<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Tác Giả Tác Phẩm &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<atom:link href="https://t-van.net/category/goc-van/tac-gia-tac-pham/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://t-van.net</link>
	<description>Văn Học và Đời Sống</description>
	<lastBuildDate>Sun, 19 Oct 2025 20:47:13 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.7.5</generator>

<image>
	<url>https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/02/t-van-favicon.png?strip=all&#038;resize=32%2C32</url>
	<title>Tác Giả Tác Phẩm &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<link>https://t-van.net</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Ngộ Không: Tác Giả Tác Phẩm – Dõan Quốc Sĩ</title>
		<link>https://t-van.net/ng%e1%bb%99-khng-tc-gi%e1%ba%a3-tc-ph%e1%ba%a9m-dan-qu%e1%bb%91c-si/</link>
					<comments>https://t-van.net/ng%e1%bb%99-khng-tc-gi%e1%ba%a3-tc-ph%e1%ba%a9m-dan-qu%e1%bb%91c-si/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 21 Oct 2025 06:41:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Tác Giả Tác Phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không]]></category>
		<category><![CDATA[tác giả tác phẩm]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=6527</guid>

					<description><![CDATA[Tiểu Sử Doãn Quốc Sỹ Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh vào giờ Mão (7:00 sáng), ngày mùng Hai Tết năm Quý Hợi tức là ngày 17 tháng hai năm 1923, tại làng Hạ Yên Quyết, tỉnh Hà Đông (nay thuộc vào ngoại thành Hà Nội). Thân Phụ ông là một nhà tân nho và [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2012/06/dqsi.jpg?strip=all&fit=202%2C250"><img fetchpriority="high" decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-12943" title="dqsi" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2012/06/dqsi.jpg?strip=all&fit=202%2C250" alt="" width="202" height="250" /></a></p>
<p><strong>Tiểu Sử Doãn Quốc Sỹ<br />
</strong><br />
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh vào giờ Mão (7:00 sáng), ngày mùng Hai Tết năm Quý Hợi tức là ngày 17 tháng hai năm 1923, tại làng Hạ Yên Quyết, tỉnh Hà Đông (nay thuộc vào ngoại thành Hà Nội). Thân Phụ ông là một nhà tân nho và thân mẫu thì chuyên về buôn bán.<br />
Ông thường tâm sự với bằng hữu rằng suốt cuộc đời ông đeo đẳng hai cái nghiệp: cầm phấn viết bảng và cầm bút viết văn. Cái nghiệp cầm phấn viết bảng của ông tuần tự từ các trường trung học công lập đến cao đẳng và đại học từ năm 1952 khi ông bắt đầu với trường Nguyễn Khuyến (Nam Định) 1952-1953, Chu Văn An (Hà Nội) 1953-1954, Trần Lục (Sài Gòn) sau đổi là trường Nguyễn Khuyến 1054-1960, năm 1960-1961 ông là Hiệu Trưởng trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, Hồ Ngọc Cẩn 1961-1962, Cao Đẳng Sư Phạm Sài-Gòn 1960-1975, Đại Học Văn Khoa Sài-Gòn 1962-1975, Đại Học Vạn Hạnh 1962-1975<br />
Trong khoảng thời gian từ 1962-1975, ông đã từng đi du học ở Hoa Kỳ. 1966-1967 tại FSU (Florida State University); 1967-1968 ông chuyển về Nashville (Tennessee) và theo học tại Peabody College (nay đã sát nhập vào Vanderbilt University). Tại đây ông tốt nghiệp Cao Học về Giáo Dục (Master in Educaton). Chỉ vài năm sau khi bắt đầu nghiệp cầm phấn, ông đã vương nghiệp cầm bút viết văn.</p>
<p><strong>Tác phẩm:</strong></p>
<p><strong></strong><br />
&#8211; Sợ Lửa (tập truyện cổ tích) 1956<br />
&#8211; U Hoài (tập truyện ngắn) 1957<br />
&#8211; Gánh Xiếc (tập truyện nngắn) 1958<br />
&#8211; Cúi Đầu (tân truyện và truyện ngắn) 1972<br />
&#8211; Cò Đùm (tập truyện ngắn và kịch) 1977<br />
&#8211; Đi (truyện dài) 1982 *<br />
&#8211; Dấu Chân Cát Xoá (tân truyện) 1995 **<br />
&#8211; Người Vái Tứ Phương (tân truyện) 1995<br />
&#8211; Mình Lại Soi Mình (truyện dài) 1995<br />
Ông lại còn ra công biên khảo cùng với biên khảo gia Việt Tử qua những tác phẩm như:<br />
&#8211; Khảo Luận Về Đoạn Trường Tân Thanh 1959<br />
&#8211; Khảo Luận Về Nguyễn Công Trứ 1959<br />
&#8211; Khảo Luận về Trần Tế Xương 1959</p>
<p>(Theo TVVN.ORG )</p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><strong>Chân dung Doãn Quốc Sĩ</strong></h3>
<h4><strong>Võ Phiến </strong><strong></strong></h4>
<p><em>Lời giới thiệu: </em><em></em></p>
<p><em>Trong lãnh vực nghiên cứu văn học ở hải ngoại từ sau năm 1975, bộ Văn Học Miền Nam gồm 7 tập của Võ Phiến, dù gây nên nhiều tranh cãi sôi nổi và dù mắc một số hạn chế nhất định, vẫn là một trong những thành tựu lớn nhất. Nó không những giúp người đọc nhận diện một khía cạnh khác trong tài năng của Võ Phiến mà còn cung cấp cho người đọc một khối tài liệu đồ sộ và đáng tin cậy về một nền văn học ngỡ đã bị quên lãng: văn học Miền Nam từ năm 1954 đến 1975. Với ý nghĩa như thế, bộ Văn Học Miền Nam của Võ Phiến, đặc biệt tập đầu, “Tổng quan”, đã được đón nhận nồng nhiệt. Cuốn sách đã được tái bản nhiều lần.</em><em></em></p>
<p>Văn học Miền Nam 54-75 không có phê bình, văn học Miền Nam đang bị tiêu hủy. Chưa hết. Chung quanh nó còn diễn ra lắm trò lố bịch: tôi muốn nói đến câu chuyện “văn học giải phóng Miền Nam”. Nhà nước cộng sản dựng lên một nền văn học, cho cán bộ nghí ngố om sòm về nền văn học ấy, cố gây ra cái cảm tưởng đây mới là nền văn học chân chính của Miền Nam, là tiếng nói tự do của nhân dân Miền Nam; còn bao nhiêu sách báo xuất hiện trên khắp lãnh thổ Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào trong vòng 20 năm qua không phải là văn hóa phẩm đâu, đó là những món sản xuất theo lệnh của CIA cả đấy. CIA sai khiến ngụy quyền, ngụy quyền sai khiến bồi bút viết cái nọ cái kia, cái thì gieo rắc chủ nghĩa hiện sinh, cái thì mô tả cảnh dâm ô đồi bại, cái thì xúi giục chống cộng v.v&#8230;, tất cả cùng nhằm một mục đích đầu độc quần chúng làm hại nhân dân cả.</p>
<p>“Văn học giải phóng” mới là văn học chân chính của Miền Nam, (Văn học giải phóng Miền Nam, nhà xuất bản Đại Học Và Trung Học Chuyên Nghiệp, Hà Nội, 1975.) ông Phạm Văn Sĩ viết một cuốn sách về nền văn học ấy,<a name="3R"></a><a href="http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&amp;artworkId=3056#3#3">[3]</a> trong sách ông cẩn thận dành ra một phần phụ lục để thóa mạ “văn nghệ vùng tạm chiếm”. Đáng tiếc là không có phần nào dành nói về việc tạo thành văn nghệ giải phóng. Bởi vì việc đánh tráo một nền văn học tất nhiên ngộ nghĩnh, mà sự chế tạo nên một nền văn học cũng ly kỳ, đáng nói lắm chứ, không sao?</p>
<p>Xem nào, văn học giải phóng là do những ai? Ông Phạm Văn Sĩ kể ra những tên như: Nguyễn Đức Thuận, Thanh Hải, Giang Nam, Lê Anh Xuân, Nguyễn Thi, Huỳnh Minh Siêng, Trần Bạch Đằng, Anh Đức, Trần Hiếu Minh, Nguyễn Trung Thành, Phan Tứ, Nguyễn Vũ v.v&#8230; Ông không chịu nói ra cái điều lý thú này: là tất cả những kẻ vừa kể trên đều được phái từ ngoài Bắc vào. Những kẻ mới lớn lên thì được đảng dạy dỗ cẩn thận, cũng có người được cho đi rèn luyện tận bên Tàu bên Nga, có người là con ông cháu cha, xuất thân từ gia đình đảng viên cao cấp, bố là yếu nhân trong chính phủ. Hạng cao niên hơn thì lại là những văn nghệ sĩ đã có tên tuổi ngoài Bắc, đổi tên đổi họ, hóa thân làm người mới: Lưu Hữu Phước hóa làm Huỳnh Minh Siêng, Nguyễn Văn Bỗng hóa thành Trần Hiếu Minh, Nguyên Ngọc hóa ra Nguyễn Trung Thành, Bùi Đức Ái thành ra Anh Đức, Trần Bạch Đằng làm Hưởng Triều, làm Hiểu Trường, Lê Khâm hóa thành Phan Tứ, Nguyễn Ngọc Tấn thành Nguyễn Thi v.v&#8230;</p>
<p>Bảo rằng những văn nghệ sĩ ấy gốc từ Miền Nam nên những gì họ viết ra có thể cho vào văn học Miền Nam? &#8211; Nếu thế thì tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Mạnh Côn, Vũ Hoàng Chương v.v&#8230; phải trả về văn học Miền Bắc cả?</p>
<p>Lại bảo rằng những người gốc Nam kia đã trở về sáng tác ngay tại Miền Nam cho nên rất có thể cho vào văn học Miền Nam? &#8211; Những cán bộ kia chợt ra chợt vào chưa hẳn đã viết ở trong Nam. Mà giả sử họ có ở lại hẳn trong Nam một thời gian<a name="4R"></a><a href="http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&amp;artworkId=3056#4#4">[4]</a> thì lại vẫn là chuyện kỳ cục. Hãy tưởng tượng trường hợp chúng ta đưa nhạc sĩ Phạm Duy ra thả dù ở một vùng biên giới Hoa Việt nào đó, đổi tên làm ông Trần Doai, thi sĩ Tú Kếu đổi làm Tú Cối, các nhà văn Trần Dạ Từ, Doãn Quốc Sỹ v.v&#8230; thành những ông Phạm Nhật Nghiêm, Hồ Hải Dương v.v&#8230;, rồi trốn nấp trong khoảng núi rừng Bắc Việt, cứ cất lên đều đều tiếng nói của nhân dân cách mạng, nhân dân giải phóng Miền Bắc, được chăng? Lại thử tưởng tượng ngày trước chúa Nguyễn bỗng có ý kiến đưa Đào Duy Từ ra Đàng Ngoài? Vâng, bình thường thì Đào Duy Từ cứ ở Đàng Trong; lấy vợ sinh con đều đặn, ăn lộc chúa Nguyễn, lãnh quan tước Đàng Trong, đến một lúc nào đó chúa Nguyễn thấy “nhân dân” Đàng Ngoài cần lên tiếng bèn hạ lệnh cho Đào Duy Từ mang tay nải lẻn lút trở ra Bắc, đào cái hầm thật sâu nấp thật kín, rồi ngồi dưới đó cất lên tiếng nói giải phóng của toàn thể nhân dân Đàng Ngoài. Người của Đàng Ngoài sáng tác ngay trên lãnh thổ Đàng Ngoài đấy mà. Được chăng?</p>
<p>Nghe chuyện như thế chúng ta ở Miền Nam bò lê bò càng ra mà cười, rồi xúm nhau đàn ngang cung, xúm nhau làm thơ chua thơ đen thơ xám v.v&#8230; Thế là hỏng.</p>
<p>Người cộng sản không cười. Họ trịnh trọng trình bày vấn đề. Xong, họ trịnh trọng đưa hai tay lên ngang ngực vỗ lép bép; tất cả cùng vỗ tay theo. Mọi người nhất trí, họ tiến hành kế hoạch. Chuyện kỳ cục đến đâu họ cũng làm được. Họ làm ra mặt trận giải phóng Miền Nam bằng người của họ, họ làm ra chính phủ giải phóng Miền Nam bằng người của họ, họ làm ra quân đội giải phóng Miền Nam bằng người của họ, tại sao họ không làm ra được một đội ngũ văn nghệ sĩ, một nền văn học giải phóng Miền Nam bằng người của họ mang vào, sau khi đã dạy dỗ kỹ càng và tiếp tục “lãnh đạo”, kiểm soát chặt chẽ. Vả lại trong một xã hội mà người quốc trưởng có thể lần lượt đội hết tên này đến tên kia, ký hết “bút hiệu” này đến “bút hiệu” nọ, viết sách tự ca tụng mình inh ỏi, tự tâng bốc mình lên tới mây xanh, cho in đi in lại phổ biến tưng bừng khắp nước, như thế mà vẫn đẹp mặt như thường,<a name="5R"></a><a href="http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&amp;artworkId=3056#5#5">[5]</a> thì văn nghệ sĩ thay đổi vùng để kể xấu đối phương có gì là kỳ cục đâu? Làm được tất.</p>
<p>Họ làm một cách trịnh trọng, không cười, và thế giới Tây phương trịnh trọng ghi nhận những gì họ nói họ làm. Do chính sách tiêu diệt tàn tích văn hóa Mỹ ngụy, một ngày kia dần dần không ai tìm thấy sách của Chu Tử, Doãn Quốc Sĩ, Nguyễn Mạnh Côn, Vũ Hoàng Chương để đọc nữa, không ai nghe nói đến Nhã Ca, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Đình Toàn&#8230; nữa, những tên tuổi ấy mỗi lúc một phai mờ, trở nên mơ hồ, rồi tác phẩm của Phạm Văn Sĩ tái bản sẽ lặng lẽ bỏ đi phần phụ lục. Lúc bấy giờ khi cần biên khảo về văn học Việt Nam thời kỳ 1954-75, với tài liệu sách báo do nhà nước Việt Nam phổ biến rộng rãi, cung ứng đầy đủ, các học giả Tây phương tha hồ hăng hái nghiên cứu về cái văn học giải phóng như là nền văn học chân chính, nền văn học duy nhất của Miền Nam Việt Nam, với những tác phẩm sáng chói kể chuyện anh hùng Nguyễn Văn Trỗi, chuyện “tục ăn thịt người” ở Miền Nam<a name="6R"></a><a href="http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&amp;artworkId=3056#6#6">[6]</a> v.v&#8230; với những văn nghệ sĩ cách mạng Nguyễn Trung Thành, Trần Hiếu Minh, Huỳnh Minh Siêng v.v&#8230; thường thường nhất trí quan điểm với những nghệ sĩ cách mạng Miền Bắc Nguyên Ngọc, Nguyễn Văn Bỗng, Lưu Hữu Phước. Và đối với Tây phương sẽ chỉ còn có nền văn học ấy ở Miền Nam. Chúng ta thấy hài hước? Thật hài hước chết người.</p>
<p>Vì những chuyện như thế, rốt cuộc đành miễn cưỡng viết cuốn sách này trong những điều kiện rất không nên viết. Viết như là một sơ thảo, một bản nháp, một gợi ý, nhắc nhở, một cách nêu vấn đề, để sau này những người có đầy đủ tư cách và điều kiện sẽ viết lại một cuốn xứng đáng.</p>
<p>***</p>
<p>Tôi ngờ rằng không hẳn thế. Không hẳn có chuyện thế hệ sau hờ hững với lịch sử. Chỉ có chuyện mỗi thế hệ chú ý đến một thời kỳ lịch sử khác nhau. Hồi tiền chiến hầu hết các tác giả viết về lịch sử (hoặc tiểu thuyết hoặc truyện ký) đều xúm nhau khai thác giai đoạn Lê mạt Nguyễn sơ. Phải chăng vì đó là một thời tương đối gần gũi, còn gây nhiều xúc động trong lòng người? hay vì đó là một thời mà sử học cung cấp được nhiều tài liệu hơn cả? Thế nhưng sau Cách mạng Mùa Thu 45 họ Lê hay họ Mạc hay họ Nguyễn đều vụt trở nên quá xa xôi. Thế hệ này tha thiết đến một cái lịch sử gần hơn, sôi động hơn, mà chứng liệu lại khỏi phải tìm tòi trong sách vở: cái lịch sử dân tộc từ cuối thời Pháp thuộc về sau.</p>
<p>Có phải vì vậy mà vào thời kỳ văn học 1954-75 có bao nhiêu là tác giả muốn viết những bộ trường thiên tiểu thuyết về giai đoạn lịch sử này? Trường thiên tiểu thuyết hóa thành một cám dỗ. Đại khái bấy giờ có chừng sáu bộ nổi tiếng, có bộ đã hoàn tất, có bộ còn lở dở, trong đó bốn bộ liên quan đến đề tài vừa nói: Giòng sông Thanh Thủy (3 cuốn) của Nhất Linh đề cập tới những hoạt động tiền khởi nghĩa bên Tàu, Khu rừng lau (5 cuốn) của Doãn Quốc Sỹ, Vẻ buồn tỉnh lỵ (6 cuốn) của Duyên Anh, và bộ ba Hoa bươm bướm, Như cánh chim bay, Tiếng ca lặng lẽ (chưa in) của Võ Hồng là từ Cách mạng Mùa Thu về sau. Ngoài ra, Bình Nguyên Lộc cũng có một bộ trường thiên tiểu thuyết bắt đầu từ 1942, tức bộ Phù sa, chưa hoàn tất, nói về chuyện mở đất của miền quê ông, cũng là một thứ lịch sử. (Bộ thứ sáu, Xóm Cầu Mới của Nhất Linh là tâm lý tiểu thuyết, không liên quan đến các sự kiện lịch sử.) Khi người ta đã quá tha thiết, quá xem là quan trọng một thời kỳ nào đó, thì chắc chắn không còn mấy hứng thú mằn mò chuyện cũ các thời khác. Sau 1945 kẻ lên voi người xuống chó, kẻ chợt thấy ánh sáng chói lòa người nhìn ra địa ngục tối om om, kẻ hồ hởi người lợm giọng, tất cả đều để hết tâm hồn vào hiện tại. Thế hệ sau 1945 bị hiện tại thu hút đến mê mẩn tinh thần, họ say mê hiện tại, bám dính lấy hiện tại, không thiết dựng lại dĩ vãng: chuyện tẩn mẩn ấy bấy giờ không phải là lúc nghĩ đến . Có lẽ thế chăng? Tuy vậy, tôi không hề bảo rằng những pho truyện vừa kể trên đây cũng là một thứ lịch sử tiểu thuyết về thời hiện đại. Cùng viết về một đề tài, mỗi tác giả nhằm một chủ đích khác nhau.</p>
<p>Nhất Linh chẳng hạn. Trong Giòng sông Thanh Thủy ông theo dõi từng nhân vật, nhẩn nha với một mối tình, phân tích tâm lý, tìm hiểu động cơ tham gia và thái độ hoạt động của mỗi đảng viên cách mạng, động cơ nhiều lúc chẳng ăn nhằm gì với lòng yêu nước. Cái chính yếu ở đây là tâm lý. Nhất Linh hậu chiến trước hết là một tiểu thuyết gia thuộc khuynh hướng tâm lý, bất luận ông viết về đề tài gì.</p>
<p>Còn Doãn Quốc Sỹ, ông làm chúng ta nghĩ đến một nhân vật của ông: Khiết. Khiết “kiên trì theo con đường văn hóa”, nhưng “đã trót đi vào con đường chính trị, biết những ngõ ngách của nó, âu cũng thành nghiệp chướng của mình, khó bỏ lắm.”<a href="http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&amp;artworkId=3281#8#8">[8]</a> Khu rừng lau phơi bày cái hiểm ác của chế độ này, lột trần nền độc tài nọ. Thái độ chính trị của tác giả luôn luôn hiển lộ trong tác phẩm. Tuy vậy, ông Doãn cũng như Khiết, trước sau “kiên trì theo con đường văn hóa”: Ông chê cái này chống cái nọ vì nó xấu nó ác. Mà ông thì nhất tâm phục vụ cái thiện cái mỹ. Thiện tâm thiện ý của tác giả tỏa ra khắp tác phẩm: trong các truyện của ông, nhân vật nào cũng tốt, việc gì cũng có khía cạnh hay. Ông bất lực không tạo nổi người xấu, kể nổi việc xấu. Đọc sách ông, thơm tho cả tâm hồn. Truyện ông Doãn vừa có luận đề chính trị vừa có chủ tâm giáo dục.</p>
<p><strong>(Võ Phiến )</strong></p>
<h3><strong>Doãn Quốc Sỹ, kẻ sĩ thời đại chúng ta </strong></h3>
<h4><strong>Nguyễn Mạnh Trinh</strong><strong></strong></h4>
<p>Với nhiều người bản xứ , hình như dư âm của cuộc chiến tranh Việt Nam vẫn còn nên văn chương và văn hóa Việt nam được đặc biệt chú ý. Tôi có một người bạn cùng lớp Creating &amp; Writing học viết văn người Mỹ gốc Ý rất thích thú với văn chương Việt nam. Một bữa anh khoe với tôi tuyển tập “ Việt Nam: A traveler’s literary companion “ do John Balaban và Nguyễn Quý Đức chủ biên và rất đặc biệt chú ý tới nhà văn Doãn Quốc Sỹ với truyện ngắn “ The Stranded Fish” ( Con cá mắc cạn). Anh còn khoe đã được dự một cuộc seminar với hai giáo sư Doãn Quốc Sỹ và Lê Hữu Mục tháng 6 năm 1999 tại University St Thomas ở Houston với đề tài “ Living Two Cultures : A conference for Vietnamese – Americans”. Và anh hỏi tôi một câu : Bạn nghĩ thế nào về nhà văn Doãn Quốc SỸ . Nhà văn ? Nhà giáo ? một người hoạt động chính trị? Hay một người yêu nước bị chế độ đương thời đầy ải khi ở trong nước? Và một nhà văn luôn hướng về tương lai ở hải ngoại …<br />
Có một người đã làm thơ để dường như trả lời giùm cho cá nhân tôi. Những câu thơ gợi ý và lấy từ những nhan đề của tác phẩm mà nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã viết trong suốt hơn một nửa thế kỷ cầm bút :<br />
” Dòng sông định mệnh”, thiên thu<br />
“ Sầu mây” còn đỉnh mịt mù dương gian<br />
nước non mấy nẻo quan san<br />
lốc quay thời thế gian nan một đời<br />
Đến .Đi . Đi .Đến. ngược xuôi<br />
Quê hương. Đất lạ . chỗ ngồi bụi không.<br />
“ Khu rừng lau” lửa mênh mông<br />
“ U hoài “ đâu tiếng bên sông gọi buồn.<br />
Đường ranh lịch sử mỏi mòn<br />
“ Ba sinh “ còn tấc “ lửa hương” chập chờn<br />
ngã tư bước rẽ không hồn<br />
lưu lạc nào để mất còn hoang mang<br />
“ Đàm htoại, độc thoại “ từng trang<br />
“ Tình yêu thánh hóa” trường gian mấy nguồn<br />
biển khơi nào rã rêu rong<br />
ai trăng lụn tưởng nến chong dặm ngoài<br />
“ Giữ ngọc “ thôi cũng “ gìn vàng”<br />
sót thiên lương với ngỡ ngàng tâm tư<br />
“ Vào thiền “ giây phút hoại hư<br />
kiết già ngục tối mắt htù chăm chăm<br />
trong tâm linh thoảng hương trầm<br />
trong lênh đênh có lời thầm đinh ninh<br />
Thì thôi,” Mình lại soi mình”<br />
“ Dấu chân cát xóa bóng hình nổi trôi<br />
“ người vái tứ phương”, một đời<br />
hoa thơm ngát để một trời mông mơ<br />
kinh vạn quyển thiếu một tờ<br />
chữ vô tự nẻo mịt mờ muôn năm<br />
Tâm ai vằng vặc trăng rằm<br />
Lời ca dao vẫn tiếng ngâm triệu đời”<br />
Bài thơ đầy những Dòng sông định mệnh, Sầu mây, U hoài , Vào thiền , Khu rừng lau , Ba sinh hương lửa , Tình yêu thánh hóa , Đàm thoại độc thoại, Gìn vàng giữ ngọc , Mình lại soi mình , Dấu chân cát xóa, Người vái tứ phương , Đi,… và cũng nêu được tính chất riêng của một kẻ sĩ phương đông. Luôn luôn chân thành và tin tưởng vào cuộc đời ở những khía cạnh nhân bản tốt . …<br />
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ra và trưởng thành trong một giai đoạn lịch sử đặc biệt. Như một câu ví von của ông :“ Ba sinh hương lửa “ thành nhan đề của một tập trong trường thiên Khu Rừng Lau. Các nhân vật đã sống trong thời đại Pháp thuộc , Nhật thuộc, rồi việt minh , rồi đảng phái Quốc gia , rồi ở lại kháng chiến , rồi trở về thành phố mà thời ấy gọi là về Tề, bao nhiêu là biến chuyển , bao nhiêu là cảnh bể dâu. Rồi hiệp định Genève chia đôi đất nước , rồi chiến tranh tiếp diễn. .. Hình như , sống trong thời đại ấy , định mệnh đã đẩy con người đi vào những lối ngõ khác nhau và cho đến bây giờ , hàng triệu người lưu lạc xứ người và cuộc chiến vừa qua tới bây giờ vẫn còn hậu quả. Cuộc đời đầy những chuyến ra đi , rời quê Bắc vào Nam , rồi lại phải ra đi lần nữa. Lịch sử toàn là những chia ly tan tác .<br />
Thế mà , ông viết văn trong cái tâm thái ung dung , dù đang trong cảnh tù giam bức bối. Vẫn thái độ tin vào mình , tin vào người , tin ở những điều tốt đẹp của cuộc sống. Độc giả khó tìm thấy những lời hằn học , những tâm trạng phẫn nộ . Viết văn, với ông là một phương cách của “ văn dĩ tải đạo “ Viết , như một cách để làm đời sống đẹp tươi thêm …<br />
Những lúc thấy những cảnh tráo trở tàn nhẫn của người đời với nhau, tôi lại giở những “ Gìn vàng Giữ Ngọc “ hay “ Chiếc chiếu hoa cạp điều “ ra đọc. Những lúc buồn nhớ về quê hương, tưởng tượng ra những Hà Nội, những Saigon, tôi đọc “ Dòng sông định mệnh” để thấy mình tìm lại cái rung động thuở nào khi đọc những câu thơ tả lại cảnh đạp xe theo một tà áo trắng những câu dễ thương“.. Em nghèo ta có giầu đâu. Tịch liêu đổ xuống đôi đầu ngẩn ngơ. Hoe đôi mắt em vơ tà áo. Áo trắng bong ảo não hồn trinh. Lòng ta gợn gió ngây tình .Theo em nào biết chúng mình về đâu..” Và khi nào thấy đời sống có một chút gì sương khói, tôi đọc “ Sầu mây”, “ Vào thiền “…<br />
Có người nói rằng văn chương mà mang thời thế làm đề tài thường tuổi thọ không dài bằng những đề tài xoáy sâu vào chân dung con người muôn thuở. Viết về thời thế khó có tác phẩm lớn. Nhưng tôi lại có ý nghĩ khác. Không có đề tài nào giới hạn cho những tác phẩm lớn. Nếu có tài năng, nhà văn sẽ viết những tác phẩm bất tử bất kỳ đề tài nào. Huống chi, một thời đại đặc biệt của dân tộc Việt nam nếu mô tả những cơn lốc thời cuộc sẽ có biết bao nhiêu chân dung con người điển hình cho những nhân vật tiểu thuyết tuyệt diệu….<br />
Hình như, trong tiểu thuyết của Doãn Quốc Sỹ, thời thế đã đóng vai trò quan yếu và văn chương là những dấu hằn chẳng thể nào phai trong ký ức của dân tộc chúng ta.<br />
Với “Khu rừng Lau”, những ngày kháng chiến chống Pháp được ghi chép lại với tất cả những nỗi niềm của người yêu nước nhưng bị lừa gạt bởi những ý thức hệ ngoại lai. Một tiểu thuyết trường thiên vẽ lại cả một thời kỳ hoành tráng của lịch sử mà trong đó con người bị cuốn vào những cơn lốc dữ dội.<br />
Với những truyện ngắn như “Chiếc chiếu hoa cạp điều” , hay “ Gìn Vàng Giữ Ngọc”, chân dung những con người tốt đẹp vằng vặc như trăng đã khiến nhà văn Võ Phiến viết lên một nhận xét :” đọc sách ông, thơm tho cả tâm hồn…”.Trong bất cứ hoàn cảnh nào , dù khốn cùng đến đâu, cái chất nhân bản vẫn rõ nét.<br />
Quả thật, văn chương của ông bình dị không lên mặt dậy đời mà lại có sức thuyết phục . Thường thường , văn chương cũng như âm nhạc phải theo luật cân phương, có nghĩa là phải thể hiện được đời sống ở nhiều mặt tốt xấu và tất cả phải quân bình cân đối. Nhà văn thời danh Milan Kundura đã ví von công việc viết tiểu thuyết như soạn hòa âm,nhạc đề cũng cần phải có những dạo khúc hoặc những chuyển khúc và cân bằng nó là cả một vấn đề kỹ thuật tinh tế.<br />
Thế mà, ở Doãn Quốc Sỹ, hầu như những nhân vật dều ăm ắp chất thiện ở trong . Ngay những nhân vật ở tuyến ác, cũng có nét khiến độc giả có thể bao dung được và không thể ghét bỏ hoàn toàn. Văn của ông, chuyên chở một phần nào cuộc sống và ở đó , đời sống của người Việt Nam đã được phóng chiếu qua những cảnh ngộ đặc thù của một thời đại đặc biệt.<br />
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ là một khuôn mặt văn chương hàng đầu của hai mươi năm văn học miền Nam. Ông sinh năm 1923 tại ngoại ô Hà Nội lớn lên trong thời kỳ kháng chiến, dạy học ở HàNội và Nam Định, rồ di cư vào Nam năm 1954. Nghề chính của ông là dậy học và đã sang Hoa Kỳ tu nghiệp giáo chức trong hai năm. Trên bình diện văn chương, ông là một cây bút chủ lực trong nhóm chủ trương tạp chí Sáng Tạo và cũng là giám đốc nhà xuất bản cùng tên đã giới thiệu được nhiều tác phẩm có giá trị và nhiều cây bút tài hoa có khả năng.<br />
Tác phẩm của ông gồm bộ trường thiên “Khu Rừng Lau” có bốn cuốn :Ba sinh hương lửa, Người đàn bà bên kia vĩ tuyến, Tình yêu thánh hóa, Đàm thoại ,Độc thoại ; truyện dài Dòng sông định mệnh, Sầu mây, Đốt biên giới; truyện ngắn Gìn vàng giữ ngọc, Cánh tay nối dài, U hoài, Gánh xiếc; tùy bút Vào thiền; khảo luận Người Việt đáng yêu;…<br />
Sau năm 1975 , ông bị chính quyền Cộng Sản bắt giam hai lần và sau những cuộc can thiệp của công luận thế giới ông được trả tự do và định cư ở Hoa kỳ với người con trai lớn ở Houston, Texas.<br />
Trường thiên “ Khu Rừng Lau” vẽ lại cả một thời kỳ nhiễu nhương của lịch sử Việt Nam. Đời sống của một lớp thanh niên tiểu tư sản được dựng lại trong cái phong cảnh hoành tráng của một đất nước không may trở thành nơi chốn đọ sức của những ý thức hệ quốc tế. Những nhân vật như Miên, Kha , Tân, Hiển , Hãng , Lăng, Khiết… từ lúc trưởng thành, tham gia kháng chiến chống Pháp ,rồi trải qua những ngày cải cách ruộng đất, trở về thành rồi di cư vào Nam , tất cả những quặn mình của cả một thế hệ được nhà văn tạo thành tiêu biểu.</p>
<p>Tuổi tác họ chênh lệch nhau nhưng cùng có chung một mẫu số yêu đất nước như yêu tự do và cùng mong ước cho một ngày đất nước hùng cường .Hình như , họ có chung nỗi hoang mang của những người trí thức luôn đi kiếm tìm cho mình một con đường nhưng lại thấy bơ vơ khi chọn lựa. Ở với kháng chiến , thấy lòng yêu nước bị lợi dụng bởi những con người Bolcheviks tàn bạo vô nhân, về thành thì thấy giặc Pháp nghênh ngang, chính phủ quốc gia chỉ là cái bóng. Di cư vào Nam, thì chế độ độc tài và gây ra nhiều kỳ thị bất công.<br />
Dòng đời trôi, qua bao năm tháng, chiến tranh lại tiếp chiến tranh, hết độc tài Cộng sản đến độc tài gia đình trị, thế nước nghiêng ngửa như những cuộc đời ngả nghiêng theo. Bộ trường thiên này có lẽ là một phác họa lịch sử hoành tráng và tiêu biểu nhất của văn học Việt Nam…<br />
Nhưng đọc truyện ngắn của ông như “Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều “ hay “ Gìn Vàng Giữ Ngọc” mới thấy được cái Tâm vằng vặc của ông. Hoàn cảnh dù thế nào , con người dù ở trong cảnh ngộ nào, cái tình đối xử với nhau mới là quan trọng. Cái nghèo, cái khổ, cái đói không làm hạ giá trị được con người bằng sự tha hóa tâm hồn. Tình đời thường thay đổi cách ứng xử tùy theo giàu nghèo nhưng cũng có những trường hợp cá biệt như nhân vật xưng tôi trong “Gìn vàng giữ ngọc” hay “ Chiếc chiếu hoa cạp điều “ trời làm loạn lạc ,gây nhiều thảm cảnh nhưng con người với cái tâm hiền vẫn vòi vọi đứng không quỵ ngã. Văn phong đôn hậu, chữ nghĩa thật thà đã có tác dụng ảnh hưởng đến người đọc. Bao nhiêu năm trôi qua, tôi mỗi khi đọc lại những chuyện ngắn này thấy đời sống dù sao cũng còn nhiều người tốt và không phải chỉ toàn là lang sói và lừa lọc như những bi hài kịch thường diễn ra mỗi ngày của thực tế đời thường…<br />
Những năm 1984.1985, nhà xuất bản Lá Bối ở hải ngoại có in một tác phẩm “Đi” với tác gỉa Hồ Khanh . Cuốn sách đã tạo ra dư luận xôn xao một thời lúc đó . Được in ở hải ngoại và chính ông là tác giả mang tên Hồ Khanh để ngụy trang . Câu chuyện kể lại một chuyến vượt biên ở vào thời điểm mà cây cột đèn đường ở Sài Gòn cũng muốn xuống ghe tìm tự do như lời người dân ví von. Có những đại gia đình mấy chục người vùi thân nơi Biển Đông sóng dữ và cũng không biết bao nhiêu người bị bắt giam tù tội cũng như biết bao nhiêu gia đình bị tan nát sống lang thang vỉa hè vì vượt biên không thoát. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã mang chính cuộc đời những con cháu mình để tạo thành một tác phẩm vẽ lại một thời kỳ cực kỳ đen tối của đất nước. Người dân bị đẩy vào những cảnh ngộ không lối thoát và đã mang chính sinh mạng của mình và gia đình mình đánh bạc với rủi may. Chính vì chất bi thảm nên động tới lương tâm nhân loại và rốt cuộc mới có những đợt thuyền nhân và bộ nhân tới định cư ở các nước tự do.<br />
Riêng với tôi, tôi biết những chi tiết trong “Đi “ thực tới một trăm phần trăm và hình như rất ít hư cấu. Tôi vượt biên cùng chuyến tàu với gia đình con cháu của nhà văn Doãn Quốc Sỹ nên khi đọc lại những trang sách thấy mồn một rõ những nhân vật với cả những cá tính và cả hoàn cảnh nữa. Khi thường đi lại với người bạn cùng Không Quân là con rể của bác Doãn Quốc Sỹ ở căn nhà ở con hẻm đường Thành Thái tôi đã thấy được đời sống tuy thanh bạch mà rất nghệ sĩ. Sau khi bác Sỹ mới được thả về lần thứ nhất và công an để ý, nhưng ở nha các con vẫn tụ họp ca hát những ca khúc ngày xưa mỗi khi có bạn bè mặc kệ công an mặc kệ dò xét. Tôi nhớ có lần buổi tối ghé thăm thì thấy trước cửa con nít trong xóm bu đông lại xúm xít để nghe ca nhạc. Dù đời sống lúc đó khá thiếu thốn nhưng vẫn đầy tinh thần lạc quan. Trong hoàn cảnh căng thẳng như lúc ấy , không phải là dễ để có những phong cách như vậy.<br />
“ Đi “ đã mô tả rất thực hoàn cảnh gia đình nhà văn cũng như cuộc sửa soạn chuyến vượt biển và những ngày trên biển Đông nên có sự lôi cuốn từ người thực việc thực. Những lá thư của con cháu gửi về tả lại đời sống ở trại đảo cũng như ở xứ người biểu lộ tâm tư khá tiêu biểu của những người bị dồn vào thế phải bắt buộc xa quê hương. Ra đi mà vẫn ngoái nhìn về đất nước với những người thân còn ở lại. Riêng tôi , tôi có cảm nhận rằng tác phẩm được viết ra với một tấm lòng thương con thươbg cháu vô bờ. Người thường nếu có tâm tưởng như thế cũng có thể viết xuất sắc huống chi một nhà văn nổi tiếng là đôn hậu thì sự lôi cuốn độc giả sẽ lên đến mức nào!<br />
Nhà văn Nguyên Vũ chủ trương nhà xuất bản Văn Hóa hình như đang tiến hành việc in laị toàn bộ Doãn Quốc Sỹ Toàn Tập. Công việc này quả thực rất hay và cần thiết nữa. Một nhà văn tư cách đức độ có những tác phẩm tiêu biểu nói lên tâm tư của một thế hệ có phải xứng đáng để chúng ta trân trọng thành những di sản cho những thế hệ sau này…</p>
<p><strong>(Nguyễn Mạnh Trinh)</strong></p>
<h3>Doãn Quốc Sỹ một tâm hồn thanh thản, đôn hậu, cao thượng.</h3>
<p>&nbsp;</p>
<h4><strong>Nguyễn Văn Quảng Ngãi </strong></h4>
<p><strong><br />
</strong>Một thoáng hương xưa: Ôi, dòng sông, cánh đồng năm ngàn năm của chúng ta, mênh mông thanh thản dưới mắt nhân loại kẻ nào mà làm hoen ố nổi<br />
Thuở xưa, ngót bốn mươi năm rồi, trong Tiền Kiếp của Gìn Vàng Giữ Ngọc, Doãn Quốc Sỹ đã mạnh dạn, tự hào viết như vậy.<br />
Gìn Vàng Giữ Ngọc. Sao mà cái tên cuả tác phẩm đẹp đến vô cùng! Không ít người đã quên khuấy đi mất cái nguồn gốc từ truyện Kiều: Gìn vàng giữ ngọc cho haỵ Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời mà Kim Trọng đã ân cần dặn dò Thúy Kiều trước khi giã biệt về nhà hộ tang chú. Nhất định cụ Nguyễn Du chẳng những đã không trách họ Doãn mà còn vui mừng khi thấy hậu thế đã biết khéo léo dùng lại ngôn ngữ của mình để khuyên nhủ thế nhân.<br />
Còn nữa, Doãn Quốc Sỹ còn nhiều tác phẩm mà tên gọi vừa đẹp, vừa ý nghĩa như: Dòng Sông Định Mệnh, Ba Sinh Hương Lửa, Trái Cây Đau Khổ&#8230;<br />
Cùng với Lỡ Bước Sang Ngang của Nguyễn Bính, Ngàn Năm Một Thuở của Hồ Hữu Tường, Vang Bóng Một Thời của Nguyễn Tuân&#8230; đó là những tác phẩm có tên gọi hay nhất, đã trở thành những điển tích mà nhiều người hay mượn tiêu đề để trích dẫn nhiều hơn là nội dung của tác phẩm&#8230;<br />
Nhưng khi nói đến Doãn Quốc Sỹ là nhiều người nói đến Dòng Sông Định Mệnh, tác phẩm đã gây xúc động trong lòng rất nhiều người từ năm 1959.<br />
Tôi đã yêu Dòng Sông Định Mệnh từ đó, thuở mà tâm hồn còn xanh tươi, bầu nhiệt huyết còn đầy ắp. Mãi đến ngày nay, đôi khi nhắm mắt ôn lại một thoáng hương xưa thân yêu đó, tôi vẫn còn tìm lại được nguyên vẹn cái cảm giác đầy rung động, thích thú khi đọc Dòng Sông Định Mệnh: Ôi nắng vàng sao mà nhớ nhung Có ai đàn lẻ để tơ chùng Có ai tiễn biệt nơi xa ấy Xui bước chân đây cũng ngại ngùng.<br />
Dòng sông gợi cho chúng ta nhiều cảm giác, lắm suy tư: khi nỉ non tâm sự, lúc ôm ấp hiền hoà, khi giông tố ba đào, lúc trầm tư mặc tưởng. Dòng sông còn gợi cho chúng ta biết bao là kỷ niệm mà bụi thời gian đã phủ mờ theo năm tháng:<br />
Con nước ấy đã bao lần sóng vỗ Chút tàn phai đọng lại dưới chân cầu (Hà Nguyên Thạch)<br />
Ta ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng Nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu (Hoài Khanh)<br />
Nhưng có ai chận đứng được thời gian nên phương Đông đã tra vấn nước sông: Chảy mãi như thế này ư chẳng kể ngày đêm?<br />
Và có ai tìm lại được những ngày xưa thân ái nên phương Tây đã than thở: Người ta không thể tắm hai lần trên một dòng sông.<br />
&#8230;Với Doãn Quốc Sỹ thì khác!<br />
Dù thời gian có hững hờ trôi như nước chảy qua cầu, dù cuộc đời có gây nhiều đau thương, tang tóc cho nhân thế, dù cuộc thế có đầy rẫy lọc lừa phản trắc, dù cầu Hiền Lương qua sông Bến Hải thuở đó như là một vết thương còn rướm máu mà Định Mệnh vừa mới tàn nhẫn chia cắt đất nước thân yêu&#8230; Doãn Quốc Sỹ vẫn một lòng tự hào tin tưởng: &#8220;Cánh đồng và dòng sông năm ngàn năm của chúng ta kẻ nào mà làm hoen ố nỗỉ&#8221;.<br />
XUÔI DÒNG THỜI GIAN: Là độc giả thường xuyên của Bách Khoa, tờ báo có tuổi thọ cao nhất và thành công nhất ở miền Nam trước 1975, ngoài những bài vở giá trị về nhiều phương diện, có một dạo tôi rất thích thú với những bài phỏng vấn tài tình Sống Và Viết Với&#8230; của Nguyễn Ngu Í. Bài viết về Doãn Quốc Sỹ là bài xuất sắc nhất &#8211; theo tôi &#8211; trong loạt những bài phỏng vấn này và sau được Nguyễn Ngu Í cho in thành sách với tên gọi như trên (Ngày Xanh xuất bản 1966). Ngoài những chi tiết liên quan đến Sống Và Viết&#8230; của Doãn Quốc Sỹ, điều mà cho mãi tới ngày nay vẫn còn ghi đậm trong tôi là bức hình chớp toàn gia đình của ông. Bà Doãn Quốc Sỹ với nét dịu hiền thanh tú của một mệnh phụ Việt Nam (bà là con nhà thơ Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu) cùng ông và rất đông con (đông thật!) mà cô nào cậu nấy đều tươi cười, xinh xắn. Đặc biệt là những đôi mắt: tất cả đều tròn xoe, trong sáng!&#8230;</p>
<p>Đọc sách của ông, cảm được tấm lòng đôn hậu và nhân ái của ông, hiểu được tình yêu dân tộc Việt Nam tha thiết của ông, thấy được niềm tin bao la và sâu sắc của ông về chân-thiê.n-mỹ cho nhân thế, biết được cuộc sống của ông: dạy học (Trung và Đại Học), viết văn, chủ trương nhà xuất bản Sáng Tạo, xem hình cả gia đình ông&#8230; đã cho tôi đi đến kết luận: Đó là mẫu người lý tưởng cho một xã hội Việt Nam lý tưởng!</p>
<p>Trên đây là tất cả những điều tôi biết về Doãn Quốc Sỹ trước năm 1975.<br />
Trong 9 năm tù ngục có thời gian dài tôi ở nhà giam Kim Sơn và Nước Nhóc (K18) thuộc tỉnh Nghĩa Bình (Quảng Ngãi và Bình Định sát nhập) và cùng làm chung một bộ phận lao động với một nhà nho ẩn danh. Anh làm thơ rất hay, có kiến thức về Hán văn rất rộng và đặc biệt là biết rất nhiều về những nhà văn, nhà thơ ở miền Nam. Theo anh thì nhân loại đã và đang bị lún sâu vào cuộc chiến tranh lạnh tranh chấp giữa hai khối (dạo đó).<br />
Nếu những tác phẩm của ông Doãn được dịch ra Anh hoặc Pháp văn để loài người đọc và suy gẫm về cái tâm của ông cho tình yêu (gia đình, bằng hữu, quê hương, nhân loại), về tấm lòng cương quyết và tin tưởng hướng đến chân-thiê.n-mỹ của ông&#8230; thì những điều đó sẽ có ảnh hưởng sâu đậm và Doãn Quốc Sỹ xứng đáng nhận giải thưởng No bel về văn chương. Chúng tôi cũng bàn đến những tác phẩm và văn tài của Võ Phiến, nhà văn Bình Định chòm xóm gần gũi từ thuở Mùa Lúa Mới mà chúng tôi rất quý kính để có cùng chung một kết luận: Doãn Quốc Sỹ và Võ Phiến là hai nhà văn tiêu biểu ở miền Nam về văn tài, về lập trường Quốc Gia &#8211; Dân Tộc và về tư cách và đạo đức.</p>
<p>Sau vài chuyến vượt biển thất bại, bị bắt, vượt ngục, cuối cùng tôi đến được trại tị nạn Galang ở Nam Dương năm 1985. Một hôm tôi đang ngồi tại văn phòng Trung Tâm Thiếu Nhi Không Có Thân Nhân (Unaccom-panied Minors Center) thì anh bạn Chủ Tịch Ban Đại Diện Cộng Đồng đưa một thanh niên đến thăm và giới thiệu:<br />
&#8211; Đây là trưởng nam của nhà văn Doãn Quốc Sỹ đang dạy level C (trình độ cao nhất của ESL).<br />
&#8211; Có phải em đang cho đăng truyện của bố trên tờ Tự Do không? (Tự Do là tờ báo Việt Ngữ của trại).<br />
&#8211; Sao anh biết?<br />
&#8211; Trước <a href="http://dactrung.net/baiviet/noidung.aspx?BaiID=AbTC0UIrCexXc8LuWncy7w%3d%3d##">kia</a> ai đã đọc nhiều sách của bố thì, dù bố có ký dưới bút hiệu nào đi nữa, khi đọc truyện người ta sẽ nhận ngay ra văn phong của bố&#8230; Tôi cố nhớ lại tấm hình chớp toàn gia đình của Doãn Quốc Sỹ trên Bách Khoa thuở trước để đối chiếu với anh bạn thanh niên trắng trẻo, đẹp trai, ăn nói nhỏ nhẹ, lễ phép nàỵ<br />
Vài tháng sau đó, một buổi sáng, anh ăn mặc chỉnh tề, vai đeo chiếc xách nhỏ vội vàng ghé lại thăm tôi trước khi lên đường sang Úc định cự Việc này đã thực sự làm tôi cảm động vì ai đã từng ở trại tị nạn đều biết là ngày cuối cùng vô cùng bận rộn và vội vàng: nào phải lo hoàn tất những thủ tục cần thiết bắt buộc của Cao Ủy tị nạn, của cơ quan IOM, nào phải lo soát xét lại hành trang cá nhân, nào kẻ còn ở lại nhờ nhắn tin, gởi thư, nào bằng hữu đưa tiễn&#8230; nên nhín một chút thì giờ tạt lại thăm nhau quả thật là đặc biệt quý giá!<br />
Mãi đến năm 1996 tôi mới có duyên gặp tác giả Dòng Sông Định Mệnh khi cả hai chúng tôi được Cộng Đồng Việt Nam tại Wichita &#8211; Kansas mời nói chuyện trong dịp lễ kỷ niệm 30 tháng 4. Anh bạn Lê Hồng Long, Chủ nhiệm kiêm Chủ bút tạp chí Thế Giới Ngày Nay đã dành cho chúng tôi sự tiếp đãi ân cần, chu đáo khó kiếm. Chúng tôi mỗi người ở một phòng riêng với đầy đủ tiện nghi tại nhà anh. (Hoàn toàn trong tình văn nghệ chứ anh không có trách nhiệm gì trong cộng đồng hay trong ban tổ chức ngày lễ). Sau những phút xã giao ngắn ngủi chúng tôi dễ dàng trở nên tương đắc khi tâm sư..</p>
<p>Vâng, tôi đang đối diện với tác giả Dòng Sông Định Mê.nh. Dù đã qua tuổi cổ lai hy, với nhiều năm dài trong tù ngục nhưng anh vẫn còn mạnh khoẻ từ thể xác đến tinh thần. Dáng cao, gầy, nước da ngăm đen, khuôn mặt chữ điền. Đôi mắt sáng, vừa hiền hòa vừa cương quyết. Nụ cười cởi mở, bao dung. Nói chuyện với anh tôi có cảm tưởng như mình đang hầu chuyện với một bậc thiền sư vì anh lắng nghe từng chi tiết nhỏ, anh tâm tình chậm rãi, khoan dung trong tinh thần hồn nhiên, phá chấp&#8230;<br />
Đề tài anh nói chuyện với Cộng Đồng là: Đời Sống Văn Nghệ Sĩ Trong Lao Tù Cộng Sản. Anh nói nhỏ nhẹ như đang chia xẻ với bằng hữu thâm giaọ Anh kể một vài mẫu chuyện thoạt nghe tưởng như chẳng có gì đáng nói nhưng gẫm lại thì rất chí lý. Bởi vì anh nói bằng cả con tim của anh. Do đó phải nghe anh bằng cả tâm hồn mình mới tâm đắc được hết tâm sự anh muốn giải bàỵ Nhà văn Võ Đình đã rất chí lý khi viết về Doãn Quốc Sỹ trong ngục tù: &#8230;Ngày nay, dẫu có đắng cay khổ nhục mấy đi nữa, ông vẫn còn nhìn với đôi mắt thương hại những công tố viên đang xỉa xói ông, những cán bộ chấp pháp đang truy vấn ông, những cai tù đang kềm giữ ông. Và như vậy ông mới có &#8220;Tự Do&#8221;, cái tự do ông trả với tất cả đau đớn ê chề cả thể xác lẫn tinh thần. Trái tim ông vẫn không suy suyễn. Bạo lực có thể uy hiếp ông. Nhưng bạo lực không cách gì đập nát trái tim ông và đặt vào đó lò lửa căm thù. Ông chỉ căm thù bạo lực, ông không thể căm thù con người, dù đó là con người dùng bạo lực để hành hạ ông&#8230;<br />
Vâng, chìa khóa của kiếp nhân sinh là cái &#8220;Tâm&#8221;. Các vấn nạn trên thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng chỉ có thể giải quyết bằng cái &#8220;Tâm&#8221;&#8230;<br />
Ba ngày tại Wichita &#8211; với lòng hiếu khách đặc biệt của anh Lê Hồng Long và gia đình &#8211; chúng tôi đã tạo được sự cảm thông quý giá và tôi thật sự vinh hạnh được anh xem như bạn hiền. Từ đó, mỗi lần biên thư cho tôi anh thường nhắc đến nhà báo họ Lê và mong có ngày gặp lại nhau ở thành phố Wichita nhỏ bé xa xôi nhưng thắm tình đồng hương của tiểu bang Kansas.</p>
<p>Tháng 4 năm 1999 anh Doãn Quốc Sỹ và tôi lại có dịp gặp nhau tại thành phố Dallas, Texas khi chúng tôi cùng được mời sung vào ban Giám Khảo cuộc thi truyện ngắn năm 1998 do hai tờ tuần báo Viet nam Weekly News và Người Việt Dallas tổ chức. Một chi tiết nhỏ chứng tỏ tấm lòng luôn luôn vì văn hóa dân tộc của anh. Thoạt đầu quý anh Trần Lộc, Chủ nhiệm kiêm Chủ bút tuần báo Vietnam Weekly News và anh Thái Hóa Lộc, Chủ nhiệm kiêm Chủ bút tuần báo Người Việt Dallas mời hai người điạ phương là anh Đàm Trung Pháp, Giáo sư ngôn ngữ học tại Đại học ở Dallas và tôi sung vào ban Giám khảọ Tự biết mình chỉ viết lách một cách tài tử, nhưng, để khích lệ việc làm ý nghĩa này và tạo dễ dàng cho ban tổ chức, chúng tôi đã vui vẻ nhận lờị Khi thấy số người gởi bài tham dự cuộc thi khá đông (gần 100 người từ nhiều tiểu bang tại Hoa Kỳ và từ một vài nước khác), để tăng giá trị cho cuộc thi và vinh dự cho những người trúng giải, vào giờ chót, hai anh đã nhờ tôi mời anh Doãn Quốc Sỹ vào ban Giám khảo.</p>
<p>Dù biết mời khá muộn là chuyện không phải nhưng tôi vẫn viết thư trình bày chi tiết gởi đến anh kèm theo bản sao của 31 truyện dự thi đã được ban tổ chức chọn vào chung khảọ Anh đã chấm từng truyện cẩn thận, cho điểm, ghi chú và gởi trả lại ban tổ chức trước cả anh Đàm Trung Pháp và tôị Và anh đã về Dallas tham dự lễ phát giải thưởng. Anh Đàm Trung Pháp, dù rất bận rộn với Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương của Cộng Đồng, vẫn đưa chị Pháp đến thăm thầy (Giáo sư Pháp vốn là học sinh cũ của anh Doãn Quốc Sỹ). Hành động ấy, mấy lời thăm hỏi nhẹ nhàng, ngắn ngủi ấy đã nói lên cái &#8220;tình thầy trò&#8221; đậm đà cao quý cuả nền văn hóa Việt Nam đầy nhân nghĩa, thủy chung khó tìm được ở xứ này! Dạo đó tôi vừa nhận cuốn hồi ký Việt Nam, Một Thế Kỷ Qua do tác giả, Bác sĩ Nguyễn Tường Bách, gởi tă.ng. Trong sách có đoạn nói đến nhà thơ Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu&#8230; chất phát, hiền hậu, khiêm tốn, ít nói về mình và đặc biệt là luôn luôn đi xe đạp một cách chậm chạp, từ tốn như đi dạo mát&#8230;<br />
Anh Doãn Quốc Sỹ rất cảm động khi đọc đoạn này cùng một số nhận xét đặc biệt nữa về nhạc phụ mình và chép ngay tại chỗ tặng tôi bài thơ cuả cụ Hồ Trọng Hiếu &#8220;Tú Mỡ đi xe bình bịch&#8221;:<br />
Tú rững mỡ cưỡi xe bình bịch Máy nỗ vang sình sịch chạy như bay Bóp còi toe như quát tháo giương vây Khách đường cái vội rãn ngay tăm tắp Tú nhớ thuở còn đi xe đạp Một thứ xe chậm chạp hiền lành Trên đường dù chuông bấm liên thanh Khách đủng đỉnh làm thinh không chịu tránh &#8230;Ồ ngán nhỉ ở trên cõi tục.<br />
Con người ta bất độc bất anh hùng &#8211; Phần phát biểu trong buổi lễ phát giải anh nói về đề tài như một nhắn gởi tha thiết, nhẹ nhàng đến tất cả mọi người hãy cố gắng duy trì tiếng Việt ở miền đất mớị Anh đọc lại bài thơ Ông Đồ Già nổi tiếng của Vũ Đình Liên (thầy cũ của anh ở Hà Nội thuở xa xưa) và một nỗi buồn thấm thía gợn lên trong lòng mọi người về một viễn ảnh suy thoái, tàn lụi của tiếng Việt trong cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại:</p>
<p>&#8230; Nhưng mỗi năm mỗi vắng Người thuê viết nay đâủ Giấy đỏ buồn không thắm Mực đọng trong nhiên sầu<br />
Ông Đồ vẫn ngồi đấy Qua đường không ai hay Lá vàng rơ i trên giấy Ngoài trời mưa bụi bay<br />
Anh cũng đọc thơ của hai người bạn thân trong nhóm &#8220;Sáng Tạo&#8221;. Một đã ra đi là nhà văn Mai Thảo: Thế giới có triệu điều không hiểu Càng hiểu không ra lúc cuối đời Chẳng sao khi đã nằm trong đất Đọc ở sao Trời sẽ hiểu thôi</p>
<p>Bốn câu thơ này Mai Thảo làm như là một linh tính báo trước ngày ra đi của mình và đã được khắc trên bia mộ của Mai Thảo ở Nam Calị Một còn sống là nhà văn Nguyễn Sỹ Tế: Đỉnh Trời gió quét mây tan tát Trăng lưởi liềm ngơ ngác lạnh căm Trăng sao giọt lệ u trầm Trăng sao quá đổi âm thầm hỡi trăng?<br />
Bốn câu thơ này anh dịch từ một bài thơ trong tập thơ bằng tiếng Pháp của Nguyễn Sỹ Tế kể lại thời gian hai người cùng ở trại giam Gia Trung. (Hai anh Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút Trần Lộc và Thái Hóa Lộc cùng nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp rất đáng được tuyên dương vì đã tổ chức rất chu đáo và thành công cuộc thi truyện ngắn 1998!)<br />
PHỤ TRANG: Hòa trong nỗi đau khổ chung của cả dân tộc sau biến cố kinh hoàng 30-4-1975, anh Doãn Quốc Sỹ đã phải vào tù hai lần trước sau hơn 12 năm. Khổ đau từ thể xác đến tinh thần của các tù nhân do bạo quyền gây nên chữ nghĩa trần gian đâu đủ viết cho hết, tả cho tròn! Nhưng khổ đau không thay đổi được anh vì anh đã viết, từ 1965, trong Người Việt đáng yêu: &#8220;&#8230; Không có sự trưởng thành đáng kính nào bằng sự trưởng thành trong đau khổ&#8230; khổ đau là một sự thiêng liêng ở trên thế gian này&#8230; Dân tộc Việt Nam phải là một sự thiêng liêng đối với nhân loại&#8230;&#8221;<br />
Thuở xưa anh đã ân cần khuyên nhủ mọi người: &#8220;Hãy quay trở về với chính mình, vun xới tâm hồn mình là chuốc lọc danh dự cho dân tộc, là gieo hươ ng hạnh phúc cho nhân loại&#8221;. (Tiền kiếp)</p>
<p>Và anh tha thiết ước ao: &#8220;Niềm ao ước vĩnh cửu của tâm hồn nhân loại, và cũng là sự thực vĩnh cửu cuả vũ trụ là: bao giờ cuối cùng &#8220;thiện cũng thắng ác&#8221;.<br />
Khổ đau, bạo lực chẳng những không làm anh căm thù mà &#8211; như một sự thiêng liêng &#8211; đã làm tâm hồn anh dịu lạị Trong truyện ngắn Người vái tứ phương, một mặt anh diễn tả thật đầy đủ xã hội miền Nam sau bảy năm bị đọa đày bằng những từ ngữ nhẹ nhàng nhưng sâu sắc, mặt khác anh vẫn tiếp tục ân cần khuyên nhủ mọi người: &#8220;Cuộc sống đầy rẫy những khác biệt và đụng chạm. Hãy cảm thông và bao dung những vui buồn phải trái cuả nhau&#8230; Cuộc đời tự nó đã quá nhiều phức tạp, sầu khổ, còn gây thêm sầu khổ cho nhau mà làm gì!&#8221;.<br />
Noi gương người xưa đem đại nghĩa để thắng hung tàn. Lấy chí nhân mà thay cường bạo nên Giáo sư Hoàn, dù tốt nghiệp tiến sĩ sinh vật học tại Hoa Kỳ đã không được tiếp tục dạy lại tại Đại học Khoa học, vẫn đầy lòng từ tâm thánh thiện đã bình thản, không có một lời nói hay cử chỉ thất thố nào khi đối diện với viên trung tá công an hạ trác đòi mình đến trình diện: &#8220;Tôi rất mực điềm đạm thùy mị trả lời&#8230; Tôi trả lời như thể tự ngàn xưa vốn dĩ tôi như thế và cho tới ngàn sau tôi không thể khác hơn&#8230;&#8221;</p>
<p>Và giáo sư Hoàn đã chinh phục, cảm hóa được viên trung tá nàỵ Một ghi nhận nhỏ là thuở xưa có rất ít người xấu, việc xấu trong các tác phẩm của anh nên nhà văn Võ Phiến đã viết: &#8220;Hầu hết các nhân vật tiểu thuyết cuả Doãn Quốc Sỹ đều tốt &#8230; Hoạ hoằn lắm mới có một nhân vật xấu&#8230;&#8221; (Văn Học Miền Nam &#8211; Truyện I) và đã dí dỏm một cách khéo léo: &#8220;Đọc sách ông thơm tho cả tâm hồn&#8221;. (Văn Học Miền Nam Tổng Quan). Nhưng trong Người vái tứ phương, anh đã viết: Trong cõi tương đối này chúng ta há chẳng thấy thường khi cái đúng và cái sai chỉ là đường tơ kẻ tóc, hoặc giả chính vì cái sai này mà cái đúng kia hiển hiện. Thực ra trên dòng biến dịch không ngừng nghỉ của vạn hữu, cái sai cũng mầu nhiệm như cái đúng&#8230;<br />
Kiếp nhân sinh là như vậy đó: Cái tốt nương tựa cái xấu, nỗi buồn gắn bó với niềm vui, khổ đau quyện theo hạnh phúc.</p>
<p>Rồi anh tiếp tục ân cần khuyên nhủ mọi người:<br />
&#8220;&#8230;Thế giới này là nơi cộng đồng trách nhiệm. Khi cái đẹp, cái thiện đã được khơi nguồn, thắp sáng, người ta dễ bề mở rộng cái tôi cá biệt đi vào cái ta hoà đồng&#8230;<br />
&#8230;Bất kỳ hành động thiện, hành động đẹp nào của bất kỳ ai đều có khả năng mầu nhiệm bảo vệ giá trị sản nghiệp tinh thần của cả nhân loại&#8230;<br />
&#8230; Khi nhân tính vươn vai thức giấc, mọi chủ nghĩa, đảng phái không thành vấn đề&#8230;.&#8221;<br />
Cuối thu năm ngoái, ở tuổi 75, trong một lá thư gởi cho tôi anh đã viết: &#8220;&#8230;Nhà tôi ở hiện giờ còn giữ nguyên màu xanh ngút ngàn của thiên nhiên: đó là những rừng oak và thông đẹp tuyệt vờị Sáng sáng tôi cùng bà xã đi bộ độ nửa giờ, sau đó tôi đạp thêm 1 giờ bằng chiếc xe đạp được một anh học trò cũ tă.ng. Vì vậy sức khoẻ giữ đều không ốm đau vặt như thường thấy khi tới tuổi cổ lai hi của tôi&#8230;&#8221;.</p>
<p>Trong tất cả những tác phẩm cuả anh &#8211; từ tập trường thiên qui mô và quan trọng nhất là Khóm Rừng Lau đến những truyện cổ, truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài hoặc khảo luận, tuỳ bút &#8211; tình thươ ng bàng bạc khắp cùng: Anh đã gánh trọn cái trách nhiệm luân lý nặng nề. Ngày nay, ở tuổi hoàng hôn của cuộc đời, ước mong từ miền Houston sầm uất đó, anh hưởng được đầy đủ cái hương nhân loại lâng lâng tỏa ra từ bốn phương tám hướng mà anh đã ước mơ vào một chiều bên hồ Lạc Thiện vùng Ban Mê Thuộc thuở xa xưa trong Gìn Vàng Giữ Ngọc.<br />
Đã có rất nhiều người viết về Doãn Quốc Sỹ. Từ những vị có đầy đủ uy tín và tuổi tác trong văn giới đến những độc giả đã từng mến mộ anh và văn chương anh đã ảnh hưởng nhiều đến đời sống tinh thần của ho.. Những bài viết, nhận xét thật đầy đủ, thật chi tiết. Do đó xin được gọi những dòng tâm tình này là &#8220;Một Phụ Trang&#8221; để bày tỏ lòng quý kính của tôi đối với một nhà văn hàng đầu tôi được biết qua nhiều tác phẩm và, do một duyên lành, được quen thân qua những dịp tâm tình tương đắc. Đã gọi là phụ trang &#8211; mà là một phụ trang tâm tình &#8211; thì không thể viết dài (Mà nếu muốn viết nữa thì cũng vẫn không thể nói hết những điều mình muốn viết).</p>
<p>Để chấm dứt bài viết tôi xin chép lại đây cảm tưởng cuả nhà văn Đổ Thiên Như về lần đầu tiên cô được gặp gỡ tác giả mà cô đã ngưỡng mộ và xem như là thần tượng từ vài thập niên qua và còn giữ mãi cho tới ngày nay tại thành phố Seatt le tháng 6 năm 1995:</p>
<p>&#8220;&#8230; Doãn Quốc Sỹ ngồi đó, và ông đúng như hình ảnh tôi tưởng tượng buổi thiếu thờị Dáng người dong dỏng, gầy, khuôn mặt nhân hậu và trí thức. Hình như bao năm cơ cực tù đày cũng không xóa mất nụ cười khoan hòa và nhân ái, cái nhân ái bàng bạc trong văn chương ông. Những dòng văn chương diễn tả được cái đẹp vô cùng nhân bản và tình người&#8230; Ông hỏi tôi có học với ông không? Tôi thưa là tôi học ở Huế, không được học với thầy nhưng văn chương của thầy đã dạy con biết mơ mộng và tư duy từ thuở hoa niên cho mãi đến bây giờ&#8230; Chỉ trong mấy giây với Doãn Quốc Sỹ tôi tưởng như được trở về với ngày xưa có sắc hương thầm kín lụa là&#8230;<br />
Tôi sống thật đầy, thật đẹp với vầng trăng của Doãn Quốc Sỹ. Đã qua rồi những mùa trăng trầm thống nhưng hồn tôi vẫn giữ mãi vầng trăng mười sáu nguyên vẹn của ông&#8230; Hình như thời gian đang ngừng lại, tôi đang đi trên lối xưa đầy diễm ảo và tôi đã được gặp một nhà văn biểu tượng cho tình yêu, sĩ khí và bất khuất của nhiều thế hê.. Hạnh phúc thay!&#8221;.</p>
<p>(<strong>Nguyễn Văn Quảng Ngãi</strong><strong>)</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><strong>Thầm lặng</strong></h3>
<h4><strong>Kim Khánh</strong></h4>
<p><strong></strong>(con gái của nhà văn Doãn Quốc Sỹ kể lại…)</p>
<p>Một đời thầm lặng mẹ theo bố.<br />
Tháng 9 năm 1954 mẹ theo bố vào Nam. Trước đó bố hoạt động ngang dọc, sáng<br />
ngời lý tưởng rồi ê chề thất vọng. Quyết định vào Nam là của bố, mẹ chỉ bế<br />
hai con và dắt cô em chồng 17 tuổi theo. Trong Nam, bố tưng bừng thi thố<br />
tài năng, tay phấn tay bút. Mẹ thầm lặng ở nhà nuôi dạy con và chăm chút<br />
em. Dân số con từ hai tăng thành tám. Tám con tám tính, có lúc hư lúc<br />
ngoan; mẹ theo từng bước, khen chê mắng mỏ. Cô em chồng tốt nghiệp đại học,<br />
chuẩn bị lên xe hoa, mẹ lo toan chuyện cưới hỏi. Bố vất vả bên ngoài, về<br />
nhà chỉ cần đảo mắt nhìn là thấy mọi sự tươm tất. Ra đường, các con được<br />
gọi là “con bố”, em là “em anh”, không ai biết có một nhân vật thầm lặng đã<br />
làm nên những con người ấy.<br />
Vào những năm thăng tiến trong cả hai nghề dạy và viết, bố hay mời khách về<br />
nhà đãi đằng. Mẹ tiếp khách lịch thiệp, rồi rút về hậu trường trổ tài nấu<br />
nướng. Trước khi ra về các bác bao giờ cũng chào “bà chủ” trong tiếng cười<br />
hỉ hả “Cám ơn chị cho một bữa ngon quá.” Thỉnh thoảng có những vị khách nữ,<br />
khen thức ăn và khen cả ông chủ. Tôi còn nhớ có người còn nói rất chân tình<br />
với mẹ: “Chồng em mà được một phần của anh thì em chết cũng hả.” Hình như<br />
mẹ đón nhận lời nói ấy như một sự khen tặng cho chính mình.<br />
Rồi chính sự miền Nam nóng bỏng; ngòi bút bố cũng nóng theo. Các bạn bố đến<br />
chơi chỉ bàn chuyện cộng sản và quốc gia. Mẹ không mấy quan tâm đến “chuyện<br />
các ông”, nhưng khi bố đi Mỹ du học, mẹ ở nhà điều hành việc bán sách thật<br />
tháo vát. Khoảng hai tuần một lần, mẹ đi xích lô đến trung tâm Saigon, rảo<br />
một vòng các tiệm sách để xem họ cần thêm sách nào. Sau đó mẹ cột sách<br />
thành từng chồng và “đáp” một chuyến xích lô khác để giao sách. Tôi hay mân<br />
mê những sợi giây được cột chắc nịch, suýt xoa: “Sao mẹ cột chặt hay thế?”<br />
Thế rồi chính sự miền Nam đến hồi kết thúc. Con người không chính trị của<br />
bố lại một lần nữa ê chề. Ngày công an đến bắt bố đi, mẹ con bàng hoàng<br />
nhìn nhau. Các con chưa đứa nào đến tuổi kiếm tiền. Mẹ xưa nay thầm lặng<br />
trong vai “nội tướng”, giờ miễn cưỡng ra quân. Tiền dành dụm của gia đình<br />
không đáng kể. Có tám miệng để nuôi, có bố nhục nhằn trong lao tù đợi tiếp<br />
tế. Mẹ vụng về tìm kế sinh nhai. Thoạt tiên mẹ nấu khoai mì trộn với dừa và<br />
vừng, rồi để vào rổ cùng với một ít lá gói. Tôi băn khoăn hỏi:<br />
“ Mẹ nghĩ có bán được không?”<br />
“Mẹ không biết, cứ mang ra chỗ trường học xem sao.”<br />
Nhìn dáng mẹ lom khom ôm rổ, đầu đội xụp cái nón lá, tôi thương mẹ khôn tả.<br />
Chỉ nửa tiếng sau tôi đã thấy mẹ trở về. Rổ khoai mì vẫn còn nguyên, mẹ<br />
ngượng ngập giải thích:<br />
“Hình như hôm nay lễ gì đó, học trò nghỉ con ạ.”<br />
Rồi mẹ lại xoay sang nghề bán thuốc lá. Mẹ mua lại của ai đó một thùng đựng<br />
thuốc lá để bầy bán. Mẹ nghe ai mách bảo, chọn một địa điểm khá xa nhà rồi<br />
lụi hụi dọn hàng vô, dọn hàng ra mỗi ngày. Nghề này kéo dài được vài tháng.<br />
Mẹ kể cũng có một số khách quen, nhưng toàn mua thuốc lá lẻ. Hôm nào có<br />
khách “xộp” mua nguyên bao thì mẹ về khoe ngay. Cũng may thuốc lá không<br />
thiu nên khi “giải nghệ” mẹ chỉ lỗ cái thùng bầy hàng.<br />
Mẹ rút về “bản dinh” là căn nhà ở cuối hẻm, tiếp tục nhìn quanh, tìm một<br />
lối thoát. Hàng xóm chung quanh phần lớn là những người lao động. Họ như<br />
những đàn kiến chăm chỉ cần cù, 4 giờ sáng đã lục đục, người chuẩn bị hàng<br />
họ ra chợ, kẻ kéo xe ba bánh hoặc xích lô ra tìm khách. Suốt mười mấy năm<br />
qua họ nhìn gia đình chúng tôi, gia đình “ông giáo”, như từ một thế giới<br />
khác, kính trọng nhưng xa cách. Nay “ông giáo” đi tù, “bà giáo” hay xuất<br />
hiện ngoài ngõ, có lẽ họ cảm thấy gần gủi hơn. Một hôm, chị bán sương xâm ở<br />
đối diện nhà qua hỏi thăm “ông giáo”. Thấy cái máy giặt vẫn còn chạy được,<br />
chị trầm trồ: “Giặt máy tiện quá bác há!”, rồi nảy ý “Tụi con ngày nào cũng<br />
có cả núi quần áo dơ. Bác bỏ máy giặt dùm, tụi con trả tiền. Bác chịu<br />
không?” Lời đề nghị thẳng thừng, không rào đón. Mẹ xăng xái nhận lời. Kể từ<br />
đó, mổi tuần khoảng hai lần, mẹ nhận một thau quần áo cáu bẩn, bốc đủ loại<br />
mùi khai, tanh, nồng. Mẹ đích thân xả qua một nước, rồi múc nước từ hồ chứa<br />
vào máy giặt, bỏ xà bông và bắt đầu cho chạy máy. Cái máy cổ lỗ sĩ, chạy ì<br />
ạch nhưng nhờ nó mà mẹ kí cóp được chút tiền chợ.<br />
Ít lâu sau, cũng chị hàng xóm đó lại sáng thêm một ý nữa:<br />
“Con bé nhà con nay biết bò rồi, con không dám thả nữa. Bác nhận không, con<br />
gửi nó mỗi ngày từ sáng tới chiều. Con trả tiền bác.”<br />
Thế là sự nghiệp nhà trẻ của mẹ bắt đầu. Mẹ dọn căn gác gỗ cho quang, có<br />
chỗ treo võng, có cửa ngăn ở đầu cầu thang. Cả ngày mẹ loay hoay bận bịu<br />
pha sữa, đút ăn, lau chùi những bãi nước đái. Được ít lâu, chị bán trái cây<br />
ở cuối hẻm chạy qua nhà tôi, nói:<br />
“Bác coi thêm con Đào nhà con nha. Con mang cái võng qua mắc cạnh cái võng<br />
của của con Thủy.”<br />
Hai võng đong đưa một lúc, cháo sữa đút liền tay hơn, căn gác bừa bộn hơn.<br />
Sau đó lại thêm một thằng cu nữa. Mẹ tay năm tay mười, làm việc thoăn<br />
thoắt. Cũng công việc quen thuộc ấy, ngày xưa làm cho con, nay làm kế sinh<br />
nhai, nuôi đủ tám con với một chồng. Mẹ không còn thầm lặng nữa. Mẹ lớn<br />
tiếng điều khiển tám quân sĩ, cần roi có roi, cần lời ngọt có lời ngọt.<br />
Riêng chúng tôi vẫn nhớ ơn những người lao động đã giúp chúng tôi sinh sống<br />
những ngày khốn khó đó.<br />
Nhưng sau những giờ ban ngày ồn ào náo động là những đêm tối trầm ngâm lo<br />
lắng. Nỗi bận tâm không rời của mẹ là chuyện thăm nuôi bố. Mỗi ngày mẹ nghĩ<br />
ra một món, làm dần vào buổi tối, nay muối vừng, mai mắm ruốc, mốt bánh mì<br />
khô. Mẹ để sẵn một giỏ lớn trong góc bếp và chất dần đồ thăm nuôi trong đó.<br />
Khi giỏ đầy là ngày thăm nuôi sắp tới.<br />
Thuở ấy bố bị giam ở núi đồi Pleiku, muốn lên đến đó phải mất hai ngày<br />
đường và nhiều giờ chầu chực xe đò. Mỗi lần thăm nuôi, hoặc mẹ, hoặc một<br />
đứa con được chỉ định đi. Con trưởng nữ hay được đi nhất vì nó tháo vát và<br />
nhanh trí, thằng thứ nam cũng đươc nhiều lần “tín nhiệm”; mẹ nói nó nhỏ<br />
tuổi nhưng đạo mạo, đỡ đần mẹ được. Con thằng trưởng nam đúng tuổi đi “bộ<br />
đội”, mẹ ra lệnh ở nhà. Có lần mẹ đi về, mặt thất thần.<br />
Các con hỏi chuyện thì mẹ chỉ buông hai chữ “biệt giam”. Biệt giam thì bị<br />
trừng phạt không được thăm nuôi. Tôi thảng thốt hỏi:<br />
“Đồ thăm nuôi đâu hết rồi mẹ?”<br />
“Mẹ phải năn nỉ. Cuối cùng họ hứa chuyển đồ ăn cho bố.”<br />
“Mẹ nghĩ họ sẽ chuyển không?<br />
“Họ hẳn sẽ ăn bớt, nhưng nếu mẹ mang về thì phần bố đói còn chắc chắn hơn<br />
nữa.”<br />
Mẹ ngày nào thầm lặng, nay thực tế và quyết đoán như thế.<br />
Ngày bố được thả đợt 1, nhà trẻ của “bà giáo” vẫn còn hoạt động. Mẹ hướng<br />
dẫn bố đu võng khi các bé ngủ. Mẹ cũng dặn bố thường xuyên lau chùi gác và<br />
bỏ giặt tã dơ. Bố một mực nghe lời. Tưởng như cờ đã chuyền sang mẹ một cách<br />
êm thắm…<br />
Tuy nhiên, mẹ không thể ngăn được bố lân la cầm lại cây bút. Thời gian này<br />
là lúc họ hàng ngoài Bắc vào chơi nhiều. Bên ngoại có cậu tôi làm đến chức<br />
thứ trưởng; cậu kể rằng lúc còn sống, ông ngoại (một nhà thơ cách mạng)<br />
phiền lòng vì sự nghiệp văn chương của thằng con rể. Bên nội có chú tôi &#8211;<br />
một nhạc sĩ cách mạng- chú biết ngòi bút đang thôi thúc bố và đã từng rít<br />
lên giữa hai hàm răng:<br />
“Trời ạ! Đã chửi vào mặt người ta, không xin lỗi thì chớ lại cón nhổ thêm<br />
một bãi nước bọt! Lần này mà vào tù nữa thì mọt gông.” .<br />
Mấy mẹ con chết lặng trước viễn tượng “mọt gông”. Bố không màng đến điều<br />
này, vẫn miệt mài gõ máy đánh chữ. Đêm khuya thanh vắng tiếng gõ càng vang<br />
mồn một. Vài lần mẹ can ngăn, có lần mẹ giận dữ buộc tội:<br />
“Ông chỉ biết lý tưởng của mình, không biết thương vợ con.”<br />
Vài tuần sau, chị hàng xóm đối diện nhà chạy sang xì xào với mẹ:<br />
“Công an đặt người ở bên nhà con đó bác, họ theo dõi bác trai.”<br />
Mẹ lại thử can thiệp, nhưng đã quá trễ. Bố bị bắt lần thứ hai năm 1984.<br />
Lần thứ hai bị bắt, bố bình tĩnh đợi công an lục lọi tung nhà. Trước khi<br />
bắt đi, họ chụp hình bố với nhiều tang chứng chung quanh. Trong hình bố<br />
ngẩng cao đầu trông rất ngạo nghễ. Nhiều năm sau, bố vẫn còn được nhắc tới<br />
với hình ảnh này. Không ai biết đến người đàn bà thầm lặng bị bỏ lại đằng<br />
sau. Sau biến cố thứ hai này, mẹ phải đối phó thêm với nhiều khó khăn loại<br />
khác, điển hình là những giấy gọi gia đình ra dự phiền tòa xử bố. Gọi rồi<br />
hoãn, rồi lại gọi lại hoãn. Mỗi lần như vậy cả nhà lại bấn loại tâm trí, lo<br />
cho mạng sống của bố. Riêng mẹ thì vừa lo vừa soạn thêm một số thức ăn thăm<br />
nuôi. Mẹ thực tế là thế đó.<br />
Sau khi bố bị gọi án 10 năm tù, cuộc sống của mẹ không còn những bất ngờ<br />
khủng khiếp, chỉ còn những đen tối và tù túng đều đặn. Tưởng là dễ chịu<br />
hơn, nhưng thực ra nó gậm nhấm tâm thức, tích lũy buồn bực chỉ đợi cơ hội<br />
bùng nổ. Hết ngày này qua tháng nọ mẹ lầm lũi chuẩn bị đồ thăm nuôi, từng<br />
món ăn thức uống, từng vật dụng hằng ngày. Các con lần lượt trưởng thành,<br />
đứa nào cũng có bạn bè và những sinh hoạt riêng. Chuyện thăm nuôi bố và<br />
lòng thương bố quan trọng lắm, những cũng chỉ là một phần trong những cái<br />
quan trọng khác trong đời. Chỉ đối với mẹ, những thứ ấy mới là tất cả, độc<br />
tôn choán ngập tâm hồn mẹ. Mẹ hẳn có những lúc thấy tức tưởi và cô đơn mà<br />
các con nào hay biết. Có vài lần chúng tôi lỡ một lời nói hoặc cử chỉ không<br />
vừa ý mẹ, me òa khóc tu tu, lớn tiếng kể lể, tuôn trào như một giòng lũ<br />
không ngăn được. Lúc ấy chúng tôi mới choàng tỉnh.<br />
Ngày mãn hạn tù về, bố bình an như một thiền sư, để lại sau lưng hết cả<br />
những thăng trầm của quá khứ. Rồi bố mẹ sang Mỹ ở Houston sống cùng cậu<br />
trưởng nam. Mẹ bận bịu với cháu nội, nhưng không quên nhắc ông nội đi tắm<br />
và bao giờ cũng nặn kem đánh răng vào bàn chải cho ông mỗi tối. Thỉnh<br />
thoảng giao tiếp với họ hàng và bạn bè, mẹ lại phải đỡ lời cho bố, khi bố<br />
cứ mỉm cười mà không nói năng chi. Thư viết về cho con cháu ở Việt Nam, ai<br />
cũng nói mẹ viết hay hơn ông nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Lúc đó chắc mẹ nghĩ thầm<br />
rằng: “bởi vì mẹ là con của ông Tú Mỡ mà!”<br />
Như thế được mười năm thì mẹ ngã bệnh. Hôm nay, ở giai đoạn cuối của căn<br />
bệnh Alzheimer, mẹ nằm bất động một chỗ và không nói được nữa. Nhưng mẹ vẫn<br />
đưa mắt nhìn bố mỗi lần bố ra vào trong phòng. Hôm nào bố vắng nhà vài ngày<br />
thì mẹ nhìn con trai, mắt dò hỏi lo lắng. Khi bố về thì mẹ vẫn nhìn bố, ánh<br />
mắt yên tâm hơn.</p>
<p>Mẹ thầm lặng hơn bao giờ hết. Dưới mắt bố con chúng tôi, sự thầm lặng ấy càng</p>
<p>ngày càng tỏa sáng.<br />
<strong>(</strong><strong>Kim Khánh</strong> )</p>
<h3><strong>Về Doãn Quốc Sỹ</strong></h3>
<p><strong>(…trích Cát Bụi Chân Ai – </strong></p>
<h4><strong>Tô Hoài )</strong><strong></strong></h4>
<p>Đêm Nôen năm ấy, đi chơi với một người khách trẻ măng không biết tên và trong tối sáng nhấp nhem, cũng không hẳn tường mặt. Những ngọn đèn đường chỉ rình tắt, sắp báo động. Suốt chiều, chốc chốc tiếng loa: Máy bay địch cách Hà Nội sáu mươi ki lô mét&#8230; ba mươi ki lô mét&#8230; hai mươi ki lô mét&#8230; Khách trẻ trung, trắng trẻo vẻ búng ra sữa, giọng Hà Nội nhỏ nhẹ, áo va rơi dạ mặc ngoài, mũ bông có tai ấm. Cũng như chúng tôi, cái bóng bù xù đi trong đêm đông lạnh. Nhưng mà khác chúng tôi.<br />
Những bước thong thả trên đường khuya. Lúc này chỉ còn lại đám người vun quanh khu nhà thờ Hàng Trống và mấy cửa hàng Thuỷ Tạ, Phú Gia mở cửa trắng đêm đón người chơi Nôen. Đâu ai có thể tưởng cái anh chàng non tuổi ấy là một giặc lái bay cùng tốp với phi công Phạm Phú Quốc vượt vĩ tuyến ra đánh nông trường Tây Hiếu ở Nghệ An. Tin tức Sài Gòn tâng bốc rùm beng phi đội Việt Nam Cộng Hoà anh hùng đầu tiên ném bom miền Bắc. Nhưng câm miệng hến về chiếc máy bay rơi này.<br />
Chúng tôi thường viết bài cho mục phát thanh của quân đội nói với thính giả miền Nam. Đọc tài liệu, giấy tờ bắt được ở chiến trường, trò chuyện với phi công tù binh Mỹ. Có lần, tôi vào làng La Cả uống rượu ăn thịt chó với đại tá Phạm Văn Đính, đại tá Vĩnh Phong &#8211; người hoàng tộc đã ra hàng quân giải phóng ở điểm cao Cồn Tiên Dốc Miếu. Hai sĩ quan hàng binh này sơ tán ở một nếp nhà tranh của quân đội ẩn trong lùm cây ổi cây nhãn giữa làng. Thỉnh thoảng, kéo nhau ra thị xã Hà Đông sắp hàng mua bia hơi. Có người đến thăm, khói bếp thịt chó nghi ngút cả ngày<br />
Tôi cũng thường đọc trên đài một Thư Hà Nội gửi nhà văn Quan Sơn ở Sài Gòn. Chẳng mấy ai biết bút hiệu ấy của Doãn Quốc Sỹ ngày trước trên tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Năm. Doãn Quốc Sỹ người Cầu Giấy, gần làng tôi. Chúng tôi quen nhau khi mới cầm bút. Một trong những truyện ngắn đầu tiên của Doãn Quốc Sỹ, Đôi mắt của Hiền, cô Hiền ấy, con gái bác Tú Mỡ. Bức thư tình đăng báo mà rồi nên nhân duyên. Doãn Quốc Sỹ theo nhà vợ tản cư ra Bắc Giang ít lâu rồi vào Hà Nội, rồi di cư vào Nam. Báo chí và các nhà xuất bản ở Sài Gòn in sáng tác của Doãn Quốc Sỹ, lại biết Sỹ dạy học ở Hà Tiên, được tu nghiệp ở Mỹ mấy năm. Chẳng biết cách mạng có nợ tiền, nợ máu gì với cái gia đình công chức còm ở một làng làm nghề dệt nghề giấy ngoại ô này không, tôi tin là không, thế mà Doãn Quốc Sỹ viết chửi cộng sản hăng thế. Chắc chẳng khi nào Doãn Quốc Sỹ nghe bài của tôi để biết đến những tiếng nói cùng quê của anh.</p>
<p><strong>(Tô Hòai )</strong></p>
<h3><strong>Đọc văn Dõan Quốc Sĩ</strong></h3>
<h3><strong>Nhìn lại một thời</strong></h3>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2012/06/clip_image004.jpg"><img decoding="async" style="background-image: none; margin: 0px 20px 10px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; float: left; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image004" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2012/06/clip_image004_thumb.jpg" alt="clip_image004" width="250" height="496" align="left" border="0" /></a></p>
<p>Năm 1954 hai vợ chồng tôi cùng hai đứa con gái đầu lòng và cô em gái – năm người cả thảy – ra phi trường di cư vô Nam. Danh từ thời thượng mệnh danh là Bắc Cờ Năm Mươi Tư</p>
<p>Thuở đó tôi còn là sinh viên, gặp Trần Thanh Hiệp, sinh viên Luật Khoa, chúng tôi bèn thành lập đoàn thể Đoàn Sinh Viên Hà Nội Di Cư (ĐSVHNDC), Trần Thanh Hiệp đứng ra làm chủ tịch. Để giới thiệu ĐSVHNDC nhân dịp chào mừng mùa Xuân năm đó, chúng tôi cho in tập Xuân Chuyển Hướng. Tôi còn nhớ trước 1954 &#8211; thuở còn ở ngoài Bắc – tôi sớm có khuynh hướng viết văn, hoàn tất được một truyện ngắn đầu tay dưới dạng một truyện cổ tích mang tên là “Sợ Lửa”. Di cư vô Nam năm 1954, may sao tôi có mang theo bản thảo Sợ Lửa và cho đăng vào tập Xuân Chuyển Hướng này! Thế là như lửa gặp gió, tôi tiếp tục . . . tiếp tục sang tác để chính thức đi vào nghiệp cầm bút của nhà văn bên cạnh sự nghiệp cầm phấn của nhà giáo sau này. Sau tập Xuân Chuyển Hướng tôi đứng ra làm chủ nhiệm tờ tuần báo Người Việt nhưng cũng chỉ được vài số là đình bản. Sau đó gặp them Mai Thảo, Nguyễn Sỹ Tế, hai họa sĩ Duy Thanh và Ngọc Dũng nữa, thế là chúng tôi xúm lại chủ trương nguyệt san SÁNG TẠO – vào năm 1956 thì phải, nếu tôi nhớ không lầm! Toà soạn Sáng Tạo ở đường Ký Con. Truyện dài đầu tay Dòng Sông Định Mệnh của tôi đăng trên Sáng Tạo trước khi in thành sách. Sáng Tạo ra được tới số 30 hay 31 thì đình bản. Các văn hữu từ đó vẫn gọi nhóm chúng tôi – Mai Thảo &#8211; Nguyễn Sỹ Tế &#8211; Ngọc Dũng – Duy Thanh là nhóm Sáng Tạo – Tòa soạn ở đường Ký Con !</p>
<p>Thuở đó anh em chúng tôi ai muốn đem bài đến toà soạn, hay đến toà soạn để sửa bài thì ít nhất cũng phải đợi đến 9 giờ sáng hãy tới, vì tới giờ đó Mai Thảo mới ngủ dậy để ra ngồi trước bàn làm việc.</p>
<p>Từ tám chin giờ tối trở đi đó là giờ Mai Thảo có mặt ở vũ trường để khiêu vũ. Thuở đó đám sinh viên Hà Nội di cư chúng tôi đã có nơi cư trú đàng hoàng, đó là khu Đại Học Xá gần nhà thờ Ngã Sáu Chợ Lớn. Thỉnh thoảng khoảng 8 giờ tối Mai Thảo lái xe đến đón tôi cùng đi khiêu vũ, khoảng 12 giờ khuya thì về, bao giờ cũng rủ theo một em vũ nữ lên xe để cùng tới một tiệm ăn nào đó, vừa ăn uống vừa nói chuyện vui, rồi đưa em vũ nữ về nơi hẻm em ở.</p>
<p>Cùng là nhà giáo kiêm viết văn, chúng tôi có ba người : tôi, anh Nguyễn Sỹ Tế (hiệu trưởng trường Trường Sơn) và anh Nguyên Sa ( hiệu trưởng trường Văn Học).</p>
<p>Nhắc đến Nguyên Sa hầu hết chúng ta đều biết bài thơ nổi tiếng của anh “Áo lụa Hà Đông” :</p>
<p>&#8220;Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát</p>
<p>Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông</p>
<p>Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng</p>
<p>Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng</p>
<p>Anh vẫn nhớ em ngồi đây tóc ngắn</p>
<p>Mà mùa Thu dài lắm ở chung quanh</p>
<p>Linh hồn anh vội vã vẽ chân dung</p>
<p>Bay vội vã vào trong hồn mở cửa</p>
<p>Em chợt đến, chợt đi, anh vẫn biết</p>
<p>Trời chợt mưa, chợt nắng chẳng gì đâu</p>
<p>Nhưng sao đi mà không bảo gì nhau?</p>
<p>Để anh gọi tiếng thở buồn vọng lại&#8230;&#8221;</p>
<p>&#8220;Em ở đâu, hỡi mùa Thu tóc ngắn?</p>
<p>Giữ hộ anh màu áo lụa Hà Đông</p>
<p>Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng</p>
<p>Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng</p>
<p>&#8230; Anh vẫn yêu màu áo ấy em ơi&#8221;</p>
<p>Sau này khi sang tới xứ Cờ Hoa này chúng tôi ở cách mấy tiểu bang – tôi ở Houston, Texas, anh ở Quận Cam Cali &#8211; mỗi khi có dịp gặp nhau, tôi vẫn hỏi đùa anh:</p>
<p>Chị vẫn mặc áo lụa Hà Đông, phải không anh?</p>
<p>Nhớ lại kỷ niệm với anh Nguyễn Sỹ Tế, khi Cộng Sản chiếm nốt miền Nam, chúng tôi cùng bị đi tù chung và cùng bị đày lên tận miền Gia Trung thuộc núi rừng cao nguyên Pleiku, Kontum. Vùng này sở dĩ mang tên Gia Trung vì có dòng suối YA YUNG chảy qua. Tiếng địa phương là Ya Yung được chuyển sang tiếng Việt là Gia Trung !</p>
<p>Anh Nguyễn Sỹ Tế có 4 câu thơ bằng tiếng Pháp trong tập thơ Chant d’Ya (Tiếng Hát Gia Trung) của anh như sau:</p>
<p>Sur un fond de ciel balayé</p>
<p>Un engourdi crossant de lune</p>
<p>Parait las et comme épuisé</p>
<p>De sa lumineuse fortune …</p>
<p>Và tôi dịch thoát nghĩa thành 4 câu thơ Việt như sau:</p>
<p>Đỉnh trời gió quét mây tan tác</p>
<p>Trăng lưỡi liềm ngơ ngác lạnh căm</p>
<p>Trăng sao đượm vẻ u trầm</p>
<p>Trăng sao quá đỗi âm thầm hỡi trăng</p>
<p>Vào năm 1956 – cách đây đúng nửa thế kỷ &#8211; khi tập truyện cổ tích Sợ Lửa của tôi ấn hành lần đầu, ông bạn Nguyễn Sỹ Tế của tôi viết TỰA và Thanh Tâm Tuyền viết BẠT . Với tinh thần tri âm tri kỷ, ông bạn Thanh Tâm Tuyền qua bài thơ mang tên “NHỊP BA” đã nêu lên lòng ước muốn thường xuyên nóng bỏng trong tâm tư thầm kín của tôi: đó là ước muốn sao cho đất nước sớm được thống nhất tự do !</p>
<p>Xin quý vị hãy cùng tôi thưởng thức bài thơ “Nhịp ba” của Thanh Tâm Tuyền viết thay lời Bạt cho “Sợ Lửa”</p>
<p><strong>Nhịp ba </strong></p>
<p><strong>(Tặng Doãn Quốc Sỹ)</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Ngực anh thủng lỗ đạn tròn</p>
<p>Lưỡi lê thấu phổi</p>
<p>Tim còn nhảy đập</p>
<p>Nhịp ba nhịp ba nhịp ba</p>
<p>Tình yêu, tự do mãi mãi</p>
<p>Anh về ngồi dưới vườn nhà</p>
<p>Cây liền kết trái</p>
<p>Hoa rụng tơi tơi ủ xác</p>
<p>Anh chạy nhịp hai qua cách trở</p>
<p>Mắt bừng</p>
<p>Thống nhất, tự do</p>
<p>Ngoài xa thành phố</p>
<p>Bánh xe lăn nhịp ba</p>
<p>Áo màu xanh hớn hở</p>
<p>Nhát búa gõ</p>
<p>Long máy quay</p>
<p>Cửa nhà thi nhau lớn</p>
<p>Nhịp ba, nhịp ba, nhịp ba</p>
<p>Tình yêu, tự do, mãi mãi</p>
<p>Sóng bồi phù sa</p>
<p>Ruộng lúa trổ hoa</p>
<p>Núi cao uốn cây rừng</p>
<p>Nhịp ba, nhịp ba, nhip ba</p>
<p>Tình yêu tự do mãi mãi</p>
<p>Đất nước ào vỗ nhịp</p>
<p>Triều biển chập chùng</p>
<p>Hà Nội, Huế, Sàigòn</p>
<p>Ôm nhau nức nở</p>
<p>Có người cầm sung bắn váo đấu</p>
<p>Đạn nổ nhịp ba</p>
<p>Không chết</p>
<p>Anh ngồi nhỏm dậy</p>
<p>khoẻ mạnh lạ thường</p>
<p>Bước ai thánh thót</p>
<p>Nhịp ba<br />
Tình yêu<br />
Tự do</p>
<p>Mãi mãi</p>
<p>Tình yêu tự do mãi mãi</p>
<p>Tình yêu tư do mãi mãi anh ơi</p>
<p><strong>Thanh Tâm Tuyền</strong></p>
<p>* * *</p>
<p>Thấm thoát tính tới nay &#8211; Năm 2005 – đã vừa một nửa thê kỷ qua rồi. Anh em Sáng Tạo chúng tôi nay chỉ còn: Nguyễn Sỹ Tế, Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền và họa sĩ Duy Thanh.</p>
<p>Mai Thảo và họa sĩ Ngọc Dũng đã ra người thiên cổ!</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><strong>Gìn vàng giữ ngọc</strong></h3>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2012/06/clip_image005.jpg"><img decoding="async" style="background-image: none; margin: 0px 20px 10px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; float: left; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image005" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2012/06/clip_image005_thumb.jpg" alt="clip_image005" width="300" height="182" align="left" border="0" /></a></p>
<p>(&#8230;) Cuối tháng chạp năm 1945 gia đình tôi và gia đình Huân cùng tản cư một ngày nhưng về hai ngả khác nhau: Huân đưa vợ con về quê mẹ ở Ninh Bình, tôi theo thày mẹ tôi lên Bố Hạ (Bắc Giang). Tới ở Bố Hạ tôi vào công tác ngay ở sở Thông Tin Khu 12, sau sát nhập vào Liên khu I. Rồi thày mẹ tôi cùng toàn thể gia đình rời đi Vĩnh Yên chỉ còn một mình tôi ở lại Bắc Giang để tiếp tục công tác tại chỗ cũ.<br />
Bốn tháng sau tôi nhận được thơ nhà báo tin gia đình một lần nữa chuyển đến làng N.H. ngay bên <a href="http://www.gocnhin.net/##">kia</a> hữu ngạn sông Ðáy, gần chân dãy núi Tam Ðảo. Tôi biết, như vậy vốn liếng gia đình lại một phen hao hụt để sa sút thêm. Những cũng trong thơ đó tôi được cô em gái cho hay là gia đình Huân đã bỏ Ninh Bình chuyển đến một làng nào đó, gần một cái chợ nào đó, thuộc Phúc Yên.Tôi vừa nhẩm ôn đoạn thư vừa nghĩ thầm: &#8220;một làng nào đó, ở gần một cái chợ nào đó, thuộc Phúc Yên&#8221; địa chỉ tuy mơ hồ thật nhưng mình quyết tìm cho ra.<br />
Tôi viết thơ cho một ông cùng làng tản cư ở Phù Lỗ và thường buôn bán hàng ngoại hóa trên con đường Phúc Yên &#8211; Sơn Tây, để nhờ ông chú ý tìm giúp gia đình Huân. Ba tháng sau tôi nhận được hồi âm của ông bảo rõ cho hay thực may mắn chỗ ở Huân: đó là một thôn nhỏ ngay gần chợ Sặt và ở về phía tay phải con đường mòn từ chợ đi huyện Yên Lãng. Vừa đúng dịp tôi xin thôi tại sở những mong sẽ công tác ở ty Thông Tin Vĩnh Yên cho được gần gia đình. Tôi có xin về thẳng thăm nhà đã, rồi nửa tháng sau nếu thuận tiện sẽ đến nhận công tác tại cơ quan mới. Hành trình của tôi được phân chia rất hợp lý. Từ Ða Phúc tôi sẽ đi đến Phố Nỉ bên kia sông Cầu, đường dài mười hai cây số.</p>
<p>Từ Phố Nỉ tôi sẽ vượt qua Kẽm, Dõm để gặp con đường nhựa nối liền Phúc Yên &#8211; Vĩnh Yên, quãng đường này cũng khoảng mười hai cây số. Tôi sẽ theo đường nhựa mấy cây số rồi, rẽ vào con đường đất lớn đi đến chợ Sặt. Ðến chợ Sặt rồi, thì thôn nhỏ gia đình Huân ở, tôi đã &#8220;cầm lỏng&#8221; trong tay. Ðường đi tính ngót bốn mươi cây số; có bỡ ngỡ lắm trong việc hỏi thăm thì cũng chỉ vừa chập tối là cùng, tôi đã nằm trên giường của Huân đợi một mâm cơm nóng sốt, tươm tất. Sau khi đã kể cho nhau nghe hết mọi chuyện tản cư, tôi ngồi uống rượu với Huân. Tôi biết làm gì mà Huân chẳng mua được rượu ngang, chỉ cần một cút thôi. Tửu lượng của tôi và Huân cùng kém cả mà, nhưng chúng tôi sẽ khề khà uống thật lâu cho thực hệt tác phong các bậc tửu đồ ngày xưa.<br />
Chà! như vậy cho bõ một ngày bại cẳng vượt ngót bốn mươi cây số. Ngày hôm sau tôi có thể hoặc đi từ sớm, hoặc ở lại ăn Huân cũng nên, rồi mới lên đường vì quãng hành trình còn lại chỉ chừng ba mươi hay ba mươi mốt cây là cùng. Vừa đi vừa hình dung trước cảnh hội ngộ đó mà tôi thấy hởi dạ, tưởng có thể đi hết ngày mà không biết mỏi chân. Ấy tinh thần tuy có phấn khởi, thêm trí tưởng khéo thêm dệt, nhưng thực tế vẫn giữ được cái uy tín cuối cùng của thực tế. Kể từ sau lúc mặt trời đứng bóng tôi đã thấy hai đầu gối mỏi và hai bắp chân tưng tức. Tôi tìm một quán nước nghỉ chân, mua kẹo vừng và dở nắm cơm nếp ra ăn trưa. Cũng do việc toan tính trước, tôi thổi cơm nếp thật nát để nửa nắm còn lại có thể sang trưa ngày hôm sau ăn còn dẻo.<br />
Lúc mặt trời chếch bóng bước đi thêm lệt bệt, đầu gối đau, bắp chân và đùi tôi thấy nặng ngang nhau; tới lúc mặt trời xế bóng thì hai bên thái dương tôi bừng bừng, trước mắt tôi đổ những hoa cà hoa cải tựa hồ trong đầu có ai đốt một cây bông tí hon và những hoa ánh sáng tóe ra từ hai con mắt. Tôi có cảm tưởng phần thân thể từ háng trở xuống là mình mượn của ai lắp vào. Tôi bước lảo đảo, hình như đi được là nhờ sức gió thổi xuôi nhiều hơn là nhờ ý chí và sức lực của chính mình. Ðến năm cây số cuối cùng thì tôi phải lượm một cái gậy bên vệ đường để chống và cứ đi được một cây số lại ngồi phệt xuống bên lề cỏ để nắn, bóp, chà sát suốt từ đùi đến bắp chân. Mặt trời vừa khuất bóng thì tôi vào đến con đường hẻm do người trong thôn chỉ để tới nhà Huân tản cư. Và cũng đến lúc đó thực tế mới tạm lùi bước nhường sức mạnh của niềm vui tinh thần một chút: tôi ưỡn ngực nhìn thẳng, bước chững chạc.<br />
Cảnh vợ chồng Huân cùng đàn con khi nhận ra tôi thật đúng với câu Kiều &#8220;Nỗi mừng biết lấy chi cân&#8221; hay để cho vui nếu cân được thì cũng đến nặng bằng bộ giò của tôi lúc đó là cùng.<br />
Tôi thở phào sung sướng quẳng ba-lô vào tay Huân, ngồi bệt xuống cái chõng tre ở giữa sân rồi tức khắc nằm xuống ngửa mặt nhìn mấy con diều hâu đương lượn lờ mãi trên cao vút trông chỉ còn nhỏ như mấy con dơi. Lúc bấy giờ tôi mới ôn lại những hình ảnh vừa nhìn và xét rằng vợ chồng Huân cùng các cháu tôi đều gầy và đen đi nhiều. Có tiếng chõng kê ngay góc gần đấy rồi tiếng Nhàn, vợ Huân:<br />
&#8212; Anh Sơn ra nằm đây, chõng ấy để giả ông chủ.<br />
Tôi ngồi nhỏm dậy, mấy sợi tóc dài bị nan chõng cắt đứt mất. Kể ra cũng khá đau nhưng cái mệt lấn mất cái đau, hơn nữa tôi muốn đổi chõng thật nhanh để tiếp tục cho các bắp thịt nghỉ. Ông chủ ở trong nhà vừa ra tôi chỉ kịp cúi chào thật lễ phép và nói một câu xã giao thật ngắn rồi nằm ềnh ngay sang chõng bên. Khi lưng và đầu áp xuống rồi, xúc giác mới báo cho tôi biết là cái chõng này hẹp hơn, ngắn hơn và nan thưa hơn cái chõng kia.<br />
Tiếng Huân hỏi:<br />
&#8212; Anh Sơn mệt lắm hả?</p>
<p>Tôi chặc lưỡi:<br />
&#8212; Gọi là thôi!<br />
&#8212; Anh đi bao nhiêu cây số đến đây?<br />
Nhận thấy nói thật thì không tiện và nói dối thì không nỡ, tôi vờ như không nghe thấy. May sao Huân nói sang câu khác:<br />
&#8212; Tôi bảo thổi cơm thêm xuất anh đấy nhé.<br />
Tôi đáp gọn:<br />
&#8212; À, cố nhiên! Các cậu ăn cơm tối nhỉ, tưởng mình đến giờ này thì các cậu đã ăn xong tám hoánh và phải đi thổi riêng cho mình niêu khác.<br />
Rồi vui câu chuyện tôi nói tiếp:<br />
&#8212; Nếu có gà nhà thì cứ giả vờ thịt đi cho vui.<br />
Huân đáp ngay, nhưng giọng nghe ra hơi ngượng ngập:<br />
&#8212; Ồ, thịt gà&#8230; vâng có chứ!<br />
Nằm ruỗi đã được một phút hưởng gió mát buổi chiều phe phẩy, tôi lấy lại sức nhiều do đấy có sự &#8220;phản tỉnh&#8221; ngay để nghĩ thầm:<br />
&#8212; Bỏ sừ, nói vậy ngộ nhà Huân không nuôi gà, phải đi lùng quanh xóm thì mình cũng hơi khỉ.<br />
Tôi vừa toan hỏi lại Huân xem nhà có gà thực không thì Huân đã đứng dậy đi vào nhà. Không hiểu Huân nói gì, chỉ biết sau đó con cháu lớn Thu Hương tất tưởi đi ra ngõ. Khi Huân tới bên, tôi cũng vừa vỗ lên túi con áo sơ-mi để sực nhớ ra rằng mình có một điếu Cotab của bạn cho mà chưa hút. Vừa rút điếu thuốc ra khỏi túi, tiếng Huân <a href="http://www.gocnhin.net/##">reo</a> vui:<br />
&#8212; À thuốc lá!<br />
Tôi nhớ ngay Huân vốn nghiện nặng thuốc lá thơm nên lanh trí đáp liền:<br />
&#8212; Gặp một thằng bạn giữa đường cho đấy, tôi vốn dưng dửng thuốc lá nên để dành cho cậu.<br />
Tôi vẫn nằm ngửa trên chõng, ruỗi thẳng chân cho máu chảy đều và khẽ đưa mắt để khuôn mặt Huân lọt vào trong nhãn giới; vì lần này trông nghiêng nên khuôn mặt Huân có những nết gầy hốc hác, mà lúc nãy có lẽ vì trông thẳng, có lẽ cả vì chân mỏi mắt hoa nữa nên tôi không nhận thấy. Châm xong điếu thuốc lá, môi Huân dẩu ra để hít lấy khói thuốc, mấy sợi râu mép và râu cằm được dịp nổi bật lên trong ánh chiều bâng khuâng khiến khuôn mặt Huân càng đượm một vẻ xanh xao sầu thảm. Tôi đặt thầm nghi vấn: Hay là ngày nay Huân cũng hoàn toàn khánh tận, và gia đình Huân cũng hoàn toàn sống kiểu độ nhật như gia đình tôi hiện giờ bên bờ sông Ðáy, dưới chân Tam Ðảo?<br />
Huân không biết là đương bị tôi ngắm, vừa hút thuốc lá vừa tuần tự hỏi kỹ về mọi chi tiết tản cư của gia đình tôi. Tôi vẫn đáp lời và vẫn tiếp tục quan sát. Cách Huân hút thuốc quả là cách hút của một người nghèo đã lâu lắm nay mới được một điếu.<br />
Tôi hốt hoảng ôn lại một lần nữa lời vừa nói khi nãy: &#8220;nếu có gà nhà thì cứ giả vờ thịt đi cho vui&#8221; và tự thấy mình vô duyên biết mấy.<br />
Ðến lượt tôi hỏi lục vấn về cách chạy loạn của gia đình Huân. Tôi được biết hồi còn ở Ninh Bình vợ chồng Huân buôn bán khá. Sau vụ quân Pháp nhảy dù ở Ðồng Quan, vợ chồng Huân sợ chúng sẽ tấn công toàn thể Liên khu Tư bèn mang cả con cái theo đường Hòa Bình Vụ Bản đường số 6 rồi vượt sông Hồng sang Vĩnh Yên. Bị bom napalm thiêu chụi hết đồ đạc, một lần nữa Huân chuyển gia đình xuống Phúc Yên, ở đây.<br />
Hỏi về cách sinh sống hiện tại thì Huân cho biết Nhàn cùng đứa con gái lớn lên mười hai Thu Hương vẫn sớm gánh đôi bồ hàng sén ra chợ Sặt bán, chiều gánh về.Tôi hỏi thêm:<br />
&#8212; Thế hàng sén của Nhàn có những thứ gì?<br />
Huân trả lời hoàn toàn ngoài đề:<br />
&#8212; Ðường từ chợ Sặt về đây ngắn, nên việc sớm gánh đi tối gánh về không có gì là vất vả lắm.<br />
Thấy tôi ngồi dậy, Huân cười hỏi, tôi biết để lảng câu chuyện:<br />
&#8212; Anh khỏi mệt rồi chứ?<br />
Tôi gật đầu và đáp với giọng cố làm cho trong sáng để chứng tỏ tôi không có gì thắc mắc:<br />
&#8212; Khỏi mệt rồi! Cậu ở đây rộng và thoáng thật đấy.<br />
Sự thực tôi ngồi nhỏm dậy vì thấy Nhàn đương vo gạo ở đằng góc bể. Cứ trông cái giá vo và cách xóc gạo tôi cũng thấy rõ ràng nồi cơm sắp thổi không thể là nồi cơm đủ cho ba người lớn và ba đứa trẻ. Hai đứa cháu nhỏ của tôi một trai, một gái quãng tuổi lên năm và lên bảy, cùng gầy gò và xanh xao như nhau lúc đó vẫn quấn lấy bên Nhàn.<br />
Cũng cảnh đó, một năm trước đây, đã diễn ra trong gia đình tôi, hồi chúng tôi còn ở Bố Hạ, Bắc Giang. Tôi còn nhớ hôm đó ông bác tôi từ Bến Tuần Lục Liễu sang chơi. Nguyên nửa tháng trước đây, thầy tôi và tôi có tới Lục Liễu thăm người, được người thết cơm rượu thịt gà, trịnh trọng lắm. Lần này lẽ cố nhiên thầy tôi cũng phải nghĩ cách giả nợ, mặc dầu nhà đương rất nghèo túng. Dưới chuồng còn một con gà mái đẻ: phải làm thịt. Trong thúng còn hai đấu gạo định để thổi độn ngô, nay bỏ ngô để thổi cơm trắng. Bữa rượu thết hôm đó ngồi tiếp bác, có thày tôi, tôi và thằng em thứ hai.<br />
Ðể đáp câu nói của bác: &#8220;Thím Hai vào ăn một thể cho vui&#8221; mẹ tôi cười ròn và rất tự nhiên:<br />
&#8212; Mời bác sơi rượu với thày cháu, em phải trông cho mấy cháu bé ăn ở dưới này.<br />
Kỳ thực các em bé tôi có gì mà ăn!<br />
Khi bác tôi ra về, cơm thừa trong nồi còn chừng hai bát. Lẽ cố nhiên là thày tôi, tôi và thằng em thứ hai đã phải hết sức ăn cầm chừng mới được vậy. Mẹ tôi đơm một bát cho thằng em út và bát kia cho đứa em gái thứ tư của tôi, năm đó lên tám. Mẹ tôi ăn cháy. Ðứa em gái lên tám của tôi đỡ bát cơm rồi cúi mặt xuống khóc lặng lẽ. Nó biết là cảnh nhà bần bách quá rồi. Mẹ tôi thấy vậy thì vỗ vai nó rồi vừa cười vừa khóc, cả nụ cười với hai dòng nước mắt cùng chân thành như nhau, hẳn các bạn thừa hiểu vì sao. Tôi cũng vội quay đi để kịp dấu hai giọt nước mắt nóng hổi vừa tràn khỏi bờ mi.<br />
Ngồi nói chuyện hàn huyên với Huân, tôi giữ bề ngoài bình thản nhưng bên trong, lòng tràn ứ kỷ niệm chua chát.<br />
Lẽ nào ngày nay tôi để Nhàn và các cháu tôi tái diễn phần dưới tấn bi kịch năm xưa?<br />
Tôi thoáng thấy cháu Hương hai tay ấp vào ngực đi quanh tường đất thấp nhà hàng xóm để có thể vượt tường vào thẳng trong bếp. Nhưng khi cháu Hương vừa nhảy xuống thì tự hai bàn tay bé nhỏ của nó tuột ra cái mề gà sống có một quãng lòng ngắn dính ở đầu. Tôi vờ ngẩng nhìn ngọn tre lắc lư trong gió chiều như thể mình không biết gì.<br />
Huân bảo vợ:<br />
&#8212; Em làm thức nhắm trước rồi thổi cơm sau.<br />
Nhàn đáp &#8220;vâng&#8221; rồi cười giọng cười ròn tan y như tiếng cười của mẹ tôi ngày nào, hay nói cho đúng, đó là tiếng cười đặc biệt của bất cứ người đàn bà Việt Nam nào trong những cảnh nhường nhịn kín đáo. Tiếng cười tôi nghe mà xót xa, mà tự nhiên có ý nghĩ ngộ nghĩnh: giả sử sau này có quyền hành, nhất định ở mỗi công trường chính của mỗi thành phố tôi sẽ cho dựng tượng bán thân một người đàn bà Việt Nam để tượng trưng cho tình mẫu tử, đức hy sinh đáng được kính mến vào bậc nhất thế giới của dân tộc nhà.<br />
Vừa kịp có một ý định, tôi thấy cần phải hành động nhanh chóng, bèn đứng dậy đủng đỉnh ra ngõ. Huân hỏi:<br />
&#8212; Anh đi đâu đó?<br />
&#8212; À, tôi đáp, đi xem qua phong cảnh thôn này một chút.<br />
Rồi tiến ra đầu thôn trên con đường dẫn tới chợ.<br />
Ánh chiều vừa tắt, vừng trăng rằm tròn vành vạnh lên ngôi, óng ánh như tình cảm một người con gái đến tuổi vừa biết rằng mình đẹp. Nhìn trăng tôi càng thấy vững tâm trên quãng đường trường mà tôi sắp phải đi nốt.<br />
Ðợi mười lăm phút qua, tôi quay về làm giáng hốt hoảng bảo Huân:<br />
&#8212; Hỏng rồi cậu Huân ạ! Như lúc nãy tôi nói là sau nửa tháng nghỉ phép để sống với gia đình, rất có thể tôi sẽ trở lại làm việc trong ty Thông Tin Vĩnh Yên. Tôi vừa gặp ông trưởng ty ngoài chợ, ông ta nhất định kéo mình đi dự hội nghị thông tin liên ty Vĩnh Phúc (Vĩnh Yên &#8211; Phúc Yên) ngay bây giờ.<br />
Huân rẫy nẩy người, chỉ mâm thức ăn úp lồng bàn trên chõng:<br />
&#8212; Sao, ngay bây giờ là thế nào?<br />
Nhàn nghe rõ câu chuyện cũng nhô ra khỏi bếp, tay cầm đôi đũa xào nấu, rồi nói:<br />
&#8212; Ăn cơm đã anh ạ, em đương làm món cánh gà xào chua ngọt mà anh thích.<br />
Tôi tiếp tục buộc lại ba-lô và đáp:<br />
&#8212; Thôi được chẳng lần này thì lần khác, cô nên nhớ từ nay tôi công tác ngay tỉnh bên chứ có đâu xa xôi như trước.<br />
Huân mở lồng bàn cho tôi thấy đĩa miến xào mề gà còn bốc khói và đĩa thịt gà luộc tuy không được đầy đặn nhưng cũng khá tươm, rồi bảo tôi:<br />
&#8212; Ðã thế anh hãy ngồi đây, chúng ta nâng chén luôn, cơm mang lên sau là vừa.<br />
Tiếng Nhàn họa theo lập tức:<br />
&#8212; Phải đấy.<br />
Óc tôi thoáng nhớ lại một kỷ niệm ăn giỗ năm đói (&#8230;) và cương quyết khoác ba-lô lên vai:<br />
&#8212; Ô hay &#8212; (tôi vừa cười vừa nói, tiếng cười, lạ thế, cũng trong và ròn như tiếng cười của mẹ tôi năm xưa, và tiếng cười của Nhàn khi nãy) &#8212; các cậu làm như thể tôi là khách không bằng.<br />
Vừa lúc đó thằng bé cháu út ngã và khóc. Dịp may hiếm có, tôi bảo Huân:<br />
&#8212; Kìa cậu dỗ cháu ngay đi. Thôi tôi đi, cậu đừng phải tiễn.<br />
Nhàn nhô ra khỏi bếp:<br />
&#8212; Khổ, sao anh vội thế? Ðâu phải là khách, nhưng anh em đã lâu quá mới gặp nhau.<br />
Tôi giơ tay chào đùa kiểu quân sự:<br />
&#8212; Ối chà, chuyến này còn nhiều dịp gặp nhau lo gì. A-lê! me-xừ Huân ra dỗ cháu đi kìa. Thôi nhé chào cả nhà.<br />
Vợ chồng Huân buồn thiu không chào lại được tôi, trong khi tiếng hai con cháu lớn lanh lảnh:<br />
&#8212; Lạy bác ạ&#8230; Lạy bác ạ&#8230;<br />
Tôi mỉm cười nhìn chúng một lần nữa, đứa nào cũng gầy và đen. Chúng vẫn còn giữ được lối chào kiểu cách Hà Nội hồi chưa tác chiến.</p>
<p>Tôi vội vã ra khỏi xóm, sợ Huân theo tiễn.</p>
<p>Ra tới đầu làng, nhìn bóng mình in dưới chân, tôi mới biết là chiều đã thật hết, trăng bắt đầu tỏ (&#8230;)</p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><strong>Nguyễn Du và đạo Phật</strong><strong></strong></h3>
<p>Nói đến Nguyễn Du là nói đến Truyện Kiều trước hết và dĩ nhiên chúng ta cũng không quên bài Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh của ngườì nữạ. Vậy tốt hơn hết chúng ta hãy “Cảo thơm lần giở trước đèn” để xem đạo Phật đã thể hiện ra sao qua nội dung truyện Kiều.<br />
Chúng ta hãy ôn lại Truyện Kiều từ đầu tới cuối<br />
Vào dịp: &#8230;</p>
<p>Thanh minh trong tiết tháng ba<br />
Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh</p>
<p>Kiều đã cùng hai em là Vương Quan và Thúy Vân đi chơi xuân, gia nhập vào cảnh:</p>
<p>Dập dìu tài tử giai nhân<br />
Ngựa xe như nước áo quần như nêm<br />
Và Kiều đã chúng kiến cảnh nấm mồ hương khói vắng tanh của nàng Đạm Tiên, một ca nhi tài sắc một thời. Và nàng Kiều đã nói:</p>
<p>Đã không kẻ đoái người hoài<br />
Sẵn đây ta kiếm một vài nén hương</p>
<p>Rồi đối cảnh sinh tình:</p>
<p>Rút trâm sẵn giắt mái đầu<br />
Vạch da cây vịnh bốn câu ba vần</p>
<p>Và Đạm Tiên đã hiển linh để tạ lòng ngưới tri kỷ khiến Kiều càng xúc động:</p>
<p>Lòng thơ lai láng bồì hồi<br />
Gốc cây lại vạch một bài cổ thi.</p>
<p>Kế đó là cuộc gặp gỡ Kim Trọng (bạn của Vương Quan) lần đầu tiên:</p>
<p>Chàng Vương quen mặt ra chào<br />
Hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa</p>
<p>Tuy nhiên với Kiều thì tình ý có tế nhị hơn:</p>
<p>Người quốc sắc kẻ thiên tài<br />
Tình trong như đã mặt ngoaì còn e</p>
<p>Đêm đó Kiều mơ thấy Đạm Tiên tới báo cho Kiều hay là:</p>
<p>Một mình lưỡng lự canh chầy<br />
Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh</p>
<p>Vương bà chợt thức giấc hỏi Thúy Kiều vì sao trằn trọc khóc thầm trong lúc canh khuya như vậỵ, và Thúy Kiều đã thành thực thưa với mẹ về việc Đạm Tiên báo mộng cho biết số kiếp đoạn trường sau này của cuộc đời nàng. Và Vương Bà đã nói với con:</p>
<p>Dạy rằng “Mộng huyễn chắc đâu<br />
Bỗng không mua não chuốc sầu nghĩ nao!</p>
<p>Trở lại với chàng Kim thì lòng chàng cũng</p>
<p>Mành tương phân phất gió đàn<br />
Hương gây mùi nhớ trà khan giọng tình<br />
Bâng khuâng nhớ cảnh nhớ người<br />
Nhớ nơi kỳ ngộ vội dời chân đi.</p>
<p>Nhưng mấy lần tới trước cổng nhà Kiều thì:</p>
<p>Thâm nghiêm kín cổng cao tường<br />
Cạn dòng lá thắm dứt đường chim xanh</p>
<p>Kim Trọng bèn thuê căn nhà của một thương gia ngay sát bên nhà Kiều:</p>
<p>Lấy điều du học hỏi Thuê<br />
Túi đàn cặp sách đề huề dọn sang</p>
<p>Nhưng đã hai tuần trăng qua mà chàng Kim vẫn chưa có dịp đươc thấy mặt nàng Kiều.<br />
Cho đến một hôm:</p>
<p>Cách tường phải buổi êm trời<br />
Dưới đào dường có bóng ngườì thướt tha<br />
Buông cầm xóc áo vội ra<br />
Hương còn thơm nức người đà vắng tanh<br />
Lần theo tường gấm dạo quanh<br />
Trên đào nhác thấy một cành kim thoa</p>
<p>Kim Trọng đã vội lấy cành kim thoa chờ lúc Thúy Kiều từ trong nhà trở ra tìm mới lên tiếng:</p>
<p>Thoa này bắt được như không<br />
Biết đâu Hợp Phố mà mong châu về</p>
<p>Và vào dịp Thúy Kiều xin lại cành kim thoa, Kim Trọng mới có dịp bày tỏ nỗi lòng tương tư của chàng và xin được hứa hôn cùng nàng. Thúy Kiều đã đáp lời chàng:</p>
<p>Dù khi lá thắm chỉ hồng<br />
Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha</p>
<p>Tuy nhiên chàng Kim đã nhân dịp đó mà cùng nàng Kiều:</p>
<p>Sẵn tay khăn gấm quạt qùy<br />
Với cành thoa ấy tức thì đôi trao</p>
<p>Sau đó nhân ngày sinh nhật ngoại gia, cả nhà đi dự duy có nàng Kiều ở nhà một mình mới<br />
có dịp</p>
<p>Cánh hoa sẽ đặng tiếng vàng<br />
Dưới hoa đã thấy có chàng đứng trông</p>
<p>Và Thúy Kiều đã gặp Kim Trọng ngay tại căn phòng thuê của chàng, ngắm bức họa mới vẽ của chàng, và theo lời đề nghị của chàng, Kiều đã:</p>
<p>Tay tiên gió táp mưa xa<br />
Khoảng trên dừng bút thảo và bốn câu</p>
<p>Câu chuyện cứ tiếp diễn như vậy, Kiều đã có lần đánh đàn cho Kim Trọng nghe. Lần đó Kim Trọng đã:</p>
<p>Xem trong âu yếm có chiều lả lơi<br />
Và Kiều đã phải cảnh giác chàng:</p>
<p>Thưa rằng: Đừng lấy làm chơi<br />
Dễ cho thưa hết một lời đã nao<br />
..<br />
Ra tuồng trên Bộc trong dâu<br />
Thì con người ấy ai cầu làm chi</p>
<p>Rồi sau đó Kim Trọng phải về quê Liêu Dương thọ tang chú Vương Ngoại bị vu oan, Thúy Kiều lâm cảnh bán mình chuộc tội cho chạ Thế là bắt đầu 15 năm lưu lạc cuả nàng, bán mình cho Mã Giám Sinh tay sai cuả mụ Tú Bà. Đi một tháng tròn mới tới Lâm Truỵ Kiều đã dùng dao tử vẫn trước Tú Bà. Trong cơn ngất bằn bặt này, Kiều đã gặp lại Đạm Tiên và được nàng cho hay:</p>
<p>Rỉ Rằng:<br />
“Nhân quả dở dang<br />
Đã toan trả nợ đoạn trường được sao<br />
Số còn nặng nghiệp má đào<br />
Nàng dù muốn quyết trời nào đã cho<br />
Hãy xin hết kiếp liễu bồ<br />
Sông Tiền Đường sẽ hẹn hò về sau.”</p>
<p>Tới đây chúng ta mới thấy Nguyễn Du đề cập tới nhân quả của nhà Phật, nghiệp cuả Nhà Phật.<br />
Trước ý chí cương quyết cuả Kiều, Tú Bà nhượng bộ, và Kiều được ra ở lầu Ngưng Bích. Tại đây Sở Khanh xuất hiện nói là sẽ ra tay tế độ cưú nàng. Nhưng khi Kiều đã ưng theo lời Sở Khanh thì Sở Khanh lẩn trốn và Tú Bà đã bắt Kiều trở lại lầu xanh tại Lâm Truỵ. Nơi đây Kiều gặp được Thúc Sinh &#8211; đã có vợ Cả là Hoạn Thư &#8211; ra tay tế độ cứu nàng ra khỏi chốn lầu xanh. Cha mẹ Thúc Sinh nổi giận đòi trả lại Kiều về chốn lầu xanh. Nhưng qua lời thú thực cuả Thúc Sinh, phủ Quan được biết Thúy Kiều tài sắc vẹn toàn, có tài làm thơ. Phủ Quan ra lệnh Kiều đề thơ và khi xem bài thơ của Kiều phủ Quan đã phải thốt lên:</p>
<p>Khen rằng giá đáng thịnh đường<br />
Tài này sắc ấy nghìn vàng chưa cân</p>
<p>Và Thúc Ông cũng đổi thái độ mà:</p>
<p>Thương vì hạnh trọng vì tài<br />
Thúc ông thôi cũng dẹp lời phong ba</p>
<p>Suốt một năm ròng hương lửa, Kiều khuyên Thúc Sinh nên về thăm vợ cả Hoạn Thư:</p>
<p>Xin chàng kíp liệu lại nhà<br />
Trước người đẹp ý sau ta biết tình</p>
<p>Nhưng Thúc Sinh đã không làm theo lời khuyên của nàng. Vì nghĩ rằng</p>
<p>“Nào ai có khảo mà mình lại xưng”<br />
Sau khi đã xum họp vợ Chồng với Hoạn Thư, đã tới thời Thúc Sinh trở lại Lâm Truy gặp lại Kiềụ Thúc Sinh đi theo đường bộ, Hoạn Thư sai gia nhân đi đường biển gần hơn tới Lâm Truy trước đó để bắt Kiều về. Trong khi đó với Kiều thì:</p>
<p>Đêm thu gió lọt song đào<br />
Nửa vành trăng khuyết ba sao trên trời<br />
Nén hương đến trước Phật đài<br />
Nỗi lòng khấn chưả cạn lời vân vân<br />
Dưới hoa dậy lũ ác nhân<br />
Ầm ầm khốc quỷ Kinh thần mọc ra</p>
<p>Kiều bị tưới thuốc mê mang đi, và để khiến mọi người sau đây tưởng lầm là Kiều đã chết bèn bày bàn thờ:</p>
<p>Sẵn thây vô chủ bên sông<br />
Đem vào để đó lộn sòng ai hay</p>
<p>Quả Nhiên khi đám gia nhân cuả Thúc Ông tới dập tắt lưả cháy thì:</p>
<p>Chạy vào chốn cũ phòng hương<br />
Trong tro thấy một đống xương cháy tàn</p>
<p>Thì ngay tình tin là Kiều đã chết cháỵ Thúc Ông bèn cho thu lượm gom lại, khâm liệm làm tang lễ. Thúc Sinh cũng vừa về tới và dĩ nhiên cũng tin là Kiều đã chết cháỵ. Nhưng gần miếu có một Thầy “Cao tay thông huyền” Thúc Sinh bèn tìm đến hỏi thì được Thầy cho biết: Kiều “Còn nhiều nợ lắm sao đà thác cho”. Hãy đợi một năm nưã thì sẽ biết tin! Và chính vào dịp này Thúc Sinh sẽ lâm vào tình trạng trớ trêu:</p>
<p>Hai bên giáp mặt triền triền<br />
Muốn nhìn mà chẳng dám nhìn lạ thay</p>
<p>Thúc Sinh không tin lời ông Thầy và nghĩ rằng:</p>
<p>Chẳng qua đồng cốt quàng xiên<br />
Người đâu mà lại thấy trên cõi trần</p>
<p>Trong khi đó Khuyển Ưng đã khiêng Kiều xuống thuyền và:</p>
<p>Buồm cao lèo thẳng cánh suyền<br />
Dè chừng huyện tích băng mình vượt sang</p>
<p>Kiêu bị đánh đòn rồi bị chuyển thành thị tì với tên là Hoa Nô.<br />
Bà quản gia thương Kiềụ, Hoạn Thư vào dịp nghe Kiều đàn cũng cảm thương mà nới taỵ<br />
Thế là Kiều không được dip gặp Thúc Sinh ở Lâm Truỵ. Thúc Sinh đành rời Lâm Truy trở về gia hương. Hoạn Thư đón mừng sai Kiều ra chàọ Thúc Sinh biết mình đã mắc mưu ai rồị. Vị trí Kiều với Thúc Sinh nay đã biến đổi thành con ở và chủ nhà. Và khi Kiều bị Hoạn Thư bắt gãy đàn thì Hoạn Thư và Thúc Sinh ở hai tâm cảnh khác nhau:</p>
<p>Cũng trong một tiếng tơ đồng<br />
Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm.</p>
<p>Sau đó Hoạn Thư nguôi ngoai cơn ghen và theo lời Thúc Sinh cho Kiều tu tại Quan Âm Các ở ngay vườn nhà với pháp danh Trạc Tuyền:</p>
<p>Áo xanh đổi lấy Cà Sa<br />
Pháp danh lại đổi tên ra Trạc Tuyền</p>
<p>Nhân dịp Hoạn Thư về nhà vấn an cha mẹ, Thúc Sinh vội tìm gặp Kiều, khuyên Kiều hãy nên cao chạy xa bay:</p>
<p>Liệu mà cao chạy xa bay<br />
Ái ân ta có ngần này mà thôi<br />
Bây giờ kẻ ngược người xuôi<br />
Biết bao giờ lại nối lời nước non<br />
Dẫu rằng sông cạn đá mòn<br />
Con tằm đến thác cũng còn vương tơ</p>
<p>Vừa lúc đó Hoạn Thư xuất hiện, nói là:</p>
<p>Tìm hoa quá bước xem người viết kinh<br />
Nhưng sau đó hỏi hoa tì Kiều được hoa tì cho hay:</p>
<p>Hoa rằng bà đến đã lâu<br />
Nhón chân đứng nép độ đâu nửa giờ</p>
<p>Do đó Kiều hốt hoảng tự nhủ thầm:</p>
<p>Thân ta ta phải lo âu<br />
Miệng hùm nọc rắn ở đâu chốn này</p>
<p>Và Kiều đã trốn khỏi Quan Âm Các vào khoảng canh ba mang theo chuông vàng khánh bạc để phòng thân. Đi miệt vừa rạng sáng thì:</p>
<p>Chuà đâu trông thấy nẻo xa<br />
Rành rành Chiêu Ẩn Am ba chữ bài</p>
<p>Tại dây Kiều đã gặp Sư Trưởng Giác Duyên nói thác là:</p>
<p>Tiểu thiền quê ở Bắc Kinh<br />
Quy sư quy Phật tu hành bấy lâu<br />
Bản sư rồi cũng đến sau<br />
Dạy đưa pháp bảo sang hầu sư huynh<br />
Rày vâng diện hiến rành rành<br />
Chuông vàng khánh bạc bên mình giở ra</p>
<p>Trong thời gian được lưu trú lại chùa Kiều đã:</p>
<p>Kệ kinh câu cũ thuộc lòng<br />
Hương đèn việc trước trai phòng quen tay<br />
Sớm khuya lá bối phiến mây<br />
Ngọn đèn khuê nguyệt tiếng chày nện sương<br />
Thấy nàng thông tuệ khác thường<br />
Sư càng nể mặt nàng càng vững chân</p>
<p>Chẳng may có người tới thăm chùa nói với sư trưởng “chuông vàng khánh bạc sao giống loại chuông vàng khánh bạc đã mất cắp tại chùa nhà Hoạn Thư.<br />
Chờ đêm thanh vắng Giác Duyên hỏi Kiều, Kiều thực tình thưa lại sự tình. Giác Duyên khuyên Kiều hãy sang ở tạm nhà Bạc Bà một Phật tử thường hay lui tới chùa nàỵ<br />
“Ai ngờ Bạc Bà cùng với Tú Bà đồng môn”.</p>
<p>Bạc Bà khuyên Kiều hãy lấy cháu mình là Bạc Hạnh tính tình thực thà, có cửa hàng buôn bán ở Châu Thai, 2 người lấy nhau rồi sẽ trở về Châu Thaị<br />
Ngay phút đầu gặp mặt Kiều đã sinh nghi:</p>
<p>Thiếp như con én lạc đàn<br />
Phải cung rày đã sợ làm cây cong</p>
<p>Quả thực sau này vỡ lẽ: Bạc Hạnh cũng là người buôn người và y đã bán Kiều vào lầu xanh. May thay lần này Kiều gặp được Từ Hải và được Từ Hải chuộc ra khỏi lầu xanh để:</p>
<p>Trai anh hùng gặp gái thuyền quyên<br />
Phỉ Nguyền sánh phượng đẹp duyên cưỡi rồng</p>
<p>Nhưng:</p>
<p>Nửa năm hương lửa đương nồng<br />
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương</p>
<p>Thế là Từ Hải lại ra đi mong sớm thực hiện chí lớn. Ở lại một mình Kiều nhớ nhà, nhớ các em, nhớ chàng Kim.<br />
Từ Hải đã thành công. Binh tướng cuả Từ Hải tới đón Kiều để làm lễ vu quy. Đây là dịp để Kiều trả ân báo oán. Trước hết Kiều báo ân Thúc Sinh, Giác Duyên…sau đó báo oán: Bạc Hạnh , Bạc Bà, Sở Khanh, Khuyển, Ưng, Tú Bà, Mã Giám Sinh.<br />
Giác Duyên Vì trước đó đã được gặp sư Tam Hợp có tài tiên tri nên khi từ biệt Thúy Kiều đã khẳng định với Kiều là trong 5 năm nữa sẽ lại gặp nhaụ.<br />
Hồ Tôn Hiến thuyết Từ Hải hãy quy hàng triều đình để được hưởng công danh phú quý. Từ Hải không muốn hàng, nhưng Kiều nhẹ dạ cả tin cố thuyết phục Từ Hải. Vì nghe theo Kiều, Từ Hải đã mắc mưu Hồ Tôn Hiến. Từ Hải chết đứng vì uất ức. Kiều gắng xin Hồ Tôn Hiến một mảnh đất để chôn Từ Hải:</p>
<p>Xin cho tiện thổ một đời<br />
Gọi là đắp điếm lấy người tử sinh</p>
<p>Tối hôm đó vào lúc tiệc mừng chiến thắng Hồ Tôn Hiến đã ép Kiều phải vào đánh đàn:</p>
<p>Trong quân mở tiệc hạ công<br />
Xôn xao tơ trúc hội đồng quân quan<br />
Bắt nàng thị yến dưới màn<br />
Dở say lại ép cung đàn nhặt tâu<br />
Một cung gió thảm mưa sầu<br />
Bốn dây nhỏ Máu năm đầu ngón tay<br />
Ve ngâm vượn hót nào hay<br />
Lọt tai Hồ cũng nhăn mày rơi châu</p>
<p>Và Hồ hỏi Kiều có muốn làm lại cuộc đời kết duyên cầm sắc với ai không? Kiều đã trả lời:</p>
<p>Thưa rằng: chút phận lạc loài<br />
Trong mình nghĩ đã có người thác oan<br />
Còn chi nữa cánh hoa tàn<br />
Tơ lòng đã đứt dây đàn Tiểu Lâm<br />
Rộng thương còn mảnh hồng quần<br />
Hơi tàn đuốc thấy gốc phần là may</p>
<p>Đến lúc rạng ngày Hồ Công hối hận việc ép Kiều đánh đàn cho mình nghe hôm trước:</p>
<p>Nghĩ mình phương diện quốc gia<br />
Quan trên nhắm xuống người ta trông vào<br />
Bèn gán ép Kiều cho một người thổ quan:<br />
Kiệu hoa áp thẳng xuống thuyền</p>
<p>Và:</p>
<p>Triều đâu nổi tiếng đùng đùng<br />
Hỏi ra mới biết rằng sông Tiền Đường</p>
<p>Kiều sực nhớ lại lời Đạm Tiên xưa đã nói với mình trong mộng:<br />
Sông Tiền Đường sẽ hẹn hò về sau</p>
<p>Thế là Kiều quyết định ngay:<br />
Thôi thì 1 thác cho rồi<br />
Tấm lòng phó mặc trên trời dưới sông<br />
Trông vời non nước mênh mông<br />
Đem mình gieo xuống giữa dòng Trường Giang<br />
Thổ quan theo vớt vội vàng<br />
Thì đà đắm ngọc chìm hương mất rồi<br />
Trở lại với Giác Duyên, từ thuở giã biệt Kiều để tiếp tục trên đường vân du, Sư bà đã có dịp gặp Tam Hợp đạo cô bèn hỏi Đạo cô về trường hợp của Kiều:</p>
<p>Người sao hiếu nghĩa đủ đường<br />
Kiếp sao rặt những đoạn trường thế thôi</p>
<p>Sư bà được đạo cô cho hay là:</p>
<p>Thúy Kiều sắc sảo khôn ngoan<br />
Vô duyên là phận hồng nhan đã đành<br />
Lại mang lấy một chữ tình<br />
Khư khư mình buộc lấy mình vào trong</p>
<p>Khi thầy Giác Duyên nghe nói rụng rời đạo cô bèn trấn an ngay:</p>
<p>Sư rằng song chẳng hề chi<br />
Nghiệp duyên cân lại nhắc đi còn nhiều<br />
Xét trong tội nghiệp Thúy Kiều<br />
Mắc điều tình ái khỏi đường tà dâm<br />
Lấy tình thâm trả nghĩa thâm<br />
Bán mình đã động hiếu tâm đến trời<br />
Hại một người cứu muôn người<br />
Biết đường khinh trọng biết lời phải chăng<br />
Thửa công đức ấy ai bằng<br />
Túc khiên đã rửa lâng lâng sạch rồi</p>
<p>Như vậy là Kiều đã “đức năng thắng số”. Đạo cô khuyên:</p>
<p>Giác Duyên dù nhớ nghĩa nhau<br />
Tiền đường thả một bè lau rước người</p>
<p>Giác Duyên làm đúng theo lời chỉ dẫn của Tam Hợp đạo cô<br />
Vì vậy đã cứu được Thúy Kiều khi nàng gieo mình xuống sông Tiền Đường và mời Kiều về thảo lư ở với mình:</p>
<p>Một nhà chung chạ sớm trưa<br />
Gió trăng mát mặt muối dưa chay lòng<br />
Bốn bề bát ngát mênh mông<br />
Triều dâng hôm sớm mây lồng trước sau</p>
<p>Trở về chuyện chàng Kim. Chàng ở Liêu Dương nửa năm, khi chàng trở về chốn cũ mới hay Kiều đã bán mình chuộc tội cho cha Vương Quan với Thúy Vân sống nghèo túng, may thuê viết mướn kiếm ăn lần hồi. Ông bà Viên ngoại còn sống. Thấy chàng Kim thương nhớ Kiếu, Vương Ông quyết định vội vàng sắm sưả chọn ngày để:</p>
<p>Duyên Vân sớm đã se dây cho chàng</p>
<p>Sau đó Vương Quan, Kim Trọng thi đỗ. Kim Trọng đi nhậm chức tại Lâm Truy, gặp Thúc Sinh mới hay về chuyện Từ Hải chết đứng. Và Kim Trọng quyết định đi tìm Kiều:</p>
<p>Rắp mong treo ấn từ quan<br />
Mấy sông cũng lội mấy ngàn cũng pha<br />
Dấn mình trong áng can qua<br />
Vào sinh ra tử họa là có nhau<br />
Vừa lúc đó có chiếu vua cải nhận Kim Trọng tới Nam Bình, Vương Quan tới Phú Dương. Hai chàng cùng chuẩn bị lên đường thì vưà hay thế giặc đã tan:</p>
<p>Sóng êm Phúc Kiến lửa tàn Chiết Giang</p>
<p>Và:</p>
<p>Được tin Kim mới rủ Vương<br />
Tiện đường cùng lại tìm nàng sau xưa</p>
<p>Tới Hàng Châu tìm hỏi tin tức mới hay chuyện Từ Hải chết đứng, Thúy Kiều bị ép duyên cho thổ quan đã trầm mình xuông sông Tiền Đường. Thật tội nghiệp: cả nhà vinh hiển riêng oan một nàng! Hai chàng bèn làm lễ chiêu hồn giải oan ngay bên bờ sông Tiền Đường thì may sao:</p>
<p>Cơ duyên đâu bỗng lạ Sao<br />
Giác Duyên đâu bỗng tìm vào đến nơi</p>
<p>Vì gặp Giác Duyên mọi người mới biết Thúy Kiều còn sống. Kiều gặp đủ mặt người thân:</p>
<p>Tưởng bây giờ là bao giờ<br />
Rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao</p>
<p>Nhưng khi Vương Ông bảo Kiều hãy theo mọi người cùng về thì Kiều đã thưa lại:</p>
<p>Nàng rằng: Chút phận hoa rơi<br />
Nửa đời nếm trải mọi mùi đắng cay<br />
Tính rằng mặt nước chân mây<br />
Lòng nào còn tưởng có rày nữa không<br />
Được rày tái thế tương phùng<br />
Khát khao đã thỏa tấm lòng lâu nay<br />
Đã đem mình bỏ am mây<br />
Tuổi này gởi với cỏ cây cũng vừa</p>
<p>Mùi thiền đã bén muối dưa<br />
Màu thiền ăn mặc đã ưa nâu sồng<br />
Sự đời đã tắt lửa lòng<br />
Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi</p>
<p>Vương Ông vẫn khuyên Kiều hãy quay về xum họp, vì chấp kinh cũng phải tòng quyền rồi:</p>
<p>Độ Sinh nhờ đức cao dày<br />
Lập am rồi sẽ rước Thầy ở chung<br />
Và Kiều đã:</p>
<p>Nghe lời nàng phải chiều lòng<br />
Giã sư giã cảnh đều cùng bước ra</p>
<p>Về tới nhà trong bữa tiệc xum họp nàng Vân tuyên bố là xưa vì nạn nhà mà mối duyên của chị với chàng Kim nàng phải đứng ra thay chị nhưng:</p>
<p>Bây giờ gương vỡ lại lành<br />
Khuôn thiêng lừa lọc đã đành có nơi<br />
Còn duyên may lại còn người<br />
Còn vầng trăng bạc còn lời nguyền xưa</p>
<p>Kiều gạt phắt lời em, vì nghĩ thân mình dãi gió dầm mưa đã nhiều Chàng Kim khăng khăng góp ý với Kiều:</p>
<p>Một lời đã chót thâm giao<br />
Dưới dày có đất trên cao có trời<br />
Dẫu rằng vật đổi sao dời<br />
Tử Sinh cũng giữ lấy lời tử Sinh</p>
<p>Kiều vẫn cương quyết khước từ và thưa thẳng với chàng Kim:</p>
<p>Thiếp từ ngộ biến đến giờ<br />
Ong qua bướm lại đã thừa xấu xa<br />
Bấy chầy gió táp mưa sa<br />
Mấy trăng cũng khuyết mấy hoa cũng tàn</p>
<p>Và nàng đề nghị hãy từ tình duyên đổi sang tình bạn:</p>
<p>Chàng dù nghĩ đến tình xa<br />
Đem duyên cầm sắt ra duyên cầm kỳ</p>
<p>Chàng Kim vẫn cương quyết nói với nàng là chữ trinh kia cũng có ba bảy đường:</p>
<p>Như nàng lấy hiếu làm trinh<br />
Bụi nào cho đục được mình ấy vay<br />
Trời còn để có hôm nay<br />
Tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời<br />
Hoa tàn mà lại thêm tươi<br />
Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa</p>
<p>Cả Vương Ông, Vuơng Bà cùng chàng Kim dồn Thúy Kiều vào thế hết lời khôn lẽ chối lời</p>
<p>Cúi đầu nàng những ngắn dài thở than<br />
Và nàng chịu làm lễ đủ đôi với chàng.</p>
<p>Nhưng đêm hôm đó trong phòng chỉ còn riêng hai người nàng mới thỏ thẻ nói lại với chàng lý lẽ của mình. Em Vân đã thay nàng trả nợ tình xưa, còn mình thì:</p>
<p>Chữ trinh còn một chút này<br />
Chẳng cầm cho vững lại giày cho tan<br />
Còn nhiều ân ái chan chan<br />
Hay gì vẫy cánh hoa tàn mà chơi</p>
<p>Sau cùng Kim Trọng hoàn toàn đồng ý với nàng đem duyên cầm sắt ra duyên cầm kỳ. Chàng cũng khẳng định là</p>
<p>Bấy lâu đáy bể mò kim<br />
Là nhiều vàng đá phải tìm trăng hoa<br />
Ai ngờ lại họp một nhà<br />
Lọ là chăn gối mới ra sắt cầm</p>
<p>Và Kiều đã sửa áo cài trâm khấn đầu lạy tạ Chàng Kim:</p>
<p>Thân này gạn đục khơi trong<br />
Là nhờ quân tử khác lòng người ta</p>
<p>Sau đó Kim Trọng lại yêu cầu cho nghe lại tiếng đàn xưa của nàng. Nàng thuận tình chiều ý chàng nhưng lần này thì</p>
<p>Khúc đâu đầm ấm dương hòa<br />
Ấy là hồ điệp hay là Tráng sinh<br />
Khúc đâu êm ái xuân tình<br />
Ấy hồn Thục đế hay mình Đỗ Quyên<br />
Trông sao châu nhỏ duềnh quyên<br />
Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đông<br />
Thúy Kiều cũng không quên<br />
Nhớ lời lập một am mây<br />
Khiến người thân tín rước Thầy Giác Duyên</p>
<p>Nhưng:</p>
<p>Đến nơi đóng cửa cài then<br />
Rêu trùm kẽ ngạch cỏ lên mái nhà<br />
Sư đà hái thuốc phương xa<br />
Mây bay hạc lánh biết là tìm đâu<br />
Nặng vì chút nghĩa bấy lâu<br />
Trên am cứ giữ hương dầu hôm mai</p>
<p>Thúy Kiều tiếp tục cuộc sống thảnh thơi hạnh phúc của kẻ đã trả nợ xong nghiệp cũ:</p>
<p>Một nhà phúc lộc gồm hai<br />
Nghìn năm dằng dặc quan giai lần lần<br />
Thừa ai chẳng hết nàng Vân<br />
Một cây cù mộc một sân quế hòe</p>
<p>Và Nguyễn Du đã kết thúc Truyện Kiều với những lời thơ đề cập tới chữ tài, chữ mệnh , chữ tâm, thiện căn và nghiệp nơi con người:</p>
<p>Ngẫm hay muôn sự tại trời<br />
Trời kia đã bắt làm người có thân<br />
Bắt phong trần phải phong trần<br />
Cho thanh cao mới được phần thanh cao<br />
Có đâu thiên vị người nào<br />
Chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai<br />
Có tài mà cậy chi tài<br />
Chữ tài liền với chữ tai một vần<br />
Đã mang lấy nghiệp vào thân<br />
Cũng đừng trách lẫn trời gần xa<br />
Thiện tâm ở tại lòng ta<br />
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài<br />
Lời quê chắp nhặt dông dài<br />
Mua vui cũng được một vài trống canh</p>
<p>Như vậy là đọc lại từ đầu đến cuối Truyện Kiều, chúng ta thấy cụ Tiên Điền đã 6 lần đề cập đến đạo Phật hoặc qua nhân vật hoặc qua tình tiết truyện.<br />
Lần thứ nhất: Khi Kiều dùng dao tự vẫn trước Tú Bà, trong cơn ngất bằn bặt Kiều đã được Đạm Tiên báo cho hay:</p>
<p>Rỉ Rằng: Nhân quả dở dang<br />
Đã toan trốn nợ đoạn truờng được sao<br />
Số còn nặng nợ má đào<br />
Người dù muốn quyết trời nào đã cho<br />
Hãy xin hết kiếp liễu bồ<br />
Sông Tiền Đường sẽ hẹn hò về sau</p>
<p>Như vậy là lần thư nhất này qua lời báo mộng của Đạm Tiên , Nguyễn Du đã đề cập đến luật nhân quả và chữ nghiệp cuả nhà Phật<br />
Lần thứ hai: Khi biết Thúc Sinh “vườn mới thêm hoa” (gian díu với Thúy Kiều), Hoạn Thư đã:</p>
<p>Lửa tâm càng dập càng nồng<br />
Trách người đen bạc ra lòng trăng hoa</p>
<p>Hai chữ lửa tâm trên đây cũng đượm phần giáo lý cuả Nhà Phật<br />
Lần thứ ba: Khi Thúc Sinh trở lại Lâm Truy bằng đường bộ để gặp lại Thúy Kiều thì Hoạn Thư đã sai lũ gia nhân đi bằng đuờng biển gần hơn bắt Thúy Kiều<br />
Trong khi đó với Kiều khi chưa bị lũ gia nhân cuả Hoạn Thư tới bắt thì</p>
<p>Đêm thu gió lọt song đào<br />
Nửa vành trăng khuyết ba sao trên trời<br />
Nén hương đến trước Phật đài<br />
Nỗi lòng khấn chửa cạn lời vân vân</p>
<p>Theo lời bàn xưa thì hình ảnh “nửa vành trăng khuyết ba sao trên trời cũng là gián tiếp nhắc đến chữ Tâm của đạo Phật<br />
Lần thứ tư: Khi Kiều đã bị bán mình cho Mã Giám Sinh tay sai của Mụ Tú Bà, tới đây Nguyễn Du qua lời Đạm Tiên nói với Thúy Kiều đã đề cập tới Luật nhân quả và chữ Nghiệp trong đạo Phật:</p>
<p>Rỉ Rằng: Nhân quả dở dang<br />
Đã toan trả nợ đoạn trường được sao<br />
Số còn nặng nghiệp má đào<br />
Nàng đà muốn quyết trời nào đã cho</p>
<p>Lần thứ năm: Khi Kiều trầm mình xuống sông Tiền Đường nàng được sư bà Giác Duyên cứu sống và Kiều đã theo về thảo lư chung sống với sư bà.<br />
Lần thứ sáu: Với sáu câu sau cùng cuả Truyên Kiều cụ Nguyễn Du đã dùng đến chữ Nghiệp và chữ Tâm cuả Nhà Phật để hàm ý khuyên chúng ta một nếp sống tâm linh lành mạnh:</p>
<p>Đã mang lấy nghiệp vào thân<br />
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa<br />
Thiện căn ở tại lòng ta<br />
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài<br />
Lời quê chắp nhặt dông dài<br />
Mua vui cũng được một vài trống canh.</p>
<p>Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni,</p>
<p><strong><em>(Bài viết của Giáo sư Doãn Quốc Sỹ cho chương trình chuyên đề của</em></strong><em><br />
</em><strong><em>Phật Học Ðường Vạn Hạnh Online)</em></strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><strong>Chiếc chiếu hoa cạp điều</strong><strong></strong></h3>
<p>Quê tôi cách Hà Nội chừng 5 cây số. Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ thì gia đình tôi tản cư lên Nhã Nam thuộc huyện Yên Thế, Bắc Giang. Đến năm 1948 khi cậu tôi từ Vĩnh Yên lên thăm chúng tôi lần đầu thì toàn thể gia đình chúng tôi ai nấy đều có màu da nửa vàng nửa xám xịt vì sốt rét rừng.<br />
&#8211; Anh chị phải cho các cháu tản cư về mạn dưới như chúng tôi &#8211; lời cậu tôi nói với thầy mẹ tôi &#8211; chứ cứ như thế này thì không chết cũng chẳng còn ra hồn người nữa.<br />
Sau ngót hai năm tản cư gia đình tôi khánh tận rồi. Có lẽ vì nghĩ vậy nên thầy mẹ tôi tìm cách nói thác:<br />
&#8211; Ngày xưa vùng Yên Thế Thượng này độc nhưng nay vì có nhiều người lên khai phá nên khí hậu cũng không đáng ngại lắm.<br />
Cậu tôi không chịu:<br />
&#8211; Anh chị về Vĩnh Yên gần chúng tôi cho có anh có em, vừa tránh được nạn sốt rét rừng vừa có cơ buôn bán khá. (Dạo đó Vĩnh Yên còn là cửa ngõ của việc thông thương giữa Liên khu III với Bắc Việt).<br />
Rồi cậu tôi về Vĩnh Yên. Hai tháng sau người lại lên, nhất quyết đón gia đình tôi xuôi, nói là nơi ăn chốn ở đã thu xếp đâu vào đó cả.<br />
Thế là gia đình tôi xuôi Vĩnh Yên, còn một mình tôi ở lại Sở Thông Tin Liên khu I. Công tác của tôi là đi tuyên truyền mười điều kháng chiến trong toàn huyện Yên Thế. Vì lưu động như vậy nên tôi cũng quên đi nỗi buồn gia đình phân cách đôi nơi. Nỗi buồn đó chỉ đến thắc mắc lòng tôi mỗi khi trở về trụ sở kiểm điểm công tác. Trụ Sở Thông Tin ở một làng bên tả ngạn sông Thương, gần một bến đò đẹp vào bậc nhất Bắc Giang, bến đò Lục Liễu. Để tăng phần thơ mộng cho cái tên đó tôi vẫn thường dịch nôm là &#8220;Bến đò liễu xanh&#8221;.<br />
Thư của em tôi tới báo cho hay gia đình đã tới tản cư cùng làng với gia đình cậu mợ tôi. Làng đó ở ngay bến Rau, bên này là Vĩnh Yên, bên kia là Sơn Tây rất thuận tiện cho việc buôn bán.<br />
Rủi thay, thầy mẹ tôi vừa đến Vĩnh Yên thì quân Pháp mở chiến dịch càn quét khắp vùng Sơn Tây rồi thiết lập thêm đồn quân dọc theo hữu ngạn sông Hồng từ Sơn Tây ngược lên đến Việt Trì. Các ngả đường giao thông với Liên khu III đều bị quân Lê Dương phục kích ráo riết.<br />
Cậu tôi đã rơi vào ổ phục kích của chúng, dấn vốn khánh tận may thoát được người. Mẹ tôi phải ngừng chuyện buôn bán.<br />
Nghe nói làng N.H. bên hữu ngạn sông Đáy gần chân dãy núi Tam Đảo là một làng trù mật, chuyên bán đỗ, gia đình tôi bèn chuyển đến đây theo sáng kiến của mẹ tôi. khi tới nơi, mẹ tôi mới thấy rằng mình đã nhầm. Trước đấy một năm thì địa điểm này buôn bán được vì hầu như dân chúng toàn hạt Vĩnh Yên đổ xô về để tránh Pháp tấn công, nhưng nay, tình hình tạm yên ai nấy trở về chốn cũ, địa điểm N.H. trở lại chốn trầm mặt của chốn chuyển tiếp giữa vùng trung du bên dưới với vùng đèo heo hút gió bên trên.<br />
Vừa lúc đó tôi xin thôi ở sở Thông Tin về.<br />
Mẹ tôi mừng lắm vì người vẫn thường nói: &#8220;Thời loạn lạc gia đình nên gần nhau nhỡ có thế nào&#8230;&#8221;. Hình như trong óc người &#8211; có thể nói trong óc mỗi người trong gia đình tôi &#8211; đều luôn luôn lo sợ cảnh một người bị chết vì bom đạn rồi mất xác vì gia đình không kịp biết để nhìn nhận. Niềm vui đoàn tụ giúp chúng tôi bớt buồn nản khi thu xếp gồng gánh trở lại huyện Yên Lạc. Lần này gia đình tôi không dám ở gần bến đò Rau nữa vì sợ phi cơ oanh tạc, mà ở một làng cách huyện Yên Lạc chừng gần một cây số. Gia đình cậu tôi ở ngay làng bên. Lẽ cố nhiên cả hai gia đình chúng tôi cùng nghèo túng lắm, nghèo túng đến nỗi cậu mợ tôi, thày me tôi cũng không dám sang nhà thăm nhau, chỉ chiều chiều ra gặp nhau trên quãng đường đá nối huyện Yên Lạc với bến đò Rau.<br />
Tôi gặp lại người yêu cũ từ Phủ Lý (Khu III) chạy lên. Chúng tôi thành vợ chồng, tuy có ký giấy tờ tại Ủy Ban Kháng Chiến Hành Chính Huyện &#8211; cậu mợ tôi là những người làm chứng &#8211; nhưng đám cưới hoàn toàn êm ả, y như một đám cưới vụng trộm.<br />
Em gái lớn tôi xoay đi buôn gạo, ngày ngày kĩu kịt đi về 20 cây số kiếm chút lãi. Ở Yên Thế tuy bị sốt rét nhưng nhà ở giữa rừng ít lo bị địch tấn công bất ngờ; tuy cũng nghèo túng nhưng còn có đất rộng để tăng gia rau cỏ và nuôi được lợn gà.<br />
Về đây những buổi ăn cháo ngô trừ bữa, mẹ tôi thường có ý khép cửa giữa lại.<br />
Em gái tôi đã phải đi chợ thật xa để đong gạo rẻ mà rồi tính ra lời lãi cũng chẳng được là bao. Các cụ giải thích hiện tượng kinh tế này bằng câu: &#8220;Thóc gạo có tinh&#8221;, mẹ tôi làm tương gánh đi các chợ xa bán để kiếm thêm. Vợ tôi tạng người yếu nhưng khéo tay, không làm được việc nặng, nàng phụ trách những việc nhẹ như rang đỗ tương, ủ mốc, pha muối vào nước tương&#8230;<br />
Dạo đó trường Luật mở ở gần chợ Me (Vĩnh Yên), tôi có ghi tên theo học nốt năm thứ ba hy vọng ngày thành tài sẽ ra thẩm phán, đồng lương họa có cao để giúp gia đình. Vì hoàn cảnh kháng chiến các giáo sư thường từ nơi xa lại trường sở dạy liền trong mấy ngày, sau đó sinh viên tự tìm tài liệu nghiên cứu thêm. Có khi thời gian nghiên cứu lấy dài hơn một tháng mới có giáo sư mới. Tôi triệt để lợi dụng khoảng cách này để bon về giúp đỡ gia đình những công việc nặng.<br />
Mùa đông năm đó rét lạ lùng. Gió hun hút giật từng cơn buốt như dao cắt từng mảnh thịt hở, thế mà hôm nào mẹ và em gái tôi cũng phải dậy từ bốn giờ rưỡi sáng để sửa soạn gồng gánh ra đi. Quần áo và chăn chiếu của gia đình tôi thiếu mất nhiều. Thằng em thứ ba của tôi có được cái chiếu rách mướp vừa nằm vừa đắp, chân thò ra ngoài thì nó lấy rơm phủ lên.<br />
&#8211; &#8220;Ấy cứ thế mà ấm ra phết anh ạ&#8221; &#8211; Nó vừa cười khoái trí vừa nói với tôi như vậy.<br />
Các em trai em gái tôi đã lớn cả, chúng tôi hầu như thường thi đua trong việc nhường nhịn nhau. Mẹ tôi chỉ còn thắc mắc về thằng em út của tôi. Nó còn nhỏ tuổi quá chưa thể tìm nguồn vui ở tinh thần để quên đói rét. Tương đối với cả nhà nó được mặc lành nhất. Nó mặc cái áo đỏ chót có những vệt chữ nho đen và những đường kim tuyến (nguyên đó là chiếc câu đối người ta phúng bà tôi hồi chưa tác chiến). Câu đối đỏ thì may áo, còn nẹp sa teng vàng mẹ tôi cố gạn may thêm cho nó chiếc áo di-lê. Chúng tôi gọi đùa nó là &#8220;anh cờ đỏ sao vàng&#8221;. Đêm đến rét quá không đủ chăn ấm, nó thường khóc khậm khạch. Chỉ cần có thêm đôi chiếu nữa thì cả nhà đủ ấm.<br />
&#8211; &#8220;Chiếu cói kỵ gió&#8221;. &#8211; Mẹ tôi bảo thế.<br />
Nhưng đến ăn còn chẳng đủ làm sao chúng tôi mua được đôi chiếu bây giờ?<br />
Hôm đó suốt từ sáng sớm đến trưa phi cơ bay từng đoàn bắn phá và dội bom liên tiếp xuống các chợ lân cận: chợ Me, chợ Vàng, chợ An Lạc&#8230; Mọi ngày chỉ khoảng bốn giờ chiều mẹ tôi có mặt ở nhà. Ngày đó giời đã xế chiều mà người vẫn chưa về. Toàn thể gia đình tôi bắt đầu sốt ruột tuy không ai nói một câu.<br />
Chiều ngả màu xẫm. Gió bấc rít trong bụi tre già làm nền cho tiếng khàn khàn của lũ quạ lục đục trong ổ, gió bấc xoáy từng vòng cuồng loạn dứt từng vốc lá tre, lá bưởi vàng úa rồi lại nhào vút mất hút ra ngoài cánh đồng bát ngát hiu quạnh.<br />
Mẹ tôi vẫn chưa về.<br />
Trong óc tôi thoáng hiện những cảnh chợ bị phi cơ tàn phá, những hình người không kịp xuống hầm bị đạn chết gục bên cột lều tay còn quờ ôm những đồ hàng của mình, những hình người bị bom napalm thiêu rụi như những thân chuối cháy đen&#8230; Và tôi vùng ra cổng.<br />
Thày tôi biết ý hẹn với:<br />
&#8211; Con cứ thẳng đường ra bến Rau. Mẹ con thường về đường ấy.<br />
Ra tới cổng làng, tôi đi như bay theo đường đã định, cổ họng nghẹn ngào, dạ cồn lên như lửa đốt. Con đường như rộng thênh thang, cánh đồng ngập trong bóng chiều xẫm và trong gió bấc, càng trở thành mênh mông. Tôi vun vút nhảy qua các hố phá hoại mà đi như một bóng ma cô độc đương muốn biến theo luồng gió.<br />
Từ xa như có bóng người đi lại. Chắc người đó ở chợ Rau về. Để tôi phải hỏi tin tức về việc phi cơ oanh tạc hôm nay.<br />
Hình như trên đòn gánh người đó có vắt ngang một cái gì.<br />
Tôi lướt vội lên. Trời ơi, mẹ tôi!<br />
Hai mẹ con mừng mừng tủi tủi như gặp nhau ở cửa âm ti.<br />
Tôi hỏi: &#8220;Sao mẹ về muộn thế, cả nhà lo tưởng phát điên lên&#8221;. Mẹ tôi cho biết hàng hôm nay bán ở chợ không hết, người phải đi sâu vào một vài làng lân cận để bán nốt. Rồi khi xuống khỏi đê, qua cái lạch lớn, thấy có chiếc chiếu trôi, vội tìm cách vớt lên và giặt luôn bên lạch. Đó là chiếc chiếu còn khá tốt tuy chiều rộng bị xén đi mất một phần ba.<br />
Mẹ tôi chỉ vào chiếc chiếu phơi trên đòn gánh nói:<br />
&#8211; Về đến nhà thì chiếu vừa khô con ạ. Tối hôm nay thằng Tư &#8211; tên thằng em út tôi &#8211; có chiếu đắp ấm.<br />
&#8211; Mẹ ơi, &#8220;giàu con út, khó con út&#8221;, mẹ chẳng để ý gì đến chúng con, chỉ chăm chút cho chú Tư thôi.<br />
Mẹ tôi đi trước, gió ngược chiều nên tiếng tôi mất hút về phía sau. tuy nghe tiếng được tiếng không nhưng mẹ tôi vẫn hiểu câu nói đùa. Người vừa giữ cái chiếu vừa quay nhìn tôi mỉm cười.<br />
Tối hôm đó khi đi ngủ thằng chú Tư được mẹ tôi đắp cho chiếc chiếu vớt ở lạch. Chân nó thò ra một tí khiến tôi nhận thấy chiếc bí tất cũ vàng xỉn của tôi, chỗ đầu rách được buộc túm lại để các ngón chân xinh của nó khỏi &#8220;thoát ly&#8221; ra ngoài.<br />
Dạo đó chỉ còn một tháng nữa là tết. Tôi lại có dịp tạm rời trường Luật, đợi đến qua giêng mới có giáo sư. Tôi về vừa đúng lúc gia đình đương cần nhân công xay thóc giã gạo. Dấn vốn của gia đình tôi còn đong được năm nồi thóc. Dùng số tiền đó làm tiền đặt mẹ tôi có thể đong về được tám nồi. Theo như mẹ tôi phác tính mỗi nồi thóc làm, được lợi ít ra là hai ca gạo, vị chi với tám nồi thóc, chúng tôi sẽ lợi ít nhất là một nồi rưỡi gạo. Cứ như vậy mà đủ việc liền trong một tháng, nghĩa là vừa đến tết, thì chúng tôi có thừa tiền đong gạo nếp gói bánh chưng và mua thịt cá để đón một mùa xuân kháng chiến tương đối huy hoàng.<br />
Chúng tôi ngoại giao ổn thỏa với các nhà có cối xay cối giã rồi bắt đầu vào việc. Thầy tôi trông nom mấy đứa nhỏ sửa soạn cơm nước. Tôi và thằng em giai xay thóc trong khi mẹ tôi điều khiển vợ tôi và cô em gái sàng gạo. Xay hết thóc chúng tôi đã có gạo đem đi giã, giã đến đâu mẹ và em tôi sàng tấm sẩy cám đến đấy. Trong khi xay thóc tôi nhẩm ôn các đạo luật, các án lệ để sửa soạn kỳ thi cuối niên khóa. Khi giã gạo với vợ, tôi cùng nàng thủ thỉ xây mộng tương lai. Ngày kháng chiến thành công hẳn chúng tôi đã có những đứa con kháu khỉnh, đã trở về quê hương dựng lại căn nhà xinh, sống tự do bình dị trong tổ ấm gia đình.<br />
Ngày đầu chúng tôi làm được tám nồi thóc với số gạo dư là hai nồi. Một cụ già ở đấy gật gù nói: &#8220;Vạn sự xuất ư nho, đúng thật. Học trò thì cái gì cũng làm được. Cứ bảo người Hà nội không chịu được lam lũ!&#8221;. Ngày hôm sau có tin quân Pháp đánh lên Vĩnh yên. Những người có thóc giữ lại. mẹ tôi phải vất vả lắm mới mua được bằng giá khá cao sáu nồi thóc để chúng tôi có việc làm.<br />
Quân Pháp chiếm Vĩnh Yên. Tiền Hồ Chí Minh sụt giá vùn vụt. Vẫn số tiền cũ giờ đây chưa chắc mẹ tôi đã mua nổi bốn nồi thóc. Quân Pháp theo sông đào tiến lên chiếm chợ Me. Dân chúng xao xác chuẩn bị chạy. Số tiền trong tay mẹ tôi hầu trở thành giấy lộn. Chúng tôi ăn một bữa quà bánh đúc, lúc giả tiền thấy vợi hẳn túi. Viễn ảnh những ngày đầu xuân có gạo nếp, có thịt gà, thịt lợn bị giập vùi trong khói súng và biến thành một điểm mong manh chết đuối giữa cảnh tàn phá rùng rợn của bom đạn tơi bời cha lạc con vợ lạc chồng, anh em tán loạn mỗi người một phương.<br />
Dạo đó tuy đã có phong trào &#8220;rèn cán chỉnh cơ&#8221; nhưng chưa có cố vấn Tàu, chưa có chính sách &#8220;ba cùng&#8221;, học tập đấu tố nên mặc dầu kinh tế nguy ngập ai nấy vẫn tin tưởng ở ngày mai huy hoàng của dân tộc, tin tưởng ở thắng lợi cuối cùng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của già Hồ (như lời tuyên truyền phát thanh chiều chiều).<br />
Sang hạ tuần tháng chạp, suốt ngày mưa phùn gió bấc lạnh như cắt ruột. Không hiểu là vì rét nhiều hơn hay là vì chúng tôi đã bắt đầu giảm khẩu phần! Chiếc chiếu mẹ tôi vớt ở lạch đắp cho thằng em út đã rách xơ xác. Trong khi gia đình tôi giật gấu vá vai tìm cách nhường nhau miếng cơm manh chiếu thì xảy cuộc hỗn chiến giữa quân đội Pháp và quân đội Kháng Chiến ở chân núi Tam Đảo. Để giữ vững ưu thế quân sự về mình tại mặt trận Vĩnh Yên. Tướng Pháp De L. quyết định hy sinh đoàn quân hắn, và hạ lệnh cho thả bom tận diệt đôi bên.<br />
(Trong cái điên ba của một cuộc thế lọc lừa phản trắc, người ta dày xéo lên tình người, điềm nhiên hy sinh xương máu đồng bào đồng loại nơi này cho quyền lợi thực dân, nơi kia cho học thuyết giai cấp. Tôi không ghê tởm những bộ mặt lãnh tụ như chúng sao được?)<br />
Từ chân núi Tam Đảo quân Pháp đánh tỏa ra ba mặt, đồng thời từ hữu ngạn sông Hồng, một toán Lê Dương vượt sang càn quét bến Rau ở tả ngạn. Dân chúng từ bốn mặt chạy về huyện Yên Lạc, đổ xô vào các làng. Mẹ tôi bèn thổi cơm hàng gánh đến bán cho họ. Trong số rất đông các người ở làng Rau mang đồ đạc chạy đến làng Lũng Thượng, có gia đình ông Lý Cựu vốn là bà con với ông chủ nhà nơi tôi tản cư. Ông Lý nói chuyện với thầy tôi rất tương đắc nhất là khi ông biết tôi đương học trường luật thi ra thẩm phán.<br />
Ông nói:<br />
&#8211; Tôi có thằng cháu năm nay lên sáu; giời cho làm người, sau này kháng chiến thành công, tôi nhất định sẽ gởi cháu lên Hà Nội phiền ông bà và cậu Cả trông nom giúp cho thành thân người.<br />
Quân Pháp sau khi từ chợ Me vượt qua sông Đáy tiến sâu vào huyện Lập Thạch đốt phá một ngày rồi rút lui về tỉnh. Cánh quân tiến sang tả ngạn sông Hồng đốt phá bến đò Rau cũng rút lui về vị trí cũ bên hữu ngạn. Dân chúng chạy loạn lục tục đâu trở về đấy ngay để còn kịp sửa soạn tết.<br />
Làng Lũng Thượng trở lại yên tĩnh.<br />
Trưa hôm đó mẹ tôi ra phía bụi tre đầu nhà thấy cong queo dưới hầm trú ẩn một chiếc chiếu hoa cạp điều. Đúng là chiếc chiếu của một gia đình chạy loạn nào khi về mừng quá bỏ quên.<br />
Mẹ tôi nói: &#8220;Thôi thế cũng là giời thương mà cho nhà mình!&#8221;<br />
Đã lâu lắm, đêm đó tôi mới thấy thằng em út tôi có chiếc chiếu đắp kín chân không trông thấy đôi bí tất buộc túm chỗ rách. Sáng ra, mẹ tôi cẩn thận gấp chiếu rồi vắt lên chiếc giây thừng căng cao ngang mái nhà. Thế là từ đây đêm đêm nghe tiếng gió rít và những hạt mưa táp vào đầu hồi tôi cũng yên chí cho các em đã tạm đủ chiếu nằm, chiếu đắp. Hai ngày sau, tới buổi sớm ba mươi tết, khi sực tỉnh, tôi thấy không khí trong làng có vẻ tưng bừng hơn vì những tiếng bàn tán xôn xao xen với tiếng cười ròn rã ngoài đường xóm. Tôi vùng dậy ra thẳng ngõ. Trời tuy lạnh ngọt nhưng quang đãng và êm ả vô cùng. Tôi gặp mọi người mắt ai nấy sáng sáng ngời tin tưởng. Thì ra ở khắp các tường làng đều đã kẻ khẩu hiệu: &#8220;Chuẩn bị tổng phản công&#8221;.<br />
Đồng bào thủ đô bàn nhau ngày về nhận nhà nhận cửa, đồng bào địa phương hơi có vẻ ngậm ngùi tưởng như giờ phút chia tay đã điểm. Buổi trưa hôm đó ông Lý Cựu từ làng Rau mang theo vài thứ xa xỉ phẩm làm quà biếu ông chủ nhà vào dịp tết. Ông Lý Cựu có xuống căn nhà dưới thăm thầy tôi. Câu chuyện vừa xong phần xã giao thường lệ thì ông ngửng nhìn thấy chiếc chiếu hoa cạp điều vắt ở giây thừng, ông đứng nhỏm dậy chạy lại kéo tuột xuống nói gọn:<br />
&#8211; Chiếc chiếu này của tôi<br />
Mẹ tôi chợt có một cử chỉ phản ứng của một người mẹ gìn giữ con trong cơn nguy biến.<br />
Người nói:<br />
&#8211; &#8220;Ấy chiếc chiếu đó của nhà tôi&#8230;&#8221;<br />
Mẹ tôi vốn là một Phật tử trung thành. Người chỉ nói được đến đấy thì lương tâm Phật tử trở lại và người lúng túng quay nhìn ra ngõ.<br />
Ông Lý Cựu thản nhiên gấp chiếu lại, cắp gọn nách rồi thản nhiên nói:<br />
&#8211; Không, chiếc chiếu của tôi. Tôi mua đôi chiếu cặp điều từ năm mới tác chiến, một chiếc còn trên kia.<br />
Thì ra đôi chiếu đó, ông Lý mang đến gửi ông chủ nhà trong dịp vừa qua, rồi những người đến chạy loạn tự động mượn đem ra giải ở bụi tre nghỉ tạm, lúc về vì chiếu rơi xuống hầm trú ẩn nên họ quên không trả lại chỗ cũ.<br />
Tuy chỉ một thoáng qua nhận biết sự thể là vậy nhưng tôi vẫn chưa chịu và tiếp lời mẹ tôi:<br />
&#8211; Chiếc chiếu này mẹ mua của một người ở chợ Lầm. (Ý tôi muốn nói người đó lấy chiếc chiếu ở đây mang ra chợ Lầm bán).<br />
Ông Lý vẫn thản nhiên, thản nhiên một cách cương quyết:<br />
&#8211; Không, chiếc chiếu này của tôi.<br />
Rồi ông cắp chiếu đi thẳng lên nhà. Lúc đó tôi cũng vừa trở lại với tôi để nhớ ra rằng cuối năm nay tôi đã thi xong, có thể ra làm thẩm phán. Tôi thoáng nghe phía sau tiếng vợ tôi thở dài rồi quay vào buồng.<br />
Tối hôm đó khi thấy tôi lấy chiếc chiếu rách cũ vớt ở lạch đắp cho thằng em út, mẹ tôi chép miệng nói khẽ:<br />
&#8211; Thôi, sang giêng trời bắt đầu ấm, vả lại cũng sắp tổng phản công rồi!<br />
&#8220;Vả lại cũng sắp tổng phản công rồi!&#8221; &#8211; mẹ tôi nghĩ thật chí lý. Tổng phản công để bờ cõi được vinh quang độc lập, để mọi người được trở về dựng lại quê hương yên vui.<br />
Tôi hiểu khi đó hầu hết các gia đình khác cũng như chúng tôi, chịu đựng bao nhục nhằn với những phút sa ngã nhỏ như chuyện chiếc chiếu hoa cạp điều. Tất cả những hy sinh đó &#8211; kể cả hy sinh một chút danh dự cho sự yếu đuối thường tình của con người &#8211; tuy dằn vặt, ray rứt mà không tàn phá nổi niềm vui trong sáng, thanh thản của tâm hồn, vì ai nấy vẫn sống ngợp hy vọng một ngày mai vinh quang. Sớm mùng một năm đó mẹ tôi ra chùa lễ. Người quỳ rất lâu trước bàn thờ Phật. Giọng người thành kính thiết tha cầu đức Phật phù hộ cho chóng trở lại ỵên bình, gia đình được qua thì đói khỏi thì loạn. Tiếng người khấn đôi khi nức nở. Tôi nghe nước mắt như muốn trào ra.</p>
<p>Cộng sản dìm nhân loại trong thiếu thốn để chứng minh nguyên lý &#8220;Vật chất quyết định hết thảy&#8221;. Chúng lầm! Con người càng từng trải cảnh thiếu thốn vật chất, niềm tin và đạo đức càng được hun đúc và tình cảm thêm dạt dào. Sau này khi về vùng quốc gia, rồi di cư vào Nam tôi còn trải qua nhiều gian lao nghèo túng và nhiều lần bị khinh rẻ, nhưng dù nghèo túng đến đâu, dù bị khinh rẻ đến đâu, điều đau nhục nhất với tôi vẫn là chuyện chiếc chiếu hoa cạp điều, tuy thực tình câu chuyện chỉ giản dị có vậy. Cách đây ít lâu khi mua được đôi chiếu hoa Phát Diệm ở đường Hai mươi về giải lên phản cho con nằm, tôi thấy vợ tôi chợt úp mặt vào hai bàn tay trước bàn gương. Có lẽ nàng nghĩ đến câu chuyện chiếc chiếu hoa cạp điều khi xưa.</p>
<p>Chuyện đó như biến thành chiếc phao xẫm màu, bất chấp mọi giông tố vẫn nổi lềnh bềnh trên biển, biển thời gian của đời, biển kỷ niệm của hồn. Cũng kể từ sau ngày xảy chuyện đó, thái độ tôi đối với người đời khác xưa nhiều. Tôi thận trọng tránh mọi thái độ hẹp hòi, kiêu ngạo, ích kỷ, sắc cạnh. Lòng dễ xúc động, tôi thương người như thương chính thân mình vậy. Tôi thương những em nhỏ sớm phải lăn lưng vào cuộc đời để tự nuôi sống, tôi thương những người đói khát ham ăn ham uống, tôi thương những hình ảnh lam lũ một sương hai nắng, những hình ảnh giật gấu vá vai, tôi thương những kẻ thù dân tộc hôm qua, ngày nay thất thế ngơ ngác đi giữa kinh thành. Ở thế giới thực dân tư bản người ta tung vật chất ra để giam lỏng linh hồn, ở thế giới thực dân cộng sản, người ta phong tỏa vật chất để mua rẻ linh hồn. Cả hai cùng thất bại! Linh hồn nhân loại chỉ có thể mua được bằng tình thương yêu rộng rãi và chân thành.<br />
Thấy tôi hằng kiềm chế được nóng giận và nhất là vẫn mỉm cười, khi ứa nước mắt các bạn bè thân thường khen tôi có thái độ hồn nhiên của Trang Chu.<br />
Các bạn yêu quý của tôi! Các bạn có ngờ chăng thái độ hồn nhiên đó là kết quả của biết bao cảnh cơ hàn mà tôi và những người thân của tôi đã trải qua…</p>
<p>Trong đó có chuyện Chiếc chiếu hoa cạp điều!</p>
<h4>Dõan Quốc Sĩ</h4>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ng%e1%bb%99-khng-tc-gi%e1%ba%a3-tc-ph%e1%ba%a9m-dan-qu%e1%bb%91c-si/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Kh&#244;ng : T&#225;c Giả v&#224; T&#225;c Phẩm &#8211; L&#226;m Chương</title>
		<link>https://t-van.net/ngo-khng-tc-gia-v-tc-pham-lm-chuong-2/</link>
					<comments>https://t-van.net/ngo-khng-tc-gia-v-tc-pham-lm-chuong-2/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 27 Aug 2016 23:01:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Tác Giả Tác Phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không; tgtp]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=28545</guid>

					<description><![CDATA[Tiểu sử Sinh ngày 28.10.1945 tại Gò Dầu Hạ, Tây Ninh. Định cư tại Boston, Massachusetts Tác phẩm Loài cây nhớ gíó &#8211; Ðoạn đường Hốt Tất Liệt – Đi giữa bày thú dữ &#8211; Lò Cừ &#8211; Truyện và những đoản văn &#160; &#160; Viết về Lâm Chương Lâm Chương, bản tường trình của [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2016/08/clip_image001-9.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: left; padding-top: 0px; padding-left: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border-width: 0px;" title="clip_image001" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/08/clip_image001_thumb-150x150.jpg?strip=all" alt="clip_image001" width="180" height="195" align="left" border="0" hspace="12" /></a><b></b></p>
<p><b>Tiểu sử </b><br />
Sinh ngày 28.10.1945 tại Gò Dầu Hạ, Tây Ninh. Định cư tại Boston, Massachusetts</p>
<p><b>Tác phẩm</b></p>
<p>Loài cây nhớ gíó &#8211; Ðoạn đường Hốt Tất Liệt – Đi giữa bày thú dữ &#8211; Lò Cừ &#8211; Truyện và những đoản văn</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<h4><strong>Viết về Lâm Chương</strong></h4>
<h3><strong>Lâm Chương, bản tường trình của một chứng nhân</strong></h3>
<h3><strong>Ngô Nguyên Nghiễm</strong></h3>
<p>Không phải mặc nhiên tôi chọn đầu tựa như vậy để bước vào không gian văn chương của nhà thơ nhà văn Lâm Chương, nhưng là cái chọn lựa tâm đắc mà suốt hơn 40 năm nhiều lúc dong ruỗi cùng anh trong nhiều đoạn đường dài đầy gió bụi. Bao giờ tôi cũng rất thán phục những thành công thật tuyệt vời của Lâm Chương, trong từng giai đoạn sãi vó  phi nhanh trước một không gian diệu vợi của nghệ thuật.Thật ra, tựa bài phát xuất từ cuộc phỏng vấn của Triều Hoa Đại gom lại trong đề bài Lâm Chương, ngựa Hồ hí gió Bắc . Bài phỏng vấn khá dài, có đoạn so sánh một tác giả được ưa chuộng nhất ở Nhật Bản hiện đang sống rời xa tổ quốc là nhà văn Haruki Murakamai phát biểu, chỉ có thể tìm thấy quê hương khi ở xa quê hương. Vậy, Lâm Chương cũng là nhà văn đang sống xa tổ quốc, anh có cùng quan điểm đó không? Lâm Chương trả lời:<i> </i><em>“Khổ quá. Anh cứ gọi tôi là nhà văn. Tôi chỉ là chứng nhân thời đại, và đang viết bản trường trình về những gì đã nghe thấy mà thôi. Ý nhà văn Haruki Murakamai muốn nói tìm thấy quê hương ở trong lòng mình. Tôi cũng nghĩ thế. Người xa quê hương, viết về quê hương thắm thiết hơn người ở tại quê nhà”.</em> Tôi nhớ gần kết bài phỏng vấn, nhà thơ Triều Hoa Đại phát biểu bạn bè nói dù lưu lạc nơi đâu hay trong hoàn cảnh nào thì Lâm Chương cũng là Lâm Chương, chẳng khác gì ngựa Hồ mỗi khi gió Bắc thổi về thì chẳng bao giờ quên cất tiếng hí đau thương.</p>
<p>Đằng đẵng sau hơn mấy mươi năm, cay đắng chen chúc trong cuộc sống còn giữa bốn bề là vách tường kiên cố không tìm thấy một lối thoát, cứ quẩn quanh nuôi dưỡng một hướng sáng khiến tâm thức gò ép trong cùng cực quẩn bách. Tất cả như một hiện trạng cốt lõi đầy ấp tài liệu, giúp Lâm Chương bùng vỡ mãnh liệt trong những tác phẩm dính đầy máu thịt, đọa đày, mồ hôi và nước mắt. Quả thật, như phân trần của nhà văn sự hiện diện tác phẩm anh hoàn toàn dựa trên tinh thần nhân bản, sự thật, không dính dấp vào những hư cấu của những người viết giàu tưởng tượng…</p>
<p>Qua những tác phẩm xuất bản trong thời gian gần đây, tạo dựng trong tâm hồn một sự cảm thông chia sẻ vô bờ bến. Ngoài Lò Cừ , Đoạn Đường Hốt Tất Liệt, là những mẫu chuyện dài rấp nối suốt đoạn đường bi thiết của chiến tranh. Mọi chi tiết lồng lộng tự chính nó  như dòng sông, con suối trôi chảy dầy đặc những bản tuyên ngôn li ti những điều biến thể ghê rợn, mà người bình thường cũng không dám có giây phút tưởng tượng. Sự chân thật trong hành văn, là một thành công của tác phẩm Lâm Chương, nó hấp dẫn cực kỳ, lôi kéo người đọc say mê bước thẳng vào con đường trước mặt. Hình như trong sáng tác, nhà văn không bao giờ vạch sẵn cho trước tác một hướng đi trước, tất cả trôi nổi tự nhiên như dòng chảy của trí nhớ. Nhào nắn quá tải trong nhiều kỷ niệm, từ bình dị trong cuộc đời mà anh đã trải qua suốt những năm tháng lăn lóc trong lửa đạn, thừa hưởng hoan lạc hay bi thống giữa đời thường, đến những khắc nghiệt phủ kín định mệnh những ngày tháng sau nầy bôn ba trên quê hương. Tất cả hóa thân một Lâm Chương sừng sững và hùng vĩ trong văn nghiệp thật độc đáo.Những gì đã trải qua là những kinh nghiệm được đúc kết và bạch hóa sự thật trên từng  tác phẩm. Lâm Chương nhiều khi cũng bày tỏ, chỉ viết với những kinh nghiệm đã trải qua, khó mà viết khác với lòng mình. Sự hoạt biến từng chi tiết ngẫu nhiên là phương cách khiến truyện anh vừa sống động, thực tế, vừa mê hoặc người đọc một cách kỳ diệu. Diễn biến câu chuyện như một tường thuật tràn ngập chi tiết và hoạt biến, chính sự sáng tạo đó người thưởng ngoạn bất ngờ không tiên đoán được cái hậu của truyện viết.</p>
<p>Thâm giao với nhau cũng hơn 40 năm, mỗi người một tài hoa và định kiếp, nhưng trong đời ngoài sự trôi dạt lãng du của một Lâm Hảo Dũng, phiêu bồng gian khổ như Vũ Hữu Định, nghĩa khí bạt ngàn của Phạm Nhã Dự,tiết tháo cùng cực như Nguyễn Phan Thịnh… thì hiện thân của sự tang bồng lang bạt chắc phải có Lâm Chương. Những ngày tháng gặp nhau như những cơn phiêu hốt tình cờ trong cuộc sống, anh em thì rải rác muôn phương, tụ tán như vầng mây nắng sớm mưa chiều.Thời gian cuối thập niên 60, Lâm Chương đã có nhiều tác phẩm đăng trên Nghệ Thuật, Văn, Văn Học, Bách Khoa… nên bằng hữu văn nghệ đều biết tên nhau. Khi tạp chí Khai Phá ra mắt với bạn bè văn nghệ, Lâm Chương cũng góp phần bài vở giúp tờ báo vững chải như những tài hoa khác. Ngày anh em họp bàn chuyển tờ báo sang nhà xuất bản, Lâm Chương hiện diện tác phẩm đầu tiên cho NXB Khai Phá, với thi phẩm Loài Cây Nhớ Gió,đã gây được nhiều tiếng vang tuyệt diệu.</p>
<p>Đến giờ, thỉnh thoảng Lâm Chương vẫn làm thơ nhưng hầu như từ ngày định cư tại phương trời xa thẳm, anh bước sang viết văn. Thật ra, đó cũng là cách chuyển tải những nỗi niềm gian khổ, đã oằn nặng trên đôi vai suốt bao nhiêu năm tháng trong cuộc trở mình đầy đọa giữa quê hương chính mình.Bước sang địa hạt văn chương, vì chính thơ theo Lâm Chương chỉ nói lên những rung động cảm xúc của cõi lòng , nhưng văn mới có thể diễn tả được hết những chi li trong cuộc đời. Những tháng năm xưa, Lâm Chương vẫn là một nhà thơ nổi danh như phần đông bạn bè tuổi trẻ , vì vậy thơ vẫn đến với anh những lúc bất chợt cần có trong sự rung động của lòng mình. Ngoài những truyện ngắn vừa viết xong gởi về tôi chia sớt niềm vui sáng tác, thỉnh thoảng trong vài năm trước Lâm Chương vẫn mail cho tôi đôi ba bài thơ thật khuynh khoái làm trong lúc trà dư tửu hậu (*). Như vậy, bao nhiêu ân tình xưa cũ giữa văn và thi ca vẫn đột biến từng cơn trong tâm thức. Cái nét lấp lánh ẩn hiện của thơ, càng khiến tinh hoa phát tiết tuyệt diệu hơn…</p>
<p>Hiện tại, trong thế giới văn chương trong cũng như ngoài nước, Lâm Chương hiện diện là một nhà văn lớn trong cộng đồng người Việt. Tác phẩm bao gồm những tập truyện, truyện vừa, truyện và những đoản văn …hầu như chỉ chuyên chở những câu chuyện hòa quyện suốt cuộc đời mà nhà văn gian khổ trải qua. Lâm Chương trung thành quan điểm nầy, như anh thường nói chỉ viết những chuyện của mình thôi. Những cốt lõi của tác phẩm là sự trung thực và sáng tạo, chính vậy bút pháp bạch hóa thẳng băng, không cầu kỳ hay mang nặng những lý tưởng cao siêu. Lâm Chương khơi hoạt rõ nét từng chi tiết trong cuộc chấm phá những cảnh tượng cuộc đời đầy phong ba trong quá khứ. Nó được vực dậy như một chứng nhân, giữa thời kỳ chuyển biến khốc liệt của xã hội hiện tại xãy ra từng giờ trong đời sống, mà anh bó buộc nai lưng chịu đựng.Quá khứ còn dẫy đầy trong tâm thức uất nghẹn, bi thống chưa tiêu hóa được, nên hiện tại nét nhìn của nhà văn Lâm Chương mong soi thấu được hết phần nào đoạn đường khốc liệt trải qua. Khi được hỏi, có nên đổi cách viết để hướng về ngày mai tươi sáng chan chứa tình người? Lâm Chương trả lời, khơi rõ hơn về quan niệm sáng tác, là anh không có biệt tài dựng lên những truyện hoàn toàn do trí tưởng tượng. Theo anh, chỉ có thể viết được những kinh nghiệm đã có trong quá khứ, nên hiện tại chẳng thể viết được gì về cái xã hội xa lạ nầy</p>
<p>Đọc tác phẩm Lâm Chương, quả thật ta nhìn thấy sự thật như vậy. Những phân cảnh quá khứ tuôn trào nồm nộp, chuyển biến như những lớp thoại kịch nhiều tình tiết đa dạng, trôi chảy chẩm rải như những khúc phim, được đạo diễn tài ba quay li ti trong từng góc sống của cuộc đời.</p>
<p>Từ tập truyện vừa Đi Giữa Bầy Thú Dữ, chia hai phân đoạn là hai câu chuyện Gió Về Phố Biển và Đi Giữa Bầy Thú Dữ, Lâm Chương kể lại chuyện đời mình từ thời niên thiếu, rời gia đình lang bạt tận phố biển Nha Trang, háo hức của người đi tìm ước mơ kỳ thú. Trong cuộc sống vô gia đình bao nhiêu diễn biến trong tình yêu sa đà hư đốn, những cuộc hội ngộ với những danh nhân như thi sĩ Quách Tấn, ôm mớ triết học của Krishnamurti tự do đầu tiên và cuối cùng, ôm cái tâm lành của nhà sư Trí Tâm, những tên ma cô đĩ bợm đánh đỗ hết mọi giá trị đạo đức….( Gió Về Phố Biển ). Phân đoạn hai, Đi Giữa Bầy Thú Dữ là cuộc đào thoát trốn chạy, xuyên qua biên giới Kamphuchia, cất dấu tài sản trên đường hoạn lộ bằng cách nuốt vàng vào bụng, hậu môn, cửa mình…Cuộc tráo chác lường gạt giữa cuộc đời, nhiều khi còn quá tàn bạo, những người lên Kampuchia vượt biên bị lừa lấy hết vàng, rồi giết phi tang. Kế tiếp, sự trôi nổi gian truân lê lết cuộc sống giữa xứ lạ quê người…(Đi Giữa Bầy Thú Dữ).</p>
<p>Người đọc chia sẻ cùng nhà văn những chuyện thật đời người, như màn kịch lớp lang trên một sân khấu lộ thiên. Những chuyển biến như những hoạt hình, cứ trôi chảy bao nhiêu tình tiết mắc xích liên quan thật ấn tượng. Văn phong đầy chi tiết sáng tạo, uyên bác như nỗi nhớ xấp lớp dầy đặc những bi kịch của kiếp người. Ý tưởng trùng trùng trải đầy trên trang giấy vô tri, thành câu chuyện hấp dẫn đầy tình tiết chân thật hữu tri.</p>
<p>Nét thông minh ranh mãnh trong từng câu thoại tự nhiên, như dẫn dắt câu chuyện về một ngã rẽ hướng sẵn cá tính của nhân vật: <em>“Trên tường nơi phòng khách , treo cái bản đồ thiết lộ ghi các trạm phụ và nhà ga ở mỗi địa phương. Tôi thường đứng nhìn bản đồ, mơ ước một chuyến viễn du qua những địa danh xa lạ, những nơi đèo heo hút gió. Bửa trước, đọc ké quyển sách anh Hòa để trên bàn. Tự Do Đầu Tiên Và Cuối Cùng của Krishnamurti. Tôi nhớ câu,’’Đi là sống. Đứng là chết ngay trong đời sống hiện tại”</em> Ý tác giả nói đến sự thăng hoa trong tư tưởng, nhưng tôi vẫn muốn hiểu theo cái nghĩa đen cuộc đời. Không biết tự lúc nào, trong tâm hồn sâu thẳm của tôi có tiếng thì thầm réo gọi ra đi. Không dự định sẽ tới nơi nào, mà vẫn muốn ra đi. Tư tưởng phiêu bạt đã gắn chặc trên cung định mệnh, tác giả dẫn dắt người đọc đi từ tấm bản đồ, để trình bày một chuyển dịch sáng tạo phải có thay đổi thường xuyên quanh ta.</p>
<p>Lâm Chương quả thật xây dựng một cung cách viết độc đáo, góp nhặt quá khứ thành một trang sử mà theo anh, anh chỉ là chứng nhân đang viết lại những điều nghe thấy mà thôi.</p>
<p><em>Viết tại Thư trang Quang Hạnh</em></p>
<p><em>Mùa đông 2012</em></p>
<p>(*) Bài thơ Mùa hạ Lâm Chương gởi tặng, làm rõ thêm quan điểm sống, lấp lánh tâm thức lãng bạt của thi nhân bên cạnh thế sự vậy:</p>
<p><strong>Mùa hạ</strong></p>
<p>Mùa hạ nhà ta lò bát quái</p>
<p>Cửa mở toang thông đạt khí trời</p>
<p>Đêm trăn trở trong lò thịt nướng</p>
<p>Da rám vàng tươm mỡ mồ hôi</p>
<p>Mùa hạ nhà giàu đi ra biển</p>
<p>Ta vô rừng nằm dưới bóng cây</p>
<p>Mấy lão tu tiên ngàn năm trước</p>
<p>Chắc cũng như ta nằm ngắm mây</p>
<p>Không có con nai làm bằng hữu</p>
<p>Vài con sóc nhỏ nhảy lăng quăng</p>
<p>Sóc ơi ta với mi là bạn</p>
<p>Vui giữa rừng xanh lánh bụi trần</p>
<p>Tiền bạc chẳng làm ta mờ mắt</p>
<p>Ba ngàn tân  khách của Nguyên Quân</p>
<p>Ký sinh bám riết vào thân trụ</p>
<p>Cũng chỉ vì tham một miếng ăn</p>
<p>Ví thử mai kia ta tuyệt mệnh</p>
<p>Chẳng phủi tay đời cũng sạch trơn</p>
<p>Sống thong dong thác không hề tiếc</p>
<p>Bởi ta sinh vốn đã trần truồng</p>
<p>Mùa hạ nhà giàu đi nghỉ mát</p>
<p>Ta ngồi ta ngắm một dòng sông</p>
<p>Hỡi ơi, con nước đi ngày ấy</p>
<p>Phiêu hốt mười năm bất phục hoàn</p>
<p>Khương Thượng ngồi câu danh với lợi</p>
<p>Đội nón mê áo vải chờ thời</p>
<p>Còn ta chẳng còn gì trông đợi</p>
<p>Chỉ ngồi suông ngó nước mà thôi</p>
<p>Kẻ sĩ ngày nay nhiểu như nhặng</p>
<p>Không ai cầm trủy thủ qua sông</p>
<p>Dẫu có Yên Đan tìm đỏ mắt</p>
<p>Cũng không ra một kẻ sang Tần</p>
<p>Mùa hạ dăm ba thằng thất nghiệp</p>
<p>Đến tìm ta bày cuộc nhậu chơi</p>
<p>Bằng hữu những tên nghèo kiết xác</p>
<p>Uống lai rai để lãng quên đời</p>
<p>Con mồi khô mực dai như đỉa</p>
<p>Trệu trạo nhai hoài nuốt chẳng trôi</p>
<p>Rượu rót tràn ly mời tới tấp</p>
<p>Bỏ hết lo toan ngất ngưởng cười</p>
<p>Cười sĩ khí mặt dày râu quặp</p>
<p>Tranh hùng đuổi bắt một con hươu</p>
<p>Thiếu Lăng gò nổi đùn mây trắng</p>
<p>Lau sậy đìu hiu cỏ lút đầu</p>
<p>Rượu bốc hơi men bừng lên mặt</p>
<p>Việc đời xem cũng nhẹ như không</p>
<p>Lịch sử bao năm còn dâu bể</p>
<p>Huống hồ bèo nước ở trường giang</p>
<p>Mùa hạ nhà ta không đóng cửa</p>
<p>Nghe chừng sắt thép rợn xương da</p>
<p>Bốn phương thiên hạ còn tranh chấp</p>
<p>Lò lửa  nhân sinh thổi tạt về.</p>
<p>&nbsp;</p>
<h2><span style="font-weight: bold;">Lâm Chương, lỗi tại con chim</span></h2>
<p><b>Luân Hoán</b></p>
<p><b><i>T</i></b>hời ở KBC 4100 (khu bưu chính), nhà văn Lâm Chương làm thơ. Nhưng tôi không đọc được nhiều thơ anh trên nguyệt san Bộ Binh. Hình như Lâm Chương chỉ làm thơ cầm chừng, theo nhu cầu đổi ngày ra phép cuối tuần. Lâm Chương cũng rất ít khi xuất hiện ở văn phòng tâm lý chiến của quân trường. Tôi giống anh ở điểm này, dù “hữu danh” trong ban biên tập. Trong năm ba lần vui chân, tôi và anh không hẹn, đã cùng tạt vào chỗ ngồi của mấy anh sính làm báo, và chúng tôi có dịp thấy nhau, bắt tay nhau.</p>
<p>Lâm Chương dong dỏng, trên một thước bảy, có da thịt vừa đủ của một thanh niên khoẻ mạnh. Khuôn mặt đủ làm mục tiêu cho các em “bò lạc”. Lâm Chương ít nói và cũng không mấy khi cười. Có thể vì giao thiệp với anh ít quá, tôi không có cơ hội bắt gặp đôi môi anh làm việc chăng. Môi, miệng có nhiều công tác, chức năng lắm, nhưng cái tôi đề cập ở đây là sự truyền phát âm thanh.</p>
<p>Trong suốt chín tháng quân trường, tôi gặp Lâm Chương nhiều lắm vài ba lần. Tình huynh đệ chi binh rất lỏng lẻo. Nhưng thơ của anh lại giữ trong tôi một ấn tượng rất tốt. Ngày nay tôi và chắc cả anh cũng không thể nhớ ra những bài thơ một thời bộ binh của anh. Dù vậy, tôi cũng có thể nói chắc, chúng (những bài thơ) không thuần túy là những bài thơ tình yêu, cũng không phải là những bài ngợi ca quê hương, hay những bài suy tư về thân phận, cuộc chiến. Trong những bài, hình như chỉ gói ghém trong chừng mười bốn đến mười tám câu, mọi nội dung trên đều có, và được pha trộn một cách khéo léo. Sức thu hút của thơ Lâm Chương thời Bộ Binh còn nằm trong phong thái diễn đạt thường được cho là hào sảng, phóng khoáng. Chính điều này đã giúp tôi nhớ nhà thơ Lâm Chương, quí nhà thơ Lâm Chương dù không nhớ một câu, một chữ nào anh đã viết. Nghe thật vớ vẩn, nhưng lại thật “trăm phần trăm!”.</p>
<p>Lâm Chương là tên thật, đến với cuộc sống từ năm 1942, nhưng trước bạ khai sinh ghi ngày 28 tháng 10 năm 1945. Gò Dầu Hạ tỉnh Tây Ninh là đất anh chào đời. Mồ côi mẹ sớm, thân phụ mang về cho anh một người dì ghẻ như cái “bánh đúc không xương”. Thời tiểu học, Lâm Chương học giỏi, nhưng không chăm học lắm, thường bỏ lớp, la cà theo tiếng chim, tiếng dế, tiếng ếch nhái ve vãn nhau. Vạt ruộng xanh, gốc cây lớn cũng thường rủ rê Lâm Chương tiêu phí hàng giờ, ngồi hóng gió, nhìn mây. Hương thơm rơm rạ, màu sắc cỏ hoa cũng níu kéo anh ngày này qua ngày khác. Anh trải tuổi thơ lên mỗi vuông đường làng, lên cả những cuốn sách phiêu lưu mạo hiểm. Xong tiểu học, Lâm Chương thực hiện được giấc mộng ra khỏi cổng làng của mình. Anh được cho ra tỉnh ở trọ ăn học. Thân phụ anh không thiếu bổn phận làm cha. Không có gì thú vị hơn được đi xa trọ học. Nhất là thời “nhất quỉ, nhì ma&#8230;” chỉ còn quậy lật ở khúc đuôi. Tôi từng có chút phần thưởng này thời học Trần Cao Vân Tam Kỳ, và những tháng ngày ở khu Hồ Tịnh Tâm Huế.</p>
<p>Tình thương của người đàn ông nông thôn vốn khép kín, vụng về, đôi khi cục mịch. Lâm Chương không phải không nhìn ra tấm lòng của cha mình. Nhưng anh có chút ít bướng bỉnh, ít nhiều tinh thần tự lập, cộng thêm hoàn cảnh eo hẹp tình thương nhưng giàu mơ mộng, cuối cùng đã đẩy anh ra khỏi cánh cửa gia đình, năm lên mười sáu. Thoạt đầu Lâm Chương lên Sài Gòn, sống lẩn quẩn ở chợ Bến Thành và Ga xe lửa. Thành phố chật tiếng người, tiếng sinh hoạt chợt làm anh sợ. Sau vài đêm ngủ lén ở chái hiên, sạp hàng, Lâm Chương nhớ đến những cảnh sắc thanh lịch, những con người dịu dàng từng được nghe, được đọc về một cố đô tuyệt vời, Lâm Chương quyết định nhảy lên tàu hỏa ra xứ Huế. Bốn trăm bạc, tiền trọ học một tháng, ba anh gián tiếp cho lần cuối cùng, trước khi anh ra khỏi nhà đã vơi đi ít nhiều nhưng anh không ngại vẫn khéo léo nhảy lên tàu. Lộ trình vời vợi xa với bao nhiêu sân ga sẽ đến, Lâm Chương không dễ gì đến được cái đích trong mộng ước khi trong tay không có vé tàu. Người soát vé dù có chút tử tế cũng đã buộc anh phải xuống Nha Trang.</p>
<p>Đất trời thành phố biển chào đón gã giang hồ vị thành niên bằng một cơn mưa phùn lì lợm, rả rích mãi quên thôi. Lâm Chương tạm nhét nỗi lo buồn mảnh khảnh vào bọc áo quần, anh lượm được một tấm nilon đủ rộng choàng lên người, bắt đầu đi trồng những kỷ niệm. Tiếng gọi của biển dường như vang ngay trong lòng anh. Hàng quán, hiệu buôn, nhà ở cả đến con người hình như cũng trầm lặng. Tất cả từ từ lùi lại sau lưng Lâm Chương, Nha Trang đãi anh bữa ăn sáng bằng sự bao la cuồng động của biển cả. Mưa vẫn nhẹ nhàng như thoa trên vai, trên lưng. Xúc động trước chào đón của thiên nhiêm, Lâm Chương trao ra những giọt nước mắt cất đã lâu của mình.</p>
<p>Ngày theo ngày tiếp nhau, bao nhiêu chỗ ngả lưng đã tình cờ đến với Lâm Chương. Sân đình, lòng chợ, chòi gác,bãi tha ma&#8230;từng địa điểm vô danh của Nha Trang lần lượt được hấp ấm dưới thân thể hao hụt thịt máu của Lâm Chương. Nhưng anh thật hạnh phúc, đã gặp được rất nhiều người còn một tấm lòng. Sự đùm bọc, thương mến của gia đình một người Huế, của một người tài xế xe chở đá, của một bà Ba mộ đạo Phật, của một Kỹ sư Kiều lộ làm Trưởng ty Hỏa Xa, của một vị sư và nhiều nữa. Họ đã thay nhau hóa giải những khó khăn cho anh một cách kịp thời. Lâm Chương cũng hưởng được tình gia đình từ những người em gái anh có nhiệm vụ dạy kèm. Hơn thế nữa, chưa có được mảnh bằng trung học phổ thông, anh đã có một cuộc tình, một người yêu thánh thiện. Và khi chưa nắm trong tay cái tú tài, anh đã hưởng được lạc thú của tình dục một cách no đủ trong sự yêu thương chân tình. Trong đoạn đời xa cách người cha già, Lâm Chương đã từng bước trưởng thành qua khá nhiều nghề lao động vất vả. Không có đứa con hư lưu lạc nào không canh cánh bên lòng sự trở về. Cơ hội đến với Lâm Chương từ một tai nạn nghề nghiệp của thân phụ anh.</p>
<p>Đã có chuyến giang hồ thứ nhất, không dễ bỏ những cuộc đi tiếp theo. Lâm Chương vào Nam sống trong khu lao động. Chặng đời quan trọng của một thanh niên trong thời chiến không đợi cũng đến. Lâm Chương gia nhập vào đại gia đình quân đội Việt Nam Cộng Hòa, qua cánh cửa trường Bộ Binh Thủ Đức, khóa 24. Sau đó anh về đơn vị Biệt Động Quân. Chặng đời binh nghiệp của Lâm Chương không ngắn. Anh khôn khéo hay may mắn từ chối những chiến thương bội tinh, chỉ chọn vài chiếc anh dũng bội tinh cất vào ba lô. Trong một bài nhắc nhớ kỷ niệm thời Thủ Đức, Lâm Chương “Tán Ngẫu Về Một Người Làm Thơ”:</p>
<p><i>“&#8230;Mười năm lăn lóc chiến trường, đạn không bén đến da tôi. Có thể tôi gặp thằng xạ thủ bắn tồi, cũng có thể tôi né đạn giỏi. Nhiều người bảo phần số tôi may mắn. Tôi bảo không phải vậy, và đọc thơ Nguyễn Du: ‘xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều’. Bởi không làm thi sĩ nên khi qua những làng mạc, tôi biết đề phòng du kích bắn sẻ. Bởi không làm thi sĩ nên khi vào những khu rừng hắc ám, tôi biết đặt mình trong tư thế sẵn sàng nổ súng vào bất cứ con gì nhúc nhích trước mặt (bắn chậm thì chết)</i></p>
<p><i>&#8230; Tóm lại, bởi không làm thi sĩ nên khi đi giữa làn tên mũi đạn, tôi không hề mơ mộng viển vông&#8230;”</i></p>
<p>(LH Một Đời Thơ)</p>
<p>Thật ra, Lâm Chương vẫn giữ con người thi sĩ của anh, nhưng biết đặt nặng vai trò chiến sĩ anh đang mang ngoài mặt trận lên trên trò chơi chữ nghĩa. Lâm Chương biết đề cao cảnh giác tối đa cho anh và cho đồng đội, cộng thêm sự may mắn không thể phủ nhận. “Đạn tránh người, người không tránh đạn” gần như một qui luật. Mừng cho Lâm Chương giữ được lành lặn để có mười năm tiếp theo ăn cơm tù, phá rừng trồng khoai, trồng sắn, có cơ hội mục kích tận mắt nhiều chuyện ngoài tưởng tượng xảy ra <i>“trên cuộc đời ô trọc”.</i> Không được “cải tạo”, Lâm Chương đâu có cơ hội để biết hành động “giải quyết cấp thời” của một cán binh (mời tìm đọc Đoạn Đường Hốt Tất Liệt) và nhiều chuyện động trời khác. Thời gian nào trong cuộc sống cũng có cái quí giá riêng của nó. Không có những vốn sống trong giai đoạn sỉ nhục này chắc chắn những sáng tác Lâm Chương không là những tác phẩm giàu tình người anh đã tặng chúng ta. Cụ thể nhất, nếu không mất vùng đất tự do, chúng ta rất ít người bị lưu vong hoặc được lưu vong đến những vùng đất mới. Đây là một sự thật không nên vì tự ái, thể diện mà phủ nhận. Đàng hoàng xác nhận, cũng không có nghĩa chúng ta mang ơn những người tạo ra những cuộc vượt thoát đã phải đổi nhiều mạng sống. Dù có bị cấm đoán không cho bước lại trên vạt đất đầu đời của mình, của cha ông ông mình, chúng ta vẫn không hề, chưa hề mất quê hương. Tổ quốc vẫn ở trong từng hơi thở của mỗi người. Muốn gặp lại, muốn thấy lại, thật đơn giản, hãy chịu khó tĩnh lặng tưởng tượng, có một vài phút nhắm mắt càng tốt hơn. Cảnh vật thật rõ ràng, linh động. Tiếng người, tiếng vật, tiếng cỏ lá đều linh hiển hiện ra. Hãy thử dành một phút thành tâm hồi tưởng. Đừng vội nóng văng tục. Xin lỗi về sự cao hứng bất ngờ của tôi.</p>
<p>Con dân miền Nam liều mạng sống chạy trốn một chế độ chính trị là một điều có thật, cả thế giới cảm thông, chào đón. Không ai nghĩ đến việc cơm áo khi hớt hải ra đi. Nhưng những chuyến vượt biển, vượt biên không dễ gì tiếp tục mãi. Những chương trình ra đi khỏi nước khác được thực hiện. Sau chương trình Ra Đi Có Trật Tự (ODP) một thời gian, chương trình Định Cư Nhân Đạo (H.O) dành cho những sĩ quan, viên chức bị cải tạo trên ba năm và những người phối ngẫu cải tạo viên chết trong tù hoặc mệnh chung sau khi ra tù một năm trở lại. Lâm Chương, sĩ quan Biệt Động Quân hội đủ điều kiện để trở thành một ông H.O. Nhưng anh không chờ được. Anh và gia đình vượt biên và may mắn đến Hoa Kỳ năm 1987. Hiện nay gia đình Lâm Chương định cư tại thành phố Boston, Hoa Kỳ.</p>
<p>Lâm Chương bắt đầu làm thơ nhiều từ những năm trung học tại Nha Trang. Cái vạt đất nồng nàn gió biển này sinh sản, qui tụ khá nhiều người sinh hoạt văn học nghệ thuật: Quách Tấn, Trịnh Cung, Nguyễn Xuân Hoàng, Từ Thế Mộng&#8230; Tại đây, Lâm Chương được giao du, kết thân với những<i> “người học trò làm thơ in thành sách, như Thanh Nhung và Cao Hoành Nhân với Tiếng Thơ Miền Trung, Sương Biên Thùy (là Lê Mai Lĩnh bây giờ) với Nỗi Buồn Nhược Tiểu, Sao Trên Rừng (là Nguyễn Đức Sơn bây giờ) có bài đăng trên Sáng Tạo&#8230;” </i>(LRĐL). Anh cũng được tiếp xúc với thi sĩ Quách Tấn và có cơ hội nhìn thấy vết sẹo <i>“tròn to bằng đồng xu”</i> ở phía trái thái dương tác giả Đêm Thu Nghe Quạ Kêu. Lâm Chương được nghe kể: thi sĩ Hàn Mặc Tử bị dị ứng với vết sẹo này, nên mỗi lần gặp nhau, nhà thơ mệnh yểu thường yêu cầu bạn mình ngồi ở vị thế thích hợp, tránh cho ông khỏi nhìn thấy. Đây cũng là một chi tiết đặc biệt trong văn học.</p>
<p>Tuy có máu thi phú trong người, Lâm Chương vẫn khiêm nhường trả lời Triều Hoa Đại:<i> “&#8230;Và tôi bắt chước làm thơ. Những bài thơ đầu tiên đọc nghe rất ‘thê thảm’, chẳng báo nào chịu đăng, kể cả bích báo nhà trường cũng chê&#8230;”.</i> Nhưng rồi trên tạp chí Văn tại Sài Gòn đã “đi” một bài thơ tán gái của anh trong một số Xuân dày cộm.</p>
<p>Thế nào là thơ tán gái ? Với tính cách hàn lâm và đạo đức, những nhà nghiên cứu, phê bình thi ca, cùng một số nhà thơ cho rằng những sáng tác có hơi hướm lẳng lơ, mơn trớn đều nên liệt vào mục thơ huê tình. Giải thích hai chữ huê tình một cách cụ thể hơn, được giới trẻ cho là thơ tán gái, dù chưa chắc loại thơ này có đủ những ướt át. Trong vài dịp có cơ hội bày tỏ, tôi vẫn tự nhận thơ mình là thơ tán gái, bởi thực tế như vậy. Thơ tán gái đích thực là thơ tình và ngược lại. Làm thơ tỏ tình với một người, không có nghĩa là không tỏ tình với nhiều người đọc. Tỏ tình có khoảng cách bao xa với tán tỉnh, ve vãn, chiêu dụ, níu kéo ? Tính cách bác học và bình dân trong từng bài thơ là có thật. Nhưng mục đích, tôi nghĩ vẫn không khác nhau. Anh chàng Hàn Mặc Tử, anh chàng Xuân Diệu, anh chàng Nguyễn Bính, anh chàng Nguyên Sa, anh chàng Du Tử Lê vân vân và vân vân&#8230;.không có nhu cầu tán gái chăng ? Thật ra đều như nhau, chỉ khác nhau ở tài nghệ, chiêu thức. Như vậy, Lâm Chương, tôi hay bất cứ bạn nào khác xài chữ “Thơ Tán Gái” không có nghĩa hạ thấp giá trị nghệ thuật của thơ. Giá trị nghệ thuật nằm trong nội dung tác phẩm. Thử đọc một bài thơ Lâm Chương:</p>
<p><i>“ Em đâu phải Kiều nương/ mà nói chuyện bán trinh làm đĩ/ mười lăm năm nhẵn mặt giang hồ/ trai tứ chiến đếch thằng nào rớ được/ bọn trọc phú hợm mình tưởng bở/ quăng một đêm qua cửa sổ ngàn vàng/ chưa níu được lai quần chéo áo/ đám ong bướm si tình ngây dại/ con thiêu thân bi lụy ngọn đèn/ những anh chàng công tử ruồi bu/ cũng ngấp nghé trao lời ái mộ</i></p>
<p><i>em đâu phải cành vàng lá ngọc/ còn niêm phong kín cổng cao tường/ chuyện trăng gió mù sương lả tả / bông hoa em đâu dễ lụy vì tình/ ta phất phơ đi giữa cõi người/ chẳng biết làm gì ngoài chuyện làm thơ/ dẫu không thành thi sĩ /cũng được tiếng văn chương/ ba mươi năm mải miết/ thơ chùa đăng báo chợ/ túi rỗng không đời cũng nhẹ tênh/ cánh hạc vàng muốn tếch lên mây/ đời ô trọc giữ chân người ở lại/ buổi gặp em đầu tiên ta choáng váng/ chuyện tình cờ mà khốn đốn trăm năm</i></p>
<p><i>ai chiếu hoa trải đường dưới gót em đi/ ai lót tay em nhung gấm lụa là/ ta chỉ có bài thơ/ rút ra từ xương tủy/ cuộc trầm luân mấy ai ngờ được/ chốn bồng lai xa quá là xa/ ta và em dắt tay vào địa ngục”</i></p>
<p><i></i>(Lâm Chương &#8211; Dắt Tay Vào Địa Ngục)</p>
<p>Lột trần một chút thân phận của đối tượng, của cả chính mình, để đi đến một mục đích có tính cách rủ rê “vào địa ngục” Đây quả một bài thơ tán gái xuất sắc. Người đẹp của thi sĩ không bình thường. Thi sĩ không tầm thường. Nên chuyện tỏ tình cũng rất độc đáo khác lạ. Mời đọc thêm hai bài thơ tình khác của Lâm Chương:</p>
<p><i>“Em hẹn tôi về thăm quê cũ/ sau mấy năm lây lất xứ người/ tôi cũng muốn (một lần thôi cũng đủ)/ về gặp em nhắc lại chuyện lâu rồi.</i></p>
<p><i>Chuyện lâu rồi mà như mới hôm qua/ tôi còn nhớ bàn tay em run nhẹ/ trong tay tôi lạnh buốt. Không ngờ/ em lí nhí nói câu gì rất nhỏ/ như nói thầm với cái rét se da/ của một chiều cuối đông năm ấy.</i></p>
<p><i>Rồi tôi đi. Sáu năm trời chưa trở lại/ dòng sông xưa vẫn chảy trong hồn/ bông mía trắng cả một vùng thương nhớ/ gió nồm Nam thổi suốt dọc quê mình/ nhà em ở cheo leo cuối xóm/ hàng rào thưa cây trái rợp sau vườn/ che bóng mát cho em ngày nắng.</i></p>
<p><i>Tôi ở đây những mùa đông trắng/ lấy gì che đời vắng em xa/ em đâu biết bao lần tôi muốn hỏi/ ngày chia tay em nói nhỏ câu gì/ trong cái rét một chiều đông năm ấy?”</i></p>
<p>(Câu Gì Em Nói Nhỏ)</p>
<p><i>“ Trời hay mưa miền tôi ướt sũng/ lá đầm đìa rơi rụng giọt châu/ em qua tôi để dấu son đầu/ môi trái đỏ, tuổi em vừa chín</i></p>
<p><i>Nước châu thổ mang lòng dâu biển/ về bình nguyên cô giáo sang sông/ bỏ tình tôi chết đuối giữa dòng/ nên mưa đổ làm tôi ướt mặt</i></p>
<p><i>Từ em xa. Mưa. Trời sướt mướt/ miền tôi nhòa theo nước mưa tuôn/ ủ ê cây lá ngậm buồn/ tình đi. đời lẻ. Mưa luôn nhớ tình”</i>.</p>
<p>(Mưa Miền Tôi)</p>
<p>Làm thơ hay vậy, nhưng nếu có cơ hội, hình như Lâm Chương luôn luôn phàn nàn về cái tài làm thơ của mình:</p>
<p><i>“&#8230; Tôi cũng có một thời mon men muốn ngồi vào chiếc chiếu dành cho các nhà thơ. Hằng đêm mất ngủ, bóp trán làm thơ. Có lúc gần đạt được danh hiệu thi sĩ, nhưng cuối cùng đành bỏ cuộc. Làm thơ thật vô cùng vất vả, phải kiên trì mới được bài thơ cho ra hồn. Tôi vốn ù lì cục mịch, thiếu tính kiên nhẫn, lại không có năng khiếu đặc biệt về thơ, thì làm sao có thể ngồi chung chiếu với những bậc thầy của chữ nghĩa mà tác phẩm của họ là tinh túy của ngôn ngữ ?&#8230;”</i></p>
<p>(Lâm Chương – LH-Một Đời Thơ)</p>
<p>Lâm Chương có là thi sĩ, có là nhà thơ hay không, anh không thể tự phong. Những người thật sự có năng khiếu và thành danh trong một bộ môn nghệ thuật, hình như không mấy ai tự xưng này nọ. Bạn đọc sẽ nhìn thấy và gọi đúng danh. Lâm Chương đã cho trước bạ với làng văn một tập thơ. Thi phẩm Loài Cây Nhớ Gió được phát hành năm 1971. Trước đây tôi không được đọc thi phẩm này, ngày nay, tại hải ngoại khó tìm ra, và cũng không chắc cha đẻ của nó còn lưu giữ. Dù chưa đọc bài nào, nhưng qua tên sách, cũng có thể tạm hình dung ra những phiêu bồng, lãng mạn của những dòng thơ một thời đã giúp Lâm Chương thành danh.</p>
<p>Sau khi có mặt tại hải ngoại Lâm Chương có tiếp tục làm thơ không ?. Tôi biết chắc là có. Trong một lần ghé thăm nhà văn Trần Hoài Thư, người bạn cùng khóa 24 Thủ Đức, anh cho biết Lâm Chương đã đến Hoa Kỳ. Chưa kịp gọi thăm, tôi đã bắt gặp một bài thơ của Lâm Chương trên một tạp chí, hình như là Làng Văn. Bài thơ có tên <i>Diện Bích</i>, tôi rất thích. Tuy không còn nhớ câu nào nhưng nội dung diễn đạt tâm sự của một người thất thời, ngày ngày ngồi không, để tâm, dán mắt vào bức vách vô tri trước mặt. Mộng tưởng, chí khí, ngay cả những vật lộn áo cơm cần thiết cũng cùng đường . Cái Diện Bích của Lâm Chương trong những ngày tháng đầu nơi xứ người, không khác gì tâm trạng của những người cùng cảnh ngộ, trong đó có tôi. Nên bài thơ của anh gây cho tôi một một xúc động đậm đà. Thích bài thơ, sau này, nhiều lần tôi hỏi xin anh cho đọc lại. Nhưng Lâm Chương bảo đã bỏ thất lạc. Điều này cho thấy, quả thật Lâm Chương đã có phần lơ là với thơ. Nguyên nhân của sự xao lãng này ra sao không rõ. Nhưng bạn đọc mừng thấy Lâm Chương trở lại với những trang văn xuôi, vốn anh đã thử tài từ những năm rời Nha Trang về Sài Gòn. Giai đoạn đầu với thể loại truyện ngắn, Lâm Chương kể:</p>
<p><i>“&#8230; Những năm về Sài Gòn, tôi tập viết văn xuôi. Ông Mai Thảo đăng trên Nghệ Thuật, trong mục ‘ Những Người Viết Mới’ . Tôi mắc cở, không gửi cho Nghệ Thuật nữa. Tôi gửi bài cho báo khác, chẳng thấy đăng. Nghe thuật lại rằng, có một nhà văn lớn (đã mất rồi) đọc bài bản thảo của tôi, lần nào cũng kêu lên: ‘Thằng Phá Hoại. Thằng Phá Hoại’ và ném vào sọt rác. Từ ấy, tôi không viết văn xuôi. Sau này, nghĩ thương ông Mai Thảo. Ông cho ‘Thằng Phá Hoại’ vào mục ‘ Những Người Viết Mới’ là nâng đỡ lắm rồi</i>”</p>
<p>(Lên Rừng Đếm Lá &#8211; Triều Hoa Đại)</p>
<p>Lâm Chương đã nói thật tình. Thời mới viết đại đa số chúng tôi, tuy còn non yếu nhưng ai cũng ngại khi có bài trong mục “Những Người Viết Mới” hay “Trang Dành Riêng Cho Các Cây Bút Trẻ”. Những anh chị văn nghệ tỉnh lẻ chúng tôi non choẹt nhưng ai cũng muốn làm “mầm già” trong văn nghệ. Không ít người vướng mắc trong những trang này, nên đã có sự thay đổi liên tục nhiều bút hiệu. Đó là chưa kể hình thức bề ngoài với râu tóc khác đời, bia rượu, thuốc lá cứ y như là văn nhân, thi sĩ hạng cừ.</p>
<p>Về sự nghiệp viết văn của mình, Lâm Chương kể tiếp, đã có lần anh viết xong bài văn xuôi, nhờ ông thầy dạy Việt văn đọc và cho ý kiến. Cuộc đối thoại giữa hai thầy trò:</p>
<p><i>“Thầy nói: </i></p>
<p><i>&#8211; Văn em là văn bửa củi.</i></p>
<p><i>&#8211; Sao gọi là văn bửa củi ?</i></p>
<p><i>&#8211; Hành văn nhát gừng, lổn ngổn những đá sạn thô nhám. Loại văn này chỉ thích hợp cho đề tài chửi lộn, hoặc đòi nợ.</i></p>
<p><i>&#8211; Em chưa hiểu ý thầy.</i></p>
<p><i>&#8211; Nói đến thế mà vẫn chưa hiểu. Em không phải là người của văn chương&#8230;</i></p>
<p><i>Nhận xét của thầy làm tôi thất vọng.</i></p>
<p><i>&#8211; Xin thầy chỉ dẫn cho em</i></p>
<p><i>Thầy cười: ‘Học hành, lấy vợ, đẻ con’ ”</i></p>
<p>Ngày nay, chắc chắn ông thầy của Lâm Chương không còn giữ được nhận xét của mình khi ông đọc các tác phẩm: Đoạn Đường Hốt Tất Liệt, Lò Cừ, Đi Giữa Bầy Thú Dữ, Truyện Và Những Đoản Văn.</p>
<p>Có bè bạn làm thơ, viết văn thú vị ở chỗ được đọc sách khỏi mất tiền mua. Sách lại được tác giả ký tên hẳn hoi, trông càng sướng mắt, ấm lòng. Tôi có đủ những gì Lâm Chương trình làng tại hải ngoại:</p>
<p><i>Đoạn Đường Hốt Tất Liệt</i>, tập truyện ngắn với mười bảy sáng tác, gồm một truyện lấy bối cảnh tại hải ngoại, 16 truyện dựng từ vóc dáng, hồn vía quê nhà. Nhà văn Trần Doãn Nho dọn dường và mớm ý nhận định cho bạn đọc. Anh băt đầu vài dòng về tài nghệ làm thơ của Lâm Chương <i>“không nhiều, nhưng bài nào cũng nặng ký&#8230; Ngôn ngữ giản dị nhưng ví von độc đáo, ý tứ thâm trầm&#8230;”</i> để rồi giới thiệu: <i>“&#8230;Thế giới của Lâm Chương là thế giới của chiến tranh, trại tù và lưu lạc&#8230; Nỗi đắng cay đó thể hiện tất cả trong tập truyện của anh, dưới nhiều dạng khác nhau. Bằng một giọng văn tả chân trầm tĩnh, không màu mè làm dáng, anh kể cho chúng ta nghe nhiều chuyện. Chuyện nào cũng là những chuyện tréo cẳng ngỗng, cười ra nước mắt, mang đầy bi kịch tính&#8230;” </i>Nhà văn Trần Doãn Nho cũng nhìn nhận, văn thơ của Lâm Chương, của chính anh, của những người viết khác thuộc thế hệ của anh đa số<i> “có vẻ hằn học, chua chát với đời&#8230; tác phẩm nào cũng chứa đựng cái không khí trầm uất, hằn học, chua chát khi đề cập đến những năm tháng nhiễu nhương vừa qua ở quê nhà&#8230;”</i> Để đi đến kết thúc bài viết: <i>“ Quê nhà. Và lưu đày. Đó là nỗi ám ảnh không rời của nhà thơ, nhà văn Lâm Chương. Và tất cả chúng ta” </i>(Trần Doãn Nho – 9-1998)</p>
<p>Một nhà văn khác, anh Hồ Minh Dũng, nhận vinh hạnh thực hiện lời bạt cho <i>Đoạn Đường Hốt Tất Liệt</i>. Anh đã rất tài tình khi chỉ dùng hai trang để nhắc lại những kỷ niệm gặp gỡ giữa hai người, từ thời đi học làm lính, đến thời đi học làm tù và rồi đến thời cùng lưu lạc xứ người, gặp nhau qua điện thoại. Bài viết của anh Dũng không đề cập gì đến nội dung tác phẩm, hay nói đúng hơn, anh chỉ khéo léo nhắc lại một số hoàn cảnh mà từ đó nẩy mầm những truyện trong <i>Đoạn Đường Hốt Tất Liệt</i>. Đây cũng là một đặc biệt, hiếm thấy.</p>
<p>Chỉ một thời gian ngắn sau khi phát hành, <i>Đoạn Đường Hốt Tất Liệt</i> gây được tiếng vang tốt trong giới cầm bút tại hải ngoại. Nhiều tạp chí cho đi những bài nhận định, giới thiệu hoặc phỏng vấn tác giả. Tất cả đều xoay quanh giá trị nghệ thuật của tác phẩm văn xuôi đầu tay của Lâm Chương. Trong một bài viết công phu, sau khi giới thiệu một số thể loại văn xuôi, nhà nhận định văn học Nguyễn Vy Khanh đưa ra một số nhận xét qua từng truyện trong <i>Đoạn Đường Hốt Tất Liệt</i>. Nguyễn Vy Khanh cho rằng Lâm Chương quan niệm chiến tranh là địa ngục, và lên tiếng phê phán cả mọi phía tham chiến. Lâm Chương cũng là một nhân vật từng trải, giàu kinh nghiệm, <i>“đã nhìn thẳng, nói thẳng về nhiều trục trặc khó nói”.</i> Tôi chọn trích hai đoạn:</p>
<p><i>“ &#8230;Mặt khác, truyện dị thường phúng thích và châm biếm chính trị và xã hội, Đoạn Đường Hốt-Tất-Liệt có yếu tố khả dĩ &#8220;phiền&#8221; chế độ vốn nghi ngờ mọi trào phúng, hí họa ngoài những minh-họa-được-phép. Điểm-đến của Đoạn Đường Hốt-Tất-Liệt theo chúng tôi là đã gióng lên tiếng nói đích thực của con người hôm nay, cho bây giờ và mai sau, khi còn có thể lên tiếng và sau một thời gian đã không thể lên tiếng. Truyện của Lâm Chương như có sức mạnh giải thoát của tâm thức, tâm thức ông, tâm thức những người cùng cảnh ngộ và &#8220;kinh nghiệm&#8221; như ông. Thay vì tụng A-di-đà hay lạy-Chúa, Lâm Chương lên tiếng nói của ông qua nghệ thuật viết của con người từng sống trong bùn đen của những cơn kinh hoàng đất nước, của chiến tranh, của trại cải tạo, trở về nhà tù lớn và lạc lõng giữa một nước hợp chủng xa lạ! Tác giả đã xử dụng ngôn ngữ như hệ thống tín hiệu và xử dụng văn chương nghệ thuật như khả năng của cảm xúc. Lâm Chương nhận thức được bi hài kịch của cuộc đời và ông chia xẻ với người đọc, có người cùng hoàn cảnh, tâm cảnh, với một ngôn từ trực tiếp dù phải dùng dụ ngôn, hình ảnh, v.v. Chính cái dị thường đã đưa người đọc tìm lại, nhìn lại, nhận chân những thực tại của đời sống bình thường và của vũ trụ nhân sinh. Trong truyện dị thường, ngôn ngữ thường là một hệ thống tín hiệu cao độ với những ẩn dụ đa nghĩa. Đọc truyện của Lâm Chương không thể ngừng ở câu chuyện hay khúc ký ức đó. Người đọc phải hiểu cái tiềm ẩn sau những sự việc, hành động dù bình thường đến thế nào, hoặc cái nguyên nhân hoặc hậu quả không thể tả. Khi người đọc như bị bỏ rơi vì chuyện lửng lơ thì biết đâu đó là cái Vô ngôn, cái thông điệp, cái nhắn nhủ. Người đọc Đoạn Đường Hốt-Tất-Liệt bình thường sẽ thương cảm thân phận con người, người Việt Nam một thời, nhưng nếu tâm cảm xâu xa sẽ nhận ra cái tâm của tác giả, ông nói với mọi người mà như đồng thời ông tìm tri kỷ! Những truyện khác của Lâm Chương đăng trên các tạp chí gần đây như Gió Ngược, Những Ngày Mắc Cạn, Cận Kề Biên Giới Tử Sinh, &#8230; cho thấy ông càng đi sâu vào ngõ kiếm tìm này, xét con người vì con người thay vì phân biệt nhị nguyên, bạn và địch !&#8230;”</i></p>
<p><i>“&#8230; Văn chương &#8220;giải mã&#8221; lịch sử sớm dù ít nhiều chủ quan và đầy cảm tính. Hoán chuyển dị thường của thực tại vào văn chương, nhiều dị thường của cuộc đời tưởng bình thường đã được Lâm Chương đưa ra trước công luận. Nói chung, ngòi bút ông cẩn trọng và nhạy bén, xuất từ kinh nghiệm sống. Giọng văn đơn giản, trong sáng, dĩ nhiên bên trong chất chứa nhiều phức tạp và tầng lớp tâm linh. Chính kinh nghiệm và tâm cảm chân thành của tác giả đã đưa đến sự tinh tế, cô đọng. Như đoạn tả sự việc &#8220;thân bị kiềm chế, mà ý chí thì phất phơ như chuyện đùa. Tưởng như hồn và xác chẳng dính dấp gì nhau&#8221;. Một cai tù đã phê bình cách lao động khá &#8220;thiền&#8221; của tù cải tạo: &#8220;Giơ cuốc lên, cò ỉa. Hạ cuốc xuống, mối xông&#8221;. Nhưng anh tù lại lấy làm lý thú vì câu nói ngộ nghĩnh mà quên cái hậu quả tai hại sau khi bị phê bình. Anh tù đã sửng sốt vì câu phê bình đó. &#8220;Diễn tả động tác chậm, không có cái chậm nào bằng. Từ từ giơ cuốc lên, chậm như ngừng lại, thời gian lâu đủ để con cò đậu trên cái cuốc và ỉa. Hạ xuống cũng chậm, đến nỗi trước khi nhấc cuốc lên, thì mối đã xây thành tổ. Một lối diễn tả độc đáo. Rất bình dân mà cũng rất tuyệt vời.&#8221; (tr. 188-189).</i></p>
<p>(Nguyễn Vy Khanh)</p>
<p>Tên gọi tập truyện ngắn của Lâm Chương, lấy từ tên truyện <i>Đoạn Đường Hốt Tất Liệt,</i> một trong 17 truyện trong sách. Cái tên hấp dẫn này đã hướng dẫn tôi có chút suy nghĩ sai lầm khi nhận được sách tặng. Tôi đã thoáng nghĩ đến Đại hãn Hốt Tất Liệt (Kublai Khan – 1215-1294), cháu Thành Cát Tư Hãn (Thiết Mộc Chân, Genghis Khan 1162-1227), vị vua đã lập ra triều đại nhà Nguyên, năm 1271, thống nhất Trung Quốc, dời đô từ Karakorum về Khanbaliq tức Bắc Kinh ngày nay. Thời trị vì của ông rất hưng thịnh. Trong truyện này của Lâm Chương, không có ẩn dụ hay liên quan gì đến đại danh đã dùng. Nội dung chỉ ghi lại những sinh hoạt của một đơn vị Biệt Đông Quân đối đầu với du kích thay vì lính chính qui tại một vùng được kể: “<i>Qua khỏi cua AK chừng nửa cây số, là ngã ba Lộc Giang. Và hương lộ được phân làm hai ngã. Một ngã xuôi về Sò Đo, thuộc tỉnh lỵ Hậu Nghĩa. Một ngã chạy ra bến đò, anh em trong tiểu đoàn đặt tên là đoạn đường Hốt Tất Liệt”.</i> Tôi không xa lạ với địa hình, địa thế chung chung của các mặt trận nông thôn, cũng không bỡ ngỡ trước những mánh khóe ra đòn của du kích quân, nên cốt truyện của <i>Đoạn Đường Hốt Tất Liệt</i> (chỉ riêng truyện này) đối với tôi không mới lạ. Ngay cả cái hướng kết thúc cũng đã có thể đoán được từ khi tác giả giới thiệu nhân vật Hon. Cái thành công trong truyện này của Lâm Chương là kỹ thuật viết. Với hình ảnh và một số từ ngữ đặc trưng trong quân đội khi hành quân, Lâm Chương làm sống lại trong lòng những cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa nhiều kỷ niệm đau thương nhưng thân thiết một thời.</p>
<p>Sau <i>Đoạn Đường Hốt Tất Liệt</i>, trong vòng sáu năm, Lâm Chương cho in tiếp 3 tác phẩm: <i>Lò Cừ</i> với 14 truyện ngắn, 258 trang, bìa Khánh Trường, phụ bản Vũ Đức Thanh, Phan Thảo Trang, trình bày Anh Khoa và Sao Khuê, Văn Học tại Hoa Kỳ xuất bản, năm 2000. <i>Đi Giữa Bầy Thú Dữ</i>, gồm hai truyện vừa, 172 trang, bìa Khánh Trường, trình bày Sơn Ca, Văn Mới xuất bản, năm 2002. <i>Truyện Và Những Đoản Văn</i>, bìa Khánh Trường, trình bày Sơn Ca, 220 trang, Văn Mới xuất bản, năm 2004.Cả ba tác phẩm này đều tiếp tục góp hơi thở, củng cố chiếc ghế trong văn chương của Lâm Chương một cách vững chắc. Nhà văn Lương Thư Trung, một cư dân cùng vùng với Lâm Chương, từng sinh hoạt, thù tạc với nhau nhiều lần, đã nghĩ về văn tài và bản chất tác giả của bạn mình:</p>
<p><i>“ &#8230; được văn giới biết đến như một luồng gió mới, một tác giả tạo được uy tín hiện nay trên văn đàn nhưng Lâm Chương vẫn giữ được cái đức tính khiêm cung đáng quí, luôn lắng nghe những nhận xét của người đọc. Trong các truyện của anh, cái cẩn trọng luôn luôn được anh quan tâm từng chữ dùng, từng dấu chấm, dấu phết, làm thế nào, dù người đọc khó tính vẫn khó mà bắt bẻ anh được. Câu văn của anh luôn ngắn gọn. Họa hoằn lắm người đọc mới có dịp bắt gặp một câu tương đối dài, nhưng ở đó cũng có nhiều dấu phết ngắt đoạn. Độc đáo nhất, ở truyện của Lâm Chương là những câu đối thoại gần như những câu mà anh đối đáp, trao đổi với bằng hữu hằng ngày, tạo cho người đọc có ấn tượng mình phải theo hoài những mẩu đối thoại có duyên, hấp dẫn để tìm ra cá tính của mỗi nhân vật&#8230;”</i></p>
<p>Anh Lương Thư Trung cũng để lộ một đôi chút đời thường của Lâm Chương:</p>
<p><i>“&#8230; Tôi biết Lâm Chương từ vài năm nay, nhưng có lẽ tôi quí mến anh vì anh có nhiều khí chất một người nhà quê mê ruộng vườn, đặc biệt hai ngón tay kẹp điếu thuốc rặt người miền quê. Đời sống của Lâm Chương thanh đạm như cái dáng vẻ bình dân, mộc mạc hằng ngày. Gặp tôi bất chợt nơi cái đầm bùn lầy này anh vui lắm. Anh hỏi tôi loại lục bình này, bụi cỏ kia mà chừng như lâu lắm rồi anh mới được gặp lại&#8230;”</i></p>
<p><i>&#8230; Dường như với ai, trong những anh em quen biết với anh, anh đều gọi người đối diện bằng chữ &#8220;ông&#8221; vừa rồi như vừa quen thân vừa sơ ngộ, vừa gần gũi vừa xa lạ mà vẫn giữ được chỗ thân tình, tương kính lẫn nhau&#8230;”</i></p>
<p><i></i>Cũng qua những cuộc gặp gỡ, trao đổi với nhiều bạn văn, Lâm Chương có dịp trình bày nhiều điều trong chặng đời sinh hoạt thơ văn của anh. Với nhà thơ Triều Hoa Đại, anh chàng Ngựa Hồ Hí Gió Bắc tự sự:</p>
<p><i>“&#8230; Tôi không phải là người viết văn chuyên nghiệp, cũng không thích chiều theo thị hiếu người đọc. Nói thế nghe dễ mất cảm tình, nhưng đấy là sự thật. Xưa nay, tôi chưa từng được đồng xu cắc bạc nào từ bài viết của mình. Nhưng tôi vẫn viết, vì tôi thích. Và chỉ viết những gì tôi muốn viết. Tôi không hề đắn đo xem phải viết thế nào, hành văn ra sao. Cứ nghĩ thế nào viết thế ấy&#8230;Tôi thường viết tự truyện, phần hư cấu rất ít&#8230;</i></p>
<p><i>&#8230; Tôi khó mà viết khác với lòng mình. Đang sống nơi thế tục, muốn vượt lên trên những điều thế tục, không dễ&#8230;Tôi nhớ kẻ hành xác tôi nhiều hơn nhớ người yêu. Nếu tôi viết khác đi, nghĩa là viết như người cao thượng là tôi viết láo. Ai mà cảm thông với kẻ giả dối bao giờ..</i></p>
<p><i>&#8230; Tôi chỉ là chứng nhân thời đại, và đang viết bản tường trình về những gì đã nghe thấy mà thôi”</i></p>
<p>Nhà thơ Triều Hoa Đại đã tra vấn Lâm Chương qua nhiều câu hỏi loanh quanh trong trách nhiệm của người cầm bút, nhận định chung về tình trạng thơ văn, xuất bản tại hải ngoại, đánh giá tác phẩm, tác giả trong nước, quan niệm về thương yêu, hận thù trong tác phẩm&#8230;Lâm Chương đã rất khôn khéo trong những bày tỏ của mình. Sự khôn khéo của anh được dẫn dắt bởi lòng chân thật và giản dị của chính anh. Nhờ đó đọc những câu trả lời của Lâm Chương rất thú vị. Tác giả <i>Lỗi Tại Tôi Mọi Đàng</i> cũng đã trả lời nhiều cuộc phỏng vấn khác. Nhưng để hiểu thật rõ Lâm Chương trong nghiệp cầm bút, chỉ cần đọc thêm mấy câu chân tình này:</p>
<p><i>“&#8230; Đổi cách viết để tìm một hướng đi mới cho tương lai là điều quá tốt. Nhưng khổ nỗi, tôi chỉ có thể viết được những kinh nghiệm đã có trong quá khứ mà thôi. Ngay đến hiện tại, tôi cũng chẳng viết được gì về cái xã hội xa lạ này. Trong một đời sống bình yên đến nhàm chán, tôi không tìm thấy những giông bão trong tâm hồn để lấy đó làm chất liệu sáng tác&#8230;Những gì tôi viết đã thể hiện lòng tôi. Không hề làm dáng văn chương&#8230;”</i></p>
<p>Thời cùng thụ huấn ở quân trường Bộ Binh Thủ Đức, tôi đã lỡ bỏ qua cơ hội kết thân với Lâm Chương. Thời đó anh cũng chưa hiểu gì tôi bao nhiêu. Chuyện gặp gỡ giữa chúng tôi được anh nhắc: <i>“&#8230; Cao Thoại Châu giới thiệu một anh chàng rụt rè như con gái, bảo đấy là nhà thơ Luân Hoán. Tôi hơi ngỡ ngàng trước một Luân Hoán hoàn toàn khác với tưởng tượng của tôi&#8230;</i>”. Anh không nói rõ anh đã tưởng tượng tôi ra sao, nhưng nếu không lầm, anh đã hình dung một người thật cao ráo, đẹp trai với đôi nét dị biệt nào đó để nói lên, hắn ta biết làm thơ. Anh cũng có vẻ thất vọng khi gặp tôi lần thứ hai: <i>“&#8230;Thấy tôi anh chỉ mỉm cười thay thế một lời chào. Chỉ vậy thôi, không quấn quít ba hoa chích choè&#8230;”</i>. Cho đến ngày chuẩn bị rời quân trường, chúng tôi vẫn chưa tạo được một chút gì khả dĩ trở thành một kỷ niệm sâu sắc, Chương viết: <i>“&#8230;Ngày ra trường, anh em văn nghệ ngồi lại uống cà phê trong hội quán sinh viên ở khu dân sinh trước khi chia tay. Thiếu Luân Hoán. Có người chạy đi tìm nhưng không gặp&#8230;</i>” Hóa ra thời ấy tôi “rụt rè như con gái” thật và vụng về trong giao tế biết bao. Thật ra một đời tôi quí trọng và tha thiết với tình bạn. Sự hà tiện lời nói, cử chỉ trong những lần gặp gỡ với bất cứ ai chỉ do thói quen. Khuyết điểm này, về sau tôi sửa đổi có phần khả quan hơn. Riêng tình bạn giữa tôi và Lâm Chương, có vẻ như lơ là nhưng thật ra khá thân thiện. Bởi chúng tôi gặp nhau trong vài sở thích.</p>
<p>Bè bạn ai cũng biết Lâm Chương là người hảo rượu. Anh biết uống từ thời còn lang thang ở Nha Trang. Rượu theo anh vào Thủ Đức, ra mặt trận và đôi khi lén lút trong trại giam để rồi thật ngất ngưởng tại hải ngoại. Đi đâu, ở đâu Lâm Chương cũng cần có rượu bên cạnh. Nhưng cơ hội để Lâm Chương cho “chó ăn chè” hay nghêu ngao thì gần như rất hiếm. Lâm Chương không phải là người nghiện rượu mà là người mê rượu và biết uống rượu. Tôi thì sao ? Ngày nay đa số bạn văn tại hải ngoại đều chê tôi là loại “kỳ vô phong”. Tôi thấy không cần phải “thanh minh thanh nga” gì. Và vui vẻ chấp nhận sự thật rõ ràng, như một thành tích tôi đã vượt qua không phụ lòng bác sĩ Nguyễn Ngọc Lang, bạn tôi, nhắc nhở cảnh cáo. Rượu đã một thời suýt làm tôi lủng phổi vì uống thiếu phương pháp. Không tùy hứng. Nhưng thường bị kích động bởi một thách thức dẫn đến bốc đồng. Thời ở Thủ Đức, thời ở Sư đoàn 2, nếu các bạn văn gặp tôi ắt sẽ có một cái nhìn khác. Gọn lại, tôi vẫn còn khả năng tiếp nhận rượu như bạn tôi, Lâm Chương.</p>
<p>Một gặp gỡ khác giữa tôi và Lâm Chương là tình yêu mến thiên nhiên và các loài chim. Cũng như tôi, từ ấu thơ Lâm Chương đã đi theo từng giọng chim hót. Gần gũi với nóc gia nông thôn nhất là lũ Se Sẻ. Chỉ chíp chíp loạn xị, không nhịp nhàng và đều đều mà rất thân tình. Tiếp đến là đàn Chột Dột trên những tàu cau đong đưa gió. Giọng kết lại vời nhau thành từng chùm, có lúc như rối lên như một cuộn chỉ. Rồi giọng Chào Mào tha thướt, lãng mạn, níu theo giọng hàn lâm, bài bản của Chích Chòe. Cao sang hơn nữa, lừng lựng treo giữa trời là tiếng Sơn Ca. Nhưng trầm ấm đầy dân tộc tính vẫn là giọng các anh Cu Cườm, rung rinh từng mảng lá xanh. Không rõ thời đó Lâm Chương có từng cầm trên tay một con chim chưa dập bụng cứt chưa ? Anh có từng mớm nước miếng cho chim ? Tôi thì những chuyện dễ thương này đều làm qua cả. Sau nhiều bận cụng ly cùng Lâm Chương và nhiều bạn khác ở Boston, Montréal&#8230;tôi phát hiện, nếu tôi đã từng dưỡng nuôi, chăm sóc rất nhiều loại có lông vũ trong nhiều thời kỳ khác nhau, thì Lâm Chương trước sau và liên tục chỉ cung phụng, chăm chút độc một loại chim quí, vừa hữu danh vừa vô danh. Hữu danh vì có tên gọi thật. Vô danh vì sợ kỵ húy, ít người dám gọi tên. Phải công nhận đây là một giống chim quí, chứ không hẳn hiếm. Có lẽ Lâm Chương mê và trì chí bảo dưỡng nó vì những ưu điểm:</p>
<p><i>“&#8230; chẳng sớm mai nào quên ngỏng cổ</i></p>
<p><i>gật gù ca ngợi cuộc đời vui&#8230;</i></p>
<p><i>con chim chẳng biết làm thơ ấy</i></p>
<p><i>lại biết làm mưa thắm thịt da&#8230;”</i></p>
<p>(Luân Hoán)</p>
<p>Cũng vì con chim này, Lâm Chương gần đây có nhiều chuyến về thăm quê hương. Lý do những chuyến đi của anh thật đơn giản. Anh muốn tạo cho con chim của mình nuôi có một không gian tươi tốt để tiếp tục vui vẻ sinh tồn. Ở Mỹ, môi trường đang bị đe dọa bởi bụi bặm, khói xe và linh tinh những thứ khác. Hơn nữa chim anh nuôi giống Việt Nam nên thỉnh thoảng phải cho về Việt Nam xả hơi là một chuyện hợp lý, bình thường. Ấy thế, mà tôi thấy loáng thoáng có vài chiếc mũ, chực chờ che đầu bạn tôi, ý chừng họ sợ anh ăn nắng chăng ?</p>
<p>Thỉnh thoảng ghé về dòm lại vạt đất xưa, dẫm lại một đoạn đường cũ, đứng dưới một bóng cây ngó trời đất, lượm một câu thơ mọc bất ngờ trong bụng, ném cho đất trời là có lỗi chăng ? Với Lâm Chương, tôi hiểu, những chuyến tiêu tiền bất đắc dĩ của anh, cũng bởi lỗi tại con chim. Khổ thật.</p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><strong>Vài cảm nhận về cách viết trong </strong></h3>
<h3><strong>truyện ngắn của nhà văn Lâm Chương</strong></h3>
<h3><strong>Lương thư Trung</strong></h3>
<p>Vào những ngày gần cuối thế kỷ hai mươi, sự xuất hiện của bút hiệu Lâm Chương với tập truyện ngắn đầu tay, <em>Đoạn Đường Hốt Tất Liệt</em>, do Văn Mới xuất bản năm 1998, đã gây được tiếng vang trên văn đàn hải ngoại. Và vào đầu năm 2000, tập truyện ngắn thứ hai, <em>Lò Cừ</em>, do tạp chí Văn Học tại Hoa Kỳ xuất bản, lại chào đời trong sự chờ đợi của bạn đọc bốn phương.</p>
<p>Cả hai tác phẩm này chưa biết sau này sẽ ra sao, với tác phẩm văn chương nào cũng phải chịu sự thử thách một thời gian khá dài mới biết được giá trị và vị trí của nó, nhưng trong hiện tại, hai tập truyện này đã làm thành một hiện tượng văn học đáng chú ý nhất. Bởi lẽ, từ hơn ba mươi năm nay, người đọc chỉ biết tác giả Lâm Chương qua những vần thơ đăng trên Văn, Bách Khoa, Khởi Hành hồi trước năm 1975, và sau đó in thành sách với thi phẩm <em>Loài Cây Nhớ Gió</em> xuất bản ở Sài Gòn vào năm 1971. Ghi lại điều này, có nghĩa từ phía người đọc cũng như các văn hữu của tác giả, từ trước đến nay cứ đinh ninh rằng Lâm Chương là một nhà thơ hơn là một nhà văn. Điều thú vị là qua tài viết văn xuôi với thể loại truyện ngắn, Lâm Chương đã đem lại cho sinh hoạt văn học hải ngoại một không khí vừa mới mẻ, vừa phong phú, vừa hấp dẫn qua hai tác phẩm mới phát hành này.</p>
<p>Trong bài viết “<em><a href="http://damau.org/archives/10395">Bông Súng Nở Giữa Hồ Nơi Xứ Lạ</a></em>” hồi mùa hè 1999, chúng tôi có lược sơ qua những đức tính của nhà văn Lâm Chương qua những phút nói thật về đời sống, về thời gian hình thành những truyện ngắn cũng như những câu chuyện trong các truyện, về bút pháp, về những bí quyết khi viết … Tất cả, khi đem đối chiếu lại với 30 truyện trong cả hai tập truyện ngắn vừa nêu, qua cảm nhận của một người đọc với mức hiểu biết bình thường, cho phép chúng tôi rút ra được một số các đặc điểm trong truyện ngắn của Lâm Chương thật thú vị.</p>
<p>Trước hết, cái điểm chung nhất là hầu hết các truyện ngắn Lâm Chương luôn dùng ngôi thứ nhất với chữ &#8220;<em>Tôi</em>&#8220;, như ngầm cho người đọc nhận ra những gì tác giả viết đều là những câu chuyện được kể lại thật đầy đủ và có thật về cuộc đời của chính tác giả. Do vậy, yếu tố thật ấy đã là một trong nhiều lý do làm truyện của Lâm Chương hấp dẫn. Hấp dẫn vì Lâm Chương không khoe khoang cái dũng, cái hùng, cái gan dạ của đời mình khi tác giả viết về những ngày lính chiến cũng như những ngày tù đày khổ nhục.</p>
<p>Truyện của Lâm Chương như một bức hình chụp trung thực nhất về cái run sợ trước súng đạn của người lính khi lâm trận. Chẳng hạn, trong <em>Một Vùng Hung Bạo</em>, Lâm Chương viết: &#8220;<em>Khi tôi đang nạp đạn thì thằng Tĩnh la thảng thốt: &#8220;Thiếu úy ơi, nó tới đông quá</em>.&#8221; <em>Tôi nhỏm dậy, bắn liên thanh vào những tên đang tiến về phía tôi. Mắt tôi hoa lên vì mệt, vì nắng, vì khát và vì … quá sợ&#8221;.(Đoạn Đường Hốt Tất Liệt, trang 140).</em></p>
<p>Trong một truyện khác, truyện <em>Định Số</em>, tác giả viết: &#8220;<em>Trong bóng đêm lờ mờ, tôi thấy mọi người đang lao xao, tất bật xách súng đạn nhào ra kháng tuyến. Tôi cũng quơ vội súng đạn, phóng xuống hố cá nhân, nằm chết điếng, không dám ngóc đầu lên…&#8221;,</em><i> </i>hoặc <em>&#8220;…quả thật, đă có mấy trái B40 nổ chát chúa gần bên tôi rồi. Nhưng, tôi không đi đâu hết. Không phải tôi gan, chỉ vì quá sợ, tôi không dám ló đầu lên khỏi mặt đất mà thôi.&#8221; (ĐĐHTL, trang 103).</em><i> </i>Tác giả cho người đọc nhận ra rằng trong trời đất này, đôi lúc không phải vì gan dạ, mà nhờ sợ con đỉa đeo vào mình mà đã biến một người sợ chết bỗng quá ra kẻ thắng trận trong một trận tấn công của đối phương. Chúng ta thử nghe Lâm Chương kể <em>:&#8221;Nỗi sợ đỉa lớn hơn nỗi sợ hoả lực của địch, tôi vụt đứng dậy, quơ tay làm thủ hiệu tấn công, miệng la lớn &#8220;Xung phong. Xung phong.&#8221;(ĐĐHTL, trang 106).</em><i></i></p>
<p>Nhưng với nhân vật xưng &#8220;tôi&#8221; của Lâm Chương, qua lòng tự trọng của một người lính, tác giả đã làm người đọc chia xẻ, cảm thông tâm trạng lo âu, sợ chết của người lính lúc lâm nguy hơn là coi thường, chê bai. Và đặc biệt, trước những lời khen thưởng hết lời của thượng cấp, người lính của Lâm Chương biết &#8220;<em>mắc cở đỏ mặt&#8221;,</em> đủ cho chúng ta càng ngưỡng mộ những con người không phải lúc nào cũng muốn giành cho mình những ưu đãi, những mề đai, những cấp bậc khi mình không thật sự gan dạ, can trường: <em>&#8220;Nghe ông tiểu đoàn trưởng nói, tôi mắc cở đỏ mặt. Lần này định mệnh dùng con đỉa rượt tôi chạy về phía trước, để người ta lầm tưởng là một anh hùng gan dạ.&#8221; (ĐĐHTL, trang 107).</em></p>
<p>Riêng về các truyện ngắn mà Lâm Chương viết về những ngày lao tù, cái nét thật mới gần gũi biết bao khi chúng ta đã hơn một lần trải qua những tháng năm lỡ vận lên rừng đốn cây, vác củi. Nhưng có lẽ, so với nỗi đau và cái đói khổ, chắc chắn hoàn cảnh của Lâm Chương cũng như nhiều người cùng cảnh ngộ phải lê tấm thân tàn lên miền thượng du Bắc Việt, chắc phải cơ khổ hơn nhiều so với các nơi khác thuộc miền đồng bằng. Thế mà, khi sắp chuẩn bị rời xa trại cũ, trớ trêu thay, những gì mà mình gặp mỗi ngày, từ tấm liếp đan bằng sậy đầy rệp để lót chỗ nằm cho đến cái lò, cái bếp và kể cả những hàng rào giam giữ các tù nhân lại trở nên nỗi nhớ nhung luyến tiếc lúc sắp sửa chuyển trại. Đây là tấm lòng rất thật của nhà văn và cũng là tâm trạng của chúng tôi mỗi lần dời trại mới. Những quyến luyến ấy khó mà cắt nghĩa tại sao. Chừng như cỏ cây, vạn vật mọi thứ khi ở gần ta quen rồi, đến lúc ta xa chúng, tất cả đều có tâm hồn. Thử đọc lại điều này qua ngòi bút Lâm Chương trong <em>Thượng Du Niềm Thương Nhớ: &#8220;Nhìn lại, lán trại đìu hiu. Cái sạp, nơi tôi nằm, trống hoang lạnh lẽo, mới đây mà cơ hồ đóng bụi. Cái ống bương đựng nước rửa mặt mỗi sáng, nghiêng đổ dưới sàn. Cái giò phong lan, tôi đem về từ ngoài rừng, treo trên vách nứa, như cũng có hồn biết rầu rĩ chia xa. Hàng rào trại, không còn cần thiết nữa, bị phá một khoảng để lấy lối đi tắt, cũng làm tôi nao lòng. Chẳng phải tôi đă từng khó chịu vì cái hàng rào này, và mong được ở ngoài vòng kìm toả của nó hay sao? Rời khỏi nơi đây, một chốn đã trở thành thân quen, tất cả những gì bỏ lại, đều làm tôi thương nhớ.&#8221; (ĐĐHTL, trang 194).</em></p>
<p>Trong 13 truyện của tập <em>Lò Cừ,</em> chúng tôi cũng nhận ra cái nét thật bàng bạc như vậy trong mỗi truyện. Từ<em>Trường Sơn Gửi Lòng Ở Lại</em><i> </i>đến <em>Gió Ngược, Ngôi Đình Cũ, Viễn Thám</em><i> </i>vân…vân…, cho đến truyện cuối tập sách, <em>Những Ngày Mắc Cạn</em>, và đặc biệt truyện chính mang cùng tên quyển sách, <em>Lò Cừ Nung Nấu Sự Đời</em>, là một sự thật chiếm 100% của một xã hội buổi giao thời với lương tri của người thầy thuốc bị đánh mất trước mạng sống của người khác lúc lâm nguy. Bởi lẽ, đây là câu chuyện thật trong gia đình của chính tác giả, mà nạn nhân chính là đứa con trai của ông, tên Lâm Khang, mà nhiều lần Lâm Chương thường nhắc với bạn bè.</p>
<p>Trên đây là một vài dẫn dụ về cái nét thật trong vô số các nét thật như vậy trong nhiều truyện. Chính vì vậy, đọc truyện ngắn của Lâm Chương, người đọc yêu cái lòng chân thật đó. Với giọng văn như kể chuyện, Lâm Chương đã tạo cho mình một cách viết truyện nối kết thật chặt chẽ. Người đọc phải đọc từ đầu đến cuối truyện mới theo dõi câu chuyện theo một trình tự khít khao không cắt xén được. Hầu hết 30 truyện của Lâm Chương trong hai tập truyện ngắn <em>Đoạn Đường Hốt Tất Liệt</em> và <em>Lò Cừ</em> đều theo cách viết chặt chẽ đó.</p>
<p>Đặc điểm kế tiếp trong cách viết của Lâm Chương là các câu văn thường ngắn gọn. Điều đó cho thấy tác giả hết sức cẩn thận trong việc dùng các dấu phết, dấu chấm. Sở dĩ dùng câu ngắn và chấm phết kỹ lưỡng, dứt khoát như vậy không ngoài mục đích trước tiên là tác giả muốn làm cho câu văn của mình thật gọn gàng và sáng sủa. Lâm Chương luôn cho rằng, <em>&#8220;mình viết mà độc giả không hiểu mình muốn viết gì có nghĩa là mình bất tài, không đủ khả năng diễn đạt một vấn đề cho thật rõ ràng dễ hiểu&#8221;.</em> Do vậy mà, trong bút pháp của ông, ít khi người đọc bắt gặp những câu dài thườn thượt, hoặc các chỗ ngắt câu bằng dấu chấm phết không rõ ràng, thiếu mạch lạc. Có thể dẫn chứng ra đây vài câu văn như vậy trong vô số các câu văn ngắn gọn trên mỗi trang sách của Lâm Chương: <em>&#8220;Tôi sang Mỹ, không theo cái nghĩa bi quan của đời trôi giạt. Tôi đi có định hướng. Năm lần bảy lượt vượt biên. Cuối cùng, tôi đă tới đích. Sống ở đây, tương đối dễ thở. Tiền bạc, có chánh phủ cấp. Quần áo, có nhà thờ lo.&#8221; (ĐĐHTL, trang 116).</em> Hoặc trong truyện <em>Lên Rừng Thăm Bạn</em>, có đoạn: <em>&#8220;Tôi đến với anh Khan được ba ngày . Lòng đã chán. Anh ít nói đến độ lầm lì. Sau bữa cơm chiều, anh thường ngồi bập thuốc rê, trầm tư. Lưng anh hơi còng xuống.&#8221; (ĐĐHTL, trang 15).</em> Qua hai đoạn vừa trích, câu văn Lâm Chương trung bình khoảng sáu hoặc bảy chữ là thường mà vẫn tròn ý, không thiếu, không thừa. Chính vì vậy mà văn của Lâm Chương rất sắc gọn, súc tích.</p>
<p>Thêm vào đó, chữ dùng của ông rất chính xác, bình dị, đôi lúc mộc mạc mà vẫn không làm cho nội dung của các truyện trở nên nghèo nàn. Chẳng hạn như tác giả dùng chữ &#8220;<em>bập</em>&#8221; trong câu văn vừa trích dẫn ở trên, cũng như đoạn văn sau đây, trong <em>Lên Rừng Thăm Bạn</em>, tác giả lại lập lại chữ &#8220;<em>bập</em>&#8221; thêm một lần nữa: <em>&#8220;Anh ngó mông ra rừng, nói chậm rãi, thỉnh thoảng dừng lại một lúc lâu để bập vài hơi thuốc.&#8221; (Lò Cừ, trang 16),</em>đã gợi cho người đọc hình ảnh độc đáo của người nhà quê hút thuốc vấn bằng giấy quyến. Vì thuốc lá trồng ở các miệt rẫy thường trong đất có phèn nên thuốc lá cũng bị phèn, điếu thuốc đang hút dễ bị tắt lửa. Do vậy, người hút thuốc phải &#8220;<em>bập, bập&#8221;</em> điếu thuốc hoài, nếu không điếu thuốc sẽ bị tắt. &#8220;<em>Bập&#8221;</em> là tiếng kêu của hai cái môi chập vào nhau khi hít hơi thật mạnh vào để cho điếu thuốc cháy lên. Nếu chỉ dùng những chữ khác như &#8220;<em>hít một hơi&#8221;, &#8220;hút một hơi&#8221;, &#8220;kéo một hơi</em>&#8220;, câu văn không lột tả hết hình ảnh và cảnh tượng người ở miệt quê hay trên rừng thiếu cả những điếu thuốc ngon, thơm khói, không bị phèn.</p>
<p>Trong cách dùng chữ cho câu văn của mình, Lâm Chương còn chú ý đến các từ ngữ cho phù hợp với từng địa phương, nhất là trong các mẫu đối thoại. Người miền nào nói theo giọng người miền nấy, cốt làm cho người đọc không lẫn lộn được và cũng để cho các câu đối thoại thêm sống động. Trong truyện <em>Chỉ Còn Một Nơi Trở Lại</em>, Lâm Chương đã cho nhân vật của ông, người bạn tù trẻ ngoài Bắc, kể lại câu chuyện đời mình bằng giọng Bắc: <em>&#8220;Nó chạy về mách với bố nó. Bố nó dẫn nó lại nhà cháu mách với bố cháu. Buộc bố cháu phải đánh cháu, trước sự chứng kiến của bố con nó. Bố cháu sợ, muốn làm vừa lòng thằng xã uỷ. Bố cháu quất cháu túi bụi bằng sợi thừng đan bằng lạt tre. Đau quá. Cháu quằn người như một con giun. Cháu rên, nhưng không khóc. Bu cháu sợ hãi, nép bên cửa. Khóc, xót cho cháu.&#8221; (ĐĐHTL, trang 64).</em></p>
<p>Một điểm khác góp thêm vào nét riêng biệt trong văn Lâm Chương là các mẫu đối thoại vừa ngắn gọn, vừa tự nhiên như những lời nói đời thường. Văn đối thoại mà thiếu cái nét tự nhiên, cốt truyện dù có thâm thuý đến mấy, giá trị của tác phẩm cũng bị sút giảm. Vì người đọc là đọc bản văn trước rồi mới cảm nhận cái mà tác giả muốn gởi gấm. Vì thế nếu đọc phải những câu đối thoại dài lê thê, mang dáng vẻ gượng ép, không giống thật, người đọc chắc gì đă đọc hết một truyện ngắn, một tác phẩm, nói chi đến việc đưa ra nhận xét ý tưởng, nội dung. Có tiếp xúc với Lâm Chương, người đọc càng thấy các câu đối thoại ông viết giống như ông đang nói chuyện hằng ngày trong đời sống của ông.</p>
<p>Đôi lúc, tác giả còn thêm vào những câu đối thoại cái nét bi hài, dí dỏm nên càng làm cho truyện của ông sinh động một cách tự nhiên. Ví dụ mẫu đối thoại sau đây của chàng rể Tàu thật buồn cười, làm cho người đọc cũng bắt tức cười theo, trong truyện <em>Cơ Ngơi Ngày Cũ</em>:</p>
<p><em>“Ngoại tôi hỏi chàng rể Tàu:</em><i> </i><i><br />
<em>&#8220;Sao người trong dòng họ nhà ta chưa khá?&#8221;</em><br />
<em>Ba tôi, tức chàng rể Tàu, nói:</em><br />
<em>&#8220;Ngộ lâu piết.&#8221;</em><br />
<em>&#8220;Thế sao thầy của mầy bảo cái khu gò mả nhà ta là linh địa?&#8221;</em><br />
<em>&#8220;Nó lâu phải thầy của ngộ.&#8221;</em><br />
<em>&#8220;Vậy nó là ai?&#8221;</em><br />
<em>&#8220;Là người cùng một làng với ngộ, ở pên Tàu.&#8221;</em><br />
<em>&#8220;Sao mày đi chung với nó?&#8221;</em><br />
<em>&#8220;Ở pên Tàu, nó nghèo, ngộ cũng nghèo. Nó rủ ngộ qua Việt Nam làm giàu. Nhưng xứ Việt Nam cũng nghèo quá. Nó dẫn ngộ li chỗ này chỗ kia hoài. Ngộ than mỏi cẳng. Nó muốn pỏ ngộ ở lại nhà nị. Có cơm ăn, có vợ ngủ.&#8221;(Cơ Ngơi Ngày Cũ, trang 148)</em></i></p>
<p>Ngoài ra, trong truyện ngắn Lâm Chương, các câu văn thường thường câu trên đối với câu dưới từ lời đến ý một cách chặt chẽ. Rải rác trong 30 truyện ngắn của hai tác phẩm vừa kể đều thấy thấp thoáng các vế đối như vậy. Lần gặp Lâm Chương bên bờ hồ Mystic hồi mùa Hè 1999, chúng tôi có hỏi ông nghĩ gì về các vế đối này, tác giả chỉ cười và lúc bấy giờ ông mới nhận ra điều đó khi có người đọc đưa ra nhận xét, rồi Lâm Chương xác nhận: <em>&#8220;Tôi chỉ viết hết sức tự nhiên, không làm kiểu cách.&#8221;</em></p>
<p>Sau đây, xin ghi ra một ví dụ tiêu biểu về các vế đối này trong truyện <em>Trường Sơn Gửi Lòng Ở Lại:</em></p>
<p><em>“Dù có ghế, họ cũng không ngồi.</em><i> </i><i><br />
<em>Vợ chồng đứng lố nhố .(…)</em><br />
<em>Đứa lớn biết chạy lon ton, hớp xong ly rượu, nhăn mặt, khè dài như rắn hổ mang, hai tay quạt lia lịa vào mồm.</em><br />
<em>Đứa nhỏ còn đai sau lưng, uống phải chất cay, hả họng khóc như đổ nước sôi vào miệng.&#8221;(Lò Cừ, trang 13).</em></i></p>
<p>Và một ví dụ khác cũng trong truyện ngắn này :</p>
<p><em>“Vỡ đất để cúng kiến Thần Rừng.</em><i> </i><i><br />
<em>Được mùa để cảm tạ Trời Đất.(….)</em><br />
<em>Các cụ già và những đàn ông trai tráng thường vui say bên ché rượu cần.(…)</em><br />
<em>Trai gái nắm tay nhau, nhảy cà tưng theo nhịp trống cơm, xoay vòng bên đống lửa. &#8220;(Lò Cừ, trang 15).</em></i></p>
<p>Từ những vế với ý tứ đối nhau như vậy, đọc truyện ngắn Lâm Chương làm người đọc nhận ra trong văn phong của ông có mang âm điệu các bài hịch. Về đặc điểm này, có thể giải thích, vì tác giả viết câu văn cô đọng, lại đối ý chặt chẽ, cùng với cái lòng của Lâm Chương chìm sâu vào những cảnh đời gặp lúc bể dâu, nên lời văn vang vọng lại cái âm thanh gờn gợn như vậy, như một triết nhân ngồi ngẫm suy việc thế sự man man vô tận. Thử viết lại vài câu văn của tác giả bằng cách xuống dòng sau mỗi dấu chấm câu, chúng ta sẽ dễ nhận ra điều này trong cách viết của Lâm Chương:</p>
<p><em>“Ở đây, không đo thời gian bằng kim đồng hồ.</em><i> </i><i><br />
<em>Trưa nghe chim bắt-cô-trói-cột kêu trên đầu núi, biết đang mùa hạ.</em><br />
<em>Đêm nằm nghe cú rúc đầu hồi, biết đang mùa đông.</em><br />
<em>Thung lũng ít chịu mặt trời.</em><br />
<em>Âm khí núi rừng pha trong sương đục, nhòa nhòa lán trại.</em><br />
<em>Cái lạnh rờn rợn nhiễm vào người, lâu dần thành quen.</em><br />
<em>Thiên nhiên tập cho con người biết chịu đựng.</em><br />
<em>Về với thiên nhiên, thở cùng cỏ cây.</em><br />
<em>Đi trên đất ẩm, nghe mùi rong rêu lá mục.</em><br />
<em>Làm quen với muỗi đói vắt rừng.</em><br />
<em>Coi thường độc trùng rắn rít.</em><br />
<em>Ngồi lặng hàng giờ, ngắm những bông hoa dại âm thầm ngoi lên từ kẽ đá.</em><br />
<em>Thưởng thức tinh hoa của đất trời, cũng là một cách dưỡng sinh.</em><br />
<em>Dựa lưng gốc đại thụ, thấu lẽ câm nín ngàn đời.</em><br />
<em>Quên chuyện ngày trước.</em><br />
<em>Bỏ chuyện ngày sau.</em><br />
<em>Sống đời hoang dã.</em><br />
<em>Thú rừng vô tâm, không biết buồn.</em><br />
<em>Ai nặng thất tình lục dục, dễ bỏ mình giữa chốn thâm sơn…&#8221;(Thượng Du Niềm Thương Nhớ, ĐĐHTL, trang 184).</em></i></p>
<p>Phải chìm trong bể hoạn dữ lắm và cũng phải có cái tâm hồn thật nhạy cảm nữa, Lâm Chương mới cho người đọc một đoạn văn tuyệt diệu như vậy về cái lẽ trời đất và con người…</p>
<p>Sau cùng, có lẽ cũng nên ghi nhận thêm những phần kết của các truyện. Lâm Chương luôn đưa ra những câu kết khiến người đọc phải suy nghĩ nhiều về thân phận của nhân vật trong truyện, so với cái bao la muôn trùng của cõi đời đầy biến đổi này, nhưng không thoát ra ngoài cái giới hạn một kiếp nhân sinh. Chẳng hạn, câu kết trong truyện ngắn <em>Đoạn Đường Hốt Tất Liệt</em>, tác giả viết: “<em>Tôi kêu lên sửng sốt :&#8221;Thằng Hon!&#8221; (ĐĐHTL, trang 89).</em><i> </i>Người đọc phải bâng khuâng trước cuộc gặp gỡ lạ kỳ mà cả hai người, nhân vật xưng<em>&#8220;tôi&#8221;</em> và &#8220;<em>thằng Hon&#8221;,</em> đều không muốn gặp lại nhau trong hoàn cảnh khó xử này. Nhưng trước câu nói với vẻ hốt hoảng và ngỡ ngàng đó đã ẩn chứa cái lòng nhân của người ở thế thượng phong trong cuộc đối đầu. Và Lâm Chương đã thể hiện được cái lòng từ tâm ấy của một người lính quốc gia lúc kết thúc một bi kịch đời có thật. Ngoài ra, với câu kết này, tác giả còn phác họa ra cho người đọc thấy được nỗi bi thảm của cuộc chiến mấy mươi năm trên đất nước mình, những người mà mình gặp nhau hằng ngày, rồi ra, là những kẻ tử thù trong chiến tranh như thằng Hon, con ông Tám Đê trong truyện. Hoặc một câu kết khác trong tập <em>Lò Cừ</em>, truyện <em>Viễn Thám</em>: <em>&#8220;Tội nghiệp, sau cái đêm động phòng với vợ, nó đi luôn không bao giờ về nữa.&#8221; (Lò Cừ, trang 175).</em><i> </i>Tác giả đã làm người đọc nghĩ về cuộc chiến vừa qua với biết bao người lính đã <em>&#8220;đi luôn không bao giờ về nữa!&#8221;</em> như Năng, như Nhiêu ?!? Làm sao tính nổi một bài tính tổng kết những mảnh đời bất hạnh trong đạn bom gầm thét mấy mươi năm !!! Tóm lại, phần kết của các truyện trong hai tác phẩm của Lâm Chương đều gợi ra cho người đọc những nỗi xót xa tương tự như vậy, nhiều lắm!</p>
<p>Nói tới giá trị của một tác phẩm văn chương, người đọc thường nghĩ nhiều đến phần chuyên chở của tác giả trong truyện, tức cái phần ý tứ, nội dung của nó. Truyện ngắn của Lâm Chương cũng nghiêng nhiều về những nội dung như vậy. Ở đó tác giả đã phác họa được bức tranh xã hội một thời mà tác giả đã từng sống qua, nói lên được thân phận của kiếp người trong thời chiến tranh và sau chiến tranh với nỗi bi thảm của nó. Về phần hình thức, qua cảm nhận của một người đọc, chúng tôi nhận ra rằng, Lâm Chương với cách dùng câu văn ngắn mà ý tưởng dồi dào, súc tích; chữ ông dùng được ông chọn lựa kỹ càng, chính xác rất khó có ai bắt bẻ được, và chính nhờ cách dùng chữ, chấm câu, phân đoạn khúc chiết như vậy ông đã tạo được một hơi văn mới lạ, đặc thù, vì thế truyện của ông rất lôi cuốn và hấp dẫn. Từ đó tác giả đã tạo cho người đọc có cảm tưởng rằng mỗi khi đọc văn Lâm Chương mình nên đọc rất chậm, vì nếu đọc nhanh quá những trang sách sẽ mau hết, giống như gặp món ngon mà ăn nhanh quá, rồi lại tiếc …. Và cũng chính nhờ bút pháp mới mẻ đó đã làm cho các tác phẩm của ông trở thành một hiện tượng mới lạ, độc đáo trong sinh hoạt văn học nghệ thuật hải ngoại ngày nay. (*)</p>
<p><i>Boston</i><i>, tháng 3 năm 2000.</i></p>
<p><em>(Bài này đã đăng trên tạp chí Văn Học, California (Hoa Kỳ), do nhà văn Nguyễn Mộng Giác làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút, số 170, tháng 6 năm 2000. Người viết đọc lại và bổ túc ngày 20 tháng 12 năm 2009.)</em></p>
<p><em>Phụ chú</em><strong><i>:</i></strong><i> </i></p>
<p><i><br />
</i><em>(*) Sau hai tác phẩm</em><i> </i><strong><i>Lò Cừ</i></strong><i> </i><em>và</em><i> </i><strong><i>Đoạn Đường Hốt Tất Liệt</i></strong><i> </i><em>vừa dẫn, mấy năm sau nhà văn Lâm Chương còn cho ra đời hai tác phẩm nữa:</em><i> </i><i><br />
<strong>Đi Giữa Bầy Thú Dữ</strong></i><em>, nhà xuất bản Văn Mới, Hoa Kỳ, năm 2002.</em><i> </i><i><br />
<strong>Truyện và Những Đoản Văn</strong></i><em>, nhà xuất bản Văn Mới, Hoa Kỳ, năm 2004.</em><i></i></p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><b>Đọc văn Lâm Chương</b></h3>
<p>&nbsp;</p>
<h3><strong>Sóc Con Trăng</strong></h3>
<p>Sóc Con Trăng. Cái địa danh lạ lùng, nằm về phía Tây Nam, sát biên giới Việt Miên. Nếu so với ngàn xanh mênh mông, Sóc Con Trăng chỉ là một trảng trống rất nhỏ giữa rừng già, thuộc mật khu Dương Minh Châu. Nhìn vào bản đồ quân sự, nơi đây có những vòng cao độ màu nâu thưa thớt, biểu thị một ngọn đồi thoai thoải. Ước hiệu bản đồ còn cho thấy, có chừng vài mươi nóc nhà nằm rải rác trong khu vực. Nhưng hiện tại, Sóc Con Trăng hoàn toàn hoang dã. Những nền nhà cũ của một thời xa xăm, đã mất dấu.</p>
<p>Sớm mai. Ðứng trên đồi nhìn ra bìa rừng. Sương mù kéo một vệt dài trắng xóa, như dải lụa bạch vây quanh chân đồi, che lấp cây xanh. Khi mặt trời vừa lên, sương tan rất vội.</p>
<p>Phút chốc, cảnh vật hiện ra rõ nét, biến đổi không ngờ. Rồi sương chiều lại tụ, lúc mặt trời chìm khuất sau rừng cây yên ả. Cái yên ả đìu hiu giả tạm bề ngoài. Trời vừa chạng vạng, chim rừng thôi líu ríu trên cây. Mặt đất bắt đầu nhá nhem bóng tối thì từ trên đồi có những người đi xuống, xâm nhập vào rừng cây. Và ở một nơi bí mật nào đó, cũng có những kẻ âm thầm len lỏi, tiến sát về Sóc Con Trăng. Tất cả, họ là loài săn mồi ban đêm. Trong im lặng của rừng già, ẩn giấu biết bao điều hiểm nguy bất trắc. Những đôi mắt mở trừng không xuyên qua được bóng tối, họ vận dụng khả năng thính giác. Gióng lỗ tai nghe ngóng. Tiếng vỗ cánh của con chim đớp muỗi, cũng làm họ chú tâm lo lắng. Tiếng gãy đổ một cành cây khô, cũng làm họ giật mình hồi hộp. Súng luôn mở khóa an toàn, trong tư thế sẵn sàng khai hỏa. Tử thần không bao giờ nhân nhượng cho kẻ vô ý để mình bị đối phương phát hiện trước. Khó có cơ hội rút kinh nghiệm bản thân để sửa sai, sau lần đầu tiên lầm lỗi. Xác suất sống còn rất ít, khi đứng trước tầm đạn địch.<br />
Một ngày giữa tháng Chạp. Tiểu đoàn được trực thăng vận vào vùng đất ấy. Vùng đất mà thời bình không ai thèm bén mảng. Nhưng trong thời chiến, đó là một yếu điểm, các nhà quân sự muốn chiếm lấy ưu thế, chận họng đối phương. Và đối phương lúc nào cũng cảm thấy khó chịu. Họ muốn móc cái xương vướng mắc trong cổ, để khai thông huyệt đạo từ Quảng Ðức, Phước Long, Bình Long xuống Tây Ninh, và từ Kampuchia vào mật khu Dương Minh Châu. Thế là Sóc Con Trăng trở thành chiến địa. Hai bên đổ máu, giành nhau từng thước đất trên ngọn đồi khô, đầy những cỏ dại phất phơ bông trắng. Dưới chân đồi cũng chẳng có gì hơn, ngoài loại cỏ tranh cao ngang bụng, trải dài ra tận bìa rừng.<br />
Ngày đầu tiểu đoàn đến đây. Tình hình còn rất yên tĩnh. Có thể đối phương chưa kịp chuẩn bị để làm một cuộc tấn công. Nhưng vẫn phải đề phòng bị đánh úp bất ngờ lúc tiểu đoàn đang chân ướt chân ráo. Các toán tiền đồn, và tuần tiễu an ninh chung quanh khu vực, hoạt động ráo riết. Số còn lại, lo ổn định vị trí, bắt tay vào việc đào công sự phòng thủ. Bộ chỉ huy tiểu đoàn đóng trên đỉnh đồi, ngay trung tâm cái mỏ ác của những vòng cao độ. Từ đó, có thể nhìn bao quát được các đại đội nằm bao quanh dưới lưng chừng đồi.<br />
Mọi người trong tiểu đoàn đều biết, nhảy vào Sóc Con Trăng là một thử thách lớn đối với địch quân, đông hơn nhiều lần. Hai công trường 7 và 9 của quân Bắc Việt đang áp sát biên giới, phía bên kia phần đất Kampuchia. Theo cái công ước quỷ quái gì đó, cam kết hai nước không xâm phạm biên giới lẫn nhau. Quân Bắc Việt lợi dụng lãnh địa an toàn này, làm căn cứ hậu cần vững chắc. Ðưa quân sang biên giới đánh đấm. Xong, rút về bên kia dưỡng quân. Tiểu đoàn bị ngăn cấm tuyệt đối, không được nã pháo qua Kampuchia. Không có cuộc chiến nào quy định những điều bất lợi lạ lùng như thế. Chịu thiệt thòi để giữ cái tình giao hảo của hai quốc gia. Thằng nào tức thì cứ chửi đổng, nhưng lệnh vẫn phải thi hành. Tòa án quân sự đang chờ đợi những ai vi phạm quân kỷ ngoài mặt trận, để tống vào quân lao. Tên nào cũng ớn!<br />
Không qua được biên giới, người ta thả tiểu đoàn xuống Sóc Con Trăng, làm miếng mồi nhỏ, nhử đàn kiến lớn bu lại để tiêu diệt. Nhưng tiêu diệt bằng cách nào, chỉ có mấy ông tướng tư lệnh quân đoàn, sư đoàn biết. Anh em lo ngại, không khéo cả đơn vị sẽ phơi thây trên ngọn đồi này, nếu đối phương quyết tâm áp dụng chiến thuật biển người, tiền pháo hậu xung. Trong pho chiến sử đã từng ghi lại các trận đánh đẫm máu, lấy mười đổi một, chỉ với mục đích làm bàn thắng, gây tiếng vang và mặc cả trên bàn hội nghị. Sóc Con Trăng có quan trọng đến mức đối phương phải trả cái giá quá đắt như thế hay không? Ðâu ai biết. Dù gì đi nữa, một khi đã vào tử địa, không có con đường lựa chọn nào khác hơn là tử thủ, quyết liệt chiến đấu. Ai cũng muốn còn cái mạng trở về. &#8220;Giành sự sống trong nỗi chết&#8221;. Câu nói hồi còn trong quân trường là châm ngôn duy nhất để giữ mạng mà thôi.<br />
Tôi là trung đội trưởng. Một chức vụ nhỏ trong guồng máy lớn. Chỉ huy hơn hai mươi tay súng. Nằm tuyến đầu, trước mũi đạn. Chịu cái gian nguy của một khinh binh. Lại đèo thêm nhiệm vụ làm gạch nối từ đại đội trưởng xuống anh em binh sĩ. Sức ép của cả hai bên dồn lại, trung đội trưởng chịu đủ tiếng chì tiếng bấc. Anh em binh sĩ bê bối, đại đội trưởng khiển trách trung đội trưởng. Công tác cực nhọc, hành quân không có lúc nghỉ, anh em cằn nhằn văng tục, trung đội trưởng nghe. Những khi rỗi việc ngồi tán gẫu, bạn bè nói đùa ám chỉ trung đội trưởng là cầm cặc chó đái. Dù nói đùa, nhưng không phải không đúng.</p>
<p>Làm trung đội trưởng, chẳng ăn được cái giải gì, chỉ khổ thân. Con nhiều cha, tụ về một mối. Mỗi người ương ngạnh một kiểu khác nhau. Không dễ chỉ huy. Hai năm làm trung đội trưởng, cho tôi nhiều kinh nghiệm đắng cay. Mềm quá, bị coi thường lờn mặt. Cứng quá, gây bất mãn. Tốt nhất là hòa mình cùng anh em đồng đội, nhưng có lúc cũng phải mượn kỷ luật làm răn đe những anh ba gai, hoặc tắc trách trong nhiệm vụ.<br />
Hoàn cảnh gia đình để lại sau lưng, về đây làm những đứa con trung đội, chịu chung một tình huống. Bỏ đi những tị hiềm dị biệt. Nương tựa vào nhau mà sống. Tương trợ nhau mà đi qua những cơn lửa đạn. Không ruột thịt cũng thành thân thiết. Ðêm chiến hào, khum đầu trong nón sắt, chia nhau từng hơi khói thuốc. Rủ rỉ kể cho nhau nghe nỗi niềm tâm sự. Cha mẹ, vợ con, người yêu bé nhỏ đang chờ đợi nơi phố thị đông người, hay một miền quê nghèo nàn hẻo lánh nào đó.<br />
Hồi chiều, lúc đang đào công sự phòng thủ, thằng Công hỏi: &#8220;Thiếu úy ơi. Con đào của tôi, nó hẹn về đi chợ tết. Tiểu đoàn mình, có ra khỏi cái nơi hắc ám này, trước tết không?&#8221;<br />
Tôi nói: &#8220;Hẹn lại tết năm sau đi.&#8221;<br />
&#8220;Như vậy là mình ăn tết ở đây?&#8221;<br />
&#8220;Ăn tết hả? Mày hỏi mấy con khỉ đột trong rừng, nó có chịu để yên cho mày hay không?&#8221;<br />
&#8220;Ðánh đấm hoài, chán bỏ mẹ! Hết rừng núi, lại sình lầy. Không biết ngày nào hết khổ.&#8221;<br />
Nó than, như chính tôi là người làm cho nó khổ. Tôi bảo: &#8220;Lính nào cũng khổ. Chỉ có lính kiểng là sướng thôi, con ạ!&#8221;<br />
Thằng Công im lặng, khi vị đại đội trưởng đi tới, đôn đốc và kiểm soát các trung đội đào hố cá nhân dọc theo phòng tuyến. Ông dặn, đào hố phải làm nóc kiên cố. Tình hình căng thẳng lắm. Nếu địch quân tràn ngập vị trí, pháo binh sẽ bắn nổ chụp ngay trên đầu. Thằng nào lười biếng, không làm nóc, là tự mình khai tử. Ông nhai lại điều này nhiều lần. Anh em phát bực.<br />
Ðại đội trưởng đi khỏi, thằng Nhân nói: &#8220;Ðù mẹ! Chết sống có số. Khi đã tới số, thì chạy đàng trời cũng không khỏi nắng.&#8221;<br />
Thằng Tứ Ách, chống cán xẻng, phanh ngực áo, quạt phành phạch, cũng phụ họa: &#8220;Những thằng ở thành phố, đang nằm trên bụng vợ, bỗng ngã lăn ra chết vì thượng mã phong. Số trời đấy.&#8221;<br />
Lại một thằng nữa, tiếp theo: &#8220;Thế là sướng tới hơi thở cuối cùng. Tao thà chịu chết vì thượng mã phong, chứ không muốn ở đây chết chung với bọn mày.&#8221;<br />
Nhiều tiếng cười hô hố sau câu nói.<br />
Tiểu đội trưởng, tên Nẫm, đang hì hục đào hố, ngẩng lên nhìn: &#8220;Chỉ lo tán dóc và cười. Cả buổi, mà quào cái hố chưa bằng cái lỗ đĩ. Khi đụng trận, thằng nào chạy qua hố tao núp ké, tao đạp văng ra ngoài.&#8221;<br />
&#8220;Ðất cứng quá, trung sĩ ơi.&#8221;<br />
&#8220;Lúc nào cũng rên. Muốn đi đầu thai sớm thì vất xẻng, khỏi cần đào hố.&#8221;<br />
Tôi đi dọc theo phòng tuyến, quan sát phần trách nhiệm trung đội. Giữa tháng Chạp, nhưng nắng của buổi xế chiều ở đây, vẫn còn gay gắt lắm. Ai cũng tháo mồ hôi. Ðào một cái hố cá nhân trên thế đất đồi khô cứng, không là chuyện dễ.<br />
Biết vậy, nhưng tôi vẫn nói: &#8220;Khi mặt trời lặn, thằng nào chưa xong tao tống ra nằm tiền đồn.&#8221;<br />
Có tiếng đáp lại của Ðiền Ðô: &#8220;Dọa ai thì dọa. Chứ thằng này là dân chơi thứ thiệt, không ngán đâu. Ðừng dọa.&#8221;<br />
&#8220;Mày bảo tao dọa hả? Ðù mẹ! Có ngon thì ngồi hút thuốc, làm thơ đi con. Tối nay sẽ biết đá vàng .&#8221;<br />
Ðiền Ðô im lặng. Nó biết tôi không đùa.<br />
Tiền đồn cho một đơn vị là toán quân báo động, nằm ngoài tuyến phòng thủ. Do đó, toán tiền đồn thường đặt ở những nơi tiên liệu địch quân có thể xâm nhập áp sát đơn vị. Tiền đồn là toán chạm địch đầu tiên. Muốn tấn công một đơn vị, địch quân phải tiêu diệt cho được những toán tiền đồn chung quanh phòng tuyến, từ ngoài xa. Và như thế, đơn vị phòng thủ kịp thời chuẩn bị tác chiến, trước khi địch quân tiến đến gần kháng tuyến chính. Trong trận mạc, người ta chấp nhận hy sinh một số nhỏ, để bảo toàn lực lượng lớn. Ðóng quân ở những vùng bị áp lực địch nặng nề, dù là thằng to gan nhưng tới phiên vác ba lô, xách súng đạn đi làm tiền đồn cũng lạnh cẳng.<br />
Anh em trong đơn vị, thường nói năng lỗ mãng, tưởng có thể ghét bỏ hại chết đời nhau. Nhưng thật ra, đó lại là điều thể hiện sự gần gũi thân tình của những thằng đi trận. Ðặt cho nhau những cái biệt danh quái gở để cười vui. Dần dần biệt danh trở thành quen thuộc, không còn gọi bằng nhau bằng tên chính thức nữa. Thằng Công khinh binh, biệt hiệu Công Ngủ. Thằng Ðức mang súng phóng lựu M79, gọi Ðức Cạp. Thằng Ðiền tiểu đội phó là Ðiền Ðô.</p>
<p>Thằng Mai phụ xạ thủ đại liên, những lần về phép hay la cà nơi các động mãi dâm, anh em đặt Mai Ghế. Thằng Ty vác đại liên, thường khoe con cu của nó là một vưu vật lý tưởng trên đời, nên được tặng danh hiệu Ty Cai Dù. Những biệt danh này, được hiểu theo nghĩa nói lái. Còn có những biệt danh, chỉ đặc tính. Như thằng Minh mang máy truyền tin, hay đánh tráo bài ba lá, gọi Minh Ðiếm Chảy. Thằng Nhân cấp bậc hạ sĩ, viết thư về cho vợ, chưa gởi đi, bị anh em coi lén, thấy nó thay chữ ký bằng bốn con bài cơ rô chuồn bích. Từ đó, anh em gọi nó là Nhân Tứ Ách, để phân biệt với Nhân súng cối. Thằng này hay chửi thề nên có hỗn danh Nhân Ðù. Thượng sĩ trung đội phó, trước kia thuộc Sư Ðoàn 25 Bộ Binh, sau đổi qua Biệt Ðộng, mang danh Mai Chò Gãi. Mới đầu, tôi không hiểu ý nghĩa của cái tên kỳ lạ này. Anh em giải thích, &#8220;mai chò gãi&#8221; là tiếng lóng của dân bụi đời, chỉ con số 25.<br />
Ðêm Sóc Con Trăng. Trời se lạnh. Trăng mù sương ẩm đục màu sữa. Không gian chìm lắng. Tiếng côn trùng sầu não bãi tha ma. Thỉnh thoảng, nghe khoen dây súng khua lách cách của đốc canh đi kiểm soát lính canh dọc tuyến phòng ngự. Những anh em khác, cuộn mình trong tấm poncho, ngủ mê mệt sau một ngày vất vả.<br />
Nửa khuya. Tiểu đoàn báo động giả, tập phản ứng cho quen với vị trí phòng thủ mới. Hỏa châu cháy rực bầu trời, chói lòa xuống mặt đất, soi rõ từng bông cỏ dại trên đồi. Chúng tôi ngồi dưới hố cá nhân. Ðầu đội nón sắt, mình mang dây ba chạc đeo túi đạn, tay súng trong thế tác chiến. Bên ngoài vòng đai, đạn pháo nổ quanh chân đồi như sấm sét. Tưởng khó có một ai vượt qua lằn ranh đạn pháo mà còn toàn vẹn. Ðưa tiểu đoàn vào đây, người ta đã dự trù một trận đánh lớn. Nằm trong cái thế bị tấn công bất cứ lúc nào, tiểu đoàn được ưu tiên hỏa lực pháo binh. Tất cả những căn cứ trọng pháo trong tầm tác xạ, lúc nào cũng hướng súng về Sóc Con Trăng, sẵn sáng yểm trợ.<br />
Khi chấm dứt báo động, mọi người đều tỉnh táo, khó dỗ giấc ngủ trở lại. Tôi và thằng Minh Ðiếm Chảy, ngồi chung trong cái hố đôi.<br />
Nó cằn nhằn: &#8220;Thà địch kéo tới, đánh nhầu một trận cho xong. Chờ đợi và báo động hoài, còn ngủ nghê gì được.&#8221;<br />
&#8220;Mày là thằng chết đến đít, vẫn còn ham ăn ham ngủ.&#8221;<br />
&#8220;Thức khuya lạt miệng. Thiếu úy, cho xin điếu thuốc.&#8221; Nó chép miệng.<br />
Tôi nói: &#8220;Hút thuốc ban đêm. Coi chừng bị bắn bể sọ dừa.&#8221;<br />
&#8220;Không sao đâu. Em che trong nón sắt.&#8221;<br />
&#8220;Từ hồi chiều đến giờ, mày xin thuốc mấy lần rồi? Hút ghiền, thì phải lo thủ sẵn chứ. Tao đâu phải cái kho phát thuốc cho mày.&#8221;<br />
Nó cười giả lả, chìa tay ra: &#8220;Ðiếu thuốc giá đáng chi, mà nói những câu mắc mỏ. Thiếu úy?&#8221;<br />
&#8220;Ðiếu này là điếu chót nghe mậy. Hút xong, ráng treo mỏ. Ðừng xin tao nữa.&#8221;<br />
Tôi rút một điếu cho nó. Nó khum đầu, xòe lửa trong nón sắt, hút vài hơi rồi trao cho tôi.<br />
&#8220;Hút chung một điếu đi. Ðỡ hao.&#8221;<br />
Tôi rít một hơi dài, rồi nhìn mặt nó. Trong ánh trăng nhòa nhạt của đêm mù sương, mặt nó khắc khổ đăm chiêu.<br />
Một lúc sau, nó nói nhỏ: &#8220;Buồn quá.&#8221;<br />
&#8220;Sao mày rên rỉ hoài vậy?&#8221;<br />
&#8220;Con vợ của em&#8230;&#8221;<br />
&#8220;Lại nữa. Mày nói chuyện này hằng trăm lần rồi. Nó bỏ mày đi lấy thằng khác chứ gì? Tao không muốn nghe.&#8221;<br />
&#8220;Nhưng nó còn nói xấu, rằng em mê cờ bạc.&#8221;<br />
&#8220;Cũng đúng thôi. Kỳ lương nào, mày cũng nướng hết vào sòng bạc. Ði phép, xách cái đít không, về nhà với bộ mặt đưa đám. Bảo sao nó không chán?&#8221;<br />
&#8220;Nhiều khi tức, muốn trả thù.&#8221;<br />
&#8220;Ðừng có điên. Ở tù đấy, con ạ! Cứ bình tĩnh, rà rê kiếm con vợ khác. Làm lại cuộc đời.&#8221;<br />
&#8220;Không dễ. Ðàn bà con gái, đâu phải muốn chộp bắt lúc nào cũng được?&#8221;<br />
Tôi an ủi: &#8220;Mày là thằng đẹp trai số một của trung đội. Lo gì?&#8221;<br />
Nghĩ ngợi một hồi, nó nói: &#8220;Phải chi em được như thằng Ty Cai Dù, thì ngon quá.&#8221;<br />
&#8220;Ngon thế nào?&#8221;<br />
&#8220;Nó bảo nhờ &#8220;cai dù&#8221; mà nó được cơm no bò cỡi.&#8221;<br />
Tôi gạt ngang: &#8220;Thôi. Bỏ chuyện bá láp đó đi. Lo ngủ. Mai còn công tác.&#8221;<br />
Nói xong, tôi lên khỏi hố. Nằm co, trùm bằng tấm poncho lạnh ngắt.<br />
Ngày nào tiểu đoàn cũng mở những cuộc hành quân cấp đại đội quanh khu vực Sóc Con Trăng, và dọc theo biên giới. Chẳng thấy bóng đối phương. Nhưng ngày nào tiểu đoàn cũng bị pháo kích hai, ba lần. Nhất là những khi có chuyến không vận tiếp tế vào Sóc Con Trăng. Trực thăng vừa chạm mặt đất, pháo rót tới liền. Quân tiền sát của địch vẫn bám sát đâu đây. Rừng rậm quá, khó phát hiện được vài ba tên tiền sát ẩn núp giữa ngàn xanh. Mỗi lần, pháo chừng năm bảy quả. Súng cối 82 ly từ bên kia biên giới bắn sang. Tiểu đoàn vô phương phản pháo. Tuyệt đối tuân hành cái lệnh không xâm phạm biên giới giữa hai nước. Ðành ôm đầu máu, chịu trận. Kampuchia là nước trung lập, nhưng lại chứa chấp mấy sư đoàn quân Bắc Việt. Thật chó má! Anh em gào cái tên Sihanouk mà chửi.<br />
Ban ngày là thế. Ban đêm cũng chẳng yên. Vài đêm lại có đụng độ ngoài các toán tiền đồn. Nhiều khi địch len lỏi qua khỏi tiền đồn, bắn vào vị trí phòng thủ. Tình trạng báo động liên miên. Nón sắt, và súng đạn đeo dính bên người. Hỏa châu soi sáng, và pháo yểm ầm vang một góc trời.<br />
Tinh thần anh em sa sút trầm trọng. Mệt mỏi. Chán chường. Ba ngày tết của năm 1969, trôi qua trong quên lãng giữa rừng già. Dù chỉ mới có những cuộc chạm súng lẻ tẻ, nhưng tiểu đoàn đã tổn thất khá nhiều do pháo kích. Tiểu đoàn trưởng gọi về Bộ Tư Lệnh, xin ra khỏi vùng hành quân Sóc Con Trăng. Ðược trả lời rằng, chưa cần thiết tiểu đoàn có mặt ở những nơi khác. Nghe thế, mọi người đều bất mãn. Càng bất mãn càng chửi thề. Trung đội tôi, bây giờ, thằng nào cũng bắt chước Nhân Ðù. Mở miệng ra là có đù mẹ, đéo bà. Nghe mãi thành nhàm tai.<br />
Sau một tháng trời ở đây, quân số tiểu đoàn hao hụt. Lớp chết, lớp bị thương. Bổ sung tân binh, mặt thằng nào cũng ngơ ngáo. Chưa quen chiến trường, mỗi lần bị pháo những tân binh quýnh quáng đến tội nghiệp.<br />
Một buổi chiều. Tôi đi kiểm soát, thấy thằng Ngô tân binh gác ngoài phòng tuyến. Súng đặt ngang đùi. Nó ngồi bất động, nhìn ra bìa rừng. Rừng chiều, sương xuống âm u một màu ảm đạm. Tôi nhẹ nhàng lần đến sau lưng. Nó không hay biết. Tôi vỗ vai. Nó giật mình, quay lại nhìn tôi. Tôi thấy hai hàng nước mắt của nó chảy dài xuống gò má. Nó đang thổn thức. Nó quẹt nước mắt, cười gượng.<br />
Tôi ngồi kế bên: &#8220;Tại sao mày khóc?&#8221;<br />
Nó làm bộ ngạc nhiên: &#8220;Em có khóc đâu?&#8221;<br />
&#8220;Mày đừng chối. Có ai hiếp đáp, bắt chẹt gì mày không?&#8221;<br />
&#8220;Không.&#8221; Nó lắc đầu.<br />
&#8220;Thế sao mày chảy nước mắt?&#8221;<br />
Nó ngó mông ra rừng. Không trả lời.<br />
Tôi giục: &#8220;Nói thật đi. Thằng nào chèn ép mày?&#8221;<br />
&#8220;Em chỉ buồn.&#8221;<br />
&#8220;Ở đây, tao cũng buồn như mày. Chịu đựng một thời gian, rồi tiểu đoàn mình sẽ chuyển đi vùng khác, đỡ hơn. Nhưng, tại sao mày chọn binh chủng này?&#8221;<br />
&#8220;Thấy mấy anh lính đội bê rê, mặc đồ hoa về thành phố, trông rất oai hùng. Em thích, và tình nguyện về binh chủng. Mãn khóa, em chưa được về thăm nhà. Người ta bốc thẳng từ quân trường, thảy xuống đây. Hồi trước, em đâu ngờ đời lính gian khổ, hiểm nguy thế này. Em không tưởng tượng nổi&#8230;&#8221;<br />
&#8220;Ðừng buồn nữa. Ngày nào ra khỏi Sóc Con Trăng, tao đề nghị cho mày đi phép về thăm nhà.&#8221;<br />
Nó mừng: &#8220;Thật hả, thiếu úy?&#8221;<br />
&#8220;Tao nói thật. Dù tao biết mày về là đào ngũ luôn. Tao chỉ giữ thằng nào ở lại thôi.&#8221;<br />
&#8220;Không đâu. Em sẽ trở lại.&#8221;<br />
&#8220;Nếu mày kể cho má mày nghe cảnh này, dù mày muốn trở lại, bả cũng níu áo không cho mày đi.&#8221;<br />
&#8220;Em không đào ngũ, vì thương những người trong trung đội mình.&#8221; Nó kể bằng chân tình. &#8220;Hôm trước, bị pháo kích. Chạy về hố không kịp, em chui đại xuống hố trung sĩ Nẫm, tiểu đội trưởng của em. Cái nón sắt em bị văng mất. Anh Nẫm chụp cái nón sắt của ảnh lên đầu em, đè em nằm xuống. Còn ảnh đầu trần, ngồi phía ngoài. Trong trung đội, ai cũng lo cho em. Mọi người đều có tình. Em không nỡ đi luôn.&#8221;<br />
&#8220;Mày biết thương anh em là được rồi. Ðời lính không phải khổ mãi thế này đâu. Mày về đơn vị nhằm lúc tiểu đoàn đang ở cái chốn khỉ ho cò gáy, nên cảm thấy buồn. Ráng một thời gian nữa thôi, rồi tiểu đoàn sẽ được chuyển vùng hành quân.&#8221;<br />
&#8220;Một thời gian nữa, là bao lâu?&#8221;<br />
&#8220;Tao không biết. Còn phải chờ&#8230;&#8221;<br />
Khi nói câu đó, tôi nghĩ đến một trận đánh lớn. Ngày nào chưa xảy ra một trận thư hùng, thì tiểu đoàn còn phải ở đây, để thực hiện cái kế hoạch làm mồi nhử đàn kiến.<br />
Trận đánh lớn, trước sau gì cũng không tránh khỏi. Mới đầu, mọi người còn lo âu. Nhưng thời gian thấp thỏm đợi chờ với những cơn mưa pháo hàng ngày, những đụng độ lẻ tẻ về đêm làm anh em mệt mỏi nên đâm liều. Muốn đánh nhầu một trận cho xong, ra sao thì ra. Không có gì khổ cho bằng chờ đợi trong tinh thần căng thẳng. Pháo bắn vòng cầu, từ trên trời rơi xuống. Rớt trúng cái hố nào, người trong hố đó vong mạng. Chui rúc trong hang cũng cảm thấy không an toàn. Mỗi lần nghe bên kia biên giới, có tiếng vọng um, um, um&#8230; của súng cối, chúng tôi chạy vội về vị trí của mình, nhảy xuống hố ngồi nín thở. Cũng vừa kịp lúc đạn pháo nổ ầm, ầm, ầm&#8230;, vang động cả vùng đồi Sóc Con Trăng. Những lần núp pháo như thế, tôi thường trấn an bằng điếu thuốc. Phó mặc đời cho may rủi.<br />
Ðể tránh bớt thiệt hại vì pháo, tiểu đoàn giảm quân số phòng thủ trên đồi. Ban ngày tung các đại đội ra hoạt động chung quanh. Ban đêm rút quân về, chừa lại một đại đội đóng quân lưu động trong rừng. Kế hoạch này có cái lợi, nếu địch tấn công mạnh vào tiểu đoàn, thì đại đội lưu động sẽ đánh bọc hậu đối phương.<br />
Vòng đai phòng thủ, bây giờ thưa hơn, chỉ có ba đại đội. Nhưng bù lại, đạn dược dự trữ được tăng cường tối đa. Mỗi hố cá nhân, chứa sẵn một thùng hai mươi bốn quả lựu đạn, và hai thùng đạn nhỏ một ngàn viên. Với số đạn này, có thể bắn suốt đêm không lo bị thiếu.<br />
Các sĩ quan trong tiểu đoàn được dặn dò nhắc nhở anh em binh sĩ phải hết sức đề phòng. Ý định của đối phương là quần cho tiểu đoàn mệt mỏi, rồi sinh ra lơ là chểnh mảng. Ðến một lúc nào đó, sẽ bất ngờ đánh úp, diệt gọn tiểu đoàn. Lời dặn dò này, không có tác dụng gì cả. Anh em chỉ mong sớm rời khỏi Sóc Con Trăng.<br />
Ngoài những người thương tích do những cuộc chạm súng lẻ tẻ, hoặc bị pháo kích, đã có năm ba vụ tự hủy hoại thân thể. Sống trong tinh thần căng thẳng ngày đêm không ngớt, anh em cảm thấy quá khổ sở, và dám làm những điều bất chấp hậu quả.<br />
Trưa hôm qua. Toán tuần tiễu của trung đội tôi, báo cáo có người bị thương. Tôi vội đưa toán khác ra thay thế, cho toán cũ khiêng thương binh về. Thằng bị thương là binh nhất. Khi tôi đến, nó không nhìn mặt tôi. Nó là thằng dễ thương của trung đội, sốt sắng trong mọi công tác. Lúc y tá lau chùi sát trùng vết thương, tôi thấy xương bàn chân nó bị bể, ngón cái và ngón kế bay mất. Vết thương không nguy hiểm, nhưng sẽ bị tật sau này. Y tá băng bó xong. Nó nằm nghiêng trên chiếc brancard, quay lưng về phía tôi.<br />
Lúc chờ trực thăng tải thương dưới chân đồi, tôi hỏi: &#8220;Tiểu đội trưởng báo cáo, mày bị thương do giẫm phải bom bi. Ðúng không?&#8221;<br />
Nó vẫn không nhìn tôi, trả lời: &#8220;Ðúng.&#8221;<br />
&#8220;Mày có thể qua mặt tiểu đội trưởng, nhưng không qua mặt tao được.&#8221;<br />
Nó im lặng.<br />
&#8220;Mày hủy hoại thân thể.&#8221;<br />
&#8220;Không. Em đạp phải bom bi.&#8221;<br />
Tôi cười mũi: &#8220;Tao xem vết thương, biết chắc mày rút ngòi nổ ra khỏi quả lựu đạn, kẹp ngòi nổ giữa hai ngón chân, và cho kích hỏa.&#8221;<br />
Nó vẫn nói: &#8220;Không. Em đạp phải bom bi.&#8221;<br />
Tôi dọa: &#8220;Thôi được. Tao sẽ báo cáo, để sau khi trị thương, mày ra trước tòa án quân sự mà chối.&#8221;<br />
Nó quay lại. Ðôi mắt khẩn thiết nhìn tôi, van nài: &#8220;Thiếu úy ơi&#8230;&#8221;<br />
&#8220;Không có thiếu úy con mẹ gì nữa hết. Mày muốn qua mặt tao.&#8221;<br />
&#8220;Em lỡ dại&#8230;&#8221; Nó khóc thút thít. &#8220;Em không chịu nổi cảnh này.&#8221;<br />
&#8220;Ừ. Thà rằng mày nói thẳng với tao như thế, còn nghe được. Nếu trước đây, mày cho tao biết ý định, tao sẽ chỉ cách cho mày. Gởi thư về, bảo người nhà đánh cái điện tín, báo cha đau mẹ chết gì đó. Rồi tao sẽ đề nghị cấp giấy phép, mày về thăm nhà. Nhân cơ hội đó, mày đào ngũ luôn. Như thế, có phải an toàn không? Còn mày hủy hoại thế này, cái chân sẽ mang tật suốt đời.&#8221;<br />
&#8220;Thiếu úy ơi&#8230; Trong lúc quẫn trí, em làm chuyện điên rồ&#8230;&#8221; Nó nói trong nước mắt.<br />
Tôi thông cảm với nó. Chính tôi, lúc bất mãn cũng muốn đào ngũ. Nhưng bất mãn ai? Tất cả chúng tôi đều là nạn nhân, cớ gì mà bất mãn nhau? Những kẻ mưu đồ thế lực gây nên chiến tranh, không có mặt ở nơi này. Nguyền rủa ư? Thì cứ nguyền rủa, nhưng thằng nào tự tách mình ra khỏi cái guồng máy chiến tranh khốn nạn, ắt phải thân tàn ma dại như thằng em của trung đội tôi đang nằm đây nhức nhối.<br />
Khi trực thăng tải thương đáp xuống, nó nói: &#8220;Em đi. Thiếu úy và anh em ở lại bình yên.&#8221;<br />
Tôi nói: &#8220;Ðược rồi. Mày về yên trí. Tao không hại mày đâu. Mày sẽ giải ngũ, và được lãnh tiền do bị thương ngoài mặt trận.&#8221;<br />
Một đêm, cuối tháng Giêng.<br />
Trời đất lờ mờ. Ðứng trên đồi nhìn ra bìa rừng, chỉ thấy viền cây tối ám, chắn dưới chân trời mù đục âm u. Mọi người giật mình choàng tỉnh. Ðơn vị bị pháo dữ dội. Không phải bằng súng cối 82 ly, mà bằng nhiều khẩu đại pháo từ bên kia biên giới bắn sang. Ðồng thời các toán tiền đồn báo cáo, trong rừng có nhiều tiếng động bất thường. Tiểu đoàn ra lệnh thu hồi gấp rút tiền đồn trở về, tăng cường thêm quân số phòng thủ.<br />
Ðây là lần đầu tiên, địch pháo kích ban đêm. Cường độ pháo thật khủng khiếp, nhưng một nửa đạn pháo lọt ra ngoài kháng tuyến. Tuy thế, mặt phòng thủ phía đông cũng tan nát, gần như tê liệt. Nhiều người chết và bị thương. Tiểu đoàn cho trung đội trừ bị từ đỉnh đồi, xuống trám ngay lỗ hổng phòng tuyến. Hỏa châu sáng rực bầu trời, cùng lúc với pháo yểm cho tiểu đoàn, vây một hàng rào sấm sét quanh chân đồi. Dưới ánh sáng hỏa châu, lớp lớp địch quân liều chết xông qua lằn ranh đạn pháo, và gãy gục khi chưa tới được phòng tuyến.</p>
<p>Một trận thư hùng chờ đợi bấy lâu, có phải là đây? Tôi bắn liên thanh, rà đạn sát đất. Lựu đạn ném ra, cản bớt lớp người xông tới. Mùi thuốc súng nồng lên mũi. Tôi thở hổn hển. Tinh thần căng thẳng cùng tột. Hai bàn tay run lẩy bẩy mỗi lần rút chốt lựu đạn. Trước khí thế cường địch, tôi mất bình tĩnh. Tôi nghe nhiều tiếng la &#8220;Xung phong&#8230; G&#8230;i&#8230;ế&#8230;t&#8221; Tiếng &#8220;giết&#8221; kéo dài đẫm mùi máu, làm rợn xương sống. Giờ phút này, không bỏ chạy đi đâu được. Thằng nào phóng lên khỏi hố cá nhân, là tự phơi thân cho địch bắn. Chết sống gì cũng phải nằm lại đây. Và bắn. Và tung lựu đạn. Dọc theo công sự phòng thủ, nhiều chỗ bị B40 phá tanh banh bao cát chắn đạn. Nếu cứ cái đà xung phong ồ ạt này tiếp diễn mãi, địch quân sẽ tràn ngập vị trí.<br />
Sau mấy đợt xung phong, không chọc thủng được phòng tuyến, đối phương ngừng tấn công, chỉnh đốn lại hàng ngũ. Trong khi đó, chúng tôi chịu thêm trận pháo thứ hai của địch, từ bên kia biên giới rót sang, khốc liệt hơn. Lần này, đối phương điều chỉnh lại tọa độ thật chính xác. Pháo rớt ngay đỉnh đồi. Bộ chỉ huy tiểu đoàn lãnh đủ. Tôi bò đi kiểm soát từng hố cá nhân, dọc theo phòng tuyến trung đội. Những người tử thương được lôi ra khỏi hố cá nhân, tôi điều động anh em khác thế vào. Những thương binh, phải tự băng bó vết thương của mình. Y tá trung đội đang quằn quại trên vũng máu. Thằng Ngô tân binh, đang hấp tấp nạp thêm đạn vào các băng trống.<br />
Tôi hỏi: &#8220;Trung sĩ Nẫm bỏ phòng tuyến đi đâu rồi?&#8221;<br />
Nó không trả lời, đưa ngón tay chỉ qua hố bên cạnh. Một cái xác úp mặt, nằm nửa trên nửa dưới hố cá nhân.<br />
Tôi trấn an: &#8220;Mày đừng di chuyển khỏi chỗ này. Cứ ngồi đây. Không sao đâu.&#8221;<br />
Nó nói như van: &#8220;Thiếu úy ở đây với em.&#8221;<br />
Tôi làm bộ không nghe, tiếp tục bò đi kiểm soát trung đội.<br />
Gặp tiểu đội phó, tôi dặn: &#8220;Trung sĩ Nẫm tiêu tùng rồi, mày ráng lo cho anh em tiểu đội.&#8221;<br />
Tôi chưa kịp quay về vị trí, đối phương mở cuộc tấn công lần thứ hai. Tôi nhào xuống cái hố của một thương binh. Thằng này không còn đủ sức chiến đấu nữa. Tôi giật cây súng, đẩy nó ngã lăn ra phía sau lưng. Bị chạm vết thương, nó đau đớn kêu trời. Tôi không còn thì giờ quan tâm đến nó. Trước kháng tuyến, từng đợt, từng đợt xung phong. Tôi bắn như điên khùng. Lựu đạn nổ sát phòng tuyến. Lớp này gục xuống, lại thấy lớp khác tràn lên. Sau lần thứ nhất bị tấn công, nhiều người trong đơn vị bị loại khỏi vòng chiến. Quân số khiển dụng còn lại ít hơn. Khả năng phòng thủ cũng yếu hơn. Tôi lo phòng tuyến bị vỡ.</p>
<p>Theo kế hoạch dự trù, khi đối phương tràn ngập vị trí, pháo binh sẽ bắn nổ chụp ngay trên đầu, đạn nổ cao, cách mặt đất mười lăm thước. Miểng pháo tạt xuống. Mà miểng pháo thì đâu có phân biệt bạn thù. Và như thế, hai bên cùng chết. Không biết phía bên kia đồi, phòng tuyến bị vỡ hay chưa? Ðơn vị còn cầm cự được bao lâu? Trước sau gì, cũng bỏ mạng trên ngọn đồi này. Mồ hôi tôi ướt mặt. Bị đẩy tới đường cùng rồi. Tôi bắn, Tôi ném lựu đạn. Tôi thở dồn dập. Tôi cắn răng. Hình như tôi có gào thét những tiếng vô nghĩa gì đó. Tao chết, thì mày cũng phải chết. Thiên địa đêm nay nhập lại. Bạn thù chung cuộc tử sinh.</p>
<p>Ðang trong tình trạng tuyệt vọng, bỗng có tiếng phản lực cơ gầm rú trên không. Lẫn trong tiếng súng, tôi nghe nhiều tiếng la mừng rỡ của anh em đồng đội. Trái bom napan đầu tiên trải một thảm lửa dưới chân đồi. Ðối phương núng thế thấy rõ. Chúng tôi lên tinh thần. Chiến đấu bình tĩnh, và có hiệu quả hơn. Trước phòng tuyến, địch quân dội ngược. Những trái bom tiếp theo làm thành vòng đai lửa sát bìa rừng, quanh đồi Sóc Con Trăng.</p>
<p>Phi tuần phản lực vừa dứt, thì trực thăng vào vùng. Rocket và đại liên nã xuống những luồng đạn lửa. Phòng không của địch bắn lên. Ðạn lửa vẽ lên bầu trời những lằn đỏ đan chéo vào nhau. Tôi thấy nhiều địch quân quay lưng, chạy tháo lui. Họ không còn cơ hội thoát thân nữa. Tất cả đều ngã xuống trước tầm hỏa lực từ phòng tuyến bắn ra, trực thăng bắn xuống. Ðối phương đang lo chống trả với những con diều hâu hung dữ, không còn áp đảo tiểu đoàn. Súng phòng không hướng lên trời. Hỏa tiễn AT3 nổ lùm bùm trên không như pháo bông ngày lễ. Ðã có hai chiếc trực thăng trúng đạn phòng không, chúi đầu xuống phía rừng xa xa.<br />
Từ máy truyền tin, tôi nghe ông tiểu đoàn trưởng điều động đại đội đang nằm trong rừng, dàn quân làm nút chặn, ngăn đường rút lui của địch.<br />
Từ giờ phút ấy trở đi, truy địch là nhiệm vụ của Không Quân. Nhiều phi tuần phản lực lên vùng oanh kích. Tôi nghe tiếng bom gầm càng lúc càng xa dần, về phía biên giới.<br />
Sáng ra. Khi đang bận rộn sắp xếp việc tải thương, tôi chợt nghĩ đến thằng Ngô tân binh. Ngó<br />
quanh, không thấy. Tôi hỏi tiểu đội phó của nó: &#8220;Thằng Ngô đâu rồi?&#8221;<br />
Tiểu đội phó chỉ vào tấm poncho đậy tử thi. Nó không chờ cái giấy phép mà tôi đã hứa cho về thăm nhà, sau khi rời khỏi Sóc Con Trăng. Nó đi trước, bằng con đường khác.<br />
Mặt trời lên cao. Những chuyến trực thăng tải thương đã hoàn tất. Quang cảnh trên đồi, trông điêu tàn thê thảm. Công sự phòng thủ bị phá vỡ nhiều nơi. Poncho, nón sắt, quần áo vấy máu còn bỏ rải rác, chẳng ai buồn dọn dẹp. Người nào cũng xác xơ tơi tả, mệt mỏi bơ phờ.<br />
Trời đứng bóng, phái đoàn của những ông lớn xuống Sóc Con Trăng, thị sát chiến trường. Họ mặc đồ nhà binh ủi hồ thẳng nếp, mắt đeo kính râm, tay cầm ba toong, đi dọc theo phòng tuyến. Họ chỉ trỏ, bàn tán với nhau. Không hỏi han hoặc nói chuyện với anh em chúng tôi. Họ cho ông tiểu đoàn trưởng biết, theo tin tình báo, địch đem ba tiểu đoàn công hãm Sóc Con Trăng. Giờ này, biết điều đó cũng vô ích. Tin tình báo, bao giờ cũng là tin trễ. Các ông lớn rất chú ý đến con số thương vong của địch bỏ lại ngoài vòng đai, và một số khác bỏ thây trong rừng chưa kiểm được. Còn tổn thất của tiểu đoàn, họ không mấy quan tâm.<br />
Lúc họ đi khỏi, thì trực thăng &#8220;đại lực sĩ ngựa trời&#8221; câu hai chiếc xe ủi đất màu vàng, đem đến Sóc Con Trăng. Một chiếc ủi những cái hố dài, sát bìa rừng. Chiếc khác, ủi xác người hất xuống hố. Họ rải lên xác một lớp bột sát trùng màu trắng, và lấp lại. Hai chiếc xe ủi chạy tới chạy lui, nện bằng mặt đất. Thời gian sẽ làm cỏ tranh mọc cao lên trên những nấm mồ tập thể. Như những cái nền nhà cũ của một thời xa xăm, đã hoàn toàn mất dấu.<br />
Sớm mai. Ðứng trên đồi nhìn ra bìa rừng. Vẫn thấy sương mù kéo một vệt dài trắng xóa, che khuất ngàn cây. Mặt trời lên. Sương tan. Cảnh vật hiện ra rõ nét. Một vạt rừng bị cháy nám. Nhiều nơi cây cối xác xơ gãy đổ. Thiên nhiên bao giờ cũng im lìm, và tự làm lành những vết thương. Chỉ có con người, khi đã mất mát thì không thể nào tìm lại được sự bù đắp.<br />
Những ngày sau trận đánh.<br />
Chiều chiều. Ông thượng sĩ già trung đội phó Mai Chò Gãi thường đứng bâng khuâng trên đồi Sóc Con Trăng. Ông là người Nùng Việt Bắc di cư.<br />
Tôi hỏi: &#8220;Có phải ông đang nhớ về rừng núi Lai Châu?&#8221;<br />
Ông cười buồn, hỏi lại tôi câu khác: &#8220;Thiếu úy tin con người có linh hồn không?&#8221;<br />
Tôi nói: &#8220;Tôi tin.&#8221;<br />
&#8220;Tôi cũng tin thế. Những chiếc nón sắt bỏ lại của người ra đi, hình như còn phảng phất linh hồn của anh em vấn vương chiếc nón.&#8221; Ông đưa ngón tay chỉ. &#8220;Thử chú tâm nhìn cái nón sắt lật ngửa, đằng kia.&#8221;<br />
&#8220;Nhìn nó, tôi nghĩ đến người ra đi.&#8221;<br />
&#8220;Không cảm nhận được gì khác?&#8221;<br />
&#8220;Không.&#8221; Tôi lắc đầu.<br />
Ông bảo: &#8220;Tôi có cảm giác rất mơ hồ rằng, linh hồn anh em vẫn còn quanh đây, trên ngọn đồi này.&#8221;<br />
Sau một hồi trầm ngâm tư lự, ông nói: &#8220;Hồi trẻ, tôi tưởng điều gì cũng biết. Khi về già, thấy rằng có những điều mình không thể hiểu.&#8221;<br />
&#8220;Ông muốn nói vấn đề gì nữa đây?&#8221;<br />
&#8220;Bao nhiêu năm đi lính, sát phạt đã nhiều. Những người chưa từng quen biết, không hề ân oán, vừa chạm mặt là ra tay bắn giết nhau. Nghĩ cũng lạ! Chẳng biết phía bên kia, họ có thù mình không?&#8221;<br />
Tôi nói: &#8220;Ông thắc mắc những vấn đề kỳ cục. Cứ hãy tưởng tượng vào thời trung cổ, người ta đưa hai tên giác đấu lên đài. Với điều kiện, sau trận đấu, chỉ còn một tên được quyền sống sót. Ðặt mình vào hoàn cảnh tên giác đấu, ông phải làm sao?&#8221;<br />
Thượng sĩ Mai Chò Gãi khẳng định: &#8220;Giết đối thủ.&#8221;<br />
&#8220;Ðấy. Những thằng đi trận của cả hai phe, đều ở vào cái thế của tên giác đấu. Mình không giết nó, nó giết mình. Ðâu cần chi phải hận thù?&#8221;</p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><strong>Cơ ngơi ngày cũ</strong></h3>
<p>Phía trước nhà ngoại tôi, có hàng cây duối. Thân cây sần sùi già cỗi, to cỡ người ôm. Cây không cao, tàn không lớn, mà chi chít lá rậm. Trong ấy thường lẩn khuất những con rắn lục màu lá non. Chung quanh gốc cây, người ta chất những nồi đất nứt vỡ, và ông táo cũ bằng gạch nung. Trong xóm có người đau bệnh, thân nhân thường đến đây đốt nhang khấn vái, còn lại những chân nhang tàn qua bao năm tháng. Ngoại tôi nói, có thần linh trú ngụ nơi cây duối. Và những con rắn lục là binh gia của ngài, không ai dám sát hại. Bọn trẻ nhỏ cũng kiêng dè, tránh tới gần chơi giỡn làm ồn, sợ thần linh quở phạt.<br />
Bên kia hàng duối là gò đất cao. Ðất khô cằn chai cứng. Ngoài những cỏ gấu, cỏ may và những bụi chùm hôi chịu được nắng hạn, không có cây gì mọc nổi trên khu đất gò. Vì địa thế cao, không úng nước, nên được chọn làm đồng mả riêng cho dòng họ ngoại tôi. Người trong thân tộc, tha phương bất cứ nơi nào, khi chết cũng đem về chôn ở đây. Có những cái mả xây bằng đá ong, lâu đời đến nỗi không ai biết nắm xương tàn của ông bà cố tổ dưới mộ tên gì, liên hệ huyết thống ra sao.</p>
<p>Hồi nhỏ, nghe đồn khu gò đồng mả có ma. Nhất là sau khi dì Út tôi chết trong tuổi còn thanh xuân, tiếng đồn càng dễ sợ hơn. Chỉ tưởng tượng đến những đêm trăng lạnh mù sương,<br />
dì hiện hồn về, xoã tóc ngồi trên mộ mà khóc, cũng đủ làm đám trẻ nhỏ rợn mình. Gợi trí tò mò, năm ba đứa chúng tôi, núp dưới chân khu đất gò, rình coi ma. Ma đâu không thấy, nhưng đôi khi thấy những cục lửa màu xanh lân tinh từ trên gò, không biết nơi cái mộ nào, lảo đảo bay lên đọt tre. Tôi kể cho ngoại nghe hiện tượng này. Ngoại bảo, đó là hồn người chết bay lên trời. không nên nhìn, e hồn ma sẽ theo về nhà. Dù thương dì Út, nhưng không bao giờ tôi muốn dì trở về dưới hình bóng một con ma.<br />
Lúc còn sống, dì Út là người thanh tú hơn hết trong các chị em của má tôi. Da dẽ trắng<br />
trẻo mịn màng, và mỗi khi dì tháo búi tóc ra, tóc đen mướt, buông dài xuống quá lưng. Tôi hay nâng mái tóc của dì, đưa lên mũi hít thở.<br />
Dì cười, hỏi: &#8211; Ngửi thấy thế nào?<br />
Tôi nói: -Nghe mùi của dì.<br />
-Mùi dì ra sao?<br />
-Mùi vú, và mùi dầu dừa.<br />
Dì nhéo tai tôi: -Ðừng nói mùi vú. Người ta cười chết.<br />
Thuở còn bé tí teo, tôi thường hay khóc đêm. Má tôi cho mằn vú để tôi dễ ngủ, đã thành thói quen. Khi ở nhà ngoại, tôi ngủ với ngoại hoặc dì Út, cũng không bỏ được tật mằn vú. Vú của ngoại thì teo tóp nhùng nhằng như cái túi da nhão nhẹt. Tôi thích vú dì Út hơn. Xoè bàn tay nhỏ của tôi mà xoa cặp vú căng phồng tròn trịa của dì, thật đã. Bóp mềm mềm như cái bong bóng. Nhưng lần nào tôi bóp, dì cũng hất tay tôi ra.<br />
-Ðừng!<br />
Tôi hỏi: -Ðau hả?<br />
Dì nói: -Mày cứ sờ mò nắn bóp hoài, làm sao dì ngủ được? Hãy nằm nghiêng qua bên kia, quay lưng lại phía dì!<br />
Nằm như thế, tôi lại trằn trọc hoài, khó ngủ. Một lúc sau, độ chừng dì đã ngủ, tôi quay qua mằn vú.<br />
Dì thức giấc: -Lại nữa! Mày muốn dì đuổi qua giường ngoại không?<br />
Tôi nín thinh. Ðể im bàn tay trên vú. Cái đầu vú nhỏ xíu của dì kẹp giữa hai ngón tay tôi.<br />
Và tôi êm đềm đi vào chiêm bao.</p>
<p>Năm hai mươi mốt tuổi, dì soi gương đối bóng mỉm cười, hay chải chuốt và chưng diện áo<br />
. Dì trở chứng bất thường. Không thích ánh sáng, hay rúc vào buồng, nói chuyện nho nhỏ, cười khúc khích một mình. Mọi người cho rằng, dì mắc bệnh &#8220;cõi âm&#8221;. Dân gian thời bấy giờ giải thích, dì bị một vong linh đàn ông nào đó, theo quyến rũ tư tình. Nghĩa là bị ma ám. Sắc diện dì vàng võ khô héo dần. Năm sau, dì chết đi trong niềm đau xót của gia đình ngoại tôi. Tôi thương dì Út hết sức. Nhìn lên bàn thờ, di ảnh của dì ngó tôi không chớp mắt. Ban ngày tôi không sợ. Nhưng ban đêm mường tượng lại đôi mắt ấy, tôi sợ đến khủng hoảng tinh thần. Tôi cầu mong dì đừng hiện về nhát tôi, tội nghiệp.<br />
Ðương nhiên, dì Út tôi được chôn trên khu đất gò đồng mả. Mộ xây bằng đá ong. Ngôi<br />
mộ nào cũng thế. Sao những cọng cỏ may phất phơ theo gió trên mộ dì Út lại mang màu ảm<br />
đạm thê lương, làm tôi muốn khóc?</p>
<p>***<br />
Năm xưa. Có hai thầy trò địa lý người Tàu, đi ngang qua xóm, dừng chân nhìn thế đất gò<br />
đồng mả, tấm tắc khen là nơi linh địa. Nghe thế, ông ngoại tôi mời về nhà, cơm nước đãi đằng<br />
tử tế, hỏi chuyện tương lai. Thầy Tàu cho biết, tổ tiên được chôn trên gò đất này, thì đời sau<br />
con cháu sẽ phát về hướng quan trường, phúc lộc. Ông lại nói thêm, phải chi cái gò nằm dựa<br />
lưng vào con sông thì tuyệt.<br />
Ông ngoại tôi hỏi: -Tuyệt ra làm sao?<br />
Thầy Tàu bảo: -Gò đất dựa lưng con sông. dù không được như hàm rồng long mạch,<br />
nhưng cũng tựa như kình ngư quẫy sóng. Con cháu dù không phát vương, cũng có thể cầm<br />
gươm vạch đất, chia cắt giang sơn, cát cứ một vùng, ngước mặt mà làm minh chủ, sứ quân.<br />
Ông ngoại tôi chắc lưỡi, tiếc sức người không dời được con sông Vàm Cỏ Ðông về bên<br />
gò đất, cho con cháu mai sau được nhờ. Nhưng trời đã khiến vậy. Chịu thôi. Con cháu chỉ được làm quan lớn, hưởng nhiều phúc lộc, thoát được số phận hẩm hiu của bao đời cha ông còng lưng cày bừa trên những ruộng đồng rẫy bái, cũng an ủi lắm rồi.<br />
Ðể đáp lại tấm lòng người đã tha thiết gọi mời, ân cần chiều đãi, ông thầy Tàu ở lại mấy ngày, giúp ngoại tôi đo đạc đất đai, định hướng mồ mả, đóng cọc yểm bùa trấn yêu chung quanh gò đất. Ông bảo, muốn đời sau hưng thịnh, thì đời này phải khai thông nguồn mạch ẩn tàng trong lòng đất. Xong việc, ông khăn gói ra đi, để lại tên học trò. Ngoại tôi mừng. Không nắm được thầy, thì cột chân học trò. Cũng là một cách giữ ông thần độ mạng nho nhỏ trong nhà. Và người con gái của gia đình làm sợi dây thân ái, nối với tên học trò Tàu, biến hắn thành<br />
con rễ.</p>
<p>Thời gian thấm thoát. Cặp vợ chồng Tàu Việt cho ra đời đến sáu đứa con đầu gà đít vịt.<br />
Tôi là một trong sáu đứa này. Mấy chục năm qua, dòng họ ngoại tôi chưa có ai khá nổi. Ðừng nói chi đến chuyện ngóc đầu lên để làm quan triều đình.<br />
Sự kiên nhẫn đợi chờ nào cũng có giới hạn. Ngoại tôi hỏi chàng rễ Tàu: -Sao người<br />
trong dòng họ nhà ta chưa khá?<br />
Ba tôi, tức chàng rễ Tàu, nói: -Ngộ lâu piết.<br />
-Thế sao thầy của mày bảo cái khu gò mả nhà ta là linh địa?<br />
-Nó lâu phải thầy của ngộ.<br />
-Vậy nó là ai?<br />
-Là người cùng một làng với ngộ, ở pên Tàu.<br />
-Sao mày đi chung với nó?<br />
-Ở pên Tàu, nó nghèo, ngộ cũng nghèo. Nó rủ ngộ qua Việt Nam làm giàu. Nhưng xứ<br />
Việt Nam cũng nghèo quá. Nó dẫn ngộ li chỗ này chỗ kia hoài. Ngộ than mỏi cẳng. Nó muốn<br />
pỏ ngộ, nên pảo ngộ ở lại nhà nị. Có cơm ăn, có vợ ngủ.<br />
Ngoại tôi trợn mắt: -Trời đất! Sao lúc đó, mày không nói?<br />
Ba tôi trả lời tỉnh bơ: -Nị không hỏi. Ngộ nói làm chi.<br />
-Bây giờ nó ở đâu?<br />
-Ngộ lâu piết.<br />
-Nó có phải là thầy phong thủy địa lý không?<br />
-Nó cũng như ngộ thôi. Piết chi mà làm thầy.<br />
-Khốn nạn! Vậy mà nó bảo khu gò mả nhà ta là linh địa.<br />
-Nó gạt nị, pảo lất của nị linh thiêng. Nị tin nó làm chi. Lất chỉ có tốt hay xấu thôi. Làm gì<br />
có lất linh hay không linh? Ruộng vườn nhà nị, gò cao lất cứng. Trồng trọt vừa lủ ăn là may<br />
rồi.<br />
Ngoại tôi tức khí, chửi đổng: -Tổ cha thằng Chệt tha phương cầu thực, dám gạt ta!<br />
Dù có tức, thì chuyện cũng đã đâu vào đấy, như một tiền định. Ông ngoại tôi tuổi già sức<br />
yếu. Không còn cơ hội trở mình. Ðành bỏ hết những vọng động lo toan. Làm người sằn dã.<br />
Sống theo tinh thần Lão Trang. Hoà mình cùng trời đất. Yên phận với những nương xanh, bờ<br />
cỏ, vườn cây.<br />
Ba tôi nói: -Nị là người trường thọ.<br />
Ngoại tôi nạt: -Lại nữa. Mày muốn bắt chước thằng Chệt tha phương cầu thực, gạt ta<br />
sao?<br />
-Ngộ là con rể của nị. Lâu dám gạt nị. Năm nay nị gần pảy mươi, nhưng sức còn dẻo,<br />
lòng dạ thảnh thơi. Không làm thầy pói cũng piết, nếu không gặp tai nạn pất lắc kỳ tử, thì nị<br />
còn sống được nhiều năm nữa. Như thế không gọi là trường thọ sao?<br />
-Ừ! Mày cũng có lý. Nhưng từ nay, ta cấm mày không được dùng hai tiếng nị ngộ với ta.<br />
Phải gọi ta là cha, và xưng là con.<br />
-Lược! Nị làm cha, ngộ làm con.</p>
<p>Tám mươi ba tuổi, ông ngoại tôi thanh thản từ giả cõi đời. Nhiều năm sau, má tôi kể lại<br />
cho đám con đầu gà đít vịt nghe chuyện tình duyên của má. Anh em chúng tôi cười nôn ruột.<br />
Tôi hỏi: -Tình duyên của má, nghe có vẻ quái đản. Vậy má có yêu ba không?<br />
Má nói: -Má không biết tình yêu là gì. Nhưng sống với nhau lâu năm, má cũng thương vì<br />
ổng có trách nhiệm gia đình, và biết lo cho các con.<br />
-Lần đầu ngủ chung, ba có tâm tình gì với má không?<br />
-Ngôn ngữ bất đồng. Ổng thủ thỉ thù thì xí xô xí xào bằng tiếng Tàu. Má không hiểu. Ổng xáp lại gần vuốt ve. Má cự tuyệt, hất ổng ra.<br />
Anh tôi nheo một con mắt, chọc quê: -Má hất ổng ra, mà có sáu đứa con lai giống. Nếu<br />
không hất, chắc tụi con phải có đến hàng tá anh em.<br />
Chúng tôi lại cười nghiêng ngửa.<br />
Một lần khác. Nhân lúc ba tôi nhắc lại quãng đời tuổi trẻ, tôi hỏi: -Ba ơi! Ở bên Tàu,<br />
dòng họ mình có ai nổi tiếng trong lịch sử không?<br />
Ông nói: -Có chứ. Lâm Xung là một trong một trăm lẻ tám vị anh hùng Lương Sơn Pạt.<br />
Thời kỳ chiến tranh nha phiến, tổng trấn lưỡng Quảng, Lâm Tắc Từ, lổ nha phiến của pọn Anh xuống piển. Và trong cuộc trường chinh của Mao Trạch Lông, có Lâm Pưu làm lến chức thống tướng.<br />
-Còn ở Việt Nam, họ Lâm có ai nổi tiếng không?<br />
-Mày học chữ Việt mà không piết ông Lông Hồ làm thơ nổi tiếng sao? Tên thật của ổng<br />
là Lâm Tấn Phát.<br />
-Còn ai nữa không?<br />
-Trong quân lội pây giờ, cũng có họ Lâm làm chức lớn. Bên Lục Quân có Lâm Quang<br />
Thơ, Lâm Quang Thi. Bên Hải Quân có Lâm Nguơn Tánh.<br />
-Mấy ông ấy đâu có bà con gì với mình?<br />
-Gốc gác cùng một ông tổ họ Lâm ở pên Tàu. Sao lại không pà con?<br />
-Nhưng mấy ông ấy làm tướng. Còn nhà mình nghèo quá.<br />
-Mới qua Việt Nam, thằng Chệt nào cũng chỉ có hai cái hòn dái treo tòn ten dưới háng.<br />
Xây dựng sự nghiệp pan đầu, pằng cách quảy cặp gánh li mua ve chai, pán đồ cũ. Khá hơn,<br />
thì mở tiệm pán pánh pao, hủ tiếu. Piết chút ít chữ Tàu, thì mở tiệm pán thuốc Pắc cho pà con<br />
Việt Nam. Lâu dần, mới khá lên lược. Cũng như tụi pây lang li lính, piết lâu vài chục năm sau,<br />
lược làm quan lớn. Quân lội Việt Nam sẽ có thêm vài ông tướng họ Lâm.<br />
-Ấy là chuyện tương lai xa vời, còn mù mịt lắm. Hiện tại, tụi con đang làm lính tác chiến, lúc nào cũng có thể phủi chân lên ngồi trên bàn thờ.<br />
-Sống ở lất nước này, phải hy sinh cho lất nước này, lền ơn tổ quốc.<br />
-Ba nói nghe dễ sợ quá!<br />
-Sao lại sợ? Tao ở pên Tàu qua lây, tin có ông Trời sắp lặt mọi chuyện. Như chuyện tao<br />
với má tụi pây, cũng do ông Trời lịnh.<br />
Anh tôi cải: -Phải nói là do ông ngoại định.<br />
Ba tôi lý luận: -Ông Trời khiến ông ngoại. Ông ngoại ép má tụi pây phải chịu tao.<br />
-Như vậy là má bị ép duyên!<br />
Chúng tôi la lên. Lại được một trận cười nữa<br />
Ai cũng có hai nơi, quê nội và quê ngoại. Anh em tôi chỉ có một quê ngoại làm chỗ đi về. Ba tôi bảo, nên học chữ Tàu, để ngày nào đó, sẽ về thăm quê nội. Chẳng đứa nào có được ý niệm, hoặc hình ảnh thân yêu gì về một quê nội xa xôi. Và cũng không bao giờ tha thiết sẽ đặt chân lên một nơi chốn, mà tất cả anh em tôi đều cảm thấy bơ vơ lạc lõng. Vì thế, chúng tôi không chịu học chữ Tàu. Ba tôi lại bảo, phải tập nói tiếng Tàu. Cái loại ngôn ngữ líu lo như tiếng chim, khó nghe khó nói. Anh em tôi không nghe không nói được. Rốt cuộc, ba tôi phảI tập nói tiếng Việt, nếu không muốn trở thành một người câm suốt ngày trong gia đình. Lý do cũng dễ hiểu. Mỗi lần ông la rầy bằng tiếng Tàu, chúng tôi giương mắt ngó cái miệng của ông, và cứ trơ ra, chẳng có phản ứng gì cả. Tức quá, ông học tiếng Việt để chửi chúng tôi cho hả dạ.</p>
<p>Vì thiếu quê nội, nên bao nhiêu tình cảm, tôi dồn về một quê ngoại mà thôi. Từ ngày ông ngoại tôi mất, gia đình nhà ngoại càng sa sút thêm. Chính sự sa sút này, làm tôi nặng lòng vớI bà ngoại nhiều hơn. Miệng đời thường nói, không ai giàu ba họ, chẳng ai khó ba đời. Không biết các đời trước ra sao, chứ đến đời ngoại thì tàn mạt. Nhiều người cho rằng, nhà hướng ra hàng cây duối, nên phong quang bị quỷ thần che ám. Cửa nhìn về đồng mả, nên vận mạng bị âm khí người chết phong tỏa. Vì hai điều khắc kỵ ấy, mà ngoại tôi không mong gì ngóc đầu lên nổi. Nhưng nhà cửa đất đai đã có sẵn như thế từ đời trước rồi, còn biết đổi dời đi đâu nữa?<br />
Những năm chiến tranh ác liệt, xóm làng nhà ngoại cũng tan hoang. Ðầu tiên là khu đồng mả. Quân du kích lợi dụng địa hình gò đống lô nhô, chiếm lấy cao điểm, biến nơi đây thành bãi chiến trường, tấn công phe địch. Phía Quốc Gia phản công bằng cách dùng phi pháo cày nát khu đồng mả, đánh bật quân du kích ra ngoài. Khi chiến trường im tiếng súng, thì mả mồ cũng tanh banh, quan tài bật nắp. Xác chết của người đời nay, nằm lẫn với xương trắng của người đời xưa. Nhưng xác chết được mau chóng thu dọn, người ta mang đi đâu không biết. Rải rác còn lại những đầu lâu xương trắng người đời xưa.</p>
<p>Dưới cơn mưa mùa tháng bảy, ngoại tôi dầm mưa, gom lại từng khúc xương, chôn về<br />
huyệt cũ. Rồi ngoại thắp đèn đốt nhang trên bàn thờ khấn vái, và khóc còn hơn trời sầu đất thảm. Ðám con cháu ái ngại nhìn ngoại, nhưng chẳng đứa nào chạnh lòng khóc theo.<br />
Tôi cầm tay ngoại: -Thôi đi ngoại ơi, tổ tiên ngày xưa lúc mới chết, đã được khóc một lần rồi. Bây giờ chỉ còn xương cốt. Lẽ nào mỗi lần nhìn thấy nắm xương là mỗi khóc?<br />
Ngoại mếu máo: -Thời mạt pháp, quỷ dữ lộng hành. Người chết không yên mồ mả. Người sống làm sao sống được?<br />
-Ngoại đừng lo chi cho hao tổn tinh thần. Người sống cứ ăn cơm vào, là tiếp tục sống<br />
thôi.<br />
Ngoại tôi đang khóc, bổng ngừng lại, giận dữ điểm ngón tay vào mặt tôi: -Tổ cha thằng<br />
Tàu lai đầu gà đít vịt. Nói vậy mà nghe được sao? Làm người phải có nguồn cội. Ðừng nói theo kiểu bội nghĩa vong ân. Mày chỉ nghĩ đến ông bà cố tổ nội của mày nằm ở bên Tàu, chứ có thương xót chi người ở đây!<br />
Bà con anh em bên ngoại tôi, đang cố tạo vẻ mặt rầu rầu cho phù hợp với nỗi sầu ai oán của ngoại, bỗng cười rộ lên. Ngoại cũng gạt nước mắt, cười theo.<br />
Nhiều lần, sau những cuộc đụng độ giữa hai phe lâm chiến, xóm làng nhà ngoại tiêu điều thê thảm. Người ta dùng xe ủi, khai quang cây cối chung quanh khu đất gò. Những hàng tre, lùm bụi trong xóm cũng bị san bằng trống trải. Hàng cây duối, mà ngày nào đó, ngoại tôi nói có thần linh trú ngụ, cũng không còn nữa. Chẳng biết thần linh di tản nơi nào? Có dẫn đám binh gia rắn lục của ngài theo? Bây giờ, nhà ngoại đứng trơ vơ giữa đồng không mông quạnh. Ngó lên khu đất gò, mộ bia xiêu lệch, như những nấm mồ hoang.<br />
Quân du kích không còn nơi ẩn núp, lui sâu hơn vào những vùng hẻo lánh. Ban đêm.<br />
Thỉnh thoảng, họ về làng kiếm ăn, và rỉ tai ngoại tôi: -Quân ngụy ác ôn. Cày mồ phá mả. Hủy diệt màu xanh. Triệt tiêu mầm sống. Phá hoại làng mạc. Ðem bom đạn giết hại dân lành&#8230;<br />
Ngoại nói: -Nếu các ông không núp ló trên khu đất gò, không rình mò bắn lén, thì bom<br />
đạn đâu có động đến mồ mả nhà tôi.<br />
-Mẹ chiến sĩ đừng nói thế. Luận điệu mất lập trường của mẹ, dễ bị phê bình chỉ trích là<br />
phản cách mạng.<br />
-Tôi có nhập bè kết đảng với ai đâu, mà bảo là phản?<br />
-Mẹ nói thế là có ý gì?<br />
-Tôi không có ý gì hết. Chỉ yêu cầu các ông, kéo nhau vô rừng mà đánh nhau. Ðừng lảng vảng chung quanh đây. Tôi sợ bị vạ lây. Tôi già rồi, chỉ mong được yên thân cho đến ngày nhắm mắt.<br />
-Công cuộc giải phóng đất nước còn nhiều khó khăn, đòi hỏi nhiều hy sinh gian khổ. Mẹ ích kỷ, chỉ muốn được yên phần mẹ. Tư tưởng như thế, nhân dân không thể chấp nhận.<br />
Ngoại tôi không dám nói tiếp. Khi người ta đã viện lý do giải phóng, thì không từ nan bất cứ biện pháp sắt máu nào. Khi đã lạm dụng đến hai tiếng nhân dân, thì mọi cá thể đều không nghĩa lý gì<br />
Mãi lâu sau, có người hỏi ngoại: -Già rồi, còn sợ chết hay sao?<br />
Ngoại ngước mặt, nhìn trời: Thân phận hèn mọn như con trùn con dế, còn ham sống<br />
thay. Huống chi ta!<br />
Nếu đứng bên ngoài mà trông, nhà ngoại rất bề thế. Nhà rộng ba gian, nền cao lót<br />
gạch, mái ngói âm dương. Dù tường vôi loang lở nhưng còn thể hiện được cái quá khứ sung mãn một thời. Vào bên trong rỗng tuếch, mới thấy hết được sự suy sụp của thời gian, phơi bày ra nỗi nghèo nàn cơ cực. Ðồ đạc cũ kỹ, lâu ngày mối mọt hư hao. Cối xay lúa, và cối giã gạo chiếm gần hết gian nhà giữa. Hồi nhỏ, mỗi lần nghe tiếng xay lúa rồ rồ, tiếng giã gạo cùm cụp, thế nào tôi cũng ngủ gục. Có khi còn nằm lăn ra bên cạnh cối xay, thiếp đi một giấc ngon lành. Cái âm thanh và hình ảnh nghèo nàn thân thuộc ấy, tiềm tàng ăn sâu vào tâm thức, đeo đẳng theo tôi suốt đời. Nhiều khi bồi hồi nhớ lại, tôi tưởng chừng còn nghe tiếng cối xay đang rền rĩ trong đầu, và mềm lòng đến ứa nước mắt. Gian nhà trên, có bộ ván gõ. Mỗi tấm ván dày cỡ gang tay. Qua bao thế hệ thấm đẫm mồ hôi, mặt ván lên nước bóng ngời. Những trưa mùa hè, nằm trên bộ ván, nghe mát lạnh tấm lưng. Sát vách, có ba cái tủ thờ bằng cẩm lai khảm xa cừ, chạm hình cảnh và người. Tôi ngắm hoài không chán. Lớn lên, mới biết những hình ấy lấy sự tích từ truyện Tàu. Ðặc biệt hơn nữa, nhà ngoại có cái rương bằng gỗ, rất to. Tôi chưa từng thấy nhà ai có cái rương to đến thế. Cái rương to như chiếc xe bò. Phía dưới có gắn bốn bánh xe, cũng bằng gỗ. Ngoại tôi nói, vào thời trước, mỗi lần chạy giặc Tây, người trong gia đình phải đẩy cái rương chạy theo. Có lần ngoại mở nắp rương, tôi thấy bên trong toàn là chén dĩa bằng sứ, và những nồi đồng, mâm thau cất giấu lâu ngày không dùng, nên bị rỉ một lớp ten xanh.<br />
Tôi hỏi:<br />
-Chạy giặc, sao còn đẩy cái rương theo?<br />
Ngoại nói:<br />
-Bỏ lại, Tây sẽ lấy hết.<br />
-Ở bên Tây không có những thứ này sao?<br />
-Xứ nó nghèo, làm sao có được của quý? Nó qua xứ mình để ăn cướp.<br />
Tôi tin lời ngoại, nhưng vẫn thắc mắc. Tây qua xứ mình chỉ để cướp đi những chán dĩa,<br />
nồi đồng, mâm thau thôi sao?</p>
<p>***<br />
Ngày còn thơ ấu. Những buổi trưa, tôi thường nằm ngủ trên bộ ván gõ nhà ngoại. Khi<br />
thức dậy, thấy những tia nắng xuyên qua những lỗ hở trên mái nhà, dọi xuống. Trong tia nắng, có vô số hạt bụi bay vơ vẩn, như những sinh vật li ti đang bơi trong không khí. Không biết tại sao, cảnh tượng này, lại gây cho tôi một nỗi buồn khôn tả. Ðang buồn, nhìn vào phía trong lại thấy cái rương quá to. Ðiều kỳ lạ, là càng nhìn cái rương càng to ra, và tôi có cảm tưởng mình càng bé lại. Thế là tôi khóc.<br />
Ngoại tôi cằn nhằn: -Thằng nhỏ này có cái thói không chừa được. Lần nào ngủ trưa dậy, cũng khóc.<br />
Cậu tôi là người rất dữ dằn, doạ nạt cỡ nào, tôi cũng không nín. Cậu bỏ tôi trong cái<br />
thúng. Ðặt cái thúng vào chiếc gióng. Cột dây thòng tôi xuống giếng.<br />
-Nếu mày không nín. Tao thả rớt xuống luôn.<br />
Tôi vừa khóc vừa nói: -Thả rớt luôn đi.<br />
Cậu từ từ thòng tôi xuống chạm mặt nước. Nước làm ướt đít tôi.<br />
Cậu hỏi vọng xuống: -Mày chịu nín không?<br />
Tôi khóc, không trả lời. Cậu hạ thêm. Nửa người tôi ngập trong nước.<br />
Giếng quá sâu, không đủ ánh sáng. Nước lại lạnh. Thành giếng cũng toát ra hơi lạnh. Tôi quơ tay ra ngoài, đụng phải thành giếng rong rêu trơn nhớt. Cảm giác rờn rợn luồn vào da thịt, làm tôi khiếp vía. Hình như tôi bị ngộp. Không biết vì giếng sâu thiếu dưỡng khí, hay sự sợ hãi làm tôi khó thở. Tôi nhắm mắt lại, và muốn được chết ngay, để thoát cái cảnh bị hành hạ khốn nạn này.<br />
Có tiếng ai la nheo nhéo trên miệng giếng. Và cậu kéo tôi lên. Tôi thấy ngoại đang khóc.<br />
Ngoại nhấc tôi ra khỏi cái thúng, mắng cậu: -Mày độc ác. Doạ kiểu này, nó hoảng hồn<br />
chết luôn làm sao?<br />
Cậu chống chế: -Nó mà hoảng hồn? Thằng này lì lắm. Thiên lôi tầm sét, chưa chắc đã<br />
làm nó sợ.<br />
Ngoại dẫn tôi vào nhà, ôm tôi và khóc. Trong khi ngoại khóc, tôi lại nín khe. Thương<br />
ngoại bao nhiêu, tôi oán cậu bấy nhiêu. Từ đó trở đi, nơi nào có cậu, tôi đều tránh mặt. Nghe tiếng nói tiếng cười của cậu, tôi cũng ghét. Ấn tượng một lần bị thả xuống giếng, tôi không bao giờ quên.<br />
Sau này, cậu bỏ nhà theo Việt Minh. Trong gia đình ai cũng nhắc nhở, nhớ thương. Riêng tôi lại mong, cậu đi đâu thì đi luôn cho rồi. Ðừng về nữa. Thế nhưng, thỉnh thoảng cậu vẫn ghé về thăm nhà. Tôi chỉ chào hỏi qua loa, rồi lẩn mất. Những chuyến đi về của cậu, càng về sau, càng thưa dần. Rồi cậu đi biền biệt, bặt tin luôn. Ðến khi nghe tin cậu mất, mọi người trong thân tộc bàng hoàng. Má tôi chảy nước mắt như mưa. Ngoại xót xa rên xiết từng đêm. Tôi không hề xúc động, dửng dưng như người chưa từng quen biết. Cậu là người duy nhất trong dòng họ ngoại tôi, khi chết không đem được xác về chôn trên khu đất gò đồng mả.<br />
Cái chết của cậu, một kẻ trở về kể lại, nghe cũng rất ly kỳ. Cậu đặc trách công tác nội<br />
thành. Lâu lâu, về mật khu để báo cáo tình hình. Một buổi chiều. Cậu cùng vài ba đồng chí về gần tới mật khu.<br />
Bỗng nghe bên đường, trong cây rậm, có tiếng hô lớn: -Tất cả đứng lại. Giơ tay lên!<br />
Cậu nói: -Ðường sá xa xôi, mệt lắm rồi. Ðừng đùa, đồng chí ơi!<br />
-Tao bắn bể đầu. Chứ đùa với mầy hả?<br />
Những người cùng đi với cậu dừng lại, sửng sốt. Ðây là địa phận an toàn của Việt Minh, sao bị phục kích?<br />
Từ trong cây rậm, ra lệnh: -Thằng cha quấn khăn rằn trên cổ, đứng lại. Những người khác tiếp tục đi.<br />
Cậu ở lại. Người ta dẫn cậu đến một cái chòi của rẫy bắp, trong rừng. Nơi đây, cậu được ăn một bữa cơm chiều với khô trâu. Sau đó, cậu bị chính những người đồng chí của mình kết tội, lợi dụng công tác nội nội thành, làm gián điệp cho Tây. Người ta trói, và dẫn cậu đến một cái giếng lạn, loại giếng bỏ hoang lâu ngày, khô nước. Cậu bị đập đầu, xô xuống giếng. Giữa rừng già mênh mông, tìm cái giếng để đem xác cậu về, không là chuyện dễ.</p>
<p>Vợ cậu, người tôi gọi bằng mợ, nhan sắc mặn mà, sắc sảo khôn ngoan. Mợ quyết chí trả<br />
thù chồng, làm đơn khiếu nại, tố cáo kẻ giết chồng mợ. Ðể tránh con mắt dò xét của người lạ, mợ giấu đơn từ vào trong chiếc nón lá, và chằm kín lại, trông như chiếc nón bình thường.<br />
Một ngày mưa, mợ đội nón lá ra đi. Tôi đứng trước thềm hiên, trông theo người đàn bà<br />
khốn khổ. Thấy mưa rả rích trên hàng dừa trước ngõ. Mưa mù tận ngoài bưng. Mưa khuất rặng cây xanh ở phía chân trời.<br />
Ngoại tôi chạy theo, níu áo: -Con ơi, người chết không sống lại được. Con khiếu nại, tố<br />
cáo cho ra lẽ, thì chuyện cũng đã rồi.<br />
Mợ nói: -Người ta giết oan chồng con. Lẽ nào con cắn răng im lặng?<br />
-Nếu không im lặng, con làm gì được ai?<br />
Mợ nghẹn lời, rồi bật khóc. Cương quyết dứt áo ra đi.<br />
Ngoại tôi lủi thủi quay vào. Ðầu tóc ướt mem. Ngồi rũ trong bếp.<br />
Những ngày sau. Ngoại bồn chồn không yên, trông mợ trở về. Không phải để nghe mợ<br />
báo tin, trả được thù chồng. Ngoại chỉ sợ người ta sẽ thủ tiêu luôn cả mợ.<br />
Rồi mợ cũng về trong bơ phờ thất vọng. Những đồng chí cũ của cậu đều làm ngơ, không ai nhận trách nhiệm về cái chết của cậu.<br />
Cái gan của mợ, chẳng biết lớn tới cỡ nào. Mợ nhất định rời khỏi nhà ngoại. Rời khỏi cái nôi của đại gia đình dòng họ nhà chồng, dẫn mấy đứa con nheo nhóc về vùng kiểm soát của Lực Lượng Liên Minh giáo phái Cao Ðài. Không lâu sau, mợ lấy một sĩ quan của Lực Lượng Liên Minh. Dựa thế lực chồng mới, báo thù cho người chồng cũ. Máu oan cừu của cả hai phe lại âm thầm đổ xuống. Không phải qua những đụng độ trên chiến trường, mà bằng những thủ đoạn rình rập chặt đầu, bắn giết thủ tiêu nhau. Và đó cũng là một trong những nguyên nhân đưa đến sự tàn mạt cho gia đình ngoại tôi. Bởi các đồng chí cũ của cậu, coi gia đình nhà ngoại là thù địch, luôn luôn theo dõi, gây ra nhiều nỗi khó khăn.<br />
Theo thời gian, nhà ngoại đổ xiêu rách nát. Bà ngoại tôi bỏ nhà, lên khu đất gò, nằm kế<br />
bên mả ông ngoại. Má tôi rầu rĩ ho lao, cũng vội vàng lên chiếm một chỗ trên khu đất gò. Ba tôi từ bên Tàu, theo ông thầy phong thủy địa lý giả mạo sang đây, bị bỏ rơi ở nhà ngoại. Ngoài người vợ Việt Nam, và mấy đứa con lai Tàu, ông không còn liên hệ họ hàng với ai. Khi má tôi từ giả cõi đời, ông buồn tình, không thiết sống nữa. Thế là ông tự động đứt mạch máu não, hôn mê mấy ngày trước khi bơi qua sông Nại Hà, theo cho kịp má tôi. Ðối với bên vợ, ba tôi là người ngoại tộc, nhưng cũng được đặc ân chôn trên khu đất gò đồng mả dòng họ ngoại tôi.</p>
<p>***<br />
Thời thế xoay nhanh đến chóng mặt. Mặt đất cũng biến đổi dị thường sau những thăng<br />
trầm dâu bể. Mồ mả tiên tổ bao đời của ngoại tôi, được lệnh bốc đi nơi khác. Trên quê hương xứ sở, còn có nơi nào được nằm yên vĩnh viễn? Thôi thì hốt cốt, dồn chung lại, hoả táng một lần cho xong. Khu đất gò, bây giờ là văn phòng Ủy Ban Nhân Dân Xã. Từ trên văn phòng Ủy Ban nhìn xuống, cái nền nhà cũ của ngoại, mọc lên hai dãy nhà kho, dùng chứa nông phẩm Hợp Tác Xã. Và vườn cây ăn trái phía sau nhà ngoại cũng bị san bằng, biến thành sân đá banh.<br />
Dòng đời, và tất cả cơ ngơi của ngoại tôi, chỉ còn trong hồi tưởng.</p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><span style="font-weight: bold;">Viễn thám </span></h3>
<p>Bảy thằng Viễn Thám chúng tôi được trực thăng vận vào vùng hành quân. Theo kế hoạch, giữa trưa sẽ nhảy xuống khu rừng giáp ranh đồn điền cao su Choup, thuộc lãnh thổ Kampuchia. Nhưng mấy thằng phi công ôn dịch cứ bay tít ở trên cao, và lượn tới lượn lui mãi. Chắc nó muốn ăn đạn phòng không? Nó không biết phía dưới có hàng vạn quân Bắc Việt đang giương mắt ngó lên sao? Bay lượn cái kiểu trêu người này, chẳng khác nào báo cho địch biết rằng, tao sắp thả mấy thằng Viễn Thám xuống đây, hãy chuẩn bị bắt nó. Nhưng làm sao nói với thằng phi công? Lỗ tai nó đã bịt kín lại bằng cái máy nghe. Gió tạt mạnh và tiếng cánh quạt phần phật làm át đi mọi tiếng nói. Không những thế, nó còn làm sai bét cả nguyên tắc nghi binh của Viễn Thám. Một chiếc trực thăng đổ quân, hai chiếc Cobra yểm trợ có trang bị đại liên và rocket, sà xuống bắn xối xả, ít nhất là vài ba cái trảng trống trong rừng. Trong những lần sà xuống ấy, chúng tôi nhảy ở một nơi đã được chọn lựa trước, để địch không biết chắc chúng tôi xuống điểm nào. Đằng này, sau khi quần cho đã, bỗng chiếc đổ quân hạ ngay xuống điểm chính. Hai chiếc Cobra kè hai bên, bắn qua loa vài phát. Xong, cất đầu lên, bay về luôn.<br />
Thằng Sử trợn mắt nhìn theo, chửi thề: &#8220;Đù má! Nó làm ăn cái kiểu gì kỳ cục vậy?&#8221;<br />
Không ai có thì giờ ở đó mà chửi phụ hoạ theo thằng Sử. Chúng tôi lủi nhanh vào lùm rậm. Kiểm lại quân số. Rồi tức tốc rời khu vực vừa đổ quân, càng xa càng tốt. Chậm trễ, địch kéo tới bao vây thì bỏ mạng.<br />
Vào đất Kampuchia lần này, chúng tôi có nhiệm vụ theo dõi tình hình và ghi nhận những nơi tập trung quân của địch. Đây không phải lần đầu tôi nhảy toán. Nhưng chuyến đi này, tôi lo lắng rất nhiều, nếu không nói rằng sợ. Theo tin phòng nhì, Công Trường 7 và Công Trường 9 của Bắc Việt, hiện đang có mặt trong vùng rừng rậm Lưỡi Câu, Mỏ Vẹt, trải quân chiếm cả hai đồn điền cao su Choup và Mimot. Mấy tháng trước, chiến đoàn phối hợp nhị thức Bộ Binh Thiết Giáp, vào Choup và đã bị đánh bật ra ngoài, gây tổn thất khá lớn về nhân mạng. Sau đó, người ta không muốn dùng lực lượng bộ binh để tấn công vào đồn điền nữa, vừa tốn kém nhiều, lại không nắm chắc được phần thắng. Vì thế, Không Quân và Pháo Binh được nghĩ đến. Và Viễn Thám được điều động vào vùng, để đưa những mục tiêu lên &#8220;lưới&#8221;.<br />
Liên tiếp trong hai tuần lễ vừa qua, có hai toán Viễn Thám được thả vào đồn điền Choup. Nhưng tất cả đều mất tích một cách khó hiểu. Những chàng Kinh Kha thời đại, chẳng ai tiễn qua sông mà cũng một đi không trở lại. Toán chúng tôi là toán thứ ba. Kế hoạch có thay đổi chút ít. Xuống ở vùng rừng rậm, để từ đó, mò vào Choup. Lấy hướng Đông, xuyên qua đồn điền, về điểm hẹn tại biên giới Việt Nam. Trên đường đi, sẽ chấm toạ độ đóng quân của địch, đưa lên &#8220;lưới viễn thám&#8221; cho phi pháo oanh kích. Nhiệm vụ đơn giản chỉ có thế, nhưng thi hành thì tính mạng ngàn cân treo sợi tóc.<br />
Từ nửa tháng nay, tinh thần chúng tôi hơi căng. Lúc những đơn vị lớn nằm án binh bất động, là lúc bọn Viễn Thám lao vào vùng địch. Thời gian hạn định cho một chuyến công tác là ba ngày hai đêm. Đã hơn mười ngày rồi, hai toán trước vẫn biệt tăm. Máy siêu tần số của trung tâm vẫn trực 24/24. Không một tín hiệu gọi về. Đứt liên lạc. Tình hình địch ra sao, không nắm vững. Trong chiến tranh, mạng người như những đồng bạc lẻ, tiêu pha không tiếc. Mất mười bốn thằng Viễn Thám, chẳng nghĩa lý gì so với với những thiệt hại vừa qua ở Dambert, Soul, Mimot, Choup. Thí mạng thêm bảy thằng Viễn Thám nữa, để thăm dò tình hình địch, không phải là một cái giá quá đắt.<br />
Tôi được gọi lên phòng thuyết trình, nhận lệnh hành quân. Sáu thằng trong toán lảng vảng bên ngoài, lo lắng. Khi tôi bước ra, không thằng nào lên tiếng hỏi, nhưng những cặp mắt ái ngại nhìn tôi, chờ đợi một câu trả lời.<br />
Tôi nói ngắn gọn: &#8220;Chuẩn bị.&#8221;<br />
Có mấy tiếng lảm nhảm chửi thề. Đó là dấu hiệu của sự bất mãn. Trong cái đầu của những thằng lính trận, hình như luôn luôn có sự bất mãn. Và miệng sẵn sàng tuôn ra những câu chửi thề vô tội vạ. Bất mãn, chửi thề là cái bệnh chung của anh em. Không cần chữa trị, căn bệnh này cũng biến mất lúc đứng trước thượng cấp. Vì thế mà kỷ luật được duy trì, mệnh lệnh được thi hành một cách triệt để.<br />
Trong lúc anh em lo kiểm lại cấp số đạn dược, và sơn mặt ngụy trang, tôi bảo trung sĩ Năng lên kho tiếp liệu, lãnh khẩu phần cho cả toán.<br />
Khi vác khẩu phần về, Năng nói:&#8221;Kèo nài mãi, mới xin dư được một túi mưu sinh.&#8221;<br />
Thằng Nhiêu hỏi: &#8220;Để làm gì?&#8221;<br />
&#8220;Bán cho mấy thằng trực thăng. Cũng được chầu nhậu linh đình.&#8221;<br />
&#8220;Chưa biết còn mạng trở về hay không. Nói chi đến chuyện nhậu.&#8221;<br />
Năng sừng sộ: &#8220;Đù má! Sắp hành quân. Miệng ăn mắm ăn muối, đừng nói bậy nhe.&#8221;<br />
&#8220;Mày là thằng sợ chết nhất. Mới cưới con vợ ngon lành. Sáu tháng chưa về phép. Đêm ngủ mộng tinh. Bỏ vợ nhà lâu quá, hôi ê.&#8221;<br />
Anh em cười rộ.<br />
Năng nhìn tôi: &#8220;Xong chuyến đi này, trung úy đề nghị cho tôi về phép?&#8221;<br />
Tôi trợn mắt: &#8220;Mày giỡn? Tình hình đang căng thẳng, cấm trại trăm phần trăm. Ai dám cấp giấy phép cho mày?&#8221;<br />
&#8220;Lúc nào cũng nghe nói tình hình căng thẳng, và cấm trại. Đánh giặc lâu dài, chứ đâu phải đôi ba bữa là xong. Không thể trấn con người ta vô rừng mãi được. Phải liệu cách giải quyết chứ?&#8221;<br />
&#8220;Mày có gan thì lên gặp Đại Bàng Già mà khiếu nại. Trên ổng còn có Mặt Trăng, Mặt Trời, Bắc Đẩu&#8230;, cứ theo hệ thống quân giai mà khiếu nại dài dài lên Tổng Thống. May ra trường hợp của mày được giải quyết.&#8221;<br />
&#8220;Những thằng lính văn phòng, chẳng cần phép tắc mà vẫn tà tà ở thành phố, ôm đít vợ hằng đêm. Còn mình trông cái phép gần chảy máu mắt, không được. Bất công!&#8221; Năng càm ràm.<br />
Tôi nói: &#8220;Bất công là lẽ thường. Trên cõi đời chó má này, làm gì có sự công bình?&#8221;<br />
&#8220;Nghĩ tức. Nhiều khi muốn đào ngũ.&#8221;<br />
&#8220;Cứ đào ngũ đi. Bọn Quân Cảnh ngồi ngáp gió, không có việc gì làm. Nó đang chờ mày đấy. Còn ở đây, không có mày thì có thằng khác thế vào.&#8221;<br />
Thượng sĩ nhất Sử, nói: &#8220;Năng ơi, trước khi hành quân, mày đừng lải nhải ba cái chuyện đó nữa, được không? Nhìn bộ mặt nhăn như cái bánh bao của mày, tao nản!&#8221;<br />
Thằng Sử là toán phó Viễn Thám. Nó ra trường Đồng Đế năm mười chín tuổi. Liều mạng và háu đá. Năm năm chiến trường, chưa một lần bị thương. Nó khoe, thầy của nó tu luyện ở Thất Sơn, chuyên môn uống máu dơi và ăn gan rắn hổ. Ngày vẽ bùa trấn ma. Đêm ngậm ngải mà ngủ. Cái nanh heo rừng, nó đeo lủng lẳng trước ngực, thầy nó đã tươm bùa vào rồi. Nó coi cái nanh này là một thứ bùa hộ mạng, bom đạn không thể xâm phạm được nó. Từ tiểu đoàn Biệt Động Quân, nó xin qua Viễn Thám. Mới đầu, tôi không chịu nhận nó vào làm toán phó. Tôi chỉ cần thằng nào dè dặt và cẩn trọng, chứ không cần liều mang và háu đá. Bởi nhiệm vụ của chúng tôi là theo dõi địch tình, và né tránh tối đa những đụng độ. Nhưng nó nói, ông thầy yên tâm đi, thằng Sử này cũng biết tùy hoàn cảnh, không phải lúc nào cũng làm ẩu đâu. Tôi nhận, và đề nghị cho nó đi thụ huấn một khoá Viễn Thám ở Dục Mỹ. Học xong, nó về với tôi, đã hơn năm. Sau những lần vào ra hang hùm, tôi thấy nó đã biết&#8230; sợ.<br />
Từ lúc đổ quân cho đến chiều, chúng tôi luồn lách trong khu rừng rậm. Phát hiện nhiều dấu vết di chuyển của địch qua cây cỏ bị rạp. Phần lớn rạp xuôi về hướng đồn điền. Chiều gần chạng vạng, chúng tôi dừng lại bên ven rừng, giáp ranh đồn điền. Dự định &#8220;lót ổ&#8221; qua đêm. Tôi mở máy siêu tần số, báo về trung tâm hành quân những gì đã nhìn thấy, và ước đoán tình hình địch đang dồn thêm quân về Choup.<br />
Có tiếng của Đại Bàng Già: &#8220;Dấu vết mới hay cũ?&#8221;<br />
Tôi trả lời: &#8220;Có mới, có cũ.&#8221;<br />
Lệnh Đại Bàng Già: &#8220;Ngày mưa phùn. Chồn Đầu Bạc lần theo dấu mới. Hết.&#8221;<br />
Trong đặc lệnh truyền tin, &#8220;ngày mưa phùn&#8221; là ngày mai. Ám danh của trưởng toán 3 Viễn Thám là Chồn Đầu Bạc. Chẳng biết tại sao, khi làm đặc lệnh truyền tin, người ta lại lấy tên của con thú đặt cho tôi? Đã là chồn, thì có chồn hôi, chồn mướp, chồn đèn. Làm gì có chồn đầu bạc?<br />
Có lần, đang ngồi chơi trước Bộ Chỉ Huy, trông thấy vị sĩ quan truyền tin đi qua, tôi gọi: &#8220;Ê! Thuận Phong Nhĩ. Sao đặt tôi là Chồn Đầu Bạc?<br />
Hắn cười: &#8220;Chồn già.&#8221;<br />
&#8220;Trai ba mươi tuổi còn son. Gái ba mươi tuổi đã toan về già. Tôi ba mươi, sao gọi rằng già?&#8221;<br />
&#8220;Già mưu mô, như con chồn của La Fontaine dụ con gà trống gáy. Còn bạn, sao gọi tôi là Thuận Phong Nhĩ?&#8221;<br />
&#8220;Trong Tây Du Ký, Thuận Phong Nhĩ là thằng truyền tin của Ngọc Hoàng, có cái lỗ tai nghe xa ngoài ngàn dặm.&#8221;<br />
Hắn gục gật cái đầu: &#8220;À, ra thế.&#8221;<br />
Rồi bỏ đi. Cái tướng phục phịch như con gấu đực, nhưng vô cùng chung thủy. Không bao giờ hắn chơi đĩ. Hắn sợ mắc tiêm la, rồi sang mầm bệnh cho vợ. Nhiều thằng lén rỉ tai, hắn bị vợ khoá cu, không cho chơi bậy.<br />
Tôi chọn chỗ ngủ có nhiều gai góc, và lùm bụi che khuất. Ban đêm, nếu địch di chuyển qua đây, cũng phải né tránh những nơi vướng mắc khó đi. Thế là chúng tôi được an toàn. Bóng tối đổ xuống rừng già rất nhanh. Đêm mù. Khí ẩm hơi sương. Thỉnh thoảng, có những trận gió cuốn qua, rào rào trên đọt cây. Tiếng hú của cú mèo, như tiếng ma kêu. Tiếng &#8220;cốc cốc&#8221; của con chim gì không biết, như tiếng gõ nhịp song lang. Chúng tôi nằm im, nhưng không thằng nào ngủ được. Nghĩ đến mai đây, lần theo dấu địch vào đồn điền cao su, ai cũng ớn xương sống. Địch đông như kiến cỏ. Chúng tôi chỉ bảy thằng. Nếu bị lộ tung tích, biết chạy đàng nào?<br />
Thằng Năng, nằm kế bên tôi, thì thầm: &#8220;Xong chuyến này, thế nào trung úy cũng ráng tìm cách cho tôi về thăm vợ vài ngày?&#8221;<br />
Thì ra, thằng Năng không ngủ vì nhớ vợ. Chẳng phải như chúng tôi, không ngủ vì lo một ngày mai.<br />
Tôi nói nhỏ: &#8220;Lúc này, cầm giấy phép về phố, Quân Cảnh cũng nắm đầu. Tao sẽ năn nĩ, xin Đại Bàng Già cấp sự vụ lệnh cho mày đi công tác. Lợi dụng chuyén đi này, mày ghé về thăm vợ.&#8221;<br />
&#8220;Trung úy hứa thì giữ lời nhe.&#8221;<br />
&#8220;Tao giữ lời. Còn cấp trên chịu cho hay không, là chuyện khác.&#8221;<br />
&#8220;Tôi nghĩ, trung úy nói là ổng thông cảm liền.&#8221;<br />
Tôi nằm xích lại gần Năng hơn: &#8220;Tao hỏi thiệt. Đêm động phòng, vợ mày còn nguyên không?&#8221;<br />
&#8220;Làm sao biết còn hay không?&#8221;<br />
&#8220;Rách màng trinh, chảy máu.&#8221;<br />
&#8220;Tối quá. Không nhìn thấy.&#8221;<br />
&#8220;Có tỏ vẻ đau đớn không.&#8221;<br />
&#8220;Không biết. Chỉ nằm im như khúc gỗ. Có thể đau, nhưng mắc cở nên cắn răng chịu đựng.&#8221;<br />
&#8220;Có &#8220;bót&#8221; không?&#8221;<br />
&#8220;Bình thường.&#8221;<br />
Tôi vặn: &#8220;Bình thường là sao?&#8221;<br />
Năng lí nhí: &#8220;Hỏi khó nói quá.&#8221;<br />
&#8220;Mày như con bò rừng. Chỉ biết hùng hục, chẳng nhận xét gì cả.&#8221;<br />
Năng nói, nghe rất tội nghiệp như tự nói với chính mình: &#8220;Người ta thương mình. Chịu làm vợ mình, đủ rồi. Mất hay còn trinh, không quan trọng. Miễn sau này, đừng bậy bạ với thằng nào. Trước khi lấy người ta, mình cũng&#8230; tơi bời hoa lá, chứ tốt lành gì, mà đòi hỏi người ta còn nguyên xi.&#8221;<br />
Nằm một lúc lâu, Năng khều vai tôi: &#8220;Hồi còn bên Trinh Sát, nghe trung úy sắp cưới vợ?&#8221;<br />
Tôi nói: &#8220;Xù rồi.&#8221;<br />
&#8220;Ai xù?&#8221;<br />
&#8220;Đàng gái.&#8221;<br />
&#8220;Tại sao?&#8221;<br />
&#8220;Ông bố của cô ta bảo, khi nào tao xin được về văn phòng, mới chịu cho đám cưới. Mà gia đình tao nghèo, không quen &#8220;gốc lớn&#8221;. Làm sao xin?&#8221;<br />
&#8220;Thương thì lấy. Văn phòng hay tác chiến, đâu quan trọng?&#8221;<br />
&#8220;Ổng sợ con ổng sớm thành goá phụ.&#8221;<br />
Năng chửi thề: &#8220;Đù má! Đi tác chiến, đều là những thằng gia đình nghèo nàn, không thân thế. Sống hùng sống mạnh, nhưng không không sống lâu.&#8221;<br />
&#8220;Thôi, ngủ đi Năng ơi. Khuya, mày còn lên phiên gác.&#8221;<br />
Tôi lan man nghĩ về cô sinh viên Sư Phạm. Tưởng mối tình sẽ tốt đẹp, sau khi cô ra trường. Nào ngờ, bố cô như một bóng đen trùm xuống với một điều kiện, mà tôi biết rằng tôi không đủ khả năng thực hiện. Thế là cô ta đi lấy chồng. Rồi mọi chuyện cũng đâu vào đó. Cô vẫn bình thường, như chưa từng trải qua một lần thề sống chết với tôi. Khi tôi tình nguyện qua Viễn Thám, có thằng bảo tôi thất tình, lao vào chỗ chết. Tôi chỉ cười. Thật ra, tôi có buồn buồn một thời gian. Nhưng không quằn quại đau thương bỏ ăn mất ngủ, đến nỗi điên khùng muốn tự tử, như mấy thằng bạn nói.<br />
Rọ rạy một hồi, Năng lại hỏi: &#8220;Không cưới được vợ, có thất tình không?&#8221;<br />
Tôi nói có. Năng bảo nhiều thằng vì thất tình mà trở thành thi sĩ. Và hỏi tôi có làm thơ thất tình không?<br />
Tôi trả lời bằng cách đọc ẩu:<br />
Em như cục cứt trôi sông<br />
Anh như con chó đứng trông trên bờ<br />
Em như cục cứt dật dờ<br />
Anh như con chó trên bờ đứng trông.<br />
Năng cười rúc trong cổ: &#8220;Thơ thất tình gì mà chỉ thấy chó với cứt. Con vợ tôi nghe được bài thơ này, chắc cười chết bỏ.&#8221;<br />
Tôi nhắc lại lần nữa: &#8220;Thôi, ngủ đi Năng ơi. Khuya, mày còn lên phiên gác.&#8221;<br />
Trời hừng sáng. Đủ loại chim rừng hót rộ trên cây. Chúng tôi nhìn nhau, thấy lạ. Màu chàm ngụy trang trên mặt cho tiệp với màu xanh cây lá, đã đã làm mặt người đổi khác. Tôi trải tấm bản đồ, chỉ cho cả toán biết điểm tập trung trong ngày, nếu chẳng may thất lạc.<br />
Lại dặn dò hạ sĩ Nhiêu: &#8220;Mày đi đầu, không cần phải theo đúng phương giác địa bàn. Tùy theo địa thế mà đi. Phải hết sức cẩn thận.&#8221;<br />
Theo đội hình hàng dọc, Nhiêu là khinh binh đi đầu, kế là tôi&#8230;, và thằng Sử toán phó, đi sau cùng.<br />
Đồn điền Choup. Những cây cao su được trồng ngay hàng thẳng lối. Thân cây già cỗi, to đến cả người ôm. Tàn lá rợp, che bóng mặt trời. Thời kỳ chiến tranh, đồn điền bị bỏ hoang nhiều năm. Gai mắc cở là đà ngang đầu gối. Cỏ dại gần lút đầu người. Những loài cây tạp cũng chen nhau, vươn lên cùng với cao su. Lợi dụng địa hình che khuất, quân Bắc Việt đã vào đây trú ẩn.<br />
Gần đứng trưa. Thằng Nhiêu dừng lại, nép vào gốc cao su, ngắc tay gọi tôi lên.<br />
Nó nói nhỏ: &#8220;Lắng nghe.&#8221;<br />
Trên trời có tiếng rì rì như tiếng của con ong bay qua.<br />
Tôi nói: &#8220;Con đầm già L19, bay quan sát.&#8221;<br />
Nó lắc đầu, chỉ tay về phía trước. Có tiếng nói văng vẳng, vọng lại từ xa. Thỉnh thoảng có tiếng động, hình như tiếng chặt cây.<br />
Tôi ngó về phía sau, làm thủ hiệu cho anh em bố trí tại chỗ. Tôi và thằng Nhiêu len lỏi mò lên. Không dám tới quá gần vì sợ bị lộ, nhưng tôi cũng ghi nhận được những dữ kiện cần thiết để ước đoán tình hình. Khi quay lại chỗ cũ, tôi mở máy báo về trung tâm hành quân. Thuận Phong Nhĩ tức tốc gọi Đại Bàng Già đến ngay đầu máy.<br />
Tiếng Đại Bàng Già: &#8220;Tao đưa mục tiêu lên &#8220;lưới&#8221;. Chồn Đầu Bạc xáp lại gần, quan sát, điều khiển &#8220;thiên lôi&#8221; làm việc, và cho biết kết quả. Hết.&#8221;<br />
Trời đất! Phi pháo dội xuống mục tiêu. Quân địch như ổ kiến lửa, bị động sẽ bung tràn lan ra ngoài. Đại Bàng Già bảo xáp lại gần. Ông tưởng bọn tôi có thể tàng hình trước con mắt địch quân hay sao?<br />
Tôi bảo mấy thằng trong toán: &#8220;Lệnh là thế. Nhưng tụi mình phải &#8220;dọt&#8221; khỏi chỗ này cho xa.&#8221;<br />
Chúng tôi đổi phương giác. Né tránh mục tiêu. Chừng mười lăm phút sau, pháo nổ ầm ầm dữ dội. Dứt đợt pháo, phản lực cơ bắt đầu gầm thét và thả bom Napalm, đốt cháy một khu vực đồn điền.<br />
Đang di chuyển, tôi nghe tiếng Đại Bàng Già hỏi, tốt không, có cần điều chỉnh gì không?<br />
Nhìn về phía mục tiêu, tôi nói tốt rồi. Đâu biết phi pháo dội có chính xác hay không. Tôi nghĩ, dù sao cũng phải lo cho mạng sống của bảy thằng chúng tôi trước. Bỗng có tiếng súng AK nổ dòn, bên hông trái đội hình. Tiếp theo, nhiều loạt súng khác nổ ran.<br />
Trời ơi! Né tránh chỗ đóng quân, lại đâm đầu vào &#8220;chốt&#8221; tiền đồn của địch. Tôi la lên trong máy: &#8220;Đụng rồi.&#8221; Và bấm cái nút báo động đỏ. Máy siêu tần số trang bị đặc biệt cho Viễn Thám, khi bấm nút đỏ, sẽ tự động báo nguy về máy trung tâm bằng những tiếng &#8220;cạp&#8230; cạp&#8230; cạp&#8230;&#8221; liên tục, như tiếng vịt kêu hoảng hốt.<br />
Chúng tôi vừa bắn trả, vừa tạt về bên phải. Chạy! Tiếng súng đuổi nà theo sau lưng. Phi pháo vẫn hoành hành ngút khói tại mục tiêu chính.<br />
Chạy trối chết ra khỏi đồn điền, chúng tôi lủi nhanh vào rừng rậm, nơi đã dặn dò điểm tập trung. Kiểm lại quân số. Không thấy thằng Nhiêu. Những cặp mắt tởn thần mở lớn, chưa hết nỗi kinh hoàng. Địch quân đang truy lùng khắp khu vực. Tôi liên lạc về trung tâm, báo tổn thất của ta, và ước đoán thiệt hại của địch.<br />
Lệnh của Đại Bàng Già: &#8220;Tung tích đã bị lộ. Lo dọn bãi đáp. Trực thăng bốc về.&#8221;<br />
Trong khi ẩn trốn, chờ thằng Nhiêu, tôi mệt mỏi nằm gối đầu trên chiếc ba lô. Đến chiều vẫn không thấy tăm hơi. Có thể nó đã gục ngả ngay đợt nổ súng đầu tiên. Nếu tính cái giá hơn thua bằng xác chết, thì mất một thằng Nhiêu, đổi lại bao nhiêu sinh mạng địch quân trong trận oanh kích vừa qua. Nhưng tình cảm con người, không đơn giản như đơn vị đo lường. Chúng tôi buồn thảm nhìn nhau. Tự dối lòng, biết đâu thằng Nhiêu vẫn còn thất lạc đâu đó.<br />
Ngày thứ ba, kể từ khi vào đất Kampu chia. Không thể xuyên qua đồn điền để về điểm hẹn tại biên giới Việt Nam. Chúng tôi đi ngược về phía rừng già, tìm bãi bốc trực thăng. Nhưng trực thăng không xuống được. Những con chuồn chuồn vừa lảng vảng vào khu vực, đã bị phòng không từ dưới đất bắn lên. Đành phải bay về. Địch quyết phong toả vùng trời, để chận bắt cho được chúng tôi. Liên tiếp hai ngày sau, vẫn thế.<br />
Lương thực mang theo đã cạn. Chúng tôi bắt đầu mở túi mưu sinh. Túi này chỉ trang bị đặc biệt cho Viễn Thám. Những chàng phi công phải mang dù khi cất cánh, đề phòng bất trắc. Còn chúng tôi được trang bị túi mưu sinh, phòng khi gặp khó khăn không trở về đúng thời hạn. Trong túi chứa đủ thứ lỉnh kỉnh. Thuốc tăng sức, dùng khi có biến phải chạy thoát thân. Chẳng biết đây có phải là thứ thuốc chích cho ngựa chạy trường đua hay không. Dẫu sao điều này cũng không thực tế. Vì khi gấp rút chạy bán mạng, thì giờ đâu mà mở túi mưu sinh để lấy thuốc? Thuốc chống buồn ngủ, dùng ban đêm, lúc cần phải tỉnh thức canh chừng. Thuốc muỗi thoa ngoài da. Thuốc lọc nước, có công hiệu sát trùng rất mạnh. Sáu cái bánh mặn, theo chỉ dẫn, mỗi ngày chỉ dùng hai cái. Những viên thịt bò khô màu nâu, mỗi viên làm ngọt nước một tô canh. Một chùm lưỡi câu, lớn bé đủ loại. Một cuộn dây cước màu xanh nhạt, làm dây câu cá. Và sau cùng là quyển sách nhỏ, in hình một số cây lá trong rừng, cùng những lời giải thích để phân biệt loại nào có thể, và không thể ăn.<br />
Có túi mưu sinh, chúng tôi vẫn bị đói. Không tìm được cây, lá, củ, trái nào giống như trong sách chỉ dẫn. Có lần, moi được củ khoai, như một loại khoai mỡ, ruột màu vàng nhạt. Thằng Năng bảo khoai nần. Muốn ăn phải xắt lát, ngâm nước vài ngày cho ra hết chất độc, sau đó phơi cho thật khô, rồi mới luộc. Nhưng thằng Sử cắn một miếng nếm thử. Nó khẳng quyết đây là một trong những loại khoai mỡ, và muốn lên lửa để nấu.<br />
Tôi nói: &#8220;Muốn chết hả? Nếu địch quân nhìn thấy khói, dù bọn mình có mọc cánh cũng bay không thoát.&#8221;<br />
Sau chừng mười phút, bàn ra tán vào về cái củ khoai lạ, môi miệng thằng Sử bị ngứa và sưng vều lên. Mọi người đều hoảng. Cũng may, nó chỉ nếm thử, chứ chưa nuốt.<br />
Chúng tôi xuống sức vì đói. Đêm nằm trong vùng đất ẩm, lại bị vắt hút máu. Mặt người phờ phạc. Tinh thần khủng hoảng. Tôi thường xuyên kêu cứu về trung tâm. Nhưng mỗi lần trực thăng vào vùng lại bị phòng không. Địch biết chúng tôi chưa ra khỏi vùng, báo động khắp nơi. Chúng tôi lẩn vô rừng già. Đi về hướng Bắc, nơi có lữ đoàn Dù đang hoạt động ở Dambert. Hy vọng đi gần về phía quân bạn, sẽ bớt được áp lực của địch.<br />
Tiết trời nóng nực, mà rừng rú vẫn xanh um cây lá. Tiếng ve buồn râm ran mùa hạ. Như những con thú hốt hoảng, chúng tôi sợ hãi bất cứ tiếng động nào. Sợ nhất là những con chim &#8220;tắc cọ&#8221;. Loài chim quái ác! Mỗi khi thấy có người đi, nó sẽ lượn theo mãi ở trên đầu, và la &#8220;tắc cọ&#8230; tắc cọ&#8230;&#8221; vang cả rừng. Gặp trường hợp này, phải dừng lại ngồi im trong lùm, không dám động. Kêu một hồi không thấy ai, nó sẽ chán, và bay nơi khác. Ngược lại, cũng nhờ chim &#8220;tắc cọ&#8221; báo động, mà chúng tôi biết địch đang di chuyển từ xa, để kịp thời tránh né. Lính hành quân trong rừng, gọi loài chim này theo cái tên nhà binh: &#8220;chim tiền sát&#8221;.<br />
Chúng tôi lại chạm địch lần thứ hai. Hoả lực địch rất hùng hậu. Tôi biết ngay đây là một đơn vị lớn, không phải &#8220;chốt&#8221; tiền đồn. Chúng tôi thối lui, đồng thời ném những trái mini lựu đạn về phía sau, nhưng không cản được bước địch. Súng nổ rát bên mang tai. Địch đuổi theo, truy bức. Tôi thấy thằng Năng chạy cà nhắc. Một chân nó đã bị đạn. Tôi lướt tới, kè thằng Năng bằng cách nắm cánh tay của nó choàng qua vai mình, lôi bừa.<br />
Năng lắc đầu tuyệt vọng: &#8220;Thôi, chạy đi.&#8221;<br />
Tôi hét: &#8220;Ráng!&#8221;<br />
Nó xô tôi ra: &#8220;Không được.&#8221; Và sà xuống một gốc cây, xả súng bắn ngược về phía sau cản địch, cho những thằng còn lại thoát thân.<br />
Từ hai ngày trước, tôi yếu sức vì đói. Nhưng bây giờ, tôi chạy rất khoẻ. Đôi chân nhanh nhẹn lạ thường. Tuôn qua những gai góc, phóng qua những lùm bụi dễ dàng. Thân thể tôi dường nhẹ tênh, lướt như bay qua những chướng ngại. Những thằng kia cũng nhanh không kém. Nó chạy mà không cần biết anh em có theo kịp hay không. Nhờ thằng Năng cản địch, chúng tôi bỏ tiếng súng xa dần. Lúc dừng lại, tôi hấp tấp báo về trung tâm hành quân. Tiếng nói đứt quảng. Vừa nói vừa thở hổn hển như sắp đứt hơi. Bây giờ, tôi mới để ý đến tôi, và thấy mệt như chưa bao giờ mệt đến thế.<br />
Bom và trọng pháo lại dội tan tành xuống mục tiêu. Đại Bàng già quyết định, bằng mọi cách phải mang chúng tôi về. Trong khi địch đang bị sấm sét, lợi dụng cơ hội này, trực thăng lao vào vùng, thả dây cấp cứu. Năm thằng chúng tôi ôm nhau thành một khối, treo tòn ten phía dưới trực thăng. Gió ù ù rát mặt. Từ trên cao nhìn xuống, tôi thấy một vùng khói mù. Oanh tạc cơ vẫn còn tiếp tục thả bom. Giữa ngàn xanh mênh mông u uất dưới kia, có thằng Nhiêu, thằng Năng vĩnh viễn nằm lại đất Kampuchia.<br />
Tôi xin ra khỏi Viễn Thám từ dạo ấy. Đời lính vẫn thường chứng kiến nhiều thương đau mất mát của anh em đồng đội. Thế nhưng, những đêm nằm rừng, nghe tiếng súng xa xa, tôi lại nghĩ đến hai thằng em trong toán của tôi, nhất là thằng Năng. Tội nghiệp, sau cái đêm động phòng với vợ, nó đi luôn không bao giờ về nữa.</p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><span style="font-weight: bold;">Tán gẫu trong quán cà phê</span></h3>
<p>Vác đá. Đốn cây. Bửa củi. Gánh nước. Những công việc nặng nề như thế, lúc nào cũng có thể làm được, chỉ cần vận dụng bắp thịt và thêm một chút cố gắng là xong. Thế nhưng làm thơ viết văn thì khác. Nó không cần bắp thịt và cố gắng cũng không xong. Nói thế cũng hơi quá. Cố gắng cũng có thể xong, nhưng bài viết không đủ sức lôi cuốn, làm người đọc dễ buồn ngủ.</p>
<p>Tình cờ tôi đọc một quyển sách “dạy” làm thơ viết văn, khuyên những người cầm bút, dù muốn dù không cũng nên ngồi vào bàn viết ít nhất 2 giờ mỗi ngày. Viết bất cứ ý nghĩ gì trong đầu. Viết hoài, viết mãi sẽ có ngày làm nên tác phẩm. Một ý kiến hay. Làm văn thi sĩ cũng dễ thôi. Một hôm, tôi gặp ông bạn viết văn than phiền rằng cả năm không viết được chữ nào. Tôi mách cho ông tựa đề quyển sách mà tôi đã đọc. Tháng sau gặp lại, ông bảo theo lời chỉ dẫn ngồi vào bàn viết 2 giờ mỗi ngày, cũng viết ra chữ đấy nhưng toàn là những ý tưởng vụn vặt nhảm nhí chẳng ra làm sao cả. Vậy thì làm thơ viết văn đâu phải cố gắng là viết hay được. Tệ hại hơn nữa, khép mình theo thời biểu định sẵn, viết theo chỉ tiêu thì cái đầu càng đóng băng cứng ngắc. Khi cái đầu đã đóng băng, lại phải hoàn thành bài viết theo “đơn đặt hàng” thì bài viết ấy hoàn toàn vô vị, nhạt thếch. Cũng có nhiều trường hợp, người ta viết như một “thiên tài”, lúc nào và ở đâu cũng có thể viết được. Viết tràng giang đại hải, cuối cùng đọc lại thấy chẳng ra chi. Có tác phẩm đấy, nhưng toàn là rác rưởi. Vì không là “thiên tài” nên khi viết, tôi rặn từng chữ như người táo bón. Rặn mãi cũng ra được chữ, nhiều chữ làm thành một bài. Đắc ý, đưa vợ đọc thử. Vợ đọc như người bị mắc nghẹn. Vợ bảo, hành văn trúc trắc, chữ nghĩa đá sỏi khô khan. Đọc không suông, nuốt không vô. Vất! Viết văn làm thơ không dễ chút nào.</p>
<p>“Văn mình vợ người”. Ý nói văn mình hay, vợ người đẹp. Đó là cái bệnh chung của người cầm bút. Đem hết tâm sức còng lưng ngồi viết thì bài của mình không hay sao được? Văn ta là số 1, thơ ta hay nhất! Thỉnh thoảng có báo nào đăng bài của ta. Cầm tờ báo, ta đọc bài của ta trước nhất, dù trước khi gửi bài, ta đã đọc hàng trăm lần rồi. Bây giờ thấy nó nằm chình ình trên mặt báo, nghĩa là được chính thức ra mắt người đọc. Lấy tư cách là độc giả, ta đọc lại bài ta. Trời ơi, sao mà hay dữ vậy? Sau đó, đọc lướt qua những bài của tác giả khác. Cũng có vài bài khá đấy, nhưng bài ta vẫn là bài khá nhất. Không còn nghi ngờ gì nữa, ta là một tài năng lớn. Sở dĩ ta chưa nổi tiếng vì người đời chưa khám phá ra ta đấy thôi. Nếu có ai “góp ý” xuyên tạc bất lợi cho ta, chắc họ thấy ta có tài nên sinh lòng ghen tị muốn “ém tài” ta. Gặp người mới quen, họ chưa biết ta là nhà thơ kiêm nhà văn A, ta hỏi trên văn thi đàn ông thích những tác giả nào? Mục đích để dò xem họ đánh giá ta ra sao. Người quen nêu một lô những tác giả mà họ thích, trong đó không có tên ta. Ta hơi thất vọng về người mới quen. Hỏi thêm lần nữa, ông nghĩ thế nào về nhà thơ kiêm nhà văn A? Người quen bảo, ông này viết lảm nhảm chẳng ra chi. Vậy mà có vài tờ báo cũng đăng bài của ông ấy. Có lẽ ông ấy mướn đăng bài như các cơ sở thương mại mướn đăng quảng cáo. Ta xám mặt lãng đi nơi khác, thầm nghĩ thằng cha này trình độ hiểu biết thấp quá, chưa đủ tư cách nhận định về văn chương. Hơn nữa, nó ít đọc sách, làm sao theo kịp trào lưu tư tưởng mới của thế thế kỷ 21. Chỉ những ai uyên bác mới hiểu được ta thôi.</p>
<p>Cái bệnh “văn mình vợ người” coi bộ khó trị. Bởi nhìn ra cái tệ của ta là điều khó. Nếu có kẻ chỉ ra khuyết điểm của ta, lập tức ta phản kháng rằng thằng đó bới lông tìm vết. Phản kháng là ý thức tâm lý, nó luôn ứng chiến sẵn sàng đối đầu với bất cứ ai dám chạm đến ta. Nhưng một đôi khi trầm tĩnh, ta cũng thấy thằng đó nói có phần đúng. Chỉ đúng chút xíu thôi. Vậy ta phải sửa sai cho văn ta được hoàn hảo hơn. Bởi ta là người có tinh thần cầu tiến mà. Sửa sai nghĩa là tự đánh mình. Đánh ai cũng dễ, nhưng tự đánh mình là điều khó quá, mình cảm thấy đau quá. Thôi thì cứ để nguyên như thế. Coi như một nét văn phong độc đáo của riêng ta, để người đọc dễ phân biệt ta và người khác. Nếu không, sao gọi văn tức là người? Cuối cùng, ta vẫn là số 1. Độc Cô Cầu Bại đốt đuốc đi tìm cũng không ra kẻ tài danh nào đánh bại được ta.</p>
<p>Có một nhà văn (hình như Lâm Ngữ Đường, tôi không dám tin chắc nơi trí nhớ) bảo rằng, “tác giả tự khen tác phẩm mình thì cũng tệ như bà mẹ khen con mình”. So sánh nghe có vẻ mỉa mai châm biếm. Nhưng nếu ta không tự khen ta thì ai vào đây khen ta? Nỗi buồn thời đại lớn nhất của tác giả là khi in ra tác phẩm chẳng có ma nào thèm nói tới một lời. Tác phẩm bị chìm vào quên lãng một cách tội nghiệp. Vậy để gây sự chú ý, ta phải nhờ một bạn thân nào đó viết bài làm bộ phê bình, nhưng thật ra là ca tụng một cách kín đáo. Người viết bài phê bình có chút danh tiếng càng tốt. Nhiều khi người đọc thấy tác giả của bài phê bình là nhà văn X, hoặc thi sĩ Y. Phê bình đâu phải lãnh vực của mấy ông này, sao lại nhào vô đây khoác lác tùm lum? Dù cùng là nghề cầm bút, nhưng sáng tác và phê bình là hai bộ môn khác biệt. Sáng tác hay, chưa chắc đã biết cách phân tích phê bình. Phê bình giỏi, chưa chắc đã sáng tác được bài văn cho ra hồn.</p>
<p>Buồn cười hơn nữa, trong lãnh vực văn nghệ, thấy tên tác giả kèm theo học vị tiến sĩ hoặc bác sĩ. Nếu tiến sĩ khoa học hay kinh tế thì biết chi về văn học? Ông chỉ nên đề tiến sĩ khi viết về chuyên ngành của ông thôi. Sang lãnh vực văn học mà vác theo cái bằng tiến sĩ là có ý muốn khoe khoang, hù thiên hạ. Cũng như thế, y khoa là ngành chuyên biệt, bác sĩ khi thích cũng có thể làm thơ, và khi đề tên tác giả xin đừng kèm theo hai chữ bác sĩ. Điều đó không có gì bảo đảm cho giá trị của bài thơ. Nhưng nếu ông viết về y khoa thì lại rất nên kèm theo học vị để người đọc tin rằng ông có đủ thẩm quyền nói về lãnh vực chuyên môn của mình. Tôi rất thích đọc những bài viết bàn về vấn đề môi trường của tiến sĩ Mai Thanh Truyết, hoặc nói về sức khoẻ của bác sĩ Nguyễn Ý Đức, bác sĩ Trầ Mạnh Ngô và vân vân. Nhất là bác sĩ Nguyễn Ý Đức khi nói về tứ sát thủ âm thầm: mập, cao mỡ, cao máu, tiểu đường. Đề tài khô khan, nhưng qua ngòi bút hóm hỉnh của ông, thỉnh thoảng người đọc có thể nở một nụ cười. Ngay cách đặt tựa đề Tứ Sát Thủ Âm Thầm cũng nghe như có chút hơi hướm của giới giang hồ kiếm hiệp. Một lần duy nhất tôi gặp ông ngoài bãi đậu xe của hội trường cộng đồng người Việt Dallas. Khi biết ông là bác sĩ Nguyễn Ý Đức, và thấy ông đang vui, tôi hỏi người bị tiểu đường có thể làm thằng nhỏ bị ủ rủ buồn hiu. Vậy có thể dùng Viagra để nó lấy lại sức mạnh tinh thần vui tươi phấn khởi hơn không? Ông bảo, đúng thuốc rồi, Viagra ra đời là cứu tinh và vực dậy thằng nhỏ ủ rủ buồn hiu của mấy ông tiểu đường, hahaha!</p>
<p>“Văn hay chẳng luận đặt dài”. Câu này như một châm ngôn. Ngày còn trên ghế nhà trường, tôi sợ nhất là môn tập làm văn. Trong đầu không có bao nhiêu chữ nghĩa, nhưng phải nặn óc viết cho ra chữ, càng dài càng tốt. Tưởng sẽ được khen, nào ngờ cô giáo phê một câu độc địa: “nhiều lời ít ý”. Sau này ngẫm lại thấy đúng. Nhất là khi nhân loại đạt đến tốc độ phi thuyền, đời sống thôi thúc phải chạy đua từng giờ từng phút, không ai có thì giờ ngồi đọc những bài dài lê thê, nhưng nội dung tư tưởng nghèo nàn. Không thể dùng vài trang giấy chỉ để tả một đoá hoa. Mất thì giờ lắm. Người đọc chỉ muốn biết chuyện gì đã xảy ra. Nói thế không phải tôi hoàn toàn phủ nhận những bài dài đầy tính nghệ thuật và ý nghĩa sâu xa. Những bậc phù thủ văn nghệ có tài biến hoá một Tôn Ngộ không thành trăm ngàn Tôn Ngộ Không mà vẫn lôi cuốn người đọc. Một tác giả viết được nhiều quyển sách, chưa chắc đã hay. Số lượng nhiều vẫn không có gì bảo đảm chất lượng cao. Viết văn trong thời buổi @ giống như sắc thuốc Bắc, ba chén nấu còn tám phân. Chỉ giữ lại phần cốt tủy mà thôi. Ngắt bỏ những chi tiết râu ria rườm rà không cần thiết cho bài viết cô đọng gọn gàng càng đỡ tốn thì giờ người đọc.</p>
<p>Đọc sách, nhiều khi thấy tác giả liệt kê đã in được vài chục quyển sách, và những tựa đề một số sách sắp in. Sắp in thì nói làm gì? Đôi khi chỉ là những dự định trong đầu, chắc gì sẽ viết xong? Mà viết xong, chắc gì in được? Có thấy mới tin! Tôi từng gặp nhiều người khoe rằng đang viết quyển sách dày cỡ vài trăm trang. Chờ mấy năm sau, vẫn không thấy mặt mũi quyển sách ra đời. Còn chuyện liệt kê sách đã in vài chục quyển ư? Số lượng thì nhiều thật đấy, nhưng văn chương đâu cần số lượng? Người ta chỉ cần phẩm. Viết văn làm thơ đâu phải bửa củi mà tính số lượng nhiều hay ít? Bửa được một đống củi, được khen là giỏi. Nhưng viết một đống sách, lựa hoài chẳng có quyển nào đáng đọc thì cũng xem như củi đốt lò mà thôi.</p>
<p>Hành văn tối nghĩa là một trong những bệnh bất trị của người cầm bút bất tài. Người đọc không hiểu nội dung bài viết là lỗi ở tác giả. Không thể nói người đọc không đủ trình độ lãnh hội, mà phải quy trách nhiệm về tác giả không có tài diễn đạt tư tưởng của mình một cách sáng sủa, hoặc thiếu khả năng trình bày một vấn đề cho thông suốt và dễ hiểu. “Cơn gió nhan nhác thổ ngơi quê nhà muối mặn điều tiết hơi thở ta phả vào ngực em khí hậu lá xanh nõn giây phút sinh thái của đá tảng đầu thai núi non và rừng cây đại thụ vỗ cánh ký ức hung hãn động huyệt mùi mẩn thân xác run cọ rời rợi đường cong mềm mại va chạm phế tích rùng mình ở phía chân trời duỗi rộng tiền kiếp hun hút phận người còn vang vọng mãi tiếng chuông câm.</p>
<p>” Trời đất! Cái gì vậy? Thần chú hả? Dạ thưa, không phải. Tôi vừa trích dẫn một đoạn thơ xuôi. Chữ nghĩa thật là kinh khủng. Có ai hiểu ý tác giả muốn nói gì không? Nếu không hiểu, có phải tại người đọc không đủ trình độ lãnh hội, hay tại cách viết tối nghĩa? Riêng tôi, đọc qua một lần không hiểu. Đọc lại vài lần nữa với sự chú tâm đặc biệt, vẫn không hiểu. Vô nghĩa và răc rối khó khăn như một bài thần chú. Thần chú là ngôn ngữ của thần linh, người phàm không thể hiểu. Tác giả sáng tác đoạn thơ trên trong cơn đồng thiếp. Kẻ phàm phu đọc đi đọc lại hoài, nếu không “ngộ”, ắt bị tẩu hoả nhập ma.</p>
<p>Lại nói đến hành văn rắc rối, chữ nghĩa khó khăn. Xưa nay tôi vẫn thầm ngưỡng mộ những người làm thơ viết văn. Chữ nghĩa đầy bụng, họ là bậc thầy của ngôn ngữ. Trong một bài chỉ ngần ấy chữ, nhưng họ khéo léo sắp xếp đúng vị trí ngôn từ làm thành bài thơ hay, đọc lên nghe truyền cảm lạ lùng. Ngược lại cũng có những người nhân danh đổi mới cấu trúc, làm mới ngôn từ, họ không đi theo “đường xưa lối cũ” nữa. Họ chủ trương khai phá những vùng đất âm u chưa có người đặt chân đến bao giờ. Vậy thì tốt thôi. Nhưng hãy coi chừng, phía trước có nhiều hầm chông gai lửa lắm đấy. Can đảm cầm súng xông pha ngoài trận mạc, người ta gọi là anh hùng. Nhưng can đảm cầm súng đi phá phách xóm làng, người ta lại gọi là quân bất lương. Lòng can đảm thể hiện không đúng chỗ, tác hại còn lớn hơn kẻ nhát gan. Các ngài vác dao đi khai phá thì cứ đi. Xin đừng chê bai những người theo “đường xưa lối cũ”. Cái gì là “hậu hiện đại” chứ? Tôi có đọc những bài lý thuyết về “hậu hiện đại”, nhưng thật tình không hiểu các ngài muốn nói cái gì? Đừng bảo rằng tôi không đủ trình độ lãnh hội nhé. Trình bày một vấn đề mà người đọc không hiểu là lỗi của các ngài. Người đời xưa hay sợ thần linh. Tất cả những gì không hiểu, không giải thích được đều phảng phất nhang khói thần linh. Ngày nay đừng hù nhau theo kiểu đó nữa. Đổi mới cách hành văn, làm mới ngôn từ ư? “Anh chàng mây nào kia nhỉ? Sao lại xuất hiện vào lúc này? Trời oản lưng gánh đá. Rét bắt đầu ngun ngoe. Thi vị gì chứ cho việc rong chơi? Đã không hào hứng với mình mà còn gây trở ngại cho người khác. Tốt nhất là chui vào chăn đánh một một giấc thật đẫy. Bạn bè anh ta ngủ hết cả. Mình? Đang thèm đóng đôi mắt đã bắt đầu trông một thành hai này rồi. Giá không màn bi kịch sắp diễn, mình cũng xếp tóc thả gồng bắp gỗ sượng trơ mặc trời đất gừ gào sương muối.” Lại cái gì nữa đây? Lại cũng xin thưa rằng, đây là đoạn trích dẫn mở đầu một bài viết thể hiện sự đổi mới ngôn từ. Mới đọc chừng ấy thôi, tôi cũng nổi hứng muốn làm thơ, và thấy rằng làm thơ theo kiểu đổi mới ngôn từ cũng dễ thôi:</p>
<p>Hiểu gì? Có hiểu gì không?</p>
<p>Ngun ngoe gánh đá. Oản lưng gừ gào</p>
<p>Hiểu gì? Không hiểu gì sao?</p>
<p>Thả gồng bắp gỗ chui vào chăn mây</p>
<p>Sau khi làm 4 câu thơ “bí hiểm”, tôi chợt nhớ đến nhà thơ Bùi Giáng. Ông điên, và vì thế thơ ông cũng khó hiểu đối với một người bình thường. Ông xứng đáng đại diện cho “trường phái thơ bí hiểm” đang thịnh hành thời “hậu hiện đại”. Nhiều người bắt chước ông làm thơ điên, nhưng tất cả đều thất bại. Dù cuộc đời có quá nhiều lọc lừa dối trá, nhưng người đời lại không thích kẻ giả danh. Ông Bùi Giáng điên có căn bản, nghĩa là điên thật tình. Kẻ nào giả điên, họ đang đóng kịch giữa cuộc đời. Có lúc màn kịch phải ngừng lại cho diễn viên nghỉ mệt. Họ hiện nguyên hình là người không điên. Không điên mà muốn làm thơ điên, khó lắm.</p>
<p>Trong “Ngàn Thu Rớt Hột”, nhiều bài thơ làm tôi như đi lạc vào vào cơn điên mê mộng ảo. Trích dẫn một bài:</p>
<p>Lạc về đầu rú khe truông</p>
<p>vốc năm ngón nhỏ gieo buồn rã riêng</p>
<p>Tuổi xanh nhiếp dẫn sai miền</p>
<p>đổ xiêu phấn bướm phi tuyền vọng âm</p>
<p>Tuần trăng quẩy gánh đau ngầm</p>
<p>Cõi bờ phôi dựng gió nhầm tin hoa</p>
<p>Em về rắc cỏ tháng ba</p>
<p>xuống trang hồng hạnh tin già in rêu</p>
<p>Bùi Giáng</p>
<p>Chữ nghĩa nhẹ nhàng êm ái, có sức truyền cảm thẩm thấu sâu tận lòng người. Nhưng bảo giải thích ý thơ liền lạc thì không thể nào. Bởi thế người ta mới cho rằng yếu tính của thơ là truyền cảm. Hay nói cách khác, truyền cảm là yếu tính quan trọng nhất của một bài thơ. Nhiều người mê thơ Bùi Giáng, hết lời ca tụng. Hơi thơ phảng phất một điệu buồn xa xăm huyển mộng không có thực ở cõi đời này. Vì là thơ điên vô nghĩa, nên bạn đọc cũng có thể chơi trò “xóc chữ” đảo lộn những chữ trong câu, làm thành bài thơ khác. Hai bài thơ chơi “xóc chữ” thơ Bùi Giáng sau đây, tôi trích dẫn trong nguyệt san Hương Xưa, xuất bản vào tháng 7 &amp; 8, năm 2002, tại Na Uy:</p>
<p>Sau khi “xóc chữ” bài thơ của Bùi Giáng, ta có được 2 bài thơ khác. Từ đây ta không cần làm thơ nữa. Ta mượn thơ Bùi Giáng và “xóc chữ” làm thành thơ ta. Nổi danh thi sĩ mấy hồi. Nếu không nói trước, người đọc dễ lầm 2 bài “xóc chữ” trên là thơ Bùi Giáng. Hay ít ra cũng mang âm hưởng Bùi Giáng. Êm đềm truyền cảm, nhưng hoàn toàn vô nghĩa. Bùi Giáng là bậc thầy về ngôn từ lạ và là phù thủy của thơ.</p>
<p>Về Bùi Giáng, tôi nghe kể một giai thoại rất lý thú trong thời gian lúc điên lúc tỉnh của ông. Ông có nuôi con khỉ nhỏ. Đi đâu ông cũng để nó ngồi trên vai. Một hôm, vào quán ăn, ông để khỉ trên bàn. Ông cầm đủa, khỉ nhỏ bốc bằng tay. Cả hai cùng ăn chung. Có người khách thấy lạ, hỏi sao lại để người và khỉ cùng ăn chung như thế? Bùi Giáng nói, chúng sinh bình đẳng! Chỉ một câu trả lời đơn giản, ông đã nói lên được cái thuyết uyên áo thâm trầm sâu xa của nhà Phật. Ai bảo rằng ông điên? Ai bảo rằng ông tỉnh? Bao giờ ông cũng là người khó hiểu như chính thơ ông. Có lẽ, cõi trần gian đối với ông chỉ là chốn rong chơi của một vì tiên mắc đoạ sa chân vào vòng sinh tử.</p>
<p>Nói tới cái điên Bùi Giáng, lại nhớ thêm một người điên cầm bút nữa, Nguiễn Ngu Í. Ông chủ trương không dùng chữ “Y” trong chữ Việt. Ông thể hiện điều ấy ngay cách viết tên ông, và trong tất cả bài của ông trên báo. Ông có bệnh, mỗi năm ông phải vào dưỡng trí viện Biên Hoà vài tháng. Phần lớn những bài của ông trên báo Bách Khoa được hoàn thành trong thời gian này. Ông là một bệnh nhân hay phạm nội quy, hay trốn viện về Sài Gòn rong chơi, vài bữa thấy chán lại tự động về nhập viện. Ông điên mà vui hết biết, lúc nào miệng cũng nở nụ cười rất tươi. Ông Nguyễn Văn Xung là bạn của ông Nguiễn Ngu Í. Tôi thường thấy hai ông nói chuyện rất tâm đắc. Có lần Nguiễn Ngu Í vừa về từ dưỡng trí viện Biên Hoà, ghé lại nhà Nguyễn Văn Xung. Ông Xung hỏi, trốn đi chơi hay được cấp giấy xuất viện? Nguiễn Ngu Í cười ha hả, được xuất viện và có giấy bác sĩ chứng nhận tôi là người không điên. Còn ông? Ông có giấy bác sĩ chứng nhận là người không điên không? Ông Xung nói, tôi bình thường, cần gì phải có giấy đó? Nguiễn Ngu Í lại cười lớn, không có giấy chứng nhận của bác sĩ, vậy thì không có gì bảo đảm rằng ông không điên. Nói xong, ông móc túi đưa ra tờ chứng nhận của bác sĩ. Ông nói, thiên hạ đều điên hết, chỉ Nguiễn Ngu Í này là tỉnh thôi!</p>
<p>Phần trên có nói tới “đơn đặt hàng”, không thể không nói đến báo Xuân. Trời đang tiết mùa Đông, các ông chủ báo gọi bài giục giã viết về Tết và mùa Xuân năm sau. Báo chí phải chuẩn bị trước bài vở, chứ nếu để tới nơi thì trở tay sao kịp? Những tay viết báo nhà nghề đang nhìn mùa Đông ảm đạm, cây cối trơ cành rét mướt, nhưng họ có thể viết về mùa Xuân chan hoà nắng ấm và cây lá xanh tươi. Viết một cách sống động y như người người đang hớn hở trước mặt. Thông thường làm 3 số báo: Tất Niên, Xuân và Tân Niên. Xuân là số quan trọng nhất, tuyển chọn những bài chủ lực. Ngày đầu năm, độc giả trịnh trọng mở tờ báo Xuân ra coi. Hình ảnh vui tươi, nội dung bài viết rộn ràng đầy sức sống như trẫy hội trên đường phố. Buồn cười nhất là những bài về “Đầu Năm Đi Xông Đất” ông Thần này, ông Thánh kia. Toàn là láo cả. Tết và Xuân nào vậy? Xuân năm ngoái hay năm nay? Nhưng độc giả phần đông dễ tính, miễn sao có chữ Xuân và Tết là vui rồi. Qua Tết, liệng bỏ. Giữ lại làm gì nhữngh bài viết láo. Chẳng trách người ta hay bảo, nhà báo nói láo ăn tiền!</p>
<p>Trước năm 1975, tôi có ông bạn chuyên viết truyện dài cho các nhật báo. Ông đảm trách viết một lúc 3 cái truyện dài. Không bao giờ ông viết trước. Buổi sáng, ông làm trong tòa soạn về kỹ thuật và sắp xếp bài vở tin tức. 2 giờ chiều xong việc, ông xách xe đi nhậu với bạn bè. Thường là nhậu đến 8 giờ tối, đôi khi cuộc vui kéo dài đến 12 giờ khuya. Tàn tiệc, trong hơi men chếnh choáng, ông về nhà ngủ đến khi đồng hồ báo thức là 4 giờ sáng. Ông nhỏm dậy, đi rửa sơ cái mặt cho tỉnh người. Sau đó, ông ngồi vào bàn viết. Viết một mạch đến 8 giờ sáng là vừa đủ số trang tiếp theo của 3 cái truyện dài. Mỗi ngày, ông làm việc đều đặn theo thời biểu như một cái máy. Tôi thắc mắc, làm sao một lúc có thể hoàn thành phần tiếp theo đúng số chữ, số cột báo cuả 3 cái truyện dài với 3 đề tài khác biệt? Ông nói, viết mãi thành thói quen. Tôi lại thắc mắc, nếu không cảm hứng thì làm sao viết được? Ông cười, đâu cần phải hứng. Có sức mạnh của đồng tiền thúc đẩy thì làm việc gì cũng xong. Tôi lại hỏi, ông có viết theo dàn bài định sẵn trong đầu không? Ông bảo, nghĩ tới đâu viết tới đó, chẳng dàn bài gì cả. Khi nào thấy cái truyện dài vừa đủ in một quyển sách thì tìm cách chấm dứt. Tóm lại, ông viết thật dễ dàng, nhưng giá trị văn học còn phải coi lại. Và ông cũng đâu cần gì giá trị văn học. Đối với ông, cầm bút như cầm chiếc cần câu cơm. Càng câu được nhiều cơm, đời càng thoải mái. Nguyễn Du thắc mắc “không biết ba trăm năm sau, người trong thiên hạ có còn ai khóc Tố Như?” Bạn tôi không hề nghĩ xa như thế. Ông chỉ cần hiện tại mà thôi. Sau khi mất rồi, dù ai khóc lóc, binh phẩm khen chê, nhớ hay không nhớ cũng chẳng đem lại lợi ích gì cho nắm xương tàn trong lòng đất. Đời người như chim bay mất dấu. Vì vậy, khi ông bỏ đời mà đi cũng không để lại một tác phẩm nào cho thế gian.</p>
<p>Nhân đây, thuật lại một chuyện vui vui trong làng báo. Chuyện vui vui này, tôi cũng đọc trên báo, chứ bản thân không hề quen với nhà văn Lê Xuyên. Khi Lê Xuyên đang viết truyện dài Chú Tư Cầu. Độc giả thích thú theo dõi tình tiết diễn biến câu chuyện mỗi ngày. Chuyện hấp dẫn đến mức trong quán cà phê người ta cũng bàn tán, đoán già đoán non tình huống sắp xảy ra của một cặp tình nam nữ nhà quê. Chẳng biết cái gã nông dân quê mùa chất phác có “làm thịt” được con nhỏ kia không? Lê Xuyên cũng ra ngồi quán cà phê, lắng nghe người ta bàn tán về cái truyện của mình. Nếu người ta tiên đoán tình huống sắp tới sẽ xảy ra thế này, thì ông sẽ lái câu chuyện sang hướng khác. Cứ thế, ông gây cho độc giả nhiều lý thú bất ngờ. Ông lại có tài viết đối thoại. Hai người nói qua nói lại một cách rất ỡm ờ, có lúc tưởng xáp lại gần làm cái chuyện truyền giống tự nhiên của loài người. Nhưng không, họ cảm thấy bẽn lẽn, và tiếp tục ỡm ờ nữa. Ông kéo dài cuộc đối thoại đến mấy chục trang. Vào thời Lê Xuyên, viết truyện dài cho nhật báo, tính dòng ăn tiền. Càng viết đối thoại, càng xuống dòng nhiều. Có khi mỗi dòng chỉ vài chữ. Và dĩ nhiên, nhiều dòng thì nhiều tiền.</p>
<p>Lê Xuyên cũng mất rồi. Vài tờ báo hải ngoại đăng lại bài của ông như một niềm… hoài cổ, chứ không phải vì giá trị tác phẩm.</p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><strong>Lê Thơm</strong></h3>
<p>Lời mở: Tôi ra khỏi trại cải tạo, mười lăm năm rồi. Tôi vẫn nhủ với lòng, hãy quên những ngày khốn khổ ấy đi. Quên để mà sống. Trí nhớ của tôi bây giờ tồi lắm. Tôi quên nhiều chuyện, nhưng chuyện trong tù tôi không sao quên được. Nó hằn sâu trong tâm tôi, như cây đinh đóng vào cột xương sống, làm dấu mốc thời gian. Mỗi lần trí nhớ cục cựa, là mỗi lần đau.<br />
Sau mỗi lần viết về trại tù CS, tôi lại tự nhủ với lòng, đây là bài cuối cùng, không nhắc đến nữa. Nhưng nó như cái bóng đen ám ảnh tôi hoài. Và tôi lại viết về nó. Tôi viết như người kể chuyện, để giải toả nỗi ám ảnh. Giải toả theo kiểu của anh thợ hớt tóc, trong truyện Một Ngàn Lẻ Một Ðêm, phải đào lỗ mà la lớn lên rằng, &#8220;Ông vua có lỗ tai lừa!&#8221; Tôi không xây dựng thành một cái truyện ngắn của người làm nghệ thuật viết văn. Tôi chỉ kể chuyện về trại tù CS. Nói bao nhiêu cũng thấy thiếu. Còn người đọc thì cảm thấy quá thừa. &#8220;Biết rồi. Khổ Lắm. Nói mãi.&#8221;<br />
Trong cái bị làm bằng bao cát của Lê Thơm mang bên hông, có xác một con chó con. Nó bị bóp cổ chết vào trưa nay. Chuyện này, chỉ hai người biết: Lê Thơm và tôi. Giết một con chó nhỏ không khó, nhưng mạo hiểm mang ra cổng trại là một thử thách lớn dành cho kẻ bạo gan.<br />
Con chó lông trắng đốm đen, đẹp như con chó giả nhồi bông. Nó thân thiện với tất cả mọi người. Ðưa tay, tróc lưỡi vài cái, nó chạy đến quấn quít. Nó ngây thơ trong trắng lắm. Nó không có tội gì cả. Vậy mà nó bị giết. Cái số nó chết yểu, nên trời xui đất khiến nó lân la gần gũi với những con ma đói. Người ta nuôi nó để ăn thịt. Nếu nó không chết bây giờ, thì ngày 2 tháng 9, cũng chết bởi tay thằng chủ của nó. Từ đây tới ngày ấy, đâu còn bao lâu? Chỉ sáu tháng nữa thôi. Sau sáu tháng phù du, rồi cũng bị đem ra tế thần cho mấy ông cán bộ đánh chén say sưa, mừng ngày độc lập. Chết như thế là chết lãng nhách. Thôi thì hy sinh ngay bây giờ, còn được ý nghĩa phục vụ nhân sinh.</p>
<p>Mấy hôm trước, Lê Thơm nói: &#8220;Tao có kế hoạch ăn no, với điều kiện mày phải hợp tác.&#8221;<br />
Tưởng gì chứ được ăn no, tôi hợp tác liền. Miếng ăn bây giờ, là vấn đề quan trọng hàng đầu. Khi đói, bộ nảo tuột xuống nằm trong cái dạ dày. Mọi suy tính đều hướng về miếng ăn, phục vụ cho cái dạ dày. Từ đó, người ta bộc lộ hết bản năng sinh tồn. Mà bản năng sinh tồn, thì người và vật giống nhau.<br />
Tuy thế, tôi vẵn hỏi lại cho rõ: &#8220;Kế hoạch thế nào?&#8221;<br />
&#8220;Mày đấm một cú thật mạnh vào chỗ này.&#8221; Hắn nghiêng đầu qua một bên, chỉ vào quai hàm.<br />
&#8220;Chi vậy? Thằng khùng!&#8221;<br />
&#8220;Tao muốn dưới mang tai sưng lên, để khai sưng quai bị.&#8221;<br />
&#8220;Và được nghỉ lao động?&#8221;<br />
&#8220;Nghỉ lao động là cái chắc. Nhưng mục đích chính là kiếm ăn.&#8221;<br />
&#8220;Nói rõ hơn coi?&#8221;<br />
Lê Thơm xít lại gần tôi: &#8220;Dạo này, sáng trưa chiều, đều sắn. Ngày nào cũng sắn. Trường kỳ sắn. Nhiều thằng ăn sắn, quai hàm bạnh ra. Có thằng ma lanh, lấy tay chà xát đỏ lên, rồi khai sưng quai bị. Y tá tưởng thật, cho nó ra ở nhà cách ly, ngoài hàng rào.&#8221;<br />
&#8220;Ở cách ly, vẫn đói.&#8221;<br />
&#8220;Bên hông nhà cách ly, hàng rào bị phá một khoảng bằng cái lỗ chó chui. Nếu được ở cách ly, ban đêm tao chui lỗ chó, đột nhập nhà kho, trộm nếp.&#8221;<br />
&#8220;Chơi trò mạo hiểm, dễ mất mạng. Mày nhớ vụ thằng Khánh nửa khuya chui rào, ra nương moi khoai lang, bị bắn bể đầu gối, phải cưa chân lên tận háng không?&#8221;<br />
&#8220;Ðó là nó chui từ trong ra ngoài. Còn tao chui từ ngoài vô trong.&#8221;<br />
&#8220;Ngoài hay trong cũng vậy. Vệ binh đi tuần thấy bóng người lấp ló ban đêm, nó nổ súng không thương tiếc.&#8221;<br />
Vụ thằng Khánh thế này. Nó là đại uý pilot. Những thằng Không Quân thường to con. Vào tù, càng to con càng bất lợi. Ăn uống cùng một tiêu chuẩn, thằng to con đói nhiều hơn thằng nhỏ con. Vào một đêm đông miền thượng du, trăng sáng lắm. Khánh chui rào, mò vào nương moi khoai lang. Cán bộ đi tuần tra an ninh bắt gặp con ma đói. Cán bộ bảo Khánh đứng nghiêm, rồi chỉa họng súng vào đầu gối của Khánh, bóp cò. Khánh bị bể khớp xương đầu gối, quỵ ngay tại chỗ. Cán bộ vào báo động, tập họp cả trại điểm danh. Anh em tù cải tạo không hiểu chuyện gì. Một lúc sau, vệ binh khiêng Khánh vào, bỏ nằm giữa sân trại. Cấm, không ai được đến gần. Trời đông lạnh buốt. Khánh nằm đau nhức rên la suốt đêm. Sáng ra, Khánh được khiêng lên bệnh xá của đoàn 779. Bệnh xá cũng chỉ có mấy thứ lá cây hái về từ ngoài rừng, sao làm thuốc nam. Hai người tù phục vụ ở bệnh xá, là bác sĩ của chế độ cũ miền Nam, cũng đành bó tay. Phải chuyển Khánh đi nơi khác. Khánh được võng đi cả ngày đường, qua bao nhiêu sơn khê đồi núi mới ra tới bệnh viện Yên Bái. Tám tháng sau, Khánh về lại trại, với cái chân cụt gần tận háng. Anh em ngồi nghe Khánh kể chuyện, đều khiếp vía. Tại bệnh viện Yên Bái, người ta trói tay chân Khánh vào giường, rồi cưa chân mà không có thuốc tê mê gì cả. Danh từ chuyên môn gọi là &#8220;giải phẩu sống&#8221;. Khánh đau quá, ngất đi mấy lần. Giải phẩu sống lần đầu, vết thương nhiễm trùng sưng tấy lên và làm mủ. Giải phẩu sống lần thứ hai, người ta cho Khánh uống rượu đế đến say mèm, rồi mới cưa. Khánh nói, có rượu vào, cảm thấy ít đau.<br />
Nhắc chuyện của thằng Khánh, cũng không làm Lê Thơm nao núng.<br />
&#8220;Ðừng doạ tao. Ðấm một cú đi.&#8221; Lê Thơm nghiêng đầu, đưa quai hàm chờ đợi.<br />
Tôi đẩy ra: &#8220;Cú đấm của tao, có thể làm mày tréo bản họng. Mày tự đấm mày đi.&#8221;<br />
&#8220;Tao làm rồi. Nhưng tự đấm mình, tao không dám mạnh tay. Mày giúp tao hoàn thành kế hoạch.&#8221;<br />
&#8220;Kế hoạch của thằng khùng!&#8221;<br />
Nói xong, tôi bỏ đi. Lê Thơm cụt hứng, chửi thề.<br />
Hai ngày sau nữa. Ăn trưa xong, anh em vào lán nằm nghỉ ngơi. Lê Thơm, và tôi còn ngồi lại ở nhà ăn. Con chó nhỏ quanh quẩn dưới chân. Nó mới xuất hiện khoảng hơn nửa tháng nay. Từ trên khung, nó hay chạy xuống trại trong giờ ăn.<br />
Nhìn con chó một lúc, Lê Thơm chợt nẫy ý lạ: &#8220;Thịt con chó này.&#8221;<br />
Tôi trợn mắt: &#8220;Ðừng đùa. Chó cán bộ trại phó đấy.&#8221;<br />
Hắn cương quyết: &#8220;Chó cán bộ, cũng xơi.&#8221;<br />
&#8220;Làm sao ăn?&#8221;<br />
&#8220;Tao có cách. Mày dụ nó ở đây. Tao lấy cái bao cát.&#8221;<br />
Tôi chưa kịp đồng ý hay không. Hắn chạy vụt đi.<br />
Tôi nhìn con chó. Tội nghiệp! Nó không biết gì cả. Tôi đưa tay. Nó liếm. Tôi vuốt đầu. Nó quíu tai lại. Tôi vỗ nhẹ trên lưng. Nó nghểnh cổ, lim dim đôi mắt. Quỷ thần trời đất ơi! Nó dễ thương như vậy, ai nở lòng nào giết cho đành?<br />
Lê Thơm cầm bao cát, hấp tấp chạy lại: &#8220;Nhanh lên!&#8221;<br />
Tôi lắc đầu.<br />
Hắn mở rộng miệng bao giơ ra, giục: &#8220;Nhanh! Bóp cổ, thồn vào.&#8221;<br />
Không còn suy nghĩ nữa, tôi chụp cổ con chó, siết mạnh. Nó giãy giụa, quào bốn chân trong không khí. Lê Thơm túm chân, tròng vào bao cát.<br />
Hắn nói: &#8220;Tiếp tục bóp.&#8221;<br />
Nếu có kẻ nhìn thấy, hậu quả khốn nạn sẽ không lường nổi.<br />
Tôi kêu lên: &#8220;Kinh quá mày ơi! Tha nó đi.&#8221;<br />
Tôi buông tay. Con chó vừa kêu &#8220;ẳng&#8221; một tiếng, đã bị Lê Thơm siết cổ lại liền.<br />
Tới giờ xuất trại lao động buổi chiều, cả đội xếp hàng đôi, lần lượt ra cổng. Cán bộ trực trại, và quản giáo đứng ngay cổng kiểm soát. Vệ binh coi tù, mang súng đi sau cùng. Lê Thơm lảnh việc nấu nước cho đội. Hắn quảy cặp thùng, mang bị đựng chó bên hông, thản nhiên đi ra cổng. Tôi vái thầm, cầu trời cho hắn thoát. Và hắn thoát thật. Tôi thở phào, nhẹ cả người.<br />
Ra đến hiện trường lao động, mọi người túa vào rừng chặt nứa. Rừng xanh mênh mông. Ðồi núi chập chùng. Vệ binh mang súng đi qua đi lại ngoài bìa rừng, canh tù làm việc. Lê Thơm chọn thế đất tương đối bằng phẳng. Việc đầu tiên, hắn đào một cái hố nhỏ. Ai cũng tưởng hắn đào bếp lò. Nhưng thật nhanh, hắn cho con chó xuống, và lấp đất lại. Bên trên, hắn đốt một đống lửa, nấu nước. Ðó là chuyện hắn kể sau này.<br />
Trong giờ giải lao. Tôi tới chỗ nấu nước. Lê Thơm múc cho tôi một ca nước sôi. Nhìn quanh, không thấy có dấu hiệu gì chứng tỏ Lê Thơm nướng chó.<br />
Tôi hỏi nhỏ: &#8220;Chó đâu?&#8221;<br />
Hắn chỉ vào đống lửa.<br />
Tôi lấy cớ mồi lửa đóm hút thuốc lào, dùng cái que cời than lên, vẫn không thấy chó.<br />
Hắn bảo: &#8220;Ði khỏi chỗ này ngay. Ðừng làm tụi nó sinh nghi.&#8221;<br />
Tôi tin tưởng vào tài ứng biến của Lê Thơm. Xưa kia, hắn là thiếu tá, có thời làm quận trưởng quận Chợ Lách, tỉnh Vĩnh Long. Ngày nay vào tù, hắn nhanh chóng thích nghi với hoàn cảnh mới, lanh lợi trong mọi vấn đề. Nhất là cải thiện, hắn nhanh như sóc. Trong đội, không thằng nào qua mặt được Lê Thơm. Thoáng thấy đó, biến đó không ngờ. Hồi hắn còn trong tổ làm vườn. Giờ trưa, mọi người đều nghỉ ngơi. Hắn lúi húi moi khoai lang, đem xuống suối rửa, nhưng mắt vẫn rảo quanh quan sát. Hắn thấy Thu Sứt từ những bụi cây đàng xa, đang rình mò theo dõi hành động của hắn. Tay này mang quân hàm trung uý, có người anh vào Nam làm giải phóng, và bỏ mạng trong trận chiến mùa hè năm 72, ở Bình Long. Bao nhiêu hận thù, Thu Sứt trút lên đầu anh em tù cải tạo. Sở dĩ Thu Sứt có biệt danh này, là do cái môi bẩm sinh bị sứt, phải vá lại. Vì thế cái miệng chum chúm, làm cho cái mặt luôn luôn mang nét quạu quọ như người đang hờn giận. Có lần, Thu Sứt bắt gặp anh Năng đang cải thiện. Thu Sứt gọi về, bắt Năng đứng giữa bốn vệ binh vây quanh. Thu Sứt hạ lệnh cho bốn vệ binh bề hội đồng. Năng bị đấm văng bên này, bị đá giạt bên kia, giống như những cầu thủ giao banh. Cuối cùng, Năng gục xuống ngất xỉu, được khiêng về trại cho anh em tù săn sóc. Sau thành tích ấy, Thu Sứt nổi danh là hung thần ác sát. Trong trại còn một người nữa, cũng nổi danh không kém Thu Sứt. Ðó là chàng trung sĩ vệ binh Nương Mặt Ngạnh. Thật ra, anh ta tên là Lương, nhưng do nói ngọng thành Nương, và do xương quai hàm bạnh ra, nên có biệt danh là Nương Mặt Ngạnh. Khi dẫn tù đi lao động, anh ta cầm theo chiếc gậy bằng cây giang, trông như khúc đoản côn. Ðã nhiều lần anh ta quất thẳng cánh vào anh em tù cải tạo. Ai từng bị đòn của Nương Mặt Ngạnh cũng đều ẹo xương sống. Thành tích của Nương Mặt Ngạnh ở hiện trường lao động rất đáng gờm. Anh ta bắt tù đứng trên triền núi. Thế núi dốc, anh ta đứng phía trên. Sau vài câu đay nghiến, bỗng Nương Mặt Ngạnh đá thốc dép râu vào mặt người tù. Bất ngờ không kịp chống đỡ, người tù ngả vật ra, sặc máu mũi. Trong kỳ cả trại học tập về chính sách khoan hồng nhân đạo của đảng và nhà nước, anh em tù phản ảnh chuyện này lên ông trại trưởng. Ông trại trưởng bảo: &#8220;Chính sách của đảng và nhà nước trước sau như một. Nhưng các anh quá quắc, không trừng trị không được.&#8221; Thế là huề! Ðảng và nhà nước vẫn tiếp tục chủ trương khoan hồng nhân đạo. Anh em tù vẫn tiếp tục bị trừng trị.<br />
Trở lại chuyện Lê Thơm khi bị Thu Sứt theo dõi. Hắn biết nguy tới nơi rồi. Hắn cho tất cả khoai lang vào thùng tưới, đi lên. Ở đằng xa, Thu Sứt nương theo những bụi cây đi tới, quyết bắt tại trận tên tù đang cải thiện. Lê Thơm chờ cho Thu Sứt đi khuất sau chòm cây, hắn trút thùng khoai xuống hố ủ phân bắc. Rồi quay xuống suối như đang tiếp tục xách nước tưới rau. Phân bắc là cứt người, ủ lại để bón rau. Hố phân bắc đầy giòi bọ, và mùi rất khắm.<br />
Thu Sứt xuất hiện, khi Lê Thơm đang múc nước dưới lòng suối.<br />
&#8220;Anh kia! Làm gì đấy?&#8221;<br />
&#8220;Xách nước tưới rau.&#8221;<br />
&#8220;Anh rửa gì dưới suối?&#8221;<br />
&#8220;Tôi có rửa gì đâu?&#8221;<br />
&#8220;Láo! Anh vớt tất cả đem lên đây.&#8221;<br />
&#8220;Có gì mà vớt?&#8221;<br />
&#8220;Khoai lang.&#8221;<br />
&#8220;Làm gì có?&#8221;<br />
&#8220;Hãy mò xuống, vớt lên.&#8221;<br />
Lê Thơm mò xuống, vớt lên những sỏi đá.&#8221;<br />
Tức quá, Thu Sứt xăn quần lội xuống suối. Mò chỗ cạn không thấy, Thu Sứt mò ra sâu hơn, ướt cả quần, vẫn không thấy. Thu Sứt quay lên, mặt hầm hầm bảo Lê Thơm về ngay, trình diện trên khung.<br />
Tại khung, Thu Sứt đưa tờ giấy, bình mực, và cây bút cho Lê Thơm, bảo: &#8220;Viết kiểm điểm.&#8221;<br />
Lê Thơm hỏi lại: &#8220;Chừng nào nộp giấy?&#8221;<br />
&#8220;Chiều nay.&#8221;<br />
&#8220;Không kịp. Tôi còn phải đi lao động.&#8221;<br />
&#8220;Cho anh nghỉ việc buổi chiều. Ở lại lán viết kiểm điểm.&#8221;<br />
Lê Thơm viết, đại ý rằng từ ngày đi cải tạo, hắn luôn phấn đấu để trở thành người tốt. Cán bộ bảo viết kiểm điểm. Nhưng hắn không biết kiểm điểm về vụ gì? Mong cán bộ chỉ dẫn.<br />
Buổi chiều. Lê Thơm đem giấy lên nộp. Thu Sứt đọc xong, vỗ bàn: &#8220;Kiểm điểm về vụ cải thiện khoai lang. Biết chưa?&#8221;<br />
&#8220;Nhưng tôi đâu có cải thiện khoai lang?&#8221;<br />
&#8220;Có. Anh phải viết rằng anh có cải thiện khoai lang. Nghe rõ chưa?&#8221;<br />
&#8220;Vâng. Tôi rõ. Xin cho biết chừng nào nộp giấy?&#8221;<br />
&#8220;Cho anh nghỉ việc sáng mai, viết kiểm điểm. Trưa hôm sau nộp.&#8221;<br />
Thu Sứt đưa Lê Thơm tờ giấy khác. Anh ta yên chí sẽ căn cứ vào nội dung tờ kiểm điểm, nện cho Lê Thơm một trận mập mình, và cùm vào nhà kỷ luật.<br />
Lần thứ hai, Lê Thơm viết rằng: Tôi đang đứng dưới suối xách nước tưới rau. Cán bộ nghi ngờ tôi đang rửa khoai lang. Và ra lệnh cho tôi phải viết có cải thiện khoai lang. Tôi tuân lời cán bộ, nhận có cải thiện khoai lang. Nhưng thật sự tôi không dám làm chuyện vi phạm nội quy như thế.&#8221;<br />
Trưa hôm sau. Thu Sứt đọc kiểm điểm của Lê Thơm xong, xé toạc tờ giấy, giận dữ: &#8220;Viết láo lếu thế này, thì sao gọi là tự giác?&#8221;<br />
Lê Thơm bình tĩnh: &#8220;Tôi viết theo lệnh của cán bộ.&#8221;<br />
Thu Sứt gầm lên: &#8220;Câm họng. Cút ngay! Lần sau, dù có lủi giỏi như chạch cũng không thoát.&#8221;<br />
Trong tù, Lê Thơm dám &#8220;giỡn mặt&#8221; cán bộ, quả là lớn gan. Tôi phục hắn. Nói theo Thu Sứt, hắn lủi giỏi như chạch. Hắn đã thoát không phải một lần, mà nhiều lần sau nữa. Chỉ một lần sau cùng, hắn không thoát được. Và lần không thoát được ấy, đưa Lê Thơm đến sự tử vong. Tôi đã nói về trường hợp Lê Thơm bỏ mạng, trong một truyện khác.<br />
Tối hôm thịt con chó, trời vừa nhá nhem, Lê Thơm khều tôi ra ngoài đầu hồi. Hắn mở cái bị, lôi ra con chó cứng đơ, dính đầy đất cát. Hắn lột da, xé miếng thịt đưa tôi. Chưa bao giờ ăn thịt chó, tôi nghe nhờn nhợn trong cổ khi cầm miếng thịt.<br />
Lê Thơm bảo: &#8220;Ăn đi. Nguồn protéin bổ dưỡng vô song.&#8221;<br />
Hắn nhai ngấu nghiến. Tôi bắt chước ăn thử, thấy ngon. Tôi nghĩ, với sự đói khát lâu ngày, bất cứ món gì cho vô miệng cũng thấy ngon. Thằn lằn, rắn mối, cào cào, châu chấu, ốc sên, dế nhủi đều ngon, và cũng là nguồn protéin cần thiết cho cơ thể. Ðặc biệt, có con sâu màu trắng thường rúc trong gỗ mục, toàn thân nó chứa một chất sữa rất béo. Con sâu vô danh này, tù đặt tên là con Magarit. Có thể nói con Magarit là sâm động vật, giá trị không thua sâm thực vật của Ðại Hàn.<br />
Hai chúng tôi ăn đến nửa con chó, thì đụng phần thịt sống. Bởi khi chôn con chó xuống đất, phía trên nóng nhiều làm thịt chín, nhưng không đủ sức chín tới phía dưới.<br />
Lê Thơm nói: &#8220;Ăn luôn. Người tiền sử vẫn ăn thịt sống.&#8221;<br />
Tôi đề nghị: &#8220;Cắt ra từng miếng nhỏ, cho vào lon Guigoz nấu.&#8221;<br />
&#8220;Mang ra mang vô cổng trại, nguy lắm.&#8221;<br />
&#8220;Tới phiên tao mạo hiểm. Tao sẽ nấu ngay đêm nay.&#8221;<br />
Ðêm ấy, tôi lần mò trong bóng tối, vào nhà bếp cời than đặt vào hai chiếc lon Guigoz. Xong, lại quay về lán ngồi đợi thịt chín. Khi lấy lon về, cũng phải ra vào hai bận. Công việc chỉ có thế, nhưng vô cùng nguy hiểm. Vệ binh rình rập đâu đó, thấy bóng người ra khỏi lán mà không cầm theo cây đèn dầu, chúng sẽ bắn, nếu không chết cũng bị thương. Tôi tin con người có số mạng. Dù ở tù, nhưng ngôi sao chiếu mạng của tôi còn sáng lắm. Quỷ thần che chở cho tôi trong mọi trường hợp bất trắc hiểm nguy.<br />
Ngay trong đêm, Lê Thơm và tôi thanh toán sạch luôn hai gon Guigoz thịt. Con chó nhỏ được chôn kín vào nơi không trời không đất. Hoàn toàn mất dấu.<br />
Khi ăn, tôi nói: &#8220;Nghĩ tội con chó quá, mày ơi!&#8221;<br />
Lê Thơm nói: &#8220;Cũng bởi tình cảm tiểu tư sản như thế, mà hôm nay mới vào tù.&#8221;<br />
Tôi lại nói: &#8220;Miếng ăn tưởng chừng rất nhỏ nhoi. Nhưng có lúc người ta dám đem cả sinh mạng mình ra thử thách. Xem thế, đủ biết cái ăn là quan trọng vô cùng.&#8221;<br />
Lê Thơm gạt ngang: &#8220;Ðừng triết lý vặt, ăn mất ngon, con ạ!&#8221;<br />
Vài hôm sau, ông đại uý cán bộ trại phó cầm sợi dây cột chó, xuống trại vào giờ ăn trưa. Ông đi quanh quẩn tìm kiếm.<br />
Ông hỏi: &#8220;Các anh có thấy con chó của tôi chạy xuống đây không?&#8221;<br />
Mọi người im lặng.<br />
Lê Thơm lên tiếng: &#8220;Con chó nào, cán bộ?&#8221;<br />
&#8220;Con chó trắng đốm đen.&#8221;<br />
&#8220;Có phải con chó nhỏ không?&#8221;<br />
&#8220;Ðúng rồi.&#8221;<br />
&#8220;Ồ&#8230; Lúc trước, nó vẫn thường chạy lại đây. Hai ngày nay không thấy.&#8221;<br />
&#8220;Hôm qua, tôi còn cho nó ăn. Mới mất hôm nay thôi.&#8221;<br />
Lê Thơm sốt sắng: &#8220;Tôi sẽ để ý. Nếu thấy, tôi giữ nó lại, báo cho cán bộ.&#8221;<br />
Ông trại phó lắc đầu thất vọng: &#8220;Chắc bị cáo vồ rồi.&#8221;<br />
Nói xong, ông quay đi.<br />
Lê Thơm thầm thì với tôi: &#8220;Mình thịt con chó đã hai ngày. Nó nói hôm qua còn cho chó ăn. Bọn này hễ mở miệng ra là nói láo. Chuyện lớn chuyện nhỏ đều láo.&#8221;</p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><span style="font-weight: bold;">Xương rồng </span></h3>
<p>Khuôn viên nhà ông Nguyễn được bao bọc bởi một hàng rào bằng cây xương rồng. Hàng rào bằng tường, kẻ trộm có thể leo. Hàng rào bằng kẽm gai, kẻ trộm có thể cắt. Nhưng hàng rào bằng cây xương rồng với những gai nhọn chi chít thì vô phương vượt qua. Sự phòng thủ chắc chắn như thế đã quá lắm rồi, ông còn nuôi thêm một con chó. Loại chó berger to lớn, hung dữ lạ thường. Nó là khắc tinh của những bóng đen rình mò dòm ngó nhà ông vào những đêm tối trời. Ông Nguyễn tin ở chó, không tin ở người. Bởi lòng người trí trá tinh ma, hành động sói chồn quỷ quyệt. Ông đặt tên chó là Dự Nhượng, cái kiểu đặt tên nghe cũng lạ đời. Có người hỏi, ý nghĩa là gì? Ông nói, xưa ở bên Tàu có thằng Dự Nhượng theo thờ Trí Bá. Triệu Tương Tử giết chết Trí Bá, lấy đầu lâu làm đồ đựng rượu. Dự Nhượng đôi phen liều thân muốn giết Tương Tử, báo thù cho Trí Bá. Chuyện không thành, Dự Nhượng phục gươm tự sát. Trên đời khó tìm được một thằng ngu đến thế. Lại hỏi, đó là người trung thành có nghĩa, sao gọi là ngu? Ông cười, đạo nghĩa là ảo tưởng khôi hài dành cho thằng ngu. Thằng khôn chỉ nói đến cái lợi. Khi nói đến cái lợi thì không nói điều tín nghĩa. Lý luận của ông, nhiều người ghét. Họ bảo, ông thuộc loại người mặt chuột mỏ dơi là thứ gian hùng đĩ miệng bán đứng thiên hạ như chơi. Cũng có người từng chịu ơn ông thì bảo, đấy là cái khôn ngoan sâu sắc của kẻ lịch đời.<br />
Ai nói gì thì nói, ông Nguyễn vẫn sống an nhiên. Với gia sản hiện có, ông không cần phải làm gì nữa, ngồi không mà ăn mãn đời cũng không hết. Kho đụn nhỏ hơn lòng tham con người. Kho đầy mà lòng vẫn muốn thêm. Biết đủ là đủ. Gạn lọc những câu nói của người xưa, ông đắc ý nhất câu này. Ông bôn ba nhiều rồi, đã đến lúc dừng lại. Dừng lại và gìn giữ của cải để an hưởng tuổi già. Thế nhưng gìn giữ cũng không là chuyện dễ. Người thiên hạ khốn nạn lắm. Sơ ý là chúng xông vào quơ của. Nhìn mặt thằng nào, ông cũng thấy tiềm ẩn cái nét gian manh xảo trá. Dù chúng có nói những lời đường mật, ông cũng không tin. Kinh nghiệm cuộc đời chó má, dạy ông luôn phải đề cao cảnh giác. Cái gương soi đời bẩn thỉu cho ông nhìn thấy có những bà vợ âm thầm đầu độc chồng để cuỗm trọn gia tài theo trai. Kẻ đầu ấp tay gối mà còn nhẫn tâm đến thế, ông còn dám tin ai? Đàn bà, ông mê bóng sắc của loài mắt xanh mỏ đỏ này, nhưng lại sợ nó còn hơn chằn tinh thú dữ. Vì sợ nên suốt đời ông không chính thức kết hôn với người đàn bà nào. Tiền trao cháo múc sòng phẳng, dứt khoát không vướng mắc tình cảm vào mình. Con nào léo nhéo đòi hỏi trách nhiệm hoặc bêu riếu danh dự ông, ông chỉ cần quăng ra một ít tiền khiến cái đám vô lại bịt mồm khóa họng nó.<br />
Ngoài con chó, nhà ông Nguyễn có nuôi một thằng người làm vườn, và một con bé giúp việc. Trong cái cơ ngơi rộng lớn, chỉ chứa ngần ấy con người. Chuyện trong nhà không lọt ra tai hàng xóm.<br />
Thằng người làm, ông Nguyễn gọi thế, chứ thật ra là một người đàn ông tuổi cỡ bốn mươi. Tên hắn là Thổ. Không biết tên đã có từ trước hay do ông Nguyễn đặt. Ông nhặt hắn từ một góc chợ tồi tàn nào đó. Ngày ấy, hắn gầy rạc như con bọ ngựa trời, bèo nhèo như miếng giẻ rách. Về tay ông một thời gian, được ăn uống no đủ hắn mau chóng phục hồi sinh lực. Thân hình vạm vỡ, thích hợp với những công việc nặng nề. Hắn thuộc loại tâm trí trì độn, không hề có một sáng kiến nào cả, nhưng biết vâng lời bảo đâu làm đó. Ông Nguyễn chỉ cần có thế. Sáng kiến của hắn chỉ làm hư việc của ông.<br />
Con bé giúp việc tên Cam, là người gần gũi với ông Nguyễn nhiều hơn hết. Gọi con bé là do thói quen từ hồi nó mới vào nhà ông. Năm ấy nó mới mười lăm, bây giờ đã mười chín. Nó không đẹp, nhưng được cái đẫy đà trắng trẻo. Lần đầu tiên, ông gọi nó lên phòng tẩm quất cho ông khi trời trở gió. Nó còn rụt rè lắm, không dám chạm mạnh vào người ông. Ông bảo, mạnh tay lên. Nó cật lực nắn bóp từ xương bả vai cho đến gót chân ông. Vừa làm vừa thở, mồ hôi ướt nách. Những lần sau, nó tỏ ra quen việc. Ông bảo, mày phải tắm rửa sạch sẽ trước khi lên đây. Khi nó nắn bóp cho ông, ông sờ mò thân thể nó. Lúc đầu nó ngượng, nhưng rồi cũng chai. Ông bảo nó cởi đồ ra. Nó mắc cỡ. Ông nói, ngày xưa con gái mười ba tuổi được tiến cung vua. Mày mười sáu là chậm mất ba năm rồi đấy. Nói xong, ông đè lên người nó. Nó nhắm mắt, khóc rấm rức. Ông hỏi, mày nhục hả? Nó nói, con không biết nhục là gì. Ông nói, thế thì mày khóc vì đau. Chỉ đau lần này thôi, lần sau không đau nữa. Nó sợ hãi, còn có lần sau nữa sao ông? Khi nó mặc lại áo quần, ngồi co rúm ở một góc giường, ông Nguyễn hỏi, mày biết chuyện cung đình ngày xưa không? Nó nói, con là hạng tôi đòi làm sao biết chuyện thâm cung. Ông nói, bọn vua chúa tuyển gái vào cung, hiếp dâm người ta thì gọi là ban ơn mưa móc. Cùng một hành động mà dân thì bị tội cưỡng bức. Xem thế đủ biết ngôn từ làm điên đảo sự phán đoán của con người. Đầu óc mù mờ xuẩn ngốc không phân biệt đâu là chính danh cao thượng, đâu là dục vọng đê hèn. Luật lệ xưa nay nằm trong tay của bọn quyền thế. Mày có nghĩ điều đó không? Nó nín thinh, giương cặp mắt vô hồn nhìn ông. Ông nói tiếp, mày sẽ không hiểu được điều gì đâu, con ạ. Tất cả đều nhớp nhúa, thối tha, khốn nạn. Nó kẹp hai bàn tay vào đùi, cúi mặt. Cái lần đầu tiên con bé biết mùi đàn ông là năm vừa tròn mười sáu. Từ ấy đến nay, vài đêm ông Nguyễn lại nó gọi nó lên phòng. Nó không còn nhớ đã bao nhiêu lần như thế.<br />
Ông Nguyễn có cái lối hành sử rạch ròi tận mặt sự đời. Tuổi đã già, nhưng mắt ông còn tinh lắm. Có người bảo đấy là cái thần khí lưỡng mục trùng đồng của người làm nên việc lớn. Nhìn vào ai, ông như soi thấu cả tim gan người ta. Lại cũng có người căn cứ vào sách tướng, thì cho rằng con mắt láo liên chứng tỏ cái tâm bất chính, cái tính nghi ngờ và bản chất tráo trở. Lời ong tiếng ve đều không lọt khỏi tai ông Nguyễn. Ông chỉ cười. Nụ cười của ông cũng được giải thích theo nhiều nghĩa. Người thì bảo, cái cười nhân hậu giàu lòng khoan thứ. Kẻ lại nói, cái cười nham hiểm của tên thù dai. Chung quanh ông, người ta thêu dệt lắm điều khó phân biệt thực hư. Ông không hề đính chính. Thế mà lại hay. Lâu ngày sự thêu dệt thành huyền thoại.<br />
Điều gì thì còn có thể nghi ngờ, nhưng chuyện ông Nguyễn đã từng đi đây đi đó nhiều nơi trên thế giới là điều không thể phủ nhận. Đi nhiều, kiến thức rộng. Nghe ông nói chuyện năm châu bốn biển, kẻ ít đọc sách cũng học được nhiều điều mới lạ. Chẳng hạn, khi ông đem về một cây xương rồng. Giống xương rồng này lạ, không từng thấy mọc ở Việt Nam. Một số người hiếu kỳ bu lại coi. Ông khoe, khổ công lắm mới mang được nó về từ nước ngoài. Thân tua tủa những gai nhọn. Hoa màu đỏ rực, giữa đài hoa có nhụy vàng. Đứng xa xa mà nhìn, màu sắc rất đẹp. Nhưng chớ có lại gần, nét đẹp chỉ nên nhìn bằng mắt, sờ vào dễ bị gai đâm.<br />
Trong tuổi hưởng nhàn, người ta hay lấy cái thú nuôi chim cá, hoặc chơi cây kiểng làm vui. Ông Nguyễn không chơi theo kiểu thường tình. Ông chơi cây xương rồng. Từ ngày có xương rồng, ông không thiết những việc khác. Ông bảo, ở Âu Châu người ta trồng xương rồng trong cái chậu nhỏ, đặt nơi bệ cửa sổ làm cảnh cho vui mắt. Trồng như thế, xương rồng không phát triển được vì thiếu đất. Ý người ta cũng chỉ muốn trang trí cho nhà cửa có vài cánh hoa tươi mát, chứ không muốn nó sinh sôi nẩy nở nhiều. Còn ông, ông nghĩ đến điều thực dụng.<br />
Trước khi mang giống xương rồng này về, ông cũng đã nghiên cứu qua lý thuyết sách vở, và nhận thấy nó thích hợp với phong thổ Việt Nam. Nó là loài thực vật chịu hạn, vất trên những thế đất cằn khô sỏi đá vẫn sống được. Muốn nó trổ hoa, trước hết phải hãm nước cho khô héo, rồi sau sẽ cho nước vào. Gặp nước nó hồi sinh nhanh chóng, nứt mụt nẩy hoa. Tuy thế, vẫn không cho nước nhiều, chỉ sương sương là đủ. Nước nhiều thúi gốc. Xương rồng không bao giờ mọc được ở những nơi đầm lầy úng thủy.<br />
Mới đầu, ông Nguyễn trồng xương rồng trong cái chậu lớn bằng xi măng, dưới đáy có lỗ thoát nước, chăm sóc đúng theo nguyên tắc sách vở. Chậu đặt ngoài sân. Một thời gian sau, xương rồng nhảy con đầy cả chậu. Ông quyết định hạ thổ. Thằng Thổ làm cái công việc sang xương rồng từ cái chậu xi măng xuống hố đất. Dù hết sức cẩn thận, cũng không tránh được gai đâm.<br />
Một bữa đi bên ngoài về, ông Nguyễn thấy con Cam đang ôm cánh tay thằng Thổ lể gai.<br />
Ông hét lớn: “Buông ra ngay.”<br />
Hai đứa ngơ ngác không hiểu vì sao ông Nguyễn giận dữ.<br />
Sau đó, ông đưa tiền bảo thằng Thổ đến một bà già chuyên hành nghề lể đẹn cho con nít trong xóm, nhờ lể gai. Ông lại sắm cho Thổ một đôi găng tay bằng da bò.<br />
Ông hỏi: “Mày biết găng tay dùng làm gì chứ?”<br />
Thổ nói: “Con biết.”<br />
“Mày phải biết thêm rằng, thứ nào cho ăn thì ăn, thứ nào để cúng thì cúng. Mày mó tay vào đồ cúng, tao thiến mày đấy.”<br />
Thổ ậm ờ, nhưng xem ra không hiểu ý nghĩa của lời bóng gió xa xôi.<br />
Xương rồng phát triển theo lối nhân giống. Một thành hai. Hai thành bốn&#8230; Ông Nguyễn bảo Thổ đào một cái rãnh trồng xương rồng, chung quanh phần đất của mình. Mười năm, xương rồng mọc kín rãnh, làm thành vòng đai bao bọc cơ ngơi ông Nguyễn. Mùa khô, xương rồng trổ hoa màu đỏ rực. Ông che lều bày tiệc ngoài sân, mời người làng Hạ đến thưởng hoa. Tiệc quy tụ vài mươi người. Dù không nói ra, nhưng ai cũng biết người ta đến vì miếng ăn hơn là nhìn hoa vớ vẩn.<br />
Khách nhận xét, bữa tiệc hôm nay lớn hơn bữa giỗ.<br />
Thầy giáo Quảng nói: “Vật chất đầy đủ, lại được thưởng thức tinh hoa của đất trời làm tinh thần thêm sung mãn. Thế này thì đời đáng sống thật.”<br />
Trùm vạn Hương nói: “Chúng tôi là dân thợ cày, phu làm thuê, thuộc tầng lớp ít học. Xin thầy Quảng đừng dùng những lời cao siêu, chúng tôi không hiểu thấu.”<br />
“Ông làm đầu nậu chỉ giỏi cái ma mãnh. Công cấy làm nhiều, ông ghi ít. Đến mùa gặt, chủ ruộng đong lúa trả công, ông đong lại cho công gặt, bao giờ cũng có dư. Trong mánh khóe lường lận, không ai bằng ông. Trong trường chữ nghĩa, ông không bằng ai. Tôi nói đời này đáng sống, có gì mà cao siêu không hiểu?”<br />
“Giảng huấn cũng có nhiều loại người. Đem sách vở thánh hiền giải thích theo ý riêng của mình làm nhân tâm điên đảo, là nghề của ông. Nói những lời trăng hoa lừa gạt tình cảm đàn bà, làm suy đồi đạo lý bại hoại gia phong, khó có miệng lưỡi nào ngọt hơn ông. Ông bảo, đời này đáng sống, vậy thì đời nào không đáng sống?”<br />
“Cắm đầu lo ăn như loài cầm thú, không biết đến giá trị tinh thần là đời không đáng sống.”<br />
“Con dế có no mới gáy, con chim có no mới hót. Vậy tiếng gáy tiếng hót bắt nguồn từ việc được ăn no hay từ tinh thần?”<br />
“Xin hỏi lại ông, con cào cào, con châu chấu được ăn no có gáy không? Con bồ cắt, con quạ đen được ăn no có hót không?<br />
Lời qua tiếng lại đã đến hồi gay cấn.<br />
Ông Nguyễn lên tiếng: “Dân tộc ta không tiến được là vì hay lý thuyết suông. Quá nhiều người có chí lớn muốn làm minh chủ, chẳng ai chịu đầu phục ai. Mầm mống chia rẽ bắt nguồn từ chuyện cãi lý. Mới vào tiệc, các ông đã vãi bùn vào mặt nhau. Không khéo lại xảy ra xô xát vì lời nói xỏ xiên. Xin bỏ qua những tị hiềm cá nhân, để bữa tiệc hôm nay được trọn.”<br />
Nể mặt chủ nhà, thực khách hòa thuận làm vui.<br />
Thằng Thổ ngồi cùng bàn thực khách. Hắn ăn và không nói gì cả. Có thể hắn không biết gì để nói. Cũng có thể hắn biết ông Nguyễn không thích những cái miệng bép xép. Ông cho thằng Thổ ngồi vào bàn tiệc, nói lên cái quan niệm con người bình đẳng với nhau, điều mà ông Nguyễn hết lòng cổ xúy và kêu gọi mọi người xóa bỏ giai cấp. Ông nói, giai cấp sở dĩ có là do sự phân công xã hội. Bọn chủ nhân quyền thế lợi dụng điều ấy, đặt ra những nấc thang giá trị giai cấp để dễ bề bóc lột. Người nghèo và những kẻ làm thuê, thích ông Nguyễn ở điểm này.<br />
Con Cam tới lui tiếp rượu và đồ ăn.<br />
Thầy tướng số ghé tai thì thầm với gã thợ bạc: “Tôi coi điệu bộ con Cam đã mất trinh.”<br />
Gã thợ bạc: “Làm gì có chuyện đó? Nó ở miết trong nhà. Trai làng chẳng thằng nào léng phéng gần gũi được.”<br />
Thầy tướng số quyết đoán: “Thế mới lạ. Cái mông bè ra, cặp vú căng gần đứt nút áo. Hiện tượng đã nếm mùi đàn ông. Tôi coi tướng trăm người không sai một.”<br />
“Có thể nó đã qua tay thằng Thổ?”<br />
“Ừ. Có thể lắm.”<br />
Tiệc tàn. Ông Nguyễn đưa mọi người đi dọc theo hàng rào cây xương rồng, xem hoa. Ai cũng trầm trồ khen hoa đẹp.<br />
Khi trở lại bàn uống trà, có người hỏi: “Ăn tiệc trước xem hoa sau, là nghĩa làm sao?”<br />
Ông Nguyễn nói: “Bụng đói thì đầu chỉ nghĩ đến miếng ăn. Người đói không thiết đến hoa, coi đó là thứ vô tri của trời đất. Nét đẹp của hoa cỏ chỉ nhìn thấy được khi đã cơm no áo ấm. Mùa xuân, những kẻ nhàn du chắp tay sau đít đi ngắm hoa đào, hoặc ngồi nhắp rượu canh thức đêm khuya để chờ giờ hoa quỳnh nở. Tôi chưa có được cái ngẫu hứng phù phiếm của kẻ rởm đời như thế. Tôi chỉ muốn giới thiệu đến các ông cái thực dụng của giống xương rồng ngoại quốc. Người xưa cho rằng thủy hỏa đạo tặc, là bốn mối nguy lớn trên đời. Trộm cắp được liệt vào mối nguy thứ ba. Nhưng nếu có cái hàng rào xương rồng, ta đỡ được một mối lo. Cơ sự vững vàng thì lòng dạ bình yên. Lúc đó, nhìn hoa xương rồng mới thấy hết ý nghĩa của nó.”<br />
Một số người e dè nêu ý kiến, loài thực vật đầy gai góc này sẽ làm tổn hại đến con người. Năm kia, lão Nhự đi uống rượu ban đêm về loạng quạng thế nào lại ngả vào hàng rào, gai đâm nát cả mình mẩy. Gần đây nhất là vụ đứa con của ông ấp trưởng mới tập đi xe đạp, cả người và xe lao vào hàng rào. Ngoài những vết thương trên mình, thằng bé còn bị gai đâm đui mắt. Cũng vì cái hàng rào xương rồng này, ông Nguyễn đã gặp ít nhiều rắc rối.<br />
Ông nói: “Ngày xưa, vua Vũ khơi sông Dương Tử đào sông Hoàng Hà làm lợi cho muôn sau, mà dân gom ngói đá ném ông. Ông Tử Sản vỡ đất trồng dâu bảo tồn cho nước Trịnh giàu mạnh, mà người nước Trịnh chê bai hủy báng ông. Hàn Phi Tử vào thời chiến quốc nói, lòng dân như trí trẻ con, chỉ thấy cái khổ nhỏ trước mắt mà không thấy cái lợi lớn về sau. Nay các ông chỉ sợ cái gai đâm vào mình, mà không thấy được cái lợi của rào giậu ngăn ngừa kẻ gian từ bên ngoài xâm nhập vào nhà.”<br />
Sau lý luận của ông Nguyễn, những người có mặt hôm đó đều cho rằng ông có con mắt nhìn xa ngoài ngàn dặm.<br />
Khi ra về, mỗi người được ông Nguyễn biếu một chậu nhỏ xương rồng. Ông cũng chỉ rõ cách trồng và phương pháp làm thế nào để phát triển nhanh chóng.<br />
Ba mươi năm rào giậu, kẻ trộm không viếng nhà người làng Hạ. Xương rồng mọc tràn lan choán cả lối đi. Đến lúc thấy trở ngại, chặt vất ngoài đồng khô, nó vẫn sống và tiếp tục sinh sôi nẩy nở. Bây giờ, muốn diệt không dễ. Xương rồng trở thành cái họa cho người làng Hạ. Một số người bỏ làng đi lập nghiệp nơi khác. Số còn lại, sống trong muôn vàn khổ sở.<br />
Ông Nguyễn chết, không có con. Toàn bộ gia sản cũng tan hoang khi ông nằm xuống. Thằng Thổ thừa hưởng một ngôi nhà đổ nát. Hắn trì độn, nhưng nhờ vào hơi hướm người chết nên thiên hạ vẫn gờm hắn. Có người hỏi, trước khi chết ông Nguyễn có trao cho hắn cái bí quyết diệt xương rồng không? Hắn bảo, những ngày cuối đời ông Nguyễn bị loạn tâm. Ông viết di chúc nói rằng sẽ đi gặp những người có cái tên rất lạ. Tìm trong kinh điển của các tôn giáo, không có vị thánh nào tên như thế. Người ta ngờ đó là tên của quỷ.<br />
Con Cam không chồng, có con. Trong giấy khai sinh, đứa bé lấy theo họ mẹ. Họ tên người cha được ghi là vô danh. Chỉ con Cam mới biết đích xác ai là cha đứa bé. Nhưng con Cam bị chết bất đắc kỳ tử trước khi ông Nguyễn lìa đời.<br />
Phụ truyện: Tôi kể chuyện cây xương rồng làng Hạ cho một nhà truyền giáo nghe. Ông ta cũng kể lại cho tôi nghe một câu chuyện rất thú vị. Nhiều năm trước, ông đọc một cái tin về cân bằng sinh thái thiên nhiên. Ngày xưa, châu Úc không có xương rồng. Dân Úc đi du lịch qua những châu khác, thấy xương rồng cho là cây lạ, mang về trồng chơi. Mãi sau, xương rồng mọc tràn lan đất Úc, đến mức báo động. Chính phủ Úc nhờ ủy ban khoa học Liên Hiệp Quốc nghiên cứu giúp phương cách diệt trừ xương rồng. Công cuộc nghiên cứu chưa đi đến đâu, thì hiện tượng lạ xảy ra. Một loài bọ nhỏ có cánh xuất hiện, và ăn xương rồng. Trong vòng ba năm, xương rồng giảm xuống thấy rõ. Người ta nghĩ, với cái đà này thì xương rồng sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn trên châu Úc. Nhưng không, xương rồng giảm đến mức vừa phải thì ngưng, sinh thái thiên nhiên được cân bằng. Hiện nay, châu Úc vẫn còn xương rồng và loài bọ nhỏ có cánh ấy. Theo nhà truyền giáo, làm cân bằng sinh thái thiên nhiên là do bàn tay Thượng Đế. Giống xương rồng ở làng Hạ phát triển bất thường, chắc cũng sẽ không ra khỏi cái quy luật trời đất.</p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><strong>Chuyện của Ngâu</strong></h3>
<p>Mười chín tuổi, Huỳnh Thị Ngâu có tình. Ông Huỳnh Hừng, cha cô, biết chuyện nhưng giữ thái độ im lặng đến lạnh lùng.<br />
Trong bữa cơm chiều, Ngâu e dè ăn từng miếng nhỏ. Cha cô ngó chăm vào con gái, vài lần nhắp cốc rượu, hắng giọng như muốn nói điều gì, nhưng cuối cùng chẳng nói.<br />
Buổi tối. Ngâu vào buồng, buông mùng, nằm nghĩ đến người tình.<br />
Mẹ cô theo vào, vén mùng, ngồi kế bên, hỏi: &#8220;Thằng ấy thế nào?&#8221;<br />
Cô vờ hỏi lại: &#8220;Thằng nào?&#8221;<br />
&#8220;Thằng vẫn theo con vào đồn điền cao su.&#8221;<br />
&#8220;Làm gì có.&#8221;<br />
&#8220;Mày láo. Tao biết cả rồi.&#8221;<br />
&#8220;Mẹ biết, sao còn hỏi con?&#8221;<br />
&#8220;Đồ chết bầm! Ba mày đang theo dõi đấy.&#8221;<br />
Ngâu nằm lặng.<br />
Mẹ dỗ: &#8220;Nói đi. Nó thế nào?&#8221;<br />
Ngâu thủ thỉ: &#8220;Ảnh nói thương con.&#8221;<br />
&#8220;Không. Gia thế kìa?&#8221;<br />
&#8220;Đi lính, cấp bậc trung sĩ.&#8221;<br />
Mẹ gắt: &#8220;Biết rồi. Cha mẹ nó?&#8221;<br />
&#8220;Bắc di cư, năm năm tư.&#8221;<br />
&#8220;Tên nó là gì?&#8221;<br />
&#8220;Koan Trâu Phiên.&#8221;<br />
&#8220;Hả?&#8221;<br />
Ngâu lặp lại: &#8220;Koan Trâu Phiên.&#8221;<br />
&#8220;Tên nghe lạ.&#8221;<br />
&#8220;Ảnh kể, bố mẹ thuộc sắc tộc Nùng, Lai Châu. Khi mới vào Nam, bố dắt đi làm thế vì khai sinh, khai tên Quang Châu Phiên. Ông hộ tịch người Nam, viết thành Koan Trâu Phiên.&#8221;<br />
&#8220;Nó nói gì nữa không?&#8221;<br />
&#8220;Chỉ nói thương con.&#8221;<br />
Mẹ dặn: &#8220;Chưa thương được đâu. Coi chừng ba mày cắt gân đấy.&#8221;<br />
Mẹ bỏ ra ngoài. Ngâu nghĩ, tình yêu thật tuyệt vời, nhưng chung quanh lắm điều rắc rối.<br />
Ngâu đứng nép vào vùng cây lá rậm, bên ngoài đồn điền.<br />
Phiên hỏi: &#8220;Sợ anh đến thế à?&#8221;<br />
Ngâu ấp úng: &#8220;Không. Chỉ sợ có người trông thấy.&#8221;<br />
&#8220;Chả có ai đâu.&#8221;<br />
&#8220;Phu đồn điền vẫn thường ngang qua đây.&#8221;<br />
&#8220;Họ không phải bố em. Sợ gì?&#8221;<br />
&#8220;Họ sẽ mách lại. Em sợ tất cả mọi người.&#8221;<br />
Phiên nhích gần hơn, cầm tay Ngâu. Cô rụt tay về.<br />
Phiên tha thiết: &#8220;Anh thương em.&#8221;<br />
Ngâu lí nhí: &#8220;Biết rồi.&#8221;<br />
&#8220;Có thương anh không?&#8221;<br />
&#8220;Hỏi câu đó hoài.&#8221;<br />
&#8220;Anh muốn nghe em nói.&#8221;<br />
&#8220;Không thương, sao đứng đây với anh?&#8221;<br />
&#8220;Vậy là thương hả?&#8221;<br />
&#8220;Ư&#8230; ư&#8230;&#8221;<br />
Phiên đặt tay lên vai Ngâu, kéo vào mình. Ngâu vùng nhẹ, cầm tay Phiên bỏ ra.<br />
&#8220;Hãy nói thương anh.&#8221;<br />
Ngâu quay mặt, cười khúc khích: &#8220;Nói thế, ngượng chết đi.&#8221;<br />
Bất ngờ, Phiên ôm chầm lấy Ngâu. Hôn tới tấp lên mặt, lên cổ.<br />
Ngâu ú ớ: &#8220;Anh&#8230;, buông em ra.&#8221;<br />
&#8220;Anh thương em.&#8221;<br />
&#8220;Lại nói câu ấy nữa.&#8221;<br />
Ngâu yếu đuối trong tay Phiên. Cô ngữa mặt nhìn lên vòm cây. Có những bông hoa dại màu trắng điểm lấm tấm giữa màu lá xanh, và những con chim nhỏ chíu chít trên cành. Thiên nhiên bao giờ cũng thế. Nhưng Ngâu bỗng thấy như tất cả đều rộn lên, hoà cùng xúc cảm mới lạ ùa chụp xuống làm cô choáng ngợp, đồng thời với nỗi lo sợ vu vơ.<br />
Ngâu nói như van: &#8220;Buông em ra.&#8221;<br />
Phiên âu yếm vùi mặt vào tóc Ngâu, nói trong hơi thở: &#8220;Mình sẽ là vợ chồng.&#8221;<br />
&#8220;Anh ơi, đừng ôm nữa. Em sợ&#8230;&#8221;<br />
&#8220;Bằng lòng làm vợ anh không?&#8221;<br />
Ngâu gật đầu: &#8220;Bằng lòng, nhưng&#8230; hãy buông em ra.&#8221;<br />
Phiên tháo vòng tay, tiếc nuối.<br />
Ngâu vuốt lại mái tóc, mặt đỏ bừng: &#8220;Anh kỳ quá à.&#8221;<br />
Phiên cười: &#8220;Anh thích kỳ như thế.&#8221;<br />
Ngâu dí ngón tay vào trán Phiên: &#8220;Cái mặt không biết mắc cở.&#8221;<br />
Phiên cầm tay Ngâu. Lần này, cô không rụt tay về. Cả hai im lặng, nhìn về những hàng cao su thẳng tắp. Ngâu vẫn còn nguyên cái cảm giác trong giây phút Phiên ôm ghì lấy thân thể nóng bỏng của cô. Cái cảm giác đầu đời chạm với tình yêu.<br />
Lúc lâu sau, Phiên nói: &#8220;Anh sẽ nhờ mai mối đến nhà em.&#8221;<br />
&#8220;Chỉ ngại ba em&#8230;&#8221; Ngâu phân vân.<br />
&#8220;Chê anh không xứng hả?&#8221;<br />
&#8220;Không. Có điều khó nói.&#8221;<br />
&#8220;Điều gì?&#8221;<br />
Ngâu cúi đầu: &#8220;Ba em không ưa lính.&#8221;<br />
&#8220;Ngâu ơi, thanh niên thời buổi này, ai mà chả phải đi lính?&#8221;<br />
&#8220;Biết thế. Nhưng ba em thì khác.&#8221;<br />
&#8220;Phải làm sao cho ba em thương anh?&#8221;<br />
&#8220;Em không biết.&#8221;<br />
&#8220;Điều gì, em cũng không biết.&#8221; Rồi Phiên cười, nhái theo câu thơ. &#8220;Em còn bé lắm, chỉ biết yêu thôi. Chả biết gì.&#8221;<br />
Ngâu cũng cười: &#8220;Em còn bé lắm, chả biết yêu. Cũng chả biết gì.&#8221;<br />
&#8220;Thế thì anh dạy cho em biết gì.&#8221; Phiên ôm Ngâu, vùi mặt vào ngực cô.<br />
Ngâu đẩy ra: &#8220;Khiếp quá.&#8221;<br />
Phiên nói: &#8220;Thương nhau là phải thế.&#8221;<br />
&#8220;Không thế, không phải là thương sao?&#8221;<br />
&#8220;Không. Chỉ là thương mây khóc gió của mấy ông thi sĩ thất tình. Em mười chín tuổi, phải thực tập bài học yêu thương để chuẩn bị làm vợ.&#8221;<br />
&#8220;Chuyện ấy tính sau. Bây giờ, cho em về. Ba em biết hẹn hò với anh, thì chết.&#8221;<br />
&#8220;Mới gặp đã đòi về?&#8221;<br />
&#8220;Em sợ.&#8221;<br />
Phiên nài nĩ: &#8220;Không ai thấy đâu. Nán lại chút nữa, em?<br />
&#8220;Thôi mà, cho em về.&#8221;<br />
Phiên tiếc: &#8220;Ừ, thì về. Mai gặp lại chỗ này, nhớ nhé?&#8221;<br />
&#8220;Nhớ rồi. Anh đứng đây, chờ em đi khuất. Em sợ có người trông thấy mình đi chung.&#8221;<br />
&#8220;Trước khi về, anh hôn em lần nữa.&#8221;<br />
Ngâu chưa kịp trả lời. Phiên đã nâng mặt cô, và đặt lên đôi mắt những nụ hôn nồng nàn thắm thiết. Ngâu trách yêu: &#8220;Râu cà gần rách mặt người ta. Mai cạo râu đi nhé.&#8221;<br />
Ngâu đi dưới bóng mát những hàng cao su. Phiên đứng nhìn theo cái lưng nhỏ bé của người yêu đến khi khuất sau một khúc quanh trên con đường đất đỏ.<br />
Buổi sáng. Như thường lệ, Ngâu mang gùi vào vào đồn điền cao su cạo mủ. Cổ cô choàng chiếc khăn rằn của Phiên. Chiếc khăn của cô, Phiên xin, và thay thế bằng chiếc khăn này. Phiên nói, để giữ lấy hơi hướm người tình. Ngâu cảm động. Không ngờ trong tình yêu có những chi tiết vụn vặt, lại làm cho người ta xúc động đến chảy nước mắt. Cô ngó ra con đường đất đỏ về phía bìa rừng, nơi Phiên vẫn thường từ đó đi tới. Cô hình dung ra cái dáng đi lừng lững, đầu đội chiếc mũ lưỡi trai màu xanh cứt ngựa, vành mũ sụp xuống che ngang vầng trán. Đôi mắt xếch dưới cặp chân mày rậm, hiện rõ cái nét dữ dội của kẻ gan lì. Biết nhau lâu, nhìn hoài đôi mắt ấy, cô lại thấy dễ thương chi lạ. Và những câu ân tình của Phiên, còn đọng lại trong cô thành nỗi nhớ nhung.<br />
Quá ngọ, vẫn chưa thấy Phiên. Ngâu bứt rứt mong chờ. Tiếng con chim gáy từ rừng xa khắc khoải vọng về, cô nghe tiếng như tiếng gọi buồn khi xa vắng. Trước kia, có bao giờ cô để ý tiếng chim, và cảnh sắc chung quanh mình đâu. Tất cả những thứ đó, cô đã nghe thấy từ ngày còn bé, quen thuộc như một phần đời dính liền với cô, chìm trong ký ức. Từ khi có Phiên, cô cảm thấy mọi thứ đều hiện diện và đổi khác, mới lạ và đáng yêu. Mọi thứ đều biết vui buồn theo tâm cảm của cô, chứa chan đầy ắp kỷ niệm. Cô đang mong nhớ đợi chờ. Bỗng có vài ba tiếng súng nổ tắc cù bên ngoài đồn điền, phía giáp ranh với bìa rừng. Cái âm thanh khô khốc lẻ loi, làm cô khó chịu. Thời chiến tranh, thỉnh thoảng vẫn nghe tiếng súng như thế. Cô tự hỏi, cuộc đời tươi đẹp biết bao, sao người ta gây chi những đau buồn chết chóc? Chiều sắp tàn. Phiên không đến. Ngâu buồn bã trở về, thầm trách người yêu lỗi hẹn. Từ đó trở đi, ngày nào mang gùi vào đồn điền cao su, cô cũng đợi. Chờ đợi lâu ngày thành tuyệt vọng. Phiên không bao giờ đến nữa. Nỗi buồn cô giấu trong tim, mà nước mắt cứ ứa ra từng đêm trên gối. Chẳng ai nói cho Ngâu biết, tại sao mình bị bỏ rơi?<br />
Sau ngày Miền Nam sụp đổ. Ngâu lập gia đình với viên huyện đội trưởng, tên Dư, sinh được hai con. Chồng cô rất mực chìu vợ, thương con. Ai cũng cho rằng, Ngâu may mắn được người chồng tốt, một gia đình ấm êm hạnh phúc. Biết bao cô gái đến tuổi trưởng thành, cũng chỉ mơ ước có một mái ấm như thế mà thôi. Bốn năm lấy chồng, Ngâu giữ tròn bổn phận làm vợ, làm mẹ. Dù thế, cô vẫn thường xa vắng mông lung, nhớ người tình cũ. Nhớ cái dáng đi lừng lững, và đôi mắt xếch. Nhớ những lần Phiên siết lấy cô, hôn tới tấp. Những nụ hôn cháy bỏng làm cô bừng bừng nóng ran da thịt. Từ ngày lấy chồng, chưa bao giờ cô có được cảm giác ấy. Không phải chồng cô thiếu nhiệt tình. Chính cô thờ ơ với những ái ân trong tình chồng vợ. Nhiều khi đầu ấp tay gối với Dư, cô tự đánh lừa mình bằng cách tưởng tượng đang nằm trong vòng tay âu yếm của Phiên, để tìm lại những rung động mãnh liệt ngày nào. Nhưng cô thất vọng. Tự đánh lừa mình là điều không dễ. Trên đường đời, một lần cô bước hụt chân. Tình yêu vuột mất, để lại trong cô một khoảng trời trống lốc. Khoảng trống ấy cứ lớn dần lên mãi. Cái khoảng trống mênh mông không thể lấp đầy bởi người người đàn ông cô gọi là chồng.<br />
Những buổi trưa, nhìn về phía đồn điền cao su, nghe tiếng con chim gáy từ rừng xa, cô buồn như chết lặng. Dù bây giờ, đồn điền không còn nữa. Cao su già cỗi bị đốn bỏ lâu rồi. Người ta thay vào đấy là là nông trường trồng mía. Con đường đất đỏ cũng biến mất, để nới rộng thêm cho diện tích trồng trọt. Nhưng với cô, tất cả vẫn bềnh bồng trong trí nhớ. Và tiếng chim gáy cũng gợi lại cho cô một mùa hè năm cũ, với vài ba tiếng súng nổ. Trong thời điểm ấy, cô vĩnh viễn mất người yêu. Từ đó trở đi, cây lá vẫn trổ màu xanh, nhưng cô buồn rầu héo hắt. Nhất là khi vô tình cô biết được một sự thực phũ phàng, thì khoảng trống trong lòng cô nhuộm trắng một màu tang.<br />
Khi cách mạng giành được quyền kiểm soát Miền Nam. Ông Huỳnh Hừng tự bộc lộ thân phận là một cán bộ nằm vùng. Với quá trình hai mươi tuổi đảng, đương nhiên ông là nhân vật có thế lực của chế độ mới. Chồng của Ngâu, trước kia là du kích, hoạt động dưới sự bí mật điều khiển của ông Huỳnh Hừng. Sau này, Dư được ông nâng đỡ, đưa lên làm huyện đội trưởng, và gả con gái. Trong một lần chè chén, các đồng chí của chồng vui say nhắc lại những thành tích chống Mỹ cứu nước. Thành tích của Dư là đã phục kích bắn chết một trung sĩ ngụy tên Phiên. Công lao đó, có ông Huỳnh Hừng dự phần. Ông theo dõi nhiều ngày để biết chắc thời gian, và lối đi về của Phiên thường hẹn đến với tình nhân, rồi đề ra kế hoạch cho Dư thi hành. Bây giờ, Ngâu mới hiểu rõ câu nói mập mờ của mẹ: Ba mày đang thoe dõi. Coi chừng ba mày cắt gân đấy.<br />
Ngâu biết được điều đó, thì mọi chuyện không còn có thể thay đổi. Cô đã có con với Dư rồi. Cô mặc cảm như mình là nguyên nhân gây ra cái chết của Phiên. Trách ai? Thời thế đã du cha cô và Dư về phía đối lập với Phiên. Không từng quen biết, mà thù hằn rình rập sát hại lẫn nhau. Phiên sa vào cái bẫy của cha cô. Trong đó, cô được dùng như một miếng mồi nhử. Dư chỉ là tên thừa hành, nhưng lại là người trực tiếp nhúng tay vào máu. Làm sao cô tìm được hạnh phúc với kẻ đã giết chết đối tượng tình yêu của mình? Cô không đủ cái liều dứt khoát ra đi. Còn con của cô nữa, nó cũng là nguyên nhân buộc cô ở lại. Cô thấy mình bất lực, và buông xuôi theo ngày tháng trắng mênh mông. Cái khoảng trống trong lòng cô, chỉ mình cô biết. Con chim rừng thay đổi mấy đời chim rồi, nhưng tiếng gáy nghe không khác năm nào. Còn cô thì đã đi quá xa. Ngoái nhìn về dĩ vãng, tất cả đều trôi ngược chiều thời gian làm thành kỷ niệm. Kỷ niệm nào, khi nhớ lại cũng làm cô rơi nước mắt.</p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><span style="font-weight: bold;">Con suối và chiếc cầu treo</span></h3>
<p>Ở đây, cuối tuần là thời gian rỗi việc. Tôi thường cùng một số bạn ngồi lại uống lai rai vài chai bia, nhắc chuyện cũ. Chuyện mới thì ủ ê. Không lấy gì làm phấn khởi. Chuyện chưa đến thì mờ mịt, biết gì mà nói? Chuyện cũ với những người cùng hoàn cảnh, xem chừng dể thông cảm nhau hơn. Có người bạn trẻ hỏi, sao chúng tôi nói mãi đề tài lính và tù không nhàm chán? Làm sao giải thích cho bạn hiểu đây? Sang tới xứ này, bạn còn có tương lai đi tới. Chúng tôi còn gì đâu? Tuổi lớn rồi, học không vô. Tiến thân bằng cái đầu không được. Thôi thì đi làm cu li, cơm áo qua ngày. Sống mà không nhìn về phía tương lai, không chờ đợi điều gì cả là một bi thảm. Ngoái trông về quá khứ cũng thấy đầy những gai góc tai ương, nhưng đó là một phần đời gắn liền với chúng tôi. Đó là da thịt, là vốn liếng một đời người. Mang cái vốn liếng u buồn này đi vào tương lai, cũng giống như vác cái quá khứ bốn ngàn năm lạc hậu lên phi thuyền bay vào vũ trụ. Lâu lâu, giở lại quá khứ săm soi, như người ta nâng niu gìn giữ một món đồ cổ. Cổ vật càng xưa càng quý. Tâm trạng chúng tôi bây giờ là thế.</p>
<p>Một lần, nhà thơ Tô Thùy Yên đến Boston. Chúng tôi ngồi nhắc chuyện cũ. Anh nói, hồi đi cải tạo đã từng ở cái trại tù sát chân núi. Bên kia núi là nương rẫy của trại. Muốn qua nương phải vượt đèo. Đèo cao dốc ngược, đường lên khúc khuỷu. Mùa mưa trơn trợt khó đi. Lên tới đỉnh đèo, phải ngồi lại nghỉ mệt trước khi tuột dốc. Anh em trong trại đặt tên là “đèo bá thở”. Tôi cũng đã từng lên xuống cái đèo này nhiều lần, trong thời gian còn ở trại. Tổng số tù nhân vào khoảng 300 người. Thế mà tôi không hề biết có Tô Thùy Yên ở đây. Sống trong hoàn cảnh khắc nghiệt, ai cũng muốn thu nhỏ thân phận của mình. Chờn vờn trước mặt cán bộ, dễ bị chú ý. Sứ giả của ma vương mà chú ý, thật chẳng hay ho gì.</p>
<p>Nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp có bài Đốt Lửa Nghe Sư Đàn. Đọc lên cứ nghe rờn rợn. Nó gợi lại trong tôi một nơi chốn quen thuộc. Không gian, thời gian của những mùa đông rét mướt, áo quần không đủ che thân. Đêm đông trong lán trại lợp bằng nứa, lạnh quá không ngủ được, tù ngồi hơ tay bên đống lửa. Tiếng nói chuyện thầm thì như hơi gió. Tâm sự tràn trong đêm khuya. Thỉnh thoảng nghe tiếng mang mển “béc” ngoài đồi tranh cô quạnh, tiếng kêu buồn héo cả ruột gan.</p>
<p>Nguyễn Xuân Thiệp thai ghén và làm bài thơ này từ năm 1977 đến năm 1988. Mười một năm ròng rã, dốc hết tâm huyết cho một bài thơ đầy nội lực. Hèn nào đọc lên, tôi thấy như mình đang sống trong căn lán ẩm thấp vào một mùa đông lạnh ướt xưa kia. Anh Thiệp cho biết, đã từng ở trong cái trại có con suối chảy sát ngoài hàng rào. Trước cổng trại, chếch về phía bên trái, sát chân núi có một ngôi nhà sàn. Nhà núp trong cây. Những buổi sáng lành lạnh trời còn mù sương, đến thật gần mới thấy ngôi nhà hiện ra trong làn sương đục. Cảnh đẹp như tranh, mơ hồ như ngôi nhà trong cổ tích. Hóa ra, cái trại Nguyễn Xuân Thiêp mô tả, chính là trại Tô Thùy Yên và tôi từng ở đó. Vậy mà không ai biết ai. Trên cõi nhân gian có lúc người ta đi thật gần nhau, cùng sinh hoạt như nhau, nhưng người nào cũng giấu mình bằng chiếc mặt nạ. Một lúc nào đó, vất chiếc mặt nạ đi, nhìn nhau cười xòa.</p>
<p>Trong Đốt Lửa Nghe Sư Đàn, Nguyễn Xuân Thiệp có nhắc đến con suối, đốt lửa bên trong lán suối. Cuối bài, kết thúc bằng trăng lên rồi. hổ xuống cẩm khê. Cẩm Khê là một địa danh thuộc xã Cẩm Nhân. Xã ở miền cao, có nhiều suối mùa. Nhưng con suối thiết thân gần gũi với chúng tôi ngày ấy là con suối Nguyễn Xuân Thiệp nói trong thơ. Bây giờ, đọc thơ anh, tôi cảm giác như cái lạnh còn thấm tới xương, và còn mường tượng được cái không khí u uất trùm lên lán trại vào những đêm khuya nghe cú rúc. Tiếng cú như tiếng ma kêu sầu thảm, báo điềm có kẻ tử vong.</p>
<p>Tôi rời xa nơi ấy lâu rồi. Nhưng đi đâu cũng mang theo trong lòng về một nơi chốn mà tôi đã sống những ngày bầm giập xác thân. Mang theo không phải để nhìn ngắm lại một quá khứ u buồn. Nhớ mãi những tai ương buồn khổ, ích gì? Tất cả như chiêm bao bào ảnh, như sương móc chớp chăng. Kinh nhà Phật dạy thế. Nơi chốn tôi mang theo là những khu rừng ẩm mùi lá mục, đầy những muỗi mòng sên vắt. Rừng nối rừng bạt ngàn đi không hết. Những dãy núi bốn mùa sương giăng bàng bạc. Núi tiếp núi liền nhau bất tận. Nơi ấy có một trại tù. Có con suối nhỏ nép mình ngoài hàng rào trại, lượn vòng theo chân núi. Giữa hoàng sơn trùng điệp, suối bắt nguồn từ đâu, và xuôi về tận đâu không biết. Có người đoán, nó đổ ra hồ Thác Bà. Cũng chỉ đoán mà thôi.</p>
<p>Mùa mưa, hồ Thác Bà đầy nước xanh trong vắt. Giữa hồ ló lên một cây thập giá trơ vơ trên mặt nước. Mùa nắng, nước rút phơi đáy hồ bùn khô nứt nẻ. Dưới lòng hồ hiện ra một ngôi giáo đường, trên nóc cao có cây thập giá. Nhiều năm trước, nơi có ngôi giáo đường là thung lũng chạy dài mấy chục cây số về phía Nam. Người ta ngăn nước làm đập thủy điện Thác Bà. Vì thế, mới có hiện tượng ngôi giáo đường chìm trong lòng nước làm thành cảnh đời dâu bể, thế sự tang thương.</p>
<p>Theo con suối về phía thượng nguồn, cách trại chừng nửa cây số, suối uốn vòng cung nước xoáy thành hồ nhỏ. Quanh hồ là thảm cỏ xanh rờn mọc chen với tàu bay, kim thất. Hoa tàu bay, kim thất khi nở bung giống như chùm lông tơ trắng. Gió cuốn hoa bay khắp núi rừng. Mỗi sợ lông mang một hạt mầm. Sau trận mưa đầu mùa, mầm hạt ngoi lên những cây con, thân mòng mọng, lá xanh non mướt. Cây cỏ gì ăn được đều gọi là rau. Rau kim thất nhân nhẩn, người ta nói có vị thuốc. Còn rau tàu bay có mùi hăng hắc, người ta nói ăn nhiều bị mất máu. Có vị thuốc hay mất máu, không đáng quan tâm. Một thời khốn khó không cơm, chúng tôi dùng nó độn thêm trong phần sắn khoai làm đầy bao tử. Sát mé nước, trên bờ hồ có những loài hoa dại không tên. Nhiều nhất là hoa vàng và tím, màu sắc chen nhau. Hoa chỉ bằng con bướm nhỏ. Những khi vác nứa về ngang qua đó, những đóa hoa rập rờn như đàn bướm đồng loạt chớp cánh, đẹp vô cùng.</p>
<p>Cũng nơi cái hồ nước nhỏ này, con suối chia làm hai dòng. Một dòng chảy sát bên hàng rào trại, như đã nói. Còn dòng kia chảy qua một cánh đồng. Trại nằm lọt vào trong cái chảng ba con suối. Dòng suối chảy băng qua cánh đồng, chia cắt trại với con đường dẫn về Tuyên Quang. Trên bờ suối có bụi tre rừng. Lâu ngày nước xoáy dưới gốc tre thành hốc nước. Nghe đồn, trong hốc nước có con rùa vàng to bằng chiếc nón lá. Những buổi trưa hè, thường có người trong trại ngồi cầm cần thả dây câu rùa. Câu rùa để ăn, chứ không phải nuôi chơi làm cảnh. Trong khốn cùng đói khát, không ai nghĩ đến chuyện giải trí tinh thần bằng cách nuôi một con rùa để ngắm. Chẳng biết xưa ông Lã Vọng ngồi câu sông Vị ra sao? Ngày nay, người tù ngồi câu rùa, trông cái dáng vô cùng bi thảm. Anh ngồi bất động, đôi mắt đăm đắm xa xôi ở một cõi nào đâu ấy. Mấy năm ở trại, tôi thấy hết người này ngồi câu, rồi đến người khác ngồi câu. Người nào cũng thể hiện nét mặt buồn như nhau. Không ai bắt được con rùa, cũng chưa ai thấy nó nổi lên bao giờ. Con rùa vàng trở thành niềm tuyệt vọng của những ông câu.</p>
<p>Ngang qua suối, trại có bắc một cây cầu để đi ra con đường về phía Tuyên Quang. Mùa nắng làm cầu. Mùa mưa nước lũ trên ngàn tuôn xuống mạnh như thác, mang theo những cây khô gỗ mục vướng vào chân cầu. Chỉ vài trận mưa đầu mùa, cây cầu bị cuốn phăng đi mất. Và trại bị cô lập hoàn toàn với những bản làng người sơn cước, bên kia con suối. Năm nào trại cũng phải làm cầu mới, nhưng rồi cũng không chịu nổi sức tàn phá của thiên nhiên. Các cán bộ trên trại đề ra kế hoạch làm cầu treo.</p>
<p>Nghĩ ra kế hoạch là cái đầu của những kẻ coi tù. Thực hiện kế hoạch ấy là bàn tay, sức lực của những người tù. Chúng tôi chia thành từng nhóm kéo nhau lên rừng núi đốn cây. Phải chọn cây to, và thẳng đúng theo quy định chiều cao của chân cầu treo. Dao trành đốn cây cổ thụ, giống như người thợ điêu khắc kiên nhẫn đẽo từng mảnh nhỏ của tảng đá lớn. Nước sông công tu, chuyện gì mà không làm được? Cây ngả xuống, chặt cành chặt ngọn. Ai mà khiêng nổi cây to trên thế núi dốc? Chúng tôi vạt nhọn một đầu, lao cây xuống núi. Cây vướng lại chỗ nào, phát quang chỗ đó. Đem được cái cây bề tròn cỡ vòng tay ôm về tận bên con suối nơi chỉ định làm cầu, công trình nhọc nhằn này tương đương với những người vận chuyển những phiến đá lên cao xây Kim Tự Tháp bên Ai Cập thời xưa.</p>
<p>Đồng thời với công tác chặt cây, đào lỗ hai bên bờ suối dựng chân cầu, cán bộ trại về tận Hà Nội xin được cấp bốn sợi cáp. Giữa miền rừng núi không xe cộ đi lại, chuyển được bốn sợi cáp bằng thép bề trại với sức người, mồ hôi đổ dài theo những dặm sơn khê.</p>
<p>Cáp mắc vào trụ cầu giăng ngang con suối. Bốn sợi cáp chia làm hai tầng. Hai sợi trên làm tay vịn. Hai sợi dưới lót ván để đi. Cây cầu treo này được xem là công trình xây dựng hiện đại nhất của miền thượng du. Nó là một kỳ quan đối với người sơn cước.</p>
<p>Ngày khánh thành cây cầu, tất cả tù nhân tập hợp ra đứng bên bờ suối, nghe ông trại trưởng nói chuyện. Ông đứng trên cầu, mặc áo đại cán, đội nón cối có gắn ngôi sao, nói những lời tự hào về sức mạnh xã hội chủ nghĩa. Con người của xã hội chủ nghĩa quyết tâm khắc phục thiên nhiên, bắt thiên nhiên phục vụ con người. Ông mạnh dạn tuyên bố dứt khoát rằng, cây cầu treo này sẽ tồn tại không những một mùa mưa, mà còn tồn tại sau nhiều mùa mưa nữa. Cuối cùng ông ngỏ lời ngợi khen anh em tù nhân đã cố gắng lao động tốt trong thời gian qua. Tuy nhiên vẫn còn vài con nhạn la đà vi phạm nội quy, moi móc khoai củ ngoài rừng, cải thiện linh tinh. Dù thế, ông cũng hứa sẽ thưởng cho mỗi người một xuất sắn vào sáng Chủ Nhật. Thông thường, sáng Chủ Nhật không có phần ăn. Đang trong thời kỳ đói khổ, lời hứa của ông trại trưởng làm anh em nức lòng phấn khởi. Trên khung, cán bộ làm chó ăn mừng khánh thành cầu treo. Dưới trại, tù nhân được thêm phần sắn.</p>
<p>Miền núi rừng thượng du không có trò gì vui chơi giải trí. Mùa hè. Chiều chiều, các cán bộ rủ nhau lên cầu đứng hút thuốc tán gẫu, và hóng gió rừng. Nếu chỉ thế thì sự đời êm đềm bình thản biết bao Cảnh cán bộ nhởn nhơ hóng gió trên cầu là niềm mơ ước của những kẻ muốn rủ hết sự đời theo thú tu tiên. Nhưng đối nghịch hình ảnh lý tưởng ấy, trong lán trại những người tù tiều tụy đang nằm thở dài sau một ngày lao động vất vả thiếu ăn.</p>
<p>Rồi mùa mưa lại đến. Cơn mưa đầu mùa thật dữ dội. Ầm ầm vang động núi rừng. Mưa suốt ngày đêm không ngớt. Nước lũ trên ngàn tuôn xuống. Suối chảy mạnh như thác, gầm thét cuốn phăng những gì vướng víu trên đường nó đi. Bốn chân cột cầu treo được dựng trên thế đất cao bên bờ suối, hàng năm nước không lên tới. Nhưng năm nay, nước lũ tràn bờ. Cành cây và rác rến mắc vào chân cầu làm sức cản nước. Sau ba ngày đêm chịu lũ, một sáng ra xem, cây cầu treo biến mất dưới cơn mưa tầm tã, giữa dòng cuồng lưu nước xiết.</p>
<p>Thiên nhiên nuôi dưỡng con người. Khí thiêng sông núi hun đúc hồn người lớn dậy. Người xưa biết dựa vào thiên nhiên mà sống, thuận theo lẽ trời mà tồn tại. Mùa đông áo ấm. Mùa hè quạt mo. Sao thời nay có kẻ dám ngông nghênh lớn lối rằng đã khắc phục được thiên nhiên? Những ai thách thức thiên nhiên, chống lại quỷ thần, trước sau gì cũng bị trời tru đất diệt. Chuyện cây cầu treo năm ấy là bài học quí giá dạy cho con người đức tính khiêm cung, biết được thân phận nhỏ nhoi của mình có nghĩa lý gì đâu, so cái lớn lao vô cùng trời đất.</p>
<h3><strong>Lỗi tại tôi mọi đàng </strong></h3>
<p>Mùa xuân năm 85, tôi về quê. Quê tôi ở Gò Chùa, nằm trên liên tỉnh lộ, nhưng vẫn là nhà quê. Tôi bốn mươi ba tuổi, tóc đã có nhiều sợi bạc. Tôi không có tiền, không nghề nghiệp, sống nương tựa vào ba tôi.<br />
Ba tôi bảy mươi hai tuổi, là người tàn phế. Ông mất cánh tay phải trong thời kỳ chiến tranh. Hiện nay, ông sống nhờ vào tiền của anh tôi, gởi về từ Canada. Số tiền này, chỉ đủ ăn tiện tặn. Muốn mua sắm những thứ lặt vặt trong gia đình, ba tôi nuôi heo nái, và nấu rượu. Nấu rượu không có lời, nhưng có hèm trộn chung với cám, làm thức ăn cho heo. Mỗi năm, bán được mấy lứa heo con, cũng được đồng ra đồng vào.<br />
Hàng ngày, tôi đi quanh quẩn lối xóm, mặt mày ủ dột. Không nghĩ ra việc gì làm, để khỏi bám vào ba tôi. Tôi đói lắm. Đói nhiều năm, trước khi về đây. Tôi cần ăn mà mỗi lần bưng chén cơm, tôi như mắc nghẹn. Tôi còn đầy đủ tay chân, làm sao thanh thản nuốt miếng cơm của người cha già tàn tật?<br />
Tôi đi ra đồng, lủi vào rẫy mía, hái những thứ rau sam, rau dệu mọc hoang. Gió lay cờ mía bay trắng đồng, vướng cả trên đầu, trên áo tôi. Loài chim sâu luýt chuýt kiếm ăn trong mía thấy có người, bay vụt lên. Lúc tôi chui ra, gặp ông cụ vác cuốc đi tới.<br />
Cụ hỏi: “Làm gì trong ấy?”<br />
Tôi cầm bó rau giơ lên.<br />
Cụ nói: “Rau dại ư? Đứng đó.”<br />
Cụ lủi ngay vào rẫy mía, lối tôi vừa chui ra. Cụ không tin tôi, muốn kiểm soát xem có cây mía nào bị bẻ trộm. Mặt tôi ra sao, mà ai cũng nghi ngờ trộm vặt? Tôi nghĩ, con người có cái vận. Khi vận mạt thì ám khí tràn lên làm con người bệ rạc, che lấp cái vẻ đường hoàng khả tín. Có phải mặt tôi tôi bây giờ như thế?<br />
Cụ già chui ra, dịu giọng: “Lần sau, đừng vào rẫy.”<br />
Tôi nín thinh bỏ đi.<br />
Tôi đem rau về, giấu sau hè. Lúc ba tôi đi khỏi, tôi luộc rau ăn thêm. Nhiều lần như thế. Có lần ba tôi về bất ngờ, thấy tôi đang ngồi với rổ rau. Không giấu được nữa, tôi gượng cười. Ba tôi đứng sững nhìn tôi, rồi quay đi không nói gì.<br />
Buổi tối. Dưới ngọn đèn dầu, ba tôi ngồi quấn thuốc rê. Ông xe tròn điếu thuốc trên mặt bàn, bằng bàn tay còn lại. Tôi ngồi trong góc tối, nhìn sự thiếu hụt một phần thân thể của ông. Tôi nghĩ, không phải chỉ có thế. Nó còn ảnh hưởng rất lớn đến sự thiếu hụt của tâm hồn, đưa đến buồn chán an phận một kiếp người.<br />
Dì tôi đi ngủ rất sớm. Dì ngủ và thức cùng giờ với gà. Trời mới chạng vạng, gà đã vào chuồng. Ba bốn giờ khuya, gà gáy báo hiệu bình minh. Dì thức dậy, không để làm gì cả. Dì chong đèn ngồi lặng cho đến khi trời sáng. Tôi gọi mẹ kế bằng dì. Mẹ ruột tôi mất. Năm năm sau, ba tôi rước dì về làm vợ. Lúc đó, tôi mười ba tuổi. Dì ở với ba tôi, ba mươi năm không có con. Miệng đời xoi mói, rằng trước khi về với ba tôi, dì đã lang chạ với nhiều đàn ông. Dì ít nói đến độ tôi không biết tình cảm của dì ra sao. Dì không nói câu gì làm tôi buồn, cũng không tỏ thiện cảm với tôi.<br />
Tôi về hai mươi mốt ngày, ba tôi bán lứa heo con. Tiền bán heo, cất trong tủ. Xâu chìa khóa treo ở cây đinh, khuất sau tủ.<br />
Mấy ngày sau, ba tôi nói: “Tiền bán heo mất sạch rồi.”<br />
Dì nhìn tôi, dò xét.<br />
Tôi không biết nói sao, bỏ ra ngoài hiên, ngồi hút thuốc. Dưới chân tôi, những con kiến đen đi tìm mồi. Nắng xế chiều xuân gay gắt lắm. Trời cao và xanh, gợn vài cụm mây nhỏ. Nỗi đời hốt biến như mây chó.<br />
Một bà quảy gánh đi ngoài đường, hỏi vọng vào: “Có đồ gì cũ, bán không?”<br />
Tôi nói: “Có tôi. Mua tôi không?”<br />
Bà nhìn tôi: “Mặt không đáng đồng xu.”<br />
Tôi chợt nhớ có mấy cái muỗng nĩa bằng inoque, và đôi dép nhựa đứt quai.<br />
Tôi gọi: “Bà ơi, vào đây.”<br />
Bà cầm muỗng nĩa lên coi: “Tất cả mười đồng.”<br />
Tôi nói: “Mười lăm.”<br />
Bà quảy gánh lên vai.<br />
Tôi nói: “Mười đồng, lấy đi. Còn đôi dép?”<br />
Bà nói: “Cho thì lấy. Không mua.”<br />
Tôi cất tiền trong túi, bâng quơ nhìn đàn gà bươi dưới gốc hàng rào cây dâm bụt. Nhà đang dọn cơm chiều. Tôi bỏ đi lang thang. Chiều tối mịt, tôi ghé quán cà phê. Cà phê sữa, mười hai đồng. Cà phê đen, tám đồng. Tôi uống cà phê đen. Dư hai đồng, tặng luôn cho cô gái chạy bàn. Quán vắng. Bóng đèn nhỏ bằng đầu ngón tay, dùng điện bình acquy, ánh sáng mờ mờ buồn thảm. Tôi ngồi im lặng. Ly cà phê đã hết từ lâu. Tôi ngồi im lặng như thế, thật lâu. Buồn tay, tôi quậy chiếc muỗng chạm lanh canh trong cái ly không.<br />
Cô gái hỏi: “Chú dùng thêm gì?”<br />
Tôi lắc đầu.<br />
Cô lại hỏi: “Có phải chú là cái chú gì cải tạo mới về đó không?”<br />
Tôi nói: “Phải rồi.”<br />
“Được về thì mừng. Sao chú buồn?”<br />
Tôi nói một câu rẻ tiền: “Đời chẳng có gì vui.”<br />
Nói xong, tôi chào cô gái, và ra khỏi quán.<br />
Ba tôi ngồi ngoài hiên chờ tôi về. Đèn trong nhà hắt sáng yếu ớt sau lưng, làm khuôn mặt ông tối hẳn, như cái bóng đen in trên nền phong hư ảo.<br />
Ba tôi nói: “Còn chừa phần cơm cho con.”<br />
Tôi đói lắm, nhưng nói: “Con không đói.”<br />
“Con đừng làm thế. Ba không nghi cho ai cả.”<br />
Tôi nghĩ, thân phận tôi, ai cũng nghi ngờ là kẻ gian. Chỉ có ba tôi tin tôi.<br />
Ba tôi nói tiếp: “Ba đã biết người lấy tiền.”<br />
Tôi nghĩ, ba tôi hiểu tôi là đủ rồi.<br />
Ba tôi kể: “Ba dời cái ổ gà đẻ, phát giác ra số tiền cất giấu dưới đáy ổ gà. Dì con nói, ăn ở với ba không có con. Sợ khi chết không ai lo, nên tự lo trước cho mình. Dì con muốn mua bộ táng đá xây mả.”<br />
Tôi gục đầu. Xót cho ba tôi. Xót cho Dì. Xót cho tôi. Ai cũng muốn làm người tốt, hoàn cảnh cứ xô vào ngõ cụt.<br />
Ba tôi, và tôi ngồi đấy. Đêm xuân mà đất trời mờ mịt, oi bức. Muỗi bay vo ve bên tai. Ngoài đường, toán du kích xã đi tuần ngang qua. Họ cười nói oang oang. Súng đạn khua lách cách. Có tiếng chó sủa bên nhà hàng xóm.<br />
Tôi nói: “Con muốn gặp Minh, giải quyết vấn đề một lần cho xong.”<br />
Ba tôi nói: “Đừng. Thằng bồ của nó sẽ đưa con vào tù đấy.”<br />
“Con không làm điều gì rắc rối.”<br />
“Cũng đừng. Ngày con đi tù, nó còn trẻ quá không chờ được. Không phải lỗi tại nó đâu.”<br />
Không phải lỗi tại nó đâu. Lỗi tại ai? Tôi hỏi lòng tôi như thế. Đêm xuân mà đất trời mờ mịt. Tôi dõi mắt nhìn xa hơn, chỉ thấy mờ mờ như ảo giác. Tất cả đều là ảo giác, là phù du, kể cả đời này.<br />
Ngày mồng tám tháng ba, Dì tôi làm bữa ăn ngon. Thịt cá rau cải chiên xào đầy đủ. Dì không tuyên bố một lời.<br />
Ba tôi nói: “Hôm nay, mừng tuổi sáu mươi tư cho dì của con.”<br />
Tôi nắm hai bàn tay, đưa lên trán rất trịnh trọng: “Con chúc dì sức khỏe tốt, sống lâu trăm tuổi.”<br />
Dì nói: “Già quá, chỉ khổ thân. Lúc nào mắt lòa tai điếc, chết đi là vừa.”<br />
Tôi ăn, và nghĩ đến những điều giả dối. Mọi người rõ mặt nhau, mà không rõ lòng nhau. Tội nghiệp dì tôi. Sáu mươi tư tuổi, dì vẫn cô đơn khép kín trong nhà này. Ba tôi cũng cô đơn bên người đàn bà khép kín. Tôi thì quá đau khổ hận đời. Bộ mặt lầm lì, còn gần gũi được với ai?<br />
Chúng tôi đang ăn, có anh du kích đứng trước cửa, hỏi lớn: “Ở đây có ai tên Lâm?”<br />
Ba tôi buông đũa đi ra: “Nó là con tôi. Có chuyện gì không?”<br />
Du kích chìa tờ giấy: “Có giấy mời lên xã.”<br />
Ba tôi cầm tờ giấy quay vào, thắc mắc: “Không biết chuyện gì?”<br />
Tôi nói: “Chuyện gì cũng vậy thôi.”<br />
Ba tôi nói: “Đụng tới bọn này phiền lắm.”<br />
Từ lúc nhận giấy mời, bữa ăn mất ngon. Dì tôi không nói câu gì.<br />
Tôi lên xã, và trở về chuẩn bị ngày mai đi công tác thủy lợi.<br />
Ba tôi hỏi: “Tù mới về, còn trong thời hạn quản chế. Sao bắt đi thủy lợi?”<br />
Tôi nói: “Mỗi địa phương có một ông vua con, áp dụng luật rừng xanh.”<br />
Ba tôi than: “Toàn là luật lệ chết người.”<br />
Tôi nói: “Trong tù lao động, có cơm tù. Về đây lao động, lấy gì ăn?”<br />
Ba tôi lặng lẽ vào nhà bếp, xúc cho tôi bọc gạo, gói vài con cá khô, nhét chút tiền đi xe.<br />
Tôi ngồi xe Lam đi Bến Mương, lội bộ hơn cây số đường đất là vào tới chỗ công tác thủy lợi. Nhiều người đến trước, đang dọn chỗ trong căn nhà trống. Có lẽ xưa là nhà hội của dân Bến Mương. Phía trái cách căn nhà vài chục bước có cây đa già, độ tuổi cũng trăm năm. Tàng cây cao rộng, phủ một vùng bóng lớn. Trên nhánh cây thòng xuống những rễ phụ, đâm xuống đất. Nhiều rễ lâu năm, to bằng cột nhà.<br />
Toán thủy lợi gồm hai mươi tám người. Đàn ông đàn bà, già trẻ đủ mặt. Toán chia làm hai nhóm. Mỗi nhóm có một nhóm trưởng. Tôi bốn mươi ba tuổi, già nhất, được chỉ định làm toán trưởng. Làm toán trưởng cũng là làm chơi thôi. Mọi sự đôn đốc kiểm soát đã có đốc công. Bốn đốc công, coi hai mươi tám người. Lại có thêm một đốc công trưởng, coi bốn đốc công. Ông này có súng K54, mang bên hông rất oai. Tổ chức chặt chẽ qua nhiều tầng lớp kiểm soát, nhưng khi bắt đầu làm việc thì tất cả đốc công đều vắng mặt. Họ vào xóm Bến Mương, ăn nhậu hoặc tán gái. Chúng tôi cầm xẻng cuốc đứng dưới hào, thỉnh thoảng hất một xẻng đất lên, vá những chỗ đê vỡ. Làm việc ầu ơ lấy có. Phần lớn thì giờ là nói chuyện tầm phào, kể chuyện tiếu lâm. Mấy chị đàn bà rất thích nghe chuyện tục. Họ cười nhiều nhất.<br />
Đến trưa, mọi người tự động ngưng làm, vào nấu ăn. Gạo để chung, đồ ăn chung. Đàn bà lo nấu nướng. Đàn ông ngồi hút thuốc tán gẫu, chờ cơm.<br />
Tôi mắc võng vào hai chiếc rễ phụ của cây đa, tránh sự ồn ào trong căn nhà trống.<br />
Một chị nói: “Nằm đây nguy lắm. Cây này có nhiều rắn lục.”<br />
Tôi nói: “Chỉ nằm nghỉ trưa.”<br />
“Ừ. Ban đêm thì không nên.”<br />
Buổi chiều. Hai mươi tám người ra đê, chống cuốc xẻng phơi nắng vài tiếng đồng hồ, lại vào nghỉ.<br />
Sau một ngày rong chơi, các đốc công trở về. Có người nồng hơi rượu. Họ ra đê kiểm soát công việc.<br />
Lúc trở vào, có người nói: “Thời gian có hạn. Bà con làm thế thì bao giờ cho xong? Mai cố gắng lên nhé.”<br />
Một chị trẻ, trề môi: “Đợt này không xong. Đợt sau làm tiếp.”<br />
Anh đốc công đi lại, vỗ vào đít chị trẻ: “Lắm lời chanh chua cong cớn này!”<br />
Chị trẻ vênh mặt : “Thì sao?”<br />
Anh đốc công cười hì hì, cúi sát mặt chị trẻ: “Tối nay phạt cái tội lười biếng.”<br />
Chị khác xía vào chuyện: “Mười người như anh, nó cũng không sợ.”<br />
Anh đốc công hỏi: “Em sợ không?”<br />
Chị nói: “Cỡ anh, tôi chấp hai chục.”<br />
Bọn đàn ông vỗ tay cười đùa.<br />
Cơm chiều xong. Những anh đốc công theo tán tỉnh mấy chị đàn bà. Vài chị đi với họ suốt đêm. Số còn lại, ngủ trong căn nhà trống.<br />
Nhiều đêm khó ngủ, tôi thấy có kẻ lén chui vào mùng người khác. Có một cặp, đêm nào cũng dìu nhau ra gốc cây đa. Vài hôm sau, tôi biết chị đàn bà dọa tôi có rắn lục, là người được dìu ra gốc cây đa, lúc nửa khuya. Chị không sợ rắn lục. Gần sáng. Tiếng gà gáy vẳng lại từ xóm Bến Mương, là lúc những kẻ lộn sòng trở về đúng vị trí của mình. Công việc thủy lợi lại bắt đầu, như mọi ngày bình thường.<br />
Ngày thứ mười lăm, ông đốc công trưởng tuyên bố: “Hôm nay là ngày cuối cùng, tôi cho bà con nghỉ việc buổi chiều. Trước khi chia tay, tôi đề nghị bà con tùy khả năng mỗi người, đóng góp chút tiền hùn mua vài con gà và lít đế, làm tiệc liên hoan mừng công tác tu sửa hệ thống thủy lợi, đã tiến hành thuận lợi và hoàn tất tốt đẹp. Có ai có ý kiến gì không?”<br />
Mọi người vỗ tay tán thành lời đề nghị văn hoa của ông đốc công trưởng.<br />
Kiểm lại số tiền đóng góp xong, ông chỉ định: “Anh toán trưởng đi mua gà với tôi.”<br />
Tôi nói: “Vâng.”<br />
Trên đường vào xóm Bến Mương, ông đốc công trưởng nói: “Anh ít nói nhỉ?”<br />
Tôi trả lời: “Tôi không có gì để nói.”<br />
Chúng tôi hỏi mua gà nơi nhà của một người quen với ông đốc công trưởng. Ông gọi người này là anh Sáu Lự. Anh Sáu Lự bảo vợ lo bắt gà. Chị Sáu Lự ra sân rải thóc, chu miệng gọi gà: “Chúc chúc chúc&#8230;”<br />
Đàn gà đang kiếm ăn rải rác ngoài vườn, nghe tiếng gọi, chạy về mổ thóc trên sân. Có con gà trống lớn không lo ăn, chỉ lo dụ khị con gà mái tơ để đạp mái. Sau khi thỏa mãn, nó vỗ cánh, vươn cổ gáy ò ó o ò o&#8230; Ông đốc công trưởng cười nhìn chị Sáu Lự, và bắt chước giọng gà: “ Ò ó o ò o&#8230; Đời có thế mà thôi..!”<br />
Chị Sáu Lự cũng cười, mắng: “Đồ quỷ quái!”<br />
Quả thật là đồ quỷ quái. Đời có thế mà thôi. Sao tôi cứ loay hoay buồn rầu khốn khổ với đời?<br />
Sau đợt công tác thủy lợi. Tôi về vẫn y như tình trạng cũ. Buồn nản. Quẫn trí.<br />
Ba tôi đưa bộ truyện Tiếu Ngạo Giang Hồ của Kim Dung, bảo: “Đọc đi.”<br />
Tôi nói: “Còn tâm trí đâu mà đọc.”<br />
“Thằng Lệnh Hồ Xung bị cả hai phái hắc bạch giang hồ chối bỏ, đến nỗi phải than trời đất mênh mông mà ta không còn chỗ dung thân, nhưng cuối cùng nó cũng đâu có chết.”<br />
“Chuyện hư tưởng, đọc để mua vui. Không thể lẫn lộn giữa thực và mộng.”<br />
“Không sống với thực được, thì trốn vào mộng. Đau khổ mãi ích gì?”<br />
“Con đang suy tính một việc làm.”<br />
Ba tôi bảo: “Hãy viết thư sang Canada cho anh con.”<br />
Tôi nói: “Người ta chỉ giúp ngặt, không giúp nghèo.”<br />
“Đây là lúc ngặt của con.”<br />
Ông đưa giấy bút cho tôi. Tôi viết:<br />
Ấp Gò Chùa ngày&#8230; tháng&#8230; năm&#8230;<br />
Kính gởi anh chị Hai,<br />
Trước tiên, em có lời thăm anh chị và chúc sức khỏe. Ở nhà, Ba và Dì vẫn khỏe. Vẫn nuôi heo, nấu rượu bình thường. Sau đây, em xin nói về phần em. Em đi cải tạo mười năm, có tiến bộ về mặt tư tưởng. Được Đảng và nhà nước khoan hồng cho về với gia đình, góp phần xây dựng xã hội mới. Hiện tại, em chưa được bố trí việc làm. Vì vậy, đời sống chưa được đảm bảo tốt. Em mong anh chị vì chút tình ruột thịt mà giúp cho em một số tiền để sống, và chờ đợi&#8230;<br />
Một lần nữa, em xin chúc anh chị bình yên, vui tươi, hạnh phúc.<br />
Giấy ngắn tình dài, em xin dừng bút tại đây.<br />
Em của anh chị.<br />
(Ký tên)<br />
Tái bút: Vợ em thì coi như diều đứt dây rồi. Không còn gì để nói.<br />
Tôi đưa lá thư cho ba tôi đọc lại. Đọc xong, ông vò lá thư, ném vào lò nấu cám heo.<br />
“Nó sợ Đảng và nhà nước, mà bỏ chạy. Viết thế này thì một xu cũng không được.”<br />
Tôi lặng người. Có một nỗi gì thấm thía của gã ăn mày bị từ khước.<br />
Lúc ấy, dì tôi đi đâu bên ngoài vừa về tới.<br />
Dì nói: “Cô Bảy Mỹ Quang nhắn con sang nhà, bàn chuyện gì đấy.”<br />
Cô Bảy là em họ của ba tôi. Trước kia, cô là chủ tiệm Mỹ Quang buôn bán đồ điện ở Sài Gòn. Sau hai đợt đánh tư sản mại bản, cô sạt nghiệp phải lui về Gò Chùa, làm bún kiếm ăn qua ngày. Con trai của cô, làm ở Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo, đi cải tạo chưa về. Còn đứa con gái theo chồng vượt biên, biệt tăm luôn. Nhiều người cho rằng, vợ chồng con gái của cô đã chui vào bụng cá mập. Cơm chiều xong, tôi sang nhà cô Bảy. Dượng Bảy lúi húi nấu nước pha cà phê.<br />
Cô Bảy nói: “Con được về là gia đình mừng. Nhưng ba và dì của con cho biết, con mặc cảm có ăn mà không có làm. Cô có công việc cho con.”<br />
Tôi mừng, đợi nghe cô nói tiếp. Dượng Bảy đem hai ly cà phê đặt lên bàn. Dượng cười. Hàm răng cửa chỉ còn mấy chiếc chơ vơ thảm hại.<br />
Dượng nói: “Con phụ làm bún với dượng.”<br />
Tôi nhận lời ngay. Đối với tôi bây giờ, việc gì cũng được.<br />
Buổi sáng. Cô Bảy ngồi bán bún ở chợ. Tan chợ, cô gánh bún đi lòng vòng lối xóm, đổi gạo. Dượng Bảy và tôi ở nhà xay bột, bồng bột.<br />
Buổi chiều. Cô Bảy về nhà, Dượng và tôi lại nhồi bột, nắn lại từng khối tròn như trái banh. Luộc bột trong một cái trả lớn. Cô Bảy vớt khối bột ra, cho vào cối. Dượng và tôi chèo bột, dùng sức đến đổ mồ hôi. Rồi nắn bột thành những khối hình trụ, cho vào cối ép thành sợi. Việc này, cần sức nặng mà Dượng và tôi đều ốm nhom, phải bê thêm cái cối dằn lên cho tăng phần trọng lượng. Sợi bún chảy xuống nồi nước đang sôi. Lại trút bún ra, cho vào nước lạnh. Cô Bảy vớt con bún rê thành từng lọn, là lúc dượng và tôi ngồi thở. Sau đó, tôi gánh nước luộc bột về cho ba tôi nuôi heo. Ít ra, trong nước luộc cũng còn vương chút bột, góp phần làm con heo mau lớn. Công việc loay hoay mệt nhọc như thế, xong xuôi vào lúc nhà lên đèn.<br />
Cô dượng làm bún chỉ đủ ăn. Tôi làm bún để có ăn, không có lương. Lâu lâu, cô Bảy cho bánh thuốc rê, và cuộn giấy quyến.<br />
Mấy hôm nay, có gánh hát Cải Lương Hồ Quảng ghé xã. Cô Bảy cho tiền bảo tôi đi coi. Tôi đi trong màu trăng. Bầu trời trong vắt, và trăng sáng lắm. Bóng tôi in trải trên đường. Chỉ mình tôi với bóng. Buồn và cô đơn khủng khiếp. Tôi đi đến chỗ có ánh đèn điện sáng choang, người người đông đảo lao xao. Hội trường được che chắn chung quanh làm rạp hát. Phía trước, dựng lều căng bạt, bán cà phê, nước giải khát, bánh kẹo, thuốc lá và thức ăn. Người ta chen chân nhau vào cửa rạp. Tôi không muốn vào. Tôi đi loanh quanh. Lòng tôi nguội lạnh, lẻ loi. Cuối cùng, tôi ngồi dưới một mái lều bán cà phê. Cô bán hàng là người quen, tên Giang. Giang là bạn của vợ tôi. Trước kia, Giang làm ở Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam. Thời thế thay đổi, Giang đem con về sống ở quê. Chồng Giang vượt biên sang Mỹ, nghe đâu đã có vợ khác rồi.<br />
Giang bưng cà phê cho tôi, rồi ngồi ở phía sau chiếc bàn bày hàng.<br />
Giang hỏi: “Anh về có khỏe không?”<br />
Tôi nói: “Khỏe.”<br />
Giang lại hỏi: “Có gặp chị Minh không?”<br />
Tôi lắc đầu: “Thuộc về quá khứ rồi. Gặp làm gì nữa.”<br />
“Chị Minh cũng vì hoàn cảnh.”<br />
“Một trăm người đàn bà phụ bạc, cũng đổ thừa hoành cảnh. Chồng em có liên lạc về không?”<br />
Mắt Giang thoáng chút xa xôi buồn bã: “Coi như nước xuôi ra biển, không trở lại nguồn.”<br />
Tự nhiên tôi thấy tội nghiệp Giang hết sức. Tôi nghĩ, tôi với Giang là người đồng cảnh, dễ tội nghiệp cho nhau.<br />
Tôi hỏi: “Em dọn hàng về lúc nào?”<br />
Giang nói: “Thưa người là em dọn.”<br />
“Đồ đạc nhiều quá, làm sao một mình em đem hết?”<br />
“Em đem làm hai lần.”<br />
“Anh sẽ phụ với em. Một lần là xong.”<br />
Giang ngại: “Có phiền anh không?”<br />
“Phiền gì? Anh cũng đang rỗi rảnh.”<br />
Có mấy người khách ngồi vào bàn cà phê. Giang lo tiếp khách. Tôi đứng dậy bỏ đi. Tôi đi vòng ra phía sau hội trường. Có những cặp tình nhân đứng nép vào nhau, dưới những gốc cây. Tôi nghĩ, ở đâu người ta cũng có thể nói chuyện tình yêu. Cái thứ tình cảm quỷ quái này, nó đánh lừa tất cả. Mới đầu tưởng nó là hạnh phúc, nhưng sau đấy là thất vọng chán chường đau khổ. Tôi cũng thế, tôi cũng bị lừa.<br />
Khi tôi quay lại chỗ Giang. Giang nói: “Tối nay em nghỉ sớm.”<br />
Tôi phụ Giang xếp những đồ đạc lên xe ba gác. Một xe cồng kềnh đầy nhóc.<br />
Tôi hỏi: “Còn cái bàn, chắc phải đi thêm chuyến nữa?”<br />
Giang nói: “Để lại. Ngày cuối cùng dỡ lều, sẽ đem về luôn.”<br />
Giang cầm càng xe. Tôi đẩy ở phía sau. Trên đường về, trăng sáng lắm. Dọc đường, Giang kể về cuộc sống vất vả sau ngày chồng bỏ đi. Tôi kể chuyện làm bún. Giang đùa, rằng tôi có cái tướng của ông chủ lò bún tương lai. Giang và tôi cùng cười. Nói chuyện với Giang, tôi nghe lòng mình ấm lại. Đến nhà, Giang bảo: “Để nguyên như thế. Cho cả chiếc xe vào nhà. Mai lại đem đi.”<br />
Tôi đứng tần ngần. Nửa muốn nán lại, nửa muốn về.<br />
Giang đến gần tôi, hỏi nhỏ: “Có ai chờ anh ở nhà không?”<br />
Tôi nói: “Không.”<br />
Giang nói như nói thầm: “Thế thì nghỉ lại đây với em.”<br />
Tôi quàng vai Giang.<br />
Giang vùng ra: “Cho em đi tắm.”<br />
Tôi ra đứng ngoài sân, nghe tiếng giội nước sau hè. Tôi hình dung ra thân thể nở nang của người đàn bà một con, da thịt trắng ngần loang loáng nước, dưới trăng. Tôi háo hức đợi chờ. Lúc sau, tôi bước vào nhà. Giang mặc áo cánh mỏng, đang lúi húi khơi lại ngọn đèn. Tôi ôm ghì lấy Giang.<br />
Giang nói: “Từ từ, anh&#8230;”<br />
Tôi thổi tắt phụt ngọn đèn, dìu Giang đến chiếc giường, nơi có ánh trăng mờ mờ xuyên qua đầu hồi. Tôi ôm Giang, vuốt ve hôn hít. Giang thở dồn dập. Tôi cũng thở dồn dập.<br />
Bỗng Giang kêu lên nho nhỏ: “Em biết tại sao chị Minh bỏ anh rồi.”<br />
Tôi hoảng hốt: “Không phải thế đâu.”<br />
Giang vùng dậy, thắp đèn: “Em xin lỗi. Khuya lắm rồi, anh về đi.”<br />
Tôi đi về trong đêm trăng sáng. Trời không sương mà vai tôi lành lạnh. Khuya vắng đến rợn người. Tôi nghe rõ cả tiếng côn trùng rên rỉ. Buồn và cô đơn khủng khiếp. Đời vẫn dành cho tôi nhiều ưu ái. Tại tôi làm hư việc. Lỗi tại tôi mọi đàng. Tôi đi. Bóng tôi in trải trên đường. Chỉ mình tôi với bóng.</p>
<h3><b>Thượng du, niềm thương nhớ</b></h3>
<p>Ngược dòng Thác Bà, lên tận thượng nguồn dựng trại. Trại nằm trong thung lũng, sát chân núi. Núi không có tên. Núi chập chùng trùng điệp, đếm không hết. Cả một vùng bao la núi non hiểm trở trải dài lên tận biên giới, mang chung một tên Hoàng Liên Sơn.</p>
<p>Một thời kỳ nô lệ xa xôi, người da đen Phi Châu bị lùa xuống tàu đi biệt xứ. Tôi cũng bị lùa xuống tàu, nhưng chưa ra khỏi lằn ranh xứ sở. Thời gian không lâu mà tưởng chừng qua một kiếp. Bỏ đời cũ. Quên những buộc ràng quá khứ. Trong nghiệt ngã, suy tư nhiều sẽ không sống nổi. Dằn vặt với thương đau sẽ không còn mạng trở về. Tinh thần đi xuống, thân xác không thể đi lên. Hãy xem mọi hành xác là sự bình thường. Tôi nghĩ thế, và thản nhiên “chém tre đẵn gỗ trên ngàn” dựng trại.</p>
<p>Lán trại lợp bằng nứa, chung quanh có rào. Hàng rào cũng làm bằng nứa bắt chéo vào nhau, đầu chông nhọn hoắt. Trưởng trại nói rào để cản thú dữ, nhưng ai cũng biết rào để ngăn người từ trong thoát ra ngoài. Cổng trại là lối ra vào độc nhất, có chòi canh kiểm soát. Bên hông trại, còn một chòi canh nữa, cao bằng ngọn cây để quan sát toàn trại. Trên đó, đặt một họng súng đại liên chỉa mũi vào trại. Nơi miền cao thôn bản, súng đạn là thứ duy nhất tượng trưng văn minh của người miền xuôi.<br />
Ở đây, không đo thời gian bằng kim đồng hồ. Trưa nghe chim bắt-cô-trói-cột kêu trên đầu núi, biết đang mùa hạ. Đêm nằm nghe cú rúc ngồi đầu hồi, biết đang mùa đông. Thung lũng ít chịu mặt trời. Âm khí núi rừng pha trong sương đục, nhòa nhòa lán trại. Cái lạnh rờn rợn nhiễm vào người, lâu dần thành quen. Thiên nhiên tập cho con người biết chịu đựng. Về với thiên nhiên, thở cùng cỏ cây. Đi trên đất ẩm, nghe mùi rong rêu lá mục. Làm quen với muỗi đói vắt rừng. Coi thường độc trùng rắn rít. Ngồi lặng hàng giờ, ngắm những bông hoa dại âm thầm ngoi lên từ kẽ đá. Thưởng thức tinh hoa của đất trời, cũng là một cách dưỡng sinh. Dựa lưng gốc đại thụ, thấu lẽ câm nín ngàn đời. Quên chuyện ngày trước. Bỏ chuyện ngày sau. Sống đời hoang dã. Thú rừng vô tâm không biết buồn. Ai nặng thất tình lục dục dễ bỏ mình giữa chốn thâm sơn.<br />
Gió lớn bốn phương về ngang thung lũng, bỗng trở mình cuộn thành cơn lốc. Lá khô bị hốt lên cao, rồi tung ra như bướm tan đàn bay tứ tán. Cái nóng mùa khô gió Lào không đủ ấm lòng thung lũng. Gió rừng không sát đất. Gió rì rào trên đọt cây. Dường xa xôi vọng lại. Dường gần gũi bên mình. Đời đang khốn khó mà nghe như có tiếng thì thầm của một quê nhà cách trở.<br />
Ở đây, thường nghe gió hú. Các cụ già người Dao ngồi hơ tay bên bếp lửa chiều đông, kể bao nhiêu là chuyện âm hồn nương theo gió, về đậu trên ngọn rừng tru thảm khốc. Thầy Mo thương những hồn cơ quạnh, không nỡ đuổi đi. Tôi, người mạt khách phương xạ Nghe chuyện thần linh ma quỷ. Nghe truyền thuyết bao đời cha ông của người Tày người Dao. Nghe bài ca gắn bó núi rừng. Thấm thía muốn trở thành người Tày người Dao để đêm đêm nằm dưới mái nhà sàn, thấy cây cỏ mọc đầy trong giấc chiêm bao. Tôi, kẻ trí cùn, không thuộc hết bài trường ca thôn bản, viết lại bằng mường tượng nhớ nhớ quên quên:<br />
Bản ta có bếp lửa bằng tuổi ngôi nhà<br />
Có người già bằng cây cổ thu.<br />
Sống trăm năm bóng đè ngọn núi<br />
Sinh con đẻ cái<br />
Ở cùng cây rừng<br />
Ở cùng đá núi<br />
Đất cho cái ăn lấy từ nương rẫy<br />
Nước cho cái uống lấy từ khe xanh<br />
Thịt da thấm sương mù<br />
Bàn tay rắn rỏi<br />
Vỡ đất cho hạt lên mầm<br />
Buổi sáng giắt con dao quắm<br />
Vác cái xà gạc trên vai<br />
Đội lá rẻ gai vào rừng<br />
Bắt con mang con mển<br />
Bắt con nhím con trăn<br />
Chặt cây giang cây nứa cây vầu<br />
Đốn cây trắc cây lim cây gu.<br />
Đẽo gỗ làm nhà sàn<br />
Nuôi bếp lửa trừ tà xâm nhập<br />
Bản ta có thầy Mo<br />
Quen với Thần Rừng Thần Núi<br />
Biết vẽ bùa làm phép<br />
Gọi âm binh che chở bản làng<br />
Không sợ con cú mèo trù rủa<br />
Không sợ con beo con báo<br />
Về rình trong đêm tối<br />
Thầy Mo gọi ôg Trời<br />
Cho cái mưa cái nắng<br />
Nuôi cây lớn lên nuôi người lớn lên<br />
Giống giòng đời đời nối tiếp&#8230;</p>
<p>Tôi không hiểu ngôn ngữ người sắc tộc. Nhưng khi cụ già người Dao cất giọng, nghe như tiếng kêu trầm thống và một nỗi gì như nỗi tàn phai đang đổ xuống núi rừng lồng lộng hồng hơn. Không như ngâm thợ Không như hát tân cổ nhạc. Không như tụng kinh. Cái âm lên không bổng, xuống không trầm. Ê a lê lết kéo dài áo nảo. Từa tựa như pháp sư đọc thần chú. Một sắc thái hoàn toàn riêng biệt. Lẩn khuất trong lời ca, có niềm bi tráng. Cụ già chuyển ngữ bằng lời Việt. Tôi rắp tâm ghi nhớ trong lòng, mà lòng tôi thì nhòa dần theo ngày tháng nắng mưa.<br />
Những chiều thu yên ả, ngồi trên lưng chừng núi nhìn xuống rừng. Khói nghi ngút bốc lên từ những mái nhà sàn, núp sau vòm cây. Nhớ cái bếp người thượng dụ Đốm lửa đầu tiên thỉnh từ thầy Mo đem về gầy nên bếp lửa. Và đốm lửa ấy, âm ỉ ngún hồi theo thời gian, tồn tại cùng với ngôi nhà. Người Dao tin rằng lửa xua đi bóng tối ma quỷ. Muốn cho nhà cửa bình yên, phải giữ lửa hoài trong bếp. Tôi cũng muốn tin như thế, tin bất cứ điều gì huyền bí để trong tuyệt vọng, tinh thần còn có thiêng liêng làm chỗ dựa.<br />
Những người khách bất đắc dĩ từ phương Nam xa xơi đến đây, đều ghê mùa đông Việt Bắc. Mùa đông. Ngày chưa chiều, trời đã chạng vạng từ lúc mới ra đi.<br />
Mùa đông đến mưa phùn gió bấc<br />
Suốt mùa đông không thấy mặt trời</p>
<p>Ngày xám âm ụ Mưa phùn nhẹ như sương muối, thấm ẩm áo quần. Gió bấc hiu hiu, thổi cái buốt luồn vào tận xương. Vác bó nứa dài lê thê xuống núi. Đất nhão. Dốc trơn. Trượt té. Vấp ngã. Tay chân xây xước, chảy máu mà không đau. Da thịt lạnh tê, mất cảm giác.<br />
Đường đi khó, Không khó vì ngăn sông cách núi<br />
Mà khó vì lòng người ngại núi e sông</p>
<p>Có thật vậy không? Câu nói của Nguyễn Bá Học một thời lấy làm kim chỉ nam, dù hàm chỉ nghĩa bóng, giờ đây, bỗng thấy sáo rỗng. Những ai đang trên dốc đời khổ sở mới biết được cây thập tự giá trên vai Chúa Giê-Su nặng dường nào. Có vào địa ngục mới cảm thông kẻ chịu cảnh A Tỳ. Ngồi một chỗ lý thuyết suông, nói những câu triết lý để đời dễ hơn là đối mặt với thực tại gian truân. Những hình nhân tiều tụy rách rưới, vượt qua được một mùa đông là đi thêm một chặng đường vô vọng. Sự vô vọng giết người. Càng lấn sâu vào con đường vô vọng, càng gần sự chết. Chết đủ mọi cách. Đói làm suy dinh dưỡng, thân xác không còn sức đề kháng với bệnh tật. Thậm chí, cảm xoàng cũng chết. Chung quy, cũng vì không thấy được ánh sáng phía cuối con đường vô vọng. Tôi có người bạn cùng cảnh ngộ, khi đi tiêu thấy phân có lẩn chút đàm, ứa nước mắt. Tao tới số rồi. Nếu mày còn có ngày về, cho vợ con tao biết ngày cúng giỗ. Anh bị kiết lỵ. Bị kiết lỵ coi như Ngọc Hoàng giũ sổ. Tất cả thuốc men đã bị tịch thu từ lúc mới đặt chân ra đất Bắc. Ở đây, rau sam đâm dập, vắt lấy nước uống được coi là thuốc trị bệnh kiết lỵ. Ban đầu, anh còn đi ra nhà cầu. Ngày thứ hai, tôi đào cái hố nhỏ ngồi vách lán cho anh ngồi đó. Tôi phải đi rừng. Không ai săn sóc, anh bị ra hố giữa cái lạnh mùa đông dao cắt. Sau, anh nằm luôn trong lán sạp. Ỉa ra máu. Không cần mặc quần nữa. Một kẻ có quyền từ trên khung xuống, đứng nhìn anh. Mặt lạnh. Không biểu hiện căm thù hay thương xót. Không ai có thể đoán được trong cái đầu ấy đang nghĩ gì. Hỏi có cần gì không? Bạn tôi thều thào, xin một cục đường và gói mì ăn liền. Câu trả lời dứt khoát. Đường, có ngaỵ Mì, xứ này không đào đâu ra được. Yêu cầu đã thỏa mãn một nửa như ân huệ cuối cùng. Tôi đưa bạn về đất, an nghỉ dưới chân đồi. Nước mắt tôi chảy ngược, không có giọt nào nhỏ xuống cho anh.<br />
Thời mạt vận quỷ thần quay mặt<br />
Nghiến chặc răng kình với tai ương<br />
Người bỏ cuộc đi về với đất<br />
Chiếu bó thây nằm lại rẫy nương</p>
<p>Bốn mùa đều có người đi không trở lại. Nhưng mùa đông khắc nghiệt là thời điểm dễ nhất để vĩnh biệt thế gian. Tử Thần lãng vãng đâu đây, làm sao lánh mặt? Tôi nhớ loáng thoáng trong Thiền Luận: “Tất cả đều là phương tiện tu hành”. Trước nghịch cảnh, tôi áp dụng ngay câu này để hóa giải mọi thương đau, biến nhọc nhằn thành phương tiện. Bàng Uẩn xem bửa củi gánh nước là thần thông diệu dụng. Sao tôi không xem đốn cây cuốc đất là một cách tập dưỡng sinh? Và, tôi đã đi qua mùa đông, đi qua nhiều mùa đông rét mướt bằng sự thư thái riêng tôi. Một kẻ có quyền sau nhiều ngày nhận xét đã phê bình cách làm việc của tôi: “Giơ cuốc lên, cò ỉa. Hạ cuốc xuống, mối xông”. Câu nói làm tôi sửng sốt. Diễn tả động tác chậm, không có cái chậm nào bằng. Từ từ giơ cuốc lên, chậm như ngừng lại. Thời gian lâu đủ để con cò đậu trên cái cuốc và ỉa. Hạ xuống cũng chậm, đến nỗi trước khi nhấc cuốc lên thì mối đã xông thành tổ. Một lối diễn tả độc đáo. Rất bình dân mà cũng rất tuyệt vời. Tôi mãi lấy làm lý thú vì câu nói ngộ nghĩnh, quên cái hậu quả tai hại sau khi bị phê bình. Cứ thế, thân bị kềm chế mà ý thì phất phơ như chuyện đùa. Tưởng như hồn và xác chẳng dính dấp gì nhau.<br />
Nhiều đêm. Tôi nghe tiếng chắc lưỡi của những người chung quanh. Những con Thạch Sùng không ngủ, nằm trằn trọc nuối tiếc hồi một thời quyền uy son vàng đã mất. Cánh cửa quá khứ đã khép lại. Nhưng cái dư âm vi vu còn đủ sức ném bao người qua cửa tử. Nuối tiếc và thống hận là chất cường toan bào mòn tâm phế. Người xưa uất khí mà trào máu họng. Đời nay, không thấy có ai. Lác đác có dăm anh hùng sĩ khí thì đã cầm súng tự bắn vào đầu, chết hết rồi. Kể chi những kẻ bợ đít mà nên danh phận. Ngồi trên đầu thiên hạ mà chăn dân. Nằm trên bụng đàn bà mà xua quân vào trận mạc. Gặp thế biến, phóng nước đại tháo thân nhanh hơn ngựa chạy trường đuạ Bao giờ thấy những phường cẩu trệ bất nhân chiếm giữ những ngôi vị trọng yếu quốc gia, là điềm báo trước một chế độ suy tàn. Đó là quy luật của mỗi lần lịch sử sắp sang trang. Và cái hậu quả tất yếu của nó, một số người sẽ bị xô xuống hầm tai họa. Trách ai thì chuyện cũng đã rồi. Chắc lưỡi là buông thêm một dấu chấm than (!), tượng hình cho giọt nước mắt rớt xuống đời mình. Đời mình vốn đã ướt đẫm từ khi lầm lỡ đem thân giao cho kẻ ác. Thôi thì lo “bảo tinh, dưỡng khí, tồn thần”, giữ cái bổn mạng được ngày nào hay ngày ấy. Sầu bi là tự nghiến đứt sợi dây đang treo mình trên vực thẳm.<br />
Nếu không mặc cảm lưu đày thì sống với núi rừng là một kỳ thú. Người Tày người Dao sinh ra, lớn lên ở đây. Một nơi mà ánh sáng văn minh chưa hề chiếu rọi. Trong nhà họ, ngồi những cái cuốc con dao cái rìu làm bằng kim khí, tất cả những vật dụng còn lại đều bằng gỗ hoặc đất nung: ống bương đựng nước, nồi đất nấu cơm…</p>
<p>Những ngôi nhà sàn thường được dựng gần nguồn nước. Trên thế núi cao, mây ngấm hơi nước vào đất, chảy ra từ trong khe đá. Người ta dùng cây bương, đục bỏ những cái mắc làm máng dẫn nước. Nhiều cây bương nối nhau thành cái máng dài, đưa nước về tận chân nhà sàn. Nguồn nước vô tận ấy, chảy hoài không dứt. Người thượng du lợi dụng nguồn nước thiên nhiên để làm cối nước giã gạo theo nguyên tắc đánh đu, đòn bẫy. Buổi sáng, trước khi “giắt con dao quắm, vác cái xà gạc” lên rừng, họ cho một lượng thóc vừa đủ ăn trong ngày, vào cối. Cứ vài phút, cái chày giã xuống một lần đều đặn. Chiều về, họ trút thóc ra nia, sàng sãy lấy gạo nấu cơm. Và, trên nóc nhà sàn, khói chiều nghi ngút bốc lên. Đời sống đơn giản, êm đềm biết bao. Tơi mơ ước một đời sống như thế, không xuống tóc đi tu mà lòng cũng tịnh yên thoát tục.<br />
Những năm tháng làm người khách bất đắc dĩ của miền thượng du, có một dạo tôi được chỉ định chăn bò. Hai người chăn đàn bò bốn mươi con. Một trong hai người ấy, chết vì bệnh sốt rừng. Tôi là người được điền vào khoảng trống. Không phải ngẫu nhiên. Tôi vốn có bệnh bao tử, lại không được điều trị bằng thuốc men. Ở đây, bất cứ bệnh gì cũng được điều trị bằng một phương pháp rất ư là quái đản: lao động trị liệu, như chặt cây, đốn củi, vác nứa, cuốc đất, trồng khoai v.v… Trong tình huống ấy, tôi luôn luôn tạo cho mình bộ mặt nhăn nhó trường kỳ để mỗi lần, kẻ có quyền nhìn thấy tôi như thấy một hiện tượng khó chịu. Họ chỉ muốn đẩy tôi đi cho khuất mắt. Nhưng tôi cứ hiện diện, cứ èo uột sống hồi. Cuối cùng, họ cũng tìm được cách để ít phải nhìn mặt tôi. Đó là lý do tôi được chỉ định chăn bò. Sáng ra trại, mãi đến chiều mới vác mặt trở về. Yên thân.</p>
<p>Buổi sáng, mở cửa chuồng. Con bò bô đầu đàn sẽ ra đầu tiên, tự động đi theo người dẫn đường. Đàn bò còn lại, lần lượt kéo theo sau. Và, một người đi sau cùng, cầm roi đét vào đít những con đi chậm, hoặc đưa mỏ ngấm nghé cỏ lá dọc đường. Đến một khoảng đất trống nào đó, người dẫn đường dừng lại. Đàn bò sẽ phân tán đi ăn chung quanh, trên những núi đồi bát ngát màu xanh. Trưa trời đứng bóng, tôi che tay lên miệng làm loa, gọi: “Bò…ơi… Bò… ơi…”. Âm thanh vang vọng núi rừng. Đàn bò lục tục về điểm tập trung, nằm nhơi cỏ. Lúc trời xế bóng, tôi đá đít con bò đầu đàn đứng dậy, nói lớn: “Bò… đi… ăn&#8230; ” Đàn bò lại phân tán. Buổi chiều, tôi che tay làm loa lần nữa, gọi: “Bò… về… Bò… về…” Tại điểm tập trung, sau khi đếm đủ số bò, con bò đầu đàn lại theo người dẫn đường về chuồng trại.<br />
Bò rất hiền và khôn, có thể hiểu được một số tiếng người thường dùng với nó. Những con bò chửa, nếu sinh con ngoài rừng, bò con đi chưa vững, khi nghe tiếng gọi: “Bò… về…”, bò mẹ sẽ giấu con trong lùm bụi để trở lại điểm tập trung. Nhưng nó sẽ lẩn quẩn không chịu về. Người chăn không biết nó mới sinh nên đánh đuổi, bắt phải về. Bò con ở lại, im lặng một mình suốt đêm trong rừng. Sáng ra, vừa mở cửa chuồng, bị mẹ chạy trước, qua mặt người dẫn đường, đến chỗ cũ đón con. Gần tới nơi, bị mẹ liên tiếp kêu ọ… ọ… ọ… Và, bị con đang trốn trong lùm, lảo đảo đi ra. Nó mừng rỡ, quyến luyến, làm nũng cọ dựa vào mẹ. Bò mẹ âu yếm bằng cách liếm khắp mình bò con. Nghĩ đến sự vô tình làm chia cách mẹ con suốt đêm qua, tôi vỗ nhẹ lên đầu bò mẹ, vuốt ve bò con như một cách tỏ lòng cảm thông, ân hận.</p>
<p>Tôi nhớ trước đây, cũng đã có lần chứng kiến một cảnh não lòng. Ngoài bốn mươi con bò, trại có nuôi ba con trâu: hai con trâu già và một con nghé. Một ngày gần Tết, người ta lùa trâu cha và con nghé đi ăn. Riêng trâu mẹ bị lùa vào trại, giao cho nhà bếp làm thịt. Chiều về không thấy mẹ, con nghé đứng rống thảm thiết. Sáng hơm sau, vừa được mở cửa chuồng, hai con trâu chạy xăm xăm vào trại, đến trước nhà bếp. Trâu cha đứng ngóc mỏ lên trời, hả họng như kêu một tiếng vô thanh dài xé ruột. Con nghé cúi gầm xuống, đi chung quanh nhà bếp, kêu é… ọ… é… ọ… gọi mẹ và ngửi đất. Cái hơi hướm của mẹ nó còn phảng phất đâu đây, sau khi bị phanh thây xẻ thịt. Cuối cùng, một điều hết sức đau lòng, trâu cha và con nghé đứng ngơ ngẩn nhìn nhau chảy nước mắt. Trời ơi, loài vật mà biết chảy nước mắt thì loài người cầm lòng sao đặng! Liên tiếp cả mười ngày sau đó, buổi sáng nào trước khi đi ăn, trâu cha cũng dẫn con nghé đến trước nhà bếp đứng khóc. Cảnh tượng ấy, không bao giờ tôi quên. Không bao giờ quên.</p>
<p>Có lẽ, những ngày đi chăn bò là thời gian nhàn du thoải mái nhất của đời tôi. Lang thang giữa núi rừng. Đứng trên cao, ngắm mây đùn lên từ những lũng sâu, lướt thướt kéo qua chân núi. Trong phút chốc, tôi bỗng thấy mình như kẻ tu tiên lánh đời, tìm thuốc trường sinh trong hoa ngàn cỏ nội. Tôi cũng thường ngang qua nương rẫy. Ghé lại ngồi chơi với cụ già người Dao. Cụ dạy tôi hút thuốc lào mà không cần cái điếu cày. Bằng cách miệng ngậm nước, quấn thuốc trong chiếc lá, châm lửa, rít một hơi dài, ém khói và nhổ nước ra. Tôi tập nhiều lần, nhưng không làm được. Cụ kể tôi nghe về phong tục tập quán người dân thôn bản. Kể tôi nghe về đời cụ. Một điều làm tôi ngạc nhiên, cụ chưa bao giờ đi đâu xa quá một ngày đường. Tơi ước lượng khoảng cách ấy, không hơn năm mươi cây số. Cụ hỏi tôi từ đâu đến đây, và tại sao tơi nói được tiếng Việt? Qua câu hỏi, tôi biết trong thâm tâm cụ, miền Nam là một nước khác. Cụ có vẻ buồn khi nhắc đến những người con trai của núi rừng, bỏ thôn bản đi làm giải phóng miền Nam. Phần đông đi biệt không về. Một số rất ít trở về, kể chuyện Sài Gòn có cái nhà lầu cao bảy tầng và thành vua rất tráng lệ. Cụ không tin con người có thể cất được cái nhà bảy tầng. Nhưng tin rằng, nếu vua Sài Gòn không chịu đầu hàng thì quân Cách Mạng sẽ bắn nát thành vuạ Nhân chuyện cụ già, tôi nhớ trên chuyến xe lửa chở tù lên Yên Bái. Một người bộ đội hỏi tôi, thằng Pho có đi học tập chuyến này không? Tôi hỏi lại, thằng Pho nào? Thằng Pho (Ford), tổng thống Mỹ đấy. Tôi đáp gọn, nó đang ở bên Mỹ. Anh ta tiếc rẻ, thế à? Nó cũng chạy thoát? Uổng thật! Dân trí như thế, mà người ta tuyên truyền rằng ánh sáng văn minh đèn điện đã soi rọi khắp các vùng nông thôn, rừng núi.<br />
Tâm hồn người thượng du mộc mạc như đời sống của họ. Sáng sớm, rời mái nhà sàn, họ lên rẫy hoặc đi săn bẫy thú rừng. Bước chân không có tiếng động. Âm thầm hoang dã. Thỉnh thoảng, nghe tiếng đốn cây vọng lại. Cái âm thanh khơ khốc lẻ loi như từ thinh không rớt xuống núi rừng u tịch. Buổi tối, những người trẻ đi ngủ rất sớm. Người già ngồi trầm ngâm trong ánh sáng chập chờn của ngọn đèn dầu chai. Đời họ, không có gì vui cũng chẳng có gì buồn. Thời gian lặng lẽ trôi qua, họ tưởng như thiên nhiên muôn đời vẫn thế. Làm sao họ nhìn thấy được sự biến đổi chậm chạp của núi rừng, khi cuộc đời quá ngắn.</p>
<p>Mấy mươi năm về trước, có một số người miền xuôi, đi lính Tây, bị đày lên đây. Bây giờ, họ đã già lắm. Và con cháu họ cũng đã trở thành người của thượng du, nhưng họ không ở nhà sàn. Cái sân trước nhà không mọc cỏ. Chung quanh có trồng vài loại cây ăn trái. Ở mãi một nơi nào rồi cũng nhận nơi đó làm quê hương. Nếu đời cha không nhận, đời con cũng nhận. Thiên địa vô nhân. Núi rừng không vì một ai hết. Trời đất lặng thinh. Bốn mùa vẫn luân chuyển nắng mưa. Hoa lá trên ngàn vẫn xanh thắm. Không vì mặc cảm đọa đày mà con người ghét cả thiên nhiên.<br />
Một ngày mưa dầm, tôi được lệnh chuyển trại. Thời thế đã đến hồi gay cấn. Quân của hai bên đã dàn ra, đối mặt trên biên giới. Rồi đây, núi rừng lại ầm vang tiếng súng. Người dân hiền hồ vô tội của thôn bản là nạn nhân trực tiếp hứng chịu những sấm sét do chính con người gây ra.<br />
Con đường phía trước tôi, khơng biết sẽ về đâu. Trí tôi bỗng hiện ra những dốc đèo uốn khúc sơn khệ Những con suối mùa chảy xiết ngày mưa. Những thôn bản im vắng trưa hè. Tôi như nghe tiếng chim bắt-cô-trói-cột gọi buồn thê thiết. Nghe con áođà, con nai đêm đêm “béc” ngồi đồi tranh cô quạnh. Nhìn lại, lán trại đìu hiu. Cái sạp, nơi tôi nằm trống hoang lạnh lẽo. Mới đây mà cơ hồ đóng bụi. Cái ống bương đựng nước rửa mặt mỗi sáng, nghiêng đổ dưới sàn. Cái giò phong lan, tôi đem về từ ngồi rừng treo trên vách nứa, như cũng có hồn biết rầu rĩ chia xạ Hàng rào trại không còn cần thiết nữa, bị phá một khoảng để lấy lối đi tắt, cũng làm tơi nao lòng. Chẳng phải tôi đã từng khó chịu vì cái hàng rào này, và mong được ở ngồi vòng kiềm toa? của nó hay sao? Rời khỏi nơi đây, một chốn đã trở thành thân quen, tất cả những gì bỏ lại đều làm tôi thương nhớ. Ra đi, tôi ngó lại trong mưa, những dãy núi Hoàng Liên Sơn mù mù, đẹp như tranh và hùng vĩ biết bao. Xin chào từ biệt những người cùng chung cảnh ngộ, đã đến đây và vĩnh viễn nằm lại núi rừng thượng du.</p>
<h3><strong>Những đoản văn rời</strong></h3>
<h3><strong>Tôi là vô sản </strong></h3>
<p>Khi về đây, tôi dự định sẽ tìm một việc gì kiếm sống qua ngày. Nhưng mọi chuyện không dễ. Cái xã nghèo đến thê lương, thế mà lại mang tên Phú Thạnh. Nghèo đến mức con chó đói nằm dài mõm ngoài hiên cũng biếng sủa khi có người đi quạ Đàn ông trai tráng không có việc, lêu bêu đầu thôn cuối xóm. Thì giờ thừa mứa, tụ năm tụ ba tán gẫu. Cuối cùng vét túi chung tiền mua vài xị rượu, nhâm nhi cho quên đời là bể khổ.</p>
<p>Tôi lận lưng một số tiền nhỏ làm kế sinh nhai. Số tiền sứt mẻ dần qua những cuộc rượu, mà việc làm chẳng thấy đâu. Bù lại, tôi có thêm nhiều người bạn mới.</p>
<p>Nhà Tám Nưa có giỗ. Trước mấy ngày, ông đã mời những người có mặt trên chiếu rượu. Tôi cũng được mời. Anh em bảo, Tám Nưa khỏi lo phần rượu. Mọi người sẽ đóng góp, bảo đảm uống mệt nghỉ. Về phần thức ăn, Tám Nưa cho vật con heo còi làm thịt, cắt cổ thêm vài con vịt đẹt. Xã nghèo, có người dám chơi thế là chơi ngon. Bữa giỗ xem ra rất linh đình. Khách được mời ăn giỗ cũng rất phấn khởi. Thời buổi khó khăn, người ta thường trông vào miếng ăn. Có rượu thịt là có ruồi nhặng vo ve. Tôi là một trong những con ruồi bay lượn trên những dĩa thức ăn.</p>
<p>Nhà chật, Tám Nưa che cái chái ngoài sân, đặt thêm bàn. Cánh đàn bà ngồi trong nhà. Cánh đàn ông ngồi ngoài sân. Mọi người hỉ hả ăn uống. Hai bàn ngoài cùng, dành đãi công an, và nhân viên chính quyền xã. Tám Nưa nói, đó là thủ tục không thể thiếu. Quy tụ đông người, phải có thần chứng giám mới yên. Tôi nghĩ, thời đốn mạt, người ta sống bằng mặt, không bằng lòng. Kẻ có quyền thì tập thói lưu manh, bóc lột. Người yếu thế thì học chước dối trá. Con người sống với nhau mà như chơi trò cút bắt. Ở đâu cũng có tiếng reo hò mừng rỡ, lẫn tiếng kêu la thảng thốt. Xã hội vừa là phường tuồng, vừa là địa ngục.</p>
<p>Đang ăn, bí thư xã nói: &#8220;Nghe báo cáo có người lạ mới vào xã ta, tôi chưa biết mặt.&#8221;</p>
<p>Mọi người ngó vào tôi.</p>
<p>Tám Nưa kéo tôi qua bàn bí thư, giới thiệu: &#8220;Chú em đây tên là Lâm, đã trình diện bên phòng công an khi mới về xã.&#8221;</p>
<p>Bí thư nói: &#8220;Mời ngồi.&#8221;</p>
<p>Tôi nói: &#8220;Tôi đang ngồi bàn bên kiạ&#8221;</p>
<p>&#8220;Thì ngồi xuống đây nói chuyện đã. Anh vẫn khỏe chứ?&#8221;</p>
<p>&#8220;Vâng, tôi vẫn khỏe.&#8221;</p>
<p>&#8220;Nhiều người cải tạo về gầy rộc đi. Anh thế là còn khá.&#8221;</p>
<p>&#8220;Vâng, tôi còn khá.&#8221;</p>
<p>&#8220;Anh đang làm gì?&#8221;</p>
<p>&#8220;Tôi chưa kiếm được việc.&#8221;</p>
<p>&#8220;Nghề nghiệp chuyên môn là gì?&#8221;</p>
<p>&#8220;Thợ đụng.&#8221;</p>
<p>&#8220;Thợ đụng là thợ gì?&#8221;</p>
<p>&#8220;Đụng đâu làm đó. Việc gì cũng làm được.&#8221;</p>
<p>&#8220;Tốt!&#8221; Bí thư bưng cốc rượu cười khà khà dễ dãi.</p>
<p>Công an bàn kế bên, nói vói qua: &#8220;Ngụy các ông nhiều ma mãnh. Gớm bỏ mẹ. Sang không ra sang, hèn không ra hèn.&#8221;</p>
<p>Tôi nói: &#8220;Vô sản dứt khoát là hèn.&#8221;</p>
<p>&#8220;Anh nói gì thế?&#8221;</p>
<p>&#8220;Tôi nói tôi hèn.&#8221;</p>
<p>&#8220;Vô sản ám chỉ vào ai?&#8221;</p>
<p>&#8220;Vào tôi. Tôi trắng taỵ Tôi là vô sản.&#8221;</p>
<p>&#8220;Lý luận quàng xiên hay nhỉ? Khi có đủ vây cánh thì làm con ngáo ộp. Bị chặt hết tay chân thì biến thành con lươn.&#8221;</p>
<p>Lời công an như một dằn mặt cảnh cáo. Tôi ngồi im.</p>
<p>Tám Nưa cứu nguy: &#8220;Thôi, chào hỏi thế đủ rồi. Vị trí của chú ở đâu thì về đó.&#8221;</p>
<p>Tu bản bóc lột</p>
<p>Bữa giỗ nhà Tám Nưa cũng có cái hay cho tôi. Có người lầm tưởng tôi là kẻ sĩ. Mới đầu, người ấy nói kẻ sĩ thời nay lắm nhục nhằn hơn người xưa. Tôi quay nhìn người vừa nói câu đó, và uống cốc rượu làm quen. Người ấy nói tiếp, lấy cái thước vô hình mà đo cái nhẫn. Nhẫn càng giỏi, giá trị càng cao. Một người nhừa nhựa hơi men, hỏi sao thế? Người ấy nói, gặp sài lang hổ báo, chạy là thượng sách. Đem cái lý của con người mà tranh biện với thú dữ là rước họa vào thân. Thực khách ồn ào như giữa chợ. Những người ngồi nơi hai cái bàn ngoài cùng, không nghe những gì người ấy nói. Thế là trước khi ra về, tôi quen với người ấy.</p>
<p>Người ấy tên Trần Xuân Hạnh. Trước kia, ông làm thầy giáo. Sau cuộc đổi đời, ông xoay qua nghề đào giếng. Những đứa học trò dốt nát của ông thời cũ, nhiều thằng bỏ học vô bưng làm cách mạng. Bây giờ, chúng trở về, ngồi trên đầu thiên hạ mà chăn dân. Cũng may, chúng còn nhớ bài đức dục mà ông đă dạy, nên đối với ông, chúng còn chút e dè lễ độ. Chúng cho ông làm công tác dạy văn hóa bổ túc cho cán bộ, để có tiêu chuẩn gạo. Đời sống ông, vì thế, cũng dễ thở hơn nhiều người khác.</p>
<p>Tôi phụ việc với ông Hạnh, năm ngày thì thạo việc. Qúa nửa trưa, ông Hạnh bảo tôi xuống giếng thay ông. Đáy giếng sâu tối u ụ Tôi nghe tiếng rền trong lòng đất như tiếng gầm núi lửa. Ngó lên thấy một khoảng trời tròn lồng khuôn mặt ông Hạnh ngó xuống.</p>
<p>Tôi sợ hãi: &#8220;Cho tôi lên.&#8221;</p>
<p>&#8220;Chưa làm được gì, sao đi lên?&#8221; Tiếng ông Hạnh như từ trời cao vọng xuống hang sâu.</p>
<p>&#8220;Tôi ngộp thở.&#8221;</p>
<p>Ông Hạnh nhằn: &#8220;Thế mà bảo việc gì cũng làm được.&#8221;</p>
<p>Tôi choàng dây buộc ngang nách, hai chân chỏi vào thành giếng theo thế bích hổ du tường. Ông Hạnh nắm đầu dây kéo lên. Khi lên mặt đất, mới biết trời vần vũ chuyển mưa, rền vang sấm sét.</p>
<p>Tôi nói: &#8220;Tim tôi yếu . Xuống sâu sợ gần địa ngục. Lên cao sợ đụng trời.&#8221;</p>
<p>Ông Hạnh hỏi: &#8220;Chỗ nào thích hợp với mày?&#8221;</p>
<p>&#8220;Lưng chừng ở cõi người.&#8221;</p>
<p>&#8220;Cõi người là địa ngục trần gian đấy.&#8221;</p>
<p>Nói xong, ông Hạnh chuẩn bị xuống giếng.</p>
<p>Tôi nói: &#8220;Thôi đi ông ơi, trời sắp mưa. Về nghỉ.&#8221;</p>
<p>Ông Hạnh nói: &#8220;Làm như mày, cám heo cũng không có mà ăn.&#8221;</p>
<p>Nói thế, nhưng ông Hạnh cũng thu dọn đồ nghề.</p>
<p>Trên đường về ngang qua những rẫy mía. Mía mới đặt hom, chưa kịp lên mầm. Đất cày chưa ải mặt, cỏ đă lún phún ngoi lên. Ông Hạnh chỉ những cái giếng ông đă đào lúc trước.</p>
<p>Ông nói: &#8220;Vùng đất thấp, đào năm bảy thước là có nước. Vùng cao, phải đào đến mươi thước. Giếng sâu hun hút thấy mà ghệ Người chết dưới giếng, linh hồn không thoát lên được.&#8221;</p>
<p>Tôi nói: &#8220;Tôi nhạy cảm lắm. Xuống giếng cứ rờn rợn sợ mình bị chết luôn ở dưới.&#8221;</p>
<p>&#8220;Nếu chết, tao mời thầy pháp trục vớt linh hồn mày lên.&#8221;</p>
<p>&#8220;Ông tin thế à?&#8221;</p>
<p>&#8220;Tao không tin, nhưng nhiều người tin. Cũng như người ta tin rằng kẻ chết trong tù, linh hồn không ra khỏi cổng. Vì thế phải làm giấy phóng thích để giải thoát linh hồn. Tao còn nghe một chuyện động trời. Có người đi tham quan nước ngoài về kể, tư bản nó bóc lột đến cả người đă chết .&#8221;</p>
<p>&#8220;Chết rồi, còn bị bóc lột gì nữa?&#8221;</p>
<p>&#8220;Ấy vậy mà vẫn nói được. Người ấy bảo, tư bản Mỹ bóc lột khiếp hơn hết. Nó bắt linh hồn người chết đứng giữ cửa. Linh hồn thì vô hình nên không ai nhìn thấy, cứ thấy cánh cửa tự động mở khép khi có người ra vộ&#8221;</p>
<p>&#8220;Chuyện khôi hài. Ai ngu muội gì mà tin là chuyện thật.&#8221;</p>
<p>&#8220;Nói mãi, cũng có người tin. Như chuyện Tăng Sâm đời xưa ở bên Tàu đấy. Lần đầu có người đến nói với mẹ Tăng Sâm rằng, Tăng Sâm giết người. Bà không tin. Lần thứ hai, cũng có người nói Tăng Sâm giết người. Bà hồ nghị Lần thứ ba, lại cũng có người nói, Tăng Sâm giết người. Bà sợ hãi, và bỏ chạy.&#8221;</p>
<p>Tôi chép miệng: &#8220;Khổ thật! không biết bao giờ mới thoát được cái họa tuyên truyền ngu dân.&#8221;</p>
<p>Ông Hạnh hỏi: &#8220;Mày nói cái gì?&#8221;</p>
<p>Tôi lắc đầu: &#8220;Không. Chẳng nói gì.&#8221;</p>
<p>Ông Hạnh nói: &#8220;Từ này về sau, mày ở trên kéo đất. Tao xuống giếng. Hồi mới gặp mày, tao tưởng mày là kẻ sĩ. Gần gũi nhau, thấy mày là thằng lừng khừng.&#8221;</p>
<p>Cải tạo xong rồi</p>
<p>Ngày nào cũng phải ăn, nhưng đào giếng không phải lúc nào cũng có việc. Đời sống đi dần vào thế bí.</p>
<p>Ông Hạnh dẫn tôi đến ban giám hiệu phụ trách chương trình lớp đêm, nơi ông dạy bổ túc văn hóa cho cán bộ. Ông giới thiệu tôi là thi sĩ, và xin dạy học để có tiêu chuẩn gạo.</p>
<p>Những khi rỗi việc, tôi hay nói chuyện thơ văn với ông Hạnh. Ông cho tôi là người có kiến thức văn chương. Nhưng, thật bất ngờ khi tôi được giới thiệu là thi sĩ. Tâng bốc lắm, chỉ tổ làm hư việc.</p>
<p>Người đàn ông ngồi sau chiếc bàn, môi thâm, mặt sắt, tóc hớt cua, trông không có vẻ ggì là mô phạm. Ông Hạnh cho biết trước, đây là cán bộ chỉ đạo. Ông ta kéo trễ gọng kính, giương mắt nhìn tôi như quan sát một hiện tượng lạ.</p>
<p>&#8220;Thi sĩ à?&#8221;</p>
<p>Tôi nói: &#8220;Ông Hạnh nói quá lời. Tôi chỉ có chút chữ nghĩa đọc sách thánh hiền.&#8221;</p>
<p>Ông Hạnh nói: &#8220;Không nên khiêm tốn quá. Thành thật với nhau là hơn.&#8221;</p>
<p>Cán bộ nói chậm rãi rõ ràng, nhấn mạnh từng tiếng: &#8220;Cán bộ học bổ túc văn hóa, không cần học làm thơ. Chỉ cần biết bốn phép tính cộng trừ nhân chia, đọc thông công văn chỉ thị, và biết ký tên là đủ làm việc. Trong quá trình làm việc sẽ bật ra thợ Anh đồng ý không nào?&#8221;</p>
<p>&#8220;Vâng, tôi đồng ý. Nhưng tôi không xin dạy làm thợ&#8221;</p>
<p>&#8220;Chứ dạy về gì?&#8221;</p>
<p>&#8220;Về gì cũng được, ngoài chuyện dạy làm thợ&#8221;</p>
<p>Cán bộ chìa bao thuốc mời ông Hạnh và tôi.</p>
<p>Trầm ngâm một lúc, ông nói: &#8220;Chúng tôi đang cần giáo viên, nhưng muốn nhận anh vào phải xét qua lý lịch. Anh về làm bản tự khai kèm theo hai người chứng, rồi mang tới đây. Chúng tôi sẽ họp ủy ban cứu xét. Một mình tôi không quyết định được.&#8221;</p>
<p>&#8220;Vâng, tôi sẽ viết bản tự khai.&#8221;</p>
<p>Tiêu chuẩn mười ba ký gạo hàng tháng, lấp ló ở một tương lai gần. Tình hình có vẻ lạc quan. Tôi mỉm cười ngó ông Hạnh, lòng đầy phấn khởi.</p>
<p>Cán bộ hỏi, sau khi phà một hơi thuốc: &#8220;Trước kia, anh làm gì nhỉ?&#8221;</p>
<p>Tôi nói: &#8220;Làm lính.&#8221;</p>
<p>&#8220;Bộ đội hả? Đơn vị nào? Tôi cũng là bộ đội phục viên đây.&#8221;</p>
<p>&#8220;Tôi lính Việt Nam Cộng Hòa.&#8221;</p>
<p>Cán bộ chồm tới, sửng sốt: &#8220;Thế à? Sao không đi cải tạo?&#8221;</p>
<p>&#8220;Tôi cải tạo xong rồi.&#8221;</p>
<p>Cán bộ thật vọng ngửa người ra lưng ghế: &#8220;Anh khỏi cần đến đây nạp bản tự khai. Chúng tôi không nhận đâu.&#8221;</p>
<p>Tôi cố vớt vát: &#8220;Tôi nghĩ cải tạo xong là tẩy não xong, có thể góp phần xây dựng xã hội mới.&#8221;</p>
<p>Cán bộ lắc đầu: &#8220;Cải tạo là hình thức trừng phạt thôi. Đầu các anh đóng băng, tẩy não thế nào được!&#8221;</p>
<p>Quốc tặc</p>
<p>Thấy tôi cũng là thằng ăn tục nói phét, ông Hạnh không còn cho tôi là kẻ sĩ nữa. Ông nói tôi là người có tài, nhưng tài năng lớn quá, không có chỗ dùng. Ông nói với mọi người như thế. Nói tới nói lui măi, tôi cũng tin mình có tài thật, dù lúc nhỏ thầy giáo xếp tôi vào loại học trò đần.</p>
<p>Một lần trên chiếu rượu, ông Hạnh thắc mắc: &#8220;Chưa bao giờ xã hội ta có nhiều người uống rượu như bây giờ . Không biết tại sao?&#8221;</p>
<p>Anh em ngó vào người có tài năng lớn không có chỗ dùng.</p>
<p>Tôi lên gân giải thích: &#8220;Xã hội rối rắm lung tung xèng. Tương lai mờ mịt. Con người hoang mang mất hướng đi tới, nên lấy rượu trấn an tinh thần. Các ông ngày ngày cuốc đất, ngó tới ngó lui cũng không ra khỏi mấy cái bờ ruộng. Đời như thế thì bao giờ ngóc đầu lên được? Đó là nói người có ruộng. Người không ruộng, đất đâu mà cuốc? Như ông Hạnh với tôi chuyên nghề đào giếng, năm thì mười họa mới có việc. Xuống đáy giếng mà tìm tương lai, có ngày cũng gặp Hà Bá. Mặt đất đã đầy những giếng sâu hố thẳm, đi loạng quạng dễ bị sa chân xuống âm phủ. Chi bằng cứ ẩn nhẫn chờ thời. Thời cơ chưa tới, lấy rượu giải khuây.&#8221;</p>
<p>Một người nói: &#8220;Tôi chịu lối giải thích này. Nhưng, bao giờ thời cơ tới??&#8221;</p>
<p>Tôi lại lên gân: &#8220;Khương Thượng ngồi câu sông Vị, là chờ thời. Hàn Tín lòn trôn giữa chợ, cũng là chờ thời. C̣n chúng ta ư? Có khi phải chờ hết đời. Con cháu lại tiếp tục chờ nữa. Lịch sử biến thiên lúc nhanh lúc chậm. Nhanh thì năm trước năm sau đã thấy khác. Chậm thì đời này qua đời kia vẫn còn khốn khổ.&#8221;</p>
<p>&#8220;Thời này cũng có nhiều người phất cờ giàu to đấy chứ?&#8221;</p>
<p>&#8220;Vâng. Phất cờ giàu to thời này là tư bản đỏ. Nhưng cách dùng từ sai. Tư bản là bỏ vốn kinh doanh, để từ đó sinh ra lợi nhuận. Mấy ông kẹ nhà mình có kinh doanh gì đâu? Họ ăn tiền đút lót hối lộ, và dùng quyền lực chiếm đoạt tài sản thiên hạ thì không thể gọi là tư bản, dù xanh hay đỏ.&#8221;</p>
<p>&#8220;Như thế phải gọi là gì cho đúng nghĩa?&#8221;</p>
<p>&#8220;Gọi nôm na là ăn cướp. Cướp giựt lẻ tẻ đầu đường xó chợ, là cướp vặt. Cướp có hệ thống đường lối chính sách, là quốc tặc. Người dân biết mình bị cướp, mà không cưỡng vào đâu được. Thế mới kinh!&#8221;</p>
<p>Cuộc rượu đêm đó, xoay quanh đề tài quốc tặc. Tôi hừng chí nói năng tự do, mất sự đề cao cảnh giác. Tàn cuộc, tôi say bí tỉ.</p>
<p>Đèn nhà ai nhà nấy rạng</p>
<p>Cưới vợ ba năm. Vợ chồng không rõ lòng nhau. Tôi đến tuổi cần có vợ, vợ cũng đến tuổi cần có chồng. Thế là lấy nhau. Chẳng tình yêu quái gì.</p>
<p>Tôi là lính hành quân. Ba năm, những lần về phép đếm trên đầu ngón taỵ Gặp nhau là quấn lấy nhau. Vội vã vài ngày, để rồi còn chia taỵ Thì giờ đâu mà để ý những điều vớ vẩn?</p>
<p>Năm đầu, vợ gọi tôi bằng anh, xưng em. Tôi gọi vợ bằng em, xưng anh. Qua năm sau, vợ gọi tôi bằng anh, xưng tôi. Tôi gọi vợ bằng em, xưng tôi. Năm sau nữa, vợ gọi tôi bằng ông, xưng tôi. Tôi gọi vợ bằng bà, xưng tôi. Theo thời gian, cách gọi vợ chồng cứ thay đổi dần như thế. Và giữ nguyên hai tiếng xưng hô &#8220;ông bà&#8221; cho đến bây giờ. Ba năm.</p>
<p>Một hôm, tình cờ vợ khám phá ra tôi làm thơ.</p>
<p>Vợ nói: &#8220;Có tờ báo đăng bài thơ của thằng cha nào trùng tên với ông.&#8221;</p>
<p>Vợ mở trang báo, chỉ vào bài Tình Cho Em. Lời thơ sướt mướt nhớ thương. Đó là bài thơ tôi làm cho một con nhỏ người yêu, nhưng không chịu lấy tôi làm chồng.</p>
<p>Tôi nói: &#8220;Bài thơ này của tôi làm cho bà, nói lên nỗi nhớ thương trong những ngày đi xạ&#8221;</p>
<p>Mới đầu, vợ sung sướng ra mặt. Nhưng sau đó, vợ phá ra cười.</p>
<p>&#8220;Mạo nhận. Tôi không tin!&#8221;</p>
<p>&#8220;Không tin hả?&#8221; Tôi không nhìn trang báo, đọc thuộc lòng vanh vách bài thơ, &#8220;Bà tin tôi là tác giả chưa?&#8221;</p>
<p>Vợ ngẩn ra một lúc: &#8220;Người lỗ mãng như ông cũng làm được thợ Lạ thật!&#8221;</p>
<p>&#8220;Có gì lạ đâu. Tài làm thơ của tôi giống như chiếc mũi nhọn giấu trong túi áo. Lâu ngày, nó ló ra cho bà thấy.&#8221;</p>
<p>&#8220;Chẳng bao giờ nghe ông nói tiếng yêu tôi. Vậy mà làm thơ thì nước mắt chứa chan tình cảm. Thơ là giả dối!&#8221;</p>
<p>Vợ không hãnh diện về người chồng biết làm thơ, dù đã có lúc gần đạt được danh hiệu thi sĩ.</p>
<p>Cuộc thế bể dâu. Đời tôi cũng bầm giập đau thương khốn nạn. Mũi nhọn thụt vào trong túi áo. Thơ tịt ngòi.</p>
<p>Ra hải ngoại, muốn học hành cho đỡ nhọc tấm thân, nhưng cái đầu không chịu. Nhồi nhét thứ gì vô, vài ngày sau nó đẩy ra khỏi trí nhớ. Thế là đi làm cu lị Cực tay chân, khỏe đầu óc.</p>
<p>Việc làm bấp bênh. Nay có, mai không. Thất nghiệp ở nhà. Còng lưng viết chuyện cà kê dê ngỗng, viết chuyện đời mình.</p>
<p>Vợ đi chợ, đem về tờ báo quảng cáo địa phương, có đăng bài văn của tôi.</p>
<p>Vợ nói: &#8220;Ông bỏ làm thơ, tôi đă mừng. Bây giờ, lại thấy hí hoáy cả ngày. Không ngờ ông viết văn. Làm thơ, chắp tay sau đít, đi qua đi lại. Còn đỡ. Viết văn, bò càng ra mà viết. Khổ ôi là khổ.&#8221;</p>
<p>Tôi nói: &#8220;Trong cái khổ, có cái sướng.&#8221;</p>
<p>&#8220;Thất nghiệp. Đói tới nơi, không biết lọ Ở đó mà viết chuyện bá láp. Kiếp nào mới được thành danh?&#8221;</p>
<p>&#8220;Từ từ, sẽ có tiếng vang.&#8221;</p>
<p>&#8220;Người ta viết chuyện ma quỷ. Rùng rợn, hấp dẫn. Viết về hoàn cảnh xă hội gay cấn, tâm lý tình cảm éo lẹ Đọc mê luôn. Sách in ra, bán chạy ào ào. Lại còn thu băng đọc truyện, tiền vô như nước. Truyện của ông, tôi vừa đọc vừa ngáp. Cố gắng lắm, cũng chỉ theo dõi được vài trang thì ngủ. Bữa trước, nghe ông nói điện thoại với người bạn nào đó, rằng ông đang gom tiền in sách. Đừng làm chuyện phá sản nghen. Sách ông bán cho ma!&#8221;</p>
<p>Tôi rên: &#8220;Bà ơi, tôi bất hạnh đớn đau nhiều rồi. Hãy để tôi làm theo ý thích.&#8221;</p>
<p>Vợ nói: &#8220;Ý thích trong trách nhiệm gia đình. Tự do trong khuôn khổ luật pháp.&#8221;</p>
<p>Tôi giơ hai tay lên trời: &#8220;Than ôi! Trên mặt đất, ai người tri kỷ?&#8221;</p>
<p>Đoản văn này, dành trả lời câu hỏi của một bạn đọc: &#8220;Theo kinh nghiệm bản thân anh, đời có tí văn nghệ văn gừng làm cho gia đ́nh dễ lục đục, hay hưng phấn hơn?&#8221;</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ngo-khng-tc-gia-v-tc-pham-lm-chuong-2/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Không : Tác Giả và Tác Phẩm &#8211; Dương Nghiễm Mậu</title>
		<link>https://t-van.net/ngo-khong-tac-gia-va-tac-pham-duong-nghiem-mau/</link>
					<comments>https://t-van.net/ngo-khong-tac-gia-va-tac-pham-duong-nghiem-mau/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 09 Aug 2016 04:52:34 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Tác Giả Tác Phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không; tgtp]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=28319</guid>

					<description><![CDATA[Tiểu sử Dương Nghiễm Mậu: Dương Nghiễm Mậu tên thật là Phí Ích Nghiễm, sinh ngày 19 tháng 11 năm 1936 tại quê nội  làng Mậu Hòa (quê ngoại  làng Dương Liễu), huyện Đan Phượng, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông. Từ 12 đến 18 tuổi sống ở Hà Nội. Học tiểu học ở trường Hàng Than, trung học, Chu [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/08/DuongNghiemMau-by-Dinh-Cuong.jpg?strip=all" rel="attachment wp-att-28346"><img loading="lazy" decoding="async" class="alignnone size-medium wp-image-28346" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/08/DuongNghiemMau-by-Dinh-Cuong-216x300.jpg?strip=all" alt="DuongNghiemMau-by-Dinh-Cuong" width="216" height="300" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/08/DuongNghiemMau-by-Dinh-Cuong-216x300.jpg?strip=all 216w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/08/DuongNghiemMau-by-Dinh-Cuong.jpg?strip=all 460w" sizes="(max-width: 216px) 100vw, 216px" /></a><br />
</strong></p>
<p><strong>Tiểu sử Dương Nghiễm Mậu</strong>:</p>
<p>Dương Nghiễm Mậu tên thật là Phí Ích Nghiễm, sinh ngày 19 tháng 11 năm 1936 tại quê nội  làng Mậu Hòa (quê ngoại  làng Dương Liễu), huyện Đan Phượng, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông. Từ 12 đến 18 tuổi sống ở Hà Nội. Học tiểu học ở trường Hàng Than, trung học, Chu Văn An, viết đoản văn, tùy bút cho báo trường và các báo có phụ trang văn nghệ học sinh. 1954 di cư vào Nam với gia đình, năm đầu ở Huế, năm sau ra Nha Trang, hè 1957 vào sống hẳn Sài Gòn.</p>
<p>Từ 1957 trở đi viết nhiều: tạp văn, tùy bút, đoản văn, truyện ngắn, truyện dài. Tiểu thuyết đầu tay <em>Đầy tuổi tôi</em> đăng trên tạp chí Văn Nghệ từ số 2, tháng 3/1961 (sau in thành sách đổi tên là <em>Tuổi nước độc</em>, Văn, 1966), truyện ngắn <em>Cũng đành</em> in lần đầu trên báo Tân Phong của Trương Bảo Sơn; truyện ngắn <em>Rượu chưa đủ</em>, trên Sáng Tạo (bộ cũ, số 28-29 tháng 1-2/1959) đã xác định phong cách văn chương Dương Nghiễm Mậu. Từ 1962, làm tạp chí Văn Nghệ với Lý Hoàng Phong, đồng thời viết cho Sáng Tạo, Thế Kỷ 20, Tin Sáng, Văn, Văn Học, Bách Khoa, Giao Điểm, Chính Văn, Giữ Thơm Quê Mẹ, Sóng Thần&#8230; Tập truyện ngắn đầu tay <em>Cũng đành</em>do tạp chí Văn Nghệ xuất bản năm 1963. Truyện dài <em>Gia tài người mẹ</em> (Văn Nghệ, 1964), được giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc (miền Nam), 1966.</p>
<p>1966 nhập ngũ. Từ 1967 làm phóng viên quân đội đến 30/4/1975. Lập gia đình năm 1971, với Hồ Thị Ngọc Trang, giảng viên Anh ngữ. Sau 30/4/1975 bị bắt giam. 1977 đươc tạm tha. Từ 1977, học nghề sơn mài và sống bằng nghề này tại Sài Gòn.</p>
<p><strong>Tác phẩm đã in</strong>:</p>
<p><u>Truyện ngắn</u>: <em>Cũng đành</em> (Tạp chí Văn Nghệ, Sài Gòn, 1963), <em>Đêm</em> (Giao Điểm, 1965), <em>Đôi mắt trên trời</em> (Giao Điểm, 1966), <em>Sợi tóc tìm thấy</em> (Những tác phẩm hay, 1966), <em>Nhan sắc</em> (An Tiêm, 1966), <em>Kinh cầu nguyện</em> (Văn Xã, 1967), <em>Ngã đạn</em> (Tân Văn, 1970), <em>Cái chết của&#8230;</em> (Văn Xã, Sài Gòn, 71; An Tiêm, tái bản, Paris, 2001)&#8230;</p>
<p><u>Truyện dài</u>: <em>Gia tài người mẹ</em> (Tạp chí Văn Nghệ, 1964), <em>Đêm tóc rối</em> (Thời Mới, 1965), <em>Tuổi nước độc</em> (Văn, 1966), <em>Phấn đấu</em> (Văn, 1966), <em>Ngày lạ mặt</em> (Giao Điểm, 1967), <em>Gào thét</em> (Văn Uyển, 1969), <em>Con sâu</em> (Sống Mới,Hoa Kỳ, không đề năm)&#8230;</p>
<p><u>Những tác phẩm khác</u>: <em>Địa ngục có thật</em> (bút ký, Văn Xã, 1969), <em>Quê người</em> (Văn Xã, 1970), <em>Trong hoang vu</em>, <em>Tên bất lực, Kẻ sống đã chết</em>, v.v&#8230;</p>
<p><strong>Thụy Khê</strong></p>
<p><strong>Vài hàng về tác giả</strong></p>
<p>Chúng ta vừa để ý đến một thay đổi: từ tích cực dấn thân chính trị sang một thái độ hư vô tiêu cực. Đó chỉ là một. Các biến chuyển sâu xa trong tình hình Miền Nam sau 1963 đã có những tác động khác nhau trên tinh thần các lớp người, các thành phần khác nhau, và đưa tới nhiều thái độ khác nhau.Trong khi lớp người từng phản đối chối bỏ cộng sản, thấy Miền Nam ổn định thì mừng thấy hỗn loạn thì mất tin tưởng, trong khi ấy một lớp khác, thuộc thế hệ trẻ tuổi hơn, thế hệ văn nghệ chủ động vào chặng 1960-63 như đã nói trước đây, lúc bấy giờ (sau 1963) một số tác giả thuộc thế hệ ấy lại chuyển sang thái độ dấn thân chính trị. Lớp sau này — như Nhật Tiến, Dương Nghiễm Mậu, Lê Tất Điều, Nhã Ca v.v&#8230; — hồi 1954 hoặc họ còn nhỏ hoặc họ lớn lên trong thành, chưa từng biết đến cộng sản là gì, nên không hề quan tâm đến chuyện chính trị: họ chỉ viết về các đề tài xã hội, tình yêu v.v&#8230; Sau 1963, chiến tranh nổ lớn, hoặc họ bị động viên vào quân ngũ, trực tiếp nhìn rõ đối phương, hoặc ít ra họ chứng kiến “thành tích” hoạt động cộng sản đó đây quanh mình. Và đến lúc này họ có ý kiến về cộng sản. Họ lên tiếng.Nhã Ca thuở mới làm thơ viết văn là một cô gái hiền lành không từng có lời nào đề cập đến chính trị chính triếc gì cả, sang giai đoạn sau 1963 bà dần dần mỗi lúc mỗi lớn tiếng tố cáo cộng sản (Đêm nghe tiếng đại bác, Tình ca cho Huế đổ nát, Giải khăn sô cho Huế v.v&#8230;).</p>
<p>Dương Nghiễm Mậu của Cũng đành, Con sâu, Gia tài của người mẹ v.v&#8230; là một Dương Nghiễm Mậu của triết lý xa vời; sau 1963 ông vào lính mang máy ký âm đi các chiến trường, tai nghe mắt thấy máy ghi những chuyện đau thương man dã, lúc bấy giờ ông viết về đại lộ Kinh hoàng ở Quảng Trị, về vụ chôn sống tập thể ở Huế, về những “địa ngục có thật” trên trần gian; ông bớt than phiền về nỗi cuộc đời vắng bóng Thượng Đế, vì mải lo kêu trời về nỗi đời đầy giặc dữ. Lê Tất Điều trong giai đoạn đầu chăm dõi theo những đứa trẻ ngộ nghĩnh, sau này trong Đêm dài một đời, trong Ngưng bắn ngày thứ 492 ông viết về mìn về bom đạn cộng sản. Nhật Tiến hồi 1957, 58 cho đến 1961, 62, cũng loay hoay với những đứa trẻ mồ côi, những bà con lao động trong các xóm nghèo ở đô thành (Những người áo trắng, Những vì sao lạc, Mây hoàng hôn, Ánh sáng công viên, Chuyện bé Phượng v.v&#8230;); sau này trong Giấc ngủ chập chờn (1969) ông quay sang số phận những thằng Há, thằng Đực, thằng Hoành, lão Đối, lão Năm Điếc v.v&#8230; những kẻ lăn lộn trong chém giết triền miên lẫn nhau ở một làng quê. Còn Phan Nhật Nam, ông là một cơn phẫn nộ, một trận lôi đình ầm ĩ trước những bạo tàn ngoài tiền tuyến, những xáo trộn vô trách nhiệm ở hậu phương. Ông lăn xả vào thời cuộc chính trị, vào chiến trận quân sự, ông văng tục xỉ vả tưng bừng. Trái ngược với lớp trẻ mười năm trước, ông dấn thân hết mình, bám sát thời thế. Ông nổi cáu, mạt sát những người cầm bút lè phè ở thành phố, không biết đến cuộc chiến trên quê hương, những Mai Thảo, Viên Linh (Dọc đường số 1).</p>
<p>Cũng nên ghi nhận một điều: là giận dữ, chống báng cộng sản, không có nghĩa hài lòng đối với chế độ ở Miền Nam, xã hội Miền Nam. Nói cho đúng, hầu hết giới cầm bút nam vĩ tuyến 17 sau 1963 không nhiều thì ít đều có lời phàn nàn nhà cầm quyền. Tờ Thái Độ do Thế Uyên chủ trương (ra đời từ tháng 7-1969), tờ Đời do Chu Tử chủ trương (xuất bản từ tháng 9-1969) là những tạp chí vừa chống cộng vừa chủ trích chính quyền mạnh mẽ, hô hào cải cách xã hội, xóa bỏ bất công. (Trong hai vị vừa nói, Chu Tử không phải là một người trẻ tuổi, nhưng lại là một tác giả của giai đoạn sau, không từng có tác phẩm xuất bản trước 1963.) Và ngay Lê Tất Điều, Nhật Tiến, Phan Nhật Nam, Nhã Ca, Dương Nghiễm Mậu v.v&#8230; cũng không ngớt chỉ trích chính quyền và xã hội rất mạnh mẽ.</p>
<p>Ông đã cộng tác với: Sáng Tạo, Thế Kỷ 20, Văn, Văn Nghệ (Chí) và Tin Sáng (báo) v.v…</p>
<p><em>(&#8230;trích Văn Học Tổng Quan Miền Nam – Võ Phiến)</em></p>
<p>Việc một số tác phẩm của hai nhà văn miền Nam trước 1975, Dương Nghiễm Mậu và Lê Xuyên, vừa được Công ti văn hoá Phương Nam và Nxb Văn nghệ TPHCM tái bản đang gây nhiều dư luận. Sớm nhất có lẽ là bài viết <em>&#8220;<a href="http://www.talawas.org/talaDB/showThu.php?res=9684&amp;rb=120">Đọc sách Dương Nghiễm Mậu – Thú vật hoá con người và lưu manh hoá hình tượng văn học cổ điển của dân tộc</a></em>&#8221; của Lê Ánh Đào trên tuần báo <em>Văn nghệ TPHCM</em>, tiếp đến là bài trả lời phỏng vấn <em>“<a href="http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=195453&amp;ChannelID=61">Góp phần khơi thông một dòng văn học vẫn âm thầm chảy</a></em>” của bà Phan Thị Lệ, Giám đốc Công ti Phương Nam trên báo <em>Tuổi trẻ</em> và bài phản hồi <em>“<a href="http://www.sggp.org.vn/vanhoavannghe/2007/4/94011/">Có phải là ‘Khơi thông dòng văn học”?</a></em> của Bích Châu trên báo <em>Sài Gòn Giải phóng</em> và bài <em>“<a href="http://www.congan.com.vn/home/van_de_hom_nay/2007/04/mlnews.2007-04-13.9714530122">Lịch sử không thể lập lờ</a></em>” của Trương Sinh trên báo <em>Công an Nhân dân</em>. Gần đây nhất, trong bài <em>“<a href="http://www.sggp.org.vn/vanhoavannghe/2007/4/96188/">Đâu là tiêu chí của người xuất bản</a></em>”, trên <em>Sài Gòn Giải phóng</em>, nhà văn Vũ Hạnh đưa ra các nhận định: “những quyển sách này không chỉ là các sản phẩm văn hóa mà vốn là những vũ khí độc hại về mặt tinh thần”, “… nhiều quyển sách của Dương Nghiễm Mậu nổi bật là tính phản động”, và việc tái bản “những vũ khí độc hại” này “là một xúc phạm nặng nề đối với danh dự đất nước.” Ông cũng cho biết, “rất nhiều người đã thực sự giật mình” khi đọc ý kiến của nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên về Dương Nghiễm Mậu trên tờ <em>Thể thao-Văn hoá</em> ngày 13.4.2007.</p>
<h2><strong>Sàigòn, ngày lạ mặt</strong></h2>
<p><strong>Trần Vũ </strong></p>
<p>Tôi trở lại đường Trương Minh Giảng bây giờ mang tên Lê Văn Sỹ. Thận Nhiên chạy xe Dawoo phía trước, tôi lái chiếc Cub phía sau. Nắng loang loáng trên mái tóc Nhiên nhẵn thín. Nắng loá con đường giữa trưa sáng bóng các biển hiệu. Nhà may Thủy Tiên, hiệu sơn Tất Thành, Karaoké Thời Mới&#8230; Một giờ trưa, nắng toé lửa. Chúng tôi hứng trận nắng như hứng những mảnh mặt trời nguyên vẹn rớt ụp xuống mặt. Tôi muốn dừng xe uống nước, nhưng Nhiên vẫn lầm lũi chạy tiếp, thỉnh thoảng quay lại kêu: ‘‘Nhà anh Mậu khó kiếm lắm’’. Tôi nghĩ Nhiên lạc, vì chúng tôi quần tới quần lui khúc giữa Sư Vạn Hạnh và nhà thờ Ba Chuông. Trận nắng nhảy múa trước giỏ xe cub như một ảo ảnh. Tôi trông thấy lại cảnh gia đình hốt hoảng chạy ra phi trường Tân Sơn Nhất. Tôi trông thấy lại cảnh chen lấn giữa tiếng súng Quân Cảnh cố vãn hồi trật tự. Thầy căng thẳng cực độ lái xe Toyota chở chúng tôi im thin thít tìm cách rời khỏi Sàigòn hỗn loạn. Cũng con đường này, qua khỏi đường rày xe lửa, nhà thờ Ba Chuông đâm lên Lăng Cha Cả, tôi bó gối sợ hãi trông thấy một thanh niên bê bết máu phóng xe Honda lao ngược chiều la lớn ‘‘tụi nó chiếm Tân Sơn Nhất rồi’’ và gương mặt Thầy nhăn nhúm tuyệt vọng. Thầy quành xe lao về hướng Khánh Hội tìm một đường sống khác. Vô ích, Thầy không biết Thầy sẽ chết 13 ngày sau đó khi lá cờ Quyết Chiến Quyết Thắng bay trên nóc hầm De Castrie tại Ðiện Biên Phủ một lần nữa phất lên ngạo nghễ ‘‘hãnh tiến’’ trên đường phố Sàigòn của tháng 5 im lặng. Thầy không biết, Thầy sẽ vĩnh viễn yên nghỉ tại đây, trên mảnh đất này, nơi Thầy di cư tìm đường sống tháng 9-1954.</p>
<p>Bà gởi tôi đi vượt biên thực hiện một hoài bão đã có từ những ngày Hà Nội sau tản cư. Bà gởi tôi đi, nhưng tôi trở về để chứng kiến lại một lần nữa, nỗi tuyệt vọng của gia đình buổi sáng 30 tháng 4 trên con đường này. Những tuyệt vọng hãy còn loang loáng ẩn hiện trên các mặt tiền những ngôi nhà đường Trương Minh Giảng. Những lớp cửa sắt im phắc. Những cánh cổng của những ngôi nhà ban trưa đóng kín, im ỉm. Tất cả giống câm điếc, giống những mặt người không thốt thành lời, chỉ có những dấu hỏi ngầm giữa tròng mắt: ‘‘Tìm gì? muộn rồi.’’</p>
<p>Tôi nhìn mặt đường. Tôi nhìn hai hàng cây. Tôi nhớ rõ, chỗ này bánh bao Ông Cả Cần, chỗ kia bò nhúng dấm, Thầy vẫn đưa gia đình đến ăn những tối thứ bảy. Tôi còn nhận ra hàng hiên lớp hội họa truyền thần bà ghi tên cho tôi học vẽ bây giờ là tiệm mát xa chân với đèn ông sao xanh đỏ. Vẫn con đường này, như không thể có con đường nào khác, vẫn là những thước nhựa tôi đã dẫm lên thời bé, nhưng đã là lớp nhựa tráng tên người khác.</p>
<p>Lê Văn Sỹ, tôi không biết là ai, nhưng tôi biết Trương Minh Giảng đánh Trấn Tây Thành, chiếm Kampuchea. Sao Trương Minh Giảng cũng thi hành nghĩa vụ quân sự quốc tế, giải phóng nhân dân Khmer mà tên ông bị bại đi trên các cột đèn này? Còn sống chắc ông nổi cơn thịnh nộ. Còn sống, tôi với Nhiên không dám nổi cơn thịnh nộ. Thế hệ tôi thiếu dũng, kiên, cường. Thế hệ tôi sợ hãi ở mỗi ngã tư đèn xanh đèn đỏ bị công an kêu lại xử lý.</p>
<p>Nhiên đỗ xe. Chúng tôi đi tìm một nhà văn miền Nam.</p>
<p>Miền Nam? Một quốc gia biến mất. Văn chương miền Nam? cũng biến mất. Còn Dương Nghiễm Mậu? một gương mặt bí hiểm. Thế hệ tôi chưa kịp đọc ông. Chúng tôi hãy còn quá nhỏ, dù miền Nam tràn ngập sách báo, dù chúng tôi đi thuê truyện mỗi chiều, ngốn ngấu Duyên Anh, Ðinh Tiến Luyện, Từ Kế Tường, Nguyễn Ðình Toàn&#8230; Chúng tôi chưa ai đọc Gào Thét, Buồn Vàng, Ngày Lạ Mặt, Cũng Ðành,&#8230; Dương Nghiễm Mậu ở một thế giới nào đó vô cùng xa xôi mà chúng tôi không thể mường tượng. Tháng 4-75 đến quá sớm để tuổi trẻ kịp tận hưởng.</p>
<p>Dương Nghiễm Mậu tiếp tôi với Nhiên trong ngôi nhà lát đá mát lạnh. Không khác mấy khí hậu trong truyện ông, khô, lạnh lẽo. Mỗi tiếng động đều hàm chứa một nội dung rõ rệt, tựa như những điều muốn nói phải qua một phiến lọc khác dành riêng cho những ai có khả năng hiểu ra. Dăm bức sơn mài Dương Nghiễm Mậu làm lấy treo trên vách. Một gói thuốc Con Mèo gần cạn. Tủ sách để tượng trưng trống rỗng.</p>
<p>Tủ sách của một nhà văn miền Nam sau ngày “giải phóng” trống rỗng. Tôi nhìn tủ sách kỳ lạ. Thầy cũng có một tủ sách và tủ sách ấy ăn vào tuổi thơ tôi không hề biến mất. Tôi không thể nhớ tủ sách đem về khi nào, chỉ biết, từ lúc có trí khôn, tủ sách đã ở đó, chễm chệ và sừng sững. Thầy buôn bán theo truyền thống Trung Hoa, nhưng tủ sách chiếm nửa bức tường. Chiếc bóng của chúng tôi, của kẻ ăn người ở trong nhà luôn chao lượn lên khung kính phản chiếu những hình ảnh lặng lờ. Những khi tôi ngủ quên trên ghế đệm, tủ sách ngả chiếc bóng đen đè lên mình. Khi tôi thức giấc, chiếc bóng hoá trở lại thành tên khổng lồ mặt gỗ chứa thật nhiều sách rình rập canh chừng. Nhưng tôi lớn lên và nỗi sợ hãi biến mất, chỉ còn những tò mò thấp thoáng trên các tựa sách ở tầng cao khóa kín. Chính trong những năm đầu trung học đệ nhất cấp, khi chiều cao cho phép với lên phần có ổ khoá, tôi khám phá Dương Nghiễm Mậu. Sách của ông xếp cạnh sách Mai Thảo, Nguyễn Thị Hoàng. Tuổi Nước Ðộc, Con Sâu, Trong Hoang Vu, Ngày Lạ Mặt, Ngã Ðạn xếp cạnh Mười Ðêm Ngà Ngọc, Sống Chỉ Một Lần, Viên Ðạn Ðồng Chữ Nổi, Hạnh Phúc Ðến Về Ðêm, Vòng Tay Học Trò, Dưới Vừng Hoa Trắng, Tiếng Chuông Gọi Người Tình Trở Về&#8230;</p>
<p>Tôi không bao giờ được phép xem. Với tôi là một khiêu khích. Tôi vẫn đi thuê truyện, say mê với Hitler và Những Tên Ác Qủy Y Khoa, Hitler và Mặt Trận Miền Ðông, Moshe Dayan Bức Tường Thành Do Thái, Tora Tora Tora Bay Về Trân Châu Cảng, Kamikaze Những Trận Không Chiến Dữ Dội Nhất Lịch Sử Thái Bình Dương, Về Miền Ðất Hứa &#8230;nhưng Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Thị Hoàng, Mai Thảo vẫn là một kích thích. Cho đến bây giờ tôi vẫn không hiểu vì sao mình đã ngoan ngoãn nghe lời Thầy đến như vậy, tôi thuê truyện, nhưng chỉ thuê những cuốn sách Thầy cho phép đọc. Những cuốn sách nhà cấm, tôi nhìn tò mò, nhưng không cầm đến. Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Thị Hoàng, Mai Thảo, Túy Hồng, Trùng Dương, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Thế Uyên, Thế Phong, Nguyễn Thụy Long,&#8230; xếp ngay ngắn sau lớp kính có ổ khoá.</p>
<p>Buổi trưa ngồi với Thận Nhiên, Dương Nghiễm Mậu không nói điều gì. Ông chỉ lẳng lặng pha trà cười nhẹ nhàng, nghe Nhiên nói, nghe Nhiên kể về nỗi sôi sục huyết quản của một thi sĩ, của Nhiên và bạn bè Nhiên. Tôi khác Nhiên, tôi chỉ muốn hiểu thế giới bí mật của văn xuôi. Dương Nghiễm Mậu cười nhẹ như tàu dừa lay, gần như ông không động đậy. Ở Dương Nghiễm Mậu nụ cười diễn ra ở chuôi mắt, ở ngón tay đập cán thuốc mà nhịp nhanh chậm thay cho tiếng cười luôn luôn kín đáo. Dương Nghiễm Mậu rót trà. Ông hiểu thế hệ tôi và Nhiên không còn ai uống trà nữa, nhưng ông vẫn rót. Váng nước vàng màu mỡ gà, giữa buổi trưa nóng hực sủi tăm như số lượng dấu hỏi chất chứa trong đầu tôi từ buổi trưa tháng 5-75 Bà mở khoá cho chúng tôi đọc tất cả sách người lớn của tủ sách đồ sộ, trong vòng 48 giờ rồi Bà đem bán ký vì Công an phường đã ra lệnh tịch thu văn hoá phẩm <em>đồi trụy</em> của <em>Ngụy</em>. Tôi còn nhớ Bà bán cân ký 15 đồng ông Thiệu mỗi ký. Bà bán sạch tủ sách, kể cả sách thiếu nhi Lữ Hân-Phi Lục, Phan Tân-Sĩ Phú, Tin Tin, Lucky Luke, Astérix-Obélix, chở đi mấy xe ba gác. Bà bán sạch tuổi thơ tôi trong chớp mắt. Làm sao tôi đọc hết hai mươi năm văn học miền Nam trong 48 giờ? Làm sao tôi trưởng thành kịp trong 48 tiếng để hiểu những chiếu bài mạt chược, trong phòng khách sạn rì rầm, hai người đàn ông đàn bà làm gì trên mặt nệm trong tiểu thuyết Mai Thảo. Tôi chưa đến 13 tuổi nhai ngốn ngấu Vòng Tay Học Trò của Nguyễn Thị Hoàng trên sân thượng giữa trưa nắng ngun ngút, cố mường tượng ra cô giáo Hoàng với đồi thông Ðà Lạt trong ngôi nhà gỗ thông thơm phức với tên nam sinh tên Minh sớm biết hút thuốc, có bật lửa zippo và gan dạ tán tỉnh cô giáo. Tôi ngốn ngấu Tháng Giêng Ðưa Ðám của Nhã Ca, kinh ngạc khám phá tiểu thuyết có sức chở mang gấp mười lần tivi số lượng hình ảnh Tết Mậu Thân ngoài Huế. Trưa nắng thiêu đốt. Tiếng động chiến xa T-54 ầm ĩ từ Gò Vấp đổ xuống Phú Nhuận băng lên đại lộ Hai Bà Trưng không át nổi âm thanh của 16 vỏ chai bia mỗi ngày Túy Hồng quắp rổ đi đổi cho Thanh Nam lúc còn sống trong building Cửu Long và diễn ra trong tiểu thuyết Tôi Nhìn Tôi Trên Vách. Không át nổi tiếng nhạc xập xình mỗi buổi tối cô ca ve đi làm luôn có một người đàn ông chờ sẵn, đem đến một gói Salem xanh biếc trong Thủy và T6 của Thế Phong&#8230; Tôi khám phá xã hội miền Nam ngay trong ngày xã hội đó bị xích sắt T-54 nghiến nát dưới lòng đường. Tôi chưa kịp đọc Dương Nghiễm Mậu. Tôi chỉ kịp trông thấy ông bị vất lên xe ba gác chở ra lề đường. Nhưng cũng chỉ một hai tháng sau lề đường bị <em>truy quét</em> <em>tàn dư Mỹ Ngụy</em> và ông biến mất.</p>
<p>Dương Nghiễm Mậu hiện ra trở lại buổi trưa Lê Văn Sỹ. Ông yên lặng quan sát tôi với Nhiên. Chúng tôi, những độc giả thiếu nhi của miền Nam cũ, cũng đột ngột hiện ra trước mắt ông. <em>Cũng đành</em>&#8230; dường như ông muốn nói vậy. Tôi cũng quan sát ông, quan sát cái tủ sách trống trơn của một nhà văn miền Nam. Tôi ngắm ông với cảm giác kỳ quặc là ông hãy còn trong tủ kính bị khóa, giống như ông đang là cuốn sách câm chưa được phép mở ra cho tôi xem.</p>
<p>Nhưng Dương Nghiễm Mậu vẫn ở đó, trong sâu thẳm của một miền Nam <em>ngã đạn.</em></p>
<h2>Vũ Hạnh và Con đường thứ ba của Dương Nghiễm Mậu</h2>
<p><strong>Trần Nghi Hoàng</strong></p>
<p>Trước 1975, tôi tình cờ đọc được một truyện ngắn của Vũ Hạnh, mà tôi cho là hay. Tôi đã quên đề tựa truyện. Chỉ nhớ truyện kể về một cô gái người sắc tộc, bị một người Kinh hiếp trong một lùm cây. Sau khi tên dâm tặc bỏ đi, cô sơn nữ vừa khóc, vừa dùng cái rìu đi rừng của mình chặt chém tan nát lùm cây. Cô cho rằng, vì trong lùm cây có ma quỷ trú ngụ, nên đã xúi giục tên dâm tặc hiếp cô. Cô không tin trên đời có người xấu xa như vậy. Phải có ma quỷ nhúng tay vào, thúc đẩy một con người bình thường vốn &#8220;tính bổn thiện&#8221; có những hành xử như súc vật&#8230; Không một lời nói, một ý nghĩ thoáng qua về sự căm thù của cô đối với tên dâm tặc&#8230; tất cả tội ác đều là tại ma quỷ trong lùm cây&#8230;<br />
Thời gian gần đây, Công ty văn hoá Phương Nam và Nhà xuất bản Văn nghệ TPHCM cho in lại 4 tập truyện ngắn của <em>Dương Nghiễm Mậu</em>, và truyện dài <a href="http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=9906&amp;rb=0102"><u>Nguyệt Đồng Xoài của Lê Xuyên</u></a>.</p>
<p>Có nhiều dư luận trong nước, sớm nhất là một cô giáo tên Lê Ánh Ðào, đã phản đối nhà xuất bản và Công ty Phương Nam. Cô giáo này cho rằng: &#8220;<a href="http://www.talawas.org/talaDB/showThu.php?res=9684&amp;rb=120"><u>Ðọc sách Dương Nghiễm Mậu &#8211; Thú vật hóa con người và lưu manh hóa hình tượng văn học</u></a>&#8220;. Trình độ đọc sách của &#8220;giới giáo chức&#8221; trong nước thì tôi đã có biết qua! Thậm chí có giáo viên cho <a href="http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=9674&amp;rb=0102"><u>cái tên Nhất Linh có liên quan tới &#8220;cải lương</u></a>&#8221; chi đó!</p>
<p>Nhưng đáng kể là, tôi lại cũng tình cờ đọc được bài viết “<a href="http://www.sggp.org.vn/vanhoavannghe/2007/4/96188/"><u>Đâu là tiêu chí của người xuất bản</u></a>” của Vũ Hạnh, một nhà văn có chút tên tuổi xưa ở miền Nam, &#8220;đấu tố&#8221; nhà xuất bản và Công ty Phương Nam và hai tác giả Dương Nghiễm Mậu, Lê Xuyên, đăng trên trang nhà <em>Sài Gòn Giải phóng</em> ngày 22 tháng 4 năm 2007.</p>
<p>Tôi dùng chữ &#8220;đấu tố&#8221;, vì ngôn từ và cung cách viết bài này của Vũ Hạnh sặc mùi &#8220;đấu tranh giai cấp&#8221; và loảng xoảng sắt máu hận thù, không thua sút chút nào với những bài của các &#8220;văn công&#8221; đã &#8220;đấu tố&#8221; nhóm <em>Nhân văn-Giai phẩm</em> hơn năm mươi năm về trước. Nào là &#8220;tha hóa lớp trẻ hầu đưa đẩy họ vào sự chống phá cách mạng, chống lại sự nghiệp giải phóng dân tộc&#8230;&#8221;, nào là &#8220;sách của Dương Nghiễm Mậu nổi bật là tính phản động thì sách của Lê Xuyên là tính đồi trụy&#8230;&#8221; Và Vũ Hạnh&#8230; ngậm ngùi thêm: &#8220;&#8230; và các tác giả &#8211; Dương Nghiễm Mậu, Lê Xuyên &#8211; sống lại ở thành phố này vẫn được đối xử bình đẳng, không hề gặp bất cứ sự quấy phiền nào.&#8221;</p>
<p>Tôi biết rất rõ; chúng tôi, những người Việt nói chung, những văn nghệ sĩ lưu vong đều biết rất rõ những văn nghệ sĩ miền Nam còn ở lại sau tháng Tư 1975 &#8220;vẫn&#8221; được đối xử bình đẳng và&#8230; &#8220;vẫn&#8221; không bị &#8220;sự quấy phiền&#8221; như thế nào&#8230; Thậm chí, Dương Nghiễm Mậu &#8220;sung sướng&#8221; quá phải bỏ viết, đi học nghề làm tranh sơn mài&#8230; Và Lê Xuyên thì &#8220;rất an vui&#8221; <a href="http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=9905&amp;rb=0102"><u>ngày ngày ngồi bán thuốc lá lẻ</u></a>, quần áo vá chằng đụp sống ngậm tăm trên hè phố!</p>
<p>Bây giờ đã là năm thứ 7 của thế kỷ 21, Thế Kỷ Mới. Mọi thông tin hầu như không thể giấu giếm, bưng bít. Và thời đại này người ta từng giây phút kêu gọi con người tiến tới chữ &#8220;NHÂN&#8221;. &#8220;Nhân quyền&#8221;, &#8220;nhân sinh&#8221;, &#8220;nhân từ&#8221;, &#8220;nhân nghĩa&#8221;, &#8220;nhân đức&#8221;&#8230; Vũ Hạnh chưa từng &#8220;nhảy núi&#8221; vào rừng, sao có lối mập mờ khỏa lấp nói đại nói càn, xem thường trí thông minh của nhân loại như thế?</p>
<p>Theo tôi biết, Dương Nghiễm Mậu là nhà văn tiên phong dùng những nhân vật lịch sử, hoặc hình tượng tiêu biểu trong văn học làm ẩn dụ để &#8220;viết lại&#8221; và đưa ra cái cảm quan đặc dị của riêng ông:</p>
<p>Từ Hải trong <em>Truyện Kiều</em> của Nguyễn Du không chết đứng giữa trận tiền. Cao Bá Quát là người đi tìm &#8220;cái đẹp&#8221;&#8230;</p>
<p>Và Kinh Kha không bị giết trong cung điện của Tần Thủy Hoàng, mà đã cùng Tần Thủy Hoàng làm một cuộc mật đàm về cái thế an định và mang hạnh phúc cho thiên hạ. Nhưng sau đó, Kinh Kha bị Tần Thủy Hoàng phản bội những điều đã cam kết trong mật đàm. Kinh Kha trở về, tìm bạn là Tay Kiếm Vô Danh và Cao Tiệm Ly để vầy một cuộc đội đá vá trời khác: &#8220;Lại hành thích Tần Thủy Hoàng&#8221;.</p>
<p>Câu chuyện này được kể lại bởi một trong hai người đang cùng nhau tìm đường vừa trốn Tây, vừa trốn Việt Minh. Người lớn tuổi cho biết có ông anh làm cách mạng lưu lạc qua Tàu, tình cờ đọc được một cuốn &#8220;ký sự lịch sử&#8221; có tựa <em>Ba lần gặp Kinh Kha</em>&#8230;</p>
<p>Hai người bạn đã dùng câu chuyện này để suy luận mà tìm một con đường cho chính mình.</p>
<p>Và phần kết luận, Dương Nghiễm Mậu viết:</p>
<p><em>Người trẻ tuổi nói: &#8220;&#8230; Bây giờ có nhiều đất Tần bất trắc, nhiều Tần Thủy Hoàng, nhiều sông Dịch phải vượt qua&#8230; Chiến sĩ một đi không trở lại, tôi không chấp nhận quan niệm ấy, lên đường là phải nghĩ đến ngày trở về&#8230;”</em></p>
<p>Còn người lớn tuổi, kẻ đã kể lại câu chuyện mới về Kinh Kha:</p>
<p><em>“Tôi từ chối lựa chọn cả hai con đường ấy. Ai buộc chúng ta phải chấp nhận con đường có sẵn?&#8230;” <a href="http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=9940&amp;rb=0102#anm1#anm1"><sup>[1]</sup></a> </em></p>
<p>Người lớn tuổi muốn chọn con đường thứ ba. Một con đường mà chính tác giả Dương Nghiễm Mậu cũng chưa biết nó ra sao!</p>
<p>Ðó là thân phận trí thức trong đất nước Việt Nam cuối thế kỷ XX.</p>
<p>Vũ Hạnh thời trước tháng Tư 1975 sống ở miền Nam, được không ít những bạn bè trong lẫn ngoài văn giới là những người ở miền Nam bảo bọc. Những trí thức miền Nam yêu nước và có ý thức. Vũ Hạnh chơi với Trương Ðình Cử, dịch giả <em>Tội ác và hình phạt</em>, <em>Con bạc</em>&#8230; của Dostoievski; với họa sĩ Phạm Tư&#8230; trong hồ tắm Chi Lăng Gia Ðịnh. Tức Vũ Hạnh cùng trong nhóm Hòa bình Bánh vẽ. Vũ Hạnh làm tờ báo <em>Tin văn</em> chờ ngày 30 tháng Tư 1975 để vẽ cờ đỏ sao vàng tung hô Ðảng.</p>
<p>Cuối bài viết nói trên, Vũ Hạnh kết luận: &#8220;Ông Dương Nghiễm Mậu hành động vì cái gì, hành động theo hướng nào thì chúng ta đã rõ, ngoại trừ ông Phạm Xuân Nguyên và những người chủ trương đưa sách của ông Dương Nghiễm Mậu đến với đông đảo bạn đọc.”</p>
<p>Nhưng dường như Ðảng không biết Vũ Hạnh là ai, đã làm được những gì cho Ðảng! Ngoại trừ một lần được Đảng ban chút ân sủng cho đi Nga, sau đó, dường như Vũ Hạnh không được Đảng &#8220;cho&#8221; thêm ân huệ nào. Ðó là con đường thứ ba của Vũ Hạnh. Vậy tại sao Vũ Hạnh lại &#8220;tấn công, đấu tố&#8221; khi Phương Nam in lại sách của Dương Nghiễm Mậu, Lê Xuyên? Vũ Hạnh có mục đích gì?</p>
<p>Và tôi nhớ tới truyện ngắn cô sơn nữ bị hiếp trong lùm cây của Vũ Hạnh. Có phải xã hội đó, vùng đất đó có &#8220;ma, quỷ&#8221;, nên Vũ Hạnh bị ám và đặt bút viết lên những dòng chữ không nên, và chẳng thể viết từ một người có đầu óc suy nghĩ bình thường về những bạn đồng nghiệp của mình sau 32 năm chiến tranh đã chấm dứt trên đất nước?</p>
<p>Tôi lại đọc được một bài của nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên trả lời Vũ Hạnh, với tựa &#8220;<a href="http://www.talawas.org/talaDB/showThu.php?res=9821&amp;rb=12"><u>Gửi Ông Vũ Hạnh</u></a>&#8220;, đăng trên trang nhà talawas ngày 24 tháng 4-2007. Trong bài trả lời này, Phạm Xuân Nguyên nhắc tới Trần Mạnh Hảo trong một câu chuyện rất nên biết, nhất là đối với những người Việt ở hải ngoại mấy lúc gần đây khi đọc những bài &#8220;phê bình Ðảng và Nhà nước&#8221; của Trần Mạnh Hảo, đã tung hô Trần Mạnh Hảo là&#8230; &#8220;anh hùng dân tộc&#8221;. Xin trích:</p>
<p>&#8220;<em>Riêng về thơ, tôi (PXN) đã nêu lại nhóm Sáng Tạo và vai trò của Thanh Tâm Tuyền trong sự vận động đổi mới thơ Việt sau 1945. Ðề xuất của tôi vấp phải những phản ứng quyết liệt, gay gắt của một số người mà tựu trung lý lẽ của họ cũng như ông (Vũ Hạnh) bây giờ: nhân thân tác giả là &#8220;ngụy&#8221;, và nội dung tác phẩm là &#8220;phản động, đồi trụy&#8221;. Ông Trần Mạnh Hảo đã có hơn một bài phê phán trực tiếp tôi về chuyện này, và liên quan đến thơ Thanh Tâm Tuyền ông ấy đã cho tôi là &#8220;giật lá cờ máu trong tay thơ ca kháng chiến trao về phía bên kia</em>.&#8221;</p>
<p>Trần Mạnh Hảo, dường như là một trường hợp rất hiếm trong giới nhà thơ&#8230; rất thích MÁU!</p>
<p>Nhưng cũng Trần Mạnh Hảo, trong bài &#8220;Lại bàn về thơ hiện đại&#8221; đăng báo <em>Nhân dân Chủ nhật</em> (số 45, ngày 6 tháng 11-1994) thì lại viết về vấn đề này như một vòng quay 180 độ:</p>
<p>&#8220;Trong dòng văn học chính thống của miền Nam Việt Nam, Thanh Tâm Tuyền giữ một vị trí khá quan trọng. Về thơ, ông là ngọn cờ trong nhóm Sáng Tạo.&#8221; (Trích Phạm Xuân Nguyên. &#8220;<a href="http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=8134&amp;rb=0302"><u>Biến cố thứ nhất của văn học thời hậu chiến: Thanh Tâm Tuyền</u></a>&#8220;, talawas ngày 23 tháng &#8211; 2006)</p>
<p>Tôi đã từng viết: Trần Mạnh Hảo &#8220;ly thân&#8221;, rồi Trần Mạnh Hảo &#8220;tái hôn&#8221; là vậy. Và trường hợp của Trần Mạnh Hảo cũng làm tôi nhớ tới truyện ngắn cô sơn nữ bị hiếp trong lùm cây của Vũ Hạnh. Vũ Hạnh đã viết được một truyện ngắn &#8220;để đời&#8221;. Cô sơn nữ bị hiếp và chỉ thù &#8220;lùm cây&#8221;, nơi cô bị hiếp. Cô không có chút oán hờn tên dâm tặc đã hiếp cô! Truyện ngắn của &#8220;trường hợp thứ ba&#8221;. Bởi con đường thứ ba là con đường mà những người như Vũ Hạnh và Trần Mạnh Hảo không đủ bản lãnh và khả năng để tìm đến. Nhưng &#8220;trường hợp thứ ba&#8221; lại là trường hợp của bi hài và khốn nạn.</p>
<p>Nước Mỹ trong những thời gian an bình nhất, thời kỳ Rag-Time và ngay cả vài thập niên cuối thế kỷ XX, trước triều đại Bush con, vẫn còn tương đối bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng, thì hai chữ &#8220;anh hùng&#8221; (hero) là những hình tượng, ấn tượng rất dễ chịu. Ðó là các cầu thủ football, basket-ball; đó là một ca sĩ nhạc Rock &amp; Roll; hay một chú bé 14 tuổi vừa nhào xuống sông cứu được một cô bé 8 tuổi đang sắp bị chết chìm, v.v&#8230;</p>
<p>Bây giờ, &#8220;anh hùng&#8221; của nước Mỹ là &#8220;anh hùng Iraq&#8221;. Tức là loại &#8220;anh hùng&#8221; vì nhờ đã đổ máu chính mình hoặc đã làm đổ máu kẻ khác. Loại anh hùng được vinh danh trên màu đỏ của MÁU! Có nghĩa là nước Mỹ đang trên đà&#8230; tuột dốc! Vì vậy, &#8220;lá cờ máu&#8221; đó của Trần Mạnh Hảo, có muốn trao thì chưa chắc phía bên kia có người (dám) chịu nhận. Vũ Hạnh, Trần Mạnh Hảo cứ tiếp tục làm &#8220;anh hùng&#8221; trong những cơn lên đồng của hai ông! Nhưng hãy &#8220;tha&#8221; cho những người khác và đất nước Việt Nam.<br />
Tôi cầu mong đất nước Việt Nam thôi đừng có những&#8230; &#8220;anh hùng&#8221;.<br />
&#8220;ANH HÙNG&#8221;, và &#8220;ANH KHÙNG&#8221;, chỉ khác nhau có một chữ &#8220;K&#8221;.<br />
Bao giờ đất nước Việt Nam còn &#8220;cần&#8221; những Anh Hùng, &#8220;Anh Khùng Dân Tộc&#8221;, ngày ấy dân tộc Việt Nam còn có người đổ máu và bị hàm oan, trấn lột, hiếp đáp, tù đày&#8230; Và quê hương Việt Nam còn lầm than chậm tiến.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>***</p>
<p>&nbsp;</p>
<h2>Đọc lại Dương Nghiễm Mậu, nghĩ về văn chương và thời thế</h2>
<p><strong>Nguyễn Mạnh Trinh</strong></p>
<p>Khoảng thập niên 60-70, thực sự đã có những luồng gió mới thổi tới trong văn học nghệ thuật miền Nam. Giữa người đọc và người viết hình như chung một ý hướng là làm mới lạ văn chương, để khác đi với thời trước, thời tiền chiến và thời của Tự Lực Văn Đoàn. Những tác giả trong những tác phẩm của mình và các tạp chí văn học đã cố gắng trong nỗ lực ấy. Người viết mang những trào lưu tư tưởng triết học tây phương mà trong đó những tư tưởng hiện sinh là một, Trong khi đó, người đọc, phần đông trẻ tuổi là sinh viên học sinh hoặc những người lính chưa có nhiều năm quân ngũ, cũng theo dõi một cách hào hứng những trào lưu tư tưởng có khi trở thành thời thượng.</p>
<p>Khi ấy, chiến tranh bắt đầu có những ảnh hưởng sâu sắc đến mọi người. Cuộc sống không những chỉ phi lý, bi đát trong triết học trong văn chương mà còn phi lý và bi đát thực tế của con người. Thời thế tạo ra những bi thảm do con người tạo ra cho con người và đôi khi do chính mình tạo ra cho mình bởi sự dằn vặt nội tâm, bởi sự cố nhận diện mình là ai trong cái sương mù của cuộc đời, trong những điều tương phản cực dộ với nhau.<br />
Một người viết, có phong thái riêng, có cá tính riêng, của tuổi trẻ cô đơn, của lòng phẫn nộ trước những phi lý của cuộc sống, là nhà văn Dương Nghiễm Mậu. Hình như, ông đi một mình một đường trên con đường văn chương của mình. Tiểu thuyết của ông, những nhân vật bàng bạc những nét hiện thực nhưng lại xa lạ và khó kiếm tìm trong cuộc sống hiện hữu. Không gian, thời gian, cũng mờ ảo không xác định, như một cõi sống nào, có không lẫn lộn và con người là thực thể chất chứa đầy những đối nghịch lẫn nhau. Nhân vật của ông, luôn xưng tôi ở ngôi thứ nhất, để như một cuộc độc thoại, để cái &#8220;tôi&#8221; của tác giả nhòa nhạt vào cái &#8220;tôi &#8220;của từng nhân vật.<br />
Xuất hiện trong một trường hợp đặc biệt với truyện ngắn &#8220;Rượu chưa đủ&#8221; coi như là một khám phá tài năng mới của nhà văn Mai Thảo trên tạp chí Sáng Tạo. Ông đã tạo cho mình một chỗ ngồi riêng, một chỗ ngồi mà sau này, gần nửa thế kỷ, sau bao cuộc đổi thay, sau những biến cố chính trị, vẫn được xác định như một nhà văn có đóng góp vào gia tài văn chương của dân tộc. Tự Điển Văn Học, in trong thời của chế độ đã bắt giam ông với tội danh là văn nghệ sĩ, trong ấn bản mới nhất có viết về Dương Nghiễm Mậu:</p>
<p>&#8220;Dương Nghiễm Mậu là một trong những nhà văn Việt Nam thế hệ 60-70 đã đào rất sâu vào bản chất của cuộc hiện sinh con người. Ông đứng riêng một cõi, dường như không có bạn đồng hành, và đã tạo được một lối cấu trúc về truyện ngắn, truyện dài nằm trong nhân sinh quan bao quát của triết học hiện sinh và vô thần&#8230;&#8221;<br />
Jason A. Picard, của đại học UC Berkeley trong bài; &#8220;Poisoned Water: Vietnamese Youth in the Works of Duong Nghiem Mau&#8221; (&#8220;Nước Độc: Tuổi trẻ Việt Nam trong tác phẩm Dương Nghiễm Mậu&#8221;) có viết lời mở đầu bài essay của mình:<br />
&#8220;Vào năm 1954 hàng triệu người Việt ở miền Bắc di cư xuôi Nam theo giải pháp của Hội Nghị Geneve. Trong làn sóng người tị nạn ấy có một cậu trai trẻ mười tám tuổi, Dương Nghiễm Mậu. Hơn bốn năm tiếp theo ông đã di chuyển từ thành phố này sang thành phố khác: Huế, Nha Trang và Sàigòn trong thời kỳ chính thể Việt Nam Cộng Hòa mới thành lập. Kinh nghiệm của ông là của một người tị nạn di cư, đã trải qua thời niên thiếu trong cuộc chiến Đông Dương lần thứ nhất và cuộc đời ông là của một người trẻ trưởng thành ở giữa những trạng thái căng thẳng chính trị càng ngày càng tăng ở miền Nam bắt đầu thành những phóng ảnh và luận đề cho những truyện ngắn và tiểu thuyết của ông. Nhân vật chính của Dương Nghiễm Mậu là những người tuổi trẻ Việt Nam vật lộn với những biến cố của xã hội thay đổi cũng như những xung đột giữa người với người và người với chính nội tâm của hắn.</p>
<p>Bài viết sẽ nhắm thử nghiệm những tác phẩm của một tác giả trong những tác giả danh tiếng nhất của miền Nam Việt Nam: Dương Nghiễm Mậu. Khởi từ những kinh nghiệm bản thân và sự lưu tâm đến văn hóa của tuổi trẻ, ông đã mở những cánh cửa để độc giả nhìn thấu vào tuổi trẻ miền Nam Việt Nam trong những thập niên 1950,1960, 1970. Tuổi trẻ ấy tham dự trong vai trò của vở kịch lịch sử bi đát của một thời kỳ nhưng họ đã bị quên lãng trong chữ nghĩa. Sự khám phá của tôi từ tác phẩm Dương Nghiễm Mậu sẽ cung cấp nhiều hiểu biết thực thể về Việt Nam Cộng Hòa, trong văn học và trong văn hóa tuổi trẻ nữa&#8230;&#8221;</p>
<p>Khởi viết từ năm 1957, đến năm 1975, ông đã hoàn tất rất nhiều tiểu thuyết, truyện ngắn, ký sự. Truyện ngắn như: Cũng Đành, (1963), Đêm (1965), Đôi Mắt Trên Trời (1966), Sợi Tóc Tìm Thấy (1966) Nhan Sắc (1966), Kinh Cầu Nguyện (1967), Ngã Đạn (1970), Cái Chết Của&#8230; (1971). Truyện dài như: Gia Tài Người Mẹ (1964), Đêm Tóc Rối (1965), Tuổi Nước Độc (1966), Phấn Đấu (1966), Ngày Lạ Mặt (1967), Gào Thét (1969), Con Sâu (1971). Ký sự như Địa Ngục Có Thật (1969), Quê Người (1970)&#8230;</p>
<p>Một tác phẩm đoạt giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc năm 1964 là truyện dài Gia Tài Người Mẹ. Gia tài rách nát của Mẹ Việt Nam đầy chia rẽ và hận thù. Những nhân vật: u già, người mẹ, bốn đứa con tên Thạch, Nhược, Nhẫn, Tuấn, có mặt trong những hoàn cảnh nghiệt ngã kể chuyện về mình với cái chủ quan và nhìn sự kiện theo cách bóp méo để có phần lợi cho mình. Gia tài là một căn nhà đổ nát trống trơn chẳng có ý nghĩa thực tế nào nhưng là mục đích của những cuộc tranh dành, gấu ó. Cái gia tài ấy, có phải liên tưởng đến những quốc gia nhược tiểu, khốn khó bị chia rẽ bởi các đại cường và lao mình vào những cuộc chiến ủy nhiệm làm người lính đánh thuê để phần thưởng là những đổ nát hoang tàn cho cả dân tộc. Người mẹ, yếu ớt về thể xác và tan nát về tâm hồn có hai đời chồng ở hai vị trí chống đối nhau ở hai chiến tuyến nhưng đều bị hy sinh để lại cho người vợ những đứa con hai dòng máu. Người chồng đầu thì bị chết trong tù còn người thứ hai thì bị lính lê dương giết chết trước khi hãm hiếp người vợ. Cuộc hãm hiếp ấy tạo ra đứa con lai là Nhẫn, kết quả của những oan khiên của những tình thù quấn quít với nhau. Mỗi nhân vật kể chuyện mình, khi độc thoại, khi đối thoại, trong cái chủ đích trình bày cho được cái số phận của mình. Thân phận của Nhẫn, một đứa con hoang, ra đời trong cái nghiệt ngã của một xứ sở chiến tranh luôn luôn bị dằn vặt bởi những mặc cảm đeo đẳng suốt cả đời. Hãy nghe Nhẫn trong vai trò của tôi ngôi thứ nhất thố lộ:<br />
&#8220;Tôi là giọt máu của một kẻ thù trong gia đình này. Kẻ thù đó là bố tôi, nhưng có thực bố tôi là kẻ thù đích danh không? Tôi nghĩ bố tôi không bao giờ lại thế. Bố tôi cũng chỉ là một nạn nhân, một kẻ đánh mướn mang bản án tù đầy chung thân không sao gỡ được với thân phận nhược tiểu ốm o gầy yếu trong thực tại nhân loại. Bố tôi còn sống hay đã chết rồi? Sống hay chết số phận những người đồng loại với bố tôi đều không thay đổi.&#8221;<br />
Nhẫn là kết quả của sự oan nghiệt, của người mẹ mang thai của một kẻ hãm hiếp mình để đứa trẻ lớn lên với nỗi day dứt của đứa trẻ ra đời ngoài ý muốn và chịu đựng tất cả ngững ghẻ lạnh của người chung quanh. Còn nỗi niềm nào quay quắt đau xót hơn khi Nhẫn cứ dầy vò với ý nghĩ: &#8220;tôi là điều để các anh tôi nhớ rằng chính mẹ tôi đã bị nhục nhã khốn khổ, bố họ đã bị giết, kẻ giết đó chẳng phải ai xa al mà chính là bố tôi&#8230;&#8221;<br />
Nhẫn đã tự tử nhưng vẫn sống để có mặt trong một tấn bi kịch của một xứ sở đầy những cuộc chém giết phân tranh.<br />
Gia Tài Người Mẹ là một cái nhìn trở lại lịch sử, để ở đó, vượt lên thành một tấn thảm kịch biểu hiện cho cả một thời kỳ nhân loại. Phân hóa, tranh giành, cướp lấy một phần gia tài đang đổ nát, để mọi người trong gia đình thành kẻ thù lẫn nhau. Người mẹ lả dần đi trong những viễn tượng vô cùng thẳm đen, những đứa con không thèm nhìn mặt nhau, hầm hè trong sự đấu đá giành giạt để mong cướp cho mình những gia tài trống rỗng đổ nát. Trong khi đó, ở ngoài, những kẻ lạ mặt hung hãn đang chờ để cướp tay trên.<br />
Sống trong một xã hội chiến tranh đầy nghịch cảnh, con người không những phải chiến đấu với người ngoài mà còn phải phấn đấu với chính mình. Trong tác phẩm này, Dương Nghiễm Mậu đã nêu ra một ý tưởng: đừng trách người hãy trách mình. Bởi vì mình phân hóa giành giật với nhau nên kẻ thù bên ngoài mới lợi dụng được để gây hoang tàn đổ vỡ cho dân tộc.<br />
Gia tài Người Mẹ không phải là một tác phẩm phản chiến. Tác giả chỉ nêu ra một biểu tượng và không có tham vọng đặt ra những phương cách giải quyết. Thực tại của đất nước đã được nhìn ngắm với con mắt sắc sảo muốn đi sâu vào trong nội tâm con người và với một thái độ thật rõ ràng. Đó chẳng phải những lời kêu than, chẳng phải là những lời chạy tội như lời nói và thái độ của những nhân vật trong truyện. Gia Tài Của Mẹ là của ngôn ngữ văn chương muốn đi sâu vào sự phức tạp của cuộc sống của một đất nước chiến tranh. Từ những nhát dao sắc bén giải phẫu, chúng ta thấy được những cục u ung thư ăn ruỗng trong tâm cảm con người&#8230;</p>
<p>Năm nay 2007, nhà xuất bản Phuơng Nam ở trong nước đã in lại bốn tác phẩm của Dương Nghiễm Mậu: là bốn tập truyện ngắn Đôi Mắt Trên Trời, Nhan Sắc, Cũng Đành và Tiếng Sáo Người Em Út. Những Tác phẩm này đã gây xôn xao dư luận, người tán đồng kẻ phản đối chê trách ở trong nước.<br />
Tập truyện Đôi Mát Trên Trời do nhà xuất bản Giao Điểm in năm 1966 được tái bản đáng kể nhất là Bộ ba Mậu truyện: Lấy Máu, Những Chuột, Và Rệp. Trong đó những cuộc sống giữa người và vật cùng ở trong một mức độ bi thảm nên rất nhiều điểm tương đồng. Chính vì những truyện này nên có cô giáo Lê Anh Đào đã phản đối nhà xuất bản Phương Nam cho rằng đọc sách Dương Nghiễm Mậu là thú vật hóa con người và lưu manh hóa hình tượng văn học.<br />
Truyện Lấy Máu kể lại một câu truyện của một đứa bé phải chịu làm dụng cụ để quảng cáo cho món thuốc cao của Năm Sàigòn. Hắn rạch tay thằng bé rồi dùng cao dán lại để quảng cáo cho món thuốc cao Giang Đông. Thằng bé dùng máu của mình đổi lấy miếng ăn nhưng dần dần hết cả máu, khi rạch ra thì chỉ còn rỉ vài giọt và những vết khứa khác thì mưng mủ hôi thối. Rốt cuộc thì cái trò quảng cáo lường gạt ấy cũng không mà mắt được ai và cái trò mãi võ ấy trở thành một trò múa rối không có khán giả. Truyện mô tả với giọng văn bình thản biểu lộ tính bình thản không cảm xúc của con người trước nỗi đau đớn của người khác. Trong một xã hội mà đau khổ là chuyện bình thường, con người thường lạnh lùng và vô cảm đến mức trơ trơ như gỗ đá&#8230;<br />
Truyện Những Chuột kể lại cuộc sống giữa Lão chệt, đàn chuột và con chó. Trước đây lão có ba chuồng nuôi chuột để thằng Lai con lão chở lên Sàigòn cho mấy quán nước làm xíu mại. Nhưng rồi thằng Lai cuỗm đi con Xiềm của lão và không về nữa nên nhà lão không còn ai lui tới. Lão sống với đàn chuột, vừa là bạn vừa là thức ăn cho lão sống. Đến một ngày có một con chó là người khách lạ đến ở. Rồi đến khi đàn chuột bị vắng đi và lão Chệt nghĩ rằng con chó có thể ăn tươi nuốt sống lão nên bất ngờ lão hạ thủ con chó rồi moi gan nướng ăn và uống máu của chó còn xác thì mang bỏ ra giữa nhà để đàn chuột sâu xé. Vài ngày sau, ở xóm ấy có nhiều người chết vì bệnh dịch hạch.<br />
Chệt, chó, chuột, cùng một vần mẫu tự, cùng có những đặc tính giống nhau của một cuộc sống phải giết nhau để sống còn. Lão chệt là biểu tượng của con người tha hóa, khôn ngoan thủ đoạn hơn con chó và cũng dữ dằn hơn loài chuột là một biểu tượng tàn ác, nguy hiểm hơn cả bệnh dịch đã giết hại bao nhiêu người.<br />
Truyện Và Rệp là một cuộc đối đầu giữa ông Tư và loài rệp. Một cuộc chiến dai dẳng dù ông Tư có thuốc DDT làm vũ khí để diệt trừ. Chỉ được một thời gian ngắn rồi rệp lại sinh sản trở lại. Ở đâu có con người là ở đó có rệp. Và ông Tư nổi điên đốt nhà để diệt trừ tận gốc loài vật này. Cuộc chiến đấu giữa người và vật đã chấm dứt trong kết quả phi lý ấy.</p>
<p>Bộ ba Mậu Truyện như lên án sự ác độc của con người và tất cả hình như đẩy vào thế tuyệt lộ của tan vỡ của hoang tàn và của những điều phi nhân vẫn thản nhiên xảy ra trong cuộc sống loài người.<br />
Truyện Đôi Mắt Trên Trời là những suy tư của một người sắp chết. Thực ra hắn đã chết từ lâu khi được vớt từ dưới nước lên và từ đó hắn đã sống mà như chết rồi. Cái chết được mường tượng từ cái chết của chiếc lá và con sâu. Con sâu giết chiếc lá làm nó rụng xuống đất, nhưng con sâu cuối cùng của một cây đang dần chết sẽ ra sao? Sẽ bị chim ăn, bị rớt xuống đất vì cơn gió hay bị lũ kiến làm thịt. Nỗi chết, ai cũng sẽ có và sẽ giống nhau như hắn đang nằm trên giường bệnh và tưởng tượng đến ngày cuối của mình. Sống cũng là trống rỗng mà chết thì cũng trống không. Con người xa lạ với chính đời sống mình.<br />
Nhan Sắc, tập truyện do nhà xuất bản An Tiêm năm 1966, Văn Xã tái bản năm 1972 và Phương Nam tái bản năm 2007. Tất cả gồm các truyện: Người Tình của Trương Quỳnh Như, Một Người Lên Núi, Nhan Sắc, Từ Hải và Cuộc Phiêu Lưu của Đời Chàng, Kinh Kha, Con Chủy Thủ và Đất Tần Bất Trắc. Tập truyện như một chuỗi đời sống, xuất hiện từ trong một thế giới lung linh của suy tưởng nào nhưng chuyên chở và gói ghém những nỗi niềm của cuộc sống. Phẫn nộ có, bi quan có, nỗi đớn đau của kiếp nhân sinh không phải hình thành từ mệnh số đã định mà do chính con người tạo ra và hằn vết vào tâm thức. Không hiểu tác giả Nhan Sắc có quá tay một chút hay không khi phác họa những cuộc sống tối tăm, những suy tư của tuyệt lộ đường cùng? Vắng bóng sự tươi tắn lạc quan, những hoàn cảnh của người đầu hàng định mệnh, Dương Nghiễm Mậu tạo ra nhữngthế giới ảo riêng nặng phần trí tuệ.<br />
Truyện Người Tình Của Trương Quỳnh Như, vẽ ra một khuôn mặt Phạm Thái như một biểu tượng của kẻ sĩ thời đại. Thời thế đổi thay, non sông dời đổi, con người dù cố gắng đi tìm ý nghĩa của cuộc sống cũng có lúc nản lòng mượn men say để lãng quên. Nếu cuộc đời là một trường đại mộng thì tài trí có lúc cũng đủ để làm một Phổ Chiêu Thiền Sư để cay đắng thốt ra những lời phẫn chí.<br />
Những nhân vật lịch sử được Dương Nghiễm Mậu làm sống lại và khoác choàng theo những suy niệm của riêng ông. Nhan Sắc viết về những người làm cách mạng và dù họ là những người bất lực trước xoay vần của lịch sử nhưng cái chết của họ chính là sự chọn lựa rốt ráo đến tuyệt đối trong sự tương đối có thể. Qua cuộc dấy binh của Cao Bá Quát để có nhân vật thầy khóa Nhâm và người khách vô danh đã mang cái chết anh hùng làm ý nghĩa cho lẽ sống trên đời.<br />
Rồi những truyện Từ Hải và Cuộc Phiêu Lưu Cuối Đời Chàng, Kinh Kha, Con Chủy Thủ và Đất Tần Bất Trắc là những hình tượng của Từ Hải và Kinh Kha theo những phác họa mới với những ưu uất của thời sự hôm nay. Họ là ai, là kẻ anh hùng hay người lãng tử văng mạng, là kẻ đi xây dựng cơ đồ hay phá đổ cơ đồ. Họ hiện hữu hay không giữa những trường cửu lịch sử. Họ là mẫu người thật hay chỉ là những hình tượng ảo của một thời lịch sử đa đoan. Những con đường mà họ lựa chọn, đến ngày hôm nay còn ý nghĩa nào cho những người sau, cho những lúc vận nước chông chênh dân tình lầm than đất nước mịt mù khói lửa. Con đường nào sẽ đi để có lúc sẽ trở về mà không mất hút theo những bọt bèo thời cuộc&#8230;?<br />
Tập truyện Cũng Đành với Niềm Đau Nhức Của Khoảng Trống, Người Ngồi Đội Mũ, Bồn Cát Tuổi Thơ, Tiếng Động Trên Da Thú, Cũng Đành&#8230; là những phác họa chân dung con người trong những hoàn cảnh là anh chàng có cái bướu nhưng khi bị cắt đi thì thấy dường như mình là một người khác và mất đi một phần đời sống của mình trong Niềm Đau Nhức Của Khoảng Trống hay là lão Giăng một Tây thực dân chủ đồn điền gian ác và người thanh niên định giết hắn, cả hai là những người lơ láo giữa thực tại và dĩ vãng, đều là khuôn mẫu của đời người bất lực và xa lạ. Cũng Đành là của một nhân vật đi kháng chiến bị sốt rét uống quinine đến tai bị điếc sống bằng nghề bới rác và bị mật thám bắt tra khảo để tìm một lý lịch. Cho đến chết hắn vẫn chưa trả lời được mình là ai. Mày là ai? Từ đâu tới? Cái lý lịch của một kẻ lạc loài trong chính đất nước mình.<br />
Truyện Tiếng Sáo Người Em Út là câu chuyện của hai anh em về cái chết của người cha. Người anh mới đi xa về nghe người em kể về một người cha hiền lương và khi tiễn chân cha về cõi khác đã thổi khúc sáo có âm điệu hân hoan cho nhẹ lòng người ra đi không vướng bận một điều khuất lấp nào trên trần thế. Người em bảo rằng sẽ ra đi vì chốn này không còn gì vướng bận nữa và người anh cũng nói đã trở về thì sẽ ở lại. Nhưng, mọi sự vẫn không đổi, người em vẫn ở lại và người anh vẫn sẽ ra đi. Đi và ở, nơi nào cũng vậy thôi nến ta có sự an nhiên tự tại. Sự lưa chọn sẽ phải có nhưng như cuộc đời, thản nhiên và lạnh lùng trôi&#8230;<br />
Đọc truyện dài Tuổi Nước Độc, thấy được bút pháp lúc sôi nổi lúc lạnh lùng nhằm lột tả một tâm trạng, một tâm tư của tuổi trẻ bị ảnh hưởng nặng nề trong chiến tranh. Những đoạn độc thoại, những hình tượng bạo lực, những sa dọa nẩy mầm, những đen tối phủ nhòa cuộc sống. Thế giới con người bị bôi đen, bi quan và họ sống gần với bản năng hơn là lý trí.</p>
<p>Dương Nghiễm Mậu viết về Hà Nội trong Tuổi Nước Độc với nhân vật Ngạc người sống một thành phố bất an, sống lẫn lộn giữa lòng yêu thương và sự khinh ghét. Sống nhờ gia đình nhờ sống bám vào ông nội nhưng lại khinh ghét cái nghề cho vay nặng lãi. Ngạc sống như một người lêu bêu, ích kỷ và vô luân. Cũng như Tân một người bị tàn tật trong chiến tranh được may mắn cứu sống nhưng lại không đường sinh kế và chết dần chết mòn. Còn Ngạc bị đứa em khác mẹ dí bàn là vào mặt và trở thành một người độc ác, giết người thím tàn tật, chiếm hữu xác thịt người chị đã từng giúp đỡ mình. Ngạc sống như một thây ma thối rữa, ngụp lặn trong tội lỗi. Con người  thấp thoáng của hư vô, của bạo lực ghê tởm , của bóng dáng chiến tranh xa gần.<br />
Đêm Tóc Rối với nhân vật Lễ là người luôn tự hỏi mình là ai, hoài nghi cuộc sống, không tin tưởng vào một giá trị nào và sống gần với bản năng hơn là lý trí. Say mê dục tính, ngoại tình với một người đàn bà có chồng dâm đãng, để làm chỗ trú thân cho dục vọng nhơ nhớp bẩn thỉu. Hắn luôn luôn đặt câu hỏi nhưng không bao giờ tự trả lời, luôn đầu hàng mọi sự khi khởi đầu. Đời sống với hắn là hư vô là không nghĩa lý ngay việc làm tình hay phân biệt giữa tình yêu đích thực của người nữ trinh nguyên và mụ nạ dòng dâm dục. Đời sống của Lễ và những nhân vật khác trong Đêm Tóc Rối là những người sống không một chút hy vọng, lẫn lộn có và không, thực tại và hư vô, hiện hữu như một loại dư thừa. Phi lý và không nghĩa lý.<br />
Từ tác phẩm Dương Nghiễm Mậu, nghĩ đến văn chương và thời thế. Có vẻ, như văn chương không thể bị hủy diệt được, nếu là văn chương chân thực. Qua sự sàng lọc, qua những thay đổi chế độ, dù có bị xóa bỏ nhất thời, dù tác giả có bị đầy ải tù ngục, nhưng tác phẩm vẫn sống. Chuyện thời thế, lúc này lúc khác, lúc mất lúc còn nhưng văn chương vẫn còn mãi mãi. Ở trường hợp bốn tác phẩm của Dương Nghiễm Mậu được tái bản ở Sàigòn trong khi chế độ Cộng Sản vẫn còn ngự trị có ý nghĩa gì và có tác dụng ra sao trong thời điểm hiện nay?</p>
<h2>Truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu</h2>
<p><strong>Phạm Xuân Nguyên</strong></p>
<p>Việc một số tác phẩm của hai nhà văn miền Nam trước 1975, Dương Nghiễm Mậu và Lê Xuyên, vừa được Công ti văn hoá Phương Nam và Nxb Văn nghệ TPHCM tái bản đang gây nhiều dư luận. Sớm nhất có lẽ là bài viết &#8220;<a href="http://www.talawas.org/talaDB/showThu.php?res=9684&amp;rb=120"><u>Đọc sách Dương Nghiễm Mậu – Thú vật hoá con người và lưu manh hoá hình tượng văn học cổ điển của dân tộc</u></a>&#8221; của Lê Ánh Đào trên tuần báo <em>Văn nghệ TPHCM</em>, tiếp đến là bài trả lời phỏng vấn “<a href="http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=195453&amp;ChannelID=61"><u>Góp phần khơi thông một dòng văn học vẫn âm thầm chảy</u></a>” của bà Phan Thị Lệ, Giám đốc Công ti Phương Nam trên báo <em>Tuổi trẻ</em> và bài phản hồi “<a href="http://www.sggp.org.vn/vanhoavannghe/2007/4/94011/"><u>Có phải là ‘Khơi thông dòng văn học”?</u></a> của Bích Châu trên báo <em>Sài Gòn Giải phóng</em> và bài “<a href="http://www.congan.com.vn/home/van_de_hom_nay/2007/04/mlnews.2007-04-13.9714530122"><u>Lịch sử không thể lập lờ</u></a>” của Trương Sinh trên báo <em>Công an Nhân dân</em>. Gần đây nhất, trong bài “<a href="http://www.sggp.org.vn/vanhoavannghe/2007/4/96188/"><u>Đâu là tiêu chí của người xuất bản</u></a>”, trên <em>Sài Gòn Giải phóng</em>, nhà văn Vũ Hạnh đưa ra các nhận định: “những quyển sách này không chỉ là các sản phẩm văn hóa mà vốn là những vũ khí độc hại về mặt tinh thần”, “… nhiều quyển sách của Dương Nghiễm Mậu nổi bật là tính phản động”, và việc tái bản “những vũ khí độc hại” này “là một xúc phạm nặng nề đối với danh dự đất nước.” Ông cũng cho biết, “rất nhiều người đã thực sự giật mình” khi đọc ý kiến của nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên về Dương Nghiễm Mậu trên tờ <em>Thể thao-Văn hoá</em> ngày 13.4.2007.</p>
<p><em>Sau đây chúng tôi xin giới thiệu bản đầy đủ bài viết của Phạm Xuân Nguyên.</em></p>
<p>(Talawas)</p>
<p>***</p>
<p>Văn chương dân tộc Việt Nam thế kỷ XX, do nhiều hoàn cảnh lịch sử và lý do khác nhau, đã không thuần nhất và thống nhất. Có một thực tế đã trở thành lịch sử là trong giai đoạn 1954-1975 đất nước bị chia thành hai miền lãnh thổ với hai thể chế khác nhau và dưới hai thể chế trên hai miền lãnh thổ ấy đã tồn tại hai nền văn chương khác biệt về ý nghĩa chính trị. Nhưng ở những tác giả và tác phẩm tiêu biểu, ở bên này hay bên kia, đó đều là văn chương đúng nghĩa, tức là có giá trị nhân bản, nhân văn đối với con người. Tôn trọng lịch sử thì phải thừa nhận một thực tế khách quan là văn chương Việt Nam thế kỷ XX có các bộ phận khác nhau, và để hình dung bức tranh đầy đủ về văn chương dân tộc thì phải có sự tổng hợp, thống nhất các giá trị văn chương đích thực từ các bộ phận cấu thành ấy. Độ lùi thời gian và hoàn cảnh chính trị xã hội hiện thời của đất nước đã tạo điều kiện cho việc này. Trên tinh thần đó, “Tủ sách văn học miền Nam trước 1975” do Nhà xuất bản Văn nghệ và Công ty văn hóa Phương Nam phối hợp thực hiện là một ý tưởng và công việc cần thiết và hợp thời, trên cả hai phương diện chính trị và văn chương, đáng được trân trọng và ủng hộ. Lựa chọn in lại những tác phẩm có giá trị văn chương của các nhà văn nhà thơ từng sáng tác ở Sài Gòn giai đoạn 1954–1975 là nhìn văn học ở tư cách văn học dưới con mắt lịch sử. Hơn thế, đó còn là đưa trả lại cho văn chương nước nhà những giá trị xứng đáng của nó và đem lại cho độc giả văn chương những tác phẩm họ cần biết, cần đọc để hiểu đầy đủ, toàn diện hơn nền văn chương dân tộc thế kỷ XX. Có thời ném đá đi và có thời lượm đá về.</p>
<p>Bốn tập truyện ngắn của Dương Nghiễm Mậu (<em>Đôi mắt trên trời, Cũng đành, Nhan sắc, Tiếng sáo người em út</em>) vừa được ra mắt ở Nhà xuất bản Văn nghệ là trên tinh thần này. Đọc nó, độc giả sẽ được phát hiện một nhà văn xuất sắc với một lối viết hiện đại, thấm đầy chất hiện sinh, đi sâu vào thân phận con người, phơi bày những cảnh ngộ làm người trong một thế giới nhiều bất trắc, phi lý. Do đó đọc ông không thể đọc theo kiểu ngoại quan mà phải bằng con mắt nội quan.</p>
<p>Đọc văn Dương Nghiễm Mậu là đọc những trăn trở, hoài nghi, lo âu, dằn vặt trước những hoàn cảnh có thể biến con người thành chuột, hạ cấp nhân tính thành thú tính (“Những chuột”), trước sự bạo hành của cái ác có thể khiến con người dửng dưng với nỗi đau của đồng loại (“Lấy máu”). Tính biểu tượng của truyện “Những chuột” buộc người đọc từ hoảng sợ đến thức tỉnh.</p>
<p>Đọc văn Dương Nghiễm Mậu là đọc những day dứt lựa chọn của người trí thức, người sĩ phu trước một hiện tại lịch sử: xuất xử hay hành tàng, hành động hay không hành động, hành động vì cái gì, hành động theo hướng nào. Cả tập <em>Nhan sắc</em> gần như có thể nói là được viết cho đường hướng tư tưởng này, bằng những truyện dã sử và giả sử. Từ Hải, Kinh Kha, Hồ Quý Ly, Lê Quý Đôn, Nguyễn Huệ, Phạm Thái khi trở thành nhân vật của Dương Nghiễm Mậu đã được nhà văn đặt vào những tình thế lựa chọn, và họ đã phải lựa chọn theo cách của con người hiện đại muốn ở họ. Họ phải lựa chọn để không ngừng đi tìm ý nghĩa của cuộc sống. “<em>Phải sống. Sống không phải là nương theo những điều đã được định sẵn. Sống là tìm kiếm, lựa chọn, đương đầu</em>&#8230;”, do đó, mỗi người phảii tự chịu trách nhiệm về những quyết định của mình.</p>
<p>Đọc văn Dương Nghiễm Mậu là đọc những tình cảm bình thường, giản dị, mà chân thành, xúc động, đưa đến những đồng cảm, sẻ chia giữa những con người cùng ở trong một tình thế sống (“Lời chúc cho kẻ phản bội”). Văn đó không hề hạ thấp con người, ngược lại, nó buộc mỗi người phải bận tâm với chính mình trong tư cách con người. Truyện Dương Nghiễm Mậu như nhẹ nhàng nhưng thực ra rất trĩu nặng những suy tư, triết lý về nhân sinh, cuộc đời mà người đọc phải tự mình chiêm nghiệm hiểu ra. Như câu chuyện của người em nói về cái chết của người cha với người anh đi xa trở lại nhà trong truyện “Tiếng sáo người em út”. Tiễn cha rời cõi sống nhưng người em thổi sáo vui vì cả cuộc đời người cha sống không làm điều gì quấy, không có gì ân hận, khi nhắm mắt được nhẹ lòng. An nhiên tự tại, phải chăng đó là cái cách sống dễ nhất mà cũng khó nhất, cho nên trong câu chuyện của hai anh em sự đi ra khỏi nhà hay về ở lại thành ra một chủ đề ẩn ngầm của truyện. Đi để rồi được cái gì, và có thanh thản được không? Và như thế là một câu chuyện tưởng như rất đỗi bình thường, nhỏ nhặt về một cái chết dưới ngòi bút Dương Nghiễm Mậu đã bật lên thành một vấn đề lớn của cái sống: sự lựa chọn. Xin hãy hiểu sự lựa chọn đây theo ý nghĩa của triết học hiện sinh mà chắc nhà văn có chịu ảnh hưởng và hẳn là có tâm đắc. Đơn giản và trong trẻo như người em út trong truyện này thực chất là những thắc mắc trước các vấn đề không hề đơn giản của thân phận con người. Người em chỉ đùa người anh là sẽ đi khỏi nhà sau khi cha chết vì không còn gì níu kéo lại nữa. Nhưng cuối truyện người em đã vẫn ở lại. Còn người anh suốt truyện luôn nói đã trở về, không đi nữa, nhưng kết truyện người đọc cảm giác là anh lại đi. Đó là hai sự lựa chọn, vừa hiện thực vừa hiện sinh. Tiêu biểu cho lối truyện này của Dương Nghiễm Mậu là truyện “Niềm đau nhức của khoảng trống”, một truyện như được viết ra theo luận đề triết học hiện sinh về lựa chọn và tự do. Một người có cái bướu trên cổ thấy thừa ra vô ích nên tự cắt đi, nhưng khi cắt đi anh thành một sự không thực, nhưng đấy là hành động lựa chọn của anh. Ở chỗ cái bướu bị cắt chỉ còn lại khoảng trống và niềm đau nhức của khoảng trống cho anh được quyền “<em>từ khước đám đông, thức giác niềm đối kháng với một bộ mặt vô hình nhìn xuống đời sống</em>”.</p>
<p>Văn Dương Nghiễm Mậu được viết theo kiểu tẩy xóa không gian, thời gian, đến cả tên tuổi, lý lịch nhân vật, câu chuyện trong truyện của ông có thể ở đây hay ở kia, thời xưa hay thời nay, nhưng nó là hiện sinh, là tình thế lựa chọn, là câu hỏi đi tìm câu trả lời, là quá trình “nội soi” như một nhà nghiên cứu đã phân tích. Được viết ra cách nay xa thì non nửa thế kỷ, gần thì cũng ba chục năm, những truyện ngắn của Dương Nghiễm Mậu vẫn tươi mới về giọng điệu, vẫn sắc bén trong câu chữ, lời văn, vẫn thâm trầm ý tưởng, để khiến đọc vào người đọc phải đối diện với chính mình, phải bị lột trần trong tâm tưởng, từ đó có một khoái cảm tự phân tích, tự nhận thức để thấy ra thân phận và kiếp sống mình. Nếu tính tuổi tác nhà văn khi viết những truyện này (ông sinh 1936) thì mới thấy nhà văn này đã nghiệm sinh từ rất sớm, và nghiệm sinh rất sâu.</p>
<p>Trong nền văn chương Sài Gòn trước 1975, Dương Nghiễm Mậu có vị trí khá đặc biệt nhờ ở văn tài của ông. Ông viết không ồn ào thị trường, không thời sự nhất thời, nhưng lặn sâu vào bề trong con người và bề sâu ngôn ngữ, và ma lực ngòi bút ông khiến ai đã đọc thì không thôi ám ảnh. Văn nghiệp Dương Nghiễm Mậu, ngoài truyện ngắn, còn có mảng tiểu thuyết gồm nhiều tác phẩm, trong đó có những tác phẩm cũng rất đáng chú ý. Tuy nhiên vì nhiều lý do, khó có thể chọn lọc để in lại hết. Còn in lại truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu là lựa chọn chính xác. Từ đây có thể hy vọng tủ sách này của Nhà xuất bản Văn nghệ và Công ty văn hoá Phương Nam sẽ tiếp tục cho ra những cuốn khác có giá trị văn chương của các tác giả khác. Văn chương dân tộc Việt Nam thế kỷ XX đang cần được kiểm kê đầy đủ, ngõ hầu một bộ văn học sử thế kỷ này sẽ được viết ra trung thực với lịch sử. –</p>
<p><em>Hà Nội 12/4/2007</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<h2>Dương Nghiễm Mậu và tuổi trẻ cô đơn</h2>
<p><strong>Tạ Tỵ</strong></p>
<p><em>Que l’homme est né pour le bonheur.</em><br />
André Gide (1869-1951)<br />
Con người sinh ra để hưởng hạnh phúc.</p>
<p>Dương Nghiễm Mậu xuất hiện trên văn đàn miền Nam cách đây ngoài 10 năm, như một chứng tích. Cái chứng tích đó là nỗi bơ vơ của tuổi trẻ, của một thế hệ tuổi trẻ đang sống giữa cuộc sống không thuộc về mình. Cái tuổi trẻ nào đó được tô hồng trong những dạ hội, dưới mái đại học, hay rong chơi quanh năm với bốn mùa tình tự, đều ở ngoài tầm tay của Dương Nghiễm Mậu. Cuộc sống đối với Mậu là cái gì quá khe khắt, quá cứng rắn và từ đó mỗi suy nghĩ, mỗi hành động hình như, ít nhiều gì cũng để chống đối cuộc đời. Những xấu xa, ti tiện, lòng ganh ghét và đố kị thấp hèn, trộn lẫn với tình thương yêu con người làm giọng văn của Dương Nghiễm Mậu vừa phẫn nộ vừa chua xót.</p>
<p>Con người sinh ra đời không phải để gánh chịu nhục nhằn và cái xấu. Nhưng cuộc đời có mặt không phải là thiên đường, nên con người vẫn phải cúi đầu chấp nhận những gì do nó đưa lại cả xấu lẫn tốt. Con người tính vốn thiện từ thuở lọt lòng, nhưng càng sống, càng tranh đấu để cuộc sống được tốt đẹp hơn lên, con người lại vô tình làm nó xấu đi, vì lòng ích kỷ và tinh thần chiếm đoạt, tư hữu.</p>
<p>Cái ý thức tốt hướng vào điều thiện cũng như việc đề cao lương tri chỉ còn là những danh từ trống rỗng, giữa một xã hội xáo trộn vì chiến tranh quá lâu, giữa những ngộ nhận từ kẻ này qua kẻ khác. Dương Nghiễm Mậu không phải vô tình hay vô cớ khi đặt vấn đề thân phận con người, nhất là tuổi trẻ, trong phạm trù sinh hoạt thực tế với <em>cục bướu quá to, lông lá xồm xoàm</em>, tượng trưng cho nỗi băn khoăn, ám ảnh của nhà văn đối với một xã hội thối nát, bất công đang bám vào da thịt mình làm bứt rứt, khó chịu. Cục bướu đó, sự thực, mỗi con người đều phải gánh chịu suốt đời, chỉ có khác, ở mỗi người nó mọc ra ở mỗi chỗ, tuỳ theo cung số!&#8230; Cục “bướu quá to” đã làm khổ Dương Nghiễm Mậu, với mặc cảm xấu xa, vì nó mà người yêu từ bỏ, xã hội khinh khi.</p>
<p>Nó hiện diện như một hình phạt, dù con người muốn cắt bỏ nó, hoặc tự huỷ mình cho thoát nợ, nhưng vẫn không xong, vì nếu mọi việc ở đời đều có thể giải quyết dễ dàng như vậy thì làm gì còn cuộc sống nữa? Bởi vậy, con người được sinh ra, dưới sự an bài nào đó, phải chấp nhận đời sống và luật sống là có thực. Y học và văn minh cũng chẳng giúp ích gì được, một khi căn bệnh không nằm trong bệnh lý thông thường, mà nó biến hoá khôn lường giữa tâm linh để tàn phá, để giết dần đời sống, làm lụi tàn hy vọng.</p>
<p>Sinh ra và lớn lên trong một xã hội bị phân hoá vì chính trị và đời sống bấp bênh do cuộc chiến tạo nên, mỗi số phận trai trẻ như phập phồng, khắc khoải, chờ đợi một cái gì đó, có thể là những hạt giống tốt, cũng có thể là loài cỏ dại ăn hết chất màu của mảnh vườn mới bón. Từ phẫn uất, Dương Nghiễm Mậu đi vào chán nản khi biết rằng thân phận mình đã bị điểm danh, nghĩa là đã được định đoạt, Mậu không có quyền lựa chọn. Một khi con người không có quyền lựa chọn cho đời mình hướng đi, thì một, phải dứt khoát với nó, hai, phải buông trôi thân phận như dòng nước nhỏ chảy len lách vô tri dưới một khe lạch không tên, cho đến lúc nhạt nhoà tan biến vào đại dương. Dương Nghiễm Mậu, tuy không có quyền chọn lựa hướng đi nhưng cũng chẳng sẵn sàng làm một dòng nước nhỏ, nên chấp nhận sự có mặt của mình trước cuộc sống với một thế đứng riêng biệt.</p>
<p>Những năm cô đơn của tuổi trẻ mà Mậu đem theo là nỗi cô đơn bi thảm trước một chứng tích đã có đấy, đã hình thành như thế từ lâu. Mậu không biết dùng phương cách nào để tự an ủi đành mang mình ra trước khoảng trống (cuộc đời) để tự đóng vai trò lừa dối mình, <em><br />
</em><br />
<em>… Khoảng trống bao la ấy đau buốt, nhức nhối trích vào thân thể anh từng giây, từng phút ngột ngạt, tức tưởi lay động choáng váng tim óc. Anh đã đánh lừa và mang em đến với anh. Em đã chịu đựng sự có mặt của anh – nhưng đến bây giờ em còn đủ sức chịu đựng nữa – em lên tiếng, như đám đông lên tiếng cho anh nhận ra anh…</em></p>
<p>(<em>Cũng đành, </em>&#8220;Niềm đau nhức của khoảng trống&#8221;)</p>
<p>Sự lên tiếng ở đây là phát biểu thái độ, là ý thức nhập cuộc vì khoảng trống mà Dương Nghiễm Mậu hình dung thấy ở trong tâm tưởng nó như một vực thẳm xa vắng, nó làm Mậu hốt hoảng đến nỗi không còn nhận ra mình.</p>
<p>Con người sinh ra dù không được quyền lựa chọn theo ý muốn nhưng ít ra con người cũng phải có thái độ trước thực tại, phải là <em>một cây sậy biết suy tưởng</em> theo Pascal: <em>l’homme n’est qu’un roseau, le plus faible de la nature, mais c’est un roseau pensant</em>.</p>
<p>Cái tuổi trẻ Thượng đế đã ban phát cho mỗi con người một thời gian là để thử thách sức chịu đựng của từng số phận. Sự ban phát này không đồng đều, do đấy, nảy sinh ra bất mãn và chống đối. Có những khuôn mặt tuổi trẻ không bao giờ vui tươi, hớn hỏ, ở đó, bao nhiêu băn khoăn, vò xé nội tâm. Dương Nghiễm Mậu thường tìm hình bóng mình qua kẻ khác, cũng như dùng kẻ khác để nói đến mình. Đi từ nỗi bơ vơ này qua bơ vơ khác, đến đâu, ở đâu, cũng chỉ gặp xa lạ ngay với cả tình yêu. Hình ảnh những nhân vật đàn bà trong tác phẩm Dương Nghiễm Mậu lúc nào và bao giờ cũng tạo nên oan trái, phảng phất nỗi u buồn riêng biệt trong một thế giới riêng biệt bao phủ ở mỗi truyện.</p>
<p>Từ Hê-Len tới Thuyền, tới Phượng, tới Hạnh rồi Quyên hay bất cứ một cái tên nào khác đều được phác hoạ dưới những nét run rẩy mờ nhạt, cùng với từng niềm đau thương len nhè nhẹ nhưng vô cùng sắc bén vào tâm tư người đọc,</p>
<p><em>… Tôi đã muốn quên Hạnh, như quên thực tế đã phải sống với một mơ hồ êm đềm, nhưng bây giờ Hạnh ở trước mặt. Một Hạnh dở dang buồn bã. Thịnh đã chết ngoài mặt trận. Một Hạnh những kỷ niệm lưu giữ bền chặt. Một Hạnh đáng yêu còn đó. Một Hạnh tan vỡ như thời gian học trò trong thành phố quê hương bốn mùa. Đối diện với Hạnh, ký ức lại trở về với những hình ảnh liên tiếp của một thời, như những toa xe trên chuyến tàu trở lại ngang qua một trạm nhỏ dọc đường…</em></p>
<p>(<em>Sợi tóc tìm thấy, </em>&#8220;Đôi mắt chỉ rối&#8221;, trang 73)</p>
<p>Đoạn văn trên có thể thực, có thể do óc sáng tạo của nhà văn nhưng qua đấy, người đọc đoán được những gì Dương Nghiễm Mậu muốn nói. Kỷ niệm nào đó, tại sao lại trở về để ám ảnh tâm hồn, tại sao lại gặp nhau để tạo nên đau khổ? Dự dằn vặt của kỷ niệm hay nỗi băn khoăn thuộc về tiền kiếp với ý thức siêu hình.</p>
<p><em>… Đêm xuống rất khuya. Chúng tôi nằm trên những người đã chết trong nghĩa địa, Long nằm gối đầu vào tay tôi. Thu về cây nhị hổ – những âm thanh ấm ức, tức tưởi, sầu thảm, u uất, nghẹn ngào trườn lên bực dọc quằn quại – và tôi chờn vờn vào một giấc mơ…</em><br />
<em>…</em></p>
<p>&#8220;<em>Thưa người là ai?</em>&#8221;</p>
<p>&#8220;<em>Tôi không là ai.</em>&#8221;</p>
<p>&#8220;<em>Người từ đâu đến?</em>&#8221;</p>
<p>&#8220;<em>Có can hệ gì đâu?</em>&#8221;</p>
<p>&#8220;<em>Sao người than van sầu thảm làm vậy.</em>&#8221;</p>
<p>&#8220;<em>Tôi vốn không ưa tâm sự. Sự than van chẳng cần thiết gì…</em>&#8221;</p>
<p>&#8220;<em>Nhưng tôi có tâm sự phải than van. Muốn có một người ngồi trước mặt mình. Anh ghét tâm sự ắt hẳn người có quá nhiều tâm sự rồi chăng?</em>&#8221;</p>
<p>&#8220;<em>Tôi chẳng có chút gì. Chẳng có gì để nhớ. Có gì để nhớ đâu?</em> &#8221;</p>
<p>&#8220;<em>Người nói dối chăng? Nhưng nếu người sống giữa một khoảng trống không có tâm sự thì người sống làm sao?</em>&#8221;</p>
<p><em>… Chúng ta hãy thử nhìn sang bên kia đường. Người có thấy chăng một cậu bé con đang nô đùa bên mẹ nó – cậu bé nhảy và hát. Đôi miệng xinh tươi, triền môi dịu ngọt – đôi mắt ngây thơ của trẻ dại đang nhìn vào cuộc đời mong lớn – cậu bé đang nũng nịu gọi: Mẹ ơi!&#8230;</em></p>
<p><em>Tôi có thấy đứa bé nô đùa bên mẹ nó. Tôi chỉ nhìn thấy một đứa trẻ đi vất vưởng buồn nản, môi thâm bậm chặt để khỏi cất lên tiếng khóc – đôi mắt ngầu đỏ. Nó thấy cuộc đời lớn lên vượt khỏi tầm tay nó. Cậu bé chẳng biết bố mẹ thế nào nên chẳng thể gọi tên để chẳng thấy mình còn được gọi tên.</em></p>
<p>&#8220;<em>Trời xanh lắm thấy không anh?</em>&#8221;</p>
<p>&#8220;<em>Trời ngầu đỏ vẩn đục và như giông bão sắp về.</em>&#8221;</p>
<p>&#8220;<em>Cây cối xinh tươi làm sao?</em>&#8221;</p>
<p>&#8220;<em>Những cành khô quờ quạng như muôn cánh tay hối lỗi – già nua đầy đau đớn.</em>&#8221;</p>
<p>&#8220;<em>Anh hãy nhìn vào vườn hoa đẹp đẽ kia – muôn hoa đua nở, cành lá xanh tươi hương thơm toả ngát. Anh có thấy không một cặp tình nhân cùng nhau tâm sự, mặt nhìn mặt, tay cầm tay, nói với nhau những lời dịu ngọt hứa hẹn một tương lai hạnh phúc sum họp.</em>&#8221;</p>
<p>&#8220;<em>Nhưng tôi chỉ thấy kia là một sa mạc bao la gió cát bay mù tàn nhẫn. Ở đó, có một kẻ đang ngồi một mình, nói một mình, nghe một mình và tay mình sờ soạng lấy tay mình. Nhìn vào lòng bàn tay hoài, những ý nghĩ về tương lai.</em>&#8221;</p>
<p>&#8220;<em>Này chiếc hoa màu hồng.</em>&#8221;</p>
<p>&#8220;<em>Màu tím đó thôi!</em>&#8221;</p>
<p>&#8220;<em>Có nghe chăng tiếng hát?</em>&#8221;</p>
<p>&#8220;<em>Tôi nghe thấy tiếng người rên khóc, tiếng thở dài…</em>&#8221;</p>
<p>(<em>Sợi tóc tìm thấy, </em>“Trong lòng bàn tay”, trang 73)</p>
<p>Lời đối thoại trong một nghĩa trang, giữa con người và hồn ma, để nói với cuộc sống hôm nay. Tiếng thở than sầu muộn của muôn đời gửi từ cõi hư không, ở đấy không còn chi hệ luỵ! Ý nghĩ về cô đơn, bi thảm mà nhà văn đã và đang gánh chịu đâu phải niềm cô đơn tuyệt đối. Nó còn nghe thấy và đón nhận về phần mình những dư âm của tiếng lòng than van, uất nghẹn cảm thông qua hai cõi âm, dương.</p>
<p>Quả thực, Dương Nghiễm Mậu đã bị ám ảnh vây hãm trong quá nhiều ý nghĩ đau buồn xuyên qua lời đối thoại. Cái tâm sự bi quan, đầy rẫy phẫn uất nó chứa đựng và tích luỹ tự đáy lòng chờ dịp phát ra những âm thanh chua chát não nề với hình ảnh đứa trẻ mồ côi, với cảnh vật không còn màu xanh, cuộc đời biến thành sa mạc và màu hoa – vườn đời – biến thành màu tím tang tóc! Còn gì nữa không? Còn chứ! Còn tuổi trẻ bơ vơ, còn nhiều tình phụ bạc, còn thân phận tôi đòi, còn tiếng khóc thay cho nụ cười, còn tù tội và còn đam mê trong thất vọng.</p>
<p><em>… Quyên ơi! Anh tự cho rằng anh không hề có tội lỗi, chưa quỳ dưới chân ai một lần. Cửa vào địa ngục không biết, đường lên thiên đường không hay. Em hãy cho anh tội lỗi để đôi mắt được mù loà. Vì anh yêu em nên không thể tự tay chọc thủng đôi mắt mà Chúa đã ban cho – như thế anh không phải nhìn vào lòng bàn tay…</em></p>
<p>(<em>Sợi tóc tìm thấy, </em>“Đôi mắt chỉ rối”, trang 123)</p>
<p>Cái quan niệm bi đát và thái độ sống của Dương Nghiễm Mậu vào giai đoạn 1960-1961-1962, ít nhiều gì cũng chịu ảnh hưởng của thời cuộc và những tư tưởng vay mượn của Tây phương với Sartre và Camus, tuy hai nhà văn kiêm triết gia này chẳng những đối nghịch về đời sống và cũng dị biệt nhau về quan điểm triết học, nhưng cả hai cùng gây ảnh hưởng sâu đậm trong tâm thức các nhà văn trẻ lúc đó. Con người sinh ra đời không có quyền chọn lựa cả cái sống lấn cái chết, và cái xã hội đang vây quanh mỗi thân phận cũng chả có phương thế gì giúp cho con người tìm thấy hạnh phúc. Thiên nhiên là một sự kiện ngoại giới, nó chẳng cứu rỗi được ai vượt qua khốn khó. Nó có đấy như một điểm trang vô ích, trong lúc con người cần tới sự cảm thông thiết thực hơn. Do đó, trong tác phẩm <em>La Nausée</em> của Sartre, nhân vật Roquentin mới có ý tưởng bi phẫn cho rằng: <em>chúng ta ai cũng như ai không có lý gì đáng sinh ra cả… vì tất cả những gì hiện hữu đều có mặt một cách vô lý, kéo dài bở hèn yếu rồi chết ngẫu nhiên!&#8230;</em></p>
<p>Dương Nghiễm Mậu không hoàn toàn du đời mình vào những ý nghĩ u tối, nhưng người đọc cũng thoáng thấy niềm bâng khuâng và chả mấy tin tưởng vào tương lai, tin vào cái ý hướng tốt đẹp nào đó để níu lấy chút hy vọng mong manh cho những ngày bắt buộc có mặt. Cái đau nhất của Dương Nghiễm Mậu là phải tiếp thu những gì mình không thích, không muốn mà nó cứ đến, đến thản nhiên như sáng, trưa, chiều, tối với những nhu cầu thường nhật. Sự kiện ấy được phơi bày thật rõ trong tác phẩm <em>Đêm tóc rối</em> (1965). Cái tuổi trẻ hư không với những ý nghĩ và hành động phần nào do vô thức khích động rồi đẩy nhà văn vào ngõ cụt, do đó, sự nghĩ và viết ra chỉ nhằm mục đích chứng minh cái “đột biến” của những năm tháng rã rời đã ăn sâu vào trí não nhà văn.</p>
<p>Sự hưởng thụ khoái lạc mà A. Gide từng khuyến khích tuổi trẻ phải sống theo ý mình, tìm về cho mình lạc thú mà Thượng đế đã ban phát cho mỗi số phận trong cuốn <em>Les Nourritures Terrestres</em>, nó chỉ có giá trị đối với các thanh niên Tây phương, nơi mà chiến tranh và nghèo khổ không đầy đoạ con người một cách thê thảm, nơi mà nền văn minh cơ khí đã giúp cho con người các tiện nghi vật chất, nơi mà không khí tự do được phát triển cùng độ, nơi mà tư tưởng được hãnh tiến trong mọi suy nghĩ về kiếp sống. Còn hoàn cảnh chúng ta, hoàn cảnh của những trẻ tuổi lớn lên trong tiếng súng căm thù liên tục, được nuôi dưỡng bằng phẫn nộ thay cho miếng cơm manh áo và tình thương. Cái ý thức mà Dương Nghiễm Mậu ấp ủ để làm vốn cho mình không nằm trong khuôn thức thoải mái, hiển nhiên nó khơi động tự đáy lòng từng nỗi vò xé đau thương. Hình ảnh Dương Nghiễm Mậu, hay Lễ, nhà giáo trẻ hào hoa trong tác phẩm <em>Đêm tóc rối</em> chỉ là biểu tượng, để nhà văn gửi vào đấy những gì cần phải tỏ bày. Nội dung <em>Đêm tóc rối</em> được hình thành quà một cốt truyện khá giản dị: Lễ, nhà giáo trẻ, ở trọ nhà mụ Liên chồng mụ đi làm xa. Do đó, xảy ra sự liên hệ xác thịt giữa Lễ và mụ. Lễ không thương yêu gì mụ Liên, chỉ coi như một giống cái để giải quyết sinh lý. Lễ yêu Quyên nhưng Quyên lại lấy Khánh, bạn Lễ. Một trận đòn ghen xảy ra khi ông Tiến trở về nhà, vì hàng xóm nói lại chuyện vợ ông với Lễ. Mối tình đẹp mong manh của Phượng – Lễ cũng tan vào hư không vì cái chết bi thảm của nàng dưới đáy giếng. Rồi mọi sự hoà loãng và cuộc sống…</p>
<p>Những khuôn mặt Thục, Khang, Trinh và vóc dáng mụ Liên – con đĩ già có chồng còn dâm đãng, được đề cập tới ở những trang đầu cuốn sách chỉ là hình thức khích động. Cái sự thực Dương Nghiễm Mậu cần nói ra nó nằm ở chỗ khác. Thân phận tuổi trẻ nhiều khi không tuỳ thuộc vào ý muốn, hình như nó được an bài ở chỗ nào khuất nẻo lắm. Một chút hạnh phúc thơ ngây, một bàn tay bé nhỏ, một môi hôn ngỡ ngàng, một lời nói vụng dại của tuổi hồng mà nhà văn tìm kiếm, nhưng uổng thay, không gặp. Cả cuộc đời này nữa, tại sao ô uế quá vậy trong mỗi suy nghĩ, trong mỗi đam mê? Cuộc đời – xuyên qua mụ Liên dâm đãng đã bị Dương Nghiễm Mậu đồng hoá với xã hội, tạo nên nhức nhối,</p>
<p><em>… Nghe tiếng động ở dưới nhà mụ Liên trườn ra ngó đầu xuống, chiếc mông trần mập đen nhô lên. Tôi đứng dậy vươn vai, buổi chiều đã xuống nhọ mặt người, đèn đường đã bật. Tiếng hát cải lương vang lên từ một nhà ở phía bên kia đường. Tôi thấy đắng miệng. Tiếng mụ Liên:</em></p>
<p><em>“Có gì lục đục ở dưới bếp.”</em></p>
<p><em>Tôi tiến lại giẫm chân lên mông mụ nhún nhún, ngó đầu xuống chân thang tối đen. Mụ Liên trở mình nằm ngửa nhìn lên, hai tai dang rộng như một kẻ bị căng ra. Sao tôi không là thằng Tây đen rạch mặt. Tôi rùng mình kinh tởm quay đi. Tiếng mụ Liên phía sau:</em></p>
<p><em>“Anh khinh tôi lắm phải không?”</em></p>
<p><em>Tôi đi đến bên chỗ bật đèn, đưa tay lên vặn, ngọn đèn sáng chói. Tôi vội tắt đi. Người đàn bà lẩn vào sàn gỗ. Sao ông Tiến (chồng mụ Liên) không về. Lúc này ông ở đâu. Nhớ tới Khang, tôi có ý muốn thăm Thục. Tiếng mụ Liên:</em></p>
<p><em>“Anh muốn bỏ tôi rồi phải không? Tôi biết anh đang mơ mộng một con nhỏ nào đó.”</em></p>
<p><em>“Thôi im đi.“</em></p>
<p><em>Tôi quát lớn rồi bật đèn sáng. Mụ Liên trở dậy đi xuống thang, tới mấy bậc mụ đứng lại, giấu người phía dưới, nhô đầu, mặt cong cớn:</em></p>
<p><em>&#8220;Mơ mộng, mơ mộng, đứa nào chả thế, bọn họ khác gì tôi. Có điều bọn nó không để anh dùng như một khúc gỗ, bọn nó có điều kiện để dùng lại anh cùng với những đứa khác. Anh biết không?</em>&#8221;</p>
<p>&#8220;<em>Câm đi, câm đi.</em>&#8221;</p>
<p>&#8220;<em>Anh sợ người ta nói sự thực ra, tôi không sợ, tôi không câm. Anh tưởng tôi không biết anh nằm với đứa nào sao. Nhưng anh chỉ làm cho nó hư hỏng và đẩy nó đi lấy thằng khác. Anh tưởng tôi yêu quý anh lắm hả… còn lâu… Tôi có chồng có con.</em>&#8221;</p>
<p><em>Tôi cáu giận đá chiếc ghế đẩu về phía mụ Liên, mụ thụt đầu xuống rồi lại ngó lên:</em></p>
<p>&#8220;<em>Anh can đảm giết tôi đi coi. Anh là một thằng hèn. Mụ Liên thụt đầu đi xuống, mụ bật đèn sáng và đi vào nhà tắm. Căn nhà trông trải và rỗng không tôi ra lan can đứng nhìn xuống mặt đường. Mụ Liên tắm xong trở lên mặc quần áo rồi đi về. Tôi ngồi lặng lẽ trong bóng tôi nghe tiếng muỗi kêu. Tôi nhớ tới khuôn mặt êm mát của Phượng, căn nhà trong buổi sớm mai…</em>&#8221;</p>
<p>(<em>Đêm tóc rối</em>, trang 35-36)</p>
<p>Sự lang chạ bất đắc dĩ này đã tạo nên thế đứng chênh vênh trong nội tâm nhà văn. Cuộc đời như vậy đó. Nó có đấy, mãi mãi còn đấy với những ung độc làm băng hoại tuổi trẻ. Dương Nghiễm Mậu như bị ném vào đấu trường, ở đó, toàn là thù hằn, oán hận. Con người phải chọn lựa vũ khí để tranh đấu, sinh tồn. Vóc dáng Quyên và hạnh phúc của nàng như một thách đố. Chưa giao đấu đã cảm thấy thua, trong lòng nổi hằn những vết roi rướm máu, nhà văn đành phải lừa dối mình bằng cách tự trừng phạt, tự phác hoạ trong ý nghĩ những hành động gớm ghiếc, dữ dằn của ông Tiến chồng mụ Liên, với vô vàn hoảng hốt, nhưng sự thực ông chồng bị cắm sừng chưa biết, vẫn yêu vợ, thương con. Bởi vậy, hình ảnh ông Tiến – hình phạt – luôn luôn ám ảnh Lễ – tuổi trẻ – như một số kiếp phụ thuộc,</p>
<p><em>… Tôi nằm im lặng tủi thân. Tôi nghĩ đến căn gác trống không, đến vẻ bình thường vui tươi của mụ Liên bên người chồng, cùng một lúc người đàn bà vẫn yêu chồng và vẫn ngoại tình trong đời sống bình thường của họ. Có nghĩa gì một cuộc dạo chơi, một cái hôn kéo dài trong đêm hay một lần ân ái say đắm. Mỗi kẻ chia mình ra, phân mình ra. Mỗi kẻ những bí ấn tràn lan chi phối ngay trong tiềm thức và sự mù tối của trí tuệ mà hoàn cảnh mỗi giây phút có thể thay đổi xoay chiều. Giờ này mụ Liên cũng đang làm những cử chỉ âu yếm những hành động yêu đương với ông Tiến, như mụ đã âu yếm yêu đương tôi. Lúc nào là thực con người mụ, lúc nào là con người khác. Bây giờ tôi cũng có thể nằm đây nghe mình rời rã, cũng có thể tôi nằm với một người khác, nhưng tôi vẫn tỉnh táo riêng rẻ, cô đơn chừng như chẳng can dự đến vật gì…</em></p>
<p>(<em>Đêm tóc rối</em>)</p>
<p>Cái cuộc sống thực mà nhà văn mơ tưởng đến, nó ẩn nấp mơ hồ với mụ Liên trong khoảnh khắc phù du, hoặc Quyên, hoặc Phượng. Từng vóc dáng như hoà trộn thành chất đặc biệt dính chặt vào ý nghĩ nhà văn nên sự nói tới một sự kiện nào đó, đều ẩn nấp bên trong niềm giận dỗi xen lẫn tiếc thương. Nó là trái đào chín mơn mởn trong khu vườn yên tĩnh của Phương, trông thấy mà không ai hái cho ăn. Nó là trái bóng đỏ bơm hơi khinh khí bay lang thang trên nền mây trắng đục. Nó là chiếc xe lăn có Phượng tàn tật ngồi trong đó với ước mơ im tiếng. Nó là Quyên với nụ cười hồn nhiên nhưng kiêu kỳ ranh mãnh. Có thể nó là nỗi thống khổ của thân phận con người sinh nhầm thế hệ với oan trái ẩn khuất không tên gọi và sự hối tiếc ngày tháng trôi đi mà định mệnh vẫn bắt buộc phải chung sống, phải nhìn nhau, phải nói năng, phải thân mật với những người mình chán ngấy, hoặc ngượng ngùng vì tội lỗi đã gieo mầm,</p>
<p><em>… Khuôn mặt ông Tiến có vẻ gì như khác lạ, mùi rượu nồng nặc toát ra từ người ông. Da mặt ông đỏ tía bị làm xám đi, đôi mắt trợn trừng. Tôi lúng túng chưa biết trả lời sao thì ông Tiến đã nói:</em></p>
<p><em>“Cậu ở nhà với vợ tôi, câu có biết con mụ đó nó lang chạ, lừa dối tôi không?”</em></p>
<p><em>Tôi rủn người toát mồ hôi:</em></p>
<p><em>“Sao? Ông nói sao?”</em></p>
<p><em>Ông Tiến lùi xa một chút, quay người rồi trở lại sát mặt tôi, chiếc áo xám đứt mất một chiếc khuy ở ngực hở ra một ít da màu đỏ, ông ta khoanh tay lên ngực:</em></p>
<p><em>“Tại sao cậu không ở lại với chúng tôi nữa?”</em></p>
<p><em>Tôi lấy lại bình tĩnh mỉm cười:</em></p>
<p><em>“Tôi cũng định nói với ông bà, nhưng sáng nay thức dậy thì ông bà đã đi khỏi, mà tôi thấy cần phải đi ngay… tôi cũng muốn ở lại nhưng vì nay tôi có nhiều giờ dạy.”</em></p>
<p><em>Tôi lấy bao thuốc cầm một điếu và đưa mời ông Tiến, ông ta gạt đi. Tôi đang nói dối, tôi đang lừa gạt.</em></p>
<p><em>“Sao cậu chưa đi?”</em></p>
<p><em>“Vì tôi vừa gặp một người bạn giữ lại một ngày nữa.”</em></p>
<p><em>“Vậy cậu biết con vợ tôi nó mèo mỡ với ai không?” Tôi muốn nói! Chính tôi đây, tôi mỉm cười làm bộ dịu dàng:</em></p>
<p><em>“Ông ghen rồi, ai bảo với ông vậy?”</em></p>
<p><em>“Cả xóm người ta nói cho tôi biết. Tôi muốn mổ bụng bọn nó. Con đĩ già khốn nạn, tôi đi làm để nuôi nó làm đĩ không công.”</em></p>
<p><em>“Sao ông không bảo họ nói thẳng xem ai. Tôi đi cả tuần mới về một chút rồi lại đi lăng nhăng. Tôi nghĩ bà nhà đứng đắn lắm…”</em></p>
<p><em>“Láo, láo…”</em></p>
<p><em>Bất ngờ ông Tiến thoi vào mặt tôi một đấm, tôi đau điếng liệng người đi.</em></p>
<p><em>“Chính mày, thằng đĩ đực…”</em></p>
<p><em>Liên tiếp ông Tiến đấm tôi thêm một cái nữa và đá tôi chúi xuống chân tường rồi xông tới nắm lấy ngực tôi chỉ vào mặt:</em></p>
<p><em>“Tao tha chết cho, tao giao con đĩ rạc lại cho mày, về mà sống với nhau. Mai tao đi rồi…”</em></p>
<p>(<em>Đêm tóc rối</em>, trang 127-128)</p>
<p>Đến bây giờ, chiếc “nút” thứ nhất mới được mở để người đọc hé nhìn thấy một thoáng cuộc đời với đoạn văn vô cùng linh động, vô cùng đau đớn, căhngr phải do những cú đấm ghen tuông của ông Tiến gửi vào mặt Lễ, nhà giáo, mà hiển nhiên phơi bày một sự thực phũ phàng có thể là đích danh, có thể là nguỵ tạo để dùng nó như một hành động phản kháng của tuổi trẻ đối với những nghịch cảnh tần gian. Cái trần gian mơ tưởng nó hình thành trong tâm trí Dương Nghiễm Mậu không phải là gượng ép hay sự thoả mãn dễ dãi, rẻ tiền xuyên qua mụ Liên, mà nó phải được hình thành với những chất liệu thật trong sáng, thật rực rỡ, thật lý tưởng dù cho có là ảo tưởng đi nữa. Do đó, sự giằng co giữa thực và mộng, giữa xấu và tốt, giữa quá khứ và tương lai vẫn chưa được nhận diện.</p>
<p>Những ngày tháng cũ nằm sâu dưới đáy tiềm thức cùng những tử thi ngổn ngang chỉ chờ đợi thức dậy và sống, sống đau xót với thực tế rồi trống rỗng. Từng ý nghĩ mệt mỏi, rã rời, từng hình ảnh u uất bủa vây xung quanh một thân phận luôn luôn khao khát tuyệt đối, muốn tìm về cho mình, cho riêng mình một giọt sương đêm tinh khiết, một thoáng hương êm ngát, một nụ cười hiền hậu và một linh hồn còn trong sáng đi vào tình yêu với mắt nhìn không e sợ tương lai.</p>
<p>Cái hình phạt nào đó đang ẩn nấp trong lương tâm nhà văn, không mang ý nghĩa thông thường của cá nhân và kẻ khác, đúng ra, nó là lương tâm xã hội, nó là một dòng sống như vậy, như thế, đang lùa mỗi số phận đi vào luồng nước lũ, đi vào guồng máy của tập thể. Sự trốn tránh thực tại của Lễ trong <em>Đêm tóc rối</em>, chỉ là hành động của con đà điểu mỗi lần gặp nguy khốin, chứ không chứng minh được cái ý nghĩa chính va đúng của con người trước đồng loại. Một cái chết thê thảm của Phương, một hình ảnh Khánh ngồi tù, một kỷ niệm phảng phất trong mõi mông lung của trí nhớ và chiến tranh còn đó với những cơn đau đứt nuối, với tang tóc vây lút cuộc sống và những giá trị linh thiêng đã ngã xuống. Thực vô lý và kỳ cục! Nhưng có ai dám nói khác đấy không phải là cuộc sống đích danh mà mỗi số phận đang sống ửo mỗi vị trí dành riêng cho mình với những phản ứng cá biệt, kể cả ông Lịch – người nghiện hút – nếu có làm mật vụ thật chăng nữa, cũng do hoàn cảnh và cuộc sống đẩy đưa, ta không thể căn cứ vào dữ kiện bên ngoài mà võ đoán xấu, tốt theo ý Dương Nghiễm Mậu.</p>
<p>Nhưng dù cuộc đời có xô đẩy mỗi cá nhân vào trường hợp nào, vào mâu thuẫn nào đi nữa thì bản chất con người vốn luôn luôn hướng thiện, vẫn muốn làm-một-cái-gì để khỏi hổ thẹn với lương tâm, dù cho sự muốn làm gì chỉ được nuôi dưỡng trong ý nghĩ. Cái đời sống giả tạo, đầy bất trắc này, mỗi con người đều muốn bứt đi, muốn vượt khỏi, để ném mình vào đời sống khác, nhưng rốt cuộc ở đâu cũng vậy, bản chất của đời sống vẫn do con người định đoạt và chi phối, vì thế, chẳng bao giờ cá nhân tìm được cho riêng mình cuộc sống lý tưởng ngay cả tình yêu mà tuổi trẻ đã luôn luôn gìn giữ như một thiêng liêng.<br />
<em>… Tai nạn nào đã đến trong những ngày chiến tranh đó, một trái bom rớt xuống, một trái lựu đạn nổ, một mảnh mortier, một tràn đum đum, một bánh xe cán ngang, một lưỡi dao chặt xuống, một căn nhà sập đổ… Bất cứ một tai nạn bình thường nào đó của chiến tranh, Phượng đã khóc. Phượng đã buồn tủi…Và Phượng chết vì sợ tôi nói: Anh yêu em, để rồi quay đi khi hai bàn chân không còn. Tôi đã phụ lực với chiến tranh, tai nạn nào đó chôn Phượng trong lòng đất với tiếng khóc của bà mẹ. Tình yêu của Quyên mang đến tàn tật, hư nát trong thân thể tôi. Cơn lốc phản bội, phụ bạc, lật lọng xoáy ngã tôi xuống những buông trôi trong khí hậu độc dược. Tình yêu của tôi không đủ sức mạnh, phép màu để đôi chân Phượng mọc ra cho Phượng bước đi bên tôi. Tại sao thế. Mọi người được sống, được hạnh phúc ra sao…</em></p>
<p>(<em>Đêm tóc rối</em>, trang 211)</p>
<p>Chiến tranh, một ám ảnh đối với mỗi tuổi trẻ, vì nó, không ai dám mơ ước tương lai, ngay cả cuộc tìm kiếm số phận cũng mất biến vào vô tận, vào cõi hư không. Khuôn mặt của Quyên, tượng trưng cho thất vọng tận cùng, vóc dáng mụ Liên, với đam mê xác thịt trong tội lỗi và cái bào thai là kết quả sau những giờ phút buông trôi đã chết, đã tan vào cát bụi từ khi chưa được thành người. Khuôn mặt Phượng đã khuất chìm trong tiếng khóc của bà mẹ, khuôn mặt bạn bè nhão nhoẹt và quả bóng đỏ đã bay lên quá cao rồi vỡ! Tất cả còn gì đâu, kể cả dòng suối tinh khiết thuở ấu thơ cũng đã cạn nguồn.</p>
<p>Tác phẩm <em>Đêm tóc rối</em> đã để lại trong lòng người đọc những chiếc hố. Trong mỗi chiếc hố, nhà văn đã cố tình chứa đựng những chất khác nhau. Người đọc có thể tuỳ theo cảm quan để nhận diện mình, nhận diện tuổi trẻ và cuộc đời qua một, hay tất cả những chiếc hố đã phản ánh một phần nào cái <em>ý thức lưu đày</em> trong tâm tư những người làm văn nghệ trẻ hôm nay.</p>
<p>Sau <em>Đêm tóc rối</em>, Dương Nghiễm Mậu hiện diện ở tác phẩm <em>Tuổi nước độc</em> bằng một thế đứng khác, thế đứng của những người trai trẻ sống trong lòng thành phố Hà Nội “tạm chiếm” vào những năm kháng chiến chống Pháp. Cái không khí nghẹn ngào tức thở của một số người quá trẻ, vì lý do này hay lý do khác phải sống chung với quân thù trong những cây số vuông thành phố, khi đó ở ngoài kia là mông mênh, là tự do bay nhảy, là chính nghĩa. Hình ảnh những người trở về thành khi ấy, dù là người thân đi nữa, ít nhiều gì cũng được đánh giá bằng nghi ngờ và cho rằng hèn nhát, sợ gian khổ, đầu hàng giặc.</p>
<p>Những chàng choai choai, mới được 15, 16 tuổi đời, nói cho đúng, họ chưa có một chút ý thức gì về chính trị và hoàn cảnh đặc biệt của nước Việt Nam lúc đó. Họ đi hay ở lại thành phố, đều theo quyết định của người lớn, do vậy, họ luôn luôn tin tưởng vào phán đoán của họ, và nghĩ rằng sự có mặt của họ trong thành phố Pháp chiếm đóng, lỗi không ở họ. Những cảnh ô nhục của vùng tạm chiếm làm họ tức tối, căm hận,</p>
<p><em>… Chúng tôi theo Hùng đi sang phía đồn đóng ở trên đê đối diện với quận. Chúng tôi men theo con đường nhỏ dưới chân đê. Suốt dọc theo hai bên lối đi hàng rào dây thép gai và cỏ dại mọc đầy. Những lính Tây rạch mặt đen như cột nhà cháy vác súng đi đi lại lại phía trong và trên những chòi cao có đèn pha, những họng súng ngó xuống. Tôi có cảm tưởng đang ở một vùng trận địa nguy hiểm mà trận ác chiến có thể xảy ra bất cứ giờ phút nào…</em></p>
<p>(<em>Tuổi nước độc</em>, trang 43)</p>
<p>Hình ảnh trên kèm theo những vụ bắt bớ, đánh đập dã man và khám xét bất ngờ làm con người đã tủi nhục càng tủi nhục hơn, đã chống đối càng chống đối mạnh hơ. Những chàng trai tuy chưa thoát khỏi ghế trung học, nhưng trong lòng đã chán ngấy sách vở chỉ muốn xông vào cuộc đời để hành động vì tự ái nhiều hơn lý tưởng,</p>
<p><em>… Những ngày tháng thảng thốt vây lấy tôi trong trống không vô nghĩa. Tôi lang thang ở ngoài đường nhiều hơn thời gian ở trong nhà, sách vở không còn làm tôi say mê, tôi không có vui chơi để khuây khoả, tất cả mọi điều thành dửng dưng buồn tẻ… Một ngày xuống Trương, chúng tôi đi ăn thịt chó, tôi uống rượu say, sức rượu của tôi không bao nhiêu, trong đêm khi trở về nhà tôi thấy chân tay tôi biến mất, trước mắt thì vô vàn những ánh sao đủ màu nhảy múa, thân thể tôi có lúc bay nhảy trong khoảng không. Tôi không hiểu sao tôi có thể mang được mình về và nhận ra cầu xe lửa, tôi mệt lả và muốn khuya xuống, tôi bám vào thành cầu đá mà bước. Tôi chợt thấy hai bóng trắng lung linh trước mắt, tới gần tôi nhận ra hai thân thể ôm sát lấy nhau dưới gậm cầu. Khối trăng di động lập lờ, tôi dụi mắt và nhìn thấy cái đầu tóc uốn quăn bù xù, sao trông có vẻ quen thuộc, tôi trấn tĩnh một chút, phải rồi, tôi nhủ thầm, đúng là bé Tàu lai, tôi chạy về lao lên gác, mở ngăn kéo tìm con dao nhíp, mở lưỡi dao lớn rồi chạy xuống trở lại chỗ cũ, tôi tỉnh táo một cách thái quá… Tôi cầm chắc con dao trong tay, tiến đến từ từ, hai bóng trắng vẫn còn cựa quậy như hai con rắn. Tôi tiến lên, túm lấy tóc thằng đàn ông phía ngoài, dí mũi dao vào khoảng lưng trần, tôi nhận thấy mình nó oằn lên. Tôi nói chắc giọng: Muốn sống đi ngay. Hắn luống cuống run rẩy buông đứa con gái ra, hắn lom khom nhặt quần áo rồi ù té chạy, đứa con gái cuống quýt chưa biết làm gì thì tôi ôm thốc lấy và đè vào thành cầu, nó kháng cự một cách yếu ớt, tôi thấy nóng như than và đứa con gái mát lạnh, tôi sờ soạng lên khắp thân thể nó và ép nó cứng vào cầu. Tôi nghĩ đến bộ ngực con bé Tàu lai thì đưa tay lên, tôi bắt gặp… Tôi hoảng hốt buông tay ra, lùi lại nhìn vào mặt đứa con gái, trong bóng tối lờ mờ, tôi nhận ra đó là một con đĩ già ở đầu cầu tôi quen mặt…</em></p>
<p>(<em>Tuổi nước độc</em>, trang 59-60)</p>
<p>Đó, cái tâm trạng trên đây phản ánh một phần tâm trạng của lớp người trẻ tuổi sống trong vòng đai Hà Nội trong khoảng thời gian mấy năm tạm chiếm. Rong chơi, rượu và đàn bà những vị thuốc giúp họ quên thực tế. Họ hành động theo bản năng, có ngoại cảnh hỗ trợ. Đôi khi họ cũng tranh luận về thái độ sống, nhưng chỉ dùng như một thứ nguỵ trang để lương tâm được yên ổn sau mỗi lần phạm lỗi lầm – cho tới một ngày, họ đã hé mở nhìn ra sự thật qua cái chết của cha Trương bị du kích xã băn chết vì ông cụ không còn tiền để ủng hộ. Thu, em Trương nhất định đăng lính dù để trả thù cho cha, trong khi Trương chưa dứt khoát nên vì tình phụ tử hay vì kháng chiến? Rồi đến những giọt nước mắt của mẹ già khóc đứa con bị công an bắt vì nghi ngờ có liên lạc với “ngoài”. Những mâu thuẫn và giằng co dồn dập đến trong kích thước trong thành phố Hà Nội, giữa lòng mỗi con người an phận hay chống đối làm tan hoàng cả một nếp sống.</p>
<p>Trong <em>Tuổi nước độc</em>, Dương Nghiễm Mậu đã dùng lý trí để mổ xẻ và trình bày những uẩn khúc của tâm lý tuổi trẻ trước những nghịch cảnh do chiến tranh tạo nên. Bút pháp có lúc sôi nổi, có khi lạnh lùng nhằm mục đích đưa người đọc vào không khí của truyện. Nhưng đôi khi vì quá say mê và cũng muốn gây cảm giác “cao độ”, nên một vài sự kiện được trình bày trở thành “quá độ” làm cho nguồn bi thương của tấn thảm kịch mất đi sự chân thành, tự nhiên của nó. Những trang độc thoại nặng nề, chứa đựng nỗi dày vò tâm cảm không thoát khỏi vòng luẩn quẩn. Hình ảnh chiến tranh với những nạn nhân, những căn phòng lạnh lẽo của bệnh viện, những kẻ tàn tật kéo lê kiếp sống một cách nặng nhọc, hình ảnh tu viện nào đấy, tượng trưng tình thương và mặc cảm sát nhân của Ngạc – nhân vật xưng tôi trong tác phẩm – đã chẳng gây nên tác động sâu đậm vào trong ý thức thưởng ngoạn, cũng như sự phản bội qua khuôn mặt Lâm, với những kinh nghiệm đắng cay của bạn bè vọng kháng chiến v.v… Nhưng sau cùng, tất cả được mở ra một cách gượng ép với một người tình – người chị họ – cùng một mầm sống đang thành hình do tội lỗi và tình yêu!&#8230;</p>
<p>Cái kết này đối với xã hội Việt Nam, đối với nền luân lý phương Đông, sự thực không ổn. Nó chứa chấp từng cơn thảgn thốt, từng niềm băn khoăn thác loạn. Đã đành, trong cuộc sống, có thể xảy ra những thảm kịch gia đình khắc nghiệt như thê hay hơn thế, nhưng nó không phải là mẫu số chung của toàn bộ nếp sống Việt Nam, nên sự hình thành của một bi kịch nào đó cũng chỉ là ngoại lệ. Đồng ý rằng, nhà văn có quyền tuyệt đối trong sáng tác, và cũng chính nhà văn chịu hoàn toàn trách nhiệm về uy quyền của mình, nhưng ít nhất, khi đặt vấn đề trước xã hội, nhà văn cũng đừng quên, sự quan trọng không phải do tác phẩm hay nhà văn, mà chính cuộc sống với những liên hệ mỗi số phận về tinh thần cũng như vật chất, đã buộc con người chịu trách nhiệm chung trong mọi tư tưởng và hành động. Do đó, khi phân tích cảm giác “phi lý” về cuộc đời, Camus cho rằng: <em>chống đối không phải là tuyệt đối phủ nhận cuộc sống vì ở đời hai mối thiện ác vấn vít nhau, trong thiện có ác, trong ác có thiện, vậy chỉ có thiện ác tương đối. </em>Bởi thế, dù ở trường hợp nào, sự mất thăng bằng cũng làm hại không ít đến tác phẩm, nhất là ở <em>Tuổi nước độc</em> với hoàn cảnh xã hội Hà Nội trong những năm 1947-1954. Người đọc tin rằng, Dương Nghiễm Mậu đã phán đoán và nhận xét nó qua lăng kính của trí tuệ một nhà văn khi viết tác phẩm này, mới ngoài hai mươi tuổi đời, do đấy, sự vội vã, không sát thực tế, và chủ quan, tất nhiên khó tránh được. Nhưng có điều cần phải nói, Dương Nghiễm Mậu hành văn rất lưu loát và không thiếu nhiệt thành trong mỗi vấn đề đặt ra trước lương tâm người cầm bút, vì nói đến quá khứ cũng để xác định thái độ trước cuộc sống hôm nay vậy.</p>
<p>Vì có mặc cảm cô đơn trước xã hội không thuộc về mình, nên lúc nào và bất cứ ở đâu, nếu tìm được môi trường vừa đủ là Dương Nghiễm Mậu dấn thân. Nhưng sự dấn thân nào cũng chỉ đưa đến thất vọng vì lý tưởng và thực tế là hai con đường chạy song song được cách ngăn bởi một vực thẳm. Hoàn cảnh Việt Nam vào những năm 1962-1963 thật ngột ngạt. Những trái bom ném xuống dinh Độc Lập báo động một cái gì sắp xảy ra cho nền Đệ I Cộng hoà và cũng từ đấy, từng luồng gió chống đối ngấm ngầm thổi đi do những tấm lòng bất mãn với chế độ lúc đó. Bánh xe lịch sử bắt đầu chuyển động từ từ rồi thăng tiến lần lần cho đến ngày 1/11/1963, vòng quay cuối cùng đã nghiến nát một chế độ sau 9 năm hiển hách.</p>
<p>Dương Nghiễm Mậu – người chứng cô đơn – đã viết ra để nói lên một phần cái động lực chính của lớp người trẻ tuổi đã tham gia hăng hái vào cuộc cách mạng cùng Phật giáo và quân đội với kết quả của nó. Nhà văn trình bày trước người đọc những mẫu nhân vật, tượng trưng cho vài thành phần của xã hội, vì lý do này hay lý do khác đã dám chống đối để ở tù, hoặc bất mãn chung thân, hoặc muốn an phận để thụ hưởng những gì do cuộc sống và chế độ đãi ngộ.</p>
<p>Khuôn mặt Thạch, một thanh niên tham gia cách mạng vì lý tưởng cao đẹp, muốn cải tạo cuộc sống bằng hành động tích cực, phải trả giá bằng tù tội. Nhưng sau khi cách mạng thành công cuộc sống Thạch mơ ước với sự thay đổi để tiến hoá, nó vẫn y nguyên nếp cũ.</p>
<p><em>… Một lần Thạch hỏi:</em></p>
<p><em>“Sau đảo chính chắc có thay đổi, người mới, người cũ.”</em></p>
<p><em>Đang ngồi, Thuần giơ cả hai tay lên:</em></p>
<p><em>“Thay đổi cái gì, họ là công chức mà!”</em></p>
<p><em>“ Là công chức là không có gì thay đổi?”</em></p>
<p><em>“Thay đổi, cậu cứ nghĩ là thay đổi sao, họ là công chức thì vẫn là công chức chớ. Hồi Tây họ làm công chức, thì thời Bảo Đại họ cũng làm công chức, thời ông Diệm cũng vậy, bây giờ ông Diệm chết rồi thì họ vẫn là công chức…”</em></p>
<p>(<em>Phấn đấu</em>, trang 20)</p>
<p>Thật ngao ngán và bi đát – qua lời phát biểu trên – cho những ai hy vọng nhiều về cách mạng! Hoàn cảnh chẳng phải chỉ có thế. Nó còn vùi dập theo bao nhiêu số mệnh khác và làm thui chột từng nguồn hy vọng vừa được nhen nhúm trong tâm tư những người yêu nước. Hình ảnh Sương, người con gái đã hy sinh theo tiếng gọi tranh đấu để xây dựng lại một xã hội quá mục nát vì “độc tài” và “gia đình trị” này. Nàng đã chống lại tất cả, quyết sống chết với Cách mạng, để rồi bị hãm hiếp trong tù đến mang thai. Cái bi kịch, nhà văn tạo ra trong tác phẩm không phải chuyện ngẫu nhiên, đích thực, nó là những dữ kiện lịch sử, nhà văn chỉ ghi nhận rồi tiểu thuyết hoá nó một phần để gây xúc động. Lời răn dạy đầy phẫn uất của người bố, đã phản ánh trung thực tâm lý của một hạng người cầu an, tự phụ,</p>
<p><em>… Mày tranh đấu cho ai, cho cách mạng, cho Phật giáo, cho dân tộc, thật là đẹp đẽ huy hoàng, nhưng ai chịu mang cái bào thai cho mày, ai chịu đánh đập, tù tội cho mày, rồi ai sẽ cưới mày làm vợ, ai nuôi con mày… Còn tao, thì tao vẫn là giáo sư, không cần tao được ư? Còn lâu con ơi? Vì tao có bằng cấp, thiếu những người như tao ai lên tiếng ủng hộ, ký kiến nghị và dạy cho bọn bay… Chúng mày muốn là anh hùng thì cho chúng mày chết, tao bảo không nghe đừng trách nữa, các con ạ, các con nên biết như thế…</em></p>
<p>(<em>Phấn đấu</em>, trang 29)</p>
<p>Lời nói đó đối với tuổi trẻ, không phải là bài học khôn do người lớn dạy bảo, nó là điều sỉ nhục, nhưng ác hại thay lại hợp lý! Vì mọi giá trị đã sụp đổ trong một tổ chức quá cũ, trong một xã hội không tiến bộ, việc đi tìm căn bản mới, giá trị mới, có thể còn là sự viển vông trong một giai đoạn dài nữa.</p>
<p>Những dòng của Vĩnh – một quân nhân trẻ – viết trong tù, đã chứng minh đầy đủ những gì cần phải bày tỏ trước công luận về ý thức cách mạng và hoàn cảnh cách mạng tại miền Nam trong năm 1963 và tiếp nối,<br />
<em>… Nhớ nhà, nhớ bạn… nằm đây tự giết mình dần dần. Cái chết của Trung: đóng trong một đồn biên giới nhận tiếp tế từ máy bay, ba tháng liền không ai rời khỏi tay súng, những lá thư của Trung còn đó, nhưng Trung không còn nữa. Đồn đã bị vây khốn. Trung chết trong đồn, quân tiếp viện lên tới nơi chỉ còn để đưa Trung về trong quan tài im lặng. Những tiếng khóc. Trung ơi! Mười mấy cái huyệt đào sẵn trong nghĩa trang, mỗi lúc đều có người chết, người hấp hối. Anh em mình đang chết dần, chết dần. Mỗi người còn sống đều có những cái tang trong chiến tranh chua xót. Mỗi người đều có thể chết bất cứ lúc nào. Chết cho cái gì? Đánh cộng sản giữ nước. Nhưng nước ấy cho ai, cho anh em ông Diệm an hưởng ư, cho một xã hội thối nát, xôi thịt, cho bọn buôn bạc giả dư tiền, dư địa vị sống sung sướng trên xương máu những chiến sĩ ngoài mặt trận ư? Trung ơi! Trung ơi! Chúng ta chết như nhau, sẽ chết hư… sẽ chết không nhắm mắt được, mãi mãi…</em></p>
<p>(<em>Phấn đấu</em>, trang 51-52)</p>
<p>Đây là lời trối trăn cuối cùng của một chiến sĩ đã nhìn rõ cuộc đời? Đây là tiếng ai oán, phẫn uất của một tấm lòng quá yêu nước Việt Nam đang gào thét lên sự thật cho mọi người Việt Nam cùng nghe? Đúng, nó là sự thực. Chính vì sự thực đó mới tạo nên cách mạng, còn kết quả cách mạng ra sao lại là việc khác. Do thế, khi nhìn thấy sự hy sinh của từng lớp người, của những lớp người cho đại cuộc, không gặt hái được kết quả mong muốn, Thạch – nhân vật đại diện tuổi trẻ – đã tỏ thái độ với tuổi già: <em>Tôi mong những người già sống ở đây hãy chết đi cho chúng tôi còn được kính trọng bằng ảo tưởng.</em> Thái độ được tỏ bày qua lời nói, một lời nói trong lúc nóng giận, để sau này, khi sự diễn tiến cuối cùng của cách mạng làm sáng tỏ quan niệm của ông Nguyễn – đại diện lớp già – là đúng. Điều này được thể hiện qua sự gặp gỡ giữa Trần Minh Đạo (người cùng ngồi tù với Vĩnh) và Thạch. Cái thế của một tiểu nhược quốc không cho phép người ta hành động quá sức của nó là như vậy.</p>
<p>Thạch còn đó. Sương còn đó với một bào thai trong khung cảnh cao nguyên, mưa bay mờ thung lũng và tương lai nào, dĩ vãng nào, với muôn vàn nhục nhằn bùng nhùng trong tâm trí!</p>
<p>Dương Nghiễm Mậu có cái nhìn rất sắc và rất sâu trong mỗi vấn đề được đặt ra. Nội dung đều gói ghém những đớn đau uất hận không phải được hình thành bởi sáng tạo mà do cuộc sống thực tại đã tác động vào tâm thức. Có người cho rằng, Mậu đã bi thảm hoá quá đáng cuộc sống vì cuộc sống đâu có phải chỉ gồm toàn đau thương, uất hận? Cuộc sống là kết quả của muôn vàn dữ kiện tạo nên mâu thuẫn, rồi từ mâu thuẫn qua đấu tranh để sinh tồn trong mọi trường hợp, mọi hoàn cảnh dù ôn hoà hay đẫm máu.</p>
<p>Bất cứ cuộc tranh đấu hay suy luận nào, sớm hay muộn cũng đưa con người tới mệt mỏi, nhất là khi nhìn thấy cuộc sống vẫn được tiếp nối bằng nhàm chán sau những cố gắng phải có, nhưng quả tình vô ích. Để trốn tránh sự gay gắt quá đỗi của thực tại, Dương Nghiễm Mậu đã du hồn vào vòm cong trí tuệ. Cái khung trời mộng ảo mà Mậu phác hoạ trong tâm trí, có thể, nó là quá khứ với những nhân vật và không khí thuộc lịch sử hay huyền sử, có thể, nó là những ẩn dụ nấp sau những từ nhưngữ, người đọc cần soi tỏ để nhận về phần mình sự hứng thú qua tác phẩm <em>Nhan sắc</em>. Nhân vật Phạm Thái trong truyện “Người tình của Trương Quỳnh Như” được dùng như biểu tượng của kẻ sĩ trong thiên hạ. Từng bát rượu lớn uống một hơi đâu còn cái thú của nghệ# thuật uống rượu, mà chỉ nhằm dùng chất men để giải toả nỗi buồn thiên thu, đang ngự trị trong một tấm lòng chứa chấp đầy ắp ưu phiền.</p>
<p>Cuộc đời là đại mộng. Công danh, phú quý và cả cái chí hướng của kẻ nam nhin muốn đem tài năng để xoay lại vận trời, những hỡi ôi! Định mệnh đã an bài từ kiếp nào để đến nỗi kẻ anh hùng phải thốt ra lời cay đắng: <em>chí lớn trong thiên hạ không chứa đầy cặp mắt mỹ nhân!</em> Và túi thơ, bầu rượu, trăng nước, trời mây, sông biển, cả thời gian nữa sẽ nguôi ngoai tâm sự, làm băng hoại một thời khí phách! Dương Nghiễm Mậu đã khoác lên vai Phạm Thái chiếc <em>áo choàng hiện tại</em> để bày tỏ những suy tư thầm kín của tác giả.</p>
<p>Từ kẻ sĩ bất đắc chí, nhà văn đưa người đọc qua trạng thái khác, trong câu chuyện “Một người lên núi”. Cái nhân sinh quan, nhà văn tỏ bày trong truyện, chịu ảnh hưởng của triết thuyết Lão Trang. Cái Có, cái Không, cái Còn, cái Mất đều là hư ảnh. Con người chẳng là gì đối với Vũ trụ, nếu chưa nhận thức được lẽ vô vi và câu <em>Trời đất vô tình</em> của Lão Tử. Hình ảnh của Vương Tiên Sinh và mẹ già, em dại, cam chịu vướng mắc vào thế luỵ tương phản với hình bóng lập lờ, huyền ảo của một con người không được nhận diện đích danh, lừng lững đi vào siêu thoát của trường mộng. Đó là ảo ảnh hay tinh thần bất biến của cái Đẹp đang chập chờn bay lang thang giữa Thực và Mông, giữa cuộc đời và nghệ thuật?</p>
<p>Có lẽ, những thất bại thực tế đã làm Dương Nghiễm Mậu thấm đau tự đáy lòng, nên mỗi truyện trong tập <em>Nhan sắc</em> đều hàm chứa sự bất lực của thân phận con người trong mỗi hoàn cảnh. Làm cách mạng, yêu cách mạng với một ý hướng cao cả, như một gã si tình say mê nhan sắc. Vẻ đẹp của một bông hoa, một mỹ nhân hay cố định lý tưởng nào, khi nó đã quyến rũ và twong phù với ý muốn con người, thì dù cho có phải vì nó mà chết cũng cam lòng! Cái chết đó để dành cho những người biết đi tìm tuyệt đối trong tương đối. Nó được Dương Nghiễm Mậu mượn xác lịch sử thời Cao Bá Quát và thầy khoá Nhâm cùng người khác-vô-danh đã-biết-chết một cách anh hùng, liệt sĩ cho cái đẹp cao cả.</p>
<p>Rồi đến truyện “Từ Hải và cuộc phiêu lưu của đời chàng”, cũng được nhà văn dùng như chất liệu để tỏ bày thái độ hay gửi gấm tâm sự? Từ Hải, vị anh hùng hay tên du côn? Từ Hải dưới nét bút Nguyễn Du, đích thực Từ Hải anh hùng “dọc ngang nào biết trên đầu có ai?” nhưng qua lý luận của nhà văn, Từ Hải có thể là tên du côn, nhưng tên du côn có ý thức, biết chống bất công và thối nát, biết yêu, biết sống. Hơn nữa, Từ Hải không chiết vì toán quân phục kích của Hồ Tôn Hiến. Từ Hải <em>chết đứng giữa trận tiền</em> là Từ Hải giả đó thôi. Nhưng sự trở về của Từ Hải có thực sự cần thiết đối với nhà văn? Có lẽ là một cần thiết, để nhà văn mượn có giãi bày suy nghĩ, để gợi lên ám ảnh trong tiềm thức, để chứng minh sự tiếp nôi không ngừng của lịch sử đấu tranh, và cái <em>“biểu tượng anh hùng”</em> như một lưỡi gươm, một hình phạt treo lơ lửng trước lương tâm mỗi con người đê tiện. Và Kim Trọng, Thuý Vân với những lời van xin, năn nỉ của Thuý Kiều có phải chăng là niềm ăn năng, sám hối của một lỗi lầm, của những lỗi lầm do bả vinh hoa cám dỗ để đưa mỗi số phận chìm sâu địa ngục?&#8230;</p>
<p>Truyện “Kinh Kha”, “Con chuỷ thủ” và “Đất Tần bất chắc” cùng mang ước lệ, nhưng ở đây, với niềm băn khoăn chọn lựa giữa hai ngả: sống , chết. Kinh Kha người dũng sĩ thời Chiến quốc tượng trưng lòng căm thù giữa giai cấp bị thống trị và Tần Thỉ Hoàng một bạo chúa, tượng trưng cho giai cấp thống trị tàn ác, dã man. Nhưng đau đớn thay, chính vì bạo tàn mà Tần Thỉ Hoảng mới thống nhất và cai trị được nước Trung Hoa mông mệnh. Người đọc sững sờ trong những lời đối thoại giữa Tần Thỉ Hoàng và Kinh Kha qua câu chuyện kể giữa hồn ma Kinh Kha và Cao Tiệm Ly,<br />
<em>… Nhà ngươi không sợ chết sao? Tôi bảo, nếu tôi chết sẽ có kẻ khác noi theo, cho đến khi nào giết được nhà ngươi. Vua Tần dằn giọng: Thôi ta chịu chết, nhưng ta hỏi nhà ngươi: </em>Giết được ta rồi nhà ngươi làm gì với nước Trung Hoa này?</p>
<p>“<em>Bây giờ hắn ra sao? Anh chưa giết hắn?”</em></p>
<p><em>“Chưa, nhưng hắn ở trong tay tôi, lúc nào muốn giết thì giết, có điều tôi muốn biết:</em> Thái tử Đan sẽ làm gì với một nước Trung Hoa sau khi tôi đã giết hắn?&#8230;”</p>
<p>Câu hỏi đó, hình như Dương Nghiễm Mậu đặt ra cho nước Việt Nam sau cái chết của ông Diệm? Nhưng cái mẫu anh hùng của Dương Nghiễm Mậu, nó chỉ là một hình thức, một biểu tượng và luôn luôn cô đơn – như tuổi trẻ hôm nay. Nó nghư ngọn nến nhỏ trong đêm tối mịt mùng với giông gió chập chùng đe doạ, bởi vậy, mỗi hành động, mỗi suy tư được tỏ bày cũng mang sẵn bên trong sự tan rã, tuyệt vọng do chính nó tạo ra.</p>
<p>Truyện “Gậy thần và sách ước”, niềm bi phẫn cuối cùng của tập <em>Nhan sắc</em>, Dương Nghiễm Mậu không còn biết tin vào cái gì nữa, đứng cho vơ giữa cuộc sống bao phủ đầy giả dối, ươn hèn và độc ác. Những giá trị người đời ca tụng, sự thực nó cũng chẳng đáng gì, cũng chỉ là hư danh, phù phiếm! Nhưng chẳng lẽ ngày ngày nhìn thân phận trôi vào hư vô như kiếp sống cỏ cây, Dương Nghiễm Mậu tìm về cho riêng mình một chân lý, một ý hướng qua câu chuyện nhuốm màu triết học để đi tới kết luận: con người lành hay dữ, xấu hay tốit đều do mình quyết định không phải do hoàn cảnh và kẻ khác.</p>
<p>Nhưng người đọc tin rằng, tập <em>Nhan sắc</em> chỉ là nguyên cớ để Dương Nghiễm Mậu rời xa thực tại một khoảng Thánh Thể nào đấy. Con đường đó tuy đẹp, nhưng không thuộc về Dương Nghiễm Mậu.</p>
<p>Dù cuộc đời có mặt với bao nhiêu thê thảm, dù định mệnh là sự kiện khắc nghiệt, dù đôi khi Dương Nghiễm Mậu muốn một mình bay bổng lên cao để mặc thời gian đẩy đưa đến thì đến, dù cho thối nát, sa đoạ, bất công có làm mỗi số phận phải ê chề tủi nhục nhưng Dương Nghiễm Mậu vẫ nmuốn vì nó mà hành động, mà chung vui, chung buồn với nhân thế.</p>
<p>Tác phẩm <em>Ngày lạ mặt</em> là tiếng khóc, là phẫn nộ hay sự chua xót đang len lách dày vò trong tâm cảm nhà văn. Nội dung câu chuyện do cô học trò tên Hoàng yêu thầy dạy mình, và tự nguyện thoả mãn lời ước mong của người tình – muốn có một đứa con. Thầy Lĩnh có đạo và đã có gia đình. Hoàng tôn thờ tình yêu mà nàng cho là lý tưởng, mặc kề gia đình, dư luận! Câu chuyện xảy ra ở một thành phố miền duyên hải, khi còn luật gia đình.</p>
<p>Thầy Lĩnh ra toà, không chối cãi. Toà xử lằng nhằng. Trong khi đó Dũng – một quân nhân – bạn học xưa của Hoàng, yêu nàng tha thiết, Dũng uất hận muốn giết thầy Lĩnh – người thầy cũ – vì đã cướp tình yêu của mình. Ông nghị Vĩnh – bố Hoàng – thiếu tư cách không được kính trọng. Hoàng có mang với thầy Lĩnh. Cuối cùng, vợ chồng thầy Lĩnh điều đình với ông nghị Vĩnh, xin bãi nại. Vì quyền lợi tranh cử, ông nghị Vĩnh bằng lòng. Rồi vợ chồng thầy Lĩnh sửa soạn đi ngoại quốc. Hoàng một mình ngất ngư với cái bào thai.</p>
<p>Sự đam mê của Hoàng – một trò gái ngây thơ – với ông thầy học đã có gia đình và đứng tuổi, phải chăng là vấn đề cần đặt ra trước xã hội – qua văn chương – một bằng chứng hiển nhiên rằng, mỗi con người chịu trách nhiệm về phần hành của nó? Không lẽ, chỉ vì lòng mơ ước có một đứa con mà thầy Lĩnh đã phá hoại đời người con gái, học trò mình? Vấn đề đặt ra ở đấy, chứ không phải ông nghị Vĩnh, hoặc Quân hay Dũng – kẻ si mê trong thất bại! Cái tâm trạng bi thương của những kẻ muốn làm anh hùng hay vĩ nhân trong khi mình chỉ là hạt cát. Tâm trạng Hoàng cũng vậy, cho rằng mình đã yêu, đã hy sinh, nhưng rốt cuộc chẳng biết sự hy sinh đó mang lại ngưỡng mộ nào, ngoài đổ vỡ. Những trang nhật ký hay lời thú tội của một hành động sai lầm? Tình yêu của tuổi trẻ là tốc độ, là đột biến không thể dự tính được,<br />
<em>… Tôi nói: Tôi yêu thầy Lĩnh. Tôi biết thầy là người có đạo, có gia đình… nhưng tôi yêu thầy. Chính tôi đã chọn vậy…</em></p>
<p><em>… Tôi biết đây là mối tình vô vọng, cả hai chúng tôi đều biết như thế, nhưng không ai chịu ngừng, như một chuyến xe xuống dốc, chúng tôi nhắm mắt lại, những lo âu, thảng thốt chợt đến, những hãi hùng chợt hiện, những giọt nước mắt, những lời thú tội với chính mình, chỉ có vậy. Tại sao tôi lại lựa chọn vào hoàn cảnh ấy?</em></p>
<p>(<em>Ngày lạ mặt</em>, trang 11)</p>
<p>Sự lựa chọn tình yêu nhiều khi do bất ngờ của định mệnh. Nhà văn Malraux khuyên con người nên can đảm trước định mệnh, nhưng tự thâm tâm, Malraux đã cảm thấy một cách thê thảm rằng: vũ trụ chẳng liên quan gì đến con người cả. Nên sự thống khổ của Hoàng trong những trang sách <em>Ngày lạ mặt</em>, nó không thể thực hiện bằng cách nào khác hơn là con <em>vật tế thần</em>, để trình bày một khía cạnh đang cấu xé lương tâm nhân loại.</p>
<p>Cuốn sách mở đầu và khép bằng những trang nhật ký chứa chấp trọn vẹn cái đau, cái nhục và mỉa mai thay, cả cái tự ái của tuổi trẻ cố tìm những lý lẽ để bào chữa tội lỗi,</p>
<p><em>… Tôi chỉ là một đứa con gái tồi tệ. Nhưng sao tôi lại không thể nói với họ, tôi tồi tệ vì tôi là con của một người tồi tệ, người của một xã hội tồi tệ, làm sao tôi không tồi tệ được trong một xã hội hoàn cảnh như thế. Tôi yêu một người, có gì đâu. Còn những ông X., ông M. những người đồng chí của cha tôi đó cùng với tên tài xế đã bắt hiếp cái con gì đó trong nhà chứa xe hồi nào thì sao. Con nhỏ phát điên vì ghê tởm chạy như con chó dại trong thị xã đó thì sao. Có thực là nó đã lao mình xuống biển rồi giạt vào bờ không, hay một kẻ nào đó muốn xoá đi dấu vết tội lỗi của mình? Họ đã xoá được và đêm ngủ mới yên tâm? Có thể lắm…</em></p>
<p>(<em>Ngày lạ mặt</em>, trang 161)</p>
<p>Tiếp theo là việc từ chối đề nghị phá thai để khỏi mang tiếng cho gia đình, một gia đình không mấy hãnh tiến về mặt đạo đức của ông nghị Vĩnh. Cuối cùng, Hoàng – người nữ sinh – cương quyết chọn con đường mình đã định,</p>
<p><em>… Tôi không muốn sống bằng ảo tưởng. Bây giờ tôi phải lựa chọn đương đầu… Tôi sẽ là một người mẹ, tôi phải nuôi con trong tình cảnh đơn độc của mình.</em></p>
<p><em>… Tôi nghĩ tới Dũng, bây giờ tôi muốn cầu cứu với Dũng, Dũng có còn yêu tôi, muốn sống với tôi khi biết tôi có mang không, chàng có thương yêu một đứa con không phải của mình không, tôi không muốn lừa ai, nhưng tôi muốn có một người thương yêu mình, giúp đỡ, san sẻ với mình. Tôi hiểu hoàn cảnh của thầy Lĩnh, tôi không oán trách người, tôi muốn giữ lại những gì mà người đã để lại cho tôi…</em></p>
<p><em>Một quãng đời đã trôi qua, đã chấm dứt phải thế không, Hoàng rồi mày phải sống ra sao? Tôi đang khóc cho tôi đây…</em></p>
<p>(<em>Ngày lạ mặt</em>, trang 170)</p>
<p>Kết luận như tên có phải là một kết luận hợp tình? Có phải nó được giải quyết một cách thoả đáng và hợp lý?</p>
<p>Tội lỗi cũng như hình phạt được nhà văn đặt ra như một phi lý, một bất công, quả là nặng nề đối với thân phận người con gái. Rồi còn những ngày tháng trước mặt, rồi còn những ám ảnh và mặc cảm, đã dễ gì vượt thoát được, dù cho với sức mạnh của tâm linh có tình yêu hỗ trợ!&#8230;</p>
<p>Dương Nghiễm Mậu, nhà văn ý thức được luật sống và sau những năm dấn thân vào nghề cầm bút đã thấu rõ cương vị của văn chương trong xã hội. Viết văn không phải để thoả mãn hoặc dương danh mình trước cuộc đời, chính thực để nói lên những cái gì mà lương tâm chân chính của con người cần phải tỏ bày trước công luận. Bởi vậy, ngoài những truyện dài, Dương Nghiễm Mậu viết rất nhiều truyện ngắn đã in thành sách như: <em>Đôi mắt trên trời, Kinh cầu nguyện, Quê người, Ngã đạn</em> v.v… và tập bút ký <em>Địa ngục có thật</em> viết về cuộc tàn sát của cộng sản trong đợt tổng công kích Tết Mậu Thân tại Huế.</p>
<p>Mỗi truyện ngắn của Dương Nghiễm Mậu là một bức tranh tâm cảm, ở đó, bao giờ nhà văn cũng khơi động tình thương, dù cái tình thương ấy ở trong một hoàn cảnh khó thương. Những thắc mắc và ưu tư về cuộc sống góp mặt với từng dữ kiện hiển nhiên xác thực, hằng ngày qua báo chí, nhiều khi còn tồi tệ hơn những dữ kiện được sáng chế do óc tưởng tượng của nhà văn. Tuổi trẻ và nỗi cô đơn là mối dày vò thường xuyên trong mỗi suy nghĩ của những người lớn lên trong chiến tranh và chính chiến tranh đã nuôi dưỡng, giáo dục họ bằng những ngọn roi dính máu.</p>
<p>Lương tâm nhà văn chỉ là một chiếc gương bé nhỏ phản chiếu lại một trạng huống, một nếp sinh hoạt nào đó đã in hằn chứng tích trong mỗi suy nghĩ về sự góp mặt của mình giữa hoàn cảnh đã được hình thành như vậy. Sự chối đối hay im lặng đều vô ích! Con người cầm bút phải biết dùng khả năng và tài năng chuyên biệt để chế tạo thành chiếc gương riêng, cho xã hội nhìn vào đấy, nhận diện lẫn nhau trong một kích thước hạn định. Sứ mệnh của nhà văn hôm nay không phải là nhân chứng mà phải nhập cuộc, vì có nhập cuộc mới xác định rõ ràng rằng: chiến tranh, lo sợ, buồn rầu, đam mê và tuyệt vọng có phải là lẽ sống duy nhất của cuộc đời hôm nay không?</p>
<h2>Dương Nghiễm Mậu</h2>
<p><strong>Đặng Tiến</strong></p>
<p><strong> </strong><em>Que l’homme est né pour le bonheur.</em><br />
André Gide (1869-1951)<br />
Con người sinh ra để hưởng hạnh phúc.</p>
<p>Dương Nghiễm Mậu xuất hiện trên văn đàn miền Nam cách đây ngoài 10 năm, như một chứng tích. Cái chứng tích đó là nỗi bơ vơ của tuổi trẻ, của một thế hệ tuổi trẻ đang sống giữa cuộc sống không thuộc về mình. Cái tuổi trẻ nào đó được tô hồng trong những dạ hội, dưới mái đại học, hay rong chơi quanh năm với bốn mùa tình tự, đều ở ngoài tầm tay của Dương Nghiễm Mậu. Cuộc sống đối với Mậu là cái gì quá khe khắt, quá cứng rắn và từ đó mỗi suy nghĩ, mỗi hành động hình như, ít nhiều gì cũng để chống đối cuộc đời. Những xấu xa, ti tiện, lòng ganh ghét và đố kị thấp hèn, trộn lẫn với tình thương yêu con người làm giọng văn của Dương Nghiễm Mậu vừa phẫn nộ vừa chua xót.</p>
<p>Con người sinh ra đời không phải để gánh chịu nhục nhằn và cái xấu. Nhưng cuộc đời có mặt không phải là thiên đường, nên con người vẫn phải cúi đầu chấp nhận những gì do nó đưa lại cả xấu lẫn tốt. Con người tính vốn thiện từ thuở lọt lòng, nhưng càng sống, càng tranh đấu để cuộc sống được tốt đẹp hơn lên, con người lại vô tình làm nó xấu đi, vì lòng ích kỷ và tinh thần chiếm đoạt, tư hữu.</p>
<p>Cái ý thức tốt hướng vào điều thiện cũng như việc đề cao lương tri chỉ còn là những danh từ trống rỗng, giữa một xã hội xáo trộn vì chiến tranh quá lâu, giữa những ngộ nhận từ kẻ này qua kẻ khác. Dương Nghiễm Mậu không phải vô tình hay vô cớ khi đặt vấn đề thân phận con người, nhất là tuổi trẻ, trong phạm trù sinh hoạt thực tế với <em>cục bướu quá to, lông lá xồm xoàm</em>, tượng trưng cho nỗi băn khoăn, ám ảnh của nhà văn đối với một xã hội thối nát, bất công đang bám vào da thịt mình làm bứt rứt, khó chịu. Cục bướu đó, sự thực, mỗi con người đều phải gánh chịu suốt đời, chỉ có khác, ở mỗi người nó mọc ra ở mỗi chỗ, tuỳ theo cung số!&#8230; Cục “bướu quá to” đã làm khổ Dương Nghiễm Mậu, với mặc cảm xấu xa, vì nó mà người yêu từ bỏ, xã hội khinh khi.</p>
<p>Nó hiện diện như một hình phạt, dù con người muốn cắt bỏ nó, hoặc tự huỷ mình cho thoát nợ, nhưng vẫn không xong, vì nếu mọi việc ở đời đều có thể giải quyết dễ dàng như vậy thì làm gì còn cuộc sống nữa? Bởi vậy, con người được sinh ra, dưới sự an bài nào đó, phải chấp nhận đời sống và luật sống là có thực. Y học và văn minh cũng chẳng giúp ích gì được, một khi căn bệnh không nằm trong bệnh lý thông thường, mà nó biến hoá khôn lường giữa tâm linh để tàn phá, để giết dần đời sống, làm lụi tàn hy vọng.</p>
<p>Sinh ra và lớn lên trong một xã hội bị phân hoá vì chính trị và đời sống bấp bênh do cuộc chiến tạo nên, mỗi số phận trai trẻ như phập phồng, khắc khoải, chờ đợi một cái gì đó, có thể là những hạt giống tốt, cũng có thể là loài cỏ dại ăn hết chất màu của mảnh vườn mới bón. Từ phẫn uất, Dương Nghiễm Mậu đi vào chán nản khi biết rằng thân phận mình đã bị điểm danh, nghĩa là đã được định đoạt, Mậu không có quyền lựa chọn. Một khi con người không có quyền lựa chọn cho đời mình hướng đi, thì một, phải dứt khoát với nó, hai, phải buông trôi thân phận như dòng nước nhỏ chảy len lách vô tri dưới một khe lạch không tên, cho đến lúc nhạt nhoà tan biến vào đại dương. Dương Nghiễm Mậu, tuy không có quyền chọn lựa hướng đi nhưng cũng chẳng sẵn sàng làm một dòng nước nhỏ, nên chấp nhận sự có mặt của mình trước cuộc sống với một thế đứng riêng biệt.</p>
<p>Những năm cô đơn của tuổi trẻ mà Mậu đem theo là nỗi cô đơn bi thảm trước một chứng tích đã có đấy, đã hình thành như thế từ lâu. Mậu không biết dùng phương cách nào để tự an ủi đành mang mình ra trước khoảng trống (cuộc đời) để tự đóng vai trò lừa dối mình, <em><br />
</em><br />
<em>… Khoảng trống bao la ấy đau buốt, nhức nhối trích vào thân thể anh từng giây, từng phút ngột ngạt, tức tưởi lay động choáng váng tim óc. Anh đã đánh lừa và mang em đến với anh. Em đã chịu đựng sự có mặt của anh – nhưng đến bây giờ em còn đủ sức chịu đựng nữa – em lên tiếng, như đám đông lên tiếng cho anh nhận ra anh…</em></p>
<p>(<em>Cũng đành, </em>&#8220;Niềm đau nhức của khoảng trống&#8221;)</p>
<p>Sự lên tiếng ở đây là phát biểu thái độ, là ý thức nhập cuộc vì khoảng trống mà Dương Nghiễm Mậu hình dung thấy ở trong tâm tưởng nó như một vực thẳm xa vắng, nó làm Mậu hốt hoảng đến nỗi không còn nhận ra mình.</p>
<p>Con người sinh ra dù không được quyền lựa chọn theo ý muốn nhưng ít ra con người cũng phải có thái độ trước thực tại, phải là <em>một cây sậy biết suy tưởng</em> theo Pascal: <em>l’homme n’est qu’un roseau, le plus faible de la nature, mais c’est un roseau pensant</em>.</p>
<p>Cái tuổi trẻ Thượng đế đã ban phát cho mỗi con người một thời gian là để thử thách sức chịu đựng của từng số phận. Sự ban phát này không đồng đều, do đấy, nảy sinh ra bất mãn và chống đối. Có những khuôn mặt tuổi trẻ không bao giờ vui tươi, hớn hỏ, ở đó, bao nhiêu băn khoăn, vò xé nội tâm. Dương Nghiễm Mậu thường tìm hình bóng mình qua kẻ khác, cũng như dùng kẻ khác để nói đến mình. Đi từ nỗi bơ vơ này qua bơ vơ khác, đến đâu, ở đâu, cũng chỉ gặp xa lạ ngay với cả tình yêu. Hình ảnh những nhân vật đàn bà trong tác phẩm Dương Nghiễm Mậu lúc nào và bao giờ cũng tạo nên oan trái, phảng phất nỗi u buồn riêng biệt trong một thế giới riêng biệt bao phủ ở mỗi truyện. Từ Hê-Len tới Thuyền, tới Phượng, tới Hạnh rồi Quyên hay bất cứ một cái tên nào khác đều được phác hoạ dưới những nét run rẩy mờ nhạt, cùng với từng niềm đau thương len nhè nhẹ nhưng vô cùng sắc bén vào tâm tư người đọc,</p>
<p><em>… Tôi đã muốn quên Hạnh, như quên thực tế đã phải sống với một mơ hồ êm đềm, nhưng bây giờ Hạnh ở trước mặt. Một Hạnh dở dang buồn bã. Thịnh đã chết ngoài mặt trận. Một Hạnh những kỷ niệm lưu giữ bền chặt. Một Hạnh đáng yêu còn đó. Một Hạnh tan vỡ như thời gian học trò trong thành phố quê hương bốn mùa. Đối diện với Hạnh, ký ức lại trở về với những hình ảnh liên tiếp của một thời, như những toa xe trên chuyến tàu trở lại ngang qua một trạm nhỏ dọc đường…</em></p>
<p>(<em>Sợi tóc tìm thấy, </em>&#8220;Đôi mắt chỉ rối&#8221;, trang 73)</p>
<p>Đoạn văn trên có thể thực, có thể do óc sáng tạo của nhà văn nhưng qua đấy, người đọc đoán được những gì Dương Nghiễm Mậu muốn nói. Kỷ niệm nào đó, tại sao lại trở về để ám ảnh tâm hồn, tại sao lại gặp nhau để tạo nên đau khổ? Dự dằn vặt của kỷ niệm hay nỗi băn khoăn thuộc về tiền kiếp với ý thức siêu hình.</p>
<p><em> … Đêm xuống rất khuya. Chúng tôi nằm trên những người đã chết trong nghĩa địa, Long nằm gối đầu vào tay tôi. Thu về cây nhị hổ – những âm thanh ấm ức, tức tưởi, sầu thảm, u uất, nghẹn ngào trườn lên bực dọc quằn quại – và tôi chờn vờn vào một giấc mơ…</em><br />
<em>…</em></p>
<p>&#8220;<em>Thưa người là ai?</em>&#8221;</p>
<p>&#8220;<em>Tôi không là ai.</em>&#8221;</p>
<p>&#8220;<em>Người từ đâu đến?</em>&#8221;</p>
<p>&#8220;<em>Có can hệ gì đâu?</em>&#8221;</p>
<p>&#8220;<em>Sao người than van sầu thảm làm vậy.</em>&#8221;</p>
<p>&#8220;<em>Tôi vốn không ưa tâm sự. Sự than van chẳng cần thiết gì…</em>&#8221;</p>
<p>&#8220;<em>Nhưng tôi có tâm sự phải than van. Muốn có một người ngồi trước mặt mình. Anh ghét tâm sự ắt hẳn người có quá nhiều tâm sự rồi chăng?</em>&#8221;</p>
<p>&#8220;<em>Tôi chẳng có chút gì. Chẳng có gì để nhớ. Có gì để nhớ đâu?</em> &#8221;</p>
<p>&#8220;<em>Người nói dối chăng? Nhưng nếu người sống giữa một khoảng trống không có tâm sự thì người sống làm sao?</em>&#8221;</p>
<p><em>… Chúng ta hãy thử nhìn sang bên kia đường. Người có thấy chăng một cậu bé con đang nô đùa bên mẹ nó – cậu bé nhảy và hát. Đôi miệng xinh tươi, triền môi dịu ngọt – đôi mắt ngây thơ của trẻ dại đang nhìn vào cuộc đời mong lớn – cậu bé đang nũng nịu gọi: Mẹ ơi!&#8230;</em></p>
<p><em>Tôi có thấy đứa bé nô đùa bên mẹ nó. Tôi chỉ nhìn thấy một đứa trẻ đi vất vưởng buồn nản, môi thâm bậm chặt để khỏi cất lên tiếng khóc – đôi mắt ngầu đỏ. Nó thấy cuộc đời lớn lên vượt khỏi tầm tay nó. Cậu bé chẳng biết bố mẹ thế nào nên chẳng thể gọi tên để chẳng thấy mình còn được gọi tên.</em></p>
<p>&#8220;<em>Trời xanh lắm thấy không anh?</em>&#8221;</p>
<p>&#8220;<em>Trời ngầu đỏ vẩn đục và như giông bão sắp về.</em>&#8221;</p>
<p>&#8220;<em>Cây cối xinh tươi làm sao?</em>&#8221;</p>
<p>&#8220;<em>Những cành khô quờ quạng như muôn cánh tay hối lỗi – già nua đầy đau đớn.</em>&#8221;</p>
<p>&#8220;<em>Anh hãy nhìn vào vườn hoa đẹp đẽ kia – muôn hoa đua nở, cành lá xanh tươi hương thơm toả ngát. Anh có thấy không một cặp tình nhân cùng nhau tâm sự, mặt nhìn mặt, tay cầm tay, nói với nhau những lời dịu ngọt hứa hẹn một tương lai hạnh phúc sum họp.</em>&#8221;</p>
<p>&#8220;<em>Nhưng tôi chỉ thấy kia là một sa mạc bao la gió cát bay mù tàn nhẫn. Ở đó, có một kẻ đang ngồi một mình, nói một mình, nghe một mình và tay mình sờ soạng lấy tay mình. Nhìn vào lòng bàn tay hoài, những ý nghĩ về tương lai.</em>&#8221;</p>
<p>&#8220;<em>Này chiếc hoa màu hồng.</em>&#8221;</p>
<p>&#8220;<em>Màu tím đó thôi!</em>&#8221;</p>
<p>&#8220;<em>Có nghe chăng tiếng hát?</em>&#8221;</p>
<p>&#8220;<em>Tôi nghe thấy tiếng người rên khóc, tiếng thở dài…</em>&#8221;</p>
<p>(<em>Sợi tóc tìm thấy, </em>“Trong lòng bàn tay”, trang 73)</p>
<p>Lời đối thoại trong một nghĩa trang, giữa con người và hồn ma, để nói với cuộc sống hôm nay. Tiếng thở than sầu muộn của muôn đời gửi từ cõi hư không, ở đấy không còn chi hệ luỵ! Ý nghĩ về cô đơn, bi thảm mà nhà văn đã và đang gánh chịu đâu phải niềm cô đơn tuyệt đối. Nó còn nghe thấy và đón nhận về phần mình những dư âm của tiếng lòng than van, uất nghẹn cảm thông qua hai cõi âm, dương.</p>
<p>Quả thực, Dương Nghiễm Mậu đã bị ám ảnh vây hãm trong quá nhiều ý nghĩ đau buồn xuyên qua lời đối thoại. Cái tâm sự bi quan, đầy rẫy phẫn uất nó chứa đựng và tích luỹ tự đáy lòng chờ dịp phát ra những âm thanh chua chát não nề với hình ảnh đứa trẻ mồ côi, với cảnh vật không còn màu xanh, cuộc đời biến thành sa mạc và màu hoa – vườn đời – biến thành màu tím tang tóc! Còn gì nữa không? Còn chứ! Còn tuổi trẻ bơ vơ, còn nhiều tình phụ bạc, còn thân phận tôi đòi, còn tiếng khóc thay cho nụ cười, còn tù tội và còn đam mê trong thất vọng.</p>
<p><em>… Quyên ơi! Anh tự cho rằng anh không hề có tội lỗi, chưa quỳ dưới chân ai một lần. Cửa vào địa ngục không biết, đường lên thiên đường không hay. Em hãy cho anh tội lỗi để đôi mắt được mù loà. Vì anh yêu em nên không thể tự tay chọc thủng đôi mắt mà Chúa đã ban cho – như thế anh không phải nhìn vào lòng bàn tay…</em></p>
<p>(<em>Sợi tóc tìm thấy, </em>“Đôi mắt chỉ rối”, trang 123)</p>
<p>Cái quan niệm bi đát và thái độ sống của Dương Nghiễm Mậu vào giai đoạn 1960-1961-1962, ít nhiều gì cũng chịu ảnh hưởng của thời cuộc và những tư tưởng vay mượn của Tây phương với Sartre và Camus, tuy hai nhà văn kiêm triết gia này chẳng những đối nghịch về đời sống và cũng dị biệt nhau về quan điểm triết học, nhưng cả hai cùng gây ảnh hưởng sâu đậm trong tâm thức các nhà văn trẻ lúc đó. Con người sinh ra đời không có quyền chọn lựa cả cái sống lấn cái chết, và cái xã hội đang vây quanh mỗi thân phận cũng chả có phương thế gì giúp cho con người tìm thấy hạnh phúc. Thiên nhiên là một sự kiện ngoại giới, nó chẳng cứu rỗi được ai vượt qua khốn khó. Nó có đấy như một điểm trang vô ích, trong lúc con người cần tới sự cảm thông thiết thực hơn. Do đó, trong tác phẩm <em>La Nausée</em> của Sartre, nhân vật Roquentin mới có ý tưởng bi phẫn cho rằng: <em>chúng ta ai cũng như ai không có lý gì đáng sinh ra cả… vì tất cả những gì hiện hữu đều có mặt một cách vô lý, kéo dài bở hèn yếu rồi chết ngẫu nhiên!&#8230;</em></p>
<p>Dương Nghiễm Mậu không hoàn toàn du đời mình vào những ý nghĩ u tối, nhưng người đọc cũng thoáng thấy niềm bâng khuâng và chả mấy tin tưởng vào tương lai, tin vào cái ý hướng tốt đẹp nào đó để níu lấy chút hy vọng mong manh cho những ngày bắt buộc có mặt. Cái đau nhất của Dương Nghiễm Mậu là phải tiếp thu những gì mình không thích, không muốn mà nó cứ đến, đến thản nhiên như sáng, trưa, chiều, tối với những nhu cầu thường nhật. Sự kiện ấy được phơi bày thật rõ trong tác phẩm <em>Đêm tóc rối</em> (1965). Cái tuổi trẻ hư không với những ý nghĩ và hành động phần nào do vô thức khích động rồi đẩy nhà văn vào ngõ cụt, do đó, sự nghĩ và viết ra chỉ nhằm mục đích chứng minh cái “đột biến” của những năm tháng rã rời đã ăn sâu vào trí não nhà văn.</p>
<p>Sự hưởng thụ khoái lạc mà A. Gide từng khuyến khích tuổi trẻ phải sống theo ý mình, tìm về cho mình lạc thú mà Thượng đế đã ban phát cho mỗi số phận trong cuốn <em>Les Nourritures Terrestres</em>, nó chỉ có giá trị đối với các thanh niên Tây phương, nơi mà chiến tranh và nghèo khổ không đầy đoạ con người một cách thê thảm, nơi mà nền văn minh cơ khí đã giúp cho con người các tiện nghi vật chất, nơi mà không khí tự do được phát triển cùng độ, nơi mà tư tưởng được hãnh tiến trong mọi suy nghĩ về kiếp sống. Còn hoàn cảnh chúng ta, hoàn cảnh của những trẻ tuổi lớn lên trong tiếng súng căm thù liên tục, được nuôi dưỡng bằng phẫn nộ thay cho miếng cơm manh áo và tình thương. Cái ý thức mà Dương Nghiễm Mậu ấp ủ để làm vốn cho mình không nằm trong khuôn thức thoải mái, hiển nhiên nó khơi động tự đáy lòng từng nỗi vò xé đau thương. Hình ảnh Dương Nghiễm Mậu, hay Lễ, nhà giáo trẻ hào hoa trong tác phẩm <em>Đêm tóc rối</em> chỉ là biểu tượng, để nhà văn gửi vào đấy những gì cần phải tỏ bày. Nội dung <em>Đêm tóc rối</em> được hình thành quà một cốt truyện khá giản dị: Lễ, nhà giáo trẻ, ở trọ nhà mụ Liên chồng mụ đi làm xa. Do đó, xảy ra sự liên hệ xác thịt giữa Lễ và mụ. Lễ không thương yêu gì mụ Liên, chỉ coi như một giống cái để giải quyết sinh lý. Lễ yêu Quyên nhưng Quyên lại lấy Khánh, bạn Lễ. Một trận đòn ghen xảy ra khi ông Tiến trở về nhà, vì hàng xóm nói lại chuyện vợ ông với Lễ. Mối tình đẹp mong manh của Phượng – Lễ cũng tan vào hư không vì cái chết bi thảm của nàng dưới đáy giếng. Rồi mọi sự hoà loãng và cuộc sống… Những khuôn mặt Thục, Khang, Trinh và vóc dáng mụ Liên – con đĩ già có chồng còn dâm đãng, được đề cập tới ở những trang đầu cuốn sách chỉ là hình thức khích động. Cái sự thực Dương Nghiễm Mậu cần nói ra nó nằm ở chỗ khác. Thân phận tuổi trẻ nhiều khi không tuỳ thuộc vào ý muốn, hình như nó được an bài ở chỗ nào khuất nẻo lắm. Một chút hạnh phúc thơ ngây, một bàn tay bé nhỏ, một môi hôn ngỡ ngàng, một lời nói vụng dại của tuổi hồng mà nhà văn tìm kiếm, nhưng uổng thay, không gặp. Cả cuộc đời này nữa, tại sao ô uế quá vậy trong mỗi suy nghĩ, trong mỗi đam mê? Cuộc đời – xuyên qua mụ Liên dâm đãng đã bị Dương Nghiễm Mậu đồng hoá với xã hội, tạo nên nhức nhối,</p>
<p><em>… Nghe tiếng động ở dưới nhà mụ Liên trườn ra ngó đầu xuống, chiếc mông trần mập đen nhô lên. Tôi đứng dậy vươn vai, buổi chiều đã xuống nhọ mặt người, đèn đường đã bật. Tiếng hát cải lương vang lên từ một nhà ở phía bên kia đường. Tôi thấy đắng miệng. Tiếng mụ Liên:</em></p>
<p><em>“Có gì lục đục ở dưới bếp.”</em></p>
<p><em>Tôi tiến lại giẫm chân lên mông mụ nhún nhún, ngó đầu xuống chân thang tối đen. Mụ Liên trở mình nằm ngửa nhìn lên, hai tai dang rộng như một kẻ bị căng ra. Sao tôi không là thằng Tây đen rạch mặt. Tôi rùng mình kinh tởm quay đi. Tiếng mụ Liên phía sau:</em></p>
<p><em>“Anh khinh tôi lắm phải không?”</em></p>
<p><em>Tôi đi đến bên chỗ bật đèn, đưa tay lên vặn, ngọn đèn sáng chói. Tôi vội tắt đi. Người đàn bà lẩn vào sàn gỗ. Sao ông Tiến (chồng mụ Liên) không về. Lúc này ông ở đâu. Nhớ tới Khang, tôi có ý muốn thăm Thục. Tiếng mụ Liên:</em></p>
<p><em>“Anh muốn bỏ tôi rồi phải không? Tôi biết anh đang mơ mộng một con nhỏ nào đó.”</em></p>
<p><em>“Thôi im đi.“</em></p>
<p><em>Tôi quát lớn rồi bật đèn sáng. Mụ Liên trở dậy đi xuống thang, tới mấy bậc mụ đứng lại, giấu người phía dưới, nhô đầu, mặt cong cớn:</em></p>
<p><em>&#8220;Mơ mộng, mơ mộng, đứa nào chả thế, bọn họ khác gì tôi. Có điều bọn nó không để anh dùng như một khúc gỗ, bọn nó có điều kiện để dùng lại anh cùng với những đứa khác. Anh biết không?</em>&#8221;</p>
<p>&#8220;<em>Câm đi, câm đi.</em>&#8221;</p>
<p>&#8220;<em>Anh sợ người ta nói sự thực ra, tôi không sợ, tôi không câm. Anh tưởng tôi không biết anh nằm với đứa nào sao. Nhưng anh chỉ làm cho nó hư hỏng và đẩy nó đi lấy thằng khác. Anh tưởng tôi yêu quý anh lắm hả… còn lâu… Tôi có chồng có con.</em>&#8221;</p>
<p><em>Tôi cáu giận đá chiếc ghế đẩu về phía mụ Liên, mụ thụt đầu xuống rồi lại ngó lên:</em></p>
<p>&#8220;<em>Anh can đảm giết tôi đi coi. Anh là một thằng hèn. Mụ Liên thụt đầu đi xuống, mụ bật đèn sáng và đi vào nhà tắm. Căn nhà trông trải và rỗng không tôi ra lan can đứng nhìn xuống mặt đường. Mụ Liên tắm xong trở lên mặc quần áo rồi đi về. Tôi ngồi lặng lẽ trong bóng tôi nghe tiếng muỗi kêu. Tôi nhớ tới khuôn mặt êm mát của Phượng, căn nhà trong buổi sớm mai…</em>&#8221;</p>
<p>(<em>Đêm tóc rối</em>, trang 35-36)</p>
<p>Sự lang chạ bất đắc dĩ này đã tạo nên thế đứng chênh vênh trong nội tâm nhà văn. Cuộc đời như vậy đó. Nó có đấy, mãi mãi còn đấy với những ung độc làm băng hoại tuổi trẻ. Dương Nghiễm Mậu như bị ném vào đấu trường, ở đó, toàn là thù hằn, oán hận. Con người phải chọn lựa vũ khí để tranh đấu, sinh tồn. Vóc dáng Quyên và hạnh phúc của nàng như một thách đố. Chưa giao đấu đã cảm thấy thua, trong lòng nổi hằn những vết roi rướm máu, nhà văn đành phải lừa dối mình bằng cách tự trừng phạt, tự phác hoạ trong ý nghĩ những hành động gớm ghiếc, dữ dằn của ông Tiến chồng mụ Liên, với vô vàn hoảng hốt, nhưng sự thực ông chồng bị cắm sừng chưa biết, vẫn yêu vợ, thương con. Bởi vậy, hình ảnh ông Tiến – hình phạt – luôn luôn ám ảnh Lễ – tuổi trẻ – như một số kiếp phụ thuộc,</p>
<p><em>… Tôi nằm im lặng tủi thân. Tôi nghĩ đến căn gác trống không, đến vẻ bình thường vui tươi của mụ Liên bên người chồng, cùng một lúc người đàn bà vẫn yêu chồng và vẫn ngoại tình trong đời sống bình thường của họ. Có nghĩa gì một cuộc dạo chơi, một cái hôn kéo dài trong đêm hay một lần ân ái say đắm. Mỗi kẻ chia mình ra, phân mình ra. Mỗi kẻ những bí ấn tràn lan chi phối ngay trong tiềm thức và sự mù tối của trí tuệ mà hoàn cảnh mỗi giây phút có thể thay đổi xoay chiều. Giờ này mụ Liên cũng đang làm những cử chỉ âu yếm những hành động yêu đương với ông Tiến, như mụ đã âu yếm yêu đương tôi. Lúc nào là thực con người mụ, lúc nào là con người khác. Bây giờ tôi cũng có thể nằm đây nghe mình rời rã, cũng có thể tôi nằm với một người khác, nhưng tôi vẫn tỉnh táo riêng rẻ, cô đơn chừng như chẳng can dự đến vật gì…</em></p>
<p>(<em>Đêm tóc rối</em>)</p>
<p>Cái cuộc sống thực mà nhà văn mơ tưởng đến, nó ẩn nấp mơ hồ với mụ Liên trong khoảnh khắc phù du, hoặc Quyên, hoặc Phượng. Từng vóc dáng như hoà trộn thành chất đặc biệt dính chặt vào ý nghĩ nhà văn nên sự nói tới một sự kiện nào đó, đều ẩn nấp bên trong niềm giận dỗi xen lẫn tiếc thương. Nó là trái đào chín mơn mởn trong khu vườn yên tĩnh của Phương, trông thấy mà không ai hái cho ăn. Nó là trái bóng đỏ bơm hơi khinh khí bay lang thang trên nền mây trắng đục. Nó là chiếc xe lăn có Phượng tàn tật ngồi trong đó với ước mơ im tiếng. Nó là Quyên với nụ cười hồn nhiên nhưng kiêu kỳ ranh mãnh. Có thể nó là nỗi thống khổ của thân phận con người sinh nhầm thế hệ với oan trái ẩn khuất không tên gọi và sự hối tiếc ngày tháng trôi đi mà định mệnh vẫn bắt buộc phải chung sống, phải nhìn nhau, phải nói năng, phải thân mật với những người mình chán ngấy, hoặc ngượng ngùng vì tội lỗi đã gieo mầm,</p>
<p><em>… Khuôn mặt ông Tiến có vẻ gì như khác lạ, mùi rượu nồng nặc toát ra từ người ông. Da mặt ông đỏ tía bị làm xám đi, đôi mắt trợn trừng. Tôi lúng túng chưa biết trả lời sao thì ông Tiến đã nói:</em></p>
<p><em>“Cậu ở nhà với vợ tôi, câu có biết con mụ đó nó lang chạ, lừa dối tôi không?”</em></p>
<p><em>Tôi rủn người toát mồ hôi:</em></p>
<p><em>“Sao? Ông nói sao?”</em></p>
<p><em>Ông Tiến lùi xa một chút, quay người rồi trở lại sát mặt tôi, chiếc áo xám đứt mất một chiếc khuy ở ngực hở ra một ít da màu đỏ, ông ta khoanh tay lên ngực:</em></p>
<p><em>“Tại sao cậu không ở lại với chúng tôi nữa?”</em></p>
<p><em>Tôi lấy lại bình tĩnh mỉm cười:</em></p>
<p><em>“Tôi cũng định nói với ông bà, nhưng sáng nay thức dậy thì ông bà đã đi khỏi, mà tôi thấy cần phải đi ngay… tôi cũng muốn ở lại nhưng vì nay tôi có nhiều giờ dạy.”</em></p>
<p><em>Tôi lấy bao thuốc cầm một điếu và đưa mời ông Tiến, ông ta gạt đi. Tôi đang nói dối, tôi đang lừa gạt.</em></p>
<p><em>“Sao cậu chưa đi?”</em></p>
<p><em>“Vì tôi vừa gặp một người bạn giữ lại một ngày nữa.”</em></p>
<p><em>“Vậy cậu biết con vợ tôi nó mèo mỡ với ai không?” Tôi muốn nói! Chính tôi đây, tôi mỉm cười làm bộ dịu dàng:</em></p>
<p><em>“Ông ghen rồi, ai bảo với ông vậy?”</em></p>
<p><em>“Cả xóm người ta nói cho tôi biết. Tôi muốn mổ bụng bọn nó. Con đĩ già khốn nạn, tôi đi làm để nuôi nó làm đĩ không công.”</em></p>
<p><em>“Sao ông không bảo họ nói thẳng xem ai. Tôi đi cả tuần mới về một chút rồi lại đi lăng nhăng. Tôi nghĩ bà nhà đứng đắn lắm…”</em></p>
<p><em>“Láo, láo…”</em></p>
<p><em>Bất ngờ ông Tiến thoi vào mặt tôi một đấm, tôi đau điếng liệng người đi.</em></p>
<p><em>“Chính mày, thằng đĩ đực…”</em></p>
<p><em>Liên tiếp ông Tiến đấm tôi thêm một cái nữa và đá tôi chúi xuống chân tường rồi xông tới nắm lấy ngực tôi chỉ vào mặt:</em></p>
<p><em>“Tao tha chết cho, tao giao con đĩ rạc lại cho mày, về mà sống với nhau. Mai tao đi rồi…”</em></p>
<p>(<em>Đêm tóc rối</em>, trang 127-128)</p>
<p>Đến bây giờ, chiếc “nút” thứ nhất mới được mở để người đọc hé nhìn thấy một thoáng cuộc đời với đoạn văn vô cùng linh động, vô cùng đau đớn, căhngr phải do những cú đấm ghen tuông của ông Tiến gửi vào mặt Lễ, nhà giáo, mà hiển nhiên phơi bày một sự thực phũ phàng có thể là đích danh, có thể là nguỵ tạo để dùng nó như một hành động phản kháng của tuổi trẻ đối với những nghịch cảnh tần gian. Cái trần gian mơ tưởng nó hình thành trong tâm trí Dương Nghiễm Mậu không phải là gượng ép hay sự thoả mãn dễ dãi, rẻ tiền xuyên qua mụ Liên, mà nó phải được hình thành với những chất liệu thật trong sáng, thật rực rỡ, thật lý tưởng dù cho có là ảo tưởng đi nữa. Do đó, sự giằng co giữa thực và mộng, giữa xấu và tốt, giữa quá khứ và tương lai vẫn chưa được nhận diện.</p>
<p>Những ngày tháng cũ nằm sâu dưới đáy tiềm thức cùng những tử thi ngổn ngang chỉ chờ đợi thức dậy và sống, sống đau xót với thực tế rồi trống rỗng. Từng ý nghĩ mệt mỏi, rã rời, từng hình ảnh u uất bủa vây xung quanh một thân phận luôn luôn khao khát tuyệt đối, muốn tìm về cho mình, cho riêng mình một giọt sương đêm tinh khiết, một thoáng hương êm ngát, một nụ cười hiền hậu và một linh hồn còn trong sáng đi vào tình yêu với mắt nhìn không e sợ tương lai.</p>
<p>Cái hình phạt nào đó đang ẩn nấp trong lương tâm nhà văn, không mang ý nghĩa thông thường của cá nhân và kẻ khác, đúng ra, nó là lương tâm xã hội, nó là một dòng sống như vậy, như thế, đang lùa mỗi số phận đi vào luồng nước lũ, đi vào guồng máy của tập thể. Sự trốn tránh thực tại của Lễ trong <em>Đêm tóc rối</em>, chỉ là hành động của con đà điểu mỗi lần gặp nguy khốin, chứ không chứng minh được cái ý nghĩa chính va đúng của con người trước đồng loại. Một cái chết thê thảm của Phương, một hình ảnh Khánh ngồi tù, một kỷ niệm phảng phất trong mõi mông lung của trí nhớ và chiến tranh còn đó với những cơn đau đứt nuối, với tang tóc vây lút cuộc sống và những giá trị linh thiêng đã ngã xuống. Thực vô lý và kỳ cục! Nhưng có ai dám nói khác đấy không phải là cuộc sống đích danh mà mỗi số phận đang sống ửo mỗi vị trí dành riêng cho mình với những phản ứng cá biệt, kể cả ông Lịch – người nghiện hút – nếu có làm mật vụ thật chăng nữa, cũng do hoàn cảnh và cuộc sống đẩy đưa, ta không thể căn cứ vào dữ kiện bên ngoài mà võ đoán xấu, tốt theo ý Dương Nghiễm Mậu.</p>
<p>Nhưng dù cuộc đời có xô đẩy mỗi cá nhân vào trường hợp nào, vào mâu thuẫn nào đi nữa thì bản chất con người vốn luôn luôn hướng thiện, vẫn muốn làm-một-cái-gì để khỏi hổ thẹn với lương tâm, dù cho sự muốn làm gì chỉ được nuôi dưỡng trong ý nghĩ. Cái đời sống giả tạo, đầy bất trắc này, mỗi con người đều muốn bứt đi, muốn vượt khỏi, để ném mình vào đời sống khác, nhưng rốt cuộc ở đâu cũng vậy, bản chất của đời sống vẫn do con người định đoạt và chi phối, vì thế, chẳng bao giờ cá nhân tìm được cho riêng mình cuộc sống lý tưởng ngay cả tình yêu mà tuổi trẻ đã luôn luôn gìn giữ như một thiêng liêng.<br />
<em>… Tai nạn nào đã đến trong những ngày chiến tranh đó, một trái bom rớt xuống, một trái lựu đạn nổ, một mảnh mortier, một tràn đum đum, một bánh xe cán ngang, một lưỡi dao chặt xuống, một căn nhà sập đổ… Bất cứ một tai nạn bình thường nào đó của chiến tranh, Phượng đã khóc. Phượng đã buồn tủi…Và Phượng chết vì sợ tôi nói: Anh yêu em, để rồi quay đi khi hai bàn chân không còn. Tôi đã phụ lực với chiến tranh, tai nạn nào đó chôn Phượng trong lòng đất với tiếng khóc của bà mẹ. Tình yêu của Quyên mang đến tàn tật, hư nát trong thân thể tôi. Cơn lốc phản bội, phụ bạc, lật lọng xoáy ngã tôi xuống những buông trôi trong khí hậu độc dược. Tình yêu của tôi không đủ sức mạnh, phép màu để đôi chân Phượng mọc ra cho Phượng bước đi bên tôi. Tại sao thế. Mọi người được sống, được hạnh phúc ra sao…</em></p>
<p>(<em>Đêm tóc rối</em>, trang 211)</p>
<p>Chiến tranh, một ám ảnh đối với mỗi tuổi trẻ, vì nó, không ai dám mơ ước tương lai, ngay cả cuộc tìm kiếm số phận cũng mất biến vào vô tận, vào cõi hư không. Khuôn mặt của Quyên, tượng trưng cho thất vọng tận cùng, vóc dáng mụ Liên, với đam mê xác thịt trong tội lỗi và cái bào thai là kết quả sau những giờ phút buông trôi đã chết, đã tan vào cát bụi từ khi chưa được thành người. Khuôn mặt Phượng đã khuất chìm trong tiếng khóc của bà mẹ, khuôn mặt bạn bè nhão nhoẹt và quả bóng đỏ đã bay lên quá cao rồi vỡ! Tất cả còn gì đâu, kể cả dòng suối tinh khiết thuở ấu thơ cũng đã cạn nguồn.</p>
<p>Tác phẩm <em>Đêm tóc rối</em> đã để lại trong lòng người đọc những chiếc hố. Trong mỗi chiếc hố, nhà văn đã cố tình chứa đựng những chất khác nhau. Người đọc có thể tuỳ theo cảm quan để nhận diện mình, nhận diện tuổi trẻ và cuộc đời qua một, hay tất cả những chiếc hố đã phản ánh một phần nào cái <em>ý thức lưu đày</em> trong tâm tư những người làm văn nghệ trẻ hôm nay.</p>
<p>Sau <em>Đêm tóc rối</em>, Dương Nghiễm Mậu hiện diện ở tác phẩm <em>Tuổi nước độc</em> bằng một thế đứng khác, thế đứng của những người trai trẻ sống trong lòng thành phố Hà Nội “tạm chiếm” vào những năm kháng chiến chống Pháp. Cái không khí nghẹn ngào tức thở của một số người quá trẻ, vì lý do này hay lý do khác phải sống chung với quân thù trong những cây số vuông thành phố, khi đó ở ngoài kia là mông mênh, là tự do bay nhảy, là chính nghĩa. Hình ảnh những người trở về thành khi ấy, dù là người thân đi nữa, ít nhiều gì cũng được đánh giá bằng nghi ngờ và cho rằng hèn nhát, sợ gian khổ, đầu hàng giặc.</p>
<p>Những chàng choai choai, mới được 15, 16 tuổi đời, nói cho đúng, họ chưa có một chút ý thức gì về chính trị và hoàn cảnh đặc biệt của nước Việt Nam lúc đó. Họ đi hay ở lại thành phố, đều theo quyết định của người lớn, do vậy, họ luôn luôn tin tưởng vào phán đoán của họ, và nghĩ rằng sự có mặt của họ trong thành phố Pháp chiếm đóng, lỗi không ở họ. Những cảnh ô nhục của vùng tạm chiếm làm họ tức tối, căm hận,</p>
<p><em>… Chúng tôi theo Hùng đi sang phía đồn đóng ở trên đê đối diện với quận. Chúng tôi men theo con đường nhỏ dưới chân đê. Suốt dọc theo hai bên lối đi hàng rào dây thép gai và cỏ dại mọc đầy. Những lính Tây rạch mặt đen như cột nhà cháy vác súng đi đi lại lại phía trong và trên những chòi cao có đèn pha, những họng súng ngó xuống. Tôi có cảm tưởng đang ở một vùng trận địa nguy hiểm mà trận ác chiến có thể xảy ra bất cứ giờ phút nào…</em></p>
<p>(<em>Tuổi nước độc</em>, trang 43)</p>
<p>Hình ảnh trên kèm theo những vụ bắt bớ, đánh đập dã man và khám xét bất ngờ làm con người đã tủi nhục càng tủi nhục hơn, đã chống đối càng chống đối mạnh hơ. Những chàng trai tuy chưa thoát khỏi ghế trung học, nhưng trong lòng đã chán ngấy sách vở chỉ muốn xông vào cuộc đời để hành động vì tự ái nhiều hơn lý tưởng,</p>
<p><em>… Những ngày tháng thảng thốt vây lấy tôi trong trống không vô nghĩa. Tôi lang thang ở ngoài đường nhiều hơn thời gian ở trong nhà, sách vở không còn làm tôi say mê, tôi không có vui chơi để khuây khoả, tất cả mọi điều thành dửng dưng buồn tẻ… Một ngày xuống Trương, chúng tôi đi ăn thịt chó, tôi uống rượu say, sức rượu của tôi không bao nhiêu, trong đêm khi trở về nhà tôi thấy chân tay tôi biến mất, trước mắt thì vô vàn những ánh sao đủ màu nhảy múa, thân thể tôi có lúc bay nhảy trong khoảng không. Tôi không hiểu sao tôi có thể mang được mình về và nhận ra cầu xe lửa, tôi mệt lả và muốn khuya xuống, tôi bám vào thành cầu đá mà bước. Tôi chợt thấy hai bóng trắng lung linh trước mắt, tới gần tôi nhận ra hai thân thể ôm sát lấy nhau dưới gậm cầu. Khối trăng di động lập lờ, tôi dụi mắt và nhìn thấy cái đầu tóc uốn quăn bù xù, sao trông có vẻ quen thuộc, tôi trấn tĩnh một chút, phải rồi, tôi nhủ thầm, đúng là bé Tàu lai, tôi chạy về lao lên gác, mở ngăn kéo tìm con dao nhíp, mở lưỡi dao lớn rồi chạy xuống trở lại chỗ cũ, tôi tỉnh táo một cách thái quá… Tôi cầm chắc con dao trong tay, tiến đến từ từ, hai bóng trắng vẫn còn cựa quậy như hai con rắn. Tôi tiến lên, túm lấy tóc thằng đàn ông phía ngoài, dí mũi dao vào khoảng lưng trần, tôi nhận thấy mình nó oằn lên. Tôi nói chắc giọng: Muốn sống đi ngay. Hắn luống cuống run rẩy buông đứa con gái ra, hắn lom khom nhặt quần áo rồi ù té chạy, đứa con gái cuống quýt chưa biết làm gì thì tôi ôm thốc lấy và đè vào thành cầu, nó kháng cự một cách yếu ớt, tôi thấy nóng như than và đứa con gái mát lạnh, tôi sờ soạng lên khắp thân thể nó và ép nó cứng vào cầu. Tôi nghĩ đến bộ ngực con bé Tàu lai thì đưa tay lên, tôi bắt gặp… Tôi hoảng hốt buông tay ra, lùi lại nhìn vào mặt đứa con gái, trong bóng tối lờ mờ, tôi nhận ra đó là một con đĩ già ở đầu cầu tôi quen mặt…</em></p>
<p>(<em>Tuổi nước độc</em>, trang 59-60)</p>
<p>Đó, cái tâm trạng trên đây phản ánh một phần tâm trạng của lớp người trẻ tuổi sống trong vòng đai Hà Nội trong khoảng thời gian mấy năm tạm chiếm. Rong chơi, rượu và đàn bà những vị thuốc giúp họ quên thực tế. Họ hành động theo bản năng, có ngoại cảnh hỗ trợ. Đôi khi họ cũng tranh luận về thái độ sống, nhưng chỉ dùng như một thứ nguỵ trang để lương tâm được yên ổn sau mỗi lần phạm lỗi lầm – cho tới một ngày, họ đã hé mở nhìn ra sự thật qua cái chết của cha Trương bị du kích xã băn chết vì ông cụ không còn tiền để ủng hộ. Thu, em Trương nhất định đăng lính dù để trả thù cho cha, trong khi Trương chưa dứt khoát nên vì tình phụ tử hay vì kháng chiến? Rồi đến những giọt nước mắt của mẹ già khóc đứa con bị công an bắt vì nghi ngờ có liên lạc với “ngoài”. Những mâu thuẫn và giằng co dồn dập đến trong kích thước trong thành phố Hà Nội, giữa lòng mỗi con người an phận hay chống đối làm tan hoàng cả một nếp sống.</p>
<p>Trong <em>Tuổi nước độc</em>, Dương Nghiễm Mậu đã dùng lý trí để mổ xẻ và trình bày những uẩn khúc của tâm lý tuổi trẻ trước những nghịch cảnh do chiến tranh tạo nên. Bút pháp có lúc sôi nổi, có khi lạnh lùng nhằm mục đích đưa người đọc vào không khí của truyện. Nhưng đôi khi vì quá say mê và cũng muốn gây cảm giác “cao độ”, nên một vài sự kiện được trình bày trở thành “quá độ” làm cho nguồn bi thương của tấn thảm kịch mất đi sự chân thành, tự nhiên của nó. Những trang độc thoại nặng nề, chứa đựng nỗi dày vò tâm cảm không thoát khỏi vòng luẩn quẩn. Hình ảnh chiến tranh với những nạn nhân, những căn phòng lạnh lẽo của bệnh viện, những kẻ tàn tật kéo lê kiếp sống một cách nặng nhọc, hình ảnh tu viện nào đấy, tượng trưng tình thương và mặc cảm sát nhân của Ngạc – nhân vật xưng tôi trong tác phẩm – đã chẳng gây nên tác động sâu đậm vào trong ý thức thưởng ngoạn, cũng như sự phản bội qua khuôn mặt Lâm, với những kinh nghiệm đắng cay của bạn bè vọng kháng chiến v.v… Nhưng sau cùng, tất cả được mở ra một cách gượng ép với một người tình – người chị họ – cùng một mầm sống đang thành hình do tội lỗi và tình yêu!&#8230;</p>
<p>Cái kết này đối với xã hội Việt Nam, đối với nền luân lý phương Đông, sự thực không ổn. Nó chứa chấp từng cơn thảgn thốt, từng niềm băn khoăn thác loạn. Đã đành, trong cuộc sống, có thể xảy ra những thảm kịch gia đình khắc nghiệt như thê hay hơn thế, nhưng nó không phải là mẫu số chung của toàn bộ nếp sống Việt Nam, nên sự hình thành của một bi kịch nào đó cũng chỉ là ngoại lệ. Đồng ý rằng, nhà văn có quyền tuyệt đối trong sáng tác, và cũng chính nhà văn chịu hoàn toàn trách nhiệm về uy quyền của mình, nhưng ít nhất, khi đặt vấn đề trước xã hội, nhà văn cũng đừng quên, sự quan trọng không phải do tác phẩm hay nhà văn, mà chính cuộc sống với những liên hệ mỗi số phận về tinh thần cũng như vật chất, đã buộc con người chịu trách nhiệm chung trong mọi tư tưởng và hành động. Do đó, khi phân tích cảm giác “phi lý” về cuộc đời, Camus cho rằng: <em>chống đối không phải là tuyệt đối phủ nhận cuộc sống vì ở đời hai mối thiện ác vấn vít nhau, trong thiện có ác, trong ác có thiện, vậy chỉ có thiện ác tương đối. </em>Bởi thế, dù ở trường hợp nào, sự mất thăng bằng cũng làm hại không ít đến tác phẩm, nhất là ở <em>Tuổi nước độc</em> với hoàn cảnh xã hội Hà Nội trong những năm 1947-1954. Người đọc tin rằng, Dương Nghiễm Mậu đã phán đoán và nhận xét nó qua lăng kính của trí tuệ một nhà văn khi viết tác phẩm này, mới ngoài hai mươi tuổi đời, do đấy, sự vội vã, không sát thực tế, và chủ quan, tất nhiên khó tránh được. Nhưng có điều cần phải nói, Dương Nghiễm Mậu hành văn rất lưu loát và không thiếu nhiệt thành trong mỗi vấn đề đặt ra trước lương tâm người cầm bút, vì nói đến quá khứ cũng để xác định thái độ trước cuộc sống hôm nay vậy.</p>
<p>Vì có mặc cảm cô đơn trước xã hội không thuộc về mình, nên lúc nào và bất cứ ở đâu, nếu tìm được môi trường vừa đủ là Dương Nghiễm Mậu dấn thân. Nhưng sự dấn thân nào cũng chỉ đưa đến thất vọng vì lý tưởng và thực tế là hai con đường chạy song song được cách ngăn bởi một vực thẳm. Hoàn cảnh Việt Nam vào những năm 1962-1963 thật ngột ngạt. Những trái bom ném xuống dinh Độc Lập báo động một cái gì sắp xảy ra cho nền Đệ I Cộng hoà và cũng từ đấy, từng luồng gió chống đối ngấm ngầm thổi đi do những tấm lòng bất mãn với chế độ lúc đó. Bánh xe lịch sử bắt đầu chuyển động từ từ rồi thăng tiến lần lần cho đến ngày 1/11/1963, vòng quay cuối cùng đã nghiến nát một chế độ sau 9 năm hiển hách.</p>
<p>Dương Nghiễm Mậu – người chứng cô đơn – đã viết ra để nói lên một phần cái động lực chính của lớp người trẻ tuổi đã tham gia hăng hái vào cuộc cách mạng cùng Phật giáo và quân đội với kết quả của nó. Nhà văn trình bày trước người đọc những mẫu nhân vật, tượng trưng cho vài thành phần của xã hội, vì lý do này hay lý do khác đã dám chống đối để ở tù, hoặc bất mãn chung thân, hoặc muốn an phận để thụ hưởng những gì do cuộc sống và chế độ đãi ngộ.</p>
<p>Khuôn mặt Thạch, một thanh niên tham gia cách mạng vì lý tưởng cao đẹp, muốn cải tạo cuộc sống bằng hành động tích cực, phải trả giá bằng tù tội. Nhưng sau khi cách mạng thành công cuộc sống Thạch mơ ước với sự thay đổi để tiến hoá, nó vẫn y nguyên nếp cũ.</p>
<p><em>… Một lần Thạch hỏi:</em></p>
<p><em>“Sau đảo chính chắc có thay đổi, người mới, người cũ.”</em></p>
<p><em>Đang ngồi, Thuần giơ cả hai tay lên:</em></p>
<p><em>“Thay đổi cái gì, họ là công chức mà!”</em></p>
<p><em>“ Là công chức là không có gì thay đổi?”</em></p>
<p><em>“Thay đổi, cậu cứ nghĩ là thay đổi sao, họ là công chức thì vẫn là công chức chớ. Hồi Tây họ làm công chức, thì thời Bảo Đại họ cũng làm công chức, thời ông Diệm cũng vậy, bây giờ ông Diệm chết rồi thì họ vẫn là công chức…”</em></p>
<p>(<em>Phấn đấu</em>, trang 20)</p>
<p>Thật ngao ngán và bi đát – qua lời phát biểu trên – cho những ai hy vọng nhiều về cách mạng! Hoàn cảnh chẳng phải chỉ có thế. Nó còn vùi dập theo bao nhiêu số mệnh khác và làm thui chột từng nguồn hy vọng vừa được nhen nhúm trong tâm tư những người yêu nước. Hình ảnh Sương, người con gái đã hy sinh theo tiếng gọi tranh đấu để xây dựng lại một xã hội quá mục nát vì “độc tài” và “gia đình trị” này. Nàng đã chống lại tất cả, quyết sống chết với Cách mạng, để rồi bị hãm hiếp trong tù đến mang thai. Cái bi kịch, nhà văn tạo ra trong tác phẩm không phải chuyện ngẫu nhiên, đích thực, nó là những dữ kiện lịch sử, nhà văn chỉ ghi nhận rồi tiểu thuyết hoá nó một phần để gây xúc động. Lời răn dạy đầy phẫn uất của người bố, đã phản ánh trung thực tâm lý của một hạng người cầu an, tự phụ,<br />
<em>… Mày tranh đấu cho ai, cho cách mạng, cho Phật giáo, cho dân tộc, thật là đẹp đẽ huy hoàng, nhưng ai chịu mang cái bào thai cho mày, ai chịu đánh đập, tù tội cho mày, rồi ai sẽ cưới mày làm vợ, ai nuôi con mày… Còn tao, thì tao vẫn là giáo sư, không cần tao được ư? Còn lâu con ơi? Vì tao có bằng cấp, thiếu những người như tao ai lên tiếng ủng hộ, ký kiến nghị và dạy cho bọn bay… Chúng mày muốn là anh hùng thì cho chúng mày chết, tao bảo không nghe đừng trách nữa, các con ạ, các con nên biết như thế…</em></p>
<p>(<em>Phấn đấu</em>, trang 29)</p>
<p>Lời nói đó đối với tuổi trẻ, không phải là bài học khôn do người lớn dạy bảo, nó là điều sỉ nhục, nhưng ác hại thay lại hợp lý! Vì mọi giá trị đã sụp đổ trong một tổ chức quá cũ, trong một xã hội không tiến bộ, việc đi tìm căn bản mới, giá trị mới, có thể còn là sự viển vông trong một giai đoạn dài nữa.</p>
<p>Những dòng của Vĩnh – một quân nhân trẻ – viết trong tù, đã chứng minh đầy đủ những gì cần phải bày tỏ trước công luận về ý thức cách mạng và hoàn cảnh cách mạng tại miền Nam trong năm 1963 và tiếp nối,</p>
<p><em>… Nhớ nhà, nhớ bạn… nằm đây tự giết mình dần dần. Cái chết của Trung: đóng trong một đồn biên giới nhận tiếp tế từ máy bay, ba tháng liền không ai rời khỏi tay súng, những lá thư của Trung còn đó, nhưng Trung không còn nữa. Đồn đã bị vây khốn. Trung chết trong đồn, quân tiếp viện lên tới nơi chỉ còn để đưa Trung về trong quan tài im lặng. Những tiếng khóc. Trung ơi! Mười mấy cái huyệt đào sẵn trong nghĩa trang, mỗi lúc đều có người chết, người hấp hối. Anh em mình đang chết dần, chết dần. Mỗi người còn sống đều có những cái tang trong chiến tranh chua xót. Mỗi người đều có thể chết bất cứ lúc nào. Chết cho cái gì? Đánh cộng sản giữ nước. Nhưng nước ấy cho ai, cho anh em ông Diệm an hưởng ư, cho một xã hội thối nát, xôi thịt, cho bọn buôn bạc giả dư tiền, dư địa vị sống sung sướng trên xương máu những chiến sĩ ngoài mặt trận ư? Trung ơi! Trung ơi! Chúng ta chết như nhau, sẽ chết hư… sẽ chết không nhắm mắt được, mãi mãi…</em></p>
<p>(<em>Phấn đấu</em>, trang 51-52)</p>
<p>Đây là lời trối trăn cuối cùng của một chiến sĩ đã nhìn rõ cuộc đời? Đây là tiếng ai oán, phẫn uất của một tấm lòng quá yêu nước Việt Nam đang gào thét lên sự thật cho mọi người Việt Nam cùng nghe? Đúng, nó là sự thực. Chính vì sự thực đó mới tạo nên cách mạng, còn kết quả cách mạng ra sao lại là việc khác. Do thế, khi nhìn thấy sự hy sinh của từng lớp người, của những lớp người cho đại cuộc, không gặt hái được kết quả mong muốn, Thạch – nhân vật đại diện tuổi trẻ – đã tỏ thái độ với tuổi già: <em>Tôi mong những người già sống ở đây hãy chết đi cho chúng tôi còn được kính trọng bằng ảo tưởng.</em> Thái độ được tỏ bày qua lời nói, một lời nói trong lúc nóng giận, để sau này, khi sự diễn tiến cuối cùng của cách mạng làm sáng tỏ quan niệm của ông Nguyễn – đại diện lớp già – là đúng. Điều này được thể hiện qua sự gặp gỡ giữa Trần Minh Đạo (người cùng ngồi tù với Vĩnh) và Thạch. Cái thế của một tiểu nhược quốc không cho phép người ta hành động quá sức của nó là như vậy.</p>
<p>Thạch còn đó. Sương còn đó với một bào thai trong khung cảnh cao nguyên, mưa bay mờ thung lũng và tương lai nào, dĩ vãng nào, với muôn vàn nhục nhằn bùng nhùng trong tâm trí!</p>
<p>Dương Nghiễm Mậu có cái nhìn rất sắc và rất sâu trong mỗi vấn đề được đặt ra. Nội dung đều gói ghém những đớn đau uất hận không phải được hình thành bởi sáng tạo mà do cuộc sống thực tại đã tác động vào tâm thức. Có người cho rằng, Mậu đã bi thảm hoá quá đáng cuộc sống vì cuộc sống đâu có phải chỉ gồm toàn đau thương, uất hận? Cuộc sống là kết quả của muôn vàn dữ kiện tạo nên mâu thuẫn, rồi từ mâu thuẫn qua đấu tranh để sinh tồn trong mọi trường hợp, mọi hoàn cảnh dù ôn hoà hay đẫm máu.</p>
<p>Bất cứ cuộc tranh đấu hay suy luận nào, sớm hay muộn cũng đưa con người tới mệt mỏi, nhất là khi nhìn thấy cuộc sống vẫn được tiếp nối bằng nhàm chán sau những cố gắng phải có, nhưng quả tình vô ích. Để trốn tránh sự gay gắt quá đỗi của thực tại, Dương Nghiễm Mậu đã du hồn vào vòm cong trí tuệ. Cái khung trời mộng ảo mà Mậu phác hoạ trong tâm trí, có thể, nó là quá khứ với những nhân vật và không khí thuộc lịch sử hay huyền sử, có thể, nó là những ẩn dụ nấp sau những từ nhưngữ, người đọc cần soi tỏ để nhận về phần mình sự hứng thú qua tác phẩm <em>Nhan sắc</em>. Nhân vật Phạm Thái trong truyện “Người tình của Trương Quỳnh Như” được dùng như biểu tượng của kẻ sĩ trong thiên hạ. Từng bát rượu lớn uống một hơi đâu còn cái thú của nghệ# thuật uống rượu, mà chỉ nhằm dùng chất men để giải toả nỗi buồn thiên thu, đang ngự trị trong một tấm lòng chứa chấp đầy ắp ưu phiền.</p>
<p>Cuộc đời là đại mộng. Công danh, phú quý và cả cái chí hướng của kẻ nam nhin muốn đem tài năng để xoay lại vận trời, những hỡi ôi! Định mệnh đã an bài từ kiếp nào để đến nỗi kẻ anh hùng phải thốt ra lời cay đắng: <em>chí lớn trong thiên hạ không chứa đầy cặp mắt mỹ nhân!</em> Và túi thơ, bầu rượu, trăng nước, trời mây, sông biển, cả thời gian nữa sẽ nguôi ngoai tâm sự, làm băng hoại một thời khí phách! Dương Nghiễm Mậu đã khoác lên vai Phạm Thái chiếc <em>áo choàng hiện tại</em> để bày tỏ những suy tư thầm kín của tác giả.</p>
<p>Từ kẻ sĩ bất đắc chí, nhà văn đưa người đọc qua trạng thái khác, trong câu chuyện “Một người lên núi”. Cái nhân sinh quan, nhà văn tỏ bày trong truyện, chịu ảnh hưởng của triết thuyết Lão Trang. Cái Có, cái Không, cái Còn, cái Mất đều là hư ảnh. Con người chẳng là gì đối với Vũ trụ, nếu chưa nhận thức được lẽ vô vi và câu <em>Trời đất vô tình</em> của Lão Tử. Hình ảnh của Vương Tiên Sinh và mẹ già, em dại, cam chịu vướng mắc vào thế luỵ tương phản với hình bóng lập lờ, huyền ảo của một con người không được nhận diện đích danh, lừng lững đi vào siêu thoát của trường mộng. Đó là ảo ảnh hay tinh thần bất biến của cái Đẹp đang chập chờn bay lang thang giữa Thực và Mông, giữa cuộc đời và nghệ thuật?</p>
<p>Có lẽ, những thất bại thực tế đã làm Dương Nghiễm Mậu thấm đau tự đáy lòng, nên mỗi truyện trong tập <em>Nhan sắc</em> đều hàm chứa sự bất lực của thân phận con người trong mỗi hoàn cảnh. Làm cách mạng, yêu cách mạng với một ý hướng cao cả, như một gã si tình say mê nhan sắc. Vẻ đẹp của một bông hoa, một mỹ nhân hay cố định lý tưởng nào, khi nó đã quyến rũ và twong phù với ý muốn con người, thì dù cho có phải vì nó mà chết cũng cam lòng! Cái chết đó để dành cho những người biết đi tìm tuyệt đối trong tương đối. Nó được Dương Nghiễm Mậu mượn xác lịch sử thời Cao Bá Quát và thầy khoá Nhâm cùng người khác-vô-danh đã-biết-chết một cách anh hùng, liệt sĩ cho cái đẹp cao cả.</p>
<p>Rồi đến truyện “Từ Hải và cuộc phiêu lưu của đời chàng”, cũng được nhà văn dùng như chất liệu để tỏ bày thái độ hay gửi gấm tâm sự? Từ Hải, vị anh hùng hay tên du côn? Từ Hải dưới nét bút Nguyễn Du, đích thực Từ Hải anh hùng “dọc ngang nào biết trên đầu có ai?” nhưng qua lý luận của nhà văn, Từ Hải có thể là tên du côn, nhưng tên du côn có ý thức, biết chống bất công và thối nát, biết yêu, biết sống. Hơn nữa, Từ Hải không chiết vì toán quân phục kích của Hồ Tôn Hiến. Từ Hải <em>chết đứng giữa trận tiền</em> là Từ Hải giả đó thôi. Nhưng sự trở về của Từ Hải có thực sự cần thiết đối với nhà văn? Có lẽ là một cần thiết, để nhà văn mượn có giãi bày suy nghĩ, để gợi lên ám ảnh trong tiềm thức, để chứng minh sự tiếp nôi không ngừng của lịch sử đấu tranh, và cái <em>“biểu tượng anh hùng”</em> như một lưỡi gươm, một hình phạt treo lơ lửng trước lương tâm mỗi con người đê tiện. Và Kim Trọng, Thuý Vân với những lời van xin, năn nỉ của Thuý Kiều có phải chăng là niềm ăn năng, sám hối của một lỗi lầm, của những lỗi lầm do bả vinh hoa cám dỗ để đưa mỗi số phận chìm sâu địa ngục?&#8230;</p>
<p>Truyện “Kinh Kha”, “Con chuỷ thủ” và “Đất Tần bất chắc” cùng mang ước lệ, nhưng ở đây, với niềm băn khoăn chọn lựa giữa hai ngả: sống , chết. Kinh Kha người dũng sĩ thời Chiến quốc tượng trưng lòng căm thù giữa giai cấp bị thống trị và Tần Thỉ Hoàng một bạo chúa, tượng trưng cho giai cấp thống trị tàn ác, dã man. Nhưng đau đớn thay, chính vì bạo tàn mà Tần Thỉ Hoảng mới thống nhất và cai trị được nước Trung Hoa mông mệnh. Người đọc sững sờ trong những lời đối thoại giữa Tần Thỉ Hoàng và Kinh Kha qua câu chuyện kể giữa hồn ma Kinh Kha và Cao Tiệm Ly,<br />
<em>… Nhà ngươi không sợ chết sao? Tôi bảo, nếu tôi chết sẽ có kẻ khác noi theo, cho đến khi nào giết được nhà ngươi. Vua Tần dằn giọng: Thôi ta chịu chết, nhưng ta hỏi nhà ngươi: </em>Giết được ta rồi nhà ngươi làm gì với nước Trung Hoa này?</p>
<p>“<em>Bây giờ hắn ra sao? Anh chưa giết hắn?”</em></p>
<p><em>“Chưa, nhưng hắn ở trong tay tôi, lúc nào muốn giết thì giết, có điều tôi muốn biết:</em> Thái tử Đan sẽ làm gì với một nước Trung Hoa sau khi tôi đã giết hắn?&#8230;”</p>
<p>Câu hỏi đó, hình như Dương Nghiễm Mậu đặt ra cho nước Việt Nam sau cái chết của ông Diệm? Nhưng cái mẫu anh hùng của Dương Nghiễm Mậu, nó chỉ là một hình thức, một biểu tượng và luôn luôn cô đơn – như tuổi trẻ hôm nay. Nó nghư ngọn nến nhỏ trong đêm tối mịt mùng với giông gió chập chùng đe doạ, bởi vậy, mỗi hành động, mỗi suy tư được tỏ bày cũng mang sẵn bên trong sự tan rã, tuyệt vọng do chính nó tạo ra.</p>
<p>Truyện “Gậy thần và sách ước”, niềm bi phẫn cuối cùng của tập <em>Nhan sắc</em>, Dương Nghiễm Mậu không còn biết tin vào cái gì nữa, đứng cho vơ giữa cuộc sống bao phủ đầy giả dối, ươn hèn và độc ác. Những giá trị người đời ca tụng, sự thực nó cũng chẳng đáng gì, cũng chỉ là hư danh, phù phiếm! Nhưng chẳng lẽ ngày ngày nhìn thân phận trôi vào hư vô như kiếp sống cỏ cây, Dương Nghiễm Mậu tìm về cho riêng mình một chân lý, một ý hướng qua câu chuyện nhuốm màu triết học để đi tới kết luận: con người lành hay dữ, xấu hay tốit đều do mình quyết định không phải do hoàn cảnh và kẻ khác.</p>
<p>Nhưng người đọc tin rằng, tập <em>Nhan sắc</em> chỉ là nguyên cớ để Dương Nghiễm Mậu rời xa thực tại một khoảng Thánh Thể nào đấy. Con đường đó tuy đẹp, nhưng không thuộc về Dương Nghiễm Mậu.</p>
<p>Dù cuộc đời có mặt với bao nhiêu thê thảm, dù định mệnh là sự kiện khắc nghiệt, dù đôi khi Dương Nghiễm Mậu muốn một mình bay bổng lên cao để mặc thời gian đẩy đưa đến thì đến, dù cho thối nát, sa đoạ, bất công có làm mỗi số phận phải ê chề tủi nhục nhưng Dương Nghiễm Mậu vẫ nmuốn vì nó mà hành động, mà chung vui, chung buồn với nhân thế.</p>
<p>Tác phẩm <em>Ngày lạ mặt</em> là tiếng khóc, là phẫn nộ hay sự chua xót đang len lách dày vò trong tâm cảm nhà văn. Nội dung câu chuyện do cô học trò tên Hoàng yêu thầy dạy mình, và tự nguyện thoả mãn lời ước mong của người tình – muốn có một đứa con. Thầy Lĩnh có đạo và đã có gia đình. Hoàng tôn thờ tình yêu mà nàng cho là lý tưởng, mặc kề gia đình, dư luận! Câu chuyện xảy ra ở một thành phố miền duyên hải, khi còn luật gia đình.</p>
<p>Thầy Lĩnh ra toà, không chối cãi. Toà xử lằng nhằng. Trong khi đó Dũng – một quân nhân – bạn học xưa của Hoàng, yêu nàng tha thiết, Dũng uất hận muốn giết thầy Lĩnh – người thầy cũ – vì đã cướp tình yêu của mình. Ông nghị Vĩnh – bố Hoàng – thiếu tư cách không được kính trọng. Hoàng có mang với thầy Lĩnh. Cuối cùng, vợ chồng thầy Lĩnh điều đình với ông nghị Vĩnh, xin bãi nại. Vì quyền lợi tranh cử, ông nghị Vĩnh bằng lòng. Rồi vợ chồng thầy Lĩnh sửa soạn đi ngoại quốc. Hoàng một mình ngất ngư với cái bào thai.</p>
<p>Sự đam mê của Hoàng – một trò gái ngây thơ – với ông thầy học đã có gia đình và đứng tuổi, phải chăng là vấn đề cần đặt ra trước xã hội – qua văn chương – một bằng chứng hiển nhiên rằng, mỗi con người chịu trách nhiệm về phần hành của nó? Không lẽ, chỉ vì lòng mơ ước có một đứa con mà thầy Lĩnh đã phá hoại đời người con gái, học trò mình? Vấn đề đặt ra ở đấy, chứ không phải ông nghị Vĩnh, hoặc Quân hay Dũng – kẻ si mê trong thất bại! Cái tâm trạng bi thương của những kẻ muốn làm anh hùng hay vĩ nhân trong khi mình chỉ là hạt cát. Tâm trạng Hoàng cũng vậy, cho rằng mình đã yêu, đã hy sinh, nhưng rốt cuộc chẳng biết sự hy sinh đó mang lại ngưỡng mộ nào, ngoài đổ vỡ. Những trang nhật ký hay lời thú tội của một hành động sai lầm? Tình yêu của tuổi trẻ là tốc độ, là đột biến không thể dự tính được,</p>
<p><em>… Tôi nói: Tôi yêu thầy Lĩnh. Tôi biết thầy là người có đạo, có gia đình… nhưng tôi yêu thầy. Chính tôi đã chọn vậy…</em></p>
<p><em>… Tôi biết đây là mối tình vô vọng, cả hai chúng tôi đều biết như thế, nhưng không ai chịu ngừng, như một chuyến xe xuống dốc, chúng tôi nhắm mắt lại, những lo âu, thảng thốt chợt đến, những hãi hùng chợt hiện, những giọt nước mắt, những lời thú tội với chính mình, chỉ có vậy. Tại sao tôi lại lựa chọn vào hoàn cảnh ấy?</em></p>
<p>(<em>Ngày lạ mặt</em>, trang 11)</p>
<p>Sự lựa chọn tình yêu nhiều khi do bất ngờ của định mệnh. Nhà văn Malraux khuyên con người nên can đảm trước định mệnh, nhưng tự thâm tâm, Malraux đã cảm thấy một cách thê thảm rằng: vũ trụ chẳng liên quan gì đến con người cả. Nên sự thống khổ của Hoàng trong những trang sách <em>Ngày lạ mặt</em>, nó không thể thực hiện bằng cách nào khác hơn là con <em>vật tế thần</em>, để trình bày một khía cạnh đang cấu xé lương tâm nhân loại.</p>
<p>Cuốn sách mở đầu và khép bằng những trang nhật ký chứa chấp trọn vẹn cái đau, cái nhục và mỉa mai thay, cả cái tự ái của tuổi trẻ cố tìm những lý lẽ để bào chữa tội lỗi,</p>
<p><em>… Tôi chỉ là một đứa con gái tồi tệ. Nhưng sao tôi lại không thể nói với họ, tôi tồi tệ vì tôi là con của một người tồi tệ, người của một xã hội tồi tệ, làm sao tôi không tồi tệ được trong một xã hội hoàn cảnh như thế. Tôi yêu một người, có gì đâu. Còn những ông X., ông M. những người đồng chí của cha tôi đó cùng với tên tài xế đã bắt hiếp cái con gì đó trong nhà chứa xe hồi nào thì sao. Con nhỏ phát điên vì ghê tởm chạy như con chó dại trong thị xã đó thì sao. Có thực là nó đã lao mình xuống biển rồi giạt vào bờ không, hay một kẻ nào đó muốn xoá đi dấu vết tội lỗi của mình? Họ đã xoá được và đêm ngủ mới yên tâm? Có thể lắm…</em></p>
<p>(<em>Ngày lạ mặt</em>, trang 161)</p>
<p>Tiếp theo là việc từ chối đề nghị phá thai để khỏi mang tiếng cho gia đình, một gia đình không mấy hãnh tiến về mặt đạo đức của ông nghị Vĩnh. Cuối cùng, Hoàng – người nữ sinh – cương quyết chọn con đường mình đã định,</p>
<p>… Tôi không muốn sống bằng ảo tưởng. Bây giờ tôi phải lựa chọn đương đầu… Tôi sẽ là một người mẹ, tôi phải nuôi con trong tình cảnh đơn độc của mình.</p>
<p>… Tôi nghĩ tới Dũng, bây giờ tôi muốn cầu cứu với Dũng, Dũng có còn yêu tôi, muốn sống với tôi khi biết tôi có mang không, chàng có thương yêu một đứa con không phải của mình không, tôi không muốn lừa ai, nhưng tôi muốn có một người thương yêu mình, giúp đỡ, san sẻ với mình. Tôi hiểu hoàn cảnh của thầy Lĩnh, tôi không oán trách người, tôi muốn giữ lại những gì mà người đã để lại cho tôi…</p>
<p>Một quãng đời đã trôi qua, đã chấm dứt phải thế không, Hoàng rồi mày phải sống ra sao? Tôi đang khóc cho tôi đây…</p>
<p>(Ngày lạ mặt, trang 170)</p>
<p>Kết luận như tên có phải là một kết luận hợp tình? Có phải nó được giải quyết một cách thoả đáng và hợp lý?</p>
<p>Tội lỗi cũng như hình phạt được nhà văn đặt ra như một phi lý, một bất công, quả là nặng nề đối với thân phận người con gái. Rồi còn những ngày tháng trước mặt, rồi còn những ám ảnh và mặc cảm, đã dễ gì vượt thoát được, dù cho với sức mạnh của tâm linh có tình yêu hỗ trợ!&#8230;</p>
<p>Dương Nghiễm Mậu, nhà văn ý thức được luật sống và sau những năm dấn thân vào nghề cầm bút đã thấu rõ cương vị của văn chương trong xã hội. Viết văn không phải để thoả mãn hoặc dương danh mình trước cuộc đời, chính thực để nói lên những cái gì mà lương tâm chân chính của con người cần phải tỏ bày trước công luận. Bởi vậy, ngoài những truyện dài, Dương Nghiễm Mậu viết rất nhiều truyện ngắn đã in thành sách như: Đôi mắt trên trời, Kinh cầu nguyện, Quê người, Ngã đạn v.v… và tập bút ký Địa ngục có thật viết về cuộc tàn sát của cộng sản trong đợt tổng công kích Tết Mậu Thân tại Huế.</p>
<p>Mỗi truyện ngắn của Dương Nghiễm Mậu là một bức tranh tâm cảm, ở đó, bao giờ nhà văn cũng khơi động tình thương, dù cái tình thương ấy ở trong một hoàn cảnh khó thương. Những thắc mắc và ưu tư về cuộc sống góp mặt với từng dữ kiện hiển nhiên xác thực, hằng ngày qua báo chí, nhiều khi còn tồi tệ hơn những dữ kiện được sáng chế do óc tưởng tượng của nhà văn. Tuổi trẻ và nỗi cô đơn là mối dày vò thường xuyên trong mỗi suy nghĩ của những người lớn lên trong chiến tranh và chính chiến tranh đã nuôi dưỡng, giáo dục họ bằng những ngọn roi dính máu.</p>
<p>Lương tâm nhà văn chỉ là một chiếc gương bé nhỏ phản chiếu lại một trạng huống, một nếp sinh hoạt nào đó đã in hằn chứng tích trong mỗi suy nghĩ về sự góp mặt của mình giữa hoàn cảnh đã được hình thành như vậy. Sự chối đối hay im lặng đều vô ích! Con người cầm bút phải biết dùng khả năng và tài năng chuyên biệt để chế tạo thành chiếc gương riêng, cho xã hội nhìn vào đấy, nhận diện lẫn nhau trong một kích thước hạn định. Sứ mệnh của nhà văn hôm nay không phải là nhân chứng mà phải nhập cuộc, vì có nhập cuộc mới xác định rõ ràng rằng: chiến tranh, lo sợ, buồn rầu, đam mê và tuyệt vọng có phải là lẽ sống duy nhất của cuộc đời hôm nay không?</p>
<h2>Dương Nghiễm Mậu: cuộc đời tình cờ</h2>
<h4>Nguyễn Vy Khanh</h4>
<p>Trong thế giới tiểu thuyết Dương Nghiễm Mậu (sinh năm 1936), con người hãnh tiến trong cô đơn sau khi đã phải cúi đầu nhận chịu thân phận làm người. Tuổi trẻ tự cho sống lầm thời, phải hy sinh, đánh mất, lạc đường, không có quyền định đoạt, nhưng phải lựa chọn. Từ địa ngục đó, người tuổi trẻ phản kháng với ý thức nhập cuộc và phẫn nộ cuộc đời làm đau nhức. Cuộc đời là khoảng trống :&#8221;&#8230; khoảng trống bao la ấy đau buốt, nhức nhối trích vào cơ thể anh từng giây từng phút ngột ngạt, tức tưởi lay động choáng váng tim óc. Anh đã đánh lừa và mang em đến với anh. Em đã chịu đựng sự có mặt của anh &#8211; nhưng đến bây giờ em không còn đủ sức chịu đựng nữa &#8211; em lên tiếng, như đám đông lên tiếng cho anh nhận ra anh&#8230;&#8221;. (Niềm Đau Nhức Của Khoảng Trống, là một trong sáu 6 truyện ngắn của tập<em>Cũng Đành</em> do tạp chí <em>Văn nghệ</em> xuất bản năm 1963. Toàn chuyện bi-đát ngả đầu gối lên bóng đêm mái đầu suy nhược của mình, một tra hỏi về thân phận con người ở vào một thời đại mà mọi giá trị luân lý bị đảo lộn. Vô luân, phi luân hay một kiếm tìm luân lý mới!</p>
<p>Niềm Đau Nhức Của Khoảng Trống là sự tình cờ phải đến nhắc nhở Hạnh cái thân phận có cái bướu ngày càng lớn, &#8220;thấy nó hiện hữu giữa đời sống. Điều mà khi tôi yêu nàng &#8211; khi mà tôi yêu tôi &#8211; tôi bỏ quên nó, tôi không quan tâm đến&#8221; (tr. 13). Đêm dạ hội bạn mời nhưng người yêu chàng, Thúy, từ chối không đi vì cái bướu của chàng, và tuyệt tình với chàng, cho đến lúc đó vẫn yêu thân với chàng thật tự nhiên! &#8220;Anh ạ, em không tới với anh được đâu, sao cái bướu của anh lại lớn quá thế&#8230;&#8221; (tr. 13). Dù sao, &#8220;anh chỉ mang một mình anh tới đó như một sự lạc lõng bỏ quên không ai quan tâm&#8230;&#8221; (tr. 11). Và khiến chàng nhớ lại lời người bạn có lần đã bảo &#8220;Cái mặt mày kỳ cục và quái gở như thời đại này&#8221; (tr. 17). Nỗi đau nhức thân xác trở thành niềm đau nhức của có trở thành không, của có như một &#8220;phiến loạn&#8221; &#8220;không muốn yên thân&#8221; &#8211; đừng lớn ra nữa! Cái có khiến thân phận Hạnh thành &#8220;khỏng trống bao la&#8221;, &#8220;anh hốt hoảng ở giữa khoảng trống vây quanh anh đã lấp liếm che đậy&#8221; (tr. 29). Niềm đau nhức tư day đưa Hạnh nhận chân ra mình. &#8220;Anh là một quá khứ, một chứng tích của đời sống. Một hải đảo cô đơn ngàn đời &#8211; bởi nó công nhận niềm đau buốt của khoảng trống, từ khước đám đông, thức giác niềm đối kháng với một bộ mặt vô hình nhìn xuống đời sống&#8221; (tr. 31), nhờ vậy &#8220;anh biết anh là gì. Anh hơn đám đông vây quanh, bởi anh ý thức được sự có anh, mọi người coi họ có mặt &#8211; nhưng là một sự có mạt hư ảo, không thấy mình. Người ta từ khước anh &#8211; điều đó không cần thiết khi anh đối với anh đã là sự có mặt hằng cửu. Anh biết anh là anh. Anh có toàn quyền về thân anh (&#8230;) Anh đứng đây một mình với lòng kiêu hãnh của anh&#8230;&#8221; (tr. 30-31). Kha trong Cũng Đành kém kiêu hãnh hơn, bỏ kháng chiến về thành sống chui nhủi đi móc rác và sống vớ gái giang hồ để cuối cùng bị bắt tra khảo về quá khứ. Kha có lẽ hài lòng với cái chết phải đến!</p>
<p>Bồn Cát Tuổi Thơ &#8211; tức Rượu Chưa Đủ là truyện ngắn đầu tay đăng tạp chí <em>Sáng Tạo</em>, vẫn được Mai Thảo (1) nhắc đến như  một khám phá tình cờ thích thú, là chuyện ba chị em mồ côi di cư nghèo, người chị bệnh nặng, hai anh em còn lại, người anh đi kèm trẻ trong một gia đình Ấn-độ, hay ra công viên chơi đắp đất với trẻ con ngôi nhà mơ mộng của tuổi thơ, hay nhớ về Hà Nội hay một về nguồn, điểm tựa thiếu vắng! Cuối cùng người anh đến đón em ở viện tế bần về; để sống với nhau, những người thân cuối cùng còn lại sau những đổ vỡ của một Hà Nội nay đã thật xa xôi. Tan tác, mồ côi, nhưng &#8220;chúng tôi không thể đổ lỗi cho ai được khi chúng tôi tự coi mình là Thượng đế&#8221; vì &#8220;cuộc sống ngày nay mất đi những tham dự của sức mạnh siêu hình mà người trước tin cẩn để sống. Nhưng có lẽ thái độ can đảm liều lĩnh ấy khiến cho chúng tôi đau đớn hơn&#8221; (tr. 67). Trong Tiếng Động Trên Da Thú, con người không có cả tên để người đời gọi. Và trong Làm Thân Con Gái, &#8220;con người có quyền về nó&#8221;, yêu hay bỏ phải chăng là một hành động tự do. Nhung, nhân vật nữ dù thất bại hay gục ngã trên đường đời và đường tình, lúc nào cũng sẵn sàng bước tới, dấn than mà đi :&#8221;Tôi thấy mọi người đáng khinh. Tôi phải sống để khinh họ. Luân lý, tập quán, thói lề hay gì gì nữa đều bất lực với tôi&#8230;&#8221; (tr. 116).</p>
<p><em> Gia Tài Người Mẹ</em> (1963) viết  đăng trên tạp chí <em>Văn Nghệ</em> từ 1961, truyện như một ngụ ngôn, viết về cuộc chiến tranh &#8220;sắp&#8221; tới hồi &#8220;bi thảm&#8221;, &#8220;gửi đến người cùng thời&#8221;, &#8220;tâm bút&#8221;, &#8220;câu chuyện viết về những người khác đã trở thành tâm sự của chính mình&#8221;, như tác giả viết trong Thay lời bạt. Người mẹ hấp hối trên giường bệnh, cạnh năm đứa con từ hai đời chồng và đứa thứ năm là kết quả hãm hiếp của một tên lính lê-dương, và một đứa cháu với U Tám, người làm, có đứa bà đã viết thư gọi về. &#8220;Căn nhà yêu dấu tôi đã sống được bao nhiêu năm êm ấm với hạnh phúc, cũng như buồn khổ và xa các&#8217;&#8230;&#8221; (tr. 7) có thể là hình ảnh đất nước, ngưòi mẹ là mẹ Việt Nam, con cái thì nhiều khuynh hướng. Người chết là quá khứ, là lịch sử oai hùng hay oan khiên, và đám đông vây quanh nhà là thế lực ngoại bang. &#8220;Các con trở về đây, tiếc rằng Mẹ không còn gì để chia cho các con. Không còn một chút gì nữa để cho các con làm của riêng &#8211; tất cả chỉ còn một căn nhà trống không, mục nát và già nua (&#8230;). Gia tài của mẹ là đời sống của mẹ đã trải qua những ưu phiền, buồn bã, đau nhục, đắng cay cùng những niềm vui, hân hoan và hy vọng. Gia tài của mẹ là đời sống của các con&#8221; (tr. 115-116). Người mẹ là hình ảnh tăm tối của đất nước Việt Nam vào nửa sau thập niên 1960, cũng là sợi dây nối kết những chia rẽ vì hận thù và tham vọng, ngộ nhận, vì các phần tử dù đã rời ra, vẫn có những sợi dây huyết thống với người đang hấp hối. Họ sẽ bị thêm thử thách khi đám đông vây quanh ngoài cửa đe dọa chia rẻ các con thành nhiều &#8220;đám người&#8221;, củng là thế lực muốn &#8220;chiếm căn nhà? giết mẹ? giết các con?&#8221; (tr. 114). Và gánh nặng của quá khứ, của tổ tiên &#8220;đã lầm lỡ sai lạc và bất lực quá nhiều để cho các con phải chịu quá nhiều ngộ nhận, quá nhiều đau khổ, bất hạnh&#8221; (tr. 115).</p>
<p>Kết cục là một nối kết hợp quần trước khi thảm kịch hạ màn! &#8220;&#8230; Sự mù tối của thực tại, của dục vọng, của thành kiến đang làm người sống lạ mặt thù oán, tranh dành. Sự ti tiện nhỏ mọn trước mắt đang làm chúng ta bị cuốn đi trong cơn lốc (&#8230;) Anh sinh ra không phải để thù oán, ganh ghét, cạnh tranh một thứ gia tài đã già nua gần như vô dụng mà sinh ra để lập lấy gia tài của mình&#8221;. Vì chưng &#8220;trời còn tối mù &#8230; bao giờ cho chúng ta được nhìn thấy mặt nhau&#8230;&#8221;, tệ hơn nữa, &#8220;chúng ta đang ở bờ vực, trước đe dọa. Chúng ta phải lựa chọn&#8230;&#8221; (tr. 116). Một tiếng kêu thương sau một cuộc chiến gian và trước một đối đầu ý thức hệ khác tàn độc và phủ phàng hơn!</p>
<p><em> Tuổi Nước Độc </em>(1965), trở lại không gian Hà Nội thời hồi cư, trước hiệp định Genève 1954. Tâm trạng của những người thanh niên ray rứt suy tư về đất nước, về &#8220;đất&#8221; sống, về chiến tranh và con người. Suy tư hơi nhiều đưa đến độc thoại và đâm ra lạc hướng có thể cố tình. Suy tư tranh luận trở thành ngụy tín, họ sống cho bản năng và sống còn : ăn chơi, đàn bà và rượu. &#8220;Nếp&#8221; sống đó sẽ bị rúng động với chiến tranh đến gần, những người thân và những biên giới chính trị dằng co, mâu thuẫn. Truyện cuộc đời Ngạc, là tình yêu Ngạc với Hiền, em một người bạn, giữa một Hà Nội sắp bị tiếp thu. Tình yêu hai người đối với mọi người là chuyện bình thường, được chấp nhận không một phản ứng, mà hai người họ yêu nhau như yêu nhau, như một nhu cầu, như một biến cố tầm thường, không cao cả, không tìm kiếm, không chiếm hết thời gian sống của hai đương sự. Đến khi Hiền bị bắt rồi lấy người khác, Ngạc không phản ứng đặc biệt, dửng dưng, chấp nhận, như mọi sự của cuộc đời!</p>
<p>Nhưng Ngạc &#8220;yêu&#8221; Huệ, chị họ hơn chàng hai tuổi, &#8220;tình yêu của một người bao bọc mình&#8221; (tr. 157), một tình yêu xác thịt hơn, &#8220;một phiêu lưu trên con đường không mặt mũi, với những náo động không nguôi và chúng tôi không còn là mình, chúng tôi bị thanh toán, bị nghiến đi trong một guồng máy, tiếng nổ chát chúa vang vọng thay tiếng cười, tiếng than van thay tiếng hát và cuộc sống không còn là một giấc mộng có hoa nở chim hót&#8221; (tr.157). &#8220;&#8230; Chúng tôi thầm lặng vuốt ve nhau, hai kẻ tội lỗi đều biết rằng hình phạt đang chờ đợi, nhưng thói quen cùng nỗi cô đơn khiến chúng tôi không dừng lại được nữa, chúng tôi miệt mài trong những giây phút say mê như kẻ ghiền ma túy để sau đó lả người buồn chán&#8221; (tr. 158). Thói quen và cô đơn đưa hai thân xác đến với nhau, đến thì cư xử, hành động như phải cư xử, hành động, sau đó sẽ buồn chán như ma túy, như đã biết trước. Mà vẫn làm, vẫn sống! Hai &#8220;tâm hồn&#8221; đến với nhau như ngôi sao xẹt, như mảnh tinh tú đập vào nhau, lén lút, mặc cảm, rồi sau đó, không một tiếng vang! Bất an, tự sỉ nhục khi nghĩ đến Trương, Vịnh, những người bạn đang dấn thân nơi chiến khu hay đi gieo rắc khủng bố cho tổ chức. &#8220;Tôi lười biếng trong trí óc (&#8230;), tôi tồi tệ chịu thua (&#8230;). Rồi ai cũng chết, tôi nhủ thầm&#8221; (tr. 158-9). Trước định mệnh, con người tự do, &#8220;mỗi kẻ có những lựa chọn tự do&#8221; mà lựa chọn khác nhau khiến giữa những người thanh niên thời đó có những khoảng cách lớn, những &#8220;lạnh nhạt&#8221; lan to dần. Ngạc bị bạn kết án là &#8220;bọn hư vô&#8221;, sẽ bị đào thải, riêng chàng thì chỉ thấy &#8220;những khuôn mặt tôi thay đổi trôi trước mặt như những cái mặt nạ treo trên một sợi dây kéo đi kéo lại&#8221; (tr. 172).</p>
<p><em> Đêm Tóc Rối</em> (1966) mở ra với ông Lịch, một nhân vật &#8220;trí thức cách mạng nghiện hút&#8221; . Hình như ông ta coi sự nghiện hút là một thứ hào khí của một thế hệ nợ nần: &#8220;Người ta không đơn giản là xấu hay là tốt hết. Trong mỗi người đều có những mâu thuẫn, nhất nữa những hành động nhiều khi trái ngược với tư tưởng&#8221; (tr. 205). &#8220;Chiến tranh hai chục năm, tôi nhìn rõ những khác biệt giữa chúng tôi và các cậu. Chúng tôi còn có cái tình người trong sáng do nếp sống, tập quán, luân lý, trật tự bảo vệ liêm sỉ, lương tâm, các cậu phá cả, các cậu bất nhân dã man, tàn bạo từ trong tâm hồn. Sao bây giờ tôi thấy các cậu khổ quá, và làm cho mình khổ thêm&#8221; (tr. 130). Những người trẻ hơn, Lễ, Khang, Thục, v.v sẵn sàng dấn thân nhưng có những đắn đo, lưỡng lự, thối thác và nhiều hối hận, nuối tiếc quá khứ &#8211; &#8220;cả bọn mình ở vào cái thế hệ bị hy sinh&#8221; (tr. 201); nhưng họ tiêu biểu cho ưu tư tương lai về trách nhiệm và quá khứ về mặt tinh thần. Họ tự xem bị giam lõng, &#8220;Tôi lạnh lùng trước gương mặt lố lăng của một thời đại mà chừng như mọi người dều biết mình lố bịch, đều làm hề, và nó khởi từ một vô vọng án ngữ phía đi tới của mọi người&#8221; (tr. 40). Lễ, nhân vật xưng &#8220;tôi&#8221;, là nhiều trễ tràng, thất bại nhất. &#8220;Làm một cái gì sao không làm ở đây mà phải đi mới làm được&#8221; (tr. 6). May còn có Thục người bạn thường theo dõi và buộc chàng đi tới, tiến dẫn dạy học. Khang thì cuối cùng bị bắt ở biên giới Cam Bốt. Quyên, người con gái của dĩ vãng, vẫn làm tình nhân của Lễ (hay chàng nghĩ thế) dù Quyên đã lấy chồng. Phượng, em Khánh, cô con gái thanh khiết và tàn tật, luôn ngồi xe lăn, sống giữa vườn hoa trái cỏ cây vẫn mơ về &#8220;một nơi thật xa không ai tới&#8221; (tr. 86), là một an ủi thơ ngây trong sáng cho Lễ, người này là hy vọng của người kia. Cuối cùng nàng leo lên bờ giếng té xuống chết &#8211; rời chiếc xe lăn như nàng vẫn ước mơ. Đám ma nàng là một thú nhận tình yêu của Lễ với nàng, và cũng là lần đầu tiên chàng khóc công khai trước người khác. Đọc nhật ký Phượng, Lễ đã thú nhận chính chàng đã giết chết nàng. Phải chăng Lễ cũng bị tàn phế dù có đủ tay chân?</p>
<p>&#8220;Mụ&#8221; Liên kiếm tìm cân bằng tình dục hoặc thỏa mãn nhục dục, đã làm bình phong, nơi xả xú bắp cho những tâm hồn tan nát, thất bại trong cuộc đời như Lễ. Hướng thiện: Lễ bị ông Tiến chồng &#8220;mụ&#8221; Liên biết chuyện, đánh Lễ chảy máu mồm, nhưng Lễ đến nhà Phượng và thú nhận thoải mái rằng &#8220;việc làm của ông Tiến làm tôi dễ chịu hơn&#8221; (tr. 133). Lên Biên Hòa dạy học &#8211; bị hiệu trưởng và học trò phê &#8220;mất tư cách&#8221;, có đồng nghiệp Trinh ao ước thế chỗ &#8220;mụ&#8221; Liên : &#8220;Anh thực là đồ đểu và tôi muốn là con mụ đó&#8221;. Khi tàn cuộc chơi, &#8220;mụ&#8221; Liên tìm tới Lễ báo đã có con với chàng đã bị chàng chối trách nhiệm và bà chết khi đẻ non. Những cái chết sẽ ám ảnh Lễ: &#8220;Tôi vẫn nhủ thầm phải dứt khoát, nhưng tôi chẳng dứt khoát được gì. Trong đầu tôi vẫn còn những ngày tháng cũ nằm đo vô cùng tận những tử thi ngổn ngang chỉ chờ đợi thức dậy và sống, sống đau xót với thực tế rồi trống rổng&#8230; &#8221; (tr. 139). Cái chết đã theo đuổi những người như Lễ. &#8220;Tôi bỏ người nằm xuống và nghĩ: tôi sắp chết đây, tôi sắp chết như mọi người&#8221; (tr. 44). Chàng đã ý thức chuyện đó, đã tâm sự &#8220;Anh như kẻ bị thắt cổ, bởi một giải lụa đào mềm mại, (&#8230;) anh đã đánh chết con người bình thản để lộ nguyên hình đứa trẻ thơ ngây dại&#8230;&#8221; (tr. 50). Khang, Lễ, những người trẻ trong Đêm Tóc Rối không sống trong an toàn, họ luôn di động, chạy, đuổi, họ ở thế bị động thường trực. Họ chạy theo cái gì &#8220;Sự thực, một khuôn mặt hạnh phúc nơi nào?&#8221; (tr. 211). Có thể họ bị hiểu lầm ngồi trong bóng tối và nguyền rủa địa ngục và quá khứ, nhưng họ đã kiên quyết &#8220;Chính ra bây giờ phải tìm cho ra một giá trị mới cho sự phán xét &#8230; một giá trị chẳng phải cho riêng tôi hay cậu&#8230; Bây giờ là phá, cho những con bệnh uống độc dược &#8230; &#8221; (tr. 207). Nhưng giá trị nào?</p>
<p>Thật ra Lễ đã chiến đấu với cuộc đời và chính mình. Lễ cô độc, chàng nghi ngờ tất cả: &#8220;Những ai còn lấy đối tượng là người khác thì còn khổ còn hục hặc, bất mãn. Ở trong hoàn cảnh như hiện nay, phải lấy đối tượng là mình, chính mình&#8221; (tr. 72). &#8220;Bây giờ tôi ngồi trong bóng tối nơi chiếc ghế một quá khứ và tôi nguyền rủa&#8221; (tr. 140). Suốt tiểu thuyết, Lễ đã đi từ nghi hoặc, &#8220;Tôi không có một nhà thờ. Tôi không có một mái nhà. Tôi không có một thần tượng&#8221; (tr. 39), chấp nhận ở lại, tự vây bọc giam lỏng, đến những khao khát bất khả thi và chinh phục thất bại, nhưng chính những thất bại dở dang khiến chàng hiểu ý nghĩa cuộc sống hơn. Một cuộc chiến đấu không có kẻ thắng! Chương cuối là một đoàn tụ của những người bạn còn lại, những cuộc đời còn thoát. Quyên gặp lại Lễ, hôn lên má chàng như với một đứa em và để cho chàng hôn nhẹ tay một cách thanh sạch. Lễ sẽ đón đứa em ở lưu xá Công giáo về ở chung và sẽ lập gia đình. Mọi người vui hội ngộ thì Lễ say ngủ thiếp đi. Câu cuối tập tiểu thuyết : &#8220;Mỗi kẻ ôm lấy mình trong đêm&#8221; (tr. 219). Cuối cùng thì con người trở lại chính mình như điểm khởi hành và cùng đích. Lễ đã không đầu hàng, anh tiếp tục chiến đãu?</p>
<p><em>Phấn Đấu</em> (1966) loan báo cách mạng đã đến! Những người trẻ lên đường với hành trang lý tưởng và nhiệt huyết của con tim; với đối tượng đối kháng định rõ và chương trình hành động hẳn hoi chứ không tài tử. viễn mơ! Tuổi trẻ không chấp nhận thế hệ cha anh: &#8220;Tôi mong những người già sống ở đây hãy chết hết đi cho chúng tôi còn được kính trọng bằng ảo tưởng&#8221;. Vì hành động, Thạch, người phát biểu câu đó, bị tù tội và sẽ phải nhận chân &#8220;cách mạng&#8221; đã thất bại, đã vẫn như cũ vì con người vẫn thế. Cô gái tên Sương vì lý tưởng cách mạng đã phải bị tù và bị hiếp có thai. Vĩnh, một quân nhân trẻ, hăng hái vì phải làm một cái gì, đã phải nhìn rõ cuộc đời nói như trăn trối với người bạn vừa chết: &#8220;Chúng ta sẽ chết như nhau&#8230; sẽ chết không nhắm mắt được, mãi mãi&#8230;&#8221; (tr. 52),</p>
<p><em>Nhan Sắc</em> (1966) đánh dấu một đường hướng sáng tác mới, động não. Tác giả trở về lịch sử và huyền sử để tìm sự thật trong quá khứ, cho hiện tại. Tác giả khoác màu hiện tại lên huyền thoại và lịch sử : NgườI Tình Của Trương Quỳnh Như là kẻ sĩ bất đắc chí Phạm Thái, kẻ sĩ tìm người đẹp như một cái cớ cho lý tưởng, bên cạnh cuộc đời có khác chi một giấc chiêm bao. Những kẻ lỡ thời, thất chí trong Một Người Lên Núi nhận thức vũ trụ huyền bí , cả nghệ thuật cũng chỉ là ảo ảnh. Cao Bá Quát và thầy khóa Nhâm bên cạnh một tráng sĩ vô danh đã biết chết một cách anh hùng, như một nhan sắc cách mạng &#8211; nhan sắc là cách mạng, cách mạng để có công bằng, hạnh phúc như mục đích của hảo hớn Từ Hải ở truyện sau.Từ Hải Và Cuộc Phiêu Lưu Của Đời Chàng đề cao con người biết sống và biết yêu cùng biểu tượng anh hùng, thứ anh hùng thời nay cần đến! Kinh Kha, Con Chủy Thủ Và Đất Tần Bất Trắc làm sống lại một hồn ma với tra vấn nhức nhối nếu giết Tần Thủy Hoàng thì rồi Thái tử Đan sẽ làm gì với một nước Trung-Hoa thập nhi sứ quân? Không ai chấp nhận một bạo chúa, nhưng cũng không chấp nhận một xã hội rối loạn. Bên trong hành động đã tiềm ẩn sự tự hủy diệt! Vậy thì phải tìm ra cái thay thế bạo tàn, cách mạng chăng, nên có một chương trình hành động bao quát hơn chăng? Vai trò của Kinh Kha trong lịch sử đáng được đặt lại, lúc đó ở miền Nam? &#8220;&#8230; nếu đã nắm được quyền lãnh đạo trong tay rồi chúng ta phải làm gì (&#8230;) chúng ta hành động không phải chỉ để hành động, chúng ta hành động để giữ lấy vai trò lãnh đạo, với quyền lãnh đạo chúng ta mới thực hiện được cuộc cách mạng chúng ta mong muốn, tạo dựng một xã hội chúng ta hằng mơ tưởng, chúng ta không hành động như một kẻ nổi loạn hư vô, chúng ta muốn tiến tới một đổi đời, đâu là lựa chọn giữa tư bản và cộng sản? Truyện cuối, Gậy Thần Và Sách Ước như chung cuộc rồi cũng chỉ là phù phiếm vì tốt xấu đều do chính mình quyết định, không phải do tha nhân. Về thể loại, những truyện trong tập này dĩ nhiên có giọng văn mạnh, dứt khoát hơn những truyện khác của ông! Lần xuất bản đầu năm 1966, tác giả cố tình không để mục lục, cố gây suy nghĩ tìm kiếm nơi độc giả &#8211; như có lần ông trả lời trên tạp chí<em>Thời Tập</em> năm 1974.</p>
<p><em> Ngày Lạ Mặt </em>(1967) chứng minh thêm một lần rằng con người làm chủ định mệnh của chính mình. Cô nữ sinh tên Hoàng yêu và muốn có con với thầy Lĩnh, nhưng tòa lại tha Lĩnh vì quyền lợi cần đắc cử của bố. Tình yêu không lựa chọn, như định mệnh, mà tuổi trẻ thì quá nhanh : &#8220;&#8230; Tôi biết đây là mối tình vô vọng, cả hai chúng tôi đều biết như thế, nhưng không ai chịu ngừng, như một chuyến xe xuống dốc, chúng tôi nhắm mắt lại, những lo âu, thảng thốt chớt đến, những hãi hùng chợt hiện, những giọt nước mắt, những lời thú tội với chính mình, chỉ có vậy. Tại sao tôi lại lựa chọn vào hoàn cảnh ấy?&#8221;, Hoàng thú nhận như thế trong nhật ký, sau khi đã đổ tội lên xã hội. Và nàng đã hành xử cái tự do của mình, không chịu phá thai như người thân (xã hội) đề nghị: &#8220;Tôi không muốn sống bằng ảo tưởng. Bây giờ tôi phải lựa chọn đương đầu&#8230; Tôi sẽ là một người mẹ, tôi phải nuôi con trong tình cảnh đơn độc của mình&#8221;. Quả tội lỗi hay hình phạt đều phi lý như nhau!</p>
<p>Đến <em>Con Sâu</em> (1971), cuộc đời vô nghĩa như không nên có, và con người cho cùng cũng chỉ là con sâu, con sán. &#8220;Mỗi đêm chúng ta nằm ngủ với thể xác và thức dậy trong tâm tưởng cố gắng vượt ra khỏi cuộc sống của đêm tối. Có phải đêm tối bây giờ đã ngự trị suốt cả, trong tâm thức và ngoài hơi thở&#8230;&#8221; (tr. 54). Con Sâu là chuyện cuộc đời vô nghĩa &#8211; các nhân vật đi tìm cho cuộc đời có một ý nghĩa nhưng đa số đã rơi vào vô vọng. Của Ngưỡng, Thạc, Quảng, &#8230; thay nhau nói về đời họ như những con sâu, con sán. &#8220;Tôi nhìn thấy tôi như một con sâu&#8221; (tr. 126) trong khi người khác cho rằng tôi điên khùng, bất thường. Người đàn ông cứ mãi ám ảnh và không giải quyết được câu nói của người yêu của mình: &#8220;Sao anh không thương em, em không xứng đáng với anh phải không, em biết vậy, nhưng em thương anh, em thương&#8230;&#8221; (tr. 200). Câu hỏi được lập đi lập lại nhiều lần cho các nhân vật chính, yếu đuối, tiêu cực quá trở thành những con sâu hãi sợ cuộc đời và chiến tranh. &#8220;Tôi chỉ là một con sâu&#8230; Tôi như thế&#8230; Tôi nhiều lúc cũng không muốn là kẻ sống trong một xã hội như thế này&#8230; Nhưng làm sao hắn phải chịu một số kiếp như thế? Chẳng ai biết được?&#8221; (tr. 152). Họ muốn chết cái kiếp con sâu. Ở đoạn cuối Quảng đã chết dễ dàng như cuối cùng ước muốn. &#8220;Ê, chết thật sao mày&#8230;&#8221; (Tr. 216). Một thế giới và nhân vật đáng lượm giọng! Những con sâu ù lì, sinh ra đã vậy, chứ không phải những con sâu hóa thân !</p>
<p>*</p>
<p>Dương Nghiễm Mậu sáng tác nhiều tiểu thuyết thoạt có vẻ như nhau về nhân vật, về cuộc sống và triết lý sống. Vẫn những nhân vật chán chường, hằn học cuộc đời, bị ám ảnh đến bệnh hoạn, một tâm trạng, những thậm xưng là nạn nhân của thời đại, của chiến tranh, một thế hệ bị hy sinh! Cùng với những quyền uy đổ nát, thần tượng sụp đổ! Thượng đế đã chết, Nietzche qua Zarathustra đã từng nói như vậy! Trong nhiều tác phẩm, như một bản sao, như tác giả chưa có dịp nói hết trước đó, hay như một dàn trãi dưới khía cạnh khác, nhân vật sống khác hay sống tiếp! Làm như cuộc sống không còn gì để khám phá, hết còn phong phú lẫn bí mật. Hay chính trong những cái tầm thường thừa thãi của cuộc đời hãy còn chứa đầy bí ẩn huyền vi? Nhân vật hay xưng Tôi, Tôi hồ đồ trở thành bất cứ ai!</p>
<p>Tuy vậy, Dương Nghiễm Mậu đã tạo được một thế giới, một không khí riêng: những độc thoại như không ngừng, những sinh lão bệnh tử bất hạnh dồn dập đến, những gia tài cuối cùng chẳng có, những nhận diện khó khăn và đưa đến thất vọng khác, ý dục có mà vật dục cũng đày dẫy, v.v. Con người trong tác phẩm Dương Nghiễm Mậu luôn đi tìm, dùng ngõ tắt hay đường vòng hơn là đi thẳng, với một tư duy muốn làm con người trọn vẹn hơn là đưa ra những lý thuyết xa vời, và một tâm tình bí lối! Nhân vật Lễ của <em>Đêm Tóc Rối</em>: &#8220;Tôi vẫn nhủ thầm phải dứt khoát, nhưng tôi chẳng dứt khoát được gì&#8221; (tr. 139). Họ muốn hành xử đâu ra đó trước khi nghĩ đến những lên-trên, những ý-thức-hệ có qui củ, hàng rào! <em>Gia Tài Người Mẹ</em> hay Nhan Sắc là những chuyện ngụ ngôn, ẩn dụ, hài hước bi thảm, dày dặc tâm tình. Nhân vật Lễ trong <em>Đêm Tóc Rối</em> đầu óc lúc nào cũng bị bao ý nghĩ dày vò! Nhân vật còn là quá khứ, như Quyên, Phượng, Khang, ông Lịch, mụ Liên, thay nhau ám ảnh, làm nhân vật của quá khứ trong <em>Đêm Tóc Rối</em>!</p>
<p>Tình yêu được xem là một tình cờ, một xảy đến do những nguyên do, duyên cớ không cần biết, nhưng nó đến như phải đến, như có đến hay không đều như nhau, nhưng nó ở đây, đang ở đây. Thành ra phải cáng đáng! Tinh cảm, tình yêu, cũng chỉ là một phiến diện, một mảnh của cuộc sống, một bên lề. Một cuộc sống đầy vấn nạn, vì chiến tranh vì người đối với người bạo lực, vì người dùng người, vì cuộc sống là bi đát. Con người là một bất hạnh, vậy thì tình yêu càng chỉ là oan trái, là vết hằn oan nghiệt trên khuôn mặt tuổi trẻ. Ngay thiên nhiên trong tiểu thuyết của Dương Nghiễm Mậu cũng thường chống lại con người!</p>
<p>Trong suốt sự nghiệp, Dương Nghiễm Mậu lúc nào cũng muốn đi sâu vào cuộc sống trước mặt với những vấn đề của chúng, để tìm hiểu, nắm bắt nó, hiểu sự hình thành của nó cũng như những bộ mặt, những vết hằn của nó. Cái Tôi có đó để làm chứng nhân cho cuộc đời. Tuy vậy, tác phẩm Dương Nghiễm Mậu rõ rệt có hai giai đoạn: giai đoạn đầu viết về một tuổi trẻ buồn phiền, sanh lầm thời đại, không biết đến hạnh phúc, mái nhà; do đó họ không có cả lịch sử và quá khứ, đàn anh vắng mặt hay bất xứng. Cùng nhận sinh lầm thời nhưng Dương Nghiễm Mậu khác xa đàn anh của ông, nhà thơ Vũ Hoàng Chương tìm quên trong khói nâu và những ả đào thời đại. Cuộc đời là những bi kịch lớn nhỏ. Không khí của tiểu thuyết Dương Nghiễm Mậu thời này ẩm ướt với những mối tình, những bế tắc, những rạp chớp bóng và những con hẻm ẩm thấp (Đêm Tóc Rối, v.v.). Hà Nội nếu không là sân khấu (<em>Tuổi Nước Độc</em>, v.v) thì cũng là nỗi ám ảnh khôn nguôi (hai anh em mồ côi và Quyên, dĩ vãng một Hà Nội trong Bồn Cát Tuổi Thơ). Người cộng sản trong tiểu thuyết họ Dương đã hơn một lần bị phê phán là những tay gian xảo, lợi dụng tuổi trẻ. Giai đoạn sau, từ 1963, thời sự và chiến tranh chiếm toàn diện tác phẩm của họ Dương. nhân vật thời sau trườn theo cái cụ thể, thực tại, thử tìm giải pháp cho cuộc sống chung và gần gũi. Thời Đệ nhất cộng hòa được phê là bế tắc, thì sau &#8220;đảo chánh 1-11-1963&#8221;, không khí chính trị trở nên năng động, gây hy vọng nơi người trẻ nhưng chỉ được vài năm sau đó trước khi trở nên tồi tệ!</p>
<p>Một số nhân vật của Dương Nghiễm Mậu liên hệ đến cách mạng, hoặc đi làm cách mạng hoặc có &#8220;công tác&#8221; như Thục, Lễ, Khang, &#8230; trong <em>Đêm Tóc Rối</em>, Ngạc trong <em>Tuổi Nước Độc</em>, Thạch, Sương, Vĩnh trong <em>Phấn Đấu</em>, hoặc bỏ về thành như Kha trong <em>Cũng Đành</em>. Rồi cả tập <em>Nhan Sắc</em>! Không cách mạng thì sống nhưng có nhân vật lại thì lạnh lùng, lợm giọng với chuyện làm tình: mụ Liên trong <em>Đêm Tóc Rối</em> hay đến với Lễ làm tình dù chồng có nhà hay không, và dù chàng thường phải lợm giọng và một lần đã phải thốt lên &#8220;Đừng bỏ tôi, ở lại với tôi&#8221; khi chàng cảm thấy thật cô đơn. Thì lại đi tìm gái ăn sương! Trong thời chiến tranh, tuổi trẻ tan nát, có những nữ sinh phải làm điếm, Phượng bị tàn tật (<em>Đêm Tóc Rối</em>). Tan nát vì chiến tranh cũng là một dĩ vãng bị tan nát. Dĩ vãng như một tưởng nhớ nuối tiếc khôn nguôi! Chiến tranh khởi đầu bao phủ không khí các tiểu thuyết đầu đời của Dương Nghiễm Mậu nhưng với đà chiến tranh đã trở thành những chứng kiến bất lực: <em>Kinh Cầu Nguyện </em>(1967),<em> </em><em>Địa Ngục Có Thật </em>(1969) về vụ thảm chiến Mậu Thân ở Huế, rồi những<em> </em><em>Gào Thét</em>(1969),<em> </em><em>Cái Chết Của&#8230;</em>(1971),<em> </em><em>Kẻ Sống Đã Chết </em>(1972),<em> </em><em>Những Ngày Dài Trên Quê Hương, Tên Bất Lực </em>(1972),&#8230;</p>
<p>Người đọc có người vẫn trách Dương Nghiễm Mậu hay tự cho thuộc thế hệ bị hy sinh và ông làm nhà văn khuynh hướng &#8220;phá phách&#8221;. &#8220;Một giọng điệu chán chường hằn học đến độ trở thành cynique, cũng cái chủ trương coi mình là nạn-nhân-của-chiến-tranh-một-thế-hệ-hi-sinh (&#8230;) Một điều mà người ta đã nói nhiều đến nhàm chán những lúc về sau này, mà người ta đã mệnh danh là &#8220;văn chương thời đại&#8221; (2). Chính Dương Nghiễm Mậu trong một phỏng vấn của Lê Phương Chi (3) đã khẳng định &#8220;Chúng tôi làm gì có tuổi trẻ&#8221;: ông không có một tuổi thơ hạnh phúc, ở nông thôn, học chữ Nho đến 10 tuổi mới chuyển qua quốc ngữ nhưng học hành dở dang, rồi chiến tranh, loạn lạc, xa ông thân, di cư, đi khắp Bắc Trung Nam. Như các nhân vật của Dương Nghiễm Mậu cuối cùng vẫn thích cuộc sống yên hàn, giản dị như Lễ trong chương 6 của <em>Đêm Tóc Rối</em>. Họ vẫn thường tiếc nuối dĩ vãng và đời sống đã qua, những mái nhà đã quen, những người thân, người bạn đã làm khung cuộc đời mỗi người! và những con người thanh khiết vẫn là những giấc mơ về: với Lễ là Phượng, là Quyên trong <em>Đêm Tóc Rối </em>mà không là &#8220;mụ&#8221; Liên ái tình dễ dãi thừa mứa. Vợ chồng Khánh sống bình thường giản dị. Tóm, nhân vật của Dương Nghiễm Mậu muốn tìm một cuộc sống bình thường nhưng tiến bộ, một mái nhà, một gia đình, cả một người tình để thoát khỏi tình trạng &#8220;lạc loài&#8221; vây bủa họ. Cả khi viết một số truyện đời xưa dù để nói lên tâm sự hôm nay, dù để tìm cuộc sống trước mắt, Dương Nghiễm Mậu như đã đầu hàng phức tạp nhân sinh. Chính ông có lần tâm sự : &#8220;Chúng tôi đều buồn. Có người bảo tôi lấy vẻ buồn làm dáng. Tôi không thấy vậy. Suốt quãng đời đã qua tôi chưa có một câu chuyện gì vui để kẻ lại, một hạnh phúc làm vốn liếng&#8230;&#8221; (4).</p>
<p>Về thể loại, <em>Đêm Tóc Rối </em>như một tùy bút, hợp khung cảnh phiêu lưu, nhiều hoài niệm và tiếc nuối nhưng tiến đến trước! <em>Gia Tài Người Mẹ</em> được tác giả xem như là những trang tâm bút &#8220;vì câu chuyện viết về người khác đã trở thành tâm sự của chính mình, những nhân vật đã bị tước đoạt mặt mũi để trở thành hình nộm trên sân khấu cuộc sống&#8230; Tôi viết ra những chuyện (đã thấy, đã cảm, đã nghĩ) và gửi tới người cùng thời&#8221; (5). <em>Gia Tài Người Mẹ </em>tối tăm với những độc thoại liên tục, có vẻ tiểu thuyết hóa cuộc đời, một loại tiểu thuyết nội tâm ở mỗi chương, của một chứng nhân thời đại mình, nếu xử dụng thể tùy bút sẽ hiệu nghiệm hơn chăng?</p>
<p>Dương Nghiễm Mậu thuộc những nhà văn hậu chiến ở miền Nam cổ võ một nền &#8220;văn nghệ mới&#8221;, nhưng với một triết lý hiện sinh đen, bi-đát thời thượng, hoang mang mất niềm tin ở một di sản hơn là mất tin tưởng ở một chế độ, mất niềm tin ở con người nói chung hơn là con người ở vùng đất mới. Tuy vậy văn phong vẫn giữ được nét bình thường dù để diễn tả những ray rứt suy tư, cái làm dáng hình thức, chữ dùng chỉ như những cố gắng tuyệt vọng! ./.</p>
<p>Chú-thích:</p>
<p>* Trích dẫn từ những ấn bản lần đầu xuất bản ở Sài Gòn : <em>Cũng Đành</em> (Tạp chí Văn Nghệ, 1963); <em>Gia Tài Người Mẹ</em> (Tạp chí Văn Nghệ, 1964); <em>Đêm Tóc Rối</em> (Thời Mới, 1966); <em>Tuổi Nước Độc</em> (Tập-san Văn, 1966); <em>Phấn Đấu</em> (Tập-san Văn, 1966); <em>Nhan Sắc</em> (An-Tiêm, 1966); <em>Con Sâu</em> (Nguyễn Đình Vượng, 1971).</p>
<ol>
<li><em>Chân Dung Mười Lăm Nhà Văn Nhà Thơ ViệtNam</em>. Westminster CA: Văn Khoa, 1985. Tr. 84-85</li>
<li>Trùng Dương phê bình Đêm Tóc Rối .<em>Tin Sách</em>, 5-1966, tr.25.</li>
<li><em>Tin Sách,</em>5-1966, tr. 32- 37.</li>
<li>Bạt (viết 12-1964).<em>Nhã Ca Mới</em>. Los Alamitos CA: Xuân Thu tb, 19?, tr. 117.</li>
<li>Thay lời bạt.<em>Gia Tài Người Mẹ</em>. Sđd.</li>
</ol>
<p>9-1995</p>
<h2>Dương Nghiễm Mậu, người đặt vấn đề</h2>
<p><strong>Phí Ich Bành</strong></p>
<p><strong> </strong>Đọc 10 truyện ngắn của Dương Nghiễm Mậu mới xuất bản tại Hoa Kỳ vào cuối Tháng Ba 2011 với tựa đề “Trời Cao Đất Dày” nguời đọc thấy lại sân khấu do tác giả dựng lên cho các nhân vật trong cuốn “Nhan Sắc” nửa sau thập niên 1960 của ông. Như khung cảnh lạc lối Đào Nguyên, như truyện võ hiệp, gần như sử ký Tư Mã Thiên. Bút pháp của DNM tạo ra không khí hư hư thực thực rất thích hợp với lối kể truyện của ông – như Từ Hải không chết, tiếp tục cuộc sống giang hồ, như nhân vật mưu đồ làm cách mạng tự thấy hầu như bất lực, vào rừng sống với Đồi Hồng …. Tôi tin rằng DNM không định cung cấp cho độc giả những trang truyện giải trí mà độc giả có thể không còn giữ lại gì sau khi đọc (là việc đã có nhiều người làm). DNM cũng không chủ tâm tìm kiếm giải thưởng văn chương (dù ông đuợc tặng giải với tác phẩm “Cũng Đành”. Ông muốn nói thay nhiều người của thế hệ trưởng thành hay sắp bước vào đời sau ngày chia đôi đất nước – nửa miền bắc bị kềm kẹp bởi nhóm người theo đuổi chủ nghĩa gọi là cách mạng vô sản. Nửa miền nam thuôc quyền lãnh đạo của những viên chức đuợc chế độ nửa thực dân nửa phong kiến đào tạo và một số trí thức “tẩu hoả nhập ma” không thoát ra khỏi sách vở của Tây, Tàu. Đó là chưa kể những phần tử cơ hội. Nói chung là rối beng. Xã hội như thế thì tuổi trẻ hoang mang, lúng túng, dễ lạc đuờng – nên, một số thanh niên học sinh miền nam nhảy … núi, để sau này trở về trong bất mãn, vì biết là bị lừa, bị khai thác. Có kẻ đã bỏ mạng trong rừng sâu, hay thân tàn ma dại, trở thành gánh nặng của gia đình.</p>
<p>Xin hãy tạm bàn ra ngoài (không xa đề) về nửa thế kỷ trước ngày tất cả non sông Tiên Rồng thu về một mối, duới quyền đảng chuyên chính. Thập niên 1930, chúng ta có lãnh tụ Nguyễn Thái Học nhà giáo tổ chức VN Quốc Dân Đảng để đánh đuổi thực dân Pháp – ông và 12 đồng chí ngạo nghễ hô những lời yêu nước bên máy chém. Thật tiếc, đảng hoạt động chưa lâu, chưa phát triển rộng, cách mạng vũ trang không đuợc chuẩn bị đầy đủ để có sức mạnh của quần chúng. Kết cuộc là tuẫn đạo. Thập niên 1940, các chính đảng không CS bị tổ chức của ông Hồ vận dụng mọi quỷ kế để bao vây, cô lập, đánh phá, tiến tới cướp công cách mạng của quần chúng vào Tháng 8-1945. Sau ngày chia đôi đất nước, miền nam tập tành dân chủ kiểu phương tây, hầu như khoán trắng công cuộc chống Cộng cho chính quyền và quân đội – 2 lực lượng đó chống Cộng bằng súng đạn, truyền đơn, không hữu hiệu, trong khi trí thức thực hành đấu tranh nghị trường tại Quốc Hội có đủ Thượng, Hạ Viện (như Hồ Hữu Tường, Trần văn Tuyên …). Nhất Linh làm văn hoá và hoạt động chính trị bên ngoài, tham gia đảo chính thất bại, tự sát, thay vì thua keo này bày keo khác. Các chính khách muốn dân sự hoá chính quyền thì ngây thơ, bị các tướng tá đè bẹp, loại trừ.</p>
<p>Theo gia đình di cư vào nam năm 1954 ở tuổi 18, DNM đã chứng kiến những biến động ấy, và thao thức. DNM không lập thuyết qua các tác phẩm của ông – nhưng, it nhất, ông chỉ ra một điều : không chỉ có hai đuờng để lưa chọn. Đó là thông điệp của DNM mà tôi đọc đuợc … trên nền của nhiều truyện ngắn. Tái định cư tại nước Mỹ, chúng ta nhận biết quyền chọn lựa của con người và về cơ hội đồng đều. Tại miền nam vĩ tuyến 17 sau năm 1954, rõ ràng người Viêtnam có ít nhiều chọn lựa. Tại miền bắc, hoàn toàn không – chính sách hộ khẩu giam hãm mọi công dân nam phụ lão ấu. Với thanh niên, Bắc Bộ Phủ kiểm soát chặt và khai thác bằng các mỹ từ nghĩa vụ quân sự hay thanh niên xung phong. Học không cần thiết với chế độ toàn trị. Đọc DNM để thấy chiến tranh là ám ảnh thường trực – những cái chết rất vô lý. Người anh ra thành phố, đi lính – người em ở duới quê bị ép theo “mặt trận”. Không ai tự quyết định đuợc số phận của mình. “Trời Cao Đất Dày” (từ nay viết tắt TCĐD) tập trung 10 truyện ngắn như một nhắc nhở (không thừa) những ngang trái và bế tắc tại Vietnam trước năm 1975 với tựa đề gợi nhớ câu nói (có lẽ không phổ thông tại miền Trung và miền Nam như ở miền Bắc) khi ngừòi bình dân muốn thốt lời oán trách với thánh thần (là Trời Cao Đất Dày) về cuộc sống oan khiên. Như chuyện quan tài của người lính chết trận không tìm đuợc thân nhân để giao …</p>
<p>Viết đến đây, tôi chợt cảm thấy lo rằng DNM kể chuyện hấp dẫn quá, một số người không nhận ra thông điệp chăng. Cũng may là DNM dùng thể loại truyện ngắn – như một cách lập lại, qua nhiều hình thức, hoàn cảnh khác nhau. Biết đâu chừng, truyện dài, nhiều tình tiết ly kỳ hấp dẫn có thể làm độc giải lạc lối, cuối cùng chỉ cảm thấy đuợc giải trí, như xem Tam Quốc Chí, Phong Thần.</p>
<p>Với DNM, ý muốn của ông là thông điệp “không chỉ có 2 đường để chọn – trước 1975”. Ông thấy điều đó, và đặt vấn đề. Có lẽ bởi chính ông cũng không biết phải làm sao. Đi con đường nào. Ông viết trong truyên “Bông hồng của …” trong cuốn TCĐD “…anh ấy nói phải chờ đợi, phải tu luyện đã. Mọi người thì nóng ruột, anh ấy cho thời cơ chưa đến nên … Trong số những người bỏ đi có ông cụ tôi. … Nhưng, cuối cùng những người bỏ anh ấy mà đi đều chết hết chẳng còn một ai trở về, tất cả đều thất bại – trang 18”. Nhưng, đã rõ là chế độ VNCH không tốt đẹp, và miền bắc vừa xấu vừa ác. Ông đã thay mặt người khác để vạch mặt các tướng tá, qua cuộc trò chuyện giữa Từ Hải và Kiều. Ông viết trong truyện Từ Hải (Nhan Sắc) “Tiên nhân chúng nó, chúng nó điếm từ trong triều điếm ra. Vua đĩ, quan đĩ, tướng đĩ cho nên thời mới loạn, dân mới khổ. Em mới thế này, anh mới thế này chứ – trang 82”. Ông đã thấy những trí thức lúng túng, nhận ra tình thế đất nước, biết trách nhiệm, nhưng không làm gì đuợc, cũng không thể hợp tác với chế độ (miền nam), đành lui về tháp ngà, sống trong mơ mộng và kiêu hãnh (như trong truyện “Bông hồng của .. “). Qua truyện về Kinh Kha, ông viết “… Chúng ta không hành động như một kẻ nổi lọan hư vô, chúng ta muốn tiến tới đổi đời &#8211; trang 153 Nhan Sắc”. Đồng thời, ông đánh thức người khác, qua yttruyện Từ Hải (Nhan Sắc – trang 69) “ … Làm loạn là thế nào ? Ai không muốn sống yên ổn làm ăn ? Nhưng, bây giờ người ta có muốn cho mình sống như thế không”. Điều này đang tiếp tục xẩy ra trên quê hương cũ của chúng ta bên kia Thái Bình Dương.</p>
<p>Đặt vấn đề là nhu cầu thường trực với xã hội không ngừng biến đổi, do các chuyển hoá về tư tưởng, kỹ thuật, mô hình sản xuất, và cả điều kiện của môi trường thiên nhiên (là yếu tố mới nổi từ thế kỷ 20 và ngày càng trở thành quan trọng). Tại các nền dân chủ như Hoa Kỳ, đảng cầm quyền và đảng bên ngoài đều phải biết đặt vấn đề. Từng năm. Để đáp ứng các đòi hỏi thiết thân của quần chúng (là đối tượng phục vụ của chính quyền) cả hai cùng phải lập sẵn plan A, plan B. Nếu không phải là chuẩn bị trước luôn plan C hay xa hơn.</p>
<p>Ông đặt vấn đề, rất rõ ở cuối truyện “Kinh Kha …” trong cuốn Nhan Sắc – ông viết “Anh thấy chưa, bây giờ đâu là thời của Kinh Kha, còn Kinh Kha thì Kinh Kha cũng bó tay …” và ở cuối trang 162 “Tôi từ chối lựa chọn cả hai con đuờng ấy. Ai buộc chúng ta phải chấp nhận con đường có sẵn ?”.</p>
<p>Hiện nay, hẳn là giới trí thức miền bắc Vietnam đang đặt vấn đề – họ đã thấy trong những năm đầu của đất nuớc sau 1975, những người theo đuổi cách mạng đã bị cứop công, bị phản bội. Họ đã thấy, khi đảng CS phải thử nghiệm kinh tế thị trường, một phần của thể chế dân chủ tự do ngoài lãnh thổ hình chữ S, vì nhu cầu sống còn của chế độ toàn trị. Người dân Vietnam đáng đuợc hưởng đầy đủ nhân quyền và dân quyền. Họ đã thấy mọi người không đuợc chọn lựa, khi mà đảng CS xác quyết “Yêu chủ nghĩa xã hội là yêu nước” ngay từ khi đưá trẻ biết nói. Các tác phẩm của DNM vẫn là mới, bởi cho đến nay, họ bị điều kiện hoá, bị bịt mắt như con ngựa kéo xe.  Họ trông đợi cách mạng Hoa Lài. Mong cách mạng, để vỗ tay ! – bởi đa số không biết phải làm gì, và không dám làm (như Dương Thu Hương viết đâu đó đại ý rằng “những người anh hùng trong chiến tranh nay đã là những công dân đớn hèn”). Tựa sách TCĐD, như tôi hiểu, lập lại lời than oán của lê dân với Ông Xanh.</p>
<h2></h2>
<h2>Dương Nghiễm Mâu, con người nội soi trong</h2>
<h2>bạo lực chiến tranh và thân phận nhược tiểu</h2>
<p><strong>Thụy Khuê</strong></p>
<p><strong>Tiểu sử Dương Nghiễm Mậu</strong>:</p>
<p>Dương Nghiễm Mậu tên thật là Phí Ích Nghiễm, sinh ngày 19 tháng 11 năm 1936 tại quê nội  làng Mậu Hòa (quê ngoại  làng Dương Liễu), huyện Đan Phượng, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông. Từ 12 đến 18 tuổi sống ở Hà Nội. Học tiểu học ở trường Hàng Than, trung học, Chu Văn An, viết đoản văn, tùy bút cho báo trường và các báo có phụ trang văn nghệ học sinh. 1954 di cư vào Nam với gia đình, năm đầu ở Huế, năm sau ra Nha Trang, hè 1957 vào sống hẳn Sài Gòn.</p>
<p>Từ 1957 trở đi viết nhiều: tạp văn, tùy bút, đoản văn, truyện ngắn, truyện dài. Tiểu thuyết đầu tay <em>Đầy tuổi tôi</em> đăng trên tạp chí Văn Nghệ từ số 2, tháng 3/1961 (sau in thành sách đổi tên là <em>Tuổi nước độc</em>, Văn, 1966), truyện ngắn <em>Cũng đành</em> in lần đầu trên báo Tân Phong của Trương Bảo Sơn; truyện ngắn <em>Rượu chưa đủ</em>, trên Sáng Tạo (bộ cũ, số 28-29 tháng 1-2/1959) đã xác định phong cách văn chương Dương Nghiễm Mậu. Từ 1962, làm tạp chí Văn Nghệ với Lý Hoàng Phong, đồng thời viết cho Sáng Tạo, Thế Kỷ 20, Tin Sáng, Văn, Văn Học, Bách Khoa, Giao Điểm, Chính Văn, Giữ Thơm Quê Mẹ, Sóng Thần&#8230; Tập truyện ngắn đầu tay <em>Cũng đành</em>do tạp chí Văn Nghệ xuất bản năm 1963. Truyện dài <em>Gia tài người mẹ</em> (Văn Nghệ, 1964), được giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc (miền Nam), 1966.</p>
<p>1966 nhập ngũ. Từ 1967 làm phóng viên quân đội đến 30/4/1975. Lập gia đình năm 1971, với Hồ Thị Ngọc Trang, giảng viên Anh ngữ. Sau 30/4/1975 bị bắt giam. 1977 đươc tạm tha. Từ 1977, học nghề sơn mài và sống bằng nghề này tại Sài Gòn.</p>
<p><strong>Tác phẩm đã in</strong>:</p>
<p><u>Truyện ngắn</u>: <em>Cũng đành</em> (Tạp chí Văn Nghệ, Sài Gòn, 1963), <em>Đêm</em> (Giao Điểm, 1965), <em>Đôi mắt trên trời</em> (Giao Điểm, 1966), <em>Sợi tóc tìm thấy</em> (Những tác phẩm hay, 1966), <em>Nhan sắc</em> (An Tiêm, 1966), <em>Kinh cầu nguyện</em> (Văn Xã, 1967), <em>Ngã đạn</em> (Tân Văn, 1970), <em>Cái chết của&#8230;</em> (Văn Xã, Sài Gòn, 71; An Tiêm, tái bản, Paris, 2001)&#8230;</p>
<p><u>Truyện dài</u>: <em>Gia tài người mẹ</em> (Tạp chí Văn Nghệ, 1964), <em>Đêm tóc rối</em> (Thời Mới, 1965), <em>Tuổi nước độc</em> (Văn, 1966), <em>Phấn đấu</em> (Văn, 1966), <em>Ngày lạ mặt</em> (Giao Điểm, 1967), <em>Gào thét</em> (Văn Uyển, 1969), <em>Con sâu</em> (Sống Mới,Hoa Kỳ, không đề năm)&#8230;</p>
<p><u>Những tác phẩm khác</u>: <em>Địa ngục có thật</em> (bút ký, Văn Xã, 1969), <em>Quê người</em> (Văn Xã, 1970), <em>Trong hoang vu</em>, <em>Tên bất lực, Kẻ sống đã chết</em>, v.v&#8230;</p>
<p><strong>Bối cảnh ra đời của <em>Mậu truyện</em></strong></p>
<p>Hơn bốn mươi năm sau khi xuất hiện, Dương Nghiễm Mậu vẫn còn là nhà văn <em>avant-garde</em> đối với văn học Việt Nam bởi những suy tưởng và cách đặt vấn đề của ông vẫn còn nguyên những mấu chốt bí mật, nhiều truyện ngắn với lối cấu trúc rất lạ, chưa ra khỏi vòng trăn trở tìm tòi của người viết hôm nay. Mỗi nhân vật của Dương Nghiễm Mậu là một trường hợp tự phân, tự hủy, <em>bị kết án chung thân phải sống</em>, họ thuộc thế giới những thân phận lầm lũi đau, âm thầm chết, thui chột, khô khốc một mình, không kẻ đoái hoài, không phương điều trị.</p>
<p>Với Dương Nghiễm Mậu, những bi đát trong cuộc <em>hiện sinh</em> này không chỉ là những vết thương &#8220;nhìn thấy&#8221; như cảnh cường hào đàn áp nông dân trong <em>Tắt đèn</em> Ngô Tất Tố, như xã hội trộm cắp sa đọa trong <em>Bỉ vỏ</em> Nguyên Hồng&#8230; mà còn là những vết thương không nhìn thấy trong con người. Nhưng những &#8220;nội-tâm-thương&#8221; ở Dương đã khác nhiều với vết thương nội tâm trong văn học tiền chiến, nó &#8220;trẻ&#8221; hơn, dữ dội hơn, có những đòi hỏi phức tạp hơn, mang tính bản thể hơn là tâm lý, và khác biệt hẳn những ngòi bút phân tích Khái Hưng, Nhất Linh&#8230;</p>
<p>Mai Thảo tinh vi nhận xét: <em>&#8220;&#8230; Dương Nghiễm Mậu bao giờ cũng đến với tôi bằng khuôn mặt đó. Khuôn mặt một người nhắm cả hai mắt lại, cho cái nhìn trở thành cái nhìn bên trong, cái nhìn tâm hồn, và nụ cười tủm tỉm hóm hỉnh là chân dung Mậu ở tấm hình chân dung ngộ nghĩnh của TrầnCao Lĩnh.&#8221;</em> (Mai Thảo, <em>Con đường Dương Nghiễm Mậu</em>, trong cuốn <em>Chân dung mười lăm nhà văn nhà thơ Việt Nam</em>, Văn Khoa 1985, trang 89). Mai Thảo đã nhận ra  nét riêng tư nhất của Dương: <em>một con người nhìn vào mình, nội soi mình</em>, đó cũng là <em>tính chất chủ yếu của văn chương Dương Nghiễm Mậu</em>, và là điểm đầu tiên gần gũi với triết học hiện sinh.</p>
<p>Ở Dương Nghiễm Mậu, trong những tác phẩm hay, nhân vật không khởi đi từ một thứ bản chất có sẵn, mà tự xây dựng nên cá tính của mình qua phản ứng trước mọi tình huống. Tâm lý ít khi &#8220;bị&#8221; phân tích, hoặc tránh bị phân tích, cũng chẳng thể hiện qua hành động mà tâm lý là hành động, tâm lý <em>nằm trong</em> hành động. Con người <em>có đó, trơ ra, hiện hữu</em>. <em>Sự hiện hữu có trước bản chất</em> là điểm thứ nhì tương quan với triết học hiện sinh.</p>
<p>Với Dương, những khổ đau không còn thuần túy tinh thần nữa mà nó đã truyền sang thể xác, một sự giao thoa vật chất &#8211; tinh thần mà nhân vật<em>nhận thức</em> được. Sự <em>nhận thức</em> là nét đặc thù thứ ba đến từ ảnh hưởng triết học hiện sinh.</p>
<p>Điểm đặc biệt thứ tư trong Dương Nghiễm Mậu là truyện không còn &#8220;tác giả&#8221; và &#8220;nhân vật&#8221; theo nghĩa truyền thống: nhà văn chối bỏ quyền thượng đế tối cao tạo nặn ra nhân vật, bắt khoan bắt nhặt như trong hệ thống dựng truyện cổ điển. Ở đây nhà văn chỉ có phận sự &#8220;ghi chép&#8221; những gì đã và đang xẩy ra; chữ <em>tôi</em> không thuộc quyền sở hữu duy nhất của nhân vật chính, mà <em>mỗi nhân vật trong truyện đều có quyền xưng tôi như thể họ là &#8220;tác giả&#8221; của chính mình, tự xác định cái tôi hiện hữu của mình qua hành động</em>. Nét đặc thù thứ tư này phát xuất từ ảnh hưởng giao thoa giữa triết học hiện sinh và tiểu thuyết mới, tạo ra cách viết &#8220;đa âm&#8221; với những cái tôi biệt lập như trong <em>Gia tài người mẹ</em>: không có &#8220;cốt truyện &#8221; về gia đình mà mỗi nhân vật trong truyện, mỗi người con, đều có quyền đưa ra một thoại khác về sự xâu xé trong gia đình. Trong <em>Đêm tóc rối,</em> kẻ xưng tôi, nhân vật chính, Lễ, một kẻ mất định hướng (desaxé), không tin bất cứ gì: tình yêu, nhân nghĩa, đạo đức, hy sinh&#8230; Trong <em>Con sâu</em>, cũng không có cốt truyện về chiến tranh, mà năm nhân vật chính đều xưng tôi, đều là lính hoặc bạn lính, đều độc thoại nội tâm và đưa ra những cái nhìn khác nhau về hạnh phúc, về con người, về chiến tranh, về cái chết.</p>
<p>Nét đặc biệt thứ năm trong tác phẩm của Dương Nghiễm Mậu: nhân vật của Dương thường không có tên, hoặc chỉ nêu tên một vài lần trong cả cuốn tiểu thuyết, và nơi chốn xẩy ra mọi việc cũng không rõ ở đâu. Đó là một trong những nét đặc thù của tiểu thuyết thế kỷ hai mươi, mà phong trào tiểu thuyết mới, đặc biệt Alain Robbe-Grillet chấp nhận như một thực tại không thể chối cãi được: Sự xoá tên nhân vật, xoá sổ địa danh, nói lên tính cách <em>không tiêu biểu</em> của nhân vật, của nơi chốn xẩy ra. Thời đại mà một cá nhân, một gia đình, một dòng họ, có thể <em>tiêu biểu</em> cho nếp sống toàn xã hội như thời đại Balzac đã qua rồi. Thời hiện đại, số phận nhân loại không còn đồng nhất với sự thăng trầm biến đổi của một vài cá nhân típ, gia đình típ, như lão Goriot, như họ Rougon-Macquart, như anh em nhà Karamazov&#8230; nữa. Nhân vật cũng không được khắc tạc như những mẫu người &#8220;tiền chế&#8221; của thời đại như một Tố Tâm, một bà Án, một Dũng, một Loan&#8230; Nhân vật, trong dòng mới của tiểu thuyết, <em>không có tính cách tiêu biểu</em> hoặc từ chối tính cách tiêu biểu cho một xã hội,  một thời đại, từ chối những mẫu mực có sẵn, họ thường không có tên, hoặc nếu có cũng ít được nhắc đến, họ là những kẻ vô danh trong đời sống hàng ngày như kẻ bộ hành, người ăn mày, người bán vé xe đò&#8230; và là đối tượng của tiểu thuyết hôm nay, như K, nhân vật chính trong <em>Lâu đài</em> của Kafka, tên chỉ còn một chữ. Mấy ai còn nhớ Meursault, tên nhân vật chính trong truyện <em>L&#8217; étranger-Người xa lạ</em> của Camus hay Roquentin, nhân vật chính trong <em>La naussée-Buồn nôn</em> của Sartre? Cũng chẳng  thể nào kể được &#8220;cốt truyện&#8221; của những tiểu thuyết này, bởi chúng là cuộc đời mà cuộc đời chỉ là một chuỗi những rời rạc, chắp nối, bất ngờ, không thể có một cốt truyện liên tục, dựng theo trật tự diễn biến của thời gian.</p>
<p>Trong <em>Buồn nôn</em>, nhân vật chính, kẻ xưng tôi, Roquentin đến một bến cảng, đâu như tên là Bouville, tìm kiếm tư liệu để viết về hầu tước Rollebon, một nhân vật quý tộc nổi tiếng cuối thế kỷ XVIII. &#8220;Cốt truyện&#8221; ấy chẳng có gì để kể, và cũng không thể kể được, vì &#8220;cả truyện&#8221; có xẩy ra &#8220;chuyện&#8221; gì đâu. <em>Buồn nôn</em>, viết năm 1938, về cái &#8220;không thể kể được&#8221; ấy, là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của J.P. Sartre, cũng là tác phẩm tiên phong &#8220;hướng nội&#8221;, nhìn vào trong, tự ý thức về thân xác của mình: Roquentin có cảm giác bị cái gì ngăn cản, không thể lượm tờ giấy bẩn ở đường dù hắn rất muốn lượm. Rồi cảm giác &#8220;buồn nôn&#8221; toát ra từ bàn tay, khi hắn cầm viên sỏi. Quán cà phê làm hắn buồn nôn, mặc dù trước đó hắn rất thích không khí ồn ào của cà phê. Sự buồn nôn cứ từ từ dâng lên trong hắn cùng với ý thức về thân xác, về sự hiện hữu của mọi thứ xung quanh, từ tay thủ thư tự học đến cô bồ cũ, thậm chí đến cả cuộc đời hầu tước Rollebon, đề tài &#8220;nghiên cứu&#8221; của hắn, cũng trở thành vô nghĩa, cũng chả ra gì&#8230; Tất cả mọi tồn tại, kể cả tồn tại của hắn, đều nhạt, đều &#8220;thừa&#8221; (de trop). Rút cục, có lẽ chỉ còn âm nhạc -yếu tố duy nhất không hiện hữu như mọi vật mà là hiện diện của tưởng tượng- là có thể kéo hắn ra khỏi cảm giác buồn nôn. Sự sáng tạo nghệ thuật, một cuốn tiểu thuyết chẳng hạn, may ra có thể giúp hắn chấp nhận sự tồn tại (l&#8217;existence).</p>
<p>Meursault trong <em>Người xa lạ</em> (1942) kể chuyện mình với một giọng thờ ơ, xa lạ, gần như lãnh đạm &#8220;sao cũng được&#8221; (ça m&#8217;est égal), từ lúc hắn được tin mẹ chết ở viện tế bần đến lúc phạm tội giết người. Trong suốt hành trình tiểu thuyết, luôn luôn Meursault lập đi lập lại &#8220;tôi không biết&#8221; (je ne sais pas) như một &#8220;bản ngã&#8221; thứ  nhì. Đến nhà xác, người gác đề nghị mở quan tài cho xem mặt mẹ. Meursault từ chối, hỏi tại sao, trả lời không biết. Lang thang trên bờ biển, đánh lộn. Thành kẻ giết người. Ra toà, toà hỏi tại sao, trả lời không biết, (rồi chợt nhớ ra một chi tiết: trên bãi bể, vì nắng chói thẳng vào mắt, Meursault phải bước lên một bước để tránh ánh mặt trời, bởi cái bước &#8220;định mệnh&#8221; ấy mà gã Ả Rập tưởng hắn muốn tấn công, mới rút dao găm ra, ánh mặt trời lại dội vào dao găm làm lóa mắt, sẵn súng trong túi, hắn nhả đạn), Meurseult buột miệng: Tại trời nắng! Cả tòa cười ầm. Không ai chấp nhận một lý do phi lý như vậy. Mà sự thực là thế: không có lý do nào khác ngoài cái ngẫu nhiên, phi lý của ánh mặt trời. Meurseult là người phi lý. Người phi lý bị vây khổn bởi sự không hiểu, không thể giải thích được &#8211; bất khả tri và phi lý là thực chất của nhân sinh: Meurseult chỉ nói lên sự thực nhưng không ai tin: hắn không biết tại sao hắn lại không muốn nhìn xác mẹ và cũng không biết tại sao mình lại rút súng bắn người. Nhưng người ta &#8220;biết cả&#8221;, người ta buộc tội hắn đã chôn mẹ với &#8220;tâm địa hung thủ&#8221; (enterré sa mère avec le coeur de criminel) và người ta vẽ chân dung hắn: một kẻ giết người với những lý do rõ ràng, nhưng hoàn toàn xa lạ, không có gì dính dáng đến Meurseult. Bị xử tử qua chân dung ấy, Meurseult hoàn toàn <em>xa lạ</em> với thế giới &#8220;hợp lý&#8221; ấy. Đã không biết gì về mình, hắn lại càng không biết gì về người. Đã xa lạ với chính mình, hắn  lại càng xa lạ với người. <em>Người xa lạ</em> là bi kịch của nhân sinh, một nhân sinh không biết gì về mình, lại càng không biết gì về người khác. Tất cả đều là những kẻ xa lạ. Với mình. Với người.</p>
<p>Tìm hiểu tác phẩm Dương Nghiễm Mậu, người ta thấy bàng bạc những yếu tố này hay yếu tố khác trong <em>quan niệm nội soi về mình</em>, quan niệm<em>người phi lý</em>, <em>người xa lạ</em>, rồi việc bỏ rơi cốt truyện, từ chối nhân vật tiêu biểu, bác bỏ danh xưng&#8230; chứng tỏ sự có mặt của hai dòng tư tưởng chủ yếu thế kỷ XX: triết học hiện sinh và tiểu thuyết mới. Tác phẩm của Dương, trong một chừng mức nào đó, đã thật sự gặp gỡ những yếu tố tư tưởng mới chi phối các sáng tác hiện đại, đánh dấu ngõ quặt của tiểu thuyết Việt Nam, <em>thời kỳ ly khai ảnh hưởng tiền chiến</em>.</p>
<p>Trong văn học miền Nam sau 54, chuyển hướng &#8220;ly khai&#8221; này hiện rõ trên những tác giả như Dương Nghiễm Mậu, Thanh Tâm Tuyền, Trần Thị Ngh., Nguyên Sa, v.v&#8230; qua cách họ đặt vấn đề và những cấu trúc hình thức rất mới. Nói rằng chịu ảnh hưởng của tác giả này, tác phẩm kia, chưa chắc họ đã bằng lòng, Nguyên Sa bảo: để chống lại tiểu thuyết mới (truyện không có chuyện), tôi viết <em>Những ngày làm việc ở chung sự vụ</em>, một truyện với rất nhiều chuyện. Nguyên Sa làm mới hay chống mới, điều đó không quan trọng, điểm đáng kể là với <em>Những ngày làm việc ở chung sự vụ</em> ông đã viết được cuốn tiểu thuyết &#8220;đa âm&#8221; và là một trong những tác phẩm viết về chiến tranh và chống chiến tranh lạ lùng nhất trong khoảng hơn bốn mươi năm trở lại đây.</p>
<p>Vẫn trong dòng tiểu thuyết &#8220;ly khai tiền chiến&#8221; ấy người ta thấy rõ ảnh hưởng những tác giả Pháp như Sartre, Camus, Robbe-Grillet&#8230; Ảnh hưởng này, có thể đến từ nhiều mặt: trực hoặc gián tiếp qua học đường, qua sách vở, qua xã hội, hoặc phát sinh từ chính bản chất phi lý của chiến tranh. Ngoài ra, không thể chối cãi được sự đóng góp tích cực, ở  đại học, của các giáo sư văn triết thời ấy, ngoài việc giảng dạy họ còn viết sách phổ biến những trào lưu tư tưởng triết học Đông Tây; và những tạp chí văn chương, những sách dịch có giá trị, tất cả đều đã ít nhiều đóng góp vào việc hội nhập người đọc và người viết với đời sống văn học thế giới và đã thúc đẩy cuộc &#8220;cách mạng văn hoá&#8221; sau năm 54 ở miền Nam. Nhờ đó, ngay từ những năm 60, chúng ta đã có một số tác phẩm mang tính chất đầy cạm bẫy và bất trắc dựa trên những suy tưởng có căn bản triết học mà các tác giả avant-garde nhất hiện nay, cả trong lẫn ngoài nước, ít ai đạt được chiều sâu nội dung và sự đa dạng trong cấu trúc như lớp nhà văn ly khai tiền chiến sau 54 đã làm.</p>
<p>Hướng đi của Dương Nghiễm Mậu dựa trên hai ngả: <em>thay đổi bối cảnh</em> và<em>làm mới con người</em>.</p>
<p>Trong thời kỳ đầu,  tác phẩm của ông vẫn còn bắc cầu giữa mới và cũ, Dương tìm cách tạo một phong cách hiện thực rất gần với nghệ thuật làm phim của các điện ảnh gia tân hiện thực Ý những năm 50: vừa chính xác vừa tàn nhẫn. Ở những tác phẩm sau, Dương đã tìm ra lối đi  riêng của mình: trình bày nhân vật dưới cái nhìn hiện tượng luận, tra khảo tính phi lý của con người, của thân phận nhược tiểu trong chiến tranh và hầu như mỗi truyện (ngắn) hay đều có cấu trúc, đề tài lạ, khác hẳn những gì đã viết trước và do đó tạo ra một phong cách tiểu thuyết mới rất độc đáo, rấtDương Nghiễm Mậu, xin gọi là <em>Mậu truyện</em>.</p>
<p>Cuộc kháng chiến chống Pháp, dưới ống kính &#8220;tân hiện thực&#8221; của Dương Nghiễm Mậu không còn những nét thơ mộng, hào hùng, chính khí như trong nhạc Phạm Duy, Văn Cao, Nguyễn Đình Thi, Đỗ Nhuận&#8230; mà đầy vết hoài nghi, loang máu, cạm bẫy và tội ác trong <em>Cũng đành, Gào thét</em>. Hà Nội của Dương Nghiễm Mậu cũng không còn bóng dáng tha thướt áo Lemur Cát Tường, tuyệt hẳn những lả lướt khăn châle màu Đoàn Chuẩn, mà cũng chẳng hiện thực phê phán Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng&#8230; đó là một Hà Nội đầy bất trắc, Hà Nội xuất huyết nội tâm, Hà Nội lựu đạn, Hà Nội ám sát giữa đường, Hà Nội của lê dương khùng, Hà Nội của những kẻ sống lần hồi bằng nghề bán máu&#8230;</p>
<p>Nhân vật trong <em>Mậu truyện</em> thường là người có ý thức, mang những trăn trở siêu hình với những ung nhọt, những cái bướu trong tâm, bị kết án chung thân phải sống, phải tồn tại với những ung nhọt ấy. Nếu cắt nó đi, cái bướu -với những chân rết ung thư- sẽ truyền nọc độc khắp cơ thể. Thời 60, khi phần đông các cây bút khác vẫn còn bận tâm khai thác, truy lùng những niềm đau ngoại thương do người khác gây ra, Dương Nghiễm Mậu đã nhìn cuộc hiện sinh từ bản thân con người, từ hành động, suy tư của chính mình, xuất phát những ung nhọt trong cuộc sống nội tâm và ngoại giới. Nhân vật của Mậu không có lựa chọn nào khác ngoài cái chết và cuộc sống phi lý, vô nghĩa.</p>
<p><strong>Dương Nghiễm Mậu và thế hệ ngộ độc của lịch sử chia đôi Nam Bắc</strong></p>
<p>Tiểu thuyết <em>Gia tài người mẹ</em> trình bày cục diện một dân tộc trước những xâu xé đớn đau gây ra bởi chính những đứa con thoát thai trong lòng dân tộc ấy: Một người mẹ trước khi chết gọi tất cả các con ở xa về để trối trăn và chia gia sản. Gia tài người mẹ, của Trịnh, <em>&#8220;gia tài của mẹ để lại cho con, gia tài của mẹ là nước Việt buồn&#8221;</em>. <em>Gia tài người mẹ</em>, của Mậu, không chỉ là nước Việt buồn, mà là một đất nước trống rỗng, anh em giằng xé, tranh quyền làm chủ. Trong cái gia đình thoái hóa tồi tệ ấy, mỗi người xướng lên một thoại. U già, bà mẹ, và bốn người con: Thạch, Nhược, Nhẫn, và Tuấn, mỗi nhân vật đều xưng tôi, đều kể chuyện nhà dưới cái nhìn chủ quan của mình. Người mẹ, rách nát thể xác và tâm hồn, trải hai đời chồng (cả hai đều tham gia cách mạng nhưng dưới những ngọn cờ khác nhau), với những đứa con riêng, con chung. Người chồng đầu chết trong nhà lao, người chồng thứ nhì trở về thân tàn ma dại, nghiện ngập, yếu đau, bị lính lê dương giết trước khi hãm hiếp vợ, sinh ra đứa con lai là Nhẫn. Đó là hình ảnh bầm tím, khốn cùng của mẹ Việt Nam mà người đọc có thể <em>mập mờ chắp vá</em> lại qua những mảng độc thoại nội tâm, đối thoại với người chết, trách móc, oán hờn, của mỗi nhân vật, gọi là<em>mập mờ chắp vá</em>, bởi không có một sự thật mà có nhiều sự thật khác nhau, tùy theo cách nhìn và cảm quan của mỗi người. Bên giường mẹ hấp hối, lũ con tiếp tục cãi vã, đánh lộn, thậm chí giết nhau, giành giật quyền có lý, phần thắng, quyền sở hữu ngôi nhà dột nát trống trơn không còn gì trừ hận thù và đói khổ. Cái gia tài tàn mạt ấy, còn bị cưỡng bách thông gia với những gia tài khốn khổ hơn của một loạt những dân tộc nhược tiểu khác, cũng bị đô hộ như mình, cũng phải đánh thuê, giết mướn, tạo ra những đứa con vô thừa nhận như Nhẫn: <em>&#8220;Tôi là giọt máu của một kẻ thù trong gia đình này. Kẻ thù đó là bố tôi, nhưng có thực bố tôi là kẻ thù đích danh không? Tôi nghĩ bố tôi không bao giờ lại thế. Bố tôi cũng chỉ là một nạn nhân, một kẻ đánh mướn mang bản án tù đày chung thân không sao gỡ được với thân phận nhược tiểu ốm o gầy yếu trong thực tại nhân loại. Bố tôi còn sống hay đã chết rồi? Sống hay chết số phận những người đồng loại với bố tôi đều không thay đổi.&#8221;</em> (Gia tài người mẹ, Văn Nghệ 1964, trang 33). Nhẫn là đứa con &#8220;kết tinh từ tội ác&#8221;, là giọt máu của &#8220;hận thù và tàn bạo&#8221;. Người mẹ bị hãm hiếp mang nặng đẻ đau khối oan nghiệt của mình như một ung nhọt không thể chữa chạy, loại trừ. Và đứa con, càng lớn càng nhận thức được mặt trái của cái gọi là con người <em>&#8220;tôi đi học lủi thủi ngồi chỗ mình. Tụi bạn trong lớp bảo rằng tôi hôi hám lắm, một mùi hôi của mọi, mà nhiều đứa trông đẹp đẽ thật đó lại hôi hám bằng vạn tôi, chúng không muốn làm bạn với kẻ da đen (&#8230;). Tao chắc nó là dân nô lệ ở Phi Châu (&#8230;) nơi mà người ta mua bán người như súc vật&#8221;</em> (sđd, trang 32). Nhược tiểu, đói khổ, kỳ thị, dốt nát&#8230; những căn bệnh gia truyền và cũng là những ung nhọt phế thải chạy khắp thân thể người mẹ, truyền sang thai nhi. Người mẹ vĩnh viễn sống với nỗi ung thư của mình, không có cách gì gột rửa được, nó là &#8220;một sự&#8221; chưa có tên nằm trong bụng mẹ và ngoài bụng mẹ nó trở thành thực tại nhỡn tiền, là Nhẫn: <em>&#8220;tôi là điều để các anh tôi nhớ rằng chính mẹ tôi đã bị nhục nhã, bố họ đã bị giết, kẻ giết đó chẳng phải ai xa lạ mà chính là bố tôi&#8221;</em> (sđd, trang 34). Nhận thức được &#8220;phận mình&#8221;, nhận thức được thực tại hãi hùng: sau khi mẹ chết, đối với các anh, mình chỉ trơ trụi là một sản phẩm kết tinh của tội ác. Nhẫn treo cổ tự tử nhưng không chết.</p>
<p>Như <em>Mẹ đảm</em> (<em>Mère courage</em> của Bertolt Brecht), mẹ Việt Nam gây chiến tranh và bị chiến tranh tàn phá, bị ngộ độc vi trùng hận thù do chính mẹ gây ra và các con của mẹ reo rắc, thứ vi trùng mà chúng đã tiếp nhận như một thứ &#8220;di sản dân tộc&#8221; từ trứng nước, từ bào thai, do cha mẹ chúng gieo mầm, những đứa con triền miên trong ác mộng hung thủ <em>&#8220;Tôi đã cầm chắc một con dao nơi tay, tôi đứng lấp trong một góc tối nơi hò hẹn của ma quỷ cùng tội ác, tôi chờ giết một người&#8230; Chỉ chờ khi hắn vừa bước tới là tôi túm lấy ngực, vật ngã nó xuống, cắt lấy đầu rồi tôi rạch một nhát từ cuống họng xuống dưới xương cụt, tôi phanh bụng ra, moi lấy tim&#8230; tôi chờ mãi cho tới khi có một cái bóng vừa xuất hiện ngơ ngác, tôi túm lấy, nó không cử động, kháng cự, kêu la, vùng vẫy gì hết. Tôi đâm một nhát thấu tim, khi nhìn vào mặt nó tôi mới nhận ra là tôi giết tôi&#8230;&#8221;</em> (sđd, trang 76). Không chỉ có Dương Nghiễm Mậu nhìn thấy cơ nguyên tha hoá của dân tộc, mà Phùng Cung trong một bối cảnh khác, một chân trời khác cũng đã nhìn thấy cội nguồn tàn sát nằm trong vô thức dân tộc:</p>
<p><em> Cờ máu rợp trời</em></p>
<p><em>Lợm gió!</em></p>
<p><em>Tiếng quốc thiều</em></p>
<p><em>Tăng âm cực đại thét gào</em></p>
<p><em>&#8220;Thề phanh thây uống máu!&#8221;</em></p>
<p><em>Ta lùng trong kho nhớ</em></p>
<p><em>Nhẩm biên niên sử</em></p>
<p><em>Xin hỏi loài người</em></p>
<p><em>Có quốc thiều nào man rợ thế không</em></p>
<p>(<em>Xuống đường</em>, tập thơ <em>Trăng ngục</em> in trong cuốn Phùng Cung truyện và thơ, nhà xuất bản Văn Nghệ 2003, trang 365).</p>
<p>Mà đã nói đến quốc thiều ngoài Bắc của Văn Cao thì cũng phải nói đến quốc thiều trong Nam của Lưu Hữu Phước:</p>
<p><em> Thanh niên ơi!</em> (sau đổi thành <em>công dân ơi</em>), <em>mau hiến thân dưới cờ!</em></p>
<p>Một dân tộc thi nhau gọi máu, gọi chết mà quên gọi sống. Và chết cho cái gì? Chết cho lá cờ! Hai lá cờ khác nhau! Hai mảnh vải khác nhau! Hai hình vẽ khác nhau! Phi lý. Bên nọ hò hét đòi phanh thây bên kia vì không hát chung một bài quốc thiều, vì không chào chung một lá cờ! Nhưng những người làm cờ, làm quốc thiều đôi khi lại phát xuất từ cùng một phía!</p>
<p>Phi lý, vô nghĩa và không lối thoát, mẹ Việt Nam bất lực nhìn từng mảnh thân mình tự xé bương như căn nhà mục nát mà các con bà đang cào cấu, cướp lấy mỗi người một mảnh để tranh thủ phần thắng về mình, phần có lý về mình. Người mẹ thiếp đi trong không gian tăm tối, mấy đứa con không nhìn thấy mặt nhau. Ngoài kia, một đoàn người lạ mặt đang chờ đợi để xông vào nhà&#8230;</p>
<p>Đặt các nhân vật trước bờ vực lựa chọn, rồi họ sẽ chọn gì, sẽ đi về đâu? Không thể biết, Dương không cho <em>Gia tài người mẹ</em> là một cuốn tiểu thuyết, ông bảo: <em>&#8220;tôi mượn một thứ hình thức để viết ra những điều cần phải viết&#8221;</em> (Thay lời bạt). Chúng ta có thể xem đây là một loại tiểu luận tiểu thuyết, thể văn khá thịnh trong nửa sau thế kỷ XX. Tác phẩm, dù đoạt giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc (của miền Nam) cũng chưa thật sự thành công vì nhiều chỗ có những gượng ép luận đề. Nhưng đặc điểm ở đây là Dương đã thử nhìn lại lịch sử với nhãn quan cực thực, không nhân nhượng. Dương đã viết về thực tại đất nước một cách tàn nhẫn, xoá những huyền thoại, những lý tưởng điêu ngoa, những xưng tụng gian dối.</p>
<p>Nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn đã nói lên được niềm đau chiến tranh, kêu gọi người Việt <em>&#8220;ngồi lại với nhau, gần kề nhau hơn&#8221;</em>, với ước mong hoà bình, thống nhất Nam Bắc, nối vòng tay lớn, nhưng họ Trịnh vẫn chỉ mới nghiêng xuống niềm đau riêng của người Việt da vàng. Tác phẩm của Dương đã thoát khỏi màu da, bởi niềm đau không có màu sắc, xác chết không phân biệt màu da. Tác phẩm của Dương bao trùm lên tất cả những niềm đau chiến tranh của mọi dân tộc. Những niềm đau ấy phát xuất tự chính bản thân con người, bản thân mỗi dân tộc. Dương không than vãn, kêu oan, đổ tội cho đế quốc xâm lăng mà nhận trách nhiệm của chính mình, của dân tộc mình. Và chỉ khi nào một dân tộc có khả năng nhận ra &#8220;tội trạng&#8221; của mình, không đổ lỗi cho người khác, dân tộc đó mới có khả năng trưởng thành, tự lập để xây dựng tương lai.</p>
<p><em> Gia tài người mẹ</em> chỉ là những nét sơ phác, về sau, ông trình bày những tình huống, những trường hợp sống phức tạp, đa nghĩa và đớn đau hơn, tạo nên bức dư đồ rách của thực tại Việt Nam. Một Việt Nam không có gì đáng tự hào, một Việt Nam không có khả năng tự phán, một Việt Nam không có khả năng tự giải quyết vấn đề nội bộ của mình, luôn luôn đổ vại, khi thì tại giặc Tây, khi thì tại giặc Tầu, khi thì tại giặc Mỹ, mà không biết là giặc, là &#8220;con rệp&#8221; nằm ngay trong máu mình, nằm ngay trong ý thức vọng ngoại, thích tha người ngoài về tổ, dễ bị mê hoặc bởi những ý thức hệ ngoại bang, tự tạo chiến tranh trên đất nước, rồi tìm tất cả những lý lẽ để biện minh cho tội ác của chính mình bằng mớ ngụy ngôn từ. Những sa đọa tàn mạt trong cuộc chiến gia đình với sự trợ lực của người ngoài ấy, đã được nội soi từ hồng tâm mỗi nhân vật.</p>
<p><strong>Tuổi nước độc </strong></p>
<p>Nếu <em>Gia tài người mẹ</em> nhắm vào cục diện dân tộc thì <em>Tuổi nước độc</em> khảo sát trường hợp cá nhân. <em>Tuổi nước độc</em>, tác phẩm đầu tay của một nhà văn trẻ, văn viết có nhiều chữ thừa, vụng, các dữ kiện đưa ra có chỗ hơi thái quá, nhưng vẫn có thể xem là một trong những tác phẩm chủ yếu của Dương mà sau này những tiểu thuyết khác như <em>Gia tài người mẹ, Đêm tóc rối, Gào thét, Con sâu&#8230;</em> tiếp nối cõi viết đã mở ra với <em>Tuổi nước độc</em>.</p>
<p>Truyện đăng lần đầu trên tạp chí Văn Nghệ tại Sài Gòn dưới tựa <em>Đầy tuổi tôi</em>, khi in thành sách năm 1966, đổi tên là <em>Tuổi nước độc</em>.</p>
<p><em> Nước độc</em> là tuổi tôi mà cũng là tuổi anh, tuổi chúng ta, tuổi vị thành niên, tuổi đang thành niên, tuổi dễ bị ngộ độc và chính nó xác định số phận con người, đời người, mở đầu bằng bối cảnh: <em>&#8220;Trời trở rét làm cho nền trời co nhàu lại, mọi người đi đứng một cách nhẹ nhàng như con mèo khôn khéo lựa mình chui vào lần chăn trong đêm mùa lạnh&#8221;</em> (Tuổi nước độc, Văn 1966, trang 5).</p>
<p>Ba tiếng <em>&#8220;Trời trở rét&#8221;</em> nhắc nhở không khí quen thuộc Hà Nội trong <em>Đôi bạn</em> của Nhất Linh, nhưng ngay sau đó, tuổi nước độc phản pháo đàn anh bằng một <em>&#8220;nền trời co nhàu lại&#8221;</em> kéo theo chuỗi hình ảnh dữ dội thoát ra<em>ngoài</em> không khí lãng mạn, êm ả thường thấy trong các tác phẩm tiền chiến. Dứt cái thơ mộng bề mặt của Hà Nội tiền chiến bằng cách ngay sau <em>&#8220;trời trở rét&#8221;</em> là một <em>&#8220;nền trời co nhàu lại&#8221;</em> là một Hà Nội đang chiến, Hà Nội đánh nhau, Hà Nội thất nghiệp, Hà Nội hấp hối hướng về Nam Bộ <em>&#8220;Ở phố hàng gạch có một nhà căng bảng mộ phu đi Nam Bộ&#8221; </em>(trang 9). Rồi tiếp tới một lượt những nghi vấn <em>&#8220;những người thanh niên ra đi khi Nam Bộ vừa bắt đầu nổ súng chống Pháp bây giờ ra sao?</em>&#8221; (trang 9); rồi những vụ ám sát <em>&#8220;một người đàn ông nằm sóng sượt trên lề đường nơi cửa một tiệm thuốc bắc, chiếc mũ dạ nằm ngửa cách xa xác chết khoảng một sải tay, không ai dám đi ngang qua chỗ ấy&#8221;</em> (trang 9), những chuyện xẩy ra hàng ngày: lựu đạn nổ ở rạp Kim Phụng, lính tây đen Maroc phóng xe cuốc xuống cầu thang một lèo như muốn tự tử v.v&#8230; Bạo lực đường phố sửa soạn cho những xáo trộn bên trong con người. Nhân vật chính xưng tôi (tên Ngạc) đang đi dạo trên hè phố Hà Nội, gặp Hiền, người yêu. Rồi súng nổ họ lạc nhau. Ngạc về nhà thiếp đi trong ác mộng: <em>&#8220;Buổi trưa khô nóng dần, tôi thiếp đi chập chờn từng lúc một, đám đông náo động, khuôn mặt một người máu đầm đìa chạy cuồng lên gào rồi mất tăm. Trong đám đông ấy tôi gọi Hiền không ra tiếng. Chuyến xe lửa chạy ngang qua cầu lúc hơn mười giờ, tôi nằm im tỉnh táo nghe tiếng còi kéo dài.&#8221;</em> (trang 11).</p>
<p>Hà Nội bất an, Hà Nội bạo động, Mậu gia tăng vận tốc, chỉ dăm trang đầu, đã mở toang một bối cảnh Hà Nội rất loạn, rất chì, rất lì lợm. Hà Nội lựu đạn. Hà Nội thủ tiêu. Hà Nội tự tử&#8230; Đất kẻ chợ trở thành một đoàn xiếc, mỗi kẻ tòng teng trên chiếc dây căng định mệnh mình, chỉ chệch nghiêng đi một tỵ là có thể chết ngay lập tức: Hà Nội của nô lệ da vàng kéo nhau đi mộ phu Nam bộ; Hà Nội của nô lệ da đen ba vạch đánh thuê, của lê dương giết mướn;  Hà Nội của người hùng cứu nước sẵn sàng mở chốt lựu đạn giữa rạp hát ban ngày; Hà Nội của những cô gái nhà thổ&#8230; Tất thẩy đám &#8220;kẻ chợ&#8221; ấy đều vướng mắc vào trò xiệc oái oăm chết người.</p>
<p>Ở trong vòng xiệc lớn, trùng điệp khoanh tròn những xiệc nhỏ bi kịch cá nhân, phát xuất từ môi trường gia đình, xã hội, hoặc từ chính bản thân những con người đầy thương tích chiến tranh, hằn sẹo cuộc sống. Với tiểu thuyết đầu tay này, Dương Nghiễm Mậu đã phác vạch mạng lưới toàn bộ nhân vật tiểu thuyết và truyện ngắn đến sau: một tập hợp những người bạn, người thân đã sống những kinh nghiệm khắc nghiệt trên mảnh đất này, đã nhúng tay vào tội ác, đã có những lựa chọn phi lý hoặc không quyền lựa chọn. Họ là những số phận mang tính đặc thù: dây dưa với virus chiến tranh, dù muốn dù không cũng không thể nào gột rửa được. Không hội nhập được với an lạc, hạnh phúc, cũng không thể chọn một con đường thỏa đáng; cuối cùng mỗi người một hướng: kẻ ở lại trong thành, kẻ bị động viên, kẻ bỏ ra ngoài theo kháng chiến, người xung vào lính nhẩy dù&#8230; Tất cả đều có lý do để hành động nhưng rồi không ai biết chắc mình đúng hay sai, có lý tưởng hay không lý tưởng. Hầu như tất cả đều bị xô đẩy theo một thứ định mệnh bất trắc, kéo dài đến chết. Họ thân nhau và xa lạ với nhau, xa lạ chính họ. Tưởng biết rõ về mình, nhưng không. Chẳng ai biết rõ về mình, về người yêu của mình, về bạn thân của mình cả. &#8220;Nền móng&#8221; gia đình mà Dương Nghiễm Mậu phác ra là tiền trạm dự báo cái &#8220;chuẩn gia đình&#8221; trong tiểu thuyết Nguyễn Huy Thiệp sau này, mặc dù hai tác giả không hề &#8220;biết&#8221; nhau, không có điều gì chung, nhưng họ cùng huyết thống Việt, họ cùng nhìn thấy sự bại hoại gia truyền.</p>
<p>Ngạc, trong <em>Tuổi nước độc</em> nổ bùng như chất phóng xạ, châm ngòi cho thế hệ thanh niên vừa sinh ra đã bị nhiễm chất điên và chất độc. Bố điên bỏ đi biệt tích. Ông nội hãm hiếp đứa ở rồi thắt cổ cho nó chết. Phát xuất từ một gia đình loạn như thế, Ngạc khinh bỉ ông nội, kẻ sát nhân, đã nuôi mình bằng nghề cầm đồ khốn nạn; bản thân ông nội, dưới con mắt Ngạc<em>&#8220;bo bõm, keo kiệt, thủ đoạn, tàn nhẫn, làm nghề cho vay lãi, cầm cố, làm cái họ, với những người nghèo ở ngõ Gậm Cầu và chợ Bắc Qua&#8221;</em> (trang 25). Những đặc chất này sống lại trong lão Kiền của Nguyễn Huy Thiệp ba mươi năm sau như một cái rớp. Ông nội chỉ biết có hai việc là đếm tiền và chửi bới những con nợ. Ngạc khinh ông nội, xưng tôi với ông nội như một thằng du đãng thứ thiệt, nhưng nó vẫn sống ở nhà bằng những đồng tiền bẩn thỉu mà ông nội kiếm ra, và nếu ai có hỏi về quê quán, gia đình, thì nó nói dối: <em>&#8220;Tôi vẫn lừa dối khi ai hỏi tôi về quê quán, gia đình, họ hàng&#8230; Tôi bảo là gia đình tôi đã bị chết hết vì súng đạn và quê hương tôi thì chiến tranh vây phủ ở mãi tận Thạch Thất, Sơn Tây, ba bốn năm nay tôi không về. Tôi tự nhận là một thứ nạn nhân của chiến tranh. Nhưng sự thực tôi là người đứng ngắm chiến tranh, đam mê lý thuyết cùng nhiều tư tưởng sáo trộn trong thời kỳ chiến tranh. Phải chăng chiến tranh như một cuộc phiêu lưu khi người ta quá an nhàn.</em></p>
<p><em> Trong cuộc ở giữa hai khối tranh giành tôi muốn là người tham gia vào cuộc, có lý do đánh đuổi một thứ quân xâm lăng. Đồng thời tôi chán ghét tụi ở thành thị làm giàu trên xương máu người đồng loại.</em></p>
<p><em>Tôi muốn là một tuổi trẻ phiêu lưu trên đường tìm kiếm những cảm giác. Tôi lên giường tắt đèn đi ngủ còn nghe thấy tiếng ru của thím tôi và những tiếng kẻng cầm canh ở trạm gác ngoài đầu cầu.&#8221;</em> (trang 29-30)</p>
<p>Tâm thức và hành động của Ngạc na ná như tâm trạng số đông thanh niên bất cứ thời nào trong <em>&#8220;tuổi nước độc&#8221;</em>: nhìn thẳng nói ngay, cũng không có khí phách gì hào hùng cho lắm, chỉ muốn sống, muốn tìm cảm giác, sợ chết và chẳng có lý tưởng cứu nước cứu nòi gì cả. Ngạc nhìn những biến trạng thời thế như một người xa lạ, vừa muốn tham dự trực tiếp, vừa muốn đứng ngoài ngó vào với con mắt dửng dưng, y hệt như lời nó phê thằng Trương: <em>&#8220;Tham gia vào những chuyện bí mật ở thành chẳng qua là chúng mày có mặc cảm với kháng chiến. Thấy một công việc có nhiều người đang làm mà không thấy có mình ở trong thì cho là mình bị bỏ rơi, là cái thành phần chống lại. Nghĩa là muốn đứng vào một đám đông để những rung động lớn sẽ thấy mình được che chở.&#8221;</em> (trang 36-37). Ngạc đã nói toẹt ra cái mâu thuẫn âm ỉ trong lòng bọn thanh niên: vừa ích kỷ không thích dây dưa, muốn đứng độc lập và biệt lập một cõi; vừa muốn gia nhập cộng đồng để được tiếng &#8220;nhập cuộc&#8221;: nếu có theo bên này hay bên kia, phần lớn là do sự về hùa vì mặc cảm. Chính cái mặc cảm đứng ngoài, không giống ai, chết nhát&#8230; đã xúi người ta phải làm cái này, cái khác và có thể đó mới là động cơ chính, xác định những lựa chọn giữa đi kháng chiến hoặc ở lại trong thành. Ngoài ra, mỗi hành động cá nhân còn do hoàn cảnh đưa đẩy: thấy Tây và bọn bồi Tây dã man, bạn ra ngoài theo kháng chiến, nhưng nếu cha, anh bị Việt Minh giết, bạn sẽ chống cộng sản, hoặc bạn sống chùm trăn, mặc kệ những biến cố xẩy ra chung quanh. Tựu trung, tất cả những vị trí ấy đều hàm hồ, vô nghĩa, bởi cái mà bạn tưởng là tự do lựa chọn kia, thật ra chín phần mười vì hoàn cảnh chi phối hoặc sự ù lỳ bản thân đẩy bạn vào. Ở ngả đường nào, rồi bạn cũng gặp những thối tha, nhục nhã, nhất là khi cái thối tha nhục nhã ấy lại phát xuất từ chính bạn: Ngạc kinh tởm hành động hãm hiếp giết người của ông nội, nhưng rồi một hôm Ngạc cũng suýt hãm hiếp một người. Suýt giết chết một người. Từ <em>khinh</em> đến <em>bị khinh</em> chỉ là gang tấc.</p>
<p><em>Tuổi nước độc</em> là tuổi khám phá nọc độc trong con người, nọc độc phát sinh từ bản thân, từ gia đình, xã hội và nó quay trở lại ô nhiễm gia đình, xã hội, bản thân. <em>Tuổi nước độc</em> (sau này Nguyễn Huy Thiệp gọi là <em>Tuổi hai mươi yêu dấu</em>) khám phá ra sự bất lực của mình trước biên giới nhòe nhoẹt giữa thiện và ác, giữa cái khinh và cái đáng khinh: tất cả đều chênh vênh như vị trí kẻ đi trên dây xiếc, sự chao đảo có thể đến trong bất cứ phút nào. Tuổi nước độc cũng là tuổi ý thức ra sự bạc nhược, sự vô trách nhiệm, như những yếu tính của con người: nếu cuộc đời anh không ra gì, anh sẽ đổ vạ cho chiến tranh; thực ra anh cũng chẳng muốn tham dự gì vào chiến tranh, anh theo bên này hay bên kia vì những lý do chẳng ra gì, chẳng có gì là cao cả ghê gớm. Muốn tìm đến một lý tưởng thì thấy không có lý tưởng. Muốn tìm đến đạo đức thì thấy không có đạo đức nào cả. Muốn suy tư như một trí thức thì thấy mình rỗng. Khinh những kẻ kiếm tiền một cách ti tiện như ông nội nhưng vẫn sống bám vào ông nội. Người yêu bị nạn, muốn cứu người yêu, nhưng bất lực, lờ luôn. Ngạc giống Tân, một nhân vật khác trong truyện: bố Tân bị Tây bắn chết, Tân bị Tây bắt làm phu rào đồn. Một hôm du kích ném lựu đạn vào đồn, bốn năm người chết. Tân may mắn được người ta cứu sống nhưng bị cụt chân, Tân đến hội nạn nhân chiến tranh xin trợ cấp, người ta phát cho <em>&#8220;một cái chăn, một hộp xà phòng, một hộp bơ, hai hộp thuốc đánh răng, một cái bàn chải và năm chục bạc&#8221;</em> rồi họ thả ra. Không biết làm gì để kiếm ăn phải bán máu để sống cho đến kiệt sức, Tân tự hỏi: <em>&#8220;Không hiểu họ cứu sống tôi để làm gì?&#8221;</em> (trang 89). Tân là trường hợp bức tử thể xác. Ngạc là trường hợp bức tử tinh thần. Cả hai đều chầm chậm đi vào cõi chết. Đường đi của Ngạc giống mà khác Tân. Ngạc cứ tiếp tục sống một cách phi lý, sống thừa, nhưng không dám tự tử. Ngạc tự hỏi: <em>Tôi hư vô phải không?</em>Rồi một ngày Ngạc phải trả giá cho những hành động của mình: Trong cơn xung đột dữ dội với người em khác mẹ mà Ngạc đã đối xử tàn nhẫn, đứa em đem bàn là nóng chà lên mặt Ngạc. Ngạc trở thành một kẻ tàn tật, đổi dạng và đổi hồn&#8230; Quyết liệt hơn trong hành động: Ngạc &#8220;giải quyết&#8221; cái chết cho người thím tàn tật, Ngạc chiếm hữu chị Huệ, người con gái mà Ngạc mang ơn và vẫn coi như một người chị. Nhưng tất cả những bạo lực này không giải tỏa được phần nội tâm cực kỳ mâu thuẫn của Ngạc, Ngạc tiếp tục sống thừa, sống ác trong những cơn mê sảng mà cuộc đời và hoang tưởng trà trộn lẫn nhau. Dần dà, những ác mộng chiếm hữu Ngạc như một thứ thần chết triền miên và kinh hoàng. Những câu hỏi tại sao, tại sao tôi làm như thế? Tôi có yêu chị Huệ thật không? Hiền, người yêu cũ đâu rồi? Tại sao tôi lại tàn bạo như thế? Tại sao tôi lại bất lực như thế?&#8230; toàn bộ những mảnh phim tan tác quay tròn những hành động quái gở của Ngạc cùng tung hê ra một lúc trong đầu, tiếng nói của bạn hữu, của người yêu, người thù, những lời hỏi tội, những lời cung khai, những lời thề thốt, những tiếng thét, những lời nguyền&#8230; như một thứ hỏa mù bạo lực nghiền vụn, tán nát thành đạn trái phá chạy trong đầu Ngạc.</p>
<p><em>Tuổi nước độc</em> tiêu biểu cho hệ tư tưởng của Dương Nghiễm Mậu về con người, về tính chất hư vô trong cuộc sống, về bạo lực gia đình dẫn đến bạo lực chiến tranh. Ngạc và các bạn khởi đi từ <em>tuổi nước độc</em> để sau này, trưởng thành, gặp Lễ trong <em>Đêm tóc rối</em> (1965). Lễ đong đưa giữa &#8220;con đĩ già&#8221; và một người con gái trinh nguyên. Giữa xác thịt và tình yêu. Hoàn toàn mất niềm tin, mất định hướng. Lễ, <em>nhân vật hư vô</em>, bất lực trước cuộc sống, hoài nghi tất cả những gì &#8220;tích cực&#8221;, kẻ luôn luôn tự hỏi <em>&#8220;tại sao tôi không là một người khác?&#8221;</em> Tất cả những hành động của Lễ không mang một ý nghĩa nào: <em>&#8220;tại sao tôi không kiếm ra lý do và mục đích cho một hoạt động nào đó, như Khang đã đi, như Thục đi làm nuôi vợ con, như Khánh đang chiến đấu ngoài mặt trận, như Mạnh đang vùi đầu trong thư viện, như Nghiêm ôm ấp mộng tưởng trở thành nhà văn. Họ có lý do và mục đích. Còn tôi, tôi không có gì cả. Và cũng từ đó tôi hoài nghi công việc của người khác. Biết đâu họ cũng như tôi, và họ tự lừa họ như thế.&#8221;</em>(Đêm tóc rối, Thời mới 1965, trang 15). Lễ không tìm thấy một lý lẽ nào chấp nhận được cho sự tồn tại của mình, bởi đằng sau những bức bình phong của lý lẽ, bao giờ cũng có khoảng trống của hoài nghi, của không thực. Thục đi làm nuôi vợ con ư? Có thực thế không? Thục hạnh phúc ư? Có thật thế không? Thế nào là hạnh phúc? Nếu Lễ tìm thấy một, chỉ một câu trả lời xác định thôi trong tất cả những câu hỏi đó có lẽ anh đã &#8220;sống đẹp&#8221; hơn. Nhưng không có gì xác định trong cõi đời này. Mọi xác định đều hồ đồ, kệch cỡm, thô thiển, giả tạo. Lễ dốc toàn lực để hỏi tra. Tra hỏi tình yêu. Tra hỏi hạnh phúc. Tra hỏi mục đích của cuộc đời. Tra hỏi sự hư hỏng của mình. Tra hỏi thành công, thất bại. Tra hỏi ý nghĩa cuộc sống&#8230; rặt một trả lời: trống không, vô nghĩa. Về người yêu cũ <em>&#8220;Quyên đã đánh cắp tình yêu của tôi làm vốn liếng trong một chuyến buôn hạnh phúc gian lận&#8221;</em> (sđd, trang 28), về mình <em>&#8220;bây giờ anh chung sống với một con đĩ già&#8230; anh không oán em, nhưng anh thâm thù hạnh phúc. Đôi cánh đã gãy, thiên thần và dòi bọ giống nhau&#8221;</em> (sđd, trang 49), <em>&#8220;tôi hoài nghi những thần tượng, sự trong sạch, tinh khiết, những điều chúng ta gọi là lý tưởng. Tôi ngờ ngay những nhận thức của tôi. Tôi biết rõ một điều về tôi, sự hoang mang, mâu thuẫn&#8230;&#8221;</em> (sđd, trang 41) . Dưới huyệt của &#8220;tuyệt vọng và hư vô&#8221;, Lễ tìm đến thân xác mụ Liên như chiếc hầm trú nhơ nhớp, chống những quằn quại bùn xình trong óc <em>&#8220;Những cử động nhận chìm cơ thể tôi vào một hồ đất bùn đen nhớp nháp, nhưng ở đó những đá sỏi sắc cạnh, hay gai góc của rừng làm tê buốt, nhức nhối, cùng đó trí óc mưng tấy rồi co rút mang cả người tôi chúi xuống một cơn bão giật, lắc đi lắc lại, như những hạt thóc đang được lắc trong cối xay&#8230; Những cảm giác đen nhầy nhụa tan đi trong giây phút của nhiệt độ, rồi lả dần xuống cảm giác bải hoải tê mỏi những nhớp nháp trầy trụa như vết chân cọ dài trên mặt đất sét cứng mà cơn mưa vẫn còn rả rích. Nỗi cô đơn chót vót ngất ngư dâng lên trong tôi kéo dài&#8230; trong một lúc nào thức dậy của trí tuệ, tôi gớm tôi, tôi lẩn tránh tôi những thói quen, nhưng những thói quen như một chiếc lưới đen (&#8230;) chụp xuống, quấn tròn tôi lại và quăng ra xa&#8230;&#8221;</em> (sđd, trang 43). Trong đêm đen, Lễ vẫn cố hướng sáng về cứ điểm cuối cùng &#8220;Em hãy mang anh trở về căn nhà xưa, nơi mẹ anh đã chết&#8221;. Bởi trùm phủ lên tất cả vẫn là mẹ. Mẹ chiến tranh, mẹ gây chiến tranh và chết vì chiến tranh. Mẹ bỏ con một mình trong cuộc chiến hư vô tàn nhẫn <em>&#8220;Chiến tranh đã kéo dài từ bao giờ. Bố tôi chết trong chiến tranh đó sau nhiều năm lặn lội và bỏ mẹ tôi một mình. Mẹ tôi chết trong đó và bỏ tôi lại không nhớ chút gì. Chiến tranh vẫn kéo dài tôi mất Quyên trong đời sống một người khác và tương lai một thời thái bình tôi chưa thấy làm tôi rỗng đi trong đầu, trong tim, mất đi trong mạch máu một sự sống cần thiết, và chiến tranh kéo dài đến bao giờ&#8221;</em> (sđd, trang 80). Những nhân vật trong <em>Đêm tóc rối</em> cùng chung nhau một bóng đêm, một vùng tóc rối, họ mò mẫm từng bước trong khu rừng bấp bênh, đầy lường gạt, ngộ nhận, trống rỗng và vô nghĩa. Lễ tỉnh táo ý thức tình trạng &#8220;hư vô&#8221; của mình <em>&#8220;có phải mọi người đều có hạnh phúc và riêng tôi một mình hư vô trong cuộc sống. Có trời không. Trời làm gì, nghĩ gì, đi đâu. Tôi nằm đây là cái gì. Chiếc bàn, cái ghế, tờ giấy, chiếc ảnh, số phận nào, định đặt nào?&#8221;</em> (sđd, trang 100).</p>
<p>Không có trời. Không có gì cả. Không có định đặt nào. Tất cả có đấy. Trơ ra. Hiện hữu. Cuộc hiện sinh tàn khốc. Cuộc sống không có lẽ sống, phi lý và vô nghĩa.</p>
<p>1968-1969, ở thời điểm gay go nhất của chiến tranh, Dương Nghiễm Mậu quay lại thực tại cuộc chiến chống Pháp, ôn lại những dã man, tàn ác của đôi bên trong <em>Gào thét</em>, như muốn gào lên sự thật một lần nữa: chiến tranh không giải quyết được gì, chỉ đào thêm những vực chôn người, vực ngộ nhận tàn nhẫn. Cũng năm 68, trên báo Văn, xuất hiện truyện dài <em>Con sâu</em> bối cảnh chiến tranh đạt tới đỉnh cao tuyệt vọng dù không hề thấy bãi chiến trường. Năm thằng bạn cũ: Quảng, Thạc, Đức, Ngưỡng, Lực say mèm bên &#8220;năm cái ly cạn đứng im&#8221;. Những chiếc ly im lặng nuốt trôi những khúc đời nhày nhụa, mất hướng của năm thằng còn sống đang nhậu hộ những thằng đã chết. Sống chết ở đây nằm trong kế hoạch đại quy mô trên toàn thể đất nước: đó là sự sống chết dưới cờ. Cả hai bên đều lợi dụng lá cờ để tổ chức sự giết người có hệ thống, có lãnh đạo, có quốc thiều phụ họa, có màu cờ tổ quốc ghi ơn.</p>
<p>Chiến tranh không lộ mặt tiền, nó sống âm ỷ trong những cơn mê sảng, những lời cật vấn lè nhè đầy hơi rượu&#8230; Thằng còn sống hỏi tội thằng đã chết: <em>&#8220;Mày có biết thằng nào đã bắn mày không? Tao chắc nó chết rồi Tao không hiểu sao bọn mày lại để lọt dễ vậy. Nhảy xuống những chỗ như vậy thì mày phải biết chứ, mình ở chỗ trống, bọn nó trong bụi, sình lầy như vậy&#8230; Đ. má bọn nó, tao còn ai để nhậu nữa&#8230; Tao về được gắn huy chương, còn mày thì được bỏ hòm. (&#8230;) Con Tám-đen nó hỏi thăm mày, tao nói chết rồi. Có lẽ mày chết rồi nó mới thương mày.&#8221;</em> (Con sâu, Sống Mới, trang 16).</p>
<p>Con người trở thành &#8220;con sâu&#8221;. Đất nước trở thành một sa trường sâu. Lò lính là nơi <em>&#8220;vào đây đá cũng phải vỡ, sắt cũng phải cong&#8221;</em>. Với sự &#8220;đào tạo&#8221; người bằng cách tiêu hủy như thế, sự gãy trục tuột xích đã ngấm vào xương tủy. Hai bên thi nhau trồng người để xông vào cái chết. Tập cho con người biết chết thay vì biết sống. Môi trường nhiễm đầy tử khí, dưỡng khí đành phải thối lui. Sự sống của những thằng còn lại chỉ là cái gì tàm tạm, chỉ là án treo, chỉ là&#8230; đợi chết. Quảng sống để truy tìm &#8220;sự thật&#8221;, để tìm hiểu tại sao lại đến nông nỗi này. Ở Quảng, những hình ảnh thời thơ ấu luôn luôn trở về với nét mặt người cha khắc nghiệt, đã có thời hoạt động bí mật với những &#8220;người bạn&#8221;, đã có những lần mang hành lý đi biệt lâu ngày. Cũng người cha đó, đã có lần điểm vào mặt đứa con bảy tuổi &#8220;mày không phải con tao&#8221;. Cũng người cha đó, đi chán, trở về, ốm đau, bất lực, thường trực nằm úp mặt vào tường cho đến lúc chết. Thằng nhỏ chờ một &#8220;thông điệp&#8221; của người cha. Không có thông điệp. Không có thông điệp nào cả từ con người suốt đời &#8220;ngoảnh mặt đi&#8221;, trừ <em>&#8220;bầy chuột. Con rệp. Vốc máu. Chiếc vỏ đạn nóng bỏng. Đôi mắt nhìn cuống quýt. Ngọn đèn dầu leo lét. Tiếng nói đay nghiến.&#8221;</em> (trang 127). Với một &#8220;di sản&#8221; như vậy, những đứa con bị hội chứng hóa sâu, tự cật vấn: <em>&#8220;Sao tôi lại được định đặt vào, ngồi, đứng, ăn, ngủ trong căn nhà này&#8230; tôi nhìn thấy tôi như một con sâu&#8230;&#8221;</em> (trang 126).</p>
<p>Tiếp tục việc phá sản <em>Gia tài người mẹ</em>, <em>Con sâu</em> đục đẽo tinh vi hơn, sắc bén hơn, triền miên suốt hai thế hệ, nó rạch vết mổ sâu hoắm trong ngũ tạng chiến tranh, nó nhìn thấy cục diện huynh đệ tương tàn chỉ là hậu quả sự thừa hưởng tinh thần vô trách nhiệm ròng rã cha truyền con nối, thừa hưởng sự mù mờ về lý tưởng, về chân lý, coi thường những hạt hạnh phúc nhỏ nhoi trong cuộc sống hàng ngày, cha con, chồng vợ, đề cao khẩu hiệu giết người &#8220;thề phanh thây uống máu&#8221;&#8230; Những người cha mải làm đại sự, mải chém giết quân thù, suốt đời &#8220;ngoảnh mặt&#8221; với vợ con, với gia đình, với cuộc sống, đặc kín thế hệ đi trước, trở thành những con sâu của sự sống, những <em>con sâu cha</em> reo rắc chiến tranh, đục khoét hạnh phúc, đẻ ra những con sâu con mà <em>&#8220;cái miệng chỉ là cái cối xay cứt&#8221;</em> (trang 133), là chúng ta, là Quảng, là thế hệ <em>sâu quảng</em>, tiếp tục đục đẽo, tàn phá cái gia tài mọt rỗng, bằng súng ống, bom đạn, bằng chia rẽ, căm thù. Quảng đã nhìn thấy <em><u>sự thật</u></em>. Anh ngộ độc sự thật mà chết.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Dương Nghiễm Mậu và con người hư vô</strong></p>
<p>Truyện ngắn của Dương Nghiễm Mậu &#8211; thoát khỏi vòng chiến để mắc vòng tâm chiến &#8211; thường có một không khí đặc biệt, một độ căng bất thường. Những truyện ngắn hay của ông dàn trải trên nhiều tập: <em>Cũng đành, Đêm, Đôi mắt trên trời, Sợi tóc tìm thấy, Kinh cầu nguyện, Ngã đạn,&#8230;</em> Dương Nghiễm Mậu thành công rất sớm, ngay từ những năm 57-59, ở tuổi 21-23, đã viết những tác phẩm già dặn, có bề dày tư tưởng.</p>
<p><em>Cũng đành</em> gồm sáu truyện ngắn, mỗi truyện đặt con người trước một tình thế. Những nhân vật thèm khát vươn lên, cố gắng tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống nhưng càng tìm hiểu càng mù mịt. <em>Niềm đau nhức của khoảng trống</em>truyện ngắn đầu tiên trong tập <em>Cũng đành</em> đưa người đọc vào thế giới nội tâm Dương Nghiễm Mậu, một thế giới nhức buốt, đau xót, khi con người khám phá ra những ung mủ, thui chột, những triệu chứng bất thường trong cơ thể và tâm hồn mình. Nhân vật chính có một mụn nhỏ trên cổ từ bao giờ anh không hề nhận biết, cái bướu lớn lên theo người, cho đến khi người yêu của anh phát lộ ra sự &#8220;lớn&#8221; bất thường của nó, từ chối không đến với anh, anh mới ý thức được sự hiện diện của n<em>ó: &#8220;Tôi đứng soi mặt tình cờ vào tấm gương trang điểm của nàng, lúc đó tôi mới thấy, tôi mới biết, tôi mới hiểu cái bướu đang ngự trị trên cổ, cạnh mặt tôi đây. Tôi để tay lên đó để sờ thấy nó hiện hữu giữa đời sống. Điều mà khi tôi yêu nàng &#8211; khi mà tôi yêu tôi &#8211; tôi bỏ quên nó, tôi không quan tâm đến.</em></p>
<p><em> Nàng ngồi ôm mặt khóc. Tôi lấy tay giữ lấy cái bướu bỏ chạy ra khỏi phòng, xuống nhà tôi quên cả chào hỏi, dừng lại. Tôi chạy mau, tay giữ bướu tự mở cửa ra đường. Tôi hốt hoảng lo lắng khi có người, tôi sợ họ nhìn thấy. Tôi nghĩ rằng người ta đang hò hét quanh tôi đòi bỏ tay ra cho họ nhìn, bao nhiêu bước chân đuổi bắt rộn lên, rồi điệp điệp trùng trùng những khuôn mặt xa lạ, ghê gớm, quỷ quái hiện đến như chỉ thấy cái bướu tôi mang trên thân thể. Tôi dùng tất cả sức lực mình cố chạy cho nhanh, lẩn trốn vào bóng tối. Tôi muốn vươn tay phá lủng tất cả ánh sáng đang chiếu rọi xung quanh&#8221;</em> (<em>Niềm đau nhức của khoảng trống</em> trong tập <em>Cũng đành</em>, Văn nghệ, 1963, trang13).</p>
<p>Vấn đề nòng cốt ở đây là sự hiện hữu. Nhưng không phải bất cứ hiện hữu nào. Hiện hữu như cỏ cây, như động vật không ý thức được mình, hay hiện hữu như một con người có ý thức. Dương trình bầy trường hợp thứ nhì, <em>hiện hữu có ý thức </em>và<em> </em><em>có người khác</em>. <em>Kẻ khác</em>. Chính <em>kẻ khác</em> đã xác định vị trí của ta, <em>làm nên </em>và<em> </em><em>tiêu diệt ta</em>. Cái mà Sartre gọi là <em>L&#8217;enfer c&#8217;est les autres</em>. Nếu không có &#8220;kẻ khác&#8221; ta chẳng cần nói, chẳng cần quần áo, chẳng cần một ngoại hình &#8220;dễ coi&#8221;, bởi có ai nghe, ai nhìn? Vì kẻ khác mà phải có quần áo, tiếng nói. Kẻ khác &#8220;tạo ra&#8221; ngôn ngữ, trang phục, lớp lang, ngoại hình, giả tạo&#8230; Chính con mắt của <em>kẻ khác</em> đã vẽ nên ta, ngụy tạo ra ta, và đầu độc ta.</p>
<p>Con người hình thành từ kẻ khác và bị ngộ độc vì kẻ khác. Hắn sống với những ung nhọt nhưng không biết. Khi mụn độc phát thành bướu, trên cổ, trên mặt, làm thay đổi ngoại hình thì hắn bị kẻ khác vạch mặt chỉ tên như một quái thai, một sự quái gở, một kẻ không giống ai, không thể sống được trong thế giới của những người <em>lành</em>. Cái bướu đã giúp hắn nhận thức về thân phận mình: <em>&#8220;nó không phải là một sự tình cờ bỗng nhiên hiện diện. Nó là một sự thực&#8221;</em> (trang 29). Nhưng cái bướu hay sự thực là một hiện diện vô ích. Cái bướu cũng &#8220;vô ích&#8221; như sự thật: người ta không cần nó. Lúc nó nhỏ chẳng ai để ý, nhưng khi to dần, nhận diện được, thì chính anh, kẻ nhận diện ra sự thật (hay kẻ thấy mình có bướu), sẽ bị người khác khước từ, chối bỏ. Để được trở lại &#8220;môi trường lành mạnh&#8221;, với người yêu, với loài người, anh phải cắt bướu đi, cho giống đồng loại. Nhưng khi đã cắt bỏ phần thui chột, thừa thãi, phần &#8220;sự thực&#8221; của mình, anh trở nên một cái gì không thực nữa và anh sẽ chết.</p>
<p><em> &#8220;Thân thể anh còn đây, cái bướu đã mất. Anh khước từ sự hiện diện vô ích của nó nên anh đã trở thành một sự không thực. Anh chẳng còn gì ngoài cái thân thể đang dần dần nhiễm độc, ung thối ra cho những sinh vật khác sinh sống. Anh là một sự không thực nằm đây &#8211; Sự quái gở bắt đầu bay hơi ẩm mốc. Nhưng từ đó anh biết rằng anh là gì. Anh hơn đám đông vây quanh, bởi anh ý thức được sự có anh, mọi người coi họ có mặt &#8211; nhưng là một sự có mặt hư ảo, không thấy mình.&#8221;</em> (<em>Niềm đau nhức của khoảng trống</em>, trong tập <em>Cũng đành</em>, Văn Nghệ 1963, trang 30)</p>
<p>Đó là bài học nhận thức đầu tiên của &#8220;anh&#8221; về thân xác, về sự hiện diện, sự có mình, có toàn quyền về thân mình. Phác họa chân dung một kẻ nhận thức được sự hiện hữu của chính mình như thế, Dương Nghiễm Mậu là một trong những tác giả tiên phong đem triết học hiện sinh vào tác phẩm, bởi đó chính là một cách nhận thức rất hiện sinh, rất Roquentin, rất Sartre. Trước Dương, trong văn học Việt Nam, chưa mấy ai viết về mình, về sự tồn tại, như thế. Khi nhận thức được như vậy, <em>&#8220;anh biết anh là anh. Anh có toàn quyền về thân anh. Người ta từ khước anh &#8211; điều đó không cần thiết khi anh đối với anh đã là sự có mặt hằng cửu&#8221;. Và khi nhận ra &#8220;niềm đau nhức của khoảng trống&#8221; anh thấy mình chỉ là &#8220;một hải đảo cô đơn ngàn đời&#8221;</em> (trang 31). Tự cắt mụn đi anh bước dần về cõi chết, những chân rết của ung thư sẽ tự do tung nọc độc trên khắp cơ thể.</p>
<p>Lão Giăng trong truyện <em>Người ngồi đội mũ</em> là một tay Tây thực dân chủ đồn điền trước khét tiếng giết người như ngóe, nay sống vất vưởng như con chó già trong ngõ hẻm với đứa con gái hờ làm đĩ. Nếu dĩ vãng cá nhân của lão mang những nét &#8220;vàng son&#8221; bàng hoàng và khủng khiếp, thì dĩ vãng dân tộc của chàng thanh niên định đến giết lão để trả thù quá khứ nô lệ cũng không vẻ vang hơn. Việc moi móc dĩ vãng của lão Giăng và chàng trai chỉ đem lại những trả lời không lấy gì làm hồ hỡi cho cả đôi bên: chàng thanh niên nhận thấy cái di sản mà chàng muốn bảo tồn thực ra chỉ là một thứ di sản mọc lên <em>&#8220;từ một thứ gốc rễ ở tận bên Tây nào, với những nhân vật tam quốc cùng với hàng trăm những kẻ thống trị da trắng đến chốn này&#8221;</em> (trang 47). Mọi cá nhân đều chịu sự thao túng triền miên của thứ ung nhọt nằm vùng chạy cùng khắp cơ thể. Mọi nhận diện thực tại đều đưa đến những đau đớn xót xa. Mọi nhận diện bản thân đều đưa đến những nhục nhã, ê chề. Mọi nhận diện người khác đều đưa đến bất lực, xa lạ, không thể hiểu được nhau.</p>
<p><em> Bồn cát tuổi thơ</em> phân chia lãnh giới trẻ con và người lớn trong cuộc đối thoại giữa một người thanh niên từng trải và một đứa bé trong bồn cát công viên. Cuộc chơi của đứa bé đầy hình ảnh: nó trồng chuối, xây nhà, chơi dế, chơi ve, chơi đi tàu về quê ngoại&#8230; Cơn mộng của người thanh niên đầy bóng tối, những tiếng la hét, những con sư tử nhẩy chồm&#8230; &#8220;Sống&#8221; là một khúc dồi thời gian dồn đầy kỷ niệm: <em>mẹ tôi bị bắn chết, cha tôi bị cầm tù, anh em họ hàng thất tán mỗi người một nơi tìm không thấy mặt, chị tôi túng quẫn trong vòng bệnh hoạn, em tôi được gửi vào nhà tế bần, người yêu tôi đã bỏ đi&#8230;</em> Đứa bé may mắn, nó chưa &#8220;sống&#8221;, nên chưa bị nhúng chàm thời gian và kỷ niệm.</p>
<p><em> Tiếng động trên da thú</em> chắp vá hai mảnh đời vỉa hè, hai kẻ sống vô gia cư chết vô thừa nhận. Những nhân vật trong tập truyện ngắn này có chung một điểm: họ <em>cũng đành</em>, cũng đành sống, cũng đành hiện hữu.</p>
<p>Truyện ngắn <em>Cũng đành</em> xây dựng như một toà nhà xoáy trôn ốc về vấn đề bản thể. Tôi là ai? Tôi là ai trong chiến tranh? Tôi có quyền gì? Tôi có căn cước không? Có quyền lựa chọn không? Có quyền hiện hữu không? Hay chỉ có độc một quyền chết. <em>Cũng đành</em> viết về một kẻ đi kháng chiến, bị sốt rét hành, phải trốn đơn vị chạy vào thành tìm ký-ninh uống. Hắn không thể về được <em>nhà</em> mình trên bãi Phúc Xá, mặc dù đứng trên đê, hắn nhìn thấy nó. Ngôi nhà biến thành chiếc lâu đài u uất, ma trơi, hắn càng tìm cách về gần, nó càng trôi xa, càng biệt tăm biệt tích. Trên đường vòng vo tìm kiếm, hắn chịu mọi đòn, hắn triền miên sốt. Nghe nói giun trị sốt rét, hắn nuốt bao nhiêu giun nhưng sốt vẫn hoàn sốt. Hắn trốn nhui, trốn nhủi, đói khát triền miên, ăn cắp, cướp dật, bị sốt hành như cái bướu ung thư. Nhờ người làm cũ hắn kiếm được việc. Có tiền hắn uống ký-ninh thả cửa. Ký-ninh làm hắn điếc. Bị đuổi. Hắn bới rác để sống&#8230; Một ngày, bị lính bắt. Bị tra hỏi. Hắn khai tên thật. Bọn lính không tin. Đánh đập. Lại tra hỏi. Hắn khai láo. Đánh đập. Lại tra hỏi. Đánh đập. Trước khi chết, hắn lập lại câu hỏi: Cha mẹ mày tên gì?</p>
<p><em> Cũng đành</em> có không khí nghẹt thở, đầy tra tấn, nghi hoặc, tàn ác, rất giới tuyến, rất Kafka Việt. Việt Nam của hai cuộc chiến, từ <em>sống</em> đến <em>chết</em>, từ lý tưởng cứu nước đến vực thẳm sa đọa là những chuỗi dài ngộ nhận và phi lý. Rút cục, sống hay sống sót chỉ là hai chữ <em>cũng đành</em> mà bên trong là dòi bọ, rác rưởi, giun dế và trống rỗng. Con người xa lạ với cuộc sống, xa lạ với người khác, không hiểu tại sao thân phận lại run rủi đưa ta đến đây, đến &#8220;bên này&#8221; mà chẳng đến &#8220;bên kia&#8221;. Bên ni, bên tê, bên nào cũng vạch sẵn những ranh hố đợi chờ, anh lạc đến là phải tự đào. Vùng vẫy cách nào cũng không thể thoát được.</p>
<p>***</p>
<p><em>Nói một mình</em> (trong tập <em>Đêm</em>) dường như là chuyện một xác chết kể lại chuyện mình. Nói là <em>dường như</em> bởi vì đọc xong bạn không chắc một cái gì cả. Sự &#8220;không chắc&#8221; ấy mới chính là &#8220;cốt truyện&#8221;: tất cả dựa trên những yếu tố mập mờ, không có gì rõ ràng xác quyết, cũng không có gì phủ định bởi người ta <em>không biết</em> cái được gọi là đời sống nó như thế nào, không rõ bất cứ sự gì đã &#8220;xẩy ra&#8221; trong cuộc đời, tất cả đều chắp vá đan cài, đoán già đoán non, mỗi người tưởng mình &#8220;nắm&#8221; một mảng, nhưng nếu chắp lại thì chúng không có gì ăn khớp với nhau. Cảm tưởng đầu tiên khi đọc một số truyện của Dương là rời rã, có khi bạn không hiểu gì cả, chả biết tác giả muốn &#8220;nói&#8221; gì, nhất là &#8220;nó&#8221; không dẫn đến đâu, đọc xong không rút ra được bài học nào, thậm chí nó &#8220;cứng&#8221; nó &#8220;nhạt&#8221;, nó cứ &#8220;trơ trơ&#8221; ra đấy, ù lì như cuộc đời chúng ta đang sống, chẳng có &#8220;biến cố&#8221; gì đáng nói. Vô dụng. Nghệ thuật của Dương Nghiễm Mậu dựa trên yếu tố đó. Vô dụng. Tác giả đưa ra những vấn đáp không ngừng của nhân vật, về nguồn gốc, về bản chất đời sống. Ai tạo ra đời sống của ta? Chẳng có ai cả. Ta tự tạo ra nó như thế đấy. Trong truyện <em>Nói một mình</em>, nhân vật chính, xưng tôi, tên Thuấn, có người chị tên Liên. Hai chị em mồ côi. Mẹ chết sớm, cha lấy vợ khác. Cảnh dì ghẻ con chồng. Sau người cha cũng mất tích. Người ta tìm thấy xác người cha trôi sông Đáy. Người chị làm điếm nuôi em. Thuấn kinh tởm nghề của chị, xỉ nhục chị, có thể đã bạo hành chị, rồi bỏ đi. Nếu cố tình chắp vá lại cho &#8220;có truyện&#8221; thì đại để là như thế. Truyện mở màn trên xác chết vô danh, chắc là xác chết của Thuấn. Rồi sau đó là những lời kể lể về hành trình của một kẻ -chắc là Thuấn- từ lúc sinh đến lúc chết. Một thứ tâm sự của xác chết, bởi chết là yếu tố bao trùm lên tác phẩm như điều kiện cuối cùng của con người: Rồi ai cũng phải chết. Nhưng từ cái sinh đến cái chết là cái gì? Chặng đường ấy ra sao? Tại sao sinh và tại sao chết? Chết khốn khổ như một con chó hoang trong cô đơn vô vọng. Tình thương của người chị, người bạn, người yêu có thể cứu vãn được không? Có thể đưa ta ra khỏi cõi cô đơn sau cùng không? Người sắp chết cố gắng gào lên những tiếng kêu cứu cuối cùng, nhưng âm thanh không lọt ra khỏi cổ, mà nếu có lọt ra ngoài thì cũng không có ai ở đấy để nghe. <em>&#8220;Đây là sa mạc? Giữa bể khơi? Hay là một khoảng trống không nào đó &#8211; một góc nhà xác cũng nên &#8211; ôi những hình ảnh&#8230; ai kia&#8230; ai kia&#8230; ai đấy&#8230; một người nào đấy lại đến với tôi trong lúc này?&#8230;&#8221;</em>. Dĩ nhiên là không có ai và người hấp hối đi vào cõi <em>Đêm</em>, một mình, nói một mình và chết một mình.</p>
<p><strong>Sự tha hoá của con người</strong></p>
<p>Tập <em>Đôi mắt trên trời</em>, do Giao Điểm in năm 1966, khoáy sâu thêm vào đêm tối, đưa ra những cảnh sống không còn là sống. Những kiếp được gọi là người ở đây còn tồi tệ hơn kiếp chuột, kiếp rệp&#8230; Sống hay tồn tại chỉ là sự đồng hoá giữa người và vật. Bộ ba Mậu truyện <em>Lấy máu, Những chuột, Và rệp</em> là những tác phẩm cực thực về bản chất xã hội loài người. Ngòi bút của Dương chiếu thẳng vào mỗi trường hợp cá nhân khảo sát như một mũi dùi độc sáng.</p>
<p>Trong truyện <em>Lấy máu</em>, Năm-Sàigòn &#8220;vớt&#8221; một đứa nhỏ đang bốc trộm thùng cơm thiu cho lợn ăn, về &#8220;nuôi&#8221; và dậy cho nó nghề bán thuốc cao Giang Đông chuyên trị bá chứng. Năm-Sàigòn rạch tay thằng bé cho máu chảy và rịt thuốc cao vào vết thương trước mắt mọi người để &#8220;chứng minh tính cách thần diệu&#8221; của cao Giang Đông. <em>&#8220;Qua một tuần lễ như thế tay trái tôi đã gần nát ra rồi, có những vết tay mưng mủ và thối, nó rỉ nước vàng. Mỗi bữa bưng bát cơm không nổi tôi phải dùng cù dìa mà súc ăn như một kẻ tàn tật. Thấy không thể tiếp tục cắt máu ở bàn tay đó nên Năm-Sàigòn bắt đầu cắt ở bàn tay phải. Người ta vẫn xúm đông xúm đỏ lại coi, và mua thứ thuốc vứt đi đó&#8221;</em> (<em>Lấy máu</em>, trong tập <em>Đôi mắt trên trời</em>, Giao Điểm 1966, trang 28). Nhớ đến cái chết của người mẹ, thằng nhỏ tự hỏi <em>&#8220;Máu tôi rỏ ra vì miếng cơm. Nhưng còn những giọt máu của mẹ tôi do viên đạn bắn vào mạng mỡ đó &#8211; để đổi lấy cái gì?&#8221;</em>. Nhưng rồi hai thầy trò Năm-Sàigòn cũng không tiếp tục được cái nghề lừa bịp này lâu hơn, người ta khám phá ra sự bịp bợm, người ta nhìn thấy bàn tay trái của thằng nhỏ đầy vết cắt thịt mưng mủ thối tha, người ta thấy nó sắp chết vì hết máu, đến nỗi Năm-Sàigòn khía tay nó chỉ nhỉ ra vài giọt, người ta<em>&#8220;chắc trong người nó chỉ còn vài cùi dìa máu mà thôi&#8221;</em>. Năm-Sàigòn mặc sức khoa môi, múa mép, không còn ai tin vào món thuốc thần của hắn nữa. Nói chán, hắn chìa thuốc ra cũng chẳng ai hỏi  lấy một câu. Hai thầy trò trở thành những con vật múa rối, bị bỏ quên, không ai thèm đoái hoài đến nữa. Đến bọn trẻ con cũng hết thú, chúng quay đi, trở về với những trò chơi bình thường. <em>Lấy máu</em> có một cách lạ lùng và kinh hoàng chiếu xuống sự tàn nhẫn và thờ ơ của con người, ít tác phẩm nào đạt được.</p>
<p><em>Những chuột</em> xoáy vào trường hợp sống của Lão Chệt và lũ chuột. Chuột vừa là ân nhân vừa là lẽ sống của lão. Khi đói, lão chỉ cần thộp cổ một chú nướng lên thơm phức là rồi. Lão bẫy chuột bằng mùi cua nướng, đoạn nhốt chúng vào một chỗ, mỗi tuần thằng Lai, con lão từ Saigòn đánh xe về lấy chuột đem bán cho những cửa hàng síu mại, bánh bao.</p>
<p><em>&#8220;Lão nhớ lại bữa chuột bao tử mấy hôm trước khi lão bắt được trọn ổ, tới mười bốn con chuột đỏ hỏn chưa mở mắt lão đã mang về tẩm bột rán, lão nghĩ ăn cái ấy thì bổ phải biết, cái gì bao tử chẳng bổ, đến dòi mà lão nghe nói cũng là một vị thuốc ghê gớm lắm. Lão cầm lấy đầu chú chuột bóp mạnh một cái, một tiếng kêu chít chít rồi tắt, giữa hai ngón tay, đầu chú chuột bẹp dí toé máu và óc, lão vứt bỏ vào góc nhà, lão đưa ngón tay lên miệng mút mút lấy một chút lầy nhầy của máu và óc ra chiều khoan khoái rồi lão vào trong bàn kiếm rượu đế tợp một hớp. Lão lấy thuốc vấn một điếu châm lửa hút.</em></p>
<p><em>Lão thổi ngọn đèn, vào giường, lão xát mạnh và đập hai bàn chân phủi cát rồi lăn ra ngủ (&#8230;).</em></p>
<p><em> Lão cứ nghĩ đến những món ăn đã được những đầu bếp khéo léo chế biến chuột ra mà bán thì thật phục. Lão đã ăn rồi, ngon lắm, bằm nhỏ ra ai biết đấy là đâu. Thịt gì chả thế, có lẽ thịt người cũng tương tự như vậy thôi, có chăng là cách chế biến sào cho nó ra vị là được.&#8221;</em> (<em>Những chuột</em>, trong tập<em>Đôi mắt trên trời</em>, trang 38- 40).</p>
<p>Lão Chệt thiếp ngủ trong những giấc mơ&#8230; chuột. Lão mơ tới kỹ nghệ thịt chuột, thấy mình là kẻ tiên phong làm trại chuột, sản xuất sữa chuột, thịt chuột đóng hộp, lão làm giầu trên xương máu chuột, lão có xe hơi, nhà lầu, bao nhiêu gái đẹp, lão cưới được con nhỏ Xiêm xinh đẹp trong ngõ mà lão hằng tơ tưởng&#8230; Cuộc đời lão cứ bình lặng trôi với ba chuồng chuột lớn vừa có của ăn của để như thế, nếu thằng Lai không cuỗm tay trên con Xiêm của lão. Nếu hai đứa không cuốn gói lên Sàigòn bỏ lão, không về lấy chuột nữa. Từ ngày thằng Lai không về, Lão cũng không bước ra khỏi nhà, mà cái nhà của lão trừ thằng Lai, cũng không ai lai vãng. Lão hoàn toàn một mình với giang sơn chuột, lão ăn dần chuột để sống, không ai trong xóm để ý đến sự vắng mặt của lão, trừ một vị khách quý thình lình đến: <em>&#8220;Một hôm lão thấy hình như lũ chuột đã có con đói lả và gầy còm đi nhiều, có con phá ghẻ lở rụng hết cả lông. Lão quyết định lựa những con gầy yếu thả ra nhà, lão lấy những quần áo cũ, giẻ rách chất từng đống rồi thả chuột vào đó, lũ chuột gầy ốm cứ quanh quẩn chẳng đi xa, nó bò từ chỗ này sang chỗ khác làm tổ ở góc nhà, có con đào hang, con cắp giẻ làm tổ, lão Chệt hiền từ bao dung đàn thú vật vô hại đối với lão.</em></p>
<p><em> Bỗng một hôm lão Chệt thấy tiếng chuột kêu rẫy chết, từng đàn chạy trốn, lão thấy một con chó xuất hiện. Con chó có mầu lông đen nhưng lù xù như chó hoang, gầy teo, nó đi khập khiễng như kẻ nghèo đói, một mảng mông lở loét đỏ lòm xem chừng khốn khổ lắm:</em></p>
<p><em>&#8211; Chào quý khách! Chào quý khách! (&#8230;).</em></p>
<p><em> Lão Chệt cầm một mảng thịt chuột nướng ở tay cho con chó ngửi ngửi, nó ngoạm một miếng nhai ngấu nghiến ra chiều khoái trá lắm, lão tiếp tục nhặt một ít bạn quý nướng vào lửa, con chó tiến đến gần, có lúc chưa kịp vứt ra nó đã vồ lấy, lão Chệt không lấy thế làm bực. Nghe chừng đã no bụng, chó ta khoanh tròn trên ổ rơm ngay bên lão Chệt ngủ.</em></p>
<p><em> Sự có mặt của con chó, lão Chệt thấy khoái hơn, nhưng ăn mãi thịt chuột lão bắt đầu thấy chán. Vả trong đám chuột đã bắt đầu có con sinh đẻ ra từng đàn chuột con. Lão nghĩ đến con chó. Tay phải lão Chệt có chỗ sưng lên và lở lói, con chó nhiều lần ngửi ngửi và liếm láp. Lão Chệt rùng người. Lão thấy lo sợ nghĩ đến chuyện một lúc nào đó con chó sẽ đè lão ra mà nhai, chỉ con chó là có thể thịt lão được, còn bầy chuột kia thì ăn thua gì. Chờ con chó ngủ, lão kiếm một cái chai để bên cạnh rồi cầm ở tay thu sức dáng một cái xuống đầu chó. Chó duỗi hai chân dãy dãy lè lưỡi và sùi bọt mép. Lão Chệt mệt nhọc lắm mới kiếm được con dao mổ bụng chó, lão chẳng còn hơi sức để làm thịt con chó, lão mổ bụng moi bộ gan nướng ăn. Lão thấy tiết chó nóng và đặc sánh, lão thấy cổ khát nên vốc xuống. Lão ưng ý về món ăn lạ kỳ. Lão vứt bỏ xác chó ra giữa nhà, lũ chuột kéo đến ngoạm.</em></p>
<p><em> Trong xóm người ta bỗng xôn xao về cái chết của hai cha con ông Hộ Nhâm, bệnh tình giống nhau và chết ngay, có người nghi ngờ nên kiếm bác sĩ về khám, người ta phát giác ra bệnh dịch.&#8221;</em> (sđd, trang 45-46).</p>
<p>Tác giả trình bầy chân dung một con người: lão Chệt và một xã hội người: hàng xóm láng giềng của lão bên cạnh chân dung một con Chó và một xã hội Chuột. Người và vật, tên cùng vần c, tương xứng nhau trong cuộc tồn sinh. Tất cả những dứ, ngửi, nhai, ngoạm&#8230; của lão Chệt không khác gì hành động của con chó, có điều lão thủ đoạn hơn con chó, lão mưu tính kỹ hơn con chó. &#8220;Những chuột&#8221; hiền lành hơn so với &#8220;những người&#8221; chung quanh lão Chệt, chúng ít kỳ thị hơn, bớt thờ ơ hơn, chúng tương trợ nhau hơn. Lão Chệt, đỉnh cao tha hóa của con người, khởi đi từ một nước Tàu ngàn năm văn vật và lịch sử, một trong những trung tâm văn hoá lâu đời nhất của nhân loại, lão di lạc sang &#8220;ta&#8221;, đôi lúc lão tự hỏi không biết ông cha mình <em>&#8220;ngu si đần độn như thế nào mà sang đây hàng mấy đời rồi chẳng làm nên cơm cháo gì&#8221;</em>, ngay cả lão có lúc đã làm chủ một cái tiệm chạp phô, chẳng may con vợ tài hoa son phấn của lão đem &#8220;đút lỗ cả cái sản nghiệp vào hơi khói&#8221;. Lây nó, lão cũng nghiện ngập, sạt nghiệp tưởng chết, may mà lão cai được và về đây làm &#8220;nghề&#8221; bắt chuột bán. Nhưng sự &#8220;xuống dốc&#8221; của lão Chệt cũng chưa bằng sự xuống dốc của cái quần hợp con người chung quanh lão: họ đi từ &#8220;văn minh&#8221; xuống ăn lông ở lỗ mà không biết, không hay, họ gây ô nhiễm môi trường bằng sự tàn ác, bằng sự kỳ thị, thờ ơ, sống chết mặc bay, bằng bán buôn lừa dối. Lão Chệt là phản diện của bọn đồng loại xung quanh mà cuộc sống chỉ còn là sự &#8220;xé xác&#8221; lẫn nhau, xé xác &#8220;bạn hữu&#8221;, xé xác &#8220;đồng hành&#8221; đem nướng cho đến ngày kiệt quệ, tận diệt. Cái dịch hạch chuột không nguy hiểm bằng cái dịch hạch người, dịch hạch ăn gan, uống máu (dù là chó hay quân thù cũng như nhau) nơi lão Chệt đã tràn lan khắp nơi, không thể nào cứu vãn nổi.</p>
<p>Trong truyện <em>Và Rệp</em>, Ông Tư có mỗi một lo lắng độc nhất là làm sao trừ tiễu được bọn rệp đồn trú lậu trong kẽ ván sàn nhà ông, hở ra là chúng đánh du kích khắp nơi. &#8220;Kẻ thù&#8221; này nằm ngay trong tay áo, nằm trên đầu trên cổ, mà ông Tư không thể diệt nổi, dù ông đã dùng những hình thức xử tử cực kỳ dã man:</p>
<p><em> &#8220;Ông Tư lấy cái đanh ghim xuống giữa lưng chú rệp, nó dãy dãy chân như những cái bơi chèo, ông nhấc nó lên khỏi mặt tờ giấy, một chút máu dây ra đỏ tươi, cái bụng phồng béo của rệp đã xẹp đi, ông soi con rệp lên ngọn đèn quan sát một cách thích thú -chú mày, chú mày chết với ông, ai cứ bảo cứ trêu vào ông mãi, đó, mày ngó thấy chưa, cả một giọt máu, máu tao chớ máu ai vào đấy nữa. Sướng chưa con ơi&#8230;</em></p>
<p><em>Ông Tư đưa con rệp chạm vào thông phong đèn, con vật động mạnh, rồi ông lại bỏ ra, một mùi hôi nồng nặc thật khó chịu làm ông Tư nhẩy mũi ba cái liền, con rệp ở đầu kim bị rung mạnh đã rớt đâu mất, lúc dụi mắt xong, ông Tư không thấy, ông bực bội soi đèn tìm lại sau ông thấy nó dính ở ngay bàn tay. Lần này ông dùng cây kim chọc rồi hơ ngang vào ngọn đèn, bụng rệp bị nổ và kêu xèo xèo bốc ra mùi cháy khét.</em></p>
<p><em> Ông Tư tiếp tục bò xuống sàn, với một cái tăm nhỏ khều xuống khe ván, ông lùng kiếm những chú rệp đang ẩn ở đó, mỗi lần khều được ông lại gạt cho rệp bám vào cái tăm hơ vào ngọn đèn cho rệp rơi vào đó&#8221;</em> (trích <em>Và rệp</em>, sđd, trang 57-58).</p>
<p>Phong cách trừ khử rệp của ông Tư không thua phong cách ăn gan uống máu chó của lão Chệt là mấy. Nhưng vấn đề của ông Tư &#8220;phức tạp&#8221; hơn, bởi kẻ thù của ông Tư, không chịu đầu hàng, vì hai lẽ: đánh sát lá cà từng con một như ông Tư vẫn làm thì không có cách nào cho chúng tuyệt chủng. Ông Tư thân cô thế cô trong trận giặc rệp này vì chẳng ai bận tâm đến chuyện nhỏ nhít như chuyện rệp. Ông Thức, một vị hàng xóm có học đang thảo luận với Bác Hai về những việc hệ trọng như tư bản, vô sản, mác-xít, Nga Mỹ đang thi nhau đưa người lên mặt trăng&#8230; ông Tư xớ rớ lại chêm vào câu hởi vớ vẩn <em>&#8220;Này thế mặt trăng có rệp không nhỉ?&#8221;</em>, khiến cho con người học thức đó phải lẩm bẩm khinh bỉ: <em>Ám ảnh rệp một thứ ám ảnh của dân vô học</em>.</p>
<p>Rồi ông Tư vô học cũng được các vị bác học mách cho thứ thuốc tiên trừ rệp: DDT. Mua về rắc thì chúng chết tiệt hết, như thể ta nện bom nguyên tử. <em>&#8220;Trong thuốc bột trắng ông Tư đã thấy xác mấy chú rệp nằm im. Quân thù đã ngã trên chiến trường không một tiếng kêu&#8221;</em> (trang 67), nhưng DDT cũng chỉ được vài hôm, bọn rệp có cách hầm trú thần tình, khi thấy tình trạng tạm yên trở lại, chúng lại mò ra đánh du kích. Không thể trừ được rệp, ông Tư nổi khùng dùng biện pháp mạnh đốt nhà cho lũ rệp chết hết. Ám ảnh &#8220;rệp&#8221; của ông Tư cũng bi đát như ám ảnh &#8220;kẻ thù&#8221;, một ung nhọt nằm vùng đột kích sự sống, dai hoi không thể &#8220;giải quyết&#8221; được: sống là gây vi trùng, là gây kẻ thù, &#8220;ở đâu có người ở đó có rệp&#8221;. Càng sách động căm thù, kẻ thù càng bành trướng&#8230; sự sống càng trở nên cam go khốc liệt. Bộ ba Mậu truyện <em>Lấy máu, Những chuột, Và rệp</em> cùng chĩa mũi dùi vào sự độc ác của con người, dưới những góc cạnh khác nhau. Dương không cho nhân loại một ngõ thoát, cũng không tìm cách hoàn thiện con người bằng những giải pháp, mà chỉ bầy ra những ví dụ sống, như Năm-Sàigòn, như lão Chệt, như ông Tư&#8230; và cũng là những ví dụ chết: con người không có lối thoát trong cái ác nghiệt tăm tối của mình.</p>
<p><strong>Dứt điểm của Mậu truyện</strong></p>
<p>Truyện ngắn <em>Đôi mắt trên trời</em> như một điệp khúc của truyện <em>Nói một mình</em>về cái chết. Điệp khúc bắt đầu từ cái chết của chiếc lá cuối cùng trên cành, có lẽ nó bị sâu ăn, rụng xuống đất. Con sâu cuối cùng của cây bàng. Nhưng rồi số phận con sâu cũng như chiếc lá, sẽ sống được bao lâu nữa? Con sâu rồi sẽ như chiếc lá cũng bị văng xuống đất vì một con chim hay ngọn gió vô tình, nó có bị dập không hay sẽ bị một đàn kiến làm thịt? Tại sao nó chết?</p>
<p>Nhân vật chính, vẫn không tên, cũng là một kẻ sắp chết, hắn đang nằm trên giường bệnh viện, nhìn ra ngoài, hắn đoái hoài đến số phận chiếc lá và con sâu bởi hắn cũng thế, hắn cũng đang hấp hối. Trong khi &#8220;chờ đợi&#8221;, để &#8220;giết&#8221; thì giờ, hắn truy lùng cái chết như lùng một hung thủ. Gọi là chờ chết vậy thôi chứ thật ra hắn biết hắn đã chết từ lâu, ngay từ hồi nhỏ, hôm người chú vớt bố hắn lên từ con sông Cái: chân tay bị trói dật vào một miếng gỗ với cái đinh đóng vào đầu, miệng ngậm đầy rác. Hắn đã sống mà như chết trong bao lâu rồi, hắn không nhớ nữa. Hôm nay, đến lượt hắn, hắn cũng sẽ chết nhưng chết &#8220;lành&#8221; hơn, &#8220;dịu&#8221; hơn bởi hắn chết bệnh. Những giây phút cuối, êm đềm ở bệnh viện, tuy được bác sĩ và y tá chăm sóc tận tình, nhưng đầu óc hắn vẫn bị quấy rầy triền miên: cái thây của bố hắn với chiếc đinh mười phân và sợi thừng trâu và rác. Từng chi tiết cứ tức tưởi sống lại, chúng kèn cựa nhau chật ních trong óc hắn:</p>
<p><em> &#8220;Hai cổ tay bắt chéo chừng như đã cứng vẫn nằm nguyên, chú kéo cánh tay trái ra, lật xác trở lại và kéo nốt cánh phải để lên bụng. Cánh tay như một que củi, chú cố vuốt và uốn cho cánh tay nằm trên bụng và ở trên nhau. Bây giờ tôi nhìn rõ hơn hai đường hằn bầm tím trên cổ tay đã đen, lõm vào trong thịt và làm mất cả một làn da. Một người bị treo trên cành cây đu đi đu lại với những chiếc roi quất ngang và thân hình oằn lên, hai chân dãy đạp vào không khí, chiếc đầu ngoẹo đi ngoẹo lại và tiếng la thét trở thành rên rỉ rồi rũ ra như một con sâu. (&#8230;)</em></p>
<p><em> &#8220;Chú kiếm chiếc gối mây cũ để lên đầu xác chết, vuốt mớ tóc ngược về phía sau một cách phẳng phiu, chú xoay trần lấy áo lau khuôn mặt nhợt nhạt, chú lau cả xuống cổ. Khuôn mặt tái xanh đôi mắt trợn ngược như một pho tượng đá. Chú đưa tay vuốt mắt lại khi chú buông tay ra thì máu tím ở trong mắt ứa ra giàn giụa, đôi mắt vẫn chưa chịu nhắm, chú vuốt lại và giữ tay lại đó một lúc, chừng như chút máu ứa ra đã đọng lại gắn đôi mi mắt lại với nhau và khuôn mặt trở thành hiền từ. Làn máu chảy xuống đọng thành hai hàng dài bên sống mũi như hai con giun đất đã bị kiến đốt chết không còn oằn oại.</em></p>
<p><em>Bà nội mang từ buồng bên ra một tờ giấy bản, chiếc đũa mộc, bà đổ vào tay cho chú Tâm mấy đồng tiền trinh. Chú Tâm đưa tay cạy hàm răng ra, nước trắng ứa tràn xuống cổ, chú nghiêng đầu cho nước chảy xuống mặt ghế, nước trắng ra hết, sau cùng là một vốc bùn đen với rãi nhớt, chú Tâm còn moi ra cả một mớ cỏ rác. Chú lau miệng rồi bỏ mấy đồng trinh vào đó, hai hàm răng cứng chú banh ra và ngáng chiếc đũa mộc vào. Chú quay bảo: &#8220;Cháu nhìn mặt bố đi.&#8221; (&#8230;)</em></p>
<p><em> Tôi đứng lại gần và đưa tay vào làn da lạnh, dưới hai lỗ tai một chút tôi sờ thấy rõ mũ một chiếc đinh mười phân còn trồi ra đó. Bố tôi không kêu thành tiếng, ngậm miệng với mớ cỏ rác trong họng, nhắm mắt với búng máu ứa, tay chắp với sợi thừng buộc trâu không cựa và chết với chiếc đinh mười phân đóng sâu vào đầu&#8221;</em> (<em>Đôi mắt trên trời</em>, Giao Điểm 1966, trang 149-151-152). Những hình ảnh ấy đã đóng đinh lút mũ trong đầu hắn, không có cách gì nhổ ra được. Chẳng biết hắn sắp chết vì bệnh phổi hay hắn chết vì những vết đinh làm mủ trong đầu, bởi hắn vẫn đinh ninh <em>&#8220;tôi cũng sẽ bị đóng một cây đinh vào đầu, nước lan trên mặt sập, mắt ứa máu, một mũi tên đen bay đến cắm vào ngực tôi rất sâu không sao rút ra được&#8221;</em> (trang 157).</p>
<p>Hắn biết rõ rằng <em>&#8220;Mỗi thế giới cách nhau một bờ sông đen&#8221;</em>, nếu bố hắn qua được dòng sông đen ấy thì có lẽ đã thoát được cả đinh lẫn thừng và rác. Cuối cùng, hắn nhìn thấy rõ nhất chiếc quan tài&#8230; ông thầy cúng ê a ba hồn chín vía&#8230; ở đâu thì về mà nhập hồn quan&#8230; Rồi hắn nhìn cả thấy phiên hắn: <em>&#8220;Tôi trở mình nằm sấp xuống nền cỏ, mùi đất nhẹ nhàng và mùi cỏ tươi, tôi nhai trong miệng một cỏ tươi vị đắng nhẹ, hơi đất ẩm vây quanh, trong giây phút đầu tôi rỗng không&#8221;</em> (sđd, trang 159). Ám ảnh cái đinh, dây thừng và rác đã theo hắn đến hơi thở cuối cùng và có lẽ &#8220;nó&#8221; vẫn sống với hắn ở bên kia thế giới, nếu có một thế giới bên kia.</p>
<p>Ngoài &#8220;nó&#8221; ra, sự rỗng không từ khước một ai: Người chết cũng cảm thấy mình rỗng. Cảm tưởng trống rỗng, hư vô, thấu suốt thân thể, đã có từ Ngạc, nhân vật đầu tiên của Mậu truyện trong <em>Tuổi nước độc</em>; rồi cảm tưởng này lại xuất hiện ở Lễ trong <em>Đêm tóc rối</em> và Quảng trong <em>Con sâu</em>: Sống cũng rỗng mà chết cũng rỗng, tất cả đều là những khối hư vô, trống rỗng, xa lạ với mình, với người, cô đơn từ lúc sinh đến lúc chết.</p>
<p>Truyện ngắn <em>Sợi tóc tìm thấy</em> đưa ra một nghiệm sinh khác: mỗi giây phút đang sống có thể là sự trùng hợp của nhiều khoảnh khắc đã sống cũng như mỗi tên gọi có thể ẩn nhiều nhân vật khác nhau. Ví dụ Phương có thể vừa là tên một người bạn trai, một người bạn gái và một đứa cháu gái lên tám, cả ba đều có chỗ đứng bất thường trong tim Thuấn, hay chính tình yêu khác thường này đã khiến Thuấn nhìn người này mà tưởng đến người kia: một sự nhầm lẫn, trùng hợp nên thơ, bí mật, khó hiểu, tạo ra khoảng không gian phi thời gian, phi nhân vật.</p>
<p>Trong <em>Sợi tóc tìm thấy</em>, khái niệm <em>thời gian</em> hoàn toàn bị xóa bỏ: chủ nhật này đi ăn phở với Phương ư? Có thể là chủ nhật trước. Mà Phương nào? Cả ba Phương đều sống động, đều đã ngồi, đã nói cười với Thuấn. Không gian cũng chồng chéo: cái ghế của cha Thuấn đặt ở chỗ kia, trong căn nhà mới này, nhưng có lúc hình như nó vẫn còn nằm ở căn nhà cũ khi cha anh chưa mất, bởi tiếng nói của ông cụ vẫn tiếp tục vang trong đầu anh. Khái niệm nhân vật cũng xoá: Phương có đó hay chỉ là ẩn thể của tất cả những gì thầm kín nhất đang chuyển động trong lòng Thuấn?</p>
<p>Triệt tiêu thời gian, không gian lẫn nhân vật, để không còn khoảng cách nào giữa hôm qua và hôm nay, giữa chỗ này và chỗ khác, giữa người này và người khác. Cái tên luôn luôn bất kỳ và vô nghĩa, nó không chở được &#8220;nội dung&#8221; con người. Dường như Mậu muốn thể hiện ở đây sự phi lý của các khái niệm: không gian, thời gian, nhân vật, vẫn lại &#8220;dường như&#8221; vì đây chỉ là một &#8220;giả thiết&#8221; đọc Mậu truyện, chắc chắn còn có nhiều cách đọc khác với những giả thiết khác. Và đó chính là một trong nét đặc thù của cách viết (mượn tạm chữ của Bùi Giáng) phơi mở, mở phơi này.</p>
<p><em>Kinh cầu nguyện</em> (1967) tập hợp nhiều truyện ngắn hay về những nỗi đau trong mỗi trường hợp sống. Mỗi truyện là một vùng hoang tưởng khởi đi từ những nguồn khác nhau. Có thể từ sự chia cắt giữa hai mẹ con, khi người mẹ sắp đi lấy chồng, người con trai hụt hẫng tưởng mình bước vào cõi chết (truyện <em>Mẹ và con</em>).</p>
<p><em> Bên sườn núi đá</em> phảng phất hồn lão ngư ông và biển cả, viết về hai kẻ thuyền chài trên hải đảo, một già một trẻ, một người đã từng mải mê cuộc sống thủy thủ giang hồ, bỏ bê gia đình, một người đang đổi đời mình cho biển lấy về mẻ cá nuôi vợ con. Họ gặp nhau trong cô đơn trong nghiệt ngã của cuộc sống, trong những nghi vấn chưa thành lời về sự tồn sinh. Một kẻ đã gần đến cuối đường, một kẻ chưa đi hết nửa, những câu hỏi còn đang bỏ ngỏ họ đã bị gió bão quấn đi và những trả lời đành chìm sâu đáy nước.</p>
<p>Truyện ngắn <em>Kinh cầu nguyện</em> viết năm 60, bây giờ đọc vẫn còn nguyên chất huyền bí, tương tự như <em>Sang sông</em> một truyện hay của Nguyễn Huy Thiệp viết những năm gần đây: Tuyệt đối mơ hồ về thiện ác, bối cảnh được trình bầy như một thứ Từ Thức Kafka: khách, một kẻ đã chán thị thành, &#8220;ngao du&#8221; lên miền sơn cước, trọ trong một biệt thự mà chủ, dường như cũng đang &#8220;giũ bụi giang hồ&#8221; tìm vui trong kinh Phật. Sự gặp gỡ giữa hai (thế) giới chủ khách xẩy ra trong bầu không khí vừa lạnh lùng, bí mật, lại vừa an nhiên, tịnh độ như một khúc kinh cầu: kẻ nam mô nhưng chả biết trong bụng chứa gì? Mà rút cục rồi kinh là gì? Cầu là gì? Nguyện là gì? Sự nhật tụng có đi vào &#8220;bộ nhớ&#8221; của con người không? Hay tất cả chỉ là ảo tưởng, kể cả chuyện &#8220;nhớ&#8221;? Bạn có thể đọc nhiều lần truyện ngắn này, mỗi lần bạn sẽ tìm ra một ý nghĩa khác nhau và đó là cái duyên hạnh ngộ không ngừng mà một vài Mậu truyện dành riêng cho bạn.</p>
<p><em> Buồn vàng</em> (viết năm 1959) có âm hưởng nhức nhối đau thương như bài thơ <em>Đen</em> của Thanh Tâm Tuyền, khởi đi từ tiếng kèn xoáy buốt, âm thanh kim khí, man rợ <em>&#8220;vọng động trườn từng đợt như một viên sỏi ném xuống mặt nước yên tĩnh bắt đầu loãng xa những đợt sóng trùng điệp&#8221;</em>. Không khí mê hoặc toát ra từ tiếng kèn. Tiếng kèn ma quái, từ phòng trà nào đó, do người da đen nào đó, thổi khúc nhạc Jazz nào đó, đã làm sống lại trong vô thức của một kẻ nghe nào đó, kẻ xưng tôi, kể&#8230; Tiếng kèn thoạt tiên đuổi hắn xê ra, bắt hắn chạy thoát khỏi vùng tiếng động, rồi dần dần nó loãng đi, nhường chỗ cho trí tưởng tượng tung hoành (có thể là như thế, mà cũng có thể là không như thế). Sang màn hai, là sân khấu, là những tiếng cất lên, những lời vô duyên, vô nghĩa, không ăn nhập gì với nhau, có vẻ muốn quảng cáo cho một thiên đàng nào đó người ta không cần ăn uống, sinh đẻ, gì cũng sẵn, tất tần tật: đại tiện không phải lo hố xí, chết không cần lỗ chôn, đã có đà điểu cắp xác bay đi&#8230; tóm lại là một kiếp tiên, sướng nhưng vô duyên lãng xẹt, không phải kiếp người, hắn đang nghe, lắng nghe, hắn nghe thấy tiếng bánh xe quay đều, hắn bỗng &#8220;ngộ&#8221; khỏi thiên đường, à thì ra vậy, là bài bản, là máy <em>quay</em> sẵn, ghi sẵn; hắn bèn ôm chầm lấy &#8220;vật&#8221; gần nhất vây quanh hắn lúc bấy giờ, là&#8230; <em>bóng tối</em>. Sang màn ba, cái bóng tối mà hắn ôm riết ấy hoá ra là <em>&#8220;một lần da sần sùi không hơi nóng, không thoi thóp thở, một thứ gì sượng sần, nhớp nháp, tim tôi đập mạnh, mồ hôi đổ nóng, má tôi chạm vào một lần đất sỏi khô. Một điệu kèn ré lên buốt nhức&#8230;&#8221;</em></p>
<p>Hắn đã tìm thấy &#8220;thiên đường&#8221; thật.</p>
<p>Tiếng kèn thấu vào lục phủ ngũ tạng hắn, như một nhịp điệu man rợ, như ngọn lửa nhiệt đới oằn oại, dấy lên những đam mê, dục lạc, những thèm khát đớn đau của thân phận nhược tiểu. Hắn đã tìm thấy tri âm, hắn<em>&#8220;nhắm mắt và giữ chặt bóng tối&#8221;. Buồn vàng</em> được viết như một bản Jazz hoà màu những tối tăm cực thực tạo nên những biến khúc lạ kỳ trong âm thanh màu sắc <em>&#8220;Người nhạc sĩ uốn cong thân hình, oằn oại như một con trăn ngũ sắc vừa nuốt vào bụng một loài vật đang vặn mình tiêu hoá. Hắn cúi gập, vươn cao và những âm thanh oằn oại, tức tưởi, nghẹn ngào, uất ức, đắng và buốt trườn lên&#8221;</em>. Mậu đã tấu lên hợp âm  vàng-đen trong da thịt, trong tiếng kèn của người nghệ sĩ đen như bóng tối với những nhịp yêu thương, những cơn ác mộng tù đầy, hiếp tróc, nô lệ. Tiếng kèn thức tỉnh nỗi <em>buồn vàng</em> của những thế giới nhược tiểu, trầy trụa, không căn cước, không cả màu da.</p>
<p>.</p>
<p><em>Ví dụ</em> (trong Ngã đạn) viết năm 1964, đưa ra một thử nghiệm táo bạo khác về truyện ngắn: truyện viết bằng những fragment, những mảnh vỡ tứ tán, không ăn nhập gì với nhau, trừ một ý nghĩa sâu sa nào đó mà tác giả giấu kỹ như một thách thức với độc giả. Chương một quay trong lò lợn sáng tinh mơ, với những <em>&#8220;con heo trắng như bột nhoa nhếch máu tươi đã bị chặt mất đầu&#8221;</em>, với những &#8220;tay em&#8221; (hoạn lợn) chặt đầu heo nhanh như cắt, trên đời chả sợ gì ai chỉ lo chết xuống âm phủ bị ma lợn quấy. Sáng hôm ấy, trong đám xác lợn chất lên các xe hàng đem vào thành phố có lẫn một cái xác, cũng cụt chân tay cụt đầu nhưng không phải xác heo mà là xác người.</p>
<p>Chương hai và các chương nối tiếp quay hẳn sang những &#8220;bình diện&#8221; khác, về tình yêu, về sự ghen tuông, về những cái chết khác, những &#8220;tai nạn&#8221; khác, thừa nhận hay vô thừa nhận, tựu trung là không ai biết nguyên do, sự thật ra sao. Tất cả dường như chỉ là những mảng đời mà mỗi đoạn, mỗi chặng, mỗi cảnh, chỉ là một <em>&#8220;ví dụ&#8221;</em> như một hư cấu thoáng qua trong óc tác giả hay trong bản chất ngẫu nhiên, phi lý của cuộc sống. Mỗi<em>&#8220;ví dụ&#8221;</em> là một hồi, một thoại, một cách dàn cảnh của người sáng tác, một cách hư cấu. Cùng một câu chuyện yêu đương và đổ vỡ nhưng nhân vật nữ kể khác hẳn nhân vật nam. Dường như tác giả muốn gửi đến người đọc tính chất bất kỳ của cuộc đời: như thế này mà cũng có thể như thế khác, không có gì nhất định, tất cả có thể như cái búng tay xoay như chong chóng, cuộc đời chẳng qua chỉ là những <em>ví dụ</em>. Như cái tên của bạn, có thể là X, Y, có thể là chữ Q, chữ P, chữ T hay chữ H, để rồi cuối cùng mọi sự cũng đều đến đích như heo vào lò, nhưng có lẽ con người khá hơn con heo một chút, con người có thể có một địa chỉ cuối cùng, đọc được: nơi đây an nghỉ giấc ngàn thu X, Y, Z&#8230;</p>
<p>Cho tới nay, trong văn học Việt, chưa có nhà văn nào khai triển con người hư vô, một cách triệt để như Dương Nghiễm Mậu. Ở truyện dài, Dương Nghiễm Mậu khai mở những bối cảnh xã hội, phơi bày nội dung chiến tranh qua những thân phận nhược tiểu mà hận thù đã tàn phá cả cơ thể lẫn tâm hồn. Bạo lực gia đình dẫn đến bạo lực chiến tranh, cả hai cùng hợp tấu, đồng lõa nhào nặn nên những con người rỗng, không phản ứng, con người lệch trục, tê liệt trước yêu đương hạnh phúc. Chất  hư vô trong Mậu truyện vừa có ý nghĩa triết học, là khoảng trống nhận thức được trong những suy tư siêu hình của con người, vừa là một thực tế nhìn thấy trên chiến trường khốc liệt Việt Nam. Trong truyện ngắn, Dương soi sáng hai khía cạnh hư vô ấy bằng mọi hình thức sáng tạo mà ông có thể mường tượng được: ông tra khảo cái sống, quật mồ cái chết, để những tử thi được dịp nói về mình. Những nhân vật trong Mậu truyện thường lắm mồm, họ nói liên hồi, nhưng lời không thành tiếng, họ <em>nói một mình</em>, tiếng họ vọng từ hư vô và thảy vào hư vô. Những người yêu hay có tên Quyên, nhiều nhân vật chập trùng trong một tên, như Phương, tạo ra một thế giới có thể đồng tính, có thể lưỡng tính, đôi khi dẫn đến ảo giác loạn luân&#8230; nhưng tất cả chỉ là những &#8220;ví dụ&#8221;, những trường hợp sáng tác.</p>
<p>Chập tính bất kỳ của sáng tác với tính ngẫu nhiên của đời sống để khai toả cái chết như một sự thật mà nhà văn vừa muốn điều tra vừa muốn xác nhận như mục đích cuối cùng của con người, một cứu cánh phi lý, không thể hiểu được. Trong những nhà văn Việt Nam thuộc thế hệ 60-70, Dương Nghiễm Mậu đứng riêng một cõi, cô đơn, dường như không bạn đồng hành và đã tạo được thế giới văn chương Dương Nghiễm Mậu, đầy khúc mắc, trăn trở mà người đọc nhiều thập niên sau sẽ còn phải nhiều lần nghiêng xuống <em>Mậu truyện</em> để tìm biết những gì đã xẩy ra trong lòng thế hệ này. Thế hệ tan nát như trái phá, bị dày xéo bởi nô lệ và nhược tiểu và cũng để nhận diện những khám phá, những tìm tòi của Dương Nghiễm Mậu về cấu trúc truyện ngắn và tiểu thuyết cũng như cái nhìn vô vọng của ông về một cõi người không lối thoát bị bủa vây bởi hận thù và tàn ác, âm thầm cùng đi vào cõi chết với nhau trong rã rời, tan tác, không hiểu nhau và không hiểu cả chính mình./.</p>
<p><em>Paris tháng 1- 6/2004, Xem lại 5/11/2010.</em></p>
<h2>Con đường Dương Nghiễm Mậu</h2>
<p><strong>Mai Thảo</strong></p>
<p>Khoảng cuối thập niên 50 và bắc cầu sang đầu thập niên 60 – cây cầu đến nay còn soi bóng tuyệt đẹp trên dòng sông đất nước – những tấm lòng đồng chí với những phá vỡ và những làm mới của văn học và cho văn học, đã được liên tiếp chứng kiến gần như trong cùng một thời điểm, hai cuộc lên đường đi về những chân trời phía trước của một thế hệ những người cầm bút ở miền Nam.</p>
<p>Lên đường thứ nhất khởi sự từ Lên Đường Lớn: từ hiệp định chia đôi đất nước, từ Bến Hải và vĩ tuyến 17, theo những bước chân trùng trùng của di cư một triệu. Đội ngũ tiền phong của nó là Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp, Tô Thùy Yên, Quách Thoại, Nguyễn Sĩ Tế, Doãn Quốc Sỹ, Cung Trầm Tưởng, Hoàng Anh Tuấn và Nguyên Sa, những người trước vào từ miền Bắc, bài thơ thứ nhất viết dưới những mái lều vải tạm trú của sinh viên, hai người sau &#8220;viễn phương&#8221; hơn, lên khỏi những hầm rượu tả mạn sông Seine, mới từ Pháp về. Những vì sao đầu này của một vòm trời văn chương vừa dựng thoạt đầu là những lấp lánh lẻ tẻ.Trên tờ Dân Chủ của Vũ Ngọc Các, tờ Đời Mới của Nguyễn Đức Quỳnh, Trần Văn Ân, từ Lửa Việt, Người Việt của sinh viên Hà Nội di cư. Rồi sau cùng đến với nhau thành một họp mặt chung trên tờ Sáng Tạo.</p>
<p>Lên đường thứ hai, đã thấp thoáng trong dấu chân lên đường thứ nhất, nên có thể coi như một đồng hành, làm một gờm thành đầy khí thế của những người viết trẻ, tất cả đều ở tuổi hai mươi, và diễn đàn chính của họ là tờ Văn Nghệ, chủ nhiệm Lý Hoàng Phong, anh ruột nhà thơ Quách Thoại. Họ là Viên Linh, Trần Dạ Từ, Nhã Ca, Du Tử Lê, Đỗ Quý Toàn, Trần Đức Uyển, là Nguyễn Thụy Long, Nguyễn Nghiệp Nhượng. Và một người viết mới, tuy cùng một lên đường với bằng hữu nhưng độc lập, tách biệt, như đi một mình trên con đường riêng. Đó là Dương Nghiễm Mậu.</p>
<p>Những người của hai lên đường làm mới văn học nói trên, đến nay tuy đã mấy chục năm, nhưng với phần lớn tôi đều giữ được những kỷ niệm về lần đầu gặp mặt. Kỷ niệm với mỗi người mỗi khác. Thanh Tâm Tuyền, căn gác xép ám khói ở toà soạn Dân Chủ, hắn hỏi xin một điếu thuốc và tôi tưởng hắn là thợ sắp chữ. Nguyên Sa cái mũ trắng thầy giáo, lần đầu tới Sáng Tạo, gọi tôi vào phòng trong dậy một điệu nhảy swing. Cái áo thun cũ, cái quần sà lỏn của Doãn Quốc Sĩ, bữaăn trưa đãi tôi ở Đại Học Xá. Cung Trầm Tưởng, cái cà-vạt đỏ chói, tóc đỏm dáng từng sợi. Viên Linh mặt mày cau có giận dữ vì đến đưa thơ tôi còn ngủ vùi, cửa toà báo treo tấm biển đi vắng. Trần Thanh Hiệp không nhìn lên, vùi đầu vào cuốn tự điển to gấp hai người Hiệp. Quách Thoại, cái anh chàng khả ố ngất ngưởng ở tiệm ăn Thanh Thế, lần gặp đầu đã tự nhận là vua thơ một thời. Nhưng kỷ niệm về lần thấy đầu, biết đầu với Dương Nghiễm Mậu là vô tình và lý thú nhất, sau này tôi kể chuyện lại, anh em còn cười lớn với nhau.</p>
<p>Nhớ đó là một buổi trưa rảnh rỗi, tôi ghé vào thăm một diễn đàn bạn. Người bạn đang cắm cúi làm việc. Tôi kéo ghế ngồi hút thuốc lá, thấy ở cạnh mình một cái sọt rác đựng đầy những bản thảo gởi đăng không đăng và liệng bỏ đi. Buồn taytôi nhặt những tờ bản thảo bị xé bỏ ấy lên coi. Cuối cùng và ở tận đáy cái sọt rác ấy là một bản thảo truyện ngắn. Tôi đọc mấy dòng đầu, giật mình vì lối vào truyện mạnh dạn, mới lạ, khác biệt hẳn với lối vào truyện vòng vo ngập ngừng thường thấy ở những người viết mới. Đọc tiếp mấy trang nữa; tôi hỏi người bạn: &#8220;Bỏ đi tất cả đây à?&#8221; Người bạn không ngửng đầu lên: &#8220;Ừ, đã đọc rồi bỏ không đăng&#8221; &#8220;Moi lấy đi được không?&#8221; &#8220;Để làm gì vậy?&#8221; người bạn ngạc nhiên hỏi.&#8221;Mặc moi&#8221; tôi nói, và cất cẩn thận cái truyện ngắn bị vất bỏ ở một diễn đàn bạn vào túi áo, trở về đăng ngay nó và nguyên văn không sửa một cái dấu phẩy trên tờ Sáng Tạo số đang làm. Người bạn tôi, chỉ biết thấy giá trị những tác giả đã thành danh, không thấy được những hạt ngọc lóng lánh lăn ra từ những cõi viết còn vô danh chưa tên tuổi đã liệng đi cái hạt ngọc văn xuôi ấy là truyện ngắn Rượu Chưa Đủ, truyện đầu tay của một người trẻ tuổi mới viết văn bấy giờ là Dương Nghiễm Mậu. Hạt ngọc bị vất bỏ ấy và tôi đã tình cờ lượm được, đúng là một hạt ngọc. Bao năm rồi không đọc lại tôi chẳng thể nhớ hết từng chi tiết của truyện chỉ nhớ cái chàng nào đó với bút hiệu Dương Nghiễm Mậu đã có ở Rượu Chưa Đủ một đoạn văn kết thúc tuyệt hay. Đoạn văn tả người anh đến đón em ở viện mồ côi. Hai anh em cùng mồi côi cha mẹ từ sớm. Hai anh em đi lang thang một ngày trong thành phố, không có một đồng xu nhỏ. Buổi chiều, trước khi đưa em trở về viện, người anh dẫn em vào một công viên, yên lặng lấy đất đắp thành những mô hình sông núi quê hương, thầm nghĩ hai anh em trơ trọi giữa đời, thôi bầy trò chơi đắp hình, sông núi với em, để có được cùng em, dù một cách rất tội nghiệp buồn rầu, một ý niệm về điểm tựa, về nguồn gốc. Thật là chửng chạc và cũng thật là cảm động. Đó là truyện ngắn thứ nhất của Dương Nghiễm Mậu.</p>
<p>Sau này, ngắm nhìn một Dương Nghiễm Mậu đã nhanh chóng nổi tiếng, đã có hàng chục tác phẩm được in ra, có được thêm những nhận thức mới về cõi văn sáng rỡ một tâm thức thời đại vô chừng nghiêm chỉnh hiếm thấy ở một người viết trẻ, tôi vẫn mãi mãi nhớ đến hai đứa bé mồ côi đắp hình sông núi quê hương trong sáng tác Rượu Chưa Đủ tôi lượm được trong sọt rác một toà báo của Mậu.Một công viên vắng lặng. Công viên đó chính là hình ảnh con đường văn chương Mậu đã mở ra và đi trên đó, một mình. Những mô hình sông núi quê hương.Đứa nhỏ mồ côi nghiêm chỉnh, sớm hiểu biết, ý thức trong truyện cũng chính là Dương Nghiễm Mậu, đã đắp xong và rất hoàn chỉnh, những mô hình sông núi cho cõi văn, cõi viết của mình.</p>
<p>Tuần lễ trước đây, ở một lá thơ của một người bạn thân gởi sang từ Sàigòn, có một đoạn bạn tôi vắn tắt cho hay về Dương Nghiễm Mậu sau 1975. Dương Nghiễm Mậu không đi năm 1976, phải trình diện học tập cải tạo, bị giam ở trại tập trung Phan Đăng Lưu Gia Định, hơn một năm sau được thả về cùng một đợt với Hoàng Anh Tuấn, Nguyễn Hữu Hiệu, Nhã Ca. Thư kể Mậu bây giờ làm việc ở một xưởng sơn mài thành phố, vẫn sống cùng vợ con trong ngôi nhà cũ vùng ngoại ô Trương Minh Ký, một đời sống từ lâu đã biết làm cho đơn giản đến tận cùng khiến nghèo túng đến mức nào cũng không còn là thảm kịch, và dẫu ở cảnh ngộ nào cũng thư thái ung dung. Thư kể Mậu đi bộ khoan thai trên hè phố, cái dù đen nơi tay, cái nhìn hóm hỉnh, nụ cười tươi tắn. Đúng là Dương Nghiễm Mậu, vẫn là Dương Nghiễm Mậu ấy, sau Rượu Chưa Đủ đến tìm tôi và đưa thêm những truyện mới, những sáng tác mở đầu cho sự nghiệp văn chương tốt đẹp này của Mậu đều được trang trọng giới thiệu trên tờ Sáng Tạo Bộ Cũ và Bộ Mới. Nụ cười tươi tắn, cái nhìn hỏm hỉnh. Đúng là Dương Nghiễm Mậu, độc lập một trời riêng, tách biệt một đường riêng, phản chiếu trong văn viết và trong một tấm hình nổi tiếng độc đáo của Trần Cao Lĩnh, Mậu nhắm mắt mĩm cười dưới một mặt kim đồng hồ kim phút kim giờ cùng ngộ nghĩnh rớt xuống.</p>
<p>Sau biến cố 1975, trước khi bị truy nã và do đó đứt hết liên lạc bằng hữu, tôi còn gặp Dương Nghiễm Mậu nhiều lần. Một lần ở cổng xe lửa số 6. Trời râm mát mà tác giả Địa Ngục Có Thật vẫn chiếc dù đen trong tay, như một vật tùy thân. Mừng rỡ đứng lại trò chuyện giữa tan hoang Cộng Sản đã vào. Mậu cười nói với tôi: &#8220;Nhiều chuyện lạ lắm sắp xảy ra, đây chỉ là bắt đầu và anh em mình sắp nhìn thấy&#8221;. Rồi kể là đã sắp đặt tức khắc xong xuôi đời sống. Đã đơn giản còn chỗ đơn giản hơn nữa. Đã thu hẹp còn cho thu hẹp hơn nữa. Để lúc nào phải đi thì đi.</p>
<p>Ít lâu sau, quả nhiên Dương Nghiễm Mậu đã &#8220;phải đi&#8221;, cùng với anh em văn nghệ sĩ miền Nam. Đi thẳng vào trại tập trung Phan Đăng Lưu. Một lần khác, gặp trên hè đường Tự Do, xế cửa nhà sách Xuân Thu. Mậu, một cây dù Tú Xương, tay kia xách một túi giấy, nói ở trong là một cái chăn len, đồ dùng quý nhất còn lại trong nhà, và Mậu đang trên đường ra chợ trời Tôn Thất Đạm bán lấy ít tiền đem về cho vợ mua gạo. Kể chuyện khốn quẫn mà cười thật vui, nét mặt sinh hoạt, ánh mắt riễu cợt. Sau 1975, tôi đã nhìn thấy ở nghệ sĩ ta một số bản lĩnh chói loà.Những phong thái trầm tĩnh, những bản ngã dũng liệt, trong nghịch cảnh mới như một đường kiếm tuốt ra khỏi vỏ, mới lấp lánh hiện hình. Nhưng tươi tắn, vững vàng và trong sự trẻ trung đặc biệt, gần như không có tuổi, thì là Dương Nghiễm Mậu thôi. Chỗ này là chỗ nói đến võ công thâm hậu, đến tư duy đạt thành và kín thầm nhưng đoán thấy, sự kiêu hãnh tuyệt của người nhà văn nơi Dương Nghiễm Mậu.</p>
<p>Lần sau cùng gặp, thời gian này Mậu vừa được trả tự do, là chiếc dù đen hiền triết tôi nhìn thấy ở trước rạp chiếu bóng Trương Minh Giảng. Lần đó, kẻ bên này đường, kẻ bên kia, tôi đang bị truy lùng ráo riết, nên chỉ nhìn nhau gật đầu, vẫy tay chào không ai đứng lại. Khoảnh khắc ngắn ngủi nhưng tôi nhớ vừa đi vừa còn nhìn lại, nhìn cây dù đen văn chương xa dần, lòng đầy quý mến.</p>
<p>Bạn hữu còn kể ít nhiều chuyện về hơn một năm lao tù của Mậu ở Phan Đăng Lưu. Như về cái thái độ trầm tĩnh của Mậu đã có một ảnh hưởng rất tốt đẹp với anh em cùng tù, đặc biệt là với Nhã Ca, bao nhiêu năm vẫn trước sau kính trọng Dương Nghiễm Mậu như một người anh lớn. Biết Nhã Ca ngạo ngược nóng nảy, Mậu vắn tắt khuyên: &#8220;Cô còn phải trở về nuôi tụi nhỏ&#8221;, và kèm sát Nhã Ca trong những buổi học tập kiểm thảo. Phải nên có thái độ nào cho đúng, kiểm thảo như thế nào mới là khôn ngoan, an toàn, nhất nhất Nhã Ca đều chịu nghe theo những chỉ dẫn của anh &#8220;Dương Nghiễm Mậu&#8221;. Một chuyện ngộ nghĩnh về Phan Đăng Lưu: Buổi sáng hai anh em được trả tự do, Nhã Ca có người đến đón ở cửa trại, Mậu không có ai, Nhã Ca còn 5 đồng trong túi, Mậu không có một đồng nào. Nhã đưa cả 5 đồng cho bạn, để đi xe. Mậu cầm tiền cười lớn: &#8220;Anh là ông vua đi bộ ở Sàigòn, cần gì xe cộ nữa&#8221; và dùng 5 đồng của Nhã Ca ung dung vào quán uống cà phê. Chi tiết này đủ cho thấy bản lỉnh Dương Nghiễm Mậu trong nghịch cảnh.</p>
<p>Một chuyện ngộ nghĩnh khác, vẫn về Phan Đăng Lưu. Chẳng hiểu vì lý do nào cùng với Lê Xuyên tác giả Chú Tư Cầu, Mậu là một trong hai tù nhân văn nghệ bị quản huấn bỏ quên lâu nhất. Mãi gần nửa năm sau, mới được gọi tên. Cuộc thẩm vấn tức cười không thể tả được:</p>
<p>&#8211; Dương Nghiễm Mậu. Tên thật Phí Ích Nghiễm.</p>
<p>&#8211; Sao lại những hai tên?</p>
<p>&#8211; Một tên cha mẹ đặt. Một tên vì nghề nghiệp.</p>
<p>Quản huấn lắc đầu, Mậu không có một hồ sơ tội phạm. Đành hỏi:</p>
<p>&#8211; Anh bị bắt vì tội gì?</p>
<p>&#8211; Tôi không biết.</p>
<p>&#8211; Vô lý. Phải có tội mới bị bắt. Anh làm nghề gì?</p>
<p>Mậu nửa đùa nửa thật:</p>
<p>&#8211; Nghề văn nghệ sĩ.</p>
<p>Tên quản huấn dốt nát chẳng hiểu nghề văn nghệ sĩ là cái nghề quỷ gì, nhưng nét mặt rạng rỡ:</p>
<p>&#8211; Có thế chứ. Vậy tôi ghi vào hồ sơ tội trạng anh, anh nhớ kỹ nhé, tội anh là tội văn nghệ sĩ.</p>
<p>Tội văn nghệ sĩ. Tếu thật. Nhưng cũng là sự thật. Tác phẩm Dương Nghiễm Mậu, sau 1975, cũng bị đem ra trưng bày tại phòng Triển Lãm Tội Ác Mỹ Ngụy như sách của chúng tôi. Nội dung những tác phẩm Dương Nghiểm Mậu cũng bị đem ra mổ xẻ và đả kích thậm tệ ở các lớp học, các buổi họp và trên đài phát thanh Cộng Sản. Cái &#8220;tội văn nghệ sĩ&#8221; do tên quản huấn dốt nát định cho Mậu ở buổi thẩm vấn Phan Đăng Lưu, tôi biết. Mậu công nhận và còn thầm công nhận mãi. Như một ở cùng cảnh ngộ với bằng hữu. Như một tin tưởng vĩnh viễn ở chính mình, và qua bản thân, ở văn chương. Văn chương với Dương Nghiễm Mậu, mang ý nghĩa tốt đẹp nhất và toàn vẹn nhất của một tự thành. Con đường đi vậy là trước sau thông suốt. Những bước chân đi trên con đường ấy vậy là đã tới. Tôi vẫn nghĩ trở lại cái truyện ngắn đầu tay Rượu Chưa Đủ của Dương Nghiễm Mậu tôi nhặt được trong một cái sọt rác và đăng lên một số Sáng Tạo năm nào. Đứa trẻ mồ côi im lặng đào đất chơi trò đắp hình sông nước quê hương. Trò chơi tuyệt vời ấy đã hoàn tất. Nó cũng là cái trò chơi chúng ta cùng nhìn thấy là tuyệt vời và đã hoàn tất, bằng văn chương của người viết văn đi một mình trên con đường mình là Dương Nghiễm Mậu.</p>
<p>Tin nhà đưa sang cho biết hiện giờ nhà văn Dương Nghiễm Mậu đã trở thành công nhân một xưởng sơn mài thành phố. Bằng hữu văn nghệ ở Sài Gòn gần như trên hết thảy đã ngừng viết và đã phải đổi nghề. Để sống. Để có lao động, để được yên thân. Nghe nói Nguyễn Thụy Long đi đạp xích lô. Nghe nói Trần Lê Nguyễn bán sách cũ. Nghe nói Nguyễn Đình Toàn nuôi thỏ nuôi gà ở làng Báo Chí cũ. Tất cả đểu dãi dầu, tất cả đều sương nắng. Nghe những tin nhà về bạnbè, thấy lòng xót xa buồn rầu, nhìn thấy những khổ cực đang chồng chất lên những thân thể chữ nghĩa thất thế và đang phải sống giữa chế độ hiện giờ của chúng ta. Riêng nghe tin Dương Nghiễm Mậu bây giờ làm công nhân một xưởng sơn mài thành phố, không hiểu sao tôi lại thấy vui vui và muốn cười. Có lẽ vì Dương Nghiễm Mậu bao giờ cũng đến với tôi bằng khuôn mặt đó. Khuôn mặt một người nhắm cả hai mắt lại, cho cái nhìn trở thành cái nhìn bên trong, cái nhìn tâm hồn, và nụ cười tủm tỉm hóm hỉnh là chân dung Mậu ở tấm hình chân dung ngộ nghĩnh của Trần Cao Lĩnh. Cũng có lẽ vì tôi thấy Mậu vững chãi nhất, chẳng phải buồn phiền và xót xa cho hắn.</p>
<p>Công nhân một xưởng sơn mài thành phố. Cây dù đen Tú Xương. Đúng là cảnh &#8220;Sáng vác ô đi tối vác về&#8221; rồi nhé. Dương Nghiễm Mậu! Những tấm sơn mài.Cây dù bên cạnh. Tôi đang hình dung ra Dương Nghiễm Mậu ngồi một mình một góc trong một xưởng thợ Cộng Sản, trước những tấm sơn mài ấy. Muốn hỏi Mậu ở Việt Nam nghìn dặm : &#8220;Những tấm sơn mài ấy có vẽ hình sông núi quê hương?&#8221; Chắc là có. Chắc là có. Không trên tranh thì trong tim, trong hồn, trong thức, trong ý. Và cái nền của sơn thì vẫn là một con đường. Con đường đi qua đời sống. Con đường đi qua văn chương. Con đường đẹp nhất, vì con đường thẳng tắp. Con đường đẹp nhất, vì là con đường một mình. Cuối cùng là đứa trẻ mồ côi trong truyện ngắn đầu tay Rượu Chưa Đủ của Dương Nghiễm Mậu sự thực không bao giờ mồ côi. Mồ côi là những kẻ khác kia.</p>
<p>&nbsp;</p>
<h2>Dương Nghiễm Mậu: Thử xét ba lối viết trong ba thời kỳ</h2>
<p><strong>Trần Văn Nam </strong></p>
<p>Nhà văn Dương Nghiễm Mậu xuất hiện rất sớm trong Tạp chí Sáng Tạo ở Sài Gòn, thuộc thời Văn Học Miền Nam, có truyện đăng báo khoảng năm 1956. Từ 1963 đến 1975, ông đã có đến 20 tác phẩm được xuất bản. Vậy thử &#8220;xét giới hạn ba lối viết trong ba truyện ngắn và trong ba thời kỳ&#8221;, kể như là quá ít đối với sự nghiệp văn chương của Dương Nghiễm Mậu. Điều này khẳng định đây không phải một bài nghiên cứu hay phê bình văn chương đòi hỏi phải đào sâu và xét toàn diện các tác phẩm của một nhà văn. Ước mong đây chỉ là một bài tiểu luận nhỏ, một bài nhận định nhỏ về văn học. Ba truyện ngắn này, người viết bài có dịp đọc từ rất lâu, đến nay vẫn còn hoài những điều tự hỏi. Có phải không ba truyện ngắn dưới đây đã viết theo ba lối: truyện “Cũng Đành”viết tự phát theo khuynh hướng vẽ lại bức tranh cùng khổ do chiến tranh, có thể quy định thuộc loại văn chương “Hiện Thực Xã Hội Thời Chiến Tranh”; truyện “Niềm Đau Nhức Của Khoảng Trống” viết tự phát theo hướng tự vấn nội tâm diễn giải thành “Tra Hỏi Hiện Sinh Phi Lý”; truyện “Bên Sườn Núi Đá” viết không tự phát mà có dự định theo hướng “Viết Theo Dòng Ý Thức” (đúng hơn là phải nói theo lối viết đồng-xuất quá-khứ hiện-tại).</p>
<p>Nhà văn Dương Nghiễm Mậu (sinh năm 1936) ở lứa tuổi biết thế nào là loạn lạc vào thời Pháp trở lại Đông Dương, thời xảy ra cuộc kháng chiến chống Pháp, thời Pháp kiểm soát hầu như khắp lãnh thổ và tiến hành bình định. Dân chúng chạy tản cư, rồi hồi cư; khốn khổ vì những nghi kỵ Việt Minh trà trộn vào thành phố.Ông viết truyện “Cũng Đành” trong bối cảnh ấy. Có thể ông đã chứng kiến đau khổ của nạn nhân giặc giã, hoặc có thể ông đã từng kinh qua sợ hãi dù khi ấy ông mới chỉ ở tuổi thơ không bị hạch hỏi tra xét nhiều như người trưởng thành. Rồi khi lớn lên lúc đã di cư vào Nam, ông viết truyện hồi ức mô tả những cảnh mắt thấy tai nghe thời kỳ Pháp chiếm đóng Hà Nội, ngòi bút mô tả hiện thực chiến tranh, hiện thực xã hội cùng khốn. Mô tả có tính chất tự phát, thấy sao thì viết vậy, nghĩa là chưa có ý thức với lý thuyết “viết theo khuynh hướng hiện thực xã hội thời chiến tranh”. Cũng Đành: truyện một thanh niên thuộc một đơn vị kháng chiến (nhân vật xưng tôi, nhưng ta biết đây không phải tự truyện vì thuở ấy tác giả còn ở tuổi thiếu niên), vì bệnh sốt rét phải trở về làng chữa bệnh. Ăn uống thiếu thốn, cơm với bảy tám phần trộn sắn ngô, bệnh sốt sét không thuốc men phải liều theo cách chỉ bảo nuốt sống những con giun (trùn đất). Dĩ nhiên bệnh không chữa khỏi, anh liều vào Hà Nội tìm thuốc uống mà không có giấy thông hành (giấy đi lại vào ra thành phố cấp cho những người đã được chính quyền Pháp công nhận có cư trú trong vùng kiểm soát).Làng anh ởcách Hà Nội 43 cây số. Trong mình không có giấy tờ nên chủ xe nào cũng từ chối cho anh lên xe, may có chiếc xe chở củ nâu bằng lòng nhét anh vào giữa những bao củ nâu.  Đây là cảnh thường xảy ra thờiquân Pháp kiểm soát những nút chặn đi vào thành phố: “Khi tỉnh dậy thì xe đang ngừng. Tôi lắng nghe tiếng giày đinh lộp cộp, những bao củ nâu bị lay động và có tiếng chọc của một chiếc gậy sắt. Tôi biết là xe đang bị khám, nên hai lần bị gậy sắt thọc vào lưng, tôi không dám nhúc nhích…”. Gần tới Hà Nội thì chủ xe không dám cho đi tiếp, và anh bị bỏ lại bên đường giữa hiu quạnh hai bên ruộng lúa. Chủ xe cũng thương tình cho anh vài đồng bạc. Trời còn tối, anh mò vào một cái chòi bỏ trống giữa đồng, sáng ra phải đi ngay vì cái chòi ấy chính là cái quán bán bún riêu và bánh đúc cho nông dân đi ruộng. Anh cũng trót lọt vào được thành phố, đói quá phải bới móc những thịt bánh sót lại trong những lon hộp vứt bỏ ở các đống rác. Gặp người làm công cho bố mẹ ngày xưa, được ông cho tá túc trong lều rách nát, và kiếm cho việc làm trong lò nấu thủy tinh làm ve chai. Nhưng vì uống quá nhiều thuốc ký-ninh trị sốt rét, anh trở thành nghễnh ngãng, bị đuổi việc. Anh kiếm sống bằng cách đi móc rác, thu gom ve chai và vụn sắt, bán cho các nơi tái-biến-chế. Có lần anh trúng mối tìm nhặt được rất nhiều đồ phế thải ấy, do quỷ kế gạt các người đi tìm hài cốt những thân nhân bị chôn vùi trong những hầm trú bom bị máy bay đánh sập thời chiến tranh Mỹ-Nhật: họ tưởng anh là người cư trú trong vùng nên biết đích xác nơi nào có hầm sụp chôn người, họ cứ theo lời chỉ điểm bịa đặt của anh mà đào bới và anh trúng mánh tiếp tục thu nhặt mảnh vụn phế thải đem đi bán. Tuy vậy, anh cảm thấy ngao ngán cuộc sống lây lất này, có ý nghĩ muốn chết cho rồi.Kiếm sống được khấm khá, một hôm anh đang ăn gà luộc thì có một đứa con gái cũng nghèo đói nhưng có vẻ thuộc giới giang hồ,thản nhiên cùng dự bữa ăn.Anh theo về gian nhà tạm bợ của nó, và hai người sống chung, rồi chia tay, và điều không may tiếp liền theo là hậu quả không giấy tờ cư ngụ ở Hà Nội. Anh kể vụ cô gái giang hồ đem “bồ” mới về nhà và đuổi anh đi như sau: “Đừng lấy gã đó. Ở với anh… Mấy ngày sau chúng tống cổ tôi đi với mấy chục bạc. Tôi ngày ngày đi móc rác, chiều đến mò vào Văn Miếu nằm. Đêm đêm sờ soạng những bia đá, những gạch ngói nằm im mà thấy tủi thân… Đến một khuya kia, tôi thức dậy vì ánh sáng đèn bin soi vào mặt. Tôi mở mắt nhìn bọn lính chỉa súng vào người.</p>
<p>Chúng hỏi giấy tờ, tôi không có gì nên điệu về bót…”. Anh bị nghi ngờ, bị tra khảo đủ thứ cực hình, bị hạch hỏi và trả lời khi thế này khi thế khác nên càng thêm tội, cầu viện đến cô gái giang hồ để mong cô nhận là vợ cho khỏi bị nghi ngờ anh là địch vào thành phố, nhưng cô ta nói không quen biết. Cuối cùng thì anh bị quân Pháp xử bắn. “Cũng đành một kiếp người”: Chắc đây là ý tưởng chủ đạo của truyện ngắn này. Tác giả viết truyện tự phát nhưng có thể quy định vào phạm trù thuộc khuynh hướng “hiện thực chiến tranh, hiện thực xã hội”. Nhà văn chỉ kết án tình thế chiến tranh làm con người đi đến thảm kịch; trong đó có người tốt người xấu (ông chủ xe không xấu bụng lắm, người làm công cho bố mẹ cũ có tình người, cô gái giang hồ trở mặt, và chính anh cũng là một gã mánh mum). Hiện thực xã hội trong truyện của Dương Nghiễm Mậu không đậm nét mâu thuẫn giai cấp; cũng không đậm nét phán đoán đạo đức; còn quân Pháp đang chiếm đóng thành phố thì đương nhiên thuộc phe ác.Như vậy, nhà văn viết truyện nhiều xã-hội-tính này chỉ tự-phát vẽ lại bức tranh đen tối của các nạn nhân chiến tranh, có lẽ tiền khởi không do hướng dẫn bởi lý thuyết văn chương nào.</p>
<p>Rồi nhà văn vẫn tiếp tục viết tự phát, viết về sự trống vắng cô đơn: một chủ đề rất thường được đề cập đến trong thơ văn, nghĩa là không phải một chủ đề mới lạ. Nguyên nhân làm Hạnh, tên nhân vật, cảm thấy cô đơn cùng cực vì có cái bướu nơi cổ, cái bướu làm người con gái Hạnh yêu không muốn cùng đi dự lễ; và Hạnh đã sẵn nỗi cô đơn từ thuở nhỏ vì là một đứa trẻ mồ côi lang thang . Sự cô đơn ấy là một khoảng trống của cuộc đời, một bãi sa mạc trong  cuộc sống, không người thân thích đã đành số phận, mà đi tìm một người yêu cũng bị lạnh nhạt. Nhà văn Dương Nghiễm Mậu trong truyện “Niềm Đau Nhức Của Khoảng Trống” đào sâu thêm nỗi cô đơn của Hạnh. Bị sự lạnh nhạt của người mình yêu, Hạnh có ý nghĩ muốn tự tử. Hạnh ra nằm ở đường xe lửa, đợi chuyến tàu qua cắt đứt cuộc đời trống vắng lẻ loi. Nhưng Hạnh chợt nghĩ lại, tại sao mình không cắt cái bướu để may ra còn sống và lấp bỏ khoảng trống do nó gây ra. Ai giúp đỡ và tiền đâu để vào bệnh viện, nên Hạnh can đảm và liều lĩnh tự mình cắt lấy. Tuy Hạnh cũng biết cẩn thận với băng vải cầm máu, dụng cụ tẩy trùng, thuốc men; nhưng vết cắt đau quá làm anh ngất đi. Người ta cấp cứu đưa anh vào bệnh viện, và bác sĩ cho biết cái bướu ấy là ung thư. Từ cái bướu làm đau nhức khoảng trống cô đơn đến cái bướu ung thư là một suy sụp qua một giai đoạn khác, giai đoạn tuyệt vọng.Cốt truyện giản dị là như vậy. Nhà văn viết truyện đào sâu về những suy tư nội tâm, những suy nghĩ về xã hội xa lánh, về người mình yêu không được đáp ứng; tự khám phá sự hất hủi chính là để Hạnh nhận ra mình; nhận ra số kiếp mình phải chịu đựng cô đơn, không thể trách ai: “Bao nhiêu nămcô đơn của tuổi trẻ anh đã mang theo – tuổi trẻ của một đứa bé mồ côi lang thang không biết la thét với ai, chỉ biết la thét với những chuyến xe lửa chạy qua mỗi ngày, hú còi và phun khói… Khoảng trống bao la ấy đau buốt, nhức nhối trích vào thân thể anh… Em đã chịu đựng sự có mặt của anh, nhưng đến bây giờ em không còn đủ sức chịu đựng nữa – em lên tiếng, như đám đông lên tiếng cho anh nhận ra anh”. Rõ ràng nội dung, với thân phận mồ côi và cái bướu quái ác, truyện viết có tính chất đi sâu vào những suy tư nội tâm, tự mình hiểu được nguyên nhân tại sao xã hội và người mình yêu đơn phương xa lánh. Nội dung truyện như vậy không phải mới lạ, ví dụ cuốn tiểu thuyết “Bướm Trắng” của Nhất Linh còn phong phú hơn nhiều với vài trăm trang dằn vặt nỗi cô đơn của một người mang bệnh lao phổi, còn nhiều tình tiết hơn vì không phải chỉ là truyện tình đơn phương như trong “Niềm Đau Nhức Của Khoảng Trống”. Dương Nghiễm Mậu viếttự phát nhưng có ý thức truyện sẽ đào sâu tâm lý về khoảng trống cô đơn vì cái bướu cổ, cũng như Nhất Linh với ý thức viết truyện theo dõi những quanh co tâm lý, ứng phó có khi bất ngờ, của một bệnh nhân lao phổi đối diện với những suy sụp cuộc đời và cuộc tình. Nhưng truyện “Niềm Đau Nhức Của Khoảng Trống” đã được Giáo sư Nguyễn Văn Trung diễn giải theo những chủ đề của Triết học Hiện Sinh, thành một giảng khóa cho sinh viên Đại Học Văn khoa Sài Gòn kể từ niên khóa 1961-1962, sau được in ra thành sách “Xây Dựng Tác Phẩm Tiểu thuyết”, do nhà xuất bản Tự Do ấn hành năm 1963 (?) (sách được kiểm duyệt tại Huế để cho phép ấn hành, năm 1962). Những chủ đề Triết lý Hiện Sinh du nhập từ Pháp và Đức, như: Hiện sinh Phi Lý (ta hiện diện trong đời này ngoài ý muốn của ta, có khi như một sự thừa thãi vô ích); Hiện sinh Phi lý nhưng ta có Tự Do (Tồn tại Hiện hữu không thể tránh, nhưng ta có quyền lựa chọn một cách ở đời vì đó là trách nhiệm của mỗi người); và Tiểu Thuyết Như Một Ý Thức (không cần nhiều tình tiết kết cấu thành truyện, chủ yếu dằng dặc độc thoại nội tâm). Cụ thể như cái bướu là một thừa thãi vô ích, Hạnh đâu có muốn mà nó vẫn gắn liền với đời của anh. Rộng ra thì ta hiện diện trên đời này cũng là điều ngoài ý muốn của mình, cha mẹ gặp nhau rồi sinh ra ta. Số kiếp hạnh phúc hay cùng khốn đã an bài sẵn cho ta rồi; cũng như lẽ hiển nhiên phải chết của mỗi người là cái đã định (Être-à-la -Mort ; Being-unto-Death). Từ ngữ “Số phận” trong cảm nghĩ ngày xưa được diễn lại thành Hiện sinh Phi lý. Dương Nghiễm Mậu viết tự phát về một trường hợp số phận, biến thành truyện về sự Tồn Tại Thừa Thãi. Một ví dụ khác do diễn giải từ ý tưởng thông thường thành một chủ đề khác của Triết lý hiện Sinh: Hạnh nằm trên đường xe lửa để tự tử, sau đổi ý muốn tự mình cắt bỏ cái bướu thay vì chết đi cho xong. Sự đổi ý ấy được diễn giải là Con Người Có Tự Do Lựa Chọn, có trách nhiệm với hành vi đời mình: một chủ đề của Triết lý Hiện Sinh về Tự Do và Trách Nhiệm, về Hữu-Tại-Thế (Être-au-Monde; Being-in-the-World). Và đây là một hệ-luận từ Triết Lý Hiện Sinh áp dụng vào truyện viết tự phát của Dương Nghiễm Mậu: truyện chủ định đào sâu tâm lý được diễn giải thành lối dàn trải cảm nghĩ, tất cả chỉ là độc thoại nội tâm, gồm thâu vào thuật ngữ “tiểu thuyết là ý-thức” thay vì “tiểu thuyết là kết cấu truyện”. Tóm lại, ta thấy có những tương đồng giữa xưa và nay, rốt cuộc chỉ là những thuật ngữ mới rọi sáng cho lối viết tự phát mà thôi. Xin lặp lại những diễn giải mới: &#8211; Cái bướu bẩm sinh thành Tồn Tại Thừa Thãi -Đổi ý định tự tử sang ý định cắt cái bướu thành chủ đề hiện sinh Tự Do và Trách nhiệm -Đang sốngđời không muốn sống thành Hiện sinh Phi lý -Truyện đào sâu tâm lý thành Truyện Là Ý Thức &#8211; Từ mặc cảm bị đời xa lánh vì cái bướu đến trạng thái tuyệt vọng kề cái chết vì ung thư,được diễn giải thành chủ đề“sự vong thân”, ta trở thành kẻ xa lạ với chính ta. Những dòng sau trình bày những diễn giải ấy, những rọi sáng bằng ngôn ngữ triết lý. Chắc nhà văn trước đây sáng tác cũng với những điểm tương tự như vậy. Nay họ có thểminh-bạch-hóa những tự phát mà từ lâu mình đã viết: “… Tiểu thuyết là trình bày kinh nghiệm nhận thức đó, là mô tả cuộc hành trình nhận định về cuộc đời của một nhân vật là chính tác giả. Tác giả suy nghĩ cuộc đời qua nhân vật là chính mình… cảnh vật sự vật không còn được mô tả như một khung cảnh… cảnh vật sự vật chỉ là công dụng, là dịp gây thức tỉnh… Không còn có tình tiết như sợi nút của câu chuyện… nhà văn chỉ là muốn trình bày sự đi tìm, thì làm gì còn tình tiết để kết thúc câu chuyện… dù tác giả dùng ngôi thứ nhất hay ngôi thứ hai thì cũng không thay đổi gì, vì nhân vật cũng vẫn là tác giả đối thoại với chính mình… nhân vật bây giờ là ý thức, ý thức phản tỉnh… thiết thực đời sống con người không trải ra theo một thứ tự nhất định. Trái lại thường là một  sự hỗn độn, trà trộn với nhau giữa quá khứ và hiện tại, hay với tương lai… đập vỡ đồng hồ (một chi tiết trong truyên The Sound and The Fury của Faulkner) có ý nghĩa như một chống đối lạivới thời gian khách quan tuần tự; bây giờ họ đã sa cơ thất thế nhưng vẫn bám níu vào thời xưa, và sống bây giờ như thể mình vẫn giàu sang phú quý (đây là kỹ thuật viết đảo lộn niên lịch)… những sự kiện tương đối không liên tục và liên hệ được xếp gần nhau không theo thứ tự nào, nhưng theo thứ tự xuất hiện trước ý thức (đây là kỹ thuật viết đồng-xuất). Những đoạn trên trích trong cuốn sách “Xây Dựng Tác Phẩm Tiểu Thuyết”, từ trang 147 đến 152, do Xuân Thu tái bản năm 1990 tại California.</p>
<p>Qua đoạn viết trên đây, ta nhận ra có những điều trùng hợp giữa lối viết tự phát không theo hướng dẫn của lý thuyết văn chương nào; như nhân vật chính là hóa thân của tác giả (chẳng hạn nhân vật Thúy Kiều là hóa thân của Nguyễn Du; Nhất Linh chắc có để bóng dáng mình nơi các nhân vật trong “Đôi Bạn” và “Giòng Sông Thanh Thủy”); như tình tiết trong các truyện xưa có khi cũng giản lược để chỉ là một dàn trải những suy tư nội tâm hay trực cảm huyền bí (chẳng hạn truyện “Chơi Giữa Mùa Trăng” của Hàn Mặc Tử nào có tình tiết gì ngoài những giao cảm với ảo-diệu dưới ánh trăng trên những cồn bãi cát trắng gần bờ biển. Và chẳng hạn như “Dòng Sông Định Mệnh” của Doãn Quốc Sỹ đâu có tình tiết gì nhiều ngoài bóng dáng dòng sông có lúc trắc trở, có lúc thênh thang, có lúc hội nhập trùng dương, được lấy làm biểu tượng cho bôn ba đời người (bôn ba xuôi ngược vốn là kiếp sống nhiều người thường từng trải, đâu cần yếu tố phức tạp cho cấu trúc câu truyện). Tuy nhiên có những điều hoàn toàn mới như kỹ thuật viết đồng-xuất, như kỹ thuật viết đảo lộn niên lịch. Những điều này không hẳn thuộc Triết Lý Hiện Sinh mà tổng quát thuộc dòng văn học Hiện Đại của thế giới, được đề cập đến nhiều thời Văn Học Miền Nam trước 1975: gồm ảnh hưởng từ các tiểu thuyết của Marcel Proust (trong cuốn Đi Tìm Thời Gian Đã Mất); William Faulkner (trong cuốn Âm Thanh và Cuồng Nộ); Tân Tiểu Thuyết với các tác giả Michel Butor, Alain Robbe-Grillet, Nathalie Sarraute; kịch tân kỳ với Samuel Beckett…  Lúc ấy sách báo ở Sài Gòn chưa nói nhiều đến các nhà văn còn ở mức độ hiện đại hơn nữa như James Joyce, Gabriel Garcia Marquez, Cao Hành Kiện… Từ những sách báo không ngớt đề cập đến Triết Lý Hiện Sinh và Tiểu thuyết Hiện Đại kể trên, chắc nhà văn Dương Nghiễm Mậu có ít nhiều chịu ảnh hưởng, và ta thấy ảnh hưởng đó ít nhất trong một truyện mà người viết bài này cảm thức được: truyện ngắn “Bên Sườn Núi Đá” đăng trong Tạp chí “thế Kỷ 20”, số 4, ấn hành tại Sài Gòn, tháng 10 năm 1960. Tuy là truyện ngắn chiếm 9 trang báo (khổ lớn hơn các Tạp chí văn chương cùng thời kỳ), nhưng truyện ngắn này có thể phân tích thành 5 truyện nho nhỏ và xen kẽ nhau thành 8 tiểu đoạn. Các truyện nhỏ xen kẽ nhau như sau: truyện Trình và ông Hai làm nghề biển đang làm việc bên sườn núi đá; truyện ông Hai và đội lính kèn; truyện Trình và vợ con; truyện ông Hai và gia đình; truyện ông Hai và con trai lớn đôi co về nghề đi biển. Và 8 tiểu đoạn xen kẽ nhau như sau: Mở đầu truyện với bối cảnh Trình và ông Hai đang ngồi trong chòi lá tạm bợ bên sườn núi đá sát bờ biển, ngoài trời cả tuần đang mưa bão nên họ không đi biển được để đánh cá ướp muối phơi khô bán cho khách hẹn. Để bớt nôn nóng âu lo, ông Hai ngồi đọc bộ sách “Tam Quốc” bên đống lửa; còn Trình thì ngồi bất động kế bên, nhớ vợ nhớ con đang ở một nơi xa… Tiểu đoạn thứ nhì: Cảnh xưa kia ở sườn núi đá này có một trại lính trấn giữ coi sóc hải phận, nhờ đó có mở một con đường ven sườn núi mà mỗi tuần mới có xe lương thực và thư từ đến với đội lính trấn thủ. Ông Hai từng là lính kèn thuộc ban quân nhạc của trại binh trong một thành phố, lúc ấy ông cũng đã hơn sáu mươi tuổi. Về sau, ông yếu hơi, nên được phái ra trại lính trấn thủ ven biển này, chỉ để làm công việc thổi kèn đánh thức đám lính dễ ngủ quên ven bờ biển lạnh; ngoài ra còn thổi kèn như đồng hồ tập hợp lễ chào cờ, báo phiên gác, báo giờ ăn giờ ngủ. Tiếng kèn của ông yếu vì tuổi đã khá già. Rồi trại binh bị gỡ bỏ vì ở đây không còn cần thiết cho canh phòng. Nhưng ông Hai không muốn rời bờ biển núi đá, dường như nó gắn bó tâm hồn bí ẩn gì đó của ông. Ông giã từ đời lính, đến chòi lá này của Trình để cùng làm nghề đánh bắt cá biển. Và ông cũng tiếp tục thổi kèn, nhưng bây giờ là “kèn miệng” chỉ để đánh thức Trình những khi còn thèm ngủ buổi sáng sớm: “Tiếng kèn sáng nào cũng như sáng nào vọng lên: tò tí te, tò tí te, te te tò tí te tò, te te tò tí te tò”… Tiểu đoạn thứ ba: Ông Hai vẫn ngồi bên đống lửa. Than lửa nóng làm ông nhớ đến trưởng đồn, nghĩ đến bắp rang ông trưởng đồn phân phát cho đám lính ở trại. Đoạn này có những câu đối thoại ngắn trao đổi giữa ông Hai và Trình, qua đó ta biết về gia cảnh của Trình; biết vợ Trình rất ái ngại nghề đi biển của Trình. Tiểu đoạn thứ tư: Ông Hai lại lật tìm chỗ đọc bỏ dở trong cuốn “Tam Quốc”. Cuốn sách già bằng tuổi ông trưởng đồn, so sánh này khiến ông Hai một lần nữa nhớ đến trại lính và những công việc nhàn rỗi của ông trưởng đồn khi xưa: như ký giấy đi phép cho vài người; chơi cờ tướng; làm thơ rồi ngâm vịnh; đọc cuốn sách Tam Quốc này đây vì nó là cuốn sách gối đầu giường trước khi cho ông Hai làm kỷ niệm. Ông lại nhớ hồi trại gỡ bỏ, các bạn lính khác vui mừng vì được giã từ biển, còn ông có bí ẩn gì mà lại thích biển và tìm cách ở lại. Đến đây là lúc nói về gia cảnh của ông Hai: quê hương ông ở vùng núi non đất đỏ mạn ngược, nhiều người như mẹ ông chưa từng thấy biển bao giờ, chỉ biết biển qua những con cá mắm từ miền xuôi đưa lên. Nhưng có tiếng biển gọi trong tâm hồn của ông, mơ hồ như bụi sóng… Tiểu đoạn thứ năm: Sáng sớm, thay vì ông Hai, Trình bắt chước thổi kèn miệng để đánh thức ông già. Lần đầu tiên ông Hai thốt ra lời tự trách mình: “Vô dụng, thật vô dụng”. Biển vẫn còn động mạnh. Trình hé lộ ý nghĩ lo lắng, biết đâu có đêm ngủ quên bị sóng lớn tràn ngập đem tất cả ra biển. Chợt ông Hai thấy một xác thuyền tắp bờ, kẹt vào hốc đá trong đêm. Thuyền còn chắc, nhưng trống trơn. Nhìn kỹ thì thấy còn một cái mũ dạ ướt sũng. Ông Hai ngắm nghía, nói nó giống cái mũ dạ của thằng Khôi, con ông. Tiểu đoạn thứ sáu: Trình thắc mắc sao từ lâu ông Hai thổ lộ ông không có đứa con nào. Đến đây là lúc nói rõ hơn về gia cảnh của ông Hai: khi xưa ông là thủy thủ, có vợ có con, nhưng ông yêu biển hơn gia đình; thường ra đi xa vợ con. Ôngkhông ưa đời sống nơi đất liền vì thường thấy có những va chạm nhỏ nhặt giữa người với người. Ông vui đời thủy thủ, nghĩ rằng cứ lãnh lương gửi về cho vợ con là đủ bổn phận. Rồi một ngày kia, sau một thời gian đi quá lâu trở về, ông mới biết vợ đã mất, có lẽ vì bệnh nhưng sâu xa là do ông bỏ bê xa lánh gia đình. Con ông là thằng Khôi sống với bà ngoại. Ông quyết định giã từ nghề đi biển làm hại gia đình, và đem con lên sinh sống với nghề thư ký ở vùng thật xa biển, nơi mạn ngược. Tiểu đoạn thứ sáu: Con trai ông lớn lên, dần dần tỏ ra bướng bỉnh, không muốn cưới vợ sống yên vui gia đình. Nó thích đọc sách, ham hội họp với bạn bè, và thèm những chuyến đi xa. Nó mang dòng máu giang hồ giống như ông. Tiểu đoạn này có những đối thoại đôi co giữa hai cha con, một bên khuyên răn con đừng mộng tưởng phiêu lưu, một bên nói cha làm thui chột ý chí phải làm một điều gì khác thường hơn đời sống an phận. Và thằng Khôi quyết định vào ngành hải quân. Trước khi nó đi vào cuộc sống lênh đênh hải hành, ông cho nó một cái mũ dạ để làm kỷ vật nhớ cha già. Nó đi biệt, bao lâu nay không biết tin. Tiểu đoạn thứ bảy: Lý do do ông Hai bỏ nghề thư ký ở mạn ngược, xin vào đội lính kèn, vì ông thấy cô độc, muốn sống đời sống có đồng đội thay thế cho gia đình mà vợ con không còn nữa. Ông trở lại niềm yêu thích biển tiềm ẩn trong máu huyết, nên khi trại lính gỡ bỏ, ông muốn ở lại bờ biển có chòi lá của Trình&#8230; Ở tiểu đoạn này, ông Hai để bộc lộ tâm hồn lúc nào cũng mãi hoài vọng một điều gì. Xưa là hoài vọng một kiếp sống giang hồ, coi thường cuộc đời yên vui. Mới đây, khi nhặt được cái mũ dạ trên con thuyền tắp vào hốc đá, ông cứ hoài vọng tin rằng con trai ông không chết đâu. Bây giờ, khi Trình nóng lòng không thể đợi bớt cơn biển động và ra khơi đánh cá một mình, và ông Hai cũng lại hoài vọng tin rằng Trình sẽ đánh được cá thật kết quả. Ông đốt lửa nhiều ngày nữa trong mưa bão, hết củi nhen lửa, ông xé từng tờ trong bộ sách “Tam Quốc”để nuôi ngọn lửa, ngồi mà hoài vọng Trình sẽ thành công. Tiểu đoạn này, ta thấy có vẻ không thực lắm, chỉ như một biểu tượng, một bức họa tượng trưng nói lên ý chí muốn thắng nghịch cảnh của con người. Và tiểu đoạn thứ tám: Trái với ý chí nhất định thắng của con người, sự thật trong nhiều trường hợp thì ta không thể vượt nổi thiên nhiên, như trường hợp biển đã xóa bỏ dấu vết ông Hai cùng chòi lá trên bờ biển, còn Trình thì mãi không thấy trở về. Tác giả kết thúc ở cuối truyện như sau: “Sau mùa biển động ít lâu, có một chiếc xe theo con đường độc đạo ra ven sườn núi đá – người ta theo lời hẹn tới lấy cá, nhưng khi những người lái buôn tới nơi thì không thấy dấu vết gì tỏ ra rằng ở đó có bàn chân người đã đặt đến. Sườn núi đá vẫn khô cằn lầm lỳ, biển vẫn màu nâu. Bọn lái buôn nguyền rủa quay xe, có kẻ nói lớn: &#8211; Tụi khốn kiếp thế mà dám giao hẹn”.</p>
<p>Từ lối viết tự-phát tương đồng với những chủ-đề Triết Lý Hiện Sinh, nhà văn Dương Nghiễm Mậu chắc đã có đôi chút chịu ảnh hưởng, sau khi có người phân tích những nét tương đương, rồi đọc thêm những tài liệu ngoài cuốn “Xây Dựng Tác Phẩm Tiểu Thuyết”. Qua đó, nhà văn tiếp cận thêm những lý thuyết văn chương hiện đại như Tân Tiểu Thuyết, Viết Theo Dòng Ý Thức Hỗn Tạp của William Faulkner, viết theo kiểu Đồng-Xuất Hiện-Tại Quá-Khứ của Marcel Proust hoặc của Ernest Hemingway, và có lẽ ông đã áp dụng. Vậy thiển nghĩ  ở truyện ngắn “Bên Sườn Núi Đá”, ông không viết tự-phát mà theo lý thuyết văn chương. Truyện ngắn “Bên Sườn Núi Đá” theo thiển nghĩ gần với cách viết ”Đồng Xuất Thời Gian” hơn là “Hỗn Tạp Theo Dòng Ý Thức”. Bởi vì truyện ngắn này theo phân tích gồm có  5 truyện nho nhỏ xen kẽ nhau trong 8 tiểu đoạn, khi thì từ hiện tại nhắc đến quá khứ, khi từ quá khứ sực trở về hiện tại, tuy vậy chúng không hỗn tạp mà có sự chuyển mạch để đổi thời điểm. Ta lần lượt thấy 4 lần chuyển mạch: Mở đầu truyện với bối cảnh ông Hai và Trình ngồi trong chòi lá ven sườn núi, đợi hết mưa bão đang làm biển động. Tiểu đoạn này được chuyển mạch với câu: “Vào những tháng trước chàng (Trình) chỉ có một mình”, chuyển mạch như vậy để bắt vào truyện tại sao có thêm ông Hai (bởi sau khi trại lính không còn, ông Hai ở lại với bờ biển này thay vì về với gia đình như các bạn cùng trại lính). Ở đoạn ông Hai và Trình đối thoại qua lại vài câu ngắn, qua đó Trình nói về gia cảnh của mình, dự định đặt tên cho con, cùng ý nghĩ chỉ ra làm một thời gian ngắn, mong có được một số tiền bán cá, rồi sớm về với vợ con. Thấy ở đoạn này, lúc Trình tư lự miên man, ônh Hai lấy cuốn “Tam Quốc” ra đọc, và câu chuyển mạch viết như sau để bước qua tiểu đoạn nói về công việc của ông trưởng đồn: “Nó (cuốn sách) già như ông trưởng đồn khi xưa”. Và để chuyển mạch nói về gia cảnh làm thư ký thuở nào ở mạn ngược, nhà văn Dương Nghiễm Mậu cho xuất hiện cái mũ dạ trong con thuyền trống không tấp vào hốc đá sau đêm mưa bão. Sau cùng, để báo trước chủ đề con người như ông Hai (và con ông) có bản chất mãi hoài vọng và muốn chiến thắng một điều đã hằn nếp trong tâm tưởng, rồi rốt cuộc là thất bại, được chuyển mạch bằng câu chuẩn bị: “Ra ở với anh là tôi muốn vật lộn với biển”… Tóm lại, ta thấy nhà văn Dương Nghiễm Mậu viết truyện theo lối tự phát và cũng có nương theo lý thuyết văn chương. Xin nhắc lại: Nhà văn Dương Nghiễm Mậu viết truyện “Bên Sườn Núi Đá” theo lối “Đồng-xuất Quá khứ Hiện-tại” hơn là viết theo “Dòng Ý-Thức Hỗn-Tạp”.</p>
<p><em>(City of Walnut, California, tháng 11 năm 2012)</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ngo-khong-tac-gia-va-tac-pham-duong-nghiem-mau/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Không : Tác Giả và Tác Phẩm &#8211; Lê Thị Thấm Vân</title>
		<link>https://t-van.net/ngo-khong-tac-gia-va-tac-pham-le-thi-tham-van/</link>
					<comments>https://t-van.net/ngo-khong-tac-gia-va-tac-pham-le-thi-tham-van/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 30 Jul 2016 22:12:15 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Tác Giả Tác Phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không;tgtp]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=28237</guid>

					<description><![CDATA[&#160; Tiểu sử Tên thật: Lê Thị Hoàng Mai. Sinh năm 1961. Hiện đang cư trú tại California, Hoa Kỳ. Tác phẩm  Đôi bờ (tập truyện ngắn 1993) &#8211; Mùa trăng (tiểu thuyết 1995) Việt Nam ngày tôi trở về (tiểu luận 1996) &#8211; Xứ nắng (tiểu thuyết 2000) Âm vọng (tiểu thuyết 2003) &#8211; [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>&nbsp;</p>
<figure id="attachment_28238" aria-describedby="caption-attachment-28238" style="width: 300px" class="wp-caption aligncenter"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/07/Lethithamvan.jpg?strip=all" rel="attachment wp-att-28238"><img loading="lazy" decoding="async" class="size-medium wp-image-28238" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/07/Lethithamvan-300x157.jpg?strip=all" alt="Lê Thị Thấm Vân" width="300" height="157" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/07/Lethithamvan-300x157.jpg?strip=all 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/07/Lethithamvan.jpg?strip=all 543w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></a><figcaption id="caption-attachment-28238" class="wp-caption-text"><strong>Lê Thị Thấm Vân (phannguyenartist.blogspot.com)<br /></strong></figcaption></figure>
<p><strong>Tiểu sử</strong><br />
Tên thật: Lê Thị Hoàng Mai. Sinh năm 1961. Hiện đang cư trú tại California, Hoa Kỳ.</p>
<p><strong>Tác phẩm</strong></p>
<p><strong> </strong>Đôi bờ (tập truyện ngắn 1993) &#8211; Mùa trăng (tiểu thuyết 1995)</p>
<p>Việt Nam ngày tôi trở về (tiểu luận 1996) &#8211; Xứ nắng (tiểu thuyết 2000)</p>
<p>Âm vọng (tiểu thuyết 2003) &#8211; Bóng gẫy của thần tích (tiểu thuyết 2006)</p>
<p><strong> </strong></p>
<h3><strong>Viết Về </strong><strong>Lê Thị Thấm Vân</strong></h3>
<p><strong>Tình dục và các nhà văn nữ di dân Việt Nam</strong></p>
<p><strong>Thế Uyên</strong></p>
<p><strong> Lê Thị Thấm Vân</strong></p>
<p>Tương tự Dương Như Nguyện, Lê Thị Thấm Vân thuộc thế hệ thứ 1 rưỡi, nói một cách cụ thể theo ngôn ngữ của một nhà văn nữ khác đồng lứa: &#8220;chúng tôi rời Việt Nam ở tuổi rất nhỏ, đến máu con gái cũng còn chưa có&#8221;&#8230;</p>
<p>Các cô này đều theo học trường Mỹ từ lúc thiếu thời, tốt nghiệp các đại học Mỹ và chịu tác động đồng hóa sâu đậm của các melting pot loại hạng nhất, là chính các đại học đã theo học, điều không hoặc khó thấy ở dân Việt tốt nghiệp đại học Pháp. Cũng như Dương Như Nguyện, nhà văn nữ hai lần tiến sĩ, Thấm Vân khi viết văn cũng để lộ dễ dàng và rõ ràng ảnh hưởng văn hóa Mỹ của mình, trích dẫn thơ văn tiếng Anh thoải mái, dẫn chứng hơi nhiều các tác giả tây phương đủ loại, đủ kiểu.</p>
<p>Hai tập sách đầu của Thấm Vân, Đôi bờ 1993 và Mùa trăng 1995, không được chú ý mấy. Phải đợi đến tập thứ ba, một du ký tiểu luận Việt Nam ngày tôi trở về, 1996, Thấm Vân mới gây được chú ý nhiều của độc giả hải ngoại, qua đoạn biện luận về công và tội Hồ Chí Minh khá hùng hồn và vững chắc, và nhất là những đoạn miêu tả thân phận quá khổ sở của phụ nữ miền Bắc, trong thời bình cũng như thời chiến. Thấm Vân mủi lòng rõ rệt và chân thành, trước những khốn khổ của họ, đến nỗi bìa cuốn du ký này, cũng như cuốn truyện dài Âm vọng in sau đó, đều chọn hình các bà nhà quê miền Bắc. Nhưng bà cũng bộc lộ rõ tâm trạng feminist, tranh đấu nữ quyền, theo mô thức phổ biến trong đại học Mỹ, nghĩa là không những bình đẳng về chính trị, xã hội và kinh tế, mà còn bình đẳng về phương diện tình dục, tính dục nữa. Thí dụ kiểu như một ngày đẹp trời tại một đại học ở WA, các nữ sinh viên đã dán đầy khuôn viên bích chương chỉ có hàng chữ after No is Rape, và nhiều tòa án đã chấp nhận quan điểm này (khẩu hiệu này diễn tả rõ rằng khi đàn bà đã nói Không, không được đâu, mà đàn ông cậy to khỏe cứ làm tới, là kể như hiếp dâm. Tối thiểu ‘thuyền quyên’ phải ‘ứ hư’một tiếng, ra tòa mới hy vọng trắng án).</p>
<p>Dĩ nhiên kinh nguyệt không còn là vấn đề kín của các cô các bà xi xào với nhau trong một góc phòng nữa, và trong văn chương nữ giới, kinh nguyệt xuất hiện một cách tự nhiên như trời xanh mây trắng. Chất nhờn trong âm hộ phụ nữ, xưa được gọi văn hoa là âm thủy, lớp lông ở trên mu xưa trịnh trọng gọi là âm mao, nay trong văn Thấm Vân</p>
<p>được gọi thẳng thắn là nước l&#8230; lông l&#8230; (dấu ‘&#8230;’ là của người viết bài, còn tác giả viết đủ ba chữ cái đàng hoàng). Trong truyện Rừng Na Uy của tác giả lớp mới Nhật Bản Haruki Murakami, cô nữ sinh viên Midori dẫn bạn trai mới quen trở lại thăm trường trung học nữ cũ, cô chỉ khói trắng bốc lên từ một ống khói trong trường, cho biết khói đó đốt những băng kinh nguyệt của nữ sinh. Cô còn góp ý như đùa là giả thử như Tokyo ra lệnh bắt phụ nữ phải đội nón kết đỏ trong những ngày có kinh, hẳn quang cảnh thành phố sẽ vui tươi hơn nhiều&#8230; Trước những phát ngôn như vậy ông bạn trai hậu duệ của các kiếm sĩ đạo samurai chỉ biết ú ớ thôi&#8230;</p>
<p>Còn cái đó của phụ nữ thì dĩ nhiên không được coi là chốn dơ bẩn, cấm kỵ nữa. Người nữ trong Xứ nắng đi một mình về thăm nhà chồng ở Dục Mỹ, buổi tối&#8221;Tôi nằm đây, đưa tay phải đặt nhẹ vào nơi đó. Cửa mình của trần gian, cửa mở ra sự sống. Nơi chồng tôi bao lần vục mặt, mân mê chùm lông man dại như rừng rậm hoang dã&#8230; Henry Miller đã có</p>
<p>lần viết &#8220;tôi dấu chim tôi trong đám lông hoang dại của nàng&#8221; Còn âm mao, chúng là thân thiết:&#8221;Múc từng gáo, dội từ đỉnh đầu. Nước ào ào tuôn dọc theo cơ thể, da loáng nước.. Cái thau xanh nhựa đặt ở góc phải tràn nước. Khua tay ấm áp như da thịt mình, ở phần dưới.. Tôi ngâm mình trong thau nước đầy. Những sợi lông bồng bềnh, khẽ vuốt ve, mân mê, màu ngô non, mướt nước..&#8221; Còn mùi vị của cái đó phụ nữ và tinh khí đàn ông ở nơi công cộng, Thấm Vân là người đầu tiên ngửi thấy và miêu tả một cách thản nhiên trong đoạn văn nói về Sàigòn:&#8221;Mùi khói xe, thuốc lá quyện với bụi cuồn cuộn trong không gian. Mùi đờm, mùi nước đái, mùi nước dãi, mùi cứt chó, mùi tinh khí, mùi cửa mình, mùi máu, trộn lẫn trái cây hoa quả ủng miền nhiệt đới. Thành phố ào ào, tuôn như thác đổ, vỡ đê. Thành phố quanh năm náo nhiệt, ham sống như chỉ còn vài giờ để sống..&#8221;{Xứ nắng}</p>
<p>Đọc đến đây nghĩ lại, nhớ những đoạn văn miêu tả chợ Việt Nam của Thạch Lam và những nhà văn khác, thấy dứt khoát có sự khác biệt khá lớn lao. Cái mũi hay cái ngửi của các nhà văn tiền chiến, coi bộ không bén nhạy bằng các nhà văn hôm nay, đương đại, hậu hiện đại&#8230;</p>
<p>Sang đến tác phẩm sau của Thấm Vân, truyện dài Âm vọng, nxb Anh Thư, Cali, 2003), một tác phẩm có cấu trúc phức tạp, không giống ai, gây nhiều xúc động nơi độc giả, nhất là những vị lớn tuổi và ít hội nhập, ít nhất vì trở ngại ngôn ngữ, vào nền văn hóa và xã hội Hoa Kỳ, Âu, Úc&#8230; Riêng về cái áo dài trắng, đề tài ca tụng và một giấc mơ có thật của nam giới Việt Nam, kể cả phe Xanh lẫn phe Đỏ, phe Cách Tân lẫn phe Bảo Thủ, cái áo đã được nhà văn Võ Phiến tả là &#8220;nhìn vào chỉ thấy&#8230; gió không&#8221;, đã được Thấm Vân đưa ra nhận định bất ngờ:&#8221;Nó có khả năng làm đàn bà điên tiết: Tấm hình chụp bầy con gái mười một mười ba mười lăm mười bảy tan trường trong tấm áo trắng phin nõn, lụa là trắng phau phau. Trong đám ấy, bao đứa bé đang có kinh, phải xoay xở băng bó thế nào, để đừng lan chảy thấm ướt ra quần, cũng đồng màu trắng phau phau. Bao đứa bé không được phép bước nhanh, chạy chơi u mọi, nhảy dây, trèo cao. Và đạp xe đạp, ống quần bị nghiến chặt trong xích xe, rách nát, giặt vò rã tay cũng chẳng bao giờ tẩy sạch vết dầu xe.</p>
<p>Bao đứa bé đang lấy cặp che gò vú đang nẩy nở, chỉ làn gió nhẹ đung đưa, phô bày khoảng lưng trần muột mà con gái trinh nguyên. Chỉ cần mưa nhỏ hột, hiện rõ ngay từng đường chỉ xú chiêng. Những đầu ngón tay ghì chặt vạt áo để che đường viền quần xi líp. Ai là người sáng chế, nghĩ ra nữ sinh Việt Nam phải bận áo dài trắng quần trắng, bó sát thân thể đang vươn sức sống? Điệu đà thục nữ đoan trang dịu dàng mềm mại e ấp. Trinh trắng. Hồn nhiên. Ngây thơ. Tự do phải bị băng bó. Fuck! Bà chửi thề. Trò rửa mắt hả hê của bọn đàn ông. Gợi lòng tham dục của đám đực rựa. Đừng dựa hơi thẩm mỹ. Đừng ỷ vào văn hóa truyền thống. Tất cả đều có thể đập đổ nát vụn. Phải là đàn bà, băng qua mọi đọa đày, khổ ải, hiểm nguy, mất mát, thiệt thòi mới thấu hiểu được những giải băng dùng bó tay, bịt mặt, cột người như thế&#8230;&#8221; {Âm vọng, trg 92}</p>
<p>Đoạn văn trên là quan điểm của feminist Thấm Vân, người viết bài này chỉ trình bày, chứ không bàn cãi. Chỉ thấy cần có một chút chú giải về chuyện áo dài tiền chiến và hậu chiến, hiện đại và hậu hiện đại&#8230; như sau: Sau 1954, đảng Cộng Sản đã kể như thanh toán xong chiếc áo dài ở miền Bắc, coi như tàn dư phong kiến và tư sản. Dĩ nhiên sau tháng 4-</p>
<p>1975, Đảng cũng cho đi luôn chiếc áo dài ở miền Nam. Nhưng những người Cộng Sản miền Nam không đồng ý với thứ gần như đồng phục buồn tẻ của phụ nữ miền Bắc: trên sơ mi trắng dưới quần bộ đội hay quần vải đen thô sơ, trong mặc quần đùi, đầu đội nón cối&#8230; Phe bảo thủ miền Bắc nhượng bộ một chút: cho phép (sau trở thành bắt buộc) các cô giáo được mặc áo dài khi đi dạy học, còn học sinh nam cũng như nữ có gì mặc ấy, bãi bỏ đồng phục. Khi phong trào Đổi Mới tới, đảng Cộng Sản cho phục hồi thứ đồng phục học sinh xưa kia của miền Nam, quy định nữ áo dài trắng, nam áo sơ mi trắng quần xanh, lần này cho cả nước. Cái nón cối được cho vào bảo tàng viện Cách Mạng cùng với đôi dép râu. Cứ như thế cho đến ngày nay&#8230;</p>
<p>***</p>
<p>Trong <strong>Âm vọng</strong> có ba nhân vật nữ trong ba phần khác nhau, họ chỉ có hai điểm tương đồng: cùng là đàn bà Việt ở Mỹ, cùng sắp tới tuổi bốn mươi, còn lại là khác nhau: một người trí thức kinh doanh thành đạt, một người ít học đi làm nail, vất vả mới nuôi được hai con không cha, và một người làm mẹ. Dĩ nhiên bà làm ‘neo’ là thẳng thắn nhất về chuyện sex, trong suy nghĩ cũng như trong đời sống thực. Không có tư tưởng cao siêu, triết lý này nọ, diễn tả bằng cả chuỗi danh từ Hán Việt khó hiểu, bà nghĩ về người đàn ông:</p>
<p>&#8220;Tối qua mình nằm nghĩ thật tình như vậy: đàn ông khỏe mạnh trẻ trung to con cỡ thằng Mễ, một ngày ra ba lần là hết xí quách, đi chân đá chân xiên, mắt nhìn gà hóa chó. Còn con mụ đàn bà, như tụi điếm, làm tình một ngày cả tá thằng đàn ông chẳng sao cả, vẫn ca vọng cổ cải lương rất mùi mẫn, vẫn gánh nước đi khơi khơi&#8230; Đúng ra đàn bà có thể lấy một lúc nhiều chồng được, chứ tại sao một ông mà cả một lô bà vợ được??? (Trai năm thê bảy thiếp). Một bà có thể làm thỏa mãn ba thằng đàn ông trong cùng một lúc. Còn đàn ông là no way! Không cách chi làm thỏa mãn được mụ vợ thứ ba chứ đừng nói chi mụ vợ thứ bảy!!! (Gái chính chuyên chỉ có một chồng). Chắc vậy mà đàn ông hay sợ quê, tự thấy mình bị lép vế, yếu kém thua đàn bà nên ưa toác họng ưỡn ngực thằng nào cũng mạnh mồm cho ta đây mạnh khoẻ, sức lực dồi dào mà cho &#8220;đêm bảy ngày ba loe ngoe không tính&#8221;. Dốc tổ mẹ. Toàn một lũ nói cho đã miệng. Thằng nào cũng nhiều đào, nhiều em, nhiều vợ&#8230; Cả một lũ nằm mơ. Thôi thì cho tụi nó ước ao sống tận cùng với những giấc mơ, nhưng trong thực tế tụi nó tự biết là đéo bao giờ đạt được&#8221;.</p>
<p>Đồng ý là nhân vật làm ‘neo’ của Thấm Vân ăn nói tục tĩu, nhưng không phải vô lý, nhưng giả thử đoạn văn trên được dịch sang ngôn ngữ Ả Rập và được các ông đạo Khonemei hay Khonami đọc tới, tác giả Thấm Vân dám bị lãnh một fatwa, thánh tư lệnh, ít nhất vì đã đụng chạm tới chế độ bốn vợ, trọng nam tối đa và khinh nữ cũng tối đa của đạo Hồi. Khinh nữ đến mức độ cô gái nào lỡ mất trinh, cha và anh trai có bổn phận phải giết ngay, bóp cổ chết hay cắt cổ hoặc bỏ vào tủ lạnh chôn dưới hầm, như trong một truyện Việt viết ở Bắc Âu gần đây. Còn làm vợ mà ngoại tình thì bị ném đá công khai đến chết, một sự kiện thế giới đều biết. Nữ tài tử nổi tiếng sexy một thời, Brigitte Bardot, nay về già lo bảo trợ súc vật, gần đây có viết lách chê chính quyền Pháp là để nước Pháp bị Hồi giáo hóa. Chỉ vì thế bà đã bị đưa ra tòa phạt vạ tới năm sáu ngàn dollars chi đó, mặc dù thời 1954 ở Pháp chỉ có độ một triệu dân ‘Rệp’ mà bây giờ đã lên đến 5 triệu. Còn ở Mỹ hiện nay con số dân Hồi giáo đủ các sắc tộc cũng đã lên tới con số 6 triệu. Họ đa số là dân mới nhập cư, còn bận túi bụi chuyện cơm áo, vậy mà tại nhiều cơ sở, ngay cả một số bệnh viện ‘quốc doanh’ Mỹ miền Tây Bắc, họ đã dành được quyền đến giờ cầu kinh (5 lần một ngày), treo một tấm vải cửa phòng làm việc rồi trải thảm nhỏ quỳ xuống lễ bái vọng về thánh địa Mecca. Thoải mái như trong sa mạc vậy. Trong tương lai, khối người này trở thành công dân Mỹ, ai cấm họ đi xa hơn chuyện lễ bái vọng, thí dụ như trở thành thẩm phán tại địa phương chẳng hạn&#8230;</p>
<p>Một điểm nữa quan trọng trong Âm vọng cần nói tới, là qua nhân vật bà làm ‘neo’, Thấm Vân cố tình nói tới và miêu tả những điều liên quan tới sex một cách sống sượng, trần trụi, như một thứ khiêu khích khiêu chiến với đàn ông nói chung. Một thứ phản kháng tương tự trong ca dao ‘Văn chương chữ nghĩa bề bề, thần L&#8230; ám ảnh cũng mê mẩn đời&#8230;’, một thứ tố cáo thái độ đạo đức giả của đàn ông trong chế độ phụ hệ: nhiều vị đa thê, nhiều bồ nhưng cứ mở miệng nói hay cầm đến bút là lên giọng dạy đời, chê cái này dâm ô cái kia tục tĩu. Cái l&#8230; với kinh nguyệt đương nhiên là thứ dơ bẩn nhất, nói tới nghĩ tới là buồn nôn lên được&#8230; (thi sĩ Hồ Xuân Hương bực quá đã phải phản ứng: &#8220;Chúa dấu vua yêu một cái này..&#8221;).</p>
<p>Từ trước Thấm Vân đã từng viết nhiều đoạn văn erotic, chuyện đó cũng là thường thôi trong văn chương ‘hôm nay’, đương đại, lần này Thấm Vân cố tình ‘vượt tuyến’ sang địa hạt dâm ô, pornographic, hẳn hoi. Đó mới là điều không thường. Thí dụ vú bà làm neo, không phải là những đôi gò bồng đảo, hai trái tuyết lê&#8230; để nâng niu, để hít chứ không ăn như trái thị trong truyện các cô Tấm Cám, đã được tả: &#8220;Vú mình con không bú mà chỉ toàn đàn ông con trai bú, mút, ngậm, nút, mò, bóp, đè, ngấu, nhai. Ngồi đếm lại, tổng cộng lại cũng hơn mười đầu ngón tay. Thằng nào cũng thích, từ già đến trẻ, từ Mễ tới Ấn, mà mình cũng thấy đã đía mới chết cha chứ! Cái vú bên trái mình thích được bú hơn vú bên phải. Cứ mỗi lần thằng cha nào bú là nước l&#8230; mình ứa ra, rồi nước dãi cũng tươm đầy họng, quặn cả bụng, chỉ muốn đ&#8230; liền tức khắc&#8221;. {Âm vọng, trg 108}</p>
<p>Một vấn đề khác, thường vẫn được coi là taboo, cấm kỵ, đến nỗi, như trong xã hội Việt Nam, thường bị lờ đi, coi như không có, là đàn bà thủ dâm. Xã hội Mỹ trước đây cũng chẳng hơn gì, cũng mới được công khai nói, bàn tới gần đây thôi. Bà Nancy Friday, cũng khoa bảng, trong cuốn phỏng vấn tự thuật The forbidden flowers, những hoa cấm, đã tuyên bố muốn chấm dứt huyền thoại các bé gái chỉ biết cài nơ tết bím, cho nhảy dây, nhảy ô&#8230; trong sáng trong sạch như thiền thần&#8230; cho đến sinh nhật thứ 18 mới bỗng nhiên biết sex là cái chi chi! Trong cuốn sách của mình, bà cho thấy ở các bé gái tình dục phát triển rất sớm, tám chín tuổi trở lên là biết thủ dâm rồi và mất trinh trung bình từ tuổi 15, không cần biết tuổi pháp định được phép làm tình là bao nhiêu. Nơi các nhà văn quốc tế sự kiện thủ dâm này được nói tới trong văn chương từ lâu, như trong Rừng Na Uy của nhà văn Nhật Murakami Haruki, hay trong Tình yêu thời thổ taû của nhà văn Nam Mỹ Gabriel Marquez, nhưng dè dặt, thoáng qua thôi. Bây giờ Thấm Vân cố tình tả thật rõ ràng, sống và sượng, không ‘ke’ gì các ông bà già đạo đức thật/giả, như trong một đoạn văn mà tạp chí Hợp Lưu đã có lần trích dẫn. Còn chú giải thêm là dù có chồng, cũng không cản đàn bà thủ dâm, mỗi khi hứng tình mà không có chồng bên cạnh. Tuổi nào cũng có thể thủ dâm, nhân vật làm ‘neo’ tả một buổi trưa vào phòng con gái, thấy:</p>
<p>&#8220;Nó đang trần truồng nằm cong người đút tay vô l&#8230; rên thở hổn hển, mình lật đật đi ra, người choáng váng như bị trúng gió, điện giật, liền gọi phone kể cho Mây (bạn thân) nghe, phải làm sao? Mây nói: &#8220;Lần sau bà vào phòng nó, nhớ gõ cửa, nhé!&#8221; {Âm vọng, trg 117}</p>
<p>Một taboo, cấm kỵ nữa thường chỉ được nhắc tới khi văng tục, chửi nhau, bà làm ‘neo’ cũng làm và kể một cách tỉnh bơ, là&#8230; ‘bú chim’ cho đàn ông. Nhắc tới với giọng đam mê, hào hứng:&#8221;Lúc ngậm cu ông trong miệng mình thấy đã điếu làm sao, khó tả được cảm giác lúc ấy, như người say rượu, phi sì ke, trúng số độc đắc&#8230;&#8221; {trg 144, sđd} Những độc giả cao tuổi, nhất là những vị xuất phát từ môi trường văn hóa và giáo dục VN xưa, đọc đến đây có thể cằn nhằn kiểu một nhân vật của Võ Phiến: &#8220;Bậy, bậy quá, bậy vô số&#8230; Hại sức khỏe lắm đấy nhé..!&#8221; Nhưng sự bất mãn, cằn nhằn sẽ bớt đi nếu nhớ lại, thứ nhất, chuyện ‘bú chim’ đã được bàn cãi công khai sôi nổi trên mọi phương tiện truyền thông của loài người, khi cô sinh viên tập sự Monica Lewinski tại Tòa Bạch Ốc đã quỳ xuống mút vị tổng thống đương nhiệm, để tinh khí bắn vào áo&#8230;</p>
<p>Nói cho cùng, bản năng tính dục và bản năng sinh sản có vẻ tuy hai, nhưng chính ra là một. Nhỏ như con ve, con châu chấu, con bọ ngựa, con dế, con đom đóm, lớn hơn một chút như con công, con chó, con bò, con ngựa&#8230; kêu ve ve, vỗ cánh xòe cánh, kêu ri ri ban đêm, lập lòe trong bóng tối, kêu bê bò, hí hi hi&#8230; để làm gì, nếu không phải đi một đường tình dục, Love and Sex, với nhau. Chúng công khai dâm ô, công xúc tu sĩ, child abuse, xách nhiễu tình dục lung tung&#8230; Thật tự nhiên, như trời và đất&#8230; Có ‘ke’ chi đến đạo đức luân lý đâu. Cũng có vị nhà giáo đạo hạnh kiểu Châu Á ở bên xứ tuyết lo lắng rằng nhắc tới tình dục, làm sex nhiều quá, e sẽ làm mòn, chán mọi sự liên quan. Sự chán, mòn&#8230; là có, nhưng chỉ đối với cá nhân từng người, nhưng là do các yếu tố chính là tuổi tác và bệnh tật. Đôi khi do môi trường sống đậm đặc chất sex, như ma cô gái điếm, hay chủ tiệm adult bookstore, vũ sexy&#8230; Nhưng dù có thế, vẫn còn, vẫn có yêu đương và ân ái&#8230; như thường. Ngày nào còn loài người trên thế giới …</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Đọc <em>Âm vọng</em> của Lê Thị Thấm Vân</strong></p>
<p><strong>Đỗ Kh.</strong></p>
<p><em>Âm vọng</em> được dễ dàng coi là tiểu thuyết táo bạo nhất trong thời gian này (ngay cả nếu có kể đến hứa hẹn gây sôi nổi của Nguyễn Huy Thiệp với tiểu thuyết về tuổi trẻ sắp ra mắt của ông.) Điều này dễ hiểu khi tác giả <em>Âm vọng</em> trong các lãnh vực mà bà tham dự, vẫn được coi là một người “tới” nhất (“tới” ở đây là kết hợp của các từ “t-áo bạo” và “m-ới”,) đầu tiên là khi đụng chạm đến vấn đề tình dục.</p>
<p>Ở Lê Thị Thấm Vân, đây là điểm thường được người đọc nhận xét đến ngay, nhiều khi một cách hơi vội vã. Tính dục, tuy cũng chẳng có gì là xấu cả, nhưng ở tác giả chỉ là một nấc thang để trèo lên khái niệm bên cạnh tự do cá nhân là nữ quyền trong tác phẩm của bà. Muốn đến với nữ quyền, phải trèo qua cái xác của tính dục trong căn phòng tự do cá nhân. (Tôi xin mở một dấu ngoặc, về một giai thoại xảy ra vào dịp trình một luận án về <em>Le Deuxième Sexe</em> (<em>Giới tính thứ nhì</em>) của nhà văn Simone de Beauvoir, giám đốc luận án, khi trình bày, đã líu lưỡi đọc chữ viết tên bà, S de B, thành ra “Salle de Bains,” tức là phòng tắm, khiến cử tọa, trong đó có cả bà Beauvoir hiện diện, phải ồ lên cười. Đến với nữ quyền, nhiều khi phải đi qua phòng tắm.)</p>
<p>Nhận xét khác về táo bạo, ở tầng của hình thức, là 3 phần khác biệt của<em>Âm vọng</em>, thí dụ cách dùng chữ “bà” cho ngôi của người kể chuyện, thay vì “nàng”, “cô” hay là “tôi”&#8230; thường thấy hơn. Tuy chi tiết thôi, nhưng từ “bà” này đặt ngay một khoảng cách, cái Verfremdungseffekt (cách ly phê bình) của ông Brecht khi ông cho kéo màn nhung kẽo kẹt trong những vở kịch sân khấu? Phần thứ ba của <em>Âm vọng</em>, không phẩy không chấm, như thử nghiệm thành công của Marie Ndiaye ở Pháp cách đây vài năm.<br />
Nhưng ở người đọc này, táo bạo nhất của Lê Thị Thấm Vân là cái nỗ lực trực diện với quá khứ “Việt” của mình, chính là một phần còn ấm áp của bản thân (đến nỗi nhiều tác giả không muốn bò ra khỏi, dù chỉ để nhìn lại cho rõ.) Đây là một việc bà từ lâu liên tục theo đuổi, có lẽ lộ nét nhất là ở tiểu thuyết cuối. Lê Thị Thấm Vân trưởng thành ở nước ngoài nhưng bà khiêng theo mình cây cầu mà nhiều kẻ cùng thế hệ, cùng hoàn cảnh đã đi qua dễ dàng và không tiếc nuối, cây cầu giữa 2 quê hương, 2 đời sống, 2 văn hóa, hay tượng hình hơn, có lẽ là một vết xước, một vết cắt phân ly vẫn không lành mỗi lần ta có đủ can đảm để mà nhìn đến. Những người đàn bà trên bìa của cuốn tiểu thuyết, vậy thì, là một tiếng gọi (như cái tựa cho ta đoán,) hay là một phản ánh? <strong><br />
</strong><em>Tạp Chí Thơ 25 – Mùa Thu 2003 </em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Ðọc <em>Xứ nắng</em> của Lê Thị Thấm Vân</strong></p>
<p><strong>Hồ Trường An</strong></p>
<p>Tiểu thuyết <em>Xứ nắng</em> đánh dấu lối rẽ mới, hoặc nói theo một cách khác, là một cuộc lột xác trong bút trình của nhà văn Lê Thị Thấm Vân. Ðề tài mới. Cách dựng truyện mới. Cấu trúc mới. Khí hậu (climat) mới. Bút pháp cũng mới luôn. Có thể nhiều độc giả sẽ nhăn nhó khi đọc một vài chương trong tác phẩm. Họ như bị ánh đèn pha lóa mắt và hỗn láo tạt lên mặt, khiến họ choáng váng và xây xẩm.</p>
<p>Trước khi đi vào tác phẩm, xin quý vị đọc những lời giới thiệu giản lược ở bìa sau, dưới tấm ảnh của tác giả:</p>
<p>“<em>Xứ Nắng</em> nói lên những thao thức, tìm kiếm về cội nguồn, thân phận mà chúng ta thường chạm mặt nơi những phụ nữ gốc Á Châu lớn lên tại Hoa Kỳ. Giữa những di tích của thế giới cũ, của truyền thống, <em>Xứ Nắng</em> biểu hiện một vươn mình xác quyết cá tính, sức mạnh cũng như khát vọng của người phụ nữ trong một thế giới mà đa số những giá trị cố hữu đang được nhìn lại.”<br />
Cốt chuyện trong <em>Xứ nắng</em> quá gầy gò ít ỏi. Chỉ là chuyến về thăm Dục Mỹ của một nữ nhân vật xưng tôi, nơi đó gia đình bên chồng của cô ta hiện đang cư ngụ.<br />
Như thế, cội nguồn trước hết phải hiểu theo nghĩa đen: đó là quê hương đất nước Việt Nam. Còn thân phận ở đây là thân phận kẻ vì vận nước mà phải vong gia khứ quốc. Tác giả đã viết như sau:</p>
<p>“&#8230; Yêu thương có cần phải học không?</p>
<p>Hiểu biết, trí tuệ có giúp con người đỡ ra hay tệ đi? Có phải bớt nghèo khổ thì con người đối xử với nhau tử tế hơn không?<br />
Tôi chập chờn thấy mình trôi tuột theo dòng văn hóa Việt. Trở về nguồn cội, tấm lòng mềm nõn như lá tre lá ổi lá dừa. Sự thủy chung như đất cát ngàn năm phơi mình trong biên giới quê cha đất mẹ. Tôi không có sợi giây nối từng khúc ruột liền nhau, hay cuộn tròn, hoặc thắt gút, buộc chặt lòng. Tôi tìm về Việt Nam qua sách vở, kinh nghiệm dòng họ, gia đình và chồng.” (trang 132)</p>
<p>Người cha chồng đã khuất núi từ khi độc giả bước vào tác phẩm. Còn người mẹ thì mất trí mà nữ nhân vật xưng tôi gọi là người đàn bà không đầu (không còn đầu óc nhận biết và phán đoán). Tác giả nhắc lại mẹ chồng hồi còn xử nữ bị ông chú họ cưỡng bức, ôm hoang thai. Ðẻ xong đứa con gái thì bà đem cho kẻ khác. Bà căm tức xé nát tấm ảnh Ðức Mẹ Ðồng Trinh và vứt xuống cầu tiêu. Rồi bà lấy một người đàn ông có gia cảnh và địa thấp kém hơn gia cảnh và địa vị của bà. Chồng bà nghiện rượu, hễ khi nào say sưa là chửi bới vợ và nhắc lại cái lỡ lầm không cố ý của vợ. Trong việc bà thất thân với ông chú họ, ông chồng bà chưa hề biết bà chỉ là nạn nhân chứ không phải là tội nhân.</p>
<p>Trong 5 người con trai thì người con trai đầu lòng tên Tịnh, một tân binh quân dịch chết vì viên đạn bất cẩn của tên bạn đồng khóa lúc thử súng. Người con trai thứ hai tên Quyến bỏ nhà đi hoang rồi biệt vô âm tín. Người con thứ ba tên Ðức, chồng của nữ nhân vật xưng tôi, được may mắn nhất trong 5 anh em, được di tản sang Hoa Kỳ và được ăn học chu đáo. Người con trai thứ tư tên Trinh đẹp nhất trong anh em, rủi thay khi làm nghĩa vụ quân sự bên Căm-pu-chia bị miểng đạn pháo làm toạc một mảnh da mặt và trở nên xấu xí vì bị khâu vá cẩu thả. Còn người con trai út tên Hoán có tật bẩm sinh: một chân đương sự chỉ có thịt mà không có xương, đương sự lại câm nín, lầm lì, ngô nghê&#8230; và thuộc loại gay nên có lần đánh cắp son đỏ và quần lót của chị dâu mình để làm đỏm. Trong truyện, cha chồng cùng hai người anh chồng vắng mặt ngay từ đầu, và chỉ được tác giả nhắc sơ qua vài dòng.</p>
<p>Người chồng tên Ðức được kể lại ở mấy chương đầu trước khi nữ nhân vật xưng tôi chưa về thăm Dục Mỹ. Nhưng về sau anh không xuất hiện theo chiều xuôi của diễn biến câu chuyện. Anh chỉ được nhắc nhở loáng thoáng trong những mảnh vụn của ký ức nữ nhân vật chánh kia khi cô ta còn ở Dục Mỹ. Ðây là kẻ tuy thành công nhất trong 5 anh em, nhưng cũng không tránh khỏi một vài bất hạnh khá quan trọng trên đường đời. Anh ta lấy cô vợ Mỹ tên Melissa. Một hôm anh từ sở về nhà sớm, bắt gặp nàng và cô bạn chung của hai vợ chồng anh đang hành dâm với nhau. Sau cuộc ly dị, anh được giữ đứa con gái tên Alyssa và rồi tái hôn với nữ nhân vật xưng tôi. Anh ta nuôi mộng viết văn. Nhưng tác phẩm anh không được nhà xuất bản nào đón nhận; rốt cuộc nó vẫn chỉ hoàn bản thảo. Anh ta về Dục Mỹ thăm mẹ 3 lần. Tiền anh gửi về phần lớn chui vào cuộc rượu chè say sưa của ông bố. Sau khi ông ta nằm xuống, mẹ anh dần dà điên loạn. Người con hiếu thảo trong gia đình đó vì gánh nặng, thêm chuyện đau lòng về cô vợ Mỹ, nên mang tật nói mớ những câu bí hiểm liên tu bất tận trong giấc ngủ. Xin cùng đọc 3 lần về thăm nhà của Ðức dưới ngòi bút buồn thảm và thương tâm của Lê Thị Thấm Vân:</p>
<p>“Lần về thứ nhất.</p>
<p>Ðàn bà ba miền bận áo thâm quần đen như nhau, nhưng anh nhận ngay ra mẹ. Mẹ níu áo anh, hít hà da thịt anh. Con về đây hả Ðức? Mẹ không tin là còn sự sống. Phải là phép nhiệm mầu. Ngày đầu tiên về, những con đường cụt Dục Mỹ không một làn gió. Ngày cuối anh rời, trời mưa làm đất Dục Mỹ dẻo quẹo, trồi lên giữa những kẽ chân.</p>
<p>Lần về thứ nhì.</p>
<p>Còn một chút nhận ra. Những gói vải lụa, xoa, sa-tanh, mỹ-á mẹ gói gọn, xếp ngay ngắn, cuộn chặt cất dấu trong rương. Sao mẹ không may mà mặc? Anh nói, vừa thương xót, vừa bực bội. Ðể dành. Mẹ nói nhỏ. Mẹ để dành cho ai? Mẹ nhìn anh bối rối lẫn lấm lét. Anh nhói dạ. Mẹ xem áo mẹ đang mặc sờn vai, bẩn thỉu, hôi&#8230; Anh nghẹn. Thì mặc lâu ngày sờn vai, bẩn thỉu&#8230; Mẹ định nói gì thêm, nhưng thôi, rồi cười. Những chiếc răng còn lại dơ bẩn hơn cả màu áo mẹ đang bận. Cái hang sâu hoắm luồn sâu vào cống rãnh. Bốc mùi. Bao lâu rồi mẹ chưa tắm?</p>
<p>Anh cầm tay mẹ dẫn vào nhà tắm. Hứng nước đổ đầy thau, cởi áo cho mẹ rồi ra ngồi đợi trước cửa nhà tắm. Chưa bao giờ cổ anh đắng ngắt như thế. Nước mắt anh cứ thế trào ra.</p>
<p>Anh nghe tiếng nước xối, nhè nhẹ, đứt quãng. Mẹ ơi&#8230; mẹ ơi, anh gọi. Mẹ trở ra, đầu không ướt nước, lại cười, hở lợi, anh cười theo. Bộ đồ mới, nếp gấp sắc nhọn. Mẹ đừng để dành, rách con may thêm cho mẹ, mẹ nhé!</p>
<p>Anh nghĩ tới ngày xưa. Giờ đã xa như tuổi ấu thơ. Anh muốn nói một câu sâu tận đáy lòng nhưng không thể, không được, và sẽ chẳng bao giờ có dịp, có cơ hội&#8230; Hoàn toàn bất lực. Những tấm áo cũ đắp vá, móng tay cáu bẩn, ghẻ mụn tanh hôi, dép đứt quai, nước dãi mũi, quẹt cánh tay trần. Tuổi thơ của con, của anh em con, của gia đình mình, mẹ ơi!</p>
<p>Lần về thứ ba.</p>
<p>Cả quần cả áo cả tóc cả móng tay móng chân lông cáu ghét cân nặng chưa tới 70 pounds. Người đàn bà đó là mẹ anh ư? Ðầu bà còn đó, nhưng bà không còn đó. Bà còn, bà còn, phải bà còn đó. Tự trấn an dỗ lòng. Phải còn có cái gì chìm sâu khuất nẻo trong đầu bà chứ? Giòng máu, tế bào luân lưu di chuyển trong thân xác bà chứ!</p>
<p>Nhiều đêm anh nằm cạnh mẹ, mẹ như con mèo lả bệnh, gói gọn mất hút trong anh. Sáng sớm choàng thức, lông bám đầy hai cánh tay anh. Mùi khắm chua tanh.</p>
<p>Nhiều đêm. Anh nghe tiếng mẹ gọi. Từ tinh cầu gió. Lồng lộng gió. Chứa toàn gió. Con ơi! Ðức ơi!</p>
<p>&#8230;..</p>
<p>Một sáng, anh xổ tung khăn đầu mẹ, trời ơi! một ổ chấy, cả rừng chấy lúc nhúc, đen, nâu, nhạt&#8230; anh ghì&#8230; chấy rơi rụng rớt níu lấy nhau, níu lấy mẹ, níu lấy anh. Buông mẹ ra. Người anh toàn chấy.</p>
<p>Thế giới chấy hút hết sức lực, máu thịt mẹ. Những sợi tóc loe hoe không sắc màu. Cả đời anh chưa một phút hình dung. Những mái tóc con gái, đàn bà anh từng đặt tay vuốt vò ghì hôn rậm rạp, dầy mỏng, thưa thớt, quăn tít, mỏng manh, thời trang, nhuộm màu, uốn ép, dài ngắn, bù xù, cũn cỡn, thẳng đuột&#8230;.</p>
<p>Còn tóc mẹ anh!</p>
<p>Anh kiếm cái kéo. Hớt sát chân tóc. Mẹ ngồi yên, ngô nghê. Anh gội đầu cho mẹ, mẹ ngồi yên. Những đầu ngón tay anh nham nhám. Cả thế giới chấy rơi tuột xuống cống rãnh, sau hiên nhà.</p>
<p>Anh quên mất nụ cười của mẹ.</p>
<p>Anh quên mất giọng nói của mẹ.” (trang 48-50)<br />
Tuy không là điểm then chốt trong <em>Xứ nắng</em>, nhưng dục tình vẫn là điểm quan trọng làm chúng ta phải nghĩ ngợi về sự thèm khát hành dâm giữa cậu Trinh và nữ nhân vật xưng tôi. Chúng ta không hiểu nữ nhân vật thèm muốn Trinh do động lực nào, yếu tố nào, nguyên nhân nào thúc đẩy. Trinh là đứa con trai đẹp nhất nhà trong đám ngũ hổ. Nhưng đó chỉ là lời bà mẹ nói ra. Ðến khi nữ nhân vật xưng tôi gặp gỡ thì Trinh mang vết tàn phá bên nửa khuôn mặt. Cậu ta nói ít, suy nghĩ ít, hiểu ít, hơi ngu ngơ. Có thể có độc giả cho rằng nữ nhân vật xưng tôi mang bệnh cuồng dâm (nymphomanie), vắng đàn ông thì chịu không nổi cơn ngứa ngáy nhục dục hành hạ. Nhưng có một điều mà chúng ta khó lòng phủ nhận: cô ta thương xót cuộc đời lận đận, nhục nhằn của Trinh. Ở đây, tác giả chừa một khoảng trống trong câu chuyện để độc giả lấp đầy sự suy nghĩ và những điều tưởng tượng của riêng mình. Về phần Trinh cũng vậy. Tác giả cũng không nói thôi thúc nào đưa cậu ta thèm khát chị dâu mình. Ðộc giả tha hồ đoán mò một cách giận dữ (về tội loạn luân của cậu ta). Hoặc họ xót xa tội nghiệp cậu ta vì xấu xí nên chưa toại nguyện việc thỏa mãn dục tình với một cô nào, trong khi người chị dâu xinh đẹp cậu ta là kẻ từ đất nước Hoa Kỳ về thăm nhà chồng, mang theo cái phong thái văn minh và sức cám dỗ mãnh liệt.</p>
<p>“Lại thêm một trận mưa rào. Mưa chảy ào ào dọc theo máng xối. Âm thanh vỡ òa. Tiếng chó tru một hơi dài. Tôi thiếp đi&#8230;</p>
<p>Không biết bao lâu&#8230; Thời gian.</p>
<p>Có cái bóng ai đó đứng đầu giường. Cái bóng vuốt ve mái tóc chảy dài của tôi. Ðêm im lắng. Sâu thẳm. Người đàn bà cụt đầu? Không phải. Không thể nhẹ nhàng và run rẩy như thế. Bàn tay của ai? là ma hay quỷ? Tôi đang mê hay tỉnh? Mặt tôi giáp vách. Tay trái duỗi theo thân hình. Bấu mạnh vào da, có cảm giác. Cảm giác truyền nhận đến trí óc. Mùi đàn ông. Mùi đất-đá-khói-súng-máu-lửa. Bàn tay đói tình. Bàn tay của Trinh.</p>
<p>Tôi nằm yên như thế. Chắc nịch và chính xác.</p>
<p>Bàn tay vuốt ve. Ôi! rất đỗi mềm mại.</p>
<p>&#8230;..</p>
<p>Cái mùng khẽ lay động.</p>
<p>Ai đã bỏ cục đá lạnh vào lò nướng? mà đá vẫn còn nguyên.</p>
<p>Bàn tay vuốt ve mái tóc, chạm khẽ vai trần. Im lặng, nín thở, tích-tắc-tích-tắc-tích-tắc.</p>
<p>Tôi chờ đợi một tiếng rú, tiếng thét, tiếng nổ, tiếng gào.</p>
<p>Bàn tay khẽ vuốt mạnh. Cái vuốt mạnh bất thường làm chân phải tôi co giật. Bàn tay rút nhanh. Cái lò xo bật tung. Cái bóng phóng nhanh.</p>
<p>Tôi mở mắt. Bóng phóng là Trinh.” (trang 92-93)<br />
Một tác phẩm có nhiều đoạn nóng bỏng tình dục là cái cấm kỵ bén nhọn nhất đối với những kẻ hay hổ thẹn, quen thói đạo đức giả lỗi thời. Lại nữa, còn vụ chị dâu và em chồng nghĩ đến thú cụp lạc nhau, cái mà người Việt Nam chúng ta từ nghìn xưa tới ngày nay cho là loạn luân, là phi đạo đức. Và lại nữa, cái chiêu cảm lạ lẫm của nữ nhân vật xưng tôi rất oái oăm đối với những kẻ có tâm địa hẹp hòi, thiếu thông cảm, khi họ gặp đoạn cô ta áp mặt vào hạ bộ mẹ chồng. Cái chiêu cảm đó không giống cái chiêu cảm phổ quát của đa số độc giả. Nó làm cho những ai mang sẵn thói quen bất biến bị đóng khung trong cuộc sống đầy dẫy nguyên tắc nầy phải nhăn mặt, nếu không bảo là lợm giọng. Dù đoạn này được tác giả tô phết một lớp mạ vàng bạc bóng bảy đi nữa, được trang điểm với vài câu thời thượng đẹp như nạm ngọc đi nữa, nhưng lối miêu tả lạ hoắc kia vẫn đứng lạc lõng ngoài vòng ấn tượng và ngoài cõi cảm nhận của họ.</p>
<p>Về tình dục, lúc đầu tác giả còn viết một cách dè sẻn, còn phân vân về những cấm kỵ do nguyên tắc đạo đức đặt ra, nhưng càng về sau, chị càng tuôn ra hơn, rỉ rả nhưng cũng đủ thấm ướt ấn tượng người đọc. Tình dục hiện diện trong tác phẩm, lạ thay không khích động cái thèm khát ái ân của những tâm hồn độc giả nhạy cảm. Nó chỉ nêu lên những điều rất nhân bản, và nhất là làm độc giả cảm thấy bi thiết về những cái yếu đuối, những nhu cầu thúc bách một cách tội nghiệp của thân xác con người. Ðây mới là cái kỳ đặc nâng cao giá trị của tác phẩm chứ không hạ thấp tác phẩm xuống hàng dâm thư như bọn đạo đức giả đánh giá qua một thành kiến nghiêm khắc và qua sự ương ngạnh thô bạo. Công việc này chẳng mới mẻ gì. D.H. Lawrence (David Herbert Lawrence) qua cuốn <em>Lady Chatterley’s Lover</em>, điện ảnh gia kiêm nhà văn Elia Kazan qua cuốn <em>The Arrangement</em> (Nguyễn Hữu Ðông dịch thành <em>Trở lại thiên đường</em>), Roger Peyrefitte qua cuốn <em>Roy</em>, nữ sĩ Pháp Régine Desforges qua cuốn <em>Blanche et Louise</em> cũng đã viết về cái sex, những thảm kịch hay thiên lương xoay chung quanh sex. Kẻ thì dùng sex để ca ngợi khía cạnh tích cực của sự sống, còn người trình bày cái tiêu cực của nó. Nhưng dù trình bày cái tích cực hay tiêu cực của sex, các nhà văn này đều muốn tìm lại nhiều điều nhân bản của con người hiện hữu trong tác phẩm mình. Xin cùng đọc đoạn nữ nhân vật xưng tôi cùng Trinh trên đường từ nghĩa trang trở về nhà:</p>
<p>“Tôi ôm chặt người Trinh, hai bầu vú áp sát lưng Trinh. Cho Trinh đỡ sợ và tôi không bị ngã. Một thoáng giây vụt hiện đến, tôi biết, biết mình không nên làm như thế.</p>
<p>Ở Việt Nam, nhiều điều không nên làm như thế.</p>
<p>Ở Việt Nam, tại sao làm như thế.</p>
<p>Ở Việt Nam, không dự định, không sắp đặt, không biết trước. Bước chân kế có thể rơi lọt xuống hố sâu.</p>
<p>Giờ thì tôi biết tôi đang ôm sát người Trinh. Trên đường từ nghĩa địa về nhà. Nghĩa địa nơi có bố chồng anh chồng đã rục xương rã thịt. Con dâu, em dâu sao chẳng thắp cho một nén hương. Khấn vái trò chuyện thủ thỉ đôi câu.</p>
<p>Mặt trời hung dữ. Ðầu tôi nhức buốt. Tôi nhắm nghiền mắt, áp mặt vào vai Trinh. Tôi cần chỗ tựa. Nhưng sao&#8230;</p>
<p>Hai tai tôi vẫn vểnh như tai chó.</p>
<p>Hai mũi tôi vẫn thính như mũi chó.” (trang 86)<br />
Nữ nhân vật xưng tôi về thăm quê chồng nhưng không có chồng theo. Cậu em chồng tên Trinh cứ quét cặp mắt thèm thuồng khắp người nàng. Và ý nghĩ thông dâm và hành lạc với cậu ta cứ ám ảnh cô chị dâu không ngớt. Ở đây tác giả diễn tả bóng bảy, nhưng chị không để cho ai muốn hiểu sao thì hiểu. Có thể là nữ nhân vật xưng tôi muốn để cho Trinh cụp lạc với cô ta trong cái đêm Trinh ngủ gần chỗ ngủ của cô ta. Nhưng không bao giờ tác giả để cảnh thông dâm thực sự xảy ra. Cảnh ấy cũng chỉ thuần túy được phác họa, hoặc chỉ được vẽ vời chập chờn trong cõi mường tượng và trong cõi tưởng tượng khao khát của cô ta, như lúc cô ta đi chơi với Trinh trong chốn hoang sơ tịch mịch. Cái loạn luân chỉ trong ý nghĩ, trong cái thèm muốn của Trinh và của cô ta mà thôi.</p>
<p>“Gã con tai nằm dưới kia, cách tôi một cái xoạc chân, qua lớp mùng mỏng, tựa sương khói. Màu da đất nung.</p>
<p>Vẻ ngu ngơ khờ khạo của hắn càng làm tăng cơn cám dỗ tột đỉnh. Ðành chịu. Chắp hai tay ép giữa đùi, quặn cong người. Co thắt. Nhắm kín mắt, nuốt ực ngụm nước miếng.</p>
<p>Họng núi lửa phun trào.</p>
<p>&#8230;&#8230;</p>
<p>Tiếng heo ré, xé toạc màn đêm, xé toạc tôi.</p>
<p>Một góc nhỏ trên mặt đất này. Sự thể bùng vỡ bất ngờ. Khuôn mặt gã con trai với một nửa bên vết sẹo khâu vá vội vàng. Một mạng sống. Nghĩ ngợi, muôn vàn nẻo lối bào chữa cho mình, như giống đực cả hàng ngàn năm. Mê gái chân quê, nông thôn, nhà mùa, mùi mạ non, gót chân lấm phèn chua, tẩm mùi biển mặn. Ai ban cho họ đặc quyền, sao không là mình? Trinh, gã thanh niên ngô nghê, khờ khạo, xỏ mũi, nói ít, hiểu cũng ít. Mãnh lực hấp dẫn hay tội tình tội nghiệp? hay chỉ lưu giữ tôi qua cơn hoảng loạn nơi chốn này?</p>
<p>Và góc tối, là kẻ đồng lõa.</p>
<p>Thôi chịu, cứ để tuôn chảy như đê vỡ. Ðời sống nơi đây từng khắc, từng giây kéo dài. Sống tự nhiên, hết mình. Lên rừng đào đất tìm đá. Thời đất trời sơ khai. Không thành kiến. Không lý giải. Không phân biệt. Không luận cứ.</p>
<p>Thằng Út thích tô son đỏ, bận quần lót lụa màu hoa cà, đã sao?” (trang 106-107)<br />
Ðoạn nhân vật nữ tự mình làm cho mình khoái lạc (la masturbation) dù chỉ được diễn tả bóng gió, nhưng cũng đủ gây sửng sốt bàng hoàng cho những độc giả chưa bao giờ tiếp xúc với văn chương táo bạo. Tác giả không diễn tả rõ chủ đích của mình. Chị như con ruồi bò lòng vòng quanh miệng hũ, miệng chén rồi mới rón rén buông mình vào lòng hũ, lòng chén. Nhưng tới điểm đích, chị giáng xuống những chữ thật nổ vang dội, những cụm từ rất tượng hình. Công việc gây cái thẩm mỹ va chạm (esthétique de choc) sau cách diễn tả ý tình một cách quanh co khéo léo ấy phát xuất từ óc tế nhị bén nhạy của tác giả. Bởi thế nó gợi lên nét phóng bút sỗ sàng và hùng tráng trên nền giấy vẽ mờ vóc gấm bóng hoa:</p>
<p>“Tôi đi vào phòng tắm, lần mò như kẻ bị móc mắt, nhưng cũng quyết chí đi. Như kẻ vượt tù, tin chắc rằng chân trời chỉ cách mình một cái nhảy cao. Vượt biên, thõng chân xuống nước là chạm phải mặt đất. Cậu Thịnh kể chuyện vượt biên tám lần mới lọt, lần nào cũng như xem phim trinh thám. Còn tôi đây, đang dọ dẫm bước từng bước trên thềm xi-măng, lòng bàn chân mát lạnh, tay bám vào những gì có thể bám. Thần trí lùng bùng. Ði theo tiếng gọi của thể xác, trong tôi. Thằng Út nằm phơi mình ngoài sương đêm. Cu nó có ngổng không? Nhưng biết chắc một điều, khi nằm, nó bình đẳng như mọi người. Bước qua Trinh, tôi dừng, tích-tắc, tích-tắc từng lỗ chân lông bung nở, tỉ tỉ sự sống cựa quậy. Bước thêm bốn bước, rẽ trái. Bóng đêm đồng lõa, gió đêm rủ rê, khoảng sân mờ ảo mời mọc. Ðầu gối đụng phải bàn ăn, tôi cắn chặt môi dưới. Băng qua bếp, mùi thức ăn trong bóng tối xông ra, đầu đụng chùm nem chua treo lủng lẳng như bùa chú. Tôi dừng, định thần, tiếng mèo hoang phóng nhanh trên mái nhà. Trăng sao biền biệt.</p>
<p>Cánh cửa phòng tắm bật tung&#8230;</p>
<p>Tôi chịu hết nổi, tuột gấp quần, chỉ kịp qua khỏi đầu gối. Tôi ngồi bệt xuống sàn xi măng ẩm nước, góc tường lạnh thấm qua lưng, hất cái ghế đẩu nhựa sang một bên, ngón tay tôi run run đút sâu&#8230; luồn lách qua từng thớ thịt khe rãnh nhầy nhụa ấm nóng. Sóng cuồn cuộn trên vũng bụng. Ngón tay hút chặt. Ðầu môi con bạch tuộc. Tôi biết tôi muốn gì, làm gì, ngay trong giây phút này. Tôi hoàn toàn thuộc về tôi. Cái quẫy mình của con kình ngư.</p>
<p>&#8230;&#8230;</p>
<p>Thân thể tôi giãn nở</p>
<p>mười ngón chân hết cứng đơ</p>
<p>vũng bụng thôi cuộn sóng</p>
<p>tất cả rũ mềm như giải lụa</p>
<p>chậu nước tỏa hơi mát</p>
<p>tôi mỉm cười trong đêm. Tin chắc rằng, bên kia bức tường, rào cản, trời đêm mọi sự đều đơn giản, thanh thoát như hương hoa sứ đang độ giữa mùa.” (trang 126-127)<br />
Nữ nhân vật chánh của Lê Thị Thấm Vân có một hành động quái dị (dĩ nhiên dưới mắt độc giả có thành kiến phổ thông và ương ngạnh) và một chiêu cảm đặc biệt khi cô ta săn sóc mẹ chồng. Cô ta không ngần ngại ngửi cửa mình của bà. Ðối với một con người có chút khái niệm về nhân bản thì nó là một hành động bình thường, giúp chúng ta tìm về cội nguồn sự hiện hữu của tha nhân, luôn cả của chính mình. Còn đối với người mang tấm lòng Từ bi của đức Quán Thế Âm Bồ-tát thì nó mở rộng một chân trời khoáng đạt và mênh mông trong tâm thức: cái dơ và cái sạch, mùi hôi hám hay hương thơm không còn là mặt trái cùng mặt phải của một đồng tiền nữa. Biên giới hai cái đối nghịch xóa nhòa để tình thương vô biên và sự xót xa tội nghiệp thâm thúy cùng hiển lộ rực rỡ như nhau. Và đây có phải như lời tóm lược ngắn nếu hiểu qua khía cạnh văn chương nhân bản in ở bìa sau hay chăng?</p>
<p>“<em>Xứ nắng</em> nói lên những thao thức, tìm kiếm về cội nguồn, thân phận mà chúng ta thường chạm mặt nơi những phụ nữ gốc Á Châu lớn lên tại Hoa Kỳ.”<br />
Xin cùng đọc đoạn văn sau đây để thấy rằng nhân vật nữ xưng tôi đáng quý mến dường nào. Và để thấy luôn cái thần trí sáng tạo rất mạnh mẽ và tinh nhuệ của tác giả:</p>
<p>“Người đàn bà không đầu ngồi thõng chân trên cái mả hoang ngoài mé sân trái, qua ô cửa sổ tôi nhìn ra. Nắng chiếu như hào quang vây tụ quanh cổ người đàn bà. Màu nắng ban mai rỡ ràng, vàng óng, tuôn chảy như mật.</p>
<p>Hai thằng con trai độc thân của bà hiện hữu đâu đó trong căn nhà này.</p>
<p>Miếng đất mua lại. Chủ chính đã mất xác trên đường vượt biên. Miếng đất chia làm hai phần. Nửa kia không có mả, nửa này dính hai cái mả có sẵn từ đời nào. Của ai? chịu, không ai biết. Không tên tuổi, cũng chẳng ai cất công tra hỏi. Ðất Dục Mỹ vốn là đất hoang, đất tứ xứ. Có ma không? Tim tôi thót mạnh. Ma sống đang ngồi thõng chân ngoài kia kìa.</p>
<p>Mả còn ướt bởi hàng loạt cơn mưa rào đêm qua. Người đàn bà. Mẹ đẻ ra chồng tôi, nửa quả cam của tôi, nửa cuộc đời tôi, nửa hình hài tôi, nửa số phận tôi, nửa giọng cười tôi, nửa nghiệp chướng tôi. Bà ngồi đó, lưng xoay. Tôi rón rén bước ra, nắm tay bà, bóp những ngón tay thời gian đã lóc hết thịt. Tôi dắt bà trở vào nhà. Những lóng xương vụn, mềm nhừ. Bà chẳng nói chẳng nhìn. Hồn người nằm dưới mộ, có theo chân tôi vào nhà?</p>
<p>Tôi nói thằng Út lấy bộ đồ khác cho mẹ. Tôi lau khô thân thể bà. Hai núm vú khô đen chúc đầu như hai hạt nho phơi quá nắng. Những cái xương sườn như niềng xe đạp, lăn biết bao vạn ngàn vòng. Vài sợi lông khô khốc như cỏ nám, che chắn nơi đã đưa chồng tôi ra với đời sống này. Tôi áp mặt vào đấy, ngửi mùi đất-đá-súng-đạn-máu, mùi hơi thở chồng, mùi Alyssa mỗi khi bị sốt, mùi hơi mưa giữa đêm đông miền nhiệt đới.</p>
<p>Tôi ôm sát bà. Mũi cay nồng. Mẹ ơi, mẹ ơi, con đây, con về với mẹ đây&#8230; Có vật gì đó chận ngang cuống họng. Tôi thương bà và tôi thương tôi.” (trang 96, 97)<br />
Chúng ta tự hỏi tác giả có gộp bà mẹ chồng của nữ nhân vật xưng tôi, mẹ ruột của cô ta và bà Mẹ Tổ Quốc thành một biểu tượng bi thương không? Cái khéo của chị ở chỗ kéo dài sự liên tưởng cho người đọc, phóng đại và phóng chiếu một hình ảnh tội nghiệp trong tâm tưởng họ. Trên vận nước nổi trôi, bà Mẹ Tổ Quốc chúng ta trải qua biết bao chặng lịch sử điêu linh, bà mẹ chồng trong <em>Xứ nắng</em> điển hình cho người mẹ gánh vác nhiều hệ lụy trên đường đời đến độ bị mất trí, xác bà tuy còn đó mà hồn bà đã đi đâu. Trong cái tâm Từ Bi của nữ nhân vật xưng tôi ấy, bà ta biến thành mẹ ruột của chính cô ta, soi rọi cho cô ta cái thân phận cực nhục của kiếp đàn bà.</p>
<p>Trong tác phẩm này, nữ nhân vật xưng tôi không phải là người trong cuộc. Cô ta cũng không phải là nạn nhân của nguyên tắc đạo đức, của những quy ước, của những khuôn khổ đã từng tước đoạt tự do tinh thần con người, của những bế tắc. Tất cả những cái gọi là nguyên tắc đạo đức, quy ước, khuôn khổ, bế tắc đó bây giờ đã mất hiệu lực, hao khuyết, lụi mòn, và phai úa hào quang tự bao giờ. Chúng do lớp người đi trước tự bao nghìn xưa đặt ra mà không chịu ngó về hướng tới của nhân loại, của xã hội&#8230;. Cô ta trước sau vẫn là nhân chứng, là kẻ dự khán thảm cảnh và không bị vướng mắc vào những cái nghiệt ngã đó. Và nếu có thể, cô ta cũng chỉ là kẻ nhập cuộc để chia sớt đau thương với người trong cuộc, chứ không thể cảm nhận thật sự và nguyên vẹn được nỗi đau sống thực của người trong cuộc. Xin đọc:</p>
<p>“Tôi ra đời đúng vào mùa xuân Mậu Thân, 1968, năm chấn động lịch sử. Huế, người sống bơi lội trong đất cát. Nấm mồ chôn người tập thể. Mỹ Lai đâu đó thuộc về Quảng Ngãi. Vết nhơ chiến tranh. Ðộc ác, bạo tàn, dù toan tính hay nhiệm vụ, ước mơ giải phóng, dân chủ độc lập, thế giới đại đồng. Ðàn ông trẻ con chó mèo heo chuột gào thét trong biển lửa ngút trời. Những con vật trốn chui trốn nhủi cả ngàn năm trong hốc đá giờ cũng phải tuôn ra đua với con người tìm sự sống.</p>
<p>Cái giá phải trả cho sự ước mơ ảo tưởng. Chân lý sụp đổ. Bi hài kịch hạ màn. Một thí nghiệm trả giá dân tộc thụt lùi thế kỷ. Hàng triệu thây người chết mắt không nhắm.<br />
Mỹ quốc, 1968 là năm đánh dấu hàng loạt làn sóng cách mạng. Trong nhà ngoài ngõ. Phong trào phụ nữ đòi bình đẳng nổi lên mạnh mẽ, không tương nhượng nam giới trong mọi lãnh vực. <a href="http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=4620&amp;rb=0102">Martin Luther King</a>, Jr, lãnh tụ da đen với câu nói để đời I have a dream, bị ám sát. Robert Kennedy trẻ, đẹp trai, con nhà giàu, học giỏi, có cơ hội làm tổng thống Mỹ tương lai cũng bị ám sát. Hàng hàng lớp lớp sinh viên xuống đường biểu tình chống chiến tranh Việt Nam, thách đố Lyndon B. Johnson bằng khẩu hiệu: Hey,hey, LBJ, how many kids did you kill today?” (trang 10-11)</p>
<p>Nữ nhân vật xưng tôi là mẫu người ưa suy tư. Nếp suy tư ấy dựa trên cái bất hạnh của gia đình bên chồng. Từ đó hiển lộ những biến cố thương tâm trên dòng sinh mệnh của lịch sử; và cũng từ đó thiên lương và tấm lòng nhân đạo của cô sinh sôi và nảy nở sung mãn như nấm mùa mưa, như loài man thảo gặp thời tiết ôn nhuận.</p>
<p>“Cánh cửa địa ngục mở toang hoác, gió lạnh lùa kín miệng. Gió xoáy mạnh, thăm thẳm sâu, sâu hun hút, sâu như họng chó. Ðịa ngục, nơi chẳng một ai quan tâm, để ý, cũng chẳng ai cần. Màu tối đen, quánh đặc, hấp dẫn lạ kỳ.<br />
&#8230;&#8230;</p>
<p>The Killing Fieds &#8211; Cánh đồng Thảm sát của xứ Chùa Tháp, nơi Trinh đã để lại mảnh da thịt, máu thấm vào đất, thương tích đời người. Chế độ diệt chủng Pol Pot. Gần hai triệu, tức một phần năm dân số Cam Bốt bị xóa sổ đời. Cuộc diệt chủng thế kỷ, ngang ngửa lò thiêu Do Thái thời Hitler, so sánh được chăng?</p>
<p>Giờ đây lễ tưởng niệm người quá vãng hàng năm. Cuộc lễ chết oan. Hình dung hàng ngàn đầu lâu xếp cao bằng Kim Tự Tháp. Khói nhang tỏa mờ phủ che hàng ngàn hốc mắt. Lời kinh cầu giọng nữ ngân nga&#8230; Chúng giết tôi bằng xẻng. Chúng trói người tôi vất xuống giếng&#8230; Ôi! thương thay. Con tôi ba ngày bị giựt khỏi tay. Cháu tôi bảy tuổi bị đâm bằng gậy. Bà tôi chín mươi bốn tuổi bị đánh bằng cây&#8230; Ôi! thương thay. Con gái bị hiếp bất kẻ đêm ngày&#8230; Ôi! Cam-bô-di-a. Con còn nhớ không? Thời qua cay đắng thế nào&#8230;</p>
<p>Cánh đồng Thảm sát là cánh đồng cỏ xanh chạy dài mút mắt. Hàng dừa trầm mình trong nắng gió trưa. Lác đác những con bò gầy guộc mắt lờ đờ nằm ngồi uể oải. Các nhà sư áo vàng, áo nâu ngồi nghỉ dưới bóng cây ổi, cây chanh. Tiếng ve sầu văng vẳng. Trẻ con chân trần không áo nhe răng gặm mía. Mùa mưa xuống, vài cái sọ người trôi lều bều trong lớp cát đá cỏ lấp xấp nước mưa.</p>
<p>Ðau thương quá khứ và khó khăn hiện tại.</p>
<p>Cam Bốt giờ đây đã được giải phóng, kết thúc một giai đoạn đầy máu và nước mắt. Nhờ Việt Nam?</p>
<p>Và dân tộc Việt, biết cậy vào ai đây?” (trang 98-99)</p>
<p>Cái cảnh đứa con trai (tức là Trinh) đút cơm cho người mẹ mất trí là một cảnh đau xót và cảm động nhất. Cơn điên biến bà thành một đứa trẻ thơ, phải sống nương tựa vào kẻ khác, ngay cả ở những nhu cầu cần thiết thường nhật:</p>
<p>“Qua khung cửa sổ, Trinh đút cơm cho mẹ trong nắng lóa, trời xanh lơ.</p>
<p>Trinh ngồi chồm hổm, kiểu nước lụt, kiểu đi cầu ở Việt Nam.</p>
<p>Người đàn bà không đầu dựa lưng vào cột nhà. Cái thìa bé tí, dính vài hạt cơm đầu thìa. Ăn xong một thìa, đầu bà quay bên phải, ăn xong một thìa, đầu bà quay bên trái. Bên phải, bên trái, bên trái, bên phải&#8230; Cái đầu bà quay qua quay lại, ngọ nguậy, như đầu sán lãi. Người đàn bà đang có đầu, hiện hữu, nhất định không nhai, không nuốt. Mắt Trinh trợn trừng, dọa nạt. Ngôn ngữ tuyết rơi ngoài trời, mạch máu di chuyển trong cơ thể, giữa đêm đông. Ngôn ngữ câm. Bên phải, bên trái, bên trái, bên phải. Mặt Trinh với những vết khâu chằng chéo, giật co liên hồi. Lời nói không va chạm. Âm thanh không là cú đấm.</p>
<p>Kiên nhẫn là đức tính tốt.</p>
<p>Lưng Trinh cong vòng. Mắt cố chọc thủng xuyên qua người đàn bà, vào khoảng không. Sự tàn tạ của ánh sáng lóa, trời xanh lơ. Chén cơm. Sự nhẫn nại. Một thói quen. Làm cách nào những hạt cơm rơi lăn xuống cổ, chui vào nằm yên dưới đáy bao tử.</p>
<p>Một thìa khác. Bên trái. Dỗ dành, dịu ngọt.</p>
<p>Một thìa khác. Bên phải. Dọa nạt, trợn trừng.</p>
<p>Ai chịu đựng ai?</p>
<p>Một thìa khác. Phun thẳng vào mặt Trinh.</p>
<p>Lại một thìa khác. Ðã bao năm? bao lần? bao bữa? Từng ngày, thêm vào, chồng chất, thành kiên nhẫn, đợi chờ, thói quen. Bao nhiêu thìa cơm nữa phải đút?” (trang 70-71)</p>
<p>Ðọc nhưng đoạn như thế này, trước hết chúng ta thích thú cái lối hành văn tân kỳ thật xôn xao linh động của tác giả. Những câu ngắn gọn, những câu điệp ngữ ngược xuôi làm cho cái hoạt cảnh dưới ngòi bút tác giả trở nên sống động lạ thường. Và đọc những đoạn như thế này làm sao chúng ta khỏi cảm thấy lớp băng dày đóng cứng trên tâm hồn chúng ta tan rã mau chóng, để chúng ta đón nhận niềm thương xót và cái đau đớn trước cảnh ngộ bi đát của những nhân vật trong tiểu thuyết <em>Xứ nắng</em>? Cho nên trên cái nhớp nháp của dục tình, những bông hoa của tình người luôn luôn thịnh phóng rực rỡ, có đủ muôn hồng nghìn tía xôn xao.Và dục tình dưới ngòi bút tác giả biến thành hoa màu để mảnh đất văn chương của chị thêm màu mỡ phì nhiêu.<br />
Cái tấm lòng bác ái đối với cảnh ngộ bên chồng, hình ảnh đáng tội nghiệp của bà mẹ chồng đã hướng dẫn nhân vật nữ xưng tôi đi vào tâm Từ Bi. Vậy thế nào là lòng Bác ái và tâm Từ bi? Lòng Bác ái chỉ giúp chúng ta yêu thương đồng loại. Còn tâm Từ bi giúp chúng ta chẳng những yêu nhân loại mà yêu luôn những chúng sinh khác, từ muôn loài động vật đến muôn loại côn trùng.</p>
<p>Tại quê chồng, cứ vào hừng sáng, nữ nhân vật chánh nghe tiếng heo kêu eng éc. Rồi cô trình bày cho chúng ta nghe tiếng heo kêu, tư duy và suy niệm về nó như sau:</p>
<p>“Tôi choàng thức, trạng thái mơ màng, nửa tỉnh nửa mê.</p>
<p>Tiếng thét gào. Rú từng cơn. Của ai?</p>
<p>Con vật, con người?</p>
<p>&#8230; tiếng heo, eng éc, không phải bị lùa vào chuồng, chúc mỏ tranh miếng ăn. Nó là tiếng rú gào, van xin sự sống</p>
<p>&#8230;..</p>
<p>Sáng sớm tinh mơ ngày đầu, nơi giam giữ ấu thời chồng tôi. Tiếng heo&#8230; không rên rỉ, mà là thét gào, âm thanh xé toang óc, đập dập tim tôi.</p>
<p>Người tôi quằn theo tiếng kêu trời, của heo.</p>
<p>&#8230;..</p>
<p>Tiếng gào thét nhỏ dần&#8230; thưa dần&#8230; nhỏ dần&#8230; thưa dần&#8230; nhỏ dần&#8230; thưa dần&#8230;</p>
<p>Rồi im bặt.</p>
<p>&#8230;..</p>
<p>Người ta giết heo, mổ thịt con heo, thì có gì lạ?</p>
<p>Giết heo, xẻ thịt, thức ăn nuôi sống con người, bao ngàn năm như thế, tại sao tôi phải quằn người?</p>
<p>Lại thêm một tràng thét gào của con heo khác. Từng cơn, từng con thay phiên lên bàn mổ.</p>
<p>Rồi lại nhỏ dần, thưa dần. Im bặt.</p>
<p>&#8230;..</p>
<p>Tiếng bánh xe nghiến nát mặt lộ chính át tiếng van xin. Tưởng chừng xe đang tuột dốc, đứt dây thắng, nhào đổ, vực sâu không đáy, tan xương nát thịt, mũi-mắt-mồm cùng căng. Trong đám hành khách có khuôn mặt tôi mười tuổi. Tóc cắt ngang tai, chới với ôm vồ lấy khoảng không mông mênh. Mắt không nhìn thấy được chiều sâu. Tôi rơi, rớt trong khoảng không vô tận.</p>
<p>&#8230;..</p>
<p>Một góc nhỏ trên đất nước một năm chỉ hai mùa ráo ướt. Vùng nhiệt đới, tên gọi rất đỗi lãng mạn, thơ mộng, gợi cảm, đầy khiêu khích và rất lạ kỳ. Nằm trên ghế bố made in USA sót lại thời kỳ Mỹ hiện hữu nơi đây. Ðắp vá chằng chịt. Nước trong tôi tuôn trào xối xả như thác.</p>
<p>&#8230;..</p>
<p>Cái ghế bố Mỹ đắp vá chằng chịt nương nhẹ thân tôi.</p>
<p>&#8230;..</p>
<p>Huyết heo ộc ra từ cổ theo vết dao thọc. Máu từ cửa mình tôi ộc ra. Thắt chặt co giật. Từng cơn. Xếp lớp, như hoa trên bức tranh Georgia O’Keeffe. Những dãy đồi đỏ rực màu lựu mùa hè. Xương sọ, đầu lâu bạc màu nắng gió. Kinh hoàng. Mạnh mẽ. Khủng khiếp. Dứt khoát như mái tóc người đàn bà tóm gọn đằng sau ót. Hoa lan, hoa quỳnh khép nở hương đêm. Huyết heo đỏ au. Tô bún bò huế bốc khói, hai miếng huyết heo vuông vức thẫm màu mướt mịn, lềnh bềnh trôi trên mặt tô bốc khói cay nồng. Nhai không kỹ, huyết heo bám cứng kẽ răng, phải dùng tăm quẹt, móc, xỉa điệu nghệ như Trinh sau mỗi bữa ăn. Chồng tôi ở Mỹ, tân kỳ tiến bộ hơn, dùng dây floss tẩm mùi bạc hà, rành rọt đến độ chẳng cần soi gương.</p>
<p>Một chậu huyết heo tươi rói. Máu chết.</p>
<p>Một bịch băng vệ sinh. Máu sống.</p>
<p>Người tôi lại cứng đơ. Mặt ghế bố vải Mỹ cứng đơ. Ðã có thằng lính Mỹ, Quốc Gia, Việt Cộng nào chết, hấp hối, mộng mơ trên cái ghế bố vá đắp chằng chịt tôi đang nằm này không?” (trang 31-33)</p>
<p>Sự diễn tả của tác giả bề ngoài có vẻ lung tung, sa đà, loạn xạ nhưng thỉnh thoảng xen lác đác những ngữ pháp ngôn từ hoa mỹ. Từ tiếng heo kêu eng éc, dòng liên tưởng của chị đưa tới chậu huyết heo, con heo bị xẻ thịt, chiếc xe tuột dốc, hành khách tan xương nát thịt, chiếc ghế bố vá chằng chịt đã có ai chết hay mơ mộng quàng xiên trên đó, tô bún bò có hai miếng huyết heo được lấy từ sinh mệnh của con vật không có vũ khí tự vệ, máu kinh nguyệt của nữ nhân vật xưng tôi. Những hình ảnh rời rạc, những vận sự bề ngoài dường như quá ít nối kết. Nhưng trừ máu kinh nguyệt tượng trưng cho sự sống ra, tất cả cái còn lại đều có những cái mẫu số chung: hình ảnh thảm thiết, cái ác nghiệp dữ dằn của loài heo và sự hoại diệt oan khiên&#8230;</p>
<p>Mãi tới bây giờ, tôi cũng vẫn chưa nắm vững cái đổi mới trong văn chương Tây phương nói chung, trong văn chương Pháp nói riêng từ thập niên 50, 60, có nghĩa là gần hoặc hơn hiện giờ nửa thế kỷ. Tuy nhiên, ở tác phẩm <em>Xứ nắng</em>, tôi nhận thấy rõ rệt một điều: Ðôi lúc (tôi xin nhấn mạnh đôi lúc thôi), tác giả không dùng cấu trúc cổ điển, có lớp có lang theo quy ước. Chị làm kẻ vừa đọc qua tác phẩm Xứ Nắng cảm thấy cảnh này xen cảnh kia loạn xị cả lên, từ chuyện hiện tại bước qua những chuyện dĩ vãng không đoạn chuyển tiếp. Trường hợp đó cũng giống như các cuốn phim của Jean Luc Godard, Claude Lelouche, Andrzej Wadja hay cuốn phim <em>Hè muộn</em> của Ðặng Trần Thức, từ cảnh hiện tại trở ngược về cảnh hồi ức (flash-back) không có đoạn chuyển cảnh, tức là không có cảnh bản lề. Nhưng được một cái là chị thay câu chuyển đoạn bằng một hàng bỏ trống. Chẳng hạn ở chương 23 (tác giả chỉ ghi vỏn vẹn số 23, chứ không viết chương 23 hoặc chương hai mươi ba), chị nêu lên cái đặc thù ấy trong cuộc bút trình của mình như sau:</p>
<p>“Múc từng gáo, dội từ đỉnh đầu. Nước ào ào tuôn dọc theo thân thể, da loáng nước. Màu da nước.</p>
<p>Ở góc trái, vòi nước rỉ rả. Tôi bực mình khi tắm mà nước chảy rỉ rả. Phải ào ào. Tiếng nước chảy và cảm giác mạnh. Cái thau xanh nhựa đặt ở góc phải tràn nước. Khua tay ấm áp như da thịt mình, ở phần dưới. Chút riêng tư trong căn phòng bằng hai cái giang rộng tay từ lúc đặt chân vào căn nhà này. Tôi ngắm mình trong thau nước đầy. Những sợi lông bồng bềnh, khẽ vuốt ve, mân mê, màu ngô non, mướt nước. Thuở nhỏ anh Thiện thường bẻ đôi trái bắp, lấy râu quấn quanh cằm, giả làm râu ông già.</p>
<p>Nước tràn ngập thân tôi. Ông ngoại râu bạc trắng, dài phủ cằm. Thỉnh thoảng ông vuốt râu, trầm ngâm, tư lự. Vài chục năm nữa anh Thiện có giống ông ngoại bây giờ không nhỉ? Chắc là không, ông ngoại ở Việt Nam, con cháu quây quần. Anh Thiện sẽ như nhiều ông Mỹ già khác, ngồi ngủ quên trên chiếc ghế bành rộng, trước màn ảnh TV đang mở. Tiếng nước khua rộn ràng, màu da loáng nước. Anh Thiện tay run chống gậy, hay ngồi trong xe lăn, dõi mắt nhìn qua sân viện dưỡng lão vắng vẻ, đìu hiu, cùng màu nắng tàn. Nước chao nghiêng sóng sánh thân thể. Anh Thiện dáng vẻ sợ sệt lẫn ngóng chờ bà y tá lạnh lùng, cho thuốc uống vỗ về trên vai máy móc. Chùm lông mịn ướt trôi tuột trên từng kẽ tay. Dãy bắp sau nhà thuở nhỏ. Những buổi chiều làm xong bài, tôi lẻn ra vườn sau, bãi đất trồng toàn bắp của ông hàng xóm mặt quanh năm đỏ kè. Tôi đi giữa hàng bắp. Gió cuối thu thổi lá bắp nâu khô xào xạc. Ðã xong mùa bắp. Trái thì những người lao công Mễ đã bẻ sạch. Tiếng lá sột soạt như áo quần khô cứng, kỳ lạ, thích thú. Nắng đổ xuống trên đỉnh đầu. Nắng lóa trên những lá bắp nâu khô. Tôi năm dài giữa luống bắp. Úp mặt. Mùi nồng đất ải. Tiếng rung khẽ, ngân dài từ trong tôi, từ lòng đất. Cả hai chao nghiêng. Nhắm mắt. Tôi thấy tôi cùng đất lật.</p>
<p>Nắng vẫn lóa trên đỉnh đầu và trên tàn lá bắp nâu khô.</p>
<p>Âm thanh tiếng còi tàu. Bánh xe rền rung mặt đất. Thành phố San Leandro không thuộc về đâu. Gần San Francisco thơ mộng nhất nhì thế giới. Gần Berkeley bụi đời, cấp tiến, nhiều sắc dân. Gần San Jose tỉ số dân Việt đứng thứ nhì hải ngoại. San Leandro thế nào, ở đâu, có gì đặc biệt, sẽ ra sao, mấy ai quan tâm?<br />
Cảnh tượng trong phim Fried Green Tomatoes. Xe lửa xình xịch, xình xịch ào ào, tiến tới, tiến tới&#8230; Chiếc mũ bay, người con trai chạy đuổi theo, mũ lượn lờ dọc theo đường rầy. Vẫn đuổi theo gió. Những bước chân bay theo chiếc mũ. Nhẹ tênh. La đà. Ðuổi theo mũ là đuổi theo tình. Làm sao cản được gió? Tiếng máy xe lửa xình xịch, xình xịch, ào ào, tiến tới, tiến tới&#8230; thi đua cùng nhịp tim đập của đôi tình nhân. Ðịnh mệnh. Bàn chân người tình kẹt giữa đường rầy. Xe lửa xình xịch, xình xịch, ào ào, tiến tới, tiến tới&#8230;. Tiếng người, tiếng xe, máu xương, nhịp tim&#8230; đập điệu tình yêu. Là sự nghiền nát.” (trang 62-64)</p>
<p>Ở chương này lại còn có phân đoạn đầy những chuyện liên tưởng nọ xọ qua chuyện hồi tưởng kia. Từ chùm lông của nhân vật nữ xưng tôi nhảy qua râu bắp mà anh Thiện đeo, giả làm râu ông già, sang qua sự mường tượng cái tương lai anh Thiện ở trong nhà dưỡng lão, giật lùi về cái hồi tưởng đám bắp ở quê nhà rồi chuồi qua vườn bắp ông hàng xóm Mỹ&#8230; Những dòng liên tưởng, những dòng mường tượng sao mà nườm nượp, sa đà, ào ạt nối chằng chịt vào những dòng nói về cảnh hiện tiền thực tại được khai thác thật ít oi. Ðiều đó làm cho độc giả hoang mang ngơ ngác. Nhưng nếu ai đó đã quen thưởng thức các tác phẩm của các điện ảnh gia ấy, sẽ thấy thú vị hơn vì phim pháp (style) và phim phạm (grammaire) trong các tác phẩm ấy được xóa bỏ quy ước, nguyên tắc, lề thói cổ điển để biểu dương tinh thần phóng túng và khoáng đạt của người nghệ sĩ. Cũng thế, lúc đang đọc hay sau khi đọc xong <em>Xứ nắng</em> của Lê Thị Thấm Vân, chúng ta sẽ nhận thấy một điều là chị cũng cố ý xóa bỏ khá nhiều bút pháp (style) phổ thông và văn phạm (grammaire) theo quy ước cũ kỹ, cốt kéo văn viết đi sát vào văn nói, hoặc hơn thế nữa, nếu có thể được văn viết được biến thành văn nói như bút pháp của nhà văn Céline xứ Pháp. Chẳng hạn tác giả tả đoạn nhân vật nữ cùng chú em chồng đi chơi giữa vùng hoang vắng, cô ta tưởng tượng đến cảnh ái ân cụp lạc như sau:</p>
<p>“Càng vào sâu, tôi càng tự hỏi. Sao mình đi cùng Trinh vào nơi đây?</p>
<p>Cây cối thổi ra gió, khói bốc từ những hốc nước. Lá khô, gió khô, cả nắng khô khốc đổ túa lên cả người tôi. Dừng, thở dốc, tôi chẳng cần phải đi tìm cái sức nóng. Nắng đang quấn chặt người tôi. Tôi bỗng mệt nhoài, cảm giác như thân cây vừa bị đốn ngã. Ngồi bệt xuống đất. Trời chao lượn trên cao, mặt trời rực máu.</p>
<p>Tia mắt Trinh quét trọn người tôi, từ sợi tóc đứt ngắn chĩa trên đỉnh đầu đến gót chân dính toàn bụi cát. Quét một lượt, rồi dừng lại nơi chốn phải dừng suối khe, gò bồng đảo. Cục táo Adam trôi trục trơn trợt như viên chè trôi nước. Tôi chợt phì cười, thấy mình vô duyên tệ.</p>
<p>Nhạy cảm, mày là đứa quá nhạy cảm. Phải, đã nhiều lần giúp tôi bay cao, như chim, mở toang cánh cửa thiên đường, ngụp lặn trong bể hạnh phúc tuyệt đỉnh. Ðồng thời, cũng đạp xô tôi xuống tận đáy đen địa ngục, đớn đau, tủi nhục, ê chề biết bao.</p>
<p>Hai mắt Trinh vẫn liếm dọc, ngang trên người tôi. Mỗi cái quét mắt là một vết cứa. Bốn bề vắng vẻ, chỉ gió, đất đá, cây cối, sức nóng và tiếng nước róc rách. Tôi nghĩ đến mảnh da vá chằng chịt nhàu nát khâu vội. Trả thù cho sự bất công. Ừ cứ đè đại xuống. Hất tung. Bất chấp. Phá hủy. Ðòi hỏi giữa người và người.</p>
<p>Tưởng tượng, mày là đứa giàu tưởng tượng. Một cái gì đó đâm phập vào cửa mình tôi, hốt hoảng, hả dạ, cười, bặm chặt môi, mắt long lên, trợn ngược, chỉ toàn màu đờm. Mẹ kiếp. Fuck you! thì đã sao. So what? Ðã chứ, đụ má nó, cuộc đời. Bình đẳng nằm ở đâu? chỉ toàn nghiệp chướng. Tại sao phải là thằng Trinh này, kẻ bị trừng phạt. Tại sao? Ðụ má, kệ, tới đâu tới, ha ha, ha ha&#8230; Thân xác và đầu óc. Một chấm đen li ti, u mê và tỉnh táo. Hạt bụi nổi bật trên tấm giấy trắng phau học trò. Màu trắng vô nghĩa. Quỷ ma rình rập, khổ đau là thật. Chắc chắn như sự chết. Hấp dẫn như phá hủy. Chiến tranh, ừ phải, trong chiến tranh: từ bi, tình yêu, tha thứ là xa xỉ phẩm.</p>
<p>Vấn đề là hoàn cảnh, cơ hội, thuận tiện, có dịp.</p>
<p>&#8230;. sự có dịp của một đời người đang xảy ra ngay trong khoảnh khắc này, tại nơi đây.</p>
<p>Sự trả thù đời.</p>
<p>Sợ hãi làm bụng tôi trương cứng như đàn bà chửa. Mùi mồ hôi từ nách bốc ra, gần-gũi-ấm-êm-dỗ-dành-trìu-mến.</p>
<p>Nếu hắn đè mình ra ngay lúc này, tại nơi đây&#8230;? Dám lắm, tại sao không? Mắt hắn vẫn như mặt chổi quét lia lịa trên người tôi. Ðôi mắt đắc chí của gã thợ săn dốt nát, mới đi rừng ngày đầu, nhưng vận may, gặp con mồi béo bở. Tay hắn cầm cọng cỏ khô, vuốt qua vuốt lại trong lòng bàn tay, như liếc dao sẵn sàng cắt cổ vịt.</p>
<p>Yên lặng và bóng tối, đầu con rắn hổ mang không nhúc nhích di động, nhưng hai con mắt chòng chọc vào bị thịt. Bị thịt là tôi, chỉ cần tiếng động khẽ, nhích nhẹ, mỏ rắn mổ ngay tròng mắt, tôi.</p>
<p>&#8230;..</p>
<p>Tôi bật ngồi dậy, nóc hòm bật tung. Ði, đi về&#8230;</p>
<p>Trinh vất nhanh cọng cỏ khô.</p>
<p>Chị nằm nghỉ một lát cho đỡ mệt, mình chưa đi vào trong coi&#8230;</p>
<p>Tôi mệt quá! Ði về.</p>
<p>Tôi nói nhanh, mê man trong từng bước chân vội vã, vươn dài.</p>
<p>Bước chân Trinh cũng vội vã, vươn dài.</p>
<p>Trời lóa nắng, chói chan, khô khốc. Xứ sở chẳng bao giờ thiếu nắng. Tôi thấy bóng người đàn bà đứng sẵn ngoài cổng ngóng chờ tôi.</p>
<p>Tôi ngã vào lòng bà, chạm phải trái tim ấm nóng, mềm mại. Mẹ, tôi gọi.</p>
<p>Cái đầu của bà đã mọc. Nhưng mọc ngược.” (trang 142-144)</p>
<p>Chúng ta thấy gì ở đoạn văn này? Ẩn ức nhục cảm trồi lên trên bình diện ý thức, nhưng chưa phát tác thành hành động, chưa tạo nên một cảnh tượng, một vận sự. Nhưng tác giả cố ý chối từ cái thứ văn chương tuân theo lề thói cổ điển để bỏ rơi bút pháp và văn phạm mẫu mực, tù túng và khô khan. Như thế chị giúp cho độc giả nắm bất ngay cái điều then chốt: cái phút tưởng tượng của nữ nhân vật kia sôi nổi hơn, cái dâng trào của khoái cảm tình dục (l’orgasme) của đương sự gia tăng cường điệu hơn. Ðộc giả có cảm tưởng nhân vật trong cuộc ấy bị say nhừ bởi cảm giác hổn hển và nóng bỏng. Cô ta như đánh mất chính mình, như lạc lõng với chính mình. Nhưng trong cơn xáo trộn của ý thức, trong sự hoảng loạn của đê mê, cô ta nắm bắt nhiều cái lớn lao hơn, chẳng hạn như hai bề mặt trái của nhục cảm, sự bình đẳng, chiến tranh (Một chấm đen li ti, u mê và tỉnh táo. Hạt bụi nổi bật trên tấm giấy trắng phau học trò). Cái ý thức về cuộc sống có nhiều ẩn số mà người trong cuộc hành dâm hay người ước mơ tình dục chưa chắc đã tìm được một vài. Ðâu phải ai cũng như nữ nhân vật xưng tôi ấy. Ðối với văn chương của Tony Duvert trong cuốn <em>Journal d’un Innocent</em> do Minuit xuất bản, ngôn ngữ diễn tả nhục cảm của Lê Thị Thấm Vân trong <em>Xứ nắng</em> nào có thấm tháp gì về sắc thái táo bạo. Tony Duvert còn dùng nhiều chữ sống sượng thô lỗ hơn. Nhưng những chữ ấy sắp đặt bên những ngôn từ thấm nhuần tinh thần sáng tạo, hay được nạm khảm trên những câu văn đẹp làm cho bút pháp ông ta thêm màu sắc đặc thù, làm cho văn phong ông ta đảo lộn cái nề nếp buồn nản cũ. Bút pháp và văn phong như thế còn giúp cho nhiều tác giả gây được tinh thần khám phá cái mới lạ và dựng lên một phong trào sôi nổi cho văn chương Pháp vào các thập niên 50, 60. Cho nên họ được nhà xuất bản Minuit chiếu cố tận tình. Ðây là nhà xuất bản chỉ giới thiệu những cây viết có lối hành văn lạ lẫm, có tinh thần khai phá, có lối cấu trúc đặc thù trong cuộc bút trình, chứ không cần cốt truyện; đó là Claude Simon, Alain Robbe Grillet, Michel Butor, Nathalie Sarraute&#8230; Cũng vậy, bên cạnh vài chữ táo tợn, Lê Thị Thấm Vân vẫn dùng những chữ thanh tao lịch sự, những câu văn hoa lệ. Ðây là trò chơi ánh sáng trong bút pháp; một vài cù lao bóng tối điểm tô cho cái biển ánh sáng mênh mông thêm nét hàm súc và ý nhị.</p>
<p>Ðọc xong <em>Xứ nắng</em>, tôi cảm nhận ngay một điều: nếu ai đó muốn tìm khoái cảm xác thân và muốn cái sex được chọc lét một cách thú vị thì họ sẽ thất vọng não nề. Tác giả là một nhà văn nhân bản, đời nào dùng chuyện tình dục tầm thường để câu khách. Ðúng hơn, chị dùng sex để nói lên trăm ngàn điều ngang trái đau thương của kiếp người. Ðây là một nhà văn có ý thức sáng rỡ, có trách nhiệm thiêng liêng lúc cầm bút. Ðây là một nhà văn can đảm, dám vượt qua mọi cấm kỵ gai góc, để cho tình người được nở hoa. Lên án chị thì có khác nào lên án một kẻ làm đẹp ý tình thăng hoa của cuộc sống, có khác nào chặt đứt đôi tay đang xây dựng cái nền tảng thiết tha của con người yêu thương cuộc sống.</p>
<p><em>Xứ nắng không phải là một quyển dâm thư mà là một tác phẩm vượt lên lằn mức văn chương thuần túy.<strong> </strong></em>Một tác phẩm tư tưởng có nhiều ngôn ngữ táo bạo, có sự diễn tả đôi lúc sống sượng nhưng cực kỳ chân thành. Ðiều này biểu dương thái độ quả cảm, lập trường cứng rắn, và ý thức trong sáng tuyệt vời của Lê Thị Thấm Vân.</p>
<p>Lại nữa, <em>Xứ nắng</em> là một tác phẩm phản ánh không gian thời hậu chiến. Những nhân vật với chấn thương do lịch sử gây ra. Trong gia đình của Ðức, trừ ông bố nghiện rượu ra, ai cũng có niềm bất hạnh, mỗi người oằn vai gánh vác một hệ lụy riêng. Thậm chí cô Lài, đứa con tư sinh của ông nội nữ nhân vật xưng tôi cũng có cái khổ lụy oan khiên riêng. Cô bị chồng và gia đình bên chồng hành hạ nên trở về gia đình người anh trưởng tộc, nhưng lại bị ông ta đánh chửi và đuổi đi. Cô không trở về bên chồng mà đi phiêu bạt tha phương nên không ai biết cô còn sống hay đã chết trong góc trời khuất tịch nào rồi?! Tác phẩm mở rộng tấm lòng thông cảm bao la diệu vợi cùng tình nhân loại sâu sắc thiết tha cho độc giả. Và vượt qua thành kiến kiên cố của độc giả bảo thủ, nữ nhân vật xưng tôi, dưới ngòi bút của Lê Thị Thấm Vân, là một người có quả tim bén nhạy trước cái đau khổ và bất hạnh của tha nhân.</p>
<p>Tư tưởng trong tác phẩm <em>Xứ nắng</em> là cái bóng văn chương nhân bản thấp thoáng ở những đoạn mô tả cái bén nhạy dục tình của hai nhân vật (Trinh và nữ nhân vật xưng tôi). Nó thắp sáng hiện hữu và cái gốc rễ của con người, nó đi sâu vào nội tâm con người bằng ý thức bừng tỏ, bằng cái phanh phui thô lỗ sống sượng nhưng tuyệt vời tài hoa. Nó xé toang lớp mặt nạ đạo đức, cái bề trái phường tuồng. Nó gột rửa và tước bỏ những lớp ngụy trang cái giả dối của lề thói cứng ngắc.</p>
<p>Tình dục như con dao hai lưỡi: nó có thể làm cho tác phẩm rơi xuống hàng sách vở chiều theo thị hiếu thấp kém và sa đọa. Nhưng nó cũng có thể làm cho tác phẩm thăng hoa. Trong những vở kịch hâm hấp hay nóng bỏng tình dục của Tennessee Williams được chuyển thể thành phim ảnh như <em>A Streetcar Named Desire</em>, <em>Baby Doll</em>, <em>The Rose Tatoo</em>, <em>Cat on a Hot Tin Roof</em>, chuyện tình dục gây nên những thảm kịch, nhưng lại xiển dương những điều rất nhân bản và cận nhân tình. Những nhân vật của Tennessee Williams, đa số là người nữ, thường trở thành hung hăng hay khật khùng vì bị đè nén về phương diện dục tình, bị dục tình ám ảnh trong trạng thái tiềm ẩn, hay vì không thỏa mãn dục tình. Bên cạnh họ là những người đàn ông thô lỗ trong một xã hội hỗn tạp phiền toái của miền Nam Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ.</p>
<p>Với <em>Xứ nắng</em>, Lê Thị Thấm Vân chẳng những đi theo dấu vết của Tennessee Williams, nhưng bước chân của chị khua động hơn, cái phóng tới hăm hở và táo bạo hơn. Chị không dìm nữ nhân vật xưng tôi vào mặc cảm phạm tội lâu. Chị khai phóng họ cái quyền bình đằng giữa hai phái tính song song với ước vọng xóa bỏ việc kỳ thị màu da và chủng tộc.</p>
<p>“Năm 2000 đang đứng chờ sẵn ở ngưỡng cửa. Giấc mơ Mỹ, màu trắng, liệu còn đứng vững được bao lâu? Như màu da của <a href="http://www.amazon.com/Michael-Jackson/e/B000APU04Q">Michael Jackson</a> càng ngày càng nhạt. Jodie Foster, Madonna mang thai bằng cách mướn chồng, mua tinh trùng. Con chỉ cần biết mẹ là đủ. Qua rồi cái thời mắc võng ru con, chỉ bóng trên tường: cha con đó, để rồi chọn cái chết oan thay cho lời bày tỏ lòng trung trinh tiết nghĩa, nay là chuyện cổ tích.” (trang 11)</p>
<p>Gần đây hai tác phẩm <em>Xứ nắng</em> và <a href="http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=3087&amp;rb=08"><em>Âm vọng</em><u> </u></a>của Lê Thị Thấm Vân gây xôn xao trong văn giới. Dĩ nhiên là có kẻ khen người chê, khen đậm nồng bao nhiêu thì chê gay gắt bấy nhiêu. Song ai ai cũng phải nhìn nhận chị muốn lột xác như chim hoàng yến thay lông cánh, như rắn mai hoa lột lớp vảy cũ, để lớp vảy mới hiển lộ sắc tươi màu chói. Chị phá phách cái cũ bằng ý thức sáng tỏ hiếm có, chị tìm cái mới bằng một tấm lòng thành khẩn tuyệt vời.</p>
<p>Lịch sử của nước Tàu và của nước Nga đặt lại cái nhìn hợp lý hợp tình về sự nghiệp chính trị huy hoàng của Nữ hoàng Võ Tắc Thiên và Nữ hoàng Catherine II ngoài công việc săn đuổi khoái lạc xác thịt của họ. Người phụ nữ Việt Nam trưởng thành ở ngoại quốc cũng đã đặt lại cái nhìn mới mẻ về quyền sống đúng nghĩa của người đàn bà hiện đại. Thì đây, những độc giả chuộng sự sáng tạo và tinh thần cầu tiến trong văn chương có thể tìm thấy rất nhiều tia sáng và nhiều điều kỳ diệu trên cuộc bút trình của Lê Thị Thấm Vân, bắt đầu qua <em>Xứ nắng</em> và sau hết qua tác phẩm <em>Âm vọng</em> kế tiếp. Họ có thể cùng chị đặt lại vấn đề, thế nào là những tiến trình của văn chương? Thế nào là những cuộc lột xác không ngừng nghỉ của các trào lưu văn chương?</p>
<p>Một điều cũng cần phải nêu ra: Tác phẩm <em>Xứ nắng</em> dù có đổi mới về hình thức và ý tình của văn chương, dù có xóa nhòa tăm dạng trường phái văn chương tân cổ điển, nhưng so với tác phẩm đầu tay <em>Ðôi bờ</em> của Lê Thị Thấm Vân thì cả hai vẫn có một mẫu số chung: tấm lòng nhân đạo. Càng nói về nhục cảm, càng phá thể quy ước, càng quẫy lộn với cái nề nếp trật tự của văn phong và cấu trúc trong tác phẩm, tấm lòng nhân đạo của tác giả càng sâu đậm và càng chói sáng hơn, chiếu rực rỡ toàn thể tác phẩm.</p>
<p><em>Hợp Lưu số 80 (12.2004-1.2005)</em></p>
<p><strong>Trò chuyện qua mạng với nhà văn Lê Thị Thấm Vân</strong></p>
<p><strong>Talawas</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Hỏi</strong>: <em>Trước hết, xin nhà văn kể đôi chút về tiểu sử của mình. Nhà văn sinh ra và lớn lên ở đâu? Hồi nhỏ có thích đọc văn chương không?</em></p>
<p><strong>Ðáp</strong>: Tôi sinh ở Quy Nhơn, nhỏ ở Ðà Lạt, tốt nghiệp trung học và đại học tại Hoa Kỳ. Bố mẹ tôi từ Bắc di cư vào Nam năm 1954. Thuở bé tôi ưa tưởng tượng ra nhiều câu chuyện thú vị rồi kể cho mọi người nghe. Tôi (tin tôi) có khả năng bịa chuyện giỏi và có khiếu kể chuyện. Bố tôi cho tôi biết điều này lúc tôi 7 tuổi. Nhà tôi có một tủ sách rất lớn. Tôi nhớ hồi nhỏ tôi ưa luẩn quẩn gần đấy. Có cuốn tôi đọc say mê thích thú, có cuốn tôi đọc xong không hiểu gì cả, cứ như đọc sách ngoại ngữ mình chưa học qua. Nhưng tôi vẫn đọc, vì bản tính tò mò muốn biết.</p>
<p><strong>Hỏi</strong>: <em>Ngày 30 tháng 4 nhà văn đang ở đâu, làm gì? Biến cố 30/4 thay đổi cuộc sống của nhà văn như thế nào?</em></p>
<p><strong>Ðáp</strong>: Ngày 30/4/75 tôi cùng gia đình tất tả chạy loạn ngược xuôi. Ngày 10/5/75 tôi rời gia đình (bố &amp; chị, em) vượt biển sang Thái Lan. Ở trại tị nạn Thái Lan 2 tháng, sau đó tôi sang Hoa Kỳ. Tôi rời Việt Nam vì tò mò, phiêu lưu, mạo hiểm chứ lúc đó tôi không có chút ý thức chính trị hay kinh tế nào. Một năm sau, tháng 6/1976 bố tôi mất ở Việt Nam.</p>
<p><strong>Hỏi</strong>: <em>Nhà văn bắt đầu viết văn từ bao giờ? Tác phẩm đầu tay là tác phẩm nào? In ở đâu?</em></p>
<p><strong>Ðáp</strong>: 10 tuổi tôi đã làm hơn hai chục bài thơ về mẹ sau khi mẹ tôi mất. Truyện ngắn đầu tiên của tôi đăng trên tạp chí <em>Văn</em>, tháng 10 năm 1992, ấn hành ở nam California. Tập truyện <em>Ðôi bờ</em> là tác phẩm đầu tiên, do Anh Thư Xuất bản năm 1993.</p>
<p><strong>Hỏi</strong>: <em>Quá trình viết văn sau khi in tác phẩm đầu tiên có những thay đổi gì?</em></p>
<p><strong>Ðáp</strong>: Càng viết tôi càng thấy khó. Kinh nghiệm viết lách chẳng giúp gì cho tôi trước tác phẩm mới. Tôi luôn tự đặt tiêu chuẩn rất cao. Tuyệt đối tránh lặp lại nội dung lẫn hình thức. Mỗi tác phẩm là một nỗ lực, thách thức. Giờ đây tôi không còn cái hồn nhiên và dễ dãi như thuở ban đầu, nhưng càng viết càng yêu thích. Viết với tôi như một nỗi đam mê lớn lao. Và tôi rất vui là có và thực hiện được nỗi đam mê của mình. Trong thời gian viết tiểu thuyết, tôi tự khép mình vào kỷ luật rất nghiêm.</p>
<p><strong>Hỏi</strong>: <em>Tại sao nhà văn lại thấy mình cần phải viết văn bằng tiếng Việt trong hoàn cảnh sống lưu vong?</em></p>
<p><strong>Ðáp</strong>: Tôi đến với văn chương là vì yêu thích ngôn ngữ, đặc biệt là ngôn ngữ Việt. Viết tiếng Việt ban đầu với tôi như là tự thách thức cho sự tìm kiếm hay tìm về. Giờ đây, viết tiếng Việt đối với tôi dễ dàng hơn viết tiếng Anh. Viết tiếng Việt giữa lòng một ngôn ngữ khác, tiếng Anh chẳng hạn, là một lý thú, hấp dẫn, tự do, giữ được độc lập, bởi không dễ bị rơi vào công thức nhận diện hay đặt để của thế giới phương Tây. Trong khi đó, là một người viết ở hải ngoại, tôi có tự do hơn những người viết hiện đang ở trong nước, nơi mà họ vẫn còn bị chỉ đạo, kiểm soát bởi những nhà cầm quyền. Tuy nhiên viết văn, nhất là viết tiếng Việt ở hải ngoại thường rất cô đơn, cô độc vì độc giả không nhiều, không có lợi nhuận, không có danh tiếng, không có chỗ đứng trong xã hội. Tôi mở nhà xuất bản Anh Thư để in sách, tự bỏ tiền túi in, tự gửi mẫu quảng cáo sách mình mới xuất bản cho các tạp chí đăng, tự mang sách đến gửi ở những nhà sách để bán, rồi tự gửi sách đến cho độc giả ở xa. Những công việc tôi chán ghét vô cùng, nhưng vẫn phải làm.</p>
<p><strong>Hỏi</strong>: <em>Sau khi các tác phẩm của nhà văn in ra, nhà văn có nhận được nhiều phản hồi của độc giả không? Nhà văn nghĩ thế nào về môi trường phê bình văn học hiện nay?</em></p>
<p><strong>Ðáp</strong>: Theo tôi, môi trường phê bình hiện nay vẫn còn yếu kém. Ða phần phê bình tác phẩm hoặc dựa trên cảm tính, hoặc viết về tác giả, hoặc bàn chuyện ngoài lề hơn là đi sâu vào văn bản. Riêng với tác phẩm của tôi, độc giả chê hoặc khen đều cực đoan. Nghĩa là ai thích rất thích hoặc ai ghét rất ghét, không ở lưng chừng. Những tác phẩm của tôi đa phần được giới phê bình quan tâm. Một số độc giả cho biết tác phẩm của tôi khó hiểu, muốn hiểu được thì phải đọc kỹ 2-3 lần, mỗi lần đọc lại khám phá ra điều thú vị và mới mẻ. Một số khác nhận xét tôi viết táo bạo quá! Thật ra, khi viết bao giờ tôi cũng cố gắng với cao, vượt lên trên khả năng, sức lực của tôi rất nhiều. Vì thế người đọc cũng phải với lên để thưởng ngoạn tác phẩm của tôi. Tôi viết không phải để làm vừa lòng độc giả.</p>
<p><strong>Hỏi</strong>: <em>Theo nhà văn thì độc giả phải đặc biệt chú ý đến những chi tiết nào khi nghiên cứu những tác phẩm của nhà văn để họ có thể hiểu rõ hơn về tác phẩm của nhà văn?</em></p>
<p><strong>Ðáp</strong>: Tôi viết về thời đại di dân. Căn cước đôi. Ðịnh mệnh, thân phận của những kẻ luôn đứng dạng hai chân ở hai nền văn hóa khác biệt. Sự bị bôi xóa. Những kẻ vất vưởng bên lề, mép rìa. Ðồng thời tôi đặc biệt chú trọng đến vấn đề nữ quyền.</p>
<p><strong>Hỏi</strong>: <em>Trong các tác phẩm của mình, nhà văn có đề cập đến nhiều tác phẩm văn chương nổi tiếng của miền Nam, chẳng hạn </em>Tình ca trong lửa đỏ<em> </em><em>của Nhã Ca. Tôi cũng thấy truyện ấy rất hay. Nếu một người không biết nhiều về kinh nghiệm của người Việt ở miền Nam thời 54-75, nhà văn khuyên người ấy đọc tiểu thuyết nào trong tất cả tiểu thuyết về/ở miền Nam Việt Nam?</em></p>
<p><strong>Ðáp</strong>: Hỏi tôi đề nghị đọc tác phẩm nào thì thú thật rất khó trả lời. Có lẽ bạn thử tìm đọc <a href="http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=6221&amp;rb=08"><em>Giải khăn sô cho Huế</em></a> của Nhã Ca, <em>Bếp lửa </em>của Thanh Tâm Tuyền,<em> </em><em>Xóm cầu mới </em>của Nhất Linh&#8230;</p>
<p><strong>Hỏi</strong>: <em>Nhà văn nghĩ mình có chịu ảnh hưởng của tác giả nào khác không (kể cả nhà văn Việt Nam và nước khác)? Là những tác giả nào?</em></p>
<p><strong>Ðáp</strong>: Tôi chịu ảnh hưởng bút pháp, mỹ quan, ý tưởng của một số tác giả ngoại như Kazuo Ishiguro, Monique Wittig, Arundhati Roy, Susan Sontag, Hélène Cixous, James Joyce, Willam Faulkner, Alice Walker&#8230; Tôi cũng đọc nhiều tác giả Việt, nhưng họ không gây ảnh hưởng tới kỹ thuật dựng truyện của tôi.</p>
<p><strong>Hỏi</strong>: <em>Trong tác phẩm </em>Xứ nắng<em>, người kể chuyện đề cập đến nền văn hóa Mỹ lẫn Việt, chẳng hạn như Jack Nicholson, Nhất Linh, v.v&#8230; Ở trang 11 người kể chuyện nói: “Giấc mơ Mỹ, màu trắng, liệu còn đứng vững được bao lâu?” Theo tôi, cảnh này rất thú vị và quan trọng, vì hiện nay, các nhà phê bình văn học Mỹ đang xem xét lại cách mô tả chủ nghĩa dân tộc và “citizenship” [tạm dịch là: tư cách công dân] trong văn chương Mỹ. Nhà văn có ý kiến gì về vai trò văn chương Việt hải ngoại tại Mỹ (viết bằng tiếng Việt) trong cuộc thảo luận này?</em></p>
<p><strong>Ðáp</strong>: Anh ngữ vẫn là một trong vài ngôn ngữ bá quyền hiện nay. Nó có khả năng lấn át những tiếng nói khác, thậm chí biến những tiếng nói khác trở thành tiếng động. Tôi chọn lựa viết tiếng Việt trong thế giới tiếng Anh là (cố gắng) tạo nên tiếng nói thực tế, như nó là, tạo sự có mặt bình đẳng qua văn bản. Ðồng thời tôi muốn đẩy tiểu thuyết Việt Nam vượt khỏi rào cản, sức ép, ám ảnh bởi chủ nghĩa quốc gia, dân tộc hoặc tự/bị xếp vào vị trí thế-giới-thứ-ba mà bao nhiêu năm nay vẫn cố bảo bọc, ôm giữ.</p>
<p><strong>Hỏi</strong>: <em>Nhà văn có ý kiến gì về quan hệ giữa văn chương Việt tại Mỹ và văn chương Mỹ?</em></p>
<p><strong>Ðáp</strong>: Văn chương Việt tại hải ngoại và văn chương Mỹ (hiện nay) như nước sông và nước hồ. Cả hai hoàn toàn độc lập, riêng biệt. Tôi nghĩ không cần thiết phải quan hệ, bởi nghệ thuật hay là ở tự thân tác phẩm. Quả cam hoặc quả táo đều là trái cây nhưng có vị ngon khác biệt. Ai thưởng thức được cả hai loại trái cây, tôi cho là người may mắn. Trong tương lai những tác phẩm hay viết bằng tiếng Việt ở hải ngoại sẽ được chuyển ngữ sang tiếng Anh. Ðấy là một điều cần thiết.</p>
<p><strong>Hỏi</strong>: Âm vọng<em> </em><em>kể về cuộc đời của bốn người đàn bà, mỗi người tượng trưng cho một mùa trong năm. Tứ đại mỹ nhân Trung Hoa (Tây Thi, Chiêu Quân, Ðiêu Thuyền và Dương Quý Phi) có gợi cảm hứng cho nhà văn khi viết cuốn tiểu thuyết này không?</em></p>
<p><strong>Ðáp</strong>: Khi viết <em>Âm vọng</em>, tôi hoàn toàn không nghĩ đến “Tứ đại mỹ nhân” của Trung Hoa. Tôi chọn 4 nhân vật huyền thoại trong <em>Lĩnh nam chích quái</em>, bản dịch của Ðinh Gia Khánh và Nguyễn Ngọc San rồi dựa vào thời tiết 4 mùa trong năm xếp không thứ tự: Tiên Dung &#8211; Nhất Dạ Trạch, (mùa hạ); Mỵ Châu &#8211; Truyện Rùa Vàng, (mùa thu); Âu Cơ – Họ Hồng Bàng, (mùa xuân); và Man Nương – Man Nương (mùa đông). Bốn bà biểu tưởng cho thân phận, định mệnh, tiếng nói, trí tuệ, cá tính, bản năng, quyền lực, yếu kém, thiếu hụt, bất hạnh, oan khiên&#8230; của người phụ nữ.</p>
<p><strong>Hỏi</strong>: <em>Đọc </em>Âm vọng<em>, tôi rất ngạc nhiên thấy những tranh vẽ của một đứa trẻ, những mẩu đơn, giấy chuyển tiền, giấy chép tay ghi lại công thức nấu món ăn… Tất cả những cái đó làm truyện giống một tác phẩm hội họa “collage” (tạm dịch: “nghệ thuật cắt dán”). Vì vậy, câu chuyện mang đậm chất thực. Cuộc sống thực được phơi bày qua từng trang sách. Theo nhà văn, những tác phẩm văn học hiện đại có nên kết hợp nhiều hơn với hội họa để tạo nên những tác phẩm mang tính chất tổng hợp?</em></p>
<p><strong>Ðáp</strong>: Những bức tranh, bài thơ, notes&#8230; là của con tôi, tôi đưa vào để lưu giữ kỷ niệm tuổi thơ của chúng. Truyền đơn, thư nặc danh, chụp mũ, hóa đơn gửi tiền về Việt Nam, công thức nấu ăn&#8230; là dấu ấn, chứng tích giai đoạn đầu của người Việt tị nạn, lưu vong. Ðồng thời tôi cũng muốn đóng góp một hình thức mới mẻ vào tiểu thuyết Việt Nam.</p>
<p><strong>Hỏi</strong>: <em>Theo </em>Việt Nam ngày tôi trở về<em> </em><em>[VNNTTV], nhà văn đã về Việt Nam năm 1995. Vậy xin hỏi, sau chuyến đó, nhà văn đã về Việt Nam lần nào nữa chưa? Nếu có, xin nhà văn cho biết lần về sau này có thay đổi cái nhìn của nhà văn với Việt Nam so với cái nhìn của năm 1995 không?</em></p>
<p><strong>Ðáp</strong>: Lần đầu tiên về lại Việt Nam sau 20 năm xa cách, tôi bị khủng hoảng, bức xúc khiến tôi viết cuốn<em>Việt Nam ngày tôi trở về</em>. Lần thứ nhì tôi đưa bố chồng về thăm làng Hưng Yên ở miền Bắc sau 50 năm ông rời xa. Chuyến đi này tạo cho tôi cảm hứng viết cuốn <em>Xứ nắng</em>, và sáng tác một số bài thơ (tình).</p>
<p><strong>Hỏi</strong>: <em>Nhà văn lên án chính phủ Cộng sản, qui cho họ trách nhiệm về sự suy thoái của xã hội Việt Nam hiện nay. Vậy theo nhà văn, chính phủ Cộng sản nên giải quyết như thế nào với các tệ nạn xã hội? Và theo nhà văn nếu chính phủ Việt Nam Cộng hòa còn tồn tại cho tới ngày hôm nay, liệu các tệ nạn xã hội có xảy ra không?</em></p>
<p><strong>Ðáp</strong>: Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã không tồn tại, thì không còn giả như&#8230; nếu… Tôi để đầu óc suy nghĩ chuyện khác thú vị hơn.</p>
<p>Tuy nhiên xã hội Việt Nam hiện nay cho ta thấy rõ sự chênh lệch giàu nghèo quá rõ. Tham nhũng hối lộ trắng trợn. Tệ nạn xã hội càng ngày càng gia tăng. Ðạo đức suy đồi. Là nhà văn, tôi chỉ viết điều tôi chứng kiến và suy tư, trăn trở. Còn giải quyết như thế nào là việc của các nhà lãnh đạo.</p>
<p><strong>Hỏi</strong>: <em>Nhà văn phê bình chính sách của chính phủ Mỹ đối với những người Việt miền Nam đã bị bắt vào trại cải tạo. Tôi cũng cho rằng cách kết thúc chiến tranh Việt Nam năm 1975 là một vết nhơ trong lịch sử Mỹ. Theo nhà văn, chính phủ Mỹ lẽ ra phải có chính sách nào đối với Việt Nam sau 1975? Còn ngày nay, chính phủ Mỹ nên có chính sách ra sao đối với Việt Nam?</em></p>
<p><strong>Ðáp</strong>: Trước hết, sau 30/4/1975, việc chế độ mới dựng lên các trại cải tạo là việc làm phản dân chủ, nhân quyền. Không ai có quyền nhân danh bất cứ gì để cải tạo sự suy nghĩ trong đầu của người khác. Việc Mỹ đã đem quân, súng đạn sang can thiệp vào Việt Nam cũng hết sức sai lầm. Giờ đây Mỹ cần phải tỏ thiện chí và sòng phẳng hơn nữa trong vấn đề bắc cầu giao hảo với Việt Nam.</p>
<p><strong>Hỏi</strong>: <em>Nhà văn nghĩ vai trò của văn chương trong lịch sử là gì?</em></p>
<p><strong>Ðáp</strong>: Văn chương biểu lộ ý thức lịch sử. Con người không từ cõi không mà là một phần sản phẩm của lịch sử. Nhà văn sống với lịch sử và không nhất thiết phải hiểu lịch sử như người nghiên cứu lịch sử.</p>
<p><strong>Hỏi</strong>: <em>Trong VNNTTV, nhà văn có nhắc tới các bổn phận và trách nhiệm của người phụ nữ Việt Nam. Vậy theo nhà văn, các trách nhiệm và bổn phận đó có còn ràng buộc phụ nữ Việt tại hải ngoại không?</em></p>
<p><strong>Ðáp</strong>: Trong thời chiến, phụ nữ Việt Nam phải gánh vác vai trò làm cha, làm mẹ lo cho gia đình, con cái. Chồng trong quân/bộ đội, tử trận, tù cải tạo. Nay sống ở hải ngoại, trách nhiệm &amp; bổn phận người phụ nữ Việt Nam vẫn thế: lo cho gia đình, con cái, nhưng họ được tự do hơn, có cơ hội hơn, nhiều lựa chọn hơn. Nhiều người vì được học hành và độc lập kinh tế nên tự chủ hơn. Ðồng thời họ ít con nên có thời gian chăm sóc bản thân và theo đuổi ý thích riêng của mình.</p>
<p><strong>Hỏi</strong>: <em>Có nhiều nhà phê bình cho rằng khi một nhà văn ngồi xuống viết thì họ đang tạo ra trên trang giấy một không gian mới, một không gian lý tưởng, có thể nói là ngoài luật lệ, ngoài chính trị [theo tôi, cách nghĩ này không hoàn toàn đúng]. Khi viết, nhà văn có nghĩ là mình đang tạo lên một không gian ngoài luật lệ không? Hay là nhà văn cảm thấy là việc viết bị những điều trong thực tế ảnh hưởng nhiều, và viết là một cách để trả lời, để chống cự những điều đang xảy ra trên thế giới?</em></p>
<p><strong>Ðáp</strong>: Tác phẩm (có thể) dựa trên dữ kiện thực tế để sáng tạo một cách riêng của chính nó, nghĩa là tự tạo luật lệ riêng. Nhà văn nhào nặn biến cố, sự việc theo ngôn ngữ của nhà văn. Tuy nhiên, tưởng tượng, hư cấu hay sáng tạo bất cứ gì cũng không thể dựa vào khoảng không hay cõi hư vô mà phải bắt rễ, vay mượn, học hỏi, ăn cắp ý tưởng, hình ảnh của rất nhiều người. Viết là hành động nói lên sự có mặt của mình trong cõi nhân gian này, và đúng/sai không phải là điểm thiết yếu trong văn chương. Văn chương là chủ quan, là tiếng nói của cá nhân.</p>
<p><strong>Hỏi</strong>:<em> </em><em>Câu hỏi cuối cùng: nhà văn nghĩ thế nào về tình hình văn chương trong nước và hải ngoại hiện nay? Nhà văn lạc quan hay bi quan?</em></p>
<p><strong>Ðáp</strong>: Văn chương trong nước đang hé mở khía cạnh tự do tính dục, bất đồng quan điểm chính trị, xã hội, có lẽ nhờ vào internet một phần. Hải ngoại cũng nhờ internet nên tác phẩm được độc giả trong nước đón nhận nhanh chóng và dễ dàng hơn. Nhưng phải thực tế rằng ngày càng bớt dần độc giả. Internet, phim ảnh, nhạc, TV, games&#8230;. chiếm quá nhiều thì giờ trong ngày của con người hiện đại, và nhu cầu đọc không còn là điều thiết yếu. Không đọc tiểu thuyết cũng chẳng thiệt thòi hay mất mát gì (nhiều). Ý thức được điều này, nhưng người viết vẫn cứ viết, vì viết là đam mê, cũng là sự lựa chọn.</p>
<p>Viết lách, với tôi là một may mắn, hạnh phúc trong đời tôi có được, dù sự lựa chọn này mang lại cho tôi mệt mỏi, mâu thuẫn, phức tạp, khó khăn, đơn độc và cả những thiệt thòi.</p>
<p>© 2006 talawas</p>
<p><em> </em></p>
<h3><strong>Đọc Lê Thị Thấm Vân</strong></h3>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Là con người</strong></p>
<p><strong> </strong><em>LTS: Tạp chí Da Màu hân hạnh giới thiệu trích đoạn rời từ chương I của <strong>Những Người Đàn Bà Đến Từ Hỏa Tinh</strong>, cuốn tiểu thuyết mới nhất (chưa xuất bản) của nhà văn Lê Thị Thấm Vân, tác giả của Âm Vọng (2003) và Bóng Gẫy của Thần Tích (2005). Cũng như văn phong/cung cách diễn đạt của <strong>Những Người Đàn Bà Đến Từ Hỏa Tinh</strong>, tác phẩm nhiếp ảnh đi kèm trích đoạn tiểu thuyết này không hề là một chọn lựa tình cờ!</em></p>
<p>***</p>
<p><strong>chín tháng sau trong nhà hàng the fish market<br />
&amp; người đàn bà vắng mặt</strong></p>
<p>Vừa ngồi xuống ghế, Hoà đưa hai tay nắm chặt bàn tay Ngân đang đặt trên bàn. “Xin lỗi, anh đến trễ. Em đã gọi gì chưa?” “Chưa, em đợi anh.”</p>
<p>Người hầu bàn đến. “Anh gọi cho em cup clam chowder và tách trà nóng.” Ngân nói. “Thế thôi à? Gọi tô nhé. Cup đủ không?” Hòa hỏi lại. Anh hay hỏi lại Ngân. “Em không đói lắm. Anh đói thì cứ ăn thoải mái.” Hòa gọi grilled Mahi Mahi. Khi người hầu bàn đi khuất, Hoà chuyển sang ngồi cạnh Ngân. Tay anh đặt lên vai Ngân. Giờ thì vai Ngân lại run. Cứ như tay anh đặt đâu trên phần người Ngân thì nơi ấy bần bật. Anh ngồi yên. Mong muốn thế nào đây? Ngân thoát được tức thở được. Thở được tức nhẹ lòng. Anh mong Ngân nhẹ lòng hết sức. “Khi nãy trên đường lái xe đến đây, bà ấy gọi thêm lần nữa.” Ngân nói, “Thế là từ tối qua đến giờ bà ấy gọi tám lần.” Giọng Ngân nghẹn, “Em định bụng bà ấy gọi lần thứ mười thì em sẽ trả lời. Sáng nay soi gương, em lại thấy khuôn mặt bà ấy. ” Ngân nói tiếp, nhìn Hòa, ánh mắt của kẻ dưới biển mới trồi lên. Anh muốn ôm Ngân vào lòng, siết thật chặt, cho nỗi sợ hãi trong Ngân tan biến tức khắc. Anh lúng túng. Quả tình anh lúng túng. Anh vẫn thế. Luôn lúng túng trước cơn bấn loạn của Ngân. Như lần đầu trước cơ thể Ngân không mảnh vải, và đã tìm thấy những dấu vết người đàn bà cắn/đánh/xô/đạp. Người đàn bà đang làm Ngân run lẩy bẩy, Ngân gọi là mẹ, là con người, như Ngân. Thường khi lúng túng anh ngồi im, lắng nghe, vuốt vỗ bàn tay Ngân. Vai anh cố đừng rũ nhưng lúng túng vẫn hiện rõ trong từng cử chỉ. Anh thèm nghe tiếng cười của Ngân, dù hiếm hoi Ngân cười thành tiếng. Anh kề tai Ngân thầm thì: “Ước gì cái bàn biến thành cái giường, em nhỉ?” Ngân quay lại, ánh mắt lóe tia đồng cảm, nhưng vẫn dày đặc màu sầu thảm. “Chốc nữa em phải trở lại trường. Có cái họp muốn xù quách mà không được. Tối nay anh đến em nhé!” Ngân nói. Hòa gật đầu, “Ôi, em muốn anh bú lồn em ngay lúc này quá sức!” Giọng Ngân đột nhiên rên rỉ. Hòa đưa ngón tay trỏ chà miết hai môi Ngân, rồi đút mạnh, sâu vào miệ̣ng Ngân.</p>
<p><strong>ôi, tuổi thơ</strong></p>
<p>Mỗi khi nhìn mẹ, bé Ngân nơm nớp sợ. Mẹ là hình ảnh nó chẳng muốn <em>trở thành</em> sau này. Sống như mẹ, thà chết phứt còn hơn. Ý tưởng phản kháng nhen nhúm, bằng mọi cách, nó ầm thầm làm ngược tất cả những gì mẹ nó hành xử. Tại sao sợ? Tại sao không dám? Bởi sợ nên ý muốn bị chận đứng và khả năng không thể phát triển? Nó không tha thứ nó nếu giống mẹ sau này.</p>
<p>Tuổi thơ Ngân chuyển đổi theo những căn phòng chật hay rộng để mẹ trưng bày đồ gợi dục: phim ảnh, báo chí, dụng cụ, thuốc thang, đồ lót, nước hoa, nữ trang, mỹ phẩm… Tai Ngân thâu lượm âm thanh rên la, chửi rủa, riết róng, thủ thỉ, lả lơi… từ nhiều giọng khác lạ của nhiều hình dạng đàn ông: tong teo, béo ụ, lùn tịt, cao nhồng… Tiếng thở hổn hển bưng bít căn phòng, mồ hôi bám rít tường, màn cửa đục nhờ do tinh khí tích tụ nhiều người, nhiều năm. Người thật việc thật. Không thể tẩy xóa hay phủ lấp. Cửa mình mẹ như cái nhà không cửa, luôn toác hoác. Cửa mình mẹ là cái lò nướng lúc nào cũng ở 500 độ, thiêu đốt bất kỳ con cặc nào.</p>
<p>Mẹ bảo muốn sống như thế. Thích được như con heo chúc mõ ăn cám, đéo cần nghĩ ngợi. Ngân thấy rõ sự bất lực, hữu hạn chu vi sống.</p>
<p>Ngân phải suy nghĩ khác mẹ, hành động khác me, sống khác mẹ. Ngân không thể ngồi trên xích đu đong đưa trong nắng mai vàng rực, ngửi mùi hoa quỳ dại phảng phất theo vạt tóc. Không gian luôn đan cài số phận tức tưởi hai mẹ con. Người ta chửi rủa, ghét bỏ, thù hằn điều gì đều có lý do. Ngân chẳng màng phân trần hay tỏ thiện chí giải thích rằng: “Tôi đếch phải thế, các người lầm to rồi!”</p>
<p>Mẹ hối hả sống, phóng túng sống, hưởng thụ sống. Khuôn mặt nhầu nhỉ lẫn câng câng của bà buộc Ngân đối diện hằng ngày. Vết nhơ vấy tay rửa mãi không sạch. Vết thương chẳng thể mọc da non. Bà là thế. Trọn đời hành xử phiên bản cũ nhòe không hề mỏi mệt. Cũng là “biệt tài”. Bà vuốt ve, sơn phết cái thân xác mỗi ngày một héo rũ. Bà tin rằng cặc của bọn đàn ông lúc nào cũng sẵn sàng cửng vì mùi háng bà. Đúng, nhưng bà ngu hay cố tình ngu không biết rằng những con cặc đấy đều cứng khi đánh hơi bất kỳ mùi háng con mụ đàn bà nào. Chúng chỉ chực chờ có kẻ dạng háng cho chúng đút cặc lắc cho sướng. Mẹ đéo cần biết con cặc có thực lòng thương yêu, nâng niu âm hộ mẹ không. Những thằng đàn ông tạt qua, ghé lại đời bà như đàn chuột cống răng đầy bựa, người thúi um, đầu đặc sệt bùn. Chúng nó ngu đéo chịu được. Mẹ suốt đời quằn quại với cơn cháy bỏng được cưng nựng. Chúng nhai mẹ xong, chúng phun nhả bà kẹo chewing gum. Thể chất mẹ giờ đây suy yếu nhưng mẹ vẫn cự tuyệt không chấp nhận. Mẹ chẳng khác con đĩ già hết thời với cái lỗ mồm như CD hỏng, lải nhải lời lẽ phàn nàn, còn lỗ lồn như sa mạc khô ráo, luôn chờ đợi mưa móc tinh khí bất cứ thằng đàn ông nào thải ra.</p>
<p>Sống với mẹ, Ngân chủ trương không nghe, không thấy, thế mà, xung đột vẫn tồn tại, tiếp diễn bằng mọi nẻo. Suy nghĩ theo ý thích của riêng Ngân, đuổi bắt vồ chụp, níu giữ, dù chốc lát cũng lã cả người. Rất nhiều lần, Ngân hét, “Mẹ có phân biệt được cứt với cơm không hả?”</p>
<p>Mẹ sống cuộc đời tự hủy và buộc Ngân làm kẻ chứng kiến. Bà bịt mũi Ngân bắt Ngân há họng trút cát vào. Sự tự hủy của bà dần dà theo dòng thời gian, cát ngày mỗi chuồi đầy bụng Ngân. Cát muôn đời không tiêu hóa.</p>
<p>“Có khoảng thời gian trên dưới ba năm em không kề cận người đàn ông nào. Em nghĩ rằng em sẽ sống nốt phần đời còn lại một cách lẻ loi như thế.” Ngân nói, “Và lạ là em chẳng hề thấy thiếu thốn, anh ạ.” Ngân nói thêm. Hòa nghe, vu vơ nghĩ đến vợ, cũng một thời gian khá dài, anh và vợ ngủ khác phòng. Lâu lâu anh xem phim sex rồi thủ dâm. Khi xuất tinh, độ sướng vừa phải. Nhưng sao giờ đây… Anh trườn người qua ôm chặt thân thể Ngân, vục mặt vào cổ Ngân, hít sâu mùi da thịt héo úa một thời thanh xuân cả hai hoang phí.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>hủy diệt, đớn đau, thèm khát và sướng</strong></p>
<p>Anh bế người tôi lên hết sức cẩn thận. Đến độ căng thẳng. Từ tốn rút ra từng cây dăm trong người tôi. Nhìn cảnh anh cúi cong người, chụm môi, nút sạch máu mủ, xoa xoa vết thương đang mọc da non, ngứa ngáy, ran rát. Anh thoa kem trọn thân thể tôi bằng mắt anh, giọng nói anh, hơi thở anh. “A woman’s body is a woman’s right.”</p>
<p>Khi lưỡi nóng anh rà rà “nơi ấy” thì đột nhiên sự tức bực ùa đến khiến cơ thể tôi đông cứng. Mà khi cơ thể tôi đông cứng thì sự đau rát và nỗi sợ hãi hiện nguyên hình cục u tối. Những dấu ấn tuổi thơ với cái cửa mình đau rát. Cầu tiêu là chốn ẩn mình. Vừa đái vừa khóc. Đau rát và sợ hãi. Căm hận sự có mặt của mình. Căm hận quá khứ. Căm hận tất cả. Ngày trước, đàn ông đẩy trinh nữ trẻ đẹp xuống biển hiến dâng tế thần, hình thức hối lộ hà bá đừng nổi cơn tam bành. Tại sao không đẩy thằng thanh niên lực lưỡng, mạnh khỏe xuống? Ngày nay, đàn ông muốn cưới trinh nữ chỉ có cách vào nhà trẻ mà lùng. Trinh tiết chứng tỏ quyền lực đàn ông, tước đi sự sống sự sướng đàn bà. Thân thể người đàn bà từng biểu tượng weak, immoral, unclean, decaying. Ngay giây phút cái lưỡi nóng ướt của anh rà rà trên da thịt Ngân, gợi lại cho Ngân cảm giác ngày đầu rời khỏi nhà, do sự lựa chọn chứ không bị bó buộc như những lần bị xe cảnh sát đến xúc Ngân đi. Cô giáo khám phá vết tím bầm sưng tấy sưng trên thân thể Ngân do người đàn bà Ngân gọi là mẹ. Rời nhà ở tuổi mười tám, thoát vòng kiềm tỏa của hầm mộ, để bước chân vào đại học ở thành phố xa lạ, trong túi xách đựng cuốn <em>The Bell Jar</em> của Sylva Plath, nhân vật Esther cứ đi đi lại lại trong đầu. Đường chân trời đột nhiên nối dài, rộng mở. Nỗi hư vô tồn tại tạm thời bay biến, thay cho cầu vồng tự lập, tự quyết, tự do. Một mình đứng đón xe bus, chờ máy bay. Thắc mắc duy nhất xẹt ngang đầu Ngân lúc đấy là không biết cảm giác mẹ thế nào khi vừa rời khỏi Việt Nam và lúc vừa đặt chân trên đất Mỹ?</p>
<p>.. .. .. .. ..</p>
<p>Thỉnh thoảng Ngân nghịch cặc anh. Ngịch một cách thích thú, say sưa, không bợn suy nghĩ. Khuôn mặt Ngân lúc đấy đáng yêu làm sao! Anh nửa muốn nhắm mắt tận hưởng nửa muốn mở to ngắm nhìn. Sự chống trả mãnh liệt trong anh càng làm anh ngây ngất. Anh không nói với Ngân điều này. Anh muốn giữ cho riêng anh. Ngân đùa chơi, trò chuyện với “nó” một cách hồn nhiên, như thể anh biến tan, chỉ còn Ngân và nó. Ngân ra khỏi nàng thường ngày, vẻ u sầu thường trực biến mất. Ngân áp tai, lắng nghe tiếng động từ nó, ngôn ngữ của riêng nó, như mùi của riêng Ngân.</p>
<p><em>(con cặc) ngân nói. nàng nắm chặt, đút (tôi) vào miệng.</em></p>
<p><em>(tôi) đâm sâu lỗ đít</em></p>
<p><em>(tôi) nằm không yên trong lồn</em></p>
<p><em>nàng nhắm nghiền mắt. hơi thở nóng, đứt.</em></p>
<p><em>nàng là nhà khổ hạnh không chút bối rối. vờn đùa với (những hình ảnh) kích thích quá sức tục tĩu. (tôi) sướng rên. dòng nước/tiếng nói, mi là ai? là con người</em></p>
<p>Tình yêu không thích bị ràng buộc. Tình yêu không có gốc rễ. Tình yêu không cần nguyên nhân. Yêu là yêu, là ngẫu nhiên, là đặc thù, là thở hơi thở trong nhau.</p>
<p>Lưỡi anh vuốt dọc khe rãnh lồn Ngân. Nồng mùi biển mặn. Khuôn mặt Ngân che hờ giữa những sợi tóc rũ thẳng. Khuôn mặt trẻ thơ trong trí tưởng anh mơ khi chưa gặp. Thốn và đau và rát lắm anh ạ. Giọng đứa bé dậy thì thất lạc. Em không biết, không hiểu vì sao em đã để những hành động như thế tiếp diễn suốt dọc mùa hè. Anh nhổm người lên, bưng mặt cô, hít sâu trìu mến. Mùi sữa chua chua ngọt ngọt anh từng ngửi trong chiêm bao. Anh nhắm mắt, lịm chìm trong bình an bất chợt ùa đến. Anh thấy mình đang chấp cánh bay. Nước mắt ứa ra, ràn rụa. Sao từ ngày quen Ngân anh hay khóc thế? Khuôn mặt Ngân từ từ rơi xuống trên thân thể anh. Ngôi sao duy nhất sót lại trên bầu trời đêm. Nhẹ nhàng rơi. Dịu dàng rơi. Êm ái rơi.</p>
<p>Cô và anh như hai con sứa sấp ngửa bồng bềnh trên mặt nước êm. Lưng mu và tròng mắt ung dung tự tại. Hai con sứa hạnh phúc, tỏa ngát mùi hương tin cậy.</p>
<p><strong>“life is a gift” fuck!</strong></p>
<p>Mục tiêu của đời sống là gì? Là sống hạnh phúc. Ôi, sao khó nhọc quá! Chẳng khác buộc định nghĩa cơn gió chướng, viết tiểu sử đám mây đen. Không sống một cách “toát yếu”. Đời khổ nên kẻ nào được phong thánh thường là kẻ đi xoa dịu nỗi đau của người khác.” Hòa nói, “Nếu đời sướng thì nên phong thánh cho tụi múa sexy, bọn đĩ điếm… bởi họ luôn tìm mọi cách làm người khác hưởng vui sướng.” Ngân nói, “Chấp nhận đời khổ là bớt đi được nửa sự khổ.” Hòa nói, “Chứ không phải con người phải chấp nhận đời là bể khổ à? Chúa đã ban thì loài người đéo được than trách…” “Em thì em chán ngấy bản thân đến tận óc rồi.” Ngân nói.</p>
<p>Tại sao con người tạo thần linh để vịn niềm tin? Thần linh biểu trưng chân lý, vĩnh hằng: “life is a gift.” Fuck life! fuck god! Cứ như con người xin xỏ thần linh không bằng. “Em có thằng bạn hành nghề bác sĩ gây mê. Hắn bảo sống đó rồi chết đó. Kiếp người phù du. Nhiều bệnh nhân trước khi mổ, hắn chích mũi thuốc gây mê thì tim còn đập, miệng còn nói được năm ba câu. Khi mổ xong, thuốc mê tan là ngủm. Rốt cuộc, sống để làm cái chó gì, mệt mỏi không biết để đâu cho hết.” Ngân nói. “Kẻ yếu bóng vía tin vào hình phạt vĩnh cửu địa ngục, mà địa ngục chỉ là a state of mind, đéo phải location.” Ngân tiếp.</p>
<p>Trời chiều đang rơi!</p>
<p>Hòa ngắm nhìn những đường lằn giằng xéo phản ánh trên gương mặt Ngân: vật lộn ký ức, giằng xé cảm xúc, bế tắc suy tưởng, điên rồ ước muốn. Hôm nọ Ngân nói, “Ở tuổi dậy thì em rất sợ độ cao nhưng ưa trèo cây. Ít nói nhưng khoái chửi thề. Sợ bị chú ý nhưng luôn bận váy cực ngắn.” Ngân là bể nước, Hòa là cái gáo. Biết đến bao giờ gáo múc cạn bể nước?</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>giấc mơ mỹ vượt biên sóng nước phủ tràn</strong></p>
<p>Cách đây hai năm, Hòa xin nghỉ việc. Lúc đấy, trong công băng anh có hơn hai triệu đô do bán cổ phần. Anh là hardware engineer. Anh chọn nghề này vì thực tế. Học không khó, tốn ít thời gian, ra trường dễ kiếm việc. Anh được người bạn trước kia học cùng trường mời về làm. Người bạn là một trong ba người sáng lập. Lúc đấy, anh đang làm ở một hãng khá xa nhà. Một giờ lái xe đi và một giờ lái xe về. Việc làm đã mệt, lại bị kẹt xe đến độ mỗi sáng thức dậy, nghĩ tới viễn cảnh mỗi ngày hai tiếng ngồi trên xa lộ cho đến ngày về hưu làm anh rùng mình. Hãng mới cách nhà chưa tới 10 phút lái xe, lương trả thấp gần phân nửa, tương lai không bảo đảm, nhưng bù lại, hãng mới cho anh mười ngàn cổ phần.</p>
<p>Hãng mới thành công. Thành công hơn anh mong đợi. Thành công nhanh và bất ngờ làm thay đổi đời sống anh. Hãng chế network router, sau hai năm tung ra thị trường, được hãng lớn mua lại, cổ phần tăng theo cấp số nhân. Phải nói là anh giàu qua đêm, như người không chủ ý đánh bài mà thắng to, không mua vé số mà trúng độc đắc. Khi hãng ra public, anh bán 3/4 cổ phần và quyết định nghỉ việc, dành thì giờ còn lại làm bất cứ điều gì anh muốn. Anh muốn mở viện dưỡng lão. Ý tưởng mở viện dưỡng lão nằm sâu trong anh năm chín tuổi. Trong dịp nghỉ hè về quê ngoại chơi, đọc bài bào trong nhà cầu, ngang câu, “nếu bạn trúng độc đắc, bạn sẽ làm gì?” Ý nghĩ mở viện dưỡng lão đột nhiên đến trong đầu thằng bé chín tuổi. Sau này, anh kể Lan nghe. Lan nói, anh mở viện dưỡng lão còn em xây chùa.</p>
<p>Lan thường xuyên lên chùa. Ban đầu chỉ cuối tuần và ngày lễ, dần dà lấn sang ngày thường, rồi cuối cùng, Lan nhẹ giọng nhưng dứt khoát: “Em gốc tu hành anh ạ.” Anh đã biết một ngày nào đó Lan sẽ nói câu này. Đó là một cách ly dị. Niềm tin chiếm đoạt đầu óc, Lan khó phán đoán được đúng/sai. Khoảng một năm sau ngày lấy nhau, bỗng dưng Lan muốn ăn chay, đi chùa. Bàn thờ Phật chiếm chu vi rộng ở phòng khách, quanh năm hương khói, kinh kệ gọn gàng, hoa tươi và đĩa trái cây không bao giờ thiếu. Khách lạ bước vào nhà, tưởng bước vào chốn tu hành. Hương khói bay tỏa trên bàn thờ như mây mù phủ che trí óc Lan, làm khả năng suy nghĩ, lý luận của Lan ngày càng cùn mọt, biếng nhác. Thỉnh thoảng Lan “chiều” chồng. Chữ chiều là đúng nhất với Lan về mặt chăn gối. “Em chưa rũ bỏ được lòng trần, còn nợ thì phải trả.” Hòa nghe, tưởng chừng anh là tảng đá tròng quanh cổ Lan. Giống tuồng cải lương, hài đéo tả! Nếu Lan ngoại tình thì còn dễ cho anh cắt đứt, đằng này không. Ai lại ghen với ông Phật bao giờ! Ông Phật cũng từng rời bỏ vợ con để đi tìm sự giác ngộ! Đàn ông sáng tạo thần linh. Đàn bà tôn thờ thần linh. Với tôn giáo, như mọi ngườười, Lan là kẻ nô lệ tình nguyện. Lan, bé Vi và anh, ba thành viên nói năng, di chuyển, ăn uống bỗng khẽ khàng, từ tốn, tránh va chạm. Khoảng trống giữa anh và Lan ngày càng rộng và đặc. Tính tình con bé Vi giống mẹ lẫn bố khi nào không hay. Nó ít khóc, ít vòi vĩnh. Sinh xong bé Vi, Lan cột buồng trứng. “Chúng mình sẽ không có đứa thứ hai.” Giọng Lan dứt khoát.</p>
<p>“Em để anh hoàn toàn tự do.” Lan nói. “Tự do, ừ, tự do. Fuck!” Hòa đạp cánh cửa chửi thề. Thế nào là tự do? Lan tự định nghĩa nó rồi áp đặt nó lên anh? Tự do không phải là thứ đạt được từ bên ngoài. Xứ sở tự do. Vượt biển tìm tự do. Ý thức tự do, con bà nó, tự do, shit! Vin vào Phật pháp, Lan tự hủy dần vai trò người vợ người mẹ. Dì Lan bị stroke, nằm liệt giường suốt 9 năm trời. Lan nói, “Nghiệp của dì nặng quá, dì phải trả. Em mừng dì trả gần xong.” Hòa nghe, chỉ biết thở dài. Thấy khoảng cách giữa hai vợ chồng cách xa ngàn vạn dặm. Nếu thế thì tháng trước Lan bị ngã, bong gân, thì đừng đi nhà thương chữa trị, cứ để đau đớn mà trả nghiệp! Như vậy, Lan đã trốn nghiệp? Hòa nghĩ đến những nghi lễ vô lý và những lời nguyện vớ vẩn. Không thể đổ bất công xã hội và bất hạnh cá nhân là do nghiệp. Nghiệp là hành động con người có suy xét, có ý chí để lại dấu tích, tạo thành cá tính. Nghiệp chẳng phải là phản ứng sinh lý, như ăn no thì ợ. Lan đã đóng sầm cánh cửa vào mặt hai bố con, sống thế nào mặc kệ, Lan chấp cánh tìm đường bay theo Phật. Anh có phải là Điệp cho Lan đóng tuồng cải lương đâu? Hòa lái xe chạy suốt đêm trên xa lộ. Con bé Vi liên tục chấp chới hiện ra với đôi mắt hoài nghi, chất vất. Giọng ai văng vẳng trong tai anh, quyết liệt điều gì đó mà anh không thể nắm bắt.</p>
<p>Lan từng là tiếng nước róc rách anh nghe quen tai, là màu sắc tấm tranh treo trên tường anh nhìn quen mắt. Giờ đây tắt dòng nước, gỡ tấm tranh làm anh chao đảo, hụt hẫng. Anh tự dỗ, với thời gian, tai rồi sẽ quen sự im lặng và mắt quen sự trống vắng. Con người là sinh vật củủ̉a thói quen. Thói quen do ta tạo ra rồi chính ta tìm cách xóa bỏ. Anh thấy anh là một con thú của đoàn thú đang cúi đầu di chuyển trong im lặng. Nô lệ và xuẩn ngốc. Ừ, với thời gian, anh sẽ giải phóng Lan ra khỏi đời anh. Anh nhận ra cái cười vừa chua chát vừa vô duyên của anh trong gương mỗi sáng. Chung cuộc, anh đành tuân thủ. Anh thở dài, bước vào nhà, người rũ ra như cái xác vừa chết hụt.</p>
<p>Ngân nói, “Muốn được tự do phải can đảm. Nó là thái độ sống.” Anh thuộc loại người không lặn sâu, rốt ráo trong từng ý nghĩ. Từ ngày Lan dứt bỏ bố con anh để tìm đường tu hành, anh đâm suy nghĩ liên miên. Nếu Lan bỏ anh vì một người đàn ông khác, liệu anh có bị ám ảnh, trăn trở bởi những câu hỏi do cuộc sống phức tạp, mâu thuẫn, hoặc vô nghĩa, vô thường này không? Tự do đòi hỏi trí tuệ. Trước kia yêu Lan, và giờ đây là Ngân, anh có sử dụng lý trí và lòng dũng cảm không? Anh có là một chủ thể tự do không?</p>
<p>“Quyền năng” của trống rỗng. Trống rỗng kinh người. Con người anh chạm vào sự trống rỗng sau khi Lan biến khỏi cuộc đời anh, giữa con số đô la cao ngất trong nhà băng. Con người được tạo ra không dễ dàng chấp nhận sự xa lìa, mất mát, dẫu biết cái sống đồng hành với xa lìa, chết chóc, của chính hắn hay của kẻ khác.</p>
<p>Ý nghĩ quái đản săm soi trong đầu. Tiếng rên rỉ văng vẳng trong lỗ tai. Đứng soi gương nhìn mình với cái cười khinh bỉ, thậm chí kinh tởm. Ngân ôm lưng Hòa thầm thì những điều vô nghĩa. Anh chợt nhớ có thời gian anh từng như thế. Sáng ngủ dậy là đã muốn nhắm mắt. Giờ đây, hai con mắt nhìn anh trong gương là hai con mắt Ngân. Một con trìu mến, một con đe dọa. Cả hai con mắt lửửng lơ treo giữa đất trời hư ảo.</p>
<p>Anh nghĩ, một ngày nào đó, nếu câu chuyện anh đang kể bị ngưng ngang, liệu Ngân có thể kể tiếp câu chuyện hộ anh?</p>
<p>Đối diện Ngân, anh có khả năng tự lột truồng. “Bảy tuổi, anh nằm nấp dưới gầm giường, nín thở nhìn mẹ vừa tắm xong, trần truồng đi đi lại lại. Sau này, sometimes when I’m having sex with my wife I’m thinking of my mom.”</p>
<p>Liệu sự có mặt của Ngân trong cuộc đời anh là giải thoát? Hay cả hai đang ngợp ngụa, cùng quẫn? Anh thấy toàn thân anh bềnh bồng trong dòng sông lừa dối. Như vĩnh hằng, chân lý không hề có. Mọi sự đều phù phiếm. Mọi sự kiện đều giả tạo. Anh chao đảo, mất khả năng dính đến bất cứ gì. Hoang mang, chán nản, mỏi mệt, bất lực. Dự cảm cái chết của chính anh, như quyết định tu hành của Lan. Chuyến vượt biên năm nào, khoảng cách giữa sống và chết chỉ là gang tay. Toàn nước là nước. Màu nước đen ngòm đe dọa, không chắc chắn. “Anh bơi rất dở, thế mà thoát em ạ.” Mưa từ trời trút xuống đại dương liên lủy ba ngày hai đêm sau khi ghe vừa ra hải phận quốc tế. Bầu trời như cái mùng rộng lớn bọc bởi màn nước. <em>Thằng bé ngồi ôm cứng cột ghe. Bất động.</em> Những giờ phút ngồi trên ghe đấy để lại dấu ấn nặng nề trong anh, khó lòng tẩy gội. Nó thường trở lại trong anh bằng những cơn mơ dữ hay khi anh bị lên cơn sốt. “Chết không dễ.” Thằng bé trong anh lẩm bẩm. Chết như chiếc áo vô hình. Chưa thể khoác lên người anh chiếc áo vô hình.</p>
<p>Giờ đây, những câu chuyện đời Ngân như những đợt sóng phủ ụp lên xác anh. Xác anh và cái ghe chông chênh ắp đầy sợ hãi. Cái ghe dần dần biến thành vết dầu. Vết dầu loang dần, loang dần… che phủ bể khơi. Anh cố đứng dậm chân, nhưng sao toàn thân anh nghiêng ngả? Phải chăng do thái độ của anh trước mọi sự vật, sự kiện? Chẳng có gì dính vào anh, Lan, trước kia, và giờ đây mối liên hệ với Ngân, sẽ dẫn anh về đâu? Bé Vi, đứa con duy nhất của anh, nó sẽ ra sao? Dầu và nước chẳng thể tan hòa vào nhau.</p>
<p>Liệu Ngân đủ rộng để che chắn bốn phía đời anh? Anh nhận ra sự mềm mại ấm áp mơ hồ ở nàng. Da thịt nối liền da thịt. Cái quắc mắt. Lên giọng. Đóng sập cửa xe. Những con chữ sít liền—không kẻ hở làm anh ngộp thở. Những điều không thể tiên đoán hoặc đảo ngược làm anh như kẻ bị đá chỏng gọng. Nội tạng quặn thắt. Những tầng thịt những lớp âm đạo Ngân quá đỗi khít khao, bóp thắt không ngừng, tựa từng mảng sóng phủ tràn, bao bọc dương vật yếu đuối run rẩy của anh. Con sóng phủ tràn xác thân thằng bé trong anh năm nào ngồi ôm cứng cột khoang trên ghe chờ mong phép lạ. Sự cứu rỗi. Thằng bé (đã) không chết.</p>
<p>Đêm qua anh mơ giấc mơ kỳ diệu, nhuốm màu hạnh phúc nhẹ nhàng. Thức dậy, thấy miệng Lan vẫn còn đang cười tươi không cần lý do ẩn chìm trong bóng đêm. Anh gắng nhìn vào khoảng trống tối như thể tìm kiếm một cái gì đấy vợ anh cố tình giấu kín. Đôi mắt Lan đầy nước biển. Trong trời đêm.</p>
<p>“Lan.” Anh gọi, âm thanh ngắn. “Ngân ơi…” Anh gọi, âm thanh dài.</p>
<p>Đối diện Lan là đền tội.</p>
<p>Đối diện Ngân là phạm tội.</p>
<p>Đối diện con bé Vi là buộc tội</p>
<p>Vẻ lẫn lộn, nhập nhòa khuôn mặt hai người đàn bà trong trạng thái hôn mê, lên đồng. Cảm giác phiêu diêu, toàn thân bay bổng. Nó là hạnh phúc phù du, vay mượn. Vẻ thu hút rời rã của Ngân, vẻ lặng lẽ trìu mến của Lan. Anh lật người anh qua, lại như con cá rán. Không một ai trong căn nhà rộng. Bóng ai bé nhỏ như con bé Vi đang đi xa dần trong ánh sáng lụi tàn. Anh gọi tên đứa con gái độc nhất giữa những giọt nước mắt. Con bé Vi quay đầu, nhìn trừng vào mắt bố. Anh cố che giấu xúc động. Anh bắt chước mẹ nó tự bao giờ. Anh như thứ rác rưởi nó vừa dẫm đạp qua.</p>
<p><em>“Những buổi bình minh của bố anh là chiến tranh, lính tráng, chết chóc. Đối đầu sự phi lý. Những buổi trưa hè của bố anh là trại tù cải tạo, sợ hãi, đói khát. Thế giới của bố không có ánh nắng chiều tà và đêm đen phẫn uất.</em></p>
<p><em>Những buổi bình minh của anh là chối bỏ, vượt thoát. Là kiếm tiền trong sự trống rỗng lẫn hy vọng. Đêm vật vờ, trôi giạt.</em></p>
<p><em>Hai bố con băng qua thời gian bằng hai ngả. Bình minh chướng ngược nắng gió. Bình minh con gái anh thế nào? Nó được sống và lớn lên trong sự đầy đủ kinh tế vật chất, nhưng thiếu hụt gì? Nói anh nghe đi cưng?</em></p>
<p><em>Ngân cắt đứt tuyến suy nghĩ anh bằng cái vò tóc.</em></p>
<p>Lần đầu dương vật anh đi vào cửa mình Ngân. Nàng thắt bóp âm đạo, như đôi mắt nàng nhắm khít. Bầu trời tối sầm. Một loạt hoa pháo nổ tung, âm thanh vang dội. Anh đầu hàng trong cơn giông thống khoái.</p>
<p>Có thời anh nghiện rượu, rồi cố bỏ. Bên phải anh là Lan, thiên thần bận đầm trắng xỏa tóc thánh thiện lượn lờ. Bên trái anh là con quỷ dữ men rượu đầy hấp lực. Trong đêm, tai anh luôn nghe tiếng động chai lọ lạch cạch. Tiếng phực chắc nịch, cái nắp bật tung khỏi miệng chai. Tiếng rót rượu, rồi thấy rất rõ hình ảnh anh đang ngửa cổ, hả họng tu ừng ực. Ôi, men rượu cay nồng, vị rượu ngọt lịm làm anh muốn khóc. “Khóc là dở.” Lời mẹ dặn khi anh còn bé. “Con trai không được khóc.” Anh muốn hỏi mẹ tại sao con trai không được khóc, nhưng hai môi anh cứ ngậm chặt, như âm đạo Ngân ngậm chặt dương vật anh.</p>
<p><em>“Làm tình với anh trong những lúc buồn bã như lúc này, chẳng khác gì em đánh đĩ với nỗi thống khổ của em.” Ngân nói thầm trong tai Hòa, phả hơi thở chua chát.</em></p>
<p>Ánh trăng trườn trên da thịt cả hai đang có cùng mối dao động. Liệu anh hay Ngân, ai là người nghe được tiếng thở hắt của người kia?</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>cây bút nhựa và cái âm đạo trầm cảm</strong></p>
<p>Anh là vật thể hủy bỏ, lật ngược, xáo trộn, ê răng, xót mắt cho kẻ đối diện. Face-to-face. Không khoan nhượng. Những nối kết nào cũng bị đứt lìa, không chùm gửi. Là những mảnh vụn li ti. Nền móng vững chắc cỡ nào cũng bị lung lay, lột tẩy muôn thứ hỗn hợp, dị dạng. Mọi thứ bậc bị đảo lộn. Thế giới thân thuộc bỗng xa lạ. Anh và Ngân là sự nổi loạn lặp lại. Tái diễn dòng máu loạn luân. Phi lý. Hủy diệt. Giờ đây, anh như hạt bụi thời gian.</p>
<p>“Làm tình với em đi, ngay lúc này, bất cứ ở đâu, kiểu gì anh muốn.” Ngân 15 tuổi, môi trên lẫn mỗi dưới vừa hé. Hổ nhục giòng họ. Ben, 16 tuổi, anh họ của Ngân, tay chân lều khều, mặt ngố, điệu bộ lúc nào cũng lúng túng, giọng vỡ, ăn uống rất nhanh, thích đọc sách hơn xem tivi.</p>
<p>Yếu tố ruột thịt có bôi xóa được không? Chết cả hai có trở thành ma Mỹ gốc Việt không? Giờ đây nằm trên bụng vợ, Ben còn nhớ đến con em họ? Cả hai quấn lấy nhau suốt dọc mùa hè. Ben hiếm hoi cười, ưa vân vê đuôi tóc tư lự. Cửa mình Ngân luôn buốt rát sau khi đụ Ben, nhưng mặt Ngân xinh tươi hơn khi có Ben sát cạnh. Hai đứa học khác trường. Nhà cách nhau 30 phút lái xe. Nơi thường xuyên gặp gỡ là nhà bà nội/ngoại.</p>
<p>Lần đầu bị thốn và rát một chút nhưng sau vài lần sẽ thích và ghiền. Ngân đã tưởng như thế, nhưng không phải. Lần nào cũng thốn và rát, xong thì ê ẩm đau. Nhiều đêm đi tiểu liên miên. Cu Ben không to không nhỏ, nhưng dài như người Ben. Cây bút. “Đừng ngậm, cắn cây bút.” Bà ngoại luôn dặn dò. Ngân thích hình dạng cây bút cùng mục đích của nó, dù ngày ấy Ngân còn quá bé để ý thức cây bút đồng nghĩa cặc đàn ông. Pen = penis = buồi. Cây bút—đàn ông độc quyền sáng tạo lịch sử văn minh văn hóa nhân loại. Đàn bà không có bút, tức thiếu hụt, khiếm khuyết, bị thiến, trống rỗng, vắng mặt. Nhưng có bút mà không có nước, như mực, sữa, máu, nước ối, nước đái, kinh nguyệt, nước dâm… thì bút trở thành thứ cặc gãy. Ngân nghĩ rồi bật cười. Cu Ben thon gọn trong tay Ngân, miệng Ngân, cửa mình Ngân ở tuổi 15. Vừa khít lỗ con gái mới lớn. Trơn tru, dễ dàng, tin tưởng được. Cả hai chưa nhuốm mùi đời, chưa bị đe dọa. Cả hai tươi trẻ, vô tư, ham thử nghiệm. Là sự thèm muốn tự nhiên, thỏa mãn bản năng. Phải chăng tình yêu bắt rễ từ bản năng. Ngân đi tìm câu trả lời cho nàng? Cho người đàn ông đã khuất? Cho người đàn bà gọi là mẹ? Hay ẩn sâu, trong tiềm thức Ngân, là mối trả thù, là mầm mống hủy hoại, là phản kháng, là chứng tỏ sự có mặt và (phải) được công nhận.</p>
<p>Ben biểu tượng cho sự êm ái lẫn cuồng nhiệt. Dễ chịu lẫn khát khao. Ngân náo nức chờ đợi, trò chơi ú tìm, trò chơi 5-10-15-20… Dưới lùm cây sau nhà, tường phòng tắm, basement, trên ghế sau xe bố Ben, sàn nhà bếp nồng mùi thức ăn hội nhập. “Bà ngoại.” Ngân gọi. “Bà nội” Ben gọi, là người đàn bà khắc nghiệt lẫn bao dung. Mệt mỏi lẫn tháo vát. Yêu thương lẫn oán thù. Hai thái cực tạo nên người đàn bà đầy tính cách kỳ lạ. Hoàn cảnh xô đẩy tạo bà như muôn tỉ người đàn bà có hĩm trên trần gian này. Nhưng không hĩm nào giống hĩm nào. Không đàn bà nào giống đàn bà nào. Tiếng thở dài, giọt nước mắt, nỗi đớn đau không hư cấu, không tưởng tượng, mà rất thật, rất là người, như cái chết trận của thằng con trai mới vỡ giọng của bà. Bố của Ngân. Cậu của Ben. Bà thường ngồi ở ghế da nâu sần, kê ở góc bếp, nhìn thẳng được mọi ngỏ ngách: cửa chính, cửa garage, cửa ra sau vườn, cửa vào ba phòng ngủ. Ai vô/ra đi tới đi lui, làm gì khó lọt khỏi hai tròng mắt bà. Thế mà, hai đứa cháu quần nhau trong phòng ngủ của bà, bà không hề hay biết. Giây thần kinh của bà bị đứt chăng? Hai đứa cháu mới lớn ùa chạy ra vườn mang theo hơi thở gấp rút, nhanh hơn bước chân. Một đỗi sau, hai đứa trở vào nhà, lưng tóc bám lá cỏ khô, dù đã vội gỡ cho nhau, cố ghìm hơi thở dốc, máu đỏ dồn ở mặt chưa kịp loãng tan, nhưng sao mắt và tai bà mù tịt?</p>
<p>“Em vào trước.” Ben nói. “Không, anh vào trước.” Ngân nói. Hai đứa đùn đẩy. Cuối cùng hai đứa trở vào nhà bằng hai ngả. Dáng Ben lều khều, bước đi chậm rãi nhưng có máu liều và mau thỏa mãn của con công tơ. Cánh tay Ben chưa có bắp thịt và vú Ngân cũng vừa nứt mầm để một tay Ben xoa xoa bóp bóp. Một tay Ben bịt mồm Ngân ngăn chặn tiếng rên. Ben nói rõ từng chữ trong tai Ngân: “Tiếng Động, Ngân ơi! anh sợ Tiếng Động.”</p>
<p><em>Bầu trời từ từ co rúm.</em></p>
<p><em>Mặt đất từ từ giãn nở.</em></p>
<p><em>Ô nhục lập lại.</em></p>
<p><em>Lịch sử lập lại.</em></p>
<p>Một buổi sáng Ben nói chắc anh sắp chết. Ngân luôn là đứa em họ anh yêu thương, gần gũi, chia sẻ được nhiều thứ nhất. Luồng gió mạnh bao giờ cũng làm Ngân sợ hãi đồng thời chở đầy thích thú, bởi nó kích thích và cuốn hút Ngân.</p>
<p><strong>người vợ (tu hành) &amp; con bé Vi</strong></p>
<p>Giữa những điêu tàn mới Lan mờ khuất dần dần. Ngân đang hiện rõ, chiếm vị trí khổng lồ trong đời sống thường nhật. Lan muốn thế, và anh đã/đang tập (muốn) thế phải thế thôi mà phải thế thôi</p>
<p>Lan giờ đang ngồi-đi-đứng-nằm trong tu viện tọa lạc trên ngọn đồi rất cao. Nơi, ban ngày bầu trời mây trắng bao la và ban đêm trăng soi sáng vằng vặc. Hai mặt lá thăm thẳm xanh.</p>
<p>Có khoảng thời gian bít bùng, thất lạc, Hòa chìm trôi trong thùng rượu. “Bố em chết vì rượu. Ông băng qua đường trong cơn say bị xe nhà binh Mỹ cán.” Lan nói. “Vậy mà giờ đây em lại lấy người nghiện rượu. Thật là oái ăm!”</p>
<p>Anh lan man nhớ… rượu đổ vào ly, sóng sánh, âm thanh như tiếng chuông nhà thờ rền rung hay tiếng chuột con kêu chít chít. Hai tay anh run lẩy bẩy. Cổ và ruột như lửa châm đốt. Uống ngụm đầu, lưỡi ngọt lịm. Uống cạn ly thứ nhất. Phừng! Mắt rực đỏ, cay xè, phóng lửa. Nhưng chỉ trong khoảnh khắc, mũi xông mùi cay nồng thơm phức men rượu. Sang ly thứ hai, tàn rụi cơn bốc cháy, mọi thứ lãng đãng trôi như mây. Cảm giác bất cần đầy quyến rũ. Coi nhẹ mọi thứ trên đời. Rũ bỏ tất cả. “Có lẽ anh say mê cảm giác chứ chẳng phải vì rượu.” Anh nói với Lan. Lan im lặng. Cạn ly thứ ba, không làm anh sặc, nhưng làm anh chảy nước mắt. Anh thấy toàn thân anh ngắc ngoải trôi trong bầu không khí đẫm mùi nước đái con bé Vi.</p>
<p>Ý tưởng như đống bùi nhùi khổng lồ tạp sắc chập chùng chồng cưỡi lên nhau. Chúng tự vẽ những hình thù mơ hồ, nhập nhoạng, tan rã rồi ăn lan vào nhau.</p>
<p>Trái ngược mẹ, con bé Vi luôn gây tiếng động. Nếu không ca hát thì nói thầm thì, còn không thì kéo lê bước chân. Ít khi nó tự để nó yên. Sao nó không huýt sáo nhỉ? Hòa thắc mắc. Ý nghĩ này làm anh thoáng sợ hãi. Ừ sợ hãi.. Tại sao anh luôn sợ hãi những thứ xấu như đạp cứt, xe tông, bệnh hoạn, chết chóc, chia lìa? Còn những gì anh yêu qúy thì chẳng bao giờ sợ hãi. Như vợ con, tấm ảnh, chậu hoa, căn nhà, dòng suối…</p>
<p>“Chẳng có gì để sợ ngoài chính sự sợ hãi.” Lan nói.</p>
<p>Có quãng thời gian dài anh thèm muốn tất cả phụ nữ trừ vợ anh. Giờ đây, anh chẳng thèm muốn bất cứ phụ nữ nào, trừ Ngân.</p>
<p>Bầu trời xanh ngắt. Cỏ cây rì rào. Những ô cửa kiếng tòa buildings lấp loáng bạc, nơi từng tấp nập nhân viên một thời, giờ đây vắng lặng. Có lẽ vì vậy mà ý tưởng kỳ lạ nhưng rất nảy đến trong đầu anh? “Em không tin tưởng lắm vào tình yêu. Vì tự do và chung thủy không thể cặp kè. Tuy nhiên, anh là trường hợp… miễn nhiễm.” Ngân nheo mắt nhìn anh vừa cười vừa nói. Anh muốn nuốt trọn người Ngân như nuốt trọn con bống.</p>
<p>Đêm đầu tiên gặp Ngân ở nhà Cristi và Bryan, anh nhận thấy ở khuôn mặt Ngân đượm chút u sầu, chút thanh tú, chút mệt mỏi, chút yếu đuối, chút hoang dại, chút bất cần, nhưng đặc biệt lộ nét thông minh. Nét thông minh tỏa ra từ đôi mắt cùng những con chữ kết nối thành câu chuyện. Về sau, anh khám phá ở Ngân có sức quyến rũ lạ thường. Nó kéo anh vào liên hệ mật thiết. Nó làm anh điên đảo. Vừa là bến mê, vừa là xiềng xích. Anh không thể trốn thoát. Chính xác hơn, anh không muốn trốn thoát.</p>
<p>‘Không ai muốn thấy mình mỗi ngày một già đi trong cô đơn, tuyệt vọng.” Anh muốn thố lộ điều này với Ngân nhưng nàng cản ngăn bằng cái cong người tận đầu gối, ngoạm hôn anh thật đau thật lâu. “Mùi vị người tình và mùi vị thời gian là hai thứ ấn tượng nhất.” Nói xong, Ngân nuốt ực ngụm nước miếng.</p>
<p>Ngân như căn nhà nhiều phòng anh chưa thăm dò hết. Anh chỉ được bước vào căn phòng nào Ngân cho phép. Anh ngắm nghía, sờ mó, lắng nghe, hít ngửi. Chúng vô cùng kỳ lạ, phức tạp, đa sắc, đa âm. Căn phòng nào Ngân khóa kín thì anh phải biết tự động băng ngang, không hỏi, không tò mò, không tỏ lộ tiếc nuối. Nhưng anh chẳng cấm anh tưởng tượng về những căn phòng bí mật luôn khóa kín ấy?</p>
<p>…..</p>
<p>Sáng nay Hòa nhận được email Ngân: “Đêm qua khi anh siết chặt tay em ở phòng bếp. Cái siết tay tuy ngắn ngủi nhưng làm em cảm thấy yên tâm, hạnh phúc. Cảm giác ấy em đánh mất đã lâu, giờ trở về trong em. Cám ơn anh yêu.”</p>
<p>.. .. .. .. ..</p>
<p>“Đêm qua em nằm mơ thấy cửa mình em đính những hạt cườm lóng lánh ướt đẫm sương đêm.” Ngân nói. “Nghe như em là kẻ dự báo thời tiết không bằng.” Hòa cười nói. “Em mơ đóng phim sex anh ạ. Em làm thỏa mãn cơn sướng cho rất nhiều người. Đàn ông lẫn đàn bà, đủ mọi thành phần, tuổi tác, màu da. Người khách cuối cùng là lão già trên 90, dùng Viagra, gục chết trên bụng em, cặc lão tí xíu như thằng bé lên năm đang cương cứng, miệng lão gắng hết sức thều thào<strong>: </strong>“yeah… yes, oh, yes…oh yes… baby… oh baby…” “Một cái chết tuyệt vời.” Hòa nói. “Một giấc mơ tuyệt vời.” Ngân nói.</p>
<p>Rượu và giấc mơ Ngân làm tai Hòa nóng bừng. Ngân đứng dậy đi lại cạnh Hòa, đưa tay xoa bóp gáy anh. Miệng huýt sáo điệu nhạc cowboy. Anh kéo Ngân đến trước lò sưởi. Lửa đang bập bùng réo gọi. Anh tốc vội váy Ngân, tuột xi líp quẳng vào góc phòng. Ngân dạng háng. Lông mu đen mượt. Anh vục mặt, di động theo hơi thở và thân dưới người Ngân. Ngân quàng đùi quanh cổ anh, siết chặt… eagerness, enthusiasm, willingness. Anh tham lam bú, liếm, nút chùn chụt chùn chụt khe rãnh, mép bờ, thớ thịt, hột le… Hơi thở anh và tiếng rên Ngân xoắn quặn. Cửa mình<strong> </strong>Ngân co thắt, bóp chặt càng lúc càng dữ dội, mãnh liệt, như sắp cứa đôi lưỡi anh. “Yêu cưng là anh fuck hết những gì thuộc về cưng. Fuck cả niềm vui lẫn nỗi buồn. Fuck cả những căn phòng cưng đã ở, những người cưng từng yêu, những con đường cưng đã đi qua, những cuốn sách cưng từng đọc, những ngông cuồng cưng ưa làm, những tầm thường làm cưng bứt rứt, những ngớ ngẩn đáng thương của cưng, bi thảm, đớn đau, hoan lạc, tầm thường, thèm khát, tham vọng, bất an, lo sợ, dày vò, tủi nhục, tổn thương… cùng những gì anh đéo bao giờ hiểu nỗi…” Hòa nói liên tu như kẻ mê sảng.</p>
<p>Cuốn hút mê man. Hỗn mang hoảng loạn. Ảo giác phù du. Lung linh sắc màu… Tất cả chứa đựng trong quả bóng cứng căng. Hàng loạt ý tưởng biến chuyển ngẫu nhiên bất định. Cảm giác thiếu vắng, lẻ loi từ đâu đâm sầm tới. Hai chân anh giẫm vào đống bùn lầy tuổi thơ.</p>
<p><em>Nàng không nhìn nàng bằng con mắt ướt nước. Nàng không muốn bất kỳ ai nhìn nàng bằng con mắt ướt nước. Nàng rù rì trong nỗi hoang mang xúc động. “Người em lại phát ra tiếng động.” Hòa nói.</em></p>
<p><strong>sắc màu</strong></p>
<p>Năm 19 tuổi, tham dự party đông người. Đấy là một đêm hè, tóc cô buông xõa, môi tô son đỏ, bận váy lụa đen ngắn, xì líp màu dưa hấu cũng bằng lụa nốt. Váy lụa và xì líp lụa cứ dính sát vào nhau như nam châm hút, làm váy hổng lên trông rất kỳ quặc. Cô cứ loay hoay khổ sở lấy tay kéo váy trùm mông. Cuối cùng chịu hết nỗi, đang giữa bản nhạc, cô đi vào toilet, lột xì líp nhét vào ví. Cô bước ra khỏi toilet với cảm giác thoáng mát ở phía dưới tưởng như lông cứ túa, túa ra. Lần đầu cô thấy hoàn toàn được giải phóng. Đầy sảng khoái và tràn trề hưng phấn. Cô bắt đầu nhảy với bất kỳ ai mời và cô mời bất kỳ ai cô muốn. Cô như trần truồng giữa biển người. Cô buông thả toàn thân. Cô uốn éo, xoay vòng, lả lơi cười đùa xả láng. Cô thấy mọi người thật đáng yêu. Cô muốn đụ hết tất cả thằng đàn ông con trai trong đêm party đấy.</p>
<p>Thỉnh thoảng bất chợt nhớ lại cơn điên cuồng loạn nhưng hồn hậu đáng yêu đêm hè ấy, cô mỉm cười.</p>
<p>Hòa gặm nhấm mớ lông lồn Ngân một lát, rồi trở người, nằm úp mặt lên mông Ngân. Đôi mông căng nở của người đàn bà vừa làm tình xong. Cứng cỏi và hoang vu như hòn đảo hoang. Hòa hít sâu mùi da thịt đằm thắm của riêng Ngân.</p>
<p><strong>là con người</strong></p>
<p>Tuổi thơ, mắt vừa nứt Ngân đã buộc chứng kiến bao cảnh mẹ tự hành tội do tính đĩ thõa của mẹ. Mẹ không thể sống một mình. Mẹ bắt trần nhà cũng phải ngửi mùi chịu đựng.</p>
<p>Giờ đây Ngân đang sống một mình, ở tuổi mẹ ngày ấy.</p>
<p>Mỗi lần đàn ông đè mẹ, thì tiếng rên, tiếng thở, tiếng chửi, tiếng rú, tiếng cười, tiếng gào… tất thẩy là tiếng động kinh tởm như tiếng nôn ọe, tiếng khoan răng, tiếng móng tay cào trên sắt, tiếng ré trẻ sơ sinh… Ngân ngày ấy bé lắm, bé đến độ như không hiện hữu trong mắt mọi người. Những lúc như thế nó bỏ ra ngoài hiên, leo lên ngồi chàng hảng trên cái ghế có thành gỗ nhỏ bằng cổ tay sơn màu đọt chuối. Nó bắt đầu cưỡi, như cưỡi ngựa gỗ, chó con. Nó nhún nhẩy theo run rẩy bản năng. Thanh gỗ cứng ngắc cấn giữa háng nóng dần. Trong kia mẹ nó và gã đàn ông lạ. Ngoài này nó với thanh gỗ cứng ngắc. Sau này, nó phải moi móc trí nhớ để kể cho bà bác sĩ tâm lý nghe, như lời thú tội.</p>
<p>Nó chứng kiếến những lần mẹ thủ dâm qua tấm màn mỏng. Bà quằn quại, rên la, thở hồng hộc. Dưa leo hoặc cà tím dùng xong, vất dưới gầm giường, để quên lâu ngày héo rũ, thun lại bởi nắng nóng nhiệt đới, nơi nó ra đời bởi cơn nứng người đàn ông, nó gọi là bác là bố, nghĩa là hai thằng đái/đụ chung con cặc. Hoặc sau này, qua đến đây, cái vibrator vất lăn lóc trên thảm mà mùi lồn trộn mùi dầu bôi trơn như mùi nách mẹ giữa trưa hè. Màu da mặt mẹ xanh màu lá trong vườn. Thỏa mãn.</p>
<p>Tuổi thơ nó trà trộn những gã đàn ông tính khí bất thường vô/ra bất thường nhà nó. Để đối phó với sự vô/ra bất thường của họ, nó luôn giữ khuôn mặt câm nín, miệng hiếm hoi nở nụ cười tươi.</p>
<p>Những tấm trải giường bê bết tinh khí, nước dâm, nước đái, rượu mạnh, tàn thuốc lá, kem dâu, nước mắt, đờm, dãi, keo xịt tóc, phấn son, dầu thơm… Nó ôm tấm trải giường đi giặt, nghĩ đến những thứ bôi trét trên người mẹ, tiếng động đàn ông di động trên thân thể mẹ, nó vừa thương xót vừa kinh tởm mẹ.</p>
<p>Có khoảng thời gian, nó bị gửi nhà bà nội/ngoại. Nó như banh tennis, dội qua dội lại giữa bà và mẹ. Một bà: mặt lạnh tanh. Một mẹ: mặt dại khờ. Nó bị xê dịch bởi hai khuôn mặt người lớn. Nó ngửi mùi lẻ loi, nhìn màu xám xịt buồn tê người. Con đường dẫn vào nhà mang tên thống khổ. Nó trốn chạy bằng cách sau giờ học, ngồi lì ở thư viện, nơi trú ngụ bình yên nhất.</p>
<p>Mẹ đeo lông nheo giả, phết mấy lớp mascara, trệch cả mí mắt. Những đồ trang sức vòng vàng, kim cương giả tạo lấp la lấp lánh quá là phù phiếm. Người bà lúc nào cũng xức nực nước hoa lùng mua giá hạ ở mấy tiệm tạp hóa gần nhà. Nước hoa thay đổi liền liền. Bà xịt… xịt… xịt như thói quen. Mùi háng dâm dật. Mùi tinh trùng ngu muội. Mùi macho bịnh hoạn. Bước vào tuổi 40’s, mẹ bắt đầu là khách trung thành của bác sĩ giải phẫu thẩm mỹ. Mẹ không khổ vì nuôi con mà khổ vì nhan sắc.</p>
<p>Rất nhiều bữa ăn mẹ không để Ngân ngồi yên nhai mà cứ lải nhải: “Này… này… miếng thịt bò này gần hai đô một pao. Đĩa tôm đấy gần 5 đô mà chỉ được từng ấy con. Đĩa sà lách trộn này tao phải đi mấy chợ mới được đủ như thế này! Tao lựa miếng thịt ngon nhất chợ…” Những câu nói của bà làm Ngân có cảm tưởng như đang nhai những tờ tiền thấm đẫm mồ hôi, máu, dãi, tinh khí, đờm, nước dâm tanh nồng mà muốn ói.</p>
<p>Ngân chứng kiến mẹ lạm dụng nỗi buồn đau một cách vô ý thức. Mỗi khi hình ảnh, giọng nói, mùi vị mẹ bất chợt thoáng qua trong đầu làm Ngân rùng mình. Mẹ hưởng hoan lạc như thế nào, Ngân hoàn toàn không nắm bắt được, Ngân luôn cố nghĩ rằng, việc đéo gì phải tự tủi hổ và khinh khi bản tính yếu đuối và cực nhạy cảm của mình. Ngân tự trấn an, thấy rõ sự tiến hành cái định mệnh mình một cách tỉnh táo và thấu suốt, trong veo.</p>
<p>Mẹ riết róng tìm kiếm những nhân tố tráng lệ, nóng bỏng, man dại, đồng bóng. Chúng ám ảnh thường trực khi Ngân nhìn mẹ di chuyển qua lại trước mắt.</p>
<p>“Em từng có một người tình.” Ngân thủ thỉ Hòa nghe giữa đêm choàng thức. “Thời gian em đang bị rơi vào cơn trầm cảm. Đấy là mùa hè, em còn nhớ. Người tình mà sau một tháng biết em đã ngỏ lời cầu hôn.” Ngân ngừng, phì cười như người giễu dở lại ưa giễu dai. “Em nhớ ngực hắn đầy lông và cặc, dái, đít hắn cũng đầy lông. Làm tình với hắn gần như làm tình với con vượn. Anh biết không…” Ngân cười to.</p>
<p>“Một buổi tối em từ trường về thấy hắn đang gập người trên bụng mẹ. Cũng cái thân thể lõa lồ đầy lông đầy lá đấy đang vừa nhún nhẩy vừa cố chồm để ấn sâu con cặc hắn vào lồn mẹ. Cả hai cái bóng đè lên nhau, qua khung cửa sổ. Từ bên ngoài nhìn vào, giữa sàn phòng khách, TV mở với âm thanh thật to. Em đứng nhìn mẹ của mình và thằng bồ của mình đang rống riết đụ nhau. Anh biết không? Em tỉnh bơ, có phần hả dạ mới là kỳ quái. Đứng cầm xoay xoay xâu chìa khóa một lát trong trời đêm, em trở vào xe, kéo hết cửa xuống, chạy vòng quanh vài con đường quen thuộc, ghé vào tiệm In &amp; Out Burger đầu ngõ, gọi cái double cheeseburger, French fries, ly coke, ăn uống sạch trơn ngon lành. Ngồi chơi tiếp ô chữ của ai đấy đang bỏ dở. Khoảng một giờ sau, em gọi điện về nhà, mẹ trả lời, em hỏi bà muốn ăn gì ở In &amp; Out không. Bà ngần ngừ vài giây rồi quay sang hỏi thằng người đầy lông. Em nghe giọng cười to của cả hai qua điện thoại. Cả hai đều muốn ăn ba thứ em vừa nuốt vào bụng. Em đi lại quầy, order hai phần. Trong lúc đợi thối tiền, nhìn mấy ngón tay num núp của cô tính tiền đột nhiên em nhớ tới tấm tranh <em>The Last Supper</em> của Judy Chicago<strong>. </strong>Người ngồi giữa mười hai tông đồ là kiều nữ, mang khuôn mặt mẹ, vừa đụ xong.</p>
<p>“Sau đêm đấy, em quyết định chấm dứt liên hệ với gã người đầy lông lá. Còn mẹ, bà có gặp riêng hắn ở đâu nữa không thì em hoàn toàn đéo quan tâm. Như thế, em đã trả xong món nợ rạch áo cưới bà năm xưa. Em nhẹ người như có thể bay được. Không ngờ biến cố đấy đã cứu em thoát khỏi cảm giác guilty thời trẻ dại, và thoát khỏi cơn trầm cảm khá nhanh. Nhanh đến độ bác sĩ ngạc nhiên. Em vất mấy lọ thuốc chống trầm cảm vào thùng rác ở cái siêu thị gần nhà.”</p>
<p>Hòa nằm nghiêng người nghe Ngân kể chuyện. Tiếng động của từng chữ lọt vào tai. Nhắm mắt, anh thấy Ngân là khu rừng rậm bí mật mà anh chỉ mới khám phá được góc bìa. Cuộc phiêu lưu kích thích cực độ. Hấp lực khó lý giải. Tâm trí anh phiêu diêu nơi chốn không có tên gọi.</p>
<p>Mẹ đang già đi trong cô đơn. Hĩm mẹ cũng thế. Héo hắt, điêu tàn, thôi đợi chờ, cạn nước. Ngân thấy mình đang bước từng bước sau lưng mẹ. Hai mẹ con di chuyển trong thinh lặng. Bóng mẹ và bóng Ngân chẳng thể nhập. Ngân thở hắt, cố gạt ý nghĩ tiêu cực tức khắc, bằng cách mở cái gạt nước kiếng xe dù trời đang nắng to.</p>
<p>Mẹ chẳng phải là người ưa dung dưỡng ý nghĩ cay độc, nhưng sao khi có dịp, là miệng bà tuôn chúng ra như thổi lửa, xong, bụng dạ hả hê. Tai Ngân luôn bị nghe những lời lẽ tuôn ra từ miệng mẹ: “Mày phá nát đời tao. Mày làm khổ đời tao. Mày là sợi dây oan nghiệt thắt cổ tao. Tao có muốn đẻ mày ra đâu… Mày… Mày…” Những lúc như thế Ngân (tập) bôi xóa (hình ảnh) Ngân. Nghĩ tới con sóng đang từ từ lườn trên mặt biển, vào bờ vỗ tung, xóa sạch sự có mặt Ngân và mẹ. Trong đêm, Ngân chà xát hai bàn chân trong mền, nói chuyện một mình, tô vẽ những hình ảnh mơ hồ không nắm bắt được. Cảm thấy khổ đau bao la như trời đêm.“You’re on your own (baby), this isn’t good, you’re going to have to look out for yourself.” (<em>Voice in the Night</em>)</p>
<p>Tình mẫu tử là tưởng tượng, là phỉnh gạt. Ngân can đảm nhận ra, chấp nhận, đối trị. Bất cứ điều gì xảy ra trên cõi đời này cũng có trường hợp ngoại lệ. Ngân nằm trong sự ngoại lệ. Điều này làm Ngân thở dài. Cái thở dài Hòa nghe, phả ra mùi đắng chát, nhưng rất thật, như trời đang mưa.</p>
<p>(Khi còn bé) Ngân nghĩ, khá nghiêm túc, làm thế nào để xóa đi cái quan hệ gia đình, ruột thịt, máu mủ, để tiếp tục sống. (Khi lớn lên) làm thế nào để xóa bỏ định luật hôn nhân một vợ một chồng? Ở cạnh một người suốt cả cuộc đời?</p>
<p><strong>(… … …)</strong></p>
<p>***</p>
<p>Mẹ đưa gã đàn ông về nhà ở chung, chỉ vài ngày sau là chuyện tày trời xảy ra cho đứa con gái độc nhất ở tuổi còn bé bỏng. Bằng cách nào, Ngân (đã) không hề hé môi nói cho mẹ biết rằng gã đàn ông, mà một trưa hè, mẹ đưa về nhà, đã kéo lê Ngân vào phòng tắm trong khi bà vắng nhà.</p>
<p>Gã bắt con bé tự cởi đồ trước mắt gã, xoay vòng theo ánh mắt và ngón tay trỏ ra lệnh của gã. Nước đái con bé tuôn dầm dề, gã bò lết dưới sàn nhà, ngửa mặt đưa lưỡi liếm sạch. Xong, gã dí đầu con bé vào hạ bộ gã, bắt con bé ngậm cái dương vật ủ rũ ướt nhẹp. Con bé nhất định không há mồm, gã gầm lên, nắm tóc, tát đốp đốp vào mặt con bé. Da mặt con bé tê cứng đi như sàn nhà tắm. Một tay gã cạy cửa mình con bé, dí cái dương vật ủ rũ ướt nhẹp của gã vào, nhưng nó cứ tuột ra, tuột ra… Gã đút ngón tay vào miệng con bé, ra lệnh nó phải cắn thật đau, ứa máu. Con bé vừa cắn vừa trợn mắt ngó đỉnh trần phòng tắm, thấy khuôn mặt người đàn ông xa lạ hiện về. Bộ đồ lính ông không thể tự cởi được, Ngân phải đưa tay cởi giúp. Ngân áp mặt vào dương vật ông, ngửi mùi súng đạn, mùi máu thịt, mùi bom lửa, mùi chiến tranh, mùi chết chóc, mùi tự hủy, mùi quyền lực, mùi của mẹ, mùi ngu xuẩn, mùi lịch sử, mùi đàn ông, mùi của đất, mùi tham tàn, mùi của riêng Ngân. Bất chợt, trong Ngân bùng lên cơn thỏa mãn của kẻ bất lực đang gắng trườn trên người con bé. Cái dương vật ủ rũ của bố? của bác? của ai? Hay của tất cả bọn đàn ông đã đút vào cửa mình mẹ nó, điên cuồng lắc. Và cũng ở cửa mình đấy, con bé đã chui ra với đời, với số phận bi thảm mà ngay lúc này đây, là hình phạt đáng kiếp.</p>
<p>Con bé đếm thầm những hơi thở hụt của ông. Nó tưởng tưởng đang mân mê khẩu súng lục, thò ngón trỏ bóp mạnh, âm thanh câm….. Tôi nghe tiếng mèo rên rỉ, tiếng cú hú, tiếng mưa đêm lẫn trong tiếng nỉ non của mẹ. Tôi thấy viên đạn trổ ra từ đằng sau báng súng. Hàm răng đều đặn, chắc nịch, sáng ngời của ai tôi thừa hưởng. Người đàn ông tôi chưa lần trong đời gọi bố ơi.. bố à… Tôi ngửa mặt hứng sức nóng lan tỏa từ súng đạn đậm mùi máu lịch sử. Ngập ngụa xương người. Tôi nằm nghiêng, cong người. Hơi mát nền nhà tắm thấm qua mông và vai. Tiếng bom nổ bùm bùm bùm… Những mảnh xác người cùng vỏ đạn lửng lơ trong không gian, nơi chốn không trụ, tên gọi thường hằng. Cái vòi nước đang phun tưới bãi cỏ sau vườn, trước khi ra khỏi nhà mẹ dặn tắt mà con bé quên. Con bé ngửi mùi nước đái và cứt. Con bé thấy chút bột phấn trắng xanh Comet sót lại chiều qua chùi bồn cầu chưa lau sạch. Tôi thấy vài cọng lông xoắn đen, không biết của mẹ của tôi của bố của bác hay của gã đàn ông dính bệt dưới sàn nhà. Tôi lè lưỡi liếm, nhám không mùi vị. Con đom đóm di chuyển qua lại trong mắt tôi. Hồn ma của ai? Bố ơi… bố à… Tôi thấy không có gì là vĩnh cửửu. Đời tôi là giấc mơ buồn bã. Khuôn mặt mẹ là tấm gương ảo ảnh. Nước mắt không có mùi.</p>
<p><strong>chín tháng sau trong nhà hàng the fish market<br />
&amp; người đàn bà vắng mặt</strong></p>
<p><strong> </strong>Điện thoại reng, là tiếng động. Nhịp tim Ngân đập cũng là tiếng động. Lúc này bất cứ tiếng động nào cũng làm Hòa âu lo. Bằng cách nào, anh san sớt màu da tê tái cùng những đầu ngón tay run rẩy của Ngân?</p>
<p>Lắm lúc Ngân nghĩ tất cả những kềm chế, nỗ lực làm khác mẹ chẳng phải là bản tính. Mẹ như tấm bia để Ngân phóng mũi tên nhọn vào. Bản năng bộc lộ. Bao nhiêu năm người đàn bà Ngân lẩn tránh đấy chính nàng. Sáng nay Ngân soi gương, người đàn bà trong gương là mẹ, hiện rõ, đăm đắm nhìn Ngân. Ngân rú lên, ôm mặt, lảo đảo bước ra khỏi phòng tắm.</p>
<p>Mẹ bị Alzheimer’s disease gần hai năm nay, nên phải sống trong nursing home, cùng tiểu bang Ngân, nhưng cách xa ba tiếng lái xe. Chuyện gì đang xảy ra cho mẹ? Sắp chết? Ngắc ngoải sống? Hay chỉ thói quen vòi vĩnh? Những cú phone tới tấp từ đêm qua và sáng nay.</p>
<p>“Em làm tất cả, bằng mọi giá, để đừng như mẹ. Chúng ta khác nhau theo nhiều cách.</p>
<p>Thế nhưng cuối cùng, em không khác gì mẹ cả anh ạ. Một đời để sống, mẹ đã sống được theo ý. Còn em, dùng mẹ để sống, dù là không sống đời như bà. Mẹ giải phóng mẹ, còn em tự trói buộc em. Hóa ra em rồ dại, khổ đau vô ích. Mục đích chính đời mẹ là sống. Mẹ không loay hoay tìm kiếm, định nghĩa đời sống là gì? Hạnh phúc là gì? Khổ đau là gì? Với mẹ, hạnh phúc phải chăng là dám sống? Còn em, mãi loay hoay lựa chọn thái độ sống hoặc dựa vào ngẫu nhiên, đặc thù do cuộc sống mang lại? Em hoang phí mấy chục năm nay chỉ sống vì mẹ chứ chẳng phải vì em. Mẹ, kẻ em vừa căm thù vừa yêu thương, vừa xóa bỏ vừa hiện hữu, vừa ghê sợ vừa thích thú, ghê tởm vừa thèm khát. Em yêu em. Khổ sở vì em quá yêu em. Mẹ đốt đời mẹ cho đám đàn ông. Em đốt đời em, vì mẹ.</p>
<p>Giờ thì, những cú điện thoại lay động toàn thân Ngân. Mẹ sắp chết hay em đã chết? Mẹ lại muốn gì ở em, hả anh?”</p>
<p>“Trong giấc mơ ngắn ngủi đêm qua, mẹ đến bên giường hôn lên trán em, giọng trìu mến: ‘con gái yêu của mẹ đừng lo, mẹ luôn ở cạnh bên con.’ May mà con người còn có giấc mơ, để sống sót.”</p>
<p>Đôi mắt người đàn bà trong gương sáng nay nhìn nàng đăm đắm sẽ vĩnh viễn biến mất? Người đàn bà với đôi mắt lung linh nến, hơi thở bạt ngàn gió đến trong từng giấc mơ của nàng không còn tồn tại ở trần gian này? Ngân như con cua lột, đánh mất cái vỏ, loay hoay chạy, không tìm được hang để ẩn núp.</p>
<p>Điện thoại reng, Ngân nhìn số hiện trên cell phone. “Mẹ lại gọi, anh ạ.”</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Cây bút nhựa và cái âm đạo trầm cảm</strong></p>
<p>[trích đoạn từ tiểu thuyết <em>“thất lạc”</em>]</p>
<p>Anh là vật thể huỷ bỏ, lật ngược, xáo trộn, ê răng, xót mắt cho kẻ đối diện. Face-to-face là không khoan nhượng, và những nối kết nào cũng bị đứt lìa, không dính mắc. Là những mảnh vụn li ti. Nền móng vững chắc rồi sẽ bị lung lay. Là muôn thứ hỗn hợp, dị dạng. Mọi thứ bậc, trật tự đảo lộn. Thế giới quen thuộc bỗng xa lạ. Anh là phi lý, là mất mát. Anh giờ như hạt bụi thời gian, nhưng vẫn còn thừa khả năng làm ngực Ngân nhói buốt.</p>
<p>“Làm tình với em đi. Ngay lúc này và bất cứ ở đâu, kiểu gì anh muốn.” Ngân 15 tuổi, là hổ nhục của gia đình, dòng họ. Môi trên lẫn môi dưới Ngân vừa hé. Ben 16 tuổi, anh họ của Ngân. Tay chân lều khều, mặt ngố, điệu bộ lúng túng, giọng vỡ, nhưng ăn thì nhanh.</p>
<p>Yếu tố ruột thịt có bôi xoá được không? Chết cả hai thành ma Mỹ gốc Việt? Giờ đây nằm trên bụng vợ, Ben còn nhớ đến con em họ? “My little cousin Ngân.” Cả hai quấn lấy nhau suốt mùa hè năm đó. Ben hiếm hoi cười, ưa bứt tóc với hai con mắt tư lự. Cửa mình Ngân luôn buốt rát sau khi đụ Ben, nhưng mặt Ngân lại tươi hơn khi có Ben sát cạnh. Hai đứa học khác trường. Nhà hai đứa cách nhau 30 phút lái xe. Nơi thường xuyên gặp gỡ là nhà “bà nội”, Ben gọi. Và “bà ngoại”, Ngân gọi.</p>
<p>Lần đầu hơi bị thốn và rát một chút nhưng sau vài lần là hết. Ngân đã tưởng thế. Lần nào xong cũng thốn và rát. Đôi lúc ê ẩm đau. Nhiều đêm đi tiểu liên miên. Cu Ben không to không nhỏ, nhưng dài như người Ben. Cây bút. “Không được ngậm cắn cây bút.” Bà ngoại luôn dặn dò. Ngân thích hình dạng cây bút cùng mục đích của nó, dù ngày ấy Ngân còn quá bé để ý thức cây bút đồng nghĩa khác giống. Pen = penis. Cây bút độc quyền sáng tạo lịch sử văn minh nhân loại. Đàn bà không có bút đồng nghĩa thiếu hụt, khiếm khuyết, bị thiến, vắng mặt, bôi xoá, vân vân và vân vân. Nhưng có bút mà không có chất lỏng như mực, như sữa, như máu, nước ối, kinh nguyệt, thuỷ dâm&#8230; thì bút trở thành thứ bút nhựa, bị thiến. Cặc gãy. Gãy cặc. Ngân nghĩ rồi bật cười. Cu Ben thon gọn trong tay Ngân, miệng Ngân, cửa mình Ngân ở tuổi 15. Vừa khít lỗ con gái mới lớn. Trơn tru, dễ dàng, tràn đầy niềm tin. Là thèm muốn tự nhiên, thoả mãn bản năng. Nhưng ẩn sâu, trong tiềm thức Ngân, là mối trả thù, là mầm mống huỷ hoại, là phản kháng, là chứng tỏ sự có mặt và phải được công nhận.</p>
<p>Ben biểu tượng cho sự êm ái lẫn cuồng nhiệt. Dễ chịu lẫn khát khao. Ngân náo nức chờ đợi, trò chơi ú tìm, trò chơi 5-10-15. Lùm cây sau nhà, trong phòng tắm, dưới basement, trên ghế sau xe bố Ben, sàn nhà bếp nồng mùi thức ăn hội nhập. Nóc nhà ngoại/nội là một. “Bà” Ngân và Ben gọi, là người đàn bà khắc nghiệt lẫn bao dung. Mệt mỏi lẫn tháo vát. Hai thái cực tạo nên người đàn bà đầy tính cách kỳ lạ. Hoàn cảnh xô đẩy tạo tác bà như muôn tỉ người đàn bà có hĩm trên trần gian này. Nhưng không hĩm nào giống hĩm nào. Không đàn bà nào giống đàn bà nào. Tiếng thở dài, giọt nước mắt, nỗi đớn đau không hư cấu, tưởng tượng, mà rất thật, như cái chết trận của thằng con trai mới vỡ giọng của bà. Bà thường ngồi ở ghế da nâu khô sần, đặt ở góc nhà bếp, nơi bà nhìn thẳng được mọi ngõ ngách, cửa chính, cửa garage, cửa ra sau vườn, cửa vào ba phòng ngủ. Ai vô/ra đi tới đi lui, hay làm gì khó lọt khỏi hai tròng mắt bà. Thế mà, hai đứa cháu quần nhau trong phòng ngủ của bà, bà không hề hay biết. Giây thần kinh của bà bị đứt chăng? Hai đứa cháu mới lớn ra vườn mang theo hơi thở gấp rút, nhanh hơn bước chân. Một đỗi sau, hai đứa trở vào nhà, lưng &amp; tóc bám cỏ khô, dù đã vội gỡ cho nhau, cố ghìm hơi thở dốc, máu đỏ dồn ở mặt chưa kịp loãng, nhưng sao mắt &amp; tai bà mù tịt?</p>
<p>“Em vào trước.” Ben nói. “Không, anh vào trước.” Ngân nói. Hai đứa đùn đẩy. Cuối cùng hai đứa trở vào nhà bằng hai ngả. Dáng Ben lều khều, bước đi chậm rãi nhưng có máu liều và mau thoả mãn của con công tơ. Cánh tay Ben chưa có bắp thịt và vú Ngân cũng vừa nứt mầm để Ben một tay xoa bóp, một tay bịt mồm Ngân ngăn chặn tiếng rên. Ben nói rõ từng chữ trong tai Ngân: “Anh sợ tiếng động.”</p>
<p><em>Bầu trời từ từ co rúm lại.</em></p>
<p><em>Mặt đất từ từ giãn nở ra.</em></p>
<p>Một buổi sáng Ben nói có lẽ anh sắp chết, và Ngân là đứa em họ anh yêu thương, gần gũi, chia sẻ được bao điều với anh nhất. Luồng gió mạnh bao giờ cũng làm Ngân sợ hãi nhưng thích thú, bởi nó có thể cuốn hút hay thổi phăng được Ngân.</p>
<p><em> </em></p>
<p><strong>Khi âm đạo mở miệng</strong></p>
<p>Xế trưa, trời nắng loá, người đàn bà đội nón, tay che mặt lững thững bước vào nhà cô nhi, kề miệng vào tai Bí Vàng nói nhỏ rằng bà bị ung thư tử cung, ước nguyện giúp bà được nhìn thấy âm hộ của bà một lần trước khi lìa đời. Rồi nhìn sang m,<strong><em> </em></strong>bà chép miệng, thở hắt, “Con đường từ cổng dẫn vào trong này sao thăm thẳm tựa như sống sót.” Bí Xanh nghe, chợt liên tưởng đến những siêu xa lộ ở Mỹ luôn mắc dính vào nhau.</p>
<p>Bà trên 50, chưa già nhưng không còn trẻ, dáng vẻ vừa đáng thương vừa đáng tội, vừa khờ vừa khôn, vừa hồn nhiên vừa lão luyện. Bí Vàng nắm tay bà dẫn vào phòng m lau sạch cửa mình bà bằng nước ấm và xà phòng thơm. Công việc trong quá khứ bà đã từng làm với biết bao khách hàng đàn ông. Bí Xanh đứng cầm tấm gương cho bà ngắm ngó. Bí Vàng tả tỉ mỉ từng chi tiết như đọc bài thơ dài. Âm đạo là cái hầm, nuốt trọn. Là cái hang, hun hút dài. Là cái động, vọng vang… Bà nằm ngó âm hộ mình qua tấm gương, không tỏ vẻ e thẹn, yêu thích, ngạc nhiên hay sợ hãi. Có lúc bà thở dốc, trán rịn mồ hôi. Bà đút ngón tay sần khô tìm kiếm (vật) gì ở bên trong. N giúp bà banh rộng hai chân. Cái h(á)ang nằm ngay giữa trung tâm thân thể: u tối, heo hút, lạnh lẽo. Lâu lắm rồi, không dấu vết người. Âm đạo, nơi giúp bà kết tụ, cho ra đời đứa con: Tình Mẫu Tử. Cho bà biết thế nào là yêu thương ngây ngất khi giao hợp với chồng: Nghĩa Phu Thê. Phải băng bó mỗi tháng khi có kinh suốt mấy chục năm: Yêu Bản Thân. Thời con gái, khi chưa ai sờ mó, ôi! nó thơm tho đẹp đẽ làm sao! Rồi cũng nhờ nó, một thời giúp nuôi sống bà. Biết bao đàn ông lăn xả vào tìm kiếm sự ấp ủ, hoan lạc, thỏa thuê. Nó có khả năng biết(n) người đàn ông chạm vào là/thành đạo tặc hay đạo hạnh. Rồi giờ đây, cũng vì nó, bà phải lìa xa cõi đời này. Cánh cửa tử/sinh eo xèo như mảnh lụa nhàu nát một cách cố ý, mà một thời nó căng phồng như miếng thạch tươi. Ôi! đóa hoa héo rũ bởi thời gian. Làm thế nào để vẻ đẹp tàn tạ không kém vẻ đẹp thắm tươi? Từng thớ thịt xếp lớp, mềm lả, yêu kiều. Hình tượng con sò, hến, hàu tươi mát, thơm ngon. Bà đưa ngón tay lên mũi, ngửi mùi của mình. Bà đút ngón tay vào miệng, nếm vị của mình. Bốn người đang hiện diện hoàn toàn biến mất trong tầm mắt bà. Bà đã xa lạ với nó suốt dọc kiếp nhân sinh, dù nó ngự trị trên thân thể bà từ ngày lọt lòng mẹ. Có lúc nó bé như hạt đậu xanh, có lúc nó căng phồng như quả cà chua chín, giờ thì nó tóp teo như ruột cau héo. Nhúm lông úng úa níu kéo lòng thủy chung một thuở là khu rừng rậm rạp, rồi đây (sẽ) là nấm mồ hoang phế. Bao năm qua, bà chỉ chạm nó khi cần rửa sạch. Còn bé, bà đã được dạy rằng, nó là thứ hôi tanh, dơ bẩn, xấu xí phải luôn che giấu. Không được nhìn và sờ. Lớn lên, bà để biết bao bàn tay đàn ông hoang lạ, điếm đàng bỏ tiền ra rờ rẫm, thọc mó, thăm dò nông hay sâu, to hay nhỏ, xấu hay đẹp, mùi vị, màu sắc ra sao, chuyên chở âm thanh gió hay ểnh ương trong đêm tối tăm ngập lụt? Giờ đây, khi sắp sửa chấm dứt kiếp nhân sinh, bà mới (đang) tìm lại được, nhưng nó đã héo khô, ủ rũ, u sầu. Ðường nó đi, bình thường như cái hẽm chật chội, nhưng khi cần, nó nở rộng như xa lộ để đưa cả chiến hạm ra trận mạc. The vagina is a metaphor for self-love.</p>
<p>Một lúc sau, như thân cây được tưới , xác chết được hồi sinh, sức sống trong bà bỗng trổi dậy mãnh liệt. Ồ, chỗ đó, dưới đó, cái đó, ở đó, nó đó, là đó, nơi đó, đó đó, là nó, ôi nó… cực đau cực sướng… Bà nói một tràng, rồi bật cười to. Cái Ðó ngầm chỉ cửa mình thân thương của bà. Là đền thờ đền thánh. Là miếu là am. Là sự đời. Là con sò là cái ao là cái giếng. Là đóa hoa dại. Là lá sen lá đa lá diêu bông. Là phần dưới, chỗ kín. Là âm hộ/đạo, là tử cung. Là cái lồn. Là đồ là đách là hột le mồng đốc lưỡi chim cần câu ghe ghẹ. Là hạt thịt, hột thị. Là bươm bướm hĩm húm quạt nan. Nó chẳng cần tô son đánh phấn, diện áo mặc quần, đeo trang sức, cài hoa tươi. Lông phủ kín như cỏ mọc quanh nhà, rong rêu bám quanh hòn non bộ. Sắc đỏ, tím, lam, hồng, xanh, nâu nhạt đậm biến đổi không ngừng. Lớp xếp lớp, giáp ranh giới trời đêm, giáp đường ranh tội lỗi, giáp ranh giới niết bàn. Mép môi lúc khít lúc hở lúc liền nhau, thể hiện sự liên tục, sướng ngất ngây (được) nhiều lần. Nó phủ nhận chia cắt. Không cần phô trương, không cần chứng tỏ, không cần khẳng định. Không muốn bị khống chế. Không đi chiếm đoạt hay dọa nạt bất kì ai. Là bên trong, giữ kín, ẩn nấp, bí mật. Giờ thì bà muốn lộn trong ra ngoài, ít nhất một lần, trước khi từ biệt trần gian. Lời diễn lời bình lời tả lời kể lể từ miệng Bí Vàng lọt qua tai người đàn bà lúc này như khóc cười/ước vọng/cầu kinh. Giọt nước mắt lăn chảy khó lòng định đoạt nỗi khổ đau hay niềm hạnh phúc. It is magical, filled with mystery &amp; wonder.</p>
<p>Nước mắt trộn mồ hôi, mặn chát. Nước cửa mình và máu cũng mặn chát. Vị mặn chát lao tâm, lao lực của kiếp nhân sinh. Mạch nước không hề cạn. Kiềng ba chân đặt ba góc, triangular, trái tim, chiếc nón, cái quạt. Bụng Bí Xanh quặn thắt, chỗ kín đóng/mở mở/đóng diễn ra trước mắt, môi Bí Vàng đang mím/hở hở/mím. Thân thể Bí Vàng bỗng toát ra mùi rạ cháy tóc cháy lông cháy. Âm hộ <em>m</em> là mặt trời chói lọi tạt giạt bóng đêm. Mắt Bí Xanh phát tia rực sáng. N thấy cả khối người anh đang ngập ngút trong đó. Mắt người đàn bà từ từ nhắm, nói một tràng trong cơn mê sảng, “Bí Xanh có cái bớt đỏ ở mông trái, hình chiếc thuyền úp. Bí Vàng có cái bớt đỏ ở mông phải, hình nửa vầng trăng. Ngày trước trong sân nhà cô nhi này từng có cái ao nước trong vắt. Người đàn bà chột mắt với trái tim vĩ đại. Xác thân con cún ghẻ đã rã làm phân bón cho giàn bí mãi mãi xanh tươi mà nay mai… cũng sẽ bị thiêu rụi bởi sức nóng mặt trời… mấy đứa phải bảo trọng…sống tận cùng trong từng khoảnh khắc… yêu mình yêu người… ráng giữ gìn thân tâm… tất cả đều vô thường vô thường vô…”</p>
<p>Trời bên ngoài nắng vẫn loá.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Thúy Kiều: Nỗi ám ảnh bất hạnh</strong></p>
<p>Nhắc đến Kiều, tôi thường nghĩ ngợi, suy tư về thân phận người đàn bà Việt Nam. Có lẽ vì tôi cũng là đàn bà Việt Nam chăng?</p>
<p>“Ðau đớn thay, phận đàn bà!<br />
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung<br />
Phũ phàng chi bấy hóa công<br />
Ngày xuân mòn mỏi, má hồng phôi pha.”<br />
Trong khi đọc lại những câu thơ này, tôi thắc mắc, không biết Nguyễn Du có nghĩ tới mẹ ông (cha ông có tám vợ) hoặc ba người vợ của ông không? Họ là những người đàn bà chia sẻ cuộc đời cùng ông, nhưng có số phận chồng chung. Hay ông chỉ nghĩ đến ả đào đàn hay trong quán rượu, hai mươi năm sau gặp lại, thân tàn ma dại, làm ông đứt ruột xót thương. Cô Cầm ở Thăng Long. Cô Nguyệt ở Triều Khẩu. Cô gái hầu ở nhà người em. Cô lái đò tình cờ gặp. Nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Hay Vương Thúy Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân ở xứ Trung Hoa?</p>
<p>Bởi dầu gì ông cũng biết rất rõ:</p>
<p>“Chém cha cái kiếp lấy chồng chung<br />
Gỡ ra rồi lại buộc vào như chơi.”</p>
<p>Nghĩ ngợi, thắc mắc, ưu tư một chút thế thôi, chứ vào thời đó, đàn ông “năm thê bảy thiếp” là chuyện thường tình. Ông cố nội tôi có đến bốn bà vợ.<br />
***</p>
<p>Dưới ảnh hưởng của văn chương Trung Hoa, nước ta sản xuất ra được nàng Kiều. Rồi Kiều truyền qua nhiều đời, qua bao thế hệ, bằng nhiều cách thức khác nhau. Từ lẩy Kiều, ngâm Kiều, dạy Kiều, giảng Kiều, phim Kiều, dịch Kiều, và cả bói Kiều.</p>
<p>Nàng Kiều ngày trước của Nguyễn Du, tài sắc vẹn toàn. Ðã đẹp lại còn đàn hay, bởi thế mà bạc mệnh. Nàng Kiều ngày nay kém may mắn hơn, không tài hoa, không hương sắc mà cũng bạc mệnh. Chinh phụ ngày trước cũng thế, chờ chồng trong tiếng khóc than, oán trách, nhớ thương. Cố giữ lòng trung trinh tiết nghĩa thờ chồng, mà hóa thành đá. Chinh phụ ngày nay, sáng sớm mắt chưa kịp mở đã sắn cao tay áo, nhảy ra lăn xả một hai với đời để nuôi con, thậm chí nuôi luôn cả chồng.</p>
<p>Nhắc tới Việt Nam, là không quên nhắc tới Kiều. Người ta cho Nguyễn Du là đại thi hào dân tộc, và truyện Kiều là kiệt tác bất hủ bằng chữ quốc âm. Một công trình vĩ đại, đến nay vẫn chưa có tác phẩm nào so sánh huống chi là thay thế. Là người Việt Nam, ai cũng phải biết đến Kiều, như một công ước, một điều bắt buộc. Truyện Kiều được xem như là thông điệp gửi gắm cho con cháu đời sau phải tìm đọc, học, và biết để mà hãnh diện. Truyện Kiều là cuốn kinh, thánh thư, phúc âm. Là quốc hoa, quốc túy, quốc hồn của dân tộc Việt. Nhà báo Phạm Quỳnh ngày trước đã từng tuyên bố, chỉ cần một Truyện Kiều, ta đã hơn Tàu lẫn Tây! Kiều còn được xem là bản cáo trạng cuộc đời, như cuốn sách giáo huấn dạy cách làm người, như bản ngợi ca tình yêu, gầy dựng niềm tin, bắc cầu thông cảm. Thậm chí, được dùng như một phương tiện dự báo, linh nghiệm để đoán giải về tương lai số mệnh con người.</p>
<p>“Từ án sách đến bờ tre, xưởng máy<br />
Ra chiến trường vẫn còn thấy Kiều ngâm.”<br />
Vì cha nợ nần, Kiều phải tự bán mình để chuộc. Từ đó, cuộc đời ba chìm bẩy nổi, qua tay đủ hạng đàn ông. Bị thiên hạ lừa không biết bao nhiêu bận vẫn chưa học khôn. Cuối cùng, còn khuyên “bậy” chồng, làm chồng phải chết oan như bị trời trồng. Cuộc đời Kiều, từ đau khổ này tiếp nối đau khổ khác chỉ vì đạo làm con, giữ tròn chữ hiếu, bởi thế, hình ảnh Kiều luôn được ca ngợi, truyền tụng, trở thành một thứ role model, là tấm gương cho nhiều thế hệ phụ nữ Việt Nam soi.</p>
<p>Ðể rồi, thời bà ngoại, bà nội nước ta có <em>L’Indochine</em>, mối tình chàng sĩ quan Pháp với cô gái Việt mồ côi nhưng xinh xắn, đẹp đẻ. Mối tình lãng mạn, lồng trong khung cảnh vịnh Hạ Long miền Bắc, trong giai đoạn lịch sử của những năm 30, khi đất nước đang còn bị thực dân Pháp đô hộ.</p>
<p>Qua thời Mỹ, tức thời của mẹ, dì, thím, bác, cô nước ta lại có <em>Heaven and Earth</em>. Nàng Kiều lọ lem Lê Thị Lý xuất thân từ làng Kỳ Là, miền Trung đất cày lên sỏi đá. Nàng như quả banh, ban đêm nằm trong vòng tay ôm của những chàng lính quốc gia. Ðêm về, lại nằm dưới xác của những chú bộ đội. Cuối cùng, được anh lính Mỹ mặt còn búng ra sửa, đến từ đế quốc tư bản đóng vai Từ Hải, ra tay nghĩa hiệp giải thoát, cứu độ.</p>
<p>Mùa hè 1995, tôi về lại Việt Nam. Ði dọc từ Bắc vô Nam, vòng ra Trung. Loáng thoáng trong những tiệm ăn trải khăn bàn trắng, trong khách sạn ba sao, trên vỉa hè trời chiều thoảng gió mát rượi, hay trong hộp đêm xông tỏa mùi mồ hôi, rượu mạnh, khói thuốc. Những nàng Kiều mặt trẻ măng, non choẹt, cửa mình bắt đầu có kinh, lông đang mọc, vú vừa nhú nhưng đã biết rõ, hiểu rõ, chữ trinh đáng giá ngàn vàng. Các nàng tự đi tìm khách bán trinh. Biết vá đi vá lai màng mỏng tựa sương mù vài ba bận, không cần qua tay Tú Bà như Kiều của cụ Tố Như ngày trước. Các nàng làm Kiều cho những tay thương gia đến từ Ðài Loan, Singapore, Ðại Hàn&#8230; chuyên trị mua trinh để lấy hên làm ăn buôn bán.</p>
<p>Cô bé làm nghề móng tay dạo trong khu Bàn Cờ tôi gặp trong những ngày đầu về lại Việt Nam. Những móng tay, móng chân của tôi được cô cắt dũa sơn phết cẩn thận, chỉ là cái cớ để cô tâm sự, và tôi thỏa tính tò mò, thích nghe chuyện. Cô kể cách đây hai năm, ở tuổi mười bẩy cô đã bị chính mẹ cô móc nối bán trinh cho một thương gia Ðài Loan với giá ba trăm dollars. Nhờ số “vốn” đó, mẹ cô đã tậu được chiếc xe bán bánh mì kê ngoài ngõ. Cô bé kể với giọng lúc nhanh lúc chậm, lúc lên lúc xuống, lúc rõ lúc không, tôi có cảm tưởng như câu chuyện đã xẩy ra cho cô ở tiền kiếp. Chuyện đổi chác xẩy ra trong khách sạn đầu ngõ, ở tầng hai. Tiếng “ái” và hàm răng cắn mạnh vào bả vai “hắn” sau gần nửa tiếng cố đâm thủng vào bên trong cô. “Em sợ quá nên hai đùi cứ dính chặt mà ông khách thì biểu banh rộng ra.” Tôi ngồi lắng nghe, nhìn đôi mắt nhỏ màu nâu nhạt, gò má cao, trán đầy mụn lấm tấm, hàm răng màu đá vàng, vai mỏng rút lên như vai đứa bé mười hai tuổi. Sau biến cố đó, cô oán thù mẹ nên bỏ nhà đi xuống Rạch Giá ở chung bà dì họ một thời gian. Cô sợ hãi tất cả đàn ông, con trai đến gần. Rồi cô vén áo lên chỉ cho tôi xem vết sẹo chạy dài từ nách xuống hông, phía bên trái, “Một hôm em phụ bà dì đi buôn hàng, đường xa, xe đò đang chạy bị hỏng máy, thay vì phải đợi cho máy nguội rồi mới mở ống nước, anh lơ xe mới vào nghề không biết, mở ra coi liền, nước nóng sôi phụt tràn vào người em, lúc đó em đang còn ngồi trong xe. Em phải nằm nhà thương một tuần. Bôi bao nhiêu thuốc mới đỡ được như vầy&#8230;” Tôi nhìn, vết sẹo đặc quánh như dòng đất sét xệt, bám chặt trên mảng da trắng xanh. Tôi đưa tay rờ, hỏi nhỏ, “Chắc em phải giỏi chịu đau lắm?” “Dạ, hồi mới bị đau ghê lắm!” Rồi cô kéo áo xuống.</p>
<p>Mấy tháng sau vụ phỏng, cô về lại với mẹ. Hiện nay cô làm nghề móng tay dạo trong xóm. Họ trả cô với giá rẻ nhất thành phố. Cô còn kể thêm ba cô có tật nghiện rượu, mỗi khi lên cơn say là cả bầy con khôn hồn phải chạy đi nơi khác, chứ đứng đó, sẵn trong tay có gì là ông liệng vào người cái đó. Mẹ cô có máu mê số đề, mấy lần cháy túi phải cầm quầy xe bánh mì, rồi được chị họ bên Canada gửi tiền về giúp chuộc lại. Chuyện cô bán trinh, cả xóm ai cũng biết, vì mỗi lần ba cô về, lên cơn say, má cô đuổi ra khỏi nhà, là ba cô đứng đầu ngõ chửi đổng lên, kể hết ngọn ngành cho cả xóm nghe. “Chắc em không lấy chồng&#8230; mà chắc chẳng ai cưới em&#8230; thôi em ở vầy với má phụ coi mấy đứa em.” Cô nói, giọng nhỏ dần ở những chữ cuối. Khuôn mặt cố đậy che cảm xúc. Sự chịu đựng lâu ngay đã trở thành thói quen.</p>
<p>Việt Nam ngày nay chuyện gì cũng có thể xảy ra. Nhanh và không ngờ. Mảnh đất hope for the best, expect the worst. Tôi móc túi đưa cô xấp tiền không đếm, cô chụp đút nhanh vào áo lót, nhanh như chớp, nhanh như người tráo đổi mấy con bài. Suốt đêm đó, tôi nằm chập chờn với mọi thứ âm thanh diễn ra trong xóm lao động. Tiếng tụng kinh gõ mõ, tiếng rao hàng, tiếng dép, guốc kéo lê trên ngõ hẹp, tiếng chó tru, tiếng chửi thề, tiếng mèo rên rỉ trên mái nhà, tiếng trẻ con khóc, tiếng máy xe nổ như muốn xé toạc trời&#8230; Rồi trời đổ mưa. Mưa đổ hột như đá ném, ầm ầm, rầm rầm. Người tôi vã mồ hôi như tắm, nhầy nhụa dưới gáy, dưới nách, ở háng, ở mỗi chân tóc. Mơ hay thực? Sao tôi lại nằm trong căn phòng xa lạ này? trên sàn xi măng. Người tôi rêm mỏi và đau nhức. Xi măng là đá tảng. Tôi nằm trên đá mà tưởng tảng đá nằm chồng lên tôi. Cô bé hàng xóm làm móng tay dạo chui tọt vào người tôi nằm trong những giấc mơ ngắn, hiện ra liên hồi, đứt quãng, suốt cả đêm. Mỗi lần tảng đá đè, lại hiện lên khuôn mặt người đàn ông trong đời chưa từng gặp. Tảng đá trắng hếu, hùng hục, cửa mình không đau mà tim tôi nhói, như lưỡi dao cùn cố thọc sâu, khuấy mạnh. Tôi muốn hét mà không được. Trời tối, gió thổi mạnh, tiếng mưa đập, tiếng sét lẫn sấm chớp. Trong tận cùng tuyệt vọng, đầu tôi bỗng hiện ra một buổi sáng đầu đông ở thành phố Garmisk, miền Nam nước Ðức. Chín giờ sáng thức dậy, mở cửa, thấy tuyết ngập xóa trời đất. Tuyết đổ suốt đêm mà tôi nào hay? Trong khi nơi chốn này, quê hương tôi, cũng là nước từ trời đổ xuống nhưng sao xối xả như thác? Mảnh đất trời cố tình hành!</p>
<p>Nàng Kiều thời hậu chiến <em>Cyclo </em>của đạo diễn Trần Anh Hùng. Mất chiếc cyclo đồng nghĩa mất luôn sự ngây thơ và nhậy cảm của người con gái mới lớn. Thời kinh tế thị trường mở cửa. Thời tranh tối tranh sáng, người lạc quan cho là bình minh, người bi quan cho là chiều tà. Bao nhiêu năm khốn khổ nay mở bừng mắt nhìn ra thế giới bên ngoài, mở mắt học văn minh xứ người, bằng cách mở bar ruợu, beer ôm, cà phê karaoke không đèn, hotel mọc lên như nấm sau cơn mưa. Thời mà làm bất cứ gì cũng phải xin phép nhà nước, ngoại trừ thi hoa hậu. Lại còn được ưu tiên, khuyến khích là bảo tồn văn hóa. Thời thân xác người đàn bà Việt Nam lại được đem ra khai thác một cách triệt để. Hãy lắng nghe những nàng Kiều thuộc lứa con, cháu chúng ta tâm sự với đầy dẫy lý do vì sao phải nối gót nàng Kiều của cụ Nguyễn Du: “Bà nội, bà ngoại cháu già yếu. Ông nội cháu đã hi sinh vì chống Mỹ cứu nước. Ông ngoại cháu chết trong trại cải tạo. Bố cháu nghiện rượu. Mẹ cháu bệnh nặng. Anh chị cháu vượt biên mất tích. Ðàn em cháu còn nhỏ dại&#8230;” Nghe sao không rách lòng nát dạ.</p>
<p>Càng hiện đại bao nhiêu, Kiều càng rẻ rúng bấy nhiêu.</p>
<p>Càng “hiểu” Kiều bao nhiêu, càng chua chát bấy nhiêu.</p>
<p>Tại sao mỗi lần nhắc, nói, nghĩ, đề cập tới đàn bà con gái Việt Nam là đưa ngay hình ảnh Kiều ra làm tiêu chuẩn, như một định đề bất di bất dịch. Phải chăng oan hồn Kiều vẫn còn vây khốn thân phận phụ nữ Việt Nam?</p>
<p>Tôi quen chị bạn người Mỹ, chuyên nghiên cứu đề tài văn hóa Việt Nam. Chị hiểu ngôn ngữ Việt khá rành nên đi tới đâu cũng thường “bị” người Việt mình chận hỏi. Lúc dõng dạc, lúc từ tốn, lúc ngại ngần, “Tiếng Việt chị rất giỏi, vậy chắc đã đọc Truyện Kiều rồi chứ?” Giai đoạn đầu, chị bạn yêu tiếng mẹ đẻ của tôi lịch sự gật đầu, “Dạ rồi, dạ rồi.” Nhưng càng về sau, mỗi lần bị hỏi như thế, chị đâm cáu, “Dạ rồi, thì sao? Yes, so what?”</p>
<p>Mà so what&#8230; thật.</p>
<p>Vở kịch <em>Miss Sài Gòn</em> trình diễn liên tục trong nhiều năm nay. Chuyện tình lãng mạnh giữa anh lính Mỹ và cô gái điếm Việt Nam đã tạo nhiều đề tài sóng gió. Người bạn gái tôi chơi khá thân từ thời còn đi học, nhập theo đám Mỹ gốc Á xuống đường phản đối kịch bản này ở San Francisco. Ðám đông biểu tình đeo trên người lý do khác nhau. Anh bạn Mỹ gốc Ðại Hàn đi chung với cô thì bực tức vì nhân vật chính đàn ông Á Ðông trong vở kịch là người da trắng chính hiệu. Thì ra anh ta đang tranh học phim ảnh, nên sốt sắng tranh đấu cho người Mỹ gốc Á Châu có được chỗ đứng trong địa hạt phim ảnh kịch nghệ Hoa Kỳ. Cô bạn của tôi thì tức giận vì nhân vật chính là Kim, một phụ nữ Việt Nam làm đĩ. Cô bạn bỏ ra một ngày trời đi biểu tình, về nhà bị những người trong nhà la mắng. Bố cô bảo chỉ là nghệ thuật. Anh cô trách sao ưa làm chuyện tào lao. Mẹ cô cảnh cáo, đừng bày trò múa rối. Bà nội ngâm nga ca dao ca tụng đức tính phụ nữ Việt Nam, tận lực lo gia đình chồng, nuôi chồng, dạy con.</p>
<p>Cô bạn tôi có quyền bực tức, hoặc như tôi cũng quá mỏi mệt cứ phải nhìn-xem-nghe-thấy người ngoại quốc tạo dựng những hình ảnh, vai trò như Kim, như Kiều, như Lệ Lý&#8230; Những nạn nhân đĩ điếm đáng thương tội nghiệp để họ giơ tay nâng đỡ cứu vớt. Tôi ngồi nghe cô bạn thân thao thao bất tận vào tối khuya trong tiệm ăn Denny’s không bao giờ cần chìa khóa ở dưới phố Mountain View. Hai đứa tôi, hai phụ nữ Việt Nam đang vật lộn với bao cảm xúc, nhận thức đầy ứ trong lòng. Chua xót, bẽ bàng, tức giận, tủi hổ, xúc phạm, uất ức, tội lỗi, tuyệt vọng&#8230; Tôi không chống vở kịch, nhưng tôi chống sự khai thác hình ảnh người đàn bà Việt Nam luôn bị đóng vai đĩ với mục đích quảng cáo kiếm tiền, thỏa mãn dục vọng lẫn quyền lực. Kinh nghiệm bản thân, cách đây mười năm, khi còn là sinh viên, ban ngày đi học, ban đêm đi làm thêm ở nhà hàng fast food Tàu. Nơi những món ăn nấu sẵn, khách hàng chỉ món nào tôi xúc món đó. Một ông khách thường xuyên của tiệm, thỉnh thoảng khi trả tiền, dúi vào tay tôi một đồng tiền tip, tôi nhận kèm theo nụ cười cám ơn. Một buổi tối làm ra, ông khách đứng sẵn chờ tôi ở trạm xe bus, nói muốn chở tôi về. Tôi lắc đầu khăng khăng từ chối. Một lần khác, lúc trả tiền đĩa thức ăn, ông mở banh ví, cố tình để lộ tờ giấy trăm dollar mới toanh, đề nghị sau giờ làm việc, nếu đi chơi với ông, tôi sẽ được một trong hai tờ giấy màu xanh. Tôi nhớ lúc đó, giọng nói, khuôn mặt ông cực kì bình thản. Hai tay cũng chẳng run khi tỏ hành động đưa tiền ra dụ tôi. Còn tôi như có dòng điện mạnh chạy dọc sống lưng. Tôi xin phép chủ về sớm, đi bộ về nhà. Ði như thế hơn một tiếng, băng qua những con đường mà nếu có chuyện gì xảy ra cho tôi lúc đó thì sẽ bị coi là “điếc không sợ súng.” Ðêm hôm đó, tôi loay hoay trăn trở mãi. Ở tuổi mười chín, “ăn chưa no, lo chưa tới.” Chưa ý thức lắm về thái độ mời gọi trắng trợn của gã cựu quân nhân Mỹ từng tham chiến tại Việt Nam. Chỉ biết tức giận, xấu hổ vì cá nhân mình bị xúc phạm. Nghĩ lỗi tại mình vì hay cười, thích trò chuyện, niềm nở quá đáng. Phải đợi vài năm sau, đọc, nghe, thấy và biết suy nghĩ, tôi mới thấm thía thân phận người đàn bà Việt Nam bị nhìn, đánh giá trong giai đoạn cuộc chiến dưới nhãn quan người đàn ông nước ngoài, những người có tiền đi đôi với sức mạnh, quyền lực.</p>
<p>Truyện Kiều, ngoài giá trị văn chương nghệ thuật vì ngôn ngữ đẹp, bóng bẩy, nhạc điệu thi vị, tình cảnh éo le, thì Kiều đã đóng góp gì khác cho Việt Nam? Văn Học cũng có giới hạn như bất cứ lãnh vực nào khác. Nguyễn Du sau năm mươi năm sống trên đời, chứng kiến bao cảnh vật đổi sao dời, ngán ngẩm tình thế mà phỏng tác truyện của Thanh Tâm Tài Nhân bên Tàu. Mục đích chỉ để mua vui cũng được một vài trống canh. Nguyễn Du có khiêm nhượng hay không, khi viết ra câu thơ này? Tôi nghĩ Truyện Kiều thực chất chẳng phải là cuốn kinh điển bàn về luân lý, chỉ dạy người đời sống thế nào cho phải đạo. Nguyễn Du là người thông hiểu Nho học, áp dụng tam cương ngũ thường, nhưng đồng thời ông cũng sùng bái đạo Phật. Quan niệm đạo Phật của Nguyễn Du ngày trước khác hẳn quan niệm đạo Phật của Richard Gere ngày nay. Không nhất thiết cứ phải là chữ tài liền với chữ tai một vần. Nhìn quanh chúng ta, biết bao kẻ bất tài mà vẫn lắm tai ương, hoạn nạn, khổ đau. Công bằng và tỉnh táo nhận xét, người có tài, dù tài hoa hay tài trí, chắc chắn bao giờ đời cũng đỡ khốn nạn hơn người bất tài. Richard Gere là tài tử thành công, giàu sang, có vợ đẹp, đồng thời ông cũng được biết đến như là một tín đồ Phật giáo ngoan đạo thuần thành.</p>
<p>Một người bạn khác của tôi, qua Mỹ lúc còn trẻ, học rất giỏi, được vào trường lớn có tiếng ở Mỹ. Thay vì học luật, kinh tế hay y khoa, anh chọn ngành văn học sử Việt Nam. Anh nghiên cứu <em>Chinh phụ ngâm</em>, ca dao, <em>Ai tư vãn</em>, <em>Lưu hương ký</em>&#8230; và dĩ nhiên có cả Truyện Kiều của Nguyễn Du. Anh đưa bản tiếng Anh, do Huỳnh Sanh Thông dịch, cho ông thầy xem. Ông thầy là người am hiểu văn chương Tàu, đọc xong, phán ngay một câu, “Như vầy thì đâu có gì là vĩ đại! Vay mượn văn chương Trung Hoa quá nhiều.”</p>
<p>Ðúng vậy, người Việt mình ai cũng biết Truyện Kiều vay mượn tiểu thuyết Tàu, chẳng phải nguyên thủy của Việt Nam. Nếu ta hãnh diện một, thì Tàu phải hãnh diện mười. Thử một ngày nào đó, nhà văn Trần Thị A dịch tiểu thuyết Dr. Zhivago của Boris Pasternak. Dich giả giữ nguyên cốt truyện, chỉ đổi lại đoạn kết cho có hậu, anh chàng Zhivago ôm ngực lảo đảo cố đuổi theo, miệng gọi tên Lara, Lara&#8230; Lara đang đi, nghe người gọi tên mình, nàng quay đầu lại dáo dác, kiếm. Rồi hai người ôm chầm lấy nhau mừng mừng tủi tủi. Như Kiều của Tàu nhảy xuống sông Tiền Ðường tự vẫn. Nhưng Kiều của Việt Nam mình lại cho tái hợp cùng Kim Trọng.</p>
<p>Truyện Kiều có giá trị tương đối của nó trong văn học sử của một quốc gia – trong trường hợp này là Việt Nam. Ngày nay chúng ta đọc Kiều là để hiểu sự biến chuyển của văn học Việt Nam. Dĩ nhiên, người đọc chỉ để thuần túy thưởng ngoạn cái đẹp của văn chương cũng có quyền cảm nhận giá trị thẩm mỹ của truyện Kiều theo quan điểm của riêng mình. Tuy nhiên, từ khía cạnh lịch sử có lẽ chúng ta cần nhận thức được rằng văn chương, văn hóa là giao lưu, ảnh hưởng, học hỏi lẫn nhau. Nếu ta chối bỏ tất cả những gì đã ảnh hưởng Tàu, như ngôn ngữ, phong tục, tập quán, triết lý, ẩm thực, thậm chí đến chiếc áo dài bấm nút bên phải, thì có lẽ chúng ta chẳng còn gì, e rằng sẽ như một giống dân nào đó vẫn còn tồn tại trên mặt đất này, nhưng còn mang khố, nhuộm răng, tay cầm cung, chạy chân trần, nhai thịt sống, ở không cần nhà.</p>
<p>Một nước mà chỉ có văn chương là một nước nghèo, nếu không nói là bất hạnh. Chúng ta cần phải có kinh tế, khoa học, kỹ thuật, triết lý, xã hội&#8230; Mọi ngành nghề kết hợp lại, may ra chúng ta mới có thể tìm cho mình một chỗ đứng trong cộng đồng thế giới. Tôi nghĩ chúng ta không có quyền tự cho mình đứng ngoài lề lối và tiêu chuẩn của văn minh nhân loại, chỉ bởi vì nước ta đã có Truyện Kiều.</p>
<p>Mễ Tây Cơ có Octavio Paz, Nhật có Kenzaburo Oe, Chí Lợi có Pablo Neruda, Mỹ có Toni Morrison, Tây Ban Nha có Camilo Jose Cela&#8230; Nếu các nước này dùng tác phẩm của các tác giả này để dạy dỗ dân họ sống thế nào cho phải đạo thì chúng ta nghĩ sao? Dù các tác phẩm ấy đã được thế giới công nhận là di sản quý giá, đóng góp vào nền văn chương nhân loại. Ngày nay trong các đại học Anh quốc, Shakespeare vẫn được giảng dạy cũng như ở các đại học Ðức quốc, các trước tác của Goethe vẫn được nghiên cứu. Dù vậy chẳng có người Anh hay người Ðức hiện đại nào phải lấy những nhân vật trong các tác phẩm của hai vị này ra để làm mẫu mực trong đời sống của họ cả. Nếu như người Việt Nam ngày nay vẫn còn tự kỉ ám thị mình với Truyện Kiều, và vẫn nhìn Kiều – ngoài giá trị văn chương, văn hóa sử của nó – như là chứa đựng những trí tuệ, triết học Phật Giáo cao siêu nhất, tấm gương liệt nữ sáng chói nhất, thì có lẽ sự kiện này chỉ nói lên được một điều: đó là sinh hoạt văn hóa của chúng ta bước đi “hơi bị” quá chậm.</p>
<p>Ðến đây, tôi lại thắc mắc, tại sao tất cả những vị cứu tinh, cứu khổ, cứu nạn, cứu thoát – tức những anh chàng đóng vai hoàng tử đánh thức cô bé lem luốc Việt Nam – đều là đàn ông nước ngoài. Ðâu hết rồi đàn ông, con trai Việt Nam? Giữ gìn giang san, mở mang bờ cõi, chống giặc xâm lăng, xây mộng thanh bình&#8230; cớ sao lại để ra nông nỗi này?</p>
<p>Và rồi, biết đến bao giờ, xong trận mây mưa, khách làng chơi bỗng tò mò muốn biết, “Vì sao em&#8230;?” Kiều Việt Nam nhìn thẳng vào mặt khách trả lời, “Làm đĩ là nghề tôi chọn. Trước là nuôi sống bản thân tôi, sau là giúp cho những người đàn ông, con trai không vợ, không bồ giải quyết sự dồn nén sinh lý.”</p>
<p>“Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn!”</p>
<p>Ðã đến lúc chúng ta cần phải thẩm định lại câu nói truyền kiếp này chăng?</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Tôi đi tìm tôi</strong></p>
<p><strong>(Chuyên đề <em>Tình yêu và tình dục trong văn chương</em>)</strong></p>
<p>Tôi đi vào phòng tắm, lần mò như kẻ bị móc mắt, nhưng cũng quyết chí đi. Như kẻ vượt tù, tin chắc rằng chân trời chỉ cách mình một cái nhẩy cao. Vượt biên, thõng chân xuống nước là chạm phải mặt đất. Cậu Thịnh kể chuyện vượt biên tám lần mới lọt, lần nào cũng như xem phim trinh thám. Còn tôi đây, đang dò dẫm bước từng bước trên thềm xi măng, lòng bàn chân mát lạnh, tay bám vào những gì có thể bám. Thần trí lùng bùng. Đi theo tiếng gọi của thể xác, trong tôi. Thằng Út nằm phơi mình ngoài sương đêm. Cu nó có ngổng không? Nhưng biết chắc một điều, khi nằm, nó bình đẳng như mọi người. Bước qua Trinh, tôi dừng, tích-tắc, tích-tắc từng lỗ chân lông bung nở, tỉ tỉ sự sống cựa quậy, đốc thúc. Bước thêm bốn bước, rẽ trái. Bóng đêm đồng lõa, gió đêm rủ rê, khoảng sân mờ ảo mời mọc. Đầu gối đụng phải bàn ăn, tôi cắn chặt môi dưới. Băng qua bếp, mùi thức ăn trong bóng tối xông ra, đầu đụng chùm nem chua treo lủng lẳng như bùa chú. Tôi dừng, định thần, tiếng mèo hoang phóng nhanh trên mái nhà. Trăng sao biền biệt.</p>
<p>Cánh cửa phòng tắm bật tung&#8230;</p>
<p>Tôi chịu hết nổi, tuột gấp quần, chỉ kịp qua khỏi đầu gối. Tôi ngồi bệt xuống sàn xi măng ẩm nước, góc tường lạnh thấm qua lưng, hất cái ghế đẩu nhựa sang môät bên, ngón tay tôi run run đút sâu&#8230; luồn lách qua từng thớ thịt khe rãnh nhầy nhụa ấm nóng. Sóng cuồn cuộn trên vũng bụng. Ngón tay hút chặt. Đầu môi con bạch tuột. Tôi biết tôi muốn gì, làm gì ngay trong giây phút này. Tôi hoàn toàn thuộc về tôi. Cái quẫy mình của con kình ngư.</p>
<p>&#8230;..</p>
<p>Thân thể tôi giãn nở</p>
<p>mười ngón chân hết cứng đơ</p>
<p>vũng bụng thôi cuộn sóng</p>
<p>tất cả rũ mềm như giải lụa</p>
<p>chậu nước tỏa hơi mát</p>
<p>tôi mỉm cười trong đêm. Tin chắc rằng, bên kia bức tường, rào cản, trời đêm mọi sự đều đơn giản, thanh thoát như hương hoa sứ đang độ giữa mùa.</p>
<p><em>(trích đoạn trong tiểu thuyết</em><em> </em><em>Xứ Nắng</em><em>)</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Nizar Kabbani, nhà thơ của tình yêu và tình dục</strong></p>
<p><strong> </strong>Nizar Kabbani được xem là nhà thơ Ả Rập ảnh hưởng nhất và danh tiếng nhất của thời hiện đại. Với sự nghiệp kéo dài năm mươi năm ông đã xuất bản năm mươi tập thơ, và được xem như là nhà thơ tình vĩ đại nhất của Thế giới Ả-Rập. Kabbani đặc biệt luôn luôn tranh đấu cho nữ quyền, thúc giục người đàn bà phải đứng lên làm chủ đời sống, thân thể, và định mệnh của mình. Ông chủ trương giải phóng phụ nữ sau nhiều thế kỷ ngự trị bởi đàn ông trong Thế giới Ả-Rập. Kabbani khai sáng sự thay đổi thái độ đối với tính dục, nhục dục và quyền của người đàn bà được ngợi ca sự hoan lạc của tình yêu. Kabbani cho rằng tự do của thân thể là con đường dẫn đến sự tự do tâm linh cho tất cả mọi người, vì thế ông chủ trương phải giải phóng thế hệ mới thoát khỏi sự dồn nén, sợ hãi, và xóa bỏ mọi cảm giác tội lỗi, lúng túng đối với tình dục.</p>
<p>Tình yêu luôn luôn là chủ đề chính trong tác phẩm của Nizar Kabbani. Ông thiết lập tình yêu như là một chủ đề độc lập trong thơ Ả Rập hiện đại, và bỏ cả đời để phát triển, khai phá chủ đề này. Ông luôn luôn nỗ lực tìm hiểu đàn bà, cũng như cố gắng thay đổi mối liên hệ giữa đàn ông và đàn bà thành một mối liên hệ cởi mở hơn, dù phải đối đầu với nhiều vấn đề phức tạp, rắc rối ở xứ sở ông. Kabbani đã dành cả đời ông cho phụ nữ bằng cách chia sẻ tình cảm và vấn đề phụ nữ qua những tác phẩm của ông.</p>
<p>Nizar Kabbani sinh tại Damascus, Syria, ngày 21 tháng 3, 1923. Khi còn bé Kabbani đã yêu thích âm nhạc và hội họa. Ông thường nằm trên giường và, trong trí tưởng, tự vẽ ra những đường nét và hình dáng trong bóng tối, sáng tạo ra những màu sắc và hình thể mới. Những trầm tư về màu sắc sau này hiển lộ trong thi tập Vẽ Bằng Chữ. Kabbani viết bài thơ đầu tiên vào năm 1939 lúc mới mười sáu tuổi trong một chuyến du hành từ Beirut sang Ý. Kabbani tốt nghiệp cử nhân luật khoa tại Đại Học Damascus. Tuy nhiên, ông không thích môn học này và thuở còn đi học hay nguệch ngoạc những bài thơ tình bên lề sách vở khi ngồi nghe giảng bài trong lớp học.</p>
<p>Năm 1944, Kabbani xuất bản tập thơ tình đầu tiên ở Damascus. Trong tập thơ này nhà thơ hai mươi mốt tuổi đã mô tả việc ông khám phá ra thế giới của đàn bà và thế giới của tình yêu. Tập thơ đầy hình ảnh tính dục, được xuất bản trong thời kỳ tình yêu và tính dục là chủ đề bị cấm đoán trong xã hội Ả-Rập, nhất là giữa lớp trẻ. Tập thơ bán hết trong vòng một tháng. Những bài thơ trong tập thơ này lan truyền nhanh chóng, và bài thơ <em>Ngực Em</em> đã khiến Kabbani lừng danh như sóng cồn:</p>
<p><em>Hãy mở kho báu ra!</em></p>
<p><em>Để trần bộ ngực cháy bỏng của em</em></p>
<p><em>Đừng dập tắt ngọn lửa bị giam tù.</em></p>
<p><em>Ngực em là hai bức tranh tuyệt vời nhất</em></p>
<p><em>Hai trái cầu bằng tơ dệt buổi sáng độ lượng</em></p>
<p><em>Cho nên hãy đến gần anh hỡi con mèo nhỏ</em></p>
<p><em>Hãy buông thả mình</em></p>
<p><em>Đến gần</em></p>
<p><em>Suy nghĩ về số phận của bộ ngực em</em></p>
<p><em>Mỗi khi chuyển mùa</em></p>
<p><em>Đừng sợ</em></p>
<p><em>Dại dột thay là cô gái che dấu bộ ngực của mình</em></p>
<p><em>Và để tuổi xuân qua đi mà không được hôn.</em></p>
<p><em>Tôi kéo thân thể nàng sát vào mình</em></p>
<p><em>Nàng không chống cự không nói năng</em></p>
<p><em>Ngây ngất nàng ngả ngớn trên người tôi</em></p>
<p><em>Và hiến dâng bộ ngực run rẩy</em></p>
<p><em>Và nói trong cơn mê đắm</em></p>
<p><em>“Em không cưỡng được chạm vào lửa”</em></p>
<p>Sinh viên tụ tập đọc bài thơ này của ông, chép trong sách vở, và thơ của Kabbani xuất hiện trên bảng đen trong những trường học ở Damascus. Sự ra đời của tập thơ này đã thiết lập Kabbani như là nhà thơ tình nói về những vấn đề xã hội. Tập thơ gồm 28 bài viết bằng thể mới, giản dị, trực tiếp và thành thật xuất hiện vào cuối Thế Chiến Thứ Hai khi xã hội Damascus đang trải qua một cuộc chuyển hóa. Cho đến giữa thế kỷ hai mươi, đời sống văn chương vẫn cách biệt với đời sống quần chúng vì được uốn nắn bởi những ước lệ cổ xưa. Kabbani hiện thân cho những nhu yếu của thế hệ mới đòi hỏi xã hội phải cởi mở và tự do. Ông phá vỡ những thành lũy câm nín về tình yêu, tính dục và xây dựng một nền thơ tình giải phóng hiện đại. Điều này đã tạo ra những rối loạn ở Syria và các xứ Ả Rập khác, đồng thời ông cũng bị phía bảo thủ công kích dữ dội.</p>
<p>Kabbani dùng chữ nghĩa bình dị và văn thể giản dị để giới thiệu một cú điệu mới. Xuất bản một tập thơ như vậy ở Damascus vào thập niên 40 đòi hỏi rất nhiều can đảm và bạo dạn, bởi vì Kabbani đã tách mình ra khỏi những giá trị công ước của xã hội cùng những luật lệ cứng nhắc của thi ca, và các chủ đề truyền thống hiện hữu lâu đời.</p>
<p>Thế giới Ả-Rập luôn nôn nóng chờ đợi bài thơ kế tiếp của Kabbani, bất cứ là chủ đề gì. Thơ của Kabbani xâm nhập ở những quán cà phê, đường phố, trường học, và cả công sở. Thật khó tưởng tượng thế giới Ả-Rập nếu không có Nizar Kabbani.</p>
<p>Kabbani qua đời năm 1998.</p>
<p>Những bài thơ trích dịch sau đây được lấy ra từ các tập thơ của Nazir Kabbani, <em>Arabian Love Poems</em> (Colorado Springs: Three Continentals Press, 1993) và Salma Khadra Jayyusi, <em>Modern Arabic Poetry: An Anthology</em> (New York: Columbia University Press, 1987)</p>
<p>(Lê Thị Thấm Vân dịch)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>THƠ</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em>Hỡi em yêu</em></p>
<p><em>Nếu như em ở cùng một mức điên cuồng với anh,</em></p>
<p><em>Hãy vứt bỏ nữ trang,</em></p>
<p><em>Bán đi tất cả những vòng đeo tay của em,</em></p>
<p><em>Và ngủ trong mắt anh.</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>*</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Tình yêu của em,</em></p>
<p><em>Hỡi em với đôi mắt sâu thẳm,</em></p>
<p><em>Cùng cực,</em></p>
<p><em>Huyền bí,</em></p>
<p><em>Linh thiêng.</em></p>
<p><em>Tình yêu của em, như sinh và tử,</em></p>
<p><em>Không thể nào lập lại.</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>*</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Khi anh yêu</em></p>
<p><em>Anh biến Shah của Ba Tư</em></p>
<p><em>Thành một tín đồ của anh</em></p>
<p><em>Anh khiến Trung Quốc phải phục tùng mọi mệnh lệnh của mình</em></p>
<p><em>Anh dời biển cả khỏi những nơi chốn quen thuộc của chúng</em></p>
<p><em>Và nếu anh muốn</em></p>
<p><em>Anh có thể điều khiển đôi tay của thời gian.</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>*</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Anh là tiên tri của tình yêu</em></p>
<p><em>Đem những ngạc nhiên đến cho đàn bà.</em></p>
<p><em>Nếu như anh không rửa ngực em bằng ruợu,</em></p>
<p><em>Thì nó đã không bao giờ phát triển.</em></p>
<p><em>Phép lạ khiêm nhường của anh</em></p>
<p><em>Khiến đầu vú em nẩy nở.</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>*</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Em hãy cởi quần áo ra.</em></p>
<p><em>Hàng thế kỷ rồi</em></p>
<p><em>Chưa có phép lạ.</em></p>
<p><em>Em hãy cởi quần áo ra,</em></p>
<p><em>Anh câm nín,</em></p>
<p><em>Và thân thể em biết tất cả mọi ngôn ngữ.</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>*</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Anh muốn biến em thành một mẫu tự duy nhất</em></p>
<p><em>Trong đó anh ước ao</em></p>
<p><em>Nhịp điệu của mưa,</em></p>
<p><em>Bụi của trăng,</em></p>
<p><em>Nỗi buồn của những đám mây xám,</em></p>
<p><em>Niềm đau của những chiếc lá liễu rụng</em></p>
<p><em>Dưới những bánh xe của mùa thu.</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>*</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Buổi sáng tháng ba ấy khi em đến với anh</em></p>
<p><em>Như một bài thơ đẹp</em></p>
<p><em>Mặt trời và mùa xuân đến với em.</em></p>
<p><em>Trên bàn giấy anh</em></p>
<p><em>Biến thành màu xanh</em></p>
<p><em>Trước mắt anh tách cà-phê</em></p>
<p><em>Cạn trước khi anh uống</em></p>
<p><em>Khi em xuất hiện</em></p>
<p><em>Đoàn ngựa phi</em></p>
<p><em>Trong bức tranh trên tường</em></p>
<p><em>Rời bỏ anh</em></p>
<p><em>Để chạy đến bên em.</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Buổi sáng tháng ba ấy khi em đến thăm anh</em></p>
<p><em>Thân thể trái đất run rẩy</em></p>
<p><em>Một vì sao sáng rực</em></p>
<p><em>Rơi một nơi nào đó trên trần gian.</em></p>
<p><em>Trẻ con tưởng vì sao</em></p>
<p><em>Là chiếc bánh mật</em></p>
<p><em>Đàn bà nghĩ vì sao</em></p>
<p><em>Là chiếc vòng tay làm bằng ngọc</em></p>
<p><em>Đàn ông cho rằng vì sao</em></p>
<p><em>Là dấu hiệu từ cõi trời.</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>*</em></p>
<p><em> Khi anh nói với em:</em></p>
<p><em>“Anh yêu em”</em></p>
<p><em>Anh biết,</em></p>
<p><em>anh đang lãnh đạo một cuộc đảo chánh</em></p>
<p><em>Lật đổ luật lệ bộ lạc,</em></p>
<p><em>Rằng anh đang dóng tiếng chuông thị phi.</em></p>
<p><em>Anh muốn nắm quyền</em></p>
<p><em>Để tăng số lá</em></p>
<p><em>Trong rừng.</em></p>
<p><em>Anh muốn làm đại dương xanh hơn</em></p>
<p><em>Và trẻ con hồn nhiên hơn.</em></p>
<p><em>Anh muốn chấm dứt thời đại man rợ</em></p>
<p><em>Và giết vị Caliph cuối cùng.</em></p>
<p><em>Chủ ý của anh</em></p>
<p><em>Khi yêu em</em></p>
<p><em>Là để đập đổ những cánh cửa khuê phòng</em></p>
<p><em>Để bảo vệ ngực đàn bà</em></p>
<p><em>Khỏi răng của đàn ông:</em></p>
<p><em>Để cho bầu vú họ,</em></p>
<p><em>Nhảy múa hân hoan trong không trung.</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Khi anh nói</em></p>
<p><em>“Anh yêu em”</em></p>
<p><em>Anh biết,</em></p>
<p><em>Anh đang khai sáng ra một mẫu tự mới</em></p>
<p><em>Cho một thành phố không biết đọc</em></p>
<p><em>Anh đang tụng những bài thơ của mình</em></p>
<p><em>Trong một sảnh đường trống không/</em></p>
<p><em>Và anh đang dâng rượu</em></p>
<p><em>Cho những kẻ không biết</em></p>
<p><em>Những niềm vui của cơn say.</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Khi anh nói</em></p>
<p><em>“Anh yêu em”</em></p>
<p><em>Anh biết,</em></p>
<p><em>Bọn man rợ sẽ theo đuổi anh</em></p>
<p><em>Với những cây thương độc,</em></p>
<p><em>Với cung và tên.</em></p>
<p><em>Hình anh sẽ bị dán</em></p>
<p><em>Trên tất cả những bức tường.</em></p>
<p><em>Dấu tay anh</em></p>
<p><em>Sẽ bị phân phát cho tất cả các trạm cảnh sát</em></p>
<p><em>Một giải thưởng lớn</em></p>
<p><em>Sẽ được trao cho</em></p>
<p><em>Bất cứ kẻ nào giao đầu anh cho họ</em></p>
<p><em>Để treo trên các cổng thành phố</em></p>
<p><em>Như trái cam xứ Palestine.</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Khi anh viết tên em</em></p>
<p><em>Trong cuốn sổ tay của hoa hồng</em></p>
<p><em>Anh biết,</em></p>
<p><em>Tất cả những kẻ mù chữ,</em></p>
<p><em>Tất cả những người bệnh hoạn và bất lực</em></p>
<p><em>Sẽ đứng dậy chống lại anh.</em></p>
<p><em>Khi anh quyết định giết vị Caliph cuối cùng</em></p>
<p><em>Để khủng bố</em></p>
<p><em>Sự thiết lập một quốc gia của tình yêu</em></p>
<p><em>Tôn phong em làm nữ hoàng.</em></p>
<p><em>Anh biết,</em></p>
<p><em>chỉ có loài chim</em></p>
<p><em>Sẽ hát về cuộc cách mạng cùng anh.</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>*</em></p>
<p><em> Ánh sáng quan trọng hơn ngọn đèn,</em></p>
<p><em>Bài thơ quan trọng hơn cuốn sổ tay,</em></p>
<p><em>Và nụ hôn quan trọng hơn đôi môi.</em></p>
<p><em>Những lá thư anh viết cho em</em></p>
<p><em>Thì vĩ đại và quan trọng hơn hai chúng ta.</em></p>
<p><em>Đó là những tư liệu duy nhất</em></p>
<p><em>Bằng vào đó người ta sẽ khám phá ra</em></p>
<p><em>Vẻ đẹp của em</em></p>
<p><em>Và cơn điên của anh.</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>*</em></p>
<p><em> Hôm qua anh nghĩ</em></p>
<p><em>Về tình yêu của anh cho em</em></p>
<p><em>Anh nhớ</em></p>
<p><em>Những giọt mật trên môi em,</em></p>
<p><em>Anh liếm sạch</em></p>
<p><em>Khỏi bức tường của trí nhớ mình.</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>*</em></p>
<p><em> Làm ơn</em></p>
<p><em>Kính trọng sự im lặng của anh,</em></p>
<p><em>Im lặng là vũ khí tốt nhất của anh</em></p>
<p><em>Em có cảm thấy những lời lẽ</em></p>
<p><em>Khi anh làm thinh?</em></p>
<p><em>Em có cảm thấy cái đẹp của những gì anh nói</em></p>
<p><em>Khi anh không nói gì cả.</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>VỀ TÌNH YÊU BIỂN CẢ</strong></p>
<p><em>Anh là biển cả của em,</em></p>
<p><em>Đừng hỏi anh</em></p>
<p><em>Về chuyến du hành sắp đến.</em></p>
<p><em>Em chỉ cần</em></p>
<p><em>Quên đi những bản năng thế tục</em></p>
<p><em>Tuân theo những luật lệ của biển cả</em></p>
<p><em>Xâm nhập anh như một con cá điên,</em></p>
<p><em>Chẻ con thuyền,</em></p>
<p><em>Chân trời,</em></p>
<p><em>Đời anh</em></p>
<p><em>Thành từng miếng.</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>LỜI NÓI CỦA HAI BÀN TAY NÀNG</strong></p>
<p><em>Hãy giữ im lặng,</em></p>
<p><em>Giọng nói đẹp nhất</em></p>
<p><em>Là lời nói của hai bàn tay em</em></p>
<p><em>Trên bàn.</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>ANH CHINH PHỤC VŨ TRỤ BẰNG NGÔN NGỮ</strong></p>
<p><em>Anh chinh phục vũ trụ bằng ngôn ngữ</em></p>
<p><em>Anh cưỡng đoạt tiếng mẹ,</em></p>
<p><em>Ngữ pháp, văn phạm,</em></p>
<p><em>Những động từ, và những danh từ</em></p>
<p><em>Anh xâm nhập trinh tiết của sự vật</em></p>
<p><em>Và hình thành một ngôn ngữ khác</em></p>
<p><em>Một ngôn ngữ che dấu bí ẩn của lửa</em></p>
<p><em>Và bí mật của nước</em></p>
<p><em>Anh rọi sáng thời đại sắp đến</em></p>
<p><em>và chận đứng thời gian trong mắt em</em></p>
<p><em>Xóa đi lằn răn phân chia</em></p>
<p><em>Khoảnh khắc này và những năm.</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Những chiếc bóng của đời sống</strong></p>
<p>I<br />
Một đêm ở Hà Nội khó ngủ. Tôi dậy thả bộ loanh quanh vài con đường ở giữa lòng phố. Những dãy nhà, hàng quá hầu hết đã đóng cửa im lìm. Hơn mười một giờ, xe cộ thưa thớt. Khuôn mặt Hà Nội ban đêm im l¡ng, trầm mặc. Trời vẫn còn hâm hấp nóng. Tôi đi chầm chậm, thú vị với những cơn gió mát bất thần phà tới, lướt trọn trên mặt và hai cánh tay trần. Trên đầu là những nhánh cây giăng ngang. Ngước nhìn, tôi tưởng như trăm ngàn cánh tay n¡m, nối liền nhau, chìa ra trong trời đêm.</p>
<p>Đang đi bỗng dưng điện cúp. Trời đất, nhà cửa, cảnh vật tối om một màu. Những ngọn đèn đường biến mất. Vài chiếc xe chạy băng qua h¡t cho chút ánh sáng tạm bợ yếu ớt. Thấp thoáng đó đây là đóm đèn leo l¡t, chập chờn trong màn đen, thăm thẳm. Tôi bỗng hình dung ra những bà cụ già sống cuộc đời thách thức với thời gian, với tạo hóa. Ban ngày họ ngồi ở vỉa hè thành phố. Khuôn mặt, thân thể còn lại chỉ là da bọc xương. Ngày tháng sống sót của họ ở trần gian này có thể đoán, đếm được trên mấy đầu ngón tay.</p>
<p>Những bà cụ già tôi gặp trong ngày, bất cứ chỗ nào và lúc nào cũng làm tôi chạnh lòng, không thể không ngồi xuống hỏi han trò chuyện, để rồi băn khoăn xót xa mãi trong những ngày lê la ở đất Hà Nội ngàn năm văn vật ấy.</p>
<p>Hình như lịch sử văn minh nhân loại dù diễn ra bất cứ mơi nào, ở đâu cũng có những điểm tương tự. Nghĩa là phải trải qua từng ấy chặng đường, từng ấy giai đoạn, từng ấy khổ đau mới thấu hiểu được người đàn bà cần gì, muốn gì, nghĩ gì, và làm gì. Lịch sử văn minh nhân loại có cái hay cái dở. Một trong những cái dở là loài người chỉ được tạo thành bởi sự suy nghĩ của đàn ông. Nhân loại chỉ mới nghe được &#8220;male voice&#8221; chứ chưa nghe được &#8220;fermale voice&#8221;. Có History phủ nhận Herstory. Đàn bà bị đối xử như vật sở hữu, tài nguyên, hoặc công cụ đẻ con, sản xuất của cải. Thử nghĩ, nếu đàn bà cùng đàn ông &#8220;lãnh đạo&#8221; lịch sử loài người thì thế giới ngày nay sẽ ra sao? Có cần phải trải qua những cuộc thánh chiến, thế chiến, nội chiến&#8230; hay không?</p>
<p>Đã một thời bên Âu châu tin rằng người đàn bà được tạo dựng bởi cái xương sườn của người đàn ông. Bên Phi châu và Trung Đông, bé gái phải c¡t hoặc khâu một phần bộ phận sinh dục để gìn giữ trinh tiết cho đàn ông, và cũng để đàn ông dễ dàng kiểm soát sự khoái lạc của họ. Ở Ấn Đô, chồng chết vợ phải hỏa táng theo chồng. Ở Trung Hoa, quan niệm: &#8220;Mười đứa con gái không bằng một đứa con trai&#8221;. Qua tới Việt Nam, trở thành bi hài gấp bội: Một trăm đứa con gái không bằng hòn dái đứa con trai.&#8221;</p>
<p>Người đàn bà Việt Nam vừa thoát ra khỏi đạo đức Khổng Mạnh ngự trị hàng ngàn năm. &#8220;Trọng nam khinh nữ&#8221;. &#8220;Nữ tử vô tài tiên thị đức&#8221;. Con gái không có tài, nghĩa là có đức. Đàn bà càng ngu dốt càng dễ bị đàn ông sai khiến. Đàn bà dưới thời phong kiến Nho gia, được chỉ dạy lề lối sống, tam tòng tứ đức&#8221; không ngoài mục đích phục vụ đàn ông.</p>
<p>Thân phận người đàn bà Việt Nam nổi trôi theo vận nước điêu linh. Hy vọng rồi thất vọng. Nỗ lực rồi tuyệt vọng. Bao nhiêu oan nghiệt, trớ trêu, đau đớn cứ dổ đè, chồng chất lên vai các bà. Các bà chỉ biết nén tiếng thở dài, c¡n răng nuốt ngược dòng nước m¡t. Tuyệt đối không được kêu ca, oán trách. Một mình âm thầm chịu đựng, dốc hết sức bình sinh để vượt qua, tồn tại với cuộc đời.</p>
<p>Năm 1917, cách mạng Cộng Sản Nga ra đời, hứa hẹn một nhà nước vô sản, lý tưởng như sống trên thiên đường. &#8220;Làm theo khả năng và hưởng theo nhu cầu&#8221;. Phụ nữ có toàn quyền chính trị, quyền công dân, quyền bình đẳng về tất cả mọi phương diện. Nhưng thực tế, &#8220;Thiên đường Cộng Sản&#8221; là một cách chuyển tiếp vai trò người đàn bà từ trách nhiệm trong gia đình ra ngoài xã hội. Đàn bà được dùng như là sách lược đấu tranh hơn là cứu cánh. Đàn bà vẫn là &#8220;công dân hạng nhì&#8221;. Hai đòn gánh trĩu nặng trên vai người đàn bà B¡c Việt. Từ những gánh rau, gánh củi, hàng rong phụ chồng nuôi con. Nay gánh thêm đất đá, bom đạn, lương thực để &#8220;chiến đấu chống Mỹ&#8221; và xây dựng &#8220;Xã hội chủ nghĩa&#8221;.</p>
<p>Bổn phận người đàn bà Việt Nam là làm vẻ vang gia tộc. Trách nhiệm là làm rạng danh tổ quốc, trong khi phải luôn đối đầu với nhiều bất hạnh cùng một lúc. Kinh tế nghèo nàn, chính trị bất ổn, xã hội phong kiến, văn hóa lạc hậu, gia đình bất công&#8230; Đàn bà Việt Nam hứng chịu đủ mọi thiệt thòi trong nhà ngoài cửa. Margaret Walker, nhà văn nữ da đen Mỹ, trong bài tiểu luận &#8220;Là Đàn Bà, Da Đen, Và Tự Do Sáng Tạo&#8221;: &#8220;Nhà văn không thể sáng tác được nếu cứ phải đương đầu với sự đói rách, bệnh hoan, mệt mỏi, lo âu, phiền muộn&#8230; Nhà văn có thể xoay sở một trong những điều này, nhưng không thể tất cả cùng một lúc.&#8221;</p>
<p>Người đàn bà để được sống còn trong xã hội Việt Nam phải biết chịu đựng, nhẫn nhục, trung thành, và hy sinh. Đàn bà được chỉ dạy phải luôn sống cho người khác. Người đàn bà không được nói, sống thật với điều mình suy nghĩ, ước muốn. Trong thời chiến tranh, đàn bà miền B¡c khi nghe tin con tử trận, phải giấu dòng nước m¡t, kẻo người khác thấy, cho là đã nhụt chí, yếu đuối, không yêu nước thương nòi. Đồng thời phải có tinh thần phục vụ, đối tượng là đàn ông. Hy sinh là đức tính tốt, nhưng sao chỉ đàn bà mới phải hy sinh. HyY sinh cho đàn ông được quyền tự do làm người. Rồi đưa đạo lý ra ca tụng, đánh bóng vai trò đàn bà, cho đàn bà &#8220;cuỡi cọp&#8221;, không ngoài mục đích làm nô lệ cho đàn ông. Khổ không dám than. Chó bị đánh đau còn biết sủa huống chi là người. Đàn bà bị tước đoạt mọi quyền sống, quyền làm người. Quyền lợi là xa xỉ phẩm.</p>
<p>Đàn bà sinh ra để làm con, làm vợ, làm mẹ, làm dâu, làm em, làm chị, làm dì, làm cô, làm thím, làm bà nội, bà ngoại&#8230; Khi còn con gái, bổn phận là phải lo toan cho mọi người trong gia đình. Khi lấy chồng, gánh vác luôn giang san nhà chồng. Bao nhiêu đạo lý, luật lệ chằng chịt quấn quanh bà. Lấy chồng, sinh con năm một. Trung bình mỗi bà có đến tám hoặc mười đứa con. Vừa đẻ vừa nuôi, rồi có thai, lại đẻ, lại nuôi&#8230; cứ thế kéo suốt tuổi thanh xuân. Về già, thân xác yếu ớt, suy nhược, bất lực, tuyệt vọng, côi cút một mình. Tôi chạnh lòng nghĩ tới những người đàn bà như những chiếc lá mùa thu cuối mùa. Cả ngày ngồi lặng lẽ trên vỉa hè phố cổ Hà Nội. Thân thể nhỏ nh¡n thảm thương, vừa nép vừa dán sát, thậm chí như dựa cả người vào tường. Mảnh tường là vật duy nhất có thể che chở được bà.</p>
<p>Trước mặt là cái bàn con cùng mấy cái ghế gỗ thấp, xỉn màu thời gian. Hũ kẹo lạc, bánh sữa. cái đĩa đựng vài chung trà nhỏ như lòng bàn tay hàng chục năm không bao giờ rửa. Ống thuốc lào bằng tre kê dưới đất, sát chân bà ngồi. cái đèn dầu con, lửa quanh năm leo lét. Khách hàng là phu xích lô, ba gác, dọn dẹp đường phố&#8230; toàn giới lao động tay chân. Họ dừng lại hàng bà, tiếp sức bằng cách rít sâu điếu thuốc lào, uống ực chung trà nóng , bỏ vào miệng viên kẹo lạc, rồi phóng lên xe đạp tiếp. Những động tác kể trên được trả bằng vài trăm bạc. Tiền thối lấy ra từ túi áo, mà thời gian cũng dài như những chung trà không bao giờ rửa. Túi áo luôn luôn được gài kim cẩn thận. Bà nhận tiền bằng hai bàn tay gầu đen như hai que củi, run rẩy, yếu ớt. Hai con m¡t hết nhìn rõ số tiền. Cố đoán bằng hình vẽ, màu s¡c, và mấy ngón tay sờ mó quen thuộc lâu ngày. Hai con m¡t đó giờ đây là cái giếng sâu, cạn khô nước.</p>
<p>Những bức tượng dựng lên, được đặt bằng những cái tên hoa mỹ: &#8220;Mẹ Liệt Sĩ, Hòn Vọng Phu, Nữ Đồng Chí &#8211; để ca tụng tấm lòng quả cảm, hy sinh, nhẫn nhục, chịu đựng, trung thành &#8211; trải dọc miền B¡c. Mỗi lần nhìn những bức tượng tr¡ng toát giữa trời như thế, tôi liên tưởng tới hình ảnh những bà già lụ khụ nép mình dưới những hàng hiên dọc thành phố Hà Nội. &#8220;Tại sao phải đợi họ chết, nhà nước mới phong thánh cho họ, rồi b¡t cả nước tôn thờ. Trong khi các bà còn sống ngồi đầy ngoài kia thì lại cố tình quên lãng?&#8221; Những bà cụ trải qua hai cuộc kháng chiên chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.</p>
<p>Hai cuộc chiến tàn bạo nhất thế kỷ hai mươi.</p>
<p>&#8220;Ông nhà đâu rồi hả bà?&#8221;<br />
&#8220;Ông nhà mất mấy chục năm nay.&#8221;<br />
&#8220;Sao cụ không ở nhà trông cháu?&#8221;<br />
&#8220;Cháu chúng nó lớn cả rồi.&#8221;<br />
&#8220;Con cái cụ đâu? Sao lại để cụ phải ngồi bán như thế này?&#8221;<br />
&#8220;Con cái chết trận hết cả rồi.&#8221;<br />
&#8220;Con cái chưa tự nuôi nổi chúng, làm sao nuôi được tôi?&#8221;</p>
<p>Phong tục cổ truyền người Việt Nam là kính trọng người lớn tuổi. Con cái phụng dưỡng cha mẹ già không còn áp dụng trong xã hội Việt Nam thời hậu chiến. Cảnh mẹ già, mái tóc bạc phơ, chiếc miệng móm cười cười không răng ngồi bao quanh đám con cháu, nay chỉ còn tìm thấy trong môn giáo khoa thư ở các lớp học miền quê.</p>
<p>Những người đàn bà đêm về ngủ biết sáng mai còn dậy được chăng? nói chi qua mùa đông mưa gió lạnh thấu xương đất B¡c. &#8220;Tháng mười hai bà già chết cóng&#8221;. Những người đàn bà suốt đời chỉ biết gồng gánh rau cải, muối gạo nuôi nấng bầy con. Cùng chồng, đánh đuổi thực dân Pháp, cùng con, xẻ dọc Trường Sơn chống Mỹ. Biết bao thây người hy sinh chôn vùi, rã mục ở trận Điện Biên Phủ, dọc đường mòn Hồ Chí Minh, hay trên lộ trình Nam tiến.</p>
<p>&#8220;Con ơi n¡m chặt đôi vành thúng<br />
Mẹ gánh con qua tuyến lửa này<br />
Mai mốt mẹ về nơi cố quận<br />
Xây nhà con ngủ giấc mê say&#8221;</p>
<p>Bốn câu thơ trên tình cờ tôi đọc được trong tờ báo chợ ở thành phố Seattle đã khá lâu, không ghi rõ xuất xứ tác giả, nhưng mỗi khi nhớ lại, tim trong lồng ngực tôi vẫn còn th¡t mạnh. Bốn câu thơ ng¡n ngủi, nhưng với tôi, chuyên chở biết bao tình ý, tấm lòng, sức sống của người mẹ Việt Nam trong thời khói lửa binh đao. Hy vọng, dỗ dành, can trường, đương đầu, yêu thương, không bỏ cuộc. Nhưng kh¡c nghiệt là, sau bao nhiêu hy sinh, thống khổ, gian nan, chịu đựng, nhẫn nhục, trung thành bà được lại những gì? Ngoài sự bạc đãi, đớn đau, vô lý, bất công, chỉ vì&#8230; bị, lỡ, làm đàn bà, mà lại đàn bà Việt Nam.</p>
<p>Giờ đây, sau hai mươi năm đất nước thanh bình, thống nhất, các bà vẫn còn hiện hữu nơi đây, trước ngọn đèn dầu leo l¡t như n¡m nhang th¡p sẵn trước mộ phần. Tôi mong đây là hình ảnh khổ đau cuối cùng trên quê hương. Hình ảnh người đàn bà như được thượng đế tạo dựng nên, rồi quên mất. Các bà cũng sẽ theo chồng theo con về bên kia thế giới. Nơi đó, tôi tin ch¡c rằng, tấm lòng bà thanh thản, bình an hơn khi ở thế gian này. Không kháng chiến chống thực dân Pháp. Không hận thù đế quốc Mỹ. Cầu mong hồn bà sớm được siêu thoát.</p>
<p>II<br />
&#8220;Về Việt Nam, ai cũng mong muốn gặp được điều tốt đẹp nhất. Nhưng cũng phải nhớ rằng, bất cứ thứ tệ hại nào cũng có thể xảy ra!&#8221; Cô bạn tôi, theo chồng về Việt Nam ở hai năm, qua lại Mỹ. Nhiều lần &#8220;cảnh cáo&#8221; bạn bè như thế.</p>
<p>Những người đàn bà tôi tình cờ gặp trên phần đất Nam Việt Nam. Biến cố tháng tư năm bảy lăm đổ ập tới, khi tuổi xuân vừa chớm, không trở kịp tay, một sáng một chiều bỗng biến họ thành những &#8220;Thiếu phụ Nam Xương&#8221; hiện đại, bất đ¡c dĩ.</p>
<p>Người chồng vừa mới quen mùi. Đứa con đầu lòng đang ngọ nguậy trong bụng. Căn nhà còn nằm trong giấc mơ, dự tính. Phấn son tô môi mới chỉ một góc, nay phải từ bỏ tất cả. Chồng bị lùa vào trại cải tạo. Người thiếu phụ &#8220;chưa xong con gái chưa hẳn đàn bà&#8221; phải nhảy xổm ra, lăn xả ăn thua với đời, tập tành kiếm sống bằng đủ mọi cách, mọi ngành nghề. Nhưng toàn nghề chụp giựt, sống qua bữa. Từ đứng bán chợ trời, đến ngồi xổm bán từng n¡m xôi, đếm từng ly cà phê buổi sáng, mà vẫn không đủ ăn. Phải bán dần mọi thứ đồ đạc trong nhà. TV, quạt máy, bộ bàn ghế, chiếc áo dài, quần đen, thậm chí áo lót mòn đăng ten cũng mang ra rêu rao năn nỉ người mua. Ch¡t chiu kiếm từng đồng bạc để thăm chồng trong trại cải tạo, nuôi bầy con không cha như chim lạc đàn.</p>
<p>Chị Lộc là một trong những người đàn bà nằm trong sổ &#8220;đoạn trường&#8221; này. Số phận chị trái với cái tên tiền định ba má chị đặt cho. Chị có khuôn mặt hao hao giống cô giáo dạy toán tôi năm lớp bẩy. Khuôn mặt dài và gẫy, lưỡng quyền cao, đôi m¡t lá răm, chiếc răng khểnh phía bên trái. Chỉ khác là, cặp chân mày của chị rậm như hai con sâu róm v¡t ngang, còn cô giáo toán của tôi thì cạo sạch rồi vẽ đậm lên. Mỗi sáng vào lớp, tôi cứ hồi hộp lo sợ cô vẽ không đều. Nhớ một buổi sáng, cô vẽ bên phải cong trọn vòng, bên kia ng¡n nửa vòng. Cả lớp ngồi cười thầm torng bụng, nhưng chẳng đứa nào dám lên nói cho cô biết. Suốt giờ học, lòng tôi cứ áy náy. Có nên nói cho cô biết không? Chuông reo.</p>
<p>Trước khi cô ra khỏi lớp, tôi thu hết can đảm đến gần nói cho cô biết. Tôi là đứa dở toán nhất lớp, nhưng từ sau buổi sáng hôm đó, điểm toán tôi được &#8220;nâng&#8221; cao hẳn, mặc dù &#8220;trình độ&#8221; dốt toán vẫn là nhất lớp. Lần cuối nhìn thấy cô &#8211; trước ngày chạy loạn tháng tư năm bảy lăm mấy hôm &#8211; cô lái xe Honda đèo ba đứa con nhỏ, bụng đang mang bầu. Chị tôi bảo, chồng của cô, giáo sư dạy triết lớp chị, lớp mười hai, đang cặp với cô học trò, và cô học trò cũng đang có bầu. Tôi nghe, chợt nhớ mái tóc dài của cô bỗng dưng một ngày c¡t ng¡n, uốn quăn, bận áo dài màu s¡c rực rỡ hơn, khuôn mặt trang điểm kỹ càng hơn, nhưng buồn bã hơn. Tất cả chỉ vì cố giữ chồng, cha của những đứa con cô.</p>
<p>Tôi theo chị Lộc về chỗ ở của chị. Nhà nằm trong con hẻm nhỏ vừa đủ cho một người di chuyển một chiều cùng chiếc xe đạp. Nếu gặp người đi ngược, một trong hai phải dừng, hoặc nếu cần, ch¡c phải xô nhau mà đi. Đây là một trong muôn ngàn con hẻm hep, rối nhăng chằng chịt trong thành phố SàiGòn, nhưng không có tên trong bản đồ. Con hẻm vào nhà chị lầy lội, dơ bẩn, lềnh bềnh rác rưởi sau những cơn mưa nước ứ đọng như ao tù. Mùi thối xông lên ngạt mũi. Tôi x¡n cao quần, dò dẫm bước theo chị từng bước một.</p>
<p>Căn nhà chị ở, trần lợp mái tôn, chung quanh che bằng gỗ lẫn những tấm carton loại dày, cứng, im hình TV hiệu Sony, máy hát, karaoke, tủ lạnh&#8230; Chiều dài, rộng chỉ khoảng hơn năm bước sải của tôi. Nơi dung thân của hai vợ chồng, ba đứa con và đứa cháu ngoại. Chỗ ở nóng nảy, chật chội, bừa bộn, hôi thối. Tôi có mặt nơi này chỉ hơn nửa tiếng, mà có cảm tưởng là đang bị tra tấn, tù ngục.</p>
<p>Chị kể tôi nghe đủ thứ chuyện. Đứa con trai lớn hư hỏng. Chị than lỗi tại chị sanh nó thiếu tháng, vì sau mấy lần cố tống nó ra, bằng cách ăn thật nhiều rau răm, cuối cùng không được, đành phải bó bụng thật chặt, sợ hàng xóm biết chị có thai hoang. Đứa con mỗi sáng sớm ra quán cà phê ngoài ngõ, ngồi cho đến trưa. Mệt, về nhà ngủ, tối &#8220;kiếm&#8221; tiền đi nhậu. Đứa con gái kế, sáng bán gánh chè ngoài ngõ, chiều làm thêm nghề đan nón. Lấy chồng được ba năm, có đứa con, chồng bỏ xứ đi làm ăn nơi khác, rồi biền biệt từ đó.</p>
<p>Đứa con gái út, bị câm từ ngày mới lọt lòng. Chị có thêm nó sau khi chồng thả về từ trại cải tạo và tù vượt biên. Chị giao đứa út cho trời đất, hàng xóm nuôi giùm. Nó đi loanh quanh trong xóm, lê la hết nhà này sang nhà khác, từ sáng tới tối. Nói về đứa con út, chị cứ chậc lưỡi mãi, bảo đó là sự lầm lẫn, ngu si của chị, vì đã không kiêng cử phòng ngừa.</p>
<p>Chị mới ngoài bốm mươi, mà trông như bà già sáu mươi. Mặt đen sạm vì phơi n¡ng. M¡t, miệng, giọng nói, dáng đi của người dù không biết hoặc để ý tướng số như tôi cũng phải nhận ra ngay là số chị chưa, hoặc sẽ không bao giờ có một ngày thanh thản, bình an trong đời.</p>
<p>Nhìn cái giường, đúng hơn là cái chõng tre, đầy đồ đạc trên đó. Linh tinh thập cẩm. Áo quần, mền gối, nồi niêu, bình trà, gáo múc nước, hộp tăm, quạt, nón, chổi lông gà. Bên trên, cái mùng trũng gần sát mặt gường, cũng một đống đồ ngổn ngang chứa đựng gì trong đó. Tôi không thể đoán được màu của cái mùng, vì nó quá bẩn. Nhìn chị, nhìn cái giường, bỗng dưng tôi nhớ câu ca dao vừa triều mến vừa gợi tình kín đáo mà tôi rất thích.</p>
<p>&#8220;Anh về để áo lại đây<br />
Đêm khuya em đ¡p gió tây lạnh lùng.&#8221;</p>
<p>Người con gái nào lại chẳng trải qua một thời ươm mơ dệt mộng. Những giấc mộng thầm kín, ấp ủ làm nẩy nở thân xác và thăng hoa tâm hồn. Chị Lộc, như những nàng thiếu nữ lớn lên trong xã hội, mà nơi đó, được chỉ dạy rằng, là thiếu nữ muốn được yêu thì phải đáng yêu. Đáng yêu đây, dồng nghĩa với sự mền yếu, nhẹ nhàng, dịu ngọt, dễ thương, chỉ biết gật đầu, làm đẹp để cho mọi người ng¡m, và khen ngợi. Người con gái luôn được đàn ông, con trai dạy bảo, nh¡c nhở rằng, sự quyến rũ đáng yêu nằm trong sự yếu đuối, mảnh mai, nương dựa. Nhưng trong thực tế, bước qua lằn ranh thiếu nữ để trở thành đàn bà có con, người đàn bà nhận thấy được ngay rằng, để tồn tại, họ phải có bản lĩnh, và mạnh mẽ, từ thể xác đến tinh thần. Càng mạnh càng tốt. Quên đi lời người yêu từng thủ thỉ, &#8220;hãy dựa vào vai anh, tùy thuộc vào anh. Anh hứa sẽ đùm bọc chở che em suốt đời.&#8221;</p>
<p>Càng sống, càng nhận ra rằng, tất cả chỉ là ảo tưởng, lời hứa hẹn suông. Đàn ông họ rất &#8220;yêu và cần&#8221; sự bảo bọc, che chở, từ người đàn bà. Nếu người đàn bà nào không bảo bọc, che chở, lo l¡ng được cho họ, họ sẽ rũ áo ra đi, hoặc còn ở lại, chỉ là &#8220;ăm bám:&#8221; vào mình, hoặc là &#8220;của nợ&#8221; phải trả. Người đàn bà yêu mình càng ít càng tốt, và phải tự hiểu rằng, trong xã hội phi nhân, phi nghĩa, phi lý này, phải biết bám lấy sự dũng mãnh để sống còn, phải biết tự lực cánh sinh, nghĩa là phải làm trái ngược những gì xã hội, văn hóa chỉ bảo, xúi bẩy mình làm.</p>
<p>Trái với điều tôi hình dung thời con gái đã dạt xa của chị. Tôi lo l¡ng nghe chị kể về người chồng vô dụng ngay sau khi trở về từ trại cải tạo và tù vượt biên. Anh hoàn toàn sống bám vào chị, đã thế, lại còn rượu chè say sưa tối ngày. Sau một ngày chị làm lụng vất vả và nhọc nhằn ngoài đường, những đồng tiền phải vội giấu mỗi mơi một ít. Trong áo lót, trong sạp gạo, dưới gối, dưới hũ nước m¡m, dưới chân giường&#8230; Lòng cứ thấp thỏm lo sợ con ăn c¡p đi đánh bạc, hoặc chồng lên cơn nghiện rượu. Mỗi lần con xin chị không đưa, phải bịt hai tai, để khỏi nghe tiếng chửi thề đụ má đụ mẹ. Chồng hỏi, chị không đưa, anh dọa nạt, có khi kéo tóc, xô đẩy, hoặc đánh bầm mặt chị. Có hôm anh rủ rê chị lên giường, &#8220;Thấy ảnh tội nghiệp, bị năng nỉ quá, tui chiều. Xong xui, tui bận quần vào, bao nhiêu tiền giấu trong lưng quần không cánh mà bay. Cô nghĩ có tàn nhẫn không chớ. Tiền tui để dành dịnh tráng lại cái nền xi măng đặng mấy mẹ con, bà cháu ngủ cho mát&#8230;&#8221; Rồi cũng chính chị tự an ủi chị, &#8220;Trong xóm tui ai cũng khổ như tui, có người còn khổ hơn, mình cũng thấy đỡ tủi. Như bà hàng xóm ở xéo trước mặt, bị bệnh tiểu đường mấy năm nay, hai con m¡t s¡p bị mù, lâu nay có người chồng lanh lợi, tháo vác, chạy áp phe mang tiền về nuôi, giờ thằng chả trở chứng chạy theo đứa con gái tuổi mới bằng đứa con út.&#8221; Tôi ngồi nghe chị nói, kể, than, tâm sự&#8230; mà lòng ngán ngẩm. Không lý cả một đất nước, lấy khổ đau của người khác làm thước đo hạnh phúc của mình. Thay vì nhìn lên, thì phải nhìn xuống, để sống.</p>
<p>Gần bốn thập niên trở lại đây, phong trào nữ quyền b¡t đầu dấy mạnh. &#8220;The Second Sex&#8221; của Simone de Beauvoir xuất bản lần thứ nhất ở Pháp năm 1949. Cuốn sách đầu tiên nghiên cứu về nữ giới nghiêm túc, hệ thống, và đầy đủ. Bà đi từ huyền thoại, lịch sử đến vấn đề hiện đại. Cổ võ người đàn bà nên suy nghĩ độc lập. Phải cam đảm, dám phiêu lưu, chấp nhận mọi thử thách, phá bỏ những qui luật, công ước do xã hội vạch sẵn. Sau đó, Betty Friedan, năm 1963 xuất bản ở Mỹ cuốn &#8220;The Feminine Mystique&#8221; khuyến khích người đàn phải biết tự do lựa chọn. Niềm hạnh phúc và đóng góp có thể trong gia đình hoặc ngoài xã hội. Vấn đề là thực hiện điều mình muốn. Người đàn bà phải được đối xử công bằng và bình đẳng, như thế mới thể hiện được sự độc lập, làm chủ bản thân đời sống, và tham gia mọi vấn đề, sinh hoạt chung. Tiếp theo sau, là một đội ngũ nữ giới kh¡p bốn phương tiên phong tiếp tay phong trào phụ nữ. Họ xuất hiện trên mọi lãnh vực, mọi ngành nghề. Từ chính trị, tôn giáo, xã hội, luật pháp, giáo dục đến văn chương, phim ảnh, y tế, kế hoạch hóa gia đình. Nhưg họ vẫn còn ở trên những bước đầu. Mấy chục năm nữ giới góp tiếng nói chưa thể sánh với mấy chục ngàn năm nam giới có tiếng nói. Tuy nhiên, thế giới hiện đại cũng đã hé mở cánh cửa cho người đàn bà bước vào. Người đàn bà có cơ hội sống với sự chân thật và ước muốn. Được góp tay, chung sức đứng cạnh người đàn ông.<br />
Đàn ông là cha, chồng, anh, con, bạn trai&#8230; của họ.</p>
<p>III<br />
Chính quyền Việt Nam ngày nay phải có nhiệm vụ bảo vệ người dân, kể cả đàn bà. Phải bài trừ tệ nạn chà đạp nhân quyền và nhân phẩm người đàn bà &#8220;thấp cổ bé miệng&#8217; như trường hợp chị Lộc. Những bạo động, đánh đập, bóc lột, hà hiếp người đàn bà trong gia đình, ngoài xã hội vẫn chưa có luật pháp, hoặc biện pháp nào ngăn chận, để bảo vệ, chở che người đàn bà một cách hiệu quả, an toàn. Những người đàn ông ngày nay còn áp chế, hành hung đàn bà, là do sự hèn nhát, thiếu tự tin, mặc cảm thua kém, và nhất là, &#8220;male ego&#8221; còn đeo nặng trong lòng. Người đàn bà nào, bất cứ ở đâu, làm nghề gì, cũng phải được đối xử bình đẳng. Với đàn ông, đàn bà không có sự thua kém, mà chỉ có sự khác biệt.</p>
<p>Người đàn bà ở những nước văn minh tiến bộ tương đối may m¡n hơn những người đàn bà ở các nước &#8220;third wold country&#8221;. Họ được quyền tìm kiếm, lựa chọn, đòi hỏi, dù rằng trong quá khứ, vai trò người đàn bà gần như bị phủ nhận, hoặc bị bạc đãi. Nhưng không phải vì thế mà người đàn bà ngày nay phải quay ra thù hằn, chán ghét, oán trách người đàn ông, hoặc phải làm tất cả những gì người đàn ông làm. Đàn bà ý thức điều mình muốn làm, và làm một cách trọn vẹn, vì lợi ích chung. Không nhất thiết phải dùng đàn ông như là cái thước đo hoặc như là chủ đích để mình đạt tới.</p>
<p>Tôi đứng dậy xin phép chị Lộc về, sau khi đưa chị số tiến tương đương chị đầu t¡t mặt tối ngoài đường vài tháng. Còn tôi, đó chỉ là một bữa ăn tối ở một tiệm trung bình cùng vài người bạn. &#8220;Tiền cô thương cho, tui đội ơn. Tui để dành mua thuốc siễng uống. Mấy hôm nay, nó cứ hành từng cơn, cả đêm tui có ngủ được đâu.&#8221;</p>
<p>IV<br />
Hàm Tân, cái làng nhỏ nằm trên đường ra miền Trung tôi có dịp ngang qua, và đã dừng lại nơi đó một ngày, một đêm.</p>
<p>Làng với vài ngàn nóc nhà, mỗi nóc nhà trung bình cũng phải trên dưới bốn người. Hai vợ chồng và một bầy con, sống lúc nhúc như bầy lợn chẳng khác nào &#8220;Nhà Mẹ Lê&#8221; của Khái Hưng. Bên cạnh &#8220;đặc điểm&#8221; của đất Hàm Tân là đông con, còn những đặc điểm khác nữa là không điện, thất học, siêng năng đi nhà thờ, trung bình ngày hai buổi, sáng và tối. Hầu hết dân trong làng làm nghề &#8220;đập đá&#8221;.</p>
<p>Bé Lan tôi gặp trong căn chòi nhỏ bên vệ đường dẫn tôi vào xóm. Em trông chừng mười tuổi. Nhìn em, tôi nghĩ tới cọng cỏ dại mọc tràn quanh căn chòi. Những cọng cỏ liu điu, hiu h¡t, buồn buồn. Khuôn mặt em cũng thế, không chút hồn nhiên của tuổi thơ. Việt Nam hiện nay, với dân số là 74 triệu dân, trong đó 54 phần trăm là phái nữ, và em là một.</p>
<p>Lan &#8220;tay xách nách mang&#8221; hai đứa em nhỏ. Em nói còn ba đứa nữa ở nhà. Hai đứa em như hai con khỉ đeo cứng lấy mẹ. Một đứa có áo thì không có quần, đứa kia có quần lại không có áo. Cả hai đứa mũi dãi chảy lòng thòng.</p>
<p>Tôi dừng lại, ngồi xuống hỏi thăm trò chuyện cùng em và bà bán quán. Những trái ổi xanh mơn mởn vừa hái, cuống và lá xanh vẫn còn bám chặt, bày trên đĩa nhựa. Tôi nhìn trái ổi, rồi nhìn em, nghĩ tới tuổi thơ của mình. Trời nóng như lò lửa, em bận bộ đồ ng¡n tay, hoa màu xanh nhạt. Mặt và trên hai cánh tay trần lấm tấm những vết thâm nhỏ, như bị đậu mùa, nhìn kỹ có cái đã thành sẹo, có cái vừa kéo da non, và có cái còn đang mọng nước và mủ.Tôi nhìn, không thể không tò mò</p>
<p>&#8220;Da em bị sao vậy?&#8221;<br />
&#8220;Bị đá văng vào.&#8221;<br />
&#8220;Sao lại bị đá văng vào?&#8221;<br />
&#8220;Tại đập đá.&#8221;<br />
&#8220;Sao lại đập đá?&#8221;</p>
<p>Em lúng túng. Bà quán chen vào c¡t nghĩa. Mấy năm nay vì nhu cầu xây thêm nhà cửa trên tỉnh, nhờ đó cả làng có công ăn việc làm. Sáng ra, cả đoàn người đi vào núi, cách làng khoảng mười cây số. Người đi xe đạp, người xe bò, người đi bộ. Cùng nhau đào từng tảng đá khuân về bán. Nếu may m¡n được tảng đá vuông vức, độ hai lóng tay bề ngang bề dọc, thì bán được bảy trăm đồng &#8211; tương đương bảy cents tiền Mỹ -, còn không may thì khuân về chất ngoài sân để vợ con ở nhà đập nát bán ký. Một ký khoảng vài trăm bạc.</p>
<p>Bà kể thêm cảnh đập đá bằng búa. Đá đập nát vụn văng tứ phía. Không thể tránh đá văng vào người, ghim vào da, có người bị đá đâm vào m¡t. Tôi tưởng tượng ra ngay cảnh đá văng tung tóe vào mặt, mũi, tóc, tay, chân. Đá ghim vào da, lấy tay gỡ ra, chảy máu, lở lói, rồi lành, rồi lở. Những thân thể còm cỏi thiếu ăn nhưng thừa sức sống, và ý chí sống còn.</p>
<p>Nhìn em, rồi nhìn vạt cỏ dại khô ngoài căn chòi sao mà h¡t hiu, thê lương quá đỗi. Tuổi em vừa lên mười sao đã l¡m đeo mang trách nhiệm. Cơm nước, coi em, đập đá. Một ngày em ăn được mấy chén cơm nguội với cá kho khô?</p>
<p>Từng này tuổi, em đã phải làm mẹ, làm con, làm chị. Nhiều trách nhiệm đeo trên vai làm sao em lớn. Trí óc và thân thê làm sao phát triển, hả em?</p>
<p>Thằng em nhỏ thức dậy sau một giấc ngủ say, vội vã kiếm chị, nhưng m¡t lại mải nhìn tôi, vấp phải chân bàn, ngã chúi, những viên bi trong túi rớt ra, lăn dài trên nền nhà. Những viên bi tròn, trong xanh như m¡t em.</p>
<p>Bao thế hệ đi trước em đã hy sinh, chỉ mong cho con, cho cháu như em được sự bình an trong một xã hội nhân hòa, bác ái. Đúng ra giờ đây em đã phải được đối xử công bằng và được hưởng đầy đủ mọi quyền lợi. Bất hạnh cho em sinh ra và lớn trong một đất nước nghèo nàn, lạc hậu. Chiến tranh tàn phá hàng ngàn năm. Nhà nước quản lý sai lầm. Em được hưởng những gì trong một nước Việt Nam độc lập, dân chủ, đổi mới? &#8220;Diễn biến hòa bình, hòa hợp hòa giải, dân chủ tự do, kinh tế thị trường&#8221;. Tất cả chỉ là mỹ từ, sáo ngữ. Ở vào tuổi em, thay vì ôm sách tới trường mỗi sáng, chiều về học đàn, học vẽ, chơi thể thao, nghe nhạc và mộng mơ. Em lại &#8220;tay xách nách mang&#8221; những đứa em, một bên xương chậu phải bành ra, để đỡ lấy chúng. Cánh tay với những vết mưng mũ, thân hình còm cõi thiếu ăn, đầu óc trống rỗng. Nơi mà giáo dục và y tế lại đứng cuối cùng trên danh sách canh tân đất nước. Bài toán của em, cả nước phải cùng nhau ngồi lại giải, không chỉ riêng em.</p>
<p>Tôi nhìn em rồi ngước nhìn trời, chợt nhớ tới anh bạn thi sĩ tôi mới quen ở Hà Nội. Anh lớn hơn tôi đúng hai con giáp. Thời chiến anh là bộ đội. Thời bình anh là nhà thơ. &#8220;Thế hệ anh là&#8230; vật bị thiêu đốt, là lửa, là cuộc chiến, là món thí nghiệm. Thế hệ em là sự thiêu rụi, là hậu quả, là hậu chiến, là đống tro tàn. Thế hệ con cháu chúng ta là những cọng cỏ non mọc lên từ đống tro tàn, từ đống gạch vụn. Có thể chúng èo uột, mong manh, nhưng chúng chứa đựng mầm mống của sự sống, tương lai và hy vọng.&#8221; Tôi ngồi im lặng nghe anh nói, mà thầm nghĩ anh quả là người lạc quan. Điều may m¡n cần thiết trời ban cho anh để tồn tại trong xã hội đầy dẫy những tang thương này.</p>
<p>Nhưng dù sao, ngay lúc này, tôi ước ao có anh ở cạnh tôi quá đỗi.</p>
<p><strong>Giấc mơ lòng lành</strong></p>
<p><strong> </strong>Nắng lửa-Nước mắt. Hai thái cực. Ở hai đầu trục. Trên dưới đổ ập xuống thân thể con bé. Suy Tàn hay Điêu Tàn? Nó nghĩ nát óc. Ừ, không phải Điêu Tàn, mà là Hủy Diệt. Không phải Hủy Diệt, mà là Bôi Xóa. Bôi Xóa nước mắt, chắc phải thế. Bởi chẳng thể Bôi Xóa một mùi son, chẳng thể Suy Tàn một hình thể nhất định từng hiện hữu, bởi lẽ ở cái tuổi ngày đó, nó chưa hề có được cảm giác trong tay cầm chặt thỏi son để bôi lên môi, như hàng chục năm dài ngoằng về sau, với hàng trăm thỏi son đã ngắm đã rờ mó đã lựa chọn đã thử lên đôi môi đã cho nó-cô-bà những giây phút cuồng nhiêït, lịm, điếng, tê, chất ngất. Nó đang nằm trong khoảng chu vi rất đỗi hạn hẹp, và thế giới sống cũng chật chội như thế.</p>
<p>Một sự liều mạng, vượt thoát, ra khơi. Sâu trong đáy tiềm thức, điều nó chưa thể định hình, hàng chục năm sau vẫn cứ manh nha như khởi thủy. Màn đêm nước lấp loáng bao bọc. Nắng nóng ấp ủ thân thể. Mùi đại dương ngập ngụa phủ che. Tiếng máy ghe ù ù ù, tiếng sóng vỗ vập rượt đuổi liên tục: âm thanh hỗn hợp đánh thức nó dậy, ngả nghiêng dù là trong tư thế nằm. Mùi rong rêu ẩm nhầy nhớt. Vũng rêu trong tròng mắt nó, non mướt dịu dàng tựa núm vú và vùng trung tâm thân thể vừa qua độ nhú, khẽ nứt mầm. Gỗ khô rang nồng tanh. Vị ướt ẩm sống còn. Níu. Níu lấy. Mắt nó rực tia sáng. Bước chân xuống ghe là sự liều mạng, phiêu lưu, tìm kiếm. Không quay ngược.</p>
<p>Những con cá ngọ nguậy. Nó nghe rõ làm sao. Yên đi, yên đi nào.Yên đi, bé nhé. Anh đây, bé ơi bé à&#8230; Có tiếng rong rêu gọi. Âm Vọng vượt trườn qua nó. Trùng khơi. Bé và anh hãy cùng vượt. Khối Thịt U Sầu to hơn cả hai đứa mình. Anh biết bé làm được. Hà cho anh chút hơi, chút can đảm của bé. Ôi em, anh gọi. Bé đây! Anh đang ở đâu? Em sợ lạc. Bàn tay móng cụt cáu đất cũ còn bám, của em. Bàn tay gầy xanh bao năm cầm bút, của anh. Nắm níu lấy nhau giữa Khối Thịt U Sầu. Đừng buông, bé nhé! Hãy úp mặt vào Khối Thịt U Sầu. Giữ được bao lâu? Vị đắng chát măng cụt đầu mùa đã vội đậm màu nâu già. Trong ruột, từng múi trắng đục ngọt ngọt chua chua nõn nà nằm úp mặt cong lưng. Giữ nhé! kẻo tuột, bám lấy mỏm đá trơn trượt. Là tia sáng bé chỉ tay anh dõi mắt mù tìm. Chóa lòa. Hồng hoang. Vô địa hình. Vô phương hướng. Vô địa táng. Đỉnh thóp đầu bé vừa lọt lòng mẹ phập phồng, anh quờ quạng tìm em, nút bầu vú cạn nguồn. Nhay trì. Bé ơi, bầu vú, những ngón tay thừa, vò xát. Mạnh. Mạnh nữa đi bé ơi! Hãy giúp anh vượt, leo qua Khối Thịt U Sầu này. Anh sợ.</p>
<p>Khối Thịt U Sầu chan hòa mùi máu anh, mùi tinh trùng cha anh, mùi nhau mẹ anh. “Để bé trèo qua nhé! Bé liều lĩnh can đảm mạnh mẽ hơn anh. Bé không sợ, không biết, hay chẳng còn gì để sợ, và đã quen sợ&#8230; cùng lắm là Chết. Chết là hết. Mẹ em đã chết.” “Suỵt&#8230; đừng nói thế, đừng nói thế, đừng để anh đánh mất&#8230;” Trong mắt anh, mù khơi, không biên cương, không bờ cõi. Nào, em leo qua được một phần rồi, cứng ngắc, nhọn&#8230; nhưng nóng hổi, mùi vị tham tàn. Sao chẳng ấm êm, mềm mại? Bầy cá đang rỉa dần bầu vú bé. Nhẹ, nào hãy nhẹ nhàng với em. Bé đau. Sao miệng bé ngậm đầy hột é trương phình? Ôi! anh. Mà đừng nhẹ quá, bàn tay ngón giữa cứng thẳng nhọn như cây bút. Ồ, bé muốn mạnh hơn, nhanh hơn. Có cái gì đó đang nói hộ em. Ồ, anh ơi! Môi khô nứt tanh ngậm nút trọn bầu vú con con nhú nụ. Trái thị rớt bị bà già bà hôn bà hít bà không ăn đâu. Nút mạnh đi anh. Sức mạnh là vũ khí, là quyền lực.</p>
<p>Hãy cho em nếm mùi vị hào quang hy vọng. Con cá tuột dần phiá dưới. Múi măng cụt rụng rơi như đóa trà mi nát tàn. Lưng ngã dập xuống đại dương. Ôi! anh. Vũng rêu non. Đàn cá con xum xuê bám rỉa thịt mềm non tươi rói. Đớn đau và sung sướng. Mạnh lên đi anh. Làm Bé sướng đi anh. Bé nói, giọng ra lệnh, quyền uy, ma lực. Rồi thì cả hai ta cùng rơi ngã trên Khối Thịt U Sầu. Ôm chặt em đi anh. Những con cá rỉa thiït. Những ngón tay móng cụt cáu đất cát xứ sở giờ trôi lạc vào vũng đục trí nhớ. Vĩnh biệt khu xóm nghèo nàn đầy vọng động và ánh sáng tuổi thơ không bao giờ có thật. Nước biển có rửa sạch? Nước mắt, máu, tinh trùng, nước của cửa mình em, nước từ cửa miệng anh, mồ hôi hai ta đồng phá hủy một cách bạo tàn nhất. Nắng lửa ngoài khơi, giông biển trong màn đêm chẳng thể cứu vãn. Con thuyền vẫn tiếp tục rẽ sóng. Trôi giạt về đâu? Em theo đoàn lưu dân. Bờ vai em nhỏ quá trời. Em theo đoàn lưu dân. Bờ môi thơm nồng bông bí nụ. Ôi đường xa vạn dặm. Không biết bao giờ gặp lại em!” Phá hủy, phá hủy sạch sành sanh. Bé rống to hơn tiếng sóng đập nát mạn thuyền. “Do you know where you’re going to. Do you like the things that life is showing you. Where are you going to. Do you know? Do you get. What you’re hoping for. Do you know?”</p>
<p>Xăng rưới vung vãi, que diêm đã bật. Đợi chờ gì nữa đây?</p>
<p>Con bé đã cắn nát trái ớt (bí) hiểm, căng cứng bóng lưỡng đầu mùa. Những năm, những ngày, những tháng kế tiếp, và mãi về sau, vẫn ứa nước mắt vì vị cay (đến lịm chết người).</p>
<p>Sau này, dọc đời người, con bé phải luôn nhặt nhạnh lại những phần mảnh mà chính tự tay nó đã đập nát. Cố tình phá hủy. Cố tình bôi xóa.</p>
<p>Không thể để Tương lai quyết định bởi Quá khứ nữa!</p>
<p>Ánh sáng tắt. Tiếng sóng vẫn không ngưng rì rào. Ghe sáu máy khởi đi từ Nha Trang gắng gượng ù ù. Thôi, chẳng còn ai ru ai nữa cả. Con bé leo trở lại bên kia (thế giới riêng). Vắng lặng qua mùa gặt. Vượt qua Khối Thịt U Sầu, cùng bọc trứng của chàng trai 18 tuổi khoác áo tông đồ, nối gót thánh Phê-rô bằng thể thức riêng. Nỗi ám ảnh quên/nhớ hiện hình bám sát. Ôi! Khối Thịt U Sầu, đầu quấn băng trắng máu khô dính cục. Viên đạn (lịch sử) ngày 30 tháng 4 năm 75 của ai đó. Địch/Ta xóa nhòa ý nghĩa. Bao nhiêu nơi sao không nã, lại nã ngay vào đầu người anh cả? Đổ thừa định mệnh là một cách tuốt sạch. Hay là nghiệp, công bằng hơn chăng? Có làm có chịu. Gieo gió gặt bão. “Anh vác Khối Thịt U Sầu xuống ghe trước đêm vượt biển.” Đêm nay anh gánh dầu ra biển anh chôn. Anh chôn, chôn hết cả&#8230; trăm nhớ ngàn thương. Đêm nay, đêm tối trời anh bỏ quê hương. Ra đi trên chiếc thuyền&#8230; Hò ơi, hò ơi phận kẻ lưu vong. Mệnh lệnh mẹ, ơn nghĩa cha, ánh mắt van nài chị kế. Anh gói gọn. 18 năm chia hai, nửa đầu sống gần cha mẹ, nửa sau đặt thân mình dưới chân Chúa.</p>
<p>Giờ thì anh đã đặt thân anh trong Bé. Ôi Bé của anh! Anh hết là hình ảnh người cha của bầy chiên ngoan đạo. Giữ đức vâng lời, cây chuối bảo trồng ngược không quyền cãi. “Phúc cho ai không thấy mà tin.” Và rồi, “Ai theo ta, hãy bỏ mình vác thánh giá.” Bé thay Chúa vác anh. Ngày tận thế, bé sẽ là người đứng hàng đầu Chúa đẩy xuống, không nơi nào lửa nóng bằng lửa địa ngục, và phải ở đó muôn đời, bé có biết không? Thế lò luyện tội? Đứa nào còn biết sợ Chúa. Eo ơi! Con rắn, quả táo, xương sườn, vườn địa đàng. Đàn bà là nguồn gốc của tà dâm, dục vọng, tội lỗi. Cần tấm chador che mặt khỏi cám dỗ đàn ông. Cần xẻo phắt cái mồng đốc để khỏi động tình rắc rối. Còn không thì thi hành tam tòng tứ đức, tiết hạnh khả phong là xong đời phái (tính) nữ. Còn anh thì sao? Ngày rời xứ, anh mang theo ánh mắt hai đấng sinh thành, tuyệt nhiên không có ánh mắt Chúa. Chúa lúc đấy đang ở đâu? Anh chịu. Anh cố nhét mảnh cồn trắng trong túi xách. Khối Thịt U Sầu lúc nào đã thở hắt hơi thở cuối? Ra với đời, có đôi người chứng kiến, là mẹ và mụ đỡ. Lúc lìa đời âm thầm độc Khối Thịt U Sầu hay biết. Khi bé và anh leo qua đàn cá con, vục mặt vào đám rêu non, chà sát, mút ngậm mười đầu móng tay cụt cáu bám, nghiến nát lưỡi (ai) mình. Khối Thịt U Sầu có chứng kiến với toàn thân bất động hay hai con mắt dán nghiền sự chết?</p>
<p>Biển vẫn vô tình. Vô tình đến độ tàn nhẫn. Biên cương hạnh phúc và tôäi lỗi bôi xóa trên chiếc ghe, trôi trên nước, luân lưu trên quả địa cầu. Những ngày ở đảo Songkla không dài. Nhưng dài hơn những ngày con bé và anh sống sau biến cố 30 tháng 4, cộng thêm một tuần lênh đênh trên mặt biển.</p>
<p>Rời quê nhà, với túi ni lông, con bé nhét vội vào đó vài thứ. Gia tài của mẹ để lại cho con. Gia tài của nó vài ba thứ, rồi cũng rơi rớt đâu đó trên đường ra tới bãi. Gia tài của mẹ là nước Việt buồn. Chiếc ghe đưa nó lìa xa quê nhà, như viên đạn nằm kẹt trong màng óc của Khối Thịt U Sầu. Sao lại là chiếc ghe đó, mà không là chiếc ghe khác? Sao con bé cắm đầu cắm cổ chạy ra phiá biển, một mình. Vì tiếng sóng vỗ hay màu biển xanh? Hay những gì phía bên kia biển? Cầm kéo sắc nhọn tự cắt đứt, rồi đâm nát tất cả. Tại sao trên chiếc ghe đó lại chở gã con trai đã quyết hiến thân đời cho Chúa nhưng lại mang trên người trái ớt cay xé họng nó giữa mặt bể khơi, giữa bao con sóng dập dềnh miên man, trên đầu những ngón chân chết tiệt sự sống, giữa tiếng máy ghe gắng gượng sình sịch sình sịch, bỏng mảnh da đùi trái mà mãi mấy ngày sau nó mới hay biết. Mấy tháng sau, qua tới Mỹ, nó còn phải thoa kem pho mát. Rồi vết thẹo lành lạnh mà nó vẫn chưa hoàn lại hồn.</p>
<p>Mảnh cổ cồn trắng, gã con trai đeo lại sau vài ngày (biến cố phi) lịch sử, dấu vết đầu tiên trên đảo những ngày đầu tháng 5/75 người Việt vượt biển đến đất Thái. Cả hai hết cơ hội gặp lại sau ngày rời đảo, dù rằng anh hứa, “Qua tới Mỹ anh sẽ mua cho em đôi dép đèm đẹp.” Có những câu nói, nghe qua một lần, ngậm ngùi suốt cả kiếp người. Nắng cát hải đảo bỏng chân. Miếng carton cắt, buộc giây biến chế. “Để cát không làm bỏng chân em.” Nhìn về phía nhà cầu, nhà tắm, cái hàng dài ngoằn ngoèo bởi những người bỏ nhà bỏ nước đứng chờ chực xin ăn. Sinh tồn nặng hơn đá Hòn Chồng. Chịu khó thua cát sông Hương. Hi vọng cao hơn đèo Hải Vân. Sự trìu mến, thiết tha tỏ lộ khả dĩ anh có thể đền bù. Chỉ ba ngày sau khi đặt chân lên đất liền, mắt anh ngước về hướng Chúa ngự trị, cầu nguyện cho linh hồn Khối Thịt U Sầu mau chóng về nước Chúa. Dù rằng hình hài đã vùi lấp vội vã (nên chẳng được sâu) trên bãi cát sóng biển vỗ về không ngưng nghỉ muôn đời. Đại dương đã là mồ. Con bé khá tinh nhạy, tự lo liệu tấm thân mình từ đấy. Trước mắt, cát cùng nước biển bao la biết dường nào.</p>
<p>Muốn được tự do, điều kiện tiên quyết phải có là lòng can đảm.</p>
<p>Giấc mơ Lòng Lành:</p>
<p>Trở về nằm trong tử cung mẹ: Tối đen thăm thẳm. Nước ấm áp, êm đềm. Cảm giác an lành, dễ chịu. Không sợ hãi, lo lắng. Bởi có mẹ che chở, bảo bọc. Mẹ làm hết, từ thở đến đái. Ôi! thiên đường tuổi thơ.</p>
<p>Tháng tới tôi 40 tuổi</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Người đàn bà trong trí nhớ</strong></p>
<p>Khi vị bác sĩ từ phòng trong bước ra báo tin Ngọc có thai được hơn hai tháng, tin vui vỡ òa trên khuôn mặt Hưng, chồng Ngọc. Riêng Ngọc, nàng lặng đi vài giây. Ðiều ước của hai vợ chồng nay đã toại nguyện. Sự kết tinh ngày hôm nay là do sự đồng ý, xếp đặt của cả hai vợ chồng. Lấy nhau hơn ba năm, đời sống lứa đôi hạnh phúc, căn bản kinh tế vững vàng. Tiếng oa oa của đứa bé đỏ hỏn cuốn mình trong chiếc chăn len mịn quả là cần thiết đối với hai vợ chồng.<br />
Chưa biết hạt mầm trong bụng nhỏ to cỡ nào, nhưng Ngọc có cảm tưởng sự sống như đang chuyển động luân lưu trong cơ thể. Ðứng lên đón cái bắt tay chia vui từ vị bác sĩ, nàng thấy phải thật nhẹ nhàng, cẩn thận. ” Phải thật cẩn thận”, nàng tự nhủ thầm. Cô Dung đã xẩy thai liên tiếp hai ba lần vào hồi năm ngoái.<br />
Rời phòng mạch, Hưng cho xe chạy từ từ. Cả hai im lặng ngồi cạnh nhau. Khi quá sung sướng hạnh phúc, ngôn ngữ thật khó diễn tả.<br />
Dừng xe trước tiệm phở quen thuộc. Hưng choàng tay qua xiết nhẹ vai vợ.<br />
“Nghĩ đến em với cái bụng bầu to. Anh vừa buồn cười vừa tội nghiệp. Chắc là nặng lắm Ngọc nhỉ?”<br />
Hình ảnh người đàn bà điên trong thành phố quanh năm chỉ gom lại một mùa hè trong ký ức xa xăm đột nhiên trở về với Ngọc&#8230; Qui Nhơn, thành phố miền biển, lúc nào cũng nóng như thiêu đốt. Con bé Ngọc lên năm lên bảy cởi trần, chỉ bận mỗi cái quần xi líp vải thô may phồng cũng vẫn còn thấy&#8230; nóng!<br />
Hằng năm, cô Thịnh từ Qui Nhơn lên Ðà Lạt đón hai anh em nàng về nghỉ hè ba tháng. Chuyện chính trong những chuyến đi là ông bà muốn hai cháu nội về ở gần vài tháng trong một năm.<br />
Ngay từ thuở bé, anh em Ngọc đã phân định được hai nơi: Quê Nội là Qui Nhơn, quê Ngoại là Ðà Lạt. Chuyện tình của bố mẹ qua lời kể đầy thi vị của cô Thịnh: Sau khi bố xong trung học trường Cường Ðể, Qui Nhơn, bố chọn đại học Ðà Lạt theo đuổi ngành Sư phạm, ở đấy bố gặp Giáng Hương, tên của mẹ.<br />
Mối tình đẹp và thơ mộng, bởi cả hai đã gặp nhau ở nhịp đập của con tim&#8230; văn nghệ. Bố có tay đàn Guitar đệm nhạc rất hay, quyện lẫn với giọng ca quyến rũ đặc biệt của mẹ. Người bố to lớn, dềnh dàng, vui tánh, thích kể chuyện tiếu lâm. Trái hẳn mẹ, nhỏ nhắn, tính nết e thẹn nhưng lại chịu khó theo sát nút thời trang.<br />
Hai người yêu nhau và lấy được nhau. Cuộc tình đẹp, thơ mộng, lý tưởng cho nhiều người chung quanh bàn tán, mơ ước, vì đã kết thúc êm đẹp, không nửa đường gẫy cánh như bao cặp tình nhân khác trong thời chinh chiến.<br />
Sau hơn năm năm chung sống, hạnh phúc trải dài như thảm cỏ xanh tươi. Hai đứa con kháu khỉnh tiếp theo nhau ra đời. Anh Dũng ra trước và Ngọc ra sau. Một trai, một gái. Căn nhà nhỏ ba phòng nằm lưng chừng ngọn đồi có hàng chè xanh bao bọc hai bên hông và sau lưng nhà. Duy mảnh vườn nhỏ phía trước trồng đầy hoa cánh bướm màu hồng lẫn tím nhạt. Sau này lớn thêm chút xíu, Ngọc khám phá ra bởi mẹ rất yêu loại hoa này nên bố trồng, không phải năm ba cây, mà nguyên cả sân trước trồng toàn hoa mẹ yêu thích.<br />
Trong một chuyến đi chấm thi dưới Nha Trang, trên đường về Ðà Lạt, xe đò chở bố bị Việt Cộng đặt mìn nổ tung. Hành khách trên chuyến xe đó không một ai thoát được mạng. Chết trọn sáu mươi hai người. Cô Thịnh kể lúc đi nhận xác bố, ông bà nội và mẹ đã nhận xác bố không được toàn thây. Một chân trái đã bị thân nhân của ai đó cầm nhầm.<br />
Mẹ khóc cạn nước mắt, ngất lên xỉu xuống không biết bao nhiêu bận, đã tưởng bị điên suốt một năm sau khi bố mất. Mẹ bán căn nhà đầy ắp kỷ niệm về sống chung với ông bà ngoại. Mẹ vốn đã gầy giờ đây lại gầy hơn. Nét khổ đau, cằn cỗi xuất hiện thật nhanh trên khuôn mặt mẹ.<br />
Ông bà nội nhiều lần ngỏ ý muốn đón hai cháu về sống chung bên nội nhưng bị mẹ gạt phăng. Và để chứng tỏ khả năng của con gà mái có đôi cánh xòe ra bao bọc được hai con gà non&#8230; mẹ xổ mền tung chăn bước ra ánh sáng, sau gần một năm quên hẳn đời mình. Tóc mẹ rụng gần phân nửa. Mẹ giã từ mùi dầu gió xanh hắt ra từ người mẹ. Vì hai con gà con, mẹ xăn tay áo, hùng dũng bước ra làm lại cuộc đời, khởi đi từ điểm đầu. Ban ngày mẹ chạy ngược chạy xuôi kiếm trường xin thêm giờ dạy. Tối về, mẹ mở thêm lớp kèm trẻ tại gia. Lương chắp đằng này, nối đằng kia cũng không đủ đâu vào đâu so với vật giá mỗi ngày một leo thang. Mẹ vẫn phải ở nhờ nhà ông bà ngoại, hai cháu vẫn được bà ngoại, mấy dì thay nhau đút cơm, tắm rửa và mắng yêu suốt ngày.<br />
Lần cuối ông bà nội dẫn cô Thịnh lên gặp ông bà ngoại và mẹ, với giọng sũng nước mắt là hãy thương ông bà nội, bởi ông bà chỉ có hai đứa cháu, thằng con trai độc nhất đã mất. Tuổi ông bà đã cao, sống chẳng còn bao lâu. Ông bà xin mỗi mùa hè cho hai cháu xuống Qui Nhơn chơi, và hứa sẽ đón đưa bằng máy bay chứ không bằng xe đò.<br />
Lòng thương yêu và sự chân thật của ông bà nội đã làm mẹ gật đầu. Mọi chuyện giải quyết êm đẹp cả đôi bên. Ðó là mùa hè 1968, anh Dũng lên bảy và nàng lên năm.<br />
Khí hậu Qui Nhơn và Ðà Lạt khác nhau một trời một vực. Thành phố miền biển và thành phố miền núi. Như Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ sanh được trăm trứng, năm mươi theo cha lên núi, năm mươi theo mẹ xuống biển. Qui Nhơn với những ngày đầu Ngọc không thể nào ngủ được. Phần nhớ mẹ, nhớ ông bà ngoại, nhớ cái mền hồng lông ngỗng mềm mại nàng vân vê mỗi đêm. Càng về khuya, tiếng sóng vỗ ì ầm của biển lại càng làm nàng nhớ tiếng thông reo quen thuộc từ thung lũng sau nhà vọng lên. Sau này lớn, nhớ lại những tháng ngày kỷ niệm tuổi ấu thơ, nhận thấy mình trẻ con, chóng quên, chóng nhớ. Hai thành phố níu kéo giằng co tình cảm nhưng luôn đầy ắp trong nàng. Những tia mắt ái ngại, thương xót của chòm xóm ”con không cha như nhà không nóc” chẳng nghĩa lý gì với nàng.<br />
Nhà ông bà nội nằm trên đường Nguyễn Huệ. Một trong những con đường chính của thành phố, chạy dài song song theo bãi biển. Căn nhà có ba tầng lầu. Tầng dưới dùng để buôn bán vật liệu xây cất nhà cửa. Tầng kế tiếp là phòng khách, phòng ăn, và phòng ngủ của ông bà nội. Tầng lầu ba là phòng của bốn cô con gái. Trong trí nhớ Ngọc, nó là căn phòng thật rộng bày bừa áo quần, giày dép, đồ phụ tùng làm dáng của nữ phái. Từ chiếc áo dài loang lổ mùi mồ hôi vừa thay chưa kịp giặt, đến những chiếc áo lót ngực viền đăng ten đã ngả màu. Rồi nào gương lược, phấn son xanh xanh, đỏ đỏ&#8230; Nhìn qua biết ngay đó là căn phòng của bầy con gái, đang vào lứa tuổi cập kê và hồn lúc nào cũng gửi gấm cho ai đó bên ngoài đường.<br />
Nhà không có sân, trời mùa hè lại nóng nực. Mặt hai đứa cháu lúc nào cũng đỏ au như hai quả gấc, mồ hôi nhễ nhại quanh người. Thế là cô út, mỗi xế chiều phải dẫn anh em nàng ra Sân Chùa, đi bộ khoảng măm phút để hóng mát. Gọi là Sân Chùa vì quen miệng, chứ thực ra chỉ là bãi đất trống không thuộc về ai, giữa sân có cái am bé tí như cái chuồng bồ câu bác Hải đóng cho anh Dũng trên Ðà Lạt. Mùa hè, mùa rong chơi của đám trẻ con, bởi thế con nít tụ lại rất đông ở Sân Chùa bày đủ thứ trò chơi. Con gái lò cò, nhảy dây, ô làng. Con trai thẩy lon, quay vụ, bắn bi&#8230;<br />
Sân Chùa đặc biệt lúc nào cũng hiu hiu gió mát, mặc dầu nắng nóng bao phủ quanh cả thành phố. Sân Chùa có những cây keo không biết ai trồng tự thời nào mà cành lá luôn xanh um. Thân cây cao lớn, phải hai hoặc ba đứa cỡ tuổi nàng nối tay ôm mới vừa trọn vòng. Lá keo nhỏ lăn tăn, càng lên cao càng nhiều gai nhọn. Trái keo hình xoăn ốc, khi chín ăn rất ngon, vị vừa chát vừa chua vừa ngọt, hợp với khẩu vị bọn con nít. Ngọc là một trong những đứa trẻ mê ăn trái keo. Anh Dũng, trái lại mê trèo cây hơn ăn trái.<br />
Và ở tại Sân Chùa này, Ngọc đã gặp hình ảnh một người đàn bà. Nhân vật nữ này đã đi thẳng, đi sâu vào nàng suốt quãng đời thơ ấu. Cho đến giờ đây, sau bao nhiêu năm xa cách, đã trưởng thành trên đất lạ quê người, nhưng hình ảnh này vẫn đeo đẳng nàng chưa thể dứt lìa.<br />
Sáng nay Ngọc thức dậy muộn. Quơ chân tìm kiếm đôi dép dưới sàn nhà. Ngọc bỗng thấy mình chao đổ như người chưa dã hết rượu. Ðầu quay tít như chong chóng treo ở đầu gió. Giấc ngủ chập chờn nửa tỉnh nửa mê trọn đêm qua, ói mửa đến mật xanh mật vàng. Nàng thấy kiệt lực, mềm lả như cọng miến. Ngọc cưu mang cái thai trong bụng đã được hơn ba tháng.<br />
Nhìn quanh giường, từ sàn nhà lên đến đầu tủ, nơi nào cũng ngổn ngang sách vở viết về người đàn bà mang thai, cả thẩy trên dưới gần hai mươi cuốn. Có cuốn Hưng mua, có cuốn nàng mua, số còn lại hai đứa mượn ở thư viện gần nhà. Nhìn số sách bày đầy trong phòng ngủ, Hưng bảo đùa ”Sanh con xong, em có thể viết lại cuốn cẩm nang cho người đàn bà mang thai, anh nghĩ còn hay và đầy đủ hơn mấy cuốn kia nhiều”.<br />
Nàng nghĩ đến đứa bé trong bụng. Nếu trai, đừng giống bố cái mũi, vừa to lại vừa lệch. Còn nếu là gái, đừng giống mẹ ở đôi mắt mí lót.<br />
Bác sĩ cấp cho Ngọc giấy phép nghỉ ở nhà hai tuần để dưỡng thai. Ngọc quá yếu, ăn gì vào cũng nôn ọe liền sau đó. Hưng chăm sóc nàng từng li từng tí. Từ ly sữa nhỏ đến chén soup hầm đủ loại rau tươi. Hưng dìu nàng ra sân sau hóng gió mỗi chiều. Những lúc được chồng nưng niu chiều chuộng, Ngọc thật lòng xúc động, nghĩ mình như đóa hoa được nở trọn vẹn. Nàng quả là người hạnh phúc!<br />
Nhưng mỗi đêm về, khi bàn tay chồng xoa nhẹ vào lưng vỗ về giấc ngủ cho nàng, trong bóng tối lờ mờ, đầu óc vật vờ nửa tỉnh nửa mê, hình ảnh ”Chị Ngà Ðiên” của thời ấu thơ lại thấp thoáng trở về&#8230;<br />
”Chị Ngà Ðiên”, người đàn bà, Ngọc gặp chỉ ba tháng hè mỗi năm ở thành phố mặn nồng mùi nước biển, dưới những tàng cây keo phủ đầy bóng mát, giữa tiếng reo hò của đám trẻ thơ chạy thuồng luông quanh xóm.<br />
Lần đầu tiên Ngọc gặp chị là một buổi xế chiều. Trời như đang muốn nổi cơn giông. Khi chị Ngà xuất hiện từ đàng xa, đám trẻ túa ra reo hò chào đón chị với những khẩu hiệu: ”Bà điên tới, bà điên tới&#8230; tụi bây ơi! &#8211; Chị Ngà điên, muôn năm! Muôn năm!”, chúng vỗ tay reo cười ầm ĩ. Thế là chị Ngà bắt đầu dừng chân đứng chửi, chị chửi đổng lên ”Mả cha bây con nhà mất dạy. Tao có động mồ động mả chi họ hàng nhà bây mà&#8230;” Ngọc há mồm ngây người đứng ngó trân. Lần đầu tiên trong đời, nàng thấy người điên giữa bầy con nít. Hình ảnh đó ám ảnh óc tò mò của con bé Ngọc vừa mới lên bảy.<br />
Và rồi dàn chào cũng chỉ ngắn ngủi độ năm ba phút. Ðám con nít trở lại với những trò chơi bỏ dở. Chị Ngà lững thững đi về phía cái giếng cuối góc Sân Chùa, lấy gầu múc nước đổ xối xả lên người, trên mình vẫn bận nguyên cái quần đen ống cao thấp, cùng chiếc áo cánh trắng đã ngả sang màu cháo lòng.<br />
Những ngày cuối hè, khi cây keo bắt đầu rụng lá. Ðám trẻ thưa dần. Hai anh em lại bịn rịn ông bà nội cùng mấy cô lên đường về bên mẹ và ông bà ngoại.<br />
Thời gian lặng lờ trôi. Ðến hè rồi hết hè. Thành phố miền biển và thành phố miền núi. Gia đình bên nội và gia đình bên ngoại. Giữa đám các cô, các dì và hình ảnh người mẹ dịu dàng, đằm thắm yêu thương đẩy đưa anh em Ngọc lớn dần, lớn dần.<br />
Nhưng thỉnh thoảng hình ảnh chị Ngà điên thấp thoáng xuất hiện, chị làm kẻ đồng hành cùng Ngọc đi suốt hành trình từ thuở ấu thơ&#8230;<br />
Biến cố tháng Tư, 1975 xảy đến. Năm đó Ngọc vừa tròn mười hai tuổi. Nàng nào hay biết những thay đổi chung quanh. Chỉ biết năm đó, hai anh em không được về bên nội nghỉ hè như mọi năm. Mẹ tất tả chạy ngược chạy xuôi, hai chữ ”vượt biên” được nhắc nhở nhiều lần ở những buổi cơm tối trong gia đình. Khoảng cuối năm 1976, mẹ và cậu Nguyên dẫn hai anh em xuống Vũng Tàu tìm đường vượt biên. Ban đêm nằm trong căn nhà lạ, nghe tiếng ì ầm của sóng biển, nàng ôm xiết lưng mẹ thỏ thẻ ”Con nhớ ông bà nội, mẹ đưa con đi thăm ông bà nội mẹ nhé?” Mẹ với giọng vỗ về: ”Ờ, để từ từ mẹ tính, xuồt! Ngủ đi&#8230;” Nàng mơ hồ biết lời hứa mẹ chỉ là lời hứa xuông. Khuôn mặt mẹ trong những ngày ở thành phố lạ, lúc nào cũng cố giữ vẻ bình tĩnh, tuy nhiên qua giọng nói, mẹ không che giấu được sự hốt hoảng lo âu trong lòng. Mẹ dặn cậu Nguyên phải ”canh chừng” hai anh em nàng thật kỹ, không được đi đâu khỏi căn nhà trọ. Nàng cảm thấy bị ”gò bó” và mất ”tự do”. Ðó là chút điều nàng cảm thông, chia sẻ được với những người chung quanh, trong thời điểm mà mãi sau này lớn lên, nàng mới thấu hiểu được.<br />
Chuyến vượt biên không thành, mẹ trở về tay trắng, lại sống nương nhờ bên ngoại, gắng gầy dựng lại từ đầu. Rồi lại kiếm đường vượt biên, rồi lại thất bại&#8230; Mẹ xuống Vũng Tàu, xuôi vô miền Nam, đâu đâu mẹ cũng dắt hai con gà con của mẹ.<br />
Tin tức bên nội gần như bặt hẳn. Mẹ quyết nuôi ý chí vượt biên. Sau vài lần thất bại cay đắng, mẹ quay về đường miền Trung cầu cứu ông bà nội. Thành phố Qui Nhơn vẫn nắng nóng thiết tha, tuy giờ đây phảng phất nét u buồn, tẻ nhạt. Ngoại trừ vòng tay ôm ông bà nội vẫn ấm áp như thuở nào. Sau ba năm xa cách, gặp lại, ông bà nội gầy yếu đi nhiều, nhà hết còn buôn bán vật liệu xây cất. Ông nội xoay qua nghề hớt tóc dạo. Cảnh nhà sa sút thấy rõ. Hai cô gái lớn đã lấy chồng, ra ở riêng. Bà nội suốt ngày ra vào ngớ ngẩn như người mất hồn.<br />
Buổi chiều đầu tiên trở lại thành phố miền biển. Nàng cùng anh Dũng ra Sân Chùa kiếm mấy người bạn cũ ngày trước. Cái am nhỏ còn đó, hàng cây leo lá vẫn xanh um tùm. Ðám bạn ngày trước giờ thưa thớt đi nhiều. Hỏi ra mới biết đứa theo gia đình dọn đi thành phố khác, đứa đã vượt biên&#8230; Cây keo vẫn xào xạc lá, trái chín lẫn trái sống vẫn lủng lẳng treo trên những nhánh cây cao. Anh Dũng bỏ về trước, còn lại một mình nàng ngồi chồm hổm, nhặt cành cây hất tung những lá keo khô. Mắt bâng quơ nhìn người qua lại.<br />
Từ xa, bóng một người đàn bà từ từ tiến tới. Ai đó có dáng đi quen quen&#8230; Ồ chị Ngà điên! Nàng vội vàng đứng dậy, chợt biết mình vừa vỗ tay reo. Một bà điên giờ đã nhiều tóc bạc, đen đúa. Và trời ơi! Bà đang có bầu&#8230; Trên mình không mảnh vải che thân, trần truồng từ trên xuống dưới. Lần đầu tiên giữa ban ngày, con bé Ngọc mười bốn tuổi, thấy tận mắt hình ảnh người đàn bà khỏa thân.<br />
Bà đi băng qua chỗ Ngọc đứng. Mắt nhìn vào trời đất mênh mông, chân bước không định hướng, miệng cười cười&#8230; dáng đi nửa lầm lũi nửa lệch lạc vì cái bụng bầu quá to so với khổ người. Ngọc kéo mành cửa qua hẳn một bên để mảng nắng đầu mùa chiếu rọi vào phòng. Ðứa bé trong bụng trở mình theo người mẹ.<br />
Ngọc mang thai được hơn bẩy tháng. Ðứa bé giờ có đủ tứ chi. Sanh ra có nhiều cơ hội nhập cuộc với đời.<br />
Mỗi ngày nàng tập thể dục đều đặn, ăn uống đúng cách thức chỉ dẫn của sách dành cho người đàn bà mang thai. Bốn thức ăn căn bản: Sữa, thịt, rau và ngũ cốc.<br />
Mỗi tối Thứ Ba, Hưng đưa nàng đến dự lớp Lamaze chung với hơn hai mươi cặp khác, được bà giáo chỉ dạy cách thức giữ gìn, săn sóc người mẹ và đứa bé. Lúc sanh đẻ, thở và rặn như thế nào cho đúng cách, sanh xong phải chăm sóc đứa bé ra sao. Ðiều bà giáo nhắc đi nhắc lại mỗi tối Thứ Ba, con ”là con chung” của hai vợ chồng, thành ra chồng phải hết lòng thương yêu vợ, lo lắng chăm sóc con.<br />
Nàng và con nàng quả là người vừa hạnh phúc vừa may mắn!<br />
Ðất nước biến đổi, xã hội nhiễu nhương, luân lý đảo lộn, hậu quả có phải chăng là cái bào thai đang nằm trong bụng chị Ngà?<br />
Trước năm 1975 chị đã bị điên, nhưng vẫn còn tỉnh táo để khoác trên người một bộ đồ mốc cũ. Giờ đây còn gì để che đậy? Ði lang thang trước mặt đám trẻ, chúng chỉ dõi mắt nhìn theo chứ chẳng còn thiết tha reo hò chọc phá.<br />
Nếu bây giờ gặp lại chị Ngà, Ngọc sẽ nắm bàn tay chị, hỏi ”Chị Ngà ơi! Chị Ngà! Chị có biết chị đang cưu mang một mạng sống hay không hở chị Ngà?”<br />
Ôi đôi mắt vô hồn của chị, đầu đội trời chân đạp đất, chị phăng phăng đi tới đâu thì tới.<br />
Ôi xã hội với con đường dẫn xuống âm ti địa ngục, lương tri đạo đức con người nay đã gửi gấm về đâu? Thân xác người đàn bà điên cũng phải bị trả giá.<br />
Ngọc đã đi sâu đi sát với cuộc đời gần ba mươi năm. Một nửa làm tuổi thơ trên quê hương khốn khổ, nửa kia trên mảnh đất trời thương, dành quá nhiều ưu đãi. Ðồng thời sắp sửa làm mẹ, Ngọc mới thấm được cái đớn đau, nghiệt ngã của thân phận đàn bà trong giai đoạn lịch sử đen tối nhất.<br />
Ngọc nằm xem TV cạnh Hưng. Hai chân duỗi dài vì khó lòng gác chéo lên nhau. Hai vợ chồng vừa thả bộ mấy block quanh nhà. Nàng siêng đi bộ để sanh đẻ cho thuận buồm xuôi gió. Ðứa bé trong bụng mẹ được hơn tám tháng. Mấy ngày nay nó cứ đấm đạp liên hồi, nàng đưa tay xoa nhè nhẹ bụng mình như thể dỗ dành, nựng nịu con.<br />
Nàng nhớ hôm nghe tin có bầu. Ðêm về, ôm Ngọc trong cánh tay, Hưng thầm thì mong là con trai, lớn lên chơi tennis cặp với bố. Ngược lại, Ngọc mong là con gái, lớn lên đi shopping với mẹ. Nay thì trai hay gái, mũi lệch hay mí lót, không còn nghĩa lý tí ti nào cả. Lạy trời sao cho con đủ tháng đủ ngày, sanh ra khỏe mạnh, không bất thường điều gì. Bởi sự hiện diện của con trên cõi đời này nào có sự đồng ý của con, mà là hoàn toàn quyết định của bố mẹ. Rồi đây cuộc đời con hạnh phúc hay khổ đau? Hành trình trần gian đang thăm thẳm chờ đón con, con yêu của mẹ.<br />
Chị Ngà Ðiên sẽ nghĩ và phản ứng như thế nào, nếu đứa bé giẫy đạp trong bụng chị? Chị có dịu dàng vỗ về xoa xoa cái bụng hay lại chửi đổng lên ”Mả cha mi, tao có động mồ động mả chi&#8230;” Ngọc trăn trở qua lại, băn khoăn tự hỏi. Sau 1975, dưới gầm trời Việt Nam đói ăn đói mặc đói luôn cả tình người. Ai dư thừa chút tình người san xẻ cho chị? Nhà thờ nhà thánh thầy chùa sư sãi đang chui trốn nơi đâu?<br />
Khi chiều hai vợ chồng Ngọc đi shopping mua sắm đồ đạc cho đứa con nhỏ sắp chào đời. Cái nôi nhỏ màu trắng phủ mền len ngũ sắc. Ðứng nhìn phòng con, Ngọc nở nụ cười hài lòng. Màu wallpaper đi tiệp màu màn cửa sổ, cái đèn ngủ nhỏ có hình dạng thằng hề mặt thật vui, cầm chùm bong bóng đủ màu, xanh xanh đỏ đỏ trẻ nhỏ nó thích. Cô An, em gái Hưng mỗi cuối tuần tạt ngang nhà, cho cháu hết cái này đến cái nọ, nào bít tất, áo len&#8230; ôi thôi đủ thứ, đủ kiểu đủ màu. Con ơi! Mọi người chung quanh đang mong con ra đời. Bà nội nấu món gì ngon cũng sai cô An mang qua cho mẹ con mình ăn. Mỗi ngày bố hôn con qua bụng mẹ không dưới mười lần. Mẹ thầm thì nói chuyện cùng con. Nhìn tấm ảnh trong tờ magazine chụp bàn tay người mẹ nắm lấy bàn tay nhỏ xíu của người con, mẹ liên tưởng đó là tay mẹ đang níu lấy tay con. Ôi con thương yêu của mẹ!<br />
Nụ cười ngây ngô khờ dại. Ðôi mắt vô hồn. Hai chân trần in trên bãi cát nóng miền biển. Bụng ỏng, lưng cong với những bước đi không định hướng. Ðất cát dưới chân cũng lún sâu với sức nặng của cái bào thai. Kiếp khổ nhục của người đàn bà Việt. Kẻ lạ đứng trố mắt nhìn người điên trong thành phố lạ. Bỏng chân chị có hay? Ðứa bé đói bụng mút tay trong bụng chị có biết? Ai trong thành phố đổi chủ này còn có khả năng, xót chút từ bi đưa tay truyền hơi ấm cho chị? Jennifer, cô em út của Hưng vừa tổ chức sinh nhật thứ mười bốn cuối tuần qua. Con bé đánh phấn thoa son coi bộ đã là thiện nghệ. Ðứng đâu cũng ri rỉ điệu nhạc và nhún nhẩy một mình. Mền gối chiếu chăn in đầy hình năm chàng thanh niên trẻ, bảnh trai trong ban nhạc New kids on the block lừng danh hiện thời.<br />
Bằng tuổi này của gần mười lăm năm về trước. Con bé Ngọc đứng căng tròn con mắt ngó người đàn bà điên mang bầu, khỏa thân 100% ngay trên mảnh đất đẻ sinh ra nó, mà mẹ nhất định sống chết gì cũng phải tìm cách dứt lìa.<br />
“Tính theo ngày thì Thứ Hai tới bà sẽ sanh. Tuy nhiên, từ đây tới ngày đó bà có thể sanh bất cứ lúc nào. Về nhà tĩnh dưỡng cho khỏe. Nhớ uống nước và rán đi bộ càng nhiều càng tốt. Cứ bình tâm chờ đợi. Hai mẹ con đều khỏe mạnh. Nếu có triệu chứng lạ cứ gọi đến văn phòng”.<br />
Ngọc mỉm cười, gật đầu đa tạ vị bác sĩ đã tận tâm chăm sóc hai mẹ con nàng chín tháng nay. Ngọc tính nhẩm ”Thứ Hai tuần tới, còn năm ngày nữa. Hôm nay Thứ Tư, hết weekend này, Thứ Hai tới, người ta đi làm, mình đi sanh”.<br />
Hai vợ chồng đã sắp xếp, chuẩn bị đủ mọi thứ. Mấy ngày nay, nàng đi đứng quá đỗi khó khăn, hai bắp chân, mặt mày sưng lên như người bị bệnh phù thủng. Soi gương trông lạ và xấu xí đi nhiều. But who cares! Ta sắp được làm mẹ, còn nỗi niềm hạnh phúc nào hơn?<br />
Ðêm qua, Ngọc thức dậy không biết bao nhiêu bận để đi tiểu. Lưng đau, bụng nặng, chân tay như không liền người. Nhìn nàng cả đêm loay hoay, khổ sở tìm cách xoay mình để bước xuống giường. Hưng nói nhỏ ”Phải chi anh đi được giùm em, Ngọc nhỉ!” Câu nói làm ý tưởng chạy nhanh qua đầu Ngọc ”đàn ông đi biển có đôi, đàn bà đi biển mồ côi một mình.”<br />
“Mẹ ơi! Mẹ ơi! Mẹ đâu? Mẹ của con đâu? Ðau quá mẹ ơi! Chắc con chết mất!”<br />
&#8230; À ơi cái vạc mà đi ăn đêm<br />
Ðậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao<br />
Ông ơi ông vớt&#8230;<br />
Những trái keo vừa chín nở bung, ngon quá mẹ ạ! Mẹ ơi, con đau quá! Hoa cánh bướm trước sân nhà cũ của mình trên Ðà Lạt còn nở nhiều bông không hả mẹ? Mẹ ơi, con đau quá! Cát Qui Nhơn nóng quá là nóng anh Dũng ơi! Sóng biển đêm nay sao vỗ to thế hở bà nội? Mẹ ơi đau quá! Chết con mất mẹ ơi!”<br />
Keep trying. One &#8211; Two &#8211; Three. Push, push&#8230; thở ra, thở vô&#8230; Almost. Take a deep breath!<br />
Cơn đau dịu xuống. Mảng tóc đen của đứa bé thập thò ở cửa mình, Ngọc nhìn thấy qua tấm gương tròn lớn treo trên tường, ngay trước mặt. Nàng trở lại trạng thái tỉnh táo bình thường như đang đứng trước tủ lạnh, nghĩ xem chiều nay sẽ nấu món gì cho chồng ăn, với chỉ thứ ấy rau và thịt. Ngọc chợt khám phá đau đẻ thật là kinh hoàng. Nó đau từng cơn, từng hồi, từng chặp. Kim đồng hồ trong computer kê sát giường càng lên cao thì cơn đau càng khốc liệt. Kim đồng hồ xuống thấp thì đầu óc tỉnh táo như đang ngồi gác chân nói chuyện vãn với chồng. Rồi kim đồng hồ lại từ từ lên cao, quặn, rặn, thở, rên la, hò hét, cào cấu&#8230; Chúa Phật sư sãi lúc đó ngoảnh mặt làm ngơ. Chỉ có mẹ, là mẹ, làm mẹ mới thấu hiểu được xác thân đớn đau banh da xẻ thịt này.<br />
Bà Ngà Ðiên xuất hiện đột ngột với nụ cười san sẻ!<br />
Mẹ lấy hết sức bình sinh phùng mang trợn mắt, rặn một hơi cuối. Con tuột ra khỏi người mẹ. Ơi Con!<br />
Ngọc sanh được đứa bé gái cân nặng 7bl 2oz. Chiều dài hơn 20 inches vào lúc 5 giờ 08 phút sáng Thứ Hai, ngày đầu tuần.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Nơi không có biên giới</strong></p>
<p><strong>LTS:</strong> Truyện ngắn “Nơi Không Có Biên Giới” đã xuất hiện trong tập truyện <em>Đôi Bờ</em> (1993)<em> </em>của Lê thị Thấm Vân, đánh dấu giai đoạn sáng tác đầu của tác giả.</p>
<p><strong><em>Những ngày cuối thu.</em></strong></p>
<p>Đêm phả hơi lạnh. Từng cơn gió thổi, trăm ngàn lá khô rào rạt. Đèn đường tỏa màu sáng mỏng, xuyên qua từng lá khô lấp lánh trong trời đêm. Nhìn, người con gái liên tưởng đến đàn bướm đeo cánh vàng lúa chín. Hai chân cô thoăn thoắt đua theo tiếng gió cùng đàn bướm.</p>
<p>Cánh cửa màu lựu chín chung cư về đêm ngã sang đen.</p>
<p>Qua khung cửa sổ, bên trong màn, bóng người đàn ông đang ngồi đọc sách. Đèn tỏa ánh vàng hiu hắt. Người con gái đi chậm lại. Đôi giày đế cao su không đủ gây tiếng động mạnh. Chỉ khi tiếng lách cách của chùm chìa khóa và tiếng đóng sập cánh cửa thì ông biết chắc cô gái ở sát cạnh đã về tới nhà, bình yên.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong><em>Sáng mùa hạ.</em></strong></p>
<p>Vạt hoa mười giờ trước cửa nhà đã hé nu. Mỗi buổi sáng, người con gái lấy gáo nước từ phòng bếp tưới lên vạt hoa. Đôi khi người con gái ngồi xuống vuốt ve mấy nụ hoa xinh xắn, như đang chăm sóc những phần thân thể quen thuộc mới lớn.</p>
<p>Căn nhà sát vách, người đàn ông cũng rời bỏ áo khoác xám tro thường ngày. Ông mở cửa, bước hẳn ra ngoài. Trông thấy ông, cô gái nhoẻn miệng cười tươi.</p>
<p>“Chào cô.”</p>
<p>“Chào ông. Nắng sáng nay đẹp quá!” Vừa nói cô vừa ngước nhìn bầu trời. “Mùa hè đến rồi đó, ông thấy không?”</p>
<p>“Tôi thấy rồi. Nhìn cô là thấy trọn mùa hè. Mùa hè và cô là một.”</p>
<p>“Ông ví von ngộ nhỉ!” Cô gái vẫn giữ nụ cười trên môi, nhưng hai má bỗng đỏ au.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong><em>Một chiều đông.</em></strong></p>
<p>Cô gái bị cảm nằm nhà liền mấy ngày. Thằng Vinh, em trai kém cô năm tuổi, bước nhanh vào phòng chị, không gõ cửa.</p>
<p>“Chị Trang, cái ông gì… gì… ở sát nhà mình hỏi chị đi đâu vắng mấy ngày nay.”</p>
<p>“Mày trả lời sao?” Cô gái hỏi nhưng vẫn nằm yên.</p>
<p>“Em nói chị bị bệnh.”</p>
<p>“Mày nói với ông chi vậy. Đồ thày lay.”</p>
<p>“Ơ… chị này, bệnh thì người ta bảo bệnh.” Vừa nói nó vừa bước vội ra cửa, nhưng còn rán vọng vào, “Ổng còn hỏi chị đã uống thuốc chưa. Gì chứ thuốc cảm cúm ổng có đủ loại.”</p>
<p>Cô gái trở người. Nàng thấy trời tối dần. Con gấu nhồi bông màu nâu sậm đã hòa lẫn màu tối căn phòng. “Chắc phải hơn sáu giờ,” cô nhủ thầm, rồi chắp hai tay đặt giữa đùi, thấy thân thể nóng ran. Mệt mỏi, đuối sức xâm chiếm trọn thể xác, tinh thần. Cô nhắm mắt, mơ hồ lắng nghe tiếng saxophone của người đàn ông ở sát vách vọng sang, cô rùng mình, toàn thân quay cuồng chới với. Hình ảnh hai cánh tay lẳn tròn, ấm áp, mềm mại của mẹ cô cố giơ tay chụp, nhưng cứ hụt. Rồi cái dáng ngồi lặng yên của mẹ ở góc bếp bên nhà khi đang nghĩ tới bố trong trại cải tạo, hoặc suy tính chuyện vượt biên cho hai chị em nàng. “Bất cứ ở hoàn cảnh nào con cũng phải ráng giữ mình và lo cho em, nghe rõ chưa Trang?” Mẹ nhấn mạnh từng chữ, từng chữ một. “Dạ, dạ con nghe.” Cô trả lời đồng thời nghĩ thầm còn phải nghe cái điệp khúc này dài dài. Lan man cô mơ hồ nhớ tới những ngày nắng cháy bên đảo. Bóng người lố nhố đi tới đi lui quanh trại. Con dốc nhỏ cạnh bờ biển có mấy tảng đá to thật to, mỗi lần cùng thằng Vinh đi kiếm củi, hai chị em phải vịn nhau để khỏi ngã. Mùi gió ngai ngái mặn nồng của biển về đêm. Rồi thùng quà cô đã gói kỹ nằm ở góc phòng, đang đợi đủ tiền cước phí mới gửi được. Trong đó có mười bao bột ngọt, ba xấp vải đen, áo nịt ngực, quần lót lẫn lộn giữa những gói m &amp; m, bánh ngọt, và chewing gum.</p>
<p>Tiếng saxophone vẫn vọng sang. Cô trở mình, gắng thò tay ra khỏi mền để vén tóc sang hẳn một bên, vô tình chạm phải cái lạnh tê buốt.</p>
<p>~ ~ ~ ~ ~</p>
<p>Một tuần sau cô khỏi bệnh.</p>
<p>Buổi sáng cô vừa bước ra khỏi cửa đi học, đồng lúc người đàn ông cũng vừa bước ra nhặt tờ nhật báo.</p>
<p>“Chào cô bé, cô đã khỏe hẳn chưa?”</p>
<p>“Da, tôi khỏe rồi ạ.”</p>
<p>Người đàn ông nhìn kỹ khuôn mặt cô gái.</p>
<p>“Trông cô còn mệt và xanh. Sao không nghĩ thêm…”</p>
<p>“Không được ông ạ. Tôi phải đi học, đi làm. Vả lại, ở nhà buồn và chán quá.”</p>
<p>“Ừ phải rồi, cô còn quá trẻ để bó gối ngồi nhà.”</p>
<p>Cô gái nhoẻn miệng cười tươi, đồng thời nghiêng người bước nhanh qua mặt người đàn ông.</p>
<p>Ông đứng yên, nhìn người con gái từ từ đi khuất dãy chung cư.</p>
<p>~ ~ ~ ~ ~</p>
<p>Sau lưng chung cư là mảnh vườn hoang. Giữa đám cây dại mọc lên cây chanh sát bờ rào. Từ nãy giờ cô gái loay hoay với cành cây, cố hái cho được mấy trái chanh treo lủng lẳng.</p>
<p>“Đưa cây qua đây tôi hái hộ cho.” Tiếng người đàn ông vọng sang, mặt cô gái bỗng đỏ au.</p>
<p>Bước chân vào nhà. Hai tay cô cầm chặt hai trái chanh. Một pha nước mắm. Một pha ly đá chanh đường cho thằng Vinh. Mặt cô gái vẫn còn hây đỏ. Nàng lấy tay rờ má, tự trách, “Sao mình cứ phải đỏ mặt, luống cuống mỗi khi đối diện ông hàng xóm?” Rồi cô mỉm cười. Khuôn mặt cô chưa bao giờ dám nhìn kỹ, thật kỹ.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong><em>Chiều xuân.</em></strong></p>
<p>Một trong vài hạnh phúc nho nhỏ của cô là gội đầu vào chiều rảnh rỗi, có nắng ấm để ngồi hong khô tóc. Tóc cô dài, đen mượt vừa phủ vai. Cô hay nghịch hất tung mái tóc, hoặc lùa mười ngón tay như chiếc lược khổng lồ gỡ từng lọn tóc. Nắng gió lùa nhẹ thấm qua tóc, gáy, rồi mơn trớn trọn mặt. Cô ngửa mặt nhìn trời cao, màu trời xanh cùng đám mây trắng hòa lẫn. Cô buột miệng hát vu vơ,</p>
<p><em>“Chiều rơi cho lòng lạc loài chơi vơi.” (*)</em></p>
<p>Tiếng hát cô lao xao theo tiếng trẻ con hò reo ở cùng chung cư. Cô chợt bắt gặp đôi mắt người đàn ông hàng xóm nhìn sang. Tiếng hát ngưng ngang ở nốt nhạc cao nhất. Hai má cô gái đỏ au.</p>
<p>“Cô hát hay quá. Ước gì tôi hiểu được lời.”</p>
<p>Cô gái im lặng.</p>
<p>“Chắc là một bản nhạc hay”</p>
<p>Cô gái vẫn im lặng.</p>
<p>“Này cô…” Giọng người đàn ông nhuốm vẻ ngập ngừng. “Tôi có công chuyện phải đi xa độ mười ngày, định phiền đến cô.”</p>
<p>Cô gái quay người ngó hẳn sang bên kia bờ rào.</p>
<p>“Nhờ cô lấy thơ cất hộ tôi.”</p>
<p>“Vâng. Tôi sẽ lấy thơ cất hộ ông.” Rồi cô cao giọng, liếng thoắng, “Thế còn nhật báo? Tôi nhặt rồi… quẳng đi nhé!”</p>
<p>~ ~ ~ ~ ~</p>
<p>Buổi tối, cô gái vừa xem TV vừa gấp quần áo. Thằng em làm homework.</p>
<p>Có tiếng gõ cửa.</p>
<p>Thằng Vinh nhanh chân hướng về phía cửa.</p>
<p>“Ai thế?” Trang hỏi.</p>
<p>“Tôi đây.”</p>
<p>Giọng nói Trang nghe sao thật thân thiết.</p>
<p>“Ông hàng xóm sát vách. Em mở cửa chị Trang nhé?”</p>
<p>Cô gái gật đầu.</p>
<p>Người đàn ông bước hẳn vào bên trong. Cô gái mời ông ngồi.</p>
<p>Thằng Vinh tự động dọn dẹp đống sách vở.</p>
<p>“Tôi qua đưa cô chìa khóa thùng thơ.” Vừa nói ông vừa thò tay trong túi lấy chìa khóa trao cho cô gái. Rôi tiếp, “Ban đêm đi làm về, cô nhớ cẩn thận. Đoạn đường từ trạm xe bus vào chung cư gắng đi nhanh lên tí nữa nhé.”</p>
<p>Cái bóng người đàn ông ngồi bên trong màn cửa hằng đêm đợi cô về. Ánh mắt dịu dàng người đàn ông đang đối mặt. Cô gái bỗng cảm được làn gió ấm áp từ đâu phả mạnh toàn thân.</p>
<p>~ ~ ~ ~ ~</p>
<p>Những lá thư của ông hàng xóm cô gái cất trong hộp giầy để trên nóc tủ lạnh.</p>
<p>Một hôm thằng Vinh từ trường về nhà lên tiếng, “Chị Trang biết không, ông hàng xóm sát vách nhà mình là họa sĩ đấy.”</p>
<p>Cô gái quay hẳn người về phía thằng em.</p>
<p>Thằng em tiếp, “Em đến nhà thằng Hakim chơi, mẹ nó nói như thế. Bà ấy còn nói là vợ con của ổng còn bị kẹt lại. Té ra ổng cũng là dân tị nạn giống chị em mình. Mẹ thằng Hakim có vẻ cảm phục ổng lắm!”</p>
<p>Cô gái bước tới khung cửa sổ. Nắng chan hòa bên ngoài. Cô ngước nhìn bầu trời cao. Mây trắng bay bay. “Mây ơi mây bay về đâu?” Cô ước gì nhớ được trọn bài hát mà ngày trước mẹ thường hát vu vơ khi một mình.</p>
<p><em>“Chiều rơi cho lòng lạc loài chơi vơi.”</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong><em>Mùa thu 1991</em></strong></p>
<p>Ông hàng xóm thân yêu,</p>
<p>Phải hơn mười năm sống ở xứ này, những lời nói ngày trước của ông đúng và thấm thía dường bao.</p>
<p>Quả thật, xứ Mỹ hấp dẫn biết bao người. Nó như thỏi nam châm cuốn hút những ai muốn chọn ước vọng cho cái tôi. Xứ sở tự do, giàu mạnh, văn minh nhất nhì thế giới. Tiện nghi vật chất và tự do cá nhân được dán vào nhau bằng thứ crazy glue.</p>
<p>Bởi thế ông nói, “Được làm công dân xứ sở này là điều khó lòng từ chối.” Lời ông nói khi hai chúng ta cùng đứng quay lưng nhìn về phía sau, mỗi người mỗi phương, nơi cả hai đã ra đời, đã sống, đã lìa xa, có chung cơn mộng dữ. Rồi ông tiếp, “Để chối bỏ tất cả, nhất định nhận mình là đứa con quê hương dù bị ruồng bỏ là sự lựa chọn khổ đau, đầy nước mắt.” Tai tôi lắng nghe lời ông tâm sự, nhưng trong mắt tôi, hình dung những cụm mây đang lồng lộng trên bầu trời. Chúng tụ, chúng bay, chúng tan. Chúng vô xứ. Chúng hoàn toàn tự do.</p>
<p>Chiều nay nắng vàng rực một mảng ở chân trời, chói chan hình ảnh thiếu nữ mười chín xuân thì, má đỏ au, miệng lúc nào cũng nở nụ cười tươi thắm của hơn mười năm trước bỗng lao xao trở về.</p>
<p>Tôi nhớ cái ghế gỗ màu đất sét ở hiên nhà. Những chiều xuân tôi thường ngồi hong tóc. Vạt hoa mười giờ mọc trước cửa nhà. Cây chanh mọc vườn sau. Những đêm hè trời tối muộn tôi thường đi loanh quanh khu chung cư xem bọn con nít đùa chơi. Ngày đó tôi như hoa qùy vàng nở rộ để mắt mũi ông luôn luẩn quẩn. Tôi biết rõ, rất rõ… mắt mũi ấy dừng lại lâu nhất ở môi và ngực.</p>
<p>“Cô có đôi môi rất đẹp.” Một lần nói thế với giọng cố bình thản nhưng tôi cảm được sự chao đảo trong lòng.</p>
<p>Có những đêm thâu, chỉ riêng mình tôi, tưởng tượng khuôn mặt ông. Khuôn mặt ở sâu trong tôi suốt thời gian con gái. Khuôn mắt với những lằn nhăn lịch sử ưu uất nằm vắt ngang qua trán. Chúng gợi trong tôi mối tò mò khó lý giải bằng trí óc lẫn con tim. Phía sau những lằn nhăn đó, ần chứa gì? suy tư gì? chọn lựa màu sắc nào?</p>
<p>Những ngày của chúng ta đã hơn mười năm trước.</p>
<p>Ngày đó ông như cây cổ thụ vừa bị bứng trồng ở một nơi khác. Hoa lá rơi rụng, thân cây đổi màu. Tôi ngày đó như trời vừa rạng sáng. Bà giáo Mỹ, dáng to cao, ưa mặc đầm xòe sặc sỡ, thường nhắc nhở trong giờ học ở những ngày bên đảo, “Các anh các chị luôn mở lòng giang tay đón chào nơi mình sắp đến. Bởi không nơi nào, xã hội nào tự đến vồ lấy mình cả.” Lời nói đã in hằn trong tâm khảm đám tị nạn tóc đen thần phách tơi tả trên đảo Phi nắng nóng ngất người.</p>
<p>Mỗi lần đứng trước những khó khăn, nghịch lý của cuộc sống tôi thường nghĩ đến ông. Hoặc đôi khi bất chợt nhớ tới ông, tôi nhoẻn miệng cười. Bởi nhiều lần ông nói, “Hãy giữ nụ cười tươi thắm như thế, nhé!”</p>
<p>Ông yêu qúy, ông còn nhớ lần cuối cùng gặp gỡ?</p>
<p>Đó là buổi chiều cuối thu nắng chưa chịu tắt. Tôi qua nhà ông hỏi câu chuyện thắc mắc ở trường. (Khi có điều gì thắc mắc tôi hay qua ông hỏi ý kiến. Từ đổi ngành học, chỗ làm, mua xe cũ đầu tiên đến chọn màu sắc cây son). Cửa ngoài để hé, tôi lên tiếng không nghe đáp trả. Tôi tò mò, rón rén lần vào phòng ngủ, giang san của riêng ông, nghe tim thình thịch liên hồi. Tôi biết mình đang làm chuyện táo bạo, liều lĩnh. Trên giường, ông nằm lặng im. Căn phòng sách báo ngổn ngang. Trên bàn viết, lẫn giữa chai rượu mạnh, gạt thuốc đầy tàn, là bức thư, chữ viết gửi từ quê nhà ông, xứ Ethiopia.</p>
<p>Tôi đến cạnh giường, người ông lúc đó đầy hấp lực cuốn hút tôi. Tôi nhìn khuôn mặt người đàn ông đang say, đang bệnh, đang lọt thỏm, đang thất lạc. Tôi ngồi xuống mép giường, úp hai bàn tay tay lên mặt ông, xoa tìm những lằn nhăn ưu uất định mệnh. Tôi vục mặt trên ngực ông. Thời gian ngưng thở. Và rồi, một tay ông nắm giữ bàn tay tôi, tay kia, luồn vào áo tìm bầu vú tôi. Tay ông nóng hổi. Bức tường trắng trước mắt là màn sương trắng đục, lấp lánh trong màn sương trắng đục là chùm pháo bông nổ tung muôn vạn sắc màu. Thời gian ngưng thở. Lần đầu giữa ông và tôi, biên giới xóa nhòa.</p>
<p>Ông hàng xóm nghệ sĩ thương yêu,</p>
<p>Và từ buồi chiều hôm ấy, hành trình vào đời của tôi có luôn vẻ đẹp yêu kiều của hai giọt nước mắt ở khóe mắt ông. Giot thăng hoa. Giọt sầu đau.</p>
<p>Đúng một tuần lễ sau, ông rời khỏi khu chung cư.</p>
<p>Bức tranh duy nhất ông vẽ lại sau khi rời xứ, là bức tranh ông vẽ tôi, thằng Vinh trao cho tôi đúng sinh nhật tôi hai mươi tuổi như lời ông dặn.</p>
<p>Chiều nay, cũng là chiều cuối thu. Tôi đứng trên lầu cao căn nhà trọ, đốt bức tranh, thả tro tàn bay lộng theo gió cuộn theo màu lá chết. Cuộc đời tôi rẽ sang ngã quanh, tuần tới tôi đi lấy chồng. Bức tranh là dấu vết đẹp nhất thời con gái tôi hằng nâng niu. “Qùy vàng”, tên bức tranh tôi đặt. Qùy vàng mong manh từ màu sắc đến nét mặt, nhưng đôi môi và bầu vú chất chứa rạo rực, sẵn sàng vấp ngã.</p>
<p>“Qùy vàng” tuyệt vời ở sự đằm thắm trong sáng dù bị nhào nắn giữa muôn trùng khốc liệt.</p>
<p>Thỉnh thoảng, trong giấc mơ, tôi thấy tôi trong bức tranh là hình ảnh không-thất-vọng của mẹ, hoặc, tôi biến thành khuôn mặt không-vô-cảm của vợ ông. Thức dậy, lòng tôi dịu nhẹ tựa tơ trời.</p>
<p>Tôi mong tro của bức tranh trở về với cát bụi.</p>
<p><em>Biển Santa Cruz, 1991</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Hoa Lư</strong></p>
<p>Ra Bắc, một nơi tôi đã dự định trong đầu, bất cứ giá nào, cũng phải tìm đến, đó là cố đô Hoa Lư.</p>
<p>Ngày còn bé, học lớp bốn, tấm tranh treo trên tường đối diện chỗ tôi ngồi, vẽ hình thằng bé mặc quần đùi, áo hở rốn, chân trần, tóc để chổm, chạy đùa nghịch cùng đám bạn chăn trâu, tay phất phơ ngọn lau. Hình ảnh ấy cứ ăn sâu vào trí não tôi. Thằng bé chăn trâu nghịch ngợm ngày đó là Đinh Bộ Lĩnh. “Anh hùng xưa nhớ thời niên thiếu, lấy cây lấy lau làm cờ, quên mình giúp nước, hết sức giữ gìn non nước, tiếng lừng nước Nam.” Cũng như hàng ngàn đứa trẻ cùng thời cùng lứa, ham vui, phá phách, nghịch ngợm, bày trò chơi, nhưng chỉ khác là, trò chơi bày binh bố trận ấy, sau này làm nên lịch sử, với biệt hiệu: Ông vua mục đồng.</p>
<p>Đinh Bộ Lĩnh, tên đứa bé khi còn chăn trâu, nhưng khi lên làm vua, đổi thành Đinh Tiên Hoàng. Ông là người đặt viên đá đầu tiên cho nền độc lập, thống nhất nước nhà. Đất nước tự chủ, phát triển văn minh, văn hóa. Ông đặt năm ngôi hoàng hậu ngang hàng bình đẳng: Đan Gia, Trịnh Minh, Kiểu Quốc, Cù Quốc và Ca Ông. Ông quả là người mê đắm đàn bà. Rồi ông chế ra những vạc dầu sôi, nuôi hổ, báo trong vườn, dựng cột đồng nung đỏ không ngoài mục đích trừng trị kẻ nào chống đối, đi ngược lại chính sách ông. Nhưng chí ông lớn và tầm nhìn ông rộng. Ông biết trọng người có học, dù vốn liếng học thức của ông ít ỏi. Ông quy định triều chế, đặc biệt trọng dụng những Thiền sư học lực uyên bác, đặt cấp bậc cho tăng đạo. Các sử gia khó tính như Lê Văn Hưu và Ngô Sĩ Liên còn phải khen ngợi và so sánh ông với Triệu Vũ Đế.</p>
<p>~~~</p>
<p>Chiếc xe Toyota cũ kỹ, xỉn màu dùng chở khách đi đường xa.</p>
<p>Cố đô Hoa Lư là nơi hiếm hoi người đến thăm viếng. Trên xe, cả thẩy ba người, là ông giáo sư đến từ Thụy Điển, anh tài xế, và tôi.</p>
<p>Bẩy giờ sáng, xe bắt đầu ra khỏi thành phố Hà Nội. Cảnh vật càng lúc càng rõ. Cái rõ của sự nghèo nàn thê thảm như bị trời cố tình đày bất cứ sự sống, sự vật nào hiện hữu nơi đây. Những khu chung cư tối tăm u ám, đầy ứ người. Những cành cây khẳng khiu, vá víu làm con đường dẫn vào những căn nhà trên mảnh vườn ngập nước và rác rến trôi lềnh bềnh. Tất cả mọi vật cứ lướt qua, lướt qua trước mắt tôi…</p>
<p>Mái tranh, vách lá, đường đê, ao nước, bóng cây, cục đất, cục đá… những khuôn mặt không ngày tháng chậm rãi rảo bước. Những mặt trâu và mặt người, thoạt nhìn, từa tựa nhau, nhưng nhìn kỹ, mặt trâu lộ chút hân hoan hơn mặt người. Nếu phải chọn một trong hai, trâu sẽ được chọn, không cần đắn đo, suy nghĩ.</p>
<p>Những khuôn mặt thuộc thế giới tiền sử. Sống chỉ để sống, như bản năng, không phân tích, không chọn lựa, không nghĩ ngợi, không cảm xúc. Những đôi chân trần dẫm trên đất đá lởm chởm như gai nhọn. Nắng và nóng tháng tám oi bức tựa nỗi khốn khổ, trốn đâu cũng không khỏi, chạy đâu cũng không thoát. Phải chăng sự khốn khổ làm nên người Việt Nam? Đàn bà đàn ông, trẻ già lớn bé, vào cuối thế kỷ hai mươi vẫn còn di chuyển bằng đôi chân thời đồ đá.</p>
<p>Khí trời đột nhiên ẩm thấp, nặng màu chì. Trời và đất lẫn lộn, quấn vào nhau, như sắp xụp.</p>
<p>Cố đô Hoa Lư mờ mờ hiện ra trước mặt.</p>
<p>Tôi xuống xe, đi bộ dọc theo con đường nhỏ dẫn vào làng. Hai con mắt tôi dáo dác nhìn quanh tìm kiếm những bụi sậy, thung lau, thung lá. Ăn mày xếp hàng dọc hai bên đường. Kẻ nằm người ngồi. Tóc bạc phơ thay cho những bụi lau trắng. Họ già nua như những ngọn đèn leo lét cạn dầu, đặt trước gió. Mắt không thấy, miệng không răng, nói không thành tiếng. Tất cả như hồn ma dựng dậy từ ngàn năm trước. Những lóng tay xương xẩu, rời rạc ngửa ra xin tiền mà tôi ngỡ như vẫy chào đón tôi.</p>
<p>Khi những lóng tay xương xẩu chạm vào người tôi, người tôi giật lên như đụng phải điện cao thế. Biết đâu một trong những người ăn mày đợi chết này, không là bác-chú-cô-dì của tôi?</p>
<p>Bố mẹ tôi rời Bắc vào Nam năm 1954, cho đến ngày cả hai nhắm mắt – mẹ tôi mất năm 1970, bố tôi mất năm 1976 – chúng tôi hoàn toàn bặt tăm vô tín bà con nội, ngoại.</p>
<p>Tôi bỗng thấy lồng ngực khó thở. Hai chân nặng lết lê từng bước khó nhọc như đeo tảng đá nghìn cân.</p>
<p>Túi dúi tiền vào tay họ. Đám đông ăn mày càng lúc càng kéo lại đông hơn. Tôi cho mà như thí, như vất. Đi mà như chạy. Tâm trí tôi rối bời.</p>
<p>Người gác cổng lăng cũng là ông ăn mày, quần đùi rách tưa gấu, áo không còn cúc, màu da như màu đất, cũng là khuôn mặt người chết cả ngàn năm dựng đứng dậy.</p>
<p>Tôi theo ông vào bên trong, đi dưới những tàn cây rậm bóng. Ông nói, nói nhiều lắm. Ông kể chuyện ngày xưa, thời Đinh Tiên Hoàng còn dùng lau sậy bày binh bố trân. Trời vẫn màu chì, khí âm… Ông nói điều ông muốn nói, đầu óc tôi vẫn tê cứng.</p>
<p>Vào trong đền, màu tối, u ám. Ngàn năm dừng lại nơi chốn này. Người và tượng sững sờ. Hình như ông giơ tay chỉ chiếc trống ngày xưa dùng tập họp quân lính. Ông chỉ mấy viên gạch lót dưới sàn nhà, nói điều gì đó. Rồi ông quay mặt ra cửa, giang tay chỉ mộ Đinh Tiên Hoàng xa xa trên đồi cao, nhưng giọng mập mờ không dám chắc vì xác vua đem giấu hơn là đem chôn, vì sợ vàng bạc, quần áo bị kẻ cắp đào xới. Hình như ông còn đọc cả thơ… Tôi giương mắt nhìn quanh, bụi nhện giăng ngang giăng dọc, bám đầy tường. Trần nhà ám khói, ám mùi, ám màu thời gian.</p>
<p>Tôi bước lại gần, lại gần hơn với ông vua Đinh Tiên Hoàng. Ngước mắt nhìn ông ngồi trên tấm ván cao, tôi với tay lấy nhánh hương, thắp đốt lạy ông vài lạy. Tôi chảy nước mắt. Những giọt nước mắt hiếm hoi từ ngày về lại Việt Nam. Tôi ngậm ngùi thương ông, chia sẻ nỗi niềm cùng ông, thông cảm tấm lòng ông. Cả ngàn năm trước, lúc cầm trong tay cọng cờ lau tập trận cho đến lúc lên ngôi vua, cố công lập quốc, chọn lựa tên nước là “Đại Cồ Việt – Nước Việt Lớn.” Người quý mến ông thì bảo ông là viễn mơ. Kẻ bàng quan thì cho ông đầy tham vọng. Nhưng có bao giờ ông nghĩ rằng một ngày nào đó, hơn ngàn năm sau, dân trong làng ông đứng, nằm, ngồi ngửa tay ăn xin đầy ngoài đường không? Và cả nước ông đang ăn mày thiên hạ không.</p>
<p>Và ông, giờ ngồi đây một mình, giữa trần nhà ám khói, nhện bụi che mờ mặt. Tổ tiên là sức mạnh văn hóa. Nhưng ông ơi! dân nghèo đói quá! Nai lưng lo từng miếng ăn, cái mặc, thì tổ tiên, trong đó có cả ông, cũng bị “vắng mùi nhang khói.”</p>
<p><em>8/1995</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><strong>“You’ve come a long way. Baby!” <a href="http://tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&amp;artworkId=12229#*"><sup>[*]</sup></a> </strong></p>
<p>Vạn Thọ vuốt dọc ngón tay, ngâm nga: “Đời người có một gang tay. Ai hay ngủ ngày còn được nửa gang.” Tu Hú dùng ngón trỏ gõ nhịp trên mặt bàn. Mưa Ngâu ngồi im, mắt lim dim, tai lắng nghe bà Hằng kể chuyện.</p>
<p>Bà Hằng vừa kể vừa thở dốc, giọng đục và lạc, nhưng vẻ mặt, điệu bộ tỏ vẻ thư thái. Bà vào thăm chồng mỗi chiều thứ tư và thứ bảy. Chồng bà ở khu 3, nơi dành riêng cho những người bị Alzheimer. Trời nắng rực làm thân dương xỉ lấp loáng bạc. Tiếng bà Hằng liên tục tựa tiếng xe chạy ngược chạy xuôi trên xa lộ giờ cao điểm. Con gái út bà hành nghề địa ốc gọi điện thoại cho biết sẽ đến đón bà trễ vì phải đưa khách đi coi nhà bất ngờ. Bà Hằng nhìn đồng hồ: “Sáu rưỡi nó mới xong công việc, vậy là tôi phải ngồi đây với các bà hơn nửa tiếng nữa!”</p>
<p>Bà Hằng kể đời bà sơ lược như đọc toát yếu, nhưng dấu mốc đẻ con thì chi li, tường tận. Bà lấy chồng năm mười bảy. Mười tám đẻ đứa con đầu lòng. Bà đẻ một hơi chín đứa đến năm ba mươi thì ngưng. “Đẻ đau vô cùng. Không gì kinh hoàng bằng đau đẻ. Lên cơn đau tôi cắn nát cả thành giường. Lên cơn đau tôi thấy cả người phóng tận trần nhà. Đau gì mà kinh khiếp. Tôi sợ đẻ. Đau quá! Đau chịu không thấu! Nhưng cứ mỗi lần ổng gần tôi là tôi dính bầu. Bà thầy bói nói số tôi đẻ mười lăm lần, nghe có khiếp không chứ? Tôi chửa đứa thứ bảy, bụng vượt mặt, đẻ bất cứ lúc nào, thế mà cân chưa tới 35 kí. Chồng ở trong quân đội, bản tính lại trăng hoa. Vợ bé, bồ nhí, ca-ve ổng sưu tầm đủ bộ.” Vi hỏi thế bà có ghen không? “Ghen làm mẹ gì cô. Ông đi đâu lâu tôi còn mừng, đỡ nhọc thân. Tôi có gian hàng bán vải ngoài chợ, Trời thương mẹ con tôi nên buôn may bán đắt lắm cô ạ. Tiền bán trong ngày, tối về tôi đếm mỏi cả tay, rồi nhét chặt trong mấy cái lon giấu kỹ trong rương. Một tay tôi nuôi bầy con. Có chồng như không. Ông đi thôi chứ về nhà là tôi sợ chết khiếp. Ông cần tiền đi chơi gái là tôi đưa ngay, đỡ nhọc thân tôi. Tôi ngày đó yếu lắm, ăn rất ít, miệng ngậm sâm quanh năm thế mà chẳng vào nhà thương ngày nào ngoại trừ đi đẻ cô ạ. Tôi để sức làm lụng kiếm tiền nuôi bầy con. Tôi dồn tâm trí làm sao người ăn kẻ ở lo cho con mình ở nhà chu đáo, đừng đánh đập, bỏ đói con mình chứ hơi sức đâu mà lo nghĩ đến chồng. Ông có lo nghĩ gì đến mẹ con tôi đâu. Đánh chết tính trăng hoa ông cũng không bỏ được đâu cô ơi! Thôi thì kệ thây ông ấy. Tôi coi như có chồng mà như không có cho khoẻ. Sanh xong đứa thứ bảy, tôi nghĩ tới lời bà thầy bói nói tôi sẽ đẻ mười lăm lượt, sợ mất hồn nên quyết định ngừa thai. Mà thời ấy làm gì có thuốc ngừa như bây giờ. Tôi đến gặp bác sĩ Nguyễn Hữu Đệ có tiếng đặt vòng xoắn giỏi nhưng lấy giá cắt cổ. Ông nói tôi là người công giáo thì phải có giấy chứng nhận được phép ngừa thai của cha xứ thì ông mới khám. Tôi đến gặp cha xứ, cha giảng: “Con cái là quà tặng của Chúa.” Tôi bảo bụng, “Gánh nặng chứ chả phải quà tặng cha ạ.” Cha giảng thêm: “Con cái là con của Chúa.” Tôi thầm nghĩ, mình mang nặng đẻ đau nuôi vất vả mà bảo là con của Chúa. Rồi cha khuyên tôi nên đến gặp bà sơ. Bà sơ khuyên Chúa thương Chúa cho bao nhiêu thì tôi nên giữ bấy nhiêu. Tôi định hỏi: “Chúa cho nhưng mình có được quyền từ chối không?” Tóm lại tôi đẻ con cho tôi hay cho Chúa? Tôi đi tới đi lui tổng cộng trên hai mươi lần từ ngày đầu gặp cha xứ đến khi có tờ giấy chứng nhận cho phép được ngừa thai tôi sanh thêm thằng con thứ tám. Cô nghĩ có kinh không chứ? Lúc cầm cái hộp nhỏ hình vuông màu hồng trong tay do bác sĩ Nguyễn Hữu Đệ đưa, tôi mừng chảy nước mắt. Cái hộp tôi phải trả hơn bốn nghìn bạc. Thời đấy vàng chỉ mấy trăm đồng một lạng. Cả một gia tài cô ạ. Cái hộp vuông bé bằng nửa gang tay, đựng miếng mút màu hồng nhạt, khi gần chồng thì nhét nó sâu vào trong cửa mình, xong rồi thì lấy ra rửa sạch, lau khô cất vô lại trong hộp. Tôi nhớ bác sĩ còn cho tôi hộp phấn xức cho nó thơm nữa chứ. Thật là giễu đời! Thế mà cô ạ, xui làm sao, một lần tÊi nhét nó bị lệch sao đấy, lại dính thêm cái bầu, lại đẻ thêm đưa thứ chín, là con gái út khi nãy gọi phone cho tôi nói phải đưa khách đi coi nhà bất ngờ đấy. Vợ chồng nó thôi ở với nhau hơn năm nay, giờ nó một tay nuôi đứa con, nhưng chưa bao giờ mở miệng than. Tất cả là do nó lựa chọn. Hai mẹ con bao giờ cũng líu ríu như hai con chim. Nó không vất vả như tôi ngày trước cô ạ&#8230; Đẻ con bé thứ chín xong chưa đầy hai tháng tôi quyết định cột. Lần này tôi làm thật. Tôi không đến gặp cha xứ, bà sơ nào nữa cả. Tôi bỏ tiền làm giấy chứng nhận giả, có dấu đóng hẳn hoi, cùng chữ ký toà giám mục cho phép tôi cột vì hay bị đau ốm. Nếu tôi có chửa, tiếp tục đẻ thì sẽ bị thiệt mạng, không ai nuôi bầy con. Tôi cầm giấy chứng “giả” đến bác sĩ Nguyễn Hữu Đệ, và lần này ông ta cột chặt luôn buồng trứng cho tôi. Vì sợ đẻ mà tôi phỉnh luôn cả chúa, cô thấy không?” Bà Hằng nói một lèo.</p>
<p>Vi nhìn bà Hằng, đoán tuổi bà xấp xỉ tuổi Tu Hú. Môi dưới bà hơi dày và trề. Nước da sậm khô nhưng bóng. Sóng mũi thẳng băng không biết bà có sửa không? Ánh mắt vẫn còn linh động như giọng nói và điệu bộ của bà ngay trong giây phút này.</p>
<p>Bà Hằng nhìn Vi, kể tiếp: “Mười bảy tuổi tôi lấy chồng. Từ ngày lấy chồng đến nay tôi chỉ có tám tháng thảnh thơi, muốn làm gì thì làm, được ngủ trọn giấc bốn năm tiếng mỗi đêm, không phải lo lắng gì.” “Chắc tám tháng đấy bà ở trong tại tị nạn? Thế bà ở trại nào? Bà sang đây năm nào?” Mưa Ngâu bất ngờ hỏi. “Không phải thế đâu bà ơi!” Bà Hằng trả lời. “Tám tháng đấy là từ ngày tôi gửi chồng tôi vào đây. Tôi khoẻ hẳn ra bà ạ.” Uống vội ngụm nước trà, bà Hằng kể tiếp. “Cách đây năm năm ông chồng tôi bắt đầu bị lú lẫn. Ổng nhớ nhớ quên quên&#8230; nhớ trước quên sau. Tôi mua hai cái lục lạc cột vào hai ống chân ổng tạo tiếng động leng keng, để biết ổng đang di chuyển tới đâu trong nhà. Nhưng chưa đủ tin vào tai mình, tôi mua thêm hai cái lục lạc nữa cột vào hai cổ tay ông để biết ổng đang làm gì. Bốn cái lục lạc làm tôi yên tâm hơn một chút. Tôi cột, thắt gút thật chặt để ổng không thể tháo ra được. Ban đêm, tôi phải choàng sợi dây quanh người ổng để khi ổng thức giấc ổng không thể bước xuống giường đi loanh quanh té ngã trong nhà. Thật tình mà nói, tôi và ổng chẳng biết ai nợ nần ai? Tôi sợ soi gương vì mỗi lần soi gương là tôi thấy mặt ổng chứ chẳng phải mặt tôi nữa. Từ ngày bị lú lẫn ổng chỉ thích ăn ba món mà không hề ngán. French fries ở McDonalds, thịt bò bằm ở Taco Bell, và mì xào mềm ở New Tungkee. Những món khác đút vô mồm là ổng nhè ra nhưng đút ba món này là ổng nhai nuốt thật lẹ. Nước uống thì chỉ thích Dr. Pepper và rau má lon. Nội chuyện ăn uống của ổng không cũng đủ làm tôi mệt đứ đừ. Ba tiệm nằm ba góc ngoài đường cái, đi bộ từ nhà ra đấy mất độ hai mười phút. Tôi phải cột ổng ở chân giường trước khi tôi ra khỏi nhà. Mỗi ngày tôi mua một phần chia ra ba hộp cất trong tủ lạnh, khi nào đến bữa thì hâm nóng lại bằng microwave.</p>
<p>Ổng im ỉm suốt ngày, chỉ thích mang đôi giày thể thao Adidas có dây để ông tháo ra buộc lại, tháo ra buộc lại&#8230; Ổng ngồi làm thế hàng giờ không biết chán hay mệt. Có lúc ổng đi lại cửa phòng bếp, xoay xoay nắm cửa, rồi mân mê, vuốt ve nhưng không hề ngó cái nắm cửa mà ngó ra sân sau không chớp mắt.</p>
<p>Trong ngày, có khi ổng chợt nhìn tôi, rồi lấy ngón tay chỉ vào mặt tôi, nói: “Bồ nhí đấy. Bồ nhí đấy,” xong cười hí hí. Có lúc ông nhỏ giọng: “Em đẹp lắm! Em xinh lắm!” Rồi thì: “Nhảy với anh không cưng? Nhảy với anh một bản cưng nhé!” Mấy câu nói thời trai trẻ ăn chơi bay bướm hào hoa phong độ của ông ở Sài Gòn trước 75 cô ạ. Thời ổng bỏ vợ bỏ con nheo nhóc, sống với bồ nhí, ngủ trên sàn vũ trường với gái nhảy. Vừa lãnh lương xong là mang bao hết ca-ve. Mấy câu nói như thần chú lặp đi lặp lại. Tôi không biết có phải vì ổng biết ông sắp rời xa thế gian này, hay trong tiềm thức, ổng tiếc nhớ thuở xa xưa, hay ổng ân hận đã đối xử tệ bạc với vợ con. Thật lòng tôi không biết&#8230; Nhưng, thôi, tôi chẳng còn bận tâm gì nữa cả.</p>
<p>Một buổi sáng, tôi từ phòng tắm ra, chân xỏ đôi vớ mới mua hơi dày, sàn nhà còn ướt, tôi trượt chân ngã một cái đùng, nằm thẳng đơ không còn biết trời trăng gì nữa cả. Phải mấy phút sau tôi mới dần dần tỉnh dậy. Tôi gắng hết sức lết người đến cái điện thoại bấm 911. Chưa tới mười phút sau thì xe cấp cứu, xe cảnh sát, xe cứu hoả ào ào chạy tới đậu ngay trước cửa nhà. Lúc họ vào thì tôi và chồng tôi đã ngồi sẵn trên ghế bành trong phòng khách chờ họ. Lúc đấy tôi chỉ muốn một điều duy nhất là họ đến chở chồng tôi đi.</p>
<p>Và trong ngày hôm ấy, chồng tôi được họ chở đến viện dưỡng lão này. Tính đến ngày hôm nay ông ấy đã ở trong này hơn tám tháng. Tám tháng tự do. Tám tháng giải phóng. Tám tháng thảnh thơi muộn mằn tôi hưởng được ở đời sống này.</p>
<p>Bà Hằng kể thêm, giờ đây, mỗi khi bà vào thăm ông, ông hoàn toàn chẳng biết bà là ai, ông không có cảm giác mất mát vì không còn trí nhớ, nhưng mỗi lần trước khi chào từ giã ông, bao giờ bà cũng ghé vào tai ông nói nhỏ (vì sợ lần tới vào thăm, ông không còn nữa): “Thôi nhé, ông ráng mà tu tâm tích đức cho đời sau. Tôi cầu trời khẩn Phât cho tâm ông được bình an. Kiếp này tôi và ông đã trả xong nợ nhau rồi. Ông ra đi bình yên. Tôi chẳng trách gì ông nữa đâu.”</p>
<p>“Thế bà không hẹn gặp lại ông ở kiếp tới à?” Tu Hú hỏi đểu.</p>
<p>“Thôi, thôi, thôi&#8230; bà ơi! Một kiếp đã quá khổ thân tôi rồi. Tha cho tôi trời ạ.” Bà Hằng vừa nói vừa xua tay, mặt không giấu nỗi sợ hãi.</p>
<p>Vi thắc mắc, sao lúc trẻ bà sợ chúa, thờ chúa, tin chúa, rồi chỉ vì sợ đau đẻ mà bà phỉnh chúa. Giờ về già bà quay sang tin Phật, cầu Phật. Phật không hề dạy cầu xin. Phật dạy con người phải tự lập, phát triển trí tuệ, không nên yếu đuối, vì yếu đuối đưa đến sợ hãi. Phật giúp con người nhìn sâu thấu nguyên nhân của khổ đau và tìm cách thoát khỏi khổ đau, chỉ thế thôi.</p>
<p>Vi nghĩ đến chị gái của Sarah vừa sanh con đầu lòng tuần trước. Sarah cho biết là chị của nó nói sanh không đau lắm, bác sĩ tận tình, có thể dự định cho đứa bé ra đời giờ nào, ngày nào. Khoa học đã dự phần đóng góp lớn lao trong công cuộc giải phóng phụ nữ. Thời nay phụ nữ chủ trương chỉ đẻ một hay hai con. Đẻ bớt đớn đau hơn ngày trước, và cũng bớt nguy hiểm.</p>
<p><a href="http://tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&amp;artworkId=12229#*R"><sup>[*]</sup></a> slogan quảng cáo thuốc lá Virginia Slim của hãng Philip Morris.</p>
<p><em>(trích đoạn tiều thuyết</em><em> </em><em>những người đàn bà đến từ hoả tinh</em><em>, chưa xuất bản)</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Đến từ Hoả tinh</strong></p>
<p><em>Thân xác bà được gói gọn trong chiếc xe lăn đặt ở góc phòng. Tóc và mắt bạc màu, người thun cong như con sâu róm. Bà đưa mắt nhìn tôi, mời gọi. Một tay bà giấu dưới tấm mền, tay còn lại để trên mặt bàn gõ nhịp yếu ớt, không đều. Tôi lách người qua những chiếc xe lăn gói gọn thân xác. Họ ngủ hay thức tôi đéo cần biết. Tôi cúi sát hỏi bà cần gì, muốn gì. Hai con ngươi bạc màu loé tia lửa. Những ngón tay trên bàn từ từ xoè ra, mở-dần-tương-lai. Mắt bà và tôi nối liền bởi sợi dây thẳng băng vô hình. Cái chết (có thể) nhìn bằng tia mắt hy vọng? Tôi đưa ngón tay trỏ đặt vào lòng bàn tay bà đang xoè. Bàn tay từ từ chụm lại, khép kín, đóng chặt. Cơn bão đang giãy chết? Tia lửa tắt ngúm. Tay bà siết dần, siết chặt dần. Cơn bão đi vào thủ đô Budapest một ngày tháng mười. Xe tăng made in Liên Xô lăn bánh tiến dần, thẳng sâu vào. Đàn ngựa vằn nổi loạn giữa thủ đô đang bị đốt cháy. Cuộc cách mạng “đạo đức” Hung bùng nổ? Phát Xít &#8211; sinh viên &#8211; Troskyist &#8211; tự do &#8211; dân chủ xã hội &#8211; tôn giáo&#8230; cùng nắm tay, tránh giẫm lên chân nhau. Tượng Stalin bị quật đổ, đôi bốt nằm chỏng gọng. Lòng bàn tay bà đang toả hơi ấm. Những chiếc xe tăng made in Liên Xô chở cơn bão tiến dần, thẳng sâu vào thủ đô Sài Gòn một ngày cuối tháng tư. Cuộc thống nhất đất nước khởi đầu cho cuộc tháo chạy. Nghĩa trang quân đội (sẽ) bị san bằng. Hoảng loạn giải phóng hay tự phát cách mạng thì nơi nào ruột gan người đều bị moi, treo trên báng súng gắn đầu xe tăng. Tang thương nào phải chuyện đùa. Chiến tranh không có chỗ dành cho đức hạnh.</em></p>
<p><em>Đoàn xe tăng di chuyển vào thủ đô, đẩy bà và tôi gặp nhau trên cái xứ lai tạp này.</em></p>
<p><em>Bao lâu rồi bà mới được sờ nắm lại bàn tay con người? Bao lâu rồi?</em></p>
<p><em>Bà mở mắt. Lòng tay bà ướt đẫm.</em></p>
<p><em>Tôi bước ra khỏi viện dưỡng lão, leo vội vào xe. Trời đổ cơn mưa. Những hạt mưa đỏ, đều như hạt dưa ngày tết rắc vãi. Màu của son môi, của kinh nguyệt.</em></p>
<p><em>Cơn bão rời khỏi thủ đô. Budapest vẫn còn và Sài Gòn đã chết. Một quá khứ bất an và một tương lai bất định.</em></p>
<p><em>Tôi ngâm mình vào giấc mơ Mỹ quá lâu?</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>***</p>
<p>Ngày xửa ngày xưa&#8230; tóc Tu Hú còn là những đợt sóng hỗn độn vồ vập. Sóng rút, để lại bãi chiến trường tàn phá do trời đất xoay chiều. Chiến trường có phần đời lắc lẻo phóng mình của Tu Hú, “cựu” quân nhân hiến năm tháng thanh xuân cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Thời mảnh đất ốm nhom, nhỏ thó như vóc người Tu Hú bị chẻ đôi. Sinh mệnh đầu đen nơi đây hoàn toàn phó thác trong tay những tên khát quyền lực nặn bóp từ lịch sử. Tu Hú quậy mình cùng đám lính tráng trên những chiến khu. Giờ đây, đôi khi trong ngày bà lẩm bẩm, giọng mơ hồ, cuộn trong gió thời gian, rằng bà là người ưa đùa nghịch định mệnh. Bọn có cu làm được sao mình không? Ở tuổi 18, Tu Hú gia nhập quân đội vì muốn thoát ly gia đình, đồng thời thoả tính phiêu lưu và hiếu thắng. Nhưng không ngờ nó đẩy Tu Hú đến chỗ phải chứng kiến cảnh người giết người giữa tiếng kêu cứu lẫn tiếng súng, và cả tiếng cười khả ố. Rượu đổ trên bụng Tu Hú, bọn đàn ông vục mặt uống. Rượu đổ dọc sóng lưng Tu Hú, bọn đàn ông le lưỡi liếm. Vũ khí tối hảo của Tu Hú là thân xác. Một lần Tu Hú nói với gã tình nhân trước khi quyết định dứt bỏ vì chịu hết nổi cái tính trăng hoa của hắn: “Giá trị của cái khoan không phải chính nó mà là do cái lỗ. Cái khoan của anh đã đục được bao nhiêu lỗ?” Rồi Tu Hú phì cười vì cái tính hài hước của mình trước mọi tình huống. “Đéo mẹ, đưa ngón tay ngoáy mũi thử xem, ngón tay sướng hay lỗ mũi sướng?”</p>
<p>Tuổi trẻ Tu Hú gắn liền với cuộc chiến, nàng chẳng được nâng như trứng, hứng như hoa, mà phải mạnh mẽ, can trường. Tu Hú (từng) mơ những giấc mơ của kẻ khác. Địch/thù rõ rệt như trắng/đen. Không pha chế, tô vẽ mặt (nạ) người muôn sắc như “cựu” hoạ sĩ Mưa Ngâu. Cũng không thừa đam mê dư liều lĩnh như Vạn Thọ. Ừ, Vạn Thọ, “cựu” gái điếm, rồi tự thăng chức chủ động điếm thời Mỹ đổ quân vào miền Nam. Vạn Thọ, người phụ nữ ưa cạo sạch lông lồn, có mép mu nhỏ nhắn, hột le tròn trĩnh, cửa mình chật hẹp như rãnh mương nhưng có thể chuyên chở tàu bè quốc tế xuôi ngược. Nơi bất chấp tất cả kiểu cọ, kích thước, màu sắc dương vật. Nơi được sử dụng như món hàng lậu. Nơi được khai thác triệt để. Đồng thời nơi trao đổi những món hàng quốc cấm (khác).</p>
<p>***</p>
<p>Bao nhiêu nghìn thằng đàn ông đã vác cặc vô ra cái động điếm do một tay Vạn Thọ tạo dựng? Một lần cao hứng bà ví nó hoành tráng chẳng thua ngôi chùa của sư bà Đàm Linh. Những thằng đàn ông từng leo lên bụng Vạn Thọ la hét, cào cấu, chửi rủa cùng lúc phóng đống tinh khí bầy nhầy vào lồn, mồm, đít Vạn Thọ. Fuck xong, chúng thở phào nhẹ nhõm như vừa hất được tảng đá nặng trịch đè trên thân chúng. Rồi chúng biến khỏi cánh cửa động điếm như gián, kiến, bọ chét, không quên để lại những đồng tiền nhàu nát, xoắn góc, rách tươm. Mùi tiền quyền lực, hối lộ, trộm cướp hay lương thiện? Tiền vợ sai đi mua sữa cho con hay đưa cho vợ đi chợ nấu buổi cơm chiều? Vạn Thọ đếch cần biết, chỉ nghĩ thẳng tưng là chơi xong phải trả tiền. Giờ đây, chờ chết trong cái viện dưỡng lão trên xứ sở mùa lạnh dài gấp đôi mùa ấm này, bà hồi tưởng năm tháng thanh xuân chẳng chút hối tiếc. Tiếng chén bát bẩn lua khua trong chậu hay tiếng nước đang sôi réo trên lò. Tiếng xèo xèo khúc cá thu chiên hay mùi rau muống xào tỏi toả lan từ trong bếp. Vạn Thọ vào bếp để ăn chứ chẳng phải nấu ăn. Những lọ sơn móng tay, móng chân, nước hoa, phấn nụ, thỏi son, lược, kẹp, bông tai&#8230; nhiều màu, khác kiểu, đủ loại là những thứ Vạn Thọ thân cận, trìu mến. Giờ đây, thỉnh thoảng trong đêm tối, nằm bất động nhắm mắt, những lọ chai thậm chí mùi thơm, màu sắc loáng thoáng hiện về trong trí nhờ chùng nhão. Khi trưa Vạn Thọ nói với con bé Vi thế này: “Thời bà bằng tuổi cháu bà hành nghề điếm, rồi bằng tuổi mẹ cháu bà là chủ động điếm. Cái nghề ăn thịt mình và ăn thịt người khác.” Con bé Vi giương to đôi mắt nhìn Vạn Thọ không nói năng gì, như thể nó cho đấy là quá khứ. Khi Vạn Thọ nói câu ấy thì trời bên ngoài không nắng không mưa, Tu Hú đang ngồi ngủ gục, Mưa Ngâu nghễnh ngãng nghe chữ được chữ mất.</p>
<p>***</p>
<p><em>Tôi đứng ngắm tấm tranh diễn tả một cảnh tình dục dị thường treo trên đầu giường bà Ann Chavez. Thứ bẩy này là sinh nhật thứ 86 của bà. Bà cấm không cho ai đụng vào tấm tranh, huống chi là gỡ nó xuống. Tấm tranh hoạ theo tranh mộc bản của Katsushika Hokusai.</em> <a href="http://tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&amp;artworkId=5364#1"><sup>[1]</sup></a> <em>Nhìn tôi, bà nói: “Thay vì hai con bạch tuộc một to một nhỏ — con nhỏ hôn môi, con lớn bú âm vật — thì trong tấm tranh của tôi có đến ba con bạch tuộc to lớn, khoẻ mạnh. Cả ba cùng cưỡng bức thiếu nữ bằng ba ngả: mồm, hậu môn, âm vật. Một con trăn dùng thân khổng lồ và dài của nó cột chặt hai tay thiếu nữ. Lông kín thiếu nữ đen, dài, rậm rạp tua tủa. Và, giữa đám lông man dại như rừng hoang ấy, rỏ dòng máu thắm tươi. Mắt thiếu nữ nhắm, đớn đau tận hưởng cơn thống khoái.”</em></p>
<p>***</p>
<p>“Sao anh cứ giấu em đi như giấu rượu lậu vậy?” Lời nói dỗi hờn của bà cách đây đã hơn nửa thế kỷ mà Mưa Ngâu cứ nhớ mãi. Thời gian xoá sạch biết bao thứ trên đời huống chi đấy chỉ là tiểu tiết. “Em thấy em đang cầm dao giết người anh ạ!” Nàng vừa nói vừa vuốt thẳng cái cổ áo cho chàng. Lúc ấy Mưa Ngâu 19, bằng tuổi con bé Vi bây giờ.</p>
<p>Mối tình Mưa Ngâu và ông thày dạy vẽ kéo dài hai năm đại học. Nàng là nữ sinh viên đầu tiên trong lớp dạy vẽ của ông. Ông hơn nàng 15 tuổi, có vợ và 2 con. Vợ ông là em gái của mẹ, người Mưa Ngâu gọi Dì Út. Mưa Ngâu luôn thấy màu đen ngòm của đất đang trườn lấp kín dần mọi cống rãnh trong thành phố. Đớn đau ập đến lúc nàng vừa quên nghĩ đến nó.</p>
<p>Mưa Ngâu (từng) là thiếu nữ thông minh, bản lĩnh, và quyến rũ. Vóc dáng không cao, hơi đẫy đà nhưng nhờ đôi mắt sáng và miệng cười tươi bù lại. Màu da mật nướng luôn tháp tùng niềm say mê từng tảng màu nàng hào phóng ném lên khung bố che phủ bốn bức tường phòng trọ. Mưa Ngâu đã tự cho quyền nàng sống hết mình trong thế giới của riêng nàng.</p>
<p>Thế nhưng, Mưa Ngâu luôn phập phồng trước những khoảng trống không hiểu được. Không thể hiểu được lại là hấp lực lôi cuốn nàng mãnh liệt, như tại sao lá rau má không to bằng lá sen? Tại sao mùi vị nước miếng, giọng nói, cùng ngón tay ông lại mở dần ra được da thịt nàng trong từng hơi thở mạnh, dồn dập, đứt quãng giữa trưa hè nắng nóng kinh người?</p>
<p>Vợ ông, em của mẹ, dì Út đã tắt thở khi đứa con thứ ba vừa lọt lòng, cùng lúc ông đang nhấp nhô trên bụng Mưa Ngâu trong căn phòng nồng mùi thông khô của thằng bạn cho mượn một tuần trên Đà Lạt. “Mày sẽ không có con ở kiếp này!” Lời nguyền rủa năm xưa của mẹ chỉ đúng một nửa. Mưa Ngâu không có con và không có chồng, dù đã nhiều năm ăn ở với vài ba người đàn ông, nhưng vì những lý do, chính đáng có, kỳ quặc có, bà chưa hề bận áo cô dâu, ký tên vào giấy giá thú.</p>
<p>Giờ thì Mưa Ngâu nằm đây, khôi phục trí nhớ suy tàn như toàn bộ lỗ chân lông trên hai mu bàn tay đã bị xoá trắng. Thấp thoáng âm dạng của ai vừa trút hơi thở cuối trước cây thánh giá đồng đen đang khẽ lay động theo tiếng accordion.</p>
<p>***</p>
<p><em>Tôi đứng nhìn họ như dàn nhạc với nhiều nhạc cụ khác biệt. Trước mắt họ là cái bàn gỗ chứa nhiều thứ linh tinh cần thiết. Tất cả đều được giữ sạch sẽ, xếp gọn gàng: computer, điện thoại, stapler, bút, giấy, folders&#8230; Tất nhiên có cả hai chậu cẩm chướng ny lông đỏ lừ lừ.</em></p>
<p><em>Y tá, thư ký, social workers, bác sĩ, nhân viên, tình nguyện viên&#8230; di chuyển tới lui, qua lại trước mặt họ và tôi.</em></p>
<p><em>Họ ngồi trong những cái ghế lăn khác màu, kiểu, kích thước, thời gian. Mỗi người sở hữu một cái. Có người mở mắt và có người nhắm mắt. Có người gục đầu và có người hả mồm. Tất cả đều yên lặng. Tôi cũng yên lặng. Bây giờ là 9:47 sáng, còn hơn hai tiếng nữa mới đến giờ ăn trưa. Họ đang ngồi đợi giờ ăn trưa?</em></p>
<p><em>Và tất cả cùng quay về một hướng. Hướng có quá khứ, không có tương lai. Hướng có bàn gỗ đựng những thứ linh tinh cần thiết. Tất cả đều được xếp đặt đúng vị trí, gọn như nắp quan tài đậy lại, vừa khít.</em></p>
<p><em>Họ đang ngồi trong những cái xe lăn made in USA. Tất cả đều yên lặng. Không ai chờ đợi ai. Không ai mong ngóng điều gì. Thời gian cứ trôi và trôi. Trước mặt họ là hai chậu cẩm chướng ny lông đỏ lừ lừ.</em></p>
<p><em>Tôi đang chờ đợi tiếng động phá vỡ sự yên lặng? Hay vật gì đó đặt xuống không đúng vị trí trên mặt bàn?</em></p>
<p><em>(Những trích đoạn rời rạc ở chương ba của cuốn tiểu thuyết đang viết.)</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>***</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>(Ngộ Không sưu tập)</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ngo-khong-tac-gia-va-tac-pham-le-thi-tham-van/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Không : Tác Giả và Tác Phẩm – Lê Tất Điều</title>
		<link>https://t-van.net/ngo-khong-tac-gia-va-tac-pham-le-tat-dieu/</link>
					<comments>https://t-van.net/ngo-khong-tac-gia-va-tac-pham-le-tat-dieu/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 02 Jun 2016 21:45:15 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Tác Giả Tác Phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không; tgtp]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=27414</guid>

					<description><![CDATA[Tiểu sử Bút hiệu: Kiều Phong (văn), Cao Tần (thơ). Sinh ngày 02.8.1942 tại Hà Ðông. Hiện định cư tại Hoa Kỳ. Tác phẩm Khởi hành (1961), Kẻ tình nguyện (1963), Quay trong gió lốc (1965), Phá núi (1968) Người Đá (1968), Những giọt mực (1970), Anh em (1970), Thơ Cao Tần (1977)      Viết về [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/06/le-tat-dieu.jpg?strip=all" rel="attachment wp-att-27415"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter  wp-image-27415" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/06/le-tat-dieu-300x147.jpg?strip=all" alt="le tat dieu" width="369" height="181" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/06/le-tat-dieu-300x147.jpg?strip=all 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/06/le-tat-dieu.jpg?strip=all 600w" sizes="(max-width: 369px) 100vw, 369px" /></a></p>
<p><strong>Tiểu sử </strong><br />
Bút hiệu: Kiều Phong (văn), Cao Tần (thơ).</p>
<p>Sinh ngày 02.8.1942 tại Hà Ðông. Hiện định cư tại Hoa Kỳ.<br />
<strong>Tác phẩm</strong></p>
<p>Khởi hành (1961), Kẻ tình nguyện (1963), Quay trong gió lốc (1965), Phá núi (1968)<br />
Người Đá (1968), Những giọt mực (1970), Anh em (1970), Thơ Cao Tần (1977)</p>
<p><strong>     </strong></p>
<h3><strong>Viết về Lê Tất Điều</strong></h3>
<p><strong> Cao Tần, thơ người di tản buồn</strong></p>
<p><strong>Nguyễn Mạnh Trinh</strong></p>
<p>Cao Tần Là một thi sĩ xuất hiện một cách bất ngờ trong thời điểm vô cùng đặc biệt. Lúc đó, là những năm đầu kế tiếp sau cuộc di tản của mấy trăm ngàn người Việt lưu lạc sang xứ người. Trong hoàn cảnh bắt đầu của một cuộc sống xa lạ, khởi đi từ những nỗi niềm mang theo, văn chương ở hải ngoại đã nảy mầm từ những tâm tư thương nhà nhớ nước của người Việt tị nạn sau một cuộc đổi đời. Cao Tần là một nhà thơ xuất hiện sớm nhất và cũng là một nhà thơ nổi bật nhất trong thời kỳ ấy. Vốn là một nhà văn đã thành danh ở Việt Nam và cũng là một ký giả có lối viết phiếm luận sắc bén, thơ Cao Tần đã được để ý từ những bài thơ đầu tiên.</p>
<p>Năm 1977, gần hai năm sau ngày 30 tháng tư năm 1975, trên tờ báo Bút Lửa có đăng mấy bài thơ của một thi sĩ danh tánh lạ hoắc ký tên Cao Tần. Những bài thơ ấy mới xuất hiện đã nổi bật ngay và gây một hiện tượng xôn xao cho độc giả. Nhiều người liên tưởng tới như những bài thơ của T.T Kh. đã tạo thành một nghi vấn cho văn học Việt Nam mà còn mù mờ chưa rõ ràng .Quả thực những bài thơ trên Bút Lửa ấy đã gây kinh ngạc cho độc giả. Mãi về sau này, mới biết Cao Tần là bút danh của nhà văn Lê Tất Điều hay nhà báo Kiều Phong, một người đã là một cây bút quen thuộc của hai mươi năm văn học miền Nam…</p>
<p>Ông sinh ngày 2 tháng 8 năm 1942 tại Hà Đông. Di cư vào Nam năm 1954 và di tản sang Mỹ năm 1975. Trước khi di tản ông là một nhà giáo và cũng là một ký giả ở Sài Gòn. Đã xuất bản truyện dài Đêm Dài Một Đời đã đoạt giải thưởng của Trung Tâm Văn Bút Việt Nam, và các tập truyện ngắn Khởi Hành, Kẻ Tình Nguyện, Quay Trong Gió Lốc, Phá Núi, Người Đi, Những Giọt Mực.</p>
<p>Lý do mà những bài thơ đầu tiên mang tên Cao Tần được chú ý thật là giản dị. Bởi tâm sự của Cao Tần khi làm thơ cũng là tâm trạng chung của những người Việt di tản lúc ấy. Với ngôn ngữ vừa bi hùng vừa tha thiết, diễn tả lại một tình trạng tâm lý của những người còn xa lạ với cuộc sống mới và tiếc nuối những tháng ngày của cuộc đời xưa cũ. Lúc ấy, một nền văn học lưu vong đang dần dần hình thành. Ở những ngoái nhìn quá khứ và băn khoăn từ những bước chân đi đến tương lai. Ai mà chẳng cùng chung suy tư và ở những câu thơ Cao Tần lại gợi lên từ tâm cảm yêu nước nhớ nhà và ngôn ngữ mẹ đẻ đã thành thân yêu vô cùng trong những ngày bắt đầu tạo dựng một cuộc sống mới ở xứ người..</p>
<p>Có lẽ hồi trước 1975, nhà văn Lê Tất Điều cũng không làm thơ và sau này khi loạt thơ Cao Tần chấm dứt ông cũng ngưng làm thơ. Tại sao ông chỉ làm thơ trong khoảng thời gian đó?</p>
<p>Có lẽ chỉ có một mình tác gỉa mới có thể trả lời câu hỏi khó này. Trong một cuộc phỏng vấn của đài phát thanh Á Châu Tự Do RFA do Mặc Lâm thực hiện thì ông giải thích:</p>
<p>“Tự nhiên tôi không có cảm hứng viết truyện ngắn nữa. Thế rồi thơ nó lôi cuốn bởi vì trong bài thơ công việc sáng tác nó ngắn hơn nó không đòi hỏi thời gian nhiều..”</p>
<p>Nhà văn Võ Phiến có viết đại ý là Cao Tần làm thơ như người kể chuyện và đó chính là một yếu tố để thơ ông gần gũi với cuộc sống hơn và tạo sự chú ý của độc giả.</p>
<p>Trong bài đề tựa tập thơ Cao tần do nhà xuất bản Văn Nghệ phát hành, nhà văn Võ Phiến nói rằng thơ của Cao Tần kết cấu như truyện và là những truyện ly kỳ nữa nên gợi được sự tò mò muốn tìm hiểu của người đọc. Và ông nêu ra vài thí dụ bài thơ Kho tàng kể về chuyện của một anh chàng tị nạn Cù Lần..</p>
<p>Nội dung của bài thơ cũng chỉ là một anh chàng tị nạn lúc nào cũng kè kè bên mình một cái túi không một phút nào rời xa. Bạn bè tưởng là anh chàng biển lận nên đè anh ta xuống để mở cái túi bí mật <a href="http://canh-en.de/vn-hc-ngh-thut-th-thao/25-vanhoc/1088-cao-tn-th-ngi-di-tn-bun.html##">kia</a> ra. Và cũng chẳng có gì ngoài một lạng vàng, chiếc khăn tay và những danh thiếp cũ. Nhưng là cả một kho tàng của một người di tản và nhắc lại người và cảnh đã xa.</p>
<p>Vàng thì nhắc đến người mẹ:</p>
<p><em>“.. miệng túi mở ra kho tàng rơi tung toé</em></p>
<p><em>một lạng vàng trong giấy gói đơn sơ</em></p>
<p><em>một đứa hét “vàng này thằng em bé</em></p>
<p><em>không mại đi mày tính để đem thờ</em></p>
<p><em>“Sư chúng mày, vàng đem theo bốn cục</em></p>
<p><em>ông bán ba, bắt gọn mấy trăm đô</em></p>
<p><em>còn cục này tàn đời ông cóc bán</em></p>
<p><em>lúc lên đường bà cụ dúi tay cho”</em></p>
<p><em>Còn khăn tay thì nhắc đến người vợ bây giờ đã xa cách ngàn trùng:</em></p>
<p><em>“ ..một chiếc khăn tay cũ xì cũ xịt</em></p>
<p><em>mầu nâu già thêu mấy chữ xanh xanh</em></p>
<p><em>“ giẻ rách gì đây hở thằng chết tiệt</em></p>
<p><em>“ Khăn vợ tao trao ngày khoác áo nhà binh”</em></p>
<p>và những tấm danh thiếp, ôi những tấm giấy làm nhớ lại những tên đường những tên người đã vào xa xưa:</p>
<p><em>”đáy túi nhỏ thì đầy danh thiếp cũ</em></p>
<p><em>những tên người tên tỉnh đã xa xưa</em></p>
<p><em>những dòng vội ghi hẹn hò gặp gỡ</em></p>
<p><em>những đường quen không trở lại bao giờ</em></p>
<p><em>…Với danh thiếp những tên đường đã đổi</em></p>
<p><em>những số nhà chớp mắt đã tang thương</em></p>
<p><em>những chốn hẹn ngàn năm không trở lại</em></p>
<p><em>những tên đời tơi tả khắp quê hương.”</em></p>
<p>Đọc xong bài thơ này chúng ta thấy thế nào?</p>
<p>Phải nói là rất xúc động anh Trinh à! Nhưng có khi chỉ cảm thấy thôi chứ diễn tả ra cái hay thế nào thì khó lắm. Phải có một lúc , đợi xúc cảm lắng xuống thì dễ dàng để thất bài thơ này độc đáo ra sao..</p>
<p>Chúng tôi cũng như những độc giả khác, chỉ cảm thấy rung động thôi và cũng phải loay hoay suy nghĩ để may ra có thể tìm được những điều mà mình cho là tâm đắc và tuyệt diệu. Bài thơ sống động quá với những ngôn ngữ đời thường mô tả những cuộc đối thoại chuyên chở được ý tình mà tác giả muốn đề cập đến. Có một chút diễu cợt nhưng chỉ là cảm giác thoáng qua để thay vào đó là sự thương camû. Chỉ một túi nhỏ tầm thường của người di tản vỏn vẹn có thế mà sao lại coi như một kho tàng vô gia được ? . Bởi vì những vật thể này không còn đơn thuần là vật thể nữa mà nó chứa đựng cả một trời quê hương và nhắc lại những người thân đã xa và những nơi chốn đã khuất biệt. Câu chuyện kể bằng thơ chỉ giản dị như thế nhưng lại gây ra sự xúc động đến vô bờ cho người đọc. Bởi nó đánh động đến tâm sự chung nên đầy ắp những chia sẻ…</p>
<p>Một bài thơ khác mà nhà văn Võ Phiến nhắc đến như một bằng chứng đơn cử cho lập luận của mình. Như bài ” <em>Ta làm gì cho hết nửa đời sau”. .</em>Hình như đã có nhiều người lưu vong thốt lên lời nói đó mỗi khi bị ray rứt vì chuyện nước chuyện non..</p>
<p><em> sẽ có lúc rừng sâu bừng chuyển động</em></p>
<p><em>những hùm thiêng cựa móng thét rung trời</em></p>
<p><em>và sông núi sẽ vươn mình trỗi dậy</em></p>
<p><em>và cờ bay trên đất nước xinh tươi..”</em></p>
<p>Và một chàng khác,thì lại muốn làm tượng thần tự do hỏa thiêu thân xác chính mình để làm đuốc soi đường cho những oan hồn bị trầm luân trong đáy nước bao la:</p>
<p><em>”Một tráng sĩ vô êm chừng sáu cối</em></p>
<p><em>thần tự do giờ đứng ở nơi nào?</em></p>
<p><em>Ta muốn đến leo lên làm đuốc mới</em></p>
<p><em>Tự đốt mình cho lửa sáng xem sao</em></p>
<p><em>Thần tự do giơ hoài cây đuốc lạnh</em></p>
<p><em>Ta tiếc gì năm chục ký xương da</em></p>
<p><em>Sẽ làm đuốc soi tìm trong đáy biển</em></p>
<p><em>những oan hồn ai bỏ giữa bao la”</em></p>
<p>Và kết cuộc, chỉ là một cơn say, một tỉnh dậy giữa nỗi buồn của những người thấy mình</p>
<p>bất lực giữa thế thời, mộng ước lớn mà bàn tay thì qúa nhỏ:</p>
<p><em>”..sàn gác trọ những tâm hồn bão nổi</em></p>
<p><em>Những hào hùng uất hận gối lên nhau</em></p>
<p><em>Kẻ thức tỉnh ngu ngơ nhìn nắng mới</em></p>
<p><em>Ta làm gì cho hết nửa đời sau.”</em></p>
<p>Thật là cảm khái. Thật là cay đắng với những nỗi niềm của những kẻ sinh bất phùng thời lớn lên và trưởng thành trong những nghiệt ngã của đất nước chiến tranh. Thực trạng sao buồn quá! Câu hỏi như một tiếng than…Ta làm gì cho hết nửa đời sau?…Những thân phận lưu vong. Những nỗi niềm nhược tiểu.</p>
<p>Mỗi người tị nạn đều mang theo những kỷ niệm trong ký ức. Có những người vẫn còn vương vấn đến tận bây giờ. Có những buồn phiền . có những ray rứt. Nhà thơ Cao Tần có bài thơ nào diễn tả tâm trạng ấy trong nhiều bài thơ. Chúng ta thử đọc bài thơ Chốn Tạm Dung xem. Bản thân tôi đã sống ở đây ba chục năm, thế mà có lúc cũng có những nỗi niềm trống vắng như thế.Thơ nói lên tâm cảm của những người nhiều khi thấy mình bơ vơ giữa cuộc sống và kỷ niệm của nơi chốn xưa của đời sống cũ vẫn cứ bàng bạc hiện hữu:</p>
<p><em>“nhà tôi ở toòng teng đỉnh đồi</em></p>
<p><em>buổi mai đi làm thấy đời xuống dốc</em></p>
<p><em>sau lưng sương ngập cao lưng trời</em></p>
<p><em>trước mặt thông sầu reo đáy vực</em></p>
<p><em>bắt đầu ngày bằng một chút vui</em></p>
<p><em>hát nghêu ngao trong lòng xe rỗng tuếch</em></p>
<p><em>bài ca quen bỗng chợt quên lời</em></p>
<p><em>chút kỷ niệm còm lại mất khơi khơi</em></p>
<p><em>tiếng Việt trong ta ngày bỗng héo</em></p>
<p><em>hồn Việt trong ta ngày mỗi khô</em></p>
<p><em>dốc mở như đời ta trước mặt</em></p>
<p><em>sương kín như đời ta năm xưa..”</em></p>
<p>Một ngày qua một ngày. Ra đi khi lúc vừa mờ sáng và trở về khi phố đã lên đèn, khúc ca sầu xứ mãi mãi ám ảnh. Trải qua bao nhiêu cuộc đổi dời. Bao nhiêu là nỗi muộn phiền . bao nhiêu là ray rứt. Người tị nạn có một mẫu số chung, của khởi hành đi vào cuộc đời mới với tất cả năng lực của mình nhưng vẫn canh cánh bên lòng nhớ mong về quê hương đất nước:</p>
<p><em>“chiều về lên dốc thân tơi tả</em></p>
<p><em>một quả hoàng hôn phủ kín trời</em></p>
<p><em>mình mới ngoi lên ngày đã ngả</em></p>
<p><em>đêm phờ lăn lóc ngủ thay chơi</em></p>
<p><em>giữa đỉnh sương mù thông đáy vực</em></p>
<p><em>ngược xuôi ngơ ngẩn một linh hồn</em></p>
<p><em>còng lưng gánh nốt đời lưu lạc</em></p>
<p><em>nặng trĩu nghìn cân nhớ nước non.”</em></p>
<p>Cái độc đáo của thơ Cao Tần là dùng những ngôn từ thật sống động , những ngôn ngữ tạo nhiều hình ảnh như: kỷ niệm còm“, như “quả hoàng hôn”, như “mất khơi khơi”. Xử dụng những ngôn từ ấy thành thơ chinh là một dụng công để thi ca có máu huyết xương thịt của đời sống thực, của suy nghĩ thực…</p>
<p>Người tị nạn tuy hôi nhập vào dòng chính nhưng vẫn còn ám ảnh bởi quê hương cũ của đất nước xưa. Có một lúc nào thơ Cao Tần biểu lộ tâm cảm ấy .</p>
<p>Đọc bài thơ Cảm Khái chúng ta nhận ra ngay lập tức.Tấm thẻ căn cước , tờ chứng chỉ tại ngũ nhắc lại một thời xa xưa.Một cách hóm hỉnh pha lẫn đau xót,tác gỉa nhận thấy hình như những tấm hình trên căn cước đều lam nhem xấu xí , không biết có phải là số phận tiền định xui khiến như vậy:</p>
<p><em>“hình căn cước anh nào mà chẳng xấu</em></p>
<p><em>tên chụp hình như một lão tiên tri</em></p>
<p><em>triệu mặt ngây ngô bàng hoàng xớn xác</em></p>
<p><em>cùng đến một ngày gãy đổ phân ly</em></p>
<p><em>nhìn hình chim in trên tờ chứng chỉ</em></p>
<p><em>chợt nhớ câu thơ Gãy cánh đại bàng</em></p>
<p><em>ngàn lẫm liệt tan trong chiều rã ngũ</em></p>
<p><em>muôn anh hùng phút chốc hóa tang thương..”</em></p>
<p>và những câu cảm khái mà chúng ta trong những ngày lưu lạc thường hay thấm thía:</p>
<p><em>“Hỡi kẻ trong hình mặt xanh mày xám</em></p>
<p><em>người sắp thành tên mọi Mỹ rồi ư</em></p>
<p><em>hỡi thằng chiến binh một đời dũng cảm</em></p>
<p><em>mày lang thang đất lạ đến bao giờ</em></p>
<p><em>Oâi trong ví mỗi người dân mất nước</em></p>
<p><em>Còn một oan hồn mặt mũi ngu ngơ</em></p>
<p><em>Oâi trong trí mỗi anh hùng thuở trước</em></p>
<p><em>Còn dậy trời lên những buổi tung cờ.”</em></p>
<p>Có người nhận xét rằng mỗi bài thơ của Cao Tần đều mang theo một thông điệp gửi gấm cho người cùng cảnh ngộ và gửi trả lại quê hương. Trong hai mươi bài của tập Thơ Cao Tần, hình như hầu hết các bài đều diễn tả được một tâm sự đặc thù của người bỏ xứ ra đi.</p>
<p><em>Thư Quê Hương là “Gửi cho anh viên sỏi nhỏ bên đường</em></p>
<p><em>Anh sẽ đọc ra trăm nghìn lối cũ</em></p>
<p><em>Gửi cho anh vài nhánh cỏ quê hương</em></p>
<p><em>anh sẽ đọc đất trời ta đã thở..”</em></p>
<p><em>Chuyện Thần Tiên là:” Ta muốn điều chi cuối đời lưu lạc</em></p>
<p><em>Này bà tiên vừa hỏi giấc mơ ta</em></p>
<p><em>‘”hãy đem hết những đổi đời tan tác</em></p>
<p><em>gói giùm vào cơn mộng dữ đêm qua”</em></p>
<p><em>Chiều Bát Phố la ”Chỉ gặp toàn Tây một chiều bát phố</em></p>
<p><em>Tiếc sao xưa cả nước chẳng quen nhau</em></p>
<p><em>Quen cả nước? Ra đường chào gẫy cổ</em></p>
<p><em>Và chắc gì nay nghĩ lại không sầu</em></p>
<p><em>Nhưng quen cả nước chắc lòng sẽ nhẹ</em></p>
<p><em>Khi đi có chào may bớt xót xa</em></p>
<p><em>Ơi xóm mưa ơi có khi nào đổi kiếp</em></p>
<p><em>Tôi về thành chim hót trước hiên nhà.”</em></p>
<p><em>Mai Mốt Anh Về là: ”nếu mai mốt bỗng đổi đời phen nữa</em></p>
<p><em>Ông anh hùng ông cứu được quê hương</em></p>
<p><em>Ông sẽ mở ra ngàn lò cải tạo</em></p>
<p><em>Lùa cả nước vào học tập yêu thương</em></p>
<p><em>Cuộc chiến cũ sẽ coi là tiền kiếp</em></p>
<p><em>Phản động gì cũng chỉ sống trăm năm</em></p>
<p><em>Bồ bịch hết không đứa nào là ngụy</em></p>
<p><em>Thắng vinh quang mà bại cũng anh hùng”</em></p>
<p>Và còn nhiều bài thơ khác với những ý tưởng khác, thông điệp khác. Giở từng trang thơ, để thấy những ngôn ngữ linh hoạt, những chữ lóng, những ngôn từ dân giã, tất cả làm nổi bật một phong vị có lúc như diễu cợt, có lúc như ngông nghênh, mà có lúc là tình cảnh “ở ngoài cười nụ ở trong khóc thầm”. Người tị nạn đã trải qua những đoạn đời, đã qua nhiều nghịch cảnh, sẽ thấy thấm thía biết bao nhiêu với tâm cảm người thơ. Nếu nói thơ Cao Tần là biểu hiện sống động một thời kỳ của người Việt di tản đầu tiên thì cũng chưa đầy đủ mà phải nói rằng thơ Cao Tần đã làm hồi sinh lại một thời đại văn học lưu vong ở hải ngoại.</p>
<p><strong>Cao Tần nhà thơ của thời cuộc thành danh</strong> <strong><br />
</strong><strong>Hồ Nam</strong></p>
<p><strong> </strong>Cao Tần là bút hiệu của nhà văn Lê Tất Điều khi ông làm thơ cũng như Kiều Phong là bút hiệu của nhà văn Lê Tất ĐiỀu khi ông viết báo Xuất thân là một nhà giáo LêTất Điều viết tiểu thuyết theo dòng văn tiền chiến của Tự Lực Văn Đòan chỉ đạt một vị trí ‘’làng nhàng’’ dù Lê Tất Điều dã đọat giải thưởng văn chương của Văn Bút VNCH nhưng qua nghề viết báo với bút hiệu Kiều Phong chuyên môn ‘’dỡn mặt’’ thiên hạ  thi Lê Tất Điều lại rất nổi.Sau ngày 30 tháng tư Lê Tất Điều nhờ làm đài phát thanh Mẹ Việt Nam của Mỹ đã di tản theo đài Mẹ Việt Nam ra đảo Phú Quốc rồi quaqua Mỹ sớm không bị đi tù ‘’cải tạo’’ nhưng cũng trần ai khổ ải.Trên đất Mỹ Lê Tất Điều đã chuyển ngòi bút từ viết văn viết báo sang làm thơ,và sáng tác những vần thơ đầy cảm khái về thân phận kẻ di tản làm mủi lòng người</p>
<p><em>Trong ví ta này chứng chỉ tại ngũ</em></p>
<p><em>Mất nước rồi còn hiệu lực hơi lâu</em></p>
<p><em>Chiều lưu lạc còn thương tờ giấy cũ</em></p>
<p><em>Tái tê cười giờ gia hạn nơi đâu?</em></p>
<p><em>Trong ví ta này một thẻ căn cước</em></p>
<p><em>Hình chụp ngày đó rất mực cù lần</em></p>
<p><em>Da nhợt nhạt như bị đời nhúng nước</em></p>
<p><em>Má hóp vào như cả tháng không ăn</em></p>
<p><em>Mười tám tuổi thành công dân nước Việt</em></p>
<p><em>Tên chụp hình làm ta xấu như ma</em></p>
<p><em>Thằng khốn nạn làm sao mà nó biết</em></p>
<p><em>Ta sẽ thành dân mất nước tan nhà..</em></p>
<p>Cái thế giới thơ của Cao Tần lá cái thế giới thơ gần gũi với đời thường đời một người cầm bút’’di tản’’,một người cầm bút bị thời thế’’quăng quật’’ phải làm dủ thứ nghề để kiếm sống,để tồn tại và mơ mộng</p>
<p><em>Bài học lớn từ khi đến Mỹ</em></p>
<p><em>Là ngày dêm thương nước mênh mông</em></p>
<p><em>Thù hận bọn làm nước ông nghèo xí</em></p>
<p><em>Hận gấp nghìn lần khi chúng đánh ông văng</em></p>
<p><em>Nếu mai mốt bỗng đổi đời lần nữa</em></p>
<p><em>Ông anh hùng　 ông cứu được quê hương</em></p>
<p><em>Ông sẽ mở ra nghìn lò cải tạo</em></p>
<p><em>Lùa cả nước vào học tập yêu thương</em></p>
<p><em>Cuộc chiến cũ sẽ coi là tiền kiếp</em></p>
<p><em>Phản động gi cũng chỉ sống trăm năm</em></p>
<p><em>Bồ bịch hết không đứa nào là Ngụy</em></p>
<p><em>Thắng vinh quang mà bại cũng anh hung</em><br />
Con người Cao Tần là như thế đó lòng nhân ái mênh mông không thù hận ai không ghét bỏ ai nếu có ‘’buồn tình’’ phẫn nộ thì đem mình ra ‘’tự trào’’ đem mình ra tự diễu để‘’mua vui’’ cho thiên hạ mà thôi không ‘’cạnh khóe’’ ai</p>
<p><em>Hai mươi năm xưa làm thằng nhỏ di cư</em></p>
<p><em>Hai mươi năm sau thành nhà thơ di tản</em><br />
Con đường thơ của Cao Tần là con đường thơ của cuộc đời của bạn bè của trang lứa của một thế hệ’’lỡ bước’’ một thế hệ cùng đường nhưng luôn mơ mông luôn’’vượt’’ thực tế  để tồn tại dù rằng cuộc sống hàng ngày có cay đáng thế nào cũng mặc,cứ mơ mộng cái đã</p>
<p><em>Ta biết nhà ông rầu thấy mồ</em></p>
<p><em>Thôi cuối tuần này theo ta lên núi</em></p>
<p><em>Lên núi cao nhìn xuống đời lô nhô</em></p>
<p><em>Rũ bớt bụi trần quen thân múa rối…</em></p>
<p><em>Trên núi cao ta biết một chổ</em></p>
<p><em>Có hòn đá xanh có gốc thông già</em></p>
<p><em>Ngồi trên đá ông sẽ thành Trang Tử</em></p>
<p><em>Hồn nhẹ tênh theo bướm lượn chiều tà</em><br />
Cao Tần là nhà thơ không mới Cao Tần chọn thi pháp cổ điển Cao Tần nhẩn nha với thơ quẩn quanh với những chữ nghĩa đời thương do đó Cao Tần không sáng tác được nhiều thơ nhưng làm được câu nào bài nào cũng đều khá rất khá chỉ tiếc rằng cả đời thơ Cao Tần không có nhiều thơ hay cho lắm</p>
<h4>Giới thiệu thơ Cao Tần</h4>
<p><strong>Võ Phiến</strong></p>
<p>Gần đúng hai mươi năm sau ngày chúng ta bỏ nước ra đi, tờ báo Bút Lửa số 1 tung ra hai bài thơ lạ lùng của một tên tuổi lạ hoắc: Cao Tần.</p>
<p>Thơ Cao Tần được tán thưởng ngay. Nó gây chấn động. Nó thành một biến cố trong sinh hoạt văn nghệ tha phương. Trong giới độc giả và giới cầm bút nổi lên một thắc mắc: “Thơ hay đấy, ‘tới’ lắm, Nhưng Cao Tần là ai vậy ?”</p>
<p>Cao Tần hành tung bí mật như T.T.Kh, vì vậy người ta e rằng rồi cũng chỉ thoảng qua trên thi đàn trong chốc lát như T.T.Kh. Nhưng không, Từ số nọ sang số kia, Bút Lửa tiếp tục đăng thơ Cao Tần gần một năm trời. Và thơ ấy càng ngày càng “:tới”. Nó không phải là một phút ngẫu nhiên may mắn, mà dần dần chứng minh một tài năng có bản lãnh vững vàng. Vào khoảng tháng 11-1977 nhà văn Mặc Đỗ, “riêng nhắc Cao Tần: Cảm lắm”. Sau đó, nếu nhà văn còn theo dõi, còn đọc nữa, chắc chắn sẽ còn “cảm” hơn nữa.</p>
<p>Vì kỹ thuật làm báo, Bút Lửa đã dành cho Cao Tần một sự xuất hiện đột ngột, cố ý gây một kinh ngạc. Thực ra sau này chúng ta lần lần nhận thấy sự ngạc nhiên của độc giả không hẳn chỉ là kết quả do kỹ thuật nghề nghiệp: Trong bản chất thơ Cao</p>
<p>Cái ấy trước hết là đề tài. Nhiều bài thơ của Cao Tần được kết cấu như truyện, những câu chuyện khá ly kỳ: hai người bạn tịnh khẩu uống tì tì giữa sa mạc; truyện chàng cù lần có cái túi nhỏ; truyện dăm thằng khùng bàn chuyện vá trời; kẻ vượt suối trèo non về nước phất cờ khởi nghĩa như “hùm thiêng cựa móng thét rung trời” người leo lên tượng Thần Tự Do Mỹ quốc tự đốt mình làm lửa sáng để soi tìm đáy biển “những oan ồn ai bỏ giữa bao la” vv..</p>
<p>Cái đột ngột ấy lại ở những hình ảnh độc đáo, ý tưởng bất ngờ. Hoặc về những lá thư gời từ Sài Gòn qua ngoại quốc, vừa phải ca ngợi cách mạng, vừa tiết lộ sự thực bi đát qua lời lẽ úp mở:</p>
<p>“thư quê hương như tên hề  ốm nặng<br />
hồn tang thương sau mặt nạ tươi cười”</p>
<p>kẻ tha hương bảo vợ thay vì viết lách quanh co, hãy gửi vài sợi tóc mẹ già, gửi viên sỏi nhỏ bên đường&#8230;.</p>
<p>“và gửi cho anh một tờ giấy trắng<br />
thấm nước trời quê qua mái dột đêm mưa<br />
để anh đọc mênh mông đời lạnh vắng<br />
em tiếc thương hoài ấm áp gối chăn xưa”<br />
Hoặc về tấm hình  nhợt nhạt trên thẻ căn cước mà mỗi chúng ta còn</p>
<p>mang theo:</p>
<p>“Ôi  trong ví mỗi người dân mất nước<br />
còn một oan hồn mặt mũi ngu ngơ”</p>
<p>Cái đột ngột còn ở những lời những chữ, những cách nói không thường thấy trong văn chương, càng không thường trong thi ca:</p>
<p>“Mày có linh thiêng qua đây tao cúng<br />
Một chầu phim X, một quả tắm hơi”<br />
“&#8230;Cũng ngất ngư đời như con&#8230;củ khoai”</p>
<p>Chắc chắn sẽ có lời cật vấn “cái đột ngột thì dính dáng gì đến giá tri thi ca ?”</p>
<p>Quả vậy. Thật khó xác nhận rằng thơ hay là thơ kỳ lạ, mặc dù xưa nay không hiếm những trường hợp thi nhân đua nhau biểu diễn các trò quái đản, tự dưng điên loạn, đòi uống ánh sáng, bay lên trăng, đớp các vì sao v.v&#8230;</p>
<p>Đột ngột kỳ lạ, có thể không phải là một giá trị. Nhưng ai biết được chính xác đâu là những yếu tố làm nên giá trị của thơ, gây nên xúc cảm thơ ? Chẳng qua thi ca là địa hạt của tình cảm, của tưởng tượng, và nhà thơ vẫn khoái chứng tỏ một sức tưởng tượng phóng khoáng phi phàm, ai nấy ra sức vượt thoát ra khỏi khuôn sáo tầm thường. Giữa những kẻ đớp sao uống trăng vv&#8230;Cao Tần không chọn kiểu quái dị nhất. Vậy mà Cao Tần vẫn gây được cảm tưởng đột ngột độc đáo. Có phải chính vì thế mà cái kỳ lạ này đâm ra ít sáo hơn cả ?</p>
<p>Tứ thơ lạ, câu thơ đẹp – trong hoàn cảnh một cuộc sống thanh bình tại quê hương, đó hẳn là những mong ước của kẻ chọn nghiệp thi ca. Những cái ấy đều có ở Cao Tần. Nhưng trong cảnh ngộ lưu lạc hiện nay, liệu còn có ai cầm bút chỉ vì những lý do nghệ thuật như thế ? Và trong số độc giả liệu mấy ai còn tìm đọc thơ vì tứ lạ lời hay ?</p>
<p>Chắc chắn khi nhà văn Mặc Đỗ “cảm” Cao Tần, cái cảm ấy không vì một hình thức nghệ thuật độc đáo hay điêu luyện. Cái hấp dẫn của Cao Tần đó là một tâm sự vừa bi thống vừa phẫn uất, một phong thái ngang tàng tuyệt vọng. Người tị nạn nhìn vào thơ Cao Tần niềm đau đớn xót xa: niềm đau  của mình; thấy nỗi cay đắng, nỗi cay đắng của mình, thấy chán nản mênh mông: của mình&#8230; Và trên chừng ấy nét tâm trạng của chính mình là một khí phách hào hùng, dù là cái hào hùng của người lâm vào mạt lộ.</p>
<p>Nghĩ đến cảnh sa cơ lỡ vận, người thơ cười: “ông thượng đẳng cu li” Nói đến một phi công thấy thế, lại cười: “Đời khốn kiếp đã quăng ông xuống đất”. Kể chuyện một người trân trọng giữ từng chút kỷ niệm của mẹ, của vợ, của bạn bè trong cái túi nhỏ kè kè mang theo mình, lại cười: đó là chàng cù lần ! Trong thơ Cao Tần thường ẩn hiện nụ cười, cười như người Việt nam vẫn cười trong tận cùng cay đắng. Đối với người ngoại quốc đang sống chung quanh ta không biết họ thấy thế nào; riêng đối với chúng ta tiếng cười ấy  làm xao xuyến đến tận đáy tâm hồn, cách xa quê hương muôn vạn dặm, có thơ Cao Tần lúc đau đớn ta “được” đau đớn trong cách thế biểu hiện đặc biệt của dân tộc. Chẳng cũng khoái sao ?</p>
<p>Cao Tần cười cay đắng, nói huyênh hoang ngạo mạn, lắm khi đến tục tằn, như thế chỉ vì không muốn phơi bày chỗ thảm hại. Sự thực phía sau tiếng cười ấy, phía sau cái nghêng ngang ấy là một cảnh thảm hại: chỗ gặp gỡ chung của chúng ta. Gặp gỡ để thương nhau.</p>
<p>Con người cười cợt ngạo nghễ có thể là người “yếu” hơn bất cứ ai khác. Năm chàng tráng sĩ họp nhau bàn chuyện lớn suốt đêm, quất ngã la liệt nhiều chai rượu mạnh, để rồi mờ sáng hôm sau:</p>
<p>Sàn gác trọ những tâm hồn bão nổi<br />
những hào hùng uất hận gối lên nhau<br />
kẻ thức tỉnh ngu ngơ nhìn nắng mới<br />
“ta làm gì cho hết nửa đời sau ?”<br />
Chàng cù lần bị giật cái túi nhỏ bí mật:<br />
“Cù lần dọa đêm nay đâm chết hết<br />
Ôi ví dầu chú mở được tim anh<br />
chú cũng thấy một kho tàng thắm thiết<br />
với khăn tay nhàu nát chữ thêu xanh&#8230;”</p>
<p>Cái nghêng ngang bên ngoài, chỉ đẹp vì “cái kho tàng thắm thiết” bên trong.. Nếu không thế nó vô duyên biết mấy.</p>
<p>Kho tàng của Cao Tần chưa mở hết &#8211; thời gian xuất hiện trên thi đàn của Cao Tần còn quá ngắn với một đời văn thơ- tuy nhiên chúng ta đã bắt gặp bao nhiêu cái thắm thiết: hoặc những nhớ nhung hướng về từng chiếc ghế công viên, từng cái tháp chuông nhà thờ, từng viên gạch vỡ ở góc vườn quê xưa, vì:<br />
“Dưới ghế công viên anh giấu thời thơ dại<br />
trên tháp nhà thờ anh giấu niềm tin<br />
trong vườn cũ anh giấu thời hạnh phúc<br />
nơi nụ cười em anh giâu trái tim”</p>
<p>Hoặc những thắc mắc vẩn vơ: ở cái xứ sở muôn trùng xa cách, ở nơi thành phố mình đã rời bỏ đi không hẹn ngày về buổi sáng hôm nay những ai đang bước đi trên con đường quen thuộc trước nhà mình ? đêm nay ai ngồi trên ngồi đồi thở mùi gió thông mà mình nhớ quay quắt ? và:</p>
<p>chú nào ngồi trước hiên nhà ta chiều nay<br />
nghe mưa Sài Gòn rạt rào thơm mát<br />
sau một ngày nắng lóa chín từng mây<br />
những mái tôn mưa cười ran hạnh phúc</p>
<p>Trong thơ Cao Tần có cái cao ngạo của tráng sĩ lẫn cái yếu đuối vô vàn của chàng Cù Lần. Và đó cũng là hai khía cạnh của mỗi một tâm hồn di tản tha hương. “cảm” nhau vì thế.</p>
<p>Ô, mối cảm thông thảm thiết giữa những tráng sĩ&#8230;Cù Lần.</p>
<p>Trường hợp thơ Cao Tần gợi lên một vấn đề: khả năng sáng tác của người di tản lưu lạc. Đầu tháng tư năm ngoái, tạp chí Newsweek có bài kiểm điểm về cái thế giới thầm lặng của di dân: từ 1972 đến nay, nhà cầm quyền Xô Viết đã cưởng bức tống xuất “gần trọn một thế hệ những văn nghệ sĩ xuất sắt nhất của nước Nga.” thực hiện “cuộc thanh trừng văn học lớn lao nhất kề từ thời Sataline”, và những văn nghệ sĩ nọ đã mất sức sáng tạo khi ra khỏi nước.</p>
<p>Thi sĩ Alekxandr Galich kêu rằng ở Paris họ mất ngôn ngữ và tất cả xung quanh đều câm nín, họ sống giữa một thế giới câm. Phong phú như Alikxandr Solzenitsyn, tiếng rằng tiếp tục viết hăng vẫn không thấy cho in được gì đáng kể sau 1974. Vladimir maximov vừa xuất bản tờ tạp chí của di dân Nga vừa bảo: “bây giờ chuyện làm người quan trọng hơn chuyện làm nhà văn”</p>
<p>Jerry Kosinski, nhà văn di cư Ba Lan thành công bằng các tác phẩm Anh ngữ, đã mỉa mai các đồng nghiệp Nga nọ: Thay vì viết lách, họ ngồi trong các quán cà phê Pháp mà nói tiếng Nga, bàn chuyện giải phóng cố quốc. Thoát ra khỏi một tù ngục, họ lại tự giam mình vào một tù ngục khác, cái tù ngục của thứ ngôn ngữ và văn hoá riêng biệt của họ.</p>
<p>Chúng ta lo lắng: Thế giới Tây phương quanh mình đối với chúng ta càng câm lặng<br />
hơn là đối với các nghệ sĩ Nga. Có phải do đó mà thắc mắc “Cao Tần là ai ?”</p>
<p>Câu hỏi ấy chứng tỏ người ta không tin cuộc sống di cư có thể là khung cảnh xuất hiện một tài năng mới&#8230;</p>
<p>Trong lúc chúng ta đang suy nghĩ về một sự may mắn xảy đến trong sinh hoạt văn nghệ ly hương của Việt Nam thì thi sĩ Minoru Fujita từ Los Angeles bay về Đông Kinh để đọc trước Nhật Hoàng bài đoản ca của ông trong dịp đầu năm. (Đó là một tục lệ đã có từ lâu đời: hàng năm nước Nhật chọn lấy mười bài hay nhất trong số nhiều đoản ca được viết ra khắp trong và ngoài nước. Tết đến trong một buổi lễ long trọng các tác giả được mời vào hoàng cung tự mình ngâm thơ trưóc mặt vua. Minoru Fujita là thi sĩ hết sức hiếm hoi thành công ở hải ngoại. Người thi sĩ ấy lại đoạt được cái vinh dự này những hai lần: một lần vào năm 1971, lần nữa năm 1977. Fujita xa quê hương từ 1953, tức đã gần một phần tư thế kỷ. Ngày ấy ông chưa từng làm thơ. Tại sao cái năng khiếu đối với loạt thơ cổ điển có một lịch sử xưa hàng nghìn năm lại bỗng dưng nảy sinh rồi phát triển rực rỡ nơi người cựu thủy thủ sống trong hoàn cảnh tha hương ? Cuộc đời vẫn dành quyền thỉnh thoảng tung ra một chuyện lạ thường, khó hiểu).</p>
<p>Fujita khiến Cao Tần không đến nỗi kỳ quái; nhưng liệu có khiến nổi những người cầm bút lưu vong của Việt Nam trở nên lạc quan ?</p>
<p>Nghĩ ngợi về trường hợp Fujita, một ký giả của tờ Los Angeles Times đã tìm gặp môt bài đoản ca Nhật mà ông dịch:</p>
<p>I no longer know<br />
What they are saying<br />
In my native land<br />
But I know the flowers<br />
Smell the same</p>
<p>Một người lưu lạc lâu năm, biết rằng quê hương đã trải qua nhiều biến đổi, biết mình đã xa lạc các vấn đề xã hội cũ đến nỗi không còn biết nơi cố quốc đồng bào đang suy nghĩ về những gì, đang nói năng những gì nữa. Dù sao người ấy còn thấy có  điều an ủi là ở nơi đó hoa xưa vẫn toả mùi hương cũ: cái ấy thì muôn đời không thay đổi.</p>
<p>Thời gian Cao Tần xa nưóc chỉ bằng một phần mười thời gian của Fujita. Thế nhưng sự cách biệt giữa Việt Nam hiện nay  với Cao Tần, với chúng ta, lớn lao hơn nhiều: chẳng những bộ mặt xã hội đổi khác, tâm lý con người, mà tư tưởng ngôn ngữ ở nước ta cũng đổi khác. Thật vậy, cái tiếng nói mới do cách mạng đưa vào Sài Gòn gần đây khác trước nhiều chứ:</p>
<p>Quê xưa người đổi tiếng người<br />
trước sau hoa vẫn một mùi hoa thơm</p>
<p>Và thế là ông Fujita cứ yên trí làm thơ, và làm thơ hay, và thơ ông được tán thưởng cả trong lẫn ngoài nưóc.</p>
<p>Cao Tần không có được hoàn cảnh ấy. Người cầm bút Việt Nam lưu vong không có được hoàn cảnh ấy, Hoa quê hương vẫn thơm một mùi, nhưng ngửi hoa bây giờ phải có lập trường, một lập trường ngửi hoa mới lạ. Bị bức tường lập trường ngăn cách hoàn toàn đường giao tiếp với quê hương. Cao Tần vừa làm thơ vửa kêu hoảng:</p>
<p>Tiếng Việt trong ta ngày mỗi héo<br />
hồn Việt trong ta ngày mỗi khô</p>
<p>Dù đang thành công Cao Tần không lạc quan nổi, không hề lạc quan chút nào; tuy vậy thơ Cao Tần nhất thời cũng tránh cho chúng ta một cảnh trạng rất đáng bi quan.Bởi vì làm thơ trong cảnh sợ&#8230;hết tiếng hết chữ, chuyện đã đáng thương, nhưng đáng thương hơn có lẽ là khi một tâp thể di dân đông đảo và buồn thảm như chúng ta mà không có được một tiếng thơ nói lên cảnh ngộ của mình.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Cao Tần</strong><strong>     </strong></p>
<p><strong>Vĩnh Hảo</strong></p>
<p>Bỗng dưng bị đặt vào một hoàn cảnh không còn chọn lựa nào khác, họ lên đường, ly hương, bắt đầu đời sống của những kẻ lưu vong. Từ mảnh đất mới, với hai tay trắng, cố gắng gầy dựng nên cơ nghiệp mới. Cơ nghiệp thành tựu lớn lao hay chỉ là những mảnh đời chắp vá thì cũng tùy khả năng, tuổi tác, sự xông xáo hay thụ động, lanh lợi hay chậm chạp, và đôi khi, vận may hay số rủi của mỗi người mà thành khác nhau. Nhưng điểm giống nhau nhất là ai cũng quay quắt, nhớ nước nhớ non, và bỗng thấy yêu vô cùng tiếng mẹ đẻ&#8230; Hoài vọng về quê hương, hoài niệm về dĩ vãng, hoài bão một ngày xán lạn cho đất nước&#8230; người di tản cảm thấy miền đất mới chỉ là chỗ &#8220;tạm dung.&#8221; Họ vẫn mong đợi một ngày nào đó được trở về cố quốc. Và người di tản, bỗng thấy &#8220;buồn&#8221;. Thơ lưu vong từ đó xuất hiện. Nhiều lắm. Hình như ai biết chữ cũng làm thơ được trong cái cảnh trạng và tâm trạng &#8220;nhớ nước đau lòng&#8221; ấy. Nhưng trong số những người di tản làm thơ &#8220;bất đắc dĩ&#8221;, Cao Tần lên tiếng sớm nhất, thành công nhất, nổi bật nhất; và không như những nhà thơ khác phải trải qua nhiều năm bị ngắm nghía, coi giò&#8230; của văn thi hữu và bạn đọc, ông nghiễm nhiên trở thành một nhà thơ rất nhanh, rất tự nhiên. Là vì không ai vào lúc ấy có thể trải được cái tâm trạng bất đắc chí, hụt hẫng, dở khóc dở cười của mình&#8230; một cách thấu đáo, ý nhị, hào hùng, cảm động mà lại lạc quan tếu kiểu như ông. Tửng tửng, tếu, tự biếm, mà thâm sâu làm sao. Ðọc thơ ông, người ta vừa cười, vừa khóc.</p>
<p><strong>Mai mốt anh về</strong></p>
<p><em>Mai mốt anh về có thằng túm hỏi</em><em><br />
Mày qua bên Mỹ học được củ gì<br />
Muốn biết tài nhau đưa ông cây chổi<br />
Nói mày hay ông thượng đẳng cu li</p>
<p>Ông rửa bát chì hơn bà nội trợ<br />
Ông quét nhà sạch hơn em bé ngoan<br />
Ngày ngày phóng xe như thằng phải gió<br />
Ðêm về nằm vùi nước mắt chứa chan</p>
<p>Nghệ thuật nói bỗng hóa trò lao động<br />
Thằng nào nói nhiều, thằng ấy tay to<br />
Tiếng mẹ đẻ thường chỉ dùng chửi đổng<br />
Hay những đêm sầu tí toáy làm thơ</p>
<p>Ông học được Mỹ đất trời bát ngát<br />
Nhưng tình người nhỏ hơn que tăm<br />
Nhiều đứa hồn nhiên giống bầy trẻ nít<br />
Còn hồn ông: già cốc cỡ nghìn năm</p>
<p>Bài học lớn từ khi đến Mỹ<br />
Là ngày đêm thương nước mênh mang<br />
Thù hận bọn làm nước ông nghèo xí<br />
Hận gấp nghìn lần khi chúng đánh ông văng</p>
<p>Nếu mai mốt bỗng đổi đời phen nữa<br />
Ông anh hùng ông cứu được quê hương<br />
Ông sẽ mở ra nghìn lò cải tạo<br />
Lùa cả nước vào học tập yêu thương</p>
<p>Cuộc chiến cũ sẽ coi là tiền kiếp<br />
Phản động gì cũng chỉ sống trăm năm<br />
Bồ bịch hết không đứa nào là Ngụy<br />
Thắng vinh quang mà bại cũng anh hùng.<br />
(tháng 3, 77)</em><br />
Những nỗi niềm thương non nhớ nước, lo nghĩ về tương lai tiếng mẹ đẻ trên đất người, thao thức về vận hội thanh bình nơi quê xa&#8230; là ưu tư chung của người tị nạn xa xứ; nhưng ghi lại thành những câu thơ, những bài thơ để cho ai cũng thấm thía và có thể thuộc lòng thì hầu như chỉ có thơ Cao Tần.</p>
<p><strong>Chốn tạm dung</strong></p>
<p><em>Nhà tôi ở toòng teng đỉnh đồi</em><em><br />
Buổi mai đi làm thấy đời xuống dốc<br />
Sau lưng sương ngập cao lưng trời<br />
Trước mặt thông sầu reo đáy vực</p>
<p>Bắt đầu ngày bằng một chút vui<br />
Hát nghêu ngao trong lòng xe rỗng tuếch<br />
Bài ca quen bỗng chợt quên lời<br />
Chút kỷ niệm còn lại mất khơi khơi</p>
<p>Tiếng Việt trong ta ngày mỗi héo<br />
Hồn Việt trong ta ngày mỗi khô<br />
Dốc mở như đời ta trước mặt<br />
Sương kín như đời ta hôm xưa</p>
<p>Giang hồ một túi bài ca cũ<br />
Hát nhảm cho qua nốt tuổi già<br />
Qua những bình minh còn ngái ngủ<br />
Còn như chưa lạc mất quê ta</p>
<p>Giữa đỉnh sương mù thông đáy vực<br />
Trên đường chênh chếch nắng mênh mang<br />
Trôi xuôi một mảnh hồn lưu lạc<br />
Ðã chán nhân gian ở cuối đường</p>
<p>Chiều về lên dốc thân tơi tả<br />
Một quả hoàng hôn đỏ kín trời<br />
Mình mới ngoi lên ngày đã ngã<br />
Ðêm phờ lăn lóc ngủ thay chơi</p>
<p>Giữa đỉnh sương mù thông đáy vực<br />
Ngược xuôi ngơ ngẩn một linh hồn<br />
Còng lưng gánh nốt đời lưu lạc<br />
Nặng trĩu nghìn cân nhớ nước non.<br />
(tháng 5, 77)</em><br />
Thi vị hóa đời mình qua đời sống thường nhật, với cái giọng nửa chua xót nửa ngạo nghễ, hiếm thấy bài thơ nào thâm trầm sâu sắc như của ông. Ðọc mấy câu thơ đầu bài Chốn Tạm Dung, tôi giật mình ngay:</p>
<p><em>Nhà tôi ở toòng teng đỉnh đồi</em><em><br />
Buổi mai đi làm thấy đời xuống dốc<br />
</em><br />
Nội tâm phải thật thâm thúy và sống triền miên trong thơ mới nẩy ra được hai câu với hình ảnh tỉ dụ ví von tuyệt khéo như vậy.</p>
<p>Mặc dù ông cố ý dùng cái giọng cà rửng ở câu đầu, chẳng hạn nói &#8220;toòng teng&#8221; thay vì &#8220;chênh vênh&#8221; hay &#8220;cheo leo,&#8221; nhưng đến câu thứ hai, và các câu kế tiếp, ông vẫn không thể giấu được ý và lời đầy ắp chất &#8220;thơ.&#8221;</p>
<p><em>Buổi mai đi làm thấy đời xuống dốc</em><em><br />
Sau lưng sương ngập cao lưng trời<br />
Trước mặt thông sầu reo đáy vực<br />
</em><br />
Nơi ở thì toòng teng, đường đi thì xuống dốc, sau lưng thì mờ mịt sương, trước mặt thì những cây thông reo buồn nơi đáy vực, lên xe thì thấy rỗng tuếch, bài ca quen thuộc thì bỗng quên lời, kỷ niệm đẹp thì tự dưng lạc mất&#8230; Diễn tả như thế là đã đẩy ngôn ngữ đến chỗ tận cùng, không còn phải nói gì thêm, về vẻ ngơ ngẩn lạc loài của một linh hồn lưu vong tội nghiệp.</p>
<p>Ông còn chứng tỏ là một người giàu từ tâm, rộng lượng, đầy ắp tình cảm, luôn nhớ nghĩ đến những người khác, dù rằng đời mình cũng xuống dốc, cũng rách nát tan tành. Mà sức tưởng tượng của ông mới thật là tràn trề! Ngồi nhúng chân bên bờ biển này mà thả hồn theo nước về đến bờ bên kia, cách xa vạn dặm; chưa hết, hơi thở dài cũng muốn gửi theo về chốn xưa, khua động cây lá nơi rừng già, an ủi và ca ngợi những tráng sĩ lì lợm còn nuôi mộng quang phục quê hương&#8230;</p>
<p><strong>Biển chiều</strong></p>
<p><em>Chiều nay ra biển ngồi ngơ ngẩn</em><em><br />
Nhúng hai giò trong nước Thái Bình Dương<br />
Ðể hơi ta dạt về bờ Ô Cấp<br />
Chạm thân ái vào lưng đất mẹ tang thương</p>
<p>Có bạn nào đang rắp tâm vượt thoát<br />
Nhớ rằng ta luôn cầu nguyện cho người<br />
Láng đời chót đã tan trên chiếu bạc<br />
Thì sá gì thêm một chuyến ra khơi</p>
<p>Thở thật dài vào thinh không bát ngát<br />
Theo gió về động lá cánh rừng xa<br />
Này thằng lì còn chơi miền gió cát<br />
Trong kiêu dũng mày cho gửi chút hồn ta</p>
<p>Có thằng bạn nào tàn đời học tập<br />
Cõng gông xiềng lê lết một thân đau<br />
Này biển chiều sóng xô ào lớp lớp<br />
Những tiếng đời phiêu bạt khóc thương nhau.<br />
(tháng 6, 77)</em></p>
<p>Có thể nói không ngần ngại, rằng thơ ông xứng đáng là tiếng nói tiêu biểu, ghi lại ý hồn chung của một thời chạy loạn di tản, của những người tị nạn ly hương, đánh dấu một trời kỷ niệm lưu vong bi lệ, hùng tráng.</p>
<p><strong>Câu cá</strong></p>
<p><em>Ta đã vượt muôn dặm dài biển cả</em><em><br />
Ðường tử sinh lui tới cũng đôi lần<br />
Bỗng bình minh này ngồi thuyền, câu cá<br />
Trôi dật dờ như lá trên hồ xanh</p>
<p>Hỡi chú cá rong chơi miền nước biếc<br />
Ta vượt đường muôn dặm chẳng tìm nhau<br />
Bày đặt buông cần mà quên thương tiếc<br />
Cho đời êm, qua được mấy giờ đau</p>
<p>Nói nghe coi này cổ thụ ven hồ<br />
Kể từ những trăm năm dài đứng đó<br />
Có gặp khi nào một kẻ xác xơ<br />
Lòng sầu hận hơn kiếp người da đỏ</p>
<p>Ðời đang bão khi không chìm lặng ngắt<br />
Như cành khô nằm chết đáy sông sâu<br />
Ðời đang dậy sóng thần lên bát ngát<br />
Bỗng vùi yên đáy biển một thân tàu</p>
<p>Và móc đời lên cần câu vớ vẩn<br />
Ðem dìm chơi trong đáy nước rong rêu<br />
Tuổi chưa nặng hồn đã chừng ngơ ngẩn<br />
Lòng vàng khô hơn chiếc lá đưa vèo?<br />
(tháng 11, 77)<br />
</em><br />
<strong>Phiêu bồng</strong></p>
<p><em>Cho ta làm lại cuộc đời</em><em><br />
Thì ta lại vẫn ra khơi như thường<br />
Vật vờ vượt sóng trùng dương<br />
Kiếm đời di tản nghìn cơn nhục nhằn<br />
Mai này tính sổ trăm năm<br />
May chăng lời được cái thân phiêu bồng.<br />
(tháng 12, 77)<br />
</em><br />
<strong>Bông giấy</strong></p>
<p><em>Tưởng ta nhớ chú lắm sao</em><em><br />
Này cây bông giấy bên rào năm xưa<br />
Chẳng qua trời đổ cơn mưa<br />
Thì thương cành mọn đong đưa một mình.<br />
(tháng 12, 77)</em></p>
<p>Thơ ông là lịch sử chép gọn. Trang trải tâm tình và ước vọng của người Việt trong một giai đoạn buồn thảm khó quên. Tâm tình ấy, không biết hận thù và trả thù; chỉ biết tự vệ và mơ ước những gì tốt đẹp nhất cho đồng loại của mình. (Có cần phải chứng minh &#8220;cụ thể&#8221; chăng? Thì đây: dù là một trong những nạn nhân bị trù dập, trả thù, đày ải trong các trại tập trung cải tạo&#8211;bởi chính sách không hề mang một chút gì tinh thần nhân ái, độ lượng, vốn là đặc tính của tộc Việt; mà cũng chẳng có chút tinh thần mã thượng, văn hóa hay văn minh gì của con người thời đại&#8211;Cao Tần cũng không lên giọng nguyền rủa phía những người &#8220;anh em&#8221; hành hạ mình bằng lòng thù hận; trái lại, ông ước mơ có cơ hội để trải tâm tình yêu thương đến họ, &#8220;lấy tình thương xóa bỏ hận thù&#8221;:</p>
<p><em>Nếu mai mốt bỗng đổi đời phen nữa</em><em><br />
Ông anh hùng ông cứu được quê hương<br />
Ông sẽ mở ra nghìn lò cải tạo<br />
Lùa cả nước vào học tập yêu thương&#8230;<br />
<strong>(Mai mốt anh về)</strong><br />
</em><br />
Tâm tình ấy thật đẹp, thật nhân ái và nồng nàn tình tự quê hương, là nét văn minh tinh thần được gieo sâu trong mỗi người để mang theo, khắp những phương trời. Chỉ ngần ấy thôi, thơ ông đã vạch ra biên giới rạch ròi giữa thiện và ác, chính nghĩa và phi chính nghĩa. Người ta sẽ thấy ngay phần chính nghĩa thuộc về phía nào. Không phải cứ thắng là có chính nghĩa. Cũng không phải lưu vong là mất tất cả. Những người lưu vong như Cao Tần, đã quên dần mọi thứ, nhưng vẫn còn giữ lại một trời quê hương, một trời thơ.<br />
Cám ơn ông đã thay mọi người, nói tất cả.</p>
<h3><a href="http://baotreonline.com/Van-hoc/Tai-lieu-van-hoc/nha-van-le-tat-dieu-a-tho-cao-tan.html">Nhà văn Lê Tất Điều &amp; thơ Cao Tần</a></h3>
<p><strong>Mạc Lâm RFA</strong></p>
<p>Lê Tất Điều là nhà văn nổi tiếng của Miền Nam. Ông viết thận trọng và có ý thức.<em> </em><em>Khởi Hành</em> là tập truyện đầu tiên của ông được tạp chí Bách Khoa ấn hành. Có thể nói, Bách Khoa đã mở cửa cho ông bước vào văn nghiệp. Ông cũng là người viết về tuổi thơ. Còn nhớ, ông đã có một số truyện in trên loạt sách Truyện Thiếu Nhi của nhà sách Khai Trí rất được ưa thích. Ngoài ra <em>Những Giọt Mực</em> viết về tuổi nhỏ của ông là tác phẩm nổi tiếng. Trong nghiệp văn nghiệp báo của mình, Lê Tất Điều còn dùng bút hiệu Kiếu Phong cho nhiều bài báo có giọng sắc bén, đôi khi cay độc. Sang Mỹ, ông không viết truyện nữa mà làm thơ với bút danh Cao Tần rất nổi tiếng.</p>
<p><strong>Lê Tất Điều và bước đầu văn nghiệp</strong></p>
<p>Trên đài RFA, trả lời phỏng vấn của Mạc Lâm, Lê Tất Điều cho biết:</p>
<p>“Từ khoảng 15, 16 tuổi tôi đã bắt đầu viết một số truyện cho các báo hàng ngày như là viết” Mỗi ngày một truyện” cho báo Ngôn Luận của ông Hồ Anh. Viết một số truyện cho bà Bút Trà trong phụ trương đặc biệt của báo Sài Gòn Mới.</p>
<p>Viết một cách nghiêm chỉnh là sau khi có một truyện ngắn đăng trên tạp chí Bách Khoa, sau đó có dịp gặp các nhà văn như là ông Võ Phiến, ông chủ nhiệm kiêm chủ bút tờ Bách Khoa là ông Lê Châu. Được sự khuyến khích của họ và bắt đầu quen thuộc với không khí văn chương, và lúc này là lúc bắt đầu vào khoảng 17, 18 tuổi gì đó&#8230;</p>
<p>Phải ghi nhận rằng Lê Tất Điều nổi tiếng ngay sau đó với nhiều tác phẩm văn chương qua nhiều thể loại, từ truyện ngắn đến tiểu thuyết. Truyện ngắn đầu tiên mang tên <em>Cỏ Hoang</em> được độc giả của báo Bách Khoa nồng nhiệt đón nhận đã tạo cơ hội cho ông chính thức bước vào giới văn chương Việt Nam mà lúc đó rất nhiều người mong ước. Tạp chí Bách Khoa có công phát hiện ra nhà văn Lê Tất Điều khi cho in tập truyện ngắn đầu tiên của ông: Tạp chí Bách Khoa có in cho tôi một tập truyện ngắn nhan đề là <em>Khởi Hành</em>. Đó là vào khoảng năm 1962-1963&#8230;.<br />
<strong>Lê Tất Điều và thơ Cao Tần</strong></p>
<p>Nhiều người, nhất là các bạn văn, lấy làm thắc mắc khi thấy Lê Tất Điều sau 1975 sang Mỹ đột nhiên làm thơ và nổi tiếng vang dội. Ông tâm sự với Mạc Lâm trên đài RFA: “Tự nhiên tôi không có cảm hứng viết truyện ngắn nữa. Thế rồi thơ nó lôi cuốn, bởi vì trong bài thơ công việc sáng tác nó ngắn hơn nó không đòi hỏi thời gian nhiều&#8230;”</p>
<p>Đúng như Mạc Lâm nhận định: “<em>Tập Thơ Cao Tần</em> nhanh chóng được độc giả hải ngoại nồng nhiệt đón nhận vào những ngày đầu tiên của người Việt tha hương, đặc biệt là những người từng phục vụ trong quân đội. Trong “Thơ Cao Tần”, người đọc thấm thía nỗi buồn của những kẻ chiến bại. Tâm lý thua cuộc là một tâm lý bi thảm nhất sau chiến tranh. Nỗi buồn đeo đuổi như bị ma ám cộng với đời sống mới lạ lẫm đã kéo người ta lại với nhau như một yếu tố khởi đầu của tính bầy đàn. Ngồi lại để chia sẻ mọi thứ, từ kỷ niệm cho đến buồn phiền. Từ đời sống thường nhật bấp bênh cho đến những ước ao hoang tưởng.</p>
<p>Thơ  Cao Tần được nhiều người đón nhận bởi ngôn ngữ của nó thể hiện hơn là những gì chứa đựng bên trong. Ngôn ngữ trong thơ Cao Tần mang đậm tính tự trào lại phảng phất nét quyến rũ của chất anh hùng ca từ nhân vật Kiều Phong mà tác giả đã có cơ hội nhiều năm gần gũi. Có lẽ sự hòa trộn giữa ngôn ngữ chắt lọc thi ca và tính phán xét lạnh lùng, mạnh mẽ của loại văn chính luận đã khiến thơ Cao Tần có được sự hấp dẫn kín đáo nhưng ngấm ngầm dữ dội đã khiến người đọc khó thể bỏ qua khi đã đọc những dòng chữ đầu tiên trong thơ ông.”</p>
<p><strong>Thơ Cao Tần</strong></p>
<p><strong>Một mai Anh về</strong></p>
<p>(trích)</p>
<p><em>Mai mốt anh về có thằng túm hỏi</em></p>
<p><em>Mầy qua bên Mỹ học được củ gì</em></p>
<p><em>Muốn biết tài nhau đưa ông cây chổi</em></p>
<p><em>Nói mầy hay ông thượng đẳng cu li.</em></p>
<p><em>Ông rửa bát chì hơn bà nội trợ</em></p>
<p><em>Ông quét nhà sạch hơn em bé ngoan</em></p>
<p><em>Ngày ngày phóng xe như thằng phải gió,</em></p>
<p><em>Đêm về nằm vùi nước mắt chứa chan.</em></p>
<p><em>Nghệ thuật nói bỗng hóa trò lao động</em></p>
<p><em>Thằng nào nói nhiều thằng ấy tay to</em></p>
<p><em>Tiếng mẹ thường chỉ dùng chửi đổng</em></p>
<p><em>Hay những đêm sầu tí toáy làm thơ&#8230;   </em></p>
<p><strong>Ta làm gì cho hết nửa đời sau</strong></p>
<p><em>Dăm thằng khùng họp nhau bàn chuyện lớn<br />
Gánh sơn hà toan chất thử lên vai<br />
Chuyện binh lửa anh em chừng cũng ớn<br />
Dọn tinh thần: cưa nhẹ đỡ ba chai</p>
<p>Rừng đất khách bạt ngàn màu áo trận<br />
Xong hiệp đầu mây núi đã bâng khuâng<br />
Hào khí bốc đủ mười thành chất ngất<br />
Chuyện vá trời coi đã nhẹ như không</p>
<p>Một tráng sĩ vung ly cười ngạo mạn<br />
“Nửa đời xưa ta trấn thủ lưu đồn<br />
Nay đất khách kéo lê đời rất nản<br />
Ta tính sẽ về, vượt suối trèo non&#8230;</p>
<p>Sẽ có lúc rừng sâu bừng chuyển động<br />
Những hùm thiêng cựa móng thét rung trời<br />
Và sông núi sẽ vươn mình trỗi dậy<br />
Và cờ bay trên đất nước xinh tươi.”</p>
<p>Một tráng sĩ vô êm chừng sáu cối:<br />
“Thần tự do giờ đứng ở nơi nào?<br />
Ta muốn đến leo lên làm đuốc mới<br />
Tự đốt mình cho lửa sáng xem sao&#8230;</p>
<p>Thần tự do giơ hoài cây đuốc lạnh<br />
Ta tiếc gì năm chục ký xương da<br />
Sẽ làm đuốc soi tìm trong đáy biển<br />
Những oan hồn ai bỏ giữa bao la&#8230;”</p>
<p>Bình minh tới một chàng bừng tỉnh giấc<br />
Thấy chiến trường la liệt xác anh em<br />
Năm tráng sĩ bị mười chai quất gục<br />
Đời tha hương coi bộ vẫn êm đềm</p>
<p>Sàn gác trọ những tâm hồn bão nổi<br />
Những hào hùng uất hận gối lên nhau<br />
Kẻ thức tỉnh ngu ngơ nhìn nắng mới:<br />
“Ta làm gì cho hết nửa đời sau?”&#8230;</em><br />
<em>Tháng 3/77</em></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong>Truyện Lê Tất Điều</strong></p>
<p><strong>Võ Phiến</strong></p>
<p><em>Đầu năm 1944, Nguyễn Đình Thi viết:<br />
“Tinh thần Việt Nam biểu lộ trong ca dao và cổ tích, không phải một tinh thần buồn bã, yếu hèn, sợ sống, sợ đấu tranh. Trái lại đó là một tinh thần vui vẻ, lạc quan, ham sống, ham vật lộn (&#8230;) Tinh thần ấy, mỗi khi bị nén xuống, đều cố tìm đường thoát dậy, mỗi khi gặp một sự thật đau đớn, lại cố tìm một cách chữa cho kỳ được. Nó yêu khỏe khoắn, buồn trung hậu, chứ không đắm đuối, chịu đựng, ủy mị. Nó khác hẳn những tư tưởng chán đời, thoát tục (&#8230;) (Nó) giữ vững lửa sống”.(1)</em></p>
<p><em>Thiết tưởng đặc điểm nổi bật của truyện (và ký và thơ) Lê Tất Điều chính là cái tinh thần Việt Nam nói trên.</p>
<p></em><em>Thu Tứ</p>
<p>(1) Trong “Sức sống của dân tộc Việt Nam trong ca dao và cổ tích”, bài nói chuyện đầu năm 1944, in lần đầu trong </em>Mấy vấn đề văn học<em>, nxb. Văn Hóa, Hà Nội, 1958, in lại trong </em>Luận về quốc học<em>, nxb. Ðà Nẵng, VN, 1999.</p>
<p></em></p>
<p>***<br />
Ðiều (1) lớn lên trong chiến tranh. Nhân vật trong tác phẩm Ðiều, nam có nữ có, phần đông là trẻ con, phần đông là nghèo khó, lắm khi cơ cực, trong ấy cái số nạn nhân của chiến tranh không phải ít. Thảm thương là số phận thông thường. Nhưng lạ lùng là không khí khắp các truyện không u uất, cũng không hừng hực oán hờn. Trái lại.</p>
<p>Trẻ con bất hạnh, chúng cũng xuất hiện đông đảo ở một số tác giả khác. Ở Duyên Anh, ta gặp những trẻ đáo để. Ở Nhật Tiến là hạng trẻ em hiền lành, hẩm hiu. Ở Ðiều, thường là những đứa trẻ thông minh, tinh quái, mà thật đáng yêu.</p>
<p><em>Ðêm dài một đời</em> kể chuyện những trẻ mù. Trẻ mù được nơi nuôi nấng, dạy dỗ trong năm năm, thế đã là điều an ủi. Trẻ mù được những thanh niên nam nữ &#8211; sinh viên, ca sĩ, phật tử &#8211; tình nguyện đến chăm sóc: lại càng quí hóa nữa. Nhưng thiết tưởng quí nhất là ở chỗ một trong những kẻ mù nọ đã tha thiết thành khẩn khuyên một đàn anh lành mạnh, một sinh viên làm việc thiện nguyện, về quan niệm tin tưởng yêu đời. Anh Phong và chị Kim yêu nhau, nhưng Phong nghèo mà Kim giàu, nên Phong né tránh nhân duyên. Bằng rụt rè khiêm tốn &#8211; vì tuổi nhỏ, vì mù lòa &#8211; xin góp ý với anh Phong: “Vị trí đời em cũng chỉ là một vực sâu thăm thẳm. Nhưng em tin là nếu mình hết sức cố gắng, trời vẫn cho mình đủ thời gian để leo từ vực thẳm lên đỉnh núi. Vì nỗi khổ hiện tại mà từ chối sự sung sướng trong tương lai là một điều dại dột. Nếu có một người con gái yêu em, em sẽ nhất định xin cưới cô ta làm vợ, không có mặc cảm, lo lắng hay sợ hãi gì hết. Có thể nỗi khổ sẽ đến ngay sau hạnh phúc. Nhưng em sẽ tiếp đón cả hai như một người chủ tiếp đón những ông khách vừa xấu, vừa tốt. Em muốn được sống, thiết tha sống. Em thích một căn phòng ồn ào hơn là một căn phòng trống rỗng (&#8230;) Theo ý em, anh đã yêu thì cứ tiếp tục và tính chuyện xây dựng với chị Kim. Một cuộc đời đủ dài để anh làm giàu, tạo sự nghiệp, lại rất có thể quá ngắn khiến anh không kịp tìm ra một người yêu thương mình thực tình.” Sau những lời chí tình như thế, thấy Phong im lặng, Bằng e ngại, lại rất mực khiêm tốn, hỏi: “Em nghĩ sai hả anh Phong.”</p>
<p>Kết thúc cuốn truyện là cái cảnh San lên đường ngay giữa cơn mưa đi tìm gặp cô Quỳnh về dự án một trang trại cho người mù mà hai người &#8211; một sáng một mù &#8211; cùng ôm ấp bấy lâu.</p>
<p>Trẻ con trong các truyện của Ðiều hầu hết có nét nghịch ngợm, có đứa lười lĩnh nữa, nhưng không ác độc bao giờ. Chúng yêu thương cha mẹ, anh em, bạn bè. Có thể láu lỉnh, nhưng vẫn tình nghĩa: có tấm vé số, bé Dũng ước trúng độc đắc lấy tiền “mua cái xe hơi để chở cả thầy và hết cả lớp đi chơi và đi coi hát bóng”. (Cỏ Hoang)</p>
<p>Còn người lớn, gặp thời khói lửa, họ chịu nhiều đau đớn. Thượng sĩ Hoan trúng đạn vào ngực, vào bả vai, vào sườn, cánh tay phải vô dụng; hội đồng bác sĩ giám định cho là bất lực vĩnh viễn, đề nghị cho xuất ngũ. Thượng sĩ Hoan nằm khóc ấm ức một lúc, rồi hét: “Mình còn khỏe mạnh chứ đã chết chóc gì đâu!&#8230; Mẹ! Thằng này bắn tay trái cũng không đến nỗi gửi đạn về làng. Những đứa còn đủ chân tay đánh lộn chưa chắc đã ăn thằng này.” (Ðoạn Đường Còn Lại). Không phải thượng sĩ Hoan ham đánh giặc vì tự ái, như lão tướng Hoàng Trung khi bị chê già. Chẳng qua đông con, sợ xuất ngũ không biết làm gì để nuôi gia đình. Về sau, giải ngũ về nhà trổ tài đan rổ rá kiếm được tiền, sườn hết đau, “cưỡi xe gắn máy chạy như gió”. Ðời giản dị thôi.</p>
<p>Một thương binh khác, mất tay phải chân phải, teo chân trái, mù mắt, ngồi xe lăn, khi nghe hội đồng xướng đến tên mình: “Nguyễn Ðình Phúc, tàn phế trăm phần trăm, miễn dịch vĩnh viễn, mẫu số&#8230; một”, thì ông liền quơ tay tìm người vợ đang đẩy xe, reo: “Rồi, trăm phần trăm! Biết trước mà.” Người vợ cũng mỉm cười sung sướng, nhưng bà ta cúi đầu giữ nguyên vẻ khép nép. Nghe xong các chi tiết về trường hợp mình, người chồng lại vừa giơ tay vừa cúi đầu chào. Ông ta cười vui thành tiếng: “Xin chào hết mấy ông. Xin lỗi! Tôi mù cả hai mắt thành ra không biết mấy ông chức gì! Xin chào!” Người vợ đẩy xe đi rồi, bàn tay trái ông ta còn giơ cao tới ngang mũ. (Ðoạn Đường Còn Lại)</p>
<p>Trẻ con và người lớn, kẻ tàn tật và người lành mạnh, đa số nhân vật của Ðiều yêu đời, lạc quan, tin cậy ở cuộc sống.</p>
<p>&#8211; “Vậy thì xã hội có hướng đi lên mạnh quá!”</p>
<p>Những ai có ác ý liên hệ cái viết của Ðiều với một xu hướng nhằm minh họa chính sách nào, ca ngợi chủ nghĩa nào, tôn vinh chế độ nào, ai đó sẽ tha hồ hổ thẹn về sự sai lầm của mình. Không thể tìm thấy tác phẩm ca ngợi chính quyền của Ðiều đâu, chúng ta chỉ gặp những chỉ trích, giễu cợt chính giới (của Kiều Phong) thôi. Ðiều có ca ngợi là ca ngợi con người, cả loài người, cả cuộc sống; chứ không phải một chính quyền, một chế độ nào.</p>
<p>Ðây đó, tác giả có ghi nhận cái mỉa mai trong những cảnh ngộ nghiệt ngã. Nhưng cả tác giả lẫn nhân vật đều chấp nhận hoàn cảnh không cay đắng uất hận.</p>
<p>Không phải chỉ cái nhìn vào con người, mà cả cái nhìn ra thiên nhiên ở Ðiều cũng thế.</p>
<p>Hãy để ý đến một cái nhỏ nhặt: cái gió. Thỉnh thoảng tôi bắt gặp ở <em>Ðêm dài một đời</em> một thoáng gió. Cậu bé Thương đang ngồi với hai huynh trưởng. “Anh Phong, anh Bằng và tôi chiếm một chỗ cỏ mọc dày gần cửa phòng nhạc. Ðêm mát, cỏ thơm (&#8230;) Gió thổi đều như không bao giờ dứt. Nhờ gió tôi cảm thấy bãi cỏ rộng mênh mang. Bóng tối bớt nặng nề. Sự vui mừng cùng nỗi buồn rầu đã hòa hợp lại gây nên một cảm giác lâng lâng dễ chịu. Thỉnh thoảng, một con vật nhỏ bé từ lá cỏ bò lên chân tôi. Tôi gạt nó đi rất chậm để khỏi làm nó phật lòng.” Ngọn gió làm cho người mù cảm thấy bãi cỏ rộng, thế đã thú. Lại còn cái gió này mới tuyệt: “Tiếng máy ở cổng xưởng trước trường bỗng nhiên ngừng. Gió đêm lùa qua cửa sổ, vào phòng, thoáng qua tôi như một bóng người vội vã. Trời lạnh, đêm khuya rồi.” Gió, như bóng người thoáng qua một đứa trẻ cô đơn trong bóng tối triền miên: tài tình và cảm động biết bao! Cơn gió được bắt gặp, được nhận định tinh tế, và được phát huy công đức trong một lúc bất ngờ!</p>
<p>Ðọc Ðiều, ta tiếp cận một tâm hồn nhân ái bao la và dịu dàng.</p>
<p><em>6 &#8211; 1998<br />
(In trong phần Truyện của bộ </em>Văn học Miền Nam<em>)</p>
<p>(1) Các nhà văn nhà thơ nói đến trong sách này đều được xưng là ông hay bà. Tuy vậy, đối với một ít vị mà tác giả có quan hệ tình cảm thân thiết đã lâu, tiếng ông bà nghe có vẻ vờ vĩnh giả tạo. Vậy xin được giữ cách xưng hô riêng vẫn dùng từ trước. (VP).</em></p>
<h3><em> </em>Tính uy mua và nghệ thuật trong thơ Cao Tần</h3>
<p><strong>Đặng Tiến</strong></p>
<p><strong> </strong>Uy mua là phiên âm chữ Pháp humour, tôi tìm không ra từ Việt tương đương, đại khái như là hóm hỉnh, dí dỏm, hài hước, phúng thế, tếu, v.v… Dường như có lần Nhất Linh phiên âm thành u mặc.</p>
<p>Uy mua là hóm. Thêm cái ý: vượt lên trên những không may, vượt lên trên tai họa hay bi kịch. Không những lấy được khoảng cách, độ lùi, mà còn vượt lên trên. Uy mua là mình tự giễu mình, với giọng đùa cợt chứ không chua cay. Khi Cao Tần xưng ông, xưng «gãy cánh đại bàng» thì không phải là kiêu, mà là hóm. Đại ngôn một chút: uy mua là hòa giải với số mệnh. Nếu cần thu thơ Cao Tần vào cái hồ lô, thì có thể hô lên một câu ngắn: hòa giải với số mệnh.</p>
<p>*</p>
<p>Trong văn thơ Việt Nam ít có, nhưng vẫn có, uy  mua. Ca dao có câu vô cùng tinh tế:</p>
<p><em>Tưởng giếng sâu, anh (em) nối sợi dây dài</em></p>
<p><em>Ai ngờ giếng cạn, anh (em) tiếc hoài sợi dây</em></p>
<p>Ở mức độ đơn giản hơn:</p>
<p><em>Chàng ơi đưa gói em mang</em></p>
<p><em>Đưa gươm em xách để chàng đi không</em></p>
<p>Và dân giã hơn nữa:</p>
<p><em>Trời mưa trời gió</em></p>
<p><em>Xách đó đi đơm</em></p>
<p><em>Chạy về ăn cơm</em></p>
<p><em>Chạy ra mất đó</em></p>
<p>(đó: dụng cụ để đơm, bắt cá bằng tre đan)</p>
<p>Câu vần vè này không có nghĩa lý gì, và cũng không có giá trị gì, ngoài chất uy mua. Người không có óc uy mua sẽ cho là quê mùa, vớ vẩn. Nói lén: Xuân Diệu, sinh thời, là người sành và sính ca dao. Nhưng ít uy mua nên dứt khoát không chấp nhận câu:</p>
<p><em>Xùng xình như áo mới may</em></p>
<p><em>Hôm qua mới mặc, hôm nay mất rồi</em></p>
<p>Võ Phiến là nhà văn giàu uy mua, lại là người sành thơ Cao Tần, là người viết tựa cho Cao Tần, năm 1978, có nhận xét «trong thơ Cao Tần thường ẩn hiện nụ cười, cười như người Việt Nam vẫn cười trong tận cùng cay đắng». Nhưng anh không chính xác gọi nụ cười dân gian «tận cùng cay đắng» ấy là uy mua.</p>
<p>Trong văn thơ cổ điển, bài thơ tiêu biểu cho tính uy mua và đạt đến nghệ thuật siêu đẳng là bài «Bạn đến chơi nhà» của Nguyễn Khuyến, mượn lại ý thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, bài «Gượng đến mừng nhau một mặt không»:</p>
<p><em>Cải chửa ra cây, cà mới nụ</em></p>
<p><em>Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa</em></p>
<p>Thơ Cao Tần hay, thành công nhanh và được yêu chuộng lâu dài, là nhờ vào nghệ thuật có nền truyền thống lâu đời. Chỉ mối sầu di tản không thôi, thì khó trụ được dài lâu và truyền tụng rộng rãi.</p>
<p>Những người di tản vào tháng 4-1975, ra đi hoảng hốt, thường không mang được hành trang gì. May ra còn giữ được đôi ba giấy má tùy thân. Quân nhân có khi còn giữ được trong người giấy tờ quân sự:</p>
<ol>
<li><em> Trong ví ta này chứng chỉ tại ngũ</em></li>
<li><em> Mất nước rồi còn hiệu lực hơi lâu,</em></li>
<li><em> Chiều lưu lạc chợt thương tờ giấy cũ</em></li>
<li><em> Tái tê cười: giờ gia hạn nơi đâu?</em></li>
</ol>
<p>(Bài 17, tr. 52, «Cảm khái», tr. 39) <a name="_ftnref1"></a><a href="http://www.art2all.net/tho/dangtien/dt_caotan.html#_ftn1"><u><sup>[1]</sup></u></a></p>
<p>Cao Tần dùng lời ăn tiếng nói dân gian «còn hơi lâu», cũng như «còn lâu», là từ ngữ phủ định dứt khoát: còn lâu tôi mới yêu anh, nghĩa là không bao giờ. Nhưng trớ trêu hiểu ngược lại, theo cú pháp bình thường cũng không sao, có thể còn lý thú: nước mất rồi thì giấy tờ sẽ có hiệu lực vĩnh viễn. Câu 2, bản chất nó là uy mua. Nhưng vì tính đa nghĩa, chất uy mua loãng đi. Uy mua ở đây là câu nói tự nhiên, không chơi chữ, không tu từ (nhưng ở nơi khác, như câu đối, thì uy mua dùng phép tu từ, kỹ thuật ngôn ngữ, cái này không loại trừ cái kia).</p>
<p>Câu 4 rõ chất uy mua: câu hỏi tự nhiên, cực kỳ duy lý. Vì cực kỳ duy lý mà nó ngớ ngẩn, thậm chí điển hình cho khái niệm phi lý (absurde) phổ biến trong triết học phương Tây khoảng giữ thế ký XX, du nhập vào Việt Nam, chủ yếu là qua tiểu luận và tiểu thuyết Camus. Nhưng điều này không can dự gì đến Cao Tần: uy mua của anh bắt nguồn từ tính dí dỏm trong truyền thống dân tộc. Chúng ta ai có dịp lân la trò chuyện với các bà cụ nhà quê, ít học hay thất học, sẽ ngạc nhiên về câu chuyện, ngôn ngữ cực kỳ sắc sảo, với những nét hóm hỉnh, tinh anh kỳ diệu của họ. Cao Tần sống thời đại mình, trong một bầu không khí văn hóa, văn học, một khung cảnh xã hội và trải qua một cuộc chấn động đổi đời, thì tự nhiên tâm tư mang âm vang «phi lý» sẵn có trong tư trào hiện đại. Và tình cờ thôi, nét dí dỏm dân gian trong anh vấp phải cái phi lý của lịch sử &#8211; tạo chất uy mua nhuộm màu phi lý có giá trị không riêng gì cho người Việt di tản, lưu vong, mà cho cả làng văn học Việt Nam trong nền văn chương thế giới. Chiều kích nhân văn và toàn cầu của thơ Cao Tần, nếu có, trong chủ quan của tôi, là chất uy mua trong tư trào văn học đang giảm tính bi kịch và tăng chất uy mua.</p>
<p>«Giờ gia hạn nơi đâu» là một câu thơ hóm hỉnh có hiệu lực, nhưng tự thân nó không có chất hóm. Nét dí dỏm dựa vào cả câu thơ, trong cả đoạn 4 câu và toàn bài tả những giấy tờ còn lại trong ví. Mệnh đề dẫn nhập là:</p>
<p><em>Chiều lưu lạc chợt thương tờ giấy cũ</em></p>
<p><em>Tái tê cười…</em></p>
<p>Động từ «cười» báo hiệu cho câu thơ tếu, dù tự thân chưa phải tếu vì chữ tái tê, nhưng đã đưa tín hiệu uy mua, mà xưa kia Pascal gọi là «tiếng cười của tâm hồn» và gần đây Jankélévich gọi là «nụ cười của lý luận». Hỏi gia hạn nơi đâu, lý sự thì lẩn thẩn mà đậm đà tình cảm vì đưa lên câu trước, ráp lại thành  mất nước rồi… còn gia hạn nơi đâu». Câu thơ bi thiết đòi lại một không gian đã mất, cứa mạnh vào niềm «nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc».</p>
<p>Đoạn thơ sẽ tăng giá khi đặt vào toàn bài thơ:</p>
<p><em>Trong ví ta này một thẻ căn cước</em></p>
<p><em>Hình chụp ngay đơ rất mực cù lần</em></p>
<p><em>Da nhợt nhạt như bị đời nhúng nước</em></p>
<p><em>Má hóp vào như cả tháng không ăn</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Mười tám tuổi thành công dân nước Việt</em></p>
<p><em>Tên chụp hình làm ta xấu như ma</em></p>
<p><em>Thằng khốn nạn làm sao mà nó biết</em></p>
<p><em>Ta sẽ thành dân mất nước tan nhà (…)</em></p>
<p>(Bài đã dẫn)</p>
<p>Mất nước tan nhà thì nào có can dự gì đến tên chụp hình mà chửi nó là «thằng khốn nạn». Đây là một lý luận hoàn toàn phi lý – mà Camus gọi là raisonnement absurde – để đáp ứng vào một hoàn cảnh phi lý,</p>
<p><em>(…) một đời quái đản:</em></p>
<p><em>Hai mươi năm xưa làm thằng nhỏ di cư</em></p>
<p><em>Hai mươi năm sau thành nhà thơ di tản</em></p>
<p>(«Hát ngao trên tuyết», tr. 43)</p>
<p>Mắng tên chụp hình là giống như Nguyễn Khuyến, giận tuổi già, mắng cái răng, trong bài « Sất xỉ ».</p>
<p>Cao Tần không làm thơ trào phúng như Tú Xuơng, nhưng cùng chia cái ngông, cái «ông» với  Tú Xương: «<em>Ông nốc rượu vào ông nói ngông (… ) Khách hỏi nhà ông đến, nhà ông đã bán rồi…</em>»</p>
<p>Xuân Diệu có viết: «thực tình là tôi thấy những câu thơ xúc cảm của Tú Xuơng chiếm phần lớn nhất (…). Trào phúng là vỏ, mà ruột thì thật cảm xúc đớn đau, thì cũng thành trữ tình thôi». Ý này áp dụng vào thơ uy mua của Cao Tần cũng đúng. Từ thế kỷ 19, các từ điển Littré và Larousse đã cho uy mua là «cái vui nghiêm trọng» (la gaité serieuse), Kierkegaard đi sâu hơn, cho là «nỗi thống khổ nội tại của nhân sinh». Nhưng nói như thế thì hết cả… uy mua.</p>
<p>Giới làm văn học Việt Nam chưa mấy quan tâm vào phong cách uy mua, mà họ đồng hóa với trào phúng, dù rằng uy mua chỉ là thành tố nhỏ của trào phúng, có khi nó hủy diệt chất trào phúng; ngược lại trong văn chương bi kịch của  Kafka, Beckett, Ionesco… thường có uy mua. Thơ Cao Tần mang tính uy mua dân dã Việt Nam, trong truyền thống văn học dân gian: ca dao, tuồng chèo, câu đối – nhất là câu đối – và một số chuyện tiếu lâm cười mỉm. Đỉnh cao trong truyền thống đó là bài hát «Mất ô» của Trần Tế Xương, một đêm đi hát cô đầu:</p>
<p><em>Hôm qua anh đến chơi đây</em></p>
<p><em>Giầy dôn anh dận, ô tây anh cầm</em></p>
<p><em>Rạng này trống điểm canh năm</em></p>
<p><em>Anh dậy, em vẫn còn nằm trơ trơ</em></p>
<p><em>Hỏi ô, ô mất bao giờ</em></p>
<p><em>Hỏi em, em cứ ỡm ờ không thưa</em></p>
<p><em>Chỉn e  rày gió mai mưa</em></p>
<p><em>Lấy gì đi sớm về trưa với tình</em></p>
<p>Mất ô mà vẫn thản nhiên, ỡm ờ, thậm chí còn huê tình như thế, quả là uy mua tuyệt vời.</p>
<p>Cao Tần cũng có cái giọng ấy, khi nhắc đến những câu hát cũ còn đọng trong tim óc người xa xứ, thỉnh thoảng ê a bật lên môi, với bạn cũ hay với một mình:</p>
<p><em>Hát tự nhiên đi mà bạn quí,</em></p>
<p><em>Giọng bạn khàn khàn hơn chú vịt bầu</em></p>
<p><em>Đừng e sẽ mất lòng tri kỷ,</em></p>
<p><em>Dù nghe bạn hát chỉ thên đau</em></p>
<p><em>(&#8230;)</em></p>
<p><em>Bạn bỗng kể: khi về gặp nàng</em></p>
<p><em>Có lúc du dương nàng bắt hát </em></p>
<p><em>Cứ hát, ta nghe mà bạn quí</em></p>
<p><em>Mai đời di tản lại buồn tênh</em></p>
<p><em>Rồi ra cặp được đào thơm Mỹ</em></p>
<p><em>Bạn sẽ trăm năm hát một mình</em></p>
<p>(Bài 2, tr. 2, &#8220;Hát một mình&#8221;, tr. 29)</p>
<p>Uy mua ở đây do bất ngờ ở kết luận, như bài hát &#8220;Mất ô&#8221;, Cả hai tác giả tinh quái đùa vui với một cảnh ngộ. Ở Tú Xương là nét dí dỏm nhẹ nhàng: mất ô này thì sắm ô khác, “lấy gì đi sớm về trưa với tình“ là một lời trách khéo, mắng yêu. Mắng mà vẫn yêu. Nhưng cái anh mất nước và mất vợ thì vô phương bù đắp. “Rồi ra cặp được đào thơm Mỹ“ là một cơ may ngang trái, có khi là oan trái. Đào Mỹ nào mà chả thơm. Nhưng chả nhẽ trăm năm với nhau chỉ bằng cái lỗ mũi? Hát một mình tự nó có khi là niềm vui, là hạnh phúc. Nhưng ở đây là khổ lụy không có lối thoát. Cái mâu thuẫn mà Kierkegaard gọi là  «niềm thống khổ nội tại của nhân sinh» ở đoạn trên, không phải là triết lý viển vông.</p>
<p>Từ “đi sớm về trưa với tình“ đến “trăm năm hát một mình“, Cao Tần theo gót Tú Xương và xứng là môn sinh. Vì vậy khi Cao Tần tự xưng là Nhà Thơ Di Tản thì tôi hoạn mất phần sau, gọi bạn là: Nhà Thơ Tú Cua.</p>
<p>*</p>
<p>Hóm hỉnh với tấm hình căn cước của chính mình, hay với giọng hát vịt bầu của người bạn là tinh nghịch với hoàn cảnh cá nhân; nhưng gắn liền với lịch sử đất nước, nên thơ Cao Tần có âm vang lâu và sâu, vừa tếu vừa mếu. Chua mà ngọt, bùi bùi, đăng đắng.</p>
<p>Nhưng khi cao hứng, nhà thơ đùa cả nước:</p>
<p><em>Bài học lớn từ khi đến Mỹ</em></p>
<p><em>Là ngày đêm thương nước mênh mang</em></p>
<p><em>Thù hận bọn làm nước ông nghèo xí</em></p>
<p><em>Hận gấp nghìn lần khi chúng đánh ông văng.</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Nếu mai mốt bỗng đổi đời lần nữa</em></p>
<p><em>Ông anh hùng ông cứu được quê hương</em></p>
<p><em>Ông sẽ mở ra nghìn lò cải tạo</em></p>
<p><em>Lùa cả nước vào học tập yêu thương</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Cuộc chiến cũ sẽ coi là tiền kiếp</em></p>
<p><em>Phản động gì cũng chỉ sống trăm năm</em></p>
<p><em>Bồ bịch hết, không đứa nào là Ngụy,</em></p>
<p><em>Thắng vinh quang mà bại cũng anh hùng</em></p>
<p>(Bài 6, tr.18, &#8220;Bài học lớn&#8221;, tr. 26)</p>
<p>Uy mua là vượt lên khỏi thân phận, và hòa giải với mệnh số &#8211; ở đây là thân phận nghiệt ngã và mệnh số bi đát. Uy mua là tầm nhìn, lối nghĩ hiền triết vốn có trong tư tưởng phương Đông và truyền thống dân tộc. Cao Tần phát ngôn trong tư thế người bại trận, một chế độ bại trận, bị“đánh văng“, mất hết tài sản, chức năng, quyền lợi. Thậm chí còn bị xúc phạm trầm trọng trong tình cảm và danh dự. Cao Tần không đầu hàng, không thỏa hiệp, không hận thù  vì thua cuộc, bị “đánh văng“, mà vì đất nước “nghèo xí“. Uy mua nơi Cao Tần bắt đầu từ  lòng khoan thứ, ước ao mọi người đều bồ bịch, cùng nhau học tập yêu thương. Tuy nhiên không phải ai ai cũng sẻ chia tấm lòng cao đẹp ấy, từ phía bên này đến phía bên kia, chưa kể là không phải ai ai cũng chấp nhận uy mua. Cuộc đời Nguyễn Trãi không biết bao nhiêu gian truân, mà đã viết được câu:</p>
<p><em>Duy một tấm lòng ưu ái cũ</em></p>
<p><em>Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông</em>&#8230;</p>
<p>Trong bước đường lưu lạc,“<em>ngày ngày phóng xe như thằng phải gió, đêm về nằm vùi nước mắt chứa chan</em>“ Cao Tần đã mất nhiều, nhưng không mất hết. Còn lại là phần  nghĩa khí, cốt cách, khiến anh xứng đáng với tiền nhân.</p>
<p>*</p>
<p>Uy mua là độ lùi, khoảng cách, tầm nhìn từ xa, từ cao. Cao Tần, trong ngành không quân, quen nhìn đời từ trên cao:</p>
<p><em>Hơn mười năm nhà ông bay trên cao</em></p>
<p><em>Mặt đất nâu xanh nằm ngoan dưới gót</em></p>
<p><em>Nhân loại tí teo xinh đẹp chừng nào.</em></p>
<p><em>Nhân loại hiền từ như những con sâu.</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Những đêm đen tàu trôi qua thành phố</em></p>
<p><em>Cả đất trời nở triệu ánh sao xinh</em></p>
<p><em>Mặc những đấu tranh lọc lừa dưới đó</em></p>
<p><em>Nhìn từ cao nhân thế thật thanh bình</em></p>
<p>(Bài 16, tr.48. &#8220;Trên non cao&#8221;, tr. 23)</p>
<p>Không phải vì quen bay trên mây mà con người có óc uy mua.</p>
<p>Nhưng vì quen nhìn cao, nên khi bị «<em>đời khốn kiếp đã quăng xuống đất</em>», Cao Tần đã rủ bạn cùng đăng sơn:</p>
<p><em>Ta biết nhà ông rầu thấy mồ</em></p>
<p><em>Thôi cuối tuần này theo ta lên núi</em></p>
<p><em>Lên thật cao nhìn xuống đời lô nhô</em></p>
<p><em>Rũ bớt bụi trần, quen thân  múa rối</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>(…) Trên núi cao ta biết rành một chỗ</em></p>
<p><em>Có hòn đá xanh, có gốc thông già</em></p>
<p><em>Ngồi trên đá ông sẽ thành Trang Tử</em></p>
<p><em>Hồn nhẹ tênh theo bướm lượn chiều tà</em></p>
<p>(Bài đã dẫn)</p>
<p>Văn Trang Tử, <em>Nam Hoa kinh</em> thanh thoát, cao siêu, có khi làm người đọc ít quan tâm đến phong cách uy mua: «nếu cánh tay trái ta hóa thành con gà thì nhân đấy ta gáy canh; nếu cánh tay phải ta hóa thành viên đạn, thì ta sẽ kiếm chim quay» (Thiên đại Tông sư).</p>
<p>Nhưng chỉ nói đến nét dí dỏm thôi thì không bày tỏ rốt ráo nghệ thuật trong thơ Cao Tần. Điểm chính là thi pháp huê dạng, đa dạng, pha tạp những câu đùa vui, những từ dung tục trong kho khẩu ngữ bình dân, phong cách «thô tháp» theo nghĩa grotesca hay grotesque của người Ý, Pháp, thịnh hành thời  Phục Hưng.</p>
<p>Những câu dung tục xen vào nhiều hình ảnh tinh vi:</p>
<p><em>Những mái tôn cười ran hạnh phúc</em></p>
<p><em> </em>Bài 14, &#8220;Băn khoăn&#8221;, gồm 5 khổ, bắt đầu bằng một câu thơ nhiều âm bằng, na ná giống nhau, nhưng khác nhịp, người tinh ý mới nhận ra:</p>
<p><em>Chú nào đi đường ta bình minh này</em></p>
<p><em>(…) Chú nào trưa nay ngồi trên đồi ta</em></p>
<p><em>(…) Chú nào ngồi trước hiên ta chiều nay</em></p>
<p><em>(…) Chú nào biết yêu thương vài nụ hồng</em></p>
<p><em>(…) Chú nào đêm nay kê đầu gối đó.</em></p>
<p>Chứng tỏ Cao Tần nắm vững âm pháp và tôi luyện lời thơ kỹ lưỡng, có ý thức sâu sắc về kỹ thuật, tương quan giữa ý và lời.</p>
<p>Tiêu biểu nhất cho thi pháp Cao Tần là bài &#8220;Hát ngao trên tuyết&#8221; không có trong ấn bản đầu tiên. Chúng tôi trích toàn văn để người đọc thưởng lãm:</p>
<p><strong>Hát ngao trên tuyết</strong></p>
<p><em>Khoác áo lông xù giả làm tráng sĩ</em></p>
<p><em>Lên dòng sông đá bước nghênh ngang</em></p>
<p><em>Cây gậy trúc trông sặc mùi vũ khí</em></p>
<p><em>Múa tưng bừng vào thinh không giá băng</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Khoái thay đời ta một đời quái đản</em></p>
<p><em>Hai mươi năm xưa làm thằng nhỏ di cư</em></p>
<p><em>Hai mươi năm sau thành nhà thơ di tản</em></p>
<p><em>Một đời quê hương khét mùi súng đạn</em></p>
<p><em>Một đời xót xa bằng hữu lao tù</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Khoái thay chân ta những chân phiêu bạt</em></p>
<p><em>Đi dọc quê hương đi vòng địa cầu</em></p>
<p><em>Đi thênh thang thở đồi cao gió mát</em></p>
<p><em>Đi ngất ngây thương lúa vàng hương cau</em></p>
<p><em>Đi uống rượu mừng, đi chia tan tác</em></p>
<p><em>Đi tràn hạnh phúc, đi ngập thương đau</em></p>
<p><em>Đi sỏi đá mòn, bếp hồng trước mặt</em></p>
<p><em>Đi bừng bão biển quê hương phía sau.</em></p>
<p><em>Những chân thú hoang lạc rừng đất lạ</em></p>
<p><em>Những bước ngậm ngùi đi chẳng về đâu </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Sông không đầu đuôi sông màu đá cục</em></p>
<p><em>Dưới trên lẫn lộn trời đất mang mang</em></p>
<p><em>Ta ngửa cổ làm thằng khùng Bắc cực</em></p>
<p><em>Một mình cười cùng thinh không giá băng</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Khoái thay hồn ta một hồn dị thường</em></p>
<p><em>Khi bốc lên núi lưng trời cũng thấp</em></p>
<p><em>Khi bi ai thân cỏ mọn bên đường</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Sông dài! Sông dài! Ta đi chẳng hết</em></p>
<p><em>Thân trượng phu, hừ, mục trong áo cơm?</em></p>
<p><em>Núi cao! Núi ca ! Ta về không đến</em></p>
<p><em>Chí trượng phu, hừ, chôn trong giá băng?</em></p>
<p><em> Tháng 2/1978</em></p>
<p>Quan điểm bài này vẫn là tầm nhìn cao trong không gian, xa trong thời gian; tác giả nhìn đời và nhìn mình từ xa, thanh thoát, thảnh thơi, bao quát và bao dung. «Khoái thay» ở đây không phải là đắc chí tự mãn mà là niềm thanh thoát giải tỏa, hóa giải kiếp người «đi tràn hạnh phúc, đi ngập thương đau» để rồi «đi chẳng hết, về không đến».</p>
<p>Khí thơ tuôn ào một mạch, như một dải sông Hoàng, mộng và thực xô đẩy nhau trong âm vang hào sảng, bi tráng, ngất ngất Hồ Trường, đạm đạm Thâm Tâm. Bài thơ vượt ra khỏi tâm sự cá nhân lưu vong, loang ra thành tiếng vang của một thời đại trong nhiều âm sắc, chính trị và văn hóa. Lịch sử, địa dư, phong tục, tự sự, tâm tình chen  lấn vào bản hào ca chất ngất chữ nghĩa, dạt dào nhạc điệu, trùng trùng hình ảnh.</p>
<p>Lối «hát ngao» hay cuồng ca này nằm trong truyền thống lâu đời ở phương Đông cũng như phương Tây. Trong văn học Lý Trần, Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Tung (1230-1291) có bài &#8220;Phóng cuồng ngâm&#8221;, bản dịch Trúc Thiên 1969, có thể Cao Tần có biết. Cùng một hào khí khinh khoát, cùng một «tay gậy nhởn nhơ phương ngoài phương» nhưng thơ Cao Tần thực tế, dựa trên những hình ảnh cụ thể lảy ra từ những mảnh đời ly tán,  từ quê hương xa cách, mang chất ngậm ngùi cảm động. Từ đó nó là khúc tráng ca tiêu biểu cho một thời đại, đồng thời nó đánh dấu một khúc quành trong tâm thức Việt Nam. Bằng nghệ thuật &#8211; ở đây là thi ca và uy mua – con người có khả năng vượt qua thân phận phi lý, mà lịch sử oan nghiệt, như một đám cháy lớn, hoặc đã tạo ra, hoặc đã làm trầm trọng thêm, hoặc đã khơi động cho sáng tỏ hơn.</p>
<p>Nghệ thuật không chế ngự, không khắc phục được lịch sử, nhưng bảo vệ phẩm chất con người sau hố bom định mệnh; thậm chí nghệ thuật còn vượt lên, để tồn tại sau lịch sử. Lịch sử là sự việc đã, hay đang qua; nghệ thuật là tác phẩm còn lại, là tình đoàn kết và liên đới lâu dài của dân tộc, giữa con người trong nhân loại.</p>
<p>To tiếng như vậy, dù đúng dù sai, là cũng tàn mùa… uy mua, cùng với mùa rau muống năm nay.</p>
<p>Coi như vì tham chữ mà rách chuyện.</p>
<p>Vị chi là: câu thơ Cao Tần ba mươi năm rồi, tôi đọc vẫn chưa thông.</p>
<p>Viết xong, đọc lại bản thảo, mới nhận ra điều sơ đẳng : bút hiệu Cao Tần cũng là uy mua.</p>
<p>Orléans, 20/8/2006</p>
<p><a name="_ftn1"></a><a href="http://www.art2all.net/tho/dangtien/dt_caotan.html#_ftnref1"><u><sup>[1]</sup></u></a> Thơ Cao Tần, bản 1978, do Tạp chí Bút Lửa và nxb Người Việt thực hiện, bìa do họa sĩ Nguyễn văn Mộch, khổ nhỏ 10&#215;17 cm, giấy màu hồng, in kiểu tiểu công nghiệp, 56 trang, gồm 17 bài thơ làm trong năm 1977, đã rải rác đăng trên báo Bút Lửa. Các bài thơ không có tên, chỉ đánh số từ 1 đến 17.</p>
<p>Sau đó, 1984, nhà Tin Yêu tại Seattle của nhóm Thanh Nam tái bản, khổ lớn 21&#215;27 cm, Ngọc Dũng vẽ bìa, in đẹp, có lời giới thiệu của Võ Phiến viết tháng 1-1978. Những bài thơ lần này có tên và không theo trật tự lần trước. Và thêm 1 bài làm 1978 và 2 bài 1982. Tiểu luận này sử dụng bản 1978 ; khi trích dẫn ghi cả hai tham bản cho tiện việc độc giả tra cứu.</p>
<h4><strong> </strong>Về Cao Tần và dòng văn chương “hoài cảm, nhớ nhà”</h4>
<h4>của người Việt ngoài nước (1975-1995)</h4>
<p><strong>Bùi Vĩnh Phúc</strong></p>
<p>Theo cách nhìn của tôi, ta có thể chia dòng văn chương ngoài nước ra làm sáu nhánh với những lưu lượng và nhịp chảy riêng khác nhau.</p>
<p>Nhánh thứ nhất tôi tạm gọi tên là <em>nhánh hoài cảm, nhớ nhà</em>. Nhánh thứ hai tạm gọi là <em>nhánh lên đường, chiến đấu</em>. Thứ ba là <em>nhánh thích nghi</em>. Thứ tư, <em>nhánh hội nhập</em>. Thứ năm, <em>nhánh tiếp cận, phê phán lịch sử, xã hội</em>, trình bày những mẫu sống bằng sự quan sát, ghi nhận khách quan, nhiều khi đượm màu sắc triết lý. Và cuối cùng, thứ sáu, là <em>nhánh duy cảm, duy nhiên, </em>có nhiều tính “vị nghệ thuật”, nghiêng về hướng triết lý sống&#8230; Tất cả những nhánh này, ở những mặt nào đó, lại gắn bó chia sẻ với nhau một số nét chung. Có những tác giả, trong cùng một giai đoạn hoặc trong những giai đoạn khác nhau của hành trình cầm bút, có thể ở vào những khuynh hướng khác nhau. Ngay trong một tác phẩm, ta cũng có thể thấy sự thể hiện của những khuynh hướng khác nhau trong đó (nhất là trong một tuyển tập truyện ngắn chẳng hạn).</p>
<p>Nhưng, như đã nói, ta hãy cứ thử làm công việc phân nhánh như thế để định tính của những dòng này. Sự phân nhánh này, từ một góc độ khác, cũng cho thấy sức vận động và phát triển của dòng văn chương Việt ngoài nước trong thời gian hơn mười ba năm qua.</p>
<p><strong>Hoài cảm, nhớ nhà</strong> chỉ là một cách gọi. Cách gọi này không mang trong nó một thái độ nhìn ngắm nào gần gũi với sự mỉa mai, tiêu cực hay xem thường từ phía người khảo sát. Sở dĩ tôi nói lên điều đó vì, trong khuynh hướng này, tôi nhận ra có những đóng góp thật đẹp đẽ và hết sức sắc bén, nhạy cảm của nhiều nhà văn có tài năng và có đầy lòng yêu thương tha thiết với đất nước, quê nhà. Tôi xác định về thái độ nhìn ngắm trên của tôi với khuynh hướng văn chương này cũng chính là vì 7, 8 năm trước đây đã có một loạt bài trao đổi qua lại mang tính cách phê phán, đánh giá về một thể hiện của dòng văn chương này. Và hiện tại, vẫn có những người cho rằng dòng văn chương này có tính cách tiêu cực, đáng bị kết án.</p>
<p>Về chuyện 7, 8 năm trước, tôi muốn nhắc lại trường hợp thơ Cao Tần.</p>
<p>Thơ Cao Tần &#8211; được xếp loại chung với một số thơ của một, hai thi sĩ khác, trong một số bài báo xuất hiện khoảng năm 1980, 1981 của Thi Thi Văn Ðạt &#8211; đã bị đánh giá là tiêu cực, không có tinh thần chiến đấu, mang đầy tính vô định hướng một cách mệt mỏi. Cao Tần đã trả lời những luận cứ này bằng một bài khá dài đăng trên báo <em>Sài Gòn Mới</em> (?). Với lời lẽ xác đáng, đầy lửa, nhưng lại chan chứa những tình cảm chân thật của một người cầm bút lưu vong, Cao Tần đã nói lên được một cách rất hùng hồn cái thái độ sáng tác và tham dự vào văn chương của mình. Tôi đã đọc bài này quá lâu nên chỉ nhớ đại ý của nó. Cao Tần cho rằng, văn chương, theo nghĩa thuần túy cũng như theo nghĩa phản ánh tâm tình của con người trước đời sống, thời cuộc, có thể được biểu hiện bằng nhiều cách. Nếu trong lịch sử, văn chương ta đã có những bài hịch hực lửa, kích thích tinh thần chiến đấu của dân Việt trong những giai đoạn quyết liệt nhất của đất nước, nó cũng có những bài tự thán, những bài mang tính chất phẫn hận. Và tất cả đều có những giá trị văn chương cũng như xã hội của chúng. Không phải lúc nào con người cũng phải chuẩn bị mình ở trong tư thế để thét ra lửa. Người ta, có những lúc cũng muốn ngồi im một chỗ, để lòng mình lắng lại mà nhớ về dĩ vãng, nhớ về những kỷ niệm đằm thắm của cuộc đời. Có khi người ta cũng muốn tự để chảy ra một dòng nước mắt. Ðể lau rửa đi những muộn phiền uất ức mà người ta đã bị đẩy vào thế phải gánh chịu. Không phải lúc nào cũng hừng hực biến đau thương thành hành động được. Nếu người ta còn là con người, người ta còn có những lúc tìm thấy ở trong rung động mình những xót xa, đau đớn mà cuộc đời đã mang lại cho người ta; người ta còn muốn gợi lại trong tâm hồn mình những hình ảnh êm ái, tha thiết cũ mà người ta đã bị thời gian và những cuộc đổi đời cướp mất. Một con người yêu nước có lúc cầm súng chiến đấu, nhưng cũng có lúc ngồi thương nhớ vẩn vơ về một giọt lá me bay ngơ ngẩn trên đường phố quê nhà một chiều mưa tạt&#8230; Tất cả những điều ấy không có gì là đáng để bị lên án, chối bỏ.</p>
<p>Tôi chia sẻ với Cao Tần những suy nghĩ đó, nhất là nếu đặt tập thơ của Cao Tần trong bối cảnh nó được viết ra (khoảng 1976-1977). Trong tâm trạng dao động, phẫn uất của một người Việt Nam bị đẩy bắn ra khỏi quê hương trong một hoàn cảnh lịch sử bi thảm như vậy, Cao Tần đã phản ánh đúng cái tâm tình của một số lớn người Việt (ít ra là trong giai đoạn đó). Hơn thế nữa, thơ Cao Tần còn có cái uất khí cao ngạo (mặc dù có lúc hoang mang, mệt mỏi), cái rung động đằm thắm trữ tình, cái phong vị thênh thang gió cuốn của chính cá tính người thơ. Bao trùm trên tất cả là cái đau đớn, cái xót xa, cái phẫn uất của một con người bị bứt ra khỏi quê hương. Sau khi dao động, nghiêng ngả, phẫn hận, con người sẽ thấy rằng thời gian sẽ cho nó những cơ hội để đứng vững hơn mà nhìn về phía trước. Dù sao, ngay cả khi đã đứng vững chãi, đã qua khỏi những cơn dao động để có những hành vi quyết liệt với kẻ thù, ai cấm người ta có những lúc tự vỗ về mình, ai cấm người ta có những lúc nhớ về vườn xưa, quê cũ, về những ngõ thu phong một thuở quê nhà, về những con đường xanh um bóng lá những chiều gió nổi, về những cánh lá me bay bay như những hạt cốm thơm trong bầu trời bích ngọc ngày xưa, về những cơn mưa ở quê nhà vẫn còn đẫm ướt trí nhớ người ta những ngày lưu lạc&#8230; Những tình cảm ấy hết sức con người. Nó cho sự chiến đấu của ta một nhịp thư duỗi để ta có thể tiếp tục con đường đi tới. Trái tim con người không thể đập dồn mãi một nhịp trống trận. Con người không phải là một tập hợp những cơ động vô hồn của một người máy. Và ai dám chắc là những thương nhớ cần thiết kia không phải là một nhịp nghỉ để trái tim tiếp tục đập những nhịp đập cần thiết, những nhịp đập lên đường của nó.</p>
<p>Tôi cho rằng khi mà còn có những con người Việt Nam lưu thân ngoài xứ sở thì những tình cảm thiết tha, đằm thắm hoặc đau xót, nhớ thương đất nước, quê nhà kia còn sẽ tiếp tục được nuôi dưỡng. Dĩ nhiên, sự rung động, sự thương nhớ có thể dần dần đi theo những nhịp độ và những cường độ khác, những màu sắc khác, nhưng nó sẽ còn mãi và tạo ra sự đau nhức đẩy ta đứng dậy. Trong đất mềm ướt sương kia, tôi tin là đã ẩn chứa những mầm hạt lên đường, những mầm hạt làm bật lửa bình minh trên quê hương một ngày mai.</p>
<p>Trong khuynh hướng này, những bài viết đầu tiên trên đất Mỹ của Võ Phiến và Lê Tất Ðiều trên một số báo chí ngoài nước (<em>Hồn Việt, Văn Nghệ Tiền Phong</em>&#8230;), và sau đó được in thành sách, đã là những đóng góp hết sức đẹp đẽ. Những bài như &#8220;Một mùa xuân yên lành&#8221;, &#8220;Chiếc chìa khóa&#8221;&#8230; của Võ Phiến, hay bài &#8220;Nếu bạn gặp một người di tản buồn&#8221; của Lê Tất Ðiều, và một số bài khác cũng của tác giả này trong tập<em>Ly hương</em> (in chung với Võ Phiến khoảng năm 1980), đã diễn tả một cách hết sức chân thực, và xót xa, và đầy nét nghệ thuật, cái tâm trạng nhớ nhà, nhớ nước quay quắt, thắt lòng của người tỵ nạn.</p>
<p>Võ Ðình, với tuyển tập <em>Xứ sấm sét</em>, và Nguyễn Bá Trạc, với tập <em>Ngọn cỏ bồng, </em>cũng diễn tả được một nỗi nhớ nhà dằng dặc khôn khuây, đượm nét triết lý sâu sắc, với phong cách khác nhau của mỗi tác giả. Tác phẩm của những nhà văn này là những đóng góp đẹp cho dòng văn chương ngoài nước của chúng ta.</p>
<p>Tôi nghĩ tôi phải xin lỗi vì không thể kể hết tên những người viết của chúng ta trong khuynh hướng này. Danh sách quá dài khiến việc liệt kê có thể trở nên luộm thuộm. Dù sao, tôi muốn nói là, hầu hết, nếu không là tất cả, những người cầm bút Việt Nam ngoài nước, trong một giai đoạn nào đó của quá khứ, hoặc/và trong những khía cạnh nào đó của hiện tại, đều mang “căn bệnh” nhớ nhà, nhớ nước bất trị này. Ở một cường độ mãnh liệt hơn để đi đến thái độ quyết liệt, thái độ lên đường, chiến đấu, căn bệnh này được anh em <em>Nhân Văn</em> (đặc biệt Phan Tấn Hải) gọi là “bệnh nước”. Nhưng người ta không nhất thiết phải luôn luôn ở trong tình trạng căng thẳng để có thể bứt thoát, lên đường chiến đấu. Vả lại, sự lên đường, sự chiến đấu có thể mang nhiều nghĩa khác nhau. Mỗi người có một vị trí riêng, một hoàn cảnh riêng để nghĩ và làm những điều tốt đẹp cho đất nước. Tôi nghĩ nếu chúng ta không kéo những tình cảm thương nhớ này xuống mức độ sướt mướt, quỵ lụy, mệt mỏi, vô định hướng&#8230;, mà ta thể hiện chúng một cách sâu sắc, có cá tính và có nghệ thuật, khuynh hướng văn chương&#8230; tạm gọi là “hoài cảm, nhớ nhà” này có một giá trị riêng của nó trong ngọn triều chung của dòng văn học ngoài nước, khởi đi từ 30 tháng 4, 1975, ngoài quê nhà.</p>
<p>Nguồn:<strong> </strong>Trích “Một cách nhìn về 13 năm văn chương Việt ngoài nước (1975-1988)” (viết vào tháng 6.1988) trong <em>Lý luận và phê bình: Hai mươi năm văn học Việt ngoài nước (1975-1995), </em>California: Văn Nghệ, 1996.</p>
<h2><strong>Đọc Văn Lê Tất Điều</strong></h2>
<h3><strong> </strong>Cỏ hoang</h3>
<p>Như một con sâu nhỏ bé có thể tự bảo vệ bằng bề ngoài kinh khiếp của nó, như một cô gái, thiếu sắc đẹp, hấp dẫn kẻ khác phái bằng một thứ duyên thầm, bằng chính sự không may của mình, ngôi trường của tôi càng ngày càng trở nên dễ thương đối với những người đã từng chán ghét nó trong buổi gặp gỡ đầu tiên. Tất cả những điều đáng ghét, đáng sợ của ngôi trường này dần dần trở thành những sự khôi hài. Rồi sau này, khi những sự kỳ quái của ngôi trường đã hoàn toàn biến mất thì chúng tôi vẫn muốn nhắc nhở lại chuyện cũ như nói đến những kỷ niệm êm đềm, khó quên.</p>
<p>Hồi mới được xây lên, trường chỉ có hai lớp nhỏ bé, thấp và sơ sài như những căn nhà nghèo. Mái tôn thấp và nung nóng đến nỗi tôi có cảm tưởng thà vứt bỏ mái đi ngồi ngay dưới ánh nắng mặt trời còn thoải mái, dễ chịu hơn. Trong những ngày nắng to, nhìn lũ trẻ vừa vuốt mồ hôi vừa cặm cụi làm toán, thỉnh thoảng lại ngừng bút cầm vở quạt phành phạch, tôi nghĩ rằng nếu nhà trường không cho chúng được một số vốn kiến thức thì ít nhất cũng đã dạy chúng một bài học kiên nhẫn và chịu đựng. Ngày mưa thì còn tệ hơn, nước dội ào ào xuống mái tôn, tôi có gân cổ gào to đến mấy chúng cũng chẳng nghe thấy gì, tốt hơn hết là cho chúng ngồi xúm vào một chỗ không bị dột, để chờ mưa ngớt. Và như thế tôi lại còn có thì giờ để lo bảo vệ sổ sách khỏi bị ướt sũng.</p>
<p>Ngày đầu được gửi đến làm việc ở đây tôi đã đi hàng giờ để kiếm cái bảng tên trường mà mãi ba năm sau mới có. Rồi tôi mất nửa giờ nữa để đứng lặng nhìn ngôi trường, tồi tàn quá sức tưởng tượng, cứ phân vân chẳng hiểu kẻ chỉ đường có chủ tâm chơi xỏ hay đánh lừa mình không.</p>
<p>Một cái hàng rào để định ranh giới của ngôi trường cũng không có. Trường nằm chung trên một phần đất rộng với trạm y tế độc nhất của vùng ngoại ô, và một cái chợ nhỏ. Sân trường đầy cỏ hoang và những cây gai um tùm, đó là nơi tụ họp của các loài ngan, ngỗng, vịt, gà, chó, heo. Người lao công trông coi ở đây già yếu đến nỗi không ai nỡ nặng lời với ông ta. Ông ta chỉ cầm nổi cái chổi khi đã tỉnh rượu, và thường thường ông ta chỉ tỉnh rượu khi đã lên giường ngủ được một vài giờ, thời gian độc nhất có thể khiến ông ta tạm xa chai rượu.</p>
<p>Những ngày làm việc sau đó tôi phải đối phó với đủ thứ chuyện bất ngờ. Có nhiều lúc tôi ngẩn ra không biết phải phản ứng như thế nào cho hợp. Trong tất cả những sách vở viết về khoa sư phạm mà tôi đã được đọc, tôi chưa thấy một tác giả nào nêu ra trường hợp một ông thầy đang hăng hái giảng bài phải giật mình vì thấy một con heo đùng đùng chạy vào lớp mình. Con heo to lớn, dẫn theo một bầy con lít nhít, kêu eng éc, chẳng coi ai ra gì. Lớp tôi có hai cửa nên đã trở thành con đường giao thông ngắn nhất từ sân trường về chuồng của lũ heo, ở trong một căn nhà hàng xóm của nhà trường. Thấy tôi vô tình đứng cản đường đi của mẹ con nó, con heo đứng lại kêu to phản đối, mấy con heo con nhân dịp đó, bỏ hàng ngũ chạy đại vào những khoảng trống giữa hai dãy ghế học trò ngồi.</p>
<p>Ấy thế là cái trật tự của lớp mà tôi đã mất bao công lao mới tạo được đột nhiên bị phá vỡ. Lũ trẻ nhao nhao nhảy ra khỏi chỗ để chống lại sự xâm lăng của bầy heo, dĩ nhiên, tôi cũng phải ngừng giảng bài để hợp tác với lũ học trò. Lớp học tràn đầy một không khí kỳ quái với tiếng trẻ la hét, dậm dọa, xen lẫn tiếng heo kêu. Mấy con chó cũng thi nhau chạy vùn vụt qua lớp luôn luôn. Về sau tôi không dám mở to cửa lớp ra nữa và lúc nào cũng phải để ý canh chừng để xua đuổi kịp thời những sự bất ngờ này.</p>
<p>Cái chợ ở ven trường thì lúc nào cũng ồn ào và có nhiều vụ cãi nhau hơn cả các chợ khác. Khi có vài bà bán tôm bán cá đùng đùng nổi giận mà chia làm hai phe đấu khẩu, chửi rủa nhau thì khó mà ngăn những câu nói của họ khỏi bay vào lớp học, dù tôi có đóng hết các cửa lại. Tôi bắt lũ học trò ngồi thật nghiêm trang, và cố gắng giảng cho chúng nghe những điều thật đặc biệt, nhưng vô ích, một vài câu chửi gợi lên những hình ảnh quá tục tĩu vẫn làm cho vài đứa bật ra khúc khích cười.</p>
<p>Phải mất hàng hai ba tháng trời tôi mới triệt được cái bệnh văng tục, bệnh ở bẩn của lũ học trò. Nhưng đó chỉ là những điều vụn vặt, khiến tôi bực mình, không gây nên sự chán nản.</p>
<p>Cái việc gây nhiều khó khăn, cản trở cho công việc của tôi, chính là đời sống của người dân ở đây. Ngoài một số rất hiếm người khá giả, thì người dân ở đây đều nghèo khổ. Họ không có một cơ sở hay việc làm vững chắc như người thành phố hay có một việc làm hiền lành như người miền quê. Họ như từ bốn phương tụ lại, đại diện cho khắp nơi và sống bằng đủ các thứ nghề, lương thiện có mà không lương thiện cũng có. Như những cây cối mọc chen chúc trong một khu vườn hoang họ vươn lên, tìm sống bằng các phương tiện hợp với khả năng họ, trong tầm tay họ. Và họ đã tạo nên được cái vẻ muôn mặt, hỗn độn, bí mật của một vùng ngoại ô cằn cỗi.</p>
<p>Vì thế, tôi không thể giảng một bài đức dục nào mà lại hoàn toàn không động chạm đến nghề nghiệp, tật xấu, hay quá khứ của một ông chủ gia đình. Khi tôi nêu ra một điều tệ hại cần tránh và thấy lũ học trò quay cả về phía một đứa đang cúi đầu ngượng nghịu thì tôi biết ngay rằng ba thằng bé này làm nghề gì. Có lần, sau một hồi hăng hái giảng về sự tai hại của tính mê tín dị đoan và sự láo khoét của mấy ông thầy pháp, tôi phải ngẩn người vì một thằng học trò bỗng đứng bật dậy, chỉ vào một đứa khác tố cáo:</p>
<p>&#8211; Thưa thầy, tía anh nầy cũng là thầy pháp, tối nào tía anh ấy cũng đi cúng.</p>
<p>Ðứa học trò có người cha bị tố cáo ngượng ngùng lấm lét nhìn tôi, miệng cười gượng, tay cấu mãi vào một góc vở, đôi mắt nó nhìn tôi để lộ những tia sợ hãi, tuyệt vọng, khổ sở. Thì ra ba nó chính là cái ông thầy pháp đã từng làm tôi mất ngủ, khó chịu. Ðêm đêm, khi cúng bái cho một nhà nào ông ta thường mặc bộ quần áo màu sặc sỡ, khua chiêng đánh mõ om sòm và thỉnh thoảng lại thổi một tiếng kèn ngắn ngủi, quái đản, nghe thật ghê sợ.</p>
<p>Tôi vội vàng mắng át đứa <a href="http://www.gocnhin.net/##">kia</a> và quả thực, sau đó, phải chật vật lắm tôi mới có thể làm cho lũ học trò, vừa biết rõ sự bịp bợm của mấy ông thầy pháp, lại vừa tin rằng ba của đứa học trò kia, dù thế nào cũng vẫn phải được kính yêu. Chúng chưa đủ trí khôn để tìm thấy sự mâu thuẫn trong cách giải thích của tôi. Nhưng thế nào mà chả có đứa phân vân. Thành ra tôi đã mở mắt cho chúng để chúng nhìn thấy những sai lầm trên các người sinh thành ra chúng.</p>
<p>Lũ trẻ thường bị rơi vào giữa gọng kìm của một cuộc đời thực tế và một cuộc đời tốt đẹp trong sách vở. Chúng trở nên hiền lành, sợ hãi một cách thật đáng thương.</p>
<p>Nhưng càng mến yêu lũ học trò thì tôi càng tỏ ra nghiêm khắc với chúng. Tôi đã làm ngược lại những điều mà lớp người trước căn dặn tôi: phải tạo một không khí thân mật giữa thầy và trò, phải cho học trò thấy rõ là mình rất thương mến chúng. Nếu tôi cố gắng tạo cho lớp học một không khí quá vui tươi, cởi mở thì sẽ có nhiều đứa học trò của tôi nhìn thấy gia đình chúng là một nơi thật đáng ghét, đáng sợ, đôi khi mang dấu vết xấu xa, tối tăm của địa ngục. Có đứa coi những giờ đến trường là những giờ được nghỉ ngơi sung sướng nhất, bởi vì khi trở về nhà nó phải làm việc quần quật suốt ngày. Khi được giao công việc nhẹ nhàng nhất là việc bế em thì lập tức chúng lại tìm đến sân trường, chơi đùa với lũ học trò ở đây, sung sướng như đang sống trong một thiên đường nhỏ.</p>
<p>Tôi cố giả vờ tạo một bộ mặt nghiêm khắc đến thế nào thì cũng không thể làm cho chúng sợ hãi bằng nét mặt cau có của một người cha say rượu khi ông ta cầm trong tay một thanh củi lớn và hung hăng đập lên người chúng như đập lên một kẻ tử thù. Phải thấy cha mẹ mình lầm lỗi và bị hàng xóm khinh ghét một đứa học trò cảm thấy đau đớn, tủi hổ gấp trăm, ngàn lần những khi nó bị phạt ở nhà trường. Có những đứa trẻ quen chịu đựng sự cực khổ đến nỗi lúc nào nó cũng giữ được vẻ thản nhiên, ấy thế mà khi bị ốm nằm nhà, thấy thầy và bạn đến thăm nó lại đâm sững sờ rồi bật khóc nức nở. Tình thương, sự săn sóc đến bất ngờ quá khiến nó ngẩn ngơ, kinh ngạc.</p>
<p>Ðối với những đứa trẻ không được đi học tới năm năm trời thì sự sung sướng của thế giới học trò thường làm chúng khổ sở khi phải rời khỏi học đường. Trường hợp của trò Dũng đã khiến tôi thấy rõ điều này. Ðã có nhiều đứa đang học thình lình phải bỏ ngang để đi học nghề. Nhưng chỉ có cái buồn rầu của trò Dũng trong lần cuối cùng nó rời khỏi lớp học là được <a href="http://www.gocnhin.net/##">ghi</a> đậm trong ký ức tôi.</p>
<p>Cho đến bây giờ, ngôi trường đã được kiến thiết đẹp đẽ, sân trường không còn một sợi cỏ, thế mà mỗi lần nhìn thấy những luồng gió lốc tung cát, chạy quanh trong sân trường, tôi tưởng như vẫn thấy bóng trò Dũng ngập ngừng bước bên đám cỏ hoang, đôi bàn chân đen đủi của nó còn ghi vết trên con đường nhỏ.</p>
<p>Trong buổi học của ngày đầu niên học tôi đã chú ý ngay đến nó. Ngồi ở dãy bàn cuối lớp, Dũng cao hơn các bạn nó hẳn một đầu. Nét mặt nó lúc nào cũng tươi tỉnh, làn da đen xám khiến nó càng có vẻ láu lỉnh, khôn ngoan. Nó quay sang bên phải nhe răng cười rồi lại quay sang bên trái nháy mắt như có điều gì thú vị lắm. Ðầu tiên tôi tưởng nó thuộc loại những đứa trẻ lớn đầu và ngỗ nghịch. Nhưng khi tôi gọi đến nó thì nó lại tỏ ra là một đứa trẻ hết sức lễ phép và ngoan ngoãn. Tôi chưa thấy đứa trẻ nào tha thiết, sốt sắng với công việc của lớp học như trò Dũng. Tính sốt sắng ấy nhiều khi trở nên quá đáng. Tôi vừa hỏi có trò nào viết trên bảng được không thì lập tức Dũng nhỏm ngay dậy. Ngoài cánh tay giơ cao nhất lớp nó còn át các bạn của nó bằng cách nói lia lịa:<br />
&#8211; Con viết được, con viết được, thầy cho con viết.</p>
<p>Và tôi vừa gật đầu là nó đã hấp tấp chạy lên bảng để rồi viết ra những hàng chữ ngả nghiêng, leo dốc xuống đèo làm cho cả lớp kêu ầm ĩ vì không đọc nổi. Trong những ngày sau đó Dũng trở thành nguồn vui của lớp học. Trước câu hỏi của tôi, dù khó khăn đến đâu nó cũng giơ tay xin trả lời, và trả lời mười lần sai hết chín. Dũng viết những chữ rất xấu, nhưng nó có tài giữ gìn sách vở. Nó thường chỉ nổi giận khi có một đứa bạn làm dây mực vào sách vở của nó. Thỉnh thoảng nó lại đem tặng lớp học một món quà nhỏ. Và lớp học dần dần có vẻ tươi mát với những cây leo trồng trong một cái bóng đèn điện chứa đầy nước, hay trong một con ốc nhiều màu.</p>
<p>Thỉnh thoảng Dũng lại đem đến lớp một cái búa và mấy cái đinh để sửa lại những bàn ghế quá ọp ẹp, mà bọn học trò nhỏ của tôi thường vin vào đó để lấy cớ cãi nhau.</p>
<p>Dần dần bọn học trò tôi cũng khám phá ra cái tính sốt sắng của Dũng và bắt đầu lợi dụng nó. Chúng giao cho thằng Dũng đủ các việc lặt vặt, nhất là những việc có liên can đến mục vệ sinh của lớp. Dũng nhận làm hết. Ðứa nào có đồ chơi hay một vật dụng gì hư hỏng đều có thể nhờ đến bàn tay sửa sang của thằng Dũng. Có lần nó sửa được cả bộ máy của một chiếc xe hơi nhỏ chạy dây cót, khá rắc rối mà nó mới được mở xem lần đầu. Chủ nhân của chiếc xe khoái quá thưởng công Dũng bằng cách cho nó mượn về chơi hẳn một ngày.</p>
<p>Nhờ cái tài khéo tay này mà Dũng vẫn đứng đầu về môn thủ công. Trong kỳ chấm bài lũ trẻ thường hồi hộp chờ xem tác phẩm của nó. Ðể cho những món nó làm ra thêm phần giá trị, Dũng thường có một lối giấu giếm và pha trò rất khôn khéo. Một lần nó nặn được một quả chuối, tô màu giống hệt như quả chuối thật, nó gói kỹ trong một tờ giấy, và mặc cho mấy đứa trẻ khác chạy theo gạ gẫm, năn nỉ, nó không cho đứa nào xem cả. Gần tới giờ thủ công Dũng mới giở quả chuối ra giơ lên rồi, miệng há tròn, nó giả vờ như sắp đớp quả chuối làm cho những đứa khác cùng ồ lên, phục lăn.</p>
<p>Vì học hành thất thường nên Dũng chỉ đứng hạng trung bình trong lớp, nhưng nó khá thông minh và chăm nên không mấy khi tôi phải trách nó về tội lười. Vẻ tha thiết với việc học của nó hiện rõ nhất khi nó làm một bài làm chậm hơn các bạn, nó cuống quít lên và dù hay dù dở nó cũng cố gắng xin tôi cho điểm. Nếu chỉ vì chậm chân mà nó không được phê điểm thì nó tỏ ra khổ sở, bực bội lắm. Vào những ngày trả bài luận, Dũng có vẻ hồi hộp, lo lắng của một con bạc trước khi biết kết quả tiếng bạc của mình.</p>
<p>Cầm cuốn vở luận trong tay, Dũng ngửa mặt lên, đôi mắt nhắm nghiền, miệng lẩm bẩm như khấn khứa, rồi thình lình nó mở bung quyển vở ra để xem điểm. Nếu thấy được điểm khá nụ cười liền cũng bật tung ra, tràn lan trên khuôn mặt đen xạm của nó, làm cho đôi mắt long lanh sáng. Nhấp nhổm trên chỗ ngồi, hai tay nó hích phải hích trái, nó có vẻ muốn cười phá lên, vỗ tay mà rồi không dám. Nó cười với đứa bên phải, khẽ &#8220;hì hì&#8221; vào tận tai đứa bên trái, và kéo cả cổ áo của đứa ngồi trước mặt để cho thằng kia rõ sự thành công của nó. Có lần tôi phải mắng nó về cái tội đã dám đóng khung, tô màu và vẽ hoa lá xung quanh con số mười điểm mà nó kiếm được nhờ một bài chính tả không có lỗi.</p>
<p>Ðiều đáng tiếc nhất là Dũng làm luận rất dở, bao giờ nó cũng ba hoa đến độ thành lạc đề và chẳng mấy khi được điểm cao. Trong suốt năm học nó chỉ có mỗi một bài thật khá mà lại không được điểm, đó là bài tả một đám cãi nhau. Nó viết kín ba trang giấy, nhắc lại rất trung thành lời nói của hai địch thủ tặng cho nhau. Tuy nó cũng biết loại bỏ những câu quá đáng, nhưng bài ấy vẫn bị tôi kiểm duyệt, giống như những bài văn tả chân thường gặp bước không may.</p>
<p>Quả thực, chưa bao giờ tôi thấy trò Dũng nói chuyện trong lúc tôi giảng bài. Mỗi lần tôi lên tiếng là nó khoanh tay, chăm chú ngước nhìn, chờ đợi. Những lần có một con heo hay con chó nhào vào phá đám giữa lúc tôi đang nói thì Dũng thường nổi giận, nó kêu với vẻ vừa thất vọng vừa tức tối:</p>
<p>&#8211; Trời đất ơi!&#8230;</p>
<p>Và nó tự động nhảy ra khỏi chỗ, vừa hò hét vừa đuổi theo con vật cho đến cuối sân trường.</p>
<p>Vì là đứa lớn tuổi nhất lớp nên nó cũng thường tỏ ra khôn ngoan, dễ biết ý tôi hơn các trẻ khác. Khi ở các nhà bên cạnh trường có những vụ cãi vả, những vụ đánh nhau, trong lúc những đứa khác đứng dậy, nhìn qua cửa sổ thì thằng Dũng cau có xin phép tôi cho đóng các cửa sổ lại. Nó đã biết những lời thô tục làm vẩn đục cả không khí của học đường. Nó mến thầy, mến bạn, mến lớp học và lúc nào cũng chỉ muốn bảo vệ, che chở cho cái lớp học của nó.</p>
<p>Nhưng học đều đặn được chừng ba tháng thì thằng Dũng bắt đầu đến lớp thất thường, bỏ bê việc học hành. Tôi đã quen với những vụ nghỉ học trường kỳ của lũ học trò. Vào những ngày cuối năm, khi một người Tàu già đội chiếc mũ cói rộng vành bắt đầu bón nhiều phân lên một vườn rau cải nhỏ của ông ta ở gần trường, thì lớp học của tôi bắt đầu thưa thớt. Chẳng phải lũ trẻ không chịu đựng nổi mùi phân bón bốc lên nồng nặc, làm chúng phải vừa bịt mũi vừa học, mà chính vì trong thời gian này, chúng phải đem cái sức nhỏ bé ra để giúp đỡ cha mẹ chúng. Có đứa vừa phải coi nhà vừa giữ em cho cha chúng đem hoa đi bán. Có đứa phải phụ với cha mẹ trong công việc gánh hàng ra chợ.</p>
<p>Có đứa phải gạt hết sách vở để suốt ngày cưa sừng làm lược, hay cặm cụi đánh từng con suốt chỉ cho bà mẹ dệt vải. Buổi tối, trong lúc ngồi hóng gió trước nhà, tôi thường thấy hai đứa học trò ngoan nhất của tôi đi bán bánh trên con đường dài, không có ánh đèn, dẫn vào các xóm nhà nghèo. Chúng là con một người đàn bà gốc Trung Hoa sống bằng nghề bán hoa quả lặt vặt. Ðồ đạc của hai đứa trẻ này là một cái thúng có đựng những miếng bánh bò màu trắng, hoặc vàng úa đã cắt sẵn, để thành từng lớp có thứ tự. Mỗi đứa khiêng một đầu đòn gánh, lồng qua quang gánh mang cái thúng. Thằng em đi trước cầm chiếc đèn bão soi đường thỉnh thoảng lại cất tiếng rao. Thằng anh đi sau giữ tiền. Hai đứa giống nhau từ mái tóc, nét mặt đến bộ quần áo. Khi có người gọi lại, chúng vội vàng đặt gánh xuống. Thằng em nhấc ngay cái lồng bàn che bánh lên, thằng anh ngồi thụp xuống, dùng một cái xiên sắt lấy bánh ra, gói vào giấy, trao hàng và nhận tiền. Chúng đã chia nhau từng cử chỉ lặt vặt ấy. Ánh đèn bão mập mờ soi hai nét mặt trẻ lúc nào cũng bình thản, không còn dấu vết tinh quái, nghịch ngợm của những đứa trẻ bình thường.</p>
<p>Có khi lên giường nằm rồi tôi còn nghe tiếng rao của chúng vang lên đột ngột, cô đơn như một tiếng động vừa rơi lơ lửng vào giữa bầu trời mênh mông của miền ngoại ô. Ánh đèn của chúng hắt qua khe cửa nhà tôi tạo thành những vệt sáng dài, vừa run rẩy vừa di chuyển chậm chạp trên tường. Nếu trong buổi học ngày hôm sau đó chúng có không thuộc bài tôi cũng gắng cho chúng điểm trung bình.</p>
<p>Nhưng bọn trẻ này nghỉ học bận việc có định kỳ, một năm chúng chỉ nghỉ một lần thật lâu rồi lại đi học đều đặn. Trái lại, trò Dũng nghỉ vài ngày rồi lại đi, rồi lại nghỉ vài ngày. Mỗi lần đến trường nó vẫn tỏ ra sung sướng, vui vẻ say mê với việc học. Cuối buổi học, trong giờ hoạt động thanh niên nó vẫn hăng hái cộng tác với các bạn để làm vui cho cả lớp. Hoặc nó ca vài câu, kể một câu chuyện, hoặc nó xắn quần ống cao ống thấp, bôi phấn vào mặt, vẽ râu để làm anh hề trong một kịch vui, làm cho cả lớp cười bò. Từ sau bảng bước ra, nó mới nheo mắt, nhe răng, đi khệnh khạng, chưa kịp nói câu gì, là lũ bạn nhỏ của nó đã không nín cười được. Thành ra, những hôm vắng thằng Dũng tự nhiên lũ trẻ mất vui, cảm thấy nhớ. Có đứa tức quá đứng lên tố cáo:</p>
<p>&#8211; Thưa thầy, anh Dũng bỏ học đi chơi đấy ạ.</p>
<p>Vài đứa khác lại nhao lên bênh vực:</p>
<p>&#8211; Thưa thầy anh ấy ở nhà bế em cho má anh ấy đi chợ.</p>
<p>&#8211; Anh ấy phải trông nhà.</p>
<p>Dũng cũng nêu những lý do đó để xin nghỉ học. Tôi đành phải tin nó vì cha mẹ nó chẳng bao giờ chịu đến trường xin phép nghỉ cho con. Một lần gặp thằng Dũng đang loay hoay phụ giúp với một người đàn ông sửa một chiếc xe trong một căn nhà nhỏ, mái tranh, lập chênh vênh ven bờ ruộng, trên con đường vào thành phố, tôi mới biết người đàn ông đó chính là cha Dũng. Ông ta làm nghề sửa xe đạp, xe gắn máy chứ không phải &#8220;buôn bán&#8221; như ông ta đã ghi trong lý lịch của con. Hai cha con đều mặc những bộ quần áo ka-ki đen đặc dầu mỡ, chắc trước kia màu vàng. Thấy tôi, thằng Dũng vội vàng vứt cả kìm, búa đứng dậy khoanh tay chào, nét mặt hân hoan. Cha Dũng cũng gật đầu chào tôi, mấy sợi tóc uốn quăn xõa xuống cái trán cao có một vết sẹo ngang của ông ta làm cho khuôn mặt ông ta vừa có vẻ dày dạn lại vừa có vẻ phong lưu của một công tử giàu tiền. Ông ta trẻ hơn tôi tưởng. Ông nói với tôi:</p>
<p>&#8211; Nhà tôi độ này bận quá, thành ra phải xin thầy cho cháu Dũng nghỉ ít bữa.</p>
<p>Tôi chỉ gặp ông ta một lần ấy thôi. Từ đấy về sau mỗi lần đi qua đây tôi chỉ thấy một mình thằng Dũng đang loay hoay làm việc. Thằng bé khéo léo này đã có thể thay thế cha nó trong công việc sửa xe, vá những lỗ thủng trên ruột xe. Hỏi thăm về cha nó thì nó cho tôi biết là ông ta đi vắng.</p>
<p>Càng ngày nó càng đến trường ít hơn, và mỗi lần đến là một lần nó cuống quít đi mượn vở chép bài. Sách vở của nó bắt đầu mất cả sự sạch sẽ, quần áo của nó cũng không còn gọn gàng như trước. Nhưng nó vẫn vui vẻ, sốt sắng, vẫn ca hát và làm hề cho cả lớp cười, vẫn nhảy nhót khi được điểm cao. Ngoài giờ học, nó lại mặc bộ quần áo đầy dầu mỡ, làm bạn với kìm, búa, với những chiếc xe hỏng.</p>
<p>Buổi trưa, thỉnh thoảng có dịp đi qua căn lều nhỏ của gia đình Dũng, tôi thường thấy nó ngồi trên chiếc chiếu nhỏ, dựa lưng vào một chân cột, dáng điệu nửa thức nửa ngủ. Ðồ đạc, dụng cụ sửa xe xếp ngổn ngang quanh nó. Nó không nhìn thấy tôi vì ngồi quay lưng về phía con đường nhựa mềm ánh nắng buổi trưa, có lẽ nó đang thả tầm mắt mơ hồ qua cánh đồng không, tới những ống khói cao ngất trong thành phố. Những luồng gió nóng như hơi nước trong một nồi nước sôi thổi phần phật vào mái lá, hoặc xoay tròn, bốc cát bụi mù trên con đường đất đỏ chạy ngang cánh đồng. Tôi tưởng như thằng bé ngồi bất động, cô đơn kia không thể nào là thằng Dũng, một đứa trẻ láu táu, vui tính nhất lớp tôi. Bầu không khí, phong cảnh cằn cỗi ở vùng ngoại ô này có thể nung khô tất cả những tâm hồn dịu dàng, vui tươi, và đốt cháy những nguồn hy vọng nhỏ bé. Quả thực tôi không như những người dạy học khác, mong mỏi nhìn thấy sự thành công trong tương lai của đám học trò mình, tôi chỉ muốn lũ trẻ được ngồi học yên ổn và đều đặn trong lớp tôi cho đến cuối năm.</p>
<p>Tôi không đoán nổi trong lúc ngồi cô đơn như thế bé Dũng đã nghĩ gì, mơ đến những điều gì. Nhưng một trong những sự mơ ước của nó, đột nhiên hiện ra trước mắt tôi vào một buổi học, khi nó bị tôi phạt về tội nói chuyện trong lớp. Và ngay sau đó tôi nhìn thấy tất cả nỗi tuyệt vọng của nó. Sự vùng vẫy, phấn đấu, để thoát ra khỏi ngõ bí của nó đầy tính cách mong manh, khờ dại khiến ta xúc động, xao xuyến như khi ta nhìn thấy một con chim non lạc tổ sắp chết vì một trận mưa.</p>
<p>Dũng để một vật gì dưới ngăn bàn, hai đứa bên cạnh nó cùng chụm đầu lại để nhìn. Vừa nói, Dũng vừa cười có vẻ thích thú và hai đứa bên cạnh nó cũng cười theo. Bị gọi tên thình lình, Dũng giật mình đứng dậy, luống cuống khoanh tay. Nó chưa kịp trả lời câu hỏi của tôi thì một trong hai đứa bên cạnh nó đã nói:</p>
<p>&#8211; Thưa thầy, anh Dũng khoe cái xổ số anh ấy mới mua.</p>
<p>Rồi nó cố nín cười để giữ giọng tự nhiên:</p>
<p>&#8211; Anh ấy nói nếu trúng độc đắc anh ấy sẽ mua cái xe hơi chở cả thầy và hết cả lớp đi chơi và đi coi hát bóng.</p>
<p>Cả lớp cười, vài đứa xì xào:</p>
<p>&#8211; Xe hơi nào mà chở được cả lớp&#8230;</p>
<p>Dũng có vẻ ngượng, nó mỉm cười và cúi đầu. Nhìn vẻ tiều tụy của nó tôi không nỡ mắng, bao giờ cũng thế, khi biết sắp bị mắng nó thường buồn rầu và lo sợ. Tôi bảo:</p>
<p>&#8211; Thôi cất xổ số đi&#8230; bao giờ trúng hãy đem khoe.</p>
<p>Dũng tươi tỉnh hẳn lại, đôi mắt nó long lanh tin tưởng, nó đã trở lại vẻ nhanh nhẩu bình thường:</p>
<p>&#8211; Thưa thầy, mấy người nghèo hết tiền mua giấy số hay trúng lắm thầy.</p>
<p>&#8211; Vậy hả. Ờ, thầy cũng hy vọng sẽ được đi xe hơi của trò Dũng. Bao giờ mở số đấy?</p>
<p>&#8211; Chiều nay ạ.</p>
<p>Nó ngồi xuống, trịnh trọng nhét tấm xổ số vào cặp. Tôi vội giảng bài tiếp để chặn đứng cuộc bàn về xổ số đang lan tràn trong lớp. Hình như có tấm vé xổ số trong cặp, Dũng vững tin ở cuộc đời hơn. Suốt giờ học tôi không nhận thấy vẻ buồn rầu thoáng qua mặt nó như mấy buổi học trước. Nó chịu đặt cả hai tay lên bàn nhưng không ngồi yên, thỉnh thoảng lại quay nhìn phải, nhìn trái, môi lúc nào cũng hé như sẵn sàng cười thật to. Cuối giờ, trước khi về học nó còn đi quanh lớp để ngắt lá úa trên những dây vạn niên thanh và siết lại những đầu dây thép gắn vài con ốc vào đầu đinh trên tường. Niềm vui, sự hân hoan của trẻ con thường tràn ra thành các cử chỉ như thế.</p>
<p>Buổi chiều, khi nghe máy thu thanh, tôi nhớ đến tấm xổ số của trò Dũng và ý nghĩ của tôi, tôi mỉm cười như những lần tôi nhớ đến một kỷ niệm ngộ nghĩnh về đám học trò.</p>
<p>Sáng hôm sau, bầu không khí có vẻ oi bức khiến tôi cảm thấy khó chịu. Những đám mây đen mờ che khuất mặt trời báo hiệu một ngày không có nắng. Vùng ngoại ô quá rộng để ta có thể cảm thấy tất cả sự khó chịu của một bầu trời nặng nề. Sức nóng không tỏa từ ánh nắng một cách tự nhiên mà như xuất hiện bất cứ chỗ nào. Sự bình thản, vui vẻ trong tâm hồn tôi hình như bị sự oi bức làm rạn nứt và đã trở thành một cái gì mong manh dễ vỡ.</p>
<p>Buổi học lại bắt đầu bằng vài chuyện lộn xộn. Hai đứa nhỏ ở cạnh nhau, đến lớp còn cãi vả om sòm vì một chuyện đã xảy ra giữa hai gia đình trong ngày hôm trước. Ðứa này bảo bố đứa kia là đồ ăn cắp gỗ và đứa kia tố cáo việc anh đứa này bị người ta đánh vì dám cướp tiền một đám bạc. Một thằng học trò khác thì đem lên bàn tôi một quyển vở chỉ còn độ bốn năm tờ giấy trắng, nó kêu rằng nó không hề xé vở mà chính ba nó đã lấy giấy gói hàng. Tôi không thể nén sự bực mình, tôi đã gửi một bức thư cho ông ta về việc này và ông ta chưa trả lời. Tôi thở dài nhìn đứa trẻ, nó chớp mắt sợ hãi, cả nó và tôi đều lọt vào cái thế đáng chán. Tôi vừa lấy giấy ra định biên thêm cho ba đứa trẻ mấy dòng thì cuối lớp, một đứa đứng dậy báo cáo:</p>
<p>&#8211; Thưa thầy, hôm nay anh Dũng lại nghỉ.</p>
<p>&#8211; Lại nghỉ. Nó học hành thế thì còn ra làm sao&#8230;</p>
<p>Ðứa bé cọ bàn tay phải vào cạnh bàn rồi nói rất nhanh, có vẻ kiêu hãnh vì những điều nó biết:</p>
<p>&#8211; Con thấy mấy người lối xóm nói: ba trò Dũng bị tù rồi. Hồi trước ổng mua vỏ ruột xe hơi của mấy người ăn cắp, bị tù mười lăm ngày mới được tha ra. Giờ không biết sao lại bị bắt nữa&#8230;</p>
<p>Một đứa khác đứng phắt dậy, vừa xếch lại quần vừa nói như sợ đứa khác nói tranh mất:</p>
<p>&#8211; Ba trò Dũng ăn cắp xe gắn máy, thầy. Cả những người khác cũng bị bắt hết, mấy bữa nay rồi thầy.</p>
<p>Sự bất ngờ làm tôi bất động, chỉ biết chăm nhìn vào mắt những đứa trẻ vừa đứng lên nói, những lời nói vừa mở tung bức màn che giấu một thảm kịch. Lớp học hình như không bị xao động một chút nào. Vài đứa định đứng lên nói thêm nhưng tôi ra hiệu bắt chúng ngồi xuống. Chúng yên lặng, khoanh tay, mở mắt chăm chú nhìn tôi, hình như chờ đợi tôi nói một điều gì về việc ba trò Dũng. Tôi nói gì được? Cái sự làm tôi khó chịu, bực bội nhất là nét thản nhiên trên mặt lũ học trò. Chúng đã quen với những sự này đến thế cơ ư?</p>
<p>Ðưa tờ giấy viết thư lên ngang tầm mắt, tôi nhìn chăm chú vào đó để tránh những đôi mắt ngây thơ, khờ dại và bình thản. Tờ giấy chưa có một chữ nào, đang mở dần thành một khoảng trời trắng, rỗng và xa vời. Tôi lấy lại sự thản nhiên bằng một ý nghĩ tàn nhẫn.</p>
<p>Giữa buổi học thì trò Dũng đến. Nó lững thững đi qua cổng trường, hai vai co lên một chút như bị lạnh. Nó không đá chân vào đám cỏ hoang cho những con châu chấu bay vụt lên như mọi lần, trong bộ quần áo đẹp nhất của nó, Dũng có vẻ trịnh trọng. Nó bước vào lớp và nói với tôi:</p>
<p>&#8211; Thưa thầy, con xin thôi học.</p>
<p>Dũng đưa ra một cái đơn, chữ viết nghiêng ngả.</p>
<p>&#8211; Con phải về tỉnh ở với bà nội.</p>
<p>&#8211; Ở đó có trường công không mà về?</p>
<p>&#8211; Dạ, thưa thầy, khỏi cần. Con không đi học nữa. Bà nội con ở làng, trồng khoai với bắp.</p>
<p>Tôi cúi xuống đọc lại tờ đơn, phân vân. Dũng nhìn tôi thật lâu rồi chợt quay xuống với các bạn nó, nó đi qua các dãy bàn để thanh toán mọi việc. Trả đứa này món nợ một đồng, cho đứa kia mấy viên bi, trao lại đứa khác chiếc xe hơi hỏng nhờ nó chữa. Công việc đó diễn ra không gây một tiếng ồn nhỏ nào. Lũ trẻ đã giữ được một sự yên lặng lạ lùng.</p>
<p>Dũng trở lại bàn cúi đầu thật thấp chào tôi rồi đi ra, lên phòng hiệu trưởng. Suýt nữa thì tôi mở miệng khuyên nó nên cố gắng chăm học.</p>
<p>Mười phút sau nó trở lại đứng ở cửa lớp học, hai tay nắm vào một bên khung cửa, tần ngần nhìn lũ bạn đang ngồi học, những ngón tay nhỏ của nó cong lại, vuốt nhẹ lên mặt gỗ.</p>
<p>Tôi hỏi:</p>
<p>&#8211; Lấy hồ sơ rồi chưa?</p>
<p>&#8211; Thưa thầy, lấy rồi, con chờ thầy trả bài thi.</p>
<p>&#8211; Bài thi?&#8230; à, bài thi toán ấy hả.</p>
<p>Tôi ra hiệu cho nó vào lớp và giở tập bài thi ra. Dũng hớn hở đứng cạnh tôi, chăm chú chờ đợi.</p>
<p>&#8211; Thưa thầy, hôm đó con làm đúng hết&#8230;</p>
<p>Và chợt nó <a href="http://www.gocnhin.net/##">reo</a> khẽ:</p>
<p>&#8211; Ðây rồi&#8230; trời! mười tám điểm!</p>
<p>Bài thi nó làm hoàn toàn, chỉ hơi bẩn một chút.</p>
<p>Dũng nắm tờ giấy trong hai tay, nhìn chăm chú vào con số mười tám màu đỏ. Miệng nó, đôi má nó, đôi mắt nó đều chan hòa một nụ cười. Nó giương đôi mắt long lanh nhìn tôi rồi lại nhìn vào bài thi của mình. Rồi chợt nó nghiêng tờ giấy và nháy mắt với mấy đứa bạn ngồi ở bàn cuối cùng, kiêu hãnh mỉm cười với chúng. Nó cứ đứng lặng như thế để tỏ lộ tất cả sự hân hoan của mình. Tôi buột miệng nói:</p>
<p>&#8211; Bài này trò làm khá lắm.</p>
<p>Có lẽ chính câu khen của tôi đã làm cho trò Dũng phập phồng muốn khóc khi nó chậm chạp để bài thi xuống bàn. Tôi không đủ can đảm để nói một lời thân mến với nó.</p>
<p>Khi chào tôi lần cuối, Dũng cúi đầu thật thấp như muốn giấu tất cả sự thê thảm trên mặt nó vào đôi tay khoanh lại. Nó trở ra rất nhanh, đá bung mấy viên gạch trên sân trường, nhìn mấy cây nhỏ, mới được trồng ở đầu sân để cho lũ trẻ có bóng mát sau này. Rồi nó cúi đầu, ra khỏi cổng trường.</p>
<p>Dũng là đứa học trò độc nhất mà tôi mong cho nó chóng quên thầy, quên bạn&#8230;</p>
<p>&nbsp;</p>
<h3>Những giọt mực</h3>
<p>Đêm hơi lạnh. Ánh trăng lọt qua cửa sổ, soi sáng một chút mặt ông Bàn. Bình mực thủy tinh đổ nghiêng, mang trên mình mảnh trăng nhỏ xíu, lấp lánh, xa vời.<br />
Dòng mực xanh chảy lan trên mặt ông Bàn đã khô. Đáy bình còn một gợn đen đậm nhỏ. Đó là ba giọt mực cuối cùng.<br />
Ông Bàn giận lắm. Chưa bao giờ ông giận đến thế. Chú Ngăn kéo sợ ông sẽ quẳng tất cả các vật trên thân thể ông xuống, kể luôn chú. Chú gắng thu xếp các vật trong lòng mình, cho chúng nằm thứ tự gọn gàng. Ở đậu trong bụng ông Bàn, chú Ngăn kéo luôn tế nhị, giữ gìn.<br />
Nhưng lần này, lỗi không ở chú Ngăn kéo.<br />
Ông Bàn to tiếng:<br />
&#8211; Ông Cung, cụ Sách nghĩ coi: tôi làm sao chịu nổi. Trong phòng này tôi là món đồ xui xẻo, cực khổ nhất.. Vật gì cũng có thể nhảy lên mặt tôi được. Ban ngày tôi còn phải cõng cả ánh nắng, ban đêm cõng ánh trăng, toàn những món đồ do chị Cửa sổ mang về.<br />
Cửa sổ nhỏ nhẹ:<br />
&#8211; Ánh trăng và ánh nắng nhẹ tênh mà.<br />
&#8211; Đồng ý. Nhưng chị phải biết ánh nắng có thể làm tôi vỡ mặt ra. Tuy nhiên việc đó bỏ qua. Tôi xin hỏi mọi vật: tôi là bàn tôi đâu có là anh hề nhựa, sao mặt tôi ngày một bẩn thỉu, kỳ cục, đầy những vết mực dọc ngang, lộn xộn?<br />
Anh Bút chì nằm bên cạnh cô Vở quăn góc nói nhỏ:<br />
&#8211; Cháu chỉ lỡ vẽ trên mặt bác một cái xe hơi, một cái nhà…<br />
Anh Bút bi cũng lên tiếng:<br />
&#8211; Cháu vẽ một con vịt.<br />
Ông Bàn giận dữ hơn:<br />
&#8211; Hình đó đâu phải là con vịt. Đó là một thứ quái vật, đầu to như đầu ngựa, hai cẳng như cây tăm. Tôi yêu cầu các cháu từ giờ đừng có trổ tài hoạt hoạ nữa.<br />
Cụ Sách lên tiếng nghĩa là mở cửa kho đạo đức:<br />
&#8211; Những vật trên mặt ông Bàn không biết điều chút nào. Hãy noi gương những vật ở nhờ trong lòng ông Tủ. Họ tới, họ đi, biết bao đợt rồi, lòng ông Tủ vẫn sạch sẽ.<br />
Ông Cung góp lời:<br />
&#8211; Vật cẩn thận không bao giờ để lại dấu tích nơi mình đã cư ngụ, nhất là những dấu tích mất vệ sinh. Ngày xưa, khi còn đi theo các chiến sĩ, ta đã từng cắm trại, các chiến sĩ không để lại một cái hố nhỏ.<br />
Sau câu nói của ông Cung, ông Bàn đã bớt càu nhàu, nhưng chưa nguôi giận.<br />
&#8211; Lỗi tại tôi xin ông Bàn tha thứ. Tôi đứng không vững nên mới ra cớ sự.<br />
Đó là câu nói của bình mực thủy tinh. Tất cả xôn xao của mọi vật, cùng cơn giận của ông Bàn hình như bây giờ mới làm hắn bừng tỉnh. Không phải hắn lì lợm, bướng bỉnh. Hắn là vật đãng trí mơ mộng nhất trong phòng.<br />
Dù chứa mực trong lòng, thân thể hắn vẫn có những phần trong veo. Cảnh vật in hình trên đó, nhỏ xíu, mơ hồ. Không giống mặt gương, phản chiếu hình một cách máy móc, chính xác. Bình mực bóp méo khuôn mặt mọi vật theo ý hắn.<br />
Những đêm trăng như đêm nay, đứng gần cửa sổ, hắn chứa cả trăng sao, bầu trời yên tĩnh. Vài cành cây bên cửa xao động làm cho mảnh thế giới in trên bình mực sinh động, đẹp tuyệt vời. Tất cả mang một màu xanh hơi tối. Nếu một chú kiến lạc vào thế giới nhỏ bé, xinh xắn ấy, chú sẽ biến thành thi sĩ.<br />
Vì vậy, bình mực của chúng ta hoá ra là một vật mơ mộng.<br />
Bình mực đổ, từ cái miệng tròn vo của hắn, mực trào ra, hào hứng như bọn tù vượt ngục. Mặt ông Bàn thêm một vết đen lớn khủng khiếp. Đó là lý do khiến ông giận dữ, nói những lời cay đắng, trách móc lung tung. Tai họa xảy tới từ hồi chiều.<br />
Bình mực đã công khai nhận lỗi, dù chậm, ông Bàn cũng hài lòng. Ông già rồi, không chú ý tới dung nhan mình. Vết mực loang lớn thật, nhưng so với những hình vẽ lăng nhăng, những vết dao chém, nó cũng chẳng làm ông xấu hơn được. Tuy nhiên ông Bàn vẫn doạ:<br />
&#8211; Bây giờ anh mới biết lỗi à? Tôi sẽ quẳng anh xuống đất, cho anh vỡ tan xác ra.<br />
Ông Bàn rung nhẹ, các khớp gỗ kêu cót két. Nhiều vật tưởng ông quyết liệt hạ bình mực, đều hoảng kinh. Cụ Sách cất tiếng:<br />
&#8211; Xin ông Bàn bớt nóng.<br />
Những cây Bút mực cũng cuống quít can ngăn:<br />
&#8211; Anh Bình mực thật dễ ghét, nhưng thiếu anh ấy, chúng cháu mất kho nhiên liệu, hoá vô dụng. Mong ông nghĩ lại.<br />
Chỉ có Bút chì im lặng. Đương sự rất đắc chí vì có thể tự lực, tự cường. Hắn viết ra những chữ mờ nhạt, nhưng khỏi cần nhờ vả , lệ thuộc anh nào. Bình mực sống chết chả ăn nhậu gì tới hắn. Bút chì bị mang tiếng ích kỷ và vụng về. Hắn phải đeo kè kè ở sau đuôi một cục tẩy tròn chuyện việc xoá những bước đi lỗi lầm của hắn.<br />
Những bông hoa thuộc loại tình cảm, nghe chuyện cãi vã xô xát đã thất kinh. Giọng hoa run rẩy:<br />
&#8211; Ông Bàn chớ làm vậy! Ông Bàn chớ làm vậy!<br />
Chỉ có ông Cung, vật từng trải, lão luyện là biết ông Bàn doạ chơi. Một vật dễ giận, dễ to tiếng, rồi dễ nguôi như ông Bàn, ít khi làm chuyện ác độc.<br />
Bình mực thủy tinh cũng sợ hãi. Rơi từ mặt bàn xuống, chắc tan xác thật? Nhưng vật đãng trí và mơ mộng này lại tự an ủi bằng trí tưởng tượng. Cần quái gì. Hắn nghĩ. Nếu tan thành trăm mảnh, ta sẽ là trăm mảnh lóng lánh sáng, trăm mảnh mang hình trăng tròn, trăm mảnh bầu trời ngoài khung cửa sổ….không còn một giọt mực nào dính trên thủy tinh, cả trăm mảnh sẽ trong veo.<br />
Tuy nhiên trăm mảnh rực rỡ đó không sống lâu, sẽ gặp nhau trong sự tăm tối của thùng rác. Kẻ mơ mộng, sau phút tưởng tượng tới sự tan tành đẹp đẽ, bỗng biết ớn:<br />
&#8211; Tôi đã nhận lỗi rồi mà. Tôi xin hứa sẽ cẩn thận hơn.<br />
Bình mực chưa dứt lời, mọi vật bỗng nghe tiếng khóc. Tiếng khóc vang lên từ trong lòng bình mực. Tiếng khóc tỉ tê tuyệt vọng.<br />
Mọi vật sững sờ, im lặng, lắng nghe. Ông Bàn bối rối trước tiên:<br />
&#8211; Này chú Bình mực, ta doạ chơi vậy thôi, sao mà nhút nhát quá vậy?<br />
Bình mực cãi:<br />
&#8211; Ông lầm rồi, tôi đâu có khóc.<br />
Quả vậy, đó là tiếng khóc nhỏ bé của ba giọt mực cuối cùng, còn đọng dưới đáy bình.<br />
Ba giọt mực tụ lại, như một giọt nước mắt đen lớn buồn thảm.<br />
Hàng ngàn giọt mực đến rồi giã từ bình mực. Bình mực biến thành nơi tạm trú của chúng. Mới đầu vật mơ mộng này cũng lưu luyến, tất cả những khách trọ. Sau đó quen đi, hắn trở về với nếp sống riêng tư.<br />
Tiếng khóc của ba giọt mực khiến hắn kinh ngạc.<br />
Bông hồng khẽ hỏi:<br />
&#8211; Làm sao các em lại khóc?<br />
Một giọt mực nghẹn ngào:<br />
&#8211; Bọn em đang khô dần.<br />
Giọt mực thứ hai:<br />
&#8211; Chúng em không bao giờ được làm bổn phận của loài mực.<br />
Giọt mực thứ ba tiếp lời:<br />
Tất cả những giọt mực cùng sinh ra đời với chúng em đều đã sống đầy đủ. Họ được những anh chị bút đón ra khỏi bình, họ biến thành chữ, thành hình vẽ. Họ khô trong danh dự vinh quang, chúng em không như vậy. Chúng em đang héo tàn trong đáy bình mực một cách vô duyên.<br />
Những câu than thở của ba giọt mực khiến cho muôn ngàn chữ trong tất cả những sách vở bừng tỉnh.<br />
Sau đó muôn ngàn chữ cùng hân hoan. Tiếng than của kẻ hậu sinh như lời khen tặng các vị tiền bối.<br />
Cả những giọt mực đã khô hàng trăm năm, đang mờ tới nét chữ cuối cùng cũng góp niềm kiêu hãnh.<br />
Những giọt mực khô trong lòng cụ Sách thì reo vui hơi quá lố. Chúng ất tiếng cười dù cố đè nén, vẫn làm cho những trang sách rung rung. Tất cả những giọt mực vào lòng cụ Sách đều biến thành lời đạo đức, khôn ngoan, dạy dỗ loài người, phác giác những chuyện huyền bí của vụ trụ. Những giọt mực ấy đã tìm được một địa vị hết sức cao trọng, như giọt mực xấu số thứ ba đã nói: “ Họ khô trong danh dự vinh quang ”.<br />
Cụ Sách phải nạt khẽ:<br />
&#8211; Này! Cười vui trước nỗi đau khổ của vật khác là vô ý thức.<br />
Căn phòng đỡ mất trật tự.<br />
Nhưng muôn ngàn chữ vẫn sung sướng, cười thầm, và ba giọt mực đang khô trong đáy bình, tiếp tục khóc tỉ tê.<br />
Chỉ có năm sáu giọt mực khô trong lòng chị Vở cất tiếng an ủi:<br />
&#8211; Không ra khỏi bình các em đừng buồn. Như bọn ta đây, đâu có gì là sung sướng. Chúng ta không hoá thành chữ, mà thành một cái hình quái gở.<br />
Quả thực, cậu bé đã dùng những giọt mực này để vẽ một hình người đầu tròn, tóc lởm chởm, không có mũi, chân tay cong queo, kì dị.<br />
Những giọt mực khác, biến thành hình vẽ xấu xí trong vở, trên bìa sách, trên mặt bàn, cũng đua nhau an ủi ba giọt mực. Họ cho rằng ở vĩnh viễn trong bình còn hơn là biến thành những quái thai.<br />
Hàng trăm giọt mực, vết loang lớn trên mặt ông Bàn, bây giờ mới đủng đỉnh lên tiếng:<br />
&#8211; Còn bọn chúng tôi thì sao? Cũng nhục nhã lắm chứ. Cả trăm mạng hoá thành vết đen dơ dáy trên mặt ông Bàn, chúng tôi đâu có khóc.<br />
Ba giọt mực vẫn khăng khăng:<br />
&#8211; Thà làm một vệt đen còn hơn khô héo trong đáy bình. Chúng tôi biết không phải giọt mực nào cũng gặp may mắn khi ra đời. Nhưng đã là mực, phải được ghi một vết ở đâu đó. Là chữ, là hình vẽ, là một cái chấm xấu xí cũng được, chúng tôi muốn ra khỏi bình. Chúng tôi không muốn chết non và chết vô ích.</p>
<p>Các vật trong phòng lặng thinh. Ba giọt mực cảm thấy mình đang khô héo mau hơn, lại tỉ tê khóc. Bông hồng nghe thấy chuyện chết chóc, buồn rũ cánh. Chị Bóng bay thơ thẩn lăn tới một góc nhà, ngậm ngùi thương những vật nhỏ bé mong manh.</p>
<p>Chú con Quay muốn cất lời an ủi. Nhưng chính chú cũng nghĩ rằng một vật sinh ra đời chẳng để làm gì, chẳng có ích gì thì vật đó buồn phát khóc là phải.<br />
Bỗng dưng ông Bàn hỏi to:<br />
-Sao? Cụ Sách, trong cái bụng đầy nhóc thông thái của cụ, không có ghi câu nào an ủi ba giọt mực hả?<br />
Hồi này, ông Bàn ưa trêu cụ Sách. Ông nghi cụ vẫn có ý coi thường ông. Bụng cụ đầy chữ, bụng ông chỉ có chú Ngăn kéo dốt nát. Thỉnh thoảng ông tìm cách đưa cụ Sách vào thế kẹt. Chẳng hạn ông hỏi cụ: tại sao giầy dép không có chân lại đi khắp nơi, bàn ghế có tới bốn chân thì nằm một chỗ.<br />
Bây giờ ông lại làm cụ Sách lúng túng.<br />
&#8211; Ờ….ờ…nghĩ rằng ba giọt mực không nên buồn quá thế. Trời sinh ra muôn vật: mỗi vật có một số phận….<br />
Chưa bao giờ cụ lại nói một câu thiếu dứt khoát như vậy.</p>
<p>Ông bàn bỗng phá lên cười:<br />
&#8211; Ha! Ha! Ha! Xin lỗi cụ Sách! Nhà cháu không đồng ý với cụ. Theo quan niệm của vật dốt nát này thì ba giọt mực không có quyền khóc. Cả ba phải reo mừng vì đã sống những ngày đầy ý nghĩa.</p>
<p>Cả phòng kinh ngạc, ba giọt mực nín khóc lắng nghe. Ông Bàn vẫn cười ha hả:<br />
&#8211; Hãy coi cái thân tôi này. Tôi là bàn, tôi có hoá ra gì đâu, nhưng tôi đã để cho biết bao nhiêu vị ngồi trên mặt. Các vị ấy đều có ích, thế là cuộc sống của tôi có ý nghĩa.<br />
&#8211; Ba giọt mực dưới đáy bình đâu có vô ích. Nếu họ không ở đó thì làm sao các anh chị bút có thể với tới hết tất cả những giọt mực khác?<br />
&#8211; Ba giọt mực cuối cùng đã làm một việc có ý nghĩa nhất: họ đội những đứa khác trên đầu, suốt ngày này sang ngày khác. Nhờ vậy, những giọt đứng trên đầu họ mới bám vào ngòi bút, ra ngoài, biến thành chữ.<br />
&#8211; Chú Bình mực phải biết điều đó chứ. Bao nhiêu thế hệ mực đã qua trong lòng chú? Mỗi thế hệ đều có ít nhất ba giọt mực nằm dưới đáy, nâng các giọt mực khác lên cao. Sau đó, những giọt hy sinh khô đi trong lặng lẽ.<br />
&#8211; Khi nãy, tôi nghe các chữ, những giọt mực khô trong lòng cụ Sách đã cười. Thật là một lũ vô ơn. Dù vinh quang hiển hách đáng lẽ lũ ấy phải biết tới những giọt mực đã đội chúng lên, những giọt mực chịu nằm dưới đáy bình, chịu nhục nhằn, tăm tối và thiệt thòi.<br />
&#8211; Vậy ba giọt mực bé tí teo, các cháu có quyền kiêu hãnh. Các cháu đóng góp vào rất nhiều sách vở. Và hàng tỉ chữ, hằng sa số hình vẽ trên cõi thế gian này đều mang ơn những giọt mực nằm dưới đáy bình.</p>
<p>Ông Bàn không cười nữa, căn phòng im lặng hoàn toàn.<br />
Một lát sau, cụ Sách nói với ông Cung tên:<br />
&#8211; Lần này, tôi chịu thua lão già lỗ mãng. Lão chỉ có một cái bụng rỗng tuếch mà khôn ngớm!<br />
Trong bình thủy tinh lóng lánh, ba giọt mực cuối cùng kiêu hãnh hân hoan bốc thành hơi.</p>
<h3>Trung thu của bác đèn xếp</h3>
<p>Đêm thật khuya, buổi sinh hoạt của đồ vật trong phòng bắt đầu như thường lệ. Bao giờ họ cũng tán gẫu với nhau về chuyện xảy ra ban ngày, hoặc về chú bé chủ nhân của một vài vật. Chị Tranh trên tường hồi này ít nói. Trước kia chẳng ngày nào chị ta quên khoe sắc đẹp của mình và nhắc đến những đôi mắt đã chiêm ngưỡng chị.<br />
Ông Bàn lên tiếng trước nhất. Ông càu nhàu về vụ hôm nay chú bé lại làm đổ mực lên mặt ông. Ông già rồi mặt mũi nứt nẻ cả, giờ lại loang lổ mực xanh, mực tím thật dơ bẩn. Ông cảm thấy xấu hổ, mất mặt với bà con quá. Cái bệnh mọt ăn trong xương, trong mình ông vào mùa này lại thêm nặng. Hết cằn nhằn ông xoay qua kêu rên, rồi ông gây sự với chú Ngăn kéo:<br />
&#8211; Đã nằm nhờ trong bụng người ta, còn rinh về đủ thứ, nặng muốn chết.<br />
Thực ra, lỗi không phải ở chú Ngăn kéo. Cậu bé có món đồ chơi gì cũng tống vào lòng chú. Nhưng Ngăn kéo không cãi. Ông Bàn già rồi, “ kính lão đắc thọ ”. Ở với nhau lâu, chú biết tính ông. Ông hay cằn nhằn nhưng tốt bụng.<br />
Anh Ghế cũng lên tiếng phụ họa với ông Bàn. Anh than phiền về vụ chú bé hồi này hay nghịch, thường đứng trên mình anh mà nhảy nhót hoài.<br />
Anh Diều giấy suốt cả buổi chiều bay lượn mệt nhọc giờ này nằm ở gầm tủ ngủ bù. Nếu không, chắc anh đang ba hoa thuyết trình về tổ tiên của anh. Ôi! Thời đại của những ông Diều khổng lồ có sáo để ca hát vi vu giữa lưng trời. Anh thương nhớ thời đại đó biết bao! Tổ tiên của anh cũng chả bao giờ phải đeo một cái đuôi dài lằng nhằng như cái đuôi của anh bây giờ. Thân thể của các ngài rất cường tráng cân đối. Ít khi gió làm các ngài phải đảo nhiều vòng. Cần gì có đuôi để giữ thăng bằng.<br />
Trầm lặng nhất là ông già Cung tên, ông mang dòng máu hiệp sĩ quí phái, lúc nào cũng kín đáo với lớp áo màu đen phơn phớt bụi phong trần. Thỉnh thoảng, ông kể lại một cuộc phiêu lưu kỳ thú. Các đồ vật trong phòng tưởng chừng nghe tiếng quân reo, ngựa hí và thấy ông Cung tên, nằm gọn trong tay một Dũng tướng, đang tả xung hữu đột giữa trận tiền. Đêm nay, ông không nói, chắc ông đang thương nhớ một điều gì. Hay ông lắng nghe tiếng bọn guốc dép kể các cuộc du lịch của chúng và lòng thầm khinh bỉ. Bọn giầy dép được đi xa, biết nhiều, nói dóc nghe còn thương được. Lũ guốc chỉ quanh quẩn ở xó nhà, cũng góp lời, thật nản.<br />
Như thế, đêm sẽ trôi qua một cách bình thường cho tới lúc bình minh đến, nếu đột nhiên dưới gầm tủ không vang lên tiếng kêu thảm thiết:<br />
&#8211; Trời ơi! Cứu tôi! Cứu tôi!<br />
Đó là tiếng kêu của cụ Sách. Mọi vật nhốn nháo hỏi:<br />
&#8211; Chuyện gì đó cụ?<br />
&#8211; Cụ mơ ngủ hả?<br />
Cụ Sách hổn hển:<br />
&#8211; Tôi đang mơ màng thì bị cắn vào gáy một cái đau điếng!<br />
&#8211; Cái gì cắn?<br />
&#8211; Không biết. Chắc là một con quái vật.<br />
Ông Tủ có vẻ ngạc nhiên:<br />
&#8211; Này cụ Sách, sao cụ lại nằm dưới đó? Tôi tưởng cụ phải nằm trong lòng tôi chứ. Lúc nào tôi cũng chả dành cho cụ một chổ nằm mát mẻ rộng rãi.<br />
Cụ Sách vừa xuýt xoa kêu đau, vừa than thở:<br />
&#8211; Ấy, tại cậu chủ vứt tôi ra đây đấy. Cậu ấy bừa bãi quá, chả coi công dạy dỗ của tôi ra gì hết.<br />
Chưa nói xong câu, cụ lại kêu rú lên. Ông già Cung có máu hiệp sĩ trong người ra lệnh lập tức:<br />
&#8211; Phải có ánh sáng.<br />
Mọi vật đều hướng về phía Đèn Ống chờ đợi. Nhưng cái tên này đang ngủ say sưa. Bây giờ chỉ có ông chủ nhà đánh thức hắn mới dậy, và khi dậy hắn kêu lách tách mấy tiếng càu nhàu, nhập nhoạng ngái ngủ mấy cái. Hắn làm việc có giờ và cư xử một cách hết sức máy móc. Khi hắn mới được đưa về đây, ông Đèn Cầy vừa trông thấy đã than:<br />
&#8211; Thôi thế là máy móc đã bắt đầu ngự trị, đè bẹp loài đèn cầy rồi.<br />
Và ông lui về một góc bàn thờ, chỉ chờ dịp Đèn Ống ốm đau mới ra tay được một lát. Nhưng trong dịp có lễ lạc ông trở nên quan trọng lạ thường, đó là nguồi an ủi duy nhất, quả thực, những giây phút linh thiêng đó, ông Đèn Cầy cảm động và hài lòng, mặt mũi ông thật rực rỡ. Tư cách ông đàng hoàng hơn anh Đèn Ống nhiều. Trong lúc nguy nan thế này, ai dám trông mong vào Đèn Ống máy móc và ích kỷ. Nhưng, lúc này ông Đèn Cầy ngủ mê mệt.<br />
Anh Ghế gọi anh Diều:<br />
&#8211; Ê! Bồ bay lẹ tới gầm tủ coi con quái vật nào, đang tấn công cụ Sách?<br />
Diều cằn nhằn:<br />
&#8211; Việc ai người ấy lo. Tôi làm việc nặng nhọc cả buổi chiều rồi, không làm giờ phụ trội đâu.<br />
Nói xong, tên ích kỷ hạng nhì này ngủ tiếp. Mọi vật nghĩ đến chị Bóng bay. Nhưng chị ấy mới bị xì hơi hồi chiều qua, bị ốm, nằm ỉu xìu ở một góc nhà, gầy tọp hẳn đi, chưa biết xẹp lúc nào. Chắc chị không cất bước nổi.<br />
Tình hình có vẻ hoàn toàn tuyệt vọng. Bình hoa bắt đầu nhỏ lệ thương xót cho ông Sách.<br />
Bỗng dưới gầm giường có tiếng quay vù vù. Chú Con Quay đã đứng dậy. Chú xoay tít, xoay tít và lần tới gầm tủ quan sát. Chú nói:<br />
&#8211; Xin báo cáo với Đại tướng Cung tên. Kẻ tấn công cụ Sách là một con chuột khổng lồ. Nó đang cắn gáy cụ ấy.<br />
Cụ Sách rên rỉ không ngừng. Ông Cung tên hét:<br />
&#8211; Tôi có thể bắn hạ nó, nhưng làm sao xoay cho ra chút ánh sáng bây giờ. Tôi không thể bắn ẩu được.<br />
Mọi vật lại ngẩn ngơ. Làm sao có anh sáng bây giờ? Bình hoa khóc thảm thiết.<br />
Ông Bàn sốt ruột:<br />
&#8211; Tôi có thể khuân vác tất cả. Ai muốn nhảy lên mặt tôi mà ngồi cũng được. Nhưng tôi làm gì có ánh sáng. Tội nghiệp cụ Sách quá. Nếu cụ có bề gì chắc tôi không sống nổi. Ngày nào chúng tôi cũng gặp gỡ nhau.<br />
Ông Bàn càng nói càng nghẹn ngào!<br />
&#8211; Ông Cung tên sửa soạn tấn công đi. Tôi sẽ lo vụ ánh sáng.<br />
Câu nói đó của một giọng khàn khàn như xuất phát ra từ một nơi đầy bụi. Đó là giọng bác Đèn xếp. Bác chui từ gầm giường ra. Bác đã nằm đó để chờ tết Trung thu. Mỗi năm bác chỉ làm việc có một ngày. Thời gian còn lại, bác nghỉ hè.<br />
Bác Đèn xếp đã lăn tới giữa nhà (đó là vật cô đơn nhất phòng, bình thường chả có vật nào nói chuyện hay nhắc tới đèn xếp )<br />
Đèn xếp đứng thẳng và sáng dần. Thân thể bác đầy bụi. Ánh sáng còn mờ. Những lằn xếp chưa dãn ra hẳn, chúng cũng lười biếng như những khớp xương lâu không được dùng tới. Ông Cung tên hét:<br />
&#8211; Ráng lên chút nữa!<br />
Bác Đèn xếp cố sáng hơn.<br />
&#8211; Tôi thấy bóng tên chuột rồi. Sáng thêm chút nữa bác Đèn xếp.<br />
Đèn xếp không ngừng cố gắng.<br />
&#8211; Rồi! Tôi thấy nó rồi!<br />
Mũi tên vụt đi trúng ngay con chuột. Nhà hiệp sĩ Cung tên mà bắn thì có bao giờ trượt. Mọi vật reo hò.<br />
Nhưng ở giữa nhà, bác Đèn xếp không thể chia vui được. Bác đã ráng sức đến nỗi cả thân mình bác bốc lửa. Bình hoa rú lên và ngất xỉu.<br />
Trong ngọn lửa nóng hừng hực, bác Đèn xếp thều thào:<br />
&#8211; Xin vĩnh biệt các bồ!<br />
Thoáng một cái, bác đã đen hết mình.<br />
&#8211; Trung thu sang năm các bồ hãy nhớ đến tôi nhé!<br />
Và bác ngã xuống cùng với ngọn lửa.</p>
<h3>Tâm sự bác đinh già</h3>
<p>Trời mưa nước thấm qua tường, gầm tủ hơi ẩm ướt. Một bác Đinh già nắm lặng lẽ buồn với cơ sốt vàng da đã trở nên nguy kịch. Hồi xưa bác là chân của một chú con Quay gỗ. Bác cùng chú xoay tít trong những buổi mai nắng hồng, bác xoay tít trên hè phố, trong sân trường. Chú Quay gỗ nghiêng nghiêng chạy vòng quanh các đối thủ, chú giữ thăng bằng tài tình như một người làm xiếc. Khi những con quay khác kiệt sức, ngã quị, chú Quay gỗ còn đứng, thẳng tắp. Trên trường đấu, kẻ đứng vững sau cũng được kể là thắng cuộc. Trước khi đổ xuống, chú Quay gỗ đảo vài vòng. Bác Đinh đã từng khen ngợi:<br />
&#8211; Thân hình chú cân đối lắm chúng ta mới tạo được những thành tích vẻ vang như vậy.<br />
Chú Quay gỗ khiêm tốn:<br />
&#8211; Tất cả nhờ chân bác. Nếu chân bác không tròn, nhẵn đầu, tôi làm sao đứng vững được.<br />
Bác Đinh hiểu điều đó, bác thầm kiêu hãnh. Chân bác đâu có giống chân cẳng những chú đinh tầm thường. Họ có những cái cẳng nhọn hoắt. Với cái cẳng như vậy họ chỉ có ước vọng là kiếm một chỗ đứng, đứng thật chắc, vĩnh viễn. Cho nên nhiều chú đinh gẫy gập xuống như một bà già còng, vẫn cố bám chặt vào tường.<br />
Bác Đinh của chúng ta không thuộc loại cẳng nhọn, bác có chân tròn sẵn sàng thích hợp với những cuộc phiêu lưu.<br />
Cùng với chú Quay gỗ, bác cất bước giang hồ. Nơi nào bác đến cũng có tiếng trẻ thơ reo cười, có nắng hồng, gió mát. Bác hiểu thế nào là mây trắng trời xanh, bác quay vù vù và cảm thấy dễ chịu. Hình như bác đang được hoà mình vào sự chuyển động không ngừng của vũ trụ.<br />
Bác Đinh yêu nhất những buổi chiều trên đồi. Đỉnh đồi có một khoảng đất nâu hồng, xung quanh cỏ xanh mướt. Chú Quay gỗ chỉ có thể chạy vòng tròn trên đất, lạc đường một chút là vướng cỏ, mất thăng bằng. Đất không quá mềm khiến bước chân phiêu lưu của bác bị níu kéo. Đất không quá cứng khiến bác nhảy nhót làm chú Quay gỗ mất sức. Trên khoảng đất bằng phẳng dễ chịu ấy, bác Đinh vừa xoay vừa lướt nhẹ nhàng như tài tử trượt trên băng.<br />
Những ngày tháng êm đẹp nhất của đời bác Đinh chấm dứt khi chú Quay gỗ bị thương, vết thương nứt ra. Đinh và Quay vĩnh viễn từ giã nhau trong gầm tủ. Một buổi sáng chị Chổi đưa chú Quay gỗ ra thùng rác, bác Đinh kẹt lại.<br />
Một nhân vật giang hồ như bác ít khi chịu than thở. Bệnh sốt vàng da làm thân thể bác mất hết màu sáng khoẻ mạnh. Bác lặng lẽ chịu đựng chờ tháng ngày qua. Chú Quay gỗ trước khi bị cây chỗi tiễn đưa đã nói với bác:<br />
&#8211; Chúng ta đã sống xứng đáng phải không bác?<br />
Thân thể chú Quay gỗ gần vỡ làm đôi. Nhưng chú sống cuộc đời con Quay một cách tuyệt vời. Bác là một phần thân thể của chú Quay gỗ, bác muốn giữ cuộc đời chú trước sau đều đẹp, không một lời than thở.<br />
Một buổi chiều, có em bé Đinh ốc lăn vào gầm tủ, cạnh bác. Nó nhỏ xíu, da dẻ ướt nhẹp, nhưng sáng láng.<br />
Bác hỏi:<br />
&#8211; Ranh con, mày ở đâu ra đó?<br />
Đinh ốc nhỏ nhẹ:<br />
&#8211; Thưa bác, cháu ở trong chiếc xe hoả của cậu bé. Xe rớt từ bàn học xuống nhiều lần, anh em cháu ly tán gần hết.<br />
Bác Đinh dịu giọng:<br />
&#8211; Ở một mình mày sẽ khổ con ạ.<br />
Đinh ốc có vẻ tinh quái:<br />
&#8211; Cháu biết dư. Như bác ở một mình, bác đang đau.<br />
&#8211; Ngày xưa da dẻ tao đâu có sần xùi dơ dáy thế này.<br />
&#8211; Tại bác không có chiếc áo dầu như cháu. Cháu không sợ bệnh sốt vàng da.<br />
Thân thể bé quá thực có một lớp dầu che phủ. Với chiếc áo ấy, nó sẽ thọ lắm.<br />
Bé Đinh ốc hỏi:<br />
&#8211; Chắc bác đau lắm?<br />
&#8211; Chút đỉnh mà ăn nhằm gì.<br />
&#8211; Để cháu đưa cho bác một ít dầu.<br />
Một hơi gió chiều lướt qua cửa, tung bụi xuống gầm tủ. Nương theo hơi gió, Đinh ốc lăn nhẹ nhàng đến bên bác Đinh. Một chút dầu dính vào cái thân thể gầy còm đã vàng khè của bác. Bác Đinh không thích chiếc áo dầu. Nhưng bác lặng lẽ để cho bé Đinh ốc thực hiện hành động chia áo. Bác mừng thấy Đinh ốc tốt bụng và biết thương muôn vật. Bác cám ơn bé và chúc nó sớm trở về toa xe hoả, đoàn tụ với anh em, trở thành một vật hoạt động, hữu ích.<br />
Chỉ có một lần bác Đinh nói nhiều nhất. Bác tâm sự với chú Quay sừng.<br />
Bác nói:<br />
&#8211; Chắc chú vẫn nghĩ ta là một phế binh phải không?<br />
Chú Quay sừng đáp:<br />
&#8211; Thưa không. Ông anh là một chiến sĩ về già, em vẫn mơ ước có cái chân tròn nhẵn như ông anh.<br />
Bác Đinh xúc động. Đám trè ngày nay không quá kiêu căng như bác tưởng. Mỗi vật có một thời rực rỡ, bệnh sốt vàng da làm hư thân thể bác, không làm mất mát phút giây nào của một thời rực rỡ kia.<br />
&#8211; Cám ơn chú đã biết kính trọng tuổi già.<br />
&#8211; Đáng lẽ lúc này bác phải có chiếc áo dầu che chở như bé Đinh ốc.<br />
&#8211; Không ta không cần thứ đó. Thật tình ta chỉ ước mong được hoạt động, xoay tròn mãi mãi. Ta nhớ đất rộng trời cao. Các thuở ta còn xoay tít, ta đâu có sợ nước, ta sáng láng mạnh mẽ. Trên đường xoay tròn, đôi khi ta vấp phải sỏi đá. Chú biết đấy, chúng ta đâu có sợ sỏi đá, chúng làm chân ta tròn hơn, nhẵn hơn. Chúng giúp ta xoay tròn bền bỉ.<br />
&#8211; Bây giờ tệ quá, một giọt nước đả làm ta lạnh và rồi bệnh sốt vàng da…..<br />
&#8211; Em hiểu ý bác….<br />
&#8211; Chú cũng chẳng cần phải mặc áo dầu, nếu chú còn được xoay tít mãi mãi. Ráng lên chú em, chớ có dại dột nằm bất động. Tuổi trẻ của chú dài vô cùng nếu chú luôn luôn xoay tít.</p>
<h3>Tình bạn của đôi guốc</h3>
<p>Đêm hôm sau trời mưa to, nước ào ào trút xuống mái nhà, nhảy múa trước hiên. Căn phòng lạnh và có vẻ buồn. Chỉ có một mình bác Ô đen hân hoan. Bác chờ đợi im lặng suốt một mùa nắng. Có những con nhện hỗn hào leo lên thân bác tính chuyện ở lâu dài. Thật là một điều không tha thứ được. Nhưng ngày mai, khi bình minh tới, ông chủ sẽ trịnh trọng nhờ tới bác. Khi ông ở xe hơi bước xuống, bác sẽ che đầu ông. Khi ông ở sở ra xe, bác lại che đầu ông lần nữa. Bác sẽ ngửa mặt nhìn trời, chống trả những giọt mưa một cách oai hùng. Một đồ vật cảm thấy sung sướng khi thấy mình có ích. Bác Ô muốn nói thật nhiều về ngày mai. Nhưng bác đành phải im lặng.<br />
Căn phòng cũng im lặng đến nửa đêm. Đó là lệnh của ông Cung tên, kẻ quí phái nhiều tuổi, nhiều kinh nghiệm chiến trường này cho biết đấy là cách tưởng niệm bác Đèn xếp đẹp đẽ nhất. Ông Cung tên bảo vụ mặc niệm không có tính bắt buộc, ai muốn tỏ lòng cám ơn bác Đèn xếp thì cứ im lặng, có thế thôi. Nhưng cả phòng không có vật nào lên tiếng. Vật thành khẩn nhất dĩ nhiên là cụ Sách. Cụ đã được nằm trong tủ. Con chuột nguy hiểm đã được đem đi, nhưng ngọn lửa cháy rực rỡ trên mình bác Đèn xếp thì tưởng như được ghi chép thành một thiên anh hùng ca trong lòng cụ. Sau cụ Sách, những bông hoa trong bình cũng bắt đầu héo úa vì nỗi tiếc thương. Quá nửa đêm, hết giờ mặc niệm, kẻ lên tiếng trước tiên lại là ông Bàn. Ông lên tiếng là càu nhàu ngay:<br />
&#8211; Khổ quá! Khổ quá! Vì lòng kính trọng bác Đèn xếp, tôi đã chịu im lặng không dám than thở gì. Nhưng thật là quá sức tôi. Cứ cái đà này chắc chắn tôi sắp tới ngày què cẳng và xụm xuống.<br />
Anh Ghế thở dài:<br />
&#8211; Tội nghiệp! Chắc cụ lại bị lũ mọt hành chứ gì.<br />
Ông Bàn nói:<br />
&#8211; Không phải! Lũ mọt thì tôi chịu quen rồi. Cái kẻ làm hại mình lại chính là cái kẻ ở ngay trong bụng mình mới đau chứ, thật quá đáng. Thật không ngờ!<br />
Mọi vật biết liền là ông Bàn muốn ám chỉ ai. Chú Ngăn kéo cũng biết điều đó, chú vội lên tiếng:<br />
&#8211; Ông Bàn ơi, ông hiểu lầm cháu rồi.<br />
Ấy thế là ông Bàn làm toáng lên:<br />
&#8211; Hiểu lầm cái gì? Anh ở nhờ trong bụng tôi, anh rinh về đủ thứ. Thằng già này chịu nặng hết nổi. Bây giờ anh lại còn mời thêm bạn bè về nữa.<br />
Chú Ngăn kéo cãi:<br />
&#8211; Anh Búa đinh đâu phải bạn cháu.<br />
&#8211; Thế sao nó nằm với anh trong bụng tôi?<br />
Búa đinh ậm ừ lên tiếng:<br />
&#8211; Ông Bàn lôi thôi gớm. Tôi có nhà đàng hoàng, trong tủ đồ mộc dưới bếp, ai thèm ở nhờ ông. Cậu bé lôi tôi ra đóng đinh cái xe của cậu ấy rồi tống bừa vào đấy. Mai ông chủ thấy thế nào cũng đưa tôi về. Đừng có làm khó, ông lão rỗ ơi!<br />
Búa đinh dám gọi ông Bàn là “ ông lão rỗ ”! Thật hỗn xược. Về già mặt ông có xấu xí, loang lổ chút đỉnh, nhưng vật nào cũng kính trọng ông. Chưa có vật nào trong phòng lại hỗn láo đến thế. Các vật nhao nhao lên phản đối Búa đinh:<br />
&#8211; Anh ăn nói lỗ mãng quá.<br />
&#8211; Phải biết kính trọng tuổi già chứ.<br />
Búa đinh cãi:<br />
&#8211; Tôi nói thế còn lịch sự chán, phải tay thằng Dùi đục coi, nó chửi liền.<br />
Dùi đục thì quả có tiếng là thô lỗ. Hắn ăn nói nhấm nhẳng khó nghe nhất nhà. Búa đinh ở chung với Dùi đục nên lâu ngày quen tật xấu.<br />
Nghe Búa đinh lôi Dùi đục ra khoe, ông Cung tên khó chịu, ông nói chậm rãi:<br />
&#8211; Này, cậu Búa đinh, cậu nên nhớ đây là phòng khách, toàn những vật đàng hoàng lễ độ. Cậu nên dành cái giọng đó để nói chuyện với lũ bạn Dùi đục của cậu.<br />
Ông Cung tên không quát tháo, nhưng giọng nói thật nghiêm khắc, đáng sợ. Lời nói của ông có tuổi tác, có nhiều năm kinh nghiệm và một sự can đảm phi thường hỗ trợ, Búa đinh có vẻ ngán. Tuy nhiên, anh ta vẫn càu nhàu. Anh Ghế phát cáu. Anh nói:<br />
&#8211; Chú Ngăn kéo ơi! Chú hất quách cái thằng lỗ mãng đó xuống đất đi.<br />
Một tiếng “ huỵch ” nặng nề đột ngột nổi lên dưới chân bàn. Tên Búa đinh thiếu lịch sự đã nằm thẳng cán dưới đất. Chú Ngăn kéo nghe lời anh Ghế, chú cũng không ưa kẻ dám nói hỗn với ông Bàn. Hất Búa đinh đi rồi, chú Ngăn kéo đột nhiên có vẻ cương quyết, chú hỏi to:<br />
&#8211; Nào! Còn mấy thằng Đinh ranh con này! Có đứa nào muốn lôi thôi lộn xộn cái gì không?<br />
Lũ đinh nhỏ hoảng hốt:<br />
&#8211; Dạ không! Xin chú Ngăn kéo cho chúng em ở nhờ, mai chúng em về. Trời mưa ẩm ướt thế này mà phải nằm đất nằm cát chúng em sẽ ốm hết.<br />
Ông Bàn dịu giọng:<br />
&#8211; Thôi chú Ngăn kéo, có cái thằng Búa nặng chình chịch ấy thì mới phải tống nó đi chứ lũ Đinh thì tha. Trời này mà phải nước mưa chúng sẽ bị sốt vàng da, chả mấy lúc mềm ra mà chết, tội nghiệp lắm!<br />
Lũ đinh được tha cảm ơn rối rít. Chúng nằm sát vào nhau và cố giấu cái cẳng nhọn hoắt đi để khỏi làm phiền ông Bàn, chú Ngăn kéo. Vụ lộn xộn làm mọi vật tạm quên cái chết anh hùng của bác Đèn xếp. Mưa ngớt dần, chỉ còn tiếng nước xối ào ào trong các ống cống trước hiên. Bỗng nhiên, mọi vật trong phòng nghe tiếng khóc nỉ non từ ngoài hiên vọng vào. Ông Tủ hốt hoảng:<br />
&#8211; Chết chửa! Có chuyện gì vậy? Có cụ Sách nào lạc ra ngoài ấy không?<br />
Các vật nhốn nháo. Chú Con Quay đã đứng dậy xoay tít, sửa soạn cuộc dò thám. Nhưng thềm cửa quá cao, dù quay tít hết cỡ, chú cũng không sao nhảy ra ngoài được. Chú nói:<br />
&#8211; Tôi chịu. Chị Bóng bay ráng xem chuyện gì ngoài đó.<br />
Bóng bay đã được cậu bé thổi phồng trở lại. Nhưng trước kia mặt mũi chị trong, đẹp và thân hình hoàn toàn nhẹ nhõm vì khinh khí. Giờ thì hết rồi, chị căng lên sống đỡ qua ngày vậy thôi. Chị không sao nhấc mình khỏi mặt đất được nửa thước. Nhờ gió xô đẩy, chị Bóng bay lê la suốt ngày trong phòng một cách buồn bã, làn da lại nhăn nheo, thân thể lại mềm dần. Khi trời bắt đầu mưa, làn gió lạnh đã xô chị vào gầm tủ, tại đây nếu không né kịp thì chị đã bị một cây kim gút ám hại. Cái cẳng chân nhỏ xíu nhưng nhọn hoắt nhưng thừa sức làm chị toi mạng.<br />
Nghe chú Con Quay gọi, chị Bóng vội rời gầm tủ, lê tới gần cửa. Sau cái gương sáng của bác Đèn xếp, vật nào cũng tỏ ra biết hy sinh cho vật khác. Chị Bóng bay ham làm việc thiện hơn tất cả vì chị biết mình chả còn ở đây lâu, chưa biết xẹp lúc nào. Chính cây chổi sẽ đưa tiễn chị tới nơi an nghỉ cuối cùng là cái giỏ rác. Ra đi như thế mà không để lại một kỷ niệm đẹp nào thì tệ quá. Dựa theo chiều xô đẩy của hướng gió, chị Bóng bay tự để cho mình va chạm vào chân ông Bàn rồi nhảy phắt ra ngoài hiên.<br />
Chị thấy ở đó một chàng Guốc Mộc, đang đứng dầm mình trong mưa và nức nở khóc.<br />
Lập tức, chị Bóng bay thông báo cho mọi vật trong phòng. Chàng Guốc nghẹn ngào vẫn chưa nói được. Bóng bay hỏi gặng mãi:<br />
&#8211; Sao anh khóc?<br />
Một lát sau, Guốc Mộc mới trả lời:<br />
&#8211; Chị không biết gì sao?<br />
&#8211; Chuyện gì vậy?<br />
&#8211; Chị có bao giờ thấy tôi đứng một mình chưa?<br />
Chị Bóng bay như hiểu ra:<br />
&#8211; À, phải. Thế còn anh kia đâu? Sao anh lại đứng một mình? Bao giờ tôi cũng thấy hai anh có đôi như bóng với hình mà?<br />
&#8211; Trên đời chắc có ít vật thân nhau như chúng tôi?<br />
&#8211; Đúng vậy.<br />
&#8211; Thế mà thằng kia bỏ tôi, đi rồi đó.<br />
Chàng Guốc lại nghẹn ngào. Nỗi cô đơn của chàng chắc ghê gớm lắm. Chị Bóng bay giữ yên lặng trước nỗi khổ đau của Guốc. Đó là thái độ vừa lịch sự vừa khôn ngoan. Quả nhiên, sau đó, chàng Guốc kể lể hết:<br />
&#8211; Thằng kia với tôi giống nhau như anh em sinh đôi. Chúng tôi là bạn thân. Tôi biết tính nó, suốt ngày nó chỉ mơ được phiêu lưu.<br />
&#8211; Chuyện đó có gì xấu?<br />
&#8211; Vâng. Nó muốn phiêu lưu quá khả năng của nó. Nó say mê nghe chuyện các bác Giầy, bác Dép. Nó muốn được đi khắp nơi như họ. Thế mà, chị biết đấy, nhiệm vụ của chúng tôi là chỉ đi quanh quẩn trong nhà, ngoài sân, hoặc xuống bếp. Tôi thích cuộc đời quanh quẩn nhàn hạ. Trời cho sức mình đến đâu thì mình làm đến đó. Tôi khuyên nó nhiều lần nhưng nó không chịu. Cả ngày nó nằm mơ tới những chân trời xa lắc, những con đường trải thảm nhung theo lời bác Giầy kể. Tôi nghi bác ấy thêu dệt nhiều, nhưng thằng bạn tôi thì tin lắm. Có lần, nó điều đình với một bác Dép, đứng thế vào chỗ bác. Nó hy vọng ông chủ sẽ lầm lẫn và vốn đãng trí, ông sẽ lôi nó đi khắp nơi. Nhưng ông chủ vừa đặt chân lên nó là biết liền, lầm gì được! Tội nghiệp, nó thất vọng quá, ỉu xìu, trong một tuần bị đứt quai hai lần.<br />
Mưa ngớt nên những lời chàng Guốc kể các vật trong phòng đã nghe rõ. Giầy, Dép khúc khích cười. Ông Cung Tên nạt ngay:<br />
&#8211; Đừng kiêu căng thế.<br />
Giầy, Dép im lặng, nhưng vẫn cười thầm. Đối với chúng, lũ Guốc thật là quê mùa cục mịch, vậy mà lại có một tên quê mùa học đòi phiêu lưu. Thật là lố bịch. Chàng Guốc kể tiếp:<br />
&#8211; Càng ngày, sự mơ ước được phiêu lưu càng khiến nó ngơ ngẩn. Nó bảo muốn cái thân nó được mòn đi ở những nơi xa lạ. Cái mặt đất quen thuộc này đã khiến nó mòn mất gần nửa cuộc đời rồi.<br />
&#8211; Hôm nay, trời mưa to, chúng tôi đứng ngoài hiên, tiện thể tắm luôn. Lúc nãy đột nhiên nó nhìn thấy dòng nước chảy trên đường mương. Đường mương đầy, nước chảy xiết. Nó hỏi bác Giầy: “ Nước chảy về đâu? ”. Bác Giầy cho biết nước chảy đi khắp nơi. Ấy thế là nó hét lên: “ Dịp may của ta đã tới ”. Rồi nó hỏi tôi: “Đi không? ”. Tôi hỏi lại: “Đi đâu? ”. Nó có vẻ khoái trá: “Đi khắp bốn phương trời ”. Tôi chưa kịp lên tiếng cản ngăn thì nó đã nói: “ Tao biết! Mày nhát như cáy, mày đâu có dám rời cái xó bếp. Thôi mày cù lần mày cứ việc ở lại, ông đi phiêu lưu đây ”. Ấy thế là nó nhào ngay xuống đường mương, nước cuốn nó đi băng băng, thoáng một cái chả thấy nó đâu nữa.<br />
Chàng Guốc lại ngậm ngùi. Giây phút chia ly kinh hoàng ấy thật ghê gớm. Chàng không hiểu sao tên bạn thân của mình lại có thể mang một tâm hồn sắt đá như thế. Guốc hỏi chị Bóng bay:<br />
&#8211; Chị đã từng được lên cao, đi xa, chị có biết dòng nước chảy về đâu không?<br />
&#8211; Nước chảy ra sông, sông về biển.<br />
&#8211; Không biết giờ này nó đã ra tới biển khơi chưa?<br />
Một bác Giầy xen vào:<br />
&#8211; Làm sao mà ra tới biển!<br />
&#8211; Tôi thấy nó đi lẹ lắm.<br />
&#8211; Lẹ cũng chưa chắc đã ra tới sông. Chưa biết chừng hắn bị mắc kẹt ở đường cống nào rồi. Xưa nay có ai dại dột phiêu lưu theo cái kiểu kỳ cục vậy.<br />
Chàng Guốc lặng thinh. Tưởng chàng đã nguôi thương nhớ, chị Bóng bay dựa theo một làn gió, bay vào phòng. Nước mưa làm chị thấy lạnh. Bỗng Guốc lên tiếng, giọng rất bình tĩnh:<br />
&#8211; Bác Dép ơi! Đời tôi như thế này kể là tàn rồi phải không?<br />
Dép hốt hoảng:<br />
&#8211; Sao anh lại nghĩ vậy?<br />
Chàng Guốc cay đắng:<br />
&#8211; Thôi, bác giấu tôi làm gì. Chúng ta dù sao cũng có họ hàng xa gần với nhau. Số mệnh của chúng ta chả khác nhau mấy. Một chiếc dép, một chiếc guốc chỉ còn một mình trên đời là hoàn toàn vô dụng, không sớm thì muộn tôi cũng bị đưa về nghĩa địa thùng rác.<br />
Bác Dép lúng túng. Chị Bóng bay vội lên tiếng:<br />
&#8211; Anh Guốc nghĩ quẩn rồi. Phải can đảm lên chứ.<br />
Guốc vẫn điềm tĩnh:<br />
&#8211; Tôi có sợ hãi gì đâu. Nếu thằng kia không bỏ đi tôi sẵn sàng chăm chỉ làm bổn phận cho đến khi mòn quá nửa thân mình. Các bác biết đấy, suốt từ ngày về đây chưa bao giờ tôi chịu đứt quai. Nhưng bây giờ tình thế khác hẳn. Một chiếc guốc cô đơn là chiếc guốc hoàn toàn vô dụng. Tôi tự coi như đã bị tàn phế.<br />
Chị Bóng Bay lúng túng nốt. Các vật trong phòng xúm lại an ủi Guốc, nhưng không ai bác bỏ được những điều Guốc suy nghĩ. Số phận một chiếc Guốc cô đơn rõ rệt quá!<br />
Guốc đột ngột gọi to:<br />
&#8211; Cụ Sách ơi! Tôi nghĩ đúng phải không?<br />
Không có tiếng cụ Sách trả lời. Guốc gọi to hơn, vẫn im lặng. Ông Tủ vội nói:<br />
&#8211; Cụ Sách ngủ say rồi.<br />
Ông Bàn càu nhàu:<br />
&#8211; Sao lại cứ phải hỏi cụ Sách. Làm như cái gì cụ ấy cũng biết.<br />
&#8211; Trường hợp của tôi chắc có ghi rõ trong lòng cụ ấy.<br />
Ông Bàn vẫn công kích:<br />
&#8211; Ôi chao! Chắc gì ở cái lão gàn ấy. Tôi hỏi bác, có biết bao điều rắc rối mà cụ Sách không kịp ghi trong lòng? Chẳng hạn như các bác không có cái chân nào sao các bác được đi cùng khắp, còn tôi sơ sơ cũng có tới bốn cẳng mà đứng đâu đứng đó, cả năm chả nhích được một phân. Sự đời là vậy. Ta cứ can đảm chịu đựng số phận là quí nhất. Ông Cung Tên lên tiếng:<br />
&#8211; Chuyện gì rồi cũng quen cả, anh Guốc ơi. Sự cô đơn mới đầu có vẻ ghê gớm sau cũng tầm thường. Anh chịu được những phút đầu là chịu được mãi.<br />
Mưa dần dần trở lại nặng hạt. Tiếng chàng Guốc lẫn trong tiếng mưa reo trên mái ngói.<br />
&#8211; Xin cám ơn quí vị đã có lòng thương mà khuyên bảo. Thực ra, tôi đâu có sợ sự cô đơn, tôi chỉ thất vọng vì bỗng dưng mình thành vật vô ích. Phải đứng cạnh thằng kia đời tôi mới có ý nghĩa, số mệnh đã xếp đặt như vậy. Tôi rất ghét phiêu lưu, không muốn làm việc ngoài khả năng, phạm vi mình. Nhưng tôi phải đi tìm thằng bạn, dù nguy hiểm cũng phải đi tìm. May mắn gặp lại nó, chúng tôi trở lại là đôi guốc có ích. Nếu không gặp lại nó, tôi cũng yên tâm rằng những ngày cô đơn tôi không sống như một kẻ tàn phế. Xin vĩnh biệt quí vị.<br />
Nói xong, chàng Guốc lặng lẽ phóng mình xuống đường mương. Dòng nước lại cuồn cuộn kéo đi một chàng Guốc phiêu lưu. Chàng biến mất rất nhanh trong mưa mù và bóng tối.<br />
Mọi vật trong phòng sững sờ. Họ ngẩn ngơ im lặng, lặng nghe tiếng nước, tưởng theo dõi được tiếng thân chàng Guốc trôi bập bềnh trên sông.<br />
Hai đêm chứng kiến liền hai thảm kịch, bông hoa trên bàn rũ xuống như sắp tàn.<br />
Bỗng có tiếng thở dài:<br />
&#8211; Tội nghiệp!<br />
Đúng là tiếng cụ Sách. Mọi vật nhao nhao lên:<br />
&#8211; Cụ Sách thức.<br />
&#8211; Ê! Lúc nãy cụ Sách giả vờ ngủ.<br />
Ông Bàn càu nhàu:<br />
&#8211; Này ông lão gàn. Sao lúc nãy ông không trả lời anh Guốc, còn vờ ngủ, chơi xấu vậy hả?<br />
Giọng cụ Sách trầm trầm:<br />
&#8211; Anh Guốc đã nghĩ đúng. Tôi muốn an ủi anh ấy thì phải nói dối. Một quyển sách tự trọng như tôi không có quyền nói dối. Tôi đành phải im lặng.<br />
Ông Cung Tên nói:<br />
&#8211; Cũng là phiêu lưu, nhưng cuộc phiêu lưu trước là do sự tò mò, háo thắng, dại dột. Cuộc phiêu lưu sau do ý muốn tìm ý nghĩa cho đời mình. Chúng ta không thể cản chàng Guốc được.<br />
Có đôi dép tí hon nằm dưới gầm tủ rụt rè lên tiếng hỏi cụ Sách:<br />
&#8211; Cụ Sách ơi. Bây giờ họ ra tới biển chưa?<br />
Cụ Sách dịu dàng:<br />
&#8211; Chưa đâu. Chắc họ mới gặp nhau và hẹn hò nhau cùng bơi ra sông, các cháu ạ.</p>
<h3>Cơn giận của bác đồng hồ</h3>
<p>Chị Bóng bay hoàn toàn kiệt sức. Sinh lực của chị chỉ còn là một chút không khí lớn bằng anh Bóng đèn. Thân thể chị mềm nhũn, suốt ngày nay chị nằm liệt dưới chân ông Bàn. Những làn gió nhẹ không làm chị nhúc nhích được.<br />
Chị Bóng bay sống bằng không khí, chị đã hết thời bay bổng rồi. Chung quanh chị là bầu không khí bao la, nhưng chị vẫn gặp đai hoạ vì thiếu chất dinh dưỡng ấy. Vật ít thông minh như ông Bàn mà bây giờ hiểu sự cần thiết của những bàn tay từ thiện cấp cứu.<br />
Quá nửa đêm không còn vật nào dám hy vọng chị Bóng bay sẽ qua khỏi. Chúng đoán rằng bình minh tới, chị sẽ chỉ còn bó da cao su không sót chút hơi nào để thở ra lần cuối. Chổi sẽ rất buồn bã làm nhiệm vụ tiễn đưa một vật hết sức dễ thương. Giỏ rác đã dành một chỗ danh dự cho chị Bóng bay, mặc dầu nó hiểu tất cả những vật đến với nó đều bình đẳng tuyệt đối.<br />
Chú con Quay dặn dò Chổi:<br />
&#8211; Khi đưa chị Bóng bay ra giỏ rác anh nên đưa chị ấy một mình, đừng xếp chị ấy chung với rác rến, bụi bặm.<br />
Chổi đáp:<br />
&#8211; Vậy thì mất công quá, nhưng tôi sẽ cố gắng. Chú băn khoăn làm chi. Đằng nào bụi bặm cũng gặp chị ấy ở giỏ rác.<br />
Chú Quay sừng nín thinh, nhưng chú giận lắm. Một lát sau chú Quay sừng bắt đầu gây chuyện.<br />
&#8211; Này anh Chổi, sao anh chọn cái nghề kỳ cục vậy?<br />
Chổi hỏi lại:<br />
&#8211; A! Chú nhỏ này! Chú định phỉ báng nghề nghiệp của tôi đấy phải không?<br />
Quay sừng đáp một cách lừng khừng:<br />
&#8211; Tôi chẳng phỉ báng việc làm của bất cứ vật nào. Nhưng tôi xin thú thực, tôi không ưa nổi cái nghề đẩy mọi vật ra giỏ rác. Chắc thấy chị Bóng bay lâm nạn anh khoái lắm đấy nhỉ. Sắp có việc làm mà.<br />
Chổi cố nén giận:<br />
&#8211; Chú nói năng cẩn thận một chút nghe, đừng có chọc tức tôi. Không có chị Bóng bay thì mỗi sáng tôi vẫn hoạt động như thường. Căn phòng này mà rời tôi ra vài ngày là mọi vật sẽ mặc áo mới, một cái áo toàn bụi. Hừ! Đẹp đẽ lắm đấy.<br />
Quay sừng càu nhàu:<br />
&#8211; Anh khỏi kể công. Tôi chỉ muốn anh phân biệt bụi bặm và những vật chúng tôi mến thương chẳng may mắc nạn. Đừng xếp chị Bóng bay vào hàng ngũ bụi, khó nghe lắm.<br />
&#8211; Tôi chỉ đưa ra một nhận xét thực tế: dù đi trước hay sau thì chị Bóng bay vẫn gặp lũ bụi nơi giỏ rác.<br />
Chú Quay sừng nghe nhắc tới chuyện đó, nổi sùng:<br />
&#8211; Bởi vậy, tôi xin nhắc lại, tôi không khoái cái nghề của anh.<br />
Cuộc cãi vã giữa Chổi và con Quay đã đến chỗ căng thẳng. Chổi lắc lư muốn hắt một ít bụi lên mặt Quay sừng. Trong khi đó chú con Quay sẵn sàng tiếp tục khiêu khích Chổi, chú tin rằng Chổi là một vật rất độc ác. Chưa vật nào trong phòng nói về chị Bóng bay bằng cái giọng tàn nhẫn như Chổi.<br />
Cụ Sách phải can thiệp:<br />
&#8211; Này chú Quay sừng, chú chớ hiểu lầm anh Chổi. Trên đời có những vật lo cho ta lúc đến thì cũng có vật lo cho ta lúc đi. Vật đón, vật đưa đều cần thiết và đáng quí, ta phải cám ơn tất cả. Chú đừng trách anh Chổi, anh ấy nói năng vụng về nhưng tốt bụng.<br />
Cụ sách nói với Chổi:<br />
&#8211; Chú Chổi cũng đừng giận Quay sừng, hắn thương chị Bóng bay quá nên mất bình tĩnh.<br />
Nể lời cụ Sách, Chổi và Quay sừng thôi nghinh nhau. Chổi về một góc nhà đứng lặng thinh. Quay sừng tiếp tục quay xung quanh chị Bóng bay, theo dõi bệnh tình của chị, để báo cáo cùng mọi vật trong phòng.<br />
Ông Bàn càu nhàu:<br />
&#8211; Suốt buổi chiều cậu bé ngồi bên tôi học bài. Chị Bóng bay nằm ngay dưới chân tôi, sao chẳng lê tới chân cậu ấy nhắc nhở. Cậu bé biết, chị sẽ thoát nạn ngay mà.<br />
Anh Ghế nói:<br />
&#8211; Lúc ấy chị Bóng bay yếu quá rồi, có muốn lê đi cũng chẳng nổi.<br />
Đêm lạnh lẽo và ẩm ướt. Từng đợt sương mong manh lãng đãng trôi qua khung cửa sổ. Chị Rèm cửa cảm thấy thân mình nặng trĩu. Bình mực thủy tinh tưởng như cả căn phòng cô đơn giống như chiếc thuyền nhỏ lạc trong biển sương. Khung của sổ in hình trên bình mực chỉ là một khoảng đen đậm. Bình mực bâng khuâng nhớ chị Hằng ở một nơi thật là xa.<br />
Trừ Bình mực mơ mộng và đãng trí, mọi vật trong phòng đều chú ý tới hoàn cảnh bi đát của chị Bóng bay.<br />
Tất cả cố giữ im lặng để tỏ sự tôn trọng nỗi khổ của vật khác. Ông Tủ cũng đang bị bệnh mọt gặm trong xương. Ông muốn than thở chuyện đó với ông Bàn, kẻ đồng bệnh, nhưng không dám.<br />
Sự chịu đựng trong im lặng khiến ông Tủ phiền lòng. Rồi ông cảm thấy cần gây gổ với bất cứ vật nào:<br />
&#8211; Này bác Đồng hồ, sao cứ kêu tích tắc hoài vậy?<br />
Ông Tủ vốn hiền hoà. Đồng hồ không ngờ ông đang giận nên trả lời một cách vui vẻ, đùa cợt:<br />
&#8211; Tim tôi đập đó ông ơi.<br />
Ông Tủ gằn giọng:<br />
&#8211; Hãy bảo trái tim nhà bác câm đi. Trong khi tất cả yên lặng, bác cứ tích tắc, nghe vô duyên lắm.<br />
Đồng hồ kinh ngạc:<br />
&#8211; Ô hay! Tôi làm bổn phận của tôi mà.<br />
Bông hoa trên bàn hét lên:<br />
&#8211; Bổn phận của bác độc ác lắm. Bác tích tắc, tích tắc xua đuổi thời gian tiến tới để dòng họ hoa chúng tôi chóng tới lúc già nua tàn héo. Chính bác là nguyên nhân của mọi thảm họa, chúng tôi thù bác.<br />
Thì ra Hoa vẫn thù Đồng hồ từ lâu, nay được dịp cô ả đứng ngay về phía ông Tủ.<br />
Đồng hồ bào chữa:<br />
&#8211; Tôi làm việc một cách máy móc thật nhưng tôi đứng đắn, không có ý hại ai bao giờ…..<br />
Được dịp thoát khỏi bầu không khí im lặng nặng nề, mọi vật nhao nhao lên tranh nhau nói. Không vật nào bênh vực bác Đồng hồ. Cuốn Lịch tố cáo:<br />
&#8211; Nhất định bác Đồng hồ có gian ý, một tờ lịch cũ của tôi đã than thở nhiều chuyện ấy. Hắn bảo rằng hắn sinh ra vào đúng một ngày lễ, hắn có một ngày tuyệt vời, nhưng bác Đồng hồ ghen tức, bác ấy tích tắc nhanh hơn thường lệ để ngày riêng của tờ lịch chóng hết. Trước khi rớt xuống tờ lịch còn dặn dò tôi là đừng bao giờ tin tưởng ở sự liêm chính của bác Đồng hồ.<br />
Anh Diều giấy mới tới, nằm trong gầm tủ góp lời:<br />
&#8211; Trường hợp của tôi thì ngược lại. Sáng hôm qua, tôi mong cho chóng tới chiều để được bay bổng, nhưng bác Đồng hồ cố tình tích tắc thật chậm, kéo thời gian chạy chậm lại để trêu tôi.<br />
Ông Bàn càu nhàu:<br />
&#8211; Tôi không cần biết Đồng hồ làm việc nhanh chậm ra sao. Nhưng trong trường hợp mọi vật buồn bã, im lặng thế này mà anh ta cứ thản nhiên tích tắc, nghe không được tí nào. Tôi đồng ý với nỗi bất bình của ông Tủ.<br />
Riêng chú con Quay thì hoàn toàn mất bình tĩnh. Nghe nói có vật xua kéo thời gian làm hại vật khác, chú phóng ra giữa nhà, xoay tít, lớn tiếng.<br />
&#8211; A! Chính bác Đồng hồ xua thời gian chạy nhanh hơn để chị Bóng bay chóng xẹp lép phải không? Vậy mà tôi cứ ngu dại tin tưởng vào cái bụng đầy máy móc chính xác của bác. Nếu bác rời nóc tủ xuống đây chắc chắn tôi sẽ lao thẳng vào thân bác, cho bác vỡ mặt ra.<br />
Lời khiêu khích, thách thức của Quay sừng quả là hơi quá đáng. Cụ Sách, ông Cung định can thiệp, nhưng không kịp. Bác Đồng hồ nói một cách rất bình thản:<br />
&#8211; Quí vị hiểu lầm tôi rồi. Để chứng minh sự ngay thẳng của tôi, tôi sẽ ngừng chạy. Rồi quí vị coi….<br />
Sự bình thản che dấu một cơn giận khủng khiếp. Nói chưa dứt câu, bác Đồng hồ nhảy thẳng từ nóc tủ xuống nền nhà. Mặt kính nứt ra, cây kim dài cong đi và ruột gan bác lộn tùng phèo hết cả.<br />
Bác nằm bất động, những tiếng tích tắc biến mất.<br />
Tiếng nói của mọi vật trong phòng cũng biến mất. Bông hoa lặng đi, cảm thấy nước trong bình, dưới chân lạnh ngắt. Ông Bàn rùng mình kinh hãi làm ông Bút và Bình mực thuỷ tih suýt lộn nhào. Chú Quay sừng đảo một vòng rồi lùi lũi trở về đứng bên cạnh chị Bóng bay không dám hó hé.<br />
Không còn tiếng tích tắc, mọi vật lắng nghe tiếng thời gian đi qua. Chú Quay sừng thấy chân thời gian trên mình chị Bóng bay. Bông hoa cảm thấy chân thời gian nặng trĩu trên một cánh sắp tàn của nó. Bình mực thấy thời gian cặp kè những làn sương mỏng bước qua của sổ. Và ông Tủ, vật phiền trách bác Đồng hồ đâu tiên cũng không còn nghi ngờ chi nữa. Thời gian đang đồng loã với lũ mọt, gặm nhấm thân thể ông một cách đều đặn, bền bỉ.<br />
Ông Tủ nói với Đồng hồ:<br />
&#8211; Xin lỗi bác, chúng tôi hàm hồ ngu dại quá. Chắc bác bị thương nặng lắm?<br />
Đồng hồ nói nhỏ:<br />
&#8211; Đừng chú ý tới tôi. Hãy ngắm thời gian đi, ngắm thật kỹ.<br />
&#8211; Chúng tôi hiểu rồi mà.<br />
Mọi vật cùng cất tiếng xin lỗi Đồng hồ. Khi đó, Đồng hồ mới bớt giận:<br />
&#8211; Quí vị thấy đó. Tôi chẳng hề có liên lạc riêng tư gì với thời gian. Công việc của tôi chỉ là đếm….Nhiệm vụ của tôi nào có khác gì ông Lịch, chỉ tỉ mỉ hơn một chút mà thôi. Tôi không gian lận ngày vui hay phá phách những kẻ mong chờ.<br />
Chú Quay sừng ân hận, bỏ chị Bóng bay, chạy quanh bác Đồng hồ:<br />
&#8211; Bác bị thương nặng quá.<br />
Đồng hồ mỉm cười tha thứ:<br />
&#8211; Không sao! Chỉ cần được săn sóc một chút tôi hoạt động điều hoà lại ngay.<br />
Ngừng một lát, bác nói tiếp:<br />
&#8211; Bây giờ tôi có cố gắng chạy lại cũng vô ích, thời gian bỏ tôi một quãng khá xa rồi. Có điều thật đáng tiếc là sáng mai tôi không thể gõ chuông kêu chú bé dậy sớm.<br />
“ Chú bé dậy sớm ” đó là nguồn hy vọng mong manh cuối cùng của mọi vật. Bình minh tới, nếu chú bé còn ngủ thì chị Bóng bay không thể nào sống sót được.<br />
Nhưng sau cơn giận, sau cái nhảy tai hại, bác Đồng hồ mất hẳn khả năng gõ chuông.<br />
Mọi vật vô cùng lo âu nghĩ tới buổi bình minh tới trong lặng lẽ.</p>
<h3>Diều giấy mắc nạn</h3>
<p>Cuộc sinh hoạt của đồ vật đêm nay mở màn sớm hơn thường lệ. Quả thật đã có nhiều điều xui xẻo xảy ra trong thế giới của chúng. Nơi gầm tủ kể từ nay đã vĩnh viễn vắng mặt anh Diều giấy. Anh ta là vật có cuộc đời sôi nổi, phiêu lưu nổi tiếng. Anh đã đem tính mạng mình treo đầu sợi chỉ. Chiều nào anh cũng bay lượn lửng lơ giữa bầu trời xanh, vẫy vùng trong gió. Đêm về, anh mệt, thường ngủ bù hoặc im lặng sống cuộc đời riêng. Anh có vẻ ích kỷ và hơi kiêu căng.<br />
Anh Diều giấy đã gặp nạn! Nhưng mọi vật trong phòng không hiểu kẻ bay cao ấy thọ nạn thế nào?<br />
Cuộn chỉ được coi là vật kể chuyện hấp dẫn, đáng tin nhất. Bởi vì, chỉ có mình nó chứng kiến tai nạn và ở bên anh Diều giấy những giây phút chót.<br />
Cuộn chỉ nằm trên bàn, thỉnh thoảng lăn qua lăn lại cho thêm phần quan trọng. Ông Bàn gợi chuyện trước:<br />
&#8211; Tao nghi chính mày có lỗi to nhất trong việc làm hại anh Diều giấy.<br />
Cuộn chỉ cãi ngay:<br />
&#8211; Cháu không có lỗi gì hết.<br />
&#8211; Không có lỗi? Chắc chỉ của mày đứt rồi anh ấy bị gió lôi đi mất tích chứ gì. Cái lũ chỉ chúng mày bở bùng bục, mày giữ anh Diều nào là anh Diều ấy bị gió bắt cóc mất tiêu.<br />
&#8211; Ông Bàn kết tội hồ đồ quá. Ông phải biết cháu là một trong những cuộn chỉ dai nhất. Gió to tới bậc nào cháu cũng níu anh Diều lại được. Vả lại, chúng cháu lên cao xuống thấp có nhau, thân thiết như tình ruột thịt, đời nào cháu lại chịu cho gió bắt cóc anh ấy. Thú thực với ông chưa có anh Diều giấy nào được cháu quí như anh này. Thân thể anh ấy cân đối, vững vàng, gặp một chút gió là bay bổng.<br />
&#8211; Thế sao anh ấy gặp nạn?<br />
&#8211; Thì ông để từ từ, cháu phải nhớ lại mọi chuyện rồi mới kể được.<br />
Ông Bàn đành im lặng nhưng vẫn hậm hực.<br />
Cuộn chỉ lăn qua lăn lại thêm vài vòng, rồi bắt đầu tường thuật nội vụ:<br />
&#8211; Chiều hôm nay gió to, cậu bé đem anh Diều giấy đi thả sớm. Như mọi lần, cậu vào công viên, nơi đây có bãi cỏ rộng. Anh Diều giấy no gió bốc thẳng lên trời. Tôi ( lời cuộn chỉ ) níu kéo anh ấy thật là mệt. Cái đuôi ba màu của anh ấy bay phất phơ rất đẹp. Những hôm Diều no gió chỉ có cái thân làm cuộn chỉ chúng tôi là khổ. Chịu không nổi để anh Diều bay đi mất thì thật mang tiếng xấu muôn đời. Nhưng bù lại, anh Diều bay cao, chúng tôi cùng chung niềm kiêu hãnh.<br />
&#8211; Tôi có bao nhiêu chỉ được mặc sức thả ra hết cho anh Diều tha hồ vùng vẫy. Anh lên cao hơn các anh Diều khác rất nhiều. Cậu bé hài lòng, vui cười suốt buổi.<br />
&#8211; Thình lình trời đổ mấy hột mưa cậu bé đành thâu chỉ lại, kéo Diều xuống ra về. Một chiều hoạt động như thế kể cũng là nhiều rồi.<br />
&#8211; Khi chúng tôi về gần tới nhà, mưa chợt tạnh, mây đen tan dần. Gió lại nổi lên, rất hấp dẫn, nhưng ngại trở lại công viên, sợ gặp mưa thình lình, cậu bé đưa chúng tôi lên sân thượng. Anh Diều lại được tung ra. Nhưng gió trong thành phố vướng nhà cửa thổi không đúng chiều nhất định. Anh Diều chưa kịp lên cao đã đảo hai vòng và đâm đầu ngay xuống, mắc tòn ten giữa những sợi dây điện….<br />
Các vật trong phòng ồ lên một tiếng, xôn xao vì cái tai họa bất ngờ. Cuộn chỉ bùi ngùi tiếp:<br />
&#8211; Quí vị nào có dịp ra khỏi nhà thì biết đấy. Đường phố đầy dây điện, chỗ nào cũng có, nhà cửa lại san sát, thật chả có chỗ nào đủ rộng cho một anh Diều cất cánh, hạ cánh an toàn. Phải bay nhảy trong thành phố là một điều vô cùng nguy hiểm, mất mạng như chơi.<br />
&#8211; Ngay khi anh Diều mắc trên dây điện cậu bé đã tìm cách cứu ngay. Nhưng cái đuôi của anh ấy dài quá. Cứ mỗi lần gió thổi cái đuôi lại quấn thêm một vòng vào dây điện. Diều giấy lại bị trói chặt vào đó.<br />
&#8211; Cậu bé liều lĩnh và dại dột kéo mạnh một cái. Ấy thế là hai sợi dây điện được dịp chạm nhau. Như mọi vật biết đấy, bọn dây điện đâu có ưa gì nhau. Vừa chạm mặt là chúng hét lên, lửa xanh, lửa đỏ tung toé. Chỉ đứt luôn! Cậu bé cầm tôi chạy thẳng, anh Diều bị giam cứng trên đó.<br />
&#8211; Tôi vẫn hy vọng một lúc nào đó anh được gió vô tình gỡ ra. Nhưng buổi tối mưa to. Tôi thực tình không biết số phận anh Diều ra sao, nhưng anh ấy khó lòng thoát nạn.<br />
Cuộn chỉ không lăn qua lăn lại, đứng im lặng ngậm ngùi. Bỗng ở góc nhà, có tiếng nói:<br />
&#8211; Anh Diều giấy tan xác rồi.<br />
Đó là tiếng bác Ô đen. Chiều qua bác về nhà trễ nhất. Bây giờ bác Ô đen kể:<br />
&#8211; Tôi đi với ông chủ nên về trễ. Tôi thấy anh Diều giấy nằm chết cứng trên dây điện, đuôi anh ấy đứt hết. Một bên cánh chỉ còn trơ cái xương tre, trận mưa to đã tàn phá anh ấy hoàn toàn rồi.<br />
Mọi vật cùng hướng về phía gầm tủ nơi trước kia Diều giấy vẫn nằm. Nơi đó trống không buồn bã. Nhiều vật trước kia có chuyện xích mích với Diều giấy đều cảm thấy ân hận. Đáng lẽ phải cư xử tốt với anh ta. Một vật luôn luôn bay lơ lửng lưng trời đâu có hứa hẹn ở với ta lâu dài. Muôn vàn nỗi tiếc thương lúc này cũng là vô ích. Chỉ có niềm vui đem đến cho anh ta trước đây mới thật là quí giá đáng kể.<br />
Ông Bàn lại càu nhàu:<br />
&#8211; Lỗi hoàn toàn ở cậu bé.<br />
Cụ Sách thở dài trong tủ:<br />
&#8211; Hồi này cậu bé ít hỏi ý kiến tôi. Cậu ấy ham chơi quá rồi.<br />
Ông Bàn vặn cụ Sách:<br />
&#8211; Xin lỗi cụ, trong lòng cụ làm gì có ghi cái vụ cứu chiếc Diều giấy bị mắc trên dây điện?<br />
Cụ Sách điềm nhiên:<br />
&#8211; À, điều đó dĩ nhiên là không. Nhưng tôi dạy cậu ấy rằng không bao giờ được thả diều trong thành phố.</p>
<h3>Lão dao sắc</h3>
<p>Dù không có tiếng chuông đồng hồ báo thức, sáng hôm sau, chú bé vẫn dậy sớm do thói quen. Đúng ngày chủ nhật, chú nghĩ tới đám đồ chơi ngay khi vừa bừng tỉnh. Nhờ vậy chị Bóng bay đã được cứu. Bác Đồng hồ cũng được đưa đi bệnh viện. Trước khi lên đường, bác vui vẻ chào tất cả và hứa hẹn sẽ tái ngộ trong một ngày rất gần, khi bác hoàn toàn bình phục.<br />
Bác Đồng hồ không còn giận bất cứ vật nào, kể cả chú con Quay. Bác hy vọng trong tương lai có thể đếm thời gian một cách chính xác hơn nữa.<br />
Chị Bóng bay tròn trịa, da dẻ trong veo, chị được buộc bằng một sợi chỉ trắng rất chắc. Sinh lực của chị không thoát ra ngoài một cách phí phạm như trước. Ông Cung tin chắc rằng ít nhất chị có thể khỏe mạnh một tuần liền.<br />
Lão Dao sắc được chú bé đem từ nhà bếp lên để cắt sợi chỉ buộc chị Bóng bay, bị chú bé quăng trong gầm tủ.<br />
Lão Dao có cái mũi nhọn hoắt và cái lưỡi sáng loáng, mỏng tanh. Lão chỉ chạm nhẹ vào chân mà ông Tủ bị thương ngay. Tủ giận, lão Dao xin lỗi rối rít. Nhưng chỉ một lát sau, lão nói nhỏ với bác Đinh già nằm cạnh:<br />
&#8211; Gớm, thân thể họ mềm quá sức. Mới chạm một chút xíu mà đã kêu la ầm ĩ.<br />
Giọng nói của lão Dao đầy vẻ ngạo mạn khinh thị.<br />
Bác Đinh già nói:<br />
&#8211; Họ bằng gỗ mà, làm sao so bì được với chúng ta.<br />
Bác Đinh già cũng hơi kiêu hãnh vì chất thép của mình. Đã lâu lắm bác không được nghe ai nhắc nhở tới nguồn gốc cứng chắc ấy.<br />
Cảm thấy thương mến bạn mới, bác Đinh già nói:<br />
&#8211; Tuy nhiên, bạn nên cẩn thận. Chúng ta dễ bị bệnh sốt vàng da, nhất là khi ở lâu trong cái gầm tủ ẩm ướt này. Trước kia tôi còn sáng sửa hơn bạn nữa, nhưng vì chẳng hoạt động gì…<br />
Lão Dao có vẻ không chú ý tới lời báo động của bác Đinh già. Trên thân thể lão không hề có một dấu vết nhỏ của cái bệnh quái ác mà bác Đinh sợ. Nhưng nơi không sáng loáng, da lão đen như mun.<br />
Bác Đinh thao thao kể lại những cuộc phiêu lưu của mình. Lão Dao im lặng, nhưng khó mà biết lão có chú ý nghe hay không. Khi bác Đinh hỏi về cuộc đời lão Dao, lão chỉ đáp ỡm ờ, nhát gừng. Bé Đinh ốc ham nghe chuyện phiêu lưu rất chú ý vào những câu nói của Dao, nhưng cũng chẳng biết gì hơn rằng lão Dao là một trong những con dao rất sắc bén và ham hoạt động.<br />
Sau đó, suốt một ngày liền, lão Dao giữ im lặng. Đến nỗi bác Đinh già nói với chú Quay sừng:<br />
&#8211; Đây là một vật hết sức hiền từ.<br />
Đêm hôm sau, lão Dao bỗng tỉnh táo như vừa ngủ một giấc dài thức dậy. Lão hỏi bác Đinh già:<br />
&#8211; Trong phòng này có bao nhiêu vật gốc bằng thép, cứng cáp như tôi với bác?<br />
Bác Đinh đáp:<br />
&#8211; Không nhiều lắm. Ngoài tôi ra có chiếc xe hoả, bé Đinh ốc, chân của chú Quay sừng. Bác Đồng hồ thì đi nằm nhà thương rồi….<br />
Bác Đinh chưa kể hết, lão Dao đã rời gầm tủ, tiến ra giữa nhà. Dao xoay một vòng. Ánh nến phản chiếu trên thân lão lấp lánh. Bốn phía tường như vừa có những làn chớp nhỏ xẹt qua. Vùng không khí quanh lão Dao bỗng lạnh ngắt.<br />
Hai cô Nến hồng đang chập chờn kinh ngạc. Dao đã tới bên các cô, nói bằng một giọng vô cùng êm ái:<br />
&#8211; Tôi giúp các chị tách làm hai nhé?<br />
Nến hồng ngơ ngác không hiểu. Lão tiếp:<br />
&#8211; Một nến sẽ thành hai nến. Mỗi chị Nến hồng sẽ có hai ngọn lửa, họ nhà nến sẽ đông gấp đôi.<br />
Giọng nói của lão Dao vừa dịu dàng, vừa chân thành. Một cô Nến hồng hỏi lại:<br />
&#8211; Ông làm vậy được sao?<br />
&#8211; Nghề của tôi mà.<br />
Nói dứt câu, Dao lao tới, soạt một cái, lão cắt đôi cô Nến hồng. Nửa thân nến trên rớt xuống lảo đảo mãi mới đứng vững được. Lão Dao nói thật to:<br />
&#8211; Xong rồi đó, thật dễ dàng, giản dị biết bao. Hãy sáng lên chứ, hãy tiếp lửa cho bạn nến mới của chúng ta.<br />
Quả nhiên cô Nến hồng vừa bị Dao cắt sáng gấp đôi. Cô có tới hai ngọn lửa. Vật nào cũng có cảm tưởng là cô đang kiêu hãnh vì sự tiến bộ bất ngờ này.<br />
Cô Nến hồng thứ hai náo nức:<br />
&#8211; Trời ơi! Sao ông Dao tài quá vậy?<br />
Cô ta vừa nói dứt câu, lão Dao đã xẹt tới. Tức thì cô này cũng có hai ngọn lửa sáng rực rỡ.<br />
Lão Dao xoay một vòng. những làn chớp xẹt quanh bốn phía, tường trắng hơn, không khí quanh Dao lạnh hơn.<br />
Dao nói to, giọng vẫn vui tươi êm đềm:<br />
&#8211; Tôi sẵng sàng giúp đỡ tất cả nhà họ nến tách làm hai. Tôi phục vụ miễn phí, cam đoan không đòi hỏi điều gì.<br />
Trước hai cô Nến hồng – bây giờ đã hóa bốn – sáng rực rỡ với bốn ngọn lửa, họ hàng nhà nến đều cảm thấy sung sướng như được dự một ngày hội bất ngờ. Từ những chàng Nến trắng cao lớn nhất tới những mẩu nến nhỏ nằm trong lòng anh đèn Ông sao đều đến trước lão Dao, xếp hàng rất trật tự và chờ đợi.<br />
Trong khoảng khắc lão Dao đã làm cho tất cả họ nhà Nến hài lòng. Thế là căn phòng này đột nhiên có một số nến đông đảo lạ thường. Mỗi ngọn nến vừa tách ra làm đôi đều thắp lên hai ngọn lửa để tự thưởng thức sự rực rỡ của mình.<br />
Căn phòng có tới sáu mươi ngọn lửa. Chưa có ngày lễ nào cần tới một số ánh sáng đông đảo đến như vậy.<br />
Lão Dao xoay mình tới ba vòng. Lần này những tia chớp lão phản chiếu trên bốn phía tường có lẫn cả màu xanh biếc.<br />
Họ hàng nhà nến đồng thanh:<br />
&#8211; Xin cám ơn Dao đã đem thêm nhiều ánh sáng lại cho chúng tôi.<br />
Hầu hết các vật trong phòng đều sững sờ kinh ngạc về sự tài tình của lão Dao. Lưỡi Dao sáng loáng biến thành một cái gì thật lôi cuốn.<br />
Bông Hoa cung kính nói:<br />
&#8211; Tôi cũng muốn biến thành hai bông Hoa.<br />
Anh Diều giấy mới nằm không yên trong gầm tủ:<br />
&#8211; Có thêm một cánh diều để cùng bay lượn bên nhau mỗi buổi chiều thì thật là tuyệt. Ông Dao giúp tôi với.<br />
Bác Ô đen, anh Ghế, đoàn xe bằng nhựa, Bình mực thủy tinh, chị Vở quăn góc..v..v…tất cả đều nhao nhao:<br />
&#8211; Ông Dao nhớ giúp chúng tôi. Đừng có quên tách dùm bọn này ra làm hai đấy nhé.<br />
Chỉ có một mình ông Bàn càu nhàu:<br />
&#8211; Tôi cũng khoái tách làm hai. Có thêm một tên Bàn nữa chứa bớt mấy vật lẩm cẩm tôi cũng đỡ khổ. Nhưng tôi không khoái họ nhà Dao. Chúng nó chém vào mặt tôi nhiều lần rồi. Tôi không tin đó là những vật tốt bụng.<br />
Chú Ngăn kéo nghe thấy vậy cũng cảm thấy yên tâm. Nếu phòng này có thêm một ông Bàn nữa thì cả ngày chú sẽ nghe những lời càu nhàu, đâu có vui thú gì.<br />
Trước những lời khẩn cầu của mọi vật, lão Dao bỗng đổi thái độ. Lúc nãy lão vồn vã sốt sắng với họ nhà nến, bây giờ lão chậm chạp, bình thản. Dao tới gần bông hoa, nhưng trong lúc mọi vật chờ đợi một cách nóng nẩy và Hoa hân hoan tưởng mình sắp được Dao tách làm hai, thì Dao quay đi, tiến đến bên anh Diều giấy. Bác Ô đen nói nhỏ:<br />
&#8211; Giúp anh Diều giấy xong, bác phải lo cho tôi.<br />
Nhưng Dao lại đột nhiên không chú ý tới Ô đen và Diều giấy, lão xoay qua đoàn xe bằng nhựa.<br />
Đoàn xe nhựa vội vã xếp hàng, cãi nhau chí choé:<br />
&#8211; Tao đứng số một.<br />
&#8211; Làm gì mà chen lấn dữ vậy?<br />
&#8211; Đừng có tranh nhau, tùy ông Dao muốn giúp vật nào trước thì giúp.<br />
Dao lại quay đi, lão làm như cảm thấy thất vọng vì sự lộn xộn, vô trật tự của lũ xe hơi nhựa.<br />
Đột nhiên Dao đứng khựng lại, xoay một vòng sáng lấp lánh và nói với ông Cung:<br />
&#8211; Ông Cung là một trong những vật quí phái, già lão nhất phòng này. Tôi xin gắng sức giúp ông trước.<br />
Ông Cung đáp một cách dè dặt:.<br />
&#8211; Xin cảm tạ hảo ý của ông. Tuy nhiên tôi chưa tin rằng việc làm của ông ích lợi và cần thiết. Ông cho phép tôi suy nghĩ, tôi đang chờ ý kiến của cụ Sách.<br />
Lão Dao hơi khựng một chút. Nhưng rồi lão quay đi, nói với mọi vật bằng giọng đầm ấm, vui tươi:<br />
&#8211; Xin lỗi quí vị nhé. Tôi biết quí vị đang nóng lòng chờ đợi. Tôi càng chậm trễ thì quí vị càng thiệt thòi, càng chậm được hưởng những phút giây hạnh phúc của một cuộc đời mới. Những tháng ngày trước đây, dù hăng say phục vụ tôi vẫn bị nhiều vật oán giận vì đã chậm tách họ làm đôi. Nhưng xin quí vị thông cảm cho trong phòng này cụ Sách; ông Cung là những vật trưởng thượng chúng ta phải kính trọng. Tôi không dám quên lễ nghĩa, tôi cam đoan quí vị không phải chờ lâu.<br />
Chú Quay sừng càu nhàu nho nhỏ:<br />
&#8211; Đã thế còn đọc diễn văn dài dòng nữa, sốt cả ruột.<br />
Hình như lão Dao có nghe tiếng Quay sừng, nhưng lão vẫn bình thản.<br />
&#8211; Thế nào các chị Nến hồng? Các chị hết vui rồi hay sao mà những ngọn nến bớt sáng như vậy?<br />
Thực ra sáu chục ngọn nến vẫn sáng rực rỡ, căn phòng chưa có đêm nào sáng đến thế. Nhưng nghe lời lão Dao, họ hàng nhà nến vội vàng đốt lửa lớn thêm và reo:<br />
&#8211; Chúng tôi vui vô cùng. Cám ơn ông Dao nhiều lắm.<br />
Bây giờ lão Dao mới tới bên cụ Sách:<br />
&#8211; Thưa cụ, tôi hiểu rằng cụ cần được tách làm đôi nhanh hơn tất cả mọi vật trong phòng này.<br />
Cụ Sách lưỡng lự:<br />
&#8211; Có lẽ ông lầm rồi.<br />
Giọng lão Dao trầm xuống:<br />
&#8211; Cụ thật là một vật can đảm và giầu tinh thần hy sinh mà tôi chưa từng gặp. Cái gáy cụ bị rách nát.<br />
&#8211; Bị chuột cắn đấy. Cậu bé bỏ quên tôi dưới gầm tủ thành ra tôi gặp nạn. Nhưng cũng chẳng sao. Những cuốn sách về già thế nào cũng mắc cái bệnh rách gáy, như loài dao sốt vàng da và loài người thì bạc đầu.<br />
Lão Dao ngậm ngùi:<br />
&#8211; Tội nghiệp cụ quá. Vậy mà cụ còn phải chứa một số trang sách quá đông đảo, chắc cũng có tới bốn trăm trang?<br />
&#8211; Bốn trăm hai mươi trang tất cả.<br />
&#8211; Quá sức tưởng tượng? Với một cái gáy bị chuột gặm nát ra như thế kia làm sao mà cụ giữ cho những trang sách khỏi đi lang thang rồi thất lạc luôn?<br />
&#8211; Dạ, thưa một cuốn sách tự trọng thì bao giờ cũng phải giữ gìn đủ từ trang đầu tới trang cuối và cũng phải bắt các trang đứng theo thứ tự trước sau đàng hoàng, không có lộn xộn được. Tôi đã dạy dỗ các trang sách rất kỹ điều đó nên không có chuyện đáng tiếc nào xảy ra.<br />
&#8211; Cụ có bao nhiêu chương tất cả nhỉ?<br />
&#8211; Dạ, hai chục chương tất cả.<br />
Lão Dao xuýt xoa như cảm phục lắm:<br />
&#8211; Thưa cụ, thế thì chúng tôi lại xin phép tỏ sự cảm thông xâu xa với nỗi khó khăn của cụ. Chắc chắn mười chương đầu với mười chương cuối không ưa nhau. Chúng chia phe cãi lộng suốt ngày….<br />
Cụ Sách kinh ngạc:<br />
&#8211; Ủa! Sao ông biết chuyện đó?<br />
&#8211; Tuy là dao lớn nhưng không bao giờ tôi từ nan những công tác nhỏ. Vì vậy thỉnh thoảng tôi được dùng vào việc rọc sách, cuốn nào cũng có cái nạn chương nọ gây chuyện cãi lộn với chương kia.<br />
Cụ Sách thì thầm:<br />
&#8211; Chuyện lộn xộn xảy ra trong lòng mình, tôi vẫn phải dấu mọi vật trong phòng, sợ họ cười. Quả thực, chưa khi nào những chương sách của tôi chịu sống hoà thuận với nhau. Chúng chia làm hai phe, phe thứ nhất do chương thứ mười cầm đầu. Chương thứ mười một lãnh đạo phe còn lại gồm trọn nửa phần cuốn sách. Chương mười và chương mười một ở sát cạnh nhau nên luôn luôn có chuyện xích mích.<br />
Cụ Sách chưa nói hết lời, bỗng một chương sách lên tiếng:<br />
&#8211; Lỗi tại chúng nó cả. Luôn luôn chúng kể công rằng nhờ có bọn chúng mở đường người ta mới biết tới chúng tôi. Nếu không những chương về sau là đồ bỏ.<br />
Đó là lập trường của chương thứ mười một.<br />
Chương thứ mười phản công ngay:<br />
&#8211; Láo khoét! Thưa ông Dao, chưa có vật nào hợm hĩnh kêi căng như bọn chúng nó. Chúng chê bọn tôi, những chương sách đầu, là quê mùa thô kệch dốt nát. Chỉ có những chúng mới thực sự là bọn thông thái và bao nhiêu cái hay chúng nắm giữ cả. Thật là một bọn vô ơn.<br />
Những chương sách sau chương thứ mười một nhao nhao lên:<br />
&#8211; Đừng có hỗn.<br />
&#8211; Tài cán chẳng được bao nhiêu, mà lại ưa kể công.<br />
&#8211; Chương giỏi nhất của bọn bay còn thua chương hạng bét của chúng tao.<br />
Mười chương sách kia đâu có chịu nhịn. Chúng chửi lại địch thủ là bọn mất gốc, vô ơn bạc nghĩa…<br />
Cụ Sách hét lên nhiều lần, bắt hai phe im tiếng. Nhưng các chương sách cứ vừa phân trần với lão Dao vừa sỉ nhục, chọc tức nhau. Cụ Sách cũng kinh hoàng vì chưa bao giờ thấy chúng cãi lộn nhau dữ dội đến như thế. Chúng moi móc cả những lỗi in sai của nhau ra để giễu cợt, phỉ báng. Chương thứ mười bảo rằng chương thứ mười một đã được tác giả viết trong một cơn say tí bỉ. Còn chương mười một thì chê lại rằng chương mười ra đời trong lúc tác giả đang mắc bệnh khùng. Cả đến chương cuối, một chương thông thái nhất, cũng bị chửi là đồ không có hậu.<br />
Cuối cùng, chương thứ mười hét lên:<br />
&#8211; Tôi không thể nào sống chung với bọn kiêu căng vô lối được.<br />
Chương thứ mười một quay ra nói với lão Dao:<br />
&#8211; Xin ông giúp cho, tôi không còn muốn thấy mặt bọn dốt nát hỗn hào.<br />
Cụ Sách hình như không có ý kiến nào sáng suốt nữa. Cụ mệt nhoài và gáy nứt ra thêm một đường dài.<br />
Lão Dao nói to:<br />
&#8211; Thể theo lời khẩn khoản yêu cầu của các chương sách cùng sự đồng ý của cụ Sách, tôi tách cụ Sách ra hai phía.<br />
Dao xẹt tới một đường và hai nửa cuốn sách văng ra hai phía.<br />
Cụ Sách, vật khôn ngoan cao quí nhất trong phòng đã tách làm đôi. Bấy giờ lão Dao mới bình tĩnh trở lại với mọi vật khác. Các vật náo nức xôn xao. Chúng không còn giữ trật tự nữa, chúng vây quanh lão Dao, tranh nhau xin lão giúp đỡ trước.<br />
Lão Dao cắt bác Ô đen ra làm hai. Chỉ có phần vải và các nan thép được chia đồng đều cho hai phía. Cán ô bằng thép lão Dao không chạm tới. Chúng ta không có hai cái Ô mà chỉ có một chiếc ô rách tả tơi cùng những mảnh vải vô dụng.<br />
Vĩnh biệt bác Ô đen!<br />
Anh Diều giấy được cắt làm đôi trong chớp mắt. Những nan tre bung ra. Chỉ còn chiếc đuôi nguyên vẹn. Không bao giờ có những mảnh tre gẫy bay lộn nhẹ nhàng trên trời.<br />
Vĩnh biệt anh Diều giấy!<br />
Lão Dao cắt đôi bông Hoa một cách thận trọng tỉ mỉ hơn. Cả cái cuống cũng được chẻ làm đôi rất đều đặn. Nhưng ngay sau đó Hoa tàn héo, gục đầu xuống miệng bình, các cành đều rũ liệt.<br />
Vĩnh biệt bông Hoa!<br />
Lão cắt đôi những chiếc xe hơi tí hon bằng nhựa. Mỗi chiếc xe được chia làm hai phần, mỗi phần chỉ có hai bánh. Như thế tất nhiên chẳng khi nào chúng có thể chở niềm vui chạy quanh nhà như trước. Bây giờ chúng đứng cũng không vững.<br />
Vĩnh biệt những chiếc xe hơi nhựa!<br />
Bình mực bị cắt không chia làm hai mà bị vỡ thành trăm mảnh. Niềm an ủi cuối cùng của vật mơ mộng và đãng trí này là cả trăm mảnh đều lấp lánh phản chiếu ánh nến sáng ngời.<br />
Vĩnh biệt chị Hằng nhỏ bé xa vời vẫn lướt mây trong lòng bình mực!<br />
Lão Dao lầm lì tiếp tục cắt, càng làm việc lưỡi dao càng sáng quắc.<br />
Ông Bàn là vật lên tiếng báo động đầu tiên. Lúc đó bình minh đã sắp tới. Ông hét:<br />
&#8211; Nguy rồi. Hoa không ngủ, cô ấy đã héo đi.<br />
Cùng lúc đó sau mươi ngọn Nến gào thét dữ dội:<br />
-Chúng tôi bị giảm thọ, mất hẳn một nửa đời sống.<br />
-Chúng tôi bị lừa.<br />
Chú Quay sừng vùng dậy chạy đến hỏi thăm bác Ô đen, Ô đen không trả lời. Rồi Diều giấy, nhưng chiếc xe hơi nhựa cũng không có vật nào lên tiếng, dù chú Quay sừng hét thật lớn.<br />
Bây giờ ông Cung đã hiểu. Khi nãy thấy chính cụ Sách cũng đòi tách làm hai, ông hết nghi ngờ. Ông đang nhớ những kỷ niệm oai hùng trong quá khứ.<br />
Ông Cung gọi:<br />
&#8211; Cụ Sách…..cụ Sách ơi!<br />
Có tiếng hai cụ Sách thều thào:<br />
&#8211; Tôi bị thương nặng bị tách làm đôi. Bây giờ nửa này đang thương nhớ nửa kia. Nhưng không sao, chỉ cần một chút keo là xong. Ông hãy cứu lấy những vật khác.<br />
Ông Cung hét to:<br />
&#8211; Yêu cầu anh Dao ngừng lại.<br />
Lão Dao tỉnh bơ. Lão làm như không hề nghe một tiếng nào và tiếp tục chặt đôi chị Tranh. Chị Tranh kêu cứu một cách tuyệt vọng.<br />
Ông Cung hét một lần nữa:<br />
&#8211; Anh Dao không ngừng lại tôi bắn.<br />
Chị Tranh đã bị cắt làm đôi.<br />
Ông Cung có ba mũi tên mới, chúng còn non nên chưa được phiêu lưu. Trong lúc nguy cấp ông Cung bắn cả ba mũi tên vào lão Dao. Cả ba mũi đều trúng đích làm lão Dao ngã lộn xuống. Nhưng cái thân thể bằng sắt thép của lão đâu có hề hấn gì. Chú Quay sừng được dịp xoay tít lao thẳng vào thân lão, gây lên một tiếng keng dữ dội, nhưng rồi chú văng ra. Lão Dao tiếp tục chặt đôi tới anh Ghế.<br />
Anh Ghế đã thấy những chiếc xe bằng nhựa, anh hiểu rõ số phận bi đát của mình nếu bị cắt đôi, anh kêu la thật thảm thiết. Nhưng ông Cung chẳng còn một mũi tên nào, mà dù còn, cũng vô ích.<br />
Lão Dao trở thành vật vô địch.<br />
Bấy giờ chị Bóng bay lơ lửng ở góc nhà đang nhớ tới sự hy sinh của bác Đèn xếp. Bác đã chịu cháy tiêu để cứu mạng cụ Sách. Chị cảm thấy lão Dao đến phòng này và tác hại là vì chị và vì sự đãng trí cẩu thả của cậu bé.<br />
Chị biết rằng chỉ có cách gọi cậu bé sang phòng này bằng một tiếng động thật lớn.<br />
Chị dũng cảm lướt tới trước mũi lão Dao và nói:<br />
&#8211; Chia tôi ra làm hai đi.<br />
Chị muốn chào vĩnh biệt mọi vật trong phòng nhưng không kịp. Vừa chạm nhẹ vào lão Dao, chị đã nổ tung<br />
Trong lúc lão Dao bàng hoàng, kinh ngạc. Ở trong phòng ngủ của chú bé vang lên tiếng dép….<br />
Ông Cung nói với cụ Sách gịọng nghẹn ngào:<br />
&#8211; Chúng ta mất nhiều bạn quá.<br />
Cụ Sách khóc:<br />
&#8211; Lỗi tại tôi dốt nát, ngu si. Đáng lẽ không nên tin tưởng vào một con dao sắc và độc ác như thế. Tôi sẽ xin ghi nhớ thêm trong lòng, ở những trang cuối cùng, lời nhắc nhở cậu bé: “Đừng bao giờ đùa nghịch với một con dao và để quên nó trong phòng, nhất là những con dao quỉ quái ”.<br />
Ông Bàn than thở ở góc nhà:<br />
&#8211; Tụi mình thương chú bé biết bao. Nếu biết, chắc chú ấy không nỡ xử tệ với tụi mình như vậy.<br />
Cụ Sách cố dằn cơn xúc động, trầm ngâm, rồi phát biểu một câu rất lạc quan:<br />
&#8211; Quí vị cứ yên tâm. Họ hàng nhà sách chúng tôi đông lắm. Thế nào sau này cũng có một chàng sách trẻ ghi tâm sự tụi mình. Cậu bé giở sách đọc, cậu ấy sẽ hiểu.</p>
<h3>Cái ngọn mía ngọt</h3>
<p>Bây giờ, tôi thấm thía vô cùng sự viển vông, nhỏ nhoi thảm hại của đời mình, của tài năng mình. Ðã có đôi lúc, trong cơn mù quáng, tôi tưởng là mình ghê. Tôi viết được dăm ba cuốn sách và được một số độc giả quý mến. Tôi cộng tác với vài tờ báo, thỉnh thoảng cũng nhận được một bức thư ái mộ. Nhưng cái tôi tự tưởng là mình hơi to ấy không giúp được gì cho em ruột mình, không bảo vệ nổi cho em, cho các cháu mình.</p>
<p>Ðã hơn mười năm rồi, mỗi khi cầm bút một cách trịnh trọng, tôi đều ước mơ đóng góp được phần nào vào việc ngăn chặn bớt những tai họa, những chuyện thương tâm. Rút cục thì trái hỏa tiễn vẫn không thay đổi lộ trình, vẫn hoàn tất cái nhiệm vụ kinh khiếp của nó.</p>
<p>Tôi không che chở giúp đỡ nổi em tôi từ ngày chúng tôi còn nhỏ. Chính nó lại khéo léo an ủi sự yếu đuối, bạc nhược của tôi.</p>
<p>Thị xã Hà Ðông cách làng tôi khoảng 15 cây số. Xe hơi chỉ đưa chúng tôi đến ngã ba cách làng khoảng ba cây số. Từ đấy về làng chúng tôi đi bộ. Nếu chọn ngã Ðại Từ bao giờ chúng tôi cũng qua cánh đồng mía mênh mông.</p>
<p>Tôi không nhớ hồi ấy anh em chúng tôi bao nhiêu tuổi. Chỉ biết những cây mía đối với tôi cao lắm. Chúng tôi đi trên bờ ruộng, hai bên là mía dầy đặc, chi chít như cây rừng. Tất cả những hình ảnh tôi còn nhớ được về thủa ấy là con đường đất quanh co giữa những ruộng mía, cỏ xanh mọc lan từ bờ đường xuống tới chân những cây mía lá khô cong phủ lòa xòa. Những con cào cào, châu chấu bay vút từ cỏ lên gây chút bất ngờ hào hứng thân thiết. Và ở một rặng cây nào đó, con chim tu hú kêu đều đều. Chim tu hú kêu suốt những lần chúng tôi đi trong ruộng mía và hình như đã kêu suốt thời thơ ấu của tôi. Bây giờ tiếng kêu của loài chim đó còn vang mãi trong trí nhớ, gây xao xuyến như dư ảnh quê hương sau giấc mơ đậm đà còn nhớ được.</p>
<p>Về quê hay từ quê trở lại tỉnh, anh em tôi luôn luôn đi theo mấy ông chú, ông anh họ. Các vị này đều hơn tôi năm mười tuổi, và hình như đều đủ lớn để ba, mẹ tôi yên tâm cho chúng tôi đi theo họ.</p>
<p>Anh em tôi nhỏ xíu, dắt nhau đi theo các chú, các anh một cách vui thích.</p>
<p>Kể ra các vị ấy cũng có chú ý săn sóc chúng tôi ở một vài chỗ. Khi qua chỗ sông cạn ở Ðại Từ, chúng tôi được cõng, khi lên xe, chúng tôi được lên trước và em G. được bế lên.</p>
<p>Nhưng khi chúng tôi còn đi giữa khu rừng mía thì các anh, các chú không có thì giờ chú ý đến chúng tôi. Họ lo bắn chim, bắt cào cào, châu chấu để đem về nuôi chim sáo. Và dĩ nhiên họ bận ăn mía.</p>
<p>Cả làng Ðại Từ trồng vải và mía. Cả làng sống về nghể kéo mật. Như thế bất cứ ai đi qua khu rừng mía đều có thể ăn no bụng và vác về vài cây tùy sức. Như thế trong tiếng chim tu hú đều đều quen thuộc, với những bước chân làm bay vút lên những con cào cào, châu chấu đập cánh xè xè hào hứng, chúng tôi hân hoan chọn những cây mía vừa ý bẻ ăn.</p>
<p>Các chú, các anh tôi bao giờ cũng bẻ một cây ăn và một cây vác lên vai, hoặc chống xuống đất như chống gậy. Tiêu chuẩn chọn cây mía để dành là thật thẳng. Bởi vậy, đang đi các vị ấy có thể vứt cây mía đang vác để nhảy xuống ruộng, bẻ một cây khác đẹp hơn.</p>
<p>Hồi ấy, tôi chưa đến cái tuổi đủ sức bẻ một cây mía. Vả lại, anh em tôi chỉ việc chờ các anh các chú ở ruộng lên là ăn no bụng mía, như họ.</p>
<p>Nhưng có một lần tôi lầm tưởng mình đủ sức bẻ nổi một cây. Hào hứng vì mọi người ào xuống ruộng mía, tôi cũng bước xuống.</p>
<p>Tôi đã cố ý chọn một cây thật nhỏ. Tôi bẻ nó gẫy. Nhưng sức tôi chỉ làm được có thế. Tôi không sao vặn nổi vài vòng cho cây mía đứt rời ra. Em tôi cũng xuống ruộng đứng ngay sau lưng tôi chờ đợi. Trong lúc tôi dùng hết gân sức đánh vật với cây mía thì em tôi đứng nhìn đầy lo ngại, cái miệng nó méo mó theo từng cử động của tôi, như chính nó cũng đang phải làm công việc vất vả ấy.</p>
<p>Sự láu táu cuống cuồng càng làm cho tôi chóng mệt, đồng thời trong lúc quá hăng hái, tôi nắm cả vào những lá mía khô, cứng và sắc như có hàng ngàn mũi gai. Tôi không biết đau, chỉ mệt. Tôi nghĩ nếu có thể bẻ được cây mía và anh em tôi ăn cây mía ấy, không phải nhờ các anh, các chú thì chắc tôi sung sướng và kiêu hãnh không thể tả được.</p>
<p>Nhưng cây mía hạ tôi sát ván.</p>
<p>Trong khi các chú các anh tôi đã bẻ mía xong, quay nhìn tôi nói vài câu giễu cợt và tiếp tục đi thì em tôi cũng khuyên ông anh nó bỏ cuộc. Tôi tức gần phát khóc.</p>
<p>Thế rồi tôi nghĩ ra rằng chỗ ngọn mía bao giờ cũng giòn, không dai một cách khủng khiếp như đoạn gốc. Ít nhất thì cũng phải bẻ được một cái gì rồi mới đi nổi. Tôi bẻ dần lên và, phút chót, được một cái ngọn mía ngắn ngủn, trắng nhách, mỗi đốt mía chỉ dài cỡ đốt ngón tay.</p>
<p>Tôi không nhớ nổi ngôn ngữ của anh em tôi thủa đó. Tôi chỉ nhớ rằng tất cả những lời phê bình của em tôi trước chiến lợi phẩm thảm hại của tôi đại ý là: “Thôi được rồi anh! Thôi được rồi anh!”. Chúng tôi rời ruộng mía, chạy vội cho kịp các chú, các anh. Tôi xấu hổ và buồn bã trao cho em tôi cái ngọn mía. Con bé ăn ngon lành, làm như cái ngọn mía ấy quý hóa lắm.</p>
<p>Khi anh em tôi theo kịp mọi người, một ông chú cho tôi hai tấm mía to dài, ngọt lịm như thường lệ. Em tôi nhận phần của nó. Nhưng thay vì quăng ngay cái ngọn mía nhạt như nước ốc đó xuống đất thì nó cứ tiếp tục ăn cho đến hết.</p>
<p>Sau này, lớn lên và hiểu biết hơn, nhớ lại chuyện đó, tôi còn kinh ngạc. Em tôi khư khư giữ cái ngọn mía ấy không phải vì ngu.</p>
<p>Vậy thì con bé nhóc tì đã học được ở đâu cái lối lịch sự, tế nhị, đầy chịu đựng như vậy?</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><strong>Đọc Thơ Cao Tần</strong></h3>
<p><strong>  </strong>Gần 30 năm trước, một tập thơ mỏng của một tác giả hoàn toàn vô danh xuất hiện như một sự kiện giữa nền văn học vừa hình thành của người Việt hải ngoại: Thơ Cao Tần. Chúng tôi trân trọng giới thiệu lại tập thơ này với độc giả của ngày hôm nay, và nhân dịp này đăng lại bài viết về thơ Cao Tần của Nam Chi  (bút hiệu của nhà phê bình Đặng Tiến) năm 1982, nhận định của <a href="http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=7943&amp;rb=0102">Bùi Vĩnh Phúc</a> năm 1988, cùng với bài phê bình mới nhất của <a href="http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=7941&amp;rb=0102">Đặng Tiến</a> tháng 8.2006.</p>
<p>Talawas</p>
<p>***</p>
<ol>
<li><strong> Chuyện thần tiên</strong>
<p>(<em>Có bà tiên hiền hỏi chàng lưu lạc </em><br />
<em>Con ước mơ chi cuối cuộc đời này?</em>)</p>
<p>Ta ước khi không bừng tỉnh giấc<br />
Thấy bình minh muộn nắng đầy hiên<br />
Một khung cửa sổ trời xanh ngắt<br />
Đầu sân xao xác tiếng chim quen</p>
<p>Đường phố ngất ngây mùi bụi mới<br />
Những vòm cây biếc lá me tươi<br />
Quán cóc sở ta bè bạn đợi<br />
Rất tưng bừng đấu hót những buồn vui</p>
<p>Chợt nhớ lại, ồ đêm qua khiếp quá<br />
Mình đã mơ một giấc thật kinh hoàng<br />
Mơ thấy cả một quê hương đổ vỡ<br />
Mình lên đường ngơ ngẩn, lang thang</p>
<p>Sẽ vội vã trên đường lao tới sở<br />
Nghe xôn xao tiếng Việt ở quanh mình<br />
Giữa phố bụi mù lại mơ cây cỏ<br />
Xanh khắp quê hương giấc mộng thanh bình</p>
<p>Ta muốn điều chi cuối đời luân lạc?<br />
Này bà tiên vừa hỏi giấc mơ ta<br />
“Hãy đem hết những đổi đời tan tác<br />
Gói giùm vào cơn mộng dữ đêm qua”</p>
<p><strong>2. Chiều bát phố</strong></p>
<p>Chiều đi bát phố gặp toàn Tây<br />
Bỗng tiếc xưa không làm quen cả xóm<br />
Tự trách mình ngu hơn con cầy<br />
Đáng kẹt lại cho thằng Cộng tóm</p>
<p>Bác xích lô mỗi sớm qua nhà<br />
Đầu óc như ta lo cơm lo áo<br />
Co cẳng cà phê quán cóc la cà<br />
Chửi bới lăng nhăng nội các anh Thiệu</p>
<p>Em điếm rẻ tiền hành nghề Gò Vấp<br />
Anh tìm vui hoang em hát cải lương<br />
Ôm nhau dửng dưng, rời nhau hấp tấp<br />
Lòng vẫn chung mang nỗi sợ sa trường</p>
<p>Nhớ ông thầy tu nghiêm trang cúng lễ<br />
Ta ít khi lảng vảng vào chùa<br />
Sao cùng thấy đời sầu một bể<br />
Cùng tỉnh queo trước chuyện hơn thua.</p>
<p>Nhớ kẻ ngất ngư mình gặp ngoài phố<br />
Hai thằng lạ hoắc chẳng thèm ngó nhau<br />
Giờ nghĩ lại, ôi, như ta, nó khổ<br />
Cũng xây nhà trên cát nương dâu.</p>
<p>Giờ nghĩ thân ta chỉ còn có vợ<br />
Vợ trót bỏ quên bên kia bán cầu<br />
Ngày ngày phất phơ giữa rừng mũi lõ<br />
Tìm người tình Việt chưa biết tìm đâu</p>
<p>Chỉ gặp toàn Tây một chiều bát phố<br />
Tiếc sao xưa cả nước chẳng quen nhau<br />
Quen cả nước? Ra đường chào gẫy cổ<br />
Và chắc gì nay nghĩ lại không sầu.</p>
<p>Nhưng quen cả nước chắc lòng sẽ nhẹ<br />
Khi đi có chào may bớt xót xa<br />
Ôi! Xóm xưa ơi, khi nào đổi kiếp<br />
Ta về thành chim hót trước hiên nhà</p>
<p><em>Tháng 2-77</em></p>
<p><strong>3. Chỗ giấu kho tàng</strong></p>
<p>Sau một tuần ngất ngư lao động<br />
Thứ sáu anh thường thức trắng đêm<br />
Vì đêm anh, Sài Gòn đang sáng<br />
Đêm thao thức anh là ngày khốn khổ em</p>
<p>Ngày khốn khổ, thân em tơi tả<br />
Gói nhọc nhằn trong biểu ngữ vinh quang<br />
Ta từng giầu lắm em nào biết<br />
Anh chỉ cho em đôi chỗ giấu kho tàng</p>
<p>Trong công viên xưa có chiếc ghế đá<br />
Giờ đẫm mưa chiều hay tươi nắng mai?<br />
Ghế như ngà, bên hàng thông, em nhớ?<br />
Ta bên nhau trên đó những ngày vui</p>
<p>Chiếc ghế từng nghe lá úa thở dài<br />
Nghe đồi cỏ mùa xuân cười rực rỡ<br />
Chia sẻ những buồn vui<br />
Của thời em rất nhỏ</p>
<p>Em hãy đến tìm ở nhà thờ đỏ<br />
Ngôi thánh đường gạch hồng như son<br />
Nơi ta thường quanh quẩn những hoàng hôn<br />
Tìm kỹ nhé: ngay sau cây thánh giá</p>
<p>Em hãy tìm về sau căn nhà cũ<br />
Đứng bên rào mà ngó lại vườn xưa<br />
Em nhớ nhé: dưới tàn cây trứng cá<br />
Những trái mọng hồng trong ánh nắng sau mưa<br />
Ở góc vườn còn một viên gạch vỡ<br />
Nơi nảy mầm hy vọng một giàn dưa<br />
Kín đáo nghe em, giờ nhà đổi chủ<br />
Nhưng kho tàng ta chắc còn nguyên đó</p>
<p>Đứng trước vườn xưa em hãy mỉm cười<br />
Dù môi buồn đã héo xanh thương nhớ<br />
Nuốt lệ thầm và cười cho tươi<br />
Như chiều xưa đón anh về hớn hở</p>
<p>(Kho tàng ta có một ông thần<br />
Nụ cười em là câu thần chú<br />
Thần chú đọc xong kho tàng sẽ mở)</p>
<p>Kho tàng ta em yêu nhìn xem<br />
Dưới ghế công viên anh giấu thời thơ dại<br />
Trên tháp nhà thờ anh giấu niềm tin<br />
Trong vườn cũ anh giấu thời hạnh phúc<br />
Nơi nụ cười em anh giấu trái tim.</p>
<p>Hãy chia anh một nửa kho tàng<br />
Để cùng tiêu trong chuỗi ngày khốn khó</p>
<p>Thêm một lần thứ sáu trắng đêm<br />
Để hồn về một Sài Gòn đang sống<br />
Gõ tuyệt vọng cửa thiên đường đã đóng<br />
Xin chia nhau ngày khốn khổ cùng em</p>
<p><em>Tháng 3-77</em></p>
<p><strong>4. Bông giấy</strong></p>
<p>Tưởng ta nhớ chú lắm sao<br />
Này cây bông giấy bên rào năm xưa<br />
Chẳng qua trời đổ cơn mưa<br />
Thì thương cành mọn đong đưa một mình.</p>
<p><em>Tháng 12–77</em></p>
<p><strong>5. Kẻ trở về</strong></p>
<p>Thằng bạn đòi về trên tàu Thương Tín<br />
Hoan hô Đảng và tranh đấu rất chì<br />
Giờ được tin vùi thây Yên Bái<br />
Thôi, còn chê trách nó mà chi.</p>
<p>Nó tưởng được về hôn con, ôm vợ<br />
Bước rưng rưng trong những phố phường xưa<br />
Ôm vợ, hôn con, ngắm trời đất cũ<br />
Chỉ một lần thôi rồi tịch cũng vừa</p>
<p>Nhớ nó xưa chọc trời, xô núi<br />
Thân nam nhi ngang dọc cõi bờ<br />
Bỗng di tản ra thân lúi xúi<br />
Trong trại xếp hàng chầu cơm như mơ</p>
<p>Trong trại sáng giật mình, hoảng hốt<br />
Đêm bụng đầy nhóc rượu tìm quên<br />
Gọi vợ trong mơ, nhắc con lúc thức<br />
Nằm thì trằn trọc, đứng thì điên</p>
<p>Nó quyết đòi về trên tàu Thương Tín<br />
Anh em xúm xít, khản cổ can hoài<br />
Thằng bạn cười buồn, tác phong lính chiến:<br />
“Thôi coi đời tao là con củ&#8230; khoai.”</p>
<p>Thấy nó lên tàu biết xong một kiếp<br />
Nhưng hy vọng hão cứ nguyện như thường<br />
Cầu nó bình an thấy con, thấy vợ.<br />
“Yếu như thằng này chắc đất trời thương.”</p>
<p>Nó bước xuống tàu giữa rừng cán bộ<br />
Về quê hương mà như lạc tinh cầu<br />
Rồi trôi giạt trên nghìn dặm khổ<br />
Rồi âm thầm đổ giữa rừng sâu.</p>
<p>Mày có linh thiêng qua đây tao cúng<br />
Một chầu phim X một quả tắm hơi<br />
Thiên đường mày hụt thì tao đang sống<br />
Cũng ngất ngư đời như con củ khoai!</p>
<p><em>Tháng 2-77</em></p>
<p><strong>6. Ta làm gì cho hết nửa đời sau ? </strong></li>
</ol>
<p>Dăm thằng khùng họp nhau bàn chuyện lớn<br />
Gánh sơn hà toan chất thử lên vai<br />
Chuyện binh lửa anh em chừng cũng ớn<br />
Dọn tinh thần: cưa nhẹ đỡ ba chai</p>
<p>Rừng đất khách bạt ngàn màu áo trận<br />
Xong hiệp đầu mây núi đã bâng khuâng<br />
Hào khí bốc đủ mười thành chất ngất<br />
Chuyện vá trời coi đã nhẹ như không</p>
<p>Một tráng sĩ vung ly cười ngạo mạn<br />
Nửa đời xưa ta trấn thủ lưu đồn<br />
Nay đất khách kéo lê đời rất nản<br />
Ta tính sẽ về vượt suối trèo non&#8230;</p>
<p>Sẽ có lúc rừng sâu bừng chuyển động<br />
Những hùm thiêng cựa móng thét rung trời<br />
Và sông núi sẽ vươn mình trỗi dậy<br />
Và cờ bay trên đất nước xinh tươi</p>
<p>Một tráng sĩ vô êm chừng sáu cối<br />
Thần tự do giờ đứng ở nơi nào?<br />
Ta muốn đến leo lên làm đuốc mới<br />
Tự đốt mình cho lửa sáng xem sao&#8230;</p>
<p>Thần tự do giơ hoài cây đuốc lạnh<br />
Ta tiếc gì năm chục ký xương da<br />
Sẽ làm đuốc soi tìm trong đáy biển<br />
Những oan hồn ai bỏ giữa bao la&#8230;</p>
<p>Bình minh tới một chàng bừng tỉnh giấc<br />
Thấy chiến trường la liệt xác anh em<br />
Năm tráng sĩ bị mười chai quất gục<br />
Đời tha hương coi bộ vẫn êm đềm</p>
<p>Sàn gác trọ những tâm hồn bão nổi<br />
Những hào hùng uất hận gối lên nhau<br />
Kẻ thức tỉnh ngu ngơ nhìn nắng mới:<br />
Ta làm gì cho hết nửa đời sau?</p>
<p><em>Tháng 3-77</em></p>
<p><strong>7. Trên non cao</strong></p>
<p>Ta biết nhà ông rầu thấy mồ<br />
Thôi cuối tuần này theo ta lên núi<br />
Lên thật cao nhìn xuống đời lô nhô<br />
Rũ bớt bụi trần, quên thân múa rối</p>
<p>Hơn mười năm nhà ông bay trên cao<br />
Mặt đất nâu xanh nằm ngoan dưới gót<br />
Nhân loại tí teo xinh đẹp chừng nào<br />
Nhân loại hiền từ như những con sâu</p>
<p>Những đêm đen tàu trôi qua thành phố<br />
Cả đất trời nở triệu ánh sao xinh<br />
Mặc những đấu tranh lọc lừa dưới đó<br />
Nhìn từ cao nhân thế thật thanh bình</p>
<p>Đời khốn kiếp quăng tòm ông xuống đất<br />
Bôi mặt nhà ông giống một tên hề<br />
Tên hề giễu trong kịch đời luân lạc<br />
Kịch như đời: nhạt nhẽo, lê thê.</p>
<p>Trên núi cao ta biết rành một chỗ<br />
Có hòn đá xanh có gốc thông già<br />
Ngồi trên đá ông sẽ thành Trang Tử<br />
Hồn nhẹ tênh theo bướm lượn chiều tà</p>
<p>Hãy tựa gốc thông mà nhìn xuống thế<br />
Tưởng hôm nào ngất ngưởng chín tầng mây<br />
Còn thương mãi một nhân gian nhỏ bé<br />
Có thể ôm tròn trong đôi cánh tay</p>
<p>Nhà ông khổ hơn người vì đôi cánh<br />
Những thinh không bát ngát, những trời xa<br />
Này cánh đại bàng nhớ chân trời thẳm<br />
Thôi cuối tuần này lên núi cùng ta.</p>
<p><em>Tháng 11-77</em></p>
<p><strong>8. Mai mốt anh trở về</strong></p>
<p>Mai mốt anh về có thằng túm hỏi<br />
Mày qua bên Mỹ học được củ gì<br />
Muốn biết tài nhau đưa ông cây chổi<br />
Nói mày hay ông thượng đẳng cu li</p>
<p>Ông rửa bát chì hơn bà nội trợ<br />
Ông quét nhà sạch hơn em bé ngoan<br />
Ngày ngày phóng xe như thằng phải gió<br />
Đêm về nằm vùi nước mắt chứa chan</p>
<p>Nghệ thuật nói bỗng hóa trò lao động<br />
Thằng nào nói nhiều thằng ấy tay to<br />
Tiếng mẹ thường chỉ dùng chửi đổng<br />
Hay những đêm sầu tí toáy làm thơ</p>
<p>Ông học được Mỹ đất trời bát ngát<br />
Nhưng tình người nhỏ hơn que tăm<br />
Nhiều đứa hồn nhiên giống bầy trẻ nít<br />
Còn hồn ông: già cốc cỡ nghìn năm</p>
<p>Bài học lớn từ khi đến Mỹ<br />
Là ngày đêm thương nước mênh mang<br />
Thù hận bọn làm nước ông nghèo xí<br />
Hận gấp nghìn lần khi chúng đánh ông văng</p>
<p>Nếu mai mốt bỗng đổi đời phen nữa<br />
Ông anh hùng ông cứu được quê hương<br />
Ông sẽ mở ra nghìn lò cải tạo<br />
Lùa cả nước vào học tập yêu thương</p>
<p>Cuộc chiến cũ sẽ coi là tiền kiếp<br />
Phản động gì cũng chỉ sống trăm năm<br />
Bồ bịch hết không đứa nào là ngụy<br />
Thắng vinh quang mà bại cũng anh hùng</p>
<p><em>Tháng 3-77</em></p>
<p><strong>9. Biển chiều</strong></p>
<p>Chiều nay ra biển ngồi ngơ ngẩn<br />
Nhúng hai giò trong nước Thái bình Dương<br />
Để hơi ta giạt về bờ Ô Cấp<br />
Chạm thân ái vào lưng đất mẹ tang thương</p>
<p>Có bạn nào đang rắp tâm vượt thoát<br />
Nhớ rằng ta luôn cầu nguyện cho người<br />
Láng đời chót đã tan trên chiếu bạc<br />
Thì xá gì thêm một chuyến ra khơi</p>
<p>Thở thật dài vào thinh không bát ngát<br />
Theo gió về động lá cánh rừng xa<br />
Này thằng lì còn chơi miền gió cát<br />
Trong kiêu dũng mày cho gửi chút hồn ta</p>
<p>Có thằng bạn nào tàn đời học tập<br />
Cõng gông xiềng lê lết một thân đau<br />
Này biển chiều sóng xô ào lớp lớp<br />
Những tiếng đời tan nát khóc thương nhau.</p>
<p><em>Tháng 6–77</em></p>
<p><strong>10. Chú nào nghe mái tôn mưa</strong></p>
<p>Chú nào đi đường ta bình minh này<br />
Có nhớ chào dân xóm ta dậy sớm<br />
Có nghe thơm mùi bụi mới đầu ngày<br />
Cùng lá hoa tươi mừng nắng lớn.</p>
<p>Chú nào trưa nay ngồi trên đồi ta<br />
Thở gió thông khô quen từ kiếp trước<br />
Đếm nắng hoa sao nở đầy trên hồ<br />
Trưa thật tuyệt vời, đẹp hơn mơ ước</p>
<p>Chú nào ngồi hiên nhà ta chiều nay<br />
Nghe mưa Sài gòn rạt rào thơm mát<br />
Sau một ngày nắng loá chín tầng mây<br />
Những mái tôn mưa cười ran hạnh phúc</p>
<p>Chú có biết yêu thương vài nụ hồng<br />
Đã thắm tươi trên giàn che cổng gỗ<br />
Những giọt trong veo từ cõi vô cùng<br />
Vỗ rộn ràng vui trên từng lá nhỏ</p>
<p>Chú nào đêm nay kê đầu gối đó<br />
Thở hương nồng hạnh phúc đẫm không gian<br />
Có biết nói nghìn năm sau vẫn nhớ<br />
Vẫn hai vai êm ấm mãi ơn nàng?</p>
<p><em>Tháng 12-77 </em></p>
<p><strong>11. Hát một mình</strong></p>
<p>Hát tự nhiên đi mà bạn quí<br />
Giọng bạn khàn hơn chú vịt bầu<br />
Đừng e sẽ mếch lòng tri kỷ<br />
Dù nghe bạn hát chỉ thêm đau</p>
<p>Hai thằng đã tính đời coi bỏ<br />
Hẹn vô sa mạc cụng vài ly<br />
Ngồi thiền lặng lẽ như cây cỏ<br />
Quyết lòng tịnh khẩu để nhâm nhi</p>
<p>Phương Nam bão cát lên như khói<br />
Núi trọc xa trông hèn hơn đồi<br />
Chiều mới vừa đây mà đã tối<br />
Thấy chăng sa mạc rộng hơn trời?</p>
<p>Bạn bỗng kể: “Khi về gặp nàng,<br />
Có lúc du dương nàng bắt hát<br />
Dăm ba câu lãng mạn xì xằng<br />
Thế cũng dựng nên thời rất đẹp&#8230;”</p>
<p>Thời đẹp bây giờ là chiêm bao,<br />
Tình nàng bây giờ là kiếp trước<br />
Chiều nay hồn bạn bỗng xôn xao<br />
Dăm tiếng ca xưa và muốn hát</p>
<p>Cứ hát, ta nghe mà, bạn quí<br />
Mai đời di tản lại buồn tênh<br />
Rồi ra cặp được đào thơm Mỹ<br />
Bạn sẽ trăm năm hát một mình.</p>
<p><em>Tháng 10–77</em></p>
<p><strong>12. Thư quê hương</strong></p>
<p>Thư quê hương như tên hề ốm nặng<br />
Hồn tang thương sau mặt nạ tươi cười<br />
Son phấn hân hoan phủ nghìn cay đắng<br />
Mắt lệ đầy, miệng hát những lời vui&#8230;</p>
<p>Ta biết thư em vượt muôn cửa ải<br />
Mắt sài lang soi nát cả linh hồn<br />
Em chẳng được khóc cùng ta bằng chữ<br />
Thì gửi chi dăm khẩu hiệu buồn nôn!</p>
<p>Gửi cho anh vài sợi tóc mẹ già<br />
Rụng âm thầm trên hiên chiều hiu quạnh<br />
(Nuôi một bầy con cuối đời vẫn lạnh)<br />
Cho anh hôn ơn nặng một thời xa&#8230;</p>
<p>Anh muốn thở mùi nhọc nhằn nô lệ<br />
Gửi cho anh manh áo rách con thơ<br />
Con chào đời: ta rừng sâu lính trẻ<br />
Ta non cao, con tập nói u ơ&#8230;<br />
Giờ bước đầu đời chân non vấp ngã<br />
Muốn nâng con… nào biết có bao giờ.</p>
<p>Gửi cho anh viên sỏi nhỏ bên đường<br />
Anh sẽ đọc ra trăm nghìn lối cũ<br />
Gửi cho anh vài nhánh cỏ quê hương<br />
Anh sẽ đọc đất trời ta đã thở&#8230;</p>
<p>Và gửi cho anh một tờ giấy trắng<br />
Thấm nước trời quê qua mái dột đêm mưa<br />
Để anh đọc: Mênh mông đời lạnh vắng<br />
Em tiếc thương hoài ấm áp gối chăn xưa&#8230;</p>
<p><em>Tháng 4–77</em></p>
<p><strong>13. Chốn tạm dung</strong></p>
<p>Nhà tôi ở toòng teng đỉnh đồi<br />
Buổi mai đi làm thấy đời xuống dốc<br />
Sau lưng sương ngập cao lưng trời<br />
Trước mặt thông sầu reo đáy vực</p>
<p>Bắt đầu ngày bằng một chút vui<br />
Hát nghêu ngao trong lòng xe rỗng tuếch<br />
Bài ca quen bỗng chợt quên lời<br />
Chút kỷ niệm còm lại mất khơi khơi</p>
<p>Tiếng Việt trong ta ngày mỗi héo<br />
Hồn Việt trong ta ngày mỗi khô<br />
Dốc mở như đời ta trước mặt<br />
Sương kín như đời ta hôm xưa</p>
<p>Giang hồ một túi bài ca cũ<br />
Hát nhảm cho qua nốt tuổi già<br />
Qua những bình minh còn ngái ngủ<br />
Còn như chưa lạc mất quê ta</p>
<p>Giữa đỉnh sương mù thông đáy vực<br />
Trên đường chênh chếch nắng mênh mang<br />
Trôi xuôi một mảnh hồn lưu lạc<br />
Đã chán nhân gian ở cuối đường</p>
<p>Chiều về lên dốc thân tơi tả<br />
Một quả hoàng hôn đỏ kín trời<br />
Mình mới ngoi lên ngày đã ngả<br />
Đêm phờ lăn lóc ngủ thay chơi</p>
<p>Giữa đỉnh sương mù thông đáy vực<br />
Ngược xuôi ngơ ngẩn một linh hồn<br />
Còng lưng gánh nốt đời lưu lạc<br />
Nặng trĩu nghìn cân nhớ nước non</p>
<p><em>Tháng 5-77</em></p>
<p><strong>14. Gửi Xuân Hiến</strong></p>
<p>Đốt thế giới văn chương hào sảng ấy<br />
Gửi cho ông làm bạn cõi thiên đường<br />
Tôi chỉ giữ bên mình thanh kiếm gẫy<br />
Lên núi ngồi vạch đất vẽ quê hương.</p>
<p><em>Tháng 10–82</em></p>
<p><strong>15. Gửi Duyên Anh</strong></p>
<p>Gặp lại hôm qua chú học trò<br />
Còn nuôi con sáo bạn ta cho<br />
Ta mừng khoe chú bông Thiên Lý<br />
Rực rỡ huy hoàng như tuổi thơ.</p>
<p><strong>16. Kho tàng</strong></p>
<p>Chàng Cù Lần có cái túi nhỏ<br />
Suốt bốn mùa giấu giếm như điên<br />
Anh em sùng, nghĩ thằng này chơi khó<br />
Thủ cẳng tí tiền, len lén tiêu riêng</p>
<p>Hết chuyện chơi, một chiều đông lạnh cóng<br />
Đè thằng em ra cướp túi coi chơi<br />
Gác trọ rung rinh như thuyền biển động<br />
Thằng em kêu như sắp sửa xong đời</p>
<p>Miệng túi mở kho tàng rơi tung tóe<br />
Một lạng vàng trong giấy gói đơn sơ<br />
Một đứa hét: “Vàng này thằng em bé<br />
Không mại đi, mày tính để đem thờ?”</p>
<p>“Sư chúng mày, vàng đem theo bốn cục<br />
Ông bán ba, bắt gọn mấy trăm đô<br />
Còn cục này tàn đời ông cóc bán<br />
Lúc lên đường bà cụ dúi tay cho”</p>
<p>Một chiếc khăn tay cũ xì, cũ xịt<br />
Màu nâu già thêu mấy chữ xanh xanh<br />
“Giẻ rách gì đây hở thằng chết tiệt?”<br />
“Khăn vợ trao ngày khoác áo nhà binh”</p>
<p>Đáy túi nhỏ thì đầy danh thiếp cũ<br />
Những tên người tên tỉnh đã xa xưa<br />
Những dòng vội ghi hẹn hò gặp gỡ<br />
Những đường quen không trở lại bao giờ</p>
<p>Trả túi thằng em, cả bầy bỗng xệ<br />
Cù Lần xấu hổ chửi như ca<br />
Cái túi nhỏ tưởng đầy lòng ti tiện<br />
Hoá đem theo muôn vạn mảnh quê nhà</p>
<p>Cù lần dọa đêm nay đâm chết hết<br />
Ôi, ví dầu chú mở được tim anh<br />
Chú cũng thấy một kho tàng thắm thiết<br />
Với khăn tay nhàu nát chữ thêu xanh</p>
<p>Với danh thiếp những tên đường đã đổi<br />
Những số nhà chớp mắt bỗng tang thương<br />
Những chốn hẹn nghìn năm không trở lại<br />
Những tên đời tơi tả khắp quê hương</p>
<p><em>Tháng 10-77</em></p>
<p><strong>17. Đóng tàu</strong></p>
<p>Vách tàu dựng vút lên như núi<br />
Một bãi mênh mông sắt thép trùng trùng<br />
Hải âu lượn vòng, biển xanh phơi phới<br />
Hồn dậy vu vơ một chút hào hùng</p>
<p>Tay búa tay kìm thấy đời chắc nịch<br />
Sắt nâng hàng tấn linh hồn nhẹ tênh<br />
Mặt mũi lấm lem che đời bí mật<br />
Thần trí lang thang cuối bãi đầu ghềnh</p>
<p>Buổi trưa nghỉ nằm chơi trong thùng sắt<br />
Ngửa cổ coi trời thấy đúng một khung vuông<br />
A, khi không ta biến thành con ếch<br />
Đáy giếng sâu mơ mộng rất khiêm nhường</p>
<p>Con ếch không tin đất trời nhỏ bé<br />
Biết ngoài kia còn một cõi bao la<br />
Lẩn thẩn nghĩ về chuyện đời dâu bể<br />
Hay vơ vẩn chờ chút mây bay qua</p>
<p>Nhớ thơ Trường Anh thủa nào khoái đọc<br />
(Ông Trường Anh có lạc đến phương này?)<br />
“Tiền thân ta phải chăng là con cóc<br />
Thơ nghiến răng trời chuyển bốn phương mây.”</p>
<p>Một năm nữa con tàu sẽ xuống nước<br />
Tháng ngày nào mới đi qua Biển Đông?<br />
Biển Đông giờ này bao thuyền hấp hối<br />
Ôi con tàu đến trễ cả nghìn năm</p>
<p>Lòng bắt đầu mơ những điều huyền hoặc<br />
Mơ con tàu cảm được những thương tâm<br />
Nghe được tiếng đàn bà con trẻ khóc<br />
Và xót xa như có một linh hồn</p>
<p><em>Tháng 11-82</em></p>
<ol start="18">
<li><strong> Câu cá </strong></li>
</ol>
<p><strong><em> </em></strong></p>
<p>Ta đã vượt muôn dặm dài biển cả<br />
Ðường tử sinh lui tới cũng đôi lần<br />
Bỗng bình minh này ngồi thuyền, câu cá<br />
Trôi dật dờ như lá trên hồ xanh</p>
<p>Hỡi chú cá rong chơi miền nước biếc<br />
Ta vượt đường muôn dặm chẳng tìm nhau<br />
Bày đặt buông cần mà quên thương tiếc<br />
Cho đời êm, qua được mấy giờ đau</p>
<p>Nói nghe coi này cổ thụ ven hồ<br />
Kể từ những trăm năm dài đứng đó<br />
Có gặp khi nào một kẻ xác xơ<br />
Lòng sầu hận hơn kiếp người da đỏ</p>
<p>Ðời đang bão khi không chìm lặng ngắt<br />
Như cành khô nằm chết đáy sông sâu<br />
Ðời đang dậy sóng thần lên bát ngát<br />
Bỗng vùi yên đáy biển một thân tàu</p>
<p>Và móc đời lên cần câu vớ vẩn<br />
Ðem dìm chơi trong đáy nước rong rêu<br />
Tuổi chưa nặng hồn đã chừng ngơ ngẩn<br />
Lòng vàng khô hơn chiếc lá đưa vèo?</p>
<p>(tháng 11, 77)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<ol start="19">
<li><strong> Chú nào nghe mái tôn mưa</strong></li>
</ol>
<p>Chú nào đi đường ta bình minh này<br />
Có nhớ chào dân xóm ta dậy sớm<br />
Có nghe thơm mùi bụi mới đầu ngày<br />
Cùng lá hoa tươi mừng nắng lớn</p>
<p>Chú nào trưa nay ngồi trên đồi ta<br />
Thở gió thông khô quen từ kiếp trước<br />
Ðếm nắng hoa sao nở đầy trên hồ<br />
Trưa thật tuyệt vời, đẹp hơn mơ ước</p>
<p>Chú nào ngồi hiên nhà ta chiều nay<br />
Nghe mưa Sài Gòn rạt rào thơm mát<br />
Sau một ngày nắng lóa chín tầng mây<br />
Những mái tôn mưa cười ran hạnh phúc</p>
<p>Chú có biết yêu thương vài nụ hồng<br />
Ðã thắm tươi trên giàn che cổng gỗ<br />
Những giọt trong veo từ cõi vô cùng<br />
Vỗ rộn ràng vui trên từng lá nhỏ</p>
<p>Chú nào đêm nay kê đầu gối đó<br />
Thở hương nồng hạnh phúc đẫm không gian<br />
Có biết nói nghìn năm sau vẫn nhớ<br />
Vẫn hai vai êm ấm mãi ơn nàng?</p>
<p><em> </em></p>
<ol start="20">
<li>
<strong> Cảm khái</strong></p>
<p>Trong ví ta này chứng chỉ tại ngũ<br />
Mất nước rồi còn hiệu lực hơi lâu<br />
Chiều lưu lạc chợt thương tờ giấy cũ<br />
Tái tê cười: giờ gia hạn nơi đâu?</p>
<p>Trong ví ta này một thẻ căn cước<br />
Hình chụp ngây ngô rất mực cù lần<br />
Da xám ngoét như bị đời nhúng nước<br />
Má hóp vào như cả tháng không ăn</p>
<p>Mười tám tuổi thành công dân nước Việt<br />
Tên chụp hình làm ta xấu như ma<br />
Thằng khốn nạn làm sao mà nó biết<br />
Ta sẽ thành dân mất nước tan nhà!</p>
<p>Hai mươi tuổi ta đi làm chiến sĩ<br />
Bước giày đinh lạng quạng một đời trai<br />
Vừa đánh giặc vừa lừng khừng triết lý<br />
Nhưng thằng này yêu nước chẳng thua ai&#8230;</p>
<p>Hình căn cước anh nào mà chẳng xấu<br />
Tên chụp hình như một lão tiên tri<br />
Triệu mặt ngây ngô bàng hoàng xớn xác<br />
Cùng đến một ngày gẫy đổ phân ly</p>
<p>Nhìn hình chim in trên tờ chứng chỉ<br />
Chợt nhớ câu thơ: “Gẫy cánh Đại Bàng&#8230;”<br />
Ngàn lẫm liệt tan trong chiều rã ngũ<br />
Muôn anh hùng phút chốc hóa lang thang</p>
<p>Quanh mình xôn xao chuyện thay Quốc tịch<br />
Ngậm ngùi bày dăm giấy cũ coi chơi<br />
Thời cũ ố vàng, rách rời mấy mảnh<br />
Xót xa đau như mình bỗng qua đời.</p>
<p>Hỡi kẻ trong hình mặt xanh, mày xám<br />
Ngươi sắp thành tên mọi Mỹ rồi ư<br />
Hỡi thằng chiến binh một đời dũng cảm<br />
Mày lang thang đất lạ đến bao giờ</p>
<p>Ôi trong ví mỗi người dân mất nước<br />
Còn một oan hồn mặt mũi ngu ngơ<br />
Ôi trong trí những anh hùng thuở trước<br />
Còn dậy trời lên những buổi tung cờ</p>
<p><em>Tháng 6–77</em></p>
<p><em>Ðến năm 1970, thơ Việt đã có ba bài hành xuất sắc: </em>Bài hành đưa người<em> của Thâm Tâm, </em>Bài hành phương nam<em> của Nguyễn Bính và </em>Bài hành bốn mươi<em> của Thanh Nam. Non mười năm sau đó thì được thêm một bài nữa.<br />
Cao Tần không gọi thi phẩm ấy của mình là &#8220;hành&#8221;. Nhưng hẳn đa số người yêu thơ chỉ cần đọc qua cũng lập tức cảm thấy ngờ ngợ, rồi nhanh chóng dứt khoát: &#8220;nó&#8221;, chứ còn gì nữa.</p>
<p>Hành là thơ làm để hát.(1) Ðây tác giả chẳng những đặt luôn tên bài thơ là hát, mà còn cẩn thận ghi rõ </em>hát ngao<em>. Hát ca vốn vô số lối: lối chèo, lối tuồng, lối quan họ, lối cải lương, lối tân nhạc, lối tân tân nhạc&#8230; Vì lẽ gì Cao Tần đi chọn lối ngao?</p>
<p>Cách nay gần năm thế kỷ, trong một trong mấy bài phú nôm đầu tiên của văn học Việt Nam thấy có câu: &#8220;&#8230; thủa hứng nhàn đủng đỉnh, ngồi bên khe, nhịp miệng </em>hát ngao<em>&#8220;.(2) Kẻ đủng đỉnh nhịp miệng thời xa xưa ấy không phải một trẻ chăn trâu đang hồn nhiên véo von &#8220;sướng lắm chứ&#8221; đâu, mà là Nguyễn Hãng, ẩn sĩ đời Mạc, đang &#8220;ngao&#8221; thành lời cái tâm trạng nhiều uẩn khúc của mình.</p>
<p>Xem lại, hình như thứ thơ hành có hay chứa tâm trạng rắc rối.</p>
<p>Giữa </em>Bài hành bốn mươi<em> với </em>Bài hành trên tuyết<em> tuy chỉ có không tới mười năm, nhưng là mười năm đầy dâu bể. Nên mới có tráng sĩ Việt &#8220;khoác áo lông xù&#8221; bước trên mặt sông đã đông thành đá. Người &#8220;nghênh ngang&#8221; trên băng giống người &#8220;đón tuổi&#8221; ở chỗ cùng đã qua sông. Khác, vì người kia qua rồi yên phận, còn người này qua xong tuy có &#8220;khi bi ai: thân cỏ mọn bên đường&#8221;, có lúc bước &#8220;những bước ngậm ngùi đi chẳng về đâu&#8221;, nhưng rồi lại có &#8220;khi bốc lên: núi lưng trời cũng thấp&#8221;.</p>
<p>Cái phận chưa chịu yên, đôi khi nó còn &#8220;hừ&#8221; thành tiếng trong thơ!</p>
<p></em>(Thu Tứ)<em></p>
<p>(1) Theo </em>Ðại từ điển tiếng Việt<em> của Nguyễn Như Ý, nxb. VH-TT, VN, 1999.<br />
(2) Xem </em>Việt Nam văn học sử giản ước tân biên<em> của Phạm Thế Ngũ.</em></li>
<li>
<strong> Hát ngao trên tuyết</strong></p>
<p>Khoác áo lông xù giả làm tráng sĩ<br />
Lên dòng sông đá bước nghênh ngang<br />
Cây gậy trúc trông sặc mùi vũ khí<br />
Múa tưng bừng vào thinh không giá băng</p>
<p>Khoái thay đời ta một đời quái đản<br />
Hai mươi năm xưa làm thằng nhỏ di cư<br />
Hai mươi năm sau thành nhà thơ di tản<br />
Một đời quê hương khét mùi súng đạn<br />
Một đời xót xa bằng hữu lao tù</p>
<p>Khoái thay chân ta những chân phiêu bạt<br />
Đi dọc quê hương, đi vòng địa cầu<br />
Đi thênh thang thở đồi cao gió mát<br />
Đi ngất ngây thương lúa vàng, hương cau<br />
Đi hội trùng phùng, đi chia tan tác<br />
Đi tràn hạnh phúc, đi ngập thương đau<br />
Đi sỏi đá mềm, bếp hồng trước mặt<br />
Đi bùng bão biển, quê hương phía sau<br />
Những bước thú hoang lạc rừng đất lạ<br />
Những bước ngậm ngùi đi chẳng về đâu</p>
<p>Sông không đầu đuôi sông màu đá cục<br />
Dưới trên lẫn lộn, trời đất mang mang<br />
Ta ngửa cổ làm thằng khùng Bắc Cực<br />
Một mình cười cùng thinh không giá băng</p>
<p>Khoái thay hồn ta một hồn dị thường<br />
Khi bốc lên: núi lưng trời cũng thấp<br />
Khi bi ai: thân cỏ mọn bên đường</p>
<p>Sông dài! Sông dài! Ta đi chẳng hết<br />
Thân trượng phu, hừ, mục trong áo cơm?<br />
Núi cao! Núi cao! Ta về không đến<br />
Chí trượng phu, hừ, chôn trong giá băng?</p>
<p>Tháng 2-78</li>
</ol>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong> </strong></p>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ngo-khong-tac-gia-va-tac-pham-le-tat-dieu/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Không :Tác Giả và Tác Phẩm – Lê Đạt (II)</title>
		<link>https://t-van.net/ngo-khong-tac-gia-va-tac-pham-le-dat-ii/</link>
					<comments>https://t-van.net/ngo-khong-tac-gia-va-tac-pham-le-dat-ii/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 06 Apr 2016 14:49:15 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Tác Giả Tác Phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không]]></category>
		<category><![CDATA[tgtp]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=26432</guid>

					<description><![CDATA[Những phút cuối với Lê Đạt Dương Tường Nhà thơ Lê Đạt (tên thật là Đào Công Đạt) sinh năm 1929, vừa qua đời tại Hà Nội rạng sáng ngày 21.4.2008. Là một trong những trụ cột của Nhân văn-Giai phẩm, tháng 7.1958 ông bị kỉ luật “khai trừ 3 năm, vẫn là hội viên Hội [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2016/04/lê-đạt.jpg" rel="attachment wp-att-26433"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter  wp-image-26433" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2016/04/lê-đạt.jpg" alt="lê đạt" width="249" height="291" /></a></p>
<h3>Những phút cuối với Lê Đạt</h3>
<p><strong>Dương Tường</strong></p>
<p>Nhà thơ Lê Đạt (tên thật là Đào Công Đạt) sinh năm 1929, vừa qua đời tại Hà Nội rạng sáng ngày 21.4.2008. Là một trong những trụ cột của <em>Nhân văn-Giai phẩm</em>, tháng 7.1958 ông bị kỉ luật “khai trừ 3 năm, vẫn là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, quyền xuất bản cũng đình chỉ trong kỳ hạn đó” theo lời ghi của Trần Dần ngày 07.7.1958, và cùng với Trần Dần, Đặng Đình Hưng, Tử Phác và Hoàng Châu Ký, ngày 12.8.1958 ông bắt đầu chuyến đi “thực tế” mà thực chất là lao động cải tạo tại Nông trường Chí Linh, Hải Dương. Hình phạt 3 năm đã kéo dài 30 năm, cho đến năm 1988, khi ông được phục hồi tư cách hội viên Hội Nhà văn và quyền xuất bản. Sau tác phẩm <em>Bài thơ trên ghế đá</em> (1955), gần 4 thập kỉ sau ông đã cho công bố các tác phẩm: <a href="http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=4709&amp;rb=08"><em><u>Bóng chữ</u></em></a><em> </em>(1994), <em>Hèn đại nhân</em>(1994), <a href="http://www.talachu.org/tho.php?bai=32"><em><u>Ngó lời</u></em></a><em> </em>(1997), <em>U75 từ tình</em><em> </em>(2007), và nhiều bài viết trên báo chí trong và ngoài nước. Tháng 2.2007, ông được nhận Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật.</p>
<p>Vĩnh biệt một nhà thơ lớn và một trí thức từng góp phần quan trọng trong sự phát triển của đời sống tinh thần Việt Nam hơn nửa thế kỉ qua, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu một số bài viết về nhà thơ Lê Đạt. Những bài gần đây nhất của Lê Đạt trên talawas:</p>
<ul>
<li><a href="http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=7222&amp;rb=0101">Đường chữ</a></li>
<li><a href="http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=11020&amp;rb=0401">Tôi làm khổ chữ hay chữ làm khổ tôi?</a></li>
</ul>
<p>Đầu dây đằng kia, giọng nữ đứt đoạn, thỉnh thoảng nấc lên: “Cháu Liên, con bố Đạt đây, chú… Bố cháu đang ở khoa hồi sức cấp cứu… Bệnh viện Việt-Đức… Bố cháu ở Tây Nguyên về lúc 8 giờ tối, vẫn bình thường, còn ngồi xem tivi một lúc rồi xuống nhà lấy nước… thế là ngã sấp mặt trên những bậc cuối… Đưa vào đây mê man bất tỉnh… Theo các bác sĩ… nguy cơ tử vong… là lớn&#8230;” Tôi nhìn đồng hồ: 0g45 ngày 21/4. Lục tìm sổ điện thoại. Gọi khẩn cấp cho Việt Phương. Anh ấy nhiều quan hệ trong ngành y, may có thể nhờ giúp huy động tối đa khả năng cấp cứu đặc hiệu nhất. Rồi lao đến Bệnh viện Việt-Đức. Phòng cấp cứu hồi sức. Bạn tôi nằm đó, hôn mê, một chút máu rỉ ra bên khóe miệng.</p>
<p>Tôi nắm tay Đạt, bàn tay hồ như không còn sinh khí. Mấy năm nay, bạn bè <em>đi</em> nhiều quá. Mạc Lân… Vũ Bão… Trần Thư… Cao Nhị… Mai Văn Hiến… Rồi gần đây nữa, Lưu Công Nhân… Hữu Mai… Cao Xuân Hạo… Chẳng lẽ bây giờ lại đến lượt mày, hở Đạt? Tôi có cảm giác như anh khẽ gật đầu. Nhưng tôi chỉ tự lừa mình để tiếp tục cuộc trò chuyện thầm đơn phương… Nhớ không Đạt, nhưng ngày hoạn nạn, chúng mình cơm đùm cơm nắm lăn lê bò toài hết Thư viện Trung ương đến Thư viện Khoa học Xã hội dịch thuê viết mướn?&#8230; Nhớ không Đạt, những ngày bom B.52 Mĩ rải thảm phố phường Hà Nội, chúng mình tìm nhau vào những quãng ngưng, chụm đầu nghe một khúc “Sonate mùa Xuân” của Beethoven hay một chương “Concerto số 2 cho piano” của Rachmaninov trên chiếc máy quay đĩa Nga cà khổ và mày không quên bình luận với cái cười yêu đời không gì dập tắt nổi của mày: “Un havre de bonheur <a href="http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=12944&amp;rb=0101#anm1"><sup>[1]</sup></a> !”…? Thế mà bây giờ…</p>
<p>Hai giờ ba mươi. Người ta mời người nhà các bệnh nhân ra khỏi phòng cấp cứu để các bác sĩ, y tá làm việc. Cả Nhiên, Liên, Uẩn và Thành, các con gái, con trai và con rể của Đạt đều khuyên tôi về nghỉ, hứa có gì sẽ thông báo ngay.</p>
<p>Kịch tác gia Ngọc Thụ, một người em thân thiết của Lê Đạt, đưa tôi về. Bùi Ngọc Tấn vẫn để đèn chờ tôi (anh ở Hải Phòng lên dự Đại hội Toàn quốc họ Bùi, nghỉ lại chỗ tôi như mọi lần). Cả hai chúng tôi đều không ngủ được. Cũng chẳng nói gì với nhau. Tôi trở dậy, đặt chiếc đĩa “Triple Concerto” của Beethoven. Tôi vẫn thường bảo Đạt: “Mình chỉ ước sao khi nào chết sẽ ra đi trong tiếng nhạc này.” Lúc đó là ba giờ mười lăm, thời điểm Đạt ra đi, như mấy tiếng sau Uẩn gọi điện báo cho tôi biết.</p>
<p>© 2008 talawas</p>
<h3>Cấu trúc cách ly trong <em>Ngó Lời</em> của Lê Ðạt</h3>
<p><strong>Thụy Khuê</strong></p>
<p>Ở Sénégal, với mẩu gỗ mun, người ta có thể tạo ra trăm nghìn hình tượng nghệ thuật. Trong tranh thủy mạc, chỉ với vài nét, họa sĩ có thể phác cả vũ trụ càn khôn. Dường như đó là những bí quyết tiết kiệm của <em>nghệ thuật nhà nghèo</em> và là bửu bối của những ai đã từng chán ngấy xài sang: Xài sang chất liệu, xài sang thời gian, xài sang chữ nghĩa&#8230; Thơ Ðường, với những chữ tầm thường, số chữ giới hạn mà có thể tạo sinh những biến ảo vô hạn giữa cảnh và tình.<br />
Lê Ðạt tìm đến <em>nghệ thuật nghèo</em> -art pauvre- như một phương tiện <em>ngó lời</em>:</p>
<p>Vườn nắng mắt gió bay mùa hoa cải<br />
Bóng lá răm ngày Phả Lại đắng cay<br />
(Phả Lại, Ngó Lời, trang 18)</p>
<p>Hai câu tám chữ, tổng cộng 16 chữ. Trong 16 chữ này không có chữ nào bóng bẩy, mạ kền, không có chữ sang, chữ diện, toàn những chữ tầm thường mà ta có thể bắt gặp ở bất cứ ngõ ngách nghèo nàn nào trong chợ chữ. Nhưng nếu thử vài động tác chuyển hoán vị trí của chúng trong hai câu:</p>
<p><em>Vườn nắng mắt gió bay mùa hoa cải</em><br />
<em>  Bóng lá răm ngày Phả Lại đắng cay</em></p>
<p>thành:</p>
<p><em>Vườn lá răm gió bay mùa hoa cải</em><br />
<em>  Bóng ngày phả lại nắng mắt đắng cay</em></p>
<p>hay:</p>
<p><em>Bóng nắng mắt răm gió ngày phả lại</em><br />
<em>  Vườn lá bay mùa hoa cải đắng cay</em></p>
<p><em>  Vườn mắt bay mùa hoa ngày phả lại</em><br />
<em>  Nắng bóng răm gió lá cải đắng cay</em></p>
<p><em>  Mắt ngày đắng cay bay mùa hoa cải</em><br />
<em>  Phả lại vườn răm bóng lá gió bay</em></p>
<p><em>  Ðắng cay hoa cải nắng gió Phả Lại</em><br />
<em>  Vườn răm mùa lá ngày bóng mắt bay</em></p>
<p><em>  Ðắng cay lá răm nắng ngày phả lại</em><br />
<em>  Vườn mùa hoa gió bóng cải mắt bay</em></p>
<p><em>  Ðắng cải cay hoa mắt ngày mùa nắng</em><br />
<em>  Lá vườn phả bóng gió lại răm bay</em><br />
<em>  v. v&#8230;</em></p>
<p>Tính theo toán học 16 chữ này có thể hoán vị giai thừa (factoriel) 16 thành một tổng số khổng lồ những câu thơ khác nhau(1). Khi ấy sự biến hình của 16 chữ có thể trở thành vô tận và như thế hai câu thơ <em>phả lại</em> trên đây cho ta cái cảm tưởng không chỉ ngắm một <em>vườn cải, vườn răm trong ngày nắng Phả Lại</em>, mà dường như ta đứng trước một không gian ảo: thiên nhiên mang tâm cảm và thị giác con người đang phân thân làm nhiều mảnh, rồi tự xếp lại thành những cảnh khác, những tình huống khác, cứ như thế, như thế&#8230; Từng mảnh cảnh và tình tự do tung bay như tranh Chagall dưới sự hướng dẫn của một nhà ảo thuật vô hình: Tụ hợp, ly tan không ngừng trong <em>khoảnh khắc</em> không gian và thời gian lạc mất và tìm lại trong nhau.</p>
<p><em>Ðó là sự cách tân mới nhất trong phép tạo hình thơ Lê Ðạt.<br />
</em></p>
<p>***</p>
<p>Dưới dạng tung bay nhẹ nhàng như đùa nghịch, chơi chữ, thơ <strong>haikâu</strong> của Lê Ðạt mang một quá trình tìm tòi sâu xa và cá biệt, một sự bắc cầu giữa xưa và nay, trong cấu trúc hình thức và triết lý thi ca. Lê Ðạt đã vượt qua những trở lực của dấu trong tiếng Việt, của trật tự chữ trong câu (dấu có nhiệm vụ phối âm và nhạc tính trong câu phụ thuộc vào trật tự chữ). Ông đã <em>phá câu, xé chữ</em> để sáng tạo một<em>lối nói mới </em>một <em>cách ngó lời</em> , trong <em>cấu trúc cách ly tạo sinh</em> toàn diện.</p>
<p>Nếu ở <em>Bóng Chữ</em>, đã có những biến ảo chữ (mỗi chữ giấu những bóng mình) trong cách trượt âm, trượt nghĩa. Nếu ở <em>Bóng Chữ</em> đã xuất hiện <em>cấu trúc sóng ngang</em> (tức là một câu thơ có thể biến đổi tùy theo những cách ngắt câu khác nhau). Thì ở Ngó Lời, ngoài biến tấu bóng chữ, biến tấu <em>sóng ngang</em>, các sóng chéo, xiên, trên, dưới, ngang, dọc, đều có thể giao nhau. Sự hoán vị trở nên bất kỳ khiến tính cách tạo sinh mở ra toàn diện: Với số chữ giới hạn (16) nhưng âm, ảnh và ý có thể biến đổi gần như đến vô cùng. Cho nên, những câu thơ như:</p>
<p><em>Trang thiên thanh ấp xanh mùa cốm tiếc</em><br />
<em>  Thư ủ tình thu ép biếc hơi hương</em><br />
(Thư xưa, trang 49)</p>
<p>không chỉ có một kiếp sống, mà chúng có thể có những kiếp sống khác, tùy theo sức tạo sinh của người đọc:</p>
<p><em>Trang thư ủ tình thu mùa cốm biếc</em><br />
<em>  Ấp thiên thanh xanh ép tiếc hơi hương</em></p>
<p><em>  Biếc trang tình ép thu xanh mùa cốm</em><br />
<em>  Tiếc hơi hương ủ ấp thu thiên thanh</em><br />
&#8230;</p>
<p>Lê Ðạt gọi thơ ông là <em>haikâu</em>, có lẽ để phân biệt với <em>hai câu</em> hiểu theo nghĩa thông thường, vì ẩn sau mỗi <em>haikâu</em>, còn có những<em> </em><em>hai câu</em> thơ khác chưa khám phá. <em>Ngó Lờ</em>i ẩn cả <em>bóng chữ</em> lẫn <em>bóng câu</em>.</p>
<p>Trong văn học hiện đại, người ta thường đề cao vai trò của người đọc như một đối tác văn học trực diện với tác phẩm. Nhưng thực ra không phải tác phẩm nào cũng cho người đọc cái quyền liên danh với tác giả. Với những câu thơ cổ điển như:</p>
<p><em>Buồn trông cửa bể chiều hôm</em><br />
<em>  Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa</em><br />
(Nguyễn Du)</p>
<p>hoặc hiện đại như:</p>
<p><em>Vậy sao em lại ngủ</em><br />
<em>  ngủ trong lòng mộ trong nghĩa địa thân thể anh</em><br />
<em>  với áo cỏ may châm da thịt</em><br />
(Thanh Tâm Tuyền)</p>
<p>thì người đọc chỉ có thể nghiêng mình, tiếp nhận cảnh tình, mà không thể tiếp tục tạo sinh ra những câu thơ mới, như với:</p>
<p><em>Thê Húc dáng cong bước chiều ký ức</em><br />
<em>  Trang mây bay Bút Tháp mực xanh ngày</em><br />
(Hồ chiều, trang 96)</p>
<p><em>Ký ức chiều ngày bước cong Thê Húc</em><br />
<em>  Mực xanh bay bóng Tháp Bút trang mây</em></p>
<p><em>Thê Húc mây bay bước chiều ký ức</em><br />
<em>  Bút Tháp cong trang dáng mực xanh ngày</em></p>
<p>&#8230;&#8230;<br />
Thơ <em>haikâu</em> của Lê Ðạt không phát sinh từ <em>haiku</em> của Nhật Bản mà gần gụi với tinh thần phá câu của Mallarmé và tính chất độc lập chữ trong thơ chữ Hán. Trước khi là một dấu hiệu chỉ định sự vật, chữ Hán đã mô tả sự vật bằng đường nét: Mỗi chữ là một đồ hình. Bản thân chữ Hán là những bức hoạt họa phối âm, có khả năng tự túc, độc lập với những chữ khác. Ví dụ câu thơ <em>Thiên địa phong trần</em> của Ðặng Trần Côn, tức <em>Trời &#8211; đất &#8211; gió &#8211; bụi l</em>à 4 chữ độc lập. Ðây không phải là <em>một câu thơ</em> (hiểu theo nghĩa cổ điển: Câu có chủ từ, động từ, tĩnh từ) mà là <em>nhiều câu thơ </em>vì ta có thể đảo lộn trật tự 4 chữ : <em>Ðất gió bụi trời</em>, <em>trời bụi gió đất.</em>.. không hề gì. Nhưng khi Phan Huy Ích chuyển sang tiếng Việt thành <em>Thuở trời đất nổi cơn gió bụi </em>thì chỉ còn có một câu thơ hay và chỉ một mà thôi: câu thơ Việt không thể đảo lộn trật tự như câu thơ chữ Hán (không riêng gì Phan Huy Ích, mà hầu như bất cứ ai dịch thơ Ðường, dù là dịch hay, cũng làm mất tính cách <em>độc lập chữ</em>  trong câu thơ chữ Hán).</p>
<p>Lê Ðạt dường như có ý muốn phá vỡ trật tự này. Ông<em> </em><em>phá câu</em> tiếng Việt, ông<em>cởi trói</em> thơ ông khỏi hình thức <em>câu</em>, để đi đến <em>câu bất định</em>: Một cấu trúc cách ly toàn diện.</p>
<p><em>Ðương nắng đường rùng lạnh</em> cũng có thể là: <em>Ðường nắng đương rùng lạnh</em>hay <em>Rùng lạnh đường đương nắng,</em> vv&#8230; Với thủ pháp này, nhà thơ <em>độc lập và dân chủ hóa mỗi chữ</em>; nói khác đi ông tháo chữ ra khỏi phép đặt câu theo văn phạm cổ điển (mỗi chữ có một chức vụ cố định trong câu). Ông đưa chữ ra khỏi lãnh vực quan liêu để đạt tới sự bình đẳng bình quyền: Mỗi chữ đều đắt giá như nhau, đều tự do đi lại trong <em>kâu</em>. Có thể đó là một hình thức thực hiện dân chủ và nhân quyền trong trận đồ chữ nghĩa của Lê Ðạt. Chữ trở thành một sinh thể tự do hành động và di động. Ở mỗi vị trí khác nhau, chúng tạo nên những môi trường khác, những tình huống khác. <em>Chữ là hóa thân của con người</em>. Mỹ học bỗng mang đậm một tính đạo đức học sâu nặng.<br />
***</p>
<p>Có thể xem thơ Lê Ðạt như những bức họa mang đường nét &#8220;thiên di&#8221;, chuyển từ hữu hình sang vô thể, từ vô thể trở lại hữu hình. Chuyển từ phong cảnh sang tình cảnh, từ vật chất sang con người trong luân hồi giữa mơ và thực, phối hợp<em>không gian, thời gian</em> và <em>khoảnh khắc</em>:</p>
<p><em>Tháp Gô tích núm đồi trưa thở nắng</em><br />
<em>  Chuông ngân chim thân trắng bướm cựa mình</em><br />
<em>  Lửa gạo thắp hoa đèn soi cỏ lạ</em><br />
<em>  Mây Sơn Tinh nước cả ngã ba tình</em><br />
(Trung du, trang 25)</p>
<p>Ðây là phong cảnh trung du trải dài trong không gian và thời gian? Ðây là trận bão tình Sơn Tinh &#8211; Thủy Tinh trong một thời cổ tích? Hay đây là khoảnh khắc khỏa thân hiện hình của người kiều nữ trong những truyền thuyết muôn đời? Tính chất di động từ thực tại hữu hình chuyển sang ảo ảnh, từ tâm cảnh sang tâm linh, sang những chuyển biến vô hình, siêu hình, phải chăng là cuộc hành trình trong vô thức, giữa mơ và thực, giữa thức và tỉnh, mà có lần Lê Ðạt gọi là<em> </em><em>hội chứng từ thức</em>:</p>
<p><em>Khuya mõ đoạn tình, kinh thoát tục</em><br />
<em>  Thơ trang ngân tâm từ thức lụy trần</em></p>
<p>Ai gõ mõ, ai đoạn tình, ai đọc kinh, ai thoát tục? Ai làm thơ, ai từ thức, ai lụy trần? Ai thanh, ai tục? Ai tỉnh, ai mơ?&#8230;<br />
***</p>
<p>Chênh vênh giữa nhiều biên địa, <em>Ngó Lời</em> là sự hiện diện và gặp gỡ của những vắng mặt: Cổ thi, Ðường thi, ca dao, Nguyễn Du, Mallarmé, Desnos, quá khứ, kỷ niệm, ước hẹn, bội thề&#8230; trong một ngôn ngữ tình đã được giải phóng:</p>
<p><em>Tàu đắm hẹn bội thề lênh láng biển</em><br />
<em>  Trắng tinh bờ mộng thải nhiễm ô mơ</em><br />
(Ô nhiễm, trang 139)</p>
<p>Từ một ngoại cảnh thời sự: tàu đắm, ô nhiễm biển của thời nay, <em>Haikâu</em> như vết dầu loang dần trên mặt sóng, chuyển sang tâm cảnh của những hẹn biển thề non, của những giấc mơ ô nhiễm, của những <em>tinh mộng láng lênh,</em> của những bội ước bội thề&#8230;<br />
Hay từ một huyền thoại thời danh:</p>
<p><em>Tóc phong lan cổ bạch đàn tích sóng</em><br />
<em>  Mắt thoại huyền sông chén ngấn hò khoan</em><br />
(Thoại huyền, trang 37)</p>
<p>Người đẹp trong tranh ngập ngừng bước ra, bỗng vỡ tan như mảnh gương bội ước; như những con chữ bội tình vừa hội tụ nên hình hài nàng trong giây lát đã vội chia tay để đi tìm những thoại huyền chưa biết, những tích cổ chưa hay của những<em>lan phong tóc</em>, những <em>thoại bạch đàn</em>, những <em>sông sóng mắt</em>, những<em> </em><em>mắt hò khoan</em>, những<em> </em><em>cổ ngấn đàn</em>&#8230;<br />
Từ hận vạn cổ, trăng Khuất Nguyên xưa, thoát thai:</p>
<p><em>Bóng cá dạ trăng buồn quẫy nước</em><br />
<em>  Dằng dặc tình tăm chữ giải oan</em><br />
(Khuất Nguyên, trang 80)</p>
<p>Hay câu thơ Ðỗ Phủ, biến thành:</p>
<p><em>Ðôi bóng câu huyền cong biếc liễu</em><br />
<em>  Một hàng cười trắng thẳng thanh thiên</em><br />
(Xuân Ðỗ Phủ, trang 83)</p>
<p>Nhà thơ hẳn đã nắm bắt được cái <em>&#8220;khoảnh khắc&#8221; bây giờ </em>và <em>ở đây</em>, cho nên ông tạo điều kiện gặp gỡ giữa xưa và nay, để những <em>bóng cá, dạ trăng</em> oan khuất năm xưa, có dịp giải oan cho những hận tình chưa ngó, để những <em>hàng cười trắng</em>bây giờ có thể thăng thiên lên bầu trời xanh xưa sau.<br />
***</p>
<p>Tính cách trữ tình và lãng mạn không lộ mà như đã nhỏ  thành mật tố, ngấm vào chữ rồi sao lên, khiến các con chữ ráo hoảnh, chúng như chưa hề đẫm lệ bao giờ. Có vẻ hờ hững, thản nhiên, vô tình, nhưng thực ra chúng đã nhiễm tình từ tâm, lụy tình từ kiếp trước, đã đam mê hơn một lần đời và đã vượt khỏi nhục cảm đời thường để đi vào xác thân ái ân đời chữ, khiến mỗi kết hợp hôm nay đều phát ra một tình trường, một từ trường, tĩnh lặng mà vô cùng đau thương và dậy sóng:</p>
<p><em>Người đẹp lẩn khe hai hàng chữ tối</em><br />
<em>  Thủ thư mù lần lẻ một lối mê.</em><br />
(Borges, trang 84)</p>
<p>Hành động thơ trong Ngó Lời chủ yếu là một hành trình vào tình vừa cách ly, vừa hội tụ. Người thơ nhờ cậy vô thức phát lộ những <em>khoảnh khắc</em> khác nhau của một đời tình, của nhiều đời tình, của một nền văn hóa, của nhiều nền văn hóa, những ngọn lửa đam mê,&#8230; và cắt ra những hình tượng, những mảnh puzzle ghép lại thành thơ trong một công nghệ sinh học chữ đặc biệt. Nhưng mỗi yếu tố vẫn còn mang trong mình những vết thương quá khứ, chưa hết lụy tình mà đã hồi sinh, chúng đem vào đời mới những niềm đau cũ:</p>
<p><em>Tim lặng lạnh gốc bồ đề mưa cũ</em><br />
<em>  Chim gõ mõ kiếp xưa chưa hết rũ lụy tình</em><br />
(Chim gõ mõ, trang 48)</p>
<p>***</p>
<p>Chúng ta sinh ra trong cô đơn, gián đoạn và chết đi trong gián đoạn, cô đơn. Mỗi cố gắng &#8220;giao lưu&#8221; với kẻ khác dường như chỉ là ảo tưởng. Ở chóp đỉnh của hạnh phúc, hai cá thể cũng không biết những gì đang xảy ra trong nhau, bởi đau không thể chia, sướng không thể sẻ, bởi không có cầu &#8220;thông thương&#8221; trực tiếp và liên tục giữa con người.<br />
Những bắt gặp cảm thông, nếu có, chỉ là những<em> </em><em>tíc tắc tức thời</em>, những lóe chớp <em>ngộ tình</em>, như những tia lửa sáng tạo sinh rồi tắt. Bachelard có lần đề nghị:<em>Nếu chúng ta thử nhìn lại tư tưởng của mình, sẽ thấy chúng không ngừng bị xóa theo mỗi khoảnh khắc trôi đi.</em><br />
***</p>
<p>Mỗi khoảnh khắc ra đi mang theo những mẩu sinh mệnh tư tưởng chưa kịp thành hình mà đã tàn lụi. Nhưng thời gian cũng chỉ là một chuỗi dài những khoảnh khắc chết yểu. Thời gian vừa là nghĩa trang, vừa là cái nôi của những tích tắc tức thời. Thời gian mang tính chất đứt đoạn của cuộc đời, và mỗi khoảnh khắc là một cô đơn, chia biệt, giam cõi âm trong lòng, bởi còn đang sống nó đã chết. Khoảnh khắc tựa như định mệnh của con người: Sống để tiến về cái chết, và nó cũng gắn liền với trực giác sáng tạo, cũng lóe lên rồi cũng tắt lụi, nếu con người không kịp thời ghi lại bằng <em>chữ. Chữ</em> chính là thịt xương của những sinh mệnh tư tưởng lóe lên trong <em>khoảnh khắc</em>.</p>
<p>Chữ chính là chứng từ của những mẩu tư tưởng đã qua đời :<em>&#8220;Heo may từ xao xác nghĩa trang già&#8221;</em> (trang 80). Chữ cũng mang định mệnh gián đoạn và cô đơn của khoảnh khắc, của đời người, nhưng chữ sống sót, chữ không bị thời gian xóa đi như xác thân hay khoảnh khắc</p>
<p><em>Trăng liêu trai hoa cửa trang không ngủ</em><br />
<em>  Tự vị ma về chữ dụ mộng du</em><br />
(Chữ khuya, trang 85)</p>
<p>Chữ là thuật cho phép người sống sống với người chết, cho chúng ta hôm nay sống với Nguyễn Du, Lý Bạch, Tản Ðà hôm qua, trong những khoảnh khắc đang trôi, kéo theo những chia ly cách biệt.<br />
Lê Ðạt gắn bó sâu xa với ý niệm thời gian, khoảnh khắc, với tình yêu, sự sống và sự chết, hẳn không khỏi nghiệm suy về những mất mát trong phút giây đang sống.<br />
Hành động cách ly và tạo sinh con chữ, đem nó ra khỏi từ trường liên tục của những câu thơ có văn phạm, phải chăng, ở đây không chỉ là sự cách tân hình thức ngôn ngữ thơ, mà còn là sự thực hiện tự do và cũng là một cách tìm mình, tìm đến tận nguồn của những cô đơn gián đoạn trong sự sống; tìm cách hồi sinh những phút giây sáng tạo hiếm hoi trong đời để kết thành một xâu chữ -tình- thoát khỏi sự hủy diệt của thời gian? Nhà thơ vĩnh viễn là một kẻ<em> </em><em>lang thanh trang lần quê chữ tìm mình</em> (trang 122). Họa hằn cũng có lần nhà thơ du cư kia may kỳ ngộ một khoảnh khắc vĩnh cửu.<br />
***</p>
<p>Nặng nợ với chữ, với tình, vỡi chữ tình và tình chữ, thơ Lê Ðạt gánh những kiếp tình, nổi, chìm, lỡ, mòn, thề, bồi, lầm, lỗi&#8230; trong mỗi hóa thân chữ.</p>
<p><em>Ðất lở đá mòn một hai chìm nổi</em><br />
<em>  Thề bồi lời cát lỗi phải lầm sông</em><br />
(Thề bồi, trang 125)</p>
<p>Lửa <em>Ngó Lờ</em>i thầm thì trong <em>bóng câu bóng chữ</em>, rủ người đọc mộng du trong cõi có có không không, kết hợp không gian thời gian trong những sát na hò hẹn, chia ly, bùng lên rồi tắt lịm, khâm liệm một vũ trụ nhớ thương, đắm say, cô đơn, gián đoạn, phân kỳ, mà hồn chữ thể hiện và hồi sinh những chứng tích của sự sống tưởng đã chết trong con người.<br />
Thơ Lê Ðạt tỉnh táo mà đam mê, xót xa và hy vọng; dường như bình thản, vô tâm, nhưng đến được chỗ vô tâm có đâu là dễ? Chẳng đã trải bao hành hương trắng mộng?</p>
<p><em>Ai đốt rừng cho gỗ tiêu tâm</em> (trang 60)</p>
<p>Cảm ơn <em>chữ</em> đã không phụ nhà thơ và nhà thơ đa mang đã trả lại cho tim ta những kỷ liệm vùi nông chân lộ úa tình (trang 164) trong một thoáng ngộ yêu:</p>
<p><em>Một huệ tình ơn chữ ngộ thừa yêu</em> (trang 176).</p>
<p><strong><em> Yên Cơ, Giáng Sinh 1997</em></strong></p>
<p><strong>Chú thích </strong></p>
<p><em>1 hoán vị g(i)ai thừa 16! = 1x2x3x &#8230; x16 = 20.922.789.000, gần 21 tỷ.</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<h3>Tôi làm khổ chữ hay chữ làm khổ tôi?</h3>
<p><strong>Nguyễn Đức Tùng</strong> <em>thực hiện</em></p>
<p><em>Người đầu tiên mà chúng tôi đến thăm trong dịp ghé Hà Nội tháng 4. 2007, là nhà thơ Lê Đạt. Chúng tôi gồm có Nguyễn Trọng Tạo, Du Tử Lê, Nguyễn Đức Tùng và một số bạn bè văn nghệ, đến nhà riêng của ông. Lê Đạt vừa dọn đến ở chung với người con trai được một năm, trong một khu phố yên tĩnh, hơi khó tìm đường. Trời Hà Nội sáng sớm mây mù, gió lao xao, mát mẻ dễ chịu. Đường nào cũng có nhiều cây xanh, nhưng không nghe tiếng chim hót. Trước ngõ nhà ông có vài gánh hàng rong, làm tôi nhớ đến Hà Nội ba mươi sáu phố phường của Thạch Lam. Lê Đạt tiếp chúng tôi trên căn gác nhỏ, nụ cười vui, dáng điệu nhanh, hỏi và trả lời dứt khoát. Trong câu chuyện, thỉnh thoảng ông phá lên cười. Trên vách tường sau lưng chỗ ông ngồi, có treo hai tấm hình. Một là tấm poster lớn đem về từ Ngày hội Thơ Việt Nam 15 tháng giêng âm lịch, tổ chức ở Văn Miếu Hà Nội, chụp chân dung của ông, phía sau là nền hoa</em> <em>mimosa vàng. Poster được chuẩn bị bởi nhà thơ trẻ Hữu Việt. Bên cạnh là giấy chứng nhận Giải thưởng Nhà nước 2007.</em></p>
<p><strong> Nguyễn Đức Tùng:</strong> Thưa anh Lê Đạt, xin chúc mừng anh vẫn còn giữ được sức khỏe và sự minh mẫn để làm việc. Người yêu thơ anh, theo dõi báo chí, chắc chắn sẽ vui khi biết rằng anh vẫn làm thơ và vẫn dành rất nhiều sự quan tâm đối với thơ ca Việt Nam.</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Rất mừng được gặp các anh từ nước ngoài về và ở trong Nam ra. Chúng ta có dịp gặp nhau như thế này là quý lắm. Tôi vẫn còn viết được nhưng không còn viết được nhiều như trước.</p>
<p><strong>Một thân hữu văn nghệ:</strong> Anh có thường tập thể dục không?</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Mỗi ngày tôi đều đi bộ hai tiếng đồng hồ bờ Hồ Tây. Khi lạnh thì mặc thêm áo ấm.</p>
<p><strong>Du Tử Lê:</strong> Anh còn hút thuốc lá không?</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Không, tôi đã bỏ thuốc từ lâu. Nay thì bỏ hết. Trước đây tôi cũng hút ghê lắm</p>
<p><strong>Nguyễn Trọng Tạo:</strong> Đọc các bài viết trước đây, các ông ấy thường cho là các anh thuộc loại sống truỵ lạc <em>(cười)</em>.</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> <em>(cũng cười)</em> Những việc ấy thì nhiều.</p>
<p><strong>Nguyễn Đức Tùng:</strong> Trên <a href="http://www.talawas.org/talaDB/gallery.php?pc=ldat&amp;pg=1">poster nhân Ngày hội Thơ ở Hà Nội</a> vừa qua, treo ở tường sau lưng anh, có “lời khuyên” của nhà thơ Lê Đạt “Gửi người làm thơ trẻ” như sau: “<em>Các nhà thơ trẻ để tránh khỏi nhạt nhẽo sáo mòn tuyệt đối không nên đến cửa hàng đặc sản gọi cho mình một món bi kịch</em>.” Tôi rất chú ý đến lời khuyên này. Anh cho rằng tuổi trẻ ngày nay không có bi kịch của riêng họ? Họ đến các cửa hàng đặc sản hơi nhiều phải chăng?</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Tôi không thích từ “lời khuyên” lắm. Nghe nó đạo mạo quá. Ta thống nhất với nhau là đó chỉ là một từ dùng tạm nhé. Mỗi thế hệ đều có bi kịch riêng của mình. Vấn đề là anh có nhận ra cái bi kịch ấy không và có sống với nó hay không. Các nhà thơ trẻ ngày nay cần sống nhiều hơn cái không khí của thời đại mình như những người làm chứng và như những tác nhân. Ai cũng biết rằng trong thơ cái giả không sống lâu.</p>
<p><strong>Nguyễn Đức Tùng:</strong> Anh cũng nói: “<em>Nên học thêm một, hai ngoại ngữ để có thể đọc được nguyên bản vì đọc thơ dịch là một việc vạn bất đắc dĩ</em>”. Thưa anh, tác động của thơ nước ngoài đến thơ Lê Đạt như thế nào? Nói rộng ra, ảnh hưởng của thơ thế giới đối với thơ Việt Nam ra sao? Tôi hình dung rằng đây là một câu hỏi rất lớn.</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Đúng là một vấn đề rất lớn. Thế hệ của tôi thường biết tiếng Pháp. Cũng có nhiều người đọc được cả tiếng Nga hay tiếng Anh, có người cũng đọc được chữ Hán. Ảnh hưởng là rất lớn, mình biết được người ta đã làm gì và đang làm gì. Học nhiều thứ. Học ở các bậc thầy cả về kĩ thuật làm thơ.</p>
<p><strong>Nguyễn Đức Tùng:</strong> Nhờ các dịch giả mà người Việt Nam được đọc các tác phẩm lớn hoặc hay của thế giới, hãy lấy một vài ví dụ như <em>Sử ký Tư Mã Thiên</em> (Nhữ Thành), <em>Chiến tranh và hoà bình</em>(Nguyễn Hiến Lê), <em>Doctor Zhivago</em> (Nguyễn Hữu Hiệu), <em>Đèn không hắt bóng</em> (Cao Xuân Hạo), <em>Thơ Tagore</em> (Đỗ Khánh Hoan), <em>Bông hồng vàng</em> (Vũ Thư Hiên) v.v… Như vậy việc dịch thơ chẳng lẽ không đóng góp được nhiều vào việc thưởng thức và sáng tạo thơ ca hay sao?</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Thơ khác với tiểu thuyết. Thơ rất khó dịch. Người nào đã đọc được trong nguyên bản rồi thì không thể chịu được bản dịch của thơ. Độc giả bình thường thì có thể đọc thơ dịch, vả lại cũng chẳng có cách nào khác, nhưng anh là người làm thơ thì anh nên cố đọc trong nguyên bản ít nhất một ngoại ngữ.</p>
<p><strong>Nguyễn Đức Tùng:</strong> Anh cũng tâm sự tiếp với các nhà thơ trẻ như sau (cùng trên tấm poster): “<em>Các nhà thơ trẻ còn quá quen với cách làm thơ ngẫu hứng. Ai cũng biết cảm hứng là cần nhưng cảm hứng chỉ là khởi đầu, sau đó là mồ hôi và sự vật lộn với từng con chữ</em>”. Có người đọc thơ Lê Đạt lại tin rằng thơ anh đầy sự ngẫu hứng đối với ngôn ngữ.</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Điều đó không sai. Nhưng muốn tạo được cái ấn tượng thơ mình là đầy ngẫu hứng, thì mình phải lao động cật lực.</p>
<p><strong>Nguyễn Đức Tùng:</strong> Nhưng cũng có người khác lại cho rằng trong tập <a href="http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=4709&amp;rb=08"><em><u>Bóng chữ</u></em></a>, và những bài thơ sau đó nữa, các con chữ bị vật lộn quá nhiều.</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Những ý kiến khác nhau như thế càng chứng tỏ thơ của mỗi người chứa những yếu tố sáng tạo khác nhau. Tôi cũng biết đến những ý kiến chỉ trích rằng Lê Đạt là người làm khổ chữ. <em>Tôi làm khổ chữ hay chữ làm khổ tôi?</em> Việc đó còn hạ hồi phân giải. Thì tôi đã tự nhận là phu chữ kia mà.</p>
<p><strong>Nguyễn Đức Tùng:</strong> Trên tập thơ <em>Mimôza</em> gần đây nhất, đăng ở <em>Hợp Lưu</em> số tháng 6&amp;7 / 2006, anh có giải thích một đoạn rất hay về chữ mimôza. Một kỷ niệm gần như là tình yêu có thật trong đời.</p>
<p><em>Nắng tạnh heo mày hoa lạnh</em><br />
<em>Mimôza chiều khép cánh mi môi xa</em></p>
<p>Tôi rất thích hai câu này, so với nhiều câu khác của Lê Đạt, và cho nó là tiêu biểu cho trường phái thơ ngôn ngữ ở Việt Nam mà đại diện là Trần Dần, Lê Đạt, Dương Tường, Đặng Đình Hưng.</p>
<p>Từ những năm 1960 và nhất là 1970, ở Mĩ cũng có trường phái thơ ngôn ngữ, có người gọi là L-A-N-G-U-A-G-E. Các anh có ảnh hưởng nào của các nhà thơ Mĩ không hay hoàn toàn là một sự tình cờ?</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Là sự tình cờ.</p>
<p><strong>Nguyễn Đức Tùng:</strong> Theo dõi các bài viết của anh trên <em>Hợp Lưu</em>, talawas, và những tờ báo khác thì thấy anh là một trong những người rất hiếm không những làm thơ mà còn chịu khó trình bày, diễn giải để giúp người đọc hiểu rõ hơn về thơ. Trong tập <em>Bóng chữ</em>, trước bài “Ông phó cả ngựa&#8221;, anh có một đoạn mở đầu rất quan trọng.</p>
<p><em>Bậc phó cả</em><br />
<em>dễ ít nhiều</em><br />
<em>Tạo hoá</em><br />
<em>Cùng cánh thợ</em><br />
<strong>Lê Đạt:</strong> Cám ơn anh đã nhắc đến đoạn này. Tôi vẫn tin rằng ngày nay cái đọc cần phải khác ngày trước, và người đọc cần tham dự vào quá trình sáng tạo của nhà thơ. Anh ta là đồng tác giả. Con ngựa của ông phó cả ngựa cũng là những con chữ sinh sôi bất tận.</p>
<p><strong>Nguyễn Đức Tùng:</strong> Tập thơ <em>Bóng chữ</em> của anh lúc ra đời đã gây ra nhiều tranh luận sôi nổi. Sau nhiều năm im lặng từ thời kỳ <em>Nhân văn-Giai phẩm</em>, nhà thơ Lê Đạt trở lại với người đọc. Có thể hiểu rằng sự mong đợi của mọi người lúc đó đối với anh là rất lớn, nhưng họ không chờ đợi anh viết một loại thơ lạ như thế, khác hẳn thời kỳ NVGP. Hiện nay tình hình chắc đã khá hơn, và người ta không còn chỉ trích thơ Lê Đạt nữa?</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Tình hình có khá hơn, nhưng vẫn còn nhiều người không hiểu hoặc không thích thơ Lê Đạt. Theo tôi đó là điều bình thường vì nhà thơ ít nhiều cách tân nào cũng kéo theo họ những người ủng hộ nồng nhiệt và những người chống đối. Tôi có nhớ Matisse đã phát biểu đại ý như sau: “<em>Ba mươi năm nay người ta không chửi bới tôi nữa, kể cũng hơi buồn</em>.”</p>
<p><strong>Du Tử Lê:</strong> Các anh em vừa gặp nhau ở Sài Gòn xong lại kéo nhau ra Hà Nội để thăm anh và bạn bè khác. Những người viết ở nước ngoài thuộc thế trẻ hơn, như anh Nguyễn Đức Tùng, rất chịu khó đọc và gặp gỡ. Tôi cho rằng phải đọc nhiều, gặp nhiều thì mới hiểu nhau được.</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Chúng ta ngồi hết vào đây, sát vào nhau để dễ nói chuyện. Và để đoàn kết. Các ông ấy buồn cười, lúc nào cũng bảo mình nói sai chính sách. Mình nói hơi bị đúng. Mình lúc nào cũng đoàn kết. Tôi còn nói đùa rằng các anh ở ngoài ấy khi về gặp tôi nếu có mắng mỏ gì thì mắng mỏ đi, chứ đừng để bụng, dễ đau bao tử. Văn nghệ thì đối với nhau cứ phải cởi mở, vui vẻ, có gì thì nói thật hết. Chứ văn nghệ mà đối với nhau lại còn tệ hơn chính trị thì không vui. Văn nghệ phải vui hơn chính trị. Không có nghĩa là kém sâu sắc đâu nhé.</p>
<p><strong>Nguyễn Trọng Tạo:</strong> Anh Nguyễn Đức Tùng từ Canada về, và anh Du Tử Lê từ Mĩ.</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Anh Du Tử Lê cho mình gởi lời hỏi thăm bạn bè ở Mĩ. Tùng chuyển lời hỏi thăm đến Nam Dao giúp mình nhé. Nguyễn Trọng Tạo có đưa cho mình đọc <a href="http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=9015&amp;rb=0402">bài phỏng vấn về thơ mới đây trên talawas của Nguyễn Đức Tùng và Nam Dao</a>. Tốt lắm.</p>
<p>Đây là tấm poster trong Ngày Thơ Việt Nam, có trích những câu viết của mình. <em>(Nói đùa, cười)</em> Văn thật của mình chứ không phải là đạo văn đâu nhé. Cái cô Phan Huyền Thư khi không lại dính vào chuyện này. Nó lỡ làm như thế thì thôi đi, một số các anh lại gay gắt quá. Mình năm nay đã cổ lai hi rồi, nên thấy cái gì cũng thích nhẹ nhàng.</p>
<p><strong>Du Tử Lê:</strong> Thưa anh, trong đợt phát Giải thưởng Nhà nước vừa rồi, có anh, anh Hoàng Cầm, và Phùng Quán phải không?</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Có cả Trần Dần nữa. Tất cả là bốn người trong nhóm <em>Nhân văn-Giai phẩm</em>.</p>
<p><strong>Nguyễn Đức Tùng:</strong> Xin phép anh được chụp tấm hình cái poster Ngày hội Thơ của anh, trong đó có lời khuyên các nhà thơ trẻ, và chụp luôn cái hình của tấm bằng Giải thưởng Nhà nước treo bên cạnh.</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Anh chụp cái poster, nhưng thôi đừng chụp cái hình Giải thưởng Nhà nước nữa. Cái vụ này nó làm tôi nhức đầu lắm <em>(cười)</em>.</p>
<p>Tôi vừa đọc xong <a href="http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=9421&amp;rb=0101">mấy bài viết về vấn đề của Phan Huyền Thư</a>. Các anh ở hải ngoại thì quyết liệt quá, mặc dù các anh đúng. Rồi các anh trong nước cũng khe khắt quá. Tôi vừa đọc bài của anh Nguyễn Hoà ở Hà Nội xong. Tôi không phải là người chủ trương hoà cả làng, về văn chương cái gì cần phê bình thì phải phê bình, nhưng nói nặng quá thì người ta không sửa được. Cái sự đoàn kết lẫn nhau nó vẫn hay hơn là đánh lẫn nhau.</p>
<p>Tôi ngẫm ra thế này: Chúng ta đánh nhau rồi có lúc còn ngồi lại với nhau không? Làm sao mà không ngồi lại được? Vậy thì phải ngồi lại với nhau thôi, thế thì đừng nên nói với nhau như hắt nước đổ đi. Chuyện gì bỏ qua được thì bỏ qua, tôi nghĩ không nên giận cá chém thớt. Trên các diễn đàn thì phải phê bình nhưng đừng nên vì giận nhà nước mà giận lây sang cả những chuyện khác.</p>
<p>Chúng ta đều là văn nghệ sĩ, mà văn nghệ sĩ thì chế độ nào cũng bị bạc đãi, thế thì chúng ta phải thương nhau. Từ kinh nghiệm cá nhân của tôi mà ra, tôi thấy văn nghệ sĩ mà không biết thương nhau mà chờ chính trị thương mình là một ảo tưởng quá lớn.</p>
<p>Trong khi phê bình lẫn nhau, thì đừng rút ván chặt cầu.</p>
<p>talawas là một diễn đàn có uy tín, đó là một cơ quan phản biện hay. Nhưng đôi khi vẫn biến <em>đối thoại</em>thành <em>đối thụi</em> <em>(cười)</em>.</p>
<p><strong>Nguyễn Đức Tùng:</strong> Thưa anh, trong các cuộc tranh luận, nhất là khi đến hồi gay gắt, ngay cả những người chủ trương các tờ báo hay các diễn đàn cũng không thể hoàn toàn kiểm soát được. Vả lại tôi nghĩ nếu anh kiểm soát gắt gao quá thì nó lại mất đi cái không khí tự nhiên của sự tranh luận.</p>
<p><strong>Nguyễn Trọng Tạo:</strong> Cái đó một phần cũng vì Phan Huyền Thư có thái độ không rõ ràng.</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Tôi không phải chỉ nói về vụ Phan Huyền Thư. Cô ấy còn trẻ, và đây chỉ là một tai nạn giao thông nhẹ. Tôi muốn nói đến sự đối thoại nói chung trong văn học và ngoài xã hội.</p>
<p>Nếu các anh đọc tôi từ những năm 80, thì tôi đã viết về chuyện nên đối xử như thế nào với nhau trong văn nghệ. Theo tôi, sau một cuộc chiến tranh, anh em trong nhà ai thắng ai thua không quan trọng lắm, vấn đề quan trọng là còn có đường đi lại với nhau hay không. Nghĩ được như thế thì thấy nhẹ nhàng. Ai thắng ai thua mà làm gì, các anh đánh nhau thì chỉ có thơ là thua mà thôi (<em>cười</em>).</p>
<p>Tôi chủ trương cần có sự hoà thuận giữa người Việt Nam ở miền Bắc và ở miền Nam, người trong nước và người ở hải ngoại. Cái đó là quan trọng nhất. Còn ai thắng ai thua không hề quan trọng đối với tôi. Những ranh giới như vừa rồi không phải là khái niệm địa lý, mà là khái niệm tâm thức.</p>
<p>Người ta cố gắng chính trị hoá chúng ta, thì chúng ta phải chống lại cố gắng chính trị hoá đó. Làm thơ rất khổ sở, chứ có sung sướng gì đâu. Ví dụ như tôi nói vài câu xúc phạm đến anh Du Tử Lê đang ngồi đây, thì làm sao lần sau tôi gặp anh ấy được nữa. Vì vậy những gì bỏ qua được thì nên bỏ qua. Thơ trong nước đã chính trị hoá rồi, thì thơ ngoài nước cũng không nên quá chính trị hoá nữa. Chỉ thỉnh thoảng mới có một vài ông thi sĩ làm quan lớn mà thôi, chứ bọn làm thơ chúng ta đa số là sống nghèo khổ thì phải thương nhau chứ.</p>
<p><strong>Nguyễn Đức Tùng:</strong> Những cuộc tranh luận văn học mặc dù đúng là làm cho không khí sinh hoạt có khi nặng nề, nhưng mặt khác lại đặt ra được những vấn đề mới. Miễn là chúng được giữ trong biên giới của sự lành mạnh và thuần tuý văn học. Tôi nghĩ là không nên tránh các cuộc tranh luận.</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Tránh làm gì? Và tránh cũng không được. Tôi cũng tin rằng chỉ có tranh luận và dân chủ thì mới có tiến bộ. Tôi chỉ muốn nói rằng đối với những trường hợp có tính cách cá nhân quá thì nên rộng lượng bỏ qua. Cần có cái nhân ái ở bên trong.</p>
<p>Có một chuyện cổ tích nói về một ông quan toà xử một phạm nhân, sau đó nổi lên giặc dã, ông chạy loạn qua đúng nơi lãnh địa của người bị ông xử tội. Ông tưởng rằng bị anh ta trả thù, nhưng không. Ông hỏi thì được trả lời rằng: ông xử tôi đúng, mà khi xử thì khuôn mặt ông rất buồn rầu chứ không tỏ vẻ khoái chí hay vui vẻ. Vì vậy mà tôi biết tấm lòng của ông.</p>
<p><strong>Nguyễn Đức Tùng:</strong> Như vậy là anh muốn nói đến thái độ đối với nhau, hơn là nói về nội dung công việc.</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Phải rồi. Như vụ <em>Nhân văn-Giai phẩm</em> ngày xưa, nhiều người xúm nhau lại đánh chúng tôi. Lại còn phân công người nào đánh người nào.</p>
<p><strong>Nguyễn Trọng Tạo:</strong> Người ta gọi là đánh hội đồng văn chương. Ý anh Lê Đạt nói là bây giờ cũng có hiện tượng như thế đối với một vài cá nhân.</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Ngày trước có lần Trần Dần kể cho tôi nghe rằng Nguyễn Đình Thi kéo anh ta ra một nơi và bảo: chúng nó phân công tao đánh mày, mày thông cảm. Trần Dần bảo rằng: thì việc mày, mày cứ làm. Nhưng mấy hôm sau khi đọc bài Nguyễn Đình Thi đánh <em>Nhân văn-Giai phẩm</em> thì anh ấy ngã ngửa, vì bài ấy viết nặng nề và ác quá.</p>
<p><strong>Nguyễn Đức Tùng:</strong> Mở rộng ra các bài viết khác như của Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Mạnh Phú Tư v.v… anh có cùng một nhận xét ấy hay không?</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Các bài viết ấy đều tương tự như thế.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><a href="http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=4610&amp;rb=0307#nr1"><sup>[1]</sup></a>Trong thời gian nằm bịnh tại quân y viện, tôi được biệt đãi phần ăn 230 đồng mà không phải khấu trừ vào lương. Ở trên quản l‎í số tiền này ra sao tôi không rõ, chỉ thấy tận mắt là nhà bếp có phần thịt kho mỡ phát ra cho các xe để phân phối cho từng trại, các bà đẩy xe trích phần thịt bỏ bịch ny lông. Tôi có sức, đẩy xe cho các bà thì được trả công vài cục mỡ, khay ăn đến giường bệnh thì chỉ còn nước thịt và 1 miếng mỡ tượng trưng. Vì vậy nên có vụ y sĩ đại úy Hà Thúc Nhơn ở Nha Trang dẫn thương binh làm loạn và bị bắn chết tại quân y viện Nguyễn Hụê. Nay biết là tù binh cộng sản được 4-5 USD/ngày nên chẳng bao giờ nghe nói họ làm loạn trong trại!<br />
<a href="http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=4610&amp;rb=0307#nr2"><sup>[2]</sup></a>Chuyện thứ nhất nổi tiếng ở cao nguyên làm nên danh một đại úy (Phạm Hữu Tài): Ông tư lịnh quân khu là người văng tục đều đặn với thuộc cấp, vừa mắng vừa chửi thề vừa quơ gậy chỉ huy về bất cứ việc gì. Đại úy trên vào một bận họp đưa tay xin phát biểu “Tôi vào quân đội để phục vụ đất nước, tôi đi lính có một mình, không mang mẹ tôi theo để thiếu tướng chơi, sao thiếu tướng lại ĐM tôi”.<br />
Chuyện thứ nhì hi hữu không kém, nổi tiếng ở đồng bằng làm nên danh một đại tá (Mạch Văn Trường): Bay thị sát mặt trận ông vào tần số điện đàm của địch, trao đổi thì bị địch cho ăn đủ thứ con ở trên máy. Đại tá này bèn trả lời “ Ta sẽ cho mi ăn một nắm kẹo đồng”!</p>
<p><strong>Nguyễn Đức Tùng:</strong> Gần đây việc anh và ba nhà thơ khác được Giải thưởng Nhà nước đã gây ra những dư luận khác nhau. Về mặt chính thống, dĩ nhiên là việc trao giải thưởng đồng nghĩa với việc công nhận đóng góp của các anh vào sự phát triển của nền văn học Việt Nam. Nhưng một số dư luận cho rằng cái phương cách mà nhà nước tặng giải thưởng và cái phương cách mà các anh nhận giải thưởng là có vấn đề. Trước khi nói về điều này, tôi nghĩ rằng trước hết cần thấy bản thân giải thưởng là một điều tốt đẹp cho cá nhân những người được giải thưởng. Trước hết là như thế đã. Còn điều đó có tốt cho nền văn học nói chung và có đáp ứng được các câu hỏi của lịch sử hay không lại là chuyện khác.</p>
<p>Vì vậy về phương diện cá nhân, tôi xin chúc mừng anh Lê Đạt.</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Cám ơn anh. Có người chê tôi là việc nhận giải thưởng là một việc “không anh hùng”, thì từ thuở biết nghĩ đến giờ, tôi có bao giờ rắp tâm làm một anh hùng đâu? Nói như Montaigne “<em>Tôi chỉ mong muốn sống một cuộc đời có thể lượng thứ được</em>”.</p>
<p><strong>Nguyễn Đức Tùng:</strong> Như thế người ta có thể hiểu rằng hành động nhận giải thưởng của anh và anh Hoàng Cầm là một cử chỉ đẹp, một cử chỉ cao thượng, đúng thế không?</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Đẹp xấu gì cũng được. Tuỳ. Làm sao tôi có thể từ chối giải thưởng, vì bên cạnh tôi còn có vợ con anh Trần Dần, vợ con anh Phùng Quán và vợ con tôi. Tôi không nhận sao được? Thú thật với anh, bao giờ đối với vợ con, tôi cũng có mặc cảm tội lỗi. Nhất là với vợ tôi, việc tôi làm <em>Nhân văn</em> đã phá hỏng cả cuộc đời nghệ thuật của cô ấy.</p>
<p><em>Lòng nguyên xanh rừng non xuân trụi lá</em><br />
<em>Oan chồng thương bạc má văn công</em></p>
<p>Số tiền mấy chục triệu của giải thưởng đâu có lớn với tôi. Mà cái danh vị của nó cũng đâu có lớn. Tôi đâu có cần nó để đánh bóng.</p>
<p><strong>Nguyễn Đức Tùng:</strong> Tôi nghĩ thế này: những người phản đối việc trao giải thưởng không phải là họ phản đối anh, thậm chí ngược lại, họ là những người rất yêu mến anh. Theo dõi trên báo chí, cũng như trò chuyện với nhiều người, kể cả những người đang ở trong nước, tôi thấy họ có hai điều quan tâm. Thứ nhất là, nhà nước trao giải thưởng theo một phương cách không được đàng hoàng, và như thế là xoá sổ món nợ <em>Nhân văn-Giai Phẩm</em> một cách nhẹ nhàng, không xứng đáng với một vấn nạn văn học và xã hội. Thứ hai là, cái cách mà các anh nhận giải thưởng.</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Nhà nước nào cũng “xỉn” trong việc trả nợ nhân dân.</p>
<p><strong>Nguyễn Đức Tùng:</strong> Nghe nói rằng hình như khi phát giải thưởng, nhà văn Đỗ Chu, mà thú thật tôi không biết là ai, có nói lời xin lỗi riêng đối với anh?</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Đỗ Chu nói nhiều câu rất hay, nhưng chỉ với tư cách cá nhân của anh ấy mà thôi, chứ không đại diện cho nhà nước hay một tổ chức nào cả. Nhiều người nghe, nhưng sau đó chỉ có tôi là nhắc lại một câu của anh ấy trong nhiều câu khác. Về cái sự xin lỗi của anh em.</p>
<p><strong>Nguyễn Đức Tùng:</strong> Tôi tin là chúng ta cần thấy rằng những tranh luận liên quan đến vấn đề Giải thưởng Nhà nước đối với các nhà thơ <em>Nhân văn-Giai phẩm</em> sẽ còn lâu dài và rộng lớn, và không chỉ giới hạn trong cá nhân của các anh. Thậm chí các anh cũng không phải là trọng tâm. Trọng tâm của vấn đề nằm ở sự khác nhau của các quan điểm. Mặt khác, tuy các quan điểm này có thể rất khác biệt, chúng vẫn bổ sung cho nhau, hơn là triệt tiêu lẫn nhau. Việc nhận giải thưởng của anh không hề giúp chấm dứt các cuộc tranh luận. Nó cũng không làm tăng lên hay giảm đi các giá trị của phong trào <em>Nhân văn-Giai phẩm</em>.</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Món nợ <em>Nhân văn</em> không phải chỉ là món nợ giữa nhà nước với anh em chúng tôi. Đó là món nợ của nhà nước với lịch sử. Và lịch sử bao giờ cũng sòng phẳng. Tôi tám mươi tuổi rồi, sắp chết rồi, khen chê đối với tôi cầm bằng như gió bay đi.</p>
<p><strong>Nguyễn Đức Tùng:</strong> Những người phản đối việc anh nhận giải thưởng tin rằng nhà nước cần đưa ra một lời xin lỗi và giải thích chính thức đối với vụ án <em>Nhân văn-Giai phẩm</em>, và điều này quan trọng hơn gấp trăm lần so với việc trao tặng giải thưởng.</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Như thế là người ta quên rằng nước Việt Nam không phải là nước Mĩ, không phải là nước Pháp. Nhà nước ta không có thói quen xin lỗi người dân.</p>
<p><strong>Nguyễn Trọng Tạo:</strong> Như thế là không đàng hoàng.</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Nhà nước không phải bao giờ cũng đàng hoàng.</p>
<p><strong>Một thân hữu văn nghệ:</strong> Nhà nước chưa đàng hoàng bao giờ cả?</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Nói <em>chưa bao giờ</em> thì tuyệt đối quá. Đàng hoàng là một thói quen khó khăn. Nhà nước cũng phải học tập để có thể tăng cường chất đàng hoàng và chúng ta nên khuyến khích nhà nước làm việc đó.</p>
<p><strong>Nguyễn Trọng Tạo:</strong> Đây là Bộ trưởng Văn hoá nói với tôi. Khi có ý kiến đề nghị các anh trong <em>Nhân văn-Giai phẩm</em> được giải thưởng thì có nhiều ý kiến không thuận, chống lại. Có người đòi kiện. Kiện rằng bọn NVGP là bọn phản động chống Đảng, thế thì các anh cho phép họ ngồi cùng chiếu với chúng tôi à. Có những ý kiến rất mạnh mẽ như thế. Ông Bộ trưởng nói với tôi rằng, vì chuyện này mà phải ngồi đọc tài liệu về NVGP. Việc này của ông mất bảy ngày mới xong, để tìm ra những bằng chứng về chuyện phản động hay không phản động. Đọc xong thì ông quyết định ủng hộ việc trao giải thưởng, và chuẩn bị kế hoạch giải trình với chính phủ. Cuối cùng được sự nhất trí cao. Như vậy việc này cũng không đơn giản về phía những người ủng hộ, kiểu như nói một cái là xong.</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Một số người thắc mắc tại sao tôi gọi việc trao giải thưởng là một cử chỉ đẹp. Tôi cho rằng việc nghĩ lại của con người, nhất là của con người quyền hành, là một cử chỉ đẹp và nên khuyến khích để cổ vũ những cử chỉ đẹp khác. Trong phạm vi nhà nước cũng có những người có thiện chí. Mình phải khuyến khích thiện chí của họ.</p>
<p><strong>Nguyễn Trọng Tạo:</strong> Họ chưa tốt thì làm cho họ tốt, họ tốt rồi thì làm cho họ tốt hơn.</p>
<p><strong>Nguyễn Đức Tùng:</strong> Gặp anh thì thấy tính anh rất vui vẻ cởi mở. Có thể vì thế mà một số người hiểu lầm rằng anh đã nhận giải thưởng một cách dễ dãi, hồn nhiên, thiếu suy nghĩ chăng?</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Cũng có thể là thiếu suy nghĩ với một số người. Thì tôi nhận xoàng vậy. Nhưng không phải cứ đắn đo suy nghĩ thì phải mặt mày nhăn nhó, đau khổ.</p>
<p>Vụ án NVGP lớn như thế, đau khổ như thế, mà trong những ngày đó tôi cũng chỉ cười mà thôi. Cách đây mấy năm một đài phát thanh ở Cali gọi về cho tôi đêm 30 Tết. Anh phụ trách hỏi tôi rằng nghe nói anh Lê Đạt có cái cười đặc biệt lắm, anh có thể cười để chúc giao thừa đồng bào không? Hôm đó tôi cười đúng năm phút đồng hồ <em>(cười… một phút)</em>. Đó có thể coi là một kỉ niệm đẹp. Cũng may hôm đó không có quí ngài nào hảo ý giúp đỡ: Lê Đạt nhét túi được bao nhiêu đô mà cười phởn thế. Điều thật đáng buồn trên đời có lẽ là sự hiểu lầm của những người mình vẫn nghĩ là bạn bè. Có một nhà văn ở hải ngoại hỏi tôi rằng: hiện nay nhà nước đối với anh thế nào. Tôi trả lời: tôi có cảm tưởng hiện nay họ đã chuyển tên Lê Đạt từ sổ đen lên sổ đỏ trong hàng ngũ những động vật&#8230;</p>
<p><strong>Nguyễn Trọng Tạo:</strong> Động vật quý hiếm, sắp tuyệt chủng <em>(mọi người cùng cười</em>).</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Những cuộc đua tranh, những nỗi đau khổ trần gian chỉ vừa thời gian một tiếng cười. Nhưng nếu các anh nghiêm túc, thì tôi cũng đâu có phản đối. Tôi đâu có chống lại những người nghiêm túc. Nhưng nếu các anh buộc tôi phải nghiêm túc thì chắc là không được. Chỉ có một điều cần nhắc là muốn đấu tranh cho dân chủ thì phải dân chủ với nhau trước.</p>
<p><strong>Nguyễn Trọng Tạo:</strong> Khi phát giải thưởng cho anh Hoàng Cầm, không ghi nhận tác phẩm <em>Về Kinh Bắc</em>.</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Tôi đồng ý với anh Nguyễn Trọng Tạo. <em>Về Kinh Bắc</em> chính là Hoàng Cầm.</p>
<p><strong>Nguyễn Đức Tùng:</strong> Nhân anh nhắc đến Hoàng Cầm, xin đặt câu hỏi với anh. Thưa anh, vụ án NVGP thực chất là một vấn đề văn học thuần tuý hay là một vụ án chính trị, hay là cả hai?</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Nó là cả hai. Đối với chúng tôi là văn học. Đối với chính quyền là chính trị.</p>
<p><strong>Nguyễn Đức Tùng:</strong> Như thế là rõ. Những người tham gia vào NVGP nhưng không phải là các nhà thơ như Lê Đạt, gồm có Phan Khôi, Trương Tửu, Nguyễn Hữu Đang v.v… có vai trò như thế nào?</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Mỗi người một công việc khác nhau. Anh Nguyễn Hữu Đang là một nhà hoạt động văn hoá lâu năm đáng kính. Anh có công lớn trên mặt trận chống dốt, xoá nạn mù chữ. Phan Khôi và Trương Tửu là những trí thức có uy tín, nhưng không phải là những người ngoan ngoãn vâng lời. Họ không muốn trở thành những nhà <em>trí ngủ.</em></p>
<p><strong>Nguyễn Đức Tùng:</strong> Hiện nay những người trí thức như thế, ở Việt Nam, nhất là trong giới văn học nghệ thuật, có còn không?</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Vẫn còn, nhưng không nhiều.</p>
<p><strong>Nguyễn Đức Tùng:</strong> Hôm qua, anh Nguyễn Thuỵ Kha có cho tôi và anh Du Tử Lê xem các cuốn <em>Giai phẩm</em> mà anh ấy giữ được từ hồi còn nhỏ. Anh cẩn thận cuốn chúng lại trong tờ báo <em>Nhân dân</em> cũ, giấu trên nóc nhà, trước khi đi bộ đội vào Nam. Khi giải ngũ về nhà, anh rất mừng vì chúng vẫn còn nguyên vẹn. Tôi được xem những tờ báo sống sót qua năm mươi năm sóng gió, thật là cảm động. Trong bộ <em>Giai phẩm</em> có rất nhiều người mà sau này ít được nhắc tới như Sĩ Ngọc, Trần Lê Văn… Những người này có vai trò như thế nào?</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Các anh Trần Lê Văn, Sĩ Ngọc v.v… không những viết bài mà còn tham gia vào việc cổ động anh em viết.</p>
<p><strong>Nguyễn Đức Tùng:</strong> Trong tập <a href="http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=7340&amp;rb=08"><em><u>Giai phẩm mùa Xuân 1956</u></em></a>, với cái bìa màu xanh được trình bày giản dị mà sang trọng, do nhà Minh Đức- Thời Đại xuất bản, ngay sau lời nói đầu, là bài thơ của Lê Đạt. Tôi xin đọc lại bài thơ ấy:<br />
<strong><em>Làm thơ</em></strong></p>
<p><em>Đêm khuya</em><br />
<em>Bóng đầu anh</em><br />
<em>Hằn trên trang sách nhỏ</em><br />
<em>Như bóng hàng cây quặn gió</em><br />
<em>Lắng xuống mặt đường</em><br />
<em>Giông bão mênh mông</em><br />
<em>Anh nhìn Tổ quốc</em><br />
<em>Đất nước đêm nay trĩu đầu ngòi bút</em><br />
<em>Hàng vạn vần thơ mang nặng tình người</em><br />
<em>Anh nghe tiếng đất trời</em><br />
<em>Xao động lùm cây ngọn cỏ</em><br />
<em>Như người hiệu thính viên</em><br />
<em>Đêm không ngủ</em><br />
<em>Ghi những lời cuộc sống</em><br />
<em>điện về</em><br />
<em>Những tiếng nặng nề</em><br />
<em>Những tiếng cục cằn uất ức</em><br />
<em>Những tiếng căm thù chua xót</em><br />
<em>Những tiếng yêu thương…</em></p>
<p>Chất say đắm nồng nàn, tình yêu và sự xả thân vì cuộc sống thật là đáng quý. Ngày nay tại sao thơ Lê Đạt không còn như trước nữa?</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Có nhiều cách nồng nàn và xả thân. Đọc lại tôi vẫn quí những bài thơ tuổi trẻ nhưng tôi không thích viết như thế nữa. Người ta không nên đòi hỏi nhà thơ suốt đời chỉ làm một cách thơ giống nhau.</p>
<p><strong>Nguyễn Đức Tùng:</strong> Cũng có một lý do ngoài văn học là sau khi bị liên luỵ về vụ án <em>Nhân văn-Giai phẩm</em>, tự khắc người ta phải viết khác đi để tồn tại. Anh có tin vào một thứ thơ phi chính trị? Ngày nay nhìn lại <em>Nhân văn-Giai phẩm</em>, anh có hối hận về những việc mình đã làm không?</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Tôi không hề hối hận. Những việc anh em làm hồi đó tôi vẫn tin là đúng. Người sai không phải là chúng tôi. Khi nào có thời giờ có lẽ chúng ta phải xác định với nhau thế nào là thơ phi chính trị (!)</p>
<p><strong>Nguyễn Đức Tùng:</strong> Các nhà văn ở miền Bắc thường không biết đến, hoặc không quan tâm, hoặc là cả hai, đối với hai dòng văn học lớn là văn học miền Nam trước 1975 và văn học ở hải ngoại sau 1975. Lê Đạt là một trong những người rất hiếm thường có bài xuất hiện trên các tờ báo hải ngoại. Anh cũng đi rất nhiều, và viết những bài thơ lãng mạn và say đắm ở Pháp.</p>
<p><em>Chân quận mười ba quận ra mười bốn</em><br />
<em>Cỏ trăm đường cúc trắng ngổn ngang xanh</em><br />
(“Pakơrét”)</p>
<p>(Pâquerette là loại hoa cúc trắng nhỏ)</p>
<p>Anh là một trong những nhà thơ dùng nhiều hình ảnh và khai thác sự liên tưởng (associations) một cách mạnh mẽ. Anh có đọc văn học miền Nam không và nghĩ sao về nó?</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Tôi cho rằng văn học Việt Nam là một, bất cứ nhà văn nào viết tiếng Việt cũng đều là nhà văn Việt Nam. Do điều kiện chính trị và lịch sử, chúng ta ít được đọc nhau, đó là điều đáng tiếc. Thú thật, tôi cũng không đọc được nhiều.</p>
<p><strong>Nguyễn Đức Tùng:</strong> Nhưng ít được đọc nhau không có nghĩa là phủ nhận nhau.</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Phủ nhận làm sao được. Đó là vốn văn hoá của dân tộc mình. Bây giờ nói về các nhà thơ ở miền Nam trước đây. Những người như Bùi Giáng, Tô Thuỳ Yên, Thanh Tâm Tuyền… Tôi rất kính trọng các ông ấy. Nhưng tôi ít đọc và rất ít hiểu biết về họ, như thế làm sao tôi có thể viết về họ được. Nhưng không viết về họ không có nghĩa là tôi không kính trọng hay quan tâm. Có thể là sau này tôi sẽ viết, nếu như tôi có đủ thời gian, nhưng như thế tôi phải đọc rất kĩ hoàn cảnh xã hội miền Nam và văn chương thời ấy. Mà tôi và nhiều người ở miền Bắc lại không có điều kiện.</p>
<p><strong>Du Tử Lê:</strong> Thưa anh làm thế nào để các nhà văn miền Bắc và miền Nam, trong nước và hải ngoại có thể hiểu biết nhau hơn?</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Cần phải mở rộng quan hệ, đi lại, trao đổi, cần phải vượt qua các thành kiến do những chính quyền khác nhau cố tình dựng nên. Quan trọng nhất tôi nghĩ là cần phải bám sát tác phẩm. Tranh cãi cho ra nhẽ. Không phải là chín bỏ làm mười đâu nhé. Nhưng cái gì có thể bỏ qua thì hãy bỏ qua, cái gì cần quyết liệt thì phải quyết liệt. Nhưng trong một tinh thần mà tôi gọi là ái hữu văn nghệ.</p>
<p><strong>Nguyễn Đức Tùng:</strong> Tinh thần ái hữu mà anh nói, hiện nay có phổ biến giữa các nhà thơ, nhà văn ở trong nước, ở Hà Nội hay không? Và nhất là ở những người viết trẻ?</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Tôi có cố gắng truyền đạt cái tinh thần ấy trong giới hạn của tôi, nhưng có làm được hay không thì tôi không biết. Đi đâu tôi cũng truyền đạt cái ý kiến ấy.</p>
<p><strong>Nguyễn Đức Tùng:</strong> Những người viết trẻ ngày nay có còn cái nhiệt huyết đi làm những chuyện thay đổi xã hội theo một lý tưởng nào đó, hay không? Hay thơ của họ chỉ là những tiếng động mơ hồ phía sau các bức tường mà người khác dựng nên?</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Các nhà văn nhà thơ trẻ Việt Nam hiện nay thích nổi tiếng quá. Theo tôi là không nên. Người viết không nên quá quan tâm đến sự nổi tiếng. Nhưng đứng về mặt phạm trù mà nói: Không tuổi trẻ thời nào kém thời nào cả. Họ chỉ khác nhau.</p>
<p><strong>Nguyễn Đức Tùng:</strong> Tôi xin phép có sự khác biệt ý kiến với nhiều người ở đây. Tôi không nghĩ rằng so với các thế hệ trước, người viết trẻ thích nổi tiếng hơn. Mà nếu họ có thích nổi tiếng thật, thì điều đó cũng không có hại gì, thậm chí còn có lợi cho sự kích thích sáng tạo. Vần đề có vẻ như là nằm sâu hơn chuyện thích nổi tiếng. Hình như anh cho rằng thế hệ ngày nay có một cái gì đó không được như chúng ta mong muốn. Tại sao thế?</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Thích nổi tiếng không phải là một tội. Nổi tiếng cũng thú vị lắm chứ, nhưng không nên lấy đó làm mục đích của đời mình. Cái thiếu sót chính của thế hệ trẻ hiện nay là vốn văn hoá. Trong văn chương không có trình độ, không có vốn văn hoá, thì anh khó đi xa được.</p>
<p><strong>Nguyễn Đức Tùng:</strong> Và khó làm ra cái mới? Có thể chia con đường thơ của Lê Đạt làm hai giai đoạn. Giai đoạn NVGP và trước đó. Giai đoạn sau này lặng lẽ sáng tác nhưng không được xuất bản trong nhiều năm. Anh so sánh như thế nào thơ Lê Đạt qua hai giai đoạn này. Nhiều người lấy làm tiếc rằng anh không còn làm thơ như thời kì NVGP nữa.</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> <em>Nhân văn</em> hay hậu <em>Nhân văn</em>, tôi bao giờ cũng là người lấy đời mình ra đánh cược, được ăn cả ngã về không. Nhưng công bằng mà nói tuổi trẻ không ít người cũng thích tôi và thích thơ tôi. Tôi cũng rất quý mến họ. Có thể trả lời bằng thơ cho ngắn gọn hơn:</p>
<p><em>Gắng chữ với thời gian tri kỉ</em><br />
<em>U thất tuần bồ nhí mộng hăm</em></p>
<p><strong>Nguyễn Đức Tùng:</strong> Như thế là sau khi bị đánh thời kì NVGP, các nhà thơ như Lê Đạt chuyển hướng sáng tác vì lý do chính yếu là để khỏi bị đánh, hơn là vì nhu cầu nội tại của sáng tạo văn học?</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Sáng tạo văn học bao giờ cũng do đòi hỏi nội tại. Những lí do khác chỉ là phụ.</p>
<p><strong>Nguyễn Đức Tùng:</strong> Anh có dịp đọc loạt bài “Thơ đến từ đâu” trên talawas hay không?</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Có, tôi có đọc. Các bài phỏng vấn về thơ ấy rất tốt, rất có ích cho những người làm thơ và yêu thơ. Tôi nghĩ là trong nước cần phải đọc nhiều. Tôi cũng thấy nhiều điều mới. Nên làm. Giỏi lắm<em>(cười).</em><em> </em>Nhưng các bài phỏng vấn Tùng đừng có làm dài, làm ngắn thôi. Tôi già rồi, đọc mỏi mắt lắm, mặc dù rất thích.</p>
<p><strong>Nguyễn Trọng Tạo:</strong> Những người trả lời phỏng vấn thường phải trả lời dài mới nói hết ý của họ. Vả lại còn có nhiều vấn đề mà các nhà thơ chưa có dịp thể hiện ý kiến của mình ở những nơi khác.</p>
<p><strong>Nguyễn Đức Tùng:</strong> Các nhà thơ trẻ hiện nay ở Hà Nội như Nguyễn Thế Hoàng Linh, Nguyễn Vĩnh Tiến, Vi Thuỳ Linh, Phan Huyền Thư, Nguyễn Thuý Hằng… có những đóng góp như thế nào đối với văn chương Việt Nam?</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Tôi quí họ như quý tương lai của thơ Việt Nam. Họ cần phải thấy rõ trách nhiệm ấy và lao động thơ nghiêm túc hơn nữa.</p>
<p><strong>Nguyễn Đức Tùng:</strong> Gần đây ở Việt Nam có phong trào thơ trình diễn. Anh nghĩ sao?</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Tôi chưa đủ thông tin để kết luận. Nhưng tôi thấy nhà thơ cần cảnh giác với từ “diễn”.</p>
<p><strong>Nguyễn Đức Tùng:</strong> Anh có nói những điều vừa rồi với những người làm thơ trẻ hay không?</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Có chứ. Tôi có nói nhiều. Nghe thì họ cũng tiếp nhận, nhưng về nhà lại quên đâu mất. Những trào lưu thời thượng tuổi trẻ bao giờ cũng thích, nhưng họ chán ngay ấy mà.</p>
<p><strong>Nguyễn Đức Tùng:</strong> Thơ Việt Nam sẽ đi về đâu?</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Một nền thơ hay bao giờ cũng là hạnh phúc và cơ may của một dân tộc. Có thể có những thời gian mà hạnh phúc và cơ may ấy không xảy ra. Thế kỉ XVIII chẳng hạn, thơ Pháp chẳng mất mùa trầm trọng đó sao?</p>
<p><strong>Nguyễn Đức Tùng:</strong> Ở đây có những ý kiến khác nhau. Các nhà thơ mới cần có những thể nghiệm mới. Văn chương rất cần các thể nghiệm để tấn công vào các biên giới. Đó là con đường sáng tạo mà thời nào cũng đặt ra. Chẳng lẽ một người thường thể nghiệm ngôn ngữ như anh cũng chống lại sự thể nghiệm của thế hệ trẻ hay sao?</p>
<p><strong>Du Tử Lê:</strong> Hay vì thơ của họ không thật?</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Tôi chống là chống cái không thật, cái giả vờ, chứ các thể nghiệm thì sao lại chống. Ưu điểm của lớp trẻ là không biết điều, chứ nếu biết điều quá thì lại thành ông già à? Vấn đề là cái không biết điều ấy phải là cái không biết điều chân thật.</p>
<p><strong>Du Tử Lê:</strong> Thưa anh, thay mặt cho một số bạn bè văn nghệ của riêng tôi ở hải ngoại và ở miền Nam trước đây, tôi xin gửi đến anh lời chúc sức khỏe. Về Hà Nội, được nhìn thấy anh khỏe mạnh như thế này, anh em rất vui. Anh Nguyễn Đức Tùng thuộc vào thế hệ sau tôi, có thể gọi là chuyển tiếp đến thế hệ trẻ hiện nay. Cá nhân tôi, người đọc rất kĩ NVGP và thơ Lê Đạt, ngay cả trước năm 1975, hết sức quý mến anh và các anh Hoàng Cầm, Dương Tường, và những người khác. Như một người làm thơ, tôi nghĩ là tôi học được ở các anh nhiều điều. Vì vậy nhân đây, xin được cám ơn anh. Thêm nữa, tôi rất mong quan hệ văn chương giữa anh em miền Bắc trước đây và miền Nam trước đây, giữa trong nước và ngoài nước ngày một tốt đẹp, không còn ngăn cách.</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> <em>(Cười)</em> Cám ơn anh. Tôi rất ghét sự ngăn cách.</p>
<p><strong>Du Tử Lê:</strong> Chúng ta chỉ có một Tổ quốc, và một ngôn ngữ là tiếng Việt.</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Tôi xin đọc một bài thơ để tặng các anh. Một bài thơ tình <em>(ngâm, lim dim mắt).</em></p>
<p><em>Anh đến mùa thu nhà em</em><br />
<em>Nắng cúc lăm răm vũng nhỏ</em><br />
<em>Mà cho đấy rửa lông mày</em><br />
<em>Nông nỗi heo may từ đó</em><br />
<em>Mưa đêm tuổi nổi ao đầy</em><br />
<em>Đồi cốm đường thon ngõ cỏ</em><br />
<em>Bướm lượn bay hoa ngày</em><br />
<em>Tin phấn vàng hay thuở gió</em><br />
<em>Tóc hong mùi ca dao</em><br />
<em>Thu rất em</em><br />
<em>Và xanh rất cao</em></p>
<p><strong>Nguyễn Đức Tùng:</strong> Thơ của anh trong bài này đẫm tính ca dao. Không mới lắm so với nhiều bài khác nhưng rất tình tứ. Trong thơ Lê Đạt có chất dân gian không?</p>
<p><strong>Lê Đạt:</strong> Tôi rất thích ca dao. Nhưng là ca dao sinh sự. Trong đời sống, tôi không phải là người ưa sinh sự. Nhưng đã làm thơ thì thế nào cũng phải sinh sự. Sinh sự mới tạo ra sự sinh được.</p>
<p><strong>Nguyễn Đức Tùng:</strong><strong> </strong>Xin cám ơn anh. Tiếp lời anh Du Tử Lê, tôi xin thay mặt độc giả chúc anh mạnh khỏe và sáng tác lâu dài.</p>
<p><em>Nhà thơ Lê Đạt tiễn chúng tôi ra đường. Mọi người đứng lại nói chuyện một lúc nữa và chụp một số bức ảnh kỉ niệm. Sau cuộc nói chuyện dài, ông vẫn tươi tỉnh, không lộ vẻ mỏi mệt. Hy vọng rằng ông sẽ khỏe lâu như lời chúc của chúng tôi.</em></p>
<p>© 2007 talawas</p>
<h3>Lê Ðạt và, tác phẩm “Hèn đại nhân”</h3>
<p><strong>Du Tử Lê </strong></p>
<p><strong> </strong><em>Chúng ta cùng biết, nhà thơ Lê Ðạt là một trong những kiện tướng của Phong Trào Nhân Văn-Giai Phẩm, giữa thập niên 50 ở miền Bắc. Nhưng có dễ ít người biết rằng, ông còn là một nhà văn, với những truyện ngắn mang đầy tính trào lộng, sâu sắc tới dữ dội, không thua gì những bài thơ xung phá thẳng vào thành trì chế độ. (1)</em></p>
<p><em>Nếu ở lãnh vực thi ca, với thi phẩm nổi tiếng “Bóng Chữ,” Lê Ðạt cho thấy sự cật lực của ông trong nỗ lực phá rừng, xẻ núi cho thi ca có được một chân trời, một bình minh mới, thì ở lãnh vực văn xuôi, qua tập truyện “Hèn Ðại Nhân,” ông lại cho người đọc thấy mặt tài hoa khác, trong dòng văn học Việt Nam, hôm nay. (2)</em></p>
<p><em> </em>Bằng giọng văn châm biếm, trào phúng mà sức quyến rũ là cả một từ trường mạnh mẽ ngùn ngụt đẩy, xô người đọc hăm hở uống từng trang sách của mình, Lê Ðạt, một lần nữa, đưa thể truyện ngắn, tới một chân trời mới.</p>
<p>Chân trời hay những cánh cửa mà, 15 truyện ngắn trong tuyển tập “Hèn Ðại Nhân” mở ra cho người đọc, là những chân trời, hay những cánh cửa ẩn dụ, lênh láng tiếng cười và, cùng lúc, nước mắt.</p>
<p>Căn bản, là thi sĩ, nên suốt lộ trình văn xuôi mang tên “Hèn Ðại Nhân” của Lê Ðạt, người đọc cũng gặp không biết bao nhiêu những đoạn văn như thơ. Những nhân cách hóa bất ngờ mà, người ta thường chỉ thấy được, nơi những tài năng ngoại khổ.</p>
<p>Những bất ngờ đầy thi tính này, lại luôn song hành, kề cận những hình ảnh hay ý tưởng rất đời thường, rất mỉa mai&#8230; Khiến người đọc khó lòng giữ được thăng bằng cảm thức.</p>
<p>Bước vào thế giới truyện ngắn mang tên “Hèn Ðại Nhân” của Lê Ðạt, người đọc như một con diều giấy, mà chữ nghĩa của tác giả là sợi giây tơ nõn, vô hình; nhưng có khả năng thả ném con diều lên chín tầng mây. Ðể rồi, chỉ cần một chớp mắt hớ hênh, sợi giây chữ nghĩa của tác giả, lại giựt, ném con diều xuống bùn, đất.</p>
<p>Như trong truyện ngắn đầu tiên, truyện “Bài Haiku,” khi đề cập tới một nhân vật có tên là Yôda, một danh tướng buông gươm, cởi áo tìm về nẻo đạo, và ước mơ cuối cùng, được thở hơi thở thi ca: Hơi thở Hài Cú, bên cạnh một Basô, bất tử. Lê Ðạt viết:</p>
<p>“Hình như đấng tối cao cũng chứng cho lòng thành của người kiếm sĩ dốc lòng đổi nghiệp, nên những hạt mộng bỗng nẩy mầm, trái tim quen với sự sát phạt, như bầy chim ngậm những chồi xanh thả Mùa Xuân phủ bóng rợp lục chiến trường trơ trụi ngày xưa. Tướng quân Yôđa bỗng làm thơ&#8230; Và thơ ông được truyền tụng chẳng kém gì những chiến tích thuở trước.”</p>
<p>Dòng văn xuôi đang ắp đầy những giọt nước thi ca lấp lánh, vậy mà, không một báo trước, chỉ bằng một dấu chấm, Lê Ðạt viết tiếp: “Chỉ ít lâu sau, ông đã trở thành trưởng môn trường phái thơ Nayoga một cách hết sức dân chủ, tuy chẳng thông qua bỏ phiếu kín&#8230;”</p>
<p><strong> </strong>Những cụm từ “hết sức dân chủ” và “thông qua bỏ phiếu kín” là những cụm từ phản ảnh sinh hoạt thời đại, sinh hoạt đời thường, hiện tại, của xã hội Việt Nam hôm nay.</p>
<p>Những tương phản, như những đối cực triệt để giữa hư cấu và, đời thường, là những cặp song sinh bất thường, nếu không muốn nói là “quái thai,” đầy rẫy trong cõi văn xuôi Lê Ðạt.</p>
<p>Tuy nhiên, như đã nói, căn bản, tác giả là thi sĩ, nên cách gì, người đọc cũng vẫn gặp được nơi tác phẩm này, những ví von, những so sánh hay những nhân cách hóa bất ngờ, như những ngụm nước mưa đầu nguồn, mà một lữ hành không chờ đợi trong cuộc hành trình sa mạc, giằng giặc của mình.</p>
<p>Cũng ngay nơi truyện ngắn vừa kể, về Basô, tác giả của những bài thơ Hài Cú tiêu biểu nhất của thể thơ Nhật Bản này, sau khi tỉnh rượu, bỏ đi, khiến trên một chục nhà danh họa, cuối cùng chẳng một ai ghi được chân dung Basô, Lê Ðạt viết:</p>
<p>“Trời chuếnh choáng gió như thế này, ai mà lại hóa dại ngồi một chỗ, khi con đường trước mặt tung tăng như một lời mời viễn du.”</p>
<p>Rồi, cũng chỉ với một dấu chấm nhỏ bé, Lê Ðạt lại bất ngờ giựt con diều (người đọc,) chúi nhủi xuống bùn, đất, với phản diện, tuy không khốc liệt, nhưng mênh mang ẩn dụ thấm thía, rằng:</p>
<p>“Cuộc vẽ bỏ dở và mãi cho đến giờ, Basô vẫn chưa có chân dung.</p>
<p>Người thì thậm xấu hát thì thậm hay. Ai có được bức chân dung Trương Chi? Không biết Basô có thậm xấu như Trương Chi không, nhưng thơ Basô quả thậm hay&#8230;”</p>
<p>Cũng vậy, trong truyện ngắn “Vùng May Rủi,” một chuyện hư cấu khác, viết về hai người bạn già bỏ cả một đời chỉ để tìm cách đạt tới “chiến thắng” sau cùng, với những vòng quay, những con số trong một canh bạc.</p>
<p>Sòng bài ở đây, hiển nhiên, chỉ là một thế thân của định mệnh.</p>
<p>Khi mô tả những viên bi lăn tới, như những vòng lăn lạnh lẽo cuốn theo bao nhiêu sinh mạng về cõi chết, Lê Ðạt viết:</p>
<p>“Ðịnh mệnh soi mình lúc ẩn lúc hiện trên viên bi ngà quay ngược chiều với chiếc cần quay kim loại lanh canh nơi đáy đĩa thăm thẳm&#8230; Hạnh phúc&#8230; hạnh phúc sẽ rơi vào con số nào? Dăm tháng nửa năm, một phát súng lại nổ ngay cửa sòng bài chấm dứt một cuộc lần tìm may rủi bất tận. Có phải may rủi nằm trong thân phận con người?”</p>
<p>Và, chỉ ít dòng sau, khi mô tả sự ra về thất vọng, bẽ bàng của hai con thiêu thân manh tâm kình chống định mệnh, Lê Ðạt viết:</p>
<p>“Rồi hai người lặng lẽ ra về. Con đường đảo ngây ngất mùi hương vào xuân và những đôi trai gái đang giải khát môi nhau trên ghế đá. Tiếng chuông từ tháp giáo đường lanh lảnh báo mùa phục sinh nở hoa.”</p>
<p>Phải chăng, nhờ những đối cực triệt để kia, mà cõi văn xuôi Lê Ðạt, đã có được cái ma lực huyễn hoặc, lôi cuốn?</p>
<p>Cái ma lực của hạnh phúc hư ảo và đớn nhục, nhức buốt mà vẫn ắp đầy thi tính!</p>
<p>Nó như một thứ nhân cách phức hợp, chập chùng trong mỗi sinh vật được chỉ danh là con người, trên mặt địa cầu này.</p>
<p><strong><em>Chú thích:</em></strong></p>
<p><em>(1): Tên thật là Ðào Công Ðạt, ông sinh ngày 10 tháng 9 năm 1929 tại Yên Bái; mất ngày 21 tháng 4 năm 2008, tại Hà Nội. Là một trong vài nhân vật chính thuộc Phong Trào Nhân Văn-Giai Phẩm, ông nổi tiếng với bài thơ nhan đề “Nhân câu chuyện mấy người tự tử,” đăng trong Nhân Văn số 1, đề ngày 20 tháng 9 năm 1961. Trong bài này có những câu được nhiều người nhắc nhớ tới hôm nay như: “Anh công an nơi ngã tư đường phố / chỉ đường cho / xe chạy / xe dừng / rất cần cho luật giao thông / nhưng đem bục công an đặt giữa trái tim người / bắt tình cảm ngược xuôi / theo luật lệ đi đường nhà nước / có thể gây nhiều đau xót / ngoài đời.” Sinh thời, cố thi sĩ Hoàng Cầm từng nhấn mạnh, Lê Ðạt, bạn ông, tự nhận là một thứ “phu chữ.” Vì, với thơ cũng như văn, Lê Ðạt rất kỹ tính, cẩn thận chọn từng chữ. Ðôi khi chỉ một chữ thôi, cũng đủ khiến ông suy nghĩ, dằn vặt nhiều ngày.</em></p>
<p><em>(2) Tác phẩm này xuất bản tại Việt Nam, 1998.</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<h3>&#8220;Phản đề&#8221; dành cho người Việt trẻ</h3>
<p>Nhà thơ Lê Ðạt, dù tuổi đã ngoài 70 vẫn là một người trẻ lạ lùng. Trẻ, ở trong tâm hồn và tính cách lẫn những cách tân trong thơ ca Việt &#8211; cho dù cuộc đời ông như chính nhà thơ thừa nhận là rất &#8220;li kỳ&#8221; và chịu nhiều thăng trầm dâu bể. Trẻ, ở chính cái cách mà ông nhìn nhận rất &#8220;thiện chí&#8221; và cởi mở về lớp trẻ, về thế hệ trẻ hiện nay&#8230;</p>
<p>Báo <em>Sinh viên Việt Nam</em> (SVVN) đã có cuộc trò chuyện cùng ông trong một ngày đông cuối năm ở một ngôi nhà phố cổ Hà Nội về những câu chuyện của người Việt trẻ trong xu hướng hội nhập, toàn cầu hoá đồng thời phát triển những giá trị truyền thống dân tộc.Và làm sao để loại bỏ được những lực cản khách quan và chủ quan, những &#8220;tảng đá&#8221; giáo điều đeo đẳng trên lưng, những mặc cảm nhỏ nhen, những kiến thức và tình cảm vụn vặt để những người Việt trẻ sẵn sàng cho một cuộc &#8220;leo núi&#8221; đỉnh cao như nhà phê bình trẻ Nguyễn Thanh Sơn từng ao ước. Câu chuyện bắt đầu từ khát vọng và ước mơ của những người trẻ.</p>
<p><strong>Nếu không có khát vọng, chúng ta trở thành những đứa trẻ chết già!<br />
</strong><br />
SVVN: <em>Tất nhiên tuổi trẻ ai cũng đầy mơ mộng và khát vọng, nhưng có nuôi được và biến nó thành thực tế không mới là chuyện đáng nói. Gần đây, trong một cuộc phỏng vấn về thế hệ trẻ, nhà thơ Phan Huyền Thư cũng đưa ra một câu hỏi chưa có trả lời &#8220;Trên thực tế, có được bao nhiêu người biến ước mơ hoài bão của mình thời tuổi trẻ thành hiện thực? Và bao nhiêu người đã bội ước với tuổi trẻ của mình?&#8221; Trong thơ ông, tôi cũng đọc được: &#8220;Những ước mơ xưa/ Như con chim gãy cánh/ Rũ đầu chết ngạt trong bùn/ Năm tháng mài mòn/ Bao nhiêu khát vọng&#8221;&#8230;</p>
<p></em>LĐ: Tôi cho rằng để sự mơ mộng và khát vọng trở thành hiện thực phải đòi hỏi rất nhiều ở sự can đảm và kiên trì. Ở đó, không có &#8220;đất&#8221; cho sự thực dụng và những toan tính tầm thường, ở đó cũng không có cơ hội cho những người thiếu lòng đam mê và dũng cảm. Ðể nuôi khát vọng, nó đòi hỏi sự đam mê thành thật, thậm chí vác cả sự đam mê trên vai mà trèo đèo lội suối để biến nó thành sự thật. Với những người trẻ tuổi, tôi có một lời khuyên chân thành: đừng bao giờ sống 50%, đừng bao giờ yêu 50% và cũng đừng bao giờ làm 50%. Sự nửa vời cũng là một trong những lý do để người trẻ phản bội lại ước mơ của mình. <em><br />
</em><br />
SVVN: <em>Nhưng đôi khi họ không dám sống 100% còn vì nhiều lý do, những định kiến từ bên ngoài họ. Và có những trả giá đôi khi là quá đắt nếu mạo hiểm &#8220;đặt cược&#8221; cả 100% &#8220;số vốn&#8221; mà họ có?<br />
</em><br />
LĐ: Phá bỏ những định kiến với chính mình mới quan trọng chứ không phải là định kiến của người khác. Và định kiến đáng sợ nhất là sợ khác người, sợ mọi người coi mình là rồ dại. Với người trẻ, dù lao đi mà trượt chân vài cái còn hơn là ngồi một chổ để tính toán hết đời mình, nó tạo cho người trẻ một sự khôn ngoan không cần thiết. Còn lý do khách quan thì bao giờ cũng có, khó khăn bao giờ cũng có, nó chỉ biến đổi hình thái theo từng giai đoạn thôi chứ chẳng bao giờ có một môi trường lý tưởng nào cho giới trẻ cả. Nhưng dù ở bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải nuôi khát vọng. Tuổi trẻ mà không có khát vọng tức là chưa kịp trẻ họ đã già hay ngược lại là đã già ngay từ khi còn trẻ, nói như cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương &#8211; Họ là <em>những đứa trẻ chết già.<br />
</em><br />
SVVN: <em>Nhưng dù sao thì cũng phải &#8220;thực tế khát vọng&#8221; phù hợp với năng lực của mỗi người. Nhiều người chỉ cần nuôi những giấc mơ nhỏ và khi đạt được họ bằng lòng với nó?</em></p>
<p>LĐ: Tôi không nói đến những &#8220;giấc mơ con&#8221; và những &#8220;cuộc đời con&#8221;. Còn những người trẻ có chí tiến thủ và giàu hoài bão bao giờ cũng đặt mình trong sự đối sánh với người khác. Biết người quan trọng hơn biết mình. Từ đó có những cái nhìn phê phán, tôi nghĩ rằng sự phê phán (để biết được những nhược điểm của mình) chính là bước đầu tiên của tri thức.</p>
<p>Một trong những điều nữa hạn chế sự tiến thủ của những người trẻ là căn bệnh chủ quan quá mức và dễ hài lòng với chính mình. Cuộc đời là một quá trình trôi chảy và đấu tranh liên tục, nếu anh hài lòng với những kết quả ban đầu và dừng lại coi như anh đã &#8220;chết&#8221; ở chính điểm dừng ấy và sau đấy trở thành một kẻ &#8220;ăn mày dĩ vãng&#8221; hay &#8220;xác ướp trở lại&#8221; mà thôi!</p>
<p>SVVN: <em>Những khát vọng nào của tuổi trẻ đáng được biểu dương nhất, thưa nhà thơ?</em></p>
<p>LĐ: Có rất nhiều khát vọng đẹp, nhưng tôi thích nhất ở những người bạn trẻ tuổi là khát vọng lên đường, khát vọng đi tìm những miền đất mới, những lĩnh vực mới. (Xã hội nên có những động thái tốt đẹp dành cho những người tìm đường). Và tôi nghĩ, càng có nhiều khát vọng lên đường, tuổi trẻ càng dễ phá bỏ được những định kiến, những cái cũ ở ngay trong chính bản thân họ cũng như xã hội bên ngoài&#8230;</p>
<p><strong>Tuổi trẻ hãy lên án một cách nghiêm khắc sự giả dối</p>
<p></strong>SVVN: <em>Ngoài chuyện thiếu khát vọng, sự dễ hài lòng và sống 50%, theo ông có những lực cản nào nữa kéo sự phát triển của người trẻ lại?<br />
</em><br />
LĐ: Có những tính cách xấu lâu ngày biến thành những khuyết điểm của người Việt Nam, đó là không có ý thức về sự hoàn chỉnh, thói quen không có kỉ luật, không đi đến tận cùng cái mình đang có, dễ hài lòng và chấp nhận thực tại, căn bệnh tiểu nông, tiểu thủ công nghiệp manh mún, giật gấu vá vai&#8230; Ðiều này dẫn đến một thói ứng xử xấu nữa là dễ tặc lưỡi cho qua. Một người già chép miệng hoặc tặc lưỡi cho qua đôi khi còn thông cảm được vì sự &#8220;lực bất tòng tâm&#8221; nhưng với một người trẻ thì rất nguy hiểm. Tại vì khi chép miệng là lúc anh bước từ một cõi thực tế sang một &#8220;cõi&#8221; ảo, một &#8220;cõi&#8221; đầu hàng, buông xuôi. Khoảng cách giữa chúng rất nhanh nhưng lâu dần nó cuốn anh đi rất xa. Nếu nói, điều tôi ghét nhất trong tính cách của người Việt là thói chép miệng, nghe thì có vẻ đơn giản nhưng thực ra khi anh chép miệng, phần nhân tính trong anh đã bị buông xuôi và anh đã dễ dàng &#8220;đồng hoá&#8221; với sự thất bại, với thói xấu.</p>
<p>SVVN: <em>Gần đây, xã hội nói nhiều đến căn bệnh giả dối bằng cấp, đặc biệt là trong giới trí thức trẻ. Nhà văn Nguyễn Khải thì lên tiếng về căn bệnh công chức hoá ở lớp trẻ&#8230;Theo ông, điều nào đáng lo ngại hơn?</em></p>
<p>LĐ: Chuyện bằng cấp và thói quen công chức hoá đều bắt đầu từ hậu quả của thời phong kiến và quan liêu bao cấp &#8211; đó là học để làm quan. Xã hội mới thì tôn trọng đến sự thành đạt ở bề ngoài (tiền, danh vọng) mà chưa chú ý đến giá trị tinh thần. Chính cơ chế đó đã khuyến khích thói công chức hoá ở trong nhiều người. Họ coi nhà nước như là chỗ an dưỡng hơn là nơi để cống hiến và sáng tạo. Lâu dần, họ mất đi sức mạnh của tinh thần mà chỉ còn lại sức mạnh của cái ghế. Thói xấu này không chỉ có ở trong những người trẻ mà phần lớn là để lại từ các lớp đàn anh đi trước. Thái độ của xã hội cũng phải chịu lỗi về điều này. Chính môi trường của xã hội nhiều khi khuyến khích sự giả dối. Giới trẻ cần phải lên án một cách nghiêm khắc sự dối trá, bắt đầu từ chính bản thân mình. Và phải tập cho mình một thói quen biết xấu hổ trước cái xấu. Tôi cho rằng, sự biết xấu hổ là sự bắt đầu nhân tính của con người.</p>
<p><strong>Ðừng nhìn hiện tại bằng con mắt của quá khứ<br />
</strong><br />
SVVN: <em>Những người lớn tuổi &#8220;kêu&#8221; là lớp trẻ đang quay lưng với những giá trị truyền thống và thuộc sử Tàu hơn sử Ta. Thực ra với lớp trẻ, truyền thống có những vai trò gì? Và họ nên &#8220;đối xử&#8221; với truyền thống như thế nào để &#8220;hợp lý hợp tình&#8221;?</p>
<p></em>LĐ: Vế đầu, tôi nghĩ một phần do nền giáo dục và nền văn hoá nghệ thuật của chúng ta chưa đủ sức để hấp dẫn giới trẻ. Truyền thống, hay nói giản dị hơn là quá khứ cũng có quá khứ tốt và quá khứ xấu, cần được nhìn nhận lại một cách khách quan. Có những giá trị tốt cần được phát huy như truyền thống tương thân tương ái, sự độ lượng&#8230;nhưng cũng có những truyền thống trở thành lực cản vì sự trì trệ và bảo thủ cần loại bỏ.</p>
<p>&#8220;Ðối xử&#8221; với truyền thống, tôi nghĩ lớp trẻ đừng bao giờ nhìn hiện tại và tương lai bằng đôi mắt của quá khứ, đừng để những &#8220;lực chết&#8221; kéo ta lại với quá khứ, hay để những người sống đi cãi nhau với người chết (ông dẫn thơ &#8211; <em>Thưở ấy tôi rất già/ Mở miệng khuôn tổ tiên rập nói</em>). Với truyền thống, cũng cần phải nhìn nhận một cách tinh tế. Bảo tồn truyền thống không quan trọng bằng phát huy truyền thống để tìm ra một truyền thống mới. Ví dụ có những giá trị truyền thống rất xấu như &#8220;Ta về ta tắm ao ta&#8221; hay &#8220;Phép vua thua lệ làng&#8221; &#8220;Chó cậy gần nhà&#8221;&#8230;, nó thể hiện sự lạc hậu và xã hội không thông suốt từ trên xuống dưới, mang nặng tư tưởng bè phái, địa phương, gia đình&#8230; Hay bia Quốc Tử Giám không chỉ thể hiện tính hiếu học mà còn lộ ra tính hám văn bằng có ngay ở trong truyền thống.</p>
<p>Nhìn nhận truyền thống, mỗi người trẻ nên định giá bằng đôi mắt của mình chứ không theo sự định giá của người khác.</p>
<p><strong>&#8220;Ðạp đổ thần tượng&#8221; hay &#8220;đứng trên vai thần tượng&#8221;?<br />
</strong><br />
SVVN: <em>Trong một lần trò chuyện, nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường nói rằng lớp trẻ ngày nay có vẻ hơi &#8220;vô thần, vô đạo&#8221;, thực ra thì theo ông, lớp trẻ có nên nuôi trong mình những &#8220;tín điều&#8221; không?</em></p>
<p>LĐ: Vô thần thì nên, nhưng vô đạo thì không nên. Con người nên có những tín điều nhưng không nên thờ thần tượng vì thần tượng là sự xuống cấp của tín điều. Nhìn lịch sử tiến triển của loài người mình phải đứng trên vai của quá khứ mới thấy được tương lai chứ núp bóng quá khứ thì tương lai không bao giờ thấy được.</p>
<p>SVVN: <em>Vậy thì theo nhà thơ, lớp trẻ nên &#8220;núp bóng thần tượng&#8221;, &#8220;đạp đổ thần tượng&#8221;, hay &#8220;đứng trên vai thần tượng</em>&#8220;?</p>
<p>LĐ: Bản thân của sự phát triển văn hoá là chống lại thần tượng. Nói như Trang Tử là &#8220;vứt trí bỏ thánh&#8221; để trở lại suy nghĩ của chính ta. Nói đạp đổ thần tượng thì nghe có vẻ hơi phạm thượng nhưng tôi nghĩ rằng không sai và nói gì thì nói, nếu được coi là thần tượng tức là họ đã ghi được dấu ấn giá trị trong lịch sử, hiện tại và tương lai nên để lớp trẻ khai phá. Tốt nhất, là đứng trên vai thần tượng vì ở trong hoàn cảnh đó, thần tượng đã làm được một việc có ích là giúp lớp trẻ có một cái nền cao ráo và vững chắc.<br />
<strong><br />
Sống thật với chính mình thì sẽ khác<br />
</strong><br />
SVVN: <em>Trước đây, nhà thơ Lưu Quang Vũ than &#8220;Tôi chán cả bạn bè/ Mấy năm rồi họ chẳng nói được câu gì mới&#8221;. Gần đây, cả Văn Cầm Hải và Phan Huyền Thư đều nói đến &#8220;Những giấc mơ của lưỡi&#8221;. Nhà thơ Dương Tường thì nhận xét &#8220;Có nhiều người nghĩ khác, nhưng ít ai sống tận cùng với cái khác của mình&#8221;&#8230;Một trong những điều mà giới trẻ tự chán mình là họ đang càng ngày càng cũ, càng nhạt? Ông có cảm thấy điều đó?</p>
<p></em>LĐ: Tôi chống lại sự nhàm chán nhưng không có nghĩa là tôi sống khác với tôi. Hãy sống thật với chính anh thì anh sẽ khác với những người khác chứ không phải &#8220;chủ trương&#8221; để sống khác. Vì nếu khi anh sống khác anh tức là anh không thật với chính mình. Còn nếu khi anh tự chán mình, chán bạn bè mình là lúc anh đang khao khát để thay đổi, khao khát sự &#8220;vận động&#8221; của lưỡi.</p>
<p>SVVN: <em>Vậy ông &#8220;khuyến khích điều gì trong cách sống của giới trẻ</em>&#8221;</p>
<p>LĐ: Tôi khuyến khích sự lao động cần cù và kiên trì của lớp trẻ, từ bỏ cách nghĩ cách làm việc &#8220;ngắn hạn&#8221;, &#8220;ăn xổi&#8221; và bệnh &#8220;khoa trương&#8221;, &#8220;ồn ào&#8221;. Tập cho mình những tầm nhìn &#8220;dài hạn&#8221; và đi đến tận cùng cái &#8220;tư duy dài hạn&#8221; ấy. Trong cuộc sống, thư giãn hãy &#8220;bình thường tâm&#8221;, đừng &#8220;phân thân&#8221; nhiều quá. &#8220;Khi đói ta ăn, khi mệt ta nghỉ&#8221; như lời dạy của một thiền sư, chứ đừng khi ăn lại nghĩ đến chuyện khác và khi nghỉ cũng nghĩ đến những chuyện khác.</p>
<p>SVVN: <em>Và trong tâm hồn, trong thơ ca? Là một nhà thơ không ngừng cách tân thơ Việt, cuối cùng ông nghiệm ra điều gì quý giá nhất ở thơ ca?</p>
<p></em>LĐ: Thơ là mỹ học và đạo đức học. Cái đẹp trong câu thơ kêu gọi sự cao thượng. Và nên hiểu thơ ca cũng là một sự lao động ngôn ngữ đầy gian khổ chứ không chỉ là cảm xúc thẩm mỹ thuần tuý (<em>Chữ bầu nên nhà thơ</em>). Nhà thơ, nhất là các nhà thơ trẻ hãy tập cho mình một cách sống gian khổ (chứ không phải cực khổ), một sự &#8220;li kỳ&#8221; trong tinh thần. Nhưng đáng buồn nhất cho những nhà thơ &#8220;li kỳ trong đời thật nhưng lại tẻ nhạt trong đời chữ&#8221;!</p>
<p>SVVN: <em>Sự &#8220;li kỳ&#8221; trong đời người, đời chữ của ông, nếu được nói bằng thơ..?</em></p>
<p>LĐ: Thơ ca, cuối cùng với tôi vẫn là cảm xúc mỹ học và cái đẹp của sự cao thượng. Tôi thích những câu thơ giàu cảm xúc: <em>Vườn thức, một mùa hoa đi vắng/ Em ở đây mà em ở đâu</em>? Hay <em>Tim lặng lạnh góc bồ đề mưa cũ/ Chim gõ mỏ kiếp xưa, chưa rũ hết luỵ tình</em>&#8230;</p>
<p>SVVN: <em>Ðiều cuối cùng, nhân dịp mùa xuân mới, mùa như các nhà thơ nói &#8220;ươm mầm, chồi xuân, lọc nõn&#8230;&#8221;, nhà thơ có một lời chúc nào dành cho những người bạn trẻ?</p>
<p></em>LĐ: Tết ở ta có một tục lễ cổ truyền rất hay là xông đất. Tôi chúc các bạn trẻ đầu năm mới hãy &#8220;xông đất&#8221; nhiều hơn, &#8220;xông đất&#8221; nhiều lĩnh vực mới hơn nữa&#8230;<br />
<span style="color: #ff0000;"><strong>Phụ Đính : Bài “đấu tố” Lê Đạt của Xuân Diệu (Tháng 5/1958)</strong></span></p>
<h2>Những biến hoá của chủ nghĩa cá nhân tư sản qua thơ Lê Đạt</h2>
<p><strong>Xuân Diệu</strong></p>
<p><strong> </strong>Nhà thơ Pháp A-ra-gông (Aragon) có lúc (1943) đã phải cay đắng thốt ra rằng: sao mình lại phải lấy những vần thơ tiếng Pháp để mà nói những cái trại tù đầy của Quốc xã Đức! Tôi xin thú thật rằng: phải mấy lần viết về cái gọi là văn thơ của nhóm phá hoại <em>Nhân văn–Giai phẩm</em>, tôi chẳng lý thú gì; tôi thích dùng tiếng mẹ đẻ để ca hát, nói nỗi lòng tôi rung động với Tổ Quốc, với nhân dân, hơn là để xâu lại một chuỗi dài dơ dáng những thứ thơ xấu xa phản trắc. Nhưng, những Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt… đã cố ý làm xú độc cái không khí văn thơ của ta, nên chúng ta phải quét cho sạch, phải tẩy độc; thực ra, người không thể yên ổn mà làm việc tốt được, khi ma quỷ hãy còn lẩn với người. Nhóm<em>Nhân văn–Giai phẩm</em> có cả một kế hoạch dùng ngòi bút phá hoại ta; chúng ta đã vạch cái chân tướng phản động về chính trị của họ; tuy nhiên, có người còn có thể lầm, cho rằng “sáng tác” của bọn họ còn có cái hay. Tôi hãy lấy thơ Lê Đạt làm một ví dụ để vạch ra cả một hệ thống nghệ thuật thoái hoá, suy đồi, vạch cái cờ gian bạc bịp đã lừa được một số nhỏ người nhẹ dạ trong ba năm nay; thơ Lê Đạt là một hệ thống khá tiêu biểu trong thứ “văn nghệ” <em>Nhân văn–Giai phẩm</em>.</p>
<p><strong>Một cuộc tàng hình</strong></p>
<p>Những kẻ ăn cướp lại cứ muốn đánh trống la làng lên trước; chúng tung khói giả ra làm sương mù, để dễ bề làm ăn. Nhóm phá hoại <em>Nhân văn–Giai</em> <em>phẩm</em> muốn “cao tay”; <a href="http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=4855&amp;rb=08">trong cuộc tranh luận về tập thơ Việt Bắc (1955)</a>, họ làm ra bộ rất cách mạng; Hoàng Cầm khinh thơ Tố Hữu là “ít chất sống thực tế”, là “đao to búa lớn”, là “trống rỗng”, là “hồn thơ yếu ớt, chênh vênh”; Lê Đạt lấy tính chất của giai cấp công nhân ra để chê trách thơ Tố Hữu; bọn họ làm như là mình cứng cáp, vững vàng lắm, mới nghe nói <em>Hắt hiu lau xám, Bâng khuâng trong dạ, Bồn chồn bước đi</em> trong bài thơ “Việt Bắc”, đã buộc cho Tố Hữu là gieo rắc cái bùi ngùi, cái buồn! Nhưng trong thực tế ba năm qua, chính họ đã rơi thảm hại vào những điều mà họ nói vu cho người khác! Lê Đạt phất ngọn cờ “Học tập Mai-a-kốp-ski phát huy sức sống mới của thơ ca Việt Nam” <a href="http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=9376&amp;rb=0206#anm1"><sup>[1]</sup></a> đã dám lấy cái giọng của chính nghĩa, hô to: “Chúng ta chưa vạch được bộ mặt đểu cáng của kẻ thù bên trong, chưa lột mặt nạ được những tư tưởng lạc hậu đội lốt cách mạng, chưa lên án chúng”. Vâng, câu này đúng lắm, nhưng nó chỉ đúng cho chúng ta, những nhà văn chân chính và quần chúng cách mạng, trước đợt đấu tranh này, trong những năm 1955, 56 và 57, còn quá đoàn kết một chiều, nhượng bộ hữu khuynh với bọn chống chế độ, là bọn <em>Nhân văn–Giai phẩm</em>, trong đó Lê Đạt là một tay quan trọng. Ấy thế mà Lê Đạt lại dám đánh trống lên! Rõ đúng là: cần phải xem món hàng thật giả thế nào, chứ đừng có nghe chiêu bài quảng cáo!</p>
<p>Tục ngữ nói: Thức lâu mới biết đêm dài… Lấy một Lê Đạt làm ví dụ, theo dõi hành tung trên một chặng dài, ta thấy hiện rõ quá trình của một kẻ ẩn núp, tàng hình, đã từng quay quắt được một thời gian, nhưng rốt cục cái bản chất phản lại giai cấp vô sản lòi ra mồn một.</p>
<p>Trong kháng chiến, Lê Đạt cũng công tác, cũng làm thơ, lúc mới Hoà bình, cũng ra tập thơ <em>Thế giới này là của chúng ta</em> gồm những bài thơ làm từ 1950 đến 1955, với nhiều lời ca ngợi chế độ. Những người tinh một chút, xem tập thơ này (12-1955), đã thấy ngờ ngợ và khó chịu: sao mà thơ cứ phều phào, vội vã, làm bằng trí khôn chứ không phải làm bằng tình cảm; &#8211; trên đời này, ai còn nhầm được những lời yêu đương chân thực với những lời hẹn thề xoen xoét!<br />
<em>Lớp trước lớp sau</em><br />
<em>Mồ mả ông cha còn đấy</em><br />
<em>Từng ngọn cỏ hôm nay nóng rẫy</em><br />
<em>Những lời gửi gắm hôm qua</em><br />
<em>Nước chúng ta</em><br />
<em>Dân chúng ta bất diệt</em><br />
<em>Sông núi mấy nghìn năm tha thiết</em><br />
<em>Vẫn thầm thì hai tiếng Việt Nam</em></p>
<p><em>Những xóm những làng</em><br />
<em>Những cây đa cổ thụ</em><br />
<em>Những bờ tre gốc lúa</em><br />
<em>Những giếng nước dòng sông</em><br />
<em>Những câu dân ca như chảy máu lòng…</em><br />
Kể ra, những lời thơ như trên này, &#8211; vào hạng tốt nhất của tập thơ – cũng khó mà bắt bẻ được; nó có đủ cả, đưa cả mồ mả cha ông, người chết người sống, sông núi, tên của Tổ quốc v.v…; nhưng sao nó nói nhanh thế! Nó nói nhiều thế! Vanh vách kể đủ thứ, đưa ra cả một ít máu chảy ở lòng! “Tinh hoa phát tiết ra ngoài”, cái lối chàng Sở Khanh đấm ngực: “Lòng này ai tỏ cho ta hỡi lòng!”, lộ liễu phanh phui trên tập thơ. Người ta để ý hơn cả, là Lê Đạt nói rất nhiều đến Đảng; dễ chưa người làm thơ nào lại viết nhiều về Đảng bằng Lê Đạt trong tập thơ này; không phải những người làm thơ khác kém yêu Đảng, nhưng người ta muốn tình nhiều lời ít, nói một cái gì cho thấm, sắc, chân thực, vì Đảng không phải chuyện đưa ra bô bô. Trong bài thơ: “Đảng cứu sống chúng ta”, Lê Đạt reo:</p>
<p><em>Việt Minh về đây rồi!</em><br />
<em>Việt Minh về đây rồi…</em><br />
<em>… Chi bộ kết nạp anh vào Đảng</em></p>
<p>Trong bài “Người đảng viên”, Lê Đạt nhắc:</p>
<p><em>Anh im lặng cúi đầu</em><br />
<em>Anh nhớ ngày vào Đảng…</em></p>
<p>Và Lê Đạt phất <em>“Ngọn cờ Đảng bay trên đầu phơi phới – Lời thề còn vẳng bên tai”</em>; và Lê Đạt <em>“Mang đất nước trong lòng – Miệng hát bài ca cộng sản”</em>, Lê Đạt <em>“Vần trái đất theo đường đi của Đảng”</em>; và Lê Đạt hùng dũng: <em>“Tuổi trẻ chúng ta – Sống chết đi trên đường cộng sản – đứng đầu ghềnh Cách mạng – hộ vệ cho cuộc đời”</em>; Lê Đạt làm ồn nhiều quá! Mời mọi người<em>“Cùng với chúng tôi – Phất mạnh ngọn cờ của Đảng”</em>, v.v…</p>
<p>Người đọc, ngay cuối năm 1995, đã bắt mạch thơ Lê Đạt và nghi hoặc tự hỏi: &#8211; Sao anh này nói nhiều thế? Một bạn thơ, đọc xong tập <em>Thế giới này là của chúng ta</em>, ngay lúc đó đã bảo với tôi: &#8211; “Người ta thì khéo tay, còn Lê Đạt thì khéo óc.” Chúng tôi đã cùng nhau cảm thấy một cái gì không thật, một cái gì xoen xoét; và mặc dầu Lê Đạt nói đủ cả, làm thơ về những anh công nhân kháng chiến mùa đông đứng bên máy tiện, về vợ chồng anh làm thuốc đen, mặc dầu Lê Đạt làm thơ về nông dân nhận trâu, nhận ruộng, làm thơ đón bộ đội miền Nam ra tập kết, mặc dầu trong thơ Lê Đạt cũng có những người khóc, những người chết, chúng tôi vẫn không tin. Khi Lê Đạt viết bài: “Chống hoà bình chủ nghĩa”, tôi lại càng ngờ vực. Sao lại huênh hoang đến thế, hình ảnh gì mà lại lố như vậy:</p>
<p><em>Đường cách mạng còn dài</em><br />
<em>Nhiều ngã ba, ngã bảy</em><br />
<em>Không chúng ta đứng đấy</em><br />
<em>Ai chỉ đường</em><br />
<em>Cho trái đất quay?…</em><br />
<em>…Trái đất</em><br />
<em>Không chúng ta</em><br />
<em>Ngơ ngác trước mù loà</em><br />
<em>Chống gậy</em><br />
<em>bước đi loạng choạng</em></p>
<p>Chẳng bao lâu, cái thắc mắc của người đọc đã được trả lời. <em>Thế giới này là của chúng ta</em> phát hành tháng 12-1955, thì chỉ hai tháng sau <em>Giai phẩm mùa Xuân</em> ra đời (tháng 2-1956). Đã rõ rệt như ban ngày, tập <a href="http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=7340&amp;rb=08"><em>Giai phẩm mùa Xuân 1956</em></a> phất lá cờ đầu tiên chống Đảng, chống chế độ, và Lê Đạt là nhà lý luận trong đó. Lê Đạt mở đầu <em>Giai phẩm</em> với cái tuyên ngôn: “Trích Thơ gửi người yêu”, thì chính Lê Đạt đã in một đoạn “Trích Thơ gửi người yêu” ngay đầu tập <em>Thế giới này là của chúng ta</em>: một cái tuyên ngôn mà dùng chung cho một tập “ca ngợi” chế độ và một tập chống chế độ! Trong “Thơ gửi người yêu” đó, đã lộ mặt cái anh hùng chủ nghĩa đáng tức cười của Lê Đạt:</p>
<p><em>Một người lực sĩ</em><br />
<em>Chỉ mang nổi ngàn cân</em><br />
<em>Anh suốt tháng suốt năm</em><br />
<em>Mang quả địa cầu trong óc,</em></p>
<p>đã lộ ra cái khinh người vô căn cứ, tự cho mình là đẻ ra cái thai to quá: <em>“Ăn nằm với cuộc đời – thai nghén đất trời – sinh ra sự sống”</em>, lộ rõ cái nói dóc trắng trợn, rẻ tiền.</p>
<p>Và với bài thơ tuyên ngôn thứ hai: <a href="http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=7351&amp;rb=08">“Mới”</a>, đăng trong <em>Giai phẩm</em>, Lê Đạt đã nhanh như cắt, tự lột toạc vứt xuống đất cái mặt dối trá của mình đã đeo từ trong kháng chiến; Lê Đạt không cần mai phục nữa, tự vạch cái giả vờ của tập thơ cơ hội <em>Thế giới này là của chúng ta</em>, xé nát nó ra, đứng lên trên nó mà giày xéo một cách căm giận:</p>
<p><em>Tôi đã sống rất nhiều ngày thảm hại</em><br />
<em>Khôn ngoan không dám làm người</em><br />
<em>Bao nhiêu lần tôi không thực là tôi</em><br />
<em>Tim chết cứng trong lề thói</em><br />
<em>Những đêm trắng tấy lên trong dữ dội</em><br />
<em>Không muốn nhìn mặt mình</em></p>
<p>Thật là rõ quá! Mấy câu này đã cắt nghĩa cho người đọc hiểu tại sao mà thơ Lê Đạt trước kia cứ nói nhiều đến Đảng, mà lại cứ như nước đổ lá môn, trôi tuột đi! Thôi, từ những bài thơ <em>Giai phẩm</em> này trở đi, Lê Đạt sẽ được là Lê Đạt, sẽ “thành thật” là mình, sẽ sang một chặng đường khác, sẽ đến một chân trời “mới”, say sưa cầm một cán cờ khác, nhất quyết dương lá cờ “mới” đó lên!</p>
<p><strong>Những biến hoá của chủ nghĩa cá nhân tư sản</strong></p>
<p>Lê Đạt đã rít lên tiếng nói từ thâm tâm, từ bản chất của mình ra, nó đích là tiếng đòi “tự do” của chủ nghĩa cá nhân tư sản, nó là ý muốn của tồn tại và phát triển của hệ thống tư tưởng tư sản! Nó không chịu nổi sự chuyên chính của tư tưởng vô sản yêu cầu chủ nghĩa cá nhân phải tự nguyện phục tùng lợi ích của tập thể, phục tùng kỷ luật cách mạng. Nhưng chủ nghĩa cá nhân tư sản ranh mãnh lắm; nó quyết kéo lẽ phải về nó; nó tự xưng nó là đại diện cho “con người”, ai dồn ép nó, tức là xúc phạm con người: Lê Đạt mị dân, kêu to lên: “tôi mới hai mươi lăm tuổi” (1956), hòng tập hợp thanh niên quanh mình, kích những “tuổi hai mươi” lên, nói khích họ, gãi vào cái máu anh hùng chủ nghĩa của tiểu tư sản, cái tính ham mới chuộng lạ của thanh niên. Lê Đạt đưa ra cái tà thuyết rạch đôi các sự vật ra làm hai: hễ cái gì “mới” là cách mạng, hễ cái gì “cũ” là đeo kính vào viện hàn lâm, là mệt mỏi, lối mòn, vết già nua, lề đường han rỉ… Nhưng chúng ta thì đặt tiêu chuẩn một cách khác; có một cái mới căn bản trong thời đại chúng ta: là giai cấp vô sản chiến thắng, là cách mạng xã hội chủ nghĩa; ngoài ra, những sự vật khác, thì chúng ta rạch ra làm hai: những cái gì có lợi cho giai cấp vô sản và chủ nghĩa xã hội là tốt, những cái gì chống lại, là xấu, bậy, phản động. Chứ chúng ta không câu nệ trong vấn đề mới, cũ. Khi chế độ phong kiến và chủ nghĩa đế quốc còn canh ty nhau trị vì trên đất nước ta, thì đi ngược chiều đó, là mới, và cái mới này là tốt. Nhưng khi, trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đời sống dân chủ nhân dân vững mạnh được mười ba, mười bốn năm, và đang tiến lên chủ nghĩa xã hội, mà nhóm phá hoại <em>Nhân văn–Giai phẩm</em> lại cho mười ba, mười bốn năm không thay chiều đổi hướng, tức là cũ, là “công thức xỏ dây vào mũi”, thì ta không để yên cho họ đi tìm cái “mới” khác đâu! Chúng ta quyết bảo vệ cái “một chiều xã hội chủ nghĩa” này, và quét tất cả những thứ “mới” của họ vào hố rác!</p>
<p>Lê Đạt, “những đêm trắng tấy lên dữ dội”, đã đẻ ra một quái thai: chủ nghĩa cá nhân phát cuồng, tự phải lòng mình quá đáng, và tự nói phét về mình không chút ngượng mồm. Lê Đạt là một anh hùng quân đội chăng? Một anh hùng lao động chăng? Một thi sĩ đại tài chăng? Anh ta làm một số bài thơ xoàng ca ngợi chế độ, thì anh ta đã lại phủ nhận tất cả rồi. Nhưng Lê Đạt cứ vênh váo, lấy dáng điệu vĩ nhân, thấy bóng đầu mình lù lù quá to trên trang sách nhỏ, <em>“đất nước đêm nay chĩa đầu ngòi bút”</em>, mà ngòi bút thì nặng hàng vạn vần thơ. Ai muốn tìm cảm giác lạ, thì hãy đến xem! Lê Đạt ban ơn ban phước cho đời sống cách mạng này, <em>“moi óc làm thơ, moi tim làm thơ”</em> đến nỗi <em>“từng từng giọt mồ hôi đẫm bản đồ chính sách”</em>, trong khi đó thì đùng một cái, Lê Đạt bất ngờ nổ súng <em>“vào đầu dĩ vãng”</em>làm cho thiên hạ giật mình!</p>
<p>Trong bài <a href="http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=7361&amp;rb=08">“Mỗi ngày mỗi lớn &#8211; Gửi Kế hoạch Nhà nước 1956”</a> người ta thấy Lê Đạt gợi lại cái dáng điệu đánh cối xay gió của anh chàng Đông Ky-sốt, nhưng lại không có cái đáng mến của Đông Ky-sốt:</p>
<p><em>Ta nắm cổ thời gian</em><br />
<em>Quất cho phi nước đại</em><br />
<em>Kéo ngày mai gần lại</em><br />
<em>Thúc vào lưng cuộc đời</em><br />
<em>Mở máy đến chân trời cộng sản</em></p>
<p>Chúng ta cũng thấy rõ cái “tôi”, khi nó tự thổi phồng mình, đã hoá ra buồn cười như thế nào, Nhưng, còn hơn thế nữa. Lê Đạt thấy người chung quanh không tin anh ta khi anh ta huếch hoác, thì Lê Đạt chuyển ngay giọng vênh váo ra giọng đau khổ. Làm anh hùng không đắt, Lê Đạt bèn chuyển sang làm tử-vì-đạo trong bài “Cửa hàng Lê Đạt”. Phương pháp nào cũng tốt, miễn là tự đề cao được mình, làm cho thiên hạ chú mắt vào ta! Qua cửa miệng Lê Đạt, cái chủ nghĩa cá nhân tử sản bị dồn ép, cất lên những lời thảm thương, hấp hối; nó tự làm ra vẻ đang bị thương, máu me lênh láng, và nó đau, tức là cả nhân loại đau; nhưng ở miền Bắc này, nó muốn có người nghe, thì nó vẫn cứ phải nói là nó yêu chế độ:</p>
<p><em>Có những ngày</em><br />
<em>tôi chỉ còn muốn chết</em><br />
<em>Nhưng yêu vợ,</em><br />
<em>yêu thơ,</em><br />
<em>yêu chế độ</em><br />
<em>Tôi không thể đi</em><br />
<em>Và cho dù có nằm sâu dưới mộ</em><br />
<em>Bất công đè nặng trên đầu</em><br />
<em>Tôi vẫn gào lên…</em></p>
<p>Lê Đạt cho mình là người chủ chốt của báo <em>Nhân văn</em>, tham mưu cho cả báo, tự tay sửa chữa nhiều bài đả kích chế độ ta rất cay độc, chính mình vu khống thiên hạ, thế mà lại đập đầu ăn vạ kêu rằng thiên hạ bất công với mình. Cứ một đà ấy, Lê Đạt tự khóc mình rất lâm ly, cho rằng sở dĩ mình khổ đau, là vì mình ôm lấy nghĩa lớn, sự vờ khóc này là một cách rất tinh vi buộc tội vào cho chế độ ta:</p>
<p><em>Tôi đã sống những ngày dầu dãi</em><br />
<em>Quên ngủ, quên ăn </em><br />
<em>Mắt lõm sâu</em><br />
<em>như huyệt chôn người chết</em><br />
<em>Tôi đã chịu đau thương</em><br />
<em>bất công nhọc mệt</em><br />
<em>Tuổi thơ</em><br />
<em>làm hại tuổi giời</em><br />
<em>Mà nhiệm vụ</em><br />
<em>tôi vẫn làm chưa trọn…</em></p>
<p>Càng nói càng tự say lấy lời nói của mình, Lê Đạt không chịu đứng dừng ở cái cương vị tử-vì-đạo, mà tham vọng hơn. Cái “bệnh vĩ đại” <a href="http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=9376&amp;rb=0206#anm2"><sup>[2]</sup></a> đang lên cơn sốt cao độ, Lê Đạt thấy như mình là một đấng cứu thế nào đây, tự căng mình lên cái mức vũ trụ:</p>
<p><em>Vũ trụ ơi</em><br />
<em>tha cho tôi</em><br />
<em>Tất cả những gì</em><br />
<em>thơ tôi chưa làm được</em><br />
<em>Khi tắt thở</em><br />
<em>mắt tôi đừng ai vuốt</em><br />
<em>Còn gì buồn hơn</em><br />
<em>không được thấy cuộc đời</em><br />
<em>Bác sĩ ơi</em><br />
<em>hãy khoét mắt tôi</em><br />
<em>lắp cho những người cần nó</em><br />
<em>Để chết rồi</em><br />
<em>mắt tôi vẫn mở</em><br />
<em>Vẫn tham gia phục vụ</em><br />
<em>loài người</em></p>
<p>Người nào hay mủi lòng và mất cảnh giác thì rất dễ bị lừa với những cách nói “tha thiết” như trên đây. Dưới các chế độ áp bức bóc lột trước, trong văn học và trong cuộc đời, đã có những người mang một thành tâm muốn lấy tất cả nước mắt mình, và nếu cần, lấy tất cả máu mình tưới cho tắt bớt cái ngọn lửa khổ đau đốt thiêu nhân loại; ta rất cảm kích những nỗi chân thành đó, vì trước khi có Đảng của giai cấp vô sản, họ không cầm được một vũ khí nào thực sự có hiệu quả đầy đủ. Một vĩ nhân như Nguyễn Trãi:</p>
<p><em>Tuổi già, tóc bạc, cái râu bạc,</em><br />
<em>Nhà ngặt, <a href="http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=9376&amp;rb=0206#anm3"><sup>[3]</sup></a> đèn xanh, con mắt xanh,</em></p>
<p>âu lo cho cả cuộc đời dưới chế độ phong kiến; Nguyễn Du muốn khóc liền cho ba trăm năm; chúng ta kính cẩn nâng nhận các tấm lòng cứu nhân độ thế như vậy. Nhưng Lê Đạt?</p>
<p>Cuộc đấu tranh hiện nay đã vạch rõ cái mặt dạn dày của Lê Đạt trong nhóm <em>Nhân văn–Giai phẩm</em>, có chủ trương, có kế hoạch phá hoại chế độ ta, trước hết là trên mặt trận tinh thần; chân tướng chính trị của Lê Đạt xấu xa như vậy, mà Lê Đạt cứ ba hoa, khóc lóc đòi cứu thế, thì ai mà không bật cười cho được? Ai mà không tức giận?</p>
<p>Từ mười ba, mười bốn năm nay, tiếp theo Cách mạng tháng Tám, Đảng ta đã công khai lãnh đạo cuộc kháng chiến thắng lợi vĩ đại, cuộc xây dựng đất nước còn nhiều thành tích lớn, có phải là ở dưới thời Pháp thuộc, còn có người chưa biết Đảng nữa đâu; tại sao Lê Đạt bây giờ còn rướn người lên như Lê Đạt đây dẫn dắt cuộc đời? Tại sao nhân dân quần chúng đã nắm lấy chính quyền của mình qua sự lãnh đạo của Đảng, mà Lê Đạt vẫn không chịu tích cực và cụ thể làm việc, lại cứ rên siết ăn vạ, nếu chẳng phải là Lê Đạt không chịu công nhận cuộc đời mới này mà chúng ta đang xây dựng? Gần đây, Lê Đạt đã thú nhận rằng Lê Đạt đã tự cho chính mình là lương tâm của thời đại, chính mình thông minh hơn Đảng. Trước khi con ễnh ương vỡ bụng, thì đã có lúc nó kêu to ì ộp!</p>
<p>Cùng với Trần Dần, Lê Đạt đã mở sách ra đọc, học đòi Mai-a-kốp-ski một cách lố bịch. Mai-a-kốp-ski là một nhà thơ lớn, cần phải học cái nhiệt tình yêu Đảng, bảo vệ chế độ Xô Viết của ông; mặt khác, theo tôi nghĩ, chúng ta sống sau Mai-a-kốp-ski ba mươi năm, chủ nghĩa cộng sản và những tác phong cách mạng đã có những bước tiến bộ mới; sao cứ nhại cho được “cá tính” của Mai-a-kốp-ski? Mai-a phải đâu là không có những nhược điểm mà chúng ta không nên học? Chẳng qua là Lê Đạt, Trần Dần, Hoàng Cầm lợi dụng Mai-a một cách tội lỗi; Lê Đạt đã xoen xoét ca ngợi được Đảng để rồi phản bội, thì họ có từ một cái gì! “Bệnh vĩ đại” của Lê Đạt quả là to! Sau khi nói đến Mai-a-kốp-ski và Beethoven, Lê Đạt tự vỗ vào ngực: “Thật là an ủi và sung sướng được làm người cùng với những con người như thế”. Chúng ta nói: “Những người như thế làm vinh dự cho con người” <a href="http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=9376&amp;rb=0206#anm4"><sup>[4]</sup></a> . Nhưng Lê Đạt thì lại chỉ muốn làm người cùng với những cỡ như Mai-a và Beethoven thôi, chứ còn với quần chúng bình thường vô danh, thì Lê Đạt không muốn cùng làm người. Bây giờ chúng ta có thể tạm đếm lại những thứ áo mà chủ nghĩa cá nhân ở Lê Đạt đã vơ lấy đắp vào thân: áo chiến sĩ, áo đảng viên, áo anh hùng, áo cứu thế, áo thiên tài…</p>
<p><strong>Còn nhiều biến hoá</strong></p>
<p>Ở đây, tôi không nói lại nữa về trường hợp bài thơ vu khống chế độ ta: bài “<a href="http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=9370&amp;rb=08">Nhân câu chuyện mấy người tự tử</a>” nằm to tướng trên số 1 báo <em>Nhân văn</em>; một bài thơ chính trị phừng phừng một căm thù giai cấp đối với chế độ, mà nhiều người đã vạch ra rồi.</p>
<p>Trong bài “Cửa hàng Lê Đạt”, cái hằn thù giai cấp đó còn bốc lên ác liệt hơn, tinh vi và toàn diện hơn; chủ nghĩa cá nhân tư sản của Lê Đạt, trong bài này, không phải chỉ thương thân tủi phận, mà chính trong lúc đó nó làm như đang hấp hối rẫy chết, cũng là lúc nó hằn học, xỉa xói, dùng nhiều mánh khóe giảo quyệt chống đối chế độ. Những mánh khóe này không ai còn lạ gì. Cái lưỡi <em>Nhân văn</em>sáng tạo ra quay quắt khá nhiều thứ giọng. Thoạt đầu là giọng thách thức, khiêu khích:</p>
<p><em>Lê Đạt nào?</em><br />
<em>Chán thơ thẩn rồi sao</em><br />
<em>mà lại về mở hiệu</em><br />
<em>Hay vợ đau con yếu</em><br />
<em>Làm thơ không đủ tiêu</em><br />
<em>Hay bị phê bình, kiểm thảo</em><br />
<em>Giờ như chim phải tên</em><br />
<em>Động thấy cây cong là sợ</em><br />
<em>Hay thơ tồi</em><br />
<em>không người tiêu thụ</em><br />
<em>Phải bán ki lô</em></p>
<p>Rồi Lê Đạt chặn họng ngay những người nào sẽ phê bình anh ta, gọi họ là “mác-xít thiên binh”, là lang băm chứ không phải ngành y tế. Trước đây, ở tập <em>Thế giới này là của chúng ta</em>, trong khi Lê Đạt mới về thủ đô, đã vội vàng bán văn cho tên lái Minh Đức, viết ngay một tập sách đứng lên làm lãnh tụ giáo dục thanh niên, và khi bị báo <em>Tiền phong</em> vạch ra, thì Lê Đạt cứ ngang nhiên chửi người khác là hoà bình chủ nghĩa, “chết đuối trong đũng quần đàn bà”. Ở “Cửa hàng Lê Đạt”, Lê Đạt đang lừa đảo người ta, Lê Đạt dõng dạc kêu:</p>
<p><em>chí ở sở thuế</em><br />
<em>Hãy phạt nặng bọn lái văn “Mỹ ký” <a href="http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=9376&amp;rb=0206#anm5"><sup>[5]</sup></a> </em><br />
<em>Chuyên buôn giả tình người</em></p>
<p>Mới mở “cửa hàng” ra, Lê Đạt đã theo đúng quy luật tư bản chủ nghĩa, rêu rao cạnh tranh: “Bao nhiêu chỗ ngon người ta cắm trước”; đã dèm pha các “hiệu” cũ hai, ba mươi năm; chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng: “Chưa có tiếng tăm – rồi sẽ có tiếng tăm”; ấy thế mà Lê Đạt lại kêu người ta ghen ghét mình:</p>
<p><em>Dưới mặt trời</em><br />
<em>thiếu gì chỗ đứng</em><br />
<em>Mà phải nguýt lườm</em><br />
<em>Phải huých lẫn nhau</em></p>
<p>Thật đúng là bọn <em>Nhân văn</em>, lấy sự gian dối làm khuôn, làm phép! Và Lê Đạt doạ Đảng là mình đây có lực lượng, khoe rằng phe cánh của mình đông, có nhiều “nhân tài”; Lê Đạt ra ở riêng, thì nào “Ôm lấy bóng đèn Văn Cao vẽ một con mắt đỏ”, nào “ngoài cửa hàng Trần Dần treo quả tim đồ sộ”, nào “hôm khai trương Hoàng Cầm giọng oanh vàng đất Bắc sẽ đến ngâm thơ”, nào “Phùng Quán <em>Vượt Côn Đảo</em> về”, v.v… bao nhiêu là kẻ “còn tim đòi rung, còn đầu đòi nghĩ”! Và Lê Đạt mị dân, khêu gợi vào đời sống hiện nay còn eo hẹp của cán bộ, làm như chăm sóc cho họ hơn là Đảng và Chính phủ; Lê Đạt lại ca tụng cửa hàng của mình là rộng rãi phóng khoáng, có đủ thứ vui thú cần dùng, “mới về nhiều thứ thuốc chữa liệt tim”; và bao trùm tất cả, vẫn là cái kiêu ngạo bảo thiên hạ “mang thơ tôi làm gậy chống lên đường”. Tất cả bài thơ là giọng lưỡi của một kẻ khiêu khích, khi bù lu bù loa thảm thiết, khi cười sằng sặc, khi trợn mắt tức giận, khi phồng mồm huênh hoang, có doạ dẫm, có van vỉ, tận dụng cái kỹ thuật “tác động tinh thần”.</p>
<p>Có một điểm hay hay, chứng minh cho quy luật trâu tìm trâu, ngựa tìm ngựa, là trong khi Lê Đạt hươi kiếm múa những loại thơ như trên kia, thì <a href="http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=7438&amp;rb=08">Phan Khôi</a> đứng vỗ tay; ông già tỏ ra thích chơi chống bỏi, làm ra bộ “mới” lắm, gần với thanh niên; Lê Đạt tung, thì Phan Khôi hứng: “Tôi viết cái bài khảo cứu nhỏ này cốt để cắt nghĩa mấy câu thơ của Lê Đạt; <em>Những kiếp người sống lâu trăm tuổi, &#8211; Ỳ như một cái bình vôi…”</em> <a href="http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=9376&amp;rb=0206#anm6"><sup>[6]</sup></a> Thật là vinh dự cho Lê Đạt, được Phan Khôi che tàn!</p>
<p>Trên đây, tôi vạch những cái đội lốt của Lê Đạt, những phương pháp, mánh khóe của một kẻ cờ gian bạc bịp biến hoá lắm trò. Nhưng tôi cần phải nhắc lại, nhấn mạnh vào cái bản chất tư tưởng tư sản, cái bản chất giai cấp tư sản của Lê Đạt; dù biến hoá thế nào, dù có tung ra nhiều bọt nước miếng để giả làm mây, thậm chí giả làm cầu vồng lắm màu, chủ chốt vẫn là một cái lưỡi cày không thay đổi: lập trường tư sản phản động, trước hết chống đối chế độ ta về chính trị. Câu kết trong nhóm <em>Nhân văn–Giai phẩm</em>, Lê Đạt say sưa chống Đảng ta, bản chất tư tưởng của Lê Đạt không dung hoà, không đội trời chung với giai cấp vô sản. Cho nên khi Lê Đạt làm thơ “ca ngợi” chế độ, thì thật là giả tạo ra khắp các lỗ chân lông; đến khi làm thơ đả kích chế độ ta, thì thật là say sưa xuất phát tự đáy lòng, một cái lòng đen tối, bạc ác. Đứng lên lập nhóm <em>Giai phẩm mùa xuân</em>, cùng với Nguyễn Hữu Đang làm bộ óc của báo <em>Nhân văn</em>, đứng làm “nhà lý luận” của bọn chống chế độ, Lê Đạt là một tay cổ vũ trong bọn đó, bởi “nhiệt tình” chống Đảng sâu sắc của mình. Sau khi báo <em>Nhân văn</em> bị cấm, Lê Đạt liên lạc, câu kết với Thụy An, Lê Đạt đóng vai trò quan trọng trong việc lũng đoạn Hội Nhà văn, Lê Đạt tích cực dùng ngòi bút viết lối văn hai mặt; Lê Đạt luôn luôn giữ một cương vị đứng chủ trường phái; mãi đến trong lớp học văn nghệ lần thứ hai (tháng 3 và 4-1958) vẫn còn tìm cách quay quắt. Cho nên, xét Lê Đạt, ta phải nhìn thấy cho hết, rằng Lê Đạt chống đối ta, phá hoại ta từ trong bản chất giai cấp thù địch.</p>
<p><strong>Rơi trên ghế đá</strong></p>
<p>Trong thời gian qua, <em>Nhân văn–Giai phẩm</em> tung ra một tập tục mà một số bạn trẻ nhẹ dạ cũng bắt chước, là: <em>làm thơ về sự làm thơ</em>, tự tán dương mình là thi sĩ thế này thế nọ, một cuộc “tự cho mình đi tàu bay”! Hồ Chủ tịch, trong Đại hội Văn nghệ lần thứ hai, có khuyên văn nghệ sĩ lấy đức tính khiêm tốn làm đầu. Nhóm <em>Nhân văn–Giai phẩm</em> thì thực hiện một cái đạo đức hoàn toàn ngược lại: nói khoác, kiêu ngạo càng nhiều càng hay! Lê Đạt cùng với Trần Dần, là hai người dùng ngực mình làm phèng phèng hăng nhất: theo sau, Phùng Quán cũng tự thổi kèn về mình. Họ thuyết rất nhiều về bản thân thi sĩ siêu nhân của họ, về thơ của họ làm lớn con người. Trần Dần nói: <em>“Tôi đứng mênh mông chỉ mặt ngài Ngô”</em>, nhưng thực chất, Trần Dần có chỉ mặt ngài Ngô đâu! Chỉ thấy anh ta “đứng mênh mông” như một cái bong bóng to bằng quả đất. Lê Đạt đòi Đảng điều động anh “vào bộ tâm hồn quần chúng”, trong khi Lê Đạt thực tế làm y hệt những công việc “tác động tinh thần”. Cái núi giả chuyển bụng ầm ỹ và đẻ ra một con chuột chù.</p>
<p>Nếu <em>Bài thơ trên ghế đá</em> chỉ là một tâm trạng bi quan, dao động, thì chúng ta phê bình giúp đỡ, coi như cái bệnh thường mắc phải của người tiểu tư sản sợ thực tế. Nhưng tập thơ này là cả một hệ thống có ý thức phá hoại tinh thần từ đầu chí cuối. Chúng ta thấy, với cái chế độ chính nghĩa, nhân đạo của ta, biết bao nhiêu người xưa kia trộm cướp đã bỏ tà qui chính, những gái điếm cũng kiếm nghề lao động, những kẻ trước đây cờ gian bạc lận cũng tự mình làm ăn lương thiện: sống trong chế độ ta, họ không chịu giở những ngón lừa dối mà họ đã dùng với chế độ cũ. Lê Đạt thì trái lại; anh ta vẫn cứ “đầu thai nhầm chế độ”; giữa nền văn học cách mạng của ta, cứ làm hệt như dưới thời Pháp thuộc, coi cách mạng chưa hề có, xã hội chưa hề thay đổi; cố tình tiêu tiền chế độ cũ trong chế độ mới của ta: rõ ràng là Lê Đạt ngang nhiên gian lận!</p>
<p>Ví dụ bài “Đu”. Trong thời Pháp thuộc, nếu có đôi trai gái nào đang đánh đu, nghĩ rằng giá hai người bay bổng luôn trên trời, thì đó có thể là một ý ngộ nghĩnh <a href="http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=9376&amp;rb=0206#anm7"><sup>[7]</sup></a> , tìm một giải thoát tiêu cực. Nhưng giữa miền Bắc nước ta hiện nay, Lê Đạt đánh đu bay tuốt như thế, dụng ý gì? Lại còn bảo rằng sẽ hoá hiện thành hai ngôi sao mới không có trong sách thiên văn. Đó là một sự khiêu khích!</p>
<p>Người ta ai cũng có lúc buồn; buồn mà bao hàm một ý muốn cố vươn lên, thì lại có ý nghĩa giáo dục. Nhưng cái buồn thảm, cái mòn mỏi trong <em>Bài thơ ghế đá</em> là một cuộc đánh tiêu hao vào nghị lực, vào tin tưởng. Chủ nghĩa nhân văn cộng sản của ta là một chủ nghĩa nhân văn cao nhất, bởi nó ca ngợi hàng triệu triệu những con người trung bình, đặt vinh quang vào những công việc vô danh, những phấn đấu hàng ngày; chúng ta rất hiểu cái bếp nước của cuộc đời cách mạng, giải quyết những cái mắm muối nhất, rau dưa nhất, mà không coi thế là tủn mủn. Chúng ta là những người làm ăn rất cụ thể, chúng ta không sợ những đống tã của cuộc sống, của tình yêu, của gia đình! Người nào muốn lớn, thì phải tổ chức được, cải tạo, chiến thắng được những cái nhỏ đó! Nhưng Lê Đạt thì đưa đống tã ra mà doạ thiên hạ: <em>“Chết đuối trong những lo toan nhỏ nhặt”</em>, <em>“Một củ dưa hành một chai nước mắm – Cái soong cái chảo tính cộng trừ &#8211; Chắp nối cho vừa khít hai đầu tháng”</em>, <em>“Nhiều dự định sa lầy trong đống tã”</em>, <em>“tình yêu bị những cái hàng ngày bóp cổ”</em>. (Bài “Gia đình”). Nếu không có cái đời sống bình thường hàng ngày, thì hôm nào cũng đẻ ra trái đất như Lê Đạt chăng? Cái vấn đề là phải nâng đời sống hàng ngày ấy lên, bằng tăng hiệu suất lao động, bắng sắp xếp hợp lý những việc trong nhà, bằng giáo dục một phương pháp tư tưởng, một nhân sinh quan độ lượng, phóng khoáng, bằng cách chữa cái tính eo sèo tẹp nhẹp tiểu tư sản, nghĩa là bằng phấn đấu cụ thể hằng ngày; chứ không phải chết khiếp trước củ dưa hành, hay chai nước mắm. Vì những người như nhóm <em>Nhân văn–Giai phẩm</em> thì có con đường bán hồn cho giai cấp tư sản, đi tìm say sưa giải thoát ở các tiệm trà, tiệm rượu, ở quanh bàn đèn thuốc phiện; chứ nhân dân lao động bình thường, bảo họ vứt đời sống thường ngày khiêm tốn của họ, thì họ đi tìm xa hoa, lộng lẫy ở đâu? Đời sống của họ tuy còn eo hẹp, khó khăn, nhưng chính bàn tay họ sẽ dần dần tự cải thiện, còn đẹp đẽ gấp mấy nghìn lần cái máu tham, cái bệnh khát vàng của giai cấp tư sản! Lê Đạt kêu rêu như vậy, dụng ý gì? Những bài thơ xông thẳng vào những cái đau khổ mà nói, mà phấn đấu, chúng ta rất yêu, và đòi hỏi có nhiều thơ thể hiện ở mức cao như vậy. Nhưng Lê Đạt đưa những xót xa đau đớn ra và cho nó thắng trận, bắt chị chỉ huy du kích dũng cảm trong kháng chiến, bây giờ lấy chồng rồi, thì <em>“len lét cúi nhìn xuống đất”</em>, <em>“chồng đánh chửi như cơm bữa”</em>; bắt một chị phụ nữ sau một năm lấy chồng không hợp, không thể nào yêu chồng được nữa, mà không dám ly dị, <em>“mỗi ngày qua là mỗi ngày tự tử &#8211; bóng tối trùm lên như nấm mộ &#8211; nghe hơi sống trên người lạnh đầu”</em>, dựng lên những người đầu hàng, chết đứng như vậy. Lê Đạt đưa người ta vào con đường tuyệt lộ, tắc tỵ: hai người yêu nhau mà không nói, mỗi người lấy vợ, lấy chồng, có con, Lê Đạt bắt một người chết đi, để cho người kia đến thăm mộ mới nói được mối tình! Chủ nghĩa cá nhân tư sản miệng thì hùng hổ cho mình là ghê gớm, vĩ nhân, óc khỏe hơn tất cả những người lực sĩ mang nặng, khai lối mở đường cho loài người, nhưng trong ruột chỉ có sự trống rỗng, sự nhát hèn, chỉ cần bị một mỗi kim chích cho, là quả bong bóng nằm bẹp dí thảm hại. Lê Đạt đã lộ hết cái cốt yếu hèn của mình, trong thơ chỉ doạ chết với lăm le:<em>“Cổ họng mơ lưỡi dao ngọt sắc”</em>. Hơi tử khí xông lên. Trong bài “Biển với người”, tưởng rằng con người lướt gió cưỡi sóng ra sao, té ra: Biển gặp người trên con tàu, thì cho gọi gió về, và tung sóng lên <em>“bắt người về với biển”</em>:</p>
<p><em>Xác chết không còn tình</em><br />
<em>Biển lạnh càng thêm lạnh</em></p>
<p>Tư tưởng của những giai cấp bóc lột, khi bị quần chúng dồn vào chân tường, thì một là phá hoại điên cuồng, hai là tìm cái chết trong những khoái lạc cuối cùng. <em>Bài thơ trên ghế đá</em> đầy một điệu hưởng lạc, chết lịm trong tình yêu. Cái con người đòi vần trái đất theo con đường cộng sản ấy, đưa ra cái hình ảnh Trình Giảo Kim xưa “mỗi lần ngửi hơi đất mẹ, lại thấy gấp muôn lần khỏe”, tưởng anh ta sẽ ví với người cán bộ mỗi khi hoà mình vào quần chúng, lại thấy sức lực hồi lại nghìn lần; đó là bài học cổ điển của người cộng sản; nhưng không! Cái “đất mẹ” của Lê Đạt không phải là nhân dân mà chỉ là “em”, em tiếp hơi cháy bỏng cho! Lê Đạt đã từng đề ra một châm ngôn <a href="http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=9376&amp;rb=0206#anm8"><sup>[8]</sup></a> : <em>“Ăn như tư sản – Sống như Lão, Trang – Viết như vô sản”</em>. Ăn thật khoái mồm, sống thật bàng quan, và viết thật cách mạng. Đó là tâm lý con buôn trắng trợn, giành lấy phần sướng, phần lợi nhất trong mọi lĩnh vực. Kiểu tìm cái sướng của Lê Đạt là lối hưởng lạc trối già, trối già không phải của tuổi tác, mà trối già của những giai cấp rẫy chết, bị lịch sử lên án. Trong bản thảo đánh máy của <em>Bài thơ trên ghế đá</em> đưa nhà xuất bản Hội Nhà văn, có bài thơ “Trong hầm bí mật” về sau không in vào sách, rất tiêu biểu cho cái triết lý “máu, sướng và chết” của Lê Đạt. Lê Đạt bày ra một cảnh đôi trai gái gặp nhau trong hầm bí mật, trong khi tiếng cuốc của giặc phá hầm rào rào trên đầu. Trước cái nguy cơ đó, đáng lẽ người ta chuẩn bị một mất một còn với giặc; nhưng Lê Đạt thì lại cho hai người ôm ghì lấy nhau, lấy cái chết ở trên đầu làm một cái kích thích bệnh hoạn!</p>
<p>Lê Đạt vẽ ra một cán bộ xa vợ lâu ngày, đêm nằm hầm bí mật, nghĩ đến vợ, <em>“Quên mặt, sợ mơ nhầm người khác”</em>. Một câu thơ lộ hết cái mặt gian xảo của Lê Đạt. Những hình ảnh Lê Đạt đưa ra cũng làm người ta ghê rợn; không còn một chút trang trọng tối thiểu đối với cơ thể người phụ nữ: <em>“Con cái sắp hàng dưới vú”</em>, <em>“Gầy guộc vú dài theo kháng chiến”</em>. Đó là tôi chưa nói Lê Đạt lố bịch về phương diện thẩm mỹ, ví dụ:</p>
<p><em>Như có cô văn công nào</em><br />
<em>múa nhảy</em><br />
<em>trong lòng</em></p>
<p>Khi người ta nói: có một con chim hót ở trong lòng, thì hình ảnh xinh và hợp; trái tim, tấm lòng chỉ vừa đựng một con chim bay bổng nhẹ nhàng. Chứ còn cái tấm lòng của Lê Đạt, mà có cả một cô văn công múa nhảy ở trong, thì có hoạ là sân khấu Nhà hát nhân dân!</p>
<p><em>Bài thơ trên ghế đá</em> còn có dã tâm gì nữa? Có dã tâm đả kích Đảng. Cho Đảng là phao phí nhân tài (“Con búp bê”, “Tình người”); ví Đảng như một anh thợ cầu già chưa vợ, bắc rất nhiều cầu, xây dựng kinh tế được nhiều đấy, nhưng <em>“chưa bắc qua được một lòng người”</em>. Hàng triệu lòng người đã nhờ Đảng mà tái sinh, yêu Đảng sâu sắc; nhưng cố nhiên lòng của bọn <em>Nhân văn–Giai phẩm</em> thì chỉ có giai cấp tư sản phản động mới bắc được cầu.</p>
<p>Đọc tập thơ này, ta chỉ có thể nói là: y hệt như công việc “tác động tinh thần” của địch. Rơi thảm hại xuống như thế.</p>
<p><strong>Một bài học</strong></p>
<p>Nhà xuất bản Hội Nhà văn, dưới sự lũng đoạn của Hoàng Cầm, in tập thơ <em>Ghế đá</em>, chúng ta không lạ. Nhưng một luồng thơ xấu như thơ Lê Đạt, bị công chúng căm về nội dung, ghét về hình thức, mà tại sao vẫn còn một nhóm người thưa thớt nào đó ra vẻ ưa thích? Điều này cũng dễ hiểu thôi. Đây là một vấn đề giai cấp xã hội, vấn đề hệ loại tư tưởng. Một anh cán bộ văn hoá đã bộc lộ rằng khi anh đọc thơ Lê Đạt cho một số thanh niên cao bồi ở Hà Nội, thì họ mới nghe thoáng qua, chưa hiểu rõ từng câu, họ đã thích ngay. Cái màu cá nhân anh hùng rẻ tiền, càn quấy ngổ ngáo của cao bồi đã gặp Lê Đạt là phát ngôn nhân của họ. Thơ Lê Đạt rất nhiều “cá tính”, thích đập phá vô chính phủ, bán trời không văn tự, chống đối lập trường và kỷ luật xã hội chủ nghĩa, thì nhất định là được cao bồi, những sản phẩm còn rớt lại của văn hoá Mỹ, đồng thanh tương ứng. Một sinh viên khi kiểm điểm mình đã bị nọc độc <em>Nhân văn</em>, cũng nói: “… Lê Đạt mới thật là ‘nhà thơ của mọi thời đại’. Nhìn anh tôi thấy thích thích. Râu ria tua tủa không thèm biết cái lưỡi dao bào, áo quần xốc xếch như tôi, như tất cả những người còn bận tâm vì lý tưởng, nói ba hoa, cười hơ hớ. Đúng là dáng dấp của một nhà thơ”. Nhưng Lê Đạt và nhóm phá hoại <em>Nhân văn–Giai phẩm</em> không dựa được trên chân lý, trên chính nghĩa; cái cơ sở giai cấp mà họ đưa vào cũng đang phân hoá; những cao bồi đã học tập ba nên hai chống; một số ít sinh viên lầm lạc sau khi học tập cải tạo chính trị, đã tỉnh ngộ; các văn nghệ sĩ vạch chân tướng của bọn phá hoại. Văn nghệ là nơi đòi hỏi sự chân thật hơn ở đâu hết, một chút giả dối nào chóng chầy cũng tòi ra. Những con người như Lê Đạt không thể kiếm chác lâu, lừa bịp lâu được.</p>
<p>Lấy một Lê Đạt ra làm ví dụ của thứ “văn nghệ” <em>Nhân văn–Giai phẩm</em>, chúng ta đã rút một bài học cảnh giác với chủ nghĩa cá nhân tư sản có nhiều biến hoá mưu mánh. Rút kinh nghiệm cuộc đấu tranh này, chúng ta sẽ vạch tính cách giai cấp phản động của nó, bất cứ nó lẩn lút ở đâu; chúng ta cần tiếp tục quét tan chủ nghĩa xét lại và tư tưởng của nhóm phá hoại <em>Nhân văn–Giai phẩm</em> để xây dựng nền văn học cách mạng.</p>
<p><em>5-58</p>
<p></em></p>
<p><a href="http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=9376&amp;rb=0206#nr1"><sup>[1]</sup></a>Tuần báo <em>Văn nghệ</em> số 69 và 70 (tháng 4 và 5-1955)<br />
<a href="http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=9376&amp;rb=0206#nr2"><sup>[2]</sup></a>Tiếng Pháp có chữ <em>délire de grandeur</em>, một thứ bệnh tâm lý thích tự cho mình là lớn lao vĩ đại, ví dụ: tưởng mình là Nã Phá Luân, v.v…<br />
<a href="http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=9376&amp;rb=0206#nr3"><sup>[3]</sup></a>Ngặt: nghèo ngặt.<br />
<a href="http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=9376&amp;rb=0206#nr4"><sup>[4]</sup></a>“Tựa” tập thơ dịch Mai-a-kốp-ski (Nhà xuất bản Hội Nhà văn)<br />
<a href="http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=9376&amp;rb=0206#nr5"><sup>[5]</sup></a>Mỹ ký: là một hiệu ở Hà Nội, làm hàng mạ vàng, mạ bạc rất khéo, y như thật.<br />
<a href="http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=9376&amp;rb=0206#nr6"><sup>[6]</sup></a>Bài “<a href="http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=7438&amp;rb=08">Ông bình vôi</a>” của Phan Khôi (<a href="http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=9371"><em>Giai phẩm mùa Thu</em><u> </u></a>tập II)<br />
<a href="http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=9376&amp;rb=0206#nr7"><sup>[7]</sup></a>Nguyên văn chính tả: ngộ nhĩnh. Chúng tôi cho rằng văn bản gốc có thể có lỗi in ấn (talawas).<br />
<a href="http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=9376&amp;rb=0206#nr8"><sup>[8]</sup></a>Nguyên văn: trâm ngôn. Chúng tôi cho rằng văn bản gốc có thể có lỗi in ấn (talawas).</p>
<p><em>Nguồn:<strong> </strong></em><em>Tạp chí Văn nghệ, số 13, tháng 6 năm 1958. Bản điện tử do talawas thực hiện.</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<h1><strong>Đọc văn Lê Đạt</strong></h1>
<h3>Anh Tưởng</h3>
<p>Thoạt nhìn, Nguyễn Huy Tưởng không gây được nhiều thiện cảm. Anh người to, thô, mặt hơi nặng, mấp mé lạnh lùng. Cử chỉ chậm chạp, nhiều lúc vụng về, hơi công chức – anh là &#8220;thủ trưởng&#8221; cơ quan hội Văn nghệ Trung Ương suốt thời gian kháng chiến chống Pháp.</p>
<p>Nguyễn Tuân đã gọi đùa Nguyễn Huy Tưởng là ông Phán Đoan do thời Pháp anh làm ở sở Thương Chính thành phố Hải Phòng.</p>
<p>Một lần họp chi bộ, Tô Hoài đã phê bình Nguyễn Huy Tưởng như sau:</p>
<p>&#8220;Tôi thấy đồng chí Tưởng có phần xa cách anh em – lần nào cu Thái (liên lạc của Hội) đem quần áo của anh ra suối giặt là anh em biết ngay vì dáng nó đi khuệnh khoạng, khác thường như bắt mọi người phải tránh ra cho nó đi&#8221;</p>
<p>Tưởng im lặng chịu trận, mặt chảy xuống càng nặng thêm, nửa buồn, nửa ngơ ngác.</p>
<p>Anh tâm sự với tôi:</p>
<p>&#8220;Có thể là mình quan liêu, thì cứ nói thẳng ra, những lời phê ác khẩu như vậy làm mình hết sức nản lòng&#8221;</p>
<p>Tôi an ủi người bạn lớn tuổi:</p>
<p>&#8220;Nếu đơn giản như vậy thì còn gì là Dế Mèn nữa. Anh em văn nghệ ít nhiều có cá tính, ông còn lạ gì, đứa nào không ác khẩu? Giận họ thì giận cả đời&#8221;</p>
<p>&#8220;Mình cũng biết thế, nhưng nó vẫn làm mình &#8220;đau lòng&#8221;.</p>
<p>&#8220;Gớt phê bình Victo Huygô còn độc miệng hơn nhiều – Ông có biết Gớt nói thế nào không?… Huygô nếu viết ít hơn và lao động nhiều hơn thì tốt&#8221;</p>
<p>Tưởng cười, ho sặc sụa:</p>
<p>&#8220;Cậu tha những của quái quỉ ấy ở đâu về thế?&#8221;</p>
<p>Hai người im lặng đi một quãng đường, bỗng Tưởng đi chậm lại</p>
<p>&#8220;Lắm lúc mình cũng muốn thân mật với anh em, nhưng vụng quá chẳng biết làm thế nào – Tuân nó gọi mình là Phán Đoan cũng phải (!!!)&#8221;</p>
<p>Một lần khác anh nói với tôi:</p>
<p>&#8220;Có lẽ mình không phải một nhà văn nòi – Mình chủ yếu là một người yêu văn học&#8221;</p>
<p>Thời kỳ làm Phán Đoan ở Hải Phòng – Hồi này anh đã có truyện đăng trên báo Tri Tân (lẽ dĩ nhiên đó không phải là một chứng chỉ sang trọng đối với một nhà văn).</p>
<p>Nghe tin Trương Tửu về thăm đất cảng (lúc đó Trương Tửu đã là một ngòi bút phê bình nổi đình đám) anh có nhờ người dẫn đến ra mắt Trương tiên sinh và đưa cho Trương một bản thảo nhờ xem hộ.</p>
<p>Mấy ngày sau khi anh đến tiếp kiến, nhà phê bình nổi tiếng nhìn anh một cách thương hại:</p>
<p>&#8220;Anh viết văn đã lâu chưa?&#8221;</p>
<p>&#8220;Dạ, cũng gần được chục năm&#8221;</p>
<p>&#8220;Tôi rất buồn phải nói với anh rằng, anh không có khiếu viết văn. Nhưng nếu cố gắng, cũng có thể có dăm cuốn sách xuất bản được&#8221;</p>
<p>Tưởng cười buồn</p>
<p>&#8220;Ngoài cái thái độ kiêu kỳ đáng trách ấy, ý kiến của Trương Tửu có phần đúng&#8221;</p>
<p>Tôi biết anh nói thật chứ không phải làm dáng như một số nhà văn khác.</p>
<p>Nguyễn Huy Tưởng không có cái tài hoa của Nguyễn Tuân, cái mẫn tiệp của Nguyễn Đình Thi, cái tinh quái của Tô Hoài.</p>
<p>Những gì anh đạt được đều do mồ hôi thứ thiệt anh đổ xuống trang chữ.</p>
<p>Tôi đã có may mắn được đọc một số bản thảo của anh. Lổn nhổn không ít những biểu thức sáo mòn đến vô cảm. Nào <em>nộ khí xung thiên</em>, nào<em> </em><em>lửa giận ngút trời,</em> nào<em> </em><em>tình keo sơn, môi hở răng lạnh</em> v.v… kèm không ít những đoạn du dương biền ngẫu kiểu <em>Nam Phong</em>.</p>
<p>Nguyễn Huy Tưởng đã cần cù đọc lại, đã quyết liệt sửa.</p>
<p>Những trang viết của anh chi chit những tẩy xóa, những ngoặc lên ngoặc xuống hệt như một trang morat của Banzăc.</p>
<p>&#8220;Với mình việc sửa chữa bản thảo còn mệt nhọc hơn là sáng tác lần đầu&#8221;</p>
<p>Tôi bỗng nghĩ tới nhận xét của một nhà thơ đại gia người Pháp</p>
<p>&#8220;Người ta đánh giá nhà văn trên những gì anh ta công bố và cả những gì anh ta không muốn công bố&#8221;</p>
<p>Một lần anh đột nhiên phê bình tôi:</p>
<p>&#8220;Những bài<em> </em><em>toa</em> viết nhiều tính từ quá&#8221;</p>
<p>Một nhà văn chuyên nghiệp phải rất cảnh giác với chúng vì chúng thường làm nhão câu văn.</p>
<p>Tôi đã học được rất nhiều ở lao động chữ tạp dịch phu phen của Nguyễn Huy Tưởng.</p>
<p>Một lần anh tâm sự:</p>
<p>&#8220;Lê Đạt có biết trong số nhà văn Tây phương <em>moa</em> thích nhất ai không?&#8221;</p>
<p>&#8220;Lép Tônxtôi chứ gì (anh em thường gọi đùa Nguyễn Huy Tưởng là ông Tônxtôi vì anh luôn miệng nhắc đến bộ &#8220;Chiến tranh và hòa bình&#8221;)</p>
<p>Tưởng cười rất tươi và hóm hỉnh (hiếm khi tôi thấy anh cười như vậy).</p>
<p>&#8220;Không phải, người mình thích nhất là Bốtxuyê&#8221;</p>
<p>Tôi tưởng mình nghe lầm.</p>
<p>&#8220;Bốtxuyê thế kỷ XVII, vị thầy tu chuyên điếu văn cho các ông hoàng bà chúa?&#8221;</p>
<p>&#8220;Đúng, Bốtxuyê là một nhà văn rất kỹ tính, tên ông ta là kết hợp ba đầu ngữ Bos suêtus aratro – Lê Đạt ngày trước có học tiếng La Tinh, chắc <em>toa</em> hiểu <em>Bos suêtus aratro</em> là <em>con bò kéo cày.</em>&#8221;</p>
<p>Giai thoại trên có phải anh muốn cảnh cáo tôi không?</p>
<p>Từ hồi thanh niên, tôi đã mắc bệnh mất ngủ &#8211; Một đêm vào 2 giờ sáng, tôi chợt thức giấc (thời gian này, cơ quan hình như đóng ở nhà ông Chánh Cuốn cây số 5 đường Hà Tuyên) thấy Nguyễn Huy Tưởng nằm ngủ gục trên bàn bên cạnh đĩa dầu dọc còn thức. Hồi tối, Nguyễn Huy Tưởng đã nói với anh em:</p>
<p>&#8220;Tạp chí sắp đưa nhà in mà bài <em>Ký sự Cao Lạng</em> mình chưa viết xong, đêm nay có lẽ phải thức trắng.&#8221;</p>
<p>Vào khoảng mười giờ, anh uống liền hai tách cà phê cắm tăm để thức. Tưởng ngủ gục trên bàn và ngáy rất to.</p>
<p>Biết rằng anh quá mệt, tôi không nỡ đánh thức.</p>
<p>Bốn giờ sáng, tôi dậy tập thể dục, đã thấy chiếc gạt tàn thuốc lá đầy ắp. Anh dậy từ lúc nào. Mà không phải chỉ có một đêm.</p>
<p>Tôi không bao giờ quên tối hôm đó, trước lớp đấu tranh Thái Hà II độ một tuần, lúc gió đã bắt đầu thổi hơn cấp 10 có nguy cơ trở thành bão lớn.</p>
<p>Chúng tôi ở nhà Tô Hoài trên Nghĩa Đô về, có Nguyễn Huy Tưởng, Kim Lân, tôi và Nguyễn Văn Bổng, một nhân vật chống Nhân Văn khét tiếng cùng trong ban phụ trách lớp Thái Hà II với Nguyễn Đình Thi.</p>
<p>Cuộc đồng hành bất đắc dĩ và không khí thật nặng nề. Bỗng Nguyễn Huy Tưởng nói khá to:</p>
<p>&#8220;Các ông ấy thật buồn cười, bắt mình học một tháng chứ học một năm, mình cũng không bao giờ kết luận thằng Lê Đạt là phản động, mình ở với nó mãi, mình còn lạ gì&#8221;</p>
<p>Nguyễn Huy Tưởng biết rất rõ phát biểu như vậy là hết sức nguy hiểm, nó có thể khiến anh dễ dàng bị buộc tội là ủng hộ Nhân Văn và tức khắc trở thành một tên phó phản động, chí ít, cũng là một phần tử lạc hậu, lúc này anh vẫn còn trong Đảng đoàn văn nghệ.</p>
<p>Chúng ta thường có một thói quen không tốt là khi viết điếu cho một đồng nghiệp ít nhiều có tiếng, ta thường tống tiễn họ bằng những lời khoa trương tiện lợi và công cộng như &#8220;nhà văn lớn&#8221;, thậm chí &#8220;cây đại thụ&#8221; v.v… (sinh thời Nguyễn Tuân gọi đó là <em>văn tế ruồi</em>)</p>
<p>Tôi bất cần biết Nguyễn Huy Tưởng là nhà văn lớn hay nhỏ, là cây đại thụ hay đồ sộ thụ, tôi chỉ biết anh là nhà văn hiếm hoi có tư cách mà tôi đặc biệt quý mến và kính trọng trong giới cầm bút đương đại.</p>
<p>Anh Tưởng,</p>
<p>Ở cõi bên kia, tôi nghĩ anh có quyền yên ngủ và ngáy thật ròn rã sau một cuộc đời lao lực nhọc nhằn và trung thực cày vỡ xứ đồng tiếng Việt.</p>
<p>&nbsp;</p>
<h2>Nhân Thánh Thán bình thơ Đường</h2>
<p>Xin chọn mấy bài thơ Đường tương đối quen thuộc với độc giả VN để tiện theo dõi:</p>
<ol>
<li><strong>Hoàng Hạc lâu</strong>
<p>Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ<br />
Thử địa không dư hoàng hạc lâu<br />
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản<br />
Bạch vân thiên tải không du du<br />
Tịch xuyên lịch lịch Hán dương thụ<br />
Phương thảo thê thê Anh vũ châu<br />
Nhật mộ hương quan hà xứ thị<br />
Yên ba giang thượng sử nhân sầu<br />
Thôi Hiệu</li>
</ol>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Lầu Hạc Vàng</strong></p>
<p>Người xưa đã cưỡi hạc vàng bay đi<br />
Nơi đây chỉ còn trơ lầu Hạc vàng<br />
Hạc một đi rồi không trở lại nữa<br />
Mây trắng ngàn năm man mác trôi<br />
Dòng sông quang tạnh rực rỡ hàng cây đất Hán dương<br />
Cỏ thơm mọc tươi tốt trên bãi Anh vũ<br />
Chiều tối quê nhà ở nơi đâu?<br />
Khói sóng trên sông khiến người buồn bã.</p>
<p><strong>Kim Thánh Thán phê bình</strong>: Có bản chép Tích nhân dĩ thừa bạch vân khứ thực là lầm lớn! Không biết rằng bài thơ này dùng bút lớn bao la tả liền ba chữ Hoàng Hạc lâu, chỗ kỳ lạ là ở đó. Giả sử người xưa mà cưỡi bạch vân thì lầu này tại sao lại có tên là hoàng hạc? Lý này thật rất rõ ràng. Còn như câu 4 chợt thêm vào bạch vân diệu ở chỗ có ý không ý, có nói không nói (hữu ý vô ý, hữu vị vô vị). Nếu thoạt tiên chưa tả hoàng hạc mà trước đã tả bạch vân thì là hoàng hạc, bạch vân đối chọi nhau: Hoàng Hạc vốn là tên lầu, còn bạch vân thì do điển nào mà ra? Bạch vân đã được ngời xưa cưỡi đi mà đến nay hãy còn du du trên đời này há có thiên tải bạch vân sao? Thực không đáng một cái cười. Làm thơ không nhiều mà có thể khiến Thái Bạch Công phải gác bút thì đúng là bậc đại trượng phu trong rừng bút mực vậy. Hãy xem bọn nho mọn ô uế suốt đời rên rỉ khổ ngâm, đến cái ngày đậy nắp áo quan, người ta góp nhặt lại cũng được mấy trăm ngàn lời thế nhưng không từng được cả một đứa trẻ nít trong làng tạm thời để mắt vào, thực đáng đau xót lắm.</p>
<p><strong>Lê Đạt lạm bàn</strong>: Lý giải minh triết, lời lẽ tung hoành, sát phạt như những đường gươm tuyệt mệnh đúng là loại người xưa nay hiếm trong cõi phê bình. Thể loại phê bình thường bị một số nhà sáng tác xem khinh 15 phút như thể loại ký sinh, thằng còng làm thằng ngay ăn, viết đến mức Thánh Thán ai dám bảo thua sáng tác? (Tôi e rằng phần Thánh Thán phê bình Tây sương ký có chỗ còn vượt cả bút lực của tác giả Vương Thừa Phủ).</p>
<p>Trong lúc không ít nhà sáng tác phải xuất trình chứng minh thư độc giả mới biết là của ai, chỉ cần lướt mấy dòng trên, dù chưa xem đến tên tác giả cũng biết ngay là của ông họ Kim. Lời thật độc! Trộn không lẫn.<br />
Không có thể loại dở. Chỉ có người dở.</p>
<p><strong>Kim Thánh Thán phê bình tiếp:</strong> Phàm cổ nhân mà có một lời, một hàng, một câu, một chữ đủ để bước một mình trong một thời, chiếm cứ cả ngàn năm thì ta cần phải tin rằng không gì là không đều do đọc ở sách, dưỡng khí mà ra.</p>
<p>Như dải thơ này ta phải tin rằng rõ ràng là do đọc sách. Các câu 1, 2: chính là ông đọc Thiên Thiên đạo, sách Trang tử, lời của Luân Biện nói về Tề Hoàn công… ông liền thuận tay sửa bớt, dùng rất thích đáng. Các câu 3, 4 chính là ông đọc được câu ca Dịch thuỷ trong Kinh Kha liệt truyện.</p>
<p>Phong tiêu tiêu hề Dịch thuỷ hàn<br />
Tráng sĩ nhất khứ hề bất phục hoàn<br />
(Gió vi vu hề sông Dịch lạnh lùng ghê<br />
Tráng sĩ một ra đi không trở về)</p>
<p>Cuốn sách ai cũng đọc thế mà chỉ riêng ông có sự sẵn đối cảnh liền dùng, ngay cả chính mình rốt cuộc cũng không biết nữa thế thì rõ ràng phải tin đó là cái sức dưỡng khí.</p>
<p>Tiền dải tả người xưa, hậu dải tả người nay tuyệt nhiên không tả đến lầu! Dải này lại diệu ở chỗ không dính liền gì với đoạn trên, chỉ nhất ý tựa cao trông xa, riêng thổ lộ hoài bão của mình, mặc cho đời sau muốn hiểu ra sao thì hiểu thực đúng là bậc đại gia vậy.</p>
<p><strong>Lê Đạt lạm bàn:</strong> Thánh Thán viết lời bình trên đã 300 năm mà tưởng đâu mới viết hôm qua, hôm kia gì đó trên một tạp chí phê bình mới tại Pháp những thập niên 60.</p>
<p>Nghĩ đến thuyết bản viết nhiều tầng (écriture plurielle) của Rôlăng Báctờ hay của trường phái ngữ nghĩa phân học (sémanalyse) quan niệm bất cứ một nguyên cảo nào cũng được viết trên một palimxet, tức là một miếng da cừu. Đã viết rồi được cạo sạch đi để viết mới những vẫn ẩn hiện bản văn cũ. Một câu thơ hay là câu thơ ký thác được lịch sử thi ca nhân loại, nó đi qua các tầng văn hoá như con tàu Du hành II vượt quỹ đạo Thái dương hệ đi vào cõi vô cùng.</p>
<p>Đọc sách, dưỡng khí là quá trình tích tụ, sinh thành trong ý thức lẫn vô thức con người, do đó một nhà thơ có thể xuất khẩu thành chương nhưng câu thơ vẫn mang sức hàm dưỡng hàng nghìn năm công lực mà ngay chính nhà thơ rút cuộc cũng không biết. Không có câu thơ hay mà lại ở trình độ cấp I.</p>
<p>Thơ theo cấu trúc gián đọan &#8211; Không cần những chuyển câu dông dài có tính chất lý giải hai năm rõ mười &#8211; Nhà thơ cố gắng tạo nên một liên kết chữ phức hợp bất định và đa nghĩa mặc cho người đời sau (cả đời nay nữa) muốn hiểu ra sao thì hiểu khuyến khích khả năng tự do tạo nghĩa của họ với tư cách đồng tác giả của bài thơ.</p>
<p>Cố gắng sáng giá nhất của nhà thơ là dò tìm miền chưa biết, mở mang bờ cõi diễn đạt của ngôn ngữ và cảm thụ của người đọc. Đó là trọng chữ, trọng người, đâu phải trò ú tim, cố tình làm khó, làm bí hiểm, coi thường người đọc.</p>
<p>Trong phong trào thơ hiện đại cuối thế kỷ XX, Thánh Thán “tam bách dư niên hậu” vẫn còn là một bạn đường đồ sộ.</p>
<p><strong>Thánh Thán phê bình</strong>: Thái Bạch Công phê bình bài thơ này cũng chỉ nói rằng:</p>
<p>Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc<br />
Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu<br />
(Trước mắt có cảnh không nói được<br />
Thôi Hiệu đề thơ ở trên đầu)</p>
<p>… Bây giờ mình muốn mệnh ý thì họ Thôi đã mệnh ý hết rồi, nếu muốn thẩm cách thì họ Thôi đã thẩm cách xong rồi, nếu muốn tranh phát bút thì họ Thôi phát bút đã là không tiền khoáng hậu, không chiếu cố đến kẻ khác, dù cho mình có cảnh đẹp đầy mắt có thể soạn mấy trăm ngàn liên chăng nữa thì cũng chỉ là tự nhả hết tâm huyết ra uổng phí thôi, chớ còn đặt tay vào đâu được, vì thế bất giác cúi mình sát đất thổ lộ thực rằng: có cảnh nói không được. Than ôi! Thái Bạch Công sỡ dĩ hư tâm phục thiện như thế chỉ vì chính mình hiểu rõ luật thi cam khổ. Còn các ông đời sau thì bất chấp có người nào đề thơ rồi, chẳng ngần ngại gì mà không tức thì đề lại tám câu.</p>
<p><strong>Lê Đạt lạm bàn:</strong> Đúng là Lý Bạch qua hai câu thơ trên có tỏ lòng trọng thị Thôi Hiệu. Nhưng nói rằng bất giác cúi mình sát đất thì có phần quá đáng. Thánh Thán là một nhà phê bình cực đoan. Đó là ưu điểm, cũng là nhược điểm của ông.</p>
<p>Vì mải đề cao Thôi Hiệu, ông chỉ thấy khía cạnh cúi mình sát đất của Lý Bạch mà không nhìn thấy thái độ tự tại bình tâm của một đại thi hào không lấy việc hơn thua làm trọng mà chỉ một lòng cảm thụ thơ hay. Thơ anh làm về lầu Hoàng Hạc thế là diệu, của anh hoặc của ta, ta hơn hay anh hơn việc đó có quan trọng gì, anh làm đã đạt rồi thì ta ngâm thơ của anh hà tất phải làm thêm một bài để thi đấu, con trẻ nó chẳng cười cho sao? Đó là tâm sáng của bậc thượng đẳng.</p>
<p><strong>Thánh Thán viết:</strong> Than ôi! Thái Bạch Công sở dĩ hư tâm phục thiện như vậy chỉ vì chính mình hiểu rõ luật thi cam khổ.</p>
<p>Tôi cũng biết ý Kim tiên sinh muốn dùng Lý Bạch để dạy một bài học cho các ông thơ thẩn đời sau… của trường phái thơ con cóc!</p>
<p>Nhưng tôi e tiên sinh còn có điều hạn hẹp khác:</p>
<p>Ở một phần khác Thánh Thán viết: Ôi luật thi đời Đường chẳng phải chỉ là sự cấu tạo tốt đẹp của một thời mà vốn là tuyệt xướng của ngàn bậc thánh.</p>
<p>Luật thơ dù tuyệt vời đến đâu cũng chỉ là bước đầu. Người làm thơ cao thủ không thể không thuần thục nó nhưng thành thục rồi nên quên nó đi, biến nó thành một phản xạ. Luật thơ dù là thơ Đường, chỉ là điều kiện cần, không phải là điều kiện đủ.</p>
<p>Lý Bạch không làm không phải vì hiểu rõ luật thi cam khổ, ông không làm vì không thích làm, thế thôi.</p>
<p>Thánh Thán thừa hiểu rằng hai nhà thơ lớn nhất đời Đường là Đỗ Phủ và Lý Bạch.</p>
<p>Đỗ Phủ hoạt động trong cõi luật.</p>
<p>Lý Bạch hoạt động trong cõi siêu luật.</p>
<p>Đỗ Phủ là tuyệt đỉnh của thơ luật Đường.</p>
<p>Lý Bạch là chân trời của thơ Đường.</p>
<p>Sao lại lấy những tiêu chuẩn của cõi luật áp đặt cho cõi siêu luật?</p>
<p>Một điểm nữa, tại sao lại khăng khăng kết luận rằng Lý Bạch cúi mình sát đất không dám làm thơ về lầu Hoàng Hạc nữa? Thật ra Lý Bạch đã làm. Nhưng không làm như Thôi Hiệu. Hai câu thơ:</p>
<p>Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc<br />
Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu</p>
<p>có thể coi là một bài kiểu khác của Lý về Hoàng Hạc Lâu. Nó cũng nổi tiếng không kém gì bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu.</p>
<p>Đó chính là phép hiện diện bằng khuyết diện của bậc đại trí.</p>
<p>Lý Bạch hình như đã bứt được ra khỏi bận tâm ấy, ông làm thơ như bình sinh khi đói ta ăn, khi mệt ta nghỉ, như con cá Kình dọc ngang vùng nước cả, con chim bằng vùng vẫy đỉnh Thiên Sơn, đó là cái hư tâm hay nói theo các nhà phê bình mới, cái hồn nhiên cấp hai, của bậc chân thi.</p>
<p><strong>Đăng Kim Lăng Phụng Hoàng Đài</strong></p>
<p><em>Phụng hoàng đài thượng phụng hoàng du</em></p>
<p><em>Phụng khứ đài không giang tự lưu</em></p>
<p><em>Ngô cung hoa thảo mai u kính</em></p>
<p><em>Tấn đại y quan thành cổ khâu</em></p>
<p><em>Tam sơn bán lạc thanh thiên ngoại</em></p>
<p><em>Nhị thủy trung phân Bạch lộ châu</em></p>
<p><em>Tổng vị phù vân năng tế nhật</em></p>
<p><em>Trường An bất kiến sử nhân sầu.</em></p>
<p><strong>Lý Bạch</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Lên lầu Phụng hoàng tại Kim Lăng</p>
<p>Lên lầu Phụng hoàng (xưa) phụng hoàng dạo chơi</p>
<p>Phụng hoàng đi rồi lầu không nước sông vẫn trôi</p>
<p>Trong cung Ngô hoa cỏ vùi chôn đường nhỏ tối tăm</p>
<p>Áo mũ đời Tấn thành ra gò đất</p>
<p>Núi Tam Sơn rơi một nửa ra ngoài trời trời xanh</p>
<p>Sông Nhị phân đôi ở giữa bãi Cò Trắng</p>
<p>Tất cả chỉ vì đám mây nổi hay che mặt trời</p>
<p>Không thấy thành Trường An, người buồn bã.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Thánh Thán phê bình:</strong></p>
<p>Trong thơ đời Đường, một dải gồm 4 câu 7 chữ là 28 chữ rõ rệt đó chính là 28 ngôi sao, ngôi nào cũng đều có duyên cớ cả, trong số đó quyết không có ngôi sao nào không duyên cớ. Nay trong ba câu dải thứ nhất bài thơ này tôi kiếm cái duyên cớ tất phải là <em>phụng du</em> (phượng dạo chơi) mà không tìm được. Như vậy Lý tiên sinh ngày ấy hẳn nên cắt đứt ái dục mà nhường cho họ Thôi độc bộ, thế mà tại sao lại cũng giống như bọn văn nhân nhỏ mọn đời sau cứ phải muốn hơn hớn không xá, cam làm vậy…</p>
<p><em>Giang tự lưu</em> cũng chỉ là đổi <em>vân du du</em>. Diệu là diệu ở hai câu <em>Ngô cung, Tấn đại</em> lập tức một khóc một cười?</p>
<p>Ta muốn kiếm cung Ngô mà chỉ có cỏ hoa vùi lối như thế há không muốn khóc thất thanh ư? Nhưng ta nghe nói kẻ đánh Ngô là Tấn, do đó đi kiếm triều đại Tấn thì cũng đã <em>mũ áo thành gò</em> rồi, như thế há không muốn cười ra nước mắt ư?</p>
<p><strong>Lê Đạt lạm bàn:</strong></p>
<p>Trước hết cần nói, <em>Phụng hoàng đài</em> không phải một bài thơ kiệt xuất của Lý Bạch.</p>
<p>Lấy một bài trong số ngàn bài thơ của Lý để so với bài kiệt xuất nhất của Thôi Hiệu là một việc làm e không công bằng.</p>
<p>Nhưng thôi, ta cứ chấp nhận coi đó như kết quả của một cuộc bốc thăm phân bảng các đội bóng tranh giải Mundial.</p>
<p>Ngay trong câu mở đầu, Thánh Thán viết:</p>
<p><em>Tương truyền đây là bài thơ bắt chước Hoàng hạc lâu</em> (của Thôi Hiệu). Như vậy là Thánh Thán đã tôn <em>Hoàng Hạc Lâu</em> của Thôi Hiệu lên làm một mô thức và lấy nó làm chuẩn đánh giá bài <em>Phụng Hoàng Đài</em>.</p>
<p>Đó là cách phê bình <em>khép kín</em> nhìn về phía sau chứ không phải <em>mở</em> nhìn ra phía trước.</p>
<p>Trong thơ, làm lại một bài thơ của người khác đã viết không phải chuyện lạ. Vấn đề chính là <em>biến hóa </em>cái của người khác thành cái của mình như thế nào.</p>
<p>Lấy một ví dụ cho dễ hiểu. Đọc câu thơ của Nguyễn Du:</p>
<p><em>Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông</p>
<p></em>Ai cũng biết Nguyễn Du mượn một câu thơ Đường:</p>
<p><em>Đào hoa y cựu tiếu đông phong<br />
</em>Hoa đào như cũ còn cười gió đông</p>
<p>Nhưng hai chữ <em>năm ngoái</em> tuyệt bút hàng ngàn lần so với hai chữ <em>y cựu</em>, nó gợi lên bao nhiêu nuối tiếc bâng khuâng và ngơ ngác, nó làm sóng sánh cả câu thơ… khiến câu thơ gần như trở thành của Nguyễn Du chứ không thể nói là đơn thuần bắt chước thơ Đường.</p>
<p>Thánh Thán căn cứ vào luật thơ Đường (lại luật!!!) <em>4 câu 7 chữ là 28 chữ, rõ rệt chính là 28 ngôi sao</em> (biết rồi khổ lắm nói mãi!) rồi đi đến nhận xét<em>Nay trong ba câu của dải thứ nhất bài thơ này tôi tìm kiếm cái duyên cớ tất phải tả “phụng du” mà không kiếm được</em>.</p>
<p>Không kiếm được là phải vì có đâu mà kiếm. Tôi nhắc lại: Lý Bạch hoạt động ở cõi siêu luật (một cõi luật khác).</p>
<p>Câu thứ nhất trong bài của Thôi Hiệu:<br />
<em><br />
<em>Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ</em></p>
<p></em>là nói một sự kiện Thôi cho là trọng đại nó khơi nguồn cảm khái của nhà thơ, mới vào bài thơ đã bộc lộ tính hoài cổ trang trọng một cách rõ rệt.</p>
<p>Câu mở đầu của Lý Bạch:</p>
<p><em>Phụng hoàng đài thượng phụng hoàng du</p>
<p></em>Dung dị và phóng khoáng, hai chữ phụng hoàng lặp lại cho câu thơ dáng dấp nhẹ nhõm của một cuộc chơi (du). Cái ý <em>du</em> này quán triệt cả bài thơ.</p>
<p>Đã chơi thì <em>tả</em> hay <em>không tả</em> nào có quan trọng gì? Vả lại, xét đến cùng,<em>chơi</em> tự nó chẳng phải là duyên cớ sao? Lý Bạch là một nhà thơ điêu luyện đến mức tự nhiên. Trong lúc mọi người yên trí rằng phụng du là <em>bất túc</em>, là không có <em>duyên cớ</em>, Lý Bạch thủng thẳng gẩy nhẹ, nhẹ nhưng vào lưới.</p>
<p>Đó là câu 7 của bài thơ, trở lại ý chơi và nâng nó lên một tầng khái quát mới.</p>
<p><em>Tất cả chỉ vì đám mây nổi hay che mặt trời<br />
</em>Tổng vị phù vân năng tế nhật</p>
<p>Cả <em>phụng du</em> cả <em>Ngô</em> lẫn <em>Tấn</em>, tất cả cũng chỉ do trò chơi của đám mây nổi (mây nổi tan hợp bất thường, phù du chứ không phải mây trắng u hoài, man mác) với mặt trời mà thôi.</p>
<p>Bất giác nghĩ đến lời bình của Trang Tử về <em>con gà gỗ</em> trong Nam Hoa kinh.</p>
<p>Để nói cái lai láng, cái trầm buồn, Thôi Hiệu có một cách. Để nói cái tiêu sái, cái thích thảng Lý Bạch có một cách. Sao Kim nhạc trưởng lại bắt hai người diễn tấu giống nhau?</p>
<p>Hai câu thơ được Thánh Thán khen:</p>
<p><em>Trong cung Ngô hoa cỏ vùi chôn đường nhỏ tối tăm<br />
Áo mũ đời Tấn thành gò đất.</p>
<p></em>Đúng là những câu thơ hay, nhưng cũng là hay theo tiêu chuẩn của mô thức<em>Hoàng Hạc lâu</em>, của thông lệ.</p>
<p>Theo tôi hai câu xuất sắc nhất trong bài là hai câu mà Thánh Thán bỏ qua:</p>
<p><em>Núi Tam Sơn rơi một nửa ra ngoài trời xanh<br />
Sông Nhị Thủy phân đôi ở giữa bãi Cò Trắng</p>
<p></em>Xuất sắc vì tân kỳ.</p>
<p>Hai câu thơ như bứt khỏi sức hút của hạ giới bay lên quỹ đạo vũ trụ.</p>
<p>Người làm thơ có cái bút lực muôn trượng của một tâm hồn siêu phàm ngoại cỡ hàng ngày làm bạn với <em>Núi Kính Đình</em> với <em>sông Hoàng Hà đổ xuống từ lưng trời.</em></p>
<p>Một người như thế không thể nào lấy luật, dù là <em>luật của thánh nhân</em> để giới hạn được.</p>
<p>Ai cũng biết Đỗ Phủ suốt đời lao tâm khổ tứ làm một câu thơ <em>quỷ thần chưa khiếp kinh, chết không nhắm mắt</em>, đó là bận tâm lớn của bậc thi bá.</p>
<p>Lý Bạch hình như đã bứt được ra khỏi bận tâm ấy, ông làm thơ như bình sinh <em>khi đói ta ăn, khi mệt ta nghỉ</em>, như con cá Kình dọc ngang vùng nước cả, con chim bằng vùng vẫy đỉnh Thiên Sơn, đó là cái hư tâm hay nói theo các nhà phê bình mới, cái hồn nhiên cấp hai, của bậc chân thi.</p>
<p>Suốt đời Đỗ Phủ kính trọng Lý Bạch như một người anh lớn không phải vì tuổi tác, mà chính vì cái hư tâm này.</p>
<p>Nó không khỏi nhắc ta nghĩ đến thái độ kính trọng của Khổng Tử đối với Lão Tử.</p>
<p>Nhà quy tắc vĩ đại của nhân loại nói với học trò:</p>
<p><em>Loài chim ta biết nó hay bay, loài cá ta biết nó hay bơi, loài thú ta biết nó hay chạy. Loài chạy thì có thể đánh bằng cạm bẫy, loài bơi thì có thể đánh bằng chài lưới, loài bay thì có thể đánh bằng lưới giập, còn như loài rồng thì ta không biết nó cưỡi mây gió lên trời như thế nào. Nay ta gặp Lão Tử, người ấy cũng như con rồng vậy.</p>
<p></em>Kim tiên sinh,</p>
<p>Ông là bậc tiền bối, uyên bác, bụng chứa hàng kho sách, tôi là kẻ đến sau kiến thức đơn sơ &#8211; dùng lời một nhà thơ Pháp, chỉ vừa đủ để tự vệ &#8211; tiếp ông rượu e rượu dỏm không mua, nhà chật ở chung, trầm không gây, e bất tiện hàng xóm, tri âm riêng có tấc lòng với thơ, mấy lời lạm bàn, mong ông lượng thứ.</p>
<p><strong> </strong></p>
<h3>Đường chữ</h3>
<p><em>Câu thơ khổ tu xí xoá nợ luân hồi</em></p>
<p><em>Sau Nhân Văn, tôi vẫn tiếp tục…</em><br />
<em>Nhân Văn chỉ là một chặng chứ không phải toàn bộ Đường chữ của Lê Đạt</em></p>
<p>Ngay từ nhỏ tôi đã ôm ấp mộng cách tân thơ Việt &#8211; lẽ dĩ nhiên lúc đó tôi không ý thức được rõ rệt nên cách tân như thế nào.</p>
<p>Sau Cách mạng tháng Tám, nhà thơ ảnh hưởng đến tôi nhiều nhất là nhà thơ Xô-viết Mayakovsky. Tôi thích những hình ảnh quả đấm hết sức táo bạo cũng như những bài thơ quảng trường mạnh mẽ tham gia <strong>trực tiếp</strong> vào quá trình thay đổi xã hội của ông.</p>
<p>Ảnh hưởng của Maya rất đậm nét trong những bài thơ tôi cho in trên <em>Giai phẩm mùa Xuân</em> và báo <em>Nhân Văn </em>số một. Những hình ảnh sinh sự đã khiến tôi ít nhiều được công nhận như một nhà thơ cách tân:<br />
<em>Những kiếp người sống lâu trăm tuổi</em><br />
<em>Y như một dãy bình vôi</em><br />
<em>Càng sống càng tồi</em><br />
<em>Càng sống càng bé lại</em></p>
<p>Hay</p>
<p><em>Người công an đứng ngã tư đường phố</em><br />
<em>Chỉ huy xe chạy xe dừng</em><br />
<em>Rất cần cho công việc giao thông</em><br />
<em>Nhưng đem bục công an máy móc</em><br />
<em>Đặt giữa tim người</em><br />
<em>Bắt tình cảm ngược xuôi</em><br />
<em>Theo đúng luật đi đường Nhà nước</em><br />
<em>Có thể gây rất nhiều chua xót ngoài đời</em></p>
<p>Tôi cũng rất mê hai câu thơ ngông nổi tiếng của Nguyễn Công Trứ:</p>
<p><em>Trời đất cho ta một cái tài</em><br />
<em>Giắt lưng dành để tháng ngày chơi</em></p>
<p>Cho đến lúc này, chủ yếu tôi vẫn là một nhà thơ tài tử. “Chơi” thì là tài tử chứ còn gì nữa!</p>
<p>Những câu thơ hay của tôi thường là do may mắn mà ra đời chứ ít khi trải qua một quá trình lao động gian khổ nào! Càng may mắn tôi càng thích thú. Từ “chơi” của ông Trứ đã ảnh hưởng lâu dài đến sáng tác của tôi cho mãi đến đại hạn <em>Nhân Văn</em>.</p>
<p>Trong suốt hơn 30 năm đại hạn này, tôi có nhiều thời gian suy nghĩ về thơ mình cũng như về thơ nói chung.</p>
<p>Tôi buồn rầu nhận ra rằng thơ tôi chưa có cách tân triệt để. Về cấu trúc mà nói, nó vẫn chưa thoát khỏi thơ “Mới” những năm 1930.</p>
<p>Tính cách tân của nó chủ yếu chỉ là thay đổi dấu.</p>
<p>Thiên hạ chủ yếu làm thơ ca ngợi (dấu cộng).</p>
<p>Tôi chủ yếu làm thơ phê phán (dấu trừ).</p>
<p>Thơ ca ngợi hay phê phán cũng đều <em>trực tiếp</em> bị thúc đẩy bởi thời sự. Việc tôi bị án treo bút (không biết đến bao giờ, có thể đến suốt đời) đã tách tôi ra khỏi sức ép của xuất bản. Tôi bắt đầu nghĩ đến những thay đổi triệt để hơn.</p>
<p>Nhưng triệt để là thế nào tôi vẫn chưa hình dung được!</p>
<p>Thời kỳ này tôi vẫn tiếp tục làm thơ nhưng bắt đầu chán thơ mình. Tôi viết và xé bỏ rất nhiều. Bế tắc. Tôi quyết định nghỉ làm thơ một thời gian dài để có điều kiện suy nghĩ.</p>
<p>Rất nhiều đêm mất ngủ. Có lẽ bệnh mất ngủ của tôi bắt đầu từ thời kỳ này.</p>
<p>Tôi luôn luôn tự hỏi: Chẳng lẽ mình thiếu nghị lức đến mức không tận dụng được những bất hạnh gây ra cho gia đình, bạn bè, người quen, người không quen cũng như cho chính bản thân mình để có đủ hơi sức tiến hành những cách tân thơ từng ôm ấp từ hồi nhỏ? Chẳng lẽ mình đành phí bỏ nghiệm sinh một cách vô ích và oan uổng? Làm thế nào để rũ bỏ được mặc cảm tội lỗi? Làm thế nào để không bị rớt lại như một rơ-moóc già tại một ga xép rêu mốc?</p>
<p>Trần Dần hình như ngay từ đầu đã tìm ra con đường của mình và anh tiếp tục đi một mạch.</p>
<p>Tôi không có cái may mắn ấy.</p>
<p>Tôi phục xuống đọc sách. Trong cuộc đời chìm nổi của mình, những lúc nản lòng tôi đều trở về với sách, hy vọng tìm ra một lời giải, một lý do để tin trong việc giao lưu với những con người “tử tế” của chữ.</p>
<p>Rất may thời gian này Hội Việt kiều yêu nước tại Pháp gửi về tặng Thư viện Khoa học Xã hội rất nhiều sách, đặc biệt những sách về chủ nghĩa cấu trúc, về phong trào Thơ mới, Văn học mới, Phê bình mới… Những năm 50 là giai đoạn hoạt động tư tưởng sôi nổi của giới trí thức Pháp, có ảnh hưởng lớn đến diện mạo văn hoá nhân loại.</p>
<p>Tôi mê mải đọc sách 4 năm liền, ngày 8 giờ vàng ngọc thứ thiệt. Nhiều hôm tôi đọc thông tầm từ 2 giờ chiều đến 9 giờ tối, giờ thư viện tắt đèn. Thấy tôi về muộn phải vét cơm nguội ăn, con gái lớn tôi đã nói đùa: “Bố phải lòng cô nào mà mê mệt thế!”</p>
<p>Và tôi còn đọc nữa nếu như không xảy ra một sự cố bi hài kịch lớn.</p>
<p>Đế quốc Mỹ đã bắt đầu leo thang ném bom Hà Nội. Các cơ quan lục tục sơ tán.</p>
<p>Tôi vẫn mê mải đọc sách. Cùng vào thời điểm này, Trần Dần ra thư viện để dịch thuê Althusser và Trần Đức Thảo cũng “hội ngộ” để tìm tài liệu bổ sung cho những nghiên cứu của anh về giai đoạn sơ khai của ý thức.</p>
<p>Giám đốc thư viện là một thiếu tá chuyển ngành “râu hùm hàm én” rất Từ Hải. Con người trượng phu này có lẽ rút kinh nghiệm từ bài học bất cẩn của Từ Hải nên đã có một cảnh giác rất “siêu”. Ông đã nói với thuộc chức:</p>
<p>“Thời buổi này ai còn tâm đâu đọc sách! Chắc bọn Trần Dần, Lê Đạt ra thư viện là để tụ bạ… làm bậy.”</p>
<p>Và ông hạ lệnh “cấm” chúng tôi đọc sách. Lẽ dĩ nhiên ông không công khai nói toạc ra như vậy mà sử dụng phương pháp trí trá khuất tất quen thuộc của đám thư lại. Một hôm tôi đưa phiếu mượn sách, cô thủ thư quen tỏ ra lúng túng và nói:</p>
<p>“Giám đốc chỉ thị các anh không được đọc sách tiếng nước ngoài, chỉ được đọc sách tiếng Việt.”</p>
<p>Cũng may lúc đó tôi cũng đã ngốn gần hết những sách cần đọc.</p>
<p>Và cho đến bây giời tôi vẫn hàm ơn Thư viện Khoa học đã cho phép tôi “du học” bốn năm liền mà không cần chạy chọt cũng như vướng bận những lo toan xích líp, quạt tai voi, dây mai-so, hạ thấp tư cách con người.</p>
<p>Trên đất nước bốn nghìn năm văn hiến ai ngờ đọc sách mà cũng gian nan thế.</p>
<p>Một anh bạn khá thân thường chạy tài liệu cho tôi dịch kiếm sống, một hôm có vẻ thông cảm rủ rỉ với tôi:</p>
<p>“Ông đúng là một thằng rồ, còn ai chịu in sách cho ông nữa mà cách tân với cách tung. Nghỉ cho nó khoẻ. Rồi tôi sẽ cố chạy thêm tài liệu cho ông dịch!”</p>
<p>Trước sự tốt bụng của bạn, tôi còn biết trả lời thế nào. Chỉ còn cách giấu biệt không cho ai biết những dự định thơ của mình như giấu một bệnh “đáng xấu hổ” ở chỗ kín của cơ thể.</p>
<p>Hay tôi là một thằng rồ thật!</p>
<p>Có lẽ do làm việc căng quá, tôi lâm bệnh. Chóng mặt. Đi lảo đảo. Nằm xuống nhiều lúc thấy đầu mình tụt xuống một hố sâu thẳm. Và ác mộng. Nhiều đêm sợ quá tôi phải ngồi dậy tựa lưng vào tường thức cho đến sáng.</p>
<p>Một anh bạn giới thiệu tôi với bác sĩ X, một chuyên gia thần kinh “năm bờ oăn” thời bấy giờ, ở Pháp về.</p>
<p>Bác sĩ X hỏi tôi:</p>
<p>“Anh cho tôi xem sổ khám bệnh.”</p>
<p>Tôi cười trả lời:</p>
<p>“Đây là lần đầu tiên tôi đến khám tại một bệnh viện công.”</p>
<p>X ngẫm nghĩ một lát rồi nói:</p>
<p>“Không sao, để tôi nói anh em kiểm tra toàn bộ sức khoẻ cho anh…”</p>
<p>Xem kỹ những giấy tờ xét nghiệm và sau khi khám cho tôi, X chậm rãi:</p>
<p>“Anh chẳng có bệnh gì đáng bận tâm cả, chỉ bị stress thôi.”</p>
<p>X viết đơn cấp thuốc cho tôi và khẽ khàng như nói tâm sự:</p>
<p>“Ông đến nhờ tôi, lẽ tất nhiên tôi phải khám và cấp thuốc…”</p>
<p>X nhìn quanh rồi càng hạ thấp giọng:</p>
<p>“Thời buổi này ai chẳng suy nhược thần kinh… tôi cũng bị, lẽ tất nhiên ít hơn ông vì không bị ăn đòn…”</p>
<p>X tiễn tôi ra cửa, bắt tay tôi khá chặt và dặn dò:</p>
<p>“Quên nó đi ông ạ.”</p>
<p>Chẳng biết tôi quên “nó” hay “nó” quên tôi mà chỉ sau đó ít ngày tôi bỗng hết bệnh.</p>
<p>Tôi vẫn loay hoay tìm cách đổi mới thơ mình nhưng thất bại. Cái thói quen ngôn ngữ là một trong những thói quen cứng đầu và hết sức ngoan cố.</p>
<p>Thời trước <em>Nhân Văn</em> tôi tin tưởng hào hứng biết bao!</p>
<p>Hình như những ngày đẹp trời đã qua. Và giờ đây là một chuỗi những Chủ nhật buồn.</p>
<p>Tôi thèm cái đinh ninh của Trần Dần.</p>
<p>Nhưng tôi biết Trần Dần cũng chẳng thể giúp gì được tôi.</p>
<p>Tôi không thể làm giống như anh được. Với Dần, tôi cũng ngày một kính nhi viễn chi hơn.</p>
<p>Không phải hai đứa mâu thuẫn gì nhau.</p>
<p>Tôi không có cái “bình thường tâm” của kẻ tu chợ và cần phải có một diện tích thanh vắng nhất định để thiền ngẫm cũng như nghiệm chữ.</p>
<p>Trong cuộc đời trầm luân một con người, đôi khi ta hạnh ngộ một vài câu nói nó cưu mang mình như một chiếc phao cứu sinh.</p>
<p>Suốt đời tôi hàm ơn ba câu nói.</p>
<p>Một của Trang Tử: “<em>Mọi người đều biết lợi ích của cái hữu dụng, ít người biết lợi ích của cái vô dụng</em>”.</p>
<p>Hai của Lacan: “<em>Vô thức được cấu trúc như một ngôn ngữ</em>”.</p>
<p>Ba của Mallarmé: “<em>Hãy trả tính chủ động cho chữ</em>”.</p>
<p>Tôi bắt đầu cuộc hành trình vô dụng lần tìm vô thức thông qua việc giải phóng ngôn ngữ.</p>
<p>Tôi xin phép được nhắc lại đây một đoạn viết khá dài trong tập <em>Đời tôi và tâm phân học</em> của Freud, cũng sâu sắc như Lacan nhưng lại dễ hiểu hơn: <em>“Người ta thấy miền tưởng tượng là một kho chứa được hình thành khi có sự chuyển đổi đau đớn từ nguyên lý khoái lạc sang nguyên lý thực tế nhằm tạo ra một thế vật cho việc thoả mãn xung năng mà cuộc sống buộc con người phải từ bỏ. Người nghệ sĩ giống như một người loạn thần kinh, anh ta tự rút lui vào thế giới tưởng tượng ấy, tách khỏi hiện thực không làm anh ta thoả mãn. Nhưng khác với người loạn thần kinh, nghệ sĩ biết cách làm thế nào tìm lại được con đường hiện thực vững chắc. Các tác phẩm của anh ta là sự thực hiện tưởng tượng những khát vọng vô ích giống hệt những giấc mơ… Nhưng trái lại với những giấc mơ phi-xã hội và nặng tính tự si, sáng tác của nghệ sĩ bộc lộ khả năng gợi mối đồng cảm ở người khác, đánh thức và thoả mãn chính những khát vọng vô thức ấy ở nơi họ.”</em></p>
<p>Freud còn viết:<em>“Mọi đứa trẻ khi chơi ứng xử như một nhà thơ với ý nghĩa nó tự tạo ra cho mình một thế giới hay nói chính xác hơn, nó chuyển dịch những đồ vật của thế giới nó đương sống sang một trật tự mới phù hợp. Nó coi trò chơi của mình là rất nghiêm túc.”</em> (L.Đ. nhấn mạnh.)</p>
<p>Nói một cách nôm na, người làm thơ thực hiện một trò chơi chữ nghiêm túc, sử dụng những phép tu từ học (ám dụ, hoán dụ, lược tỉnh, ghép âm, nói lái nói lối…) như một đứa trẻ chơi với những đồ vật chung quanh.</p>
<p>Thế nào là chơi nghiêm túc? Chơi nghiêm túc là chơi thật, chơi hết mình, sống trò chơi như một nghiệm sinh thực thụ. Nghiêm túc không mâu thuẫn với trò chơi mà mâu thuẫn với chơi đùa hay tài tử. Từ một người chơi tài tử tôi đã nỗ lực nghiêm túc để trở thành một người chơi chuyên nghiệp.</p>
<p>Người làm thơ chơi những phép tu từ như một thứ bẫy vô thức. Anh ta sinh sự với ngữ nghĩa và ngữ pháp để tạo ra một sự sinh mới cho thơ.</p>
<p>Người làm thơ rắp tâm biến ngôn ngữ tiêu dùng thành một thứ ngôn ngữ trò chơi (hiểu theo nghĩa mạnh) trong một trạng thái nửa tỉnh nửa mơ mà Roland Barthes gọi là một sự chú ý bồng bềnh(attention flottante).</p>
<p>Chính cái trò chơi hết mình này khiến Freud coi các nghệ sĩ như một thứ trẻ con lớn tuổi có khả năng đánh thức bản năng trò chơi của độc giả.</p>
<p><em>“Mỗi người tự nhớ lại thời anh ta sống thực với những ham muốn trẻ thơ trong đó ngôn ngữ làm ra thế giới, thời gian là chiếc gậy của nàng tiên và tấm thảm bay, tóm lại thời của ma thuật”. </em>(J. Bellemin-Noel)</p>
<p>Tôi xin phép được mở ngoặc để nói thêm về từ chơi chữ vì từ này do bị sử dụng quá nhiều đã xuống cấp nghiêm trọng và thường bị nhiều người coi như một trò kỹ xảo đơn thuần có tính lý trí. Người chơi chữ dễ dàng được coi là một người thông minh. Như tôi đã trình bầy ở trên, chơi như vậy là chơi đùa. Nhà nghệ sĩ cũng như đứa trẻ không chơi đùa mà chơi thật khiến trò chơi chữ không còn là một trò chơi đơn thuần dựa trên óc thông minh của một người tỉnh táo mà dựa trên toàn bộ trí năng cũng như cảm năng của một kẻ đam mê bị thánh ốp trong một cơn thượng đồng của chữ.</p>
<p>Về phương diện này phải coi Hồ Xuân Hương như một nhà thơ tiên phong đầu bảng trong thi pháp Việt Nam.</p>
<p>Hãy theo dõi cuộc chơi chữ hết sức nghiêm túc và tài ba của cao thủ chữ họ Hồ:</p>
<p><em>Một đàn thằng ngọng đứng xem chuông</em><br />
<em>Chúng bảo nhau rằng ấy ái uông…</em></p>
<p><em>Cửa son đỏ loét tùm hum nóc</em><br />
<em>Hòn đá xanh rì lún phún rêu…</em></p>
<p><em>Nứt ra một lỗ hõm hòm hom…</em></p>
<p>Cái hay của bà Hồ không phải ở chỗ nói đến “cái ấy” một cách công khai và trì tục mà ở chỗ bà đã làm việc đó, thông qua một nghệ thuật chơi chữ hết mình một cách hiểm hóc, tài tình và hữu hiệu. Hàng phòng ngự chặt chẽ và cứng rắn của nguyên lí thực tế đã bị nguyên lí khoái lạc xuyên thủng và sút tung lưới.</p>
<p>Tôi xin lấy một ví dụ, bài “Giáo Thụ gửi vợ” cũng nói về “cái ấy” một cách mạnh mẽ:</p>
<p><em>Cõi Bắc anh mang thằng củ lẳng</em><br />
<em>Miền Nam em giữ cái chai he</em><br />
<em>Hẳn còn vương vít như hang thỏ</em><br />
<em>Hay đã to ho quá lỗ trê?</em></p>
<p>Nhưng sao nghe không sướng &#8211; nó loã lồ và dung tục quá! Điều quan trọng không phải là nói đến cái ấy mà là nói như thế nào. Tôi không hủ nho tới mức lấy đũa gắp giải rút quần vợ. Trong thơ người ta có quyền nói tất cả mọi thứ nhưng nhất thiết phải nói bằng thơ, nghĩa là phải vượt qua chủ nghĩa tự nhiên cấp 1 đến cấp 2 của nghệ thuật. Một bức tranh khoả thân của Renoir hoàn toàn khác một anh đầm truồng của phim con heo.</p>
<p>Tất cả cái “khoái” trong thơ Xuân Hương không nằm ở chỗ nói trắng cái ấy ra mà ở phép nửa kín nửa hở, nó kích thích lòng ham muốn của người đọc. Ham muốn vốn không có khuôn mặt thật. Ham muốn thường hiện ra dưới nhiều hình dạng, nó nuôi dưỡng và duy trì những đòi hỏi của nguyên lý khoái lạc.</p>
<p>Cái ấy thì ai chẳng biết…</p>
<p>Nhưng “biết rồi khổ lắm nói mãi, thế rồi làm sao”!</p>
<p>Chính cái “thế rồi làm sao” ấy là nghệ thuật.</p>
<p>Trong trò chơi phi ngựa của trẻ nhỏ, vật chơi chỉ là một chiếc gậy gỗ, chính tưởng tượng, chính sự đam mê của đứa trẻ đã biến chiếc gậy gỗ thành con ngựa. Cái thích thú nằm ở chỗ chiếc gậy gỗ không phải là con ngựa mà vẫn là ngựa hay nói một cách dân dã hơn “nói dzậy mà không phải dzậy”. Cái ấy bao giờ cũng có mặt và bao giờ cũng vắng mặt trong một trò ú tim vô tận.</p>
<p>Bà Hồ có nhiều câu thơ kiệt xuất nhưng câu tôi kính nể nhất vẫn là câu:</p>
<p><em>Cọc nhổ đi rồi lỗ bỏ không</em></p>
<p>Nó thăm thẳm như chiếc hố không bao giờ có thể lấp đầy của ham muốn.</p>
<p>Không nên quên ham muốn về cơ bản khác với nhu cầu. Nhu cầu thì hữu hạn và có thể thoả mãn được, còn ham muốn thì vô hạn và luôn luôn “bất mãn”.</p>
<p>Tôi bắt đầu tự làm khó dễ mình bằng những bài tập chơi chữ sử dụng tất cả những phép tu từ học có thể theo tiếng gọi của những âm tiết. Viết xong đến đâu lại xé lại đốt đến đó như một anh chàng lẩn thẩn. Tôi không muốn và cũng không dám cho ai xem. Sự tự cô lập này thật hết sức nặng nề.</p>
<p>Trần Dần thỉnh thoảng có hỏi tôi: “Sao lâu nay không thấy cậu làm thơ?”</p>
<p>Tôi chỉ cười xoà trả lời: “Vẫn làm nhưng không ra gì.”</p>
<p>Đặng Đình Hưng nửa nạc nửa mỡ: “Ông anh ‘xêriơ’ quá… Phải côn huyền cồn như thằng em này thì thơ mới bốc được.”</p>
<p>Không, tôi nhất quyết không sử dụng bất cứ một thứ “đôpinh” nào.</p>
<p>Người ta có thể đạt tới sự xuất thần bằng nhiều cách, không nhất thiết phải cậy nhờ những chất ảo sinh (hallucinogène) và kích hoạt.</p>
<p>Một nhà thơ mà phải nhờ đến chất “viagra” để thượng đồng thì yếu quá.</p>
<p>Tôi đã nỗ lực rất nhiều để trở thành một kẻ rồ chữ. Tôi xin được phép nhắc lại một lần nữa. Người làm thơ hoạt động ở những vùng biên ngôn ngữ rất giống một người điên. Cái khác biệt giữa họ nằm ở chỗ người điên thì vượt biên đi thẳng tới cõi vô thức hoàn toàn của đêm tối mù mịt và ở lại đó, còn người làm thơ thì loạng choạng bước một vài bước sang cõi vô thức thì ngừng lại và biết đằng sau quay, trở về với cõi ngày của ý thức sau khi đã lượm dăm mảng đêm của vô thức để mở rộng địa giới của cõi chữ. Làm thơ không chỉ đòi hỏi<strong> </strong>sự buông lỏng mà còn một cảnh giới thượng thừa.</p>
<p>Không một nhà thơ nào lại không muốn có người đọc mình bây giờ và ở đây.</p>
<p>Lời tuyên bố hoàn toàn sáng tác cho tương lai chỉ biểu hiện của một thái độ hờn dỗi vạn bất đắc dĩ.</p>
<p>Tháp ngà là một hình ảnh không lấy gì làm sáng giá của trường phái thơ lãng mạn. Nhà thơ không mong muốn sự cô đơn, nhà thơ chỉ chấp nhận nó.</p>
<p>Không tháp ngà nào ngăn cản được những tiếng vang vọng của sự sống cũng như của những bận tâm nhân loại của người nghệ sĩ.</p>
<p>Nhà thơ càng cô đơn càng cần san sẻ. Cần nhưng sợ. Đem những câu thơ đến bản thân mình cũng phải cố gắng mới làm quen được tung ra đời liệu có được thiên hạ thông cảm không? Cái tình trạng bồn chồn ấy thật đáng sợ. Và nó kéo dài trong nhiều năm.</p>
<p><em>Thương anh nỗi trường kỳ nợ sợ</em><br />
<em>Một mình huýt gió nghĩa trang đêm</em></p>
<p>Những năm đó tôi rất thân với hai câu thơ cực hoang vắng của Mạnh Hạo Nhiên:</p>
<p><em>Bất tài minh chủ khí</em><br />
<em>Đa bệnh cố nhân sơ</em></p>
<p>Vì bất tài nên minh chủ (chứ không phải vua ngu) không dùng, nhiều bệnh nên cố nhân (chứ không phải kẻ sơ giao) ít lui tới.</p>
<p>Thái độ tri thiên mệnh và bình thản của họ Mạnh đã nâng đỡ tôi không ít trong dằng dặc trường kỳ bất hạnh.</p>
<p>Sau khi làm những bài tập tự do ghép chữ một thời gian, tôi bắt đầu tập “chơi chữ” theo những đề tài nhất định hay nói một cách giản dị hơn, tôi bắt đầu tập sáng tác.</p>
<p>Tôi đã mất ba tháng để viết xong bài “<a href="http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=4748&amp;rb=08">Ông phó cả ngựa</a>” lần thứ nhất và ba tháng nữa để sửa đi sửa lại không biết bao nhiêu lần, nhiều câu chữa mãi có khi lại trở về câu lần đầu, đi chông chênh trong một vùng bất định đầy sương mù, luôn đối diện với một câu hỏi da diết… đâu là điểm tự do xa nhất chữ có thể đạt tới, đâu là cực hạn nhất thiết không được bước qua.</p>
<p>Tôi vốn không phải là một nhà thơ sướt mướt. Trong những năm tháng bất hạnh của nghiệm sinh tôi đã tu dưỡng một nụ cười bất chấp, một “chủ nghĩa makênô” chính hiệu. Người yêu thì gọi tôi là “ông Di Lặc”, kẻ ghét thì là “tên <em>Nhân Văn</em> ngoan cố”.</p>
<p>Không hiểu sao khi đọc lại bài thơ “Ông phó cả ngựa” còn nóng hổi những chữ mới ra lò, nước mắt tôi cứ ứa ra không cầm lại được.</p>
<p>Tôi hiểu rằng mình đã được cứu rỗi.</p>
<p>Vào những năm 80, sau khi được phục hồi, chuẩn Tổng Thư ký Hội Nhà văn Nguyễn Khải nói với tôi:</p>
<p>“Anh chọn mấy bài thơ cho báo <em>Văn Nghệ</em>.”</p>
<p>Nghe nói (?) khi đưa mấy bài thơ của tôi cho báo, có người trong Ban Biên tập đã hỏi Nguyễn Khải:</p>
<p>“Anh có hiểu không?”</p>
<p>Khải trả lời:</p>
<p>“Mình cũng không hiểu lắm nhưng cứ nên đăng.”</p>
<p>Sau khi số báo ra mắt độc giả có khá nhiều phản hồi “tiêu cực”.</p>
<p>Một nhà thơ kỳ cựu từ thời Tự lực Văn Đoàn T.T. hỏi tôi một cách đầy thiện chí:</p>
<p>“<em>Át cơ rơi</em>, ông định nói gì thế?”</p>
<p>Mà không phải chỉ có một mình T.T.</p>
<p>Tôi chợt nghĩ đến Mallarmé. Khi có người hỏi: “Ông định nói gì trong bài thơ?”, Mallarmé trả lời: “Nếu biết nói gì thì nói, việc gì phải viết.”</p>
<p>Một số nhà thơ chống Mỹ có cảm tình với tôi cũng tỏ vẻ thất vọng:</p>
<p>&#8220;Tưởng anh mới thế nào chứ mấy bài vừa rồi chẳng có gì mới cả!&#8221;</p>
<p>Phần lớn những người bạn “chính trị” của tôi cũng quở trách. Đ.P., một cựu tù Sơn La tỏ ra khá quyết liệt:</p>
<p>&#8220;Ông im tiếng bao nhiêu lâu, giờ tái xuất giang hồ, anh em chờ đợi một tuyên ngôn của ông về dân chủ, tự do, ông lại cho in mấy bài thơ tình vớ vẩn.&#8221;</p>
<p>Tôi cười trả lời:</p>
<p>&#8220;Có tuyên ngôn đấy chứ, tuyên ngôn về quyền dân chủ của chữ.&#8221;</p>
<p>Đ.P. cau mặt:</p>
<p>&#8220;Ông thì lúc nào cũng đùa được.&#8221;</p>
<p>Tôi trộm nghĩ rằng hành động yêu nước nghiêm túc nhất của một công dân với tư cách một người làm thơ là cúc cung tận tuỵ bảo vệ và mở mang bờ cõi chữ của dân tộc mình.</p>
<p>Chỉ có một người (lẽ dĩ nhiên là theo chỗ tôi biết) tin là tôi nói thật: Trần Đĩnh.</p>
<p>Trần Đĩnh là nhà báo lâu năm, quen tôi từ hồi “Sự thật” ở trên rừng. Anh nổi tiếng về những tập hồi ký cách mạng, ghi lại theo lời kể… Trần Đĩnh đã tốt nghiệp khoa Ngữ văn tại trường Đại học Bắc Kinh nổi tiếng. Đĩnh rất lọc lõi thơ Đường. Ngoài ra anh còn có một vốn kiến thức quảng bác về thơ thế giới.</p>
<p>Thế là ít nhất đã có hai người tương đối hiểu thơ tôi, bản thân tôi và Trần Đĩnh.</p>
<p>Tôi xin nhấn mạnh: thêm một người không đơn thuần là một thay đổi về số lượng, mà quan trọng hơn hết, đó là một thay đổi về chất lượng. Tôi đã thoát khỏi vòng cô đơn. Một người là số ít nhưng hai người là khởi điểm của số nhiều. Trần Đĩnh đã giúp đỡ tôi<strong> </strong><strong>không ít</strong> trong quá trình <em>Bóng chữ </em>qua những nhận xét vừa tinh tế vừa bốc đồng của anh.</p>
<p>Năm 1993, Hội Nhà văn chủ trương xuất bản cho những anh em vừa được “phục hồi” mỗi người một tập thơ.</p>
<p>Hoàng Cầm cho in tập <em>Về Kinh Bắc</em>, tập thơ đã đưa anh vào vòng lao lý. Phùng Quán cho in <em>Thơ Phùng Quán</em>. Trần Dần, tập <em>Cổng tỉnh</em>, một tiểu thuyết thơ và tôi cho in tập <em>Bóng chữ</em>. Trong mấy tập thơ trên, số phận tập <em>Bóng chữ </em>có phần long đong hơn cả.</p>
<p>Khi đưa Nhà xuất bản Hội Nhà văn, giám đốc kiêm tổng biên tập N.V.P. nhất định không chịu ký duyệt phần <em>Lão Núi.</em> Không phải vì ác ý. N.V.P. nói: “Tôi không thể ký tên chịu trách nhiệm về những bài thơ tôi chẳng hiểu gì cả!”.</p>
<p>Cũng may việc này tôi đã đề phòng trước. Khi đưa tập thơ cho Ban Chấp hành Hội Nhà văn tôi đã nói với Chính Hữu và Hữu Mai, hai nhân vật có ảnh hưởng nhất trong Ban Chấp hành thời bấy giờ:</p>
<p>&#8220;Nếu các ông thấy có những điểm sai sót về chính trị, tôi dứt khoát sẽ sửa, ngược lại các ông nên đảm bảo cho tôi tự do về mặt phong cách.&#8221;</p>
<p>Chính Hữu và Hữu Mai tán thành và chính nhờ sự ủng hộ tích cực của hai người mà tập <em>Bóng chữ </em>được ra đời một cách trọn vẹn không bị cung hình.</p>
<p>Vừa chân ướt chân ráo ra mắt độc giả, <em>Bóng chữ </em>đã được ăn đòn ngay.</p>
<p>Một nhà thơ thời chống Mỹ viết một bài đả kích thậm tệ đăng trên tạp chí <em>Văn nghệ Quân đội</em> lên án tôi tham chữ bỏ nghĩa, nặng hơn nữa còn chủ trương vô nghĩa, gọi <em>Bóng chữ </em>là “thơ ú ớ” sùng bái vô thức chống lại ý thức.</p>
<p>Toàn những khuyết điểm giết người!</p>
<p>Bài viết quá nhiều lỗ hổng về kiến thức, kể cả những kiến thức cơ bản.</p>
<p>Lẽ dĩ nhiên tôi không trả lời.</p>
<p>Một nhà thơ trẻ hỏi tôi: &#8220;Sao chú không trả lời?&#8221;</p>
<p>Tôi cười: &#8220;Người ta phê bình một nhà thơ trùng tên Lê Đạt chứ có phê bình mình đâu, mình mà ngu thế làm sao còn sống được đến giờ.&#8221;</p>
<p>Không biết xuất phát từ đâu dư luận dứt khoát rằng thơ tôi khó hiểu.</p>
<p>Có người vừa mở tập <em>Bóng chữ </em>lướt qua đã gập sách lại và kêu ca rằng thơ tôi “hũ nút”. Trong thơ, nạn đọc bằng tai chứ không bằng mắt cũng khá phổ biến.</p>
<p>Tôi không yêu cầu độc giả ủng hộ tôi vô điều kiện, tôi chỉ yêu cầu sự công bằng. Đa số các bài thơ của tôi đều được viết đi viết lại nhiều lần. Bài &#8220;Át cơ&#8221; chỉ vẻn vẹn bốn năm câu mà chi phí mất hàng tuần, chẳng lẽ độc giả quá tằn tiện đến mức không nỡ chiếu cố cho nó mươi mười lăm phút bạc vụn?</p>
<p>Hơn nữa, “hiểu” căn bản là hoạt động của lý tính trong tiếp xúc của con người với ngoại giới. Người ta có thể chưa “hiểu” mà vẫn cảm nhận được thông qua trực giác, nó cũng quan trọng chẳng thua gì lý tính trong hoạt động nhận thức.</p>
<p>Khi ta “mê” một người con gái nhiều khi ta cũng không hiểu tại sao. Các nhà thơ lãng mạn gọi đó là “tiếng sét ái tình”. Chỉ sau khi hết choáng váng ta mới có điều kiện sử dụng lý tính để “hiểu” và hiểu mãi vẫn chưa hiểu hết.</p>
<p>Không phải bao giờ cũng hiểu mới cảm được.</p>
<p>Những lời ủng hộ mạnh mẽ đầu tiên đến từ Paris.</p>
<p>Người đầu tiên là Đỗ Kh., một nhà thơ trẻ nổi tiếng vì những câu thơ “bất lịch sự” trên <em>Tạp chí Thơ</em> ở Cali.</p>
<p>Hôm đến từ biệt nhà thơ Hoàng Cầm, Đỗ Kh. tiện tay vớ tập <em>Bóng chữ </em>trên sàn gác, đọc qua thấy lạ bèn đút luôn vào túi (Kh. cứ yên tâm mình đã đền Hoàng Cầm một cuốn <em>Bóng chữ </em>khác rồi). Trên đường về qua Lào, Kh. tranh thủ đọc <em>Bóng chữ </em>ở khách sạn và lập tức viết cho tôi một lá thư “hết sức lịch sự” và cảm động.</p>
<p>“Anh khiến bọn trẻ chúng em cảm thấy bớt lạc lõng.”</p>
<p>Rất cảm ơn Đỗ Kh.!</p>
<p>Người thứ hai là Đặng Tiến, nhà phê bình thơ được nhiều người tán thưởng ở hải ngoại. Bài của Đặng Tiến được Vũ Quần Phương đăng hai kỳ trên báo <em>Người Hà Nội</em> của giới văn nghệ thủ đô cho thấy một vốn kiến thức khá sâu sắc về thơ Việt cũng như thơ thế giới.</p>
<p>Đặc biệt nhất là bài của Thụy Khuê nói về <em>thơ tạo sinh của Lê Đạt</em> phát trên đài R.F.I. và sau được in trong tập tiểu luận <em>Cấu trúc thơ</em>.</p>
<p>Sau khi bài phê bình của chị xuất hiện, trong nước cũng như ngoài nước có dư luận rằng tôi đã “gà” Thụy Khuê viết bài này.</p>
<p>Đó là những xì xào không đúng sự thật. Thời kỳ đó tôi chưa quen Thụy Khuê.</p>
<p>Chị có liên lạc với Hoàng Ngọc Hiến xin tôi một tập <em>Bóng chữ</em>. Và một hôm chị “phôn” cho tôi từ Paris nói rằng đài R.F.I. sẽ phát bài của chị về <em>Bóng chữ</em>, chị đề nghị tôi nghe và cho biết ý kiến.</p>
<p>Sự sắc sảo của Thụy Khuê khiến tôi ngạc nhiên. Tôi có viết gửi chị một lá thư. Và lá thư hậu<strong> </strong><em>Bóng chữ</em>này đã mở ra một tình bạn tận tâm và lâu dài giữa hai người.</p>
<p>Một tác phẩm nghệ thuật khi ra đời, nếu nó được tác giả thật sự mang nặng đẻ đau với tất cả tâm huyết của mình, tự nó đủ sức tự vệ.</p>
<p>Không sức mạnh nào bắt nạt hay bịt miệng được nó!</p>
<p><strong>Hậu từ </strong></p>
<p>Trong thời gian viết &#8220;Đường chữ&#8221;, một nhà báo quen hỏi tôi: &#8220;Nhân dịp kỷ niệm 50 năm <em>Nhân Văn</em> anh muốn gửi thông điệp gì?&#8221;</p>
<p>&#8220;Xin bạn cất ngay cho tôi từ <em>thông điệp</em> vào tủ, coi nó như loại dược phẩm độc hại môi trường bảng A.&#8221;</p>
<p>Lạm dụng những từ khoa trương rất không tốt cho sức khoẻ ngôn ngữ quốc gia và có nguy cơ cao dẫn đến nạn lạm phát.</p>
<p>Trong quốc sách tiết kiệm không nên quên tiết kiệm ngôn ngữ.</p>
<p>Đừng sài ngôn ngữ như sài tiền chùa.</p>
<p>Một hôm trên nóc nhà tròn quận XIII Paris, trụ sở của đài R.F.I., sau bữa ăn trưa, nhà phê bình văn học Thụy Khuê có hỏi tôi:</p>
<p>&#8220;Anh là một trong những nhà văn Việt Nam có điều kiện thuận lợi nhất để viết hồi ký về <em>Nhân Văn Giai Phẩm</em>, sao anh không viết?&#8221;</p>
<p>&#8220;Không phải không viết mà chưa viết.&#8221;</p>
<p>&#8220;Bao giờ anh viết… ?&#8221;</p>
<p>&#8220;Khi có đủ can đảm.”</p>
<p>Thụy Khuê có vẻ hơi khó chịu: “Em hỏi nghiêm túc”.</p>
<p>“Mình cũng nghiêm túc.”</p>
<p>“Ít năm nay theo đường lối Đổi mới, chính quyền hành xử đã có vẻ bớt cứng rắn…”</p>
<p>“Mình chưa viết không phải vì sợ chính quyền. Lẽ dĩ nhiên trong một nước thế giới thứ ba, từng trải hàng nghìn năm phong kiến và thuộc địa việc sợ đó không bao giờ thừa. Ở Việt Nam, người ta chưa có thói quen nói đến khuyết điểm của người đã khuất và điều mình sợ là đọc xong tập hồi ký, các con bạn có thể đến chất vấn: Bố cháu với bác là chỗ thân tình, cả nhà cháu đều quý bác sao bác lại ‘đánh’ bố cháu?”</p>
<p>Đúng là có thể chết luôn được!</p>
<p>Nhưng điều tôi sợ nhất chính là bản thân mình. Liệu tôi có đủ can đảm giữ gìn để khỏi hạ cấp việc viết hồi ký thành một toan tính “mông má lý lịch” hoặc “tự tố điêu” thành tích nhằm đánh bóng thương hiệu?</p>
<p>Vào giai đoạn hiện tại tôi tự xét chưa đủ bản lĩnh miễn dịch cám dỗ ma quỷ ấy.</p>
<p>Năm 2000 tôi có viết bản trường ca <em>Bước ký vào XXI</em>, xin phép được tái sử dụng phần kết của nó cho tiểu luận này:</p>
<p><em>Năm 2000</em></p>
<p><em>năm chiếu cố</em></p>
<p><em>những địa đầu thiểu số</em></p>
<p><em>Các nhà cầm quyền</em></p>
<p><em>đối đám nghi can</em></p>
<p><em>đúng trước giờ công bố</em></p>
<p><em>hãy nhẹ tay.</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<h2><strong>Đọc vài bài thơ của Lê Đạt</strong></h2>
<p><strong> Vợ Nhân Văn </strong></p>
<p><em>Lịch sử quýt làm cam chịu</em><br />
Xin lỗi em</p>
<p>những đêm Nguyễn Bỉnh Khiêm <a href="http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=7222&amp;rb=0101#anm1"><sup>[1]</sup></a> trằn trọc</p>
<p>Anh Thái Hà <a href="http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=7222&amp;rb=0101#anm2"><sup>[2]</sup></a> chưa về</p>
<p>và em khóc</p>
<p>Xin lỗi em</p>
<p>những lời khuyên “cắt đứt”</p>
<p>Vạ gì đeo hai tiếng “liên quan”<br />
Những buổi sớm</p>
<p>muốn chui đầu xuống đất</p>
<p>Mặt trời soi ngày kiểm thảo bắt đầu<br />
Xin lỗi em</p>
<p>tiếng oan vợ thằng phản động</p>
<p>Lý lịch ba đời mấy đứa con thơ<br />
Xin lỗi em</p>
<p>tuổi ước mơ không được sống</p>
<p>Những giấc ngủ</p>
<p>chưa một lần tròn mộng</p>
<p>Chung thân tâm thần</p>
<p>trọng tội đa mang</p>
<p>Đời sau ơi<br />
May còn đoái đến tôi<br />
Hãy trả giùm tôi món nợ<br />
Người vợ nhỏ</p>
<p>vừa thoát tuổi khăn quàng đỏ</p>
<p>Đầu chụp mũ chồng</p>
<p>lưng thập tự Sói ăn</p>
<p>Và Đức Phật</p>
<p>duyệt xuất biên vào Tĩnh thổ</p>
<p>Xin độ trì</p>
<p>những Thị Kính &#8211; vợ &#8211; Nhân Văn.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong>Nguyễn Du </strong></p>
<p><strong> </strong>Nhớ liễu hồ<br />
tới nhờ em xõa tóc<br />
Em vắng nhà<br />
bồ kết chửa đi xa<br />
Cầu nước chảy<br />
bóng chiều xuân tha thiết<br />
Xanh Thanh minh em thổi liễu vô hình</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Lý Bạch </strong></p>
<p><strong> </strong>Tiến tửu<br />
chén vơi<br />
trăng đầy hát<br />
Rượu say mèm<br />
sầu tỉnh<br />
hận không say<br />
Thiên lý chữ tuôn lòng nhật bạch<br />
Không tận xanh<br />
thơ thở trắng trời</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Hồ Xuân Hương </strong></p>
<p><strong> </strong>(Bá ngọ con ong bé cái lầm<br />
H. X. H.)</p>
<p>Xuân chẳng buông hương<br />
sao bướm vượt đường<br />
Kìa hoa leo tường<br />
là hoa dâm bụt</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Lê Đạt<br />
Xuân 17 </strong></p>
<p>Thí xinh số báo xuân 17</p>
<p>Xuân một năm đi đâu<br />
Chiều xinh xuân xịch đến<br />
Không kịp ai đón tầu</p>
<p>Hoa cửa tha thẩn đèn<br />
Chả quen mà cũng hẹn<br />
Ô muốn đèo bé đời<br />
sau xe đạp xoan chơi<br />
Phố thi thì con gái</p>
<p>Chiều qua còn khép nụ<br />
Nào hay xuân chớm về<br />
Sớm đã hoa bùng lửa<br />
Thắp hồng lên má đê</p>
<p>Ngực no căng ngược gió<br />
Thơm mãi mùi dậy thì</p>
<p>2003</p>
<p><strong> </strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong> </strong></p>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ngo-khong-tac-gia-va-tac-pham-le-dat-ii/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Kh&#244;ng :T&#225;c Giả v&#224; T&#225;c Phẩm &#8211; L&#234; Đạt</title>
		<link>https://t-van.net/ngo-khng-tc-gia-v-tc-pham-l-dat/</link>
					<comments>https://t-van.net/ngo-khng-tc-gia-v-tc-pham-l-dat/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 05 Mar 2016 14:15:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Tác Giả Tác Phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không; tgtp]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=25947</guid>

					<description><![CDATA[Tiểu sử Sinh ngày 9.10.1929 tại A Lữ, Yên Bái. Mất ngày 21.4.2008 tại Hà Nội Tác phẩm Bóng chữ (1994), Ngó lời (1997) và Từ tình Epphen (1998). &#160; &#160; &#160; Lê Đạt và Bóng Chữ Đặng Tiến J&#8217;ai reculé les limites du cri Paul Eluard, 1940 Bóng Chữ tập thơ Lê Đạt từ [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2016/03/clip_image002-4.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: left; padding-top: 0px; padding-left: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/03/clip_image002_thumb-150x150.jpg?strip=all" alt="clip_image002" width="173" height="244" align="left" border="0" hspace="12" /></a><b></b></p>
<p><b>Tiểu sử </b></p>
<p>Sinh ngày 9.10.1929 tại A Lữ, Yên Bái. Mất ngày 21.4.2008 tại Hà Nội</p>
<p><b>Tác phẩm</b></p>
<p>Bóng chữ (1994), Ngó lời (1997) và Từ tình Epphen (1998).</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-weight: bold;">Lê Đạt và </span><i><span style="font-weight: bold;">Bóng Chữ</span></i></p>
<p><b>Đặng Tiến</b></p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2016/03/clip_image004.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: left; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin: 0px 20px 10px 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image004" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/03/clip_image004_thumb.jpg?strip=all&fit=160%2C218" alt="clip_image004" width="160" height="218" align="left" border="0" vspace="10" /></a></p>
<p><i>J&#8217;ai reculé les limites du cri</i><br />
Paul Eluard, 1940</p>
<p><i>Bóng Chữ</i> tập thơ Lê Đạt từ ngày xuất bản, 1994, đến nay, đã gây nhiều dư vang và dư luận, một hiện tượng hiếm hoi trong lĩnh vực thơ, và đáng mừng vì chứng tỏ ngày nay còn có nhiều người lưu ý đến thi ca. Cuộc thảo luận, kéo dài non một năm nay, tuy chưa mở ra được những nẻo đường mới, chưa giải phóng những tiềm năng sáng tạo dồn nén trong thơ từ nhiều thập niên qua, trước một nền thi ca thế giới thường xuyên đổi mới, vẫn là một tiến bộ. Những giáo điều đang thay đổi, vẫn là giáo điều nhưng cũng có đổi thay.</p>
<p><i>Bóng Chữ</i> là một tác phẩm quan trọng tâm huyết của một tác gia đã làm thơ non nửa thế kỷ.</p>
<p><i>Thế Giới Này Là Của Chúng Ta</i> tập thơ đầu tay của Lê Đạt đã xuất bản từ 1955, sau đó là <i>Bài Thơ Trên Ghế Đá</i>, 1957. Nhưng cùng với nhiều bạn thơ khác như Hoàng Cầm, Trần Dần, Văn Cao cùng in chung một tập thơ <i>Cửa Biển</i>, nhà thơ Lê Đạt dính vào phong trào Nhân Văn Giai Phẩm nên bị trù yểm suốt non ba mươi năm. Dư luận ít nhắc đến Lê Đạt, tư liệu về anh cũng không nhiều.</p>
<p>Theo kỷ yếu của Hội nhà văn, Lê Đạt tên thật là Đào Công Đạt, sinh ngày 10.9.1929 tại làng Á Lữ, tỉnh Bắc Giang, bên bờ sông Thương, gần Yên Thế. &#8221; <i>Đất quê cha tôi / đất quê Đề Thám</i> &#8221; (<i>Bóng Chữ</i>, tr. 7), anh lớn lên tại &#8221; <i>một tỉnh thượng du bụi đỏ / Bến Âu Lâu sông Hồng</i> &#8221; (tr.14) và hiện sống tại Hà Nội, &#8221; <i>9 gác Lãn Ông / Lòng xanh xuân chờ</i> &#8221; (tr. 84).</p>
<p>Bóng Chữ còn mang đậm nhiều chi tiết khác trong đời sống thực sự của tác giả. Tập thơ không phải trò chơi chữ chập chờn như đã có người nói mà là ám ảnh của một đời dài gian lao, lận đận.</p>
<p>*</p>
<p>Tập thơ gồm 108 bài, phần nhiều thơ ngắn, hai câu, năm mười câu ; dăm bài dài nhất chỉ độ trăm câu. Hai mươi bài thơ (ngắn) làm từ 1965 đã in chung với thơ Dương Tường trong tập <i>36 Bài Tình</i> (1989). Bài <i>Cha Tôi</i> làm từ 1956. Đoạn văn xuôi <i>Nhân Con Ngựa Gỗ</i> là tuyên ngôn của trường phái thơ Lê Đạt, trích đoạn một bài báo đã đăng trên tạp chí Tác Phẩm Mới số 3-1992 trong đó tác giả xác định quan điểm sáng tác : &#8221; <i>thơ phải cô đúc, đa nghĩa. Đa nghĩa vì câu thơ mang nặng lịch sử chữ, hoạt động ở nhiều tầng văn hoá, cả trong ý thức lẫn vô thức người viết (&#8230;) Nói như Valéry chữ trong thơ và văn xuôi tuy giống nhau về hình thức nhưng khác nhau về giá trị (&#8230;) Nhà thơ làm chữ chủ yếu không phải ở nghĩa &#8221; tiêu dùng &#8221; nghĩa tự vị của nó mà còn ở diện mạo, âm lượng, độ vang vọng, sức gợi cảm của chữ trong tương quan hữu cơ với câu thơ và bài thơ </i>&#8221; (tr. 50). Điều này hiển nhiên và không mới, các nhà văn nhà thơ phương Tây đã nói cách đây hàng trăm năm, nhóm <i>Xuân Thu Nhã Tập</i> tại Việt Nam đã vang vọng từ 1942 (in lại tại Hà Nội 1992). Từ thời Kháng chiến chống Pháp gian nan (1949) Nguyễn Đình Thi đã viết : &#8221; <i>Chữ và tiếng trong thơ phải còn có một giá trị khác, ngoài giá trị ý niệm. Người làm thơ chọn chữ và tiếng không những vì nghĩa của nó, cái nghĩa thế nào là thế ấy, đóng lại trong một khung sắt. Điều kỳ diệu của thơ là mỗi tiếng mỗi chữ, ngoài cái nghĩa của nó, ngoài công dụng tên của sự vật, bỗng tự phá tung ra, mở rộng ra, gọi đến chung quanh nó những cảm xúc, những hình ảnh không ngờ, toả ra chung quanh nó một vùng ánh sáng động đậy. Sức mạnh nhất của câu thơ là ở sức gợi ấy</i> &#8220;. Nguyễn Đình Thi đã dùng một hình ảnh cụ thể, đúng và đẹp : &#8221; <i>Mỗi chữ như một ngọn nến đang cháy, những ngọn nến ấy xếp bên nhau thành một vùng ánh sáng chung. Ánh sáng không những ở đầu ngọn nến, nó ở tất cả chung quanh những ngọn nến. Ý thơ không những trong những chữ, nó vây bọc chung quanh. Người xưa nói : thi tại ngôn ngoại.</i> &#8221; (1)</p>
<p>Về địa hạt này, bản thân tôi cũng đã có đóng góp nhiều bài. Thơ là gì ? Thơ hay và văn hay. (2)</p>
<p><b>I. Lăm răm nắng cúc</b></p>
<p>Bóng Chữ của Lê Đạt ghi lại lịch sử một đời người, qua buồn vui một cá nhân, giữa thăng trầm của dân tộc, và trăn trở của một nghệ sĩ thường xuyên tra vấn ngôn ngữ. Ba yếu tố ấy quyện vào nhau làm nền cho tập thơ, nhưng thành phần thứ ba, những thí nghiệm ngôn ngữ có phần khúc mắc, che lấp tình, ý của tác giả, dễ làm người đọc lạc hướng và lạc lõng. Sự thật Lê Đạt chỉ tạo rung cảm mới bằng một vài thủ pháp : đảo ngữ, ẩn ngữ, nhấn mạnh vào ngữ âm, khai thác tính đa nghĩa trong từ vựng, sử dụng điển cố văn học một cách rộng rãi, từ tục ngữ, ca dao đến thi pháp nước ngoài. Khai thác kinh nghiệm những người đi trước, từ Baudelaire, Maiakovski đến thơ siêu thực và hiện đại Pháp, tiếp cận những lý thuyết văn học, ngữ học và nhân học mới, Lê Đạt thực tâm muốn làm mới thơ mình. Nói theo ngôn ngữ phê bình hiện đại, thì Lê Đạt khai thác triệt để khả năng văn học của ngôn ngữ về hai mặt từ hệ (<i>paradigme</i>) và từ tổ (<i>syntagme</i>), lịch đại (<i>diachronie</i>) và đồng đại (<i>synchronie</i>). Thơ Lê Đạt, dù cầu kỳ, cũng không thoát khỏi bốn cạnh của ô vuông đó.</p>
<p>Thử đọc một câu thơ Lê Đạt :</p>
<p><i>Liễu đầu cành</i> <i>độc thoại đoạn trường xanh</i></p>
<p>(Tỏ Tình, tr. 35)</p>
<p>Chữ nghĩa, mặc nhiên, nhắc tới cuộc chia ly trong Chinh Phụ Ngâm :</p>
<p><i>Liễu dương biết thiếp đoạn trường này chăng</i><br />
<i>(Dương liễu na tri thiếp đoạn trường)</i></p>
<p>Chữ độc thoại sâu sắc : con người hỏi cây liễu về nỗi lòng mình, còn cây liễu thì&#8230; hỏi ai ? Lê Đạt đã nói lên được niềm cô đơn câm nín của những cuộc đời không có tiếng nói, hay có tiếng nói mà không ai nghe, không ai hiểu.</p>
<p>Chữ xanh trong &#8221; <i>đoạn trường xanh </i>&#8221; rất hay vì nhắc lại ý &#8221; đoạn trường tân thanh &#8220;, và tạo cho hai chữ &#8221; <i>tân thanh </i>&#8221; một ý nghĩa khác với Nguyễn Du.</p>
<p>Vẫn một chữ liễu :</p>
<p><i>Cầu nước chảy</i> <i>bóng chiều xuân tha thướt</i><br />
<i>Xanh Thanh minh em thổi liễu vô hình</i></p>
<p>(bài Nguyễn Du, tr.112)</p>
<p>Câu thơ nhắc đến Kiều, đoạn tả Thanh minh :</p>
<p><i>Dưới dòng nước chảy trong veo</i><br />
<i>Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha</i></p>
<p>và có lẽ cần nhớ thêm cầu thệ thuỷ với quán thu phong của Ôn Như Hầu. Trong Kiều, khi chàng Kim ngoái lại nhìn, còn thấy Thuý Kiều, dần dần hình ảnh cô gái nhoà đi trong dáng liễu, nhưng vẫn còn dáng liễu và ánh nắng. Trong Lê Đạt, hạnh phúc qua đi là mất hết.</p>
<p>Một chữ liễu khác :</p>
<p><i>Cười tít ông già gốc liễu</i><br />
<i>Ở ẩn</i> <i>còn trồng bích đào</i></p>
<p>(bài Đào Uyên Minh, tr.102)</p>
<p>Đào Tiềm, tự là Uyên Minh có bài ký kể <i>Chuyện Ông Già Năm Cây Liễu</i>, lánh đời, ẩn dật bên cạnh năm cây liễu. Câu thơ Lê Đạt tinh quái ở một chữ &#8221; <i>còn</i> &#8221; đối lập &#8221; <i>ở ẩn</i> &#8221; với &#8221; <i>bích đào</i> &#8220;, ý nói tránh tục luỵ mà vẫn còn mê nhan sắc. Chữ <i>cười tít </i>thân mật, hài hước, ngụ ý : trồng liễu, trồng cúc hay bích đào, mê say cái này hay cái khác ở đời, cũng vậy thôi.</p>
<p>Người xưa có chuộng cánh chim chiều trên núi Nam San như Đào Tiềm hay yêu cô gái hái sen như Bạch Cư Dị :</p>
<p><i>Cô gái trộm hái sen về ủ tuổi</i><br />
<i>Lỏng khuy cài</i> <i>gió cởi</i> <i>một dòng hương</i></p>
<p>(bài Bạch Cư Dị, tr.104)</p>
<p>Ngày nay thích cái quần <i>jin xổ dài </i>cũng vậy thôi.</p>
<p>Bài thơ về Hồ Xuân Hương vỏn vẹn hai câu :</p>
<p><i>Xuân chẳng buông hương,</i></p>
<p><i>Sao bướm vượt đường</i><br />
<i>Kìa hoa leo tường là hoa dâm bụt</i></p>
<p>(bài Hồ Xuân Hương, tr.112)</p>
<p>Câu sau cấu trúc theo đồng dao lại dựa trên hình ảnh leo tường theo cổ văn (Mạnh Tử, Tống Ngọc&#8230;) gợi cảnh trai gái vụng trộm, nhưng người đọc không cần hiểu đến ngành đến ngọn như thế, cũng đoán ra được ý. Và hay nhất là chữ &#8221; <i>dâm bụt</i> &#8220;, một loài hoa dại &#8221; <i>không trồng mà mọc</i> &#8221; tươi thắm, lộ liễu, nở trên những hàng rào bờ giậu : đã bụt rồi mà vẫn còn&#8230; dâm. Ranh mãnh không kém Xuân Hương. Một lối đối lập như vậy nhưng đau thương hơn :</p>
<p><i>Ai xui em đẹp em xinh</i><br />
<i>Ba lần con thiến gáy</i></p>
<p>(Mới Tuổi, tr.25)</p>
<p>Đau đớn vì một chữ &#8221; <i>thiến</i> &#8221; : con gà, bộ phận sinh dục bị phế thải, mà vẫn còn tình yêu, vẫn còn thê thiết &#8221; <i>gáy</i> &#8220;. Tiếng gọi tình tuyệt vọng, &#8221; <i>não nùng </i>&#8221; hơn tiếng gà trong thơ Lưu Trọng Lư. Ba lần là tiếng gọi hồn :</p>
<p><i>Hương thắp ba lần</i> <i>không đáp lửa</i><br />
<i>Hồn có nhà</i> <i>hay bát mộ đi xanh</i></p>
<p>(Thanh Minh, tr.134)</p>
<p>Thơ Lê Đạt thường đòi hỏi người đọc phải suy nghĩ về từ ngữ, ngay cả trong những đề tài thời sự :</p>
<p><i>Tuổi Việt Minh</i> <i>thu băm sáu bến cờ hồng</i><br />
<i>Áo bướm phố truyền đơn</i><br />
<i>Nắng rám</i> <i>má bòng thơm mười chín</i></p>
<p>(Tuổi Việt Minh, tr.100)</p>
<p>Hai câu đầu dễ đoán : Hà Nội ba mươi sáu phố phường, vào những ngày cách mạng mùa thu tràn ngập cờ hồng. Và truyền đơn bươm bướm bay như những tà áo, Hàng Đào, Hồ Gươm đã một thời nổi tiếng. Nhưng còn &#8221; <i>má bòng</i> &#8221; ? Ở đây phải biết câu tục ngữ : tháng tám nắng rám trái&#8230;bưởi, chị em với&#8230;bòng ! Từ đó, ló ra ý &#8221; <i>tháng tám</i> &#8221; và &#8221; <i>mười chín</i> &#8221; là ngày Hà Nội cướp chính quyền 19-8-1945. Dĩ nhiên ai hiểu <i>tuổi mười chín thơm đôi má hay má chín như trái bòng</i>, cũng không sao.</p>
<p><i>Thu Nhà Em </i>là một bài thơ hay và trong sáng :</p>
<p><i>Anh đến mùa thu nhà em</i><br />
<i>Nắng cúc lăm răm vũng nhỏ</i><br />
<i>Mà cho đấy rửa lông mày</i><br />
<i>Nông nỗi heo may từ đó</i></p>
<p><i>Mưa đêm tuổi nổi ao đầy</i><br />
<i>Đồi cốm đường thon ngõ cỏ</i><br />
<i>Bướm lượn bay hoa ngày</i><br />
<i>Tin phấn vàng hay thuở gió</i></p>
<p><i>Tóc hong mùi ca dao</i><br />
<i>Thu rất em</i> <i>và xanh rất cao</i></p>
<p>(Thu Nhà Em, tr.26)</p>
<p>Âm điệu bay nhẹ trên những cánh thơ sáu chữ nhiều âm bằng, nhiều chữ em và vần m. Một câu thơ cô đúc :</p>
<p><i>Nắng cúc lăm răm vũng nhỏ</i></p>
<p>Chữ &#8221; <i>lăm răm</i> &#8221; không có trong từ điển, có lẽ do Tản Đà sáng tạo trong bài Gửi Chị Hàng Cau (1916) :</p>
<p><i>Ai đang độ ấy lăm răm mắt</i></p>
<p>Tản Đà tạo ra từ &#8221; <i>lăm răm</i> &#8221; trên nhiều cơ sở : tiếng Việt đã có những chữ na ná : &#8221; <i>lăm tăm</i> &#8221; và &#8221; <i>lâm râm</i> &#8221; : <i>mưa lâm râm ướt dầm lá hẹ</i> trong ca dao. Lại có :</p>
<p>&#8211; <i>Cô nào con mắt lá răm</i><br />
<i>Đôi mày lá liễu đáng trăm quan tiền</i></p>
<p>&#8211; <i>Cổ tay em trắng như ngà</i><br />
<i>Đôi mắt em liếc như là dao cau</i></p>
<p>Bài thơ Tản Đà gửi cô hàng cau, và gợi hình ảnh đôi mắt tình tứ. Trong câu thơ Lê Đạt, chữ <i>lăm răm</i> tả ánh nắng lăm tăm, lăn tăn trên vũng nước, mà đồng thời gợi tác dụng của đôi mắt : hình ảnh toàn bài thơ phản ánh ca dao :</p>
<p><i>Trên trời có đám mây xanh</i><br />
<i>(&#8230;)</i><br />
<i>Đừng rửa lông mày chết cá ao anh</i></p>
<p>Trong thơ Lê Đạt &#8221; <i>vũng nhỏ </i>&#8221; nhắc lại đôi mắt, vào một ngày thu biêng biếc : nước phải thật trong và trời phải thật xanh, như trong thơ Nguyễn Khuyến, lại có thêm nắng cúc vàng hanh ấm áp.</p>
<p>Bình thường không ai nói &#8221; nắng cúc &#8221; mà chỉ nói trà cúc, rượu cúc : do đó màu nắng dậy lên chất men ngây ngất. Cảm giác ấy, ta có gặp trong văn xuôi : &#8221; <i>Buổi sáng mùa đông ngây ngất vào lối 10 giờ </i>&#8221; (Thanh Tâm Tuyền, <i>Bếp Lửa</i>, tr.11) hay thơ Huy Cận : <i>Chỉ biết trời xanh là ta say</i>. Người xưa nói : <i>thu ẩm hoàng hoa tửu</i> là ám chỉ rượu cúc. Lê Đạt không nói gì về rượu, người đọc vẫn ngất ngây, cho đến câu cuối :</p>
<p><i>Tóc hong mùi ca dao</i><br />
<i>Thu rất em và xanh rất cao</i></p>
<p>Câu thơ trước chỉ vỏn vẹn năm chữ mà nói lên được năm cảm giác của ngũ quan. Câu dưới biến từ loại (<i>nature grammaticale</i>) thành từ tính (<i>qualificatif</i>). Chữ &#8221; <i>rất </i>&#8221; biến &#8221; <i>em </i>&#8221; thành tính từ, trong khi chữ &#8221; <i>xanh</i> &#8221; trở thành thể từ. Không gian từ hữu thể như tan biến, như thăng hoa thành vô thể, trong &#8221; <i>quãng trời hình như không có màu nữa, cao lên và rộng mông mênh</i> &#8221; (Nhất Linh, trong <i>Đôi Bạn</i>, tr. 211).</p>
<p><i>Thu Nhà Em</i> là một bài thơ hay và hàm súc. Bình luận sẽ không cùng khi đã biết rằng :</p>
<p><i>Nông nỗi heo may từ đó&#8230;</i></p>
<p><b>Đặng Tiến</b></p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><strong>Câu chuyện văn nghệ đêm giao thừa</strong></h3>
<h3><strong>với nhà thơ Lê Ðạt</strong></h3>
<p>Ðêm giao thừa Bính Tuất chúng tôi có dịp nói chuyện văn nghệ tản mạn với nhà thơ Lê Ðạt, và như thường lệ, nhà thơ luôn luôn có những ý kiến độc đáo, những kinh nghiệm thực tiễn, những nhận định sâu sắc về tình hình văn học nói chung và những người viết trẻ nói riêng. Chúng tôi ghi lại buổi nói truyện này (đã phát thanh trên đài RFI ngày, 28/1/2006) để gửi đến bạn đọc Hợp Lưu.</p>
<p><b>Thụy Khuê:</b> <i>Thưa anh Lê Ðạt, nói chuyện văn nghệ giao thừa như đêm nay, thì chúng ta nên hướng về những đề tài gì?</i></p>
<p><b>Lê Ðạt:</b> Tôi thấy thế này chị ạ, mình không nên quá phân biệt ngày Tết với ngày thường. Ngày Tết người ta thường chúc nhau những gì? Người ta chúc nhau sang năm nhiều sức khỏe này, rồi thì phát tài bằng năm bằng mười năm ngoái, đó là tục lệ của ngày Tết; nhưng nếu về thơ mà chúng ta cũng lại bắt chước chúc nhau là làm thơ hay gấp năm, gấp mười năm ngoái thì chắc còn phải đợi&#8230; hơi lâu! (cười).</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Vậy xin phép tiếp tục câu chuyện thơ với anh ở chỗ đã&#8230; bị bỏ dở từ mấy năm nay! Thưa anh, có một vấn đề mà chắc anh cũng đã để ý từ lâu, đó là vấn đề “nhà thơ và thời thế”, nhà thơ phải sống thế nào với thời đại của mình, thưa anh?</i></p>
<p><b>L.Ð.:</b> Tôi xin trả lời thế này. Ngày xưa anh Vũ Hoàng Chương có mấy câu thơ rất nổi tiếng:</p>
<p><i>Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ</i></p>
<p><i>Bị quê hương ruồng bỏ, giống nói khinh.</i></p>
<p>Và nhiều người cũng khóc than cho thân phận nhà thơ: không hợp thời và người ta nêu lên vấn đề “tài mệnh tương đố”, chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau và thường mong cho thời đại “Nghiêu Thuấn” trở lại. Theo tôi, đối với người làm thơ, chẳng có thời đại “Nghiêu Thuấn” nào cả. Làm chữ một cách nghiêm túc tức là phải chấp nhận thân phận lỗi thời. Vấn đề là lỗi thời phía trước hay phía sau mà thôi. Tôi rất không ưa những nhà thơ thời trang vì đó là nhà thơ a dua và không giúp ích gì cho phong trào phát triển thơ ca cả.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Vậy thưa anh, vấn đề mấu chốt nhất trong văn nghệ bây giờ là gì?</i></p>
<p><b>L.Ð.:</b> Tôi cho vấn đề quan trọng nhất bây giờ là vấn đề phê bình tức là đối thoại giữa các người làm nghề (văn) với nhau. Ở Việt Nam hầu như không có phê bình. Người ta không phê bình gì cả, thỉnh thoảng đánh nhau một trận rồi lại thôi. Và trên báo người ta in những bài điểm sách chẳng có giá trị gì cả, toàn là tâng bốc nhau, khen ngợi nhau, chẳng giúp ích gì cho văn học nghệ thuật cả. Mà một phong trào văn học nghệ thuật không có phê bình thì không thể nào tiến bộ được. Không biết Hội Nhà Văn sẽ làm thế nào, các người hoạt động văn nghệ sẽ làm thế nào, để tạo được một không khí phê bình lành mạnh. Từ trước đến nay, các nhà phê bình với các nhà sáng tác, vốn đã có thành kiến với nhau rất sâu sắc rồi. Chị có nhớ câu của Anton Chekov, người lịch sự như thế, mà cũng phải nói là nhà phê bình là đám ruồi đốt con ngựa, hút máu con ngựa trong lúc con ngựa đang hết hơi, hết sức để leo dốc. Và các nhà phê bình cũng không ưa gì nhau cả. Vì thế không có không khí đối thoại tử tế trong văn học nghệ thuật. Nếu mà không có đối thoại thì không có dân chủ. Không có dân chủ thì không thể nào tiến bộ được. Tôi cho cái đó là rất quan trọng.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Thưa anh, như thế thì phía sáng tác nên có thái độ thế nào đối với phê bình?</i></p>
<p><b>L.Ð.:</b> Nhà sáng tác cũng phải hiểu cái khó nhọc của nhà phê bình. Ngày xưa, anh Tuân rất ghét nhà phê bình. Anh ấy có nói rằng: cái ao ước suốt đời của anh ấy là khi chết, không muốn chôn bên cạnh mộ một nhà phê bình. Tôi thấy không đúng. Nhà phê bình cũng có cái khó khăn của người ta, không ai bắt nhà phê bình lúc nào cũng phải đúng cả. Nhà phê bình có quyền sai. Quyền sai ấy là nhân quyền. Ðó là quyền thiêng liêng nhất của con người. Con người có quyền sai, có quyền lầm. Nhưng người ta yêu cầu các nhà phê bình phải thực tâm, phải tử tế và phải trung thực. Cái đó thì nhất định phải yêu cầu được. Anh có thể sai được, nhưng sai với thành thật thì rất hoan nghênh, nhưng anh đã có ý đồ trước thì không thể chấp nhận được. Thêm một điểm này nữa: người ta thường chê đánh nhau bằng tay chân là vũ phu và vô văn hóa, tôi cho rằng đánh nhau bằng ngòi bút, cũng là vũ phu và vô văn hóa. Anh phê bình một cách quá đáng, cũng là vũ phu và vô văn hoá.</p>
<p>Trong năm mới, không biết tôi có dịp nào để tiếp xúc với giới văn nghệ Việt Nam nhiều hơn trước không, nếu đài của chị có thể chuyển được lời của tôi đến họ thì tôi rất hoan nghênh, nếu những người làm văn nghệ Việt Nam cố gắng ngồi với nhau và phê bình nhau một cách tử tế và lịch sự như những người có văn hóa.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Trong năm vừa qua anh có dịp tiếp xúc thường xuyên với giới văn nghệ ở Việt Nam không, thưa anh,?</i></p>
<p><b>L.Ð.:</b> Tôi phải nói thế này: trong một thời gian dài tôi ốm đau và cũng đã già rồi, đọc cũng khó, nên không thể tiếp xúc đầy đủ với anh em ở Việt Nam; Tuy vậy, tôi thấy về thơ vẫn tiến triển bình thường nhưng không thấy được khuôn mặt nào mới cả. Vẫn là những khuôn mặt cũ, kể cả những anh em trẻ, nhưng tôi thấy có một không khí đòi hỏi thay đổi. Cách đây ít lâu tôi có nghe nói ở thành phố Hồ Chí Minh có một số anh em trẻ, cả nam lẫn nữ, xông xáo lắm trong vấn đề văn nghệ, trong vấn đề thơ; nhưng tôi không tiếp xúc được với họ thành ra không biết họ như thế nào; Nhưng về nguyên tắc tôi hoan nghênh vấn đề xông xáo trong thơ phú, trong sáng tác. Riêng có một việc, tôi đề nghị với chị như thế này: trong văn xuôi Việt Nam, tôi vừa đọc được một nhà văn trẻ tuổi, nhà văn nữ mà tôi rất thích. Chị Nguyễn Ngọc Tư đấy, tác phẩm của chị ấy là Cánh đồng bất tận. Nếu chị xem rồi, thì chị nên phê bình và góp ý kiến tốt với chị ấy. Ðó là một người trẻ tuổi mà đã có một cái già dặn, có một bản lĩnh vững và nhân dịp Tết này tôi xin chúc chị ấy tiếp tục con đường của chị đi, và vững bước mà tiến được.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Ở thời đại báo chí và thông tin đại chúng rất phát triển như bây giờ, anh thấy những cái đó đem lại hiệu quả gì cho văn nghệ, thưa anh?</i></p>
<p><b>L.Ð.:</b> Người ta thích diễn. Người ta thích diễn ghê lắm. Ca sĩ diễn đã đành, diễn viên đã đành. Nhưng tôi thấy các nhà văn, nhà thơ, các nhà sáng tác, đáng nhẽ ra họ phải làm việc một cách âm thầm hơn, thì tôi thấy cũng thích diễn lắm. Nhân đây tôi nghĩ mãi đến câu chuyện cổ của Việt Nam, đó là tích anh Trương Chi “người thì thậm xấu hát thì thậm hay”. Tôi cho rằng người sáng tác bao giờ cũng phải xấu hơn cái tác phẩm của mình. Một người sáng tác mà đẹp trai hay đẹp gái hơn tác phẩm của mình thì tôi rất nghi ngờ cho tương lai của anh, chị ấy. Tôi nhớ câu nói của Jabès: Tôi không là gì cả, tại vì tôi là người kể chuyện và câu chuyện là tất cả. Người sáng tác phải quên mình đi, phải núp sau sáng tác của mình hơn là dựa vào sáng tác của mình để khoe khoang và đề cao mình một cách quá đáng. Tôi rất thích truyện Trương Chi hiểu theo nghĩa ấy.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Thưa anh, như vậy anh khuyên các nhà văn, nhà thơ trẻ nên làm như thế nào?</i></p>
<p><b>L.Ð.:</b> Tôi muốn nói với tất cả những anh em, nhà văn trẻ, nhà thơ trẻ, như lời một người bạn thôi, tôi không khuyên ai cả, tức là thế này, cái việc mình xuất hiện đã khó khăn, đưa một cái tên lên báo chí đã rất khó, nhưng tôi cho rằng cái khó khăn nhất chờ đợi nhà văn, nhà thơ, chính là cái tiếp tục. Cái tiếp tục là khó. Xuất hiện đã khó rồi nhưng không thể khó bằng tiếp tục được. Muốn tiếp tục như thế là anh phải có sự lao động cần cù, tận tâm tìm tất cả mọi thứ. Người ta có thể lóa mắt vì một vài câu thơ, một vài hình ảnh mà anh đưa ra, nhưng cứ tiếp tục mãi thì có thể là anh không còn gì nữa. Cho nên cái tiếp tục ấy tôi cho, mới là quan trọng. Mà tôi sợ rằng một số anh em, cả trẻ lẫn già, ở Việt Nam chưa bận tâm nhiều đến việc tiếp tục. Anh muốn tiếp tục thì anh phải học tập rất chuyên cần. Văn nghệ là một hoạt động văn hóa, thì anh phải trau dồi lớp văn hóa, vốn văn hóa của anh chứ. Nếu bây giờ mình không trau dồi văn hóa, mình được một vài tác phẩm, mà mình đã “nghỉ ngơi” rồi, thì tôi cho đó là một sự nghỉ ngơi rất đáng tiếc. Bản thân tôi có biết được một số anh em cả trẻ lẫn già, có những bắt đầu rất tốt nhưng rồi sau không đi được nữa, thì tôi thấy cảnh nửa đường, nửa đoạn của người làm thơ hoặc viết văn như thế thật đáng tiếc. Chính là vì họ không chịu lao động một cách kiên trì và lao động ấy dứt khoát phải là lao động văn hóa.</p>
<p><b>T.K.:</b> Thưa anh, theo anh thì nhà thơ có cần có một quan niệm thơ không?</p>
<p><b>L.Ð.:</b> Người ta thấy tôi thích thiền thì có một anh có tặng tôi một tập thơ và nói rằng: Thấy anh thích thiền thì chắc anh xem thơ thiền này thì anh sẽ thích lắm. Tôi trả lời thế này: Tôi không thích thơ thiền. Tôi cũng không thích thơ “sản xuất” hay là thơ tình yêu hay thơ &#8230; gì cả. Thơ không có tĩnh từ gì là tôi thích nhất. Thơ không thôi là được rồi. Tôi không thích một thứ thơ nào bị tha hóa bởi một yêu cầu khác. Kể cả thơ hiện đại, tôi cũng không thích thơ hiện đại. Thơ hậu hiện đại? Tôi cũng không thích thơ hậu hiện đại. Cứ thơ thôi, anh làm được bao nhiêu thì anh làm. Anh chưa làm đã bị một bảng hiệu treo trên lưng như thế, thì làm sao mà thơ hay được. Tất cả những thơ nào mà có một tĩnh từ đi sau là tôi&#8230; rất không thích . Thơ không cũng đủ lắm rồi, mệt lắm rồi (cười). Người ta thường nói một cách văn chương: nhà thơ là một người hành hương, ý muốn nói con đường của người làm thơ là con đường thiêng liêng, con đường rất dài. Nhưng tôi thấy như thế chưa đủ, nếu muốn hành hương cũng được, nhưng nên thêm một điểm này nữa là một hành hương đãng trí. Khi anh làm thơ, hình như anh gặp đất Thánh ở trong một câu thơ nào đó, anh quên đi và suốt đời anh nên đi tìm chỗ đó thì thơ mới khá được. Tôi rất sợ những nhà thơ nào thuộc đường quá. Tôi rất phục nhưng không bao giờ tôi muốn theo anh ta cả. Tôi muốn đi hết con đường của mình và mình lạc vào chỗ nào đó. May ra mình được vài câu thơ hay, thì tốt nhất. Người làm thơ mà không đi lạc, suốt đời đi đúng đường, thì tôi cho rằng thơ không thể nào hay được. Cũng như là người ta không thể tìm đến những đào nguyên, thiên thai bằng những bản đồ địa chính được. Cái đó chắc không có.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Thưa anh, chắc là thế nào anh cũng đọc những báo Tết; thưa anh, anh nghĩ gì về thơ Tết đăng trên báo năm nay?</i></p>
<p><b>L.Ð.:</b> Tôi vẫn nói với chị như thế này: tôi sợ nhất những bài thơ Tết trên báo, tại vì báo nào cũng phải đăng thơ Tết cả và ông nhà thơ nào cũng có nhiệm vụ phải đẻ ra một bài thơ Tết. Tôi thấy nó giống nhau lắm chị ạ, và cái đó là một điểm rất đáng buồn, không biết làm thế nào cả. Nhất là bây giờ, không biết ở các nước có thế không nhưng ở Việt Nam có tình trạng như thế này người ta coi thơ là cái gì phù phiếm lắm, rất phù phiếm, thường thường là đăng vào cho nó đầy trang, có vẻ trang trí thôi, cho nên những thơ Tết ấy, tôi tin là chị cũng không nên chờ đợi nhiều quá ở đó.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Thưa anh, nhiều người tự hào là người Việt Nam nào cũng biết làm thơ, anh nghĩ sao về ý kiến này?</i></p>
<p><b>L.Ð.:</b> Tôi thấy đó cũng là một ưu điểm nhưng đồng thời cũng là một nhược điểm. Nói người Việt Nam nào cũng làm thơ tức là thích thơ và yêu thơ. Nhưng từ một nhà thơ tự nhiên, trời cho như thế, đến nhà thơ chuyên nghiệp khác nhau rất xa, chị ạ. Anh có thể có dăm bài lục bát, nghe có vẻ du dương, hay dăm sáu câu thơ nghe có vẻ điệu nghệ một tí hay được vài câu nghe thích một tí, cái đó chưa phải là nhà thơ. Tôi vẫn cho thơ là một lao động rất nghiêm túc. Tôi biết nhiều người không thích tôi, bởi tôi vẫn cho làm thơ chính là phu chữ. Dân tộc nào chẳng thích thơ. Nhưng một “dân tộc thơ” rất nguy hiểm. Nếu là trạng thái tự nhiên trời cho thì chắc dân tộc ấy không thể có thơ hay được.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Trước khi từ giã xin anh một lới chúc thính giả RFI trong đêm giao thừa ạ.</i></p>
<p><b>L.Ð.:</b> Tôi nhờ chị một việc không biết chị có sẵn sàng giúp đỡ tôi không. Ðã lâu lắm, tôi không nói chuyện với thính giả đài RFI, tại vì cũng đau ốm quá, nhiều việc quá; hôm nay nhân dịp Tết được trở lại nói chuyện với thính giả, tôi nhờ chị gửi đến thính giả một bài thơ xuân rất ngắn của tôi mà người ta gọi là haikâu đấy, có được không ạ?</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Như thế thì hay quá.</i></p>
<p><b>L.Ð.:</b> Xin chị nghe nhé, tôi nói rất chậm, -tôi hay có bệnh nói nhanh-:</p>
<p><i>Em về phía sang xuân thế kỷ</i></p>
<p><i>Tín hiệu anh một lũy thừa chờ.</i></p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Xin thành thật cảm ơn nhà thơ Lê Ðạt.</i></p>
<p>&nbsp;</p>
<h3>Những đoản khúc Lê Đạt</h3>
<h5>Phạm Xuân Nguyên</h5>
<p><i>Đám tang nhà thơ Lê Đạt đã cử hành sáng thứ sáu 25.4.2008 tại Hà Nội. Chúng tôi giới thiệu dưới đây một loạt bài về Lê Đạt của nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên.</i></p>
<p>Người “phu chữ” Lê Đạt đã dừng chân trên công trường chữ sản xuất thơ ca. Trong “bộ tứ” nhà thơ thường được nhắc đến của thời Nhân Văn – Giai Phẩm, ông là người ra đi thứ ba, sau Phùng Quán, Trần Dần. Cả bốn ông rồi ra đều được trao tặng giải thưởng nhà nước về văn học nghệ thuật. Nhưng hơn hết, Lê Đạt, cùng với Hoàng Cầm, tuổi trời còn cho sống để được sống lại đời thơ của mình trong dòng chảy văn học chung của dân tộc, để được phát lộ mình dẫu muộn màng trong sự vận động mới của văn học nước nhà.</p>
<p>Lê Đạt trở lại với thi đàn sau gần ba mươi năm im tiếng là khắc ghi ngay ấn tượng của mình đối với giới thơ và công chúng yêu thơ. Lê Đạt của thời <i>Cha tôi</i> (1956) đã biết không cam chịu cảnh sống “<i>Rũ đầu chết ngạt trong bùn</i> / <i>Năm tháng mài mòn bao nhiêu khát vọng</i>”. Lê Đạt của thời <i>Bài thơ trên ghế đá</i> (1957) đã biết yêu tự do cho mỗi cảm xúc, tư tưởng. Khi ấy, Lê Đạt đang là một nhà thơ trẻ với tất cả sự hăng say và mạnh mẽ của tuổi trẻ cùng với một lòng tin chân thành và lãng mạn của một thế hệ vừa làm xong một cuộc kháng chiến thần thánh giải phóng đất nước. Ba mươi năm sau, khi đất nước làm một cuộc đổi mới, Lê Đạt đã ở tuổi lên lão, nhưng thơ ông nấu nung trong lò cừ tâm trí văn hóa của một người biết sống và biết đọc đã làm bất ngờ cả những người vốn chờ đợi. Không kể lớp trẻ như ông, hoặc trẻ hơn ông thời trước, họ đã bị kinh ngạc. Tập thơ <i>Bóng chữ</i> (1994) của Lê Đạt như một tuyên ngôn, như một thách thức người làm thơ và người đọc thơ.</p>
<p><i>Tuổi lú lẫn ngược nhầm ga trẻ dại<br />
Hay ngây ngô không biết lối về già<br />
Thơ thẩn chữ ngã ba</i></p>
<p>Những câu thơ không dễ đọc do sự phối trí khác lạ âm và thanh, chữ và nghĩa, cùng với một tuyên bố nhà thơ là “phu chữ”, người làm thơ không thể chỉ biết tiêu thụ cái nghĩa tự vị của từ như trong từ điển, đã khiến nhiều người hoang mang, lo lắng. Chữ hay là bóng chữ mới là cốt yếu của thơ. Có người đọc thơ Lê Đạt ngộ ra những khả năng, những chân trời mới của thơ. Có người, trái lại, đọc thơ ông mà thấy như lạc lối. Một cuộc tranh luận đã bùng ra quanh <i>Bóng chữ</i>. Nhiều người đọc, và khá nhiều người làm thơ, đã phải nghe giảng giải thơ là gì, thơ là thế nào, như để có một chiếc chìa khóa mở cửa vào thơ Lê Đạt. Trong khi gây đột biến đó cho làng thơ, Lê Đạt vẫn âm thầm, miệt mài sự lao động chữ như khổ sai mà lại như khoái cảm của mình cho thơ. Mặc ai bàn tán, khen chê, ông cứ thẳng một đường mình đi. Làm thơ không thôi, ông còn viết truyện mượn những câu chuyện có thực trong đời các văn nhân thi sĩ cổ kim đông tây muôn đời để lật trở những vấn đề luôn là mối bận tâm hàng đầu của những ai đã trót dan díu với chữ, với thơ, đã nguyện làm phu chữ đến trọn đời. Ngay cả khi có những bạn trẻ gần đây đem ý “phu chữ” của ông đối lập một cách trật hệ thống với ý “máu chữ” của một nhà thơ khác để trách móc, phỉ báng ông, ông không chấp nê, không lấy làm điều. Với ông, được làm thơ, được sống với thơ, được cùng thơ thoả khát vọng phiêu lưu cùng chữ và nghĩa, thế là đã đủ mãn nguyện, đã sung sướng được sinh ra đời làm một người sáng tạo.</p>
<p>Đọc Lê Đạt ở bất cứ cái gì ông viết ra nói ra, dù đó là thơ, là truyện, là bài tản mạn hay bài trò chuyện, tôi luôn bị ấn tượng bởi cách nói, cũng tức là phản ánh cách tư duy, của ông. Một cách tư duy và một cách nói ra thành lời những điều tư duy in đậm cái nét riêng không thể lẫn trộn của Lê Đạt. Nó khiến người đọc không thể thờ ơ những điều ông nghĩ, ông nói. Nó khiến Lê Đạt vẫn hiện đại đồng hành cùng lớp trẻ đầu thế kỷ XXI. Nó khiến người ta phải nhìn lại thơ bằng con mắt duy lý, ngoài sự thành kính, đam mê, và cảm xúc. Ông không ngừng sục sạo các ngõ ngách của từ và tiếng, của chữ và lời, không ngại làm mới và không sợ bị coi là khác lạ. Cho nên mới có thơ <i>Haikâu</i> mang thi hiệu Lê Đạt. Có phải nhờ thế những bài thơ ông viết ở buổi mới khi thành công đã lập tức được thừa nhận và trở thành như cổ điển. Thơ Lê Đạt cổ điển trong vẻ hiện đại, đẹp trong sự tân kỳ. Tưởng nhớ ông, hãy cùng đọc lại một bài thơ thành công nhất của ông.</p>
<p><b><i>Bóng chữ</i></b></p>
<p><i>Chia xa rồi anh mới thấy em<br />
Như một thời thơ thiếu nhỏ<br />
Em về trắng đầy cong khung nhớ<br />
Mưa mấy mùa mây mấy độ thu<br />
Vườn thức một mùi hoa đi vắng<br />
Em vẫn đây mà em ở đâu</i></p>
<p><i>Chiều Âu Lâu bóng chữ động chân cầu </i></p>
<p>Cái mùi hoa đi vắng mà vẫn làm thức vườn, cái sự em ở đâu khi em vẫn ở đây – đó chính là bóng chữ của Lê Đạt, chính là thơ ông.</p>
<h4>Người “phu chữ” đã nằm xuống<i></i></h4>
<p>Hai tiếng “phu chữ” từ khi được Lê Đạt nói ra đã trở thành thông dụng, thành một thứ câu cửa miệng trong giới thơ và cả trong công chúng. Không dễ được như vậy nếu nó không được đảm bảo bằng chính cả cuộc đời lao động nghệ thuật thơ, lao động chữ của ông. Đối với Lê Đạt, cũng như với các thân hữu văn chương của ông Hoàng Cầm, Trần Dần, Dương Tường, làm thơ là làm chữ, là phải khổ công luyện chữ để bắt những con chữ bình thường, đơn giản với nghĩa tiêu dùng hàng ngày bật ra những nghĩa mới, những vẻ đẹp bất ngờ từ sự tương cận, cọ sát, va chạm của chúng khi đứng cạnh nhau trong một trường liên kết và liên tưởng do chính nhà thơ đưa chúng vào. Từ những bài thơ mang nặng tính hiện thực thời kỳ đầu, trải hơn ba mươi năm âm thầm đọc và học, tìm và thử trong thế giới con chữ Việt, khi hoàn cảnh lịch sử mở cửa cho ông trở lại thi đàn vào thập niên 1980, Lê Đạt đã có vàng luyện từ quặng của mình đem ra trình trước thơ. Hai tập <i>Bóng chữ</i> (1994) và <i>Ngó lời</i> (1997) của ông thực sự đã gây bất ngờ đột phá. Người đọc bước vào thơ ông với tâm trạng vừa thích thú, tò mò, vừa e dè, hoang mang. Nhưng có một điều chắc là họ đã được nhận một khoái cảm khác lạ từ những phá cách kết cấu câu chữ đưa lại những kết hợp mới của từ mà người “phu chữ” Lê Đạt đã dày công tìm tòi, thử nghiệm. Này là mùa thu “<i>Nắng cúc lăm răm vũng nhỏ</i>”. Này là sông quê “<i>nắng mười tám má bờ đê con gái</i>”. Này là mới tuổi “<i>mùa xuân phăn phăn lòng đường</i>”. Này là tỏ tình “<i>liễu đầu cành độc thoại đoạn trường xanh</i>”. Ông có hẳn một kiểu thơ Haikâu, chỉ từng cặp thơ thôi nhưng mỗi lần đọc là đưa lại một khám phá, mỗi lần nhìn con chữ là lại thấy một công phu sáng tạo. Tưởng như ông gò mình vào giới hạn tối thiểu của hai dòng thơ, nhưng đấy là cách ông tự thử thách năng lực thơ của mình thông qua thử thách các khả năng biến hoá, thay đổi của chữ, để trong một diện tích tối thiểu chữ đạt được tối đa năng lượng cảm xúc thơ.</p>
<p><i>Xuân bắt đầu tàu nhanh xanh thức ngủ<br />
Tình tăng bo toa đỗ đoạn bạc đầu</i></p>
<p><i>Ngực dự hương thơm đêm mùi tuổi chín<br />
Mắt lá tre đằng ngâm mộng ba giăng</i></p>
<p><i>Máy nhắn chim tin tìm mê lộ số<br />
Lòng khác tình tìm đổi số lặng thinh</i></p>
<p>Thế hệ nhà thơ của Lê Đạt càng cao tuổi càng trẻ, trẻ trong tư duy, cảm xúc, trẻ trong cách sống. Có lẽ cái trẻ ấy của Lê Đạt đến từ tri thức ông thu nhận và tích lũy được qua sách vở tự học và từ những trải nghiệm đường đời nhiều gian truân và khổ nạn. Ông chơi nhiều với các nhà thơ trẻ, cổ vũ họ tìm tòi, khám phá, thách thức họ khẳng định mình, với ông trước thơ tất cả đều bình đẳng trong những nỗ lực sáng tạo không ngừng.</p>
<p>Hai tập sách gần đây nhưng đã thành ra là cuối cùng của Lê Đạt : tập truyện <i>Mi là người bình thường</i> và tập thơ <i>U75 từ tình</i> vẫn rừng rực một nỗi khát vọng sống, khát vọng thơ, vẫn nguyên khí chất Lê Đạt. “<i>Trong tình yêu người ta thường tiêu hai thứ tiền. Và nhà thơ bao giờ tim cũng chỉ tệ mạnh. Riêng có từ vốn nặng lòng. Thơ chính là từ tình, cũng có nghĩa tự tình tức là yêu đơn thương, yêu thất tình, yêu bóng. Đó là nỗi sầu vạn cổ cũng là thách thức và niềm lạc quan ngoan cố của nhà thơ</i>”. Lê Đạt có nhiều câu nói với nhiều cách nói khác lạ và ấn tượng như vậy về thơ, nghề thơ và về nhà thơ.</p>
<p>Bây giờ Lê Đạt, người “phu chữ”, đã nằm xuống, sau “<i>một đời lao lực, một đời thơ</i>”. Những người đọc từ nay chỉ còn gặp ông trong “<i>bóng chữ</i>”, và nghe ông trong “<i>ngó lời</i>”. Và họ biết ơn ông đã làm cho họ biết quý yêu chữ, trân trọng chữ, không chỉ là để làm thơ. Nhưng đặc biệt là nhà thơ, như Lê Đạt: “<i>Nhà thơ là người lao động ở môi trường tâm áp cao mà không có bồi dưỡng độc hại để sản xuất giống đặc chủng cho những mùa tình bội thu</i>”. Đó là niềm kiêu hãnh của Lê Đạt.</p>
<h4>Bay cho cao, bay cho xa</h4>
<p>Đó là tiếng kêu mạnh mẽ, tin tưởng của người thơ trẻ Lê Đạt hơn năm mươi năm trước, vào giữa thập niên 1950, khi đất nước vừa ra khỏi cuộc chiến tranh lần thứ nhất phân chia hai miền, nửa miền Bắc bắt tay vào công cuộc kiến thiết mới cuộc sống và tâm hồn con người. Cái mới là đòi hỏi thường trực của kiếp nhân sinh, càng là đòi hỏi lớn của thơ ca nghệ thuật, và càng là đòi hỏi cấp thiết của tuổi trẻ. Tuổi hai mươi phải dũng cảm phá bỏ ràng buộc của những lề quen thói cũ, phải không cam chịu kiếp sống an phận thủ thường làm thui chột mọi khả năng sáng tạo. <i>Những kiếp người sống lâu trăm tuổi / Y như một chiếc bình vôi / Càng sống càng tồi / Càng sống càng bé lại</i>. Trong bản hòa tấu những tiếng thơ khao khát làm mới mình, làm mới thơ để dâng hiến cho cuộc đời và đất nước từ giai phẩm mùa xuân 1956, Lê Đạt đã cất tiếng kêu gọi :</p>
<p><i>Mới ! Mới !<br />
Luôn luôn Mới<br />
Bay cho cao<br />
Bay cho xa<br />
Trên những vết già nua cũ kỹ<br />
Trên lề đường han rỉ<br />
Vượt ngày hôm nay<br />
Vượt ngày mai, ngày <a href="http://www.diendan.org/phe-binh-nghien-cuu/nhung-111oan-khuc-le-111at/##">kia</a>,<br />
Vượt mãi…</i></p>
<p>Tiếng kêu ấy đã theo ông đi trọn cuộc đời làm người và làm thơ. Bị hoạn nạn, gặp khó khăn, nhưng ông không bao giờ bỏ tiếng kêu ấy lại phía sau. Đó chính là tiếng thơ của Lê Đạt. Ông, cùng với Trần Dần, Đặng Đình Hưng, là ba nhà thơ trong phong trào Nhân Văn cách tân mạnh mẽ, quyết liệt nhất của thơ Việt nửa sau thế kỷ XX.</p>
<p>Cách tân thơ của Lê Đạt là ở Chữ. Ông có thể mượn câu nói của một nhà thơ Pháp để nói về mình: Hãy đập vào chữ anh dùng, thiên tài là ở đấy ! (“<i>Hãy đập vào trái tim anh, thiên tài là ở đấy</i>” – A. Musset). Khi văn chương là ngôn ngữ, mà thơ lại là sự tập trung xoáy sâu vào ngôn ngữ, và ngôn ngữ hiện hình trên trang giấy bằng chữ, thì sao người làm thơ lại không trăn trở, vần xoay sống chết với chữ để bắt từng con chữ biểu phát ra những ánh chiếu khác lạ về âm sắc, nghĩa lý. Lao động chữ là một thứ lao động khổ sai nhưng tự nguyện, đau đớn nhưng khoái cảm. Lê Đạt không tự gọi mình và không cho gọi mình là thi sĩ. Ông chỉ nhận mình là “phu chữ”. Nội hai chữ này thôi đã nổi lên cái chất Lê Đạt. Sự lắp ghép, kết hợp “phu” và “chữ” đã tạo ra một từ mới, một khái niệm mới, một hình dung mới, biểu đạt được công phu tử vì thơ của người thơ. Nói tới Lê Đạt, vì vậy, trước hết và trên hết, là nói tới một người lao động chữ và nghĩa. Ông đã từng viết như một tuyên ngôn: “<i>Nhà thơ làm chữ chủ yếu không phải ở nghĩa</i> “tiêu dùng”, <i>nghĩa tự vị của nó, mà ở diện mạo, âm lượng, độ vang vọng, sức gợi cảm của chữ trong tương quan hữu cơ với câu thơ, bài thơ</i>”. Ông quan niệm : <i>Mọi câu thơ hay đều kỳ ngộ / Hẳn phải siêng năng, có lòng thành / và nhất là biết chờ / người đẹp vỏ chữ bước ra / giờ các con phe đi ngủ</i>.</p>
<p><i>Bóng chữ</i> (1994) tập thơ đưa ông tái xuất văn đàn là kết quả của mấy chục năm im lặng đọc, và nghĩ, và viết, vượt lên trên những hệ lụy khó nhọc của đời sống khốn khó vây níu mình. Lê Đạt trở lại đã không tụt hậu, đã vẫn mới, vẫn đủ năng lượng đốt cháy mình cho thơ, vẫn ở hàng đầu những người khổ sai và hạnh phúc vì chữ. Tập thơ lập tức gây dư luận, tạo dư chấn, và để dư âm.</p>
<p><i>Anh đến mùa thu nhà em<br />
Nắng cúc lăm răm vũng nhỏ<br />
Mà cho đấy rửa lông mày<br />
Nông nổi heo may từ đó</i></p>
<p><i>Mưa đêm tuổi nổi ao đầy<br />
Đồi cốm đường thon ngõ cỏ<br />
Bướm lượn bay hoa ngày<br />
Tin phấn vàng hay thuở gió</i></p>
<p><i>Tóc hong mùi ca dao<br />
Thu rất em và xanh rất cao</i></p>
<p>Mùa thu đã được nói quá nhiều trong thơ ca dân tộc và nhân loại, nhưng bài thơ hay này của Lê Đạt là minh chứng cho một chân lý trong công việc sáng tạo: không có đề tài cũ, chỉ có người thơ không biết làm mới đề tài. Lê Đạt đã sử dụng và sai khiến các con chữ một cách sáng tạo tài tình để đưa tặng người đọc một bức tranh thu tình tứ vừa rất ca dao truyền thống vừa rất tân thời, hiện đại. Có thể tìm được trong tập <i>Bóng chữ </i>nhiều câu hay và khác lạ mang đúng “thi hiệu” Lê Đạt như vậy. <i>Sớm hạ búp sen đôi gió / Sóng đòng buồm nhấp nhô thơm / Tóc liễu trường tân thơ cổ / Trời xanh côban rất Đường</i> (<i>Vào hè</i>). <i>Chữ khép lối đồi chim non câu ngủ / Trang tầm xuân cau chưa mở nụ ngà / Bến cửa ngực đèn lòng ga trăng rõi / Ngõ trắng bời bời mây nổi / U ú thiên hà tàu nhả khói ngã ba </i>(<i>Mới tuổi</i>).</p>
<p>Tác phẩm giờ đây trở thành cuối cùng của Lê Đạt là tập <i>U75 từ tình</i>. Một tập sách như tổng kết cả một đời thơ lao lực đam mê của Lê Đạt khi tập hợp trong đó có những phần của các tập thơ trước và đặc biệt có những “<i>Đoản ngôn</i>” là những suy nghĩ, nhận xét của riêng ông, những câu truyện ông lấy ra từ cuộc đời các danh nhân đông tây kim cổ, tất cả đều xoáy vào chủ đề thơ ca và cuộc sống. Đó như một kiểu di chúc nghệ thuật của Lê Đạt. Ông đã ra đi sau khi vừa hoàn thành một cuộc hành trình dọc ngang đất nước hào sảng và thanh thản. Đọng lại với đời một hình ảnh Lê Đạt có tiếng cười to, đôi mắt hóm hỉnh, và khuất sau đó những âm thầm vật lộn trên trang viết. Tưởng nhớ Lê Đạt, cách tốt nhất là hãy học theo tinh thần của ông : “<i>Cái mới thường vượt biên không có giấy thông hành</i>”.</p>
<h4>“Phó thường dân” nhà thơ</h4>
<p>Lê Đạt xuất hiện trong các tập sáng tác giai phẩm mùa xuân, mùa thu năm 1956 bằng những bài thơ đầy nhiệt huyết công dân, đầy tinh thần cống hiến cho đất nước, cho thơ ca, khi đất nước vừa tắt khói lửa một cuộc chiến tranh và nửa nước đang trong cơn say lãng mạn. Mang tinh thần hừng hực như nhà thơ Nga V. Mayakovsky – một kiểu mẫu thơ hồi ấy ông và các bạn ông noi theo – Lê Đạt viết thơ <i>Gửi kế hoạch nhà nước 1956</i> để thúc giục phải nhanh hơn, mạnh hơn, quyết liệt hơn cho sự nghiệp xây dựng cuộc sống mới.</p>
<p><i>Thực dân làm mười hai năm<br />
Ta hoàn thành trong bốn tháng<br />
Mỗi ngày thi đua cách mạng<br />
Bằng mấy chục ngày thường<br />
Ta nắm cổ thời gian<br />
Quất cho phi nước đại.<br />
Kéo ngày mai gần lại<br />
Thúc vào lưng cuộc đời<br />
Mở máy đến chân trời cộng sản</i></p>
<p>Ông thấy sứ mệnh của thơ là phải tham gia trực tiếp vào cuộc sống, phải đào luyện những con người là chủ nhân mới của đất nước. Làm thơ đối với người thơ Lê Đạt hồi tuổi thanh niên ấy cũng là một thứ lao động vinh quang. Nhà thơ tự nguyện được điều động, phân công để thơ có ích cho đời.</p>
<p><i>Em ơi !<br />
Anh thức thâu đêm suốt sáng<br />
Moi óc làm thơ<br />
Moi tim làm thơ<br />
Như người thợ<br />
Chui xuống lòng hầm mỏ<br />
Moi than moi lửa<br />
Đốt sáng cuộc đời<br />
Anh muốn Đảng gọi anh đến nơi<br />
Hội ý về cuộc sống<br />
Điều động anh vào Bộ Tâm hồn quần chúng<br />
Giúp Trung ương<br />
Xây dựng<br />
Những con người</i></p>
<p>Con người mang sẵn trong mình ý chí và khát vọng cái mới như vậy đã bị đặt vào một hoàn cảnh sống nghiệt ngã, cùng với các bạn hữu cầm bút của mình, trong suốt hơn ba chục năm. Nhưng chính ý chí và khát vọng đó đã tôi luyện ông, đã giúp ông nghĩ suy bằng cái đầu của mình và đứng vững trên đôi chân của mình, vượt qua thử thách, hoạn nạn, và chiến thắng bằng Thơ.</p>
<p>Lê Đạt là Lê Đạt ở thơ, một thứ thơ đã được chưng cất qua lò lửa văn hoá đông tây kim cổ mà ông nhóm lên từ trong gian khổ, mà ông đã kiên trì giữ lửa không để lụi tắt qua gió mưa cuộc đời, để khi được đưa ra ánh sáng thứ thơ đó đã tỏa một mùi hương thơ của người thơ Lê Đạt. <i>Bóng chữ</i>, <i>Ngó lời</i>, <i>U75 từ tình</i> – những tập thơ của ông, là thành quả của một đời lao động thơ cật lực của một người tự nguyện làm “phu chữ” để đưa đến cho người đọc những âm nghĩa mới lạ, tinh ròng của tiếng Việt. Hai chục năm trở lại đời sống bình thường của văn học, Lê Đạt đã để lại một dấu ấn riêng của mình trong sáng tác thơ, trong quan niệm thơ, trong hành xử thơ. Thơ Lê Đạt – ba tiếng này đã là một dấu chỉ, một “thi hiệu”, một mời gọi và thách thức. “<i>Tôi tôn trọng những nhà thơ sinh sự với văn phạm để tạo ra sự sinh của ngôn ngữ</i>” – Lê Đạt phát ra nhiều những châm ngôn như vậy để người đọc có cái chỉ hiệu bước vào thế giới thơ ông.</p>
<p><i>Đường về nhà em ba mươi sáu ngõ<br />
Nêông liễu hồ tóc gió ngã tư<br />
Xuân lưa mưa mini mùa én đỏ<br />
Khăn bay cờ lòng phố lay mơ</i></p>
<p>Lê Đạt và những người đồng hội đồng thuyền với ông từ giữa thế kỷ XX đã kiên quyết khởi lên một cuộc cách tân thơ Việt, đoạn tuyệt với Thơ Mới (“<i>thành tựu của họ đòi hỏi ta phải thử những thành tựu khác</i>” – ông nói), đi tìm những cách biểu hiện mới cho thơ, tạo lập những giá trị chuẩn mực mới của thơ. Những tháng năm chìm trong bóng tối và im lặng ông đã cưỡng chống lại số phận bằng cách vùi mình vào những con chữ đến từ nhiều ngõ ngách văn hoá để tích hợp, hội tụ, hấp thụ và biến cải chúng thành một vốn văn hoá lớn của mình, và trên nền tảng đó ông xây cất một ngôi nhà thơ riêng. Những sáng tạo đổi mới thơ của Lê Đạt, cũng như của Trần Dần, Đặng Đình Hưng, đã đóng góp quan trọng cho tiến trình hiện đại của thơ Việt, và nói riêng đó là dấu chỉ giá trị của một phong trào văn học đã dấy lên cách nay hơn nửa thế kỷ.</p>
<p>Ông vừa làm một cuộc hành trình lên Tây Nguyên, xuyên miền Trung, vào Sài Gòn và bay ra Hà Nội. Chuyến đi kết thúc bằng sự yên nghỉ đời đời như một sắp đặt của số phận.</p>
<p>Nhưng có lẽ ở bên kia thế giới ông sẽ cám ơn số phận, vì nào ta có chọn được số phận của ta đâu. Số phận đã cho ông trở thành nhà thơ Lê Đạt chứ không phải thành một nhà nào khác như lẽ ra có thể. Để ông có thể “xưng danh” một cách bình thường và kiêu hãnh rất Lê Đạt:</p>
<p><i>Phó thường dân phố nhỏ vô danh vô giai thoại<br />
Thành tích mấy trang giấy sờn mấy câu thơ bụi núi Vô Sơn</i></p>
<p>Thế là đủ, với ông – nhà thơ Lê Đạt.</p>
<h4>Tiễn đưa</h4>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2016/03/clip_image006.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image006" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/03/clip_image006_thumb.jpg?strip=all&fit=244%2C209" alt="clip_image006" width="244" height="209" border="0" hspace="12" /></a></p>
<p>Trước mặt chúng ta ở đây, lúc này, nhà thơ Lê Đạt đang ở ga cuối của một hành trình.</p>
<p><i>Vòng hoa viếng nhà thơ Lê Đạt của Diễn Đàn<br />
do hai nhà văn Nguyên Ngọc và Phạm Xuân Nguyên thay mặt.</i></p>
<p>Ông đã dừng lại, sau một chuyến đi thực tế ngờ đâu là cuối đời, lên Tây Nguyên, về miền Trung, vào Sài Gòn. Chuyến đi của một đoàn các văn nghệ sĩ, trí thức tới một vùng đất cao nguyên đang là mối trăn trở, bận tâm lớn của đất nước hôm nay. Lê Đạt tham gia đoàn hăm hở, vui vẻ, nhiệt huyết, mặc dù sức khỏe ông đã sút kém. Ông đi chuyến đi này như một cuộc hành hương, một cuộc hành trình, để ngấm và ngẫm thêm về kiếp sống, kiếp người.</p>
<p>Ông đã dừng lại, sau một chuyến đi cuộc đời trải nhiều khúc quanh. Lê Đạt đã từng làm việc ở Ban tuyên huấn trung ương đảng cộng sản Việt Nam, ở bộ phận thư ký cho tổng bí thư đảng Trường Chinh trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Lê Đạt khi hoà bình về trên nửa nước đã biết nhận ra rất sớm những kiếp người “<i>Hai vai nhô lên / Đầu lún xuống / Như không mang nổi cuộc đời</i>” để rồi đánh mất mình trong “<i>mùi ẩm mốc, tiếng mọt kêu cọt kẹt</i>”, từ đó ông kêu gọi giải phóng con người, giải phóng thơ ca. <i>Từng từng giọt mồ hôi / Đẫm bản đồ chính sách / Anh mở lối giữa cuộc đời ngóc ngách / Óc anh là một công trường / Mỗi dòng thơ là một cây số mới / Trên con đường đi tới Xã hội / Ngày mai / Một tiếng súng tương lai / Nổ vào đầu dĩ vãng</i>. Lê Đạt đã lâm tình thế sau vụ Nhân Văn – Giai Phẩm ba mươi năm có lẻ chìm trong bóng tối và im lặng, khi đó chỉ có thơ cứu chuộc được ông.</p>
<p>Ông đã dừng lại, sau một chuyến đi thơ ca khổ ải như vác cây thánh giá lên đồi Sọ và vinh quang như được phục sinh. Thơ đã cho ông tiếng nói làm một công dân chính trực, làm một con người đứng thẳng, và làm một nhà thơ “phu chữ”. Thơ đã chứng tỏ và trình bày ông cho Công Lý, cho Chân Lý, cho cái Đẹp. Thơ đã đưa ông đồng hành cùng dân tộc và tuổi trẻ ở thời buổi mới nhiều vận hội nhưng cũng lắm bất trắc, cam go. Với chữ và thơ Lê Đạt là người tình chung, là kẻ tận hiến.</p>
<p>Ông đã dừng lại, sau những chuyến đi, sau một hành trình có quanh co, khúc khuỷu nhưng nhất quán, để bây giờ trước mặt chúng ta là một Lê Đạt – con người, một Lê Đạt – nhà thơ, với nghĩa đầy đủ của từ này.</p>
<p>Giờ phút chia tay ông ở ga cuối cuộc hành trình này, chúng tôi – những người cùng thế hệ ông, những người bạn vong niên của ông, những người đồng tâm đồng chí cùng ông, những người đọc thơ ông, như hãy còn nghe rõ tiếng ông cười sảng khoái và giọng ông vang to khi nói ra những điều gan ruột cho thơ, cho cuộc sống, cho con người. Ông đã sống trọn một cuộc đời nhân văn nghệ thuật. Ông đã khép mắt lại, nhưng chúng tôi ghi nhớ điều khác biệt ông đã chỉ ra : “<i>Người quân tử dùng mắt để nhìn / Kẻ tiểu nhân dùng mắt để nhòm</i>”.</p>
<p><em><strong>Hà Nội 21 – 22 &#8211; 23 /4/ 2008</strong></em></p>
<h3><strong>Nhân Văn Giai Phẩm với Lê Đạt</strong></h3>
<p><strong>Thụy Khuê</strong><i></i></p>
<p>Nhân Văn Giai Phẩm là phong trào đòi hỏi tự do dân chủ của văn nghệ sĩ và trí thức miền Bắc, có tầm vóc lớn lao, khởi xướng đầu năm 1955 và bị chính thức dập tắt vào tháng 6 năm 1958.</p>
<p>Từ 1959 cho đến nay, hai nguồn tư liệu tương đối đầy đủ về phong trào Nhân Văn Giai Phẩm (NVGP) vẫn chỉ là: Cuốn Trăm hoa đua nở trên đất Bắc (THĐNTĐB) của Hoàng Văn Chí, do Mặt Trận Tự Do Văn Hoá, in ở Sàigòn năm 1959 và cuốn Bọn Nhân Văn Giai Phẩm trước toà án dư luận (BNVGPTTADL) của Nxb Sự Thật, in ở Hà Nội, cùng năm 1959.</p>
<p>Từ thập niên 90 trở đi, ở ngoài nước, có thêm một số tư liệu mới, rải rác dưới dạng tự thuật, bút ký&#8230; của những nhà văn đã tham gia phong trào NVGP như Phùng Quán, Phùng Cung, Hữu Loan, Hoàng Cầm&#8230; và hồi ký Trần Dần (Văn Nghệ, Californie, 2001). Những tư liệu này góp phần làm sáng tỏ thêm về NVGP, giúp các nhà nghiên cứu sau này có thể xây dựng lại bối cảnh toàn diện của phong trào tranh đấu cho tự do sáng tác độc đáo trong lịch sử văn học Việt Nam thế kỷ XX.</p>
<p>Ngày 13/4/1999, trong dịp nhà thơ Lê Đạt sang Pháp lần thứ nhì, chúng tôi đã đề nghị ghi âm ông, mong ông soi rõ những chỗ chưa được các tài liệu trước nói đến, hoặc nói sai. Buổi nói chuyện -được thu thanh với chủ đích giữ lại làm tài liệu văn học sử- vừa mang tính cách cá nhân, vừa có tính cách hệ thống về phong trào NVGP. Chúng tôi đã đồng ý với nhà thơ là sẽ chỉ công bố tài liệu sau khi ông qua đời, bởi lúc đó ông cho biết, ông không có ý định viết hồi ký.</p>
<p>Đầu năm 2004, nhân dịp kỷ niệm 50 năm trận Điện Biên Phủ 1954-2004, chúng tôi dự định làm một chương trình đặc biệt kỷ niệm 50 năm phong trào NVGP (nếu coi 1954 như thời điểm manh nha sự gặp gỡ giữa các văn nghệ sĩ chủ trương phong trào), vì vậy đã cố gắng liên lạc với nhà thơ Lê Đạt qua điện thoại viễn liên Paris-Hà Nội, nhưng không thể thực hiện một cuộc phỏng vấn mới, bởi chỉ qua vài lời đối thoại là đường dây bị nhiễu ngay. Sau nhiều tháng phân vân, cuối cùng, với sự đồng ý của nhà thơ Lê Đạt, chúng tôi quyết định phát thanh trên RFI, toàn bộ buổi nói chuyện thu thanh ngày 13/4/1999 tại Paris, do đó mà tập tài liệu văn học sử này đến với người nghe và người đọc sớm hơn dự tính.</p>
<p>Đây là lần đầu tiên, một tư liệu trực tiếp qua lời thuật của một thành viên cột trụ trong NVGP được công bố. Bên cạnh nhân chứng của Lê Đạt, còn có nhân chứng của hai nhân vật chủ chốt khác trong phong trào, đó là buổi phỏng vấn ngắn nhà chính trị và văn hoá Nguyễn Hữu Đang, ghi âm qua điện thoại viễn liên Paris-Hà Nội tháng 8/1995, nhân dịp chúng tôi hỏi ông về việc ông tổ chức ngày lễ Độc Lập 2/9/1945. Đây là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng có thể ghi âm được ông Nguyễn Hữu Đang. Tất cả những cố gắng về sau đều vô hiệu: bởi chỉ nói vài câu là đường dây điện thoại bị nhiễu ngay. Những buổi nói chuyện với nhà thơ Hoàng Cầm được ghi âm tản mạn trong khoảng thời gian từ 1995 đến 2000, và truyền thanh trên RFI, trong những dịp khác nhau. Các bạn sẽ lưu ý thấy sự trả lời của Nguyễn Hữu Đang, Hoàng Cầm qua điện thoại viễn liên Paris-Hà Nội, không đạt mức độ tự do triệt để như trường hợp trò truyện trực tiếp với Lê Đạt ở Paris. Nhưng tựu trung cả ba chứng nhân cùng đồng quy ở điểm nói thẳng, nói thật cho nên có những câu hỏi cùng đặt ra cho Hoàng Cầm và Lê Đạt ở những thời điểm và hoàn cảnh khác nhau nhưng những câu trả lời gần giống nhau. Phần phát biểu của nhà thơ Lê Đạt, cho đến nay, là chứng từ quan trọng và đầy đủ nhất về lịch sử NVGP.</p>
<p>*</p>
<p>Hoàng Văn Chí, tức Mạc Định, soạn giả Trăm hoa đua nở trên đất Bắc (Mặt Trận Tự Do Văn Hoá xuất bản tại Sài Gòn) cho biết: &#8220;<i>Ở Hà Nội ra đi đầu năm 1955, tôi đã hẹn với các bạn ở lại là hễ có dịp sẽ nói lên tiếng nói của họ&#8221;, &#8220;Tôi làm việc một mình&#8221;, &#8220;Tôi liên lạc được với một ủy viên trong Ủy ban kiểm soát đình chiến. Họ đi Hà Nội như đi chợ. Mỗi tuần họ cắp về Sài Gòn cho tôi tất cả báo chí xuất bản ở Hà Nội&#8221;, &#8221; Tôi làm việc trong hai năm 56-58&#8243;. &#8220;Bộ Thông tin và nói chung, chính quyền Sài Gòn không hề giúp. Lý Trung Dung đến chào Bộ Thông tin, yêu cầu mua cho một số, nhưng chẳng mua một cuốn nào&#8221;. &#8220;Mặt Trận Bảo Vệ Tự Do Văn Hoá ở Việt Nam là một chi nhánh của một tổ chức quốc tế, tên là Congress for Cultural Freedom, trụ sở trung ương ở 104 boulevard Haussmann, Paris. Bác sĩ Lý Trung Dung làm chủ tịch. Tội nghiệp, chỉ vì làm chủ tịch Mặt Trận Bảo Vệ Tự Do Văn Hoá mà phải đi cải tạo đến nay (1986) chưa được thả&#8221;. &#8220;Trước khi đưa in, Lý Trung Dung nghe nói có người gần ông Diệm ngờ rằng tôi soạn cuốn Trăm Hoa Đua Nở là có ý xúi dục trí thức miền Nam bắt chước trí thức miền Bắc nổi lên chống lại chế độ. Vì vậy nên Lý Trung Dung bàn với tôi nên để bút hiệu Mạc Định là soạn giả. Chỉ ký tên Hoàng Văn Chí vào bài Tựa</i>&#8221; (Phỏng vấn cụ Hoàng Văn Chí, Từ Nguyên thực hiện, bán nguyệt san Tự Do số 50, ngày 16/11/1986, phát hành tại Bỉ).</p>
<p>Hoàng Văn Chí đã nói rõ lý do và điều kiện ra đời của tập THĐNTĐB. Nhưng tại sao Hoàng Văn Chí lại đặc biệt lưu ý đến phong trào NVGP? Ai là những người &#8220;ở lại&#8221; mà Hoàng Văn Chí đã hứa sẽ nói lên tiếng nói của họ? Nếu tìm sâu hơn về liên hệ gia đình giữa Hoàng Văn Chí và Phan Khôi, có thể chúng ta thấy câu trả lời: Sở Cuồng Lê Dư có ba người con gái -và vì bà Lê Dư là em ruột Phan Khôi- cho nên ba cô này là cháu ruột Phan Khôi. Cô đầu gả cho Vũ Ngọc Phan, cô thứ nhì lấy Hoàng Văn Chí và cô út là vợ Tướng Nguyễn Sơn. Riêng nữ sĩ Hằng Phương, vợ nhà phê bình Vũ Ngọc Phan, đã viết bài đả kích thậm tệ NVGP. Và rất có thể, người em ruột Hằng Phương, tức bà Hoàng Văn Chí, là một trong những động cơ thúc đẩy Hoàng Văn Chí thu thập tài liệu và viết về NVGP.</p>
<p>Tác phẩm của Hoàng văn Chí, cho đến nay vẫn là tác phẩm hoàn chỉnh nhất về phong trào. Phần lớn những tác nhân chính đều có mặt, với một tiểu sử khá chính xác và những bài viết tiêu biểu của họ trong thời kỳ NVGP. Nhược điểm duy nhất: vì không phải là người trong cuộc, và ông đã rời miền Bắc từ đầu năm 1955, khi phong trào mới manh nha, cho nên có những điểm sai mà ngày nay qua chứng nhân của những người trong cuộc, chúng ta có thể đính chính lại được.</p>
<p>Tập tài liệu tựa đề Bọn Nhân Văn Giai Phẩm trước toà án dư luận do Nxb Sự Thật (nay là Nxb Chính Trị Quốc Gia), in tháng 6, năm 1959, tại Hà Nội, là cuốn sách tập hợp những bài viết hoặc diễn văn tố cáo, lên án, buộc tội NVGP. Cuốn sách có một chương nhỏ, in lại &#8220;<i>những lời thú tội</i>&#8221; của các thành viên NVGP, còn toàn thể dành cho phía công tố &#8220;phát hiện tội&#8221;, với những lời lẽ vô cùng khiếm nhã, khó thể mường tượng được, từ miệng, hoặc từ ngòi bút của giới được gọi là &#8220;<i>trí thức văn nghệ sĩ</i>&#8221; đối với các đồng nghiệp và bạn hữu của mình đã tham gia NVGP. Nó ghi lại một thời kỳ mà nhân cách con người đã đạt tới đáy sâu của sự tha hoá.</p>
<p>Tập tư liệu dày 370 trang này còn hữu ích về mặt lịch sử và văn học sử, nó mở ra nhiều khía cạnh của vấn đề NVGP: về tầm vóc của phong trào, về không khí đàn áp thời đó, về mức độ khốc liệt của lớp đấu tranh Thái Hà mà sau này, nhà thơ Lê Đạt sẽ mô tả một cách tường tận.</p>
<p>Những bài luận tội có tính cách hạ nhục NVGP của 83 văn nghệ sĩ, và các đoàn thể, báo chí, nhân dân cũng như các vị trong ban chấp hành trung ương Đảng, với những tên tuổi như: Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Phạm Huy Thông, Trần Hữu Tước, Đặng Thai Mai, Nguyễn Huy Tưởng, Hồng Cương, Nguyễn Văn Bổng, Hoài Thanh, Hoàng Trung Thông, Hồ Đắc Di, Vũ Đức Phúc, Quang Đạm, Bàng Sĩ Nguyên, Ngụy Như Kontum, Hằng Phương, Lương Xuân Nhị v.v&#8230; phản ảnh rất rõ nhân cách của người tố. Ví dụ cách viết của Nguyễn Huy Tưởng, Đặng Thai Mai, không giống cách viết của Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Phạm Huy Thông&#8230; Cho nên, có thể nói, chính với những &#8220;văn bản tố&#8221;, các tác giả đã để lại nhân cách trí thức của mình trong ký ức dân tộc. Sau cùng nhờ cách sắp xếp thứ tự &#8220;những tên đầu sỏ&#8221; trong cuốn sách mà chúng ta biết được thứ tự &#8220;tội&#8221; nặng, &#8220;tội&#8221; nhẹ, cùng hoạt động của mỗi người.</p>
<p><b>Hành trình Nhân Văn Giai Phẩm</b></p>
<p>Với những tư liệu và nhân chứng hiện hành, ngày nay chúng ta có thể tóm tắt lịch trình hoạt động của phong trào NVGP như sau:</p>
<p>Tháng 3/1955, trong quân đội, nổi lên một phong trào tranh đấu do Trần Dần, Tử Phác chủ trương (với sự cộng tác của Lê Đạt, Hoàng Cầm và các văn nghệ sĩ khác&#8230;): Một mặt, lên tiếng phê bình tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu. Một mặt, đưa ra đề nghị cải cách chính sách văn nghệ trong quân đội, chủ yếu đòi trả quyền lãnh đạo văn nghệ về tay văn nghệ sĩ.</p>
<p>Tố Hữu viết:</p>
<p>&#8220;Cuộc tấn công vào chế độ ta và Đảng ta đã bắt đầu trên mặt trận văn nghệ từ đầu năm 1955, ngay khi hoà bình vừa lập lại.</p>
<p>Trong khi bọn gián điệp còn giấu mặt chờ đợi thời cơ, và bọn tờ-rốt-kít Trương Tửu, Trần Đức Thảo tích cực chuẩn bị lực lượng ở trường Đại học, thì bọn Nguyễn Hữu Đang, Lê Đạt, hai tên phản Đảng ẩn nấp trong báo Văn Nghệ của Hội Văn Nghệ cùng bọn Trần Dần, Tử Phác cũng là những tên phản Đảng trong phòng Văn nghệ quân đội, đã kết thành một bè phái chống Đảng trong Văn nghệ.</p>
<p>Như lời thú nhận của Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, cuộc phê bình tập thơ Việt Bắc là do cái bè phái ấy sắp đặt, để đánh vào sự lãnh đạo và đường lối văn nghệ của Đảng, đường lối phục vụ chính trị cách mạng, phục vụ công nông binh, và để đề xướng cái &#8220;<i>điệu tâm hồn</i>&#8221; ruỗng nát của chủ nghĩa cá nhân tư sản, mở cửa cho lối sống tự do sa đọa.</p>
<p>Đương nhiên cái &#8220;<i>điệu tâm h</i>ồn&#8221; ấy của Lê Đạt xướng lên không thể nào hoà được với cái điệu lớn của cách mạng, và cũng rất tự nhiên nó chỉ hoà được với &#8220;<i>tiếng sáo tiền kiếp</i>&#8221; lóc gân của tên mật thám Trần Duy.</p>
<p>Cũng lúc ấy, bọn Trần Dần , Tử Phác -những đứa con hư hỏng của Hà nội cũ- nay lại trở về với &#8220;<i>cảnh cũ người xưa</i>&#8221; bỗng cảm thấy đời sống trong quân đội &#8220;<i>nghẹt thở</i>&#8220;, chỉ vì thiếu cái tự do trở lại đời sống trụy lạc cũ. Đối với chúng, đời sống trong quân đội cách mạng chỉ còn là &#8220;<i>những sợi dây xích trói buộc phải phá mà ra</i>&#8220;. Được tiêm thêm ít nhiều chất phản động của Hồ Phong, Trần Dần gióng lên &#8220;<i>tiếng trống tương lai</i>&#8221; chửi cán bộ chính trị là &#8220;<i>người bệnh</i>&#8220;, &#8220;<i>người ròi</i>&#8220;, &#8220;<i>người ụ</i>&#8220;. Cùng Tử Phác, khiêu khích những anh em khác, hắn tổ chức một cuộc đấu tranh &#8220;<i>buộc lãnh đạo thực hiện mọi yêu cầu</i>&#8221; của họ.</p>
<p>Họ đòi thực hiện những gì? &#8220;<i>Trả quyền lãnh đạo văn nghệ về tay văn nghệ sĩ. Thủ tiêu chế độ chính trị viên trong các đoàn văn công quân đội. Thủ tiêu mọi chế độ quân sự hiện hành trong văn nghệ quân đội. Thành lập trong quân đội một chi Hội văn nghệ trực thuộc Hội văn nghệ, không qua Cục Tuyên Huấn và Tổng Cục Chính Trị&#8221;. Tóm lại là thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng và kỷ luật của quân đội đối với họ</i>&#8221; (Tố Hữu, Nhìn lại 3 năm phá hoại của nhóm &#8220;<i>Nhân Văn-Giai Phẩm</i>&#8220;, BNVGPTTADL, trang 22-24). Vì vụ việc này, Trần Dần bị giam trong trại từ 13/6 đến 14/9 để kiểm thảo. Trong thời gian bị giam, Trần Dần viết trường ca Nhất định thắng mà Hoàng Cầm và Lê Đạt đều có bản thảo.</p>
<p>Cùng thời điểm đó, báo Nói Thật của Hoàng Công Khanh trích đăng bài &#8220;<i>Sự chia tay giữa văn nghệ và chính trị</i>&#8221; của Lỗ Tấn.</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2016/03/clip_image007.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image007" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/03/clip_image007_thumb.jpg?strip=all&fit=202%2C244" alt="clip_image007" width="202" height="244" border="0" hspace="8" vspace="1" /></a></p>
<p>Nhưng phải đến tháng 2 năm 1956, phong trào mới chính thức công khai, với sự xuất hiện của Giai phẩm mùa xuân, do Hoàng Cầm và Lê Đạt chủ trương, đăng các tác phẩm của Trần Dần, Văn Cao, Sĩ Ngọc, Tử Phác, Phùng Quán, Nguyễn Sáng, Tô Vũ&#8230; Giai phẩm mùa xuân, ngoài bài Nhất định thắng của Trần Dần xem như cái sườn chính, còn có bài thơ Ông bình vôi của Lê Đạt, và Cái chổi quét rác rưởi của Phùng Quán. Lúc đó, Trần Dần và Tử Phác, đang tham gia cải cách ruộng đất tại Bắc Ninh, và theo Hoàng Cầm thì Trần Dần không hề biết việc đăng bài thơ Nhất định thắng. Bài thơ của Trần Dần đã gây tai họa cho nhà thơ và tờ giai phẩm. Báo vừa phát hành, Lê Đạt bị gọi ngay lên Tuyên huấn để kiểm thảo. Giai phẩm mùa xuân bị tịch thu. Trần Dần và Tử Phác bị bắt. Bị giam ba tháng tại Hoả lò Hà Nội, Trần Dần cứa cổ tự vận, nhưng không chết.</p>
<p>Hồng Cương viết: &#8220;<i>Nhân cơ hội đó, tất cả các lực lượng đối lập với chủ nghĩa xã hội đều ngóc đầu dậy chống lại sự lãnh đạo của Đảng và chính phủ. Bọn phản động trong Công Giáo hành động phá rối trật tự ở Nghệ An, Nam Định v.v&#8230;</i>&#8221; (sđd, trang 17).</p>
<p>Tuy vậy, nhà cầm quyền miền Bắc vẫn chưa có thái độ dứt khoát với những người làm Giai phẩm mùa xuân.</p>
<p>Ngày 26/5/1956, Mao Trạch Đông phát động phong trào&#8221;<i>Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng</i>&#8220;. Ngày 28/6/1956, Ba Lan nổi dậy. Theo chính sách của Tàu, Đảng Lao động (tiền thân của đảng Cộng sản) cũng nới rộng chính sách văn hóa chính trị: Tháng 8/1956, Hội Văn Nghệ đứng ra tổ chức lớp 18 ngày, học tập dân chủ trong văn nghệ, học tập chống tệ sùng bái cá nhân (Staline) của Liên Xô. Trong lớp học này, sự phê phán chính sách văn nghệ của nhà nước khá mạnh mẽ, đặc biệt Nguyễn Hữu Đang đứng ra đọc bài tham luận &#8220;<i>nảy lửa</i>&#8221; chỉ trích đường lối văn nghệ của Đảng.</p>
<p>Ngày 29/8/1956, Giai Phẩm Mùa Thu (tập I) ra đời, có bài Phê bình lãnh đạo văn nghệ của Phan Khôi, Bệnh sùng bái cá nhân trong lãnh đạo văn nghệ của Trương Tửu&#8230;</p>
<p>Ngày 15/9/1956, bán nguyệt san Nhân Văn số 1, do Hoàng Cầm, Lê Đạt, Nguyễn Hữu Đang, Trần Duy, chủ trương, với Phan Khôi chủ nhiệm và Trần Duy thư ký toà soạn, ra đời với những bài chủ chốt: Con người Trần Dần của Hoàng Cầm, bài thơ Nhân câu chuyện mấy người tự tử của Lê Đạt, và bức tranh Nguyễn Sáng vẽ Trần Dần với vết sẹo trên cổ&#8230;</p>
<p>30/9/1956 Nhân Văn số 2.</p>
<p>8/10/1956 tái bản Giai Phẩm Mùa Xuân.</p>
<p>15/10/1956 Nhân Văn số 3, đăng bài Nỗ lực phát triển dân chủ của Trần Đức Thảo&#8230;</p>
<p>Cuối tháng 10/1956, Giai phẩm mùa thu (tập II) ra đời, có những bài Những người khổng lồ của Trần Duy, Chống tham ô lãng phí của Phùng Quán, &#8220;<i>Cũng những thằng nịnh hót</i>&#8221; của Hữu Loan&#8230;</p>
<p>Đồng thời ở đại học, các giáo sư Trương Tửu, Trần Đức Thảo&#8230; huy động sinh viên cho ra tờ Đất Mới số 1, với Phùng Quán, Bùi Quang Đoài&#8230; Đất Mới ra được một số thì bị đình bản.</p>
<p>Hồng Cương viết:&#8221;<i>Sự chống đối của chúng không còn tính chất văn nghệ nữa mà đã trở thành một cuộc chống đối vế chính trị công khai. Nhóm Giai Phẩm chống Đảng về văn nghệ đã biến thành nhóm phá hoại chính trị trắng trợn &#8220;Nhân Văn-Giai Phẩm&#8221;. (&#8230;) Từ Nhân Văn số 4 trở đi (&#8230;) thì chúng đã chuyển hẳn sang chống đối về chính trị, kích động quần chúng biểu tình chống lại Đảng và chính phủ ta nhân lúc Quốc Hội ta đang họp</i>.&#8221; (sđd, trang 18-19).</p>
<p>05/11/1956 Nhân Văn số 4, đăng bài Thành thật đấu tranh cho tự do dân chủ của Trần Duy, Con ngựa già của chúa Trịnh của Phùng Cung&#8230;</p>
<p>10/11/1956 Hungary nổi dậy.</p>
<p>20/11/1956 Nhân Văn số 5, đăng bài Bài học về Ba-lan và Hun-ga-ri của Lê Đạt, ký tên Người quan sát, bên cạnh bài xã luận Hiến pháp Việt nam 1946 và Hiến pháp Trung hoa của Nguyễn Hữu Đang. Thi sĩ máy của Như Mai&#8230;</p>
<p>Tháng 11/1956 Giai phẩm mùa thu tập III đăng bài Văn nghệ và chính trị của Trương Tửu, Muốn phát triển học thuật của Đào Duy Anh&#8230;</p>
<p>Tháng 12/1956 Giai phẩm mùa đông, đăng bài Nội dung xã hội và hình thức tự do của Trần Đức Thảo; đăng tiếp Văn nghệ và chính trị của Trương Tửu&#8230;</p>
<p>09/12/1956, Hồ Chí Minh ký sắc lệnh bãi bỏ quyền tự do báo chí.</p>
<p>15/12/1956, Lệnh đóng cửa Nhân Văn, số 6 đang in, bị chận lại.</p>
<p>Từ 20 đến 28/2/1957, Đại hội văn nghệ lần thứ hai họp tại Hà Nội với gần 500 đại biểu, Trường Chinh kêu gọi đấu tranh &#8220;<i>đập nát</i>&#8221; phong trào NVGP.</p>
<p>Tuy vậy, Đảng Lao Động vẫn giữ thái độ tương đối hòa hoãn với văn nghệ sĩ, bởi vì bên Trung quốc vẫn còn đang tiếp tục phong trào &#8220;<i>trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng</i>&#8220;, cho nên đến đầu tháng 4/1957 Hội Nhà Văn chính thức được thành lập (trước đây là Hội Văn nghệ), Tô Hoài làm Tổng thư ký, kiêm giám đốc nhà xuất bản Hội Nhà Văn và một số thành viên cũ của Nhân Văn như Hoàng Cầm, Hoàng Tích Linh vẫn được bầu vào ban chấp hành. Ngày 10/5/1957, hội cho ra tuần báo Văn, với Nguyễn Công Hoan (chủ bút), Nguyễn Tuân (phó chủ bút), Nguyên Hồng (tổng thư ký). Ban đầu báo Văn cũng đi theo đường lối chính thống. Nhưng khi trên báo Học Tập (của đảng) Thế Toàn lên tiếng chê báo Văn &#8220;<i>nghèo nàn</i>&#8220;, &#8220;<i>xa rời thực tế cách mạng</i>&#8220;, Nguyên Hồng trả lời trên báo Văn số 15 (16/8/1957), phê bình Thế Toàn là &#8220;<i>quan liêu</i>&#8220;, &#8220;<i>trịch thượng</i>&#8220;, Văn dần dần thay đổi thái độ, chẳng bao lâu một số cây bút cũ trong NVGP lại thấy xuất hiện trên báo Văn. Văn số 21(27/9/1957) đăng bài thơ Lời mẹ dặn của Phùng Quán, số 24, đăng kịch thơ Tiếng hát của Hoàng Cầm, số 28 (15/11/1957), đăng bài Hãy đi mãi của Trần Dần. Số 30 (29/11/1957) in hý hoạ của Trần Duy chế giễu chế độ văn nghệ của Đảng.</p>
<p>Cuối năm 1957, Mao Trạch Đông hạ lệnh đánh phái hữu. Theo Hoàng Cầm: Huy Cận và một người nữa được cử đi học tập ở Trung Quốc trở về: Đảng liền thay đổi đường lối, chủ trương đàn áp mạnh hơn. Tờ Văn bị đóng cửa vì số 36(10/1/1958), có đăng bài Ông Năm Chuột của Phan Khôi.</p>
<p>Để &#8220;<i>trừ khử nọc độc Nhân Văn</i>&#8220;, Đảng tổ chức hai lớp học tập đấu tranh chống &#8220;<i>bọn NVGP</i>&#8221; ở Thái Hà Ấp, mà tài liệu chính thức gọi là hai cuộc &#8220;<i>hội nghị</i>&#8220;:</p>
<p>&#8220;Đầu năm 1958, có hai cuộc hội nghị của anh chị em công tác văn nghệ, nghiên cứu nghị quyết của Bộ Chính Trị Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam, kết hợp với hai bản Tuyên Ngôn và Tuyên Bố của hội nghị các Đảng Cộng Sản và các Đảng Công Nhân họp ở Mạc Tư Khoa cuối năm 1957. Hội nghị đầu, tháng 2 năm 1958, gồm 172 người dự. Hội nghị sau, tháng 3 năm 1958, gồm 304 người dự.</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2016/03/clip_image008.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image008" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/03/clip_image008_thumb.jpg?strip=all&fit=205%2C244" alt="clip_image008" width="205" height="244" border="0" hspace="8" vspace="1" /></a></p>
<p>Qua hai cuộc hội nghị ấy, tất cả những &#8220;<i>nhân vật</i>&#8221; bỉ ổi đã được phát hiện (&#8230;) Cái ổ chuột &#8220;<i>Nhân Văn- Giai Phẩm</i>&#8221; bị vạch trần trước ánh sáng của dư luận.</p>
<p>Qua sự phát hiện của hai cuộc hội nghị nói trên, chúng ta được biết nhóm phá hoại &#8220;<i>Nhân Văn Giai Phẩm</i>&#8221; bao gồm những tên đầu sỏ, những &#8220;<i>cây bút</i>&#8221; đã viết &#8220;<i>hoặc nhiều hoặc ít</i>&#8221; cho &#8220;<i>Nhân Văn Giai Phẩm</i>&#8221; như:</p>
<p><i>Thụy An, Nguyễn Hữu Đang, Trần Thiếu Bảo, Trương Tửu, Trần Đức Thảo, Phan Khôi, Trần Duy, Trần Dần, Lê Đạt, Tử Phác, Đặng Đình Hưng, Hoàng Cầm, Sĩ Ngọc, Chu Ngọc, Văn Cao, Nguyễn Văn Tý, Phùng Quán, Hoàng Tích Linh, Trần Công, Trần Thịnh, Phan Vũ, Hoàng Huê, Huy Phương, Vĩnh Mai, Như Mai tức Châm Văn Biếm, Hữu Thung, Nguyễn Khắc Dực, Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Yến, Thanh Bình, Yến Lan, Nguyễn Thành Long, Trần Lê Văn, Lê Đại Thanh v.v&#8230; Nhưng đó không phải là tất cả (còn những tên chưa ra mặt). Và cũng không phải tất cả những &#8220;cây bút&#8221; trên đây đều có những hành động phá hoại giống nhau, hoặc phá hoại với những mức độ giống nhau. Có bọn đầu sỏ, có bọn phụ hoạ&#8230;&#8221;</i> (sđd, trang 309-310).</p>
<p>Những tên tuổi trên đây có lẽ đã không xếp đặt một cách tình cờ mà theo một trật tự &#8220;<i>tội</i>&#8221; nặng, nhẹ, đã được thẩm định từ trước.</p>
<p>Theo Lê Đạt, thực chất hội nghị đầu là dành cho 172 đảng viên, đi để học tập cách &#8220;<i>phát hiện</i>&#8221; và tố giác, để chuẩn bị cho hội nghị sau (gồm 304 người, cả đảng viên lẫn quần chúng và những người ngoài đảng tham gia NVGP), dốc toàn lực đấu tranh chống NVGP.</p>
<p>&#8220;<i>Trận chiến đấu chống bọn phá hoại NVGP</i>&#8221; đã kết thúc bằng hội nghị của ban chấp hành hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, họp lần thứ ba tại Hà Nội ngày 4/6/1958 với bài báo cáo tổng kết của Tố Hữu, và Nghị quyết của của ban chấp hành hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam lên án &#8220;bọn&#8221; NVGP. Ngày 5/6/1958, tại Hà Nội, hơn 800 văn nghệ sĩ thảo bàn nghị quyết gọi là &#8220;<i>Nghị quyết của 800 văn nghệ sĩ&#8221;</i> phụ hoạ với nghị quyết của Hội Liên hiệp. Sau đó trong tuần lễ từ 21/6 đến 3/7/1958, các ban chấp hành Hội Nhạc sĩ, Hội Mỹ thuật, Hội Nhà văn, lần lượt thi hành các biện pháp kỷ luật đối với các thành viên của Hội đã tham gia NVGP:</p>
<p>Hội Nhà văn khai trừ Hoàng Cầm, Hoàng Tích Linh ra khỏi ban chấp hành.</p>
<p>Hội Mỹ Thuật, cảnh cáo Sĩ Ngọc, &#8220;<i>chấp nhận cho Sĩ Ngọc và Nguyễn Sáng rút khỏi ban chấp hành</i>&#8220;.</p>
<p>Hội Nhạc Sĩ &#8220;<i>chấp nhận cho Văn Cao, Nguyễn Văn Tý rút khỏi ban chấp hành</i>&#8220;.</p>
<p>Cả ba hội quyết định:</p>
<p>&#8211; <i><u>Khai trừ Phan Khôi, Trương Tửu, Thụy An ra khỏi Hội Nhà Văn, Trần Duy ra khỏi Hội Mỹ Thuật.</u></i></p>
<p>&#8211; <i><u>Khai trừ trong thời hạn một năm Hoàng Cầm và Phùng Quán ra khỏi hội nhà văn. Khai trừ ba năm Trần Dần, Lê Đạt ra khỏi Hội Nhà văn, ba năm Tử Phác và Đặng Đình Hưng ra khỏi Hội Nhạc sĩ. Và cảnh cáo một số hội viên khác đã tích cực hoạt động trong nhóm NVGP.</u></i></p>
<p>Đó mới chỉ là biện pháp kỷ luật của các hội văn nghệ đối với các thành viên của hội. Ngoài ra, người ta cũng chỉ biết sơ lược một số dữ kiện khác, như Thụy An, Nguyễn Hữu Đang, Trần Duy, Phùng Cung (bị bắt tháng 5/61)&#8230; bị kết án từ 12 đến 15 năm tù. Các giáo sư đại học như Trương Tửu, Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường, Đào Duy Anh&#8230; bị cách chức và bị quản thúc. Còn các biện pháp trừng phạt đối với toàn bộ văn nghệ sĩ, trí thức, sinh viên và quần chúng đã ít nhiều tham gia, đọc, hoặc ủng hộ phong trào NVGP, thì hiện nay chưa có một ước lượng nào gần với sự thật.</p>
<p><b>Mục đích hoạt động của phong trào</b></p>
<p>Theo lời buộc tội của Tố Hữu, công tác được &#8220;phân phối&#8221; như sau:</p>
<p>&#8211; Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm hoạt động ở Hội Nhà Văn.</p>
<p>&#8211; Trần Duy, Sĩ Ngọc, Nguyễn Sáng ở Hội Mỹ Thuật.</p>
<p>&#8211; Chu Ngọc, Hoàng Tích Linh ở Hội Nghệ Sĩ Sân Khấu</p>
<p>&#8211; Tử Phác, Văn Cao, Nguyễn Văn Tý, Đặng Đình Hưng ở hội Âm Nhạc.</p>
<p>Tố Hữu cho rằng: Phan Khôi, Trương Tửu, Trần Đức Thảo, là những &#8220;<i>nhà tư tưởng của phong trào</i>&#8220;. Thụy An, Nguyễn Hữu Đang liên lạc, huy động và khuyến khích anh em. Trần Thiếu Bảo (chủ nhà in Minh Đức) in các Giai Phẩm, giúp đỡ tiền bạc và phương tiện để phát hành báo Nhân Văn. Nhà in Minh Đức còn là trụ sở của các cuộc họp báo Nhân Văn và Đất Mới.</p>
<p><b>Theo lời buộc tội của Nguyễn Đình Thi, thì chủ trương của NVGP dựa trên 6 điểm:</b></p>
<p><b>1.</b> Cho chủ nghĩa Cộng Sản là không nhân văn, là chà đạp con người. Coi những người cộng sản là chà đạp con người. Coi những người cộng sản là những người khổng lồ không tim (Trần Duy). Văn học xã hội chủ nghĩa là công thức, giả tạo, đẻ ra những thi sĩ máy (Như Mai). Đòi quyền tự do cá nhân, tự do sống đời sống tình cảm riêng tư cuả mỗi con người: &#8220;<i>Đem bục công an máy móc đặt giữa tim người. Bắt tình cảm ngược xuôi theo luật đi đường nhà nước</i>&#8221; (Lê Đạt).</p>
<p><b>2.</b> Phản đối chuyên chính, đòi dân chủ, tự do trên mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá. Đả kích mậu dịch, quản lý hộ khẩu, các bộ máy nhà nước. Đòi tự do đối lập.</p>
<p><b>3.</b> Chống sùng bái cá nhân. Cho sự lãnh đạo của Đảng là Đảng trị, là độc đoán, mâu thuẫn với quyền lợi căn bản của con người. Bài Ông bình vôi của Lê Đạt có những câu:</p>
<p><i>&#8220;Những kiếp người sống lâu trăm tuổi</i></p>
<p><i>Y như một cái bình vôi</i></p>
<p><i>Càng sống càng tồi</i></p>
<p><i>Càng sống càng bé lại.&#8221;</i></p>
<p><b>4.</b> Đề cao chủ nghĩa quốc gia, tư sản, đả kích Liên xô, cho sự giáo dục con người ở Liên xô là rập khuôn, văn học nghệ thuật Liên xô là công thức.</p>
<p><b>5.</b> Chống chính sách cải cách ruộng đất.</p>
<p><i>(Xin mở ngoặc: Ngày 30/10/1956, trước Mặt Trận Tổ Quốc Hà Nội, luật sư Nguyễn Mạnh Tường đọc bài diễn văn quan trọng tựa đề &#8220;Qua những sai lầm trong cải cách ruộng đất, xây dựng quan điểm lãnh đạo&#8221;, nội dung phân tích những sai lầm của chế độ, đi từ sai lầm cải cách ruộng đất ở thôn quê, sang sai lầm trong chế độ mậu dịch ở thị thành, đến chính sách kinh tế mang tính cách bóc lột. Ông truy nguyên nguồn gốc những sai lầm và trình bày những nguyên tắc mới để sửa sang lại guồng máy luật pháp, chính trị, văn học, kinh tế).</i></p>
<p><b>6.</b> Về văn nghệ, chủ trương phát triển &#8220;trăm hoa đua nở trăm nhà đua tiếng&#8221;. Chối bỏ sự lãnh đạo của Đảng, nêu cao khẩu hiệu &#8220;trả lại văn nghệ cho văn nghệ sĩ&#8221;.</p>
<p><i>(6 điểm kê khai theo bài tố cáo của Nguyễn Đình Thi, sđd, trang 114)</i></p>
<p>Những nguy cơ xụp đổ chế độ cũng được bàn đến, Hồng Cương viết:</p>
<p>&#8220;Hạ được tập thơ Việt Bắc và hạ được Tố Hữu xuống là hạ được cả giá trị văn nghệ kháng chiến xuống và hạ được sự lãnh đạo văn nghệ của Đảng và Chính phủ xuống. (&#8230;) Chúng vu khống chế độ ta là cộng sản thời trung cổ (communisme du moyen âge), là cộng sản phong kiến (communisme féodal), chế độ ta là cộng sản suy đồi (dégénérescence du communisme), chúng xuyên tạc và nguyền rủa chỉnh huấn của ta là đồi trụy tinh thần (avilissement de l’esprit), là nô dịch hoá tư tưởng (esclavage de la pensée). Chúng chế giễu chính sách đãi ngộ của ta là &#8220;bổng lộc&#8221; vua ban, huân chương của ta là &#8220;mề đay&#8221; của đế quốc. Không khác gì Phan Khôi đã ví chế độ ta với một triều đại phong kiến nào đó.&#8221; (Hồng Cương, sđd, trang 128, 129).</p>
<p>Chính Hữu trong bài tố cáo Lê Đạt, nói đến cái họa Nhân Văn số 5: &#8220;&#8230; Lê Đạt đã viết &#8220;Bài học về Ba-lan và Hung-ga -ri&#8221; trong Nhân Văn số 5, ký tên &#8220;Người quan sát&#8221; đăng ngay bên cạnh bài xã luận kích động quần chúng của Nguyễn Hữu Đang &#8220;Hiến Pháp Việt Nam 1946 và Hiến pháp Trung Hoa&#8221;, trong đó có những đoạn nói đến quyền công dân được tổ chức biểu tình tuần hành thị uy. Bài của Lê Đạt đưa ra những nhận định nguy hiểm cho tình hình nước ta lúc đó: &#8220;&#8230; Nhưng tốc độ và mức độ sửa chữa không kịp với đòi hỏi của tình thế và yêu cầu của quần chúng nên càng thúc đẩy sự công phẫn và phong trào đấu tranh tự phát của quần chúng&#8230;&#8221; Hai bài báo đó là những lời kêu gọi làm loạn. Đạt và nhóm Nhân Văn đã hỗn xược buộc Đảng và chính quyền ta phải chọn lấy một trong hai con đường: hoặc &#8220;lập tức&#8221; mở rộng tự do dân chủ, để cho chúng và bọn thù địch khác phá hoại, và cải thiện &#8220;ngay&#8221; sinh hoạt cho nhân dân, nếu không quần chúng sẽ biểu tình.&#8221; (Chính Hữu, sđd, trang 130, 131).</p>
<p><b>Những người xây dựng nên phong trào</b></p>
<p>Nhiều người đã khuất, thế hệ trẻ ngày nay ít ai biết rõ về con người, về những hoạt động của họ. Những nhà văn mà Hoàng Văn Chí ghi lại tiểu sử và tác phẩm trong cuốn THĐNTĐB, được nhiều người biết đến hơn. Qua những bài buộc tội trong tập tài liệu BNVGPTTADL, chúng ta cũng có thể biết thêm được về tư tưởng và hành động của mỗi cá nhân và &#8220;tội trạng&#8221; nặng nhẹ của mỗi người.</p>
<p><b>Thụy An</b> là người phụ nữ duy nhất &#8211; ở trong hay ở ngoài phong trào &#8211; bị kết án là &#8220;gián điệp&#8221;. Bà là một trường hợp đặc biệt, theo Lê Đạt và Nguyễn Hữu Đang, bà không ở trong NVGP, vậy mà tên bà được nêu lên hàng đầu trong &#8220;hàng ngũ phản động&#8221; với nhãn hiệu &#8220;<i>Con phù thuỷ xảo quyệt</i>&#8221; và những lời lẽ độc địa nhất dành cho bà: &#8220;<i>Như vắt ngửi thấy máu, Thụy An như rắn bò tới các câu lạc bộ Hội Nhà văn phun nọc độc mạt sát chế độ ta bần cùng hoá nhân dân</i>&#8221; (Bàng Sĩ Nguyên, sđd, trang 120).</p>
<p><b>Vụ án Thụy An có phải là một vụ án chính trị? Hay là một sự quy kết oan uổng? Lê Đạt sẽ soi tỏ một số nghi vấn chung quanh sự kiện này.</b></p>
<p>Trước hết Thụy An là ai? Thụy An tên thật là Lưu Thị Yến. Cho đến nay chúng ta chỉ biết sơ về bà qua những gì Vũ Ngọc Phan đề cập đến trong Nhà văn hiện đại : Là một nhà thơ, nhưng bà là người đi tiên phong trong địa hạt tiểu thuyết với cuốn Một linh hồn (1943). Nhà phê bình họ Vũ nhận định: &#8220;<i>Một linh hồn đáng kể là cuốn tiểu thuyết xuất sắc nhất của phụ nữ Việt Nam từ trước đến nay, tác giả đã giàu tưởng tượng, truyện lại xây dựng một cách vững vàng, chắc chắn</i>&#8220;. Bà đã từng làm chủ nhiệm những tờ Đàn Bà Mới (Sài Gòn), Phụ Nữ Tân Văn (Sài Gòn), và Đàn Bà (Hà Nội). Là phóng viên chiến tranh, bà đã tham dự nhiều cuộc nhảy dù ra mặt trận để cung cấp tài liệu cho báo chí. Bà đã nắm chức quyền giám đốc Việt Tấn Xã.</p>
<p>Mới đây chúng tôi liên lạc với nhà văn kiêm nhà báo Bùi Thụy Băng, con trai thứ nhì của Thụy An, hiện làm chủ nhiệm kiêm chủ bút nguyệt san Atlanta Việt báo, ông vừa hoàn tất tập tài liệu &#8220;<i>Thụy An, 1945, 1954, 1975</i>&#8220;. Qua Bùi Thụy Băng, chúng tôi được biết thêm những chi tiết sau đây: Lưu Thị Yến sinh năm 1916 tại Hà Nội, là con ông bà Lưu Tiến Ích và Phùng Thị Tôn, quê gốc làng Hoà Xá, quận Vân Đình, tỉnh Hà Đông. Thủa nhỏ học trường Hàng Cót, Hà Nội. Năm 1929, 13 tuổi, Yến đã được đăng thơ trên tờ Nam Phong. 16 tuổi được giải thưởng văn chương của Triều đình Huế. Vào khoảng 1930-32, cô Yến được cha mẹ cho học tư thêm với một ông thầy người Quảng Bình. (Trong điện thư ngày 15/9/2004, ông Bùi Thụy Băng cho biết: &#8220;<i>Người thày giáo đề cập ở đây là Tướng Võ nguyên Giáp. Năm 1930, ông ngoại của tôi đã mướn người thầy giáo sử địa Võ Nguyên Giáp về nhà kèm má tôi học. Năm 1933, má tôi theo thầy vô Nam &#8211; có thể để đi sang Pháp. Nhưng má tôi lại gặp ba tôi ở Sài Gòn và hai người lấy nhau</i>&#8220;). Và trong bài tiểu sử Thụy An, Bùi Thụy Băng viết:</p>
<p>&#8220;Ông thầy giáo trẻ ấy đã bị trò Yến cùng các bạn trêu chọc là &#8220;Anh đồ Nghệ&#8221;. Hơn thế, Yến còn làm thơ nhạo báng dí dỏm:</p>
<p><i>&#8230;Khéo ghét anh đồ xứ Nghệ</i></p>
<p><i>Hơn mình mấy tí tuổi đầu</i></p>
<p><i>(trích &#8220;Sao lại mùa thu&#8221; của Thụy An)</i></p>
<p>(&#8230;)</p>
<p>Hơn thế nữa, chính người thầy giáo trẻ ấy lại là một chiến sĩ hoạt động trong bóng tối. Chúng ta hãy lắng nghe lời thơ giới thiệu của Thụy An về người anh hùng đó:</p>
<p><i>&#8230; Hung hãn vọng vào tiếng bể</i></p>
<p><i>Hờn căm rít ngọn gió Lào</i></p>
<p><i>Anh mang trùng dương giận dữ</i></p>
<p><i>Anh mang hoang dại khô khan.</i></p>
<p><i>và như:</i></p>
<p><i>Mắt anh hừng trí bốn phương</i></p>
<p><i>Tay</i><i> run nắm hồn dân tộc</i></p>
<p><i>Tóc xòa vương hận núi sông</i></p>
<p><i>Môi bậm tay tai nghe rên xiết</i></p>
<p><i>Áo cơm dọa dưới cùm gông!&#8230;</i></p>
<p>Thật sự, Thụy An đã hấp thụ tư tưởng cách mạng qua Thầy đồ Nghệ</p>
<p><i>&#8230; Rồi anh bắt đầu dẫn dắt</i></p>
<p><i>Dạy em khui lửa bất bình</i></p>
<p><i>Oán hận réo sôi lòng đất</i></p>
<p><i>Công lý tù đầy uất uất</i></p>
<p><i>Miếng cơm nghẹn họng nhân sinh&#8230;</i></p>
<p><i>(Sao lại mùa thu)&#8221;.</i></p>
<p><i>(Trích tiểu sử Thụy An, do Thụy Băng viết).</i></p>
<p>Người chồng của Thụy An là giáo sư Bùi Nhung, em ruột ông Bùi Kỷ và bà Trần Trọng Kim. Bùi Nhung có bút hiệu là Băng Dương. Thụy An sinh được 6 người con: An Dương (1934), Thụy Băng (1937), Thư Linh (38), Dương Chi (39), Ngọc Trinh (43) và Châu Công (45). Ông Bùi Nhung hai lần làm giám đốc đài phát thanh Hà Nội từ 48-49, và 51-52; rồi giám đốc đài phát thanh Hải Phòng năm 1954. Thời gian này, Thụy An &#8211; Băng Dương đã ly hôn, và người ta nói đến người chồng thứ nhì của bà là ông Đỗ Đình Đạo, theo Việt Nam Quốc Dân Đảng cùng cái chết có nhiều nghi vấn của ông Đỗ Đình Đạo.</p>
<p>Trong thời kỳ NVGP, Phan Khôi nhận Thụy An là con nuôi. Theo cả hai bên nhân chứng, buộc tội cũng như bênh vực, thì bà thường xuyên ra vào các hội văn nghệ, bà đã có ảnh hưởng không nhỏ đối với một số văn nghệ sĩ tham gia NVGP. Bà liên lạc, nâng đỡ tinh thần, tích cực giúp đỡ anh em Nhân Văn, đặc biệt gia đình Lê Đạt. Theo Lê Đạt và Nguyễn Hữu Đang thì Thụy An không viết gì cho báo Nhân Văn. Nhưng có thể Thụy An viết cho vài báo khác, vì Vũ Đức Phúc trong bài tố cáo, có nói đến &#8220;những nhân vật như một anh nghiện hút, ăn cắp (trong &#8220;<i>Ông Năm Chuột</i>&#8221; của Phan Khôi), một con đĩ, một tên ăn cướp (trong &#8220;<i>Bích-xu-ra</i>&#8221; của Thụy An), một tên việt gian cao cấp, một tên sĩ quan trong quân đội địch trung thành với đế quốc (trong &#8220;<i>Trường hợp tòng quân của thiếu uý Lâm</i>&#8221; cũng của Thụy An), lại trở thành những người đáng thương, đáng yêu, những người yêu nước đáng học tập&#8221; (BNVGPTTADL, trang 118). Thụy An bị bắt giam tại Hoả Lò Hà Nội. Bà đã tự chọc mù một mắt. Con người đã viết những câu thơ &#8220;<i>Tay</i><i> run nắm hồn dân tộc, tóc xòa vương hận núi sông</i>&#8221; lại một lần nữa ký tên dưới hành động của mình: lần này dưới hai chữ tự do cho dân tộc đã có quyền tự chủ.</p>
<p>Thụy An được thả cùng với Nguyễn Hữu Đang, trong diện &#8220;<i>Đại xá chính trị phạm trong hiệp định Paris</i>&#8220;, năm 1973. Vào Nam, năm 1987, bà quy y ở Chùa Quảng Hương Gìa Lam và mất năm 1989, tại nhà riêng ở đường Lê Văn Sỹ, Sài Gòn.</p>
<p>Trong &#8220;<i>sổ đoạn trường</i>&#8220;, <b>Nguyễn Hữu Đang</b>, đứng thứ nhì sau Thụy An. Ông sinh ở Thái Bình, sớm tham gia các phong trào ái quốc. Trước 1942, ông hoạt động trong phong trào Truyền Bá Quốc Ngữ. Năm 1942, khi ảnh hưởng Việt Minh lên cao, ông tham gia Văn Hóa Cứu Quốc. Từ 1954, Nguyễn Hữu Đang liên lạc mật thiết với Trần Thiếu Bảo (sau này là chủ Nxb Minh Đức). Trong thời kỳ toàn quốc kháng chiến, ông đứng ra tổ chức Thanh Niên Xung Phong và sau đó làm Thanh tra Bình dân học vụ. Năm 1947, Nguyễn Hữu Đang chính thức vào Đảng. Nhưng vài năm sau, ông bắt đầu chán nản, tự ý bỏ cơ quan. Năm 1951, ông ly khai Đảng, và từ đó, khi ở Cầu Bố, khi ở Hậu Hiền, ông lên tiếng đả kích đảng, chống đối cách mạng. Vai trò của Nguyễn Hữu Đang trong tờ Nhân Văn sẽ được xác nhận rõ ràng qua lời tường thuật của Lê Đạt. Theo lời buộc tội của Mạnh Phú Tư thì &#8220;<i>Nguyễn Hữu Đang là linh hồn của tờ Nhân Văn, Đang tìm kiếm, kiếm giấy, thu xếp việc ấn loát và viết bài, nhưng lại ký tên người khác, che lấp những nguồn tài chính, những người cung cấp phương tiện bằng hình thức nêu danh những người góp tiền in báo có một nhân lên gấp mười</i>&#8220;. (Mạnh Phú Tư, sđd, trang 50). Lê Đạt sẽ trở lại những thông tin này, với cái nhìn của người trong cuộc. Trong bản tự kiểm thảo, Trần Dần cũng đã xác định: &#8220;<i>Nếu không có Đang, không ai có thể tập hợp anh em được. Sẽ không có tham luận với những đề nghị: gặp Trung ương, ra báo&#8230; mà cũng sẽ không có tờ Nhân Văn</i>&#8220;.</p>
<p>Theo Lê Đạt, Nguyễn Hữu Đang bị bắt trong lúc đang xẩy ra lớp đấu tranh Thái Hà, trên đường tìm cách vào Nam.</p>
<p><b>Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt</b>, ba nhà thơ cùng nhạc sĩ Tử Phác, là những người dấy lên phong trào. Tuy vậy Hoàng Cầm dường như vẫn được nhà cầm quyền xử nương nhẹ hơn; vì Hoàng Cầm nổi tiếng từ trước kháng chiến? vì Hoàng cầm là tác giả những bài thơ hào hùng trong kháng chiến? hay vì Hoàng Cầm có thái độ cam chịu hơn? Do đó Trần Dần, Lê Đạt trở thành hai khuôn mặt nhà thơ &#8220;<i>phản động nhất nước</i>&#8220;.</p>
<p><b>Hoàng Cầm</b> sinh năm 1921 tại làng Lạc Thổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Hải Dương. Trước kháng chiến ông đã nổi tiếng với ba vở kịch thơ Viễn khách, Kiều Loan và Lên đường. Trong kháng chiến, thơ Hoàng Cầm càng nổi bật với các bài Đêm Liên Hoan, Tâm sự Đêm Giao Thừa, và trường ca Bên Kia Sông Đuống. Thời kỳ NVGP, Hoàng Cầm là người đầu tiên xin ra khỏi quân đội, cùng với Lê Đạt xây dựng nên các tờ Giai Phẩm và Nhân Văn. Hoàng Cầm giữ vai trò liên lạc và cổ động các văn nghệ sĩ, thúc giục Văn Cao làm thơ cho Giai Phẩm, ông đem bài thơ Nhất định thắng của Trần Dần ra in v.v&#8230; Những sáng tác của ông trong thời kỳ này không nhiều, được ghi lại có bài thơ &#8220;<i>Em bé lên 6 tuổi</i>&#8221; viết về hoàn cảnh đau thương của một em bé con địa chủ, bố bị đấu tố, mẹ bỏ đi Nam:</p>
<p><i>&#8220;Chị Đội bỗng lùi lại</i></p>
<p><i>nhìn đứa bé mồ côi,</i></p>
<p><i>cố tìm vết thù địch,</i></p>
<p><i>chỉ thấy một con người&#8221;.</i></p>
<p>Và vở kịch thơ Tiếng Hát, mượn hình ảnh tiếng hát để nói về nghệ thuật và tự do, để xác định &#8220;<i>không thể cưỡng bức được nghệ thuật</i>&#8220;. Bài viết có tính cách tiêu biểu của Hoàng Cầm trong giai đoạn này là bài &#8220;<i>Con người Trần Dần</i>&#8220;, in trong Nhân Văn số 1, biện hộ cho Trần Dần. Nhưng tác phẩm chủ yếu của ông là Về Kinh Bắc, viết sau Nhân Văn, trong thời gian 57-58, phản ảnh ý chí quật cường của nhà thơ trước cơn bão tố dập vùi.</p>
<p>Trần Dần là một trường hợp đặc biệt bất phục tòng và đã chịu sự trù dập nặng nề. Hăng say tham gia kháng chiến, thời kỳ Điện Biên Phủ, ông viết &#8220;<i>Người người lớp lớp</i>&#8220;. Yêu người con gái ở phố Sinh Từ, gia đình đã di cư vào Nam, bất chấp sự ngăn cấm của đảng, Trần Dần vẫn kết hôn với người yêu. Những câu thơ &#8220;<i>Tôi bước đi không thấy phố, không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa, trên màu cờ đỏ&#8221; đã trở thành biểu tượng của một thời</i>.</p>
<p>Bị bắt. Cứa cổ. Trần Dần biểu dương bi kịch NVGP. Mấy tháng sau, Đảng phát động &#8220;<i>trăm hoa đua nở</i>&#8220;: trên Giai phẩm mùa thu tập I, Phan Khôi viết bài Phê bình lãnh đạo Văn nghệ, bênh vực Trần Dần, và bài Ông bình vôi bênh vực Lê Đạt. Trên Nhân Văn số 1, Hoàng Cầm viết bài Con người Trần Dần, và Nguyễn Sáng vẽ chân dung Trần Dần với vết sẹo trên cổ. Đảng phải xét lại trường hợp Trần Dần: Trần Dần được thả và ngày 2/10/56 Hội Văn Nghệ phải viết bài tự kiểm thảo đăng trên các báo. Đến cuối năm 1957, báo Văn in bài Hãy đi mãi của Trần Dần, tính cách tranh đấu vẫn còn quyết liệt:</p>
<p><i>&#8220;Tôi có thể mặc thây ngàn tiếng chửi tục tằn</i></p>
<p><i>Trừ tiếng chửi sống không sáng tạo&#8221;.</i></p>
<p>Trong bài tự kiểm thảo, Trần Dần viết: &#8220;<i>Những sáng tác của tôi đều là cái loại đả kích vào các chính sách của Đảng cả. Nếu đọc cả một đống như thế, người ta sẽ cảm thấy sự lãnh đạo của Đảng là một sự ngột ngạt không thể nào sống nổi&#8221;</i>. &#8220;<i>Người sáng tác phải có quyền và có gan như người viết sử thời xưa, vua chém đi 6 người, đến người thứ 7 vẫn chép sử đúng như sự thật, vua đành chịu vậy</i>&#8220;, (trích Những lời &#8220;thú tội&#8221; của Trần Dần, sđd, trang 312).</p>
<p>Lê Đạt là người duy nhất, từ trong nội bộ của đảng đứng lên đòi hỏi tự do dân chủ. Là một cán bộ hoạt động ở ngành Tuyên huấn, Lê Đạt được xếp vào loại &#8220;<i>đầu sỏ</i>&#8220;, &#8220;<i>nguy hiểm</i>&#8220;.</p>
<p>Theo lời tố của Xuân Diệu: &#8220;<i>Đã rõ rệt như ban ngày, tập Giai phẩm mùa xuân 1956 phất lá cờ đầu tiên chống Đảng, chống chế độ, và Lê Đạt là nhà lý luận trong đó. Lê Đạt mở đầu Giai phẩm với cái tuyên ngôn: &#8220;Trích thơ gửi người yêu&#8221; (&#8230;) và bài thơ tuyên ngôn thứ hai &#8220;Mới&#8221; đăng trong Giai phẩm (&#8230;) Lê Đạt đưa ra cái tà thuyết rạch đôi các sự vật làm hai: hễ cái gì mới là cách mạng, hễ cái gì cũ là đeo kính vào viện hàn lâm, là mệt mỏi, lối mòn, vết già nua, lề đường han rỉ..(&#8230;) Lê Đạt là một người chủ chốt của báo Nhân Văn, tham mưu cho cả tờ báo, tự tay sửa chữa nhiều bài đả kích chế độ ta rất cay độc (&#8230;) Đứng lên lập nhóm Giai phẩm mùa xuân. Cùng với Nguyễn Hữu Đang làm bộ óc của báo Nhân Văn, đứng làm &#8220;nhà lý luận&#8221; của bọn chống Chế độ (&#8230;) Sau khi báo Nhân Văn bị cấm, Lê Đạt liên lạc cấu kết với Thụy An, Lê Đạt đóng vai trò quan trọng trong việc lũng đoạn Hội Nhà Văn, Lê Đạt tích cực dùng ngòi bút viết lối văn hai mặt; Lê Đạt luôn luôn giữ một cương vị đứng chủ trường phái; mãi đến trong lớp học văn nghệ lần thứ hai (tháng 3 và 4/1958) vẫn còn tìm cách quay quắt. Cho nên, xét Lê Đạt, ta phải nhìn thấy cho hết, rằng Lê Đạt chống đối ta, phá hoại ta từ trong bản chất giai cấp thù địch</i>&#8221; (trích bài Những biến hoá của chủ nghĩa cá nhân trong thơ Lê Đạt, trong tập Dao có mài mới sắc của Xuân Diệu, 1963, các trang 86, 87, 89 và 95).</p>
<p>Chính Lê Đạt cũng xác nhận vai trò của mình trong bài tự kiểm thảo: &#8220;<i>Tôi tham gia Nhân Văn với ý thức là người lãnh đạo lý luận của tờ báo vì tôi cho tôi vững vàng hơn Nguyễn Hữu Đang. Ban biên tập lúc đó gồm có 4 người: Nguyễn Hữu Đang, Trần Duy, Hoàng Cầm và tôi. Để tấn công quan điểm vô sản chuyên chính của Đảng, tôi vận động Thanh Châu viết bài Mậu Dịch, tôi góp ý, vẽ tranh một người đẽo chân cho vừa giày mậu dịch. (&#8230;) Nhân Văn bị đóng cửa nhưng tư tưởng Nhân Văn, tư tưởng chống đối vẫn chưa hết. Sau một thời gian các báo ngớt đánh, tình hình trở lại bình thường, chúng tôi lại vẫn gặp nhau đả kích Đảng, cho là độc đoán</i>&#8220;. (trích Những lời &#8220;tự thú&#8221; của Lê Đạt, sđd, trang 318, 319).</p>
<p>Thơ Lê Đạt trong thời kỳ NVGP, có những câu đã in sâu vào ký ức dân tộc:</p>
<p><i>Đem bục công an đặt giữa trái tim người</i></p>
<p><i>Bắt tình cảm ngược xuôi theo luật đi đường nhà nước</i></p>
<p><i>Có những lời lẽ tiên tri:</i></p>
<p><i>Lịch sử muôn đời duyệt lại</i></p>
<p><i>Không ai lừa được cuộc đời</i></p>
<p><b>Trần Thiếu Bảo</b>, chủ trương Nxb Minh Đức, trách nhiệm ấn loát và phát hành những tờ Nhân Văn, Giai Phẩm, Đất Mới, quê quán ở Thái Bình. Ông mở hiệu sách Minh Đức (sau trở thành nhà xuất bản) ở Thái Bình, đến 1954, rời về phố Phan Bội Châu, Hà Nội. Trần Thiếu Bảo không theo cách mạng ngay từ đầu và có tiếng là Mạnh Thường Quân đối với văn nghệ sĩ. Cùng với Nguyễn Hữu Đang, Trương Tửu, tổ chức lễ kỷ niệm Vũ Trọng Phụng (thời ấy, Vũ Trọng Phụng còn bị liệt vào thành phần phản động). Theo lời buộc tội, Nxb Minh Đức đã &#8220;<i>lợi dụng chuyện khai thác vốn cổ</i>&#8221; để tái bản những sách &#8220;<i>có hạ</i>i&#8221; của Tự Lực Văn Đoàn như Tiêu sơn tráng sĩ v.v&#8230; Nxb Minh Đức cũng là trụ sở các cuộc họp báo Nhân Văn.</p>
<p><b>Trương Tửu &#8211; Nguyễn Bách Khoa</b>, là nhà phê bình, nhà văn, giáo sư đại học và lý thuyết gia. Ông bước vào làng văn với loạt bài phê bình những tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn trên báo Loa, Hà Nội, năm 1935. Là nhà phê bình đầu tiên sử dụng phương pháp phê bình Mác xít một cách có hệ thống và có tính sáng tạo, đặc biệt trong những tác phẩm như: Nguyễn Du và truyện Kiều (Hàn Thuyên, 1942), Tâm lý và tư tưởng Nguyễn Công Trứ (Hàn Thuyên 1944), Kinh thi Việt Nam, (Hàn Thuyên 1950)&#8230; Ông còn là tác giả những tập tiểu thuyết tranh đấu và xã hội. Khi Mặt trận Dân Chủ của Việt Minh bắt đầu hoạt động, Trương Tửu viết bài đả kích Mặt Trận Dân Chủ trên các báo Quốc Gia và Thời Thế. Trương Tửu tuyên bố: &#8220;<i>Văn nghệ không làm chính trị để giữ sự độc lập của trí thức</i>&#8220;. Cùng với Nguyễn Đức Quỳnh, ông thành lập nhóm Hàn Thuyên theo khuynh hướng Cộng Sản Đệ Tứ, in sách của Lương Đức Thiệp, Thái Văn Tam, Nguyễn Tế Mỹ, Nguyễn Hải Âu, Hồ Hữu Tường và Nguyễn Bách Khoa (tức Trương Tửu). Năm 1945 , Hồ Hữu Tường ra Bắc gặp Trương Tửu, thành lập Ủy Ban Văn Hoá Bắc Bộ. Ngày 10/9/1945, Trương Tửu cho xuất bản cuốn Tương lai văn nghệ Việt Nam, trong đó ông đã nhắc đến &#8220;<i>cái hôm nay đen tối và chật hẹp</i>&#8220;, và mượn lời André Gide, khuyên các văn nghệ sĩ, hãy &#8220;<i>reo rắc vào tâm trí mọi người chất men bất phục tòng và phản kháng</i>&#8220;. Tuy vậy khi toàn quốc kháng chiến, ông cũng theo cách mạng trong 9 năm. Sau 54, ông dạy học.</p>
<p>Trong thời kỳ NVGP, Trương Tửu viết hai bài quan trọng &#8220;Bệnh sùng bái cá nhân trong giới lãnh đạo văn nghệ&#8221; và bài &#8220;Văn nghệ và chính trị&#8221;. Hoài Thanh tố cáo: &#8220;<i>Trong ba tập Giai phẩm liên tiếp nó đả kích thậm tệ vào toàn bộ cán bộ Đảng phụ trách công tác văn nghệ, phủ nhận tính chất mác xít, tính chất vô sản của Đảng. Vẫn một lối huênh hoang và bịp bợm cũ, nó làm như chỉ có nó mới là triệt để cách mạng. Một mặt nó bóp méo, bịa đặt sự việc để vu khống&#8230; Một mặt khác nó xuyên tạc lời nói của các lãnh tụ. Nó trích dẫn lời Mác đả kích chính quyền phản động cũ để gián tiếp đả kích chính quyền ta</i>&#8220;. (Hoài Thanh, Thực chất của tư tưởng Trương Tửu, BNVGPTTADL, trang 66).</p>
<p>Nguyễn Vĩnh tố cáo: &#8220;<i>Trong bài &#8220;Bệnh sùng bái cá nhân trong giời lãnh đạo văn nghệ&#8221; (Giai phẩm mùa thu, tập I), Trương Tửu giả vờ công nhận &#8220;Đảng lãnh đạo văn nghệ là một tất yếu lịch sử&#8221; để rồi đòi trả lại &#8220;quyền điều khiển chuyên môn cho những người chuyên môn&#8221;. Trong bài &#8220;Văn nghệ và chính trị &#8220;, Trương Tửu tiến lên một bước, xuyên tạc bài &#8220;Tổ chức Đảng và văn học có đảng tính&#8221; của Lê nin (&#8230;) Làm như vậy, Trương Tửu có thâm ý tách rời văn nghệ ra khỏi chính trị, xúi dục văn nghệ sĩ thoát ly đường lối văn nghệ của Đảng, thoát ly sự lãnh đạo của Đảng</i>&#8221; (Nguyễn Vĩnh, sđd, trang 115, 116).</p>
<p>Bàng Sĩ Nguyên phát hiện: &#8220;<i>Tửu đã nói gì khi giảng dạy? Tửu đã vu khống Đảng là hiện tượng tha hoá. Trường đại học có Đảng trị. Có Đảng cụ thể và Đảng trừu tượng, cụ thể bao giờ cũng có sai lầm, vậy mỗi giai đoạn cần có một Đảng mới&#8221;. (&#8230;) Con người mới là con người ở nông thôn chống thu mua, ở thành thị chống mậu dịch, trí thức chống chính sách báo chí. Tửu gây ý thức thoát ly sự lãnh đạo của Đảng. Cụ thể là tấn công vào cán bộ lãnh đạo của Đảng trong đại học. Tửu đề cao quá đáng Vũ Trọng Phụng (&#8230;) để nói rằng &#8220;không có Đảng lãnh đạo nhà văn vẫn viết được những tác phẩm có giá trị và văn nghệ sĩ còn sáng suốt hơn Đảng, cố vấn cho Đảng, phát hiện vấn đề cho Đảng biết</i>.&#8221; (Bàng Sĩ Nguyên, sđd, trang 119-120).</p>
<p><b>Trần Đức Thảo</b>, triết gia, giáo sư đại học. Đỗ vào trường Normale Supérieure rue d’Ulm ở Pháp năm 1936, thủ khoa ban văn chương. Đậu thạc sĩ (agrégé) triết học. Thời kỳ ở Pháp, ông cộng tác với J.P. Sartre, tham gia nhóm Les Temps Modernes. Sau này ông kiện Sartre về một cuốn sách viết chung mà Sartre không muốn xuất bản. Những năm 44-45, ông hoạt động cho Hội Việt kiều. Phạm Huy Thông, giáo sư thạc sĩ, bạn học cùng thời với Trần Đức Thảo ở Pháp, được cử viết bài đánh Trần Đức Thảo. Phạm Huy Thông cho biết: Khi phái đoàn Việt Minh Đồng Chí Hội sang Pháp năm 1946, Trần Đức Thảo đả kích phái đoàn, cho chính sách ngoại giao của Việt Minh là đầu hàng và phản bội, và đảng Cộng Sản Pháp có đầu óc đế quốc thực dân. Trần Đức Thảo chống lại hiệp định sơ bộ 6/3/1946. Năm 1949, tại Đại Hội Hoà Bình Thế Giới ở Paris, Trần Đức Thảo lên tiếng cảnh cáo đại biểu Liên Xô và đại biểu Pháp là phản bội các dân tộc thuộc địa.</p>
<p>Phạm Huy Thông viết: &#8220;<i>Ngay từ năm 1945, Thảo công kích những người đem tư tưởng Mác xít truyền bá cho kiều bào, công nhân, cho rằng công nhân không có văn hoá, không tiếp thu được, hay tiếp thu &#8220;máy móc&#8221; thì &#8220;nguy hiểm&#8221; (!). Còn đối với đảng Cộng Sản Pháp, thì Thảo có một lập luận phản động rằng: đảng Pháp, tuy có uy tín đấy, nhưng trình độ lý luận Mác xít khó lòng cao, vì hầu hết những cương vị cao trong đảng đều do công nhân nắm</i> (!)&#8221; (Phạm Huy Thông, sđd, trang 69). Năm 1951, Trần Đức Thảo trở về nước, làm giáo sư đại học. Năm 1956, ông tham gia phong trào NVGP. Phạm Huy Thông viết về người bạn cũ của mình: &#8220;<i>Thật ra &#8220;thành tích&#8221; học thuật cũng như &#8220;thành tích&#8221; chính trị của Thảo ở Pháp trước đây, nhìn lại toàn là những &#8220;thành tích&#8221; bất hảo (&#8230;). Trong thư gửi hội nghị học tập của trường đại học, Hoàng Cầm có viết: &#8220;Tôi nhớ rất rõ: trước Nhân Văn số 4, trong một buổi họp ở nhà Trần Duy, 55 đường Trần Quốc Toản, lần đầu tiên Trần Đức Thảo đến họp. Vấn đề hôm ấy do Trần Duy nêu ra là: Ta nên chuẩn bị cái hướng số 4 như thế nào? Một số như Trần Dần và tôi phát biểu là: &#8220;Thêm một bài về tự do dân chủ thôi!&#8221; Trần Đức Thảo nói: &#8220;Tôi thấy cần phải bớt vấn đề văn nghệ đi, nếu cần thì rút bớt cả sáng tác, để bàn nhiều về chính trị, vì tình hình trong nước và thế giới có nhiều tài liệu khác nữa&#8221;.</i></p>
<p>Ta thấy đường lối chính trị của nhóm Nhân Văn là do Trần Đức Thảo trực tiếp và chủ yếu vạch ra. (Về vai trò của Trần Đức Thảo trong tờ Nhân Văn, Lê Đạt sẽ xác định lại.)</p>
<p>Mượn cớ &#8220;<i>phát huy tự do dân chủ</i>&#8221; Thảo đã bày vẽ cho chân tay của mình trong sinh viên đả kích sự lãnh đạo của Đảng ở nhà trường (&#8230;), giáo sư Nguyễn Lân, phụ trách môn giáo dục học, trường đại học sư phạm đã phát biểu: &#8220;<i>Tôi còn rùng mình khi nghĩ đến hoạt động của bọn Trần Đức Thảo. Nếu bọn chúng thực hiện được ý muốn thì không những giáo sư đảng viên, mà đầu của những người lương thiện trung thành với chế độ như tôi cũng đều treo lên ngọn cây</i>.&#8221; (Phạm Huy Thông, sđd, trang 74 và 134).</p>
<p>Sau khi Nhân Văn bị cấm, Trần Đức Thảo vẫn tiếp tục hoạt động, che chở và giúp đỡ các sinh viên. Ông mở diễn đàn tự do ở đại học để truyền bá tinh thần tự do dân chủ. Hai bài viết quan trọng của ông trong thời kỳ NVGP là bài Nội dung xã hội và hình thức tự do đăng trong Giai phẩm mùa đông tập I, lên án những sai lầm trong cải cách ruộng đất và bài Nỗ lực phát triển tự do dân chủ đăng trên Nhân Văn số 3, tháng 10/1956, được coi như bản đề cương tranh đấu cho tự do dân chủ của nhóm NVGP. Trần Đức Thảo viết:</p>
<p>&#8220;<i>Cái tự do mà họ tức là những người lao động trí thức và chân tay muốn phát triển là tự do của toàn dân phê bình lãnh đạo. Cái tự do đó là quyền của người công dân đã được hoàn toàn công nhận và bảo đảm trong chế độ ta. Tự do không phải là cái gì có thể ban ơn. Người trí thức hoạt động văn hóa cần tự do như khí trời để thở, có tự do thì mới đẩy mạnh được sáng tác văn nghệ, nghiên cứu khoa học, cải tiến kỹ thuật. Phát triển tự do là nhu cầu thiết thân, đồng thời là nhiệm vụ số một của người trí thức cũng như của toàn dân. Hình thức tự do là tự do cá nhân, cá nhân phục tòng tập thể nhưng tập thể cũng phải có cá nhân xây dựng. Xét đến tình hình thế giới mới đây, lý tưởng tự do cá nhân lại là lý tưởng của những ngày tiến tới, lý tưởng của chủ nghĩa Cộng Sản bây giờ, đã bắt đầu trở thành một thực tế lịch sử ở Liên Xô</i>&#8220;, ký tên Trần Đức Thảo.</p>
<p>Học giả <b>Đào Duy Anh</b> đóng góp tiếng nói của mình trong Giai Phẩm Mùa Thu tập III, với bài Muốn phát triển học thuật, nội dung phân tích những sai lầm trong nguyên tắc dùng chính trị để lãnh đạo học thuật. Ông viết: &#8220;<i>Sự xâm phạm của những cán bộ chính trị vào địa hạt chuyên môn, cố nhiên là rất trở ngại cho công tác chuyên môn, nhất là công tác nghiên cứu khoa học. Cái điều kiện không thể thiếu được để cho học thuật phát triển là tự do tư tưởng, tự do thảo luận. Tôi chỉ muốn nhấn mạnh hai hình thức hạn chế tự do tư tưởng tác hại nặng nhất đối với học thuật là bệnh giáo điều và biến chứng của nó là bệnh sùng bái cá nhân. Ở nước ta thì các bệnh giáo điều và sùng bái cá nhân lại còn trầm trọng hơn khiến người ta, vô luận bàn về vấn đề gì, cũng đều phải bắt đầu dẫn những đề án của Marx, Engel và Lénine, hoặc những ý kiến của Staline hay các lãnh tụ khác. Bệnh giáo điều và bệnh sùng bái cá nhân lại dẫn thẳng đến cái tệ tư tưởng độc tôn, hễ thấy ai có ý kiến gì vượt ra ngoài những công thức cũ, những khuôn khổ sẵn thì người ta chụp ngay cho những cái mũ dễ sợ như danh hiệu &#8220;cải biến chủ nghiã&#8221; chẳng hạn, để bịt mồm, bịt miệng người khác. Tư tưởng không tự do thì không thể tự do thảo luận được. Mặc dầu không ai cấm tranh luận, các nhà lãnh đạo vẫn thường nói nên mở rộng tranh luận, nhưng trong thực tế thì sự tranh luận đã bị thủ tiêu từ gốc rồi. Nghiên cứu hay nghị luận một vấn đề gì, người người chỉ nơm nớp lo sợ, không khéo thì trật ra ngoài đường lối tư tưởng chính thống độc tôn. Đối với những người ấy công tác học thuật trở thành trò xiếc leo dây.Con đường học thuật phải là con đường cái thênh thang cho mọi người tự do đi lại chứ không phải là sợi dây căng cho mọi người làm xiếc. Phải trừ bỏ những bệnh giáo điều và sùng bái cá nhân để trả lại tự do cho học thuậ</i>t&#8221;.</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2016/03/clip_image009.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image009" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/03/clip_image009_thumb.jpg?strip=all&fit=244%2C201" alt="clip_image009" width="244" height="201" border="0" hspace="8" vspace="1" /></a></p>
<p><b>Phan Khôi</b>, chủ nhiệm báo Nhân Văn. Nhà văn và nhà cách mạng lão thành Phan Khôi như một vị tiền bối đứng ra che chở cho các anh em văn nghệ trẻ. Cùng thời với Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh&#8230; Phan Khôi sinh năm 1887 tại làng Bảo An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, là con trai Tri phủ Phan Trân, và là cháu ngoại Tổng đốc Hoàng Diệu. Năm 1907, Phan Khôi ra Hà Nội tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, ít lâu sau, phong trào bị đàn áp, ông trở lại Quảng Nam, hoạt động trong phong trào Văn Thân cùng với Huỳnh Thúc Kháng. Bị Pháp bắt, Phan Khôi học tiếng Pháp trong tù. Ra tù, ông bắt đầu cuộc đời viết văn làm báo.</p>
<p>Trong nửa thế kỷ, từ Nam ra Bắc, ngòi bút sắc bén của Phan Khôi tung hoành trên các báo: Nam Phong, Lục Tỉnh Tân Văn, Đông Pháp Thời Báo, Thần Chung, Phụ Nữ Tân Văn, Trung Lập, Thực Nghiệp Dân Báo, Hữu Thanh, Phụ Nữ Thời Đàm, Tràng An, Sông Hương&#8230; Từ 1920 đến 1925, ông dịch Kinh Thánh cho Hội Tin Lành. Tác phẩm đầu tiên của Phan Khôi là tập Nam Âm Thi Thoại, ký bút hiệu Chương Dân, in năm 1920 ở Hà Nội (năm 1936, tái bản tại Huế, đổi tên là Chương Dân Thi Thoại). Bài thơ Tình già của Phan Khôi đăng lần đầu tiên trên báo Phụ Nữ Tân Văn, tháng 3/1932, được coi như bài thơ mở đường cho phong trào thơ mới.</p>
<p>Bởi địa vị văn học, địa vị cách mạng và thái độ đối lập của Phan Khôi, cho nên ông có một vị trí riêng và đồng thời ông cũng đã phải chịu những sự phỉ báng nặng nề thô bỉ.</p>
<p>Về hoạt động chính trị, Phan Khôi luôn luôn là một khuôn mặt đối lập với Việt Minh. Tháng 6/1946, phái đoàn Trung ương của Việt Minh về Quảng Nam, mở cuộc mít tinh để giải thích Hiệp định sơ bộ 6/3/1946, Phan Khôi lên diễn đàn, công kích hiệp định sơ bộ. Tham gia Việt Nam Quốc Dân Đảng, Phan Khôi được bầu làm chủ nhiệm chi bộ Nam Ngãi. Nguyễn Công Hoan viết:&#8221;<i>Đêm 12/7, trong khi hắn (chỉ Phan Khôi) đương họp bàn với bọn đầu sỏ Quốc Dân Đảng ở 80 đường Quan Thánh, thì xẩy ra việc Công an ta đến khám toà báo Việt Nam của đảng ấy tại trụ sở ấy. Bọn phản động ở trong nhà nổ súng ra để chống cự. Tức thì Công an buộc lòng phải bắt bớ người. Trong số những người bị bắt có Phan Khôi. Song, Phan Khôi lại một lần nữa được Chính phủ tha cho về để suy nghĩ tội lỗi mà hối cải.&#8221;</i> (Nguyễn Công Hoan, Hành động và tư tưởng phản động của Phan Khôi cho đến thời kỳ toàn quốc kháng chiến, báo Văn Nghệ số đặc biệt thứ hai chống NVGP, số 12, tháng 5/1958, trang 14).</p>
<p>Về thái độ của Phan Khôi đối với Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Công Hoan viết:&#8221;Cách mạng tháng Tám cải tử hoàn sinh cho hai mươi nhăm triệu nhân dân Việt Nam, trong đó có Phan Khôi. Nhưng cái tên già này rất vô ơn với Cách mạng tháng Tám.</p>
<p>Cho đến năm hoà bình, 1954, chưa bao giờ hắn viết, hoặc nói mà dùng danh từ &#8220;<i>Cách mạng tháng Tám</i>&#8220;. Chính hắn đã khoe điều ấy bằng cả sự hằn học với người tâm phúc của hắn. Hắn nói rằng trước kia hắn dùng ba tiếng &#8220;<i>cướp chính quyền</i>&#8220;, mà cũng ngượng mồm. Hắn nói rằng lúc đó, Pháp đổ rồi, Nhật hàng rồi, chính phủ Trần Trọng Kim tê liệt rồi, chính quyền bỏ rơi, thì ta &#8220;<i>lượm</i>&#8221; được, chứ &#8220;<i>cướp&#8221; ở tay ai?</i>&#8221; (bài đã dẫn, Văn Nghệ, trang 12)</p>
<p>Về thái độ của Phan Khôi đối với Hồ Chí Minh, Nguyễn Công Hoan viết: &#8220;<i>Hôm họp Hội nghị văn hoá, Hồ chủ tịch có đến. Khi nói về tiểu thuyết, Người có một nhận xét để khuyên nhủ anh em cầm bút là &#8220;tiểu thuyết của ta có vạch được tội ác của chế độ phong kiến và đế quốc, nhưng chưa đề ra phương pháp cải tạo. Như vậy là kém phần xây dựng</i>&#8220;. Trong khi mọi người rất phục Hồ chủ tịch sáng suốt cả về lĩnh vực văn nghệ, thì tên Quốc Dân Đảng già, vốn bản chất là đối kháng, dè bỉu Hồ chủ tịch, cho là Người chỉ giỏi chính trị, chứ không biết về văn nghệ. Hắn bàn tán với bạn hữu rằng Hồ chủ tịch nói sai. &#8220;<i>Văn nghệ chỉ có nhiệm vụ trình bày, còn xây dựng là nhiệm vụ của chính trị, của nhà cầm quyền</i>&#8221; (bài đã dẫn, Văn nghệ, trang 15).</p>
<p>Phan Khôi không tự ý đi theo kháng chiến mà &#8220;<i>bị mời</i>&#8221; đi kháng chiến, Đào Vũ viết: &#8220;Kháng chiến bùng nổ. Phan Khôi đi theo kháng chiến. Nói cho đúng hơn, chúng ta đưa Phan Khôi đi theo kháng chiến từ đầu chí cuối&#8221;, &#8220;tôi biết rằng cơ quan đối với y bao giờ cũng dành những ưu tiên lớn&#8221;, theo Nguyễn Công Hoan, &#8220;<i>Phan Khôi đi với kháng chiến, không lúc nào hắn không ngớt chửi bới kháng chiến</i>&#8220;, Đào Vũ viết: &#8220;<i>Phan Khôi bấy nay không ưa gì Đảng của chúng ta. Vốn là hay xỏ xiên vặt, y gọi Đảng ta là &#8220;cái Đảng&#8221; thế này thế khác. Có người vặn lại: sao lại gọi là &#8220;cái Đảng&#8221;, tiếng &#8220;cái&#8221; ấy có cần thiết gì đâu? Phan Khôi sẽ thủng thỉnh trả lời: tiếng &#8220;cái&#8221; ấy cũng như &#8220;le, la, les&#8221; của tiếng Pháp mà thôi.&#8221;</i> (Đào Vũ, Tính cách vô lại và bộ mặt chính trị nhơ nhớp của Phan Khôi ngày nay, Văn Nghệ số 12, tháng 5/1958).</p>
<p>Là nhà Hán học, nhưng lý luận khúc triết và đanh thép theo phương pháp luận phương Tây, những bài bút chiến của Phan Khôi với Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh&#8230; đã gây không khí sôi nổi trên văn đàn những năm 30. Tài năng, nhân cách và kiến thức đã đưa Phan Khôi lên địa vị &#8220;Ngự sử văn đàn&#8221; của thời ấy.</p>
<p>Khi toàn quốc kháng chiến. Miễn cưỡng lên Việt Bắc, Phan Khôi dịch sách chữ Hán, chữ Pháp, sang tiếng Việt.</p>
<p>Thời kỳ NVGP, Phan Khôi đứng ra nhận chức Chủ nhiệm kiêm chủ bút tờ Nhân Văn để bao che cho các cây bút trẻ. Trong bài Phê bình lãnh đạo Văn Nghệ, in trên Giai Phẩm Mùa Thu, tập I, với tác phong Ngự sử văn đàn, Phan Khôi nghiêm khắc lên án chế độ quản lý tư tưởng: Ông chỉ trích Trường Chinh ăn nói bừa bãi, chất vấn gắt gao Tố Hữu, Hoài Thanh, Nguyễn Đình Thi, những người chủ chốt trong việc kết tội Trần Dần. Sau khi tách bạch hai giai cấp: <i>Lãnh đạo văn nghệ và Quần chúng văn nghệ</i>, Phan Khôi phê bình triệt để ba vấn đề thực tiễn:</p>
<p><b>1. Vấn đề tự do của văn nghệ sĩ</b>: Sau khi đưa ra những dẫn chứng cụ thể về việc lãnh đạo nghiệt ngã bắt bẻ người viết phải theo đúng đường lối, Phan Khôi hỏi lãnh đạo: chính trị muốn đạt đến cái mục đích của nó thì cứ dùng khẩu hiệu, biểu ngữ, thông tri, chỉ thị không được hay sao mà phải cần dùng đến văn nghệ sĩ, rồi ông cánh cáo: &#8220;Lãnh đạo đã xâm phạm mỗi ngày một hơn vào quyền riêng nghệ thuật của văn nghệ sĩ.&#8221;</p>
<p>Những lời khẳng khái nổi tiếng của Phan Khôi: &#8220;<i>Nhược bằng bắt hết mọi người viết, phải viết theo lối với mình thì rồi đến một ngày kia, hàng trăm thứ hoa cúc đều phải nở ra cúc vạn thọ hết</i>&#8220;. Hoặc phê Đảng: &#8220;<i>Đảng giáo dục Xuân Diệu làm cách mạng chứ có giáo dục Xuân Diệu làm thơ đâu</i>!&#8221;</p>
<p><b>2.</b> <b>Về vụ Giai Phẩm Mùa Xuân</b>, Phan Khôi chất vấn ban chủ toạ hội Văn nghệ: &#8220;<i>Hỏi độc tội mộât Trần Dần thôi là cái ngón chính tri tài tình lắm đấy, để cô lập Trần Dần và phân hóa những người trong Giai Phẩm, cái ngón ấy đã thành công</i>&#8220;.</p>
<p>&#8220;Tôi còn nhớ có vị bắt lỗi trong bài thơ Trần Dần có chữ Người viết hoa, lấy lẽ rằng chữ Người viết hoa chỉ để xưng Hồ chủ tịch, thế mà Trần Dần lại viết hoa chữ Người không phải để xưng Hồ chủ tịch. Tôi ngồi nghe mà tưởng như ở trong chiêm bao, chiêm bao thấy mình đứng ở một sân rồng nọ, ông Lê mỗ tố cáo ông Nguyễn mỗ trước ngai vàng: &#8220;<i>Trong phép viết chỉ có chữ nào thuộc về Hoàng thượng mới phải đai, thế mà tên Nguyễn mỗ viết thư cho bạn dám xài những chữ không phải thuộc về Hoàng thượng. Nhân may cho tôi, tôi tỉnh ngay ra là mình đang ngồi ở trong phòng họp hội Văn nghệ</i>&#8220;.</p>
<p><b>3.</b> <b>Về vụ giải thưởng văn học năm 54-55</b>, ba tác phẩm Mưa sao của Xuân Diệu, Truyện anh Lục của Nguyễn Huy Tưởng và Nam Bộ mến yêu của Hoài Thanh đều chiếm giải. Phan Khôi phê bình:&#8221;<i>Cả ba ông Xuân Diệu, Nguyễn Huy Tưởng, Hoài Thanh đều có tác phẩm dự thi mà đều ở trong ban trung khảo. Nếu ở trong ban trung khảo mà thôi còn khá, thử điều tra lại hồ sơ, thì ba ông còn ở ban sơ khảo nữa, sao lại có thể như thế? Trường thi phong kiến xưa, tuy có ám muội gì bên trong, chứ bên ngoài họ vẫn sạch tiếng. Một người nào có con em đi thi thì người ấy có được cắt cử cũng phải hồi tỵ, không được chấm trường. Bây giờ đến cả chính mình đi thi mà cũng không hồi tỵ, một lẽ là ở thời đại Hồ Chí Minh, con người đã đổi mới, đã liêm chính cả rồi, một lẽ trắng trợn vì thấy mọi cái miệng đã bị vú lấp.&#8221;</i></p>
<p>Trong Giai Phẩm Mùa Thu tập I, Phan Khôi viết truyện Ông bình vôi, ngẫu hứng từ bài thơ Ông bình vôi của Lê Đạt, chủ đích bênh vực Lê Đạt, đồng thời nhạo báng lãnh tụ, gọi lãnh tụ là Ông Cọp, Ông Trưởng, Ông Đầu Rau, Ông Tre, Ông Bình Vôi&#8230; như những bài vị mà người dân thường phải để chân dung trong nhà. Trong bài Ông Năm Chuột, Phan Khôi đòi hỏi phải trả văn nghệ lại cho văn nghệ, chuyên môn cho chuyên môn qua lời người thợ bạc: &#8220;<i>người ta cái gì biết ít thì nên nghe chứ không nên nói, tôi không nói chuyện văn chương chữ nghĩa với ông, cũng như ông không dạy nghề làm thợ bạc cho tôi</i>.&#8221;</p>
<p>Theo bài viết của Đoàn Giỏi đăng trên báo Văn Nghệ số ra ngày 15/8/1958 thì tháng 12 năm 1957, Phan Khôi còn đưa đến nhà xuất bản Hội Nhà Văn một tập bản thảo dầy, tên là Nắng chiều gồm nhiều bài bút ký, tạp văn, viết từ đầu kháng chiến Việt Bắc đến năm 1957. Đoàn Giỏi trích một số đoạn để đả kích, nhờ vậy mà độc giả biết được đại cương nội dung những tác phẩm đó. Theo Đoàn Giỏi, ngay trong hai bài đầu, tựa đề Cầm vịt và Tiếng chim, Phan Khôi đã khẳng định &#8220;Xã hội không có đấu tranh giai cấp, của ai người nấy ăn. Vấn đề đấu tranh giai cấp chỉ là kiểu rình phần ăn của kẻ khác&#8221;. Về bài viết Cây cộng sản, Đoàn Giỏi tự hỏi: Tại sao Phan Khôi lại đem cây cứt lợn, cũng gọi là cây chó đẻ, và cây bọ xít, toàn là những tên không nhã tý nào hét, để gọi nó là Cây cộng sản và cỏ cụ Hồ? Đến bài giới thiệu Nguyễn Trường Tộ, Phan Khôi viết: &#8220;<i>Vua thì như thế, còn đám quan liêu từ triều đình đến các tỉnh phần nhiều là hủ nho, đám sĩ phu ở dân gian càng đông hơn, cũng đều hủ nho. Dưới vua, hai hạng người này nắm quyền lợi một nước trong tay họ, họ cấu kết với nhau để giữ lấy quyền lợi thì còn ai mà làm gì được</i>&#8220;. Đoàn Giỏi bị kiểm thảo về tội vờ đả kích Phan Khôi để công bố những nét đại cương của một tác phẩm bị cấm. Bản thảo tập Nắng Chiều hiện nay còn hay mất? Đó là một nghi vấn văn học chưa được soi tỏ.</p>
<h3><strong>Phỏng Vấn Lê Đạt</strong></h3>
<p>Dự định tìm lại dấu vết phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, đã đến với chúng tôi từ cuối năm 1984, khi trở lại lần đầu, sau 30 năm xa Hà Nội. 1984, lúc ấy tôi chưa hề cầm bút, và 1954, khi rời Hà Nội, tôi mới lên mười. Như phần lớn học sinh miền Nam, tôi đã thuộc lòng, không chỉ những câu thơ nổi tiếng của Trần Dần:</p>
<p><i>Tôi bước đi không thấy phố không thấy nhà</i></p>
<p><i>chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ</i></p>
<p><i>Mà còn cả những câu thơ ít nổi tiếng hơn, nhưng không kém phần đau xót:</i></p>
<p><i>Trời vẫn quật muôn vàn tảng gió.</i></p>
<p><i>Bắc Nam ơi! Đứt ruột chia đôi.</i></p>
<p><i>Tôi cúi xuống quỳ xin mưa bão.</i></p>
<p><i>Chớ đổ thêm lên đầu họ, khổ nhiều rồi!</i></p>
<p>Những tiếng thơ của một thời, thời còn yêu thương, thời vết thương chia cách hai miền chưa đỏ máu, chỉ có nhớ thương và thương nhớ, bay bổng như Giấc mơ hồi hương của Vũ Thành:</p>
<p><i>&#8220;Lià xa thành đô yêu dấu, một sớm heo may về, lệ sầu tràn mi&#8230;</i></p>
<p><i>&#8230; nghẹn nghào thương nhớ em, Hà Nội ơi!&#8221;</i></p>
<p>Đó cũng là thời lạc quan, thời hy vọng đất nước sẽ thống nhất trong hoà bình, Phạm Đình Chương viết Hội Trùng Dương, Phạm Duy viết Tình Ca, Tình Hoài Hương&#8230; thiết tha gửi cho một quê hương toàn vẹn, trong giao tình Nam Trung Bắc. Và trên đôi bờ vĩ tuyến, hồi ấy chưa manh nha mầm mống hận thù, chết chóc.</p>
<p>Nhưng rồi yêu thương nhạt dần, nhường chỗ cho tuyên truyền, cho hò hét, chiến tranh, cho &#8220;lý tưởng thống nhất&#8221;, &#8220;giải phóng dân tộc&#8221;, cho một mất một còn, cho ngày mai chiến thắng, bằng mọi giá, bất kể ngàn tấn thịt, vạn tấn xương, và cũng chẳng nề hà sự lệ thuộc gần như tuyệt đối vào các cường quốc.</p>
<p>Phong trào NVGP xuất hiện. Miền Bắc đàn áp Nhân Văn, quy kết Nhân Văn như một thứ mầm mống &#8220;nổi loạn&#8221;, &#8220;phản bội&#8221;, &#8220;theo địch&#8221;. Miền Nam khai thác phong trào, để chứng minh điều kiện cần và đủ cho một cuộc &#8220;Bắc tiến&#8221;. Đó là một trong những lý do, khiến cho học trò miền Nam thuộc lòng thơ Trần Dần. Nhưng phải công bằng mà xét, nếu không có hậu ý tuyên truyền này, thì ảnh hưởng của NVGP, đã không bao trùm lên toàn thể hai miền Nam Bắc, như một cao trào đấu tranh cho dân chủ, lớn nhất thế kỷ XX, trong văn học Việt Nam.</p>
<p>Năm 1984, khi trở về Hà Nội, tôi muốn tìm lại, dù chỉ một dấu vết nhỏ, chứng minh sự hiện diện của NVGP trong lòng người dân miền Bắc. Nhưng vô ích. Tất cả đều đã bị xóa sổ. Kín đáo dò hỏi những người thân trong gia đình sống ở Hà Nội, thuộc thế hệ &#8220;phải biết&#8221; Nhân Văn là gì? Xem có ai còn nhớ gì không? Nhưng không. Chẳng ai &#8220;nghe nói&#8221; đến những cái tên như thế bao giờ: linh hồn Nhân Văn cũng đã bị xoá trong ký ức quần chúng, và như vậy, &#8220;nọc độc&#8221; Nhân Văn, đã hoàn toàn bị tẩy sạch.</p>
<p>Đó là lý do chính, khiến vài năm sau, khi thực sự bước vào nghề cầm bút, tôi đã coi NVGP là một trong những nghi vấn văn học hàng đầu, cần phải tìm hiểu. Bài viết đầu tiên của tôi về phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, đăng trên nguyệt san Văn Học, Cali, số 27, tháng 4 năm 1988, tiếp theo sau là những buổi phát thanh trên đài RFI, trong nhiều chương trình từ 1994 đến 2004. Nếu trong những chương trình ấy còn có những thiếu sót, đôi khi sai lầm, thì hôm nay, nhờ những chứng nhân quan trọng của Lê Đạt, Hoàng Cầm và Nguyễn Hữu Đang lần đầu tiên được công bố trên mặt báo, sẽ bổ sung và đính chính.</p>
<p>Các anh thay mặt những người đã khuất viết lại lịch sử của phong trào và lần này, không ai có thể ngăn ngừa sự thật.</p>
<p><b>I. Sự hình thành  Giai Phẩm Mùa Xuân</b></p>
<p>Hầu như tất cả các tài liệu đều thống nhất ở một điểm: Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm bắt đầu hiện diện trên công luận với sự ra đời của tờ Giai Phẩm Mùa Xuân, nhưng trong &#8220;nội bộ&#8221; những người chủ trương tờ báo này, mọi diễn biến đã xẩy ra như thế nào, tại sao lại có Giai Phẩm Mùa Xuân? Đó là những câu hỏi mà nhà thơ Lê Đạt sẽ trả lời sau đây.</p>
<p><b>Thụy Khuê:</b> <i>Thưa anh Lê Đạt, nguyên do nào đã khiến anh trở thành một trong những người chủ chốt của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm?</i></p>
<p><b>Lê Đạt:</b> Tôi là một học sinh yêu nước cho nên khi Cách Mạng thành công thì tôi tham gia Cách Mạng ngay. Từ khi tham gia Cách Mạng, hầu như tôi đều hoạt động ở ngành Tuyên huấn, rồi sau này tôi lên hoạt động ở Tuyên huấn trung ương (ngày nay là Uỷ ban văn hoá tư tưởng trung ương) trực tiếp theo dõi phong trào văn nghệ, văn hóa và giáo dục. Vì thế, tôi có nhiều điều kiện tiếp xúc với tất cả các anh em văn nghệ, từ lãnh đạo đến những anh em bình thường. Tôi cũng suy nghĩ rất nhiều về phong trào văn nghệ vì xưa nay tôi vẫn là người thích làm thơ. Năm 50, khi ở chiến dịch Lào Cai, tôi có gặp một nhà thơ mà tôi chưa biết mặt, nhưng biết tên từ lâu, đó là anh Trần Dần. Trần Dần, tuy thơ thì chưa làm nhiều, nhưng là một người nổi tiếng vì những ý kiến độc đáo và kỳ cục của anh ta về thơ. Cho nên, khi gặp Trần Dần ở Lào Cai, chúng tôi đã bàn rất nhiều về thơ ca Việt Nam, và đi đến một nhất trí như thế này: anh Tố Hữu là một nhà thơ cách mạng, nhưng thi pháp của anh ấy, căn bản vẫn chưa ra khỏi thi pháp thời kỳ thơ mới năm 1930, và tôi với Trần Dần nghĩ rằng: chính mình phải làm một cái gì để đổi mới nền thi ca Việt Nam. Đó là từ năm 1950. Chị nên nhớ lúc bấy giờ là đang kháng chiến mà người ta kháng chiến thì người ta bận tâm nhiều về chuyện đánh nhau, ít người nghĩ đến thơ như lũ hâm này, phải nói như thế! Tôi với Dần thì nói nhiều về Rimbaud, về Baudelaire, về Mallarmé&#8230; nhiều thứ lắm, nhưng hai người tập trung nhiều nhất nói về Maiakovski, tại vì Maiakovski lúc bấy giờ đang là ngôi sao sáng trên nền trời văn học cách mạng. Song nói rồi cũng để đấy thôi, rồi mỗi người lại đi theo công việc của mình. Đến năm 54, khi hòa bình trở lại, chúng tôi gặp nhau ở Hà Nội, lại bàn tiếp giấc mộng thơ mới đó. Lúc đó, Trần Dần đã viết xong Người người lớp lớp và đang gặp khó khăn trong quân đội, về vấn đề các văn nghệ sĩ trong quân đội đấu tranh đòi có một kỷ luật sống, cho thích hợp với thời kỳ hòa bình. Lúc đó, Trần Dần cũng bị o ép rất ghê, anh Dần có bàn với tôi rằng: &#8220;Có lẽ ta nên tổ chức một buổi phê bình thơ Việt Bắc&#8221;. Tôi hoan nghênh lắm. Vì vậy, Trần Dần tổ chức một cuộc phê bình thơ Tố Hữu ở trong quân đội.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Thưa anh, như vậy có thể nói là tất cả đều bắt đầu từ việc phê bình thơ Tố Hữu trong quân đội. Nhưng lúc đó anh không ở trong quân đội, phải không ạ?</i></p>
<p>L.Đ.: Lúc đó tôi đang học lớp tiếp quản để về tiếp quản khu 300 ngày ở Quảng Ninh. Trần Dần có nói với tôi rằng: thôi cậu đến &#8220;viện trợ&#8221; cho mình một tí, vì trong quân đội nó trật tự lắm. Hôm này có các ông quan to thì chắc là mọi người không dám phát biểu. Trần Dần cũng biết tính tôi là khi tôi nói thì tôi cũng không sợ gì ai cả. Hôm đến, tôi đã thấy ông Nguyễn Chí Thanh ngồi đấy rồi. Hoàng Yến lên nói về thơ Tố Hữu và bảo rằng thơ Tố Hữu bây giờ &#8220;nhỏ&#8221; hơn thơ Tố Hữu thời trước, thì đó cũng là một cách nói thôi. Sau đó, khi anh Thanh lên diễn đàn thì tôi thấy không khí im lặng cả, không ai nói gì nữa. Trần Dần đá chân tôi bảo: &#8220;Thôi, thế cậu lên đi.&#8221; Tôi lên nói một bài về thơ Tố Hữu và tôi có nhắc đến sự sùng bái chủ tịch Hồ Chí Minh của Tố Hữu. Cuộc trao đổi ấy rất vui vẻ rồi ông Thanh cũng không nói gì nữa. Căn cứ trên cuộc thảo luận ấy thì anh em thấy là có thể có đủ bài để viết trên tạp chí Văn Nghệ mà lúc đó tôi là thường trực. Sau đó tôi có lên trình bày với anh Tố Hữu về tờ báo Văn Nghệ.</p>
<p>Đã lâu lắm rồi anh em không gặp nhau. Phải nói rằng, tôi quan hệ với anh Tố Hữu từ thời kháng chiến, quan hệ rất tốt, nhưng mà từ hòa bình thì có hơi xa nhau. Lần này, sau khi nói chuyện với anh Tố Hữu một lúc, anh Tố Hữu có nói với tôi: &#8220;Ông vốn là người nhậy cảm mà tôi thấy có tập Việt Bắc mà ông không cho phê bình thì như thế là độ này Lê Đạt nhạy cảm hơi kém rồi.&#8221; Lúc ấy, trong túi tôi đã có bài Hoàng Yến phê bình Việt Bắc, tôi chỉ cười, không nói gì cả và tôi nghĩ bụng: vâng, chắc anh sẽ xem được một loạt những bài phê bình Việt Bắc nhưng có lẽ ngoài ý muốn của anh. Sau đó tôi về tôi in bài của Hoàng Yến và tiếp sau đó là một loạt những bài phê bình Việt Bắc, thì tôi chắc là cái đó gây cho anh Tố Hữu nhiều bựïc tức lắm, tạïi vì các lời phê bình ấy thường thường là chê, mà ở nước Việt Nam thì người ta chưa quen chê anh Tố Hữu bao giờ cả. Tôi làm Việt Bắc thì tôi được sự ủng hộ của anh Nguyễn Hữu Đang vì Đang lúc ấy đang ở trong tòa soạn báo Văn Nghệ với tôi. Vụ Việt Bắc ấy kéo dài độ hơn một tháng, sau mọi người thấy là nên thôi, tại vì ông Lành (tên thật của Tố Hữu) cũng không chịu thua mà chúng tôi cũng không thắng, nhưng chắc là thơ ông Lành bắt đầu bị đặt vấn đề. Từ đó quan hệ của tôi với anh Lành hình như hơi khó khăn hơn.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Từ vụ phê bình thơ Việt Bắc của Tố Hữu đến việc thành lập Giai Phẩm Mùa Xuân, mọi chuyện diễn tiến ra như thế nào, thưa anh ?</i></p>
<p><b>L.Đ.:</b> Sau vụ Việt Bắc rồi thì Trần Dần, do lúc ấy có quan hệ với chị Khuê là vợ anh ấy bây giờ; chị Khuê là một người công giáo, cho nên người ta nghĩ rằng đó là một người công giáo cài lại làm gián điệp để tranh thủ anh Dần. Vì Trần Dần lúc đó còn ở trong quân đội nên Dần bị kỷ luật và người ta cấm trại không cho ra nữa. Đó là lần anh Dần bị giữ lần thứ nhất, không bị giam. Trần Dần, sau đó, cũng được ra và rồi hai người, như trong truyện cổ tích, cũng lấy được nhau.</p>
<p>Trần Dần ra rồi, chúng tôi mới nghĩ đến chuyện này: bây giờ làm sao mà in được một tập thơ, trái với nguyên tắc lúc bấy giờ &#8211; nguyên tắc bấy giờ là tất cả các bài đều bị kiểm duyệt cả. Tôi chủ trương tập này phải là một tập tự do sáng tác hoàn toàn, tức là mỗi cá nhân đều chịu trách nhiệm về bài của mình và không có kiểm duyệt gì cả. Tôi có bàn với Dần, với Cầm, với Văn Cao, Tử Phác và mấy anh hội họa nữa là Sỹ Ngọc và Nguyễn Sáng. Lúc đó thì chưa tìm được chữ gì hay lắm. Tôi cũng không thích chữ Giai Phẩm tại chữ Giai Phẩm có vẻ Tự Lực Văn Đoàn, nghe chữ ấy nó sang trọng quá tôi cũng không thích. Nhưng lúc đó vì ý kiến anh Minh Đức là nhà xuất bản tập thơ ấy và anh Đang cũng thích chữ ấy. Trước tôi định cái tít là &#8220;Thơ năm người&#8221;, nhưng người ta bảo thế là &#8220;gây sự&#8221; quá, thì sau cũng đành lấy chữ Giai Phẩm.</p>
<p>Ngay lúc đó xẩy ra vấn đề Phùng Quán: Phùng Quán thì không dính dáng gì đến lớp chúng tôi cả. Phùng Quán lúc ấy &#8211; theo lối nói Việt Nam &#8211; mới chỉ là &#8220;đàn em&#8221; thôi, thế nhưng Phúng Quán lúc đó rất nổi tiếng vì quyển Vượt Côn Đảo, chứng tỏ Phùng Quán có óc tưởng tượng rất phong phú. Một hôm Phùng Quán đến tôi chơi, tôi thấy một anh bộ đội trẻ, xưng với tôi : Em là Phùng Quán. Sau đó anh em ngồi chơi, nói chuyện với nhau, thì Phùng Quán có đọc cho tôi nghe mấy bài thơ trong đó có bài Quân nhân hốt rác, nghe, tôi cũng thấy vui lắm, tôi bảo: &#8220;Chúng anh sắp ra một quyển Giai Phẩm Mùa Xuân, thế Quán có muốn tham gia không?&#8221; Tôi không ngờ lời nói đùa ấy đã rẽ Quán sang một bước ngoặt của đời Quán. Quán nói rằng: &#8220;Em thích lắm, tất cả các anh em đều quý cả, để em tham gia với.&#8221; Tôi lấy bài của Quán, nhưng khi đến bàn với anh em thì tôi gặp sự phản đối, nhất là anh Văn Cao. Anh Văn Cao nói rằng: &#8220;Quán nó không thể ngồi cùng chiếu với mình được!&#8221;. Tôi cười, tôi nói với anh Văn Cao rằng: &#8220;Đây là chỗ anh em với nhau chứ không phải chiếu tiên chỉ, thứ chỉ gì mà chúng ta đối với nhau trật tự quá như thế&#8221;. Tôi không ngờ câu nói đùa đó sau sẽ cứ ám ảnh anh Văn Cao suốt một cuộc đời. Và từ đó người ta đều gọi anh Văn Cao là tiên chỉ. Ý kiến của tôi dĩ nhiên được mọi người đều ủng hộ cả, thì anh Văn Cao phải thua thôi. Vì thế trong Giai Phẩm Mùa Xuân lại có một người rất trẻ là Phùng Quán.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Thưa anh, trước khi tiếp tục câu chuyện, xin anh xác định lại một lần nữa: Phong trào của các anh là tự phát chứ không dính dáng gì đến Liên Xô và Trung Quốc cả.</i></p>
<p><b>L.Đ.:</b> Hoàn toàn không có dính dáng gì đến Liên Xô và Trung Quốc cả. Tại vì, như tôi đã nói, lúc đó thì anh em bàn với nhau là làm một tập tự do sáng tác cơ mà. Giai Phẩm Mùa Xuân ra &#8211; nếu tôi nhớ không lầm &#8211; tháng giêng năm 1956, mà đến tháng 5/1956 mới có phong trào Trăm Hoa Đua Nở ở Trung Quốc. Vậy không có lý do gì một phong trào có sau lại ảnh hưởng đến phong trào có trước cả. Và lúc đó phải nói thật là chúng tôi cũng chưa nghĩ gì sâu xa lắm đâu, lúc đó tôi còn quá trẻ, chị Thụy Khuê ạ, tôi mới 26, 27 tuổi, tôi chỉ nghĩ rằng: anh em bây giờ ở trong điều kiện hòa bình thì phải chống lại vấn đề kiểm duyệt, nó khe khắt quá và hai là chống lại thứ văn nghệ độc tôn, thực hiện tự do sáng tác, tôi thấy vấn đề rất đơn giản: mỗi anh sáng tác một bài và chịu trách nhiệm bài viết của mình. Chúng tôi cũng chưa nghĩ là mình làm cái việc tày trời như thế, chuyện ấy nó sẽ đến sau, cho nên tôi cũng chẳng bận tâm gì đến Trăn Hoa Đua Nở, tôi cũng chẳng bận tâm gì đến ông Hồ Phong, nhưng mà nếu nói đến một cái ảnh hưởng gì đó của Nga, thì đó không phải là ảnh hưởng của phong trào nào của Nga mà là ảnh hưởng một nhà thơ Nga mà tôi rất yêu mến, đó là Maiakovski. Như thế không thể gọi là ảnh hưởng phong trào này kia được. Hai là anh Cầm thì cũng không ảnh hưởng gì Maia cả, chỉ có tôi với Dần là ảnh hưởng Maia thôi, nhất là Văn Cao cũng chả ảnh hưởng gì của Maia cả, lại có cả anh Nguyễn Sáng và Sỹ Ngọc là những người của hội họa. Mà anh Sáng viết bài thơ thì xin lỗi, rất trung bình. Cho nên anh em là vui với nhau để chứng tỏ rằng những người nghệ sĩ, những người sáng tác có quyền sáng tác một cách tự do.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Sau khi Giai Phẩm Mùa Xuân ra đời, tác dụng của nó đối với người đọc như thế nào, thưa anh ?</i></p>
<p><b>L.Đ.:</b> In ra được một tuần thì thấy ảnh hưởng của nó ghê gớm quá, tôi và anh Cầm cũng không ngờ. Đi đâu lúc bấy giờ cũng thấy người ta nói đến câu thơ của Trần Dần:</p>
<p><i>Tôi bước đi không thấy phố</i></p>
<p><i>không thấy nhà</i></p>
<p><i>chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ</i></p>
<p>và câu thơ của tôi mà sau này cụ Phan Khôi đã bình luận. Sau này tôi sẽ nói về chuyện đó. Nhưng mà đồng thời giông bão cũng đã bắt đầu thấy xuất hiện ở trên vòm trời rồi.</p>
<p>Hôm tôi đến hội, tôi gặp cụ Phan Khôi. Cụ Phan Khôi bảo: &#8220;Này, gay go đấy nhé!&#8221; Tôi bảo: &#8220;Cái gì mà gay go hở cụ?&#8221;</p>
<p>&#8211; Hôm nọ Tố Hữu đến đây phê phán Giai Phẩm Mùa Xuân nặng lắm và nói rằng: &#8220;Lũ này là lũ phản động&#8221;, thì tôi có nói rằng: &#8220;Phản động hay không phản động chưa biết, cứ biết rằng người ta nói mình không bằng lòng thì mình viết, rồi để cho người ta trả lời&#8221;, thì Tố Hữu nói ngay rằng: &#8220;Thừa giấy cho chúng nó viết à?&#8221; Phan Khôi không nói gì nữa.</p>
<p>Phan Khôi bảo tôi: &#8220;Cẩn thận!&#8221; Rồi chúng tôi chia tay nhau.</p>
<p>Lúc đó đi đâu cũng thấy người ta nói đến Giai Phẩm Mùa Xuân. Bấy giờ là gần Tết rồi và hôm ấy, vào khoảng độ 28 Tết, trên đường đi tôi gặp một người liên lạc của tôi, đang chạy xe đạp đi các phố để tìm tôi, bảo rằng: &#8220;Anh Tố Hữu có điện đi tìm anh và nói rằng mời anh lên Tuyên Huấn để kiểm thảo&#8221;. Phản ứng đầu tiên là tôi rất bực mình. Tôi cũng là một người như mọi người khác, thì phải để cho tôi ăn Tết chứ? Tôi bảo với cậu liên lạc là: &#8220;Bây giờ em về, em cứ nói với cơ quan là không tìm thấy anh, rồi sau Tết anh sẽ lên&#8221;.</p>
<p>Tôi nghỉ ăn Tết xong, mùng 5 Tết tôi lên gặp Tố Hữu. Lên, thì lúc ấy Tố Hữu ở trên gác, một anh chánh văn phòng xuống gặp tôi, nói rằng: &#8220;Anh đợi một lúc, anh Tố Hữu sẽ xuống!&#8221; Tôi phải nhắc lại với chị một lần nữa: Tôi là người trong suốt thời kháng chiến ở Tuyên huấn, cho nên tôi về Tuyên huấn như là tôi về nhà tôi vậy. Nhưng mà tôi thấy sao hôm nay về nhà mình, ngạc nhiên lắm, thấy cái nhà không phải là nhà mình nữa, trông nó lạnh lùng mà nó khác hẳn rồi. Ngồi ghế đợi, thì tôi thấy quyển Giai Phẩm Mùa Xuân để trên bàn, bài Nhất định thắng của Trần Dần với rất nhiều câu hỏi của anh Lành đánh bằng bút bi đỏ, ở chung quanh, nói ghê lắm, và còn bài Ông bình vôi của tôi, thì bên cạnh câu: Bay cho cao, bay cho xa, anh Tố Hữu có đề câu hỏi: Bay đi đâu? Có phải bay vào miền Nam không? Tôi thấy tình hình gay go rồi: Mình làm chuyện sáng tác nhưng tự nhiên các ông ấy lại gắn vào cái chính trị, ngoài ý muốn của mình. Nhưng lúc ấy tôi chưa sợ. Tôi không có lý do gì mà sợ cả. Tôi vẫn tin ở sự trong sáng của mình và lúc ấy tôi vẫn tin vào sự trong sáng của Đảng.</p>
<p>Giai Phẩm Mùa Xuân ra vào tháng giêng, tháng hai, thì như thế là vào khoảng cuối tháng hai tôi đã bị gọi lên Tuyên huấn, chị thấy là tác động nó rất nhanh. Lúc đó tôi thấy anh Tố Hữu đi trên gác xuống, lần này anh Tố Hữu gặp tôi khác lắm, không chào hỏi gì cả. Và anh rút bao thuốc lá Trung Quốc trong túi ra anh ấy hút mà anh ấy không mời tôi.</p>
<p>Câu đầu tiên anh nói với tôi rất lạnh lùng: &#8220;Các anh muốn gì?&#8221; thì tôi hơi bực mình, tôi trả lời: &#8220;Chúng tôi chẳng muốn gì cả, chúng tôi chỉ muốn làm văn nghệ. Anh Tố Hữu này, chúng ta vẫn còn là đồng chí với nhau, cho nên anh không thể xử sự với tôi như người ngoài được. Có gì anh cứ nói một cách bình tĩnh.&#8221; Lúc ấy anh Tố Hữu nghĩ thế nào mới rút một điếu thuốc lá mời tôi và chúng tôi bắt đầu nói chuyện. Câu đầu tiên mà anh Tố Hữu nói là: &#8220;Tôi rất lo cho tương lai chính trị của anh. Anh thì còn là người ở trong nội bộ, còn Trần Dần là hỏng rồi. Chúng tôi đã có tài liệu rằng Trần Dần là có bàn tay của địch dúng vào. Vì anh còn là người của nội bộ cho nên chúng tôi mời anh đến đây kiểm điểm. Anh phải ở lại đây 15 ngày để kiểm điểm và để thấy rõ bộ mặt phản động của Trần Dần.&#8221;</p>
<p>Thế là tôi ở lại đấy ăn cái Tết kiểm thảo 15 hôm. Tôi không phải làm việc gì cả, tức là theo cái cách ở Việt Nam người ta làm, anh cứ ngồi đấy &#8220;suy nghĩ&#8221; về những lỗi lầm của anh. Anh viết về những sai sót của anh. Lẽ dĩ nhiên, lúc đó anh Lành cũng không gây áp lực gì nhiều lắm đối với tôi. Tôi có nói với anh Lành thế này: &#8220;Tôi không thể căn cứ vào tác phẩm của anh Dần mà đi đến kết luận là anh ấy là phản động được. Dù anh có kéo dài nửa tháng hay một tháng cũng thế thôi: Không thể căn cứ vào tác phẩm của ai mà kết tội người ta là phản động được. Phản động là thuộc phạm vi của công an&#8221;. Sau đó 15 ngày thì có một cuộc hội nghị rất lớn, hầu hết các nhân vật sừng sỏ nhất của Tuyên huấn, nào là anh Kỉnh này, Kỉnh là trung ương ủy viên và là phó ban Tuyên huấn, Nguyễn Trương này, Nguyễn Trương cũng là một tay kỳ cựu mà sau này có lôi thôi với Nguyễn Hữu Đang trong vấn đề Nhân Văn. Cả thiếu tướng Lê Trưởng, &#8230;nhiều, nhiều lắm. Cuộc họp rất to, mà ở bên này chỉ có tôi thôi (cười). Một người thì không thể nào cãi lại được tất cả mọi người. Nhưng tôi cãi được một điểm duy nhất mà tôi có thể cãi lại, và tôi cho là đúng, đó là: &#8220;Tôi không thể nào căn cứ vào một văn bản mà kết luận một người là phản động được&#8221;. Lúc đó anh Tố Hữu nói: &#8220;Thôi được rồi, để anh suy nghĩ thêm, nhưng tổ chức đã có tài liệu.&#8221; Thì tôi nói: &#8220;Tổ chức đã có tài liệu thì tôi còn phải kiểm điểm gì nữa.&#8221; Tóm lại, cuộc đấu tranh rất căng thẳng. Sau đó, tôi được thả về vì đến đấy coi như đã xong và anh Dần cũng đã bị bắt rồi. Tức là cùng lúc tôi bị gọi lên kiểm điểm ở Tuyên huấn thì anh Dần bị bắt ở chỗ Cải cách ruộng đất. Trần Dần bị bắt cùng với Tử Phác, trong khi hai người đang đi thực tế học tập về chính sách Cải cách ruộng đất. Ba hôm sau, anh Dần cứa cổ tự tử, người ta buộc phải giải quyết vấn đề tức là cho anh Dần ra bệnh viện để chạy chữa và khuyên anh ấy không nên làm như thế. Vì vậy trong hình của Trần Dần trên báo Nhân Văn, Nguyễn Sáng có vẽ một vết sẹo ở cổ, chính là cái vết tự tử bằng mince lame trong cuộc bị bắt ấy. Rồi Giai Phẩm Mùa Xuân bị tịch thu và tự nhiên người ta gọi chúng tôi là nhóm Giai Phẩm Mùa Xuân.</p>
<p><b>II. Sự thành lập Nhân Văn và vai trò của Phan Khôi, Nguyễn Hữu Đang và Thụy An trong tờ Nhân Văn.</b></p>
<p>Nếu Giai Phẩm Mùa Xuân dựa vào một nhóm văn nghệ sĩ thuần túy, thì tờ Nhân Văn có những khuôn mặt chính trị. Sự buộc tội nặng nề nhất của nhà cầm quyền hướng về &#8220;những tên đầu sỏ&#8221; Phan Khôi, Thụy An, Nguyễn Hữu Đang, Trần Thiếu Bảo, Lê Đạt&#8230; Nhưng sự thật ra sao? Ai là &#8220;đầu sỏ&#8221;? Phan Khôi, Thụy An, Nguyễn Hữu Đang, Trần Thiếu Bảo.. làm gì trong tờ Nhân Văn? Lần đầu tiên Lê Đạt trả lời công khai về những sự kiện này.</p>
<p><b>Thụy Khuê:</b> <i>Thưa anh, có thể nói giai đoạn thứ nhì của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm bắt đầu từ sự ra đời của tờ Nhân Văn, vậy thưa anh, báo Nhân Văn đã ra đời trong hoàn cảnh nào, ở thời điểm nào và do ai chủ xướng?</i></p>
<p><b>Lê Đạt:</b> Tháng 5 năm 1956, bắt đầu ở Trung Quốc có phong trào Trăm Hoa Đua Nở thì ở Việt Nam cũng bắt đầu có cuộc học tập văn nghệ về vấn đề dân chủ. Trong cuộc học tập này, anh em phê phán văn nghệ rất nhiều, trong đó nổi bật lên vai trò của anh Nguyễn Hữu Đang. Và tôi phải nói về anh Đang như thế này: Anh Đang là người hoạt động lâu năm ở trong Đảng, nhưng đã từ lâu &#8211; hình như có cái gì không bằng lòng mà trong danh từ của chúng tôi người ta thường gọi là &#8220;bất mãn&#8221; &#8211; anh không hoạt động nữa. Lúc bấy giờ Nguyễn Huy Tưởng có đón anh ấy ra để làm báo Văn Nghệ, cùng với tôi. Trong buổi học tập văn nghệ đó, anh Đang có đọc một bài tham luận rất hùng hồn về những sai lầm của lãnh đạo văn nghệ. Lúc đó Đang có nói một câu với Nguyễn Đình Thi &#8211; Nguyễn Đình Thi lúc ấy là một trong những người chịu trách nhiệm tờ Văn Nghệ &#8211; Đang nói rằng: &#8220;Thế nào tao cũng ra một tờ báo, tờ báo chưa biết tên là gì, tao thì không làm được nhưng để cho bọn Giai Phẩm Mùa Xuân nó làm&#8221;. Đó là lời nói của Đang như thế. Trong tất cả các anh em Giai Phẩm Mùa Xuân chỉ có tôi là biết Đang thôi, nhưng do việc họp văn nghệ như thế thì Đang cũng dần dần biết anh em chúng tôi nhiều hơn, tiếp xúc với nhóm Giai Phẩm Mùa Xuân nhiều hơn, nhưng Đang cũng chỉ thân với tôi thôi. Thế còn Trần Dần, Văn Cao, và các anh em&#8230; cũng không thân gì với Đang lắm.</p>
<p>Đang nói với tôi: &#8220;Thế nào cũng phải ra báo và ra báo thì chắc là tụi mày phải làm thôi.&#8221; Vì tình hình Trung Quốc họ làm như thế, cho nên ở Việt Nam cũng có cởi mở hơn về vấn đề dân chủ, tháng 9 năm 1956, cho tái bản Giai Phẩm Mùa Xuân. Như thế bước đầu, có thể gọi là một thắng lợi. Và trong tình hình sôi sục như thế Đang có đề nghị ra một tờ báo, tờ báo này chính là tờ Nhân Văn.</p>
<p>Tờ Nhân Văn thì không do tôi đặt ra, điều đó chắc là rõ ràng rồi. Và khi Giai Phẩm Mùa Xuân được tái bản thì lập tức nó đẻ ra một loạt những giai phẩm khác: Giai Phẩm Mùa Thu, Giai Phẩm Mùa Đông và bên phiá sinh viên, là tờ Đất Mới. Tức là lúc đó tự nó hình thành một phong trào rộng lớn của trí thức miền Bắc: Giai Phẩm Mùa Thu, Giai Phẩm Mùa Đông, Đất Mới&#8230; Vì người ta tôn trọng Giai Phẩm Mùa Xuân mà thực tế cũng là thế, nên người ta vẫn cho rằng, chính cái gốc của tất cả những giai phẩm này cũng như của Đất Mới là Giai Phẩm Mùa Xuân. Lúc đó, anh Minh Đức có nói với tôi rằng: &#8220;Hay là bây giờ anh chịu trách nhiệm Tổng biên tập tất cả các giai phẩm này&#8221;, thì tôi nói: &#8220;Tôi bận quá, tôi không thể làm được&#8221;. Sau đó các anh ấy làm với nhau thôi, chắc là một phần là anh Đang, một phần là các anh ấy làm, tôi không làm.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Thưa anh, tất cả các Giai Phẩm Mùa Xuân, Mùa Thu, Đất Mới,&#8230; này ra đời, là một hiện tượng bột phát hay là có sự bàn bạc chung giữa các anh chị em tham gia phong trào Nhân Văn Giai Phẩm?</i></p>
<p><b>L.Đ.:</b> Cái đó không phải là bàn bạc gì với nhau, nhưng mà tự nhiên nó hình thành một phong trào đòi hỏi dân chủ và cách tân văn hóa ở miền Bắc, tập trung chung quanh Giai Phẩm Mùa Xuân và nhóm Đại Học do anh Đào Duy Anh, anh Trương Tửu, anh Thảo&#8230; và tôi thấy tình hình lúc ấy bắt đầu khó khăn. Tại vì lúc nó chỉ là một tập Giai Phẩm Mùa Xuân thì được, nhưng đến khi nó trở thành phong trào rộng lớn như thế này thì chắc là phải suy nghĩ một cách kỹ lưỡng hơn. Và chúng tôi lúc đó đều mệt mỏi lắm rồi. Làm xong Giai Phẩm Mùa Xuân cũng mệt lắm, vì cũng chỉ định làm một việc ngắn hơi thôi, phải nói thật là tôi không nghĩ đến việc dài hơi, để thành ghê gớm như thế này, tôi cũng không nghĩ như thế! Nhưng đời nó vẫn thế, mình làm là một chuyện, rồi cuộc đời nó đẩy đưa mình đi. Những Giai Phẩm Mùa Thu, Mùa Đông cũng vẫn tiếp tục việc của Giai Phẩm Mùa Xuân, với những bài này, bài khác rồi chị sẽ đọc sau, trong các tài liệu&#8230; Điểm chính là phong trào đã phát triển và cái này thì đúng là có ảnh hưởng Trăm Hoa Đua Nở của Trung Quốc: Tại vì phong trào Trăm Hoa Đua Nở của Trung Quốc nó làm cho Việt Nam phải suy nghĩ về chính sách văn học nghệ thuật của mình; chắc chắn đó là có ảnh hưởng, mình không nên phủ nhận cái ảnh hưởng của người ta. Nhưng ảnh hưởng sinh ra Giai Phẩm thì không có, tôi muốn nhấn mạnh ở chỗ ấy.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Thưa anh, tóm lại Giai Phẩm Mùa Xuân ra đời vào tháng giêng năm 1956, sau đó bị tịch thu; nhờ có phong trào Trăm Hoa Đua Nở ở Trung Quốc mà tháng 9/1956, Giai Phẩm Mùa Xuân được tái bản, đồng thời có thêm Giai Phẩm Mùa Thu, Giai Phẩm Mùa Đông, Đất Mới và tờ Nhân Văn. Xin anh nói về sự thành lập tờ Nhân Văn như thế nào và ban biên tập có những ai?</i></p>
<p><b>L.Đ.:</b> Xong Giai Phẩm Mùa Xuân thì tình trạng anh em, phải nói như thế này: Bấy giờ anh Dần mới sinh cháu thứ nhất tức là cháu Kha bây giờ và tôi cũng bắt đầu lập gia đình thành ra chúng tôi đều có những lo lắng mới cả. Mà trong anh em thì cũng có nhận định như thế này: Vai trò của mình như thế cũng là xong, mình làm xong Giai Phẩm Mùa Xuân rồi thì cũng có thể nghỉ được.</p>
<p>Đến lúc ra báo Nhân Văn, cũng lại có nhiều khó khăn lắm: Anh Dần muốn trực tiếp lo chuyện gia đình vì anh ấy gặp nhiều khó khăn quá: bị bắt rồi lại phải lo cho con cái. Còn tôi lúc đó, tôi cũng muốn nghỉ. Anh Đang lại không thuộc nhóm Giai Phẩm Mùa Xuân, anh Đang là một cán bộ chính trị cũ thì anh chỉ biết tôi thôi, thế còn quan hệ với các anh ở Giai Phẩm Mùa Xuân thì anh Đang lại không có. Mà các anh ở Giai Phẩm Mùa Xuân thì cũng không thích anh Đang. Rồi anh em mới quyết định thế này: Anh Cầm anh ấy đang rỗi rãi thì giao cho anh Cầm, tách anh Cầm ra để làm việc cùng với anh Đang.</p>
<p>Về số 1 Nhân Văn, nguồn gốc cái tên Nhân Văn, bây giờ kể lại, nó có hơi phức tạp, vì tôi không hiểu là ai nói đúng. Tôi chắc rằng các anh ấy cũng chẳng phải nói dối đâu nhưng mà chắc là trí nhớ của các anh không phục vụ các anh ấy một cách trung thành: Anh Cầm thì nói rằng tên Nhân Văn là do anh ấy nghĩ ra. Còn anh Đang cũng nói Nhân Văn do anh ấy nghĩ ra, thì tôi cũng không hiểu như thế nào, nhưng có một điều khẳng định là tôi không nghĩ ra cái tên tờ Nhân Văn ấy. Cái ấy thì rõ. Còn việc ấy cứ để các anh tĩnh trí nghĩ lại. Mà tôi thấy việc ấy cũng chẳng đáng gì (cười). Nhưng sau, thấy tờ Nhân Văn lung tung quá, nhiều người đến, những nhà xuất bản ở nhiều nơi cũng đến ủng hộ tiền nong, mọi thứ, nhiều quá. Tự nhiên trở thành một phong trào rất to. Lúc ấy, các anh Giai Phẩm mới nói: &#8220;Thế này thì chắc là Lê Đạt phải vào rồi&#8221;, tại vì các anh vẫn nghĩ rằng tôi là người có cái nhìn quán xuyến, còn Cầm thì chắc là không làm xuể. Anh em nói thế, thì tôi cũng đành vào thôi. Vào một cái, thì anh Đang đặt luôn vấn đề: &#8220;Cậu phụ trách nhé!&#8221; Tôi nói rằng: &#8220;Cậu là đảng viên mà cậu đã thôi sinh hoạt, cậu còn chẳng phụ trách, mình là đảng viên đang sinh hoạt thì mình phụ trách thế nào được? Mình tham gia với cậu thế cũng là quá rồi còn gì, cậu đã biết kỷ luật của Đảng như thế, thì làm sao tham gia được?&#8221; Sau hai anh em bàn với nhau &#8211; thì sáng kiến này là của Đang &#8211; Đang bảo: &#8220;Hay là mời cụ Phan Khôi?&#8221; Mà cụ Phan Khôi cũng lại không thân gì với Đang lắm. Thế là anh Hoàng Cầm đến mời cụ Phan Khôi. Thì Phan Khôi khẳng khái nhận lời ngay. Sau đó vì cụ Phan Khôi với tôi vốn có những quan hệ đặc biệt và cụ vốn biết tôi là người phụ trách chính trong tờ báo, thì tôi phải đến gặp cụ ấy. Tôi có nói với cụ Phan Khôi rằng: &#8220;Tôi phải nói thật với bác, tổ chức của báo thì nó không như một tờ báo chính thống đâu, nó lung tung lắm, cho nên tôi không thể nào đem tất cả các bài đến để cho bác duyệt được, với tư cách bác là chủ nhiệm tờ báo.&#8221; Thế là ông Phan Khôi trợn mắt lên, nhìn tôi và nói rằng: &#8220;Ông buồn cười thật! Tôi đứng ra là tôi chịu trách nhiệm chứ, thế còn tôi tín nhiệm các ông, các ông làm, chứ tôi, làm sao tôi làm được!&#8221; Riêng việc ấy tôi rất phục ông. Tôi rất trọng thái độ của Phan Khôi. Mặc dầu ông Phan Khôi không có lãnh đạo trực tiếp gì tờ Nhân Văn cả nhưng trong thâm tâm tôi, bao giờ tôi cũng coi ông là người lãnh đạo tờ Nhân Văn. Do thái độ tự trọng của ông ấy. Một thái độ tốt của ông như thế. Chứ còn báo chí cứ nói rằng ông Phan Khôi lãnh đạo Nhân Văn thì quả thật ông Phan Khôi không làm gì trong tờ Nhân Văn cả, cái đó là rõ ràng. Nhưng mà nguyên cái việc một người dám đứng lên chịu trách nhiệm một việc tầy đình như thế, thì việc ấy đáng phải đề cao mới được. Nhưng mà cái gì phải rõ ràng: Ông Phan Khôi không dính gì đến công việc hàng ngày của báo Nhân Văn cả. Chỉ lúc nào có việc gì lớn lắm tôi mới nói với ông ấy thôi, còn công việc là do chúng tôi làm cả.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Nhưng thưa anh, tờ Nhân Văn số 1 có đăng bài Phê bình lãnh đạo văn nghệ của Phan Khôi, thì bài này cũng mạnh lắm chứ ạ? (thật ra bài Phê bình lãnh đạo văn nghệ của Phan Khôi đăng ở Giai Phẩm Mùa Thu tập I)</i></p>
<p><b>L.Đ.:</b> Vâng, ông Phan Khôi, đó là ông ấy chịu trách nhiệm về bài viết của ông ấy thôi. Ông Phan Khôi từ xưa đến nay vốn là người viết văn thì ai cũng biết là ông ấy nói rất mạnh mà ông nói thì không bao giờ ông ấy rụt tay rồi. Nhưng mà, tôi nói thế này: ở trong tờ Nhân Văn số 1, có một bài của ông Phan Khôi, một bài của Hoàng Cầm nói về Trần Dần và một bài thơ Tự tử của tôi đăng như bài xã luận. Đó là ba bài sau này gây nhiều tiếng vang nhất ở Hà Nội đó. Nhất là cái bài Những người tự tử. Tôi nói thế không phải để hạ thấp vai trò của ông Phan Khôi mà tôi nói thế là tôi đề cao vai trò của ông Phan Khôi rất ghê, nhưng mà đồng thời mình cũng phải rõ ràng, không nên có những lẫn lộn trong những người làm việc, chắc là chị hiểu ý tôi chứ?</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Dạ, thưa anh còn một người nữa mà trong cuốn sách Bọn Nhân Văn Giai Phẩm trước tòa án dư luận của Nxb Sự Thật in năm 1959, thì họ coi đó là một trong những thủ phạm rất nguy hiểm, đó là chị Thụy An. Theo anh vai trò của chị Thụy An trong phong trào Nhân Văn Giai Phẩm là như thế nào? Bởi vì cho đến nay thì mỗi người nói một cách khác nhau, thí dụ như anh Nguyễn Hữu Đang thì anh bảo: bà ấy không thuộc phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, vậy theo anh, chị Thụy An đã làm gì trong phong trào Nhân Văn Giai Phẩm?</i></p>
<p><b>L.Đ.:</b> Tôi phải đính chính một điểm mà mọi người đều hiểu lầm: Chị Thụy An chưa bao giờ ở trong Nhân Văn Giai Phẩm cả, đó là dứt khoát. Tại vì khi tôi thay mặt anh em làm Nhân Văn Giai Phẩm, thì tôi có đề ra mấy nguyên tắc mà tôi cho là rất nghiêm khắc: Một là, tất cả những người viết cho Nhân Văn Giai Phẩm phải đều là những người kháng chiến trở về. Lẽ dĩ nhiên là không phải mình phân biệt đối xử gì giữa anh em kháng chiến với anh em trong thành đâu, nhưng vấn đề Nhân Văn nó là vấn đề nguy hiểm, nếu có anh em trong thành viết, người ta sẽ dễ gây những lẫn lộn lắm. Hai là, không được nhận bất cứ số tiền nào của tất cả các nhà xuất bản. Tại vì lúc đó các nhà xuất bản đến ủng hộ tiền rất nhiều. Lẽ dĩ nhiên chị Thụy An là bạn của tôi mà tôi rất kính trọng nhưng chị Thụy An là người ở trong thành.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Thưa anh, anh vừa nói là các anh không lấy tiền của bất cứ nhà xuất bản nào muốn giúp đỡ Nhân Văn, như vậy anh Trần Thiếu Bảo, chủ nhà xuất bản Minh Đức phải là một người nhiều tiền lắm thì mới có thể bỏ ra để in Nhân Văn, Giai Phẩm và các tờ báo khác?</i></p>
<p><b>L.Đ.:</b> Đó là một sự lầm lẫn. Anh Trần Thiếu Bảo cũng không có nhiều tiền gì cả. Anh ta cũng là người tháo vát thôi. Mà anh ta từ kháng chiến về, Trần Thiếu Bảo chỉ có cái vỏ thôi, chứ Trần Thiếu Bảo làm gì có tiền! (cười). Nếu anh ấy có tiền thì anh ấy đã bị đi tù nhiều rồi. Anh ấy có một xu nào đâu! (cười). Nhưng mà anh này giỏi lắm, anh ấy đi mua giấy, mua chịu, việc nhà in anh ấy rất giỏi. Hơn nữa anh Trần Thiếu Bảo là một nhà in ở kháng chiến về. Việc quản trị tờ Nhân Văn là do anh Đang lo, tôi không có thì giờ lo việc ấy lắm nhưng mà thế này: nói chung là chúng tôi đều mua chịu giấy báo và sau đó thì hoặc là anh em vay nợ để mua giấy báo và in chịu và bán xong thì lại giả nợ. Đó là mình không lấy tiền nhưng mình lấy sự ủng hộ. Và cái việc ấy phải nói đến vai trò của anh Đang. Anh Đang là trước anh ấy hoạt động ở giới văn hóa trong nội thành, cho nên anh ấy quen rất nhiều những người làm văn hóa và những cơ sở in ấn ở nội thành. Đó là nguyên tắc đề ra thế, còn có vi phạm hay không thì cái đó tôi cũng chưa được kiểm tra một cách rõ rệt lắm.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Thưa anh bây giờ trở lại câu chuyện chị Thụy An một chút. Thưa anh người ta buộc chị Thụy An vào những tội gì?</i></p>
<p><b>L.Đ.:</b> Tôi nhắc lại một lần nữa là chị Thụy An chưa bao giờ ở trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm cả. Nhưng chị Thụy An rất thân với anh em trong Nhân Văn Giai Phẩm và đặc biệt là thân với tôi. Người ta buộc tội chị Thụy An, người ta cứ buộc tội mập mờ thế thôi, nhưng tội chính của chị Thụy An là thế này: Là gián điệp cài lại để lũng đoạn nhóm Nhân Văn Giai Phẩm. Nhưng cho đến khi tôi biết thì tôi cũng chẳng thấy chị ấy viết bài nào cho Nhân Văn Giai Phẩm cả. Thế mà chị ấy đối với tôi thì lại rất quý, chị ấy luôn luôn mua đồ đạc cho tôi, cho vợ con tôi, và tôi cũng chẳng thấy chị ấy bàn với tôi về việc viết một bài nào cho Nhân Văn Giai Phẩm cả. Thế cho nên việc ấy tôi cho cũng là một cái oan rất lớn.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Người ta buộc tội chị ấy là gián điệp, nhưng theo anh, anh rất thân với chị ấy thì anh thấy chị ấy có là gián điệp không?</i></p>
<p><b>L.Đ.:</b> Tôi có thể bảo đảm 100% chị ấy không phải là gián điệp. Tại vì thế này: Nếu là gián điệp thì phải có chứng cớ chứ! Chị nhận tiền của ai? Nhận tiền ở đâu? Liên lạc với ai? Cho đến bây giờ tôi vẫn thấy đó là một câu hỏi mà nhà nước chưa trả lời tôi được. Chưa có chứng cớ thì làm sao có thể kết luận người ta là gián điệp được. Thì cứ cho tôi là người mù mờ đi, tôi bị chị mua chuộc đi. Tôi nhớ lại tất cả cuộc đời của tôi, thì chị ấy chưa mua chuộc tôi lần nào cả. Và chị ấy chỉ giúp đỡ tôi rất nhiều. Cho nên đến bây giờ tôi thấy là: Riêng về trường hợp chị Thụy An, tôi vẫn rất ân hận. Tại vì chúng tôi đã được phục hồi nhưng chị Thụy An chưa được phục hồi gì cả. Mà một trong những tội lớn nhất của chị ấy là mua chuộc tôi. Thì như các bạn đã biết, tôi chưa từng cảm thấy bị mua chuộc mà chắc cũng chưa ai mua chuộc được tôi. Cho nên tôi thấy riêng tôi bây giờ nói những dòng này, tôi vẫn khao khát và thiết tha có một dịp nào đó, người ta phục hồi chị Thụy An một cách chính thức. Không có thì riêng tôi, tôi đối với chị Thụy An, tôi vẫn cho là món nợ. Còn về chị Thụy An, tôi phải nói thế này: Chị Thụy An là một người rất giỏi. Chị ấy là một trong những cây bút nữ đầu tiên của Việt Nam. Mà theo tôi, chị Thụy An nói kín hở cho tôi biết, thì chị ấy đã từng tham gia kháng chiến! Việc liên lạc với kháng chiến trong thời ấy thì mình mất mối là chuyện bình thường, mà mất mối thì mình không thể chứng minh được. Bây giờ cũng đã lâu rồi, đã gần 50 năm rồi. Tôi thấy chúng ta có thể mở những kho tài liệu ra để buộc tội hoặc minh oan cho một người cho rõ ràng và khi mình đặt rõ ràng về phận vị rồi thì mình phải trả lại danh dự cho người ta. Và lúc đó chúng ta hãy bàn đến vấn đề chị Thụy An đóng góp gì trong cái phong trào thời ấy. Lúc đó chúng ta có dủ bình tĩnh hơn để bàn về vấn đề này. Riêng tôi thì không bao giờ tôi quên công của chị Thụy An đối với tôi cả.</p>
<p><b>III. Nội dung báo Nhân Văn và sự đình bản tờ Nhân Văn</b></p>
<p>Ba &#8220;điểm nóng&#8221; trong tờ Nhân Văn số 1: Bức tranh Nguyễn Sáng vẽ Trần Dần với vết sẹo cứa cổ, bài &#8220;Con người Trần Dần&#8221; của Hoàng Cầm và bài thơ dài &#8220;Nhân câu chuyện mấy người tự tử&#8221; của Lê Đạt đăng trọn một trang báo lớn. Đó là ba yếu tố sau này trở thành biểu tượng của tờ Nhân Văn số 1. Một mặt khác, Nhân Văn còn có những bài xã luận chính trị, đòi hỏi tự do dân chủ, ký tên Người Quan Sát. Vậy Người Quan Sát là ai? Nguyễn Hữu Đang và Lê Đạt là hai thành viên của Nhân Văn bị buộc tội nặng nhất, trong một bản cáo trạng, người ta xác định Lê Đạt như sau:&#8221;Là một người chủ chốt của báo Nhân Văn, tham mưu cho cả tờ báo, tự tay sửa chữa nhiều bài, đả kích chế độ ta rất là cay độc&#8221;. Hôm nay, nhà thơ Lê Đạt sẽ nói rõ vai trò của ông và Nguyễn Hữu Đang trong tờ Nhân Văn và lý do nào đã khiến Nhân Văn bị đóng cửa.</p>
<p><b>Thụy Khuê:</b> <i>Thưa anh, khi báo Nhân Văn số 1 ra đời thì dư luận công chúng đã đón nhận nó như thế nào?</i></p>
<p>Lê Đạt: Đời tôi thì chưa bao giờ tôi thấy một tờ báo mà được hoan nghênh như thế. Tức là khi số 1 Nhân Văn, từ nhà in Xuân Thu ra đến Nhà Hát Lớn, vào khoảng độ gần 2 cây số, thì có khi người bán báo phải đi đi về về đến 10 lần để lấy báo, tại vì hết ngay và người ta chen ra đường người ta mua, thậm chí người ta đưa tiền ra mà không ai lấy tiền trả lại cả! Lúc đó tôi đứng đấy tôi nhìn thì tôi mới thấy đúng là &#8220;ngày hội của quần chúng&#8221;, không biết ngày hội ấy có kéo dài nhiều không nhưng đúng là ngày hội của quần chúng thật, tức là: không thể đi được! Bản thân tôi, tôi cũng không đi được. Cứ ra thì người ta lấy hết báo, lại vào, lại cứ liên tục như thế mà chẳng phải quảng cáo gì cả. Số 1 báo Nhân Văn ấy, sau khi nó ra rồi, đi đâu tôi cũng thấy người ta nhắc lại hai câu thơ của tôi:</p>
<p><i>Đem bục công an đặt giữa trái tim người</i></p>
<p><i>Bắt tình cảm ngược xuôi theo đúng luật đi đường nhà nước</i></p>
<p>Nhất là sinh viên ủng hộ rất nhiều. Tờ báo Nhân Văn số 1 lập tức là phải in lại sau đâu có một hai ngày gì đó. Hình như báo nhà nước lúc đó cũng chưa có chuẩn bị đối phó trước một hiện tượng đột ngột như thế, sau này, sự đối phó đến sau, thì lúc đó tất cả các báo, nhất là báo Nhân Dân, thường xuyên phản pháo. Ở trên báo Nhân Dân đã đành, còn các đoàn thể đều học tập vấn đề Nhân Văn cả. Nhưng vì lúc đó tình hình bên Trung Quốc vẫn chưa có gì xẩy ra cả, người ta vẫn trăm hoa đua nở, người ta vẫn trăm nhà đua tiếng thành ra ở Việt Nam vẫn vừa nghe ngóng mà cũng thấy rằng bên Trung Quốc chưa động tĩnh gì cho nên vẫn tiếp tục để cho tờ Nhân Văn ra đời.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Thưa anh, anh và anh Đang bị kết tội khá nặng nề về tờ Nhân Văn, người ta coi anh là một cột trụ. Vậy xin anh cho biết thật rõ anh đã làm gì trong tờ Nhân Văn, về vai trò của anh và anh Nguyễn Hữu Đang.</i></p>
<p><b>L.Đ.:</b> Đến số sau thì tình hình càng ngày càng phức tạp, lúc đó không thể nào dừng lại ở vấn đề văn nghệ được nữa; tại vì tình hình đấu tranh ở Đông Âu đang nổi lên, thì Nhân Văn phải có ý kiến. Thế là chúng tôi phải ra hẳn một số về Ba Lan &#8211; Hung Ga Ri và ra hẳn một số về Ba Lan. Những số đó tôi phải làm hết sức vất vả. Bây giờ tôi phải nói cái việc tôi làm trong báo Nhân Văn: tại vì tôi phải chịu trách nhiệm với anh em Giai Phẩm, là phải lo về phần chính trị của báo Nhân Văn. Mà ở trong cái chính trị ấy thì phải chú ý đến nhất bài xã luận của anh Nguyễn Hữu Đang. Tôi không hiểu anh Đang nghĩ gì, nhưng anh Đang có cách làm việc rất đặc biệt và tôi thấy chưa ai làm việc như thế cả, tức là anh ấy viết bài xã luận thì anh ấy viết rất lâu, mà mỗi lần anh đưa đến nhà báo cho tôi thì anh ấy chỉ đưa một đoạn thôi, đến giờ chót in báo thì anh ấy mới đưa đoạn cuối cùng. Tôi không biết anh ấy nghĩ gì, nhưng anh ấy nói rằng: &#8220;Moa viết vội lắm, moa viết khó lắm.&#8221; Vì thế đêm nào in báo tôi cũng phải thức để đợi xem câu chót của bài xã luận anh ấy như thế nào, thành ra rất vất vả. Mà anh em cãi nhau ở nhà in rất nhiều, và không thể làm thế nào được tại vì cách làm việc của anh ấy như thế thì tôi cũng phải chịu thôi. Thế đến số Ba lan &#8211; Hung ga ri thì Đảng và nhà nước đã khó chịu lắm rồi. Cái bài nói về bài học Ba lan Hung ga ri tuy ký tên là Người Quan Sát nhưng chính là tôi viết. Tại vì tôi với Đang đều ký tên là Người Quan Sát cả, nhưng về hai bài ấy, anh Đang có nói: &#8220;Toa viết thì toa phải nhận&#8221;, vậy tôi xin chính thức nhận ở đây! (cười).</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Trong hai bài đó anh đã viết những gì?</i></p>
<p><b>L.Đ.:</b> Lúc bấy giờ quan niệm của Đảng cũng như của phe Cộng Sản là như thế này: Bọn Mỹ và bọn phản động nó kích động thì mới xẩy ra cái vụ Ba lan &#8211; Hung ga ri, thì tôi có nói đại ý rằng: &#8220;Cái đó không phải, tức là xuất phát tự ta, ta bậy quá cho nên tụi kia nó mới nhúng vào được, chứ nếu ta tử tế thì không việc gì nó nhúng vào được cả. Cho nên, việc thứ nhất ta không nên sợ vì chúng nó can thiệp mà ta không chỉnh đốn việc của ta&#8221;. Đó là việc mà mọi người trong các báo chính thức rất khó chịu và họ vẫn cho tôi là lẫn lộn ta địch. Nhất là bấy giờ đại sứ Ba lan cũng viết thư phản đối tôi, nói là: &#8220;Ông lẫn lộn giữa Ba lan và Hung ga ri. Hung ga ri khác, Ba lan khác.&#8221; Cho nên tình hình lúc đó phức tạp lắm chứ không phải là đơn giản. Nhưng đến bây giờ tôi cũng không thay đổi ý kiến: &#8220;Nếu mình không làm bậy thì đế quốc và những thế lực thù địch cũng không làm gì được cả. Bậy là chính tự ta&#8221;. Đấy tôi xin trả lời chị tóm tắt bài tôi viết như thế, tức là đi ngược lại với nhận định của Đảng lúc bấy giờ.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Thưa anh, báo Nhân Văn số 6 là số đưa đến sự đóng cửa của tờ Nhân Văn, vậy bài gì trong số 6 đã đưa đến cơ sự này? (thật ra là số 5).</i></p>
<p><b>L.Đ.:</b> Số 6 thì thế này. Số 6 thì anh Đang cũng như thường lệ, anh ấy vẫn đưa cho tôi từng mẩu một. Tôi có xem đến các chỗ, kể cả biểu tình, nhất là cái quyền được biểu tình thì tôi có xem kỹ lại. Về vấn đề biểu tình ấy tôi thấy là cái quyền biểu tình cũng đơn giản thôi: vì trong các nước xã hội Cộng Hòa thì bao giờ cũng có biểu tình, quyền biểu tình là bình thường. Tôi xem kỹ lại và tôi hỏi Đang: &#8220;Ông viết thế này, ông đã nghĩ kỹ chưa?&#8221; Thì Đang đưa cho tôi xem bản hiến pháp Trung Quốc, tôi cũng thấy là đúng có những chữ ấy thật, mà lúc đó cũng vội quá, tôi không kịp nghĩ đến một ẩn ý gì của anh Đang, và tôi cũng không biết anh ấy có ẩn ý hay không. Cái đó chỉ có anh Đang biết thôi, mình làm báo thì mình chỉ xem nếu không có lỗi gì thì mình phải cho thông qua. Và tôi cũng đồng ý cho thông qua bài xã luận ấy. Thế nhưng cái bài xã luận ấy khi đang in sous presse thì bị ách lại. Và ở trên nói rằng Nguyễn Hữu Đang hô hào biểu tình. Lúc đó, riêng tôi, tôi phản đối ý kiến đó, đấy là mình đang nói về hiến pháp Trung Quốc cơ mà, chứ có phải mình nói đến vấn đề chung chung đâu. Mà bây giờ, không nói về ý định tác giả, cái ý định của tác giả thì biết thế nào được; nhưng trên giấy trắng mực đen, tôi chưa thấy có gì chứng tỏ Nguyễn Hữu Đang hô hào biểu tình cả.</p>
<p>Và tờ báo ấy, chính bị ngừng lại là vì câu của Nguyễn Hữu Đang viết trong bài xã luận.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Anh còn nhớ câu anh Đang viết trong bài xã luận ấy là câu gì không?</i></p>
<p><b>L.Đ.:</b> Tôi không nhớ, nhưng mà thế này này: Chu Ân Lai có nói rằng: Hiến pháp Trung Quốc công nhận quyền tự do, dân chủ rộng rãi của nhân dân, kể cả quyền biểu tình. Thì tôi xem lại hiến pháp Trung Quốc cũng có thật, mà Chu Ân Lai cũng có nói thật, nhưng mà không biết cái ẩn ý như thế nào. Lúc đó, một là, tôi vội quá, tại vì bao giờ tôi cũng cập rập. Hai là, có khi anh Đang anh ấy vô tình cũng nên. Mình không nên đổ tội cho người ta một cách không có bằng cớ gì cả. Thế thì sau đó là bị ách lại ngay. Và tôi thấy tất cả các nơi đã bắt đầu nói rằng: Tờ Nhân Văn công khai hô hào nhân dân biểu tình. Lúc ấy tôi cũng phản đối rất ghê. Như thế là tờ báo ra được 5 số, tức là đời sống của nó cũng chỉ có độ ba, bốn tháng thôi nhưng nó đã để lại một ấn tượng rất lớn trong đời sống văn hóa của nhân dân Việt Nam.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Thưa anh, tóm lại tờ Nhân Văn bị đóng cửa chỉ vì bài viết của anh Nguyễn Hữu Đang hay là còn có những lý do gì khác nữa?</i></p>
<p><b>L.Đ.:</b> Theo tôi bài của anh Nguyễn Hữu Đang chỉ là cái cớ thôi, chứ còn người ta định đóng tờ Nhân Văn từ lâu rồi. Nhưng nếu anh Đang không có chủ ý gì, thì riêng việc đó, theo tôi, viết báo như thế cũng là một sơ hở. Bao giờ người ta cũng căn cứ vào cái sơ hở người ta đánh thôi, chứ còn người ta đã định từ lâu rồi. Sau tờ báo, cũng chả có ai biểu tình gì cả; vì thế tôi cũng cho là cái cớ thôi. Người ta đã định đoạt số phận của tờ này từ lâu lắm rồi. Tôi thấy tất cả các công đoàn, tất cả các cơ quan đều học tập về báo Nhân Văn từ trước khi người ta đóng cửa cơ mà, và mọi người đều nói tờ báo đó là phản động.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Thưa anh như vậy là trong lúc anh làm tờ Nhân Văn anh còn làm cả tờ Văn Nghệ nữa?</i></p>
<p><b>L.Đ.:</b> Vâng, tôi vẫn làm tờ Văn Nghệ. Và cái điểm này tôi muốn nói với chị một chuyện hơi buồn cười mà nó cũng không ra gì. Tức là khi đưa tờ Nhân Văn ra quảng cáo ở ngoài đường &#8211; Đang thì bao giờ cũng thích quảng cáo &#8211; tôi có nói rằng: &#8220;Không thể quảng cáo tên tôi được&#8221;. Mà họ quảng cáo tên tôi ầm lên ở ngoài đường. Tôi bảo Đang: &#8220;Tại sao cậu lại không tuân thủ &#8230; &#8221; Thì Đang nói: &#8220;Thế thì tao xóa đi vậy&#8221;. Nó xóa nham nhở (cười). Vẫn còn tên tôi ở ngoài đường (cười). Thế là hôm ấy tôi đến, có cả Chế Lan Viên, có Nguyễn Công Hoan, có Bùi Hiển&#8230; đứng ở 51 Trần Hưng Đạo, trụ sở hội Văn Nghệ đó, tôi đi vào, Chế Lan Viên gọi: &#8220;Lê Đạt vào đây.&#8221; Tôi vừa vào, Chế Lan Viên bảo: &#8220;Mày đứng đằng sau mày lãnh đạo tờ Nhân Văn phải không?&#8221; Tôi bảo: &#8220;Không, nó xóa tên tao rồi.&#8221; Chế Lan Viên bảo: &#8220;Nó xóa tên mày mà nó đăng bài thơ của mày cả một trang báo à?&#8221; Chế Lan Viên vốn là người thô lỗ, chửi luôn: &#8220;Tiên sư thằng nào lãnh đạo mà giấu mặt&#8221; (cười). Đấy, chị thấy không khí rất căng thẳng. Căng thẳng lắm. Nhưng mà tôi vẫn bình thường, công việc tôi, tôi vẫn làm. Nhưng anh em khó chịu với tôi lắm, ở cái hội nghị Đảng nào, người ta cũng nêu tên tôi, tôi trở thành một phần tử indésirable. Nhưng người ta cũng chưa có gì cụ thể đối với tôi cả. Đến khi Nhân Văn bị cấm rồi, thì ở bên Trung Quốc người ta vẫn tiếp tục phong trào dân chủ, lúc ấy, Đảng và nhà nước thấy rằng: Cho là cái Nhân Văn Giai Phẩm nó quá đáng đi, thì đóng cửa lại, nhưng bây giờ cũng phải thu xếp sao cho nó ổn thỏa. Và như thế là tôi không làm báo Văn Nghệ nữa, về Hội Nhà Văn làm đối ngoại. Trần Dần cũng đã ra khỏi quân đội rồi, về Hội Nhà Văn làm ban sáng tác. Mà nó lại buồn cười thế này: Khi thành lập Hội Nhà Văn ấy, vào tháng 4 năm 1957, thì khi bầu ban chấp hành &#8211; lẽ dĩ nhiên là ban chấp hành cũng không có quyền gì &#8211; lại có cả Hoàng Cầm, Hoàng Tích Linh mà ai cũng biết là có tham gia Nhân Văn, như thế để biết là, lúc ấy, ở trên cũng chưa có một chủ trương nào dứt khoát cả, vì họ còn mở rộng để cho Hoàng Cầm và Hoàng Tích Linh vào ban chấp hành cơ mà. Thì đủ biết rằng lúc ấy chưa có chủ trương đánh đấm gì dứt khoát cả, hình như họ vẫn muốn là: thôi, bây giờ đoàn kết nhau lại để làm được một cái gì đó tốt đẹp hơn, thì cái Hội Nhà Văn này sẽ ra đời tờ báo Văn đó.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Có phải vì Đảng bắt đóng cửa tờ Nhân Văn cho nên Đảng cho ra tờ báo Văn để thay thế tờ Nhân Văn, có phải như vậy không thưa anh?</i></p>
<p><b>L.Đ.:</b> Không, không, cái đó không phải chị ạ. Để tôi nói rõ ràng, cái đó không phải đâu. Đảng &#8211; chị nghĩ hơi phức tạp quá và hơi tế nhị quá &#8211; chắc là Đảng không có những bận tâm phức tạp và tế nhị như thế. Tức là sau đó thì tờ Nhân Văn bị cấm. Nhưng chị nhớ là lúc đó ở bên Trung Quốc vẫn tiếp tục phong trào Trăm Hoa Đua Nở, Trăm Nhà Đua Tiếng. Thì tháng 4 năm 1957 có hội nghị thành lập Hội Nhà Văn, lẽ dĩ nhiên là tờ Nhân Văn bị cấm nhưng những anh em Nhân Văn thì vẫn chưa bị gì lắm. Như tôi chẳng hạn, tôi đang chịu trách nhiệm tờ Văn Nghệ thì người ta chuyển tôi sang làm ban đối ngoại của Hội Nhà Văn thôi, tức là lúc bấy giờ tôi không được dính gì đến báo chí nữa thôi chứ không có một lời phê phán nghiêm khắc gì. Thành lập Hội Nhà Văn thì Hội Nhà Văn cho ra tờ báo Văn, mặc dầu, lúc đó tôi ở Hội Nhà Văn, nhưng tôi cũng không tham gia gì vào cái tờ này cả. Tại vì thế này: Tôi thì rất không thích ông Nguyên Hồng và Nguyên Hồng cũng không thích tôi. Lúc ấy Nguyên Hồng là thư ký tòa soạn của tờ báo Văn và Tô Hoài là Tổng thư ký Hội Nhà Văn, đồng thời làm giám đốc nhà xuất bản. Thì lẽ dĩ nhiên là họ cũng chẳng cần gì đến tôi.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Thưa anh, trong tờ Văn còn có cả Nguyễn Công Hoan và Nguyễn Tuân nữa và hình như Nguyễn Tuân có viết bài gì nên tờ Văn sau đó cũng bị lôi thôi? (Thực ra thì báoVăn số 36, bị đình bản vì bài Ông Năm Chuột của Phan Khôi)</i></p>
<p><b>L.Đ.:</b> Về Nguyễn Tuân và Nguyễn Công Hoan thì phải nói như thế này: Nguyễn Công Hoan và Nguyễn Tuân thì hẩu với Tô Hoài. Mà ông Tuân thì tính ông ấy khó tính, thỉnh thoảng ông ấy hay bặc sặc, thế thôi. Thế thì, khi báo Văn ra, có một chuyện gì đó, thì cãi nhau với báo Học tập, báo Học Tập là báo của Đảng. Cãi nhau thì tôi cũng cho là bình thường thôi, Nguyễn Tuân có viết một bài trả lời trên báo Văn. Nhưng lúc đó, tình hình nó xẩy ra như thế này:</p>
<p><b>Tháng 5 năm 1957 ra báo Văn.</b></p>
<p>Cuối năm 1957 Trung Quốc đánh phái hữu, nếu tôi nhớ không lầm thì như thế. Lúc đó Đảng mới có một thái độ dứt khoát: Người ta nói rằng báo Văn như thế là hậu thân của báo Nhân Văn và như thế phải có một cuộc học tập đấu tranh để làm tuyệt hết tất cả. Tức là ở Hội Nhà Văn, tuy Nhân Văn đã chết nhưng nọc độc của Nhân Văn vẫn còn. Và rằm tháng giêng năm 1958 thì có lớp Thái Hà đấu tranh chống Nhân Văn Giai Phẩm. Tôi phải nói với chị rằng Nhân Văn Giai Phẩm đã chết từ tháng 12 năm 1956 tức là người ta đánh như thế &#8211; nói theo kiểu pháp luật &#8211; là sai, đã hồi tố, không ai đánh một việc đã xong rồi. Tức là như thế này: Tháng giêng năm 1958 tổ chức lớp Thái Hà để đấu tranh chống Nhân Văn mà số 6 Nhân Văn thì đã chết từ tháng 12 năm 1956 rồi.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Từ khi Nhân Văn bị đóng cửa đến lúc anh bị đưa ra lớp Thái Hà, trong suốt thời gian đó anh làm gì?</i></p>
<p><b>L.Đ.:</b> Khi thành lập Hội Nhà Văn thì báo Nhân Văn đã đóng cửa rồi, và thành lập Hội Nhà Văn ấy trên khẩu hiệu đoàn kết mọi người, trong đó một số anh em Nhân Văn cũ cũng tham gia, như anh Hoàng Cầm, Hoàng Tích Linh, và họ ra tờ báo Văn, thì báo Văn họ làm với nhau, chứ tôi không dính gì đến báo Văn cả, mà anh em Nhân Văn thì đã tan nát mỗi người một nơi. Và tôi phải nói với chị điều này nữa: Tháng 5-1957, khi ra tờ báo Văn thì tôi vẫn có chân trong Đảng. Đến tháng 7-1957 tôi viết một bài thơ dài tên là Cửa hàng Lê Đạt, trong lúc ấy, là giữa cao trào cải tạo tư sản miền Bắc. Bài Cửa hàng Lê Đạt chưa in thì đã có nhiều người nói lắm rồi, đi đâu người ta cũng xì xào: &#8220;Lê Đạt nó sắp sửa nổ một trái bom&#8221;. Lúc ấy, in ở nhà Xuân Thu, đang in, tôi thấy Việt Dung &#8211; là một cán bộ của sở Văn Hóa &#8211; Việt Dung bảo tôi:</p>
<p>&#8211; Sao lúc nào cậu cũng lôi thôi thế!</p>
<p>&#8211; Cái gì mà lôi thôi?</p>
<p>&#8211; Nó cấm rồi?</p>
<p>&#8211; Cấm cái gì?</p>
<p>&#8211; Thế cậu không biết à? Nó biểu tình rồi. Nó ngừng không in quyển của cậu nữa.</p>
<p>Tôi chạy xuống thì thấy bản thảo người ta cũng lấy rồi, gỡ hết cả chữ rồi, không còn gì nữa. Tức là khi đang in sous presse, thì người ta vận động công nhân -chả biết có vận động không- tự nhiên thấy công nhân đứng lên phản đối, ngừng, không in nữa, và nói rằng: &#8220;Tác phẩm này đi ngược với quyền lợi của công nhân!&#8221;</p>
<p>Sau cái Cửa hàng Lê Đạt ấy, người ta vu tôi là gì? Là giữa cao trào cải tạo tư sản mà Lê Đạt viết bài Cửa hàng Lê Đạt là tiếp tay với bọn tư sản. Lập tức người ta triệu tập tôi đến hội nghị chi bộ. Lúc này tôi chính thức bị khai trừ khỏi Đảng Cộng Sản Việt nam, tức là vào khoảng tháng 7 năm 1957.</p>
<p>Sở dĩ tôi phải nói chỗ đó cho rõ vì thế này: Lớp đấu tranh Thái Hà có hai lớp. Theo thói thường của Đảng, bao giờ họ cũng tổ chức hai lớp: Một lớp vào tháng hai, năm 1958, để chuẩn bị cho các đảng viên. Và lớp thứ hai, tháng ba, năm 1958 cho tất cả mọi người. Thái Hà là chỗ gần lăng ông Hoàng Cao Khải, đó là trường công đoàn và ở đó người ta tổ chức một lớp đấu tranh ghê gớm nhất đối với Nhân Văn Giai Phẩm. Sau này mọi người đều nhắc đến nó và gọi là lớp Thái Hà.</p>
<p><b>IV. Lớp đấu tranh Thái Hà và quyết định kỷ luật đối với Nhân Văn Giai Phẩm </b></p>
<p>Trong các tài liệu chính thức, lớp đấu tranh Thái Hà được gọi là hội nghị: &#8220;Đầu năm 1958, có hai cuộc hội nghị của anh chị em công tác văn nghệ, nghiên cứu nghị quyết của Bộ chính trị Ban chấp hành trung ương đảng Cộng Sản Việt nam, kết hợp với hai bản tuyên ngôn và tuyên bố của hội nghị các đảng Cộng Sản và các đảng công nhân họp ở Mạc Tư Khoa, cuối năm 1957. Hội nghị đầu, tháng 2 năm 1958, gồm có 172 người dự. Hội nghị sau, tháng 3 năm 1958, gồm có 304 người dự. Qua hai cuộc hội nghị ấy, tất cả những nhân vật bỉ ổi đã được phát hiện&#8221; (trích &#8220;Bọn Nhân Văn Giai Phẩm trước tòa án dư luận&#8221;, nxb Sự Thật, Hà nội, 1959, trang 309). Nhưng trong thực tế, nội dung những &#8220;hội nghị&#8221; này là gì? Lê Đạt, chứng nhân không thể loại trừ, sẽ thuật lại quang cảnh những gì đã xẩy ra.</p>
<p><b>TKê:</b> <i>Thưa anh, về mặt thực tế thì có thể nói là sau khi Trung Quốc đánh phái hữu, bên Việt Nam mới bắt đầu tổ chức lớp Thái Hà?</i></p>
<p>Lê Đạt: Cuối năm 1957, như Thụy Khuê đã biết, Trung Quốc bắt đầu đánh phái hữu thì tháng 2 năm 1958 bắt đầu tổ chức cái lớp mà người ta gọi là lớp đấu tranh Thái Hà để chống phong trào Nhân Văn Giai Phẩm. Lúc ấy Nhân Văn đã đóng cửa được gần hai năm rồi, tức là đánh là đánh lại đấy thôi. Lớp đầu tiên tổ chức cho các đảng viên, tôi không là đảng viên nữa thì dĩ nhiên là tôi không được đi học. Lớp đó có Văn Cao, Đặng Đình Hưng&#8230; tức là người ta vận động các đảng viên khác phát hiện tất cả những tội của những đảng viên tham gia Nhân Văn Giai Phẩm đã đành rồi, nhưng còn để phát hiện cả những tội của những người chưa tham gia Nhân Văn, của quần chúng, vì vậy người ta phải làm trong buổi trước.</p>
<p>Tôi thấy lớp đó đã gay go lắm rồi, vì tôi gặp Đặng Đình Hưng mà Đặng Đình Hưng không dám nói gì cả, chỉ bảo: Gay lắm! Gay lắm! Văn Cao cũng không nói gì cả, thì tôi biết là gió đã thổi mạnh lắm rồi. Hôm đó là ngày mùng 2 (tức là trước Tết Âm lịch), tôi đến Hội Nhà Văn thì tôi thấy không khí đã khác lắm. Gặp Tô Hoài thì Tô Hoài bảo: &#8220;Tí nữa tao ra tao nói chuyện với mày&#8221;. Tôi hẹn Tô Hoài ở hàng cà phê mà hai người vẫn gặp nhau, nhưng tôi đến thì Tô Hoài cũng không đến nữa, tôi biết là tình hình căng lắm rồi. Căng lắm rồi. Đến tháng ba (tức là sau Tết), năm 1958, họ tổ chức một cuộc họp rộng rãi cho tất cả những anh em Nhân Văn Giai Phẩm. Tôi phải nhắc lại với chị thế này: Không phải là chị Thụy An, anh Duy và ông Phan Khôi không chịu đi học, ở đấy người ta chia ra: Những người nào hoạt động chính trị mà người ta cho là có tính chất phản động, là những phần tử xấu thì người ta không cho đi học lớp ấy, Phan Khôi, Thụy An, Trần Duy không được học. Chỉ có những văn nghệ sĩ mà người ta cho là những người vì quan điểm lầm lạc, được Đảng chiếu cố cải tạo giúp đỡ, thì mới được đi học lớp ấy thôi. Cho nên đi học lớp ấy gay go thế cũng là một ưu tiên.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Thưa anh, trong lớp học ấy mọi người phải làm những gì?</i></p>
<p><b>L.Đ.:</b> Khi tôi đến, anh Tố Hữu có nói thế này: &#8220;Các anh làm thì sai rất nhiều, nhưng mà Đảng thấy các anh còn trẻ và đều là những người kháng chiến cả cho nên Đảng vẫn tin rằng các anh còn ở lại được hàng ngũ của kháng chiến. Nhưng ở lại hay không ở lại là tùy các anh. Đảng lúc nào cũng sẵn sàng, nhưng các anh có muốn ở lại hay không mà thôi&#8221;. Tôi chưa thấy một cuộc họp nào gay gắt như thế. Đây không phải là một cuộc học tập mà là một cuộc đấu tranh, nó khác hẳn các cuộc học tập khác. Người ta bắt đầu, trong những ngày đầu, vạch tất cả những tội của những người trong Nhân Văn Giai Phẩm, những ai nhớ được gì thì nói ra&#8230;, nó như là một cái tụi&#8230; tố cáo (cười)! Tôi kể với chị, ví dụ một chuyện: Trong một bữa ăn uống ở cuối Tết, tính Tử Phác nó vẫn hay gây gỗ với người này người khác, thì tôi có nói một câu rằng là: &#8220;Thôi, năm mới, mẹo mới.&#8221; Thế là người ta cũng mang ra cái hội nghị ấy người ta nói: &#8220;Năm mới, mẹo mới là cái gì? Mẹo mới chỉ là mẹo chống Đảng chứ gì, thì phải nói ra!&#8221; (cười). Cho nên mọi việc phức tạp vô cùng, nó gây một không khí rất căng thẳng. Nó không còn là một cuộc học tập nữa cho nên phải gọi là cuộc đấu tranh. Trong khi &#8220;học&#8221; như thế thì công an đi ra đi vào rất nhiều, mà đi một cách rõ ràng cho mình trông thấy chứ không phải người ta kín đáo gì.</p>
<p>Sau khi tất cả mọi người phát hiện các tội của Nhân Văn xong rồi, thì mới đến lượt Nhân Văn, từng người một, nhận tội. Lúc đó người ta cũng nói một cách lịch sự là tự kiểm điểm thôi. Tôi nói như thế này là để chị thấy tình hình găng như thế nào. Tức là một hôm Sỹ Ngọc đi với Nguyễn Huy Tưởng, Sỹ Ngọc nói rằng: &#8220;Như thế này tức là mình lỗi lầm nhiều quá, chắc là mình cũng không trở lại hoạt động văn nghệ được nữa đâu!&#8221; Thì Nguyễn Huy Tưởng &#8211; vốn là người tốt mà &#8211; anh ấy nói: &#8220;Không! Đấu tranh có gì sai thì ta sửa, còn anh em vẫn là anh em, nghệ thuật vẫn là nghệ thuật chứ!&#8221; Thì Nguyễn Khải đứng lên, Nguyễn Khải phản đối, Nguyễn Khải nói: &#8220;Tôi thấy quan điểm của đồng chí Nguyễn Huy Tưởng rất mơ hồ, đây không phải là cuộc đấu tranh giữa anh em nội bộ, đây là cuộc đấu tranh giữa ta và địch&#8221;. Hay là một buổi khác, vừa lên lớp một cái thì anh Võ Hồng Cương là một người trong học ủy, lên nói rằng: &#8220;Tôi phải báo cho các đồng chí biết một tin rất mừng là hôm qua đồng chí Tám Danh -đồng chí Tám Danh là một đồng chí nghệ nhân ở miền Nam-, trước thái độ ngoan cố của Lê Đạt, tức quá, đã vác búa đi tìm để đánh. Nhưng may mà học ủy phát hiện kịp thời nên đã ngăn chặn kịp thời cái hành động đó&#8221;. Cái không khí luôn luôn bị hun nóng như thế. Nhưng chúng tôi, ở đó, thì&#8230; mình nghĩ mãi cũng chẳng thấy thêm được cái tội gì cả (cười)! Bi kịch của chúng tôi lúc bấy giờ là như thế này: Không phải sợ &#8211; sợ chưa chắc đã sợ, lẽ dĩ nhiên là trong chúng tôi cũng có anh sợ, ví dụ như anh Hoàng Cầm chẳng hạn, anh ấy rất sợ, nhưng tôi, tôi chưa nghĩ đến chuyện sợ &#8211; tôi nghĩ bây giờ họ &#8220;đòi hỏi&#8221; nhiều quá mình chưa nghĩ ra cái tội nào to để cho họ có thể bằng lòng được. Mà nếu họ không bằng lòng thì không biết họ kéo mình đến bao giờ, chỗ đó là cái lo nhất của tôi. Vì kiểm điểm lại thì tôi thấy mình không có tội gì ghê gớm quá, nó có tính chất &#8230;hấp dẫn (cười) để họ không thể nào tha thứ cho mình được cả.</p>
<p>Không khí rất căng thẳng, tôi nói thế này để chị biết nó căng thẳng như thế nào: Văn Cao đã đi lớp trước rồi, lớp cho đảng viên hồi tháng 2, thì sau đó, họ cũng kéo tất cả lại để đánh tiếp: Tức là họ học tập đảng viên phát hiện quần chúng, để họ đánh, trong lớp trước, nhưng, bây giờ quần chúng lại phát hiện trở lại, để nếu có gì của đảng viên, họ lôi lại đánh tiếp luôn, chị có rõ ý tôi không? Thế thì, tôi thấy Văn Cao -hôm ấy trời nóng- Văn Cao mặc áo sơ mi to phồng thế mà sau khi nó tố những khuyết điểm của Văn Cao, tôi thấy cái áo sơ mi cứ dính dần, dính dần, dính dần&#8230; nó toát hết cả mồ hôi, nó dính như một cái áo lót cơ mà&#8230; Đấy, chị thấy không khí nó căng thẳng như thế nào.</p>
<p><b>T.K.:</b> Thưa anh, rút cục anh đã nhận những tội gì để cho họ bằng lòng?</p>
<p><b>L.Đ.:</b> Bây giờ anh làm trong tổ, tổ thông qua bài khai của anh. Bài của anh lại phải đưa ra hội trường, hội trường thông qua thì anh mới được xong. Nếu không thì anh cứ việc tiếp tục lại. Coi như xong, nhưng chưa thành khẩn, thì lại phải viết tiếp. Mình cứ phải viết tiếp, viết tiếp&#8230; mãi, mà mình chỉ có từng ấy ý thì làm sao viết thêm được mãi! Sau đó, chắc là Dần nó cũng đồng ý với tôi -lúc ấy, anh em không trao đổi được, nó theo dõi ghê lắm- là mình cứ nhận phắt cái tội &#8220;cướp cờ của ông Tố Hữu&#8221; cho nó, chắc là nó, cũng thông qua thôi. Khi tôi nói đến chỗ ấy thì mọi người bảo: Lê Đạt thì còn ngoan cố nhiều nhưng cũng được tương đối &#8220;thành khẩn&#8221; (cười). Thế là họ cho tôi nghỉ!</p>
<p>Trong lúc kiểm thảo như thế, thì người ta loan tin, người ta nói rằng: &#8220;Công an đã bắt Nguyễn Hữu Đang!&#8221; Cái anh Đang này, ông ấy cũng là người hoạt động mà sao dại dột thế! Ông lại nhờ người mang một lá thư về Hải Phòng để bố trí cho ông ấy vào Nam. Cái thằng dại dột quá! Thế là nó bắt được cái thư ấy. Vì chính người đưa thư ấy là người của công an. Thế là họ đồn ầm lên: &#8220;Sự liên hệ giữa Nhân Văn và bọn Mỹ Diệm là đã rõ ràng rồi. Nguyễn Hữu Đang trong lúc không còn đường thoát nữa, liên lạc với trong ấy và chúng ta đã bắt được Nguyễn Hữu Đang rồi, bắt vào ngày bao nhiêu, bao nhiêu&#8221; &#8230;Tất cả mọi người vỗ tay hoan hô, hoan hô&#8230; Tức là một sức ép rất ghê gớm, chị ạ.</p>
<p>Những tuần trước thì tuần nào cũng được về nhà, nhưng đến tuần cuối cùng thì không được về nhà nữa, tức là làm liên tục, ai làm xong mới được về nhà. Tôi và Dần rồi cũng làm xong cả. Trên đường ra về, anh Tố Hữu có đợi tôi ở cửa, lúc bấy giờ đã lạnh lùng lắm rồi. Anh Tố Hữu có nói với tôi thế này: &#8220;Tội của anh cũng nặng như tội Nguyễn Hữu Đang. Lẽ ra anh cũng bị đi tù. Nhưng mà Đảng vì nghĩ đến anh, chiếu cố đến anh còn trẻ, có khả năng và còn có thể giúp ích được cho đời nữa nên Đảng khoan hồng với anh thôi chưù anh- đừng- nên- nghĩ- rằng- anh- tội- nhẹ!&#8221; Đó là lời dặn dò của Tố Hữu với tôi trước khi tôi về.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Thưa anh, tóm lại cuộc đấu tranh như vậy kéo dài trong bao lâu?</i></p>
<p><b>L.Đ.:</b> Một tháng.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Và trong suốt một tháng ấy là cứ ngày nào, ngày nào cũng&#8230;</i></p>
<p><b>L.Đ.:</b> &#8230; lên phát hiện tội. Cứ phát hiện tội, tức là mình có gì thì mình báo cáo còn người ta, người ta phát hiện tội của mình. Nó là một thứ đấu tranh đấy mà. Đấu tranh rất gay gắt. Và lẽ dĩ nhiên, nói là cả lớp, nhưng người ta chỉ tập trung vào một vài người thôi, trong số đó có tôi, cho nên vất vả lắm.</p>
<p><b>T.K.:</b><i> Thưa anh, cái cách &#8220;phát hiện&#8221; ấy như thế nào? Tất cả mọi người đều viết ra giấy hay là &#8230;có nói miệng nữa?</i></p>
<p><b>L.Đ.:</b> Không! Không! Tất cả mọi người đều đứng lên phát hiện chứ. Phát hiện thì có thư ký ghi hết và bản thân mình cũng phải ghi. Rồi sau căn cứ trên cái phát hiện của người ta, mình về tổ, mình phát hiện cái khuyết điểm của mình, cái tội của mình và sau đó mình phải làm bài kiểm điểm rất dài về toàn bộ thời gian mà mình tham gia Nhân Văn. Người ta phát hiện, thế còn mình không được nói nữa. Đông Tây người ta phát hiện ầm ầm, ầm ầm, làm sao mà mình có quyền, nhất là không được cãi gì. Tôi nói một ví dụ, xin lỗi chị, ví dụ như là có một anh -bây giờ tôi không muốn nói tên- lên phát hiện tôi: &#8220;Lê Đạt là một tên rất phản động, buổi sáng nào anh ta cũng đến cơ quan, rồi anh ta xé báo Nhân Dân anh ta đi vệ sinh&#8221; (cười). Tôi không thể nói rằng: &#8220;Bấy giờ tôi không có giấy -thời ấy chưa có giấy toa-lét- thì tôi phải&#8230;&#8221; (cười). Thế là mọi người &#8220;Đả đảo! Đả đảo!&#8221; Nó cũng kỳ. Mà chị còn lạ gì tôi nữa, tôi vốn là người, không phải là người can đảm gì nhưng trong tôi vốn là người hài hước (cười) vì tôi hay cười, và vì cái cười của tôi cho nên người ta hay ghét lắm. Người ta vẫn cho tôi là người ngoan cố, cho nên người ta bảo người đi đánh là vì thế (cười).</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Thưa anh, trong không khí đấu tranh gay gắt như thế có ai bênh anh không?</i></p>
<p><b>L.Đ.:</b> Tôi vẫn quý trọng Nguyễn Huy Tưởng. Tôi nhắc lại, tháng ba (tức là sau Tết) năm 58 thì có lớp đấu tranh Thái Hà, thì mùng ba Tết năm ấy, tôi có hẹn lên ăn cơm ở nhà Tô Hoài, trên Bưởi. Lên thì lúc đó thì đã gay go lắm, tôi có gặp Nguyễn Huy Tưởng, Kim Lân, Bổng. Bổng lúc đó mặt đã lạnh lùng. Bổng nó tham gia ban lãnh đạo rồi. Mà ăn uống với nhau thì lúc đó đã làng tàng lắm rồi, chị bảo không khí lúc đó thì còn ăn uống gì nữa, mặc dầu Tô Hoài cũng làm cho ra vẻ. Thì Tưởng có nói một câu mà tôi rất cảm động. Tức là, trên đường về, Tưởng nói rằng: &#8220;Tôi thấy các ông lý luận buồn cười. Các ông lý luận thế nào chứ moa không thể tin thằng Lê Đạt nó phản động được. Nó ở với moa bao nhiêu lâu, moa còn lạ gì nó nữa, bây giờ các ông có lý luận thế nào moa cũng không thể tin là thằng Lê Đạt nó phản động được!&#8221; Thì tôi thấy, riêng về Tưởng: một là tư tưởng Tưởng rất tốt. Hai là Tưởng sau trận Nhân Văn Giai Phẩm, người nó tỉnh ngộ ra nhiều lắm. &#8220;Một thằng như thế mà anh làm sao bảo nó phản động được!&#8221; Tưởng nói như thế ngay mặt Nguyễn Văn Bổng. Và Nguyễn Văn Bổng là người trong ban lãnh đạo của cái lớp học tập ấy. Mà nói lúc bấy giờ rất nguy hiểm. Đó là con người Nguyễn Huy Tưởng mà tôi rất quý.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Thưa anh, sau lớp đấu tranh Thái Hà, thì tâm trạng của anh như thế nào? Nếu phải làm lại thì anh có dám làm Nhân Văn Giai Phẩm nữa không?</i></p>
<p><b>L.Đ.:</b> Xong, tức là người ta xác định được như thế là chúng tôi đều là những người có tội cả. Và như thế nghĩa là ở trên báo Nhân Dân, đăng tải trên một tirage rất rộng khắp nước, ở đâu người ta cũng nói đến Trần Dần &#8211; Lê Đạt là hai tên thơ phản động nhất nước. Thì như thế tự nhiên nó gây một áp lực rất ghê đối với gia đình tôi, đối với bản thân tôi. Tôi phải nói, những lúc ấy, thì ngay như là ông già tôi cũng khuyên: &#8220;Con không nên về nhà nữa&#8221;. Còn vợ tôi thì rất lo. Trong những buổi đấu tranh cuối cùng ấy, lúc nào thấy tôi không về, luôn luôn sợ là bị bắt rồi. Chị không thể tưởng tượng được là không khí căng thẳng như thế nào. Nhưng lúc đó, nói tôi sợ thì cũng không đúng, mà nói tôi không sợ thì cũng không đúng. Vì tôi nghĩ trong thâm tâm mình cũng chẳng làm gì có tội cả. Và lúc đó tôi chưa nghĩ được và chưa nghiên cứu được tất cả những vụ xử án ghê gớm của Đảng như sau này tôi nghiên cứu. Cho nên lắm lúc tôi cứ tự hỏi rằng: &#8220;Nếu mà mình nghiên cứu trước, thì không biết mình có dám làm Nhân Văn không?&#8221; Chắc là tôi cũng vẫn sẽ làm, nhưng chắc là mình làm cẩn thận hơn. Chắc là có. Tại vì lúc ấy tôi nghĩ rằng mình chẳng làm gì bậy cả. Nếu không có gì bậy, mà một cái đảng là đảng tử tế, mà lại bắt những người không làm bậy, thì không bao giờ tôi nghĩ lại có chuyện xẩy ra như thế cả. Mãi sau này, tôi mới có thời gian, tôi nghiên cứu tất cả những vụ án xử ở bên Liên Xô và cả mọi thứ, khi tôi có kinh nghiệm, thì lúc đó đã xong rồi, tôi đã làm rồi. Nhưng mà tôi chắc là nếu lúc đầu tôi biết chuyện sẽ xẩy ra như thế, thì tôi cũng sợ nhiều hơn và chắc tôi sẽ làm một cách cẩn thận hơn.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Thưa anh, sau đó các anh bị kỷ luật như thế nào ạ?</i></p>
<p><b>L.Đ.:</b> Sau đó là mọi người đã về cả, và lẽ dĩ nhiên là anh Tố Hữu trong bản tổng kết nói là: &#8220;Chúng ta đã thắng lợi. Hơn 100 anh em đi thì được 100 anh em về. Đảng như thế vẫn bao dung cho tất cả&#8221;.</p>
<p>Sau đó, theo quyết định của Hội Nhà Văn thì tôi bị khai trừ ba năm. Nặng nhất có tôi, anh Trần Dần, anh Đặng Đình Hưng, anh Tử Phác. Anh Cầm thì bị hai năm, anh Phùng Quán một năm. Lúc đó mình cũng rất ngây thơ, phải nói như thế. Mình tin là sau ba năm thì mình sẽ trở về với văn nghệ, và tôi tin là với khả năng của mình, mình có thể đuổi lại được thời kỳ đã mất, cũng chẳng đáng bao lâu. Tôi, với Trần Dần, Tử Phác về trại Chí Linh của đồng bào khu V ra ngoài này tập kết, khai hoang ở Chí Linh, anh tổ trưởng là bố của Ý Nhi, anh Hoàng Châu Ký. Đầu tiền, họ không nhận, họ nói rằng: &#8220;Chúng tôi ra ngoài này là để đấu tranh cho thống nhất chứ có phải đi giữ tù đâu!&#8221; Thế là ở trên tổ chức lại phải cử người về nói rằng: &#8220;Không! Đây cũng là những đồng chí mình, do lập trường không vững thành ra Đảng vẫn muốn cải tạo, thấy đây tổ chức tốt thì về&#8221;. Và tôi về thì tôi bị &#8211; nói như thời ấy là tôi được &#8211; được lao động một cách vất vả ngay, tức là đi chăn bò, đi khai hoang, làm tất cả mọi thứ lao động mình chưa quen, chưa quen tí nào cả. Thời ấy tôi còn trẻ lắm, tôi mới 26, 27 tuổi thôi, thành ra tôi cũng không sợ gì những thứ lao động vất vả ấy cả. Tôi chăn bò rất khá. Hình như là nông trường thấy tôi có &#8220;năng khiếu&#8221; cho nên họ cứ để tôi chăn bò mãi. Tôi có thể chăn được 30 con bò cơ mà.</p>
<p>Nhưng lúc đó thì tất cả đất nước đối với tôi đã khác rồi. Tôi không còn là người công dân bình thường của đất nước Việt Nam nữa vì đi đâu người ta cũng nói đến Trần Dần &#8211; Lê Đạt như hai người phản động. Mà vợ tôi thì rất khổ. Theo vợ tôi nói, sáng nào dậy cũng chỉ muốn chui xuống đất thôi. Tại vì bắt đầu dậy là bắt đầu học tập về Trần Dần &#8211; Lê Đạt rồi. Vợ tôi làm việc ở cơ quan, ở tập thể, lúc nào người ta cũng nói đến Trần Dần &#8211; Lê Đạt, ý của cơ quan là muốn vợ tôi phải bỏ tôi. Tôi phải nói với chị thế này: Vợ tôi là diễn viên xuất sắc nhất của Đoàn kịch nói cách mạng của Trung ương. Vợ tôi là Nguyễn Thị Thúy, mà người ta vẫn gọi một cách văn chương là Thúy Thúy. Thế Lữ này, Nguyễn Huy Tưởng này, tất cả những đạo diễn xuất sắc đều khen vợ tôi ghê lắm. Tưởng thì bốc ghê lắm, Tưởng nói là: &#8220;Cô ấy đúng là một tài năng&#8221;. Cho nên vợ tôi rất khổ. Ngày nào cũng phải kiểm điểm và thỉnh thoảng họ đến lục ba-lô xem có giấy tờ gì của Lê Đạt còn giấu ở đấy không. Mà vợ tôi nó còn trẻ, lúc ấy mới 18, 19 tuổi ấy mà. Anh của cô ấy là một thiếu tá, mà lần nào đến thăm em cũng cho liên lạc đến chứ không lần nào dám bước chân vào nhà tôi cả! Tức là nó ở trong một sự cô đơn hoàn toàn, mà chắc là tôi thì còn chịu đựng được chứ vợ tôi -tôi chắc bây giờ hỏi nó về Nhân Văn Giai Phẩm thì nó cũng chẳng biết là cái gì- cái tai vạ ụp xuống đầu nó nặng quá, lúc ấy nó chưa đến 20 tuổi đầu và đang bắt đầu vào cái nghiệp sân khấu. Như thế là riêng tôi, tôi đã làm hỏng sự nghiệp sân khấu của vợ tôi.</p>
<p><b>V. Kỷ luật</b></p>
<p><b>Thụy Khuê:</b> <i>Thưa anh, sau khi bị kỷ luật, anh đã đi lao động với một tâm trạng như thế nào?</i></p>
<p><b>Lê Đạt:</b> Lúc đầu thì mình đi, mình cũng lao động, mình cũng hăm hở. Mình hăm hở chắc là hai năm thì xong. Thế nhưng mà hai năm rồi cũng không thấy ai nói gì về vấn đề đó cả và lại tiếp tục hai năm nữa rồi dần dần nó phai nhạt đi không ai nhắc đến chuyện đó nữa. Thì thời gian disponibilité &#8211; thời gian mà phải đi, lúc nào người ta gọi đi lao động cũng được &#8211; thời gian đó kéo dài 10 năm. Lẽ dĩ nhiên là trong 10 năm ấy, không phải là lúc nào cũng đi. Người ta gọi đi, rồi người ta lại cho mình về; về rồi, họ lại kéo mình đi, nghĩa là cái thời gian 10 năm là thời gian mình phải dành cho việc đi lao động cải tạo. Thế còn sau này hết 10 năm thì ở nhà. Nhưng mà ở nhà thì&#8230; Tôi không ngờ thời gian nó kéo dài đến như thế. Như thế là nó kéo dài, cả thời kỳ đi lao động lẫn thời kỳ &#8220;cấm&#8221; là gần 40 năm chị ạ. Mình thấy nó đằng đẵng như thế mà mình coi nó như là cái số mệnh thôi.</p>
<p>Lúc bấy giờ tôi mới càng ngày càng thấy đó là một sự ghê gớm. Tôi có viết trong bài bút ký &#8220;Vào 21&#8221; ấy, là mình chẳng biết mình là người nào nữa. Mỗi người phải có cái vị trí trong xã hội, hoặc là anh là địch thì địch hẳn đi, hoặc là anh là ta thì ta hẳn đi. Nhưng tôi là tí ta, tí địch, tí cán bộ, tí tù, nó chẳng ra cái gì rõ ràng cả, mà tôi thấy nó gây nhiều ám ảnh ghê lắm chị ạ. Thí dụ một cái này để chị thấy: Khi nhà tôi về &#8220;biểu diễn&#8221;, biểu diễn thì lúc ấy nó không cho biểu diễn nữa rồi thế nhưng mà cũng phải đi, mà mang theo hai đứa con nhỏ, một đứa đã lớn, một đứa mới đẻ. Đi thì, tôi có về Hải Phòng tôi thăm, mang chứng minh thư về, nhất định nó không cho vào khách sạn, nó bảo là: &#8220;Ông phải có giấy đi công tác thì mới được vào khách sạn&#8221;. Mình là cái thằng &#8220;phản động&#8221; thì còn &#8220;công tác&#8221; gì nữa? Mà, như thế là hai người phải ngồi ghế đá ở công viên giữa đêm khuya, lúc ấy tôi có làm một câu thơ:</p>
<p><i>Hai vợ chồng ghế đá trăng suông</i></p>
<p><i>cảng cấm còi tàu u ú</i></p>
<p><i>gió oà</i></p>
<p><i>đất nước mẹ mình hay mẹ ghẻ?</i></p>
<p>Tôi không hiểu cái đất nước ấy, nó đối với tôi như thế nào? Mẹ ghẻ mình hay mẹ đẻ? Mẹ đẻ thì không đối với con cái như thế! Sau đó tôi lại đi về. Thì thấy rằng nó dằng dai mà nó hành hạ mình suốt cuộc đời như thế nào. Hoặc ví dụ, trong tôi, cũng thành cái người như lên bệnh thần kinh ấy. Tức là, đi đâu, vào một cái cơ quan nó cũng hỏi giấy. Thì công việc đầu tiên của cái anh Nhân Văn đó là phải chuẩn bị giấy tờ cho cẩn thận. Một hôm có ông dâu gia tôi, ông mời đi ăn cưới. Tôi đã đi tới nửa đường, tôi thấy mình quên không mang cái giấy cưới mình lại quay về nhà lấy cái giấy cưới để nhỡ người ta có hỏi giấy tờ thì mình đưa cho nó&#8230; cho nó&#8230; đúng (cười) &#8220;thủ tục&#8221;. Như thế cái đó nó ảnh hưởng đến con người rất ghê gớm. Và làm cho mình hèn hạ đi rất nhiều. Tôi không biết rằng là những người cầm quyền ở đất nước Việt Nam có nghĩ đến việc ấy không? Có lẽ họ chỉ nghĩ mình không tù đầy, mình để cho họ tự do như thế, thì chắc là mình không xử sự tệ hại quá đối với họ. Nhưng mà họ không biết như thế là một sự rất tệ hại, họ làm hỏng một con người. Lúc bấy giờ, nếu tôi không có một sự cưỡng lại thì tôi là một người vứt đi, thành một cái rẻ rách. Tôi cho cái việc rẻ rách hóa con người đó, chính quyền phải chịu trách nhiệm.</p>
<p><b>T.K.:</b><i> Thưa anh, trong thời gian anh đi lao động như vậy, ở nhà chị và các cháu sống như thế nào?</i></p>
<p><b>L.Đ.:</b> Lẽ dĩ nhiên là người ta phải sống thôi, nếu người ta không muốn chết. Trong những thời gian như thế, vợ tôi vẫn đi làm, vẫn có một số tiền để nuôi con, hai là nhà nước vẫn trợ cấp cho tôi một số tiền tối thiểu để tôi có thể sống được, tức là sống một cách rất vất vả. Nhà tôi vẫn là công nhân viên nhà nước thì nó không có thể đuổi ra được. Nhưng mà nó không giao cho việc gì, tức là nó bắt chạy đạo cụ này, rồi lo những phục trang&#8230; mà những việc ấy, thời xưa vợ tôi không bao giờ phải làm cả. Thế còn vai nó không giao cho nữa, còn luôn luôn bị kiểm thảo lên, kiểm thảo xuống. Mà vợ tôi không quen, bây giờ vợ tôi bị suy nhược thần kinh rất nặng.</p>
<p>Chắc lúc nào có thì giờ tôi sẽ gửi chị một bài thơ mà tôi chưa muốn chị xem bây giờ, bài &#8220;Vợ Nhân Văn&#8221;, để chị biết cảnh sống lúc đó như thế nào. Lẽ dĩ nhiên là lúc ấy ở miền Bắc ai sống cũng khổ cả chứ không phải riêng tôi, nhưng mà, phải nói thế này, nó khổ quá, đến nỗi một hôm, có nhà thơ là một anh bộ đội, thấy tôi khổ quá, anh ấy mới bảo: &#8220;Tiền thì em không thể góp cho anh được, vậy em chạy cho anh một cái thẻ thương binh&#8221;. Có thẻ thương binh thời đó thì mua gì, anh được ưu tiên trước. Mà tôi mua cái thẻ thương binh ấy cũng chẳng để mua cái gì cả, tức là, lúc bấy giờ ở gần bờ sông, cách nhà tôi vào khoảng độ hai cây số, có một cơ sở công nhân, thường thường khi họ giết tất cả những con lợn, con liếc&#8230; lòng họ ăn hết rồi, còn cái nước lòng họ bán ra; bán ra thì xếp hàng đông ghê lắm. Thế thì mình mua cái nước lòng ấy, mình về cho rau cỏ vào thì con cái nó ăn được. Sau cùng, tôi nghĩ rằng tôi cũng không dùng lậu cái thẻ thương binh ấy tại vì chính tôi cũng là một thương binh, tôi là thứ thương binh mà ta bắn thôi. Anh em thì họ cũng thương tôi, nhưng họ cũng nghèo lắm, thì họ chỉ có cách như thế này, tức là họ tìm những tài liệu cho mình dịch, dịch đủ các thứ tài liệu, tôi dịch cả về vật lý, về triết học, về cả tự động học nữa, vừa học, vừa dịch. Như thế là một năm dịch sáu tháng thì có thể sống được, tức là sống một cách vất vả.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Thưa anh, còn xã hội chung quanh thì mọi người đối với anh như thế nào?</i></p>
<p><b>L.Đ.:</b> Xã hội thì nói chung là chẳng biết trong thâm tâm họ như thế nào. Tôi thấy anh Vũ Hoàng Chương, anh ấy nói là:</p>
<p><i>Lũ chúng ta lạc loài dăm bẩy đứa</i></p>
<p><i>Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh</i></p>
<p>thì chắc là anh cũng chỉ nói văn chương thế thôi, chứ anh ấy chưa biết thực tế nó như thế nào là sự ruồng bỏ của xã hội. Mà trong một xã hội toàn trị, ai người ta cũng sợ liên quan với mình. Nói theo kiểu Việt Nam, người ta sợ lây hủi cả. Thế nên nhiều bạn bè tôi, tôi đi ở vỉa hè bên này, họ trông thấy xa, họ đổi sang vỉa hè bên kia. Thế thì tôi có nói rằng: Tôi cũng đổi vỉa hè và phấn đấu làm người mất tích.</p>
<p>Lúc đầu, thì tôi cũng chưa xác định được là tôi đúng hay tôi sai, tôi phải nói thật với chị như thế. Mình nghĩ không biết có phải do cái sai lầm của mình, mình ảnh hưởng đến cuộc đấu tranh thống nhất của đất nước không? Mà những người miền Nam &#8211; tập kết ra Bắc đó &#8211; họ đối với mình, họ ghét như thế? Hai là, mình là một người yêu nước và là một người đi theo Cách Mạng thì mình làm thế là đúng hay sai? Những cái đó nó dằn vặt rất ghê. Mà bao quanh một áp lực rất ghê gớm: là không có nơi nào người ta nhận mình cả. Nghĩa là mình hình như là không có đất đứng ở một xã hội mà chính xã hội đã đẻ ra mình. Bây giờ tôi nói với chị cái này nhé: Anh vào một cơ quan, vào cơ quan thì nhất định là có cái thường trực ở đấy. Thường trực hỏi chị: Anh vào có công tác gì? Lần trước tôi đã nói với chị đó: tôi mơ một giấc mơ đáng sợ, mà khu phố cả ngôi nhà tôi ở, biển ghi đầy chữ đỏ: Không phận sự miễn vào. Tôi cho cái đó là ghê gớm nhất mà tôi phải trải qua trong thời gian ấy. Nếu mình không cứng rắn thì tôi cũng là người điên hoặc tự tử mà chết rồi. Chị có hỏi tôi nhiều lần là trong thời kỳ ấy, tôi có căm thù ai không? Thì cái sự căm thù trong tôi cũng không nhiều lắm nhưng sự khinh bỉ trong tôi rất nhiều. Mà tôi cho sự khinh bỉ ấy đã giúp tôi trải qua những năm tháng cay đắng nhất của đời tôi. Tại vì tôi thấy rằng mình chẳng làm gì sai cả mà sao xã hội đối với mình một cách tàn nhẫn thế! Như thế nhất định là hai bên phải có một bên sai, mà tôi cho rằng người đáng khinh bỉ không phải là tôi, thì tôi thấy mình phải làm gì chứ không thể không làm gì được, thế nên tôi cố sống như một người tử tế, học hành, tôi vẫn học hành một cách chăm chỉ, viết lách, làm tất cả mọi việc, mình không thể buông tuồng được. Mà tôi có một câu nói khá nổi tiếng, được nhiều người biết đến: Nếu xã hội không dùng mình thì, nhất là, mình phải dùng mình. Không việc gì mình phải lệ thuộc vào xã hội cả. Và tôi nhắc lại, tức là lúc đó cả nước đều khổ: Ví dụ một năm thì mới được một cái may-ô, và người ta đã có một câu rất mỉa mai: &#8220;Cho may-ô mới được phần may-ô&#8221; đó, ai cũng khổ cả, cho nên cái khổ vật chất ấy không đáng gì, mình vẫn xoay xở được, nhưng cái khổ về tinh thần thì cực kỳ. Cực kỳ.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Thưa anh, trong hoàn cảnh như vậy thì có thể nói là còn bạn nữa hay không?</i></p>
<p><b>L.Đ.:</b> À bạn, lúc đó mình phải xét lại nhiều thứ lắm chị ạ. Mình phải xét lại nhiều thứ lắm. Có những người bạn ngày trước, bây giờ người ta không gặp mình nữa. Như tôi đã nói với chị, ngay trong anh em nữa, tình bạn cũng thay đổi rất nhiều rồi. Tại vì chị còn lạ gì nữa, trong một nhóm người làm việc chung với nhau, thì khi người ta kỷ luật, người ta cũng phân hóa ra người kỷ luật nhiều, người kỷ luật ít, và tự nó, nó đẻ ra những cách xử đối khác nhau. Vì thế cho nên tôi không muốn nói chi tiết, nhưng tôi có thể nói với chị rằng ngay một người rất thân với tôi ngày xưa là anh Văn Cao, tôi cũng không biết rằng anh Văn Cao, trong thời gian sau này có còn là bạn của tôi nữa không. Đấy là cái người gần tôi nhất.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Tại sao lại đến nỗi như thế? Anh có thể nói rõ hơn một chút khôngï?</i></p>
<p><b>L.Đ.:</b> Anh Văn Cao thì anh ấy, một là, anh ấy không cùng lứa với chúng tôi, mặc dầu là bạn rất thân, nhưng anh ấy là lớp trước, và hai là, anh ấy lại là người có nhiều bài hát cách mạng và là tác giả Tiến quân ca, cho nên ý kiến của trên là vẫn giữ anh ấy lại. Cho nên anh Văn Cao vẫn ở trong Đảng chứ có bị khai trừ đâu. Anh Văn Cao chưa bao giờ bị khai trừ cả. Thế, và cũng là đi lao động, anh Văn Cao đi lao động thì cũng đi với anh Tuân, anh Tiếc, anh Tưởng, anh Tiếc, đi với những người sang trọng cả, lên vùng Điện Biên Phủ; nhưng vì anh ấy bị chảy máu dạ dày, anh ấy về. Như thế là, ở trong người anh Văn Cao, anh ấy thấy mình được đối xử một cách đặc biệt và như thế trong anh em, nó có một sự phân hóa. Thì tôi không biết rằng anh Văn Cao có&#8230; nói không, hay là anh có khuyến khích cái việc nói không, nhưng mà trong một thời gian sau Nhân Văn đó, thì có những dư luận nói là ông Văn Cao là không thân gì với ông Lê Đạt, ông Trần Dần cả; hai ông Trần Dần và Lê Đạt là bạ vào cái Tiến quân ca của ông ấy thôi, thì cái đó làm tôi rất giận, tôi không muốn nói cái chuyện giữa cá nhân như thế nào, nhưng để chị thấy là cái không khí lúc bấy giờ nó không còn như ngày xưa nữa. Và chắc là sự chia tay là một sự rất lâu dài.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Thưa anh, thế còn anh Xuân Diệu thì vì lý do gì mà anh Xuân Diệu lại viết bài đánh anh một cách tàn tệ như thế?</i></p>
<p><b>L.Đ.:</b> À vâng, anh Xuân Diệu thì chuyện như thế này. Anh Xuân Diệu là người bao giờ cũng có ý làm trưởng môn một môn phái. Thế nhưng, anh ấy thấy rằng từ Cách Mạng trở ra thì anh ấy yếu lắm vì thơ anh rất kém. Những bài Ngọn cờ tổ quốc với cái gì non sông ấy, thơ tồi quá. Mà trong những người chê anh ấy thì có tôi với Nguyễn Đình Thi và anh ấy ghét tôi với Thi lắm. Anh ấy đã nói trong cái hội nghị ấy là: &#8220;Tôi cho việc không chơi với Lê Đạt là một nguyên tắc&#8221;. Thế cho nên anh Diệu đối với tôi, anh ấy rất ghét. Nhưng mà anh ấy không thể ghét tôi được tại vì lúc ấy anh ấy là đảng viên mới, mà tôi lại là người chịu trách nhiệm về văn hóa văn nghệ, cho nên anh ấy đối với tôi, anh ấy để trong bụng đó thôi. Tôi nói cho chị một chuyện này: Người ta bố trí cho anh Xuân Diệu ngay cạnh giường của tôi, nằm ngủ cùng với tôi để anh ấy &#8220;giúp đỡ xây dựng&#8221; tôi. Thì trong một buổi họp, anh Xuân Diệu đã nói như thế này cơ mà, để chị biết là nó tàn tệ như thế nào, anh ấy nói rằng: &#8220;Bây giờ tôi phải nói với các đồng chí rằng tội của tôi cũng không đáng bao nhiêu mà đêm nào tôi cũng trằn trọc không ngủ được. Nhưng tội Lê Đạt nó tầy đình như thế mà tôi cứ thấy nó nằm xuống giường là nó ngủ ngay!&#8221; (cười). Tôi thấy nhiều người phải quay mặt đi, chắc là hơi xấu hổ (cười). Đấy, cái tình hình nó ghê gớm thế. Xuân Diệu, tại vì Xuân Diệu thấy ở tôi và Trần Dần là hai người cạnh tranh nhất trong vấn đề thơ, cho nên là đặc biệt Xuân Diệu ghét Trần Dần và tôi, và đặc biệt là ghét tôi nhất tại vì tính tôi là người hay nói mà tôi lại thân với Thi. Cho nên thái độ anh Xuân Diệu đối với tôi quá đáng, chắc cũng vì thế thôi.</p>
<p>Và tôi phải nói với chị thế này, tức là sau khi Nhân Văn bị đánh rồi thì tất cả những người làm thơ năm 1930 tức là anh Huy Cận này, anh Xuân Diệu này và anh Chế Lan Viên là tập trung xung quanh anh Tố Hữu và lúc bấy giờ rõ ràng là nền thơ Việt Nam bắc một nhịp cầu và nó lại trở lại cái vai trò chế ngự của thơ mới năm 1930 mà chính anh Tố Hữu chủ xướng.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Anh vừa mới bảo là anh và anh Nguyễn Đình Thi thân nhau vậy mà sao anh Thi cũng đánh anh tàn bạo không kém gì Tố Hữu?</i></p>
<p><b>L.Đ.:</b> Thi là một người thân với tôi từ trước. Trong kháng chiến thì Thi không phải là người được trọng vọng gì. Tất cả mọi việc trong thời kháng chiến là quyền trong tay Nguyễn Huy Tưởng, Thi chỉ đi hết chiến dịch này đến chiến dịch khác, Thi có quyền gì đâu! Thi một lần đã nói với tôi rằng: &#8220;Có lẽ sau này nó phải tìm những bản thảo của mình ở trong sọt rác để nó in&#8221;. Anh Tố Hữu cứ đưa anh Thi đi hết chiến dịch này đến chiến dịch khác, coi như là cải tạo đó. Thế thì sau cái tố khổ trong quân đội, Thi có viết một quyển gọi là Mẹ con đồng chiến tranh, một tập thơ lục bát do Nguyễn Đình Thi làm, về cái khổ sở của người nông dân. Hôm ấy, tôi còn ở Tuyên huấn, nhà anh Tố Hữu ở trên đồi cao, nhà tôi ở dưới. Tôi thấy Tố Hữu có vẻ vui vẻ lắm, cầm một quyển sách nhỏ mà có nhiều khuyên tròn lắm, gặp tôi anh ấy nói: &#8220;Này, Lê Đạt này, thằng Thi giờ nó tiến bộ lắm.&#8221; Tôi trông cái quyển ấy tôi biết ngay rồi, tại vì chữ Thi nó nhỏ như chữ đàn bà ấy mà, khuyên tròn nhiều lắm. &#8220;Nó viết Mẹ con đồng chiến tranh tiến bộ lắm, ông xem xem, có gì ông chữa rồi ông đưa in.&#8221; Tôi lật qua xem, tôi thấy lục bát rất kém (cười). Tôi vẫn biết là Thi nó làm sao làm được lục bát. Từ thơ không vần chuyển sang lục bát khó khăn lắm. Mà tôi rất buồn. Tôi có nói lại với anh Tố Hữu: &#8220;Không, anh đã xem rồi tôi cứ đem đi in thôi.&#8221; Thế là từ đó Thi mới được ông Tố Hữu chú ý tới và sau đó Tố Hữu mới kéo Thi về đi với Karmel để quay phim, quay phim Việt Nam thắng lợi đó, quay phim Liên Xô. Sau đó thì Thi mới được đi sang Liên Xô, đi cùng với Karmel. Khi Thi đang ở Liên Xô thì ở nhà xảy ra vụ Nhân Văn Giai Phẩm. Vì anh Hoài Thanh anh ấy đánh kém quá, lúc bấy giờ Tố Hữu mới gọi Nguyễn Đình Thi về.</p>
<p>Thi lúc đó còn tử tế, gọi tôi đến. Buổi tối hôm đó, tôi còn nhớ, gọi đến Quán Sứ thì Thi nói rằng: &#8220;Tao với mày từ xưa vẫn là anh em mà bây giờ tao có nhiệm vụ là phải viết về mày. Tao thấy rằng lời nói đọi máu, tao thấy nó khó khăn quá thì tao định hỏi mày xem vấn đề thế nào?&#8221; Tôi trả lời Thi: &#8220;Không, vấn đề bây giờ nó đã đến thế này rồi, cậu muốn viết thế nào thì cậu viết. Mình cũng không có ý kiến gì cả!&#8221; Thế là mấy hôm sau tôi thấy bài của Nguyễn Đình Thi, tôi thấy nó cũng chẳng viết gì hơn những người khác, mà nó chửi mình quá chó (cười). Tôi thất vọng về cái anh này lắm. Cho đến bây giờ, cũng như phần lớn tất cả những người văn nghệ có lương tâm ở Việt Nam, đều nói rằng: Thi đã bước lên lưng Nhân Văn Giai Phẩm mà làm Tổng thư ký lâu năm của Hội Nhà Văn Việt Nam. Và tôi &#8211; cũng &#8211; nghĩ &#8211; như &#8211; thế.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Theo anh ước lượng thì nạn nhân của vụ Nhân Văn Giai Phẩm vào khoảng độ bao nhiêu người?</i></p>
<p><b>L.Đ.:</b> Lần trước chị có hỏi tôi rằng như thế Nhân Văn có nhiều người bị ra tòa không. Lúc ấy tôi trả lời như thế là đúng. Tại vì không có nhiều người bị ra tòa, bị lên án. Bị kết án chính thức thì không nhiều, chỉ khoảng độ một chục người. Nhưng ở đất nước Việt Nam, những người đau khổ vì Nhân Văn chắc rất nhiều, không thể đếm xuể được. Những người ủng hộ, những sinh viên&#8230; đều là những phần tử ưu tú của đất nước cả hay là những cán bộ người ta cũng khao khát một tí dân chủ; thì tất cả những ai, chỉ cần có một tờ Nhân Văn, đọc một tờ Nhân Văn hay là gửi tiền đến Nhân Văn, thì sau đó, khi Nhân Văn bị đánh rồi thì người đó coi như bị vào sổ đen hết. Có thể là anh phải chuyển công tác, có thể anh phải đi lao động, tôi đã gặp rất nhiều sinh viên, những cô sinh viên trẻ phải đi lao động rất lâu năm vì đã đọc Nhân Văn, thì cái số người ấy tôi không đếm xuể được. Nếu mà chị có chương trình lại thì chị phải tìm cách bổ sung số người ấy. Thế còn những người mà tôi nói, chỉ là những người chính thức thôi, còn những người vô danh ấy, cái đau khổ vô danh cũng là đau khổ chứ, có phải chỉ cái đau khổ của những người có tên tuổi mới là đau khổ đâu? Tôi thì lẽ dĩ nhiên tại vì tôi có tên tuổi, chắc là tôi cũng không thể đau khổ bằng họ được. Chính bây giờ tôi cũng tự hỏi đấy: &#8220;Không biết là mình đối với họ mình có tội gì không?&#8221; Lẽ dĩ nhiên là trong một cuộc đấu tranh cho cái mới thì chúng ta mỗi người phải chịu một ít. Nhưng họ, đúng là họ không có ý thức gì cả, họ chỉ ham muốn, ham muốn tự do, thì không có gì sai lầm cả; đọc một tờ báo, gửi một cái viện trợ&#8230; mà sau này nó kéo, nó kéo có khi cả một đời họ&#8230; Cho nên đến bây giờ tôi vẫn không biết là công mình nhiều hay tội mình nhiều và lúc nào tôi cũng nghĩ đến họ. Nếu chị có nói thì chị phải nói rất nhiều đến những người ấy mà tôi cho là đông lắm, không thể đếm xuể được. Mà ở Việt Nam thì không có gì rõ ràng cả. Cái chữ nó rất neutre mà lại rất gay go, người ta gọi là liên quan. Liên quan là dính líu đấy thôi. Nhưng mà anh đã liên quan là anh&#8230; gay go lắm. Liên quan với Nhân Văn, liên quan với địa chủ, liên quan với tư sản&#8230; thì tất cả những người này cũng là một thứ liên quan mới; liên quan với Nhân Văn là khổ lắm, nhất là lớp sinh viên trẻ, đi lao động, đi cải tạo&#8230; mà có phải chỉ Hà Nội đâu, ở những các nơi, các tỉnh đều có người ủng hộ cả. Thì những người đó mình không bao giờ biết thân phận họ ra sao.</p>
<p><b>VI. Thân phận Hoàng Cầm, Nguyễn Tuân, Nguyễn Bính, Trần Đức Thảo, Đào Duy Anh</b></p>
<p>Khi tìm hiểu về phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, chúng ta không thể không tìm lại một số những khuôn mặt nhà văn, nhà trí thức, đã tham gia phong trào như Hoàng Cầm, Trần Đức Thảo, Đào Duy Anh&#8230; mà còn cả những khuôn mặt nhà văn cùng thời đã xa gần liên hệ với họ như Nguyễn Tuân, Nguyễn Công Hoan&#8230; Những nhà văn nhà trí thức này đã có một thái độ sống như thế nào? Với lối nói thẳng, nói thật, nhà thơ Lê Đạt sẽ phác họa vài nét sống động về một số nhà thơ, nhà văn, một thời hệ lụy với Nhân Văn, với văn chương và tư tưởng.</p>
<p><b>Thụy Khuê:</b> <i>Thưa anh, người đầu tiên xin được hỏi anh là một người bạn rất thân của anh, đó là anh Hoàng Cầm. Xin anh nói về anh Hoàng Cầm.</i></p>
<p><b>Lê Đạt:</b> Anh Hoàng Cầm thì cũng có một cái oan nghiệt, tức là trong tất cả anh em Nhân Văn và một số người chung quanh anh Hoàng Cầm đều cho rằng: trong những lúc đấu tranh thì thông thường là anh ấy nhát sợ. Theo tôi thì cũng không nên đòi hỏi một nhà thơ can đảm làm gì. Cốt nhất là đòi hỏi nhà thơ cái can-đảm-chữ là quan trọng. Riêng tôi, tôi cho rằng anh Hoàng Cầm, về chữ là một người can đảm. Tại vì anh ấy cứ bình tĩnh đi con đường của anh ấy. Chị phải biết cái ảnh hưởng của anh Dần và anh Hưng là ghê gớm lắm. Anh Hưng và anh Dần chê thơ anh Hoàng Cầm rất ghê: Thơ anh Cầm là bình dân này, thơ không bác học này&#8230; tất cả mọi thứ. Nhưng tôi thấy anh Cầm anh ấy có cái tốt là anh ấy không nói gì cả. Anh Cầm thì không có lý luận, nhưng anh ấy bình tĩnh đi con đường của anh ấy. Tôi thấy điểm ấy cũng là điểm đáng trọng lắm. Thường thường ở trong nước người ta vẫn cho tôi là bênh anh Hoàng Cầm, nhưng tôi nói chuyện này để tùy chị kết luận xem tôi có bênh hay không là tùy chị: Thời ấy, anh Cầm vừa bị bắt sau vụ Kinh Bắc. Bị giam cũng đâu 6 tháng, một năm&#8230; gì đó. Từ khi anh ấy trở về thì tôi thấy anh Cầm, phải nói xin lỗi, đúng là một cái rẻ rách. Tôi gặp anh ấy trong một cái nhà, thì đó là một cái nhà sâu và rất tối mà nó lại ẩm thấp. Tôi vào, tôi thấy bóng một người ngồi &#8211; mà Việt Nam ta gọi là ngồi đầu gối quá tai đó &#8211; trông rất buồn, ngồi hút thuốc lào. Như thói thường, gặp một người bạn nào thì bao giờ tôi cũng rất cẩn thận, vì tôi cũng chưa biết anh ấy như thế nào, tôi nói rằng: &#8220;Thôi, bây giờ chuyện đã xong rồi, cái gì mình thấy là sai lầm thì mình nhận là sai lầm, cái gì mình đúng thì mình cứ giữ lấy chẳng việc gì mình phải thay đổi cả.&#8221; Thì Cầm nói với tôi một cách rất thành khẩn: &#8220;Không những mình sai lầm mà mình còn có tội nữa.&#8221; Tôi rất buồn và lúc đó tôi nghĩ chắc là Cầm không bao giờ còn có thể viết được nữa. Tôi mất một người bạn. Thế rồi Phùng Quán đến, Phùng Quán nó viết những câu thơ &#8220;Có con sông Đuống tiễn đưa anh&#8221; gì đó&#8230; Thơ Phùng Quán bao giờ nó cũng hùng hồn. Tôi nói với Quán: &#8220;Bây giờ những lời hùng hồn ấy đều vô ích cả, hẵng để cho anh ấy có thì giờ suy nghĩ.&#8221;</p>
<p>Thỉnh thoảng chúng tôi có lại thăm. Và vẫn ám ảnh bởi cái bóng tối và bóng của anh Hoàng Cầm ấy, tôi lại nhớ đến bài thơ Cha tôi mà tôi viết ngày trước, &#8220;bóng và người như nhau&#8221;, thì tôi không tin rằng Cầm có thể viết được nữa.</p>
<p>Vào khoảng độ 5, 6 tháng sau, tôi đến, thì Cầm có đưa cho tôi một bài thơ, thơ còn chuệch choạc nhưng tôi thấy những câu chữ cũng được lắm và một năm sau tôi thấy anh ấy lại làm thơ bình thường và tôi cho một người làm thơ can đảm như thế là đủ. Can đảm để giữ cái bản chất của mình. Anh Cầm anh ấy vẫn cho là thế này: Anh em thì nó học nhiều hơn mình, nó mô-đéc hơn mình, mình thì hơi cổ. Nhưng cái tự ti ấy không đủ để anh ấy thay đổi thi pháp của anh ấy. Tôi cho đó là một cái lòng can đảm. Đến khi một người rũ xuống như một cái rẻ rách ấy, tôi tin anh không có thể viết được nữa, mà sau một thời gian cũng chỉ gần một năm giời anh lại trở lại làm thơ và có những bài thơ rất hay thì tôi cho một người làm thơ chỉ cần can-đảm-chữ là đủ. Tại vì anh có phải là đặc công hay là anh có phải đánh cọp đánh kiếc đi bắt cướp bắt kiếc gì đâu mà cần một người can đảm. Tôi thấy người làm thơ chỉ cần can- đảm-chữ mà thôi.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Thưa anh, trong phong trào Nhân Văn Giai Phẩm của các anh thì có thể nói là anh, anh Trần Dần, anh Đặng Đình Hưng đều đi con đường tìm tòi cái mới. Chỉ riêng có anh Hoàng Cầm là không triệt để đi tìm cái mới. Vậy anh nghĩ gì về thơ của anh Hoàng Cầm?</i></p>
<p><b>L.Đ.:</b> Về điểm này tôi với Trần Dần và Đặng Đình Hưng tranh luận rất nhiều. Riêng tôi thì tôi nghĩ rằng anh Hoàng Cầm là một nhà thơ bình dân mà ở trong Kinh Bắc nhiều chỗ anh ấy cũng đạt tới chỗ bác học. Có những câu thơ rất hay mà nó bâng khuâng lắm. Đơn giản nhưng bâng khuâng. Tôi kể lại một câu chuyện mà tôi đã kể khi viết về 75 năm Hoàng Cầm, tức là hôm ấy tôi có gặp Nguyễn Bính. Nguyễn Bính thì mọi người đều cho Nguyễn Bính là người khinh bạc cả. Nguyễn Bính là người khinh bạc lắm. Nhưng Nguyễn Bính đối với tôi lại rất tốt, tôi không biết tại sao thế. Độ ấy Nguyễn Bính còn làm Trăm Hoa thì Nguyễn Bính cứ buổi chiều thứ bảy là đi các đại lý báo để thu tiền báo. Lúc nào mà được tiền thì Nguyễn Bính cũng rủ tôi đến Mã Mây ăn thịt chó. Lúc ấy tôi đang khó khăn lắm, thời kỳ Nhân Văn mà. Một hôm uống rượu xong, tôi có hỏi Nguyễn Bính: &#8220;Sau cậu là ai? Cái trường phái thơ bình dân ấy, sau cậu là ai?&#8221; thì Nguyễn Bính nói ngay không nghĩ ngợi gì cả: &#8220;Sau tao là thằng Cầm.&#8221; Tôi cũng mỉm cười thôi, không nói gì cả. Sau đó, uống rượu một lúc thì Nguyễn Bính lúc đó đã say rượu lắm rồi, mặt đỏ, đặt chén rượu xuống chỉ vào mặt tôi: &#8220;Thằng này là thằng khốn nạn. Tí nữa tao mắc lừa mày. Thằng Cầm cũng bằng tao!&#8221; (cười) Thì để thấy rằng những người anh em mà người ta tưởng là khác xa nhau, người ta tưởng là mâu thuẫn với nhau, nhưng mà nó liên tài với nhau lắm. Lẽ dĩ nhiên Nguyễn Bính là một thế giới, và Nguyễn Bính nổi tiếng, nhưng Hoàng Cầm cũng nổi tiếng không thua gì Nguyễn Bính cả. Nhưng qua đó thì thấy gì? Thấy rằng những nhà thơ lớn thường thường họ liên tài và những sự mâu thuẫn của họ chỉ là những mâu thuẫn lặt vặt thôi. Chỉ có những nhà thơ xoàng mới ghen ghét nhau thôi.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Thưa anh còn một người nữa cũng có những nét rất đặc biệt trên văn đàn đó là Nguyễn Tuân nhưng chưa có dịp nào để hỏi anh về Nguyễn Tuân, vậy thì hôm nay anh nghĩ sao về Nguyễn Tuân?</i></p>
<p><b>L.Đ.:</b> Nguyễn Tuân thì tôi nghĩ như thế này: Anh Tuân là một người mà tôi rất kính trọng, tôi rất kính trọng cái thời mà anh ấy viết trước Cách Mạng, tức là thời kỳ những Vang bóng một thời và những bút ký của anh Tuân tôi thích lắm. Tôi sợ rằng khi người ta đánh giá về anh Tuân, người ta đánh giá nhiều lúc cũng không đúng, mà bản thân anh Tuân nhiều lúc cũng không đúng lắm. Ví dụ như tôi xem một nhà văn nói rằng những cái ký sự của anh Tuân sau này, anh đã đem lại cho nó một cái chứng chỉ của một sự sang trọng. Tôi không thấy nó sang trọng gì cả. Tôi thấy những bài ký sự của Tuân sau này yếu. Những bài đánh Mỹ của anh ấy tôi thấy không có gì là sang trọng cả. Nhưng mà về anh Tuân thì tôi thấy thế này: Anh Tuân vì được mọi người quý trọng quá, cho nên anh Tuân là một người ích kỷ và chính cái ích kỷ ấy hạn chế khả năng của anh ấy. Tôi kể lại đây một chuyện của Nguyễn Sáng để biết rằng Nguyễn Sáng cũng là một người tinh tế lắm. Tức là có một mâu thuẫn gì đó tôi không tiện kể ở đây, giữa Nguyễn Sáng và Nguyễn Tuân, vì hai người rất thân với nhau, sau đó thì Nguyễn Tuân có nhắn một người đến nói với Nguyễn Sáng rằng: &#8220;Trong cái sai lầm ấy thì toa cũng có khuyết điểm chứ!&#8221; Nói với lại Nguyễn Sáng thế. Thì Nguyễn Sáng nói thế này này: &#8220;Nguyễn Tuân là người không viết được tiểu thuyết, không xây dựng được nhân vật cho nên không hiểu thế thái nhân tình. Không chơi với Nguyễn Tuân.&#8221; Để biết như thế là những người nghệ sĩ họ hiểu nhau lắm. Hai là, tôi nói thế này không biết có phải là vô lễ với anh ấy không, nhưng mà tôi cứ nói: tôi thấy anh ấy hơi điệu bộ quá. Và hình như là anh Tuân đã mất quá nhiều thời giờ để sắm cái vai Nguyễn Tuân trong cuộc đời mình. Giá thời gian ấy mà anh ấy dùng để viết hoặc để suy nghĩ thì chắc là anh ấy có thể làm được cho đời nhiều thứ hơn. Nói như thế không phải là tôi đánh giá thấp anh Tuân đâu, Nguyễn Tuân là một trong những người tôi quý nhất ở nền văn học Việt Nam. Nhưng mà quý không có nghĩa là xuề xòa tất cả về những cái gì mình không bằng lòng về anh ta. Tôi thấy anh Tuân đúng là anh ấy diễn nhiều quá. Và tôi sợ không phải chỉ có mình anh Tuân. Tôi không muốn nhắc tên những người bạn của tôi, nhưng nhiều người bạn của tôi cũng bận diễn quá. Hình như là khi mà cái vinh quang nó khoác cho mình thành một nhân vật, thì mình để rất nhiều thời giờ để mình sắm cái nhân vật ấy, hơn là mình sống với bản chất nghệ sĩ của mình. Tôi cho đó là cái bi kịch của anh Tuân.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Trường hợp Nguyễn Công Hoan hơi khác. Trong thời kỳ Nhân Văn Giai Phẩm anh Nguyễn Công Hoan cũng có một thái độ không được hay lắm. Nhưng ở ngoài cuộc sống thì Nguyễn Công Hoan là người thế nào?</i></p>
<p><b>L.Đ.:</b> Anh Nguyễn Công Hoan mà chơi với anh ấy thì rất dễ chịu. Anh ấy tính vui vẻ mà chúng tôi vẫn gọi là bon papa. Nhưng anh Hoan là người rất đơn giản. Anh đã từng khuyên các nhà văn trẻ là: &#8220;Moa viết văn hay như thế moa có cần đọc gì đâu!&#8221; (cười). Cho nên đối với anh Hoan, mình cũng kính trọng như là một bon papa ấy thôi, chứ anh Hoan thì không có suy tư gì sâu xa về văn học cả. Tôi đã nghe anh ấy nói:&#8221;Moa có đọc gì đâu!&#8221; Anh Hoan là một người sống đơn giản lắm, rất đơn giản. Mà tôi cũng không hiểu tại sao anh ấy viết được những truyện như thế. Theo tôi thì ngoài một số nói năng của anh ấy trong thời kỳ Nhân Văn Giai Phẩm nó không được lịch sự lắm, thì đó cũng là một người mà tôi kính trọng. Tại vì đến khi anh ấy nhận thức ra, thì anh ấy cũng dám nói chứ không phải anh ấy không dám nói, chứ anh cũng không phải là người mũ ni che tai đâu. Thường thường Nguyễn Công Hoan gặp tôi thì bao giờ cũng tỏ thái độ thông cảm hơn là người khác.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Thưa anh, có thể nói là trong phong trào Nhân Văn Giai Phẩm có hai nhóm, một nhóm như anh, anh Hoàng Cầm và anh Trần Dần là thuộc về nhóm những nhà văn, nhà thơ, tranh đấu bên phía Hội Nhà Văn. Còn một nhóm nữa gồm những nhà trí thức, sinh viên, tranh đấu bên đại học, với những tên tuổi như Trần Đức Thảo, Đào Duy Anh, Nguyễn Mạnh Tường v.v&#8230; Vậy sự liên hệ giữa hai nhóm này như thế nào và vai trò một người như Trần Đức Thảo trong tờ Nhân Văn là thế nào?</i></p>
<p><b>L.Đ.:</b> Hai bên thì cũng không liên hệ với nhau nhiều và thường thường liên hệ với nhau là qua anh Đang đó thôi. Còn liên hệ trực tiếp với tôi thì ít nhưng mà thế này: Anh Thảo thì hầu như không tham gia gì vào vấn đề Nhân Văn cả nhưng anh có viết bài cho Nhân Văn và anh ấy có đến dự họp báo Nhân Văn. Thì Thảo gây một ấn tượng rất lớn với anh em Nhân Văn. Tại vì đằng sau anh Thảo, những cái tiếng từ ngày xưa, người ta đã đồn như ông này ngày trước cãi nhau với Sartre, anh này là một nhà triết học đỗ thủ khoa ở nước Pháp v.v&#8230; cho nên, anh mang đằng sau anh một cái bóng rất to. Tôi thấy anh em đều tôn trọng anh Thảo cả. Mà anh Thảo có một cách nói rất khiến người ta lưu ý: anh ấy nói một cách rất trừu tượng. Mà hình như anh không ở trong cái vấn đề, anh nói nó như cái vấn đề ở đâu đấy. Tôi còn nhớ buổi hôm ấy họp vấn đề quan trọng lắm: đã đến số 5 rồi, còn tiếp tục nữa hay không? Bởi vì chung quanh, các công nhân rồi tất cả người ta đánh ầm ầm, ầm ầm&#8230; Bạn tôi đều nói: &#8220;Bây giờ nó học tập ghê lắm rồi, sắp sửa đánh to lắm&#8221;. Thì anh Thảo có đến, anh hình như không bận tâm gì, đến anh nói rằng: &#8220;Toa rất buồn cười, họ đã đánh đâu mà ta lại rút lui. Đợi khi nào họ đánh hãy hay, chứ họ đã đánh đâu mà lại rút lui, có khi họ đánh vờ thì sao?&#8221; Những cái ý của anh Thảo &#8211; người rất bình tĩnh &#8211; hình như là anh ở ngoài tất cả những vùng đánh đấm bon chen ấy. Thì anh Thảo gây một ấn tượng rất mạnh trong buổi họp hôm ấy. Sau này tôi còn tiếp xúc với anh Thảo nhiều lần, tại vì anh em vẫn tiếp tục chơi với nhau, nhưng tôi có cảm giác là anh Thảo luôn luôn bị hantise de persécution. Anh Thảo là người có lập luận rất chặt chẽ và chính cái chặt chẽ đó là một ưu điểm và là nhược điểm của anh ấy. Hình như anh ấy không chú ý gì đến cuộc đời mà anh chú ý đến lập luận của anh nhiều hơn. Tôi có nhớ một hôm đang trên đường đi, thì anh Thảo rủ tôi về nhà. Anh bảo: &#8220;Lê Đạt về đây mình cho xem cái tài liệu hay ghê lắm&#8221;. Thế là tôi về nhà anh ấy, một căn nhà bẩn thỉu, lộn xộn, không có ai chăm sóc gì cả. Bên cạnh ông bố già đang ngâm thơ (cười). Thảo đưa tôi một tài liệu hơn 20 trang, nói rằng: &#8220;Đây toa xem xem thế nào. Moa chứng minh rằng Tố Hữu là một tay DB cài lại&#8221;-thằng DB tức là thằng mật thám Pháp cài lại &#8211; Thì tôi thấy anh chứng minh một cách rất chặt chẽ, anh nói rằng thời xưa, khi Tố Hữu ở trong tù ở Thừa Thiên, đã liên lạc với bố của Trần Duy, lúc đó là phủ thừa ở Thừa Thiên như thế nào; thế rồi tại sao khi Tố Hữu đi lên Điện Biên Phủ đi theo với thằng Pháp mà không có ai cả. Anh ấy chứng minh một lúc thì xem ra Tố Hữu hoàn toàn là thằng DB. Tôi xem xong trả lại anh Thảo, tôi nói rằng: &#8220;Mình không thích cái này lắm!&#8221; (cười). Thảo có ý không bằng lòng. Đó là một chuyện của anh Thảo. Anh ấy luôn luôn có những lập luận như thế và luôn luôn bị ám ảnh là có người theo dõi. Từ độ ấy thỉnh thoảng chúng tôi cùng ra thư viện dịch để kiếm tiền. Lúc đó Mỹ đã ném bom đến Hà Nội rồi, tất cả các cơ quan đều sơ tán hết. Thư viện cũng sơ tán, còn ít anh em thôi, thì thường thường khi gặp nhau thì Thảo thường rủ tôi ra đằng sau thư viện để nói chuyện cho kín, Thảo nói rằng: &#8220;Toa với moa ra ngoài này nói chuyện cho kín không có công an. Nhiều công an lắm!&#8221; Tôi nói chuyện xong hai ba lần, sau tôi mới bảo Thảo: &#8220;Ông có biết cái cơ quan mà chúng ta nói chuyện trước cửa là của ai không? Nó là công an. Sở công an dọn về đấy rồi!&#8221; (cười).</p>
<p>Tôi có cảm giác là sau này óc anh ấy không được bình tĩnh như hồi tôi gặp đâu. Cho nên những việc anh ấy làm sau này thì tôi thấy là đáng tiếc nhưng cũng có thể hiểu được. Một người luôn luôn suy nghĩ, dằn vặt&#8230; Anh ấy sống rất cô đơn. Và tôi phải nói với chị như thế này: Anh Thảo về nước với một ý định rất rõ rệt chứ không phải là anh ấy không có ý định rõ rệt đâu, anh về nước với ý định là trở thành nhà lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, vì thế cho nên sau này thỉnh thoảng anh ấy đi bênh vực Lê-nin Lê-niếc cũng là nằm ở trong ý định ban đầu thôi. Nhưng anh ấy không biết là người Việt Nam không bao giờ coi một nhà triết học là một nhà lý luận cả. Chỉ có lãnh tụ với nhà chính trị mới là nhà lý luận mác-xít, anh Thảo không thể là nhà lý luận được. Tôi cho đó cũng là một cái vỡ mộng của anh ấy.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Thưa anh, còn hai nhà trí thức nổi tiếng trong phong trào nữa là Nguyễn Mạnh Tường và Đào Duy Anh, anh có gần gụi họ không, xin anh cho vài nét về họ.</i></p>
<p><b>L.Đ.:</b> Về anh Nguyễn Mạnh Tường thì tôi cũng không gần lắm. Tôi biết một chuyện này: anh Tường là một người rất tốt. Tại vì sau khi mọi việc xong xuôi rồi thì anh Tường là người dạy cháu Vũ về Pháp văn rất chu đáo, mà sở dĩ Vũ sau này nó sang Pháp một cách thuận lợi như thế, một phần công lớn là do anh Tường, mà anh Tường dạy cũng không lấy tiền, tại vì Trần Dần làm gì đủ tiền mà cho Vũ học anh Tường, cho nên anh Tường đối với những người ngày xưa, anh ấy cũng có ý rất tốt.</p>
<p>Thế còn anh Đào Duy Anh thì, anh Đào Duy Anh là một người như thế này: Anh Đào Duy Anh là một người cẩn thận, cẩn thận, giữ gìn, trong danh từ Việt Nam người ta nói đơn giản là hơi nhát (cười). Anh Đào Duy Anh sau khi Nhân Văn xong thì anh ấy làm việc sử, rồi cũng không có gì liên lạc với nhau nữa. Thời trước thì vẫn gặp nhau, thỉnh thoảng gặp nhau, nhưng vì anh Đào Duy Anh là một người lớn tuổi, tôi chỉ đáng tuổi con anh ấy thôi mà đằng sau anh ấy là cả chồng tự vị cao lớn như thế, mà chắc là sức tôi cũng không đủ vác những tự vị của anh ấy. Nhưng tôi vẫn nhớ một chuyện về anh Đào Duy Anh mà tôi muốn kể với chị, về cái tình cảm của những người Nhân Văn như thế nào. Tức là đã lâu lắm, mấy chục năm tôi không gặp anh Đào Duy Anh nữa, tại vì nhà anh ấy ở rất xa, mà anh ấy lại ở thế hệ khác, mình chẳng có cái gì mà bàn với anh ấy cả. Và hai là, anh ấy không muốn tiếp xúc với những người Nhân Văn cũ, anh rất ngại. Sau này, vì tình hình nó mở ra, thì hôm ấy Mặt trận Tổ quốc tổ chức ngày sinh nhật thật trọng thể 80 năm của anh Đào Duy Anh. Chị còn lạ gì tôi, tôi không thích đến những cuộc đông đảo như vậy bao giờ cả, tính tôi là người như thế. Tôi đã đắn đo lắm, thì anh Đào Duy Anh có nói với em anh ấy là Đào Phan, Đào Phan là bạn tôi, bảo rằng: &#8220;Thế nào cũng bảo Lê Đạt tới&#8221;. Khi anh ấy nói như thế thì nhất định là tôi phải tới rồi. Đào Phan có dẫn tôi đến chỗ ông Đào Duy Anh, đông lắm, mọi người những học trò rồi là những người lâu lắm mới lại gặp, ông Đào Duy Anh xuất hiện thì mọi ngưòi quý lắm, tôi có đến chào anh Đào Duy Anh thì anh Đào Duy Anh quay lại ngay. Tôi nói: &#8220;Chào bác, thế nào bác còn nhớ tôi không?&#8221; Thì anh Đào Duy Anh có nói một câu mà tôi rất cảm động: &#8220;Làm sao mà quên được, bục công an chứ gì!&#8221; Thì tôi mới biết là trong mấy chục năm nay ông ấy không bao giờ quên mình cả! Đấy là cái quan hệ giữ tôi và anh Đào Duy Anh. Như thế những người ở trong Nhân Văn ấy, mặc dù không gần gũi nhau như trước nữa nhưng trong thâm tâm người ta vẫn dành một chỗ nào nhất định để đối xử với nhau. Đó là một tình bạn rât hiếm ở một nước như nước Việt Nam.</p>
<p><b>VII. Sự tìm tòi một con đường mới cho thơ ca Lê Đạt</b></p>
<p>Hậu bán thế kỷ XX, trong 4 nhà thơ lớn có công cách tân thi ca Việt Nam: miền Bắc là Trần Dần, Đặng Đình Hưng, Lê Đạt, miền Nam là Thanh Tâm Tuyền, thì có ba người thuộc phong trào Nhân Văn Giai Phẩm. Tại sao như vậy? Đó là câu hỏi mà thế hệ mai sau còn nhiều dịp để tìm lời giải đáp. Ở đây, nhà thơ Lê Đạt sẽ nói về hành trình cách tân thơ của ông bên cạnh hai người bạn: Trần Dần và Đặng Đình Hưng.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Thưa anh Lê Đạt, có thể nói sự thay đổi thi pháp của anh là kết quả của một hành trình dài, bắt đầu từ việc đọc sách ở thư viện thập niên 70. Vậy trước tiên xin anh kể lại việc đọc sách này.</i></p>
<p><b>L.Đ.:</b> Đọc ở thư viện khó lắm chị ạ, thư viện khoa học xã hội nhiều sách hay nhưng chỉ dành riêng cho những người làm việc nhà nước thôi, cán bộ nghiên cứu thôi. Tôi thì lúc ấy đã về hẳn rồi, tuy vẫn còn kỷ luật nhưng không phải cái mười năm lưu lạc giang hồ nữa rồi. Tôi phải nói khéo với cơ quan cho tôi xin một cái giấy vào đấy tôi đọc, tại vì lâu lắm rồi tôi không được đọc sách. Lúc đó cũng may rằng anh em Việt kiều ở Paris vừa biếu Việt Nam một loạt sách về hoạt động những năm 50 của Pháp, tức là những năm sôi nổi nhất về hoạt động trí tuệ Pháp, nào là phái cấu trúc, nào là phái phê bình mới, Roland Barthes&#8230; thì tôi phải cố gắng xin một giấy phép. Xin cũng khó lắm chị ạ. Đọc sách ở nước Việt Nam cũng khó lắm chứ có phải dễ đâu. Đáng nhẽ mọi người vào, là cứ xin giấy rồi vào thôi. Còn giấy tôi xin thì cũng phải độ bẩy hôm người ta mới trả lời là ông đọc được. Thì tôi đã được đọc sách và tôi cho đó là những ngày hạnh phúc nhất của đời tôi. Tôi đọc mười giờ một ngày, tức là buổi sáng tôi ăn sớm rồi tôi đọc đến trưa, trưa xong tôi lại tiếp tục đọc đến chiều, về nhà tôi phải ăn cơm nguội cơ mà. Cho nên lúc đó ở Hà Nội nó đã đồn là ông Lê Đạt giàu lắm vì lúc đó không ai ra thư viện đọc sách để học cả, mà người ta ra thư viện đọc sách để dịch. Một người mà suốt ngày ở thư viện tức là dịch được nhiều tiền lắm!</p>
<p>Tôi đọc lại những sách mà thuở nhỏ tôi đã đọc và tôi lại đọc những sách lúc bấy giờ đang sôi nổi ví dụ như là về structuralisme này, về linguistique này, về nouvelle poésie française v.v&#8230; Tôi cho đó là những năm tốt đẹp nhất của đời tôi; lâu lắm tôi mới được đọc thế. Sau đó thì thư viện họ quen tôi và họ đối với tôi rất tử tế. Lúc ấy anh Thảo cũng ra, anh Trần Dần thì đâu người ta thuê anh ấy dịch Althusser, anh ấy cũng ra thư viện đó để dịch, thế là ba anh em lại gặp nhau và lúc đó ở Hà Nội người ta đã sơ tán cả rồi. Một hôm tôi đến mượn sách thì chị thủ thư rất buồn, bảo: &#8220;Bây giờ ban giám đốc vừa ra một cái lệnh bác không được đọc sách nước ngoài nữa, chỉ đọc sách tiếng Việt thôi&#8221;. Sau tôi mới hỏi ra thì là thế này: Cái ông phụ trách thư viện là một ông thiếu tá vừa chuyển ngành, ông ấy nghĩ bụng là bây giờ mọi người đều đi sơ tán thì còn ai học hành gì nữa, chỉ thấy mấy anh Nhân Văn Giai Phẩm trong này, chắc nó bàn chuyện bậy bạ gì cho nên, việc thứ nhất là: thôi, không nên cho chúng nó đọc nữa. Nhưng Thảo thì được cái giấy ở trên, đang nghiên cứu về hiện tượng học đó, thì anh ấy được đọc. Còn tôi không có giấy đặc biệt gì cả thì họ không cho tôi đọc tiếng Pháp nữa. Tôi phải rời cái thư viện ấy, sau khi tôi đã đọc coi như gần hết thư viện đó rồi, thì để chị biết là ở Việt Nam đọc sách cũng khó khăn lắm.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Như vậy có thể nói rằng chính sự đọc sách ở thư viện đã dẫn anh đến chỗ quyết định phải thay đổi thi pháp của mình, thưa anh có phải như vậy không?</i></p>
<p><b>L.Đ.:</b> Không, quyết định ấy có từ lâu rồi. Quyết định từ lâu rồi. Tức là sau Nhân Văn, tôi không được làm thơ nữa, không được in thơ nữa cho nên tôi phải nghĩ rất nhiều về thơ của mình, tôi phải tìm một cách khác. Dần dần tôi đã đi xa, càng ngày càng xa Maiakovski: Tại vì tôi thấy chính Maiakovski là người đã đóng góp rất nhiều vào cái sai lầm của chủ nghĩa Cộng Sản, cho nên càng ngày tôi càng tách xa Maiakovski nhưng chưa tìm được cách nào để tôi đi cả.</p>
<p>Lúc bấy giờ thì những anh em cũ như Trần Dần, Đặng Đình Hưng&#8230; Đặng Đình Hưng, sau năm 60, do sự giúp đỡ của anh Trần Dần, thì Đặng Đình Hưng đã có một số những thành tựu nhất định. Anh Dần, anh Hưng, các anh ấy đinh ninh đã tìm thấy đường rồi, còn tôi thì vẫn chưa tìm thấy đường gì cả. Tôi nhớ có một hôm, năm ấy vào khoảng năm 65, ba người uống rượu với nhau, Hưng không biết là tỉnh hay say, hay là giả say thì không biết, mới nói rằng: &#8220;Cậu không bao giờ có thể làm thơ hay được cả tại vì cậu tỉnh quá&#8221;. Thì tôi đứng dậy nói: &#8220;Cũng có thể mình không thể làm thơ hay được nữa, nhưng mà mình không muốn mất cái sự tỉnh táo&#8221;. Và tôi chia tay với họ. Sự chia tay ấy chắc mọi người không biết được, tại vì chỉ chia tay trong ba người thôi. Nhưng lúc ấy tôi rất buồn, tại vì chỉ còn có ba người thôi mà không trụ được với nhau, lại phải chia tay. Mà tôi nhất định không thể ở lại được nữa. Tại vì ở lại thì hoặc là tôi theo họ, mà tôi không thích. Lúc bấy giờ tôi buồn lắm. Trong bốn, năm năm trời tôi không làm bài thơ nào cả. Tôi làm những cái người ta gọi là tập, exercices, con con nhưng không làm bài thơ nào cả.</p>
<p>Thường thường là cứ đến ngày Noel, anh em hay gặp nhau; gặp nhau thì làm một bữa rượu, ngồi uống rượu. Những buổi đó bao giờ cũng có đủ: tôi, anh Dần, anh Hưng và anh Hoàng Cầm. Uống rượu được một lúc thì anh Hoàng Cầm thường đọc bài đề từ của Chu Mạnh Trinh mà Hoài Nam Tử dịch trong đó có một câu rất nổi tiếng là Cánh hoa rụng chọn gì đất sạch đó. Anh Cầm ngâm bài ấy cực hay và rất buồn. Sau đó thì các ông ấy uống rượu, uống rượu rồi bàn hết khôn rồi ra dại. Thường những lúc ấy tôi hay đứng dậy, lặng lẽ một mình tôi bỏ về. Bỏ về như vậy làm anh em khó chịu nhưng tôi thấy không thể tiếp tục mãi như thế được. Trong đám ấy, lúc bấy giờ tôi lại trở nên một kẻ bị bỏ rơi, mà tôi cũng chưa biết là mình sẽ đi đến đâu cả, con đường trước mắt chưa biết thế nào, nhưng chắc chắn là tôi không đi con đường của hai anh ấy.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Xin anh nói về con đường đi của hai anh Trần Dần và Đặng Đình Hưng.</i></p>
<p><b>L.Đ.:</b> Tôi thấy anh Dần từ xưa đến nay vẫn là người mê chữ từ lâu rồi, cho nên anh Dần vẫn tiếp tục con đường của anh ấy. Còn anh Hưng thì vì anh ấy ở âm nhạc sang cho nên anh ấy có một lợi thế rất nhiều là không bị ám ảnh bởi văn phạm ngôn ngữ như tôi. Anh ấy gặp anh Dần thì hai anh sẵn sàng đi con đường, tức là con đường sau này chị thấy trong thơ anh Đặng Đình Hưng đó; nhưng lúc đầu thì anh Đặng Đình Hưng chưa làm thơ văn xuôi, sau này mới dần dần đi về văn xuôi, do anh ấy không bị, người ta gọi là hạn chế gì, bởi cái văn phạm của những người làm thơ lâu như tôi cả. Vì từ nhạc sang cho nên anh ấy rất dễ dãi và anh ấy thanh thoát lắm. Anh Dần thì có nhiều khó khăn, tại vì anh Dần là một người tìm tòi. Tôi vẫn cho anh Dần là một người có nhiều ưu điểm và nhược điểm của một anh trưởng môn. Anh ấy hay đề ra lý luận trước để anh ấy theo sau, thí dụ anh ấy đề ra lý luận của cái Mùa sạch ấy là anh ấy theo một lý luận như thế rồi anh ấy cứ làm như thế. Cái đó là ưu điểm của anh ấy, tức là anh gây được một ấn tượng mạnh, nhưng nhiều lúc, nếu chị đọc cẩn thận, nhiều lúc chị cũng thấy là nó hơi khiên cưỡng. Thế nhưng anh Dần cứ tiếp tục đi. Anh ấy với anh Hưng là làm cả thơ vẽ, thơ viếc&#8230; anh ấy làm rất nhiều thơ lắm. Mà tôi thấy rằng cái đó không hợp với tôi.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Thưa anh, có thể nói rằng giữa hai anh Đặng Đình Hưng và Trần Dần cũng có sự khác nhau:sự tìm kiếm của anh Đặng Đình Hưng đã được thể hiện khá rõ ràng qua hai tập Ô mai và Bến lạ, còn anh Trần Dần, qua những gì đã in, người ta chưa thấy rõ được những tìm kiếm của anh Trần Dần. Tập Cổng tỉnh cho thấy sự giàu có trong ngôn ngữ thơ Trần Dần, nhưng vẫn còn có một cấu trúc thơ tương đối cổ điển. Còn tập Mùa sạch, mới chỉ là một thứ thử nghiệm, exercice, chưa thể nói là xong, là một tập thơ hoàn chỉnh. Vậy theo anh, cần phải làm thế nào để giới thiệu toàn diện sự tìm tòi thơ của Trần Dần?</i></p>
<p><b>L.Đ.:</b> Cái này thì tôi có hứa với Trần Dần một điều mà tôi chưa làm được, tức là tôi sẽ đọc lại tất cả thơ Trần Dần, tại vì, như chị biết là, sau này, tôi đi tìm con đường của tôi thì tôi cũng không gần anh Dần như ngày xưa nữa, thế và khi tôi đề nghị với anh Dần như thế này thì anh ấy cũng không đồng ý: &#8220;Bây giờ thì cậu cũng yếu rồi, cậu yếu rồi thì để mình chọn cho cậu toàn tập, với tất cả những tìm tòi của cậu để người ta có một cái nhìn chung về tất cả những tìm tòi của Trần Dần&#8221;. Nhưng anh Dần muốn in tập Cổng tỉnh thì tôi cũng phải chiều anh ấy thôi. Nhưng chắc là thế nào cũng có một lần tôi phải prendre en main chuyện này và tôi sẽ đọc lại hết thơ của anh Trần Dần và tôi sẽ cố gắng làm sao mà xuất bản một tuyển tập của anh ấy, tức là chọn trong cái toàn tập của anh ấy để mọi người có thể thấy được cái tìm tòi của anh ấy như thế nào. Về anh Dần thì rất khó chị ạ, vì mọi người nghe tiếng anh ấy rất nhiều, mà tiếng anh ấy rất to. Tôi rất sợ những tiếng to. Tôi đã nói với Dương Tường đấy, với một người như Dần thì không nên dùng những chữ to quá, như những kim tự tháp, hay&#8230; gì, nghe nó mệt quá. Với những người ấy càng cần phải dùng những gì gần gũi hơn, thì tôi rất tiếc. Tôi có nói với cháu Vũ, tức là con anh Trần Dần: &#8220;Có lẽ hôm nào hai bác cháu mình phải làm cái việc ấy, tức là chọn lại tất cả các tác phẩm của bố cháu, và trình bày trong tất cả quá trình nó đi như thế nào, để mọi người biết là bố cháu đã tìm tòi như thế nào&#8221;. Tôi phải nói, anh Dần cũng có cái này không thuận lợi là từ năm bẩy mươi mấy anh ấy đã bị nhũ não rồi. Lúc mới nhũ não tức là lúc ấy anh còn làm được, nhúc nhắc được nhưng mà bệnh ấy cứ dần dần lan ra cho nên cái độ nhạy bén của anh ấy nó cũng sút đi, thành ra bây giờ tôi coi đấy là cái nợ mà tôi phải trả đối với anh Trần Dần. Lúc nào, khi tôi đã xem hết, thì có lẽ tôi sẽ trả lời chị một cách thỏa đáng hơn.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Thưa anh, bây giờ xin anh kể về công việc tìm tòi thi pháp mới của anh. Anh đã đi theo con đường tư tưởng như thế nào?</i></p>
<p><b>L.Đ.:</b> Thì tôi cứ đọc, đọc lung tung hết, nhất là tôi đọc lại Freud, đọc lại &#8230; rất nhiều mà tôi chú ý nhất đến cái vô thức. Tôi cho là thơ của thế kỷ XVIII nặng về trí tuệ, đến thế kỷ XIX nó trả lại cho con người một dimension nữa, là dimension về tình cảm. Nhưng thế kỷ XIX chỉ đứng ở đấy thôi và đến thế kỷ XX nó mới trả lại cho con người một dimension nữa, tôi cho cái dimension ấy là vô thức, thì tôi đọc lại Freud rất nhiều. Tuy rằng Freud tôi đã đọc từ khi đi học nhưng cũng chỉ đọc một cách vội vã thôi, bây giờ mình đọc lại, sau tôi cũng rất thích Lacan, rồi đọc những Barthes thì ông ấy đều nói tức là phải có một cái gì nó Autre, một cái vô thức, mà lúc ấy thì tôi cũng chưa biết vô thức là như thế nào cả. Lúc ấy tôi thấy các ông structuraliste nói về ngôn ngữ học, kiến thức của mình về ngôn ngữ học kém quá, tôi lại phải lên thư viện trên gác là thư viện khoa học tự nhiên, tôi đọc ngôn ngữ học, tôi đọc Saussure như thế nào, vất vả lắm. Nhất là khi người ta nói về những tự động học thì mình đều phải đọc học lại cả. Ở thư viện trên gác ấy, những gì mình không hiểu thì hỏi những người quen trên ấy, như thế là trong thời gian ấy mình học được rất nhiều, rồi khi nào nó thành hình, tôi cũng không hiểu. Chị là người duy nhất mà nói về thơ tôi rõ ràng hơn tôi. Tôi nói thật đấy, vì khi làm, tôi cũng mù mờ cả thế thôi, tôi chỉ nghe, chỉ dựa vào một câu của Lacan nói, tức là: &#8220;L’inconscient est structuré comme un langage.&#8221; Tóm lại, tôi tìm học ngôn ngữ rất nhiều, nhưng càng ngày càng đi, tôi càng thấy: đúng, không phải, chính làm thơ tức là chống lại ngôn ngữ (ngôn ngữ mà tôi nói ở đây là linguistique chứ không phải la langue). Nếu mà làm thơ theo ngôn ngữ thì vứt đi. Nhưng mà mình phải biết nó thì mình mới chống lại nó được.</p>
<p>Chính tôi làm lúc đầu cũng run tay lắm, tại vì mình thấy tự nhiên mình nói một cái ngôn ngữ gì, nó không phải là ngôn ngữ của mọi người. Ở Dần ở Diếc tôi còn thấy cái ngôn ngữ là ngôn ngữ của mọi người. Một điểm đầu tiên là tôi không đưa thơ cho Dần và Hưng xem như ngày xưa nữa, tại vì tôi nghĩ: đưa cho họ cũng chẳng có tích sự gì, họ lại góp ý, có khi mình lại phải theo ý kiến của họ mà mình chưa tin thì làm sao mình theo họ được. Sau này, khi tôi in mấy bài rồi (khi đã phục hồi rồi), thì Dần có lên gặp tôi, nói rằng: &#8220;Được, nhưng mà hơi kỹ quá&#8221;. Tôi cũng không hiểu là anh ấy có ý gì, tôi cũng không hỏi nữa, mà lúc ấy tôi đã thành hình rồi, tôi chắc không ai thay đổi tôi được nữa.</p>
<p>Tóm lại là tôi thấy cần phải có vô thức thôi, mà tôi đi tìm nó. Tôi không có cái đinh ninh của người trưởng môn, cho nên lúc nào tôi cũng lo lắng, hồi hộp, chắc chị biết đó. Cho nên đến khi tôi đọc bài Tạo sinh của chị thì tôi mới lại tiếp tục nghiên cứu lại những bài mà tôi được đọc để cho nó sáng tỏ ra (cười). Không, tôi nói thật đó (cười) chứ còn khi tôi viết thì đúng là tôi cũng không có nghĩ gì, lẽ dĩ nhiên tôi là một người nặng về lý luận, cũng như anh em đều cho tôi là một người lý luận rồi, nhưng mà nói một cách rõ ràng, formuler một cách rõ ràng như thế thì đúng là lúc đó tôi cũng chưa formuler được. Tôi đã đọc Saint-John Perse, tôi đọc René Char, tôi đọc Francis Ponge, nhất là Ponge, tôi đọc rất nhiều. Tôi thấy công lao của Ponge về vấn đề ngôn ngữ nhiều lắm. Nhưng mà theo tôi, thì mình phải đi xa hơn họ. Trong lúc đó tôi đọc cả Nouvelle poésie française, tôi cũng đọc lại thơ Đường rất nhiều và trong thơ Đường nhiều cái rất hay mà tôi thấy nhiều lúc nó rất hiện đại cho nên trong thâm tâm tôi, tôi vẫn muốn làm thế nào mà có thể kết hợp được thơ Á Đông với thơ Tây phương. Đó là một chủ trương, nhưng tôi không biết chủ trương ấy phải thực hiện như thế nào thôi. Tại vì tôi không thích những người thời xưa, cái gì mình cũng ca ngợi Tây phương hết lời, đến khi người Tây phương ca ngợi Á Đông thì mình lại cho Tây phương là vứt đi, chỉ có Á Đông mới là sang trọng. Tôi cho rằng Á Đông cũng sang trọng mà Tây phương cũng sang trọng, nghĩa là mình biết như thế nào thôi. Cho nên điều mong muốn nhất của đời tôi -không biết có thực hiện được không &#8211; là làm sao tôi có thể làm được những câu thơ mang tất cả những tìm tòi của Tây phương kết hợp với những tìm tòi của Đông phương, thì đó là con đường đi thơ của tôi. Đến đâu thì chưa biết.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Thưa anh, thơ anh còn một đặc điểm khác hẳn thơ của những người khác, đó là anh dùng ít chữ lắm và thơ anh không rõ nghĩa như thơ những người khác. Cho nên đọc thơ anh không phải là dễ. Vậy xin anh giải thích thêm một chút về vấn đề này.</i></p>
<p><b>L.Đ.:</b> Tôi đã nói với chị cái đạt được ấy nhiều khi nó cũng vô thức lắm. Tôi rất thèm muốn được có cái hữu thức sáng suốt như anh Trần Dần, vốn tôi lại không có. Nhưng trong khi tôi nghĩ, tôi đi tìm cái vô thức ấy, thì tôi đọc rất nhiều, không những tôi đọc thơ Đường, đọc nouvelle poésie Pháp, mà tôi còn đọc rất nhiều ca dao, và đặc biệt là những bài hát trẻ con. Tôi thấy là cái chữ nghĩa ấy mà hình như là người ta tách nó ra khỏi cái nguồn gốc sinh thành của nó quá; vì thế cho nên chị xem trong thơ tôi có rất nhiều nguyên âm, hình như là cái chữ nó nấn ná lắm, chưa muốn ra khỏi cái nôi của mẹ nó. Tôi vẫn cho rạch ròi là bệnh xấu của thơ. Tôi thấy hình như chữ nó gần gụi với nhau lắm và nó không muốn chia tay nhau ở trên một trang giấy, thành ra, chị xem, thơ tôi hay lẫn lộn và hay có nhiều nguyên âm. Tôi vẫn cho rằng, mỗi câu thơ ấy, thường những chữ nó đều ở ngã ba, ngã tư chữ cả. Khi đọc những ngôn ngữ cổ, tôi thấy ngôn ngữ cổ rất ít tiếng, đôi khi một tiếng có hai nghĩa trái ngược hẳn nhau, tôi rất thích cái ngôn ngữ như thế tại vì hình như ngôn ngữ càng ngày càng muốn rạch ròi quá. Riêng tôi, tôi vẫn nghĩ hình như cái chữ khi nó ra khỏi im lặng, nó vẫn tiếp tục sự im lặng đó. Không biết chị đọc thơ tôi chị có thấy thế không, nhưng mà thơ tôi, những cái chữ nó ra, hình như nó đều bất đắc dĩ cả và nó nối tiếp cái im lặng mà ở trong đó nó thoát thai ra. Vì thế đọc thơ tôi nhiều người nói câu này, không biết chị có đồng ý không: &#8220;Thơ như một người nói nhịu ấy&#8221;. Mà nếu nói nhịu như thế thì hay tại vì, chắc là như chị cũng biết Freud phát hiện được cái vô thức là do nghiên cứu cái nói nhịu ấy thôi. Thì tôi cho rằng qua cái nói nhịu ấy, may ra mọi người phát hiện được cái vô thức của mình thì cũng rất tốt.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Thưa anh, câu chuyện đã dài, xin anh một lời kết thúc cho toàn bộ câu chuyện dài về Nhân văn Giai Phẩm của chúng ta.</i></p>
<p><b>L.Đ.:</b> Tôi muốn nói mấy điểm thế này chị ạ, chị thấy cái thời gian sống của Nhân Văn nó không lâu, chỉ có mấy tháng giời thôi, mà cũng chỉ có mấy số báo thôi, nhưng làm sao nó để lại một ảnh hưởng sâu đậm như thế? Làm sao chỉ có mấy người (lúc bắt đầu Giai Phẩm Mùa Xuân chỉ có mấy người) mà mấy người cũng rất trẻ, sau đó phong trào Nhân Văn trở thành một phong trào rộng lớn, một bên là phong trào sinh viên rất đông, hai là một số giáo sư đại học, tất cả thành hình như là một giới trí thức nói chung. Mà chẳng có bộ máy gì cả, chẳng có quyền lợi gì cả, không hứa hẹn gì cả, chẳng có văn chương cho ai cả, chỉ có một đám người như thế đứng lên, thì cái đó là điều làm cho mình phải suy nghĩ lắm. Như thế mới thấy là cái khao khát của những người trí thức muốn đóng góp cho đất nước rất sâu sắc. Lúc bấy giờ mọi người đều đóng góp, có được tiền nong gì đâu, mà đóng góp lúc ấy rất nguy hiểm. Thì tôi thấy những người lãnh đạo nước Việt Nam phải lưu ý: Tại làm sao, thời ấy, một nhóm người rất nhỏ có thể huy động được nhiều trí thức như thế? Làm sao một bộ máy lớn như bộ máy nhà nước mà không huy động được trí thức trong vấn đề xây dựng đất nước, bây giờ? Nếu những người lãnh đạo đất nước bỏ tất cả những bực dọc, bỏ tất cả những định kiến đi, mà suy nghĩ về vấn đề Nhân Văn Giai Phẩm, tôi chắc họ cũng học được rất nhiều, nhất là bây giờ người ta đang nói nhiều đến chất xám. Chất xám trở thành một cái vốn rất lớn, nhưng sự huy động chất xám chưa được bao nhiêu cả. Thế mà làm sao thời kỳ Nhân Văn chỉ có một nhóm người mà huy động được một cái chất xám lớn lao như thế? Mà chỉ trong một thời gian ngắn đã trở thành một lực lượng thực sự. Nếu những người có thẩm quyền của nước Việt Nam bây giờ thực sự suy nghĩ về thời kỳ Nhân Văn Giai Phẩm, để làm sao có thể huy động được giới trí thức lớn lao như vậy thì đất nước sẽ khá hơn nhiều.</p>
<p>Tại sao bây giờ tất cả những người ở trong nước lại tránh nói đến vấn đề Nhân Văn Giai Phẩm? Nó là vấn đề lịch sử đã qua rồi. Chúng ta có thể rút kinh nghiệm cho những ngày tới. Tôi thấy việc ấy nên làm lắm. Không ai có thể tịch thu được lịch sử cả tại vì lịch sử sống dài hơn một con người, lịch sử sống dài hơn một chế độ. Thà mình biết trước, mình làm cho nó thỏa đáng, nó lịch sự bao nhiêu không. Bây giờ mình cứ để cho đến lúc mà&#8230; thường thường bao giờ người ta rút kinh nghiệm lịch sử thì bao giờ cũng quá muộn.</p>
<p><b>T.K.:</b> <i>Xin cám ơn nhà thơ Lê Đạt.</i></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>***</b></p>
<p><b>Đọc Văn Lê Đạt</b></p>
<h2><strong>Bài Haiku</strong></h2>
<p><i>Hương thắp gọi ba lần không đáp lửa<br />
Hồn có nhà hay bát mộ đi xanh&#8230;<br />
</i><br />
Tướng quân Yoda là shogun lẫy lừng một thời. Ông bỗng chán cảnh binh đao rửa tay gác kiếm, gửi lại quyền bính cho người em ruột, rút lui vào một tu viện chính ông cất công xây dựng ngay trong quần thể dinh cơ của mình. Cung viện không đồ sộ, tráng lệ như cung shogun nhưng cũng đường bệ, u hoặc, oai nghiêm không kém gì những tu viện lớn ở Kyoto.<br />
Tướng quân đã cho người đi sưu tập nhiều tác phẩm của các bậc đại danh họa, trong dó có những bức nổi tiếng thời đó như bức: Con chó có tính Phật không? Chơi đàn không dây, Hoàng Bá đánh ngã Nghĩa Huyền và Nghĩa Huyền bạt tai Hoàng Bá v. v. &#8230; Yêu những tác phẩm hội họa đến mức Yoda kể cũng vào loại người xưa nay hiếm. Sớm sớm sau khi thức giấc, ông sửa sang mũ áo tề chỉnh đến cúi rạp đầu chào các bức tranh rồi ngồi ngay ngắn tư thế hoa sen, thiền mặc với cổ nhân, đôi mắt lim dim như cất khỏi những phức lụy của cõi tục, để đối thoại với vô cùng. Ông thường dạy các môn đồ: &#8220;Các con hãy hội kiến đại họa phẩm như hội kiến một đại vương hầụ Phải cúi đầu trước kiệt tác và nín thở chờ đợi nghe nó nói &#8230;&#8221;<br />
Chẳng bao lâu tu viện của ông trở thành một nơi hành hương nổi tiếng vùng Nagoya. Đám đông, sùng đạo có, tò mò có, từ khắp nơi kéo tới. Yoda nay trở thành một thượng tọa danh tiếng còn lẫy lừng hơn cả thời trận mạc kia, nhất cử nhất động đều khoan thai, dịu dàng đã có một thời &#8230; máu đổ đầu rơi nơi cung kiếm. Tu viện của ông sạch như lau cũng như nét mặt thuần khiết và nghiêm cẩn của ông &#8230; Tưởng chừng như không có chỗ nào khuất tất cho một tạp niệm; một chớt nhả hay dung tục ẩn bụi. Có thể nói đây là một diện mạo công khai toàn phần.<br />
Một người đã nhát chặt đứt mọi tơ vương với hoa hậu và đám tỳ thiếp, người xoàng nhất cũng quyến rũ hơn bất cứ một geisha hảo hạng nào nơi kinh kỳ, người ấy phải có một tấm lòng thuần khiết ở mức thượng đỉnh.<br />
Chiều chiều trên con tùng lộ, nơi ông mặc tư về lẽ trầm luân của thế sự, con họa mi trống nhiều lần đã phải bỏ dở bản tình ca ba mươi sáu điệu, e làm kinh động những ý thức siêu đẳng của bậc cao tăng.<br />
Tu viện có một thư viện đặc biệt quí giá. Tướng quân đã cử người sang tận Trường An mua bản sao có đánh số của bộ Kinh Phật toàn tập do thầy Đường Tăng cùng Tôn Ngộ Không và Trư Bát Giới thỉnh từ Tây Trúc về. Khu sách về đạo thiền cũng chiếm mấy kệ đầy ắp, nhưng như chúng ta đã biết, những đại thiền sư thường hiếm khi trước tác nên phần lớn chỉ là sách chuyên khảo của các nhà thiền học.<br />
Ngoài ra còn có bộ đồ trà thiên hạ vô song, men chảy mỏng như lá lúa, thuộc một nghệ thuật gốm đã thất truyền.<br />
Hình như đấng tối cao cũng chứng cho lòng thành của người kiếm sĩ đã dốc lòng chuyển nghiệp nên những hạt mộng bỗng nẩy mầm nơi trái tim quen với sự sát phạt, như bầy chim ngậm những chồi xanh thả mùa xuân phủ bóng rợp lục chiến trường trơ trụi ngày xưa. Tướng quân Yođa bỗng làm thơ &#8230; Và thơ ông được truyền tụng chẳng kém gì những chiến tích thủa trước. Chỉ ít lâu sau ông đã trở thành trưởng môn của trường phái thơ Nayoga một cách hết sức dân chủ tuy chẳng thông qua bỏ phiếu kín. Mọi người thành thật tín nhiệm ông và bầu ông bằng tấm lòng thành im lặng của mình. Ông có thừa tiền để tự xuất bản, nhưng thấy không cần phải làm việc đó, vì giới mộ điệu tại Nayoga ai mà chẳng thuộc của ông ít nhất trên một bài &#8230; Nỗi ao ước lớn của Yođa là gặp được Basho, người tu sĩ lang thang kiêm nhà thơ danh tiếng nhất thời đó.<br />
Mà gặp Baso có khi còn khó hơn gặp Hoàng Đế, vì Hoàng Đế tuy cao sang mà còn có địa chỉ. Basho thì vô định như một đám mây ma cà bông vào một ngày thu nổi gió.<br />
Yoda đã cho người đi khắp nơi cố tìm mua một bức chân dung của Basho. Không được cái may hội ngộ thì cũng gặp nhau qua nét vẽ cho thỏa lòng ngưỡng vọng. Nhưng tìm hoài không đâu có. Hình như Basho mặt mũi quá xoàng để có thể ghi lại được bằng nét vẽ. Thiên hạ đồn rằng một lần có một nhóm họa sỹ mến mộ tài Basho đã khẩn khoản mời nhà thơ tới để vẽ một bức chân dung. Basho vốn tính cả nể và thích rượu mà nhóm họa sỹ kia đều là những nghệ sỹ nổi danh và càng nổi danh hơn về cái khoản tửu sỹ. Điều kiện lại hấp dẫn, Basho không phải ngồi bất động làm người mẫu mà cứ thoải mái hành tửu trong lúc các họa sỹ hành nghề. Một chục nhà danh họa vẽ Basho, người nào cũng khăng khăng phác thảo Basho của mình mới đích thực. Và trong khi mọi người tranh luận hăm hở về Basho đích thực thì ông Basho bằng xương bằng thịt sau khi đã tu hết rượu, bản thân mình cũng chẳng biết đích thực là thế nào đã lặng lẽ bỏ đi. Trơi chuyênh khoáng gió như thế này ai lại hóa dại ngồi một chỗ khi con đường trước mặt tung tăng như một lời mời viễn du.<br />
Cuộc vẽ bỏ dở và mãi cho đến giờ Basho vẫn chưa có chân dung.<br />
&#8220;Người thì thậm xấu hát thì thậm hay&#8221;. Ai đã có được bức chân dung Trương Chi? Không biết Basho có thậm xấu như Trương Chi không nhưng thơ Basho quả thậm hay. Đã bao lần Yoda đọc lại bài Haiku của Basho:<br />
<i>Trong đại im<br />
Tiếng dế ăn vào<br />
Thớ đá &#8230;<br />
</i>Theo trí nhớ uyên bác của Yoda thì chưa có nhà thơ nào nói tới cõi đại im kia.<br />
Chỉ non một chục chữ. Ôi ước gì mỗi chữ như một chiếc hộp, ta có thể tháo nắp ra xem bên trong nó chứa đựng những gì mà tinh vi mà ảo diệu đến vậy&#8230; Ước gì trong những giờ thiền định của mình, Yoda chỉ một lần đạt tới cõi &#8220;đại im&#8221; kiạ<br />
Đã nhiều đêm Yoda theo dõi những chữ của bài thơ như người cổ sơ theo dõi chùm thất tinh lấp lánh trên nền trời&#8230; thầm hỏi về ý nghĩa cuộc đời: Trong cõi &#8220;đại im&#8221; mênh mông&#8230; những ngôi sao, những con chữ cứ lấp lánh&#8230; lấp lánh mãi&#8230; hàng nghìn tín hiệu ánh sáng thăm thẳm nghĩa.<br />
Cho nên khi được tin Basho đang quanh quất ở địa phương, Yoda lập tức ra lệnh cho các môn đồ chia các ngã đi kiếm bằng được người kỳ sĩ mời về tu viện.<br />
Một nhóm tam tam may mắn gặp Basho đang ngủ dưới một gốc cây bàng già, cả người toát ra mùi sake, quần áo sộc sệch, mặt mũi dung tục như một nông phu. Chẳng lẽ một kẻ tục tử như thế kia lại là một nhà thơ Basho lừng danh ? Người môn đồ tâm phúc của Yoda đã hỏi đi hỏi lại ông gìa quán gần đó: &#8220;Có đúng ông này là nhà thơ Baso không ?&#8221; Ông già quán thật thà: &#8220;Không biết có phải là nhà thơ Baso không, nhưng ông ta đúng là Baso thường nợ tiền rượu của lão&#8221;.<br />
Người môn đồ thất vọng. Chẳng lẽ nhà thơ Basho lại đi uống rượu chịu ? Nhưng vốn biết tính sư phụ rất mực nghiêm khắc, anh ta cứ cho võng cái thằng cha say rượu có tên Basho kia về.<br />
Nhìn con người bụi bẩn rơi đầy tạp chất trên nền gạch như gương của tu viện, nằm ngủ chảy cả dãi xuống nệm quí, Yoda không khỏi băn khoăn. Đây có phải đích thực Basho không?<br />
Nhưng kìa nhà thơ đã tỉnh giấc. Yoda trân trọng lấy bộ đồ trà cực quí như ta đã biết, hai tay nâng bát trà lên ngang mày cung kính mời khách. Chừng say rượu nên khát nước, Basho cầm bát trà, chẳng cần để ý đến loại men quí cũng chẳng cần đáp lễ, uống đánh ực một cái. Và chẳng đợi chủ nhân tiếp thêm, ông tự tay múc trà uống thêm hai bát nữa như phường ngưu ẩm. Người dầy công hàm dưỡng như Yoda mà cũng phải nhíu mày. Kẻ phàm phu này là nhà thơ Basho thật ư ? Nhưng nom ông uống hồn nhiên và ngon lành quá đến nỗi người ta có thể nghĩ tất cả những nghi thức uống trà đều là trò rắc rối thiên hạ bịa ra để làm phiền nhau một cách vô tích sự. Yoda hơi dao động. Đây là kẻ tục tử hay một đại thánh nhân đạt tới mức bình thường tâm mà đại thiền sư Cổ Đức đã gói gọn trong một lời kệ nổi tiếng: &#8220;Khi đói ta ăn, khi mệt ta ngủ ?&#8221; Uống nước xong, vẻ đã đỡ khát, Basho ngước nhìn những bức họa phẩm. Ông cười hí hí như trẻ thơ. Không những thế, khi đến bức tranh Hoàng Bá đánh ngã Nghĩa Huyền và Nghĩa Huyền bạt tai Hoàng Bá, ông còn giơ tay tát thêm cho Hoàng Bá một cái vẻ hết sức thú vị: &#8220;Cho hắn một cái tát nữa&#8221;.<br />
Dung tục hết chỗ nói, nhưng&#8230;<br />
Nhưng câu hỏi quái ác: &#8220;Dung tục hay thánh nhân.&#8221; &#8220;thánh nhân hay dung tục&#8221; cứ vọng động mặt hồ vốn tĩnh lặng của một tâm hồn dầy công tu luyện đã gần tới bậc thượng thừa.<br />
Yoda cách đó ít ngày có sáng tác một bài Haiku đặc biệt ưng ý:<br />
<i>Con chuồn chuồn ngô<br />
Bứt hai cánh<br />
Quả ớt<br />
</i><br />
Bài thơ được các thi sĩ trường phái Nagoya cực lực tán thưởng. Nó không những đột ngột về mặt nghệ thuật mà còn thâm sâu về mặt tư tưởng. Chỉ mấy dòng thơ ngắn mà diễn được vòng luân hồi và thuyết vạn vật nhất thể của đạo Phật.<br />
Yoda đã chép bài thơ trên một mảnh giấy lụa siêu hạng, nét bút tung hoành như đường kiếm tuyệt luân. Tướng quân nửa cung kính, nửa tự hào đưa Basho. Ông ta liếc mắt xem qua rồi từ từ đưa ngược tờ giấy.<br />
Thế này thì quá lắm! Chắc Basho giả đứt đuôi đi rồi. Chẳng lẽ làm thơ lại không biết chữ, lại đọc ngược?<br />
Cố nén bực tức nhưng vẫn không rũ bỏ được hết gay gắt, Yoda nói:<br />
&#8211; Ngài đọc ngược &#8230;<br />
Tướng quân bỗng rùng mình. Ông cảm thấy như mắt Basho lấp loáng những ánh trắng biếc của thứ thần kiếm. Đúng không? Hay đó chỉ là một ảo giác? Yoda chưa kịp xác định thì đã nghe thấy Basho nói thản nhiên, chẳng biết nghiêm túc hay bông lơn:<br />
&#8211; Ngược thế mới thuận.<br />
Và ông lấy bút viết nguệch ngoạc:<br />
<i>Quả ớt<br />
Chắp hai cánh<br />
Chuồn chuồn ngô<br />
</i>Yoda cầm tờ giấy lặng ngườị Chao ôi! chỉ một cái đảo ngược mà đường trường vạn thủy thiên sơn có khi trọn đời tu dưỡng ông chưa chắc đã vượt qua nổị<br />
Ông triền miên trong ý nghĩ, thương cho cái sát kiếp còn quá nặng căn của mình. Khi ông bừng tỉnh thì Basho đã biến mất tự bao giờ.<br />
Tướng quân gọi người môn đồ tâm phúc:<br />
&#8211; Basho đại nhân đâu? Người chạy đi tìm ngay về cho ta.</p>
<p>Người môn đồ hớt hãi chạy tới chỗ người gác cổng vừa thở vừa hỏi:<br />
-Basho đại nhân đâu?</p>
<p>Người gác cổng ngơ ngác:<br />
&#8211; Đại nhân nào? Có phải cái lão đạo sĩ say rượu hồi nãy không? Chết, lão ta ăn cắp cái gì của tướng quân&#8230; Tôi biết ngay mà&#8230; Nom lão gian lắm&#8230; Tôi đã khám bị rồi. Chỉ toàn một thứ giẻ rách với một bình rượu.</p>
<p>Rồi hắn giậm chân xuống sàn nhà bình bịch:<br />
&#8211; Khổ quá, tôi quên không khám bình rượu &#8230; Chắc lão ta xoay thứ mỹ tửu của tướng quân!</p>
<p>Người môn đồ ngắt lời:<br />
&#8211; Ông ta có gởi lại gì không?</p>
<p>Người gác cổng gãi tai:<br />
&#8211; Có&#8230; Có &#8230; Lão ta có gởi lại một tờ giấy bẩn thỉu tôi quẳng đây không biết bay đâu &#8230;</p>
<p>Người môn đồ nghiêm nét mặt:<br />
&#8211; Ngươi tìm ngay &#8230; nếu mất thì ăn đòn&#8230;</p>
<p>Người gác cổng giơ tay lên trời:<br />
&#8211; Khổ quá, cậu không tin tôi sao. Chỉ có tờ giấy trắng hạng bét không có chữ.</p>
<p>Trước nét mặt lầm lì của người môn đồ, lão gác cổng đành lúi húi bò tìm các xó nhà, các gầm ghế &#8230; Tìm mãi mới thấy. Thì ra hắn nói đúng. Chỉ có một tờ giấy thứ phẩm &#8230; chưa viết.</p>
<p>Người môn đồ đem vào dâng thầy. Yoda cầm mảnh giấy trắng trơn, suy nghĩ rất lung&#8230; Rồi thấy ông từ từ đứng dậy, treo mảnh giấy bên những đại họa phẩm&#8230; Ông đứng ngắm một hồi lâu. Bỗng ông ôm bụng cười. Cười ngặt nghẽo như cả đời ông chưa bao giờ được thỏa chí một bữa cười ngon như vậy&#8230;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Đọc Thơ Lê Đạt: </b></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Nguyễn Du </b></p>
<p>Nhớ liễu hồ<br />
tới nhờ em xõa tóc<br />
Em vắng nhà<br />
bồ kết chửa đi xa<br />
Cầu nước chảy<br />
bóng chiều xuân tha thiết<br />
Xanh Thanh minh em thổi liễu vô hình</p>
<p><b>Lý Bạch </b></p>
<p>Tiến tửu<br />
chén vơi<br />
trăng đầy hát<br />
Rượu say mèm<br />
sầu tỉnh<br />
hận không say<br />
Thiên lý chữ tuôn lòng nhật bạch<br />
Không tận xanh<br />
thơ thở trắng trời</p>
<p><b>Hồ Xuân Hương </b></p>
<p>(Bá ngọ con ong bé cái lầm<br />
H. X. H.)<br />
Xuân chẳng buông hương<br />
sao bướm vượt đường<br />
Kìa hoa leo tường<br />
là hoa dâm bụt</p>
<p><b>Sơ đồ một giấc mơ</b></p>
<p><i>1</i><i>. Khách cứ tấm tắc ai khéo chọn đất xã khai hoang</i></p>
<p><i>&#8211; Thế đất tuyệt</i></p>
<p><i>sông diễu mặt núi gối đầu </i></p>
<p><i>trụ sở lại nhòm Vật Đá đẻ</i></p>
<p><i>chỗ tụ thuỷ</i></p>
<p><i>lập nghiệp tốt phải biết</i></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><i>Tiễn khách</i></p>
<p><i>buộc con đò gốc mơ lão thụ bến rừng</i></p>
<p><i>chủ tịch bỗng bâng khuâng</i></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><i>Anh nhớ một tuổi thơ chào khua nước sóng hai cha con sông dài </i></p>
<p><i>Ai quyết toán những đận sông một đời người </i></p>
<p><i>Mỗi lần năm cùng tháng tận rong con nan quay đầu nơi làng quê chật</i></p>
<p><i>làm nhiệm vụ hương khói tổ tiên</i></p>
<p><i>Ông cụ lại ôm con vào lòng (hồi này mẹ giữ anh ở nhà)</i></p>
<p><i>nghêu ngao những tên bến đẹp trằn trọc</i></p>
<p><i>và những truyện còn dị kỳ hơn cổ tích</i></p>
<p><i>Rất nhiều róc rách và gió vỗ mãi bờ chiếc võng chòng chành</i></p>
<p><i>một hoàng hôn nước cả</i></p>
<p><i>Để đến lúc nhà chưa kịp hạ nêu đã lén nhổ sào hối hả đi </i></p>
<p><i>đi như người đi tìm</i></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><i>2</i><i>. Ông cụ lênh đênh sông hồ mơ một thế đất mở cho quê thở</i></p>
<p><i>Và cái người bố thiết tha quê có buồng phổi </i></p>
<p><i>đến là ăn tốn ốc&#8230; xy ấy cứ bôn ba mãi </i></p>
<p><i>Mỗi lần về ông cụ thường nằm vật giường thở </i></p>
<p><i>phù phù tre hàng ấm chè xanh như con cá mắc cạn</i></p>
<p><i>hay chiếc biến thế quá tải cần hạ nhiệt</i></p>
<p><i>Rồi chẳng cơm sống canh nhạt chẳng ai đá thúng</i></p>
<p><i>đụng nia gì đùng đùng lại đi&#8230;</i></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><i>3</i><i>. Bà cụ lòng thành rừng xanh núi đỏ cầu hết đền này phủ nọ</i></p>
<p><i>xin bà Chúa Thượng Ngàn</i></p>
<p><i>Xá cho người chồng nặng căn&#8230;</i></p>
<p><i>Vô ích</i></p>
<p><i>Những dòng sông cứ chồng chất bồng bềnh đầu người mang gen Khoảng Rộng</i></p>
<p><i>trót sinh ngày Con nước</i></p>
<p><i>&#8211; Ăn thưởng ăn phạt gì đầu hai thứ tóc còn lêu têu </i></p>
<p><i>như đồ thất tộc</i></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><i>Ông cụ cười xoả nhận khuyết điểm</i></p>
<p><i>để rồi </i></p>
<p><i>    lại đi&#8230;</i></p>
<p><i>4</i><i>. Cho đến lần ông cụ bệnh hiểm nghèo </i></p>
<p><i>cáng về nhà thì đã cấm khẩu </i></p>
<p><i>chỉ kịp di chúc con một mảnh giấy nhầu nát </i></p>
<p><i>nét nguệch ngoạc</i></p>
<p><i>một giấc mơ bất đắc</i></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><i>Ba năm bốc mộ</i></p>
<p><i>mất tích ông cụ</i></p>
<p><i>Chẳng biết mối xông</i></p>
<p><i>Hay ông lão lại xổng chết lỉnh đi một đận sông nào </i></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><i>5</i><i>. Khách vẫn tấm tắc</i></p>
<p><i>Thế đất tuyệt&#8230; sông diễu mặt&#8230; núi gối đầu</i></p>
<p><i>Chẳng biết chủ tịch trẻ đăm chiêu gì</i></p>
<p><i>chỉ thấy anh hì hụi Đống giấy bụi </i></p>
<p><i>lục tìm sơ đồ giấc mơ ông cha </i></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><i>Một nét đậm ngoằn ngoèo có ghi tên con sông Dân</i></p>
<p><i>cách huyện lỵ chừng 20 ki lô mét</i></p>
<p><i>gối đầu dãy núi Hồng</i></p>
<p><i>có ba cây mơ chân vạc</i></p>
<p><i>Biết đâu chẳng đúng địa điểm Xã La Phù 2 này </i></p>
<p><i>cũng bờ con sông Dân</i></p>
<p><i>cũng cách huyện lỵ 20 ki lô mét</i></p>
<p><i>cũng gối đầu dãy núi Hồng</i></p>
<p><i>chỉ dôi một gốc mơ.</i></p>
<p><i>Anh chăm chú sơ đồ khát vọng dở dang tiền nhân</i></p>
<p><i>Rồi theo một thói quen hành chính lấy bút bi </i></p>
<p><i>ghi bên cạnh</i></p>
<p><i>    Đã giải quyết</i></p>
<p><i>Nghĩ thế nào anh xoá đi viết lại </i></p>
<p><i>    Đương giải quyết</i></p>
<p><i>1970</i></p>
<p><i>(trích Lão Núi)</i></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Ngộ Không</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2016</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ngo-khng-tc-gia-v-tc-pham-l-dat/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Kh&#244;ng : T&#225;c Giả v&#224; T&#225;c Phẩm -L&#226;m Chương</title>
		<link>https://t-van.net/ngo-khng-tc-gia-v-tc-pham-lm-chuong/</link>
					<comments>https://t-van.net/ngo-khng-tc-gia-v-tc-pham-lm-chuong/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 04 Feb 2016 14:28:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Tác Giả Tác Phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không; tgtp]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=25423</guid>

					<description><![CDATA[Tiểu sử Sinh ngày 28.10.1945 tại Gò Dầu Hạ, Tây Ninh. Định cư tại Boston, Massachusetts, Hoa Kỳ Tác phẩm Loài cây nhớ gíó &#8211; Ðoạn đường Hốt Tất Liệt – Đi giữa bày thú dữ &#160; Lâm Chương, lỗi tại con chim Luân Hoán Thời ở KBC 4100 (khu bưu chính), nhà văn Lâm [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2016/02/clip_image001-3.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" class="" style="background-image: none; float: left; padding-top: 0px; padding-left: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image001" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/02/clip_image001_thumb-150x150.jpg?strip=all" alt="clip_image001" width="165" height="158" align="left" border="0" hspace="12" /></a></p>
<p><strong>Tiểu sử<br />
</strong>Sinh ngày 28.10.1945 tại Gò Dầu Hạ, Tây Ninh. Định cư tại Boston, Massachusetts, Hoa Kỳ</p>
<p><strong>Tác phẩm</strong></p>
<p>Loài cây nhớ gíó &#8211; Ðoạn đường Hốt Tất Liệt – Đi giữa bày thú dữ</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-weight: bold;">Lâm Chương, lỗi tại con chim</span></p>
<p><b>Luân Hoán</b></p>
<p><b><i>T</i></b>hời ở KBC 4100 (khu bưu chính), nhà văn Lâm Chương làm thơ. Nhưng tôi không đọc được nhiều thơ anh trên nguyệt san Bộ Binh. Hình như Lâm Chương chỉ làm thơ cầm chừng, theo nhu cầu đổi ngày ra phép cuối tuần. Lâm Chương cũng rất ít khi xuất hiện ở văn phòng tâm lý chiến của quân trường. Tôi giống anh ở điểm này, dù “hữu danh” trong ban biên tập. Trong năm ba lần vui chân, tôi và anh không hẹn, đã cùng tạt vào chỗ ngồi của mấy anh sính làm báo, và chúng tôi có dịp thấy nhau, bắt tay nhau.</p>
<p>Lâm Chương dong dỏng, trên một thước bảy, có da thịt vừa đủ của một thanh niên khoẻ mạnh. Khuôn mặt đủ làm mục tiêu cho các em “bò lạc”. Lâm Chương ít nói và cũng không mấy khi cười. Có thể vì giao thiệp với anh ít quá, tôi không có cơ hội bắt gặp đôi môi anh làm việc chăng. Môi, miệng có nhiều công tác, chức năng lắm, nhưng cái tôi đề cập ở đây là sự truyền phát âm thanh.</p>
<p>Trong suốt chín tháng quân trường, tôi gặp Lâm Chương nhiều lắm vài ba lần. Tình huynh đệ chi binh rất lỏng lẻo. Nhưng thơ của anh lại giữ trong tôi một ấn tượng rất tốt. Ngày nay tôi và chắc cả anh cũng không thể nhớ ra những bài thơ một thời bộ binh của anh. Dù vậy, tôi cũng có thể nói chắc, chúng (những bài thơ) không thuần túy là những bài thơ tình yêu, cũng không phải là những bài ngợi ca quê hương, hay những bài suy tư về thân phận, cuộc chiến. Trong những bài, hình như chỉ gói ghém trong chừng mười bốn đến mười tám câu, mọi nội dung trên đều có, và được pha trộn một cách khéo léo. Sức thu hút của thơ Lâm Chương thời Bộ Binh còn nằm trong phong thái diễn đạt thường được cho là hào sảng, phóng khoáng. Chính điều này đã giúp tôi nhớ nhà thơ Lâm Chương, quí nhà thơ Lâm Chương dù không nhớ một câu, một chữ nào anh đã viết. Nghe thật vớ vẩn, nhưng lại thật “trăm phần trăm!”.</p>
<p>Lâm Chương là tên thật, đến với cuộc sống từ năm 1942, nhưng trước bạ khai sinh ghi ngày 28 tháng 10 năm 1945. Gò Dầu Hạ tỉnh Tây Ninh là đất anh chào đời. Mồ côi mẹ sớm, thân phụ mang về cho anh một người dì ghẻ như cái “bánh đúc không xương”. Thời tiểu học, Lâm Chương học giỏi, nhưng không chăm học lắm, thường bỏ lớp, la cà theo tiếng chim, tiếng dế, tiếng ếch nhái ve vãn nhau. Vạt ruộng xanh, gốc cây lớn cũng thường rủ rê Lâm Chương tiêu phí hàng giờ, ngồi hóng gió, nhìn mây. Hương thơm rơm rạ, màu sắc cỏ hoa cũng níu kéo anh ngày này qua ngày khác. Anh trải tuổi thơ lên mỗi vuông đường làng, lên cả những cuốn sách phiêu lưu mạo hiểm. Xong tiểu học, Lâm Chương thực hiện được giấc mộng ra khỏi cổng làng của mình. Anh được cho ra tỉnh ở trọ ăn học. Thân phụ anh không thiếu bổn phận làm cha. Không có gì thú vị hơn được đi xa trọ học. Nhất là thời “nhất quỉ, nhì ma&#8230;” chỉ còn quậy lật ở khúc đuôi. Tôi từng có chút phần thưởng này thời học Trần Cao Vân Tam Kỳ, và những tháng ngày ở khu Hồ Tịnh Tâm Huế.</p>
<p>Tình thương của người đàn ông nông thôn vốn khép kín, vụng về, đôi khi cục mịch. Lâm Chương không phải không nhìn ra tấm lòng của cha mình. Nhưng anh có chút ít bướng bỉnh, ít nhiều tinh thần tự lập, cộng thêm hoàn cảnh eo hẹp tình thương nhưng giàu mơ mộng, cuối cùng đã đẩy anh ra khỏi cánh cửa gia đình, năm lên mười sáu. Thoạt đầu Lâm Chương lên Sài Gòn, sống lẩn quẩn ở chợ Bến Thành và Ga xe lửa. Thành phố chật tiếng người, tiếng sinh hoạt chợt làm anh sợ. Sau vài đêm ngủ lén ở chái hiên, sạp hàng, Lâm Chương nhớ đến những cảnh sắc thanh lịch, những con người dịu dàng từng được nghe, được đọc về một cố đô tuyệt vời, Lâm Chương quyết định nhảy lên tàu hỏa ra xứ Huế. Bốn trăm bạc, tiền trọ học một tháng, ba anh gián tiếp cho lần cuối cùng, trước khi anh ra khỏi nhà đã vơi đi ít nhiều nhưng anh không ngại vẫn khéo léo nhảy lên tàu. Lộ trình vời vợi xa với bao nhiêu sân ga sẽ đến, Lâm Chương không dễ gì đến được cái đích trong mộng ước khi trong tay không có vé tàu. Người soát vé dù có chút tử tế cũng đã buộc anh phải xuống Nha Trang.</p>
<p>Đất trời thành phố biển chào đón gã giang hồ vị thành niên bằng một cơn mưa phùn lì lợm, rả rích mãi quên thôi. Lâm Chương tạm nhét nỗi lo buồn mảnh khảnh vào bọc áo quần, anh lượm được một tấm nilon đủ rộng choàng lên người, bắt đầu đi trồng những kỷ niệm. Tiếng gọi của biển dường như vang ngay trong lòng anh. Hàng quán, hiệu buôn, nhà ở cả đến con người hình như cũng trầm lặng. Tất cả từ từ lùi lại sau lưng Lâm Chương, Nha Trang đãi anh bữa ăn sáng bằng sự bao la cuồng động của biển cả. Mưa vẫn nhẹ nhàng như thoa trên vai, trên lưng. Xúc động trước chào đón của thiên nhiêm, Lâm Chương trao ra những giọt nước mắt cất đã lâu của mình.</p>
<p>Ngày theo ngày tiếp nhau, bao nhiêu chỗ ngả lưng đã tình cờ đến với Lâm Chương. Sân đình, lòng chợ, chòi gác,bãi tha ma&#8230;từng địa điểm vô danh của Nha Trang lần lượt được hấp ấm dưới thân thể hao hụt thịt máu của Lâm Chương. Nhưng anh thật hạnh phúc, đã gặp được rất nhiều người còn một tấm lòng. Sự đùm bọc, thương mến của gia đình một người Huế, của một người tài xế xe chở đá, của một bà Ba mộ đạo Phật, của một Kỹ sư Kiều lộ làm Trưởng ty Hỏa Xa, của một vị sư và nhiều nữa. Họ đã thay nhau hóa giải những khó khăn cho anh một cách kịp thời. Lâm Chương cũng hưởng được tình gia đình từ những người em gái anh có nhiệm vụ dạy kèm. Hơn thế nữa, chưa có được mảnh bằng trung học phổ thông, anh đã có một cuộc tình, một người yêu thánh thiện. Và khi chưa nắm trong tay cái tú tài, anh đã hưởng được lạc thú của tình dục một cách no đủ trong sự yêu thương chân tình. Trong đoạn đời xa cách người cha già, Lâm Chương đã từng bước trưởng thành qua khá nhiều nghề lao động vất vả. Không có đứa con hư lưu lạc nào không canh cánh bên lòng sự trở về. Cơ hội đến với Lâm Chương từ một tai nạn nghề nghiệp của thân phụ anh.</p>
<p>Đã có chuyến giang hồ thứ nhất, không dễ bỏ những cuộc đi tiếp theo. Lâm Chương vào Nam sống trong khu lao động. Chặng đời quan trọng của một thanh niên trong thời chiến không đợi cũng đến. Lâm Chương gia nhập vào đại gia đình quân đội Việt Nam Cộng Hòa, qua cánh cửa trường Bộ Binh Thủ Đức, khóa 24. Sau đó anh về đơn vị Biệt Động Quân. Chặng đời binh nghiệp của Lâm Chương không ngắn. Anh khôn khéo hay may mắn từ chối những chiến thương bội tinh, chỉ chọn vài chiếc anh dũng bội tinh cất vào ba lô. Trong một bài nhắc nhớ kỷ niệm thời Thủ Đức, Lâm Chương “Tán Ngẫu Về Một Người Làm Thơ”:</p>
<p><i>“&#8230;Mười năm lăn lóc chiến trường, đạn không bén đến da tôi. Có thể tôi gặp thằng xạ thủ bắn tồi, cũng có thể tôi né đạn giỏi. Nhiều người bảo phần số tôi may mắn. Tôi bảo không phải vậy, và đọc thơ Nguyễn Du: ‘xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều’. Bởi không làm thi sĩ nên khi qua những làng mạc, tôi biết đề phòng du kích bắn sẻ. Bởi không làm thi sĩ nên khi vào những khu rừng hắc ám, tôi biết đặt mình trong tư thế sẵn sàng nổ súng vào bất cứ con gì nhúc nhích trước mặt (bắn chậm thì chết)</i></p>
<p><i>&#8230; Tóm lại, bởi không làm thi sĩ nên khi đi giữa làn tên mũi đạn, tôi không hề mơ mộng viển vông&#8230;”</i></p>
<p>(LH Một Đời Thơ)</p>
<p>Thật ra, Lâm Chương vẫn giữ con người thi sĩ của anh, nhưng biết đặt nặng vai trò chiến sĩ anh đang mang ngoài mặt trận lên trên trò chơi chữ nghĩa. Lâm Chương biết đề cao cảnh giác tối đa cho anh và cho đồng đội, cộng thêm sự may mắn không thể phủ nhận. “Đạn tránh người, người không tránh đạn” gần như một qui luật. Mừng cho Lâm Chương giữ được lành lặn để có mười năm tiếp theo ăn cơm tù, phá rừng trồng khoai, trồng sắn, có cơ hội mục kích tận mắt nhiều chuyện ngoài tưởng tượng xảy ra <i>“trên cuộc đời ô trọc”.</i> Không được “cải tạo”, Lâm Chương đâu có cơ hội để biết hành động “giải quyết cấp thời” của một cán binh (mời tìm đọc Đoạn Đường Hốt Tất Liệt) và nhiều chuyện động trời khác. Thời gian nào trong cuộc sống cũng có cái quí giá riêng của nó. Không có những vốn sống trong giai đoạn sỉ nhục này chắc chắn những sáng tác Lâm Chương không là những tác phẩm giàu tình người anh đã tặng chúng ta. Cụ thể nhất, nếu không mất vùng đất tự do, chúng ta rất ít người bị lưu vong hoặc được lưu vong đến những vùng đất mới. Đây là một sự thật không nên vì tự ái, thể diện mà phủ nhận. Đàng hoàng xác nhận, cũng không có nghĩa chúng ta mang ơn những người tạo ra những cuộc vượt thoát đã phải đổi nhiều mạng sống. Dù có bị cấm đoán không cho bước lại trên vạt đất đầu đời của mình, của cha ông ông mình, chúng ta vẫn không hề, chưa hề mất quê hương. Tổ quốc vẫn ở trong từng hơi thở của mỗi người. Muốn gặp lại, muốn thấy lại, thật đơn giản, hãy chịu khó tĩnh lặng tưởng tượng, có một vài phút nhắm mắt càng tốt hơn. Cảnh vật thật rõ ràng, linh động. Tiếng người, tiếng vật, tiếng cỏ lá đều linh hiển hiện ra. Hãy thử dành một phút thành tâm hồi tưởng. Đừng vội nóng văng tục. Xin lỗi về sự cao hứng bất ngờ của tôi.</p>
<p>Con dân miền Nam liều mạng sống chạy trốn một chế độ chính trị là một điều có thật, cả thế giới cảm thông, chào đón. Không ai nghĩ đến việc cơm áo khi hớt hải ra đi. Nhưng những chuyến vượt biển, vượt biên không dễ gì tiếp tục mãi. Những chương trình ra đi khỏi nước khác được thực hiện. Sau chương trình Ra Đi Có Trật Tự (ODP) một thời gian, chương trình Định Cư Nhân Đạo (H.O) dành cho những sĩ quan, viên chức bị cải tạo trên ba năm và những người phối ngẫu cải tạo viên chết trong tù hoặc mệnh chung sau khi ra tù một năm trở lại. Lâm Chương, sĩ quan Biệt Động Quân hội đủ điều kiện để trở thành một ông H.O. Nhưng anh không chờ được. Anh và gia đình vượt biên và may mắn đến Hoa Kỳ năm 1987. Hiện nay gia đình Lâm Chương định cư tại thành phố Boston, Hoa Kỳ.</p>
<p>Lâm Chương bắt đầu làm thơ nhiều từ những năm trung học tại Nha Trang. Cái vạt đất nồng nàn gió biển này sinh sản, qui tụ khá nhiều người sinh hoạt văn học nghệ thuật: Quách Tấn, Trịnh Cung, Nguyễn Xuân Hoàng, Từ Thế Mộng&#8230; Tại đây, Lâm Chương được giao du, kết thân với những<i> “người học trò làm thơ in thành sách, như Thanh Nhung và Cao Hoành Nhân với Tiếng Thơ Miền Trung, Sương Biên Thùy (là Lê Mai Lĩnh bây giờ) với Nỗi Buồn Nhược Tiểu, Sao Trên Rừng (là Nguyễn Đức Sơn bây giờ) có bài đăng trên Sáng Tạo&#8230;” </i>(LRĐL). Anh cũng được tiếp xúc với thi sĩ Quách Tấn và có cơ hội nhìn thấy vết sẹo <i>“tròn to bằng đồng xu”</i> ở phía trái thái dương tác giả Đêm Thu Nghe Quạ Kêu. Lâm Chương được nghe kể: thi sĩ Hàn Mặc Tử bị dị ứng với vết sẹo này, nên mỗi lần gặp nhau, nhà thơ mệnh yểu thường yêu cầu bạn mình ngồi ở vị thế thích hợp, tránh cho ông khỏi nhìn thấy. Đây cũng là một chi tiết đặc biệt trong văn học.</p>
<p>Tuy có máu thi phú trong người, Lâm Chương vẫn khiêm nhường trả lời Triều Hoa Đại:<i> “&#8230;Và tôi bắt chước làm thơ. Những bài thơ đầu tiên đọc nghe rất ‘thê thảm’, chẳng báo nào chịu đăng, kể cả bích báo nhà trường cũng chê&#8230;”.</i> Nhưng rồi trên tạp chí Văn tại Sài Gòn đã “đi” một bài thơ tán gái của anh trong một số Xuân dày cộm.</p>
<p>Thế nào là thơ tán gái ? Với tính cách hàn lâm và đạo đức, những nhà nghiên cứu, phê bình thi ca, cùng một số nhà thơ cho rằng những sáng tác có hơi hướm lẳng lơ, mơn trớn đều nên liệt vào mục thơ huê tình. Giải thích hai chữ huê tình một cách cụ thể hơn, được giới trẻ cho là thơ tán gái, dù chưa chắc loại thơ này có đủ những ướt át. Trong vài dịp có cơ hội bày tỏ, tôi vẫn tự nhận thơ mình là thơ tán gái, bởi thực tế như vậy. Thơ tán gái đích thực là thơ tình và ngược lại. Làm thơ tỏ tình với một người, không có nghĩa là không tỏ tình với nhiều người đọc. Tỏ tình có khoảng cách bao xa với tán tỉnh, ve vãn, chiêu dụ, níu kéo ? Tính cách bác học và bình dân trong từng bài thơ là có thật. Nhưng mục đích, tôi nghĩ vẫn không khác nhau. Anh chàng Hàn Mặc Tử, anh chàng Xuân Diệu, anh chàng Nguyễn Bính, anh chàng Nguyên Sa, anh chàng Du Tử Lê vân vân và vân vân&#8230;.không có nhu cầu tán gái chăng ? Thật ra đều như nhau, chỉ khác nhau ở tài nghệ, chiêu thức. Như vậy, Lâm Chương, tôi hay bất cứ bạn nào khác xài chữ “Thơ Tán Gái” không có nghĩa hạ thấp giá trị nghệ thuật của thơ. Giá trị nghệ thuật nằm trong nội dung tác phẩm. Thử đọc một bài thơ Lâm Chương:</p>
<p><i>“ Em đâu phải Kiều nương/ mà nói chuyện bán trinh làm đĩ/ mười lăm năm nhẵn mặt giang hồ/ trai tứ chiến đếch thằng nào rớ được/ bọn trọc phú hợm mình tưởng bở/ quăng một đêm qua cửa sổ ngàn vàng/ chưa níu được lai quần chéo áo/ đám ong bướm si tình ngây dại/ con thiêu thân bi lụy ngọn đèn/ những anh chàng công tử ruồi bu/ cũng ngấp nghé trao lời ái mộ</i></p>
<p><i>em đâu phải cành vàng lá ngọc/ còn niêm phong kín cổng cao tường/ chuyện trăng gió mù sương lả tả / bông hoa em đâu dễ lụy vì tình/ ta phất phơ đi giữa cõi người/ chẳng biết làm gì ngoài chuyện làm thơ/ dẫu không thành thi sĩ /cũng được tiếng văn chương/ ba mươi năm mải miết/ thơ chùa đăng báo chợ/ túi rỗng không đời cũng nhẹ tênh/ cánh hạc vàng muốn tếch lên mây/ đời ô trọc giữ chân người ở lại/ buổi gặp em đầu tiên ta choáng váng/ chuyện tình cờ mà khốn đốn trăm năm</i></p>
<p><i>ai chiếu hoa trải đường dưới gót em đi/ ai lót tay em nhung gấm lụa là/ ta chỉ có bài thơ/ rút ra từ xương tủy/ cuộc trầm luân mấy ai ngờ được/ chốn bồng lai xa quá là xa/ ta và em dắt tay vào địa ngục”</i></p>
<p><i></i>(Lâm Chương &#8211; Dắt Tay Vào Địa Ngục)</p>
<p>Lột trần một chút thân phận của đối tượng, của cả chính mình, để đi đến một mục đích có tính cách rủ rê “vào địa ngục” Đây quả một bài thơ tán gái xuất sắc. Người đẹp của thi sĩ không bình thường. Thi sĩ không tầm thường. Nên chuyện tỏ tình cũng rất độc đáo khác lạ. Mời đọc thêm hai bài thơ tình khác của Lâm Chương:</p>
<p><i>“Em hẹn tôi về thăm quê cũ/ sau mấy năm lây lất xứ người/ tôi cũng muốn (một lần thôi cũng đủ)/ về gặp em nhắc lại chuyện lâu rồi.</i></p>
<p><i>Chuyện lâu rồi mà như mới hôm qua/ tôi còn nhớ bàn tay em run nhẹ/ trong tay tôi lạnh buốt. Không ngờ/ em lí nhí nói câu gì rất nhỏ/ như nói thầm với cái rét se da/ của một chiều cuối đông năm ấy.</i></p>
<p><i>Rồi tôi đi. Sáu năm trời chưa trở lại/ dòng sông xưa vẫn chảy trong hồn/ bông mía trắng cả một vùng thương nhớ/ gió nồm Nam thổi suốt dọc quê mình/ nhà em ở cheo leo cuối xóm/ hàng rào thưa cây trái rợp sau vườn/ che bóng mát cho em ngày nắng.</i></p>
<p><i>Tôi ở đây những mùa đông trắng/ lấy gì che đời vắng em xa/ em đâu biết bao lần tôi muốn hỏi/ ngày chia tay em nói nhỏ câu gì/ trong cái rét một chiều đông năm ấy?”</i></p>
<p>(Câu Gì Em Nói Nhỏ)</p>
<p><i>“ Trời hay mưa miền tôi ướt sũng/ lá đầm đìa rơi rụng giọt châu/ em qua tôi để dấu son đầu/ môi trái đỏ, tuổi em vừa chín</i></p>
<p><i>Nước châu thổ mang lòng dâu biển/ về bình nguyên cô giáo sang sông/ bỏ tình tôi chết đuối giữa dòng/ nên mưa đổ làm tôi ướt mặt</i></p>
<p><i>Từ em xa. Mưa. Trời sướt mướt/ miền tôi nhòa theo nước mưa tuôn/ ủ ê cây lá ngậm buồn/ tình đi. đời lẻ. Mưa luôn nhớ tình”</i>.</p>
<p>(Mưa Miền Tôi)</p>
<p>Làm thơ hay vậy, nhưng nếu có cơ hội, hình như Lâm Chương luôn luôn phàn nàn về cái tài làm thơ của mình:</p>
<p><i>“&#8230; Tôi cũng có một thời mon men muốn ngồi vào chiếc chiếu dành cho các nhà thơ. Hằng đêm mất ngủ, bóp trán làm thơ. Có lúc gần đạt được danh hiệu thi sĩ, nhưng cuối cùng đành bỏ cuộc. Làm thơ thật vô cùng vất vả, phải kiên trì mới được bài thơ cho ra hồn. Tôi vốn ù lì cục mịch, thiếu tính kiên nhẫn, lại không có năng khiếu đặc biệt về thơ, thì làm sao có thể ngồi chung chiếu với những bậc thầy của chữ nghĩa mà tác phẩm của họ là tinh túy của ngôn ngữ ?&#8230;”</i></p>
<p>(Lâm Chương – LH-Một Đời Thơ)</p>
<p>Lâm Chương có là thi sĩ, có là nhà thơ hay không, anh không thể tự phong. Những người thật sự có năng khiếu và thành danh trong một bộ môn nghệ thuật, hình như không mấy ai tự xưng này nọ. Bạn đọc sẽ nhìn thấy và gọi đúng danh. Lâm Chương đã cho trước bạ với làng văn một tập thơ. Thi phẩm Loài Cây Nhớ Gió được phát hành năm 1971. Trước đây tôi không được đọc thi phẩm này, ngày nay, tại hải ngoại khó tìm ra, và cũng không chắc cha đẻ của nó còn lưu giữ. Dù chưa đọc bài nào, nhưng qua tên sách, cũng có thể tạm hình dung ra những phiêu bồng, lãng mạn của những dòng thơ một thời đã giúp Lâm Chương thành danh.</p>
<p>Sau khi có mặt tại hải ngoại Lâm Chương có tiếp tục làm thơ không ?. Tôi biết chắc là có. Trong một lần ghé thăm nhà văn Trần Hoài Thư, người bạn cùng khóa 24 Thủ Đức, anh cho biết Lâm Chương đã đến Hoa Kỳ. Chưa kịp gọi thăm, tôi đã bắt gặp một bài thơ của Lâm Chương trên một tạp chí, hình như là Làng Văn. Bài thơ có tên <i>Diện Bích</i>, tôi rất thích. Tuy không còn nhớ câu nào nhưng nội dung diễn đạt tâm sự của một người thất thời, ngày ngày ngồi không, để tâm, dán mắt vào bức vách vô tri trước mặt. Mộng tưởng, chí khí, ngay cả những vật lộn áo cơm cần thiết cũng cùng đường . Cái Diện Bích của Lâm Chương trong những ngày tháng đầu nơi xứ người, không khác gì tâm trạng của những người cùng cảnh ngộ, trong đó có tôi. Nên bài thơ của anh gây cho tôi một một xúc động đậm đà. Thích bài thơ, sau này, nhiều lần tôi hỏi xin anh cho đọc lại. Nhưng Lâm Chương bảo đã bỏ thất lạc. Điều này cho thấy, quả thật Lâm Chương đã có phần lơ là với thơ. Nguyên nhân của sự xao lãng này ra sao không rõ. Nhưng bạn đọc mừng thấy Lâm Chương trở lại với những trang văn xuôi, vốn anh đã thử tài từ những năm rời Nha Trang về Sài Gòn. Giai đoạn đầu với thể loại truyện ngắn, Lâm Chương kể:</p>
<p><i>“&#8230; Những năm về Sài Gòn, tôi tập viết văn xuôi. Ông Mai Thảo đăng trên Nghệ Thuật, trong mục ‘ Những Người Viết Mới’ . Tôi mắc cở, không gửi cho Nghệ Thuật nữa. Tôi gửi bài cho báo khác, chẳng thấy đăng. Nghe thuật lại rằng, có một nhà văn lớn (đã mất rồi) đọc bài bản thảo của tôi, lần nào cũng kêu lên: ‘Thằng Phá Hoại. Thằng Phá Hoại’ và ném vào sọt rác. Từ ấy, tôi không viết văn xuôi. Sau này, nghĩ thương ông Mai Thảo. Ông cho ‘Thằng Phá Hoại’ vào mục ‘ Những Người Viết Mới’ là nâng đỡ lắm rồi</i>”</p>
<p>(Lên Rừng Đếm Lá &#8211; Triều Hoa Đại)</p>
<p>Lâm Chương đã nói thật tình. Thời mới viết đại đa số chúng tôi, tuy còn non yếu nhưng ai cũng ngại khi có bài trong mục “Những Người Viết Mới” hay “Trang Dành Riêng Cho Các Cây Bút Trẻ”. Những anh chị văn nghệ tỉnh lẻ chúng tôi non choẹt nhưng ai cũng muốn làm “mầm già” trong văn nghệ. Không ít người vướng mắc trong những trang này, nên đã có sự thay đổi liên tục nhiều bút hiệu. Đó là chưa kể hình thức bề ngoài với râu tóc khác đời, bia rượu, thuốc lá cứ y như là văn nhân, thi sĩ hạng cừ.</p>
<p>Về sự nghiệp viết văn của mình, Lâm Chương kể tiếp, đã có lần anh viết xong bài văn xuôi, nhờ ông thầy dạy Việt văn đọc và cho ý kiến. Cuộc đối thoại giữa hai thầy trò:</p>
<p><i>“Thầy nói: </i></p>
<p><i>&#8211; Văn em là văn bửa củi.</i></p>
<p><i>&#8211; Sao gọi là văn bửa củi ?</i></p>
<p><i>&#8211; Hành văn nhát gừng, lổn ngổn những đá sạn thô nhám. Loại văn này chỉ thích hợp cho đề tài chửi lộn, hoặc đòi nợ.</i></p>
<p><i>&#8211; Em chưa hiểu ý thầy.</i></p>
<p><i>&#8211; Nói đến thế mà vẫn chưa hiểu. Em không phải là người của văn chương&#8230;</i></p>
<p><i>Nhận xét của thầy làm tôi thất vọng.</i></p>
<p><i>&#8211; Xin thầy chỉ dẫn cho em</i></p>
<p><i>Thầy cười: ‘Học hành, lấy vợ, đẻ con’ ”</i></p>
<p>Ngày nay, chắc chắn ông thầy của Lâm Chương không còn giữ được nhận xét của mình khi ông đọc các tác phẩm: Đoạn Đường Hốt Tất Liệt, Lò Cừ, Đi Giữa Bầy Thú Dữ, Truyện Và Những Đoản Văn.</p>
<p>Có bè bạn làm thơ, viết văn thú vị ở chỗ được đọc sách khỏi mất tiền mua. Sách lại được tác giả ký tên hẳn hoi, trông càng sướng mắt, ấm lòng. Tôi có đủ những gì Lâm Chương trình làng tại hải ngoại:</p>
<p><i>Đoạn Đường Hốt Tất Liệt</i>, tập truyện ngắn với mười bảy sáng tác, gồm một truyện lấy bối cảnh tại hải ngoại, 16 truyện dựng từ vóc dáng, hồn vía quê nhà. Nhà văn Trần Doãn Nho dọn dường và mớm ý nhận định cho bạn đọc. Anh băt đầu vài dòng về tài nghệ làm thơ của Lâm Chương <i>“không nhiều, nhưng bài nào cũng nặng ký&#8230; Ngôn ngữ giản dị nhưng ví von độc đáo, ý tứ thâm trầm&#8230;”</i> để rồi giới thiệu: <i>“&#8230;Thế giới của Lâm Chương là thế giới của chiến tranh, trại tù và lưu lạc&#8230; Nỗi đắng cay đó thể hiện tất cả trong tập truyện của anh, dưới nhiều dạng khác nhau. Bằng một giọng văn tả chân trầm tĩnh, không màu mè làm dáng, anh kể cho chúng ta nghe nhiều chuyện. Chuyện nào cũng là những chuyện tréo cẳng ngỗng, cười ra nước mắt, mang đầy bi kịch tính&#8230;” </i>Nhà văn Trần Doãn Nho cũng nhìn nhận, văn thơ của Lâm Chương, của chính anh, của những người viết khác thuộc thế hệ của anh đa số<i> “có vẻ hằn học, chua chát với đời&#8230; tác phẩm nào cũng chứa đựng cái không khí trầm uất, hằn học, chua chát khi đề cập đến những năm tháng nhiễu nhương vừa qua ở quê nhà&#8230;”</i> Để đi đến kết thúc bài viết: <i>“ Quê nhà. Và lưu đày. Đó là nỗi ám ảnh không rời của nhà thơ, nhà văn Lâm Chương. Và tất cả chúng ta” </i>(Trần Doãn Nho – 9-1998)</p>
<p>Một nhà văn khác, anh Hồ Minh Dũng, nhận vinh hạnh thực hiện lời bạt cho <i>Đoạn Đường Hốt Tất Liệt</i>. Anh đã rất tài tình khi chỉ dùng hai trang để nhắc lại những kỷ niệm gặp gỡ giữa hai người, từ thời đi học làm lính, đến thời đi học làm tù và rồi đến thời cùng lưu lạc xứ người, gặp nhau qua điện thoại. Bài viết của anh Dũng không đề cập gì đến nội dung tác phẩm, hay nói đúng hơn, anh chỉ khéo léo nhắc lại một số hoàn cảnh mà từ đó nẩy mầm những truyện trong <i>Đoạn Đường Hốt Tất Liệt</i>. Đây cũng là một đặc biệt, hiếm thấy.</p>
<p>Chỉ một thời gian ngắn sau khi phát hành, <i>Đoạn Đường Hốt Tất Liệt</i> gây được tiếng vang tốt trong giới cầm bút tại hải ngoại. Nhiều tạp chí cho đi những bài nhận định, giới thiệu hoặc phỏng vấn tác giả. Tất cả đều xoay quanh giá trị nghệ thuật của tác phẩm văn xuôi đầu tay của Lâm Chương. Trong một bài viết công phu, sau khi giới thiệu một số thể loại văn xuôi, nhà nhận định văn học Nguyễn Vy Khanh đưa ra một số nhận xét qua từng truyện trong <i>Đoạn Đường Hốt Tất Liệt</i>. Nguyễn Vy Khanh cho rằng Lâm Chương quan niệm chiến tranh là địa ngục, và lên tiếng phê phán cả mọi phía tham chiến. Lâm Chương cũng là một nhân vật từng trải, giàu kinh nghiệm, <i>“đã nhìn thẳng, nói thẳng về nhiều trục trặc khó nói”.</i> Tôi chọn trích hai đoạn:</p>
<p><i>“ &#8230;Mặt khác, truyện dị thường phúng thích và châm biếm chính trị và xã hội, Đoạn Đường Hốt-Tất-Liệt có yếu tố khả dĩ &#8220;phiền&#8221; chế độ vốn nghi ngờ mọi trào phúng, hí họa ngoài những minh-họa-được-phép. Điểm-đến của Đoạn Đường Hốt-Tất-Liệt theo chúng tôi là đã gióng lên tiếng nói đích thực của con người hôm nay, cho bây giờ và mai sau, khi còn có thể lên tiếng và sau một thời gian đã không thể lên tiếng. Truyện của Lâm Chương như có sức mạnh giải thoát của tâm thức, tâm thức ông, tâm thức những người cùng cảnh ngộ và &#8220;kinh nghiệm&#8221; như ông. Thay vì tụng A-di-đà hay lạy-Chúa, Lâm Chương lên tiếng nói của ông qua nghệ thuật viết của con người từng sống trong bùn đen của những cơn kinh hoàng đất nước, của chiến tranh, của trại cải tạo, trở về nhà tù lớn và lạc lõng giữa một nước hợp chủng xa lạ! Tác giả đã xử dụng ngôn ngữ như hệ thống tín hiệu và xử dụng văn chương nghệ thuật như khả năng của cảm xúc. Lâm Chương nhận thức được bi hài kịch của cuộc đời và ông chia xẻ với người đọc, có người cùng hoàn cảnh, tâm cảnh, với một ngôn từ trực tiếp dù phải dùng dụ ngôn, hình ảnh, v.v. Chính cái dị thường đã đưa người đọc tìm lại, nhìn lại, nhận chân những thực tại của đời sống bình thường và của vũ trụ nhân sinh. Trong truyện dị thường, ngôn ngữ thường là một hệ thống tín hiệu cao độ với những ẩn dụ đa nghĩa. Đọc truyện của Lâm Chương không thể ngừng ở câu chuyện hay khúc ký ức đó. Người đọc phải hiểu cái tiềm ẩn sau những sự việc, hành động dù bình thường đến thế nào, hoặc cái nguyên nhân hoặc hậu quả không thể tả. Khi người đọc như bị bỏ rơi vì chuyện lửng lơ thì biết đâu đó là cái Vô ngôn, cái thông điệp, cái nhắn nhủ. Người đọc Đoạn Đường Hốt-Tất-Liệt bình thường sẽ thương cảm thân phận con người, người Việt Nam một thời, nhưng nếu tâm cảm xâu xa sẽ nhận ra cái tâm của tác giả, ông nói với mọi người mà như đồng thời ông tìm tri kỷ! Những truyện khác của Lâm Chương đăng trên các tạp chí gần đây như Gió Ngược, Những Ngày Mắc Cạn, Cận Kề Biên Giới Tử Sinh, &#8230; cho thấy ông càng đi sâu vào ngõ kiếm tìm này, xét con người vì con người thay vì phân biệt nhị nguyên, bạn và địch !&#8230;”</i></p>
<p><i>“&#8230; Văn chương &#8220;giải mã&#8221; lịch sử sớm dù ít nhiều chủ quan và đầy cảm tính. Hoán chuyển dị thường của thực tại vào văn chương, nhiều dị thường của cuộc đời tưởng bình thường đã được Lâm Chương đưa ra trước công luận. Nói chung, ngòi bút ông cẩn trọng và nhạy bén, xuất từ kinh nghiệm sống. Giọng văn đơn giản, trong sáng, dĩ nhiên bên trong chất chứa nhiều phức tạp và tầng lớp tâm linh. Chính kinh nghiệm và tâm cảm chân thành của tác giả đã đưa đến sự tinh tế, cô đọng. Như đoạn tả sự việc &#8220;thân bị kiềm chế, mà ý chí thì phất phơ như chuyện đùa. Tưởng như hồn và xác chẳng dính dấp gì nhau&#8221;. Một cai tù đã phê bình cách lao động khá &#8220;thiền&#8221; của tù cải tạo: &#8220;Giơ cuốc lên, cò ỉa. Hạ cuốc xuống, mối xông&#8221;. Nhưng anh tù lại lấy làm lý thú vì câu nói ngộ nghĩnh mà quên cái hậu quả tai hại sau khi bị phê bình. Anh tù đã sửng sốt vì câu phê bình đó. &#8220;Diễn tả động tác chậm, không có cái chậm nào bằng. Từ từ giơ cuốc lên, chậm như ngừng lại, thời gian lâu đủ để con cò đậu trên cái cuốc và ỉa. Hạ xuống cũng chậm, đến nỗi trước khi nhấc cuốc lên, thì mối đã xây thành tổ. Một lối diễn tả độc đáo. Rất bình dân mà cũng rất tuyệt vời.&#8221; (tr. 188-189).</i></p>
<p>(Nguyễn Vy Khanh)</p>
<p>Tên gọi tập truyện ngắn của Lâm Chương, lấy từ tên truyện <i>Đoạn Đường Hốt Tất Liệt,</i> một trong 17 truyện trong sách. Cái tên hấp dẫn này đã hướng dẫn tôi có chút suy nghĩ sai lầm khi nhận được sách tặng. Tôi đã thoáng nghĩ đến Đại hãn Hốt Tất Liệt (Kublai Khan – 1215-1294), cháu Thành Cát Tư Hãn (Thiết Mộc Chân, Genghis Khan 1162-1227), vị vua đã lập ra triều đại nhà Nguyên, năm 1271, thống nhất Trung Quốc, dời đô từ Karakorum về Khanbaliq tức Bắc Kinh ngày nay. Thời trị vì của ông rất hưng thịnh. Trong truyện này của Lâm Chương, không có ẩn dụ hay liên quan gì đến đại danh đã dùng. Nội dung chỉ ghi lại những sinh hoạt của một đơn vị Biệt Đông Quân đối đầu với du kích thay vì lính chính qui tại một vùng được kể: “<i>Qua khỏi cua AK chừng nửa cây số, là ngã ba Lộc Giang. Và hương lộ được phân làm hai ngã. Một ngã xuôi về Sò Đo, thuộc tỉnh lỵ Hậu Nghĩa. Một ngã chạy ra bến đò, anh em trong tiểu đoàn đặt tên là đoạn đường Hốt Tất Liệt”.</i> Tôi không xa lạ với địa hình, địa thế chung chung của các mặt trận nông thôn, cũng không bỡ ngỡ trước những mánh khóe ra đòn của du kích quân, nên cốt truyện của <i>Đoạn Đường Hốt Tất Liệt</i> (chỉ riêng truyện này) đối với tôi không mới lạ. Ngay cả cái hướng kết thúc cũng đã có thể đoán được từ khi tác giả giới thiệu nhân vật Hon. Cái thành công trong truyện này của Lâm Chương là kỹ thuật viết. Với hình ảnh và một số từ ngữ đặc trưng trong quân đội khi hành quân, Lâm Chương làm sống lại trong lòng những cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa nhiều kỷ niệm đau thương nhưng thân thiết một thời.</p>
<p>Sau <i>Đoạn Đường Hốt Tất Liệt</i>, trong vòng sáu năm, Lâm Chương cho in tiếp 3 tác phẩm: <i>Lò Cừ</i> với 14 truyện ngắn, 258 trang, bìa Khánh Trường, phụ bản Vũ Đức Thanh, Phan Thảo Trang, trình bày Anh Khoa và Sao Khuê, Văn Học tại Hoa Kỳ xuất bản, năm 2000. <i>Đi Giữa Bầy Thú Dữ</i>, gồm hai truyện vừa, 172 trang, bìa Khánh Trường, trình bày Sơn Ca, Văn Mới xuất bản, năm 2002. <i>Truyện Và Những Đoản Văn</i>, bìa Khánh Trường, trình bày Sơn Ca, 220 trang, Văn Mới xuất bản, năm 2004.Cả ba tác phẩm này đều tiếp tục góp hơi thở, củng cố chiếc ghế trong văn chương của Lâm Chương một cách vững chắc. Nhà văn Lương Thư Trung, một cư dân cùng vùng với Lâm Chương, từng sinh hoạt, thù tạc với nhau nhiều lần, đã nghĩ về văn tài và bản chất tác giả của bạn mình:</p>
<p><i>“ &#8230; được văn giới biết đến như một luồng gió mới, một tác giả tạo được uy tín hiện nay trên văn đàn nhưng Lâm Chương vẫn giữ được cái đức tính khiêm cung đáng quí, luôn lắng nghe những nhận xét của người đọc. Trong các truyện của anh, cái cẩn trọng luôn luôn được anh quan tâm từng chữ dùng, từng dấu chấm, dấu phết, làm thế nào, dù người đọc khó tính vẫn khó mà bắt bẻ anh được. Câu văn của anh luôn ngắn gọn. Họa hoằn lắm người đọc mới có dịp bắt gặp một câu tương đối dài, nhưng ở đó cũng có nhiều dấu phết ngắt đoạn. Độc đáo nhất, ở truyện của Lâm Chương là những câu đối thoại gần như những câu mà anh đối đáp, trao đổi với bằng hữu hằng ngày, tạo cho người đọc có ấn tượng mình phải theo hoài những mẩu đối thoại có duyên, hấp dẫn để tìm ra cá tính của mỗi nhân vật&#8230;”</i></p>
<p>Anh Lương Thư Trung cũng để lộ một đôi chút đời thường của Lâm Chương:</p>
<p><i>“&#8230; Tôi biết Lâm Chương từ vài năm nay, nhưng có lẽ tôi quí mến anh vì anh có nhiều khí chất một người nhà quê mê ruộng vườn, đặc biệt hai ngón tay kẹp điếu thuốc rặt người miền quê. Đời sống của Lâm Chương thanh đạm như cái dáng vẻ bình dân, mộc mạc hằng ngày. Gặp tôi bất chợt nơi cái đầm bùn lầy này anh vui lắm. Anh hỏi tôi loại lục bình này, bụi cỏ kia mà chừng như lâu lắm rồi anh mới được gặp lại&#8230;”</i></p>
<p><i>&#8230; Dường như với ai, trong những anh em quen biết với anh, anh đều gọi người đối diện bằng chữ &#8220;ông&#8221; vừa rồi như vừa quen thân vừa sơ ngộ, vừa gần gũi vừa xa lạ mà vẫn giữ được chỗ thân tình, tương kính lẫn nhau&#8230;”</i></p>
<p><i></i>Cũng qua những cuộc gặp gỡ, trao đổi với nhiều bạn văn, Lâm Chương có dịp trình bày nhiều điều trong chặng đời sinh hoạt thơ văn của anh. Với nhà thơ Triều Hoa Đại, anh chàng Ngựa Hồ Hí Gió Bắc tự sự:</p>
<p><i>“&#8230; Tôi không phải là người viết văn chuyên nghiệp, cũng không thích chiều theo thị hiếu người đọc. Nói thế nghe dễ mất cảm tình, nhưng đấy là sự thật. Xưa nay, tôi chưa từng được đồng xu cắc bạc nào từ bài viết của mình. Nhưng tôi vẫn viết, vì tôi thích. Và chỉ viết những gì tôi muốn viết. Tôi không hề đắn đo xem phải viết thế nào, hành văn ra sao. Cứ nghĩ thế nào viết thế ấy&#8230;Tôi thường viết tự truyện, phần hư cấu rất ít&#8230;</i></p>
<p><i>&#8230; Tôi khó mà viết khác với lòng mình. Đang sống nơi thế tục, muốn vượt lên trên những điều thế tục, không dễ&#8230;Tôi nhớ kẻ hành xác tôi nhiều hơn nhớ người yêu. Nếu tôi viết khác đi, nghĩa là viết như người cao thượng là tôi viết láo. Ai mà cảm thông với kẻ giả dối bao giờ..</i></p>
<p><i>&#8230; Tôi chỉ là chứng nhân thời đại, và đang viết bản tường trình về những gì đã nghe thấy mà thôi”</i></p>
<p>Nhà thơ Triều Hoa Đại đã tra vấn Lâm Chương qua nhiều câu hỏi loanh quanh trong trách nhiệm của người cầm bút, nhận định chung về tình trạng thơ văn, xuất bản tại hải ngoại, đánh giá tác phẩm, tác giả trong nước, quan niệm về thương yêu, hận thù trong tác phẩm&#8230;Lâm Chương đã rất khôn khéo trong những bày tỏ của mình. Sự khôn khéo của anh được dẫn dắt bởi lòng chân thật và giản dị của chính anh. Nhờ đó đọc những câu trả lời của Lâm Chương rất thú vị. Tác giả <i>Lỗi Tại Tôi Mọi Đàng</i> cũng đã trả lời nhiều cuộc phỏng vấn khác. Nhưng để hiểu thật rõ Lâm Chương trong nghiệp cầm bút, chỉ cần đọc thêm mấy câu chân tình này:</p>
<p><i>“&#8230; Đổi cách viết để tìm một hướng đi mới cho tương lai là điều quá tốt. Nhưng khổ nỗi, tôi chỉ có thể viết được những kinh nghiệm đã có trong quá khứ mà thôi. Ngay đến hiện tại, tôi cũng chẳng viết được gì về cái xã hội xa lạ này. Trong một đời sống bình yên đến nhàm chán, tôi không tìm thấy những giông bão trong tâm hồn để lấy đó làm chất liệu sáng tác&#8230;Những gì tôi viết đã thể hiện lòng tôi. Không hề làm dáng văn chương&#8230;”</i></p>
<p>Thời cùng thụ huấn ở quân trường Bộ Binh Thủ Đức, tôi đã lỡ bỏ qua cơ hội kết thân với Lâm Chương. Thời đó anh cũng chưa hiểu gì tôi bao nhiêu. Chuyện gặp gỡ giữa chúng tôi được anh nhắc: <i>“&#8230; Cao Thoại Châu giới thiệu một anh chàng rụt rè như con gái, bảo đấy là nhà thơ Luân Hoán. Tôi hơi ngỡ ngàng trước một Luân Hoán hoàn toàn khác với tưởng tượng của tôi&#8230;</i>”. Anh không nói rõ anh đã tưởng tượng tôi ra sao, nhưng nếu không lầm, anh đã hình dung một người thật cao ráo, đẹp trai với đôi nét dị biệt nào đó để nói lên, hắn ta biết làm thơ. Anh cũng có vẻ thất vọng khi gặp tôi lần thứ hai: <i>“&#8230;Thấy tôi anh chỉ mỉm cười thay thế một lời chào. Chỉ vậy thôi, không quấn quít ba hoa chích choè&#8230;”</i>. Cho đến ngày chuẩn bị rời quân trường, chúng tôi vẫn chưa tạo được một chút gì khả dĩ trở thành một kỷ niệm sâu sắc, Chương viết: <i>“&#8230;Ngày ra trường, anh em văn nghệ ngồi lại uống cà phê trong hội quán sinh viên ở khu dân sinh trước khi chia tay. Thiếu Luân Hoán. Có người chạy đi tìm nhưng không gặp&#8230;</i>” Hóa ra thời ấy tôi “rụt rè như con gái” thật và vụng về trong giao tế biết bao. Thật ra một đời tôi quí trọng và tha thiết với tình bạn. Sự hà tiện lời nói, cử chỉ trong những lần gặp gỡ với bất cứ ai chỉ do thói quen. Khuyết điểm này, về sau tôi sửa đổi có phần khả quan hơn. Riêng tình bạn giữa tôi và Lâm Chương, có vẻ như lơ là nhưng thật ra khá thân thiện. Bởi chúng tôi gặp nhau trong vài sở thích.</p>
<p>Bè bạn ai cũng biết Lâm Chương là người hảo rượu. Anh biết uống từ thời còn lang thang ở Nha Trang. Rượu theo anh vào Thủ Đức, ra mặt trận và đôi khi lén lút trong trại giam để rồi thật ngất ngưởng tại hải ngoại. Đi đâu, ở đâu Lâm Chương cũng cần có rượu bên cạnh. Nhưng cơ hội để Lâm Chương cho “chó ăn chè” hay nghêu ngao thì gần như rất hiếm. Lâm Chương không phải là người nghiện rượu mà là người mê rượu và biết uống rượu. Tôi thì sao ? Ngày nay đa số bạn văn tại hải ngoại đều chê tôi là loại “kỳ vô phong”. Tôi thấy không cần phải “thanh minh thanh nga” gì. Và vui vẻ chấp nhận sự thật rõ ràng, như một thành tích tôi đã vượt qua không phụ lòng bác sĩ Nguyễn Ngọc Lang, bạn tôi, nhắc nhở cảnh cáo. Rượu đã một thời suýt làm tôi lủng phổi vì uống thiếu phương pháp. Không tùy hứng. Nhưng thường bị kích động bởi một thách thức dẫn đến bốc đồng. Thời ở Thủ Đức, thời ở Sư đoàn 2, nếu các bạn văn gặp tôi ắt sẽ có một cái nhìn khác. Gọn lại, tôi vẫn còn khả năng tiếp nhận rượu như bạn tôi, Lâm Chương.</p>
<p>Một gặp gỡ khác giữa tôi và Lâm Chương là tình yêu mến thiên nhiên và các loài chim. Cũng như tôi, từ ấu thơ Lâm Chương đã đi theo từng giọng chim hót. Gần gũi với nóc gia nông thôn nhất là lũ Se Sẻ. Chỉ chíp chíp loạn xị, không nhịp nhàng và đều đều mà rất thân tình. Tiếp đến là đàn Chột Dột trên những tàu cau đong đưa gió. Giọng kết lại vời nhau thành từng chùm, có lúc như rối lên như một cuộn chỉ. Rồi giọng Chào Mào tha thướt, lãng mạn, níu theo giọng hàn lâm, bài bản của Chích Chòe. Cao sang hơn nữa, lừng lựng treo giữa trời là tiếng Sơn Ca. Nhưng trầm ấm đầy dân tộc tính vẫn là giọng các anh Cu Cườm, rung rinh từng mảng lá xanh. Không rõ thời đó Lâm Chương có từng cầm trên tay một con chim chưa dập bụng cứt chưa ? Anh có từng mớm nước miếng cho chim ? Tôi thì những chuyện dễ thương này đều làm qua cả. Sau nhiều bận cụng ly cùng Lâm Chương và nhiều bạn khác ở Boston, Montréal&#8230;tôi phát hiện, nếu tôi đã từng dưỡng nuôi, chăm sóc rất nhiều loại có lông vũ trong nhiều thời kỳ khác nhau, thì Lâm Chương trước sau và liên tục chỉ cung phụng, chăm chút độc một loại chim quí, vừa hữu danh vừa vô danh. Hữu danh vì có tên gọi thật. Vô danh vì sợ kỵ húy, ít người dám gọi tên. Phải công nhận đây là một giống chim quí, chứ không hẳn hiếm. Có lẽ Lâm Chương mê và trì chí bảo dưỡng nó vì những ưu điểm:</p>
<p><i>“&#8230; chẳng sớm mai nào quên ngỏng cổ</i></p>
<p><i>gật gù ca ngợi cuộc đời vui&#8230;</i></p>
<p><i>con chim chẳng biết làm thơ ấy</i></p>
<p><i>lại biết làm mưa thắm thịt da&#8230;”</i></p>
<p>(Luân Hoán)</p>
<p>Cũng vì con chim này, Lâm Chương gần đây có nhiều chuyến về thăm quê hương. Lý do những chuyến đi của anh thật đơn giản. Anh muốn tạo cho con chim của mình nuôi có một không gian tươi tốt để tiếp tục vui vẻ sinh tồn. Ở Mỹ, môi trường đang bị đe dọa bởi bụi bặm, khói xe và linh tinh những thứ khác. Hơn nữa chim anh nuôi giống Việt Nam nên thỉnh thoảng phải cho về Việt Nam xả hơi là một chuyện hợp lý, bình thường. Ấy thế, mà tôi thấy loáng thoáng có vài chiếc mũ, chực chờ che đầu bạn tôi, ý chừng họ sợ anh ăn nắng chăng ?</p>
<p>Thỉnh thoảng ghé về dòm lại vạt đất xưa, dẫm lại một đoạn đường cũ, đứng dưới một bóng cây ngó trời đất, lượm một câu thơ mọc bất ngờ trong bụng, ném cho đất trời là có lỗi chăng ? Với Lâm Chương, tôi hiểu, những chuyến tiêu tiền bất đắc dĩ của anh, cũng bởi lỗi tại con chim. Khổ thật.<b></b></p>
<p><strong>Luân Hoán</strong></p>
<h2>Đọc văn Lâm Chương:</h2>
<h3><strong>Sóc Con Trăng</strong></h3>
<p>Sóc Con Trăng. Cái địa danh lạ lùng, nằm về phía Tây Nam, sát biên giới Việt Miên. Nếu so với ngàn xanh mênh mông, Sóc Con Trăng chỉ là một trảng trống rất nhỏ giữa rừng già, thuộc mật khu Dương Minh Châu. Nhìn vào bản đồ quân sự, nơi đây có những vòng cao độ màu nâu thưa thớt, biểu thị một ngọn đồi thoai thoải. Ước hiệu bản đồ còn cho thấy, có chừng vài mươi nóc nhà nằm rải rác trong khu vực. Nhưng hiện tại, Sóc Con Trăng hoàn toàn hoang dã. Những nền nhà cũ của một thời xa xăm, đã mất dấu.</p>
<p>Sớm mai. Ðứng trên đồi nhìn ra bìa rừng. Sương mù kéo một vệt dài trắng xóa, như dải lụa bạch vây quanh chân đồi, che lấp cây xanh. Khi mặt trời vừa lên, sương tan rất vội.</p>
<p>Phút chốc, cảnh vật hiện ra rõ nét, biến đổi không ngờ. Rồi sương chiều lại tụ, lúc mặt trời chìm khuất sau rừng cây yên ả. Cái yên ả đìu hiu giả tạm bề ngoài. Trời vừa chạng vạng, chim rừng thôi líu ríu trên cây. Mặt đất bắt đầu nhá nhem bóng tối thì từ trên đồi có những người đi xuống, xâm nhập vào rừng cây. Và ở một nơi bí mật nào đó, cũng có những kẻ âm thầm len lỏi, tiến sát về Sóc Con Trăng. Tất cả, họ là loài săn mồi ban đêm. Trong im lặng của rừng già, ẩn giấu biết bao điều hiểm nguy bất trắc. Những đôi mắt mở trừng không xuyên qua được bóng tối, họ vận dụng khả năng thính giác. Gióng lỗ tai nghe ngóng. Tiếng vỗ cánh của con chim đớp muỗi, cũng làm họ chú tâm lo lắng. Tiếng gãy đổ một cành cây khô, cũng làm họ giật mình hồi hộp. Súng luôn mở khóa an toàn, trong tư thế sẵn sàng khai hỏa. Tử thần không bao giờ nhân nhượng cho kẻ vô ý để mình bị đối phương phát hiện trước. Khó có cơ hội rút kinh nghiệm bản thân để sửa sai, sau lần đầu tiên lầm lỗi. Xác suất sống còn rất ít, khi đứng trước tầm đạn địch.<br />
Một ngày giữa tháng Chạp. Tiểu đoàn được trực thăng vận vào vùng đất ấy. Vùng đất mà thời bình không ai thèm bén mảng. Nhưng trong thời chiến, đó là một yếu điểm, các nhà quân sự muốn chiếm lấy ưu thế, chận họng đối phương. Và đối phương lúc nào cũng cảm thấy khó chịu. Họ muốn móc cái xương vướng mắc trong cổ, để khai thông huyệt đạo từ Quảng Ðức, Phước Long, Bình Long xuống Tây Ninh, và từ Kampuchia vào mật khu Dương Minh Châu. Thế là Sóc Con Trăng trở thành chiến địa. Hai bên đổ máu, giành nhau từng thước đất trên ngọn đồi khô, đầy những cỏ dại phất phơ bông trắng. Dưới chân đồi cũng chẳng có gì hơn, ngoài loại cỏ tranh cao ngang bụng, trải dài ra tận bìa rừng.<br />
Ngày đầu tiểu đoàn đến đây. Tình hình còn rất yên tĩnh. Có thể đối phương chưa kịp chuẩn bị để làm một cuộc tấn công. Nhưng vẫn phải đề phòng bị đánh úp bất ngờ lúc tiểu đoàn đang chân ướt chân ráo. Các toán tiền đồn, và tuần tiễu an ninh chung quanh khu vực, hoạt động ráo riết. Số còn lại, lo ổn định vị trí, bắt tay vào việc đào công sự phòng thủ. Bộ chỉ huy tiểu đoàn đóng trên đỉnh đồi, ngay trung tâm cái mỏ ác của những vòng cao độ. Từ đó, có thể nhìn bao quát được các đại đội nằm bao quanh dưới lưng chừng đồi.<br />
Mọi người trong tiểu đoàn đều biết, nhảy vào Sóc Con Trăng là một thử thách lớn đối với địch quân, đông hơn nhiều lần. Hai công trường 7 và 9 của quân Bắc Việt đang áp sát biên giới, phía bên kia phần đất Kampuchia. Theo cái công ước quỷ quái gì đó, cam kết hai nước không xâm phạm biên giới lẫn nhau. Quân Bắc Việt lợi dụng lãnh địa an toàn này, làm căn cứ hậu cần vững chắc. Ðưa quân sang biên giới đánh đấm. Xong, rút về bên kia dưỡng quân. Tiểu đoàn bị ngăn cấm tuyệt đối, không được nã pháo qua Kampuchia. Không có cuộc chiến nào quy định những điều bất lợi lạ lùng như thế. Chịu thiệt thòi để giữ cái tình giao hảo của hai quốc gia. Thằng nào tức thì cứ chửi đổng, nhưng lệnh vẫn phải thi hành. Tòa án quân sự đang chờ đợi những ai vi phạm quân kỷ ngoài mặt trận, để tống vào quân lao. Tên nào cũng ớn!<br />
Không qua được biên giới, người ta thả tiểu đoàn xuống Sóc Con Trăng, làm miếng mồi nhỏ, nhử đàn kiến lớn bu lại để tiêu diệt. Nhưng tiêu diệt bằng cách nào, chỉ có mấy ông tướng tư lệnh quân đoàn, sư đoàn biết. Anh em lo ngại, không khéo cả đơn vị sẽ phơi thây trên ngọn đồi này, nếu đối phương quyết tâm áp dụng chiến thuật biển người, tiền pháo hậu xung. Trong pho chiến sử đã từng ghi lại các trận đánh đẫm máu, lấy mười đổi một, chỉ với mục đích làm bàn thắng, gây tiếng vang và mặc cả trên bàn hội nghị. Sóc Con Trăng có quan trọng đến mức đối phương phải trả cái giá quá đắt như thế hay không? Ðâu ai biết. Dù gì đi nữa, một khi đã vào tử địa, không có con đường lựa chọn nào khác hơn là tử thủ, quyết liệt chiến đấu. Ai cũng muốn còn cái mạng trở về. &#8220;Giành sự sống trong nỗi chết&#8221;. Câu nói hồi còn trong quân trường là châm ngôn duy nhất để giữ mạng mà thôi.<br />
Tôi là trung đội trưởng. Một chức vụ nhỏ trong guồng máy lớn. Chỉ huy hơn hai mươi tay súng. Nằm tuyến đầu, trước mũi đạn. Chịu cái gian nguy của một khinh binh. Lại đèo thêm nhiệm vụ làm gạch nối từ đại đội trưởng xuống anh em binh sĩ. Sức ép của cả hai bên dồn lại, trung đội trưởng chịu đủ tiếng chì tiếng bấc. Anh em binh sĩ bê bối, đại đội trưởng khiển trách trung đội trưởng. Công tác cực nhọc, hành quân không có lúc nghỉ, anh em cằn nhằn văng tục, trung đội trưởng nghe. Những khi rỗi việc ngồi tán gẫu, bạn bè nói đùa ám chỉ trung đội trưởng là cầm cặc chó đái. Dù nói đùa, nhưng không phải không đúng.</p>
<p>Làm trung đội trưởng, chẳng ăn được cái giải gì, chỉ khổ thân. Con nhiều cha, tụ về một mối. Mỗi người ương ngạnh một kiểu khác nhau. Không dễ chỉ huy. Hai năm làm trung đội trưởng, cho tôi nhiều kinh nghiệm đắng cay. Mềm quá, bị coi thường lờn mặt. Cứng quá, gây bất mãn. Tốt nhất là hòa mình cùng anh em đồng đội, nhưng có lúc cũng phải mượn kỷ luật làm răn đe những anh ba gai, hoặc tắc trách trong nhiệm vụ.<br />
Hoàn cảnh gia đình để lại sau lưng, về đây làm những đứa con trung đội, chịu chung một tình huống. Bỏ đi những tị hiềm dị biệt. Nương tựa vào nhau mà sống. Tương trợ nhau mà đi qua những cơn lửa đạn. Không ruột thịt cũng thành thân thiết. Ðêm chiến hào, khum đầu trong nón sắt, chia nhau từng hơi khói thuốc. Rủ rỉ kể cho nhau nghe nỗi niềm tâm sự. Cha mẹ, vợ con, người yêu bé nhỏ đang chờ đợi nơi phố thị đông người, hay một miền quê nghèo nàn hẻo lánh nào đó.<br />
Hồi chiều, lúc đang đào công sự phòng thủ, thằng Công hỏi: &#8220;Thiếu úy ơi. Con đào của tôi, nó hẹn về đi chợ tết. Tiểu đoàn mình, có ra khỏi cái nơi hắc ám này, trước tết không?&#8221;<br />
Tôi nói: &#8220;Hẹn lại tết năm sau đi.&#8221;<br />
&#8220;Như vậy là mình ăn tết ở đây?&#8221;<br />
&#8220;Ăn tết hả? Mày hỏi mấy con khỉ đột trong rừng, nó có chịu để yên cho mày hay không?&#8221;<br />
&#8220;Ðánh đấm hoài, chán bỏ mẹ! Hết rừng núi, lại sình lầy. Không biết ngày nào hết khổ.&#8221;<br />
Nó than, như chính tôi là người làm cho nó khổ. Tôi bảo: &#8220;Lính nào cũng khổ. Chỉ có lính kiểng là sướng thôi, con ạ!&#8221;<br />
Thằng Công im lặng, khi vị đại đội trưởng đi tới, đôn đốc và kiểm soát các trung đội đào hố cá nhân dọc theo phòng tuyến. Ông dặn, đào hố phải làm nóc kiên cố. Tình hình căng thẳng lắm. Nếu địch quân tràn ngập vị trí, pháo binh sẽ bắn nổ chụp ngay trên đầu. Thằng nào lười biếng, không làm nóc, là tự mình khai tử. Ông nhai lại điều này nhiều lần. Anh em phát bực.<br />
Ðại đội trưởng đi khỏi, thằng Nhân nói: &#8220;Ðù mẹ! Chết sống có số. Khi đã tới số, thì chạy đàng trời cũng không khỏi nắng.&#8221;<br />
Thằng Tứ Ách, chống cán xẻng, phanh ngực áo, quạt phành phạch, cũng phụ họa: &#8220;Những thằng ở thành phố, đang nằm trên bụng vợ, bỗng ngã lăn ra chết vì thượng mã phong. Số trời đấy.&#8221;<br />
Lại một thằng nữa, tiếp theo: &#8220;Thế là sướng tới hơi thở cuối cùng. Tao thà chịu chết vì thượng mã phong, chứ không muốn ở đây chết chung với bọn mày.&#8221;<br />
Nhiều tiếng cười hô hố sau câu nói.<br />
Tiểu đội trưởng, tên Nẫm, đang hì hục đào hố, ngẩng lên nhìn: &#8220;Chỉ lo tán dóc và cười. Cả buổi, mà quào cái hố chưa bằng cái lỗ đĩ. Khi đụng trận, thằng nào chạy qua hố tao núp ké, tao đạp văng ra ngoài.&#8221;<br />
&#8220;Ðất cứng quá, trung sĩ ơi.&#8221;<br />
&#8220;Lúc nào cũng rên. Muốn đi đầu thai sớm thì vất xẻng, khỏi cần đào hố.&#8221;<br />
Tôi đi dọc theo phòng tuyến, quan sát phần trách nhiệm trung đội. Giữa tháng Chạp, nhưng nắng của buổi xế chiều ở đây, vẫn còn gay gắt lắm. Ai cũng tháo mồ hôi. Ðào một cái hố cá nhân trên thế đất đồi khô cứng, không là chuyện dễ.<br />
Biết vậy, nhưng tôi vẫn nói: &#8220;Khi mặt trời lặn, thằng nào chưa xong tao tống ra nằm tiền đồn.&#8221;<br />
Có tiếng đáp lại của Ðiền Ðô: &#8220;Dọa ai thì dọa. Chứ thằng này là dân chơi thứ thiệt, không ngán đâu. Ðừng dọa.&#8221;<br />
&#8220;Mày bảo tao dọa hả? Ðù mẹ! Có ngon thì ngồi hút thuốc, làm thơ đi con. Tối nay sẽ biết đá vàng .&#8221;<br />
Ðiền Ðô im lặng. Nó biết tôi không đùa.<br />
Tiền đồn cho một đơn vị là toán quân báo động, nằm ngoài tuyến phòng thủ. Do đó, toán tiền đồn thường đặt ở những nơi tiên liệu địch quân có thể xâm nhập áp sát đơn vị. Tiền đồn là toán chạm địch đầu tiên. Muốn tấn công một đơn vị, địch quân phải tiêu diệt cho được những toán tiền đồn chung quanh phòng tuyến, từ ngoài xa. Và như thế, đơn vị phòng thủ kịp thời chuẩn bị tác chiến, trước khi địch quân tiến đến gần kháng tuyến chính. Trong trận mạc, người ta chấp nhận hy sinh một số nhỏ, để bảo toàn lực lượng lớn. Ðóng quân ở những vùng bị áp lực địch nặng nề, dù là thằng to gan nhưng tới phiên vác ba lô, xách súng đạn đi làm tiền đồn cũng lạnh cẳng.<br />
Anh em trong đơn vị, thường nói năng lỗ mãng, tưởng có thể ghét bỏ hại chết đời nhau. Nhưng thật ra, đó lại là điều thể hiện sự gần gũi thân tình của những thằng đi trận. Ðặt cho nhau những cái biệt danh quái gở để cười vui. Dần dần biệt danh trở thành quen thuộc, không còn gọi bằng nhau bằng tên chính thức nữa. Thằng Công khinh binh, biệt hiệu Công Ngủ. Thằng Ðức mang súng phóng lựu M79, gọi Ðức Cạp. Thằng Ðiền tiểu đội phó là Ðiền Ðô.</p>
<p>Thằng Mai phụ xạ thủ đại liên, những lần về phép hay la cà nơi các động mãi dâm, anh em đặt Mai Ghế. Thằng Ty vác đại liên, thường khoe con cu của nó là một vưu vật lý tưởng trên đời, nên được tặng danh hiệu Ty Cai Dù. Những biệt danh này, được hiểu theo nghĩa nói lái. Còn có những biệt danh, chỉ đặc tính. Như thằng Minh mang máy truyền tin, hay đánh tráo bài ba lá, gọi Minh Ðiếm Chảy. Thằng Nhân cấp bậc hạ sĩ, viết thư về cho vợ, chưa gởi đi, bị anh em coi lén, thấy nó thay chữ ký bằng bốn con bài cơ rô chuồn bích. Từ đó, anh em gọi nó là Nhân Tứ Ách, để phân biệt với Nhân súng cối. Thằng này hay chửi thề nên có hỗn danh Nhân Ðù. Thượng sĩ trung đội phó, trước kia thuộc Sư Ðoàn 25 Bộ Binh, sau đổi qua Biệt Ðộng, mang danh Mai Chò Gãi. Mới đầu, tôi không hiểu ý nghĩa của cái tên kỳ lạ này. Anh em giải thích, &#8220;mai chò gãi&#8221; là tiếng lóng của dân bụi đời, chỉ con số 25.<br />
Ðêm Sóc Con Trăng. Trời se lạnh. Trăng mù sương ẩm đục màu sữa. Không gian chìm lắng. Tiếng côn trùng sầu não bãi tha ma. Thỉnh thoảng, nghe khoen dây súng khua lách cách của đốc canh đi kiểm soát lính canh dọc tuyến phòng ngự. Những anh em khác, cuộn mình trong tấm poncho, ngủ mê mệt sau một ngày vất vả.<br />
Nửa khuya. Tiểu đoàn báo động giả, tập phản ứng cho quen với vị trí phòng thủ mới. Hỏa châu cháy rực bầu trời, chói lòa xuống mặt đất, soi rõ từng bông cỏ dại trên đồi. Chúng tôi ngồi dưới hố cá nhân. Ðầu đội nón sắt, mình mang dây ba chạc đeo túi đạn, tay súng trong thế tác chiến. Bên ngoài vòng đai, đạn pháo nổ quanh chân đồi như sấm sét. Tưởng khó có một ai vượt qua lằn ranh đạn pháo mà còn toàn vẹn. Ðưa tiểu đoàn vào đây, người ta đã dự trù một trận đánh lớn. Nằm trong cái thế bị tấn công bất cứ lúc nào, tiểu đoàn được ưu tiên hỏa lực pháo binh. Tất cả những căn cứ trọng pháo trong tầm tác xạ, lúc nào cũng hướng súng về Sóc Con Trăng, sẵn sáng yểm trợ.<br />
Khi chấm dứt báo động, mọi người đều tỉnh táo, khó dỗ giấc ngủ trở lại. Tôi và thằng Minh Ðiếm Chảy, ngồi chung trong cái hố đôi.<br />
Nó cằn nhằn: &#8220;Thà địch kéo tới, đánh nhầu một trận cho xong. Chờ đợi và báo động hoài, còn ngủ nghê gì được.&#8221;<br />
&#8220;Mày là thằng chết đến đít, vẫn còn ham ăn ham ngủ.&#8221;<br />
&#8220;Thức khuya lạt miệng. Thiếu úy, cho xin điếu thuốc.&#8221; Nó chép miệng.<br />
Tôi nói: &#8220;Hút thuốc ban đêm. Coi chừng bị bắn bể sọ dừa.&#8221;<br />
&#8220;Không sao đâu. Em che trong nón sắt.&#8221;<br />
&#8220;Từ hồi chiều đến giờ, mày xin thuốc mấy lần rồi? Hút ghiền, thì phải lo thủ sẵn chứ. Tao đâu phải cái kho phát thuốc cho mày.&#8221;<br />
Nó cười giả lả, chìa tay ra: &#8220;Ðiếu thuốc giá đáng chi, mà nói những câu mắc mỏ. Thiếu úy?&#8221;<br />
&#8220;Ðiếu này là điếu chót nghe mậy. Hút xong, ráng treo mỏ. Ðừng xin tao nữa.&#8221;<br />
Tôi rút một điếu cho nó. Nó khum đầu, xòe lửa trong nón sắt, hút vài hơi rồi trao cho tôi.<br />
&#8220;Hút chung một điếu đi. Ðỡ hao.&#8221;<br />
Tôi rít một hơi dài, rồi nhìn mặt nó. Trong ánh trăng nhòa nhạt của đêm mù sương, mặt nó khắc khổ đăm chiêu.<br />
Một lúc sau, nó nói nhỏ: &#8220;Buồn quá.&#8221;<br />
&#8220;Sao mày rên rỉ hoài vậy?&#8221;<br />
&#8220;Con vợ của em&#8230;&#8221;<br />
&#8220;Lại nữa. Mày nói chuyện này hằng trăm lần rồi. Nó bỏ mày đi lấy thằng khác chứ gì? Tao không muốn nghe.&#8221;<br />
&#8220;Nhưng nó còn nói xấu, rằng em mê cờ bạc.&#8221;<br />
&#8220;Cũng đúng thôi. Kỳ lương nào, mày cũng nướng hết vào sòng bạc. Ði phép, xách cái đít không, về nhà với bộ mặt đưa đám. Bảo sao nó không chán?&#8221;<br />
&#8220;Nhiều khi tức, muốn trả thù.&#8221;<br />
&#8220;Ðừng có điên. Ở tù đấy, con ạ! Cứ bình tĩnh, rà rê kiếm con vợ khác. Làm lại cuộc đời.&#8221;<br />
&#8220;Không dễ. Ðàn bà con gái, đâu phải muốn chộp bắt lúc nào cũng được?&#8221;<br />
Tôi an ủi: &#8220;Mày là thằng đẹp trai số một của trung đội. Lo gì?&#8221;<br />
Nghĩ ngợi một hồi, nó nói: &#8220;Phải chi em được như thằng Ty Cai Dù, thì ngon quá.&#8221;<br />
&#8220;Ngon thế nào?&#8221;<br />
&#8220;Nó bảo nhờ &#8220;cai dù&#8221; mà nó được cơm no bò cỡi.&#8221;<br />
Tôi gạt ngang: &#8220;Thôi. Bỏ chuyện bá láp đó đi. Lo ngủ. Mai còn công tác.&#8221;<br />
Nói xong, tôi lên khỏi hố. Nằm co, trùm bằng tấm poncho lạnh ngắt.<br />
Ngày nào tiểu đoàn cũng mở những cuộc hành quân cấp đại đội quanh khu vực Sóc Con Trăng, và dọc theo biên giới. Chẳng thấy bóng đối phương. Nhưng ngày nào tiểu đoàn cũng bị pháo kích hai, ba lần. Nhất là những khi có chuyến không vận tiếp tế vào Sóc Con Trăng. Trực thăng vừa chạm mặt đất, pháo rót tới liền. Quân tiền sát của địch vẫn bám sát đâu đây. Rừng rậm quá, khó phát hiện được vài ba tên tiền sát ẩn núp giữa ngàn xanh. Mỗi lần, pháo chừng năm bảy quả. Súng cối 82 ly từ bên kia biên giới bắn sang. Tiểu đoàn vô phương phản pháo. Tuyệt đối tuân hành cái lệnh không xâm phạm biên giới giữa hai nước. Ðành ôm đầu máu, chịu trận. Kampuchia là nước trung lập, nhưng lại chứa chấp mấy sư đoàn quân Bắc Việt. Thật chó má! Anh em gào cái tên Sihanouk mà chửi.<br />
Ban ngày là thế. Ban đêm cũng chẳng yên. Vài đêm lại có đụng độ ngoài các toán tiền đồn. Nhiều khi địch len lỏi qua khỏi tiền đồn, bắn vào vị trí phòng thủ. Tình trạng báo động liên miên. Nón sắt, và súng đạn đeo dính bên người. Hỏa châu soi sáng, và pháo yểm ầm vang một góc trời.<br />
Tinh thần anh em sa sút trầm trọng. Mệt mỏi. Chán chường. Ba ngày tết của năm 1969, trôi qua trong quên lãng giữa rừng già. Dù chỉ mới có những cuộc chạm súng lẻ tẻ, nhưng tiểu đoàn đã tổn thất khá nhiều do pháo kích. Tiểu đoàn trưởng gọi về Bộ Tư Lệnh, xin ra khỏi vùng hành quân Sóc Con Trăng. Ðược trả lời rằng, chưa cần thiết tiểu đoàn có mặt ở những nơi khác. Nghe thế, mọi người đều bất mãn. Càng bất mãn càng chửi thề. Trung đội tôi, bây giờ, thằng nào cũng bắt chước Nhân Ðù. Mở miệng ra là có đù mẹ, đéo bà. Nghe mãi thành nhàm tai.<br />
Sau một tháng trời ở đây, quân số tiểu đoàn hao hụt. Lớp chết, lớp bị thương. Bổ sung tân binh, mặt thằng nào cũng ngơ ngáo. Chưa quen chiến trường, mỗi lần bị pháo những tân binh quýnh quáng đến tội nghiệp.<br />
Một buổi chiều. Tôi đi kiểm soát, thấy thằng Ngô tân binh gác ngoài phòng tuyến. Súng đặt ngang đùi. Nó ngồi bất động, nhìn ra bìa rừng. Rừng chiều, sương xuống âm u một màu ảm đạm. Tôi nhẹ nhàng lần đến sau lưng. Nó không hay biết. Tôi vỗ vai. Nó giật mình, quay lại nhìn tôi. Tôi thấy hai hàng nước mắt của nó chảy dài xuống gò má. Nó đang thổn thức. Nó quẹt nước mắt, cười gượng.<br />
Tôi ngồi kế bên: &#8220;Tại sao mày khóc?&#8221;<br />
Nó làm bộ ngạc nhiên: &#8220;Em có khóc đâu?&#8221;<br />
&#8220;Mày đừng chối. Có ai hiếp đáp, bắt chẹt gì mày không?&#8221;<br />
&#8220;Không.&#8221; Nó lắc đầu.<br />
&#8220;Thế sao mày chảy nước mắt?&#8221;<br />
Nó ngó mông ra rừng. Không trả lời.<br />
Tôi giục: &#8220;Nói thật đi. Thằng nào chèn ép mày?&#8221;<br />
&#8220;Em chỉ buồn.&#8221;<br />
&#8220;Ở đây, tao cũng buồn như mày. Chịu đựng một thời gian, rồi tiểu đoàn mình sẽ chuyển đi vùng khác, đỡ hơn. Nhưng, tại sao mày chọn binh chủng này?&#8221;<br />
&#8220;Thấy mấy anh lính đội bê rê, mặc đồ hoa về thành phố, trông rất oai hùng. Em thích, và tình nguyện về binh chủng. Mãn khóa, em chưa được về thăm nhà. Người ta bốc thẳng từ quân trường, thảy xuống đây. Hồi trước, em đâu ngờ đời lính gian khổ, hiểm nguy thế này. Em không tưởng tượng nổi&#8230;&#8221;<br />
&#8220;Ðừng buồn nữa. Ngày nào ra khỏi Sóc Con Trăng, tao đề nghị cho mày đi phép về thăm nhà.&#8221;<br />
Nó mừng: &#8220;Thật hả, thiếu úy?&#8221;<br />
&#8220;Tao nói thật. Dù tao biết mày về là đào ngũ luôn. Tao chỉ giữ thằng nào ở lại thôi.&#8221;<br />
&#8220;Không đâu. Em sẽ trở lại.&#8221;<br />
&#8220;Nếu mày kể cho má mày nghe cảnh này, dù mày muốn trở lại, bả cũng níu áo không cho mày đi.&#8221;<br />
&#8220;Em không đào ngũ, vì thương những người trong trung đội mình.&#8221; Nó kể bằng chân tình. &#8220;Hôm trước, bị pháo kích. Chạy về hố không kịp, em chui đại xuống hố trung sĩ Nẫm, tiểu đội trưởng của em. Cái nón sắt em bị văng mất. Anh Nẫm chụp cái nón sắt của ảnh lên đầu em, đè em nằm xuống. Còn ảnh đầu trần, ngồi phía ngoài. Trong trung đội, ai cũng lo cho em. Mọi người đều có tình. Em không nỡ đi luôn.&#8221;<br />
&#8220;Mày biết thương anh em là được rồi. Ðời lính không phải khổ mãi thế này đâu. Mày về đơn vị nhằm lúc tiểu đoàn đang ở cái chốn khỉ ho cò gáy, nên cảm thấy buồn. Ráng một thời gian nữa thôi, rồi tiểu đoàn sẽ được chuyển vùng hành quân.&#8221;<br />
&#8220;Một thời gian nữa, là bao lâu?&#8221;<br />
&#8220;Tao không biết. Còn phải chờ&#8230;&#8221;<br />
Khi nói câu đó, tôi nghĩ đến một trận đánh lớn. Ngày nào chưa xảy ra một trận thư hùng, thì tiểu đoàn còn phải ở đây, để thực hiện cái kế hoạch làm mồi nhử đàn kiến.<br />
Trận đánh lớn, trước sau gì cũng không tránh khỏi. Mới đầu, mọi người còn lo âu. Nhưng thời gian thấp thỏm đợi chờ với những cơn mưa pháo hàng ngày, những đụng độ lẻ tẻ về đêm làm anh em mệt mỏi nên đâm liều. Muốn đánh nhầu một trận cho xong, ra sao thì ra. Không có gì khổ cho bằng chờ đợi trong tinh thần căng thẳng. Pháo bắn vòng cầu, từ trên trời rơi xuống. Rớt trúng cái hố nào, người trong hố đó vong mạng. Chui rúc trong hang cũng cảm thấy không an toàn. Mỗi lần nghe bên kia biên giới, có tiếng vọng um, um, um&#8230; của súng cối, chúng tôi chạy vội về vị trí của mình, nhảy xuống hố ngồi nín thở. Cũng vừa kịp lúc đạn pháo nổ ầm, ầm, ầm&#8230;, vang động cả vùng đồi Sóc Con Trăng. Những lần núp pháo như thế, tôi thường trấn an bằng điếu thuốc. Phó mặc đời cho may rủi.<br />
Ðể tránh bớt thiệt hại vì pháo, tiểu đoàn giảm quân số phòng thủ trên đồi. Ban ngày tung các đại đội ra hoạt động chung quanh. Ban đêm rút quân về, chừa lại một đại đội đóng quân lưu động trong rừng. Kế hoạch này có cái lợi, nếu địch tấn công mạnh vào tiểu đoàn, thì đại đội lưu động sẽ đánh bọc hậu đối phương.<br />
Vòng đai phòng thủ, bây giờ thưa hơn, chỉ có ba đại đội. Nhưng bù lại, đạn dược dự trữ được tăng cường tối đa. Mỗi hố cá nhân, chứa sẵn một thùng hai mươi bốn quả lựu đạn, và hai thùng đạn nhỏ một ngàn viên. Với số đạn này, có thể bắn suốt đêm không lo bị thiếu.<br />
Các sĩ quan trong tiểu đoàn được dặn dò nhắc nhở anh em binh sĩ phải hết sức đề phòng. Ý định của đối phương là quần cho tiểu đoàn mệt mỏi, rồi sinh ra lơ là chểnh mảng. Ðến một lúc nào đó, sẽ bất ngờ đánh úp, diệt gọn tiểu đoàn. Lời dặn dò này, không có tác dụng gì cả. Anh em chỉ mong sớm rời khỏi Sóc Con Trăng.<br />
Ngoài những người thương tích do những cuộc chạm súng lẻ tẻ, hoặc bị pháo kích, đã có năm ba vụ tự hủy hoại thân thể. Sống trong tinh thần căng thẳng ngày đêm không ngớt, anh em cảm thấy quá khổ sở, và dám làm những điều bất chấp hậu quả.<br />
Trưa hôm qua. Toán tuần tiễu của trung đội tôi, báo cáo có người bị thương. Tôi vội đưa toán khác ra thay thế, cho toán cũ khiêng thương binh về. Thằng bị thương là binh nhất. Khi tôi đến, nó không nhìn mặt tôi. Nó là thằng dễ thương của trung đội, sốt sắng trong mọi công tác. Lúc y tá lau chùi sát trùng vết thương, tôi thấy xương bàn chân nó bị bể, ngón cái và ngón kế bay mất. Vết thương không nguy hiểm, nhưng sẽ bị tật sau này. Y tá băng bó xong. Nó nằm nghiêng trên chiếc brancard, quay lưng về phía tôi.<br />
Lúc chờ trực thăng tải thương dưới chân đồi, tôi hỏi: &#8220;Tiểu đội trưởng báo cáo, mày bị thương do giẫm phải bom bi. Ðúng không?&#8221;<br />
Nó vẫn không nhìn tôi, trả lời: &#8220;Ðúng.&#8221;<br />
&#8220;Mày có thể qua mặt tiểu đội trưởng, nhưng không qua mặt tao được.&#8221;<br />
Nó im lặng.<br />
&#8220;Mày hủy hoại thân thể.&#8221;<br />
&#8220;Không. Em đạp phải bom bi.&#8221;<br />
Tôi cười mũi: &#8220;Tao xem vết thương, biết chắc mày rút ngòi nổ ra khỏi quả lựu đạn, kẹp ngòi nổ giữa hai ngón chân, và cho kích hỏa.&#8221;<br />
Nó vẫn nói: &#8220;Không. Em đạp phải bom bi.&#8221;<br />
Tôi dọa: &#8220;Thôi được. Tao sẽ báo cáo, để sau khi trị thương, mày ra trước tòa án quân sự mà chối.&#8221;<br />
Nó quay lại. Ðôi mắt khẩn thiết nhìn tôi, van nài: &#8220;Thiếu úy ơi&#8230;&#8221;<br />
&#8220;Không có thiếu úy con mẹ gì nữa hết. Mày muốn qua mặt tao.&#8221;<br />
&#8220;Em lỡ dại&#8230;&#8221; Nó khóc thút thít. &#8220;Em không chịu nổi cảnh này.&#8221;<br />
&#8220;Ừ. Thà rằng mày nói thẳng với tao như thế, còn nghe được. Nếu trước đây, mày cho tao biết ý định, tao sẽ chỉ cách cho mày. Gởi thư về, bảo người nhà đánh cái điện tín, báo cha đau mẹ chết gì đó. Rồi tao sẽ đề nghị cấp giấy phép, mày về thăm nhà. Nhân cơ hội đó, mày đào ngũ luôn. Như thế, có phải an toàn không? Còn mày hủy hoại thế này, cái chân sẽ mang tật suốt đời.&#8221;<br />
&#8220;Thiếu úy ơi&#8230; Trong lúc quẫn trí, em làm chuyện điên rồ&#8230;&#8221; Nó nói trong nước mắt.<br />
Tôi thông cảm với nó. Chính tôi, lúc bất mãn cũng muốn đào ngũ. Nhưng bất mãn ai? Tất cả chúng tôi đều là nạn nhân, cớ gì mà bất mãn nhau? Những kẻ mưu đồ thế lực gây nên chiến tranh, không có mặt ở nơi này. Nguyền rủa ư? Thì cứ nguyền rủa, nhưng thằng nào tự tách mình ra khỏi cái guồng máy chiến tranh khốn nạn, ắt phải thân tàn ma dại như thằng em của trung đội tôi đang nằm đây nhức nhối.<br />
Khi trực thăng tải thương đáp xuống, nó nói: &#8220;Em đi. Thiếu úy và anh em ở lại bình yên.&#8221;<br />
Tôi nói: &#8220;Ðược rồi. Mày về yên trí. Tao không hại mày đâu. Mày sẽ giải ngũ, và được lãnh tiền do bị thương ngoài mặt trận.&#8221;<br />
Một đêm, cuối tháng Giêng.<br />
Trời đất lờ mờ. Ðứng trên đồi nhìn ra bìa rừng, chỉ thấy viền cây tối ám, chắn dưới chân trời mù đục âm u. Mọi người giật mình choàng tỉnh. Ðơn vị bị pháo dữ dội. Không phải bằng súng cối 82 ly, mà bằng nhiều khẩu đại pháo từ bên kia biên giới bắn sang. Ðồng thời các toán tiền đồn báo cáo, trong rừng có nhiều tiếng động bất thường. Tiểu đoàn ra lệnh thu hồi gấp rút tiền đồn trở về, tăng cường thêm quân số phòng thủ.<br />
Ðây là lần đầu tiên, địch pháo kích ban đêm. Cường độ pháo thật khủng khiếp, nhưng một nửa đạn pháo lọt ra ngoài kháng tuyến. Tuy thế, mặt phòng thủ phía đông cũng tan nát, gần như tê liệt. Nhiều người chết và bị thương. Tiểu đoàn cho trung đội trừ bị từ đỉnh đồi, xuống trám ngay lỗ hổng phòng tuyến. Hỏa châu sáng rực bầu trời, cùng lúc với pháo yểm cho tiểu đoàn, vây một hàng rào sấm sét quanh chân đồi. Dưới ánh sáng hỏa châu, lớp lớp địch quân liều chết xông qua lằn ranh đạn pháo, và gãy gục khi chưa tới được phòng tuyến.</p>
<p>Một trận thư hùng chờ đợi bấy lâu, có phải là đây? Tôi bắn liên thanh, rà đạn sát đất. Lựu đạn ném ra, cản bớt lớp người xông tới. Mùi thuốc súng nồng lên mũi. Tôi thở hổn hển. Tinh thần căng thẳng cùng tột. Hai bàn tay run lẩy bẩy mỗi lần rút chốt lựu đạn. Trước khí thế cường địch, tôi mất bình tĩnh. Tôi nghe nhiều tiếng la &#8220;Xung phong&#8230; G&#8230;i&#8230;ế&#8230;t&#8221; Tiếng &#8220;giết&#8221; kéo dài đẫm mùi máu, làm rợn xương sống. Giờ phút này, không bỏ chạy đi đâu được. Thằng nào phóng lên khỏi hố cá nhân, là tự phơi thân cho địch bắn. Chết sống gì cũng phải nằm lại đây. Và bắn. Và tung lựu đạn. Dọc theo công sự phòng thủ, nhiều chỗ bị B40 phá tanh banh bao cát chắn đạn. Nếu cứ cái đà xung phong ồ ạt này tiếp diễn mãi, địch quân sẽ tràn ngập vị trí.<br />
Sau mấy đợt xung phong, không chọc thủng được phòng tuyến, đối phương ngừng tấn công, chỉnh đốn lại hàng ngũ. Trong khi đó, chúng tôi chịu thêm trận pháo thứ hai của địch, từ bên kia biên giới rót sang, khốc liệt hơn. Lần này, đối phương điều chỉnh lại tọa độ thật chính xác. Pháo rớt ngay đỉnh đồi. Bộ chỉ huy tiểu đoàn lãnh đủ. Tôi bò đi kiểm soát từng hố cá nhân, dọc theo phòng tuyến trung đội. Những người tử thương được lôi ra khỏi hố cá nhân, tôi điều động anh em khác thế vào. Những thương binh, phải tự băng bó vết thương của mình. Y tá trung đội đang quằn quại trên vũng máu. Thằng Ngô tân binh, đang hấp tấp nạp thêm đạn vào các băng trống.<br />
Tôi hỏi: &#8220;Trung sĩ Nẫm bỏ phòng tuyến đi đâu rồi?&#8221;<br />
Nó không trả lời, đưa ngón tay chỉ qua hố bên cạnh. Một cái xác úp mặt, nằm nửa trên nửa dưới hố cá nhân.<br />
Tôi trấn an: &#8220;Mày đừng di chuyển khỏi chỗ này. Cứ ngồi đây. Không sao đâu.&#8221;<br />
Nó nói như van: &#8220;Thiếu úy ở đây với em.&#8221;<br />
Tôi làm bộ không nghe, tiếp tục bò đi kiểm soát trung đội.<br />
Gặp tiểu đội phó, tôi dặn: &#8220;Trung sĩ Nẫm tiêu tùng rồi, mày ráng lo cho anh em tiểu đội.&#8221;<br />
Tôi chưa kịp quay về vị trí, đối phương mở cuộc tấn công lần thứ hai. Tôi nhào xuống cái hố của một thương binh. Thằng này không còn đủ sức chiến đấu nữa. Tôi giật cây súng, đẩy nó ngã lăn ra phía sau lưng. Bị chạm vết thương, nó đau đớn kêu trời. Tôi không còn thì giờ quan tâm đến nó. Trước kháng tuyến, từng đợt, từng đợt xung phong. Tôi bắn như điên khùng. Lựu đạn nổ sát phòng tuyến. Lớp này gục xuống, lại thấy lớp khác tràn lên. Sau lần thứ nhất bị tấn công, nhiều người trong đơn vị bị loại khỏi vòng chiến. Quân số khiển dụng còn lại ít hơn. Khả năng phòng thủ cũng yếu hơn. Tôi lo phòng tuyến bị vỡ.</p>
<p>Theo kế hoạch dự trù, khi đối phương tràn ngập vị trí, pháo binh sẽ bắn nổ chụp ngay trên đầu, đạn nổ cao, cách mặt đất mười lăm thước. Miểng pháo tạt xuống. Mà miểng pháo thì đâu có phân biệt bạn thù. Và như thế, hai bên cùng chết. Không biết phía bên kia đồi, phòng tuyến bị vỡ hay chưa? Ðơn vị còn cầm cự được bao lâu? Trước sau gì, cũng bỏ mạng trên ngọn đồi này. Mồ hôi tôi ướt mặt. Bị đẩy tới đường cùng rồi. Tôi bắn, Tôi ném lựu đạn. Tôi thở dồn dập. Tôi cắn răng. Hình như tôi có gào thét những tiếng vô nghĩa gì đó. Tao chết, thì mày cũng phải chết. Thiên địa đêm nay nhập lại. Bạn thù chung cuộc tử sinh.</p>
<p>Ðang trong tình trạng tuyệt vọng, bỗng có tiếng phản lực cơ gầm rú trên không. Lẫn trong tiếng súng, tôi nghe nhiều tiếng la mừng rỡ của anh em đồng đội. Trái bom napan đầu tiên trải một thảm lửa dưới chân đồi. Ðối phương núng thế thấy rõ. Chúng tôi lên tinh thần. Chiến đấu bình tĩnh, và có hiệu quả hơn. Trước phòng tuyến, địch quân dội ngược. Những trái bom tiếp theo làm thành vòng đai lửa sát bìa rừng, quanh đồi Sóc Con Trăng.</p>
<p>Phi tuần phản lực vừa dứt, thì trực thăng vào vùng. Rocket và đại liên nã xuống những luồng đạn lửa. Phòng không của địch bắn lên. Ðạn lửa vẽ lên bầu trời những lằn đỏ đan chéo vào nhau. Tôi thấy nhiều địch quân quay lưng, chạy tháo lui. Họ không còn cơ hội thoát thân nữa. Tất cả đều ngã xuống trước tầm hỏa lực từ phòng tuyến bắn ra, trực thăng bắn xuống. Ðối phương đang lo chống trả với những con diều hâu hung dữ, không còn áp đảo tiểu đoàn. Súng phòng không hướng lên trời. Hỏa tiễn AT3 nổ lùm bùm trên không như pháo bông ngày lễ. Ðã có hai chiếc trực thăng trúng đạn phòng không, chúi đầu xuống phía rừng xa xa.<br />
Từ máy truyền tin, tôi nghe ông tiểu đoàn trưởng điều động đại đội đang nằm trong rừng, dàn quân làm nút chặn, ngăn đường rút lui của địch.<br />
Từ giờ phút ấy trở đi, truy địch là nhiệm vụ của Không Quân. Nhiều phi tuần phản lực lên vùng oanh kích. Tôi nghe tiếng bom gầm càng lúc càng xa dần, về phía biên giới.<br />
Sáng ra. Khi đang bận rộn sắp xếp việc tải thương, tôi chợt nghĩ đến thằng Ngô tân binh. Ngó<br />
quanh, không thấy. Tôi hỏi tiểu đội phó của nó: &#8220;Thằng Ngô đâu rồi?&#8221;<br />
Tiểu đội phó chỉ vào tấm poncho đậy tử thi. Nó không chờ cái giấy phép mà tôi đã hứa cho về thăm nhà, sau khi rời khỏi Sóc Con Trăng. Nó đi trước, bằng con đường khác.<br />
Mặt trời lên cao. Những chuyến trực thăng tải thương đã hoàn tất. Quang cảnh trên đồi, trông điêu tàn thê thảm. Công sự phòng thủ bị phá vỡ nhiều nơi. Poncho, nón sắt, quần áo vấy máu còn bỏ rải rác, chẳng ai buồn dọn dẹp. Người nào cũng xác xơ tơi tả, mệt mỏi bơ phờ.<br />
Trời đứng bóng, phái đoàn của những ông lớn xuống Sóc Con Trăng, thị sát chiến trường. Họ mặc đồ nhà binh ủi hồ thẳng nếp, mắt đeo kính râm, tay cầm ba toong, đi dọc theo phòng tuyến. Họ chỉ trỏ, bàn tán với nhau. Không hỏi han hoặc nói chuyện với anh em chúng tôi. Họ cho ông tiểu đoàn trưởng biết, theo tin tình báo, địch đem ba tiểu đoàn công hãm Sóc Con Trăng. Giờ này, biết điều đó cũng vô ích. Tin tình báo, bao giờ cũng là tin trễ. Các ông lớn rất chú ý đến con số thương vong của địch bỏ lại ngoài vòng đai, và một số khác bỏ thây trong rừng chưa kiểm được. Còn tổn thất của tiểu đoàn, họ không mấy quan tâm.<br />
Lúc họ đi khỏi, thì trực thăng &#8220;đại lực sĩ ngựa trời&#8221; câu hai chiếc xe ủi đất màu vàng, đem đến Sóc Con Trăng. Một chiếc ủi những cái hố dài, sát bìa rừng. Chiếc khác, ủi xác người hất xuống hố. Họ rải lên xác một lớp bột sát trùng màu trắng, và lấp lại. Hai chiếc xe ủi chạy tới chạy lui, nện bằng mặt đất. Thời gian sẽ làm cỏ tranh mọc cao lên trên những nấm mồ tập thể. Như những cái nền nhà cũ của một thời xa xăm, đã hoàn toàn mất dấu.<br />
Sớm mai. Ðứng trên đồi nhìn ra bìa rừng. Vẫn thấy sương mù kéo một vệt dài trắng xóa, che khuất ngàn cây. Mặt trời lên. Sương tan. Cảnh vật hiện ra rõ nét. Một vạt rừng bị cháy nám. Nhiều nơi cây cối xác xơ gãy đổ. Thiên nhiên bao giờ cũng im lìm, và tự làm lành những vết thương. Chỉ có con người, khi đã mất mát thì không thể nào tìm lại được sự bù đắp.<br />
Những ngày sau trận đánh.<br />
Chiều chiều. Ông thượng sĩ già trung đội phó Mai Chò Gãi thường đứng bâng khuâng trên đồi Sóc Con Trăng. Ông là người Nùng Việt Bắc di cư.<br />
Tôi hỏi: &#8220;Có phải ông đang nhớ về rừng núi Lai Châu?&#8221;<br />
Ông cười buồn, hỏi lại tôi câu khác: &#8220;Thiếu úy tin con người có linh hồn không?&#8221;<br />
Tôi nói: &#8220;Tôi tin.&#8221;<br />
&#8220;Tôi cũng tin thế. Những chiếc nón sắt bỏ lại của người ra đi, hình như còn phảng phất linh hồn của anh em vấn vương chiếc nón.&#8221; Ông đưa ngón tay chỉ. &#8220;Thử chú tâm nhìn cái nón sắt lật ngửa, đằng kia.&#8221;<br />
&#8220;Nhìn nó, tôi nghĩ đến người ra đi.&#8221;<br />
&#8220;Không cảm nhận được gì khác?&#8221;<br />
&#8220;Không.&#8221; Tôi lắc đầu.<br />
Ông bảo: &#8220;Tôi có cảm giác rất mơ hồ rằng, linh hồn anh em vẫn còn quanh đây, trên ngọn đồi này.&#8221;<br />
Sau một hồi trầm ngâm tư lự, ông nói: &#8220;Hồi trẻ, tôi tưởng điều gì cũng biết. Khi về già, thấy rằng có những điều mình không thể hiểu.&#8221;<br />
&#8220;Ông muốn nói vấn đề gì nữa đây?&#8221;<br />
&#8220;Bao nhiêu năm đi lính, sát phạt đã nhiều. Những người chưa từng quen biết, không hề ân oán, vừa chạm mặt là ra tay bắn giết nhau. Nghĩ cũng lạ! Chẳng biết phía bên kia, họ có thù mình không?&#8221;<br />
Tôi nói: &#8220;Ông thắc mắc những vấn đề kỳ cục. Cứ hãy tưởng tượng vào thời trung cổ, người ta đưa hai tên giác đấu lên đài. Với điều kiện, sau trận đấu, chỉ còn một tên được quyền sống sót. Ðặt mình vào hoàn cảnh tên giác đấu, ông phải làm sao?&#8221;<br />
Thượng sĩ Mai Chò Gãi khẳng định: &#8220;Giết đối thủ.&#8221;<br />
&#8220;Ðấy. Những thằng đi trận của cả hai phe, đều ở vào cái thế của tên giác đấu. Mình không giết nó, nó giết mình. Ðâu cần chi phải hận thù?&#8221;</p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><strong>Lê Thơm</strong></h3>
<p><em>Lời mở: Tôi ra khỏi trại cải tạo, mười lăm năm rồi. Tôi vẫn nhủ với lòng, hãy quên những ngày khốn khổ ấy đi. Quên để mà sống. Trí nhớ của tôi bây giờ tồi lắm. Tôi quên nhiều chuyện, nhưng chuyện trong tù tôi không sao quên được. Nó hằn sâu trong tâm tôi, như cây đinh đóng vào cột xương sống, làm dấu mốc thời gian. Mỗi lần trí nhớ cục cựa, là mỗi lần đau. </em><br />
<em>Sau mỗi lần viết về trại tù CS, tôi lại tự nhủ với lòng, đây là bài cuối cùng, không nhắc đến nữa. Nhưng nó như cái bóng đen ám ảnh tôi hoài. Và tôi lại viết về nó. Tôi viết như người kể chuyện, để giải toả nỗi ám ảnh. Giải toả theo kiểu của anh thợ hớt tóc, trong truyện Một Ngàn Lẻ Một Ðêm, phải đào lỗ mà la lớn lên rằng, &#8220;Ông vua có lỗ tai lừa!&#8221; Tôi không xây dựng thành một cái truyện ngắn của người làm nghệ thuật viết văn. Tôi chỉ kể chuyện về trại tù CS. Nói bao nhiêu cũng thấy thiếu. Còn người đọc thì cảm thấy quá thừa. &#8220;Biết rồi. Khổ Lắm. Nói mãi.&#8221;</em></p>
<p>Trong cái bị làm bằng bao cát của Lê Thơm mang bên hông, có xác một con chó con. Nó bị bóp cổ chết vào trưa nay. Chuyện này, chỉ hai người biết: Lê Thơm và tôi. Giết một con chó nhỏ không khó, nhưng mạo hiểm mang ra cổng trại là một thử thách lớn dành cho kẻ bạo gan.<br />
Con chó lông trắng đốm đen, đẹp như con chó giả nhồi bông. Nó thân thiện với tất cả mọi người. Ðưa tay, tróc lưỡi vài cái, nó chạy đến quấn quít. Nó ngây thơ trong trắng lắm. Nó không có tội gì cả. Vậy mà nó bị giết. Cái số nó chết yểu, nên trời xui đất khiến nó lân la gần gũi với những con ma đói. Người ta nuôi nó để ăn thịt. Nếu nó không chết bây giờ, thì ngày 2 tháng 9, cũng chết bởi tay thằng chủ của nó. Từ đây tới ngày ấy, đâu còn bao lâu? Chỉ sáu tháng nữa thôi. Sau sáu tháng phù du, rồi cũng bị đem ra tế thần cho mấy ông cán bộ đánh chén say sưa, mừng ngày độc lập. Chết như thế là chết lãng nhách. Thôi thì hy sinh ngay bây giờ, còn được ý nghĩa phục vụ nhân sinh.</p>
<p>Mấy hôm trước, Lê Thơm nói: &#8220;Tao có kế hoạch ăn no, với điều kiện mày phải hợp tác.&#8221;<br />
Tưởng gì chứ được ăn no, tôi hợp tác liền. Miếng ăn bây giờ, là vấn đề quan trọng hàng đầu. Khi đói, bộ nảo tuột xuống nằm trong cái dạ dày. Mọi suy tính đều hướng về miếng ăn, phục vụ cho cái dạ dày. Từ đó, người ta bộc lộ hết bản năng sinh tồn. Mà bản năng sinh tồn, thì người và vật giống nhau.<br />
Tuy thế, tôi vẵn hỏi lại cho rõ: &#8220;Kế hoạch thế nào?&#8221;<br />
&#8220;Mày đấm một cú thật mạnh vào chỗ này.&#8221; Hắn nghiêng đầu qua một bên, chỉ vào quai hàm.<br />
&#8220;Chi vậy? Thằng khùng!&#8221;<br />
&#8220;Tao muốn dưới mang tai sưng lên, để khai sưng quai bị.&#8221;<br />
&#8220;Và được nghỉ lao động?&#8221;<br />
&#8220;Nghỉ lao động là cái chắc. Nhưng mục đích chính là kiếm ăn.&#8221;<br />
&#8220;Nói rõ hơn coi?&#8221;<br />
Lê Thơm xít lại gần tôi: &#8220;Dạo này, sáng trưa chiều, đều sắn. Ngày nào cũng sắn. Trường kỳ sắn. Nhiều thằng ăn sắn, quai hàm bạnh ra. Có thằng ma lanh, lấy tay chà xát đỏ lên, rồi khai sưng quai bị. Y tá tưởng thật, cho nó ra ở nhà cách ly, ngoài hàng rào.&#8221;<br />
&#8220;Ở cách ly, vẫn đói.&#8221;<br />
&#8220;Bên hông nhà cách ly, hàng rào bị phá một khoảng bằng cái lỗ chó chui. Nếu được ở cách ly, ban đêm tao chui lỗ chó, đột nhập nhà kho, trộm nếp.&#8221;<br />
&#8220;Chơi trò mạo hiểm, dễ mất mạng. Mày nhớ vụ thằng Khánh nửa khuya chui rào, ra nương moi khoai lang, bị bắn bể đầu gối, phải cưa chân lên tận háng không?&#8221;<br />
&#8220;Ðó là nó chui từ trong ra ngoài. Còn tao chui từ ngoài vô trong.&#8221;<br />
&#8220;Ngoài hay trong cũng vậy. Vệ binh đi tuần thấy bóng người lấp ló ban đêm, nó nổ súng không thương tiếc.&#8221;<br />
Vụ thằng Khánh thế này. Nó là đại uý pilot. Những thằng Không Quân thường to con. Vào tù, càng to con càng bất lợi. Ăn uống cùng một tiêu chuẩn, thằng to con đói nhiều hơn thằng nhỏ con. Vào một đêm đông miền thượng du, trăng sáng lắm. Khánh chui rào, mò vào nương moi khoai lang. Cán bộ đi tuần tra an ninh bắt gặp con ma đói. Cán bộ bảo Khánh đứng nghiêm, rồi chỉa họng súng vào đầu gối của Khánh, bóp cò. Khánh bị bể khớp xương đầu gối, quỵ ngay tại chỗ. Cán bộ vào báo động, tập họp cả trại điểm danh. Anh em tù cải tạo không hiểu chuyện gì. Một lúc sau, vệ binh khiêng Khánh vào, bỏ nằm giữa sân trại. Cấm, không ai được đến gần. Trời đông lạnh buốt. Khánh nằm đau nhức rên la suốt đêm. Sáng ra, Khánh được khiêng lên bệnh xá của đoàn 779. Bệnh xá cũng chỉ có mấy thứ lá cây hái về từ ngoài rừng, sao làm thuốc nam. Hai người tù phục vụ ở bệnh xá, là bác sĩ của chế độ cũ miền Nam, cũng đành bó tay. Phải chuyển Khánh đi nơi khác. Khánh được võng đi cả ngày đường, qua bao nhiêu sơn khê đồi núi mới ra tới bệnh viện Yên Bái. Tám tháng sau, Khánh về lại trại, với cái chân cụt gần tận háng. Anh em ngồi nghe Khánh kể chuyện, đều khiếp vía. Tại bệnh viện Yên Bái, người ta trói tay chân Khánh vào giường, rồi cưa chân mà không có thuốc tê mê gì cả. Danh từ chuyên môn gọi là &#8220;giải phẩu sống&#8221;. Khánh đau quá, ngất đi mấy lần. Giải phẩu sống lần đầu, vết thương nhiễm trùng sưng tấy lên và làm mủ. Giải phẩu sống lần thứ hai, người ta cho Khánh uống rượu đế đến say mèm, rồi mới cưa. Khánh nói, có rượu vào, cảm thấy ít đau.<br />
Nhắc chuyện của thằng Khánh, cũng không làm Lê Thơm nao núng.<br />
&#8220;Ðừng doạ tao. Ðấm một cú đi.&#8221; Lê Thơm nghiêng đầu, đưa quai hàm chờ đợi.<br />
Tôi đẩy ra: &#8220;Cú đấm của tao, có thể làm mày tréo bản họng. Mày tự đấm mày đi.&#8221;<br />
&#8220;Tao làm rồi. Nhưng tự đấm mình, tao không dám mạnh tay. Mày giúp tao hoàn thành kế hoạch.&#8221;<br />
&#8220;Kế hoạch của thằng khùng!&#8221;<br />
Nói xong, tôi bỏ đi. Lê Thơm cụt hứng, chửi thề.<br />
Hai ngày sau nữa. Ăn trưa xong, anh em vào lán nằm nghỉ ngơi. Lê Thơm, và tôi còn ngồi lại ở nhà ăn. Con chó nhỏ quanh quẩn dưới chân. Nó mới xuất hiện khoảng hơn nửa tháng nay. Từ trên khung, nó hay chạy xuống trại trong giờ ăn.<br />
Nhìn con chó một lúc, Lê Thơm chợt nẫy ý lạ: &#8220;Thịt con chó này.&#8221;<br />
Tôi trợn mắt: &#8220;Ðừng đùa. Chó cán bộ trại phó đấy.&#8221;<br />
Hắn cương quyết: &#8220;Chó cán bộ, cũng xơi.&#8221;<br />
&#8220;Làm sao ăn?&#8221;<br />
&#8220;Tao có cách. Mày dụ nó ở đây. Tao lấy cái bao cát.&#8221;<br />
Tôi chưa kịp đồng ý hay không. Hắn chạy vụt đi.<br />
Tôi nhìn con chó. Tội nghiệp! Nó không biết gì cả. Tôi đưa tay. Nó liếm. Tôi vuốt đầu. Nó quíu tai lại. Tôi vỗ nhẹ trên lưng. Nó nghểnh cổ, lim dim đôi mắt. Quỷ thần trời đất ơi! Nó dễ thương như vậy, ai nở lòng nào giết cho đành?<br />
Lê Thơm cầm bao cát, hấp tấp chạy lại: &#8220;Nhanh lên!&#8221;<br />
Tôi lắc đầu.<br />
Hắn mở rộng miệng bao giơ ra, giục: &#8220;Nhanh! Bóp cổ, thồn vào.&#8221;<br />
Không còn suy nghĩ nữa, tôi chụp cổ con chó, siết mạnh. Nó giãy giụa, quào bốn chân trong không khí. Lê Thơm túm chân, tròng vào bao cát.<br />
Hắn nói: &#8220;Tiếp tục bóp.&#8221;<br />
Nếu có kẻ nhìn thấy, hậu quả khốn nạn sẽ không lường nổi.<br />
Tôi kêu lên: &#8220;Kinh quá mày ơi! Tha nó đi.&#8221;<br />
Tôi buông tay. Con chó vừa kêu &#8220;ẳng&#8221; một tiếng, đã bị Lê Thơm siết cổ lại liền.<br />
Tới giờ xuất trại lao động buổi chiều, cả đội xếp hàng đôi, lần lượt ra cổng. Cán bộ trực trại, và quản giáo đứng ngay cổng kiểm soát. Vệ binh coi tù, mang súng đi sau cùng. Lê Thơm lảnh việc nấu nước cho đội. Hắn quảy cặp thùng, mang bị đựng chó bên hông, thản nhiên đi ra cổng. Tôi vái thầm, cầu trời cho hắn thoát. Và hắn thoát thật. Tôi thở phào, nhẹ cả người.<br />
Ra đến hiện trường lao động, mọi người túa vào rừng chặt nứa. Rừng xanh mênh mông. Ðồi núi chập chùng. Vệ binh mang súng đi qua đi lại ngoài bìa rừng, canh tù làm việc. Lê Thơm chọn thế đất tương đối bằng phẳng. Việc đầu tiên, hắn đào một cái hố nhỏ. Ai cũng tưởng hắn đào bếp lò. Nhưng thật nhanh, hắn cho con chó xuống, và lấp đất lại. Bên trên, hắn đốt một đống lửa, nấu nước. Ðó là chuyện hắn kể sau này.<br />
Trong giờ giải lao. Tôi tới chỗ nấu nước. Lê Thơm múc cho tôi một ca nước sôi. Nhìn quanh, không thấy có dấu hiệu gì chứng tỏ Lê Thơm nướng chó.<br />
Tôi hỏi nhỏ: &#8220;Chó đâu?&#8221;<br />
Hắn chỉ vào đống lửa.<br />
Tôi lấy cớ mồi lửa đóm hút thuốc lào, dùng cái que cời than lên, vẫn không thấy chó.<br />
Hắn bảo: &#8220;Ði khỏi chỗ này ngay. Ðừng làm tụi nó sinh nghi.&#8221;<br />
Tôi tin tưởng vào tài ứng biến của Lê Thơm. Xưa kia, hắn là thiếu tá, có thời làm quận trưởng quận Chợ Lách, tỉnh Vĩnh Long. Ngày nay vào tù, hắn nhanh chóng thích nghi với hoàn cảnh mới, lanh lợi trong mọi vấn đề. Nhất là cải thiện, hắn nhanh như sóc. Trong đội, không thằng nào qua mặt được Lê Thơm. Thoáng thấy đó, biến đó không ngờ. Hồi hắn còn trong tổ làm vườn. Giờ trưa, mọi người đều nghỉ ngơi. Hắn lúi húi moi khoai lang, đem xuống suối rửa, nhưng mắt vẫn rảo quanh quan sát. Hắn thấy Thu Sứt từ những bụi cây đàng xa, đang rình mò theo dõi hành động của hắn. Tay này mang quân hàm trung uý, có người anh vào Nam làm giải phóng, và bỏ mạng trong trận chiến mùa hè năm 72, ở Bình Long. Bao nhiêu hận thù, Thu Sứt trút lên đầu anh em tù cải tạo. Sở dĩ Thu Sứt có biệt danh này, là do cái môi bẩm sinh bị sứt, phải vá lại. Vì thế cái miệng chum chúm, làm cho cái mặt luôn luôn mang nét quạu quọ như người đang hờn giận. Có lần, Thu Sứt bắt gặp anh Năng đang cải thiện. Thu Sứt gọi về, bắt Năng đứng giữa bốn vệ binh vây quanh. Thu Sứt hạ lệnh cho bốn vệ binh bề hội đồng. Năng bị đấm văng bên này, bị đá giạt bên kia, giống như những cầu thủ giao banh. Cuối cùng, Năng gục xuống ngất xỉu, được khiêng về trại cho anh em tù săn sóc. Sau thành tích ấy, Thu Sứt nổi danh là hung thần ác sát. Trong trại còn một người nữa, cũng nổi danh không kém Thu Sứt. Ðó là chàng trung sĩ vệ binh Nương Mặt Ngạnh. Thật ra, anh ta tên là Lương, nhưng do nói ngọng thành Nương, và do xương quai hàm bạnh ra, nên có biệt danh là Nương Mặt Ngạnh. Khi dẫn tù đi lao động, anh ta cầm theo chiếc gậy bằng cây giang, trông như khúc đoản côn. Ðã nhiều lần anh ta quất thẳng cánh vào anh em tù cải tạo. Ai từng bị đòn của Nương Mặt Ngạnh cũng đều ẹo xương sống. Thành tích của Nương Mặt Ngạnh ở hiện trường lao động rất đáng gờm. Anh ta bắt tù đứng trên triền núi. Thế núi dốc, anh ta đứng phía trên. Sau vài câu đay nghiến, bỗng Nương Mặt Ngạnh đá thốc dép râu vào mặt người tù. Bất ngờ không kịp chống đỡ, người tù ngả vật ra, sặc máu mũi. Trong kỳ cả trại học tập về chính sách khoan hồng nhân đạo của đảng và nhà nước, anh em tù phản ảnh chuyện này lên ông trại trưởng. Ông trại trưởng bảo: &#8220;Chính sách của đảng và nhà nước trước sau như một. Nhưng các anh quá quắc, không trừng trị không được.&#8221; Thế là huề! Ðảng và nhà nước vẫn tiếp tục chủ trương khoan hồng nhân đạo. Anh em tù vẫn tiếp tục bị trừng trị.<br />
Trở lại chuyện Lê Thơm khi bị Thu Sứt theo dõi. Hắn biết nguy tới nơi rồi. Hắn cho tất cả khoai lang vào thùng tưới, đi lên. Ở đằng xa, Thu Sứt nương theo những bụi cây đi tới, quyết bắt tại trận tên tù đang cải thiện. Lê Thơm chờ cho Thu Sứt đi khuất sau chòm cây, hắn trút thùng khoai xuống hố ủ phân bắc. Rồi quay xuống suối như đang tiếp tục xách nước tưới rau. Phân bắc là cứt người, ủ lại để bón rau. Hố phân bắc đầy giòi bọ, và mùi rất khắm.<br />
Thu Sứt xuất hiện, khi Lê Thơm đang múc nước dưới lòng suối.<br />
&#8220;Anh kia! Làm gì đấy?&#8221;<br />
&#8220;Xách nước tưới rau.&#8221;<br />
&#8220;Anh rửa gì dưới suối?&#8221;<br />
&#8220;Tôi có rửa gì đâu?&#8221;<br />
&#8220;Láo! Anh vớt tất cả đem lên đây.&#8221;<br />
&#8220;Có gì mà vớt?&#8221;<br />
&#8220;Khoai lang.&#8221;<br />
&#8220;Làm gì có?&#8221;<br />
&#8220;Hãy mò xuống, vớt lên.&#8221;<br />
Lê Thơm mò xuống, vớt lên những sỏi đá.&#8221;<br />
Tức quá, Thu Sứt xăn quần lội xuống suối. Mò chỗ cạn không thấy, Thu Sứt mò ra sâu hơn, ướt cả quần, vẫn không thấy. Thu Sứt quay lên, mặt hầm hầm bảo Lê Thơm về ngay, trình diện trên khung.<br />
Tại khung, Thu Sứt đưa tờ giấy, bình mực, và cây bút cho Lê Thơm, bảo: &#8220;Viết kiểm điểm.&#8221;<br />
Lê Thơm hỏi lại: &#8220;Chừng nào nộp giấy?&#8221;<br />
&#8220;Chiều nay.&#8221;<br />
&#8220;Không kịp. Tôi còn phải đi lao động.&#8221;<br />
&#8220;Cho anh nghỉ việc buổi chiều. Ở lại lán viết kiểm điểm.&#8221;<br />
Lê Thơm viết, đại ý rằng từ ngày đi cải tạo, hắn luôn phấn đấu để trở thành người tốt. Cán bộ bảo viết kiểm điểm. Nhưng hắn không biết kiểm điểm về vụ gì? Mong cán bộ chỉ dẫn.<br />
Buổi chiều. Lê Thơm đem giấy lên nộp. Thu Sứt đọc xong, vỗ bàn: &#8220;Kiểm điểm về vụ cải thiện khoai lang. Biết chưa?&#8221;<br />
&#8220;Nhưng tôi đâu có cải thiện khoai lang?&#8221;<br />
&#8220;Có. Anh phải viết rằng anh có cải thiện khoai lang. Nghe rõ chưa?&#8221;<br />
&#8220;Vâng. Tôi rõ. Xin cho biết chừng nào nộp giấy?&#8221;<br />
&#8220;Cho anh nghỉ việc sáng mai, viết kiểm điểm. Trưa hôm sau nộp.&#8221;<br />
Thu Sứt đưa Lê Thơm tờ giấy khác. Anh ta yên chí sẽ căn cứ vào nội dung tờ kiểm điểm, nện cho Lê Thơm một trận mập mình, và cùm vào nhà kỷ luật.<br />
Lần thứ hai, Lê Thơm viết rằng: Tôi đang đứng dưới suối xách nước tưới rau. Cán bộ nghi ngờ tôi đang rửa khoai lang. Và ra lệnh cho tôi phải viết có cải thiện khoai lang. Tôi tuân lời cán bộ, nhận có cải thiện khoai lang. Nhưng thật sự tôi không dám làm chuyện vi phạm nội quy như thế.&#8221;<br />
Trưa hôm sau. Thu Sứt đọc kiểm điểm của Lê Thơm xong, xé toạc tờ giấy, giận dữ: &#8220;Viết láo lếu thế này, thì sao gọi là tự giác?&#8221;<br />
Lê Thơm bình tĩnh: &#8220;Tôi viết theo lệnh của cán bộ.&#8221;<br />
Thu Sứt gầm lên: &#8220;Câm họng. Cút ngay! Lần sau, dù có lủi giỏi như chạch cũng không thoát.&#8221;<br />
Trong tù, Lê Thơm dám &#8220;giỡn mặt&#8221; cán bộ, quả là lớn gan. Tôi phục hắn. Nói theo Thu Sứt, hắn lủi giỏi như chạch. Hắn đã thoát không phải một lần, mà nhiều lần sau nữa. Chỉ một lần sau cùng, hắn không thoát được. Và lần không thoát được ấy, đưa Lê Thơm đến sự tử vong. Tôi đã nói về trường hợp Lê Thơm bỏ mạng, trong một truyện khác.<br />
Tối hôm thịt con chó, trời vừa nhá nhem, Lê Thơm khều tôi ra ngoài đầu hồi. Hắn mở cái bị, lôi ra con chó cứng đơ, dính đầy đất cát. Hắn lột da, xé miếng thịt đưa tôi. Chưa bao giờ ăn thịt chó, tôi nghe nhờn nhợn trong cổ khi cầm miếng thịt.<br />
Lê Thơm bảo: &#8220;Ăn đi. Nguồn protéin bổ dưỡng vô song.&#8221;<br />
Hắn nhai ngấu nghiến. Tôi bắt chước ăn thử, thấy ngon. Tôi nghĩ, với sự đói khát lâu ngày, bất cứ món gì cho vô miệng cũng thấy ngon. Thằn lằn, rắn mối, cào cào, châu chấu, ốc sên, dế nhủi đều ngon, và cũng là nguồn protéin cần thiết cho cơ thể. Ðặc biệt, có con sâu màu trắng thường rúc trong gỗ mục, toàn thân nó chứa một chất sữa rất béo. Con sâu vô danh này, tù đặt tên là con Magarit. Có thể nói con Magarit là sâm động vật, giá trị không thua sâm thực vật của Ðại Hàn.<br />
Hai chúng tôi ăn đến nửa con chó, thì đụng phần thịt sống. Bởi khi chôn con chó xuống đất, phía trên nóng nhiều làm thịt chín, nhưng không đủ sức chín tới phía dưới.<br />
Lê Thơm nói: &#8220;Ăn luôn. Người tiền sử vẫn ăn thịt sống.&#8221;<br />
Tôi đề nghị: &#8220;Cắt ra từng miếng nhỏ, cho vào lon Guigoz nấu.&#8221;<br />
&#8220;Mang ra mang vô cổng trại, nguy lắm.&#8221;<br />
&#8220;Tới phiên tao mạo hiểm. Tao sẽ nấu ngay đêm nay.&#8221;<br />
Ðêm ấy, tôi lần mò trong bóng tối, vào nhà bếp cời than đặt vào hai chiếc lon Guigoz. Xong, lại quay về lán ngồi đợi thịt chín. Khi lấy lon về, cũng phải ra vào hai bận. Công việc chỉ có thế, nhưng vô cùng nguy hiểm. Vệ binh rình rập đâu đó, thấy bóng người ra khỏi lán mà không cầm theo cây đèn dầu, chúng sẽ bắn, nếu không chết cũng bị thương. Tôi tin con người có số mạng. Dù ở tù, nhưng ngôi sao chiếu mạng của tôi còn sáng lắm. Quỷ thần che chở cho tôi trong mọi trường hợp bất trắc hiểm nguy.<br />
Ngay trong đêm, Lê Thơm và tôi thanh toán sạch luôn hai gon Guigoz thịt. Con chó nhỏ được chôn kín vào nơi không trời không đất. Hoàn toàn mất dấu.<br />
Khi ăn, tôi nói: &#8220;Nghĩ tội con chó quá, mày ơi!&#8221;<br />
Lê Thơm nói: &#8220;Cũng bởi tình cảm tiểu tư sản như thế, mà hôm nay mới vào tù.&#8221;<br />
Tôi lại nói: &#8220;Miếng ăn tưởng chừng rất nhỏ nhoi. Nhưng có lúc người ta dám đem cả sinh mạng mình ra thử thách. Xem thế, đủ biết cái ăn là quan trọng vô cùng.&#8221;<br />
Lê Thơm gạt ngang: &#8220;Ðừng triết lý vặt, ăn mất ngon, con ạ!&#8221;<br />
Vài hôm sau, ông đại uý cán bộ trại phó cầm sợi dây cột chó, xuống trại vào giờ ăn trưa. Ông đi quanh quẩn tìm kiếm.<br />
Ông hỏi: &#8220;Các anh có thấy con chó của tôi chạy xuống đây không?&#8221;<br />
Mọi người im lặng.<br />
Lê Thơm lên tiếng: &#8220;Con chó nào, cán bộ?&#8221;<br />
&#8220;Con chó trắng đốm đen.&#8221;<br />
&#8220;Có phải con chó nhỏ không?&#8221;<br />
&#8220;Ðúng rồi.&#8221;<br />
&#8220;Ồ&#8230; Lúc trước, nó vẫn thường chạy lại đây. Hai ngày nay không thấy.&#8221;<br />
&#8220;Hôm qua, tôi còn cho nó ăn. Mới mất hôm nay thôi.&#8221;<br />
Lê Thơm sốt sắng: &#8220;Tôi sẽ để ý. Nếu thấy, tôi giữ nó lại, báo cho cán bộ.&#8221;<br />
Ông trại phó lắc đầu thất vọng: &#8220;Chắc bị cáo vồ rồi.&#8221;<br />
Nói xong, ông quay đi.<br />
Lê Thơm thầm thì với tôi: &#8220;Mình thịt con chó đã hai ngày. Nó nói hôm qua còn cho chó ăn. Bọn này hễ mở miệng ra là nói láo. Chuyện lớn chuyện nhỏ đều láo.&#8221;</p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><span style="font-weight: bold;">Viễn Thám </span></h3>
<p>Bảy thằng Viễn Thám chúng tôi được trực thăng vận vào vùng hành quân. Theo kế hoạch, giữa trưa sẽ nhảy xuống khu rừng giáp ranh đồn điền cao su Choup, thuộc lãnh thổ Kampuchia. Nhưng mấy thằng phi công ôn dịch cứ bay tít ở trên cao, và lượn tới lượn lui mãi. Chắc nó muốn ăn đạn phòng không? Nó không biết phía dưới có hàng vạn quân Bắc Việt đang giương mắt ngó lên sao? Bay lượn cái kiểu trêu người này, chẳng khác nào báo cho địch biết rằng, tao sắp thả mấy thằng Viễn Thám xuống đây, hãy chuẩn bị bắt nó. Nhưng làm sao nói với thằng phi công? Lỗ tai nó đã bịt kín lại bằng cái máy nghe. Gió tạt mạnh và tiếng cánh quạt phần phật làm át đi mọi tiếng nói. Không những thế, nó còn làm sai bét cả nguyên tắc nghi binh của Viễn Thám. Một chiếc trực thăng đổ quân, hai chiếc Cobra yểm trợ có trang bị đại liên và rocket, sà xuống bắn xối xả, ít nhất là vài ba cái trảng trống trong rừng. Trong những lần sà xuống ấy, chúng tôi nhảy ở một nơi đã được chọn lựa trước, để địch không biết chắc chúng tôi xuống điểm nào. Đằng này, sau khi quần cho đã, bỗng chiếc đổ quân hạ ngay xuống điểm chính. Hai chiếc Cobra kè hai bên, bắn qua loa vài phát. Xong, cất đầu lên, bay về luôn.<br />
Thằng Sử trợn mắt nhìn theo, chửi thề: &#8220;Đù má! Nó làm ăn cái kiểu gì kỳ cục vậy?&#8221;<br />
Không ai có thì giờ ở đó mà chửi phụ hoạ theo thằng Sử. Chúng tôi lủi nhanh vào lùm rậm. Kiểm lại quân số. Rồi tức tốc rời khu vực vừa đổ quân, càng xa càng tốt. Chậm trễ, địch kéo tới bao vây thì bỏ mạng.<br />
Vào đất Kampuchia lần này, chúng tôi có nhiệm vụ theo dõi tình hình và ghi nhận những nơi tập trung quân của địch. Đây không phải lần đầu tôi nhảy toán. Nhưng chuyến đi này, tôi lo lắng rất nhiều, nếu không nói rằng sợ. Theo tin phòng nhì, Công Trường 7 và Công Trường 9 của Bắc Việt, hiện đang có mặt trong vùng rừng rậm Lưỡi Câu, Mỏ Vẹt, trải quân chiếm cả hai đồn điền cao su Choup và Mimot. Mấy tháng trước, chiến đoàn phối hợp nhị thức Bộ Binh Thiết Giáp, vào Choup và đã bị đánh bật ra ngoài, gây tổn thất khá lớn về nhân mạng. Sau đó, người ta không muốn dùng lực lượng bộ binh để tấn công vào đồn điền nữa, vừa tốn kém nhiều, lại không nắm chắc được phần thắng. Vì thế, Không Quân và Pháo Binh được nghĩ đến. Và Viễn Thám được điều động vào vùng, để đưa những mục tiêu lên &#8220;lưới&#8221;.<br />
Liên tiếp trong hai tuần lễ vừa qua, có hai toán Viễn Thám được thả vào đồn điền Choup. Nhưng tất cả đều mất tích một cách khó hiểu. Những chàng Kinh Kha thời đại, chẳng ai tiễn qua sông mà cũng một đi không trở lại. Toán chúng tôi là toán thứ ba. Kế hoạch có thay đổi chút ít. Xuống ở vùng rừng rậm, để từ đó, mò vào Choup. Lấy hướng Đông, xuyên qua đồn điền, về điểm hẹn tại biên giới Việt Nam. Trên đường đi, sẽ chấm toạ độ đóng quân của địch, đưa lên &#8220;lưới viễn thám&#8221; cho phi pháo oanh kích. Nhiệm vụ đơn giản chỉ có thế, nhưng thi hành thì tính mạng ngàn cân treo sợi tóc.<br />
Từ nửa tháng nay, tinh thần chúng tôi hơi căng. Lúc những đơn vị lớn nằm án binh bất động, là lúc bọn Viễn Thám lao vào vùng địch. Thời gian hạn định cho một chuyến công tác là ba ngày hai đêm. Đã hơn mười ngày rồi, hai toán trước vẫn biệt tăm. Máy siêu tần số của trung tâm vẫn trực 24/24. Không một tín hiệu gọi về. Đứt liên lạc. Tình hình địch ra sao, không nắm vững. Trong chiến tranh, mạng người như những đồng bạc lẻ, tiêu pha không tiếc. Mất mười bốn thằng Viễn Thám, chẳng nghĩa lý gì so với với những thiệt hại vừa qua ở Dambert, Soul, Mimot, Choup. Thí mạng thêm bảy thằng Viễn Thám nữa, để thăm dò tình hình địch, không phải là một cái giá quá đắt.<br />
Tôi được gọi lên phòng thuyết trình, nhận lệnh hành quân. Sáu thằng trong toán lảng vảng bên ngoài, lo lắng. Khi tôi bước ra, không thằng nào lên tiếng hỏi, nhưng những cặp mắt ái ngại nhìn tôi, chờ đợi một câu trả lời.<br />
Tôi nói ngắn gọn: &#8220;Chuẩn bị.&#8221;<br />
Có mấy tiếng lảm nhảm chửi thề. Đó là dấu hiệu của sự bất mãn. Trong cái đầu của những thằng lính trận, hình như luôn luôn có sự bất mãn. Và miệng sẵn sàng tuôn ra những câu chửi thề vô tội vạ. Bất mãn, chửi thề là cái bệnh chung của anh em. Không cần chữa trị, căn bệnh này cũng biến mất lúc đứng trước thượng cấp. Vì thế mà kỷ luật được duy trì, mệnh lệnh được thi hành một cách triệt để.<br />
Trong lúc anh em lo kiểm lại cấp số đạn dược, và sơn mặt ngụy trang, tôi bảo trung sĩ Năng lên kho tiếp liệu, lãnh khẩu phần cho cả toán.<br />
Khi vác khẩu phần về, Năng nói:&#8221;Kèo nài mãi, mới xin dư được một túi mưu sinh.&#8221;<br />
Thằng Nhiêu hỏi: &#8220;Để làm gì?&#8221;<br />
&#8220;Bán cho mấy thằng trực thăng. Cũng được chầu nhậu linh đình.&#8221;<br />
&#8220;Chưa biết còn mạng trở về hay không. Nói chi đến chuyện nhậu.&#8221;<br />
Năng sừng sộ: &#8220;Đù má! Sắp hành quân. Miệng ăn mắm ăn muối, đừng nói bậy nhe.&#8221;<br />
&#8220;Mày là thằng sợ chết nhất. Mới cưới con vợ ngon lành. Sáu tháng chưa về phép. Đêm ngủ mộng tinh. Bỏ vợ nhà lâu quá, hôi ê.&#8221;<br />
Anh em cười rộ.<br />
Năng nhìn tôi: &#8220;Xong chuyến đi này, trung úy đề nghị cho tôi về phép?&#8221;<br />
Tôi trợn mắt: &#8220;Mày giỡn? Tình hình đang căng thẳng, cấm trại trăm phần trăm. Ai dám cấp giấy phép cho mày?&#8221;<br />
&#8220;Lúc nào cũng nghe nói tình hình căng thẳng, và cấm trại. Đánh giặc lâu dài, chứ đâu phải đôi ba bữa là xong. Không thể trấn con người ta vô rừng mãi được. Phải liệu cách giải quyết chứ?&#8221;<br />
&#8220;Mày có gan thì lên gặp Đại Bàng Già mà khiếu nại. Trên ổng còn có Mặt Trăng, Mặt Trời, Bắc Đẩu&#8230;, cứ theo hệ thống quân giai mà khiếu nại dài dài lên Tổng Thống. May ra trường hợp của mày được giải quyết.&#8221;<br />
&#8220;Những thằng lính văn phòng, chẳng cần phép tắc mà vẫn tà tà ở thành phố, ôm đít vợ hằng đêm. Còn mình trông cái phép gần chảy máu mắt, không được. Bất công!&#8221; Năng càm ràm.<br />
Tôi nói: &#8220;Bất công là lẽ thường. Trên cõi đời chó má này, làm gì có sự công bình?&#8221;<br />
&#8220;Nghĩ tức. Nhiều khi muốn đào ngũ.&#8221;<br />
&#8220;Cứ đào ngũ đi. Bọn Quân Cảnh ngồi ngáp gió, không có việc gì làm. Nó đang chờ mày đấy. Còn ở đây, không có mày thì có thằng khác thế vào.&#8221;<br />
Thượng sĩ nhất Sử, nói: &#8220;Năng ơi, trước khi hành quân, mày đừng lải nhải ba cái chuyện đó nữa, được không? Nhìn bộ mặt nhăn như cái bánh bao của mày, tao nản!&#8221;<br />
Thằng Sử là toán phó Viễn Thám. Nó ra trường Đồng Đế năm mười chín tuổi. Liều mạng và háu đá. Năm năm chiến trường, chưa một lần bị thương. Nó khoe, thầy của nó tu luyện ở Thất Sơn, chuyên môn uống máu dơi và ăn gan rắn hổ. Ngày vẽ bùa trấn ma. Đêm ngậm ngải mà ngủ. Cái nanh heo rừng, nó đeo lủng lẳng trước ngực, thầy nó đã tươm bùa vào rồi. Nó coi cái nanh này là một thứ bùa hộ mạng, bom đạn không thể xâm phạm được nó. Từ tiểu đoàn Biệt Động Quân, nó xin qua Viễn Thám. Mới đầu, tôi không chịu nhận nó vào làm toán phó. Tôi chỉ cần thằng nào dè dặt và cẩn trọng, chứ không cần liều mang và háu đá. Bởi nhiệm vụ của chúng tôi là theo dõi địch tình, và né tránh tối đa những đụng độ. Nhưng nó nói, ông thầy yên tâm đi, thằng Sử này cũng biết tùy hoàn cảnh, không phải lúc nào cũng làm ẩu đâu. Tôi nhận, và đề nghị cho nó đi thụ huấn một khoá Viễn Thám ở Dục Mỹ. Học xong, nó về với tôi, đã hơn năm. Sau những lần vào ra hang hùm, tôi thấy nó đã biết&#8230; sợ.<br />
Từ lúc đổ quân cho đến chiều, chúng tôi luồn lách trong khu rừng rậm. Phát hiện nhiều dấu vết di chuyển của địch qua cây cỏ bị rạp. Phần lớn rạp xuôi về hướng đồn điền. Chiều gần chạng vạng, chúng tôi dừng lại bên ven rừng, giáp ranh đồn điền. Dự định &#8220;lót ổ&#8221; qua đêm. Tôi mở máy siêu tần số, báo về trung tâm hành quân những gì đã nhìn thấy, và ước đoán tình hình địch đang dồn thêm quân về Choup.<br />
Có tiếng của Đại Bàng Già: &#8220;Dấu vết mới hay cũ?&#8221;<br />
Tôi trả lời: &#8220;Có mới, có cũ.&#8221;<br />
Lệnh Đại Bàng Già: &#8220;Ngày mưa phùn. Chồn Đầu Bạc lần theo dấu mới. Hết.&#8221;<br />
Trong đặc lệnh truyền tin, &#8220;ngày mưa phùn&#8221; là ngày mai. Ám danh của trưởng toán 3 Viễn Thám là Chồn Đầu Bạc. Chẳng biết tại sao, khi làm đặc lệnh truyền tin, người ta lại lấy tên của con thú đặt cho tôi? Đã là chồn, thì có chồn hôi, chồn mướp, chồn đèn. Làm gì có chồn đầu bạc?<br />
Có lần, đang ngồi chơi trước Bộ Chỉ Huy, trông thấy vị sĩ quan truyền tin đi qua, tôi gọi: &#8220;Ê! Thuận Phong Nhĩ. Sao đặt tôi là Chồn Đầu Bạc?<br />
Hắn cười: &#8220;Chồn già.&#8221;<br />
&#8220;Trai ba mươi tuổi còn son. Gái ba mươi tuổi đã toan về già. Tôi ba mươi, sao gọi rằng già?&#8221;<br />
&#8220;Già mưu mô, như con chồn của La Fontaine dụ con gà trống gáy. Còn bạn, sao gọi tôi là Thuận Phong Nhĩ?&#8221;<br />
&#8220;Trong Tây Du Ký, Thuận Phong Nhĩ là thằng truyền tin của Ngọc Hoàng, có cái lỗ tai nghe xa ngoài ngàn dặm.&#8221;<br />
Hắn gục gật cái đầu: &#8220;À, ra thế.&#8221;<br />
Rồi bỏ đi. Cái tướng phục phịch như con gấu đực, nhưng vô cùng chung thủy. Không bao giờ hắn chơi đĩ. Hắn sợ mắc tiêm la, rồi sang mầm bệnh cho vợ. Nhiều thằng lén rỉ tai, hắn bị vợ khoá cu, không cho chơi bậy.<br />
Tôi chọn chỗ ngủ có nhiều gai góc, và lùm bụi che khuất. Ban đêm, nếu địch di chuyển qua đây, cũng phải né tránh những nơi vướng mắc khó đi. Thế là chúng tôi được an toàn. Bóng tối đổ xuống rừng già rất nhanh. Đêm mù. Khí ẩm hơi sương. Thỉnh thoảng, có những trận gió cuốn qua, rào rào trên đọt cây. Tiếng hú của cú mèo, như tiếng ma kêu. Tiếng &#8220;cốc cốc&#8221; của con chim gì không biết, như tiếng gõ nhịp song lang. Chúng tôi nằm im, nhưng không thằng nào ngủ được. Nghĩ đến mai đây, lần theo dấu địch vào đồn điền cao su, ai cũng ớn xương sống. Địch đông như kiến cỏ. Chúng tôi chỉ bảy thằng. Nếu bị lộ tung tích, biết chạy đàng nào?<br />
Thằng Năng, nằm kế bên tôi, thì thầm: &#8220;Xong chuyến này, thế nào trung úy cũng ráng tìm cách cho tôi về thăm vợ vài ngày?&#8221;<br />
Thì ra, thằng Năng không ngủ vì nhớ vợ. Chẳng phải như chúng tôi, không ngủ vì lo một ngày mai.<br />
Tôi nói nhỏ: &#8220;Lúc này, cầm giấy phép về phố, Quân Cảnh cũng nắm đầu. Tao sẽ năn nĩ, xin Đại Bàng Già cấp sự vụ lệnh cho mày đi công tác. Lợi dụng chuyén đi này, mày ghé về thăm vợ.&#8221;<br />
&#8220;Trung úy hứa thì giữ lời nhe.&#8221;<br />
&#8220;Tao giữ lời. Còn cấp trên chịu cho hay không, là chuyện khác.&#8221;<br />
&#8220;Tôi nghĩ, trung úy nói là ổng thông cảm liền.&#8221;<br />
Tôi nằm xích lại gần Năng hơn: &#8220;Tao hỏi thiệt. Đêm động phòng, vợ mày còn nguyên không?&#8221;<br />
&#8220;Làm sao biết còn hay không?&#8221;<br />
&#8220;Rách màng trinh, chảy máu.&#8221;<br />
&#8220;Tối quá. Không nhìn thấy.&#8221;<br />
&#8220;Có tỏ vẻ đau đớn không.&#8221;<br />
&#8220;Không biết. Chỉ nằm im như khúc gỗ. Có thể đau, nhưng mắc cở nên cắn răng chịu đựng.&#8221;<br />
&#8220;Có &#8220;bót&#8221; không?&#8221;<br />
&#8220;Bình thường.&#8221;<br />
Tôi vặn: &#8220;Bình thường là sao?&#8221;<br />
Năng lí nhí: &#8220;Hỏi khó nói quá.&#8221;<br />
&#8220;Mày như con bò rừng. Chỉ biết hùng hục, chẳng nhận xét gì cả.&#8221;<br />
Năng nói, nghe rất tội nghiệp như tự nói với chính mình: &#8220;Người ta thương mình. Chịu làm vợ mình, đủ rồi. Mất hay còn trinh, không quan trọng. Miễn sau này, đừng bậy bạ với thằng nào. Trước khi lấy người ta, mình cũng&#8230; tơi bời hoa lá, chứ tốt lành gì, mà đòi hỏi người ta còn nguyên xi.&#8221;<br />
Nằm một lúc lâu, Năng khều vai tôi: &#8220;Hồi còn bên Trinh Sát, nghe trung úy sắp cưới vợ?&#8221;<br />
Tôi nói: &#8220;Xù rồi.&#8221;<br />
&#8220;Ai xù?&#8221;<br />
&#8220;Đàng gái.&#8221;<br />
&#8220;Tại sao?&#8221;<br />
&#8220;Ông bố của cô ta bảo, khi nào tao xin được về văn phòng, mới chịu cho đám cưới. Mà gia đình tao nghèo, không quen &#8220;gốc lớn&#8221;. Làm sao xin?&#8221;<br />
&#8220;Thương thì lấy. Văn phòng hay tác chiến, đâu quan trọng?&#8221;<br />
&#8220;Ổng sợ con ổng sớm thành goá phụ.&#8221;<br />
Năng chửi thề: &#8220;Đù má! Đi tác chiến, đều là những thằng gia đình nghèo nàn, không thân thế. Sống hùng sống mạnh, nhưng không không sống lâu.&#8221;<br />
&#8220;Thôi, ngủ đi Năng ơi. Khuya, mày còn lên phiên gác.&#8221;<br />
Tôi lan man nghĩ về cô sinh viên Sư Phạm. Tưởng mối tình sẽ tốt đẹp, sau khi cô ra trường. Nào ngờ, bố cô như một bóng đen trùm xuống với một điều kiện, mà tôi biết rằng tôi không đủ khả năng thực hiện. Thế là cô ta đi lấy chồng. Rồi mọi chuyện cũng đâu vào đó. Cô vẫn bình thường, như chưa từng trải qua một lần thề sống chết với tôi. Khi tôi tình nguyện qua Viễn Thám, có thằng bảo tôi thất tình, lao vào chỗ chết. Tôi chỉ cười. Thật ra, tôi có buồn buồn một thời gian. Nhưng không quằn quại đau thương bỏ ăn mất ngủ, đến nỗi điên khùng muốn tự tử, như mấy thằng bạn nói.<br />
Rọ rạy một hồi, Năng lại hỏi: &#8220;Không cưới được vợ, có thất tình không?&#8221;<br />
Tôi nói có. Năng bảo nhiều thằng vì thất tình mà trở thành thi sĩ. Và hỏi tôi có làm thơ thất tình không?<br />
Tôi trả lời bằng cách đọc ẩu:<br />
Em như cục cứt trôi sông<br />
Anh như con chó đứng trông trên bờ<br />
Em như cục cứt dật dờ<br />
Anh như con chó trên bờ đứng trông.<br />
Năng cười rúc trong cổ: &#8220;Thơ thất tình gì mà chỉ thấy chó với cứt. Con vợ tôi nghe được bài thơ này, chắc cười chết bỏ.&#8221;<br />
Tôi nhắc lại lần nữa: &#8220;Thôi, ngủ đi Năng ơi. Khuya, mày còn lên phiên gác.&#8221;<br />
Trời hừng sáng. Đủ loại chim rừng hót rộ trên cây. Chúng tôi nhìn nhau, thấy lạ. Màu chàm ngụy trang trên mặt cho tiệp với màu xanh cây lá, đã đã làm mặt người đổi khác. Tôi trải tấm bản đồ, chỉ cho cả toán biết điểm tập trung trong ngày, nếu chẳng may thất lạc.<br />
Lại dặn dò hạ sĩ Nhiêu: &#8220;Mày đi đầu, không cần phải theo đúng phương giác địa bàn. Tùy theo địa thế mà đi. Phải hết sức cẩn thận.&#8221;<br />
Theo đội hình hàng dọc, Nhiêu là khinh binh đi đầu, kế là tôi&#8230;, và thằng Sử toán phó, đi sau cùng.<br />
Đồn điền Choup. Những cây cao su được trồng ngay hàng thẳng lối. Thân cây già cỗi, to đến cả người ôm. Tàn lá rợp, che bóng mặt trời. Thời kỳ chiến tranh, đồn điền bị bỏ hoang nhiều năm. Gai mắc cở là đà ngang đầu gối. Cỏ dại gần lút đầu người. Những loài cây tạp cũng chen nhau, vươn lên cùng với cao su. Lợi dụng địa hình che khuất, quân Bắc Việt đã vào đây trú ẩn.<br />
Gần đứng trưa. Thằng Nhiêu dừng lại, nép vào gốc cao su, ngắc tay gọi tôi lên.<br />
Nó nói nhỏ: &#8220;Lắng nghe.&#8221;<br />
Trên trời có tiếng rì rì như tiếng của con ong bay qua.<br />
Tôi nói: &#8220;Con đầm già L19, bay quan sát.&#8221;<br />
Nó lắc đầu, chỉ tay về phía trước. Có tiếng nói văng vẳng, vọng lại từ xa. Thỉnh thoảng có tiếng động, hình như tiếng chặt cây.<br />
Tôi ngó về phía sau, làm thủ hiệu cho anh em bố trí tại chỗ. Tôi và thằng Nhiêu len lỏi mò lên. Không dám tới quá gần vì sợ bị lộ, nhưng tôi cũng ghi nhận được những dữ kiện cần thiết để ước đoán tình hình. Khi quay lại chỗ cũ, tôi mở máy báo về trung tâm hành quân. Thuận Phong Nhĩ tức tốc gọi Đại Bàng Già đến ngay đầu máy.<br />
Tiếng Đại Bàng Già: &#8220;Tao đưa mục tiêu lên &#8220;lưới&#8221;. Chồn Đầu Bạc xáp lại gần, quan sát, điều khiển &#8220;thiên lôi&#8221; làm việc, và cho biết kết quả. Hết.&#8221;<br />
Trời đất! Phi pháo dội xuống mục tiêu. Quân địch như ổ kiến lửa, bị động sẽ bung tràn lan ra ngoài. Đại Bàng Già bảo xáp lại gần. Ông tưởng bọn tôi có thể tàng hình trước con mắt địch quân hay sao?<br />
Tôi bảo mấy thằng trong toán: &#8220;Lệnh là thế. Nhưng tụi mình phải &#8220;dọt&#8221; khỏi chỗ này cho xa.&#8221;<br />
Chúng tôi đổi phương giác. Né tránh mục tiêu. Chừng mười lăm phút sau, pháo nổ ầm ầm dữ dội. Dứt đợt pháo, phản lực cơ bắt đầu gầm thét và thả bom Napalm, đốt cháy một khu vực đồn điền.<br />
Đang di chuyển, tôi nghe tiếng Đại Bàng Già hỏi, tốt không, có cần điều chỉnh gì không?<br />
Nhìn về phía mục tiêu, tôi nói tốt rồi. Đâu biết phi pháo dội có chính xác hay không. Tôi nghĩ, dù sao cũng phải lo cho mạng sống của bảy thằng chúng tôi trước. Bỗng có tiếng súng AK nổ dòn, bên hông trái đội hình. Tiếp theo, nhiều loạt súng khác nổ ran.<br />
Trời ơi! Né tránh chỗ đóng quân, lại đâm đầu vào &#8220;chốt&#8221; tiền đồn của địch. Tôi la lên trong máy: &#8220;Đụng rồi.&#8221; Và bấm cái nút báo động đỏ. Máy siêu tần số trang bị đặc biệt cho Viễn Thám, khi bấm nút đỏ, sẽ tự động báo nguy về máy trung tâm bằng những tiếng &#8220;cạp&#8230; cạp&#8230; cạp&#8230;&#8221; liên tục, như tiếng vịt kêu hoảng hốt.<br />
Chúng tôi vừa bắn trả, vừa tạt về bên phải. Chạy! Tiếng súng đuổi nà theo sau lưng. Phi pháo vẫn hoành hành ngút khói tại mục tiêu chính.<br />
Chạy trối chết ra khỏi đồn điền, chúng tôi lủi nhanh vào rừng rậm, nơi đã dặn dò điểm tập trung. Kiểm lại quân số. Không thấy thằng Nhiêu. Những cặp mắt tởn thần mở lớn, chưa hết nỗi kinh hoàng. Địch quân đang truy lùng khắp khu vực. Tôi liên lạc về trung tâm, báo tổn thất của ta, và ước đoán thiệt hại của địch.<br />
Lệnh của Đại Bàng Già: &#8220;Tung tích đã bị lộ. Lo dọn bãi đáp. Trực thăng bốc về.&#8221;<br />
Trong khi ẩn trốn, chờ thằng Nhiêu, tôi mệt mỏi nằm gối đầu trên chiếc ba lô. Đến chiều vẫn không thấy tăm hơi. Có thể nó đã gục ngả ngay đợt nổ súng đầu tiên. Nếu tính cái giá hơn thua bằng xác chết, thì mất một thằng Nhiêu, đổi lại bao nhiêu sinh mạng địch quân trong trận oanh kích vừa qua. Nhưng tình cảm con người, không đơn giản như đơn vị đo lường. Chúng tôi buồn thảm nhìn nhau. Tự dối lòng, biết đâu thằng Nhiêu vẫn còn thất lạc đâu đó.<br />
Ngày thứ ba, kể từ khi vào đất Kampu chia. Không thể xuyên qua đồn điền để về điểm hẹn tại biên giới Việt Nam. Chúng tôi đi ngược về phía rừng già, tìm bãi bốc trực thăng. Nhưng trực thăng không xuống được. Những con chuồn chuồn vừa lảng vảng vào khu vực, đã bị phòng không từ dưới đất bắn lên. Đành phải bay về. Địch quyết phong toả vùng trời, để chận bắt cho được chúng tôi. Liên tiếp hai ngày sau, vẫn thế.<br />
Lương thực mang theo đã cạn. Chúng tôi bắt đầu mở túi mưu sinh. Túi này chỉ trang bị đặc biệt cho Viễn Thám. Những chàng phi công phải mang dù khi cất cánh, đề phòng bất trắc. Còn chúng tôi được trang bị túi mưu sinh, phòng khi gặp khó khăn không trở về đúng thời hạn. Trong túi chứa đủ thứ lỉnh kỉnh. Thuốc tăng sức, dùng khi có biến phải chạy thoát thân. Chẳng biết đây có phải là thứ thuốc chích cho ngựa chạy trường đua hay không. Dẫu sao điều này cũng không thực tế. Vì khi gấp rút chạy bán mạng, thì giờ đâu mà mở túi mưu sinh để lấy thuốc? Thuốc chống buồn ngủ, dùng ban đêm, lúc cần phải tỉnh thức canh chừng. Thuốc muỗi thoa ngoài da. Thuốc lọc nước, có công hiệu sát trùng rất mạnh. Sáu cái bánh mặn, theo chỉ dẫn, mỗi ngày chỉ dùng hai cái. Những viên thịt bò khô màu nâu, mỗi viên làm ngọt nước một tô canh. Một chùm lưỡi câu, lớn bé đủ loại. Một cuộn dây cước màu xanh nhạt, làm dây câu cá. Và sau cùng là quyển sách nhỏ, in hình một số cây lá trong rừng, cùng những lời giải thích để phân biệt loại nào có thể, và không thể ăn.<br />
Có túi mưu sinh, chúng tôi vẫn bị đói. Không tìm được cây, lá, củ, trái nào giống như trong sách chỉ dẫn. Có lần, moi được củ khoai, như một loại khoai mỡ, ruột màu vàng nhạt. Thằng Năng bảo khoai nần. Muốn ăn phải xắt lát, ngâm nước vài ngày cho ra hết chất độc, sau đó phơi cho thật khô, rồi mới luộc. Nhưng thằng Sử cắn một miếng nếm thử. Nó khẳng quyết đây là một trong những loại khoai mỡ, và muốn lên lửa để nấu.<br />
Tôi nói: &#8220;Muốn chết hả? Nếu địch quân nhìn thấy khói, dù bọn mình có mọc cánh cũng bay không thoát.&#8221;<br />
Sau chừng mười phút, bàn ra tán vào về cái củ khoai lạ, môi miệng thằng Sử bị ngứa và sưng vều lên. Mọi người đều hoảng. Cũng may, nó chỉ nếm thử, chứ chưa nuốt.<br />
Chúng tôi xuống sức vì đói. Đêm nằm trong vùng đất ẩm, lại bị vắt hút máu. Mặt người phờ phạc. Tinh thần khủng hoảng. Tôi thường xuyên kêu cứu về trung tâm. Nhưng mỗi lần trực thăng vào vùng lại bị phòng không. Địch biết chúng tôi chưa ra khỏi vùng, báo động khắp nơi. Chúng tôi lẩn vô rừng già. Đi về hướng Bắc, nơi có lữ đoàn Dù đang hoạt động ở Dambert. Hy vọng đi gần về phía quân bạn, sẽ bớt được áp lực của địch.<br />
Tiết trời nóng nực, mà rừng rú vẫn xanh um cây lá. Tiếng ve buồn râm ran mùa hạ. Như những con thú hốt hoảng, chúng tôi sợ hãi bất cứ tiếng động nào. Sợ nhất là những con chim &#8220;tắc cọ&#8221;. Loài chim quái ác! Mỗi khi thấy có người đi, nó sẽ lượn theo mãi ở trên đầu, và la &#8220;tắc cọ&#8230; tắc cọ&#8230;&#8221; vang cả rừng. Gặp trường hợp này, phải dừng lại ngồi im trong lùm, không dám động. Kêu một hồi không thấy ai, nó sẽ chán, và bay nơi khác. Ngược lại, cũng nhờ chim &#8220;tắc cọ&#8221; báo động, mà chúng tôi biết địch đang di chuyển từ xa, để kịp thời tránh né. Lính hành quân trong rừng, gọi loài chim này theo cái tên nhà binh: &#8220;chim tiền sát&#8221;.<br />
Chúng tôi lại chạm địch lần thứ hai. Hoả lực địch rất hùng hậu. Tôi biết ngay đây là một đơn vị lớn, không phải &#8220;chốt&#8221; tiền đồn. Chúng tôi thối lui, đồng thời ném những trái mini lựu đạn về phía sau, nhưng không cản được bước địch. Súng nổ rát bên mang tai. Địch đuổi theo, truy bức. Tôi thấy thằng Năng chạy cà nhắc. Một chân nó đã bị đạn. Tôi lướt tới, kè thằng Năng bằng cách nắm cánh tay của nó choàng qua vai mình, lôi bừa.<br />
Năng lắc đầu tuyệt vọng: &#8220;Thôi, chạy đi.&#8221;<br />
Tôi hét: &#8220;Ráng!&#8221;<br />
Nó xô tôi ra: &#8220;Không được.&#8221; Và sà xuống một gốc cây, xả súng bắn ngược về phía sau cản địch, cho những thằng còn lại thoát thân.<br />
Từ hai ngày trước, tôi yếu sức vì đói. Nhưng bây giờ, tôi chạy rất khoẻ. Đôi chân nhanh nhẹn lạ thường. Tuôn qua những gai góc, phóng qua những lùm bụi dễ dàng. Thân thể tôi dường nhẹ tênh, lướt như bay qua những chướng ngại. Những thằng kia cũng nhanh không kém. Nó chạy mà không cần biết anh em có theo kịp hay không. Nhờ thằng Năng cản địch, chúng tôi bỏ tiếng súng xa dần. Lúc dừng lại, tôi hấp tấp báo về trung tâm hành quân. Tiếng nói đứt quảng. Vừa nói vừa thở hổn hển như sắp đứt hơi. Bây giờ, tôi mới để ý đến tôi, và thấy mệt như chưa bao giờ mệt đến thế.<br />
Bom và trọng pháo lại dội tan tành xuống mục tiêu. Đại Bàng già quyết định, bằng mọi cách phải mang chúng tôi về. Trong khi địch đang bị sấm sét, lợi dụng cơ hội này, trực thăng lao vào vùng, thả dây cấp cứu. Năm thằng chúng tôi ôm nhau thành một khối, treo tòn ten phía dưới trực thăng. Gió ù ù rát mặt. Từ trên cao nhìn xuống, tôi thấy một vùng khói mù. Oanh tạc cơ vẫn còn tiếp tục thả bom. Giữa ngàn xanh mênh mông u uất dưới kia, có thằng Nhiêu, thằng Năng vĩnh viễn nằm lại đất Kampuchia.<br />
Tôi xin ra khỏi Viễn Thám từ dạo ấy. Đời lính vẫn thường chứng kiến nhiều thương đau mất mát của anh em đồng đội. Thế nhưng, những đêm nằm rừng, nghe tiếng súng xa xa, tôi lại nghĩ đến hai thằng em trong toán của tôi, nhất là thằng Năng. Tội nghiệp, sau cái đêm động phòng với vợ, nó đi luôn không bao giờ về nữa.</p>
<p>***</p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><span style="font-weight: bold;">Xương rồng </span></h3>
<p>Khuôn viên nhà ông Nguyễn được bao bọc bởi một hàng rào bằng cây xương rồng. Hàng rào bằng tường, kẻ trộm có thể leo. Hàng rào bằng kẽm gai, kẻ trộm có thể cắt. Nhưng hàng rào bằng cây xương rồng với những gai nhọn chi chít thì vô phương vượt qua. Sự phòng thủ chắc chắn như thế đã quá lắm rồi, ông còn nuôi thêm một con chó. Loại chó berger to lớn, hung dữ lạ thường. Nó là khắc tinh của những bóng đen rình mò dòm ngó nhà ông vào những đêm tối trời. Ông Nguyễn tin ở chó, không tin ở người. Bởi lòng người trí trá tinh ma, hành động sói chồn quỷ quyệt. Ông đặt tên chó là Dự Nhượng, cái kiểu đặt tên nghe cũng lạ đời. Có người hỏi, ý nghĩa là gì? Ông nói, xưa ở bên Tàu có thằng Dự Nhượng theo thờ Trí Bá. Triệu Tương Tử giết chết Trí Bá, lấy đầu lâu làm đồ đựng rượu. Dự Nhượng đôi phen liều thân muốn giết Tương Tử, báo thù cho Trí Bá. Chuyện không thành, Dự Nhượng phục gươm tự sát. Trên đời khó tìm được một thằng ngu đến thế. Lại hỏi, đó là người trung thành có nghĩa, sao gọi là ngu? Ông cười, đạo nghĩa là ảo tưởng khôi hài dành cho thằng ngu. Thằng khôn chỉ nói đến cái lợi. Khi nói đến cái lợi thì không nói điều tín nghĩa. Lý luận của ông, nhiều người ghét. Họ bảo, ông thuộc loại người mặt chuột mỏ dơi là thứ gian hùng đĩ miệng bán đứng thiên hạ như chơi. Cũng có người từng chịu ơn ông thì bảo, đấy là cái khôn ngoan sâu sắc của kẻ lịch đời.<br />
Ai nói gì thì nói, ông Nguyễn vẫn sống an nhiên. Với gia sản hiện có, ông không cần phải làm gì nữa, ngồi không mà ăn mãn đời cũng không hết. Kho đụn nhỏ hơn lòng tham con người. Kho đầy mà lòng vẫn muốn thêm. Biết đủ là đủ. Gạn lọc những câu nói của người xưa, ông đắc ý nhất câu này. Ông bôn ba nhiều rồi, đã đến lúc dừng lại. Dừng lại và gìn giữ của cải để an hưởng tuổi già. Thế nhưng gìn giữ cũng không là chuyện dễ. Người thiên hạ khốn nạn lắm. Sơ ý là chúng xông vào quơ của. Nhìn mặt thằng nào, ông cũng thấy tiềm ẩn cái nét gian manh xảo trá. Dù chúng có nói những lời đường mật, ông cũng không tin. Kinh nghiệm cuộc đời chó má, dạy ông luôn phải đề cao cảnh giác. Cái gương soi đời bẩn thỉu cho ông nhìn thấy có những bà vợ âm thầm đầu độc chồng để cuỗm trọn gia tài theo trai. Kẻ đầu ấp tay gối mà còn nhẫn tâm đến thế, ông còn dám tin ai? Đàn bà, ông mê bóng sắc của loài mắt xanh mỏ đỏ này, nhưng lại sợ nó còn hơn chằn tinh thú dữ. Vì sợ nên suốt đời ông không chính thức kết hôn với người đàn bà nào. Tiền trao cháo múc sòng phẳng, dứt khoát không vướng mắc tình cảm vào mình. Con nào léo nhéo đòi hỏi trách nhiệm hoặc bêu riếu danh dự ông, ông chỉ cần quăng ra một ít tiền khiến cái đám vô lại bịt mồm khóa họng nó.<br />
Ngoài con chó, nhà ông Nguyễn có nuôi một thằng người làm vườn, và một con bé giúp việc. Trong cái cơ ngơi rộng lớn, chỉ chứa ngần ấy con người. Chuyện trong nhà không lọt ra tai hàng xóm.<br />
Thằng người làm, ông Nguyễn gọi thế, chứ thật ra là một người đàn ông tuổi cỡ bốn mươi. Tên hắn là Thổ. Không biết tên đã có từ trước hay do ông Nguyễn đặt. Ông nhặt hắn từ một góc chợ tồi tàn nào đó. Ngày ấy, hắn gầy rạc như con bọ ngựa trời, bèo nhèo như miếng giẻ rách. Về tay ông một thời gian, được ăn uống no đủ hắn mau chóng phục hồi sinh lực. Thân hình vạm vỡ, thích hợp với những công việc nặng nề. Hắn thuộc loại tâm trí trì độn, không hề có một sáng kiến nào cả, nhưng biết vâng lời bảo đâu làm đó. Ông Nguyễn chỉ cần có thế. Sáng kiến của hắn chỉ làm hư việc của ông.<br />
Con bé giúp việc tên Cam, là người gần gũi với ông Nguyễn nhiều hơn hết. Gọi con bé là do thói quen từ hồi nó mới vào nhà ông. Năm ấy nó mới mười lăm, bây giờ đã mười chín. Nó không đẹp, nhưng được cái đẫy đà trắng trẻo. Lần đầu tiên, ông gọi nó lên phòng tẩm quất cho ông khi trời trở gió. Nó còn rụt rè lắm, không dám chạm mạnh vào người ông. Ông bảo, mạnh tay lên. Nó cật lực nắn bóp từ xương bả vai cho đến gót chân ông. Vừa làm vừa thở, mồ hôi ướt nách. Những lần sau, nó tỏ ra quen việc. Ông bảo, mày phải tắm rửa sạch sẽ trước khi lên đây. Khi nó nắn bóp cho ông, ông sờ mò thân thể nó. Lúc đầu nó ngượng, nhưng rồi cũng chai. Ông bảo nó cởi đồ ra. Nó mắc cỡ. Ông nói, ngày xưa con gái mười ba tuổi được tiến cung vua. Mày mười sáu là chậm mất ba năm rồi đấy. Nói xong, ông đè lên người nó. Nó nhắm mắt, khóc rấm rức. Ông hỏi, mày nhục hả? Nó nói, con không biết nhục là gì. Ông nói, thế thì mày khóc vì đau. Chỉ đau lần này thôi, lần sau không đau nữa. Nó sợ hãi, còn có lần sau nữa sao ông? Khi nó mặc lại áo quần, ngồi co rúm ở một góc giường, ông Nguyễn hỏi, mày biết chuyện cung đình ngày xưa không? Nó nói, con là hạng tôi đòi làm sao biết chuyện thâm cung. Ông nói, bọn vua chúa tuyển gái vào cung, hiếp dâm người ta thì gọi là ban ơn mưa móc. Cùng một hành động mà dân thì bị tội cưỡng bức. Xem thế đủ biết ngôn từ làm điên đảo sự phán đoán của con người. Đầu óc mù mờ xuẩn ngốc không phân biệt đâu là chính danh cao thượng, đâu là dục vọng đê hèn. Luật lệ xưa nay nằm trong tay của bọn quyền thế. Mày có nghĩ điều đó không? Nó nín thinh, giương cặp mắt vô hồn nhìn ông. Ông nói tiếp, mày sẽ không hiểu được điều gì đâu, con ạ. Tất cả đều nhớp nhúa, thối tha, khốn nạn. Nó kẹp hai bàn tay vào đùi, cúi mặt. Cái lần đầu tiên con bé biết mùi đàn ông là năm vừa tròn mười sáu. Từ ấy đến nay, vài đêm ông Nguyễn lại nó gọi nó lên phòng. Nó không còn nhớ đã bao nhiêu lần như thế.<br />
Ông Nguyễn có cái lối hành sử rạch ròi tận mặt sự đời. Tuổi đã già, nhưng mắt ông còn tinh lắm. Có người bảo đấy là cái thần khí lưỡng mục trùng đồng của người làm nên việc lớn. Nhìn vào ai, ông như soi thấu cả tim gan người ta. Lại cũng có người căn cứ vào sách tướng, thì cho rằng con mắt láo liên chứng tỏ cái tâm bất chính, cái tính nghi ngờ và bản chất tráo trở. Lời ong tiếng ve đều không lọt khỏi tai ông Nguyễn. Ông chỉ cười. Nụ cười của ông cũng được giải thích theo nhiều nghĩa. Người thì bảo, cái cười nhân hậu giàu lòng khoan thứ. Kẻ lại nói, cái cười nham hiểm của tên thù dai. Chung quanh ông, người ta thêu dệt lắm điều khó phân biệt thực hư. Ông không hề đính chính. Thế mà lại hay. Lâu ngày sự thêu dệt thành huyền thoại.<br />
Điều gì thì còn có thể nghi ngờ, nhưng chuyện ông Nguyễn đã từng đi đây đi đó nhiều nơi trên thế giới là điều không thể phủ nhận. Đi nhiều, kiến thức rộng. Nghe ông nói chuyện năm châu bốn biển, kẻ ít đọc sách cũng học được nhiều điều mới lạ. Chẳng hạn, khi ông đem về một cây xương rồng. Giống xương rồng này lạ, không từng thấy mọc ở Việt Nam. Một số người hiếu kỳ bu lại coi. Ông khoe, khổ công lắm mới mang được nó về từ nước ngoài. Thân tua tủa những gai nhọn. Hoa màu đỏ rực, giữa đài hoa có nhụy vàng. Đứng xa xa mà nhìn, màu sắc rất đẹp. Nhưng chớ có lại gần, nét đẹp chỉ nên nhìn bằng mắt, sờ vào dễ bị gai đâm.<br />
Trong tuổi hưởng nhàn, người ta hay lấy cái thú nuôi chim cá, hoặc chơi cây kiểng làm vui. Ông Nguyễn không chơi theo kiểu thường tình. Ông chơi cây xương rồng. Từ ngày có xương rồng, ông không thiết những việc khác. Ông bảo, ở Âu Châu người ta trồng xương rồng trong cái chậu nhỏ, đặt nơi bệ cửa sổ làm cảnh cho vui mắt. Trồng như thế, xương rồng không phát triển được vì thiếu đất. Ý người ta cũng chỉ muốn trang trí cho nhà cửa có vài cánh hoa tươi mát, chứ không muốn nó sinh sôi nẩy nở nhiều. Còn ông, ông nghĩ đến điều thực dụng.<br />
Trước khi mang giống xương rồng này về, ông cũng đã nghiên cứu qua lý thuyết sách vở, và nhận thấy nó thích hợp với phong thổ Việt Nam. Nó là loài thực vật chịu hạn, vất trên những thế đất cằn khô sỏi đá vẫn sống được. Muốn nó trổ hoa, trước hết phải hãm nước cho khô héo, rồi sau sẽ cho nước vào. Gặp nước nó hồi sinh nhanh chóng, nứt mụt nẩy hoa. Tuy thế, vẫn không cho nước nhiều, chỉ sương sương là đủ. Nước nhiều thúi gốc. Xương rồng không bao giờ mọc được ở những nơi đầm lầy úng thủy.<br />
Mới đầu, ông Nguyễn trồng xương rồng trong cái chậu lớn bằng xi măng, dưới đáy có lỗ thoát nước, chăm sóc đúng theo nguyên tắc sách vở. Chậu đặt ngoài sân. Một thời gian sau, xương rồng nhảy con đầy cả chậu. Ông quyết định hạ thổ. Thằng Thổ làm cái công việc sang xương rồng từ cái chậu xi măng xuống hố đất. Dù hết sức cẩn thận, cũng không tránh được gai đâm.<br />
Một bữa đi bên ngoài về, ông Nguyễn thấy con Cam đang ôm cánh tay thằng Thổ lể gai.<br />
Ông hét lớn: “Buông ra ngay.”<br />
Hai đứa ngơ ngác không hiểu vì sao ông Nguyễn giận dữ.<br />
Sau đó, ông đưa tiền bảo thằng Thổ đến một bà già chuyên hành nghề lể đẹn cho con nít trong xóm, nhờ lể gai. Ông lại sắm cho Thổ một đôi găng tay bằng da bò.<br />
Ông hỏi: “Mày biết găng tay dùng làm gì chứ?”<br />
Thổ nói: “Con biết.”<br />
“Mày phải biết thêm rằng, thứ nào cho ăn thì ăn, thứ nào để cúng thì cúng. Mày mó tay vào đồ cúng, tao thiến mày đấy.”<br />
Thổ ậm ờ, nhưng xem ra không hiểu ý nghĩa của lời bóng gió xa xôi.<br />
Xương rồng phát triển theo lối nhân giống. Một thành hai. Hai thành bốn&#8230; Ông Nguyễn bảo Thổ đào một cái rãnh trồng xương rồng, chung quanh phần đất của mình. Mười năm, xương rồng mọc kín rãnh, làm thành vòng đai bao bọc cơ ngơi ông Nguyễn. Mùa khô, xương rồng trổ hoa màu đỏ rực. Ông che lều bày tiệc ngoài sân, mời người làng Hạ đến thưởng hoa. Tiệc quy tụ vài mươi người. Dù không nói ra, nhưng ai cũng biết người ta đến vì miếng ăn hơn là nhìn hoa vớ vẩn.<br />
Khách nhận xét, bữa tiệc hôm nay lớn hơn bữa giỗ.<br />
Thầy giáo Quảng nói: “Vật chất đầy đủ, lại được thưởng thức tinh hoa của đất trời làm tinh thần thêm sung mãn. Thế này thì đời đáng sống thật.”<br />
Trùm vạn Hương nói: “Chúng tôi là dân thợ cày, phu làm thuê, thuộc tầng lớp ít học. Xin thầy Quảng đừng dùng những lời cao siêu, chúng tôi không hiểu thấu.”<br />
“Ông làm đầu nậu chỉ giỏi cái ma mãnh. Công cấy làm nhiều, ông ghi ít. Đến mùa gặt, chủ ruộng đong lúa trả công, ông đong lại cho công gặt, bao giờ cũng có dư. Trong mánh khóe lường lận, không ai bằng ông. Trong trường chữ nghĩa, ông không bằng ai. Tôi nói đời này đáng sống, có gì mà cao siêu không hiểu?”<br />
“Giảng huấn cũng có nhiều loại người. Đem sách vở thánh hiền giải thích theo ý riêng của mình làm nhân tâm điên đảo, là nghề của ông. Nói những lời trăng hoa lừa gạt tình cảm đàn bà, làm suy đồi đạo lý bại hoại gia phong, khó có miệng lưỡi nào ngọt hơn ông. Ông bảo, đời này đáng sống, vậy thì đời nào không đáng sống?”<br />
“Cắm đầu lo ăn như loài cầm thú, không biết đến giá trị tinh thần là đời không đáng sống.”<br />
“Con dế có no mới gáy, con chim có no mới hót. Vậy tiếng gáy tiếng hót bắt nguồn từ việc được ăn no hay từ tinh thần?”<br />
“Xin hỏi lại ông, con cào cào, con châu chấu được ăn no có gáy không? Con bồ cắt, con quạ đen được ăn no có hót không?<br />
Lời qua tiếng lại đã đến hồi gay cấn.<br />
Ông Nguyễn lên tiếng: “Dân tộc ta không tiến được là vì hay lý thuyết suông. Quá nhiều người có chí lớn muốn làm minh chủ, chẳng ai chịu đầu phục ai. Mầm mống chia rẽ bắt nguồn từ chuyện cãi lý. Mới vào tiệc, các ông đã vãi bùn vào mặt nhau. Không khéo lại xảy ra xô xát vì lời nói xỏ xiên. Xin bỏ qua những tị hiềm cá nhân, để bữa tiệc hôm nay được trọn.”<br />
Nể mặt chủ nhà, thực khách hòa thuận làm vui.<br />
Thằng Thổ ngồi cùng bàn thực khách. Hắn ăn và không nói gì cả. Có thể hắn không biết gì để nói. Cũng có thể hắn biết ông Nguyễn không thích những cái miệng bép xép. Ông cho thằng Thổ ngồi vào bàn tiệc, nói lên cái quan niệm con người bình đẳng với nhau, điều mà ông Nguyễn hết lòng cổ xúy và kêu gọi mọi người xóa bỏ giai cấp. Ông nói, giai cấp sở dĩ có là do sự phân công xã hội. Bọn chủ nhân quyền thế lợi dụng điều ấy, đặt ra những nấc thang giá trị giai cấp để dễ bề bóc lột. Người nghèo và những kẻ làm thuê, thích ông Nguyễn ở điểm này.<br />
Con Cam tới lui tiếp rượu và đồ ăn.<br />
Thầy tướng số ghé tai thì thầm với gã thợ bạc: “Tôi coi điệu bộ con Cam đã mất trinh.”<br />
Gã thợ bạc: “Làm gì có chuyện đó? Nó ở miết trong nhà. Trai làng chẳng thằng nào léng phéng gần gũi được.”<br />
Thầy tướng số quyết đoán: “Thế mới lạ. Cái mông bè ra, cặp vú căng gần đứt nút áo. Hiện tượng đã nếm mùi đàn ông. Tôi coi tướng trăm người không sai một.”<br />
“Có thể nó đã qua tay thằng Thổ?”<br />
“Ừ. Có thể lắm.”<br />
Tiệc tàn. Ông Nguyễn đưa mọi người đi dọc theo hàng rào cây xương rồng, xem hoa. Ai cũng trầm trồ khen hoa đẹp.<br />
Khi trở lại bàn uống trà, có người hỏi: “Ăn tiệc trước xem hoa sau, là nghĩa làm sao?”<br />
Ông Nguyễn nói: “Bụng đói thì đầu chỉ nghĩ đến miếng ăn. Người đói không thiết đến hoa, coi đó là thứ vô tri của trời đất. Nét đẹp của hoa cỏ chỉ nhìn thấy được khi đã cơm no áo ấm. Mùa xuân, những kẻ nhàn du chắp tay sau đít đi ngắm hoa đào, hoặc ngồi nhắp rượu canh thức đêm khuya để chờ giờ hoa quỳnh nở. Tôi chưa có được cái ngẫu hứng phù phiếm của kẻ rởm đời như thế. Tôi chỉ muốn giới thiệu đến các ông cái thực dụng của giống xương rồng ngoại quốc. Người xưa cho rằng thủy hỏa đạo tặc, là bốn mối nguy lớn trên đời. Trộm cắp được liệt vào mối nguy thứ ba. Nhưng nếu có cái hàng rào xương rồng, ta đỡ được một mối lo. Cơ sự vững vàng thì lòng dạ bình yên. Lúc đó, nhìn hoa xương rồng mới thấy hết ý nghĩa của nó.”<br />
Một số người e dè nêu ý kiến, loài thực vật đầy gai góc này sẽ làm tổn hại đến con người. Năm kia, lão Nhự đi uống rượu ban đêm về loạng quạng thế nào lại ngả vào hàng rào, gai đâm nát cả mình mẩy. Gần đây nhất là vụ đứa con của ông ấp trưởng mới tập đi xe đạp, cả người và xe lao vào hàng rào. Ngoài những vết thương trên mình, thằng bé còn bị gai đâm đui mắt. Cũng vì cái hàng rào xương rồng này, ông Nguyễn đã gặp ít nhiều rắc rối.<br />
Ông nói: “Ngày xưa, vua Vũ khơi sông Dương Tử đào sông Hoàng Hà làm lợi cho muôn sau, mà dân gom ngói đá ném ông. Ông Tử Sản vỡ đất trồng dâu bảo tồn cho nước Trịnh giàu mạnh, mà người nước Trịnh chê bai hủy báng ông. Hàn Phi Tử vào thời chiến quốc nói, lòng dân như trí trẻ con, chỉ thấy cái khổ nhỏ trước mắt mà không thấy cái lợi lớn về sau. Nay các ông chỉ sợ cái gai đâm vào mình, mà không thấy được cái lợi của rào giậu ngăn ngừa kẻ gian từ bên ngoài xâm nhập vào nhà.”<br />
Sau lý luận của ông Nguyễn, những người có mặt hôm đó đều cho rằng ông có con mắt nhìn xa ngoài ngàn dặm.<br />
Khi ra về, mỗi người được ông Nguyễn biếu một chậu nhỏ xương rồng. Ông cũng chỉ rõ cách trồng và phương pháp làm thế nào để phát triển nhanh chóng.<br />
Ba mươi năm rào giậu, kẻ trộm không viếng nhà người làng Hạ. Xương rồng mọc tràn lan choán cả lối đi. Đến lúc thấy trở ngại, chặt vất ngoài đồng khô, nó vẫn sống và tiếp tục sinh sôi nẩy nở. Bây giờ, muốn diệt không dễ. Xương rồng trở thành cái họa cho người làng Hạ. Một số người bỏ làng đi lập nghiệp nơi khác. Số còn lại, sống trong muôn vàn khổ sở.<br />
Ông Nguyễn chết, không có con. Toàn bộ gia sản cũng tan hoang khi ông nằm xuống. Thằng Thổ thừa hưởng một ngôi nhà đổ nát. Hắn trì độn, nhưng nhờ vào hơi hướm người chết nên thiên hạ vẫn gờm hắn. Có người hỏi, trước khi chết ông Nguyễn có trao cho hắn cái bí quyết diệt xương rồng không? Hắn bảo, những ngày cuối đời ông Nguyễn bị loạn tâm. Ông viết di chúc nói rằng sẽ đi gặp những người có cái tên rất lạ. Tìm trong kinh điển của các tôn giáo, không có vị thánh nào tên như thế. Người ta ngờ đó là tên của quỷ.<br />
Con Cam không chồng, có con. Trong giấy khai sinh, đứa bé lấy theo họ mẹ. Họ tên người cha được ghi là vô danh. Chỉ con Cam mới biết đích xác ai là cha đứa bé. Nhưng con Cam bị chết bất đắc kỳ tử trước khi ông Nguyễn lìa đời.<br />
Phụ truyện: Tôi kể chuyện cây xương rồng làng Hạ cho một nhà truyền giáo nghe. Ông ta cũng kể lại cho tôi nghe một câu chuyện rất thú vị. Nhiều năm trước, ông đọc một cái tin về cân bằng sinh thái thiên nhiên. Ngày xưa, châu Úc không có xương rồng. Dân Úc đi du lịch qua những châu khác, thấy xương rồng cho là cây lạ, mang về trồng chơi. Mãi sau, xương rồng mọc tràn lan đất Úc, đến mức báo động. Chính phủ Úc nhờ ủy ban khoa học Liên Hiệp Quốc nghiên cứu giúp phương cách diệt trừ xương rồng. Công cuộc nghiên cứu chưa đi đến đâu, thì hiện tượng lạ xảy ra. Một loài bọ nhỏ có cánh xuất hiện, và ăn xương rồng. Trong vòng ba năm, xương rồng giảm xuống thấy rõ. Người ta nghĩ, với cái đà này thì xương rồng sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn trên châu Úc. Nhưng không, xương rồng giảm đến mức vừa phải thì ngưng, sinh thái thiên nhiên được cân bằng. Hiện nay, châu Úc vẫn còn xương rồng và loài bọ nhỏ có cánh ấy. Theo nhà truyền giáo, làm cân bằng sinh thái thiên nhiên là do bàn tay Thượng Đế. Giống xương rồng ở làng Hạ phát triển bất thường, chắc cũng sẽ không ra khỏi cái quy luật trời đất.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-weight: bold;">Chuyện của Ngâu</span></p>
<p>Mười chín tuổi, Huỳnh Thị Ngâu có tình. Ông Huỳnh Hừng, cha cô, biết chuyện nhưng giữ thái độ im lặng đến lạnh lùng.<br />
Trong bữa cơm chiều, Ngâu e dè ăn từng miếng nhỏ. Cha cô ngó chăm vào con gái, vài lần nhắp cốc rượu, hắng giọng như muốn nói điều gì, nhưng cuối cùng chẳng nói.<br />
Buổi tối. Ngâu vào buồng, buông mùng, nằm nghĩ đến người tình.<br />
Mẹ cô theo vào, vén mùng, ngồi kế bên, hỏi: &#8220;Thằng ấy thế nào?&#8221;<br />
Cô vờ hỏi lại: &#8220;Thằng nào?&#8221;<br />
&#8220;Thằng vẫn theo con vào đồn điền cao su.&#8221;<br />
&#8220;Làm gì có.&#8221;<br />
&#8220;Mày láo. Tao biết cả rồi.&#8221;<br />
&#8220;Mẹ biết, sao còn hỏi con?&#8221;<br />
&#8220;Đồ chết bầm! Ba mày đang theo dõi đấy.&#8221;<br />
Ngâu nằm lặng.<br />
Mẹ dỗ: &#8220;Nói đi. Nó thế nào?&#8221;<br />
Ngâu thủ thỉ: &#8220;Ảnh nói thương con.&#8221;<br />
&#8220;Không. Gia thế kìa?&#8221;<br />
&#8220;Đi lính, cấp bậc trung sĩ.&#8221;<br />
Mẹ gắt: &#8220;Biết rồi. Cha mẹ nó?&#8221;<br />
&#8220;Bắc di cư, năm năm tư.&#8221;<br />
&#8220;Tên nó là gì?&#8221;<br />
&#8220;Koan Trâu Phiên.&#8221;<br />
&#8220;Hả?&#8221;<br />
Ngâu lặp lại: &#8220;Koan Trâu Phiên.&#8221;<br />
&#8220;Tên nghe lạ.&#8221;<br />
&#8220;Ảnh kể, bố mẹ thuộc sắc tộc Nùng, Lai Châu. Khi mới vào Nam, bố dắt đi làm thế vì khai sinh, khai tên Quang Châu Phiên. Ông hộ tịch người Nam, viết thành Koan Trâu Phiên.&#8221;<br />
&#8220;Nó nói gì nữa không?&#8221;<br />
&#8220;Chỉ nói thương con.&#8221;<br />
Mẹ dặn: &#8220;Chưa thương được đâu. Coi chừng ba mày cắt gân đấy.&#8221;<br />
Mẹ bỏ ra ngoài. Ngâu nghĩ, tình yêu thật tuyệt vời, nhưng chung quanh lắm điều rắc rối.<br />
Ngâu đứng nép vào vùng cây lá rậm, bên ngoài đồn điền.<br />
Phiên hỏi: &#8220;Sợ anh đến thế à?&#8221;<br />
Ngâu ấp úng: &#8220;Không. Chỉ sợ có người trông thấy.&#8221;<br />
&#8220;Chả có ai đâu.&#8221;<br />
&#8220;Phu đồn điền vẫn thường ngang qua đây.&#8221;<br />
&#8220;Họ không phải bố em. Sợ gì?&#8221;<br />
&#8220;Họ sẽ mách lại. Em sợ tất cả mọi người.&#8221;<br />
Phiên nhích gần hơn, cầm tay Ngâu. Cô rụt tay về.<br />
Phiên tha thiết: &#8220;Anh thương em.&#8221;<br />
Ngâu lí nhí: &#8220;Biết rồi.&#8221;<br />
&#8220;Có thương anh không?&#8221;<br />
&#8220;Hỏi câu đó hoài.&#8221;<br />
&#8220;Anh muốn nghe em nói.&#8221;<br />
&#8220;Không thương, sao đứng đây với anh?&#8221;<br />
&#8220;Vậy là thương hả?&#8221;<br />
&#8220;Ư&#8230; ư&#8230;&#8221;<br />
Phiên đặt tay lên vai Ngâu, kéo vào mình. Ngâu vùng nhẹ, cầm tay Phiên bỏ ra.<br />
&#8220;Hãy nói thương anh.&#8221;<br />
Ngâu quay mặt, cười khúc khích: &#8220;Nói thế, ngượng chết đi.&#8221;<br />
Bất ngờ, Phiên ôm chầm lấy Ngâu. Hôn tới tấp lên mặt, lên cổ.<br />
Ngâu ú ớ: &#8220;Anh&#8230;, buông em ra.&#8221;<br />
&#8220;Anh thương em.&#8221;<br />
&#8220;Lại nói câu ấy nữa.&#8221;<br />
Ngâu yếu đuối trong tay Phiên. Cô ngữa mặt nhìn lên vòm cây. Có những bông hoa dại màu trắng điểm lấm tấm giữa màu lá xanh, và những con chim nhỏ chíu chít trên cành. Thiên nhiên bao giờ cũng thế. Nhưng Ngâu bỗng thấy như tất cả đều rộn lên, hoà cùng xúc cảm mới lạ ùa chụp xuống làm cô choáng ngợp, đồng thời với nỗi lo sợ vu vơ.<br />
Ngâu nói như van: &#8220;Buông em ra.&#8221;<br />
Phiên âu yếm vùi mặt vào tóc Ngâu, nói trong hơi thở: &#8220;Mình sẽ là vợ chồng.&#8221;<br />
&#8220;Anh ơi, đừng ôm nữa. Em sợ&#8230;&#8221;<br />
&#8220;Bằng lòng làm vợ anh không?&#8221;<br />
Ngâu gật đầu: &#8220;Bằng lòng, nhưng&#8230; hãy buông em ra.&#8221;<br />
Phiên tháo vòng tay, tiếc nuối.<br />
Ngâu vuốt lại mái tóc, mặt đỏ bừng: &#8220;Anh kỳ quá à.&#8221;<br />
Phiên cười: &#8220;Anh thích kỳ như thế.&#8221;<br />
Ngâu dí ngón tay vào trán Phiên: &#8220;Cái mặt không biết mắc cở.&#8221;<br />
Phiên cầm tay Ngâu. Lần này, cô không rụt tay về. Cả hai im lặng, nhìn về những hàng cao su thẳng tắp. Ngâu vẫn còn nguyên cái cảm giác trong giây phút Phiên ôm ghì lấy thân thể nóng bỏng của cô. Cái cảm giác đầu đời chạm với tình yêu.<br />
Lúc lâu sau, Phiên nói: &#8220;Anh sẽ nhờ mai mối đến nhà em.&#8221;<br />
&#8220;Chỉ ngại ba em&#8230;&#8221; Ngâu phân vân.<br />
&#8220;Chê anh không xứng hả?&#8221;<br />
&#8220;Không. Có điều khó nói.&#8221;<br />
&#8220;Điều gì?&#8221;<br />
Ngâu cúi đầu: &#8220;Ba em không ưa lính.&#8221;<br />
&#8220;Ngâu ơi, thanh niên thời buổi này, ai mà chả phải đi lính?&#8221;<br />
&#8220;Biết thế. Nhưng ba em thì khác.&#8221;<br />
&#8220;Phải làm sao cho ba em thương anh?&#8221;<br />
&#8220;Em không biết.&#8221;<br />
&#8220;Điều gì, em cũng không biết.&#8221; Rồi Phiên cười, nhái theo câu thơ. &#8220;Em còn bé lắm, chỉ biết yêu thôi. Chả biết gì.&#8221;<br />
Ngâu cũng cười: &#8220;Em còn bé lắm, chả biết yêu. Cũng chả biết gì.&#8221;<br />
&#8220;Thế thì anh dạy cho em biết gì.&#8221; Phiên ôm Ngâu, vùi mặt vào ngực cô.<br />
Ngâu đẩy ra: &#8220;Khiếp quá.&#8221;<br />
Phiên nói: &#8220;Thương nhau là phải thế.&#8221;<br />
&#8220;Không thế, không phải là thương sao?&#8221;<br />
&#8220;Không. Chỉ là thương mây khóc gió của mấy ông thi sĩ thất tình. Em mười chín tuổi, phải thực tập bài học yêu thương để chuẩn bị làm vợ.&#8221;<br />
&#8220;Chuyện ấy tính sau. Bây giờ, cho em về. Ba em biết hẹn hò với anh, thì chết.&#8221;<br />
&#8220;Mới gặp đã đòi về?&#8221;<br />
&#8220;Em sợ.&#8221;<br />
Phiên nài nĩ: &#8220;Không ai thấy đâu. Nán lại chút nữa, em?<br />
&#8220;Thôi mà, cho em về.&#8221;<br />
Phiên tiếc: &#8220;Ừ, thì về. Mai gặp lại chỗ này, nhớ nhé?&#8221;<br />
&#8220;Nhớ rồi. Anh đứng đây, chờ em đi khuất. Em sợ có người trông thấy mình đi chung.&#8221;<br />
&#8220;Trước khi về, anh hôn em lần nữa.&#8221;<br />
Ngâu chưa kịp trả lời. Phiên đã nâng mặt cô, và đặt lên đôi mắt những nụ hôn nồng nàn thắm thiết. Ngâu trách yêu: &#8220;Râu cà gần rách mặt người ta. Mai cạo râu đi nhé.&#8221;<br />
Ngâu đi dưới bóng mát những hàng cao su. Phiên đứng nhìn theo cái lưng nhỏ bé của người yêu đến khi khuất sau một khúc quanh trên con đường đất đỏ.<br />
Buổi sáng. Như thường lệ, Ngâu mang gùi vào vào đồn điền cao su cạo mủ. Cổ cô choàng chiếc khăn rằn của Phiên. Chiếc khăn của cô, Phiên xin, và thay thế bằng chiếc khăn này. Phiên nói, để giữ lấy hơi hướm người tình. Ngâu cảm động. Không ngờ trong tình yêu có những chi tiết vụn vặt, lại làm cho người ta xúc động đến chảy nước mắt. Cô ngó ra con đường đất đỏ về phía bìa rừng, nơi Phiên vẫn thường từ đó đi tới. Cô hình dung ra cái dáng đi lừng lững, đầu đội chiếc mũ lưỡi trai màu xanh cứt ngựa, vành mũ sụp xuống che ngang vầng trán. Đôi mắt xếch dưới cặp chân mày rậm, hiện rõ cái nét dữ dội của kẻ gan lì. Biết nhau lâu, nhìn hoài đôi mắt ấy, cô lại thấy dễ thương chi lạ. Và những câu ân tình của Phiên, còn đọng lại trong cô thành nỗi nhớ nhung.<br />
Quá ngọ, vẫn chưa thấy Phiên. Ngâu bứt rứt mong chờ. Tiếng con chim gáy từ rừng xa khắc khoải vọng về, cô nghe tiếng như tiếng gọi buồn khi xa vắng. Trước kia, có bao giờ cô để ý tiếng chim, và cảnh sắc chung quanh mình đâu. Tất cả những thứ đó, cô đã nghe thấy từ ngày còn bé, quen thuộc như một phần đời dính liền với cô, chìm trong ký ức. Từ khi có Phiên, cô cảm thấy mọi thứ đều hiện diện và đổi khác, mới lạ và đáng yêu. Mọi thứ đều biết vui buồn theo tâm cảm của cô, chứa chan đầy ắp kỷ niệm. Cô đang mong nhớ đợi chờ. Bỗng có vài ba tiếng súng nổ tắc cù bên ngoài đồn điền, phía giáp ranh với bìa rừng. Cái âm thanh khô khốc lẻ loi, làm cô khó chịu. Thời chiến tranh, thỉnh thoảng vẫn nghe tiếng súng như thế. Cô tự hỏi, cuộc đời tươi đẹp biết bao, sao người ta gây chi những đau buồn chết chóc? Chiều sắp tàn. Phiên không đến. Ngâu buồn bã trở về, thầm trách người yêu lỗi hẹn. Từ đó trở đi, ngày nào mang gùi vào đồn điền cao su, cô cũng đợi. Chờ đợi lâu ngày thành tuyệt vọng. Phiên không bao giờ đến nữa. Nỗi buồn cô giấu trong tim, mà nước mắt cứ ứa ra từng đêm trên gối. Chẳng ai nói cho Ngâu biết, tại sao mình bị bỏ rơi?<br />
Sau ngày Miền Nam sụp đổ. Ngâu lập gia đình với viên huyện đội trưởng, tên Dư, sinh được hai con. Chồng cô rất mực chìu vợ, thương con. Ai cũng cho rằng, Ngâu may mắn được người chồng tốt, một gia đình ấm êm hạnh phúc. Biết bao cô gái đến tuổi trưởng thành, cũng chỉ mơ ước có một mái ấm như thế mà thôi. Bốn năm lấy chồng, Ngâu giữ tròn bổn phận làm vợ, làm mẹ. Dù thế, cô vẫn thường xa vắng mông lung, nhớ người tình cũ. Nhớ cái dáng đi lừng lững, và đôi mắt xếch. Nhớ những lần Phiên siết lấy cô, hôn tới tấp. Những nụ hôn cháy bỏng làm cô bừng bừng nóng ran da thịt. Từ ngày lấy chồng, chưa bao giờ cô có được cảm giác ấy. Không phải chồng cô thiếu nhiệt tình. Chính cô thờ ơ với những ái ân trong tình chồng vợ. Nhiều khi đầu ấp tay gối với Dư, cô tự đánh lừa mình bằng cách tưởng tượng đang nằm trong vòng tay âu yếm của Phiên, để tìm lại những rung động mãnh liệt ngày nào. Nhưng cô thất vọng. Tự đánh lừa mình là điều không dễ. Trên đường đời, một lần cô bước hụt chân. Tình yêu vuột mất, để lại trong cô một khoảng trời trống lốc. Khoảng trống ấy cứ lớn dần lên mãi. Cái khoảng trống mênh mông không thể lấp đầy bởi người người đàn ông cô gọi là chồng.<br />
Những buổi trưa, nhìn về phía đồn điền cao su, nghe tiếng con chim gáy từ rừng xa, cô buồn như chết lặng. Dù bây giờ, đồn điền không còn nữa. Cao su già cỗi bị đốn bỏ lâu rồi. Người ta thay vào đấy là là nông trường trồng mía. Con đường đất đỏ cũng biến mất, để nới rộng thêm cho diện tích trồng trọt. Nhưng với cô, tất cả vẫn bềnh bồng trong trí nhớ. Và tiếng chim gáy cũng gợi lại cho cô một mùa hè năm cũ, với vài ba tiếng súng nổ. Trong thời điểm ấy, cô vĩnh viễn mất người yêu. Từ đó trở đi, cây lá vẫn trổ màu xanh, nhưng cô buồn rầu héo hắt. Nhất là khi vô tình cô biết được một sự thực phũ phàng, thì khoảng trống trong lòng cô nhuộm trắng một màu tang.<br />
Khi cách mạng giành được quyền kiểm soát Miền Nam. Ông Huỳnh Hừng tự bộc lộ thân phận là một cán bộ nằm vùng. Với quá trình hai mươi tuổi đảng, đương nhiên ông là nhân vật có thế lực của chế độ mới. Chồng của Ngâu, trước kia là du kích, hoạt động dưới sự bí mật điều khiển của ông Huỳnh Hừng. Sau này, Dư được ông nâng đỡ, đưa lên làm huyện đội trưởng, và gả con gái. Trong một lần chè chén, các đồng chí của chồng vui say nhắc lại những thành tích chống Mỹ cứu nước. Thành tích của Dư là đã phục kích bắn chết một trung sĩ ngụy tên Phiên. Công lao đó, có ông Huỳnh Hừng dự phần. Ông theo dõi nhiều ngày để biết chắc thời gian, và lối đi về của Phiên thường hẹn đến với tình nhân, rồi đề ra kế hoạch cho Dư thi hành. Bây giờ, Ngâu mới hiểu rõ câu nói mập mờ của mẹ: Ba mày đang thoe dõi. Coi chừng ba mày cắt gân đấy.<br />
Ngâu biết được điều đó, thì mọi chuyện không còn có thể thay đổi. Cô đã có con với Dư rồi. Cô mặc cảm như mình là nguyên nhân gây ra cái chết của Phiên. Trách ai? Thời thế đã du cha cô và Dư về phía đối lập với Phiên. Không từng quen biết, mà thù hằn rình rập sát hại lẫn nhau. Phiên sa vào cái bẫy của cha cô. Trong đó, cô được dùng như một miếng mồi nhử. Dư chỉ là tên thừa hành, nhưng lại là người trực tiếp nhúng tay vào máu. Làm sao cô tìm được hạnh phúc với kẻ đã giết chết đối tượng tình yêu của mình? Cô không đủ cái liều dứt khoát ra đi. Còn con của cô nữa, nó cũng là nguyên nhân buộc cô ở lại. Cô thấy mình bất lực, và buông xuôi theo ngày tháng trắng mênh mông. Cái khoảng trống trong lòng cô, chỉ mình cô biết. Con chim rừng thay đổi mấy đời chim rồi, nhưng tiếng gáy nghe không khác năm nào. Còn cô thì đã đi quá xa. Ngoái nhìn về dĩ vãng, tất cả đều trôi ngược chiều thời gian làm thành kỷ niệm. Kỷ niệm nào, khi nhớ lại cũng làm cô rơi nước mắt.</p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><span style="font-weight: bold;">Cơ ngơi ngày cũ</span></h3>
<p>Phía trước nhà ngoại tôi, có hàng cây duối. Thân cây sần sùi già cỗi, to cỡ người ôm. Cây<br />
không cao, tàn không lớn, mà chi chít lá rậm. Trong ấy thường lẩn khuất những con rắn lục<br />
màu lá non. Chung quanh gốc cây, người ta chất những nồi đất nứt vỡ, và ông táo cũ bằng<br />
gạch nung. Trong xóm có người đau bệnh, thân nhân thường đến đây đốt nhang khấn vái, còn lại những chân nhang tàn qua bao năm tháng. Ngoại tôi nói, có thần linh trú ngụ nơi cây duối. Và những con rắn lục là binh gia của ngài, không ai dám sát hại. Bọn trẻ nhỏ cũng kiêng dè, tránh tới gần chơi giỡn làm ồn, sợ thần linh quở phạt.<br />
Bên kia hàng duối là gò đất cao. Ðất khô cằn chai cứng. Ngoài những cỏ gấu, cỏ may<br />
và những bụi chùm hôi chịu được nắng hạn, không có cây gì mọc nổi trên khu đất gò. Vì địa<br />
thế cao, không úng nước, nên được chọn làm đồng mả riêng cho dòng họ ngoại tôi. Người<br />
trong thân tộc, tha phương bất cứ nơi nào, khi chết cũng đem về chôn ở đây. Có những cái mả xây bằng đá ong, lâu đời đến nỗi không ai biết nắm xương tàn của ông bà cố tổ dưới mộ tên gì, liên hệ huyết thống ra sao.<br />
Hồi nhỏ, nghe đồn khu gò đồng mả có ma. Nhất là sau khi dì Út tôi chết trong tuổi còn<br />
thanh xuân, tiếng đồn càng dễ sợ hơn. Chỉ tưởng tượng đến những đêm trăng lạnh mù sương,<br />
dì hiện hồn về, xoã tóc ngồi trên mộ mà khóc, cũng đủ làm đám trẻ nhỏ rợn mình. Gợi trí tò<br />
mò, năm ba đứa chúng tôi, núp dưới chân khu đất gò, rình coi ma. Ma đâu không thấy, nhưng đôi khi thấy những cục lửa màu xanh lân tinh từ trên gò, không biết nơi cái mộ nào, lảo đảo bay lên đọt tre. Tôi kể cho ngoại nghe hiện tượng này. Ngoại bảo, đó là hồn người chết bay lên trời. không nên nhìn, e hồn ma sẽ theo về nhà. Dù thương dì Út, nhưng không bao giờ tôi muốn dì trở về dưới hình bóng một con ma.<br />
Lúc còn sống, dì Út là người thanh tú hơn hết trong các chị em của má tôi. Da dẽ trắng<br />
trẻo mịn màng, và mỗi khi dì tháo búi tóc ra, tóc đen mướt, buông dài xuống quá lưng. Tôi hay nâng mái tóc của dì, đưa lên mũi hít thở.<br />
Dì cười, hỏi: &#8211; Ngửi thấy thế nào?<br />
Tôi nói: -Nghe mùi của dì.<br />
-Mùi dì ra sao?<br />
-Mùi vú, và mùi dầu dừa.<br />
Dì nhéo tai tôi: -Ðừng nói mùi vú. Người ta cười chết.<br />
Thuở còn bé tí teo, tôi thường hay khóc đêm. Má tôi cho mằn vú để tôi dễ ngủ, đã<br />
thành thói quen. Khi ở nhà ngoại, tôi ngủ với ngoại hoặc dì Út, cũng không bỏ được tật mằn<br />
vú. Vú của ngoại thì teo tóp nhùng nhằng như cái túi da nhão nhẹt. Tôi thích vú dì Út hơn. Xoè bàn tay nhỏ của tôi mà xoa cặp vú căng phồng tròn trịa của dì, thật đã. Bóp mềm mềm như cái bong bóng. Nhưng lần nào tôi bóp, dì cũng hất tay tôi ra.<br />
-Ðừng!<br />
Tôi hỏi: -Ðau hả?<br />
Dì nói: -Mày cứ sờ mò nắn bóp hoài, làm sao dì ngủ được? Hãy nằm nghiêng qua bên<br />
kia, quay lưng lại phía dì!<br />
Nằm như thế, tôi lại trằn trọc hoài, khó ngủ. Một lúc sau, độ chừng dì đã ngủ, tôi quay<br />
qua mằn vú.<br />
Dì thức giấc: -Lại nữa! Mày muốn dì đuổi qua giường ngoại không?<br />
Tôi nín thinh. Ðể im bàn tay trên vú. Cái đầu vú nhỏ xíu của dì kẹp giữa hai ngón tay tôi.<br />
Và tôi êm đềm đi vào chiêm bao.<br />
Năm hai mươi mốt tuổi, dì soi gương đối bóng mỉm cười, hay chải chuốt và chưng diện áo<br />
quần. Dì trở chứng bất thường. Không thích ánh sáng, hay rúc vào buồng, nói chuyện nho nhỏ, cười khúc khích một mình. Mọi người cho rằng, dì mắc bệnh &#8220;cõi âm&#8221;. Dân gian thời bấy giờ giải thích, dì bị một vong linh đàn ông nào đó, theo quyến rũ tư tình. Nghĩa là bị ma ám. Sắc diện dì vàng võ khô héo dần. Năm sau, dì chết đi trong niềm đau xót của gia đình ngoại tôi. Tôi thương dì Út hết sức. Nhìn lên bàn thờ, di ảnh của dì ngó tôi không chớp mắt. Ban ngày tôi không sợ. Nhưng ban đêm mường tượng lại đôi mắt ấy, tôi sợ đến khủng hoảng tinh thần. Tôi cầu mong dì đừng hiện về nhát tôi, tội nghiệp.<br />
Ðương nhiên, dì Út tôi được chôn trên khu đất gò đồng mả. Mộ xây bằng đá ong. Ngôi<br />
mộ nào cũng thế. Sao những cọng cỏ may phất phơ theo gió trên mộ dì Út lại mang màu ảm<br />
đạm thê lương, làm tôi muốn khóc?<br />
Năm xưa. Có hai thầy trò địa lý người Tàu, đi ngang qua xóm, dừng chân nhìn thế đất gò<br />
đồng mả, tấm tắc khen là nơi linh địa. Nghe thế, ông ngoại tôi mời về nhà, cơm nước đãi đằng<br />
tử tế, hỏi chuyện tương lai. Thầy Tàu cho biết, tổ tiên được chôn trên gò đất này, thì đời sau<br />
con cháu sẽ phát về hướng quan trường, phúc lộc. Ông lại nói thêm, phải chi cái gò nằm dựa<br />
lưng vào con sông thì tuyệt.<br />
Ông ngoại tôi hỏi: -Tuyệt ra làm sao?<br />
Thầy Tàu bảo: -Gò đất dựa lưng con sông. dù không được như hàm rồng long mạch,<br />
nhưng cũng tựa như kình ngư quẫy sóng. Con cháu dù không phát vương, cũng có thể cầm<br />
gươm vạch đất, chia cắt giang sơn, cát cứ một vùng, ngước mặt mà làm minh chủ, sứ quân.<br />
Ông ngoại tôi chắc lưỡi, tiếc sức người không dời được con sông Vàm Cỏ Ðông về bên<br />
gò đất, cho con cháu mai sau được nhờ. Nhưng trời đã khiến vậy. Chịu thôi. Con cháu chỉ được làm quan lớn, hưởng nhiều phúc lộc, thoát được số phận hẩm hiu của bao đời cha ông còng lưng cày bừa trên những ruộng đồng rẫy bái, cũng an ủi lắm rồi.<br />
Ðể đáp lại tấm lòng người đã tha thiết gọi mời, ân cần chiều đãi, ông thầy Tàu ở lại mấy ngày, giúp ngoại tôi đo đạc đất đai, định hướng mồ mả, đóng cọc yểm bùa trấn yêu chung quanh gò đất. Ông bảo, muốn đời sau hưng thịnh, thì đời này phải khai thông nguồn mạch ẩn tàng trong lòng đất. Xong việc, ông khăn gói ra đi, để lại tên học trò. Ngoại tôi mừng. Không nắm được thầy, thì cột chân học trò. Cũng là một cách giữ ông thần độ mạng nho nhỏ trong nhà. Và người con gái của gia đình làm sợi dây thân ái, nối với tên học trò Tàu, biến hắn thành<br />
con rễ.<br />
Thời gian thấm thoát. Cặp vợ chồng Tàu Việt cho ra đời đến sáu đứa con đầu gà đít vịt.<br />
Tôi là một trong sáu đứa này. Mấy chục năm qua, dòng họ ngoại tôi chưa có ai khá nổi. Ðừng nói chi đến chuyện ngóc đầu lên để làm quan triều đình.<br />
Sự kiên nhẫn đợi chờ nào cũng có giới hạn. Ngoại tôi hỏi chàng rễ Tàu: -Sao người<br />
trong dòng họ nhà ta chưa khá?<br />
Ba tôi, tức chàng rễ Tàu, nói: -Ngộ lâu piết.<br />
-Thế sao thầy của mày bảo cái khu gò mả nhà ta là linh địa?<br />
-Nó lâu phải thầy của ngộ.<br />
-Vậy nó là ai?<br />
-Là người cùng một làng với ngộ, ở pên Tàu.<br />
-Sao mày đi chung với nó?<br />
-Ở pên Tàu, nó nghèo, ngộ cũng nghèo. Nó rủ ngộ qua Việt Nam làm giàu. Nhưng xứ<br />
Việt Nam cũng nghèo quá. Nó dẫn ngộ li chỗ này chỗ kia hoài. Ngộ than mỏi cẳng. Nó muốn<br />
pỏ ngộ, nên pảo ngộ ở lại nhà nị. Có cơm ăn, có vợ ngủ.<br />
Ngoại tôi trợn mắt: -Trời đất! Sao lúc đó, mày không nói?<br />
Ba tôi trả lời tỉnh bơ: -Nị không hỏi. Ngộ nói làm chi.<br />
-Bây giờ nó ở đâu?<br />
-Ngộ lâu piết.<br />
-Nó có phải là thầy phong thủy địa lý không?<br />
-Nó cũng như ngộ thôi. Piết chi mà làm thầy.<br />
-Khốn nạn! Vậy mà nó bảo khu gò mả nhà ta là linh địa.<br />
-Nó gạt nị, pảo lất của nị linh thiêng. Nị tin nó làm chi. Lất chỉ có tốt hay xấu thôi. Làm gì<br />
có lất linh hay không linh? Ruộng vườn nhà nị, gò cao lất cứng. Trồng trọt vừa lủ ăn là may<br />
rồi.<br />
Ngoại tôi tức khí, chửi đổng: -Tổ cha thằng Chệt tha phương cầu thực, dám gạt ta!<br />
Dù có tức, thì chuyện cũng đã đâu vào đấy, như một tiền định. Ông ngoại tôi tuổi già sức<br />
yếu. Không còn cơ hội trở mình. Ðành bỏ hết những vọng động lo toan. Làm người sằn dã.<br />
Sống theo tinh thần Lão Trang. Hoà mình cùng trời đất. Yên phận với những nương xanh, bờ<br />
cỏ, vườn cây.<br />
Ba tôi nói: -Nị là người trường thọ.<br />
Ngoại tôi nạt: -Lại nữa. Mày muốn bắt chước thằng Chệt tha phương cầu thực, gạt ta<br />
sao?<br />
-Ngộ là con rể của nị. Lâu dám gạt nị. Năm nay nị gần pảy mươi, nhưng sức còn dẻo,<br />
lòng dạ thảnh thơi. Không làm thầy pói cũng piết, nếu không gặp tai nạn pất lắc kỳ tử, thì nị<br />
còn sống được nhiều năm nữa. Như thế không gọi là trường thọ sao?<br />
-Ừ! Mày cũng có lý. Nhưng từ nay, ta cấm mày không được dùng hai tiếng nị ngộ với ta.<br />
Phải gọi ta là cha, và xưng là con.<br />
-Lược! Nị làm cha, ngộ làm con.<br />
Tám mươi ba tuổi, ông ngoại tôi thanh thản từ giả cõi đời. Nhiều năm sau, má tôi kể lại<br />
cho đám con đầu gà đít vịt nghe chuyện tình duyên của má. Anh em chúng tôi cười nôn ruột.<br />
Tôi hỏi: -Tình duyên của má, nghe có vẻ quái đản. Vậy má có yêu ba không?<br />
Má nói: -Má không biết tình yêu là gì. Nhưng sống với nhau lâu năm, má cũng thương vì<br />
ổng có trách nhiệm gia đình, và biết lo cho các con.<br />
-Lần đầu ngủ chung, ba có tâm tình gì với má không?<br />
-Ngôn ngữ bất đồng. Ổng thủ thỉ thù thì xí xô xí xào bằng tiếng Tàu. Má không hiểu. Ổng xáp lại gần vuốt ve. Má cự tuyệt, hất ổng ra.<br />
Anh tôi nheo một con mắt, chọc quê: -Má hất ổng ra, mà có sáu đứa con lai giống. Nếu<br />
không hất, chắc tụi con phải có đến hàng tá anh em.<br />
Chúng tôi lại cười nghiêng ngửa.<br />
Một lần khác. Nhân lúc ba tôi nhắc lại quãng đời tuổi trẻ, tôi hỏi: -Ba ơi! Ở bên Tàu,<br />
dòng họ mình có ai nổi tiếng trong lịch sử không?<br />
Ông nói: -Có chứ. Lâm Xung là một trong một trăm lẻ tám vị anh hùng Lương Sơn Pạt.<br />
Thời kỳ chiến tranh nha phiến, tổng trấn lưỡng Quảng, Lâm Tắc Từ, lổ nha phiến của pọn Anh xuống piển. Và trong cuộc trường chinh của Mao Trạch Lông, có Lâm Pưu làm lến chức thống tướng.<br />
-Còn ở Việt Nam, họ Lâm có ai nổi tiếng không?<br />
-Mày học chữ Việt mà không piết ông Lông Hồ làm thơ nổi tiếng sao? Tên thật của ổng<br />
là Lâm Tấn Phát.<br />
-Còn ai nữa không?<br />
-Trong quân lội pây giờ, cũng có họ Lâm làm chức lớn. Bên Lục Quân có Lâm Quang<br />
Thơ, Lâm Quang Thi. Bên Hải Quân có Lâm Nguơn Tánh.<br />
-Mấy ông ấy đâu có bà con gì với mình?<br />
-Gốc gác cùng một ông tổ họ Lâm ở pên Tàu. Sao lại không pà con?<br />
-Nhưng mấy ông ấy làm tướng. Còn nhà mình nghèo quá.<br />
-Mới qua Việt Nam, thằng Chệt nào cũng chỉ có hai cái hòn dái treo tòn ten dưới háng.<br />
Xây dựng sự nghiệp pan đầu, pằng cách quảy cặp gánh li mua ve chai, pán đồ cũ. Khá hơn,<br />
thì mở tiệm pán pánh pao, hủ tiếu. Piết chút ít chữ Tàu, thì mở tiệm pán thuốc Pắc cho pà con<br />
Việt Nam. Lâu dần, mới khá lên lược. Cũng như tụi pây lang li lính, piết lâu vài chục năm sau,<br />
lược làm quan lớn. Quân lội Việt Nam sẽ có thêm vài ông tướng họ Lâm.<br />
-Ấy là chuyện tương lai xa vời, còn mù mịt lắm. Hiện tại, tụi con đang làm lính tác chiến, lúc nào cũng có thể phủi chân lên ngồi trên bàn thờ.<br />
-Sống ở lất nước này, phải hy sinh cho lất nước này, lền ơn tổ quốc.<br />
-Ba nói nghe dễ sợ quá!<br />
-Sao lại sợ? Tao ở pên Tàu qua lây, tin có ông Trời sắp lặt mọi chuyện. Như chuyện tao<br />
với má tụi pây, cũng do ông Trời lịnh.<br />
Anh tôi cải: -Phải nói là do ông ngoại định.<br />
Ba tôi lý luận: -Ông Trời khiến ông ngoại. Ông ngoại ép má tụi pây phải chịu tao.<br />
-Như vậy là má bị ép duyên!<br />
Chúng tôi la lên. Lại được một trận cười nữa</p>
<p>Ai cũng có hai nơi, quê nội và quê ngoại. Anh em tôi chỉ có một quê ngoại làm chỗ đi về. Ba tôi bảo, nên học chữ Tàu, để ngày nào đó, sẽ về thăm quê nội. Chẳng đứa nào có được ý niệm, hoặc hình ảnh thân yêu gì về một quê nội xa xôi. Và cũng không bao giờ tha thiết sẽ đặt chân lên một nơi chốn, mà tất cả anh em tôi đều cảm thấy bơ vơ lạc lõng. Vì thế, chúng tôi không chịu học chữ Tàu. Ba tôi lại bảo, phải tập nói tiếng Tàu. Cái loại ngôn ngữ líu lo như tiếng chim, khó nghe khó nói. Anh em tôi không nghe không nói được. Rốt cuộc, ba tôi phảI tập nói tiếng Việt, nếu không muốn trở thành một người câm suốt ngày trong gia đình. Lý do cũng dễ hiểu. Mỗi lần ông la rầy bằng tiếng Tàu, chúng tôi giương mắt ngó cái miệng của ông, và cứ trơ ra, chẳng có phản ứng gì cả. Tức quá, ông học tiếng Việt để chửi chúng tôi cho hả dạ.<br />
Vì thiếu quê nội, nên bao nhiêu tình cảm, tôi dồn về một quê ngoại mà thôi. Từ ngày ông ngoại tôi mất, gia đình nhà ngoại càng sa sút thêm. Chính sự sa sút này, làm tôi nặng lòng vớI bà ngoại nhiều hơn. Miệng đời thường nói, không ai giàu ba họ, chẳng ai khó ba đời. Không biết các đời trước ra sao, chứ đến đời ngoại thì tàn mạt. Nhiều người cho rằng, nhà hướng ra hàng cây duối, nên phong quang bị quỷ thần che ám. Cửa nhìn về đồng mả, nên vận mạng bị âm khí người chết phong tỏa. Vì hai điều khắc kỵ ấy, mà ngoại tôi không mong gì ngóc đầu lên nổi. Nhưng nhà cửa đất đai đã có sẵn như thế từ đời trước rồi, còn biết đổi dời đi đâu nữa?<br />
Những năm chiến tranh ác liệt, xóm làng nhà ngoại cũng tan hoang. Ðầu tiên là khu đồng mả. Quân du kích lợi dụng địa hình gò đống lô nhô, chiếm lấy cao điểm, biến nơi đây thành bãi chiến trường, tấn công phe địch. Phía Quốc Gia phản công bằng cách dùng phi pháo cày nát khu đồng mả, đánh bật quân du kích ra ngoài. Khi chiến trường im tiếng súng, thì mả mồ cũng tanh banh, quan tài bật nắp. Xác chết của người đời nay, nằm lẫn với xương trắng của người đời xưa. Nhưng xác chết được mau chóng thu dọn, người ta mang đi đâu không biết. Rải rác còn lại những đầu lâu xương trắng người đời xưa.<br />
Dưới cơn mưa mùa tháng bảy, ngoại tôi dầm mưa, gom lại từng khúc xương, chôn về<br />
huyệt cũ. Rồi ngoại thắp đèn đốt nhang trên bàn thờ khấn vái, và khóc còn hơn trời sầu đất thảm. Ðám con cháu ái ngại nhìn ngoại, nhưng chẳng đứa nào chạnh lòng khóc theo.<br />
Tôi cầm tay ngoại: -Thôi đi ngoại ơi, tổ tiên ngày xưa lúc mới chết, đã được khóc một lần rồi. Bây giờ chỉ còn xương cốt. Lẽ nào mỗi lần nhìn thấy nắm xương là mỗi khóc?<br />
Ngoại mếu máo: -Thời mạt pháp, quỷ dữ lộng hành. Người chết không yên mồ mả. Người sống làm sao sống được?<br />
-Ngoại đừng lo chi cho hao tổn tinh thần. Người sống cứ ăn cơm vào, là tiếp tục sống<br />
thôi.<br />
Ngoại tôi đang khóc, bổng ngừng lại, giận dữ điểm ngón tay vào mặt tôi: -Tổ cha thằng<br />
Tàu lai đầu gà đít vịt. Nói vậy mà nghe được sao? Làm người phải có nguồn cội. Ðừng nói theo kiểu bội nghĩa vong ân. Mày chỉ nghĩ đến ông bà cố tổ nội của mày nằm ở bên Tàu, chứ có thương xót chi người ở đây!<br />
Bà con anh em bên ngoại tôi, đang cố tạo vẻ mặt rầu rầu cho phù hợp với nỗi sầu ai oán của ngoại, bỗng cười rộ lên. Ngoại cũng gạt nước mắt, cười theo.<br />
Nhiều lần, sau những cuộc đụng độ giữa hai phe lâm chiến, xóm làng nhà ngoại tiêu điều thê thảm. Người ta dùng xe ủi, khai quang cây cối chung quanh khu đất gò. Những hàng tre, lùm bụi trong xóm cũng bị san bằng trống trải. Hàng cây duối, mà ngày nào đó, ngoại tôi nói có thần linh trú ngụ, cũng không còn nữa. Chẳng biết thần linh di tản nơi nào? Có dẫn đám binh gia rắn lục của ngài theo? Bây giờ, nhà ngoại đứng trơ vơ giữa đồng không mông quạnh. Ngó lên khu đất gò, mộ bia xiêu lệch, như những nấm mồ hoang.<br />
Quân du kích không còn nơi ẩn núp, lui sâu hơn vào những vùng hẻo lánh. Ban đêm.<br />
Thỉnh thoảng, họ về làng kiếm ăn, và rỉ tai ngoại tôi: -Quân ngụy ác ôn. Cày mồ phá mả. Hủy diệt màu xanh. Triệt tiêu mầm sống. Phá hoại làng mạc. Ðem bom đạn giết hại dân lành&#8230;<br />
Ngoại nói: -Nếu các ông không núp ló trên khu đất gò, không rình mò bắn lén, thì bom<br />
đạn đâu có động đến mồ mả nhà tôi.<br />
-Mẹ chiến sĩ đừng nói thế. Luận điệu mất lập trường của mẹ, dễ bị phê bình chỉ trích là<br />
phản cách mạng.<br />
-Tôi có nhập bè kết đảng với ai đâu, mà bảo là phản?<br />
-Mẹ nói thế là có ý gì?<br />
-Tôi không có ý gì hết. Chỉ yêu cầu các ông, kéo nhau vô rừng mà đánh nhau. Ðừng lảng vảng chung quanh đây. Tôi sợ bị vạ lây. Tôi già rồi, chỉ mong được yên thân cho đến ngày nhắm mắt.<br />
-Công cuộc giải phóng đất nước còn nhiều khó khăn, đòi hỏi nhiều hy sinh gian khổ. Mẹ ích kỷ, chỉ muốn được yên phần mẹ. Tư tưởng như thế, nhân dân không thể chấp nhận.<br />
Ngoại tôi không dám nói tiếp. Khi người ta đã viện lý do giải phóng, thì không từ nan bất cứ biện pháp sắt máu nào. Khi đã lạm dụng đến hai tiếng nhân dân, thì mọi cá thể đều không nghĩa lý gì<br />
Mãi lâu sau, có người hỏi ngoại: -Già rồi, còn sợ chết hay sao?<br />
Ngoại ngước mặt, nhìn trời: ãThân phận hèn mọn như con trùn con dế, còn ham sống<br />
thay. Huống chi ta!<br />
Nếu đứng bên ngoài mà trông, nhà ngoại rất bề thế. Nhà rộng ba gian, nền cao lót<br />
gạch, mái ngói âm dương. Dù tường vôi loang lở nhưng còn thể hiện được cái quá khứ sung mãn một thời. Vào bên trong rỗng tuếch, mới thấy hết được sự suy sụp của thời gian, phơi bày ra nỗi nghèo nàn cơ cực. Ðồ đạc cũ kỹ, lâu ngày mối mọt hư hao. Cối xay lúa, và cối giã gạo chiếm gần hết gian nhà giữa. Hồi nhỏ, mỗi lần nghe tiếng xay lúa rồ rồ, tiếng giã gạo cùm cụp, thế nào tôi cũng ngủ gục. Có khi còn nằm lăn ra bên cạnh cối xay, thiếp đi một giấc ngon lành. Cái âm thanh và hình ảnh nghèo nàn thân thuộc ấy, tiềm tàng ăn sâu vào tâm thức, đeo đẳng theo tôi suốt đời. Nhiều khi bồi hồi nhớ lại, tôi tưởng chừng còn nghe tiếng cối xay đang rền rĩ trong đầu, và mềm lòng đến ứa nước mắt. Gian nhà trên, có bộ ván gõ. Mỗi tấm ván dày cỡ gang tay. Qua bao thế hệ thấm đẫm mồ hôi, mặt ván lên nước bóng ngời. Những trưa mùa hè, nằm trên bộ ván, nghe mát lạnh tấm lưng. Sát vách, có ba cái tủ thờ bằng cẩm lai khảm xa cừ, chạm hình cảnh và người. Tôi ngắm hoài không chán. Lớn lên, mới biết những hình ấy lấy sự tích từ truyện Tàu. Ðặc biệt hơn nữa, nhà ngoại có cái rương bằng gỗ, rất to. Tôi chưa từng thấy nhà ai có cái rương to đến thế. Cái rương to như chiếc xe bò. Phía dưới có gắn bốn bánh xe, cũng bằng gỗ. Ngoại tôi nói, vào thời trước, mỗi lần chạy giặc Tây, người trong gia đình phải đẩy cái rương chạy theo. Có lần ngoại mở nắp rương, tôi thấy bên trong toàn là chén dĩa<br />
bằng sứ, và những nồi đồng, mâm thau cất giấu lâu ngày không dùng, nên bị rỉ một lớp ten xanh.<br />
Tôi hỏi:<br />
-Chạy giặc, sao còn đẩy cái rương theo?<br />
Ngoại nói:<br />
-Bỏ lại, Tây sẽ lấy hết.<br />
-Ở bên Tây không có những thứ này sao?<br />
-Xứ nó nghèo, làm sao có được của quý? Nó qua xứ mình để ăn cướp.<br />
Tôi tin lời ngoại, nhưng vẫn thắc mắc. Tây qua xứ mình chỉ để cướp đi những chán dĩa,<br />
nồi đồng, mâm thau thôi sao?<br />
Ngày còn thơ ấu. Những buổi trưa, tôi thường nằm ngủ trên bộ ván gõ nhà ngoại. Khi<br />
thức dậy, thấy những tia nắng xuyên qua những lỗ hở trên mái nhà, dọi xuống. Trong tia nắng, có vô số hạt bụi bay vơ vẩn, như những sinh vật li ti đang bơi trong không khí. Không biết tại sao, cảnh tượng này, lại gây cho tôi một nỗi buồn khôn tả. Ðang buồn, nhìn vào phía trong lại thấy cái rương quá to. Ðiều kỳ lạ, là càng nhìn cái rương càng to ra, và tôi có cảm tưởng mình càng bé lại. Thế là tôi khóc.<br />
Ngoại tôi cằn nhằn: -Thằng nhỏ này có cái thói không chừa được. Lần nào ngủ trưa dậy, cũng khóc.<br />
Cậu tôi là người rất dữ dằn, doạ nạt cỡ nào, tôi cũng không nín. Cậu bỏ tôi trong cái<br />
thúng. Ðặt cái thúng vào chiếc gióng. Cột dây thòng tôi xuống giếng.<br />
-Nếu mày không nín. Tao thả rớt xuống luôn.<br />
Tôi vừa khóc vừa nói: -Thả rớt luôn đi.<br />
Cậu từ từ thòng tôi xuống chạm mặt nước. Nước làm ướt đít tôi.<br />
Cậu hỏi vọng xuống: -Mày chịu nín không?<br />
Tôi khóc, không trả lời. Cậu hạ thêm. Nửa người tôi ngập trong nước.<br />
Giếng quá sâu, không đủ ánh sáng. Nước lại lạnh. Thành giếng cũng toát ra hơi lạnh. Tôi quơ tay ra ngoài, đụng phải thành giếng rong rêu trơn nhớt. Cảm giác rờn rợn luồn vào da thịt, làm tôi khiếp vía. Hình như tôi bị ngộp. Không biết vì giếng sâu thiếu dưỡng khí, hay sự sợ hãi làm tôi khó thở. Tôi nhắm mắt lại, và muốn được chết ngay, để thoát cái cảnh bị hành hạ khốn nạn này.<br />
Có tiếng ai la nheo nhéo trên miệng giếng. Và cậu kéo tôi lên. Tôi thấy ngoại đang khóc.<br />
Ngoại nhấc tôi ra khỏi cái thúng, mắng cậu: -Mày độc ác. Doạ kiểu này, nó hoảng hồn<br />
chết luôn làm sao?<br />
Cậu chống chế: -Nó mà hoảng hồn? Thằng này lì lắm. Thiên lôi tầm sét, chưa chắc đã<br />
làm nó sợ.<br />
Ngoại dẫn tôi vào nhà, ôm tôi và khóc. Trong khi ngoại khóc, tôi lại nín khe. Thương<br />
ngoại bao nhiêu, tôi oán cậu bấy nhiêu. Từ đó trở đi, nơi nào có cậu, tôi đều tránh mặt. Nghe tiếng nói tiếng cười của cậu, tôi cũng ghét. Ấn tượng một lần bị thả xuống giếng, tôi không bao giờ quên.<br />
Sau này, cậu bỏ nhà theo Việt Minh. Trong gia đình ai cũng nhắc nhở, nhớ thương. Riêng tôi lại mong, cậu đi đâu thì đi luôn cho rồi. Ðừng về nữa. Thế nhưng, thỉnh thoảng cậu vẫn ghé về thăm nhà. Tôi chỉ chào hỏi qua loa, rồi lẩn mất. Những chuyến đi về của cậu, càng về sau, càng thưa dần. Rồi cậu đi biền biệt, bặt tin luôn. Ðến khi nghe tin cậu mất, mọi người trong thân tộc bàng hoàng. Má tôi chảy nước mắt như mưa. Ngoại xót xa rên xiết từng đêm. Tôi không hề xúc động, dửng dưng như người chưa từng quen biết. Cậu là người duy nhất trong dòng họ ngoại tôi, khi chết không đem được xác về chôn trên khu đất gò đồng mả.<br />
Cái chết của cậu, một kẻ trở về kể lại, nghe cũng rất ly kỳ. Cậu đặc trách công tác nội<br />
thành. Lâu lâu, về mật khu để báo cáo tình hình. Một buổi chiều. Cậu cùng vài ba đồng chí về gần tới mật khu.<br />
Bỗng nghe bên đường, trong cây rậm, có tiếng hô lớn: -Tất cả đứng lại. Giơ tay lên!<br />
Cậu nói: -Ðường sá xa xôi, mệt lắm rồi. Ðừng đùa, đồng chí ơi!<br />
-Tao bắn bể đầu. Chứ đùa với mầy hả?<br />
Những người cùng đi với cậu dừng lại, sửng sốt. Ðây là địa phận an toàn của Việt Minh, sao bị phục kích?<br />
Từ trong cây rậm, ra lệnh: -Thằng cha quấn khăn rằn trên cổ, đứng lại. Những người khác tiếp tục đi.<br />
Cậu ở lại. Người ta dẫn cậu đến một cái chòi của rẫy bắp, trong rừng. Nơi đây, cậu được ăn một bữa cơm chiều với khô trâu. Sau đó, cậu bị chính những người đồng chí của mình kết tội, lợi dụng công tác nội nội thành, làm gián điệp cho Tây. Người ta trói, và dẫn cậu đến một cái giếng lạn, loại giếng bỏ hoang lâu ngày, khô nước. Cậu bị đập đầu, xô xuống giếng. Giữa rừng già mênh mông, tìm cái giếng để đem xác cậu về, không là chuyện dễ.<br />
Vợ cậu, người tôi gọi bằng mợ, nhan sắc mặn mà, sắc sảo khôn ngoan. Mợ quyết chí trả<br />
thù chồng, làm đơn khiếu nại, tố cáo kẻ giết chồng mợ. Ðể tránh con mắt dò xét của người lạ, mợ giấu đơn từ vào trong chiếc nón lá, và chằm kín lại, trông như chiếc nón bình thường.<br />
Một ngày mưa, mợ đội nón lá ra đi. Tôi đứng trước thềm hiên, trông theo người đàn bà<br />
khốn khổ. Thấy mưa rả rích trên hàng dừa trước ngõ. Mưa mù tận ngoài bưng. Mưa khuất rặng cây xanh ở phía chân trời.<br />
Ngoại tôi chạy theo, níu áo: -Con ơi, người chết không sống lại được. Con khiếu nại, tố<br />
cáo cho ra lẽ, thì chuyện cũng đã rồi.<br />
Mợ nói: -Người ta giết oan chồng con. Lẽ nào con cắn răng im lặng?<br />
-Nếu không im lặng, con làm gì được ai?<br />
Mợ nghẹn lời, rồi bật khóc. Cương quyết dứt áo ra đi.<br />
Ngoại tôi lủi thủi quay vào. Ðầu tóc ướt mem. Ngồi rũ trong bếp.<br />
Những ngày sau. Ngoại bồn chồn không yên, trông mợ trở về. Không phải để nghe mợ<br />
báo tin, trả được thù chồng. Ngoại chỉ sợ người ta sẽ thủ tiêu luôn cả mợ.<br />
Rồi mợ cũng về trong bơ phờ thất vọng. Những đồng chí cũ của cậu đều làm ngơ, không ai nhận trách nhiệm về cái chết của cậu.<br />
Cái gan của mợ, chẳng biết lớn tới cỡ nào. Mợ nhất định rời khỏi nhà ngoại. Rời khỏi cái nôi của đại gia đình dòng họ nhà chồng, dẫn mấy đứa con nheo nhóc về vùng kiểm soát của Lực Lượng Liên Minh giáo phái Cao Ðài. Không lâu sau, mợ lấy một sĩ quan của Lực Lượng Liên Minh. Dựa thế lực chồng mới, báo thù cho người chồng cũ. Máu oan cừu của cả hai phe lại âm thầm đổ xuống. Không phải qua những đụng độ trên chiến trường, mà bằng những thủ đoạn rình rập chặt đầu, bắn giết thủ tiêu nhau. Và đó cũng là một trong những nguyên nhân đưa đến sự tàn mạt cho gia đình ngoại tôi. Bởi các đồng chí cũ của cậu, coi gia đình nhà ngoại là thù địch, luôn luôn theo dõi, gây ra nhiều nỗi khó khăn.<br />
Theo thời gian, nhà ngoại đổ xiêu rách nát. Bà ngoại tôi bỏ nhà, lên khu đất gò, nằm kế<br />
bên mả ông ngoại. Má tôi rầu rĩ ho lao, cũng vội vàng lên chiếm một chỗ trên khu đất gò. Ba tôi từ bên Tàu, theo ông thầy phong thủy địa lý giả mạo sang đây, bị bỏ rơi ở nhà ngoại. Ngoài người vợ Việt Nam, và mấy đứa con lai Tàu, ông không còn liên hệ họ hàng với ai. Khi má tôi từ giả cõi đời, ông buồn tình, không thiết sống nữa. Thế là ông tự động đứt mạch máu não, hôn mê mấy ngày trước khi bơi qua sông Nại Hà, theo cho kịp má tôi. Ðối với bên vợ, ba tôi là người ngoại tộc, nhưng cũng được đặc ân chôn trên khu đất gò đồng mả dòng họ ngoại tôi.<br />
Thời thế xoay nhanh đến chóng mặt. Mặt đất cũng biến đổi dị thường sau những thăng<br />
trầm dâu bể. Mồ mả tiên tổ bao đời của ngoại tôi, được lệnh bốc đi nơi khác. Trên quê hương xứ sở, còn có nơi nào được nằm yên vĩnh viễn? Thôi thì hốt cốt, dồn chung lại, hoả táng một lần cho xong. Khu đất gò, bây giờ là văn phòng Ủy Ban Nhân Dân Xã. Từ trên văn phòng Ủy Ban nhìn xuống, cái nền nhà cũ của ngoại, mọc lên hai dãy nhà kho, dùng chứa nông phẩm Hợp Tác Xã. Và vườn cây ăn trái phía sau nhà ngoại cũng bị san bằng, biến thành sân đá banh.<br />
Dòng đời, và tất cả cơ ngơi của ngoại tôi, chỉ còn trong hồi tưởng.</p>
<h3></h3>
<h3><span style="font-weight: bold;">Con suối và chiếc cầu treo</span></h3>
<p>Ở đây, cuối tuần là thời gian rỗi việc. Tôi thường cùng một số bạn ngồi lại uống lai rai vài chai bia, nhắc chuyện cũ. Chuyện mới thì ủ ê. Không lấy gì làm phấn khởi. Chuyện chưa đến thì mờ mịt, biết gì mà nói? Chuyện cũ với những người cùng hoàn cảnh, xem chừng dể thông cảm nhau hơn. Có người bạn trẻ hỏi, sao chúng tôi nói mãi đề tài lính và tù không nhàm chán? Làm sao giải thích cho bạn hiểu đây? Sang tới xứ này, bạn còn có tương lai đi tới. Chúng tôi còn gì đâu? Tuổi lớn rồi, học không vô. Tiến thân bằng cái đầu không được. Thôi thì đi làm cu li, cơm áo qua ngày. Sống mà không nhìn về phía tương lai, không chờ đợi điều gì cả là một bi thảm. Ngoái trông về quá khứ cũng thấy đầy những gai góc tai ương, nhưng đó là một phần đời gắn liền với chúng tôi. Đó là da thịt, là vốn liếng một đời người. Mang cái vốn liếng u buồn này đi vào tương lai, cũng giống như vác cái quá khứ bốn ngàn năm lạc hậu lên phi thuyền bay vào vũ trụ. Lâu lâu, giở lại quá khứ săm soi, như người ta nâng niu gìn giữ một món đồ cổ. Cổ vật càng xưa càng quý. Tâm trạng chúng tôi bây giờ là thế.</p>
<p>Một lần, nhà thơ Tô Thùy Yên đến Boston. Chúng tôi ngồi nhắc chuyện cũ. Anh nói, hồi đi cải tạo đã từng ở cái trại tù sát chân núi. Bên kia núi là nương rẫy của trại. Muốn qua nương phải vượt đèo. Đèo cao dốc ngược, đường lên khúc khuỷu. Mùa mưa trơn trợt khó đi. Lên tới đỉnh đèo, phải ngồi lại nghỉ mệt trước khi tuột dốc. Anh em trong trại đặt tên là “đèo bá thở”. Tôi cũng đã từng lên xuống cái đèo này nhiều lần, trong thời gian còn ở trại. Tổng số tù nhân vào khoảng 300 người. Thế mà tôi không hề biết có Tô Thùy Yên ở đây. Sống trong hoàn cảnh khắc nghiệt, ai cũng muốn thu nhỏ thân phận của mình. Chờn vờn trước mặt cán bộ, dễ bị chú ý. Sứ giả của ma vương mà chú ý, thật chẳng hay ho gì.</p>
<p>Nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp có bài Đốt Lửa Nghe Sư Đàn. Đọc lên cứ nghe rờn rợn. Nó gợi lại trong tôi một nơi chốn quen thuộc. Không gian, thời gian của những mùa đông rét mướt, áo quần không đủ che thân. Đêm đông trong lán trại lợp bằng nứa, lạnh quá không ngủ được, tù ngồi hơ tay bên đống lửa. Tiếng nói chuyện thầm thì như hơi gió. Tâm sự tràn trong đêm khuya. Thỉnh thoảng nghe tiếng mang mển “béc” ngoài đồi tranh cô quạnh, tiếng kêu buồn héo cả ruột gan.</p>
<p>Nguyễn Xuân Thiệp thai ghén và làm bài thơ này từ năm 1977 đến năm 1988. Mười một năm ròng rã, dốc hết tâm huyết cho một bài thơ đầy nội lực. Hèn nào đọc lên, tôi thấy như mình đang sống trong căn lán ẩm thấp vào một mùa đông lạnh ướt xưa kia. Anh Thiệp cho biết, đã từng ở trong cái trại có con suối chảy sát ngoài hàng rào. Trước cổng trại, chếch về phía bên trái, sát chân núi có một ngôi nhà sàn. Nhà núp trong cây. Những buổi sáng lành lạnh trời còn mù sương, đến thật gần mới thấy ngôi nhà hiện ra trong làn sương đục. Cảnh đẹp như tranh, mơ hồ như ngôi nhà trong cổ tích. Hóa ra, cái trại Nguyễn Xuân Thiêp mô tả, chính là trại Tô Thùy Yên và tôi từng ở đó. Vậy mà không ai biết ai. Trên cõi nhân gian có lúc người ta đi thật gần nhau, cùng sinh hoạt như nhau, nhưng người nào cũng giấu mình bằng chiếc mặt nạ. Một lúc nào đó, vất chiếc mặt nạ đi, nhìn nhau cười xòa.</p>
<p>Trong Đốt Lửa Nghe Sư Đàn, Nguyễn Xuân Thiệp có nhắc đến con suối, đốt lửa bên trong lán suối. Cuối bài, kết thúc bằng trăng lên rồi. hổ xuống cẩm khê. Cẩm Khê là một địa danh thuộc xã Cẩm Nhân. Xã ở miền cao, có nhiều suối mùa. Nhưng con suối thiết thân gần gũi với chúng tôi ngày ấy là con suối Nguyễn Xuân Thiệp nói trong thơ. Bây giờ, đọc thơ anh, tôi cảm giác như cái lạnh còn thấm tới xương, và còn mường tượng được cái không khí u uất trùm lên lán trại vào những đêm khuya nghe cú rúc. Tiếng cú như tiếng ma kêu sầu thảm, báo điềm có kẻ tử vong.</p>
<p>Tôi rời xa nơi ấy lâu rồi. Nhưng đi đâu cũng mang theo trong lòng về một nơi chốn mà tôi đã sống những ngày bầm giập xác thân. Mang theo không phải để nhìn ngắm lại một quá khứ u buồn. Nhớ mãi những tai ương buồn khổ, ích gì? Tất cả như chiêm bao bào ảnh, như sương móc chớp chăng. Kinh nhà Phật dạy thế. Nơi chốn tôi mang theo là những khu rừng ẩm mùi lá mục, đầy những muỗi mòng sên vắt. Rừng nối rừng bạt ngàn đi không hết. Những dãy núi bốn mùa sương giăng bàng bạc. Núi tiếp núi liền nhau bất tận. Nơi ấy có một trại tù. Có con suối nhỏ nép mình ngoài hàng rào trại, lượn vòng theo chân núi. Giữa hoàng sơn trùng điệp, suối bắt nguồn từ đâu, và xuôi về tận đâu không biết. Có người đoán, nó đổ ra hồ Thác Bà. Cũng chỉ đoán mà thôi.</p>
<p>Mùa mưa, hồ Thác Bà đầy nước xanh trong vắt. Giữa hồ ló lên một cây thập giá trơ vơ trên mặt nước. Mùa nắng, nước rút phơi đáy hồ bùn khô nứt nẻ. Dưới lòng hồ hiện ra một ngôi giáo đường, trên nóc cao có cây thập giá. Nhiều năm trước, nơi có ngôi giáo đường là thung lũng chạy dài mấy chục cây số về phía Nam. Người ta ngăn nước làm đập thủy điện Thác Bà. Vì thế, mới có hiện tượng ngôi giáo đường chìm trong lòng nước làm thành cảnh đời dâu bể, thế sự tang thương.</p>
<p>Theo con suối về phía thượng nguồn, cách trại chừng nửa cây số, suối uốn vòng cung nước xoáy thành hồ nhỏ. Quanh hồ là thảm cỏ xanh rờn mọc chen với tàu bay, kim thất. Hoa tàu bay, kim thất khi nở bung giống như chùm lông tơ trắng. Gió cuốn hoa bay khắp núi rừng. Mỗi sợ lông mang một hạt mầm. Sau trận mưa đầu mùa, mầm hạt ngoi lên những cây con, thân mòng mọng, lá xanh non mướt. Cây cỏ gì ăn được đều gọi là rau. Rau kim thất nhân nhẩn, người ta nói có vị thuốc. Còn rau tàu bay có mùi hăng hắc, người ta nói ăn nhiều bị mất máu. Có vị thuốc hay mất máu, không đáng quan tâm. Một thời khốn khó không cơm, chúng tôi dùng nó độn thêm trong phần sắn khoai làm đầy bao tử. Sát mé nước, trên bờ hồ có những loài hoa dại không tên. Nhiều nhất là hoa vàng và tím, màu sắc chen nhau. Hoa chỉ bằng con bướm nhỏ. Những khi vác nứa về ngang qua đó, những đóa hoa rập rờn như đàn bướm đồng loạt chớp cánh, đẹp vô cùng.</p>
<p>Cũng nơi cái hồ nước nhỏ này, con suối chia làm hai dòng. Một dòng chảy sát bên hàng rào trại, như đã nói. Còn dòng kia chảy qua một cánh đồng. Trại nằm lọt vào trong cái chảng ba con suối. Dòng suối chảy băng qua cánh đồng, chia cắt trại với con đường dẫn về Tuyên Quang. Trên bờ suối có bụi tre rừng. Lâu ngày nước xoáy dưới gốc tre thành hốc nước. Nghe đồn, trong hốc nước có con rùa vàng to bằng chiếc nón lá. Những buổi trưa hè, thường có người trong trại ngồi cầm cần thả dây câu rùa. Câu rùa để ăn, chứ không phải nuôi chơi làm cảnh. Trong khốn cùng đói khát, không ai nghĩ đến chuyện giải trí tinh thần bằng cách nuôi một con rùa để ngắm. Chẳng biết xưa ông Lã Vọng ngồi câu sông Vị ra sao? Ngày nay, người tù ngồi câu rùa, trông cái dáng vô cùng bi thảm. Anh ngồi bất động, đôi mắt đăm đắm xa xôi ở một cõi nào đâu ấy. Mấy năm ở trại, tôi thấy hết người này ngồi câu, rồi đến người khác ngồi câu. Người nào cũng thể hiện nét mặt buồn như nhau. Không ai bắt được con rùa, cũng chưa ai thấy nó nổi lên bao giờ. Con rùa vàng trở thành niềm tuyệt vọng của những ông câu.</p>
<p>Ngang qua suối, trại có bắc một cây cầu để đi ra con đường về phía Tuyên Quang. Mùa nắng làm cầu. Mùa mưa nước lũ trên ngàn tuôn xuống mạnh như thác, mang theo những cây khô gỗ mục vướng vào chân cầu. Chỉ vài trận mưa đầu mùa, cây cầu bị cuốn phăng đi mất. Và trại bị cô lập hoàn toàn với những bản làng người sơn cước, bên kia con suối. Năm nào trại cũng phải làm cầu mới, nhưng rồi cũng không chịu nổi sức tàn phá của thiên nhiên. Các cán bộ trên trại đề ra kế hoạch làm cầu treo.</p>
<p>Nghĩ ra kế hoạch là cái đầu của những kẻ coi tù. Thực hiện kế hoạch ấy là bàn tay, sức lực của những người tù. Chúng tôi chia thành từng nhóm kéo nhau lên rừng núi đốn cây. Phải chọn cây to, và thẳng đúng theo quy định chiều cao của chân cầu treo. Dao trành đốn cây cổ thụ, giống như người thợ điêu khắc kiên nhẫn đẽo từng mảnh nhỏ của tảng đá lớn. Nước sông công tu, chuyện gì mà không làm được? Cây ngả xuống, chặt cành chặt ngọn. Ai mà khiêng nổi cây to trên thế núi dốc? Chúng tôi vạt nhọn một đầu, lao cây xuống núi. Cây vướng lại chỗ nào, phát quang chỗ đó. Đem được cái cây bề tròn cỡ vòng tay ôm về tận bên con suối nơi chỉ định làm cầu, công trình nhọc nhằn này tương đương với những người vận chuyển những phiến đá lên cao xây Kim Tự Tháp bên Ai Cập thời xưa.</p>
<p>Đồng thời với công tác chặt cây, đào lỗ hai bên bờ suối dựng chân cầu, cán bộ trại về tận Hà Nội xin được cấp bốn sợi cáp. Giữa miền rừng núi không xe cộ đi lại, chuyển được bốn sợi cáp bằng thép bề trại với sức người, mồ hôi đổ dài theo những dặm sơn khê.</p>
<p>Cáp mắc vào trụ cầu giăng ngang con suối. Bốn sợi cáp chia làm hai tầng. Hai sợi trên làm tay vịn. Hai sợi dưới lót ván để đi. Cây cầu treo này được xem là công trình xây dựng hiện đại nhất của miền thượng du. Nó là một kỳ quan đối với người sơn cước.</p>
<p>Ngày khánh thành cây cầu, tất cả tù nhân tập hợp ra đứng bên bờ suối, nghe ông trại trưởng nói chuyện. Ông đứng trên cầu, mặc áo đại cán, đội nón cối có gắn ngôi sao, nói những lời tự hào về sức mạnh xã hội chủ nghĩa. Con người của xã hội chủ nghĩa quyết tâm khắc phục thiên nhiên, bắt thiên nhiên phục vụ con người. Ông mạnh dạn tuyên bố dứt khoát rằng, cây cầu treo này sẽ tồn tại không những một mùa mưa, mà còn tồn tại sau nhiều mùa mưa nữa. Cuối cùng ông ngỏ lời ngợi khen anh em tù nhân đã cố gắng lao động tốt trong thời gian qua. Tuy nhiên vẫn còn vài con nhạn la đà vi phạm nội quy, moi móc khoai củ ngoài rừng, cải thiện linh tinh. Dù thế, ông cũng hứa sẽ thưởng cho mỗi người một xuất sắn vào sáng Chủ Nhật. Thông thường, sáng Chủ Nhật không có phần ăn. Đang trong thời kỳ đói khổ, lời hứa của ông trại trưởng làm anh em nức lòng phấn khởi. Trên khung, cán bộ làm chó ăn mừng khánh thành cầu treo. Dưới trại, tù nhân được thêm phần sắn.</p>
<p>Miền núi rừng thượng du không có trò gì vui chơi giải trí. Mùa hè. Chiều chiều, các cán bộ rủ nhau lên cầu đứng hút thuốc tán gẫu, và hóng gió rừng. Nếu chỉ thế thì sự đời êm đềm bình thản biết bao Cảnh cán bộ nhởn nhơ hóng gió trên cầu là niềm mơ ước của những kẻ muốn rủ hết sự đời theo thú tu tiên. Nhưng đối nghịch hình ảnh lý tưởng ấy, trong lán trại những người tù tiều tụy đang nằm thở dài sau một ngày lao động vất vả thiếu ăn.</p>
<p>Rồi mùa mưa lại đến. Cơn mưa đầu mùa thật dữ dội. Ầm ầm vang động núi rừng. Mưa suốt ngày đêm không ngớt. Nước lũ trên ngàn tuôn xuống. Suối chảy mạnh như thác, gầm thét cuốn phăng những gì vướng víu trên đường nó đi. Bốn chân cột cầu treo được dựng trên thế đất cao bên bờ suối, hàng năm nước không lên tới. Nhưng năm nay, nước lũ tràn bờ. Cành cây và rác rến mắc vào chân cầu làm sức cản nước. Sau ba ngày đêm chịu lũ, một sáng ra xem, cây cầu treo biến mất dưới cơn mưa tầm tã, giữa dòng cuồng lưu nước xiết.</p>
<p>Thiên nhiên nuôi dưỡng con người. Khí thiêng sông núi hun đúc hồn người lớn dậy. Người xưa biết dựa vào thiên nhiên mà sống, thuận theo lẽ trời mà tồn tại. Mùa đông áo ấm. Mùa hè quạt mo. Sao thời nay có kẻ dám ngông nghênh lớn lối rằng đã khắc phục được thiên nhiên? Những ai thách thức thiên nhiên, chống lại quỷ thần, trước sau gì cũng bị trời tru đất diệt. Chuyện cây cầu treo năm ấy là bài học quí giá dạy cho con người đức tính khiêm cung, biết được thân phận nhỏ nhoi của mình có nghĩa lý gì đâu, so cái lớn lao vô cùng trời đất.</p>
<h3></h3>
<h3><span style="font-weight: bold;">Tán gẫu trong quán cà phê</span></h3>
<p>Vác đá. Đốn cây. Bửa củi. Gánh nước. Những công việc nặng nề như thế, lúc nào cũng có thể làm được, chỉ cần vận dụng bắp thịt và thêm một chút cố gắng là xong. Thế nhưng làm thơ viết văn thì khác. Nó không cần bắp thịt và cố gắng cũng không xong. Nói thế cũng hơi quá. Cố gắng cũng có thể xong, nhưng bài viết không đủ sức lôi cuốn, làm người đọc dễ buồn ngủ.</p>
<p>Tình cờ tôi đọc một quyển sách “dạy” làm thơ viết văn, khuyên những người cầm bút, dù muốn dù không cũng nên ngồi vào bàn viết ít nhất 2 giờ mỗi ngày. Viết bất cứ ý nghĩ gì trong đầu. Viết hoài, viết mãi sẽ có ngày làm nên tác phẩm. Một ý kiến hay. Làm văn thi sĩ cũng dễ thôi. Một hôm, tôi gặp ông bạn viết văn than phiền rằng cả năm không viết được chữ nào. Tôi mách cho ông tựa đề quyển sách mà tôi đã đọc. Tháng sau gặp lại, ông bảo theo lời chỉ dẫn ngồi vào bàn viết 2 giờ mỗi ngày, cũng viết ra chữ đấy nhưng toàn là những ý tưởng vụn vặt nhảm nhí chẳng ra làm sao cả. Vậy thì làm thơ viết văn đâu phải cố gắng là viết hay được. Tệ hại hơn nữa, khép mình theo thời biểu định sẵn, viết theo chỉ tiêu thì cái đầu càng đóng băng cứng ngắc. Khi cái đầu đã đóng băng, lại phải hoàn thành bài viết theo “đơn đặt hàng” thì bài viết ấy hoàn toàn vô vị, nhạt thếch. Cũng có nhiều trường hợp, người ta viết như một “thiên tài”, lúc nào và ở đâu cũng có thể viết được. Viết tràng giang đại hải, cuối cùng đọc lại thấy chẳng ra chi. Có tác phẩm đấy, nhưng toàn là rác rưởi. Vì không là “thiên tài” nên khi viết, tôi rặn từng chữ như người táo bón. Rặn mãi cũng ra được chữ, nhiều chữ làm thành một bài. Đắc ý, đưa vợ đọc thử. Vợ đọc như người bị mắc nghẹn. Vợ bảo, hành văn trúc trắc, chữ nghĩa đá sỏi khô khan. Đọc không suông, nuốt không vô. Vất! Viết văn làm thơ không dễ chút nào.</p>
<p>“Văn mình vợ người”. Ý nói văn mình hay, vợ người đẹp. Đó là cái bệnh chung của người cầm bút. Đem hết tâm sức còng lưng ngồi viết thì bài của mình không hay sao được? Văn ta là số 1, thơ ta hay nhất! Thỉnh thoảng có báo nào đăng bài của ta. Cầm tờ báo, ta đọc bài của ta trước nhất, dù trước khi gửi bài, ta đã đọc hàng trăm lần rồi. Bây giờ thấy nó nằm chình ình trên mặt báo, nghĩa là được chính thức ra mắt người đọc. Lấy tư cách là độc giả, ta đọc lại bài ta. Trời ơi, sao mà hay dữ vậy? Sau đó, đọc lướt qua những bài của tác giả khác. Cũng có vài bài khá đấy, nhưng bài ta vẫn là bài khá nhất. Không còn nghi ngờ gì nữa, ta là một tài năng lớn. Sở dĩ ta chưa nổi tiếng vì người đời chưa khám phá ra ta đấy thôi. Nếu có ai “góp ý” xuyên tạc bất lợi cho ta, chắc họ thấy ta có tài nên sinh lòng ghen tị muốn “ém tài” ta. Gặp người mới quen, họ chưa biết ta là nhà thơ kiêm nhà văn A, ta hỏi trên văn thi đàn ông thích những tác giả nào? Mục đích để dò xem họ đánh giá ta ra sao. Người quen nêu một lô những tác giả mà họ thích, trong đó không có tên ta. Ta hơi thất vọng về người mới quen. Hỏi thêm lần nữa, ông nghĩ thế nào về nhà thơ kiêm nhà văn A? Người quen bảo, ông này viết lảm nhảm chẳng ra chi. Vậy mà có vài tờ báo cũng đăng bài của ông ấy. Có lẽ ông ấy mướn đăng bài như các cơ sở thương mại mướn đăng quảng cáo. Ta xám mặt lãng đi nơi khác, thầm nghĩ thằng cha này trình độ hiểu biết thấp quá, chưa đủ tư cách nhận định về văn chương. Hơn nữa, nó ít đọc sách, làm sao theo kịp trào lưu tư tưởng mới của thế thế kỷ 21. Chỉ những ai uyên bác mới hiểu được ta thôi.</p>
<p>Cái bệnh “văn mình vợ người” coi bộ khó trị. Bởi nhìn ra cái tệ của ta là điều khó. Nếu có kẻ chỉ ra khuyết điểm của ta, lập tức ta phản kháng rằng thằng đó bới lông tìm vết. Phản kháng là ý thức tâm lý, nó luôn ứng chiến sẵn sàng đối đầu với bất cứ ai dám chạm đến ta. Nhưng một đôi khi trầm tĩnh, ta cũng thấy thằng đó nói có phần đúng. Chỉ đúng chút xíu thôi. Vậy ta phải sửa sai cho văn ta được hoàn hảo hơn. Bởi ta là người có tinh thần cầu tiến mà. Sửa sai nghĩa là tự đánh mình. Đánh ai cũng dễ, nhưng tự đánh mình là điều khó quá, mình cảm thấy đau quá. Thôi thì cứ để nguyên như thế. Coi như một nét văn phong độc đáo của riêng ta, để người đọc dễ phân biệt ta và người khác. Nếu không, sao gọi văn tức là người? Cuối cùng, ta vẫn là số 1. Độc Cô Cầu Bại đốt đuốc đi tìm cũng không ra kẻ tài danh nào đánh bại được ta.</p>
<p>Có một nhà văn (hình như Lâm Ngữ Đường, tôi không dám tin chắc nơi trí nhớ) bảo rằng, “tác giả tự khen tác phẩm mình thì cũng tệ như bà mẹ khen con mình”. So sánh nghe có vẻ mỉa mai châm biếm. Nhưng nếu ta không tự khen ta thì ai vào đây khen ta? Nỗi buồn thời đại lớn nhất của tác giả là khi in ra tác phẩm chẳng có ma nào thèm nói tới một lời. Tác phẩm bị chìm vào quên lãng một cách tội nghiệp. Vậy để gây sự chú ý, ta phải nhờ một bạn thân nào đó viết bài làm bộ phê bình, nhưng thật ra là ca tụng một cách kín đáo. Người viết bài phê bình có chút danh tiếng càng tốt. Nhiều khi người đọc thấy tác giả của bài phê bình là nhà văn X, hoặc thi sĩ Y. Phê bình đâu phải lãnh vực của mấy ông này, sao lại nhào vô đây khoác lác tùm lum? Dù cùng là nghề cầm bút, nhưng sáng tác và phê bình là hai bộ môn khác biệt. Sáng tác hay, chưa chắc đã biết cách phân tích phê bình. Phê bình giỏi, chưa chắc đã sáng tác được bài văn cho ra hồn.</p>
<p>Buồn cười hơn nữa, trong lãnh vực văn nghệ, thấy tên tác giả kèm theo học vị tiến sĩ hoặc bác sĩ. Nếu tiến sĩ khoa học hay kinh tế thì biết chi về văn học? Ông chỉ nên đề tiến sĩ khi viết về chuyên ngành của ông thôi. Sang lãnh vực văn học mà vác theo cái bằng tiến sĩ là có ý muốn khoe khoang, hù thiên hạ. Cũng như thế, y khoa là ngành chuyên biệt, bác sĩ khi thích cũng có thể làm thơ, và khi đề tên tác giả xin đừng kèm theo hai chữ bác sĩ. Điều đó không có gì bảo đảm cho giá trị của bài thơ. Nhưng nếu ông viết về y khoa thì lại rất nên kèm theo học vị để người đọc tin rằng ông có đủ thẩm quyền nói về lãnh vực chuyên môn của mình. Tôi rất thích đọc những bài viết bàn về vấn đề môi trường của tiến sĩ Mai Thanh Truyết, hoặc nói về sức khoẻ của bác sĩ Nguyễn Ý Đức, bác sĩ Trần Mạnh Ngô và vân vân. Nhất là bác sĩ Nguyễn Ý Đức khi nói về tứ sát thủ âm thầm: mập, cao mỡ, cao máu, tiểu đường. Đề tài khô khan, nhưng qua ngòi bút hóm hỉnh của ông, thỉnh thoảng người đọc có thể nở một nụ cười. Ngay cách đặt tựa đề Tứ Sát Thủ Âm Thầm cũng nghe như có chút hơi hướm của giới giang hồ kiếm hiệp. Một lần duy nhất tôi gặp ông ngoài bãi đậu xe của hội trường cộng đồng người Việt Dallas. Khi biết ông là bác sĩ Nguyễn Ý Đức, và thấy ông đang vui, tôi hỏi người bị tiểu đường có thể làm thằng nhỏ bị ủ rủ buồn hiu. Vậy có thể dùng Viagra để nó lấy lại sức mạnh tinh thần vui tươi phấn khởi hơn không? Ông bảo, đúng thuốc rồi, Viagra ra đời là cứu tinh và vực dậy thằng nhỏ ủ rủ buồn hiu của mấy ông tiểu đường, hahaha!</p>
<p>“Văn hay chẳng luận đặt dài”. Câu này như một châm ngôn. Ngày còn trên ghế nhà trường, tôi sợ nhất là môn tập làm văn. Trong đầu không có bao nhiêu chữ nghĩa, nhưng phải nặn óc viết cho ra chữ, càng dài càng tốt. Tưởng sẽ được khen, nào ngờ cô giáo phê một câu độc địa: “nhiều lời ít ý”. Sau này ngẫm lại thấy đúng. Nhất là khi nhân loại đạt đến tốc độ phi thuyền, đời sống thôi thúc phải chạy đua từng giờ từng phút, không ai có thì giờ ngồi đọc những bài dài lê thê, nhưng nội dung tư tưởng nghèo nàn. Không thể dùng vài trang giấy chỉ để tả một đoá hoa. Mất thì giờ lắm. Người đọc chỉ muốn biết chuyện gì đã xảy ra. Nói thế không phải tôi hoàn toàn phủ nhận những bài dài đầy tính nghệ thuật và ý nghĩa sâu xa. Những bậc phù thủ văn nghệ có tài biến hoá một Tôn Ngộ không thành trăm ngàn Tôn Ngộ Không mà vẫn lôi cuốn người đọc. Một tác giả viết được nhiều quyển sách, chưa chắc đã hay. Số lượng nhiều vẫn không có gì bảo đảm chất lượng cao. Viết văn trong thời buổi @ giống như sắc thuốc Bắc, ba chén nấu còn tám phân. Chỉ giữ lại phần cốt tủy mà thôi. Ngắt bỏ những chi tiết râu ria rườm rà không cần thiết cho bài viết cô đọng gọn gàng càng đỡ tốn thì giờ người đọc.</p>
<p>Đọc sách, nhiều khi thấy tác giả liệt kê đã in được vài chục quyển sách, và những tựa đề một số sách sắp in. Sắp in thì nói làm gì? Đôi khi chỉ là những dự định trong đầu, chắc gì sẽ viết xong? Mà viết xong, chắc gì in được? Có thấy mới tin! Tôi từng gặp nhiều người khoe rằng đang viết quyển sách dày cỡ vài trăm trang. Chờ mấy năm sau, vẫn không thấy mặt mũi quyển sách ra đời. Còn chuyện liệt kê sách đã in vài chục quyển ư? Số lượng thì nhiều thật đấy, nhưng văn chương đâu cần số lượng? Người ta chỉ cần phẩm. Viết văn làm thơ đâu phải bửa củi mà tính số lượng nhiều hay ít? Bửa được một đống củi, được khen là giỏi. Nhưng viết một đống sách, lựa hoài chẳng có quyển nào đáng đọc thì cũng xem như củi đốt lò mà thôi.</p>
<p>Hành văn tối nghĩa là một trong những bệnh bất trị của người cầm bút bất tài. Người đọc không hiểu nội dung bài viết là lỗi ở tác giả. Không thể nói người đọc không đủ trình độ lãnh hội, mà phải quy trách nhiệm về tác giả không có tài diễn đạt tư tưởng của mình một cách sáng sủa, hoặc thiếu khả năng trình bày một vấn đề cho thông suốt và dễ hiểu. “Cơn gió nhan nhác thổ ngơi quê nhà muối mặn điều tiết hơi thở ta phả vào ngực em khí hậu lá xanh nõn giây phút sinh thái của đá tảng đầu thai núi non và rừng cây đại thụ vỗ cánh ký ức hung hãn động huyệt mùi mẩn thân xác run cọ rời rợi đường cong mềm mại va chạm phế tích rùng mình ở phía chân trời duỗi rộng tiền kiếp hun hút phận người còn vang vọng mãi tiếng chuông câm.</p>
<p>” Trời đất! Cái gì vậy? Thần chú hả? Dạ thưa, không phải. Tôi vừa trích dẫn một đoạn thơ xuôi. Chữ nghĩa thật là kinh khủng. Có ai hiểu ý tác giả muốn nói gì không? Nếu không hiểu, có phải tại người đọc không đủ trình độ lãnh hội, hay tại cách viết tối nghĩa? Riêng tôi, đọc qua một lần không hiểu. Đọc lại vài lần nữa với sự chú tâm đặc biệt, vẫn không hiểu. Vô nghĩa và răc rối khó khăn như một bài thần chú. Thần chú là ngôn ngữ của thần linh, người phàm không thể hiểu. Tác giả sáng tác đoạn thơ trên trong cơn đồng thiếp. Kẻ phàm phu đọc đi đọc lại hoài, nếu không “ngộ”, ắt bị tẩu hoả nhập ma.</p>
<p>Lại nói đến hành văn rắc rối, chữ nghĩa khó khăn. Xưa nay tôi vẫn thầm ngưỡng mộ những người làm thơ viết văn. Chữ nghĩa đầy bụng, họ là bậc thầy của ngôn ngữ. Trong một bài chỉ ngần ấy chữ, nhưng họ khéo léo sắp xếp đúng vị trí ngôn từ làm thành bài thơ hay, đọc lên nghe truyền cảm lạ lùng. Ngược lại cũng có những người nhân danh đổi mới cấu trúc, làm mới ngôn từ, họ không đi theo “đường xưa lối cũ” nữa. Họ chủ trương khai phá những vùng đất âm u chưa có người đặt chân đến bao giờ. Vậy thì tốt thôi. Nhưng hãy coi chừng, phía trước có nhiều hầm chông gai lửa lắm đấy. Can đảm cầm súng xông pha ngoài trận mạc, người ta gọi là anh hùng. Nhưng can đảm cầm súng đi phá phách xóm làng, người ta lại gọi là quân bất lương. Lòng can đảm thể hiện không đúng chỗ, tác hại còn lớn hơn kẻ nhát gan. Các ngài vác dao đi khai phá thì cứ đi. Xin đừng chê bai những người theo “đường xưa lối cũ”. Cái gì là “hậu hiện đại” chứ? Tôi có đọc những bài lý thuyết về “hậu hiện đại”, nhưng thật tình không hiểu các ngài muốn nói cái gì? Đừng bảo rằng tôi không đủ trình độ lãnh hội nhé. Trình bày một vấn đề mà người đọc không hiểu là lỗi của các ngài. Người đời xưa hay sợ thần linh. Tất cả những gì không hiểu, không giải thích được đều phảng phất nhang khói thần linh. Ngày nay đừng hù nhau theo kiểu đó nữa. Đổi mới cách hành văn, làm mới ngôn từ ư? “Anh chàng mây nào kia nhỉ? Sao lại xuất hiện vào lúc này? Trời oản lưng gánh đá. Rét bắt đầu ngun ngoe. Thi vị gì chứ cho việc rong chơi? Đã không hào hứng với mình mà còn gây trở ngại cho người khác. Tốt nhất là chui vào chăn đánh một một giấc thật đẫy. Bạn bè anh ta ngủ hết cả. Mình? Đang thèm đóng đôi mắt đã bắt đầu trông một thành hai này rồi. Giá không màn bi kịch sắp diễn, mình cũng xếp tóc thả gồng bắp gỗ sượng trơ mặc trời đất gừ gào sương muối.” Lại cái gì nữa đây? Lại cũng xin thưa rằng, đây là đoạn trích dẫn mở đầu một bài viết thể hiện sự đổi mới ngôn từ. Mới đọc chừng ấy thôi, tôi cũng nổi hứng muốn làm thơ, và thấy rằng làm thơ theo kiểu đổi mới ngôn từ cũng dễ thôi:</p>
<p>Hiểu gì? Có hiểu gì không?</p>
<p>Ngun ngoe gánh đá. Oản lưng gừ gào</p>
<p>Hiểu gì? Không hiểu gì sao?</p>
<p>Thả gồng bắp gỗ chui vào chăn mây</p>
<p>Sau khi làm 4 câu thơ “bí hiểm”, tôi chợt nhớ đến nhà thơ Bùi Giáng. Ông điên, và vì thế thơ ông cũng khó hiểu đối với một người bình thường. Ông xứng đáng đại diện cho “trường phái thơ bí hiểm” đang thịnh hành thời “hậu hiện đại”. Nhiều người bắt chước ông làm thơ điên, nhưng tất cả đều thất bại. Dù cuộc đời có quá nhiều lọc lừa dối trá, nhưng người đời lại không thích kẻ giả danh. Ông Bùi Giáng điên có căn bản, nghĩa là điên thật tình. Kẻ nào giả điên, họ đang đóng kịch giữa cuộc đời. Có lúc màn kịch phải ngừng lại cho diễn viên nghỉ mệt. Họ hiện nguyên hình là người không điên. Không điên mà muốn làm thơ điên, khó lắm.</p>
<p>Trong “Ngàn Thu Rớt Hột”, nhiều bài thơ làm tôi như đi lạc vào vào cơn điên mê mộng ảo. Trích dẫn một bài:</p>
<p><em>Lạc về đầu rú khe truông</em></p>
<p><em>vốc năm ngón nhỏ gieo buồn rã riêng</em></p>
<p><em>Tuổi xanh nhiếp dẫn sai miền</em></p>
<p><em>đổ xiêu phấn bướm phi tuyền vọng âm</em></p>
<p><em>Tuần trăng quẩy gánh đau ngầm</em></p>
<p><em>Cõi bờ phôi dựng gió nhầm tin hoa</em></p>
<p><em>Em về rắc cỏ tháng ba</em></p>
<p><em>xuống trang hồng hạnh tin già in rêu</em></p>
<p><em><strong>Bùi Giáng</strong></em></p>
<p>Chữ nghĩa nhẹ nhàng êm ái, có sức truyền cảm thẩm thấu sâu tận lòng người. Nhưng bảo giải thích ý thơ liền lạc thì không thể nào. Bởi thế người ta mới cho rằng yếu tính của thơ là truyền cảm. Hay nói cách khác, truyền cảm là yếu tính quan trọng nhất của một bài thơ. Nhiều người mê thơ Bùi Giáng, hết lời ca tụng. Hơi thơ phảng phất một điệu buồn xa xăm huyển mộng không có thực ở cõi đời này. Vì là thơ điên vô nghĩa, nên bạn đọc cũng có thể chơi trò “xóc chữ” đảo lộn những chữ trong câu, làm thành bài thơ khác. Hai bài thơ chơi “xóc chữ” thơ Bùi Giáng sau đây, tôi trích dẫn trong nguyệt san Hương Xưa, xuất bản vào tháng 7 &amp; 8, năm 2002, tại Na Uy:</p>
<p>Sau khi “xóc chữ” bài thơ của Bùi Giáng, ta có được 2 bài thơ khác. Từ đây ta không cần làm thơ nữa. Ta mượn thơ Bùi Giáng và “xóc chữ” làm thành thơ ta. Nổi danh thi sĩ mấy hồi. Nếu không nói trước, người đọc dễ lầm 2 bài “xóc chữ” trên là thơ Bùi Giáng. Hay ít ra cũng mang âm hưởng Bùi Giáng. Êm đềm truyền cảm, nhưng hoàn toàn vô nghĩa. Bùi Giáng là bậc thầy về ngôn từ lạ và là phù thủy của thơ.</p>
<p>Về Bùi Giáng, tôi nghe kể một giai thoại rất lý thú trong thời gian lúc điên lúc tỉnh của ông. Ông có nuôi con khỉ nhỏ. Đi đâu ông cũng để nó ngồi trên vai. Một hôm, vào quán ăn, ông để khỉ trên bàn. Ông cầm đủa, khỉ nhỏ bốc bằng tay. Cả hai cùng ăn chung. Có người khách thấy lạ, hỏi sao lại để người và khỉ cùng ăn chung như thế? Bùi Giáng nói, chúng sinh bình đẳng! Chỉ một câu trả lời đơn giản, ông đã nói lên được cái thuyết uyên áo thâm trầm sâu xa của nhà Phật. Ai bảo rằng ông điên? Ai bảo rằng ông tỉnh? Bao giờ ông cũng là người khó hiểu như chính thơ ông. Có lẽ, cõi trần gian đối với ông chỉ là chốn rong chơi của một vì tiên mắc đoạ sa chân vào vòng sinh tử.</p>
<p>Nói tới cái điên Bùi Giáng, lại nhớ thêm một người điên cầm bút nữa, Nguiễn Ngu Í. Ông chủ trương không dùng chữ “Y” trong chữ Việt. Ông thể hiện điều ấy ngay cách viết tên ông, và trong tất cả bài của ông trên báo. Ông có bệnh, mỗi năm ông phải vào dưỡng trí viện Biên Hoà vài tháng. Phần lớn những bài của ông trên báo Bách Khoa được hoàn thành trong thời gian này. Ông là một bệnh nhân hay phạm nội quy, hay trốn viện về Sài Gòn rong chơi, vài bữa thấy chán lại tự động về nhập viện. Ông điên mà vui hết biết, lúc nào miệng cũng nở nụ cười rất tươi. Ông Nguyễn Văn Xung là bạn của ông Nguiễn Ngu Í. Tôi thường thấy hai ông nói chuyện rất tâm đắc. Có lần Nguiễn Ngu Í vừa về từ dưỡng trí viện Biên Hoà, ghé lại nhà Nguyễn Văn Xung. Ông Xung hỏi, trốn đi chơi hay được cấp giấy xuất viện? Nguiễn Ngu Í cười ha hả, được xuất viện và có giấy bác sĩ chứng nhận tôi là người không điên. Còn ông? Ông có giấy bác sĩ chứng nhận là người không điên không? Ông Xung nói, tôi bình thường, cần gì phải có giấy đó? Nguiễn Ngu Í lại cười lớn, không có giấy chứng nhận của bác sĩ, vậy thì không có gì bảo đảm rằng ông không điên. Nói xong, ông móc túi đưa ra tờ chứng nhận của bác sĩ. Ông nói, thiên hạ đều điên hết, chỉ Nguiễn Ngu Í này là tỉnh thôi!</p>
<p>Phần trên có nói tới “đơn đặt hàng”, không thể không nói đến báo Xuân. Trời đang tiết mùa Đông, các ông chủ báo gọi bài giục giã viết về Tết và mùa Xuân năm sau. Báo chí phải chuẩn bị trước bài vở, chứ nếu để tới nơi thì trở tay sao kịp? Những tay viết báo nhà nghề đang nhìn mùa Đông ảm đạm, cây cối trơ cành rét mướt, nhưng họ có thể viết về mùa Xuân chan hoà nắng ấm và cây lá xanh tươi. Viết một cách sống động y như người người đang hớn hở trước mặt. Thông thường làm 3 số báo: Tất Niên, Xuân và Tân Niên. Xuân là số quan trọng nhất, tuyển chọn những bài chủ lực. Ngày đầu năm, độc giả trịnh trọng mở tờ báo Xuân ra coi. Hình ảnh vui tươi, nội dung bài viết rộn ràng đầy sức sống như trẫy hội trên đường phố. Buồn cười nhất là những bài về “Đầu Năm Đi Xông Đất” ông Thần này, ông Thánh kia. Toàn là láo cả. Tết và Xuân nào vậy? Xuân năm ngoái hay năm nay? Nhưng độc giả phần đông dễ tính, miễn sao có chữ Xuân và Tết là vui rồi. Qua Tết, liệng bỏ. Giữ lại làm gì nhữngh bài viết láo. Chẳng trách người ta hay bảo, nhà báo nói láo ăn tiền!</p>
<p>Trước năm 1975, tôi có ông bạn chuyên viết truyện dài cho các nhật báo. Ông đảm trách viết một lúc 3 cái truyện dài. Không bao giờ ông viết trước. Buổi sáng, ông làm trong tòa soạn về kỹ thuật và sắp xếp bài vở tin tức. 2 giờ chiều xong việc, ông xách xe đi nhậu với bạn bè. Thường là nhậu đến 8 giờ tối, đôi khi cuộc vui kéo dài đến 12 giờ khuya. Tàn tiệc, trong hơi men chếnh choáng, ông về nhà ngủ đến khi đồng hồ báo thức là 4 giờ sáng. Ông nhỏm dậy, đi rửa sơ cái mặt cho tỉnh người. Sau đó, ông ngồi vào bàn viết. Viết một mạch đến 8 giờ sáng là vừa đủ số trang tiếp theo của 3 cái truyện dài. Mỗi ngày, ông làm việc đều đặn theo thời biểu như một cái máy. Tôi thắc mắc, làm sao một lúc có thể hoàn thành phần tiếp theo đúng số chữ, số cột báo cuả 3 cái truyện dài với 3 đề tài khác biệt? Ông nói, viết mãi thành thói quen. Tôi lại thắc mắc, nếu không cảm hứng thì làm sao viết được? Ông cười, đâu cần phải hứng. Có sức mạnh của đồng tiền thúc đẩy thì làm việc gì cũng xong. Tôi lại hỏi, ông có viết theo dàn bài định sẵn trong đầu không? Ông bảo, nghĩ tới đâu viết tới đó, chẳng dàn bài gì cả. Khi nào thấy cái truyện dài vừa đủ in một quyển sách thì tìm cách chấm dứt. Tóm lại, ông viết thật dễ dàng, nhưng giá trị văn học còn phải coi lại. Và ông cũng đâu cần gì giá trị văn học. Đối với ông, cầm bút như cầm chiếc cần câu cơm. Càng câu được nhiều cơm, đời càng thoải mái. Nguyễn Du thắc mắc “không biết ba trăm năm sau, người trong thiên hạ có còn ai khóc Tố Như?” Bạn tôi không hề nghĩ xa như thế. Ông chỉ cần hiện tại mà thôi. Sau khi mất rồi, dù ai khóc lóc, binh phẩm khen chê, nhớ hay không nhớ cũng chẳng đem lại lợi ích gì cho nắm xương tàn trong lòng đất. Đời người như chim bay mất dấu. Vì vậy, khi ông bỏ đời mà đi cũng không để lại một tác phẩm nào cho thế gian.</p>
<p>Nhân đây, thuật lại một chuyện vui vui trong làng báo. Chuyện vui vui này, tôi cũng đọc trên báo, chứ bản thân không hề quen với nhà văn Lê Xuyên. Khi Lê Xuyên đang viết truyện dài Chú Tư Cầu. Độc giả thích thú theo dõi tình tiết diễn biến câu chuyện mỗi ngày. Chuyện hấp dẫn đến mức trong quán cà phê người ta cũng bàn tán, đoán già đoán non tình huống sắp xảy ra của một cặp tình nam nữ nhà quê. Chẳng biết cái gã nông dân quê mùa chất phác có “làm thịt” được con nhỏ kia không? Lê Xuyên cũng ra ngồi quán cà phê, lắng nghe người ta bàn tán về cái truyện của mình. Nếu người ta tiên đoán tình huống sắp tới sẽ xảy ra thế này, thì ông sẽ lái câu chuyện sang hướng khác. Cứ thế, ông gây cho độc giả nhiều lý thú bất ngờ. Ông lại có tài viết đối thoại. Hai người nói qua nói lại một cách rất ỡm ờ, có lúc tưởng xáp lại gần làm cái chuyện truyền giống tự nhiên của loài người. Nhưng không, họ cảm thấy bẽn lẽn, và tiếp tục ỡm ờ nữa. Ông kéo dài cuộc đối thoại đến mấy chục trang. Vào thời Lê Xuyên, viết truyện dài cho nhật báo, tính dòng ăn tiền. Càng viết đối thoại, càng xuống dòng nhiều. Có khi mỗi dòng chỉ vài chữ. Và dĩ nhiên, nhiều dòng thì nhiều tiền.</p>
<p>Lê Xuyên cũng mất rồi. Vài tờ báo hải ngoại đăng lại bài của ông như một niềm… hoài cổ, chứ không phải vì giá trị tác phẩm.</p>
<h3></h3>
<h3><span style="font-weight: bold;">Lỗi tại tôi mọi đàng </span></h3>
<p>Mùa xuân năm 85, tôi về quê. Quê tôi ở Gò Chùa, nằm trên liên tỉnh lộ, nhưng vẫn là nhà quê. Tôi bốn mươi ba tuổi, tóc đã có nhiều sợi bạc. Tôi không có tiền, không nghề nghiệp, sống nương tựa vào ba tôi.<br />
Ba tôi bảy mươi hai tuổi, là người tàn phế. Ông mất cánh tay phải trong thời kỳ chiến tranh. Hiện nay, ông sống nhờ vào tiền của anh tôi, gởi về từ Canada. Số tiền này, chỉ đủ ăn tiện tặn. Muốn mua sắm những thứ lặt vặt trong gia đình, ba tôi nuôi heo nái, và nấu rượu. Nấu rượu không có lời, nhưng có hèm trộn chung với cám, làm thức ăn cho heo. Mỗi năm, bán được mấy lứa heo con, cũng được đồng ra đồng vào.<br />
Hàng ngày, tôi đi quanh quẩn lối xóm, mặt mày ủ dột. Không nghĩ ra việc gì làm, để khỏi bám vào ba tôi. Tôi đói lắm. Đói nhiều năm, trước khi về đây. Tôi cần ăn mà mỗi lần bưng chén cơm, tôi như mắc nghẹn. Tôi còn đầy đủ tay chân, làm sao thanh thản nuốt miếng cơm của người cha già tàn tật?<br />
Tôi đi ra đồng, lủi vào rẫy mía, hái những thứ rau sam, rau dệu mọc hoang. Gió lay cờ mía bay trắng đồng, vướng cả trên đầu, trên áo tôi. Loài chim sâu luýt chuýt kiếm ăn trong mía thấy có người, bay vụt lên. Lúc tôi chui ra, gặp ông cụ vác cuốc đi tới.<br />
Cụ hỏi: “Làm gì trong ấy?”<br />
Tôi cầm bó rau giơ lên.<br />
Cụ nói: “Rau dại ư? Đứng đó.”<br />
Cụ lủi ngay vào rẫy mía, lối tôi vừa chui ra. Cụ không tin tôi, muốn kiểm soát xem có cây mía nào bị bẻ trộm. Mặt tôi ra sao, mà ai cũng nghi ngờ trộm vặt? Tôi nghĩ, con người có cái vận. Khi vận mạt thì ám khí tràn lên làm con người bệ rạc, che lấp cái vẻ đường hoàng khả tín. Có phải mặt tôi tôi bây giờ như thế?<br />
Cụ già chui ra, dịu giọng: “Lần sau, đừng vào rẫy.”<br />
Tôi nín thinh bỏ đi.<br />
Tôi đem rau về, giấu sau hè. Lúc ba tôi đi khỏi, tôi luộc rau ăn thêm. Nhiều lần như thế. Có lần ba tôi về bất ngờ, thấy tôi đang ngồi với rổ rau. Không giấu được nữa, tôi gượng cười. Ba tôi đứng sững nhìn tôi, rồi quay đi không nói gì.<br />
Buổi tối. Dưới ngọn đèn dầu, ba tôi ngồi quấn thuốc rê. Ông xe tròn điếu thuốc trên mặt bàn, bằng bàn tay còn lại. Tôi ngồi trong góc tối, nhìn sự thiếu hụt một phần thân thể của ông. Tôi nghĩ, không phải chỉ có thế. Nó còn ảnh hưởng rất lớn đến sự thiếu hụt của tâm hồn, đưa đến buồn chán an phận một kiếp người.<br />
Dì tôi đi ngủ rất sớm. Dì ngủ và thức cùng giờ với gà. Trời mới chạng vạng, gà đã vào chuồng. Ba bốn giờ khuya, gà gáy báo hiệu bình minh. Dì thức dậy, không để làm gì cả. Dì chong đèn ngồi lặng cho đến khi trời sáng. Tôi gọi mẹ kế bằng dì. Mẹ ruột tôi mất. Năm năm sau, ba tôi rước dì về làm vợ. Lúc đó, tôi mười ba tuổi. Dì ở với ba tôi, ba mươi năm không có con. Miệng đời xoi mói, rằng trước khi về với ba tôi, dì đã lang chạ với nhiều đàn ông. Dì ít nói đến độ tôi không biết tình cảm của dì ra sao. Dì không nói câu gì làm tôi buồn, cũng không tỏ thiện cảm với tôi.<br />
Tôi về hai mươi mốt ngày, ba tôi bán lứa heo con. Tiền bán heo, cất trong tủ. Xâu chìa khóa treo ở cây đinh, khuất sau tủ.<br />
Mấy ngày sau, ba tôi nói: “Tiền bán heo mất sạch rồi.”<br />
Dì nhìn tôi, dò xét.<br />
Tôi không biết nói sao, bỏ ra ngoài hiên, ngồi hút thuốc. Dưới chân tôi, những con kiến đen đi tìm mồi. Nắng xế chiều xuân gay gắt lắm. Trời cao và xanh, gợn vài cụm mây nhỏ. Nỗi đời hốt biến như mây chó.<br />
Một bà quảy gánh đi ngoài đường, hỏi vọng vào: “Có đồ gì cũ, bán không?”<br />
Tôi nói: “Có tôi. Mua tôi không?”<br />
Bà nhìn tôi: “Mặt không đáng đồng xu.”<br />
Tôi chợt nhớ có mấy cái muỗng nĩa bằng inoque, và đôi dép nhựa đứt quai.<br />
Tôi gọi: “Bà ơi, vào đây.”<br />
Bà cầm muỗng nĩa lên coi: “Tất cả mười đồng.”<br />
Tôi nói: “Mười lăm.”<br />
Bà quảy gánh lên vai.<br />
Tôi nói: “Mười đồng, lấy đi. Còn đôi dép?”<br />
Bà nói: “Cho thì lấy. Không mua.”<br />
Tôi cất tiền trong túi, bâng quơ nhìn đàn gà bươi dưới gốc hàng rào cây dâm bụt. Nhà đang dọn cơm chiều. Tôi bỏ đi lang thang. Chiều tối mịt, tôi ghé quán cà phê. Cà phê sữa, mười hai đồng. Cà phê đen, tám đồng. Tôi uống cà phê đen. Dư hai đồng, tặng luôn cho cô gái chạy bàn. Quán vắng. Bóng đèn nhỏ bằng đầu ngón tay, dùng điện bình acquy, ánh sáng mờ mờ buồn thảm. Tôi ngồi im lặng. Ly cà phê đã hết từ lâu. Tôi ngồi im lặng như thế, thật lâu. Buồn tay, tôi quậy chiếc muỗng chạm lanh canh trong cái ly không.<br />
Cô gái hỏi: “Chú dùng thêm gì?”<br />
Tôi lắc đầu.<br />
Cô lại hỏi: “Có phải chú là cái chú gì cải tạo mới về đó không?”<br />
Tôi nói: “Phải rồi.”<br />
“Được về thì mừng. Sao chú buồn?”<br />
Tôi nói một câu rẻ tiền: “Đời chẳng có gì vui.”<br />
Nói xong, tôi chào cô gái, và ra khỏi quán.<br />
Ba tôi ngồi ngoài hiên chờ tôi về. Đèn trong nhà hắt sáng yếu ớt sau lưng, làm khuôn mặt ông tối hẳn, như cái bóng đen in trên nền phong hư ảo.<br />
Ba tôi nói: “Còn chừa phần cơm cho con.”<br />
Tôi đói lắm, nhưng nói: “Con không đói.”<br />
“Con đừng làm thế. Ba không nghi cho ai cả.”<br />
Tôi nghĩ, thân phận tôi, ai cũng nghi ngờ là kẻ gian. Chỉ có ba tôi tin tôi.<br />
Ba tôi nói tiếp: “Ba đã biết người lấy tiền.”<br />
Tôi nghĩ, ba tôi hiểu tôi là đủ rồi.<br />
Ba tôi kể: “Ba dời cái ổ gà đẻ, phát giác ra số tiền cất giấu dưới đáy ổ gà. Dì con nói, ăn ở với ba không có con. Sợ khi chết không ai lo, nên tự lo trước cho mình. Dì con muốn mua bộ táng đá xây mả.”<br />
Tôi gục đầu. Xót cho ba tôi. Xót cho Dì. Xót cho tôi. Ai cũng muốn làm người tốt, hoàn cảnh cứ xô vào ngõ cụt.<br />
Ba tôi, và tôi ngồi đấy. Đêm xuân mà đất trời mờ mịt, oi bức. Muỗi bay vo ve bên tai. Ngoài đường, toán du kích xã đi tuần ngang qua. Họ cười nói oang oang. Súng đạn khua lách cách. Có tiếng chó sủa bên nhà hàng xóm.<br />
Tôi nói: “Con muốn gặp Minh, giải quyết vấn đề một lần cho xong.”<br />
Ba tôi nói: “Đừng. Thằng bồ của nó sẽ đưa con vào tù đấy.”<br />
“Con không làm điều gì rắc rối.”<br />
“Cũng đừng. Ngày con đi tù, nó còn trẻ quá không chờ được. Không phải lỗi tại nó đâu.”<br />
Không phải lỗi tại nó đâu. Lỗi tại ai? Tôi hỏi lòng tôi như thế. Đêm xuân mà đất trời mờ mịt. Tôi dõi mắt nhìn xa hơn, chỉ thấy mờ mờ như ảo giác. Tất cả đều là ảo giác, là phù du, kể cả đời này.<br />
Ngày mồng tám tháng ba, Dì tôi làm bữa ăn ngon. Thịt cá rau cải chiên xào đầy đủ. Dì không tuyên bố một lời.<br />
Ba tôi nói: “Hôm nay, mừng tuổi sáu mươi tư cho dì của con.”<br />
Tôi nắm hai bàn tay, đưa lên trán rất trịnh trọng: “Con chúc dì sức khỏe tốt, sống lâu trăm tuổi.”<br />
Dì nói: “Già quá, chỉ khổ thân. Lúc nào mắt lòa tai điếc, chết đi là vừa.”<br />
Tôi ăn, và nghĩ đến những điều giả dối. Mọi người rõ mặt nhau, mà không rõ lòng nhau. Tội nghiệp dì tôi. Sáu mươi tư tuổi, dì vẫn cô đơn khép kín trong nhà này. Ba tôi cũng cô đơn bên người đàn bà khép kín. Tôi thì quá đau khổ hận đời. Bộ mặt lầm lì, còn gần gũi được với ai?<br />
Chúng tôi đang ăn, có anh du kích đứng trước cửa, hỏi lớn: “Ở đây có ai tên Lâm?”<br />
Ba tôi buông đũa đi ra: “Nó là con tôi. Có chuyện gì không?”<br />
Du kích chìa tờ giấy: “Có giấy mời lên xã.”<br />
Ba tôi cầm tờ giấy quay vào, thắc mắc: “Không biết chuyện gì?”<br />
Tôi nói: “Chuyện gì cũng vậy thôi.”<br />
Ba tôi nói: “Đụng tới bọn này phiền lắm.”<br />
Từ lúc nhận giấy mời, bữa ăn mất ngon. Dì tôi không nói câu gì.<br />
Tôi lên xã, và trở về chuẩn bị ngày mai đi công tác thủy lợi.<br />
Ba tôi hỏi: “Tù mới về, còn trong thời hạn quản chế. Sao bắt đi thủy lợi?”<br />
Tôi nói: “Mỗi địa phương có một ông vua con, áp dụng luật rừng xanh.”<br />
Ba tôi than: “Toàn là luật lệ chết người.”<br />
Tôi nói: “Trong tù lao động, có cơm tù. Về đây lao động, lấy gì ăn?”<br />
Ba tôi lặng lẽ vào nhà bếp, xúc cho tôi bọc gạo, gói vài con cá khô, nhét chút tiền đi xe.<br />
Tôi ngồi xe Lam đi Bến Mương, lội bộ hơn cây số đường đất là vào tới chỗ công tác thủy lợi. Nhiều người đến trước, đang dọn chỗ trong căn nhà trống. Có lẽ xưa là nhà hội của dân Bến Mương. Phía trái cách căn nhà vài chục bước có cây đa già, độ tuổi cũng trăm năm. Tàng cây cao rộng, phủ một vùng bóng lớn. Trên nhánh cây thòng xuống những rễ phụ, đâm xuống đất. Nhiều rễ lâu năm, to bằng cột nhà.<br />
Toán thủy lợi gồm hai mươi tám người. Đàn ông đàn bà, già trẻ đủ mặt. Toán chia làm hai nhóm. Mỗi nhóm có một nhóm trưởng. Tôi bốn mươi ba tuổi, già nhất, được chỉ định làm toán trưởng. Làm toán trưởng cũng là làm chơi thôi. Mọi sự đôn đốc kiểm soát đã có đốc công. Bốn đốc công, coi hai mươi tám người. Lại có thêm một đốc công trưởng, coi bốn đốc công. Ông này có súng K54, mang bên hông rất oai. Tổ chức chặt chẽ qua nhiều tầng lớp kiểm soát, nhưng khi bắt đầu làm việc thì tất cả đốc công đều vắng mặt. Họ vào xóm Bến Mương, ăn nhậu hoặc tán gái. Chúng tôi cầm xẻng cuốc đứng dưới hào, thỉnh thoảng hất một xẻng đất lên, vá những chỗ đê vỡ. Làm việc ầu ơ lấy có. Phần lớn thì giờ là nói chuyện tầm phào, kể chuyện tiếu lâm. Mấy chị đàn bà rất thích nghe chuyện tục. Họ cười nhiều nhất.<br />
Đến trưa, mọi người tự động ngưng làm, vào nấu ăn. Gạo để chung, đồ ăn chung. Đàn bà lo nấu nướng. Đàn ông ngồi hút thuốc tán gẫu, chờ cơm.<br />
Tôi mắc võng vào hai chiếc rễ phụ của cây đa, tránh sự ồn ào trong căn nhà trống.<br />
Một chị nói: “Nằm đây nguy lắm. Cây này có nhiều rắn lục.”<br />
Tôi nói: “Chỉ nằm nghỉ trưa.”<br />
“Ừ. Ban đêm thì không nên.”<br />
Buổi chiều. Hai mươi tám người ra đê, chống cuốc xẻng phơi nắng vài tiếng đồng hồ, lại vào nghỉ.<br />
Sau một ngày rong chơi, các đốc công trở về. Có người nồng hơi rượu. Họ ra đê kiểm soát công việc.<br />
Lúc trở vào, có người nói: “Thời gian có hạn. Bà con làm thế thì bao giờ cho xong? Mai cố gắng lên nhé.”<br />
Một chị trẻ, trề môi: “Đợt này không xong. Đợt sau làm tiếp.”<br />
Anh đốc công đi lại, vỗ vào đít chị trẻ: “Lắm lời chanh chua cong cớn này!”<br />
Chị trẻ vênh mặt : “Thì sao?”<br />
Anh đốc công cười hì hì, cúi sát mặt chị trẻ: “Tối nay phạt cái tội lười biếng.”<br />
Chị khác xía vào chuyện: “Mười người như anh, nó cũng không sợ.”<br />
Anh đốc công hỏi: “Em sợ không?”<br />
Chị nói: “Cỡ anh, tôi chấp hai chục.”<br />
Bọn đàn ông vỗ tay cười đùa.<br />
Cơm chiều xong. Những anh đốc công theo tán tỉnh mấy chị đàn bà. Vài chị đi với họ suốt đêm. Số còn lại, ngủ trong căn nhà trống.<br />
Nhiều đêm khó ngủ, tôi thấy có kẻ lén chui vào mùng người khác. Có một cặp, đêm nào cũng dìu nhau ra gốc cây đa. Vài hôm sau, tôi biết chị đàn bà dọa tôi có rắn lục, là người được dìu ra gốc cây đa, lúc nửa khuya. Chị không sợ rắn lục. Gần sáng. Tiếng gà gáy vẳng lại từ xóm Bến Mương, là lúc những kẻ lộn sòng trở về đúng vị trí của mình. Công việc thủy lợi lại bắt đầu, như mọi ngày bình thường.<br />
Ngày thứ mười lăm, ông đốc công trưởng tuyên bố: “Hôm nay là ngày cuối cùng, tôi cho bà con nghỉ việc buổi chiều. Trước khi chia tay, tôi đề nghị bà con tùy khả năng mỗi người, đóng góp chút tiền hùn mua vài con gà và lít đế, làm tiệc liên hoan mừng công tác tu sửa hệ thống thủy lợi, đã tiến hành thuận lợi và hoàn tất tốt đẹp. Có ai có ý kiến gì không?”<br />
Mọi người vỗ tay tán thành lời đề nghị văn hoa của ông đốc công trưởng.<br />
Kiểm lại số tiền đóng góp xong, ông chỉ định: “Anh toán trưởng đi mua gà với tôi.”<br />
Tôi nói: “Vâng.”<br />
Trên đường vào xóm Bến Mương, ông đốc công trưởng nói: “Anh ít nói nhỉ?”<br />
Tôi trả lời: “Tôi không có gì để nói.”<br />
Chúng tôi hỏi mua gà nơi nhà của một người quen với ông đốc công trưởng. Ông gọi người này là anh Sáu Lự. Anh Sáu Lự bảo vợ lo bắt gà. Chị Sáu Lự ra sân rải thóc, chu miệng gọi gà: “Chúc chúc chúc&#8230;”<br />
Đàn gà đang kiếm ăn rải rác ngoài vườn, nghe tiếng gọi, chạy về mổ thóc trên sân. Có con gà trống lớn không lo ăn, chỉ lo dụ khị con gà mái tơ để đạp mái. Sau khi thỏa mãn, nó vỗ cánh, vươn cổ gáy ò ó o ò o&#8230; Ông đốc công trưởng cười nhìn chị Sáu Lự, và bắt chước giọng gà: “ Ò ó o ò o&#8230; Đời có thế mà thôi..!”<br />
Chị Sáu Lự cũng cười, mắng: “Đồ quỷ quái!”<br />
Quả thật là đồ quỷ quái. Đời có thế mà thôi. Sao tôi cứ loay hoay buồn rầu khốn khổ với đời?<br />
Sau đợt công tác thủy lợi. Tôi về vẫn y như tình trạng cũ. Buồn nản. Quẫn trí.<br />
Ba tôi đưa bộ truyện Tiếu Ngạo Giang Hồ của Kim Dung, bảo: “Đọc đi.”<br />
Tôi nói: “Còn tâm trí đâu mà đọc.”<br />
“Thằng Lệnh Hồ Xung bị cả hai phái hắc bạch giang hồ chối bỏ, đến nỗi phải than trời đất mênh mông mà ta không còn chỗ dung thân, nhưng cuối cùng nó cũng đâu có chết.”<br />
“Chuyện hư tưởng, đọc để mua vui. Không thể lẫn lộn giữa thực và mộng.”<br />
“Không sống với thực được, thì trốn vào mộng. Đau khổ mãi ích gì?”<br />
“Con đang suy tính một việc làm.”<br />
Ba tôi bảo: “Hãy viết thư sang Canada cho anh con.”<br />
Tôi nói: “Người ta chỉ giúp ngặt, không giúp nghèo.”<br />
“Đây là lúc ngặt của con.”<br />
Ông đưa giấy bút cho tôi. Tôi viết:<br />
Ấp Gò Chùa ngày&#8230; tháng&#8230; năm&#8230;<br />
Kính gởi anh chị Hai,<br />
Trước tiên, em có lời thăm anh chị và chúc sức khỏe. Ở nhà, Ba và Dì vẫn khỏe. Vẫn nuôi heo, nấu rượu bình thường. Sau đây, em xin nói về phần em. Em đi cải tạo mười năm, có tiến bộ về mặt tư tưởng. Được Đảng và nhà nước khoan hồng cho về với gia đình, góp phần xây dựng xã hội mới. Hiện tại, em chưa được bố trí việc làm. Vì vậy, đời sống chưa được đảm bảo tốt. Em mong anh chị vì chút tình ruột thịt mà giúp cho em một số tiền để sống, và chờ đợi&#8230;<br />
Một lần nữa, em xin chúc anh chị bình yên, vui tươi, hạnh phúc.<br />
Giấy ngắn tình dài, em xin dừng bút tại đây.<br />
Em của anh chị.<br />
(Ký tên)<br />
Tái bút: Vợ em thì coi như diều đứt dây rồi. Không còn gì để nói.<br />
Tôi đưa lá thư cho ba tôi đọc lại. Đọc xong, ông vò lá thư, ném vào lò nấu cám heo.<br />
“Nó sợ Đảng và nhà nước, mà bỏ chạy. Viết thế này thì một xu cũng không được.”<br />
Tôi lặng người. Có một nỗi gì thấm thía của gã ăn mày bị từ khước.<br />
Lúc ấy, dì tôi đi đâu bên ngoài vừa về tới.<br />
Dì nói: “Cô Bảy Mỹ Quang nhắn con sang nhà, bàn chuyện gì đấy.”<br />
Cô Bảy là em họ của ba tôi. Trước kia, cô là chủ tiệm Mỹ Quang buôn bán đồ điện ở Sài Gòn. Sau hai đợt đánh tư sản mại bản, cô sạt nghiệp phải lui về Gò Chùa, làm bún kiếm ăn qua ngày. Con trai của cô, làm ở Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo, đi cải tạo chưa về. Còn đứa con gái theo chồng vượt biên, biệt tăm luôn. Nhiều người cho rằng, vợ chồng con gái của cô đã chui vào bụng cá mập. Cơm chiều xong, tôi sang nhà cô Bảy. Dượng Bảy lúi húi nấu nước pha cà phê.<br />
Cô Bảy nói: “Con được về là gia đình mừng. Nhưng ba và dì của con cho biết, con mặc cảm có ăn mà không có làm. Cô có công việc cho con.”<br />
Tôi mừng, đợi nghe cô nói tiếp. Dượng Bảy đem hai ly cà phê đặt lên bàn. Dượng cười. Hàm răng cửa chỉ còn mấy chiếc chơ vơ thảm hại.<br />
Dượng nói: “Con phụ làm bún với dượng.”<br />
Tôi nhận lời ngay. Đối với tôi bây giờ, việc gì cũng được.<br />
Buổi sáng. Cô Bảy ngồi bán bún ở chợ. Tan chợ, cô gánh bún đi lòng vòng lối xóm, đổi gạo. Dượng Bảy và tôi ở nhà xay bột, bồng bột.<br />
Buổi chiều. Cô Bảy về nhà, Dượng và tôi lại nhồi bột, nắn lại từng khối tròn như trái banh. Luộc bột trong một cái trả lớn. Cô Bảy vớt khối bột ra, cho vào cối. Dượng và tôi chèo bột, dùng sức đến đổ mồ hôi. Rồi nắn bột thành những khối hình trụ, cho vào cối ép thành sợi. Việc này, cần sức nặng mà Dượng và tôi đều ốm nhom, phải bê thêm cái cối dằn lên cho tăng phần trọng lượng. Sợi bún chảy xuống nồi nước đang sôi. Lại trút bún ra, cho vào nước lạnh. Cô Bảy vớt con bún rê thành từng lọn, là lúc dượng và tôi ngồi thở. Sau đó, tôi gánh nước luộc bột về cho ba tôi nuôi heo. Ít ra, trong nước luộc cũng còn vương chút bột, góp phần làm con heo mau lớn. Công việc loay hoay mệt nhọc như thế, xong xuôi vào lúc nhà lên đèn.<br />
Cô dượng làm bún chỉ đủ ăn. Tôi làm bún để có ăn, không có lương. Lâu lâu, cô Bảy cho bánh thuốc rê, và cuộn giấy quyến.<br />
Mấy hôm nay, có gánh hát Cải Lương Hồ Quảng ghé xã. Cô Bảy cho tiền bảo tôi đi coi. Tôi đi trong màu trăng. Bầu trời trong vắt, và trăng sáng lắm. Bóng tôi in trải trên đường. Chỉ mình tôi với bóng. Buồn và cô đơn khủng khiếp. Tôi đi đến chỗ có ánh đèn điện sáng choang, người người đông đảo lao xao. Hội trường được che chắn chung quanh làm rạp hát. Phía trước, dựng lều căng bạt, bán cà phê, nước giải khát, bánh kẹo, thuốc lá và thức ăn. Người ta chen chân nhau vào cửa rạp. Tôi không muốn vào. Tôi đi loanh quanh. Lòng tôi nguội lạnh, lẻ loi. Cuối cùng, tôi ngồi dưới một mái lều bán cà phê. Cô bán hàng là người quen, tên Giang. Giang là bạn của vợ tôi. Trước kia, Giang làm ở Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam. Thời thế thay đổi, Giang đem con về sống ở quê. Chồng Giang vượt biên sang Mỹ, nghe đâu đã có vợ khác rồi.<br />
Giang bưng cà phê cho tôi, rồi ngồi ở phía sau chiếc bàn bày hàng.<br />
Giang hỏi: “Anh về có khỏe không?”<br />
Tôi nói: “Khỏe.”<br />
Giang lại hỏi: “Có gặp chị Minh không?”<br />
Tôi lắc đầu: “Thuộc về quá khứ rồi. Gặp làm gì nữa.”<br />
“Chị Minh cũng vì hoàn cảnh.”<br />
“Một trăm người đàn bà phụ bạc, cũng đổ thừa hoành cảnh. Chồng em có liên lạc về không?”<br />
Mắt Giang thoáng chút xa xôi buồn bã: “Coi như nước xuôi ra biển, không trở lại nguồn.”<br />
Tự nhiên tôi thấy tội nghiệp Giang hết sức. Tôi nghĩ, tôi với Giang là người đồng cảnh, dễ tội nghiệp cho nhau.<br />
Tôi hỏi: “Em dọn hàng về lúc nào?”<br />
Giang nói: “Thưa người là em dọn.”<br />
“Đồ đạc nhiều quá, làm sao một mình em đem hết?”<br />
“Em đem làm hai lần.”<br />
“Anh sẽ phụ với em. Một lần là xong.”<br />
Giang ngại: “Có phiền anh không?”<br />
“Phiền gì? Anh cũng đang rỗi rảnh.”<br />
Có mấy người khách ngồi vào bàn cà phê. Giang lo tiếp khách. Tôi đứng dậy bỏ đi. Tôi đi vòng ra phía sau hội trường. Có những cặp tình nhân đứng nép vào nhau, dưới những gốc cây. Tôi nghĩ, ở đâu người ta cũng có thể nói chuyện tình yêu. Cái thứ tình cảm quỷ quái này, nó đánh lừa tất cả. Mới đầu tưởng nó là hạnh phúc, nhưng sau đấy là thất vọng chán chường đau khổ. Tôi cũng thế, tôi cũng bị lừa.<br />
Khi tôi quay lại chỗ Giang. Giang nói: “Tối nay em nghỉ sớm.”<br />
Tôi phụ Giang xếp những đồ đạc lên xe ba gác. Một xe cồng kềnh đầy nhóc.<br />
Tôi hỏi: “Còn cái bàn, chắc phải đi thêm chuyến nữa?”<br />
Giang nói: “Để lại. Ngày cuối cùng dỡ lều, sẽ đem về luôn.”<br />
Giang cầm càng xe. Tôi đẩy ở phía sau. Trên đường về, trăng sáng lắm. Dọc đường, Giang kể về cuộc sống vất vả sau ngày chồng bỏ đi. Tôi kể chuyện làm bún. Giang đùa, rằng tôi có cái tướng của ông chủ lò bún tương lai. Giang và tôi cùng cười. Nói chuyện với Giang, tôi nghe lòng mình ấm lại. Đến nhà, Giang bảo: “Để nguyên như thế. Cho cả chiếc xe vào nhà. Mai lại đem đi.”<br />
Tôi đứng tần ngần. Nửa muốn nán lại, nửa muốn về.<br />
Giang đến gần tôi, hỏi nhỏ: “Có ai chờ anh ở nhà không?”<br />
Tôi nói: “Không.”<br />
Giang nói như nói thầm: “Thế thì nghỉ lại đây với em.”<br />
Tôi quàng vai Giang.<br />
Giang vùng ra: “Cho em đi tắm.”<br />
Tôi ra đứng ngoài sân, nghe tiếng giội nước sau hè. Tôi hình dung ra thân thể nở nang của người đàn bà một con, da thịt trắng ngần loang loáng nước, dưới trăng. Tôi háo hức đợi chờ. Lúc sau, tôi bước vào nhà. Giang mặc áo cánh mỏng, đang lúi húi khơi lại ngọn đèn. Tôi ôm ghì lấy Giang.<br />
Giang nói: “Từ từ, anh&#8230;”<br />
Tôi thổi tắt phụt ngọn đèn, dìu Giang đến chiếc giường, nơi có ánh trăng mờ mờ xuyên qua đầu hồi. Tôi ôm Giang, vuốt ve hôn hít. Giang thở dồn dập. Tôi cũng thở dồn dập.<br />
Bỗng Giang kêu lên nho nhỏ: “Em biết tại sao chị Minh bỏ anh rồi.”<br />
Tôi hoảng hốt: “Không phải thế đâu.”<br />
Giang vùng dậy, thắp đèn: “Em xin lỗi. Khuya lắm rồi, anh về đi.”<br />
Tôi đi về trong đêm trăng sáng. Trời không sương mà vai tôi lành lạnh. Khuya vắng đến rợn người. Tôi nghe rõ cả tiếng côn trùng rên rỉ. Buồn và cô đơn khủng khiếp. Đời vẫn dành cho tôi nhiều ưu ái. Tại tôi làm hư việc. Lỗi tại tôi mọi đàng. Tôi đi. Bóng tôi in trải trên đường. Chỉ mình tôi với bóng.</p>
<p><strong>Ngộ Không</strong></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ngo-khng-tc-gia-v-tc-pham-lm-chuong/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Kh&#244;ng : T&#225;c Giả v&#224; T&#225;c Phẩm &#8211; Kh&#225;nh Trường</title>
		<link>https://t-van.net/ngo-khng-tc-gia-v-tc-pham-khnh-truong-2/</link>
					<comments>https://t-van.net/ngo-khng-tc-gia-v-tc-pham-khnh-truong-2/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 01 Jan 2016 12:47:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Tác Giả Tác Phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không; tgtp]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=24896</guid>

					<description><![CDATA[Tiểu sử Tên thật: Nguyễn Khánh Trường. bút hiệu: Kim Thi, Nguyễn Thị Giáng Châu. Sinh năm 1948 tại Quảng Ngãi, hiện định cư ở California. Tác phẩm Chỗ tiếp giáp với cánh đồng, Hai mươi năm văn học hải ngoại 1975-1995, Buồn ơi, tôi bỏ tôi chìm đắm, Tác giả tác phẩm, Chung cuộc. [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><b><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2015/12/clip_image00114.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" class="" style="background-image: none; float: left; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin: 0px 20px 10px 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image001" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2015/12/clip_image001_thumb11.jpg?strip=all&fit=210%2C199" alt="clip_image001" width="210" height="199" align="left" border="0" /></a></b></p>
<p><b>Tiểu sử</b><br />
Tên thật: Nguyễn Khánh Trường. bút hiệu: Kim Thi, Nguyễn Thị Giáng Châu.</p>
<p>Sinh năm 1948 tại Quảng Ngãi, hiện định cư ở California.</p>
<p><strong>Tác phẩm</strong></p>
<p>Chỗ tiếp giáp với cánh đồng, Hai mươi năm văn học hải ngoại 1975-1995,</p>
<p>Buồn ơi, tôi bỏ tôi chìm đắm, Tác giả tác phẩm, Chung cuộc.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2015/12/clip_image0034.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" class="" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image003" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2015/12/clip_image003_thumb2.jpg?strip=all&fit=317%2C317" alt="clip_image003" width="317" height="317" border="0" hspace="12" /></a><b></b></p>
<p><strong>tranh Khánh Trường</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><b>Chỗ tiếp giáp với cánh đồng</b><b> </b></h3>
<p><strong>Khánh Trường</strong></p>
<p>Tôi thường ngồi sau cửa sổ nhìn ra khu công viên mênh mông xanh mướt màu cỏ vào những buổi sáng, từ lúc trời còn nhá nhem đậm đặc sương mù đến khi nắng bắt đầu thắp sáng những đỉnh cây trồng dọc các lối đi tráng xi măng chạy quanh co ngang dọc. Nắng mai như lụa, êm và sạch. Rất xa, in mờ trên nền trời xám nhạt, chập chùng những khối chữ nhật thẳng đứng, cái thấp cái cao, nối thành vòng cung rộng.</p>
<p>Căn nhà ở ngoại vi thành phố, tiếp giáp với khu công viên nên rất yên tĩnh. Ngày mới dọn đến đây hai đứa em trai tôi cực lực phản đối, chúng than buồn, mỗi lần muốn xuống phố phải đi bus, còn phải đổi tuyến những ba lần. Bo-ring, Huân, thằng em kế than phiền, và Nô-gút, cậu Út cằn nhằn. Mẹ tôi cũng đồng quan điểm cùng hai quý tử. Bà hợp với không khí xô bồ, lịch kịch lạc cạc suốt ngày đêm ở những chung cư. Ngược lại ba tôi và tôi rất bằng lòng chỗ ở mới. Về mặt kinh tế, nhà ngoại ô nên giá thuê rẻ, tiết kiệm được cho ngân quỹ gia đình một món tiền đáng kể. Về mặt tinh thần, không khí chung quanh trong lành, yên tĩnh, tâm hồn không thường trực căng thẳng như ở dưới phố. Từ ngày dọn về đây tôi ngủ ngon hơn, ăn nhiều hơn, sức khỏe khả quan hơn, và thích nhất là phục hồi được tập quán dậy sớm tôi đã đánh mất từ bao năm. Sau một giấc ngủ dài, thức dậy, ngồi trước khung cửa sổ nhìn ra, tầm mắt được giải phóng, không gian bát ngát đã giúp cho đầu óc tôi trở nên sáng suốt, nhiều vấn đề tưởng chừng bế tắt của bản thân, của gia đình không còn khiến tôi khổ sở bức xúc thái quá. Tôi nghiệm ra một điều, thiên nhiên quả đã đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của con người.</p>
<p>Ðể được ở trong căn nhà này, chúng tôi -hai bố con- phải tranh đấu khá gay go với mẹ tôi cùng hai cậu em. Ðó là điều hi hữu. Bao nhiêu năm hai bố con đã quen với tính khí của bà, chủ quan, cực đoan và cứng như thép nguội! Tôi chưa từng thấy bất cứ kẻ nào lay chuyển được ý muốn mẹ, một khi bà đã xác quyết điều nào đó là đúng. Nếu sức khỏe tôi không suy sụp đến mức báo động, có lẽ ước muốn của hai bố con đã chẳng thể thành tựu.<br />
Cho đến hôm nay, sau ba tháng, tôi vẫn còn ngạc nhiên về sự nhượng mộ của mẹ. Ðiều này làm tôi hoang mang. Tình cảm bà dành cho tôi ra sao? Ðâu là vị trí thực sự của tôi trong trái tim mẹ? Tôi không biết. Thực sự không biết. Ðôi lúc bà tỏ ra quan tâm,<br />
“Này, mẹ nghĩ con nên để ý đến nhân diện một chút, con gái lớn không thể cẩu thả được, chiều nay đi làm tóc với mẹ, sẵn ghé qua shopping sắm ít quần áo mới.”<br />
“Thôi mẹ ạ, có bao giờ con ra phố đâu, sửa soạn làm gì, vừa tốn tiền lại thêm rắc rối, quần áo như thế này con nghĩ đã tươm tất chán, ở Việt Nam chỉ hai bộ thay ra thay vào đâu đã sao?”<br />
“Việt Nam khác, đây khác, mày không làm đẹp cho mày thì cũng đừng để tao phải mất mặt chứ.”</p>
<p>Mẹ tôi đột ngột thay đổi thái độ. Dù cố gắng để đừng nghĩ xấu về bà tôi vẫn không thể không kết luận việc bà muốn tôi ”tươm tất” hơn chỉ nhằm mục đích để tao khỏi phải mất mặt vì mày. Ý nghĩ khiến tôi đau quặn ruột gan. Tôi, một nhân vật thừa trong gia đình? Một món đồ hư hỏng chiếm quá nhiều diện tích làm vướng chân vướng cẳng mọi người? Nhưng lỗi nào phải tại tôi? Ai lại không muốn sinh ra với một nhân dạng toàn vẹn? Ðáng lẽ mẹ phải hiểu điều đó chứ. Luôn luôn, dù cố dấu, bà vẫn không che đậy được thái độ khó chịu về sự hiện diện ”ngoài ý muốn” của đứa con gái mà thượng đế, vì lơ đễnh hay muốn trừng phạt một tội lỗi nào đó trong tiền kiếp, đã ném đại nó vào cuộc đời khi phần ngoại hình Ngài chưa kịp hoàn tất. Tôi như một cái giằm ghim sâu vào da thịt, nhổ ra chẳng đặng, để đó thì nhức nhối triền miên.<br />
Nhức nhối, với mẹ và với tôi, đã đành. Nó còn lây lan cho mọi người trong gia đình. Hai đứa em trai tuy có thương tôi đấy, tôi biết, nhưng tôi còn biết hơn nữa, trong thẳm sâu của tâm hồn, chúng nó không thể không nghĩ giá như tôi đừng có mặt trên cuộc đời này có lẽ mọi chuyện sẽ dễ chịu hơn. Tình thương của chúng dành cho tôi không phải thứ tình thương của những đứa em dành cho người chị có một nửa phần ruột thịt, mà đó là thứ tình thương của bậc vua chúa cúi xuống ban phát hồng ân cho bọn dân đen khốn khổ, tệ hại hơn nữa, của con người đối với lũ gia cầm! Tôi bi thảm hóa vấn đề quá chăng? Có thể tôi nghĩ sai về chúng. Có thể mặc cảm tật nguyền khiến tôi nhìn mọi việc, mọi hành vi của người chung quanh qua lăng kính tối ám của lòng nghi ngờ chật hẹp. Nhưng biết làm thế nào bây giờ? Ý nghĩ, những ý nghĩ, luôn luôn như con dao hai lưỡi, nó cứa vào thịt da kẻ khác và cứa ngay trên trái tim mình, buốt nhức!<br />
Chỉ có một người thực sự thương yêu tôi, đó là bố, đúng hơn, người đàn ông tôi đang gọi bằng bố.</p>
<p>Ông đến với gia đình vào năm tôi tám tuổi. Về người cha ruột, gần như tôi không biết gì ngoài những lời hằn học mẹ thường ném vào mặt đứa con gái tật nguyền của bà,<br />
“Nếu thằng khốn nạn không ăn chơi hư hỏng thì mày đâu dở người dở ngợm như bây giờ. Cha ăn mặn con khát nước. Nào có sai&#8230;”<br />
Cha tôi ăn chơi hư hỏng thế nào? Và tại sao điều đó lại liên hệ đến sự bất hạnh của tôi? Có lẽ suốc đời sẽ không bao giờ tôi tìm ra câu trả lời.<br />
Mọi cánh cửa hướng về dĩ vãng, ở đó có người đàn ông đã sinh thành ra tôi, đều bị mẹ đóng kín, khóa chặt.<br />
Mỗi khi mẹ lồng lộn giận dữ, nhìn vẻ mặt bố, tôi có cảm tưởng ông đau khổ nhiều lần hơn tôi. Một đôi khi ông có nhỏ nhẹ can ngăn mẹ,<br />
“Theo anh thấy nó đâu làm gì nên tội. Lẽ ra em nên công bình một chút, nó đáng thương hơn đáng ghét.”<br />
Mẹ quắc mắt, ”Không liên quan đến anh, đối xử thế nào với nó là quyền của tôi, việc gì anh xía vô, hả?”<br />
“Anh không có quyền, được đi, nhưng nó là con em, dẫu sao em cũng rứt ruột sinh ra, nó càng bất hạnh thì em càng phải lưu tâm hơn mới phải chứ. Em không nghĩ như thế là tàn nhẫn, vô nhân đạo ư?”<br />
Mẹ chụp chiếc ly trên mặt bàn ném mạnh vào khung kiếng cửa sổ. Mặt kiếng vỡ nát, mảnh thủy tinh rơi loảng xoảng xuống thảm. Ðôi mắt bà trợn ngược, quai hàm bạnh ra, tiếng rít lọt qua kẽ hai hàm răng nghiến chặt,<br />
“Anh bảo tôi tàn nhẫn, vô nhân tính, đã biết vậy sao còn lấy tôi? Tôi vô nhân tính, không phải người, anh lấy tôi, vậy anh cũng là súc vật à?”<br />
Ðồ đạc tiếp tục đổ vỡ. Mẹ lồng lộn như con thú điên. Tôi chết khiếp trong sợ hãi. Úp mặt vào hai bàn tay, tôi nức nở,<br />
“Con lạy mẹ, lạy bố&#8230;”<br />
Tôi không biết phải nói gì với hai người. Nỗi đau dâng lên chận nghẹn cổ họng, ngực tôi tức nhói, mạch máu căng dưới da, trong đầu có hàng trăm nhát búa nện dồn dập. Mẹ đập phá một lát, chừng như cơn giận đã nguôi phần nào, bà ngồi xuống sofa thở dốc rồi sầm sập đứng dậy xách ví ra khỏi nhà.</p>
<p>Tôi thu nhỏ người trên chiếc xe lăn, tiếp tục khóc nấc.<br />
Bố lặng lẽ đến gần, đặt hai bàn tay lên đôi vai xương xẩu của tôi bóp nắn nhè nhẹ.<br />
Cả hai đều im lặng, sự im lặng có khi kéo dài năm mười phút. Qua sự im lặng đó, tôi với ông đều như đã tỏ bày với nhau rất nhiều.<br />
Thường, cuối cùng tôi nghẹn ngào, ”Bố ơi, con khổ quá.”<br />
Ông ôm đầu tôi vào ngực, vuốt nhẹ bàn tay trên mái tóc còi cọc của tôi, thở dài, nhưng vẫn không nói lời nào. Tôi khóc, rất lâu, nước mắt thấm ướt ngực bố. Bao nhiêu năm tháng đã qua, từ lúc bập bẹ tập nói cho đến ngày hôm nay, đã là thiếu nữ, tôi chưa một lần thực sự hạnh phúc. Hạnh phúc, hiểu theo cái nghĩa khiêm tốn giản dị nhất: yên thân với phần số hẩm hiu định mệnh đã an bài. Trong gia đình, luôn luôn tôi cố gắng thu nhỏ mình lại, để đừng ai nhìn thấy, đừng trở thành một cái gai, một chướng ngại, thậm chí một duyên cớ khiến mọi người động tâm hoặc khó chịu. Nhưng nào có được, tôi càng ép người, càng muốn tan biến thì sự hiện diện của tôi trong mắt mẹ càng nổi cộm, bà cho rằng thái độ câm nín của tôi là một thách thức, ”Trông kìa, mặt nó cứ trơ trơ như gỗ đá.”Trời ơi, tôi phải làm thế nào? Nếu tôi vùng lên chống đối, được không? Chưa bao giờ tôi dám nghĩ đến điều đó. Mẹ, trong tuổi thơ tôi đồng nghĩa với một hung thần, một phù thủy đầy bùa phép quyền năng. Mẹ, trong tuổi lớn tôi là một người đàn bà bản chất đầy ác tính. Làm sao tôi chống đối nổi với bà? Mà chống đối để làm gì? Tôi không thể rời xa căn nhà của mẹ, tôi không thể đứng vững một mình trong cuộc đời. Tôi vô dụng. Tôi như dây chùm gởi. Mặc cảm này có lẽ là một trong nhiều duyên cớ khác làm cho niềm sợ hãi của tôi đối với mẹ càng trở nên nặng nề không cách chi tháo gỡ.<br />
Tôi khóc, khóc mãi. Bố tiếp tục im lặng. Bàn tay vẫn vuốt nhẹ trên mái tóc tôi. Cho đến khi cơn đau dịu đi, tôi dần dần bình tĩnh trở lại.</p>
<p>Tôi bình tĩnh trở lại và chợt nghe, rất nhẹ, trong lồng ngực bố nhịp đập đều đều của trái tim.<br />
Bỗng nhiên tôi rùng mình. Mùi mồ hôi đàn ông toát ra đầy ngập khứu giác khiến tôi ngây ngất như say.<br />
Tôi lờ mờ hiểu sự xúc động không hẳn bắt nguồn từ tình cảm của một đứa con đối với bố, hình như bên cạnh nỗi đau còn có một ước muốn tối tăm nào đó đang dấy lên. Một ước muốn tôi không dám triển khai. Nó cũng què quặt và bất toàn như chính con người tôi.<br />
Ðiều lạ lùng, mỗi lần như thế tôi luôn luôn nhớ lại hình ảnh đã nhìn thấy vào năn lên tám, cái hình ảnh như vết sẹo lớn, bám trong óc tôi mãi đến bây giờ, còn rõ mồm một và có lẽ sẽ chẳng thể tẩy xóa&#8230;<br />
Căn nhà nằm khuất phía sau lũy tre rậm, chỗ tiếp giáp với cánh đồng. Bên trái cánh đồng, nổi rõ trên nền trời là vì tường cao của khu vực nhà máy chế biến bột ngọt. Phía sau vì tường, cột ống khói đồ sộ vươn lên, nhả vào không trung đám mây đen cuồn cuộn, năm này qua tháng khác, không một phút ngơi nghỉ.</p>
<p>Tôi thường ngồi trước chái hiên nhìn ra cánh đồng. Vào những tháng trồng cấy, màu xanh trùng điệp của lúa trải dài ngút tầm nhìn, sóng lúa nhấp nhô. Thỉnh thoảng, vài cánh cò chao nghiêng, vẽ thành đường vòng cung rộng rồi nhẹ nhàng đáp xuống, khuất biến vào ruộng lúa.<br />
Thuở đó tuổi tôi còn quá nhỏ để có thể cảm nhận được vẻ đẹp rất bình yên êm ả của thôn làng hồn hậu, ngược lại trong tôi lúc nào cũng sục sôi một nỗi buồn tủi trộn lẫn căm hờn.<br />
Bởi vì phía bên phải cách chỗ tôi ngồi khoảng ba trăm thước là khuôn viên một trường tiểu học. Nơi đó mỗi ngày hai buổi vang vang tiếng cười đùa nô giỡn của đám trai gái cùng trang lứa. Nhìn chúng phơi phới hồn nhiên mà lòng tôi quặn thắt. Tôi thèm được đến đó, thèm chạy nhảy nói cười, thèm hòa nhập vào không khí tươi khỏe hân hoan kia. Nỗi thèm khát mãnh liệt đến độ có lúc tôi quên bẵng đôi chân tật nguyền, chồm người đứng dậy, đến khi mất thăng bằng ngã nhào mới bàng hoàng nhận ra tôi không giống chúng nó, chẳng thể là chúng nó. Và rồi tôi bật khóc, đau đớn, tủi nhục, tức tưởi. Ðôi chân khốn nạn. Ðôi chân như hai nhánh tre gầy cong vòng với hai bàn chân chân thiếu ngón. Ðôi chân&#8230; Trời ơi, đôi chân&#8230; Tôi nguyền rủa số phận, tôi nguyền rủa những người đã sinh thành ra tôi, tôi nguyền rủa cả những đứa trẻ may mắn kia.<br />
Suốt buổi, tôi bò nhoài trên nền đất ẩm, như một con chó bị trọng thương lê lết vật vả từ góc này qua góc kia của chái hiên với một cái đầu đã điên loạn vì khổ đau. Khắp người tôi đất cát nhem nhuốc và nước mắt vẽ trên khuôn mặt gầy xanh những đường vằn vện bẩn thỉu.<br />
Chiều xuống, bọn trẻ tan học ra về, khuôn viên ngôi trường trở nên yên tĩnh, rộng mênh mông. Một con sáo đáp đậu trên đỉnh chiếc cọc gỗ hàng rào cất tiếng hót lảnh lót. Mây màu xám đục dâng lên phía sau rặng tre. Phút chốc bầu trời chùng thấp u ám. Sắp mưa. Tôi muốn bò vào nhà nhưng rồi mệt quá đành ngả người xuống chân vách, thiếp đi. Văng vẳng từ cõi mịt mù, tiếng mưa rơi rào rào rất nhẹ trên mái tôn. Tiếng mưa như một điệp khúc lê thê không thay đổi âm độ ru tôi chìm hẳn vào giấc ngủ, dù ở chỗ tối tăm nào đó trong khối óc mù lòa, tôi vẫn cảm nhận được cái lạnh đang thấm dần vào da thịt, có lẽ do nước mưa từ chái hiên nhỏ xuống, mang theo bùn đất văng tung tóe khắp thân thể.</p>
<p>Trong giấc ngủ nhọc nhằn, tôi mơ thấy mình đứng bật dậy, chạy nhanh qua miếng sân nhão sình. Bầu trời ửng sáng, mây đen phút chốc tan nhanh và nắng bỗng vàng óng miếng sân chơi. Bọn học sinh từ các lớp học túa ra, chúng vây thành vòng tròn chung quanh tôi. Một đứa nói,<br />
“Ðến phiên con Thục. Nhắm mắt lại. Tao đếm đến mười mới được mở nghe không?”<br />
Tôi đưa hai bàn tay bịt kín đôi mắt.<br />
“Một&#8230; Hai&#8230; Ba&#8230;”<br />
Tiếng ”mười” vừa dứt, tôi mở bừng mắt. Tất cả đều biến mất. Trước mặt tôi chiếc lon sữa bò móp méo đứng trơ vơ trên nền đất nện. Tôi quay đầu chung quanh kiếm tìm. Có thể một hai đang núp phía sau cánh cửa kia. Tôi ước tính khoảng cách từ chiếc lon đến chỗ khả nghi và khoảng cách đến những nơi khác. Nếu chạy thật nhanh từ đây tới đó và quay về, hy vọng vẫn còn đủ thì giờ bảo vệ chiếc lon. Tôi thực hiện ngay ý định. Vượt nhanh qua miếng sân chơi, tôi bước lên bực thềm. Bỗng cánh cửa bật tung đập mạnh vào mặt&#8230;<br />
Tôi ngã chúi nhủi trên nền đất. Tiếp theo, tiếng hét chói lói của mẹ,<br />
“Con khốn nạn kia, trông người ngợm kìa&#8230;”<br />
Lại thêm một cái tát trời giáng nữa. Ðầu tôi như muốn rời khỏi cổ. Cơn đau lôi tôi ra khỏi giấc mơ, choàng tỉnh hẳn. Trước mặt tôi không có lũ trẻ, không có miếng sân chơi, không có ống lon sữa bò&#8230; Chỉ có hình ảnh sừng sững mẹ với hai mắt trợn ngược, đôi môi mím chặt.<br />
Mẹ đã về.<br />
Mưa rì rào đều hạt. Chái hiên ướt nhẹp. Bùn nước văng tung tóe từ đầu đến chân. Tôi co người lại nhưng vẫn run bần bật, không hiểu vì lạnh hay vì sợ. Mẹ cúi xuống túm tóc tôi lôi xềnh xệch vào nhà, bà với nhanh cây chổi lông gà treo trên vách, quất túi bụi lên tấm thân tơi tả của tôi, miệng không ngớt nguyền rủa hò hét. Những ngọn roi đầu tiên có làm tôi điếng người vì đau thật, song đến một lúc da thịt bỗng tê dại, không đủ sức chuyền cái đau lên óc, tôi trở nên một cây thịt vô cảm giác, chỉ lả người đi, mê tỉnh chập chờn.<br />
Cảnh đó tái diễn không biết bao nhiêu lần trong suốt những năm ấu thơ.<br />
Trước khi mẹ tôi sửa soạn ra chợ -bà có một sạp bán chạp phô ngoài chợ- không bao giờ bà quên hăm he,<br />
“Liệu hồn đấy, chỉ chơi trong nhà thôi, mày mà bò ra ngoài nghịch bẩn thì chết đòn nghe chưa?”</p>
<p>Dĩ nhiên tôi vâng dạ. Tôi nhớ đến những lằn roi chưa tan trên thân thể, tôi nhớ đến khuôn mặt hung dữ và những lời nguyền rủa độc địa. Tôi nhớ hết, tự hứa sẽ không bao giờ ngu dại tái phạm. Nhưng chẳng được bao lâu, lưng bữa nửa tháng, ấn tượng của những trận đòn bắt đầu nhạt thì tiếng cười đùa nô giỡn của đám trẻ từ ngôi trường vọng lại, như một thôi thúc mê muội không ngớt xoáy vào tai. Ðến nỗi cuối cùng chẳng thể cưỡng chống được sức quyến rũ mãnh liệt kia, tôi lại bò ra khỏi cửa. Ðể được nhìn ngó bọn chúng, được ước mơ chạy nhảy hân hoan như bọn chúng, và dĩ nhiên cũng để ”được” tủi hổ phẫn hận vì cái hồn nhiên phơi phới của bọn chúng. Tôi lại điên cuồng vật vã trên nền đất ẩm, lại nhếch nhác mũi dãi và lại đưa thân hứng chịu những ngọn roi tươm máu&#8230;<br />
Một lần, sau trận đòn, mẹ lôi tôi về phía rặng tre, vất vào lùm tre gai,<br />
“Rắn độc cắn chết mày đi, đồ oan gia nghiệt súc.”</p>
<p>Nhìn vào mắt mẹ, tôi hiểu bà đang muốn thế thật. Cùng nỗi đau đớn và sợ hãi, trong lòng tôi dấy lên một niềm căm thù dữ dội. Chính niềm căm thù này đã biến tôi trở thành lì lợm. Tôi chiếu tia mắt tóe lửa về phía mẹ, miệng ngậm chặt, cố nén cơn khóc sắp trào ra. Nếu Trời Phật chí công, kẻ bị rắn độc cắn chết là bà chứ chẳng phải đứa con gái tật nguyền khốn khổ này đâu. Tôi tự nhủ và cầu mong điều đó trở thành hiện thực. Tôi vẽ ra trong đầu hình ảnh mẹ sóng soài trên mặt đất, co giật liên hồi, da tím bầm, mắt trợn trắng đứng tròng, bọt mép sủi tăm hai bên khóe miệng&#8230; Hình ảnh tôi từng nhìn thấy chỗ bờ ruộng hai năm trước, đã xảy đến cho người đàn ông ở cùng xóm. Một cảm giác hả hê chạy rần rật trong mạch máu khiến tôi muốn cười lớn. Không để ý đến thái độ của tôi, mẹ quay lưng quày quả bước vào nhà. Tôi ngồi dậy, những vết roi tươm máu cùng lũ gai nhọn đâm vào da thịt tứ phía, tôi lịm người trong đau đớn. Tôi muốn bò ra khỏi bụi tre gai nhưng đôi chân khốn nạn cứ mềm èo như hai cọng bún, nhất định không tuân theo ý chí. Quay cuồng một lúc lâu, tôi vẫn chẳng thể thoát được ra ngoài. ” Mặc, cứ nằm đây, thử xem có chết không, cũng mong chết được càng đỡ khổ.”Tôi nhủ thầm.<br />
Một đứa bé tám tuổi, một con vật bất toàn đang phải chống chọi với người mẹ ác độc. Có ở trong hoàn cảnh tôi lúc bấy giờ mới hiểu hết sự tuyệt vọng cũng như thái độ liều lĩnh của tôi.<br />
Chiều xuống nhanh, bóng tối bắt đầu nhá nhem. Gió luồn trong rặng tre u u như tiếng ma gào.<br />
Bỗng có tiếng gầm gừ phía sau lưng.</p>
<p>Tôi giật mình quay ngoắt lại.<br />
Trên đường mòn, một con chó lông đen tuyền đang đuổi theo một con chó khác, nhỏ chỉ bằng nửa, lông rụng gần hết và ghẻ lở nham nhở, lại què mất một chân, chân trái, phía sau. Con chó đen tuy đuổi theo song có vẻ không mấy nhiệt tình, luôn luôn giữ khoảng cách khá xa. Con chó ghẻ thỉnh thoảng dừng lại, quay đầu nhìn như khuyến khích rồi lại lững thững chạy. Ðến gần chỗ tôi ngồi, nó dừng hẳn, lần này nó ngoắc đuôi há miệng sủa ủng ẳng. Con chó đen thận trọng tiến lên. Con chó ghẻ tiếp tục ngoắc đuôi và sủa ủng ẳng. Con chó đen tiến thêm vài bước, ngần ngừ đưa mõm vào háng con chó ghẻ khịt khịt. Bất ngờ nó nhảy chồm lên lưng con chó ghẻ. Tôi giật nẩy mình kinh ngạc khi nhìn thấy ”cái đó” đỏ au, dài ngoằng đang thúc liên hồi vào háng con chó ghẻ. Con vật ốn yếu ghẻ lở kia cố gắng giữ cho thân thể đừng quồ xuống dưới sức nặng của một trọng lượng nặng gấp đôi đang phủ trên lưng. Chiếc chân sau còn lại không ngớt run rẩy chực sụm xuống. Một lúc, con chó đen nhấc chân lên, xoay người lại, và cứ thế, chúng dính vào nhau, cả hai chiếc mõm đều há rộng, lưỡi thè dài ngoằng, phì phò thở&#8230;<br />
Cảnh tượng diễn ra trước mắt khiến tôi bàng hoàng quên cả đau nhức, sợ hãi. Thuở đó, tôi chưa đủ trí khôn để hiểu “hành động” kia nhằm mục đích gì. Nhưng rất rõ ràng, nó là một ấn tượng mãnh liệt khắc đậm trong cân não.</p>
<p>Bây giờ, mỗi lần bố ôm tôi trong lòng, mỗi lần tôi được hít thở cái mùi đàn ông toát ra từ thân thể bố, lắng nghe nhịp đập nhẹ nhàng của trái tim phía sau lồng ngực vạm vỡ, cùng lúc với nỗi đau đớn và sự thèm khát tối tăm mơ hồ, trong trí tôi luôn luôn bật lên hình ảnh kia, hình ảnh con chó què ghẻ lở cố nâng thân hình còm cõi của mình, cộng thên trọng lượng của con chó đen trên một chân sau run rẩy. Nó khổ sở hay sung sướng? Tại sao? Bởi động lực nào nó ưng thuận một cách quá nhọc nhằn ”công việc” đó? Và tôi nữa, tại sao hình ảnh kia lại hiện về với tôi mỗi lần nằm trong vòng tay bố?<br />
Tôi không đủ khả năng để phân tích sự liên hệ kỳ lạ giữa hai sự cố.</p>
<p>Nắng bắt đầu thắp sáng những đỉnh cây trong công viên.<br />
Một chiếc xe từ đường lớn rẽ vào lối đi tráng xi măng. Ðậu lại. Từ trên xe cặp trai gái bước ra, họ dìu nhau ngồi xuống cạnh một gốc cây. Người đàn ông quàng tay qua vai cô gái, vít đầu cô ta xuống. Hai người hôn nhau. Chiếc hôn kéo dài rất lâu. Bàn tay người đàn ông luồn trong áo đứa con gái. Tôi nhìn không chớp mắt hoạt cảnh đang diễn ra. Tôi nhìn, và khắp người nổi gai, rờn rợn. Bỗng nhiên tôi nghĩ đến bố. Tại sao bố mà không một người nào khác? Tôi chẳng dám triển khai câu hỏi. Tôi sợ. Có điều gì trong ý nghĩ tôi về bố. Một điều gì&#8230; Bắt đầu từ bao giờ?<br />
Kể từ buổi chiều mẹ vất tôi ngoài bờ tre, tám tháng sau bố đến với mẹ. Số phận tôi, nhờ bố, khá hơn trước rất nhiều. Tôi được bố mua cho một chiếc xe lăn và được đến trường. Tôi học giỏi. Ðiều đó cũng dễ hiểu. Tám tuổi, tính ra tôi học chậm hơn các trẻ con cùng lứa những hai năm, một phần khác, nếu không vin vào chuyện học hành tôi còn biết sử dụng thì giờ vào việc gì? Mẹ không còn đánh đập và ít nguyền rủa tôi như trước. Sự thù hằn mẹ trút lên đầu tôi bắt nguồn từ người cha ruột mơ hồ nào đó của tôi, như một cách trả thù, đã dịu xuống nhờ sự hiện diện của bố. Ông mang đến cho mẹ nguồn nhiên liệu là tình yêu để bà thắp sáng lại ngọn lửa thanh xuân tưởng chừng tắt ngấm bao năm. Bà trẻ ra. Nhan sắc của một người đàn bà một con được phục hồi. Kinh tế gia đình cũng khả quan hơn nhiều. Chúng tôi dời nhà xuống phố. Mẹ sang lại sạp chạp phô cho người khác, phụ với bố trông coi một cửa hàng mua bán máy móc điện tử.</p>
<p>Cuối năm tôi mười tuổi, bố mang gia đình vượt biên.<br />
Huân và đứa em kế liên tiếp ra đời trên xứ sở này.<br />
Bất hạnh cho tôi! Chút tình thương nhỏ nhoi mẹ ban phát trong gần hai năm ngắn ngủi dần dần triệt tiêu khi hai đứa em có mặt. Tôi bị ném trả về vị trí khốn nạn của mình. Vị trí của một đứa con gái tật nguyền xấu xí và vô dụng!<br />
Nhưng dẫu sao tôi cũng đã quen chịu đựng điều bất công. Chỉ có bố. Tội nghiệp bố. Quan hệ giữa mẹ và bố bỗng đổi khác từ ngày sống trên xứ người. Là đàn bà, lại có nhan sắc, mẹ dễ dàng và nhanh chóng hội nhập vào đời sống mới, bà bước qua một giai cấp khác lúc nào không hay. Trong khi mẹ mỗi ngày mỗi tiến nhanh về phía trước thì bố -ngược lại- cứ đứng mãi một vị trí, trở nên lạc hậu và có cơ nguy bị đào thải. Mẹ đi từ chỗ khó chịu về bố đến xem thường, cuối cùng là ngang ngược, hỗn hào. Ban đầu bố có phản ứng, nhưng dần dà có lẽ ông nhận thấy quyền hạn làm chồng đã mất, sự nể trọng không còn, phản ứng càng dữ dội bao nhiêu khoảng cách giữa ông với mẹ càng xa rời bấy nhiêu. Ông đành cắn răng đầu hàng. Cứ thế, ông trở nên một người đàn ông nhu nhược, sợ vợ và dĩ nhiên vô cùng cô đơn.<br />
Hai đứa em mỗi ngày mỗi lớn, chúng có đời sống riêng của chúng, vả, hình ảnh người cha có vẻ ”vô tích sự” như mẹ vẫn thường chì chiết và ”hèn” như chúng vẫn nhìn thấy chẳng nhiều thì ít khiến chúng không mấy hãnh diện về ông. Chúng trở nên xa cách với ông.<br />
Chỉ còn tôi. Tôi hiểu được nỗi khổ, những dày vò đau đớn trong tâm hồn bố. Người đàn ông năng động tháo vát thuở xưa đâu rồi? Ðời sống mới, môi trường mới, những giới hạn không thể vượt qua, đã hủy diệt ”cái tôi” thật của ông, biến ông thành một hình nhân dật dờ phi cá tính. Ông không hèn. Bố không hèn, không bao giờ hèn. Tôi hiểu chứ, hiểu hơn ai hết điều đó. Nhưng bây giờ, cũng như tôi, ông là một người cô đơn và ”vô dụng”. Ðồng bệnh tương lân. Chúng tôi nhìn thấy nhau và cảm thông nhau. Tôi thương ông. Ngoài tình thương của một đứa con dành cho bố, tôi còn thấy ở ông hình ảnh của một người đàn ông lý tưởng. Ông rộng lượng, vị tha, có tâm hồn. Ông xứng đáng để đón nhận cách cư xử khác hơn cái cách mẹ đang làm.</p>
<p>Năm nay tôi hai mươi tuổi. Một đứa con gái hai mươi tuổi dù tật nguyền xấu xí vẫn là người bình thường về mặt tâm trí. Tôi có những ước muốn của tôi, tôi có một mẫu đàn ông để nghĩ về. Mẫu đàn ông đó, có thể do sự tiếp xúc với thế giới bên ngoài quá giới hạn, tôi đã không thể tìm thấy ở đâu khác ngoài căn nhà này, mà bố, là đại biểu.<br />
Cặp tình nhân bây giờ đã ngả xuống cỏ. Người đàn ông gần như nằm hẳn trên đứa con gái. Họ tiếp tục hôn hít sờ soạng khắp thân thể nhau. Chiếc áo đứa con gái tốc lên, phơi hẳn khoảng da sườn trắng muốt. Từ chỗ ngồi của tôi sau cửa sổ đến cặp tình nhân là một khoảng cách khá xa, vậy mà tôi có cảm tưởng như nghe rõ tiếng môi lưỡi quấn quít, tiếng thở gấp hổn hển, và da thịt đứa con gái -không, da thịt tôi- dưới bàn tay của gã đàn ông, đang sần sượng tê dại.<br />
Tôi rướn người lên, nhắm mắt lại. Bàn tay của bố tiếp tục vuốt đều trên mái tóc tôi, bàn tay di chuyển dần xuống, bóp nắn nhè nhẹ phần sau ót. Tôi rùng mình. Mặt vùi sâu trong ngực bố, tôi thì thào,<br />
“Bố ơi, con muốn chết.”<br />
“Không được nghĩ bậy. Con nên tha thứ cho mẹ. Bà ấy có những khổ tâm riêng. Con hãy cố gắng đặt mình vào vị trí của mẹ. Bố rất tiếc đã không giúp gì được cho con, bố cũng rất tiếc đã không làm mẹ vừa lòng. Chúng ta hình như đều bị đặt sai chỗ.”<br />
“Nhưng mẹ phải hiểu đâu phải lỗi tại con. Bố, cha ruột của con là ai? Ông ấy còn sống hay chết rồi? Tại sao ông ấy với mẹ xa nhau? Tại sao không bao giờ con nghe mẹ nói gì về ông ấy ngoài những lời nguyền rủa cay độc?”<br />
“Bố nghĩ đó là một kỷ niệm đau đớn, một vết thương luôn mưng mủ mẹ muốn quên nhưng chẳng thể quên được, bởi vì, bất hạnh cho con, con là duyên cớ nhắc nhở, khơi động vết thương kia thường trực mỗi ngày.”<br />
“Vì vậy, con muốn chết.”<br />
“Vấn đề không phải ở đó, nguyên nhân không đến từ con. Chỉ là cái cớ, con hiểu không? Con chỉ là một cái cớ. Mẹ không thấu suốt điều này, vì thế mẹ làm khổ con, đã đành, mẹ còn làm khổ chính mẹ. Nếu con thấy được điều bố vừa nói, lòng con sẽ nhẹ nhàng hơn, và do đó con sẽ có đủ lý do để tha thứ cho mẹ.”<br />
“Không, con không hiểu, không thấy gì hết. Con căm thù mẹ. Bố ơi, con muốn chết, hoặc mẹ, mẹ phải chết. Bố ơi, như thế là bất hiếu, là súc sinh, nhưng&#8230; nhưng&#8230; ý nghĩ này cứ bám mãi trong đầu con, không thể tẩy xóa. Trời ơi, con khổ quá, con khổ lắm&#8230;”<br />
Bố siết chặt tôi vào ngực, vòng tay bố rắn chắc, tôi có cảm tưởng từng lóng xương, từng sợi gân trong thân thể nhão ra, mềm nhũn. Tôi run lên. Miệng mở ra, tôi áp môi lên khoảng ngực bố, khoảng ngực với lớp vải áo đã ướt sũng nước mắt. Và tôi lại rùng mình.<br />
Mùi mồ hôi đàn ông đầy ngập khứu giác&#8230;</p>
<p>Con chó ghẻ bỗng sủa lên vài tiếng ngắn, chiếc chân sau duy nhất chợt khụy xuống, một cơn run rẩy, tôi nhìn thấy rõ, rất rõ, cơn run rẩy chạy khắp tấm thân gầy trơ xương, đồng thời nó rướn người về phía trước, chiếc mõm nhê nhếch nước dải đang trào ra hai bên khóe, đôi mắt đục nhờ vô hồn. Một lúc, chúng rời nhau. Con chó đen bước chậm một vòng quanh con chó ghẻ rồi lững thững lủi vào đám lau cao. Con chó ghẻ nằm xuống, dạng chân quay đầu liếm quanh háng. Lại sủa ăng ẳng vài tiếng ngắn, gác mõm lên chân trước, đôi mắt khép hờ, lim dim như ngủ. Ðám ruồi xanh bay loạn, bu đen trên những mảng ghẻ tươm mủ. Con chó ghẻ thỉnh thoảng lắc mình, đuôi và hai tai ve vẩy&#8230;<br />
Tôi ngậm lớp vải ướt sũng nước mắt giữa hai hàm răng. Tôi thèm ngậm sâu hơn, xuyên qua lớp vải, khoảng da thịt căng mềm ngực bố. Từ bao giờ, hai cánh tay tôi đã quàng quanh người ông, ngực tôi ép sát, khuôn ngực trinh nữ nhọn cứng, hai đầu vú cạ trên lớp vải, nhột điếng.<br />
Ðứa con gái bỗng xoay người lật gã đàn ông xuống. Cô ta nằm hẳn trên thân thể gã. Hai mông nhô cao, nhấp nhỏm như trong tư thế ái ân. Lần này cô ta cười lớn, tiếng cười vọng đến tận chỗ tôi ngồi.</p>
<p>Lác đác khắp khu vực công viên có thêm vài cặp nữa.<br />
Ngồi, nằm, quấn quít. Nắng lên cao, bóng mát của những tàng cây ngả dài trên cỏ. Hôm nay cuối tuần, công viên hứa hẹn sẽ đông như mọi cuối tuần khác.<br />
Ba tháng, kể từ ngày dọn về chỗ ở mới, tôi gần như không bước ra khỏi nhà. Thú vui duy nhất của tôi hiện giờ là ngồi đây, có khi từ sáng tinh mơ đến chiều, nhìn ra khu công viên, theo dõi từng cặp tình nhân, thả hồn theo mọi hành động của họ và mơ mộng. Tôi đang dùng chữ ”mơ mộng”. Ðúng không? nếu gọi những điều nẩy ra trong đầu tôi suốt nhiều tháng nay là ”mơ mộng” thì kể cũng tội nghiệp cho ngôn ngữ loài người. Mơ mộng, một đứa con gái đang tuổi dậy thì, đã phát triển đầy đủ, có những đòi hỏi mãnh liệt của xác thịt, từ đó vẽ ra trong đầu bao nhiêu ảnh tượng tình ái đắm say, những ảnh tượng rất gần với cuộc đời thường nhưng cũng vô vàn lãng mạn, những ảnh tượng gắn liền cùng tiếng cười trong vắt thủy tinh, với cỏ, với hoa, với khoảng trời xanh lồng lộng, với suối nguồn vi diệu róc rách, với tóc thơm môi ngọt gọi mời&#8230; Còn tôi, tôi vẽ ra cái gì trong đầu? Sự đòi hỏi mù tối của thân xác trộn lẫn với niềm căm thù sâu sắc? Như thế có thể nào gọi được là mơ mộng? Tôi tật nguyền ở nhân dáng, đã đành, hình như tôi còn tật nguyền cả trong tâm hồn, óc não. Tôi, có lẽ đúng như lời mẹ thường nguyền rủa, một con thú, một kẻ ”nửa người nửa ngợm”. Lời nguyền rủa đó mẹ lặp đi lặp lại không biết bao nhiêu lần từ lúc tôi mới có trí khôn đến bây giờ, đã như một vết ố trong tâm hồn, đã như một sự kiện tất nhiên, riết rồi chính tôi cũng không dám tin mình đang là một con người. A, nếu quả thật tôi không là một con người như lời mẹ thì cớ chi tôi cứ băn khoăn mãi, khốn khổ mãi, tự dằn vật mãi? Tôi không cùng ”giai cấp” với con người, cớ chi tôi không sống theo cách của tôi, sống theo điều tôi muốn? Nhưng tôi muốn gì? Có thật tôi đang yêu bố? Có thật tôi đang nhìn thấy ở người đàn ông này cái nhu cầu cần thiết khả dĩ lấp đầy được ước vọng của tôi? Và bố, bố nghĩ về tôi thế nào? Một đứa con gái bất hạnh đáng thương xót? Một kẻ đồng điệu có khả năng chia sẻ tâm sự thầm kín? Một thân xác đàn bà -ngoại trừ đôi chân tật nguyền- cũng tròn vẹn đầy đủ như bất cứ người đàn bà nào khác? Tôi xấu, phải. Tôi bất toàn, phải. Nhưng tôi cũng là đàn bà. Ðàn bà, đàn bà&#8230; Chứ sao? Tôi có cái quyến rũ của một con cái, một con cái trong mùa động cỡn, người ngợm tôi chắc phải tiết ra mùi vị nào đó, mà bọn đàn ông, kể cả bố, cũng phải ngửi thấy chứ?</p>
<p>Bóng mát tàng cây chỗ cặp tình nhân thâu ngắn lại. Cỏ, trong nắng, xanh mướt một màu xanh lấp lánh. Gã đàn ông lần tay xuống phía dưới, lớp vải váy được vén lên, hai bắp chân to khỏe của đứa con gái nổi rõ trên nền cỏ mượt. Bàn tay gã đàn ông luồn sâu, đứa con gái oằn mình, cô ta rướn người bấu chặt hai cánh tay trên tấm lưng rộng. Tôi như nghe rõ tiếng thở của đứa con gái. Tiếng thở dồn dập, gấp rút&#8230;<br />
Tôi siết mạnh vòng tay quanh lưng bố, thì thào,<br />
“Bố ơi&#8230;”<br />
“Gì con?”<br />
“Tuổi tác có phải là một trở ngại giữa trai gái không bố?”<br />
“Con hỏi, để làm gì?”<br />
“Trả lời con đi bố.”<br />
“Có thể có &#8230; Mà cũng có thể không. Bố, bố chẳng hiểu, bố không rành lắm đâu.”<br />
“Bố ơi&#8230;”<br />
&#8230;<br />
“Con&#8230; Con&#8230; Con&#8230; yêu bố&#8230;”<br />
“Ờ, bố biết. Bố cũng thương con lắm, thương hơn cả hai anh em Huân nữa.”<br />
“Không phải&#8230; Con yêu bố. Một người đàn bà yêu một người đàn ông. Bố hiểu chứ? Ðàn bà&#8230; Ðàn ông&#8230;”<br />
“Ồ, Ồ&#8230; Con đang nói gì?”<br />
“Con yêu bố&#8230; Yêu bố&#8230; Yêu bố&#8230;. Yêu con đi, bố, yêu con đi&#8230;”<br />
Tôi nói, vấp váp. Tôi nói, mê loạn. Tôi nói, điên dại. Bố đẩy tôi ra, nhìn xoáy vào mắt tôi, tia nhìn vừa kinh ngạc, vừa xót thương. Tia nhìn khiến cơn điên trong tôi trào vỡ. Tôi chồm tới, ôm siết bố. Hai cánh tay tôi như được tăng cường thêm sức mạnh, tôi cuống quít ghì chặt mặt bố vào ngực, khuôn ngực con gái, khuôn ngực dậy thì, khuôn ngực căng nhức những đêm thao thức. Tôi nghe rõ hơi thở bố dồn dập rối loạn, phà nóng sau lớp vải mỏng.<br />
“Ðừng con, không được. Bình tĩnh lại con, bình tĩnh&#8230;”<br />
Nhưng giọng nói bố đã bất bình thường, đã vấp váp. Mùi vị đàn bà, mùi vị của một con cái, chứ sao, tôi biết, không thể cưỡng chống được đâu. Trong tôi, một niềm hoan lạc dâng lên. Bố phải thua, bố phải đầu hàng, bố phải ngả vào ước muốn của tôi. Ý nghĩ khiến tôi sung sướng dại người. Ðôi chân tật nguyền, đôi chân như hai nhánh tre gầy chẳng nghĩa lý gì hết, và khuôn mặt tôi, khuôn mặt xấu xí, có vẻ man rợ đần độn cũng chẳng nghĩa lý gì hết. Tôi đang là một con cái, tôi đang toát ra cái mùi vị đàn bà. A, bây giờ thì tôi hiểu, mùi vị đàn bà, mùi vị của một con cái! Con vật gầy nhom ghẻ lở, què một chân, miệng há hốc, nước dãi nhê nhếch hai bên khóe, chiếc chân sau độc nhất run lẩy bẩy cố chống đỡ để đừng quồ ngã dưới sức nặng của một trọng lượng gấp đôi đang phủ trên lưng. Con vật thở phì phò, hai mắt đục nhờ, đôi tai cụp xuống. ” Cái đó” thúc liên hồi. Cơn rùng mình chạy khắp châu thân con vật khốn nạn. Tiếng sủa ủng ẳng tắt nghẹn trở thành tiếng gầm gừ. Tôi hiểu. Tôi hiểu. Tôi hiểu rồi. Mùi vị của con cái! Bỗng nhiên tôi muốn bật cười lớn. Tôi hình dung khuôn mặt mẹ, khuôn mặt trắng hồng, hai gò má ửng đỏ, đôi mắt đen nhánh ướt tình, đôi môi bóng nhẫy, nụ cười nở bung những chiếc răng trắng lấp lánh. Mẹ nhìn tôi, nhìn chúng tôi, nhìn người đàn ông đang nằm trong vòng tay tôi, đang vùi mặt giữa hai trái vú tôi, hai trái vú căng cứng, nhô lên hai đầu nhọn, mọng đỏ. Chiếc áo đã tuột ra quá nửa, hàng nút áo mở bung, da thịt mịn mướt chỗ khoang bụng&#8230; Ðôi mắt đen nhánh không còn ướt tình mà trợn ngược chỉ còn tròng trắng, khuôn mặt hồng hào trở nên tái xám, quai hàm bạnh ra, tiếng nói rít qua hai hàm răng nghiến chặt,<br />
“A, chúng mày, chúng mày&#8230;”<br />
Tiếng rít tắc nghẽn, chìm ngập trong cơn giận đang dâng lên phía sau lồng ngực phơi căng sinh lực kia,<br />
“A&#8230; A&#8230; Chúng mày&#8230;”</p>
<p>Rồi sao nữa? Tôi thế đấy. Có sao không? Tôi thế đấy. Bộ tôi không có quyền sung sướng, bộ đặc quyền sung sướng chỉ dành riêng cho bà, cho những người toàn vẹn như bà hay sao? Bao nhiêu năm bà hành hạ tôi, bà nguyền rủa tôi, bà xem tôi không hơn một con vật. Một con vật ghẻ lở, què quặt, hôi thối. Tôi ngước nhìn bà, thách thức. Tia nhìn tóe ra hàng nghìn tia lửa thù hận. Tôi thấy mẹ rùng mình, bà úp mặt vào hai bàn tay, bật khóc. Lần đầu tiên mẹ khóc. A, mối hận lòng của tôi, như thế, đã được trả. Bà phải trả chứ, mẹ đã vay của tôi quá nhiều. Hai mươi năm, sơ sinh đến trưởng thành, bao nhiêu đắng cay, tủi cực, bao nhiêu đau đớn không cùng. Mẹ phải trả. Phải trả&#8230; Tôi kéo đầu bố lên, hôn đắm say trên đôi môi đang run rẩy&#8230; Mẹ ngã vật ra trên mặt thảm, thân thể co giật liên hồi, Rắn độc cắn chết mày đi&#8230; Ðồ oan gia nghiệt súc&#8230; Rắn độc, rắn độc, rắn độc&#8230; Con rắn màu xanh, dài ngoằng, cái đầu dẹp hình tam giác, miệng há rộng, lưỡi như một cây kim nhọn&#8230; Con rắn phóng tới&#8230; Mẹ dẫy dụa tuyệt vọng&#8230;<br />
Cặp tình nhân đứng dậy. Hai người trở ra xe. Chiếc xe bò chậm khỏi lối đi tráng xi măng, khuất bóng chỗ khúc quanh.</p>
<p>Tôi bàng hoàng đưa tay sờ má, vuốt dọc bàn tay xuống khuôn ngực lép. Chung quanh tôi không một tiếng động ngoài tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ treo tường. Mẹ có lẽ đã đi làm, bố có lẽ còn đang ngủ, hai đứa em có lẽ đã đến trường. Chỉ còn một mình tôi và một cái đầu đậm đặc những ảnh tượng tật nguyền.<br />
Nắng thu gọn bóng mát của tàng lá chung quanh gốc cây. Hai đứa trẻ đuổi nhau, chúng chạy về phía tôi. Ðến chỗ hàng rào sắt ngăn chia phần đất của công viên với khu vực căn nhà, thằng bé trai bắt kịp đứa con gái. Chúng ngã nhào trên thảm cỏ mượt. Cả hai cùng cười lớn. Tiếng cười dội vang trong bầu khí yên tĩnh.</p>
<p>Buổi trưa bên ngoài cửa sổ rực rỡ nắng.</p>
<p><b>Khánh Trường</b></p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><b>Nói chuyện với nhà văn, họa sĩ Khánh Tr</b><b>ườ</b><b>ng</b></h3>
<p><strong>Đỗ Lê Anh Đào</strong><b><br />
</b></p>
<p> <em>Họa sĩ, nhà văn Khánh Trường đã viết và vẽ không ít từ nhiều thập niên. Qua quá trình đó, ông hãnh diện và hài lòng nhất những tác phẩm văn chương và hội họa nào? Hay là giai đoạn sáng tác nào đáng nhớ nhất của ông?</em><br />
Như tôi đã có lần trả lời Y Sa trong chương trình Văn Học Nghệ Thuật của Radio VNCR cách đây không lâu, rằng tác phẩm ưng ý nhất của bất cứ nghệ sĩ nào, mãi mãi sẽ là bức tranh (hay bản văn, ca khúc&#8230;) sẽ ra đời trong tương lai. Bởi chưng, tôi nghĩ, nghệ sĩ là kẻ luôn phủ nhận chính mình, để dấn thân vào những thử thách mới. Hắn không bao giờ bằng lòng với thành quả vừa đạt được. Nói cách khác, bằng lòng là dừng lại, là chết, là cạn kiệt nguồn sáng tạo. Có thể ví von: nghệ thuật là loại đường đi không đến, và người nghệ sĩ là kẻ luôn luôn trên đường, hắn đi mãi, đi hoài, cho đến ngày xuôi tay, trong khi đích đến vẫn mịt mù, thăm thẳm. Tuy nhiên, nếu buộc phải trả lời cụ thể câu hỏi của cô, tôi sẽ không ngập ngừng: bức tranh gây xúc động lớn trong đời là bức tranh tôi bán được lần đầu tiên. Nhờ (hay bị) sự cố này, tôi quyết định chọn hội họa, như một nghiệp dĩ, đến hôm nay.<br />
Và giai đoạn sáng tác đáng nhớ nhất là ngày tôi đã tập cầm cọ lại được sau bạo bệnh. Đáng nhớ, vì chưa bao giờ trong đời tôi cực nhọc như thế nhưng vui như thế khi vẽ hoặc viết. Cô cũng biết tôi bị stroke 3 lần, đưa đến hậu quả tay chân chỉ sử dụng được khoảng 30%. Chân đi đứng nghiêng ngã, phải ngồi xe lăn; tay vụng về, cầm nắm vật dụng nếu thiếu chú tâm, sẽ rơi, đổ; tệ hơn, không viết được, chỉ có thể gõ chữ trên phím computer bằng một ngón duy nhất của bàn tay phải,, chữ dược chữ mất vì không làm chủ được tứ chi. Giọng nói ngọng nghịu, phát âm khó khăn. Mắt lưỡng thị, chỉ nhìn và nhận biết mọi sự vật qua một&#8230; màn sương, và chỉ đọc được chữ trên màn hình computer với điều kiện phải phóng lớn chữ thành tối thiểu size 14. Chưa hết, hơn một năm trước tôi lại bị thêm bệnh ung thư thanh quản và loét bao tử. Sức khỏe đã sa sút càng tệ hại trầm trọng, có thể “lên tàu” bất cứ lúc nào. Hầu hết mọi người đều cho rằng tôi có một nghị lực phi thường, mới có thể khắc phục được nghịch cảnh để cầm cọ, cầm viết lại. Riêng tôi, thật thà bộc bạch với cô, tôi hiểu mình hơn ai hết, tôi chỉ là một người bình thường như tất cả những người bình thường khác. Không chừng còn tệ hơn nữa <a href="http://archive.damau.org/index.php?option=com_content&amp;task=view&amp;id=1108&amp;Itemid=10171##">kia</a>. Cô hẳn biết, bọn nghệ sĩ vốn nhạy cảm, yếu đuối, dễ đầu hàng, buông xuôi. Nhưng hoàn cảnh đã du tôi vào thế không còn chọn lựa nào khác, nếu muốn thoát khỏi tâm trạng trầm uất có nguy cơ dìm chết tôi trong tuyệt vọng. Nói cách khác, tôi chưa thể chết ngay được (ở xứ sở y khoa tân tiến vào bật nhất này, chết, không dễ), nghĩa là tôi vẫn phải tiếp tục sống, mà đã sống thì dù muốn dù không phải bằng mọi giá thích nghi với đời sống. Đối với một nhà văn, một họa sĩ, còn con đường nào khác hơn vẽ và viết? Người xưa nói: thế cùng tất biến. Tôi nghĩ, bất cứ ai bị du vào hoàn cảnh tương tự cũng sẽ phải làm như tôi mà thôi. Vì thế, chả có gì đáng hãnh diện cả!</p>
<p> <em>Triển lãm Phục Sinh xong rồi, ông sẽ tiếp tục vẽ và viết chứ? Hay ông nghỉ một thời gian?</em><br />
Tiếp tục chứ. Dù, như mọi lần, khi đẩy chiếc xe lăn đến trước màn hình computer hay giá vẽ là tôi hiểu mình lại sắp vật lộn với vô vàng khó khăn, cực nhọc. Nhưng nếu không vẽ và viết, tôi biết dùng thời gian để làm gì? Nhất là chứng trầm uất chắc chắn sẽ tái phát nếu tôi không hướng suy nghĩ của mình đến những mục đích tích cực. Hiện tôi đang vẽ một loạt tranh mới, có lẽ sẽ triển lãm cuối năm nay. Riêng viết, tôi đã hoàn tất phần đầu của cuốn hồi ký. Nhưng tôi đang phân vân tự hỏi có nên tiếp tục hay không? Khi mới khởi sự, tôi rất hăm hở, song càng viết tôi càng bị cuốn vào dòng sự kiện, những sự kiện liên quan đến văn học nghệ thuật thì ít mà dây mơ rễ má đến bản chất, cá tính, những mặt tiêu cực của giới văn nghệ sĩ thì lại quá nhiều. Có nên chăng? Ích lợi gì cho văn học sử? Có lẽ tôi sẽ viết lại, khởi đi từ một hướng khác.</p>
<p> <em>Nhìn vào phong trào hội họa và văn chương VN bây giờ ở hải ngoại nói chung, Hoa Kỳ nói riêng, ông có cảm nghĩ gì? Ông thấy những nhà văn, thơ và họa sĩ trẻ ở đây đang thành công và thất bại thế nào?</em><br />
Về văn chương, không có những thành tựu và những bứt phá ngoạn mục như những thập niên 80s, 90s của thế kỷ trước, với những Lê Thị Huệ, Vũ Quỳnh Hương, Phan Thị Trọng Tuyến, Nguyễn Thị Ngọc Nhung, Thế Giang, Đỗ Kh., Ngô Nguyên Dũng, Ngọc Khôi, Trần Vũ, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Nguyễn Ý Thuần, Cao Xuân Huy, Nguyễn Thị Thanh Bình&#8230; và rồi Lê Minh Hà, Lê Thị Thấm Vân, Mai Ninh, Miêng, Phạm Hải Anh&#8230; 30 năm sau 1975, thế hệ thứ nhất đã và đang theo nhau đi vào tịch lặng. Thế hệ một rưỡi, vì nhiều lý do, khách lẫn chủ quan, cũng lần lượït buông viết, hay chỉ sáng tác cầm chừng, thiếu hào hứng. Thế hệ tiếp theo chỉ là những cố gắng đơn lẽ, không tạo thành phong trào, mất hẳn không khí sôi nổi, từ người viết lẫn người đọc, vốn là những yếu tố tối cần thiết cho sinh hoạt văn học. Hơn 10 năm trước, trong một trả lời phỏng vấn, tôi tiên đoán đến một ngày nào đó văn học VN hải ngoại sẽ nhập vào dòng chính tại quê nhà, nếu có nhà văn VN hải ngoại nào còn muốn sử sụng ngôn ngữ Việt như một phương tiện để chuyên chở tư duy. Lúc đó cụm từ “nhà văn hải ngoại” hay “văn chương hải ngoại” sẽ không còn nữa, thay vào đó, duy nhất, một cụm từ, “nhà văn VN”, khác chăng, chỉ địa chỉ cư trú. Và do địa chỉ cư trú, những nhà văn VN sống ngoài quê hương, chịu tác động bởi giáo dục và môi trường văn hoá bản địa, sẽ mang vào văn chương Việt những sắc thái đặc biệt, làm phong phú, đa dạng thêm cho văn học VN. Hình như Đỗ Lê Anh Đào và các bạn cùng thế hệ đang làm công việc này. Với tư cách là người của những thế hệ trước, tôi vui và mong các bạn tiếp tục “chân cứng đá mềm”.<br />
Riêng lĩnh vực hội họa, hiện có khá đông họa sĩ trẻ VN ở khắp nơi trên thế giới. Họ có những thành tựu. Tuy nhiên, đó chỉ là những thành tựu nhỏ, cục bộ, chưa đạt tầm vóc toàn cầu. Ngôn ngữ hội họa vốn vô biên giới. Nó biểu trưng cho cái đẹp. Đứng trước cái đẹp, ai cũng có thể cảm được, dù là người Âu, Á, hay Phi châu. Đó là ưu thế của hội họa. Đó cũng là khó khăn của hội họa. Vì là ngôn ngữ vô biên giới nên thành tựu của hội họa phải là thành tựu của nhân loại, không riêng cho chủng tộc nào. Chức năng này xem ra quá lớn, một họa sĩ nếu tài năng không xuất chúng, sẽ mãi mãi không vượt thoát được vòng đai cộng đồng của mình, hay lớn hơn, biên giới quốc gia đã khai sinh ra mình.</p>
<p> <em>Ông có lời khuyên gì với những họa sĩ trẻ đang còn miệt mài trên con đường sáng tác?</em><br />
Tôi không dám “khuyên”, chỉ góp ý thôi. Thứ nhất, phải sáng suốt để nhận biết mình thực sự có tài hay không. Có tài, hãy kiên trì theo đuổi, bất chấp khó khăn. Ngược lại, hãy chọn hướng đi khác để khỏi lãng phí thời gian. Thứ hai, khi đã quyết định chọn hội họa như một nghiệp dĩ thì phải vẽ, vẽ, và vẽ. Không có tài, dù vẽ suốt đời cũng chỉ để&#8230; vất đi. Có tài mà không rèn luyện, cũng vất đi.</p>
<p> <em>Ông có cảm nghĩ gì về triển lãm Phục Sinh vào ngày 4/2 vừa qua? Ông có bằng lòng với kết quả không? Điều gì làm ông hứng thú nhất về cuộc triển lãm?</em><br />
Về mặt nghệ thuật, như đã nhiều lần nói, tôi không bao giờ hài lòng với những gì đã làm xong. Luôn luôn tôi vẫn hy vong mình có thể làm tốt hơn. Gần 40 năm nay tôi vẫn nghĩ vậy mỗi lần đứng trước khung bố. Thế mà, cũng gần 40 năm nay, khi vừa buông cọ, tôi lại thất vọng! Tôi cho rằng kinh nghiệm này không chỉ đến với cá nhân tôi, mà có lẽ với tất cả những nghệ sĩ khác, mọi nơi, mọi thời đại.<br />
Điều làm tôi hứng thú và cảm động nhất là tấm lòng của mọi người đối với cá nhân tôi, từ đồng nghiệp, các họa sĩ, nhà văn, nhà báo, đến các cơ sở truyền thông. Đặc biệt là các họa sĩ Nguyên Khai, Nguyễn Đình Thuần, Nguyễn Việt Hùng, Ann Phong, Dương Ngọc Sum, điêu khắc gia Dương Đình Hùng. Và những anh chị em trẻ thuộc hội Văn học nghệ thuật Việt Mỹ VAALA, nhất là Đỗ Lê Anh Đào, tạm gác lại công việc riêng, để từ Las Vegas về quận Cam, cùng với Y Sa thường trực trông coi phòng triểm lãm suốt 2 ngày mở cửa. Những tấm lòng này mãi mãi tôi khó quên.</p>
<p> <em>Khách thưởng ngoạn có chia sẻ những suy nghĩ gì về gì về cuộc triển lãm của ông? Chắc là có rất nhiều bạn bè văn hữu và nghệ sĩ đến thăm? Họ nói cảm tưởng của họ về cuộc triển lãm ra sao?</em><br />
Tôi may mắn được nhiều anh em trong giới văn nghệ thương mến, không phải vì tài năng, mà có lẽ vì, nói theo ngôn ngữ giang hồ, tôi&#8230; chịu chơi, sống và đối đãi hết mình với bằng hữu. Nhờ vậy, như nhiều lần triển lãm khác, anh em tham dự, hưởng ứng khá đông, họ rộng lượng bỏ qua nhiều nhược điểm, ắt hẳn không ít, trong giao tế cũng như trong nghệ thuật. Cho nên qua dư luận, từ gặp gỡ trực tiếp đến báo chí, truyền thông, đều tốt đẹp, khích lệ. Đối với một nghệ sĩ, đó là phần thưởng quý giá nhất, tạo hưng phấn giúp tôi tiếp tục làm việc, dù bây giờ, sau bạo bệnh, nhiều lần chết đi sống lại, và ngày chạm mặt với hư vô hẳn không còn xa, tôi thấy rất rõ sự phù du, giả ảo của mọi thứ, mọi điều.<br />
<b></b></p>
<p> <em>Hơn 15 năm trước ông đã thành lập Hợp Lưu, sau đó HL trở thành một trong vài diễn đàn văn học uy tín và giá trị nhất ở hải ngoại. Làm HL trong một thời gian thật lâu như vậy, ông có thể chia sẻ những trở ngại lớn nhất, những bài học quý giá nhất, và những niềm vui đáng nhớ nhất trong quá trình Hợp Lưu?</em><br />
Nhiều lần, đó đây, suốt 15 năm qua, tôi đã nói đến lý do, động lực thúc đẩy tôi khai sinh tập san Văn học nghệ thuật biên khảo <em>Hợp Lưu</em>. Tuy vậy tôi nghĩ cũng nên nhắc lại, vì có hiểu lý do, động lực ra đời của <em>Hợp Lưu</em> mới thấy được vô vàn trở ngại, khó khăn HL đã gánh vác suốt quá trình tồn tại.<br />
15 năm trước, quan hệ giữa trong và ngoài không như bây giờ. Ngày ấy, thái độ của người Việt chống cộng ở hải ngoại rất cực đoan. Các văn phòng bán vé máy bay về VN, các chợ bày hàng lương thực có xuất xứ từ VN bị biểu tình, tẩy chay. Nhất là báo chí, sách vở, nếu “của Việt Cộng” tất nhiên không thể lưu hành đã đành, ngay cả sách báo của “người Việt Quốc gia” khi nhắc đến các nhân vật trong nước, không loại trừ giới văn nghệ sĩ, mà không kèm theo thái độ bỉ thử là lập tức bị chụp lên đầu một cái nón cối! Trong môi trường ấy bỗng nhiên xuất hiện một tờ báo, chỉ cái tên thôi, đã “không thể dung thứ”, nói chi đến nội dung “cực kỳ phản động”<br />
Tôi xuất thân là một người lính của miền Nam, trong một binh chủng “nhiều nợ máu với nhân dân”, binh chủng Nhảy Dù. Với “sơ yếu lý lịch” này, lẽ ra tôi phải “căm thù sâu sắc” chế độ hiện tại ở VN.Khổ nỗi, sau tháng Tư 1975, tôi sống 10 năm dưới chế độ Cộng sản, đã trải qua nhiều tình huống, đã thấy trong chế độ ấy rất nhiều tiêu cực về mặt xã hội, kinh tế, nhân quyền, song trên lĩnh vực văn học nghệ thuật, nếu bình tâm đãi lọc, thì giữa đống đá sỏi lổn nhổn thượng vàng hạ cám, vẫn có thể tìm thấy những hạt kim cương. Các thể chế chính trị rồi sẽ qua đi, nhưng văn học nghệ thuật sẽ còn tồn tại dài lâu, nhiệm vụ của chúng ta hôm nay là phải tìm cách bảo tồn, xiển dương những giá trị kia, không phân biệt phe phái, chính kiến. Một tác phẩm có giá trị thực sự sẽ nằm ngoài, nằm trên mọi chế độ. Nó không còn là của Quốc gia hay Cộng sản. Nó là gia tài văn hóa chung của dân tộc. Quan niệm như thế, vào thời điểm ấy, là không thể chấp nhận. Vì thế, suốt 3 năm đầu, HL trở thành vùng “oanh kích tự do” không chỉ của nhiều tờ báo, cơ sở truyền thông ở hải ngoại, mà cả ở VN. Còn nhớ hơn 10 năm trước, lần đầu về nước, tôi đã bị công an văn hóa gọi lên “làm việc” tổng cộng 14 ngày, từ Nam ra Bắc. Nhưng có lẽ nhờ đi đúng hướng và nhất là tôi đã theo đuổi mục đích bằng tất cả thiện tâm, nên dần dần HL trở thành điểm hội tụ của mọi nhà văn sáng giá nhất trong lẫn ngoài. Ngày nay tình huống đã khác xưa, trong giới hạn nào đó, nhiều người cầm bút, ở mọi nơi trên khắp thế giới, bao gồm cả VN nội địa, đã có thể đứng chung trên một diễn đàn văn học, không chỉ ở HL, mà còn ở rất nhiều tờ báo khác, từ báo giấy đến báo “trên trời”, chuyện cách đây 15 năm, tưởng như không thể nào xảy ra. Thành quả đó – nếu có thể xem đó là thành quả – ít nhiều gì HL cũng đã tiên phong góp phần. Sau này, những nhà soạn văn học sử có lẽ sẽ không thể không nhắc đến HL. Trong vô số những việc làm bậy bạ của tôi trong cuộc đời này, chí ít cũng có được một đôi điều không tệ. Đó là niềm vui lớn nhất của tôi.<br />
Riêng những bài học quí giá – tiêu cực lẫn tích cực &#8211; thì rất nhiều, và “bài” nào cũng “nhất” cả. Do giới hạn của số trang dành cho cuộc chuyện trò giữa chúng ta, tôi không thể dông dài, nhưng hứa sẽ “khai” đầy đủ trong hồi ký.</p>
<h3></h3>
<h3><b>Làm báo văn học ở hải ngoại </b><b></b></h3>
<p><strong>Khánh Trường</strong></p>
<p>I. Mai Thảo và tạp chí <b>Văn</b> tục bản tại Hoa Kỳ</p>
<p>Nằm ngay trung tâm ‘Tiểu Sàigòn’, khu building gồm nhiều phòng nhỏ, mỗi phòng được xem như một đơn vị gia cư (chỉ dành riêng cho người già.) Cạnh cầu thang của tầng trên, phía dưới ba con số bằng đồng đã xỉn màu là hai chữ ‘Mai Thảo’ (có lẽ cắt ra từ tạp chí Văn) được dán phủ bằng băng keo trên cánh cửa gỗ nâu sẫm. Cánh cửa luôn đóng kín. Như một qui ước riêng, anh em thân thiết sẽ dễ dàng nhận biết ông có mặt bên trong hay không nhờ vào tấm màn cửa sổ (cạnh cửa chính) kéo ra phân nửa hay phủ kín toàn phần. Một đôi khi cần nghỉ ngơi hoặc không muốn tiếp ai, ông cũng dùng ‘qui ước’ đó thay lời tiễn khách.</p>
<p>Bên trong, một giường cá nhân kê song song sát tường nhìn ra cửa chính. Chỗ chân giường, một kệ gỗ thấp trên đặt vài ba chiếc cốc, cái phin lọc cà phê, chiếc ấm sắt cũ, gói mì ăn liền, phong bánh ngọt, cuốn sách, tập báo&#8230; Dưới gầm kệ: chiếc lò điện tuổi tác chắc không kém cái ấm nước, đôi dép da, cái máy hút bụi loại cầm tay&#8230; Bàn viết sau cửa sổ, trên mặt bàn, những trang bản thảo đang viết dở (thường là mục ‘sổ tay’) nằm ngay ngắn, thường trực, để có thể bất cứ lúc nào cũng cập nhật được những tin tức liên quan đến văn học, chính trị, thời sự trong chu kỳ một tháng. Trọn vì tường phía tay phải nhìn vào từ cửa chính là ba bốn hàng gạch chồng lên nhau, gác ngang qua bằng những tấm ván dài, kín đầy sách. Đa số sách tiếng Việt của văn hữu hoặc nhà xuất bản gửi tặng, xen kẽ vài mươi cuốn sách Pháp. Chiếc tủ lạnh loại cá nhân đặt gần cánh cửa nhỏ ngăn chia ‘phòng khách’ và buồng vệ sinh, phía trên hàng chục chai rượu đã uống cạn, một hai chai đang uống dở. Cạnh đó, chiếc TV 12 in. mở thường trực. Rải rác trên những mặt tường còn lại, nhiều chân dung (ảnh chụp, sơn dầu, phác thảo mực Tàu) của nhà văn do thân hữu thực hiện xen kẽ những ấn bản tranh Van Gogh, Gauguin, Miro, Matisse&#8230;</p>
<p>Căn phòng chỉ vỏn vẹn mười sáu thước vuông, kể cả buồng vệ sinh. Chật. Nhưng tất cả đều ngăn nắp, trật tự, sạch sẽ.</p>
<p>Đó là ‘toà soạn’ tạp chí Văn.</p>
<p>Đó là nơi làm việc, ngơi nghỉ, nấu nướng, ăn ngủ của chủ nhiệm kiêm chủ bút kiêm thư ký toà soạn kiêm kỹ thuật mỹ thuật kiêm phát hành kiêm thủ quỹ và kiêm&#8230; tuỳ phái. Nhất kiếm trấn môn liên tục mười năm nay!</p>
<p>Đó cũng là nơi, vào một số ngày nhất định trong tháng, ông ngồi trước chồng bao thư cao ngất trên năm trăm cái, dán ngay ngắn từng con tem, cẩn trọng viết tên từng độc giả, xem lại tỉ mỉ từng địa chỉ (cái nào vẫn giữ nguyên, cái nào vừa thay đổi, cái nào thêm, cái nào bớt, cái nào sắp hết hạn cần nhắc nhở.) Công việc lẽ ra chỉ giải quyết trong hai tiếng đồng hồ, nếu sử dụng máy rập tem và đưa danh sách độc giả dài hạn vào computer (nhà thơ TYT và nhà báo ĐNY từng nhiều lần tình nguyện làm giúp.) Nhưng vẫn nhất định giải quyết theo lối ‘thủ công nghệ’. Hỏi tại sao? Trả lời: &#8220;Tôi thích thế. Các bạn làm hai giờ, tôi làm hai ngày, đã sao?&#8221; &#8220;Có sao chứ, thưa anh, tốn thì giờ vô ích.&#8221; &#8220;Không vô ích đâu.&#8221; Và giải thích: &#8220;Nhiều độc giả gửi thư về, nhận xét: mười năm nay, suốt chiều dài của tuổi thọ Văn, chưa một lần báo thất lạc, và vẫn tuồng chữ đó, mười năm không thay đổi. Cảm động lắm sự thuỷ chung, trân trọng của nhà văn đối với độc giả.&#8221; Dừng lại để rít dài một hơi thuốc, tiếp: &#8220;Tôi không muốn sử dụng những tiện nghi của máy móc là vì vậy. Làm như tôi đang làm tuy cực đôi chút nhưng chắc chắn sẽ tạo được cảm tưởng gần gũi giữa chúng ta, những người viết, và họ, những người đọc.&#8221;</p>
<p>Đó cũng là nơi, hằng đêm, vào những khuya khoắt, ngầy ngật ra khỏi giấc ngủ chập chờn, ông trở dậy, bước đến chiếc tủ lạnh, với tay cầm chai rượu rót ra ly&#8230; Và giữa tịch mịch của đêm sâu, giữa lũ bàn ghế chăn giường sách vở câm nín vô hồn, trước màn ảnh tivi xanh đỏ, trong tay ly rượu hết vơi lại đầy, ông vừa uống vừa kiên nhẫn chờ đợi một ngày mới. Một ngày như mọi ngày! &#8220;Đêm, không ngủ được, chỉ mê đi vài tiếng, rồi lại thức, lại uống &#8211; cười &#8211; không uống thì làm gì?&#8221; Hỏi, như một lối chấm câu, để tiếp: &#8220;Uống mãi vẫn chả hết đêm&#8230; Thì bày chén bát soong nồi ra, ta nấu gói mì, ta luộc quả trứng. Thế là vừa uống vừa ăn vừa xem TV. Hừm&#8230; thích lắm cơ.&#8221; Một lần, thích. Hai lần, thích. Ba bốn năm sáu lần, có thể còn thích. Nhưng như thế, đã bao nhiêu năm (mỗi năm ba trăm sáu mươi lăm ngày!) Chúng ta hãy tưởng tượng đi. Một mình, với đêm!</p>
<p>Đó cũng là nơi trở về sau buổi tối cùng anh em ở những hàng quán. Trong lòng băng ghế trước, ông ngồi so vai lặng lẽ giữa âm thanh nổ trầm một nhịp của động cơ xe hơi. Năm phút, mười phút&#8230; bỗng ngẩng đầu nhìn lên vuông cửa sáng đèn, rồi nhìn gã ‘tài xế’ (cũng là bạn rượu), cất giọng: &#8220;Bây giờ&#8230; lên trên ấy&#8230; Buồn nhỉ?&#8221; Giọng nói nhỏ nhẹ, trầm tĩnh, nhừa nhựa hơi men. Không phải lời ta thán. Nhưng mà, nhưng mà&#8230; nó xoáy vào tai, nó làm trái tim đau quặn, nó mở ra trước mặt người nghe cái thế giới quạnh hiu hoang lạnh một cuối đời.</p>
<p>Đó cũng là nơi, nhiều ngày, nhiều tuần, tấm màn cửa sổ mãi khép toàn phần, cánh cửa màu nâu sẫm mãi đóng câm lặng: Ông đang lang thang đâu đó trong một thành phố khác, một quốc gia khác, một tiểu bang khác. Những chuyến đi, những cảnh thổ mới, những bè bạn năm châu. &#8220;Vẫn vậy, hết rồi những ngạc nhiên, những bàng hoàng, những niềm vui bất chợt. Đi không có nghĩa như một tìm kiếm cái lạ cái hay. Đi chỉ giản dị là đi. Bởi ở đâu thì cũng thế, ở đâu thì cũng là di chuyển một bàn rượu này qua một bàn rượu khác.&#8221; Và mỉm cười hom hem: &#8220;Ngày xưa Nguyễn Tuân mơ ước lúc chết sẽ được thuộc da làm chiếc va-li. Thời trẻ tôi yêu lắm ước mơ này của Nguyễn. Bây giờ, ngẫm nghĩ, đi như ông ấy thì&#8230; ‘ra cái đếch gì’.&#8221;<a href="http://tienve.org/home/viet/viewVietJournals.do?action=viewArtwork&amp;artworkId=203#1#1">[1]</a></p>
<p>II. Những tình cờ định mệnh</p>
<p>Tôi yêu hội họa. Từ ấu thơ, tôi đã mơ sẽ có ngày nào đó, trong</p>
<p>đời, tên tuổi tôi trở nên quen thuộc, được nhiều người hâm mộ, như một họa sĩ.</p>
<p>Lớn hơn tí nữa, định mệnh đẩy tôi vào một ngã rẽ khốc liệt, chính cây bút chì than và tập giấy croquis giúp tôi đứng thẳng được trên đôi chân yếu, để tiếp tục bước về phía trước, làm người.</p>
<p>Bản vẽ đầu tiên của tôi năm 13 tuổi được trả bằng tiền. Từ đó đến bây giờ, tôi đã sống, đã nuôi vợ nuôi con và nuôi chính bản thân mình chỉ bằng một nghề duy nhất: hội họa (tôi dùng chữ hội họa trong nghĩa phổ thông, gồm tất cả mọi công việc ít nhiều liên quan đến cọ sơn, màu sắc: tôi từng là thợ kẻ bảng hiệu; vẽ chân dung truyền thần; vẽ quảng cáo báo chí; vẽ dương bản trên phim để giới thiệu các sản phẩm thương mại (dầu cù là, thuốc nhuộm tóc, bột ngọt Vị Hương Tố, xà phòng Cô Ba, sữa hộp Con Chim&#8230; chiếu chào hàng trong các rạp chiếu bóng; vẽ pano cổ động gắn hai bên hông xe buýt, trên các lầu cao, và ngoài xa lộ. Tôi cũng đã từng trình bày bìa sách, bìa băng nhạc, logo, nhãn bao bì cho các cơ sở sản xuất hàng tiêu dùng. Cuối cùng, &#8220;có trình độ&#8221; hơn, tôi sáng tác tranh bằng sơn dầu, màu nước, bột màu&#8230; và triển lãm vung vít.) May mắn, những sản phẩm thượng vàng hạ cám ấy thường được đánh giá &#8220;có chất lượng&#8221;. Nhờ thế, tôi sống. Ngay cả chuyện vượt biển &#8220;tìm tự do&#8221;, định mệnh cũng sắp xếp cho tôi bằng con đường hội họa: một cậu học trò (học vẽ) đã cho tôi một chỗ ngồi trên chiếc tàu đánh cá nhỏ bé với sức chứa tối đa 22 nhân mạng do cậu làm chủ.</p>
<p>Xuyên qua quá trình đầy thử thách đó, tôi nghĩ, và yên trí, suốt đời, sẽ chẳng còn con đường nào để chọn lựa cho hướng đi (đến nghĩa trang) của mình, ngoài con đường duy nhất, và cũng là con đường tôi hằng mơ ước thuở thiếu thời: hội họa.</p>
<p>Nhưng, như tất cả mọi chúng sinh khác trong &#8220;cõi nhân gian bé tí&#8221; này, có nhiều tình cờ không định trước đã đẩy số phận mỗi chúng ta vào những khúc quanh&#8230; tiền định.</p>
<p>Từ hội họa, bất ngờ, tôi rơi vào lĩnh vực văn chương, báo chí.</p>
<p>Đó là thời gian đầu vừa đặt chân đến Mỹ. Đang loay hoay chưa biết phải làm gì, tôi được một người bạn giới thiệu với Du Tử Lê. Lúc ấy anh đang làm chủ nhiệm kiêm chủ bút tuần báo Tay Phải. Anh hỏi tôi &#8220;đã định làm gì chưa&#8221;, tôi bảo chưa, anh liền đề nghị: &#8220;Thế thì về làm báo với mình, cho vui.&#8221; &#8220;Tôi biết gì mà làm?&#8221; &#8220;Lay-out, tay ngang còn làm được, huống gì anh là họa sĩ.&#8221;</p>
<p>Đúng như Du Tử Lê nói, chỉ cần một tí khéo tay, thêm một tí kiến thức tối thiểu về mỹ thuật, ai cũng có thể trở thành chuyên viên lay-out. Tôi lại có thêm lợi điểm: dư khả năng lấp đầy những khoảng trống còn thừa trong các cột báo bằng những minh hoạ. Thi sĩ họ Lê có vẻ hài lòng vì đã nhặt được một gã phụ tá&#8230; sáng trí, đa năng (!!!) Anh bèn đẩy sự hài lòng cao hơn tí nữa: một hôm, báo thiếu bài, anh nói với tôi: &#8220;KT viết hộ cái gì nhé.&#8221;</p>
<p>Viết? Đề nghị thật bất ngờ. Tôi vốn mê đọc, là độc giả trung thành của tất cả nhà văn nhà thơ lớn bé thuộc mọi thành phần, giai cấp, trình độ, trường phái, khuynh hướng, phe nhóm, chủ trương, quốc tịch&#8230; Từ Bên dòng sông Trẹm đến Bàn tay máu, từ &#8220;một đèo một đèo lại một đèo&#8221; đến &#8220;ô hay con gái bay nhiều quá / đôi cánh tay mềm như cánh chim&#8221;, từ &#8220;em là gái trời bắt xấu&#8221; đến &#8220;tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ&#8221;, từ Thung lũng tình yêu đến Hố thẳm tư tưởng, từ Lũ người quỷ ám đến Chiến tranh và hòa bình, từ Chuông gọi hồn ai đến Âm thanh và cuồng nộ, từ Buồn nôn đến Dịch hạch&#8230; Tôi đọc tuốt tuột bất cứ cái gì vớ được. Nhưng viết thì chưa bao giờ. Tôi không mặn với chuyện viết lách. Bạn tôi, ở Sài Gòn trước và sau 1975, nhiều tên cầm bút, và tên nào trông cũng&#8230; không giống ai, khiến tôi&#8230; nhợn (và nhờn!) Tuy nhiên chưa bao giờ không có nghĩa chẳng bao giờ. Ừ, thì viết. Thử xem. Thế là vài ba bút hiệu lăng nhăng nhảm nhí lần lượt xuất hiện. Lâu dần, trở thành quen. Và cũng lâu dần, nghề dạy nghề, tôi lên&#8230; lão làng, trong lĩnh vực &#8220;bán chữ&#8221; (đủ loại) cho các tờ báo tuần, báo tháng.</p>
<p>Vào khoảng năm 1989 (nếu tôi nhớ không lầm) chị Nguyễn Mộng Giác cùng các cháu từ Việt Nam sang. Để có đủ thì giờ lo cho gia đình, anh Giác giao lại tờ Văn Học do anh làm chủ nhiệm kiêm chủ bút cho ba anh Trịnh Y Thư, Cao Xuân Huy và Hoàng Khởi Phong. Ba ông chủ mới của tờ Văn Học có tài viết lách song lại thiếu&#8230; tài làm đẹp những trang chữ. Nghĩa là phải cần thêm một anh &#8220;chuyên trị&#8221; phần hình thức cho tờ báo. Trong đám &#8220;sinh hoạt chữ nghĩa&#8221; ở quận Cam, hình như tôi có tí khả năng, lại không ngại chuyện cơm nhà ngà voi, do đó, được ba ông vời về, gắn lon &#8220;giám đốc mỹ thuật&#8221; (nghe lẫm liệt như vừa được phong hàm&#8230; đại tướng!) Lâu nay chỉ loay hoay giữa rừng lá cải lá đa, tôi đã bị mang tiếng là phường&#8230; buôn lá (chính xác hơn: phường lái chữ). Nay, được thăng cấp, nên dù hiểu nếu làm công cho các tờ báo biếu thì tuy không thừa ăn thừa mặc, nhưng cơ bản vẫn lương tiền đâu ra đó, còn làm cái chức lớn &#8220;giám đốc mỹ thuật&#8221; cho tạp chí Văn Học, chắc chắn chỉ được quyền uống&#8230; nước lã. Ai có tí liên hệ với ngành báo hải ngoại đều biết báo biếu kinh doanh bằng quảng cáo (nhiều tờ sống hùng sống mạnh, có khả năng tạo được xe đẹp nhà sang cho các ông bà chủ nhiệm.) Ngược lại, báo Văn Học (và những &#8220;con&#8221; tương cận) không có quảng cáo, sống hay chết hoàn toàn nhờ vào độc giả. Mà độc giả ở hải ngoại vốn đã ít, lại càng ít thêm theo thời gian. Tờ nào trụ được không phải bù lỗ đã là may mắn, nói gì đến chuyện thù lao cho những người thực hiện!</p>
<p>Cũng như Tay Phải của Du Tử Lê, thỉnh thoảng Văn Học đói bài. Đệ nhất, đệ nhị chủ bút Trịnh Y Thư, Hoàng Khởi Phong lười viết, tổng thư ký Cao Xuân Huy lo đánh máy bài vở, không có thì giờ. Nhìn quanh, chẳng còn ai, thế là nhị vị chủ bút bèn dõng dạc ra lệnh: &#8220;Số này còn thừa 10, 15 trang, KT viết cái gì đi!&#8221; Từ việc viết lách lăng nhăng tán tụng ca sĩ, bốc thơm đào kép mu vi&#8230; sang lĩnh vực văn chương chữ nghĩa nghiêm túc, hẳn nhiên khác nhau như trăng với đèn. Nhưng mà, (lại) thử xem. Thế là, ngoài những &#8220;bút hiệu&#8221; tôi từng ký dưới các bài báo lá đa lá mít (ngày nay, thực tình, tôi không nhớ nổi một tên, để sau này dặn dò con cháu đưa vào gia phả!), lần đầu tiên, tôi hiên ngang ký tên thật dưới các sáng tác.</p>
<p>Trước đó, và trong thời gian cùng anh em coi sóc tạp chí Văn Học, tôi đã quan niệm văn chương là cái của muôn đời. Chế độ nào, chủ nghĩa nào rồi cũng sẽ tàn lụn với thời gian, duy văn học nghệ thuật sẽ còn đó, mãi mãi, nếu thực sự đó là những sáng tạo giá trị. Vì vậy, tôi chủ trương nên mở rộng cửa tiếp nhận tất cả mọi thành tựu, của thế giới, nói chung, Việt Nam, nói riêng, không phân biệt trong nước hay hải ngoại, càng không băn khoăn tìm hiểu vị trí xuất thân của người đã khai sinh ra tác phẩm. Mặc kệ ông ta (bà ta) là nhà văn, nhà thơ của Việt Nam Cộng Hòa xưa kia, hay của &#8220;thế giới lưu vong&#8221; hôm nay, hay của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam bây giờ. Một hai trăm năm nữa, người đọc sẽ chẳng bao giờ thắc mắc như chúng ta đang thắc mắc. Vậy, vấn đề chỉ giản dị: tác phẩm ấy hay hoặc dở. Xứng đáng nằm trang trọng trên các trang báo Văn Học, hay chỉ nên ném vào sọt rác. Thế thôi. Và chỉ thế thôi.</p>
<p>Tôi đưa ý kiến này ra bàn với anh em, và đề nghị nên tìm đọc, mời, chọn đăng những sáng tác hay của các nhà văn nhà thơ trong nước. Trịnh Y Thư bản chất hiền lành, không muốn mất lòng anh em, xin theo quyết định của đa số. Hoàng Khởi Phong chín chắn, bảo &#8220;Chưa đúng thời điểm&#8221;. Riêng Cao Xuân Huy cực lực phản đối, tuyên bố rất &#8220;quân phiệt&#8221;: &#8220;Cái gì dính líu đến Việt Cộng là tao không ưa, dứt khoát&#8221;. Như thế, đương nhiên tôi đứng về phe thiểu số (chỉ có một phiếu ủng hộ duy nhất của&#8230; chính tôi!)</p>
<p>Thua, nhưng trong lòng vẫn ấm ức. Ý định xuất bản một tờ báo có chủ trương hợp lưu mọi dòng văn học về một mối manh nha trong đầu. Tôi tìm gặp vài anh chị em khác: Nhật Tiến, Đỗ Khiêm, Vũ Huy Quang, Lê Bi, Nguyễn Hương, Thân Trọng Mẫn, Phạm Việt Cường, Nguyễn Hoàng Nam, Nguyễn Mạnh Trinh&#8230; và liên lạc bằng điện thoại, thư từ với nhiều anh chị em khác nữa, cư ngụ ngoài Cali và nước Mỹ. Điều tôi không ngờ: hầu hết các văn nghệ sĩ tôi tiếp xúc đều tán đồng chủ trương của tôi. Chẳng những thế, ngoài bài vở, sáng tác, họ còn sẵn sàng đóng góp tiền bạc để tôi có thể xuất bản tờ báo như ý muốn.</p>
<p>Như thế, với nhiều công sức tài lực của nhiều anh chị em, Hợp Lưu ra mắt số đầu tiên đầu tháng 10 năm 1991.</p>
<p>Tám năm trôi qua. Bao nhiêu sóng gió. Nhất là giai đoạn đầu, gần như tuần nào, tháng nào, trên hầu hết các tờ báo, Hợp Lưu và nhóm chủ trương, nhất là tôi&#8230; cũng bị đem ra làm bia tập bắn. Nhẹ, lời lẽ ôn hoà xây dựng; nặng, bỉ thử thô lỗ, có khi mang cả đời tư của chúng tôi và những hệ luỵ cật ruột ra bêu rếu, ném bùn. Nhiều tháng liền, cách vài ba đêm, giữa khuya, một cú điện thoại từ đâu đó gọi tới, đòi &#8220;đốt nhà, ném lựu đạn, bắn bỏ&#8221; cái kẻ &#8220;ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản&#8221;, cái bọn &#8220;nằm vùng, đâm sau lưng chiến sĩ&#8221;. Ban đầu, thấy mọi người thân trong gia đình lo sợ, khủng hoảng, tôi định đổi số phone. Nhưng nghĩ lại, vô ích, một tờ báo tất phải có địa chỉ và số phone tòa soạn. Làm sao giấu được. Vả, nghĩ xa hơn, tôi thấy hành động như thế nào khác gì trốn lánh, đào thoát. Hèn quá. Vì thế, tôi quyết định&#8230; chịu trận. Có khi cao hứng, tôi chọc lại bằng cái phong cách rất&#8230; nhảy dù: hẹn các đấng hùng anh kia đến một công viên nào đó chọi tay đôi, hoặc đấu súng đấu dao tùy chọn lựa, bảo đảm không báo trước với cảnh sát. Tất nhiên tôi biết thừa: phàm những anh đấu võ mồm hung hăng nhất đều có những lá gan bé nhất, nên chẳng bao giờ tôi được hân hạnh &#8220;biểu diễn võ công&#8221;. Và món võ lì này có hiệu quả. Gọi mãi, chửi mãi, hăm dọa mãi, vẫn thấy Hợp Lưu xuất hiện đều đặn, đúng kỳ trên các sạp báo ở các nhà sách. Những cú điện thoại thưa dần, rồi dứt hẳn.</p>
<p>Nhiều năm trôi qua, Hợp Lưu không chết, trái lại, mỗi ngày thêm vững vàng, nhờ lực lượng sáng tác được bổ sung đều, và nhờ độc giả tìm đọc ngày thêm đông. Cơn hấp hối (nhiều anh chị em đồng nghiệp ở xa vẫn nghĩ thế, vào những năm đầu) của Hợp Lưu thực sự đã bị đẩy lùi. Tờ báo đang sống, tờ báo sẽ sống, bình thường, như rất nhiều anh em đồng nghiệp khác.</p>
<p>Viết về những tình cờ định mệnh đẩy đưa một người cầm cọ đến cầm bút, và viết về kinh nghiệm đã trải qua trên mười năm &#8220;tắm gội&#8221; trong nghiệp báo, tôi nghĩ, cũng là một cách nào đó, tự trả lời cho chính bản thân một câu hỏi, rằng từ lúc chọn chữ nghĩa như nghiệp dĩ thứ hai, liệu tôi có lỗi lầm nào đáng chê trách? Tôi nghĩ, hình như có. Đó là, nhiều lúc tôi cảm thấy nản lòng, muốn buông trôi, bỏ cuộc. Nhiều lúc khác, không dằn được bức xúc do mọi sức ép tăm tối bên ngoài, tôi đã thả lỏng ngòi bút của mình, mặc cho những cơn giận dữ cuốn đi. Thuở còn sinh tiền, nhà văn Mai Thảo thỉnh thoảng vẫn bảo: &#8220;Chữ nghĩa đẹp đẽ lắm cơ. Còn sống với chữ nghĩa thì phải cố mà nuôi dưỡng nó cho đàng hoàng.&#8221;</p>
<p>Sống đàng hoàng với chữ nghĩa, tôi cho là điều khó khăn nhất, và cũng là điều cần nhiều nỗ lực nhất, đối với một người cầm bút.</p>
<p><strong>Khánh Trường</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><strong>Khánh Trường và Hợp Lưu</strong></h3>
<p><strong>Trần Vũ</strong></p>
<p>Cách đây 12 năm, tháng 10-1991 họa sĩ Khánh Trường sang Pháp ra mắt Hợp Lưu số đầu tiên. Đón anh ở phi trường, tôi nhận ra ngay nhân vật Khánh của Có Yêu Em Không. Nhân vật làm tình kinh khiếp trên căn gác gỗ với em gái của đồng đội hãy còn quàn ở nhà dưới trong mùi nhang khói tang tóc luồn qua kẽ hở, nhân vật mỗi chiều say đẵm phóng xe lao vào căn hẻm miệt Phú Thọ Hòa đi tìm tình yêu và cái chết. Khánh Trường với Khánh là một. Một con người và một nhân vật với tất cả liều lĩnh khinh mạn, nửa hảo hớn, vừa du đãng, chất ngất đam mê nhưng cũng bất cần đời và đôi lúc biết mất dạy. Buổi sáng đó, mái tóc dài <em>mafia</em>, Khánh Trường mang hình ảnh Franco Nero trong Miền viễn Tây bước ra khỏi sân bay ngang tàng với …thùng tạp chí Hợp Lưu trên xe đẩy.</p>
<p>Những ngày sau tôi khám phá anh là type <em>Django</em> như tôi ưa thích. Tôi cũng thích có một người anh chịu chơi như vậy, đầy thói hư tật xấu nhưng biết hiên ngang bao che cho đứa em khi cần thiết. Tất cả bắt đầu bằng lá thư anh gởi đến bằng hữu mùa hè năm 91. Lá thư kêu gọi đổi mới cho sinh hoạt văn học VN ngoài nước. Lá thư từ bỏ thái độ qua sông chặt cầu, phong tỏa bao năm của hội đoàn. Lá thư công nhận sự hiện hữu của con người VN sau 75 trên quê hương, cho dù con người đó không Quốc Gia, không Cộng Hoà. Anh chép tay thêm dòng chữ: <em>Vũ thích gì viết ấy, cứ viết, có anh hứng mũi chịu sào</em>. Và chỉ với dòng chữ ngắn đơn giản này anh đã quyến rũ được tôi, lôi về mình biết bao người viết trẻ dạo đó. Trân Sa, Lê Thị Thấm Vân, Vũ Quỳnh Nh., Nguyễn Thị Thanh Bình, Phạm Thị Ngọc, Phạm Chi Lan, Nguyễn Thị Ngọc Lan, Nguyễn Hoàng Nam, Hoàng Mai Đạt, Đỗ Kh., Trầm Phục Khắc, Ngọc Khôi, Hồ Đình Nghiêm, Vũ Đình Kh., Vĩnh Hảo… chứng minh sự thành công này.</p>
<p>Hợp Lưu như thế chánh thức ra đời trong hiệu phở Thụ quận 13. Nhưng khác với Võ Phiến khi làm tạp chí Văn Học Nghệ Thuật bộ cũ, buổi chiều tháng 10-1991 khi Khánh Trường bước chân vào hiệu phở gọi một tô chín nạm, văn chương Việt ngoài nước đã bắt đầu một thập niên thương khó. Những năm 78-79, tuy chưa có computer, chưa internet, chưa font chữ Việt, mọi thứ còn chép tay, đánh máy bỏ dấu tay, sách bày chung với thực phẩm, người viết người đọc rải rác, đầy khó khăn &#8211; nhưng Võ Phiến đã lên đường với niềm nhớ quê hương mãnh liệt không nguôi vô bờ bến của cả một lớp người di tản. Mọi người trân trọng chữ Việt, yêu quý, ôm ấp gìn giữ chữ Việt, thứ chữ Quốc ngữ của một đám đông vừa đánh mất tổ quốc.</p>
<p>Thời điểm 91, chữ «Phỡ» trên thực đơn phở Thụ viết với dấu ngã. Tiếng Việt đã không còn là quốc ngữ, mất thiêng, không mấy ai quan tâm và rất nhiều pha Anh, Pháp vào trong câu chuyện. Chữ Việt giản dị chỉ là chữ viết của một sắc tộc thiểu số sinh sống ở Âu Mỹ, hay quốc ngữ của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà xa lạ nào mà mọi người bắt đầu du lịch. Chữ Việt in trong số Hợp Lưu ra mắt là thứ chữ không còn có thể dùng để hái ra tiền, một thứ tử ngữ.</p>
<p>Chị Thụy Khuê mời tôi với anh và bác Mai Thảo ăn phở trước để dằn bụng tiếp khách. Tôi hỏi Mai Thảo : Bác thấy phở hải ngoại có bằng phở Sàigòn ngày xưa? Phở bên này ít nước, mau nguội bánh. Mai Thảo ầm ừ trả lời. Ông chỉ <em>hút</em> một cọng phở duy nhất. Tô phở của chị Thụy Khuê, của tôi, của anh Khánh Trường cũng nguội nhanh. Nguội nhanh như văn chương hải ngoại đang lạnh dần.</p>
<p>Gần 10 năm trước, 1982 năm Mai Thảo quyết tâm tục bản tạp chí Văn, sinh hoạt văn học hải ngoại chưa nguội, ngược lại bắt đầu hâm nóng. Người Việt đã bắt đầu an cư sống tập quần. Tuy các cây viết mới hãy còn hiếm, Mai Thảo đầu đàn của văn nghệ miền nam quy tụ dễ dàng các bạn bè của ông. Con hùm xám Vũ Khắc Khoan, Thanh Nam, Mặc Đỗ, Nghiêm Xuân Hồng, Tuý Hồng, Viên Linh, Nguyễn Đông Ngạc, Trang Châu, Tạ Tỵ, Trần Ngọc Ninh, Hà Huyền Chi, Du Tử Lê, Ngô Thế Vinh, Nguyễn Xuân Hoàng, với Bình Nguyên Lộc qua sau… là những gương mặt nổi tiếng của miền nam một thời. Bằng kinh nghiệm của một chủ bút tài hoa lẫy lừng, Mai Thảo nhanh chóng khám phá, thừa nhận và thúc đẩy những ngòi bút nữ: Lê Thị Huệ, Phan Thị Trọng Tuyến, Nguyễn Thị Ngọc Nhung, Trần Diệu Hằng, Phạm Thị Ngọc, Cao Bình Minh sẽ làm nên hiện tượng nữ sau đó. Không chỉ phát hiện những cây bút nữ, mục Người Viết Trẻ mỗi tháng giới thiệu một gương mặt mới, có tháng trong cùng một số báo có đến 4 người viết mới Nguyễn Thạch Giang, Ý Ngôn, Vũ Phương Nam, Đặng Mai Lan. Suốt 6 năm 82-87 tạp chí Văn không thiếu sáng tác, không thiếu người viết lẫn sự trợ giúp đông đảo của các văn hữu.</p>
<p>Sau Mai Thảo, tạp chí Làng Văn trình làng. Làng Văn thừa hưởng không khí bừng bừng khí thế của một cộng đồng đang độ tăng trưởng chín muồi sung mãn, kèm nỗi nhớ nhà nóng bỏng của lớp người mới vượt biên. Một tạp chí mới, một lớp độc giả mới với một tâm tình mới. Huyền Châu, Tuệ Nga, Hồ Trường An, Ngô Nguyên Dũng, Nguyễn Ngọc Ngạn, Lê Văn Lân, Ngọc Khôi, Nguyễn Tấn Hưng, Thái Văn Kiểm, Võ Kỳ Điền, Nguyễn Văn Ba, Trần Long Hồ, Phan Ni Tấn, Luân Hoán, Lâm Hảo Dũng, Diệu Tần, Hoàng Xuân Sơn, Nguyễn Đức Bạt Ngàn… đem đến cho Làng Văn những độc giả trung thành trường kỳ. Những năm 84-89 thời kỳ cực thịnh, Làng Văn thành công rực rỡ, số bán vượt xa các tạp chí khác. <em>Người Làng đông như trẩy hội </em>như nhà báo Nguyễn Hữu Nghĩa nhận xét<em>.</em></p>
<p>Cùng thời gian đó, 1985 Võ Phiến tục bản Văn Học Nghệ Thuật bộ mới, rồi từ tháng giêng 86 đổi tên là tạp chí Văn Học do Nguyễn Mộng Giác điều hành có thể xem là tạp chí uy tín nhất của giai đoạn 85-88. Đa số những bài viết xuất sắc đều xuất hiện trên diễn đàn này và bên cạnh những nhà văn cộng tác trụ cột thường xuyên Nhật Tiến, Võ Đình, Lê Tất Điều, Định Nguyên, Tưởng Năng Tiến, Võ Phiến, Nguyễn Bá Trạc, Hà Thúc Sinh, Nguyễn Tất Nhiên, Thế Uyên, Hoàng Khởi Phong, Trần Hoài Thư, Hoàng Ngọc Tuấn, Nguyễn Xuân Hoàng xuất hiện vô số người viết mới: Khế Iêm, Ngu Yên, Phạm Việt Cường, Phan Tấn Hải, Kiệt Tấn, Thường Quán, Cao Xuân Huy, Trịnh Y Thư, Nguyễn Đức Lập, Nguyễn Ý Thuần, Hồ Đình Nghiêm, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Nguyễn Mạnh Trinh, Trần Trúc Giang, Trần Thị Kim Lan, Trần Thị Lai Hồng, Trân Sa, Lê Bi, Vũ Huy Quang, Trương Vũ, Thế Giang, Trần Vũ, Đỗ Kh., Mai Kim Ngọc, Vũ Quỳnh Hương, Nhược Thủy (Y Chi)… Cũng chính trên diễn đàn này khởi đầu nền phê bình ngoài nước qua các bài viết đầu tiên của Thụy Khuê, Bùi Vĩnh Phúc và Nguyễn Hưng Quốc. Như thế đã ra đời trong hoàn cảnh vô cùng thuận tiện, với một nguồn nhân lực mới mẽ hùng hậu đang trong giai đoạn khởi viết.</p>
<p>Trường hợp Hợp Lưu khác hẳn. Hợp Lưu ra đời khi đa số những tác giả kể trên, một số đã bỏ cuộc, một số đông khác các sáng tác hay nhất của họ đã viết xong. Giống Mai Thảo nhận xét phở hải ngoại <em>ít nước</em>, <em>mau nguội</em>. Lý do quá nhiều bánh, quá nhiều thịt, nhưng ít <em>nước</em>. Nhận định đó đúng cho giới sáng tác Việt sống ngoài tổ quốc. Đã nhiều bài viết lý giải những khó khăn của người sáng tác bị cách ly khỏi quê hương. Chất liệu sáng tác sáo cũ, ngôn ngữ mẹ đẻ mỗi ngày một nghèo đi, kinh nghiệm quê nhà thiếu cập nhật, sự hội nhập lấn dần tính hoài niệm hao mòn dần căn cước gốc, không nhuận bút, không độc giả, ít sinh hoạt chung đưa đến tình trạng băng giá. Đó là những nguyên nhân nội tại, nguyên do bên ngoài nhiều hơn nữa: Tranh sống kiếm cơm, viết văn tay trái tối chủ nhật, biến động Đông Âu đưa đến hoang mang, văn chương trong nước.. bất ngờ đổi mới cạnh tranh bất chính, khủng hoảng kinh tế thất nghiệp khiến mãi lực mua bán của độc giả giảm… Hợp Lưu chào đời trong hoàn cảnh tăm tối đó.</p>
<p>Năm 91 là năm khởi đầu của nhiều bài viết cảnh giác thái độ nhẩn nha cầm chừng trong sáng tác, tranh cãi hay kết án <em>những vòng tường</em> <em>ghetto</em> bao vây. Điều đó chứng minh sau một thập niên khởi sắc, sáng tác hải ngoại gặp khủng hoảng. Trong tình trạng thụt lùi như vậy, <em>làm báo chỉ từ chết đến bị thương</em> giống họa sĩ Khánh Trường than. Nhưng đó chỉ mới là khó khăn riêng của một bộ môn sáng tác, những sáng tác mà Khánh Trường luôn luôn rất cần cho những số Hợp Lưu nối tiếp. Còn nhiều khó khăn khác.</p>
<p>Buổi tối ra mắt Hợp Lưu trong hiệu phở Thụ là một buổi tối thành công kỳ lạ. Đông đến mức quán hết chỗ, mọi người phải đứng và lần đầu tiên tôi thấy Mai Thảo bị dịch giả Kim Lefèvre quay. Đông, vui, như cơn say quên trời đất của Kiệt Tấn, như ánh mắt hấp háy lạc quan sau lớp kính ve chai của nhà nhạc học Nguyễn Thiên Đạo; nhưng nụ cười tươi của chị Thụy Khuê không khỏa lấp những lo lắng cho ngày mai. Hơn ai hết chị Khuê biết rõ khả năng tài chánh của Hợp Lưu. Hơn ai hết chị hiểu rõ áp lực của hội đoàn đảng phái. Họa sĩ Khánh Trường hùng dũng trấn an: Chị cứ yên tâm, tôi không thua đâu.</p>
<p><em>Tôi không thua đâu. </em>Có lẽ đây là câu trả lời chính xác nhất vì sao và tại sao chuyển động Hợp Lưu thành công và tạp chí đứng vững suốt 12 năm. Câu trả lời này xác định cá tánh đặc biệt của người chủ biên tạp chí.</p>
<p>Để hiểu quyết tâm của Khánh Trường, phải sống trở lại bối cảnh của cộng đồng VN đầu thập niên 90. Chưa khi nào áp lực của hàng trăm hội đoàn mạnh đến như vậy. Việc cướp máy bay, rải truyền đơn rồi nhảy dù xuống Việt Nam của Lý Tống (xẩy ra sau vài số Hợp Lưu) biểu trưng tất cả tinh thần quang phục đất nước lúc đó. Phải đọc tất cả các báo Việt ngữ xem <em>affaire</em> Lý Tống là một thiên anh hùng ca, phải đi giữa đường phố Bolsa rợp lá cờ vàng để hiểu hành động làm tạp chí Hợp Lưu của Khánh Trường là một hành động can đảm. Phải trông thấy cảnh cuốn sách Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương bị lôi trên đất và đốt cháy để hiểu bầu không khí quá khích bao trùm nặng nề lúc đó. Điện thoại chửi bới nửa đêm, fax văng tục, mail hăm dọa, thư nặc danh, đập kính xe là thực đơn hằng ngày. Cùng với Hợp Lưu, tạp chí Trăm con của Trân Sa và Tư Đồ Tuệ cũng trong chiều hướng giao lưu đã không chịu nổi áp lực phải đình bản. Áp lực đến nỗi, khi cho xuất bản Cánh Cửa, nhà văn Nhật Tiến trả lời phỏng vấn đã thẳng thừng chua chát: Nhà văn VN ngoài nước không có tự do sáng tác! Trước đó, chỉ với Mùa Biển Động với một chương tả người lính VNCH say rượu đeo xâu tai xác chết cắt quanh người, Nguyễn Mộng Giác đã bị chê trách «Bôi nhọ quân lực» và áp lực đến mức chủ bút Văn Học Nghệ Thuật Võ Phiến phải mời trị sự của mình là Nguyễn Mộng Giác từ chức. Nguyễn Mộng Giác không từ chức, tạo nên sự cố Văn Học không dễ <em>tuỳ nghi</em> lúc đó.</p>
<p>Chưa một tạp chí nào ra đời khó khăn như vậy. Không chỉ một mình chủ biên Khánh Trường chịu búa rìu dư luận, tất cả những nhà văn, nhà thơ chấp nhận đăng bài trên Hợp Lưu đều mặc nhiên bị xem là Việt Cộng, hoặc lịch sự hơn: nối giáo cho giặc. Nhà văn Nhật Tiến, người cha tinh thần đỡ đầu cho Hợp Lưu, người chủ trương giao lưu sớm nhất từ Mồ Hôi Của Đá, đã gánh chịu không biết bao nhiêu phỉ báng, một trong những lý do khiến ông buộc lòng rời khỏi ban chủ biên. Không ai có thể trách tác giả Thềm Hoang, giải thưởng văn chương phủ tổng thống VNCH là một nhà văn thiên tả, không ai có thể trách Nhật Tiến là một nhà giáo không gương mẫu, hay một người thiếu đạo đức. Nhưng cũng không ai chịu hiểu tinh thần quang phục đất nước chỉ là một tinh thần hoang tưởng đầy ảo vọng. Nên khi Hợp Lưu, tạp chí thuần văn học đầu tiên đưa ra cái nhìn khác — <em>Đã đến lúc người Việt phải đối xử với nhau như những con người cho dù khác chính kiến và Việt Nam hôm nay phải không còn hận thù, một văn bản nếu mang giá trị văn học là một văn bản có giá trị, dù tác giả của nó sống trong hay ngoài nước </em>— Cái nhìn mới này đã tạo ra một cơn sốt ý thức rất lớn trong tâm hồn của rất nhiều những kỹ sư tâm hồn.</p>
<p>Thời gian đó, với các văn, thi sĩ được chủ biên Hợp Lưu gởi thư mời, chọn lựa không dễ. Với mỗi người đã là một <em>bước qua lời nguyền</em> vô cùng khó khăn, với tất cả rủi ro trấn áp kết án từ bạn bè, các báo <em>quốc gia</em> đang cộng tác và cả với lương tâm của chính mình, lương tâm nào đã quyết định rời bỏ quê cha đất tổ ra đi vì không chấp nhận chính quyền Cộng Sản đương nhiệm và lương tâm nào ý thức không thể phân ly chia đôi đất nước mãi mãi?</p>
<p>Nhưng thật kỳ lạ, nếu mở lại những số Hợp Lưu đầu tiên, thành phần ban chủ biên tăng dần rất nhanh sau mỗi số báo cho đến khi hầu hết các tác giả thường xuyên viết trên các báo <em>Cộng Hoà</em> đều lần lượt xuất hiện trên Hợp Lưu. Đó là dấu hiệu mà Khánh Trường nhận ra anh đã đi đúng hướng, và đó cũng là dấu hiệu cho thấy những nhà văn Việt đã tự chất vấn mình từ rất lâu. Chắc chắn trong thâm tâm, Khánh Trường cảm tạ rất nhiều tấm lòng của những người bạn Phan Tấn Hải, Ngu Yên, Phạm Việt Cường, Cao Đông Khánh, Nguyễn Mạnh Trinh, Trần Mộng Tú, Du Tử Lê, Thường Quán, Khế Iêm, Lê Bi, Lê Thứ, Hồ Đình Nghiêm, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Trần Long Hồ, Trầm Phục Khắc, Vũ Huy Quang, Võ Đình, Nguyễn Thị Thanh Bình, Phạm Chi Lan, Chân Phương, Đỗ Kh., Hoàng Mai Đạt, Trương Vũ, Nguyễn Thị Ngọc Nhung, Nguyễn Hương, Lê Thị Thấm Vân, Trân Sa, Vũ Quỳnh Nh., Thụy Khuê, Bùi Vĩnh Phúc, Nguyễn Thị Khoa Phương, Phan Thị Trọng Tuyến.. đã tham dự hết mình ngay từ những ngày đầu, và hơn nữa cảm tạ dân tộc Việt hãy còn biết đến tha thứ, nhân hoà.</p>
<p>Khó khăn vẫn chưa hết. Ai đã làm báo hiểu rõ khó khăn kinh khủng nhất vẫn là khó khăn tài chánh. Bao nhiêu tờ báo Việt ngữ đã sập tiệm. Hồn Việt chết theo với Thanh Nam, Nhân Văn của nhóm Nguyễn Thượng Văn và Tưởng Năng Tiến, Tân Văn của Hà Thúc Sinh, Văn Lang của Nguyễn Mộng Giác, Văn Xã của Nguyễn Hữu Nghĩa, Ý Thức của Viên Linh, Chân Nguyên của Phạm Công Thiện, Tập Họp của nhóm trẻ Úc, Đối Thoại của Lê Bi, Việt của Nguyễn Hưng Quốc đều phải đình bản. Võ Phiến cũng chết đi sống lại hai lần với Văn Học Nghệ Thuật, và tạp chí Thơ của Khế Iêm trong tình trạng khắc khoãi thường trực của một cái chết được dự báo. Đó là chỉ kể những tạp chí tên tuổi. Khác với Thế Kỷ 21 được công ty Người Việt hỗ trợ, Hợp Lưu chỉ sống bằng công quả của bằng hữu, bằng công sức và lợi tức thu nhập cá nhân của chính chủ biên Khánh Trường. Sự sống sót của Hợp Lưu liên tục suốt 12 năm qua, đều đặn gởi đến tay bạn đọc bao nhiêu số chủ đề, bao nhiêu biên khảo, phỏng vấn và sáng tác thơ, văn, kịch chính là sự thành công riêng của Khánh Trường và sự sống sót tinh thần của chính cá nhân anh.</p>
<p>Để hiểu khó khăn tiền bạc của chủ biên Hợp Lưu túng thiếu nhường nào, tôi có một kỷ niệm đẹp về tình bạn giữa Mai Thảo và Khánh Trường. Mùa đông năm 96, tôi hay thích đến căn lầu xép trai phòng của Mai Thảo. Không có gì thú bằng ngồi dưới chân giường Mai Thảo nhìn ra hàng hiên trồng những đọt chuối xanh, nghe im lặng của buổi trưa phả hơi nóng nhẹ nhàng xâm chiếm chậm rãi căn phòng. Nhất là căn phòng đầy những chai lọ cognac tôi ưa thích, chỉ cần với chân cũng khều được dăm chai. Buổi trưa sâu thẳm yên tĩnh trong con hẻm Song Long, tôi vừa bị Mai Thảo lừa cho uống cognac có ngâm cu con hải cẩu thối hoắc, thứ rượu thuốc Nguyễn Xuân Quang tác giả Người Căm Thù Ruồi tặng ông uống chống lạnh, thì Khánh Trường ập vào, giọng anh hối hả:</p>
<p>&#8211; Anh có tiền cho em mượn, Hợp Lưu in xong rồi mà em chưa có tiền lấy.</p>
<p>&#8211; Bao nhiêu? Nhiều thì không có, ít thì có thể.</p>
<p>Mai Thảo điềm nhiên lắc lắc ly rượu vàng lóng lánh. Màu vàng của buổi trưa loang đến cườm tay ông đọng lại thành vệt lỏng. Giá Khánh Trường có thể ngồi xuống uống rượu thưởng thức sự im lặng của trưa không có những phiền hà nợ nần của đời sống. Đâu ai biết gồng Hợp Lưu thường đắng như con hải cẩu chết tiệt.</p>
<p>&#8211; Một ngàn đô, anh.</p>
<p>&#8211; Hà hà.. tưởng bao nhiêu, một ngàn thì nhà băng lớn nhất nước Mỹ này cho vay.</p>
<p>Mai Thảo, người thầy tinh thần của Hợp Lưu, bạn nhậu của tôi với anh, lặng lẽ lục tìm ví đưa tiền cho Khánh Trường mang ra nhà in ông Đào Văn Ngoạn lấy báo.</p>
<p>&#8211; Vẽ được mấy cái bìa sách em sẽ gởi trả anh.</p>
<p>&#8211; Không hứa, không hẹn gì cả, có tiền thì trả thế thôi!</p>
<p>Mai Thảo gắt, ông ghét nói chuyện tiền bạc. Ông đưa tay quơ tìm bật lửa, đốt điếu thuốc Winston. Hành động của ông vừa nãy thật đẹp. Cho vay vô điều kiện, không thắc mắc dù ông cũng rất nghèo. Bác Thảo lúc đó còn mạnh, cười móm mém:</p>
<p>&#8211; Tiền thì không có, nhưng rượu thì không khi nào thiếu. Và không bao giờ thiếu, không thể thiếu được! <em>C’est inadmissible, insolent!</em></p>
<p>Mai Thảo đập mạnh tay xuống mặt đệm. Tôi biết ông không bao giờ thiếu rượu. Tôi đã từng chở một cốp xe 30 chai cognac quà tặng cho ông đêm sinh nhật 63 tuổi. Mai Thảo là người giàu cognac và giàu tình bằng hữu nhất trần gian.</p>
<p>Mấy ngày sau, rời quán Song Long sau điểm tâm với Hoàng Khởi Phong, Cao Xuân Huy, Du Tử Lê, tôi và người bạn làm báo văn học liên mạng trên internet Phạm Chi Lan đến chơi với Khánh Trường. Tôi với Phạm Chi Lan không giúp gì được anh trong công tác tòa soạn, nhưng vẫn thích ngồi quanh quẩn xem anh làm việc. Chúng tôi ngỡ ngàng nhìn 1200 cuốn Hợp Lưu chất đầy mặt đất.</p>
<p>&#8211; Sao anh chưa gởi bưu điện, trễ hạn rồi mà? Lan hỏi.</p>
<p>&#8211; Ờ hớ, để anh vẽ xong mấy cái bìa băng, bìa sách có tiền rồi gởi.</p>
<p>Khánh Trường thản nhiên, không có vẻ gì cấp bách, nhưng tôi biết, đã 6 tây là trễ một tuần. Và từ hôm vay tiền bác Thảo cũng gần cả tuần, có nghĩa anh chưa có tiền. Phạm Chi Lan với tôi đi lạc quyên các anh chị Lê Thứ, Lê Bi, Nguyễn Hương, nhà xuất bản Hồng Lĩnh, và Trương Vũ từ miền Đông qua chơi, cuối cùng được vài trăm phụ với anh tiền cước phí bưu điện. Những ai còn thắc mắc nguồn tài trợ Hợp Lưu thì thực tế là như vậy. Và thực tế tài chánh này triền miên dằng dặc từ số đầu cho đến nay. Hai tháng một số báo qua thoăn thoắt, 66 số Hợp Lưu của 12 năm là 66 lần họa sĩ Khánh Trường xoay tiền chóng mặt.</p>
<p>Một lần Hợp Lưu được Viện Vận Động Dân Chủ của quốc hội Hoa Kỳ đề nghị trợ cấp $10.000 một năm, vì tạp chí được xem có đóng góp cho chuyển động dân chủ. Những ai đã sống ở Âu Úc Mỹ biết rõ, những tài trợ của chính phủ, trường đại học, hay hiệp hội tư nhân cho những hoạt động văn hóa, nhân văn vô cùng bình thường. Ban chủ biên điều hành tạp chí lúc đó, Nguyễn Hương, Lê Bi, Phan Tấn Hải, Khánh Trường, Đỗ Hữu Tài, và nhà văn Nhật Tiến đã thảo luận cân nhắc việc nhận số tiền này. Giảm mối âu lo tài chánh để rồi tai tiếng như tạp chí Sáng Tạo của Mai Thảo đã nhận trợ cấp của phòng thông tin Hoa Kỳ? Nhận tài trợ nhưng nhất quyết giữ vững độc lập của tạp chí? Cho thì lấy nhưng không dính gì đến Hoa Kỳ? Nhưng ai cho tiền dễ dàng vô điều kiện như vậy? Trong cuộc đời có vay, có trả. Nhật Tiến cương quyết và dứt khoát nhất. Nhưng làm sao gồng triền miên trong tình trạng thị trường chữ nghĩa khánh kiệt như vầy? Ban chủ biên quyết định biểu quyết qua cách bỏ phiếu kín. Mọi lá phiếu đều đã ghi một chữ duy nhất: NO! Tôi ở xa không rõ vụ việc, chỉ biết như vậy. Cá nhân tôi tiếc mãi số tiền này, thêm tiền thêm nhiều khả năng mới, tăng trang, phụ bản tranh màu, đẩy mạnh nhà xuất bản Hợp Lưu, có thể trả nhuận bút cho các tác giả nghèo trong nước, đỡ chật vật cho Khánh Trường. Nhưng tôi hiểu nhân cách và lòng tự trọng không cho phép Nhật Tiến chấp nhận điều này. Và tôi cũng hiểu ông muốn tạp chí Hợp Lưu giữ linh hồn trong sạch. Nhật Tiến là một người thầy, một nhà văn đúng nghĩa, quyết định của ông được toàn ban chủ biên theo tuyệt đối. Quyết định đó, về sau, ngay cả những lúc khánh tận nhất, ban biên tập không ai hối tiếc. Trừ tôi &#8211; vẫn nghĩ, tất cả sinh sống ở Âu Mỹ, nhưng suy nghĩ giống quân tử Tàu. Nước Mỹ là một nước Dân Chủ và có quy chế Dân Chủ. Chúng ta có quyền hưởng quy chế xây dựng trên lá phiếu của từng công dân và trích từ tiền thuế tất cả cùng đóng. Nếu áp lực đến từ cơ quan nào đó của quốc hội Hoa Kỳ, chỉ cần viết một bài báo đăng trên New York Times, áp lực đó sẽ biến mất tức khắc. Các quân tử đã không chịu hành xử quyền công dân Hoa Kỳ của chính mình, thứ quyền công dân mà tất cả đã bỏ nước đi tìm. Quân tử, nên những ngày Khánh Trường bệnh nặng, không bảo hiểm y tế, không tiền túi, bạn bè phải chạy lo thuốc thang, các tác giả bác sĩ chạy giấy nhập viện, rồi anh xuất viện, tôi đến thăm, quần vẫn còn ướt đẫm máu, lại nhập viện. Hay những khi túng thiếu, ban biên tập khất thực từng tác giả, nhưng không phải ai cũng có tấm lòng của anh chị Trương Vũ, anh chị Lê Tất Luyện, anh chị Hoàng Chính Nghĩa. Khất thực một lần, lần thứ nhì, ni cô chê. Quân tử Tàu, nên Khánh Trường phải viết dâm thư kiếm tiền nuôi Hợp Lưu. Không một quân tử nào khác chịu viết Kim Bình Mai chung với anh. Thê thảm là vậy, cho Khánh Trường, kẻ ôm hoài bão văn chương. Nhưng kỳ diệu, Khánh Trường không xuống bùn, bạn đọc, văn hữu vẫn dành cho anh những tình cảm quý mến vì tất cả hiểu, anh bán mạng cho Hợp Lưu.</p>
<p>Trong thư từ biệt của chủ biên, Khánh Trường nhìn nhận sự bảo bọc của độc giả và nhiệt tâm đóng góp của văn hữu. Nhưng anh quên mất: Chính anh xứng đáng được nhận sự bảo bọc và nhiệt tâm đó. Không phải ngẫu nhiên nhà phê bình Thụy Khuê thường xuyên giúp đỡ anh, lo bài vở cho các số chủ đề, phỏng vấn định kỳ, hỗ trợ anh trong những quyết định khó khăn. Cũng không ngẫu nhiên mà mỗi lần anh kêu cứu, nhà tiểu luận Trương Vũ bay từ Washington DC sang cứu nguy, cũng không ngẫu nhiên mà chị Thụy Khuê, rồi Trân Sa, rồi Mai Ninh, rồi Miêng, rồi Phan Huy Đường và nhiều bằng hữu nữa đứng ra lạc quyên <em>cứu trợ bão lụt miền Trung</em> cho Hợp Lưu mỗi lần… thiên tai hạn hán. Chuyển động Hợp Lưu là một chuyển động dài, không ai có thể đơn thương độc mã gánh vác, và như Khánh Trường khẳng định: Tạp chí Hợp Lưu không thuộc cá nhân ai, là một diễn đàn cấp tiến chung cho tất cả &#8211; thì việc mọi người góp công, góp của là bình thường và chính đáng.</p>
<p>*</p>
<p>Đã trình bầy ba khó khăn lớn nhất của Hợp Lưu: Sự lão hoá của bộ môn sáng tác. Trấn áp trù dập từ các hội đoàn quá khích. Tài chánh eo hẹp. Cũng đã trình bầy sự đứng vững của tạp chí suốt 12 năm. Hôm nay, giờ phút thay đổi chủ biên, bước ngoặc lớn cho những ngày sắp tới, bạn đọc đã có đủ thời gian để nhìn lại chặng đường Hợp Lưu vừa đi qua. Mục tiêu ban đầu &#8211; Giao lưu văn hoá &#8211; có thật đạt được hay không ?</p>
<p>Mở lại số Hợp Lưu 1, chưa có bài trong nước gởi ra, chỉ đăng lại các sáng tác quốc nội, dù việc đăng tải những văn phẩm của những <em>nhà văn quốc doanh</em> lúc đó ở ngoài nước là kỵ huý, vẫn chưa thể xem là đã có dấu hiệu giao lưu thật sự trong số ra mắt. Tuy vậy, điểm son chính là bài phỏng vấn Mai Thảo.</p>
<p>Nguyễn Đăng Quý, bút hiệu Mai Thảo, sinh tại Nam Định di cư vào Nam năm 54. Chỉ một dòng chữ này, một con người này thôi đủ biểu trưng cho tinh thần quốc gia, sức đề kháng chống đối mọi tràn lấn đến từ miền Bắc. Mai Thảo không bao giờ thoả hiệp. Mai Thảo luôn vinh danh cho <em>Tự Do Ở Ta</em> như chữ ông thường dùng trong mục Sổ Tay trên Văn. Nhưng ông chấp nhận trả lời phỏng vấn đăng trên Hợp Lưu. Chấp nhận tên tuổi mình hiện diện trên một tạp chí đang bị khủng bố, và phỉ báng theo giặc. Có thể giải thích vì tình bằng hữu với Khánh Trường là người ông quý mến. Như thế quá dễ dàng vì Mai Thảo không bao giờ khiên cưỡng, ông biết quyết liệt và biết mắng thẳng vào mặt những điều ông khinh bỉ. Phải xem bài phỏng vấn ông trên Hợp Lưu số 1 ở vào thời điểm gay gắt nhất của cộng đồng là thái độ tôn trọng tự do của Mai Thảo, một nhà văn bảo vệ quyền tự do. Bằng hình thức đó, Mai Thảo chống đối những báo chí hội đoàn đảng phái quá khích, và cũng bằng hình thức này ông thừa nhận khuynh hướng giao lưu, và sau hết khi cho phép Khánh Trường đem tên tuổi mình lên tạp chí, ông gián tiếp giải thoát sự cô lập cho Hợp Lưu. Đây là một nghĩa cử hiệp sĩ mà ban chủ biên không thể quên. Trong số ra mắt, Mai Thảo, thủ lãnh của văn nghệ miền Nam đã làm công tác giao lưu trước nhất.</p>
<p>Tôi bước chân vào quán Monge quận 5 lần đầu tiên một buổi sáng tháng 4 năm 92. Ba số Hợp Lưu đã ra, vẫn chưa có bài trong nước gởi đăng và lần đầu tiên 13 năm sau khi vượt biên tôi bước chân vào nơi lui tới của những người tả khuynh. Định nghĩa Tả khuynh dưới thời VNCH rất đơn giản: Thân Cộng. Định nghĩa hữu khuynh: Tư Bản. Định nghĩa Tư bản: Chống Cộng. Khi vượt biển đến các nước Nam Dương, Thái Lan, Mã Lai, Phi Luật Tân, các thuyền nhân mang theo định nghĩa này làm nền móng cho nền Cộng Hoà Pulau Bidong, trại đảo tỵ nạn nổi tiếng khổ cực nhất lúc đó. Sang định cư ở các quốc gia đệ tam, cộng đồng tỵ nạn với tất cả đau đớn hy sinh của thân phận thuyền nhân, với xấp định nghĩa giản lược thẳng tay gạt bỏ những gương mặt tả khuynh có quá khứ phản chiến và chống chánh quyền miền Nam. Tả khuynh hàm nghĩa loài hủi, nổi cộm lên nghĩa trốn lính vừa nhận học bổng của tổng thống Thiệu vừa đâm sau lưng quân lực. Ngược lại, giới tả khuynh phản ứng bằng cách không giao tiếp với hữu khuynh, bỉ thử những thuyền nhân chạy theo Hoa Kỳ, đóng cửa xây pháo đài. Trong một thời gian vô cùng dài, tả và hữu khuynh hành xử với nhau như tả đô đốc Vũ Văn Nhậm kình chống với hữu đô đốc Nguyễn Hữu Chỉnh dưới thời Tây Sơn, chỉ chực hãm hại lùng giết nhau.</p>
<p>Trả lời phỏng vấn trên Hợp Lưu số 17, Nina McPherson dịch giả của Dương Thu Hương, Trần Vũ, Bảo Ninh, Ngọc Khôi, Nguyễn Thị Ấm, Đỗ Kh., Đỗ Phước Tiến, Võ Đình nhận xét: <em>Văn chương Việt Nam toát lên một nổi ám ảnh quá khứ.</em> <em>Người Việt bị quá khứ nhập tràng. Nhà văn Việt Nam để tang cho quá khứ đánh mất, làm như với cuộc ly tán, cùng những vết thương sâu đậm của chiến tranh, quá khứ của người Việt bị cướp mất. Và thiếu quá khứ chung, tương lai trở nên khó hiểu.</em></p>
<p>Quá khứ nhập tràng hay thiếu quá khứ chung, tương lai người Việt trở nên mù mờ khó hiểu. Chưa có lời nhận xét nào văn chương và chính xác cho bằng và cũng là lời giải thích cho mối xung đột tả hữu, Nam &#8211; Bắc, trong &#8211; ngoài. Buổi sáng tôi bước chân vào quán Monge, nền trời ẩm xám, hơi nước bốc lên mù các tấm kính. Buổi sáng lạnh yên tĩnh nhưng tâm hồn tôi xáo động. Tôi sắp gặp những gương mặt tả khuynh chống chiến tranh Việt Nam, tiếp tay cho Mặt Trận góp phần làm sụp đổ Sài gòn khiến gia đình tôi ly tán. Tôi tiến đến chiếc bàn trong góc có nhiều người chờ với mặc cảm phản bội bố mẹ đã bỏ hết nhà cửa của cải ở phố Sinh Từ và Hàng Đào di cư vào nam. Tôi rủa tổng biên tập Khánh Trường đã nhờ tôi thay anh ở xa, gặp nhóm chủ biên Diễn Đàn, hậu thân ly khai của tờ Đoàn Kết hội Việt Kiều Yêu Nước. Ban chủ biên Hợp Lưu quyết định mời ban biên tập Diễn Đàn viết bài đăng trên Hợp Lưu và ngược lại. Tôi không rõ vì sao Khánh Trường nhờ mình đại diện, có phải vì tôi nhỏ nhất, chưa kịp có quá khứ để tương lai bớt mù mờ?</p>
<p>Chủ nhiệm Hà Dương Tường mời ăn bún bò. Tôi từ chối để giữ thế giá của người Cộng Hoà. Ngoài biên tập viên Trần Hải Hạc, phụ trách trang khoa học Bùi Mộng Hùng, phụ trách trang văn học Đặng Tiến, chủ bút Nguyễn Ngọc Giao, còn có cựu «chính ủy» Phan Huy Đường bắc kỳ di cư.</p>
<p>&#8211; Làm gì nghiêm trọng thế? Hà Dương Tường vỗ vai.</p>
<p>&#8211; Chúng tôi mời Vũ dùng bún bò ở quán này vì không tệ lắm.</p>
<p>Nguyễn Ngọc Giao khuyến khích. Mọi người cùng ăn, ngồi không tất kỳ, tôi cất <em>thế giá</em> của người Cộng Hoà vào <em>cartable.</em> Chưa kịp gắp móng giò heo trắng muốt, mềm như bàn tay một đứa bé, người Marxiste Phan Huy Đường đã kiểm tra kiến thức :</p>
<p>&#8211; Vũ nghĩ gì về cuốn sách của Lê Ngọc Trà?</p>
<p>Tôi chẳng nghĩ gì hết. Giản dị vì tôi không quan tâm đến biên khảo, lý luận phê bình. Tôi chỉ đọc truyện ngắn, tiểu thuyết và tuỳ bút. Sau kiểm tra vấn đáp điểm zéro, sau…ba ly <em>grand vin de Bordeaux cuvée du patron</em>, tôi mạnh dạn đặt điều kiện:</p>
<p>&#8211; Hợp Lưu sẽ đăng các bài viết của các anh, ngược lại những sáng tác của ban biên tập Hợp Lưu đăng trên Diễn Đàn đừng viết <em>chapeau</em> kiểu những đứa con lầm lạc đi hoang đã trở về nhà và đây là điều kiện tiên quyết!</p>
<p>Tất cả mọi người cười ồ cho đến khi chủ bút Nguyễn Ngọc Giao trấn an:</p>
<p>&#8211; Chúng tôi đâu đến nỗi thế!</p>
<p>An tâm, nhưng tôi vẫn lập lại điều kiện một lần nữa, dù Khánh Trường không dặn, vì lý do giản dị những người bạn sáng tác trên Hợp Lưu thích đi hoang, chưa chịu về, còn đi chơi tiếp. <em>Còn khuya Sa mới về, </em>giống Trân Sa ưa nguýt<em>. </em>Giống Vũ Quỳnh Nh. đủ khả năng uống cho hết một đêm hoang vu trên mặt đất rồi đón máy bay đi Prague chỉ để ăn sáng, trưa về lại Paris và tối bay đi San José tìm một thiên đường khác.</p>
<p>Chuyển động Hợp Lưu với giới tả khuynh bắt đầu như thế, trước tô bún bò Huế. Rất nhanh Diễn Đàn số tháng 7/1992 làm chủ đề giao lưu văn hoá giới thiệu trang trọng các sáng tác của Phạm Việt Cường, Lê Bi, Phan Tấn Hải, Thế Uyên, Thụy Khuê, Đỗ Kh., Trần Vũ với minh họa của Khánh Trường. Từ số này về sau tiểu luận Thế Uyên, thơ Thường Quán, truyện ngắn Mai Ninh, Miêng, Phan Thị Trọng Tuyến sẽ đăng đều đặn bình thuờng. Ngược lại đông đảo các gương mặt <em>khét tiếng tả khuynh</em> sẽ xuất hiện ồ ạt trên Hợp Lưu ngay trong năm đầu tiên và sau đó: Trần Đạo, Đặng Tiến, Đơn Hành, Phạm Trọng Luật, Tạ Trọng Hiệp, Nam Dao, Phan Nguyên, Huỳnh Mạnh Tiên, Lê Bá Đảng, Lê Thứ, Huỳnh Hữu Ủy… Chuyển động Giao Lưu không chỉ ngừng ở trao đổi bản thảo giữa hai tạp chí Diễn Đàn &#8211; Hợp Lưu, mà còn bình thưòng hóa quan hệ giữa những người tả khuynh với cộng đồng thuyền nhân tỵ nạn. Trên Thông Luận, Nguyễn Gia Kiểng lãnh tụ tổng hội sinh viên Sàigòn &#8211; Paris, viên chức cao cấp chánh phủ cuối cùng trước ngày thất thủ, giới thiệu trân trọng trường thiên tiểu thuyết Gió Lửa của Nam Dao, một tiểu thuyết gia không cùng chung quá khứ. Phan Huy Đường, qua nhà xuất bản Philippe Piquier, lập <em>collection</em> truyện Việt Nam dịch sang tiếng Pháp. Lần đầu tiên một <em>collection </em>bao gồm các tác giả trong ngoài nước gồm nhiều tiểu thuyết và truyện ngắn được giới thiệu đến thế giới.</p>
<p>Hợp Lưu số 6 đăng một bài tiểu luận nhức nhối của Đặng Tiến. Ngoài tài hoa mà Đặng Tiến thể hiện qua biết bao nhiêu bài bình thơ như Lưu Trọng Lư, Đoá Mộng Đầu hay Hoàng Cầm Cây Tam Cúc, nhà phê bình thâm niên này đặt một câu hỏi: <em>Thế nào là Dân Chủ?</em> rồi ông thong dong giảng: <em>Hồ Chí Minh xưng Bác với đồng bào là không dân chủ!</em> Bài tiểu luận đã làm phiền lòng không ít những độc giả <em>bảo hoàng</em>.</p>
<p>Hợp Lưu số 15 đăng một bài tiểu luận nẩy lửa khác của Trần Đạo phê phán gay gắt quan niệm tiểu thuyết của Nguyễn Khải, một nhà văn hàng đầu trong nước. Đọc lại một lần nữa phần nhập <em>Gặp Gỡ Cuối Năm, Khi Lập Trường Thắt Họng Văn Chương</em> để thấy suy nghĩ của người tả khuynh từ cuối thập niên 80 không khác suy nghĩ của những thuyền nhân hôm qua:</p>
<p><em>«Với những người khác họ chửi Cộng Sản hay bênh Cộng Sản, tôi đều không quan tâm mấy, họ chửi cũng chả hại được mình, họ bênh cũng chẳng làm mình sang trọng hơn. Viết được về họ kể ra cũng vui vui, không viết gì về họ cũng chẳng ai nỡ trách tại sao lại thiếu… Người ta chỉ say mê có những con người của hôm nay thôi.»</em></p>
<p>«Ai thế?</p>
<p>Tài đức bao nhiêu mà ngạo mạn đến vậy?</p>
<p>Nếu là một bạo chúa thời Trung cổ thì đã đáng buồn: Chúng ta thừa kế quá khứ của nhân loại, một phần nhân phẩm của ta đúc kết bằng di sản đó. Nếu là một nhà chính trị, thật đáng lo: trong lịch sử cận đại, quan điểm đó về đồng loại đã đào khá nhiều hố chôn tập thể khổng lồ, trong đó không thiếu gì người Cộng Sản. Khủng khiếp thay! Đây là câu văn của một nhà văn có tiếng, có miếng, có tác phẩm được đăng, được khen, và có quyền hành, tác giả tiểu thuyết Gặp Gỡ Cuối Năm, Nguyễn Khải, một con họa mi trong cao trào ‘đổi mới’ văn học.» <em>(trích Trần Đạo, HL15 trg 185).</em></p>
<p>Không thể kể hết 12 năm trong một vài trang giấy, chỉ có thể ghi nhận, tuy ít sáng tác (thơ Huỳnh Mạnh Tiên, truyện ngắn Nam Dao, Dã Tượng, Phan Nguyên…) nhưng rất nhiều tiểu luận sắc nét cùng với biên khảo, hiệu đính công phu của Tạ Trọng Hiệp, Phạm Trọng Luật, Lê Thứ, Đơn Hành, Huỳnh Hữu Ủy,… đã chứng minh những đóng góp nhiệt tâm, nhiệt tình của giới tả khuynh trên Hợp Lưu. Chỉ với vài số báo, Khánh Trường đã xoá đi bức tường ngăn cách, giàn hoà Vũ Văn Nhậm với Nguyễn Hữu Chỉnh. Không còn tả, không còn hữu, chỉ có con người Việt Nam mà phẩm giá duy nhất để đo lường là nhân cách. Chỉ vài số báo việc hợp lưu những con người dị biệt quá khứ sống ngoài tổ quốc đã được thực hiện. Đây là một thành công.</p>
<p>Hợp Lưu số 8 chủ đề Văn Cao, đánh dấu một bước ngoặt. Lần đầu tiên tín hiệu công khai giao lưu với trong nước được thể hiện rõ qua bài viết của Hoàng Cầm trách Phạm Duy hiểu <em>chệch choạc</em> (chữ của Hoàng Cầm) về thi ca ông. Trong cùng số báo Phạm Duy viết bài trả lời Về Những Cái Gọi Là Hoàng Cầm Ca! Những số báo sau, cả hai sẽ có thư trao đổi làm hoà. Trong chủ đề Văn Cao còn có hai bài viết khác trực tiếp gởi từ trong nước ra theo lời mời của Đặng Tiến, một của Dương Tường và một của Hoàng Phủ Ngọc Tường, cả hai đều viết về Văn Cao. Hoàng Phủ sẽ là người tham dự Hợp Lưu hết mình cho đến ngày ông ngã quỵ. Bạn đọc ngoài nước rất bất ngờ khi khám phá Hoàng Phủ Ngọc Tường — <em>tên đồ tể Huế</em> như hội đoàn cộng đồng kết tội — biết viết những trang tùy bút diễm ảo lạ thường. Đường lên núi Bạch Mã với đôi chim phượng bay về núi mỗi chiều qua rừng tùng tím thẫm, rặng bạch đàn xanh ngút ngắt biết thổn thức dọc Trường Sơn, giải đất đá khô cằn nứt nẻ ngoài Bình Trị Thiên mỗi mùa cát lấp mất đi tiếng khóc của trẻ nhỏ chào đời. Khó mà tin một tên đồ tể thảm sát chôn người tập thể ngoài Huế lại nhậy cảm và nhiều cảm xúc như vậy. Tôi không rõ Hoàng Phủ Ngọc Tường có thật trách nhiệm thảm kịch Mậu Thân 68 hay không, nhưng tôi biết tòa chưa tuyên án chưa ai có tội, và tôi cũng biết: Sau Nguyễn Tuân, Mai Thảo, Võ Phiến, Hoàng Phủ là người viết tuỳ bút tài hoa nhất của đất nước. Lần cuối về thăm ông bại liệt trong ngôi nhà cũ của Trịnh Công Sơn ở Phú Cam, Hoàng Phủ Ngọc Tường còn hỏi thăm từng người trong ban biên tập Hợp Lưu. Ông không còn đi đứng được để dẫn tôi đi chơi lăng, để cùng ngồi uống rượu đế Làng Truồi ở lăng Gia Long. Lăng mộ đẹp nhất trong các lăng mộ vương triều Nguyễn. Ngồi bên cạnh Hoàng Phủ, dưới gió núi hoang vu, trước lăng tẩm của vị vương tử đầy quyền uy và quyết tâm Nguyễn Ánh, tôi không bao giờ tìm ra câu trả lời Vì sao ngày xưa ông <em>nhảy núi </em>? Nhưng tôi hiểu tại sao ông yêu Huế, chính vì Hoàng Phủ Ngọc Tường thương nỗi buồn trong từng con người Việt Nam và Huế là thành phố buồn bã nhất. Ngắm bậc tam cấp còn uốn các chú rồng nhỏ, ngắm viên quan chắp tay cụt đầu, con ngựa cung đình thui chột, tôi nhớ Phan Nhật Nam trong Dựa Lưng Nỗi Chết kể chuyện nhân vật lính lên lăng Gia Long uống bia không đá và lấy súng M-16 bắn ngựa mù mắt trong một buổi chiều cuối năm sông Hương bốc mờ sương khói. Phan Nhật Nam, cũng là người viết bút ký chiến trường hay nhất Việt Nam. Phan Nhật Nam đã mở ra trong tôi bao nhiêu khu rừng thông có cánh chim trắng bay chậm rãi, cánh chim tinh khiết như tâm hồn các tân khoá sinh sĩ quan võ bị quốc gia Đà Lạt. Phan Nhật Nam, thần tượng của một trời tuổi thơ, và bây giờ tôi ngồi cạnh Hoàng Phủ, tên <em>đồ tể</em> đang bại liệt còn thăm hỏi Hợp Lưu. <em>Thiếu quá khứ chung khiến tương lai trở nên khó hiểu? </em>Phải thế không Nina? Nhưng làm sao McPherson, dịch giả trẻ khả ái này có thể hiểu và nắm bắt nhanh như vậy nguồn gốc ung thư của chứng bệnh trầm kha chia rẽ của dân tộc này? Chỉ bằng xuyên qua dịch thuật mười truyện ngắn và ba cuốn tiểu thuyết? Câu trả lời nằm trong khả năng kỳ diệu huyền hoặc vô biên của văn chương.</p>
<p>Kỳ diệu và không biên giới, nên Hợp Lưu số 18 đánh dấu mốc vô cùng quan trọng. Tháng 8-1994, trong thư ngỏ, Khánh Trường chính thức công bố hai bài viết gởi ra từ trong nước của các giáo sư Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Huệ Chi thuộc viện Văn Học Hà Nội. Nếu bài viết Sức Mạnh Văn Hoá và Sự Phát Triển Văn Minh của Hoàng Ngọc Hiến phân tích tổng quát tiến trình giao lưu không thể tránh khỏi trong khuynh hướng <em>tương thùy</em> (chữ của Hoàng Ngọc Hiến hàm nghĩa theo chiều ngang, đa quốc gia, đa văn hoá), và phân tích chi tiết sâu sắc những đòi hỏi văn hóa ở con người, ở một quốc gia, ở một dân tộc; thì bài viết của Nguyễn Huệ Chi, Vài Cảm Nhận Văn Học Việt Nam Hải Ngoại, tập trung khoanh vùng một thực tế đã khiến ông ray rức: Đời sống tinh thần của người Việt xa xứ. Bằng uy tín cá nhân, bằng nghiên cứu cẩn trọng, Nguyễn Huệ Chi công khai tuyên bố sự hiện hữu của một dòng văn chương ngoài nước và đặc biệt — bài viết của ông toát ra khát khao chân thành tìm hiểu những sáng tác bên này biển. Tuy thiếu tài liệu tham khảo, giáo sư Nguyễn Huệ Chi đã làm công việc nghiêm túc của người làm văn học: Xác định và đánh giá khách quan không thành kiến, không quan điểm, không lập trường, chỉ bằng chính tấm lòng ngay thẳng của mình. Bài viết của ông là một trong những bài viết đầu tiên mở đường cho những nhận định khác xây dựng trên cùng một giá trị vừa kể, chẳng hạn Một Cách Nhìn 18 Năm Văn Học Nước Ngoài của Lê Hoài Nguyên, đăng trên Hợp Lưu số 14.</p>
<p>Tất nhiên, Khánh Trường và toàn ban chủ biên, cùng các tác giả có hay không tham dự Hợp Lưu không chờ đợi Nguyễn Huệ Chi trích lục khai sinh. Cũng không chờ đợi ông đóng một nhãn hiệu cầu chứng, hay cấp bằng chất lượng ISO, cấp thẻ lưu hành cho xe máy văn chương trên 100 phân khối. Tất cả đều hiểu văn học hải ngoại hiện hữu bằng chính khả năng sáng tạo đã có và không cần bất kỳ một thị thực nhập cảnh nào, cho dù bị xem là Văn chương Việt kiều. Điểm son trong bài viết của Nguyễn Huệ Chi nằm ở đây. Giáo sư không hề có tham vọng cấp hộ khẩu văn chương, nhưng khát khao tìm hiểu sáng tác của những nhà văn không có chứng minh nhân dân. Hợp Lưu số 18 đánh dấu một cách nhìn mới ở trong nước, một phần thưởng quý giá đối với ban chủ biên, mà tất cả đã quý trọng lòng dũng cảm vô biên không chỉ với riêng Nguyện Huệ Chi mà còn với cả nhà phê bình Hoàng Ngọc Hiến đã can trường gởi bản thảo, và trách nhiệm hành động ý thức này.</p>
<p>Cùng trên Hợp Lưu 18, Phạm Thị Hoài gởi đăng hai truyện ngắn mới nhất chưa hề xuất hiện trong nước, hai truyện ngắn kinh dị của văn chương Việt Nam. Tiệm May Sàigòn miêu tả đời sống tâm lý kinh hoảng của bầy thợ may mang tên âm trắc, yêu dễ dãi và chết dễ dãi trong u tối văn hoá. Thực Đơn Chủ Nhật liệt kê thức ăn đối chọi của hai thời đại xưa/nay, thời đại cơm bát bửu bị nhốt vào trong xó nhà chết sình thối không ai biết, và thời đại đái vào nồi rau muống luộc diễn ra trên vỉa hè của những hàng cơm tập thể thờ ơ với cái vừa chết. Phạm Thị Hoài, nhà văn duy nhất của giai đoạn Đổi Mới bùng nổ còn giữ lại phẩm chất sắc sảo trong tác phẩm, vẫn không gian <em>milimètre</em>, vẫn chuốt nhọn từng chữ, cân từng <em>gramme</em> dấu phẩy, đo từng đường kính mỗi dấu chấm, và xếp suy nghĩ thành hình khối thách đố trí tuệ. Truyện ngắn Ám Thị gần đây đăng trên Việt chứng tỏ tài năng nguyên vẹn này. Phạm Thị Hoài, <em>trên sinh lộ mới của văn học</em> như Thụy Khuê phân tích trong một bài phê bình cùng tên (Hợp Lưu 11). Nhưng Phạm Thị Hoài không ngừng ở đó. Bằng hoàn cảnh sống, bằng những tham dự dấn thân, bằng thái độ sống, và đặc biệt bằng phong cách diễn đạt qua tác phẩm, Phạm Thị Hoài đã chiến thắng cụm từ Hải Ngoại &#8211; Trong Nước. Không ai dám nhận vơ Phạm Thị Hoài là nhà văn hải ngoại, và cũng thật khó khăn xếp Hoài vào nhà văn trong nước, khi Hoài sinh sống tại Bá Linh, chủ biên Talawas. Phạm Thị Hoài, một nhà văn Việt Nam, không trong, không ngoài.</p>
<p>12 năm không biên giới đã cho phép Hợp Lưu đăng tải vô vàn những sáng tác, biên khảo, phỏng vấn của các tác giả trong nước. Không thể liệt kê hết 16500 trang của 66 số báo, chỉ có thể nhắc lại những ấn tượng chính:</p>
<p>Quả Vườn Ổi (Hoàng Cầm), Dị Mộng, Qua Sông (Cung Tích Biền), Đàn Sẻ Ri Bay Ngang Rừng (Võ Thị Xuân Hà), Giấc Ngủ Nơi Trần Thế (Nguyễn Thị Ấm), Đảo Ngụ Cư (Đỗ Phước Tiến), Vũ Điệu Của Cái Bô (Nguyễn Quang Thân), Phù Thủy, Hậu Thiên Đường (Nguyễn Thị Thu Huệ), Lão Khổ (Tạ Duy Anh), Một Chuyện Phải Gió (Nguyễn Quang Lập), Gió Dại, Khắc Dấu Mạn Thuyền (Bảo Ninh), Mùa Hoa Cải Bên Sông, Người Đàn Bà Xóm Trại (Nguyễn Quang Thiều), Bảy Trích Đoạn Mùa Xuân Vùng Da Cam, Phòng Bốn Giường (Bùi Hoàng Vị), thơ Thanh Thảo, Nguyễn Đỗ, Hoàng Hưng, Bùi Chí Vinh, Nguyễn Quyến, Nguyễn Quốc Chánh, Nguyễn Duy, Nguyễn Trọng Tạo, Trần Vàng Sao, Lâm Thị Mỹ Dạ, Triệu Từ Truyền, Lê Đạt. Truyện ngắn Nhật Tuấn, Nguyễn Thị Minh Ngọc, Ngô Thị Kim Cúc, Phan Thị Vàng Anh, Trần Thùy Mai, Trung Trung Đỉnh, Lý Lan, Võ Thị Hảo, Trần Thị Trường, Hoà Vang, Nguyễn Bản, Lê Minh Khuê, Ma Văn Kháng, v.v.. Biên khảo lý luận của Nguyễn Kiến Giang, Lại Nguyên Ăn, Bùi Thiết, Đào Thái Tôn,Vương Trí Nhàn, Tiêu Dao Bảo Cự, Lê Ngọc Trà, Phong Lê, Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Huệ Chi, Phạm Xuân Nguyên, Lê Hoài Nguyên, v.v..</p>
<p>Ở mỗi bộ môn đều có rất nhiều bản thảo gởi ra từ trong nước như trường hợp Thằng Bắt Quỷ (Cung Tích Biền), Xuân Hồng (Nguyễn Huy Thiệp), Từ Man Nương đến AK (Phạm Thị Hoài), Không Đề (Trần Vàng Sao), Chia (Nguyễn Trọng Tạo), Người Thuận Tay Trái, Chạy Đạn, Dặm Trường (Trần Thị Ngh.), Tự Bạch, Tiểu thuyết Vô Đề (Dương Thu Hương), Ngọn Núi Ảo Ảnh, Tuyệt Tình Cốc (Hoàng Phủ Ngọc Tường),Tầng Trệt Thiên Đường, Nghiệp, Dị Mộng, Khu X Nội Quang (Bùi Hoàng Vị), Truyện Của Chíp, Bụi Nắng (Phan Huyền Thư), Văn Học và Xã Hội VN (Phạm Thị Hoài), Nhìn Chung Một Bức Tranh Hoàn Chỉnh Về Văn Học Dân Tộc (Phạm Xuân Nguyên), thơ Hoàng Hưng, Nguyễn Đỗ, Nguyễn Quốc Chánh, nghiên cứu ngôn ngữ Nguyễn Bạt Tụy, tiểu luận Trần Độ, v.v.. Sau hết, trận bút chiến kinh thiên giữa Hoàng Ngọc Hiến, Phạm Xuân Nguyên, Thường Quán với Nguyễn Hưng Quốc, Hoàng Ngọc Tuấn trong chủ đề Trí Thức-Phản-Trí Thức bắt nguồn từ Phê Bình Văn Học Của Hoài Thanh (Hoàng Ngọc Hiến) và ngay sau khi Lê Đạt cao tuổi trượt chân. Phạm Xuân Nguyên, nhà nghiên cứu thuộc viện Văn Học Hà Nội đã đóng lại đúng lúc cuộc tranh luận bắt đầu <em>nghe ra tiếng sắt, tiếng vàng lẫn nhau</em> đó. Nhiều bạn đọc lo sợ cho không khí căng thẳng có thể đổ bể bao công sức giao lưu, nhưng tôi tin: Một nền văn học khoẻ mạnh là một nền văn học phải có bút chiến, chỉ cần giữ được tinh thần bút chiến Phan Khôi. Các <em>trận Cóc</em>, <em>Phản Trí Thức</em> càng chứng minh hiện tượng giao lưu văn hoá là có thật.</p>
<p>Như vậy, mục tiêu ban đầu — Giao lưu văn hoá — có thật đạt được hay không? Khánh Trường có thể trả lời khiêm tốn: Thành công mỹ mãn! Hôm nay, bước vào năm thứ 12, tiểu thuyết Chốn Vắng của Dương Thu Hương, qua đại diện tại Pháp Phan Huy Đường, tác giả cho phép đăng từng kỳ trên Hợp Lưu. Chốn Vắng, cuốn tiểu thuyết chưa bao giờ xuất hiện dưới dạng gốc Việt ngữ dù đã được phiên dịch sang Anh, Pháp. Chốn Vắng, mà mỗi trang in là mỗi trang thành tựu của chuyển động hợp lưu. Tôi bước chân vào nghĩa trang Gò Vấp một tối vừa dứt mưa. Phần còn lại của nghĩa trang đã di dời, cải tạo chỉ là những vừng cây um tùm lá. Một góc tường đổ, chăng ngang sợi kẽm gai rỉ, đây đó lác đác vài gốc mả hoang không thân quyến nằm lẫn những hố sình. Buổi tối đen như mực. Càng bước vào sâu càng tối ám. Nhật Tuấn biến đâu mất. Tôi không biết anh ngồi ở đâu, cảm giác mình đi lạc. Tối quá, tôi mầy mò cố tránh những vũng nước bẩn và những bụi mía, đám trúc đâm tua tủa. Ai trồng mía ở đây? Bóng thiếu nữ vụt hiện ra.</p>
<p>&#8211; Anh tới mả em!</p>
<p>Những cánh tay trắng bất ngờ chập chờn vẫy. Những lùm cây lạo xạo. Ánh đèn cầy leo lét ở đâu cháy trong các hốc mả. Một tim đèn dầu phựt lên ma trơi.</p>
<p>&#8211; Anh ơi, mả em đằng này!</p>
<p>&#8211; Em ở mả này anh!</p>
<p>Tôi bắt đầu nhận rõ những chiếc bóng mảnh khảnh đang vây quanh vồ vập. Tiếng cười của các cô gái khiến khu mả vụt trở nên sinh động. Ðám con gái ăn sương cười rú chọc ghẹo.</p>
<p>&#8211; Anh tới mả em.</p>
<p>Tôi chọn cô gái đã mời đầu tiên. Thiếu nữ dắt tôi ra sau tấm bia. Các ngọn nến phụt tắt. Những chấm tim dầu đỏ cũng tắt ngấm. Khu mả trở lại tối tăm lạnh lẽo.</p>
<p>Cô gái trắng nhờ nhợ, chậm rãi bóc nhãn, rót bia. Lúc đi ra sau mộ tìm chỗ tiểu, tôi bật quẹt để nhìn gương mặt người chết: Nguyễn Thị Thanh Hương, hưởng dương 21 tuổi, không có ảnh. Ngọn gió chao khiến diêm quẹt tắt. Ý nghĩ cô gái ngồi cạnh cũng đang nằm phía trước, nhưng Thanh Hương đã đút nhãn, xé mực, mời bia. Ðêm nghĩa địa giống đêm trong bất cứ một quán bia ôm nào. Tôi đứng lên khi nghe tiếng Nhật Tuấn tìm. Thanh Hương chìa tay:</p>
<p>&#8211; Hoá vàng đi anh.</p>
<p>&#8211; Hoá vàng? Tôi không hiểu. Cô gái cười khúc khích:</p>
<p>&#8211; Tám lăm ngàn, tống đạt cho em đi.</p>
<p>Tôi đưa tiền, cô gái dặn với:</p>
<p>&#8211; Mả em ở lô 12/40, rảnh ghé chơi em.</p>
<p>Gò Vấp buổi tối khuya khoắc, đường về phía bệnh viện Cộng Hoà cũ vắng vẻ. Tôi rủ Nhật Tuấn đi ăn cháo Nhà Xác, nhưng anh nói xa lắm, tối quá không chắc còn bán. Chúng tôi ăn cháo rắn ở sạp Ả Oai. Ánh điện néon xanh mướt. Gương mặt cô bán cháo tím tái tựa xác chết, vô cảm trước những lời chòng ghẹo của vài khách nhậu. Tôi nghĩ đến cô gái bán bia ôm lúc nãy. Nhật Tuấn trách :</p>
<p>&#8211; Mày nhát quá. Ði chơi, chơi cho đáng tiền!</p>
<p>&#8211; Không thể nào làm giữa bãi tha ma như vậy. Với phải có tình cảm, trở lại nhiều lần thành bạn gái thân thì mới có thể…</p>
<p>Tôi không biết giải thích sao cho anh hiểu, cũng không sao phân biệt được trứng rắn với hạt sen trắng nõn trong tô cháo bốc khói nghi ngút.</p>
<p>&#8211; Mày lãng mạn công tử máy lạnh quá! Ăn cháo đi, ở đây rất ngon và rất rẻ.</p>
<p>Tôi húp cháo, vẫn nghĩ đến Thanh Hương. Làm sao cô gái biết sử dụng ngôn ngữ hay đến vậy? Hoá vàng? Tống đạt? Phải rồi vì đồng tiền tiêu ở quán bia ôm là đồng tiền ma quỷ. Ðồng tiền Việt kiều đổi ra bạc triệu như giấy cũng không có thật. Tất cả chỉ là vàng mã. Làm sao người viết ở ngoài nước với <em>bill</em>, <em>voucher</em> có thể nghĩ ra một câu gọi tính tiền văn chương hay hơn? Làm sao Thanh Hương, một cô gái trẻ bỏ học rất sớm, quê quán Cần Thơ chưa bao giờ đọc tiểu thuyết có thể nghĩ ra điều đó? Ðồng tiền đang tiêu trên đất nước này là đồng tiền ma quỷ. Không phải tiếng lóng của giới son phấn, chưa cô gái bia ôm nào nói với tôi ngôn ngữ đó và đồng nghiệp của Thanh Hương không đòi Nhật Tuấn trả tiền giống vậy. Hỏi Nhật Tuấn chuyên viên Ði Về Nơi Hoang Dã, hỏi Cung Tích Biền tác giả Cái Chết Của Một Con Ðĩ Ngựa, hỏi Nam Dao tác giả Người Mình, Phạm Xuân Nguyên, Phan Nguyên, nhị nguyên rất rành, rất am tường cũng chưa bao giờ nghe…</p>
<p>Sáng hôm sau, tôi bước chân vào quán bia-rượu-cà phê của thi sĩ Triệu Từ Truyền, chủ biên tạp chí thơ Gieo Mỡ. Sàigòn tháng 7, nắng gay gắt. Ðường Phan Thanh Giản-Ðiện Biên Phủ giữa trưa hầm hơi thiêu đốt. Càng tiếp xúc, tôi càng nhận ra cuộc đời tinh thần của giới sáng tác diễn ra nơi hàng quán. Tôi đã lê la bao nhiêu quán với Mai Thảo, Khánh Trường ở Cali, đã ngồi chiếu thịt cầy Nhật Tân với Nguyễn Huệ Chi, ăn bún chả Hàng Mành với Dương Thu Hương, uống cà phê Hồ Xuân Hương với Bảo Ninh, chui dưới gầm cầu Gia Hội ăn bánh khoái với Hoàng Phủ, leo dốc Nam Giao ăn bún dấm nuốt với Ngụy Ngữ, bar Thiên Ðường, Guns n’ Roses với Cung Tích Biền, cá sấu chấm chao, trúc, cheo, nhím, rắn, cóc, dơi, khỉ ở quán Tri Kỷ, Quê Hương, Thuyền Quang, Hàng Xanh, Hoàng Ty… Kể lại kỷ niệm hàng quán ở câu lạc bộ Triệu Từ Truyền trưa đó để giải thích thêm hiện tượng bản thảo trong nước đến tay chủ biên Hợp Lưu đôi khi vòng vo tam quốc thật tình cờ. Trưa nóng, tôi với Cung Tích Biền đánh cờ. Tôi thử đánh liên tiếp pháo trùng, pháo lồng, song pháo, thua xiểng liểng… Cung Tích Biền tác giả Ngoại Ô Dĩ An đánh cờ cũng huyền ảo như ông viết Dị Mộng. Tôi loay hoay cố nhớ truyện ngắn tâm lý Ván Cờ của Vĩnh Hảo để tìm lối thoát. Triệu Từ Truyền dẫn một thanh niên to, cao đến giới thiệu:</p>
<p>&#8211; Ðây là Bùi Chí Vinh, đây Trần Vũ viết trên Hợp Lưu.</p>
<p>&#8211; Ai cho đăng bài thơ Con Ngựa trên Hợp Lưu?</p>
<p>Bùi Chí Vinh đầy bia bọt, da sạm, đẹp trai, và du côn.</p>
<p>&#8211; Mày phải hỏi thằng Khánh Trường, hỏi chi ở đây. &#8211; Anh Cung Tích Biền đỡ hộ.</p>
<p>&#8211; Chính Vũ chép lại gởi cho Khánh Trường bài thơ Con Ngựa. &#8211; Tôi trả lời.</p>
<p>&#8211; Ai cho? Sao không xin phép? &#8211; Bùi Chí Vinh đã ngồi xuống, hất hàm.</p>
<p>&#8211; Anh Nam Dao sang Pháp đọc cho nghe, rồi chép lại.</p>
<p>Tôi kể lại chuyện những buổi tối cùng Nam Dao lê la các hầm rượu Paris, Nam Dao ngâm bao nhiêu bài thơ Bùi Chí Vinh đã đọc cho nghe năm 80. Tôi chép bài Con Ngựa ưng ý nhất gởi cho Khánh Trường.</p>
<p>&#8211; Hà, hà.. tay Nam Dao. Nam Dao thì toàn quyền…</p>
<p>Bùi Chí Vinh cười rung người, rồi lại bực bội:</p>
<p>&#8211; Nhưng sao không trả nhuận bút?</p>
<p>&#8211; Trên Hợp Lưu ai cũng viết chùa. Khánh Trường rất nghèo, không có tiền trả nhuận bút, nhưng nếu Vinh đòi thì trả.</p>
<p>&#8211; Trả một chai Whisky đi. &#8211; Bùi Chí Vinh đề nghị.</p>
<p>&#8211; Rồi.</p>
<p>Triệu Từ Truyền đem ra một chai Johnnie Walker nắp đỏ. Tôi đếm 180.000 đồng trả. Không khí tưng bừng trở lại. Cung Tích Biền dẹp cờ tướng, Triệu Từ Truyền ngâm thơ, đãi rượu rắn, cả đám cạn thêm két bia, khui chai rượu nhuận bút uống cho hết một buổi chiều hoang vu nữa trên mặt đất.</p>
<p>Đã điểm qua giai đoạn hình thành lịch sử, những khó khăn triền miên, những thành tựu nhất định, không thể không tiếp tục dàn bài mà các giáo viên văn chủ nhiệm không ngừng nhắc nhở: Đã có thành tựu, phải có giới hạn và truy xét kinh nghiệm bản thân… những tiêu chuẩn đòi hỏi của văn học chính quy. Giới hạn của Hợp Lưu nằm ở đâu?</p>
<p>Mở lại các trang báo cũ, bạn đọc nhận ra ngay từ Hợp Lưu số 3, chủ đề Văn chương nữ đương đại, Khánh Trường đã tham vọng… khai phá, vung lựu đạn đòi hỏi quyết liệt cách tân, đổi mới sáng tác. Hiện đại hoá văn chương Việt, hậu hiện đại hoá, hay đương đại hoá sẽ là khẩu hiệu, lá cờ Quyết chiến &#8211; Quyết thắng, quyết tử cho văn chương quyết sinh của chủ biên mặc dù anh không thể định nghĩa thế nào là Hậu hiện đại. Điều kỳ lạ, rất đông đảo giới sáng tác đã đồng loạt lên đường trong giai đoạn đầu, đồng loạt khởi phát một phong trào sẽ để lại nhiều tiếng tăm lẫn tai tiếng: Phong trào <em>Sinh dục hoá thi ca.</em> Song song, nẩy sinh một hiện tượng khác: Các sáng tác trên Hợp Lưu (và tạp chí Thơ, một tạp chí đồng hành, chuyên ngành, đồng tâm huyết) thường rất khác lạ, trên hình thức, trong kỷ thuật, với đầy liều lĩnh.</p>
<p>Nhưng làm sao tổng biên tập Hợp Lưu, Khánh Trường, chưa khoác lên mình áo hoàng bào trưởng thượng, chưa đội vương miện thi bá, chưa xuống tay đao phủ văn xuôi, chưa lập thuyết có thể triệu tập tinh hoa của sáng tác ngoài nước? Và tại sao tất cả cùng đi tìm dâm tính, <em>noạ tính</em> trong văn chương như Trương Vũ nhận xét? Tôi không tin Khánh Trường có khả năng giao tế đến mức quy tụ hào kiệt, anh đôi lúc rất vụng về miền viễn Tây, khiến một số sáng tác first choice như trường hợp truyện ngắn xuất sắc Trong Buốt Pha Lê, kịch Câm, Treo Đầu Dây Quan Họ của Nam Dao, do tôi chuyển đến Hợp Lưu trước nhất, cuối cùng vì Khánh Trường chậm trễ đã xuất hiện trên Văn Học. Có thể giải thích, bằng ý chí quyết tâm khai phá, bảo vệ môi sinh hoang dã, hỗ trợ tối đa mạch văn không chính quy, giao hẳn mấy chục <em>hectare</em> đất trên Hợp Lưu cho các tác giả trẻ muốn làm gì làm, Khánh Trường đã lôi kéo về anh sức mạnh của sáng tác. Chính tự do tuyệt đối trong sáng tác, trên Hợp Lưu, không bài vị, không kỵ huý, không Khổng Mạnh, không quốc cấm, «no care» như Khánh Trường thường hãnh diện, đã tạo cơ hội mới cho sáng tác. Nguyễn Hưng Quốc nhận xét hiện tượng đó một cách tổng quan và đại cương hơn trên Hợp Lưu số 40:</p>
<p><em>«Nếu quan sát kỹ sinh hoạt văn học hải ngoại từ trước đến nay, chúng ta sẽ thấy hiện tượng thú vị: thỉnh thoảng, có lúc, hình như, tự dưng một số nhà văn, nhà thơ (đặc biệt là các nhà thơ), một cách hoàn toàn tự phát nhưng lại gần như đồng loạt, từ giả tờ báo này để cộng tác với một tờ báo khác. Sự ‘chuyển luồng’ ấy thú vị ở chỗ: nó tự phát nhưng lại khá đồng loạt. Và nó để lại dấu ấn không nhỏ trên diện mạo của cả tờ báo trước lẫn tờ báo sau. (Theo tôi, những hiện tượng ‘chuyển luồng’ như thế thể hiện rõ hơn đâu hết quá trình vận động lặng lẽ của ý thức văn học của từng thời kỳ). Những sự chọn lựa âm thầm ấy của giới cầm bút góp phần quan trọng, chắc chắn còn quan trọng hơn cá tính của người chủ biên, trong việc định hình diện mạo và giá trị của tờ báo, từ đó, dẫn đến hiện tượng có thể có hai tờ báo có những cộng tác viên chính tương đối giống nhau mà chất lượng vẫn khác hẳn nhau: một tờ khá, một tờ kém; một tờ cấp tiến, một tờ bảo thủ; một tờ trăn trở đi tìm cái mới, một tờ tiếp tục ầu ơ những bài ca cũ. Đại khái, cũng chỉ chừng ấy người viết chính.» </em>(trích Vài Ý Nghĩ Thoáng Về Báo Văn Học, Nguyễn Hưng Quốc, Hợp Lưu 40).</p>
<p>Nhà phê bình chụp bắt chính xác điều mà giới sáng tác đã cảm nhận từ rất lâu. Phân tích đó đặc biệt đúng với Hợp Lưu, một tạp chí chia sẻ người viết với các báo bạn,Văn, Việt, Văn Học, Diễn Đàn.. nhưng sự ‘chuyển luồng’ đó khác thường ở chỗ tập trung vào mặt hình thức, dâm tính hoá văn chương cùng cực dưới tên gọi: <em>Khai Phá</em> — mục tiêu chánh thức thứ nhì của Hợp Lưu.</p>
<p>Có thể chia lớp người viết trẻ — hiểu theo nghĩa <em>trung niên trẻ</em> mà Thế Uyên định nghĩa — tham dự trên Hợp Lưu làm hai nhóm. Nhóm phá phách nổi: Đỗ Kh., Nguyễn Hoàng Nam, Đinh Linh, Trân Sa, Trần Vũ, Vũ Quỳnh Nh., Lê Thị Thấm Vân, Nguyễn Thị Thanh Bình, Nguyễn Thị Hoàng Bắc (trong thơ), Huỳnh Mạnh Tiên, Thế Uyên, Nam Dao, Chân Phương, Mai Ninh, Nguyễn Hoàng Nam… và nhóm nghịch ngầm: Khế Iêm, Ngu Yên, Hoàng Mai Đạt, Nguyễn Thị Ngọc Nhung, Phan Tấn Hải, Dã Tượng, Ngọc Khôi, Phạm Việt Cường, Lê Thị Huệ, Nguyễn Hương, Lê Bi, Thuận Ánh,… Những tác giả khác, hoặc thầm kín như trường hợp Hồ Đình Nghiêm, hay tách bạch trầm tĩnh, tĩnh mịch riêng rẻ và độc lập tiếp tục văn nghiệp đã định hướng như Võ Đình, hoặc thu gọn trong trường phái nhất quyết không phát vãng trinh tiết: Lê Minh Hà, Phạm Hải Anh, Đặng Thơ Thơ, Hồ Minh Dũng, Phan Thị Trọng Tuyến, Vĩnh Hảo, Miêng, Trần Thị Diệu Tâm, Sông Phố, Song Thao, Trần Mộng Tú, Quỳnh Giao… Nếu Chân Phương, Khế Iêm nhanh chóng chiếm chức lý thuyết gia của phong trào, trên mặt thi ca, trong văn xuôi chưa ai lý thuyết hoá những điều mình muốn viết. Tất cả chỉ biết ra đấu trường giác đấu với một chủ biên <em>no care</em>, với một tinh thần hung hãn của Mai Thảo.</p>
<p><em>Khai phá</em> — phải hiểu là một cách nói đoạn tuyệt lịch sự. Giống Mai Thảo đã đoạn tuyệt với Tự Lực, chấm dứt một thời đại văn học, khai sinh một thời kỳ Sáng Tạo nguy nga mới ngay khi ông vào Nam. Đoạn tuyệt với Đoạn Tuyệt của Khái Hưng, Nhất Linh. Đoạn tuyệt với cái Tôi xã hội, Tôi chung của mùa thu Tiền Chiến. Lên đường, chất nổ đã ném vào, cờ đã phất lên, dù chưa biết đi về đâu. Có thể xem đây là nền tư tưởng chính của ban chủ biên Hợp Lưu cùng hai nhóm nổi &#8211; chìm trong suốt giai đoạn vừa qua. Một lập lại tư tưởng đoạn tuyệt của Mai Thảo, nhưng với chính …Mai Thảo. Đoạn tuyệt với các bạn bè ông: Vũ Khắc Khoan, Nghiêm Xuân Hồng, Mặc Đỗ, Thanh Nam, Võ Phiến, Túy Hồng, Tô Thuỳ Yên, Nhã Ca, Dương Nghiễm Mậu, Trần Dạ Từ, v.v… Đoạn tuyệt với cái Tôi Trí Tuệ của Thanh Tâm Tuyền! Đoạn tuyệt luôn với hai thập niên hải ngoại thừa kế vừa qua. Lớn lao, khổng lồ, đầy tham vọng nếu đọc lại những gào thét của chủ biên Khánh Trường trong những lá thư toà soạn, nhưng đằng sau tư tưởng đó, là cả một vực thẳm sương mù trùng điệp mênh mông dài sâu hun hút, không đáy, không tiếng động, không hình dáng, không có gì rõ rệt. <em>Vùng tuyệt Mù</em>, như Thụy Khuê sẽ thật nhanh nắm bắt.</p>
<p>Trong đấu trường mờ mịt ở Châu Âu, Úc và Bắc Mỹ, trong <em>chốn vắng tư duy</em> đó, các tác giả hung hãn nhất, nhất quyết ra khơi. Phải nhìn nhận, trong những số Hợp Lưu đầu tinh thần ra trận của Phạm Tiến Duật đã có. <em>Những binh đoàn kéo nhau ra trận tuyến… trường sơn Đông hú gọi trường sơn Tây… </em>Tất cả đã đồng loạt cùng một lúc thay đổi bút pháp, hình thức, câu chữ và đăng tập trung trong vài số báo. Nếu đại đa số chọn khuynh hướng biểu trưng đậm đặc, một số khác chọn trường phái dã thú, nhưng tất cả đều đã ùa đi tìm ấn tượng. Truyện ngắn Sắc Màu của Vũ Quỳnh Nh. đã mở đầu bằng ba câu nhập hết sức khiêu khích:</p>
<p>&#8211; Gái tơ, trẻ đẹp đủ cỡ, ông thích không?</p>
<p>&#8211; Gái trẻ đẹp biết cách chiều chuộng, mời ông vô?</p>
<p>&#8211; Gái,…</p>
<p>( trích Vũ Quỳnh Nh, Sắc Màu, Hợp Lưu số 3)</p>
<p>Chỉ với ba chữ Gái rao mời sáng tác <em>khai phá</em>, Vũ Quỳnh Nh. đã khẳng định mình không thuộc trường phái Chim Hót Trong Lồng của Nhật Tiến, vứt trả hết cho thầy Trần Trọng Kim những tâm huyết của nghề văn. Cùng trên Hợp Lưu số 3, Trân Sa viết truyện tình Thời Nàng Còn Điên và chứng tỏ Sa biết điên. Bốn số sau, Bản Chính trên Hợp Lưu 7, kể lại những ám ảnh hốt hoảng của một thiếu nữ chạy đuổi bắt chính mình thời nhỏ đang lao xuống vực thẳm của đời sống. Hốt hoảng trước những vuốt ve si mê của Vũ Anh, một người bạn gái, hốt hoảng trước những ngón tay mảnh dẻ cởi cúc xoa êm dịu làn da trần dịu mát của buổi chiều vừa chấm nắng. Sau ân ái, Trân Sa lặng lẽ bước ra vườn, tắt đèn ngồi ở bậc tam cấp lắng nghe những im lặng của lòng mình. Truyện ngắn đã cố dấy lên một luồng gió.</p>
<p>Trước 75, Trần Thị Ngh, Tuý Hồng, Nguyễn Thị Hoàng, Lệ Hằng cũng táo bạo, nhưng chủ yếu ở suy nghĩ, thường <em>chay tịnh</em> ở mặt hình thức. Trần Thị Ngh vẫn bấm cúc mặc áo dài ra đường sau mỗi trận làm tình ẩm ướt mồ hôi trong căn nhà hẹp có cửa khoá trái. Túy Hồng nhìn lên vách chiếc bóng sinh lý của đời sống vợ chồng. Nguyễn Thị Hoàng nằm suốt đêm trên đất, giữa căn biệt thự vắng vẻ Đà Lạt, chỉ với những ngón tay xoắn xít trong tóc, chỉ dám mơn trớn cườm tay của cậu học trò dậy thì tên Minh. Lê Hằng loạn luân trong bản Tango cuối cùng và yêu rất nhiều cha xứ, nhưng chưa làm vị linh mục nào xuất tinh. Trân Sa, Vũ Quỳnh Nh, Phạm Thị Ngọc trong văn xuôi, Lê Thị Thấm Vân, Nguyễn Thị Thanh Bình, Nguyễn Thị Hoàng Bắc trong thơ không vậy. Nguyễn Thị Hoàng Bắc vén áo dài thản nhiên ngồi tiểu, <em>nghe tiếng nước đái nhỏ giọt trong bồn cầu tí tách, thứ nước ấm sóng sánh vàng hổ phách trong người tôi tuôn ra</em> (HL35). Phạm thị Ngọc không mặc lại áo lót sau khi làm tình nằm trần truồng nghĩ ngợi miên man, cho phép các nữ sinh chơi trò cô dâu-chú rể, cho phép trò Ngà đưa tay mân mê vú của trò Uyên giữa trưa nắng đứng ngọ giữa đồng (HL15). Lê Thị Thấm Vân năm <em>15 tuổi ngực dậy thì con gái, đầu vú nở bung</em> (HL13), <em>liếm sạch những giọt mồ hôi tình</em>, sau Cuộc Tình (HL40) và Nguyễn Thị Thanh Bình, Trân Sa thích <em>trần truồng dẫy dụa như con nhộng</em> đưa ngực cho người tình… điểm tâm không chút nuối tiếc (HL18). Các tác giả nam còn táo bạo hơn nữa, Đỗ Kh, Nguyễn Hoàng Nam nhanh chóng khiến các độc giả cao niên phải đội mũ bảo hộ mỗi khi đi xe ôm văn chương trên Hợp Lưu. Có thể nói, phong trào sinh dục hoá văn chương đã đem đến cách ân ái mới trong thơ văn ở ngoài nước. Mai Ninh, một tác giả chuyên trị nhục thể đến sau với Mây Một Ngày, với những tấm màn trắng phất phới phập phồng trên thân thể hai người đàn bà xiết chặt đùi ướt đẫm cùng giao hợp thân xác trong căn phòng xanh xao trông xuống cảnh vườn chùa u uẩn. Đêm Rượu Đợi của cùng tác giả này, đăng ngay sau đó trên Hợp Lưu, đánh dấu một cách nhìn tâm sinh lý khác. Lần đầu tiên, trong văn xuôi, nhân vật nữ chính xưng tôi yêu mê đắm một người đàn ông, chờ đợi suốt buổi chiều người tình lỗi hẹn, rồi quyết định làm tình với ông lão gác dan để thoả mãn dục vọng. Lệ Hằng, Nguyễn Thị Hoàng, Tuý Hồng, Trùng Dương, Trần Thị Ngh, Nguyễn Thị Thụy Vũ thời <em>lao vào lửa</em> đã chưa bao giờ cho phép sinh lý lấn lướt tình yêu đến như thế. Các truyện ngắn khác, Apocalypse Now của Vũ Quỳnh Nh., truyện ngắn dâm dật chủ ý Thầy Giáo và Cô Bé Gù của Thế Uyên, Không Khí Thời Chưa Chiến của Đỗ Kh. với đối thoại sinh dục trắng trợn trong một căn phòng khách sạn Hồng Kông, hoặc Chỗ Trọ Trong Vườn Chuối của Ngọc Khôi, một tác giả bình thường không phát vãng trinh tiết, bất ngờ miêu tả những dòng nước lạnh chảy trên thân thể đàn ông hâm hấp rắn chắc trong một vựa chuối của hai mẹ con chuyên nuôi bệnh nhân trốn khỏi nhà thương điên, hưởng dương vật của người bệnh rồi lấy đá đập đầu cho đến chết! Với những miêu tả rõ ràng không giấu giếm, truyện ngắn đã đi tìm trận gió kinh thiên. Góp mặt của tôi giai đoạn đó, không khác bạn bè cùng đến với Hợp Lưu, nếu Giấc Mơ Thổ không nằm ngoài phong trào sinh dục, Mùa Mưa Gai Sắc là nỗ lực đoạn tuyệt với Nguyễn Huệ trong Sông Côn Mùa Lũ của Nguyễn Mộng Giác.</p>
<p>Nhưng chính các thi sĩ mới là những kẻ đã lên đường quyết liệt nhất. Cùng trên Hợp Lưu số 3, số của <em>Thời nàng còn điên</em>, số có <em>gái tơ trẻ đẹp chiều chuộng đủ cỡ</em>, <em>ông thích không?</em> Đỗ Kh. chính thức lập khai sanh cho phong trào sẽ in đậm bàng quang anh: <em>Âm đạo rung rinh có động cơ điều khiển, Âm hạch xẻo luôn cho mày hết đường động cỡn, Tôi kiếm con nào chừng mười ba mười lăm, Vừa lú nhú li ti lông xoăn, trả Cash!</em> Chân Phương thừa nhận và lập thuyết: Trong thơ phải có vú… Rất nhanh, Linda Mặt Ngang, Trong Túi Việt Kiều Cái Gì Tôi Cũng Có của Đỗ Kh, thơ rách toạc slip, soutien, mông, đít của Nguyễn Hoàng Nam, thơ yêu chồng cho chồng sờ mó của Lê Thị Thấm Vân làm thay đổi hẳn hình ảnh quý phái của thi ca.</p>
<p>Võ Phiến, một thời, đã định giá thơ một cách tôn nghiêm sùng bái: <em>Thơ, con đường vương giả trong văn chương</em>. Mai Thảo, cuối nghiệp văn, bỗng dưng quên hết những Chuyến Tàu Trên Sông Hồng, Đêm Giả Từ Hà Nội, những Viên Đạn Đồng Chữ Nổi, những Hạnh Phúc Đến Về Đêm, quên hết gia sản của ba mươi năm viết tiểu thuyết, gia sản có Karen, người tình của Viễn, người đàn bà Thụy Điển tóc vàng nở nang, dâm đãng, khoả thân tự do đi lại trong căn appartement đường Catina mở tung cửa cho mọi người cùng nhìn ngắm.. quên hết những ngày ông Gần Mười Bảy Tuổi để tự định nghĩa lại mình: <em>Thơ là tiếng nói tận cùng và chung quyết của văn chương!</em> <em>Tôi. Thơ.</em></p>
<p>Cuối nghiệp văn, có lẽ, Mai Thảo lẫn Võ Phiến đã ngỡ ngàng nhìn con đường chung quyết trở thành bãi tắm truồng, và thi sĩ mua dâm đứng phóng uế nhan nhản ở mỗi ngã năm bùng binh vương giả. «<em>Chúng mày không đi ngã tắt vào văn chương, thơ không phải là chỗ cho chúng mày bôi bẩn, chúng mày không được bựa! Phất phơ hồn của bông hường, nghe trong phiêu bạt còn vương máu hồng.. Thơ của người ta biển trời, trí tuệ, chúng mày không bao giờ có thể cất cánh được, thơ của chúng mày ở dưới đất!» </em>Mai Thảo, sinh thời hay bẳn gắt, cáu giận mỗi khi nghe bàn đến thơ hải ngoại. Ông xứng đáng.. làm trưởng thượng của lớp người muốn đoạn tuyệt với ông. Trưởng thượng mắng lúc nào cũng nặng, nhưng thi sĩ tỉnh bơ, như Chân Phương vẫn <em>giả vờ cười hoát ngộ, nghe ma quỷ vỗ tay</em> (Hợp Lưu 18).</p>
<p>Nhưng nếu Lê Thị Thấm Vân, Nguyễn Thị Thanh Bình, Trân Sa còn giữ được chiếc quần tắm nhỏ xíu xinh xắn dù mỏng manh của các nhà thời trang Elisabeth Arden, Prada, Hermès, Valentino; Đỗ Kh., Nguyễn Hoàng Nam, thêm Âm Hộ Địt của Trần Minh Quân, đã khơi khơi phóng xe máy thơ tốc độ cao với thân thể tô hô tồng ngồng không mảnh vải của họ. Chưa có thời nào thi sĩ làm thơ ngon lành vậy, và cũng chưa giai đoạn văn học nào bạn đọc thơ ngã xe gắn máy vỡ óc chết tươi nhiều như vậy. Nguyễn Hoàng Nam nhanh chóng tìm ra niêm luật của thơ <em>khai phá</em>. Dành đường, lấn trái, phóng nhanh, vượt ẩu bỗng nhiên, chỉ qua dăm bài thơ, một sớm chiều vụt trở thành tấm bảng chỉ đường của cả một nền thi ca <em>hậu hiện đại</em>.</p>
<p>Phản ứng của độc giả dữ dội, chắc chắn. Phản ứng của các đồng nghiệp tiết hạnh sôi nổi, qua Trần Mộng Tú, một thi nhân trong sạch, gởi bạch thư kháng cáo. Hồi (hiếp) (d)âm tức khắc ân cần của Đỗ Kh., Nguyễn Hoàng Nam. Trong Tổng Tập 20 Năm Văn Học Hải Ngoại, Nguyễn Hoàng Nam tự giới thiệu: <em>Phục vụ tận tâm, giá cả phải chăng</em>, giao tận nhà… Tận tâm đến mức Phạm Trọng Luật, ngòi bút tiểu luận Phật tử thuần hành khúc chiết của tạp chí, phải nhảy bổ vào làm Đường Tăng phá vây cho Trần Mộng Tú sắp… bị khai phá. Đường Tăng chưa kịp lần chuỗi hạt, Phạm Thị Hoài đã tiếp ứng Dương-Quá Đỗ Kh. bằng ngọc nữ tâm kinh Sờ Linda, sờ luôn Đường Tăng. Vương Trùng Dương của Toàn Chân phái Hoàng Nguyên Nhuận dùng nhứt dương chỉ điểm mặt, và phái Võ Đang chính giáo Mộc Hương, Ngô Nhựt Tân lao vào tiếp chiến với Ỷ thiên kiếm. Tây Độc Âu Dương Phong Thương Nguyên cứu Dương-Quá hạ độc thủ hàm mô công: <em>Nguyễn Du bây giờ sống lại có thể viết Linda mặt ngang!</em> Hợp Lưu các số 31, 33, 36, chủ đề tranh luận Thanh-Tục, bỗng chốc trở thành sân tinh võ, đấu chưởng hay hơn phim bộ. Giữa những tuyệt chiêu và giữa những đường gươm nguyên bá, Võ Đình trầm tĩnh lập lại lời một hoạ sĩ Nhật Bản: <em>Tôi không vẽ con két, tôi chỉ vẽ không gian két vừa bay qua</em>. Võ Đình muốn nhắc khéo tất cả: Trong thơ, văn, không gian mới là quan trọng, hơn sự vật. Đỗ Kh đã có thể trả lời Trần Mộng Tú: <em>Tôi không miêu tả bộ phận sinh dục, tôi chỉ tả không gian bộ phận sinh dục vừa đi qua</em>… Duy phản ứng khác, trầm trọng hơn, nhà giáo Nhật Tiến có lẽ đã nghĩ lớp viết trẻ dâm bôn ưa phá phách, không coi trọng chuyển động tâm huyết Hợp Lưu, xa rời dần tờ báo. <em>Nói sao cho thầy hiểu, về người tình dễ thương bao ngày bọn em say đắm…</em></p>
<p>Nhưng tư tưởng chính đằng sau những bộ phận sinh dục treo, móc, dán, ướp, xâm trong thơ nằm ở đâu? Và thế nào là nền thẩm mỹ mới? Chân Phương, Khế Iêm, Hoàng Ngọc-Tuấn đã viết nhiều bài lý thuyết đăng trên Hợp Lưu, Việt, Thơ, nhưng với rất đông, hố thẳm sương mù vẫn sâu thăm thẳm. Tất cả đã cố gắng bơi về những bến bờ cận đại của thế giới. Sương mù phủ trùm lấp khó phân biệt đâu là bến Hậu hiện đại, bến Đa Đa, bến Lập thể, bến Hiện thực huyền ảo.. Mặc, mù vẫn ra khơi. Không thấy đường vẫn cứ lên đường. Đi đâu chưa biết, tách bến, nhổ neo, sửa soạn chất nổ, chỗ nào có viện bảo tàng thì ném vào! Không gìn giữ tiếng mẹ đẻ, phải phá bể tiếng mẹ đẻ. Không bảo tồn di sản văn hoá, phải sắm sửa thêm cho văn hoá theo đúng thời trang thế giới, áo thun hở rún, quần xệ có đinh, slip string, piercing mũi, lưỡi, môi, rốn, văn chương ăn nhịp chuyển động toàn cầu, hết rồi thần tượng Che, hết rồi Marx, xa rồi Jane Fonda, phải bắt cho kịp dòng nhạc Kim Khí Đen Black Metal, căn bệnh u trầm của Kurt Cobain và phơi bày cho bằng được cái đẹp sinh dục trần trụi lõa thể không phân biệt giới tính… Có thể tóm lược nền thẩm mỹ hình thức nỗ lực tối đa trên Hợp Lưu qua những dòng trên. Một nền thẩm mỹ giao (hợp) lưu như tên gọi bổn hiệu tạp chí. Giao hợp trong nghĩa bóng lẫn nghĩa đen với thế giới, với nhân loại, với những người đồng tính, với tất cả những gì có thể giao hợp. Nhưng cũng có thể tóm lược một cách nghiêm túc như Thụy Khuê đã nhạy cảm nắm bắt: <em>Vùng Tuyệt Mù.</em></p>
<p><em>Vùng Tuyệt Mù? </em>Phê bình thơ Nguyễn Thị Thanh Bình, một gương mặt khai phá cấp tiến trên Hợp Lưu, Thụy Khuê trích dẫn định nghĩa của Vũ Khắc Khoan: <em>Cái đó, cái mà cho đến hôm nay, chưa một vị thiện-trí-thức, chưa một vị bồ tát nào mô tả được hình tướng, xác định được thể chất, cái đó có thể giản dị như mưa và nắng, hiện hữu rất tự nhiên -mặt trời lại mọc lúc đêm tàn- nhưng cũng lại có thể vô cùng phức tạp, ẩn hiện khôn lường.. Cái đó -chính nó- đôi khi vẫn thấp thoáng trong tôi, hoá trang thành những lời tra vấn trớ trêu, những tại sao ray rứt, lãng đãng quanh tôi, tưởng như dễ dàng nắm bắt, bỗng lại xa vời, nhoà dần, biến hẳn, tuyệt mù. </em>(Đọc Kinh, Vũ Khắc Khoan, nxb An Tiêm &amp; Sóng Từ Trường 1, Thụy Khuê, nxb Văn Nghệ).</p>
<p>Vùng tuyệt mù của con hùm xám Vũ Khắc Khoan, cách đây nửa thế kỷ đã vô cùng phức tạp. Ngắn gọn và trực tiếp hơn: Camille Claudel, nữ điêu khắc gia nổi tiếng của Pháp, viết thẳng: <em>Il y a toujours quelque chose d’absence qui me tourmente.</em> <em>Luôn có điều gì đó vắng mặt tra khảo tôi. </em>Thú nhận đau đớn của nữ điêu khắc gia đầu tiên đã tạc tượng bộ phận sinh dục đàn ông.</p>
<p>Điều gì đó vắng mặt, chính là <em>vùng tuyệt mù</em> hay <em>vùng sân khuất</em>, mà tất cả nghệ sĩ trên thế giới lùng kiếm. Đổi mới sáng tác trên Hợp Lưu, do đó, trước tiên và sau hết, là đổi mới hình thức ghi khắc vùng tuyệt mù này. Chính trước những tra khảo của bản thân, Đỗ Kh. viết: <em>Tôi rất thích đĩ.</em> Chính trước những dằn vặt mà Camille Claudel hứng chịu đưa đến cái chết trong điên loạn lúc cuối đời, khiến Đỗ Kh. tra vấn: <em>Đàn bà là đồ chơi của đàn ông?</em> Nguyễn Thị Thanh Bình làm thơ trả lời: <em>Đàn bà không là đồ chơi của đàn ông</em>, cùng lúc thú nhận những tra khảo của chính mình -và tham dự khai phá- Thanh Bình vô tình chấp nhận làm đồ chơi, chơi chung trò chơi mới: Trò chơi thân xác của ngôn ngữ. Những dòng thơ xối xả của Lê Thị Huệ, những dòng thơ say mê không dứt gợi cảm của Lê Thị Thấm Vân, những dòng thơ nghịch ngợm trong trẻo tràn đầy phung phá của Trân Sa tiếp tục đi tìm điều gì vắng mặt đang xâu xé hay chưa biết đến. Bằng diễn đạt hình thức, đặt trọng tâm thể xác, những nhà thơ sinh dục hoá thi ca đã đi tìm sự chuyển hoán cái Tôi Trí Tuệ của Thanh Tâm Tuyền sang cái Tôi Thân Xác. Một tiếp nối bắt buộc và không tránh khỏi trong thời đại tín ngưỡng cơ thể Âu Mỹ. Nhưng nếu Sinh dục hoá thi ca là thành công duy nhất, trong <em>khai phá</em>, cái Tôi Thân Xác là một thất bại đậm nét.</p>
<p>Lý do? Khám phá và gìn giữ cái Tôi thuần <em>thân xác</em> vô cùng khó. Đa số các nhà thơ muốn cách điệu nâng cao thân xác, nhưng càng thăng hoa họ càng lìa xa thân xác, đến gần với cái Tôi trí tuệ mà những thi sĩ giác đấu muốn đoạn tuyệt. Tất cả thơ của Thường Quán, Khế Iêm, Chân Phương, Thấm Vân, Thanh Bình, Trân Sa, Trầm Phục Khắc, Nguyễn Mạnh Trinh, Phạm Việt Cường.. đều mang dấu ấn của Thanh Tâm Tuyền, Tô Thuỳ Yên &#8211; ngay cả trong những lúc cách tân đoạn tuyệt nhất. Cái Tôi <em>thân xác</em> như thế cứ lấp lửng giữa trí tuệ và thể xác, hồn không rõ hồn, xác không hoàn xác, <em>hồn xiêu phách lạc</em>. Hiện tượng đó thấy rõ trong tâm trạng của những cây viết nữ được xem bạo dạn, phá phách, hay thách đố nhục cảm. Ở họ, những băn khoăn chia cách phần trí tuệ và thân xác thể hiện rõ qua hai thể loại thơ và truyện ngắn, làm như đến với thể loại này là một chọn lựa ma quỷ, đến với thể loại kia là hướng thượng thiên thần. Lê Thị Thấm Vân, Nguyễn Thị Thanh Bình, Nguyễn Thị Hoàng Bắc chỉ dâm trong thơ, bước sang truyện ngắn họ là phụ nữ có chồng con ngăn nắp, thao thức cho đất nước, xã hội, con người. Trân Sa, Mai Ninh ngược lại, trong truyện ngắn, nếu cả hai ưa làm tình sôi nổi, thèm những mơn trớn cháy bỏng, thích vuốt ve dịu dàng người cùng phái, bước vào thơ họ hốt hoảng sợ hãi hoá thân thành nữ tu thánh thiện. Chính hai mặt ác quỷ và thiên thần này đã gieo hỏa mù, không cho thấy rõ nỗ lực khai phá. Đâu là quỷ, đâu là ma, đâu là trí tuệ, đâu <em>lời buồn thánh</em>…? Chính phần đối trọng <em>thân xác</em>, về sau nhiều thêm lên, đã đè nặng cán cân trí tuệ, dẫn đến thất bại sau này. Thi ca trở về ngắm liên đêm mặt trời với Thanh Tâm Tuyền, nhổ tóc bạc cho Tô Thùy Yên, sau vài số báo đi hoang làm tình mệt nhoài. Đến năm thứ 12, Đỗ Kh., Nguyễn Hoàng Nam là những thi sĩ lãng mạn cuối cùng trong <em>cõi nhân gian bé tí.</em></p>
<p>Nỗ lực khai phá thơ trên Hợp Lưu không chỉ ngừng ở sinh dục. Chân Phương đã thay nhớt ẩn dụ, Khế Iêm xoáy cylindre ngữ nghĩa, Thường Quán thay mặt nạ cấu trúc, Phạm Việt Cường tăng sên câu chữ, Nguyễn Đăng Thường thay bửng, Diễm Châu lắp bạc đạn nhạc tính, Ngu Yên đổi phuộc nhún nhạc điệu, Huỳnh Mạnh Tiên gạt chống ngang, Nguyễn Mạnh Trinh so căm, Lê Bi đổi lốp, Du Tử Lê chỉnh/ga/nhịp/lục/bát. Chiếc xe máy thi ca được thay đổi mẩu mã hoàn toàn, kiểu dáng VN, lắp ráp tại Úc, Mỹ, Gia Nã Đại, Pháp, toàn bộ do thợ VN, giá thành rẻ và thường xuyên khuyến mãi. Các thi sĩ chỉ chưa thay động cơ hai thì của Thanh Tâm Tuyền, bốn thì của Tô Thùy Yên, và tất nhiên vẫn tiếp tục chạy xăng <em>super</em> của các hãng xăng dầu phương tây: Paul Valéry, Paul Celan, Pablo Neruda, Nicanor Parra, Johannes Bobrowski, Cavafy… cung cấp.</p>
<p>Trường hợp văn xuôi không khác.</p>
<p><strong>*</strong></p>
<p>Văn xuôi không đợi Đỗ Kh. phát động sinh dục mới viết bạo. Trước đây Ngô Nguyên Dũng với tiểu thuyết Đêm, Hồ Trường An với truyện dài Hợp Lưu, Diệu Tần trong Mùa Xuân Và Hố Thẳm, Nguyễn Xuân Quang với Hái Thận đã vô cùng bạo liệt những lúc làm tình và Vũ Quỳnh Hương đã cho những cụ già hút xì gà bằng âm hộ trong Miền Vĩnh Phúc. Khai phá táo bạo mạnh tay trên Hợp Lưu chỉ nhấn mạnh thêm nữa, xã hội không còn chay tịnh. Lối viết tiết hạnh khả phong tránh né, không đề cập, không băn khoăn, không đi hết tận cùng hố thẳm con người, đã không phản ảnh lối sống tự do tình dục của xã hội Âu Mỹ, nơi tuyệt đại đa số di dân VN sinh sống. Giống thi ca, khai phá văn xuôi tập trung vào hình thức, cố gắng cách tân, cập nhật kỹ thuật của Châu Âu, Bắc và Nam Mỹ vào truyện ngắn Việt Nam. Điều đó thấy rõ ở Phạm Thị Hoài, dù Hoài đã tự định hướng ngay khi khởi nghiệp văn. Điều đó thấy rõ trong loạt truyện Nhà Cho Thuê (chủ đề văn học lạ lùng, mà tiêu đề lẽ ra.. phải nằm trong mục rao vặt của nhật trình Người Việt). Trong 12 truyện ngắn đăng trên Hợp Lưu số 54, 12 tác giả đã nỗ lực sắp xếp dàn bài, chỉnh trang cấu trúc, chuyển hoán nhân vật và hệ thống kết cấu. Kỹ thuật lộ liễu trông thấy ở các truyện ngắn Trăng Thuê Ảo Ảnh (Nam Dao), Phép Lạ, Venezia (Dã Tượng), Vách Mận Trắng (Mai Ninh), Già Rossy Và Hương Cô Quạnh (Phan Nguyên). 12 tác giả, chỉ một thành công duy nhất: Eric Nguyễn Việt, một tác giả trẻ thuộc Hội y sĩ Không Biên Giới, công tác tại Sierra Leone, đã nhấn chìm kỹ thuật vào trong sáng tác, đã lôi cuốn bạn đọc vào không khí bất an loạn lạc với một người đàn bà nóng bỏng dữ dội không buông tha, yêu chết chóc, yêu đến ghiền, đến nhớ mùi, để cuối cùng thổ lộ: Người đàn bà ấy, không ai khác hơn «Chiến Tranh» đã ăn nằm bao ngày với vùng đất nghèo khổ lạc hậu này. Văn chương Việt Nam cần thật nhiều những Eric Nguyễn Việt.</p>
<p>Một số khai phá khác, đi tìm cái Tôi Lịch Sử, cái Tôi Dân Tộc trách nhiệm, thể hiện rất nhiều trong tác phẩm Nam Dao, đặc biệt qua hai bộ trường thiên Gió Lửa và Đất Trời. Nam Dao thổi suốt 1500 trang tiểu thuyết một cái nhìn mới: Không chỉ nhìn lại các nhân vật lịch sử ở góc độ con người tầm thường như Nguyễn Huy Thiệp đã làm, nhưng nhìn lại chính bản sắc của dân tộc u mê và tăm tối đã đưa đến thảm kịch của quá khứ. Nam Dao không chỉ phán xét anh hùng, nhưng phán xét cả đất nước, đồng loại và văn hoá Á Đông. Đây là một tinh thần mới trong văn xuôi Việt Nam, nhưng hãy còn là một cố gắng cá nhân biệt lệ. Mai Ninh, tác giả nổi bật của hai năm sau cùng, tác giả ngoài phóng đãng còn chở mang một tâm hồn, đã cố gắng trau chuốt hình thức, mỗi chữ là một viên ngọc, mỗi dấu chấm là một hạt trai, và mỗi dấu ngã là giải lụa mỏng hiếm quý. Mai Ninh không ngừng đào bới cốt truyện, tìm kiếm những âm, những chữ mới, thật hợp, thật trùng, cách điệu cho câu văn. Truyện ngắn Mai Ninh giống một tấm gương quý phái, đặt trên chiếc bàn phấn cổ xưa có chiếc lược bạc, còn vướng những lọn tóc rối của một người đàn bà đẹp, vừa vắng mặt, mới vừa chải tóc. Tất cả không gian của bàn phấn im lặng chỉ tấm gương còn phản chiếu những hình ảnh thác loạn điên cuồng vừa xẩy ra trước mặt kiếng. Mai Ninh, cây bút nổi nhất của năm 2000, thành công với nỗ lực thẩm mỹ hóa tối đa câu văn, nhưng cùng lúc đánh mất sự tự nhiên không thể thiếu trong văn xuôi. Nguyễn Thị Ngọc Nhung là một trường hợp ngược hẳn, không chải văn, không đi tìm thẩm mỹ trong câu chữ, giữ sự tự nhiên ở giọng văn, tìm cái đẹp trong đời sống năng động của xã hội phô diễn vây quanh nhân vật. Văn Nguyễn Thị Nhọc Nhung mạnh, cốt truyện chắc, tuy thời gian đơn điệu, tuyến tính, không đa chiều và tỏa ra từ nhân vật thay vì nhân vật phải mọc ra từ mạch suy nghĩ chủ đạo của truyện. Cốt truyện, nhân vật do đó làm nền chính. Còn nhiều tác giả khác, Nguyễn Hương với kiến trúc mới lạ trong hai truyện ngắn Mô-Tô Bay và Cải Táng, Thuận Ánh thông minh nghịch ngợm chịu nhiều ảnh hưởng của Phạm Thị Hoài trong các truyện A &amp; B, Vô Va, Đinh Linh thích giác hơi xã hội Hoa Kỳ…</p>
<p>Khai phá văn xuôi như thế đã đặt nặng vấn đề kỹ thuật, cốt truyện, và nhìn toàn cảnh, là một thất bại. Truyện ngắn đã đi tìm trận gió kinh thiên, nhưng chỉ thổi lên được luồng gió mát, làm giật mình bất chợt các độc giả đang thiu thiu ngủ. Thất bại ở thực tế không gây thành phong trào. Song Thao, Sông Phố, Ngự Thuyết, Hồ Minh Dũng, Trần Doãn Nho, Hồ Đình Nghiêm, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Trần Mộng Tú, Phan Thị Trọng Tuyến, Phạm Chi Lan, Trần Thị Diệu Tâm, Miêng, Đặng Thơ Thơ, Lê Minh Hà, Phạm Hải Anh, Vĩnh Hảo.. không hề chịu tác động của khai phá, vẫn tiếp tục lối viết cũ của họ, không mảy may bận tâm luồng gió kinh thiên đang réo bên ngoài. Phạm Chi Lan tiếp tục viết truyện hoà bình, yêu cỏ cây thiên nhiên, biển cả, vạn vật. Phan Thị Trọng Tuyến tiếp tục viết hài kịch không đối thoại, thiên nhiều về chính trị Đông Âu. Hồ Đình Nghiêm tiếp tục những bứt rứt thầm kín của những mối tình lặng lẽ trong khuya khoắt của một xã hội không lối thoát. Trần Doãn Nho, sau Vết Xước Đầu Đời, một truyện ngắn tâm lý xuất sắc, bớt sôi nổi. Song Thao đi tìm những mối tình bình nhật. Miêng thủ thường với các truyện ngắn của mình. Trần Thị Diệu Tâm quá hài lòng những truyện đã viết. Đặng Thơ Thơ, Lê Minh Hà, Phạm Hải Anh, lớp người viết trẻ cuối cùng, qua sáng tác đã chứng tỏ họ có giọng văn gẫy gọn, truyền cảm, xúc tích, nhưng cả ba, cho đến bây giờ đều thiếu liều lĩnh trong cách dựng truyện, không nổi loạn trong suy nghĩ, chưa dứt khoát Tự Lực. Đây là những người viết đều tay nhất, chuyên cần và mẫn cán, chính những nhà văn này đã sáng tác không ngơi nghỉ, đã lấp đầy 66 số Hợp Lưu. Điều đó cho thấy rõ, phong trào cải cách ruộng đất trong văn xuôi, trên Hợp Lưu, hoàn toàn thất bại, ít ai hưởng ứng.</p>
<p>Tại sao? Quá chú trọng vào kỹ thuật chỉ là một nguyên nhân. Chọn lựa khai phá nhục cảm, khiến… tô phở ít<em> nước</em> của Mai Thảo đầy<em> thịt</em>, chóng ngán, mau nguội? Có thể. Ai cũng biết, nhiều tình dục dễ đưa đến ít lý trí. Dành nhiều chỗ cho sạp bán thịt, khiến truyện ngắn, một thể loại không rộng bằng chợ Bà Chiểu, phải giải tỏa các sạp hàng khác. Nhưng đó vẫn chỉ là những lý do kỹ thuật, mà mọi tác giả tài hoa đều có thể vượt qua. Không thiếu những tác phẩm đầy dâm tính vẫn chở mang triết lý con người.</p>
<p>Với hai nhóm chìm-nổi khai phá trên Hợp Lưu, ngoài vài truyện ngắn hay, nổ lực cách tân thất bại. Kỳ lạ là với các tác giả không tham gia cách tân, các sáng tác của họ cũng thất bại, không chỉ trên Hợp Lưu mà cả trên các báo bạn Văn, Văn Học, Thế kỷ 21. Chính sự thất bại chung của sáng tác đã khiến không khí văn học trở nên đưa đám, cáo phó, u trầm, mất hẳn sinh khí, buồn chán đến thờ ơ lạnh lùng. Không ai còn dám khen văn xuôi đang khởi sắc và tất cả vụt trở nên thích đọc… bút chiến hơn sáng tác! Chúng ta có quyền tiếc một số đông tác giả đã không khai thác hết khả năng của truyện ngắn, đã không đi tìm « <em>điều khác thường »</em> trong văn chương, dù không nhất thiết dâm bôn, không nhất thiết phải đổi mới. Mỗi khi được hỏi về tình hình sáng tác ở ngoài nước, tổng biên tập Khánh Trường than vãn: <em>Cứ viết làng nhàng mãi!</em> Với tôi, đây là lý do khiến anh đánh mất đam mê làm báo, và quyết định buông tay.</p>
<p><em>« Làng nhàng »</em>, như thế, là tên gọi của một giai đoạn văn học<em>. </em>Chắc chắn, không phải đánh giá riêng của Khánh Trường, các chủ bút khác, Nguyễn Hưng Quốc, Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Xuân Hoàng qua một số bài viết, cũng nhận định như vậy và đa số người viết đều đồng ý.</p>
<p>Đến đây, có một sự trùng hợp nghiêm trọng: Sáng tác quốc nội sau giai đoạn rực rỡ 87-92, giai đoạn của Thiên Sứ, Những Trận Gió Hua Tát, Những Mảnh Đời Đen Trắng, Đi Về Nơi Hoang Dã, Nổi Buồn Chiến Tranh, Mảnh Đất Lắm Người Nhiều Ma, Bến Không Chồng, Ác Mộng, Dị Mộng, Đảo Ngụ Cư, Giấc Ngủ Nơi Trần Thế, v.v.. bỗng dưng tắt phụt trong nhiều năm, và nếu sự xuất hiện của Nguyễn Bình Phương, Bùi Ngọc Tấn, Nguyễn Ngọc Tư mới đây cứu vãn phần nào, nhìn chung với dân số 80 triệu, vẫn là một đám ma văn chương lê thê, im phắc, không kèn trống. Và ở tất cả mọi bộ môn nghệ thuật, <em>làng nhàng</em> đã biến thành tình trạng chính, một tình trạng kinh hoàng cho đám con rồng cháu tiên có bốn ngàn năm văn hiến. Ở thời điểm hôm nay, chưa thấy có dấu hiệu thay đổi.</p>
<p>Tại sao? Câu trả lời nằm trong « chốn vắng tư duy », mà nguồn gốc khởi sinh từ sự thất lạc ở trong từng người Việt, đặc biệt, trong từng người viết. Không ngẫu nhiên Văn Cao, lúc sinh tiền trả lời phỏng vấn của Nguyễn Châu Phong, nghiêm khắc nhận xét: «<em>Ngoài Hoàng Hưng không còn ai cả. Tôi ít đọc, nhưng thỉnh thoảng đọc thơ trên báo Văn Nghệ cứ nghe chuồi chuội, có một vài câu thơ ngồ ngộ vui vui, nhưng không có tư tưởng mà con chữ cứ sền sệt xút xít nối đuôi nhau» </em>(HL13). Không ngẫu nhiên Lê Đạt thích chơi chữ, chỉ đùa giỡn với bóng chữ, xác chữ. Không ngẫu nhiên Khế Iêm, Chân Phương bày cuộc chơi tung ném tự vị bách khoa rồi xếp lại theo sức hút của trọng lực. Không ngẫu nhiên Đỗ Kh, Nguyễn Hoàng Nam thích nhìn âm hộ, mông, vú phụ nữ. Không ngẫu nhiên mà phẩm chất trong sáng tác Nguyễn Huy Thiệp, từ Sang Sông, Thiên Văn, hát bội Xuân Hồng, giảm sút đến mức không hiếm bạn đọc phải mua thêm hợp đồng bảo hiểm văn chương đọc kèm với tác phẩm mới của ông. Trường hợp Nguyễn Duy, Lê Minh Khuê tương tự. Không ngẫu nhiên Phan Thị Vàng Anh im lặng sau khi đi Hoa Kỳ và Châu Âu… Không ngẫu nhiên văn học hải ngoại lạnh dần rồi băng giá. Không phải tất cả không còn tài hoa, ngược lại, chưa bao giờ giới sáng tác kinh nghiệm và tự do như bây giờ. Tất cả chỉ cùng một lúc thất lạc với chính mình. Phân tích sự thất lạc đó, đòi hỏi cả một viện nghiên cứu tâm thần.</p>
<p>Thất lạc vì nhân loại đổ xô đi đào vàng? thế giới lao vào kỷ nguyên khoa học kỹ thuật? Thất lạc vì sức tàn phá hung hãn của kinh tế thị trường lên người viết văn trong nước? Thất lạc vì cánh cửa bất chợt mở toang khiến nắng ập vào nhà chói chang loá mắt? Thất lạc vì phải hướng tác phẩm đến nhân loại nhưng không sao hiểu thấu đáo nhân loại vì chưa kịp trang bị đầy đủ? Đó chỉ là những lý do nổi. Cũng nổi như giải thích đánh mất căn cước cá nhân của người viết ngoài nước. Sau đánh mất căn cước chính trị, sau đánh mất căn cước lưu vong, người viết ngoài nước trở về nhà, kinh ngạc nhận ra mình không còn giống người Việt ở trong nước, không giống suy nghĩ, không giống cung cách sống, và kinh khủng hơn, nhà văn Việt kiều khám phá mình không muốn trở về sinh sống tại quê nhà. Muộn mất rồi, con trùng hội nhập đã cắn nát trái tim. Sự chọn lựa lưu vong lần thứ nhì, đầy đau đớn vì là hành động tự nguyện. Lần đầu tiên, người Việt ngoài nước sau trở về, ý thức mình không còn Việt. Đánh mất căn cước cá nhân khởi đầu từ lúc này. Một đánh mất khác hẳn buổi chiều 30-04-1975 chôn thẻ bài, đốt giấy tờ tùy thân, khác hẳn mất mát lý lịch khi mua khai sanh gốc Hoa vượt biên bán chánh thức, lên trại đảo khai trụt tuổi, lấy một cái tên nào đó của anh em họ hàng trong gia đình. Chắc chắn, trong tiềm thức của những kỹ sư tâm hồn, những kẻ vô cùng nhậy cảm, đã trổi dậy vô số câu hỏi cắn xé: <em>Tại sao mày không đủ can đảm trở về sống với dân tộc mày, lúc này, cùng chia sẻ vận mệnh của đất nước mày đang bước vào thế kỷ 21?</em> <em>Đất nước mày sẽ đi lên, hoặc sẽ lụi tàn trong những thập niên sắp tới, mày bám víu tiện nghi ở đây để làm gì? Không. Đất nước không xem tôi là người Việt, mà là Việt kiều. Đất nước bắt tôi gia hạn khai sinh mỗi ba tháng, không cho mua nhà, mọi thứ bắt trả giá gấp đôi mọi người. Đất nước không cho tôi viết văn tự do… </em>Lý trí trả lời. Và tình cảm trấn an:<em> Mày là công dân quốc tế. </em>Nhưng tình cảm ăn gian, công dân quốc tế, một thứ thông hành chưa bao giờ có trên trái đất. Một bước, tất cả khởi đầu hành trình thất lạc. Nhưng đó cũng chỉ là khía cạnh nổi. <em>Chốn vắng tư duy </em>nằm trong sự thất lạc thâm sâu hơn nữa:<em> Hội chứng Babylone.</em></p>
<p>Nhà văn Việt bắt đầu leo lên ngọn tháp ngất ngưởng đó. Sau một trăm năm đô hộ, chiến tranh, phong tỏa, vượt biển, ngọn tháp hiện ra sừng sững ám ảnh. Lần đầu tiên người Việt trông thấy thật sự ngọn tháp nhân loại nhắc đến trong kinh thánh. Với trong nước, cửa tháp mở toang sau hủy cấm vận. Với ngoài nước, đông đảo bắt đầu chuyến hành hương ngay khi an cư. Thật ra, chỉ một số can đảm mua vé, rất mắc, và tự túc leo lên, đa số còn ngồi ăn hột vịt lộn ở ngoài bãi giữ xe. Ngọn tháp nhân loại mà những tầng cao chìm trong mây, vần vũ tiếng gào của gió xoáy bên trong cầu thang trôn ốc trơn trợt, lạnh lẽo. Tất cả đã ý thức, phải lên đến đỉnh, để có cái nhìn xuyên suốt trái đất, để tiếp xúc với tất cả nhân loại. Nhưng số đông, đã đi thang máy. Số đông đã muốn mình là người lên trước nhất, nhanh nhất, để…chụp hình. Không ai chịu hiểu năm ngàn năm nhân loại, hai ngàn năm văn minh phương Tây có nền, có nếp, có thang, bậc, không thể lên tầng Kant trước tầng Aristode, không thể đứng ở bao lơn Trừu Tượng không qua đại sảnh Cổ Điển, không thể viếng tầng Hiện Sinh chỉ đứng ở quầy giải khát hành lang, chụp ảnh lưu niệm chỗ Sartre đã ngồi với Camus. Và kinh khủng hơn, hai ngàn năm tư tưởng và học thuật Tây phương chia làm trăm triệu đại sảnh mênh mông, bát ngát, đầy cửa, đầy ngõ ngách, những sảnh đường thẳm thẳm, những tả hữu trường lang bất tận không chấm dứt, bắt nối nhau, chồng chéo, chập chùng san sát nhau, không bảng chỉ đường, không mũi tên hướng dẫn… Chính trong những tầng lầu không thể đếm hết của tháp Babylone khổng lồ, nhà văn ngoài nước đã bắt gặp Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Duy, Lê Đạt, Lê Minh Khuê, Hồ Anh Thái, Phan Thị Vàng Anh… cũng đang thất lạc. Trong-Ngoài gặp nhau bất ngờ ở tầng trệt, cùng đi lên, và tứ tán. Tất cả chỉ biết tầng cuối cùng mang tên Hậu Hiện Đại, đa số không biết mình ở đâu, muốn gì. Nhà văn Việt đã khó khăn định vị trí mình trên tháp. Tầng nào cũng dừng lại nhìn ngắm chụp đèn trần, bước tránh tấm thảm sang trọng ở lối vào, lật vài pho sách, trả lời phỏng vấn của nhân loại, rồi tiếp tục… Tham quan, nhưng không rõ giá trị thực sự, vì thiếu kinh nghiệm thế giới. Những người quyết chí, tỉnh táo nhất, biết mình tìm gì, nhưng lại không biết mình cần gì. Lên thẳng tầng lựa chọn rồi băn khoăn trước mật mã văn hoá. Không biết mình muốn gì, tìm gì, và cần gì ở nhân loại nên thất lạc, đưa đến « chốn vắng tư duy » trong sáng tác. <em>Chốn vắng tư duy </em>khiến tập trung đổi mới vào hình thức và kỹ thuật. Nhưng cũng chính <em>Chốn vắng tư duy</em> khiến kỹ thuật và hình thức không đủ sức vực dậy văn chương. Rất hiếm tác phẩm Việt Nam nào chở mang tư tưởng rõ rệt làm xương sống chủ đạo cho toàn truyện, và các nhân vật mọc ra từ xương sống đó như những xương sườn của xương sống đó.</p>
<p>Gabriel Garcia Marquez, trong Trăm Năm Cô Đơn, miêu tả sự thất lạc của linh hồn tuyệt đẹp: José Arcadio Buendia bị xích trên giường mập ra rất nhiều lần sức nặng bình thường, không thể cử động được. Mỗi tối Buendia mơ thấy mình rời khỏi giường, mở cửa đi sang một căn phòng khác, cũng giống y như căn phòng có chiếc giường bệnh, ông lại mở một cánh cửa khác dẫn sang một căn phòng khác, cũng bài trí y như căn phòng ông đang đứng. Cứ thế Buendia đi hết từ căn phòng này sang căn phòng khác, mở cánh cửa này đến cánh cửa khác, tiếp nối vô tận, cho đến lúc ông bất ngờ gặp lại Prudencio Aguilar, người bạn thời trẻ mà do ghen tuông ông đã tự tay phóng lao thọc cổ giết chết. José Arcadio Buendia đi ngược trở lại tất cả những căn phòng đã đi qua, và chỉ tỉnh dậy khi Prudencio Aguilar đập tay lên vai trong căn phòng thực tế đầu tiên. Nhưng đến một đêm, Aguilar đập tay trong một căn phòng trung gian và Buendia đã ở lại đó mãi mãi vì tin đã trở về căn phòng thực. Đám táng José Arcadio Buendia diễn ra dưới trận mưa hoa vàng. Những cánh hoa nhỏ rơi suốt đêm, đến sáng các phu đòn phải lấy xẻng xúc hoa dọn đường khiêng linh cữu.</p>
<p>Không phải chỉ có nhà văn Việt thất lạc trên tháp Babylone, mở hết những cánh cửa này sang cánh cửa khác, đi từ phòng này sang phòng khác, tiếp nối vô tận. Thế giới cũng có rất đông, rất nhiều nhà văn thất lạc. Nhưng người Việt đánh mất phương hướng cùng một lúc, đồng loạt. Hậu quả của đóng cửa, đô hộ, nội chiến, phong tỏa và tự cấm vận. Đó là lý do vì sao sáng tác trong-ngoài nước rất thanh bần. Sáng tác Việt Nam mạnh khi ghi lại kinh nghiệm đau thương bản thân, nhưng yếu khi đi tìm thẩm mỹ và sáng tạo. Bùi Ngọc Tấn chứng minh sự thành công của vế đầu, Nguyễn Huy Thiệp, từ Thiên Văn, chứng minh khó khăn của vế sau. Ngày nào José Arcadio Buendia tìm được lối ra khỏi tháp Babylone, hắn sẽ trở thành nhà văn đích thực, có quyền vứt bỏ nhãn « nhà văn Việt Nam » do các chủ báo phong vương. Đám ma hắn không chỉ có trận mưa hoa vàng, mà sẽ rất đông độc giả đi đưa, không như bây giờ.</p>
<p><strong>Thay Lời “Hậu” Lộ</strong></p>
<p>Hợp Lưu như thế, mang trên thân thành công giao lưu và thất bại của sáng tác. Công bằng phán xét: Không có tạp chí Hợp Lưu, chuyển động giao lưu vẫn xảy ra, ở thời điểm 93-94 khi du lịch bùng nổ. Hợp Lưu chỉ đi trước chuyển hoá tâm lý cộng đồng 3 năm. Đó là một thành công không nhỏ, của Khánh Trường, và tất cả các tác giả trong-ngoài nước đã tham dự, đã hoàn thành một chức năng ngành phê bình hay đòi hỏi: Tính dự báo trong văn chương.</p>
<p>12 năm, rất dài, nhưng vô cùng ngắn ngủi, tựa một sát na trong đạo Phật, khi tất cả mọi người cùng một lúc ngộ ra không chỉ có Quốc với Cộng, không chỉ có đen với trắng, nhưng còn có Con Người đằng sau khẩu hiệu. 12 năm Hợp Lưu, tựa một trang tôn kinh huyền hoặc, đã ghi lại dấu vết của những đổi thay trong lòng người Việt. Sao không huyền hoặc khi hôm nay, khách du lịch và dân chúng chứng kiến mỗi ngày cảnh tượng Chúa Nguyễn Hoàng, Chúa Nguyễn Phúc Chu, Chúa Nguyễn Phúc Loan của Đàng Trong hàn huyên thân ái với Chúa Trịnh Kiểm, Trịnh Tùng, Trịnh Bồng của Đàng Ngoài, huyên náo ăn sò huyết trên vỉa hè Phú Nhuận, tâm đắc nhậu thịt chó ở Quảng Bá, Nhật Tân. Chỉ có chúa Trịnh Sâm vắng mặt vì Tuyên Phi Đặng Thị Huệ, viết cho báo Phụ Nữ chống say xỉn, không cho đi. Các Chúa nhậu xong cùng quàng vai nhau đi <em>karaoké </em>ôm người con gái Việt Nam da vàng yêu quê hương như yêu đồng lúa chín của Trịnh Công Sơn… Sao không huyền hoặc khi mình đã nghĩ đánh mất vĩnh viễn Sàigòn, bỗng đứng trước ngôi nhà nơi mẹ đã sinh ra ở phố Hàng Đào.</p>
<p>Ngày mai đi tu, Khánh Trường có quyền hãnh diện, và biết đâu anh chẳng bị sư trụ trì từ chối: Đến cửa Phật phải có duyên. <em>Con chưa có duyên với nhà Phật, con chỉ có duyên với Hợp Lưu. Thôi con về trị sự và layout tiếp. </em>Giống sư trụ trì đã từ chối Nghiêm Xuân Hồng hai mươi năm trước, khi ông nhất quyết xuất gia. Ngày xuống tóc, Nghiêm Xuân Hồng đau ruột dư phải vào bệnh viện, một chữ <em>duyên</em> tan thành mây khói. Trở về Cali, Nghiêm Xuân Hồng cho xuất bản Trang Tôn Kinh Huyền Hoặc, làm thơ, viết truyện ngắn, đăng trên Văn kể lại ngày Võ Phiến tiễn ông ở phi trường, tưởng đã không gặp lại nhau, hay gặp lại một bên Bạch Thầy, một bên Bần Tăng đã thọ trai giới không còn uống được nữa… Ngày mai, ở lưng chừng núi Big Bear, bị sư trụ trì từ chối, Khánh Trường sẽ buồn vô hạn, anh đã vượt qua bao khó khăn để gầy dựng Hợp Lưu, cuối cùng không vượt nổi cửa Phật. Họa sĩ Khánh Trường sẽ trở xuống chân núi, nhìn những áng mây đỏ thẫm ráng chiều đang ào ạt trôi qua đầu về phía mái chùa còn vàng cong cánh sen đẹp rực rỡ. Anh sẽ ra parking lấy xe về lại Garden Grove, anh còn nghe tiếng gió đuổi xô trên vách núi, đuổi bắt tiếng gọi với của Thượng Tọa: <em>Con nhớ chăm lo nỗi buồn ‘chín tã’ và gởi báo tặng, nghe đâu số tới chủ đề truyện tình hậu hiện đại, thầy cũng trông lắm…</em></p>
<p>Cuối cùng, gởi đến anh chị, bạn bè, bằng hữu lời tạ lỗi đã đem hết tất cả nhúng lẩu, xay sinh tố. Hy vọng món lẩu vừa ăn, không quá cay, đã bảo hành khả ái và bao trọn gói. Cùng gởi đến đương kim tổng biên tập Phùng Nguyễn lời chúc:</p>
<p>Sẽ xuất hiện trên Hợp Lưu Đồ Long Đao và Lục Mạch Thần Kiếm…</p>
<h3><b>Thư ngỏ: Bạch hóa chuyện Hợp Lưu</b></h3>
<p><strong>Khánh Trường</strong></p>
<p>Ra đời tháng 10.1991, tạp chí Hợp Lưu <a href="http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=1295&amp;rb=0102">đã đóng dấu ấn rõ rệt</a> của mình trong đời sống văn học Việt gần 14 năm qua, tập hợp một số lượng đông đảo các cây bút có uy tín, thực hiện những chuyên đề đặc sắc, và là một trong những diễn đàn văn nghệ quan trọng nhất xuất phát từ hải ngoại chủ trương một nền văn học Việt vượt qua những ranh giới điạ lí giữa trong và ngoài nước. Chính vì vị trí đặc biệt đó, sự cố diễn ra trong thời gian gần đây với <a href="http://www.hopluu.net/">Hợp Lưu</a> đã vượt ra ngoài sự quan tâm trong phạm vi hẹp của một bộ phận trong văn giới và đặt ra những câu hỏi đáng suy ngẫm, ít nhất là về sinh hoạt báo chí tiếng Việt, đặc biệt là báo văn học, tại hải ngoại.<br />
Ý thức rõ sự nhạy cảm của những nội dung thuộc sự cố này, khi quyết định công bố những bài sau đây, chúng tôi đã có thư mời các bên liên quan trình bày quan điểm, cách nhìn của mình và phản hồi những ý kiến khác, với hi vọng rằng qua đó độc giả sẽ được thông tin đa chiều và đầy đủ để có thể tự mình có được một nhận định độc lập.</p>
<p>Trên dưới ba năm nay, do chuyển biến nội tâm và bệnh tật, tôi không còn tha thiết với văn chương, hội họa, vốn đã hệ lụy với tôi gần trọn kiếp người. Gần đây nhất, tuần trước, Phùng Nguyễn đến thăm tôi, khi đề cập đến chuyện Hợp Lưu, anh nói: Hiện nay dư luận rất mù mờ, chả biết phải trái thế nào, kể cả tôi, vì thế anh nên công khai mọi uẩn khúc để sáng tỏ vấn đề, nhất là sau khi Hợp Lưu số 83 phát hành, có thư từ nhiệm của Chủ biên Trần Vũ, và thư của Tổng thư ký Đặng Hiền thông báo về việc chủ nhiệm Khánh Trường rút lui khỏi Hợp Lưu. Tôi đã trả lời Phùng Nguyễn: “Theo các bác sĩ, nhiều lắm, tôi chỉ còn sống được 3 năm nữa’’. Đối với người sắp rời bỏ trần gian này, Hợp Lưu bị cưỡng đoạt hay bất cứ chuyện gì cũng không còn là mối bận tâm. Mọi chuyện, xét cho cùng, là chuyện&#8230; thế gian. Tôi không muốn bị vướng vào nữa.<br />
Nhưng trách nhiệm của tôi đối với Hợp Lưu không cho phép tôi buông xuôi ngoảnh mặt, hôm nay phải đành viết lá thư này. Để quý anh chị có thể hiểu rõ được phần nào những sự việc phức tạp đã xảy ra cho Hợp Lưu từ mấy tháng nay, thư khó có thể thu ngắn lại. Mong các anh chị thông cảm.<br />
Chuyện bắt đầu vào trung tuần tháng 3 năm 2005, thời gian Trần Vũ từ Pháp sang Mỹ du lịch. Tại nhà tôi, một buổi trưa, nhân có vợ chồng Trần Vũ, và hai thành viên trong Ban Biên Tập là Đặng Thơ Thơ và Nguyễn Hương, chúng tôi bàn sơ khởi về tương lai Hợp Lưu. Trần Vũ tái xác nhận anh sẽ từ nhiệm sau số 84, lý do: công việc chủ biên tờ tạp chí đã lấy mất của anh quá nhiều công sức và thời giờ, lẽ ra phải được dành cho gia đình và sáng tác. Việc Trần Vũ từ nhiệm là một mất mát lớn khó bù đắp, nhưng dù muốn dù không vẫn phải đối diện thực tế này, và tìm hướng giải quyết. Tôi dùng cụm từ “tái xác nhận”, vì từ cuối năm 2004 Trần Vũ đã nói đến chuyện này với nhiều người, cũng như chính Trần Vũ đã đề nghị và mời một số anh chị trong Ban Biên Tập thay anh nắm giữ chức chủ biên. Nhưng mãi đến trước buổi họp mặt ở nhà tôi, vẫn chưa có ai chịu nhận gánh trọng trách này. Vì thế, sau khi thảo luận hôm đó, chúng tôi cùng đồng ý sẽ đưa ra hai phương án:</p>
<p>&#8211; Đóng cửa Hợp Lưu nếu không tìm ra giải pháp.</p>
<p>&#8211; Mở rộng Ban Biên Tập, kết nạp thêm thành viên, phân bố trách nhiệm nhân sự cho từng bộ môn. Chủ biên đương nhiệm Trần Vũ cũng đã tán thành đề án này với thành phần nhân sự được đề cử, nhưng còn chờ sự bàn thảo và biểu quyết của những người còn lại trong Hợp Lưu theo đúng nguyên tắc. Trần Vũ đã nhận lời giúp đỡ cho tiến trình chuyển tiếp, và cho Ban Biên Tập tương lai.</p>
<p>Theo tôi, nếu chọn phương án thứ 2 thì phải tìm và đề cử một Tổng thư ký mới, điều hành công việc theo đúng danh xưng. Ba năm qua, Đặng Hiền trên danh nghĩa là Tổng thư ký, nhưng thực tế chỉ làm công việc trị sự. Tất cả mọi công đoạn liên quan đến nội dung như tìm, đề xuất chủ đề cho mỗi số báo, liên lạc xin bài, thảo luận và cùng các tác giả chỉnh lý bản thảo để có được những tác phẩm hoàn chỉnh, đủ và phù hợp với chủ đề đều do Chủ biên cùng Ban Biên Tập làm. Sau đó, tôi hoàn tất khâu trình bày, làm bìa. Trong khoảng một năm cuối, Chủ biên Trần Vũ phải gánh vác công việc nặng nề hơn nữa vì một vài thành viên trong Ban Biên Tập không có thời gian để giúp chuyện bài vở hữu hiệu như trước. Bản thảo hoàn tất, Đặng Hiền đến nhà tôi lấy, mang đi in. In xong lấy về phân phối cho các nhà sách, độc giả dài hạn; vài ba ngày cập nhật danh sách độc giả dài hạn, trả lời những email, thư từ liên quan đến việc mua báo, nếu có; quản lý chi thu, tổng kết tài chính hàng năm. Nghĩa là, trước sau, Đặng Hiền chỉ đóng vai trò của một Trị sự.<br />
Với phương án mới, nếu không có chủ biên, rất cần thiết phải có một Tổng thư ký đúng nghĩa, đầy đủ năng lực trên lĩnh vực văn học để có thể thay mặt Ban Biên Tập liên hệ với văn hữu. Theo tôi, Đặng Hiền không gánh nổi trọng trách này. Các anh chị nào đã từng tiếp xúc liên lạc với Đặng Hiền hẳn hiểu khả năng của Đặng Hiền.<br />
Khi đề nghị thay đổi chức danh của Đặng Hiền, tôi vẫn chủ quan nghĩ, cũng như tôi, Đặng Hiền sẽ vì Hợp Lưu mà vui vẻ nắm giữ vai trò trị sự, vốn rất hợp với khả năng của Đặng Hiền, cẩn thận, chi li và khôn ngoan trong chuyện tiền bạc. Nhưng tôi đã lầm: đề nghị của tôi có lẽ đã khiến Đặng Hiền thấy mình bị tổn thương, nên đã có những phản ứng dữ dội. Kết quả là Đặng Hiền đã sử dụng vũ khí trong tay là môn bài, trương mục ngân quỹ, danh sách độc giả dài hạn của Hợp Lưu để tuyên bố đình bản tạp chí trong một thông cáo đề ngày 25 tháng 3, 2005 gửi đi cùng khắp. Nếu không vì động cơ cá nhân thì khi có mâu thuẫn với cá nhân nào trong Hợp Lưu hay với cả tập thể, tại sao Đặng Hiền không giao lại môn bài, trương mục, và danh sách độc giả để cùng tập thể quyết định?<br />
<b>Môn bài trong tổ chức của Hợp Lưu</b><b> </b></p>
<p>Môn bài của Hợp Lưu từ đầu luôn được đứng tên bởi một người đại diện.<br />
Tất cả chúng ta, khi chọn văn học nghệ thuật làm nghiệp dĩ, đều không bao giờ nghĩ đến chuyện có lúc phải rơi vào vòng tranh chấp pháp luật. Ngày xưa, khi Hợp Lưu mới khai sinh, do nhóm anh em gồm tôi, các anh Nhật Tiến, Phan Tấn Hải, Phạm Việt Cường, Đỗ Hữu Tài và một số văn hữu nữa cùng thảo luận, đề xuất thành lập một Foundation với mục đích Vận động dân chủ cho Việt Nam bằng Văn học, Nghệ thuật. Hợp Lưu là tạp chí của Foundation. Chúng tôi đã phân trách nhiệm như sau:<br />
<i>Chủ tịch: Nhật Tiến.</i><br />
<i>Chủ biên Hợp Lưu: Khánh Trường</i><br />
<i>Phụ tá chủ biên: Phan Tấn Hải &amp; Phạm Việt Cường</i><br />
<i>Tổng thư ký: Đỗ Hữu Tài</i><br />
Phan Tấn Hải ngày ấy chưa có gia đình và là người rảnh rỗi nhất nên anh em đã đề cử Phan Tấn Hải đứng tên xin môn bài cho Hợp Lưu. Những năm đầu tiên Hợp Lưu được sự đóng góp công sức, vật chất lẫn tinh thần, của anh em trong nhóm và của rất nhiều anh chị em văn hữu khác, ở khắp nơi. Gần, như Đỗ Kh., Lê Thị Thấm Vân&#8230; Xa, như Trương Vũ, Thụy Khuê&#8230;<br />
Ba năm trước, khi bàn giao công việc với nhau, chúng tôi cùng đồng ý Phùng Nguyễn &amp; Đặng Hiền xin môn bài mới cho Hợp Lưu ở thành phố Đặng Hiền đang có cửa tiệm sửa computer, để thuận tiện hơn cho Đặng Hiền khai thuế hàng năm. Tôi, thời điểm này rất chán ngán báo chí nên đã không muốn đứng tên chung, dù Đặng Hiền &amp; Phùng Nguyễn yêu cầu. Lúc Phùng Nguyễn thôi chức chủ biên, anh rút tên ra, chỉ còn duy nhất một mình Đặng Hiền. Nhưng không hề có việc chuyển nhượng quyền sở hữu Hợp Lưu từ Phan Tấn Hải sang cho Đặng Hiền.</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2015/12/clip_image0042.gif"><img loading="lazy" decoding="async" class="" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image004" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2015/12/clip_image004_thumb2.gif?strip=all&fit=405%2C475" alt="clip_image004" width="405" height="475" border="0" /></a><br />
<b>Tài chánh và danh sách độc giả</b><b><br />
</b>Tuy nhiên môn bài Hợp Lưu không phải là mấu chốt. Vấn đề là danh sách địa chỉ độc giả dài hạn, yếu tố quyết định sự sống còn của tờ báo. Ba năm trước, vì cả tin, tôi giao tất cả cho Đặng Hiền nắm giữ. Nay, Đặng Hiền không trả lại. Dù một số vị, vì muốn giúp Hợp Lưu nên đã không quản ngại đến nhà Đặng Hiền dàn xếp, và chính tôi, đã rất nhiều lần minh định: Hợp Lưu bây giờ là tài sản chung của mọi người, nếu Đặng Hiền không muốn cộng tác với Hợp Lưu nữa, thì hãy trả lại cho tập thể. Tôi còn nói với các vị khi tiếp xúc thương lượng nói giùm: nếu Đặng Hiền muốn, Hợp Lưu tặng luôn số tiền hiện có trong trương mục Hợp Lưu. Có được danh sách độc giả dài hạn, anh chị em sẽ góp mỗi người một ít, dựng lại Hợp Lưu, không khó. Nói tóm, tuy trên môn bài hiện tại Đặng Hiền đứng tên, nhưng Hợp Lưu không là của riêng ai, kể cả tôi hay Đặng Hiền cũng không được độc quyền sở hữu. Nhưng mọi nỗ lực đều vô ích, Đặng Hiền vẫn tuyên bố: Hợp Lưu là của Đặng Hiền! Nhiều văn hữu rõ chuyện, đưa hướng giải quyết: Nếu không thể giải quyết bằng luật pháp vì sợ xấu mặt Hợp Lưu, thì nhờ các website bạn thông báo đến mọi văn hữu và độc giả về tình hình Hợp Lưu, đề nghị họ liên hệ về địa chỉ mới, thiết lập lại danh sách độc giả dài hạn để có thể tiếp tục. Nhưng như đã nói, do chuyển biến nội tâm và do bệnh tật, nhất là ngày “lên đường” không còn xa, tôi không đủ sức làm lại từ đầu, và nhất là không tha thiết bất cứ chuyện gì nữa.<br />
<b>Những hành động của Đặng Hiền</b><b><br />
</b>Từ trung tuần tháng 3 năm nay lúc xảy ra sự cố cho đến gần đây tôi vẫn giữ thái độ im lặng trước rất nhiều phản ứng của Đặng Hiền như ly gián, gây nghi ngờ, chia rẽ giữa tôi với nhiều văn hữu.<br />
Điển hình: Đặng Hiền cố tình chia rẽ tôi với Chủ biên Trần Vũ. Ngót 20 năm nay, chúng tôi có một giao tình rất gắn bó, từng xem nhau như anh em ruột thịt, thế mà, để cô lập tôi, Đặng Hiền đã dùng một email tôi viết riêng cho Đặng Hiền, đem công bố rộng với văn hữu khắp nơi, làm cho dư luận hiểu lầm tôi có ý đồ tìm cách đẩy Trần Vũ khỏi chức chủ biên vì bất đồng chính kiến. Điều ấy hoàn toàn sai, anh em có thể cãi nhau, nhưng mục tiêu chung vẫn là muốn Hợp Lưu khá hơn.<br />
Chuyện bất đồng ý kiến trong khi bàn thảo về bài vở, đường hướng, nội dung… trong nội bộ là chuyện đương nhiên để đưa đến một giải pháp chung, không phải để dẫn đến bất hòa. Vừa phản ánh, vừa để thực hiện chức năng của một diễn đàn mở rộng, những người thực hiện Hợp Lưu tiêu biểu cho rất nhiều khuynh hướng chính trị, truyền thống tri thức, văn hóa, nghệ thuật ở nơi sinh sống, tại Việt Nam hay trên khắp thế giới. Chính sự đa dạng này của thành phần nội bộ Hợp Lưu đã là sức mạnh, điểm son của Hợp Lưu. Đặng Hiền đã nhân vào đó mà chia rẽ nội bộ với bên ngoài, khuynh đảo dư luận để che đậy cho việc làm sai trái của cá nhân mình.<br />
Về nguyên tắc làm việc, Đặng Hiền đã không ngần ngại công bố các thư trao đổi nội bộ về những vấn đề còn trong vòng thảo luận như 2 bức thư đề án tái cấu trúc của tôi mà Đặng Hiền đã phổ biến một cách trái phép vào tháng 3 năm nay.<br />
Chưa dừng lại ở đó, Đặng Hiền còn tìm đủ mọi cách nhằm bôi nhọ uy tín cá nhân tôi cùng nhiều người khác. Đặng Hiền đã hăm dọa với ít nhất là vài người rằng sẽ công bố thư riêng của tôi. Tệ hại hơn nữa, bất chấp nguyên tắc căn bản và tối thiểu trong công việc làm có trao đổi chung trong một tổ chức, cùng danh dự và lòng tự trọng, Đặng Hiền còn đe dọa sẽ phổ biến tất cả thư từ trao đổi giữa những thành viên của Ban Biên Tập và Chủ biên liên quan đến chuyện phê bình quyết định đi hay không bài vở của văn hữu gửi đến Ban Biên Tập, cả những biến động dẫn đến việc thay đổi nhân sự trong nội bộ Hợp Lưu. Một phần vì bệnh tật, nói năng, viết lách khó khăn, phần khác, nặng nề hơn, tôi quá mỏi mệt, ngán ngẩm, nên khó cưỡng mọi chuyện trôi theo hướng Đặng Hiền đã vạch.<br />
Không thể giữ sạch sẽ cho Hợp Lưu được nữa rồi. Đành vậy!<br />
Sau này, do sinh kế, các thành viên trong nhóm không còn gặp nhau thường xuyên, nhưng công việc và tinh thần tập thể vẫn nguyên vẹn. Đó là lý do tôi không ngừng lặp đi lặp lại: Hợp Lưu là tài sản chung của mọi người.<br />
Thế nhưng, vì tham vọng, Đặng Hiền bất chấp lý lẽ, đã tuyên bố với những người trong buổi gặp gỡ tại nhà Đặng Hiền vào cuối tháng 3 gồm Lê Thị Thấm Vân, anh Lê Thứ, chị Mỹ Lộc, Trần Vũ, Ngọc Mỹ, Nguyệt Cầm, Đặng Thơ Thơ, Nguyễn Hương (khi những vị này đến nhà Đặng Hiền dàn xếp sau lá thư ngày 25 tháng 3 tuyên bố đình bản Hợp Lưu của Đặng Hiền): “Hợp Lưu là ai? Hợp Lưu là Hiền nè, Hiền muốn nó chết là nó chết.”<br />
Còn ngao ngán hơn, Đặng Hiền đã viết trong một thư gửi Ban Biên Tập rằng Khánh Trường không có quyền gì cả, chỉ là “chủ nhiệm sáng lập”. Giả sử còn khỏe mạnh và nhiệt tâm như xưa, tôi sẽ liên lạc với các thành viên cũ, đưa nội vụ xin tòa xét xử, với đầy đủ hồ sơ (do luật sư Nguyễn Hữu Liêm làm khi thành lập Foundation). Giả sử thôi, chứ làm thế chỉ xấu mặt Hợp Lưu. Nhà văn Ngô Tự Lập, nhà thơ Tô Nhuận Vĩ, và rất nhiều anh chị em văn hữu trong ngoài nước vẫn đến thăm tôi, cùng có chung nhận xét: Bọn văn nghệ sĩ thông minh, tài cán trên chữ nghĩa, nhưng lại vô cùng non nớt khi va chạm cuộc đời. Nhất là trước những thủ đoạn tráo trở. Vì thế luôn luôn thua thiệt. Nhận xét trên có phần đúng, nhưng tôi cho không phải vì non nớt, mà vì lòng tự trọng. Sự cố Hợp Lưu càng lúc càng nhầy nhụa, trầm mình vào, bẩn quá. Đó là lý do dù nhiều anh chị em hiểu rõ uẩn khúc câu chuyện vẫn đành phải tránh xa, im lặng.<br />
Tôi rất cực lòng và xấu hổ khi buộc phải công khai mọi chuyện.<br />
Cực lòng. Như đã nói, Hợp Lưu là một diễn đàn văn học có uy tín, cho nên Hợp Lưu sống hoặc chết vẫn phải trong tư thế xứng đáng với tầm vóc của nó. Vì thế, hơn 4 tháng qua, tôi không phản ứng trước những hành động nói trên của Đặng Hiền. Thậm chí nhiều bằng hữu trong và ngoài giới đến nhà chơi, cũng như qua thư từ trao đổi bằng email, vẫn chưa biết gì về tình trạng Hợp Lưu hiện tại. Tôi đã hy vọng mọi chuyện sẽ qua, để, nếu may mắn có được một chủ biên tài năng, Hợp Lưu sẽ tiếp tục nắm giữ ngọn cờ tiên phong, dấn thân vào những vùng đất mới, như 15 năm qua Hợp Lưu đã làm. Bằng không, nếu chết, Hợp Lưu sẽ cố gắng chọn một cái chết sạch sẽ.<br />
Nhưng mọi diễn biến càng lúc càng đẩy sự cố lún sâu xuống vũng sình. Hợp Lưu muốn sống một cách đường hoàng chắc chắn bất khả thi. Ngược lại, muốn chết cũng không được. Tôi cực lòng lắm. Với tư cách Chủ biên rồi Chủ nhiệm, lẽ ra tôi không được quyền tắc trách để gây nên hậu quả tệ hại này. Càng nghĩ, tôi càng thấy mình xấu hổ, có tội. Không chỉ với những vị đã cùng tôi sáng lập ra Hợp Lưu, các văn hữu khắp nơi, mà lớn hơn, với văn học Việt Nam.<br />
Cũng hồi trung tuần tháng 3, qua sự dàn xếp của Nam Dao, tôi đã ký tên vào thông cáo với danh xưng “chủ nhiệm sáng lập”, có nghĩa là chủ nhiệm và cả là người sáng lập. Qua thỏa thuận này (bằng văn bản đề ngày 29 tháng 3 với chữ ký của Khánh Trường, Trần Vũ và Đặng Hiền), chúng tôi đã cam kết không thay đổi đường hướng và thành phần nhân sự ít nhất là cho đến hết số 84. Và sau này, khi có thay đổi thì đương nhiên phải theo đúng nguyên tắc thông thường, có nghĩa là phải theo thủ tục biểu quyết của tất cả những người chịu trách nhiệm Hợp Lưu như tôi, chủ biên Trần Vũ, Tổng thư ký Đặng Hiền, và Ban Biên Tập.<br />
Mọi chuyện đã không đơn giản như tôi tưởng. Gần đây nhất, trong <i>Thư Tổng thư ký</i>, đăng ở số 83 (tháng 6&amp;7/2005), Đặng Hiền ngang nhiên nhân danh “chúng tôi” khi thực chất, chỉ duy nhất một mình Đặng Hiền, không hội ý bất cứ ai trong tất cả tập thể thực hiện Hợp Lưu cho đến hôm nay, để tự biên tự diễn, loại bỏ tôi, người Sáng lập và là đương kiêm Chủ nhiệm, ra khỏi Hợp Lưu. Cũng từ <i>Thư Tổng thư ký</i> của Đặng Hiền trên Hợp Lưu 83, Nguyễn Hương và Đặng Thơ Thơ với tư cách là thành viên trong Ban Biên Tập, và với trách nhiệm thực hiện số 84, đã hỏi ý kiến Ban Biên Tập nên xử lý thế nào khi số 84 với chủ đề đặc biệt vốn là một cam kết trước khi mọi tranh chấp xảy ra và trước khi có sự thay đổi nhân sự. Trong email đề ngày 12 tháng 7 gửi lại cho Nguyễn Hương, Đặng Thơ Thơ và những người trong Ban Biên Tập, thay vì giải quyết chuyện số 84, Đặng Hiền đã thẳng thừng phủ nhận sự có mặt của Ban Biên Tập.<br />
Các thành viên trong Ban Biên Tập đã phải lên tiếng về hành động sai trái của Đặng Hiền, từ tuyên bố đóng cửa Hợp Lưu đến vô hiệu hóa tất cả các nhân sự cũ của Hợp Lưu (từ chủ nhiệm đến các thành viên trong Ban Biên Tập), để thực hiện một Hợp Lưu mới với thành phần nhân sự không được tuyên bố, chính xác hơn, chỉ duy nhất một mình Đặng Hiền. Vì không còn giải pháp nào khác, không thể tiếp tục cộng tác với Đặng Hiền, nên Nguyễn Hương và Đặng Thơ Thơ đã gửi thư thông báo đến các cộng tác viên số đặc biệt Văn Chương Da Màu để xin quyết định của họ về chuyện xử lý bài vở.<br />
<b>Chuyện tôi “giao” Hợp Lưu cho Đặng Hiền</b><br />
Trong <i>Thư Tổng thư ký </i>ở số 83, và trong <i>Thư tòa soạn</i> ở số 84 do Đặng Hiền sắp phát hành, Đặng Hiền đã cám ơn tôi “tin tưởng giao lại tạp chí Hợp Lưu là một gia tài tinh thần quí giá cho chúng tôi từ 3 năm qua.” Nhưng sự thật đây chỉ là một cách nói hàm hồ, hầu giành lẽ phải và chính danh trong việc độc quyền làm chủ và quyết định Hợp Lưu.<br />
Ba năm trước, vì bệnh tật, tôi phải bàn giao công việc Hợp Lưu cho Phùng Nguyễn trông coi với sự giúp đỡ về mặt trị sự của Đặng Hiền. Sau khi Phùng Nguyễn rút lui, Trần Vũ đã cáng đáng chức vụ và trách nhiệm Chủ biên. Lần lượt Phùng Nguyễn rồi Trần Vũ đã rất xuất sắc trong vai trò này. Nhất là Trần Vũ, 3 năm qua, bằng khả năng, tận tụy, cùng với lòng say mê văn học, dần dần Trần Vũ lấy lại được chỗ đứng uy tín Hợp Lưu từng nắm giữ từ buổi đầu xuất hiện. Trong <i>Thư Chủ nhiệm</i> đăng trên Hợp Lưu số 66, tôi đã viết: “<i>Đồng thời tôi cũng trân trọng mời nhà thơ Đặng Hiền đảm nhiệm chức vụ tổng thư ký. Với sự tháo vát và quản trị khoa học, chắc chắn Đặng Hiền thừa khả năng giúp Hợp Lưu vững vàng hơn về mặt tài chính, phổ cập hơn về mặt quảng bá.</i>” Như thế tôi đã xác định rõ phận sự của Tổng thư ký Đặng Hiền trong 2 lãnh vực tài chánh và phát hành, không bao gồm phận sự đại diện đường hướng hay biên tập cho tờ báo, cũng không bao gồm quyền sở hữu Hợp Lưu. Khi Trần Vũ thay Phùng Nguyễn làm chủ biên, tôi đã định bỏ chức Tổng thư ký, vì nhận thấy không phù hợp với thực tế, nhưng Đặng Hiền gọi điện thoại, xin “cho em làm Tổng thư ký đi”. Tôi nghĩ, cũng chẳng có hại gì nên bằng lòng ngay. Không ngờ tắc trách này dẫn đến hậu quả ngày hôm nay. Một hậu quả hoàn toàn bất ngờ và vô cùng tai hại.<br />
Như các bạn thấy trong thư này, ở số 66, tôi đã mời Phùng Nguyễn và Đặng Hiền cùng cộng tác với tôi để đảm nhiệm những công việc biên tập và điều hành hằng ngày, hầu làm tốt tờ báo mà sức khỏe tôi đã không còn cho phép cáng đáng. Từ đó đến nay, tôi vẫn giữ vai trò Chủ nhiệm, chịu trách nhiệm tổng quát cho Hợp Lưu.<br />
<b>Ban Biên Tập và trách nhiệm nội dung</b><br />
Ngoài Chủ biên, Hợp Lưu còn có một Ban Biên Tập chịu trách nhiệm về nội dung. Từ số 70 (tháng 4&amp;5/2003), Hợp Lưu có 12 người chính thức mang danh nghĩa này (trên bìa trong của HL số 70 và 71). Sau một sự tái tổ chức và thành lập Ban Biên Tập mới, từ số 72 đến số 75 chỉ có tôi đứng tên Chủ biên. Trần Vũ vì lý do riêng không muốn công khai hóa chức vị Chủ biên lúc đó, mặc dù đã cùng làm việc với Ban Biên Tập mới. Khi yêu cầu Trần Vũ công khai để tên trong chức vụ Chủ biên trong mục “Kim Thi Ngày Tháng” ở số 75 (tháng 2&amp;3/2004), tôi cũng đã xác định lại công lao và chỗ đứng tương lai của Ban Biên Tập khi tôi viết: “<i>Các bạn tận tình tận lực lo cho Hợp Lưu lúc Kim Thi [tôi] không còn đủ sức gánh vác đơn phương, chắc chắn do tình cảm gắn bó giữa Kim Thi và các bạn, và giữa các bạn với nhau. Kim Thi hy vọng giao tình ấy sẽ mãi mãi bền chặt, để tờ báo này có thể đến tay bạn đọc bằng trí tuệ và tài năng của các bạn.</i>” Chính Chủ biên Trần Vũ vẫn còn mời thêm một thành viên mới vào Ban Biên Tập trong thời gian này, và vẫn viết đến “ban chủ biên” trong thư tòa soạn gần như ở mỗi số kể từ lúc đó. Như thế, Ban Biên Tập đã cùng Chủ biên chịu trách nhiệm nội dung Hợp Lưu trong suốt thời gian từ đầu năm 2003.<br />
Vậy mà, vào tháng 3 trong buổi gặp gỡ tại nhà Đặng Hiền, Đặng Hiền đã nói với 8 vị có mặt (đã nêu tên ở trên) rằng “tất cả chỉ là văn hữu, vì Hợp Lưu không có Ban Biên Tập.” Gần đây nhất, để biện hộ cho việc tái tổ chức Hợp Lưu không thông qua tôi và Ban Biên Tập, Đặng Hiền đã hàm hồ phủ nhận sự có mặt của Ban Biên Tập. Trong email đề ngày 12 tháng 7, Đặng Hiền viết [nguyên văn]: “<i>Tran Vu co the da nho mot so anh chi em de giup minh nhu coi lai “chinh ta” va giup do sua loi TYPO&#8230; nhu da nho anh Pham Vu Thinh ben UC de sua loi chinh ta, the anh PVT co khan khan doi xung minh la ban bien tap HL hay khong?</i>” Sau khi bị phản ứng của các thành viên trong Ban Biên Tập, Đặng Hiền đã đổi giọng lịch sự hơn trong <i>Thư tòa soạn</i> số 84, nhưng vẫn khẳng định Ban Biên Tập đương nhiệm không còn hiệu lực, khi mà tập thể này chưa hề tự giải tán hay bị giải tán.<br />
Như thế, quyết định của Đặng Hiền đóng cửa Hợp Lưu vào tháng 3 và tái tổ chức Hợp Lưu kể từ sau số 83 (tháng 6 &amp; 7/2005) là những quyết định hoàn toàn đơn phương, không được sự chấp thuận của tôi, Chủ biên Trần Vũ, hay của Ban Biên Tập Hợp Lưu. Một hành động lạm quyền trắng trợn đến buồn cười. Cũng thật buồn cười khi tôi là đương kiêm chủ nhiệm muốn đi vài lời thông báo với độc giả và văn hữu lại bị Đặng Hiền báo rằng: Khánh Trường muốn đi gì trên Hợp Lưu thì phải qua sự chấp thuận của tôi, Đặng Hiền.<br />
Tất cả những điều nêu trên cho thấy rằng: Khi Đặng Hiền tiếp tục xuất bản Hợp Lưu, thì đây là một cuộc chuyển giao bất bình thường, đi ngược lại tinh thần và nguyên tắc làm việc của tập thể Hợp Lưu. Sự giành độc quyền quyết định sinh mệnh Hợp Lưu, hay nói trắng ra, ý đồ cưỡng đoạt Hợp Lưu, của Đặng Hiền như thế đã toàn vẹn và rõ rệt. Hợp Lưu đã “là Hiền.”<br />
<b>Kết quả bế tắc</b><b> </b><br />
Mới đây nhất, ngày 22/7/2005, qua điện thoại, 3 nhà văn: Ngô Thế Vinh, Phan Nhật Nam, và nhà văn Nguyên Vũ (Nguyên Vũ qua email nhờ Phan Nhật Nam chuyển lời), đã dùng tình cảm, cố thuyết phục tôi gặp Đặng Hiền để dàn xếp, vì dẫu thế nào cũng là anh em một nhà, không việc gì không giải quyết được. Ba người bạn lớn tuổi đã lạc quan nghĩ thế chăng, dù tôi cố giải thích rằng chuyện không đơn giản. Cuối cùng, không thuyết phục được 3 vị, tôi đành nhận lời, nếu không, họ sẽ nghĩ tôi hẹp hòi. Tôi đi. Nhưng suốt buổi họp mặt dài khoảng 2 tiếng, do phát âm khó khăn và do không lường trước được những suy nghĩ, qui chụp quái gở của Đặng Hiền, tôi chỉ ngồi chịu trận, nghe, vừa bực bội vừa buồn cười. Khi Phan Nhật Nam, có lẽ do lòng tốt, năn nỉ tôi đi gặp Đặng Hiền đã nói là Đặng Hiền cho biết sẽ chia cho tôi từ 10 đến 20% lợi nhuận Hợp Lưu vì dù sao tôi cũng là «chủ nhiệm sáng lập». Thật là quái dị, không tưởng nổi. Trong buổi gặp mặt, lúc Đặng Hiền khởi sự nhắc đến chuyện tiền bạc, tôi vội gạt ngay, vì không muốn bị sỉ nhục.<br />
Đặng Hiền đã tiếp tục phủ nhận Ban Biên Tập. Suốt buổi, tôi chỉ nói được với Đặng Hiền: để giữ uy tín cho Hợp Lưu, chúng ta hãy viết một thông cáo chung tuyên bố đóng cửa Hợp Lưu, vì không giải quyết được vấn đề nhân sự. Nhưng Đặng Hiền không bằng lòng, nói “Nếu anh còn tiếp tục quậy, không cho em làm Hợp Lưu, em sẽ đưa anh ra tòa vì tội mạ lỵ cá nhân”. Tôi trả lời Đặng Hiền cứ việc làm những gì Đặng Hiền muốn, kể cả chuyện thưa kiện. Riêng chuyện Hợp Lưu, nếu Đặng Hiền nhất quyết tự biên tự diễn thì hãy rút tên tôi ra, để từ nay tôi không phải chịu trách nhiệm gì cho Hợp Lưu nữa.<br />
Tóm lại, trong buổi gặp gỡ này, hoàn toàn không có một thỏa thuận nào, về mọi mặt, giữa tôi và Đặng Hiền. Thế mà trong điện thư gửi cho Phạm Thị Hoài, cùng gửi đến nhiều người, Đặng Hiền lặp lại lời hăm dọa, đồng thời nói sở dĩ tôi đề nghị rút tên ra khỏi Hợp Lưu, vì sợ pháp luật. Đặng Hiền tuyên bố rằng mình đã chịu “tạm ngưng những thủ tục pháp lý cần thiết” khi tôi đề nghị rút khỏi Hợp Lưu. Đây là một lật lọng về diễn tiến cuộc nói chuyện. Sau buổi họp mặt, tôi cảm thấy ê chề và tổn thương nặng nề, có cảm tưởng mình bị đẩy lên võ đài đánh nhau với một đối thủ khiếm thị. Dù kết quả thế nào, danh dự, lòng tự trọng cùng tình cảm tin yêu con người trong tôi cũng bị triệt tiêu một cánh đau đớn.<br />
Tôi không còn cách nào khác hơn là gửi thông cáo dưới đây đến các văn hữu và độc giả:<br />
<i>Sau 15 năm tồn tại, Hợp Lưu đã vượt qua rất nhiều sóng gió, khó khăn nhiều mặt, từ dư luận đến tài chánh. Để cho ra đời và giữ được một diễn đàn văn học rộng mở vượt qua những lằn ranh bi thảm của lịch sử, Hợp Lưu đã nhận được sự ủng hộ, đóng góp tiền bạc, bài vở, công sức, của bao nhiêu độc giả, văn hữu, và những người thực hiện. Xuyên qua quá trình đó, Hợp Lưu là tài sản của chung người đọc, người viết và những người thực hiện nội dung và hình thức. Gần đây nhất, trong thời gian tôi bệnh nặng, Chủ biên Phùng Nguyễn đã cáng đáng từ số 66 đến số 69, và sau đó là Chủ biên Trần Vũ đã khó nhọc lèo lái cùng Ban Biên Tập thực hiện Hợp Lưu thành công mỹ mãn với thành quả trị sự của Đặng Hiền trong gần 3 năm qua.</i><br />
<i>Rất tiếc, khi Trần Vũ có ý định từ nhiệm, tôi cũng như chủ biên đã tìm kiếm, đề nghị và mời vài anh chị em thay thế, nhưng vì phản ứng của cá nhân Đặng Hiền, nỗ lực của chúng tôi không khả thi. Dựa vào việc đứng tên môn bài và giữ danh sách độc giả dài hạn, Đặng Hiền đã gạt bỏ mọi ngưòi ra khỏi Tạp chí Hợp Lưu, quyết định tự biên tự diễn. Không còn cách nào khác hơn, tôi tuyên bố kể từ hôm nay, rút tên ra khỏi Tạp chí Hợp Lưu, và hoàn toàn không chịu trách nhiệm, mọi mặt, từ nội dung lẫn hình thức đến tài chánh, nếu tờ tạp chí này tiếp tục ấn hành.</i><br />
<i>Tôi xin được cảm ơn độc giả, văn hữu, những người cộng sự đã gắn bó với Hợp Lưu và cá nhân tôi trong suốt 15 năm qua. </i><br />
<i>Nếu có cơ hội, tôi sẽ tái ngộ với độc giả trên một diễn đàn mới, trong một đường hướng mới, phù hợp hơn với những nhu cầu trong hoàn cảnh mới của văn học bằng tiếng Việt.</i><br />
<i>Westminster, ngày 27 tháng 7, 2005</i><br />
<strong>Khánh Trường</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><b>Một chặng đường Hợp Lưu</b></h3>
<h3><b>Nói chuyện với Khánh Trường</b></h3>
<p><b>Phùng Nguyễn thực hiện</b></p>
<p><b>Một chặng đường Hợp Lưu</b><br />
<i>Sau 12 năm, tròn một giáp, chủ bút tạp chí Hợp Lưu là họa sĩ và nhà văn Khánh Trường từ biệt làng báo. Cuộc nói chuyện chia tay của anh với Phùng Nguyễn và bài tổng kết một chặng đường Hợp Lưu của Trần Vũ là những tư liệu quan trọng về nhiều khía cạnh của sinh hoạt tinh thần và báo chí hải ngoại. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.<br />
</i><u>Talawas</u></p>
<p><b>Phùng Nguyễn (PN</b>)<i>: Có người bảo tôi tạp chí Hợp Lưu, trong khi thực hiện được vai trò của mình trong một thời kỳ văn học [Việt Nam] đặc biệt, đã không có những đóng góp nổi bật trong việc tạo ra một hay nhiều trào lưu văn học đáng kể trong cùng giai đoạn đó. Dựa trên những nhận định của Trần Vũ trong &#8220;Hợp Lưu 12 năm &#8211; trang tôn kinh huyền hoặc&#8221; mà tôi có phần đồng ý, Hợp Lưu ít nhất đã có những hoạt động đáng kể trong việc bảo trợ và khuyến khích những táo bạo trong thơ, đặc biệt là những bài thơ diễn đạt/chuyên chở &#8220;dâm tính&#8221; trong những năm tháng điều này còn bị xem là cấm kỵ trên các tạp chí văn học trong và ngoài nước. Theo anh thì Hợp Lưu đã có những tác động nào trong sự xuất hiện của một hay nhiều traøo lưu văn học trong thời gian qua? </i><br />
<b>Khánh Trường (KT)</b>: &#8211; Theo tôi nghĩ, có lẽ chúng ta &#8211; những người cầm bút ở hải ngoại &#8211; cần nhìn lại chính mình, để thấy rõ hơn vị trí và vai trò của chúng ta đối với văn học Việt Nam, bao gồm cả trong lẫn ngoài nước.<br />
Sau biến cố 1975, suốt thời gian dài gần ba thập niên, đã có trên hai triệu người bỏ nước ra đi, qua nhiều hình thức. Hai triệu người ấy sinh sống rải rác khắp mọi lục địa trên hành tinh này. Ở nhiều nơi, nhờ điều kiện địa dư, khí hậu, kinh tế&#8230; họ quần tụ thành cộng đồng lớn. Ðiển hình như tại hai miền Nam Bắc California, Mỹ quốc. Ðã có cộng đồng lớn, tất nhiên không thể không có những sinh hoạt mang tính vaên hóa sắc tộc. Một trong các sinh hoạt mạnh mẽ và đa dạng, đa hiệu nhất là báo chí, sách vở, âm nhạc&#8230; Nhờ báo chí, sách vở, âm nhạc&#8230;, qua báo chí sách vở, âm nhạc&#8230; chúng ta có phương tiện để giãi bày nỗi niềm nhơù tưởng quê xưa, để nguôi ngoai mối sầu xa xứ, để thét gào cơn đau &#8220;mất nước,&#8221; để vạch trần tội ác của &#8220;kẻ thù không đội trời chung,&#8221; để nuôi dưỡng hờn căm hầu mong một ngày trở về&#8230;. giải phóng quê hương!!!<br />
Văn học Việt Nam Hải Ngoại hình thành và phát triển trong chiều hướng đó.<br />
Nếu có thì giờ nhẩn nha soát lại những tác phẩm tiêu biểu của hai thập niên đầu tính từ 1975, chúng ta sẽ thấy hầu hết đều xoay quanh các tiền đề vừa nêu trên. Những <i>&#8220;Cùm Ðỏ,&#8221;</i> những <i>&#8220;Ðại Học Máu,&#8221;</i> những <i>&#8220;Thép Ðen,&#8221;</i> những <i>&#8220;Cuộc Chiến Chưa Tàn&#8221;</i>&#8230;, cùng vô số tác phẩm đại loại như thế đã ra đời, tràn ngập các hiệu sách, bão hòa trên báo chí. Tôi tự hỏi, liệu chúng ta có nên đặt tên và gọi là trào lưu này khuynh hướng nọ cho một dòng văn học ngập ngụa máu me căm thù và đặc sệt tính thời sự như thế chăng?</p>
<p>Tất nhiên tôi không phủ nhận vào những năm cuối của thập niên thứ hai và đầu thập niên thứ ba, đã xuất hiện một số người viết mới. Lớp người này không liên hệ nhiều với quá khứ, nhờ thế, tầm nhìn của họ rộng hơn, bao dung hơn, công bình hơn, khai phóng hơn, nhân bản hơn, và đáng mừng vô cùng là họ đã thoát được ra khỏi vòng vây trùng điệp mìn chông ý thức hệ của lớp đàn anh. Trong giới hạn nào đó, họ đã có những đóng góp đáng kể cho dòng văn học lưu vong. Nhưng theo tôi, những đóng góp ấy chỉ nên xem là những thành tựu có tính cách cá nhân. Họ không đủ sức và cũng không thể làm thành trào lưu hay khuynh hướng văn học. <i>Ngô đồng nhất diệp lạc/ thiên hạ cộng tri thu</i>. Chỉ một chiếc lá ngô đồng cũng đủ để báo cho thiên hạ biết mùa thu đã đến. Nhưng anh A vừa có được một truyện ngắn khai mở lạ lùng, chị B vừa xuất bản một tuyển tập ăm ắp chất liệu hiện đại, không có nghĩa anh A chị B này đã dự báo hay đã tạo nên trào lưu, đã gây thành khuynh hướng.<br />
Công việc ấy, phải do những tờ báo, những diễn đàn văn học uy tín chủ trương, khơi động.<br />
Hợp Lưu đã hơn một lần thử nỗ lực làm công việc ấy.<br />
Nhưng cũng đã hơn một lần Hợp Lưu thất bại!<br />
Với lớp già, viết, là phương cách để giải tỏa một nỗi niềm, biện minh một quá khứ, hoài vọng một tương lai, u hoài một thân phận (lưu vong). Với lớp trẻ, viết, để tiêu khiển, để giết bớt thì giờ của một cuối tuần &#8220;em (anh) có hẹn nhưng em (anh)&#8230; cóc đến,&#8221; để thư giãn giữa hai múi thời gian ngồi dán mắt vào màn hình <i>computer</i>, trong văn phòng, nơi làm việc. Viết, với họ, không bao giờ và chưa bao giờ trở thành nhu cầu thiết thân, như hơi thở, như khí trời, như &#8220;tôi cần viết như tôi cần sống!&#8221; Chưa kể, lực lượng cầm bút cả già lẫn trẻ ấy mỗi ngày mỗi rơi rụng dần theo năm tháng lưu vong. Lớp già, tay run, mắt mờ, nối đuôi nhau vào viện dưỡng lão. Lớp trẻ, xa dần tiếng Việt. Trong giao tiếp, trong công việc, họ đối thoại với nhau bằng ngôn ngữ bản địa, suy nghĩ cùng nhau qua ngôn ngữ bản địa, đến một lúc họ mặc nhiên trở thành người bản địa. Tiếng Việt, văn chương Việt, nghệ thuật Việt chỉ còn là một hoài niệm, lâu lâu, nghĩ về với một tâm thức dửng dưng, hay khá hơn, nhói nhói một tí bùi ngùi. Dù dửng dưng hay nhói nhói bùi ngùi, cuối cùng, cũng chỉ để&#8230; quên! Chưa kể sự cũ mòn, cliché, đồng dạng và nghèo (tác giả). Hãy thử lật vài ba tạp chí văn học tiêu biểu của hải ngoại mà xem! Quanh đi quẩn lại cũng chừng ấy tên tuổi, với chừng ấy cách viết, bằng chừng ấy văn phong, lặp lại chừng ấy cấu trúc&#8230; Hôm nay, xuất hiện trên báo này, tháng sau, có mặt ở báo khác&#8230;, cứ vậy, luân chuyển mải miết trong vòng quay luân hồi nghiệt ngã. Tài năng cỡ Tolstoi mà bị xoay hay tình nguyện xoay kiểu ấy, cũng phải đến lúc chỉ sản sinh ra&#8230; rác!!!<br />
Thế còn các hiện tượng mới?<br />
Xin thưa, họa hoằn lắm mới thấy xuất hiện một, hai. Ðiều cười ra nước mắt là bên cạnh vài tài năng thực sự, đa phần, nếu công bình nhận xét với ít nhiều hào phóng, thì cũng chỉ &#8220;thường thường bậc trung&#8221; Vậy mà, rất nhanh, họ trở thành đối tượng tuyên dương, ca tụng, đánh bóng, săn lùng, mời mọc của các chủ bút. Tại sao? Giản dị: Người viết hiếm hoi quá, lại cứ hao hụt dần. Thôi thì, có còn hơn không, nỗi lo &#8220;chạy bài&#8221; như nhà nghèo chạy gạo của các chủ bút dẫu thế nào cũng nhẹ đi đôi phần. Cứ nhắm mắt tán hươu tán vượn vung vít vào, cho &#8220;nhà văn&#8221; sướng. &#8220;Nhà văn&#8221; sướng, ắt sẽ cộng tác dài dài với mình. Lấp đầy được năm mười trang báo trong thời buổi kiệm ước văn khôn bài khó này kể cũng đáng bỏ công.<br />
Tôi không cường điệu. Thực trạng tôi vừa trình bày là có thực, sự khánh kiệt trầm trọng các tác giả là điều không thể choái cãi. Từ đó suy ra, Phùng nghĩ xem, với số ngòi bút có thể đếm được trên mười đầu ngón tay, lại chỉ xem công việc viết lách như một trò tiêu khiển, thì việc tạo ra trào lưu, dựng nên khuynh hướng, coi bộ cũng chả khác chi chuyện mấy chàng thi sĩ tiền chiến nằm dài cạnh bàn đèn thuốc phiện, rít khói, ngửa mặt, nhắm mắt &#8220;mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây!&#8221; Nói cách ví von kiểu Mai Thảo, thì &#8220;Có chứ, thỉnh thoảng ta cũng có làm ra gió, có tạo ra bão đấy chứ. Nhưng mà, bố khỉ, chỉ là gió và bão trong&#8230; tách trà!&#8221;<br />
Ðể kết luận, tôi có thể khẳng định không chút đắn đo: Trong môi trường văn học hải ngoại, chuyện tạo nên một trào lưu, một khuynh hướng là chuyện viễn mơ, không tưởng. Hợp Lưu không làm được. Các tờ báo khác cũng thế, không làm được.<br />
Tuy nhiên, trong giới hạn khiêm tốn hơn, tôi tạm bằng lòng với thành quả này: Suốt 12 năm qua, trên diễn đàn Hợp Lưu, không ít những tài năng mới đã xuất hiện, đã trưởng thành, đã dành được cho mình một chỗ đứng vững vàng trong dòng văn học lưu vong. Họ là ai? Nếu độc giả theo dõi kỹ tạp chí Hợp Lưu từ số đầu tiên đến hôm nay, hẳn biết. Tôi nghĩ không cần phải kê khai tên tuổi họ ở đây.<br />
<b>PN</b>: <i>Nhà văn/chủ bút Nguyễn Mộng Giác bảo tôi &#8220;Làm biên tập một tờ báo văn chương cũng giống như làm bức vách cho người treo tranh. Tranh có đẹp thì người ta mới kéo đến xem. Gỡ tranh đi thì chỉ còn trơ lại&#8230; bức tường xám xịt!&#8221; Nhà văn/chủ bút Nguyễn Xuân Hoàng thì khẳng định &#8220;Không có nhà văn viết bài làm sao ra báo!&#8221; Còn chính anh, họa sĩ/nhà văn/chủ bút Khánh Trường, thì so sánh công việc biên tập với công việc của người dọn bàn trong tiệm ăn. Món ngon do đầu bếp nấu nướng, anh chỉ lo dọn ra cho gọn gàng đẹp mắt, không có nhiều&#8230; lỗi &#8216;chín tã&#8217; quá là được! Ðây là những lời vàng ngọc cho tên lính mới</i> <i>tò te là tôi. Tuy nhiên, thí dụ như tôi có tham vọng dọn một bữa tiệc thực ngon, thực độc đáo, thực&#8230; Hợp Lưu, trong bảng thực đơn gồm có món gan kangaroo bên Úc, món cầy tơ ở quê nhà yêu dấu, cặp nhung hươu sao Gia Nã Ðại, mấy cái hamburger khổng lồ của Mỹ, kèm theo thùng bia đen và mấy chai rượu vang đỏ ở tận trời Tây mà quý ông/bà đầu bếp mải hục hặc nhau vì một hay nhiều lý do nào đó cho nên cứ em chả với thèm vào thì tôi phải làm sao? </i><br />
<b>KT</b>: Câu hỏi &#8220;<i>tôi phải làm sao?&#8221;</i> để có được <i>&#8220;một bữa tiệc thật ngon, thật độc đáo&#8221;</i> không phải chỉ là &#8220;tham vọng&#8221; của riêng Phùng, mà chắc chắn đã là &#8220;tham vọng&#8221; của bất cứ ông/bà chủ bút nào, từ Ðông sang Tây, từ xưa đến nay.<br />
Cá nhân tôi, rất nhiều lần tự hỏi thế. Có lúc trả lời được, thành công. Nhiều khi bí, thất bại. Qua những thành công và thất bại ấy, tôi rút được kinh nghiệm: làm chủ bút một tờ báo, nghĩa nào đó, là làm dâu trăm họ. Ý này thực ra chả mới mẻ gì. Cũ xì. Nhưng khổ thay, lại đúng vô cùng. <i>Văn mình, vợ người</i>. Nói cách khác, mỗi ông/ bà nhà văn là một ông/bà trời con. Cho nên, khi tiếp xúc với họ, cách tốt nhất là tìm cách quên mình đi, triệt tiêu mình đi. Nếu quên không được, triệt tiêu chả xong, thì gắng thu nhỏ mình lại, dấu kỹ mình vào một xó góc nào đó, và nhớ sắm cho mình một bộ mặt thực dễ thương, thực hiền lành, thực &#8220;nai&#8221;.</p>
<p>Trong nhãn giới của các thiên tài văn học nghệ thuật đã, đang, hoặc sẽ cộng tác với các tạp chí, thì chỉ có hai loại chủ bút. Một: tài năng phải siêu quần bạt chúng, có thể xếp ngang hàng với họ, hoặc nếu thua, cũng chỉ chút đỉnh không đáng kể. Loại chủ bút ấy xứng đáng cho họ cộng tác. Loại thứ hai, tuy tài năng chả có gì, nhàng nhàng thôi, nhưng &#8220;vô hại,&#8221; &#8220;chơi được.&#8221; Trường hợp thứ nhất, nếu tôi đoán không lầm, hình như rất hiếm, hiếm đến độ gần như&#8230; tuyệt chủng! (Cũng hợp lẽ thôi, mỗi nhà văn/nhà thơ là một ông/bà trời con. Vậy thì, ngoài trời ra, thử hỏi, còn gì nữa???!!!). Trường hợp thứ hai chiếm đa số. 12 năm đảm nhiệm chức vụ chủ bút Hợp Lưu, tôi may mắn được xếp vào loại thứ hai. &#8220;Vô hại,&#8221; &#8220;Chơi được!&#8221; Chỉ cần được phê chuẩn như thế, là xem như ta đã thành công đến 60%. Tôi từng nhận không ít những cú điện thoại: &#8220;Bài này tôi viết theo yâu cầu của báo A, nhưng thằng ấy (chủ bút báo A) nói năng, cư xử khó ưa quá, thành ra tôi đổi ý, gửi cho KT.&#8221;<br />
Ðã có được 60%, vậy, 40% còn lại nằm ở đâu? Vẫn theo kinh nghiệm bản thân, đó là sự tinh nhạy trong nhận xét, có một khả năng cảm ứng văn học ở tầng cao. Nói theo ngôn ngữ bình dân tôi vẫn thường sử dụng với bạn bè: có &#8220;khứu giác&#8221; của loài&#8230; cẩu, đánh hơi được ngay mùi vị thơm thối của tác phẩm. Ðiều này tương đối dễ dàng với một bản văn xuôi, một bài tiểu luận, một đoạn tùy bút&#8230; Nhưng sẽ vô cùng khó khăn với một tác phẩm thơ ca. Ai cũng biết, nhiều vị viết văn xuôi tuyệt vời, thế mà khi đụng đến thơ thì&#8230; &#8211; xin lỗi &#8211; không ngửi đươïc! Ngược lại, nhiều nhà thơ viết mãi không xong một đoạn văn xuôi cho ra hồn, nhưng nếu cho sử dụng đến món tủ, thơ, thì lắm khi ta thất kinh hồn vía, tự hỏi làm cách nào tên ấy có thể nghĩ và sản sinh ra được những dòng chữ diệu kỳ đến thế?<br />
Ðã nói đến cách ứng xử của chủ bút với tác giả. Cũng như đã đòi hỏi ở chủ bút một trực giác bén nhạy, một cảm thụ văn học ở tầng cao, cùng một vốn liếng văn học cần thiết. Như thế, đủ chưa?<br />
Tôi nghĩ, hình như còn thiếu.<br />
Thử duyệt qua nội dung của bất cứ tờ báo nào đang hiện diện trên thị trường chữ nghĩa, trong lẫn ngoài nước, xưa và nay, ta sẽ thấy dấu ấn rất đậm của người chủ bút. Dấu ấn này làm nên vóc dáng và hấp lực của tờ báo. Nó phản ảnh trung thực cá tính, thói quen, trình độ, tài hoa và khả năng quyền biến của người chủ bút. Nó bàng bạc khắp nơi, trên từng trang báo, qua khuynh hướng chọn bài, qua cách duy trì và triển khai các mục thường xuyên theo một mục tiêu định trước; rồi thư tòa soạn, trả lời thư tín,&#8230; Kể cả những yếu tố có vẻ không dính dấp gì đến nội dung, như cách sắp xếp mục lục, bài nào đi trước, bài nào đi sau, làm cách nào tạo được ở độc giả cảm giác xuyên suốt, nhất quán, khi theo dõi trọn vẹn một số báo, dù dôi khi, túng bài, cả số báo chỉ là tổng hợp một số bài vở hổ lốn, đầu cua tai nheo&#8230; Ðó là chưa kể cách trình bày quảng cáo, quyết định dùng <i>font</i> chữ gì, kích thước bao nhiêu cho những nhan đề&#8230; Tất thảy, bàng bạc khắp nơi, mỗi nơi một tí, sẽ làm thành một tổng thể. Tổng thể này là dấu ấn của người chủ bút. Dấu ấn có nhiều hấp lực quyến rũ, tờ báo đông độc giả. Dấu ấn nhợt nhạt, lủng củng, độc giả ra đi, tờ báo tiêu tùng.<br />
Tóm lại, vẫn theo ngôn ngữ Mai Thảo, một chủ bút giỏi chả khác gì một con dao pha. Dùng chặt xương cũng được, dùng thái thịt cũng xong, dùng tách mỡ cũng đặng&#8230; Hắn, chủ bút, phải trang bị cho mình thực nhiều khả năng, càng nhiều càng tốt. Từ chuyện gần gũi thiết thân như văn học, nghệ thuật, thơ ca, âm nhạc&#8230; đến chuyện &#8220;ngoại khoa&#8221; lỉnh kỉnh lủng củng như biết&#8230; nốc <i>cognac</i> hai chữ, bốn chữ tựa rồng cuốn nước khi gặp Kiệt Tấn, Lâm Chương, Nguyễn Trọng Khôi, Trần Vũ, Phan Huy Ðường&#8230; Biết chửi thề như máy khi cụng ly cùng Cao Ðồng Khánh, Tưởng Năng Tiến, Bùi Chí Vinh, Lưu Hy Lạc&#8230;</p>
<p>Biết&#8230;phạng vỏ chai lên đầu đối phương khi đối ẩm cùng Nguyễn Tiến, và&#8230; tôi&#8230; Biết &#8220;thót&#8221; giọng Quảng Nơm trơn tru ngon lành khi đấu khẩu với Thái Tú Hạp, Hoàng Lộc, Thành Tôn, Nguyễn Hoàng Văn, Nguyễn Hưng Quốc, Phạm Phú Minh&#8230;</p>
<p>Biết chuyển giọng vịt đực du côn du kề đá cá lăn dưa thành nỉ non nhỏ nhẹ du dương trầm buồn theo đúng thể điệu trai thời trung hiếu làm đầu, gái thời tiết hạnh làm câu trau mình khi hầu chuyện Mai Ninh, Trần Mộng Tú, Lê Quỳnh Mai, Phan Thị Trọng Tuyến, Nguyễn Thị Ngọc Nhung, Miêng, Nguyễn Thị Thanh Bình,&#8230;</p>
<p>Biết sắm cho mình một bộ mặt luôn ở tư thế sắp cãi nhau khi đàm đạo cùng Lê Thị Thấm Vân, Dương Thu Hương, Nguyễn Thị Hoàng Bắc&#8230; Biết hò &#8220;Huệ&#8221; với các mợ và rành sáu câu cầu Tràng Tiền sáu vài mười hai &#8220;dịp&#8221; khi tranh luận với Ðức Phổ, Hoàng Xuân Sơn, Trịnh Công Sơn, Hồ Ðình Nghiêm, Sâm Thương, Ðinh Cường, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyên Khai&#8230; Biết dẫn thơ Lý Bạch, ngâm thi Ðỗ Phủ, tán chuyện &#8220;Tô Ðông Pha, những phương trời viễn mộng&#8221; lúc diện kiến Nguyễn Tôn Nhan, Ðào Mộng Nam, Trần Văn Giáp, Phạm Hải Anh, Trương Huyền Khanh&#8230;</p>
<p>Biết cả những danh thủ phá lưới, làm bàn khi ngồi trước màn hình ti vi coi thiên hạ giành nhau một quả bóng với Hoàng Ngọc Tuấn (trong nước), Huy Tưởng, Nguyễn Chí Kham, Cung Tích Biền, Nguyễn Trung, Hồ Hữu Thủ, Nguyễn Quỳnh&#8230;</p>
<p>Biết chuyện Ðinh Bộ Lĩnh, chuyện thái hậu Dương Vân Nga, chuyện đê thành Cổ Loa, chuyện đền chùa miếu mạo ông tiên này bà thánh nọ khi tham quan danh lam thắng cảnh với Nguyễn Huy Thiệp&#8230; Biết vào bia ôm, ghé xóm chị em ta và tán chuyện mần tình đêm bảy ngày ba vô ra không kể với Bảo Ninh, Phạm Xuân Nguyên, Nguyễn Quang Lập, Dương Thụ, Nguyễn Trọng Tạo&#8230; Biết cả đi coi vũ cỡi truồng có nhét tiền &#8220;típ&#8221; vào háng các em hẳn hoi với&#8230; (thôi, tên tuổi các vị này sống để dạ, chết mang theo, khai ra, e tan nát gia cang các điển hình đạo đức tiên tiến!) Và, dĩ nhiên, biết tán dương mùi vị thơm tho béo bổ ích thận lợi tiểu của trà đá chanh đường khi bàn luận văn học với Nguyễn Mộng Giác, Bùi Vĩnh Phúc, Nguyễn Mạnh Trinh, Lê Thọ Giáo, Võ Thắng Tiết&#8230; Biết vuốt tóc làm duyên (nhưng không vân vê tà áo) hay nhấp nháy mắt sau cặp kính cận dày như hai đít chai khi có ý đồ&#8230; &#8220;em ơi hãy ngủ, anh hầu quạt đây&#8221; với các chị xuân xanh e đã đến hồi&#8230; mãn&#8230; (chữ này, xin hiểu ngầm) cùng&#8230; (lại xin tự kiểm duyệt, kẻo không, có thể bị lôi ra tòa vì tội bôi nhọ đời tư cá nhơn!). Sau rốt, biết ngu khi diện kiến các nhà viết biên khảo, tiểu luận chữ nghĩa kinh điển đầy mình nhưng chuyện giăng gió cuộc đời thì vẫn cứ &#8220;con nai vàng ngơ ngác, đạp trên lá vàng khô&#8221;&#8230;<br />
<b>PN</b>: <i>Tại sao Phùng Nguyễn? Hượm đã! Chọn Ðặng Hiền để giao trách nhiệm trị sự của tờ báo là một điều không khó. Ðặng Hiền tháo vát, vén khéo, cẩn trọng, và năng nổ. Cũng như anh, tôi hy vọng rất nhiều vào Ðặng Hiền trong việc quản lý cái hầu bao lép kẹp của Hợp Lưu. Còn tôi? Xem ra công lực của tôi còn mỏng hơn giấy lụa. Tôi mới tập tành viết lách cách đây mấy năm, đóng góp cho Hợp Lưu thì cũng gần với &#8220;không có gì,&#8221; vài ba truyện ngắn, một cái truyện dịch. Mối giao tình của anh và tôi, tuy thân thiết, nhưng không hẳn là vì chuyện văn chương chữ nghĩa! Chúng ta hiếm khi thảo luận về Hợp Lưu, mà nếu có, cũng chỉ để &#8230; cãi nhau! Dù sao thì chúng ta đã có ít nhất một lần đồng ý với nhau về một điều rất quan trọng: Ở một nơi nào đó trong Tình Yêu (viết hoa đấy nhé), có chỗ cho một &#8230; chiếc giường. Nhưng sự nhất trí của chúng ta chấm dứt ngay tại đây bởi vì anh cứ khăng khăng bê chiếc giường kê ngay ở cổng vào thiên đường tình ái! </i>Người đi qua giường tôi, không nhớ gì sao người<i>&#8230; Ngay cả những điều anh đề cập trong thư chủ nhiệm số trước, tài năng, kiến thức, giao thiệp rộng, những điều mà tôi sẽ vô cùng ngại ngùng chỉ để nghĩ đến, nói chi đến chuyện vơ vào mình, chưa hẳn là đủ cho công việc khó khăn này. Vậy thì, tại sao Phùng Nguyễn?</i><br />
<b>KT</b>: Ðúng, chọn Ðặng Hiền để giao trách vụ trị sự tòa soạn, quả, không khó. Tháo vát, vén khéo, cẩn trọng, và biết tổ chức mọi việc một cách khoa học, hợp lý. Tất cả các đức tính trên Ðặng Hiền có đủ. Cũng có nghĩa, khi giao Ðặng Hiền nắm hầu bao tờ báo, chúng ta vững bụng. Riêng Phùng Nguyễn có thể yên tâm sử dụng hết khả năng của mình vào việc kiêm toàn nội dung Hợp Lưu. Kinh nghiệm 12 năm cho tôi biết, công việc Ðặng Hiền đang phụ trách có khi còn khó khăn và quan trọng nhiều lần hơn chuyện bài vở nội dung Hợp Lưu.<br />
Và tại sao Phùng Nguyễn? A, xem chừng cũng không khó trả lời lắm đâu. Không khó, như đã không khó, khi chọn Ðặng Hiền làm trị sự.<br />
Thứ nhất, lời Phùng, vì <i>&#8220;công lực của tôi còn mỏng hơn giấy lụa. Tôi mới tập tành viết lách cách đây mấy năm&#8230;&#8221;</i> Với những ai khác, có thể đây là một nhược điểm, nhưng với tôi, lại là ưu điểm. Tôi ăn nằm trong thế giới chữ nghĩa kể cũng nhiều năm, nhờ vậy, tôi đủ kinh nghiệm để hiểu, đối với những vị &#8220;dày công lực&#8221; (hay tưởng rằng rằng mình &#8220;dày coâng lực&#8221;), thường, có tiếng mà chẳng có miếng. Nói, vung vít ba hoa chích chòe không ai theo kịp (tôi thường gọi những vị này là chuyên viên thuốc nổ), nhưng làm, thì ôi thôi, lam nham lở nhở, trây trét bầy hầy như gà bới rác. Tệ hại hơn nữa, vì luôn mang ảo tưởng &#8220;công lực&#8221; của mình &#8220;dày,&#8221; nên, khi nắm được một diễn đàn văn học, quí vị ấy nhanh chóng hóa thân thành những người khổng lồ, để rồi lên giọng phê người này, phán kẻ kia, nay ra tuyên ngôn, mốt thảo cương lĩnh, vung vít linh tinh chuyện lấp biển vá trời. Làm được hay không chưa biết, nhưng rõ ràng là độc giả và văn hữu cộng tác sẽ rất mệt.<br />
Do kinh nghiệm nhãn tiền ấy, dựa vào cái vốn văn học <i>mỏng hơn giấy lụa</i> của Phùng, tôi lạc quan tin rằng anh chả dại gì bày vẽ những trò vừa nêu. Nghĩa nào đó, Hợp Lưu, trong tay Phùng, sẽ tiếp tục đóng vai trò tuy khiêm nhường, nhưng vững vàng, bên cạnh những tạp chí bạn, như đã 12 năm qua.</p>
<p>Lý do thứ hai giúp tôi có quyết định chọn Phùng làm chủ bút Hợp Lưu, là qua các tác phẩm của Phùng, tôi rất vui khi nhận thấy tuy tuổi tác anh không kém tôi bao nhiêu (anh thuộc thế hệ tôi, thế hệ của chiến tranh, của hằn thù Bắc Nam cốt nhục), vậy mà trên những trang chữ anh viết, gánh nặng quá khứ hầu như không có, hoặc nếu có, cũng chỉ thấp thoáng, như cơn mộng dữ cần được xóa quên. Nghĩa nào đó, qua những trang chữ này, vô hình chung anh đã bày tỏ cùng độc giả quan niệm của mình, về văn học, về thái độ chính trị. Quan niệm ấy, có thể khác tôi trong tiểu tiết, như ng chắc chắn phù hợp với đường hướng của Hợp Lưu.<br />
Lý do thứ ba, quan trọng không kém hai lý do đầu.</p>
<p>Từ lúc Hợp Lưu ra đời đến nay, một mình tôi quán xuyến mọi công việc, từ nội dung, hình thức, đến kỹ thuật. Nội dung, đã có các văn hữu trong, ngoài nước đóng góp. Tôi &#8211; như đã từng nói nhiều lần &#8211; chỉ là anh dọn bàn. Các món cao lương mỹ vị đã được chế biến sẵn, tôi chỉ việc cân nhắc, tính toán sao cho vén khéo, hợp lý. Món nào ăn trước, món nào dùng sau, món nào tráng miệng, món nào dặm thêm&#8230; Hình thức, tôi khá an tâm, để làm đẹp tờ báo, đối với một họa sĩ, không khó. Riêng phần thứ ba, kỹ thuật, là phần tôi sợ nhất. 12 năm, 65 số báo, ngày nào tôi cũng ngồi trước màn hình <i>computer</i> ít nhất đôi ba giờ đồng hồ. Thế mà kiến thức của tôi về &#8220;nó&#8221; vẫn không khá hơn ngày đầu bao nhiêu. Nghĩa là cũng chỉ quẩn quanh năm bảy phím chữ trên bàn chữ đã được Phan Tấn Hải và Ðặng Hiền dạy &#8220;thuộc lòng&#8221; theo kiểu nhồi sọ: &#8220;<i>Ðừng hỏi tại sao, cứ bấm phím này ra cái này, bấm phím kia, ra cái nọ&#8230;&#8221;</i> Hôm nào chẳng may gặp phải sự cố nằm ngoài bài bản, là lập tức, tôi&#8230; &#8220;ngọng.&#8221; Lại hốt hoảng nhấc phone kêu cứu <i>Hiền ơi, Phùng hỡi, Hải hời </i>nhặng xị!<br />
Bây giờ, hai nhân vật trực tiếp trông coi Hợp Lưu lại là Phùng Nguyễn, Ðặng Hiền. Cả hai, ngoài nghiệp văn chương thi phú, còn là hai chuyên gia <i>computer</i> thuộc hàng cự phách. Ðặng Hiền, xếp xòng đại công ty ACS, chuyên trị các bệnh ung thư, ho lao, thương hàn, cảm mạo&#8230; &#8220;còm bu tờ&#8221; mắc phải. Và Phùng Nguyễn&#8230; (vì đức khiêm cung, đã gọi phone <i>warning</i> tôi, ngoài chuyện văn chương thi phú, cấm tuyệt không được đụng đến nghề nghiệp, chức vụ &#8220;đời thường&#8221; của đương sự &#8211; Ấm ức lắm, song tôi đành thủ khẩu như bình!). Thời điểm bây giờ, như chúng ta đều biết, khi đã sử dụng và khai thác được hiệu năng của <i>computer</i>, là xem như đã điều hành và quản lý hiệu quả công việc hành chánh cùng kỹ thuật của một báo quán và một phân xưởng in ấn hiện đại.<br />
Chừng ấy yếu tố liệu đã đủ chưa, để trả lời câu hỏi: &#8220;Tại sao, Phùng Nguyễn?&#8221;<br />
<b>PN</b>: <i>Cũng trong thư chủ nhiệm kỳ trước, anh có đề cập đến dấu hiệu &#8220;lão hóa&#8221; của Hợp Lưu trong vài năm trở lại đây. Tôi không biết chắc sự lão hóa, nếu có, là do điều kiện khách quan (người viết, người đọc, những biến động/thay đổi chính trị, văn hóa) hay chủ quan (tôn chỉ, mục tiêu của Hợp Lưu), hay cả hai. Cái tên Hợp Lưu trong 12 năm qua đã được gắn liền với nỗ lực giao lưu văn học giữa những người viết (và trong một chừng</i> <i>mực hạn hẹp hơn, người đọc) trong và ngoài nước. Có thể những điều Hợp Lưu đã hướng đến để &#8220;dấn thân, khai phá&#8221; nay đã trở thành lối mòn và &#8220;người khinh binh số một&#8221; không còn cần thiết ở tuyến đầu nữa. Có thể người chủ trương Hợp Lưu và bạn bè của ông đang lúng túng trong việc tìm kiếm những vùng đất mới để khai phá trong giai đoạn &#8220;hậu-Hợp Lưu.&#8221; Thay vì lão hóa, có thể gọi là &#8220;bế tắc&#8221; hay không? Nếu có, đâu là những lời khuyên của anh cho tên lính mới này trong việc định hướng cho Hợp Lưu? </i><br />
<b>KT</b>: Ở đây, tôi xin phép được &#8220;khoanh vùng&#8221; hai chữ &#8220;lão hóa&#8221; trong giới hạn nhỏ, là cá nhân tôi, vì cá nhân tôi, từ cá nhân tôi.<br />
12 năm dài, nhìn lại, tôi thấy đoạn đường mình đã đi qua sao mà thăm thẳm. Ngày bắt tay làm số Hợp Lưu ra mắt, tôi chỉ trên bốn mươi. Vậy mà giờ đây, chỉ vài năm nữa tôi sẽ bước vào tuổi lục thập. Thực thà thú nhận: Tôi mệt mỏi rồi. Thời gian và tuổi tác đã bào mòn trong tôi ý hướng dấn thân, khai phá mạnh mẽ một thời. Những năm gần đây, rõ ràng tôi đã &#8220;lười nhác&#8221; thái quá. Có những chuyện tôi muốn làm, có những dự tính tôi muốn thực hiện, nhưng, tôi hư đốn tự khất lần hẹn lửa, để cuối cùng, buông trôi. Ví dụ rõ ràng nhất có lẽ các văn hữu khắp nơi đều nhận thấy: Vào những năm đầu, liên hệ giữa tôi và quí vị trong, ngoài nước rất mật thiết. Hàng ngày, qua thư từ, email, điện thoại, chúng ta đã say sưa trò chuyện, bàn bạc với nhau về nhiều vấn đề liên quan đến chữ nghĩa, về nội dung của Hợp Lưu, về những số chủ đề sắp thực hiện&#8230; Nhờ đó, mỗi số báo ra đời, có mặt trên kệ sách các nhà sách, là một hiện hữu sinh động, chất chứa một dung lượng xúc taùc đầy hiệu năng, giúp chúng ta tiếp tục nuôi dưỡng, vun bồi cho diễn đàn ấy mỗi ngày mỗi thêm phong phú, đa dạng.</p>
<p>Thế nhưng, vài năm trở lại đây sự mật thiết kia gần như bị khai tử. Tự tôi đã cắt dần mọi mối quan hệ. Cho đến hai năm sau cùng này, ngoại trừ phải trả lời khi cần trả lời, tôi không còn liên lạc với bất cứ ai. Tôi tự hỏi tôi, do đâu có tình trạng đổi thay ấy? Chả khó khăn gì, tôi nhanh chóng tìm ra lời giải: Ngoài lý do sâu kín xảy ra trong tâm thức tôi, sẽ nói sau, lý do còn lại, đúng như Phùng vừa nhận xét: <i>&#8220;Những điều Hợp Lưu hướng đến để dấn thân, khai phá, nay đã trở thành lối mòn, và &#8216;người khinh binh số một&#8217; không còn cần thiết ở tuyến đầu nữa.&#8221;</i> Hơn ai hết, tôi hiểu rõ điều đó, cũng hơn ai hết, tôi phải tự đặt tôi vào chọn lựa dứt khoát: Hoặc khai tử Hợp Lưu, để &#8220;giữ tròn tiết tháo,&#8221; hoặc tiếp tục duy trì, nhưng nhất định phải có một cuộc hóa thân. Xin độc giả và Phùng cảm thông cho tôi, như đã nói, tôi sắp bước vào tuổi sáu mươi, ý hướng dấn thân đã tắt, chắc chắn tôi không làm nổi cuộc hóa thân ấy. Khai tử Hợp Lưu, nghĩa nào đó, là phụ lòng độc giả và văn hữu, những người đã thủy chung với tờ báo ròng rã 12 năm. Lòng tự trọng không cho phép tôi chọn quyết định ấy.</p>
<p>Vậy, phải duy trì Hợp Lưu, và phải tìm cho ra người kế thừa tốt.<br />
May mắn cho tôi, và cho độc giả, Phùng đáp ứng được được yêu cầu đó.<br />
Vì thế, Hợp Lưu của giai đoạn mới đã chào đời.<br />
Tôi tin nó sẽ định hình và tiếp tục lớn mạnh, trở thành một diễn đàn văn học mãi mãi ở tuổi thanh xuân, mãi mãi tự ném mình vào những khai phá. Ðường đi của văn học không bao giờ là những lối mòn. Nhiều chân trời mới, các cảnh thổ lạ luôn luôn thôi thúc bước chân lên đường. Với tư cách người đã khai sinh và ăn nằm cùng Hợp Lưu ròng rã 12 năm dài, tôi chúc Phùng chân cứng đá mềm.<br />
<b>PN</b>: <i>Có vẻ như mọi người đều tin rằng anh nhất quyết rửa tay vào chậu vàng, treo &#8230; giường báu, gởi mình vào chốn không môn. Liệu anh sẽ cạo đầu và khoác áo cà sa? Làm sao chúng tôi có thể hình dung ra Khánh Trường trong một phong vận bình hòa, từ ái như thế được? Ðiều này khiến chúng tôi, gồm có độc giả và bạn hữu xa gần vô cùng băn khoăn. Anh có lời gì để trấn an chúng tôi về điều này hay không? </i><br />
<b>KT</b>: Lẽ ra tôi không nên trả lời câu hỏi này. Nó thuộc đời tư của cá nhân tôi. Cái đời tư chả khác chi &#8220;một tiếng thở dài,&#8221; và nhất là chẳng dính dự gì đến Hợp Lưu. Nhưng vài tháng qua, rất nhiều tin đồn về tôi đã lan truyền trong giới văn nghệ. Những tin đồn lắm khi rất kỳ cục, kỳ quặc. Gần đây nhất, có người gọi điện thoại tìm tôi, hốt hoảng: &#8220;<i>Nghe nói anh lên cơn điên, cảnh sát phải còng tay ném lên xe cứu thương mang vào bệnh viện. Ðúng không?&#8221;</i> Ðúng thế&#8230; chó nào được hở trời! Nếu đúng, thì ai đang trả lời phone đây?<br />
Vì những tin đồn càng lúc càng lệch lạc, tôi buộc phải lên tiếng một lần, cho xong.<br />
Dự tính thôi không làm Hợp Lưu đã manh nha trong tôi dễ chừng đã hai năm. Hai năm trước, lúc còn ở một mình trong một nhà kho trên đường Bolsa, cạnh nghĩa trang đường Beach, nơi yên nghỉ của Mai Thảo, Lê Uyên Phương, Nguyễn Tất Nhiên, Nguyên Sa, Phạm Ðình Chương, và rất nhiều văn nghệ sĩ khác. Một buổi sáng tôi thức dậy, bước chân xuống đất, bỗng hụt hẫng, mất thăng bằng té ngã. Trưa hôm ấy ấy vợ chồng một người bạn bác sĩ đến thăm, anh khám phá ra tôi bị tai biến mạch máu naõo (tôi cao máu, rất cao, có lúc cao đến 325/175). Vợ chồng người bạn gọi ngay xe cấp cứu đưa tôi vào bệnh viện (nếu tôi nhớ không lầm, hôm ấy có cả Phùng và Th., một cô bạn cũng đang hành nghề y sĩ cùng đi chung với Phuøng, thì phải).</p>
<p>Mấy ngày nằm viện, trở về, vẫn một mình trong khu nhà kho mênh mông lạnh lẽo. Ban đêm, trời lạnh, lại là mùa mưa, nước từ <i>parking</i> tràn vào, lấp xấp chân giường. Mưa quật đập trên mái tôn, luồn vào lỗ thông gió, thấm ướt một góc nệm. Lạnh, rất lạnh. Buồn tiểu, nhưng bán thân bên trái bất khiển dụng, và cột sống, vì một lần phải gánh chịu cả sức nặng toàn thân để giữ thăng bằng khi tôi cố thử đứng lên, đã trật khớp, đau buốt, chỉ có thề vào <i>restroom</i> bằng cách duy nhất: bò! Nhưng lênh láng thế kia, bò lối nào? Cuối cùng, tôi phải dùng chiếc bình chứa nước uống trên bàn ngủ, tiểu tiện vào đó! Ban ngày, không thể ra ngoài được, do bệnh, trời lại vẫn mưa, lạnh, nên bạn bè chả ai đến thăm. Tôi đói, thùng mì gói cũng hết. Ðành uống nước mưa trừ cơm! Suốt nhiều ngày như thế, trằn trọc, quẩn quanh một mình giữa đêm ngày lê thê dằng dặc. Chung quanh không một bóng người. Không cả tiếng động, ngoại trừ tiếng gió luồn qua lỗ thông gió u u, buồn nhão ruột. Một lần nhà văn Ngô Thế Vinh tình cờ ghé thăm, anh nói ở thế này thiếu tiện nghi và buồn quá, chịu nỗi không? Tôi nói chẳng những buồn, mà có khi giữa khuya thức giấc, nhìn quanh, có cảm tưởng như mình là một thứ đồ vật phế thải, đã bị vất bỏ. Ngô Thế Vinh bảo tôi hãy viết lại cảm tưởng ấy. Cảm tưởng một hình nhân bằng xương bằng thịt, có đủ linh hồn, trí tuệ, nhưng mang tâm trạng một món đồ phế thải, giữa căn nhà kho mênh mông, lạnh lẽo, với những bức tranh câm nín vây bọc ngổn ngang. Tôi nói với Ngô Thế Vinh sẽ có lúc tôi viết. Nhưng cảm tưởng ấy, may thay rồi cũng qua đi. Tôi tiếp tục sống một mình trong khu nhà kho với nửa phần thân thể bất khiển dụng, những bức tranh và xấp bản thảo Hợp Lưu số sắp mang in. Ban ngày, công việc bận rộn, tôi không nghĩ ngợi nhiều, nhưng đêm xuống, nằm trằn trọc cùng bóng tối vây quanh, đầu óc tôi ngập chìm trong hồi ức.<br />
<i><br />
Ta đã làm chi đời ta</i>? Hơn 50 năm sống và chạy đuổi mải mê theo những ảo ảnh phù du, những thúc gọi thấp hèn. Có lúc tôi quên mất mình đã từng là chồng, là cha, là rường cột chính của ít nhất một mái gia đình. Tuổi nhỏ, giận mẹ ghẻ bỏ nhà ra đi, sống bụi đời, làm du đãng. Lớn hơn, đi lính, lấy vợ, sinh con, rồi ngoại hôn, rồi tình nhớn tình béù, tình chẵn tình lẻ, con rơi con rớt. Có đứa tôi biết mặt, có đứa chỉ nghe tên, có đứa&#8230; hình như là, thực hư không rõ&#8230;<br />
Người đàn bà đầu tiên ấy đã tiêu phí cả quãng đời thanh xuân vì tôi, đã nhẫn nhục vì con suốt 20 năm làm kiếp sương phụ. Giờ đây, cũng như tôi, tóc đã điểm bạc, mắt đã kính lão, vẫn chưa, và không bao giờ, tìm thấy một ngày hạnh phúc. Tôi nhớ, và thấm thía vô vàn một nỗi đau. Tôi muốn làm điều gì đó để chuộc laïi tội lỗi đã gieo. Nhưng tôi biết sẽ chẳng khi nào có được cơ hội ấy.<br />
<i><br />
Ta đã làm chi đời ta?</i> Ðôi ba cuốn sách, một tờ báo, vài trăm bức tranh, một chút tên tuổi&#8230; Còn gì nữa? Bao nhiêu năm loay hoay với những cái tưởng chừng không có không được. Không có, ta chẳng phải là ta. Không có, ta chẳng nên&#8230; người! Thực tế, có phải thế chăng? Năm mươi mấy năm đã sống tận cùng cái sống. Ðã thả mình nổi trôi theo bản năng. Ðã thù hằn. Ðã yêu thương. Ðã chấp nê. Ðã tha thứ. Ðã buông trôi, đã vượt thắng&#8230; Năm mươi mấy năm, bây giờ nằm đây, giữa lạnh lẽo buốt xương mùa Ðông quê người, ngoài trời gióù mưa quật đập, bên trong bóng tối vây bủa, cùng cánh tay và cái chân bất khiển dụng, khoang bụng rỗng, và trong đầu, lùng bùng trăm vạn hồi ức đắng cay. Tôi chợt nhớ đến những người anh, người bạn đã chết. Mai Thảo, Nguyên Sa, Phạm Ðình Chương, Lê Uyên Phương, Nguyễn Tất Nhiên&#8230; Giờ này, ngoài kia, chỉ cách chỗ tôi nằm vài trăm mét, mộ bia của họ hẳn đã chìm ngập trong nước. Chẳng xa xôi gì. Có người, năm bảy năm, có người chỉ mới một hai năm, nhưng tất cả hầu như đã ra khỏi trí nhớ nhân gian. Tất cả đều đã mục rữa, tất cả đều đã tan hòa cùng đất!<br />
Hốt nhiên, tôi bừng tỉnh. Hốt nhiên, tôi cảm nhận sâu sắc lẽ vô thường, giả ảo của kiếp sống con người, Hốt nhiên, tôi hiểu ra, mấy chục năm qua tôi đã nỗ lực một cách vô vọng đuổi theo cái bóng của chính mình.<br />
Những điều tôi vừa tỏ bày hẳn chả có chi mới lạ. Phùng từng đọc, từng biết. Tôi đã đọc, đã biết. Nhưng tôi tin rằng Phùng, bây giờ, và tôi, trước đây, chỉ <i>biết</i> trên chữ nghĩa, qua chữ nghĩa. Cái <i>biết</i> này chắn chắn cũng giả ảo, như cái bóng của chính mình.<br />
Chỉ khi nào bị ngập chìm trong một trạng huống, hoặc trạng thái nào đó, ta mới có thể <i>chứng ngộ</i> được cái <i>biết</i> ấy thực sự. Khởi từ đó, quan niệm của ta, tương quan của ta với cuộc đời, dần dà thay đổi hẳn.<br />
<i><br />
Ta đã làm chi đời ta?</i> Tôi lại hỏi tôi. Tận đáy sâu tiềm thức, tôi lờ mờ hiểu &#8220;điều gì đó&#8221; tôi sẽ làm, phải làm, có lẽ chỉ thực hiện được khi nào tôi đủ can đảm dứt khoát từ bỏ mọi vọng động, mọi đam mê, mọi đuổi bắt mải miết ảo ảnh phù du&#8230;<br />
Việc làm cụ thể trước tiên: hãy dứt mình ra khỏi hệ lụy bao nhiêu năm. Hợp Lưu là một trong những hệ lụy caàn tước bỏ.<br />
Hợp Lưu hoặc sẽ đóng cửa, hoặc sẽ được giao cho người khác.</p>
<p>Nhưng từ ấy đến nhiều tháng sau, tôi vẫn còn tiếc nuối, vẫn thấy đứa con này tôi đã sinh ra trong vô vàn khốn khó, đã khổ nhọc nuôi dưỡng suốt 12 năm dài, đã gắn liền với đời sống tôi như một phần cơ thể. Tôi không đành lòng từ bỏ. Tôi vẫn chưa <i>biết</i> tận cùng cái <i>biết</i>.<br />
Cho đến ba tháng trước, một buổi sáng tôi đang ngồi trước giá vẽ, chuông điện thoại reo. Tôi nhấc ống nghe. Ðầu dây bên kia, giọng nữ, trẻ: &#8211; <i>Cho con gặp bác KT</i>. &#8211; <i>Tôi đây</i>. Một vài giây ngập ngừng &#8211; <i>Có biết con là ai không?</i> &#8211; <i>Cô là ai?</i> Lại một vài giây ngập ngừng: &#8211; <i>Con&#8230;. Con&#8230;. là NTKL, con má Y</i>. Tôi sững người, sống lưng lạnh toát. <i>Con là NTKL, con má Y</i>. Dĩ vãng 20 năm ùa về. Một chuyện tình &#8220;bất chính.&#8221; Những khổ đau người thiếu nữ ngày ấy đã hứng chịu. Những khốn khó áo cơm đến triệt tiêu nhân cách. Một đứa con đói sữa, thiếu ăn&#8230; Và vượt biên, và hải tặc, và 10 ngày lênh đênh giữa đại dương đầy sóng gió trên một can dầu. Rồi trại tị nạn, rồi định cư, rồi chồng con&#8230; Thôi thế cũng đã êm thắm cho thân phận một con người. Tôi mừng. Nhưng còn đứa con rơi rớt oan khiên kia? Mẹ vượt biên một mình, bỏ lại cho ông bà ngoại. Tuổi thơ âm thầm cô đơn, thiếu cha, vắng mẹ, đã khắc sâu trong đôi mắt thiếu nữ bây giờ, sau hai mươi năm lần đầu tôi nhìn thấy, một màu xám sầu buồn rã rượi. Cái màu làm tim tôi đau nhói.</p>
<p>Lần thứ hai trong đời, một tội lỗi cụ thể đang hiện diện trước mắt.<br />
Tôi nhớ lại sự kiện tương tự xảy ra tám năm trước. Ðó là lần đầu tiên tôi qui hồi cố hương sau 10 năm đào thoát. Suốt ba ngày &#8211; từ 8 giờ sáng đến 4 giờ chiều &#8211; tôi bị cục AR25 &#8220;làm việc&#8221; tận tình. Ngày cuối cùng, trung tá Thuận, một trong ba chức sắc trực tiếp &#8220;làm việc&#8221; với tôi mấy ngày qua, bỗng nói: &#8211; <i>Anh có muốn đi thăm con anh không?</i> &#8211; <i>Con tôi, chúng đã theo mẹ sang Tây sau ngày tôi vượt biên một tháng. Còn đứa nào ở đây nữa</i>? Tôi hỏi lại với sự ngạc nhiên. Thuận cười: <i>Con rơi của anh ấy mà</i>. Và anh ta tiếp: &#8211; <i>Anh bình tĩnh và yên trí, cháu hiện ở quận Tân Bình. Vợ anh Hùynh Tấn Mẫm đang phụ trách nghành giáo dục ở đấy, chúng tôi đã chỉ thị cho chị ấy hãy quan tâm đến cháu</i>&#8230;. Sau đó, Thuận chở tôi bằng xe hơi của sở xuống quận Tân Bình, chạy vòng vèo trong xóm đạo Tân Việt, và, khi bước vào cửa một căn nhà, tôi cũng đã sững người, nước mắt bỗng trào ra không cầm giữ được. Trước mặt tôi, đứa con gái 13 tuổi, gầy, cao, da ngăm đen, khuôn mặt xương, miệng quai xách, mũi lớn&#8230; Ðó là một bản sao không mấy trung thực lắm, nhưng làm sao nhầm lẫn được, cùng một khuôn với người cha hoang đàng, là tôi.</p>
<p>Chưa bao giờ một tội lỗi cụ thể như thế, hiện diện trước mắt tôi.<br />
(Nhân đây, tôi nhận thấy cần phải mở một dấu ngoặc, để tỏ tấm lòng tri ân của tôi, với trung tá Thuận. Tôi không thích chủ nghĩa CS, trừ chủ nghĩa CS trên lý thuyết. Tôi càng không phục người CS, trong nhiều hành động. Tuy nhiên, cũng có một vài chuyện tôi thực tình xin ngả mũ chào. Cụ thể ở đây là tổ chức tình báo cực kỳ hiệu quả của họ. Chuyện tình ái nhăng nhít của tôi, chuyện con rơi con rớt rất đỗi riêng tư, ngay cả vợ tôi, và chính tôi có khi còn không rõ, nhất là chuyện đã xảy ra mấy mươi năm, tít mù trong dĩ vãng, thuở quí vị còn lặn lội trên rừng Trường Sơn âm u kì bí. Thế mà quí vị biết, lại biết tường tận, chi li, như một cộng một bằng hai! Tôi phục và trân trọng cảm ơn. Dù các vị biết, cố tìm biết, vì bất cứ động cơ nào, thiết nghĩ, tôi không cần phải quan tâm. Chỉ thấy, nhờ quí vị, tôi tìm được con tôi. Nhờ quí vị, tôi có cơ hội chuộc lại phần nào lỗi lầm đã gieo trong quá vãng).<br />
Những đứa con rơi! Tôi biết mình còn đâu đó trên mặt đất này một hai đứa con rơi!<br />
Phải làm cách nào tìm ra chúng nó. Rất nhiều đêm tôi tự hỏi tôi.<br />
Gần một năm nay tôi chuyển cư trú đến địa chỉ mới. Cũng lạnh lẽo, tịch mịch, nhưng không đến nỗi hoang vu như nhà kho cạnh nghĩa trang. Nơi này, khi dọn vào, tôi nhanh chóng &#8220;tái cấu trúc&#8221; lại tất cả. Mua ảnh, tượng và biến hai căn phòng rộng nhất trong số bốn căn thành hai phòng Thiền. Một, cho con chiên Công giáo. Một, cho tín đồ Phật giáo. Hàng đêm, không ngủ được, tôi lần vào một trong hai phòng Thiền, ngồi quán tưởng nhiều giờ giữa vũng sáng lung linh đèn nến. Trên cao, hình ảnh Chúa dang rộng đôi tay, đầu cúi xuống hiền từ. Hoặc trước mặt, Phật ngồi bình yên trong tư thế kiết già, với đôi mắt khép hờ, nụ cười mỉm bao dung. Dần đà, tâm tôi bình lặng. mọi vọng động cũng lắng xuống. Tôi thấy rõ hơn nhưõng tội lỗi mình đã phạm, những việc mình sẽ phải làm trong tương lai, và tôi có ngay cho mình một quyết định, trước tiên, về tờ Hợp Lưu.<br />
Phùng Nguyễn và Ðặng Hiền được mời đến.<br />
Tôi có đi tu, cạo đầu, khoác áo cà sa hay không?<br />
Tên đồ tể một thời đã buông dao chưa?<br />
Ðó là chuyện của tương lai. Tôi không biết, và cũng không muốn dự phóng.<br />
Tôi không đến với Chúa, Phật như một con chiên, một Phật tử thuần thành. Tôi không đọc được kinh, không thích hương khói, không quen quì lạy, và sẽ ngủ gục ngay nếu buộc phải ngồi hàng giờ giỏng tai nghe một ông cha, một đại đức thuyết giảng giáo lý của Chúa, Phật&#8230; Tôi không cầu mong ở các ngài ấy bất cứ lợi lộc nào, tinh thần lẫn vật chất. Thiện, ác, đúng, sai, tốt, xấu, thiên đường, địa ngục không ở đâu xa, nó nằm ngay trong mỗi chúng ta. Khi ta sân hận, hằn thù, cuồng điên, nhỏ nhen, ti tiện, đó là lúc ta ngập chìm dưới đáy địa nguïc. Khi ta yêu thương, bao dung, tha thứ, ta đang an lạc giữa cõi thiên đường. Chân lý vỡ lòng này, chả cần phải thông qua kinh kệ, chỉ cần lắng tâm <i>nhìn</i> vào bên trong, lập tức ta sẽ thấy ngay. Chỉ chừng ấy thôi, với tôi, đã đủ. Cần gì Tân Ước Cựu Ước, cần gì Trường Bộ, Trung Bộ, Lăng Nghiêm, Pháp Hoa, Bát Nhã, Lương Hoàng Sám, Ðại Bảo Tích&#8230;</p>
<p>Vậy, tại sao tôi thôi không làm Hợp Lưu nữa. Tôi muốn gì?<br />
Tôi không muốn gì hết. Chỉ thấy, bây giờ, rất rõ, tôi không thích làm bất cứ chuyện gì liên hệ đến những tương quan cũ. Sách vở, hội họa, văn chương, nghệ thuật, báo chí, bạn bè, những quan hệ sắc dục, những &#8220;cuộc vui suốt sáng trận cười thâu đêm,&#8221; những sáng dông dài bù khú chuyện văn chương thi phú trước tách cà phê với các &#8220;thiên tài&#8221; quán cóc, những tối đàn ca hát xướng, tung hứng đầu mày cuối mắt trong các club văn nghệ bỏ túi lổn nhổn ca sĩ, nhạc sĩ thiệt, dỏm, nghieäp dư; những người đàn bà ít nhiều hệ lụy tình ái &#8230; Tất cả bỗng trở nên phù phiếm, lạ lẫm.<br />
Thú vui của tôi hiện tại, nếu có thể xem đó như một thú vui, là ngồi lặng lẽ trước những tượng đồng, hay sành, đất, nhắm mắt, <i>nhìn</i> vào chính mình, <i>nhìn</i> sâu vào mọi ngóc ngách bí ẩn trong bản thể mình. Tìm kiếm, tra vấn, khai giải&#8230;<br />
Tôi đã tìm kiếm, khai giải được những gì?</p>
<p>Sẽ khó mà trả lời cụ thể câu hỏi này, nếu Phùng chưa từng ngập chìm trong tội lỗi, như tôi, mấy mươi năm qua. Chưa chạm mặt với cái chết rõ dần hình thù từng giây từng phút, như tôi, sáu năm trước (ngày ấy, gần 500 người, từ khắp nơi đổ về quận Cam để&#8230; tiễn đưa tôi, trong tương lai gần, và nơi&#8230; an nghỉ cuối cùng!) . Chưa bò như một con chó trên nền xi măng sũng nước vào phòng vệ sinh giữa đêm hôm khuya khoắt, như tôi, hai năm gần đây. Chưa đối diện với sự cô đơn cùng cực trong dày vò tự hối, với cảm tưởng mình là một thứ đồ vật phế thải. Và nhất là chưa từng sững người, sống lưng lạnh toát trước những tội lỗi cụ thể, bằng xương thịt, có khả năng làm lương tâm ta chấn động tận cùng căn rễ.<br />
Thôi thì, Phùng hãy lên đường, hãy đi tiếp quãng đường tôi đã đi. Mỗi người một định mệnh. Mỗi người, trên từng quãng ngắn của dặm trường dẫn về chung cuộc, có những việc phải làm, những chọn lựa phải quyết định, và những đổi thay tự nguyện. Tôi đã làm nhiều việc muốn làm, đã chọn lựa nhiều việc cần chọn lựa, và giờ đây, tôi tự nguyện ném mình vào thử thách mới.<br />
Tôi làm được gì cho chính bản thân? Và cho những hệ lụy? Tôi không rõ.<br />
Chỉ cảm nhận, tâm tôi đang bình yên. Lòng tôi đang nhẹ.</p>
<p>Một lần nữa, tôi thành tâm chúc Phùng chân cứng, đá mềm.</p>
<p><strong>Khánh Trường</strong></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ngo-khng-tc-gia-v-tc-pham-khnh-truong-2/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Không :Tác Giả và Tác Phẩm &#8211; Dương Kiền</title>
		<link>https://t-van.net/ngo-khong-tac-gia-va-tac-pham-duong-kien/</link>
					<comments>https://t-van.net/ngo-khong-tac-gia-va-tac-pham-duong-kien/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 28 Nov 2015 16:47:19 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[Tác Giả Tác Phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[Uncategorized]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không; tgtp]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=24482</guid>

					<description><![CDATA[  Tiểu sử Sinh ngày 28.12.1939 tại Huế Mất ngày 17.11,2015 tại Bergen, Na Uy Tác phẩm (xem Vài hàng về tác giả) Vài hàng về tác giả Dương Kiền: Tên thật cũng là bút hiệu của ông. Ông sinh ngày 28-12-1939. Tốt nghiệp đại học Luật Khoa năm 1962, và gia nhập Luật Sư Đoàn [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><strong> <a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2015/11/duong-kien.jpg?strip=all&fit=242%2C295"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-24483" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2015/11/duong-kien.jpg?strip=all&fit=242%2C295" alt="duong kien" width="242" height="295" /></a></strong></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Tiểu sử </strong></p>
<p style="text-align: center;">Sinh ngày 28.12.1939 tại Huế</p>
<p style="text-align: center;">Mất ngày 17.11,2015 tại Bergen, Na Uy</p>
<p style="text-align: center;"><strong>Tác phẩm</strong></p>
<p style="text-align: center;">(xem Vài hàng về tác giả)</p>
<p><strong><br />
</strong></p>
<h2><strong>Vài hàng về tác giả</strong></h2>
<p>Dương Kiền: Tên thật cũng là bút hiệu của ông. Ông sinh ngày 28-12-1939. Tốt nghiệp đại học Luật Khoa năm 1962, và gia nhập Luật Sư Đoàn cùng năm. Nguyên là chủ bút tạp chí Văn Học (1962-1965) tại Sài Gòn và được giải thưởng Văn Chương toàn quốc 1966 với kịch bản Sân Kháu.</p>
<p><strong>Tác phẩm</strong></p>
<p>1- Thú đau thương   (Thơ) (Tự xuất bản 1960)</p>
<p>2- Biển trầm lặng  (Truyện dài)(Nhà xuất bản Đông Phương 1965)</p>
<p>3- Kẻ xa lạ   (Dịch)  (Nhà xuất bản Bốn Phương 1965)</p>
<p>4- Sân Khấu  (Kịch)   (Nhà xuất bản Văn Học 1965)</p>
<p>5- Máu của mẹ (Truyện ngắn) (Nhà xuất bản Thứ Tư 1966)</p>
<p>6- Người tù sa mạc  (Dịch) (Nhà xuất bản Thứ Tư 1968)</p>
<p>7- Luật Giá thú, Tử hệ và Tài sản cộng đồng (Biên khảo)(Nhà xuát bản Khai Trí 1965)</p>
<p>1997 vượt biên và định cư tại Na Uy:</p>
<p>&amp;&amp;&amp;</p>
<p><strong>Thơ</strong></p>
<p>Mùa Gặt giữa hư vô</p>
<p>(Nhà xuất bản Tiếng Việt 1991)</p>
<p>Thơ tình cho vợ</p>
<p>Sáu mươi</p>
<p>&amp;&amp;&amp;</p>
<h3><strong>Phụ đính</strong></h3>
<p><strong>Dương</strong><strong> </strong><strong>Kiền</strong><strong>,</strong> l<strong>ương</strong><strong> </strong><strong>tâm</strong><strong> </strong><strong>công</strong><strong> </strong><strong>lý</strong></p>
<p><strong>Phổ Thông tạp chí</strong></p>
<p>Dương Kiền sinh năm 1939 tại Huế. Tốt nghiệp đại học Luật Khoa Sài Gòn, năm 1962.</p>
<p>Gia nhập Luật sư đoàn TòThượng Thẩm Sài Gòn từ 15-8-1962. Tháng 2 1968 nhập ngũ theo lệnh tổng động viên và hiện là Phó Ủu Viên Tòa Ánquân Sự Mặt TrậnQuân khu 2 (nhưng vẫn có tên trên danh biểu Luật sư đoàn tìa Thượng thẩm Sài Gòn với tư cáchLuận Sư tạm ngưng hành nghề).</p>
<p>Về phương diện văn hóa, đã viết văn từ ngày ở Hà Nội trên tuần báo Cải Tạo và Nhân</p>
<p>Loại (của cố thi sĩ Đông Hồxuất bản ở Sài Gòn). Tự xuất bản tác phẩm đầu tay Thú Đau Thương (thơ) năm 1960. Chủ bút sáng lập tạp chí Văn Học từ 1962 đến 1965. (1). Giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc bộ môn kịch, năm 1966.</p>
<p>Trong năm 1974, mặc dù là một quân nhân với mọi trí buộc về quân kỷ. Dương Kiền vẫn</p>
<p>tự đặt mình trước tráchnhiệm của một công dân, trách nhiệm đơn thuần nhất nhưng cũng thiết yếu nhất của mỗi người chúng ta.</p>
<p>Trước cao trào đấu tranh của làng văn làng báo cho quyền tự do báo chí và xuất bản,</p>
<p>nhân danh một người cầm bút đãphải gác bút từ 5 năm nay vì sự trói buộc độc đoán của</p>
<p>chế độ hiện hữu, Dương Kiền đã nhận làm thuyết trình viêntrong một hội thảo của Liên</p>
<p>Minh Dân Chủ Xã Hội (khối công nông) Khánh Hòa, Nha Trang ngày 23-9-1974 về quyền tự do ngôn luận, xuất bản và báo chí.</p>
<p>Ngày 01-10-1974, với tư cách một luật sư có tên trong danh biểu Luật Sư Đoàn Sài Gòn, anh ký tên vào quyết nghịcủa nhóm Luật Sư tranh đấu đòi hủy bỏ các sắc luật vo hiến về tự do báo</p>
<p>chí, tự do nghiệp đoàn và các nhân quyềncăn bản khác.</p>
<p>Về hậu quả sau việc làm đó là anh bị 30 ngày trọng cấm. Và nếu không có phản ứng của Trung tâm Văn Bút, báo chí Sài Gòn, có lẽ anh đã bị nhiều biện pháp chế tài khác.</p>
<p>Dù đang ở trong vòng quay của quân đội nhưng anh không thể không công khai bày tỏ thái độ. Dù biết trước hậu quả sẽ phải hứng chịu. Vì lương tâm</p>
<p>không cho phép anh im lặng.</p>
<p><em>(trong loạt bài Người Của Năm 1974 do tạp chí Phổ Thông thực hiện nhân kỷ niệm 20 năm (1955-1975)<br />
</em></p>
<p>(1) Chủ nhiệm tạp chí Văn Học (Sài Gòn) : Pham Kim Thịnh</p>
<p>&nbsp;</p>
<h2>Thơ tình cho vợ<strong><br />
</strong></h2>
<p><strong>Bài 1- Năm 1968.</strong></p>
<p><strong>Bài thơ tình cho vợ</strong></p>
<p>Trên bãi cỏ ấy,</p>
<p>Có ngọn cỏ rất xanh.</p>
<p>Đâm vào bàn chân người con gái.</p>
<p>Đâm vào bàn chân người con trai.</p>
<p>Bốn bàn chân trần truồng,</p>
<p>Trên bãi cỏ rất xanh.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Trên bãi cỏ ấy,</p>
<p>Có loài hoa xấu hổ.</p>
<p>Khép dưới bàn chân người con gái.</p>
<p>Khép dưới bàn chân người con trai.</p>
<p>Bốn bàn chân trần truồng.</p>
<p>Trên bãi cỏ rất xanh.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Trên bãi cỏ ấy,,</p>
<p>Có những giọt sương mai</p>
<p>Đọng trên những lá cỏ.</p>
<p>Vỡ dưới bàn chân người con gái.</p>
<p>Vỡ dưới bàn chân người con trai.</p>
<p>Bốn bàn chân trần truồng,</p>
<p>Trên bãi cỏ rất xanh.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Trên bãi cỏ ấy,</p>
<p>Có bày chim se sẻ.</p>
<p>Bay từ bàn chân người con gái.</p>
<p>Bay từ bàn chân người con trai.</p>
<p>Bốn bàn chân trần truồng,</p>
<p>Trên bãi cỏ rất xanh.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Trên bãi cỏ ấy,</p>
<p>Êm mượt như nhung.</p>
<p>Có hai bàn chân đùa trẻ.</p>
<p>Hai bàn chân trần truồng nhỏ bé,</p>
<p>Trên bãi cỏ rất xanh.</p>
<p>Quân trường Thủ Đức-16 tháng 09-1968</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Bài 2- Năm 1968.</strong></p>
<p><strong>Bài thơ tình thứ hai</strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p>Môt bông hồng cho ngày sinh nhật ,</p>
<p>Môt bông hồng cho ngày kỷ niệm tình yêu,</p>
<p>Hai bông hồng cho ngày cưới ,</p>
<p>Ba bông hồng cho chuyến phiêu lưu ,</p>
<p>Cho ngày vượt cạn oa oa con khóc .</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Nhưng anh thật nghèo ,</p>
<p>Không mua nổi bông hồng .</p>
<p>Dù chỉ môt bông hồng cho ngày sinh nhật ,</p>
<p>Dù chỉ môt bông hồng cho ngày kỷ niệm tình yêu ,</p>
<p>Dù chỉ ba bông hồng cho chuyến phiêu lưu ,</p>
<p>Cho ngày vượt cạn oa oa con khóc .</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Nhưng anh có vườn hồng ,</p>
<p>Bằng thơ anh đâm bông quanh năm suốt tháng .</p>
<p>Nhưng anh có tình yêu trăng sao thắp sáng ,</p>
<p>Dù chỉ là tình yêu loài sâu mơ mông bầu trời .</p>
<p>Nhưng anh có em yêu giàu có nụ cười ,</p>
<p>Giàu có môi hôn loài sâu mơ mông .</p>
<p>Dưới cánh hồng xanh mơ mông cuộc đời,</p>
<p>Nên anh vẫn vô cùng giàu có .</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Em yêu anh ơi ,</p>
<p>Tình yêu anh luôn luôn đúng ngọ ,</p>
<p>Nên chẳng thiếu mặt trời.</p>
<p>Sài Gòn, 02 1967</p>
<p><strong>Bài 3 &#8211;</strong><strong> </strong><strong> Năm 1968.</strong></p>
<p><strong>Trung thu năm nay</strong></p>
<p>Đêm nay Trung Thu</p>
<p>Bố nhớ hai thằng cu .</p>
<p>Chắc thằng cu lớn chơi đèn ,</p>
<p>Hẳn thằng cu bé bú rồi còn khóc đòi ru .</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Trung thủ trung thu ,</p>
<p>Bố nhớ cả ba mẹ con thằng cu .</p>
<p>Chắc mẹ đang chơi với thằng cu lớn ,</p>
<p>Hai mẹ con chơi đi tìm đi trốn .</p>
<p>Hẳn mẹ đang nâng niu cái thằng cu bé ,</p>
<p>Mẹ bắt chước con, mẹ khóc e é .</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Bố vẫn ở đây. Bố vẫn ở đây .</p>
<p>Sao đêm trung thu trời nhiều mây bay  ?</p>
<p>Nếu trên cung trăng có thằng Cui nhỏ ,</p>
<p>Ta nhờ &#8220;Cu nhô con&#8221; nói dối câu này :</p>
<p>Hoi rằm sang năm hòa bình sẽ tới ,</p>
<p>Bố sẽ về với mẹ, với con, với ngoại, với ni .</p>
<p>Con chơi rước đèn, bố đánh trống cơm ,</p>
<p>Mẹ cắt bánh chia cho bố cho con ,</p>
<p>Cho cả nhà, cả xóm, cả nước Việt Nam ,</p>
<p>Cả &#8220;Cui nhô con&#8221; tít trên cung Quảng .</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Hai thằng cu bố ơi ,</p>
<p>Đây bài thơ cho các con đêm rằm tháng tám .</p>
<p>Quân trường Thủ Đức  1968</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Bài 4 &#8211; Năm 1992.</strong></p>
<p><strong>Hạnh phúc một buổi sáng</strong></p>
<p>Buổi  sáng ở Ottawa</p>
<p>Nắng mùa hè dịu mát</p>
<p>Anh hôn em lòng nghe rào rạt</p>
<p>Những cơn sóng cuốn trơi đi</p>
<p>Rong rêu bờ cát</p>
<p>Biển lại xanh mùi muối mặn</p>
<p>Trời lại xanh tình thơ dại bao năm</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Buổi sáng ở Ottawa</p>
<p>Bỗng cơn mưa mùa hè rất nhỏ</p>
<p>Lòng rưng rưng lại nhớ</p>
<p>Chiều mưa SaiGon cầm tay em</p>
<p>Bến Bạch Dằng &#8211; cột cờ Thủ Ngữ</p>
<p>Dã trôi đi trong năm tháng hư không</p>
<p>Rồi một buổi  sáng bỗng ngậm ngùi trong cơn mưa viễn xứ</p>
<p>Những giọt long lanh nước mắt bao năm</p>
<p>Con sóc nhỏ</p>
<p>Vườn sau căn nhà ngoại ô Ottawa</p>
<p>Hạnh phúc giản dị của một buổi sáng</p>
<p>Là nhìn trời xanh và nhìn lẫn nhau</p>
<p>Lòng nhẹ nhàng bước chân con sóc nhỏ</p>
<p>Lất phất mưa bay như không như có</p>
<p>Một buổi sáng mùa hè ở Ottawa &#8230;</p>
<p>Bergen, 02-1992</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Bài 5 &#8211;</strong><strong> </strong><strong>Năm</strong><strong> </strong><strong>1993.</strong></p>
<p><strong>Không </strong><strong>t</strong><strong>ên</strong></p>
<p>Trong mưa rơi lât phất</p>
<p>Ôi nỗi buồn Bergen</p>
<p>Tháng Giêng toàn bóng tối</p>
<p>Tháng hai ngày dài hơn</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Chợt thấy bông hoa nở</p>
<p>Trong cỏ dại bên đường</p>
<p>Ngày mai trời đổ tuyết</p>
<p>Ười hoa sẽ vùi chôn.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Ta nhìn em thầm hỏi</p>
<p>Bốn mươi rồi năm mươi</p>
<p>Lạnh lùng năm tháng vẫn</p>
<p>Trôi qua đời nổi trôi</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Ta vẫn đi em nhé</p>
<p>Dạp tuyết tìm nụ hoa</p>
<p>Tháng hai trời còn lạnh</p>
<p>Mạch sống đã trào ra</p>
<p>Bergen, 02-1993</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Bài 6 &#8211; Năm 1994.</strong></p>
<p><strong>Trà mi</strong></p>
<p>Tặng em một đóa  Trà Mi</p>
<p>Đầu Xuân tưởng chút tình quê thơm nồng</p>
<p>Tặng em một vệt nắng hồng.</p>
<p>Cám ơn trời đất lạnh lùng nơi đây.</p>
<p>Tặng em một cánh chim bay,</p>
<p>Có bay về cuối trời dầy nhớ thương ?</p>
<p>Tặng em một chút trầm hương,</p>
<p>Trong tâm ngộ chữ vô thường ngát thợm</p>
<p>Bergen, 02-1994.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Bài</strong><strong> </strong><strong>7-</strong><strong> </strong><strong>Năm 1995</strong></p>
<p><strong>Thắp ngọn nến hồng </strong></p>
<p>(Mừng Sinh Nhật Kim Anh 50 tuổi)</p>
<p>Thắp lên năm ngọn nến hồng,</p>
<p>Tắt đi những nổi long đong nửa đời.</p>
<p>Quay nhìn sau hiểu lẽ trời,</p>
<p>Ngoảnh nhìn phía trước dâng người tâm không.</p>
<p>Có<strong> </strong>không<strong> </strong>năm ngọn nến hồng.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Hình như</strong></p>
<p>Hình như bây giờ là buổi chiều,</p>
<p>Hình như bây giờ là hồ Tinh Tâm Huế,</p>
<p>Hoa Sen đã nở nhiều</p>
<p>Thơm ngát mùa xuân thành nội.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Hình như bây giờ là nửa đêm,</p>
<p>Sài Gòn vẫn chưa yên giấc ngủ,</p>
<p>Những con đường của anh và em,</p>
<p>Tú Xương, Duy Tân, cột cờ Thủ Ngữ.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Hình như bây giờ là buổi trưa,</p>
<p>Bãi biển Nha Trang quán số 2 hò hẹn.</p>
<p>Ta hôn nhau môi còn ngọt nước dừa.</p>
<p>Núm vú lần đàu tê tê thò thẹn.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Hình như bây giờ là buổi sáng,</p>
<p>Mùa đông Bergen không có mặt trời</p>
<p>Ta yêu nhau dịu dàng trong cơn mê sảng,</p>
<p>Thấm nỗi buồn da thịt hạt mưa rơi.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Hình như em vui vẻ nỗi buồn,</p>
<p>Nhìn dấu chân lũ trẻ trên tuyết.</p>
<p>Hình như ta đã yêu nhau trên những đòi cỏ biếc,</p>
<p>Say say mùi hoa bưởi hoa cau.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Hình như em êm ái cơn đau</p>
<p>Đêm hưu chiến Giáng Sinh mot chín sáu sáu.</p>
<p>Cắt xé thịt da hiến dâng đời giọt máu,</p>
<p>Hiến dâng niềm hy vọng an bình.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Hình như anh vượt biển một mình,</p>
<p>Đất trời bao la biết chốn nào ta tới.</p>
<p>Bỏ lại đằng sau tối,</p>
<p>Đi về phía trước đêm dài.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Thuyền mỏi gió và ta mỏi sống.</p>
<p>Hình như bây giờ là mùa xuân,</p>
<p>Thôi hãy quên đi những mùa đông giá buốt.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Ta sẽ chia hai nỗi đau thuở trước,</p>
<p>Ta sẽ cung chung niềm hy vọng ngày mai.</p>
<p>Ta vẫn tin bóng đêm dù rất u hoài,</p>
<p>Nuôi ánh sáng một bình minh rực rỡ.</p>
<p>Này ta ơi,</p>
<p>Khi đời ta hình như đã là một nửa,</p>
<p>Thì tình yêu nhất định phải nhân hai.</p>
<p>Bergen, 02-95</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Bài </strong><strong> </strong><strong>8</strong><strong> </strong><strong>&#8211; Năm 1996</strong></p>
<p><strong>Em và mùa xuân</strong></p>
<p>Mùa Xuân nào em khóc,</p>
<p>Tiếng khóc đẹp chào đời.</p>
<p>Môi ngọt giòng sữa mẹ,</p>
<p>Mẹ khóc hay mẹ cười ?</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Mùa Xuân nào em hát,</p>
<p>Tiếng hát tuổi mười lăm.</p>
<p>Tóc thề bay với gió,</p>
<p>Gió hôn em thẹn thùng.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Mùa Xuân nào em đi lễ,</p>
<p>Dắt con lên điện thờ.</p>
<p>Mẹ con quỳ lễ Phật,</p>
<p>Nam Mô A Di Ưà.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Mùa Xuân nào bỏ nước,</p>
<p>Lấm tuyết bàn chân buồn.</p>
<p>Ưi trong trời xứ lạ.</p>
<p>Vẫn nhớ mùi nhang thơm.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Năm nay Giao Thừa điểm,</p>
<p>Ưiểm sáng kiếp phù sinh.</p>
<p>Lòng bỗng như gió thoảng,</p>
<p>Và thơ thơm mùi kinh.</p>
<p>Xuân Bính Tý</p>
<p>Bergen -1996.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Bài 9</strong><strong> </strong><strong>&#8211; </strong><strong> </strong><strong>Năm 1997</strong></p>
<p><strong>Cơn gió thoảng</strong></p>
<p>Hôm qua trời đổ  tuyết,</p>
<p>Hôm nay bỗng nắng lên.</p>
<p>Trong lạnh lùng băng giá,</p>
<p>Ấm áp tâm bình yên.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Hễ không mong thì được,</p>
<p>Long lanh một giọt sương.</p>
<p>Ngọc ngà trời đất đó.</p>
<p>Trang điểm giữa vô thường.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Nếu ngày mai tuyết đổ,</p>
<p>Ta vẫn vui hôm nay.</p>
<p>NIỆM không ở quá khứ,</p>
<p>QUÁN  chẳng đợi tương lai.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Trời đất bày rồi xóa,</p>
<p>Tay ta xóa lại bày.</p>
<p>Mất, còn cơn gió thoảng, không rượu mà như say.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Bài 10-</strong><strong> </strong><strong>Năm 1998</strong></p>
<p><strong>Ngày xưa ở Huế </strong></p>
<p>Xem tranh Đằng Giao nhớ mùa hè ở Huế,</p>
<p>Em mười lăm hay mười tám, thơ ngây.</p>
<p>Hồ Tịnh Tâm Sen nở, thơm đày.</p>
<p>Mái tóc ướt, mưa rất buồn ở Huế</p>
<p>Trăng rất lạ, Bergen hàng cây quạnh quẽ.</p>
<p>Lấm chân em, hạt tuyết trắng, rồi tan</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Xem tranh Đằng Giao, vài cánh Sen tàn,</p>
<p>Nhưng thơm mãi, mùa hè ở Huế</p>
<p>Cánh phớt hồng, hình như là e lệ,</p>
<p>Hình như là kết hạt yêu đương.</p>
<p>Trăng ở đây xuống thấp, thật buồn,</p>
<p>Như nhớ ngày xưa, mùa hè ở Huế.</p>
<p>Đẫm tóc em, nhạt nhòa, rất nhẹ,</p>
<p>Tuyết trắng đêm nay, rất nhẹ, giọt trăng xưa.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Mưa Bergen</p>
<p>Nhớ Huế mưa</p>
<p>Nẻo về em</p>
<p>đã khuất mờ</p>
<p>Chiêm bao!</p>
<p>Bergen, 02-1998</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Bài </strong><strong> </strong><strong>11 &#8211; Năm 1999.</strong></p>
<p><strong>Nếu</strong></p>
<p>Nếu hoa hồng biết nói,</p>
<p>Sẽ nói với mùi hương.</p>
<p>Khoe sắc trong tia nắng,</p>
<p>Ca ngợi tình yêu thương.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Nếu chim trời biết nói,</p>
<p>Sẽ kể chuyện măy trôi,</p>
<p>Bềnh bồng đem mưa tưới,</p>
<p>Những cánh đồng xanh tươi.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Nếu cây rừng biết nói,</p>
<p>Sẽ rì rào không thôi.</p>
<p>Bao nhiêu mầm non mới,</p>
<p>Ưem sự sống cho đời.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Nếu giòng suối biết nói,</p>
<p>Sẽ suốt ngày reo vui.</p>
<p>Ưiệu nhạc nào êm ái,</p>
<p>Tạo hóa hiến cho người.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Chỉ loài người biết nói,</p>
<p>Xin đừng nói hận thù.</p>
<p>Hòa chung muôn tiếng nói,</p>
<p>Thành điệu nhạc thiên thu.</p>
<p>Bergen, 02-1999</p>
<p>(Bài thơ này đã được phổ nhạc)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Bài 12 &#8211; Năm 2000.</strong></p>
<p><strong>Điệp khúc</strong></p>
<p>Trên bãi cỏ ấy,</p>
<p>có ngọn cỏ rất xanh.</p>
<p>Vài giọt nắng long lanh,</p>
<p>Tan đi những hạt tuyết.</p>
<p>Tình yêu mùa đông</p>
<p>ngủ vùi mỏi mệt.</p>
<p>Mùa xuân đâm chồi,</p>
<p>ngọn cỏ chiêm bao.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Trên bãi cỏ ấy,</p>
<p>Không có loài hoa xấu hổ.</p>
<p>Chỉ có những bông chuông xanh.</p>
<p>Rung rất nhẹ,</p>
<p>Gọi tình anh,</p>
<p>Bằng tên em.</p>
<p>Như những ngọn cỏ thật mềm,</p>
<p>Trên bãi cỏ rất xanh.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Trên bãi cỏ ấy,</p>
<p>có con chim sẻ nhỏ</p>
<p>bay quanh</p>
<p>Tìm dấu chân em,</p>
<p>Chỉ thấy hồn anh,</p>
<p>Chết thật hiền lành.</p>
<p>Nở thành loài hoa không tên,</p>
<p>Ngợi ca tình yêu,</p>
<p>Mùa xuân rực rỡ.</p>
<p>Ngợi ca mùa hè,</p>
<p>Trăng soi  lửa đỏ.</p>
<p>Mùa thu mưa rơi,</p>
<p>Từng giọt trong hồn.</p>
<p>Trên mái cỏ buồn,</p>
<p>Xóa dấu chân em.</p>
<p>Tình yêu anh ơi,</p>
<p>Anh hôn mê man,</p>
<p>Ngọn cỏ thật mềm,</p>
<p>Dù cơn mê nào,</p>
<p>Đã xóa dấu chân em.</p>
<p>(điệp khúc)</p>
<p>Dù cơn mê nào,</p>
<p>Đã xóa dấu chân em.</p>
<p>Bergen, 02.2000</p>
<p>(Điệp khúc của bài thơ số 1</p>
<p>Bài thơ này đã được phổ nhạc)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Bài 13</strong><strong> </strong><strong>&#8211;</strong><strong> </strong><strong>N</strong><strong>ă</strong><strong>m</strong><strong> </strong><strong>2001</strong></p>
<p><strong>Xuân Đấy</strong></p>
<p>Xuân đến rồi em, trời tuyết đổ,</p>
<p>Ừ em, xuân đấy, có sao đâu.</p>
<p>Anh tìm mua nhánh mai vàng giả,</p>
<p>Xa xứ ta đành tự dối nhau.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Giấy bạc, lá giong thì cũng vậy,</p>
<p>Gói vuông, cũng Ưất, cũng xuân thôi.</p>
<p>Phẩm xanh pha khéo trong màu lá,</p>
<p>Nhang điện, lòng thơm, tạ  Ưất Trời.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Xuân, chúc mừng em Thiên Kỷ mới,</p>
<p>Giao Thừa mình đón buổi chiều nay.</p>
<p>Mới chiều ? Phải cộng thêm giờ chứ,</p>
<p>Ta đã sang Xuân ở xứ này.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Năm nay Tết sớm mua không có,</p>
<p>Dù chỉ là cành hoa giả mai.</p>
<p>Em ở quê nhà em nhớ chụp,</p>
<p>Chợ hoa vàng rực  nỗi bi ai.</p>
<p>Bergen, 02.2001</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Bài số 14 &#8211; năm 2002</strong></p>
<p><strong>Sát na yêu</strong></p>
<p>Trong mù sương buổi sáng</p>
<p>Mất hút những đồi,</p>
<p>Có không con chim hót,</p>
<p>Âm thầm một tiếng rơi.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Ta tìm ta không thấy,</p>
<p>Không em và không tôi,</p>
<p>Bình minh không vệt nắng,</p>
<p>Đời lạ mặt với đời</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Mở trang kinh phủi bụi,</p>
<p>Nhấp một chén trà ôi,</p>
<p>Không tìm ra câu kệ.</p>
<p>Dậy người sống với người.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Trong mù sương buổi tối,</p>
<p>Trong mù sương một đời,</p>
<p>Ta tìm ta đã thấy</p>
<p>Sát Na em yêu tôi.</p>
<p>Bergen, 02-2002</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Tuyết mai</strong></p>
<p>Ba mươi bỗng đổ tuyết,</p>
<p>Mùng một Tươi nắng vàng</p>
<p>Cành thông đơm nụ trắng</p>
<p>Mai tuyết đón xuân sang</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Khai bút Xuân Nhâm Ngọ.</p>
<p>Bergen, 02-2002</p>
<p>&nbsp;</p>
<h2>Ðọc Mùa gặt giữa hư vô</h2>
<p><strong>Song Thao</strong></p>
<p>Tôi còn nhớ lần đầu tiên gặp anh Dương Kiền 30 năm trước đây. Hồi đó anh Dương Kiền đang làm chủ bút tạp chí Văn Học; và tôi đang lo in giai phẩm Xuân Văn Khoa của sinh viên đoàn trường đại học Văn Khoa Sàigòn. Hai tờ báo cùng in tại nhà in Trường Sơn nhỏ xíu, nằm trên một con đường cũng nhỏ xíu bên hông chợ Bến Thành, nên ra vào đụng nhau ngày một.</p>
<p>Tạng anh Dương Kiền là tạng người ốm hết cỡ nhưng sức làm việc của anh thì chúng tôi chịu thua. Anh cặm cụi không biết mỏi mệt trên những trang giấy hoặc trên bản in vỗ. Hồi đó là đầu thập niên 60, tình hình chính trị trong nước đang hết sức sôi động và tờ Văn Học, “Tiếng nói của thanh niên, sinh viên Việtnam” đã nhập cuộc hết sức hăng say. Những bài nhận định, tham luận, đặt vấn đề của một con người gầy ốm như anh quả thiệt rất nặng ký. Anh là một con người hăng say, nhiệt tình và rất sắc bén. Nhưng bên cạnh những bài viết chính trị, văn thơ của anh thì lại vô cùng mượt mà, mềm mại. Và lối nói chuyện của anh lại đượm phần duyên dáng, khôi hài rất dí dỏm lẫn châm biếm sâu sắc.</p>
<p>Tôi cũng lại nhớ lần gặp anh Kiền khi anh vừa đi học tập cải tạo về. Hồi đó những người đi tù về như chúng tôi đều xơ xác, hốc hác lắm rồi. Muốn tránh lao động thủy lợi của phường khóm, muốn khỏi đi kinh tế mới chỉ có một cách chui vào Hội Trí Thức Yêu Nước, trên đường Nguyễn Thông. Nhưng cái sân của Hội Trí Thức Yêu Nước mới là chỗ cho chúng tôi có dịp gặp gỡ nhau mà hàn huyên tâm sự, hoặc bàn tính chuyện này chuyện kia. Chính tại cái sân “tri kỷ” này tôi đã thấy anh Dương Kiền dắt chiếc xe đạp còm cõi qua chiếc cửa nhỏ. Vẫn với thân hình gầy ốm mà ngục tù cộng sản cũng phải chịu thua không thể nào làm cho gầy hơn được nữa. Anh hớn hở chuyện trò với bạn bè. Vẫn cái giọng dí dỏm, vẫn đôi mắt hăng say sắc sảo đó, hình như chẳng có gì thay đổi, chẳng có gì khuất phục được anh. Tôi biết anh chưa chịu thúc thủ. Ít lâu sau, tôi được tin anh đã vượt biển.</p>
<p>Và ngày hôm nay gặp lại anh Kiền trên đất nước người với tập thơ mới nhất của anh: “Mùa Gặt Giữa Hư Vô”. Nhận được tập thơ tôi say sưa đọc, và làm một việc hơi tẩn mẩn là quay vòng thời gian, cố tìm lại cái nét Dương Kiền ba mươi năm trước nơi thơ Dương Kiền ba mươi năm sau. Và tôi thấy cái nhiệt tình của những bài thơ tranh đấu xưa, nay thấp thoáng trong thơ anh:</p>
<p>“hãy đứng dậy, đứng dậy<br />
chết hay là Tự Do<br />
Tự Do hay là chết<br />
ta không cần cơm no<br />
ta cần nói cần nghĩ<br />
ta cần nghe, cần nhìn<br />
nghe thật và nhìn thật<br />
không cần nghe mẹ mìn”</p>
<p>Vẫn cái bầu nhiệt huyết của những năm tháng cũ, nay sôi sục trong thơ anh:</p>
<p>“ta về theo dấu chân thần thoại<br />
hơi thở no say cả lá rừng<br />
nghe vọng lời xưa bài Ðại cáo<br />
máu sôi thành lệ bỗng trào dâng”</p>
<p>Vẫn cái ngạo nghễ của con người không bao giờ chịu khuất phục:</p>
<p>“từ trong những nỗi căm hờn<br />
thơ ta ngạo nghễ con đường ta đi<br />
rồi trăm năm cỏ xanh rì<br />
ta không nuối tiếc chút gì hôm nay<br />
từ trong những nỗi đắng cay<br />
tay không ta vỡ luống cày hư vô<br />
xin gieo hạt ngọc bây giờ<br />
mai sau vàng trải lối xưa ta về”</p>
<p>Nhưng tôi cũng bắt gặp cái bóng chiều của thời gian luẩn quẩn trong thơ anh. Cái ngạo nghễ có lẽ đã được đội thêm mái tóc điểm sương và bầu nhiệt huyết hình như đã có pha thêm mật đắng. Nước mất nhà tan, kẻ chết người còn, lưu lạc tứ tán thì còn chí khí nào không sứt mẻ què quặt. Tôi thương những câu thơ như:</p>
<p>“hôm qua đọc một bài thơ cổ<br />
ta mộng mài gươm dưới ánh trăng<br />
chợt tỉnh trông ra trời Bắc cực<br />
mênh mông tuyết phủ một màu tang”</p>
<p>hoặc:</p>
<p>“trồng trúc làm như mình kẻ sĩ<br />
hiên ngang chẳng sợ gió mưa đâu<br />
sợ chứ, mưa thu buốt chết được<br />
gió xuân quân tử cũng phờ râu”</p>
<p>Khi anh hạ chữ “phờ râu” tôi thấy lại cái giọng dí dỏm khôi hài của anh, hình như mường tượng đâu đây cái nụ cười nửa khinh bạc, nửa chế riễu ngày xưa:</p>
<p>“ngày 30 tháng ba<br />
lót tót chạy về Phan Thiết<br />
lót tót chạy về Sàigòn<br />
cờ tướng vẫn bay oai hùng lẫm liệt<br />
trên cột cờ Bộ Tư Lệnh<br />
nhưng tướng ở đâu<br />
bố ai biết?<br />
cứ chạy cái đã ra sao thì ra<br />
kệ bà thằng nào không sợ chết”</p>
<p>Nghe thấy muốn cười nhưng nụ cười có thể đính kèm một giọt nước mắt. Mà thôi, hãy quên giọt nước mắt đi để thấm giọt mồ hôi của những người tù trại Long Giao đào giếng:</p>
<p>“đất Long Giao cứng hơn kim cương<br />
nước Long Giao qúi hơn nước vô thường<br />
hồ lô đức Quán Thế<br />
trời tháng tư đổ lửa<br />
không thấy nước đâu chỉ thấy mồ hôi chảy trên lưng<br />
ngựa Người<br />
kéo những thùng đất từ đáy huyệt sâu đào mả cha nó<br />
đỉnh cao trí tuệ loài người”</p>
<p>Chúng ta có thể nhặt ra được rất nhiều nụ cười cay đắng như vậy trong thơ của Dương Kiền. Tôi chỉ xin đọc ra một nụ cười rất thoải mái mà tôi rất ưng ý:</p>
<p>“thứ hai dậy sớm<br />
đi làm lúc bảy giờ ba mươi<br />
thứ ba dậy muộn<br />
đi làm lúc tám giờ mười lăm<br />
thứ tư nộp tipping<br />
thứ năm làm tình<br />
lúc mười giờ hai mươi<br />
(ban đêm đấy nhé)<br />
thứ sáu thật khỏe<br />
khỏi dạy chung với em Vera già khú đế<br />
thứ bảy xem phim X<br />
tẩn mà tẩn mẫn một mình<br />
chủ nhật dẫn chó đi chơi<br />
qua nhà thơ nghe trộm tiếng cầu kinh<br />
thứ hai dậy sớm<br />
đi làm lúc bảy giờ ba mươi”</p>
<p>Hình như tôi không còn ở tuổi để đọc những bài thơ tình nhưng sao thơ tình của Dương Kiền cứ luẩn quẩn trong đầu tôi. Những bài thơ dễ thương chi lạ. Những câu thơ tròn trịa, xinh xắn vừa đủ một vòng ôm:</p>
<p>“ngực em có nốt ruồi son<br />
hồng như trái chín no tròn mắt ta<br />
tay em có những ngón ngà<br />
khiến ta bỗng thấy da gà nổi lên”</p>
<p>hoặc những bài thơ tình nồng đậm vị quê hương:</p>
<p>“tóc em say say mùi bồ kết<br />
miệng em thơm thơm mùi quế chi<br />
da em nồng nồng hương dạ lý<br />
nửa đêm chết giấc gã tình si”</p>
<p>“chê em lẳng quá không thèm yêu<br />
bây giờ lại nhớ biết bao nhiêu<br />
tìm đâu cho được hương bồ kết?<br />
cho được làn môi cắn chỉ điều”</p>
<p>Tôi còn muốn đọc ra đây nhiều bài thơ tình nữa cho đã, nhưng không dám làm mất cái thú vị của qúi vị khi có tập thơ “Mùa Gặt Giữa Hư Vô” trong tay, nên chỉ xin đọc thêm 4 câu mượt mà nữa thôi:</p>
<p>“nhắn em ngày ấy năm xưa<br />
có hai đứa trẻ giả vờ yêu nhau<br />
bây giờ hai đứa bạc đầu<br />
suốt đời vẫn cứ yêu nhau giả vờ”</p>
<p>Từ những năm xưa đến lúc bạc đầu có cái cay nghiệt của thời gian, cái phạm trù tai quái đó! Lúc bạc đầu mới là lúc tưởng nhớ tới những ngày xa xưa. Tôi e rằng đã lạm dụng sự có mặt nơi đây của anh Dương Kiền và tập thơ Mùa Gặt Giữa Hư Vô để lấy đó làm cái cớ hồi tưởng lại những năm tháng cũ khi chúng ta còn là những thanh niên hai mươi tuổi, đầy ắp nhiệt tình và tràn trề mộng mơ giữa lòng quê hương mẹ.</p>
<p>Xin cảm ơn quí vị và các bạn.</p>
<p>&amp;&amp;&amp;</p>
<p>Lúc 19 giờ ngày 11 tháng 8 năm 1991 tại trụ sở Cộng đồng người Việt vùng Montréal, thi phẩm Mùa gặt giữa hư vô của Dương Kiền đã ra mắt bạn đọc tại Montréal.</p>
<p>Là một luật sư hành nghề tại Sàigòn vào thập niên 60, 70, Dương Kiền sinh hoạt trong lãnh vực văn học nghệ thuật qua những đóng góp: sáng tác thơ và kịch bản. Dương Kiền hiện định cư tại Na Uy. Ông cùng phu nhân đến thăm bố vợ là nhà cách mạng kiêm nhà văn Trương Bảo Sơn, hiện định cư tại Montréal. Mùa Gặt Giữa Hư Vô là thi phẩm mới nhất của Dương Kiền.</p>
<p>Buổi ra mắt sách do một nhóm bạn cũ của Dương Kiền tổ chức. (ST)</p>
<p><strong><br />
</strong></p>
<h2>Gửi Dương Kiền</h2>
<p><strong>Hà Huyền Chi</strong></p>
<p>Mày buồn hát giọng Sáu Mươi,</p>
<p>Tao nghe sóng nhớ đầy vơi nát lòng.</p>
<p>Già đời bạn với long đong,</p>
<p>Mưa bay Hà Nội cười rung gác mày.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Sài Gòn khóc ướt chiều say,</p>
<p>Ngu ngơ tình ái mượn vay tiếng cười.</p>
<p>Chung muôn kỷ niệm quá thời,</p>
<p>Tha hương chung nôi biển trời đớn đau.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Tao buồn trắng tóc bạc râu,</p>
<p>Mày than bể ngực khối sầu còn nguyên.</p>
<p>Ráng cười đi nhé bạn hiền,</p>
<p>Thiếu niên mạt lộ, cao niên mạt thời.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Sáu Mươi tuổi thẹn qua rồi,</p>
<p>Còn bao năm nưa ngậm ngùi với quê?</p>
<p>Người rằng sống gửi thác về,</p>
<p>Rượu rằng: sống thác đâu hề hấn chi.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Hà hà&#8230;mai mốt cụng ly,</p>
<p>Còn không lệ sảng mà chia với đời?</p>
<p>Khóc cho sinh bất phùng thời,</p>
<p>Khóc thân tơi tả, khóc người lầm than.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Khóc cho điêu đứng Việt Nam,</p>
<p>Ô hô!!! xương lạnh mồ oan bốn trời.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>hàhuyềnchi</strong></p>
<p><strong>Noel 2000</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>(Cảm đề bài thơ 60  Dương Kiền)</p>
<p><strong><em>Sáu mươi</em></strong></p>
<p><strong>1939 &#8211; 1949.</strong></p>
<p>Ngày 28, đêm tối trời, ở Huế,</p>
<p>Tháng 12 trời giá lạnh căm căm.</p>
<p>Đẻ tôi khóc trong cơn đau hạnh phúc,</p>
<p>Xé lòng ra cho sự sống tươi mầm.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Cất tiếng khóc tôi chào mùa lửa đạn,</p>
<p>Thế giới chìm trong tiếng rú cuồng điên.</p>
<p>Lời của đẻ ru buồn hơn tiếng khóc,</p>
<p>Thầy tôi ngồi im lặng những chiều lên.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Tôi thơ dại vẫn cười vui với đẻ,</p>
<p>Lẫm chẫm đi níu áo gọi thầy tôi.</p>
<p>Các anh lớn nhường em tô cháo lỏng,</p>
<p>Sáu mươi năm chưa trả được ơn đời.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Tôi nhỏ lắm, ngày mùa thu tháng tám,</p>
<p>Quê hương tôi sùng sục những hờn căm.</p>
<p>Tôi ngơ ngác giữa rừng cờ đỏ máu,</p>
<p>Sắc hồng tươi sao nhuốm mt màu tang.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Làng Đồng Dụ chạy tản cư ngày ấy,</p>
<p>Quê ngoại ơi, nghèo quá, những đồng không.</p>
<p>Đẻ bương chải ngày cơm rau nửa bữa,</p>
<p>Ôm con thơ nhỏ lệ khóc âm thầm.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Anh Lân, anh Hùng trời mưa bắt nhái,</p>
<p>Bằm ra xào với muối thế mà ngon.</p>
<p>Phục hai tuổi chân xiêu không đứng vững,</p>
<p>Thầy vốn ít lời càng ít lời hơn.</p>
<p><strong>1950 &#8211; 1954.</strong></p>
<p>Hà Nội của tôi,</p>
<p>Hà Nội 50 mờ mờ trí nhớ .</p>
<p>Hà Nội mùa hè Cổ Ngư phượng đỏ,</p>
<p>Hà Nội mùa thu Hoàn Kiếm mờ sương .</p>
<p>Hà Nội lạc rang, kẹo kéo bọc đường,</p>
<p>Quả nhót đỏ tưởng áo mình mưa bụi</p>
<p>Hà Nội những đêm hấp hối,</p>
<p>Giờ giới nghiêm lựu đạn nổ đâu đây.</p>
<p>Thằng H. thất tình đi lính cho Tây,</p>
<p>SuỶt nhảy xuống Điện Biên những giờ phút cuối.</p>
<p>Hà Nội ơi, Hà Nội ơi, thôi đi hấp hối,</p>
<p>Nấc từng cơn, tháng 7, năm tư.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Tôi đi, Hà Nội, cuối thu,</p>
<p>Long Biên, cầu sắt, sương mù, gẫy đôi.</p>
<p>Đằng sau Nguyễn Trãi, trường tôi,</p>
<p>Bánh xe lăn, nghiến mảnh đời vỡ tan.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>1955 &#8211; 1963.</strong></p>
<p>Sài Gòn mưa rơi,</p>
<p>Sài Gòn nắng đổ.</p>
<p>Tôi đi hoang mang giữa đường giữa phố,</p>
<p>Nhớ thầy tôi nhắm mắt tuổi chưa cao.</p>
<p>Tôi đi hoang mang giữa trận mưa rào,</p>
<p>Thương đẻ, thương anh, thương mình, bật khóc.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Sài Gòn mưa rơi,</p>
<p>Sài Gòn bốc lửa.</p>
<p>Sài Gòn quay cuồng cơn đau lịch sử,</p>
<p>Sài Gòn xuống đường, Sài Gòn đạn nổ.</p>
<p>Sao lòng tôi vẫn đẹp tuổi mười lăm,</p>
<p>Trại Di Cư đàn đúm mấy thằng,</p>
<p>Thằng Hà Huyền Chi, Duyên Anh, NhấtTuấn &#8230;</p>
<p>Thằng Cát, thằng Can, thằng San, thằng Nhuận &#8230;</p>
<p>Chưa ráo máu đầu mơ lấp biển vá trời,</p>
<p>Sách vở không màng trốn học rong chơi,</p>
<p>Thầy Tấn, thầy Khoan lắc đầu ngao ngán.</p>
<p>Tuổi tôi đó, mười lăm mười tám,</p>
<p>Yêu con đường lá đổ me bay.</p>
<p>Nguyễn Du, Tú Xương, Tân Định &#8230; tháng ngày,</p>
<p>Góc phố Hiền Vương, qúan chè Hiển Khánh &#8230;</p>
<p>Yêu Sài Gòn mưa,</p>
<p>Yêu đêm thu lạnh,</p>
<p>Bốn mươi năm như tình lỡ hôm qua.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>1963 &#8211; 1975.</strong></p>
<p>Một chín sáu ba</p>
<p>Miền Nam cuốn vào những cơn giông bão.</p>
<p>Những đêm hỏa châu, những tin trên báo,</p>
<p>Cáo phó thằng này, đám táng thằng kia.</p>
<p>Con đầu lòng tôi, cuống rốn chưa lìa,</p>
<p>Cất tiếng khóc đêm 23 hưu chiến.</p>
<p>Tôi đứng giữa trời, đêm đen, thầm nguyện,</p>
<p>Xin đời con đừng giống bố, con ơi!</p>
<p>Nhưng tay tôi nào có với nổi trời,</p>
<p>Khoa sinh Mậu Thân, Khanh mùa hè đỏ lửa!</p>
<p>Những niềm vui có vết đau máu ứa,</p>
<p>Lửa đạn chiến tranh thành lửa đạn đời tôi.</p>
<p>Bảy sáu, khi niềm Nam đã bặt tiếng cười,</p>
<p>Khương chào đời, chào đau thương cả nước.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Em yêu ơi,</p>
<p>Chúng ta đã chia nhau hơn nửa cuộc đời</p>
<p>Chúng ta chia nhau rất ít niềm vui, rất nhiều nỗi khổ.</p>
<p>Anh cám ơn em, cám ơn người vợ,</p>
<p>Chịu đau thương trong suốt cuộc đời mình,</p>
<p>Cho lầm lỗi riêng anh,</p>
<p>Cho con chúng ta ra đời vô tội .</p>
<p>Anh nguyện Đất Trời phút giây sám hối,</p>
<p>Xin Tâm em Phật độ bình anh</p>
<p>Bông Sen hồ Tịnh Tâm nở mãi không tàn,</p>
<p>Đời em đó, thơm hương trong niềm đau nỗi khổ.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>1975 &#8211; 1999</strong></p>
<p>Một chín bảy lăm,</p>
<p>Không phải riêng đi tôi sụp đổ,</p>
<p>Không phải riêng con tôi không có miếng ăn.</p>
<p>Tất cả chúng ta tự mất chính mình,</p>
<p>Dù chịu đóng đinh,</p>
<p>Cũng không thể nào cứu chuộc .</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Một chín chín chín,</p>
<p>Đời tôi đi lao đao từng bước,</p>
<p>Bước hôm nay không biết bước ngày mai.</p>
<p>Người yêu tôi, người ghét tôi ơi,</p>
<p>Hãy đến với nhau bằng những nụ cười.</p>
<p>Tôi cảm tạ rưng rưng hàng nước mắt.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Tôi cám ơn đời, cám ơn tất cả,</p>
<p>Đã cho tôi giây phút yêu thương.</p>
<p>Dù chỉ phút giây, quỶ giá vô cùng,</p>
<p>Đóa hoa nở trong đời tôi giá lạnh.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Sáu mươi! Sáu mươi!</p>
<p>Bắt chước người xưa nâng ly mà hát,</p>
<p>Vui mà chi?</p>
<p>Buồn mà chi?</p>
<p>Đời ta chẳng qua hề ly rượu nhạt,</p>
<p>Rượu nhạt mà say hề cứ say đi.</p>
<p>Sáu mươi! Sáu mươi!</p>
<p>Vỗ tay mà hát,</p>
<p>Nâng ly mà hỏi,</p>
<p>Sáu mươi! Sáu mươi!</p>
<p>Đi đâu mà vội</p>
<p>Đi về đâu?</p>
<p>Biết về đâu?</p>
<p>Trăm năm rồi cũng qua cầu &#8230;</p>
<p>02.12.1999</p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong>***</strong></p>
<p><strong>Phụ đính I :</strong></p>
<p>Chân dung tự họa</p>
<p><strong>(Hợp Lưu số 33 tháng 2 và 3 năm 1997)</strong></p>
<p>Thật khó mà nói động cơ nào đã thúc đẩy tôi cầm bút. Có lẽ tuổi trẻ nào cũng nhiều mơ mộng, nhiều hoài bão. Ngườithì hát lên, người thì vẽ ra. Không biết hát, biết vẽ thì viết nhật ký, viết lưu niệm, thì làm thơ.</p>
<p>Và cũng có thể nói là tình cờ nữa. Bạn tôi từ lúc mặc quần thủng đít đi học trường Long Vân, Quang Trung rồi Sinh Từ(Hà Nội) là Đặng Trí Hoàn, là Phạm Hậu&#8230;không mê học mấy nhưng trời bắt làm thi sĩ. Hoàn rồi thành Hà Huyền Chi,Hậu rồi thành Nhất Tuấn. Cái thuở trao nhau những bài thơ ban đầu ấy thành cái nghiệp chăng ?<br />
Rồi di cư vào Sài gòn lại ‘đàn đúm’ thêm được Đỗ Tiến Đức, Duyên Anh, Đằng Giao, Trần Dạ Từ&#8230;nên lại lằng nhằngvào cái chuyện viết lách. Có lẽ chỉ do đó thôi.<br />
Về quá trình hình thành tác phẩm thì cũng lại do tình cờ nữa. Hồi còn đi học Chu Văn An, học Việt văn thầy Vũ KhắcKhoan là kịch tác gia, cùng bạn bè dựng vỡ ‘Giao Thừa’ của thầy, rồi cũng tí toáyviết kịch. Viết vỡ ‘Sân Khấu’ gửibáo Chỉ đạo do nhà văn Nguyễn Mạnh Côn làm chủ bút. ông Côn sửa nhiều, cho đang và..’nổi tiếng’!<br />
Về truyện dài, truyện ngắn, tùy bút thì vừa là tình cờ, vừa là bất đắc dĩ. Năm 1962, Phan Kim Thịnh xin được giấyphép xuất bản tạp chí Văn Học, kéo vào làm chủ bút. Chủ bút một tờ báo ở Việt Nam, ít nhất vào hồi ấy, ‘ghê’ ở chỗnày : Xin được đủ bài thì tốt không đủ bài thì chủ bút bao hết. Thiếu truyện viết truyện, thiếu thơ làm thơ&#8230;đưa xấpbản thảo cho nhà in xong, giờ chót ông ‘xếp ty-pô’ cho biết còn thiếu 5 trang thì viết đúng 5 trang, còn thiếu 10 trang,thì viết đủ 10 trang, ngay tại ‘phạm trường’ , lâu dần gom góp thành một tập truyện, một tập tùy bút&#8230;nhà xuất bản nàochịu in thì in, cầm đỡ ít tiền bản quyền uống cà phê với bạn bè.</p>
<p>Còn thơ ? Thì cũng chín mươi chín phẩy chín phần trăm người Việt Nam, ai chả làm thơ. ông Võ Phiến tưởng đâu chỉviết truyện, tùy bút, biên khảo&#8230;nhưng rồi gần đây cũng thấy ông làm thơ vì một tà áo, già thì làm thơ tự an ủi mình.Cũng là một cách chữa bệnh tâm thần không tốn tiền.</p>
<p>Nhìn lại những gì tôi đã viết, tôi thấy nó tạp nhạp, mỗi thứ một chút. Và đôi khi xấu hổ, tự hỏi nếu mình được làm lạitất cả, thì có lẽ mình sẽ không làm gì nữa chăng ? Nhưng dù sao đã lỡ rồi&#8230;</p>
<p><strong> </strong></p>
<h1>Việt Nam thế kỷ 20</h1>
<p>Tháng 6 năm 2005, mở đầu tác phẩm<em> </em><em>“Việt Nam Thế Kỷ 20,”</em> tác giả Dương Kiền viết:</p>
<p><em>“Việt Nam Thế Kỷ 20 được biên soạn theo phương thức biên niên sử, tóm tắt các sự kiện quan trọng về lịch sử, văn hóa, kinh tế, xã hội tại Việt Nam trong 100 năm qua. Thế kỷ 20 có lẽ là một thế kỷ cho đến nay để lại nhiều tự hào và đau thương nhất cho dân tộc, với rất nhiều khẳng định lẫn hoài nghi. Vẫn còn nhiều thế hệ người Việt bước vào thế kỷ 21 mang dấu tích các biến động của thế kỷ trước, và khó lòng để tâm hồn thanh thản nhìn lại các sự kiện có chính mình trong đó, với mất mát có, thành công có, thất bại có, tủi nhục có. Chính vì thế nhiều sự kiện bị vùi lấp không phải bởi thời gian mà bởi chính con người&#8230; Nhưng lịch sử vẫn là lịch sử, vấn đề là khởi sự đi tìm&#8230;Cuốn sách nhỏ này chỉ là một khởi sự, một phác thảo mà lẽ ra nó chưa nên ấn hành vì còn quá đơn giản, nhiều thiếu sót và sai lầm.”</em></p>
<p>Như tác giả đã giới thiệu<em>,“Việt Nam Thế Kỷ 20”</em> chỉ là một khởi sự, một phác thảo sơ lược về thế kỷ 19 và thế kỷ 20.</p>
<p>Những chấm đầu giòng của bản phác thảo này cho biết:</p>
<p><em>&#8211; 1802 Nguyễn Ánh diệt nhà Tây Sơn, lên ngôi Hoàng đế lấy hiệu là Gia Long, đóng đô tại Phú Xuân [Huế], lấy quốc hiệu Việt Nam từ năm 1803.</em></p>
<p><em>&#8211; 1825 Vua Minh Mạng ra dụ cấm đạo.</em></p>
<p><em>&#8211; 1847 Tàu Pháp bắn vào cửa Ðà Nẵng trong khi hai bên thương nghị về việc cấm đạo.</em></p>
<p><em>&#8211; Các đề nghị cải cách từ 1863 đến 1879:</em></p>
<p><em>Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Ðức Hậu, Nguyễn Ðiều, Ðinh Văn Ðiền, Nguyễn Hiệp, Phan Liêm, Phạm Phú Thứ, Bùi Viện, Nguyễn Lộ Trạch&#8230;dâng sớ xin cải cách nhưng đều bị triều đình bác bỏ. [Trang 11]</em></p>
<p><em>…</em></p>
<p>Thế kỷ 20 bắt đầu bằng năm:</p>
<p><em>&#8211; 1900, Phan Chu Trinh đậu cử nhân, qua năm sau đậu phó bảng, làm quan đến năm 1905 thì từ chức. Ông được coi là người khởi xướng và cầm đầu phong trào Duy Tân.</em></p>
<p><em>&#8211; 1901: Ngày 01-08-1901: Nông Cổ Mín Ðàm, tờ báo viết bằng chữ quốc ngữ đầu tiên do người Việt Nam sáng lập, xuất bản tại Nam Kỳ. Số cuối ra ngày 4-11-1924</em></p>
<p><em>&#8211; 1903: Phan Bội Châu và các đồng chí tôn Kỳ Ngoại Hầu Cường Ðể làm minh chủ “Việt Nam Duy Tân Hội.”</em></p>
<p><em>&#8211; 1904: Phan Bội Châu phổ biến “Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư” bằng Hán Văn cổ võ lòng ái quốc.</em></p>
<p><em>&#8211; 1905: Chiến tranh Nga-Nhật: Hạm đội Nhật phá tan hạm đội Nga tại eo biển Ðối Mã, làm rúng động các cường quốc Tây Phương và ảnh hưởng quan trọng đến quan niệm canh tân để giành độc lập của các tầng lớp sĩ phu Việt Nam.</em> [Trang 19]</p>
<p>….</p>
<p>Dương Kiền là tên thật và cũng là bút hiệu của tác giả. Ông sinh ngày 28 tháng 12 năm1939, tốt nghiệp Ðại Học Luật Khoa năm 1962. Năm 1997 Dương Kiền vượt biên, định cư tại Na Uy. Ông nguyên là chủ bút Tạp Chí Văn Học, được trao giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc Năm 1966 với kịch bản Sân Khấu. Ngoài “<em>Việt Nam Thế Kỷ 20”</em> do Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản năm 2005, tác giả Dương Kiền còn có những tác phẩm khác, như: <em>Tập Thơ Thú Ðau Thương, 1960; Truyện Dài Biển Trầm Lặng, 1965; Bản Dịch Kẻ Xa Lạ, 1965; Kịch Bản Sân Khấu, 1965; Truyện Ngắn Máu Của Mẹ, 1966….</em></p>
<p>Bất cứ ai dù ở nơi đâu cũng muốn biết về nguồn cội, cũng muốn biết về lịch sử quê hương. Từng dấu chấm đầu câu trong tác phẩm <em>“Việt Nam Thế Kỷ 20”</em> của tác giả Dương Kiền &#8211; đúng như lời ông nói &#8211; là một khởi sự, một phác thảo, mời gọi người đọc trở về lắng nghe tiếng của hàng thành quách cũ, kể lại một thời dựng nước và giữ nước của tiền nhân.</p>
<p>&amp;&amp;&amp;</p>
<p><strong>Một trích đoạn từ tác phẩm Việt Nam thế kỷ 20</strong></p>
<p><strong>1972</strong></p>
<p><strong><em>Thế giới</em></strong></p>
<p>– 13-01-1972: Tổng Thống Nixon loan báo rút thêm 70.000 quân Mỹ trong thời hạn ba tháng, giảm quân Mỹ xuống còn 69.000 người.</p>
<p>Kể từ khi nhậm chức, Nixon đã rút 400.000 quân Mỹ ra khỏi Việt Nam, đưa số tổn thất của Mỹ xuống dưới 10 người một tuần.</p>
<p>– 25-01-1972: Trả lời các chỉ trích chính phủ của ông không có những nỗ lực chấm dứt chiến tranh, tống thống Nixon cho biết cố vấn hội đồng an ninh quốc gia Henry Kissinger đã có 12 cuộc họp mật với Lê Ðức Thọ hoặc Xuân Thủy từ 04-08-1969 đến 16-08-1971, đưa ra đề nghị tám điểm của Mỹ.</p>
<p>Ngày 26-01 Kissinger cho biết hai trong đề nghị chín điểm của Hà Nội là trở ngại chính: Mỹ chấm dứt hỗ trợ chính phủ nam Việt Nam và triệt thoái chẳng những quân đội Mỹ mà tất cả võ khí, chiến cụ yểm trợ cho quân đội nam Việt Nam.</p>
<p>– 21-02-1972: Tổng Thống Nixon viếng thăm Trung Quốc.</p>
<p><em><strong>Miền Nam</strong></em></p>
<p>– 30-03-1972: Khởi sự cuộc tổng công kích mùa hè 1972, 12 sư đoàn chính quy Bắc Việt (khoảng 150.000 người không kể các đơn vị đã có sẵn tại miền Nam) với 500 xe tăng tấn công qua vùng phi quân sự từ Ðông Hà tới vùng đồi núi gần Khe Sanh.</p>
<p><strong>TỒNG CÔNG KÍCH MÙA HÈ NĂM 1972</strong></p>
<p>Cuộc tổng công kích mùa hè năm 1972 của cộng sản nhằm:</p>
<p>01.- biểu dương quyết tâm của họ với thế giới cộng sản và chính dân chúng Bắc Việt sau cuộc viếng thăm Trung Quốc của tổng thống Nixon mà họ lo ngại là Bắc Kinh có thể bán đứng Bắc Việt để đổi lấy Ðài Loan mặc dù trước đó (ngày 08 &amp; 09-03) thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã bí mật sang Hà Nội để trấn an.</p>
<p>02.- nuôi dưỡng phong trào phản chiến tại Mỹ và tạo áp lực với Nixon trong năm bầu cử tổng thống.</p>
<p>03.- thử nghiệm hiệu quả chương trình “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ.</p>
<p>04.- tiêu hao tiềm năng quân đội VNCH và sự ổn định của chính phủ Thiệu.</p>
<p>05.- chiếm được càng nhiều đất càng tốt trước khi có thể có một thỏa hiệp, và</p>
<p>06.- đưa cuộc hòa đàm vào những điều kiện của họ.</p>
<p>Cuộc tổng công kích diễn ra trên ba mặt trận chính:</p>
<p>– Mặt trận Quảng Trị: Sau ba ngày pháo kích dữ dội, từ 12.000 đến 15.000 lính Bắc Việt thuộc sư đoàn 304 có pháo binh và phòng không, kể cả hỏa tiễn SAM-2 lần đầu tiên xuất hiện trên chiến trường Việt Nam yểm trợ, và cũng là lần đầu tiên Bắc Việt sử dụng xe tăng T-54 của Liên Xô, tấn công sư đoàn 3 quân đội VNCH phòng thủ phía nam vùng phi quân sự và tỉnh Quảng Trị. Ngày 2-4, chuẩn tướng Vũ Văn Giai và bộ chỉ huy sư đoàn 3 bỏ thị xã Quảng Trị. Từ 20.000 đến 40.000 thường dân bỏ chạy về phía nam. Ngày 27-04 cộng sản có xe tăng T-54 yểm trợ chiến Ðông Hà.</p>
<p>Ngày 01-05 cộng sản chiếm Quảng Trị, sư đoàn 3 coi như tan rã, tám mươi phần trăm dân chúng Huế bỏ chạy vào Ðà Nẵng.</p>
<p>Ngày 13-05 một ngàn thủy quân lục chiến quân đội VNCH được trực thăng vận đổ xuống tuyến phía đông nam thị xã Quảng Trị sau lưng quân Bắc Việt, giết 300 quân cộng sản trước khi rút về, là cuộc phản công đầu tiên của phía VNCH. Ngày hôm sau, 4.000 quân của sư đoàn 1 mở cuộc phản công, tiến gần căn cứ hỏa lực Bastogne bị cộng sản tràn ngập trước đó. Ngày 28-06 mười ngàn thủy quân lục chiến và nhảy dù vượt sông Mỹ Chánh để tái chiếm Quảng Trị.</p>
<p>Ngày 26-07, quân nhảy dù kéo cờ trên cổ thành Quảng Trị, mà giờ đây tất cả thị xã chỉ còn là một đống tro tàn. Tuy nhiên cuộc chiến không phải đã chấm dứt, cộng sản tiếp tục pháo kích Quảng Trị và các trận đánh chung quanh thị xã vẫn diễn ra ác liệt, quân đội VNCH lại phải bỏ căn cứ hỏa lực Bastogne chiếm lại được ngày 15-05, là cứ điểm quan trọng bảo vệ phía tây nam Huế.</p>
<p>Ngày 15-09 VNCH mới hoàn toàn tái chiếm Quảng Trị sau 4 ngày cận chiến. VNCH loan báo trong cuộc chiến bốn tháng rưỡi tại Quảng Trị có 8.135 quân cộng sản bị giết, phía VNCH thiệt hại 977 người.</p>
<p>– Mặt trận cao nguyên Trung Phần: Ngày 08-04 sư đoàn 2 Bắc Việt vượt biên giới Lào và Campuchia mở mặt trận cao nguyên Trung phần, cắt đứt quốc lộ giữa Kontum và Pleiku, ngày 20-04 cắt đứt quốc lộ 19 giữa Pleiku và Qui Nhơn. Ngày 23-04 sư đoàn 320 Bắc Việt có xe tăng yểm trợ tấn công sư đoàn 22 quân đội VNCH tại Tân Cảnh và Dakto. ngày 28-04 hai mươi ngàn quân Bắc Việt bao vây Kontum, ngày 29 và 30 mười ngàn thường dân và nhân viên quân sự được di tản bằng máy bay về Pleiku. Ngày 13-05 xe tăng và quân cộng sản bắt đầu tấn công Kontum. Ngày 19-05 quân cộng sản cố chọc thủng tuyến phòng thủ Kontum của sư đoàn 23 (do đại tá Lý Tòng Bá chỉ huy, sau được thăng chuẩn tướng tại mặt trận) nhưng thất bại. Ngày 25-05 xe tăng cộng sản cắt đứt đường liên lạc giữa thị xã và phi trường, phương tiện tiếp tế duy nhất, cùng ngày phi cơ B-52 bỏ bom các địa điểm tập trung quân của cộng sản chung quanh thị xã. Ngày 06-06 quân VNCH giải tỏa được thị xã, nhiều ngàn địch quân rút lui với nhiều thiệt hại.</p>
<p>– Mặt trận An Lộc: Ngày 05-04 quân cộng sản từ phía đông lãnh thổ Campuchia vượt biên giới tấn công Bình Long, 75 dặm phía Bắc Sài Gòn, cắt đứt quốc lộ 13 nối liền Sài Gòn và An Lộc. Ngày 7-4 cộng sản chiếm Lộc Ninh, một quận thuộc tỉnh Bình Long và phía bắc tỉnh, 15.000 quân của sư đoàn 5 VNCH do chuẩn tướng Lê Văn Hưng chỉ huy rút từ Lộc Ninh về An Lộc bị cộng sản bao vây.</p>
<p>Ngày 09-04 Sài Gòn huy động một số đơn vị thuộc các sư đoàn 7, 9, và 21 để giải cứu An Lộc.</p>
<p>Ngày 13-04 ba ngàn quân cộng sản và 40 xe tăng tấn công An Lộc, chiếm được một nửa thị xã sau một ngày cận chiến, phi cơ B-52 thả bom chỉ cách phía tây thị xã 1 dặm để ngăn chặn cộng sản. Ngày 05-05 các đơn vị của sư đoàn 21 tiến quân trên quốc lộ 13 bị cộng sản chặn đánh, trong khi đó cộng sản hàng ngày nã trọng pháo vào An Lộc.</p>
<p>Ngày 19-05 các đơn vị của sư đoàn 9 và 21 tiến gần vào được An Lộc, chỉ cách thị xã 2 dặm. Ngày 9-6, các đơn vị thuộc sư đoàn 21 cuối cùng tiến được vào An Lộc.</p>
<p>Ngày 13-06 quân tăng viện đổ vào An Lộc nhưng các lực lượng cộng sản mặc dù thiệt hại nặng vẫn cắt đứt quốc lộ 13 và tiếp tục pháo kích vào thị xã.</p>
<p><em><strong>Thế giới</strong></em></p>
<p>– 06-04-1972: Tổng thống Nixon trực tiếp ra lệnh cho không quân và hải quân Mỹ mở đầu chiến dịch oanh tạc Linebacker 1 để yểm trợ quân đội VNCH chống lại cuộc tổng công kích mùa hè 1972.</p>
<p>Trước đó các cuộc oanh tạc trên miền Bắc được gọi là “phản ứng tự vệ”, chỉ nhắm vào các căn cứ phòng không của Bắc Việt đe dọa các phi cơ thám thính Mỹ.</p>
<p><em><strong>Miền Bắc</strong></em></p>
<p>– 16-04-1972: Lần đầu tiên phi cơ B-52 oanh tạc gần Hà Nội và Hải Phòng, phá hủy các căn cứ tiếp liệu và kho xăng.</p>
<p>Mỹ cho thấy chiến dịch oanh tạc Linebacker khác với chiến dịch Rolling Thunder (từ 02-03-65 đến 01-10-68), phi cơ Mỹ không bị giới hạn bất cứ khu vực nào trên miền Bắc.</p>
<p><em><strong>Thế giới</strong></em></p>
<p>– 08-05-1972: Tổng thống Nixon loan báo ra lệnh thả mìn phong tỏa các hải cảng miền Bắc để ngăn chặn sự tiếp vận vũ khí và chiến cụ của khối cộng sản, oanh tạc đường xe lửa nối liền Việt Nam với Trung Quốc cho đến khi nào</p>
<p>(1) các tù binh Mỹ được trao trả, và<br />
(2) một cuộc ngưng bắn được quốc tế giám sát.</p>
<p><em><strong>Miền</strong></em><strong><em> </em></strong><em><strong>Nam</strong></em></p>
<p>– 05-08-1972: Tổng Thống Thiệu ban hành luật báo chí, buộc các nhật báo phải ký quỹ 20 triệu đồng và chính phủ có quyền đóng cửa báo sau hai lần bị tịch thu vì “loan truyền tin tức có hại đến nền an ninh quốc gia và trật tự công cộng”. Mười sáu nhật báo và 15 báo định kỳ phải đóng cửa, chỉ còn hai nhật báo đối lập tại Sài Gòn (Chính Luận – Sóng Thần).</p>
<p><em><strong>Thế giới:</strong></em></p>
<p>– Từ 08 đến 11-10-1972: Cuộc mật đàm dài nhất giữa Lê Ðức Thọ, Xuân Thủy, Henry Kissinger và tướng Alexander Haig, người phụ trách liên lạc với tổng thống Thiệu tại Sài Gòn, đưa tới những nét căn bản cho hiệp định Paris 1973.</p>
<p>Chuẩn bị cho một cuộc ngưng chiến, Mỹ chuyển giao cho Sài Gòn 2 tỷ mỹ kim chiến cụ trong chiến dịch Enhance Plus, cùng các căn cứ quân sự mà khi chiến dịch kết thúc trong sáu tuần sau, không lực VNCH là không lực lớn hàng thứ tư trên thế giới.</p>
<p><em><strong>Miền Bắc</strong></em></p>
<p>– 27-11-1972: Máy bay B-52 đầu tiên bị hỏa tiễn SAM bắn rơi gần Vinh.</p>
<p>– 18-12-1972: Khởi sự chiến dịch oanh tạc Linebacker II, được mô tả là dữ dội nhất trong chiến tranh Việt Nam, phần lớn tập trung vào khu vực đông dân giữa Hà Nội và Hải Phòng để buộc Hà Nội phải đi đến thỏa hiệp.</p>
<p>Từ 18-12 đến 24-12 phi cơ Mỹ đã thả khoảng phân nửa số lượng bom mà Ðức ném xuống Anh trong đệ nhị thế chiến, hay là bằng 20 trái bom nguyên tử thả xuống Hiroshima .</p>
<p>Cuộc oanh tạc tạm ngưng ngày 25, tiếp tục ngày 26, phi cơ Mỹ rải bom xuống trung tâm Hà Nội trong hơn 40 phút. Ngày 30 tổng thống Nixon ra lệnh ngưng oanh tác phía trên vĩ tuyến 20.</p>
<p>Trong suốt các cuộc oanh tạc, Hà Nội đã bắn 1.200 hỏa tiễn địa không, hạ 15 phi cơ B-52 và 11 phi cơ khác, 93 phi công chết hoặc bị bắt hay mất tích.</p>
<p><strong>TỒNG KẾT TÌNH HÌNH NĂM 1972</strong></p>
<p>Năm 1972 là năm mà cường độ chiến tranh lên cao nhất trong suốt cuộc chiến, với trận tổng công kích của cộng sản tại miền Nam và các cuộc oanh tạc của Mỹ tại miền Bắc, ngoài các thiệt hại nhân mạng, đã tàn phá nặng nề cả hai miền. Nếu quân đội VNCH mất sư đoàn 3 và hàng chục ngàn người thuộc các đơn vị khác thì trên thực tế nhiều đại đơn vị của cộng sản cũng bị xóa tên, không kể số thiệt hại dân sự không thể ước lượng được và khoảng nửa triệu người tị nạn chiến tranh. Quảng Trị, Ðông Hà, An Lộc chỉ còn là đống gạch vụn. Hà Nội phải hứng chịu mưa bom của B-52.</p>
<p>Trong khi đó hai bên nỗ lực “lấn đất giành dân” chuẩn bị cho một cuộc ngưng chiến.</p>
<p>Quân số Mỹ tại Việt Nam giảm xuống chỉ còn khoảng 24.000 người nhưng vì cường độ chiến tranh gia tăng, có đến 4.300 người tử trận so với 1.386 người năm 1971.</p>
<p><strong>1973</strong></p>
<p><em><strong>Thế giới</strong></em></p>
<p>–27-03-1973: Hiệp định “Chấm dứt chiến tranh và tái lập hòa bình tại Việt Nam ” ký kết tại Paris giữa Mỹ, miền bắc Việt Nam , miền nam Việt Nam và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam .</p>
<p><strong>CÁC ÐIỀU KHOẢN CHÍNH TRONG HIỆP ÐINH PARIS</strong></p>
<p>– Ngưng bắn tại chỗ, quân đội mỗi bên ở đâu đóng nguyên tại đó.</p>
<p>– Triệt thoái tất cả quân nhân và cố vấn Mỹ trong thời hạn 60 ngày (khoảng 23.700 người).</p>
<p>– Hủy bỏ các căn cứ quân sự Mỹ trong thời hạn 60 ngày.</p>
<p>– Trao trả tù binh Mỹ và tù binh của các bên trong thời hạn 60 ngày.</p>
<p>– Quân đội Bắc Việt tiếp tục hiện diện tại miền nam Việt Nam .</p>
<p>– Triệt thoái quân đội ngoại quốc khỏi Lào và Campuchia, cấm thiết lập căn cứ quân sự và di chuyển quân đội ngang qua các quốc gia này.</p>
<p>– Tái lập vùng phi quân sự ngang vĩ tuyến 17 như là ranh giới tạm thời cho đến khi tái thống nhất đất nước bằng “các phương tiện hòa bình”.</p>
<p>– Thành lập ủy hội kiểm soát quốc tế gồm 1.160 quan sát viên thuộc các nước Gia Nã Ðại, Hung Gia Lợi, Ba Lan và Nam Dương.</p>
<p>– Chính phủ tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tiếp tục cho đến khi có cuộc bầu cử.</p>
<p>– Miền Bắc tôn trọng “quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam ”.</p>
<p>– Thành lập Ủy Ban Quân Sự Bốn Bên phụ trách các vấn đề quân sự và Ủy Ban Hòa Hợp Hòa Giải Dân Tộc phụ trách các vấn đề chính trị.</p>
<p>Vào lúc ký hiệp định, chính phủ Sài Gòn kiểm soát 75 phần trăm lãnh thổ và 85 phần trăm dân số.</p>
<p>Ngoài số vũ khí quân đội VNCH tiếp nhận vào phút chót, nam Việt Nam tiếp tục nhận được sự trợ giúp của Mỹ sau khi ngưng bắn.</p>
<p>Quân số của Bắc Việt có mặt tại miền Nam được ước lượng là 145.000 người.</p>
<p>Quân nhân Mỹ cuối cùng tử trận tại Việt Nam là trung tá William B. Nolde bị pháo kích chết tại An Lộc 11 giờ trước giờ ngưng bắn (8 giờ ngày 28-01, giờ Sài Gòn).</p>
<p><em><strong>Miền Bắc</strong></em></p>
<p>– Tháng 03-1973: Tướng Trần Văn Trà, thuộc bộ chỉ huy của cộng sản tại miền nam Việt Nam, ra họp tại Hà Nội, chuẩn bị cho một cuộc tổng tấn công mới. Cộng sản xây dựng một hệ thống giao thông sử dụng được dưới mọi thời tiết từ Quảng Trị vào đồng bằng sông Cửu Long, một ống dẫn dầu 3000 dặm từ Quảng Trị vào Lộc Ninh và một hệ thống thông tin trực tiếp từ bản doanh Lộc Ninh với Hà Nội.</p>
<p>Cộng sản cũng thiết lập các căn cứ tiếp vận giáp ranh với Tây Ninh, phía tây bắc Sài Gòn.</p>
<p><em><strong>Miền</strong></em><strong><em> </em></strong><em><strong>Nam</strong></em></p>
<p>– 29-03-1973: Các đơn vị cuối cùng của Mỹ rời Việt Nam , chấm dứt 10 năm tham chiến. Ngoài một số nhỏ thủy quân lục chiến canh gác tòa đại sứ, có khoảng 8.500 nhân viên dân sự Mỹ lưu lại Việt Nam .</p>
<p>Trong khi đó 60 ngày đình chiến đầu tiên trôi qua với cuộc chiến không bao giờ ngừng.</p>
<p><em><strong>Thế giới</strong></em></p>
<p>– 16-10-1973: Trong một quyết định gây nhiều tranh luận, Ủy Ban Hòa Bình Nobel (Na Uy) trao giải hòa bình cho Henry Kissinger và Lê Ðức Thọ.</p>
<p>Kissinger nhận giải nhưng Lê Ðức Thọ từ chối.</p>
<p><em><strong>Miền</strong></em><strong><em> </em></strong><em><strong>Nam</strong></em></p>
<p>– 24-10-1973: Các nguồn tin tình báo cho biết kể từ khi ngưng bắn, các lực lượng cộng sản tại miền nam Việt Nam đã tăng thêm 70.000 người, 400 chiến xa với nhiều đon vị pháo binh và phòng không.</p>
<p>Một con đường từ miền Bắc vào tỉnh Tây Ninh gần được hoàn tất.</p>
<p><strong>1974</strong></p>
<p><em><strong>Miền</strong></em><strong><em> </em></strong><em><strong>Nam</strong></em></p>
<p>– 19-01-1974: Giao tranh giữa hải quân VNCH và hải quân Trung Quốc gần quần đảo Hoàng Sa. Phía VNCH có tuần dương hạm Lý Thường Kiệt, khu trục hạm Trần Khánh Dư, tuần dương hạm Trần Bình Trọng và hộ tống hạm Nhật Tảo.</p>
<p>Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt bị bắn trúng bánh lái và sườn tàu nhưng về được Ðà Nẵng. Hộ tống hạm Nhật Tảo bị bắn chìm, hạm trưởng là hải quân trung tá Ngụy Văn Thà ở lại chết theo tàu.</p>
<p>Nhiều tàu chiến của Trung Quốc bị hải quân VNCH bắn cháy và chìm.</p>
<p>– 27-01-1974: Một năm kể từ hiệp định ngưng bắn có hiệu lực đã có 13.788 quân nhân quân đội VNCH, 45.057 quân cộng sản và 2.159 thường dân bị giết trong cuộc chiến không ngày nào ngưng.</p>
<p><em><strong>Thế giới:</strong></em></p>
<p>– 05-08-1974: Quốc hội Mỹ cắt 1 tỉ mỹ kim viện trợ quân sự cho nam Việt Nam , xuống còn 700 triệu. Viện trợ quân sự Mỹ từ 2,8 tĩ năm 1973 xuống còn 300 triệu năm 1975.</p>
<ul>
<li>09-08-1974: Tổng thống Mỹ Richard Nixon từ chức sau vụ tai tiếng Watergate, phó tổng thống Gerald Ford lên thay.</li>
<li></li>
</ul>
<p><em><strong>Miền</strong></em><strong><em> </em></strong><em><strong>Nam</strong></em></p>
<p>– 31-12-1974: Nam Việt Nam công bố có 80.000 người bị giết trong các trận đánh, con số tổn thất một năm cao nhất trong suốt cuộc chiến.</p>
<p><strong>1975</strong></p>
<p><em><strong>Miền</strong></em><strong><em> </em></strong><em><strong>Nam</strong></em></p>
<p>– 06-01-1975: Tỉnh Phước Long, cách Sài Gòn 60 dặm về phía bắc, bị cộng sản đánh chiếm, là một thử nghiệm của Hà Nội thăm dò phản ứng của Mỹ. Sự bất động của Mỹ khích lệ cộng sản quyết định tiến chiếm miền Nam sớm hơn dự liệu, có thể là vào năm 1976.</p>
<p>– 05-02-1975: Tướng Văn Tiến Dũng từ miền Bắc vào miền Nam nắm quyền chỉ huy các lực lượng cộng sản.</p>
<p>– Từ 10 đến 13-03-1975: Bắc Việt tấn công Ban Mê Thuột, thị xã tỉnh Darlac.</p>
<p>Trưa ngày 10 cộng sản chiếm phần lớn thị xã, đến ngày 13 thì Ban Mê Thuột hoàn toàn thất thủ. Hậu cứ sư đoàn 23 quân đội VNCH đặt tại thị xã coi như tan rã, nhiều binh sĩ đào ngũ để đưa gia đình bỏ chạy, gây tác động tinh thần dây chuyền đưa tới sự sụp đổ hoàn toàn của quân đội VNCH trong hai tháng kế tiếp.</p>
<p>– 14-03-1975: Tổng Thống Thiệu họp các tư lệnh, ra lệnh triệt thoái khỏi cao nguyên Trung phần và các tỉnh phía bắc. Năm ngày sau ông ra lệnh giữ Huế bằng mọi giá.</p>
<p>– 16-03 đến 01-04-1975: Khởi sự triệt thoái từ Pleiku và Kontum, hàng trăm ngàn binh sĩ lẫn lộn với thường dân đổ về vùng duyên hải bằng quốc lộ 7B, bị cộng sản pháo kích và tấn công dữ dội. Cho đến ngày 01-04 hai mươi ngàn trong số 60.000 binh sĩ, và 100.000 trong số 400.000 thường dân thoát về được các tỉnh vùng duyên hải, số phận những người còn lại không được biết.</p>
<p>– 24-03-1975: Cộng sản mở “Chiến dịch Hồ Chí Minh”, tướng Văn Tiến Dũng đưa ra thời biểu mới tiến chiếm miền Nam trước khi mùa mưa bắt đầu vào tháng năm và trước khi quân đội VNCH kịp tập trung dể phòng vệ.</p>
<p>– 25-03-1975: Lệnh bỏ Huế kéo theo làn sóng người tị nạn kinh hoàng vì kinh nghiệm Tết Mậu Thân, đổ về Ðà Nẵng cũng đang bị pháo kích dữ dội.</p>
<p>– 29-03-1975: Ðà Nẵng thất thủ, hàng ngàn người tử nạn trong cuộc bỏ chạy hỗn loạn tại phi trường và các bờ biển.</p>
<p>– 01-04-1975: Cộng sản kiểm soát hơn phân nửa lãnh thổ nam Việt Nam . Quốc lộ 4 nối liền Sài Gòn với miền tây bị cắt đứt.</p>
<p>– từ 06 đến 15-04-1975: Hai trung đoàn thuộc sư đoàn 2 quân đội VNCH và một tiểu đoàn Dù tăng viện Phan Rang với hy vọng chặn đứng quân cộng sản.</p>
<p>Ngày 15-04 Phan Rang bị cộng sản tràn ngập.</p>
<p>– 07-04-1975: Lê Ðức Thọ từ Hà Nội vào bản doanh của cộng sản tại Lộc Ninh, giám sát cuộc tổng công kích. Cộng sản kiểm soát hai phần ba lãnh thổ nam Việt Nam .</p>
<p>– từ 08 đến 21-04-1975: Trận đánh cuối cùng bảo vệ nam Việt Nam . Sư đoàn 18 quân đội VNCH chống với hai sư đoàn quân Bắc Việt tại Xuân Lộc, cửa ngõ của Sài Gòn.</p>
<p>Hai trung đoàn thuộc sư đoàn 5 và một tiểu đoàn Dù tăng viện cho sư đoàn 18, không quân thả bom CBU là loại bom lớn nhất trong chiến tranh Việt Nam trong khi thêm hai sư đoàn Bắc Việt kéo đến tham chiến.</p>
<p>Quân đội VNCH giữ vững Xuân Lộc cho đến khi hết đạn và không được phi cơ yểm trợ, phải bỏ Xuân Lộc ngày 21-04.</p>
<p><em><strong>Campuchia</strong></em></p>
<p>– từ 12 đến 16-04-1975: Ngày 12-04 tòa đại sứ Mỹ tại Campuchia di tản khỏi Nam Vang .</p>
<p>Ngày 16-04 quân Khờ-me đỏ hoàn toàn làm chủ Campuchia, chấm dứt bốn năm chiến tranh tại quốc gia này.</p>
<p>Chế độ cộng sản được thiết lập, do Pol Pot cầm đầu khởi sự một cuộc tàn sát tập thể lớn nhất trong lịch sử nhân loại hậu bán thế kỷ 20: khoảng 1 triệu 7 trăm ngàn người trong 7 triệu người bị giết trong ba năm kế tiếp.</p>
<p><em><strong>Miền</strong></em><strong><em> </em></strong><em><strong>Nam</strong></em></p>
<p>– Từ 21 đến 25-04-1975: Ngày 21-04 tổng thống Thiệu trao quyền cho phó tổng thống Trần Văn Hương.</p>
<p>Ngày 25-04 ông và gia đình cùng các tướng lãnh thân cận (Trần Thiện Khiêm) đáp máy bay quân sự Mỹ qua Ðài Loan.</p>
<p>– 23-04-1975: Tổng thống Trần Văn Hương trao quyền cho tướng Dương Văn Minh, người mà cộng sản nói rằng họ sẵn sàng thương thuyết.</p>
<p>Dương Văn Minh yêu cầu Mỹ rời khỏi Việt Nam trong 24 tiếng đồng hồ.</p>
<p>Cùng ngày cộng sản dùng phi cơ bắt được của VNCH trước đó, do phi công Nguyễn Thành Trung của VNCH theo cộng sản hướng dẫn, oanh tạc phi trường Tân Sơn Nhất.</p>
<p>– 29-04-1975: Mỹ khởi sự Option IV, chiến dịch di tản bằng trực thăng lớn nhất từ trước tới nay. Trong 19 giờ, 81 máy bay trực thăng di tản 1.000 người Mỹ cuối cùng, kể cả đại sứ Graham Martin và 6.000 người Việt ra các tàu ngoài khơi bờ biển Việt Nam.</p>
<p>– 30-04-1975: Cộng sản tiến vào Sài Gòn, xe tăng cộng sản ủi sập cổng dinh Ðộc Lập.</p>
<p>Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố bàn giao chính quyền cho cộng sản nhưng đại diện Bắc Việt đại tá Bùi Tín bác bỏ sự “bàn giao”, chỉ coi như sự đầu hàng vô điều kiện.</p>
<p>Các tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Phạm Văn Phú, Lê Nguyên Vỹ, trung tá cảnh sát Trần Thanh Chiêu, cựu bộ trưởng ngoại giao Trần Chánh Thành… tự vẫn.</p>
<p>Người tị nạn đổ ra biển bằng đủ các loại tàu, thuyền. Tàu Việt Nam Thương Tín chở hơn hai ngàn người tị nạn đang di chuyển trên sông Lòng Tảo thì bị cộng sản pháo kích, nhà văn Chu Tử chết, là một trong những người tị nạn đầu tiên bỏ mình khi chưa ra khỏi đất nước.</p>
<p>&nbsp;</p>
<h2>Vĩnh biệt Dương Kiền</h2>
<p><strong>Nguyễn Đạt</strong></p>
<p>Ngày 17-11-2015. <em>Lòng đau đem lại cái tin cuối mùa.</em> <a href="http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do;jsessionid=C1D19AAE101E632ACB0CF6E55EFEDFA7?action=viewArtwork&amp;artworkId=19359#*"><sup>[*]</sup></a> Tin buồn Phùng Nguyễn <em>Da Màu</em> ra đi còn đậm dư âm, lại thêm tin buồn Dương Kiền <em>Thú đau thương</em> ra đi tiếp nối.</p>
<p>Dương Kiền là bạn của anh tôi (đã mất), nhà khảo luận &#8211; phê bình văn học Nguyễn Nhật Duật. Ông viết những gì quả thật tôi không nhớ rõ, nhưng tôi biết Dương Kiền không phải cây bút loại thường. <em>Thú Đau Thương,</em> một thi tập hay một tác phẩm kịch thơ, nhiều người nhắc nhớ mỗi khi nhắc nhớ Dương Kiền. Ông xuất hiện thường xuyên trên tạp chí <em>Văn Học</em> ở Sài Gòn một thời, và trợ giúp tờ báo này gần như vai trò một chủ bút. Ông là biện lý hay thẩm phán tại Tòa án quân sự ở Nha Trang, trước 30 tháng tư, 1975.</p>
<p>Tuy nhiên tôi lại biết về ông rất nhiều, tôi là bạn cùng khóa 2/69 Trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức với em ông, Dương Phục. Ra trường, Dương Phục làm phóng viên tại Đài phát thanh quân đội ở Sài Gòn. Tôi lặn lội khắp chiến trường Vùng 1 chiến thuật, cuối cùng về Phòng văn nghệ, sát bên Đài phát thanh quân đội. Dương Phục và tôi lại gặp nhau hằng ngày, tôi biết tin về Dương Kiền gián cách, qua Dương Phục. Tôi thấy rõ như sờ nắm được, Dương Kiền và <em>Thú Đau Thương</em> là một, là gắn kết hữu cơ.</p>
<p>Mỗi khi nhắc nhớ Dương Phục, gương mặt Dương Kiền hiển hiện liền theo. Đấy là gương mặt một thi sĩ mà tôi có thể tưởng tượng. Đấy là lần duy nhất tôi gặp ông ở quán cà-phê Hồng trên đường Pasteur, đối diện Viện Pasteur &#8211; Sài Gòn. Ông ngồi trầm lặng, bàn tay nắm chặt ly cà-phê đá; tôi nhớ hoạ phẩm <em>Portrait de Poète Sabartés</em> của Picasso, tôi gọi ông là thi sĩ từ lúc đó.</p>
<p>Từ cuộc đời đau thương của Dương Kiền, tôi nhớ một lần, một lần đầy kịch tính như phim hành động của điện ảnh Hoa Kỳ. Tôi tới quán cà-phê quen thuộc ở góc đường Kỳ Đồng &#8211; Bà Huyện Thanh Quan như thường lệ. Trời chiều sậm màu. Một người khách mang kính đen ngồi bàn bên, mũ vải kéo sụp xuống. Anh ta nhìn sang phía tôi, hỏi nhỏ thì thầm: “Đạt phải không?” Hóa ra Dương Phục. Anh vượt ngục ở vùng Sông Bé, nơi có trại tù sĩ quan học-tập-cải-tạo. Vì thế anh mang kính đen che đôi mắt, đội mũ vải có vành, kéo xuống sát gọng kính. “Moa vượt ngục mà. Đợi thằng NgM. tiễn nó đi chầu Diêm Vương, thằng khốn kiếp nó rù quến&#8230;” Dương Phục nói tên người phụ nữ mà anh bảo là bị NgM. rù quến.</p>
<p>Tôi nhìn thấy con dao găm, là lưỡi lê gắn đầu súng garant, chả hiểu anh kiếm ra nó ở đâu, thọc sâu nó bên hông quần kaki. Tôi toát mồ hôi, dù từng dùng lưỡi lê hơn một lần, khi xáp lá cà với Vixi ở A Sao A Lưới. Tuy nhiên&#8230; tuy nhiên&#8230; “Thằng cha NgM. (đã mất) văn nghệ văn gừng này tôi từng xem là bạn. Một lần khác đi, nếu thấy nhất thiết phải như vậy. Một lần nào cũng được, miễn không phải lần này&#8230;” Tôi nói với Dương Phục như vậy.</p>
<p>Dương Phục uống cạn ly cà-phê đá, lên chuyến xe Traction đen cuối cùng về Biên Hòa. Tôi ngồi lại. Năm mười phút sau NgM. từ bên kia đường bước sang, anh chàng thấy tôi ở quán. Nếu lần nào Dương Phục cũng vì thương anh mình mà “giải quyết vấn đề” như vậy, chắc là anh đã phải đóng phim hành động Hoa Kỳ ít nhất năm bảy lần. Dương Kiền thì đã phổ hết đời mình trong <em>Thú Đau Thương.</em></p>
<p>Hôm nay, tưởng niệm người anh của bạn tôi, người bạn của anh tôi, tôi chẳng đặng đừng nhắc nhớ những chuyện như vậy. Chỉ là những gì tôi muốn quên, và Dương Kiền thì đã quên tất cả rồi.</p>
<p><em>Sài Gòn, 20-11-2015</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>***</strong></p>
<p><strong>Phụ đính II :</strong></p>
<p>Gia đình chúng tôi đau đớn kính khấp báo cùng quý thân bằng quyến thuộc và bạn hữu xa gần: Con rể &#8211; Chồng &#8211; Cha &#8211; Ông nội &#8211; Em &#8211; Anh &#8211; Chú &#8211; Bác của chúng tôi là: <strong>Cụ ông cố luật sư &#8211; nhà văn Dương Kiền &#8211; Pháp danh: Thiện Giác</strong><strong>,</strong> Sinh ngày 28 tháng 12 năm 1939 . Nguyên quán: Huế -Việt Nam.</p>
<p>Đã từ trần lúc 10:50 giờ &#8211; Ngày 17 Tháng 11 Năm 2015<br />
(tức nhằm ngày 06 tháng 10 năm Ất Mùi). Tại Tỉnh BERGEN- NaUy<br />
Hưởng Thọ: 76 tuổi ( 77 tuổi Âm lịch).</p>
<p><strong>Chương trình Tang lễ:</strong><br />
Theo nghi thức Phật giáo &#8211; Tại Nhà Quàn Store Kapell MØLLENDAL.<br />
Địa chỉ: MØLLENDALSVEIEN 56B – 5009 BERGEN<br />
Nghi lễ cử hành vào ngày thứ ba, 24 Tháng 11 Năm 2015 . Lúc 13 giờ.</p>
<p><strong>Tang gia Đồng Khấp báo:</strong><br />
Nhạc mẫu: Nhà văn Nguyễn Thị Vinh<br />
Vợ: Trương kim Anh.<br />
Trưởng nam: Dương Kim &#8211; Vợ và hai con.<br />
Thứ nam: Dương Khoa &#8211; Vợ và hai con.<br />
Thứ nam: Dương Khanh &#8211; Vợ và ba con.<br />
Thứ nam: Dương Kha.</p>
<p>Anh: Bà quả phụ Dương Lân và các con.<br />
Anh: Dương Hùng &#8211; Vợ và các con.<br />
Anh: Dương Bào &#8211; Vợ và các con.<br />
Anh: Bà quả phụ Dương Cự và các con.<br />
Em: Dương Phục &#8211; Vợ và các con.</p>
<p>Cáo phó này thay thế thiệp tang &#8211; T<strong>ang gia xin miễn phúng điếu Các loại hoa &#8211; Vòng hoa&#8230; Mọi tiền bạc đóng góp, thể theo di nguyện của Người quá cố, xin được cúng dường tất cả vào việc xây chùa Pháp Vũ, tỉnh Bergen, NaUy.</strong></p>
<p><strong>&amp;&amp;&amp;</strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p>Gió O nhận được hai bài viết dưới đây từ ái nữ nhà văn Nguyễn Thị Vinh,  của cây bút Trương Thị Kim Anh. Hai bài viết có liên quan đến tranh ảnh của cố nhà văn Nhất Linh.  Bài viết của hai tác gỉa Trương Thị Kim Anh và Đỗ Hoàng Gia phản ánh quan điểm của các tác giả, không phải của Gió O. Gió O chỉ cung cấp diễn đàn.</p>
<h3>Tưởng nhớ về: Nhất Linh !</h3>
<p><strong>Trương Kim Anh</strong></p>
<p>Nhất Linh (nhóm Tự Lực Văn Đoàn, 1906-1963) qua nét vẽ của họa sĩ <em>Nguyễn Gia Trí</em></p>
<p>***</p>
<p><strong>Đôi nét về Trương Kim Anh:</strong></p>
<p>Sinh 1946, tại Hà Nội, là ái nữ của nhà báo kiêm dịch giả Trương Bảo Sơn và nhà văn Nguyễn Thị Vinh.</p>
<p>Năm 1953 theo cha mẹ di cư vào Nam. Trương Kim Anh lớn lên, đi học, lập gia đình ở Sài Gòn.</p>
<p>Năm 1967-1974 theo chồng sống tại Nha Trang .</p>
<p>Năm 1980 đã cùng chồng và con vượt biên tìm Tự Do. Ðịnh cư tại Na Uy.</p>
<p>Trưong Kim Anh bút hiệu Bạch LiênTrưong Kim Anh, là dịch giả của m ột số truyện Dân Gian Na Uy của hai nhà văn nổi tiếng Peter Christen Asbjørnsen và Jørgen Moe; Căn Nhà Búp Bê của kịch tác gia Henrik Johan Ibsen …</p>
<p>Trương Kim Anh</p>
<p>(Nguyễn Trung 1988)</p>
<p>***</p>
<p>Một hôm nhà văn Nhất Linh, mà từ năm tôi mới hai tuổi vẫn quen được phép gọi là bác Tam, đến thăm gia đình tôi, tại nhà in Trường Sơn, số 14 Nguyễn An Ninh ( cửa Tây, chợ Sài Gòn )</p>
<p>Giống như mọi lần, tôi chạy tới quấn quýt bên bác, định đem sáo trúc thổi cho bác nghe, hay dạo khúc đàn tranh mới học được ở trường Quốc Gia Âm Nhạc. Nhưng chưa kịp làm thì đã bị mẹ bảo:&#8221;Kim Anh, con hãy đi chơi, để mẹ nói chuyện với bác.&#8221; Nhìn nét mặt mẹ và bác có vẻ quan trọng ! Tôi không dám hỏi, nhưng trong lòng không vui, phụng phịu đi ra khỏi phòng khách, chạy qua nhà hàng xóm đối diện, chơi với Thúy, con gái ông chủ tiệm Trần Văn Phép.</p>
<p>Mãi sau này, tôi mới biết, chuyện quan trọng đó là: Bác Tam nhận được trát đòi &#8220;ra hầu tòa&#8221; cùng với một số bạn chiến đấu của bác; trong đó có ba tôi, &#8220;ông Trương Bảo Sơn&#8221;, lúc ấy đang bị chính quyền Ngô Ðình Diệm giam tại Tổng Nha Công An, cùng với một số chính trị khác.</p>
<p>Khoảng một tiếng sau, từ trên cửa sổ nhà Thúy nhìn xuống cửa nhà mình, tôi thấy bác Tam đang từ giã mẹ tôi. Bác bước khỏi ngưỡng cửa, ra tới lề đường, dáng cao lêu nghêu. Theo thói quen, bác để tay lên rờ rờ vầng trán cao, mắt ngó xung quanh như tìm một cái gì … Sau này, tôi đoán bác có ý tìm tôi, nhưng lúc đó tôi đang hờn dỗi vì bị đuổi &#8220;đi chơi&#8221;, nên tôi không chạy xuống tiễn bác. Không ngờ đó lại là hình ảnh cuối cùng mà tôi được thấy bác, tới nay vẫn còn hằn ghi trong trí tôi !!! Tôi hối hận vô cùng, đã không xuống chào bác để được nghe những lời thân yêu cuối của bác.</p>
<p>Tảng sáng, ngày Song Thất, tức ngày 7 tháng 7 năm 1963, cả nhà tôi còn đang ngủ ở từng lầu hai; bỗng tiếng chuông cửa dồn dập, thôi thúc ! Mẹ hốt hoảng chạy xuống , tôi cũng ngồi bật dậy, theo mẹ và chú tôi, xuống nhà dưới. Cửa mở, tôi thấy anh Nguyễn Tường Thiết, con trai út của bác. Anh Thiết thì thầm nói với mẹ tôi vài câu, rồi vội vã đi. Tôi linh cảm có chuyện bất thường. Mẹ và chú tôi quay trở lên lầu, hớt hãi, giục: &#8220;Kim Anh thay quần áo nhanh lên! Ði với mẹ!&#8221;. Tôi quýnh quáng, im lặng làm theo lời mẹ, lát sau cùng mẹ và chú ra xe. Chú lái đi. Ai cũng ngồi lặng im, đầy vẻ lo lắng, bồn chồn. Không khí nghiêm trọng đến nỗi, suốt dọc đường, tôi không dám hỏi một câu.</p>
<p>Tới nhà thương Grall, tức bệnh viện Ðồn Ðất, Sài Gòn. Khu vườn rộng mênh mông với những hàng cây to, được chia làm nhiều khu bệnh. Chúng tôi vẫn không ai lên tiếng. Mẹ và chú tôi hấp tấp đi về hướng một trong mấy dẫy lầu. Cho tới khi vào đến trong hành lang, chú tôi mới nói:&#8221; Ðúng là đây này, trên lầu; số phòng … đây, đây rồi !&#8221; Tôi vẫn chỉ biết bén gót đi theo hai người. Sau này, mãi tới nay, tôi còn nhớ như in:</p>
<p>Từ cầu thang lên lầu, dẫn thẳng đến phòng bệnh nhân. Trong phòng lúc đó, bác Tam đang nằm mê man trên giường. Từ ngực trở lên được phủ một &#8220;túp lều&#8221; ny lông trong suốt (cứ tạm gọi như thế), mũi miệng bị chụp ống dẫn khí. Giờ phút này, tôi mới hiểu lý do giữa đêm hôm khuya khoắt, tại sao mẹ và chú dẫn mình tới đây. Trong phòng lúc đó chỉ có mấy người trong gia đình, đứng yên lặng. Nét mặt căng thẳng, đầy vẻ lo lắng, chờ đợi. Cảm nhận được tình trạng nghiêm trọng , tôi đứng sát bên giường, nhìn bác nằm đó, khẽ nắm bàn tay bác. Nước mắt tôi tuôn trào, lòng đầy hối hận:&#8221;Giá như mấy ngày trước, mình đừng hờn dỗi …&#8221;</p>
<p>Hôm sau, tin bác mất được truyền tới mọi người! Bác đã tính kỹ cho cái chết của mình được mau lẹ, nên tự uống một chất độc gì đó cực mạnh, các bác sỹ đã tận tình cứu chữa, nhưng không kịp.</p>
<p>Hai ngày sau, mẹ tôi đã dặn tôi đem ống sáo trúc, theo mẹ vào nhà xác, vĩnh biệt bác! Lúc đó, tâm trạng tôi tràn đầy đau thương, mọi cảnh vật xung quanh được thu nhỏ lại trong mắt tôi, vỏn vẹn một chiếc giường đơn, vừa đủ cho bác nằm ngay ngắn, bất động. Nét mặt bình thản trong giấc ngủ ngàn thu. Tôn trọng giây phút cuối thiêng liêng, ông &#8220;gac dan&#8221; lặng lẽ lui ra khỏi phòng. Còn lại mẹ và tôi đứng bên cạnh bác. Mặc cho nước mắt ràn rụa chảy, tôi lấy tay áo chặn ngang mũi, ngăn chặn tiếng sụt sịt. Mẹ tôi cũng đang thì thầm những lời vĩnh biệt, ngập trong nước mắt.</p>
<p>Sau một lúc, mẹ bảo tôi lấy sáo trúc ra thổi một bản tiễn bác. Tôi gạt nước mắt, đưa ống sáo ngang miệng, chọn bản &#8221; Thiên Thai&#8221; của Văn Cao&amp;Hoàng Thái, bản mà bác thường bảo tôi thổi mỗi lần bác đến nhà chúng tôi. Tiếng sáo u uẩn vang trong nhà xác, lạnh lẽo. Nhưng chỉ được nửa bản, tiếng sáo ngưng trong tiếng nấc nghẹn ngào; âm thanh như đọng lại trong không gian, tiễn đưa hương linh bác về nơi vĩnh cửu.</p>
<p>Trong tang lễ bác, có cả ngàn người tiễn đưa. Dẫn đầu đám táng là một tấm biểu ngữ ghi lời di chúc của bác &#8220;Ðời tôi để lịch sử xử …&#8221;. Khởi điểm từ nhà thương Grall. Tới chùa Xá Lợi, đám tang ngưng lại. Linh cửu bác được rước vào chùa đặt trước chánh điện, các thầy tụng kinh, làm lễ. Gia đình, bạn hữu và những người mến mộ bác lần lượt nối nhau vào lễ. Xong mọi nghi thức, đám tang tiếp tục đi tới nghĩa trang Hạnh Thông Tây, quận Gò Vấp, tỉnh Gia Ðịnh.</p>
<p>Tôi được chít khăn tang trắng, để tang bác, vì lúc sinh thời bác coi tôi như con như cháu. Có thời kỳ, thấy tôi và Nguyễn Tường Thiết thân nhau, hai bác từng ngỏ ý xin tôi về làm dâu. Việc không thành vì tôi đang là là một nữ sinh đệ nhị cấp với nhiều mơ mộng. Về sau, tôi và anh Thiết cũng không có nhân duyên.</p>
<p>Năm 1945, Việt Minh nổi lên cướp chính quyền Hà Nội, tiêu diệt các đảng phái Quốc Gia. Bác Tam cùng một số bạn đồng chí hướng, chạy qua Thượng Hải sống lưu vong, trên một ngọn núi, cách trung tâm thành phố độ một giờ xe điện.</p>
<p>Năm 1946, khi tôi mới chào đời, ba tôi qua Thượng Hải gặp bác Tam, để mẹ tôi cùng đứa con sơ sinh ở lại Hà Nội.</p>
<p>Qua năm 1948, mẹ tôi mới bế tôi qua với ba, lúc đó đang ở Hương Cảng. Ðó cũng là lần đầu tiên, mẹ và &#8220;bé Kim Anh&#8221; mới được hân hạnh quen biết bác Nguyễn Tường Tam cùng mấy bạn đồng chí hướng.</p>
<p>Từ năm 1948 tới năm 1952, thời gian mẹ tôi và tôi ở Hương Cảng &#8220;trên núi&#8221; , tôi còn bé quá, không nhớ được những kỷ niệm thương yêu của bác Tam, cũng như của các chú các bác Nguyễn Gia Trí, Phan Quang Ðáng, Trần Văn Tuyên …, đã dành cho tôi. Tôi từng nghe mẹ kể, hồi dó các chú các bác đều mang một nỗi buồn chung, nghe tin các chiến hữu như Khái Hưng bị thủ tiêu và Hoàng Ðạo Nguyễn Tường Long bị bất đắc kỳ tử trên một chuyến tầu hỏa Hồng Kông-Quảng Châu.</p>
<p>Theo thời gian, lần lượt mọi ngừời đều kiếm ra được việc làm, sinh sống qua ngày. Ba tôi được tuyển vào một công ty hàng hải của Hòa Lan. Một đứa bé hai tuổi vô tư như tôi, đang bi bô tập nói, chỉ biết chập chững, quanh quẩn bên cạnh các chú các bác. Bác Tam thường bế tôi, tập tôi nói cho bớt ngọng; bác Trí chiều chuộng, cho tôi nghịch những sơn cọ vẽ. Tiếng cười của trẻ thơ, hòa tiếng cười của người lớn, khiến mọi người đôi lúc khuây khỏa nỗi buồn.</p>
<p>Tôi vẫn nhớ rõ những kỷ niệm, giòng suối Ða Mê, thuộc vùng Fin-Nom, cách cao nguyên Ðà Lạt hai mươi sáu cây số :</p>
<p>Tỉnh Fin-Nom, bên suối Ða Mê, bác ở trong căn nhà gỗ, không lớn, nhưng ngăn nắp, đồ đạt đơn sơ (nhà ông cậu của bác). Trong nhà có đến mười mấy loại Lan rừng, được sưu tầm. Dạo đó tôi mười tuổi, còn nhớ những buổi được theo bác cùng với mấy ông bạn của bác vào rừng kiếm hoa phong lan bám trên những ngọn cây cao vút.</p>
<p>Mỗi lần chúng tôi từ Sài Gòn lên thăm bác, đều được bác đưa ra thăm suối, ngồi trò chuyện ngay sát ven bờ suối. Ðể đãi khách, bác kéo từ dưới suối lên một sợi dây có cột chếc giỏ, chứa vài ba chai bia &#8220;33&#8221; được ướp lạnh sâu dưới lòng suối. Trong lúc người lớn chuyện trò, tôi mặc bộ đồng phục thể dục của trường tiểu học: chiếc quần bồng mầu xanh dương và áo trắng tay bồng sát nách, tung tăng ngâm mình dưới lòng Ða Mê mát lạnh, tay vuốt ve những cánh hoa xinh xinh tím đỏ, mọc trên những tảng đá giữa dòng nước trong suốt, hồn chơi vơi trong tiếng kèn clarinet của bác, vọng lên bản Limelight của Chopin, Changing partner hay I went to your wedding, tôi quên tên tác giả, nhưng thời đó bản nhạc được nổi tiếng qua giọng nữ ca sỹ Paty Page, ..v..v..</p>
<p>Bên dòng suối Ða Mê, trong một buổi chia tay với ba mẹ tôi, bác đã làm hai câu thơ :</p>
<p><em>&#8220;Người đi đi mãi không về</em></p>
<p><em>Nhớ người lòng suối Ða Mê gợn buồn&#8221;</em></p>
<p>Không ngờ sau này, hai câu thơ chính là điềm báo ứng với vệc bác vĩnh viễn ra đi, vào ngày Song Thất, mồng 7 tháng 7 năm 1963 !</p>
<p>Nhờ bác Tam, mà tôi đã được hưởng những cảnh thiên nhiên bên suối Ða Mê, mùi hương phong lan thoảng thoảng lẫn mùi nhựa thông trong rừng. Thật là những kỷ niệm đẹp khó phai mờ !</p>
<p>Tôi cũng còn giữ được hai tấm ảnh, có hình bác Tam đang bế tôi trên lòng, ngồi bên cạnh một cái bàn, sau lưng là ba mẹ tôi, tức dịch giả Trương Bảo Sơn và nhà văn Nguyễn Thị Vinh, đứng bên cạnh là cố họa sỹ Nguyễn Gia Trí. Theo lời ba mẹ tôi kể, mấy tấm ảnh này đã được chụp vào năm 1953, tôi độ bẩy tuổi. Hồi đó, bác Nguyễn Gia Trí bị thực dân Pháp an trí tại Thủ Ðầu Một, trong một garage của xưởng mỹ nghệ sơn mài.</p>
<p>Tôi còn nhớ, năm 1960, dưới chính quền Ngô Ðình Diệm, tôi đã được mười bốn tuổi. Thời đó ba tôi cùng một số bạn chiến đấu của bác Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, bị mật vụ Ngô Ðình Diệm bắt bớ tra tấn, rồi đem đầy ra Côn Ðảo. Riêng bác phải ẩn trốn trên chung cư lầu ba, số 134/24 đường Lê Thánh Tôn, góc đường Phan Bội Châu (cửa Bắc chợ Bến Thành). Chung cư này có khoảng ba chục căn, mỗi căn rộng khoảng ba chục thước vuông, tôi nhớ hình như cứ 4-5 căn dùng chung một phòng tắm và cầu tiêu ngay đối diện, nên giữ được vệ sinh chung sạch sẽ. Căn phòng bác ở có cửa sổ ngó bao quát xuống khu chợ Sài Gòn, góc đường Lê Thánh Tôn-Phan Bội Châu, khu bán tơ lụa. Bác ở chung với anh Nguyễn. Ð.N, anh con cô con cậu của tôi. Ngày nay tôi còn nhớ rõ khá tỷ mỷ chung cư này, cũng nhờ hồi đó đại gia đình bà dì tôi đã ở tại đây, cũng chính dì tôi đã giới thiệu bác Tam thuê phòng số 24. Hiện nay dì tôi đang sống tại tiểu bang LA (USA), khoảng hai mươi năm qua, Người đã trở thành một vi sư ni, ngoài tám mươi. Khoảng một năm sau, để khỏi lộ tung tích, bác dọn tới một địa chỉ khác, tôi cũng được phép tới lui thăm bác, rất tiếc tôi không còn nhớ chủ nhà là ai, để hỏi ghi lại địa chỉ trong bài viết này.</p>
<p>Có lẽ thấy tôi ít nói và kín đáo, nên bác tin cẩn và cho phép tôi thường xuyên theo người thân tín tới thăm bác trong căn nhà đó. Tôi thích xem bác vẽ những bức tranh khổ nhỏ cỡ khoảng 15&#215;18 cm, bằng chì màu. Có lần bác tỷ mỷ ngồi cắt những bông hoa bằng giấy thủ công màu, tô điểm thêm cho bức họa, vẽ một bình hoa với những bông hoa xinh xinh. Tôi thích thú khen đẹp, bác lặng lẽ mỉm cười. Bức tranh hoàn tất vào đầu Xuân năm đó, tôi vui mừng được bác tặng đúng bức tranh hoa rực rỡ. Xúc động hơn nữa, bên phải bức tranh bác vẽ thêm tập bản thảo truyện dài &#8220;Cô Mai&#8221; của mẹ tôi sắp xuất bản; bên trái kèm hai câu thơ:</p>
<p><em>&#8220;Ngày Xuân tặng cháu bó hoa,</em></p>
<p><em>Xuân này chúc cháu toàn gia sum vầy&#8221;.</em></p>
<p>chứng tỏ bác luôn luôn nghĩ tới ba tôi cùng các bạn đồng chí hướng, bị nhốt ngoài Côn Ðảo.</p>
<p>Và trong một bức vẽ tấm chăn len, ghi bốn câu thơ:</p>
<p><em>&#8220;Một tấm chăn len khám Chí Hòa</em></p>
<p><em>Ấy ai vượt ngục mới đem ra</em></p>
<p><em>Tù nhân tặng kẻ chùm chăn kín</em></p>
<p><em>Tuy mỏng nhưng mà cũng ấm da!&#8221;</em></p>
<p>để nhớ đến một số bạn chiến đấu, đang bị giam trong khám Chí Hòa. Ðáng buồn thay, lúc bấy giờ lại có những kẻ &#8220;chùm chăn kín&#8221; thờ ơ đứng ngoài thế sự, Nhất Linh đã mỉa mai &#8220;Tuy mỏng nhưng mà cũng ấm da&#8221;, cứ ngoảnh mặt làm ngơ &#8220;chùm chăn&#8221; thì cũng đủ vinh thân phì da rồi!</p>
<p>Năm 1961, tôi khoe bác một tấm ảnh tôi đang ngồi thổi sáo, do nhiếp ảnh Mạnh Ðan chụp. Không ngờ tấm ảnh này đã gợi ý cho bác họa một thiếu nữ ngồi thổi sáo dưới gốc thông. Hai bên tranh ghi mấy chữ Nho: Nhất Linh-Tặng Kim Anh-Ất Sửu 1961.</p>
<p>Suốt gần bốn mươi năm, những bức vẽ quý giá đó vẫn được tôi lưu giữ trong cuốn Lưu Bút, gồm những hình ảnh và bút ký của một số nhà văn miền Nam Việt Nam. Trang đầu là di ảnh và chữ ký của bác Nhất Linh Nguyễn Tường Tam vào năm 1960.</p>
<p>Từ ngày Song Thất mồng bảy tháng bảy 1963 đến nay, lại đến ngày Song Thất của năm 2002. Ðã ba mươi chín năm trôi qua, nhưng những kỷ niệm của nhà văn Nhất Linh (bác Tam của tôi) vẫn ghi đậm trong trí nhớ tôi. Tôi ghi lại đôi giòng trên đây, như một nén tâm hương, để kính dâng lên bác.</p>
<p>Oslo tháng bẩy 2002</p>
<h2>Một lần rồi thôi</h2>
<p><strong>Đỗ Hoàng Gia</strong></p>
<p>”Em tin trên trước hết, em y như anh, là một con người, và ít nhất em cũng cố gắng trở nên một con người…”.</p>
<p>(Căn Nhà Búp Bê của văn hào Na Uy, Henrik Johan Ibsen,</p>
<p>dịch giả Bạch Liên Trương Kim Anh)<em>.</em></p>
<p>***</p>
<p>Cách đây không lâu, tôi viết bài Chính Danh, liên quan đến mấy bức tranh của nhà văn Nhất Linh. Sau đó, thi sĩ Nguyễn Hữu Nhật đã có nhã ý trả lời qua email riêng.</p>
<p>Nhận thấy, nội dung trả lời của thi sĩ NHN vẫn chưa hết ý, nên tôi đã phải mất công tìm cho được cô cháu cưng của bác Tam để hỏi cho ra nhẽ. Bài này gồm có 3 phần chính. Phần thứ nhất, Chính Danh. Đây là bài Chính Danh cũ đã được thu ngắn để bạn đọc mới tiện theo dõi, dù có thể gây một sự khó chịu cho những vị đã đọc rồi. Đỗ Hoàng Gia xin được tạ lỗi về sự nhàm chán này. Phần thứ hai, phỏng vấn Bạch Liên Trương Kim Anh. Phần thứ ba, Trả Nghiệp.</p>
<h1>Phần I : Chính danh</h1>
<p>Vừa rồi tôi có cơ duyên đọc một số bài viết rất có giá trị về nhà văn Nhất Linh, trên tờ Thế Kỷ 21, tháng 7, 2002, nhân số tưởng niệm Nhất Linh. Riêng bài viết của Trương Kim Anh trên Thế Kỷ 21, tháng 7-2002, về một vài bức tranh của Nhất Linh, làm tôi đã ngạc nhiên. Đó là lý do chính của bài viết này. Xin được hầu chuyện.</p>
<p>Theo các bài viết trên Thế Kỷ 21, tháng 7, 2002, Nhất Linh vẽ không nhiều. Vẽ tranh, có lẽ là cái thú tiêu khiển của ông. Trong các tranh, có hai bức mà tôi muốn đề cập. Đó là bức thiếu nữ thổi sáo và và bức tranh vẽ bình hoa. Cả hai bức này đều được công bố lại trên tờ Thế Kỷ 21, bên cạnh bài viết Tưởng Nhớ Về Nhất Linh của Trương Kim Anh, con gái nhà báo Trương Bảo Sơn và nhà văn Nguyễn Thị Vinh. Theo Trương Kim Anh, cả hai bức tranh bức đều do Nhất Linh vẽ để tặng riêng cháu gái của bác Tam. Cả hai đều không có tựa đề (title), ngoài mấy dòng tặng cô cháu.</p>
<p>Bức tranh vẽ bình hoa, bác Tam tặng cháu Kim Anh vào dịp tết Tân Sửu 1961, khi ông Trương Bảo Sơn còn ở tù ngoài Côn Đảo. Trong tranh, ngoài bình hoa, Trương Kim Anh cho biết ”<em>bác còn vẽ thêm cuốn truyện dài Cô Mai của mẹ tôi sắp xuất bản, bên trái kèm hai câu thơ : Ngày Xuân tặng cháu bó hoa, Xuân này chúc cháu toàn gia sum vầ<strong>y</strong></em>”.</p>
<p>Bức thiếu nữ thổi sáo dưới gốc thông ghi mấy chữ Nho, <em>tặng Kim Anh, Nhất Linh. Năm Ất Sửu</em>. Chị Kim Anh cho biết thêm chị học thổi sáo, đàn tranh trường Quốc Gia Âm Nhạc và chính chị thổi bài Thiên Thai nghẹn ngào tiễn bác Tam tại nhà xác bệnh viện Grall.</p>
<p>Trương Kim Anh cho biết chị vẫn còn giữ hai bức tranh trên và nhiều hình ảnh bút ký về bác Tam suốt hơn 40 năm qua.</p>
<p>Thế nhưng trước đó vào năm 2001, tôi đã có thấy hai bức tranh này trong cuốn thơ Cõi Tạm của nhà văn Nguyển Thi Vinh, do nhà xuất bản Anh Em tại Oslo, Na Uy. Người trình bày cuốn thơ là Nguyễn Hữu Nhật. Lạ lùng thay, trong Cõi Tạm, hai bức tranh đó lại được Nguyễn Hữu Nhật trình bày và chú thích khác, trái hẳn với chi tiết của Trương Kim Anh tiết lộ ở trên.</p>
<p>Đây là những sự kiện văn học, cần phải được chính danh. Cụ thể và chính xác.</p>
<p>Sự kiện 1. Theo cách trình bày của ông Nhật, bức tranh có tên là Tiếng Sáo<strong>,</strong> do Bạch Liên Trương Kim Anh sưu tập (Cõi Tạm, phụ bản trang 71). Nhưng qua bài Tưởng Nhớ Về Nhất Linh, chị Kim Anh cho biết rõ, bức tranh không có tên và được chính bác Tam đích thân tặng riêng chứ chị không sưu tập ở đâu cả.</p>
<p>Sự kiện 2. Cũng theo cách trình bày của ông Nhật, bức tranh có tên Hoa Bất Tử, Nguyễn Tường Tam vẽ cho truyện dài của Cô Mai của Nguyễn Thị Vinh, (Cõi Tạm, phụ bản trang 128). Nhưng qua bài viết của mình, Kim Anh cho biết rõ, bức tranh không có tên và vẽ tặng riêng cho cháu Kim Anh, không hề có ý vẽ cho truyện dài Cô Mai.</p>
<p>Trước những hoả mù trên, chúng ta tin ai ? Xin bàn để rộng ý.</p>
<p>Ông Nguyễn Hữu Nhật là nhà thơ, có nhiều tác phẩm đã xuất bản. Thi sĩ là người xuất hiện thường xuyên trong sinh hoạt báo chí hải ngoại. Thi sĩ đã từng đoạt giải Văn Học Nghệ Thuật của Mặt Trận Hoàng Cơ Minh. Ông cũng là tác giả các loạt bài Chém Đá trên Làng Văn gây ồn ào một dạo. Thi sĩ lại càng không phải là người xa lạ chi với cô cháu gái Trương Kim Anh của bác Tam. Chẳng lẽ nào lại tam sao thất bản được ?</p>
<p>Nhưng tôi tin cô cháu gái của bác Tam trình bày trung thực hơn. Nói khác đi, những chi tiết về hai bức tranh trong bài viết của Kim Anh mang tính cách khả tín và thuyết phục hơn vì chính chị là người trong cuộc.</p>
<p>Viết sai, vô tình hay cố tình bóp méo những sự kiện văn học là hành vi đáng trách.</p>
<p>Tự tiện đặt tên tác phẩm của người khác là việc làm rất kém văn hóa. Riêng đối với người đã mất, đó là một hành vi khuất tất và bất xứng.</p>
<p>Chị Trương Kim Anh đã có bài rõ ràng và chi tiết. Tôi mong thi sĩ Nguyễn Hữu Nhật lên tiếng. Một lần cho xong. Đó vừa là trách nhiệm. Và vừa là sự lương thiện cần thiết.</p>
<p><strong>Phần II : </strong><strong>Phỏng vấn</strong></p>
<p><em>Sau khi bài Chính Danh trên được tung ra dư luận, qua báo và trên xa lộ internet, chúng tôi đã nhận được nhiều phản ứng khác nhau khắp nơi. Đặc biệt thi sĩ Nguyễn Hữu Nhật, ngày 17.08.2003, qua email đã hồi âm cho tôi (ĐHG). Nội dung hồi âm có 3 điểm chính như sau:</em></p>
<ol>
<li><em>Thi sĩ Nguyễn Hữu Nhật xác nhận những chi tiết và nghi vấn ĐHG đưa ra là chính xác. Nói khác đi, sự kiện hai bức tranh của Nhất Linh mà Bạch Liên Trương Kim Anh đưa ra trong bài Tưởng Nhớ Về Nhất Linh đăng trên Thế Kỷ tháng 7/2002 là xác tín</em><em>.</em></li>
</ol>
<ol start="2">
<li><em>Tuy nhiên, thi sĩ Nguyễn Hữu Nhật giải thích rằng trách nhiệm cuối cùng thuộc về tác giả của tác phẩm. Trong trường hợp này, trách nhiệm thuộc về nhà văn Nguyễn Thị Vinh, tác giả tập thơ Cõi Tạm. Ông Nhật chỉ là người trình bày, lay-out bản vẽ mà thôi</em><em>.</em></li>
</ol>
<ol start="3">
<li><em>Vì lý do tình cảm, ông Nhật cho biết sẽ không lên tiếng trả lời trước dư luận dù Đỗ Hoàng Gia (ĐHG) đề nghị trực tiếp riêng ông, có gì sai trái hay oan trái, xin công khai cho rõ ràng</em><em>.</em></li>
</ol>
<p><em>Để vấn đề được sáng tỏ trước dư luận, chúng tôi đã may mắn liên lạc được với chị Trương Kim Anh (TKA) và đã được chị dành cho cuộc phỏng vấn qua email ngày 8/9-2003 như sau.</em></p>
<p><em>Trước hết, chúng tôi xin được giới thiệu đôi nét về chị Trương Kim Anh. Chị Kim Anh, sinh năm 1946 tại Hà Nội, là ái nữ của nhà báo Trương Bảo Sơn và nhà văn Nguyễn Thị Vinh. Chị và gia đình định cư tại Na Uy từ 1980. Chị Kim Anh, với bút hiệu Bạch Liên Trương Kim Anh, cũng là dịch giả của một số truyện cổ Dân Gian Na Uy của hai nhà văn nổi tiếng Peter Christen Asbjørnsen và Jørgen Moe</em><em>,</em><em> Căn Nhà Búp Bê của văn hào Henrik Johan Ibsen…</em></p>
<p>****</p>
<p><em>ĐHG. Xin chào chị Kim Anh. </em><em>Xin chị xác định một lần nữa : chị còn giữ hai bức tranh gốc này không ? </em><em>Ngoài ra chị còn giữ bao nhiêu bức tranh gốc của Nhất Linh ? Bao nhiêu tấm đã công bố ?</em></p>
<p>TKA: Thưa anh, tôi còn giữ hai bức tranh gốc này. Tôi có tất cả tám bức tranh gốc của Nhất Linh, được vẽ từ năm 1946-1961. Thế Kỷ 21 số đăc biệt Tưởng niệm Nhất Linh 7/7-2002 đã đăng ba bức: hình bìa tranh phong lan &#8211; trang 59 bức vẽ thiếu nữ thổi sáo &#8211; trang 61 bức vẽ bình hoa &#8211; cùng những hình ảnh đặc biệt. Thế Kỷ 21 số 7/7-2003 đăng hình bìa bức vẽ quả Lựu.</p>
<p>Theo tôi được biết tất cả tám bức tranh này và một số hình ảnh liên quan tới Nhất Linh do tôi cung cấp, đăng trong tuyển tập NHẤT LINH-NGƯỜI NGHỆ SỸ-NGƯỜI CHIẾN SỸ sẽ phát hành vào khoảng tháng 10 hay 11 cuối năm nay.</p>
<p><em>ĐHG : Nếu là của riêng chị, vậy chị đưa cho ai chụp lại, cho vào phụ bản tập thơ Cõi Tạm ? Chị tự ý cho muợn ?</em></p>
<p>TKA: Gần năm mươi năm qua- coi như nửa thế kỷ, tất cả những bức tranh và những hình ảnh của Nhất Linh đã được tôi trân quý gìn giữ, có bốn bức tranh được tôi lưu trữ trong quyển Lưu Bút kỷ niệm các nhà văn, tôi khởi sự sưu tập từ thập niên 60, gồm có chân dung và chữ ký của một số nhà văn miền Nam Việt Nam mà tôi quý trọng, như chân dung và chữ ký của nhà văn Võ Phiến, Nguyễn Thuỵ Long, Huy Tưởng, Lê Tất Ðiều, ..v..v.., có vài người đã lần lươt ra đi như cố văn hào Nhất Linh, cố thi sỹ Tuệ Mai, cố thi sỹ Vũ Hoàng Chương, cố kịch tác gia Vy Huyền Ðắc, cố họa sỹ Tá Chi Trương Cam Khải, cố dịch giả Phạm Lệ Oanh…</p>
<p>Tôi thường đem quyển Lưu Bút này ra khoe bạn bè, cùng nhau nhớ lại những kỷ niệm và quá trình hoạt động của các nhà văn năm xưa. Tôi sẵn sàng tặng bản copy cho bạn nào muốn có, với lời yêu cầu là nếu không có sự chấp thuận của tôi thì không được công bố trên sách báo, mọi người đều tôn trọng lời yêu cầu của tôi. Riêng nhà thơ Nguyễn Hữu Nhật được tôi đồng ý cho thu nguyên quyển Lưu Bút vào máy vi tính của riêng ông.</p>
<p>Có ba bức tranh chứ không phải hai bức đã được dùng làm phụ bản trong tập thơ CÕI TẠM của nhà văn Nguyễn Thị Vinh (Tấm chăn len, trang 11; Thiếu nữ thổi sáo, trang 71; Bình hoa, trang 128) rất tiếc ông NHN đã không thông báo cho tôi biết trước khi dùng những tài liệu riêng tư này.</p>
<p><em>ĐHG: Trước khi viết bài Thương Nhớ Về Nhất Linh, chị có biết những chi tiết sai lầm trong cuốn Cõi Tạm không ?</em></p>
<p>TKA: Thưa anh, chính vì biết ba phụ bản tranh vẽ của NL bị ghi chú sai, nên khi viết bài TƯỞNG NHỚ VỀ NHẤT LINH, tôi đã nêu rõ trong hoàn cảnh nào NL đã vẽ ba bức tranh đó .</p>
<p>Tháng 7 năm 2001, một hôm tôi đến thăm mẹ tôi, đúng dịp nhà thơ Nguyễn Hữu Nhật mang một thùng sách từ nhà in về, trong thùng có mấy chục tập thơ CÕI TẠM của Nguyễn Thị Vinh. Số còn lại để ở nhà in, ông chỉ đem một thùng này về, để mừng sinh nhật của bà Nguyễn Thị Vinh &#8211; ông NHN giải thích, trong sự vui mừng xen lẫn ngạc nhiên của mẹ tôi ! Mẹ tôi ngạc nhiên, không ngờ CÕI TẠM lại xong sớm hơn dự tính, coi như món quà &#8220;bất ngờ&#8221; tặng mẹ tôi nhân dịp sinh nhật thứ 78.</p>
<p>Mẹ tôi lần lượt ký tặng ông NHN và tôi, tập thơ còn thơm mùi mực.Tôi không đọc ngay, đợi đem về nhà, có thì giờ thoải mái hơn.</p>
<p>Ở đây, tôi chỉ xin nhắc tới ba bức tranh vẽ của Nhất Linh được dùng làm phụ bản trong CÕI TẠM, tôi rất ngạc nhiên, đặc biệt bức thiếu nữ thổi sáo và bức bình hoa mà bác NL đã vẽ riêng tặng tôi. Mỗi khi ngắm nhìn hai bức tranh với bao kỷ niệm, tôi có cảm giác như bác Tam của tôi vẫn còn sống và tôi vẫn chỉ là cô bé con dạo nào. Có lẽ tôi cho rằng đây là kỷ niệm bác tặng riêng mình, đã ích kỷ cất giữ như &#8220;một thế giới riêng của hai bác cháu mình&#8221;, nên chưa từng có ý nghĩ đem công bố trên bất cứ báo chí nào.</p>
<p>Chính vì thế mà tôi đã bàng hoàng khi thấy hai bức tranh này bị lấy làm phụ bản cho tập thơ CÕI TẠM, lạ lùng hơn nữa lời ghi chú hoàn toàn sai lạc ý nghĩa của tranh. Hai hàng nước mắt, tôi thì thầm với bác Tam : <strong><em>“</em></strong><em>Bác ơi, thế giới riêng của hai bác cháu mình đã bị xâm phạm rồi”.</em></p>
<p><em>B</em>ác Nhất Linh vẽ một bình hoa rực rỡ để &#8220;Ngày Xuân tặng cháu bó hoa&#8221;, bên góc trái là hai câu thơ ví như hình ảnh ba tôi, cạnh bình hoa là tập bản thảo cô Mai ví như hình ảnh của mẹ tôi, một mùa Xuân mang niềm Hạnh Phúc, gia đình đoàn tụ &#8220;Xuân này chúc cháu toàn gia sum vầy&#8221;. Ý nghĩa bức tranh thật hoàn hảo, tình cảm bác đối với gia đình tôi thật chu đáo. Tại sao nhà thơ Nguyễn Hữu Nhật lại thu gọn ý nghĩa dồn cho một cá nhân <em>&#8220;&#8230;nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam vẽ cho truyện dài cô Mai của Nguyễn Thi Vinh khi bản thảo trên bàn còn đang viết dở dang ngày mồng một Tết năm Tân Sửu 1960</em><em>)</em></p>
<p>Vài ngày sau tôi tìm gặp mẹ, cố giữ giọng bình tĩnh, nhẹ nhàng hỏi: <em>&#8220;</em><em>Mẹ ơi mẹ</em><em>!</em> <em>Tại sao lời ghi chú dưới hai bức tranh bác Tam vẽ hoàn toàn sai lạc?</em>&#8221; mà tôi không dám trách người đã tự ý dùng tài liệu. Ngay lúc đó tôi được mẹ cho biết là mẹ đã không chú ý về những lời ghi chú này. <em>&#8221; Ðể mẹ hỏi ông Nhật&#8221;</em> mẹ tôi nói.</p>
<p>Vài ngày sau nữa, tôi trực tiếp hỏi ông Nhật, lật từng trang sách, chỉ từng bức tranh, nhẹ trách ông Nhật rằng, bức tranh hoa này này, rõ ràng bác Tam đề hai câu thơ &#8220;<em>Ngày Xuân tặng cháu bó hoa &#8211; Xuân này chúc cháu toàn gia xum vầy</em>&#8221; tặng tôi . Tại sao ông lại ghi chú là bác tặng nhà văn Nguyễn Thị Vinh. Còn bức vẽ người thiếu nữ thổi sáo này nữa, những chữ Nho bác ghi tặng Trương Kim Anh, đã là của tôi, tại sao lại ghi là tôi sưu tập ?</p>
<p>Ông Nhật trả lời công việc bận quá, việc nào ông cũng phải giải quyết gấp! Mệt quá, mờ cả mắt nên ông không nhìn thấy hai câu thơ, với lại chữ của NL nhỏ ly ty ! Ông xin lỗi tôi, hứa sẽ đính chánh trong số Hương Xa tới .</p>
<p>Tôi không hài lòng câu trả lời trên, theo tôi, Nguyễn Hữu Nhật là một nhà thơ kiêm họa sỹ, chỉ cần một nét chấm phá nhỏ trong bất cứ bức tranh nào, cũng đều được thu trọn vào đôi mắt kinh nghiệm của một họa sỹ, nói chi tới hai câu thơ &#8220;chữ nhỏ ly ty&#8221; ?</p>
<p>Giá ông Nhật chỉ cần nói với tôi một câu, chủ yếu làm phụ bản cho cuốn thơ của mẹ tôi và đừng có ghi chú sai, nể tình người nhà, đương nhiên tôi chấp thuận.</p>
<p>Tôi không nhắc tới bức thứ ba vẽ tấm chăn len, chính bức này mới là bức nên ghi chú do tôi sưu tập. Mà thôi, người nhà với nhau, bức này phiên phiến cho qua !!! Tôi cũng không muốn làm mất thì giờ của một người đam mê phục vụ văn hóa.</p>
<p>Sự thể đã rõ ràng, ông NHN phải chịu trách nhiệm về mấy bức tranh của Nhất Linh tặng tôi. Cho tới nay, đã hai năm trôi qua, Giai Phẩm Hương Xa ra thêm mấy số, ông Nhật vẫn chưa lên tiếng đính chánh.</p>
<p><em>ĐHG: Nhưng đây là một vấn đề về chứng liệu văn học sử, chị tính sao ?</em></p>
<p>T         KA: Chuyện đã lở dở như vậy, biết tính sao đây ? Ðã như vậy, tôi đành cho công bố toàn bộ tài liệu Nhất Linh trên báo, tôi chợt nghĩ tới nhà báo Lê Ðình Ðiểu nguyên chủ nhiệm tạp chí Thế Kỷ 21, anh đã từ trần năm 1999, tôi nghĩ tới anh với bao niềm thương tiếc và khâm phục. Trong giây phút đó, tôi quyết định chọn Thế Kỷ 21.</p>
<p>Lúc bấy giờ đang là giữa tháng tư, tôi liên lạc với Phạm Phú Minh, chủ bút Thế Kỷ 21, trình bày ý định của mình và cùng anh bàn về số đặc biệt TƯỞNG NIỆM NHẤT LINH 7/7-2002. Sau khi phát hành, số báo đặc biệt này đã được độc giả khắp nơi nhiệt liệt đón nhận. Dưới đây là email của Phạm Phú Minh gửi cho tôi, ngày 26/07-2003. Xin trích một đoạn:</p>
<p><em>       “ Kim Anh thân,</em></p>
<p><em>           Phải nói một điều là nếu không có Kim Anh thì không có số báo về Nhất Linh này đâu. Kim Anh là động lực chính, và người cung cấp tài liệu dồi dào nhất. Đài RFI bên Pháp đã phỏng vấn tôi về số báo này, sau khi phát thanh, dân Việt Nam bên Pháp gọi về đài mua báo qúa trời, mà họ đâu có báo để bán ! Đài phát thanh VNCR ở Nam Cali cũng có một buổi hội luận về số báo này, do Y Sa, Nguyễn Tường Thiết và Phạm Phú Minh thực hiện, thiên hạ nghe xong đi tìm mua báo rần rần.</em></p>
<p><em>           Công của Kim Anh, “cháu của bác Tam”, lớn lắm. Thay mặt báo Thế Kỷ 21 tôi xin gởi lời cơn đến Kim Anh “.</em></p>
<p>Tôi trả lời anh qua điện thoại viễn liên: <em>&#8220;Cám ơn anh bức email tôi vừa mới nhận được. Theo như tôi hiểu, mọi chuyện đều do Nhân Duyên mà thành.&#8221;</em> &#8211; Lòng hân hoan, tôi có cảm giác linh hồn bác Nhất Linh và anh Lê Ðình Ðiểu đang nhìn tôi mỉm cười chia sẻ.</p>
<p><em>ĐHG: Chị có đồng thuận với ý kiến của thi sĩ Nguyễn Hữu Nhật là trách nhiệm thuộc về tác giả, tức nhà văn Nguyễn Thị Vinh. Nếu đồng ý hay không đồng ý, xin cho biết tại sao.</em></p>
<p>TKA: Trong trường hợp đặc biệt này, tôi đồng ý và cũng không đồng ý với ông NHN là trách nhiệm thuộc về tác giả:</p>
<p>&#8211; Ðồng ý, trường hợp thông thường, sau khi một tác phẩm được layout xong, tác giả là người kiểm soát cuối cùng trước khi cho in.</p>
<p>&#8211; Không đồng ý, như tôi đã trình bày ở trên. Đây là trường hợp đặc biệt, nhà thơ NHN và nhà văn NTV đã có mấy chục năm chung sống, cùng tương đắc nỗ lực hoạt động văn hóa : ngoài việc sáng tác một số tác phẩm đáng kể, còn thành lập nhà xuất bản Anh Em, cho ra tờ Giai phẩm Hương Xa &#8211; chủ nhiệm nữ sỹ NTV- có thể được coi như tờ báo Việt Nam duy nhất ở Na Uy, ..v..v.. Như vậy hai người phải &#8220;đồng làm đồng chịu&#8221;, cớ sao ông Nhật lại đổ hết trách nhiệm cho nhà văn NTV.</p>
<p><em>ĐHG: Những bức tranh đó, không có tên, vậy thi sĩ Nguyễn Hữu Nhật tự ý đặt tên Hoa Bất Tử, Thiếu Nữ Thổi Sáo&#8230; Riêng chị, với tâm tình “cô cháu cưng của bác Tam”, chị nghĩ sao ? Bởi tôi nhận được rất nhiều phản ứng của độc giả và họ có nhắc nhở tôi nên làm rõ việc này.</em></p>
<p>TKA: Tôi có bức tranh đã được NL đặt tên như bức &#8220;Chùa Cá&#8221;, được đăng trong tuyển tập NHÂT LINH-NGƯỜI NGHỆ SỸ-NGƯỜI CHIẾN SỸ sẽ được phát hành trong vòng tháng 11-2003 – (theo thông tin của nhà báo Phạm Phú Minh). Còn tự ý đặt tên cho những bức tranh của người đã khuất, là chuyện giữa thi sỹ NHN với độc giả khắp nơi. Ở đây, tôi chỉ xin trả lời mấy bức tranh có liên quan tới tôi.</p>
<p><em>ĐHG: Thi sĩ Nguyễn Hữu Nhật cho biết ông sẽ không lên tiếng vì một lẽ hế</em>t sức<em> tế nhị, vấn đề tình cảm, và cho biết nhà văn Nguyễn Thi Vinh cũng ý định tương tự. Chị nghĩ sao ?</em></p>
<p>TKA: Chính ông Nhật đã tự mâu thuẫn một khi đã từ chối lên tiếng vì <em>&#8220;tế nhị, nghĩ đến tình gia đình&#8221;.</em> Buộc lòng tôi phải nhận lời phỏng vấn của Ðỗ Hoàng Gia.</p>
<p>Tình cảm tế nhị hay không thì gia đình tự giải quyết, nhưng ông NHN có trách nhiệm lên tiếng với độc giả về sự lầm lẫn của mình. Riêng tôi, tôi đã hoàn tất trách nhiệm với độc giả, những gì tôi muốn nói đã nói trong bài TƯỞNG NHỚ VỀ NHẤT LINH, những gì tôi cần làm đã làm trong báo Thế Kỷ 21 số 7/7-2003 .</p>
<p>Tôi xin nhắc lại: Có lẽ tôi đã từ chối cuộc phỏng vấn này, nếu ông NHN đừng trốn tránh trách nhiệm, đổ qua cho mẹ già tôi hứng chịu. Tôi tán thành Ðỗ Hoàng Gia đã lên tiếng, đòi hỏi nêu &#8220;Chính danh&#8221; một vấn đề liên quan đến nền văn học Việt Nam.</p>
<p><em>ĐHG: Câu hỏi cuối, ngoài lề, có gì xin chị rộng tâm, hoan hỉ thứ lỗi. Có một dạo, trước 1975 ở quê nhà, có tin đồn chị là con riêng của nhà văn Nhất Linh ? Chị có biết không ?</em></p>
<p>TKA: Vâng, tôi có biết tin đồn này xảy ra từ thời nhà văn Nhất Linh còn sống, chẳng qua là lời đồn đại vô căn cớ. Anh hỏi khiến tôi nhớ lại một kỷ niệm vui hồi đó, vợ chồng bác Nhất Linh và ba mẹ tôi là chỗ thân tình, hai bác thấy tôi và anh Nguyễn Tường Thiết thân nhau, nên hai bác có ý xin tôi về làm dâu. Việc không thành vì tôi đang còn đi học với tuổi mộng mơ. Về sau anh Thiết và tôi cũng không duyên không nợ. Anh chị Thiết hiện sinh sống tại Mỹ quốc, anh em chúng tôi vẫn duy trì tình cảm tốt đẹp như thủa mấy chục năm về trước.</p>
<p>Năm ngoái, nghe tin anh Nguyễn Tường Thiết thành lập một bảo tàng nhỏ tại tư gia, chưng bày toàn tài liệu có liên quan đến cố Văn Hào Nhất Linh Nguyễn Tường Tam. Ðể góp phần tôi đã hân hoan ngỏ ý tặng anh quyển Lưu Bút các nhà văn, với trọn bộ tài liệu và hình ảnh kỷ niệm của bác NL.</p>
<p>Anh hồi đáp qua email <em>&#8221; Bảo tàng viện nói cho to chứ hiện giờ nó là một bộ sưu tập của anh về tất cả những gì liên quan đến ông cụ, &#8230;&#8221;</em> và anh tỷ mỷ liệt kê những tài liệu Nhất Linh mà anh đã giữ được, đặc biệt hai bức sơn dầu lớn, do cố danh họa Nguyễn Gia Trí họa chân dung ông bà Nhất Linh. Theo tôi, tất cả đều là những tài liệu quý giá, có tầm mức quan trọng cho văn học sử nước ta .</p>
<p>Anh khuyên tôi: &#8220;<em>Tất cả những thứ đó trong tương lai xa, sẽ phải thuộc về Bảo tàng viện Quốc gia Việt Nam (Hy vọng lúc đó thể chế VN hoặc khá hơn hoặc đổi thay). Anh nghĩ rằng hiện tại thì em cứ nên giữ tất cả những gì em hiện có (ông cụ tặng em, nó là của em), anh chỉ cần bản chụp lại thật trung thực, &#8230;. Anh cần tất cả những tranh vẽ và hình ảnh em có về ông cụ&#8230;.&#8221;</em></p>
<p>Có lẽ không riêng gì anh Nguyễn Tường Thiết, mà tất cả chúng ta đều hy vọng một ngày gần đây, Việt Nam sẽ khá hơn, hay sẽ có sự thay đổi, giống như nhiều nước, một Bảo Tàng Viện Quốc gia dành riêng cho các Văn Nghệ Sỹ sẽ được thành lập trên quê hương chúng ta. Xin chào anh.</p>
<p><em>ĐHG. Xin cám ơn chị.</em></p>
<p>***</p>
<p>Bài phỏng vấn Bạch Liên Trương Kim Anh ngày 8.9.2003 đã trả lời rất đầy đủ và chi tiết. Chúng tôi xin cảm phục sự can đảm của chị. Vì yêu cầu chính danh cho những sự kiện lịch sử dù cho rất nhỏ, chị đã vượt qua được trăn trở tình cảm riêng, để ”đã nói thì nói cho hết ”. Ngoài ra, chị đã tiết lộ thêm nhiều tin tức giá trị khác. Chúng tôi cũng cám ơn chị đã cho biết rõ là chính Trương Kim Anh, ”cô cháu cưng của bác Tam”, đã cất tiếng sáo tiễn biệt bác Tam tại nhà xác bệnh viện Grall. Chi tiết nho nhỏ lý thú này mà nhiều nguời, kể cả trong và ngoài nước, từ lâu còn phân vân.</p>
<p>Qua phỏng vấn trên, tôi xin khép lại bài viết này bằng ít giòng bàn về khía cạnh văn hoá. Tức việc tự ý đặt tên tranh của người khác.</p>
<p><strong>Phần III : Trả nghiệp</strong></p>
<p>Giống như đạo văn, tự tiện đặt tên tác phẩm của người khác, là một trong những cung cách ít văn hoá nhất. Ngoài tài làm thơ, ông Nhật còn là thợ vẽ. Nghĩa là ông vừa là nhà thơ, vừa là họa sĩ. Ông nghĩ sao nếu có người nào đó đặt tên cho tranh của ông ? Ông sẽ phản ứng ra sao, khi mà tranh của mình trở thành cái tranh mang ”hồn của ông Trương Ba mà thân xác lại thuộc về anh hàng thịt” ? Sự lang chạ này, đối với người đã khuất, làm sao đây ?</p>
<p>Ông là nhà báo. Ông lại có báo Hương Xa trong tay. Ông là nhà thơ. Làm thơ tù. Làm thơ tình. Làm thơ tôn giáo. Ông còn là nhà văn. Ông viết đủ thứ. Nói chung, ông làm văn hoá. Nhưng sao ông không có cái khí phách văn hoá và sự can đảm văn hoá, công khai đính chính hay sửa sai xin lỗi mà lại ”đánh bùn sang ao” cho một người khác.</p>
<p>Có độc giả phản ánh sau khi đọc bài Chính Danh: “dù sao thi sĩ NHN là một nhà văn hoá tên tuổi, có nhiều tác phẩm xuất bản, có sai sót thì không nên phê phán nặng nề quá, nhẹ nhàng nhắc nhở thôi”. Đó cũng là một nhận định lý thú. Tuy nhiên, tôi xin phép được không đồng ý về chuyện phân biệt cao thấp trong văn nghệ để có phản ứng theo công thức tem phiếu. Hơn nữa, là một nhà văn hoá tên tuổi như thi sĩ Nguyễn Hữu Nhật, tác phẩm của ông đã có giá trị tự thân rồi. Một việc nhận định nghiêm túc về cách ứng xử văn hoá không làm giảm giá trị tác phẩm của ông. Thực ra, đó chỉ là một bài học vỡ lòng: đôi khi ta miệt mài làm văn hoá cho người khác, mà quên vun xới văn hoá cho chính mình.</p>
<p>11.09.2003</p>
<p><strong><br />
</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ngo-khong-tac-gia-va-tac-pham-duong-kien/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>

<!--
Performance optimized by W3 Total Cache. Learn more: https://www.boldgrid.com/w3-total-cache/?utm_source=w3tc&utm_medium=footer_comment&utm_campaign=free_plugin

Page Caching using Disk: Enhanced 

Served from: t-van.net @ 2026-05-06 05:55:30 by W3 Total Cache
-->