kể cả chiến trường An Lộc. Tôi chấp nhận hy sinh, đã nhiều lần bò sát đến từng vị trí phòng thủ để an ủi khuyến khích anh em chứ không chịu ngồi dưới hầm sâu để ra lệnh, do đó tôi nghĩ vì thế mà tinh thần chiến đấu của LÐ81 mỗi ngày mỗi lên cao” &#8211; Đại Tá Phan Văn Huấn.</p>



<p>*</p>



<p>Đại Tá Phan Văn Huấn, Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù vừa qua đời ngày 10/3/2026 tại California Hoa Kỳ. Hưởng đại thọ 93 tuổi. Ông sinh năm 1933, tại tỉnh Thừa Thiên. Xuất thân Khóa 10 Trần Bình Trọng (10/1953-6/1954), Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt.</p>



<p>Trong bài viết Câu Chuyện Chiếc Mũ Xanh của ông đã ghi lại cuộc đời quân ngũ, Lực Lượng Đặc &nbsp;Biệt và Biệt Cách Nhảy Dù.</p>



<p>“Ngày 22/4/57, tôi vào trình diện Bộ TTM để nhận lệnh mới thì được đưa đến tạm trú tại dãy nhà ở đường Hiền Vương, gần Câu lạc bộ Sĩ quan An Ðông, Chợ Lớn để đợi lệnh. Sau hơn một tháng chờ đợi, hơn 20 anh em mới được đưa ra Vũng Tàu để học lớp Truyền tin đặc biệt, Đại Úy Bùi Thế Minh được chỉ định làm trưởng lớp, Đại Úy Tống Hồ Hàm làm phó&#8230;</p>



<p>Sau một tháng học nhảy dù, chúng tôi di chuyển ra Nha Trang, học lớp LLÐB tại trường Biệt Ðộng Ðội ở Ðồng Ðế do một toán LLÐB Mỹ từ Okinawa đến huấn luyện. Ðại Úy Cramer là trưởng toán, lớp học được hơn một tháng thì trong một cuộc thực tập phục kích gần đèo Rù Rì, Đại Úy Cramer, một Thượng Sĩ Cố Vấn và Trung Úy Phan Thanh Ðàn tử thương vì sơ ý trong việc xử dụng chất nổ!&#8230;</p>



<p>Sau 4 tháng gian khổ học tập, khóa A đầu tiên của Binh chủng LLÐB mãn khóa vào tháng 12/57. Các khóa B, C, D sau đó vẫn tiếp tục huấn luyện tại trường Biệt Ðộng Ðội Ðồng Ðế Nha Trang và huấn luyện viên của các khóa sau này đều do khóa A đảm trách. Vì tính cách quan trọng của việc thành lập binh chủng LLÐB. Lúc đó Ðại Úy Phạm Văn Phú (Thiếu Tướng) và Trung Úy Trần Hữu Tác (Trung Tá) là khóa sinh khóa B cũng như nhiều khóa sinh ưu tú khác nhập học. Sau khóa D mãn khóa thì có cuộc hành quân thực tập, nhảy dù xuống vùng Xuyên Mộc, Ðất Ðỏ thuộc tỉnh Bình Tuy chừng 2 tuần, cuộc hành quân này gồm nhiều toán A, mỗi toán 15 người, toán tôi thì có Tr/Úy Lê Tất Biên toán phó, Thượng Sĩ Kalani làm cố vấn…</p>



<p>Sau khi khóa A mãn khóa thì được mang danh hiệu là Liên Ðội Quan Sát Số 1 (LÐQSS1), Đại Úy Bùi Thế Minh làm Chỉ Huy Trưởng và Đại Úy Tống Hồ Hàm, Chỉ huy phó. Nhưng đến khóa B thì Thiếu Tá Ðàm Văn Quý thay thế làm Chỉ Huy Trưởng và được đội Mũ Ðỏ như Nhảy Dù. Ðến ngày 11 tháng 11 năm 1960, Liên Ðoàn Nhảy Dù do Đại Tá Nguyễn Chánh Thi, Tr/Tá Vương Văn Ðông, và Tr/Tá Nguyễn Triệu Hồng chỉ huy làm cuộc đảo chánh Tổng Thống Ngô Ðình Diệm nhưng bất thành, phải bỏ trốn sang Campuchia…</p>



<p>Sau chính biến, toàn bộ LÐQSS1 di chuyển vào đóng quân ở trại Hùng Vương, cạnh trường đua ngựa Phú Thọ. LÐQSS1 đổi danh thành Liên Ðoàn 77 của Bộ Quốc Phòng ngày 3/10/61, rồi LÐ77 đổi danh thành LD301 và giải tán do nghị định 284/QP/NÐ ngày 9/6/65. Liên Ðoàn 31 do Đ/Úy Phạm Duy Tất làm Chỉ Huy Trưởng. Quân số 2 Liên Ðoàn 301 và 111 giải tán để sắp xếp lại và chính thức gọi là binh chủng LLÐB vào tháng 4/63, gồm có một Bộ Tư Lệnh, một Đại Đội Tổng Hành Dinh, một Trung Tâm Huấn Luyện, và 4 bộ chỉ huy C ở 4 vùng Chiến Thuật, mỗi C có một số B và mỗi B có một số toán A tùy theo tình hình địa phương, mỗi toán A quân số vào khoảng 12 người, tổng cộng quân số LLÐB vào khoảng trên dưới 5,000 cho đến khi giải tán vào năm 70.</p>



<p>Từ năm 1961, LLÐB bắt đầu kế hoạch mở các trại Biệt Kích Biên Phòng (BKBP) (CIDG) dọc theo biên giới Việt Miên Lào để ngăn chặn Việt cộng xâm nhập vào lãnh thổ VNCH, tùy theo tình hình, mỗi trại quân số BKBP có từ một Tiểu Đoàn hoặc nhiều hơn. Cho đến ngày BKBP đổi danh thành Biệt Ðộng Quân Biên Phòng khi LLÐB giải tán vào năm 70 thì quân số đã lên đến trên 50 ngàn quân với gần 50 trại.</p>



<p>Cũng từ năm 1961 thì LLÐB bắt đầu thành lập các đại đội Biệt Cách Nhảy Dù (BCND) biệt lập rồi đến năm 1964 thì sát nhập lại thành lập Tiểu Đoàn 91 BCND, Thiếu Tá Trần Minh Huy làm Tiểu Đoàn trưởng đầu tiên, đến ngày 1/4/68 đổi danh thành Tiểu Đoàn 81/BCND. Cũng trong năm 64 này thì LLÐB lập thêm một đơn vị nữa, lấy tên là Trung Tâm Huấn Luyện Hành Quân Delta (TTHL/HQ/Delta) gồm có 12 toán Thám Sát, mỗi toán 6 người, và 12 toán Thám Kích Tiền Phong (TKTP) là Biệt Kích Quân lấy từ các trại do Mỹ trả lương. Ðại Úy Nguyễn Văn Khách là Chỉ Huy Trưởng Delta đầu tiên.</p>



<p>Bộ Tư Lệnh LLÐB chính thức thành lập vào tháng 4/63 do Đ/Tá Lê Quang Tung làm Tư Lệnh, lần này Mũ Ðỏ lại đổi thành Mũ Ðen của binh chủng LLÐB cho đến đầu năm 64 di chuyển ra NhaTrang vẫn còn đội Mũ Ðen, rồi chẳng bao lâu sau, Mũ Ðen đổi thành Mũ Xanh cho đến khi LLÐB giải tán vào tháng 8/70…</p>



<p>LLÐB là binh chủng đầu tiên thi hành những nhiệm vụ vô cùng bí mật đó là thả các toán Biệt Kích ra Bắc hoạt động. Khởi đầu thả vào năm 1961 và chuyển giao nhiệm vụ này cho Nha Kỷ Thuật vào năm 64 để từ đó LLÐB chỉ lo hoạt động ở nội địa mà thôi.</p>



<p>LLÐB đã tham dự các trận đánh quyết liệt từ Khe Sanh, Lao Bảo, Làng Vei, Ashau, Alưới, Tà Bạt, Dapek, Dakto, Ben Het, Pleime, Ðức Cơ, Vũng Rô, Ðức Phong, Ðồng Xoài, Bình Long, An Lộc, Tống Lê Chân, Thiện Ngôn, Trại Bí, Ðức Hòa, Ðức Huệ, Ðôn Phục, Cái Cái, cho đến Biệt Khu Hải Yến, Côtô, v.v&#8230; Ða số các trận đánh này đều nằm dọc theo biên giới Việt Miên Lào để ngăn chặn Việt cộng xâm nhập vào lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH)…</p>



<p>Không có cái buồn nào bằng cái buồn binh chủng LLÐB bị giải tán vào tháng 8/70! Anh em LLÐB phân tán đi nhiều binh chủng nhưng đa số là chuyển qua BÐQ và NKT; một số ít qua bộ binh, hoặc các Trung tâm huấn luyện, nha sở, v.v&#8230; Duy chỉ có TTHL/HQ/Delta và Tiểu Đoàn 81/BCND là không giải tán mà sát nhập lại để lập nên Liên Ðoàn 81/BCND do tôi làm Chỉ Huy Trưởng. LÐ81/BCND trở thành lực lượng tổng trừ bị trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu (BTTM)&#8230;</p>



<p>Ngày 25/12/70, toàn bộ LÐ81/BCND di chuyển vào đóng quân tại trại Bắc Tiến, cạnh Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung. Sau khi đã ổn định nơi đồn trú, tôi được lệnh lên trình diện Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH. Ý tôi muốn cứ giữ nguyên Màu Cờ Sắc Áo của binh chủng Lực Lượng Ðặc Biệt nhưng khi đề cập đến vấn đề đó thì tất cả sĩ quan cao cấp của BTTM đều cho biết là khó thể Đại Tướng chấp nhận yêu cầu này… Với quyết tâm đó, cho nên khi vào trình diện Đại Tướng, tôi đã có sẵn những lý do vững chắc để xin giữ lấy chiếc Mũ Xanh và phù hiệu LLÐB. Sau những lời hỏi han về tình hình quân số, nơi ăn chốn ở, tinh thần quân sĩ của Liên Đoàn, cuối cùng Đại Tướng liền hỏi tôi có đề nghị gì không?&#8230; Sau khi trình bày Đại Tướng Cao Văn Viên nói: “Ðược rồi, để giữ vững tinh thần chiến đấu như khi còn LLÐB, tạm cho phép Liên Ðoàn được đội Mũ Xanh và mang phù hiệu LLÐB cho đến khi có lệnh mới”…</p>



<p>Tôi chưa bao giờ vắng mặt trong bất cứ một trận đánh lớn nhỏ nào kể cả chiến trường An Lộc. Tôi chấp nhận hy sinh, đã nhiều lần bò sát đến từng vị trí phòng thủ để an ủi khuyến khích anh em chứ không chịu ngồi dưới hầm sâu để ra lệnh, do đó tôi nghĩ vì thế mà tinh thần chiến đấu của LÐ81 mỗi ngày mỗi lên cao.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/03/vtd-2.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="666" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/03/vtd-2-1024x666.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-87775" style="width:570px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/03/vtd-2-300x195.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/03/vtd-2-1024x666.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2026/03/vtd-2-768x500.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/03/vtd-2.jpg?strip=all 1400w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p>Tôi rất hãnh diện được chỉ huy một đơn vị mà ở mặt trận nào, LÐ81 cũng làm rạng danh những người chiến sĩ QLVNCH, đặc biệt nhất là ở chiến trường An Lộc năm 72, với 2 câu thơ cảm đề của cô giáo Pha đã lưu truyền tiếng tăm của BCD đến cho mọi người:</p>



<p><em>“An lộc địa sử ghi chiến tích,</em></p>



<p><em>Biệt Cách Dù vị quốc vong thân”</em></p>



<p>(Ngưng trích)</p>



<p>Ngày 30/4/1975, khi TT lâm thời Dương Văn Minh ra lệnh buông súng đầu hàng, ông đã ở lại với binh sĩ và bị 13 năm tù trong các trại khổ sai từ Nam ra Bắc. Với tinh thần dũng cảm trên chiến trường, ông viết về chốn lao tù vẫn cương trực:</p>



<p>“Trại tù Nam Hà có gần 1,000 tù “cải tạo” vào năm 1978, trong số đó có vài trăm cấp Đại Tá không đi lao động suốt nhiều tháng, được nghỉ ở trại để viết về đề tài “Cuộc Ðời Tôi” nghĩa là kê khai tất cả chi tiết từ nhiều đời, đến khi vào quân đội cho đến ngày 30/4/75. Suốt ngày ngồi viết dưới sự trông coi của “cán bộ”, chiều đến thì nạp bài để đêm đến họ kiểm soát lại xem mình có viết đúng như họ hướng dẫn không. Sáng hôm sau thì họ kêu những người không viết theo hướng dẫn lên để xỉ vả! “Cán bộ” thì ngồi trên ghế, người bị kêu lên ngồi dưới đất để nghe những lời hạch hỏi thiếu văn hóa của kẻ “thắng trận”.</p>



<p>Tôi nhìn cảnh đó quá uất hận, rồi nghĩ nếu chẳng may đến lượt mình thì có chịu đựng được không? Nhất là khi Danh Dự của chiếc Mũ Xanh bị tổn thương, lúc đó chắc tôi khó mà kềm chế được sự tức giận để rồi sự thể có ra sao cũng đành cam chịu. Ðiều bất hạnh là tôi bị kêu lên thật, tên Tr/Úy Quốc là “cán bộ văn hóa” của trại tù với giọng nói cục cằn đã xỉ vả tôi “Anh viết tắt thế này (tôi viết tắt chữ Biệt Cách Nhảy Dù thành BCND),thì khi gởi thư, bố mẹ anh làm sao đọc được? “Không kềm chế được! Máu uất nổi lên, tôi đứng phắt dậy, dằn mạnh tập giấy đang viết xuống bàn và la lên cốt cho tất cả mọi người cùng nghe”.</p>



<p>“Nếu tôi có tội thì cứ giết tôi, còn cha mẹ tôi không có tội, cán bộ đừng đụng đến cha mẹ tôi”. Bị tôi phản ứng bất ngờ, tên Quốc giận tím mặt, ngồi yên lặng một lúc rồi đứng dậy đến bắt tay tôi và xin lỗi. Tôi liếc nhìn anh em Đại tá đang ngồi, thấy anh em hoảng hốt, sợ tánh mạng tôi sẽ bị nguy hại vì sự nóng giận đó, sau đó mới thấy tôi tuy quá uất hận nhưng cũng rất khôn ngoan đã lợi dụng cái lỗi của nó đụng chạm đến cha mẹ tôi để làm lớn chuyện mà tên Quốc không làm gì tôi được lúc đó nhưng tôi biết chắc chắn tôi sẽ bị trả đũa sau này. Từ sau ngày đó, tôi thấy bọn chúng bớt hống hách hơn với anh em Đại tá.</p>



<p>Viết xong “Cuộc Ðời Tôi” thì tiếp đến viết về đề tài “Các Tướng Ngụy”, viết tất cả những Tướng nào mà mình biết, tôi chỉ viết các Tướng Tư Lệnh LLÐB đã chỉ huy trực tiếp tôi mà thôi, tôi vẫn lập luận là cấp Tướng thì đương nhiên phải giỏi hơn tôi, tôi làm sao giỏi hơn để phê bình họ được? Tôi chỉ nói sơ lược cách hành xử của các Tướng Tư Lệnh mà không một phê bình nào về đúng hay sai nên cán bộ bực tôi lắm!&#8230;</p>



<p>Một buổi sáng nọ, tất cả lên hội trường để nghe “cán bộ ở Bộ Nội Vụ” về nói chuyện, khi đã ngồi yên vị, “cán bộ” liền nói “Hôm nay là buổi họp mặt để phê bình những khai báo của các anh trong mấy tháng qua, có 3 anh đáng được đưa ra để anh em phê bình xây dựng, đó là anh Phan Văn Huấn, anh Tạ Thành Long, và anh Lý Văn Minh đã có những tư tưởng không tốt như anh Huấn chẳng hạn, anh Huấn viết là:</p>



<p>“Tôi chưa bao giờ nói dối với các con tôi, ngày đi trình diện học tập cải tạo, tôi đã nói chính phủ cách mạng chỉ bắt đi học tập cải tạo một tháng rồi ba sẽ trở về với các con, nay đã 3 năm rồi không thấy về nhưng tôi không biết giải thích với các con tôi như thế nào, vậy xin cán bộ chỉ giùm cho, các anh cho biết những thắc mắc của anh Huấn như thế có đúng không?”</p>



<p>“Cán bộ” nói xong liền cho anh em nghĩ 10 phút để suy nghĩ và góp ý phê bình. Trong thời gian đó, tôi thấy nhiều cán bộ gọi nhiều người ngồi riêng để nói chuyện nhỏ to gì đó, tôi biết chắc là cán bộ khuyên dụ anh em phải phê bình tôi không biết ơn cách mạng đã tha tội chết cho mà còn đặt những câu hỏi làm mất uy tín cách mạng.</p>



<p>Ðến giờ vào họp lại thì lần lược các anh Cao Văn Ủy, Phạm Bá Hoa, Phan Thông Tràng, và nhiều anh em khác lần lượt đứng lên phát biểu ý kiến, tôi biết chắc một điều là cộng sản chỉ cần một anh phê bình tôi là lập tức tôi bị cùm và dẫn đi kiên giam ở một nơi khác để dằn mặt các Đại Tá…</p>



<p>Bây giờ số phận tôi nằm trong danh dự của các anh em Đại Tá, thôi ta chấp nhận chết, đây cũng như là tử trận ở chiến trường mà ta đã chấp nhận từ lâu. Ðiều hãnh diện hết sức là anh em cứ nói vòng vo Tam Quốc, không đâu vào đâu hết khiến cho các “cán bộ”bực tức mà chẳng biết làm gì hơn được.</p>



<p>Năm 1988, tôi và một số lớn tù được tha về vào mấy ngày trước Tết, về tới nhà tôi rất đau lòng khi thấy vợ và 7 con đang sống trong cảnh nghèo nàn xơ xác, nhưng tôi cũng tự an ủi là mình còn may mắn hơn nhiều anh em khác, khi về nhà đến nhà thì không còn đủ vợ con.</p>



<p>Ngày 18/3/1993 vợ chồng tôi và 3 con được ra đi đến định cư tại California theo diện nhân đạo HO, tại đây đã có hội Thân Hữu Lực Lượng Ðặc Biệt thành lập từ năm 1987 và đang ngưng hoạt động, do đó anh em đã đề nghị tôi đứng ra thành lập hội Gia Ðình 81 BCND/LLÐB để đại diện đầy đủ hơn cho các chiến hữu của cả hai Binh chủng BCD, LLÐB cũng như anh em Delta, và hội đã được thành lập ngày 04 tháng 7 năm 1993”.</p>



<p>(Ngưng trích)</p>



<p>Trích dẫn những dòng trên vởi bản thân ông, Đại Tá Phan Văn Huấn đáng ngưỡng mộ với những chiến công hiển hách và khi trở thành “kẻ chiến bại” trong 13 lao tù vẫn giữ được hào khí của người lính QLVNCH.</p>



<p>*<br>Trong bài viết của Thiếu Tá Phạm Châu Tài, đoạn “Theo Chân Đoàn Quân Ma” có đoạn tường thuật như sau:</p>



<p>“Theo kế hoạch giải vây,hai đơn vị thiện chiến được sử dụng đến là Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù và Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù. Cả hai đơn vị nầy đều nhảy thẳng vào An Lộc với hai nhiệm vụ khác nhau, một phía trong và một phía ngoài thị xã.</p>



<p>Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù sẽ quét sạch hành lang vây khốn bên ngoài chu vi phòng thủ và Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù mở đường máu đánh thẳng vào An Lộc tiếp tay với quân trú phòng bên trong, chiếm lại phân nửa thành phố đã mất.</p>



<p>Người ta suy nghĩ, kế hoạch này là một ván cờ liều, một kế hoạch đánh xả láng “thí chốt để lấy xe”, và những đơn vị thi hành sẽ là những con thiêu thân bay vào ánh lửa. Đúng vậy, họ là những con chốt của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, những con chốt đã sang sông, đã nhập cung, và đã trở thành một pháo đài sừng sững trước mặt quân thù.</p>



<p>Ngày 14 tháng 4 năm 1972, từ Quận Chân Thành, Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù và một pháo đội được trực thăng vận vào một địa điểm cách An Lộc 04 cây số về phía Đông Nam…</p>



<p>… Sáng ngày 16 tháng 04 năm 1972 Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù được vận chuyển qua Lai Khê bằng trực thăng Chinook CH-46.12 giờ trưa cùng ngày, khi kho đạn Lai Khê bị đặc công Cộng Sản phá hoại nổ tung, là lúc toàn bộ 550 quân cảm tử của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù sẵn sàng tại phi trường Lai Khê để được trực thăng vào An Lộc.</p>



<p>Nắng hè chói chang oi bức, ánh nắng lung linh theo cánh quạt của trực thăng tiễn đưa đoàn quân Ma đi vào vùng đất cấm. Địa điểm đổ quân là những đám ruộng khô cằn, nứt nẻ phía Tây tỉnh lộ 245, chung quanh là những cánh rừng thưa trải dài theo hướng Tây Bắc, khoảng cách 1 cây số đi về phía Đồi Gió.</p>



<p>Phải một hợp đoàn 45 chiếc trực thăng đa dụng HU-1D với hai đợt đổ quân mới thực hiện xong cuộc chuyển quân, và Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù đã vào vùng hành quân lúc 04 giờ chiều ngày 16 tháng 4 năm 1972. Mở tần số liên lạc với Tướng Lê Văn Hưng trong An Lộc và liên lạc với Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù để biết vị trí quân bạn, sau đó nhanh chóng khai triển đội hình chiến đấu di chuyển về hướng Tây, len lỏi theo đường thông thủy giữa hai ngọn đối Gió và 169 âm thầm ngậm tăm mà đi.</p>



<p>Một sự kiện bất ngờ không may xảy đến khi đoàn quân đang di chuyển, một quả bom của Không Quân Hoa Kỳ định đánh vào vị trí của Cộng Quân lại rơi ngay vào đội hình đang di chuyển của Biệt Cách Dù, gây thương vong cho một vài binh sĩ, trong đó có Thiếu Úy Lê Đình Chiếu Thiện. Lập tức trái khói vàng được bốc lên cao giữa đoàn quân để phi công nhận diện phía dưới là quân bạn.</p>



<p>Phải mất một thời gian ngắn cho việc tản thương, hai cố vấn Mỹ; Đại Úy Huggings và Thượng Sĩ Yearta nhanh chóng liên lạc với Lữ Đoàn 7 Kỵ Binh Không Vận Hoa Kỳ yêu cầu trực thăng cấp cứu và được thỏa mãn ngay. Đây là hai cố vấn thuộc lực lượng đặc biệt Hoa Kỳ còn chiến đấu bên cạnh Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù khi quân bộ chiến Mỹ đã rút lui ra khỏi chiến trường Việt Nam theo kế hoạch Việt Nam Hóa Chiến Tranh được thi hành vào năm 1970.</p>



<p>Sự kiện thứ hai xảy đến là sự xuất hiện của 47 quân nhân thuộc Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân từ đồi 169 chạy tuôn xuống, mặt mày hốc hác vì mệt mỏi và thiếu ăn, bị thất lạc và phải trốn trong rừng. Họ đi theo Biệt Cách Dù để trở lại đơn vị gốc trong An Lộc…</p>



<p>Hoàng hôn phủ xuống thật nhanh, bóng tối lần lần bao trùm cảnh vật chung quanh. Súng vẫn nổ rải rác từng đợt, từng hồi trong rừng thẳm. Biệt Cách Dù chiếm ấp Srok Gòn trong im lặng và an toàn vì địch vừa rút ra khỏi đây. Lục soát, bố trí và dừng quân chung quanh ấp trong những công sự chiến đấu đã có sẵn của Việt Cộng.</p>



<p>Bóng đêm dày đặc, im vắng xa xa về hướng An Lộc- đạn pháo ì ầm nổ như tiếng trống cầm canh.</p>



<p>Sự đổ quân tăng viện ồ ạt của Việt Nam Cộng Hòa về phía Đông Nam cách An Lộc 4 km, đồng nhịp với các phi vụ đánh bom B52 tàn khốc về phía Nam của thành phố, đã làm cho Cộng quân hoang mang hốt hoảng. Lữ Đoàn 1 Dù là lực lượng đối kháng vòng ngoài để thu hút địch quân đồng thời tạo một lỗ hổng cho Biệt Cách Dù thâm nhập vào thành phố.</p>



<p>Sáng ngày 17 tháng 4 năm 1972, cùng một thời điểm Tiểu Đoàn 8 Dù tiếp cận ngoại vi tuyến phòng thủ của Thị Xã vế phía Nam, cạnh Quốc Lộ 13.</p>



<p>Cộng quân không ngờ Biệt Cách Dù đã lọt được vào Thị Xã tiếp hơi cho quân tử thủ và mở cuộc tấn công ngay trong đêm đó vào các khu phố mặt Bắc…</p>



<p>Nói về liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy dù, mặc dù chỉ có 550 chiến sĩ được đổ quân vào An Lộc nhưng khả năng tác chiến có thể bằng hay hơn 2000 quân bộ chiến (cấp Trung Đoàn) của các Công trường quân Cộng sản Bắc Việt, bởi chiến pháp linh động và bất ngờ, uyển chuyển theo tình hình, biết tùy theo thời tiết và địa thế, khi tấn công thì như vũ bão, sấm sét giáng lên đầu quân địch, khiến chúng không kịp trở tay, xuất hiện bất ngờ như những thiên thần trên trận mạc, đánh cận chiến tuyệt kỹ trên các hầm hố giao thông hào vào ban đêm, chui tường, đục lỗ tác chiến trong thành phố, cả ngày lẫn đêm rất điêu luyện (lấy ít đánh nhiều, sát hại địch nhiều mà thương vong lại ít), đột kích bất ngờ thu dọn chiến trường nhanh chóng đã làm kinh tâm khiếp đảm địch quân trên tận dãy Trường Sơn heo hút gió ngàn, và trong thành phố tại ngã ba Cây Thị kỳ Tết Mậu Thân 1968 tại Sài Gòn.</p>



<p>Thật là một đơn vị Biệt Kích &#8211; Commando thiện chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, hơn hẳn các đơn vị “đặc công” thiện chiến của Cộng Quân, và không thua bất cứ đơn vị Commando nào của các Quân Đội trên Thế Giới…</p>



<p>Điểm đáng lưu ý là Biệt Cách Dù đã tránh được một cuộc chạm súng với đơn vị Trung Đoàn 141 của Cộng Quân, có quân số đông hơn Biệt Cách Dù đến 5 lần, và địch được ưu thế phòng không và có công sự chiến đấu. Nhất là khi chuyến đầu đổ quân, không sao tránh khỏi đụng trận, các chiến binh Biệt Cách Dù kể cả các trực thăng đổ quân chắc chắn phải bị hao hụt ít nhiều, không còn được nguyên vẹn quân số, để tiếp tục làm tròn sứ mạng tiếp sức với Trung Đoàn 8 thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh, chiếm lại ½ diện địa phía Bắc, trong những ngày kế tiếp sau đó.</p>



<p>Trung Đoàn 141 thuộc Công Trường 7 của Cộng quân, thật sự đã ẩn phục tại Ấp Srok Gòn từ hơn tuần qua, và mới nhận được lệnh điều động rời khỏi vị trí, di chuyển về vùng Phi Trường Quản Lợi. Vì bị trúng kế “Điệu Hổ Ly Sơn”, đúng theo sự thiết kế của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 3 Việt Nam Cộng Hoà.</p>



<p>Câu chuyện này, cho đến nay vẫn có rất ít người biết, kể cả đơn vị Biệt Cách Dù cũng không biết được là nguyên do nào mà đơn vị mình được đổ quân ngay vào lòng địch, mà vẫn được an toàn tiến quân vào tiếp cứu quân bạn đánh bại Quân Đoàn xăm lăng quân Cộng Sản Bắc Việt, một cách oanh oanh liệt liệt như thế”.</p>



<p>Trong bài viết “Tàn Cơn Binh Lửa” của BCD Lê Ðắc Lực:</p>



<p>“Sau khi rời khỏi chức vụ Biệt Đội Trưởng để đảm nhận trưởng Khối Chiến Tranh Chính Trị Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, tôi có thì giờ và có nhu cầu theo dõi tình hình quân sự và chính trị nhiều hơn. Ngoài những hành động gây chiến giành dân lấn đất, bọn Cộng Sản đang thăm dò thái độ của Mỹ sau khi họ ký Hiệp Ðịnh Paris năm 1973…</p>



<p>Sau khi chiếm Phước Long ngày 6 tháng Giêng, năm 1975, quân Cộng Sản chiếm Ban Mê Thuột ngày 10 tháng Ba cùng năm đó. Rõ ràng, như trong bài trước đã trình bày, đánh Phước Long, là Cộng Sản thăm dò phản ứng của Mỹ. Thấy Mỹ bất động, lại còn cắt viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa, Cộng Sản thấy thời cơ đã tới, làm tới luôn, mở đầu chiến dịch tổng tấn công miền Nam bằng trận đánh lớn kế tiếp: Ban Mê Thuột.</p>



<p>Mặc dù tình hình căng thẳng, ngày càng nặng nề, hoạt động của Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù vẫn bình thường. Theo lệnh của Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn III, Ðại Tá Phan Văn Huấn đã cho rút Bộ Chỉ Huy nhẹ của Trung Tá Nguyễn Văn Lân, từ Tây Ninh về lại căn cứ Hành Quân Biên Hòa, để lại Biệt Ðội 813 do Trung Úy Lại Ðình Hợi chỉ huy, tăng cường phòng thủ cho chiến trường Tây Ninh. Ðiều động Bộ Chỉ Huy 3 Chiến Thuật, do Thiếu Tá Phạm Châu Tài chỉ huy, gồm ba Biệt Ðội 811, 817 và 818 đến bảo vệ Bộ Tổng Tham Mưu.</p>



<p>Riêng tại căn cứ hành quân Suối Máu Biên Hòa, Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn do Ðại Tá Phan Văn Huấn chỉ huy và hai Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật 1 và 2, với quân số các biệt đội còn lại lên tới 2,000 binh sĩ, vẫn bố phòng ở mặt Bắc phi trường Biên Hòa, sẵn sàng chiến đấu. Các toán Thám Sát vẫn được thả vào Chiến Khu D để do thám, thu nhặt tin tức các hoạt động của địch.</p>



<p>Trưa ngày 28 tháng Tư, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Ðoàn III họp tất cả đơn vị trưởng, Chỉ Huy Trưởng các đơn vị đang đồn trú ở địa phương. Trong buổi họp, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn thông báo tình hình quân sự tuyệt vọng ở Quân Khu III, và ra lệnh tất cả các đơn vị rút về phòng tuyến mới, dọc theo Xa Lộ Ðại Hàn, Thủ Ðức, để bảo vệ Thủ Ðô Sài Gòn. Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù là đơn vị rút cuối cùng, có nhiệm vụ bảo vệ cầu Biên Hòa, trên Quốc Lộ 1, gần ngã ba đường đi vào Núi Bửu Long, để toàn bộ binh sĩ rút qua khỏi cầu này được an toàn.</p>



<p>Cũng trong ngày hôm ấy, Bộ Tổng Tham Mưu hầu như có kế hoạch cho trực thăng đến đón các cấp chỉ huy di tản khỏi Việt Nam. Nhưng đối với Ðại Tá Huấn thì ông đã từng tuyên bố khẳng định: “Tôi có vợ và tám con. Tôi có thể bỏ lại gia đình, nhưng không thể bỏ lại hai ngàn chiến sĩ của tôi để mà ra đi trong hoàn cảnh như thế này được…”</p>



<p>Và Ðại Tá Huấn đã ở lại với binh sĩ của ông, cho đến giây phút cuối cùng, khi có lệnh buông súng đầu hàng của tân Tổng Thống Dương Văn Minh.</p>



<p>Qua hai bài viết của Thiếu Tá Phạm Châu Tài và Đại Úy Lê Đắc Lực trong binh chủng Biệt Cách Nhảy Dù dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Phan Văn Huấn thể hiện nhân cách, tinh thần chiến đấu anh dũng, chỉ biết phục vụ cho lý tưởng. Một vị Chỉ Huy Trưởng của binh chủng, nhưng sau khi ra tù thì vợ con “sống trong cảnh nghèo nàn xơ xác” cho thấy sự trong sạch của ông trong suốt cuộc đời binh nghiệp.</p>



<p><a>Trong giới truyền thông, ký giả Vũ Ánh (13 năm tù) qua bài viết </a>Đại Tá Phan Văn Huấn, Người Anh Cả Gìa “Chúng tôi chưa từng là thuộc cấp của ông, nhưng vẫn gọi ông là anh cả. Nhân cách và hình ảnh của ông chế ngự trong tôi suốt thời gian tôi được chuyển về sống tại Z-30A (trại C) năm 1986 và được ‘biên chế’ vào đội rau xanh cùng ông. Sắp bước sang năm thứ 12, nhưng trại C vẫn còn đầy ắp những sĩ quan cao cấp mà thời gian chinh chiến của họ dài gấp đôi gấp ba những năm tù. Giai đoạn cuối một đời ‘học tập cải tạo’ nhưng ‘không bao giờ thuộc bài’ của chúng tôi có nhiều điều đáng nói, nhiều hình ảnh cần nhớ và nhiều hình ảnh cũng cần quên để giữ vững tinh thần… Vui khi thấy một đàn anh xứng đáng, đàng hoàng và chỉ một lời trách nhẹ của họ, chúng tôi cũng coi như một lệnh phải thi hành. Buồn khi thấy một đàn anh khúm núm một cách không cần thiết trước mặt những kẻ thắng trận. Số người này ít nên nỗi buồn cũng chỉ thoáng qua. Số giữ được tư cách vẫn rất nhiều và làm cho lớp đàn em chúng tôi vững tin.</p>



<p>Những bạn tù của tôi, người Công Giáo, nói rằng, anh cả Phan Văn Huấn là người vác thánh giá cho lũ em. Mà quả thật đi chung với anh một đường, lòng thấy nhẹ đi, phơi phới hơn, tin tưởng hơn. Con đường khó cũng bớt khó. Dáng người cao, gầy, nước da đen xanh, nhưng đôi mắt sáng và nụ cười bao giờ cũng là đầu câu chuyện. Giọng Huế còn ‘chay’ lúc nào cũng nhỏ nhẹ, ý nhị, cười vui vừa phải, anh cả dẫn chúng tôi vào những câu chuyện buồn vui đời lính của chính ông và các sĩ quan binh lính thuộc cấp. Những kỷ niệm ông nói ra là những bài học không lúc nào mất giá trị.</p>



<p>Trang phục của ông trong tù khi quay về với cái nóng ở phương nam là quần áo may bằng bao cát xám. Chuyện mưu sinh chứ không phải là mốt thời trang. Người nào từng là tù cải tạo ra Bắc hoặc xuôi Nam đều biết loại quần áo tù bền muôn thuở này. Lúc đầu được phát mỗi năm hai bộ quần áo trận của quân VNCH, nhưng túi và cầu vai bị xé hết. Thời gian sau, họ phát quần áo tù bằng vải thô có đóng dấu cải tạo sau lưng. Mồ hôi của lao động khổ sai có thể xé rách bất cứ loại quần áo nào. Phải vá thôi, nhưng vải đâu. Thấy loại bao cát xám hay bao cát màu olive đem về giặt đi để đắp đỡ lên những chỗ rách trên áo tù. Thấy loại bao cát xám, càng giặt đi càng mịn có thể may quần áo được, tha hồ bền nên vài người tù trở thành thợ may bất đắc dĩ. Chúng tôi không được giữ vật bén nhọn, nhưng tìm trong vài ba lô vẫn có được những mảnh thép quí, mài đi thành dao nhỏ, cắt bao cát thay kéo, mài những cộng sắt làm kim, chỉ thì rút từ chính những sợi từ những bao cát bằng ni lông, thế là có một bộ đồ &#8220;ăn chơi quá thú&#8221;.</p>



<p>Anh cả Phan Văn Huấn quanh năm suốt tháng mang trang phục rất ‘mốt’ may bằng bao cát xám. Tôi để ý thấy ông còn giữ được bộ đồ trận tương đối tươm tất nhưng chỉ thấy ông mặc nó vào ngày 19 tháng 6. Ở những trại tù trước, chúng tôi tổ chức kỷ niệm 19 tháng 6 bằng một phút im lặng chào quốc kỳ và chào nhau kiểu nhà binh trước khi bọn cai tù mở cửa buồng giam điểm số để ra lao động.</p>



<p>Ở trại Z-30A vào 3 năm cuối của thập niên 80, ngày Quân Lực được tổ chức theo từng nhóm riêng. Tôi mang áo lính nhưng binh chủng của tôi lại là đạo quân phóng viên, biên tập viên của hệ thống truyền thanh quốc gia, nên cả trại chỉ còn mình tôi. Phần lớn đồng nghiệp với tôi đã trở về sớm hơn, có đứa vào năm 1986 đã tốt nghiệp đại học ở Mỹ và làm lại cuộc đời rồi.</p>



<p>Anh cả Phan Văn Huấn quí tôi nên thường mời tôi tham dự những bữa cơm đoàn kết cùng với một số các sĩ quan thuộc cấp của Biệt Cách Dù, LLĐB cùng bị giam ở trại Z-30A. Ở đội rau xanh, tới giờ nghỉ giải lao, chúng tôi thường tụ tập hút với nhau điếu thuốc lào, nói dóc hay kiếm ếch nhái để ‘cải thiện’. Riêng anh cả Huấn thì không nghỉ, anh dùng giờ giải lao để chăm bẵm một giàn mướp và vài bụi mồng tơi ở bên cạnh &#8220;lãnh thổ&#8221; của đội rau xanh. Viên cán bộ quản giáo, còn một chút hiểu biết, nên cũng dễ dãi cho phép tù &#8220;cải thiện&#8221;. Mỗi đợt thu hoạch, anh Huấn hái về 5, 7 trái mướp vừa độ, vài nắm lá mồng tơi. Về trại anh chia đều cho những sĩ quan thuộc cấp…</p>



<p>Có một lần vào ngày đầu tuần lễ, tôi bị bệnh được cho nghỉ nằm nhà. Anh Huấn được gọi ra thăm nuôi gặp gia đình. Bốn mươi phút sau, anh cả trở vào gọi tôi sang và dúi vào tay tôi những tờ giấy gói hàng. Ðó là những tờ báo của tờ Tuổi Trẻ mà gia đình khéo léo bọc ngoài những món đồ khô. Giỏ quà thăm nuôi của anh gồm rất nhiều gói nho nhỏ, mỗi thứ một chút: một ít mắm ruốc kho với tóp mỡ, chút ít cá khô chà bông, ít mì vụn, một hũ nhỏ nước mắm kho quẹt, ít thịt heo băm nhỏ rim mặn, ít ruốc xả theo kiểu Huế&#8230; Phía trong mỗi gói đều có một mảnh giấy với vài hàng chữ. Anh cho tôi đọc một lá thư, ngắn ngủi nhưng chứa đựng một tấm lòng thương kính của gia đình quả phụ tử sĩ đối với anh. Chỉ đọc lá thư đầu để trong một gói mắm ruốc kho với tóp mỡ, nước mắt tôi đã trào ra. Chữ nguệch ngoạc bằng bút chì trên một miếng giấy kẻ ô đã vàng xé ở đâu đó: “&#8230; Gia đình em, cha mẹ của cố Binh nhất&#8230; kính thăm Đại Tá. Chỉ có chút quà nhỏ do lòng thành của gia đình gởi biếu Đại Tá dùng lấy thảo. Vẫn nhớ Đại Tá và mong Đại Tá khỏe mạnh, sớm về với gia đình&#8230;”</p>



<p>Lá thư ngắn ngủi kèm theo gói nhỏ đạm bạc nhưng đầy ắp tình thương và quí mến của gia đình tử sĩ Liên Đoàn 81/BCD, dù rằng, vào lúc đó đại gia đình này đã tan đàn, xẻ nghé. Trường hợp như người anh cả của gia đình Biệt Cách Dù không phải là số nhiều. Nó chứng tỏ rằng, trong thời chiến, cựu Ðại Tá Phan Văn Huấn đã hành xử đúng vai trò người anh cả trong một đại đơn vị chiến tích lẫy lừng ấy. Trận mạc gan lì nhưng trái tim ông đầy lòng nhân ái, sống gắn bó với những người lính của mình, chia xẻ những mất mát không gì bù đắp được của các gia đình tử sĩ, cô nhi quả phụ…</p>



<p>Anh cả được trở về với gia đình sau tôi vài tháng. Một người họ hàng với mẹ tôi là phụ huynh của một thương binh trước đây là lính của anh cho tôi biết, anh sống khó khăn và việc tìm cách đến thăm có thể làm cho mối hoài nghi của bọn công an phường gia tăng thêm. “Cậu đến thăm chắc ông ấy vui lắm, nhưng chị thấy là nên tránh cho ông ấy”. Bà chị họ tôi nói như vậy.</p>



<p>Tôi đi định cư ở Mỹ trước anh cả Huấn. Rồi một hôm, đang ngồi làm việc ở tòa soạn của nhật báo Viễn Ðông của anh Nguyễn Ðức Quang, thì anh cả Huấn đẩy cửa bước vào. Tôi nhận ra anh ngay và chào kính. Vẫn nụ cười, anh cho tôi biết qua về đời sống hiện tại của anh ở Mỹ. Anh nói: “Lớn tuổi rồi, nhưng anh vẫn OK. Có chuyện này nhờ Ánh”. Chuyện anh nhờ thực ra anh không cần nhờ, tôi cũng có bổn phận phải làm. Ðó là một thư mời họp mặt Gia Đình 81/BCD &#8211; LLĐB.</p>



<p>Anh cả Huấn nói: “Bây giờ anh ngồi nhà, làm công việc kêu gọi anh em ở đây trợ giúp những người trong Gia Đình 81 còn kẹt và gia đình quả phụ tử sĩ. Khó đấy, nhưng cố gắng tới đâu hay tới đó”. Tôi được hân hạnh tham dự họp mặt của Gia Đình 81/BCD, nhưng các lần sau đó thì không còn cơ hội…</p>



<p>Vâng, đó chính là hình ảnh đích thực của anh cả Phan Văn Huấn và những đồng đội của anh trong Gia đình 81/BCD &#8211; LLĐB. Tới nay, dù tuổi đã cao, họ vẫn sống như những người lính đích thực của thời trận mạc…”</p>



<p>Nay ông đã vĩnh biệt cõi trần trong sự quý mến, kính trọng của quý chiến hữu, mọi người Việt tị nạn. Đại Tá Phan Văn Huấn xứng đáng là niềm hãnh diện trong QLVNCH.Năm 1988, ông ra tù với tấm thân bệnh tật vì những thương tích chiến trường và lao tù hành hạ nhưng được hưởng đại thọ như vậy, rất hiếm.</p>



<p><strong>Vương Trùng Dương</strong></p>



<p><em>(Bài viết nầy đăng trong mục Lịch Sử Ngàn Người Viết trên nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hòa số 200, tháng 4 năm 2026 – Vương Trùng Dương, Chủ Bút)</em></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Vương Trùng Dương: Chuyện Vãn: Cà Kê Dê Ngỗng</title>
		<link>https://t-van.net/vuong-trung-duong-chuyen-van-ca-ke-de-ngong/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Vương Trùng Dương]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 12 Feb 2026 07:04:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[chuyện vãn Vương Trùng Dương]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=87079</guid>

					<description><![CDATA[Thành ngữ Việt Nam “Cà kê dê ngỗng” với mọi người rất quen thuộc trong cuộc sống thường nhật. Chuyện dông dài, chuyện tầm phào, lan man, không đi vào trọng tâm, vô thưởng vô phạt, những chuyện vụn vặt, tán gẫu, chuyện nhân sinh, chuyện trên trời dưới đất, chuyện nầy xọ chuyện kia, [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/02/ckdn-1.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="682" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/02/ckdn-1-1024x682.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-87080" style="width:602px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/02/ckdn-1-300x200.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/02/ckdn-1-1024x682.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2026/02/ckdn-1-768x511.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/02/ckdn-1.jpg?strip=all 1400w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Thành ngữ Việt Nam “Cà kê dê ngỗng” với mọi người rất quen thuộc trong cuộc sống thường nhật. Chuyện dông dài, chuyện tầm phào, lan man, không đi vào trọng tâm, vô thưởng vô phạt, những chuyện vụn vặt, tán gẫu, chuyện nhân sinh, chuyện trên trời dưới đất, chuyện nầy xọ chuyện kia, không chủ đề, chuyện ba lơn (bài thơ Chuyện Ba Lơn Ngày Gặp Bạn của Trần Huy Sa)… Và chuyện vãn của tôi với lối phiếm “cà kê dê ngỗng”, Đông, Tây, kim, cổ với thế thái nhân tình nhan nhãn trong cuộc sống…  Ngày xưa các cụ cũng thường ví von, ẩn dụ để tránh sự đụng chạm với triều đình, quan phủ… Ngày nay được thịnh hành hơn từ chính trị đến vài lãnh vực khác.</p>



<p>* Cà kê</p>



<p>Về ý nghĩa thì “cà” có hai cách giải thích:</p>



<p>1.- “Cà” có thể là cách gọi cổ của con gà (gà), còn “kê” chính là gà (từ Hán-Việt)… Theo cụ “nói chuyện dông dài”. Vấn đề đặt ra con cà, con kê là gì? Cà là nói tắt có phải cà cưỡng, cà cuống, cà dúi, cà tong…?</p>



<p>2.- Tác giả Hàng Văn Hành trong “Kể Chuyện Thành Ngữ Tục Ngữ” cho rằng “cà” và “kê” ở đây là cây cà và cây kê.</p>



<p>Ngày xưa người nông dân đến mùa trồng cà, kê, thường nhổ cây non rồi bó thành từng bó để đem ra ruộng trồng lại. Đây là việc đòi hỏi sự tỉ mỉ nên tốn thời gian, làm mãi không xong. Từ đó tạo ra thành ngữ “cà kê” mới được dùng để chỉ việc dai dẳng, hoài không dứt.</p>



<p>Trong ca dao cũng có câu:</p>



<p>“Hết kê rồi lại đến cà</p>



<p>Nhổ lên, trồng lại mãi mà không xong”</p>



<p>Đại Nam Quốc Âm Tự Vị (1885) do cụ Huỳnh Tịnh Của chủ biên cũng định nghĩa: “con thuốc: cây thuốc mới ương, mới mọc”. Như vậy, cách gọi “con cà, con kê” để chỉ cây cà, cây kê là có lý.</p>



<p>Lãng Nhân Phùng Tất Đắc là học giả, nhà nghiên cứu, thông thạo nhiều thứ tiếng. Khi còn trẻ đóng góp văn học, thời kỳ ngoài Bắc từ tờ Đông Tây ban đầu chỉ có hai người viết là Hoàng Tích Chu và cụ. Sau nầy quy tụ nhiều cây bút nổi tiếng Phan Khôi, Trần Tuấn Khải, Vi Huyền Đắc, Thiết Can, Hoàng Ngọc Phách&#8230;</p>



<p>Ngoài ra, cụ từng đóng góp bài vở cho các báo như Cri de Hanoi, Fléchettes, Nhựt Tân, Duy Tân, Hải Phòng tuần báo, Ích Hữu…</p>



<p>Năm 1954, cụ đưa gia đình di cư và Sài Gòn được người bạn nhờ trông coi nhà in Taupin do Pháp để lại; cơ sở này là hậu thân của nhà in lớn IFM (Imprimerie Française d&#8217;Outremer) thời Pháp thuộc để trở thành Kim Lai ấn quán.</p>



<p>Sau các tác phẩm Trước Đèn (1939), Chuyện Vô Lý (1942), Chơi Chữ (1960), Cá Tồn (1963), Giai Thại Làng Nho (1963), Hán Văn Tinh Túy (1965), trong quyển Chuyện Cà Kê của nhà nghiên cứu Lãng Nhân Phùng Tắc Đắc, gồm 28 bài phiếm, sách dày 274 trang do Nam Chi Tùng Thư, Sài Gòn xuất bản năm 1968. Sách nổi tiếng với văn phong dí dỏm, sâu sắc, chân thực xã hội qua những câu chuyện nhỏ nhưng ý nghĩa, thâm thúy. Phản ảnh đời sống xã hôi, văn hóa, thói hư tật xấu, nét đẹp trong xã hội Việt Nam, mang tính châm biếm nhẹ nhàng.</p>



<p>Khi đặt tên sách Chuyện Cà Kê, cụ Lãng Nhân giải thích khi đặt câu hỏi “Chuyện gì là chuyện cà kê?”. Cụ không giải thích “cà kê” mà nói:</p>



<p>&#8211; Rõ khéo, chuyện con cà con kê mà còn phải hỏi!</p>



<p>&#8211; Kê là gà đành rồi. Thế cà là con gì? Hay là gà kê, nói chạnh ra cà kê cho xuôi tai?</p>



<p>&#8211; Ồ, thế thì khi người ta nói cà kê dê ngỗng, gà là kê, không lẽ dê lại là ngỗng?</p>



<p>Và cụ nói tiếp:</p>



<p>&#8211; Thì ta cứ cho chuyện cà kê là chuyện “dây cà ra dây muống”, “ông nói gà bà nói vịt”, “râu ông nọ cắm cằm bà kia”, cũng là được đi. Chúng ta ngồi đây, có thiếu gì chuyện, chuyện mưa nắng, chuyện nhạt chuyện nồng, “chuyện bà còng đi chợ trời mưa, cái tôm cái tép đi đưa bà còng”, chuyện “muốn cho chợ họp đến chiều, cho lắm kẻ bán cho nhiều người mua”, tóm lại là “nói bỡn nói cợt mà chơi”, chứ “áo ai nấy mặc có mùi gì đâu”…</p>



<p>Thế nào là cà kê?</p>



<p>Hỏi như thế vì lâu nay ta thường nghe nói đến “chuyện nổ như pháo ran”, “chuyện nổ như bắp rang”, “chuyện nọ xọ chuyện kia”, “chuyện hươu chuyện vượn”, “chuyện trên trời dưới đất”… Thậm chí ở Quảng Nam còn có câu “chuyện ông huyện để dái” là ngụ ý câu chuyện mà họ đang nói đến, bàn đến chỉ tàm xàm, bá láp, nói dông dài mất thời gian, chẳng đâu và đâu.</p>



<p>Chuyện ở đây là hiểu theo nghĩa từ hai đến vài người cùng trò chuyện, nói chuyện với nhau lúc “trà dư tửu hậu”, họ nói chuyện gẫu, nói cách khác chính là lúc rảnh rỗi cùng “buôn dưa lê”. Ủa, sao lại “buôn lê”? Chẳng có trái lê, trái lựu gì đây sất, đơn giản là người ta tách “lê” từ câu quen thuộc “ngồi lê đôi mách” để tạo ra hai chữ mới mang sắc thái bông phèng, tếu táo khiến nội dung không còn “nghiêm trọng” như vốn có.</p>



<p>Với người dân miền Nam, nhất là Sài Gòn với “bỏ đi tám” là cách nói “tám” có thể hiểu là “tám chuyện” (nói nhiều) dần dà trở nên thành ngữ “bỏ qua đi tám” (thôi đi), “bỏ đi mà sống” (phớt đời). Và thường ví von nam/nữ nói chuyện không đâu vào đâu với chữ “tám”… thay vì “cà kê dê ngỗng”.</p>



<p>Năm 2021, bài viết của Hoàng Tuấn Công trên tuần báo Saigon Nhỏ “Con cà, con kê” là con gì?.</p>



<p>Trích:</p>



<p>“Con cà con kê” là thành ngữ thông dụng, nghĩa bóng hầu như ai cũng hiểu. Tuy nhiên, đúng như nhận xét của một độc giả: “nghĩa đen của “con cà con kê” mới là thứ tốn hao giấy mực, lôi nhiều nhà ngôn ngữ học, xã hội học, dân tộc học, thậm chí cả côn trùng học vào cuộc, để phân tích hai con quái đó, trong hơn nửa thế kỷ, trải dài trên cả 3 miền đất nước. Mà tới nay vẫn chưa ngã ngũ, vì chưa có lời giải thỏa đáng.”…</p>



<p>Đều là con gà (nhóm một):</p>



<p>“Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam” (GS Nguyễn Lân): “con cà con kê (Cà là do từ cổ có nghĩa là gà). Chê người nói dài dòng, hết chuyện này sang chuyện khác”.</p>



<p>“Từ điển tiếng Việt” (New Era): “cà kê 1. Kéo dài lằng nhằng mãi không hết. Chuyện cà kê (cũng nói chuyện con cà con kê). Kê: có nghĩa là gà. Trong từ ngữ trên, tiếng cà do tiếng gà đọc trại ra. 2. (ngb) Chuyện vặt vô tích sự, chuyện mà ai cũng biết, không cần nói tới, nói ra chỉ mất thời giờ vô ích. Chuyện cà kê vô bổ”.</p>



<p>“Từ điển thành ngữ tục ngữ Việt Nam trong hành chức” (GS.TS Đỗ Thị Kim Liên chủ biên): “con cà con kê (cà: do từ cổ ka có nghĩa là “gà”; kê: từ Hán có nghĩa là “gà”.</p>



<p>Nhà nghiên cứu Văn hóa dân gian Nguyễn Hùng Vĩ: Con gà âm Hán là kê, tiếng Mường là kha, tiếng Nghệ Tĩnh là ga, cổ âm đồng hóa với ca, cà. “Con cà con kê” là nói đi nói lại cùng một chuyện, dài dòng, luẩn quẩn và trùng lặp, “hết con gà lại quay lại… con gà”</p>



<p>GS.TS Vũ Quang Côn, Hội Côn Trùng Học Việt Nam lại nhìn nhận, gà là con vật hay lang thang bới móc tìm kiếm thức ăn, đường đi của chúng cũng lòng vòng. Con cà hay con kê đều là con gà sẽ phù hợp với cách nói lòng vòng, nhăng cuội, không có chủ đích, mất thời gian.</p>



<p>Cây cà và cây kê (nhóm hai):</p>



<p>Lê Gia, trong sách “1575 thành ngữ, tục ngữ cần bàn thêm” giải thích: Quả cà và bông kê là hai thứ “rất nhiều hột”, khi gieo ương thì mọc rất nhiều cây con và thường gọi là “con cà con kê”, để “chỉ sự sinh sản ra quá nhiều, thường dùng chỉ về sự nhiều việc, nhiều chuyện xảy ra”.</p>



<p>TS Phạm Văn Tình trong bài “Con cà con kê: có phải đều là gà?” đống ý quan điểm “cà” và “kê” chẳng liên quan gì tới “gà qué”, mà là cây cà và cây kê. Phân tích sau đây của ông gần như là một bản sao của bài “Con cà con kê” trong sách “Kể chuyện thành ngữ tục ngữ”:</p>



<p>“Trăm nghìn cây cà còn nhỏ mọc lên kín luống. Kê cũng gieo thành đám, mọc ken dày như mạ. Cây cà, cây kê đến độ trồng tỉa, người ta nhổ lên, bó thành từng bó nhỏ rồi đưa đi cấy giặm từng cây một. Một luống cây cà hay cây kê non có thể nhổ đem trồng trên một thửa ruộng khá lớn. Công việc trồng cà, trồng kê đòi hỏi phải tỉ mẩn, nhất là vào những ngày mưa, với việc tỉa ra từng cây, rề rà, chậm chạp (vì cây non mềm, dễ gãy và giập nát). Chính từ đó mà hình thành nên nghĩa đen của thành ngữ này là: mất nhiều thời gian, hết cây cà lại sang cây kê, kéo dài mãi như không dứt. Cách giải thích này xem ra thuyết phục hơn, vì nó có cơ sở thực tế (từ nhà nông ta) và phù hợp với ngữ nghĩa biểu trưng của thành ngữ “con cà con kê” như cách dùng phổ biến hiện nay trong dân gian…</p>



<p>“Tục ngữ lược giải” (Lê Văn Hoè): “Kể lể con cà con kê: Kể lể những việc lặt vặt nhỏ nhen như chuyện con cà và con kê. Con cà là cây cà con để làm giống. Con kê là cây con để làm giống. Nói cả chuyện con cà, con kê thì còn chuyện gì là chuyện không nói nữa”.</p>



<p>Xuất xứ từ Pháp: Caquet (từ tượng thanh đọc là ca kê) chỉ tiếng gà cục tác, nghĩa bóng là ba hoa. “Caqueter (động từ) nghĩa là nói không ngừng, nói dông dài, nói chuyện tầm phơ khiến người nghe phải khó chịu”. Ta đã “nhập cảng” caquet của Pháp, rồi Việt hóa thành “cà kê”…</p>



<p>TS Phạm Văn Tình và Nhóm Hoàng Văn Hành đã hoàn toàn đúng khi viết: “Nhiều người cho rằng “con cà con kê” là một thành ngữ có sự kết hợp của hai từ cùng ý nghĩa trong tiếng Việt và tiếng Hán, đó là “cà” (trong tiếng Việt cổ “ca” nghĩa là “gà”) và “kê” (tiếng Hán có nghĩa là “gà”). Song nếu vậy thì nghĩa đen của thành ngữ này hiểu một cách nôm na là: dài dòng luẩn quẩn, trùng lặp, “hết con gà lai quay lại con gà”? Mà như thế thì nghĩa đen này không phù hợp với nghĩa biểu trưng của thành ngữ theo cách dùng phổ biến hiện nay”.</p>



<p>Vậy, “con cà con kê” được hiểu nghĩa đen thế nào?. “Con cà con kê” (dị bản “cà kê dê ngỗng”) là chuyện lan man, dông dài, hết chuyện này sang chuyện khác, không theo chủ đề nào, giống như từ chuyện “cây cà” chuyển sang chuyện “cây kê”; từ “dê” lại sang chuyện “ngỗng”, dù “cà” với “kê”, “dê” với “ngỗng” là những giống loài hoàn toàn khác nhau, vốn chẳng dính dáng, liên quan gì đến nhau…</p>



<p>Như vậy, con cà, con kê; hay con dê, con ngỗng ở đây đều là những sự vật quen thuộc, nhỏ nhặt trong cuộc sống hàng ngày, không có gì lạ, hay đặc sắc; chẳng khác nào những câu chuyện vãn, chuyện phiếm, chuyện vặt, cốt giết thời giờ rảnh rỗi. Vì là chuyện gẫu (gặp đâu nói đó) nên đặc điểm của “con cà con kê” là chuyện không đầu không cuối, từ chủ đề này chuyển sang chủ đề khác lúc nào không hay. Mặt khác, chính bối cảnh nhàn rỗi, chẳng có gì thúc bách về thời gian đã tạo nên tính chất rề rà của chuyện “con cà con kê”, chứ không phải việc trồng cà, trồng kê tỉ mẩn, rề rà, chậm chạp, lâu xong, nên mới thành nghĩa đen…” (ngưng trích)</p>



<p>Chuyện Cà Kê của tác giả Lãng Nhân Phùng Tất Đắc, sách được nhà xuất bản Nam Chi Tùng Thư ấn hành đầu năm 1968. Tuyển tập gồm 28 bài phiếm luận, giai thoại hài hước, sách dày 274 trang.</p>



<p>Gọi là “chuyện cà kê”, lối hành văn hóm hỉnh, phản ảnh đời sống bình dân, văn hóa làng xã, thói hư tật xấu và nét đẹp trong xã hội Việt Nam, thường mang tính châm biếm nhẹ nhàng.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/02/ckdn-2.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="690" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/02/ckdn-2-1024x690.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-87081" style="width:576px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/02/ckdn-2-300x202.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/02/ckdn-2-1024x690.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2026/02/ckdn-2-768x517.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/02/ckdn-2.jpg?strip=all 1400w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p>* Dê, ngỗng</p>



<p>Dê và ngỗng có lẽ chẳng liên quan gì với nhau?</p>



<p>Con ngan có tên khoa học là Cairina moschata, là loại gia cầm thường được gọi là vịt xiêm. Vịt và vịt xiêm là khác nhau. Vịt xiêm là cách gọi của người miền Nam về con ngan. Vịt thích nghi sống ở dưới nước, ngan có thể bơi dưới nước nhưng thích nghi nuôi trên cạn tương tự gà.</p>



<p>Ngan không phải là ngỗng. Con ngỗng là loại gia cầm thuộc họ Vịt (Anatidae). Ngỗng có nhiều giống khác nhau như ngỗng trời, ngỗng xám, ngỗng sư tử, các đặc điểm như cổ dài (nhưng không dài bằng thiên nga), thân to, ăn cỏ và các loại rau, cám.</p>



<p>Thiên nga (swan) là loại chim nước lớn cũng thuộc họ Vịt (Anatidae). Thiên nga và ngỗng tuy gần gũi, nhưng lại thuộc những chi khác nhau. Một số loài thiên nga phổ biến là thiên nga trắng (cygnus olor), thiên nga đen (cygnus atratus) và thiên nga cổ đen (cygnus melancoryphus)…</p>



<p>Thiên nga nổi tiếng qua vở ballet Hồ Thiên Nga của nhạc sĩ tài danh Tchaikovsky, sáng tác khoảng năm 1875. Kịch bản năm 1895 của Modest Tchaikovsky, Marius Petipa và Lev Ivanov.</p>



<p>Hình ảnh đêm trăng sáng, hồ thiên nga hiện ra giữa đống tàn tích đổ nát của một ngôi nhà nguyện xưa. Nhiều người đặt tên cho gái là Thiên Nga (không có Gà, Vịt, Ngan, Ngỗng… Chị tôi gọi các cháu nội khi sinh ra là gà, vịt để gọi trong nhà nhưng gắn liền với tên tuổi. Tôi cũng nhầm lẫm tên các cháu).</p>



<p>Vì vậy khi gọi cà, kê thì phải đi cùng với ngan, ngỗng, những con tương cận mới hợp lý nhưng có lẽ vần “ê”, dê ngỗng cho có vần, có điệu (?)</p>



<p>*</p>



<p>Trong cuốn Văn Học Miền Nam, nhà văn Võ Phiến nhận xét: “Thời kỳ 1954-1975, các nhà văn gốc Nam khi nói đến chiến tranh trên đất nước thường chỉ nói về cuộc chiến chống Pháp mà tránh cuộc chiến chống cộng. Viết truyện như Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam đều thế. Đến lượt Lê Xuyên, ông cũng thế. Mặt khác, các vị gốc Bắc thì chuyên về cuộc sống và con người đô thị, còn các vị gốc Nam thường viết về nông dân, nông thôn. Lê Xuyên cũng thế. Chuyện ấy dễ hiểu. Người Nam chưa biết qua chế độ cộng sản thì không mặn nồng với việc chống cộng; người Bắc di cư, bao nhiêu văn nhân, nghệ sĩ trí thức vào Nam đều sống ở đô thị nên chỉ biết viết về đô thị.</p>



<p>Người đọc văn Lê Xuyên có thể là giới bình dân, lao động, thợ thuyền, nông dân nhưng bên cạnh đó cũng phải kể đến giới trí thức miền Nam, kể cả những người Bắc “di cư” vào Nam năm 1954…”.</p>



<p>Trong các tác phẩm văn học Miền Nam thường có những đoạn văn hay đối thoại lan man, dông dài, mang tính “cà kê dê ngỗng”. Tiêu biểu như nhà văn Lê Xuyên, viết tiểu thuyết theo kiểu ngồi nghe người kể chuyện, nói chậm, nhớ đâu kể đó, không lan man để khoe chữ, mà lan man vì đời sống thường nhật trong cuộc sống. Những mẩu đối thoại của ông “dài dòng văn tự” hỏi, đáp… chuyện nầy chuyện kia với văn phong miêu tả chi tiết quá mức, gây cảm giác lê thê, chậm chạp.</p>



<p>Theo nhận xét của Nguyễn Mạnh Trinh “Viết feuilleton cho báo hàng ngày thời đó không phải dễ dàng mà còn là một nghệ thuật. Trường thiên tiểu thuyết của ông dường như tranh đua một cách gián tiếp với truyện kiếm hiệp Kim Dung lúc đó đang ở tuyệt đỉnh chú ý của mọi người, ở đâu cũng nói chuyện Cô gái Ðồ Long, Anh Hùng Xạ Ðiêu thì những trường thiên tiểu thuyết như “Chú Tư Cầu” như “Ðêm Không Cùng” phải có một hấp lực rất lớn.</p>



<p>Số lượng độc giả hàng ngày của các nhật báo là mức đo sự lôi cuốn của tờ báo mà những truyện nằm ở trang trong là một biểu hiện. Tiểu thuyết của Lê Xuyên có những đời sống chân chất ruộng đồng, những suy nghĩ giản dị của người bình dân, những ngôn ngữ của đời bình thường nhưng vào trong đối thoại truyện lại thành những lôi cuốn mở ra những cảm giác sẵn có cho những cuộc tình nóng bỏng đầy ắp dục tình. Ðối thoại của Lê Xuyên cứ nửa kín nửa hở, cứ vừa đố vừa giảng một cách “tửng tửng” nhưng tự nhiên gợi đến những cảm xúc của thịt da, của những giây phút nóng hổi của cuộc sống. Nhưng chẳng phải là ngôn ngữ của trụy lạc khiêu dâm. Mà còn có một điều gì ẩn khuất của con người, của nét nhân bản phảng phất.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/02/ckdn-3.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="679" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/02/ckdn-3-1024x679.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-87082" style="width:636px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/02/ckdn-3-300x199.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/02/ckdn-3-1024x679.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2026/02/ckdn-3-768x509.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/02/ckdn-3.jpg?strip=all 1387w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Nhớ đến nhà văn Lê Xuyên, thì tự nhiên người đọc nhớ ngay đến tiểu thuyết Chú Tư Cầu nhưng thực ra vẫn còn những tiểu thuyết dài viết từng ngày đăng ở trang trong các nhật báo cũng lơi cuốn độc giả không kém như Nguyệt Đồng Xoài, Rặng Trâm Bầu, Vợ Thầy Hương, Kinh Cầu Muống… độc giả theo dõi diễn biến cốt truyện hàng ngày với phong cách vừa đố vừa giảng…”</p>



<p>Nhà văn Mai Thảo viết: “Tuy đăng từng ngày, mỗi ngày một tiểu đoạn nhưng cách viết và lối dựng truyện phải là những bí quyết sắc bén giam nhốt không rời thần trí và ham thích người đọc, đã bước chân qua cửa truyện là không thể trở lui, phải từng số từng ngày đợi chờ đọc tiếp. Người người viết truyện trữ tình đăng trên nhật báo bây giờ thảy đều mơ tưởng trở thành một Kim Dung kiếm hiệp. Một mở đầu đã dầy dặc những tình tiết bốc cháy từ những mê đắm thứ nhất. Chuyển đoạn vừa đố vừa giảng. Chuyện đang chân trời hiện tại thoắt đã chân trời tương lai. Đang những diễn biến bây giờ, bằng hồi tưởng, đột ngột kéo ngược hết về quá khứ. Bất ngờ cắt đứt một xáo trộn, đóng khung trong một cảnh trí này, ném bổng xáo trộn ấy vào một cảnh trí hồn tồn khác biệt. Đang thuật đang tả chuyển thành viết thư nghiêng sang nhật ký. Và thuật tả cũng luôn luôn phải đối thoại len vào. Trăm nghìn xảo thuật hâm nóng cảm giác làm ngỡ ngàng mọi tưởng trước, sai lạc mọi phán đoán ấy đã được chuyên chở bộn bề vào tiểu thuyết đăng báo chúng ta hiện nay, bằng con đường điện ảnh bằng vay mượn và phối hợp cách thức viết với cách thực hiện phim ảnh. Nói chung đó là kỹ thuật của loại phim truyện trinh thám, nghẹt thở, giật gân, bao giờ cũng tạo được tác dụng làm căng thẳng giác quanh ta…”</p>



<p>Chú Tư Cầu là một trong những tiểu thuyết tiêu biểu nhất của Lê Xuyên, nổi tiếng không phải vì cốt truyện gay cấn mà vì cách kể đời, kể người rất… lê thê mà thấm. Chú Tư Cầu, người đàn ông từng trải, vốn dốt nát, chỉ biết đọc năm ba chữ quốc ngữ, giang hồ nửa mùa giống một đời người được kể lại, chứ không phải “một câu chuyện”. Nhật báo Sài Gòn Mai đăng Chú Tư Cầu trong suốt hai năm liền, từ tháng 2/1961 đến tháng 2/1963.</p>



<p>Với nhật báo đã đăng suốt hai năm cũng hiểu dài lê thê rồi. Nội dung tóm lược về cuộc đời tình ái của một chàng nông dân &#8211; Chú Tư Cầu &#8211; ngây thơ, nhân hậu, có số đào hoa, không ve vãn gái mà gái vẫn chạy theo quyến rũ chàng rần rần. Trước hết là cô Phấn, bạn gái cùng quê, dám hiến thân cho chàng, rồi rủ chàng lên Sài Gòn để xây tổ uyên ương. Nhưng khi tới Cần Thơ, bị tên khách trú Lâm Sanh dụ dỗ, Phấn chịu làm vợ và dùng kế gạt chàng xuống tàu để trở về quê.</p>



<p>Tư Cầu đi lộn tàu lên Nam Vang. Dọc đường gặp đồng hành là chú Bảy. Chú ta cảm thương Tư Cầu nên khi tới Nam Vang giới thiệu chàng giúp việc cho tiệm cơm người chị ruột chú là cô Năm. Tại đây, Tư Cầu có nhiều dịp tiếp xúc với phường trộm cắp, phường dao búa, và được lòng cô Ba Xá Lỵ gái nặc nô xinh đẹp, uy trấn một góc xã hội du côn nho nhỏ trên đất này. Cô ta mê chàng vì tấm lòng nhân hậu và hào hiệp của chàng, tìm mọi cách để quyến rũ chàng. Rồi cả hai tằng tịu say mê nhau. Nhưng sau một thời gian sống hạnh phúc trên đất Chùa Tháp, vì nhớ quê, Tư Cầu xin trở về quê, rủ nàng theo, nhưng cô ta biết rằng chốn ruộng đồng không phải là chốn môi sinh thích thú của mình nên từ chối.</p>



<p>Tư Cầu về quê, được mẹ chàng cho chàng biết Phấn đã có chồng Lâm Sanh, có về quê vài lần và lần nào cũng đến thăm hỏi chàng. Cô ta giúp đỡ gia đình chàng trong cơn ngặt nghèo nên bà rất cảm kích cô ta lắm. Rồi cha mẹ chàng buộc chàng phải cưới cô Thơm làm vợ. Cô này vốn là gái Việt gốc Miên rất được chàng yêu thương quý trọng. Cuộc sống lứa đôi của chàng tạm bình yên hạnh phúc.</p>



<p>Nhưng vào lúc xảy ra cuộc chiến Nhật- Pháp, Sài Gòn bị dội bom. Phấn về quê để gặp Tư Cầu, rủ chàng đến chỗ khác xây dựng lại cuộc sống lứa đôi đã từng dang dở. Cô cũng cho chàng biết đứa con trai của cô vốn là con ruột của chàng. Cô Thơm bắt gặp quả tang cả hai lén lút tâm sự nhau nên ghen lồng lộn. Rốt cuộc Phấn phải trở về Sài Gòn, tiếp tục sống với người chồng như cũ.</p>



<p>Biến động xảy ra, trong các Sóc Thổ, người Miên nổi dậy phong trào “cáp duồn” (giết người Việt). Cô Thơm dù vốn là gốc Miên nhưng đã từng được cha mẹ Việt nuôi từ thở ấu thơ, rồi khi lớn lên lấy chồng Việt nên cũng bị người Miên cho là thứ Miên gian. Trong một chuyến về quê thăm cha mẹ nuôi, cô bị bọn Miên hãm hiếp và bị chúng hạ sát. Tư Cầu điên tiết giết chúng để báo thù cho vợ.</p>



<p>Tư Cầu nghe theo lời Ba Kiên gia nhập vào nhóm du kích kháng chiến, bị bắt giải lên Sài Gòn, chuyển qua dinh cơ của sĩ quan người Pháp có phận sự canh giữ các tù nhân trước khi giải họ đi Côn Đảo. Không ngờ viên sĩ quan này là chồng hờ của cô Ba Xá Lỵ. Tình cũ gặp nhau, cô Ba Xá Lỵ hết lòng giúp đỡ Tư Cầu để được gần gũi ân ái với chàng. Chàng chỉ làm phụ dịch nhẹ nhàng thôi. Một hôm, Tư Cầu theo nhóm tù nhân đến tiệm bán cây mà viên sĩ quan đã đặt tiền mua để chất cây lên đoàn vận tải quân xa đem về nhà hắn. Tình cờ Tư Cầu gặp Phấn, vợ tên khách trú ngày trước, nay trở thành chủ nhân tiệm bán cây ấy. Phấn cùng cô Ba Xá Lỵ giúp đỡ Tư Cầu ẩn trú. Tại nhà riêng do Phấn thuê, Tư Cầu bị lính tuần tiễu bố ráp nên bị bắt đưa về bót cảnh sát Catinat để cho bọn bao bố (để khỏi nhận diện) nhìn mặt nhưng không nhận chàng là Việt Minh nội thành và cho nên chàng được tha.</p>



<p>Tư Cầu lại về quê, nhập vào toán du kích kháng chiến địa phương. Trong cuộc tấn công quân xa của lính Tây, Tư Cầu cùng đồng bọn hạ sát được tên chồng sĩ quan hờ của cô Ba Xá Lỵ. Nhưng chàng không cứu được cô. Tên chánh trị viên giết cô ta. Tư Cầu toan báo thù cho người yêu của mình nhưng hắn đã kịp thời cao bay xa chạy mất rồi.</p>



<p>Tư Cầu lên Châu Đốc tìm chú Bảy và làm vườn cho chú. Chàng chiếm được trái tim cô Thắm, và được chú Bảy gả con gái cưng của chú cho chàng. Nhưng rồi chàng lại đi theo kháng chiến bị chết trong trận đánh Tây. Trong khi đó ở quê nhà, cô Phấn mang thai. Rồi đứa con trai của chàng chào đời. Nhưng dù sao chàng cũng đuợc an ủi vì trong lúc lâm chung, thằng em vợ của chàng đọc cho chàng nghe bức thư báo tin mừng của vợ.</p>



<p>Chuyện dài dòng văn tự như vậy, hết chuyện nọ xọ chuyện kia nhưng vì sự tò mò, hiếu kỳ của độc giả diễn tiến thế nào nên lôi cuốn độc giả.</p>



<p>Tác phẩm Dưới Rặng Trâm Bầu (1965) mang bối cảnh màu hoài niệm rất Nam Bộ, hàng cây trâm bầu ở miền quê ven kênh rạch đất Nam Kỳ Lục Tỉnh. Câu chuyện lan man như lúc “trà dư tửu hậu”. Truyện nầy lúc đó bị phê phán mang tính phản chiến!</p>



<p>Sau năm 1975 người ta mới thấy rõ con người ‘nhẫn nhục’ của Lê Xuyên. Một con người ‘khí tiết’ đã chịu sống an phận trong nghèo khổ, hằng ngày ngồi sau tủ thuốc lá lẻ tại ngã tư đường Bà Hạt &#8211; Ngô Quyền, Chợ Lớn… khi cảm thấy ngòi bút ngày trước không còn là của mình. Trải qua sau 2 năm trời bệnh hoạn vì cơ cực và nghèo khổ nhưng nụ cười luôn nở trên môi.&nbsp; Nhà&nbsp; văn Lê Xuyên qua đời ngày 2 tháng 3 năm 2004 tại Sài Gòn!</p>



<p>Sống trên xứ Cờ Huê, với nội tình chính trị đang xảy ra giữa đảng nầy đảng kia, mỗi người có quan điểm khác nhau (ngay cả trong gia đình giữa vợ chồng, con cái) nếu hàng ngày gặp nhau cà phê cà pháo cùng tán gẫu liên quan đến nội tình rồi cũng rã đám! Chỉ có “cà kê dê ngỗng” mới có chuyện dài ngày nầy năm nọ, giữ được tình bằng hữu.</p>



<p>Ngay cả mục “Chuyện Vãn” cho tờ báo cũng không đề cập đến nội tình chính trị ở đây vì giữa độc giả với nhau… Biết chết liền!</p>



<p><em>Little Saigon, January 2023</em></p>



<p><strong>Vương Trùng Dương</strong></p>



<p></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Vương Trùng Dương: Chuyện Vãn: Sợ Vợ Mới Anh Hùng</title>
		<link>https://t-van.net/vuong-trung-duong-chuyen-van-so-vo-moi-anh-hung/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Vương Trùng Dương]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 06 Dec 2025 07:03:17 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=85428</guid>

					<description><![CDATA[Phim Sợ Vợ Mới Anh Hùng ra mắt vào đầu năm Ất Mão 1975, cách nay tròn nửa thế kỷ, ngay tựa đề cũng biết phim hài vì hai diễn viên Thanh Việt, Khả Năng đã một thời nổi tiếng danh hề. Và sau nầy, hài kịch Sợ Vợ Mới Là Anh Hùng sản xuất [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/12/vtd-1.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="683" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/12/vtd-1.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-85429" style="width:582px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/12/vtd-1-300x200.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2025/12/vtd-1-768x512.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/12/vtd-1.jpg?strip=all 1024w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Phim Sợ Vợ Mới Anh Hùng ra mắt vào đầu năm Ất Mão 1975, cách nay tròn nửa thế kỷ, ngay tựa đề cũng biết phim hài vì hai diễn viên Thanh Việt, Khả Năng đã một thời nổi tiếng danh hề.</p>



<p>Và sau nầy, hài kịch Sợ Vợ Mới Là Anh Hùng sản xuất năm 1989 ở Mỹ với hai diễn viên điện ảnh: Hùng Cường vai Chú Phón và La Thoại Tân vai ông Chủ.</p>



<p>Đàn bà như giòng sông lặng lờ êm đềm trôi nhưng khi nổi cơn thịnh nộ chẳng khác gì gặp lúc mưa lũ, xả đập, nước cuồn cuộn chảy, cuốn phăng tất cả chướng ngại vật, không có gì cản nổi! Như biển lặng gặp giông bão, động đất ngoài biển khơi, thủy triều dâng cao, táp vào bờ!</p>



<p>Trước đây trong các bài viết liên quan đến đề tài nầy. Bài viết Nữ Lưu Nổi Máu:</p>



<p>“Kịch tác gia Pháp Molière (1622-1673) qua hai vở kịch L’école des Maris và L’école des Femmes (Trường Học Làm Chồng &#8211; Trường Học Làm Vợ) để lại câu nói <em>“Đàn bà là con vật khó hiểu”</em>; trước đó, nhà văn Tây Ban Nha Cervantes (1547-1616) đã cho rằng <em>“Giữa cái có và cái không của người đàn bà, không có chỗ đứng cho một cây kim gút”</em> cho thấy đàn bà là hình ảnh kỳ bí, không thể nào hiểu được một cách đơn giản…</p>



<p>Bên cạnh hình ảnh thiết tha, dịu dàng, nhu mì, khả ái, đoan trang, mẫu mực, thanh tao, uyển chuyển&#8230; cùng những đức tính tuyệt vời của đấng nữ lưu nâng niu cho giọt máu được hình thành trong cõi đời của mình mà bao nhiêu danh họa, văn thi sĩ tài hoa đã cống hiến không biết bao nhiêu bút mực đã làm say đắm, ngất ngây tâm hồn người thưởng ngoạn từ xa xưa đến nay thì cũng có bao nhiêu hình ảnh trái ngược được đề cập qua văn chương, sách vở khi giai nhân nổi cơn thịnh nộ…</p>



<p>Theo các sử gia ngày xưa, vị vua cuối cùng của nhà Thương ở Trung Hoa vào khoảng từ năm 1166 đến 1134 trước Công Nguyên là Thọ Tân hoàng đế: Trụ Vương. Vua Trụ là người thông minh, có sức mạnh phi thường nhưng tàn bạo và hoang dâm. Nhà Thương trị vì thiên hạ được 661 năm, đến đời Trụ Vương thì bị sụp đổ bởi Đắt Kỷ.</p>



<p>Vua Trụ có hoàng hậu họ Khương và hai quý phi họ Hoàng, họ Dương thuộc loại sắc nước hương trời, bên cạnh có hơn nghìn cung nữ trẻ đẹp nhưng vẫn chưa thỏa mãn, cho cận thần săn gái.</p>



<p>Nghe tin Tô Hộ, Thứ sử Ký Châu có đứa con gái thuộc loại tuyệt sắc giai nhân nên vua Trụ cho mời Tô Hộ vào cung Long Đức, báo tin muốn tuyển Đắt Kỷ vào cung. Tô Hộ tìm cách từ chối vì không muốn đứa con gái mình rơi vào tay hoàng đế dâm&nbsp; đãng. Vua Trụ nổi giận, đem Tô Hộ ra xử với trọng tội khi quân, nhờ Vưu Hồn và Bí Trọng can gián nên thoát khỏi tội hình. Khi Tô Hộ về tới Ký Châu, vua Trụ sai Sùng Hiền đem quân tới trị tội và bắt giam người con trai là Tô Toàn Trung. Tô Hộ đau lòng vì có con gái nhan sắc đem dâng hiến cho kẻ hiếu sắc thì cảm thấy nhục nhã, cưỡng lại thì bị tai ách nên đêm khuya vào hậu cung toan tự tử. Ông vào nhìn con lần cuối cùng trước khi vĩnh biệt cõi trần. Đắt Kỷ biết được sự tình nên xin thân phụ cho nàng vào triều để gia đạo bình an và cũng là đạo làm con.</p>



<p>Nhìn thấy Đắt Kỷ, vua Trụ liền đưa Tô nương nương vào lầu Thọ Tiên để hưởng hoan lạc. Suốt hai tháng trời, vua Trụ đắm chìm trong tửu sắc ở cung Thọ Tiên. Thấy nguy cơ cho bậc đế vương, các quan đại thần tìm cách can gián như Đỗ Nguyên Tiễn, Mai Bá&#8230; đều bị hành hình. Đắt Kỷ hiến kế cho vua Trụ đúc cột đồng gọi là Bào Lạc, cao ba chục thước, rộng tám thước (thước ở Trung Hoa thời đó bằng 0,25 mét, gần 10 inches) có ba miệng lỗ để đốt than cho nóng, bắt phạm nhân chun vào trong cho cháy thiêu. Mục đích của Đắt Kỷ, cho trị tội như vậy để kẻ khác khiếp sợ.</p>



<p>Để hưởng thụ, vua Trụ nghe lời Đắt Kỷ, cho xây Lộc Đài rộng ba dặm, cao hơn một nghìn thước; xây Khuyển Đài để nuôi muôn thú cho Đắt Kỷ săn bắn.</p>



<p>Khi Đắt Kỷ vào ở cung Thọ Tiên, hưởng lạc lâu ngày cùng nhà vua, hoàng hậu họ Khương và hai quý phi gọi Đắt Kỷ vào chầu, lên án Đắt Kỷ mê hoặc hoàng đế đã bỏ việc triều chính và dọa sẽ trị tội.</p>



<p>Đắt Kỷ nuôi nỗi căm hận nhưng chưa&nbsp; tạo được thời cơ nên tìm cách mua chuộc đại phu Bí Trọng rồi bày mưu, lập kế để vu oan giá họa cho hoàng hậu họ Khương cho người làm chuyện phản nghịch để cướp ngôi. Khương hậu bị kết tội, Trụ Vương cho khoét mắt rồi dùng hai thanh sắt nung đỏ, áp vào tay để khai và nhận tội nhưng Khương hậu cam chịu cho đến chết. Quý phi họ Dương thấy nguy cơ nên tự vận để tránh cực hình.</p>



<p>Đắt Kỷ chính thức làm hoàng hậu, nói gì Trụ Vương cũng nghe nên lộng hành áp đảo quan lại trong triều. Để tất cả cung nữ cúc cung tận tụy, Đắt Kỷ cho xây hầm rắn độc, trong đợt đầu, bắt 72 cung nữ có lời đàm tiếu, lột áo quần, quăng xuống hầm rắn. Ngoài ra, Đắt Kỷ còn bày ra các thú tiêu khiển trên xác hoạn quan và cung nữ, bên cạnh những cực hình rất dã man.</p>



<p>Bao nhiêu đại thần can ngăn đều bị hành hình, ngay cả Tỷ Can, chú ruột của vua, bị mổ bụng xem gan to đến đâu như ý của Đắt Kỷ. Khi vua Trụ không đủ sức cung phụng cho Đắt Kỷ, nàng kiếm trai tơ, Bá Áp Khảo với ngón đàn tuyệt vời, đẹp trai nên nàng tìm cách gần gũi để hưởng lạc nhưng chàng ta khờ dại không đáp ứng nên bị kết tội có ý hại nàng. Đắt Kỷ cho hành hình bằng cách lột quần áo rồi cho người xẻo từng miếng thịt để trị tội.</p>



<p>Khi Chu Vũ Vương chỉ huy quân sĩ xông vào hoàng thành; vua Trụ tự thiêu trên lầu Trích Tinh và Đắt Kỷ bị giết, kết thúc triều đại hùng mạnh nhà Thương…</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/12/vtd-2.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="720" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/12/vtd-2-1024x720.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-85430" style="width:688px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/12/vtd-2-300x211.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/12/vtd-2-1024x720.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2025/12/vtd-2-768x540.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/12/vtd-2.jpg?strip=all 1400w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p></p>



<p>Trong tác phẩm Thiên Long Bát Bộ, nhà văn Kim Dung xây dựng nhân vật Mã Phu Nhân cũng tương tự nhu vậy. Khang Mẫn là vợ của Mã Đại Nguyên, bang phó Cái Bang nên thường gọi là Mã Phu Nhân. Nàng cũng là nhân tình của Đoàn Chánh Thuần, biết Đoàn lang có vợ là Thư Bạch Phụng và bốn nhân tình khác như Tần Hồng Miên, Nguyễn Tinh Túc, Chung Phu Nhân, Vương Phu Nhân nên Mã Phu Nhân vừa yêu vừa hận, muốn xé gan lóc thịt tình quân. Mã Phu Nhân tự cho mình sắc nước hương trời, bất cứ đấng mày râu nào trông thấy dung nhan cũng ngẩn ngơ, thèm thuồng.</p>



<p>Trong dịp tổ chức Bách Hoa hội ở Lạc Dương, Mã Phu Nhân như đóa hoa sáng chói giữa nghìn nam nhân, ai trông thấy cũng ngưỡng mộ nhan sắc, duy nhất chỉ có bang chủ Cái Bang là Kiều Phong, tỉnh bơ, không chú ý gì đến nàng. <em>“Người không thèm ngắm ta, thử hỏi ta tự phụ xinh đẹp cón có ý nghĩa gì kia chứ? Hơn một ngàn người vì ta mà thần hồn điên đảo, người như thế ta chịu sao nổi”</em> (TLBB). Thế là Mã Phu Nhân nuôi hận trong lòng, tìm cách cấu kết với hai trưởng lão Cái Bang là Bạch Thế Kính và Toàn Quán Thanh, bày mưu ám hại bang chủ Kiều Phong cho thân bại danh liệt. Bao nhiêu tai họa đẫm máu do ả gây nên, trước hết là Mã Đại Nguyên, kế đến là các tay cao thủ trong võ lâm để trút lên đầu Kiều Phong rồi lật tẩy chàng gốc Khiết Đan, kẻ hận thù với dân tộc Hán. Kiều Phong thoát chết trong âm mưu của Mã Phu Nhân nhưng người tình của chàng là A Châu lại chết dưới chưởng phong của chàng để lại nỗi thương tâm dằn vặt trong lòng!.</p>



<p>Nam Vương Đoàn Chính Thuần nổi tiếng là tay phong tình, vương phi Thư Bạch Phụng nổi máu “ghen” chuyện chàng “ăn chả” nàng bèn&nbsp; nổi giận, ra chốn sơn lâm gặp chàng ăn mày, thương tích dơ dáy “ăn nem” trao tấm thân ngà ngọc, mỹ miều để mang giọt máu: Đoàn Dự. Rồi đến Vương phu nhân, thân mẫu của Vương Ngọc Yến, thấy tình lang Đoàn Chính Thuần đâm bang cù thị, hết tù tì người nầy đến tù tì người khác, nàng nổi máu anh hùng, thành lập “đội thám kích” truy lùng những tay đại đạo hái hoa đem về&nbsp; đảo Cô Tô cho nếm mùi gian khổ. Ghen nhau trong vòng lẩn quẩn như vậy cho đến khi hội tụ trong hoàn cảnh vô cùng nghiệt ngã, trong hận thù và yêu thương, trong giây phút tử sinh, bốn nàng đều muốn nghe lời tỏ bày hình ảnh của mình còn có trong trái tim của Đoàn lang không? Và, ai cũng cũng có cả nên toại nguyện trút hơi thở cuối cùng, xác kề bên nhau!</p>



<p>Hình ảnh tiêu biểu cho nhân vật nữ lưu nổi máu đã lưu truyền trong lịch sử nhân loại như Võ Tắc Thiên vào cuối thế kỷ thứ VII ở Trung Hoa. Nhân vật nầy cũng được đề cập nhiều nhất qua nhiều ngoài bút của sử gia và văn nhân&#8230;</p>



<p>Trong thời kỳ phong kiến, phận nữ lưu bị xem nhẹ thế mà từ cung phi dám nổi máu thay đổi triều đại để “thay trời làm vương”. Phế bỏ triều đại nhà Đường từ thời Cao Tổ đến Duệ Tông (618-684); sau khi Đường Cao Tông mất, Vũ Hậu ra tay phế bỏ Trung Thông, Lý Thông, Lý Đản, lên ngôi hoàng đế, đổi quốc hiệu nhà Chu (690-705) thống trị Trung Hoa.</p>



<p>Võ Tắc Thiên nổi tiếng người đàn bà dâm đãng, thủ đoạn tàn nhẫn đến nỗi giết con để vu oan giá họa&#8230; lung lạc cả vương triều phong kiến đầy uy quyền trở thành lá bài phải nằm trong bàn tay.</p>



<p>Và, với nữ lưu, không có tác động nào gây cơn thịnh nộ nào bằng ghen, xin khái quát qua vài hình ảnh được lưu truyền…</p>



<p>Xin đơn cử vài hình ảnh đã nghe quen quen thời xa xưa còn lưu lại sách vở.</p>



<p>Vào năm 200 trước công nguyên, đời Tây Hán, vợ của Hán Cao tổ Lưu Bang là Lữ Trĩ. Vợ chồng bên nhau lúc thuở hàn vi, nàng thuộc người mẫu mực. Khi chàng trở thành Hoàng đế và nàng trở nên Hoàng hậu, chàng có người hậu phi là Thích Cơ trẻ đẹp, dễ thương. Rồi một hôm, chàng say, nằm ngủ trên đùi Thích Cơ, có kẻ mách báo và nàng bắt gặp, để tâm, chờ ngày trả thù. Khi Hán Cao Tổ chết, Thích Cơ bơ vơ, Lữ Hậu manh tâm trả thù. Lữ Hậu truyền bắt Thích Cơ và cung nhân hầu cạnh để đem ra hành hình rất dã man: bắt uống thuốc câm, bị chặt tay chân, khoét mắt, cắt tai rồi giam vào ngục tối đầy phân. Nạn nhân đau đớn, không thốt lên tiếng, chỉ ú ớ cho đến khi kiệt lực, tắt thở.</p>



<p>Đời Tam Quốc vào thế kỷ thứ III, chúa chư hầu Hà Bắc là Viên Thiệu có người vợ là Lưu phu nhân nổi máu cũng “rợn người”. Viên Thiệu có 5 nàng hầu rất khả ái nên tỏ lòng trìu mến. Khi Viên Thiệu chết, Lưu phu nhân bắt 5 nàng hầu ra giết. Nàng sợ vong hồn người chết về báo oán nên sai người cạo tóc, lột mặt, khoét mắt rồi bằm nát 5 thây chết thành đống bầy nhầy. Chưa hết, con trai của nàng là Viên Thượng sợ thân nhân họ trả thù nên sai bắt thân nhân gia thuộc của 5 nàng đem ra giết để trừ hậu hoạn!.</p>



<p>Vào thế kỷ thứ X, đời Tống, ở về phía Đông Bắc Trung Hoa, Hoàng đế nước Kim có hai nàng cung phi, Lệ Cẩm &amp; Ngọc Sương tuyệt trần nên được sủng ái. Hoàng hậu ứa gan nhưng đành câm lặng. Trước khi nhà vua chết, có dặn quần thần đem chôn sống hai nàng ái phi theo vua.</p>



<p>Hoàng hậu thực hiện đúng theo di ngôn Hoàng đế nhưng lại nghĩ&nbsp; nếu để hai nàng trẻ đẹp nguyên vẹn theo vua nơi “âm cảnh” thì cả ba cứ quấn quít bên nhau tha hồ tình tự, ái ân&#8230; gai con mắt. Nàng truyền thị vệ khoét mắt, vạch mặt, cắt mũi Lệ Cẩm và Ngọc Sương thành quỷ, ngâm giấm rồi đem chôn.</p>



<p>Câu chuyện được đề cập rất nhiều: Tây Thi. Đời Đông Châu, Việt Vương Câu Tiễn thua Ngô nên bị Ngô Phù Sai cầm tù ở nhà đá mang tên “Thạch Thất”, cả hai vợ chồng phải chăn ngựa cho nhà vua. Câu Tiễn giả khùng, giả ngu nếm phân và tìm cách hối lộ với gian thần của Ngô là Bá Hy nên được cho về. Giai nhân tuyệt sắc nước Việt ở thôn Tây Bích La, gọi là Tây Thi, người đời liệt kê “Tứ đại mỹ nhân” được dùng mỹ nhân kế, đem dâng cho Ngô Phù Sai. Ngô vương mê mệt, ngày đêm cùng bên Tây Thi muốn tận hưởng giây phút lạc thú, quên cả giang sơn, đất nước. Câu Tiễn ngày đêm chiêu binh thao lược. Nước Ngô ngày càng suy yếu vì Phù Sai đắm chìm trong tửu sắc, bỏ bê việc triều chính. Cuộc chiến bùng nổ, Ngô bại trận, Phù Sai tự tử.</p>



<p>Tây Thi làm tròn sứ mệnh của người con nước Việt, sau tháng ngày thăng trầm nơi cung cấm, ngán ngẩm cảnh đời, mong trở lại yên sống nơi cố hương. Người hùng Phạm Lãi trong tháng ngày sóng gió có mối tình sâu đậm với Tây Thi. Câu Tiễn vừa ái mộ tinh thần hy sinh của người đẹp, vừa xúc động trước sắc nước hương trời dù trải qua bàn tay thô bạo. Vương phi Câu Tiễn cảm nhận được điều đó, Phạm Lãi không muốn kẻ đầy quyền phỗng tay trên nên tìm cách tựu kế với vương phi. Trên cuộc hành trình, vương phi mật sai kẻ thân tín bắt Tây Thi cột vào đá rồi ném xuống dòng Tam giang. Sát hại cho chết và cũng không muốn Câu Tiễn được nhìn xác chết.</p>



<p>Chấn động xưa nay là hình ảnh Võ Hậu, vợ vua Đường Lý Trị vào lúc suy vong. Võ Tắc Thiên độc ác, dâm đãng và khuynh đảo cả một giang sơn rộng lớn, trị vì cả một dân tộc đông nhất trên thế giới ở thời kỳ phong kiến…</p>



<p>Thị xã Hà Đông nằm về hướng nam Hà Hội, nối tiếp nhau bởi con đường Nguyễn Trãi. Ở Trung Hoa cũng có địa danh Hà Đông, địa danh nầy nữ lưu đã đi vào văn chương, thế rồi người đẹp thị xã Hà Đông lại mang tiếng oan về máu ghen hung dữ, nó lại trở thành ngôn ngữ chung “Sư Tử Hà Đông” ám chỉ hình ảnh nổi máu <em>“tam bành lục tặc</em>”, thật oan cho người đẹp bên cạnh kinh thành nghìn năm văn vật.! gọi là sư tử vì sư tử là chúa tể sơn lâm, mỗi khi nổi giận rống lên chấn động, khiếp đởm cả rừng xanh.</p>



<p>Theo điển tích, nhà thơ Đỗ Phủ (712-770) đời Đường ở Trung Hoa có câu <em>“Hà Đông nữ nhi thân tính Liễu”</em> lấy từ&nbsp; sách kinh nhà Phật <em>“Sư tử hống liễu nghĩa kinh”.</em> Sau ba thế kỷ, sự tình cờ trùng hợp với ý thơ của Đỗ Phủ, bạn thân của Tô Đông Pha là Trần Tạo, tự Quý Thường, sùng đạo Phật, quy y với pháp danh Long Khâu. Trần Tạo có người vợ cũng Liễu Thị, máu ghen dữ dằn, vang lừng “năm châu bốn bể”; nhà thơ Tô Thức đã làm bài thơ tứ tuyệt giễu bạn ta:</p>



<p><em>“Thùy tự Long Khâu cư sĩ hiền,</em></p>



<p><em>Đàm không thuyết pháp dạ bất miên.</em></p>



<p><em>Hốt văn Hà Đông sư tử hống</em></p>



<p><em>Trụ trượng lạc thủ tâm mang nhiên”.</em></p>



<p>(<em>Hiền lành mộ đạo có Long Khâu</em></p>



<p><em>Đọc kinh thuyết suốt canh thâu</em></p>



<p><em>Bỗng nghe sư tử Hà Đông rống,</em></p>



<p><em>Kinh hoàng bỏ gậy rớt nơi đâu).</em></p>



<p>Trở lại với hình bóng quê hương, nhà thơ trào phúng Tú Xương dùng hình ảnh “Sư Tử Hà Đông” để nói lên tình cảnh vợ lớn, vợ nhỏ:</p>



<p><em>“Hầu hạ đã cam phần cát lũy</em></p>



<p><em>Nhặt khoan còn ỏi tiếng Hà Đông!”</em></p>



<p>Từ đó, chàng trai Hà Nội xuôi Nam, mò mẫm tán tỉnh người đẹp Hà Đông, bị phản pháo rồi đem hình ảnh Hà Đông thời xa xưa gán ghép vào rồi dệt thành nhiều giai thoại con gái Hà Đông.</p>



<p>Thế thì, mấy ai nhờ đọc được tích xưa nên bắt chước Tú Xương<em> “Nhặt khoan còn ỏi tiếng Hà Đông” </em>bèn thử thời vận, trong nhờ đục chạy. May quá, phước lành!&#8230;”</p>



<p>Trong bài viết Quanh Chuyện Tóc Bạc &amp; Sợ Vợ:</p>



<p>“Chữ ‘sợ’ theo tự điển: Ở trạng thái không yên lòng vì cho rằng có cái gì đó trực tiếp gây nguy hiểm, tác hại bản thân, không thể chống lại hoặc tránh khỏi. Không yên lòng đo lường trước sự việc xảy ra…&nbsp; “Sợ vợ là trạng thái tâm lý của người chồng thường được biểu lộ qua ngôn ngữ, cử chỉ hay hành động mà ở đó biểu hiện sự phục tùng của người chồng đối với vợ về một hay nhiều phương diện trong cuộc sống”.</p>



<p>Cần phân biệt sợ vợ với tôn trọng vợ, nể vợ, yêu vợ và nhường nhịn vợ. Tôn trọng vợ là sự tương kính với nhau. Nể vợ là cảm thấy khó làm trái ý, làm mất lòng vợ vì lòng quý mến. Yêu vợ là có tình cảm dễ chịu khi tiếp xúc với vợ, muốn gần gũi và thường vì vợ mà hết lòng. Nhường nhịn vợ là chịu phần kém, phần thiệt về mình, để cho vợ được hưởng phần hơn trong quan hệ đối xử.</p>



<p>Còn đối với sợ vợ là biểu hiện sự phục tùng của người chồng đối với vợ. Tuy nhiên, sự phục tùng này có thể xuất phát từ việc tôn trọng, yêu thương, chiều chuộng vợ hoặc có thể ngược lại.</p>



<p>Tục ngữ có câu: <em>“Nhất vợ nhì trời. Lệnh ông không bằng cồng bà”.</em></p>



<p>Ca dao còn có câu:</p>



<p><em>“Trời ơi ngó xuống mà coi</em></p>



<p><em>Vợ tôi nó đánh bằng roi trâm bầu”</em></p>



<p>Và, ví von lập luận của phe sợ vợ:</p>



<p><em>“Muốn cho trong ấm ngoài êm</em></p>



<p><em>Vợ ta, ta sợ cả đêm lẫn ngày.</em></p>



<p><em>Muốn cho êm ấm cửa nhà</em></p>



<p><em>Vợ kêu chồng dạ bẩm bà, tôi đây!”</em></p>



<p>Sợ vợ chẳng có gì lạ, là hiện tượng phổ biến trên thế giới. Ngày xưa với quan niệm Á Đông thì ít đề cập đến sợ vợ vì giữ Tam Tòng: Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử. Và câu tục ngữ “Trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng” nên không có chuyện sợ vợ. Vài giai thoại cho rằng sợ vợ có sự khác nhau được ví von như:</p>



<p>Đàn ông Pháp khi sợ vợ thường chui vào hầm rượu vang, uống cho thật say và nằm im. Đến khi tỉnh lại, họ đi kiếm một chai Champagne mang về tạ lỗi.</p>



<p>Đàn ông Anh khi sợ vợ thường kiếm một đám sương mù thật dày đặc để chui vào. Trong đám sương đó, họ lén lút viết đơn xin ly dị và để rồi lén lút đốt đi khi sương tan.</p>



<p>Đàn ông Tây Ban Nha mỗi khi sợ vợ là chán đời đi đánh nhau với bò tót. Sợ càng nhiều, họ đánh lại càng hăng. Kết quả là các nhà vô địch sợ vợ đều ít khi trở về nhà sau mỗi trận đấu, hoặc nếu có trở về thì cũng khiến cho vợ thất vọng tràn trề vì “gia tài còn lại một vòi nước trong”.</p>



<p>Đàn ông Ý khi sợ vợ thường chui vào bếp nấu món mỳ ống. Nấu nướng xong, họ bưng lên, rắc cà chua và phó-mát vào, rồi ngồi chờ vợ cho phép mới dám ăn.</p>



<p>Đàn ông Đức mỗi khi bị vợ mắng là ra xe hơi nằm. Chính những lúc tâm hồn u uất, nằm suy nghĩ về những mối tương quan vật chất và tinh thần giữa vợ và xe vậy mà họ làm ra được những chiếc xe hơi nổi tiếng nhất thế giới.</p>



<p>Không hiểu đàn ông Mỹ khi sợ vợ thì thế nào? Các cụ ta ở Mỹ khi sợ vợ thì chui vào đâu?</p>



<p>Sợ vợ cũng tùy theo độ tuổi, trung niên (30-40), sồn sồn (50-60), già (70-80), già khú đế (80 trở lên)… Với luật pháp xứ Cờ Hoa thì số phận đàn ông hẫm hiu, xếp loại đứng cuối bảng phong thần, ngay cả súc vật!&#8230;</p>



<p>Trong bài viết Ghen &amp; Hận Trong Tác Phẩm Kim Dung:</p>



<p>Trong quyển Võ Lâm Ngũ Bá, cuộc tình chớm nở giữa Vương Trùng Dương và Lâm Triều Anh từ khi xuất hiện trong chốn võ lâm, không những hận ở đôi tình nhân nầy mà còn kéo dài đến thế hệ khác. Vương Trùng Dương vì nghĩa, hành hiệp giang hồ, chống giặc Kim, lập nhiều chiến công nhưng quân Kim quá mạnh, nghĩa quân về sau đại bại, Vương Trùng Dương phẫn uất xuất gia, không màng thế sự nữa, tự xưng là Hoạt Tử Nhân, nghĩa là sống cũng như chết. Chấp nhận sống trong ngôi cổ mộ sau núi Chung Nam.</p>



<p>Bằng hữu khuyên bảo tái xuất giang hồ nhưng Vương Trùng Dương bất chấp, kiên quyết không bước ra khỏi mộ. Tám năm sau, Lâm Triều Anh, đẹp, thông minh và giỏi võ công, nữ kình địch ngày trước của ông đến bên mộ, gây chuyện, chửi mắng, nhục mạ đối thủ suốt bảy ngày bảy đêm. Chịu hết nổi, ông liền ra giao đấu. Vừa bước ra khỏi mộ, nàng cười to:&nbsp;<em>“Đã ra khỏi mộ, tức là sống lại rồi, không được vào mộ nữa”.</em>&nbsp;Hai người hóa thành bằng hữu, phiêu bạt giang hồ. Vương Trùng Dương tuy có tình cảm với Lâm Triều Anh nhưng vì sự nghiệp chống quân Kim nên&nbsp;<em>“lửng lơ con cá vàng”</em>&nbsp;không muốn kết hôn, từ yêu đến hận dẫn đến trận quyết đấu với nhau.</p>



<p>Lâm Triều Anh thông minh, võ công tuyệt đỉnh, hai bên ngang ngửa nhau, bất phân thắng bại nhưng Vương Trùng Dương không muốn nàng trút hận tình phải sinh tử, nàng thắng trong cuộc đấu và giành quyền giữ ngôi cổ mộ.</p>



<p>Trước khi đấu Lâm Triều Anh ra điều kiện: Nếu huynh thắng, muội sẽ tự vẫn tại chỗ, thế là không bao giờ còn thấy mặt nhau. Nếu muội thắng, huynh phải nhường muội trú trong “hoạt tử nhân mộ”… Trước tình thế đó, Vương Trùng Dương buộc lòng phải thua vì không nỡ thấy nàng tự sát.</p>



<p>Sau khi vào cổ mộ, Lâm Triều Anh lập ra phái Cổ Mộ, tìm hiểu thêm môn võ công mà Vương Trùng Dương khắc họa ở đây, rồi nghiền ngẫm sáng chế môn võ công Ngọc Nữ Tâm Kinh nhằm khắc chế toàn bộ võ công của Vương Trùng Dương và phái Toàn Chân.</p>



<p>Môn võ công này đặc biệt trong cách luyện tập, phải hai người cùng luyện, hai người đó phải là nữ (nam và nữ luyện nhau cũng được nhưng bất tiện) vì khi luyện phải cởi bỏ hết quần áo.</p>



<p>Lâm Triều Anh cho rằng hiệp nghĩa như Vương Trùng Dương mà vô tình bạc nghĩa thì mọi nam tử trên thế gian đều tệ như vậy cả… Lâm Triều Anh ra qui luật, đệ tử được truyền y bát, phải thề suốt đời sống trong cổ mộ, không được rời khỏi núi Chung Nam, nếu có nam tử cam tâm tình nguyện chết thay thì lời thề coi như được xóa bỏ. Có điều là không được cho nam tử biết trước điều đó.</p>



<p>Lâm Triều Anh không thu nhận đệ tử, chỉ có một a hoàn hầu cận, hai người khổ thủ ở trong nhà mộ, hơn mười năm không ra ngoài. Lâm Triều Anh truyền thụ tất cả võ công cho a hoàn. Nữ a hoàn đó (Tôn bà bà) thu nhận hai đệ tử là Lý Mạc Sầu và Tiểu Long Nữ…</p>



<p>Trong quyển Thần Điêu Hiệp Lữ, Lý Mạc Thu là đệ tử đời thứ ba trong phái Cổ Mộ. Thời trẻ, Lý Mạc Thu bản tính lương thiện, tài sắc vẹn toàn, cưỡi con lừa hoa trên cổ có đeo chiếc chuông có thể phát ra tiếng nhạc, như tiên nữ giáng trần. Nàng tuy lạnh lùng nhưng yêu thương Lục Triển Nguyên, trang chủ của Lục Gia Trang. Nàng bất chấp lời thề trong Cổ Mộ, dâng hiến trinh tiết cho người tình nhưng rồi chàng bội ước và lấy Hà Nguyên Quân làm vợ.</p>



<p>Từ khi Lý Mạc Thu hiền thục trở thành Lý Mạc Sầu tàn nhẫn và độc ác với môn võ Ngũ Độc Thần Chưởng, nghe cũng thấy ớn lạnh. Lý Mạc Sầu cùng Võ Tam Thông đến phá rối đám cưới của Lục Triển Nguyên nhưng bị vị cao tăng chùa Thiên Long ở Đại Lý ngăn chặn; buộc họ phải để cho đôi vợ chồng Lục Triển Nguyên được sống bình yên trong 10 năm.</p>



<p>Sau 10 năm, Lý Mạc Sầu quay trở lại trả thù nhưng hai vợ chồng Lục Triển Nguyên đã tự vẫn. Chưa hết hận thù, Lý Mạc Sầu tìm đến giết cả nhà Lục Lập Đỉnh (em trai của Lục Triển Nguyên) và tìm hai đứa bé là Lục Vô Song (con Lục Lập Đỉnh) và Trình Anh (chị họ của Lục Vô Song) để bắt. Tuy nhiên, bà chỉ bắt thành công Vô Song, còn Trình Anh được vợ chồng Võ Tam Thông cùng Hoàng Dược Sư giúp đỡ.</p>



<p>Võ Tam Thông là đồ đệ của Nhất Đăng Đại Sư, tuу có ᴠợ con nhưng luôn mang trong mình tình уêu ᴠới ᴠợ của Lục Triển Nguуên nên tính tình cũng bất bình thường. Tình đời thật oái ăm, sau nàу khi ᴠợ chết dưới taу Lý Mạc Sầu, Võ Tam Thông cùng ᴠới 2 con thề quyết trả thù Lý Mạc Sầu… Khi quân Mông Cổ tấn công thành Tương Dương, hai anh em Đại Võ &amp; Tiểu Võ không cùng Quách Tĩnh trấn thành mà ra ngoài thành đánh nhau, Lý Mạc Sầu lợi dụng thời điểm đó hạ độc, may nhờ Dương Quá cứu ѕống. Mối hận tình từ đời cha đến đời con với bao oan nghiệt.</p>



<p>Trong quyển Ỷ Thiên Đồ Long ký, nhà văn Kim Dung phác họa hình ảnh Chu Chỉ Nhược, giai nhân tuyệt sắc, muốn lánh cõi trần ô trọc nên vào tu trong phái Nga My. Khi lụy vì tình, nàng trở thành con người đa mưu, thủ đoạn cao cường để triệt hạ tình địch cả nam và nữ. Chu Chỉ Nhược là con gái người lái đò trên sông Hán Thủy. Ông bị quân Nguyên sát hại khi đưa Thường Ngộ Xuân qua sông. Khi đó Trương Tam Phong đang dẫn Trương Vô Kỵ tìm thầy chữa độc Huyền Minh Thần Chưởng liền ra tay cứu giúp. Chưởng môn Võ Đang gửi Chu Chỉ Nhược tới phái Nga My và cô bé trở thành đệ tử của Diệt Tuyệt Sư Thái.</p>



<p>Chu Chỉ Nhược theo lời sư phụ Diệt Tuyệt Sư Thái muốn chiếm đoạt võ công thượng thừa, ở trên hoang đảo, để độc chiếm Ỷ Thiên kiếm và Đồ Long đao, nàng đánh thuốc mê cho mọi người, nhẫn tâm lấy kiếm rạch mặt và giết Hân Ly, trói Triệu Minh và bỏ lên con thuyền thả lênh đênh, mưu đồ để Triệu Minh chết đói vừa đổ vạ cho nàng.</p>



<p>Trở về Trung Nguyên, Chu Chỉ Nhược yêu Trương Vô Kỵ, nàng phá lệ môn quy (gạt đi di nguyện sư phụ), dùng khổ nhục kế để chiếm cho được trái tim Vô Kỵ, trong đám cưới lúc uống rượu giao bôi giữa Vô Kỵ và Chu Chỉ Nhược (nhất bái, nhị bái) thì Triệu Minh (Triệu Mẫn) xuất hiện trong nắm tay có những sợi tóc vàng của Kim Mao Sư Vương (nghĩa phụ Vô Kỵ), Vô Kỵ bỏ mặc tất cả để chạy theo Triệu Minh. Chu Chỉ Nhược cảm thấy ê chề, nhục nhã với kẻ phụ tình trước quần hùng võ lâm… quyết phục thù.</p>



<p>Chu Chỉ Nhược &nbsp;thấy Triệu Minh xuất hiện nên sợ bại lộ âm mưu, đã sử dụng một chiêu ác độc nhất trong Cửu Âm Bạch Cốt Trảo đánh vỡ sọ Triệu Minh để bịt đầu mối. Tuy nhiên Triệu Minh chỉ bị thương, nhờ vết thương đó, Vô Kỵ mới dần hiểu được rằng Chu Chỉ Nhược là người đánh cắp Ỷ Thiên kiếm và Đồ Long đao, luyện thành Cửu Âm Bạch Cốt Trảo giấu trong thân kiếm, bắt cóc cha nuôi của mình là Tạ Tốn và là người giết Hân Ly.</p>



<p>Không thể nào ngờ cô gái thơ ngây Chu Chỉ Nhược trở thành ác nữ gieo bao tai họa trong chốn võ lâm. Trong bản cũ, Kim Dung viết Chu Chỉ Nhược thấy tay đã dính chàm nên xuất gia, còn Vô Kỵ sống với Triệu Minh. Sau nầy ông lại viết lại Chu Chỉ Nhược đến gặp Vô Kỵ và Triệu Minh, nhắc lại lời hứa năm xưa cho nàng, hàm ý rằng có thể cả ba sẽ cùng chung sống.</p>



<p>Trong quyển Thiên Long Bát Bộ đề cập đến hai cao thủ tỷ muội với nhau cùng yêu chàng trai và nổi ghen trở thành tình địch cho đến tuổi già, cùng quyết đấu rửa hận và chết bên nhau!</p>



<p>Vô Nhai Tử là đệ tử của Tiêu Dao Tử, chàng trai tuấn tú tao nhã, cầm kỳ thi họa mọi thứ đều tinh thông, nên sư tỷ Thiên Sơn Đồng Lão và tiểu muội Lý Thu Thủy đều đem lòng yêu Vô Nhai Tử. Vô Nhai Tử chỉ có hình bóng về người em gái của Lý Thu Thủy, ông vẽ bức tranh và tạc một pho tượng ngọc, Thiên Sơn Đồng Lão và Lý Thu Thủy giống hệt nhau nên khó phân biệt. Lý Thu Thủy còn cố tình quấy nhiễu khi Thiên Sơn Đồng Lão đang tu luyện Bát Hoang Lục Hợp Duy Ngã Độc Tôn Công, khiến cơ thể của bà cứ mãi nhỏ bé như một đứa trẻ. Để trả đũa, Thiên Sơn Đồng Lão đã rạch mặt Lý Thu Thủy.</p>



<p>Hai sư tỷ muội cùng yêu chàng trai của mình nên thù oán càng sâu, Vô Nhai Tử dẫn Lý Thu Thủy đến hang động dưới Vô Lượng Sơn ở Đại Lý. Tại đây hai người chung sống với nhau và có một đứa con gái tên là Lý Thanh La (mẹ của Vương Ngọc Yến tức Vương Ngữ Yên). Khi chung sống nhiều năm chàng lạnh nhạt với Lý Thu Thủy, hàng ngày chỉ mãi ngắm nhìn bức tượng đá do mình điêu khắc, Lý Thu Thủy chán nản và đã bỏ sang nước Tây Hạ và trở thành thái phi đầy quyền lực, đồng thời lập ra Nhất Phẩm Đường.</p>



<p>Hai cao thủ tuyệt đỉnh phái Tiêu Dao là Thiên Sơn Đồng Lão và Lý Thu Thủy vì cùng yêu Vô Nhai Tử mà đánh ghen với nhau từ thuở thanh xuân cho đến lúc gần đất xa trời, chỉ vì muốn khẳng định rằng trong trái tim của Vô Nhai Tử chỉ có hình bóng của mình thôi. Trận huyết đấu cuối cùng giữa hai lão bà ở cái tuổi xấp xỉ một trăm, khi mà Vô Nhai Tử đã chết. Trận huyết chiến vì ghen lúc sắp mất người nào cùng lập mưu để được chết sau, xem như đó là cách chiến thắng tình địch trong trận đấu kéo dài suốt những thập niên! Cuối cùng, cả hai cùng nhắm mắt xuôi tay trong một trận đấu sinh tử dứt điểm, và cùng vỡ mộng, khóc cười khi phát hiện người trong bức tranh Vô Nhai Tử không phải là tình địch của mình mà họ lầm tưởng. Trớt quớt!&#8230;</p>



<p>Trong Tiếu Ngạo Giang Hồ đề cập đến cái ghen vì giữ người tình độc đáo chưa từng có trong đời thường: Nhậm Doanh Doanh và Lệnh Hồ Xung</p>



<p>Nhậm Doanh Doanh là con gái duy nhất của Nhậm Ngã Hành, Giáo Chủ Nhật Nguyệt Thần Giáo. Nhậm Ngã Hành bị kẻ phản đồ là sư đệ Đông Phương Bất Bại bắt giam dưới đáy của Động Đình Hồ vì đang mê say luyện Hấp Tinh Đại Pháp. Để che mắt trong giang hồ, Đông Phương Bất Bại nói dối với Nhậm Doanh Doanh và phong là Thánh Cô tái xuất giang hồ.</p>



<p>Lệnh Hồ Xung vốn là đứa trẻ mồ côi sống lang thang, được vợ chồng Nhạc Bất Quần (Chưởng Môn phái Hoa Sơn) và Ninh Trung Tắc đem về nuôi nấng dạy dỗ và trở thành đại đệ tử.</p>



<p>Lớn lên cùng với Nhạc Linh San (con gái của Nhạc Bất Quần) nhưng với mưu đồ gian ác của Nhạc Bất Quần trong thủ đoạn chiếm đoạt bí kíp võ công Tịch Tà Kiếm Phổ nên đổ lên đầu Lệnh Hồ Xung gặp nhiều biến cố và bất trắc…</p>



<p>Khi lưu lạc giang hồ, Lệnh Hồ Xung lúc lâm trọng bệnh, tình cờ quen Nhậm Doanh Doanh&nbsp; ở thành Lạc Dương do Lục Trúc Ông gọi Doanh Doanh là cô cô… Thế rồi từ đó cuộc tình chớm nở giữa Lệnh Hồ Xung và Thánh Cô Nhậm Doanh Doanh.</p>



<p>Sau đó Lệnh Hồ Xung lang thang giang hồ với tấm thân bệnh tật không ai có thể cứu được, Doanh Doanh đã âm thầm theo dõi để giúp đỡ, nàng có quyết định kỳ quặc khi ra lệnh toàn thể giáo chúng trên dưới, nếu gặp Lệnh Hồ Xung ở đâu là phải ngay lập tức giết chết, mục đích là để Lệnh Hồ Xung luôn ở bên cạnh cho nàng chăm sóc, bảo vệ.</p>



<p>Đây là tình yêu và ghen tuông rất độc đáo, thay vì ra lệnh giáo chúng phải tận tâm bảo về người yêu thì nàng chỉ thị gặp Lệnh Hồ Xung ở đâu giết đó để chàng lãng tử nầy phải “nhờ cậy” sự kiểm soát của nàng.</p>



<p>Trong tiểu thuyết Kim Dung có rất nhiều nhân vật có máu ghen tuông, nhưng cái ghen của Thánh Cô Nhậm Doanh Doanh không giống ai, đặc biệt, độc đáo…</p>



<p>Trong Thần Điêu Hiệp Lữ, Quách Phù và Quách Tương là hai chị em ruột (con của Quách Tĩnh và Hoàng Dung) cùng yêu chàng trai Dương Quá (Dương Qua) nhưng Quách Phù có tâm địa xấu, Quách Tương có tâm hồn trong sáng.</p>



<p>Quách Phù đẹp, võ công tầm thường, được cha mẹ nuông chiều nên cậy thế với bản chất ương bướng, tai quái, ích kỷ nên chẳng ai dám làm nàng phật ý. Khi ở trên đảo Đào Hoa của ông ngoại Hoàng Dược Sư, nàng tàn sát, chó gà, chim muông…</p>



<p>Với bản tính kiêu ngạo, hống hách nên khi thấy Dương Quá không ân cần, vồn vã với nàng nên nghĩ Dương Quá coi thường mình vì vậy nàng chặt đứt cánh tay chàng và làm Tiểu Long Nữ trọng thương gần chết.</p>



<p>Sau cùng nàng lấy Gia Luật Tề làm chồng nhưng cảm thấy Gia Luật Tề cũng&nbsp;<em>“lửng lơ con cá vàng”</em>&nbsp;cho đến lúc ở chiến trường sinh tử, nàng mới nhận ra rằng người nàng yêu là Dương Quá, nàng hiểu rằng vì yêu nên nàng mới ghen với chính em gái Quách Tương của mình. Trận chiến ở thành Tương Dương, cha mẹ và em trai đều tử nạn nên Quách Phù tự tử cùng mọi người khi Tương Dương thất thủ.</p>



<p>Quách Tương đau buồn với mối tình đơn phương nhưng khác với tình yêu ích kỷ, hẹp hòi, nông cạn của người chị Quách Phù. Sau cùng vì không tìm được Dương Quá nên Quách Tương đau khổ cho mối tình đơn phương, bỏ đi tu trên núi Nga My, trở thành tổ sư sáng lập của phái Nga My…</p>



<p>*</p>



<p>Tôi có người bạn, sau những năm lao tù, vượt biên định cư ở Quận Cam. Bản tính anh hiền lành nhưng trong lúc đôi co với vợ, anh nổi giận, không kiềm hãm được, tát tai. Đứa con gái gọi 911, Cảnh Sát đến còng tay và bị tù 6 tháng, không được vào quốc tịch. Vừa qua anh bị giam giữ ở Adelanto, trung nam California, trên con đường đến thiền viện Chân Nguyên. Không biết khi nào bị trục xuất?.</p>



<p>Qua hình ảnh nầy, nhớ lại cuốn phim Sợ Vợ Mới Anh Hùng, ở xứ Cờ Hoa nầy thì Sợ Vợ Mới An Toàn! Nghĩ cho cùng cũng tội nghiệp cho đấng mày râu nên chẳng may gặp phải “Sư Tử Hà Đông”!</p>



<p><em>Little Saigon, December 2025</em></p>



<p><strong>Vương Trùng Dương</strong></p>



<p></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Vương Trùng Dương: Dương Ngọc Sum &#8211; từ cậu bé chăn trâu trở thành giáo sư khả kính</title>
		<link>https://t-van.net/vuong-trung-duong-duong-ngoc-sum-tu-cau-be-chan-trau-tro-thanh-giao-su-kha-kinh/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Vương Trùng Dương]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 24 Nov 2025 07:50:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[tiểu sử]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=85178</guid>

					<description><![CDATA[Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/11/dns1.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="600" height="693" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/11/dns1.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-85179" style="width:366px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/11/dns1-260x300.jpg 260w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/11/dns1.jpg?strip=all 600w" sizes="(max-width: 600px) 100vw, 600px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người.</p>



<p>Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn.</p>



<p>Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông.</p>



<p>* Tuổi Thơ</p>



<p>Tân Uyên ngày xưa thuộc tỉnh&nbsp;<a rel="noreferrer noopener" target="_blank" href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Bi%C3%AAn_H%C3%B2a_(t%E1%BB%89nh)">Biên Hòa</a>, cách Sài Gòn khoảng 50km về hướng tây bắc. Quê hương của nhà văn Bình Nguyên Lộc đã đề qua nhiều bài viết vùng đất nầy. Và là quê hương của Dương Ngọc Sum.</p>



<p>Ông sinh năm 1935, thân phụ là nhà giáo qua đời năm 1946, vì lý do chính trị… Ông viết: “Sau mấy tháng trốn tránh: ban ngày lính Tây ruồng bố, bắt bớ, ban đêm Việt Minh về phá hoại, đấp mô, đốt chợ, đốt trường học, dùng chày đập đầu các viên chức trong làng. Cha tôi mất đêm 29 sáng 30 tháng Chạp Ất Dậu (1/2/46), chiều 30 Tết âm thầm chôn trong vườn nhà, sáng hôm sau là Mùng Một Tết Bính Tuất (2/2/1946) thọ 40 tuổi, chôn cất nội ngày 30 vì nhà nghèo, do ông Ngoại cho tiền lo đám tang, vì an ninh (bị Việt Minh và lính Tây theo dõi) và vì tập tục không để qua năm”. Trong hoàn cảnh khó khăn, một Mẹ, sáu con nhỏ: Người anh lớn 14 tuổi, bị khuyết tật (cận thị nặng), em út, mới mấy tháng tuổi (sau là&nbsp; pilot trực thăng Phi Đoàn 2I9).</p>



<p>Vừa mới đi học trường làng, ngày 9/3/45 Nhật đảo chánh Pháp, chiếm đóng trường, phải nghỉ học.&nbsp;Trong trường tiểu học Tân Ba (chương trình Pháp), chỉ có tới Lớp Nhì, học giỏi nhất lớp nhưng vì hoàn cảnh khó khăn nên không thể vào Sài Gòn. Ở nhà giúp Mẹ gặt lúa, đập lúa, tỉa đậu, nhổ đậu, lên giồng khoai, giữ trâu, hốt phân, rửa chuồng. Gặp lúc có nhiều công việc, phải xin cho nghỉ học mấy hôm…</p>



<p>Câu chuyện tuổi thơ đề cập. Lúc đó thi vào Lớp Năm ở Pétrus Ký rất khó với tỷ lệ 1/3 và được trúng tuyển.&nbsp;Lycée Pétrus Trương Vĩnh Ký được thành lập cho năm học đầu tiên 1928-1929. Dạy theo chương trình Pháp, thời Việt Nam Cộng Hòa, trường trung học công lập mới chuyển sang chương trình Việt.</p>



<p>Thấy con hiếu học nên thân mẫu vay mượn, gom tiền dắt xuống&nbsp;Sài Gòn kiếm nhà bà con xin cho ở trọ nhưng không có kết quả!</p>



<p>Trở lại quê nhà cùng các bạn mục đồng dẫn trâu ra các đám ruộng&nbsp;lúa đã gặt xong, bên cạnh hương lộ, cho ăn lúa, rạ còn sót, trước khi bắt đầu việc cày bừa, rồi xúm nhau lên mặt đường chơi đánh đáo với nhau. Bất ngờ có một ông già đi ngang qua, ngừng&nbsp;xe đạp, ra dấu gọi&nbsp;lại bảo. Ông giật mình ngó lên thì ra là thầy dạy. Thầy ôn tồn hỏi: “Sắp đến ngày rồi sao con&nbsp;chưa đi tựu trường?”. Ông trả lời “Thưa Thầy, Mẹ con bảo con nghỉ học vì không có chỗ ở và không tiền trả tiền cơm tháng”. Thầy ngỏ ý tiếc rẻ, bao nhiêu người thi không đậu, còn mình thi đậu rồi lại bỏ không&nbsp;học! Thật đáng tiếc!&nbsp; Thầy bảo đưa vào nhà gặp Mẹ để tìm cách giúp đỡ. Mẹ ông khóc: “Tôi cũng muốn cho con tôi đi học để sau nầy nối nghiệp Cha nó nhưng tôi&nbsp;không đủ sức, còn có anh nó, nhưng bị khuyết tật và 4 đứa em nhỏ, chỉ có nó là đứa chịu cực chịu khổ ở nhà để giúp tôi thôi!”. Chia tay cảm dộng, Thầy của ông ra về, còn ông trở lại bãi chăn trâu!</p>



<p>Hôm sau, Thầy cho gọi ông lên nhà ở Ấp Chợ để báo tin mừng: Hôm qua, Thầy đã cấp tốc đi Sài&nbsp;Gòn, đến nhà người học trò cũ cùng làng, nay đã thành đạt, đang làm thư ký cho hãng cưa gỗ của người Pháp Brossard Mopin&nbsp;tại Dakao, có vợ và một con nhỏ, đang tìm một garcon bé trai giúp việc sai vặt. Thầy đề nghị với người học trò cho ông vào làm, không cần lương, chỉ cho ở trọ và đươc đi học mỗi ngày một buổi, cơm nước thì không đòi hỏi gì, có gì ăn nấy, nhà chật, có thể ra trại cưa ở chung với thợ cưa,&nbsp;đèn thì nhờ đèn security để học bài, làm bải. Đi học lạ&nbsp;đường&nbsp;sá thì theo bạn Trần Kim Thạch, cùng đỗ một khóa nhưng khác lớp,&nbsp;về&nbsp;sau là Tiến Sĩ Địa Chất ở Anh Quốc. Thầy cho ông một xe đạp cũ của con, 30 đồng thay vỏ ruột xe, và 20 đồng mua sách vở và dặn thỉnh thoảng ghé thăm thầy, cho biết có cần gì thì cho Thầy&nbsp;biết sẽ&nbsp;giúp cho.</p>



<p>Trải qua 4&nbsp;năm Cao Đẳng Tiểu Học của con nhà nghèo&nbsp;(Enseignement Primaire Supérieure) (1949-1953)&nbsp;</p>



<p>Trong 4 năm dài, bao nhiêu khó khăn mà một thanh thiếu niên, mồ côi nhà nghèo phải giải quyết để không bỏ cuộc và đạt mục đích. Được thọ giáo với các vị thầy nổi tiếng. Hai năm 2ème và 3ème học cầm chừng, dưỡng sức, năm 4ème quan trọng và ông thi đậu 3 cuộc thi chỉ trong một Khóa (1ère Session):&nbsp;</p>



<p>Bằng Thành Chung (Diplôme d’Etudes Primaires Supérieures Indochinoises &#8211; Cao Đẳng Tiểu Học Đông Dương) ra trường thi đậu&nbsp;với&nbsp;Mention Assez Bien</p>



<p>Brevet D’etudes Du Premier Cycle Du Second Degré&nbsp;(không bắt buộc, do Bộ Giáo Dục Pháp tổ chức, ông tự ý nộp đơn xin thi và thi đậu).</p>



<p>Seconde Moderne, thi đâu&nbsp;với Học Bổng Demi-Boursier&nbsp;(học bổng bán phần)&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;&nbsp;</p>



<p>Thầy đậu Viết&nbsp;Écrit Diplôme bên Pétrus Ký và bên Marie Curie.</p>



<p>Dưới thời Pháp thuộc hệ thống giáo dục tại Việt Nam giữa thập niên 1940’ được tổ chức theo mô hình Pháp:</p>



<p>Sơ Đẳng Tiểu Học &#8211; Certificat d’Études Primaires Franco-Indigènes (CEPFI)</p>



<p>Cao Đẳng Tiểu Học &#8211; Văn bằng: Diplôme d’Études Complémentaires (DEC) hay còn gọi: Bằng Thành Chung &#8211; Brevet d’Enseignement Primaire Supérieur (BEPS)</p>



<p>Tú tài bán phần (Tú tài I) &#8211; Baccalauréat I, còn gọi Premier Cycle</p>



<p>Tú tài toàn phần (Tú tài II) &#8211; Baccalauréat II. Điều kiện vào đại học.</p>



<p>* Thầy Giáo &amp; Người Lính</p>



<p>Sau khi tốt nghiệp Tú Tài II (toàn phần) ông thi vào trường Sư Phạm, Khóa I hệ ba năm (1955-1958) lúc đó gọi là Cao Đẳng Sư Phạm. Theo học ngành nầy sinh viên có học bổng, ổn định cuộc sống. Ông ở trọ nhà của vợ chồng ông bà chủ xe đò Sài Gòn &#8211; Vũng Tàu và lo cho người em lên Sài Gòn học. Sau khi ra trường, ông được bổ nhiệm về dạy trường trung học Pétrus Ký, Đệ Nhất Cấp. Ông tiếp tục theo học Đại Học&nbsp;Văn Khoa, đậu bằng Cử Nhân Giáo Khoa Văn Chương Việt, dạy các lớp Đệ Nhị Cấp. Giáo sư Sử Địa của Pétrus Ký, ngoài ra, ông còn dạy thêm vài trường với các môn dạy khác nhau.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/11/dns2.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="600" height="989" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/11/dns2.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-85180" style="width:394px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/11/dns2-182x300.jpg 182w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/11/dns2.jpg?strip=all 600w" sizes="(max-width: 600px) 100vw, 600px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Với người bạn đời từ khi ông học năm Deuxième Année&nbsp;tại Lycée Pétrus Ký năm 1950, &nbsp;khi ông ở đậu để đi học Trường Pétrus Ký… Năm 1960, cô Hồ Thị Hiệp, tốt nghiệp Sư Phạm, mới ra trường dạy tại Trường Nữ Trung Học Lê Ngọc Hân ở Mỹ Tho rồi Trường Mạc Đĩnh Chi ở Sài Gòn. Sau khi đám cưới rồi cùng dạy môn Sử, Địa ở trường Pétrus Ký. ÔB được cấp căn nhà trong cư xá của nhà trường.</p>



<p>Năm 1962, cô có bầu, thì có lệnh Tổng Động Viên, &nbsp;ông nhập ngũ &nbsp;Khóa 14, Trường Bộ Binh Thủ Đức. Ra trường, may mắn cho về phục vụ tại Bộ Chỉ Huy Tiếp Vận III đóng tại Thành Oma, sau thuyên chuyển xuống Phòng Tuyển Binh ở Bến Chương Dương. Sau đó được đổi thành Sở Động Viên 3 trực thuộc Nha Động Viên / Bộ Quốc Phòng.&nbsp;Năm 1966 giải ngũ, dạy lại trường xưa.</p>



<p>Sau biến cố Mậu Thân 1968, thay vì đến trình diện tái ngũ tại đơn vị Quản Trị Địa Phương 3, ông đến trình diện ngay tại Nha Động Viên BQP, và được giữ lại làm việc tại đó trong 2 năm, được thăng cấp bậc Đại Úy thì có lệnh biệt phái trở về Bộ Giáo Dục năm 1971…&nbsp;</p>



<p>Cuộc đời binh nghiệp của ông được may mắn vì phục vụ ở Sài Gòn nên có dịp dạy thêm.</p>



<p>Giữa năm&nbsp;1971, đang trong tình trạng biệt phái tại Trường Pétrus Ký, Bộ Giáo Dục báo tin nhận “Nhiệm Vụ Mới”.</p>



<p>Trong Khối Nghiên Cứu &amp; Phát Triển Giáo Dục<strong>,&nbsp;</strong>&nbsp;ông được bổ nhiệm phụ trách Văn Phòng của Khối, và cải ngạch Thanh Tra. Công việc nầy quá nặng nề và có sự tranh chấp nên ông muốn trở lại dạy học ở Trường Pétrus Ký cho thoải mái nhưng bị từ chối.</p>



<p>* Dương Tử</p>



<p>Với bút hiệu Dương Tử (người con họ Dương) sáng tác thơ, văn đã ghi lại quãng đời của ông từ tuổi thơ đến tháng ngày ở hải ngoại. Người bạn thân dạy cùng trường là giáo sư Vũ Ký, với sở học và sở thích văn chương Pháp, nếu ông đi vào lãnh vực biên khảo và dịch thuật sẽ có nhiều bài viết, tác phẩm có giá trị. Nhiều tác giả nổi tiếng nơi mái trường nầy như: Bình Nguyên Lộc, Nguyễn Thanh Liêm,&nbsp;<strong>Võ Hoài Nam (Tiểu Tử), Nguyễn Văn Sâm, Nguyễn Xuân Hoàng, Trần Đại Lộc, Nguyễn Khắc Kham, Bùi Tuyết Hồng, Lê Văn Khoa, Lâm Vĩnh Thế, Nguyễn Hữu Ba, Phạm Mạnh Cương, Phạm Thế Ngũ… Và sau này các cựu học sinh đã theo học ngôi trường nầy khi định cư ở hải ngoại.</strong></p>



<p>Sau năm 1975, ông đi tù, được thả năm 1978, gia đình ông bị đày đi vùng Kinh Tế Mới, cho hai con vượt biên. Ông cũng vượt biên nhưng thất bại, trong bài viết Một Chuyến Vượt Biên Kinh Hoàng với thảm cảnh hai đứa con còn nhỏ khi vượt biên, gặp nguy hiểm nhưng rồi được cứu vớt. Bài viết nầy ghi lại của cháu QH sau nầy kể cho ông.</p>



<p>Khi có chương trình H.O vì chỉ 3 năm nên không đủ tiêu chuẩn. Vợ chồng ông có con làm thủ tục bảo lãnh, khi phỏng vấn vì bị đi tù nên phái đoàn của Mỹ cho chuyển sang diện H.O.</p>



<p>Trong website Hội Ái Hữu Petrus Trương Vĩnh Ký Úc Châu có loạt bài Thư Của Thầy Dương Ngọc Sum “Cuộc Đời Của Người Trai Thời Loạn” Gởi Học Trò Petrys Ký, gồm 10 phần ghi lại cuộc đời của ông trong suốt nhiều thập niên qua. Với mái trường nầy, ông đã gắn bó từ thuở đi học và trở lại dạy. Có nhiều môn sinh sau đó cũng là đồng nghiệp với vị thầy nên có nhiều kỷ niệm.</p>



<p><strong>Năm 2005, ông vào tuổi thất thập, nhà văn Huy Phương viết bài Dương Ngọc Sum &amp; Cuộc Đổi Đời Trên Đất Mỹ. Trích những phần chính vì đã đề cập ở trên:</strong></p>



<p>“Từ một thanh tra giáo dục, trở thành người quét chùa, bán chợ trời, giữ em, thợ nướng bánh Song Long… để làm lại cuộc đời. Cuộc đời của thầy giáo Sum gắn liền với ngành giáo dục từ khi ông ra trường sư phạm cho tới lúc ông phải đứng ra bàn giao Bộ Quốc Gia Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa lại cho đoàn tiếp thu của Cộng Sản từ Hà Nội…</p>



<p>(Khi tị nạn ở Mỹ)… Thoạt đầu ông cũng hy vọng rằng, với vốn liếng học hành của mình, ông có thể kiếm được một việc làm tương đối trên đất Mỹ. Dương Ngọc Sum thi vào ngành cán sự xã hội, nhưng tiếng Anh với “accent” Pháp đặc của ông Mỹ nghe không nổi, sau đó ông lại hy vọng vào ngành giáo dục, được nhận vào làm “phụ giáo”, nhưng học khu chỉ cắt cho ông bốn giờ mỗi tuần, chia ra tại hai trường, nhưng với công việc như thế không thể nào đủ sống.</p>



<p>Không nản chí và nghĩ rằng phải cắp sách đến trường dạy nghề thì may ra mới kiếm được việc làm dễ dàng, Dương Ngọc Sum và nội tướng của ông cắp sách vào trường dạy nghề ghi danh theo học hai khóa học mà ông nghĩ là thiết thực nhất, chỉ trong vòng 6 tháng, đó là khóa “Nursing Assistant” và “Home Health Assistant”.</p>



<p>Tốt nghiệp, cả hai ông bà xin được việc tại Florida Hospital tại Huntington Beach, tuy ở hai department nhưng cùng một phiên trực trong ngày. Có thể nói nghề “Nursing Assistant” (tạm dịch là y công) là một nghề vất vả, khó nhọc nhất trong các bệnh viện, phải tiếp xúc, lo vệ sinh cho các bệnh nhân, nhất là các bệnh nhân liệt giường. Trong giới y tá tại Hoa Kỳ, người ta thấy phần lớn nhân viên là người Phi Luật Tân. Với số đông và làm việc lâu năm tại bệnh viện này, họ bênh vực nhau và kỳ thị, bất công ra mặt với hai người Việt Nam tại đây, do đó chỉ ít lâu sau, không chịu nổi căng thẳng và cực nhọc, thầy cô giáo Sum phải bỏ việc.</p>



<p>Sau đó, hai vợ chồng ghi danh vào college đi học lại, và thầy giáo Sum vừa đi học vừa làm đủ thứ nghề, tóm lại là ai chỉ việc hay giới thiệu việc gì thì làm việc đó. Có một thời gian có người giới thiệu, thầy Sum đến tư gia săn sóc cho một cụ già tám mươi tuổi đang bị bệnh (ông có licence “Health Care Assistant”). Ít lâu sau, cụ già qua đời, gia chủ quí cách làm ăn chăm chỉ của thầy, sợ thầy thất nghiệp lại nhờ thầy tạm babysit con mình, bồng bế, đút cơm, thay tã. Nhưng cũng chỉ được một thời gian ngắn, hai vợ chồng gia chủ phải đổi đi tiểu bang khác, Dương Ngọc Sum lại thất nghiệp.</p>



<p>Có người giới thiệu, Dương Ngọc Sum nhận đi quét chùa, mỗi giờ được trả $5.00, tám giờ cũng được $40.00. Ông cũng được bạn của con rủ đi bán chợ trời Thứ Bảy, Chủ Nhật tại South Coast cho một bà chủ Mỹ. Gian hàng này chuyên bán phong linh (chimes), sáng dọn hàng ra, chiều thu lại nhưng giờ khác đứng bán hàng. Một ngày nọ, cậu bạn đồng nghiệp, lúc cho hàng lên xe, cột dây không kỹ, phong linh bung ra rớt xuống đường gãy khá nhiều, cậu bị đuổi việc, thầy Sum vì tình đồng đội cũng “quit job” theo!</p>



<p>Lúc đó “Song Long Food To Go” trên đường Bolsa cần người làm bánh, ông Võ Khôi trước kia là phụ huynh học sinh của Petrus Ký, thấy thầy thất nghiệp giới thiệu cho thầy. Không ngờ ông thầy Sum này lại cần cù, chăm chỉ khéo tay, chỉ sau một năm nhào bột, đánh trứng, thầy được nâng đỡ lên làm thợ làm bánh, chỉ ra phân lượng, điều kiển máy nướng điện và cắt, bánh, phết kem để cho các cô thợ khác nặn hoa và chữ.</p>



<p>Làm bánh được hai năm, Dương Ngọc Sum lại bỏ nghề, trở lại Santa Ana College đi học mấy “tín chỉ” về chemistry. Sau khi hoàn tất chứng chỉ này này, ông lại vào xin việc tại một hãng mỹ phẩm, chuyên sản xuất mỹ phẩm cho các bà như kem rửa mặt, thoa mặt ban đêm, ban ngày và các loại kem đánh răng. Ít lâu sau không cạnh tranh nổi với hàng Âu Châu, hãng này lại quay sang sản xuất dược thảo (herbal medecine).</p>



<p>Qua bao nhiêu nghề nghiệp lang bạt, phải hơn bốn năm, Dương Ngọc Sum mới có được một việc làm ổn định, với đồng lương khá cao tại hãng mỹ phẩm này và hiện nay ông phụ trách phòng “Research &amp; Development và Cosmetic Lab” của hãng. Nhờ vậy, ông mới đủ điều kiện bảo lãnh được cho gia đình con gái ông sang đoàn tụ cách đây sáu tháng. Năm nay, Dương Ngọc Sum đã vào tuổi 70, nhưng ông còn đủ sức khỏe để theo đuổi công việc này vài ba năm nữa.</p>



<p>Khi phải làm lại cuộc đời trên đất Mỹ với cái tuổi 55, nhiều khi Dương Ngọc Sum cũng thấy nản lòng. Ông đã phải làm những nghề nghiệp quá ư vất vả, xa lạ với cuộc đời của một thầy giáo như ông, nhưng bỏ nghề này theo nghề khác, chưa lúc nào Dương Ngọc Sum chịu thúc thủ nằm nhà, ăn tiền thất nghiệp hay xin trợ cấp. Ông không như những người khác vẫn ôm riết cái dĩ vãng của mình, ông lăn lưng vào cuộc sống không nề hà lấm láp. Phải nói, Dương Ngọc Sum là một người can đảm, ít có ai có nhiều nghề như ông trên đất Hoa Kỳ. Bạn bè, thân thích ai cũng biết ông là một người lạc quan, vui tính, thích quảng giao và tham gia những sinh hoạt hữu ích cho cộng đồng.</p>



<p>Ông dành thời gian để viết hầu hết cho các đặc san Petrus Ký trong nước Mỹ và ngoại quốc, có bài đăng trên các nhật báo Người Việt, Việt Báo, Viễn Ðông… và làm thơ với bút hiệu Dương Tử, có nghĩa là “con nhà họ Dương”.</p>



<p>Ngoài công việc hằng ngày, GS Dương Ngọc Sum tham gia các sinh hoạt giáo dục, xã hội như cố vấn cho Hội Ái Hữu Pétrus Ký Nam California, Hội Trưởng Gia Ðình Sư Phạm Hải Ngoại, thành viên Giải Khuyến Học và các trung tâm Việt Ngữ Nam Cali.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/11/dns3.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="430" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/11/dns3-1024x430.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-85181" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/11/dns3-300x126.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/11/dns3-1024x430.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2025/11/dns3-768x323.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/11/dns3.jpg?strip=all 1400w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Từ một Giáo Sư Trung Học Ðệ Nhị Cấp, Thanh Tra Giáo Dục, phụ tá cho Phụ Tá Ðặc Biệt Tổng Trưởng, ông Dương Ngọc Sum khi đến Hoa Kỳ đã trở thành một người bán chợ trời, y công, chăm sóc người già, giữ trẻ, quét chùa… và cắp sách đi học rồi trở thành một chuyên viên mỹ phẩm cho một hãng sản xuất lớn tại Orange County. Với một tâm hồn lạc quan hiếm có, cùng với một sự phấn đấu phi thường, nhà giáo Dương Ngọc Sum là một trong những thành viên H.O. tiêu biểu cho sự nỗ lực trong cuộc đổi đời, để cuối cùng cũng được ổn định trên đất Hoa Kỳ.</p>



<p><em>(</em><strong>Huy Phương</strong><em>&nbsp;&#8211; Người Việt &#8211; Ngày 6 tháng 1 năm 2005)</em><em></em></p>



<p>Trong thời gian làm báo, trong những lần sinh hoạt liên quan đến ngành giáo dục, tôi thấy sự hiện diện của ông. Thời gian sau nầy ông và tôi tham gia trong nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật &amp; Tiếng Thời Gian mới có cơ hội gặp gỡ nhau. Bản tính ông hiền hòa, cởi mở và lạc quan. Dương Tử làm thơ hơi tếu như Tôi Học Làm Bánh Bao, Tôi Làm Cosmetic… nghĩa là công việc nào cũng làm thơ. Trong Hai Lá Thư Từ Mỹ Quốc, đăng nhiều bài thơ thể thất ngôn bát cú, điển hình như:</p>



<p>Bài thơ khi làm Teacher Aid:</p>



<p><em>“Giáo chức từ đây dứt cháo rồi</em></p>



<p><em>Yêu nghề mến trẻ cũng đành thôi!</em></p>



<p><em>Tựu trung là cũng do tiền bạc</em></p>



<p><em>Kinh tế nhìn chung chữa phục hồi</em></p>



<p><em>Bốn tiếng một tuần sao đủ sống?</em></p>



<p><em>Đường đi nước bước lại xa xôi!</em></p>



<p><em>Ba mươi năm lẻ trong ngành giáo</em></p>



<p><em>Nhắc đến trong dạ luống bồi hồi!”</em></p>



<p>Thời gian sau nầy, sức khỏe rất yếu, không tự lái xe được vì vậy trong những buổi hội ngộ, tiệc tùng, nếu không có ai đưa đón, thiếu bóng dáng ông!</p>



<p><em>Little Saigon, November 2025</em></p>



<p><strong>Vương Trùng Dương</strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Vương Trùng Dương: Tính Nhân Bản &#038; Sự Vô Cảm Trong Hai Thảm Cảnh Lũ Lụt Quảng Nam</title>
		<link>https://t-van.net/vuong-trung-duong-tinh-nhan-ban-su-vo-cam-trong-hai-tham-canh-lu-lut-quang-nam/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Vương Trùng Dương]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 01 Nov 2025 06:07:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[lũ lụt ở việt nam]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=84642</guid>

					<description><![CDATA[Thế Thái Nhân Tình Thứ Hai, ngày 27/10/2025 ở California khi được tin trận lũ lụt đang xảy ra từ Huế đến Quảng Ngãi… là người con Quảng Nam xa quê hương nên khi biết tin thiên tai xảy ra nơi cố hương với bao nỗi buồn đau, tôi viết những dòng Lũ Lụt: Thảm [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/lut-1.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="736" height="1024" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/lut-1-736x1024.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-84645" style="width:502px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/10/lut-1-216x300.jpg 216w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/lut-1-736x1024.jpg?strip=all 736w, https://cdn.t-van.net/2025/10/lut-1-768x1069.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/lut-1.jpg?strip=all 1080w" sizes="(max-width: 736px) 100vw, 736px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><strong>Thế Thái Nhân Tình</strong></p>



<p>Thứ Hai, ngày 27/10/2025 ở California khi được tin trận lũ lụt đang xảy ra từ Huế đến Quảng Ngãi… là người con Quảng Nam xa quê hương nên khi biết tin thiên tai xảy ra nơi cố hương với bao nỗi buồn đau, tôi viết những dòng Lũ Lụt: Thảm Nạn Quê Hương Quảng Nam!.</p>



<p>Trận lũ lụt Giáp Thìn năm 1964 là trận lụt kinh hoàng nhất trong thế kỷ XX tại Quảng Nam. Những trận mưa liên tục từ ngày 4 đến ngày 10/11/1964 miền Trung từ Huế đến Bình Định, trong đó nặng nề nhất là Quảng Nam.</p>



<p>Trải qua sáu chu kỳ, trận lũ lụt Ất Tỵ 2025 đã và đang xảy ra từ Huế đến Quảng Nam &#8211; Đà Nẵng vào hạ tuần tháng 10, theo tin tức trong nước, lớn hơn năm Giáp Thìn.</p>



<p>Trong bài viết, tôi có đề cập “Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ Tướng Trần Văn Hương dồn mọi nỗ lực để cứu trợ đồng bào bị nạn lụt tàn phá. Lời kêu gọi quốc dân đồng bào có tinh thần tương thân tương ái được nhiều hội đoàn dân sự, tổ chức, các cơ quan truyền thông hưởng ứng nhiệt tình, ra tay cứu giúp…”</p>



<p>Ở đây, tôi không đề cập liên quan đến chính trị mà tinh thần thể hiện trong ca dao: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương, Người trong một nước phải thương nhau cùng”.</p>



<p>Tại Sài Gòn thành lập “Ủy Ban Trung Ương Cứu Trợ Nạn Lụt Miền Trung”, do Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ và Tổng Trưởng Xã Hội Nguyễn Đức Quỳnh phụ trách… Các cơ quan hữu trách đã sử dụng tất cả mọi phương tiện “chiến dịch cứu trợ” rất quy mô.</p>



<p>Trước thảm cảnh đau thương của người dân Quảng Nam, theo các thông cáo của Bộ Nội Vụ, Bộ Thông Tin và các Tòa Tỉnh trưởng miền Trung (đăng trên các báo Chính Luận, Đại Dân Tộc, Tự Do… trung tuần tháng 11/1964):</p>



<p>Các rạp hát, rạp chiếu bóng, vũ trường, phòng trà, rạp cải lương, hội chợ ở Đà Nẵng, Hội An, Tam Kỳ, Quảng Ngãi được lệnh tạm đóng cửa trong 2 tuần đầu sau lũ, để:</p>



<p>Bộ Thông Tin chỉ thị cho các đài phát thanh Huế, Đà Nẵng yêu cầu:</p>



<p>&nbsp;“Ngưng phát thanh nhạc vui, nhạc khiêu vũ, ca khúc giải trí trong thời gian tang chế, chỉ được phát các bản nhạc hiền hòa, tôn giáo, hoặc kêu gọi cứu trợ đồng bào nạn lụt.”</p>



<p>Tại Sài Gòn, các đoàn ca nhạc dự định lưu diễn ra miền Trung đều bị đình hoãn, và thay vào đó, nhiều buổi ca nhạc được chuyển thành “Đêm Văn Nghệ Cứu Trợ Đồng Bào Lũ Lụt Miền Trung”, do Bộ Xã Hội và đài truyền hình Sài Gòn tổ chức.</p>



<p>Lệnh cấm kéo dài khoảng 15 đến 20 ngày, sau đó được nới lỏng dần khi công tác cứu trợ và an táng hàng nghìn nạn nhân ổn định ổn định.</p>



<p>Lệnh cấm vui chơi giải trí sau thảm cảnh trận lụt 1964 được người dân và báo chí đánh giá là thể hiện thái độ nghiêm chỉnh và nhân đạo của chính quyền trong lúc tang thương.</p>



<p>*</p>



<p>Theo tin tức hiện nay, mưa lũ còn kéo dài từ ngày 1/11 đến ngày 4/11… nên chưa biết hậu quả thế nào. Người dân cón sống trong cảnh “màn trời chiếu đất”!</p>



<p>Tại Việt Nam, ngày Halloween <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/31_th%C3%A1ng_10" target="_blank" rel="noreferrer noopener">31 tháng 10</a> hàng năm đâu phải là ngày truyền thống của đất nước, chỉ mới du nhập và lai căng nhưng cái ngày “giả ma, quỷ” lại thịnh hành mới lạ! Chiều nay, Thứ Năm (30/10) ở California. Đọc bản tin trên các báo, điển hình như VnExpress phổ biến:</p>



<p>“Các địa điểm công cộng, các nhà hàng quán bar, rạp chiếu phim, quán cà phê và nhiều nơi khác tại Hà Nội đang sôi động với không khí Halloween…</p>



<p>Vào dịp Halloween, phố đi bộ Nguyễn Huệ (Sài Gòn) trở thành sàn diễn nơi người dân, du khách diện các trang phục, hóa trang thành ma quỷ. Địa điểm này mở cửa tự do cho mọi người tham gia. Vào đêm 31/10, nhiều hoạt động hóa trang, trình diễn lấp đầy khu phố dài gần một km. Theo ghi nhận, phố đi bộ thường nhộn nhịp từ 20h. Dọc con phố này có nhiều quán cà phê, nhà hàng cho du khách ngồi lại tận hưởng bầu không khí nhộn nhịp của đêm Halloween…”</p>



<p>Tác phẩm Sống Chết Mặc Bay&nbsp; của nhà văn Phạm Duy Tốn, được đăng trên tạp chí Nam Phong số 18 tháng 12 năm 1918. Tác phẩm đã nói lên thực trạng xã hội, sự phê phán của ông với đại diện là viên quan phủ đã không quan tâm đến sinh mệnh của những người dân dưới quyền đang phải vật lộn với mưa lũ mà vẫn ung dung đánh bài giải trí. “Ấy đó, quan phụ mẫu cùng với nha lại đương vui cuộc tổ tôm ở trong đình ấy. Ngài mà còn dở ván bài, hoặc chưa hết hội thì dầu trời long đất lở, đê vỡ dân trôi, ngài cũng thây kệ. “Ấy, trong khi quan lớn ù ván bài to như thế, thì khắp mọi nơi miền đó, nước tràn lênh láng, xoáy thành vực sâu, nhà cửa trôi băng, lúa má ngập hết; kẻ sống không chỗ ở, kẻ chết không nơi chôn, lênh đênh mặt nước, chiếc bóng bơ vơ, tình cảnh thảm sầu, kể sao cho xiết!”</p>



<p>Ở trong nước, nhiều cây bút ca tụng tác phẩm nầy vì nói lên sự vô cảm của quan phủ thời Tây trong chế độ phong kiến. Trải qua hơn một thế kỷ với nếp sống văn minh, không còn “quan phủ thời Tây” mà vẫn vô cảm đến thế ư!</p>



<p>Với hai thảm nạn xảy ra, sáu thập niên trước và sau với cách hành sử giữa nhân bản và vô cảm đúng là “bức tranh vân cẩu”… thế thái nhân tình!</p>



<p><em>Little Saigon, October 30, 2025</em></p>



<p><strong>Vương Trùng Dương</strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Vương Trùng Dương: Tưởng Nhớ Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ</title>
		<link>https://t-van.net/vuong-trung-duong-tuong-nho-nha-van-doan-quoc-sy/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Vương Trùng Dương]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 16 Oct 2025 06:30:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=84315</guid>

					<description><![CDATA[Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ vừa từ trần vào lúc 10 giờ sáng ngày 14/10/2025 tại bệnh viện ở Nam California hưởng thọ 102 tuổi . Ông sanh năm Quí Hợi 1923 nên tính theo tuổi ta, ông thượng thọ 103 tuổi. Nhân đây, tưởng nhớ ông nên đăng lại bài viết Tác Phẩm Khu [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/dqs-1.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="548" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/dqs-1-1024x548.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-84317" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/10/dqs-1-300x161.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/dqs-1-1024x548.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2025/10/dqs-1-768x411.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/dqs-1.jpg?strip=all 1400w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ vừa từ trần vào lúc 10 giờ sáng ngày 14/10/2025 tại bệnh viện ở Nam California hưởng thọ 102 tuổi . Ông sanh năm Quí Hợi 1923 nên tính theo tuổi ta, ông thượng thọ 103 tuổi.</p>



<p>Nhân đây, tưởng nhớ ông nên đăng lại bài viết Tác Phẩm Khu Rừng Lau Của Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ vào ngày 5/11/2025</p>



<p>*</p>



<p>Nhà giáo Doãn Quốc Sỹ là vị thầy khả kính với các thế hệ học sinh, sinh viên trước năm 1975. Nhà văn chân chính với các tác phẩm đóng góp cho nền văn chương miền Nam Việt Nam cho đến nay ở hải ngoại.</p>



<p>Nhân dịp Lễ Thượng Thọ 100 tuổi nhà giáo, nhà văn Doãn Quốc Sỹ vào đầu năm 2023 (Quý Mão). Lễ vinh danh và mừng thọ “<em>bách niên chi lão</em>” nhà văn, nhà giáo Doãn Quốc Sỹ được diễn ra thật trang trọng, xứng đáng “<em>nhà văn của thế kỷ 20</em>”. Với sự có mặt của gia quyến ông, cùng giới nhà giáo, nhân văn thi sĩ, thân hữu, cựu học sinh và giới truyền thông v.v… &nbsp;Ông viết 4 tác phẩm trong Khu Rừng Lau từ thập niên 1960’ vì thời còn đi học đã đọc và rất ngưỡng mộ… Đây là tác phẩm văn học giá trị về giai đoạn và bối cảnh đất nước của dân tộc chịu nhiều đau thương!</p>



<p>Năm 2006 tôi viết bài Tác Phẩm “ĐI” của Hồ Khanh &amp; Bản Án của Cộng Sản với nhà văn Doãn Quốc Sỹ cho tuyển tập của Văn Đàn Đồng Tâm (VĐĐT thành lập năm 2005, Cố Vấn: nhà văn Doãn Quốc Sỹ, Chủ Nhiệm: nhà văn Tạ Xuân Thạc (Texas), Chủ Bút: nhà văn Việt Hải (Los Angeles). (Lúc đó tôi ra tờ Cali Weekly, mời Việt Hải làm Tổng Thư Ký)&#8230; (VĐDT Kỷ Niệm Về Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ, 2007, trang 254-258). Bài còn lưu trữ trên trang web Sáng Tạo và trong Mượn Dấu Thời Gian về nhà văn Doãn Quốc Sỹ.</p>



<p>Trích:</p>



<p>Sau tháng 4 năm 1975, nhà giáo Doãn Quốc Sỹ không “đi” được, ở lại Sài Gòn, được “lưu dung” dạy tại Đại Học Sư Phạm Sài Gòn, thế rồi ngày 4 tháng 4 năm 1976, ông bị kết tội trong thành phần “văn nghệ sỹ phản động”, đưa vào trại giam Phan Đăng Lưu rồi chuyển lên trại tù Gia Trung ở núi rừng Tây nguyên, cho đến tháng Giêng năm 1980. Ra tù, bản thân ông không bao giờ nghĩ đến chuyện “đi” nếu không có những người thân yêu mong đợi. Không “đi” được, ông viết “ĐI “ để gởi sang Pháp nhưng bị họ lén lút kiểm duyệt, cũng như nhà văn A. Solzhenitsyn, ông bị kết án 10 năm tù! Ông thọ án cũng gần 8 năm như nhà văn A. Solzhenitsyn ở Liên Xô!</p>



<p>Nhà văn Doãn Quốc Sỹ cho biết: “Năm 1980, sau bốn năm “chém tre đẵn gỗ trên ngàn” tôi được trở về sống với gia đình, bắt được liên lạc với nhà xuất bản Lá Bối, viết những bài báo phúng thích ngắn ký dưới bút hiệu tếu tếu: Củ Hành Khô!</p>



<p>Sau đó là cảnh đau lòng tử biệt sinh ly của chính mình khi chứng kiến cảnh đám con cháu cùng thân bằng cố hữu lần lượt mạo hiểm tổ chức vượt biên. “ĐI” được sáng tác đúng vào dịp nầy. “ĐI” chính là một hồi ký tự sự viết dưới hình thức tiểu thuyết. “ĐI” được bằng hữu thân tình tìm cách chuyền sang Pháp tới nhà Lá Bối. Tên tác giả được ghi là Hồ Khanh. Sự chọn lựa nầy liên tưởng tới những bài phúng thích trước đây được ghi với bút hiệu Củ Hành Khô. Củ Hành Khô khi nói lái lại thành một bút hiệu nghiêm chỉnh: Hồ Khanh”.</p>



<p>Trong dịp tiếp xúc với nhà văn Doãn Quốc Sỹ, ông cho biết, khi viết xong từng chương, ông gởi qua bưu điện sang Pháp, ông cảm thấy được trót lọt nên tiếp tục viết và gởi. Năm 1984, Công An đến nhà ra lệnh bắt, ông hỏi tội gì thì Công An đưa ra những bản đã photocopy bài viết mà ông gởi qua đường bưu điện.</p>



<p>Ông biết mình đã bị theo dõi và kiểm soát rất gắt gao nên đành chấp nhận. Bị nhốt 4 năm cho đến năm 1988 mới ra tòa và bản án: 10 năm. Năm 1991, ông ra khỏi tù, năm 1995, được con trai (Doãn Quốc Thái) bảo lãnh sang định cư tại Texas, Hoa Kỳ.</p>



<p>Tác phẩm “Đi”, gồm 19 chương, trên khổ 5.5 X 8.5 inches, dày 224 trang, là những mẩu chuyện có thật xảy ra trong gia đình, con cháu, người thân… với lối hành văn rất nhẹ nhàng, chân thật bắt gặp trong đời sống người thân và gia đình ông của thời điểm sau năm 1975.</p>



<p>Mở đầu tác phẩm “ĐI”, chương I ông viết: “Bà nội bảy mươi bảy tuổi chẳng bao giờ ngờ chuyến đi từ Hà Nội vô Sài Gòn này lại chỉ chứng kiến đám con cháu nội ngoại trong Nam ra đi gần trọn ổ. Thật buồn! Nhưng qua kinh nghiệm và cảm nghĩ bản thân, cụ cũng thấy rằng điều đó chẳng thể tránh được.</p>



<p>Đây là lần thứ hai cụ vô Nam đấy. Lần đầu cụ vô Sài Gòn vào tháng 3 năm 1977. Ngày đó thằng con trưởng của cụ (di cư vô Nam từ 1964) đã bị bắt giữ rồi… Tháng Giêng năm 1980 cụ nhận được điện báo tin thằng trưởng của cụ được tha. Thế là cụ tức tốc lo liệu giấy tờ lấy… Mẹ con sau hai mươi sáu năm trời xa cách (trên một phần tư thế kỷ) được gặp nhau trước Tết; lũ cháu nội ngoại được quây quần bên bà ríu rít chuẩn bị đón Xuân… Hạnh phúc mẹ gặp con, bà gặp cháu của một đại gia đình thương yêu hòa thuận không bút nào tả xiết. Vậy mà cụ có ngờ đâu chỉ sau đó ít lâu cụ chứng kiến cảnh chúng nó ra đi dần, có đứa bị bắt giữ rồi được thả rồi lại ra đi nữa…<br>Từ lúc đột nhiên khám phá ra lũ con cháu trong Nam đang tuần tự ra đi dần cụ chỉ biết niệm Phật, hầu như thường xuyên niệm Phật, kể cả đêm khuya lúc cụ thiếp ngủ tâm tưởng của cụ vẫn hướng về lời niệm…”</p>



<p>Chương II đề cập đến bản thân ông qua hình ảnh ông giáo: “Ông giáo thương lũ con vô cùng. Ngày xưa làm được đồng nào ông nuôi chúng ăn học đầy đủ, ngày nay ông càng thương chúng vì thiếu thốn đủ thứ. Đã đành ông thương chúng như cha thương con, ông còn thương chúng như đạo hữu thương đạo hữu trong pháp nạn, như đám chúng sanh đói khát khổ nạn thương đám chúng sanh đói khát khổ bạn, thương chúng bằng thứ tình nhân bản tinh lọc nhất. Ngay thuở còn trong trại lao động cưởng bách, ông đã viết thư nói với tám con là ông cám ơn Trời Phật đã ban cho ông tám vị bồ tát…”.</p>



<p>Trong những chương kế tiếp, ông nói về hình ảnh người thân, học hành, ra trường, xin việc, mất việc rồi “đi” đường bộ, đường thủy, bị bắt rồi lại “đi”… tin buồn, tin vui lẫn lộn trong lòng thân mẫu ông giáo, vợ chồng ông giáo.</p>



<p>Cuối chương XVI, sau tháng ngày chứng kiến hình ảnh con cháu “Bà cụ nhìn đám cháu còn lại. Cụ biết rôi đây khi cụ đã ra Bắc rồi, nếu có tổ chức gì (ý cụ nghĩ về H.C.R) mà bảo lãnh cho chúng đi tất nhiên chúng sẽ ra đi hết. Có bao giờ cụ quên niệm Phật cầu nguyện cho chúng đâu”.</p>



<p>Rồi những dòng thư của những đứa con xa cha mẹ với bao nỗi nhớ thương, những dòng chữ viết trong nước mắt gởi từ phương trời xa về cho người thân.</p>



<p>Đoạn kết của “ĐI” khi người thân ra đi ở đảo với nỗi niềm: “Biết bao giờ gặp mặt! Biết bao giờ gặp mặt! Có thể rồi mai đây được bốc đi định cư ở một xứ sở xa xôi nào, rồi ở đâu đó, tiểu gia đình Hoa sẽ mọc rễ đâu đó như bố mẹ trước đây đã di cư vào miền Nam rồi sẽ mọc rễ ở miền Nam. Ông nội mất, bố có được gặp mặt đâu! Biết bao giờ gặp mặt! Biết bao giờ gặp mặt! Hoa ngẩng nhìn trời thăm thẳm và trong suốt như để tìm những vì sao &#8211; (lúc đó làm gì có sao) &#8211; nhưng là nhìn vào một tiền kiếp xa xưa nào, hồi bố mẹ còn là những vì sao trên trời”.</p>



<p>Với tâm hồn nhà giáo khả kính, nhà văn mang nặng tính nhân bản ghi lại những hình ảnh trong “ĐI” nó bàng bạc trong muôn nghìn gia đình và con cháu trong gia đình ông vào thời điểm đó. Ông không phóng đại, cường điệu, dùng chữ “bao to búa lớn” để chửi bới, lên án mà là tâm tình của ông giáo nặng tình yêu thương với người thân trong hoàn cảnh đen tối đành “đứt ruột” chia tay!..”.</p>



<p>Hình ảnh người bố qua những dòng của chị Kim Khánh: “Ngày mãn hạn tù về, bố bình an như một thiền sư, để lại sau lưng hết cả những thăng trầm của quá khứ. Rồi bố mẹ sang Mỹ ở Houston sống cùng cậu trưởng nam… Như thế được mười năm thì mẹ ngã bệnh. Hôm nay, ở giai đoạn cuối của căn bệnh Alzheimer, mẹ nằm bất động một chỗ và không nói được nữa”. (Bà Doãn Quốc Sỹ, bà Hồ Thị Thảo, con gái nhà thơ Tú Mỡ, pháp danh Diệu Thảo. Thất lộc ngày 08 tháng 9 năm 2011 tại Houston, Texas, Hoa Kỳ).</p>



<p>*</p>



<p>Trong lãnh vực giáo dục, nhà giáo Doãn Quốc Sỹ đã dạy tại các trường: Trung Học Công Lập Nguyễn Khuyến (Nam Định 1951-1952), Chu Văn An (Hà Nội). Khi di cư vào Nam, Hiệu Trưởng Trung Học Công Lập Hà Tiên (1960-1961), Trường Hồ Ngọc Cẩn (Sài Gòn 1961-1962). Tu nghiệp về ngành giáo dục tại Hoa Kỳ (1966-1968)… Giáo Sư Đại Học Phạm Sài Gòn, Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, Đại Học Vạn Hạnh Sài Gòn.</p>



<p>Tác giả sách giáo khoa: Khảo Luận Về Cao Bá Quát (Nam Sơn, 1959). Khảo Luận Về Nguyễn Công Trứ (Nam Sơn, 1959). Khảo Luận Về Đoạn Trường Tân Thanh (Nam Sơn, 1959). Khảo Luận Về Tản Đà (Nam Sơn, 1960). Khảo Luận Về Nguyễn Khuyến (Hồng Hà, 1960). Khảo Luận Về Trần Tế Xương (Hồng Hà, 1960)… Văn Học &amp; Tiểu Thuyết, 2 quyển (ghi chú: Dành cho sinh viên Vạn Hạnh).</p>



<p>Trong lãnh vực văn chương: Tác phẩm đầu tay Sợ Lửa (tập truyện, Người Việt, 1956) cho đến nay khoảng 30 tác phẩm.</p>



<p>Năm 1955, ông ra tờ tuần báo Người Việt nhưng được vài số rồi đình bản. Năm 1956, ông đồng sáng lập nhà xuất bản Sáng Tạo và tạp chí văn nghệ Sáng Tạo với Mai Thảo, Nguyễn Sỹ Tế, Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp, Duy Thanh và Ngọc Dũng. Truyện dài đầu tay Dòng Sông Định Mệnh đăng trên Sáng Tạo trước khi in thành sách (1959).</p>



<p>Thuở còn là thanh niên, ông từng tham gia Việt Minh kháng chiến chống Pháp. Sau đó, khi phong trào này để lộ bộ mặt cộng sản, ông đã rời bỏ kháng chiến “dinh tê” về thành. Chính thời gian nầy, ông là chứng nhân trước thực tế phũ phàng giữa chủ thuyết và thực tại… và cũng là chất liệu trong các tác phẩm của ông.</p>



<p>Tác phẩm Khu Rừng Lau, trường thiên tiểu thuyết gồm 4 quyển: Ba Sinh Hương Lửa (1962), Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến (1964), Tình Yêu Thánh Hóa (1965), Đàm Thoại Độc Thoại &#8211; Những Ngả Sông (1966).</p>



<p>Theo Lê Văn, Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ&nbsp; (VOA), trong cuộc phỏng vấn ông, có dẫn chuyện rằng “Ba Sinh Hương Lửa người ta thường ví như những tác phẩm lớn của Nga như Chiến Tranh &amp; Hòa Bình” trong đó nội dung mô tả lại những cảm xúc đớn đau của một thế hệ thanh niên mới lớn tham gia vào công cuộc kháng chiến chống Pháp nhưng sau đó phát giác ra mình đã bị lợi dụng như công cụ đấu tranh giai cấp của những người cộng sản và “có lẽ chính vì thế mà anh đã bị cộng sản bỏ tù khi họ khi chiếm được miền Nam”.</p>



<p>Văn hào Nga Leo Tolstoy (1828-1910) với tác phẩm nổi danh War and Peace (Chiến Tranh &amp; Hòa Bình) trong giai đoạn vào cuối thế kỷ XIX trong cuộc chiến giữa Nga trước và sau sự lâm lăng của Pháp. Tác phầm gồm 15 phần, trong mỗi phần có nhiều chương, tổng cộng khoảng 1.600 trang. Qua bản dịch tiếng Anh của&nbsp;Aylmer Maude và Louise Maude,&nbsp;bản dịch Chiến Tranh &amp; Hòa Bình của dịch giả Nguyễn Hiến Lê, nhà xuất bản Lá Bối, Sài Gòn 1969. Tập 1: 758 trang, tập 2: 729 trang, tập 3: 733 trang, tập 4: 716 trang. Đây là tác phẩm liên quan đến lịch sử và sự dấn thân của giới quý tộc (Bá Tước, Công Tước)… với những chàng trai tham gia trong cuộc chiến và những mối tình vừa bi thương lẫn lãng mạn. Tác phẩm với khoảng một trăm nhân vật chính trong số năm trăm nhân vật.</p>



<p>Văn hào Leo Tolstoy sinh trước nhà văn Doãn Quốc Sỹ một thế kỷ, tác phẩm Chiến Tranh &amp; Hòa Bình được khởi thảo vào năm 1863 và hoàn thành năm 1869. Tác phẩm Khu Rừng Lau của nhà văn Soãn Quốc Sỹ, ấn hành từ năm 1962 và năm 1966… Như một sự ngẫu nhiên với sự trùng hợp của hai văn tài.</p>



<p>Tác phẩm Khu Rừng Lau là trương thiên tiểu thuyết cũng khoảng hai nghìn trang, vẽ lại bối cảnh của lịch sử Việt Nam trong thời kỳ nhiễu nhương vào giữa thế kỷ XX. Những nhân vật từ lúc trưởng thành trong thành phần tiểu tư sản nhưng chiến tranh do Pháp gây ra, tham gia kháng chiến chống Pháp, nhưng đụng chạm với thực tế phũ phàng với lý thuyết và thực tế nên ngán ngẫm, trở về thành rồi di cư vào Nam, rồi dấn thân trong bối cảnh đất nước phân ly, thế hệ trẻ lại chống chọi trong thời chinh chiến. Theo lời tác giả: “Khu Rừng Lau tôi cũng viết bằng cả cái kinh nghiệm bản thân của tôi, có nhân vật từ&nbsp;&nbsp; thuở gia nhập chống Pháp. Thời đó chống Pháp là tất cả các thanh niên và chính bản thân tôi ở trong Đoàn Thanh Niên Cứu Quốc để mà chống Pháp. Rồi thì chính tôi, bản thân tôi đã từng họp dân chúng biểu tình để đi phá kho thóc của Nhật để phân phát gạo cho người dân vào cái thời đó.</p>



<p>Với cái việc của bản thân như vậy thì tôi dựng lại thành cái bộ truyện trường thiên tiểu thuyết Khu Rừng Lau đó. Và cái bối cảnh cùng những tình tiết thì đều là lẽ cố nhiên là viết dưới hình thức tiểu thuyết, nhưng mà kinh nghiệm là do kinh nghiệm bản thân của tôi với những điều mắt thấy tai nghe, và rồi thì là để vào viết thành cuốn tiểu thuyết như vậy” (RFA, 23/6/2008).</p>



<p>Đề cập đến tác phẩm Khu Rừng Lau, với tôi, không thấy ghi trong phần tiểu sử của ông (ngay cả trong các tác phẩm) là sự thiếu sót vì không nói lên giá trị đích thực của tác phẩm với bối cảnh và giai đoạn xảy ra mà người viết như chứng nhân của thời cuộc.</p>



<p>Trong tác phẩm Gìn Vàng Giữ Ngọc, Sáng Tạo ấn hành năm 1959, có hồi ký Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều (trang 111-116), tác giả viết về bản thân ông, sinh viên Luật ở Hà Hội, tản cư và gia nhập Việt Minh:</p>



<p>&nbsp;“Quê tôi cách Hà Nội chừng 5 cây số. Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ thì gia đình tôi tản cư lên Nhã Nam thuộc huyện Yên Thế, Bắc Giang. (Ghi chú: khoảng năm 1946).</p>



<p>Đến năm 1948, khi cậu tôi từ Vĩnh Yên lên thăm chúng tôi lần đầu thì toàn thể gia đình tôi ai nấy đã có màu da nửa vàng nửa xám xịt vì sốt rét rừng.</p>



<p>&#8211; Anh chị phải cho các cháu tản cư về mạn dưới như chúng tôi &#8211; lời cậu tôi nói với thầy mẹ tôi &#8211; chứ cứ như thế này thì không chết cũng chẳng còn ra hồn người nữa.</p>



<p>Sau ngót hai năm tản cư gia đình tôi khánh tận rồi. Có lẽ vì nghĩ vậy nên thầy mẹ tôi tìm cách nói khác:</p>



<p>&#8211; Ngày xưa vùng Yên Thế Thượng này độc thật, nhưng nay vì có nhiều người lên khai phá nên khí hậu cũng không đáng ngại lắm…</p>



<p>… Rồi cậu tôi về Vĩnh Yên. Hai tháng sau người lại lên, nhất quyết đón gia đình tôi xuôi, nói là nơi ăn chốn ở đã thu xếp đâu vào đó cả.</p>



<p>Thế là gia đình tôi xuôi Vĩnh Yên. Còn một mình tôi ở lại Sở Thông Tin Liên Khu I. Công tác của tôi là đi tuyên truyền mười điều kháng chiến trong toàn huyện Yên Thế. Vì lưu động như vậy nên tôi cũng quên đi nỗi buồn gia đình phân cách đôi nơi. Nỗi buồn đó chỉ đến thắc mắc lòng tôi mỗi khi trở về trụ sở kiểm điểm công tác.</p>



<p>Trụ sở Thông Tin ở một làng bên tả ngạn sông Thương, gần một bến đò đẹp vào bậc nhất Bắc Giang: bến đò Lục Liễu. Để tăng phần thơ mộng cho cái tên đó tôi vẫn thường dịch nôm là “Bến đò liễu xanh”…</p>



<p>… Tôi gặp lại người yêu cũ từ Phủ Lý (Khu III) chạy lên. Chúng tôi thành vợ chồng, tuy có ký giấy tờ tại Ủy ban Kháng chiến Hành chính Huyện &#8211; cậu mợ tôi là những người làm chứng &#8211; nhưng đám cưới hoàn toàn êm ả y như một đám cưới vụng trộm…</p>



<p>… Dạo đó trường Luật mở ở gần chợ Me (Vĩnh Yên), tôi có ghi tên theo học hết năm thứ ba, hy vọng thành tài sẽ ra thẩm phán, đồng lương họa có cao để giúp gia đình. Vì hoàn cảnh kháng chiến, các giáo sư thường từ nơi xa lại trường sở dạy liền trong mấy ngày, sau đó sinh viên tìm tài liệu tự nghiên cứu thêm. Có khi thời gian nghiên cứu lấy dài hơn một tháng mới có giáo sư mới. Tôi triệt để lợi dụng khoảng cách này để bon về giúp đỡ gia đình những công việc nặng…</p>



<p>Mùa Đông năm đó rét lạ lùng. Gió hun hút giật từng cơn, quết như dao cắt từng mảnh thịt hở, thế mà hôm nào mẹ và em gái tôi cũng phải dậy từ bốn giờ rưỡi sáng để sửa soạn gồng gánh ra đi. Quần áo và chăn chiếu của gia đình tôi thiếu rất nhiều. Thằng em thứ ba của tôi có được cái chiếu rách mướp vừa nằm vừa đắp, chân thò ra ngoài thì nó lấy rơm phủ lên”.</p>



<p>Mẹ ông đi chợ gặp lúc phi cơ Pháp bay từng đoàn bắn phá và giội bom liên tiếp xuống các chợ lân cận: chợ Me, chợ Vàng, chợ An Lạc… mọi người bỏ chạy. Chiều sẫm, ông ra chợ đón mẹ.</p>



<p>&nbsp;“… Tôi hỏi: “Sao mẹ về muộn quá thế, cả nhà lo tưởng phát điên lên”. Mẹ tôi cho biết hàng hôm nay bán ở chợ không hết, người phải đi sâu vào một vài làng lân cận để bán nốt. Rồi khi xuống khỏi đê, qua cái lạch lớn, thấy có chiếc chiếu trôi, vội tìm cách vớt lên và giặt luôn bên lạch. Đó là một chiếc chiếu còn khá tốt tuy chiều rộng bị xén đi mất một phần ba…</p>



<p>Tối hôm đó khi đi ngủ, thằng chú Tư được mẹ tôi đắp cho chiếc chiếu vớt ở lạch. Chân nó thò ra một tí khiến tôi nhận thấy chiếc bít tất cũ vàng xỉn của tôi, chỗ đầu rách được buộc túm lại để các ngón chân xinh của nó khỏi “thoát ly” ra ngoài”.</p>



<p>Như vậy, gia đình ông tản cư và ông theo kháng chiến trong khoảng 5 năm (1946-1951) mới thoát ly về Hà Nội dạy học.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/dqs-2.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="717" height="1024" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/dqs-2-717x1024.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-84316" style="width:431px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/10/dqs-2-210x300.jpg 210w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/dqs-2-717x1024.jpg?strip=all 717w, https://cdn.t-van.net/2025/10/dqs-2-768x1097.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2025/10/dqs-2-1075x1536.jpg 1075w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/dqs-2.jpg?strip=all 1080w" sizes="(max-width: 717px) 100vw, 717px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Thời gian kháng chiến (cũng như nhiều văn nghệ sĩ khác) ông là “cán bộ thông tin” nên sau đó am tường chính sách mị dân, lừa bịp của họ… trước thực tế phũ phàng nên từ bỏ chiến khu, trở về Hà Nội. Đó cũng là chất liệu để ông viết tác phẩm Khu Rừng Lau (4 quyển).</p>



<p>Tập I, tác phẩm Ba Sinh Hương Lửa (1962), những dòng đầu (Khai Từ) với các nhân vật chính: Khiết và Khóa (sinh năm 1913), Lãng (1918), Hãng (1921), Hiển (1922), Tân (1923), Kha (1924), Miên (19260… cũng là thế hệ của tác giả vào đầu thế kỷ XX. Và, vào thời đó tuổi thơ đã chứng kiến giai đoạn bi thảm của lịch sử: Ngày 17/6/1930, Đảng trưởng Nguyễn Thái Học (28 tuổi) cùng 13 chiến sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng bị Pháp đưa lên Yên Bái để thi hành án tử hình. Ký giả Pháp Louis Roubaud được chứng kiến cuộc hành quyết các nhà cách mạng Việt Nam đã viết:&nbsp;<em>“Tôi phải dở nón nghiêng mình kính phục tinh thần ái quốc, lòng dũng cảm vô bờ bến của những người Việt Nam yêu nước…”</em>&nbsp; (Vietnam, Tragédie Indochinoise).</p>



<p>&nbsp;“Căn cứ vào thứ bậc tuổi tác trên chúng ta thấy Khiết, Khóa và Lãng ở vào cùng thế hệ, tạm mệnh danh là thế hệ Nguyễn Thái Học vì họ có trực tiếp tham gia hoặc gián tiếp chịu ảnh hưởng phong trào phục quốc của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Còn năm người kia: Hãng, Hiển, Tân, Kha, Miên thuộc thế hệ sau, trưởng thành trong cuộc khói lửa toàn dân kháng pháp 1946- 1954…”</p>



<p>Tác giả lấy tựa đề trong điển tích “ba sinh hương lửa” trong thi phẩm Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du:</p>



<p><em>&nbsp;“Dạy rằng hương lửa ba sinh. Dây loan xin nối cầm lành cho ai”..</em></p>



<p>Ba Sinh Hương Lửa gồm 3 phần 16 chương.</p>



<p>Phần I: Câu Chuyện Khởi Đầu với 5 chương: Thời Thơ ấu, Cách Nhau Ngàn Vạn Dặm, Anh Trưởng Vỏ, Phẩm Tiên Rơi Đến Tay Hèn, Bên Giường Mẹ.</p>



<p>Phần II: Màu Tím Hoa Lau với 5 chương: Nàng Tiên Dưới Ánh Trăng, Độc Hành, Viên Cố Vấn Thủ Thuật, Mầm Sen Trong Hỏa Ngục.</p>



<p>Phần III: Giã Từ với 7 chương: Người Anh Trở Về, Ý Thức Về Nốt Nhạc, Phong Trào Tam Phản Khóa Bảy, Đôi Bạn Nhỏ, Một Tấn Bi Hài, Dòng Suối Tìm Đường, Hai Lần Sang Sông.</p>



<p>Khi tác phẩm nầy vừa ấn hành, Tràng Thiên (nhà văn Võ Phiến) trong mục Điểm Sách trên tạp chí Bách Khoa số 159 (15/10/1962) ghi nhận (trang 71-73):</p>



<p>&nbsp;“… Nhà văn Doãn Quốc Sỹ dường như có ý định xây dựng cả một hệ thống tiểu thuyết xung quanh Khu Rừng Lau của ông. Ba Sinh Hương Lửa là quyển truyện thứ nhất. Tác giả kể ra ở Khai Từ tên tám nhân vật chính, nhưng tổng số các nhân vật trong truyện có lẽ cũng đến ngót 80. Chừng ấy người cùng trải qua ba thời kỳ đau khổ: thời Pháp thuộc, thời Nhật thuộc, thời Việt Minh thuộc. Chịu hết những sóng gió bể dâu của cà ba giai đoạn lịch sử, đó là trải qua “ba sinh”! Cuối truyện ta thấy ba người thanh niên (hai trai: Kha, Hiến, và một gái: Miên) cũng đua nhau về thành. Nhưng trên đầu họ đạn còn réo, xung quanh họ chiến cuộc còn tiếp diễn, việc đời còn ngổn ngang, bao nhiêu kẻ còn chìm nổi trong loạn ly.</p>



<p>Ba Sinh Hương Lửa là cuốn truyện diễn lại một thời đau khổ của dân tộc, nhưng người đọc không cảm thấy bi đát. Trái lại, truyện để lại một cảm tưởng êm đẹp, gây tin tưởng ở cuộc đời. Sự thực chắc chắn không mấy khi độc giả gặp trong tác phẩm văn nghệ được nhiều tâm hồn đẹp đẽ như trong Ba Sinh Hương Lửa…</p>



<p>… Nhân vật của Doãn Quốc Sỹ đều thừa hưởng một của kho tình thương vô tận: tình thương. Tình thương tràn ngập khắp cùng: giữa cha và con, vợ chồng, anh em, chú cháu, bạn bè, giữa láng diền chòm xóm, giữa người quen kẻ thuộc, và giữa cả những người không hề quen nhau… Tình thương mênh mông áy làm cho tất cả các nhân vật đứng về một phía. Phía bên kia là chế độ của hiềm thù. Và tất cả các nhân vật của Ba Sinh Hương Lửa chống lại chế độ của một điềm xung khắc giữa thương và thù đó…</p>



<p>… Cả cái xã hội gồm đa phần là thanh niên nam nữ có học thức, có tài, có gan dạ, đẹp và rất thơ mộng của ông Doãn, họ sẵn sàng chịu mọi điều cay đắng cam go trong chiến đấu, nhưng khi họ nhận ra rằng trong thế giới của họ tình thương đang bị hủy diệt; thế là họ cùng lắc đầu, từ chối, kéo nhau đi…</p>



<p>… Phần đông trong số thuộc thế hệ Doãn Quốc Sỹ, những người đã trải qua “ba sinh” của đất nước, có kẻ cay đắng chua chát, có kẻ hằn học thù hận, có kẻ hoàn toàn chán chường, có kẻ hoang mang rắc rối, không chút tin tưởng…”.</p>



<p>Với tập I Ba Sinh Hương Lửa (trong 3 tập sau mới ghi thêm Khu Rừng Lau) mà lúc đó, nhà văn Võ Phiến khi đọc viết&nbsp;<em>“Doãn Quốc Sỹ dường như có ý định xây dựng cả một hệ thống tiểu thuyết xung quanh Khu Rừng Lau”</em>&nbsp;vì khi tham gia trong vùng kháng chiến đã là chứng nhân sự thật phũ phàng nên trong chương cuối Hai Lần Sang Sông, Hiển, Kha và Miên đoạn tuyệt với vùng Cộng Sản về vùng Quốc Gia với dòng kết:&nbsp;<em>“Dù cánh đồng này &#8211; Miên nghĩ thầm &#8211; có biến thành cả khu rừng lau khô xác đi nữa thì giờ đây, trên đường đời, có những ba bóng người!</em></p>



<p><em>Bớt cô quạnh!”</em></p>



<p>Khi tham gia kháng chiến của Việt Minh, Miên là nữ y tá giỏi, nhưng bị hạ công tác để cho đảng viên thay thế. Miên bị giao cho việc rình mò theo dõi bạn đồng nghiệp để báo cáo, nên cô cảm thấy hụt hẫng, e chề, chán chường. Với Tài, con trai cha mẹ nuôi của Miên, coi như anh ruột, nhưng khi Tài thành đảng viên, không còn tình cha mẹ, anh em mà người máy của đảng. Với những sự kiện xảy ra trước mắt, Miên đã thức tỉnh. Rồi đến Hiển, Kha, Hãng… ngán ngẫm khi chứng kiến những điều bất nhân, không còn tình người… Vì vậy họ không thể chấp nhận thực tế phũ phàng, chua xót đó để ở lại. (Trong quyển Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến, Kha và Hiền gặp Tân mới biết Tân đã về thành từ mùa hạ năm 1951 trước họ 6 tháng).</p>



<p>Đó chỉ là giai đoạn đầu trong thời kỳ kháng chiến nên theo dòng lịch sử, người đọc cũng nghĩ rằng nhà văn Doãn Quốc Sỹ không dừng lại ở đó mà tiếp nối cuộc hành trình tiếp theo.</p>



<p>Tập II, tác phẩm Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến (1964) gồm 18 chương: Tiếng Hát Tự Lòng Đất Khu Rừng Già, Chiếc Nhẫn Saphir, Về Làng, Ông Chủ Báo, Cô Gái Bên Sông Tần Hoài, Những Cụm Hoa Vàng, Tiếng Hát Tự Lòng Đất, Trên Bờ Vực Lịch Sử, Ngọn Đèn Lương Tri, Thần Tượng, Một Sự Chuyển Hướng, Vật Đổi Sao Dời, Cướp Đoạt, Xiếc Hữu Mai Hề, Tiếng Vọng Mùa Xuân, Người ở Lại, Bến Đò Rừng, Chiếc Bè Nữ Chúa.</p>



<p>Cũng nên nhắc ở đây, Quốc Gia Việt Nam (État du Việt Nam) lúc mới thành lập ngày 7/12/1947, nhưng chính thức thừa nhận giữa Quốc Trưởng (cựu hoàng Bảo Đại) và Tổng Thống Pháp Vincent Auriol ký Hiệp Định Élysée 8 tháng 3 năm 1949 trong khối Liên Hiệp Pháp. Chọn cờ vàng ba sọc đỏ làm Quốc Kỳ. Hà Nội được Pháp chuyển giao cho chính quyền Quốc Gia Việt Nam, dược sĩ Thẩm Hoàng Tín làm thị trưởng thành phố.</p>



<p>Mở đầu tác phẩm “Hình ảnh lá cờ vàng ba gạch đỏ phe phẩy thanh bình vẫy gió còn mãi mãi về sau này in hằn trong tâm tưởng Miên một ấn tượng của thịnh vượng và của tình người…”</p>



<p>&nbsp;“Bốn giờ chiều, Luận đến sớm ngỏ ý đón Hiển, Kha, Miên để đưa đi một vòng qua các phố tỉnh lỵ gọi là ‘xem tình hình quốc gia’.</p>



<p>… Luận đưa ba người ra bến xe, chính chàng mua ba vé hạng trên. Luận căn dặn thêm một lần nữa khi ba người về đến Gia Lâm nhớ phải vào Ty Công An trình diện mà xin cấp giấy thông hành tạm thời”&#8230; Dĩ nhiên khi trở về thành, không dễ dàng chấp nhận, Công An phải điều tra để tìm hiểu nguyên do cặn kẽ. Nhưng mọi việc được an bày trong cách đối xử đầy cảm thông và tình người.</p>



<p>Rồi tháng năm ở Hà Nội, Hãng đi du học ở Pháp, chia tay các bạn bè bao năm ở bên nhau. Cuộc sống mới của Khiết, Khóa, Lãng, Hiển, Tân, Miên… được tác giả đề cập khá chi tiết… Nhất là Kha, chàng trai với tâm hồn lãng mạn lẫn bi thương…</p>



<p>Khi Hiệp Định Genève ký kết, đất nước phân chia rồi đến khi di tản vào Nam. Mối tình cuối giữa Kha và Vân (tuy đã có con)&nbsp;<em>“Kha đã gặp Vân, Kha sắp được Vân, Kha đang say mê Vân, điên cuồng”&#8230;</em>&nbsp;nhưng đến giờ phút cuối đành chia tay.</p>



<p><em>&nbsp;“Kha vào Nam cũng bằng đường thủy. Chàng đến khu lều Thăng Long của Đoàn Sinh Viên Di Cư Hà Nội &#8211; khu lều này được dựng trên nền khám lớn cũ và sau đây là nơi xây cất Đại Học Văn Khoa”.</em>&nbsp;Đó cũng là hình ảnh của tác giả cùng bạn bè khi vào Nam.</p>



<p>Đoạn kết tác phẩm với những lá thư của Vân, người ở lại:</p>



<p><em>“Hiệp định Genève ký, đoàn thể giữ khéo con em lại và cử em về Hà Nội để thuyết phục những người thân…”</em></p>



<p>Lá thư cuối tác phẩm, Vân viết:&nbsp;<em>“Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến của anh đã chấm dứt hàng chữ cuối cùng của lá thư cuối cùng này ở đây.</em></p>



<p><em>Hôn anh một cái hôn làm nổ vỡ tinh cầu nhưng tình chúng ta thì chói rạng mãi mãi.</em></p>



<p><em>Vĩnh biệt anh,</em></p>



<p><em>Em</em>”.</p>



<p>Trước khi chuẩn bị vào Nam. Kha viết thư cho Miên:</p>



<p><em>“Cô Miên,</em></p>



<p><em>Chẳng còn bao nhiêu ngày nữa đến lượt Hà Nội bị tiếp thu. Chuyến này tôi về thăm làng lần cuối rồi xuống Hải Phòng đợi cô cùng vào Nam. Nhìn cảnh Hà Nội hoang vắng tôi lại nghĩ đến cô từng ao ước được thăm khu rừng lau trên núi sáng, Bỉnh Di…</em></p>



<p><em>Tôi vẫn nghĩ rằng mọi người chúng ta ai cũng mang trong lòng một khu rừng lau. Có kẻ chẳng bao giờ đạt tới, có kẻ đạt tới rồi hủy hoại chính khu rừng đó như chuyện con chó ngu xuẩn thả mồi bắt bóng…”.</em></p>



<p>Rồi khi Miên gặp được Kha&nbsp;<em>“ghì chặt lấy chàng, giọng nàng thanh như tiếng chim nhưng thảng thốt nghẹn ngào như một linh hồn biết khóc:</em></p>



<p><em>&#8211; Khu rừng lau của em! Khu rừng lau của em!”</em></p>



<p>Với bộ ba Hiển, Miên (em gái của Hiển) và Kha đã một thời gắn bó với nhau. Miên có tình cảm với Kha nên bán món nữ trang độc nhất là chiếc nhẫn saphir (chương 3) để lấy tiền giúp Kha trong khi bị gam giữ và khi Kha được thả ra, ba người ở chung với nhau, tiền kiếm tiêu chung. Khi Miên biết Kha yêu Vân nên Miên với tâm hồn cao thượng để nhường tình yêu nầy nhưng định mệnh giữa Kha và Vân thật oan nghiệt!</p>



<p>Đến tác phẩm thứ hai, độc giả mới hiểu tựa đề trường thiên tiểu thuyết Khu Rừng Lau.</p>



<p>Tập III, tác phẩm Tình Yêu Thánh Hóa &#8211; Vỡ Bờ (1965), gồm 4 phần. Phần I Bối Cảnh với các chương: Thành Đôi, Một Chuyến Buôn Văn Hóa, Một Cuộc Gặp Gỡ, Người&nbsp; Em Ra Bắc, Câu Chuyện Điện Biên Phủ. Phần II Vỡ Bờ với các chương: Lê, Con Đê, Mụ Cát Thành, Một Ký ức Thô Bỉ. Phần III Quỳnh Hương với các chương: Bên Lề Hội Nghị, Bà Cụ Hồng Kông, Tài Mệnh Tương Đố, Ông Cai, Mối Tình Linh Lan, Cô Em Cũ, Chuyện Dĩ Vãng, Nỗi Lòng Tô Thị. Phần IV Chặt Thuyền Dĩ Vãng với các chương: Tiếng Hát Đối Diện Với Sao Bắc Đẩu, Hoàng Tử Của Hằng Nga, Những Triều Nước Mặn, Tình Thương Trong Mưa, Tiếng Hát Lạ Trên Kinh Thành Vienne, Tiếng Hát Hồi Hương.</p>



<p>Khởi đầu với cuộc di cư vào Nam. Vân ở lại Hà Nội. Kha và Miên được gặp nhau và làm lễ thành hôn trong khu định cư làng Thăng Long. Tác giả ghi lại hình ảnh với lịch sử Quảng Nam (quê hương tôi nên tôi rất tâm đắc). Với Miên “Giờ đây nàng sống trong tay người yêu, ngợp trong hạnh phúc, nàng cũng thấy là nàng đương du hồn vào khu rừng lau. Nàng nhắm mắt lại như để chạy trốn ánh sao bên ngoài khi nãy. Khu rừng lau trong tâm tưởng nàng lúc đó là bà tiên khoác tấm khăn choàng tím ngát” (trang 35).</p>



<p>Trong Câu Chuyện Điện Biên Phủ đề cập đến tháng ngày năm xưa khi Kha, Miên… đã về thành. Hiển còn ở lại “đi theo Vìệt Minh đánh Pháp, giờ đây Vìệt Minh thắng, mình lén trốn khỏi vùng họ, sang được vùng quốc gia thấy những người lính Pháp đầu đội mũ sắt có hai chữ P.M. (Prévoté Militaire) thì mừng. Không bao giờ ưa thực dân nhưng thấy rằng cộng sản còn ghê tởm và nguy hiểm hơn nhiều, đã đến lúc phải thay đổi chiến tuyến! Đến Hải Phòng anh bạn khai thẳng với Công An quốc gia mình là sĩ quan Việt Minh trốn sang, xin cho điều tra ngay và cấp thẻ căn cước để sống bình thường như dân. Một tháng sau anh xuống tàu cùng gia đình di cư” (trang 85).</p>



<p>Tân, chỉ xuất hiện thoáng qua trong Ba Sinh Hương Lửa, ở tác phẩm nầy đề cập nhiều về Tân và người yêu là Lê. Tân cũng đa tình và đào hoa như Kha, đã từng ân ái với Thoa (em gái của Lãng)… Với Kha, tuy đã có Miên nhưng vẫn đa tình. Từ khi gặp ca sĩ Quỳnh Hương ở phòng trà Ly Ly, Quỳnh Hương là em gái nuôi của Hãng và bạn thân của Vân và của Thi thời học sinh ở Hà Nội nhưng những giây phút gặp gỡ nhau giữa Kha và Quỳnh&nbsp; Hương như “đôi tình nhân”.</p>



<p>Cũng như trong Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến, Quỳnh Hương đi sang Tây Đức đóng phim và lập gia &nbsp;đình với đạo diễn Karl, đạo diễn. Với những là thư từ Vienne, Tây Bá Linh gởi về cho Kha “Đặc biệt trên hai chữ <em>“Chào anh”</em> của bức thư này Quỳnh Hương có viết hai chữ gì mà nàng rập xóa đi mất. Tò mò Kha đem lá thư ra cửa sổ soi lên ánh sáng. Chàng bỗng thở dài cúi đầu. Đó là hai chữ <em>“Hôn anh</em>”” (trang 378).</p>



<p>&nbsp;“Đi vào dĩ vãng, trong khoảnh khắc nhớ lại buổi gặp Kha lần đầu cùng Hãng ở phòng trà Ly Ly, nhớ lúc Kha ôm mình nhảy bản slow khuya và cúi xuống hôn nhẹ lên môi… Trời ơi, Quỳnh Hương bỗng thèm Kha điên cuồng. Ngày nào cùng Kha đi Thủ Dầu Một về cùng ăn cơm trong căn phòng ấm cúng của nhà hàng Cheong-Nam, rồi khi từ biệt trên vỉa hè Tự Do nàng đã có ý tưởng ngộ nghĩnh sẽ hôn Kha trước vì chỉ hôn trước một người như Kha mới không sợ bị rẻ rúng” (trang 381).</p>



<p>Là nhà mô phạm nhưng trong tác nầy nhà văn viết về cuộc sống ở Sài Gòn với phòng trà ca nhạc, vũ trường, nhảy đầm rất sành điệu và còn chửi thề (Đ.M) trong vài mẩu đối thoại vì vậy rất thoáng, sinh động, lôi cuốn người đọc từ đầu đến cuối. Ông thích làm thơ, chơi dương cầm nên trong tác phẩm của ông được dẫn chứng những dòng thơ, vài ca khúc… khi đọc cảm thấy thú vị.</p>



<p>Tập 4: Những Ngả Sông (Đàm Thoại &#8211; Độc Thoại) 1966, gồm 7 chương: Mối Tình Thiên Thu, Người Lính Nhảy Dù, Người Phá Cầu, Tập Sơ Khảo Của Kha, Mây Trắng Nước Xanh Người Tù, Mây Trắng Nước Xanh Thần Tượng Trong Đêm, Dư Dục Vô Ngôn.</p>



<p>Trong tác phẩm nầy với những nhân vật chính từ Ba Sinh Hương Lửa trong sinh hoạt chính trị ở miền Nam Việt Nam. Khóa, Kha, Miên, Tân, Hiển, Luận… trong gia đình Văn Hóa. Khóa bị giam ở lao tù Đà Lạt trong 11 tháng. Tân, Hiển, Phiệt phục vụ trong quân đội VNCH. Tác giả mô tả đến các trận chiến giữa thập niên 50 &amp; 60 như phóng viên chiến trường với từng chi tiết. Với những trang nhật ký của Tân (Trung Úy Y Sĩ) trong binh chủng Nhảy Dù, sau nầy đọc hồi ký Y Sĩ Tiền Tuyến của Trang Châu, cảm phục tài tình của tác giả Những Ngả Sông. Với quần đảo Hồng Sa, nghe rất xa lạ, tác giả đã dành vài chục trang để nói về lịch sử và người dân nơi nầy.</p>



<p>Với hai cuộc binh biến năm 1960 &amp; 1963, tác giả ghi nhận tất cả sự kiện xảy ra… Kha và Khiết cũng không may bị vào chốn lao tù. Trong khi đó “Tân, Hiển ngoài tiền tuyến chẳng thể được tâm hồn tương đối thanh thản như Khiết, Kha những ngày sống khuất mặt trong khám lớn” (trang 154). Rồi “Phiệt bị đạn ở chân tại chiến dịch cao nguyên được đưa về bệnh viện Cộng Hòa… Tân hỏi Phiệt có muốn giải ngũ để chàng xin cho và Phiệt sẽ về bên Vĩnh Hội ở với tiểu gia đình của Tân. “Người lính nhảy dù” đó đã say mê gia nhập đời sống quân ngũ làm sao dứt bỏ các bạn đồng ngũ sao đành, Phiệt xin ở lại phục vụ bên ngành quân nhu, ban chung sự” (trang 155).</p>



<p>Với Hiển “trong những lúc xông pha nơi tiền tuyến… chàng hoàn toàn như người đi trong sa mạc. “Miên ơi &#8211; chàng muốn kêu lên như thế &#8211; trong giai đoạn nầy đừng nghĩ đến rừng mía, ngay như được gặp khu rừng lau để có chút bóng mát cũng là quý rồi. Anh cô đơn đi giữa sa mạc, cô có biết không?”.</p>



<p>Tác phẩm Ngã Ba Sông ngắn hơn 3 tác phẩm trước, đề cập đến cuộc chiến và nên chính trị ở miền Nam Việt Nam rối răm trong thời chinh chiến. Với tác phẩm Ngã Ba Sông, cũng có người khen, người chê vì “thiên kiến chính trị” nhưng với nhà văn, sự khách quan và thực trạng xã hội không thể sai lạc. Với những dòng đề cao tinh thần, trách nhiệm về người lính với nhà văn không khác áo chinh y cũng nói lên tấm lòng của tác giả.</p>



<p>Nhà văn Võ Phiến trong Văn Học Miền Nam Tổng Quan đã có đoạn viết về nhà văn Doãn Quốc Sỹ như sau:</p>



<p>&nbsp;“Còn Doãn Quốc Sỹ, ông làm chúng ta nghĩ đến một nhân vật của ông: Khiết. Khiết kiên trì theo đuổi con đường văn hóa nhưng đã trót đi vào con đường chính trị, biết những ngõ ngách của nó âu cũng thành nghiệp chướng của mình nên khó bỏ lắm. Khu Rừng Lau phơi bày ra cái hiểm ác xủa chế độ này, lột trần nền độc tài nọ. Thái độ chính trị của tác giả luôn luôn biểu lộ trong tác phẩm. Tuy nhiên ông Doãn cũng như Khiết trước sau “kiên trì theo con đường văn hóa”. Ông chê cái này chống cái nọ vì nó ác nó xấu. Mà ông thì nhất tâm phục vụ cái thiện cái mỹ&#8230; Thiện tâm thiện ý của tác giả tỏa ra khắp tác phẩm: trong các truyện của ông Doãn nhân vật nào cũng tốt việc gì cũng có khía cạnh hay. Ông bất lực không tạo nổi người xấu, kể nổi việc xấu. Đọc sách ông thơm tho cả tâm hồn. Truyện ông Doãn vừa có luận đề chính trị vừa có chủ tâm giáo dục…”. Trong quyển sách nầy, theo nhà văn Võ Phiến, khuynh hướng luận đề có Doãn Quốc Sỹ (trang 266).</p>



<p>Trên tạp chí Bách Khoa số 192 (1/1/1965) trong mục Sống &amp; Viết (trang 39-44) trong cuộc trò chuyện giữa nhà văn Nguyễn Ngu Í với nhà văn Doãn Quốc Sỹ (14/12/1964) sau khi tác phẩm Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến ấn hành. Sau nầy in trong quyển Sống &amp; Viết (trang 124-147) có tấm hình ông bà và 7 người con (Ngọc Thanh 1952, Kim Khánh 54, Cẩm Liên 56, Quốc Thái 58, Quốc Vinh 61, Quốc Hưng 62, Quốc Hiền, chưa có Thanh Hương trong số 4 trai &amp; 4 gái).</p>



<p>Nhà văn Doãn Quốc Sỹ cho biết: “Năm 1951. Từ chỗ kháng chiến ác liệt nhất, Liên Khu Việt Bắc. Kháng chiến, tôi kháng chiến hết mình, tôi từng là một “anh hùng lao động” của cơ quan tôi. Nhưng đến khi giã từ “Thiên đường Đỏ” thì cũng giã từ quyết liệt, dứt khoát…</p>



<p>… Bất cứ ai đã qua cơn ác mộng với Cộng Sản, đã hiểu rõ bộ mặt thật của chúng, đều có thái độ dứt khoát, vừa đơn giản vừa cương quyết như vậy…”.</p>



<p>Nhà văn Doãn Quốc Sỹ là một trong những nhà văn được nhiều người viết trong sáu thập niên từ trong nước và hải ngoại, ngoài giá trị văn chương qua những tác phẩm của ông, với tâm hồn nhân bản, đôn hậu, nhân cách sống của ông trong lao tù và ngoài xã hội, được kính nể. Ngay cả những người con của ông khi viết về người bố cũng là hình ảnh tiêu biểu của bậc cha mẹ (thế hệ chúng tôi) để noi gương.</p>



<p>Nhà văn Nhật Tiến viết: “Sau năm 1975, chúng tôi đến thăm anh ở căn nhà trong khu ngõ đường Thành Thái. Lần cuối cùng chúng tôi thăm anh vào thời gian trước khi anh bị bắt một tuần lễ. Và thời điểm đó, tin tức lọt ra về danh sách những nhà văn sắp sửa bị bắt đã loan truyền rộng rãi trong giới văn nghệ. Trong danh sách này có tên anh Doãn Quốc Sỹ. Vì thế, chúng tôi đến thăm anh với tất cả mọi sự bồn chồn lo lắng và ngao ngán, cái ngao ngán chung của những người cùng một giới đang bị bao phủ bởi một bầu không khí nghiêm trọng nặng nề.</p>



<p>Tuy nhiên, lúc gặp anh, chúng tôi vẫn thấy anh điềm nhiên, vui vẻ. Vẫn dáng dấp điềm đạm,&nbsp;đôi mắt sáng, hiền từ, nụ cười thản nhiên, đôn hậu. Anh chuyện trò với chúng tôi một lát thì tiến lại cái dương cầm màu nâu nhỏ kê ở ngay ngoài phòng khách. Anh dạo cho chúng tôi nghe một bản nhạc cổ điển Tây phương. Qua những âm thanh thánh thót, tôi thấy cả tâm trạng bình thản của anh lúc đó. Lúc chia tay, chúng tôi không nói được gì nhiều với nhau. Chẳng ai muốn nói gì nhiều với nhau lúc đó. Chúng tôi chỉ nắm chặt lấy bàn tay nhau và truyền cho nhau những ý nghĩ an ủi, cảm thông.</p>



<p>Một tuần sau, chúng tôi được tin anh bị bắt… Một người như anh, một người cha gương mẫu trong gia đình, một nhà giáo đầy tài năng và tận tụy, một nhà văn chừng mực chỉ viết ra những điều làm đẹp con người, làm đẹp xã hội, và một con người đầy nhân cách, giàu lòng vị tha, tôi tự hỏi một con người như thế lại bị gạt ra ngoài xã hội và phải chịu nằm tù ròng rã trong bao nhiêu năm trời, thì chế độ Cộng Sản là cái thứ gì?”</p>



<p>Doãn Quốc Hưng viết về bố:</p>



<p>&nbsp;“Những bài học đạo đức, nhân bản, thiền học&#8230; mà chúng tôi nhận được từ bố một cách “có hệ thống” chỉ bắt đầu từ sau khi bố tôi đi cải tạo lần một về vào năm 1980. Đó là các buổi nói chuyện của bố tôi với bọn tôi và một nhóm bạn bè, bọn tôi gọi đó là “đại học bỏ túi”. Đó cũng là cột mốc của một “gia đình” thứ ba của bố tôi. Trong gia đình đó, chúng tôi mới thực sự được nghe bố tôi nói nhiều hơn về điều ông đã viết trong tác phẩm, đã làm trong cuộc sống…</p>



<p>… Nhắc tới chống đối, có một thứ mà rất nhiều người khuyên rằng chúng tôi “phải noi gương bố”, đó là “tinh thần bất khuất trước quyền lực”, hoặc “một trong những biểu tượng của tinh thần chống cộng của Miền Nam Tự Do”. Các nhà “phê bình văn học” của Việt Cộng đã tấn phong cho bố tôi là đầu xỏ của “những tên biệt kích cầm bút”, mô tả ông như một “kẻ căm thù cộng sản đến tận xương tuỷ”. Tôi cũng đã được nghe kể lại nhiều lần từ bạn bè trong tù của bố về giai thoại về một ông DQS “hiên ngang đối kháng với cán bộ CS trong trại giam”, những câu tuyên bố mang tính “hào hùng, nghĩa khí” của ông trước “kẻ thù”. Thực hư ra sao cũng chẳng rõ, chỉ có điều chắc chắn là chưa bao giờ tôi được nghe chính bố tôi kể lại những giai thoại ấy…</p>



<p>&#8230; Trở lại với cái ngày xét xử bố tôi vào năm 1988 cùng với các cô chú văn nghệ sỹ khác: Hoàng Hải Thuỷ, Duy Trác, Lý Thuỵ Ý,&#8230; phiên toà “DQS và đồng bọn, với tội danh tuyên truyền phản cách mạng, chống phá nhà nước XHCN”. Đó là lần đầu tiên tôi được chứng kiến một phiên toà chuyên chính vô sản của nhà nước Việt Nam…</p>



<p>… Bố tôi căm thù cái phi nhân của một chủ nghĩa, sự ngu dốt và độc đoán của một tầng lớp lãnh đạo. Bố tôi không nhắm vào những cá nhân thừa hành bên dưới, vì họ cũng chỉ là nạn nhân của sự bưng bít, thiếu kiến thức, thiếu thông tin, thiếu sự lựa chọn. Điều đó thể hiện trong nếp sống thường ngày…</p>



<p>… Bố tôi là một ông giáo hiền lành, một con người nhân hậu vì bản chất của ông là như vậy. Nhưng sức mạnh của ông bắt nguồn từ chữ Tâm. Khi cái Tâm đã toả sáng vì nó đã biết mình từ đâu đến và sẽ đi về đâu, nó bắt đầu thoát ra khỏi sự sợ hãi. Đó là điều kiện kiên quyết để có một cái Tâm tự do. Sức mạnh tâm linh của một cá nhân sẽ nhờ sự tự do mà tự toả sáng, không cần ngôn từ, không cần chứng tỏ. Bố tôi đã dạy cho tất cả chúng tôi ngồi thiền để tốt cho sức khoẻ, để luyện tâm thanh tịnh…</p>



<p>&#8230; Chú Nguyễn Đình Toàn đã từng nói với bọn tôi rằng: “Trong giới văn nghệ sĩ, không ai phục ai về tài viết văn cả. Nhưng nhiều văn nghệ sĩ trong Nam quí mến bố cháu ở cái đời sống đạo đức của ông”. Đối với con cái cũng vậy. Chúng tôi được dạy dỗ bằng chính cách sống của bố, chứ không bằng những “phương pháp giáo dục”…</p>



<p>… Hồi bố tôi chuẩn bị xét xử lần thứ hai vào năm 1988, bạn bè khắp nơi trên thế giới đã vận động mạnh mẽ đến nỗi chính quyền Việt Nam phải hoãn xét xử vào giờ cuối để tìm cách giảm nhẹ tình hình. Để tránh mất mặt khi phải đổi giọng, đảng và nhà nước đã phải cử ông chú tôi làm trung gian vào tù thương lượng, đề nghị bố tôi nhượng bộ bằng cách tỏ vẻ “ăn năn” để được “khoan hồng”. Tất nhiên là cuộc thương lượng đó bất thành, họ đánh giá bố tôi quá thấp! Điều đáng kể ở đây là thái độ của bố tôi trước biến cố này. Lọt vào tay “chủ nghĩa anh hùng cách mạng”, đây ắt hẳn sẽ trở thành một câu chuyện li kì về “tấm gương đấu tranh bất khuất, một cuộc chiến không khoan nhượng giữa hai anh em hai chiến tuyến&#8230;”. Lần duy nhất bố tôi nói về nó là do sau này tôi hỏi và bắt bố tôi kể lại. “Có gì đâu, chú đề nghị bố xin lỗi. Giống như sau khi mình tát ai một cái thì mình cũng phải tỏ vẻ ân hận một chút. Nhưng đời nào bố lại làm vậy&#8230;”…</p>



<p>Hình ảnh Doãn Quốc Sỹ được bắt gặp qua hai câu nói Pascal&nbsp; cũng đã khẳng định: <em>“Con người là một cây sậy nhưng là cây sậy có tư tưởng&#8217;”</em> (Triết gia Blaise Pascal) và <em>“Sức mạnh của con người không nằm ở thể chất mà đến từ ý chí bất khuất&#8217;”</em> Thánh Gandhi).</p>



<p>Với nhiều bài viết, chỉ trích phần Tạp Ghi Văn Nghệ của Nguyễn Mạnh Trinh liên quan đến tác phẩm Khu Rừng Lau: “Ở Doãn Quốc Sỹ, ông viết Khu Rừng Lau như một cách lý giải sự thất bại của những người quốc gia trong thời cuộc hiện đại. Họ là những người đã bị những tay sai quốc tế Cộng Sản đệ tam lường gạt trong công cuộc giành độc lập cho đất nước…</p>



<p>Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã muốn cho đời sau một chứng liệu về một biến cố không những riêng của đất nước Việt Nam mà còn cả chung của thế giới nữa…</p>



<p>Những tác phẩm của nhà văn Doãn Quốc Sỹ dường như có chung một mẫu số mà văn chương dùng để tải đạo và làm cuộc sống con người tươi đẹp hơn. Có rất nhiều nhận xét về ông, như là một nhà văn có chân tài, một nhà giáo tận tụy, một kẻ sĩ khí tiết…”.</p>



<p>Kim Khánh viết về người bố, khi nhắc đến tác phẩm Khu Rừng Lau: “Nhân vật chính là Miên và các nhân vật khác đã có cuộc sống đi qua suốt chiều dài lịch sử từ thế hệ mà tác giả mệnh danh là thế hệ Nguyễn Thái Học cho đến thế hệ trưởng thành trong cuộc chiến toàn quốc kháng chiến. Có những người như Khóa, Lãng, Khiết trực tiếp hoặc gián tiếp chịu ảnh hưởng của những đảng phái quốc gia như Việt Nam Quốc Dân Đảng hoặc Đại Việt. Còn các nhân vật thế hệ sau như Hãng, Hiển, Tân, Kha, Miên,&#8230; thì mới đầu tham gia vào cuộc kháng chiến chống Pháp nhưng sau đó nhìn thấy bộ mặt thực của đảng Cộng Sản Việt Nam nên trở về thành và sau đó di cư vào Nam…</p>



<p>Hình như, họ có chung nỗi hoang mang của những người trí thức luôn đi kiếm tìm cho mình một con đường nhưng lại thấy bơ vơ khi chọn lựa. Ở với kháng chiến, thấy lòng yêu nước bị lợi dụng bởi những con người Bolcheviks tàn bạo vô nhân, về thành thì thấy giặc Pháp nghênh ngang, chính phủ quốc gia chỉ là cái bóng. Di cư vào Nam, thì chế độ độc tài và gây ra nhiều kỳ thị bất công”.</p>



<p>Nhà văn Nguyễn Mộng Giác trong bài viết Doãn Quốc Sỹ, Người Anh Khả Kính: “Nhiều người trong giới cầm bút khen và cũng chê tính đôn hậu trong tiểu thuyết Doãn Quốc Sỹ. Họ lý luận rằng ông đôn hậu quá nên nhân vật tiểu thuyết của ông đẹp nhưng có vẻ không thực, ông không lột hết được bản chất phức tạp của cuộc đời, bản chất hàm hồ của con người, bản chất tàn nhẫn phi lý của lịch sử. Khi xây dựng nhân vật, Doãn Quốc Sỹ thường không lưu tâm moi móc những ngóc ngách xấu xa của họ. Trái lại, ông lưu tâm tô điểm những nét đẹp của họ. Những Kha, những Miên, những Hãn, những Khiết của Khu Rừng Lau…”.</p>



<p>Với tác phẩm Khu Rừng Lau, năm 2020 nhà văn Doãn Quốc Sỹ chia sẻ:&nbsp;<em>“Có nhiều khi đọc lại Khu Rừng Lau, tôi cũng không hiểu tại sao mình có thể hoàn tất được bộ tiểu thuyết ngàn trang này. Tôi nhớ là vào thời đó, có khi tôi ngồi viết như người lên đồng, viết giống như có ông bà tổ tiên nhập vào vậy.</em></p>



<p><em>Tôi nghĩ rằng tôi chỉ được trời cho năng khiếu sử dụng ngòi bút của mình. Còn lại, tôi viết như theo lời nhắn nhủ siêu hình của tổ tiên, viết theo hồn thiêng dân tộc để phục vụ tổ quốc”.</em>&nbsp;(Việt Báo)</p>



<p>Trước năm 1975, vài ý kiến cho rằng nhà văn Doãn Quốc Sỹ nên chọn những tác phẩm tiêu biểu, trong đó có trường thiên tiểu thuyết Khu Rừng Lau dịch ra Anh, Pháp ngữ để tham dự giải Nobel Văn Chương. Trong bài viết Tổng Quan Về Sách Dịch Văn Chương Tây Phương Ở Miền Nam Việt Nam của tôi đã đề cập đến các tác giả Tây Phương đã được Nobel Văn Chương được các nhà văn, dịch giả đã dịch sang tiếng Việt rất nhiều. Có tác giả với vài tác phẩm tiêu biểu, có tác giả với toàn bộ tác phẩm như Alexander Solzhenitsyn (Nobel Văn Chương 1970)… Hầu hết toàn bộ tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ đều bối cảnh trong nước, ngoại trừ tác phẩm Sâu Mây khi ông du học ở Mỹ. Đây là tập du ký, và theo Thanh Tâm Tuyền; “Đây không phải là tác phẩm chủ yếu, nhưng là cái viết tự do và bay bổng nhất của Doãn Quốc Sỹ. Cũng là cuốn sách nhỏ nhưng óng chuốt và đáng yêu hơn cả của ông giáo…’.</p>



<p>Với tác phẩm Khu Rừng Lau với bối cảnh và thời gian trong giai đoạn thăng trầm lịch sử của đất nước được ghi lại từ bản thân của tác giả, là chứng nhân của thời cuộc.</p>



<p>Đọc tác phẩm Khu Rừng Lau liên tưởng đến hai câu thơ của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều vào thế kỷ XVIII:</p>



<p><em>&nbsp;“Lò cừ nung nấu sự đời</em></p>



<p><em>Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương”</em></p>



<p>Theo nhà văn Võ Phiến:&nbsp;<em>“Doãn Quốc Sỹ soạn sách về ngữ pháp, về văn học Việt Nam hiện đại (bằng Anh văn”</em>&nbsp;(sđd tráng 66) nhưng rất tiếc tác phẩm Khu Rừng Lau không dịch ra tiếng Anh (chỉ có truyện ngắn Con Cá Mắc Cạn &#8211; The Stranded Fish &#8211; mới dịch).</p>



<p>*</p>



<p>Nếu cho rằng sách là người thầy trầm lặng và người bạn tốt &#8211; với tôi &#8211; ngay từ lúc trẻ đã ảnh hưởng đến bản thân. Những quyển sách Học Làm Người của nhà văn, dịch giả Nguyễn Hiến Lê và nhà giáo, nhà văn Doãn Quốc Sỹ qua vài tác phẩm.</p>



<p>Nhân đây, một chút riêng tư, với tác phẩm Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến.&nbsp; Năm 1963, trong sinh hoạt gia đình Phật Tử, tôi “quen thân” người bạn gái (học dưới hai lớp) nơi cố hương. Hè năm 1963, để tránh bắt bớ, nàng “thoát ly vào bưng”… Trước đó khoảng một tháng, thầy tôi (đảm nhiệm khuôn hội Phật Giáo Phước Ấm) qua đời vì đầu óc quá căng thẳng, uống quá liều lượng thuốc Tây, gây biến chứng, không chữa trị kịp… Trong số 6 người “thoát ly vào bưng”, có 5 người học cùng lớp. Nếu lúc đó, nhận được thư nàng, tôi không biết có quyết định liều lĩnh của tuổi trẻ bồng bột, nông cạn ra sao? Các bạn tôi giấu kỹ vì anh tôi trong ngành Cảnh Sát.</p>



<p>Cuối năm 1966 tôi theo học Khóa Nguyễn Trãi I tại Trường Đại Học CTCT Đà Lạt. Giai đoạn đầu quân trường gửi học 4 tháng quân sự tại trường Bộ Binh Thủ Đức. Đầu năm 1967, khi ở quân trường Thủ Đức, đi phép về Sài Gòn khi thấy quyển NĐBKVT tôi rất thích, mua ngay nhưng không đọc vì để nhớ hình ảnh người bạn gái “bên kia chiến tuyến”. Tiếp tục quân trường ở Đà Lạt gần 2 năm, trong chiến dịch Diên Hồng về quận Quế Sơn, Quảng Nam, tôi vẫn mang theo sách và hình dung người bạn gái vào bưng chốn nầy… Rất tiếc, sách bị chôm! Sau nầy lập gia đình với người Hà Nội, bạn bè hỏi thăm nơi chốn, tôi nói đùa “người đàn bà bên kia vĩ tuyến”…</p>



<p>Sau tháng 4/1975, nàng có gia đình, về Đà Nẵng, theo lời mẹ và anh, nàng ghé lại tìm tôi nhưng gia đình không hay biết vì tôi ở Đà Lạt, mất tích hay đi tù nên không rõ. Nàng cho biết trước khi đi, có viết lá thư gởi cô em gái nhờ chuyển cho tôi nhưng cô em sợ bị liên lụy nên đốt lá thư!&#8230; Nàng ra mộ thầy tôi thắp nhang cầu nguyện.</p>



<p>Năm 1987, sau khi ra tù, tôi về thăm quê, có gặp nàng… Trong số 6 người đã chết hai cậu cháu người bạn tập kết là Văn Đức Hội và Kim Chi. Tôi gặp Huỳnh Tú Mỹ kể lại chuyện xưa về hình bóng cũ, nỗi buồn vây quanh. Chị tôi biết chuyện, khuyên không nên liên lạc nhau vì mỗi người “số phận” đã an bày. Và, từ đó hình ảnh người xưa mãi mãi là “bên kia chiến tuyến”!. Tôi cũng may mắn được hưởng chút “đào hoa chiếu mệnh” nhưng “cái thuở ban đầu” trong trắng vẫn lững lờ như áng mây giữa trời xanh bao la.</p>



<p>Hầu hết các tác phẩm của nhà văn Doãn Quốc Sỹ tôi đã đọc qua vì văn phong và cách diễn đạt của ông cũng là vị thầy trong cuộc đời cầm bút. Nhà văn Nguyễn Mộng Giác viết: “<em>Suốt hai mươi năm trên nửa phần đất tự do của quê hương, ông đã say mê hai công việc đó. Học trò ông, độc giả của ông đã yêu mến kính phục ông qua hình ảnh một ông thầy yêu nghề, một nhà văn mực thước và nhân ái”.</em><em></em></p>



<p>Với những tác phẩm tiêu biểu của nhà văn Doãn Quốc Sỹ: Sợ Lửa&nbsp;(1956), U Hoài&nbsp;, Gánh Xiếc,&nbsp;Gìn Vàng Giữ Ngọc, Dòng Sông Định Mệnh,&nbsp;Hồ Thuỳ Dương,&nbsp;Trái Cây Đau Khổ,&nbsp;Người Việt Đáng Yêu,&nbsp;Cánh Tay Nối Dài,&nbsp; Đồi Biên Giới,&nbsp; Sầu Mây,&nbsp;Vào Thiền,&nbsp;trường thiên tiểu thuyết Khu Rừng Lau<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Do%C3%A3n_Qu%E1%BB%91c_S%E1%BB%B9#cite_note-7"></a>, Trên Dòng Đời, Người Vái Tứ Phương, Dấu Chân Cát Xóa, Mình Lại Soi Mình, Cúi Đầu, Trái Đắng Trường Sinh, Cò Đùm, Đi (Hồ Khanh)… đã đóng góp cho kho tàng văn chương Việt Nam.</p>



<p><em>Little Saigon, November 2022</em></p>



<p><strong>Vương Trùng Dương</strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Vương Trùng Dương: Chuyện Vãn: Sách Nấu Ăn Soán Chỗ Văn Học Pháp</title>
		<link>https://t-van.net/vuong-trung-duong-chuyen-van-sach-nau-an-soan-cho-van-hoc-phap/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Vương Trùng Dương]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 06 Oct 2025 06:58:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[chuyện vãn Vương Trùng Dương]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=84023</guid>

					<description><![CDATA[“Sách vở ích gì cho buổi ấy” (Nguyễn Khuyến) “Văn chương hạ giới rẻ như bèo” (Tản Đà) Trước đây, thủ đô Paris của Pháp được xem như cái nôi truyền bá các trào lưu triết học, văn học nghệ thuật, âm nhạc, hội họa… Trong bài viết về Tổng Quan Sách Dịch của tôi, [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/vtd-3.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="896" height="1024" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/vtd-3-896x1024.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-84024" style="width:498px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/10/vtd-3-263x300.jpg 263w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/vtd-3-896x1024.jpg?strip=all 896w, https://cdn.t-van.net/2025/10/vtd-3-768x878.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/vtd-3.jpg?strip=all 1080w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><em>“Sách vở ích gì cho buổi ấy”</em></p>



<p>(Nguyễn Khuyến)</p>



<p><em>“Văn chương hạ giới rẻ như bèo”</em></p>



<p>(Tản Đà)</p>



<p>Trước đây, thủ đô Paris của Pháp được xem như cái nôi truyền bá các trào lưu triết học, văn học nghệ thuật, âm nhạc, hội họa… Trong bài viết về Tổng Quan Sách Dịch của tôi, từ thập niên 1920’ đến hai thập niên ở miền nam Việt Nam, nhiều tác phẩm trong các lãnh vực trên đã được các dịch giả, giáo sư, nhà văn… dịch và ấn hành rộng rãi. Trong khi đó, sách dạy nấu ăn ấn hành cũng khá nhiều nhưng “chuyện đàn bà” chỉ dành cho những người nội trợ.</p>



<p>Quyển sách Le Cuisinier Francois do đầu bếp trứ danh người Pháp Francois Pierre de la Varenne&nbsp;in lần đầu tại Hà Lan năm 1655, cho đến nay trên thế giới chỉ còn lưu giữ được 3 ấn bản thuộc đợt phát hành đầu tiên, trong đó một cuốn thuộc sở hữu của bảo tàng Hermitage.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/vtd-1.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="768" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/vtd-1-1024x768.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-84026" style="width:664px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/10/vtd-1-300x225.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/vtd-1-1024x768.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2025/10/vtd-1-768x576.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/vtd-1.jpg?strip=all 1400w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p>Hai quyển sách dạy nấu ăn Annam ấn hành ở Sài Gòn cách nay một thế kỷ cho thấy các món ẩm thực quê hương đã được phổ biến.</p>



<p>Sau những thập niên lại có chuyện thay đổi ở trời Tây, sách dạy nấu ăn lại chiếm thượng phong. Trong bài viết của Tuấn Thảo trên RFI cho biết: “Mỗi lần đến dịp lễ lạc hay ăn mừng sinh nhật, gia đình ở Pháp thường hay tặng cho nhau thời trang mỹ phẩm, sách in truyện tranh, smartphone hay hàng công nghệ ….. Riêng trong ngành xuất bản, một trong những món quà tặng phổ biến vẫn là các tựa sách về nghệ thuật ẩm thực và đặc biệt hơn nữa là sách dạy nấu ăn. Tại Pháp, gương mặt thành công nhất trong lãnh vực này chính là đầu bếp kiêm nhà nhiếp ảnh Jean-François Mallet…</p>



<p>Quyển sách Simplissime gồm 100 công thức nấu ăn “cực kỳ đơn giản” do nhà xuất bản Hachette phát hành, lập kỷ lục số bán với hơn 3 triệu bản. Theo lời tác giả Jean-François Mallet: Nhiều độc giả không chỉ hưởng ứng sách do tôi viết, mà còn mua khá nhiều quyển sách của giới đầu bếp trứ danh. Ở đây, có thể phân biệt thành nhiều đối tượng bạn đọc khác nhau. Có người mua sách để học cách nấu ăn, có người mua sách chủ yếu để làm quà tặng. Cũng có người mua sách để làm kỷ niệm, để nhớ lại một quán ăn hay một đầu bếp nổi tiếng mà họ từng có dịp trải nghiệm. Ngoài ra, có một thành phần độc giả mà ít ai nghĩ tới, đó là những người muốn trở thành đầu bếp chuyên nghiệp, họ đang được đào tạo trong các trường dạy nấu ăn, để phục vụ trong ngành nhà hàng khách sạn. Những quyển sách của các bậc thầy trứ danh giống như những quyển cẩm nang giúp cho họ.”Cũng trên RFI trong tạp chí văn hóa, bài viết của Tuấn Thảo Pháp: Ngành xuất bản bội thu nhờ bán sách dạy nấu ăn,đăng ngày&nbsp;26/9/2025:</p>



<p>“Vào mùa thu năm nay, sẽ có khoảng 480&nbsp;cuốn tiểu thuyết được phát hành để chuẩn bị cho mùa giải văn học 2025 tại Pháp. Sách dạy nấu ăn (với khoảng 400 đầu sách mới) cũng sẽ chiếm một vị trí quan trọng trên các tủ trưng bày…</p>



<p>Marion, chuyên viên làm việc cho nhà xuất bản La Martinière từng chứng kiến nhiều sự thay đổi trong lãnh vực này:“Xu hướng mới trong sách dạy nấu ăn là những quyển sách này giống như những món quà trang trí mà khách hàng Pháp mua về để biếu tặng cho nhau. Sách có lối trình bày đẹp mắt, từ ảnh chụp cho đến cách in ấn, giống như các tạp chí mỹ thuật thời trang. Sách cũng dày hơn nhiều từ 300 đến 400 trang. Sách không chỉ bao gồm các công thức nấu ăn, mà còn thường được kết hợp với nhiều giai thoại lịch sử văn hóa, thông tin hướng dẫn du lịch. Sách dạy nấu ăn thời nay thường là những quyển sách đẹp. Trong số những đầu sách phổ biến nhất có tác phẩm của đầu bếp người Anh Yotam&nbsp;Ottolenghi hay của đầu bếp Pháp Jean-Francois Mallet, được xem như&nbsp;hai hiện tượng của ngành xuất bản.&nbsp;</p>



<p>Đối với các chủ hiệu sách, những tên tuổi này mang đến nhiều cơ hội thuận lợi, cho phép họ bán những cuốn sách đắt tiền hơn, với giá trung bình dao động từ 35 đến 60 euro. Nhờ vào ảnh chụp ngoạn mục, tranh minh họa đầy ấn tượng, sách dạy nấu ăn tạo thêm cơ hội cho bạn đọc muốn đi tham quan du lịch. Điều này lại càng đúng với nền ẩm thực thế giới: kể cả các đầu sách nói về các món ăn Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Việt Nam…</p>



<p>Theo cô Deborah Dupont-Daguet, chủ tiệm sách chuyên về “Librairie Gourmande”, nằm trên đường Montmartre, ở quận 2 Paris, sách dạy nấu ăn ngày càng phong phú đa dạng do nội dung liên tục được cập nhật, thay đổi hầu đáp ứng nhu cầu của bạn đọc, thường quan tâm đến các trào lưu thời thượng.“Tại Pháp các quyển sách dạy nấu ăn phát triển mạnh từ đầu những năm 1950 với các đầu bếp như Ginette Mathiot hay Françoise Bernard. Vào thời bấy giờ, sách của họ một phần là để đơn giản hóa công việc của các bà nội trợ, nhưng đồng thời họ dùng công thức nấu ăn, để có thể bán thêm nhiều nồi áp suất cũng như những thiết bị gia dụng khác… Từ khoảng một năm nay, lại bùng phát hiện tượng&nbsp;Airfryer, loại nồi chiên&nbsp;không dầu để chiên khoai tây, làm nem rán hay cánh gà nướng. Thị trường Pháp hiện nay ngập tràn những cuốn sách (Les recettes au Airfryer)&nbsp;với những công thức làm món ăn với nồi chiên không dầu. Mỗi quyển sách có thể được bán cả trăm ngàn bản”.</p>



<p>Với lời cuối: “Liệu cơn sốt xuất bản nhiều sách ẩm thực có từ từ hạ nhiệt hay chăng? Đa số các chủ hiệu sách đều nghĩ rằng, hiện giờ, thị trường sách dạy nấu ăn tại Pháp gần như đã bão hòa, nhưng biết đâu chừng có thể bùng phát trở lại khi ngành xuất bản tìm ra được những ý tưởng mới”.&nbsp;</p>



<p>Với người Việt hiện nay ở hải ngoại có lẽ ít quan tâm đến sách dạy nấu ăn vì YouTube đã phổ biến rất nhiều. Ngay bản thân tôi muốn nấu món nào, vào YouTube “search” món đó sẽ xuất hiện nhiều cách chế biến từ ướp và cách nấu. Cũng như quý ông, chẳng bao giờ đọc sách vì ít thực dụng hơn xem.</p>



<p>Người bạn cùng khóa với tôi là HBE, lúc đó độc thân vui tính, giảng viên Anh ngữ ở quân trường, bạn bè không biết nghề đầu bếp của anh. Năm 1975 khi định cư tại Hawaii, với tên Mark Phu, mở nhà hàng và có chương trình dạy nấu ăn trên đài truyền hình. Không ngờ Lê Bá Chư, chủ nhân trung tâm băng nhạc Giáng Ngọc, cũng là “chef cook”… Sau đó người Việt có nhiều “chef cook” nổi tiếng trên đất Mỹ mà lạ thay đều là đấng mày râu.</p>



<p>Ngày trước các vị thường giữ bí mật cách pha chế, tẩm, ướp… nếu có phổ biến cũng giữ bí quyết vì coi đó như “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” nên chỉ truyền nghề cho người thân mà thôi.</p>



<p>Các tác phẩm xa xưa về ẩm thực, tùy bút văn chương, như Miếng Ngon Hà Nội của nhà văn Thạch Lam (tập bút ký về ẩm thực phố phường Hà Nội xưa) và tùy bút Hà Nội Băm Sáu Phố Phường viết về phở, bún chả, quà vặt)… Món Ngon Hà Nội của nhà văn Vũ Bằng (tùy bút nổi tiếng viết về ẩm thực đất Bắc) và Thương Nhớ Mười Hai cũng có nhiều đoạn miêu tả món ăn, tập tục ăn uống. Bếp Lửa Hồng của nhà văn Nguyễn Tuân (tản văn về nghệ thuật nấu nướng, thưởng thức), đặc biết ông viết về phở… Miếng Lạ Miền Nam của Sơn Nam (khảo cứu văn hóa Nam Bộ, có nhiều đoạn về món ăn). Phong Vị Miền Nam của nhà văn &nbsp;Bình Nguyên Lộc với các món ăn đặc sản… Những nhà văn nầy không phải là đầu bếp nhưng đã đưa ẩm thực vào văn chương.</p>



<p>Với các món ăn Huế, cầu kỳ và kiểu cách đã được đề cập từ cung đình đến dân giả. Ngoài ra mỗi miền, mỗi nơi đều có đặc sản từng món ăn từ thời xa xưa cho đến nay.</p>



<p>Vài món ăn tiêu biểu như phở Bắc, bún bò Huế, mì Quảng, cao lầu Hội An, don Quảng Ngãi, bánh căn Nha Trang, bánh khọt miền Tây (tương tự như bánh căn), hủ tiếu Mỹ Tho… xưa nay rất quen thuộc. Mỗi món ăn còn tùy khẩu vị của người dân mỗi miền, chẳng hạn như món phở.</p>



<p>Nói đến ẩm thực Pháp đã từng nổi tiếng trên thế giới với Le petit déjeuner (bữa ăn sáng), Le déjeuner (bữa ăn trưa), Le dîner (bữa ăn tối)… dân sành điệu với đồ uống cho hai bữa ăn chính dùng trước [(khai vị) (crudités, charcuterie)]bữa ăn gọi là apéritif và sau bữa ăn gọi là digestif. </p>



<p>Với loài ốc sên, người Việt không thể nào ngờ Ốc Sên Escargot món ăn đưa ẩm thực Pháp có giá khá đắt đỏ. Để làm món Escargot, người đầu bếp phải làm sạch ruột ốc sên bằng cách rửa chúng trong các loại thảo dược đặc biệt, nấu chín ốc rồi nhét lại vào vỏ và nấu cùng bơ thảo mộc, hỗn hợp làm từ tỏi, hẹ, rau mùi tây và bơ, chế biến trong vài ngày, nấu ở thời gian thích hợp cùng nhiệt độ khoảng 160 độ C.Trước đây, người bạn tôi qua Pháp thuyết trình về văn hào Stendhal, được bạn chiêu đãi nhà hàng sang trọng ở Paris món nầy, anh nói khi còn ở trong trại tù, con gì nhúc nhích được cũng ăn, ngoại trừ ốc sên.</p>



<p>Thời Sinh Viên Sĩ Quan ở Trường ĐH.CTCT Đà Lạt, vị chỉ huy trưởng mời cô Alice Kiều Oanh thuyết trình về Giao Tế Nhân Sự, cô trình bày cách ăn uống lịch sự và cầu kỳ ở Pháp. Thưởng thức món ăn bằng các cách khác nhau, tùy thuộc vào loại thực phẩm và hoàn cảnh. Ví dụ, khi thưởng thức món ăn phải sử dụng dao và nĩa, người Pháp sẽ cầm dao bằng tay phải và nĩa bằng tay trái, với lòng bàn tay hướng lên. Để 2 tay trên bàn và giữa dao, dĩa bằng ngón trỏ. Cách để dao, dĩa thông báo chưa dùng bữa xong (nĩa và dao hình chữ T trên đĩa) và kết thúc (nĩa, dao nằm cạnh nhau), cần dọn dẹp. Khi muốn thanh toán, gọi nhân viên hoặc giơ tay lên cao…Nam nữ thường mang theo hộp quẹt, không gọi nhân viên phục vụ mà sử dụng hộp quẹt bật lửa. (Hành động vẫy tay để gọi nhân viên phục vụ bị coi là khiếm nhã).</p>



<p>Khi uống rượu, họ sẽ nhấp nháp từng chút một, thưởng thức từng hương vị và hương thơm khác nhau của loại rượu đó. Và mỗi loại rượu cũng tùy theo món ăn.Người Pháp rất sành điệu trong việc kết hợp món ăn với rượu các món ăn với rượu. Chẳng hạn như Bordeaux thường dùng kèm với thịt đỏ, tùy theo loại thịt mà dùng rượu với nồng độ khác nhau, thường dùng vang trắng cho phù hợp với từng loại hải sản. Champagne để khai vị, loại rượu ngọt như Porto để tráng miệng.</p>



<p>Kinh đô ánh sáng Paris nay không còn như xưa bởi nhiều sắc dân bất hợp pháp, hầu hết gọi là “rệp” đã làm thay đổi nếp sống văn minh đã từng tự hào dân Parisien cũng như Hà Nội ngày xưa với câu “Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”.Có lẽ ngày nay phong cách nhà hàng Pháp ngày trước cũng thay đổi phần nào.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/vtd-2.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="423" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/vtd-2-1024x423.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-84025" style="width:712px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/10/vtd-2-300x124.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/vtd-2-1024x423.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2025/10/vtd-2-768x318.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/vtd-2.jpg?strip=all 1400w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p>Trở lại với sách dạy nấu ăn hiện nay ở Pháp đã chiếm ngôi vị nhiều tác phẩm của các trào lưu triết học, văn học nghệ thuật, âm nhạc, hội họa…Đây là điều không thể nào ngờ“giá trị tinh thần” bị nhường ngôi cho “giá trị vật chất”! “Vào mùa thu năm nay, có khoảng 480&nbsp;cuốn tiểu thuyết được phát hành để chuẩn bị cho mùa giải văn học 2025 tại Pháp. Sách dạy nấu ăn (với khoảng 400 đầu sách mới) cũng sẽ chiếm một vị trí quan trọng trên các tủ trưng bày…”</p>



<p>Những tên tuổi đã đi vào lịch sử triết học Pháp điển hình như René Descartes, Blaise Pascal, Pierre Bayle, Montesquieu, Jean Jacques Rousseau, Voltaire,&nbsp;J.P Sartre… Những nhà văn nổi tiếng của Pháp với những tác phẩm được phổ biến trên thế giới như: Victor Hugo, Alexandre Dumas, Guy de Maupassant, Anatole France, Marcel Proust, Émile Zola, Albert Camus, Marguerite Duras, Charles Perrault, George Sand, Saint-Exupéry, Charles Baudelaire, Honoré de Balzac, Simone de Beauvoir…</p>



<p><strong>Những nhạc sĩ của pháp như như </strong>Claude Debussy (nhà soạn nhạc đầu tiên của trường phái Ấn Tượng), Maurice Ravel, Hector Berlioz, <strong>Georges Bizet… Ngay những nhà soạn nhạc của các nước ở trời Âu (Đức, Áo, Ý, Ba Lan…) cũng có cơ hội xuất hiện ở Pháp, tạo tiếng vang trên thế giới: </strong>Johann Sebastian Bach (Đức), <em>Wolfgang Amadeus Mozart (Áo), Ludwig van Beethoven (Đức), </em><strong>Richard Wagner (Đức), Franz Joseph Haydn (Áo), </strong><em>Johannes Brahms (Đức), </em><strong>Franz Schubert (Áo),</strong></p>



<p><strong>Robert Schumann (Đức), </strong><em>Frideric Handel (Đức),</em> Mendelssohn (Đức), Franz Liszt (Hungary), <em>Chopin (Ba Lan, mối tình với nhà văn Pháp </em>George Sand<em>), </em><strong>Hector Berlioz (Ý, </strong>chuyển đến Paris khi 18 tuổi), <em>Puccini (Ý)…</em>Ngay cả Paganini (Ý), ngoài tài năng sáng tác, ông còn là một trong những thiên tài chơi violon nổi tiếng nhất trong thời đại được mệnh danh “tiếng vĩ cầm ma quái”, “phù thủy của tiếng đàn vĩ cầm”, sống cho đến cuối đời chết trên đất Pháp.</p>



<p>Paris của nước Pháp của một thời tự hào, như đã đề cập, về giá trị tinh thần nhiều lãnh vực được lan tỏa khắp nơi… và “ngày ấy nay còn đâu”!</p>



<p>Trở lại với vấn đề ẩm thực, nước nào cũng có nhiều món ăn được phổ biến trong sách nhưng không chiếm ngôi vị “hàng đầu” như Pháp hiện nay. Chẳng hạn như nước Mỹ, nhà sách đầu tiên của Barnes &amp; Noble, thành phố New York vào năm 1932. Nay có nhiều kệ bán sách ẩm thực nhiều hơn các lãnh vực khác (hình vừa chụp ở tiệm sách trong khu Bella Terra, Huntington Beach) nhưng không có quyển nào như quyển sách Simplissime của đầu bếp Jean-François Mallet.</p>



<p>Theo ghi nhận của giới truyền thông, bộ sách Simplissime của Jean-François Mallet đã tiêu thụ khoảng 3 triệu quyển vì những công thức chế biến đơn giản với các nguyên liệu và gia vị mua ở chợ, siêu thị cho từng món ăn gia đình.</p>



<p>Ngày xưa, nhà xuất bản Hachette Livre của Pháp còn ấn hành loại sách, khi đọc phải dùng dao con rọc từng trang mới cảm nhận thú đọc sách. Nhà thơ Quách Tấn đã đề cập đến thú đọc sách loại nầy, có lẽ ngày nay trở thành “cổ lỗ sĩ”.</p>



<p>Theo con số thống kê cho biết danh sách 10 cuốn sách bán chạy nhất ở Pháp năm 2024, theo số liệu của GfK và các bảng xếp hạng uy tín. “Quels sont les livres les plus vendus en France en 2024?”.</p>



<p><em>La femme de ménage của Freida McFadden với 603.000 bản. </em><em></em></p>



<p><em>La Sage-femme d’Auschwitz&nbsp; của Anna Stuart với 499.639 bản </em><em></em></p>



<p><em>Un animal sauvage của Joël Dicker với 424.526 bản </em><em></em></p>



<p><em>Angélique của Guillaume Musso với 415.621 bản </em><em></em></p>



<p><em>Quelqu’un d’autre của Guillaume Musso của 391.371 bản </em><em></em></p>



<p><em>Houris&nbsp; của Kamel Daoud với 391.085 bản </em><em></em></p>



<p><em>Instinct của Inoxtag với 356.016 bản </em><em></em></p>



<p><em>Jacaranda của Gaël Faye với 344.187 bản </em><em></em></p>



<p><em>Les Femmes du bout du monde của Sophie Da Costa với 325.581 bản </em><em></em></p>



<p><em>Les Yeux de Mona của Thomas Schlesser với 317.535 bản </em><em></em></p>



<p>So với những tác phẩm ở Pháp vài cuốn sách kinh điển của các nhà văn Pháp trong quá khứ được xem là những tác phẩm bán chạy nhất trên thế giới.</p>



<p><em>Le Petit Prince (Hoàng </em><em>Tử Bé</em><em>) của Antoine de Saint-Exupéry gần 200 triệu bản, cuốn sách tiếng Pháp được dịch rất nhiều ngôn ngữ trong đó ở miền nam Việt Nam</em><em></em></p>



<p><em>Les Misérables của Victor Hugo&nbsp; được xem là cuốn sách bán chạy nhất tuy không bằng Le Petit Prince, cuốn sách tiếng Pháp được dịch rất nhiều ngôn ngữ trong đó ở miền nam Việt Nam</em><em></em></p>



<p>Với các tác giả Molière, Alexandre Dumas, Guy de Maupassant, Émile Zola, Albert Camus, Francois Sagan, Simone de Beauvoir… </p>



<p>Ở Việt Nam trong vài thập niên qua đã đề cao “văn hóa ẩm thực” mà thật kỳ quặc như quán bún chửi Hà Nội vẫn có nhiều thực khách không thấy bị xúc phạm “lao đầu vào ăn”!</p>



<p><em>Thôi thì </em><em>“Văn chương hạ giới rẻ như bèo” </em>như cụ Tản Đà ngày xưa ở nước ta, nay thể hiện trên đất Pháp.</p>



<p><strong>Vương Trùng Dương</strong></p>



<p><em>Little Saigon, October 2025</em></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Vương Trùng Dương: Từ Vol de Nuit đến Đời Phi Công</title>
		<link>https://t-van.net/vuong-trung-duong-tu-vol-de-nuit-den-doi-phi-cong/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Vương Trùng Dương]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 21 Aug 2025 09:30:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[Nguyễn Xuân Vinh]]></category>
		<category><![CDATA[Saint Exupéry]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=83073</guid>

					<description><![CDATA[Nhà văn Pháp Saint Exupéry (1900-1944) nổi tiếng với nhiều tác phẩm nổi tiếng vào những thập niên đầu của thế kỷ XX và nhiều tác phẩm của ông đã được các dịch giả ở Sài Gòn dịch sang tiếng Việt. Với cuộc đời binh nghiệp phi công của ông đã ấn hành các các [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/08/vtd-1.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="676" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/08/vtd-1-1024x676.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-83075" style="width:668px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/08/vtd-1-300x198.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/08/vtd-1-1024x676.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2025/08/vtd-1-768x507.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/08/vtd-1.jpg?strip=all 1400w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Nhà văn Pháp Saint Exupéry (1900-1944) nổi tiếng với nhiều tác phẩm nổi tiếng vào những thập niên đầu của thế kỷ XX và nhiều tác phẩm của ông đã được các dịch giả ở Sài Gòn dịch sang tiếng Việt. Với cuộc đời binh nghiệp phi công của ông đã ấn hành các các phẩm L&#8217;Aviateur (Người Phi Công, 1926), Courrier Sud (Chuyến Thư Miền Nam, 1929), Pilote de Guerre (Phi Công Thời Chiến, 1942), Le Petit Prince (Hoàng Tử Bé, 1943, Bùi Giáng và Trần Thiện Đạo dịch). Cuốn Vol de Nuit (Bay Đêm, 1931) dày 140 trang là một khúc tráng ca về màn đêm và những con người dũng cảm đi tiên phong trong ngành hàng không. Với tâm hồn nhà văn và kinh nghiệm của một phi công lão luyện đã giúp ông vẽ nên những khung cảnh hùng vĩ đầy sắc màu, đầy thơ mộng nhưng cũng ẩn giấu những nguy hiểm khôn lường dưới đôi cánh bay, kể về những năm tháng sống ở Nam Mỹ đã được giải thưởng Prix Femina của Văn Học Pháp. Tác phẩm nầy do Lê Huy Oanh dịch, Văn ấn hành năm 1966.</p>



<p>Năm 1934 Saint-Exupéry đã đến Việt Nam làm phóng viên của tờ báo Paris-Soir. Năm 1935 ông tham gia cuộc đua phi cơ Paris &#8211; Sài Gòn nhằm phá kỷ lục về tốc độ hàng không. Cuộc thi và trải nghiệm của chuyến bay này tạo cảm hứng sáng tác cho cuốn tiểu thuyết Petit Prince, được đánh giá là kiệt tác và đã được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới. Chiếc phi cơ Caudron Simoun của Saint-Exupéry cùng với hoa tiêu André Prévot, đã bị rơi phi cơ ở sa mạc Sahara ở Libya trên lộ trình tới Sài Gòn. Họ đã được những người Ả Rập giải cứu và câu chuyện này đã được nhà văn kể lại trong tác phẩm Terre des Hommes, 1939 (Cõi Người Ta – Bùi Giáng dịch). Tác phẩm này được đánh giá rất cao và đã giành giải thưởng của Viện Hàn lâm Pháp.</p>



<p>Vì vậy vài tác phẩm nhà văn không quân Saint-Exupéry đã ảnh hưởng phần nào với với những chàng trai thời Việt Nam Cộng Hòa…</p>



<p>Ngày 31 tháng 7 năm 1944, Saint-Exupéry lái chiếc phi cơ P-38 Lightning mang số hiệu F-5B-1-LO, cất cánh từ một căn cứ trên đảo Corse với nhiệm vụ thu thập thông tin về quân Đức ở thung lũng sông Rhone. Người ta không bao giờ còn nhìn thấy ông quay về. Một phụ nữ đã nhìn thấy một chiếc phi cơ rơi vào trưa ngày 1 tháng 8 ở gần Vịnh Carqueiranne, thi thể một quân nhân mặc quân phục Pháp cũng được tìm thấy vài ngày sau đó và được chôn cất ở Carqueiranne vào tháng 9.</p>



<p>Nước Pháp vinh danh phi công tài hoa dũng cảm, nhà văn nổi tiếng.</p>



<p>*</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/08/vtd-2.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="672" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/08/vtd-2-1024x672.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-83076" style="width:736px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/08/vtd-2-300x197.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/08/vtd-2-1024x672.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2025/08/vtd-2-768x504.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/08/vtd-2.jpg?strip=all 1362w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Trên đất Pháp nầy, chàng trai trẻ Sinh Viên Sĩ Quan Không Quân Việt Nam trong chính phủ Quốc Gia Việt Nam du học ra đời với tác phẩm Đời Phi Công của Toàn Phong.</p>



<p>Đại Tá Nguyễn Xuân Vinh, Tư Lệnh Không Quân đầu tiên của VNCH, Giáo Sư, Khoa Học Gia, Viện Sĩ Hàn Lâm Viện Không Gian Quốc Tế.</p>



<p>Về tiểu sử, danh tiếng, tấm lòng, văn nghiệp của GS Nguyễn Xuân Vinh (1930-2022) là niềm vinh dự và hãnh diện trong Quân Lực VNCH, với cộng đồng người Việt tị nạn hải ngoại đã được đề cập rất nhiều; vì vậy trong bài viết nầy chỉ ghi lại phần nào về tác phẩm Đời Phi Công.</p>



<p>Theo lời ông: “Sau ba năm ở Pháp và ở Maroc, 1952-1955, tôi được huấn luyện thành một sĩ quan phi công, có bằng lái phi cơ hai động cơ và thẻ trắng (carte blanche) để bay trời mù theo đúng tiêu chuẩn của Không Quân Pháp. Cũng trong thời gian ở Pháp, tôi hoàn tất chương trình cử nhân toán ở Đại học Marseille và cũng có thêm văn bằng cao học để chuẩn bị thi tiến sĩ toán học”.</p>



<p>Năm 1955, sau khi ở Pháp về Việt Nam, trải qua thời gian từ cấp Trung Úy. Quốc khánh 26 tháng 10 năm 1957, ông được thăng cấp Trung Tá và được bổ nhiệm chức vụ Tham Mưu Trưởng Không Quân. Tháng 2 năm 1958 ông được bổ nhiệm chức vụ Tư Lệnh Không Quân, thăng cấp Đại Tá.</p>



<p>Theo lời tác giả: “Cuốn sách đầu tay của tôi là cuốn Gương Danh Tướng, là một tập sách nhỏ chưa đến 100 trang, do Nha Chiến Tranh Tâm Lý thuộc Bộ Quốc Phòng in ra vào năm 1956. Tuy sách in ra tới mười ngàn cuốn nhưng dạo đó tôi đang làm phụ tá tùy viên quân lực tại Sứ Quán Việt Nam ở Hoa Thịnh Đốn, nên chỉ nhận được mươi cuốn và đem tặng ngay các thân hữu nên không còn giữ được một bản nào&#8230;</p>



<p>Gương Danh Tướng khi mới còn đang là một đại úy để nêu lên những đức tính cần phải có của những người lãnh đạo trong quân đội. Cũng nhằm mục đích nêu lên tình người và tình yêu tổ quốc và không gian của những người nặng nghiệp bay mà sau này tôi viết cuốn Đời Phi Công. Nhờ sự phổ biến sâu rộng của cuốn sách này mà giới thanh niên và sinh viên hiểu biết thêm về Không Quân Việt Nam và chúng tôi đã tuyển mộ được nhiều thanh niên ưu tú để gửi sang theo học những khóa huấn luyện bay những phi cơ tối tân của Không Quân và Hải Quân Hoa Kỳ .</p>



<p>Với tác phẩm thứ nhì Đời Phi Công “Tôi bắt đầu viết vào năm 1959 và đăng mỗi tuần một kỳ, vào ngày thứ Hai, trên báo Tự Do là một nhật báo có nhiều độc giả trên toàn quốc”.</p>



<p>Nhà văn, nhà báo, nhà phê bình văn học Phạm Việt Tuyền (1926-2009) giữ chức vụ Tổng Thư Ký của Hội Bút Việt thành lập ngày 21/10/1957 do nhà văn Nhất Linh làm Chủ Tịch sáng lập, sau đổi thành Trung Tâm Văn Bút Việt Nam. Tác phẩm Đời Phi Công của Toàn Phong do Tự Do ấn hành và nộp dự tranh Giải Văn Chương Toàn Quốc.</p>



<p>Trong bài viết Hai Mươi Năm Văn Học Miền Nam &amp; Các Giải Thưởng Văn Chương (1955-1975) của Nguyễn Mạnh Trinh, Giải Thưởng Văn Chương Toàn Quốc 1958-1959 do ông Trương Công Cừu khoa trưởng đại học Văn Khoa làm Chủ Tịch.</p>



<p>Bộ môn Tiểu Thuyết: Tác phẩm Đò Dọc của Bình Nguyên Lộc, Thần Tháp Rùa của Vũ Khắc Khoan, Đời Phi Công của Toàn Phong, Mưa Đêm&nbsp; Cuối Năm của Võ Phiến.</p>



<p>Đời Phi Công là truyện vừa, 54 trang, gồm 9 chương. Theo lời tác giả: “Một tuyển tập những bức thư của một phi công viết cho một thiếu nữ còn đang là sinh viên ở đại học để kể cho nàng nghe cuộc đời của những người hàng ngày bay trên gió mây trời”.&nbsp; Phượng cô em hàng xóm ông dạy kèm ở Hà Nội từ hồi nhỏ. Đầu lá thư ông chỉ viết “Phượng”, trong thư có thêm “Phượng em”!</p>



<p>Theo cốt truyện, ông xa Phượng vào đầu tháng 10 năm 1951, theo học tại Khóa I trường Sĩ quan Trừ Bị Nam Định, vào Nam, mất liên lạc với Phượng hai năm, đến năm 1953, khi ông sang Pháp học bay ở Salon de Provence, Paris.</p>



<p>Qua 9 chương, mỗi lá thư, không ghi ngày tháng, ông đã kể cho Phượng nghe từ Đường Đời Muôn Nẻo, Ánh Sáng Kinh Thành, Trăng Dãi Bắc Phi, Gió Hải Hồ, Có Một Đàn Chim, Tuyết Trắng, Hội Mùa Hoa, Hẹn Một Ngày Về, Tiếng Gọi Lên Đường.</p>



<p>Lá thư đầu tiên: “Phượng,</p>



<p>Viết thư này anh đã ở xa em muôn vạn trùng dương. Anh mỉm cười khi đặt bút vì nghĩ rằng em vẫn thường chê cái tính thích giang hồ vặt của anh. Lần này thì anh đi hẳn, đi thật xa cho đến khi nào công thành anh mới trở về…</p>



<p>Em cũng như tất cả những người thân tình, cũng như tất cả những người dân Việt chắc hẳn phải đồng ý rằng nước nhà cần có đủ mọi ngành quân lực. Đường đời muôn vạn nẻo anh đã chọn lấy một hướng, dù gian nan muôn trùng anh cũng sẽ mỉm cười dấn bước. Anh mong rằng em sẽ đọc hết bức thư này với một nguồn vui mới trong lòng”.</p>



<p>Lá thư thứ ba: “Phượng, Thế là chúng ta giận nhau rồi em nhỉ vì từ sáu bảy tháng nay anh không nhận được thư em để mà đọc những câu thơ chinh phụ dang dở như tình đời ngang ngửa…</p>



<p>Anh đã bắt đầu bay đêm nghĩa là đang trải qua chặng đường chót ở đây. May mắn thì một tháng nữa anh có thể rời khỏi xứ này, rời những cái oi ả để về gần quê hương hơn chút nữa. Anh sẽ thấy đỡ nhớ quê hương hơn, tuy rằng xa cách trọn nửa trái cầu thì gần hơn vài ba ngàn cây số cũng chỉ thế mà thôi&#8230;</p>



<p>Phượng ơi! Em có thấy không? Với một chân tình thì một chút hương vị mơ hồ cũng là đủ. Phương trời xa em chỉ cần mỉm miệng cười tha thứ ở đây anh cũng cảm thấy. Một ánh trăng rằm mơ màng, một vì sao rơi lạc lõng cũng thừa đủ gây vui buồn cho người bay bốn hướng huống chi là cả một nụ cười rực rỡ, một ánh mắt huy hoàng…”</p>



<p>Lá thư thứ tư: “Phượng,</p>



<p>Nhận được thư em đúng dịp đang thi mãn khoá nên đến nay anh mới viết được cho em. Nghĩ thật trẻ con, cái chuyện chúng ta giận nhau em nhỉ. Tự nhiên vắng thư em sáu bảy tháng trời, nếu anh không viết trước cho em chắc em còn giận anh lâu nữa. Làm anh bao giờ cũng phải chịu thua mà. Anh đã chả từng nói với em rằng có những con người sinh ra chỉ để chịu thiệt. Hạnh phúc của em được toàn vẹn là anh mãn nguyện rồi.</p>



<p>Em Phượng! Anh không hẹn cùng em nhưng một ngày kia cánh chim bao giờ cũng quay về tổ cũ. Câu chuyện kèm em học nó cũng chỉ dở dang như một ngày mưa gió các anh ngừng bay. Tại sao em không có gần đây để cùng các anh ngồi quanh một lò than hồng. Sẽ có một ngưòì đã từng qua nhiều bão táp kể lại một câu chuyện xa xưa…”</p>



<p>Lá thư thứ năm: Phượng,</p>



<p>Trái với những lần trước, lần nay anh viết thư cho em ở một nơi xa tất cả thị thành. Cuộc sống của những người phi công như các anh đã là cả một cuộc hợp tấu trái ngược đến nặng nề&#8230; Hằng ngày định mệnh quẳng các anh lên không trung, lao vào một cuộc sống bềnh bồng, cô độc, để đợi lúc đèn đô thị vừa lấp lánh, ánh sao hôm chỉ đường cho toán người phiêu bạt tìm về tổ…</p>



<p>Em Phượng! Đêm Noel đã qua rồi và giờ đây anh viết lại cho em những tâm tưởng đã qua tại một nơi xa tất cả thị thành. Trong này là một lò than ấm và ngoài kia là mưa tuyết, là núi rừng Ancelles…”</p>



<p>Lá thư thứ tám: Phượng,</p>



<p>Biết bao nhiêu lần đổi chỗ ở, biết bao nhiêu chuyến đi nhưng rời miền Provence sau một năm học anh không khỏi thấy lòng lưu luyến. Ở đây em đừng nghĩ rằng anh lưu luyến vì ham cảnh lạ đường xa nước người. Đã chả bao nhiêu lần anh nói với em rằng chỉ có non sông nước ta là đẹp với lòng anh. Nước sông Hồng cuồn cuộn, bờ Cửu Long xanh thăm thẳm phải đẹp hơn vạn giải trường giang anh đã gặp. Và chưa có nụ cười nào làm anh thấy bâng khuâng bằng nụ cười của cô em gái quê nhà…</p>



<p>Còn vài tháng nữa anh sẽ trở về nhà. Anh tin rằng anh sẽ là một trong những người lính chiến đấu đến cùng để giử lại một phần đất… Em cứ cười lên khi thấy anh bước lên phi cơ và mở máy. Từng cánh chim sẽ rời đất và mang theo đoàn người đi làm phận sự và cũng vì thế mà anh đã trải qua bao tháng ngày gian khổ để luyện tập ở đây&#8230;”</p>



<p>Và lá thư thứ chín: “Ngày hôm nay đây, khi mà gần một triệu dân đã di cư vào Nam, đáng lẽ anh phải ở nhà để gần Bác, gần em, gần bao nhiêu đồng bào khác thì anh vẫn còn phải lênh đênh nơi này. Giá anh tốt nghiệp sớm hơn chừng hai tháng, có lẽ anh đã có dịp chở những đồng bào cuối cùng rời Hải Phòng. Nhưng tiếc thay anh về hơi muộn và giờ chỉ còn biết vui mừng khi được tin thân quyến đã được yên hàn tới Sài Gòn…</p>



<p>Dòng thư cuối cùng: “Anh ngồi viết cho em một buổi chiều nắng vàng chưa tắt. Ba năm về trước anh đã hứa những gì với em, chắc em còn nhớ. Chỉ độ hai tuần nữa anh sẽ gặp lại em. Nét cười có phác hồn tang hải, mái tóc có phai màu sương gió nhưng anh vẫn còn là anh của em như độ nào. Anh rời em một ngày đông lạnh lẽo ở Hà Thành và sẽ gặp lại em vào cuối một mùa xuân ở đô thị Sài Gòn. Non nước kinh kỳ đà rời chỗ, còn em của anh có khác xưa không?”</p>



<p>Tác phẩm Đời Phi Công đã có ảnh hưởng rất mạnh vào lớp thanh niên lúc đó. Hình ảnh người phi công trở thành một biểu tượng của thời đại đầy nét hấp dẫn với tuổi trẻ. Những bức thư gửi cho người tình tên Phượng đã thành những ấp ủ trong mộng của cả một thế hệ thanh niên. Có nhà phê bình cho rằng “Cuốn sách đã tạo nhiều ảnh hưởng, được tái bản nhiều lần và hàng ngàn người trai trẻ nô nức gia nhập Không Lực để thực hiện lý tưởng và hoài bão của mình trong thời chiến tranh khốc liệt”.</p>



<p>Vài tác giả cho rằng Đời Phi Công của Toàn Phong tựa như Vol de Nuit của Saint-Exupéry, với tôi, không đúng như vậy. Với người đam mê đọc sách như ông và cùng xuất thân nơi đào tạo phi công, dĩ nhiên những tác phẩm của nhà văn Pháp có thể là nguồn cảm hứng sau 4 năm về nước phục vụ trong quân ngũ. Ông không viết hồi ký như Saint-Exupéry mà qua những lá thư chia sẻ cho người em gái nhỏ, người tình.</p>



<p>Những lá thư tình rất hay, chia sẻ buồn vui, giận hờn, an ủi khi xa nhau thuần túy trong tháng ngày binh nghiệp, không đề cập đến việc học hành ở đại học. Những lá thư nầy không viết từ Pháp mà khi trở về Việt Nam với kỷ niệm xưa.</p>



<p>GS Nguyễn Xuân Vinh cho biết, hồi còn học sinh đã đọc tác phẩm Les Grands Coeurs của văn hào Ý Edmond De Amicis. Bản tiếng Việt với Tâm Hồn Cao Thượng qua bản dịch của nhà giáo Hà Mai Anh, ấn hành năm 1944 rất hay coi như “sách gối đầu giường”. Với 60 trang hồi ký và lá thư từ Ngày Khai Trường đến Trang Cuối Cùng Của Mẹ Tôi.</p>



<p>GS Nguyễn Xuân Vinh với những công trình biên soạn trong lãnh vực khoa học, không gian… Tác phẩm Theo Ánh Tinh Cầu, truyện ký ấn hành năm 1991. Theo lời ông: “Tôi đã viết ra hai cuốn sách về khoa học không gian với những tựa đề là Hypersonic and Planetary Entry Flight Mechanics và Optimal Trajectories in Atmospheric Flight. Những Năm 1993 tôi có viết thêm cuốn sách với tựa đề Flight Mechanics of High-Performance Aircraft…”</p>



<p>Nếu đọc Vol de Nuit, có những dòng Saint-Exupéry mô tả trong những chuyến bay đêm tâm hồn phi công trên cánh chim sắt giữa bầu trời thì trong những lá thư của Toàn Phong với tâm hồn lãng mạn của nhà văn. Tác phẩm Đời Phi Công tuy mỏng nhưng ảnh hưởng lớn trong “chí làm trai” trong thời chinh chiến dấn thân với “Tổ Quốc Không Gian”.</p>



<p><strong>Vương Trùng Dương</strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>

<!--
Performance optimized by W3 Total Cache. Learn more: https://www.boldgrid.com/w3-total-cache/?utm_source=w3tc&utm_medium=footer_comment&utm_campaign=free_plugin

Page Caching using Disk: Enhanced 

Served from: t-van.net @ 2026-04-22 02:43:10 by W3 Total Cache
-->