<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Truyện Tù Cải Tạo &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<atom:link href="https://t-van.net/category/truyen-tu-cai-tao/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://t-van.net</link>
	<description>Văn Học và Đời Sống</description>
	<lastBuildDate>Thu, 12 Sep 2024 16:45:57 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.7.5</generator>

<image>
	<url>https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/02/t-van-favicon.png?strip=all&#038;resize=32%2C32</url>
	<title>Truyện Tù Cải Tạo &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<link>https://t-van.net</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Hoài Nam NGUYỄN HỮU THIỆN: CẢI TẠO NỬA MÙA – VƯỢT BIÊN TÀI TỬ (Hồi Ký)</title>
		<link>https://t-van.net/hoai-nam-nguyen-huu-thien-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-hoi-ky/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Hoài Nam - Hồi Ký Cải Tạo]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 14 Sep 2024 06:16:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Truyện Tù Cải Tạo]]></category>
		<category><![CDATA[Tủ Sách T.Vấn & Bạn Hữu]]></category>
		<category><![CDATA[hồi ký cải tạo]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=74239</guid>

					<description><![CDATA[Xin Bấm Vào Đây: Hoài Nam NGUYỄN HỮU THIỆN: CẢI TẠO NỬA MÙA – VƯỢT BIÊN TÀI TỬ (Hồi Ký) LỜI NÓI ĐẦU Sau khi cùng gia đình vượt biển thành công rồi được định cư tại Úc-đại-lợi năm 1982, cho tới nay, đôi khi ban đêm tôi vẫn còn những giấc mơ về ngày [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/09/bia-doi.jpg?strip=all&w=2560"><img fetchpriority="high" decoding="async" width="1024" height="620" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/09/bia-doi-1024x620.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-74241" style="width:671px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/09/bia-doi-300x182.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/09/bia-doi-1024x620.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2024/09/bia-doi-768x465.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/09/bia-doi.jpg?strip=all 1294w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p class="has-text-align-center"><strong>Xin Bấm Vào Đây:</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>Hoài Nam NGUYỄN HỮU THIỆN: CẢI TẠO NỬA MÙA – VƯỢT BIÊN TÀI TỬ (Hồi Ký)</strong></p>



<div data-wp-interactive="core/file" class="wp-block-file"><object data-wp-bind--hidden="!state.hasPdfPreview" hidden class="wp-block-file__embed" data="https://cdn.t-van.net/2024/09/HKCT-LAYOUT-FINAL.pdf" type="application/pdf" style="width:100%;height:600px" aria-label="Embed of HKCT - LAYOUT - FINAL."></object><a id="wp-block-file--media-5d2279c3-e843-4332-8129-45b246750fa9" href="https://cdn.t-van.net/2024/09/HKCT-LAYOUT-FINAL.pdf" class="mcloud-attachment-74242">HKCT &#8211; LAYOUT &#8211; FINAL</a><a href="https://cdn.t-van.net/2024/09/HKCT-LAYOUT-FINAL.pdf" class="wp-block-file__button wp-element-button mcloud-attachment-74242" download aria-describedby="wp-block-file--media-5d2279c3-e843-4332-8129-45b246750fa9">Download</a></div>



<p><em><strong>LỜI NÓI ĐẦU</strong></em></p>



<p><em>Sau khi cùng gia đình vượt biển thành công rồi được định cư tại Úc-đại-lợi năm 1982, cho tới nay, đôi khi ban đêm tôi vẫn còn những giấc mơ về ngày 30 tháng Tư 1975, về thời gian ở tù cải tạo, về chuyến vượt biển tìm tự do. Sau này tìm hiểu, tôi được biết những cơn ác mộng này là hậu quả tâm sinh lý chung mà rất nhiều người đồng cảnh ngộ với tôi mắc phải.</em></p>



<p><em>Với không ít cựu sĩ quan QLVNCH ở lại, hoặc bị kẹt lại sau ngày mất nước</em><em> </em><em>trong số </em><em>đó có tôi, </em><em>nhắc tới ngày 30 tháng Tư 1975 là khơi lại tủi nhục đắng cay, nhắc tới hai chữ “cải tạo” là nhớ lại dĩ vãng kinh hoàng, nhắc tới chuyến vượt biển năm xưa là rùng mình ớn lạnh.</em></p>



<p><em>Nhưng rồi càng thêm tuổi, tôi càng vơi bớt hận thù, như thể cho tâm hồn được thanh thản trước khi đáp “chuyến tàu hoàng hôn”. Viết một cách chính xác, tôi vẫn căm ghét chế độ CSVN, vẫn giữ lời thề không đặt chân trở lại một khi quê hương còn bóng cờ đỏ, nhưng với những con người đã đày đọa, hành hạ mình trước kia, tôi cho rằng họ chỉ là những người sinh ra dưới một ngôi sao xấu – ngôi sao vàng trên nền cờ đỏ. Một khi thân xác tôi không bị nằm lại ở trại cải tạo, không bị chôn vùi dưới lòng đại dương, tôi vẫn cảm thấy mình may mắn hơn những con người ấy.</em></p>



<p><em>Bên cạnh đó, tôi không bị đưa ra miền Bắc, không phải sống ở những trại cải tạo hắc ám nhất trong Nam (trừ 6 tháng ở Phú Quốc), không dám vượt ngục…, vì thế thiên hồi ký của tôi sẽ không phải một bản cáo trạng về tội ác của chế độ CSVN, không phải một thiên anh hùng ca về những tấm gương can trường, bất khuất, cũng sẽ không có những tình tiết ly kỳ, rùng rợn, mà chỉ là chuyện kể – chuyện buồn cũng như chuyện vui (thật vậy, trong tù cộng sản vẫn có thể có “chuyện vui”), chuyện vượt biển giỡn mặt tử thần – không ngoài mục đích chia sẻ với bằng hữu và độc giả một quãng đời đã qua, cách riêng những ơn lành Thượng Đế thương ban cho một “đứa con hoang đàng” sám hối vào giờ thứ 25.</em></p>



<p><em>Tất cả mọi nhân vật, tình tiết trong thiên hồi ký này đ</em>ề<em>u có thật; riêng những mốc điểm thời gian có thể chỉ </em><em>chính</em><em> xác tương đối, và tên tuổi các nhân vật đôi khi sẽ được viết tắt, hoặc dấu kín vì những nguyên nhân tế nhị.</em></p>



<p><em><strong>Hoài Nam Nguyễn Hữu Thiện</strong></em></p>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><strong>MỤC LỤC</strong></p>



<p><strong>LỜI NÓI ĐẦU&nbsp;&nbsp; 001</strong></p>



<p><strong>PHẦN I: NHẤT NHẬT TẠI TÙ</strong></p>



<p><strong>CHƯƠNG 1 – Thành Ông Năm&nbsp;&nbsp; <em>002</em></strong><strong><em></em></strong></p>



<p><em><strong>CHƯƠNG 2 – Phú Quốc&nbsp;&nbsp; </strong></em><em><strong>041</strong></em><em><strong></strong></em></p>



<p><em><strong>CHƯƠNG 3 – Trảng Lớn&nbsp;&nbsp; </strong></em><em><strong>064</strong></em></p>



<p><strong>CHƯƠNG 4 – Đồng Ban&nbsp;&nbsp; <em>086</em></strong></p>



<p><strong>CHƯƠNG 5 – Phước Long&nbsp;&nbsp; <em>141</em></strong></p>



<p><strong>CHƯƠNG 6 – Suối Máu &amp; Tống Lê Chân&nbsp;&nbsp; <em>209</em></strong></p>



<p><strong>PHẦN II:&nbsp; VỀ MIỀN ĐẤT HỨA</strong></p>



<p><strong>CHƯƠNG 1 – “Người công dân mất quyền”&nbsp;&nbsp; <em>319</em></strong></p>



<p><strong>CHƯƠNG 2</strong><em><strong>&nbsp;– </strong></em><em><strong>“Hoa</strong></em><strong><em>&nbsp;</em></strong><em><strong>tiêu” bất đắc dĩ</strong></em><em><strong>&nbsp;&nbsp; 384</strong></em></p>



<p><strong>CH</strong><strong>ƯƠNG 3 – Cửa ngõ Tự Do và Tình Người</strong><strong>&nbsp;&nbsp; <em>471</em></strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>HOÀI NAM: CẢI TẠO NỬA MÙA – VƯỢT BIÊN TÀI TỬ (kỳ 26-HẾT)</title>
		<link>https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-26-het/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Hoài Nam - Hồi Ký Cải Tạo]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 17 Jul 2024 06:42:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[Truyện Tù Cải Tạo]]></category>
		<category><![CDATA[hồi ký cải tạo]]></category>
		<category><![CDATA[truyện tù cải tạo]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=72993</guid>

					<description><![CDATA[CẢI TẠO NỬA MÙA – VƯỢT BIÊN TÀI TỬ (kỳ 25)Hồi kýHoài Nam NGUYỄN HỮU THIỆN Kỳ 1&#160;&#160;Kỳ 2&#160;&#160;Kỳ 3&#160;&#160;Kỳ 4&#160;&#160;Kỳ 5&#160; Kỳ 6&#160;&#160;Kỳ 7&#160;&#160;Kỳ 8&#160;&#160;&#160;&#160;Kỳ 9&#160;&#160;Kỳ 10&#160; Kỳ 11 Kỳ 12 Kỳ 13 Kỳ 14 Kỳ 15 Kỳ 16 Kỳ 17 Kỳ 18 Kỳ 19 Kỳ 20 Kỳ 21 Kỳ 22 Kỳ 23 Kỳ 24 Kỳ 25 PHẦN II:&#160; VỀ MIỀN ĐẤT HỨA CHƯƠNG 3 – Cửa [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/02/cao-tao-sau-1975.jpg?strip=all&w=2560"><img decoding="async" width="502" height="335" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/02/cao-tao-sau-1975.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-60363" style="width:556px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/02/cao-tao-sau-1975-300x200.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/02/cao-tao-sau-1975.jpg?strip=all 502w" sizes="(max-width: 502px) 100vw, 502px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p class="has-text-align-center"><strong>CẢI TẠO NỬA MÙA – VƯỢT BIÊN TÀI TỬ (kỳ 25)</strong><br><strong><em>Hồi ký</em></strong><br><strong><em>Hoài Nam NGUYỄN HỮU THIỆN</em></strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong><em><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=42965" target="_blank">Kỳ 1</a>&nbsp;&nbsp;<a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=43227" target="_blank">Kỳ 2</a></em></strong>&nbsp;&nbsp;<a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=43638" target="_blank"><strong>Kỳ 3&nbsp;&nbsp;</strong></a><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=44071" target="_blank"><strong>Kỳ 4&nbsp;&nbsp;</strong></a><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=44448" target="_blank"><strong>Kỳ 5</strong></a><strong><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=44904" target="_blank">&nbsp; Kỳ 6&nbsp;&nbsp;</a></strong><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=45847" target="_blank"><strong>Kỳ 7&nbsp;&nbsp;</strong></a><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=46303" target="_blank"><strong>Kỳ 8&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</strong></a><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=48543" target="_blank"><strong>Kỳ 9&nbsp;&nbsp;</strong></a><strong><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=50357" target="_blank">Kỳ 10</a></strong>&nbsp;</p>



<p class="has-text-align-center"><a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-11/"><strong>Kỳ 11</strong></a> <strong><a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-12/">Kỳ 12</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-13/">Kỳ 13</a></strong> <a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-14/"><strong>Kỳ 14</strong></a> <a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-15/"><strong>Kỳ 15</strong></a> <strong><a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-16/">Kỳ 16</a></strong> <a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-17/"><strong>Kỳ 17</strong></a> <a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-18/"><strong>Kỳ 18</strong></a> <strong><a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-19/">Kỳ 19</a></strong> <a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-20/"><strong>Kỳ 20</strong></a> <a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-21/"><strong>Kỳ 21</strong></a> <strong><a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-22/">Kỳ 22</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-23/">Kỳ 23</a></strong> <a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-24/"><strong>Kỳ 24</strong></a> <a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-25/"><strong>Kỳ 25</strong></a></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>PHẦN II:&nbsp; VỀ MIỀN ĐẤT HỨA</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>CH</strong><strong>ƯƠNG 3 – Cửa ngõ Tự Do và Tình Người</strong></p>



<p><em>(tiếp theo kỳ 25)</em></p>



<p>Đưa tiễn gia đình tôi ra bến tàu Galang sáng hôm ấy có Zone phó kiêm bạn tù Sơn “lồ”, một số barrack trưởng, một vài người quen và&nbsp; mấy anh em trong Chi Hội Không Quân Galang.</p>



<p>Tuy đông nhưng không ồn ào vì biết nói gì đây?&#8230; Tất cả những gì anh em muốn nói thì hàng chữ trên cái cổng đã nói hộ rồi.</p>



<p>Đó là cái cổng gỗ ở bến tàu mà tôi đã mô tả trong một kỳ trước, từ bến tàu đi vào trại nhìn lên thấy hai hàng chữ tiếng Anh:</p>



<p>Welcome Vietnamese Refugee To Galang Island</p>



<p><em>The Gate Of Freedom and Humanity</em></p>



<p>Còn từ trong trại đi ra bến tàu thì đọc được hai hàng chữ khác ở mặt sau:</p>



<p>Good Bye Good Luck And Begin Your New Life With Hope</p>



<p><em>Galang An Island To Remember</em></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/hinh-1-galang-good-bye.jpg?strip=all&w=2560"><img decoding="async" width="1024" height="678" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/hinh-1-galang-good-bye-1024x678.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-73005" style="width:592px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/07/hinh-1-galang-good-bye-300x199.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/hinh-1-galang-good-bye-1024x678.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2024/07/hinh-1-galang-good-bye-768x509.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/hinh-1-galang-good-bye.jpg?strip=all 1120w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p></p>



<p>Tại bến tàu, chúng tôi, người đi cũng như người tiễn, ngồi chờ ở hai cái mái tôn lớn, được ngăn cách với cầu tàu bằng mấy hàng dây kẽm, có cảnh sát Nam Dương giữ trật tự.</p>



<p>Trong số các nhân viên thiện nguyện ra tiễn người đi định cư có Gaylord Barr, Debbie Dodd, và đại diện Phòng Xã Hội Nam Dương.</p>



<p>Khoảng hơn một tiếng đồng hồ sau có tiếng máy tầu vọng lại rồi một chiếc tàu tốc hành (express) chạy tới, cập vào cầu tàu thấp sát mặt biển dành cho loại tàu này.</p>



<p>Tới lúc đó, nhân viên của ICM (Intergovernmental Committee for Migration) và nhà cầm quyền Nam Dương mới phối hợp làm việc, đọc tên từng người trong danh sách, xem hình trong căn cước tỵ nạn rồi mới cho bước xuống tàu. Tổng cộng khoảng 150 người, đa số đi định cư ở Mỹ, Úc, một số nhỏ đi Canada và các nước Tây Âu.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/hinh-2-galang-singapore-express.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="647" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/hinh-2-galang-singapore-express-1024x647.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-73006" style="width:618px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/07/hinh-2-galang-singapore-express-300x190.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/hinh-2-galang-singapore-express-1024x647.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2024/07/hinh-2-galang-singapore-express-768x485.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/hinh-2-galang-singapore-express.jpg?strip=all 1120w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Một chuyến tàu “Singapore Express”</em><em></em></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/hinh-3-vinh-biet-galang.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="720" height="486" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/hinh-3-vinh-biet-galang.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-72994" style="width:608px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/07/hinh-3-vinh-biet-galang-300x203.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/hinh-3-vinh-biet-galang.jpg?strip=all 720w" sizes="(max-width: 720px) 100vw, 720px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center">Vĩnh biệt Galang<strong> &#8211; </strong>An Island To Remember</p>



<p></p>



<div class="wp-block-group is-vertical is-layout-flex wp-container-core-group-is-layout-1 wp-block-group-is-layout-flex">
<p class="has-text-align-left">Tàu rời bến, tôi nhìn lại những bóng người đang vẫy tay từ biệt xa dần; cũng bâng khuâng nhưng trong lòng tôi không cảm thấy ái ngại cho người ở lại như hôm rời “hoang đảo” Kuku. Bởi tôi biết chắc chắn một khi đã tới được Galang &#8211; cửa ngõ của Tự Do và Tình Người &#8211; ngoài những tiện nghi tối thiểu do Cao ủy Tỵ nạn cung cấp, sớm muộn mọi người còn ở lại cũng sẽ được đi định cư.</p>



<h2 class="wp-block-heading">&nbsp;</h2>



<p><strong><em>Chặng đường cuối&#8230;</em></strong></p>
</div>



<p>Chiếc tàu tốc hành Galang – Singapore tuy là tàu gỗ nhưng chạy khá nhanh và êm vì đây là vùng biển đảo, ít sóng lớn. Đường chim bay từ Galang tới Singapore chỉ khoảng 75 km nhưng vì phải đi vòng qua nhiều đảo lớn nhỏ, quá trưa tôi mới thấy những tòa cao ốc của đảo quốc này nhô lên ở cuối chân trời phía bên trái.</p>



<p>Nhưng khi tới gần, chiếc tàu không chạy thẳng vào bờ mà chạy vòng lên hướng bắc, đi vào một eo biển hẹp, hơn một tiếng đồng hồ sau mới cập vào một bến tàu ở bờ bên trái, mà sau này tôi được biết nguyên là một căn cứ hải quân của Anh ở Singapore.</p>



<p>Từ bến tàu, đoàn người được hướng dẫn tới trại Hawkins Road ở gần đó. Tên gọi chính thức của trại này là Trại Thuyền nhân Tỵ nạn Việt Nam (<a href="https://www.facebook.com/groups/25hawkins/">Vietnamese Boat People Refugee Camp), số 25 Hawkins Road, thành phố Sembawang, nằm ở phần đất phía bắc của đảo quốc</a>. Xưa kia trại này là cư xá của căn cứ hải quân.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/hinh-4-singapore.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="800" height="597" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/hinh-4-singapore.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-72995" style="width:598px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/07/hinh-4-singapore-300x224.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2024/07/hinh-4-singapore-768x573.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/hinh-4-singapore.jpg?strip=all 800w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center">Bản đồ hành chánh Singapore; ngôi sao đỏ ở hướng băc là thị trấn Sembawang</p>



<p>Trại Hawkins Road được ghi nhận là trại tỵ nạn chính thức đầu tiên của Cao ủy Tỵ nạn LHQ ở Đông Nam Á, được thiết lập vào năm 1978, <a>tức là trước khi có hội nghị quốc tế về người tỵ nạn Đông Dương tổ chức tại Geneva vào tháng 7 năm 1979.</a></p>



<p>Thế nhưng Singapore lại là quốc gia Đông Nam Á đầu tiên ngăn chặn thuyền nhân tới thẳng trại tỵ nạn, và xua đuổi họ ra biển khơi!</p>



<p>Hiện nay trên <em>Remember Singapore</em> – một trang mạng độc lập về đảo quốc này – vẫn còn phổ biến một bài viết về việc thuyền nhân Việt Nam bị xua đuổi. Tạm dịch như sau:</p>



<p><em>Một quá khứ bị quên lãng &#8211; </em><em>Thuyền nhân Việt Nam tại Singapore</em><em> </em><em>(A Forgotten Past – Vietnamese Boat People in Singapore)</em></p>



<p>Là một quốc gia bé nhỏ với đất đai có hạn, Singapore phải ngăn chặn làn sóng tỵ nạn. Đồng thời cũng vì lo sợ các cán bộ cộng sản Việt Nam có thể đội lốt tỵ nạn để xâm nhập đảo quốc này một cách bất hợp pháp.</p>



<p>Vì thế Singapore đã trở thành quốc gia đầu tiên trong vùng ngăn chặn thuyền nhân lên bờ, hoặc tiến vào vùng duyên hải của họ, thay vào đó cung cấp thực phẩm, nước uống và nhiên liệu rồi đuổi ra khơi.</p>



<p>Được mệnh danh là Cuộc hành quân Dông bão (Operation Thunderstorm), công tác này đã được Lục quân và Hải quân</p>



<p>Singapore phối hợp thực hiện.</p>



<p>Chẳng bao lâu sau, các quốc gia Đông Nam Á khác như Thái Lan, Mã Lai đã noi gương Singapore. Nhiều chiếc ghe của người tỵ nạn khi bị tàu hải quân kéo ra biển khơi đã bị lật chìm. Hàng nghìn người bị sóng cuốn trôi, bị chết đói hoặc rơi vào tay hải tặc.</p>



<p>* * *</p>



<p>Từ năm 1975 tới năm 1979, có khoảng 5000 người tỵ nạn Việt Nam tới Singapore nhờ được tàu buôn vớt ngoài biển và đưa vào đảo quốc này.</p>



<p>Năm 1978, được sự đồng ý của chính quyền Singapore, Cao ủy Tỵ nạn LHQ đã sử dụng một trại lính cũ của Quân đội Anh trước đây, số 25 Hawkins Road, thành phố Sembawang, làm nơi tạm trú cho người tỵ nạn.</p>



<p>Trại Hawkins Road có diện tích 5.5 héc-ta, trong trại có hơn 10 dãy nhà, nay được sử dụng làm chỗ ngủ cho người tỵ nạn. Mỗi ngày, mỗi đầu người được Cao ủy Tỵ nạn cấp phát 2.50 đô-la Mỹ để mua thực phẩm và các thứ cần thiết.</p>



<p>Đa số người tỵ nạn chỉ ở trại Hawkins Road một thời gian ngắn. Vì trại chỉ có sức chứa tối đa 150 người, chính phủ Singapore đã yêu cầu các nước đã nhận cho họ định cư đưa đi càng sớm càng tốt. Tuy nhiên cũng có lúc dân số trong trại lên tới cả nghìn người.</p>



<p>Trại Hawkins Road được xem là trại tỵ nạn tốt nhất và nhân bản nhất so với các trại tỵ nạn khác ở Đông Nam Á, nơi mà những câu chuyện kinh hoàng về những gì xảy ra cho người tỵ nạn Việt Nam, như tra tấn, cưỡng hiếp, giết chóc, đã được nhiều người kể lại.</p>



<p>Tới cuối tháng 6 năm 1996, Trại Hawkins Road chính thức đóng cửa sau khi khoảng 100 thuyền nhân sống tại đây từ năm 1990 mà không được quốc gia nào nhận cho định cư, tình nguyện trở về Việt Nam.</p>



<p>Tính từ năm 1978 tới năm 1996, đã có tổng cộng 32,457 người tỵ nạn Việt Nam sống ở trại Hawkins Road. Đa số đã trở thành công dân các quốc gia Âu châu, công dân Úc hay công dân Mỹ.</p>



<p><em>Remember Singapore</em></p>



<p>Đăng lần đầu: 01 tháng 7, 2011</p>



<p>Hiệu đính: 25 tháng 1, 2022</p>



<p><em>(Bài viết ngắn trên đây không đề cập tới chi tiết t</em><em>rại Hawkins Road còn được sử dụng làm nơi chờ phi cơ của những thuyền nhân đã được một quốc gia nhận cho định cư, tới từ Nam Dương, Mã Lai&#8230;)</em></p>



<p>* * *</p>



<p>Theo những tài liệu tôi đọc được sau này cũng như hồi ký của một số nhân chứng là các thuyền nhân sống sót, thì càng ngày Hải Quân Singapore càng tỏ ra cứng rắn, thậm chí có những hành động vô lương tâm, vô nhân đạo cho nên tới cuối năm 1980 hầu như không còn một chiếc ghe tỵ nạn nào từ Việt Nam có thể lọt vào quốc gia này.</p>



<p>Chỉ có những thuyền nhân nào may mắn được tàu buôn ngoại quốc vớt ngoài khơi rồi đưa vào Singapore mới được đặt chân lên bờ, với điều kiện quốc gia (của tàu buôn) đó phải cam kết bằng văn bản sẽ nhận những thuyền nhân này định cư và đưa họ ra khỏi Singapore trước thời hạn 90 ngày!</p>



<p>Tới đây tôi xin được nhắc tới và đề cao lòng nhân đạo của các tổ chức tư nhân và tàu buôn của các quốc gia Tây Âu và Bắc Âu trong việc cứu vớt thuyền nhân Việt Nam trên biển Đông.</p>



<p>Theo con số của Cao ủy Tỵ nạn LHQ, từ năm 1975 tới năm 1987 đã có tổng cộng 839,228 người Việt tạm trú tại các trại tỵ nạn của Cao ủy ở Đông Nam Á và Hương Cảng, trong số này có khoảng 5% (42,918 người) vượt thoát bằng đường bộ tới Thái Lan.</p>



<p>Cũng trong khoảng thời gian nói trên, 749,929 người đã được đi định cư tại các quốc gia đệ tam; nhiều nhất là Hoa Kỳ (402,382), kế tới là Pháp (120,403), Úc (108,808) và Canada (100,012).</p>



<p>Tuy nhiên nếu chỉ xét về hoạt động cứu vớt thuyền nhân trên biển Đông thì Tây Đức, Hòa Lan và các nước Bắc Âu phải được nêu danh hàng đầu.</p>



<p>Trước hết nói về Tây Đức, có lẽ không một người Việt tỵ nạn nào không một lần nghe tới tên con tàu “Cap Anamur”.</p>



<p>Nguyên vào năm 1979, sau hội nghị quốc tế về người tỵ nạn Đông Dương do Cao ủy Tỵ nạn LHQ tổ chức tại Geneva, cùng với việc chính phủ Tây Đức mở rộng vòng tay đón nhận người ty nạn, Tiến sĩ <a><strong>R</strong></a><strong>upert Neudeck</strong> (1939 – 2016) nguyên là một nhà giáo kiêm ký giả Đức đã cùng bà vợ Christel và một nhóm bạn đứng ra thành lập tổ chức “A ship for Vietnam” (Một con tàu cho Việt Nam), với mục đích cứu vớt các thuyền nhân trên biển Đông phải đối diện với hiểm nguy phong ba bão táp và hải tặc.</p>



<p>Với tiền quyên góp từ dân chúng Đức, tổ chức của ông<strong> </strong>Rupert Neudeck đã mướn được chiếc tàu chở hàng <a>Cap Anamur </a>của Pháp và đưa sang biển Đông hoạt động.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/hinh-5-cap-anamur.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="700" height="432" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/hinh-5-cap-anamur.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-72996" style="width:604px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/07/hinh-5-cap-anamur-300x185.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/hinh-5-cap-anamur.jpg?strip=all 700w" sizes="(max-width: 700px) 100vw, 700px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Tàu Cap Anamur</em></p>



<p>Lúc đầu, không ít người đã bi quan cho đây là một công việc phiêu lưu vô định, nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, những kết quả tốt đẹp ngoài sự mong đợi của mọi người đã cho thấy sáng kiến ông<strong> </strong>Rupert Neudeck thật tuyệt vời!</p>



<p>Với sự yểm trợ tài chánh từ khắp nơi, sau đó “Một con tàu cho Việt Nam” đã trở thành hai, rồi ba con tàu &#8211; <a>Cap Anamur I, II </a>và III.</p>



<p>Tính tới năm 1986, tổ chức “A ship for Vietnam” đã cứu vớt được 10,375 thuyền nhân trên biển Đông và chăm sóc trên 35,000 người đau yếu, kiệt sức.</p>



<p>Cũng trong năm 1986, sau khi Cao ủy Tỵ nạn LHQ áp dụng “chính sách thanh lọc” đối với những thuyền nhân mới tới các trại tỵ nạn ở Đông Nam Á, tàu Cap Anamur II đã đưa 358 thuyền nhân không đuợc một quốc gia đệ tam nào cấp chiếu khán về thẳng hải cảng Hamburg của Tây Đức. <strong>(Chú thích 1)</strong><strong></strong></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/hinh-6-Cap_Anamur_II_arriving_in_Hamburg.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="733" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/hinh-6-Cap_Anamur_II_arriving_in_Hamburg-1024x733.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-72997" style="width:636px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/07/hinh-6-Cap_Anamur_II_arriving_in_Hamburg-300x215.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/hinh-6-Cap_Anamur_II_arriving_in_Hamburg-1024x733.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2024/07/hinh-6-Cap_Anamur_II_arriving_in_Hamburg-768x550.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/hinh-6-Cap_Anamur_II_arriving_in_Hamburg.jpg?strip=all 1280w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Tàu Cap Anamur II</em> <em>chở thuyền nhân VN</em> <em>tới Hamburg, tháng 5 năm 1986</em><em></em></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/hinh-7-Tien-si-rupert-neudeck.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="576" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/hinh-7-Tien-si-rupert-neudeck-1024x576.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-72998" style="width:652px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/07/hinh-7-Tien-si-rupert-neudeck-300x169.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/hinh-7-Tien-si-rupert-neudeck-1024x576.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2024/07/hinh-7-Tien-si-rupert-neudeck-768x432.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/hinh-7-Tien-si-rupert-neudeck.jpg?strip=all 1280w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Tiến sĩ Rupert Neudeck (trái) và nữ Thủ tướng Đức </em><em>Angela Merkel</em><em></em></p>



<p>Năm 2005, đánh dấu 30 năm miền Nam VN bị lọt vào tay cộng sản Bắc Việt, ông<strong> </strong>Rupert Neudeck đã được mời lên chương trình Paris By Night 77 để được phỏng vấn và tri ân về những gì mà ông và tổ chức A ship for Vietnam – còn gọi là Ủy ban Anamour &#8211; đã làm được cho thuyền nhân Việt Nam.</p>



<p>* * *</p>



<p>Về phần Hòa Lan, tuy không có những cá nhân đứng ra vận động thành lập các tổ chức như A ship for Vietnam nhưng hoạt động âm thầm của các công ty hàng hải và nhân viên đã đem lại kết quả thật ấm lòng.</p>



<p>Viết một cách chính xác, các công ty hàng hải ấy đã cố tình “làm lơ”, nếu không muốn nói là bật đèn xanh, để các tàu buôn của mình ưu tiên cứu người bị nạn trên biển cả, bất chấp những thiệt hại về doanh thu của công ty.</p>



<p>Theo một bài trên trang mạng <em>Vạn Giã Quê Tôi</em> viết về hoạt động nhân đạo nói trên, hai công ty hàng hải Hòa Lan đóng góp nhiều nhất vào việc cứu vớt người Việt trên biển là Smit Lloyd và Ned Lloyd. Chỉ trong hai năm 1980 và 1981, hai công ty này đã vớt được trên 2300 thuyền nhân Việt Nam.</p>



<p>Còn theo thuyền trưởng Willem Christ của công ty Smit Lloyd, trước sau các tàu buôn của công ty đã vớt được trên 10,000 thuyền nhân Việt Nam rải rác khắp vùng biển Đông Nam Á, trong đó chỉ có khoảng 400-500 do tàu của ông vớt, nghĩa là còn rất nhiều tàu khác của công ty Smit Lloyd đã tham gia hoạt động nhân đạo này.</p>



<p>Ông Willem Christ chỉ được mọi người biết tới tên tuổi vào năm 2012 sau khi bà mẹ của Alisha, một nữ thuyền nhân Việt Nam được ông cứu vớt trước đó 30 năm nhờ đài truyền hình SBS TV của Úc giúp tìm kiếm vị ân nhân của gia đình mình. <strong>(Chú thích 2)</strong></p>



<p>* * *</p>



<p>Theo phóng sự trên SBS TV, vào một đêm trong tháng 2 năm 1982, chiếc thương thuyền của công ty Smit Lloyd do ông Willem Christ làm thuyền trưởng đang đi trên biển Đông thì khám phá ra chiếc ghe lâm nạn.</p>



<p>Đó là một chiếc ghe chở 168 thuyền nhân Việt Nam đang bị trôi giạt. Trước đó mấy ngày, ghe bị chết máy, các “chuyên viên” trên ghe đã liên tục tìm đủ mọi cách để sửa cái máy tàu nhưng nó vẫn không chịu nổ; giờ đây thực phẩm và nước uống sắp cạn; cái chết chỉ còn là vấn&nbsp; đề thời gian.</p>



<p>Nhưng cứu tinh đã tới kịp thời: chiếc tàu của thuyền trưởng Willem Christ. Trong số thuyền nhân được vớt có cô bé Alisha 2 tuổi, cha mẹ và một người cậu.</p>



<p>Sau khi chắc chắn tất cả mọi người đã được vớt lên tàu, ông Willem Christ đã cho tàu ủi chìm chiếc ghe tỵ nạn để dàn cảnh đây là một tai nạn. Ông giải thích với phóng viên SBS TV:</p>



<p>“Khi ghe bị chìm trên biển, họ không còn là người tỵ nạn nữa mà theo quốc tế công pháp, là những người lâm nạn bắt buộc phải cứu vớt&#8230; Ngày ấy, tôi đã ghi trong nhật ký hàng hải (logbook): Trong màn đêm, tàu đụng phải một vật nổi phía trước.”</p>



<p>“Chúng tôi không có gì để đãi họ ngoài một ly nước lạnh, tôi nói với họ &#8211; như tôi luôn nói với những thuyền nhân khác được chúng tôi vớt &#8211; đừng cám ơn chúng tôi, mà hãy cám ơn trời đã cho quý vị được may mắn gặp chúng tôi trên biển Đông này.”</p>



<p>Đoàn người được chiếc tàu của ông Willem Christ đưa tới đảo Pulau Bidong, thuộc lãnh thổ Mã Lai, nơi có một trại tỵ nạn của Cao ủy Tỵ nạn LHQ.</p>



<p>* * *</p>



<p>Gia đình của Alisha được định cư tại thành phố Melbourne, Úc-đại-lợi. Ngay sau khi tạm gọi là an cư lạc nghiệp trên quê hương thứ hai, bà mẹ của Alisha đã bỏ công tìm kiếm vị thuyền trưởng ân nhân của gia đình mình nhưng không có kết quả.</p>



<p>Nguyên nhân chính không phải vì ở Hòa Lan không ai biết, hoặc không ai còn nhớ về việc con tàu của ông Willem Christ vớt 168 người vào đầu năm 1982, mà chỉ vì ngày ấy do những nguyên nhân tế nhị, phức tạp liên quan tới bảo hiểm và trách nhiệm trước công ty, công việc cứu người trên biển Đông của những chuyến tàu của hai công ty Smit Lloyd và Ned Lloyd đã không được ghi lại đúng với thực tế đã diễn ra!</p>



<p>Sau gần 30 năm, bà mẹ của Alisha mới tìm ra vị cứu tinh năm xưa, và cô con gái hai tuổi ngày ấy nay đã đại diện gia đình tới thủ đô Hòa Lan Amsterdam tái ngộ vị thuyền trưởng.</p>



<p>Alisha nói với SBS TV:</p>



<p>“Thật tuyệt vời khi tôi có cơ hội tái ngộ với người đã cứu vớt tôi. Chính nhờ ông Willem Christ &#8211; cùng với công ơn cha mẹ &#8211; mà tôi có được cuộc sống hiện nay. Bằng không, có thể tôi đã trở thành một kẻ ăn xin trên đường phố Việt Nam, hoặc nằm trong số những người đã vùi thây dưới lòng biển”.</p>



<p>* * *</p>



<p>Tôi không nhớ nhiều về thời gian sống ở trại Hawkins Road bởi vì trên thực tế cũng chẳng có nhiều điều đáng nhớ.</p>



<p>Lúc đó khoảng 3, 4 giờ chiều, đoàn người được một nhân viên Cao ủy Tỵ nạn nói tiếng Anh (có lẽ là người Hoa) và một thông dịch người Việt hướng dẫn vào trại.</p>



<p>Phía trước trại có một cái cổng sắt trên có hai hàng chữ bằng tiếng Việt và tiếng Anh:</p>



<p>HÂN HOAN CHÀO ĐÓN CÁC BẠN</p>



<p>WELCOME TO HAWKINS ROAD</p>



<p>và huy hiệu của Cao ủy Tỵ nạn LHQ (UNHCR).</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/hinh-8-singapore-vietnamese-refugee-camp-1.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="478" height="640" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/hinh-8-singapore-vietnamese-refugee-camp-1.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-72999" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/07/hinh-8-singapore-vietnamese-refugee-camp-1-224x300.jpg 224w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/hinh-8-singapore-vietnamese-refugee-camp-1.jpg?strip=all 478w" sizes="(max-width: 478px) 100vw, 478px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Cổng trại Hawkins Road. Ngôi nhà lầu mái ngói đỏ phía trong là cửa tiệm bách hóa &amp; hàng quán ăn uống</em></p>



<p>Vào bên trong, phía tay trái có một cái nhà tiền chế trông giống như một trailer lớn, có lẽ trước kia là Văn phòng Cao ủy Tỵ nạn, nay được các nhân viên an ninh sử dụng.</p>



<p>Chúng tôi được đưa vào phía trong, tới trước một văn phòng nho nhỏ. Tại đây chúng tôi được nhân viên Cao ủy Tỵ nạn phổ biến một số việc như sau:</p>



<p>&#8211; Về nơi tạm trú, vì hầu hết các dãy nhà trong trại đều đã có người chiếm ngụ, chúng tôi cứ việc tới những căn còn trống, hoặc bất cứ căn nào đang có người ở xin họ chia bớt cho một khoảng trống để đặt lưng; cuối cùng, nếu vẫn không có chỗ thì ngủ tạm ở ngoài hàng hiên.</p>



<p>&#8211; Tại các căn nhà đều có bếp (dầu hôi), nồi niêu xoong chảo, mền chiếu của những người đi định cư để lại, chúng tôi có thể sử dụng.</p>



<p>&#8211; Bắt đầu từ ngày mai, mỗi ngày mỗi đầu người sẽ được Cao ủy Tỵ nạn cấp phát 2.50 đô-la Mỹ để chi dụng. Văn phòng trại sẽ có thông báo trên loa phóng thanh.</p>



<p>&#8211; Thực phẩm và mọi thứ cần thiết có thể mua ở cửa tiệm đối diện văn phòng trại.</p>



<p>&#8211;&nbsp; Mọi người có thể ra phố tham quan, mua sắm nhưng nên hỏi kỹ đường đi nước bước để khỏi bị lạc&#8230;</p>



<p>Khi đi vào các dãy nhà để tìm chỗ tá túc, tôi đã chán nản khi thấy ngay ở những dãy nhà nằm phía ngoài, có nơi người ta đã phải trải chiếu ngoài hàng hiên!</p>



<p>Nhà ở đây là nhà mái ngói tường gạch nhưng được xây từ đầu thế kỷ, lại bị bỏ trống trong nhiều năm trời cho nên khá bệ rạc.</p>



<p>Trong khi gia đình bà chị vợ (7 người) kéo nhau vào sâu hơn ở phía trong với hy vọng tìm được chỗ trống, tôi vẫn đứng tần ngần trước một căn nhà trông tương đối sạch sẽ, dự tính sẽ vào hỏi, nếu không còn chỗ sẽ ở tạm ngoài hàng hiên. Gia đình tôi chỉ có hai vợ chồng với hai con nhỏ nên cũng dễ sắp xếp.</p>



<p>Bỗng một người đàn ông từ trong nhà bước ra, nheo mắt nhìn tôi rồi lớn tiếng chửi thề:</p>



<p>&#8211; Địt mẹ mày Thiện!</p>



<p>Tôi ngạc nhiên sững sờ vì trước mắt tôi không ai khác hơn là Phạm Khắc Khiêm, tay trung úy Hải Quân cùng Đội từ những ngày đầu cải tạo ở Thành Ông Năm, “ân nhân” đã chỉ dẫn tôi cách đi biển đồng thời cũng là “oan gia” đã mua cho tôi cái hải bàn M88 dổm!</p>



<p>Tay bắt mặt mừng xong xuôi, Khiêm kể đại khái vợ chồng hắn và đứa con nhỏ vượt biên đầu năm 1982 (sau tôi mấy tháng), tới Pulau Bidong được Mỹ nhận ngay vì có cha mẹ và tất cả anh chị em đã di tản hồi năm 1975 và định cư ở Mỹ; hắn sang Singapore cách đây hai tuần và ngày mai sẽ đáp phi cơ đi Mỹ!</p>



<p>Tới phiên tôi cũng kể sơ chuyện vượt biên của mình. Rồi Khiêm dắt chúng tôi vào nhà lúc đó đã có hai gia đình tạm trú. Hắn dọn dẹp cái khoảng trống được sử dụng làm nhà bếp, nói chúng tôi ngủ đỡ, ngày mai hắn sẽ bàn giao “giang sơn” của hắn.</p>



<p>Đêm hôm đó hai thằng bạn tù ngồi ở hàng hiên nói chuyện tới khuya. Riêng tôi, khi thuật lại chi tiết chuyến đi đầy sóng gió của chiếc ghe 7 mét rưỡi của mình, tôi dấu nhẹm việc cái hải bàn M88 Khiêm mua giúp tôi là đồ dổm!</p>



<p>Bởi vì cuối cùng cả hai thằng bạn tù và gia đình đã tới được bến bờ tự do mà không bị trầy vi sứt vảy. Tôi không muốn Khiêm bị cụt hứng vì cái chuyện không vui ấy!</p>



<p>Sáng hôm sau, khoảng 10 giờ, đại diện Cao ủy Tỵ nạn vào trại phát tiền, mỗi ngày một đầu người được 2.50 đô Mỹ, tức 5 đô-la Singapore theo thời giá (tôi không nhớ rõ mỗi lần được phát tiền cho mấy ngày).</p>



<p>Sau đó vợ của Khiêm dẫn chúng tôi vào cửa tiệm đối diện văn phòng trại. Đó là tầng trệt của một ngôi nhà lầu khá lớn, vừa bán các loại thực phẩm khô (kể cả gạo), các mặt hàng tạp hóa, dầu hôi để nấu&nbsp; bếp, vừa kiêm quán ăn và giải khát.</p>



<p>Phía trước có tấm bảng hiệu ghi bằng ba ngôn ngữ Hoa, Mã Lai và Việt Nam.</p>



<p>Xế chiều, chúng tôi tiễn gia đình Khiêm lên xe bus đi ra phi trường rồi trở về “giang sơn” vừa được hắn bàn giao: cái phòng nho nhỏ có cửa, diện tích vừa đủ trải hai chiếc chiếu.</p>



<p>* * *</p>



<p>Tạm quên đây là trạm dừng chân cuối cùng trước khi tới miền đất hứa, phải nói cuộc sống ở Trại tỵ nạn Hawkins Road buồn chán vô cùng. Đã không có bất cứ sinh hoạt giải trí nào lại thêm tâm trạng nôn nao trong lúc chờ đợi được gọi tên đi ra phi trường; cho nên tuy tối tối cũng có ti-vi màu phía trước văn phòng, cũng chiếu phim tập võ hiệp <em>Hoàng Phi Hùng </em>của Tàu, chương trình ca nhạc <em>Solid Gold</em> của Mỹ, các trận đá banh quốc tế&#8230; mà hồi còn ở Galang chúng tôi say mê theo dõi, nhưng cũng chẳng có mấy người xem!</p>



<p>May mắn nhất là những người vừa có tiền vừa có người quen biết ở Singapore đưa đi tham quan danh lam thắng cảnh của đảo quốc và mua sắm, ăn uống ở “Downtown”. Còn những ai rời Galang không một xu dính túi như gia đình tôi thì chỉ biết quanh quẩn trong hàng rào của trại Hawkins Road và&#8230; ăn đầu heo!</p>



<p>Để những người tỵ nạn ngày ấy không ghé Singapore hiểu được nỗi đau khổ phải ăn đầu heo, tôi xin có đôi dòng giải thích.</p>



<p>Không biết kỹ nghệ thịt heo đóng hộp ở đảo quốc này mỗi ngày giết bao nhiêu con, chỉ biết đầu heo ở Singapore là món thịt tươi rẻ mạt chưa từng thấy trên cõi đời này. Cứ hai ba ngày lại có một chiếc xe vận tải nho nhỏ chở thực phẩm tươi &#8211; rau trái, thịt cá &#8211; vào trại Hawkins Road để bán cho dân tỵ nạn. Mỗi cái đầu heo (heo kỹ nghệ, to bằng đầu con bê) chỉ giá 2.50 đô-la Singapore (1.25 đô-la Mỹ), trong khi một bịch 4 trái táo xanh nhỏ xíu, héo hắt (nhập cảng từ Úc, Tân-tây-lan) đã giá một đô-la!</p>



<p>Mặc dù trong suốt chín tháng ở Galang, ba bố con tôi chỉ được ăn thịt heo tươi một lần duy nhất vào dịp Tết ta, nhưng sang Singapore phải ăn đầu heo mấy ngày liền cũng vẫn ngán tới cổ, vợ tôi phải bấm bụng cho chồng con ăn tôm cá tươi một ngày trước khi mua cái đầu heo kế tiếp!</p>



<p>* * *</p>



<p>Sau ba bốn ngày cấm cung trong trại Hawkins Road, tôi quyết định “xuống phố”. Phố ở đây là thị trấn Sembawang, cách trại Hawkins Road gần một km, nằm ở cực bắc hòn đảo Singapore.</p>



<p>Sembawang là một trong hơn 20 đơn vị hành chánh, thương mại của Singapore mà các tư liệu tiếng Anh khi viết về đảo quốc này đã không thống nhất cách gọi, chỗ thì gọi là city, chỗ gọi là town, chỗ gọi là district&#8230;, ở đây tôi gọi là thị trấn (town) nếu ở ngoại ô, hoặc khu vực (district) nếu ở trung tâm. Gọi như thế để phù hợp với việc Wikipedia gọi Singapore là một “quốc gia thành phố” (city-state), nghĩa là cả nước chỉ là một thành phố lớn, tương tự Monaco bên Âu châu.</p>



<p>Singapore (Tân Gia Ba), danh xưng chính thức là Cộng Hòa Singapore (Republic of Singapore), là một hòn đảo nằm ở phía nam bán đảo Mã Lai, một bề 50 km, một bề 27 km, dân số gần 6 triệu (thống kê năm 2023).</p>



<p>Phía nam phân cách với Nam Dương bằng eo biển Singapore, phía bắc phân cách với Mã Lai bằng eo biển Johor, tuy gọi là eo biển (strait) nhưng thực ra bề ngang chưa tới 1 km, trông giống như một con sông, đứng bờ bên này có thể thấy bờ bên kia khá rõ.</p>



<p>So với các thị trấn khác, Sembawang tương đối nhỏ và thưa vắng.&nbsp; Sembawang trở thành một thị trấn có lẽ chỉ vì trước kia có căn cứ hải quân và nay có các cầu tàu (piers).</p>



<p>Nhưng dù nhỏ và thưa vắng, trước mắt tôi Sembawang cũng là thị trấn văn minh, hiện đại nhất mà tôi được được biết từ trước tới nay. Cái gì cũng mới lạ, đẹp mắt, đường phố sạch sẽ, hàng quán khang trang&#8230;, cả đến con người cũng khác hẳn người Hoa ở Chợ Lớn trước kia, cao ráo, sáng sủa, dễ nhìn hơn.</p>



<p>Sau khi tham quan một vòng trung tâm thương mại của Sembawang, tôi trở về trại và chiều hôm sau rủ vợ con ra phố, mua KFC cho hai đứa nhỏ còn vợ chồng ăn mì ở cái quán lộ thiên có vẻ bình dân nhất ở gần bờ tôi mà đã nhắm từ hôm trước. Lỡ chơi bảnh tôi tới luôn, mua một gói thuốc lá Winston của đế quốc Mỹ và một lon bia Tiger của Singapore rồi ra ngồi trên băng ghế bên bờ ngắm cảnh.</p>



<p>Lúc đó tôi mới chú ý tới mấy người đàn ông ngồi gần đó, trên băng ghế hoặc dưới mặt cỏ, vừa giải khát vừa trò truyện với nhau.</p>



<p>Tôi đoán họ là người Mã Lai qua ngôn ngữ cũng như nét mặt, màu da. Thấy họ cũng có vẻ hiền lành, tôi lân la làm quen, hỏi chuyện bằng tiếng Anh, dù cả đôi bên không lưu loát cho lắm cũng có thể hiểu được nhau.</p>



<p>Đó là những công nhân Mã Lai sang Singpore làm việc dưới hình thức sau này rất phổ biến tại Việt Nam: xuất khẩu lao động (XKLĐ).</p>



<p>Và cũng giống như đại đa số XKLĐ Việt Nam hiện nay, ngày ấy người&nbsp; Mã Lai sang Singapore chỉ để làm cu-li (lao động tay chân) cho người Tàu Singapore. Sau này tìm hiểu tôi được biết vào cuối thập niên 1970 đầu thập niên 1980, công nhân Mã Lai chiếm tới 40% lực lượng lao động ở Singapore, đa số là lao động nặng.</p>



<p>Phải lao động nặng hơn với số lương thấp hơn người bản xứ nhưng dân Mã Lai vẫn tranh giành nhau đi XKLĐ sang Singapore vì ở Mã Lai thiếu công ăn việc làm, và nếu có kiếm được thì lương cũng rất thấp so với bên Singapore.</p>



<p>Chưa hết, các công nhân Mã Lai còn bị nhà cầm quyền Singapore “bóc lột” bằng cách quy định một lệ phí visa lao động khá nặng, cứ ba tháng lại phải đóng một lần!</p>



<p>Một trong hai công nhân Mã Lai trò chuyện với tôi còn khá trẻ và ra vẻ có trình độ đã không dấu được sự cay đắng trước những bất công, tủi nhục của người XKLĐ Mã Lai ở Singapore.</p>



<p>Tới lúc đó tôi mới hiểu những công nhân Mã Lai chiều chiều kéo nhau ra cái bờ đá này không phải để ngắm sóng nước mà để nhìn về quê nhà ở ngay phía bên kia. Nghĩ tới thân phận lưu vong của mình, quê hương xa nghìn dặm không biết có ngày về hay không, tôi hy vọng cuộc sống ở nơi được nhiều người gọi là “miền đất hứa” sẽ không đến nỗi thê thảm như những người XKLĐ Mã Lai ở Singapore!</p>



<p>* * *&nbsp;</p>



<p>Ở trại Hawkins Road được khoảng một tuần, bà chị vợ rủ vợ tôi và mấy người khác ra phố Singapore, dân địa phương gọi là “Downtown”.</p>



<p>Như tôi có lần đã viết, không phải người “tỵ nạn cộng sản” nào cũng khố rách áo ôm như gia đình tôi mà có những người giàu, thậm chí rất giàu, chẳng hạn các gia đình người Hoa ở Chợ Lớn, sau khi phong trào “đi bán chính thức” chấm dứt đã tung vàng ra để vượt biên với tư cách tỵ nạn cộng sản.</p>



<p>Những người Hoa này ra phố Singapore như cơm bữa cho nên họ rành rẽ mọi thứ, từ đường đi nước bước, danh lam thắng cảnh, trung tâm thương mại, ẩm thực&#8230;&nbsp; Cho nên ai muốn ra phố cứ việc đi theo họ, khi về chỉ cần nhớ bến và số xe bus.</p>



<p>Lúc đầu vợ tôi không muốn đi vừa vì không có tiền mua sắm vừa vì bầu bì, nhưng sau khi tôi đồng ý hộ tống, nàng đã đi theo bà chị.</p>



<p>Đoàn người chờ ở trạm khoảng 10 phút thì xe bus tới. Lần đầu tiên trong đời tôi mới thấy một chiếc xe bus lớn, đẹp, tối tân, tiện nghi như thế. Theo sự hướng dẫn của mấy người Hoa Chợ Lớn, chúng tôi lần lượt bước lên xe, bỏ tiền cắc vào cái khe trên máy bán vé tự động, lấy vé rồi tìm chỗ ngồi.</p>



<p>Đi được nửa đường, tôi đã thấy những tòa nhà chọc trời từ xa xa. Càng tới gần trong tâm thành phố càng có nhiều bóng cây xanh, đủ loại hoa muôn màu hai bên đường, đem lại một cảm giác thật dễ chịu.</p>



<p>Bước xuống xe ở một trạm ở gần trung tâm thành phố, nơi tập trung&nbsp; những tòa nhà cao nhất, như một phản xạ, tôi nghểnh cổ nhìn lên để ước đoán bao nhiêu tầng, chẳng khác nào mấy anh nón cối đứng trước khách sạn Caravelle (10 tầng), khách sạn President (14 tầng) ở Sài Gòn hồi năm 1975!</p>



<p>Thực ra, vào thời gian này &#8211; đầu thập niên 1980 &#8211; Singapore mới bước vào giai đoạn phát triển, phố xá nhà cửa không chỉ thua các thành phố lớn của Nhật Bản mà còn không bằng Hương Cảng, nhưng với một người Việt vừa rời bỏ một Sài Gòn suy tàn dưới chế độ cộng sản, những tòa cao ốc, những thương xá với kiến trúc tân kỳ của Singapore phải được xem là biểu tượng điển hình của thế giới tư bản văn minh hiện đại mà chúng tôi sắp được bước chân vào.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/hinh-9-singapore-1980-2.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="921" height="500" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/hinh-9-singapore-1980-2.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-73000" style="width:662px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/07/hinh-9-singapore-1980-2-300x163.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2024/07/hinh-9-singapore-1980-2-768x417.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/hinh-9-singapore-1980-2.jpg?strip=all 921w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Khu “Downtown” của Singapore vào năm 1982</em></p>



<p>Trong khi các bà các cô và đám con nít đi vào các thương xá, tôi đi một vòng khu phố. Nhận xét đầu tiên của tôi là sự sạch sẽ tới mức khó tin ở những nơi chốn công cộng, không một cọng rác, không một tàn thuốc lá, không một miếng giấy gói kẹo; kế đến là những thảm cỏ xanh rì xen lẫn hoa lá muôn màu được chăm sóc, cắt tỉa công phu&#8230;</p>



<p>Đường xá rộng lớn, hầu như chỉ có xe hơi và xe bus chứ ít thấy xe gắn máy và xe vận tải (xe vận tải chỉ được phép vào phố trước bình minh), còn taxi thì phần lớn là hiệu Mercedes!</p>



<p>Trước năm 1975 tôi chưa hề ra khỏi Việt Nam cho nên chỉ biết các thành phố lớn ở Á châu như Tokyo, Osaka, Hương Cảng, Thượng Hải, Đài Bắc&#8230; qua hình ảnh. Riêng Singapore cho tới giữa thập niên 1960 vẫn chưa có tiếng tăm gì, và nếu truyền thông quốc tế có nhắc tới thì cũng chỉ vì những rắc rối, bất ổn qua việc thành lập Mã Lai Á.</p>



<p>Ngược dòng lịch sử, trước năm 1963, Liên bang Mã Lai (Federation of Malaya) gồm các tiểu vương quốc và tỉnh tự trị nằm trên Bán đảo Mã Lai (Malay Peninsula).</p>



<p>Ngày 16/9/1963, do sự vận động của Anh quốc, một tân quốc gia được thành lập mang danh xưng Mã Lai Á (Malaysia), gồm Liên bang Mã Lai và ba cựu thuộc địa của Anh là North Borneo, Sarawak và Singapore.</p>



<p>Ý đồ của người Anh trong việc thành lập Mã Lai Á ai cũng thấy rõ: thông qua người Hoa duy trì ảnh hưởng tại khu vực, vì người Hoa chiếm tới 40% dân số của tân quốc gia này (75% ở Singapore, 23% ở Mã Lai) và đa số các cơ sở thương mại nằm trong tay họ.</p>



<p>Lo ngại trước việc Đảng Nhân Dân Hành Động của Lý Quang Diệu, lãnh tụ Singapore, sẽ làm mưa gió trong các cuộc bầu cử liên bang, Thủ tướng Tunku Abdul Rahman đã cố tình tạo ra căng thẳng sắc tộc (trong đó có căng thẳng giữa người Hoa sống ở Mã Lai với người Hoa sống ở Singapore), để rồi tới ngày 8 tháng 8 năm 1965, Quốc hội Mã Lai đã bỏ phiếu loại trừ Singapore ra khỏi Mã Lai Á với 126/126 phiếu thuận.</p>



<p>Lãnh tụ Singapore Lý Quang Diệu tuyên bố thành lập Cộng hòa Singapore (Republic of Singapore).</p>



<p><strong><em>LƯU Ý</em></strong><em>: Trước năm 1975, truyền thông miền Nam có một sự phân biệt&nbsp; rõ rệt giữa hai danh xưng “</em><em>Mã Lai” (</em><em>Malaya) và “</em><em>Mã Lai Á” (</em><em>Malaysia).</em></p>



<p><em>Chữ “</em><em>Mã Lai” để gọi người Mã Lai, </em><em>bán đảo Mã Lai (Malay Peninsula), và </em><em>Liên bang Mã Lai (Federation of Malaya) trước năm 1963, còn chữ “Mã Lai Á” để gọi tân quốc gia </em><em>Malaysia (sau 1963).</em></p>



<p><em>Về phần truyền thông của cộng sản Hà Nội thì phiên âm Malaysia thành Ma-lai-xi-a, cũng giống như họ gọi Úc-đại-lợi là Ôx-tơ-rê-li-a, Tân-tây-lan là Niu-di-lơn vậy.</em></p>



<p><em>Rất tiếc, sau năm 1975 hầu hết người miền Nam cũng như người Việt hải ngoại đã quên danh xưng </em><em>Mã Lai Á</em><em> để chỉ gọi vắn tắt là Mã Lai.</em></p>



<p>* * *</p>



<p>Chính thức trở thành một tân quốc gia trên bản đồ thế giới vào năm 1965, với diện tích khoảng 700 km2 (1/3 diện tích Sài Gòn – Gia Định trước 1975), dân số 1.8 triệu người, tài nguyên không có, kỹ nghệ chưa phát triển, Singapore hầu như chỉ là một con số không, cho nên Thủ tướng Lý Quang Diệu mới ước ao một ngày không xa Singapore sẽ bằng Sài Gòn của miền Nam VN!</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/hinh-10-singapore-1969-chinatown.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="683" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/hinh-10-singapore-1969-chinatown.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-73001" style="width:592px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/07/hinh-10-singapore-1969-chinatown-300x200.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2024/07/hinh-10-singapore-1969-chinatown-768x512.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/hinh-10-singapore-1969-chinatown.jpg?strip=all 1024w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>

<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/hinh-10b-singapore-1969.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="640" height="427" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/hinh-10b-singapore-1969.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-73002" style="width:608px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/07/hinh-10b-singapore-1969-300x200.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/hinh-10b-singapore-1969.jpg?strip=all 640w" sizes="(max-width: 640px) 100vw, 640px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Phố phường Singapore vào năm 1969</em></p>



<p>Nhưng chỉ cần 15 năm &#8211; một khoảng thời gian quá ngắn trong chiều dài lịch sử của một dân tộc &#8211; Singapore đã không chỉ vượt xa Việt Nam, qua mặt các nước Đông Nam Á mà còn hiên ngang sánh vai với những quốc gia phát triển, giàu mạnh hàng đầu thế giới.</p>



<p>* * *</p>



<p>Mang mặc cảm thua kém và tâm trạng buồn tủi cho đất nước, tôi không còn hứng thú chiêm ngưỡng những tòa nhà cao ngất ngưởng, những thương xá tráng lệ nữa mà đi ra bên ngoài khu Downtown để quan sát, tìm hiểu sinh hoạt của người dân “Thành phố Sư tử”.</p>



<p>Trước hết nói về “người”, người Hoa ở Singapore nói chung so với người Hoa ở Chợ Lớn trông thanh tú, cao ráo, sạch sẽ, ăn mặc tươm tất, sang trọng hơn nhiều.</p>



<p>Trong khi 99% người Hoa ở Chợ Lớn nói chuyện với nhau ngoài đường phố bằng tiếng Hoa thì ở Singapore chỉ có người trung niên trở lên sử dụng tiếng Hoa, còn lại đám trẻ độ tuổi 30 trở xuống thì 99% nói tiếng Anh. Từ đó tôi mới hiểu tại sao đường phố Singapore đâu đâu cũng có những poster song ngữ của Bộ Văn Hóa bằng tiếng Quan Thoại và tiếng Anh: <em>Learn Mandarin</em> (Hãy học tiếng Quan thoại).</p>



<p>Ra khỏi khu Downtown tôi thấy một sinh hoạt thương mại hơi giống với ở Sài Gòn trước năm 1975, đó là những dãy sạp trên vỉa hè hai bên đường, bán quần áo, đồ chơi, máy radio-cassette&#8230; Viết là “hơi giống” vì những cái sạp ở đây rộng lớn, cao ráo, sạch sẽ, ngăn nắp hơn những cái sạp hai bên đại lộ Lê Lợi ngày xưa rất nhiều.</p>



<p>Tôi bị dãy sạp bán máy radio-cassette thu hút, không phải để mua vì làm gì có tiền mà chỉ để ngắm. Tới gần tôi mới khám phá ra ngoài máy móc người ta còn bán băng cassette nhạc ngoại quốc, đa số là nhạc Anh Mỹ, toàn nhạc hay mà giá chỉ 1 hoặc 2 đô-la Singapore (tức 50 xu hoặc 1 đô-la Mỹ). Giá rẻ mạt như thế bởi đây là băng “lậu”.</p>



<p>Tôi vô cùng thích thú vì trước năm 1975 ở Sài Gòn tôi chỉ biết đĩa hát “lậu”. Còn nhớ ngày ấy chỉ trừ một số cậu ấm cô chiêu có tiền mua đĩa hát ở tiệm Anna (đường Nguyễn Huệ) hoặc thân nhân ở ngoại quốc gửi về, đa số người yêu nhạc ngoại quốc chỉ có một nguồn thưởng thức duy nhất là các chương trình nhạc ngoại quốc yêu cầu, nhạc ngoại quốc chọn lọc trên đài phát thanh.</p>



<p>Tới giữa thập niên 1960, tại một số sạp bán hàng bên lề đường bắt đầu bán những đĩa hát bằng nhựa (vinyl) màu vàng cam với giá chỉ bằng 1/3 đĩa o-ri-gin bán trong tiệm. Đó là những đĩa hát làm lậu tại Hương Cảng, Đài Loan, Singapore, tuy chất lượng kém nhưng nếu chơi trên những dàn máy rẻ tiền thì không phân biệt được.</p>



<p>Hương Cảng lúc đó còn là một nhượng địa của Anh quốc, luật lệ lỏng lẻo, ai muốn làm gì thì làm cho nên không chỉ trở thành trung tâm làm hàng giả lớn nhất thế giới, mà còn là nơi in ấn sách báo “lậu”, sản xuất đĩa nhạc “lậu” với quy mô lớn.</p>



<p>Đài Loan thì không ký hiệp ước văn hóa song phương với bất cứ quốc gia nào cho nên tha hồ làm đĩa hát lậu, in sách lậu; phổ biến nhất là sách học ngoại ngữ, chẳng hạn bộ <em>Cours de Langue et de Civilization </em><em>Française</em> mà học sinh trung học tại miền Nam VN học sinh ngữ Pháp bắt buộc phải mua.</p>



<p>Còn Singapore vốn đã là một hải cảng tự do (free port) từ thời còn là thuộc địa của Anh quốc, sau khi trở thành một quốc gia riêng biệt (1965) vẫn duy trì tư thế hải cảng tự do để thu hút các nhà đầu tư ngoại quốc (không phải đóng thuế) để tạo công ăn việc làm cho người dân, và không đánh thuế hàng hóa để thu hút du khách. Vì thế hàng o-ri-gin và hàng lậu, hàng giả đều được bày bán tự do.</p>



<p>Tuy nhiên, vì càng ngày càng ít người Việt chơi máy hát đĩa trong khi băng nhạc (tape) ngày càng phổ biến, tới cuối thập niên 1960 đĩa hát lậu không còn phổ biến. Tại Sài Gòn, cùng với cảnh trăm hoa đua nở của băng nhạc Việt Nam, một số người đã thực hiện các băng nhạc ngoại quốc lậu, tức là thu từ đĩa hát o-ri-gin, như các băng Sélection, Anna (của tiệm bán đĩa hát Anna)&#8230;</p>



<p>Bước sang thập niên 1970, băng cassette bắt đầu trở nên phổ biến, tuy nhiên chất lượng âm thanh thua xa băng lớn cho nên thường chỉ được gắn trong xe hơi hoặc chơi bằng máy xách tay chạy pin.</p>



<p>Nhưng trước khi tôi đi tù về và vượt biên (1981) thì vào năm 1979 hãng Sony của Nhật đã làm một cuộc cách mạng với máy cassette “Walkman” nhỏ bằng bàn tay nhưng nghe qua headphones chất lượng âm thanh không thua gì nghe từ dàn máy lớn. Tiếp theo là các kiểu máy radio-cassette xách tay với âm thanh khuyếch đại hiệu Sharp (cũng của Nhật) làm mưa gió trên thị trường&#8230;</p>



<p>Tôi tới Singapore vào thời điểm ấy cho nên những băng cassette nhạc ngoại quốc đựng trong hộp in hình màu của ca sĩ/ban nhạc với danh sách ca khúc, có khi còn kèm theo cuốn sách nhỏ in lời hát đã có sức thu hút mãnh liệt. Nhận thấy đây là một dịp may hiếm có, tôi móc hết tiền trong túi ra mua.</p>



<p>Rất tiếc, lúc đó tôi chỉ có hơn 10 đô-la Singapore cho nên chỉ mua được 4, 5 cuốn cassette nhạc pop Anh Mỹ chọn lọc giá 1 đô-la và 3 cuốn đặc biệt giá 2 đô-la của The Beatles, The Shadows và nam danh ca Pháp Adamo.</p>



<p>So với những người có tiền mua máy radio-cassette trị giá cả trăm đô-la ở Singapore, tôi chẳng lời được bao nhiêu nhưng sau khi tới Úc, bạn bè đã phải ganh tỵ vì những cuốn cassette của tôi đã trở nên vô giá, bởi ở Úc chẳng những không có băng “lậu” mà còn không có những&nbsp; băng chọn lọc với hàng chục ca khúc No.1 của các ca sĩ, ban nhạc nổi tiếng như ở “hải cảng tự do” Singapore.&nbsp;</p>



<p>* * *</p>



<p>Sau gần hai tuần ở Singapore, chúng tôi được thông báo chiều 11/8/1982 sẽ đáp phi cơ sang Úc. Và phải đợi tới khi ra tới phi cảng quốc tế Changi, chúng tôi mới thực sự thấy được đỉnh cao văn minh của đảo quốc này.</p>



<p>Sau này có cơ hội tìm hiểu, tôi mới biết sau khi được chính thức khánh thành ngày 29 tháng 12 năm 1981, Changi International Airport đã được xưng tụng là phi cảng quốc tế hiện đại nhất, đẹp nhất thế giới, còn lúc đó, tôi chỉ biết mình bị choáng ngợp trước kiến trúc tân kỳ với đài kiểm soát không lưu cao chót vót (80m), với những bồn phun nước, cây cối hoa lá ở bên trong phi cảng, đặc biệt là các loại hoa lan và màn ảnh digital (đầu tiên trên thế giới) thông báo các chuyến đi và đến.</p>



<p>Hiện nay (2024), Changi International Airport đã có tới 4 terminal (dự trù sẽ có thêm T5 vào năm 2030), nhưng ngay ngày ấy, dù mới chỉ có T1, đã có tới 6 khu vực (island) với tổng cộng 200 quầy tiếp khách!</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/hinh-11-Air_traffic_control_tower_Singapore_Changi_Airport.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="800" height="640" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/hinh-11-Air_traffic_control_tower_Singapore_Changi_Airport.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-73003" style="width:634px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/07/hinh-11-Air_traffic_control_tower_Singapore_Changi_Airport-300x240.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2024/07/hinh-11-Air_traffic_control_tower_Singapore_Changi_Airport-768x614.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/hinh-11-Air_traffic_control_tower_Singapore_Changi_Airport.jpg?strip=all 800w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Đài kiểm soát không lưu của phi trường Changi (1982)</em></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/hinh-12-Changi_Airport_Terminal_1_.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="768" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/hinh-12-Changi_Airport_Terminal_1_-1024x768.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-73004" style="width:632px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/07/hinh-12-Changi_Airport_Terminal_1_-300x225.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/hinh-12-Changi_Airport_Terminal_1_-1024x768.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2024/07/hinh-12-Changi_Airport_Terminal_1_-768x576.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/hinh-12-Changi_Airport_Terminal_1_.jpg?strip=all 1280w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Một trong 6 khu Departures trong phi cảng Changi với màn hình digital vào đầu thập niên 1980</em></p>



<p>* * *</p>



<p>Trong lúc đoàn người đi Úc chúng tôi (độ khoảng 50 người) ngồi ở phòng chờ lên phi cơ, có một diễn tiến khá thú vị, và với riêng tôi phải nói là hết sức thú vị. Đó là việc một số người đã khám phá ra trong số người tỵ nạn đi Úc có bà QV.</p>



<p>Bà QV nói tới ở đây chính là nữ tác giả viết sách dạy nấu ăn nổi tiếng ở Sài Gòn trước năm 1975, đã được tôi nhắc tới hai lần trong thiên hồi ký này.</p>



<p>Thực ra, cả đời tôi mới được thấy hình ảnh của bà QV hai lần, một lần trên báo một lần trên tivi, cho nên nếu không được những người ngồi gần cho biết người phụ nữ quá tuổi trung niên ăn diện sang trọng kia là bà QV, tôi đã không nhận ra vị “ân nhân” đồng thời cũng là “oan gia” của mình!</p>



<p>Gọi bà là ân nhân là vì vào đầu năm 1971, khi theo chồng ra Căn Cứ Không Quân Pleiku sau ngày cưới, trong hành trang vu quy của cô vợ yêu quý của tôi có cả cuốn sách “Cách nấu những món ăn Việt Nam căn bản” của bà QV, nhờ đó mà trong thời gian sống ở “phố núi cao”, tôi không phải cơm hàng cháo chợ nữa, cho dù cơm nhà đôi khi cũng phải cố gắng lắm mới nuốt được.&nbsp;</p>



<p>Còn gọi là oan gia vì sau năm 1975, bà đã lên tivi khuyến khích mọi người nấu bánh chưng bằng bo bo và quả quyết “cũng ngon như bánh chưng nấu bằng nếp”!</p>



<p>Những sự việc trên tôi đã viết chi tiết trong một vài kỳ trước đây, nay chỉ xin kể sơ.</p>



<p>Vào năm 1977, trong thời gian tù cải tạo ở Phước Long, thân nhân một anh bạn không biết kiếm đâu ra được mấy số <em>Báo ảnh Liên Xô</em> nhân dịp lên thăm nuôi đưa vào trại cho mọi người đọc cho biết.</p>



<p>Về hình thức, <em>Báo ảnh Liên Xô</em> cũng tương tự tạp chí <em>Thế Giới Tự Do</em> của Phòng Thông Tin Hoa Kỳ trước năm 1975, cũng in màu rất đẹp tuy giấy có phẩm chất kém hơn. Còn về nội dung dĩ nhiên sặc mùi tuyên truyền, nhưng vì ở tù trong rừng sâu không có thứ gì để đọc, anh em cải tạo cũng chuyền tay nhau cho tới khi nó rách nát.</p>



<p>Qua đọc <em>Báo ảnh Liên Xô</em>&nbsp; tôi mới khám phá ra hình bà QV trên Trang Phụ Nữ do “chị Vera” phụ trách, và qua nội dung trao đổi giữa đôi bên, tôi được biết bà QV đã từng viết thư cho chị Vera để tự giới thiệu bản thân, đề nghị thiết lập thêm mục gia chánh trên <em>Báo ảnh Liên Xô</em>, và bà hứa sẽ xung phong tham gia, hướng dẫn cách nấu các món ăn truyền thống của Việt Nam.</p>



<p>Vì không có <em>Báo ảnh Liên Xô</em> để đọc tiếp, tôi cũng quên luôn bà QV cho tới khi về Suối Máu hơn một năm sau đó, trước tết Kỷ Mùi được xem bà lên đài truyền hình Sài Gòn Giải Phóng hướng dẫn dân miền Nam nấu bánh chưng bằng bo bo, loại ngũ cốc để nuôi gia súc mà chế độ CSVN và người dân miền Bắc gọi là “cao lương”!</p>



<p>Đám tù cải tạo gốc Phước Long chúng tôi đã được hân hạnh làm quen với bo bo trong thời gian còn ở Tây Ninh, khi lên Phước Long phải ăn bo bo 100% trước khi bị bắt ăn độn “bắp đá” (bắp Nam Mỹ phơi khô, cũng để nuôi súc vật).</p>



<p>Bo bo nấu chín có mùi hôi nồng rất khó ăn, chưa kể vỏ của nó còn dai hơn cao-su (vì thế khi làm thức ăn cho gia súc, người ta phải xay thành bột). Vậy mà bà QV khi lên truyền hình hướng dẫn dân Sài Gòn nấu bánh chưng bằng bo bo đã phán một câu xanh rờn:</p>



<p>&#8211; Chị em cứ nấu thử đi, ăn ngon như bánh chưng nấu bằng nếp vậy!</p>



<p>Không hiểu trong số người tỵ nạn có mặt trong phòng chờ này có ai ngày ấy đã xem bà QV lên truyền hình biểu diễn nấu bánh chưng bằng bo bo hay không, và nếu có thì giờ đây họ nghĩ gì trước việc bà (cùng cô con gái) lại rời bỏ thiên đường xã hội chủ nghĩa nơi bánh chưng được nấu bằng bo bo?!</p>



<p>Theo suy đoán của tôi, nếu nhớ, chắc họ cũng chẳng vui gì trước việc bà QV lại có mặt trong hàng ngũ “tỵ nạn cộng sản”!</p>



<p>Riêng tôi cũng không vui, nhưng nhớ tới việc có hàng trăm nghìn người Việt gốc Hoa không biết một câu tiếng Việt nhưng nhờ có nhiều vàng đã trở thành “tỵ nạn” &#8211; đi bán chính thức cũng như đi chui &#8211; sống dưới sự bao bọc của Cao ủy Tỵ nạn LHQ tại các trại tỵ nạn ở khắp Đông Nam Á, tôi cho rằng bà QV vẫn xứng đáng được gọi là “tỵ nạn” hơn những người Việt gốc Hoa nói trên rất nhiều!</p>



<p>Nhìn bà và cô con gái lăng xăng chụp hình cho nhau (cái máy hình chắc mới mua ở Singapore), trong khi một số người tỏ vẻ khó chịu ra mặt, tôi lại cho đó là một cái gì hết sức tự nhiên. Làm người ai mà không mưu cầu hạnh phúc, và khi đạt được thì có quyền vui hưởng, đơn giản thế thôi!</p>



<p>* * *</p>



<p>Gần một tiếng đồng hồ sau, hành khách chuyến bay của hãng Hàng không Úc QANTAS được gọi vào cổng (gate) để lên phi cơ. Đám hành khách “tỵ nạn” chúng tôi đi sau cùng.</p>



<p>Từ cổng, chúng tôi được hướng dẫn lên phi cơ bằng cầu thang ống (jet bridge, trong nước gọi là “ống lồng”). Vào bên trong phi cơ, nhìn mỗi hàng ngang có tới 10 ghế tôi mới biết mình được đi Boeing 747 “Jumbo”, kiểu phi cơ khổng lồ mà trước năm 1975 họa hoằn lắm mới có một chiếc đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất.</p>



<p>Theo sự hướng dẫn của nhân viên di trú của Tòa đại sứ Úc và các cô tiếp viên hàng không, đoàn người tỵ nạn chúng tôi được cho ngồi ở một khu vực dành sẵn, tuy nhiên vì có khá nhiều ghế trống, chúng tôi muốn ngồi đâu thì ngồi. Vợ tôi có tật say xe, sợ cao độ lại mang bầu nên đòi ngồi bốn ghế ở giữa (3-4-3), hơn nữa bay ban đêm có ngồi gần cửa sổ cũng chẳng thấy gì.</p>



<p>Khoảng 7, 8 giờ tối, phi cơ cất cánh. Chiếc Boeing 747 bay êm như mơ. Độ nửa tiếng sau, các nam nữ tiếp viên bắt đầu phân phối bữa ăn tối. Có hai món chính để lựa chọn là beef và chicken; vì ngày ấy chưa biết thịt bò Úc ngon nổi tiếng, cả gia đình tôi chọn món gà chiên, đi kèm với bánh mì ổ nhỏ, bơ, chesse, salad, một lon bia hay nước ngọt (loại lon ngắn bằng 2/3 lon 375 ml), hoặc một ly rượu vang đỏ hay vang trắng.&nbsp;</p>



<p>Bình thường, tôi không bao giờ ăn hết một phần ăn như thế, nhưng hôm đó tôi xơi tới gần hai phần!</p>



<p>Nguyên tôi chỉ được trời phú cho một nửa cái “ăn to nói lớn” mà một đực rựa cần có, nghĩa là tôi nói lớn, rất lớn, không cần microphone nhưng ăn rất ít và rất chậm.</p>



<p>Tôi ăn chậm bẩm sinh, tức là không phải răng yếu mà vì không thể nhai nhanh như mọi người được. Vì thế khi đi lính, vào quân trường tôi luôn luôn bị đói, mọi người ăn xong, vị huynh trưởng ra lệnh đứng lên rời “nhà bàn”, tôi vẫn chưa ăn được nửa bữa!</p>



<p>Nhưng kể cả trường hợp có thì giờ thoải mái, tôi cũng không thể ăn nhiều vì bao tử quá nhỏ; cho nên trong tù cải tạo, sau khi ăn trưa, ngủ trưa, trên đường đi lao động ca chiều tôi đã cảm thấy đói.</p>



<p>Vậy mà trên chuyến bay đi Úc, sau khi ngốn hết khẩu phần của mình, nhìn sang thấy của vợ gần như còn nguyên vẹn, tôi tiếc rẻ (một đức tính có được trong tù) bèn ăn nốt!</p>



<p>Trước 1975, tôi thích uống hơn là ăn, nói theo cách nói của dân nhậu là không “phá mồi”, nhưng sau bao năm tù đày, thiếu thốn, đói khổ, giờ này chỉ cần được ăn một bữa tối đơn giản trên phi cơ QANTAS cũng đủ khiến tôi cảm thấy cái ăn nó chưa bao giờ thú vị đến như thế!</p>



<p>* * *</p>



<p>Đêm đã khuya, mặc dù hầu hết hành khách đã ngủ yên, hai cô tiếp viên vẫn đi lên đi xuống ở hai lối đi, quan sát tình hình, trò chuyện hỏi han hành khách còn thức, và phục vụ giải khát.</p>



<p>Thấy trên xe đẩy ngoài trà, cà-phê, sữa, nước ngọt&#8230; còn có chai whisky Johnnie Walker nhãn đen, dù không cảm thấy thèm tôi vẫn xin một ly single (45 ml).</p>



<p>Tôi chỉ muốn được thưởng thức lại hương vị của chai rượu mình ưa thích trước năm 1975 như một sự hồi tưởng về quá khứ.</p>



<p>Đưa ly rượu lên mũi lắc nhẹ, hít một hơi tôi cảm thấy lâng lâng, sảng khoái; nhấp một ngụm nhỏ, vị cay thấm vào từng kẽ răng, hơi nồng bốc lên mũi, tôi nhắm mắt và nghĩ tới tương lai trước mặt. Mặc dù vẫn tiếc cơ hội đi Mỹ và chưa thể hình dung được cuộc sống ở Úc, tôi cũng cố tự nhủ thôi thì tới đâu hay tới đó, đã có hàng nghìn người nửa thầy nửa thợ như tôi định cư ở Úc chứ có phải một mình mình đâu.</p>



<p><em>Que sera sera</em>, nhưng ít nhất nơi quê hương thứ hai ấy tôi cũng sẽ không còn bị gọi là “ngụy”, các con tôi đi học về sẽ không còn hát “Đêm qua em mơ gặp bác Hồ&#8230;” để rồi ăn mấy cái tát của mẹ, vợ tôi sẽ không còn phải bon chen ngoài chợ trời&#8230;</p>



<p>Nhìn bà QV và cô con gái tay cầm ly rượu sánh vai cô tiếp viên tươi cười chụp hình lưu niệm, tôi mỉm cười, uống cạn ly rượu rồi thiếp đi lúc nào không hay.</p>



<p><strong>Nguyễn Hữu Thiện</strong></p>



<p>Melbourne, Úc-đại-lợi, tháng 7/2024</p>



<p><em>* Để hoài niệm một quãng đời và tưởng nhớ những người đã đến rồi đi, cách riêng:</em></p>



<p><em>&#8211; Linh mục Gildo Dominici (1935-2003) – một người cha tinh thần</em></p>



<p><em>&#8211; Nhạc sĩ Văn Giảng (1924-2013) – một người thầy</em></p>



<p><em>&#8211; Nhà thơ Phan Lạc Giang Đông (1940-2001) – một người bạn</em></p>



<p><em>&#8211; Nhà giáo Gaylord Barr (1947-2015) – một tâm hồn.</em></p>



<p>CHÚ THÍCH:</p>



<p><strong><em>(1)</em></strong><em> Sau khi sang Úc định cư, qua tham gia các sinh hoạt cộng đồng tôi mới biết tới hoạt động của tàu Cap Anamur. Thời gian này, Ủy Ban Cứu Người Vượt Biển </em><em>(Boat People S.O.S Committee)</em><em> </em><em>do Tiến Sĩ Nguyễn Hữu Xương, giáo sư Ðại Học University of California San Diego, sáng lập năm 1980 tại San Diego và làm chủ tịch, nhà văn Phan Lạc Tiếp giữ chức vụ Giám Ðốc Ðiều Hành, được xem là tổ chức nhân đạo (của người Việt) uy tín và đóng góp nhiều nhất vào quỹ hoạt động của </em><em>tổ chức “A ship for Vietnam” – thường được gọi là “Ủy ban Cap Anamur”.</em></p>



<p><em>Sau khi chi nhánh của Ủy Ban Cứu Người Vượt Biển được thành lập tại Úc châu, do một vị linh mục tuyên úy vốn là cậu họ của tôi làm Trưởng ban, tôi đã tham gia với tư cách xướng ngôn viên (MC) cho các buổi văn nghệ, đấu giá gây quỹ của Ủy Ban tại thành phố Melbourne.</em></p>



<p><em>Đầu năm 1986, Ủy Ban </em><em>Cứu Người Vượt Biển </em><em>đã hợp tác với Ủy Ban Cap Anamur cùng với tổ chức </em><em>Médecins Sans Frontières&nbsp;(MSF, Doctors Without Borders) của Pháp</em><em> đưa con tàu Cap Anamur II ra khơi.</em></p>



<p><em>Trong thời gian 5 tháng hoạt động, tàu Cap Anamur II đã gặp 14 chiếc ghe tỵ nạn và vớt được tổng cộng 888 thuyền nhân. Trong số này, 530 thuyền nhân được được trao cho Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ ở Trại Palawan, Phi-luật-tân, để đi định cư tại các quốc gia đệ tam đã cấp chiếu khán cho họ.</em></p>



<p><em>Số 358 thuyền nhân còn lại được tàu Cap Anamur II chở thẳng về Tây Đức, tới hải cảng Hambourg ngày 5 tháng 5 năm 1986. Tại đây, các thuyền nhân Việt Nam đã được người dân và chính quyền đón tiếp trọng thể, được vinh danh là “Những Chiến Sĩ của Tự Do” (Freedom Fighters).</em></p>



<p><strong><em>(2)</em></strong><em> SBS, viết tắt của </em><em>Special Broadcasting Service,&nbsp;gồm SBS Radio và SBS TV, là một hệ thống truyền thông công cộng của Úc.</em></p>



<p><em>SBS Radio b</em><em>ắt đầu hình thành vào giữa thập niên 1970 với việc chính phủ Úc cung cấp cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật để các thiện nguyện viên trong nhóm sắc tộc thực hiện các chương trình phát thanh bằng ngôn ngữ mẹ đẻ tại hai thành phố lớn nhất của Úc là Sydney và Melbourne.</em></p>



<p><em>Tới đầu năm 1978, SBS Radio được chính thức thành lập với kinh phí do chính phủ liên bang tài trợ, phát sóng trên toàn quốc.</em></p>



<p><em>Luật sư Lưu Tường Quang, một người tỵ nạn trước năm 1975 là công chức cao cấp thuộc Bộ Ngoại Giao VNCH, trở thành vị </em><em>Giám đốc đầu tiên của SBS Radio. </em><em>Riêng tôi cũng thường xuyên cộng tác với Ban Việt Ngữ từ những năm cuối thập niên 1990 cho tới đầu thập niên 2010.</em></p>



<p><em>Về truyền hình, SBS TV bắt đầu hoạt động vào tháng 10/1980.</em></p>



<p><em>Tới cuối thập niên 1980, SBS </em><em>đã lớn mạnh, không chỉ dành cho các sắc tộc (với trên 60 ngôn ngữ khác nhau) mà còn là một hệ thống phát thanh, truyền hình bằng Anh ngữ (mainstream) cho khán thính giả toàn quốc, và được tiếp vận tới nhiều quốc gia trên trên thế giới.</em></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>HOÀI NAM: CẢI TẠO NỬA MÙA – VƯỢT BIÊN TÀI TỬ (kỳ 25)</title>
		<link>https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-25/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Hoài Nam - Hồi Ký Cải Tạo]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 29 May 2024 08:08:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[Truyện Tù Cải Tạo]]></category>
		<category><![CDATA[hồi ký cải tạo]]></category>
		<category><![CDATA[truyện tù cải tạo]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=71875</guid>

					<description><![CDATA[CẢI TẠO NỬA MÙA – VƯỢT BIÊN TÀI TỬ (kỳ 25)Hồi kýHoài Nam NGUYỄN HỮU THIỆN Kỳ 1&#160;&#160;Kỳ 2&#160;&#160;Kỳ 3&#160;&#160;Kỳ 4&#160;&#160;Kỳ 5&#160; Kỳ 6&#160;&#160;Kỳ 7&#160;&#160;Kỳ 8&#160;&#160;&#160;&#160;Kỳ 9&#160;&#160;Kỳ 10&#160; Kỳ 11&#160;Kỳ 12&#160;Kỳ 13&#160;Kỳ 14&#160;Kỳ 15&#160;Kỳ 16&#160;Kỳ 17&#160;Kỳ 18&#160;Kỳ 19&#160;Kỳ 20&#160;Kỳ 21&#160;Kỳ 22 Kỳ 23 Kỳ 24 PHẦN II:&#160; VỀ MIỀN ĐẤT HỨA CHƯƠNG 3 – Cửa [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/02/cao-tao-sau-1975.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="502" height="335" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/02/cao-tao-sau-1975.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-60363" style="width:474px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/02/cao-tao-sau-1975-300x200.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/02/cao-tao-sau-1975.jpg?strip=all 502w" sizes="(max-width: 502px) 100vw, 502px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><strong>CẢI TẠO NỬA MÙA – VƯỢT BIÊN TÀI TỬ (kỳ 25)</strong><br><strong><em>Hồi ký</em></strong><br><strong><em>Hoài Nam NGUYỄN HỮU THIỆN</em></strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong><em><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=42965" target="_blank">Kỳ 1</a>&nbsp;&nbsp;<a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=43227" target="_blank">Kỳ 2</a></em></strong>&nbsp;&nbsp;<a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=43638" target="_blank"><strong>Kỳ 3&nbsp;&nbsp;</strong></a><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=44071" target="_blank"><strong>Kỳ 4&nbsp;&nbsp;</strong></a><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=44448" target="_blank"><strong>Kỳ 5</strong></a><strong><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=44904" target="_blank">&nbsp; Kỳ 6&nbsp;&nbsp;</a></strong><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=45847" target="_blank"><strong>Kỳ 7&nbsp;&nbsp;</strong></a><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=46303" target="_blank"><strong>Kỳ 8&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</strong></a><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=48543" target="_blank"><strong>Kỳ 9&nbsp;&nbsp;</strong></a><strong><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=50357" target="_blank">Kỳ 10</a></strong>&nbsp;</p>



<p class="has-text-align-center"><a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-11/"><strong>Kỳ 11</strong></a>&nbsp;<strong><a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-12/">Kỳ 12</a></strong>&nbsp;<strong><a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-13/">Kỳ 13</a></strong>&nbsp;<a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-14/"><strong>Kỳ 14</strong></a>&nbsp;<a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-15/"><strong>Kỳ 15</strong></a>&nbsp;<strong><a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-16/">Kỳ 16</a></strong>&nbsp;<a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-17/"><strong>Kỳ 17</strong></a>&nbsp;<a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-18/"><strong>Kỳ 18</strong></a>&nbsp;<strong><a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-19/">Kỳ 19</a></strong>&nbsp;<a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-20/"><strong>Kỳ 20</strong></a>&nbsp;<a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-21/"><strong>Kỳ 21</strong></a>&nbsp;<strong><a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-22/">Kỳ 22</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-23/">Kỳ 23</a></strong> <a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-24/"><strong>Kỳ 24</strong></a></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>PHẦN II:&nbsp; VỀ MIỀN ĐẤT HỨA</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>CH</strong><strong>ƯƠNG 3 – Cửa ngõ Tự Do và Tình Người</strong></p>



<p><em>(tiếp theo kỳ 24)</em></p>



<p>Ít lâu sau giải thể thao mừng Ngày Quân Lực VNCH, vào khoảng đầu tháng 7/1982, có đợt đi định cư ở Úc trong danh sách có tên Hóa, Zone trưởng Zone IV, khiến tôi lại chạnh nhớ tới thân phận “Zone trưởng muôn năm” của mình.</p>



<p>“Zone trưởng muôn năm” là hỗn danh anh em trên Ban đại diện Trại đặt cho tôi sau khi tất cả các zone trưởng khác (có người “thâm niên” thua tôi) đã lần lượt đi định cư từ đời nào mà tôi cứ tiếp tục ở lì. Thậm chí trong thời gian đó có zone đã thay zone trưởng tới hai lần.&nbsp;</p>



<p>Về phía bạn bè, người quen, có nhiều anh em Không Quân mới tới Galang hồi tháng 3, tháng 4/1982 nay đã đi Úc rồi.</p>



<p>Trước kia tôi mong được đi định cư sớm một thì nay mong mười. Nguyên nhân: vợ tôi có bầu!</p>



<p>Vẫn biết có không ít em bé ra chào đời tại Galang, ngay trong Barrack 73 của tôi thôi đã có hai em (bố mẹ đi cùng ghe với chúng tôi), nhưng chẳng đặng đừng mới phải nhận hòn đảo này làm nơi chôn nhau cắt rốn.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/05/h¼nh-1-galang-ng¦¦s¥i-c¦ng-ghe.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="960" height="499" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/05/h¼nh-1-galang-ng¦¦s¥i-c¦ng-ghe.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-71878" style="width:710px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/05/h¼nh-1-galang-ng¦¦s¥i-c¦ng-ghe-300x156.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2024/05/h¼nh-1-galang-ng¦¦s¥i-c¦ng-ghe-768x399.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/05/h¼nh-1-galang-ng¦¦s¥i-c¦ng-ghe.jpg?strip=all 960w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p><em>Ghe TV-191026 của chúng tôi với hai em bé ra chào đời tại Galang. Hình chụp tại sân nhà thờ Công giáo</em></p>



<p>Lúc này, anh Q, thông dịch viên chính của phái đoàn Mỹ mà tôi quen biết vẫn chưa đi định cư, tôi làm một lá đơn nhờ anh trao cho trưởng phái đoàn, trong đó tôi ra sức tả oán về sức khỏe của vợ tôi cũng như cuộc sống thiếu thốn của vợ chồng con cái ở trại tỵ nạn.</p>



<p>Thực ra chỉ có sức khỏe của vợ tôi đáng quan ngại (nàng chỉ còn 39 kg), còn thiếu thốn thì chúng tôi đã quen. Tính tôi không thích nhờ vả,&nbsp; mang ơn ai cho nên trong suốt thời gian sống ở Galang, trong số thân nhân bên Mỹ tôi chỉ liên lạc với người dượng (Trung tá “khu ao cá”) vì trong đơn xin đi Mỹ tôi khai địa chỉ của ông, và được ông gửi cho 100 đô-la Mỹ; tự ý ông gửi chứ tôi không xin.</p>



<p>Đây là viện trợ duy nhất gia đình tôi nhận được trong thời gian ở Galang. Chúng tôi chỉ dám xài phân nửa, một nửa giữ lại để tới khi đi định cư còn có tiền sắm quần áo giày dép trông cho đỡ thê thảm.</p>



<p>Thực phẩm Cao ủy phát, trừ rong biển đóng hộp tôi không thể “nhá”, thứ gì chúng tôi cũng ráng ăn. Nhưng sau khi có bầu thì vợ tôi đâm ra sợ pa-tê (ham), vốn là món “có chất đạm” chính yếu trong “thực phẩm Cao ủy”; sợ tới mức ngửi thấy mùi đã muốn ói!</p>



<p>Trong đơn gửi phái đoàn Mỹ, tôi không quên nhắc lại lời hứa của họ trước đây: nếu vì một nguyên nhân nào đó gia đình tôi không được phái đoàn Úc nhận, thì đơn xin đi Mỹ của tôi sẽ được chấp thuận ngay, không phải trải qua giai đoạn “under consideration” (được quan tâm).</p>



<p>Mấy ngày sau khi tôi trao lá đơn cho anh Q, loa phóng thanh của Phòng Thông tin gọi tên tôi “lên gặp phái đoàn Mỹ có việc cần”. Trên đường đi lên Phòng Định cư, tôi vô cùng hồi hộp, không biết phái đoàn sẽ YES hay NO?!</p>



<p>Tới nơi tôi mới biết vị trưởng phái đoàn đang nghỉ phép và được gặp người xử lý thường vụ (acting). Ông này ra vẻ có nhiều thiện cảm với tôi; ông lắng nghe và tỏ ra thông cảm với hoàn cảnh của gia đình tôi, tuy nhiên ông cho biết ông chỉ có thẩm quyền nhận gia đình tôi đi Mỹ định cư theo diện bình thường, tức là phải vào Galang 2 học về văn hóa nước Mỹ trong lúc chờ đợi được đi, chứ ông không có quyền đưa chúng tôi vào danh sách đi thẳng sang miền đất hứa.</p>



<p>Vì thế ông cho tôi hai sự lựa chọn: (1) vào Galang 2 chờ đi Mỹ, (2) tiếp tục chờ đi Úc, khi ông nào trưởng phái đoàn Mỹ trở lại Galang, nếu muốn tôi có thể làm một lá đơn khác.</p>



<p>Ông cho tôi hai ngày để suy nghĩ, bàn thảo với gia đình trước khi quyết định.</p>



<p>Khi tôi trở về barrack, cả hai gia đình bà chị vợ và ông anh họ vợ (đã được Mỹ nhận) xúm lại vây lấy tôi, mỗi người một ý. Cuối cùng vợ chồng tôi nghe lời bà chị vợ, quyết định tiếp tục chờ đi Úc; nếu chuyến đi Úc sắp tới vẫn không có tên lúc đó tính sau.</p>



<p>Thực ra tôi đã để vợ tôi toàn quyền quyết định, bởi trong vụ này “bà bầu” là nhân vật chính. Nhưng dù sao tôi cũng cảm thấy nhẹ nhõm, bởi trong thâm tâm tôi không muốn vào Galang 2 một chút nào.</p>



<p>Sau hơn nửa năm giữ chức zone trưởng, tôi và anh chị em trên văn phòng zone cũng như các barrack trưởng coi nhau như anh em; đồng bào trong zone, nhất là giới trẻ, rất quý mến tôi.</p>



<p>Tôi không bao giờ quên được những bó rau muống còn tươi nguyên do anh em trồng bên hông các Barrack 64, 67 thỉnh thoảng đem biếu, hoặc những bữa tiệc thịt rừng (do anh em bẫy được) mà tôi luôn luôn từ chối, trừ bữa thịt trăn tôi sẽ kể ở một đoạn sau.&nbsp;</p>



<p>Nguyên trại tỵ nạn Galang được vây quanh bởi rừng thưa nên có nhiều loại rau mọc hoang và thú rừng, như thỏ, chồn, mễn, trăn rắn&#8230; Sau lưng Zone III về hướng bắc có rất nhiều rắn và thỏ. Mỗi khi “trúng mối” anh em thường tổ chức nhậu và mời tôi.</p>



<p>Tôi từ chối nhậu không phải tôi không thích uống rượu, không biết ăn thịt rừng mà chỉ vì dân tỵ nạn mấy người có tiền mua bia Tiger (của Singapore) để uống, đa số chỉ đủ khả năng uống rượu mạnh do người Nam Dương bán lậu, không bảo đảm, từng gây chết người.</p>



<p>Những ai có mặt tại Galang 1 vào cuối năm 1981 đầu năm 1982 hẳn phải biết, hoặc nghe kể vụ một nhóm bạn trẻ tổ chức tiệc nhậu mừng lễ Giáng Sinh, mua phải rượu pha cồn độc, uống xong bốn người chết tại chỗ, một người chết sau đó tại bệnh viện. Tất cả được chôn tại Nghĩa trang Galang, năm nấm mồ nằm cạnh nhau.</p>



<p>[Trên FB Tỵ Nạn Galang, những người tới sau kể lại: không tính những trường hợp lẻ tẻ, đúng 10 năm sau (1991) lại xảy ra một vụ năm người cùng chết thảm vì uống rượu “Number One” của người Nam Dương bán lậu]</p>



<p>Còn bữa nhậu thịt trăn, nguyên nhân cũng khá ly kỳ rùng rợn: cháy rừng!</p>



<p>Đó là khu rừng nằm phía sau Zone II và Zone III. Tôi không biết nguyên nhân gây ra vụ cháy rừng này, chỉ biết Nam Dương nằm ngay đường xích đạo, nắng cháy da người, bước ra khỏi barrack là phải có cái dù che trên đầu, vì thế đám cháy lan thật nhanh, Galang lại không có bất cứ phương tiện cứu hỏa nào, nhà cầm quyền trại phải xin Ban Đại diện cho đọc thông báo trên loa phóng thanh kêu gọi đồng bào trong trại cùng tham gia chữa cháy bằng&#8230; tay.</p>



<p>Cũng may, rừng ở đảo Galang là rừng thưa cho nên mọi người sử dụng cuốc xẻng, chặt cây lấy cành dập ngọn lửa, cuối cùng cũng chế ngự được đám cháy.</p>



<p>Nhưng trong khi kêu gọi đồng bào vào rừng tham gia chữa cháy, cảnh sát Nam Dương cũng phải đề phòng việc có người lợi dụng cơ hội để trốn, vì thế họ phải cho nhân viên canh chừng.</p>



<p>Khoảng 2, 3 giờ chiều, các ngọn lửa đã được dập tắt, chỉ còn khói bốc lên ở một vài nơi. Khi cảnh sát ra lệnh cho mọi người trở về trại, một barrack trưởng thuộc Zone III chạy tới “mật báo” cho tôi biết một số anh em đã khám phá ra một con trăn lớn bị chết cháy và tạm thời ngụy trang bằng cách lấy cành lá phủ lên; anh em hỏi ý kiến tôi có cách nào để đưa “chiến lợi phẩm” về barrack mà không bị cảnh sát phát giác, tịch thu.</p>



<p>Tôi biết chắc chắn cảnh sát sẽ ở đây cho tới khi mọi người trở về trại, vì thế chỉ còn cách để con trăn ở chỗ cũ, sau khi cảnh sát đã rút đi hết mới lén trở lại, chặt con trăn ra làm mấy khúc bỏ vào bao bố đem về barrack, trông giống như vào rừng hái rau dại trở về vậy. Trường hợp cảnh sát khám phá ra con trăn trước khi rút lui thì coi như mình mất ăn!</p>



<p>Mọi người đành nghe theo lời tôi; và may mắn khi trở lại thì con trăn vẫn còn ở nguyên ở chỗ cũ!</p>



<p>Con trăn dài 3, 4 mét, thịt cũng phải trên chục ký, sau khi làm sạch sẽ anh em đã mang tới biếu tôi một khúc. Nhưng tôi vừa khoe với vợ thì đã bị nàng phản đối kịch liệt, chẳng những nàng nhất định không ăn, không cho hai con ăn, mà còn không cho tôi sử dụng bất cứ nồi niêu xoong chảo nào của nhà để nấu thịt trăn!</p>



<p>Vì thế, nể lời “bà bầu”, tôi đã phải trả lại khúc thịt trăn, và nhận lời tới tham dự bữa nhậu thịt trăn chung với anh em. Sau này tôi mới biết họ cố mời tôi cho bằng được là vì có một “mạnh thường quân” vừa lãnh được cái cheque thân nhân bên Mỹ gửi sang, chơi bảnh mua một thùng bia Tiger. Đây là lần đầu tiên, và duy nhất, ở Galang tôi được uống bia Tiger!</p>



<p>Tôi kể chuyện ăn nhậu ra đây không phải để khoe mà chỉ muốn nói lên phần nào tình cảm anh em trẻ dành cho ông “zone trưởng muôn năm”!</p>



<p>* * *</p>



<p>Những gì xảy ra hai, ba tuần sau khi tôi trả lời phái đoàn Mỹ (tiếp tục chờ đi Úc) cho thấy gia đình tôi có “số” định cư tại Úc: chúng tôi và gia đình bà chị vợ có tên trong danh sách đi Úc vào đầu tháng 8/1982.&nbsp; Chưa bao giờ có hai đợt đi Úc gần sát nhau như thế!</p>



<p>Tuy không vui mừng như lúc được cộng sản thả một cách bất ngờ từ trại tù Tống Lê Chân vào đầu năm 1981, khi mà một chú em Thiếu úy cùng ngành (Chiến Tranh Chính Trị) vẫn tiếp tục bị “học tập cải tạo”, tôi cũng có những bâng khuâng, bịn rịn khi phải rời xa Galang, nơi chốn đã ghi biết bao kỷ niệm của một đoạn đường đời chỉ hơn tám tháng!</p>



<p>Trong số những kỷ niệm ấy, đáng nhớ nhất phải là giao tình giữa tôi và nhạc sĩ Văn Giảng, người sau này cùng định cư tại thành phố Melbourne, Úc-đại-lợi, cùng với những dấu ấn mà cha Dominici để lại nơi “con chiên lạc bầy” này.</p>



<p><strong>Văn Giảng – Ai về sông Hương</strong></p>



<p>Nhạc sĩ Văn Giảng, tên họ đầy đủ là Ngô Văn Giảng, đã được tôi nhắc tới trong một kỳ trước, khi ông tình nguyện làm thông dịch cho Cao ủy từ đảo Kuku tới đảo Galang trên tàu Seasweep.</p>



<p>Ông và người con trai lớn vượt biên trước chúng tôi khoảng một tháng, tới thẳng đảo Natuna, là hòn đảo chính của hạt Natuna, cũng là tên quần đảo nơi có hai đảo nhỏ Pulau Laut và Sedanau mà chúng tôi đã lần lượt ở qua.</p>



<p>Tôi không biết ghe của ông Văn Giảng lớn nhỏ, chỉ biết có khoảng 20 người, đi từ Cần Thơ. Chủ ghe kiêm hoa tiêu là anh NVT, một người trung niên lạnh lẹ hoạt bát, xuất thân hướng đạo, “khách” phần lớn là sinh viên học sinh con nhà khá giả, trừ hai anh em tài công là cựu quân nhân. Tất cả là người miền Nam trừ cha con ông Văn Giảng gốc Huế.</p>



<p>Mọi người trên ghe của ông cũng được tàu Flora đưa tới đảo Kuku cùng chuyến với chúng tôi, và cũng ở trong những căn lều gần bãi biển. Tuy nhiên vì thời gian ở Kuku không lâu, tôi lại bị sốt rét hành gần chết nên không có dịp làm quen với bất cứ ai.</p>



<p>Chỉ sau khi tới Galang và cả hai ghe được ở cùng Barrack 73, tôi và ông Văn Giảng mới bắt đầu thân nhau.</p>



<p>Từ đoạn này, tôi sử dụng hai chữ “bác Giảng”. Thứ nhất, trong Barrack 73 của tôi, ngoài anh NVT và một ông cựu Thiếu tá “nửa chừng xuân”, ông anh cột chèo của tôi cũng “nửa chừng xuân” và một ông anh họ vợ đã quá “nửa chừng xuân”, tất cả còn lại đều còn trẻ, hoặc rất trẻ, nên họ gọi nhạc sĩ là “bác” và xưng “cháu”.</p>



<p>Riêng tôi còn hay ngồi đàn địch ca hát với cậu trưởng nam của bác, anh anh em em với nhau thì gọi “bác” xưng “cháu” cũng đúng thôi. Điều tôi muốn nhấn mạnh ở đây là sau này khi bác giữ chức Trại phó, hầu như tất cả mọi người trong Ban đại diện Trại (trừ bác Trinh, Trại trưởng), trong đó có cả ông cựu Thiếu tá Trưởng phòng Trật tự, cũng đều gọi bác xưng cháu.</p>



<p>Lúc đó là cuối năm 1981, Bác Giảng mới hơn 57 tuổi, thì chúng ta phải hiểu rằng nhiều người gọi bằng “bác” vì lòng quý mến, kính trọng tư cách chứ không hẳn vì tuổi tác.</p>



<p>Tới đây, xin kể về đường “công danh sự nghiệp” của bác Giảng ở Trại Tỵ nạn Galang.</p>



<p>Cùng thời gian với việc tôi được bầu làm Zone trưởng Zone III, bác Giảng cũng được vị tân Trại trưởng là bác Trinh mời làm Trại phó. Tôi không hiểu cô Mely (Cao ủy trưởng) có giới thiệu bác Giảng với bác Trinh hay không; nếu không, bác Trinh quả có con mắt tinh đời.</p>



<p>Là người thông thạo Anh ngữ từng hai lần du học Hoa Kỳ, bác Giảng thường thay mặt ông Trại trưởng tham dự các buổi họp với Cao ủy Tỵ nạn, Nhà cầm quyền Nam Dương, Hội Hồng Thập Tự Nam Dương (PMI), cũng như các tổ chức thiện nguyện quốc tế.</p>



<p>Trong cương vị Trại phó, với uy tín, đạo đức, khả năng, và tính tình vui vẻ, bác Giảng đã trở thành một nhân vật được rất nhiều người kính mến, và trở thành niềm hãnh diện chung cho người Việt tỵ nạn ở Galang.</p>



<p>Là một nhạc sĩ nổi tiếng, trước kia từng làm Giám đốc Trường Quốc gia Âm nhạc Huế, nay giữ chức Trại phó, nhưng bác Giảng sống khiêm tốn, giản dị, luôn làm gương cho mọi người, nhất là trong việc làm vệ sinh, quét dọn barrack mỗi sáng Thứ Bảy.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/05/h¼nh-2-Galang-Barrack-73.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="707" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/05/h¼nh-2-Galang-Barrack-73-1024x707.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-71879" style="width:687px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/05/h¼nh-2-Galang-Barrack-73-300x207.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/05/h¼nh-2-Galang-Barrack-73-1024x707.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2024/05/h¼nh-2-Galang-Barrack-73-768x530.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/05/h¼nh-2-Galang-Barrack-73.jpg?strip=all 1128w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Một số thành viên Barrack 73: bác Giảng áo sơ-mi trắng ngồi giữa, hai bên là ông anh cột chèo và ông anh họ của vợ tôi (áo xanh); tôi ngồi ở mép trái</em></p>



<p>Các barrack ở Galang 1 là một căn nhà tôn vách ván, chỗ ngủ là hai dãy sạp gỗ dài, được phân chia bởi một lối đi hình chữ thập ở giữa nhà; như vậy, làm vệ sinh barrack chỉ là quét dọn một vài mét ở dưới gầm sạp gỗ và trên lối đi thuộc khu vực của mình, mấy phút đồng hồ là xong. Thế nhưng, như tôi đã viết trong một kỳ trước, không ít đồng bào, nhất là đám trai trẻ, đã không chịu thi hành “bổn phận công dân” trước khi rời barrack.</p>



<p>Nhưng riêng tại Barrack 73 của chúng tôi, cứ đúng 8 giờ sáng Thứ Bảy, bác Giảng luôn luôn là người đầu tiên cầm cây chổi, thử hỏi còn ai dám trốn tránh!</p>



<p>Bác Giảng luôn vui vẻ, hòa đồng với mọi người, đặc biệt là yêu trẻ em. Tôi vẫn còn nhớ đứa cháu gái 3, 4 tuổi con của bà chị vợ, những lúc bác có mặt ở barrack thường chạy tới nhõng nhẽo, ngồi trên lòng bác đùa giỡn.</p>



<p>Đáng phục không kém là con người phật tử thuần thành nơi bác Giảng. Ngày ấy tôi chưa được biết ngoài hai bút hiệu Văn Giảng, Thông Đạt, bác còn có bút hiệu Nguyên Thông (cũng là pháp danh của Bác), đã cùng với Nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba khởi xướng nền Phật nhạc ở miền Trung vào thập niên 1940, và sau đó đã sáng tác nhiều bài Phật ca, cho nên tôi khá ngạc nhiên trước lòng sùng mộ của vị nhạc sĩ tác giả tình khúc nổi tiếng <em><strong>Ai về sông Tương</strong></em>!</p>



<p>[Sau này quen biết bác gái, tôi mới biết bút hiệu “Thông Đạt” của bác trai là ghép từ pháp danh của hai ông bà: Nguyên Thông – Tâm Đạt]</p>



<p>Tuần nào cũng vậy, sáng Chủ Nhật, khi vợ chồng con cái chúng tôi và các con chiên Chúa rời barrack đi dự lễ ở nhà thờ, thì bác Giảng và các đệ tử Phật lại leo đồi lên chùa Quan Âm, nơi bác thường ở lại tới chiều để tham gia Phật sự.</p>



<p>* * *</p>



<p>Khi bác Trinh đi định cư, ai cũng tin rằng ông Trại phó Ngô Văn Giảng sẽ lên làm Trại trưởng. Rất tiếc khi bác Trinh rời Galang thì hai cha con bác Giảng cũng vừa được Phái đoàn Úc nhận theo diện nhân đạo, không biết sẽ lên đường vào lúc nào, vì thế bác dứt khoát từ chối, đưa tới việc chúng tôi phải bầu một vị tân Trại trưởng là Đại úy Thể bên Đoàn Thanh niên Công giáo.</p>



<p>Vào giữa tháng 5 năm 1982, buổi tối trước ngày bác Giảng và người con trai lên đường sang Singapore để chờ phi cơ đi Úc, Ban đại diện Trại đã tổ chức một buổi tiệc trà&#8230; chay (kẹo, hạt dưa, trà, cà-phê) tại Hội quán Hải quân &amp; Hàng hải Galang để từ giã. Không khí thật thân mật và cảm động, chỉ tiếc một điều là anh chàng ca sĩ chính của Trung tâm Sinh hoạt Thanh thiếu niên lại chuyên hát nhạc ngoại quốc nên không thuộc lời bản <em>Ai về sông Tương</em> để hát cho buổi chia tay nhạc sĩ Thông Đạt thêm phần ý nghĩa.</p>



<p>Hơn ba tháng sau ngày bác Giảng đi Úc theo diện nhân đạo, gia đình tôi cũng được đi theo diện thân nhân bảo lãnh.</p>



<p>Khi chúng tôi tới hostel Eastbridge, vùng Nunawading, thành phố Melbourne, tiểu bang Victoria vào giữa tháng 8/1982, thì bác Giảng và con trai vẫn còn tạm trú tại đó. Việc đầu tiên của tôi là chuyển cho bác tấm Bằng Tưởng lệ (Certificate of Merit) do cô Mely, Trung tá Siregar, và Bác sĩ Iwan Yussuf, người đứng đầu Hội Hồng thập tự Nam Dương (PMI), cùng ký tên đóng mộc. Nguyên nhân của sự chậm trễ này là vì khi bác rời Galang, cô Mely không có mặt ở đảo.</p>



<p>* * *</p>



<p>Mấy năm sau, bác Giảng được đoàn tụ với bác gái và mấy người con nhỏ từ Việt Nam sang. Gặp lại bác sau thời gian này, tôi nhận ra rằng có lẽ tới lúc đó bác mới thật sự “thân tâm an lạc”, mà chỉ cần nhìn diện mạo hồng hào, đôi mắt tinh anh, nghe tiếng cười sang sảng của bác là đủ biết.</p>



<p>Vợ tôi có thói quen hay “phong” nhất cái này, nhất cái kia cho những người quen biết, và trong số đó bác Giảng là “người đẹp lão nhất”, còn bác gái là “bà vợ hiền nhất”. Tôi hoàn toàn đồng ý và thầm nghĩ: cũng may mà bác gái lấy được một ông chồng nghệ sĩ tài hoa hết mực nhưng lại có… tâm Phật!</p>



<p>Từ giữa thập niên 1990, vì ở hai vùng cách xa nhau, chúng tôi ít có dịp gặp lại bác Giảng, nhưng qua người con trai áp út của bác, một chuyên viên computer làm việc cho tờ tuần báo mà tôi cộng tác, chúng tôi vẫn luôn biết tin tức về bác và gia đình.</p>



<p>Chỉ khi nào cần tham khảo ý kiến, nhờ chỉ giáo trong lĩnh vực âm nhạc hoặc hỏi về sinh hoạt trong làng nhạc trước 1975, tôi mới dám làm phiền bác qua điện thoại. Cũng trong khoảng thời gian này, qua giao kết với những đồng hương gốc Huế của bác và qua sinh hoạt văn nghệ, chúng tôi còn được hân hạnh quen biết người em trai của bác, một nhạc sĩ kiêm nhiếp ảnh gia tài tử (nhưng rất tài ba), và một người cháu của bác cũng là một nhạc sĩ ở Melbourne.</p>



<p>Kỷ niệm cuối cùng của tôi với bác Giảng là vào cuối năm 2012, một bà bạn già ở Brisbane, tiểu bang Queensland, xin tôi địa chỉ của bác, vì khi bà sang Hoa Kỳ, có mấy người học trò cũ của bác nhờ xin địa chỉ để viết thư thăm hỏi. Dĩ nhiên, sống ở một xứ tây phương, tôi phải điện thoại xin phép bác trước, và bác đã vui vẻ đồng ý.</p>



<p>Mấy ngày sau, tôi nhận được qua đường bưu điện CD <em>“Let’s Love Together – 9 Rock Songs for the Poor Countries”</em>, là tuyển tập thứ nhất gồm các ca khúc viết bằng tiếng Anh của bác, mà bác quên rằng trước đó mấy năm bác đã tặng chúng tôi ngay sau khi hoàn tất. Lần này, trong tờ giấy nhỏ kèm theo, bác viết mấy hàng đề tặng và thăm hỏi gia đình tôi. Nét chữ của bác vẫn đẹp – hình như cái gì nơi con người bác cũng đều đẹp – nhưng đã khá run rẩy.</p>



<p>Chi tiết ấy khiến tôi phải ưu tư, và cuối cùng việc gì phải đến đã đến. Ngày 9 tháng 5, 2013, bác Giảng mất, hưởng thọ 89 tuổi.</p>



<p>Trong đêm tang lễ tại chùa Quang Minh, lúc nghe trưởng nam của bác đọc lời tiếc thương và tạ lỗi trước linh cữu thân phụ, vợ tôi đã khóc, rồi tới phiên tôi cũng rơi lệ theo.</p>



<p>Một chi tiết khiến tôi càng thêm kính phục bác Giảng là chỉ tới khi bác nằm xuống, nghe các bài điếu văn, vợ chồng tôi mới biết trưởng nữ của bác là một vị ni sư thuộc hàng trưởng thượng ở VN, và một thứ nữ mà cả hai vợ chồng đều là bác sĩ. Vậy mà trong bao năm quen biết nhau, bác không hề “khoe” với chúng tôi!</p>



<p>Trong đời mình, tôi từng quen thân nhiều Phật tử, trong đó có cả các vị tu hành, nhưng có thể nói người con Phật đã để lại nhiều dấu ấn nhất nơi tôi chính là Nhạc sĩ Ngô Văn Giảng!</p>



<p>* * *</p>



<p>Theo di chúc, sau thất thứ nhất, tro cốt của bác Giảng đã được rải xuống biển.&nbsp;</p>



<p>Tới 5 giờ 50 phút chiều hôm ấy, 17 tháng 5, 2013, bác gái &#8211; cụ bà quả phụ Ngô Văn Giảng, nhũ danh Ngô Thị Bạch Đẩu &#8211; đã đi theo chồng.</p>



<p>Nguyên sau khi bác Giảng mất, bác gái vì quá xúc động, sức khỏe suy yếu dần, đã không thể tham dự tang lễ bác trai. Tới sáng sớm ngày 17 tháng 5, 2013 – ngày rải tro của bác trai xuống biển – bác gái lên cơn đau tim, được đưa vào bệnh viện, và trút hơi thở sau cùng vào buổi chiều cùng ngày.</p>



<p>Sau khi bác Giảng mất, tôi viết một bài tưởng nhớ tựa đề “<strong>VĂN GIẢNG &#8211; Ai về sông Hương</strong>”.</p>



<p>Nguyên khi bác còn sống, một bạn già của tôi và cũng là đồng nghiệp của bác là nhạc trưởng Vũ Văn Tuynh (bút hiệu Vũ Tuynh) sống ở thành phố Sydney, tuy là một con chiên Chúa, đã để di chúc thiêu xác ông và rải tro xuống biển.</p>



<p>“Bố Tuynh” &#8211; chúng tôi gọi như thế vì trước 1975 một già một trẻ cùng phục vụ trong Không Quân &#8211; nói đùa: cứ rải tro xuống biển Thái Bình, biết đâu lại trôi giạt về Việt Nam theo sông Hồng tới quê xưa Nam Định (ông và tôi cùng quê Xuân Thủy, Nam Định).</p>



<p>Vì thế, tới khi gia đình rải tro bác Giảng xuống biển, tôi cũng nghĩ thầm: biết đâu tro của bác cũng trôi về Việt Nam, theo cửa Thuận An ngược dòng Hương giang về cố đô Huế để bác được ngậm cười nơi chín suối!</p>



<p>Những ai thân quen bác Giảng đều biết bác yêu quê hương Việt Nam, Huế cách riêng, vô ngần. Sau khi tốt nghiệp âm nhạc tại Hoa Kỳ, với tư cách là một nhạc sĩ có trình độ nhạc lý cao nhất nhì Việt Nam, bác Giảng đã được chính phủ VNCH đề nghị giữ những chức vụ quan trọng trong ngành truyền thông và giáo dục ở thủ đô Sài Gòn, nhưng bác đã từ chối để được về sống tại cố đô; người ta đành trao cho bác chức vụ Giám đốc Trường Quốc Gia Âm Nhạc Huế.</p>



<p>Chỉ sau khi ông Tăng Duyệt, nguyên giám đốc sáng lập nhà xuất bản nhạc Tinh Hoa và cũng là một bạn thân của bác, bị chết thảm trong Tết Mậu Thân 1968, bác mới giật mình, qua năm 1969 đưa toàn bộ gia đình vào Sài Gòn.</p>



<p>Định cư tại Úc, dù bác Giảng đã mau chóng được đoàn tụ với gia đình, tôi biết chắc chắn hạnh phúc trong lòng bác không bao giờ trọn vẹn, bởi bác nhớ Huế, nhớ Việt Nam và biết chắc chắn mình không bao giờ có thể trở lại, ít nhất cũng là trong kiếp này!</p>



<p>Vì thế, tôi mới nguyện chúc tro của bác sẽ trôi về tới cố đô qua tựa đề <a href="https://t-van.net/hoi-nam-van-gi%E1%BA%A3ng-ai-v%E1%BB%81-sng-t%C6%B0%C6%A1ng/">“<em>VĂN GIẢNG &#8211; Ai về sông <strong>Hương</strong></em>”.</a></p>



<p>Rất tiếc, nơi phổ biến bài viết lại cho rằng tôi đã vô tình viết sai tựa đề ca khúc nổi tiếng “Ai về sông Tương” của bác thành “Ai về sông Hương” cho nên đã&#8230; có nhã ý sửa giúp <em>thành “VĂN GIẢNG &#8211; Ai về sông <strong>Tương</strong></em>”! (<em>Chú thích của TV&amp;BH: tên bài của anh Hoài Nam đã được sửa lại là <a href="https://t-van.net/hoi-nam-van-gi%E1%BA%A3ng-ai-v%E1%BB%81-sng-t%C6%B0%C6%A1ng/">VĂN GIẢNG &#8211; Ai về sông <strong>Hương</strong></a>. Xin cáo lỗi cùng tác giả về sự nhanh nhẩu&#8230;đoảng này.)</em></p>



<p>Nhưng xét cho cùng, cho dù tựa bài viết là gì, bác Giảng cũng dư biết tôi muốn tiễn bác về “sông Hương”!</p>



<p><strong>Cha Dominici: người Việt gốc Ý</strong></p>



<p>Viết về cuộc sống ở trại tỵ nạn Galang những năm từ 1979 tới 1985 mà không nhắc tới Cha Dominici là một thiếu sót không thể chấp nhận, nhưng hơn 40 năm sau, viết khi đã có hàng chục bài viết về cha trên Internet lại có thể bị xem là một sự lập lại thừa thãi. Vì thế, tôi sẽ rất ngắn gọn về tiểu sử cũng như công việc của cha ở các trại tỵ nạn trước khi kể về những gì có liên quan tới cá nhân tôi.</p>



<p>Cha Dominici, tên đầy đủ là Gildo Dominici, sinh năm 1935 tại Assisi, miền Trung nước Ý, quê hương của Thánh Phan-xi-cô thành Assisi (tác giả Kinh Hòa Bình). Cha thụ phong linh mục năm 1960, tới năm 1964 xin gia nhập Dòng Tên (Jesuits) vì muốn đi truyền giáo ở ngoại quốc.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/05/h¼nh-3-cha-dominici.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="484" height="290" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/05/h¼nh-3-cha-dominici.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-71880" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/05/h¼nh-3-cha-dominici-300x180.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/05/h¼nh-3-cha-dominici.jpg?strip=all 484w" sizes="(max-width: 484px) 100vw, 484px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Cha Dominici “Đỗ Minh Trí” (ảnh dongten.net)</em></p>



<p>Năm 1967 cha sang Việt Nam, học tiếng Việt tại trung tâm Đắc Lộ, Sài Gòn, lấy tên Việt là Đỗ Minh Trí (phiên âm từ “Dominici”), rồi lên tiểu chủng viện Simon-Hòa ở Đà Lạt vừa dạy tiếng La-tinh cho chủng sinh vừa tiếp tục học tiếng Việt.</p>



<p>Năm 1970, cha Dominici sang Rome trình luận án Tiến sĩ Giáo luật rồi trở lại Việt Nam dạy tại Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt cho tới khi cộng sản chiếm miền Nam, cha trở về Ý&#8230;</p>



<p>Năm 1977 cha trở lại vùng Đông Nam Á, làm việc cho nhà dòng ở thủ đô Jakarta của Nam Dương. Sau khi Trại tỵ nạn Galang được thiết lập, tháng 8 năm 1979 cha được cử đến trại để đảm trách đời sống tinh thần cho người tỵ nạn Công giáo.</p>



<p>Tuy nhiên trước những thiếu thốn, khó khăn, đau khổ của thuyền nhân nói chung, cha đã dấn thân vận động, tranh đấu với Cao ủy Tỵ nạn và nhà cầm quyền Nam Dương cho nhu cầu, quyền lợi của người tỵ nạn tại Galang.</p>



<p>Ngoài những cơ sở vật chất như trung tâm sinh hoạt thanh thiếu niên, các barrack “nhà trẻ”, Phòng Xã hội&#8230; mà cha đã góp phần vận động xây dựng, cha còn sáng lập bán nguyệt san Tự Do, món ăn tinh thần cung cấp cho người ty nạn những hiểu biết về sinh hoạt trong trại, về thế giới bên ngoài, về đời sống tại những quốc gia mà họ sẽ đến định cư.</p>



<p>Thời gian ở Galang, cha Dominici viết hai cuốn sách (tiếng Việt) <em>Việt Nam Quê Hương Tôi </em>và<em> Đi Tìm Anh Em.</em><em></em></p>



<p>Năm 1985, cha được nhà dòng thuyên chuyển qua trại Bataan, Phi Luật Tân rồi sang Thái Lan, cũng làm công việc giúp đỡ người tỵ nạn cho đến năm 1990.</p>



<p>Từ năm 1991, cha giữ vai trò Linh mục Tuyên úy cho phong trào Linh Thao tại Bắc Mỹ.</p>



<p><br>Năm 1996 cha trở về Ý nhưng hằng năm vẫn qua lại những nơi có cộng đoàn Công giáo Việt Nam để thăm nom và&nbsp;tiếp tục hướng dẫn các Thầy theo ơn gọi của Dòng Tên.</p>



<p>Năm 1998, các bác sĩ cho biết cha bị ung thư gan, được giải phẫu và hóa trị. Một năm sau, cha gần như khỏe hẳn nhưng thực ra vi khuẩn ung thư vẫn tiếp tục hoạt động trong cơ thể.</p>



<p>Đầu tháng 2/2003, bệnh ung thư tái phát triển mạnh, gan của cha ngưng hoạt động. Đêm Chủ Nhật rạng Thứ Hai 3/3/2003, vào khoảng 0 giờ 30, cha trút hơi thở sau cùng – hai ngày trước sinh nhật thứ 68.&nbsp;</p>



<p>* * *</p>



<p>Khi gia đình tôi tới Galang vào tháng 11/1981, nhân vật được mọi người nhắc tới nhiều nhất không phải cô Mely, Cao ủy trưởng, mà là cha Dominici. Tuy nhiên riêng cá nhân tôi, ngoài lời chào hỏi giữa vị lãnh đạo tinh thần và “con chiên” mới tới đảo sau thánh lễ Chủ Nhật đầu tiên, tôi không có quan hệ đặc biệt nào với cha cho tới khi nhận chức Zone trưởng Zone III.</p>



<p>Nguyên vào thời gian tôi lên làm zone trưởng thay Thiếu úy Tài, Zone III có rất nhiều “vấn đề”, như nạn phá hoại các cơ sở nằm trong trung tâm sinh hoạt của trại, nạn phe đảng, “vô chính phủ”, tình trạng thiếu vệ sinh ở các barrack, v.v&#8230;</p>



<p>Trong số các barrack của Zone III có Barrack 68, dành riêng cho các em vị thành niên không có thân nhân đi theo (Unaccompanied Minors Barrack), thường được mọi người gọi là “barrack nhà trẻ”.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/05/h¼nh-4-galang-barrack-68.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="650" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/05/h¼nh-4-galang-barrack-68-1024x650.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-71881" style="width:590px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/05/h¼nh-4-galang-barrack-68-300x190.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/05/h¼nh-4-galang-barrack-68-1024x650.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2024/05/h¼nh-4-galang-barrack-68-768x487.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2024/05/h¼nh-4-galang-barrack-68-1536x975.jpg 1536w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/05/h¼nh-4-galang-barrack-68.jpg?strip=all 2000w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Một số em không thân nhân và giáo viên trước Barrack Nhà Trẻ 68 (ảnh Gaylord Barr)</em></p>



<p>Ngoài khẩu phần của Cao ủy Tỵ nạn, Barrack Nhà Trẻ còn được cha Dominici và Phòng Xã Hội Nam Dương trợ cấp hiện kim để mua thêm thực phẩm tươi cũng như sử dụng trong các sinh hoạt.</p>



<p>Theo tôi được biết ở Galang 1 lúc đó có ít nhất ba barrack nhà trẻ ở các Zone I, III và IV, nhưng không hiểu vì nguyên nhân gì, barrack nhà trẻ của Zone III, tức Barrack 68, lại được xem là chính yếu, được Trung tâm Sinh hoạt Thanh thiếu niên (Youth Center), Phòng Xã Hội Nam Dương, và cha Dominici quan tâm nhiều nhất. Rất có thể vì Barrack 68 nằm ở trung tâm trại, gần các cơ sở giải trí, giáo dục cho nên thu hút nhiều em tới sống hơn các barrack nhà trẻ khác chăng?</p>



<p>Barrack 68 nằm đối diện với Barrack 73 của tôi, nhưng thời gian mới lên làm Zone trưởng không mấy khi tôi ghé sang. Nguyên nhân: từ trật tự, vệ sinh cho tới sinh hoạt rất hỗn loạn, bê bối trong khi tôi lại không có tư cách để xem vào!</p>



<p>Người phụ trách Barrack Nhà Trẻ 68 lúc đó là T, một “trưởng” trong Hướng đạo Việt Nam ở Galang. Tôi không hiểu tổ chức và sinh hoạt của Hướng đạo Việt Nam ở Galang ra sao chỉ biết họ được cấp một nửa căn nhà trên khu sinh hoạt trại, tức là nằm trong lãnh thổ Zone III.</p>



<p>Trước khi viết về “trưởng” T, tôi cũng cần nhấn mạnh tôi chỉ viết về những gì xảy ra ở Barrack Nhà Trẻ 68 liên quan tới một thành phần cá biệt trong một tập thể mà thôi, chứ không đánh giá tập thể. Cũng như những lời cáo buộc về những bê bối cá nhân khác, chẳng hạn việc T đưa gái về trụ sở Hướng đạo, tôi miễn đề cập tới.</p>



<p>Theo kết quả điều tra và báo cáo của Phòng Xã hội Công giáo (thuộc văn phòng của cha Dominici), T đã bớt xén tiền trợ cấp của cha Dominici và Phòng Xã Hội Nam Dương để tiêu xài cho cá nhân;</p>



<p>về việc điều hành mọi sinh hoạt trong Barrack Nhà Trẻ, T hầu như không ngó ngàng tới mà giao hết cho các tay “anh chị” trong đám vị thành niên, mỗi “anh chị” này có một số “đàn em” để sai khiến, tương tự trong cuốn tiểu thuyết <em>Luật Hè Phố</em> của Duyên Anh.</p>



<p>Trước cảnh cá lớn nuốt cá bé này, một số em đã phải bỏ về barrack cũ của mình sống cho yên thân!</p>



<p>Một đôi lần trong giờ làm vệ sinh sáng Thứ Bảy, tôi tới Bararck 68 kiểm soát thì thấy không có em nào quét tước, dọn dẹp cả. Thậm chí tới khi cô Mely yêu cầu Ban đại diện Trại huy động đồng bào làm tổng vệ sinh, các em trong Bararck 68 cũng chỉ qua loa chiếu lệ.</p>



<p>Cuối cùng, sau khi có bằng chứng chắc chắn về việc T bớt xén tiền trợ cấp cho Barrack Nhà Trẻ để tiêu xài cho cá nhân và tình trạng chèn ép, áp bức trong barrack, cha Dominici đã làm áp lực để Ban đại diện Trại và Youth Center (Trung tâm Sinh hoạt Thanh thiếu niên) ngưng nhiệm vụ của T và tìm một người khác thay thế.</p>



<p>Khi cha nói tôi tìm người có khả năng, thiện chí trong Zone III để đưa vào danh sách đề nghị, tôi đã khéo léo từ chối và “bán cái” cho Đoàn Thanh niên Công giáo.</p>



<p>Nhưng cuối cùng, người được đề cử và nhận lời lại không phải thành viên Đoàn Thanh niên Công giáo mà là một cựu sĩ quan: anh H, một Đại úy Địa phương quân.</p>



<p>Sau này khi đã lên làm Trưởng ban đại diện Trại, anh Thể mới cho tôi biết chính anh là người đã đề nghị cha Dominici tìm một cựu sĩ quan “độc thân tại chỗ”, và cũng chính anh đã thuyết phục được anh H, một bạn tù cũ ở Suối Máu, nhận lời làm Bararck trưởng Bararck 68.</p>



<p>Sở dĩ anh Thể đề nghị tìm một cựu sĩ quan vì anh tin rằng chỉ có áp dụng “kỷ luật thép” của quân đội mới có thể đưa đám thiếu niên bất trị này vào khuôn khổ.</p>



<p>Đại úy H chỉ hơn tôi mấy tuổi nhưng chững chạc hơn nhiều. Anh nhỏ con, rất hiền và ít nói, nhưng đó chỉ là những gì thể hiện ra bên ngoài của một người có bản lĩnh.</p>



<p>Trước hết anh dùng tình thương để cải hóa các em, nhưng chỉ có giới hạn, tới khi nhận thấy không có kết quả, anh thẳng thừng loại bỏ, tức là trả về barrack.</p>



<p>Một số em thuộc thành phần sừng sỏ sau khi bị trả về barrack, bị mọi người lạnh nhạt, ăn uống thiếu thốn, hối tiếc thì đã muộn, bởi trước đó, khi cảnh cáo các em, anh H đã tuyên bố một khi bị trả về anh sẽ không bao giờ chấp nhận cho trở lại.</p>



<p>Anh H kể cho tôi nghe có mấy em tới khóc lóc xin cải tà quy chánh nhưng anh không để mình bị yếu lòng. Anh sẵn sàng cho các em trở lại Bararck 68 tham gia mọi sinh hoạt, nhưng dứt khoát đây không còn là nơi ăn chốn ở của các em nữa!</p>



<p>Biện pháp mạnh này của anh H tỏ ra vô cùng hiệu quả; chỉ trong vòng một, hai tháng trời, Bararck 68 đã từ một nơi chốn không ai muốn bước chân vào trở thành một barrack gương mẫu, kỷ luật với những em nhỏ thật dễ thương, đáng mến, trong đó có em sau này trở thành bác sĩ, có em làm Thượng tọa&#8230;</p>



<p>Cha Dominici vô cùng hài lòng. Ngoài việc gia tăng yểm trợ vật chất,&nbsp; cha còn cử các thầy (tu sĩ) tới dạy dỗ, hướng dẫn các em về mặt văn hóa, cử người tình nguyện tới phụ trách bếp núc, và bản thân cha cũng thường xuyên xuống barrack thăm nom.</p>



<p>Mặc dù bản thân chẳng giúp được gì cho các em (ngoài việc khuyến khích các em tham gia đội bóng tròn và chơi bóng bàn) tôi cũng được các em nể nang, quý mến, có lẽ vì thấy tôi thường đi với cha Dominici và thân thiết với anh H.</p>



<p>Bên cạnh đó, nhiệt huyết và thành công của anh H còn khiến cha Dominici nhận ra khả năng và tinh thần trách nhiệm của anh em cựu quân nhân tham gia công việc thiện nguyện trong trại; nhờ đó sau này cha đã ủng hộ việc cựu Đại úy Thể của Đoàn Thanh niên Công giáo tình nguyện ứng cử Trưởng ban đại diện Trại, và tỏ ra “thông cảm” với tôi khi xảy ra một vụ “xô xát” giữa chàng Trưởng ban Trật tự của Zone III với một thành phần vô kỷ luật khét tiếng.</p>



<p>* * *</p>



<p>Một nhận xét nữa của tôi về những điều tốt đẹp nơi cha Dominici là tinh thần hòa đồng tôn giáo. Còn nhớ vừa chân ướt chân ráo tới Galang và nhận chức Zone phó Zone III, tôi đã bị Ban đại diện Trại “bán cái” việc tham dự buổi trình diễn ca khúc Giáng Sinh ngoài trời theo lời mời của nhà thờ Tin Lành Galang 1 nhân dịp lễ Giáng sinh 1981.</p>



<p>Viết là “bán cái” bởi vì vào khoảng thời gian này người Việt tỵ nạn dù lương hay giáo cũng chưa mấy người biết tới và yêu thích các ca khúc Giáng Sinh (Christmas carols) phổ biến ở các nước tây phương cũng như truyền thống trình diễn các ca khúc này trong mùa Giáng Sinh, cho nên chẳng ai muốn ai đi nghe&#8230; thánh ca cả.</p>



<p>Không ngờ khi vợ chồng tôi tới nơi, đã thấy cha Dominici và nhiều “chức sắc” của nhà thờ Công giáo Galang có mặt ở đó, và trong chương trình trình diễn còn có sự đóng góp của ca đoàn Công giáo Galang.</p>



<p>Một tháng sau, nhân dịp chùa Quan Âm tổ chức hội tết Nhâm Tuất (1982), cha Dominici đã hướng dẫn một phái đoàn hùng hậu gồm nhà thờ Công giáo, đại diện Cao ủy và các cơ sở thiện nguyện trong trại, có cả Phòng Xã Hội Nam Dương, lên chùa chúc tết Đại đức trụ trì (tôi không nhớ pháp danh) và được thầy mời ăn trưa.</p>



<p>Tham dự các sinh hoạt tại hội tết ở chùa Quan Âm cũng có Đoàn Thiếu nhi Thánh thể của nhà thờ Công giáo Galang.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/05/h¼nh-5-Galang-Dominic.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="962" height="675" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/05/h¼nh-5-Galang-Dominic.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-71882" style="width:534px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/05/h¼nh-5-Galang-Dominic-300x210.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2024/05/h¼nh-5-Galang-Dominic-768x539.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/05/h¼nh-5-Galang-Dominic.jpg?strip=all 962w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Cha Dominici (áo T-shirt vàng) và các nhân viên thiện nguyện dùng cơm trưa tại chùa Quan Âm</em> <em>(ảnh Gaylord Barr)</em></p>



<p>Tuy nhiên bên cạnh những việc tốt đẹp cha Dominici làm được cho đồng bào tỵ nạn VN nói chung, cho giáo dân nói riêng cha cũng gây ra một vài “rắc rối” nho nhỏ, hay viết chính xác hơn là một vài bất hòa nho nhỏ giữa cha và các con chiên có tự ái dân tộc cao.</p>



<p>Nguyên nhân là các bài giảng trong thánh lễ.</p>



<p>Vì gia đình tôi chỉ đi lễ Chủ Nhật chứ không đi lễ các ngày thường trong tuần cho nên tôi chỉ được biết sự việc này qua nghe ông anh họ vợ kể lại.</p>



<p>Theo lời ông anh, các bài giảng ngắn trong các thánh lễ ngày thường trong tuần của cha Dominici thường mang tính cách giáo dục, hướng dẫn, đề cập tới những cái tốt cái xấu trong cuộc sống của người tỵ nạn ở Galang, nhiều khi đem lại sự bực bội, khó chịu nơi con chiên dự lễ.&nbsp;</p>



<p>Thí dụ điển hình nhất là việc cha chê trách các cô gái “thiếu nết na”. Hôm đó, trong bài giảng cha đề cập tới việc một số cô gái tỵ nạn sống buông thả và kết luận một cách gay gắt:</p>



<p>“Liều chết vượt biên tìm tự do để xây dựng một cuộc đời mới chứ không phải để làm điếm!”</p>



<p>(Ông anh họ vợ tôi thề sống thề chết cha Dominici sử dụng hai chữ “làm điếm”)</p>



<p>Theo suy nghĩ của tôi, đây chỉ là một “tai nạn ngôn ngữ”. Đồng ý rằng cha Dominici đã bỏ ra bao năm để học tiếng Việt, thậm chí lấy tên Việt là “Đỗ Minh Trí”, nhưng điều đó không có nghĩa là cha thông hiểu, lĩnh hội được 100% phong hóa Việt Nam, trong đó có việc phải tránh đề cập công khai tới những điều không hay, những việc không tốt!</p>



<p>Vì thế tôi hoàn toàn thông cảm với cách phát biểu thiếu tế nhị của một vị tu hành đã dành trọn cuộc đời mình để phục vụ tha nhân, cách riêng người Việt tỵ nạn cộng sản.</p>



<p>Nhưng nhiều người trong đó có ông anh họ vợ tôi đã không có được sự thông cảm đó. Ông là một người rất sùng đạo, có em trai là linh mục mà nghe cha Dominici nói câu đó cũng phải nóng mặt! Sau khi tan lễ, ông và một số người lớn tuổi xôn xao bán tán, ai cũng bất bình trước lời giảng của cha. Có người còn đòi gặp cha để phản đối, báo hại ông “Trùm” (Trưởng ban đại diện giáo dân) đã phải hết lời khuyên can.</p>



<p>Thế nhưng theo tôi, cho dù cha Dominici thiếu tế nhị, ngài đã không “quá lời”!</p>



<p>Ở đây tôi không nói tới những quan hệ giữa nam nữ tỵ nạn với nhau (bởi đó là quyền tự do cá nhân) mà chỉ nói tới những sự việc mắt thấy tai nghe diễn ra giữa một số cô gái Việt Nam và cảnh sát Nam Dương trong Zone III (các zone khác có hay không, tôi không thể khẳng định).</p>



<p>Đó là mấy cô gái lẳng lơ thường tụ tập với đám cảnh sát Nam Dương dưới bóng cây bên hông một barrack gần kho lương thực.</p>



<p>Cảnh sát Nam Dương ở Galang thường chạy xe gắn máy phân khối lớn kiểu đường rừng (trail, off-road) màu sắc rực rỡ cho nên càng dễ gây sự chú ý của mọi người.</p>



<p>Các cô thường leo lên xe ngồi cười đùa, cợt nhả với với đám cảnh sát, thỉnh thoảng lại có cô được họ chở đi. Đi đâu, chỉ có trời biết!</p>



<p>Nhưng cho dù các cô không “làm điếm”, những cảnh khó coi nói trên cũng khiến nhiều người bực mình khó chịu, coi đó là một sự ô nhục cho cả tập thể người tỵ nạn ở Galang.</p>



<p>Ngay từ khi nhận chức Zone phó Zone III, tôi đã bị một số đồng bào lớn tuổi sống trong những barrack gần đó thẳng thắn đặt vấn đề, yêu cầu phải có biện pháp đối phó. Tuy nhiên cũng phải đợi tới khi Ban Trật tự của Zone III được thành lập, tôi mới lợi dụng sự quen biết</p>



<p>Đại úy Marjuno chấm dứt được việc các cô và đám cảnh sát tụ tập sau 11 giờ đêm (giờ giới nghiêm), còn ban ngày thì vô phương&#8230;</p>



<p>Tôi thật sự không thoải mái chút nào khi nhắc tới việc làm của một vài cá nhân thiếu ý thức trong tập thể hàng ngàn người tỵ nạn, nhưng cũng phải đề cập tới để mọi người thấy được sự quan tâm của cha Dominici tới mọi mặt trong cuộc sống của người tỵ nạn ở Galang.</p>



<p>Nhân tiện cũng xin nhắc lại một tin ngày ấy được nhiều người loan truyền nhưng tôi không thể kiểm chứng, đó là việc cha Dominici đã yêu cầu bệnh viện Galang (của PMI, tức Hồng Thập Tự Nam Dương) từ chối phá thai cho những phụ nữ là tín đồ Công giáo&#8230;</p>



<p>Thêm một công việc thiện nguyện của cha Dominici không thể không nhắc tới là cha đã sử dụng một địa chỉ ở Singapore để thân nhân từ các quốc gia đệ tam gửi ngân phiếu cho cha, cha sẽ chuyển tiền cho người ở Galang.</p>



<p>Sở dĩ cha Dominici tự nguyện nhận lãnh công việc “không tên” này là vì có không ít người gửi tiền mặt trong thư cho thân nhân ở Galang và thư không bao giờ tới, còn gửi ngân phiếu kèm theo thư cũng có khi không nhận được.</p>



<p>Trong suốt thời gian ở Galang tôi chỉ được ông dượng ở Mỹ chi viện một lần duy nhất (và nhận được), cho nên tôi cũng không quan tâm tìm hiểu việc bị mất tiền mặt gửi theo thư hoặc ngân phiếu không tới tay người nhận. Nhưng chắc hẳn tỷ lệ bị mất phải cao cho nên cha Dominici mới nghĩ ra cách giúp đỡ những người tỵ nạn khốn khổ không biết cầu cứu, nhờ vả ai!</p>



<p>* * *</p>



<p>Sau khi tôi đi định cư, tới năm 1985 cha Dominici từ giã Galang để sang trại tỵ nạn Bataan, Phi-luật-tân phục vụ đồng bào tại đây, rồi sang Thái Lan&#8230;</p>



<p>Ngày ấy một số người cho biết cha rời Galang vì số người tỵ nạn ở đây đã giảm bớt nhiều, sau này khi cha mất, đọc bài <em>Nhớ Cha Đỗ Minh Trí </em>của Cosma Hoàng Văn Đạt, SJ (dongten.net) tôi mới biết cha ra đi theo lệnh của Bề Trên. Xin trích dẫn một đoạn:</p>



<p><em>Một hôm, cha bị cảnh sát Indonesia chất vấn: “Tại sao khi có bất đồng giữa chính quyền và người tỵ nạn, ông luôn đứng về phía họ?”</em>&nbsp;<em>Cha trả lời:</em> “<em>Vì quý vị có quyền, có tiền, có súng, còn họ chẳng có chi hết</em><em>.”</em><em></em></p>



<p><em>Sau đó ít lâu, cha nhận một bưu kiện, nhưng khi mở ra, cha thấy vỏn vẹn một viên đạn cùng với mấy chữ:&nbsp;“Xin mời ông đi nơi khác.</em><em>”</em><em>&nbsp;Thế là Bề Trên bảo cha đi.</em> (ngưng trích)</p>



<p>Lần cuối tôi gặp cha Dominici tại Galang là trong buổi tiệc trà tổ chức tại Bararck Nhà Trẻ 68 để tiễn anh H, Bararck trưởng, lên đường đi định cư tại Úc, khoảng giữa năm 1982.</p>



<p>Còn lần cuối cùng tôi gặp cha trên cõi thế là khi cha sang thăm Úc khoảng giữa thập niên 1990. Trong buổi tiếp xúc với cựu tỵ nạn Galang và những người ái mộ cha tại Trung Tâm Công Giáo Vinh-sơn Liêm, cha vui vẻ hỏi chuyện tôi và anh H về cuộc sống ở Úc. Trông cha có vẻ khỏe mạnh, có da có thịt, hồng hào hơn ngày còn ở Galang.</p>



<p>Nhưng chỉ vài năm sau, biết tin cha bị ung thư gan, và tới tháng 3/2003, được tin cha mất.</p>



<p>* * *</p>



<p>Người thứ ba trong số những nhân vật tôi không bao giờ quên sau khi rời Galang là <strong>Amelia </strong>(Mely)<strong> Bonifacio</strong>, đại diện Cao ủy Tỵ nạn LHQ tại Galang mà đồng bào thường gọi là “cô Cao ủy trưởng” hoặc bằng cái tên đã được Việt hóa hơi khôi hài pha lẫn thân thương: cô Mê-ly!</p>



<p>Bản thân tôi có cái tật (tạm gọi như thế) chỉ thích đàn bà con gái đẹp, cho dù họ dứt khoát không phải đối tượng chinh phục của mình. Nhưng riêng với cô Mely, tôi đã quý phục cô ngay từ đầu, và sau đó chẳng bao giờ quan tâm tới nhan sắc của cô!</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/05/h¼nh-6-amelia-bonifacio.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="404" height="615" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/05/h¼nh-6-amelia-bonifacio.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-71883" style="width:342px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/05/h¼nh-6-amelia-bonifacio-197x300.jpg 197w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/05/h¼nh-6-amelia-bonifacio.jpg?strip=all 404w" sizes="(max-width: 404px) 100vw, 404px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Amelia “Mely” Bonifacio, 1981 </em><em>(ảnh Gaylord Barr)</em></p>



<p>Khi gặp lại cha Dominici ở Úc, tôi được cha cho biết cô vẫn thường xuyên liên lạc với cha, và hiện giữ một chức vụ khá quan trọng. Khoảng năm 2000, khi Internet đã khá phổ biến, tôi tìm hiểu qua trang mạng của Cao ủy Tỵ nạn LHQ (UNHCR), mới biết cô đang làm Giám đốc Khối Hỗ trợ Hoạt động trong Chương trình Thực phẩm Thế giới của Cao ủy Tỵ nạn LHQ (<em>Director, Division of Operational Support, World Food Programme, United Nations High Commissioner for Refugees</em>).</p>



<p>Nhân vật thứ tư trong số những người tôi mến phục và không bao giờ quên là Gaylord Barr (1947-2015) &#8211; một thành viên của tổ chức thiện nguyện Peace Corps (Hoa Kỳ), đảm trách việc đào tạo những giáo viên người Việt (đa số là các bạn trẻ) để họ dạy Anh ngữ cho đồng hương của mình &#8211; mà tôi đã trân trọng nhắc tới trong một kỳ trước.</p>



<p>Sau cùng là một nữ đồng nghiệp của Gaylord Barr mà tôi không thể không nhắc tới: <strong>Debbie Dodd</strong>. Với không ít bạn trẻ được đào tạo trở thành giáo viên Anh ngữ ở Galang vào thời điểm ấy, ngoài sự tận tâm, gần gũi, cô giáo Debbie còn được nhớ mãi với nụ cười đáng yêu luôn nở trên môi.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/05/h¼nh-7-galang-gaylord-debbie.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="673" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/05/h¼nh-7-galang-gaylord-debbie-1024x673.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-71884" style="width:724px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/05/h¼nh-7-galang-gaylord-debbie-300x197.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/05/h¼nh-7-galang-gaylord-debbie-1024x673.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2024/05/h¼nh-7-galang-gaylord-debbie-768x505.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2024/05/h¼nh-7-galang-gaylord-debbie-1536x1009.jpg 1536w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/05/h¼nh-7-galang-gaylord-debbie.jpg?strip=all 2000w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Gaylord Barr và</em> <em>Debbie Dodd trao phần thưởng cho một học viên </em><em>(ảnh Gaylord Barr)</em></p>



<p>&nbsp;Lúc đó (năm 1981 1982) Debbie còn rất trẻ, tôi đoán chỉ chừng 24, 25 tuổi. Thoạt nhìn cô, tôi liên tưởng ngay tới một thần tượng ca nhạc của tôi là nữ ca nhạc sĩ Mỹ Carol King lúc còn trẻ cũng cắt tóc ngắn như cô. <strong><em>(Chú thích 1)</em></strong></p>



<p>Cũng giống Gaylord Barr, Debbie Dodd không chỉ dạy Anh ngữ mà còn tham gia vào nhiều lĩnh vực khác ở trại tỵ nạn Galang. Có thể viết nơi nào có mặt Gaylord nơi đó có Debbie, kể cả trong chuyến đi Kuku năm 1981 trên tàu Seasweep để đón nhóm 200 người chúng tôi về Galang.</p>



<p>Chỉ có điều đáng tiếc là sau này vào website Galang Refugee Camp, tôi thấy tên tuổi của Debbie Dodd luôn được nhắc nhớ với lòng thương mến nhưng không ai được biết được biết đường đời của cô sau này ra sao?!</p>



<p>* * *</p>



<p>Công việc cuối cùng của tôi trong chức vụ Zone trưởng Zone III là tìm người “kế vị” tôi.</p>



<p>Thông thường, khi một ông zone trưởng đi định cư (hoặc vào Galang 2) anh em văn phòng zone và các barrack trưởng sẽ bầu một trong hai ông zone phó lên làm zone trưởng, nhưng hai ông zone phó của tôi dứt khoát từ chối. Anh bạn tù Sơn “lồ”, Zone phó Hành chánh, thì viện lý do mình lè phè, không có uy; Hiền, Zone phó Trật tự, thì lấy lý do mình có nhiều “ân oán”, sợ không được cảm tình của một số người.</p>



<p>Cuối cùng, tôi phải năn nỉ ông N, vị Thiếu tá ở cùng Barrack 73 với tôi, xưa nay chưa từng tham gia bất cứ công việc gì trong trại, nhận lời giữ chức zone trưởng tạm thời cho tới khi anh em barrack trưởng tìm được người có khả năng tình nguyện làm zone trưởng&#8230;</p>



<p>Sau khi bàn giao chức vụ cho Thiếu tá N, tôi dành ngày cuối ở đảo để sang Galang 2 từ giã những người thân quen hoặc cùng làm việc thiện nguyện tại Galang 1 trước đây, trong đó có Thảo, nguyên Barrack trưởng 73 của tôi.</p>



<p>Sở dĩ tôi phải vào Galang 2 để từ giã vì biết ngày mai sẽ không có ai đi ra bến tàu để “tiễn người đi”. Vừa vì đường xa vừa vì yếu tố tâm lý.</p>



<p>Như tôi đã viết trước đây, thời gian này Galang 2 là nơi tạm trú của người tỵ nạn Căm-bốt và những người tỵ nạn Việt Nam đã được Mỹ nhận chờ ngày đi định cư. Thời gian chờ đợi có thể chỉ mấy tháng nhưng cũng có thể 2, 3 năm! Vì thế cuốc bộ mấy cây số ra bến tàu nhìn người khác lên đường đi định cư là một việc không ai cảm thấy phấn khởi cả.</p>



<p>Sau bữa ăn trưa với chị em Thảo, chúng tôi bịn rịn chia tay nhau.</p>



<p>Trên đường trở về Galang 1, tôi đề nghị dừng chân tại “Galang 3” – tức nghĩa trang Galang – vừa để nghỉ vừa để vĩnh biệt những đồng bào kém may mắn đã nằm lại đây, trong số đó có năm thanh niên chết oan vì uống phải rượu có chất độc mua của Nam Dương.</p>



<p>Thời gian này nghĩa trang Galang còn khá hoang sơ với trên dưới 200 nấm mồ đắp đất với những bia mộ hoặc thánh giá bằng gỗ nên trông rất thê lương, ảm đạm. <strong><em>(Chú thích 2)</em></strong></p>



<p><strong><em>(Còn tiếp)</em></strong></p>



<p><strong>CHÚ THÍCH:</strong></p>



<p><strong>(1)</strong> Carol King, sinh năm 1942, được ghi nhận là nữ ca sĩ kiêm nhạc sĩ sáng tác ca khúc thành công nhất của Hoa Kỳ trong hậu bán thế kỷ 20.</p>



<p>Khởi đầu sự nghiệp vào năm 17 tuổi với việc viết ca khúc cho các ca sĩ khác, Carol King đã đạt thành công rực rỡ với những ca khúc bất hủ như <em>You&#8217;ve Got a Friend, It&#8217;s Too Late, </em><em>Will You Love Me Tomorrow</em>&#8230;</p>



<p>Mười năm sau, được sự khuyến khích của nhiều người, Carol King bắt đầu thu đĩa và trình diễn trên sân khấu. Những buổi trình diễn “live” của Carol King đã thu hút đông đảo khán giả có trình độ thưởng thức cao vì ngoài sáng tác và hát, cô còn là một nhạc sĩ dương cầm, luôn tự đệm đàn cho mình trong các buổi trình diễn.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/05/h¼nh-8-carol-king.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="600" height="586" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/05/h¼nh-8-carol-king.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-71885" style="width:470px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/05/h¼nh-8-carol-king-300x293.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/05/h¼nh-8-carol-king.jpg?strip=all 600w" sizes="(max-width: 600px) 100vw, 600px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Carol King trên bìa album Tapestry</em></p>



<p>Năm 1971, album thứ hai của Carol King, tựa đề <em>Tapestry</em>, đã làm mưa gió với bốn giải thưởng âm nhạc Grammy Awards, 14 lần đoạt “đĩa Platinum”, trở thành một trong những album bán chạy nhất trong lịch sử âm nhạc Hoa Kỳ. Năm 1998, <em>Tapestry </em>được đưa vào Danh dự sảnh giải Grammy (<a href="https://en.wikipedia.org/wiki/Grammy_Hall_of_Fame">Grammy Hall of Fame</a>).</p>



<p>Carol King cũng là người đỡ đầu, hướng dẫn nữ ca nhạc sĩ nổi tiếng <strong>Mayumi Itsuwa</strong> của Nhật khi cô sang Mỹ học hỏi.</p>



<p>Người yêu nhạc nếu không biết tới tên tuổi Mayumi Itsuwa ít ra cũng từng thưởng thức những ca khúc bất hủ của cô được đặt lời Việt, như <em>Kobito Yo</em> (Hận tình trong mưa, Phạm Duy; Tình là giấc mơ, Khúc Lan), <em>Ribaibaru</em> (Trời còn làm mưa mãi, Nhật Ngân), v.v&#8230;</p>



<p>(2) Tổng cộng trước sau đã có khoảng 500 thuyền nhân Việt Nam nằm lại Galang 3, tức Nghĩa trang Galang. Sau này, tất cả những nấm mồ đất đã được đồng bào trong trại hoặc thân nhân xây xi-măng với tên tuổi trên mộ bia. </p>



<p>Ở lối vào có một trụ xi-măng với cờ vàng ba sọc đỏ. Rất tiếc, tới đầu thế kỷ 21, cùng với việc cho tay sai phá hủy một số bia tưởng niệm thuyền nhân Việt Nam ở các trại tỵ nạn cũ ở Đông Nam Á, cộng sản Hà Nội còn gây áp lực ngoại giao với nhà cầm quyền Nam Dương, buộc họ phải sơn cờ vàng ba sọc đỏ thành hai màu trắng đen!</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/05/h¼nh-8-galang-1-nghsia-trang.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="768" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/05/h¼nh-8-galang-1-nghsia-trang-1024x768.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-71886" style="width:566px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/05/h¼nh-8-galang-1-nghsia-trang-300x225.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/05/h¼nh-8-galang-1-nghsia-trang-1024x768.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2024/05/h¼nh-8-galang-1-nghsia-trang-768x576.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/05/h¼nh-8-galang-1-nghsia-trang.jpg?strip=all 1198w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Nghĩa trang Galang gần đây: màu cờ vàng ba sọc đỏ đã bị sơn trắng đen (ảnh FB Galang Refugee Camp)</em></p>



<p>Nghe kể lại, trong số những thuyền nhân xấu số được chôn tại Nghĩa trang Galang có hai cô gái bị<strong> </strong>hải tặc hãm hiếp, tới Galang đã tự tử vì nỗi ô nhục. Hai cô rất thiêng nên được đồng bào ở Galang 2 lập miếu thờ gọi là Miếu Hai Cô dưới một tàng cây cổ thụ ven rừng, to cao như cây đa ở Việt Nam. Nhiều người trong trại thường đến miếu thắp nhang khấn vái.</p>



<p>Về sau có thêm một thiếu nữ tự tử vì nguyên nhân tương tự, nên Miếu Hai Cô trở thành Miếu Ba Cô.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/05/h¼nh-10-galang-mis¦u-hai-c¦.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="800" height="450" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/05/h¼nh-10-galang-mis¦u-hai-c¦.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-71887" style="width:601px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/05/h¼nh-10-galang-mis¦u-hai-c¦-300x169.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2024/05/h¼nh-10-galang-mis¦u-hai-c¦-768x432.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/05/h¼nh-10-galang-mis¦u-hai-c¦.jpg?strip=all 800w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Miếu Hai Cô (ảnh FB Galang Refugee Camp)</em></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>HOÀI NAM: CẢI TẠO NỬA MÙA – VƯỢT BIÊN TÀI TỬ (kỳ 24)</title>
		<link>https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-24/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Hoài Nam - Hồi Ký Cải Tạo]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 06 Apr 2024 09:13:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[Truyện Tù Cải Tạo]]></category>
		<category><![CDATA[hồi ký cải tạo]]></category>
		<category><![CDATA[truyện tù cải tạo]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=70577</guid>

					<description><![CDATA[CẢI TẠO NỬA MÙA – VƯỢT BIÊN TÀI TỬ (kỳ 24)Hồi kýHoài Nam NGUYỄN HỮU THIỆN Kỳ 1&#160;&#160;Kỳ 2&#160;&#160;Kỳ 3&#160;&#160;Kỳ 4&#160;&#160;Kỳ 5&#160; Kỳ 6&#160;&#160;Kỳ 7&#160;&#160;Kỳ 8&#160;&#160;&#160;&#160;Kỳ 9&#160;&#160;Kỳ 10&#160; Kỳ 11&#160;Kỳ 12&#160;Kỳ 13&#160;Kỳ 14&#160;Kỳ 15&#160;Kỳ 16&#160;Kỳ 17&#160;Kỳ 18&#160;Kỳ 19&#160;Kỳ 20&#160;Kỳ 21&#160;Kỳ 22 Kỳ 23 PHẦN II:&#160; VỀ MIỀN ĐẤT HỨA CHƯƠNG 3 – Cửa ngõ Tự [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/02/cao-tao-sau-1975.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="502" height="335" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/02/cao-tao-sau-1975.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-60363" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/02/cao-tao-sau-1975-300x200.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/02/cao-tao-sau-1975.jpg?strip=all 502w" sizes="(max-width: 502px) 100vw, 502px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p class="has-text-align-center"><strong>CẢI TẠO NỬA MÙA – VƯỢT BIÊN TÀI TỬ (kỳ 24)</strong><br><strong><em>Hồi ký</em></strong><br><strong><em>Hoài Nam NGUYỄN HỮU THIỆN</em></strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong><em><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=42965" target="_blank">Kỳ 1</a>&nbsp;&nbsp;<a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=43227" target="_blank">Kỳ 2</a></em></strong>&nbsp;&nbsp;<a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=43638" target="_blank"><strong>Kỳ 3&nbsp;&nbsp;</strong></a><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=44071" target="_blank"><strong>Kỳ 4&nbsp;&nbsp;</strong></a><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=44448" target="_blank"><strong>Kỳ 5</strong></a><strong><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=44904" target="_blank">&nbsp; Kỳ 6&nbsp;&nbsp;</a></strong><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=45847" target="_blank"><strong>Kỳ 7&nbsp;&nbsp;</strong></a><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=46303" target="_blank"><strong>Kỳ 8&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</strong></a><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=48543" target="_blank"><strong>Kỳ 9&nbsp;&nbsp;</strong></a><strong><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=50357" target="_blank">Kỳ 10</a></strong>&nbsp;</p>



<p class="has-text-align-center"><a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-11/"><strong>Kỳ 11</strong></a>&nbsp;<strong><a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-12/">Kỳ 12</a></strong>&nbsp;<strong><a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-13/">Kỳ 13</a></strong>&nbsp;<a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-14/"><strong>Kỳ 14</strong></a>&nbsp;<a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-15/"><strong>Kỳ 15</strong></a>&nbsp;<strong><a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-16/">Kỳ 16</a></strong>&nbsp;<a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-17/"><strong>Kỳ 17</strong></a>&nbsp;<a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-18/"><strong>Kỳ 18</strong></a>&nbsp;<strong><a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-19/">Kỳ 19</a></strong>&nbsp;<a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-20/"><strong>Kỳ 20</strong></a>&nbsp;<a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-21/"><strong>Kỳ 21</strong></a>&nbsp;<strong><a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-22/">Kỳ 22</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-23/">Kỳ 23</a></strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>PHẦN II:&nbsp; VỀ MIỀN ĐẤT HỨA</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>CH</strong><strong>ƯƠNG 3 – Cửa ngõ Tự Do và Tình Người</strong></p>



<p><strong>(tiếp theo kỳ 23)</strong></p>



<p>Trong ba khó khăn lớn nhất của tôi khi nhận chức Zone trưởng Zone III, việc buộc mọi người tham gia công tác vệ sinh sáng Thứ Bảy sở dĩ đạt kết quả tốt đẹp phần lớn là nhờ “dựa hơi” cô Mely (Cao ủy trưởng), hai khó khăn còn lại tôi phải tự mình tìm cách giải quyết. Đó là nạn phá hoại các cơ sở của trung tâm sinh hoạt nằm trong lãnh thổ Zone III và tình trạng “vô chính phủ” tại các barrack.</p>



<p>Trước hết nói về nạn phá hoại các cơ sở ở trung tâm sinh hoạt, chủ yếu là các phòng học.</p>



<p>Vì hội trường, thư viện, phòng nghe băng Anh ngữ (Listening Center) sau khi sử dụng đều được khóa cửa, Youth Center và tòa soạn bán nguyệt &nbsp;san Tự Do thì có nhân viên ngủ đêm, Văn phòng Zone III thì lúc nào cũng đèn đuốc sáng trưng, trong khi các phòng học không có khóa cửa, chỉ được sử dụng vào ban ngày nên không có đèn điện, tối đến dễ trở thành mục tiêu phá hoại.</p>



<p></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/04/h¼nh-1-galang-youth-center-1.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="637" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/04/h¼nh-1-galang-youth-center-1-1024x637.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-70578" style="width:584px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/04/h¼nh-1-galang-youth-center-1-300x187.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/04/h¼nh-1-galang-youth-center-1-1024x637.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2024/04/h¼nh-1-galang-youth-center-1-768x478.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2024/04/h¼nh-1-galang-youth-center-1-1536x956.jpg 1536w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/04/h¼nh-1-galang-youth-center-1.jpg?strip=all 2000w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Youth Center &#8211; Trung tâm sinh hoạt thanh thiếu niên (hình Gaylord Barr)</em></p>



<p>Người ta tới tháo gỡ bàn ghế, gỡ vách ván đem về barrack sử dụng không nói làm gì, mà còn có những đám trẻ tới tụ tập phá phách, phóng uế trong phòng học, thậm chí có khi còn lấy phân trét lên bảng đen!</p>



<p>Để đối phó, ông Zone trưởng Zone III chỉ có một “vũ khí” duy nhất là cái đèn pin do Phòng Trật Tự của Ban Đại diện cấp cho các zone trưởng! Thành thử khi bị bắt gặp, các “thủ phạm” vừa bỏ chạy vào màn đêm vừa chửi thề, chọc quê, thậm chí có khi còn buông lời hăm dọa mà không ai làm gì được!</p>



<p>Suy nghĩ nát óc, tôi nhận thấy chỉ có một giải pháp là xin Ban Đại diện chính thức cho thành lập một toán tuần tiễu của Zone III.</p>



<p>Trước đó, qua trao đổi với Zone trưởng Zone IV, tôi biết zone này có một toán trật tự để đi kiểm soát các barrack, hoạt động rất hữu hiệu.</p>



<p>Như đã viết ở một đoạn trước, vào thời gian tôi nhận chức vụ Zone trưởng Zone III thì Zone IV được ghi nhận là kỷ luật nhất, vệ sinh sạch sẽ nhất trong số bốn zone, còn Zone III bị xem là tệ hại nhất.</p>



<p>Zone trưởng Zone IV lúc đó là Hóa, một thanh niên trong Gia đình Phật tử Long Hoa, rất được mọi người mến phục vì tư cách cũng như tinh thần phục vụ.</p>



<p>Sau vài lần gặp nhau trong các buổi họp của Ban Đại diện Trại, tôi kết thân với Hóa và xuống tận Văn phòng Zone IV để tìm hiểu, học hỏi kinh nghiệm. Mặc dù Hóa khiêm nhượng cho biết nề nếp trong zone đã có từ đời nào, anh chỉ thừa hưởng thành quả từ những vị zone trưởng tiền nhiệm, tôi cũng nhận ra yếu tố chính giúp Hóa thành công trong việc duy trì an ninh trật tự, vệ sinh trong zone là việc anh cùng toán trật tự thường xuyên kiểm soát, đôn đốc, không vị nể một ai.</p>



<p>Tuy nhiên, vì toán trật tự này do Zone IV tự ý thành lập nên vẫn phải tuân theo lệnh giới nghiêm 11 giờ đêm, trong khi Zone III của tôi cần một toán tuần tiễu suốt đêm, vì thế phải được sự chấp thuận của Ban Đại diện Trại và Cảnh sát Nam Dương.</p>



<p>Trong buổi họp hàng tuần của Ban Đại diện và các zone trưởng, sau khi trình bày tệ nạn phá hoại các phòng học ngày càng gia tăng, tôi đề nghị cho phép Zone III thành lập một Ban Trật tự riêng để đi tuần, được quyền đi lại trong zone sau giờ giới nghiêm như các vị zone trưởng, và được quyền bắt giữ các thủ phạm.</p>



<p>Để tạo áp lực với Ban Đại diện, tôi nói nếu đề nghị của tôi không được chấp thuận, vì an toàn của bản thân tôi sẽ ngưng việc đi kiểm soát các cơ sở ở trung tâm sinh hoạt trước cũng như sau giờ giới nghiêm!</p>



<p>Đề nghị của tôi được ông Trưởng khối Giáo dục phổ thông ủng hộ hết mình (vì các giáo viên của ông thường xuyên sử dụng các phòng học), và cuối cùng đã được ông Trại trưởng chấp thuận.</p>



<p>Trại trưởng Galang 1 lúc đó là bác Trinh, một vị thẩm phán Tối cao Pháp viện thời Việt Nam Cộng Hòa, mới lên thay ông trại trưởng tiền nhiệm là một vị giáo sư (giáo chức biệt phái) đã đi định cư. Bác Trinh có dáng dấp nhỏ bé nhưng cá tính rất mạnh, phục vụ tận tụy, thẳng thắn, không vị nể một ai cho nên làm việc rất “ăn giơ” với cô Mely.</p>



<p>HÌNH 2:</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/04/h¼nh-2-Galang-Mr-Trinh.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="321" height="400" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/04/h¼nh-2-Galang-Mr-Trinh.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-70579" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/04/h¼nh-2-Galang-Mr-Trinh-241x300.jpg 241w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/04/h¼nh-2-Galang-Mr-Trinh.jpg?strip=all 321w" sizes="(max-width: 321px) 100vw, 321px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Bác Trinh (áo xanh) tại cầu tầu Galang trong một lần tiễn người đi (hình Gaylord Barr)</em></p>



<p>Sau buổi họp, tôi vào văn phòng của bác Trinh để cùng với bác và ông Trưởng phòng Hành chánh soạn thảo quyết định thành lập Ban Trật tự của Zone III. Để tạo danh chính ngôn thuận và khỏi dẫm chân nhau, việc thành lập Ban Trật tự của Zone III được Ban Đại diện Trại thông báo bằng văn bản cho Đồn Cảnh Sát Nam Dương.</p>



<p>Theo quyết định thành lập, Ban Trật tự của Zone III gồm một trưởng ban và bốn thành viên. Quyết định này cũng ghi rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Trật tự của Zone III, và biện pháp đối với những người phá hoại các cơ sở ở trung tâm sinh hoạt vốn là tài sản của Cao ủy Tỵ nạn LHQ.</p>



<p>Cũng xin nhắc lại, theo thỏa thuận từ lúc ban đầu giữa ba phía &#8211; Cao ủy, Nhà cầm quyền Nam Dương và Ban Đại diện Trại &#8211; việc thi hành biện pháp kỷ luật đối với người ty nạn phạm pháp ở Galang là phần hành của cảnh sát Nam Dương. Cho nên tại đồn cảnh sát có một nhà giam người tỵ nạn gọi tắt là “P3V”.</p>



<p>Thực ra P3V, viết tắt từ mấy chữ Nam Dương “Panitia Pengelolaan Pengungsi Vietnam”, có nghĩa là “Ủy ban Quản lý Người tỵ nạn Việt Nam”, bao gồm tất cả mọi cơ sở của nhà cầm quyền Nam Dương tại trại tỵ nạn Galang, nhân sự gồm từ vị Chỉ huy trưởng Trại (Camp Commander) xuống tới viên cảnh sát quèn. Nhưng chẳng hiểu tại sao cảnh sát Nam Dương lại gọi nhà giam người tỵ nạn “P3V”, để rồi cả Văn phòng Cao ủy, Ban Đại diện Trại và đồng bào trong trại đều gọi theo.</p>



<p>Đám thanh thiếu niên tỵ nạn thuộc thành phần ba gai rất sợ bị đưa lên P3V vì ngoài việc ban ngày phải lao động (làm cỏ, đào mương, phá rừng chồi&#8230;) đêm về còn bị mấy tay cảnh sát có máu bạo hành lâu lâu nổi hứng thượng cẳng tay hạ cẳng chân; trong một số trường hợp còn bị cạo đầu – hình phạt mà người Nam Dương cho là nhục nhã nhất, thường chỉ dành cho tù hình sự trong các nhà tù Nam Dương.</p>



<p>[Vì hình phạt cạo đầu này mà có sự hiểu lầm tai hại của cảnh sát Nam Dương đối với những người tỵ nạn tự nguyện cạo đầu sau khi tới được bến bờ tự do vì có lời thề]</p>



<p>Vì thế trên thực tế, Văn phòng Cao ủy và Ban Đại diện Trại chủ trương cực chẳng đã mới phải nhờ tới cảnh sát Nam Dương thi hành biện pháp kỷ luật; riêng cha Domonici đã có lần phải lặn lội về thủ đô Jakarta để khiếu nại về việc cảnh sát Nam Dương ở Galang sử dụng bạo lực với người tỵ nạn.</p>



<p>Khi quyết định thành lập Ban Trật tự Zone III, bác Trinh cũng nhắc nhở tôi về chủ trương nói trên, và khuyên tôi tùy cơ ứng biến, nếu cần có biện pháp mạnh thì giao “thủ phạm” cho Phòng Trật tự của Ban Đại diện chứ đừng giao cho cảnh sát Nam Dương.</p>



<p>Tuy nhiên trên văn bản, nội dung quyết định vẫn ghi đầy đủ những gì đã quy định trong Nội quy Trại (người tỵ nạn phạm pháp sẽ chịu mọi biện pháp kỷ luật của cảnh sát Nam Dương) với mục đích răn đe.</p>



<p>Trở về Zone III, tôi cho thành lập Ban Trật tự, do Hiền, Zone phó Trật tự làm Trưởng toán.</p>



<p>Trước đó, Zone III &#8211; cũng như các zone khác &#8211; chỉ có một zone phó, tới khi thành lập Ban Trật tự, tôi mới lập thêm một chức zone phó nữa: anh bạn tù Sơn “lồ” làm Zone phó Hành chánh, Hiền làm Zone phó Trật tự.</p>



<p>(Sơn “lồ” nguyên là đội phó lao động của tôi trong trại cải tạo Đồng Ban, Tây Ninh, sau này trốn trại về Sài Gòn rồi vượt biên tới Galang, lọt vào Zone III)</p>



<p>Bốn thành viên Ban Trật tự là bốn barrack trưởng hăng say nhất tình nguyện, trong đó có Vinh “què”, Barrack trưởng 65, là barrack nằm gần khu phòng học nhất.</p>



<p>Bản quyết định thành lập Ban Trật tự Zone III được tôi cho photocopy để dán ở tất cả mọi barrack trong zone.</p>



<p>Kết quả, chỉ một, hai tuần sau khi Ban Trật tự Zone III bắt đầu các cuộc đi tuần ban đêm, nạn phá hoại các cơ sở ở trung tâm sinh hoạt và phóng uế trong các phòng học đã chấm dứt.</p>



<p>* * *</p>



<p>Việc thành lập Ban Trật tự Zone III còn góp một phần không nhỏ vào việc giải quyết tình trạng “vô chính phủ”, ai muốn làm gì thì làm ở các barrack.</p>



<p>Nguyên sau khi nhận chức Zone trưởng, tôi đã âm thầm xuống các barrack để tìm hiểu và nhận ra rằng trong không ít trường hợp nguyên nhân chính là barrack trưởng thiếu khả năng, uy tín, thậm chí phe đảng, đưa tới tình trạng chẳng ai nghe ai, chẳng ai ngán ai! Và nếu người nào cũng nghĩ rằng chỉ ở Galang vài tháng rồi đi định cư, hơi đâu lên tiếng phê bình, hoặc không ai chịu ra “tranh cử” chức barrack trưởng, tình trạng “vô chính phủ” ấy cứ tiếp diễn.</p>



<p>Muốn giải quyết thì điều kiện tiên quyết là phải được sự hưởng ứng của người trong barrack, phải có người tình nguyện nhận lãnh chức vụ barrack trưởng. Qua tham gia sinh hoạt trong Ban Đại diện Trại và các đoàn thể tại Galang 1, tôi nhận thấy phần lớn người tình nguyện phục vụ đồng bào trong trại đều thuộc một trong ba thành phần sau đây: cựu quân nhân, Đoàn Thanh niên Công giáo Galang, Gia đình Phật tử Long Hoa.</p>



<p>Trong cương vị zone trưởng, tôi đã tìm tới anh em cựu quân nhân trong các barrack để tìm hiểu tình hình và tham khảo ý kiến.</p>



<p>Trong số này có Hưng ở Barrack 69, một trong hai tay đại úy bạn tù thân thiết cùng nhà ở K1, Suối Máu trước đây. Hưng vượt biên với thằng con trai, tới Galang trước tôi gần một năm, đã được Phái đoàn Mỹ nhận, chờ sang Galang 2.</p>



<p>Hưng là người tinh tế và khó tính, vì thế những gì trái tai gai mắt trong Barrack 69 nói riêng, trong Zone III nói chung đều được hắn để tâm ghi nhận.</p>



<p>Ngoài đại úy Hưng, còn có thiếu úy Vinh “què”, Barrack trưởng Barrack 65 đã nhắc tới ở trên, cũng là một barrack trưởng thâm niên và rất có uy trong zone.</p>



<p>Với sự đóng góp ý kiến của Hưng, Vinh, và Thảo (Barrack trưởng Barrack 73 của tôi), tôi thiết lập một danh sách những barrack cần phải thay đổi barrack trưởng, rồi âm thầm tiến hành vận động, kêu gọi người tình nguyện.</p>



<p>Công việc của tôi đạt kết quả tốt đẹp phần lớn nhờ sự hưởng ứng của những người thuộc thành phần mới tới Galang được một vài tháng, đã được tôi đích thân “lên lớp” (nghĩa đen) khi vừa đặt chân tới trại.</p>



<p>Số là ngay sau khi đảm nhận chức vụ zone trưởng, tôi bắt đầu tổ chức những buổi hướng dẫn đồng bào mới tới được đưa về các barrack thuộc Zone III; địa điểm là một phòng học phía sau văn phòng zone.</p>



<p>Đây là một công việc hết sức cần thiết, hữu ích nhưng không hiểu tại sao các đời zone trưởng trước của Zone III không ai làm, cứ để mặc các barrack trưởng tùy nghi hướng dẫn (còn ở các zone khác, có hay không tôi không được biết).</p>



<p>Cần thiết và hữu ích bởi vì đồng bào mới tới không biết một chút gì về cuộc sống trong trại, về các cơ quan trong trại, về những thủ tục họ sẽ phải trải qua để được đi định cư tại một đệ tam quốc gia&#8230;</p>



<p>Ngoài việc đem lại cho đồng bào những hiểu biết cần thiết, những buổi hướng dẫn nói trên còn tạo ra một sự cảm thông, tinh thần hợp tác của đồng bào với những người làm việc thiện nguyện trên văn phòng zone cũng như tại các barrack.</p>



<p>Kết quả, chỉ trong vòng hai tháng, đã có hơn 1/3 trong tổng số barrack của Zone III xin văn phòng zone cho tổ chức bầu lại barrack trưởng. Những người được bầu đa số là cựu quân nhân, là thành viên Đoàn Thanh niên Công giáo, Gia đình Phật tử mới tới Galang trong những đợt cuối năm 1981, đầu năm 1982, trong số này có một nữ barrack trưởng đầu tiên và duy nhất ở Galang 1 (tính cho tới ngày tôi đi định cư).</p>



<p>Đó là một bà mẹ trẻ đi vượt biên với hai con nhỏ, chồng đã đi trước và định cư tại Mỹ; về sau mới biết đó là một cô em họ xa của tôi. Hương, tên cô, không chỉ là nữ barrack trưởng đầu tiên mà còn là một barrack trưởng xuất sắc, về sau đã được ông Trại trưởng cấp giấy khen.</p>



<p>* * *</p>



<p>Với dàn barrack trưởng có tinh thần phục vụ cao, Zone III đã có những sự cải tiến tốt đẹp, chẳng hạn phân phối thực phẩm một cách công bằng hơn, phân chia cầu tiêu cho từng “liên gia” để họ liên đới trách nhiệm gìn giữ vệ sinh, v.v&#8230;</p>



<p>Ngoài ra còn có việc lập phòng may của Zone III. Nguyên trong một lần tới văn phòng Zone IV chơi, tôi để ý thấy trong một góc phòng có đặt hai máy may để đồng bào trong zone tới sử dụng.</p>



<p>Tôi hỏi máy may ở đâu mà có thì Hóa, Zone trưởng Zone IV, cho biết do cơ quan từ thiện World Relief tặng cho mỗi zone hai máy vào đầu năm 1981. Tôi về hỏi Vinh “què” mới biết hai cái máy may của Zone III được đặt ở barrack của ông Zone trưởng, tức Tài, người tiền nhiệm của tôi. Tài viện lý do để trên văn phòng zone không có người trông coi.</p>



<p>Trên nguyên tắc, không cần biết hai máy may này được đặt ở đâu, đồng bào trong zone ai cũng có quyền sử dụng, nhưng trên thực tế không mấy người biết vì không được phổ biến rộng rãi. Rốt cuộc hầu như chỉ có người trong barrack của ông Zone trưởng sử dụng, trong đó có một hai bà thợ may, và hai cái máy may của Zone III đã trở thành cần câu cơm của họ.</p>



<p>Ngay sau khi được biết nguồn gốc hai máy may này, tôi quyết định đưa lên văn phòng zone. Nhưng cơ sở sử dụng làm văn phòng Zone III khá chật hẹp, chỉ là 1/3 ngôi nhà trong khu sinh hoạt, vừa đủ chỗ kê một bàn làm việc, một tủ hồ sơ, một cái bàn gỗ dài với hai băng ghế để họp barrack trưởng và tiếp đồng bào khi họ có việc phải lên văn phòng zone, và một cái kho vật dụng; thấy 2/3 còn lại của ngôi nhà được sử dụng làm phòng học nhưng lâu lâu mới có người tới, tôi xin Ban Đại diện Trại trao luôn cho Zone III để sử dụng làm phòng may và chỗ đặt bàn ping-pong (lâu nay bị bỏ xó trong kho).</p>



<p>Khi tôi đích thân đưa người xuống barrack của ông Zone trưởng cũ khiêng hai cái máy may lên văn phòng zone thì đã được đón tiếp bằng những cặp mắt không mấy thiện cảm của anh chàng barrack trưởng và đa số đồng bào trong barrack, nhưng biết làm sao hơn!</p>



<p>Từ đó, trụ sở văn phòng Zone III trở nên tấp nập hơn với đồng bào tới sử dụng máy may (phải book theo thứ tự) và chơi ping-pong. (Nhờ bàn ping-pong này mà tôi khám phá ra một tay vợt nữ siêu hạng, sẽ đề cập tới ở một phần sau).</p>



<p>* * *</p>



<p>Về trật tự trị an, việc Ban Trật tự cùng với zone trưởng khi được barrack trưởng mật báo, tới kiểm soát dân số tại các barrack sau giờ giới nghiêm gần như đã chấm dứt được tình trạng “ngủ lậu” &#8211; viết thẳng ra là nam nữ ở barrack này tới barrack khác để “qua đêm” với nhau.</p>



<p>Vì việc này, Ban Trật tự Zone III và cá nhân tôi đã bị một số người ghét cay ghét đắng, lén gọi là phát-xít, nhưng lại được đa số đồng bào trong zone hoan nghênh, bởi vì họ không còn phải khó chịu, bực mình trước những gì mà họ biết chắc đang diễn ra trong bóng tối đồng lõa.</p>



<p>Nhưng đáng nói hơn cả là sau này hầu như không còn xảy ra việc đang đêm cảnh sát Nam Dương vào các barrack trong Zone III để kiểm soát dân số nữa.</p>



<p>Trước kia, theo nguyên tắc đã được thỏa thuận từ đầu, với nhiệm vụ giữ gìn trật tự trị an, cảnh sát Nam Dương có quyền vào các barrack, ngày cũng như đêm, để thi hành nhiệm vụ, chẳng hạn điều tra về một vụ phạm pháp, hay bắt một thủ phạm đưa lên đồn cảnh sát, còn việc kiểm soát dân số trong các barrack là của Ban đại diện Trại, do các barrack trưởng chịu trách nhiệm.</p>



<p>Nhưng sau khi xảy ra vụ một thuyền nhân mất tích, cảnh sát Nam Dương đã dẫm chân Ban đại diện Trại, ban đêm bất thần vào các barrack để đếm đầu người theo danh sách của barrack trưởng.</p>



<p>Vụ mất tích này xảy ra trước khi tôi tới Galang cho nên chỉ biết nghe người ta kể lại: một cựu sĩ quan (trung úy hay thiếu úy) Không Quân còn trẻ, có vợ nhưng chưa có con, làm việc cho bán nguyệt san Tự Do của cha Dominici, một đêm nọ bỗng biệt tích.</p>



<p>Vì cơ sở của bán nguyệt san Tự Do có chỗ ngủ cho nên đôi khi người này làm việc khuya và ngủ lại ở trên đó, thành thử phải đợi qua ngày hôm sau, người vợ không thấy chồng về và trên tòa soạn cũng không thấy anh lên làm việc mới bắt đầu tìm kiếm, và tới cuối ngày vẫn không thấy mới báo cảnh sát Nam Dương.</p>



<p>Sau khi sự việc được trình lên Văn phòng Chỉ huy trưởng Trại, cảnh sát Nam Dương đã huy động toàn bộ lực lượng đồng thời kêu gọi đồng bào trong trại tình nguyện cùng vào những khu rừng quanh trại để tìm kiếm.</p>



<p>Rừng ở Galang là rừng già nhưng thưa, không có các loài thú dữ, chỉ có chim chóc, thỏ, chồn, trăn&#8230;</p>



<p>Sau mấy ngày tìm kiếm không thấy dấu vết gì, và cũng vì không có “thư tuyệt mạng” để lại, không ai đoán được chuyện gì đã xảy ra cho người cựu sĩ quan này ngoài những tin đồn thiếu sức thuyết phục, chẳng hạn giữa vợ chồng có chuyện buồn nên anh vào rừng sâu tự tử, hoặc anh ta trốn sang Tanjung Pinang, thành phố lớn nhất trong vùng, nằm ở một hòn đảo cách Galang hơn 30 km, để sống kiếp giang hồ, v.v&#8230;, thậm chí còn có tin đồn anh là một điệp viên cộng sản giả dạng thuyền nhân tới Nam Dương để móc nối với “tàn quân” của Đảng Cộng Sản Nam Dương. <strong><em>(Chú thích)</em></strong></p>



<p>Không tìm thấy dấu vết của người mất tích, nhà cầm quyền trại không biết ăn nói ra sao với Cao ủy Tỵ nạn, bởi vì theo thỏa thuận giữa đôi bên, phía Nam Dương có trách nhiệm bảo vệ an ninh và giữ thuyền nhân trong khu vực ấn định.</p>



<p>Hậu quả là sau vụ mất tích nói trên, nhà cầm quyền trại đã đưa ra những biện pháp kiểm soát gắt gao hơn, trong đó có việc ban đêm cảnh sát Nam Dương sẽ bất thần vào các barrack để đếm người.</p>



<p>Việc này không chỉ gây bực mình, căng thẳng vì thái độ hống hách, cung cách hành sự thô lỗ của cảnh sát Nam Dương mà còn dẫm chân Ban đại diện Trại.</p>



<p>Bị cảnh sát Nam Dương lấn lướt nhưng Ban đại diện Trại cũng không làm gì được bởi vì, như những ai từng ở Galang đã biết, cảnh sát họ muốn làm gì thì làm, sau đó Ban đại diện Trại có khiếu nại với Văn phòng Chỉ huy trưởng Trại thì việc cũng đã rồi!</p>



<p>Lần này, sau khi khiếu nại, Ban đại diện Trại cũng chỉ đạt được một kết quả nho nhỏ: sau giờ giới nghiêm, nếu cảnh sát Nam Dương muốn vào các barrack để đếm người thì phải có sự hiện diện của zone trưởng.</p>



<p>Tuy nhiên trên thực tế, cảnh sát không bao giờ thông báo cho vị zone trưởng liên hệ mà cứ vào thẳng các barrack đếm người, barrack trưởng phải cho người cấp báo zone trưởng tới nơi&#8230; dự khán!</p>



<p>Nhưng sau khi Ban Trật tự Zone III được thành lập, hầu như trong zone không còn xảy ra việc này nữa, tất cả là nhờ sự giao hảo (tạm gọi như thế) giữa tôi và Đại úy Marjuno, Trưởng đồn cảnh sát Nam Dương.</p>



<p>Những ai từng ở Galang trong khoảng thời gian 1981-1982 nếu không biết mặt cũng phải nghe tên viên đại úy này.</p>



<p>Marjuno khoảng trên dưới 30 tuổi, tức là trẻ hơn tôi. Anh ta hơi lùn nhưng vạm vỡ, tuy cũng có màu da nâu như đa số người bản xứ nhưng mang những nét đẹp của dân Trung Đông, cộng thêm hàng râu mép khiến tôi liên tưởng tới nam diễn viên gốc Ai-cập Omar Sharif, người thủ vai chính trong cuốn phim Doctor Zhivago (1965).</p>



<p>Marjuno là một người rất nặng phần trình diễn, từ bộ quân phục với vô số phù hiệu tới khẩu súng lục Browning&nbsp;9 ly lúc nào cũng kè kè bên hông, từ cái máy Motorola (walkie talkie) luôn luôn mở âm lượng (volume) tối đa tới cách ngồi gác một chân lên khung cửa chiếc xe Jeep&#8230;</p>



<p>Tính khí của viên đại úy cảnh sát này cũng bất thường, có lúc rất hung bạo có lúc lại vui vẻ hồn nhiên!</p>



<p>Về sự hung bạo của Marjuno, tôi chỉ nghe kể chứ không được chứng kiến, trong đó có vụ anh ta hành hung vị đại diện người tỵ nạn Căm-bốt ở Galang 2; còn về vui vẻ hồn nhiên, tôi thường thấy anh ta ngừng xe trò truyện, cười nói (bằng tiếng Anh pha tiếng Việt, tiếng Indo) với mấy người bán hàng quán bên lề đường, hoặc đùa dỡn với trẻ em trước các barrack; bên cạnh đó, tôi chưa từng nghe ai than phiền Marjuno có hành động, thái độ nham nhở với đàn bà con gái tỵ nạn như nhiều nhân viên cảnh sát dưới quyền anh ta&#8230;</p>



<p>Trong cương vị zone trưởng, tôi không cần và cũng không có cơ hội tiếp xúc với viên Trưởng đồn cảnh sát, tuy nhiên sau khi Ban Trật tự Zone III được thành lập và được Ban đại diện Trại thông báo bằng văn bản cho phía Nam Dương, tôi phải tới đồn cảnh sát tiếp xúc để đích thân thông báo cho họ việc Ban Trật tự Zone III sẽ bắt đầu đi tuần ban đêm trong lãnh thổ Zone III, bao gồm cả khu sinh hoạt.</p>



<p>Sở dĩ tôi phải cẩn thận như thế là vì không biết cảnh sát Nam Dương có đọc Thông báo của Ban Đại diện Trại gửi cho hay không, và nếu đọc, không hiểu họ có đồng ý cho Ban Trật tự Zone III đi tuần sau giờ giới nghiêm hay không?</p>



<p>Tới đồn cảnh sát Nam Dương, tôi trình thẻ zone trưởng cho nhân viên văn phòng và cho biết mục đích của mình. Lúc đó Đại úy Marjuno đang đứng gần đó liền mời tôi vào phòng làm việc của anh ta. Gần một tiếng đồng hồ sau, viên đại úy cảnh sát mới cho tôi về!</p>



<p>Trong gần một tiếng đồng hồ đó, tôi và Marjuno chỉ nói chuyện với nhau chưa đầy 10 phút về Thông báo thành lập Ban Trật tự Zone III, và viên đại úy đã đồng ý ngay trước việc chúng tôi sẽ nhận lãnh trách nhiệm kiểm soát khu sinh hoạt và các barrack thuộc Zone III, thời gian còn lại, chúng tôi nói chuyện về&#8230; súng đạn, phi cơ!</p>



<p>Nguyên Marjuno là một người say mê, thích sưu tầm, tìm hiểu về vũ khí, mà vào thời điểm tôi ở Galang (1981-1982) quân đội Nam Dương đang dần dần thay thế trang bị quân sự của khối cộng bằng trang bị quân sự của Hoa Kỳ và đồng minh.</p>



<p>Khi ấy, cảnh sát Nam Dương vẫn còn trực thuộc quân đội (tới năm 1999 mới tách riêng), cho nên khi biết tôi là một cựu sĩ quan trong QLVNCH, Marjuno đã chuyển ngay sang đề tài quân sự, và sau khi trao đổi vài câu, viên đại úy rất thán phục, coi tôi như một cuốn tự điển sống về vũ khí quân sự.</p>



<p>Thực ra tôi cũng chỉ là một người say mê, thích tìm hiểu về vũ khí quân sự như Marjuno nhưng vì những loại vũ khí mà quân đội Nam Dương đang đặt mua của Hoa Kỳ và đồng minh &#8211; chẳng hạn súng trường M16A1, đại liên M60, phản lực cơ F-5E, trực thăng UH-1 của Mỹ, xe tăng Scorpion của Anh, xe tăng Leopard của Đức &#8211; tôi có một sự hiểu biết khá chi tiết cho nên viên đại úy rất thích thú, nhất là về khẩu súng M16A1 mà tôi có bằng thiện xạ, và chiếc phản lực F-5E Tiger II được sử dụng lần đầu tiên trên chiến trường miền Nam VN.</p>



<p>* * *</p>



<p>Sau buổi gặp gỡ giữa tôi và Đại úy Marjuno, hầu như không bao giờ cảnh sát Nam Dương vào các barrack của Zone III để kiểm soát sau giờ giới nghiêm nữa; lần duy nhất họ vào là để truy lùng một phần tử phạm pháp mà họ nghi ngờ ẩn náu trong barrack này.</p>



<p>Lâu lâu Marjuno lại ghé văn phòng Zone III rủ tôi lên chiếc xe Jeep Wrangler của anh ta chạy vòng vòng trong trại, và tôi miễn cưỡng nhận lời.</p>



<p>Miễn cưỡng bởi vì người tỵ nạn hầu như không ai ưa cảnh sát Nam Dương, trừ một số rất nhỏ có quan hệ buôn bán, quan hệ trai gái với họ. Việc tôi xuất hiện bên cạnh Marjuno trên chiếc xe Jeep cảnh sát chắc chắn sẽ khiến đồng bào “ngứa mắt’ nhưng tôi không muốn làm mất lòng viên Đại úy Trưởng đồn Cảnh sát trong lúc tôi đang ra sức củng cố an ninh trật tự trong zone, đối phó với nạn phá hoại các phòng học, vì thế tôi miễn cưỡng trở thành một người “thân Indo” trước mắt mọi người.</p>



<p>Một đêm nọ khi đã quá giờ giới nghiêm, Marjuno còn cho ngừng xe Jeep trước Barrack 73, đập cửa gọi tôi cùng anh ta đi tuần tiễu. Tưởng có chuyện gì xảy ra trên trung tâm sinh hoạt, tôi mặc quần áo và lên xe ngay. Nào ngờ Marjuno cho xe chạy thẳng sang Galang 2, miệng huyên thuyên, thỉnh thoảng lại hứng chí phá lên cười như một thằng điên; sau khi đi một vòng Galang 2 mới trở về Galang 1&#8230;</p>



<p></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/04/H¼nh-3-Galang-Zone-Leader-1.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="597" height="381" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/04/H¼nh-3-Galang-Zone-Leader-1.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-70580" style="width:507px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/04/H¼nh-3-Galang-Zone-Leader-1-300x191.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/04/H¼nh-3-Galang-Zone-Leader-1.jpg?strip=all 597w" sizes="(max-width: 597px) 100vw, 597px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Phó bản thẻ zone trưởng của tôi thay cho bản chính bị mưa ướt, được cấp ít lâu trước khi tôi rời Galang, và anh Thể (Trại trưởng) đã vào Galang 2, ông Hoàng Công Duyên lên thay</em></p>



<p>* * *</p>



<p>Khoảng nửa năm sau khi tôi lên làm zone trưởng, Marjuno bị thất sủng, mà nguyên nhân chính là việc anh ta hành hung ông Trưởng ban đại diện người tỵ nạn Căm-bốt ở Galang 2.&nbsp;</p>



<p>Tôi không được biết rõ đầu đuôi, chi tiết sự việc, chỉ biết sau khi vị đại diện của mình bị Marjuno hành hung, người tỵ nạn Căm-bốt ở Galang 2 đã nổi loạn, chặn không cho bất cứ viên cảnh sát nào vào khu vực của họ, và yêu cầu Văn phòng Cao ủy Tỵ nạn đứng ra giải quyết.</p>



<p>Sau đó, một buổi họp khẩn cấp đã diễn ra giữa Văn phòng Cao ủy Tỵ nạn do cô Mely đại diện và Văn phòng Chỉ huy trưởng Trại Galang do Trung tá Siregar cầm đầu.</p>



<p>Tôi không được biết nhiều về vị trung tá Chỉ huy trưởng Trại vì trước sau tôi chỉ được tiếp xúc trực tiếp một lần duy nhất khi ông tới thăm trung tâm sinh hoạt và ghé vào Văn phòng Zone III, qua đó tôi thấy ông là một người cao ráo, mang mắt kính, ra vẻ “gentleman” chứ không “lực điền” như Đại úy Marjuno.</p>



<p>Theo lời Trung úy H, một người bạn Không Quân cùng khóa cùng đơn vị với tôi trước năm 1975 nay làm việc trên Văn phòng Chỉ huy trưởng Trại, ông Siregar là một người có trình độ, nói lưu loát cả tiếng Anh lẫn tiếng Pháp.</p>



<p>Về cá tính và cách làm việc của ông Siregar, tôi không có cơ hội tìm hiểu và cũng không biết quan hệ giữa ông và Văn phòng Cao ủy ra sao. Chỉ biết một điều chắc chắn là ông và cha Dominici không ưa nhau. Việc này cũng dễ hiểu bởi vì cha Dominici luôn luôn bênh vực người tỵ nạn và đã có lần về thủ đô Jakarta tố cáo, khiếu nại về sự lộng hành của cảnh sát Nam Dương ở Galang.</p>



<p>Trở lại với buổi họp giữa Văn phòng Cao ủy Tỵ nạn và Văn phòng Chỉ huy trưởng Trại, cuối cùng Trung tá Siregar đã nhận lỗi về phía cảnh sát và nhờ cô Mely gửi lời xin lỗi cá nhân ông Trưởng ban đại diện cùng toàn thể người tỵ nạn Căm-bốt ở Galang 2.&nbsp;</p>



<p>Về phần Đại úy Marjuno, Trưởng đồn cảnh sát Nam Dương, không ai biết anh ta có bị biện pháp kỷ luật nào hay không, chỉ biết từ đó hầu như không xuất hiện công khai ở những nơi có người tỵ nạn nữa, và bị thay thế ít lâu sau khi tôi rời Galang..</p>



<p>Riêng tôi trong cương vị Zone trưởng Zone III, có thể nói đã từ lời tới huề qua việc quen biết viên đại úy này. Trong khi mang tiếng không tốt “thân Indo” trước mắt một số người, tôi đã đạt kết quả tốt đẹp trong việc củng cố an ninh trật tự trong zone, chấm dứt nạn phá hoại các phòng học, và nhất là không còn xảy ra việc đang đêm cảnh sát Nam Dương xông vào các barrack lục soát nữa.</p>



<p><strong><em>* Ngày Quân Lực VNCH 1982</em></strong></p>



<p>Khi tình hình vệ sinh, an ninh trật tự trong zone đã trở nên tốt đẹp, tôi bắt tay vào việc khuyến khích và tạo điều kiện cho thanh thiếu niên chơi các môn thể thao như bóng tròn, bóng chuyền, bóng bàn&#8230;</p>



<p>Nói cho ngay, tôi cũng chẳng mấy yêu thích các bộ môn thể thao,&nbsp; ngày còn ở bậc trung học đệ nhất cấp tuy có tham gia đội bóng tròn của trường nhưng vì lười chạy cho nên tình nguyện&#8230; bắt gôn (thủ môn), chỉ tới khi vào trại cải tạo của cộng sản mới nhận ra những lợi ích của các môn thể thao, về tinh thần cũng như thể chất.</p>



<p>Mặc dù Zone III có lợi thế ở gần sân banh và sân bóng chuyền trước trung tâm sinh hoạt, cho tới thời gian đầu năm 1982, không mấy người trong zone chơi hai môn thể thao này, ngoài một nhóm trẻ vài em chiều chiều ôm banh ra sân dợt chơi.</p>



<p>Trong khi đó Zone IV đã có một đội bóng tròn khá mạnh, lâu lâu chia ra hai phe đá trông khá hấp dẫn. Vì thế, ưu tiên một của tôi là tổ chức một đội bóng tròn cho Zone III.&nbsp;</p>



<p>Trước hết, tôi yêu cầu các barrack trưởng thiết lập danh sách thanh thiếu niên muốn tham gia, càng đông càng tốt để chia phe đá với nhau.</p>



<p>May mắn cho tôi, trong số mấy chục em tham gia có Đặng Văn Toán, một cầu thủ trẻ có trình độ chuyên môn khá cao, tình nguyện đảm trách vai trò huấn luyện viên nên đã gây hào hứng và đạt kết quả tốt đẹp ngoài sự mong muốn.</p>



<p>Về bóng chuyền, không chỉ có Zone III mà các zone khác cũng hăng hái tham gia phong trào chơi bóng chuyền nhờ sự xuất hiện của một “tuyển thủ” không mấy xa lạ với tôi: cựu Thiếu tá Vũ Ngô Khánh Truật, trước kia cùng phục vụ tại phi trường Biên Hòa với tôi; tới Galang, anh giữ chức chi hội trưởng Chi hội (cựu quân nhân) Không Quân. Trước năm 1975, anh là một cầu thủ trong đội tuyển bóng chuyền của Sư Đoàn 3 Không Quân.</p>



<p>Cứ chiều chiều, anh Truật lại rủ một vài người ra sân bóng chuyền trước khu sinh hoạt đấu với nhau; chẳng bao lâu đã thu hút được đông đảo thanh niên trong trại. Ngoài ra, anh Truật còn kiêm cả vai trọng tài, rất ư là&#8230; đúng điệu (professional).</p>



<p>Mấy tháng sau, nhân sắp tới Ngày Quân Lực VNCH 19 tháng 6, tôi bàn với anh Truật đề nghị Ban đại diện nhân dịp này tổ chức một giải thể thao toàn trại, vừa tạo không khí sôi nổi hào hứng vừa nêu cao chính nghĩa tỵ nạn.</p>



<p>Anh Truật hưởng ứng ngay và hứa sẽ đứng ra nhận lãnh nếu Ban đại diện Trại đồng ý tổ chức. Dĩ nhiên, Ban đại diện đồng ý.</p>



<p>Đồng ý một phần vì ông Trại trưởng (Trưởng ban đại diện Trại) lúc đó cũng là một cựu quân nhân: Đại úy Thể (xin lỗi, giờ này tôi không còn nhớ họ của anh).</p>



<p>Nguyên sau khi tôi lên làm Zone trưởng Zone III được mấy tháng, bác Trinh, Trại trưởng Galang 1, đi định cư, chúng tôi phải bầu một vị Trại trưởng mới.</p>



<p>“Chúng tôi” ở đây là những người được quyền bỏ phiếu, gồm các Trưởng phòng, Trưởng ban, Trưởng khối thuộc Ban đại diện, các zone trưởng và barrack trưởng, khoảng 150 người.</p>



<p>Theo thông lệ ở Galang, mỗi khi ông Trại trưởng đi định cư, ông Trại phó sẽ lên thay, nhưng lần này ông Trại phó dứt khoát từ chối vì ông đã được Úc nhận theo diện nhân đạo, có thể sẽ rời Galang chỉ trong vòng vài tuần lễ. (Ông Trại phó này không ai khác hơn là nhạc sĩ Văn Giảng, cùng Barrack 73 với tôi).</p>



<p>Vì thế Văn phòng Ban đại diện phải tổ chức một cuộc bầu cử tại Hội trường. Hai người tình nguyện ứng cử đều là cựu quân nhân: một vị Trung tá và Đại úy Thể.</p>



<p>Theo thủ tục, các ứng cử viên sẽ chọn một người (trong số những người được quyền bỏ phiếu) đứng ra giới thiệu, cổ động cho mình. Trong buổi bầu cử, ứng cử viên có 10 phút để nói về bản thân, và người giới thiệu được phát biểu trong vòng 15 phút. Vị Trung tá được ông Trưởng khối Giáo dục phổ thông giới thiệu, còn tôi giới thiệu Đại úy Thể.</p>



<p>Anh Thể là Trưởng đoàn Thanh niên Công giáo Galang nhưng vì không sinh hoạt trong Đoàn cho nên trước đó tôi không hề biết anh là Trưởng đoàn. Tôi tình nguyện lên phát biểu ủng hộ anh chỉ vì trước đây tôi ở cùng trại tù Suối Máu với anh, và tôi được biết anh đã tham gia cuộc nổi loạn đêm Giáng Sinh 1978, nằm trong Ban hành động của K3.</p>



<p>Khi lên giới thiệu, tôi phát biểu ngắn gọn chỉ khoảng 5 phút, đại khái tôi nói khi sống trong cảnh tuyệt vọng, khốn cùng, bị đày đọa về cả tinh thần lẫn thể xác, tương lai mờ mịt, người ta dễ để lộ ra con người thật của mình; trong cương vị một bạn tù cải tạo của anh Thể ở Suối Máu, từng tham dự cuộc nổi loạn đêm Giáng Sinh 1978, tôi có thể khẳng định anh đã giữ được tư cách, thể hiện được sự bất khuất của một sĩ quan QLVNCH.</p>



<p>Kết quả cuộc bỏ phiếu kín, Đại úy Thể đã thắng với khoảng 90% số phiếu!</p>



<p>* * *</p>



<p>Trở lại với giải thể thao kỷ niệm Ngày Quân Lực VNCH 19 tháng 6 do anh Vũ Ngô Khánh Truật làm Trưởng ban Tổ chức, bản Thông Báo của Ban Đại diện Trại được đọc đi đọc lại trong mấy ngày liền đã gây tác động mạnh mẽ, zone nào cũng lo tập dợt, hoặc thành lập (nếu chưa có) các đội bóng tròn, bóng chuyền, tuyển người thi bóng bàn, và chạy đua.</p>



<p>Vào thời điểm này, đội bóng tròn Zone IV được xem là mạnh nhất, bóng chuyền thì tôi không rõ, nhưng riêng bóng bàn thì tôi chắc chắn Zone III sẽ đoạt giải, vì không ai có thể thắng nổi một nữ vô địch trẻ từ Việt Nam!</p>



<p>Nguyên sau khi Văn phòng Zone III được Ban đại diện Trại cho sử dụng nốt 2/3 căn nhà để làm phòng may, tôi cho khiêng cái bàn ping-pong lâu nay bị bỏ xó trong kho ra, xuất quỹ mua lưới, một cặp vợt và một lố bóng.</p>



<p>Đa số các tay vợt đầu tiên tới chơi là các em từ Barrack 68 dành cho thiếu niên không có thân nhân (unaccompanied minors), thường gọi là&nbsp;&nbsp; Barrack Nhà Trẻ, bởi vì bàn ping-pong ở dưới đó lúc nào cũng có người chơi.</p>



<p>Bỗng mấy ngày sau, nghe tiếng reo hò, vỗ tay hoan hô, tôi rời văn phòng tới xem thì thấy một cô gái đang thi thố tài nghệ. Mặc dù về bóng bàn tôi chỉ là một tay mơ, cầm vợt đưa qua đưa lại cho vui, nhưng cũng có thể nhận xét tài nghệ của cô gái không thua gì các tay vô địch trước năm 1975 mà tôi đã từng xem thi đấu.</p>



<p>Sau này mới biết T.H. (tên cô) là một trong những tay vợt nữ hàng đầu ở thành Hồ, từng đi thi đấu nhiều lần.</p>



<p>Nhưng dù sao, bóng bàn cũng chỉ là một bộ môn ít được chú ý tới so với bóng tròn và bóng chuyền.</p>



<p>Thật tình mà nói, khi cùng anh Vũ Ngô Khánh Truật đứng ra vận động tổ chức giải thể thao kỷ niệm Ngày Quân Lực 19 tháng 6, tôi chỉ có mục đích cổ vũ phong trào thể thao trong trại và nhắc nhớ một ngày lễ quan trọng của VNCH trước năm 1975 chứ không hề có tham vọng Zone III của mình sẽ nổi đình đám.&nbsp;</p>



<p>Chẳng hạn bóng tròn. Từ lâu, đội của Zone IV đã được xem là mạnh nhất, đội của Zone III mới được thành lập không thể so sánh. Nhưng chàng huấn luyện viên trẻ tuổi Đặng Văn Toán vẫn nuôi tham vọng.</p>



<p>Sau khi việc tổ chức giải thể thao kỷ niệm Ngày Quân Lực được Ban đại diện Trại loan báo, Toán cho tôi biết các cầu thủ của Zone III rất háo hức, tới mức hễ thấy sân trống là đòi ra tập dợt. Rồi Toán đề nghị văn phòng zone thỉnh thoảng xuất quỹ cho các em giải khát để khích lệ tinh thần.</p>



<p>Quỹ của zone – tức đóng góp 250 rupiahs mỗi tuần của các barrack trưởng – đâu có bao nhiêu, cho nên tôi hỏi ý kiến các barrack trưởng về việc kêu gọi đồng bào trong zone tự nguyện đóng góp, và được mọi người đồng tình ủng hộ.</p>



<p>Kết quả, chỉ trong mấy ngày đầu, “Quỹ ủng hộ giải thể thao Ngày Quân Lực” của Zone III đã thu được hàng chục ngàn rupiahs; tôi lại sử dụng “chiến tranh tâm lý”, nhờ Phòng Thông tin đọc danh sách và số tiền đóng góp của mỗi barrack trên loa phóng thanh mỗi ngày hai lần, đưa tới một sự cạnh tranh đầy “chính nghĩa” giữa các barrack!</p>



<p>* * *</p>



<p>Không hiểu vì sự khích lệ tinh thần ấy hay chỉ vì&#8230; hên, trong trận chung kết, đội bóng tròn Zone III đã hạ đội Zone IV để đoạt giải vô địch Ngày Quân Lực 1982.</p>



<p>Zone III còn đoạt cả giải bóng bàn (đương nhiên) và giải nhất + giải ba trong cuộc chạy đua 1500 mét, chỉ thiếu giải bóng chuyền mà thôi!</p>



<p></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/04/h¼nh-4-Galang-Zone-III-soccer-team.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="708" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/04/h¼nh-4-Galang-Zone-III-soccer-team-1024x708.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-70581" style="width:482px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/04/h¼nh-4-Galang-Zone-III-soccer-team-300x208.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/04/h¼nh-4-Galang-Zone-III-soccer-team-1024x708.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2024/04/h¼nh-4-Galang-Zone-III-soccer-team-768x531.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2024/04/h¼nh-4-Galang-Zone-III-soccer-team-1536x1062.jpg 1536w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/04/h¼nh-4-Galang-Zone-III-soccer-team.jpg?strip=all 1920w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>

<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/04/h¼nh-5-galang-zone-tr¦¦sƒng.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="771" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/04/h¼nh-5-galang-zone-tr¦¦sƒng-1024x771.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-70582" style="width:482px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/04/h¼nh-5-galang-zone-tr¦¦sƒng-300x226.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/04/h¼nh-5-galang-zone-tr¦¦sƒng-1024x771.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2024/04/h¼nh-5-galang-zone-tr¦¦sƒng-768x578.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/04/h¼nh-5-galang-zone-tr¦¦sƒng.jpg?strip=all 1447w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Đội bóng tròn Zone III. Tôi đứng mép trái, bên cạnh là Zone phó Hành chánh Sơn “lồ”, ngồi phía trước tôi là Hiền, Zone phó Trật tự. Thủ quân Đặng Văn Toán đứng thứ tư từ bên mặt.</em><em> Tấm hình này ngày ấy tôi tặng cho </em><em>Toán, hơn 30 năm sau được anh phổ biến trên </em><em>fb Trại Tỵ Nạn Galang, kèm theo mặt sau có chữ ký của tôi</em></p>



<p></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/04/h¼nh-6-galang-1982.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="769" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/04/h¼nh-6-galang-1982-1024x769.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-70583" style="width:467px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/04/h¼nh-6-galang-1982-300x225.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/04/h¼nh-6-galang-1982-1024x769.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2024/04/h¼nh-6-galang-1982-768x577.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/04/h¼nh-6-galang-1982.jpg?strip=all 1112w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Cuộc chạy đua kết thúc giải thể thao Ngày Quân Lực 1982. Hai áo vàng (Zone III) đoạt giải nhất và ba; đứng sau các em, từ trái: tôi, ông trại phó, ông trại trưởng (anh Thể), đại diện Phòng Xã Hội Nam Dương, và trưởng ban tổ chức Vũ Ngô Khánh Truật</em></p>



<p>Sau giải thể thao Ngày Quân Lực 19/6/1982, Zone III nổi như cồn, tôi cũng được nổi tiếng theo. Bên cạnh sự hãnh diện, niềm vui mang tính cách cá nhân, cục bộ ấy không thể không nói tới ảnh hưởng tích cực của giải này đối với phong trào thể dục thể thao ở trại tỵ nạn Galang, mà trong số những người có công đầu không thể không nhắc tới anh Vũ Ngô Khánh Truật – người sẽ giữ chức Trại trưởng Galang 1 ít lâu sau khi tôi rời đảo.</p>



<p>Sau này, qua thư từ của các em trong đội bóng tròn Galang gửi sang Úc, tôi được biết tới cuối năm 1982, hai trại Galang 1 và Galang 2 đã thành lập đội bóng tròn toàn trại để thi đấu với nhau.</p>



<p></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/04/h¼nh-7-galang-1-2.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="960" height="638" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/04/h¼nh-7-galang-1-2.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-70584" style="width:554px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/04/h¼nh-7-galang-1-2-300x199.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2024/04/h¼nh-7-galang-1-2-768x510.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/04/h¼nh-7-galang-1-2.jpg?strip=all 960w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Hai đội bóng tròn Galang 1 + 2</em></p>



<p><strong><em>(Còn tiếp)</em></strong></p>



<p><strong>CHÚ THÍCH</strong></p>



<p><strong>Đảng Cộng Sản Nam Dương</strong></p>



<p>Nguyên nhân chính khiến hai chính phủ Nam Dương và Singapore lúc đầu (trước năm 1979) không nhận thuyền nhân Việt Nam là vì họ lo sợ cộng sản quốc tế, thông qua cộng sản Việt Nam, cho cán bộ đội lốt thuyền nhân sang Nam Dương và Singapore để móc nối với “tàn quân” của Đảng Cộng Sản Nam Dương và Đảng Cộng Sản Mã-lai &amp; Singapore.</p>



<p>* * *</p>



<p>Nguyên vào thời gian cao điểm của cuộc Chiến Tranh Lạnh giữa hai khối tư bản và cộng sản, cuối thập niên 1950 đầu thập niên 1960, Đảng Cộng Sản Nam Dương được ghi nhận là đảng cộng sản lớn nhất tại một quốc gia không theo chế độ cộng sản. Vào năm 1955, theo Cơ quan tình báo Trung ương (CIA) của Hoa Kỳ, Đảng Cộng Sản Nam Dương có tới 2 triệu đảng viên.</p>



<p>Tuy nhiên trong mưu đồ nhuộm đỏ vùng Đông Nam Á, trong khi Cộng sản Việt Nam và Cộng sản Mã-lai tiến hành chiến tranh du kích chống chính quyền thì Cộng sản Nam Dương chủ trương lũng đoạn chính trường để tiến tới việc thành lập một chế độ cộng sản, hoặc thân cộng.</p>



<p>Ở đây, chúng tôi xin miễn bàn tới cuộc chiến tranh du kích tại miền Nam VN vì trên thực tế chỉ vài năm sau ngày phát động, nó đã biến thành cuộc chiến tranh xâm lược của cộng sản Bắc Việt.</p>



<p>Cuộc chiến tranh du kích tại Mã-lai, thường được tây phương gọi là The&nbsp;Malayan Emergency, do Chin Peng (Trần Bình) &#8211; lãnh tụ Đảng Cộng sản Mã-lai và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Mã-lai &#8211; lãnh đạo, bắt đầu vào năm 1948 đã kết thúc năm 1960 với sự thất bại thê thảm của phe cộng sản. Chin Peng phải sống lưu vong và chết tại Thái Lan năm 2013.</p>



<p><em>[Độc giả có thể vào trang Google để tìm hiểu thêm về nhân vật Chin Peng và người tiền nhiệm của ông ta là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Mã-lai <strong>Lai Teck</strong>&nbsp;(tên Việt:&nbsp;<strong>Phạm Văn Đắc, Trương Phước Đạt</strong>), một nhân vật Việt gốc Hoa đầy huyền thoại, về sau phản đảng và bị thanh toán tại Bangkok năm 1947]</em></p>



<p>Còn Đảng Cộng Sản Nam Dương (ĐCSND), được thành lập vào năm 1914. Sau cuộc nổi loạn năm 1926 bị thất bại, ĐCSND bị chính quyền thuộc địa đặt ra ngoài vòng pháp luật, đa số các lãnh tụ chạy sang Liên Xô, lực lượng còn lại trong nước lui vào bóng tối; một số sau đó thâm nhập vào Đảng Quốc Gia Nam Dương (<a href="https://en.wikipedia.org/wiki/Indonesian_National_Party">Indonesian National Party</a>) do lãnh tụ kháng chiến Sukarno thành lập năm 1927.</p>



<p>Trong thời gian quần đảo Nam Dương và bán đảo Mã-lai bị quân Nhật chiếm đóng trong Đệ nhị Thế chiến (1942-1945), Sukarno hợp tác với quân Nhật. Sau khi quân Nhật đầu hàng Đồng Minh, trong lúc chờ quân Anh tới giải giới quân Nhật, Sukarno tuyên bố Nam Dương độc lập, tự xưng tổng thống, lãnh đạo cuộc kháng chiến chống lại chế độ thuộc địa của Hòa Lan vừa được tái lập với sự hỗ trợ của quân Anh.</p>



<p>Nắm được thời cơ, ĐCSND bắt đầu hoạt động trở lại, nhiều đơn vị kháng chiến nằm dưới quyền kiểm soát hoặc chịu sự chi phối của cộng sản.</p>



<p>Năm 1949, Hòa Lan trao trả độc lập cho Nam Dương, Sukarno chính thức trở thành Tổng thống Cộng Hòa Nam Dương.</p>



<p>Bước sang thập niên 1950, trước tình hình chính trị bất ổn của Nam Dương sau khi được Hòa Lan trao trả độc lập, TT Sukarno dành mọi sự dễ dàng cho ĐCSND phát triển để tạo thế kiềng ba chân cho chế độ của ông, gồm quân đội, Hồi giáo, và cộng sản.</p>



<p>Năm 1955 Nam Dương đăng cai tổ chức Hội nghị Á-Phi (Asian–African&nbsp; Conference) đầu tiên tại thành phố Bandung trên đảo Java, thường được gọi là Hội Nghị Bandung, với sự tham dự của 29 quốc gia mới giành được độc lập (trong đó cả CSBV lẫn VNCH), đưa tới sự ra đời của Phong Trào Không Liên Kết (Non-Aligned Movement).&nbsp;</p>



<p></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/04/h¼nh-8-bandung-1.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="612" height="439" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/04/h¼nh-8-bandung-1.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-70585" style="width:526px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/04/h¼nh-8-bandung-1-300x215.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/04/h¼nh-8-bandung-1.jpg?strip=all 612w" sizes="(max-width: 612px) 100vw, 612px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Quang cảnh Hội Nghị Bandung năm 1955. Cờ Cộng sản Bắc Việt và cờ VNCH là hai lá cờ áp chót</em></p>



<p></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/04/h¼nh-9-bandung2.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="411" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/04/h¼nh-9-bandung2-1024x411.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-70586" style="width:626px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/04/h¼nh-9-bandung2-300x120.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/04/h¼nh-9-bandung2-1024x411.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2024/04/h¼nh-9-bandung2-768x308.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/04/h¼nh-9-bandung2.jpg?strip=all 1080w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Kỷ niệm 60 năm Hội Nghị Bandung (2015), vẫn có cờ vàng ba sọc đỏ cho dù chính thể VNCH không còn tồn tại</em></p>



<p>Thế nhưng qua năm 1956, chính TT Sukarno lại bắt đầu ngả về phía các nước theo chế độ cộng sản với chuyến công du Trung Cộng của ông.</p>



<p>Để rồi từ một quốc gia không liên kết, Nam Dương đã liên kết với các ba quốc gia cộng sản là Trung Cộng, Bắc Hàn, CSBV, và một quốc gia trung lập thân cộng là Căm-bốt, mà Sukarno gọi là “Trục Bắc Kinh &#8211; Bình Nhưỡng &#8211; Hà Nội &#8211; Nam Vang”.</p>



<p></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/04/h¼nh-10-hochiminh-sukarno-1.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="351" height="466" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/04/h¼nh-10-hochiminh-sukarno-1.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-70587" style="width:303px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/04/h¼nh-10-hochiminh-sukarno-1-226x300.jpg 226w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/04/h¼nh-10-hochiminh-sukarno-1.jpg?strip=all 351w" sizes="(max-width: 351px) 100vw, 351px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>TT Sukarno và Hồ Chí Minh (1957)</em></p>



<p>Tới năm 1964, sau khi ông Lyndon Johnson lên làm Tổng thống Hoa Kỳ, TT Sukarno chấm dứt nhận viện trợ của USAID (Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ) và bắt đầu một chiến dịch chống Mỹ, Anh kịch liệt. Các cơ sở kinh doanh của người Mỹ ở Nam Dương bị đám đông (do ĐCSND khích động) cướp phá trước sự làm lơ của các cơ quan công lực, sách vở, phim ảnh Mỹ bị cấm, đĩa nhạc của ban Beatles bị đốt&#8230;</p>



<p>Cũng từ đó, Trung Cộng trở thành nguồn viện trợ lớn nhất cho Nam Dương (trước kia là Liên Xô).</p>



<p></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/04/h¼nh-11-sukarno-mao.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="750" height="499" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/04/h¼nh-11-sukarno-mao.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-70588" style="width:540px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/04/h¼nh-11-sukarno-mao-300x200.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/04/h¼nh-11-sukarno-mao.jpg?strip=all 750w" sizes="(max-width: 750px) 100vw, 750px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>TT Sukarno và Mao Trạch Đông (1956)</em></p>



<p>Thời gian này (đầu năm 1965), ĐCSND đã có trên 3 triệu đảng viên, được xem là lớn nhất thế giới sau hai đảng cộng sản Trung Hoa và Liên Xô.</p>



<p></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/04/h¼nh-12-Communist-Party-of-Indonesia.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="783" height="522" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/04/h¼nh-12-Communist-Party-of-Indonesia.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-70589" style="width:494px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/04/h¼nh-12-Communist-Party-of-Indonesia-300x200.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2024/04/h¼nh-12-Communist-Party-of-Indonesia-768x512.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/04/h¼nh-12-Communist-Party-of-Indonesia.jpg?strip=all 783w" sizes="(max-width: 783px) 100vw, 783px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Các đảng viên ĐCSND trong một cuộc biểu tình tại Jakarta</em></p>



<p>Với sự hỗ trợ của TT Sukarno, ĐCSND đã cho người thâm nhập vào mọi cấp chính quyền và quân đội. Tới giữa năm 1965, quân đội Nam Dương đã chia ra hai phe khuynh hữu và khuynh tả một cách rõ rệt; đáng nói là trong phe khuynh tả có cả Tư lệnh Không Quân.</p>



<p>Trong khi phe khuynh hữu được sự ủng hộ của Hoa Kỳ và Anh quốc, phe tả được sự hỗ trợ của Trung Cộng trong đó có việc thành lập các lực lượng nông dân và tổ chức quần chúng.</p>



<p><strong>“Tắm máu cộng sản”!</strong></p>



<p>Khi lực lượng và thanh thế lên tới đỉnh cao, cuối tháng 9/1965, phe cộng sản đã nổi loạn. Về sau, cuộc nổi loạn này được gọi là “Phong trào 30 tháng 9” (Thirtieth of September Movement) vì khởi sự tiến hành vào đêm 30/9/1965, do ĐCSND phối hợp với các tướng tá là đảng viên cộng sản, hoặc cảm tình viên của cộng sản trong quân đội Nam Dương.</p>



<p>Mục tiêu đầu tiên của phe nổi loạn là bắt giữ Đại tướng Nasution, Bộ trưởng Quốc phòng, các tướng lãnh thuộc Bộ Tổng tham mưu và tư lệnh các đại đơn vị (không theo phe cộng sản).</p>



<p>Tới khoảng 3 giờ sáng 1/10/1965, phe nổi loạn đã bắt giữ (và sau đó sát hại) sáu tướng lãnh cao cấp trong quân đội Nam Dương trong đó có Tư lệnh Lục Quân. Riêng Đại tướng Nasution, Bộ trưởng Quốc phòng, khi quân nổi loạn tràn vào tư dinh, ông đã kịp thời nhảy qua tường rào thoát thân, trong khi viên thiếu úy tùy viên của ông bị bắn chết vì trong bóng tối quân nổi loạn đã lầm tưởng viên thiếu úy này là vị Bộ trưởng Quốc phòng.</p>



<p>Cùng với các tướng lãnh nói trên, quân nổi loạn còn hạ sát một số thân nhân, tùy tùng của họ, trong đó có cô con gái năm tuổi của Đại tướng Nasution. Ngoài ra còn hai vị đại tá cũng bị giết.</p>



<p>Rạng sáng, phe nổi loạn chiếm đài phát thanh, Bộ Thông tin, quảng trường trung ương Merdeka Square, dinh tổng thống, và tuyên bố họ hành động để phá vỡ một cuộc đảo chánh của phe quân đội do CIA giật dây để lật đổ Tổng thống Sukarno, dự trù sẽ diễn ra vào Ngày Quân Lực Nam Dương, 5 tháng 10.</p>



<p>Cùng khoảng thời gian, phe nổi loạn đưa Tổng thống Sukarno tới căn cứ không quân Halim ở phía đông thủ đô, nơi họ đặt bộ chỉ huy, nói là để bảo vệ ông. Tổng Bí thư ĐCSND Aidit và Phó Thống chế Omar Dani, Tư lệnh Không Quân Nam Dương, cùng có mặt tại CCKQ này.</p>



<p>Tuy nhiên, vì thiếu sự hiểu biết về lãnh thổ thủ đô, thiếu sự điều nghiên, tiên liệu của những người cầm đầu, cuộc nổi loạn đã gặp khó khăn ngay trong ngày đầu tiên, tạo cơ hội cho “người hùng” Suharto ra tay.</p>



<p></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/04/h¼nh-13-suharto-time-1.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="400" height="527" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/04/h¼nh-13-suharto-time-1.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-70590" style="width:306px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/04/h¼nh-13-suharto-time-1-228x300.jpg 228w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/04/h¼nh-13-suharto-time-1.jpg?strip=all 400w" sizes="(max-width: 400px) 100vw, 400px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Tướng Suharto trên bìa tạp chí TIME</em></p>



<p>Thiếu tướng Suharto là một sĩ quan có nhiều công trạng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Hòa-lan, và sau này đã dẹp tan các cuộc nổi loạn của phe Hồi giáo cực đoan. Tuy nhiên, ông không được Tổng thống Sukarno trọng dụng vì lập trường thân Mỹ.</p>



<p>Vào thời gian diễn ra cuộc nổi loạn của phe cộng sản, tướng Suharto đang giữ chức Tư lệnh Lực lượng Trừ bị Chiến lược (Army&#8217;s Strategic Reserve).</p>



<p>Lúc 5 rưỡi sáng 1/10/1965, ông đang ngủ tại tư gia thì được thuộc cấp tới đánh thức và báo hung tin. Ông lập tức tới Bộ Tư lệnh của mình để tìm cách đối phó.</p>



<p>Bộ Tư lệnh Lực lượng Trừ bị Chiến lược của tướng Suharto nằm về hướng tây quảng trường trung ương (Merdeka Square), nơi dàn quân của phe nổi loạn, nhưng vì được ngăn cách bởi một nhà ga xe lửa, đã không bị họ chiếm đóng.</p>



<p>Sau khi liên lạc và được sự hậu thuẫn của vị Tư lệnh Hải Quân và vị Tư lệnh Cảnh sát (ngày ấy còn trực thuộc quân đội), tướng Suharto tự nhận lãnh trách nhiệm Tổng tư lệnh quân đội (vốn là của Tổng thống). Ông ra lệnh cho tất cả mọi đơn vị án binh bất động, mục đích để quân nhân của các đơn vị theo phe nổi loạn hoang mang, không chịu tuân lệnh các cấp chỉ huy.</p>



<p>Tới quá trưa 1/10/1965, tướng Suharto đã thuyết phục được lực lượng tham gia cuộc nổi loạn rời Merdeka Square, phân nửa tới Bộ tư lệnh Lực lượng Trừ bị Chiến lược đầu hàng, phân nửa rút về căn cứ không quân Halim, nơi phe nổi loạn đặt bản doanh.</p>



<p>Tới 7 giờ tối, quân của tướng Suharto đã tái chiếm dinh tổng thống và tất cả mọi cơ quan bị phe nổi loạn chiếm từ sáng sớm.</p>



<p>Đêm hôm đó, sau khi tướng Suharto ra tối hậu thư cho phe nổi loạn đang chiếm đóng căn cứ không quân Halim, Tổng thống Sukarno đã rời nơi này bay về thành phố Bogor ở phía nam thủ đô Jakarta, nơi có biệt điện của tổng thống; còn Phó Thống chế Omar Dani, Tư lệnh Không Quân, và Tổng Bí thư ĐCSND Aidit thì bỏ chạy &#8211; Dani về miền đông, Aidit về miền trung đảo Java, nơi có nhiều đơn vị quân đội và dân chúng theo cộng sản.</p>



<p>Khi lực lượng của tướng Suharto tới CCKQ Halim, hầu hết binh sĩ tham gia cuộc nổi loạn đã đào tẩu, và tới sáng ngày 2/10/1965, phe quân đội hoàn toàn làm chủ thủ đô Jakarta.</p>



<p>Ngày 4/10/1965, người ta tìm được thi hài sáu vị tướng và viên thiếu úy bị phe nổi loạn sát hại, quăng xác xuống một cái giếng ở gần CCKQ Halim. Ngày hôm sau, 5/10, Ngày Quân Lực Nam Dương, tang lễ bảy sĩ quan được cử hành trọng thể dưới sự chủ tọa của Đại tướng Nasution, Bộ trưởng Quốc phòng.</p>



<p>* * *</p>



<p>Cuộc phản công chớp nhoáng của Thiếu tướng Suharto tại thủ đô Jakarta và vùng phụ cận đã đưa tới sự tan rã mau chóng của lực lượng nổi loạn ở Trung Java, vốn được xem là “thành trì” của ĐCSND.</p>



<p>Trước đó, vào sáng 1/10/1965, khi phe nổi loạn ra tuyên cáo trên đài phát thanh quốc gia, Utomo Ramelan, một đảng viên cộng sản kiêm Thị trưởng Solo, thành phố lớn nhất Trung Java, ra tuyên ngôn ủng hộ “Phong trào 30 tháng 9”.</p>



<p>Cùng lúc, lực lượng nổi loạn đã hạ sát Đại tá Katamso, Tư lệnh một đại đơn vị ở Trung Java, cùng với vị Trung tá Tham mưu trưởng của ông.</p>



<p>Tuy nhiên, tới buổi tối cùng ngày, khi tin tức về cuộc phản công của tướng Suharto ở thủ đô Jakarta bay về, hầu hết lực lượng theo phe nổi loạn ở Trung Java đã quy thuận quân chính phủ, hoặc tự động tan hàng.</p>



<p>* * *</p>



<p>Sau khi quân đội làm chủ tình hình và quy trách ĐCSND tội chủ</p>



<p>mưu cuộc nổi loạn, cùng với những chi tiết ghệ rợn về việc phe nổi loạn “tra tấn, hành quyết, bằm xác các tướng lãnh” trước khi quăng xuống giếng được loan truyền, các tổ chức thanh niên quốc gia (nationalist), Hồi giáo và quần chúng Nam Dương vốn sẵn có ác cảm với ĐCSND đã bắt đầu những cuộc “tắm máu” (mass killings) ở thủ đô Jakarta và những nơi được xem là “thành trì” của cộng sản, bắt đầu tại tỉnh Aceh &#8211; cái nôi của Hồi giáo ở đông phương &#8211; trên đảo Sumatra rồi lan sang Trung Java, và Đông Java.</p>



<p>Khi lực lượng nhảy dù thuộc Bộ tư lệnh lực lượng hành động khẩn cấp (Quick Reaction Forces Command<sup><a href="https://en.wikipedia.org/wiki/Kopasgat#cite_note-1"></a></sup>) được đưa tới Semarang, thủ phủ của Trung Java, thì trụ sở của ĐCSND đã bị dân chúng đốt phá bình địa. Với sự hướng dẫn của dân chúng, các đơn vị nhảy dù săn lùng khắp các vùng quê để bắt giữ đảng viên cộng sản hoặc cảm tình viên, tiêu diệt các lực lượng võ trang gồm quân đội ly khai và đảng viên cộng sản.</p>



<p>Trong khi đó tại Đông Java, thành viên của Phong trào Thanh niên Ansor của Hồi giáo bắt đầu một cuộc tàn sát ghê rợn (thường là chặt đầu) nhắm vào các đảng viên cộng sản; cuộc tàn sát này sau đó đã lan sang đảo Bali (nằm cạnh đảo Java về hướng đông).</p>



<p>Trong số đảng viên cộng sản hoặc cảm tình viên bị săn lùng, bị giết có rất nhiều người gốc Hoa. Nguyên nhân: từ lâu, Trung Cộng đã là đồng minh thân thiết nhất của Nam Dương, có ảnh hưởng rất mạnh về chính trị, và hầu hết người Nam Dương gốc Hoa đều là đảng viên hoặc cảm tình viên của ĐCSND.</p>



<p>Năm 1960, người Nam Dương gốc Hoa còn thiết lập viện đại học&nbsp;</p>



<p>Res Publica University, chủ yếu dành cho sinh viên gốc Hoa và con cháu đảng viên ĐCSND. Trong biến cố 30 tháng 9, 1965, đại học này đã bị đám đông chống Trung Cộng thiêu rụi.</p>



<p>Sau cùng cũng phải nhắc tới những Hoa kiều hoặc công dân Nam Dương gốc Hoa không phải đảng viên hoặc cảm tình viên của ĐCSND nhưng vẫn trở thành những nạn nhân oan uổng của đám đông thù ghét người Hoa; hàng quán, cơ sở thương mại, nhà cửa của họ bị cướp phá, bản thân bị hành hung, giết hại, đa số phải bỏ của chạy lấy người&#8230;&nbsp;</p>



<p>* * *</p>



<p>Các cuộc tấn công, truy lùng, xử tử phe cộng sản kéo dài nửa năm, tới tháng 3 năm 1966 mới hạ màn. Trong số những người bị giết có Tổng bí thư ĐCSND Aidit, bị quân đội bắt sống ngày 25/11/1965 và sau đó bị hành hình.</p>



<p>Theo các tài liệu đáng tin nhất, tổng số người bị giết là vào khoảng từ 500,000 tới 1.2 triệu, trong khi có những nguồn tin nói rằng từ 2 tới 3 triệu!</p>



<p>Bỏ qua những lời bình luận khen chê, bênh vực, lên án để chỉ xét tới hậu quả của cuộc “tắm máu” cộng sản tại Nam Dương năm 1965/66, các quan sát viên thời cuộc quốc tế tin rằng nó đã khiến cán cân nghiêng hẳn về phía Hoa Kỳ và đồng minh trong cuộc Chiến tranh lạnh giữa hai khối tư bản và xã hội chủ nghĩa, vì ĐCSND với 3 triệu đảng viên (được xem là lớn nhất thế giới sau hai đảng cộng sản Trung Hoa và Liên Xô) đã bị chính thức đặt ra ngoài vòng pháp luật!</p>



<p>Đồng thời quyền lực của Tổng thống Sukarno bị giảm bớt để chuyển dần sang phe quân đội và Hồi giáo.</p>



<p>Cuối cùng, vào ngày 12/3/1967, Quốc hội lâm thời đã truất phế “tổng thống trọn đời” Sukarno và đề cử Suharto, lúc này đã mang cấp bậc Trung tướng, làm Tổng thống. Sukarno bị quản thúc tại gia cho tới ngày cuối đời (1970).</p>



<p>* * *</p>



<p>Nhưng dù bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, ĐCSND vẫn cố tìm cách bí mật hoạt động trong bóng tối.</p>



<p>Trước hết, Sudisman, nhân vật đứng hàng thứ tư trong Bộ Chính trị, sau khi Tổng Bí thư đảng Aidit bị bắt đã lên thay thế và cố gắng duy trì tổ chức bí mật của đảng dưới hình thức các tổ tam-tam, nhưng không mấy hiệu quả.</p>



<p>Tháng 12/1966, Sudisman bị bắt, bị tòa án kết án tử hình và bị hành quyết vào tháng 10/1968.</p>



<p>Còn tại các địa phương, hoạt động đáng kể nhất là ở Blitar, miền đông Java, nơi đa số nông dân theo cộng sản. Rewang, một ủy viên Bộ Chính trị cùng với viên Đảng ủy Đông Java tới vùng nông thôn nghèo khổ này bí mật lập căn cứ địa.</p>



<p>Được một viên cựu Trung tá trong quân đội Nam Dương đảm trách huấn luyện, tháng 3/1968 lực lượng du kích ở Blitar đã nổi loạn, tấn công trụ sở của Đảng Hồi Giáo Nam Dương ở Đông Java, sát hại khoảng 60 người gồm các lãnh tụ Hồi giáo và thường dân.</p>



<p>Ba tháng sau, lực lượng quân đội được đưa tới bao vây và nghiền nát căn cứ địa Blitar. Rewang thoát thân, trở thành người duy nhất trong Bộ Chính trị 10 người của ĐCSND sống sót.</p>



<p>Từ đó, ĐCSND xem như đã bị tận diệt, một số làng mạc ở Đông Java từng chứa chấp đảng viên, cảm tình viên của cộng sản bị đưa vào sổ bìa đen, đặt dưới sự kiểm soát nghiêm ngặt của quân đội cho tới những năm đầu thế kỷ 21.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>HOÀI NAM: CẢI TẠO NỬA MÙA – VƯỢT BIÊN TÀI TỬ (kỳ 23)</title>
		<link>https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-23/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Hoài Nam - Hồi Ký Cải Tạo]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 27 Jan 2024 10:07:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[Truyện Tù Cải Tạo]]></category>
		<category><![CDATA[hồi ký cải tạo]]></category>
		<category><![CDATA[truyện tù cải tạo]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=69166</guid>

					<description><![CDATA[CẢI TẠO NỬA MÙA – VƯỢT BIÊN TÀI TỬ (kỳ 22)Hồi kýHoài Nam NGUYỄN HỮU THIỆN Kỳ 1&#160;&#160;Kỳ 2&#160;&#160;Kỳ 3&#160;&#160;Kỳ 4&#160;&#160;Kỳ 5&#160; Kỳ 6&#160;&#160;Kỳ 7&#160;&#160;Kỳ 8&#160;&#160;&#160;&#160;Kỳ 9&#160;&#160;Kỳ 10&#160; Kỳ 11 Kỳ 12 Kỳ 13 Kỳ 14 Kỳ 15 Kỳ 16 Kỳ 17 Kỳ 18 Kỳ 19 Kỳ 20 Kỳ 21 Kỳ 22 PHẦN II:&#160; VỀ MIỀN ĐẤT HỨA CHƯƠNG 3 – Cửa ngõ Tự Do [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/02/cao-tao-sau-1975.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="502" height="335" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/02/cao-tao-sau-1975.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-60363" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/02/cao-tao-sau-1975-300x200.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/02/cao-tao-sau-1975.jpg?strip=all 502w" sizes="(max-width: 502px) 100vw, 502px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><strong>CẢI TẠO NỬA MÙA – VƯỢT BIÊN TÀI TỬ (kỳ 22)</strong><br><strong><em>Hồi ký</em></strong><br><strong><em>Hoài Nam NGUYỄN HỮU THIỆN</em></strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong><em><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=42965" target="_blank">Kỳ 1</a>&nbsp;&nbsp;<a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=43227" target="_blank">Kỳ 2</a></em></strong>&nbsp;&nbsp;<a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=43638" target="_blank"><strong>Kỳ 3&nbsp;&nbsp;</strong></a><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=44071" target="_blank"><strong>Kỳ 4&nbsp;&nbsp;</strong></a><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=44448" target="_blank"><strong>Kỳ 5</strong></a><strong><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=44904" target="_blank">&nbsp; Kỳ 6&nbsp;&nbsp;</a></strong><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=45847" target="_blank"><strong>Kỳ 7&nbsp;&nbsp;</strong></a><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=46303" target="_blank"><strong>Kỳ 8&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</strong></a><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=48543" target="_blank"><strong>Kỳ 9&nbsp;&nbsp;</strong></a><strong><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=50357" target="_blank">Kỳ 10</a></strong>&nbsp;</p>



<p class="has-text-align-center"><a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-11/"><strong>Kỳ 11</strong></a> <strong><a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-12/">Kỳ 12</a></strong> <strong><a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-13/">Kỳ 13</a></strong> <a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-14/"><strong>Kỳ 14</strong></a> <a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-15/"><strong>Kỳ 15</strong></a> <strong><a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-16/">Kỳ 16</a></strong> <a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-17/"><strong>Kỳ 17</strong></a> <a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-18/"><strong>Kỳ 18</strong></a> <strong><a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-19/">Kỳ 19</a></strong> <a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-20/"><strong>Kỳ 20</strong></a> <a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-21/"><strong>Kỳ 21</strong></a> <strong><a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-22/">Kỳ 22</a></strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>PHẦN II:&nbsp; VỀ MIỀN ĐẤT HỨA</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>CH</strong><strong>ƯƠNG 3 – Cửa ngõ Tự Do và Tình Người</strong></p>



<p><strong>(tiếp theo kỳ 22)</strong></p>



<p>Sau khi tả nơi chốn, xin viết về cuộc sống của người tỵ nạn ở trại Galang – cuộc sống mà với riêng tôi, rất đáng nhớ; thời gian tuy quá ngắn so với một đời người nhưng là những tháng ngày đầy kỷ niệm.</p>



<p>Từ bến tàu Galang, trước khi vào trại có cái cổng gỗ với hàng chữ:</p>



<p><em>Welcome Vietnamese Refugee To Galang Island</em></p>



<p><em>THE GATE OF FREEDOOM AND HUMANITY</em></p>



<p>Với một cựu sĩ quan bị đi học tập cải tạo gần 6 năm, được thả về sống dưới sự kiểm soát, kìm kẹp của chế độ cộng sản, hai chữ Tự Do (Freedom) trên cổng mang một ý nghĩa trọn vẹn và cao quý.</p>



<p>Cũng thế, phải là người bị chế độ mới gạt sang bên lề, phải liều chết rời bỏ quê hương với hai bàn tay trắng thì mới thấy được, mới cảm kích trước Tình Người (Humanity) mà thế giới nói chung dành cho những con người khốn khổ.</p>



<p>Thành thử trong khi không ít người – những người mà tôi cho là thành phần “tỵ nạn kinh tế” – cảm thấy tù túng, bực bội khi phải sống trong trại tỵ nạn, không hài lòng trước tiện nghi thiếu thốn, lương thực cấp phát không hạp khẩu vị, thì tôi lại cảm thấy thoải mái, yêu đời, vui vẻ chấp nhận chờ đợi ngày được đi định cư ở đệ tam quốc gia.</p>



<p>Ngay từ khi mới tới Galang, nếu quên đi hình ảnh mấy anh chàng cảnh sát Nam Dương lâu lâu phóng xe gắn máy phân khối lớn điếc tai trên con đường chính của trại, tôi có cảm tưởng mình đang sống ở một thị trấn nho nhỏ trên vùng cao nguyên đất đỏ của Việt Nam trước kia.</p>



<p>Bởi vì nhìn quanh chỉ thấy người Việt, đi đâu cũng nghe toàn tiếng Việt, cũng có chợ búa, nhà thờ (Công giáo và Tin lành), chùa chiền, các quán giải khát, quán bán thức ăn, sạp bán thuốc lá, bánh trái, quà vặt, tiệm hớt tóc&#8230;, không thiếu một thứ gì!</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/galang-ca-ph¬-Thi¬n-H¦¦¦ing-1.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="676" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/galang-ca-ph¬-Thi¬n-H¦¦¦ing-1-1024x676.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-69167" style="width:615px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/01/galang-ca-ph¬-Thi¬n-H¦¦¦ing-1-300x198.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/galang-ca-ph¬-Thi¬n-H¦¦¦ing-1-1024x676.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2024/01/galang-ca-ph¬-Thi¬n-H¦¦¦ing-1-768x507.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/galang-ca-ph¬-Thi¬n-H¦¦¦ing-1.jpg?strip=all 1200w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Quán Thiên Hương, rất đông khách vì nằm ở “ngã ba quốc tế”: trước mặt là con đường chính của Galang, đi lên bệnh viện, chợ, các cơ quan thiện nguyện quốc tế. Quẹo mặt là đường vào đồn cảnh sát Nam Dương và Văn phòng Chỉ huy trưởng Trại. Đối diện quán Thiên Hương (tức vị trí người chụp hình) là trung tâm sinh hoạt của trại</em> <em>(ảnh Gaylord Barr)</em></p>



<p>Trừ những buổi phải lên văn phòng Cao ủy để được phỏng vấn, chụp hình làm thẻ căn cước tỵ nạn (ID), nộp đơn xin đi định cư&#8230;, người tỵ nạn chỉ biết ăn rồi chơi; trẻ em muốn học chữ, người lớn muốn học nghề hay Anh văn, đều có sẵn các lớp học.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/galang-hang-quan-2.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="679" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/galang-hang-quan-2-1024x679.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-69168" style="width:616px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/01/galang-hang-quan-2-300x199.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/galang-hang-quan-2-1024x679.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2024/01/galang-hang-quan-2-768x509.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/galang-hang-quan-2.jpg?strip=all 1200w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Zone II với dãy sạp bán thuốc lá, bánh trái, các loại quà vặt, thức ăn vặt. Hậu cảnh là Zone III với trung tâm sinh hoạt. Cận ảnh, hai em nhỏ đi học về (ảnh Gaylord Barr)</em></p>



<p>Thể thao thì có đá banh, bóng chuyền, bóng bàn; giải trí thì tối tối có tivi mầu mở xem đài Singapore, lâu lâu lại có văn nghệ trong hội trường hoặc ngoài trời; muốn tắm biển thì đợi tới Chủ Nhật ra bãi biển dành riêng cho dân tỵ nạn, ở phía sau Zone IV, cách trại chưa đầy 1 km.</p>



<p></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/galang-bai-bisan-3.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="638" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/galang-bai-bisan-3-1024x638.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-69169" style="width:639px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/01/galang-bai-bisan-3-300x187.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/galang-bai-bisan-3-1024x638.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2024/01/galang-bai-bisan-3-768x478.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/galang-bai-bisan-3.jpg?strip=all 1232w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>

<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/galang-beach-4.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="677" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/galang-beach-4-1024x677.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-69170" style="width:634px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/01/galang-beach-4-300x198.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/galang-beach-4-1024x677.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2024/01/galang-beach-4-768x507.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/galang-beach-4.jpg?strip=all 1120w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Bãi biển Galang (ảnh Gaylord Barr)</em></p>



<p> Lương thực do Cao ủy Tỵ nạn cung cấp (vào thời điểm 1980-1982) cũng được xem là chất lượng nhất trong số những trại tỵ nạn ở Đông Nam Á: gạo, thực phẩm đóng hộp (pa-tê, cá, hot dog&#8230;), mì gói, đậu xanh, trà khô; chỉ có một món bị nhiều người chê là rong biển đóng hộp của Nam Dương (rất có thể vì ngày ấy chưa có mấy người Việt biết thưởng thức món sushi của Nhật).</p>



<p>Ngoài ra, những ai có tiền có thể ra chợ Galang mua thịt thà tôm cá, rau trái tươi.</p>



<p>Có thể xem “chợ Galang” như một shopping center nho nhỏ không thiếu một thứ gì. Ngoài thịt cá, rau cỏ, bánh trái, tạp hóa, còn có sạp bán quần áo, giày dép, vải vóc, vàng bạc trang sức, bia rượu (bán lén, dĩ nhiên).</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/galang-chsu-5.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="678" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/galang-chsu-5-1024x678.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-69171" style="width:626px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/01/galang-chsu-5-300x199.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/galang-chsu-5-1024x678.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2024/01/galang-chsu-5-768x508.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/galang-chsu-5.jpg?strip=all 1080w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Một phía của chợ Galang (ảnh Gaylord Barr)</em></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/galang-sap-ban-nuoc-ngsit-thusaec-li-6.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="683" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/galang-sap-ban-nuoc-ngsit-thusaec-li-6-1024x683.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-69172" style="width:644px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/01/galang-sap-ban-nuoc-ngsit-thusaec-li-6-300x200.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/galang-sap-ban-nuoc-ngsit-thusaec-li-6-1024x683.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2024/01/galang-sap-ban-nuoc-ngsit-thusaec-li-6-768x512.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/galang-sap-ban-nuoc-ngsit-thusaec-li-6.jpg?strip=all 1080w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Một sạp bách hóa ở chợ; có cả bộ English 900 (ảnh Gaylord Barr)</em></p>



<p>Đa số người buôn bán ở chợ Galang là dân tỵ nạn Việt Nam, chỉ trừ một, hai tiệm quần áo giày dép là dân Nam Dương. Người Nam Dương đa số theo Hồi giáo (Nam Dương là quốc gia có tín đồ Hồi giáo đông nhất thế giới), không ăn thịt heo, cấm uống rượu nhưng, ít nhất cũng là ở Galang, họ không chỉ cho bán thịt heo tự do mà còn bỏ mối cho người bán, còn bia rượu thì cho bán lén (với sự đỡ đầu của cảnh sát Nam Dương).</p>



<p>Về nguồn nước, mỗi zone có các giếng nước để tắm giặt, còn nước để uống và sử dụng trong việc nấu nướng thì do nhà thầu Nam Dương cung cấp (và nước mưa).</p>



<p>Một trong những điều khoản ký kết giữa Cao ủy Tỵ nạn và phía Nam Dương là nguồn nước uống phải đạt tiêu chuẩn vệ sinh&#8230; tây phương, nghĩa là không cần phải nấu sôi uống vẫn an toàn. Sở dĩ Cao ủy Tỵ nạn đòi hỏi điều kiện khắt khe này là vì trong một tập thể cả chục ngàn người, cơ sở y tế và thuốc men giới hạn, nếu để xảy ra dịch tả (cholera) thì hậu quả không biết đâu mà lường!</p>



<p>Nước sạch đựng trong các bồn (xi-tẹc) được nhà thầu Nam Dương kéo tới từng khu, được các barrack trưởng phân phối theo đầu người, vì thế gia đình nào đông con có thể tiết kiệm, dành dụm cho các bà các cô tắm ở barrack, khỏi phải ra giếng.</p>



<p>Bên cạnh đó, vì nước do nhà thầu cung cấp bao giờ cũng dư cho nên các barrack trưởng có quyền du di, cấp thêm cho những người già yếu, những nhân viên thiện nguyện, hoặc một cô gái nào đó trong barrack mà anh chàng có ý định “ghép form” (kết duyên để cùng đi định cư)&#8230; Có thể nói đây là “đặc quyền đặc lợi” duy nhất của một vị barrack trưởng&#8230;</p>



<p>Tóm lại, so với những gì được cấp phát và tiện nghi sinh hoạt ở “hoang đảo” Kuku, Galang phải được xem là một&#8230; khu nghỉ mát 5 sao!</p>



<p>* * *</p>



<p>Tới đây viết về việc xin định cư ở đệ tam quốc gia của gia đình tôi.</p>



<p>Ngay sau khi được Phòng Định cư của Cao ủy Tỵ nạn LHQ phỏng vấn và cấp số hồ sơ (căn cước tỵ nạn), tôi làm đơn xin đi định cư tại Mỹ, nơi tôi có một người cậu ruột, một người dì ruột, và trên một chục anh chị em họ (first cousins) sống từ năm 1975.</p>



<p>Cậu ruột của tôi nguyên là một Trung tá ngành Chiến Tranh Chính Trị, còn người dượng cũng là một Trung tá phục vụ tại Nha Tổng Thanh Tra QLVNCH, chủ nhân “khu ao cá” ở Ấp Tây III, Phú Nhuận, mà tôi đã nhắc tới trước đây.&nbsp;&nbsp;</p>



<p>Nhưng cho dù không có cậu ruột, dì ruột ở Mỹ, tôi cũng thuộc thành phần được ưu tiên đi Mỹ: cựu sĩ quan QLVNCH sau năm 1975 từng bị bắt đi học tập cải tạo.</p>



<p>Vào thời điểm tôi ở Galang (1981, 1982) vì số người nộp đơn xin đi định cư tại Mỹ quá đông, phái đoàn Mỹ luôn luôn có một số nhân viên thường trực tại đây để phỏng vấn nhận người, trong khi hai phái đoàn Úc và Canada mỗi năm chỉ đến Galang một, hai lần, mỗi lần ở lại dăm ba ngày.</p>



<p>Vì phần lớn đồng bào trong trại không biết tiếng Anh nên việc điền đơn xin đi Mỹ, Úc, Canada thường do những người có khả năng Anh ngữ tình nguyện điền giúp, trong số đó có tôi.</p>



<p>Trong thời gian làm công việc này, tôi quen biết anh Q, thông dịch viên chính của phái đoàn Mỹ, và được anh cho biết chưa bao giờ người Mỹ họ khó khăn như hiện nay. Tuy nhiên, tôi vẫn tin sớm muộn mình cũng sẽ được phái đoàn Mỹ nhận vì dư điều kiện!</p>



<p>Nhưng những gì xảy ra sau đó đã khiến tôi phải thất vọng!</p>



<p>Khoảng ba, bốn tuần lễ sau khi nộp đơn, gia đình tôi được phái đoàn Mỹ phỏng vấn. Tôi không nhớ tên nhân viên phỏng vấn nhưng chắc chắn không phải ông Bill, người mà tôi nghe nói có vợ Việt gốc Huế và biết nói tiếng Việt giọng Huế!</p>



<p>Sau một số câu hỏi về thân thế, hoạt động trước năm 1975 có lẽ để đối chiếu với xấp hồ sơ trước mặt, nhân viên phỏng vấn lịch sự cám ơn chúng tôi đã chọn Mỹ làm miền đất hứa, NHƯNG vì gia đình của chị vợ tôi đã nộp đơn xin định cư tại Úc để đoàn tụ với năm người con, chúng tôi cũng phải nộp xin định cư tại Úc vì vợ tôi và chị vợ tôi là thân nhân trực hệ, trong khi giữa tôi và người cậu người dì ở Mỹ chỉ là họ hàng!</p>



<p>Sợ tôi hiểu lầm phái đoàn Mỹ làm khó dễ chúng tôi, ông ta nhấn mạnh đây là quy định hiện hành của Phòng Định cư Cao ủy Tỵ nạn, áp dụng cho tất cả mọi trường hợp chứ không chỉ với những người xin đi định cư tại Mỹ!</p>



<p>Sau khi nghe tôi trình bày nguyện vọng và nguyên nhân xin định cư tại Mỹ, trong đó có việc tôi đã sống gần dì dượng suốt buổi thiếu thời thì sự gần gũi, thân thiết phải hơn nhiều so với giữa vợ tôi và người chị, cả năm chỉ gặp nhau đôi ba lần, ông nói ông hiểu và cảm thông với những gì tôi trình bày nhưng không thể tạo ra một tiền lệ mà chỉ dành cho tôi một&#8230; biệt lệ!</p>



<p>Đó là đơn xin đi Mỹ của tôi không bị từ chối (rejected) mà luôn luôn mở (open) để nếu vì một nguyên nhân nào đó gia đình tôi không được phái đoàn Úc nhận, thì đơn xin đi Mỹ của tôi sẽ được chấp thuận ngay, không phải trải qua giai đoạn “đang được quan tâm” (under consideration).</p>



<p>Vì thế, tôi không còn lựa chọn nào khác hơn là làm đơn xin định cư tại Úc.</p>



<p>* * *</p>



<p>Lúc này là đầu tháng 12/1981, thời gian mà người tây phương chuẩn bị bước vào mùa holiday chính trong năm (lễ Giáng Sinh và tết dương lịch). Như vậy, phải đợi bước sang năm 1982 thì mới hy vọng phái đoàn Úc sẽ sang Galang để phỏng vấn những người nộp đơn xin đi Úc.</p>



<p>Bỗng tới giữa tháng 12, một phái đoàn hùng hậu của Úc tới Galang. Nói là hùng hậu bởi vì, theo những nhân viên thiện nguyện người Việt trên Phòng Định cư Cao ủy, số nhân viên tháp tùng bà trưởng phái đoàn đông gấp hai gấp ba lần mọi khi.</p>



<p>Cũng xin có đôi dòng đan thanh về bà trưởng phái đoàn Úc mà tôi nhớ mang máng tên là Helen. Đó là một phụ nữ da trắng trung niên, nhan sắc dưới trung bình, tóc ngắn uốn quăn tít, nét mặt khó chịu, ăn nói cộc lốc, miệng lúc nào cũng phì phèo điếu thuốc Winfield đỏ.</p>



<p><em>[Winfield&nbsp;là nhãn hiệu thuốc lá “quốc hồn quốc túy” của Úc, do chi nhánh Australia của hãng British American Tobacco sản xuất từ năm 1972, rất được dân Úc ưa chuộng, và được xuất cảng tới nhiều quốc gia ở Á châu, Âu châu, và cả Canada, Nam Phi.</em></p>



<p><em>Đặc điểm của Winfield là có hương vị tương tự Winston, Marlboro của Mỹ nhưng đậm đà hơn, chỉ phải cái tội sau khi hút xong để lại “mùi hôi thuốc lá” nồng nặc nơi người hút mà không một nhãn hiệu nào của tây phương có thể sánh bằng. Winfield có ba màu bao: màu đỏ nặng nhất, rồi tới xanh blue và gold]</em></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/winfield-cigarettes-7.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="372" height="516" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/winfield-cigarettes-7.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-69173" style="width:312px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/01/winfield-cigarettes-7-216x300.jpg 216w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/winfield-cigarettes-7.jpg?strip=all 372w" sizes="(max-width: 372px) 100vw, 372px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Nam diễn viên Úc Paul Hogan (loạt phim Crocodile Dundee) quảng cáo thuốc lá Winfield đỏ (ảnh Internet)</em></p>



<p>Cùng với ngoại hình dưới trung bình và thói quen phì phèo Winfield đỏ, bà Helen còn bị nhiều người làm đơn xin đi định cư ở Úc có ác cảm vì bà nổi tiếng “đá” đẹp! Con trai dưới 18 tuổi không có cha, mẹ đi theo bị đá đã đành mà trường hợp cậu ta đi chung với anh, chị hay một người thân nào đó, người này cũng bị đá luôn, vì bà sợ con trai vị thành niên không có cha mẹ dạy dỗ sẽ trở thành những “trouble maker” trong xã hội Úc!</p>



<p>Nhưng những gì xảy ra vào trung tuần tháng 12/1981 cho thấy bà trưởng phái đoàn Úc đã thay đổi 180 độ. Mặc dù lúc nào cũng vẫn phì phèo điếu thuốc, bà Helen đã trở nên vui vẻ với mọi người, và quan trọng hơn cả là phỏng vấn rất nhanh và hầu như không “đá” một người nào cả!</p>



<p>Với nhịp độ phỏng vấn nhanh chưa từng thấy, gần tới lễ Giáng Sinh, phái đoàn Úc đã giải quyết gần hết các lá đơn xin đi định cư ở Úc. Như vậy, việc phái đoàn Úc kỳ này tới Galang đông gấp mấy lần mọi khi có lẽ là để giải quyết cho xong mọi việc trước khi trở về Úc mừng lễ Giáng Sinh và đón năm mới dương lịch.</p>



<p>Nhưng ngay sau đó, tôi, và không ít người làm việc thiện nguyện trên Phòng Định cư Cao ủy, biết mình đã đoán sai, vì phái đoàn Úc không về nước mà ở lại Galang với mục đích “tranh thủ” thời gian để phỏng vấn nhận thêm càng nhiều người càng tốt!</p>



<p>Tại sao bỗng dưng chính phủ Úc lại quá tốt với người Việt tỵ nạn cộng sản như thế?&nbsp;</p>



<p>Sau này có dịp tìm hiểu, tôi được biết không phải “bỗng dưng” mà trên thực tế ngay từ năm 1980 chính phủ Úc đã gia tăng tối đa con số tỵ nạn Đông Dương dự trù được nhận định cư tại Úc, nhưng vì “con rùa hành chánh” cũng như tiêu chuẩn nhận người cứng nhắc, cho tới gần cuối năm 1981, phái đoàn Úc mới nhận được hơn phân nửa con số mà chính phủ Malcolm Fraser đã dự trù cho tài khóa 1980/1981.</p>



<p>Không ít người, Úc cũng như Việt, cho rằng Thủ tướng Malcolm Fraser của đảng Tự Do muốn chuộc lỗi trước việc vào tháng 4/1975, chính phủ Lao Động (thân cộng) của Thủ tướng Gough Whitlam đã tàn nhẫn bỏ rơi các nhân viên người Việt làm việc cho Úc, và sau đó cấm cửa người tỵ nạn Việt Nam. <strong>(1)</strong></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/Malcolm_Fraser-8.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="448" height="628" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/Malcolm_Fraser-8.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-69174" style="width:290px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/01/Malcolm_Fraser-8-214x300.jpg 214w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/Malcolm_Fraser-8.jpg?strip=all 448w" sizes="(max-width: 448px) 100vw, 448px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Thủ tướng Úc Malcolm Fraser (ảnh Internet)</em></p>



<p>Tôi không biết dư luận trên có đúng hay không, chỉ biết một điều chắc chắn sau hội nghị quốc tế về người tỵ nạn Đông Dương vào tháng 7 năm 1979 tại Geneva, đáp lại lời kêu gọi của Cao ủy Tỵ nạn LHQ, nước Úc đã lập tức gia tăng gấp đôi số người tị nạn được nhận mỗi năm.</p>



<p>Một cách cụ thể, con số ấy trong tài khóa 1980/1981 vào khoảng 24.000 người.</p>



<p>Cũng nên biết, mặc dù trên các văn bản chính thức, “Chính sách nước Úc da trắng” (White Australia Policy) đã bị bãi bỏ vào năm 1973, trên thực tế nó vẫn tiếp tục chi phối chính sách di dân của nước Úc. May mắn cho người tỵ nạn Đông Dương mà đại đa số là người Việt, Thủ tướng Malcolm Fraser của đảng Tự Do, người cầm quyền từ cuối năm 1975 tới đầu năm 1983, là một chính khách có tấm lòng vàng và không có óc kỳ thị.</p>



<p>Kể cả sau khi đã từ giã chính trường, ông vẫn tiếp tục ủng hộ, vận động dân chúng Úc mở rộng vòng tay đón nhận người tỵ nạn Đông Dương.</p>



<p>* * *</p>



<p>Trở lại với việc phái đoàn Úc không về nước nghỉ lễ Giáng Sinh mà ở lại trại tỵ nạn Galang để tiế tục phỏng vấn người tỵ nạn xin định cư tại Úc.</p>



<p>Vài ngày trước lễ Giáng Sinh, khi giải quyết gần xong các lá đơn được nộp cho Phòng Định cư của Cao ủy trước đây, phái đoàn Úc đã ra một Thông báo được Phòng Thông tin đọc đi đọc lại trên loa phóng thanh, nội dung như sau (có thể tôi không nhớ chính xác từng chữ):</p>



<h5 class="wp-block-heading"><em>Thông báo của phái đoàn Úc</em></h5>



<p><em>Phái đoàn Úc xin thông báo tới toàn thể đồng bào trong trại:</em></p>



<p><em>&#8211; Đồng bào nào đã nộp đơn xin định cư</em><em> tại Úc mà chưa được gọi phỏng vấn, xin lên ngay Phòng Định cư để được phỏng vấn.</em></p>



<p><em>&#8211; Đồng bào nào muốn định cư </em><em>tại Úc nhưng chưa kịp nộp đơn, xin lên Phòng Định cư nộp đơn để được phỏng vấn.</em></p>



<p><em>&#8211; Đồng bào nào đã nộp đơn xin định cư </em><em>tại một quốc gia khác nhưng chưa được phỏng vấn, nay nếu muốn định cư tại Úc, xin lên Phòng Định cư nộp đơn để được phỏng vấn.</em></p>



<p><em>&#8211; Đồng bào nào trước đây đã nộp đơn xin định cư </em><em>tại Úc, đã được phỏng vấn và bị từ chối, nay nếu vẫn muốn định cư tại Úc, xin lên Phòng Định cư gặp phái đoàn để được tái phỏng vấn.</em></p>



<p>Theo các nhân viên nguyện trên Phòng Định cư, xưa nay chưa từng có một thông báo nào có nội dung mời gọi một cách “thiết tha” đến mức ấy.</p>



<p>Kết quả, ngày nào cũng có hàng trăm người muốn đi Úc tụ tập phía trước Phòng Định cư. Trong số đó có không ít người trước đây không hề có ý định đi định cư tại Úc, nay đã đổi ý và nộp đơn.</p>



<p>Thành phần này xin định cư tại Úc chỉ vì mong sớm được rời trại tỵ nạn chứ không mấy người biết trước cuộc sống ở Úc nó như thế nào, tương lai của họ sẽ ra sao?!</p>



<p>Trong số này có một gia đình mà tôi quen biết sau khi tới Galang, gồm ba ông anh trai và hai cô em gái đã trưởng thành thuộc thành phần có học, trong đó có L, một sĩ quan Không Quân cùng trạc tuổi với tôi nhưng còn độc thân mà sau này chúng tôi có dịp gặp lại nhau ở Úc.</p>



<p>Cả năm anh em được phái đoàn Úc nhận ngay và sau đó đã tạo kỷ lục (ít ra cũng là ở Galang) chỉ ở trại tỵ nạn 29 ngày đã được đưa sang Singapore chờ chuyến bay đi Úc!</p>



<p>Không chỉ tạo kỷ lục mà còn phá bỏ nguyên tắc: họ chưa được PMI (Hội Hồng Thập Tự Nam Dương) khám sức khỏe mà đã đi định cư! Sau này, L cho tôi biết trong thời gian chờ chuyến bay ở Singapore, năm anh em cùng một số người khác đã được tòa Đại sứ Úc sắp xếp khám sức khỏe tại đảo quốc này.</p>



<p>Những người còn lại trong số được phái đoàn Úc nhận vào những ngày cuối năm 1981 cũng chỉ phải chờ ở Galang hơn một tháng, tối đa là ba tháng, rồi được đưa sang Singapore chờ chuyến bay đi Úc.</p>



<p>* * *</p>



<p>Sau này tôi được biết mặc dù phái đoàn Úc đã ở lại Galang suốt mùa holiday (Giáng Sinh 1981 &amp; tết dương lịch) để phỏng vấn, tổng số người tỵ nạn ở các trại ở Đông Nam Á được nhận định cư tại Úc cũng chỉ lên tới 21.000, chưa đủ 24.000 như đã được chấp thuận cho tài khóa 1980/1981.</p>



<p>Rút kinh nghiệm, bước qua năm 1982, bà Helen và các nhân viên trong phái đoàn Úc sau khi về nước làm việc với Bộ Di Trú và nghỉ xả hơi một hai tuần lễ, đã vội vã quay trở lại Galang.</p>



<p>Lần này, không cần phải ra một thông báo “mời gọi thiết tha” cũng đã có mấy trăm người nộp đơn sẵn, chờ phái đoàn sang Galang phỏng vấn nhận người.</p>



<p>Đáng nói hơn nữa, trong số người mới nộp đơn, thành phần có trình độ chiếm một tỷ lệ khá cao. Đó là những người có học vị, chuyên gia (bác sĩ, kỹ sư&#8230;), sĩ quan quân đội, công chức cao cấp, trung cấp&#8230;&nbsp;</p>



<p>Theo sự hiểu biết của tôi, trong những năm trước đó đa số người tỵ nạn xin định cư tại Úc theo diện nhân đạo thường là gia đình đông con, hoặc quê mùa, ít học&#8230;, họ chỉ cần được đi định cư, quốc gia nào cũng được, còn đại đa số chuyên gia, công chức, sĩ quan&#8230; ai cũng muốn đi Mỹ!</p>



<p>Lấy anh em cựu quân nhân Không Quân chúng tôi làm thí dụ điển hình, cho tới lúc tôi tới Galang (tháng 11/1981), số sĩ quan, kể cả một số sinh viên sĩ quan Không Quân ở Galang đã đi định cư tại Úc theo diện nhân đạo chỉ đủ đếm trên 10 đầu ngón tay! Nhưng qua đầu năm 1982, chỉ trong vòng 2, 3 tháng đã có mấy chục người nộp đơn xin đi Úc, trong đó có những vị thiếu tá, trung tá từng du học bên Mỹ.</p>



<p>Còn nếu tính cả các quân binh chủng khác, trong số hàng ngàn người xin định cư tại Úc có cả cấp Đại tá.</p>



<p>Về phía dân sự, có nhiều người là bác sĩ, kỹ sư, giáo sư&#8230;</p>



<p>Dĩ nhiên, tất cả đều được phái đoàn Úc hoan hỉ nhận cho đi định cư</p>



<p>tại “lucky country” &#8211; mà cho tới lúc đó chúng tôi cứ đinh ninh là một vùng đất hoang vu bất tận, giang sơn của loài đại thử (kangaroo)!</p>



<p>Từ tháng 3 tới tháng 5/1982, trong số bạn bè, người quen biết của tôi những ai đã nộp đơn xin định cư tại Úc vào đầu năm 1982, đều lần lượt rời Galang sang Singapore đợi chuyến bay đi Úc.</p>



<p>Trong khi đó gia đình tôi và gia đình bà chị vợ vì xin đi Úc theo diện đoàn tụ phải chờ các con của bà ở Úc làm đơn bảo lãnh!</p>



<p>Bình thường, đơn bảo lãnh thân nhân ở Galang đi định cư tại Úc nộp cho Bộ Di Trú chỉ mất vài tuần lễ là hoàn tất, nhưng riêng trường hợp của chúng tôi vì đứa con trai lớn ở Úc bà mẹ ở đảo khai khác nhau một chi tiết nhỏ nên đơn bị bác!</p>



<p>Nguyên khi mới tới Galang khai lý lịch để làm hồ sơ Cao ủy, bà chị vợ khai có một người con gái nuôi (thực ra chỉ là cháu họ) với mục đích sau này có thể bảo lãnh sang Úc, trong khi đứa con trai ở Úc chỉ khai anh chị em ruột!</p>



<p>Những ai từng ở các trại tỵ nạn hẳn phải biết Cao ủy và các phái đoàn nhận người rất ghét việc khai gian dối, tiền hậu bất nhất, vì thế theo lời khuyên của nhân viên người Việt trên Phòng Định cư Cao ủy, bà chị vợ nói con trai ở Úc làm lại đơn bảo lãnh với chi tiết giống những gì bà đã khai ở đảo, để bà khỏi phải điều chỉnh hồ sơ Cao ủy.</p>



<p>Và trong thời gian chờ con trai làm lại đơn bảo lãnh, đơn xin đi Úc của gia đình bà chị vợ tạm thời bị gác sang một bên, tức là “under consideration” (đang được quan tâm). Vợ tôi “ăn theo” bà chị, gia đình tôi cũng bị gác đơn, nằm chờ.</p>



<p>* * *</p>



<p>Chính vì phải nằm chờ, tôi mới nhận lời giữ chức Zone trưởng Zone III, một chức vụ mà lúc đó bị xem là đa đoan, nhức đầu nhất trong số những công việc thiện nguyện ở trại tỵ nạn Galang.</p>



<p>Như một thông lệ, mỗi khi có một đợt tỵ nạn mới tới trại, các barrack trưởng khi thiết lập danh sách để nộp lên văn phòng zone, thường ghi cả cấp bậc của các cựu quân nhân, cảnh sát quốc gia, chức vụ của các công chức thời VNCH để trong tương lai có thể mời ra đảm trách các chức vụ tại văn phòng zone hoặc giới thiệu với Ban đại diện trại.</p>



<p>Khi được biết tôi mang cấp bậc trung úy, Tài, Zone trưởng Zone III, một thiếu úy Địa phương quân trẻ măng, đã xuống tận Barrack 73 mời tôi giữ chức zone phó khi ấy đang bỏ trống.</p>



<p>Trước đó mấy ngày, Thảo, Barrack trưởng Barrack 73, đã nói chuyện với tôi về việc này và khuyên tôi nên nhận lời, bởi vì theo lời Thảo, Tài còn quá trẻ, tính ba phải, hay nể nang cho nên không đủ uy tín và khả năng điều hành công việc tại Zone III, vốn được xem là zone quan trọng nhất.</p>



<p>Như tôi đã viết trước đây, Zone III nằm ở vị trí trung tâm, có các barrack ở cả hai bên mặt đường, “lãnh thổ” bao gồm cả trung tâm sinh hoạt của trại, gồm Hội trường, Youth Center, thư viện, phòng nghe băng tiếng Anh (Listening Center), các phòng học, tòa soạn bán nguyệt san Tự Do, sân khấu lộ thiên, chỗ đặt TV màu, sân bóng chuyền, sân đá banh&#8230;, lại gần Đồn cảnh sát Nam Dương và Văn phòng&nbsp; Chỉ huy trưởng Trại (Camp Commander Office) cho nên dù muốn hay không cũng dễ lọt vào mắt các xếp lớn của cả Cao ủy, Nhà cầm quyền Nam Dương lẫn Ban đại diện trại!</p>



<p>Tôi rất quý mến Thảo vì anh rất đàng hoàng, đạo đức, hăng hái tham gia đoàn Thanh niên Công giáo Galang; thấy anh tuy còn trẻ mà biết nghĩ tới việc chung như thế, tôi thấy mình cũng phải thể hiện chút thiện chí của một cựu sĩ quan QLVNCH, nên nhận lời giữ chức Zone phó Zone III.</p>



<p>Tuy nhiên, tất cả những gì tôi muốn đóng góp cũng chỉ là giúp Tài có thêm chút “uy”, cũng như đóng góp những ý kiến xây dựng trong các buổi họp hàng tuần với các barrack trưởng, đa số là thanh niên trai trẻ.</p>



<p>Nhưng tới đầu tháng 2/1982, khi chàng thiếu úy zone trưởng có tên trong sách vào Galang 2, thì cũng là lúc tôi bị phái đoàn Úc gác hồ sơ, chờ cháu vợ bên Úc làm lại đơn bảo lãnh từ đầu.</p>



<p>Vì thế trong buổi họp bầu tân zone trưởng, sau khi được toàn thể barrack trưởng tín nhiệm qua cuộc bỏ phiếu kín, tôi đã nhận lời làm zone trưởng, và quyết định nhập cuộc!</p>



<p>Tôi sử dụng chữ “nhập cuộc” nghe có vẻ đao to búa lớn tuy nhiên trên thực tế khá chính xác. Bởi vì vào thời gian này, Zone III bị xem là zone có nhiều “vấn đề” nhất, chẳng hạn tình trạng “vô chính phủ” và mất vệ sinh ở các barrack, hoặc tệ nạn phá hoại các cơ sở nằm trong trung tâm sinh hoạt của trại mà trên nguyên tắc thuộc lãnh thổ Zone III.</p>



<p>Bản tính tôi vốn ham vui nhưng lười biếng, không thích nhận lãnh trách nhiệm, nhưng sau khi tới Galang, thấy đa số công việc “ăn cơm nhà vác ngà voi” đều do các cựu quân nhân, cựu công chức VNCH tình nguyện đảm trách, nay được (bị) bầu làm zone trưởng, tôi cũng muốn noi gương: trót mang danh một cựu sĩ quan QLVNCH, một khi đã làm thì phải làm tới nơi tới chốn. Đơn giản thế thôi!</p>



<p>* * *</p>



<p>Nói về người vượt biên một cách chung chung, có một thực tế ai cũng phải nhìn nhận nhưng không mấy người dám nói ra, đó là trong số người vượt biên có đủ mọi thành phần, thượng vàng hạ cám. Ở đây tôi không phân biệt giai cấp, trình độ học thức mà chỉ muốn nói tới ý thức của mỗi cá nhân.</p>



<p>Năm, sáu chục người sống chung trong một barrack với hai hàng sạp gỗ chạy dài liên tục, nằm sát nhau, sử dụng chung một khu nấu nướng, ăn uống, nhà cầu&#8230;, chỉ cần một vài người thiếu ý thức là có rắc rối, có vấn đề.</p>



<p>Lấy thí dụ (1) việc tuân theo quy định của nhà cầm quyền Nam Dương 11 giờ đêm ai nấy phải trở về barrack của mình, đóng cửa barrack, tắt điện để ngủ, và (2) yêu cầu của Ban đại diện trại mỗi sáng Thứ Bảy mọi người phải quét nhà, dọn dẹp chỗ ăn chỗ ngủ, làm vệ sinh chung quanh barrack của mình.</p>



<p>Nếu sau 11 giờ đêm vẫn còn một số thanh niên tụ tập bên ngoài barrack, cười nói um xùm, hoặc sáng Thứ Bảy bỏ đi chơi trưa, chiều mới về, barrack trưởng cũng chỉ có thể lưu ý, nhắc nhở, và nếu họ bỏ ngoài tai thì coi như&#8230; huề tiền, có báo cáo lên văn phòng zone cũng chẳng có biện pháp chế tài nào!</p>



<p>Chưa kể có khi còn gặp những thành phần ngang ngược, ra mặt chống đối, chẳng hạn ở một barrack trong Zone III của tôi có một anh chồng trẻ tên L, ỷ vợ mình quen biết cảnh sát Nam Dương (tôi không muốn đề cập tới sự “quen biết” ấy), chẳng những đã không bao giờ quét dọn chỗ ăn chỗ ngủ, không hề tham gia công tác vệ sinh chung quanh barrack mà mỗi khi bị barrack trưởng nhắc nhở còn nằm trên võng chửi thề, đại khái:</p>



<p>&#8211; ĐM, ngày còn ở Việt Nam bị công an ăn hiếp đành phải chịu, chứ tới trại tỵ nạn rồi đ&#8230; ngán thằng nào cả!</p>



<p>Hoặc một ông thợ bạc nọ ở cùng barrack với chàng thiếu úy cựu Zone trưởng Zone III. Người này có sạp mua bán vàng bạc trang sức ở chợ Galang, khách hàng đa số là cảnh sát Nam Dương nên ông ta ỷ quen biết cảnh sát, chẳng ngán ai cả.</p>



<p>Ông ta quan hệ với một phụ nữ không cùng barrack, ăn ở như vợ chồng. Để vô hiệu hóa lệnh cấm người lạ ở trong barrack sau 11 giờ đêm, ông ta mướn người dựng một cái ca-bin mái tôn vách gỗ ngay bên ngoài cửa sổ barrack để làm tổ ấm, có giường ngủ, bàn ăn, bếp núc, và cả lối ra vào từ phía bên ngoài barrack.</p>



<p>Ông ta lập luận: cái ca-bin này chỉ là phần “nới rộng” chỗ nằm của ông ta, thì ngủ ở đây cũng coi như có mặt tại barrack; còn người phụ nữ kia chỉ ngủ với ông ta ở cái ca-bin chứ đâu có vào bên trong barrack, việc cô ta vắng mặt tại barrack là chuyện của cá nhân cô ta!</p>



<p>Cả đến đứa con nít cũng biết ông thợ bạc ngụy biện, nhưng cậu nhỏ barrack trưởng và chàng thiếu úy zone trưởng không ai dám nói gì cả. Tệ hại hơn nữa là ông ta và cô nhân tình, có vẻ là “dân chơi” thứ thiệt, không e dè, kiêng nể một ai, đêm khuya cứ “đóng phim người lớn” &#8211; không phải phim câm mà phim âm thanh nổi &#8211; khiến những người nằm gần cửa sổ không tài nào ngủ được!</p>



<p>Chưa kể người ngoài nhìn vào ai cũng phải thắc mắc trước cái ca-bin khang trang ấy, tự hỏi không hiểu là “tư dinh” của ông kẹ nào đây?!</p>



<p>Cũng nên biết, các barrack là tài sản của Cao ủy Tỵ nạn, không ai được quyền sửa đổi, thêm bớt kiến trúc đã có sẵn (chỉ có một sự du di là lấy ván hay tấm ny-lông vây thành cái buồng tắm nho nhỏ sát barrack cho các bà các cô). Còn nấu nướng, ăn uống mỗi barrack đã có một dãy nhà mái tôn nho nhỏ nằm song song, sử dụng làm nhà bếp, nhà ăn chung cho mọi người.</p>



<p>* * *</p>



<p>Nếu quy định của nhà cầm quyền Nam Dương 11 giờ đêm ai nấy phải trở về barrack của mình, đóng cửa, tắt điện&#8230; được đa số người tỵ nạn tuân theo thì yêu cầu của Ban đại diện trại mỗi sáng Thứ Bảy mọi người phải quét nhà, dọn dẹp chỗ ăn chỗ ngủ, làm vệ sinh, làm cỏ chung quanh barrack của mình, đã bị không ít người bỏ ngoài tai mà không có biện pháp nào để đối phó.</p>



<p>Qua các buổi họp với Ban đại diện trại, nghe khen chê của mọi người và báo cáo của các Zone trưởng, tôi được biết Zone IV từ lâu đã được ghi nhận là kỷ luật nhất, vệ sinh sạch sẽ nhất, còn Zone III của tôi luôn luôn đội sổ.</p>



<p>Đã vậy Zone III còn nằm ở vị trí trung tâm, cho nên luôn luôn đập vào mắt mọi người, trong đó có cô Amelia Bonifacio, tân Cao ủy trưởng.</p>



<p><em>[Trên giấy tờ, người đứng đầu Văn phòng Cao ủy Tỵ nạn tại Galang được gọi là Đại diện Cao ủy LHQ (</em><em>UNHCR</em><em>&nbsp;Representative), nhưng khi nói chuyện mọi người thường gọi là Cao ủy trưởng]</em></p>



<p>Trong kỳ trước, khi nhắc tới Amelia Bonifacio, tôi viết cô là nhân vật số 2 tại Văn phòng Cao ủy Tỵ nạn Galang, vì lúc đó nhân vật số 1 là ông Fabrice, một người Pháp, nhưng tới cuối năm 1981 ông mãn nhiệm và cô Amelia Bonifacio lên thay.</p>



<p>Amelia Bonifacio được mọi người gọi bằng tên thân mật “Mely”, người Việt tỵ nạn thêm chữ “cô” cho lịch sự thành “cô Mê-ly”.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/amelia-bonifacio-9.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="404" height="615" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/amelia-bonifacio-9.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-69175" style="width:252px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/01/amelia-bonifacio-9-197x300.jpg 197w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/amelia-bonifacio-9.jpg?strip=all 404w" sizes="(max-width: 404px) 100vw, 404px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Cô Amelia Bonifacio (ảnh Gaylord Barr)</em></p>



<p>Xét về ngoại hình, cô Mely không có gì xuất sắc. Gốc Phi-luật tân 100%, không lai Tây-ban-nha nên da của cô không được trắng cho lắm, cô có chiều cao hơn người nhưng các vòng đo thì khá khiêm nhượng&#8230; Tóm lại, cô Mely không có gì “mê ly” như cái tên đã được Việt hóa!</p>



<p>Nhưng trong công việc, nhất là công việc của một tổ chức thiện nguyện quốc tế như Cao ủy Tỵ nạn, cô Mely là một nhà lãnh đạo lý tưởng: tận tâm nhưng thẳng thắn, hòa đồng nhưng không vị nể một ai.</p>



<p>Vừa lên thay ông Fabrice, cô Mely đã bắt tay ngay vào việc cải tổ, thay đổi lề lối điều hành Văn phòng Cao ủy, đồng thời quan tâm tới mọi lĩnh vực trong cuộc sống của người tỵ nạn.</p>



<p>Thay đổi đầu tiên của cô Mely tôi kể ra đây chỉ là một việc nho nhỏ nhưng cũng đủ cho thấy cô đòi hỏi mọi việc phải minh bạch, mà kết quả là tất cả mọi nhân viên thiện nguyện được cô cho hưởng “trợ cấp” mỗi tuần 1.500 rupiah (tương đương 3 đô-la Mỹ).</p>



<p>Nguyên ở Galang 1 có ba thành phần nhân viên thiện nguyện: nhân viên làm việc cho Văn phòng Cao ủy Tỵ nạn, nhân viên phục vụ trong Ban đại diện trại, và nhân viên phục vụ trong các tổ chức thiện nguyện độc lập như Save the Children, World Relief&#8230;</p>



<p>Vào thời gian tôi mới giữ chức zone phó, khi ông Fabrice còn làm Cao ủy trưởng, trong ba thành phần nói trên chỉ có những người phục vụ trong các tổ chức thiện nguyện độc lập mới có chút thù lao, còn làm việc cho Văn phòng Cao ủy Tỵ nạn và Ban đại diện trại thì không có gì cả. Cao ủy chỉ có quỹ “tiếp tân” để mua cà-phê, trà, bánh ngọt&#8230; cho Phòng Định cư, gồm nhân viên Cao ủy, các phái đoàn phỏng vấn, và các nhân viên thiện nguyện người Việt; đồng thời trợ cấp một số hiện kim cho Ban đại diện trại để sử dụng vào những buổi họp Ban đại diện, họp zone hàng tuần (mua bánh kẹo, hạt dưa, thuốc hút&#8230;)</p>



<p>Tôi không được biết số tiền tiếp tân Ban đại diện trại được Cao ủy trợ cấp mỗi tuần là bao nhiêu, và sau đó Ban đại diện chia cho mỗi zone bao nhiêu tôi cũng không biết, chỉ biết một điều là sau khi lên làm Cao ủy trưởng, cô Mely đã cúp hết tiền tiếp tân cho Ban đại diện trại, và thay vào đó “trợ cấp” đồng đều cho tất cả mọi nhân viên thiện nguyện của Văn phòng Cao ủy và Ban đại diện trại &#8211; từ ông trại trưởng xuống tới các barrack trưởng &#8211; mỗi người một tuần 1.500 rupiah.</p>



<p>Từ đó, các buổi họp hàng tuần hoặc bất thường của Ban đại diện trại chỉ có&#8230; nước trà!</p>



<p>Riêng các buổi họp ở văn phòng zone thì vẫn có trà, ít bánh kẹo,&nbsp; thuốc lá “chùa”. Đó là nhờ sự đóng góp tự nguyện của nhân viên văn phòng zone và các barrack trưởng, chẳng hạn tại Zone III, mỗi người chỉ lãnh 1.250 rupiah, 250 rupiah còn lại bỏ vào quỹ tiếp tân.</p>



<p>Tuy gọi là quỹ tiếp tân nhưng còn được sử dụng vào nhiều mục linh tinh khác, chẳng hạn chụp hình lưu niệm, mua banh, lưới cho bóng tròn, bóng chuyền, bóng bàn, tu bổ bảo trì các máy may của zone&#8230;</p>



<p>Số tiền này được giao cho cô Thư ký văn phòng zone quản trị, và báo cáo chi thu trong mỗi buổi họp.</p>



<p>* * *</p>



<p>Về quan tâm của cô Mely tới cuộc sống của người tỵ nạn tại Galang, ưu tiên 1 là vệ sinh trong trại.</p>



<p>Chỉ vài ngày sau khi lên thay ông Fabrice, cô đã bất ngờ đích thân xuống các barrack thăm nơi ăn chốn ở (kể cả cầu tiêu) của người tỵ nạn, và đã phải lắc đầu: quá sức bê bối, dơ dáy, mất vệ sinh, nhất là Zone III của tôi với những mương rãnh hôi thối bên hông các barrack.</p>



<p>Trong buổi họp tiếp theo đó của Ban đại diện trại và các zone trưởng, cô Mely tới tham dự và đưa ra những nhận xét (đúng ra là chê trách) của mình trước tình trạng vệ sinh trong trại.</p>



<p>Sau khi nghe Ban đại diện trại trình bày những khó khăn trong việc yêu cầu đồng bào tham gia công tác vệ sinh chung, cô Mely lạnh lùng hỏi:</p>



<p>&#8211; Thế Phòng Trật tự của quý vị để làm gì?</p>



<p>Phía Ban đại diện trại chưa kịp lên tiếng, cô Mely đã nói tiếp một hơi, tôi chỉ nhớ đại khái nội dung như sau:</p>



<p>Công việc của Văn phòng Cao ủy là giúp mọi người tỵ nạn được đi định cư tại đệ tam quốc gia. Khi đặt chân tới Galang, mọi người đều bình đẳng, nhưng sau đó qua sưu tra lý lịch, qua hạnh kiểm trong thời gian sống tại trại, mỗi người có thể sẽ có mức độ ưu tiên khác nhau. Kể cả những người đã được một phái đoàn nhận, Cao ủy vẫn đủ thẩm quyền đình hoãn việc đi định cư của họ. Trước đây Phòng Định cư Cao ủy đã được sự hợp tác của Phòng Trật tự trong việc thanh lọc những thành phần có lý lịch mù mờ, khả nghi, hoặc các thành phần bất hảo, thì nay cô cũng yêu cầu phải có biện pháp với những thành phần phá hoại cơ sở vật chất của Cao ủy, từ chối tham gia công tác vệ sinh chung, nhẹ thì cảnh cáo, nặng phải báo cáo lên Văn phòng Cao ủy.</p>



<p>Cũng xin có đôi dòng về Phòng Trật tự của Ban Đại diện trại ở Galang.</p>



<p>Không hiểu các trại tỵ nạn ở Thái Lan, Mã Lai, Phi-luật-tân thì sao còn ở Galang, Phòng Trật tự đúng ra phải gọi là Phòng An ninh &amp; Trật tự, bởi vì song song với công tác trật tự trị an, còn có nhiệm vụ điều tra lý lịch những thành phần khai gian dối, hoặc bị nghi ngờ là người của cộng sản trà trộn vào hàng ngũ tỵ nạn, theo dõi những người có thành tích chống Mỹ, chống VNCH trước năm 1975, ghi vào sổ bìa đen những thành phần bất hảo trong trại&#8230; Kể cả những vụ tố cáo nhau liên quan tới chuyện vượt biên như lường gạt tiền bạc, canh me bằng vũ lực, v.v&#8230; cũng được đưa lên Phòng Trật tự giải quyết.</p>



<p>Trong việc điều tra lý lịch những thành phần bị nghi ngờ là người của cộng sản hoặc thiên tả, có thành tích chống Mỹ, chống VNCH trước năm 1975, Phòng Trật tự Galang đã phối hợp chặt chẽ với ông George của Phòng Định cư Cao ủy. Độc giả có lẽ chưa quên ông George này chính là người đã “hù dọa” tôi ở Kuku vì cái số ghe tự đặt không giống ai.</p>



<p>Cho nên cũng không có gì khó hiểu khi một số khoa bảng, trí thức xuất thân sinh viên “trâu đánh” (Sinh viên Tranh đấu ở miền Trung giữa thập niên 1960) sau khi vượt biên tới Galang đã bị phái đoàn Mỹ “đá”, phải nằm chờ ở Galang một thời gian dài rồi mới được Úc, Canada, hay một nước Âu châu nhận cho định cư.</p>



<p>* * *&nbsp;</p>



<p>Sau buổi họp giữa Ban Đại diện và cô Mely, tôi về Zone III phổ biến chỉ thị của Cao ủy trưởng cho các barrack trưởng, yêu cầu họ nếu&nbsp; cảnh cáo không có kết quả, phải thiết lập danh sách những người trốn tránh công tác vệ sinh sáng Thứ Bảy, hoặc có mặt ở barrack nhưng không chịu tham gia.</p>



<p>Tôi nhấn mạnh danh sách này sẽ được nộp lên Văn phòng Cao ủy, và không quên nhắc lại lời cô Mely: kể cả những người đã được một phái đoàn nhận, Cao ủy vẫn có quyền đình hoãn ngày đi định cư của họ!</p>



<p>Tôi cũng thông báo tôi sẽ đích thân tới đôn đốc kiểm soát tại các barrack có tiếng bê bối nhất, mất vệ sinh nhất. Sợ chưa đủ sức&#8230; hù dọa, tôi còn mời ông Phó phòng Trật tự cùng đi với tôi để phô trương thanh thế!</p>



<p>Đó là anh Th, cũng là một cựu quân nhân, thân hình vạm vỡ, da ngăm đen, nét mặt rắn rỏi, ăn to nói lớn, năng nổ, không biết kiêng dè, nể sợ một ai (là một thành viên trong Ban đại diện giáo dân Galang, anh từng “đụng độ” với cha Dominici)!</p>



<p>Kết quả, tuy không thể gọi là mỹ mãn, tôi đã thành công ngay trong buổi làm vệ sinh sáng Thứ Bảy đầu tiên (sau khi có chỉ thị của cô Mely): trong ngoài các barrack được quét dọn sạch sẽ, hầu hết các nhà tắm vá víu nham nhở đã bị dẹp bỏ, cỏ dại không còn phủ kín lối đi, và quan trọng nhất là mương rãnh bên hông các barrack đã được khai thông.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/galang-nha-ts¦m-10.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="678" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/galang-nha-ts¦m-10-1024x678.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-69176" style="width:544px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/01/galang-nha-ts¦m-10-300x199.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/galang-nha-ts¦m-10-1024x678.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2024/01/galang-nha-ts¦m-10-768x508.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/galang-nha-ts¦m-10.jpg?strip=all 1080w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Những nhà tắm (kiêm nhà kho, nơi ăn uống, ngủ trưa&#8230;) bất hợp lệ bên hông các barrack. (ảnh Gaylord Barr)</em></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/galang-lam-vsc-sinh-11.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="409" height="620" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/galang-lam-vsc-sinh-11.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-69177" style="width:299px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/01/galang-lam-vsc-sinh-11-198x300.jpg 198w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/galang-lam-vsc-sinh-11.jpg?strip=all 409w" sizes="(max-width: 409px) 100vw, 409px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Làm cỏ chung quanh barrack (ảnh Gaylord Barr)</em></p>



<p>Tới sáng Thứ Bảy kế tiếp, ông thợ bạc mà tôi nhắc tới đã chấp nhận tháo gỡ một phần cái ca-bin của mình, thu hẹp lại trông cho đỡ ngứa mắt, và cũng từ đó mỗi sáng Thứ Bảy, ông ta “mướn” một cậu nhỏ nhận làm cháu để thay ông ta tham gia công tác vệ sinh tại barrack.</p>



<p><strong><em>(Còn tiếp)</em></strong></p>



<p>CHÚ THÍCH:</p>



<p><strong>(1) Malcolm Fraser</strong> (1930 – 2015), thuộc đảng Tự Do, là vị Thủ tướng thứ 22 của Úc-đại-lợi, cầm quyền từ tháng 11/1975 tới tháng 3/1983. Ông được các sử gia ghi nhận là người đã đưa hòn đảo Úc-đại-lợi từ “miệt dưới” xa xôi gia nhập “câu lạc bộ cường quốc”; ông cũng là người chấm dứt Chính sách nước Úc da trắng” (White Australia Policy) qua việc nhận di dân Á châu trong đó có trên 120.000 người Việt tỵ nạn cộng sản, và việc đề xướng chính sách Đa văn hóa (Multiculturalism).</p>



<p>Tuy nhiên với nhiều người, trong đó có bản thân tôi, thành tích “ngoạn mục” nhất của ông Malcolm Fraser phải là những việc ông làm khi còn giữ chức Lãnh tụ Đối lập: lật đổ chính phủ Lao Động mà không thông qua một cuộc tổng tuyển cử nào cả!</p>



<p>Thành tích này của ông Malcolm Fraser đã chấm dứt sự nghiệp của <strong>Gough Whitlam</strong> (1916&nbsp;– 2014), tay Thủ tướng Lao Động khét tiếng thân cộng trong lịch sử nước Úc.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/Gough_Whitlam-12.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="366" height="512" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/Gough_Whitlam-12.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-69178" style="width:284px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/01/Gough_Whitlam-12-214x300.jpg 214w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/Gough_Whitlam-12.jpg?strip=all 366w" sizes="(max-width: 366px) 100vw, 366px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Gough Whitlam (ảnh Internet)</em></p>



<p>Nguyên từ cuối Đệ nhị Thế chiến, nước Úc có hai chính đảng lớn là Tự Do (Liberal Party) và Lao động (Labor Party); đảng Tự Do thường liên kết với đảng Quốc Gia (National Party), gọi là Liên Minh (Coalition).</p>



<p>Tự Do được xem là một đảng bảo thủ, chống cộng còn Lao động là một đảng cấp tiến – chữ “cấp tiến” mang ý nghĩa thời đại mới: chống tư bản (đặc biệt là Hoa Kỳ), thiên tả (đôi khi tới mức thân cộng), phản chiến, ủng hộ vô thần&#8230;</p>



<p>Điều may mắn cho người Việt quốc gia là trong thời gian xảy ra cuộc chiến tranh quốc – cộng tại Việt Nam thì tại Úc, đảng Tự Do liên tục nắm quyền trong gần một phần tư thế kỷ (1949-1972). Cho nên ngay từ năm 1957, sau khi đón tiếp Tổng thống Ngô Đình Diệm tại thủ đô Canberra, Úc đã trở thành đồng minh quan trọng thứ nhì của VNCH, chỉ sau Hoa Kỳ.</p>



<p>Năm 1962, Úc gửi các cố vấn quân sự (huấn luyện chống du kích) tới Việt Nam, và tới năm 1965 gửi các lực lượng tác chiến của Lục Quân và Không Quân tới tham chiến, tới năm 1972 mới rút quân về. Trong thời gian 10 năm nói trên, đã có trên 60,000 binh sĩ Úc luôn phiên phục vụ tại Việt Nam, trong đó có 521 người hy sinh và trên 3000 mang thương tích.</p>



<p>Nhưng tới cuối năm 1972, sau khi đảng Lao Động lên nắm quyền, nước Úc quay một góc 180 độ!</p>



<p>Trăm tội cũng chỉ vì tân Thủ tướng Gough Whitlam là một người thân cộng. Trước đó, vào tháng 7 năm 1971, khi đang làm Lãnh tụ Đối lập, ông<sup> </sup>ta đã trở thành vị lãnh tụ đối lập đầu tiên trong lịch sử chính trường Úc thăm viếng Trung Cộng. Để rồi tới năm 1973, trở thành vị Thủ tướng Úc đầu tiên và nhà lãnh đạo tây phương thứ hai (sau TT Mỹ Richard Nixon) công du Trung Cộng.</p>



<p>Mặc dù đều được gọi là “state visit” nhưng trong khi chuyến công du của TT Richard Nixon năm 1972 chỉ mang tính cách “trình diễn” (một phần vì sự chống đối của nhiều người trong nội các, nhất là ngoại trưởng Hoa Kỳ William Rogers) thì chuyến công du của Gough Whitlam<sup> </sup>năm 1973 đã bị thế giới tự do xem là một sự phản bội trắng trợn!</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/Gough-Whitlam-in-China-13.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="940" height="627" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/Gough-Whitlam-in-China-13.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-69179" style="width:456px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/01/Gough-Whitlam-in-China-13-300x200.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2024/01/Gough-Whitlam-in-China-13-768x512.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/Gough-Whitlam-in-China-13.jpg?strip=all 940w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Thủ tướng Úc Gough Whitlam thăm Trung Cộng năm 1973 (ảnh Internet)</em></p>



<p>Cũng trong năm 1973, Úc trở thành quốc gia tây phương đầu tiên thiết lập bang giao cấp đại sứ với hai chế độ cộng sản Hà Nội và Bắc Kinh.</p>



<p>Tháng Tư năm 1975, trước viễn ảnh miền Nam VN bị lọt vào tay quân cộng sản Bắc Việt, Không Lực Hoàng Gia Úc-đại-lợi đã đưa các vận tải cơ C-130 sang Sài Gòn để di tản nhân viên ngoại giao Úc và những người Việt từng làm việc với người Úc.</p>



<p>Khi biết được việc này, Gough Whitlam đã ra lệnh cho Không Quân Úc không được cho một người Việt nào bước lên phi cơ, và sau khi Sài Gòn thất thủ, đã ra lệnh cấm cửa người tỵ nạn Việt Nam. Nguyên nhân, theo một bài bình luận trên tờ The Australian &#8211; một nhật báo khuynh hữu hiếm hoi ở Úc &#8211; Gough Whitlam cho rằng “người tỵ nạn là những người chống cộng, rồi đây sẽ chống Lao Động” (Whitlam saw the refugees as anti-communist and likely anti-Labor).</p>



<p>Hậu quả, cũng theo tờ The Australian, cùng với 30 cựu nhân viên của tòa Đại sứ Úc đã có khoảng 130 người Việt khác có tên trong danh di tản đã bị bỏ lại mặc cho số phận (Loyal staff who had served Australia for years were left to their fate).</p>



<p>Trước đó ít lâu, cảnh “bỏ rơi” này cũng đã xảy ra tại thủ đô Nam Vang của xứ chùa tháp, và theo tờ The Australian, phần lớn người Căm-bốt bị Úc bỏ rơi sau đó đã bị Khmer Đỏ hành quyết!</p>



<p>Nhưng ở đời, đôi khi cái rủi của người này lại là cái may cho kẻ khác. mà trong trường hợp này “kẻ khác” ấy chính là các em cô nhi trong chiến dịch nhân đạo Babylift (Operation Babylift) do Không Lực Hoa Kỳ và Không Lực Hoàng Gia Úc thực hiện: những chỗ trống trên phi cơ C-130 ấy đã giúp thêm 100 em được đưa ra khỏi Việt Nam trong những giờ phút hấp hối của Sài Gòn, nâng tổng số cô nhi được đưa sang Úc lên 281 em, trong đó em nhỏ tuổi nhất mới lọt lòng mẹ được 10 ngày.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/babylift-14.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="640" height="418" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/babylift-14.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-69180" style="width:522px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/01/babylift-14-300x196.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/babylift-14.jpg?strip=all 640w" sizes="(max-width: 640px) 100vw, 640px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Các nhân viên phi hành Úc và trẻ mồ côi Việt Nam tại phi trường Tân Sơn Nhất (ảnh Australian War Memorial)</em></p>



<p>Gough Whitlam không chỉ bỏ rơi những nhân viên người Việt từng làm việc với Úc mà còn đòi trục xuất tất cả mọi nhân viên ngoại giao của VNCH cùng với hàng trăm sinh viên đang du học tại Úc về nước, viện lý do Việt Nam nay đã hòa bình, thống nhất; tuy nhiên trước sự phản kháng, vận động dư luận Úc của những nhân viên, sinh viên người Việt nói trên, Gough Whitlam đã không thực hiện được ý đồ của mình (lấy điểm CSVN).</p>



<p>* * *</p>



<p>Nhưng sự nghiệp muộn màng của Gough Whitlam đã chấm dứt hơi sớm. Cuộc khủng hoảng dầu lửa Trung Đông năm 1973 (giá dầu thô tăng hơn 300%) đã khiến các quốc gia tây phương bị khốn đốn, riêng tại Úc, công với sự bất tài và chính sách mị dân của chính phủ Lao Động (chẳng hạn mở thêm vô số trường học&#8230; nhưng chỉ lèo tèo mấy mống học sinh), toàn bộ nền kinh tế bị suy sụp đưa tới khủng hoảng tài chánh chưa từng có trong lịch sử nước Úc.</p>



<p>Vì thế, vào ngày 11/11/1975, Tổng Toàn quyền Úc là Sir John Kerr đã phải truất chức Thủ tướng của Gough Whitlam, một việc chưa từng xảy ra từ ngày Úc-đại-lợi được độc lập (1901). Quyền xử lý thường vụ chức vụ thủ tướng được trao cho Lãnh tụ Đối lập <a href="https://en.wikipedia.org/wiki/Malcolm_Fraser">Malcolm Fraser</a>, cho tới khi tổ chức cuộc tổng tuyển cử trong thời hạn ngắn nhất.</p>



<p>Hơn một tháng sau, trong cuộc tổng tuyển cử diễn ra vào ngày 13/12/1975, trên 95% cử tri Úc đã đi bầu với kết quả đảng Tự Do thắng lớn chưa từng thấy, và nếu cộng với số ghế của đảng Quốc Gia, chưa bao giờ Liên Minh cầm quyền đạt tỷ lệ cao như thế trong lịch sử quốc hội liên bang.</p>



<p>Tới cuộc cuộc tổng tuyển cử năm 1977, Liên Minh lại thắng. Gough Whitlam bị đảng Lao Động cho về vườn, chấm dứt sự nghiệp của một lãnh tụ thân cộng mù quáng nhất trong lịch sử Úc-đại-lợi.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/malcolm-fraser-viet-15.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="683" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/malcolm-fraser-viet-15-1024x683.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-69181" style="width:596px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/01/malcolm-fraser-viet-15-300x200.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/malcolm-fraser-viet-15-1024x683.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2024/01/malcolm-fraser-viet-15-768x512.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/malcolm-fraser-viet-15.jpg?strip=all 1120w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Người Việt tại Úc trong tang lễ cố Thủ tướng Malcolm Fraser, nhà lãnh đạo được họ xem như một “người cha”</em></p>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>HOÀI NAM: CẢI TẠO NỬA MÙA – VƯỢT BIÊN TÀI TỬ (kỳ 22)</title>
		<link>https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-22/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Hoài Nam - Hồi Ký Cải Tạo]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 26 Dec 2023 10:38:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[Truyện Tù Cải Tạo]]></category>
		<category><![CDATA[hồi ký cải tạo]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=68065</guid>

					<description><![CDATA[CẢI TẠO NỬA MÙA – VƯỢT BIÊN TÀI TỬ (kỳ 22)Hồi kýHoài Nam NGUYỄN HỮU THIỆN Kỳ 1&#160;&#160;Kỳ 2&#160;&#160;Kỳ 3&#160;&#160;Kỳ 4&#160;&#160;Kỳ 5&#160; Kỳ 6&#160;&#160;Kỳ 7&#160;&#160;Kỳ 8&#160;&#160;&#160;&#160;Kỳ 9&#160;&#160;Kỳ 10&#160; Kỳ 11&#160;Kỳ 12&#160;Kỳ 13&#160;Kỳ 14&#160;Kỳ 15&#160;Kỳ 16&#160;Kỳ 17&#160;Kỳ 18&#160;Kỳ 19&#160;Kỳ 20 Kỳ 21 PHẦN II:&#160; VỀ MIỀN ĐẤT HỨA (tiếp theo kỳ 21) CHƯƠNG 2 – “Hoa [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/02/cao-tao-sau-1975.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="502" height="335" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/02/cao-tao-sau-1975.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-60363" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/02/cao-tao-sau-1975-300x200.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/02/cao-tao-sau-1975.jpg?strip=all 502w" sizes="(max-width: 502px) 100vw, 502px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p class="has-text-align-center"><strong>CẢI TẠO NỬA MÙA – VƯỢT BIÊN TÀI TỬ (kỳ 22)</strong><br><strong><em>Hồi ký</em></strong><br><strong><em>Hoài Nam NGUYỄN HỮU THIỆN</em></strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong><em><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=42965" target="_blank">Kỳ 1</a>&nbsp;&nbsp;<a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=43227" target="_blank">Kỳ 2</a></em></strong>&nbsp;&nbsp;<a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=43638" target="_blank"><strong>Kỳ 3&nbsp;&nbsp;</strong></a><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=44071" target="_blank"><strong>Kỳ 4&nbsp;&nbsp;</strong></a><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=44448" target="_blank"><strong>Kỳ 5</strong></a><strong><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=44904" target="_blank">&nbsp; Kỳ 6&nbsp;&nbsp;</a></strong><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=45847" target="_blank"><strong>Kỳ 7&nbsp;&nbsp;</strong></a><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=46303" target="_blank"><strong>Kỳ 8&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</strong></a><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=48543" target="_blank"><strong>Kỳ 9&nbsp;&nbsp;</strong></a><strong><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=50357" target="_blank">Kỳ 10</a></strong>&nbsp;</p>



<p class="has-text-align-center"><a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-11/"><strong>Kỳ 11</strong></a>&nbsp;<strong><a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-12/">Kỳ 12</a></strong>&nbsp;<strong><a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-13/">Kỳ 13</a></strong>&nbsp;<a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-14/"><strong>Kỳ 14</strong></a>&nbsp;<a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-15/"><strong>Kỳ 15</strong></a>&nbsp;<strong><a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-16/">Kỳ 16</a></strong>&nbsp;<a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-17/"><strong>Kỳ 17</strong></a>&nbsp;<a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-18/"><strong>Kỳ 18</strong></a>&nbsp;<strong><a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-19/">Kỳ 19</a></strong>&nbsp;<a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-20/"><strong>Kỳ 20</strong></a> <a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-21/"><strong>Kỳ 21</strong></a></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>PHẦN II:&nbsp; VỀ MIỀN ĐẤT HỨA</strong></p>



<p><strong>(tiếp theo kỳ 21)</strong></p>



<p><strong>CH</strong><strong>ƯƠNG 2 – “Hoa tiêu” bất đắc dĩ</strong></p>



<p>Vào thời gian này, ở đảo Kuku không có một cơ sở y tế nào của Cao ủy Tỵ nạn LHQ cũng như của phía Nam Dương. Về “Phòng Xã Hội Nam Dương” mà tôi đã nhắc tới thực ra chỉ là một cái kho chứa quần áo cũ nằm trong ngôi nhà sử dụng làm Văn phòng Chỉ huy trưởng Trại, Văn phòng Cao ủy Tỵ nạn&#8230;, nơi mỗi người tỵ nạn chỉ được ghé một lần khi mới tới đảo để lựa chọn một bộ quần áo cũ do các cơ quan từ thiện tây phương cung cấp.</p>



<p>Không có cơ sở y tế, không có thuốc men, nên tỷ lệ thuyền nhân nằm lại “Kuku 2” (nghĩa trang Kuku) cao hơn ở “Galang 3” (nghĩa trang Galang) nhiều; gồm ba thành phần chính: bị kiệt sức sau chuyến vượt biển gian khổ, ghe bị chìm trước khi cập vào đảo, và bị sốt rét rừng.</p>



<p>Trong ba thành phần này, chết vì bị sốt rét rừng đông nhất. Trước kia ở Việt Nam, nói tới muỗi người ta nghĩ ngay tới rừng U Minh ở Cà Mau. Tôi chưa từng đặt chân tới U Minh nhưng đoán có lẽ cũng chỉ bằng Kuku là cùng!</p>



<p>Đêm ngủ, tứ phía quanh chỗ nằm đã đốt nhang muỗi (được cấp phát), người muốn ngộp thở mà muỗi vẫn hoành hành!</p>



<p>Tôi không biết sốt rét của mình là bệnh cũ (trong tù cải tạo) tái phát&nbsp; hay do muỗi ở Kuku, chỉ biết triệu chứng, diễn biến giống hệt ở Phước Long trước kia.</p>



<p>Tới ngày thứ sáu (kể từ khi tôi bị sốt rét), vợ tôi nghe nói trong số thuyền nhân đang ở trên đảo có một vị bác sĩ liền dò hỏi tìm tới cầu cứu. Vị bác sĩ trạc tuổi trung niên rất sốt sắng, tới thăm bệnh ngay. Nhưng giống như trong trại cải tạo Phước Long hơn ba năm trước, ở Kuku cũng không có một viên thuốc nào. Thành thử vị bác sĩ chỉ biết khám cho tôi rồi an ủi, khích lệ vợ tôi.</p>



<p>* * *</p>



<p>Cũng trong ngày hôm đó, Văn phòng Chỉ huy trưởng trại Kuku thông báo ngày mai sẽ có đợt đi Galang.</p>



<p>Theo lời kể của những người đã ở Kuku trước chúng tôi, cứ hai ba tháng lại có một chuyến tàu tiếp tế cho Kuku và chở một số thuyền nhân về Galang. Vào buổi sáng, trong khi chờ đợi tàu tới, Văn phòng trại sẽ cho đọc danh sách những người được đi.</p>



<p>Vì khi phỏng vấn tôi, ông George đã nói tạm thời gác hồ sơ của ghe chúng tôi để chờ ý kiến của văn phòng Cao ủy ở Galang, chúng tôi không một chút hy vọng sẽ có tên trong danh sách ngày mai.</p>



<p>Dù vậy, đêm hôm đó, sau cơn sốt nóng lạnh, mặc dù đã kiệt lực, nằm bất động trên cái võng, đầu óc tôi cũng còn chút tỉnh táo để đặt trường hợp ngày mai gia đình mình sẽ có tên trong sách được đi. Và nếu việc đó xảy ra, liệu người ta có chấp thuận cho khiêng một người ốm nặng gần chết lên tàu không? Tới 99% là không!</p>



<p>Như vậy vợ con tôi sẽ phải ở lại Kuku với tôi. Phải ở lại để rồi đi trễ vài chuyến cũng chẳng sao, chỉ sợ tôi không qua khỏi trận sốt rét tái</p>



<p>phát này, lúc đó liệu vợ con tôi có tiếp tục được nhìn nhận là tỵ nạn để được đi định cư hay sẽ bị trả về Việt Nam như tin đồn?!</p>



<p>Chi bằng nếu ngày mai gia đình tôi có tên trong danh sách đi Galang mà họ từ chối khiêng tôi lên tàu, vợ con tôi sẽ chấp nhận đi trước và để tôi ở lại Kuku. Bằng mọi giá vợ con tôi phải đặt chân tới Galang để được Cao ủy Tỵ nạn làm hồ sơ cho đi định cư, không cần biết sau đó tôi sẽ bình phục và cũng tới Galang hay vĩnh viễn nằm lại “Kuku 2”!</p>



<p>Dĩ nhiên vợ tôi phản đối, nhưng lúc ấy tôi đã quá yếu mệt, không còn sức để nghe nàng nói và thiếp đi. Đêm đó, tôi mơ mình chết và được chôn tại nghĩa trang Kuku&#8230;</p>



<p>* * *</p>



<p>Nhưng sáng hôm sau, phép lạ lại đến với tôi, một cách thật bất ngờ &#8211; còn bất ngờ hơn cả lần thoát chết ở Phước Long mấy năm về trước.</p>



<p>Xin được kể sơ lại lần tôi thoát chết vì sốt rét rừng vào năm 1977 khi đang ở trại cải tạo L2T2.</p>



<p>Vào lúc tôi đã hoàn toàn mê man sau gần hai tuần lên cơn sốt rét, khi tất cả mọi người, trong đó có tay Trung sĩ y tá bộ đội của T2, tin&nbsp; rằng giờ phút cuối của tôi đã gần kề thì một biến cố xảy ra: cái đập nước ở thượng nguồn sông Tà Niên – tức con suối lớn chảy xuống T2 – bị vỡ.</p>



<p>Khu đất của T2 giống như một cái lòng chảo, nơi con suối chảy quanh gần giáp một vòng trước khi xuôi về Thác Mơ dưới chân núi Bà Rá.</p>



<p>Với thế đất ấy, chỉ trong vòng nửa tiếng đồng hồ, toàn bộ T2 đã bị lụt. Cũng may lúc đó anh em tù cải tạo đang chuẩn bị đi lao động chứ chưa rời trại, nhờ vậy tôi – đang nằm mê man trên cái giường tre – mới được một người bạn nhớ tới, báo động với toán “anh nuôi” đưa tôi lên một cái chảo lớn bơi lên đồi.</p>



<p>Sau khi được đưa vào nhà thăm nuôi và đặt nằm trên một cái giường, tôi tiếp tục mê man cho tới sáng hôm sau mới tỉnh dậy, để rồi tới buổi chiều, như một phép lạ, cơn sốt rét đã không quay trở lại. Qua ngày hôm sau, tôi bắt đầu bình phục trước sự ngạc nhiên của mọi người!</p>



<p>* * *</p>



<p>Bốn năm sau ở Kuku, không cần tới 24 tiếng mà chỉ qua một đêm tôi đã hồi tỉnh. Khi tôi thức giấc, mặc dù đầu nhức như búa bổ, toàn thân rã rời, tai tôi vẫn nhận ra tiếng loa phóng thanh đang hoạt động.</p>



<p>Vì cái lều của chúng tôi ở ngoài cùng cho nên nằm trong lều vẫn nghe rõ tiếng đọc tên những người được đi Galang nhưng vợ tôi đã nôn nóng đi ra sân cát, nơi hàng trăm người đang tụ tập chung quanh cái cột gắn loa phóng thanh.</p>



<p>Riêng tôi thì không hề nôn nóng bởi vì, như đã viết ở trên, sau khi phỏng vấn tôi, ông George đã nói tạm thời gác hồ sơ của ghe chúng tôi lại, thì không thể chỉ trong vòng một tuần lễ, văn phòng Cao ủy Tỵ nạn ở Galang đã có thì giờ giải quyết.</p>



<p>Nhưng tới cuối danh sách &#8211; mà sau này tôi được biết khoảng 200 người &#8211; tôi nghe thấy loa đọc số ghe của chúng tôi và tên của 26 người trên ghe!</p>



<p>Tôi lặng người, hay viết một cách chính xác là bị sốc mạnh tới mức không còn sức phản ứng, cũng giống như khi tôi bất ngờ có tên trong kết quả cuộc “xổ số” ở trại tù Tống Lê Chân hồi đầu năm 1981!</p>



<p>Rồi vợ tôi từ ngoài chạy vào lều, vì không biết tôi đã tỉnh dậy và nghe qua loa phóng thanh, vội vã kể cho tôi nghe việc cả ghe TV-101926 có tên trong danh sách đi Galang với một giọng vô cùng phấn khích!</p>



<p>Tới khi loa phóng thanh đọc lại danh sách để mọi người nghe thêm một lần nữa cho chắc chắn, không biết từ lúc nào, gần như tất cả mọi người trong ghe đã tụ tập trước cái lều của tôi, nói cười vui vẻ.</p>



<p>Sau khi loa đọc xong tên 26 người trong ghe, ông anh cột chèo, ông anh họ vợ và một vài người nữa vào lều thăm tôi.</p>



<p>Tuy không ai nói ra, nhìn ánh mắt và thái độ của mọi người tôi cũng hiểu được họ tin rằng nhờ tôi thuyết phục được ông George mà cả ghe được đi Galang trên chuyến tàu sớm nhất.</p>



<p>Riêng tôi chỉ biết cảm tạ Ơn Trên và thầm cám ơn ông George. Thì ra ông không đáng ghét, không tìm mọi cách làm khó dễ người tỵ nạn như nhiều người đã nghĩ, mà ngược lại. (Trên thực tế, ông George có làm khó dễ một số đối tượng, tôi sẽ đề cập tới ở một phần sau)</p>



<p>* * *</p>



<p>Qua loa phóng thanh, chúng tôi được thông báo sau khi ăn cơm trưa&nbsp; phải chuẩn bị hành trang sẵn sàng, khi có lệnh tập họp, ra ngồi chờ trên bãi cát gần cầu tàu (cũng là bãi tắm biển).</p>



<p>Lúc này mặc dù đầu óc đã tỉnh táo, tôi vẫn nằm bất động trên cái võng. Vợ tôi nấu cháo trắng nhưng cố gắng lắm tôi cũng chỉ nuốt được vài muỗng vừa vì miệng đắng ngắt vừa vì cuống họng bị sưng. Sau đó tôi thiếp đi cho tới khi bị vợ đánh thức: tàu tới!</p>



<p>Đó là một chiếc tàu khá lớn, có lẽ dài gấp rưỡi chiếc Flora đã chở chúng tôi từ đảo Sedanau tới đảo Kuku. Chiếc tàu này được tổ chức từ thiện Tin Lành World Vision mướn và đặt tên là “Seasweep” để vận chuyển tiếp tế và đưa thuyền nhân từ các đảo nhỏ tới các trại tỵ nạn.</p>



<p><em>(</em><em>World Vision</em><em> được </em><em>thành lập năm 1950 tại Hoa Kỳ, là một tổ chức từ thiện chuyên về phát triển và cứu trợ, ưu tiên cho trẻ em, hoạt động tại nhiều quốc gia trên thế giới.</em></p>



<p><em>Tại Á Châu, World Vision phát triển mạnh ở Đại Hàn và Đài Loan. Trước năm 1975, World Vision hoạt động tại miền Nam VN với danh xưng tiếng Việt là “Hoàn Cầu Khải Tượng”, hiện nay được gọi là “Tầm nhìn Thế giới”.</em></p>



<p><em>Năm 1977, World Vision trở thành World Vision International)</em></p>



<p></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/sea-sweep.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="334" height="448" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/sea-sweep.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-68066" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/12/sea-sweep-224x300.jpg 224w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/sea-sweep.jpg?strip=all 334w" sizes="(max-width: 334px) 100vw, 334px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Tàu Seasweep(hình Gaylord Barr)</em></p>



<p>Vì kích thước và trọng tải lớn, chiếc Seasweep không thể cập vào bến tàu của đảo Kuku như tàu Flora trước đây mà thả neo cách bờ gần 1 km; sau khi xuống hết số hàng tiếp tế cho Kuku mới đón người tỵ nạn lên tàu.</p>



<p>Công việc vận chuyển hàng tiếp tế vào đảo và đưa người tỵ nạn ra tàu được thực hiện bằng những chiếc ghe vượt biên lớn và còn tương đối tốt, nay thuộc quyền sở hữu của nhà chức trách Nam Dương.</p>



<p>Trên chuyến ghe đầu tiên trở vào đảo, có các nhân viên Văn phòng Cao ủy Tỵ nạn ở Galang tới Kuku để đưa thuyền nhân (có tên trong danh sách) về Galang.</p>



<p>Đặc biệt lần này, như về sau tôi được biết, còn có cô Amelia Bonifacio, người Phi-luật-tân, nhân vật số 2 tại Văn phòng Cao ủy Tỵ nạn Galang và một số nhân viên của các tổ chức thiện nguyện, trong đó có <strong>Gaylord Barr</strong>, một giáo viên Anh ngữ tại Galang, tác giả của nhiều phóng sự kèm hình ảnh về Kuku và Galang, mà một số hình được tôi sử dụng trong thiên hồi ký này. <strong>(1)</strong></p>



<p></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/nhon-vi¬n-cao-soy-amelia-bonifacio.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="960" height="612" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/nhon-vi¬n-cao-soy-amelia-bonifacio.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-68067" style="width:602px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/12/nhon-vi¬n-cao-soy-amelia-bonifacio-300x191.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2023/12/nhon-vi¬n-cao-soy-amelia-bonifacio-768x490.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/nhon-vi¬n-cao-soy-amelia-bonifacio.jpg?strip=all 960w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Nhân viên Văn phòng Cao ủy Tỵ nạn Galang và các tổ chức thiện nguyện đợi tàu đi Kuku. Cô Amelia Bonifacio ngồi phía trái</em></p>



<p>(hình Gaylord Barr)</p>



<p>* * *</p>



<p>Lúc tôi được vợ đánh thức dậy là khoảng 3 giờ chiều. Theo thông báo trên loa phóng thanh, tới 3 giờ 30, tất cả những người có tên trong danh sách phải có mặt ngoài bãi cát gần cầu tàu.</p>



<p>Mặc dù đã bớt nhức đầu và có thể bước đi chậm chạp, tôi vẫn nằm trên cái võng trong lều, bởi chỉ cách bãi cát vài chục mét, khi nào gọi tới gia đình tôi, thằng con trai sẽ chạy vào gọi bố.</p>



<p>Có điều đáng ngạc nhiên là không có một thông dịch viên người Việt nào từ Galang đi theo các nhân viên Văn phòng Cao ủy Tỵ nạn tới Kuku. Sau này tôi mới biết nguyên nhân không phải vì ở Galang thiếu thông dịch viên mà chỉ vì nhà cầm quyền Nam Dương vì lý do an ninh, hạn chế tối đa việc cho phép người tỵ nạn rời đảo.</p>



<p>Khi cô Amelia Bonifacio hỏi trong đám người được đi Galang có ai biết tiếng Anh và tình nguyện làm thông dịch không, một người đàn ông khoảng trên dưới 60 tên là Ngô Văn Giảng đã xung phong.</p>



<p>Chỉ sau này khi đã tới Galang, tôi mới biết ông Ngô Văn Giảng chính là một nhạc sĩ tên tuổi trong nền tân nhạc Việt Nam, với các bút hiệu Văn Giảng (các bản hùng ca <em>Lục Quân Việt Nam, Đêm Mê Linh, Nam Quan hận khúc, Thúc quân&#8230;</em>), Thông Đạt (các ca khúc <em>Ai về sông Tương,</em><em> Đôi mắt huyền, Hoa cài mái tóc, Tình em biển rộng sông dài&#8230;</em>) và Nguyên Thông (các ca khúc về Phật giáo).</p>



<p></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/ng¦-v-an-gis¦ung-kuku.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="631" height="960" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/ng¦-v-an-gis¦ung-kuku.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-68068" style="width:261px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/12/ng¦-v-an-gis¦ung-kuku-197x300.jpg 197w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/ng¦-v-an-gis¦ung-kuku.jpg?strip=all 631w" sizes="(max-width: 631px) 100vw, 631px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Nhạc sĩ Văn Giảng tại Kuku (hình Gaylord Barr)</em></p>



<p>Ông vượt biên với một người con trai trước chúng tôi ít lâu, tới đảo Natuna, rồi được đưa tới Kuku.</p>



<p>Ngày còn trẻ, ông từng vào <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91_H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh">Sài Gòn</a> theo học đại học và Anh văn tại Hội Việt Mỹ. Sau khi thi lấy bằng cử nhân và thi đậu trong một cuộc sát hạch Anh văn, ông được học bổng tu nghiệp âm nhạc tại Hoa Kỳ, và tốt nghiệp Cao học Âm nhạc; về nước ông giữ chức Giám đốc Trường Quốc gia Âm nhạc Huế.</p>



<p>Với khả năng Anh ngữ của mình, ông Ngô Văn Giảng không chỉ thông dịch những hướng dẫn của nhân viên Cao ủy Tỵ nạn về cuộc hành trình, về cuộc sống sắp tới ở Galang mà đôi khi còn pha trò một cách duyên dáng khiến mọi người vui cười thoải mái.</p>



<p></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/Kuku-Con-gii-Kim.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="633" height="960" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/Kuku-Con-gii-Kim.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-68069" style="width:381px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/12/Kuku-Con-gii-Kim-198x300.jpg 198w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/Kuku-Con-gii-Kim.jpg?strip=all 633w" sizes="(max-width: 633px) 100vw, 633px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Cô con gái 8 tuổi của tôi vô tình lọt vào ống kính của Gaylord Barr trong lúc ngồi chờ đọc tên lên tàu Seasweep</em></p>



<p>Bắt đầu khoảng 4 giờ chiều, chúng tôi lần lượt được ghe chở ra tàu Seasweep. Theo danh sách, ghe chúng tôi là những người ra đi sau cùng.</p>



<p>Bước lên cái cầu tàu bằng cây rừng một cách khó khăn, trong lòng tôi thầm cám ơn Thượng đế chẳng những đã cho mình thoát chết lần thứ hai vì sốt rét rừng để tiếp tục cuộc hành trình tìm tự do mà còn phù hộ cho chúng tôi được sớm rời Kuku.</p>



<p>Sau khi lên tàu Seasweep, tôi cố tìm một vị trí không bị che khuất để nhìn lại Kuku lần cuối, cái hoang đảo âm u mà tuy chỉ sống ở đó hơn một tuần lễ đã để lại trong tôi những ấn tượng không bao giờ phai mờ, nhất là cái nghĩa trang bên bìa rừng &#8211; cái nghĩa trang hoang lạnh và buồn nhất tôi được biết trong đời mình.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/kuku-1981-gaylord_kukucamp_63.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="960" height="637" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/kuku-1981-gaylord_kukucamp_63.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-68070" style="width:576px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/12/kuku-1981-gaylord_kukucamp_63-300x199.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2023/12/kuku-1981-gaylord_kukucamp_63-768x510.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/kuku-1981-gaylord_kukucamp_63.jpg?strip=all 960w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Vĩnh biệt Kuku (hình Gaylord Barr)</em></p>



<p>* * *</p>



<p>Tàu Seasweep nguyên là một tàu buôn đã khá cũ, vì hầm tàu chỉ là nơi chứa hàng hóa cho nên người ta phải căng vải bạt trên boong tàu làm chỗ tạm trú cho thuyền nhân.</p>



<p>Trước hết chúng tôi được các thanh niên nam nữ thiện nguyện của World Vision, phần lớn là người Á châu (Đại Hàn, Đài Loan) phát cho mỗi người một cuốn Kinh Thánh loại bỏ túi bằng tiếng Việt và một gói mì ăn liền cho bữa ăn tối cùng một ít bánh kẹo.</p>



<p>Đây là một gói mì của Singapore mà cho tới hơn 40 năm sau tôi vẫn khẳng định là gói mì ăn liền ngon nhất mà mình từng được ăn!</p>



<p>Rất có thể đây chỉ là nhận xét chủ quan của tôi vào lúc ấy sau một thời gian dài ăn uống thiếu thốn kham khổ từ ngày xuống ghe vượt biên, nhưng điều đáng nói là bên cạnh cảm giác “ngon”, gói mì ăn liền của Singapore ấy &#8211; nặng gấp rưỡi gói mì Nam Dương được cấp phát ở Kuku, có tới mấy gói nêm đi kèm, bao bì đẹp đẽ, những hàng chữ hướng dẫn bằng tiếng Anh chuẩn xác&#8230; – vô hình trung đã khiến tôi thích thú và cảm thấy lạc quan hơn khi nhìn về tương lai trước mặt.</p>



<p><strong>CH</strong><strong>ƯƠNG 3 – Cửa ngõ Tự Do và Tình Người</strong></p>



<p>Theo lời nhân viên Cao ủy Tỵ nạn cùng đi trên tàu Seasweep, sáng hôm sau tàu sẽ cập bến Galang.</p>



<p>Galang &#8211; viết đầy đủ là Pulau Galang &#8211; là một trong khoảng 1.700 hòn đảo lớn nhỏ của vùng đảo Riau (Riau Islands).</p>



<p>Gọi là “vùng đảo Riau” vì ngày ấy nó trực thuộc tỉnh Riau (Riau Province) trên đảo Sumatra (hiện nay, vùng đảo này đã trở thành một tỉnh riêng biệt với tên gọi Riau Islands Province).</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/riau-islands-province.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="532" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/riau-islands-province-1024x532.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-68071" style="width:586px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/12/riau-islands-province-300x156.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/riau-islands-province-1024x532.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2023/12/riau-islands-province-768x399.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/riau-islands-province.jpg?strip=all 1300w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center">&nbsp;<em>Vùng đảo Riau, gồm những đảo có viền đỏ trong bản đồ</em></p>



<p>Phía bắc của vùng đảo Riau là quần đảo Natuna, nơi ghe chúng tôi cập vào đảo Pulau Laut, sau đó được đưa tới đảo Sedanau. Hướng tây tây nam của Natuna là quần đảo Anambas, nơi có “hoang đảo” Kuku.</p>



<p>Xuôi về phương nam, đối diện với đảo quốc Singapore là nhiều đảo lớn nhỏ, trong số đó gần Singapore nhất là đảo Batam (chưa tới 20 km), trên có Thành phố Batam, là thành phố lớn nhất trong vùng đảo đảo Riau.</p>



<p>Phía nam đông nam đảo Batam là đảo Rempang rồi tới đảo Galang. Về hành chính, cả ba đảo thuộc Thành phố Batam.</p>



<p>Theo tỷ lệ trên bản đồ, tính đường chim bay từ Kuku tới Galang khoảng 450 km, và từ Galang sang Singapore khoảng 75 km.</p>



<p>Nguyên vào năm 1978, khi thương lượng với chính phủ Nam Dương về việc thiết lập một trại tỵ nạn quy mô trên lãnh thổ Nam Dương, Cao ủy Tỵ nạn LHQ đã đưa ra yêu cầu: vị trí phải vừa gần quần đảo Anambas nơi có hàng ngàn thuyền nhân đang sống trên “hoang đảo” Kuku, vừa gần Singapore để tiện việc đưa người tỵ nạn đi định cư ở đệ tam quốc gia bằng đường hàng không.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/galang-island-singapore-1.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="800" height="695" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/galang-island-singapore-1.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-68072" style="width:478px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/12/galang-island-singapore-1-300x261.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2023/12/galang-island-singapore-1-768x667.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/galang-island-singapore-1.jpg?strip=all 800w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Vị trí đảo Galang (mũi tên đỏ)</em></p>



<p>Kết quả, nhà cầm quyền Nam Dương đã chọn đảo Galang, vừa gần Singapore, vừa có bờ biển sâu tàu vận tải hạng trung có thể cập bến, vừa tương đối hoang vắng, chỉ có 200 người dân sống trên diện tích 8000 héc-ta!</p>



<p>Trại tỵ nạn Galang nằm gần bờ biển phía tây của hòn đảo trên một diện tích 80 héc-ta, tức 1/100 diện tích của đảo, gồm hai trại: Galang site 1 và Galang site 2, thường được người Việt gọi ngắn gọn là Galang 1, Galang 2.</p>



<p>Galang 1 dành cho người ty nạn mới tới đảo, họ sẽ được Văn phòng Cao ủy phỏng vấn rồi làm đơn xin đi định cư ở một đệ tam quốc gia, được nhận hay không họ cũng sẽ tiếp tục sống ở Galang 1.</p>



<p>Chỉ có những người làm đơn xin đi Mỹ và đã được Mỹ nhận mới phải vào Galang 2 để chờ ngày đi Mỹ; trong thời gian chờ đợi họ được học Anh văn và một khóa về “đời sống và văn minh ở Mỹ quốc”. Bên cạnh đó còn có một số thuyền nhân ở Thái Lan đã được Mỹ nhận định cư cũng được đưa tới Galang 2 để học Anh văn. Vào thời gian tôi ở Galang, thuyền nhân gốc Căm-bốt cũng được đưa tới Galang 2.</p>



<p>Theo con số của Cao ủy Tỵ nạn LHQ, vào thời gian cao điểm, tổng số thuyền nhân ở Galang 1 và Galang 2 lên tới 12.000 người (một tài liệu khác viết lên tới 14.000).</p>



<p>* * *</p>



<p>Tàu Seasweep chở chúng tôi cập bến Galang vào khoảng 8 giờ sáng. Bến tàu này có lẽ được xây dựng với mục đích chính là đưa đón tỵ nạn cho nên ngoài một ngôi nhà gỗ dùng làm văn phòng còn có hai mái tôn (không có vách) thật lớn làm nơi trú mưa nắng cho kẻ đến người đi.</p>



<p>Một cái cầu tàu cao bằng bê-tông nhô ra biển dành cho tàu lớn và một cầu tàu sát mặt biển và phòng chờ dành cho tàu tốc hành chở khách (express).</p>



<p>Gần đó là một bãi chứa cây rừng đã được dân Nam Dương khai thác chờ được chở đi.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/galang-b¬n-tau.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="651" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/galang-b¬n-tau-1024x651.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-68073" style="width:568px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/12/galang-b¬n-tau-300x191.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/galang-b¬n-tau-1024x651.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2023/12/galang-b¬n-tau-768x488.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/galang-b¬n-tau.jpg?strip=all 1134w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Bến tàu Galang (hình Gaylord Barr)</em></p>



<p></p>



<p>Thủ tục “nhập cảnh” tại bến tàu Galang đơn giản hơn ở Kuku rất nhiều, chỉ có màn đếm đầu người chứ không có mục khám xét hành lý và thân thể người tỵ nạn!</p>



<p>Các nhân viên cảnh sát Nam Dương ở Galang cũng tương đối nhã nhặn hơn, không quát tháo như ở Kuku.</p>



<p>Ngoài nhân viên cảnh sát, nhân viên Cao ủy Tỵ nạn, còn có nhân viên Phòng Xã Hội Nam Dương đón tiếp, thăm hỏi những gia đình có con nhỏ, người già yếu&#8230;</p>



<p>Từ bến tàu, đoàn người lần lượt được xe đưa vào trại, phân phối tới&nbsp; các “barrack”.&nbsp;</p>



<p>Trại Galang 1 được chia ra năm Zone với trên 100 barrack mái tôn vách gỗ. Mỗi barrack, với hai hàng sạp gỗ dài, có thể dung nạp 100 người vào thời gian cao điểm.</p>



<p>Khi chúng tôi tới Galang 1 thì người tỵ nạn gốc Việt chỉ ở bốn Zone I, II, III, IV, còn Zone V thì bỏ trống, khi cần thì sử dụng làm nơi tạm trú cho người tỵ nạn gốc Căm-bốt trước khi họ được đưa vào Galang 2.</p>



<p>Tất cả 26 người trong ghe của tôi được đưa tới Barrack 73 thuộc Zone III. Điều thú vị là ghe của nhạc sĩ Văn Giảng khoảng 20 người cũng được đưa tới Barrack 73. Cộng với khoảng 15 “ma cũ”, barrack có nhân số khoảng 60 người.</p>



<p>* * *</p>



<p>Vào những năm đầu thập niên 1980, không kể Trại Hawkins Road ở Singapore thì Trại tỵ nạn Galang ở Nam Dương được xem là trại tỵ nạn “kiểu mẫu” trong số tất cả các trại tỵ nạn ở Đông Nam Á. Đây là nhận xét của cả Cao ủy Tỵ nạn LHQ lẫn Linh mục Gildo Dominici (1935-2003), một nhân vật mà tên tuổi đã gắn liền với Trại tỵ nạn Galang.</p>



<p>Sở dĩ không tính Trại tỵ nạn Hawkins Road là vì từ năm 1980, chính phủ Singapore đã dứt khoát không nhận thuyền nhân đi thẳng tới đảo quốc này (những ghe tới thẳng sẽ bị tàu của Hải quân Singapore kéo ra hải phận quốc tế), chỉ nhận những thuyền nhân được tàu buôn ngoại quốc vớt và đưa tới Singapore, với điều kiện quốc gia (của tàu buôn) đó phải cam kết bằng văn bản sẽ nhận những thuyền nhân này định cư và đưa họ ra khỏi Singapore trước thời hạn 90 ngày!</p>



<p>Vì số thuyền nhân may mắn nói trên chẳng có là bao, Cao ủy Tỵ nạn LHQ đã điều đình với chính phủ Singapore cho sử dụng Trại Hawkins Road như một trại chuyển tiếp, nơi chờ chuyến bay cho những thuyền nhân đã được các đệ tam quốc gia nhận định cư, tới từ các trại tỵ nạn ở Nam Dương, Mã Lai, Thái Lan.</p>



<p>Gọi Galang là trại tỵ nạn kiểu mẫu vì việc điều hành mọi việc trong trại được phân chia một cách rõ rệt theo nguyên tắc Cao ủy Tỵ nạn LHQ đưa ra: nhà cầm quyền trại (Nam Dương) đảm trách an ninh trật tự, Cao ủy Tỵ nạn lo việc đi định cư, Ban đại diện trại (Việt Nam) điều hành mọi sinh hoạt thường nhật của đồng bào trong trại, đại diện đồng bào khiếu nại với Cao ủy Tỵ nạn, với nhà cầm quyền Nam Dương trong những trường hợp cần thiết.</p>



<p>Nhà cầm quyền trại gồm Văn phòng Chỉ huy trưởng Trại (Camp Commander Office) do một sĩ quan cấp tá trong Quân đội Nam Dương đảm trách, và một đồn cảnh sát Nam Dương do một sĩ quan cảnh sát cấp úy làm Trưởng đồn.</p>



<p>Về Văn phòng Cao ủy Tỵ nạn LHQ, đứng đầu là một vị Đại diện Cao ủy (<em>UNHCR</em>&nbsp;Representative), dưới quyền có các phòng ban mà quan trọng nhất là Phòng Định cư (Resettlement Processing Centre).&nbsp;</p>



<p>Ngoài ra còn có một “Phòng” rất quan trọng mà tôi không nhớ danh xưng, đó là nơi sắp xếp các chuyến bay cho những người đã được nhận định cư. Đây cũng chính là nơi phát xuất những tin đồn sốt dẻo (thường là thất thiệt) về ngày rời Galang của những đồng bào đã được nhận định cư.</p>



<p>Ban đại diện trại (Camp Committee) gồm một vị Trưởng ban đại diện Trại, một hoặc hai vị Phó, và các phòng ban chuyên môn, như Phòng Hành chánh, Phòng Thông tin, Phòng Trật tự, Phòng Xã hội, Phòng Công tác, Khối Giáo dục, Khối Huấn nghệ, Trung tâm sinh hoạt thanh thiếu niên (Youth Center)&#8230;</p>



<p>Hệ thống hàng dọc thì có các Zone trưởng, Barack trưởng.</p>



<p><em>[Các danh xưng chức vụ “Trưởng ban đại diện Trại, Phó ban đại diện Trại” thường chỉ được sử dụng trên giấy tờ, trên loa phóng thanh, còn khi nói chuyện mọi người đều gọi ngắn gọn là “Trại trưởng”, “Trại phó”.</em></p>



<p><em>Trong khi đó chức vụ Zone Leader trên giấy tờ, trên loa phóng thanh được gọi là “Khu trưởng Khu I, II, III&#8230;” nhưng khi nói chuyện mọi người thường gọi là “Zone trưởng Zone I, II, III&#8230;” để né chữ “khu”]</em></p>



<p>Cùng với ba cơ quan “lãnh đạo” nói trên còn có những tổ chức độc lập hoạt động tại Galang như PMI (Palang Merah Indonesia: Hội Hồng Thập Tự Nam Dương) với một bệnh viện nho nhỏ, Phòng Xã hội Nam Dương, các cơ quan thiện nguyện World Relief, Save the Children, Écoles Sans Frontières&#8230;</p>



<p>* * *</p>



<p>Sau khi tới Galang 1 được một vài ngày, từng ghe sẽ được gọi lên Văn phòng Cao ủy Tỵ nạn để được phỏng vấn và làm hồ sơ.</p>



<p>Trong cuộc phỏng vấn này, thông qua các thông dịch viên, thuyền nhân sẽ khai lý lịch và chứng minh mình là người tỵ nạn.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/galang-ph¦ng-aesinh-c¦¦.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="679" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/galang-ph¦ng-aesinh-c¦¦-1024x679.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-68074" style="width:544px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/12/galang-ph¦ng-aesinh-c¦¦-300x199.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/galang-ph¦ng-aesinh-c¦¦-1024x679.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2023/12/galang-ph¦ng-aesinh-c¦¦-768x509.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/galang-ph¦ng-aesinh-c¦¦.jpg?strip=all 1134w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Phòng Định cư của Văn phòng Cao ủy Tỵ nạn tại Galang. Dãy nhà mái tôn đỏ là nơi đồng bào ngồi chờ gọi tên (hình Gaylord Barr)</em><em></em></p>



<p>Trước hết nói về lý lịch, trừ những người cần phải khai chính xác cho phù hợp với giấy tờ tùy thân, bằng cấp, chức vụ của mình trước năm 1975, những người còn lại muốn khai ra sao thì khai, cũng giống như người miền Bắc di cư vào miền Nam năm 1954 đi làm giấy Thế Vì Khai Sanh vậy.</p>



<p>Nghĩa là có thể thay đổi tên họ, năm sinh, quê quán, nghề nghiệp, gia cảnh&#8230; Nói cho ngay, đa số trường hợp thay đổi này cũng chẳng chết thằng tây nào, nghĩa là gian dối nhưng không làm hại tới những thuyền nhân khác. Chẳng hạn một ông khai thêm tuổi với hy vọng sang nước thứ ba sẽ được về hưu sớm, một bà đã có chồng còn ở VN khai độc thân để sẵn sàng làm lại cuộc đời khi có cơ hội, một công chức tép riu khai là phó quận, trưởng phòng, một hạ sĩ quan hay binh sĩ khai là sĩ quan, hoặc sĩ quan cấp úy khai là sĩ quan cấp tá, thậm chí có người trốn quân dịch cũng khai là cựu quân nhân với hy vọng sẽ được ưu tiên cứu xét cho đi định cư&#8230;</p>



<p>Riêng về việc hạ sĩ quan hay binh sĩ tự nhận sĩ quan, sĩ quan khai cấp bậc cao hơn, dân sự khai là quân nhân, sau này một số người từng làm việc với phái đoàn Mỹ kể với tôi rằng người Mỹ có toàn bộ hồ sơ được lưu trữ trong dàn máy IBM của Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH trước 1975, nay được mang sang Singapore để đối chiếu với lời khai của thuyền nhân, vì thế ai khai gian là bị lộ tẩy ngay.</p>



<p>Thực hư ra sao tôi không có cơ hội tìm hiểu, chỉ biết ở Galang nghe người ta đồn có một số cựu quân nhân man khai lý lịch xin đi định cư ở Mỹ nhưng bị từ chối, bị “giam” ở Galang mấy năm trời mới được đi định cư ở một nước khác.</p>



<p>Riêng các hạ sĩ quan, binh sĩ khai tăng tuổi nhưng không xin đi định cư ở Mỹ mà đi một nước khác thì không hề bị khám phá; ít nhất cũng là trong những trường hợp tôi được biết.</p>



<p>Kế tới là việc chứng minh mình là người tỵ nạn cộng sản. Vào khoảng thời gian này &#8211; từ cuối thập niên 1970 tới cuối thập niên 1980 &#8211; khi mà chế độ CSVN còn duy trì chính sách bế quan tỏa cảng, bị cả thế giới lên án vì cuộc xâm lược Căm-bốt, thì hầu như thuyền nhân VN nào cũng được xem là “tỵ nạn cộng sản”; chỉ tới cuối thập niên 1980, khi diễn ra hòa đàm Paris về tái lập hòa bình ở xứ chùa tháp, CSVN đồng ý rút quân để đổi lấy việc thế giới hủy bỏ lệnh cấm vận, các quốc gia tây phương bắt đầu quay lưng lại với người tỵ nạn Đông Dương, thì mới đẻ ra mấy chữ “tỵ nạn kinh tế” để chỉ những thuyền nhân mà Cao ủy Tỵ nạn cho là không đủ điều kiện “tỵ nạn chính trị”!</p>



<p>* * *</p>



<p>Sau khi được Cao ủy Tỵ nạn phỏng vấn, cho một con số, chụp hình làm “căn cước” (ID), người tỵ nạn mới được nộp đơn xin đi định cư tại quốc gia mình muốn đi.</p>



<p>Muốn đi định cư tại quốc gia nào thì phải nộp đơn cho phái đoàn của quốc gia đó. Vào thời điểm 1981-1982, chỉ có một phái đoàn duy nhất thường trực ở Galang để nhận đơn và phỏng vấn là phái đoàn Mỹ, bởi vì hầu hết người tỵ nạn đều muốn “ôm chân đế quốc”, kế tới là các phái đoàn Úc, Canada, Pháp, Đức mỗi năm đến Galang một, hai lần, các quốc gia còn lại – Nhật Bản và các quốc gia Âu châu khác – thì không gửi phái đoàn tới Galang mà nhờ Văn phòng Cao ủy Tỵ nạn nhận đơn dùm rồi gửi về tòa đại sứ của quốc gia đó ở Jakarta (Nam Dương) hay Singapore cứu xét.</p>



<p>Cũng vì hầu hết người tỵ nạn đều muốn đi Mỹ cho nên phái đoàn Mỹ phải tìm mọi cách để làm khó dễ, hoặc bác đơn &#8211; tiếng bình dân gọi là “đá”!</p>



<p>Trước hết, những người có thân nhân trực hệ tại Mỹ &#8211; vợ chồng, cha mẹ, con cái, anh chị em ruột &#8211; thì thường được nhận cho định cư tại Mỹ. Tôi viết “thường” bởi vì cũng có những trường hợp bị từ chối. Đó là những người có “thành tích” bị ghi vào sổ bìa đen, như từng có lập trường chống Mỹ, từng hoạt động cho cộng sản trước năm 1975, thành phần “30 tháng Tư”, thành phần bất hảo tại Galang, hoặc lý lịch không rõ ràng, khai tới khai lui, v.v&#8230;</p>



<p>Thứ đến là các cựu sĩ quan quân đội, cảnh sát, công chức trung cấp, cao cấp của VNCH, trên nguyên tắc là thành phần được ưu tiên đi Mỹ, thì sẽ bị xét hồ sơ cá nhân xem có thân nhân ruột thịt ở các quốc gia khác hay không, nếu có phái đoàn Mỹ sẽ viện lý do “một giọt máu đào hơn ao nước lã” để nói người đó phải làm đơn đi đoàn tụ với người thân, chỉ khi nào bị quốc gia đó từ chối (đóng dấu “đá”) thì phái đoàn Mỹ mới tái xét đơn. Vì thế những người muốn đi Mỹ mà phải làm đơn xin đoàn tụ với người thân ở một quốc gia khác chỉ cầu bị&#8230; đá!</p>



<p>Còn với những người (thuộc thành phần ưu tiên nói trên) không có thân nhân ruột thịt ở các quốc gia khác thì trong lần phỏng vấn đầu tiên, phái đoàn Mỹ cũng chỉ phê “được quan tâm cứu xét” (under consideration), và không quên “khuyến khích” trong thời gian chờ đợi, có thể làm đơn xin đi định cư ở một quốc gia khác! Chỉ có một số rất nhỏ may mắn được nhận ngay trong lần phỏng vấn đầu tiên!</p>



<p>Cũng cần viết thêm, những người được phái đoàn Mỹ nhận không được đưa thẳng sang Singapore để chờ chuyến bay đi Mỹ, cũng không tiếp tục ở Galang 1 mà được đưa vào Galang 2 để học Anh văn và một khóa về “đời sống và văn minh của Mỹ quốc”, rồi chờ ngày đi Mỹ. Thời gian chờ đợi có thể là vài tháng, một năm, cũng có khi kéo dài tới hai, ba năm!</p>



<p>Vì thế, không ít người thuộc thành phần ưu tiên đi Mỹ đã không làm đơn xin đi Mỹ mà xin đi nước khác, thường là Úc hoặc Canada, để sớm được rời khỏi trại tỵ nạn. Bên cạnh đó cũng có không ít người vẫn còn hận Mỹ, ghét Mỹ về cái tội bỏ rơi miền Nam VN cho nên vừa được Cao ủy Tỵ nạn làm hồ sơ xong là nộp đơn xin đi Úc, đi Canada ngay!</p>



<p>Ngoài ra, cũng không thể không nhắc tới những thành phần phản chiến, thân cộng “có tên tuổi” trước năm 1975, chẳng hạn những tay “trâu đánh” ngoài miền Trung, đám nằm vùng ở Đại học Vạn Hạnh&#8230;,&nbsp; sau này không được chế độ cộng sản sử dụng, hoặc chính bản thân họ đã nhận ra bản chất của cộng sản cho nên đã tìm đường vượt biên.</p>



<p>Những người này tự biết họ sẽ không bao giờ được Mỹ nhận cho nên đã làm đơn xin đi Úc, Canada, Pháp&#8230;</p>



<p>Về phần những người không thuộc thành phần ưu tiên đi Mỹ nếu có thân nhân ở một đệ tam quốc gia thì bắt buộc phải làm đơn xin định cư tại quốc gia đó. Tuy nhiên có không ít người không muốn định cư tại quốc gia mà thân nhân mình đang sống, khi làm hồ sơ đã không khai những thân nhân nói trên.&nbsp;</p>



<p>Sau cùng là những người không thuộc thành phần ưu tiên đi Mỹ và cũng không có thân nhân ở một đệ tam quốc gia thì phải làm đơn&nbsp; xin định cư theo diện nhân đạo, gọi nôm na là “đi chùa”.</p>



<p>“Đi chùa” dễ hay khó, chờ mau hay lâu tùy thuộc vào thời điểm, chính sách di dân, tiêu chuẩn nhận người của quốc gia mình muốn tới định cư, cũng như số lượng người nộp đơn.</p>



<p>Lấy trường hợp Úc và Tân-tây-lan làm thí dụ điển hình. Cả hai quốc gia đều là của người da trắng ở cạnh nhau ở châu Đại dương (Oceania) nhưng trong khi xin đi Tân-tây-lan được nhận ngay thì xin đi Úc còn tùy tuổi tác, trình độ, gia cảnh (kỵ nhất là nam vị thành niên không có cha mẹ đi theo)&#8230;</p>



<p>Nhưng nếu so với xin đi Mỹ thì xin đi Úc vẫn có nhiều hy vọng hơn, và nhanh hơn.</p>



<p>* * *</p>



<p>Tới đây tôi xin mô tả chi tiết khung cảnh Trại Galang và cuộc sống của người tỵ nạn ở nơi chốn được mệnh danh là “Cửa ngõ của Tự Do và Tình Người” (The Gate Of Freedom and Humanity).</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/Galang-gate-1980s_368.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="650" height="1024" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/Galang-gate-1980s_368-650x1024.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-68085" style="width:418px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/12/Galang-gate-1980s_368-191x300.jpg 191w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/Galang-gate-1980s_368-650x1024.jpg?strip=all 650w, https://cdn.t-van.net/2023/12/Galang-gate-1980s_368-768x1209.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2023/12/Galang-gate-1980s_368-975x1536.jpg 975w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/Galang-gate-1980s_368.jpg?strip=all 1016w" sizes="(max-width: 650px) 100vw, 650px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Cửa ngõ của Tự Do và Tình Người (hình Gaylord Barr)</em><em></em></p>



<p>Từ bến tàu Galang đi vào trên con đường chính của đảo theo hướng bắc nam, sau khoảng 3 km thì tới Galang 1, đi thêm hơn 2 km nữa là Galang 2, còn “Galang 3” &#8211; tức Nghĩa Trang Galang &#8211; nằm trên đường Galang 1 đi Galang 2.</p>



<p>Vì chỉ vào Galang 2 chơi một hai lần, tôi xin chỉ viết về Galang 1.</p>



<p>Vào trại từ hướng bắc, ở phía bên mặt, trước hết là các barrack của Zone V rồi tới các cơ sở của Nam Dương như Hội Hồng thập tự (PMI), Phòng Xã hội Nam Dương, các cơ sở thiện nguyện quốc tế và chỗ ở của nhân viên Cao ủy Tỵ nạn và nhân viên các tổ chức thiện nguyện; phía bên trái là bệnh viện, chợ Galang&#8230;, cũng ở phía bên trái, trên ngọn đồi cao nhất trong trại là chùa Quan Âm của thuyền nhân Việt Nam.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/galang-chsu.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="677" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/galang-chsu-1024x677.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-68086" style="width:644px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/12/galang-chsu-300x198.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/galang-chsu-1024x677.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2023/12/galang-chsu-768x508.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2023/12/galang-chsu-1536x1016.jpg 1536w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/galang-chsu.jpg?strip=all 2000w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Mặt tiền chợ Galang (hình Gaylord Barr)</em></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/galang-ch¦a-quan-om.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="720" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/galang-ch¦a-quan-om-1024x720.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-68087" style="width:532px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/12/galang-ch¦a-quan-om-300x211.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/galang-ch¦a-quan-om-1024x720.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2023/12/galang-ch¦a-quan-om-768x540.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2023/12/galang-ch¦a-quan-om-1536x1080.jpg 1536w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/galang-ch¦a-quan-om.jpg?strip=all 1899w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Chùa Quan Âm (hình Gaylord Barr)</em><em></em></p>



<p>Tiếp theo là Zone IV, cũng ở phía bên mặt, còn phía bên trái với thế đất cao hơn là khu sinh hoạt của trại, nơi tập trung mọi cơ sở, phương tiện học hành, giải trí của người tỵ nạn, như hội trường, Trung tâm Sinh hoạt Thanh thiếu niên (Youth Center), các phòng học, tòa soạn bán nguyệt san Tự Do, sân khấu lộ thiên, sân bóng chuyền, booth để TV màu, sân đá banh&#8230;</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/galang-khu-sinh-hos¦it.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="681" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/galang-khu-sinh-hos¦it-1024x681.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-68088" style="width:592px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/12/galang-khu-sinh-hos¦it-300x199.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/galang-khu-sinh-hos¦it-1024x681.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2023/12/galang-khu-sinh-hos¦it-768x511.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/galang-khu-sinh-hos¦it.jpg?strip=all 1089w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p><em>Một phần của khu sinh hoạt, từ trái, Trung tâm Sinh hoạt Thanh thiếu niên, phòng Lab (Anh ngữ), Hội trường (có huy hiệu Trại Galang), các phòng học&#8230; Ngoài sân, nơi có những băng ghế “dã chiến” là sân xem tivi màu (hình Gaylord Barr)</em></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/Galang-bin-nguysct-san-Ts¦-Do.jpeg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="635" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/Galang-bin-nguysct-san-Ts¦-Do-1024x635.jpeg?strip=all" alt="" class="wp-image-68089" style="width:630px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/12/Galang-bin-nguysct-san-Ts¦-Do-300x186.jpeg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/Galang-bin-nguysct-san-Ts¦-Do-1024x635.jpeg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2023/12/Galang-bin-nguysct-san-Ts¦-Do-768x476.jpeg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/Galang-bin-nguysct-san-Ts¦-Do.jpeg?strip=all 1052w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Tòa soạn bán nguyệt san Tự Do (hình Gaylord Barr)</em><em></em></p>



<p>Phía sau khu sinh hoạt của trại là một cái đồi thấp, có đường cho xe hơi chạy vào Đồn cảnh sát Nam Dương, vào sâu hơn là Văn phòng&nbsp; Chỉ huy trưởng Trại (Camp Commander Office).</p>



<p>Kế tiếp là Zone III với các barrack ở cả hai phía. Vì ở phía bên trái, các Barrack 65, 69 và Văn phòng Zone III nằm sát khu sinh hoạt của trại cho nên về mặt “trật tự trị an”, khu sinh hoạt thuộc lãnh thổ Zone III.</p>



<p>Tiếp tục đi về hướng nam, qua Zone III tới Zone II, cũng có các barrack ở cả hai phía. Phía bên trái, giữa Zone III và Zone II là một khu đất trũng không có các barrack, được một số người tỵ nạn khai phá trồng rau để ăn và để bán. Khi chủ nhân đi định cư hoặc vào Galang 2, thì giao lại cho người quen hoặc sang lại cho người khác.</p>



<p>Khi bắt đầu lên dốc, phía trước các barrack của Zone II ở phía bên trái là một dãy sạp bán thuốc lá, bánh trái, và các loại quà vặt.</p>



<p>Tiếp theo là Zone I ở phía bên mặt với các barrack dưới chân đồi; trên đỉnh đồi là nhà thờ Công giáo và cơ sở từ thiện của cha Dominici.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/galang-nha-ths¥-c¦ng-giio.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="690" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/galang-nha-ths¥-c¦ng-giio-1024x690.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-68090" style="width:616px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/12/galang-nha-ths¥-c¦ng-giio-300x202.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/galang-nha-ths¥-c¦ng-giio-1024x690.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2023/12/galang-nha-ths¥-c¦ng-giio-768x517.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/galang-nha-ths¥-c¦ng-giio.jpg?strip=all 1152w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Nhà thờ Công giáo Galang từ Zone 1 nhìn lên (hình Gaylord Barr)</em></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/Galang-Zone-III-arrows.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="563" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/Galang-Zone-III-arrows-1024x563.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-68224" style="width:646px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/12/Galang-Zone-III-arrows-300x165.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/Galang-Zone-III-arrows-1024x563.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2023/12/Galang-Zone-III-arrows-768x422.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/Galang-Zone-III-arrows.jpg?strip=all 1280w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p><em>Trại Galang nhìn từ sân nhờ Công Giáo về hướng chùa Quan Âm: Barrack 73 của tôi (mũi tên đỏ), giữa hình là hội trường và khu sinh hoạt của trại, phía bên phải hình (mũi tên xanh) là Đồn cảnh sát Nam Dương và Văn phòng Chỉ huy trưởng Trại. Mũi tên vàng là các cơ sở và nơi ở của nhân viên nguyện; xa xa trên đồi phía bên trái là Zone V (hình Gaylord Barr)</em><em></em></p>



<p>Cũng ở dưới chân đồi nhưng nằm phía bên trái là trụ sở của Ban đại diện trại. Đi thêm một đoạn nữa, ở phía bên mặt là Phòng Định cư của Văn phòng Cao ủy Tỵ nạn tại Galang, cũng là nơi phỏng vấn người tỵ nạn của các phái đoàn.</p>



<p>Sau cùng là Nhà thờ Tin Lành trên một ngọn đồi nhỏ, cũng ở phía bên mặt.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/galang-ban-dai-dien.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="680" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/galang-ban-dai-dien-1024x680.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-68093" style="width:629px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/12/galang-ban-dai-dien-300x199.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/galang-ban-dai-dien-1024x680.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2023/12/galang-ban-dai-dien-768x510.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/galang-ban-dai-dien.jpg?strip=all 1120w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Trụ sở Ban đại diện trại (hình Gaylord Barr)</em></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/RwnP3thl-galang-ph¦ng-aesinh-c¦¦.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="679" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/RwnP3thl-galang-ph¦ng-aesinh-c¦¦-1024x679.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-68094" style="width:632px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/12/RwnP3thl-galang-ph¦ng-aesinh-c¦¦-300x199.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/RwnP3thl-galang-ph¦ng-aesinh-c¦¦-1024x679.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2023/12/RwnP3thl-galang-ph¦ng-aesinh-c¦¦-768x509.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/RwnP3thl-galang-ph¦ng-aesinh-c¦¦.jpg?strip=all 1134w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Phòng Định cư của Cao ủy (hình Gaylord Barr)</em></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/galang-nha-ths¥-tin-lanh.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="960" height="630" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/galang-nha-ths¥-tin-lanh.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-68095" style="width:638px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/12/galang-nha-ths¥-tin-lanh-300x197.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2023/12/galang-nha-ths¥-tin-lanh-768x504.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/galang-nha-ths¥-tin-lanh.jpg?strip=all 960w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Nhà thờ Tin Lành Galang (hình Gaylord Barr)</em><em></em></p>



<p>* * *</p>



<p>Tới đây viết về nhà cầm quyền trại và cảnh sát Nam Dương.</p>



<p>Vào thời gian tôi ở Galang, vị Chỉ huy trưởng Trại (Camp Commander) là Trung tá Hasbullah Siregar thuộc Quân đội Nam Dương, còn Trưởng đồn cảnh sát là Đại úy Marjuno.</p>



<p>Theo nguyên tắc đã được thỏa thuận từ lúc ban đầu giữa ba phía (Cao ủy Tỵ nạn, chính quyền Nam Dương, Ban đại diện tỵ nạn), một khi đã được đưa tới trại tỵ nạn Galang, các thuyền nhân là “đối tượng của Cao ủy Tỵ nạn tạm trú trên lãnh thổ Nam Dương” chứ không phải đối tượng của chính quyền Nam Dương. Vì thế nhà cầm quyền trại và cảnh sát Nam Dương chỉ có hai nhiệm vụ: (1) giữ các thuyền nhân trong khu vực ấn định, (2) bảo vệ an ninh cho thuyền nhân.</p>



<p>Chính vì hai nhiệm vụ này đã dẫn đưa tới những vụ rắc rối giữa cảnh sát Nam Dương và Cao ủy Tỵ nạn, cũng như với Ban đại diện Trại, mà nguyên nhân chính là sự lộng hành của cảnh sát Nam Dương (tôi sẽ đề cập tới một cách chi tiết trong một kỳ sau).</p>



<p><strong><em>(Còn tiếp)</em></strong></p>



<p><strong>CHÚ THÍCH:</strong></p>



<p><strong><em>(1) Gaylord Barr </em></strong><em>(1947-2015), thành viên của tổ chức thiện nguyện</em><em>Peace Corps, là giáo viên Anh ngữ tại Galang có nhiệm vụ đào tạo những thầy cô người Việt để họ dạy Anh ngữ cho đồng hương của mình.</em></p>



<p><em>Nhưng Gaylord Barr không chỉ dạy Anh ngữ mà còn tự nguyện tham gia vào mọi lĩnh vực trong đời sống của người tỵ nạn, cách riêng trẻ em và những người kém may mắn, cô thế.</em></p>



<p><em>Qua đó anh đã trở thành khuôn mặt được biết tới nhiều nhất, và được nhiều người tỵ nạn yêu mến nhất trong số những nhân viên thiện nguyện tại Galang.</em></p>



<p><em>Với phía Nam Dương, Gaylord Barr trong khi có mối giao hảo tốt đẹp với Phòng Xã Hội Nam Dương thì lại không được cảnh sát Nam Dương dành nhiều cảm tình, bởi vì chính anh đã không có cảm tình với họ!</em></p>



<p><em>* * *</em></p>



<p><em>Gaylord Barr ra chào đời ngày 21/5/1947 tại tiểu bang Washington. Lớn lên tại thành phố Yakima thơ mộng, sau khi tốt nghiệp tại Yakima Valley Community College, năm 1967 anh gia nhập Peace Corps.</em></p>



<p><em>Peace Corps là một tổ chức thiện nguyện độc lập do chính phủ Hoa Kỳ tài trợ, được thành lập năm 1961 dưới thời Tổng thống John F. Kennedy, mục đích chính là giúp đỡ những quốc gia kém phát triển qua việc đào tạo các chuyên viên giáo dục, y tế, nâng cao vị trí phụ nữ, phát triển cộng đồng, v.v&#8230; Vào thời gian cao điểm, năm 1966, Peace Corps có </em><em>15.556 nhân viên thiện nguyện phục vụ tại 52 quốc gia.</em></p>



<p><em>Sau 4 năm dạy Anh ngữ tại Sefrou, Morocco, Gaylord trở về Hoa Kỳ để tiếp tục việc học. Sau khi lấy bằng Cử nhân Nhân văn (BA in Anthropology) và Cao học Giáo dục, năm 1980, Gaylord tình nguyện sang trại tỵ nạn Galang ở Nam Dương, và tiếp theo là trại Bataan ở Phi-luật-tân để dạy Anh ngữ cho các giáo viên người Việt.</em></p>



<p><em>Trở về Hoa Kỳ, Gaylord Barr dạy Anh ngữ (ESL) tại Seattle Central University trong mấy năm trước khi trở lại với Peace Corps, lần này là&nbsp; dạy Anh ngữ tại Jeddah, Saudi Arabia, trong suốt 9 năm trời.</em></p>



<p><em>Công việc sau cùng của Gaylord Barr là dạy Anh ngữ (ESL) tại Patrick Henry High School ở Roanoke, tiểu bang Virginia, từ năm 2004 cho tới ít lâu trước khi qua đời ngày 30 tháng 5 năm 2015, sau một thời gian ngắn bị phát hiện ung thư.</em></p>



<p>Trong những ngày cuối đời, Gaylord Barr đã được nhiều bạn bè và học trò cũ từ khắp nơi trên thế giới thăm hỏi qua Facebook, hoặc tới thăm viếng, trong số đó có hai cựu giáo viên Anh ngữ gốc Việt do anh đào tạo.</p>



<p>Theo ý nguyện của Gaylord &#8211; một người sống độc thân suốt đời &#8211; đã không có tang lễ hay bất cứ hình thức tưởng niệm nào; tro cốt của anh được chị và em gái đem về rải trên thung lũng Yakima, tiểu bang Washington, nơi anh đã sống tuổi thơ và thời niên thiếu trước khi bước chân vào đời.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/Gaylord-Barr-va-msOt-nhon-vi¬n-Nm-D¦¦¦ing.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="664" height="914" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/Gaylord-Barr-va-msOt-nhon-vi¬n-Nm-D¦¦¦ing.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-68096" style="width:496px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/12/Gaylord-Barr-va-msOt-nhon-vi¬n-Nm-D¦¦¦ing-218x300.jpg 218w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/Gaylord-Barr-va-msOt-nhon-vi¬n-Nm-D¦¦¦ing.jpg?strip=all 664w" sizes="(max-width: 664px) 100vw, 664px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Gaylord Barr và một nhân viên thiện nguyện Nam Dương (hình Gaylord Barr)</em><em></em></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/gaylord-barr-teacher.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="664" height="1024" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/gaylord-barr-teacher-664x1024.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-68097" style="width:508px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/12/gaylord-barr-teacher-195x300.jpg 195w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/gaylord-barr-teacher-664x1024.jpg?strip=all 664w, https://cdn.t-van.net/2023/12/gaylord-barr-teacher-768x1184.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2023/12/gaylord-barr-teacher-996x1536.jpg 996w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/gaylord-barr-teacher.jpg?strip=all 1328w" sizes="(max-width: 664px) 100vw, 664px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Gaylord Barr trao chứng chỉ tốt nghiệp cho một học viên</em></p>



<p class="has-text-align-center"><em>tại Galang (hình Gaylord Barr)</em></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/Gaylordbarr_Galang_1980s_443.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="644" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/Gaylordbarr_Galang_1980s_443-1024x644.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-68098" style="width:690px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/12/Gaylordbarr_Galang_1980s_443-300x189.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/Gaylordbarr_Galang_1980s_443-1024x644.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2023/12/Gaylordbarr_Galang_1980s_443-768x483.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2023/12/Gaylordbarr_Galang_1980s_443-1536x966.jpg 1536w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/Gaylordbarr_Galang_1980s_443.jpg?strip=all 1600w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Gaylord Barr tiễn một số học viên lên đường đi định cư (hình Gaylord Barr)</em><em></em></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>HOÀI NAM: CẢI TẠO NỬA MÙA – VƯỢT BIÊN TÀI TỬ (kỳ 21)</title>
		<link>https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-21/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Hoài Nam - Hồi Ký Cải Tạo]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 14 Nov 2023 07:17:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[Truyện Tù Cải Tạo]]></category>
		<category><![CDATA[hồi ký cải tạo]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=67008</guid>

					<description><![CDATA[CẢI TẠO NỬA MÙA – VƯỢT BIÊN TÀI TỬ (kỳ 21)Hồi kýHoài Nam NGUYỄN HỮU THIỆN Kỳ 1&#160;&#160;Kỳ 2&#160;&#160;Kỳ 3&#160;&#160;Kỳ 4&#160;&#160;Kỳ 5&#160; Kỳ 6&#160;&#160;Kỳ 7&#160;&#160;Kỳ 8&#160;&#160;&#160;&#160;Kỳ 9&#160;&#160;Kỳ 10&#160; Kỳ 11&#160;Kỳ 12&#160;Kỳ 13&#160;Kỳ 14&#160;Kỳ 15&#160;Kỳ 16&#160;Kỳ 17&#160;Kỳ 18&#160;Kỳ 19 Kỳ 20 PHẦN II:&#160; VỀ MIỀN ĐẤT HỨA (tiếp theo kỳ 20) CHƯƠNG 2 – “Hoa tiêu” [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/02/cao-tao-sau-1975.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="502" height="335" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/02/cao-tao-sau-1975.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-60363" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/02/cao-tao-sau-1975-300x200.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/02/cao-tao-sau-1975.jpg?strip=all 502w" sizes="(max-width: 502px) 100vw, 502px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p class="has-text-align-center"><strong>CẢI TẠO NỬA MÙA – VƯỢT BIÊN TÀI TỬ (kỳ 21)</strong><br><strong><em>Hồi ký</em></strong><br><strong><em>Hoài Nam NGUYỄN HỮU THIỆN</em></strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong><em><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=42965" target="_blank">Kỳ 1</a>&nbsp;&nbsp;<a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=43227" target="_blank">Kỳ 2</a></em></strong>&nbsp;&nbsp;<a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=43638" target="_blank"><strong>Kỳ 3&nbsp;&nbsp;</strong></a><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=44071" target="_blank"><strong>Kỳ 4&nbsp;&nbsp;</strong></a><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=44448" target="_blank"><strong>Kỳ 5</strong></a><strong><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=44904" target="_blank">&nbsp; Kỳ 6&nbsp;&nbsp;</a></strong><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=45847" target="_blank"><strong>Kỳ 7&nbsp;&nbsp;</strong></a><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=46303" target="_blank"><strong>Kỳ 8&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</strong></a><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=48543" target="_blank"><strong>Kỳ 9&nbsp;&nbsp;</strong></a><strong><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=50357" target="_blank">Kỳ 10</a></strong>&nbsp;</p>



<p class="has-text-align-center"><a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-11/"><strong>Kỳ 11</strong></a>&nbsp;<strong><a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-12/">Kỳ 12</a></strong>&nbsp;<strong><a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-13/">Kỳ 13</a></strong>&nbsp;<a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-14/"><strong>Kỳ 14</strong></a>&nbsp;<a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-15/"><strong>Kỳ 15</strong></a>&nbsp;<strong><a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-16/">Kỳ 16</a></strong>&nbsp;<a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-17/"><strong>Kỳ 17</strong></a>&nbsp;<a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-18/"><strong>Kỳ 18</strong></a>&nbsp;<strong><a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-19/">Kỳ 19</a></strong> <a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-20/"><strong>Kỳ 20</strong></a></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>PHẦN II:&nbsp; VỀ MIỀN ĐẤT HỨA</strong></p>



<p><strong>(tiếp theo kỳ 20)</strong></p>



<p><strong>CH</strong><strong>ƯƠNG 2 – “Hoa tiêu” bất đắc dĩ</strong></p>



<p>Ngôi nhà rất rộng, dư sức cho hàng trăm người nằm, ngồi thoải mái nếu như cái sàn gỗ còn nguyên vẹn. Nhưng sau bao năm tháng bị bỏ hoang phế, sàn gỗ nhiều chỗ đã bị mục nát, thủng lỗ cho nên ông “đại diện tỵ nạn” đã phải năn nỉ những người tới trước thu hẹp “giang sơn” để có chỗ cho chúng tôi.</p>



<p>Thế là ghe của tôi bị chia năm xẻ bảy, mỗi nhóm ở một chỗ. Riêng gia đình tôi chậm chân nên chỉ còn một khoảng trống vừa gần lối ra vào vừa có một lỗ ván thủng, bước sơ ý là lọt chân xuống dễ như chơi!</p>



<p>Chúng tôi không chỉ là những người tới sau cùng mà còn là ghe nhỏ nhất, ít người nhất so với những ghe tới trước; tất cả đều là ghe dài trên 10 mét, máy 2, 3 lốc, từ Việt Nam đi thẳng tới hải phận Natuna và được ghe đánh cá của ngư dân Nam Dương chỉ đường cập vào đảo Sedanau. Trong số này có một ghe hầu hết khách là người Việt gốc Hoa, họ chỉ nói tiếng Hoa và nhìn các thuyền nhân khác bằng nửa con mắt!</p>



<p>Cũng nhờ bị nằm gần lối ra vào mà tôi có cơ hội làm quen với Mười Triêm, chủ chiếc ghe mới tới Sedanau trước chúng tôi mấy ngày, cho nên đa số người trong ghe của ông cũng bị nằm gần lối đi.</p>



<p>Mười Triêm, tuổi trên dưới 40, Nam kỳ đặc, dân tỉnh lẻ nhưng ra vẻ hiểu biết nhiều, tuy hơi ba hoa, mở miệng ra là “Đ.M.” nhưng là một người thật thà, vui tính. Trò chuyện qua lại, chúng tôi mới biết hai ghe chỉ “đánh” cách nhau một ngày: ghe chúng tôi ra đi đêm 15/10/1981 tại Lam Sơn còn ghe của Mười Triêm đi đêm 16 tại Cần Giờ.</p>



<p>Ngày ấy, những người tổ chức vượt biên ở vùng Sài Gòn, Bà Rịa đều biết Cần Giờ là địa điểm lý tưởng nhất với điều kiện phải có nhiều vàng để lo bến bãi, nơi ghe “taxi” đón khách để đưa ra ghe lớn.</p>



<p>Vào khoảng thời gian chúng tôi ra đi (năm 1981), những ghe đi từ Cần Giờ thường lấy mỗi đầu khách 5, 6 cây vàng so với giá trung bình 3 cây ở những nơi khác.</p>



<p>Bù lại, việc đưa đón khách, bến bãi được bảo đảm gần như 100%, trừ trường hợp công an ăn chia không đều tìm cách phá nhau, nhưng rất hiếm khi xảy ra ở Cần Giờ.</p>



<p>Ghe vượt biên cũng có kích thước lớn hơn, động cơ mạnh hơn. Chẳng hạn ghe của Mười Triêm dài tới 12 mét và được trang bị động cơ Yanmar 2 lốc “đầu bạc”, tức là mạnh gần gấp ba lần cái động cơ F10 của chúng tôi.</p>



<p>Ngoài kích thước và máy mạnh, ghe của Mười Triêm còn có hoa tiêu xịn, tài công kinh nghiệm vậy mà vẫn tới Nam Dương sau chúng tôi mấy ngày!</p>



<p>Nguyên nhân: phải tấp vào Côn Sơn tránh bão!</p>



<p>Nhắc lại, ghe chúng tôi rời Lam Sơn đêm 15 rạng 16/10/1981 và tới ngày 17, 18/10 thì gặp bão cấp 3 khi đang ở giữa biển, chỉ biết phó thác cho trời; còn nghe Mười Triêm rời Cần Giờ đêm 16, qua ngày 17 gặp bão, phải tấp vào Côn Sơn. <em>(Bão cấp 3 ngày ấy tương đương với cấp 7 theo cách gọi hiện nay)</em></p>



<p>Như tôi đã viết trước đây, vào năm 1979, sau khi Đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo được thành lập, ngành công an biên phòng đã thống nhất hoạt động từ duyên hải Vũng Tàu xuống tới đảo Côn Đảo (trước kia thuộc tỉnh Hậu Giang) để kiểm soát các cuộc ra đi bán chính thức và đối phó với phong trào vượt biên bất hợp pháp.</p>



<p>Tới năm 1981, khi không còn việc ra đi bán chính thức nữa và việc “bán” bến bãi cho ghe ra đi bất hợp pháp đã trở thành “dịch vụ” chính của công an biên phòng, việc “săn mồi” ngoài khơi Đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo hầu như chấm dứt. Nói cách khác, các ghe vượt biên đi từ Vũng Tàu xuống tới Côn Đảo không còn lo sợ bị tàu thuyền của công an biên phòng “dí” nữa.</p>



<p>Nhưng nếu gặp bão phải tấp vào Côn Sơn như ghe của Mười Triêm lại là chuyện khác. Theo hồi ký cũng như lời kể lại của những người từng phải tấp vào Côn Sơn thì tùy trường hợp mà có khi thoát nạn có khi tàn đời!</p>



<p>Nếu là ghe “nhà giàu” và biết thân biết phận nộp vàng sớm cho công an hoặc bộ đội biên phòng ngay sau khi vào bờ thì thường được ra đi sau khi hết bão, nhưng ghe “nhà nghèo” không có vàng để nộp thì ghe bị tịch thu, người bị tống giam để chờ người nhà tới chuộc, không chuộc thì bị đưa tới các trại cải tạo để lao động khổ sai. Bi thảm nhất là trường hợp các cô gái trẻ và các thiếu phụ có nhan sắc bị đưa về huyện, tỉnh giam giữ đã bị công an, cán bộ cao cấp cưỡng hiếp. <strong><em>(1)</em></strong></p>



<p>Giờ này tôi không còn nhớ ngày ấy mỗi đầu người trên ghe Mười Triêm phải chi cho công an mấy cây vàng, chỉ biết nhờ chi sớm, nội vụ không bị báo cáo lên huyện ủy (Côn Đảo), ngay sau khi dứt bão ghe đã được “thả” vào đêm hôm đó, và thẳng đường tới Natuna, được ngư dân Nam Dương hướng dẫn vào đảo Sedanau.</p>



<p>Khi nghe tôi kể ghe chúng tôi chỉ dài 7 mét rưỡi, động cơ F10 mà dám ra khơi vào giữa mùa bão, Mười Triêm đã lắc đầu le lưỡi; tới khi tôi kể về hai ngày chống trả với bão cấp 3, ông ta nói:</p>



<p>&#8211; Nếu tui không đi sau mấy cha một ngày, bị bão phải tấp vào Côn Sơn, chắc chắn tui không tin. Mấy cha liều mạng thiệt!</p>



<p>Nghe Mười Triêm nói, tôi nhớ lại những lúc từ trên ngọn sóng nhìn xuống vực thẳm trước mặt, hoặc bị những con sóng cao mấy mét phủ xuống nghe mà rùng mình!</p>



<p>Đồng thời tôi cũng nghiệm ra những gì ông anh họ vợ nói là đúng: ghe lớn sóng lớn: nếu là chiếc ghe dài hơn 12 mét của Mười Triêm, nó có thể bị những con sóng liên tiếp đánh lật ghe, bể ghe như đã xảy ra cho biết bao “ghe lớn” khác!</p>



<p>* * *</p>



<p>Vì phần lớn diện tích của căn nhà sàn đã bị những người tới trước chiếm hữu, chúng tôi phải nấu nướng ngay tại chỗ nằm của mình. Mỗi hộ được cấp phát một cái bếp dầu hôi, tương tự những cái bếp ở Sài Gòn trước năm 1975, và một, hai cái nồi nhỏ.</p>



<p>Về thực phẩm, chúng tôi được cấp phát gạo và đồ hộp. Đồ hộp ở đây không phải tiêu chuẩn của Cao ủy Tỵ nạn ở các trại tỵ nạn mà do nhà chức trách địa phương cung cấp cho nên chỉ có một món duy nhất là cá hộp với phẩm chất thuộc hàng thấp nhất, vậy mà cũng không đủ ăn!</p>



<p>Nhưng với những người đi nghe Mười Triêm và mấy ghe tới trước thì không có vấn đề, bởi đa số là người Việt gốc Hoa hoặc người Việt có nhiều vàng mang theo, chỉ cần đi mấy bước ra tiệm chạp phô thì cái gì cũng có!</p>



<p>Đó là một trong những cửa tiệm, hàng quán trên con đường từ bến tàu đi ngang qua nơi thuyền nhân tạm trú, chủ nhân đa số là người gốc Hoa.</p>



<p>Thời gian này, Sedanau chưa được chính thức mang danh một “city” (như anh sinh viên và người phụ tá của ông cáp-ten thường gọi) , chưa phát triển thành hòn đảo du lịch nổi tiếng như ngày nay, được gọi là một “floating city” với những căn nhà (bungalow) trên biển san hô trong suốt dành cho khách du lịch, nhưng người Hoa thì đã hiện diện từ đời nào và làm chủ nhiều hàng quán trên con đường chính của hòn đảo.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/11/sedanau_island-ngay-nay.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="650" height="272" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/11/sedanau_island-ngay-nay.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-67009" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/11/sedanau_island-ngay-nay-300x126.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/11/sedanau_island-ngay-nay.jpg?strip=all 650w" sizes="(max-width: 650px) 100vw, 650px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><strong><em>Sedanau ngày nay: floating city</em></strong><em></em></p>



<p>Giờ này, tôi vẫn còn nhớ trong ba cửa hàng gần đó có tới hai là của người gốc Hoa, một tiệm chạp phô và một tiệm bán trang sức, vàng bạc (dân Nam Dương là chúa thích đeo vàng), tiệm còn lại là của người Nam Dương chuyên bán quần áo, giày dép, túi xách&#8230;</p>



<p>Theo sự mách bảo của đám thuyền nhân gốc Hoa, chúng tôi có thể mang vàng ra tiệm trang sức bán lấy tiền Nam Dương để tiêu dùng.</p>



<p>Ngày mới lên đảo Pulau Laut, vì lo sợ viển vông, bà chị vợ tôi đã nhờ cô em đeo dùm một cái nhẫn (kim cương) hạt tấm. Tới Sedanau, bà chị nói cho luôn cái nhẫn ấy, bán đi lấy tiền chi dùng.</p>



<p>Tiệm bán trang sức định giá chiếc nhẫn 20.000 rupiah (tiền Nam Dương).</p>



<p>Thời gian này, chúng tôi hoàn toàn không có một chút ý niệm về giá trị của đồng rupiah so với đồng đô-la Mỹ. Hiện nay, sau cuộc khủng hoảng kinh tế ở Á châu trong thập niên 1990, đồng rupiah bị mất giá thê thảm, tới năm 2022 một đô-la Mỹ ăn tới 15,000 rupiah, nhưng vào năm 1981 tại trại tỵ nạn Galang, theo tôi nhớ thì một đô-la Mỹ chỉ ăn 500 rupiah.</p>



<p>Trở lại thời gian ở Sedanau, chúng tôi chỉ biết tính giá trị của đồng rupiah qua việc mua bán tại các cửa tiệm, chẳng hạn một gói thuốc lá hiệu Hero – loại thuốc đầu lọc tương đối rẻ tiền của Nam Dương – giá chỉ 200 rupiah, một hộp pa-tê khoảng 300 gr giá 150 rupiah&#8230; Như vậy, với gia đình bé nhỏ của tôi, số tiền 20.000 rupiah cũng khá lớn, dè sẻn cũng cầm cự được cả tháng.</p>



<p>* * *</p>



<p>Với mọi người trong ghe của tôi, cuộc sống ở Sedanau tương đối thoái mái và thú vị hơn Pulau Laut. Điều bực mình duy nhất là diện tích sàn nhà dành cho đám “ma mới” chúng tôi vừa chật hẹp vừa có nhiều chỗ ván bị mục. Một ngày nọ, đứa con gái 7 tuổi của tôi vô ý bị lọt xuống một lỗ ván mục, may phước sao còn kẹt lại cái đầu và một cánh tay, sau này suốt đời mang một cái thẹo ở cằm.</p>



<p>Với đám trai trẻ và con nít thì thú tiêu khiển duy nhất là tắm biển. Thực ra “biển” ở đây chỉ là khoảng trống giữa ngôi nhà sàn và cái cầu tàu dành cho ghe đánh cá, mỗi bề khoảng 50 m; không có san hô, chỉ có ít đá ngầm.</p>



<p>Các bà các cô thì ra “phố”, tức con đường chính của Sedanau, nhưng đa số chỉ vào tiệm chạp phô, còn các cửa tiệm quần áo, trang sức&#8230; thì đứng bên ngoài “window shopping”.</p>



<p>Một ngày nọ, tôi rủ tài công Lý đi ra “city” mà anh sinh viên và người phụ tá của ông cáp-ten thường nhắc tới. Theo lời mấy người chủ tiệm người Hoa, cứ theo con đường chính sẽ tới city.</p>



<p>Sau khi ra khỏi khu hàng quán, hai bên đường chỉ còn một màu xanh của vườn tược, phía trong là những căn nhà dân thấp thoáng sau những hàng dừa cao vút. Dù nhà nào cũng lợp tôn chứ không lợp ngói nhưng vì dừa ở đây cao như những cây cau ở Việt Nam, cảnh trí đã khiến tôi liên tưởng tới đường đi Lái Thiêu, mà ngày chưa vào quân đội, tôi thường cùng mấy tay bạn chở đào đi chơi cuối tuần.</p>



<p>Đi khoảng một cây số đã thấy mỏi chân mà nhìn về phía trước thấy những ngôi nhà lầu của “city” vẫn còn xa tít, chúng tôi quyết định bỏ cuộc!</p>



<p>* * *</p>



<p>Ngay sau khi tới Sedanau và làm quen với Mười Triêm, tôi đã hỏi&nbsp; ông ta có biết gì, hoặc nghe nói gì về tương lai người tỵ nạn đang tạm trú trên hòn đảo này không, thì ông ta lắc đầu.</p>



<p>Nhưng không chỉ có Mười Triêm mà kể cả những người đã ở Sedanau lâu nhất (gần 3 tháng) cũng không biết gì. Còn ông “đại diện tỵ nạn” đã nhắc tới ở trên thực ra chỉ có nhiệm vụ nhận lương thực và phân phối cho mọi người. Viên chức Nam Dương duy nhất mà ông ta có thể tìm gặp trong trường hợp khẩn cấp là viên cảnh sát ở văn phòng bến tàu.</p>



<p>Về phần ông cựu “trung sĩ người nhái” thỉnh thoảng có ghé chơi nhưng chủ yếu là để show-off với đám con nít chứ cũng chẳng biết gì về những điều chúng tôi muốn biết.</p>



<p>Trong bối cảnh ấy, lại có những tin đồn được loan truyền trong nội bộ người tỵ nạn nói rằng tất cả mọi thuyền nhân đang tạm trú trên đảo Sedanau sẽ bị Nam Dương trả về Việt Nam! Khỏi nói, tin đồn này đã gây hoang mang, lo sợ không ít.</p>



<p>Vì đồn qua đồn lại, người ta không được biết đích xác nguồn gốc của tin đồn này mà chỉ nghe kể là do các chủ hàng quán người Hoa ở Sedanau nói với một vài thuyền nhân Việt gốc Hoa nào đó.</p>



<p>Cho tới sau này tôi vẫn không tin rằng các chủ hàng quán người Hoa ở một hòn đảo xa xôi như Sedanau lại được biết, hoặc quan tâm theo dõi chính sách của chính phủ Nam Dương đối với người tỵ nạn Việt Nam. Vì thế nếu quả thực có người trong bọn họ (các chủ hàng quán) tung ra tin trên thì cũng chỉ là nghe lóm các viên chức Nam Dương nói chuyện với nhau câu được câu chăng, rồi kể lại với thuyền nhân Việt gốc Hoa, không quên thêm thắt cho ly kỳ rùng rợn!&nbsp;</p>



<p>Rốt cuộc chúng tôi được nghe nhiều phiên bản khác nhau, trong đó ra vẻ có lý nhất là bắt đầu từ năm 1981, Cao ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc chỉ nhận những thuyền nhân đi thẳng tới các tại tỵ nạn ở Đông Nam Á, hoặc được tàu vớt đưa tới các trại này.</p>



<p>Nghĩa là riêng tại Nam Dương, chỉ những thuyền nhân nào đi thẳng tới trại tỵ nạn trên đảo Kuku hay đảo Galang thì mới được nhận. Còn những người tới các đảo khác, chẳng hạn Sedanau, thì bị xem là di dân bất hợp pháp, sẽ bị trả về Việt Nam.</p>



<p>Bên cạnh đó còn có tin đồn nói rằng tùy điều kiện và nhu cầu ở mỗi địa phương, nhà cầm quyền sở tại có thể cho phép người tỵ nạn ở lại Nam Dương sinh sống.</p>



<p>Riêng bản thân tôi, mặc dù từ khi được thả về vào đầu năm 1981 cho tới khi vượt biên vào giữa tháng 10, trong vô số tin đồn thất thiệt được loan truyền tại miền Nam VN vào “thời đại tin đồn” tôi không hề nghe tin đồn quái ác này, giờ đây cũng không tránh khỏi hoang mang, lo ngại!</p>



<p>Càng hoang mang, lo ngại hơn khi nhớ tới việc mấy đứa con bà chị vợ tôi được ngư dân Nam Dương kéo vào đảo Pulau Laut cách đây hai năm, sau hơn một tuần ở trên đảo đã được đưa thẳng tới trại tỵ nạn ở Kuku, trong khi chúng tôi thì bị đưa tới Sedanau!</p>



<p>* * *</p>



<p>Sau hai tuần lễ sống trong hoang mang, chúng tôi được thông báo ngày mai sẽ có tàu tới đón. Đón đi đâu, không ai biết!</p>



<p>Khoảng 9 giờ sáng hôm sau, đoàn người được dẫn ra bến tàu. Vừa tới cổng vào cầu tàu, chúng tôi đã thấy một chiếc tàu lớn cập sẵn ở bến.</p>



<p>Ra tới nơi, tôi thấy đó là một chiếc tàu chở hàng dài khoảng 5, 6 chục mét, phía mũi tàu sơn cái tên rất đẹp: Flora.</p>



<p>Các viên chức Nam Dương trước đây đón chúng tôi tới Sedanau, nay đã đợi sẵn. Anh chàng trung sĩ người nhái cũng có mặt, vui vẻ từ giã chúng tôi nhưng khi tôi hỏi anh có biết chúng tôi sẽ được đưa đi đâu không, anh ta lắc đầu!</p>



<p>Toàn bộ thủy thủ đoàn của tàu Flora là người tây phương, sau này tôi được biết họ là người Đức trong một tổ chức thiện nguyện được thành lập để vớt người tỵ nạn Việt Nam trên biển Đông.</p>



<p>Khi chúng tôi lên tàu thì đã có sẵn một số người tỵ nạn Việt Nam ở trên đó, gồm những người may mắn được tàu Flora vớt ngay trên biển, một số khác được tàu buôn vớt rồi “bàn giao” cho tàu Flora, một số cập vào các giàn khoan, cùng một số cập vào các đảo khác trong quần đảo Natuna.</p>



<p>Một người đã ở trên tàu Flora hơn một tuần cho tôi biết tàu sẽ chở đoàn người tới đảo Kuku. Ông cũng kể với tôi việc mọi người trên ghe của ông thoát chết nhờ gặp tàu Flora đúng lúc.</p>



<p>Nguyên chiếc ghe của ông từ Kiên Giang đi Mã Lai nhưng khi tới gần bờ đã bị tàu của hải quân Mã Lai chặn lại và kéo ra hải phận quốc tế. Sau khi trở ra khơi ghe gặp bão lớn, sắp chìm thì may mắn được tàu Flora vớt.</p>



<p>Ngày ấy, tôi đã hết sức ngạc nhiên và bất bình khi được nghe kể về hành động này của hải quân Mã Lai. Chỉ sau khi định cư tại Úc, đọc hồi ký của người Việt tỵ nạn hoặc tin tức trên các trang mạng mới biết những trường hợp bị kéo ra hải phận quốc tế vẫn còn may mắn, bởi có những ghe bị “ủi” cho chìm, hoặc bị tấn công bằng súng đạn.</p>



<p>Tới năm 1992, tôi còn được xem cuốn phim “Turtle Beach” trong đó có cảnh người Mã Lai tàn sát người tỵ nạn Việt Nam một cách không gớm tay.</p>



<p><em>[</em><strong><em>Turtle Beach</em></strong><em>, hay <strong>The Killing Beach</strong>, là một sản phẩm Úc-Mỹ, truyện phim phỏng theo cuốn truyện có cùng tựa của nữ văn sĩ Úc Blanche d&#8217;Alpuget, xuất bản năm 1981. Cuốn phim đã gây căng thẳng ngoại giao giữa hai quốc gia vì tính cách man rợ trong cảnh đoàn người trang bị gươm đao, mã tấu, tàn sát thuyền nhân vừa đặt chân lên bãi biển.</em></p>



<p><em>Thời gian này, bà Blanche d&#8217;Alpuget đang phục vụ tại Phòng Thông Tin của sứ quán Úc ở Nam Dương, đã bỏ một năm trời sang Mã Lai tìm hiểu, thu thập dữ kiện để viết cuốn truyện. Năm 1995, bà trở thành đời vợ thứ hai của cựu Thủ tướng Úc Bob Hawke]</em></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/11/turtle-beach.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="464" height="712" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/11/turtle-beach.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-67010" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/11/turtle-beach-196x300.jpg 196w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/11/turtle-beach.jpg?strip=all 464w" sizes="(max-width: 464px) 100vw, 464px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><strong><em>Turtle Beach movie</em></strong></p>



<p>* * *</p>



<p>Tới trưa, chúng tôi được ăn cơm do toán “anh nuôi” người Đức và một số thuyền nhân tình nguyện nấu nướng. Bữa cơm chỉ có một món duy nhất là thịt hộp nhưng rất ngon miệng. Có thể vì đây là thịt hộp “cao cấp” (của Đức), cũng có thể vì được biết mình đang trên đường đi tới đảo Kuku, hoặc vì cả hai nguyên nhân.</p>



<p>Sau khoảng 5 tiếng đồng hồ đi về hướng tây tây nam, chúng tôi nhìn thấy nhiều hòn đảo lớn nhỏ ở cuối chân trời. Sau này tìm hiểu qua sách vở, bản đồ, tôi được biết đó là quần đảo Anambas, cách quần đảo Natuna khoảng 250 km về hướng tây tây nam. Về hành chánh, ngày nay cả hai quần đảo này đều là cấp hạt (regency) của tỉnh Riau nhưng ngày ấy Anambas còn là một quận (district) của hạt Natuna.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/11/Natuna-Anambas-kuku.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="727" height="567" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/11/Natuna-Anambas-kuku.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-67011" style="width:649px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/11/Natuna-Anambas-kuku-300x234.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/11/Natuna-Anambas-kuku.jpg?strip=all 727w" sizes="(max-width: 727px) 100vw, 727px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><strong><em>Bản đồ Anambas &#8211; Natuna</em></strong></p>



<p>So sánh về mọi mặt, Anambas không bằng Natuna. Phong cảnh ở Natuna đẹp hơn, dân cư đông hơn và văn minh hơn&#8230;</p>



<p>Nhưng chiếc tàu Flora không tiến thẳng vào quần đảo Anambas mà lại đi lên hướng bắc rồi mới vòng xuống phía nam, len lỏi qua nhiều hòn đảo lớn nhỏ và cuối cùng cập vào đảo Kuku.</p>



<p>Kuku là một hòn đảo nhỏ, nằm ở hướng tây nam trong quần đảo Anambas. Khác với đảo Sedanau ở quần đảo Natuna có diện tích lớn hơn, có dân cư, phố xá, Kuku là một hoang đảo đúng nghĩa!</p>



<p>Nguyên vào năm 1979, để có chỗ đón nhận thuyền nhân Việt Nam ồ ạt ra đi &#8211; đa số đi “bán chính thức” &#8211; cùng một số vượt biên bất hợp pháp, chính quyền Nam Dương đã phải thiết lập một trung tâm tạm trú trên đảo Kuku trong thời gian chờ đợi được đưa tới trại tỵ nạn Galang.</p>



<p>Theo một số nhân viên thiện nguyện từng phục vụ tại Kuku, trong hai năm 1979, 1980, vào thời gian cao điểm, số thuyền nhân ở hoang đảo này lên tới mấy ngàn người.</p>



<p>Còn theo con số chính thức của Cao ủy Tỵ nạn LHQ, trước sau đã có trên dưới 40,000 thuyền nhân Việt Nam tới Kuku, và một số ít hơn được đưa tới đảo Pulau Air Raya ở gần đó, khi Kuku không còn chỗ chứa.</p>



<p>Vì trên danh nghĩa chỉ là một nơi tạm trú do chính quyền Nam Dương thiết lập chứ không phải trại tỵ nạn của Cao ủy Tỵ nạn LHQ, Kuku không được (Cao ủy Tỵ nạn LHQ) cung cấp một ngân khoản nào để sử dụng vào việc xây dựng cơ sở vật chất, ngoài những tấm nylon lớn để làm mái che, và thuyền nhân phải tự cất nhà bằng cây rừng, cũng có những thuyền nhân “nhà giàu” bỏ tiền thuê mướn người khác cất nhà cho mình.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/11/kuku-gaylord1.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="960" height="671" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/11/kuku-gaylord1.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-67013" style="width:694px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/11/kuku-gaylord1-300x210.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2023/11/kuku-gaylord1-768x537.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/11/kuku-gaylord1.jpg?strip=all 960w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><strong><em>&#8211; Những căn lều ở Kuku (1981) &#8211; hình: Gaylord Barr)</em></strong></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/11/kuku-gaylord2.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="960" height="635" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/11/kuku-gaylord2.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-67014" style="width:692px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/11/kuku-gaylord2-300x198.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2023/11/kuku-gaylord2-768x508.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/11/kuku-gaylord2.jpg?strip=all 960w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><strong><em>&#8211; Những chiếc ghe tới thẳng Kuku &#8211; hình: Gaylord Barr</em></strong></p>



<p>Cho nên nhìn vào khu vực tạm trú của thuyền nhân ở Kuku, người ta có thể một sự tương phản rõ rệt: từ những ngôi nhà tươm tất tới những túp lều lụp xụp.</p>



<p>Nghe kể lại vào thời gian cao điểm (hai năm 1979, 1980), những ngôi nhà xịn ấy thường được người đi trước sang lại cho người tới sau với cái giá có khi lên tới cả cây vàng!</p>



<p>* * *</p>



<p>Từ xa xa, nhìn vào đảo Kuku đã thấy nản, tới gần càng nản hơn; nguyên nhân chính là hòn đảo này thực ra chỉ là một ngọn núi nhô lên mặt biển, cây rừng dày đặc, ven bờ không xanh tốt như ở Pulau Laut mà chỉ lưa thưa vài cây dừa khiến khung cảnh đã không có một chút thu hút mà còn như hăm dọa.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/11/kuku-1981-gaylord_kukucamp_63.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="960" height="637" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/11/kuku-1981-gaylord_kukucamp_63.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-67012" style="width:640px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/11/kuku-1981-gaylord_kukucamp_63-300x199.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2023/11/kuku-1981-gaylord_kukucamp_63-768x510.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/11/kuku-1981-gaylord_kukucamp_63.jpg?strip=all 960w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><strong><em>Đường vào đảo Kuku (1981) – hình:&nbsp; Gaylord Barr</em></strong></p>



<p>Tàu Flora tiến vào một cái vịnh nho nhỏ đầy đá ngầm; còn cách bờ biển khoảng 1 km, tàu thuyền phải đi giữa hai hàng cọc để vào bờ, nếu không có thể đụng đá ngầm.</p>



<p>Tàu cập bến, một cái bến nho nhỏ cách bờ khoảng 200m, tại đây chúng tôi được các nhân viên Nam Dương hướng dẫn đi bộ vào bờ trên một cái cầu gập ghềnh làm bằng cây rừng, phía trong có hai cánh cổng gỗ.</p>



<p>Tại cổng, chúng tôi thấy hàng trăm người tỵ nạn tới đảo trước đã đợi sẵn, chen chúc nhau để xem trong đám người mới tới có ai quen biết không&#8230;</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/11/kuku-gaylord3.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="960" height="511" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/11/kuku-gaylord3.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-67016" style="width:640px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/11/kuku-gaylord3-300x160.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2023/11/kuku-gaylord3-768x409.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/11/kuku-gaylord3.jpg?strip=all 960w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<h5 class="wp-block-heading has-text-align-center">Cổng vào Kuku (1981) – hình: Gaylord Barr</h5>



<p>Chúng tôi lần lượt vào từng người để nhân viên Nam Dương đếm tổng số người vừa tới đảo, sau đó qua thủ tục khám xét, khám sức khỏe và lập danh sách.</p>



<p>Đáng nói nhất là thủ tục khám xét, qua đó chúng tôi mới thấy giữa những người đàn ông Nam Dương trên “hoang đảo” Pulau Laut và những viên cảnh sát Nam Dương trên “hoang đảo” Kuku khác xa nhau một trời một vực!</p>



<p>Hành lý họ (cảnh sát Nam Dương) chỉ lục xét qua loa nhưng tới khi khám người thì họ chiếu cố thân thể các nữ thuyền nhân trẻ một cách tận tình và cực kỳ nham nhở, khiến ai cũng phải đỏ mặt, một số bà cô đã phải la lên, nhưng ai bênh mình đây?</p>



<p>Đành phải cắn răng chịu nhục! Câu nói “Freedom Is Not Free” áp dụng vào trường hợp này quả thật chính xác tới mức mỉa mai!</p>



<p>Nhưng dù sao đi nữa những nữ thuyền nhân tới Kuku vào thời gian này vẫn còn may mắn hơn nhiều so với những người tới sau ngày các quốc gia Đông Nam Á bắt đầu xua đuổi thuyền nhân, và Cao ủy Tỵ nạn LHQ áp dụng thủ tục “thanh lọc” (bắt đầu năm 1989), người nào không hội đủ tiêu chuẩn “tỵ nạn” sẽ phải tình nguyện hoặc bị cưỡng bách trở về Việt Nam.</p>



<p>Theo tự truyện của số nữ thuyền nhân ở Kuku vào khoảng thời gian này thì từ đầu thập niên 1990, cảnh sát Nam Dương ở Kuku lộng hành, tự do đánh đập thuyền nhân, ngang nhiên vào các lều lôi nữ thuyền nhân vào rừng hãm hiếp!</p>



<p>Trong khi vào thời gian chúng tôi ở Kuku, ít ra đám cảnh sát Nam Dương cũng còn phải nể mặt vị Thiếu tá Chỉ huy trưởng là người của Quân đội Nam Dương, nghe nói trước kia từng phục vụ tại Việt Nam trong Ủy Ban Liên Hợp 4 Bên sau Hiệp định Paris 1973.</p>



<p>* * *</p>



<p>Xong thủ tục nhập trại thì đã 4, 5 giờ chiều, chúng tôi được hướng dẫn đi tìm chỗ ở. Thời gian này số người tỵ nạn ở Kuku chỉ còn khoảng trên một ngàn (theo sự ước đoán của tôi) cho nên có khá nhiều lều bỏ trống, người mới tới được tự do lựa chọn. Tôi vốn là người chậm chạp, không thích bon chen, gia đình lại chỉ có bốn mạng cho nên vào đại một cái lều nhỏ ở gần bờ biển mà ai cũng chê vì vừa xiêu vẹo vừa trống trải, cũng may mà hai cái chõng còn sử dụng được.</p>



<p>Sau khi đã “an cư”, những ghe mới tới được kêu đi lãnh nồi niêu, chén đũa, lò nấu, gạo, đồ hộp, chăn mền&#8230;, và nhang đuổi muỗi (ở Kuku có rất nhiều muỗi).</p>



<p>Qua ngày hôm sau, tôi mới bắt chước thiên hạ đi tới những căn nhà, căn lều bỏ trống khác tìm kiếm vật liệu về tu bổ cái lều của mình.</p>



<p>Tới đây xin có đôi dòng về “hoang đảo” Kuku và cuộc sống ở hòn đảo đầu tiên có sự hiện diện của Cao ủy Tỵ nạn.</p>



<p>Hiện nay, nếu vào trang Google với từ khóa “Kuku” chúng ta sẽ thấy những địa danh du lịch như Kuku Beach ở Tân-tây-lan, Kuku Beach ở Solomon Islands (châu Đại dương), Kuku Campers ở Băng Đảo&#8230; nhưng không có đảo Kuku ở Nam Dương.</p>



<p>Nguyên nhân rất đơn giản: sau khi các trại tỵ nạn ở Đông Nam Á bị đóng cửa, những thuyền nhân Việt Nam cuối cùng bị cưỡng bách hồi hương vào cuối thập niên 1990 thì đảo Kuku lại trở thành một hoang đảo như trước kia.</p>



<p>Thành thử phải đánh máy đầy đủ mấy chữ “Kuku Refugee Camp” thì mới hiện ra một, hai bài viết về quần đảo Anambas trong có vài hàng nhắc tới trại tỵ nạn Kuku năm xưa, đồng thời giới thiệu bài viết Kuku Refugee Camp của nhân viên thiện nguyện <strong>Gaylord Barr</strong> (tôi sẽ nhắc tới ở một đoạn sau).</p>



<p>Thực ra, hiện nay gọi Kuku là một “hoang đảo” cũng chỉ đúng 99%, bởi vì thỉnh thoảng cũng có một vài người Việt trở lại thăm chốn xưa, cho dù chốn xưa nay chỉ còn là những khu rừng thưa vắng vẻ, một cái nghĩa trang hoang tàn. Trên bãi cát có một cái cổng thô sơ với hàng chữ:</p>



<p>WELCOME TO EX VIETNAMESE REFUGEE CAMP</p>



<p>KUKU &#8211; JEMAJA ISLAND</p>



<p>ANAMBAS ARCHIPLEGO REGENCY</p>



<p>phía bên trong có mấy mũi tên chỉ đường và một cái lều lợp lá để “du khách” tránh cái nắng cháy da của vùng xích đạo.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/11/Kuku-Island-anambas-3.jpeg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="500" height="428" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/11/Kuku-Island-anambas-3.jpeg?strip=all" alt="" class="wp-image-67015" style="width:632px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/11/Kuku-Island-anambas-3-300x257.jpeg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/11/Kuku-Island-anambas-3.jpeg?strip=all 500w" sizes="(max-width: 500px) 100vw, 500px" /></a></figure></div>


<h5 class="wp-block-heading has-text-align-center">Kuku ngày nay</h5>



<p>Đó là tất cả những gì còn hiện hữu trên đảo Kuku, nơi trước đây trên dưới 40,000 thuyền nhân Việt Nam đã tạm trú trong thời gian chờ đợi được đưa tới trại tỵ nạn Galang, trong số đó có những người đã vĩnh viễn nằm lại ở hòn đảo xa lạ này&#8230;</p>



<p>Trở lại với trại tỵ nạn Kuku vào năm 1981, theo ký ức của tôi và những chi tiết trên tấm “bản đồ” được một thuyền nhân vẽ vào cuối thập niên 1980, trại nằm trên bờ biển hình vòng cung của một cái vịnh nho nhỏ (bề ngang khoảng 1 km), nhìn về hướng bắc.</p>



<p>Chính giữa là bến tàu và cầu tàu dẫn vào bờ. Bên cạnh cầu tàu là đồn cảnh sát Nam Dương. Băng qua một con đường đất là khu lều của người tỵ nạn. Ở vòng cung phía bên trái, cách đó vài trăm mét là một ngôi nhà lớn lợp tôn, gồm Văn phòng chỉ huy trưởng Trại, Phòng Xã Hội Nam Dương, Văn phòng (không thường trực) của Cao ủy Tỵ nạn&#8230; Nằm giữa các cơ sở này và cầu tàu là một bãi cát, nơi người tỵ nạn được phép tắm biển và cũng nơi tập trung toàn trại khi cần.</p>



<p>Ở vòng cung phía bên phải, đầu tiên là nhà kho nơi lãnh vật dụng và nhu yếu phẩm, kế tới là các vòi tắm lộ thiên dành cho nam giới. Phía trước nhà kho và các vòi tắm lộ thiên là bờ biển với những hòn đá lớn nhỏ chạy dài tới gần cuối vòng cung, nơi có mấy dãy cầu tiêu lộ thiên theo kiểu “cầu tõm”, tức cầu tiêu trên ao cá tra, trên bờ sông lạch ở Việt Nam.</p>



<p>Các vòi tắm có vách lá vây quanh dành cho nữ giới thì nằm ở phía sau khu lều ở. Qua các vòi tắm này vào tới ven rừng là nhà máy điện, gần đó là nhà thờ Công giáo “dã chiến” làm bằng cây rừng. Vào sâu hơn nữa là nghĩa trang Kuku, còn được gọi là “Kuku 2”.</p>



<p>* * *</p>



<p>Cuộc sống của người tỵ nạn ở Kuku về mặt vật chất, nếu quên đi những cái lều lụp xụp thì đầy đủ, thoải mái hơn ở Sedanau nhiều.</p>



<p>Về lương thực, chúng gôi được cấp phát gạo, cá hộp, thịt vịt hộp, mì gói, đậu xanh nguyên hạt&#8230; Trong khi chất lượng của đồ hộp và mì gói không được cao cho lắm thì gạo lại thường dư thừa bởi khẩu phần được phát tính đổ đồng trên mỗi đầu người khá cao; nhất là những gia đình có con nít, lại càng dư.</p>



<p>&nbsp;Số gạo dư nói trên có thể sử dụng để trao đổi lấy cá tươi, rau cỏ, mắm muối với dân Nam Dương.</p>



<p>&nbsp;Trên nguyên tắc, người dân Nam Dương ở các đảo kế cận không được tới đảo Kuku, và ngược lại người tỵ nạn cũng bị cấm tiếp xúc với người dân Nam Dương nếu họ tới đảo, nhưng trên thực tế trong đa số trường hợp, các nhân viên cảnh sát dân Nam Dương đã ngó lơ trước các vụ vi phạm xảy ra hầu như mỗi ngày, mà theo suy đoán của tôi chắc dân Nam Dương phải có “quà cáp” cho cảnh sát.</p>



<p>&nbsp;Trước hết nói về rau cỏ hoa trái, mắm muối&#8230;, cứ mỗi buổi sáng, khoảng 9, 10 giờ, lại có một hai chiếc ghe nhỏ tiến vào bờ đáởphía bên phải (trên đường đi ra dãy cầu tiêu lộ thiên), người tỵ nạn nào muốn mua bán (bằng tiền Nam Dương), hoặc đổi gạo lấy rau tươi, đường, muối&#8230; thì ra đó mua bán, trao đổi.</p>



<p>Còn cá tươi thì phải đợi tới chiều, sau khi các ghe đánh cá của ngư dân Nam Dương ở các đảo kế cận trở về bến, họ mới lấy một số cá bỏ lên ghe nhỏ chạy tới Kuku để ưu tiên đổi lấy gạo, còn dư mới bán.</p>



<p>Thành thử dù giàu dù nghèo, nếu bỏ công ra bờ đá chờ, người tỵ nạn ở Kuku thỉnh thoảng cũng có được một bữa cá tươi!</p>



<p>Còn món rau phổ biến nhất ở Kuku là giá đậu xanh làm từ đậu xanh được cấp phát đựng trong bao ni-lông. Dĩ nhiên, đậu xanh nấu chè là nhất nhưng tìm đâu ra đường để nấu chè, cho nên chỉ có cách tiêu thụ là làm giá sống!</p>



<p>* * *</p>



<p>Nhưng về mặt tinh thần thì rất buồn chán và khá căng thẳng.</p>



<p>Buồn chán vì sống tù túng mà không có gì để giải khuây, thậm chí một cái sân bóng chuyền cũng không có, chẳng lẽ cứ tắm biển suốt ngày!</p>



<p>Cũng có những thanh thiếu niên lén rủ nhau vào rừng thám hiểm, tìm hái sầu riêng mọc hoang nhưng số này cũng chẳng có bao nhiêu vì rừng ở Kuku là rừng già dày đặc, âm u đầy sức hăm dọa.</p>



<p>Riêng tôi cứ suốt ngày nằm trên cái võng dã chiến &#8211; tấm chăn cột hai đầu vào hai góc lều &#8211; nhìn ra biển.</p>



<p>Lần duy nhất tôi đi vào ven rừng là ngày Chủ Nhật đầu tiên sau khi tới đảo. Ông anh họ vợ tôi vốn là người sùng đạo rủ chúng tôi đi dự lễ, khi tới ngôi nhà thờ thô sơ bằng cây rừng ghép lại mới biết không có Thánh lễ vì ở Kuku không có vị linh mục nào, chỉ có một thầy Phó tế.</p>



<p>Vì thế chúng tôi, khoảng vài chục người, chỉ cùng nhau đọc kinh, nghe thầy Phó tế đọc sách Thánh rồi cùng nhau ra về.</p>



<p>Khi ra khỏi nhà thờ, ông anh họ vợ rủ tôi tạt vào nghĩa trang gần đó để cầu nguyện cho linh hồn những thuyền nhân chôn cất tại đây nhưng tôi từ chối.</p>



<p>Không phải tôi không xót thương những thuyền nhân xấu số ấy mà chỉ vì tôi không đủ can đảm đối diện với những nấm mồ bất hạnh!</p>



<p>Vẫn biết một khi vượt biên là chấp nhận những bất hạnh có thể đến với mình và những người thân yêu: bị công an bắt, bị giam cầm tù đày, bị hải tặc tấn công, hãm hiếp, đập đầu quăng xuống biển, bị bão tố, chìm ghe, bị chết đói&#8230; nhưng nếu chỉ kể những cái chết khi đã thấy bến bờ, thậm chí sau khi đã đặt chân lên bờ thì Kuku là tử địa hãi hùng nhất!</p>



<p>Nhiều ghe đụng phải đá ngầm trên đường vào bờ và bị chìm. Mặc dù sau này phía Nam Dương đã cho dựng hai cái cột điện bằng gỗ ngoài biển, một cách bến tàu khoảng 500 mét, một ở vòng cung phía bên trái vốn không có nhiều đá ngầm, để các ghe tới đảo ban đêm biết đường chạy vào, nhưng vẫn có những chiếc ghe đụng phải đá ngầm và bị chìm. Có ghe chết không còn người nào, có ghe chỉ có một số may mắn bơi được vào bờ.</p>



<p>Khi chúng tôi đặt chân lên Kuku (tháng 11/1981) mọi người còn đang bàn tán về một tai nạn thảm khốc xảy ra trước đó không lâu: một chiếc ghe trên 40 người vào đảo ban đêm đụng phải đá ngầm và bị chìm, chỉ có vài người khỏe mạnh nhắm ánh đèn bơi vào được tới bờ, đa số còn lại chết đuối; sau đó chỉ vớt được gần 20 xác bị sóng đánh dạt vào bờ, được chôn bên nhau tại nghĩa trang.</p>



<p>Ngoài ra, “Kuku 2” còn là nơi chôn cất những thuyền nhân chết sau khi đã đặt chân lên đảo, do bị kiệt sức trong chuyến hải hành gian khổ có khi kéo dài cả tháng, hoặc do bị sốt rét rừng sau khi lên đảo.</p>



<p>Cứ nghĩ tới số phận hẩm hiu của những đồng bào bất hạnh ấy, tôi lại cảm thấy ái ngại, bất nhẫn trước những may mắn của bản thân và gia đình mình, như thể chúng tôi đã giành mất phần phước của họ&#8230;</p>



<p>* * *</p>



<p>Bên cạnh sự buồn chán chúng tôi còn bị căng thẳng tinh thần.</p>



<p>Nguyên nhân thứ nhất là tin đồn sẽ chỉ có một số thuyền nhân nào đó được Cao ủy Tỵ nạn công nhận là “tỵ nạn” mới được đưa tới Galang để làm đơn xin đi định cư tại các quốc gia đệ tam.</p>



<p>Giống như thời gian chúng tôi còn ở đảo Sedanau, vô công rỗi nghề, thuyền nhân ở Kuku cũng có cái thú loan tin đồn, thường là những tin đồn thất thiệt và bi quan.</p>



<p>Sở dĩ có tin đồn nói trên là vì thời gian sau này (đầu thập niên 1980) Cao ủy Tỵ nạn LHQ không có đại diện thường trực ở Kuku như những năm 1979, 1980 nữa, mà lâu lâu mới có một phái đoàn tới để lập hồ sơ thuyền nhân; và khi có tàu tới đón đi Galang, danh sách được đi không nhất thiết theo thứ tự ngày tới Kuku mà có khi người tới sau lại được đi trước.</p>



<p>Từ đó, người ta suy ra rồi đây sẽ có những người bị trả về Việt Nam, như chúng tôi đã từng nghe đồn trong thời gian còn ở Sedanau.</p>



<p>Trước tin đồn này, tôi cố gắng tự trấn an: mình là sĩ quan QLVNCH, bị tù cải tạo gần 6 năm, chắc chắn sẽ được công nhận là tỵ nạn cộng sản. Chỉ cần bấy nhiêu thôi, còn cho đi định cư ở đâu cũng được!</p>



<p>Không phải giờ này đã an cư lạc nghiệp ở Úc rồi muốn viết gì thì viết, mà sự thật là ngày ấy trong lòng tôi đã sẵn sàng chấp nhận định cư tại Nam Dương trong trường hợp các quốc gia tây phương không nhận người tỵ nạn nữa.</p>



<p>* * *</p>



<p>Nguyên nhân thứ hai khiến chúng tôi bị căng thẳng tinh thần là cung cách làm việc của vị đại diện Cao ủy Tỵ nạn tới Kuku để phỏng vấn sơ khởi thuyền nhân.</p>



<p>Đó một người Mỹ tên George. Tôi không có cơ hội để biết tên họ đầy đủ của ông ta, chỉ biết mọi người gọi là “ông George”. <em>(Sau khi tới Galang, tôi nhận thấy hầu hết nhân viên Cao ủy Tỵ nạn thường được gọi bằng tên &#8211; first name, kể cả vị Cao ủy trưởng)</em></p>



<p>Ông George không phải là người Mỹ da trắng; qua nét mặt, nước da, dáng người, chiều cao cùng với tóc xoắn và hàm râu quai nón, tôi đoán có thể ông là người gốc Haiti hay Cộng hòa Dominique trong vùng đảo Caribbean.</p>



<p>Ông George mang kính trắng. Thường thường một cặp kính trắng sẽ khiến người ta trông hiền lành hơn (chẳng hạn bản thân tôi) nhưng riêng với ông George hình như nó càng khiến mặt mũi ông thêm khó chịu!</p>



<p>Nhưng cung cách phỏng vấn của ông George mới là yếu tố chính khiến không mấy người thích ông. Mặc dù tất cả mọi câu hỏi của ông đều thông qua một thông dịch viên người Việt, người được phỏng vẫn cũng nhận ra thái độ gay gắt, hách dịch của ông.</p>



<p>Chưa hết, ông George còn có thói quen hỏi những chi tiết không cần thiết về đời tư, về quá khứ của thuyền nhân, những chi tiết chẳng ăn nhập gì tới tư cách “tỵ nạn” của thuyền nhân cả!</p>



<p>Cũng may, thời gian sau này ông George chỉ phỏng vấn đại diện ghe để biết các thành phần đi trên ghe, từ đó xác định đây có phải là những thuyền nhân đã liều chết vượt thoát chế độ cộng sản Việt Nam hay không?!</p>



<p>Thường thường, cứ khoảng 2, 3 tháng ông George mới trở lại Kuku một lần, với một hai nhân viên phụ tá và một người thông dịch.</p>



<p>Lần này, chỉ mấy ngày sau khi chúng tôi được tàu Flora đưa tới Kuku,&nbsp; ông George trở lại đảo. Ai cũng vui mừng, cho rằng mình là người may mắn vì sẽ sớm được rời “hoang đảo” này!</p>



<p>Nhưng riêng tôi thì bị ông George quay tới quay lui về cái số ghe TV-101926, mà những ai từng là thuyền nhân đều thấy nó&#8230; không giống ai.</p>



<p>Như tôi đã viết trong một kỳ trước, thông thường các ghe khi đăng ký tại Việt Nam sẽ được cấp số ghe gồm hai mẫu tự viết tắt của tên địa phương, chẳng hạn VT (Vũng Tàu), KG (Kiên Giang), TG (Tiền Giang), PT (Phan Thiết), và ba, bốn con số phía sau.</p>



<p>Nhưng ghe của chúng tôi là ghe “lậu”, không có số gì cả. Sau khi tới đảo Pulau Laut, ông anh cột chèo của tôi mới dựa theo số ghe mà Cao ủy Tỵ nạn ở Kuku đã đặt cho chiếc ghe (cũng là ghe “lậu”) của các con ông vào năm 1979 để “chế” ra số ghe của mình.</p>



<p>Số ghe mà Cao ủy Tỵ nạn đặt cho chiếc ghe của các con ông gồm hai mẫu tự PL và sáu con số. Trong lá thư viết về nhà, đứa con trai lớn đã giải thích bốn con số đầu là tháng và ngày tới Nam Dương, hai con số cuối cùng là tổng số người trên ghe.</p>



<p>Còn hai mẫu tự PL, cháu không biết do đâu mà có, và đã viết đùa rằng rất có thể người tây phương vốn có truyền thống lấy tên đàn bà con gái đặt cho các du thuyền cho nên văn phòng Cao ủy Tỵ nạn ở Kuku đã lấy tên “Phương Loan” của đứa em gái lớn nhất, viết tắt thành PL.</p>



<p>Đọc thư của đứa cháu, tôi hiểu ngay là nó viết đùa nhưng ông anh cột chèo của tôi lại tin là thật, cho nên sau khi tới Pulau Laut mới lấy tên Thiên Vĩ của đứa con trai út viết tắt thành TV, tiếp theo là sáu con số 101926, cho biết ghe tới đảo vào ngày 19 tháng 10, trên ghe có 26 người.</p>



<p>* * *</p>



<p>Khi lên văn phòng Cao ủy với tư cách đại diện ghe, tôi được người thông dịch cho biết theo phương cách làm việc của Cao ủy, không cần biết tôi có hiểu được, nói được tiếng Anh hay không, tất cả mọi câu hỏi của ông George tôi phải chờ thông dịch rồi mới trả lời bằng tiếng Việt.</p>



<p>Trước hết, ông George hỏi tôi về cái số ghe TV-101926; sau khi nghe tôi trình bày, giải thích như trên, ông lớn tiếng hỏi tôi: Ai cho phép các anh tự tiện đặt số cho ghe của mình?</p>



<p>Dĩ nhiên tôi ngọng! Ông George nói chúng tôi đã dẵm lên chân Cao ủy, vì việc đặt số cho những chiếc ghe “không tên” là của Cao ủy, và chỉ đặt sau khi phỏng vấn đại diện ghe xong xuôi, nay chúng tôi chưa được phỏng vấn mà đã có số ghe là sai nguyên tắc.</p>



<p>Rồi ông George tạt vào mặt tôi một gáo nước lạnh:</p>



<p>&#8211; Anh tưởng hai mẫu tự PL là viết tắt tên cô cháu gái Phương Loan xinh đẹp của anh hả? Không có chuyện đó trên cõi đời này đâu! Đây là viết tắt của hai chữ Pulau Laut; những chiếc ghe không có số cập vào đảo nào thì Cao ủy lấy tên đảo đó làm hai mẫu tự đi đầu, anh hiểu chưa!</p>



<p>Nghe ông George nói, tôi muốn độn thổ vì quê một cục, cho dù người “chế” ra cái số ghe TV-101926 là ông anh cột chèo chứ không phải tôi.</p>



<p>Tiếp theo, ông George nói rằng vì việc này (tự ý chế ra số ghe) chưa từng xảy ra, ông tạm thời gác hồ sơ của ghe chúng tôi để về hỏi ý kiến của văn phòng Cao ủy ở Galang!</p>



<p>Nghe ông George nói, tôi lặng người, nhớ tới các tin đồn mà lòng lo sợ. Ra vẻ Cao ủy Tỵ nạn &#8211; mà ở đây ông George là đại diện &#8211; muốn tìm cách làm khó dễ chúng tôi. Bởi vì xét cho cùng, cho dù việc làm của chúng tôi là sai nguyên tắc cũng đâu có gì ghê gớm đến nỗi phải gác hồ sơ!&#8230;</p>



<p>Tôi thất thểu ra về, kể cho ông anh cột chèo nghe mọi việc. Ông ngồi im, mặt không tỏ lộ cảm xúc nhưng tôi biết ông bị sốc nặng: đang từ&nbsp; chỗ hãnh diện về cái số ghe độc đáo bỗng phải tuyệt vọng trước hệ lụy của việc làm của mình. Khi ông dặn dò tôi đừng cho mọi người&nbsp; trong ghe biết việc này, tôi nói ông cứ yên tâm.</p>



<p>Đêm hôm đó tôi không thể ngủ yên giấc. Qua ngày hôm sau, mỗi lần nghe loa phóng thanh kêu đại diện một ghe nào đó lên văn phòng Cao ủy phỏng vấn, tôi lại chán nản nghĩ tới việc ghe mình bị gác hồ sơ, và tự hỏi không biết tới bao giờ ông George mới trở lại Kuku!</p>



<p>Thành thử vào khoảng 4 giờ chiều, khi loa phóng thanh lập đi lập lại yêu cầu đại diện ghe TV-101926 lên văn phòng Cao ủy, tôi hết sức ngạc nhiên, không hiểu có chuyện gì.</p>



<p>Sau khi tôi bước vào phòng, ông George ra hiệu cho tôi ngồi ở cái ghế đối diện với ông và người thông dịch. Trong bầu không khí nặng nề ấy, ông George nói với tôi (thông qua người thông dịch) bằng một giọng tương đối nhỏ nhẹ, chậm rãi so với mọi khi, nhưng cũng chính vì thế mà tôi nhận ra tính cách nghiêm trọng của cuộc phỏng vấn lần này.</p>



<p>Vào đề, ông George cho biết mục đích của ông là muốn xác định ghe của chúng tôi thực sự là một ghe vượt biên, do chúng tôi đứng ra tổ chức và đích thân thực hiện cuộc vượt thoát. Vì thế tôi phải thành thật trả lời các câu hỏi, và phải chính xác bởi vì một khi đã ghi vào hồ sơ, không ai, kể cả bản thân ông, có thể thay đổi!</p>



<p>Ngay lúc ấy, vì vừa đầu óc căng thẳng vừa phải vận dụng trí nhớ để trả lời các câu hỏi, tôi không còn thì giờ và hơi sức để thắc mắc trước việc tôi phải chứng minh đích thân chúng tôi tổ chức và thực hiện cuộc vượt thoát.</p>



<p>Chỉ sau khi đã tới trại tỵ nạn Galang, quen biết anh Q, trưởng toán thông phiên dịch, tôi mới biết ngày ấy Cao ủy Tỵ nạn nghi ngờ đã có những chuyến vượt biên do CSVN tổ chức, nhưng không phải theo hình thức ra đi “chính thức” hoặc “bán chính thức” mà sử dụng tàu lớn chở “khách” cùng với mấy chiếc ghe tới gần hải phận Nam Dương rồi thả xuống biển, thế là đám khách “nhà giàu” này (có khi có cả cán bộ cộng sản trà trộn) thơ thới hân hoan đi vào các đảo với tư cách&#8230; ghe vượt biên!</p>



<p>Từ đó tôi suy ra ngày ấy ông George tận tình chiếu cố tới ghe của chúng tôi rất có thể vì ông nghi ngờ đây là một trong những chiếc ghe “đặc biệt” nói trên!</p>



<p>Tôi còn nhớ rõ sau khi hỏi tôi từng chi tiết về việc mua ghe, sửa ghe, trang bị trên ghe, học cách xem phương hướng, hối lộ công an, móc nối với người lo bãi bến&#8230;, ông George đã truy tới truy lui về mấy điểm sau đây:</p>



<p>&#8211; Tại sao lại chọn ra đi vào giữa mùa bão?</p>



<p>&#8211; Ghe nhỏ, máy yếu, tại sao không đi về hướng bờ biển Thái Lan, Mã Lai mà lại đi về hướng Nam Dương?</p>



<p>&#8211; Gặp bão cấp 3 trong hai ngày liền, làm sao chỉ mất bốn ngày ba đêm đã tới Pulau Laut?</p>



<p>Tôi bình tĩnh giải thích từng điểm, thuật lại từng diễn tiến, trong dó có một diễn tiến mà không ai có thể bịa đặt nếu bản thân chưa trải qua: gặp giàn khoan Nhật và bị xua đuổi!</p>



<p>Khi tôi nhắc tới tên giàn khoan này, ông George gật gù, đưa mắt nhìn người thông dịch rồi nói với tôi:</p>



<p>&#8211; Chúng tôi tin anh nói thật, bởi vì đã có nhiều người kể lại việc bị họ giàn khoan này xua đuổi.<br><br></p>



<p>* * *</p>



<p>Sau khi ông George rời Kuku, tôi cảm thấy người mệt mỏi một cách khác thường. Lúc đầu tôi cho rằng vì mình bị căng thẳng tinh thần trong hai ngày qua, nhưng tới ngày thứ ba, khi tôi lên cơn sốt vào lúc 3, 4 giờ chiều, mồ hôi đầm đìa, tiếp theo là cơn lạnh run cầm cập, vợ tôi nghi ngờ tôi bị sốt rét rừng.</p>



<p>Tới chiều ngày thư tư, khi cơn sốt và cơn lạnh trở lại, khủng khiếp hơn, tôi biết chắc chắn mình bị sốt rét; chỉ không biết là sốt rét (ngày còn trong tù cải tạo ở Phước Long) tái phát hay là do muỗi rừng ở Kuku?</p>



<p>Qua chiều ngày thứ năm, tôi nằm mê man trên võng.</p>



<p>(Còn tiếp)&nbsp;<br><br><strong>CHÚ THÍCH:</strong></p>



<p><strong><em>(1)</em></strong><em> Việc vô số thiếu nữ, thiếu phụ vượt biên bị bắt lại, trong thời gian bị giam giữ bị công an và cán bộ cao cấp cưỡng hiếp dã man là một sự thật kinh hoàng với biết bao nạn nhân và nhân chứng, nhưng chưa bao giờ được CSVN đưa ra xét xử trước pháp luật.</em></p>



<p><em>Cựu Đại úy Nguyễn Hữu Cầu (</em><em>1947-2022), người được mệnh danh là “</em><em>người tù kiệt xuất”, </em><em>tù nhân lương tâm bị giam lâu nhất ở Việt Nam (37 năm) là người duy nhất làm đơn tố cáo đích danh hai cán bộ đảng viên tỉnh Kiên Giang hãm hiếp 11 thiếu nữ bị “tuyển chọn” từ trại tù vượt biên ở Kiên Giang.</em></p>



<p><em>Hậu quả, ông </em><em>Nguyễn Hữu Cầu </em><em>bị bắt giam, bị đưa ra xét xử vào năm 1983, bị kết án tử hình&nbsp;với tội danh &#8220;Chống phá nhà nước CHXHCN Việt Nam&#8221;, bằng chứng dựa vào những bài thơ và các ca khúc do ông sáng tác. Án tử hình này sau được giảm xuống còn tù chung thân.</em></p>



<p><em>Mời đọc thêm “</em><em>Nguyễn Hữu Cầu</em><em> (tù nhân lương tâm)” trên trang mạng Wikipedia.</em></p>



<div style="height:500px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>©T.Vấn 2023</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Phạm Đức Nhì: VÀI KỶ NIỆM VỚI CA SĨ DUY TRÁC   </title>
		<link>https://t-van.net/pham-duc-nhi-vai-ky-niem-voi-ca-si-duy-trac/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phạm Đức Nhì]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 07 Nov 2023 06:05:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[Truyện Tù Cải Tạo]]></category>
		<category><![CDATA[chuyện tù]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=66923</guid>

					<description><![CDATA[Hát Trong Tù &#8211; Tranh: THANH CHÂU Hát Tù Ca Với Anh Trác Ở Trại Z30D&#160; Khoảng tháng 6 năm 1979 tôi bị giải từ Phước Long về trại Z30D Hàm Tân. Ngay ngày đầu tiên tôi đã quen với Vũ Mạnh Dũng, một sinh viên văn khoa (trước 75) bị bắt vì tội tuyên [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/04/Tu-Khuc.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="545" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/04/Tu-Khuc-1024x545.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-54975" style="aspect-ratio:1.8788990825688074;width:596px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2022/04/Tu-Khuc-300x160.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/04/Tu-Khuc-1024x545.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2022/04/Tu-Khuc-768x409.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/04/Tu-Khuc.jpg?strip=all 1151w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Hát Trong Tù &#8211; Tranh: THANH CHÂU</em></p>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><strong>Hát Tù Ca V</strong><strong>ới Anh Tr</strong><strong>ác </strong><strong>Ở Trại Z30D&nbsp;</strong><strong></strong></p>



<p>Khoảng tháng 6 năm 1979 tôi bị giải từ Phước Long về trại Z30D Hàm Tân. Ngay ngày đầu tiên tôi đã quen với Vũ Mạnh Dũng, một sinh viên văn khoa (trước 75) bị bắt vì tội tuyên truyền phản cách mạng. Không biết Dũng hỏi ai mà biết tôi ở Phước Long thường “gầy sòng” tụ họp anh em hát tù ca nên đến thăm và bắt chuyện làm quen với tôi trước.&nbsp;Dũng trẻ hơn tôi mấy tuổi nhưng lanh lợi, ăn nói hoạt bát và đặc biệt là ngôn ngữ giao tiếp rất “văn chương”.</p>



<p>Hôm sau Dũng dẫn tôi về chỗ của mình ở một nhà khác và hai anh em “giao lưu” tù ca. Dũng đệm đàn vững và giọng hát cũng truyền cảm, dễ thương. &nbsp;Trong lúc “xả hơi” Dũng cho biết ở cùng nhà có ca sĩ Duy Trác (một trong hai nam ca sĩ nổi tiếng bậc nhất của Miền Nam trước 1975) rất được bạn tù ngưỡng mộ và yêu mến vì đã sáng tác hai bản tù ca rất hay. Dũng bảo tôi sẵn sàng để sáng Chủ Nhật tới sẽ sắp xếp cho tôi gặp anh Trác ở chỗ của Dũng.&nbsp;</p>



<p>Chủ Nhật ấy, đã hẹn trước nên khi tôi đến đưọc vài phút thì một “trung niên hán tử”, dáng người nhỏ nhắn, khuôn mặt thanh tú, hiền lành, từ đầu nhà bước lại. Đó là ca sĩ Duy Trác, người mà tôi chưa từng gặp mặt nhưng đã mến mộ từ lâu. Anh em bắt tay nhau rồi cùng leo lên tầng trên và lui hẳn vào chỗ nằm của Dũng ở trong góc. &nbsp;</p>



<p>Sau vài câu thăm hỏi xã giao Dũng cầm đàn dạo nhạc và hát nho nhỏ một bản nhạc tình để “khởi động” rồi đưa đàn cho anh Trác. &nbsp;</p>



<p>Anh cầm đàn rồi kể chuyện một đêm Giáng Sinh, nhìn qua khe vách, nghe tiếng chim hót trên bờ rào kẽm gai, nghĩ đến thân phận tù đày, mủi lòng viết bản nhạc có tựa đề LỜI NGUYỆN TRONG TÙ. Và anh dạo đàn rồi bắt đầu hát:&nbsp;</p>



<p>Có con chim nhỏ trên hàng rào kẽm gai.</p>



<p>Đứng im than thở; cuộc đời còn có ai?</p>



<p>“Này chim có biết nơi đây sống kiếp đọa đày,</p>



<p>sống không ngày mai, như kiếp cỏ cây?”&nbsp;</p>



<p>Có ngôi sao nhỏ trên bầu trời giá đêm.</p>



<p>Suốt đêm không ngủ thương ngục tù tối đen.</p>



<p>“Nhờ sao đem đến tin vui tới khắp mọi người:</p>



<p>Chúa đã giáng sinh cứu rỗi trần ai.”&nbsp;</p>



<p>ĐK:</p>



<p>“Xin Chúa hãy vỗ về, ru no tròn giấc ngủ trẻ thơ.</p>



<p>Xin một giấc mơ lành cho mẹ già từ lâu mong nhớ.</p>



<p>Xin nguyện cầu cho vợ hiền lẻ bóng nơi xa.</p>



<p>Xin nguyện cầu, xin nguyện cầu cho cuộc đời vang tiếng tình ca.</p>



<p>Hãy cho tôi khóc bằng mắt Maria,</p>



<p>những cuộc đời khổ đau tăm tối.</p>



<p>Hãy cho tôi khóc bằng mắt Maria,</p>



<p>những cuộc tình bơ vơ tóc rối.</p>



<p>Xin quét hết lũ người sống hận thù, không óc, không tim.</p>



<p>Xin tiếng hát nụ cười cho mọi người được sống bình yên”.&nbsp;</p>



<p>Anh trở lại điệp khúc một lần nữa rồi chấm dứt ở Coda:&nbsp;</p>



<p>“Vinh danh Thiên Chúa! Vinh danh Thiên Chúa! A – men”.&nbsp;</p>



<p>Tiếp theo, Dũng hát MưaTrên Ngục Tù của Nguyễn Hưng Đạo (“cư dân” trại Z30D), tôi hát Bò Đỏ &#8211; thơ Nguyễn Văn Kỳ, Trương Văn Út phổ nhạc &#8211; thi sĩ và nhạc sĩ đều từ Phước Long. (Vì đây là bài viết về anh Trác nên phần trình bày của 2 “nhân vật phụ” xin được “tiềm ẩn”)&nbsp;</p>



<p>Xong, chúng tôi trò chuyện một lúc lâu rồi tôi trao đàn cho anh Trác.&nbsp;</p>



<p>Anh Trác ôm đàn và trước khi hát, cũng kể lể chút nguồn cơn:&nbsp;</p>



<p>Một hôm, chúng tôi được đưa đi đắp một con đường từ quốc lộ 1 vào trại Z30D. Đang lao động, tôi thấy một cô gái khoảng 20 tuổi, đeo ba lô đi về phía trại giam. Lúc cô gái đến gần chỗ mình tôi chào và hỏi thăm:&nbsp; &nbsp;</p>



<p>&#8220;Sài Gòn có gì vui không em?&#8221; &nbsp;</p>



<p>Cô nhỏ nhẹ trả lời:&nbsp;</p>



<p>&#8220;Sài Gòn chỉ vui khi các anh về&#8221;.</p>



<p>&nbsp;Xúc động vì câu trả lời của cô gái tôi đã viết bản nhạc có tựa đề SÀI GÒN CHỉ VUI KHI CÁC ANH VỀ.&nbsp;Rồi anh bắt đầu dạo đàn và cất tiếng hát:&nbsp;</p>



<p>Tôi đã gặp em, bỡ ngỡ tình cờ</p>



<p>Đôi mắt ngây thơ, đến từ thành phố</p>



<p>Ngục tù tối tăm nói với cuộc đời:</p>



<p>“Sài Gòn có vui? Sài Gòn có vui?”&nbsp;</p>



<p>Em ngước nhìn tôi, cúi đầu nói nhỏ:</p>



<p>“Còn gì nữa đâu, thành phố mộng mơ</p>



<p>Thành phố đớn đau vẫn thường nhắn nhủ:</p>



<p>‘Sài Gòn chỉ vui khi các anh về’”&nbsp;</p>



<p>“Tôi sẽ về đòi lại quê hương đã mất.</p>



<p>Tôi sẽ về cùng em lau khô hàng nước mắt</p>



<p>Tôi sẽ mời em dạo chơi phố xá tươi vui</p>



<p>những con đường tình trường xưa công viên tràn nắng mới.</p>



<p>Tôi sẽ về qùy bên thánh giá bao dung</p>



<p>Tôi sẽ nguyện cầu cho tình yêu và cuộc sống</p>



<p>Đem tiếng khóc cười dâng đời khúc hát say mê</p>



<p>Cám ơn Sài Gòn, tôi sẽ trở về”.&nbsp;</p>



<p>Anh Trác lập lại điệp khúc một lần nữa rồi kết thúc bằng CODA.&nbsp;</p>



<p>Ca từ của bản nhạc đơn giản, dễ hiểu và dễ cảm. Đơn giản nhưng vẫn đủ đẹp để chuyển tải tâm sự của tác giả. Có điều tâm sự của tác giả thì, do đối diện trực tiếp với cảnh đời, nên rất thật, và dĩ nhiên, cảm xúc cũng rất thật. Đặc biệt, sức gợi của câu ca từ (cũng là cái tựa của bản nhạc) &#8211; Sài Gòn Chi Vui Khi Các Anh Về &#8211; thật ghê gớm:&nbsp;</p>



<p>Không cần tranh luận ai chính nghĩa, ai phi nghĩa, không cần những tĩnh từ, trạng từ xấu xa để mô tả thái độ, cách cư xử của những người cộng sản đối với người dân miền nam. Chỉ cần một câu ngắn gọn “Sài Gòn Chỉ Vui Khi Các Anh Về” là đủ. Những gì còn lại sẽ được hiểu ngầm, sẽ tự động thấm vào hồn người thưởng thức.&nbsp;</p>



<p>Từ một góc nhỏ ở tầng trên của căn lán (nhà tập thể) khá lớn trong trại Z30D tiếng hát anh Trác &#8211; có tiếng đàn Ghi-ta nho nhỏ phụ họa &#8211; đã trôi thẳng vào tâm hồn hai người tù trẻ tuổi. Giọng anh Trác ấm quá, luyến láy điêu luyện quá, ca từ lại hợp cảnh hợp tình nên một số bạn tù khác đang nằm thư giãn gần đấy cũng ngồi dậy lắng nghe.&nbsp;Riêng tôi, nghe hết CODA:&nbsp;</p>



<p>“Sài Gòn mến yêu! Người Tình dấu yêu! Tôi sẽ … trở … về” &nbsp;</p>



<p>lúc giọng anh Trác vẫn còn ngân vang, đưa tay lên vuốt mặt thì không biết nước mắt đã ướt mi từ lúc nào.&nbsp;</p>



<p>Anh em nói chuyện một lúc nữa thì có tiếng lao xao chuẩn bị lãnh cơm trưa (Chủ Nhật không đi lao động nên trại phát cơm trưa sớm). Anh Trác nhoài người ra cầu thang và trước khi vịn tay vào móc sắt vừa trèo vừa đu xuống tầng dưới để bước xuống nền nhà còn nói với một câu giã từ đầy hứa hẹn:&nbsp;</p>



<p>Khi nào “gầy được sòng” cứ hú tôi. Cái gì chứ văn nghệ thì tôi không từ chối.”&nbsp;</p>



<p>Buổi “văn nghệ bỏ túi” kế tiếp chưa thực hiện được thì tôi đã bị nhốt xà lim và sau đó bị giải về A 20 Xuân Phước. Anh Trác và Vũ Mạnh Dũng cũng có mặt trong đoàn tù này.&nbsp;</p>



<p><strong>Anh Trác Hát </strong><strong>Ở A20&nbsp;</strong></p>



<p>Từ Z30D chuyển đến A20 được vài ngày, vào một buổi chiều se se lạnh (chúng tôi còn đang học nội quy, chưa bị đi lao động) chợt có tiếng hát nơi phòng ăn. Tôi đến nơi thì thấy Rene’ Hanh và Toàn (rỗ), cựu sĩ quan trẻ, người đàn, người hát bài &#8220;Lá Đỏ&#8221; (nhạc bộ đội Trường Sơn). Rene’ Hanh hát khá hay. Giọng ấm, phát âm rõ ràng, ăn nhịp. Bài hát chấm dứt. Một số anh em thưởng ngoạn vỗ tay. Toàn cao hứng tiếp tục với bài &#8220;Tình Đất Đỏ Miền Đông&#8221; của Trần Long Ẩn. &nbsp;</p>



<p>Khi Toàn hát xong tôi bấm Vũ Mạnh Dũng định chiếm sân khấu làm một phùa văn nghệ “phe ta” thì đã thấy anh Trác bước tới cầm đàn. Người ca sĩ được rất nhiều người ưa thích ở miền nam, không một lời giới thiệu, dạo đàn và cất tiếng hát. Giọng anh còn rất ngọt với bài Lời Nguyện Trong Tù do chính anh sáng tác. Mọi người lắng nghe say sưa. &nbsp;Bài hát vừa hết thì Toàn kéo René Hanh đi và nói khá lớn tiếng:&nbsp;</p>



<p>“Mình đi thôi. Anh ấy hát nhạc không đúng chính sách”.&nbsp;</p>



<p>Đụng vào chỗ nhột, những người khác cũng bỏ đi. Và âm mưu “gầy sòng” của tôi thất bại.&nbsp;</p>



<p>Nhưng trong không khí “ngột ngạt, khó thở” của A20 (tên gọi khác là Trại Trừng Giới) – nơi tập trung những thành phần “cứng đầu, khó bảo” từ các trại khác dồn về &#8211; mà dám hát một bản nhạc “không đúng chính sách” như anh Trác thì nếu độ lớn của lá gan không ở mức “đáng nể” thì “cơn hứng của nghệ sĩ” cũng cao ngất để có thể phủ mờ nỗi lo lắng, sợ sệt của lý trí.&nbsp;</p>



<p>Dù ở vào trường hợp nào đi nữa đám tù trẻ chúng tôi đều nhìn anh với đôi mắt kính trọng và cảm phục&nbsp;</p>



<p><strong>Nhân Cách C</strong><strong>ủa Một Nghệ Sĩ &nbsp;</strong><strong></strong></p>



<p>Ở A20 vào thời điểm đó, có chân trong đội văn nghệ, cơ hội sống sót để trở về với gia đình – so với các anh em khác (trừ đội nhà bếp) – có thể nói là cao hơn rất nhiều. Ở các đội khác mọi người phải dầm mưa dãi nắng, cuốc đất, gieo trồng, khuân vác nặng nhọc suốt 8 tiếng mỗi ngày, ăn uống thiếu thốn, kham khổ, thân xác héo mòn. Còn ở đội văn nghệ chỉ hát hỏng khoảng 3 tiếng trong hội trường mát mẻ rồi thì tự do đi tìm rau hoang cỏ dại, nấu canh nóng sốt để bữa ăn có thêm chất bổ dưỡng.&nbsp;</p>



<p>Vì thế, nhiều người bon chen, cậy cục để có một chỗ “ngồi mát ăn bát vàng”. &nbsp;</p>



<p>Là một ca sĩ nổi danh như anh Trác, làm sao tránh khỏi đôi mắt và đôi tai “tinh quái” của tay cán bộ giáo dục (tên Hanh). Nội tình việc giới thiệu, đề cử (hay bắt buộc) anh vào đội văn nghệ xảy ra như thế nào thì tôi không rõ. Nhưng anh đã vào đội văn nghệ và đã có một số ngày lên hội trường tập tành với mọi người trong đội. Điều này thì ai cũng biết.&nbsp;</p>



<p>Riêng tôi, một hôm trên đường ra bãi tập họp chờ đi lao động, thấy đội văn nghệ cũng hàng lớp lên hội trường tập dợt, không nhớ ai đó đã chỉ anh Trác vừa cười vừa nói: &nbsp;</p>



<p>“Nhìn ca sĩ Duy Trác kìa! Lên hội trường ca hát mà mặt thểu não cứ như là đi đưa đám ma ấy”.&nbsp;</p>



<p>Tôi đưa mắt nhìn về hướng anh đi và lặng yên thông cảm.&nbsp;</p>



<p>Thế rồi mấy ngày sau tôi được lệnh không đi lao động để ở nhà “làm việc” với cán bộ Tri an ninh. Chờ hơn một tiếng thì thấy anh Trác trên đường từ hội trường về nhà 3 (cùng nhà với tôi), mặt mày tươi vui và vừa đi vừa nhảy chân sáo. Đi qua chỗ tôi anh cười cười nói nhỏ: &nbsp;</p>



<p>“Bị đuổi rồi. Hát sai nhịp.”&nbsp;</p>



<p>Tôi phì cười. Mừng cho anh. Nhưng rồi lại ái ngại cho anh. Và sau cùng thì hết lòng nể phục anh.&nbsp;</p>



<p>Với vóc người nhỏ con yếu đuối như thế, may mắn được vào chỗ mát mẻ, nhàn hạ, thỉnh thoảng được tặng thêm miếng cháy, kiếm thêm lá rau dại, cơ hội sống còn để trở về với vợ con nhiều hơn, lại vùng vằng không chịu, chấp nhận ra đội nắng, dầm mưa, chịu đói. Để được cái gì? Để khỏi phải hát những lời không hợp với lòng mình. &nbsp;</p>



<p>Với tôi, dám làm điều đó, anh đã biểu lộ một nhân cách rất cao đẹp của người Nghệ Sĩ.&nbsp;</p>



<p><strong>Hai Món Quà T</strong><strong>ết Qu</strong><strong>ý Giá &nbsp;</strong><strong></strong></p>



<p>Sáng mồng 1 Tết năm Nhâm Tuất (1982) tôi đang ngồi nhâm nhi mấy lát khoai mì H34 thì Ngọc Đen và Hải Bầu chạy vào, mặt vô cùng phấn khích. Ngọc lên tiếng: “Ở trại giờ vắng hoe, chỉ còn 1 thằng võ trang ở tít cổng ngoài; chắc tụi nó tụ họp ăn nhậu ở khu trung tâm. Mày tính sao?”&nbsp;</p>



<p>Tôi vẫn chưa hiểu ý Ngọc Đen nên hỏi lại: “Tính cái gì?”</p>



<p>Hải Bầu chêm vào: “Tụi tui tính nói với ông (tôi không thân với Hải nên vẫn gọi nhau là ông, xưng tôi) nhân dịp này làm một buổi văn nghệ long trời lở đất, không phải e dè gì nữa, chơi tới bến luôn!”</p>



<p>Tôi hỏi: “Chơi ở đâu? Và bao giờ chơi?”</p>



<p>“Nhà 3 mình.” Ngọc Đen trả lời ngay không cần suy nghĩ.</p>



<p>“Tụi tao tính một tiếng nữa sẽ bắt đầu. Làm sao phải xong trước giờ lãnh cơm trưa.”&nbsp;</p>



<p>Như vậy tôi chỉ có một tiếng đồng hồ để soạn một chương trình văn nghệ “tới bến”. Nhưng là tay chuyên “gầy sòng” ở các trại cũ nên tôi cũng không nao núng. Những tiết mục khác của chương trình thì đã có sẵn trong đầu. Tuy nhiên, nghĩ đến 2 bản nhạc của anh Trác thì chợt nhớ ra là&nbsp; “Người đã về rồi” nên tôi hơi bối rối. &nbsp;</p>



<p>Trong trại có Vũ Trọng Khải và Hải Bầu hát 2 bài này “có nét” nhất. Anh Khải giọng ấm hơn nên tôi đã nghiêng về phía ông Đại Úy cảnh sát. Hơn nữa, Hải Bầu đã rất nhuyễn bản Tình Yêu Từ Thung Lũng Khổ Sai của Trần Đức Long nên tôi cũng đỡ áy náy khi dành cả 2 bản nhạc của anh Trác cho Vũ Trọng Khải. Vả lại thời gian gấp rút quá nên tôi đã tự quyết định chứ không bàn bạc với anh em.</p>



<p><a href="https://t-van.net/ph%e1%ba%a1m-d%e1%bb%a9c-nh-nh%e1%bb%afng-ti%e1%ba%bfng-ht-b%e1%bb%abng-sng-a20/">(Những Tiếng Hát Bừng Sáng A20)</a></p>



<p>Rất may, trong 5 buổi văn nghệ của 3 ngày Tết năm đó – sau này được anh em truyền tụng là Những Tiếng Hát Bừng Sáng A20 &#8211; Vũ Trọng Khải đã thể hiện rất thành công tâm tình của anh Trác trong Lời Nguyện Trong Tù và Sài Gòn Chỉ Vui Khi Các Anh Về.&nbsp;</p>



<p>Có người đã phát biểu “AnhTrác về mà còn để lại cho anh em hai món quà Tết thật quý giá” (Xin đọc Vũ Trọng Khải thể hiện hai bản nhạc của anh Trác theo link đã dẫn ở phần trên).&nbsp;</p>



<p><strong>Bu</strong><strong>ổi Văn Nghệ Dở Dang&nbsp;</strong></p>



<p>Trong lúc chạy hàng cho bà chị họ con ông bác ở quận 8, bán vải ở chợ An Đông tôi có quen một chị cũng có sạp vải (rất khá giả), thích văn nghệ và cũng mê giọng ca Duy Trác. Nghe tôi kể về tính nghệ sĩ của anh, chị nhờ tôi mời anh về nhà để làm một chầu văn nghệ bỏ túi. Tôi đề nghị thì anh vui vẻ nhận lời ngay. &nbsp;</p>



<p>Anh bảo tôi: “Ông chuẩn bị sẵn cây đàn. Tôi hát, còn ông vừa hát vừa đọc thơ là có thể ‘bao dàn’ một chương trình kha khá”.&nbsp;</p>



<p>Thế là vào tối Thứ Bảy trong tuần lễ đầu tháng 3 năm 1984 tôi với anh mỗi người một chiếc xe đạp từ cuối đường Lý Thái Tổ (Ngã 7 Cộng Hòa) nhắm hướng Cầu Chữ Y thẳng tiến. &nbsp;</p>



<p>Đến nơi, tôi và anh Trác được chị tiếp đón vui vẻ và đưa lên một căn phòng rộng ở trên lầu. Cây đàn Ghi-ta đã để sẵn cạnh chiếc ghế ở vị trí trung tâm. Chỉ vài phút sau là khán giả bước vào tấp nập. Vì lý do an ninh nên không có màn giới thiệu “nghệ sĩ trình diễn” và cũng không có MC dẫn chương trình. &nbsp;</p>



<p>Khán giả vào chỗ ngồi thì anh Trác dạo đàn để không khí thêm chút tươi vui. Khi mọi người yên vị thì anh cất tiếng hát. Bản nhạc MỜI TÔI BẠN NHÉ sẽ làm nóng chương trình.&nbsp;</p>



<p>MỜI TÔI BẠN NHÉ&nbsp;</p>



<p>Này bạn mời tôi ca tôi sẽ ca ngay</p>



<p>Dù giọng khàn môi khô tôi hát say sưa</p>



<p>Này bạn bảo tôi vui tôi sẽ vui liền</p>



<p>Dù buồn phiền quanh đây bao nhiêu năm tháng&nbsp;</p>



<p>Này bạn mời đi xa đã thấy mê tơi</p>



<p>Vì từ nhiều năm qua vẫn cứ loay hoay</p>



<p>Lòng cầu được bình yên sao vẫn rối bời</p>



<p>Giờ ngồi thuyền ra khơi“sướng như Thiên Đàng”.&nbsp;</p>



<p>ĐK:&nbsp;</p>



<p><em>Ni</em><em>ềm vui ở đ</em><em>ây đâu ch</em><em>ỉ ri</em><em>êng tôi</em></p>



<p><em>Mà là ni</em><em>ềm vui tất cả mọi người</em></p>



<p><em>Ni</em><em>ềm đau ở đ</em><em>ây đâu ph</em><em>ải ri</em><em>êng ai</em></p>



<p><em>Mà là ni</em><em>ềm đau khắp cả mọi miền.&nbsp;</em></p>



<p>Này bạn bảo tôi điên tôi thấy vui vui</p>



<p>Vì cuộc đời quanh đây ai đã không điên</p>



<p>Nhiều chuyện kể vui tai nghe rất đau lòng</p>



<p>Chuyện kẻ ở người đi nghe sao không chán&nbsp;</p>



<p>(Tôi quên mất một phiên khúc)&nbsp;</p>



<p>Được nghe một ca sĩ lừng danh hát bản nhạc vừa vui nhộn vừa có chút “nỗi niềm riêng tư” hợp với lòng mình nên khán giả ai cũng mặt mày rạng rỡ, phấn khích. Thấy vậy, anh Trác hát lại cả bài và kết thúc ở Điệp Khúc (Đoạn in nghiêng). &nbsp;</p>



<p>Khán giả vỗ tay rất nồng nhiệt. Có người còn la to “Hết sẩy”, “Quá độc”. Tôi vội đưa ngón tay lên miệng và thì thầm hai tiếng “Nho nhỏ”.&nbsp;</p>



<p>Có thêm vài khách nữa mới đến nên mọi người chen nhau ngồi lấn lên phía trước để gần ca sĩ hơn. Không khí thật vui nhộn, hào hứng. &nbsp;</p>



<p>Anh Trác liếc nhìn tôi có ý dò hỏi. Tôi nhẹ nhàng hất hàm nhép miệng (nói thầm không ra tiếng): “Anh hát tiếp đi”.&nbsp;</p>



<p>Chờ cho những lời ngợi khen, bàn tán của khán giả lắng dịu anh dạo đàn và hát bài Ở LẠI:&nbsp;</p>



<p>Ở lại để thấy người ra đi rất nhiều</p>



<p>Ở lại để nghe những hận hờn vọng mãi đêm thâu</p>



<p>Ở lại để thấy những đổi thay trên nét mặt người</p>



<p>Ôi nếp nhăn nào tựa vết roi&nbsp;</p>



<p>Ở lại để thấy đường đi không lối về</p>



<p>……………..</p>



<p>(Phần còn lại của bài hát tôi đã quên)&nbsp;</p>



<p>Bài hát nói đến hoàn cảnh xã hội thay đổi (theo hướng xấu) mà người dân miền nam – không vượt biên được,&nbsp; phải ở lại &#8211; đang căng mình chịu đựng. &nbsp;</p>



<p>Khán giả lại vỗ tay vang dội. Anh đưa mắt nhìn tôi rồi định chuyển đàn Ghi-ta qua nhưng tôi xua tay từ chối. Bởi “tranh tài với anh trong lời ca tiếng hát” lúc ấy thì chỉ có thua thiệt. Tôi chọn lối chơi khác &#8211; sử dụng “chiêu độc” của mình là đọc thơ.</p>



<p>Và tôi hắng giọng rồi nói với mọi người là sẽ đọc một bài thơ tình: SÀI GÒN MỘT CHIỀU EM LỖI HẸN&nbsp;</p>



<p><em>Bài thơ này là “h</em><em>ậu quả” của một hiểu lầm. T</em><em>ôi v</em><em>ới N</em><em>àng h</em><em>ẹn nhau ở c</em><em>ông viên Tao Đàn nhưng tôi l</em><em>ại đ</em><em>ãng trí ra quán nư</em><em>ớc quen ở gần chợ Bến Th</em><em>ành ng</em><em>ồi chờ. Dĩ nhi</em><em>ên, Nàng không đ</em><em>ến. Kh</em><em>ông g</em><em>ặp “người thương” n</em><em>ên bu</em><em>ồn b</em><em>ã n</em><em>ổi hứng viết mấy vần thơ tr</em><em>ách móc. &nbsp;</em></p>



<p>Nhưng trong cái không khí của buổi văn nghệ hôm ấy khán giả có ý chỉ mong “tiết mục phụ” của tôi chóng qua để được tiếp tục nghe anh Trác hát nên tôi “biết thân, biết phận” bỏ cái phần “giải thích dài dòng” (chữ in nghiêng) đó để đi thẳng vào bài thơ. &nbsp;</p>



<p>SÀI GÒN MỘT CHIỀU EM LỖI HẸN&nbsp;</p>



<p>Sao em nỡ tiếc anh</p>



<p>một chiều hò hẹn</p>



<p>khi chúng mình đã nguyện</p>



<p>cho nhau hết cả những ngày xuân?&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Trời chiều nay trong xanh</p>



<p>lang thang ngoài phố</p>



<p>anh nghe lòng mình</p>



<p>ngập tràn thương nhớ&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Đây quán nước hôm nào hai đứa</p>



<p>ngồi bên nhau</p>



<p>nhìn ly kem óng ánh mấy màu</p>



<p>sao em nói “Em yêu chỉ mình anh thôi” nhỉ?</p>



<p>Gió thổi tóc anh bay nhè nhẹ</p>



<p>như chiều nào đứng đợi trước công viên</p>



<p>Ồ kia rồi! Vóc dáng thân quen</p>



<p>em như nàng tiên</p>



<p>mỗi lần đến mang một niềm vui mới&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Còn nhớ không?</p>



<p>Có lần anh lấn tới</p>



<p>cũng một buổi chiều em vẽ một lằn ranh</p>



<p>“Đây là biên giới!</p>



<p>Đừng bao giờ vượt quá nghe anh”&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Đường chiều dập dìu áo đỏ áo xanh</p>



<p>chẳng áo nào đẹp bằng chiếc áo em thường mặc</p>



<p>hàng nghìn khuôn mặt</p>



<p>chẳng ai duyên dáng bằng người anh yêu&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Tình đôi ta đẹp quá những buổi chiều</p>



<p>dù trời mưa hay nắng</p>



<p>cả Sài Gòn chiều nay im vắng</p>



<p>chỉ vì bên anh</p>



<p>thiếu buớc chân em.&nbsp;</p>



<p>Cũng may, bài thơ tình tứ ướt át nên cũng được khá nhiều tiếng vỗ tay tán thưởng. Tuy nhiên, ngay sau đó mọi ánh mắt của khán giả đều đổ dồn về phía anh Trác. Anh mỉm cười cầm đàn dạo nhạc và hát bản ÁO DÀI.&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; ÁO DÀI&nbsp;</p>



<p>Ngày nào mới mặc áo dài</p>



<p>Tay em run quá chẳng cài nổi khuy</p>



<p>Chuyện giờ kể có khác đi</p>



<p>Run run anh cởi hết khuy em cài&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Ngày nào mới thở hương người</p>



<p>Em say ngây ngất rụng rời ngón tay</p>



<p>Chuyện giờ kể có khác đi</p>



<p>Tay em buông thõng mỗi khi nhớ người&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Ngày nào anh cũng làm thơ</p>



<p>Dù em là chiếc gương mờ đã lâu</p>



<p>Trước khi đi ngủ, chải đầu</p>



<p>Ðể trong giấc mộng gặp nhau đàng hoàng&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Ngày nào mắt ngọc xanh tình</p>



<p>Ðêm khuya anh nhớ dịu hiền mắt em</p>



<p>Chuyện giờ kể có khác đi</p>



<p>Mi xanh mắt ngọc bút chì tô quanh&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Ngày nào mới mặc áo dài</p>



<p>Trông gương soi bóng tự cài lấy khuy</p>



<p><em>Chuy</em><em>ện giờ kể c</em><em>ó khác đi</em></p>



<p><em>Không đem bán áo l</em><em>ấy g</em><em>ì nuôi nhau&nbsp;</em></p>



<p>Hai câu cuối của bản nhạc còn có chút “hoàn cảnh xã hội”. Vào thời điểm đó cuộc sống của dân miền nam thiếu thốn, cơ cực quá nên bàn ghế tủ giường, tivi radio máy hát &#8211; tất tật mọi thứ &#8211; kể cả sách quý hiếm, quần áo đẹp (kỷ niệm) đều bị lôi ra bán để kiếm chút bỏ bụng cho đỡ đói.&nbsp;Có lẽ lâu lắm mới được nghe những lời hát vừa đậm chất tình, vừa dễ thương, vừa đúng với cảnh đời (chứ không phải toàn những lời tuyên truyền) nên khán giả sướng quá, đồng loạt vỗ tay thật lớn, thật dài.&nbsp;</p>



<p>Khi tiếng vỗ tay nhỏ dần thì có một giọng Bắc dõng dạc cất lên: &nbsp;</p>



<p>“Anh hát như thế là ngầm nói xấu chế độ đấy. Hát hỏng kiểu ấy ở nhà tôi là không được đâu.” &nbsp;</p>



<p>Chị chủ nhà mặt biến sắc vội chạy lại vừa kéo tay ông lão vào phía trong vừa vẫy tay ra hiệu cho mọi người giải tán.&nbsp;Tôi và anh Trác được mọi người nhường đường rút lui trước. Hai anh em hai chiếc xe đạp vù qua Cầu Chữ Y rồi vừa cười vừa sóng đôi đạp về nhà anh Trác ở Ngã Bảy.&nbsp;</p>



<p>Sau này mới biết ông lão là bố của chị chủ nhà. Chị biết thái độ, lập trường của bố mình đối với những lời nhạc kiểu này nên đã cho người chở ông xuống bà cô ở khu Chợ Bàn Cờ để giúp họp bàn tổ chức đám hỏi cho cháu gái (con bà cô) vào tháng sau. Không hiểu sao ông không chờ con đến đón mà đi xe ôm về sớm, làm bể chương trình văn nghệ đang hấp dẫn. &nbsp;</p>



<p>Hôm sau gặp ở chợ An Đông, chị xin lỗi tôi và nhờ chuyển lời xin lỗi đến anh Trác.&nbsp;</p>



<p>Sự kiện này làm tôi nhớ đến“câu giã từ đầy hứa hẹn” của anh sau khi cùng hát tù ca với tôi và Vũ Mạnh Dũng ở Z30D năm nào:&nbsp;</p>



<p>Khi nào “gầy được sòng” cứ hú tôi. Cái gì chứ văn nghệ thì tôi không từ chối.&nbsp;</p>



<p>Quả đúng như vậy. Với văn nghệ thì anh đã “rất chịu chơi” chứ không từ chối. Không những chỉ “rất chịu chơi” mà còn có khả năng “chơi rất đẹp” nữa.&nbsp;</p>



<p><strong>M</strong><strong>ột Buổi Đọc Thơ Đặc Biệt&nbsp;</strong></p>



<p>Một hôm có việc cần gặp anh Phạm Chí Thành (cũng là bạn anh Trác, ở ngã tư Hồng Thập Tự &#8211; Lê Văn Duyệt) mà không thấy anh ở nhà tôi bèn đạp xe thẳng ra nhà anh Trác ở gần đấy tìm anh. Không thấy anh Thành nhưng anh Trác đã đon đả mời tôi vào nhà.&nbsp;</p>



<p>“Sao? Chiều Thứ Bảy tuần này có bận gì không? Tôi định rủ ông đến nhà anh Sỹ chơi. Có cả Nguyễn Hữu Nhật ở đấy. Hai thi sĩ tha hồ mà đọc thơ”.&nbsp;</p>



<p>Anh đã bóng gió nói chuyện này với tôi từ lâu nhưng có lẽ tuần này mới tiện dịp. Tôi trả lời:&nbsp;</p>



<p>“Hôm ấy định ra Chợ Lớn nhận ít hàng cho bà chị, nhưng không gấp. Có chuyện vui chơi thì để hôm sau cũng đưọc”.&nbsp;</p>



<p>Tôi đến nhà anh Trác khoảng 1 giờ trưa Thứ Bảy. Thư thả uống trà một lúc rồi hai anh em hai chiếc xe đạp ra đường Cộng Hòa (Nguyễn Văn Cừ), qua Đại Học Khoa Học một đoạn rồi rẽ phải. Nhà anh Sỹ ở trong một con hẻm rộng trên đường này,&nbsp;đường An Dương Vương.&nbsp;</p>



<p>Đến nơi, một người đứng tuổi, dáng vẻ trí thức, mặt phúc hậu, ra cửa đón vào. Trong nhà đã có một người nữa đứng cạnh bàn. Anh Trác lịch thiệp giới thiệu và mọi người vui vẻ bắt tay nhau. Người đứng tuổi là nhà văn Doãn Quốc Sỹ (sinh năm 1923), người kia trẻ hơn là nhà thơ Nguyễn Hữu Nhật (1942), chồng nhà văn Nguyễn Thị Vinh (em gái Nguyễn Tường Tam và là thành viên trẻ tuổi nhất của Tự Lực Văn Đoàn). Bên cạnh anh Trác (1936), tôi trẻ nhất (1952) – năm đó mới 32 cái xuân xanh.&nbsp;Anh Sỹ mời mọi người ngồi và rót trà tiếp đãi rất lịch sự. Sau vài phút thăm hỏi xã giao là phần diễn đọc thơ. Anh Nhật được coi là người nhà (thơ của anh đã rất quen thuộc với nhóm văn nghệ sĩ quen biết anh Sỹ) nên anh Sỹ mời anh mở đầu chương trình. &nbsp;Anh Nhật nhắp một hớp trà rồi bắt đầu đọc bài thơ HOA CÚC VÀNG&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; HOA CÚC VÀNG&nbsp;</p>



<p>Chỗ anh đứng chờ em ra</p>



<p>Bây giờ thiên hạ trồng hoa cúc vàng</p>



<p>Mỗi lần có dịp đi ngang</p>



<p>Nhớ em anh tưởng áo vàng lụa bay&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Nghĩ&nbsp; hoài sống mũi cay cay</p>



<p>Mấy năm chẳng được một ngày gần nhau</p>



<p>Hạnh phúc thường hay qua mau</p>



<p>Vắng nhau thì thấy ở đâu cũng buồn&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Tự dưng thương ghế thương bàn</p>



<p>Nơi em đã để cho làn hương rơi</p>



<p>Anh muốn kêu lên em ơi</p>



<p>Nhớ gì nhớ đến chết người như không&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Tay vò hoa cúc nát lòng</p>



<p>Vàng phai hay ý chờ mong nhạt dần.</p>



<p>(Bài thơ này đã được anh Đinh Văn Trang phổ nhạc tại trại Thanh Cẩm vào năm 1979) (<strong>1</strong>)&nbsp;</p>



<p>Đây là tâm tình của anh trong những tháng năm cải tạo xa cách vợ hiền. Anh Trác đã kể tôi nghe về chuyện tình của anh Nhật với chị Vinh &#8211; chị hơn anh 18 tuổi. Ở thời điểm ấy – Nàng ra đời trước Chàng từng ấy năm &#8211; kể cũng hơi khác thường.&nbsp;</p>



<p>Nhưng phải công nhận tình yêu và nỗi nhớ thương của anh với người tình đậm đà, sâu sắc, lãng mạn và rất Thơ – nghe rất khoái.&nbsp;Chờ một lát cho chất tình, chất lãng mạn, chất Thơ thấm vào hồn khán giả, anh Nhật nhắp một hớp trà nữa rồi đọc tiếp 4 câu thơ:&nbsp;</p>



<p>Một ngày không thấy mặt nhau</p>



<p>Đã như phát ốm phát đau một ngày</p>



<p>Xa nhau đã mấy năm nay</p>



<p>Mình không bỏ mạng là may lắm rồi&nbsp;</p>



<p>Như đã nói ở trên, chị hơn anh 18 tuổi nên nghe đoạn thơ rất sâu sắc, đậm tính lãng mạn đó, anh Sỹ, anhTrác và cả tôi đều cười thích thú. &nbsp;</p>



<p>Đến đây anh Sỹ nhìn tôi thân thiện nói:&nbsp;</p>



<p>Nghe anh Trác kể thơ anh Nhì được anh em trong trại cải tạo rất ưa thích. Nhân dịp này cho chúng tôi nghe vài bài nhé.&nbsp;</p>



<p>Tôi cũng cầm ly nhấp một hớp trà thấm giọng rồi tự giới thiệu và đọc bài thơ HẸN MỘT NGÀY MAI. Tôi viết bài này ở phân trại E năm 1981, lúc mới bước qua tuổi 30.&nbsp;&nbsp;&nbsp;</p>



<p>HẸN MỘT NGÀY MAI&nbsp;</p>



<p>Ai chẳng muốn có một mái nhà êm ấm</p>



<p>khi đã bước qua tuổi ba mươi</p>



<p>một cô vợ hiền lành duyên dáng</p>



<p>một hai đứa con kháu khỉnh tươi cười&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Bắt tay vào xây dựng tương lai</p>



<p>trong muôn nghìn việc chung của quê hương dân tộc</p>



<p>ai chẳng có một đôi khoảnh khắc</p>



<p>nghĩ về những riêng tư&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Tôi còn bà mẹ già</p>



<p>như ngọn đèn sắp tắt</p>



<p>mong đứa con trai từng giờ, từng phút</p>



<p>sớm trở về nhà lấy vợ, đẻ con&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Mang trong lòng một hoài bão sắt son</p>



<p>“Bồi đắp vun trồng những mầm non nước Việt”</p>



<p>tôi cũng muốn mai đây trong cánh rừng tươi đẹp</p>



<p>có một, đôi cây mang vóc dáng của mình</p>



<p>ngạo nghễ giữa trời xanh&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Nhưng hôm nay nghĩ đến chuyện gia đình</p>



<p>tôi như chạm phải vết thương nhức nhối</p>



<p>đất nước vẫn chìm trong đêm tối</p>



<p>lũ quỷ đỏ dã man vẫn đày đọa muôn dân</p>



<p>đường đấu tranh sẽ còn lắm gian nan</p>



<p>mà sự nghiệp chỉ đôi bàntay trắng&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Tôi biết mình chưa thể chu toàn bổn phận</p>



<p>làm chồng, làm cha khi chí vẫn tang bồng</p>



<p>vẫn chưa chồn chân lội suối băng rừng</p>



<p>vẫn đôi tay muốn ghì chặt súng</p>



<p>trên đầu tóc vẫn đang dựng đứng</p>



<p>mắt vẫn in rõ mặt quân thù&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Và trái tim</p>



<p>vẫn hằng đêm</p>



<p>nhói đau trong ngực</p>



<p>khi xa xa vọng về tiếng khóc</p>



<p>của những bà mẹ già, những đứa trẻ thơ&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Nên dù có lời hứa đợi chờ</p>



<p>của cô láng giềng tôi yêu tha thiết</p>



<p>dù mẹ tôi khao khát</p>



<p>mong cô con dâu, mong đứa cháu gọi bà</p>



<p>tôi vẫn lắc đầu và mỉm cười vu vơ</p>



<p>khi có người hỏi</p>



<p>“Sao chưa lấy vợ?”&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Tôi mơ đến một khoảng trời rộng mở</p>



<p>có những đoàn quân</p>



<p>tiến về Sài Gòn</p>



<p>đòi lại quê hương đã mất</p>



<p>và hòa trong ào ào tiếng thét</p>



<p>“Tiến lên! Hãy tiến lên!”</p>



<p>có bóng tôi lao vút như tên.&nbsp;</p>



<p>Vâng. Đó là tâm sự của tôi– một thanh niên sắp “tam thập nhi lập” nhưng hoàn cảnh trớ trêu, vẫn còn nằm trong trại cải tạo, chưa được ra đời thực hiện những ước mơ &#8211; xây dựng gia đình, tạo lập tương lai sự nghiệp.&nbsp;</p>



<p>Tứ thơ “nhất khí liền mạch”, âm điệu chảy thành dòng làm chỗ dựa cho cảm xúc cùng những mảnh tâm sự bám theo đi vào tâm hồn những người yêu thơ. Anh Sỹ đang gật gù như muốn nhờ năng lượng từ sự chuyển động của cái đầu đưa cảm xúc thấm sâu vào tâm hồn.&nbsp;</p>



<p>Không khí lặng đi một lúc lâu.&nbsp;</p>



<p>Rồi anh Sỹ ngẩng đầu lên nhìn tôi nhẹ nhàng “ra lệnh”:&nbsp;</p>



<p>Một bài nữa đi anh Nhì.&nbsp;</p>



<p>Tôi dùng vài phút kể lể sự tình: &nbsp;</p>



<p>Sau khi bị đánh đập dập xương sống, bị cùm kẹp đến liệt hai chân và rối loạn cơ tròn, không kiểm soát được đường tiểu tiện và đại tiện, tôi nằm chờ chết trong xà lim. Nhờ sự can thiệp tận tình của hai bác sĩ tù Trần Quý Nhiếp và Trần Văn Lịch, cộng thêm đề nghị của một phái đoàn Thanh Tra Y Tế Trung Ương, tôi được chuyển vào một bệnh xá nhỏ ở Phân Trại B, nơi giam giữ tù hình sự.</p>



<p>Tôi đã sống chung với đủ mọi loại tội phạm: Giết người, trộm cướp, hiếp dâm, lừa đảo, xì ke ma tuý v.v. Lúc ấy ở bệnh xá có khoảng 30 bệnh nhân, toàn là tù hình sự. Chỉ mình tôi “lạc loài”.&nbsp;</p>



<p>Rồi tôi bắt đầu đọc bài thơ&nbsp;TÔI ĐÃ GẶP Ở ĐÂY:</p>



<p>Tôi đến đây</p>



<p>trong một lần đi trốn</p>



<p>khi đang trong cuộc một trò chơi lớn</p>



<p>trò chơi đấu tranh&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Nhìn quanh</p>



<p>tôi thấy toàn thú dữ</p>



<p>mắt tròn xoe đổ lửa</p>



<p>uống máu ăn thịt lẫn nhau</p>



<p>trong khi bên ngoài những lớp rào và những hào sâu</p>



<p>bầy quỷ sứ đứng canh ngả nghiêng cười khoái trá&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Ở đây</p>



<p>một nắm rau dại một con sâu, con dế</p>



<p>lắm khi tàn tạ thân xác một con người</p>



<p><em>m</em><em>ột mẩu t</em><em>àn thu</em><em>ốc rơi</em></p>



<p><em>có th</em><em>ể l</em><em>àm máu đ</em><em>ổ &nbsp;</em></p>



<p>Tử thần đang mừng rỡ</p>



<p>bước từng bước đến gần</p>



<p>những con người khốn khổ</p>



<p>họ không có gì chống đỡ</p>



<p>nên chỉ biết bán rẻ nhân cách của mình</p>



<p>biến thành những con vật đê hèn</p>



<p>ngụp lặn trong vũng bùn tội lỗi&nbsp;</p>



<p>May mắn thay</p>



<p>tôi đã gặp ở đây</p>



<p>ân tình đong thật đầy</p>



<p>của những người bạn mới</p>



<p>(giữa rừng cỏ dại quanh bờ suối</p>



<p>lác đác một hai khóm trúc đào)&nbsp;</p>



<p>Tôi quên sao được hương vị ngọt ngào</p>



<p>của cành hoa các anh trao giữa muôn nghìn cay đắng</p>



<p>đàng sau những vệt máu, những giọt mồ hôi, những tia nhìn thù hận</p>



<p>là màu xanh ước mơ</p>



<p>những nét nhạc, những vần thơ</p>



<p>khung trời quê hương, biển tình yêu và cuồn cuộn dâng nhựa sống</p>



<p>tâm hồn tôi như bay cao giữa trời gió lộng</p>



<p>dù xác thân vẫn trĩu nặng gông xiềng&nbsp;</p>



<p>Tôi cũng gặp những đứa em</p>



<p>còn chút dáng người giữa bầy dã thú</p>



<p>đói thắt ruột và roi quất trên đầu, trên cổ</p>



<p>vẫn chẳng nỡ ăn thịt đồng loại của mình (ý nói không làm Ăng &#8211; ten)</p>



<p>tôi ôm các em vào lòng</p>



<p>thủ thỉ bên tai những lời thân ái</p>



<p>để các em quen dần tiếng nói</p>



<p>của loài người đã quên mất từ lâu&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Tôi đã bị đẩy xuống tận đáy vực sâu</p>



<p>dù đường còn rất xa, và rất nhiều khó nhọc</p>



<p>vẫn cố trèo lên miệng vực</p>



<p>dù bọn quỷ sứ muốn biến tôi thành súc vật</p>



<p>trái tim tôi vẫn ăm ắp tình người</p>



<p>vẫn quay quắt nhớ người yêu</p>



<p>xa tít một phương trời</p>



<p>và vẫn niềm tin</p>



<p>ở một ngày mai.&nbsp;</p>



<p>Viết cuối năm 1982 ở Bệnh Xá Phân Trại B&nbsp;</p>



<p>Tôi cũng giải thích một chi tiết (coi như một chú thích) cho 2 câu thơ <em>ch</em><em>ữ nghi</em><em>êng </em>để có sự thông cảm của khán giả: &nbsp;</p>



<p>Một ngày Chủ Nhật, được nghỉ lao động, có 2 em tù hình sự đến &#8220;cà kê dê ngỗng&#8221; kể chuyện tôi nghe. Số là cả 2 em đều ghiền thuốc nặng, lúc đang cuốc đất, thấy tên công an võ trang đứng gần đấy vứt cái tàn thuốc mới hút xong, cùng xông tới giành nhau. Đứa bị dộng báng súng lên ngực, chiều tối về phòng mới ói máu; đứa bị chân giầy đạp lên mặt, máu răng, máu miệng bê bết &#8220;giữa trận tiền&#8221;. Một em vừa cười vừa nói với tôi: &#8220;Biết là ăn đòn nhưng ghiền quá chịu không nổi anh ơi!&#8221;&nbsp;</p>



<p>Đến đây anh Trác chen vào lên tiếng mời anh Nhật đọc thơ tình để thay đổi không khí. Anh Nhật là tay đọc thơ chuyên nghiệp nên dù đã sẵn sàng vẫn chờ thêm khoảng một phút nữa để thu hút sự chú ý của khán giả.&nbsp;Rồi anh không giới thiệu mà, thật chậm rãi, đi thẳng vào bài thơ:&nbsp;</p>



<p>Ngày nào mới mặc áo dài</p>



<p>Tay em run quá chẳng cài nổi khuy</p>



<p>Chuyện giờ kể có khác đi</p>



<p>Run run anh cởi hết khuy em cài</p>



<p>……………….</p>



<p>&nbsp;À thì ra đây là bài thơ ÁO DÀI được phổ nhạc mà anh Trác đã hát trong “buổi văn nghệ dở dang” ở Quận 8 hôm nào. Phải công nhận tình yêu của anh với người tình tình – hơn anh đến 18 tuổi &#8211; đậm đà, sâu sắc, lãng mạn và rất Thơ – càng nghe càng thấy khoái.&nbsp;</p>



<p>Sau đó là giờ giải lao. &nbsp;</p>



<p>Chị con dâu của nhà văn Doãn Quốc Sỹ đem chè đậu xanh lên mời khách. Đến chỗ tôi chị đặt chén chè lên bàn rồi nhỏ nhẹ nói: “Cháu mời chú ăn chè”.&nbsp;Tôi giật nẩy mình. (Chị ít ra cũng hơn tôi vài tuổi). Tôi nhìn anh Sỹ đỏ mặt, ngượng ngùng. Nhưng nhà văn đáng tuổi cha chú tôi đã lịch thiệp lên tiếng:&nbsp;</p>



<p><em>Anh Nhì à! Anh Trác là b</em><em>ạn t</em><em>ôi. Anh là b</em><em>ạn anh Tr</em><em>ác t</em><em>ức cũng l</em><em>à b</em><em>ạn t</em><em>ôi. Hơn n</em><em>ữa, ch</em><em>úng ta là nhà văn, nhà thơ – mà nhà văn, nhà thơ thì không có tu</em><em>ổi. Ch</em><em>áu xưng hô v</em><em>ới anh như vậy l</em><em>à đúng đ</em><em>ấy. Anh đừng ngại.</em> (<strong>2</strong>)&nbsp;</p>



<p>Tôi bỗng nghĩ đến câu “Trong văn chương thì ‘gừng càng già càng cay’, nhưng cũng có khi ‘tài không đợi tuổi’”. Như vậy câu nói của anh Sỹ cũng có phần đúng của nó.&nbsp;Nhưng rồi cũng có câu “Hãy kính trọng người già khi bạn còn trẻ” rất hợp với truyền thống, lễ giáo, cách xưng hô, giao tiếp của người Việt Nam &#8211; theo tôi, cũng không nên coi thường. Bởi vậy cách xưng hô của chị con dâu có làm tôi áy náy đôi chút.&nbsp;</p>



<p>Tuy nhiên, “nhập gia tùy tục”nên tôi không có ý kiến gì thêm.&nbsp;</p>



<p>Ăn chè xong, chị châm thêm một bình trà mới và chương trình đọc thơ lại tiếp tục. Tôi và anh Nhật cứ xen kẽ nhau trổ tài. Tôi đọc 2 bài (HOA DẠI và VÌ THẾ TÔI RA ĐI), anh Nhật đọc tiếp 3 bài nữa.&nbsp;Khi tôi đọc xong bài VÌ THẾ TÔi RA ĐI thì ba vị khán giả yêu thơ lim dim mắt, gật gù như muốn thử tìm xem có chỗ nào có thể cảm thông với nỗi niềm tâm sự hơi lạ đời đó không. Chắc là cũng có đôi chút nên ngồi uống trà một lát, anh Sỹ lại nhìn tôi có vẻ thúc giục.&nbsp;</p>



<p>Anh Trác khuyến khích: &nbsp;</p>



<p>“Cứ chơi thoải mái đi ông Nhì”.&nbsp;</p>



<p>Và tôi đọc thêm bài thơ TẬP VẼ. &nbsp;</p>



<p>Bài này tôi cũng viết lúc đang nằm ở bệnh xá phân trại B. &nbsp;Một em tù hình sự có học lại có hoa tay,&nbsp; vẽ đẹp nên được ưu tiên cho về đội nhà bếp để thỉnh thoảng vẽ cờ, hoa, khẩu hiệu trang trí cho phân trại. Em mến tôi và lúc bớt việc lại đến bệnh xá đề nghị tôi hát mấy bản nhạc vàng mà em ưa thích.&nbsp;</p>



<p>Một hôm em tâm sự là rất buồn, rất chán khi bị bắt buộc phải vẽ những hình, khẩu hiệu mà em “không có cảm tình”. &nbsp;Bài thơ ra đời trong khung cảnh ấy.&nbsp;</p>



<p>TẬP VẼ&nbsp;</p>



<p>Thuở bé thầy giáo thường khen em</p>



<p>có hoa tay, vẽ nhanh, vẽ đẹp</p>



<p>chỉ vài nét</p>



<p>là có hình người muông thú, cỏ hoa&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Thế mà mấy năm qua</p>



<p>em luôn bị điểm 2 môn vẽ</p>



<p>chăm chỉ, miệt mài tính em vẫn thế</p>



<p>chứ có đâu biếng nhác, ươn hèn&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Nhớ hôm vẽ cờ búa liềm</p>



<p>em đã ngắm kỹ từng đường cong nét thẳng</p>



<p>em cũng ướm thử từng đoạn dài đoạn ngắn</p>



<p>nhưng đến hết giờ</p>



<p>em vẽ cũng vẫn … sai&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Đưa lưng cho thầy quất mấy roi</p>



<p>em ngỡ liềm cứa thịt da em rách</p>



<p>thước kẻ thầy đánh vào tay</p>



<p>em tưởng búa đập xương em dập nát&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Một hôm khác</p>



<p>lớp em vẽ hình Lê- Nin</p>



<p>em hết nhìn thẳng lại nhìn nghiêng</p>



<p>để ý từ chòm râu, sóng mũi&nbsp;</p>



<p>Nhưng lạ chưa!</p>



<p>Lê – Nin của em vào cuối buổi</p>



<p>trông cứ như đang múa vuốt, nhe nanh</p>



<p>xem bài em thầy giáo giật mình</p>



<p>đánh em ngã lăn giữa lớp&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Hôm vẽ Bác Hồ lòng em hồi hộp</p>



<p>thầy đứng bên em chẳng phút nào rời</p>



<p>thầy nhắc em Bác nhân đức yêu người</p>



<p>thầy sánh Bác với vua Hùng dựng nước&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Em cố vẽ theo lời thầy nhưng không sao vẽ được</p>



<p>tay chén chè tàu tay ly rượu Vốt- Ka</p>



<p>Bác Hồ của em trông gian ác, điêu ngoa</p>



<p>em lại bị thêm trận đòn tím bầm thân thể&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Bản đồ nước Việt Nam</p>



<p>một hôm em đang vẽ</p>



<p>này biển, này sông, này rừng núi, ruộng vườn</p>



<p>này những thành phố quê hương</p>



<p>em đặt hết tâm hồn vào trang giấy nhỏ&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Thầy đứng sau lưng cầm cây cọ đỏ</p>



<p>bôi kín tấm bản đồ tổ quốc em yêu</p>



<p>đỏ biển, đỏ sông, đỏ những đê điều</p>



<p>đỏ phố, đỏ phường</p>



<p>đỏ hết cả núi rừng, nương rẫy&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Em bỏ ngôi trường làng ra đi từ dạo ấy</p>



<p>lang thang như một khách giang hồ</p>



<p>Ôi! Nhớ làm sao những lần tập vẽ ngày xưa</p>



<p>Ồ! Giá trường em giờ có thầy giáo mới&nbsp;</p>



<p>Em sẽ chạy về ngay</p>



<p>không để lỡ một ngày, một buổi</p>



<p>ngồi vào hàng ghế ngày xưa</p>



<p>thầy đang dậy những câu hát mẹ ru</p>



<p>còn em háo hức chờ đến giờ tập vẽ.&nbsp;&nbsp;</p>



<p>Lúc viết bài thơ này, dù còn đang bại liệt trong trại cải tạo, tôi đã mơ đến chuyện ra đi chứ không như ngày 29 tháng tư năm 1975:&nbsp;</p>



<p>Khi đoàn tàu chở đơn vị tôi</p>



<p>chuẩn bị rời Vũng Tàu hướng ra Đông Hải</p>



<p>thương cha mẹ già, đàn em dại</p>



<p>tôi bước lên bờ ở lại quê hương.</p>



<p>(Bờ Vẫn Quá Xa, Phạm Đức Nhì)&nbsp;</p>



<p>Bởi thông tin truyền vào qua thăm nuôi cho biết “sĩ quan cải tạo” trở về nếu không nhanh chóng tìm đường ra đi thì ở lại sẽ bị tước đoạt hết mọi cơ hội kiếm sống, sẽ chỉ là gánh nặng cho gia đình mà thôi.&nbsp;&nbsp;&nbsp; &nbsp;</p>



<p>Và đây cũng là bài cuối của chương trình. Khác mấy bài trước, bài này được 3 khán giả đón nhận nồng nhiệt.&nbsp;</p>



<p>Trong gần 3 tiếng đồng hồ thả hồn vào thơ, anh Nhật đọc 7 bài. Tôi đọc 5 bài. Thỉnh thoảng cũng có những “lời bình ngắn” rất uyên bác, điệu nghệ của anh Sỹ và anh Trác. &nbsp;Vì đây là bài viết về anhTrác nên tôi chỉ đưa vào 3 bài thơ của anh Nhật và 3 bài của tôi để độc giả có thể mường tượng ra phần nào khung cảnh, không khí của buổi đọc thơ. Mục đích chính của đoạn này là làm nổi bật vai trò “đạo diễn ngầm” của anh Trác.</p>



<p>Độc giả có thể đọc cả 5 bài thơ tôi đọc tại nhà anh Sỹ theo link sau đây:</p>



<p><a href="https://maybaitho.blogspot.com/2023/10/may-bai-tho-oc-o-nha-anh-doan-quoc-sy.html">https://maybaitho.blogspot.com/2023/10/may-bai-tho-oc-o-nha-anh-doan-quoc-sy.html</a></p>



<p>Còn 4 bài khác nữa của anh Nhật, rất tiếc lâu quá, tôi đã quên.&nbsp;</p>



<p>Anh Nhật đọc thơ rất có duyên. Anh để ý “luyến láy” từng chữ, từng câu. Anh đọc thơ của chính mình, lại thuộc lòng, nên dễ dàng lột tả được những chỗ ý tứ sâu sắc, “chữ tình” đằm thắm, thiết tha.&nbsp;Cái thú khi nghe thơ anh Nhật là không phải “ngẫm” cũng có thể hiểu rồi cảm được ý tứ sâu sắc, cảm xúc dạt dào đằm thắm được gói ghém khéo léo trong những câu thơ có ngôn ngữ, hình tượng tỏa ra nét đẹp văn chương óng mượt. &nbsp;</p>



<p>Thơ tôi dễ đọc hơn. Bài thơ dài, nhất khí liền mạch và tôi đã thuộc như cháo nên khi đọc cứ thả hồn theo dòng chảy của tứ thơ, dòng cảm xúc và nhờ dòng âm diệu dẫn đưa về Bến Đỗ.&nbsp;</p>



<p>Một người đọc thơ, 3 người còn lại cũng lặng yên thả hồn vào từng chữ, từng câu. Phòng khách thì rộng rãi, thoáng mát nhưng cũng hoàn toàn im ắng như muốn cùng hòa điệu với những người thưởng thức thơ ca toàn tâm, toàn ý.&nbsp;</p>



<p>Trước khi chia tay anh Sỹ dặn tôi:&nbsp;</p>



<p>“Anh Nhì nhớ cho tôi mấy bài thơ để gởi cho các anh ấy ở bên kia nhé.”&nbsp;</p>



<p>Được một người như nhà văn Doãn Quốc Sỹ quý trọng, yêu mến thơ của mình và bộc lộ một cách tế nhị như thế thật là một điều vinh hạnh. Điều đó đã giúp tôi tự tin hơn, thoải mái hơn khi phóng bút viết những bài thơ sau này.&nbsp;</p>



<p>Ra về tôi không nói gì thêm với anh Trác nhưng lòng thầm cám ơn anh đã có công “gầy sòng” rồi cùng anh Sỹ “đạo diễn” để tôi có một buổi đọc thơ đáng nhớ trong đời. &nbsp;</p>



<p>Tôi chưa kịp “trao thơ” thì anh Sỹ, anh Trác và một số nhà văn, nhà thơ khác đã bị bắt trong vụ Những Tên Biệt Kích Cầm Bút. (Chuyển “thơ văn chống đối chế độ” từ trong nước ra hải ngoại) (<strong>3</strong>)&nbsp;</p>



<p><strong>G</strong><strong>ặp Lại Nh</strong><strong>à Văn Doãn Qu</strong><strong>ốc Sỹ&nbsp;</strong></p>



<p>Giữa tháng 2 năm 2003 anh Trác gọi điện thoại rủ tôi đi dự văn nghệ mừng Thượng Thọ 80 của nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Buổi lễ được tổ chức tại một hội trường lớn ở thành phố Houston. Anh Trác và tôi chọn hai chỗ sát lối đi ở bên trái khán đài, anh Sỹ cùng gia đình ngồi ở phía bên kia lối đi.&nbsp;Chương trình văn nghệ bên cạnh “cây nhà lá vườn” tại Houston còn có vài ca sĩ từ xa đến chung vui. Người hát nhạc vàng trước 75, người hát nhạc mới sáng tác tại hải ngoại. Cũng có người đọc bài thơ “Mừng Bác 80” để chúc thọ nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Không khí thật rộn ràng, vui vẻ. Được ngày nghỉ lên khu trung tâm thành phố chơi nên tôi thả hồn vào lời ca tiếng hát. &nbsp;</p>



<p>Bỗng MC cao giọng: &nbsp;“Để thay đổi không khí chúng tôi xin giới thiệu anh Phạm Đức Nhì. Anh sẽ đọc một bài thơ do chính anh sáng tác. Xin mời nhà thơ Phạm Đức Nhì”.&nbsp;</p>



<p>Hơi bị bất ngờ, tôi đứng dậy nhìn anh Trác thì thấy anh cười nói: “Ông cứ lên cho bà con thưởng thức một bài cho vui.” Thì ra anh đã “gài độ” trước.&nbsp;</p>



<p>Năm 1996, sau khi dự lễ khai mạc kỳ đài tại Houston, nhìn lá cờ vàng 3 sọc đỏ phất phới bay trong gió, cảm xúc dâng trào, tôi đã viết bài thơ LÁ CỜ CHÍNH NGHĨA. Thời gian đó chưa có Facebook, nhưng chỉ qua Emails bài thơ đã được loan truyền rộng rãi trên các diễn đàn. &nbsp;Lễ mừng thượng thọ nhà văn Doãn Quốc Sỹ &#8211; một người yêu tự do, đã bị chính quyền Cộng Sản bỏ tù – mà đọc bài thơ ấy thì rất hợp cảnh hợp tình.</p>



<p>Nhưng đứng trên khán đài nhìn anh Sỹ, rồi lại nhìn anh Trác ở bên kia lối đi giữa hội trường, kỷ niệm buổi đọc thơ 19 năm trước tại nhà anh Sỹ lại hiện về.&nbsp;Qua những “lời bình ngắn” ý nhị hôm ấy, tôi biết hai anh &#8211; đặc biệt là anh Sỹ &#8211; có lòng ưu ái với bài thơ TẬP VẼ của tôi. Thế là sau một chút lưỡng lự tôi đã quyết định đọc “bài thơ kỷ niệm” ấy.&nbsp;</p>



<p>Bài thơ được mọi người nhiệt tình tán thưởng, tiếng vỗ tay lớn và kéo dài rất lâu. Xuống khán đài về chỗ ngồi, lúc qua chỗ anh Sỹ, anh đứng lên kéo tôi lại gần rồi ghé sát tai tôi nói nhỏ:&nbsp;</p>



<p>“Tôi vẫn nhớ mấy bài thơ anh đọc năm nào tại nhà tôi. Riêng bài Tập Vẽ bây giờ nghe lại càng thấy thấm thía”.&nbsp;</p>



<p>Tôi chỉ biết đứng yên, miệng lí nhí “Cám ơn anh” nhưng trong đầu lại hiện ra khuôn mặt khả ái và nụ cười ý nhị của ca sĩ Duy Trác.&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; &nbsp;</p>



<p><strong>Ti</strong><strong>ệc Gi</strong><strong>ã T</strong><strong>ừ Đời Ca H</strong><strong>át</strong> &nbsp;</p>



<p>Một hôm chị Trác gọi điện thoại mời vợ chồng tôi vào chiều cuối tuần (lâu quá tôi đã quên ngày tháng) đến dự buổi tiệc họp mặt gia đình và thân hữu để anh “rửa tay gác kiếm” – giã từ đời ca hát. Buổi tiệc khoảng hơn trăm người tại một nhà hàng (hôm đó không tiếp khách vãng lai) nên không khí gần gũi, thân tình và ấm cúng.&nbsp;</p>



<p>Trong phần văn nghệ tôi có dịp nghe lại bản nhạc Lời Nguyện Trong Tù (đã được đổi tên thành Giáng Sinh Trong Ngục Tù) do con gái của anh Trác hát. Tôi để ý thấy ở đoạn:&nbsp;</p>



<p>“Xin quét hết lũ người sống hận thù không óc không tim. Xin tiếng hát nụ cười cho mọi người được sống bình yên”&nbsp;</p>



<p>nhóm chữ “Xin quét hết lũ người” đã được đổi thành “Xin cứu vớt những người”.&nbsp;</p>



<p>Hai chữ “sân hận” màu đỏ máu lửa ngày xưa đã được buông bỏ. Thay vào đó là hai chữ “nhân ái” màu xanh hiền hòa mát dịu. Tôi bỗng thấy lòng thật vui. Và mừng cho sự đổi thay trong tâm hồn anh Trác. Ở tuổi anh, như thế sẽ nhẹ lòng hơn, thanh thản hơn để sống những năm tháng còn lại của cuộc đời.&nbsp;</p>



<p>Tôi cũng may mắn, có“duyên” &#8211; gặp được “cao nhân đạt đạo”, giúp cởi bỏ hận thù trong tâm khảm – đã bắt tay kết bạn với khá nhiều “kẻ thù xưa” trong chốn văn chương và cả ngoài đời thường. Lại gặp cái “nghiệp” bị Nàng Thơ quyến rũ, mê hoặc suốt mấy chục năm trời đến mức đã “dại dột” bước vào lãnh địa Phê Bình – “đưa ra lời khen, tiếng chê, cái này ‘đường mới’ cái kia ‘lối mòn’, bài thơ này đúng hướng, bài thơ kia lạc đường”. Bởi vậy, nếu còn khư khư ôm giữ lập trường, phân định “địch ta” thì làm sao có được công tâm trong việc nhận định giá trị nghệ thuật của một thi phẩm.&nbsp;</p>



<p>Vào buổi họp mặt để anh “giã từ đời ca hát”, tôi nhận ra anh với tôi còn có thêm một điểm tương đồng nữa: Đó là hai chữ “nhân ái” hiền hòa màu xanh mát dịu ẩn hiện đâu đó trên mặt của anh. Còn tôi, sau nhiều năm cởi bỏ được hai chữ “hận thù”, thỉnh thoảng soi gương thấy mặt mình cũng “hiền” hơn xưa khá nhiều. Có điều hai chữ “nhân ái” trên mặt anh tự nhiên hơn, rõ nét hơn, còn của tôi, do dính líu chút “tư ý tư dục” trong chuyện thơ văn nên mờ nhạt hơn. &nbsp;</p>



<p><strong>K</strong><strong>ết Luận&nbsp;</strong></p>



<p>Tôi với anh Khuất Duy Trác, tức ca sĩ Duy Trác, tuổi đời có đến hơn 16 năm cách biệt. Học vấn, kiến thức, địa vị trong xã hội tôi kém anh rất xa. Cung cách ứng xử văn hóa trong giao tiếp, so với anh, tôi thấy mình còn quá “bình dân”. Xưng hô thì anh gọi tôi là Ông, xưng Tôi, tôi gọi anh là Anh, xưng Tôi – cũng không được gần gũi lắm.&nbsp;</p>



<p>Chúng tôi gặp nhau trong hoàn cảnh tội tù khắc nghiệt, giống nhau ở lòng đam mê âm nhạc, thi ca. Nhờ “Duyên” đã có cơ hội “cùng nhau vui chơi” để lại vài kỷ niệm &#8211; những kỷ niệm in đậm tính cách, nhân cách của anh &#8211; một Nghệ Sĩ Chân Chính.&nbsp;</p>



<p>League City tháng 11/ 2023</p>



<p>Phạm Đức Nhì</p>



<p><a href="mailto:nhidpham@gmail.com">nhidpham@gmail.com</a>&nbsp; &nbsp;</p>



<p><strong>CHÚ THÍCH:</strong>&nbsp;</p>



<p>1/ <a href="https://www.diendantheky.net/2012/06/tho-nguyen-huu-nhat-hoa-cuc-vang-tho.html">https://www.diendantheky.net/2012/06/tho-nguyen-huu-nhat-hoa-cuc-vang-tho.html</a></p>



<p><strong>2</strong>/ Sau này nhờ tâm hồn cởi mở, phong cách phóng khoáng trong giao tiếp với bè bạn văn chương của anh Sỹ và đặc biệt là câu “Chúng ta là nhà văn, nhà thơ &#8211; mà nhà văn, nhà thơ thì không có tuổi” tôi đã có cái nhìn tự do hơn, khách quan hơn đối với các nhà văn, nhà thơ và tác phẩm của họ.&nbsp;</p>



<p>Tôi đã tìm tòi, học hỏi, nghiên cứu để tạo cho mình một nền tảng kiến thức lý luận văn học và khi nhận xét, đánh giá một bài thơ, một tác phẩm văn chương tôi chỉ dựa trên cái nền tảng kiến thức đó.</p>



<p>Kết quả là tôi đã bỏ được một “thói xấu” trong phê bình: Coi trọng đến mức tôn thờ tác phẩm của các “cây cổ thụ văn chương” – không dám “đụng đến” những khuyết điểm, dù sờ sờ trước mắt, của họ &#8211; và ngược lại, coi thường đến mức bất công tác phẩm của những văn thi sĩ còn non trẻ.&nbsp;</p>



<p><strong>3</strong>/ Còn tôi mấy tháng sau cũng bị bắt ở Bến Lức, Long An vì tội vượt biên. Trong khi bị “tập trung cải tạo” ở Nhơn Hoà Lập thì được công an thành phố HCM đến “đón” về trại giam Phan Đăng Lưu, Gia Định. Lý do: Trong thời gian ở A20, một bạn tù hỏi xin và tôi có chép bài thơ Từ Ngục Tù Cộng Sản cho anh đem về. Ít lâu sau anh vượt biên bị bắt cùng với bài thơ và bị xử 12 năm tù.&nbsp;</p>



<p>Anh không khai gì để tổn hại đến tôi, nhưng một thời gian sau nữa có ăng &#8211; ten khai báo và công an truy xét nét chữ đã tìm ra tôi. Mấy cán bộ công an bắt tôi phân tích và “bình” bài thơ của mình suốt 6 tháng trời. Cứ đến chỗ đụng chạm đến chế độ tôi lại bị hạch sách đủ điều. Có lần còn bị công an võ trang len lén đến tát vào mặt, đấm vào lưng vì đã xúc phạm đến Bác Hồ.</p>



<p>Vũ Văn Ánh, người sáng lập và chủ biên tờ Hợp Đoàn, sau khi kết cung đã “lên đài” nói với tôi (hét to trực tiếp từ xà lim này qua xà lim kia):</p>



<p>“Chắc không đến nỗi ‘dựa cột’ (tử hình) như Tạ Vinh đâu; nhưng lịch thì chở cả (xe) GMC cũng không hết”. &nbsp;</p>



<p>Tuy nhiên, khi ông Nguyễn Văn Linh lên nắm quyền với chủ trương cởi mở chính trị, những người liên quan đến vụ Hợp Đoàn ở A20, vụ của nhà văn Doãn Quốc Sỹ, ca sĩ Duy Trác … và cả tôi đều được thả về. Tôi về sau các anh vài tháng.&nbsp;&nbsp;&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>HOÀI NAM: CẢI TẠO NỬA MÙA – VƯỢT BIÊN TÀI TỬ (kỳ 20)</title>
		<link>https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-20/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Hoài Nam - Hồi Ký Cải Tạo]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 03 Oct 2023 07:52:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[Truyện Tù Cải Tạo]]></category>
		<category><![CDATA[hồi ký cải tạo]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=66349</guid>

					<description><![CDATA[CẢI TẠO NỬA MÙA – VƯỢT BIÊN TÀI TỬ (kỳ 20)Hồi kýHoài Nam NGUYỄN HỮU THIỆN Kỳ 1&#160;&#160;Kỳ 2&#160;&#160;Kỳ 3&#160;&#160;Kỳ 4&#160;&#160;Kỳ 5&#160; Kỳ 6&#160;&#160;Kỳ 7&#160;&#160;Kỳ 8&#160;&#160;&#160;&#160;Kỳ 9&#160;&#160;Kỳ 10&#160; Kỳ 11&#160;Kỳ 12&#160;Kỳ 13&#160;Kỳ 14&#160;Kỳ 15&#160;Kỳ 16&#160;Kỳ 17&#160;Kỳ 18 Kỳ 19 PHẦN II:&#160; VỀ MIỀN ĐẤT HỨA (tiếp theo kỳ 19) CHƯƠNG 2 – “Hoa tiêu” bất [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/02/cao-tao-sau-1975.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="502" height="335" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/02/cao-tao-sau-1975.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-60363" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/02/cao-tao-sau-1975-300x200.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/02/cao-tao-sau-1975.jpg?strip=all 502w" sizes="(max-width: 502px) 100vw, 502px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><strong>CẢI TẠO NỬA MÙA – VƯỢT BIÊN TÀI TỬ (kỳ 20)</strong><br><strong><em>Hồi ký</em></strong><br><strong><em>Hoài Nam NGUYỄN HỮU THIỆN</em></strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong><em><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=42965" target="_blank">Kỳ 1</a>&nbsp;&nbsp;<a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=43227" target="_blank">Kỳ 2</a></em></strong>&nbsp;&nbsp;<a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=43638" target="_blank"><strong>Kỳ 3&nbsp;&nbsp;</strong></a><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=44071" target="_blank"><strong>Kỳ 4&nbsp;&nbsp;</strong></a><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=44448" target="_blank"><strong>Kỳ 5</strong></a><strong><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=44904" target="_blank">&nbsp; Kỳ 6&nbsp;&nbsp;</a></strong><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=45847" target="_blank"><strong>Kỳ 7&nbsp;&nbsp;</strong></a><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=46303" target="_blank"><strong>Kỳ 8&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</strong></a><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=48543" target="_blank"><strong>Kỳ 9&nbsp;&nbsp;</strong></a><strong><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=50357" target="_blank">Kỳ 10</a></strong>&nbsp;</p>



<p class="has-text-align-center"><a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-11/"><strong>Kỳ 11</strong></a>&nbsp;<strong><a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-12/">Kỳ 12</a></strong>&nbsp;<strong><a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-13/">Kỳ 13</a></strong>&nbsp;<a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-14/"><strong>Kỳ 14</strong></a>&nbsp;<a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-15/"><strong>Kỳ 15</strong></a>&nbsp;<strong><a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-16/">Kỳ 16</a></strong>&nbsp;<a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-17/"><strong>Kỳ 17</strong></a>&nbsp;<a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-18/"><strong>Kỳ 18</strong></a> <strong><a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-19/">Kỳ 19</a></strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>PHẦN II:&nbsp; VỀ MIỀN ĐẤT HỨA</strong></p>



<p><strong>(tiếp theo kỳ 19)</strong></p>



<p><strong>CH</strong><strong>ƯƠNG 2 – “Hoa tiêu” bất đắc dĩ</strong></p>



<p>Cái cầu tàu này sử dụng cho các tàu chuyên chở máy móc, vật liệu, tiếp tế cho giàn khoan, từ mặt biển đi lên khá cao, vì thế có một cái thang sắt đi xuống gần mặt nước để sử dụng khi cần thiết.</p>



<p>Đến gần, thấy ở phía bên kia cầu tàu có đậu sẵn một chiếc tàu dài khoảng 30, 40 mét, đoán là tàu tiếp tế cho giàn khoan, tôi mừng thầm trong bụng: thật đúng lúc, chiếc tàu này sẽ chở chúng tôi tới đất liền!</p>



<p>Tôi cho ghe tiến tới cái thang sắt, ông anh cột chèo vội lấy một sợi dây thừng cột ghe vào chân cầu tàu để khỏi bị trôi. Mấy người Nhật đứng trên cầu tàu mặc đồ công nhân (overalls) vẫn im lặng quan sát, nhưng tới khi tôi nắm lấy cái thang và đặt chân lên thì một người la lớn “No no&#8230;” và ra hiệu cho tôi không được bước lên cầu tàu.</p>



<p>Tôi liền sử dụng tiếng Anh giải thích ngắn gọn cho họ biết chúng tôi là người Việt Nam chạy trốn chế độ cộng sản, xin được cứu vớt, nhưng họ vẫn tiếp tục xua tay từ chối cho tôi bước lên cái thang.</p>



<p>Tôi hơi ngạc nhiên và khá thất vọng. Cứ tạm thời cho rằng những công nhân này không hiểu một chút tiếng Anh nào thì khi thấy một chiếc ghe lênh đênh ngoài biển khơi trên có cả đàn bà con nít, họ cũng phải hiểu rằng chúng tôi là người tỵ nạn chứ!</p>



<p>Khoảng một hai phút sau, một người từ trên giàn khoan đi xuống cầu tàu. Ông ta khoảng trên dưới 40, cao ráo trắng trẻo, ăn mặc sạch sẽ, mang kiếng cận, nói tiếng Anh khá lưu loát, tự giới thiệu là kỹ sư trưởng trên giàn khoan này.</p>



<p>Tôi liền trình bày những gì đã nói với đám công nhân, không quên kể thêm việc chúng tôi bị mất phương hướng sau hai ngày gặp bão, và xin được cứu giúp. Nhưng viên kỹ sư giải thích giàn khoan này thuộc một công ty tư nhân của Nhật, và theo luật lệ của công ty, chỉ có nhân viên của công ty mới được phép bước lên giàn khoan, vì thế ông ta có trách nhiệm không cho tôi hay bất cứ ai bước lên cầu tàu này vì nó thuộc giàn khoan của một công ty tư nhân.</p>



<p>* * *</p>



<p>Trước khi vượt biên, qua thư từ của những người đã tới các trại tỵ nạn, chúng tôi được biết cùng với việc nhiều thuyền nhân được tàu buôn vớt còn có một số ghe cặp vào giàn khoan ngoài khơi, được họ vớt lên và sau đó được tàu đưa tới đất liền. Giờ đây bị viên kỹ sư Nhật từ chối, tôi vô cùng thất vọng và hoang mang. Chẳng lẽ thế giới tự do đã quay lưng lại với người tỵ nạn; hay đây chỉ là một trường hợp riêng lẻ?!</p>



<p>Sau này có cơ hội tìm hiểu, tôi mới biết đó là chủ trương của chính phủ Nhật Bản, một quốc gia có tiếng văn minh, giàu mạnh, tinh thần dân tộc cao nhưng luôn luôn thiếu lòng nhân đạo – ít nhất cũng là theo nhận xét của cá nhân tôi.</p>



<p>Thành thật mà nói, trước đó tôi đã không ưa người Nhật. Cho dù những nguyên nhân khiến tôi ghét người Nhật có thể bị một số người cho là do tinh thần dân tộc cực đoan, quá khích, hoặc mang nặng thành kiến với quân phiệt Nhật trong thời gian Đệ nhị Thế chiến, hay bất mãn trước đường lối thiên tả của họ trước 1975, tôi vẫn nhất quyết&#8230; không ưa người Nhật!</p>



<p>Nhưng kể cả những người xưa nay không hề ghét Nhật cũng không thể biện hộ cho con cháu Thái dương Thần nữ trước việc họ quay lưng lại với người tỵ nạn Việt Nam!</p>



<p>Thời gian từ giữa tới cuối thập niên 1970, nhiều quốc gia thuộc thế giới tự do đã mở rộng vòng tay đón nhận thuyền nhân Việt Nam, nhưng trong số đó không có Nhật Bản.</p>



<p>Theo tôi, có hai nguyên nhân chính. Thứ nhất, xưa nay người Nhật luôn luôn chủ trương một nước Nhật thuần chủng, không có một giống dân nào khác ngoài con cháu Thái dương Thần nữ; và thứ hai, không biết có phải vì cái hận phải đầu hàng Mỹ trong Đệ nhị Thế chiến hay không mà đa số người Nhật &#8211; dân chúng, chính giới cũng như giới truyền thông &#8211; đều có lập trường chống Mỹ trong chiến tranh Việt Nam.</p>



<p>Vì thế, mặc dù từ ngày 12/05/1975, tức là chưa đầy hai tuần lễ sau khi miền Nam VN lọt vào tay cộng sản, 9 người tỵ nạn Việt Nam được một tàu Mỹ vớt trên biển, đưa vào hải cảng Chiba gần Tokyo, tới giữa năm 1979, khi tổng số thuyền nhân Việt Nam đến Nhật đã lên tới trên 3,000 người, chính phủ Nhật Bản vẫn chưa có một chính sách nào về việc thu nhận người tỵ nạn cộng sản; việc giúp đỡ những con người khốn khổ này đều do các tổ chức thiện nguyện, tôn giáo, xã hội như Caritas Japan, Hội Hồng Thập Tự Nhật Bản, Cứu Thế Quân (Salvation Army)&#8230; đảm nhận.</p>



<p>Mọi thủ tục giấy tờ từ khi đặt chân lên bờ đều do Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR) đảm trách. Chính phủ Nhật chỉ miễn cưỡng cho phép thuyền nhân lên bờ, tạm trú sau khi đã có cam kết bằng văn bản của Cao Ủy Tị Nạn rằng sẽ đưa các thuyền nhân này đi định cư ở một nước thứ ba!</p>



<p>Chỉ tới sau khi hội nghị quốc tế về người tỵ nạn Đông Dương diễn ra tại Geneva vào tháng 7 năm 1979, với kết quả trên 20 quốc gia Âu châu và Bắc Mỹ đồng ý gia tăng gấp đôi số người tị nạn được nhận định cư mỗi năm, đồng thời gia tăng đóng góp vào ngân sách của Cao ủy Tỵ nạn LHQ, trước áp lực của dư luận quốc tế, nhất là Hoa Kỳ, quốc gia đã nhận cho định cư khoảng 90% số thuyền nhân tới Nhật, chính phủ Nhật mới bắt đầu cứu xét cho người tỵ nạn cộng sản từ Việt Nam được định cư tại quần đảo Phù Tang &#8211; với số lượng nhỏ giọt!</p>



<p>Cũng trong hội nghị nói trên, Cao ủy Tỵ nạn LHQ còn kêu gọi các tàu buôn quốc tế tích cực tham gia công việc cứu vớt những người tỵ nạn mà họ gặp ngoài biển khơi, và đưa ra quy định người tỵ nạn được tàu của quốc gia nào vớt thì sẽ được định cư tại quốc gia đó.</p>



<p>Sau này khi đã tới trại tỵ nạn và có dịp làm việc với văn phòng Cao ủy, tôi được biết chính quy định này đã khiến một số quốc gia, đứng đầu là Nhật Bản, né tránh việc cứu vớt thuyền nhân để khỏi phải mang gánh nặng!</p>



<p>Tới lúc đó tôi mới hiểu tại sao gần 30 con tàu chúng tôi gặp trên biển Đông đã ngoảnh mặt làm ngơ, và cái giàn khoan Nhật mà chúng tôi cứ ngỡ là cứu tinh ấy đã tàn nhẫn xua đuổi đoàn người trên con thuyền mong manh chỉ dài hơn 7 mét!</p>



<p>* * *</p>



<p>Trở lại với ngày 19/10/1981 trên biển Đông, mặc dù viên kỹ sư Nhật dứt khoát không cho tôi hay bất cứ ai bước lên cầu tàu của giàn khoan, ông anh cột chèo của tôi vẫn nhất quyết cho ghe nằm “ăn vạ” dưới chân cầu tàu vì tin rằng sớm muộn người ta cũng phải giải quyết.</p>



<p>Bên cạnh đó là những cặp mắt lo âu xen lẫn hy vọng của mọi người trên ghe, nên cho dù không có một chút thiện cảm nào với viên kỹ sư Nhật, tôi cũng phải ra sức ca bài con cá nó sống vì nước, cam kết với ông ta tôi sẽ không để ai bước lên cầu tầu, chỉ xin giàn khoan giúp đỡ bằng cách liên lạc với tàu bè qua lại, báo cho họ biết có người tỵ nạn đang ở giàn khoan chờ được cứu vớt.</p>



<p>Nhưng viên kỹ sư Nhật lạnh lùng lắc đầu, trả lời rằng giàn khoan không có phương tiện liên lạc với tàu bè của các quốc gia khác, đồng thời nhấn mạnh công ty của ông ta là một công ty tư nhân, không phải của chính phủ Nhật!</p>



<p>Rồi ông ta khuyên chúng tôi nên tiếp tục cuộc hành trình khi thời tiết còn tốt. Trước đó, khi tôi nói chúng tôi bị mất phương hướng sau khi gặp bão, ông ta đã trấn an tôi rằng chúng tôi vẫn đang đi đúng hướng, và chỉ cần đi thêm hơn một tiếng đồng hồ nữa là tới đảo Laut.</p>



<p>Viên kỹ sư còn ra vẻ tử tế, nói rằng nếu chúng tôi cần dầu mỡ, lương thực, nước uống&#8230; giàn khoan sẵn sàng cung cấp. Dĩ nhiên, chúng tôi không cần tới những thứ đó, bởi khi ra đi trên chiếc ghe 7 mét rưỡi vào giữa mùa bão, chúng tôi chấp nhận chết vì ghe bị bể, bị chìm nhưng dứt khoát sẽ không chết vì đói khát hoặc hết nhiên liệu, cho nên thứ gì chúng tôi mang theo cũng dư thừa cho một cuộc hành trình có thể kéo dài tới hai, ba tuần lễ!</p>



<p>Mặc dù chúng tôi nói không cần gì cả, viên kỹ sư cũng cho người đem ra mấy hộp sữa tươi, khoảng một chục quả cam, và cả mấy cục xà bông thơm, mấy chai shampoo có lẽ vì thấy đám đàn bà con nít trên ghe dơ bẩn, đen đủi phát khiếp (vì khói máy tàu)!</p>



<p>Trước thái độ dứt khoát và hành động đuổi khéo của viên kỹ sư, ông anh cột chèo của tôi đành phải chấp nhận rời giàn khoan!</p>



<p>* * *</p>



<p>Từ giàn khoan, chúng tôi tiếp tục đi theo hướng nam (180 độ), nhưng sau gần hai tiếng đồng hồ vẫn không thấy đảo Laut như viên kỹ sư Nhật đã nói!</p>



<p>Lúc này, sau khi bị giàn khoan từ chối cứu vớt, mọi người đều xuống tinh thần, nhất là đám phụ nữ, chỉ sợ gặp hải tặc Thái Lan!</p>



<p>Mặc dù không biết đích xác lúc này ghe đang ở đâu, tôi cũng cố làm ra vẻ bình tĩnh, trấn an mọi người rằng chúng ta đang trên đường đi tới Nam Dương, cách xa vịnh Thái Lan cả mấy trăm cây số, không việc gì phải lo sợ hải tặc!</p>



<p>Nhưng trong khi trấn an mọi người, chính tôi cũng cảm thấy không hoàn toàn yên tâm. Làm sao tôi biết bọn hải tặc Thái Lan chỉ hoạt động trong vịnh Thái Lan? Làm sao tôi biết trong đám ngư dân Nam Dương không có hải tặc?</p>



<p>Nghĩ tới hải tặc, tôi lại thầm trách ông anh cột chèo đã không chịu cho tôi mang theo vũ khí để tự vệ!</p>



<p>Ngày ấy, những năm cuối thập niên 1970 đầu thập niên 1980, một số nghe vượt biên, thường là ghe có đông thanh niên hoặc cựu quân nhân VNCH, đã lén mang theo súng ống, lựu đạn để đề phòng trường hợp gặp hải tặc Thái Lan.</p>



<p>Trong thời gian chuẩn bị chuyến vượt thoát, mặc dù đã nhất quyết đi về hướng bờ biển Nam Dương chứ không vào vịnh Thái Lan, tôi cũng đã nghĩ tới việc mua vũ khí và nhờ Khiêm (tay bạn trung úy hải quân mua hải bàn, hải đồ cho tôi) dò hỏi đám anh chị chợ trời, được biết hai “mặt hàng” phổ biến nhất cho dân vượt biên là súng lục K54 của Trung Cộng và lựu đạn M26 của Mỹ cung cấp cho quân đội VNCH trước năm 1975.</p>



<p>Súng K54 tôi không dám nghĩ tới vì không đủ khả năng tài chánh nhưng lựu đạn thì có thể xoay tiền để mua; tôi dự trù ít ra cũng phải có hai trái để chống lại hai chiếc ghe hải tặc đầu tiên (trường hợp gặp hải tặc tới ba bốn lần thì đành phó thác cho trời!). Nhưng khi tôi bàn với ông anh cột chèo thì bị ông phản đối kịch liệt; ông nói nếu bị bắt lại mà công an xét ghe thấy có vũ khí coi như đời tàn, chúng muốn buộc mình vào tội gì cũng được!</p>



<p>* * *</p>



<p>Trước sự xuống tinh thần của mọi người và lo âu của chính mình, tôi chỉ còn biết ngước mắt lên trời, phó thác mọi việc cho Thiên Chúa, Đức Mẹ Maria và Thánh Mác-tin.</p>



<p>Vào khoảng 3 chiều, bỗng có một bầy cá lớn bơi sát bên cạnh ghe, có con còn nhào lộn trước mũi. Lúc đầu mọi người hốt hoảng vì tưởng cá mập, sau đó mới biết là cá heo.</p>



<p>Theo sự tin tưởng của ngư dân xưa nay, ra biển gặp cá heo là điềm may. Tôi không biết sự tin tưởng ấy có đúng hay không, chỉ biết trông rất vui mắt. Sau đó, ghe cứ đi được một khoảng thì cá heo lại xuất hiện cả bầy, bơi dọc hông nghe rồi qua mặt, làm như muốn chê ghe của chúng tôi chạy chậm vậy!</p>



<p>Cảnh tượng (và ý nghĩ khôi hài) ấy đã khiến tôi tạm quên đi những nỗi lo của mình!</p>



<p>Chưa hết, một lúc sau còn có những con hải âu xuất hiện, bay lượn khá thấp trên mặt biển. Trước đây qua đọc sách vở, tôi được biết đại khái ở ngoài biển khơi mà thấy hải âu bay lượn là biết gần tới bờ, tuy nhiên “gần” ở đây là mấy chục hay mấy trăm km còn tùy thuộc loài hải âu và dòng nước ấm&#8230;</p>



<p>Nhưng ít ra chúng tôi cũng cảm thấy an tâm phần nào, để rồi vài phút sau đó, những gì chúng tôi mong đợi đã tới, một ngọn núi nho nhỏ nhô lên ở cuối chân trời: đảo Laut!</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/09/pulau-laut-island-1.png?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="496" height="193" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/09/pulau-laut-island-1.png?strip=all" alt="" class="wp-image-66351" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/09/pulau-laut-island-1-300x117.png 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/09/pulau-laut-island-1.png?strip=all 496w" sizes="(max-width: 496px) 100vw, 496px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Pulau Laut</em></p>



<p>Thực ra nếu không gặp giàn khoan và được viên kỹ sư Nhật cho biết chúng tôi đang đi đúng hướng, tôi không dám quả quyết hòn núi trước mặt chính là hòn núi trên đảo Laut, nhưng giờ đây tôi có thể tin tưởng tới 90% đó là Laut. Có nghĩa viên kỹ sư Nhật đã không xí gạt chúng tôi mà chỉ&#8230; rút ngắn khoảng cách còn chưa tới một nửa!</p>



<p>Nhưng cho dù trường hợp 10% tệ hại xảy ra: đây không phải đảo Laut mà là một hòn đảo khác, thậm chí một hoang đảo, chúng tôi cũng tạm xem như đã sống sót, đã tới bờ bến chứ không vùi thây trên biển cả!</p>



<p>Khoảng bốn giờ chiều, chúng tôi có thể thấy màu xanh lam mờ mờ của ngọn núi, và một tiếng đồng hồ sau, đã thấy toàn bộ hòn đảo xanh rì trước mặt.</p>



<p>Mọi người &#8211; trừ vợ tôi &#8211; từ trong khoang kéo ra chen chúc nhau ngắm nhìn hòn đảo, ai nấy lộ vẻ vui mừng.</p>



<p>Khi còn cách bờ khoảng 2, 3 km, chúng tôi thấy một chiếc tàu vận tải khá lớn ở gần bờ phía bên tay trái. Tới gần hơn, tôi thấy con tàu nằm bất động, có lẽ đang thả neo, nhưng khi lấy ống nhòm quan sát, tôi thấy con tàu rất cũ kỹ, toàn thân bị rỉ sét, nằm nghiêng về một phía và không có bóng một người trên tàu.</p>



<p>Tới gần hơn nữa, tôi mới biết đây là một chiếc tàu bị mắc cạn, và thắc mắc tại sao người ta không tìm cách kéo nó ra mà lại bỏ hoang?</p>



<p>Bỗng ông anh cột chèo báo cho tôi biết hình như có một chiếc ghe ở xa xa phía bên tay mặt; tôi đưa ống nhòm lên thì thấy đó là một chiếc ghe nhỏ đang hướng về phía chúng tôi, trên có mấy bóng đàn ông.</p>



<p>Vừa nghe tôi mô tả những gì mình thấy, ông anh cột chèo chỉ tay vào bờ và lớn tiếng ra lệnh cho tài công Lý:</p>



<p>&#8211; Chạy thẳng vào bờ!</p>



<p>Giọng của ông lạc đi, tôi đoán biết chính ông cũng lo sợ chiếc ghe kia có thể là ghe&#8230; hải tặc!</p>



<p>Tiếp tục quan sát qua ống nhòm, tôi thấy chiếc ghe vẫn tiến về phía ghe chúng tôi, càng lúc càng gần, và cuối cùng tôi có thể thấy rõ người đàn ông đứng ở mũi ghe đang đưa tay vẫy lia lịa.</p>



<p>Chiếc ghe có tốc độ khá nhanh cho nên chẳng mấy chốc đã tới gần ghe chúng tôi trong khi chúng tôi còn cách xa bờ cả cây số. Nếu là ghe hải tặc chúng tôi phải chấp nhận đối phó chứ không thể nào chạy thoát được!</p>



<p>Khi hai ghe đã gần sát nhau, tôi thấy đây là một chiếc ghe đánh cá thuộc cỡ nhỏ nhất nhưng tiếng máy nổ khá mạnh; trên ghe có bốn người đàn ông, người đứng ở mũi ra hiệu cho chúng tôi dừng ghe lại.</p>



<p>Trước năm 1975 tôi chưa có cơ hội để phân biệt nét mặt giữa người Nam Dương, người Mã Lai, người Thái Lan cũng như ngôn ngữ của ba dân tộc này, tuy nhiên giờ này khi tôi đã tin rằng hòn đảo trước mặt chính là đảo Laut trên hải đồ thì tôi cũng có quyền tin chiếc ghe này của người Nam Dương; mà từ trước tới nay người ta chỉ nói tới “hải tặc Thái Lan” chứ không ai nói tới “hải tặc Nam Dương” cả!</p>



<p>Như vậy tôi có thể yên tâm!</p>



<p>Khi hai chiếc ghe đã cặp sát nhau, người đứng ở mũi ghe nhảy sang ghe chúng tôi. Phản ứng đầu tiên của tôi là xem tay ông ta có cầm vũ khí gì không?</p>



<p>Không có gì cả!</p>



<p>Rồi thêm một người nữa nhảy sang. Đó là một thanh niên đeo kính cận, ăn mặc khá văn minh lịch sự (quần jeans, áo polo&#8230;), khác với ba người kia. Hai người nói chuyện với nhau bằng tiếng bản xứ rồi anh thanh niên chỉ vào người tôi, hỏi bằng tiếng Anh:</p>



<p>&#8211; You Vietnam?</p>



<p>Tôi không kịp ngạc nhiên, trả lời ngay “Yes, Vietnam” rồi vội vã chỉ tay vào bờ, hỏi lại anh ta:</p>



<p>&#8211; Laut Island, Indonesia?</p>



<p>Anh đáp:</p>



<p>&#8211; Yes, Pulau Laut! (“pulau” tiếng Nam Dương, tiếng Mã Lai có nghĩa là “đảo”)</p>



<p>Rồi anh thông dịch lời của người đàn ông kia (người đã nhảy sang ghe trước tiên) hỏi chúng tôi có vũ khí trên ghe không; sau khi tôi trả lời không, anh nói chúng tôi cho ghe chạy theo chiếc ghe của họ.</p>



<p>Dĩ nhiên chúng tôi không có lựa chọn nào khác. Rồi với thứ tiếng Anh “cao-bồi Texas”, người thanh niên giải thích với tôi rằng anh là sinh viên y khoa đang thực tập trên “city”, nhân kỳ nghỉ hè về Pulau Laut thăm họ hàng, hôm nay theo mấy ngư dân đi chơi biển và trên đường trở về đảo đã vô tình nhìn thấy ghe chúng tôi, bằng không, chắc chắn chúng tôi sẽ gặp nạn!</p>



<p>Những gì anh sinh viên kể tiếp theo đó cho thấy chúng tôi cực kỳ may mắn!</p>



<p>Nguyên vùng biển chung quanh đảo Pulau Laut toàn là san hô ngầm. Nhiều tàu thuyền lạ đã gặp nạn, bị chìm hoặc bị hư hại phải bỏ lại như chiếc tàu vận tải mà chúng tôi đã nhìn thấy hồi chiều.</p>



<p>Sau này được đưa sang những hòn đảo khác, tôi mới biết cả vùng biển phía bắc của Nam Dương, trong đó có quần đảo Natuna, là vùng biển có nhiều san hô và đá ngầm vây quanh các đảo; và vì biển ở vùng này rất cạn, tàu thuyền không thể vào sát bờ, người ta phải làm những cầu tàu ra tận ngoài biển, có khi dài tới mấy trăm mét.</p>



<p>Vì thế, nếu chiếc ghe của mấy người Nam Dương không nhìn thấy ghe chúng tôi và tới chặn lại, chúng tôi sẽ tiếp tục chạy thẳng vào bờ biển trước mặt để rồi cùng số phận với những tàu thuyền bị chìm trước đó!</p>



<p>* * *</p>



<p>Chiếc ghe đánh cá dẫn đường chạy khá chậm. Tuy lúc này đã khoảng 6 giờ tối, nhìn xuống mặt nước theo tay anh sinh viên chỉ, chúng tôi vẫn có thể thấy san hô dầy đặc dưới mặt nước biển trong vắt.</p>



<p>Trong lúc tôi và anh sinh viên nói chuyện, người đàn ông Nam Dương kia lấy gói thuốc lá trong túi ra mời mọi người; tôi, tài công Lý, và Tiến đang đứng gần đó mỗi người lấy một điếu. Vừa đưa điếu thuốc lên môi chưa kịp đốt, tôi đã ngửi thấy mùi thơm nhưng không phải mùi thơm của thuốc lá mà là mùi thơm của&#8230; gia vị: đinh hương (clove), một vị trong “ngũ vị hương” của người Tàu!</p>



<p>Những ai từng sống ở trại tỵ nạn Pulau Galang, dù hút thuốc hay&nbsp; không hút thuốc cũng không thể quên được cái mùi thơm nồng nặc của loại thuốc lá tẩm đinh hương này (clove cigarettes, tiếng Nam Dương gọi là “kretek”).</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/09/gudanggaram-surya12-clove-cigarettes-2.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="360" height="360" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/09/gudanggaram-surya12-clove-cigarettes-2.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-66352" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/09/gudanggaram-surya12-clove-cigarettes-2-300x300.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2023/09/gudanggaram-surya12-clove-cigarettes-2-150x150.jpg 150w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/09/gudanggaram-surya12-clove-cigarettes-2.jpg?strip=all 360w" sizes="(max-width: 360px) 100vw, 360px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Gudang Garam, hiệu “clove cigarettes” cao cấp nhất</em></p>



<p>Có khác chăng trong khi những người không hút thuốc trước sau chỉ thấy nồng nặc, khó chịu thì những người hút thuốc sau một thời gian hút lại đâm ra nghiền (tuy nhiên đa số không có khả năng mua vì giá mắc hơn nhiều so với thuốc lá bình thường).</p>



<p>Mặc dù đang phải hút Hoa Mai, loại thuốc lá quốc doanh được xem là tồi tệ nhất, lúc đó tôi, Lý, và Tiến cũng không thể nào thưởng thức nổi hương vị của mấy điếu thuốc tẩm đinh hương. Tuy nhiên, trong khi Lý và Tiến lén quăng điếu thuốc xuống nước thì tôi, đang đứng đối diện với hai người đàn ông Nam Dương, phải cố gắng chịu đựng, lâu lâu đưa lên miệng bập một cái thật nhẹ cốt để tránh làm mất lòng họ.</p>



<p>* * *</p>



<p>Sau khoảng nửa tiếng đồng hồ, chúng tôi thấy có ánh đèn điện từ trong bờ rồi chiếc ghe đánh cá hướng dẫn chúng tôi đi vào một cái cầu tàu bằng gỗ. Tới nơi, anh sinh viên nói chúng tôi chờ dưới ghe để người đàn ông Nam Dương kia đi thông báo cho “cáp-ten” (captain), người mà anh giải thích là “chúa đảo” ở Pulau Laut.</p>



<p>Trong lúc chờ đợi ông “cáp-ten”, tôi vào trong khoang và qua ánh sáng lờ mờ từ trên cầu tàu, chứng kiến một cảnh tượng bi hài không thể tưởng tượng: trừ bà chị vợ của tôi và Tốt (vợ Trung, đang mang bầu), tất cả đàn bà con gái còn lại đều sợ hãi ôm chặt lấy nhau vì cho rằng ghe của mình đã lọt vào tay hải tặc, bất chấp những lời giải thích của đám đàn ông đây là những người đánh cá của Nam Dương!&#8230; Riêng cô vợ yêu quý của tôi thường nhật cũng không lấy gì làm sùng đạo cho lắm, giờ này đang ôm chặt pho tượng Thánh Mác-tin vào lòng!</p>



<p>Một lúc sau, ông “chúa đảo” &#8211; một người trạc tuổi trung niên &#8211; cùng với mấy người đàn ông nữa tới nơi. Ông ta chỉ vào ngực và nói một cách hãnh diện “cáp-ten&#8230;, cáp-ten”.</p>



<p>Rồi một người, sau này tôi được biết là một thư ký hành chánh, phụ tá của ông cáp-ten, cũng nói được chút ít tiếng Anh, hỏi tôi về tổng số người trên ghe, sau đó nói tôi cho mọi người mang theo tất cả hành lý rời ghe để lên bờ.</p>



<p>Nhưng đám đàn bà con gái ngồi trong khoang nhất định không chịu rời ghe, riêng vợ tôi thì khóc rống lên, nói chết thì chết chứ không lên bờ. Tôi nổi sùng, lớn tiếng quát đã liều chết vượt biển, nay tới bờ lại không chịu lên là làm sao!</p>



<p>Cuối cùng thì mọi người cũng phải lên cầu tàu, riêng vợ tôi và Lệ, cô gái trẻ khách của bà chị vợ, yếu quá đi không nổi phải dìu. Ông “cáp-ten” cùng người thư ký hướng dẫn chúng tôi đi khoảng vài chục mét thì tới một cái nhà sàn khá lớn, đèn điện sáng trưng, sau này mới biết đó là “tư thất” của ông cáp-ten kiêm văn phòng của đảo Pulau Laut.</p>



<p>Chúng tôi được đưa vào một căn phòng lớn, có lẽ là nơi sinh hoạt của dân chúng trên đảo nhưng bàn ghế đã được dọn dẹp; một số đàn bà con nít đang ngồi dưới sàn nhà xem truyền hình. Người thư ký nói chúng tôi ngồi chờ ở đây để bà vợ cáp-ten nấu cơm tối, không quên hướng dẫn lối đi nhà vệ sinh.</p>



<p>Tới lúc này đám đàn bà con gái trên ghe chúng tôi mới hoàn toàn yên tâm. Riêng tôi vừa ngạc nhiên vừa cảm kích trước cách đối xử của những người Nam Dương đầu tiên mình được gặp. Chỉ có điều là đám đông đang ngồi xem truyền hình hầu hết không theo dõi những gì đang diễn ra trên màn ảnh nữa mà quay sang quan sát chúng tôi, chỉ trỏ, bàn tán&#8230;; rồi càng lúc càng có nhiều người kéo tới, đại đa số là phụ nữ và trẻ con.</p>



<p>Lúc đầu chúng tôi cũng cảm thấy khó chịu, nhưng sau một hồi nhìn những khuôn mặt hiền lành chất phác, những nụ cười vô tư của họ, chúng tôi hiểu đây chỉ là sự tò mò vô hại của những người dân đảo hồn nhiên&#8230;</p>



<p>Khoảng hơn nửa giờ sau, bữa cơm tối do bà vợ cáp-ten cùng một số phụ nữ nấu đã sẵn sàng. Nhìn cái nồi cơm khổng lồ và chén bát, muỗng nĩa (không có đũa) đầy đủ cho mấy chục người, tôi đoán có lẽ đây cũng là nơi tụ tập tiệc tùng ăn uống của người dân trên đảo.</p>



<p>Bữa tối chỉ có cơm, cá khô và một món canh rau nhưng trừ vợ tôi và cô Lệ quá yếu mệt, tất cả chúng tôi ăn rất ngon miệng sau bốn ngày sống nhờ lương khô!</p>



<p>Ăn cơm tối xong, nghỉ ngơi một lát, chúng tôi được người thư ký cho biết anh sẽ đưa chúng tới nơi tạm trú. Tôi đại diện đoàn người cám ơn ông “cáp-ten” và bà vợ đã cho ăn cơm tối bằng tiếng Anh và được người thư ký thông dịch sang tiếng Nam Dương; trong khi ông “cáp-ten” chỉ gật gật cái đầu thì bà vợ đáp lại bằng nụ cười thật tươi.</p>



<p>Người thư ký đưa chúng tôi tra ra cầu tàu, từ đây đi vào bờ hai bên cầu tàu đều có nhà sàn của người dân, có một hai nhà có truyền hình.</p>



<p>Tới bờ, chúng tôi được dẫn đi thêm vài trăm mét, tới một ngôi nhà lớn nằm giữa một khoảng đất trống tối thui chẳng có đèn đuốc gì cả. Người thư ký đưa cho chúng tôi một mớ đèn cầy, nói vào bên trong ngủ đỡ qua đêm, sáng hôm sau anh ta sẽ trở lại.</p>



<p>Đó là một ngôi nhà lợp tôn vách ván, nền xi-măng, có hai dãy sạp gỗ, mà tôi đoán là được dựng lên cho những thuyền nhân đã tạt vào hòn đảo này, trong số đó có năm anh em con bà chị vợ tôi đi năm 1979.</p>



<p>Sáng ra, người thư ký trở lại cùng với ông cáp-ten. Lúc này tôi mới có thì giờ quan sát kỹ ông “chúa đảo”. Điểm đầu tiên đập vào mắt người đối diện là ông cao hơn mọi người gần một cái đầu, điểm kế tiếp là bộ đồ thể thao (tracksuit) Adidas với đôi giày cùng hiệu của ông. Sau này tới các đảo lớn, tôi mới biết Adidas là “hàng hiệu” được ưa chuộng nhất ở Nam Dương thời bấy giờ.</p>



<p>Không biết ông cáp-ten có mấy bộ tracksuit, chỉ biết trong thời gian ở Pulau Laut, chúng tôi thấy ông chỉ mặc một kiểu quần áo duy nhất là bộ tracksuit Adidas màu xanh đậm. Còn những người đàn ông khác trên đảo không hiểu vì không có cơ hội tiếp xúc với xã hội “văn minh” hay vì thời tiết nóng quanh năm mà tất cả đều mặc áo thun (T-shirt), quần đùi, sau khi đi đánh cá về mới quấn cái xà-rông (sarong).</p>



<p>Cũng giống như đại đa số dân ở các đảo nhỏ của Nam Dương, ông cáp-ten có nước da nâu sậm, khuôn mặt mang những nét thuần chủng của người bản xứ (native Indonesians) chứ không có những nét lai Ấn-độ, Ả-rập, Âu châu, Trung Hoa&#8230; như nhiều người Nam Dương ở các đảo lớn.</p>



<p>Viết một cách ngắn gọn là không được thanh tú. Bù lại, họ (dân đảo) có những nét đơn sơ, ngây ngô chất phác dễ gây thiện cảm nơi người lạ.</p>



<p>* * *</p>



<p>Qua phần “thông dịch” của người thư ký, chúng tôi được biết ông cáp-ten là đại diện chính quyền Nam Dương ở Pulau Laut, có trách nhiệm canh giữ và giúp đỡ chúng tôi cho tới ngày được đưa tới “city”. Trong thời gian ở Pulau Laut, chúng tôi không được vào rừng sâu, không được đi ra cầu tàu hoặc bờ biển.</p>



<p>Sau đó, người thư ký nói chúng tôi cử mấy người lên văn phòng của đảo để lãnh gạo và chiếu nằm về cho mọi người, cùng với nồi niêu chén đĩa, còn thực phẩm thì khi nào ghe đánh cá về thì sẽ cho người gọi chúng tôi tới nhận cá.</p>



<p>Khoảng gần trưa, một phụ nữ tới ra hiệu cho chúng tôi theo bà ta ra bãi. Tới nơi thì thấy ngư dân đã đem cá lên bờ, bày la liệt trên bãi cát, có những con chắc phải tới 4, 5kg, một số người dân đảo đứng chung quanh. Người phụ nữ chỉ tay ra hiệu cho tôi chọn một con trong số những con lớn nhất; tôi bối rối chưa biết phản ứng ra sao, một phần vì ngại ngùng, một phần vì không rành về cá biển, thì bà ta đã lấy con cá lớn nhất trao cho chúng tôi. Sau đó số cá còn lại mới phân phối cho người dân đảo.</p>



<p>Việc “tặng cá” này diễn ra mỗi ngày. Còn gạo thì mỗi lần họ phát cho khoảng 20kg, nói khi nào hết lên lãnh tiếp.</p>



<p>* * *</p>



<p>Tới đây cũng xin có đôi dòng về đảo Pulau Laut và cuộc sống của người dân trên đảo.&nbsp;</p>



<p>Pulau Laut là hòn đảo gần Việt Nam nhất, thuộc hạt (regency) Natuna, tỉnh (province) Riau của Nam Dương.</p>



<p>Về mặt lãnh thổ, Cộng Hòa Nam Dương gồm trên 17,000 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó vùng đảo Riau, gồm 1,796 đảo, có vị trí quan trọng nhất, vì nằm giữa bán đảo Mã Lai vào đảo Borneo, phía nam là eo biển Malacca (Malacca Strait), huyết mạch giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương (biển Đông), phía bắc là lộ trình hàng hải quốc tế.</p>



<p>Vùng đảo phía bắc của Riau là quần đảo Natuna gồm 272 hòn đảo lớn nhỏ, với những biển san hô tuyệt đẹp, với trữ lượng dầu hỏa lớn nhất biển Đông, hiện nay đã trở thành địa điểm du lịch nổi tiếng đồng thời cũng trở thành mục tiêu xâm lấn của Trung Cộng (bản đồ “lưỡi bò” mới nhất của Bắc Kinh bao gồm một phần vùng biển phía đông bắc Natuna).</p>



<p>Nhưng vào đầu thập niên 1980, Natuna còn tương đối thưa vắng, nhất là vùng đảo phía bắc, gồm Pulau Laut và hai đảo nhỏ hơn, cùng nhiều đảo tí hon (islets).</p>



<p>Bản đồ lãnh thổ Nam Dương (màu trắng). Vùng biển Riau nằm ở phía bắc, đảo Natuna có mũi tên đỏ; chấm nhỏ phía bên trên là Pulau Laut</p>



<p>Pulau Laut nằm cách đảo chính (Natuna) khoảng 50 km, có chiều dài 11 km theo hướng nam-bắc, chỗ rộng nhất khoảng 5 km. Vào thời gian này, theo lời người thư ký của ông cáp-ten, chỉ có hơn một trăm người dân đảo, sống quây quần ở một bờ biển ở phía nam, nhìn ra hướng tây.</p>



<p>Gần như toàn bộ diện tích của Pulau Laut là rừng núi, mà đỉnh cao nhất (273m) nằm ở phía bắc – mà chúng tôi đã nhìn thấy vào chiều 19/10/1981 sau khi rời giàn khoan Nhật.</p>



<p>Tất cả dân đảo chỉ làm một nghề là thu hoạch cùi dừa. Dừa ở Pulau Laut, cũng như ở đa số đảo khác của Nam Dương, Mã Lai, nguyên là dừa mọc hoang ở bờ biển không biết từ đời nào, sau đó được người dân trồng thêm.</p>



<p>Dừa khi đã già được lấy cùi, bỏ vào bao bố đưa lên Natuna bán cho các nhà thu mua.</p>



<p>Dừa ở vùng đảo này là dừa vỏ xanh, thân cây cao tới trên 20 mét. Vì thế người ta phải nuôi khỉ để leo lên hái dừa. Hiện nay, những người từng đi du lịch Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương&#8230; tới các vùng khai thác dừa có thể đã được “thưởng lãm” cảnh khỉ hái dừa, hoặc qua đọc tài liệu, xem video của các tổ chức bảo vệ thú vật, nhưng ngày ấy chúng tôi chưa một ai được chứng kiến hoặc nghe nói tới việc nuôi khỉ để hái dừa.</p>



<p>Thành thử chứng kiến cảnh hậu duệ Tề thiên Đại thánh bị loài người bắt leo lên cây hái dừa, chúng tôi vừa ngạc nhiên thích thú vừa thương tội!</p>



<p>Thương tội bởi vì để khỉ không thể chạy trốn, người ta xiềng vào cổ nó một sợi xích sắt, dài ngắn tùy theo con khỉ lớn hay nhỏ nhưng tối thiểu cũng khoảng 3, 4 mét; với sức nặng của sợi xích, con khỉ chỉ đi chứ không thể chạy!</p>



<p>Không biết những con khỉ này được huấn luyện ra sao, chỉ biết khi một con được dắt tới gốc dừa, nó leo thoăn thoắt lên ngọn để bẻ dừa, bắt đầu từ những trái lớn nhất quăng xuống gốc cây; trường hợp cuống trái dừa không đứt, nó dùng răng để cắn&#8230; Cho tới khi ông chủ ra lệnh thì mới được leo xuống.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/09/coconut_monkey-0607_1594101015.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="630" height="485" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/09/coconut_monkey-0607_1594101015.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-66353" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/09/coconut_monkey-0607_1594101015-300x231.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/09/coconut_monkey-0607_1594101015.jpg?strip=all 630w" sizes="(max-width: 630px) 100vw, 630px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Hậu duệ Tề thiên Đại thánh hái dừa</em></p>



<p>Trong một lần cùng vài người trong ghe đi vào ven vào rừng để thám hiểm, vừa ra khỏi khoảng đất trống nơi có ngôi nhà tạm trú, tôi thấy một ngôi nhà bỏ hoang.</p>



<p>Điểm đầu tiên đập vào mắt tôi là tấm bảng gỗ ở phía trước có huy hiệu Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR) và hai hàng chữ&nbsp; bắng tiếng Anh và tiếng Nam Dương (Nam Dương, nguyên là thuộc địa của Hòa Lan trong gần bốn thế kỷ, sử dụng mẫu tự La-tinh).</p>



<p>Cấu trúc và màu sắc của ngôi nhà này khác hẳn với nhà cửa của dân chúng trên đảo. Đó là một căn nhà sàn bằng gỗ lợp tôn, vách ván, sơn màu xanh blue nhạt, gồm hai căn phòng trống trải.</p>



<p>Sau đó, qua đọc những chữ được khắc trên các cột nhà tạm trú và nghe những người đi trước kể lại, tôi được biết trong các năm 1978, 1979, 1980 đã có một số ghe vượt biên từ Việt Nam, hoặc vì không biết có trại tạm trú ở đảo Kuku hoặc vì không biết đường đi tới Kuku, khi thấy đảo Pulau Laut liền tấp vào. Số thuyền nhân tạm trú tại Pulau Laut có lúc lên tới cả trăm, vì thế lâu lâu Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ lại đưa nhân viên tới đảo thiết lập danh sách, phỏng vấn sơ khởi, rồi từng đợt được đưa sang các đảo lớn.</p>



<p>Ngôi nhà gỗ sơn xanh nói trên được dựng lên làm văn phòng cho nhân viên Cao Ủy Tỵ Nạn làm việc, cùng với ngôi nhà dành cho thuyền nhân tạm trú mà tôi đã viết ở đoạn trên.</p>



<p>Sau này vì đa số ghe đi Nam Dương đã tới thẳng đảo Kuku, thậm chí tới thẳng đảo Galang, đồng thời để tiết kiệm nhân lực vốn luôn thiếu hụt, văn phòng Cao Ủy Tỵ Nạn ở Pulau Laut đã bị dẹp bỏ. Căn nhà tuy bị bỏ hoang nhưng không có người dân nào tới phá phách, tháo gỡ tôn ván vì cho rằng nó vẫn là tài sản của Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ.</p>



<p>* * *</p>



<p>Qua ngày thứ hai sau khi chúng tôi đặt chân lên Pulau Laut, người thư ký của ông cáp-ten đem xuống một cái máy đánh chữ nhỏ thuộc loại cổ lỗ sĩ và mấy tờ giấy có in tiếng Anh do Cao Ủy Tỵ Nạn để lại, để tôi đánh danh sách người đi trên ghe.</p>



<p>Phía trên tờ giấy là số hiệu của ghe, ngày tới đảo và tổng số người đi trên ghe. Ngày tới đảo thì tôi ghi 19/10/1981, số người trên ghe là 26, nhưng số ghe thì không có, bởi như đã viết trong một kỳ trước, chiếc ghe của chúng tôi không đăng ký để tránh sự kiểm soát và đòi tiền mãi lộ của công an cho nên không có số hiệu gì cả.</p>



<p>Thông thường, các ghe khi đăng ký sẽ được cấp số hiệu gồm hai mẫu tự viết tắt của tên địa phương, chẳng hạn VT (Vũng Tàu), KG (Kiên Giang), (TG Tiền Giang), PT (Phan Thiết), và ba, bốn con số phía sau.</p>



<p>Vì ghe của chúng tôi không có số cho nên tôi để trống. Tuy nhiên sau khi tôi đánh máy xong danh sách, ông anh cột chèo của tôi lại chế ra một cái tên ghe để tôi điền vào.</p>



<p>Tuy gọi là “chế” nhưng cũng có cơ sở. Nguyên hai năm trước đó, ghe của mấy đứa con bà chị vợ tôi cũng không có số, sau khi tới đảo Pulau Laut bị bỏ lại ở đó, còn người thì được đưa tới đảo Kuku, nhân viên Cao Ủy Tỵ Nạn ở Kuku khi làm hồ sơ đã đặt cho chiếc ghe (bị bỏ lại ở Pulau Laut) số hiệu gồm hai mẫu tự PL và tiếp theo là sáu con số.</p>



<p>Trong thư viết từ trại tỵ nạn Galang về Việt Nam, đứa con trai lớn của bà chị vợ tôi giải thích hai con số đầu là tháng tới Nam Dương, hai con số tiếp theo là ngày tới, và hai con số cuối cùng là tổng số người trên ghe.</p>



<p>Còn hai mẫu tự PL, cháu không biết do đâu mà có, và đã viết đùa rằng rất có thể người tây phương vốn có truyền thống lấy tên đàn bà con gái đặt cho các du thuyền cho nên văn phòng Cao Ủy Tỵ Nạn ở Kuku đã lấy tên “Phương Loan” của đứa em gái lớn nhất viết tắt thành PL.</p>



<p>Nhưng ông anh cột chèo của tôi lại&#8230; tin lời cậu trưởng nam, cho nên đã lấy hai mẫu tự TV – viết tắt tên con trai út “Thiên Vĩ” – để có một cái tên ghe đầy đủ là TV-101926, nghĩa là ghe tới đảo ngày 19 tháng 10, gồm 26 người.</p>



<p>Ông rất thích thú với cái tên ghe độc đáo, đầy ý nghĩa này, chứ đâu có ngờ chính vì việc “chế” tên ghe không giống ai mà sau này ông và tôi đã bị Cao Ủy Tỵ Nạn quay tới quay lui!</p>



<p>* * *</p>



<p>Sau gần một tuần ở Pulau Laut, chúng tôi được người thư ký của ông cáp-ten báo cho biết ngày mai chúng tôi sẽ được tàu chở lên “city”.</p>



<p>Mặc dù không thể hình dung cái “city” chúng tôi sắp được đưa tới nó lớn nhỏ ra sao, văn minh như thế nào, ai cũng vui mừng. Riêng tôi, xem lẫn nỗi vui ấy có kèm chút bâng khuâng khi từ giã hòn đảo mà mọi người cùng ghe gọi đùa là “hoang đảo” này. Cho dù&nbsp; tới lúc ấy vẫn chưa học được một tiếng Nam Dương nào, tất cả mọi sự “giao dịch” với dân đảo đều qua trung gian thông dịch của anh sinh viên mà đôi khi tôi được gặp lại, tôi cũng rất mến những người dân đảo hiền lành, chất phác, tốt bụng mà sau này không bao giờ còn tìm thấy trên cõi đời này!</p>



<p>Ngày hôm sau, vào khoảng 9 giờ sáng, chúng tôi được người thư ký dẫn ra cầu tàu. Trên đường đi, những người dân đảo thấy chúng tôi khăn gói ra đi đều đưa tay vẫy chào.</p>



<p>Qua khỏi văn phòng của đảo mấy chục mét, chúng tôi thấy cái nghe của mình vẫn còn nằm y chỗ cũ phía bên tay trái cầu tàu; nước đã ngập gần phân nửa (vì đáy nghe bị nứt khi bị bão).</p>



<p>Tôi cảm thấy bùi ngùi khi nghĩ tới tương lai không mấy sáng sủa của chiếc ghe mục nát đã giúp chúng tôi vượt thoát khỏi Việt Nam: vì đã quá cũ, chắc chắc nó sẽ được dân đảo rã ra để làm củi hay sử dụng vào công việc nào đó. Chấm dứt một kiếp ghe!</p>



<p>* * *</p>



<p>Ra tới nơi, tôi thấy một cái tàu gỗ khá lớn, dài khoảng 15-20 mét, trên đó có ông cáp-ten và mấy người đàn ông, có cả anh sinh viên.</p>



<p>Sau khi đếm đầu người, hướng dẫn chúng tôi lên ghe chỉ chỗ ngồi trên sàn ghe chất đày bao bố đựng cùi dừa, người thư ký cho tôi biết đích thân ông cáp-ten sẽ đưa chúng tôi ra “city” giao cho nhà chức trách, rồi bắt tay tôi từ giã, rời tàu.</p>



<p>Sau khi tàu ra khơi, thấy anh sinh viên một mình đứng ngắm trời biển, tôi lân la tiến tới hỏi chuyện, được anh cho biết ông cáp-ten không chỉ là người đại diện chính quyền ở Pulau Laut mà còn đảm trách mọi phương diện liên quan tới đời sống của người dân đảo.</p>



<p>Chẳng hạn cứ mỗi tháng một lần, ông cùng với mấy người đi theo lại mang cùi dừa, sản phẩm độc nhất của người dân đảo ra “city” bán cho trung tâm thu mua, rồi mua nhu yếu phẩm cho từng gia đình theo danh sách đã ghi, ngoài ra ông còn mua cả những loại thuốc men căn bản cho dân đảo, cất giữ ở trụ sở kiêm tư thất của “chúa đảo”, nơi mà bà vợ của ông kiêm cả vai trò “y tá”!&#8230;</p>



<p>* * *</p>



<p>Sau khoảng một tiếng đồng hồ, chúng tôi thấy vô số đảo ở phía chân trời, anh sinh viên nói với tôi đó là quần đảo Natuna, nơi có “city” mà anh và người thư ký của ông cáp-ten đã nhắc tới.</p>



<p>Đi thêm một tiếng nữa, tàu tới gần quần đảo. Hầu như đảo nào cũng có núi, mà ngọn cao nhất sau này tôi được biết vào khoảng 1000 mét, tức là tương đương với núi Bà Đen ở Tây Ninh.</p>



<p>Con tàu tiếp tục đi về phương nam thêm khoảng nửa tiếng rồi tiến vào một hòn đảo xanh tốt với nhiều nhà sàn nhô ra bờ biển. Cuối cùng, tàu cặp vào một cái bến tàu lót gỗ nằm cách bờ biển cả trăm mét. Cũng giống như ở Pulau Laut và hầu hết các đảo trong vùng biển Natuna, mực nước gần bờ ở đây rất cạn, có nhiều đá ngầm và san hô cho nên người ta phải làm một cái cầu tàu chạy dài ra biển.</p>



<p>Chúng tôi được ông cáp-ten đưa tới văn phòng của bến tàu, ngồi&nbsp; chờ ngoài cửa vì cái phòng quá chật. Trong lúc chờ nhân viên hành chính tới làm thủ tục nhận người tỵ nạn, chúng tôi được một “người hùng” vồn vã săn đón.</p>



<p>“Người hùng” khoảng 35, 40 tuổi, hơi thiếu chiều cao nhưng thân hình vạm vỡ, tuy mặt mũi đen đủi nhưng khá đẹp trai với hàng ria mép cắt tỉa gọn ghẽ; chỉ có điều là kể cả những lúc ra vẻ nghiêm trang, đứng đắn nhất, trông anh vẫn có nét khôi hài, khiến tôi liên tưởng tới danh hài Thanh Việt của Sài Gòn trước 1975.</p>



<p>Với vốn liếng tiếng Anh không nhiều nhặn gì, “người hùng” cho chúng tôi biết anh là một cựu Trung sĩ (Sergeant) trong quân đội Nam Dương, không phải là trung sĩ bình thường mà một trung sĩ trong lực lượng người nhái của hải quân, chuyên đi tầu ngầm. Vừa khoe anh vừa vỗ vào con dao đeo ở thắt lưng, nói đó là loại dao găm đặc biệt của người nhái mà anh được giữ làm kỷ niệm.</p>



<p>Vị cựu trung sĩ người nhái cũng cho biết hiện nay anh là người đặc trách an ninh trên hòn đảo Sedanau này. Lúc đó tôi mới biết chữ Sedanau trên hàng chữ Nam Dương trước văn phòng bến tàu là tên của hòn đảo này.</p>



<p>Chờ khoảng 15 phút, các viên chức Nam Dương tới bến tàu để nhận người. Trước khi chia tay, tôi đại diện ghe cám ơn ông cáp-ten và từ giã anh sinh viên; anh nói rồi đây nếu chúng tôi ra “city” chơi, rất có thể sẽ gặp lại anh.</p>



<p>* * *</p>



<p>Rời bến tàu, chúng tôi theo các viên chức Nam Dương đi ra đường phố. Lần đầu tiên kể từ khi bước xuống ghe, chúng tôi mới nhìn thấy một đường phố đúng nghĩa, với các hàng quán và sinh hoạt thường nhật của người dân. Con đường trải nhựa rất sạch sẽ, nhà cửa và hàng quán hai bên tuy đều bằng gỗ nhưng khá tươm tất.</p>



<p>Đi bộ khoảng vài trăm mét, chúng tôi được đưa vào một cái ngõ khá rộng ở phía bên mặt, dẫn tới một dẫy nhà sàn nhô ra bờ biển, &nbsp;trong đó có một ngôi nhà rộng thênh thang, nơi tạm trú của hơn một trăm thuyền nhân đã tới đây trước chúng tôi.</p>



<p>Một người “thâm niên” nhất, được xem là đại diện tỵ nạn</p>



<p>Việt Nam trên đảo Sedanau, hướng dẫn chúng tôi vào tìm chỗ.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/09/sedanau-natuna-1.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="700" height="393" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/09/sedanau-natuna-1.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-66354" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/09/sedanau-natuna-1-300x168.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/09/sedanau-natuna-1.jpg?strip=all 700w" sizes="(max-width: 700px) 100vw, 700px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Một khu nhà sàn ở Sedanau tương tự nơi tạm trú của người tỵ nạn cách đây hơn 40 năm</em></p>



<p>Về sau tôi được biết căn nhà này nguyên là một cái chợ cá cũ, được nhà cầm quyền địa phương sử dụng làm nơi tạm trú cho người tỵ nạn Việt Nam trong thời gian chờ tàu lớn tới đón.</p>



<p><strong><em>(Còn tiếp)</em></strong></p>



<div style="height:500px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>©T.Vấn 2023</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>HOÀI NAM: CẢI TẠO NỬA MÙA – VƯỢT BIÊN TÀI TỬ (kỳ 19)</title>
		<link>https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-19/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Hoài Nam - Hồi Ký Cải Tạo]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 16 Aug 2023 11:06:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[Truyện Tù Cải Tạo]]></category>
		<category><![CDATA[hồi ký cải tạo]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=65087</guid>

					<description><![CDATA[CẢI TẠO NỬA MÙA – VƯỢT BIÊN TÀI TỬ (kỳ 19)Hồi kýHoài Nam NGUYỄN HỮU THIỆN Kỳ 1&#160;&#160;Kỳ 2&#160;&#160;Kỳ 3&#160;&#160;Kỳ 4&#160;&#160;Kỳ 5&#160; Kỳ 6&#160;&#160;Kỳ 7&#160;&#160;Kỳ 8&#160;&#160;&#160;&#160;Kỳ 9&#160;&#160;Kỳ 10&#160;Kỳ 11&#160;Kỳ 12&#160;Kỳ 13&#160;Kỳ 14&#160;Kỳ 15&#160;Kỳ 16&#160;Kỳ 17 Kỳ 18 PHẦN II:&#160; VỀ MIỀN ĐẤT HỨA (tiếp theo kỳ 18) CHƯƠNG 2&#160;– “Hoa&#160;tiêu” bất đắc dĩ Sau khi [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/02/cao-tao-sau-1975.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="502" height="335" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/02/cao-tao-sau-1975.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-60363" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/02/cao-tao-sau-1975-300x200.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/02/cao-tao-sau-1975.jpg?strip=all 502w" sizes="(max-width: 502px) 100vw, 502px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p class="has-text-align-center"><strong>CẢI TẠO NỬA MÙA – VƯỢT BIÊN TÀI TỬ (kỳ 19)</strong><br><strong><em>Hồi ký</em></strong><br><strong><em>Hoài Nam NGUYỄN HỮU THIỆN</em></strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong><em><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=42965" target="_blank">Kỳ 1</a>&nbsp;&nbsp;<a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=43227" target="_blank">Kỳ 2</a></em></strong>&nbsp;&nbsp;<a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=43638" target="_blank"><strong>Kỳ 3&nbsp;&nbsp;</strong></a><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=44071" target="_blank"><strong>Kỳ 4&nbsp;&nbsp;</strong></a><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=44448" target="_blank"><strong>Kỳ 5</strong></a><strong><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=44904" target="_blank">&nbsp; Kỳ 6&nbsp;&nbsp;</a></strong><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=45847" target="_blank"><strong>Kỳ 7&nbsp;&nbsp;</strong></a><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=46303" target="_blank"><strong>Kỳ 8&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</strong></a><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=48543" target="_blank"><strong>Kỳ 9&nbsp;&nbsp;</strong></a><strong><a rel="noreferrer noopener" href="https://t-van.net/?p=50357" target="_blank">Kỳ 10</a></strong>&nbsp;<a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-11/"><strong>Kỳ 11</strong></a>&nbsp;<strong><a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-12/">Kỳ 12</a></strong>&nbsp;<strong><a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-13/">Kỳ 13</a></strong>&nbsp;<a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-14/"><strong>Kỳ 14</strong></a>&nbsp;<a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-15/"><strong>Kỳ 15</strong></a>&nbsp;<strong><a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-16/">Kỳ 16</a></strong>&nbsp;<a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-17/"><strong>Kỳ 17</strong></a> <a href="https://t-van.net/hoai-nam-cai-tao-nua-mua-vuot-bien-tai-tu-ky-18/"><strong>Kỳ 18</strong></a></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>PHẦN II:&nbsp; VỀ MIỀN ĐẤT HỨA</strong></p>



<p><strong>(tiếp theo kỳ 18)</strong></p>



<p><strong>CHƯƠNG 2<em>&nbsp;– “Hoa</em>&nbsp;<em>tiêu” bất đắc dĩ</em></strong></p>



<p>Sau khi hai chiếc ghe công an biên phòng đã khuất dạng, để cho chắc ăn, ghe chúng tôi tiếp tục đi về hướng Phan Thiết khoảng nửa tiếng đồng hồ nữa rồi mới lấy hướng đông-đông-nam (120 độ) để đi ra hải phận quốc tế.<br><br>Với vận tốc ghe chỉ khoảng 10 cây số/giờ và dựa theo tấm hải đồ biển Đông tôi đã thuộc lòng, sau khoảng hai tiếng đồng hồ, tôi tin rằng ghe đã ra tới hải phận quốc tế, và theo dự định, từ đây chúng tôi bắt đầu lấy hướng nam-đông-nam (165 độ) để đi tới đảo Laut trong hải phận Nam Dương.<br><br>Lúc này đã quá trưa ngày 16/10/1981, biển khá êm, gió nhẹ. Theo phương cách học được từ Khiêm, tôi lấy hướng gió và tính độ giạt. Gió bắc-tây-bắc, thật lý tưởng, độ giạt khoảng +15 độ cộng với 165 thành 180 độ, tức hướng chính nam.<br><br>Mọi người trong khoang thay phiên nhau ra ngoài để hít thở không khí trong lành. Nhìn mặt mọi người, suýt nữa tôi bật cười: mặt ai cũng đen như bôi nhọ nồi vì bị bám khói dầu cặn của máy ghe. Lúc này tôi mới biết chính xác trên ghe có tổng cộng 26 nhân mạng, gồm 15 người của gia đình chị vợ, gia đình tôi, gia đình ông anh họ, 2 người khách, 7 người của hai gia đình lo bãi bến, tài công Lý và chú bé canh me.<br><br>Hai người lo bãi bến, Tiến và Trung, là hai anh em cột chèo, cả hai đi cùng với vợ và một, hai đứa em nhỏ. Ngay lúc đó tôi không hề để ý tới việc vợ Trung đang có bầu, chỉ sau này nghe bà chị vợ càm ràm “ghe vượt biên mà có bà bầu là xui tận mạng”, đã vậy Tốt &#8211; vợ của Trung &#8211; còn là người dạn dĩ, khỏe mạnh và vô tư, thích ngồi trước mũi ghe ngắm sóng nước trời mây, khiến bà chị vợ tôi càng thêm ngứa mắt, lo ngại!<br><br>Chỉ có một người duy nhất không ra khỏi ca-bin: cô vợ yêu quý của tôi, từ lúc ghe ra khơi cứ nằm liệt một chỗ!<br><br>Nguyên vợ tôi có máu say xe, say máy bay từ nhỏ. Còn nhớ lần đầu tiên đi máy bay, từ Tân Sơn Nhất ra Pleiku sau ngày cưới, mặc dù đi C-130 của Mỹ, loại phi cơ vận tải quân sự bay êm nhất thời bấy giờ, khi bước xuống nàng cũng như một cái xác không hồn!<br><br>Thê thảm nhất là lần đi chơi Đà Lạt năm 1971 bằng trực thăng UH-1.<br><br>Nguyên vào khoảng thời gian này, Không Quân VNCH đang gấp rút thành lập thêm các phi đoàn trực thăng để tiếp nhận phi cơ do người Mỹ bàn giao trước khi họ rút quân về nước. Hàng trăm phi công trực thăng trẻ được đào tạo tại Hoa Kỳ trở về VN chưa có một chút kinh nghiệm thực tế, cho nên ngoài việc ngồi ghế phi công phụ trong các phi vụ hành quân, họ còn phải bay các phi vụ huấn luyện, liên lạc (không tác chiến) cho vững tay nghề.<br><br>Một số phi vụ huấn luyện, liên lạc ấy đã được các vị chỉ huy phối hợp với những nhu cầu &#8211; có hoặc không có “trên giấy tờ” &#8211; của đơn vị. Một trong những nhu cầu “không có trên giấy tờ” ấy là cho các quân nhân trong đơn vị về phép thăm nhà hoặc đi du ngoạn.<br><br>Lần đó, có hai bà vợ của hai phi công khu trục, một Thiếu tá một Đại úy của Phi Đoàn 530 ra Pleiku thăm chồng, hai người lại là hai chị em ruột nên ông Trung tá Liên đoàn trưởng sắp xếp một phi vụ huấn luyện đi Đà Lạt, với bốn cặp quá giang trong đó có vợ chồng tôi.<br><br>Lúc đi cũng không đến nỗi nào, vợ tôi chỉ “ngất ngư” suốt chuyến bay, nhưng sau khi tới nơi, ăn trưa ở nhà hàng Mekong rồi đi chơi vòng vòng, lúc về ói tới mật xanh mật vàng khiến mọi người mất vui.<br><br>Từ ngày ấy cho tới khi rời Pleiku vào Mùa hè đỏ lửa (1972), vợ tôi không bao giờ bước chân lên phi cơ nữa! Cũng may, trong cuộc di tản dân chúng vào tháng 3, tháng 4 năm ấy (vì sợ quân Cộng Sản Bắc Việt sẽ tiến về Pleilu một khi chiếm được Kontum), Không Lực Hoa Kỳ đã yểm trợ một số phi vụ C-141, là loại vận tải phản lực lớn nhất, bay nhanh nhất thời bấy giờ, cho nên vợ tôi, khi ấy đang mang bầu đứa con thứ hai, mới đủ sức “lết” về tới Sài Gòn!&#8230;<br><br><strong>* * *</strong><br><br>Khoảng 3, 4 giờ chiều, chúng tôi thấy một chiếc tàu chở hàng khá lớn ở xa xa, đi ngược chiều, tức là lên hướng bắc-đông-bắc; một hồi sau, thấy thêm chiếc thứ hai, rồi chiếc thứ ba, cũng đi ngược chiều, tôi biết ghe đã ra tới gần tuyến hải hành nam-bắc, bắc-nam của tàu buôn quốc tế.<br><br>Mọi người trên ghe xôn xao, hy vọng sẽ được tàu buôn vớt như những gì đã được nghe qua chương trình tiếng Việt của đài BBC, đài VOA trong thời gian gần đây.<br><br>Cũng nên biết, trước việc người tỵ nạn Đông Dương, đa số là người Việt, bỏ nước ra đi ngày càng đông, đưa tới những thảm cảnh trên biển cả và tạo khó khăn cho các quốc gia Đông Nam Á đang cho thuyền nhân tạm trú, vào tháng 7 năm 1979, Cao ủy Tỵ nạn LHQ (UNHCR) trụ sở đặt tại Geneva, đã tổ chức một hội nghị quốc tế về người tỵ nạn Đông Dương.<br><br>Kết quả, khoảng 20 quốc gia Âu châu và Bắc Mỹ đã đồng ý gia tăng gấp đôi số người tị nạn được nhận mỗi năm &#8211; từ 125.000 lên 260.000 &#8211; và đóng góp thêm vào ngân sách của Cao ủy Tỵ nạn LHQ. Nhờ vậy, năm quốc gia Đông Nam Á đang cho người tỵ nạn tạm trú là Nam Dương, Singapore, Mã Lai, Thái Lan và Phi-luật-tân đã đồng ý gia tăng tổng số thuyền nhân tại các trại tạm trú.<br><br>Đồng thời Cao ủy Tỵ nạn cũng kêu gọi tàu bè của các quốc gia này quan tâm hơn tới việc cứu vớt thuyền nhân lênh đênh trên biển cả. Kết quả ngày càng có nhiều người được tàu vớt.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/08/BR_Vietnam_1982_Boat_People_1979-1984_file_01.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/08/BR_Vietnam_1982_Boat_People_1979-1984_file_01.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-65088" style="width:500px;height:324px" width="500" height="324" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/08/BR_Vietnam_1982_Boat_People_1979-1984_file_01-300x194.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2023/08/BR_Vietnam_1982_Boat_People_1979-1984_file_01-768x497.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/08/BR_Vietnam_1982_Boat_People_1979-1984_file_01.jpg?strip=all 1000w" sizes="(max-width: 500px) 100vw, 500px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Những chiếc ghe may mắn được tàu buôn cứu vớt</em></p>



<p class="has-text-align-center"><em>(hình: Cao ủy Tỵ nạn LHQ)</em></p>



<p><br>Rồi chiếc tàu thứ tư, thứ năm xuất hiện, cũng đi ngược chiều. Sau khi bàn bạc với nhau, chúng tôi quyết định bẻ lái chếch sang hướng đông, tiến sát vào lộ trình của tàu buôn, cho đàn bà con nít ra ngồi trên nóc ca-bin, và giữ khoảng cách khoảng 500 mét – khoảng cách mà tôi nghĩ không cần sử dụng ống nhòm, hoa tiêu trên tàu cũng nhìn thấy chiếc ghe của chúng tôi.<br><br>Và để họ hiểu rằng chúng tôi mong muốn được cứu vớt, chúng tôi cho ghe chạy thật chậm, gần như dừng hẳn, và lấy cây sào có cột cái áo thun trắng (mà chúng tôi đã chuẩn bị sẵn) phất lia lịa.<br><br>Nhưng rồi tổng cộng hơn 10 chiếc tàu đi ngang qua mà không chiếc nào dòm ngó tới con thuyền tỵ nạn!<br><br>Khi hoàng hôn sắp buông xuống, chúng tôi quyết định “chơi bạo”: đón đầu chiếc tàu đang tiến tới bằng cách nhắm thẳng vào phía mũi tàu. Tới khi nhận ra rằng chiếc tàu vẫn giữ nguyên tốc độ xông tới, tôi hoảng hốt nói tài công Lý bẻ lái gấp sang phía tay mặt để tránh, vậy mà sau đó sóng từ mũi tàu cũng khiến chiếc ghe của chúng tôi tròng trành muốn lật!<br><br>Hú hồn! Từ lúc đó, chúng tôi không dám tiến tới sát những con tàu nữa, trừ chiếc cuối cùng vào chiều tối hôm đó: một chiếc du thuyền sang trọng.<br><br>Lúc đó trời bắt đầu tối, chúng tôi thấy một chiếc tàu lớn sơn màu trắng (hay xám nhạt) tiến tới với tốc độ khá chậm; tới gần, tôi nhận ra đây là một chiếc du thuyền sang trọng, đèn đuốc sáng trưng. Hy vọng vị thuyền trưởng và thủy thủ trên một chiếc du thuyền sẽ dễ động lòng thương cảm hơn những nhân viên trên tàu buôn, chúng tôi cho ghe tiến tới thật gần &#8211; gần tới mức tôi có thể nghe được tiếng nhạc và nhìn thấy những bóng người dưới ánh đèn màu.<br><br>Tôi cho ghe ngừng lại, bấm đèn pin làm hiệu SOS; nhưng trước sau chỉ có vài người đứng tựa lan can nhìn xuống, dửng dưng!<br><br>Khi chiếc du thuyền xa dần, ánh đèn màu mờ dần, lòng tôi cảm thấy chán nản cùng cực trước sự vô cảm của đồng loại; mọi người trên ghe có lẽ cũng có cùng cảm nghĩ ấy, dù không ai thốt nên lời!<br><br>Sau đó, chúng tôi quyết định rời lộ trình của tàu bè quốc tế, lấy lại hướng cũ: đảo Laut của Nam Dương.<br><br><strong>* * *</strong><br><br>Gần nửa đêm, trăng đã chếch về hướng tây nhưng vẫn còn đủ sáng lấp lánh trên từng ngọn sóng. Nhẩm tính trong đầu, tôi đoán ghe đã đi được khoảng ¼ của cuộc hành trình 700 km từ Vũng Tàu tới điểm gần (Việt Nam) nhất của hải phận Nam Dương: đảo Laut.<br><br>Nếu tôi tính toán chính xác thì lúc này ghe đang đi ngang quần đảo Côn Sơn. Dù không thấy gì ở cuối chân trời tối đen, tôi cũng nhìn đăm đăm về hướng tây như thể nhìn đất nước Việt Nam lần cuối&#8230;<br><br>Rồi tôi nằm trên sàn ghe ngủ thiếp đi lúc nào không hay, khi giật mình thức dậy thì đã 2, 3 giờ sáng, Tiến đang lái ghe cho Lý ngủ, ông anh cột chèo của tôi giữ hướng.<br><br>Nhìn lên trời, tôi thấy sao Nam Tào (Southern Cross) ngay phía trên đầu, liền lấy cái địa bàn bộ binh so hướng thì thấy sao chỉ hướng 170 độ. Tôi cố khắc ghi vào đầu giờ giấc xuất hiện và độ lệch của sao để đề phòng trường hợp bị mất phương hướng.<br><br>Sáng hôm sau, 17/10/1981, biển vẫn êm, trời quang đãng, gió bắc-tây-bắc thổi nhẹ, ghe tiếp tục lấy hướng 180 độ.<br><br>Khi mặt trời đã lên cao, chúng tôi lại thấy những chiếc tàu buôn ở xa xa phía bên tay trái, đa số di chuyển theo hướng nam-bắc. Tôi chợt nhớ lại chi tiết trên tấm hải đồ biển Đông mà tôi đã thuộc lòng và đoán mò rằng sau một đêm đi theo hướng 180 độ, ghe chúng tôi đã tái nhập vào tuyến hải hành nam-bắc của tàu bè quốc tế.<br><br>Mặc dù vào chiều hôm qua đã bị thất vọng não nề trước sự dửng dưng của hơn 10 con tàu, giờ đây chúng tôi cũng cố gắng thử vận may thêm một lần nữa, cho ghe bẻ hướng trái tiến sát vào đường đi của tàu bè, cho đàn bà con trẻ ra ngồi trên ca-bin, cho ghe chạy thật chậm, và đưa “cây sào SOS” lên vẫy.<br><br>Nhưng rồi một chiếc, hai chiếc, ba chiếc&#8230;, cuối cùng, cũng giống như chiều hôm qua, cả chục chiếc tàu đi ngang qua mà không một chiếc nào dừng lại!<br><br><strong>* * *</strong><br><br>Tới trưa, khi chúng tôi đã hoàn toàn hết hy vọng được tàu vớt thì mây đen bắt đầu kéo tới cùng với gió lạnh. Ông anh họ vợ nói với tôi “Chắc sắp có bão chú ạ”. Lúc này tôi mới chợt nhớ ra rằng chúng tôi ra đi vào giữa mùa bão.<br><br>Theo kinh nghiệm dân gian, “tháng Ba bà già đi biển”, nghĩa là vào tháng Ba âm lịch (khoảng tháng Tư dương lịch) là thời điểm biển Đông êm nhất. Vì thế lúc ban đầu, ông anh cột chèo đã dự tính sẽ ra đi vào đầu năm 1982, khi biển đã bắt đầu êm, nhưng vì những nguyên nhân tôi đã đề cập tới, ông đã quyết định ra đi vào giữa mùa bão.<br><br>Mùa bão ở biển Đông nói chung, vùng duyên hải Việt Nam nói riêng, bắt đầu từ tháng 6 và kết thúc vào cuối tháng 11 đầu tháng 12 dương lịch, trong đó ba tháng 8, 9, 10 là thời gian có bão thường xuyên nhất, và mạnh nhất.<br><br>Chỉ mấy phút sau khi ông anh họ vợ báo động, mây đen đã phủ kín bầu trời, gió ngược, tức gió nam-tây-nam thổi càng lúc càng mạnh, biển động dữ dội với những con sóng cao khoảng 2 mét chồm tới phủ lên mũi ghe.<br><br>Tất cả mọi người đã vào trong khoang, chỉ còn lại tôi, tài công Lý, và hai ông anh. Lúc này là lúc một người tài công kinh nghiệm chứng tỏ bản lĩnh của mình, trong đó quan trọng nhất là “gối sóng”, làm sao để những con sóng tung chiếc ghe lên chứ không dìm xuống hoặc lật ngang; và Lý đã cho thấy chú là một tài công giỏi và có sức mạnh hơn người (để giữ vững lái).<br><br>Về phần mình, tôi cố gắng giữ phương hướng nhưng vô ích; tôi có cảm tưởng chiếc ghe đang bị trôi giạt mà không biết trôi về phương nào, nhưng có một điều tôi biết chắc chắn với gió ngược, chiếc ghe đã không tiến về phương nam!<br><br>Phước đức ông bà, khoảng 4, 5 giờ chiều, mặc dù mây đen vẫn giăng kín, sức gió giảm bớt một cách đáng kể, sóng không còn phủ lên mũi ghe nữa&#8230;<br><br>Tôi hỏi tài công Lý về những gì vừa trải qua và kinh nghiệm của bản thân chú thì chú cho biết đây là lần đầu tiên mình gặp bão lớn như thế, vì trước đây trong những lần theo ghe đánh cá đi biển, gặp bão cấp 1 là đã lo quay vào bờ rồi. Còn cơn bão chúng tôi vừa trải qua, chú đoán phải là cấp 2 trở lên.<br><br>Cho tới lúc ấy, toàn bộ kiến thức về bão của tôi chỉ là câu nói dân gian “tháng Ba bà gìa đi biển”, nghĩa là vào tháng Ba âm lịch, biển êm nhất; còn về “cấp bão” thì tôi không có một chút ý niệm nào cả, ông anh họ vợ nói “đánh” vào tháng 10 dương lịch là đúng vào mùa bão thì tôi chỉ biết sẽ gặp bão, chứ không hề biết bão có mấy “cấp”, và cường độ của mỗi cấp ra sao.<br><br>Chỉ sau này có dịp tìm hiểu, tôi mới biết ngày ấy ở Việt Nam người ta chia bão (storm) ra làm 5 cấp, với sức gió từ 100 lên tới 200 cây số/giờ.<br><br>Như vậy, ngày ấy khi gặp cơn bão cấp 2 (như Lý nói) thì chiếc ghe 7 mét rưỡi của chúng tôi đã phải chịu đựng sức gió khoảng 140-150 cây số/giờ.<br><br><strong>* * *</strong><br><br>Tôi vào trong khoang xem tình hình của vợ con thì thấy vợ tôi nằm sõng soài trên mặt ván, chiếm mất khoảng 1/5 diện tích sàn ghe của 20 người lớn lẫn trẻ con; hai đứa con thì thằng con trai không khá gì hơn mẹ, đứa con gái tuy tỉnh táo hơn nhưng mặt cũng tái mét vì sợ hãi.<br><br>Lợi dụng lúc bớt sóng gió, một số người còn đủ sức để ăn đã lấy lương khô ra dằn bụng. Tôi không biết những chiếc ghe “nhà giàu” khi vượt biên họ mang theo những loại lương khô gì, còn ghe của chúng tôi chỉ có bánh bích-quy (biscuit), mì khô (mì ăn liền), và thính gạo rang.<br><br>Bánh bích-quy “xã hội chủ nghĩa”, như những ai ở lại Việt Nam sau năm 1975 còn nhớ, có lẽ không còn từ nào khác để mô tả hơn là hai chữ “khủng khiếp”: bột mì Liên Xô hôi mốc, đường hóa học đắng nghét, mùi bột va-ni rẻ tiền nồng nặc, chỉ có con nít không biết gì mới ăn!<br><br>Vì thế, giữa bánh bích-quy và mì khô tôi dứt khoát chọn mì khô!<br><br>Mì khô ở đây là mì ăn liền dưới dạng mì vụn. Lần đầu tiên tôi được thấy mì vụn ăn liền là trong thời gian tù cải tạo ở Phước Long (1977-1978), được một số thân nhân đem lên tiếp tế cho tù cải tạo trong các dịp thăm nuôi.<br><br>Mặt hàng này xuất hiện trên thị trường chợ đen sau khi các hãng mì ăn liền ở Sài Gòn bị đưa vào tập thể, hoặc bị nhà nước tịch thu trong các đợt đánh tư sản sau năm 1975.<br><br>Lúc ban đầu, mì vụn được xem là một “phế phẩm” của các xí nghiệp quốc doanh, được phân phối cho công nhân viên với giá rẻ, để họ có thêm một nguồn lương thực ngoài tiêu chuẩn.<br><br>Cũng nên biết khoảng thời gian này được cộng sản Việt Nam gọi là thời kỳ “bao cấp”, còn người dân thì gọi một cách dễ hiểu là thời kỳ “ngăn sông cấm chợ”, khởi đầu từ năm 1976 cho tới năm 1986, thời gian Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đề ra chính sách “Đổi mới”.<br><br>Trong giai đoạn này, tất cả mọi sinh hoạt kinh tế, sản xuất đều do nhà nước nắm giữ, tất cả mọi loại hàng hóa, nhu yếu phẩm đều được phân phối theo chế độ tem phiếu do nhà nước nắm toàn quyền ban phát. Chế độ hộ khẩu được thiết lập trong thời kỳ này để phân phối lương thực, thực phẩm, hàng hóa theo đầu người.<br><br>Chính vì nhà nước trở thành chủ nhân ông, nắm giữ toàn bộ sản phẩm cho nên người dân chẳng ai dại dột làm hết sức mình; và cũng chính vì nhà nước nắm toàn quyền phân phối cho nên không phải người dân nào cũng được hưởng tiêu chuẩn như nhau.<br><br>Hậu quả là hàng chục triệu người dân miền Nam lâm vào cảnh thiếu thốn, đói khổ. Những ai đã từng sống vào thời kỳ bao cấp này hẳn không thể nào quên được cái đói của người dân miền Nam, nhất là trong nạn đói năm 1979, khi nông dân miền Nam – nơi mà vào thời đệ nhất cộng hòa từng được xưng tụng là vựa lúa của Đông Nam Á – nhiều người đã phải ăn củ hoang rau dại để khỏi chết đói (theo tường thuật trên báo Tuổi Trẻ của thành Hồ)!<br><br>Trở lại với “phế phẩm” mì ăn liền của của các xí nghiệp quốc doanh, trước năm 1975 chưa ai nghe nói tới, bởi vì mì gói ăn liền được làm hoàn toàn bằng máy &#8211; từ lúc trộn bột tới lúc đóng gói, thì làm gì có “phế phẩm”, nhưng nay chẳng hiểu tại sao trong lúc sấy khô trước khi được đóng gói, mì cứ bị&#8230; nát vụn; để rồi số lượng mì nát vụn này được gom lại để phân phối cho công nhân trong xí nghiệp với giá rất tượng trưng!<br><br>Dĩ nhiên, đám cán bộ lãnh đạo xí nghiệp dư sức biết tại sao mì lại bị nát vụn nhiều đến như thế, nhưng thời “bao cấp” mà, cha chung không ai khóc, tội vạ gì kiếm chuyện với công nhân!<br><br>Bên cạnh đó, sau khi một số công nhân đem phần mì vụn của mình bán cho người khác, đưa tới việc mì vụn trở thành một mặt hàng mới trên thị trường chợ đen thì đám cán bộ lãnh đạo cũng tìm cách tuồn mì vụn ra thị trường, dĩ nhiên với một quy mô lớn hơn!<br><br>Mặt hàng này rất được thân nhân tù cải tạo và dân vượt biên ưa chuộng.<br><br>Trước hết nói về tù cải tạo. Trong hoàn cảnh đói khổ, thiếu thốn, nhiều khi chỉ có muối hột, ở Phước Long mì vụn được chúng tôi sử dụng để “nêm” canh nấu bằng các loạu rau trồng được hoặc chôm chĩa từ vườn rau của bộ đội.<br><br>Chỉ có ở trong trại cải tạo người ta mới thấy được công dụng tuyệt vời của một nắm mì vụn: sau khi nồi canh rau muống, rau dền, mồng tơi, mướp&#8230; được nấu chín, bỏ vào một mắm mì vụn thì nó trở nên đậm đà ngon ngọt như thể được nấu với tôm khô vậy!<br><br>Còn với dân vượt biên nhà nghèo, mì vụn là loại lương khô phổ biến, tiện lợi nhất bởi vì có thể bỏ vào mồm nhai, không cần phải nấu nướng gì cả!<br><br>Số lượng mì vụn bà chị vợ mang theo cho hai gia đình (hai chị em) dự trù cho năm ngày, sau đó nếu vẫn chưa tới đảo, vẫn chưa được tàu vớt, chúng tôi sẽ phải ăn thính gạo rang.<br><br>Thực ra trong nền ẩm thực của người Việt, thính không phải là một món ăn mà chỉ là một loại “gia vị” không thể thiếu trong những món nem, hoặc sử dụng làm nguyên liệu cho các món bê thui, gỏi cá, hoặc pha các loại mắm như: mắm tôm, mắm tép, mắm ruốc&#8230;<br><br>Chỉ tới khi có phong trào vượt biên, thính mới được một số người trộn đường để làm thực phẩm dự trữ, vì có thể để lâu cả tháng trời mà không bị hư.<br><br><strong>* * *</strong><br><br>Ăn xong mấy bốc mì khô, uống vài ngụm nước, tôi trở ra ngoài ghe thì trời đã tối đen như mực. Vừa hút xong điếu thuốc Hoa Mai khét lẹt thì mưa giông bắt đầu kéo tới. Gió càng lúc càng mạnh, sóng càng lúc càng cao, và chỉ khoảng nửa tiếng đồng hồ sau, chúng tôi đã hoàn toàn mất phương hướng.<br><br>Nhưng trong hoàn cảnh nguy ngập này, giữ hướng chỉ là chuyện phụ, việc chính là giữ cho ghe khỏi bị lật, bị chìm. Lúc ban ngày, Lý còn nhìn thấy những con sóng để bẻ lái “gối sóng”, tức là tránh để sóng đánh ngang vào mạn thuyền, nhưng giờ đây trên trời dưới biển chỉ là màu đen kịt&#8230;<br><br>Chiếc ghe 7 mét rưỡi lúc thì bị tung lên cao, lúc như muốn lật ngang, sóng phủ lên ghe khiến bốn người chúng tôi &#8211; Lý, tôi, ông anh cột chèo, ông anh họ vợ &#8211; ướt sũng.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/08/maxresdefault-1.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/08/maxresdefault-1-1024x576.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-65089" style="width:512px;height:288px" width="512" height="288" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/08/maxresdefault-1-300x169.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/08/maxresdefault-1-1024x576.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2023/08/maxresdefault-1-768x432.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/08/maxresdefault-1.jpg?strip=all 1280w" sizes="(max-width: 512px) 100vw, 512px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Ảnh minh họa: một chiếc ghe đánh cá hiện đại, dài 15 mét, đang “gối sóng” trong một cơn bão nhẹ trên biển Đông</em></p>



<p><br>Bỗng ông anh họ vợ chui vào trong khoang rồi trở ra ngay. Sau này vợ tôi kể lại ông vào chỉ để nói một câu ngắn gọn khiến mọi người bủn rủn tay chân: “Các cô ạ, cầu nguyện đi!”<br><br>Trong bối cảnh này, mặc dù hai chữ “cầu nguyện” vừa được hiểu là cầu nguyện để xin Thiên Chúa phù hộ vừa có nghĩa là đọc kinh sám hối để chuẩn bị chết, còn được gọi là “phó linh hồn”, nhưng ai cũng hiểu theo nghĩa thứ hai! Bởi vì ông anh họ vợ hồi còn ở ngoài Bắc đã từng theo ghe ra đánh cá ngoài biển, hẳn phải là người có kinh nghiệm, nay ông nói mọi người cầu nguyện thì phải hiểu là chiếc ghe của chúng tôi khó lòng qua khỏi cơn bão này!<br><br>Lẽ ra, ông anh họ vợ tôi không nên thốt ra câu đó, bởi vì nó chỉ khiến mọi người trong khoang thêm bấn loạn, chẳng ích lợi gì!<br><br>Sau này, bà chị vợ tôi và một số người ở trong khoang kể lại rằng mọi người chỉ âm thầm cầu nguyện nhưng có lúc họ lại nghe thấy “tiếng đọc kinh rõ mồn một” từ một nơi nào đó vọng lại, khiến họ càng thêm sợ hãi; có người còn tin rằng đây là tiếng cầu kinh của oan hồn những người đã chết trên biển Đông. Nhưng tôi không tin, cho đó chỉ là óc tưởng tượng của họ khi nghe tiếng gió rít, tiếng sóng biển gào thét.<br><br>Riêng tôi, mặc dù lúc ấy không biết ông anh họ vợ tôi nói gì với mọi người trong khoang, cũng nghĩ tới cái chết trước mắt, giống như trước đó hơn 3 năm khi bị sốt rét rừng ở Phước Long, tôi đã nghĩ tới. Có khác chăng là lúc này tôi cảm thấy lòng mình bình thản hơn nhiều.<br><br>Ngày nằm chờ chết ở Phước Long, mặc dù đã phó thác mọi sự cho Đấng tối cao, tôi vẫn không thể yên tâm khi nhớ tới gia đình bé nhỏ của mình. Vợ con tôi rồi đây sẽ đói no ra sao, tương lai của các con dưới một chế độ đang tìm mọi cách trả thù những người ngã ngựa sẽ đi về đâu&#8230;<br><br>Còn giờ đây nếu chết, tôi sẽ chết cùng với vợ con. Dĩ nhiên không ai muốn chết cả, nhưng nếu phải chết thì tốt nhất là chết mà không phải bận tâm, lo lắng cho những người thân yêu mình bỏ lại.<br><br>Rồi, cũng giống như ở Phước Long trước đây, tôi kiểm điểm lại bản thân lần cuối để tâm hồn được thanh thản.<br><br><strong>* * *</strong><br><br>Trong phần đầu của thiên hồi ký này, tôi đã thú nhận mình chỉ tìm lại được niềm tin vào tôn giáo sau khi bị đi tù cải tạo. Trước kia, tuy sinh ra và lớn lên trong một gia đình Công giáo, tôi không hề ý thức mình là một “con chiên” của Chúa để sống sao cho xứng đáng. Biểu hiện duy nhất để mọi người biết tôi là người Công giáo hoàn toàn mang tính cách hình thức: đi lễ nhà thờ vào mỗi Chủ nhật, nhưng đi do thói quen, hoặc bị mẹ, bà ngoại, và sau này là vợ bắt đi mà thôi!<br><br>Nhưng thực ra tôi vẫn ‘tin đạo” chỉ không “giữ đạo”, nghĩa là không chịu tuân giữ những “lề luật của Hội Thánh” mà thôi. Vì tin đạo cho nên mỗi khi gặp hoạn nạn hoặc lâm vào hoàn cảnh khó khăn tuyệt vọng, tôi thường “cầu cứu” Đức Mẹ Maria và các vị Thánh có tiếng linh thiêng. Cho tới nay, tôi vẫn tin rằng sau gần 2 năm đi “bụi”, bỏ học trọn năm Đệ Tam, chỉ học nửa năm Đệ Nhị rồi tự nộp đơn xin thi tự do mà tôi vẫn đậu được cái bằng Tú Tài 1 ban B là do “phép lạ” của Đức Mẹ và Thánh Mác-tin (St Martin de Porres). Nhờ đó, tôi mới giật mình tu tỉnh, sau này cũng lấy được cái bằng Tú Tài 2 ban A rồi vào trường Luật.<br><br>Nhưng sau khi vào quân đội thì tôi lại ngựa quen đường cũ, thậm chí còn tệ hại hơn thời học sinh sinh viên vì môi trường tứ đổ tường trong cuộc sống quân ngũ!<br><br>Chỉ sau cuộc đổi đời năm 1975, bị đưa vào trại cải tạo, sống trong cảnh khốn cùng, tuyệt vọng, tôi mới có cơ hội tìm lại niềm tin tôn giáo, để có đủ sức mạnh tinh thần vượt qua và sẵn sàng chấp nhận cái chết có thể đến với mình – tai nạn, bệnh tật, thậm chí bị bắn bỏ&#8230;<br><br>Tới khi bị sốt rét rừng Phước Long, tin rằng mình sẽ không qua khỏi, tôi kiểm điểm lại bản thân, thành tâm ăn năn sám hối về mọi lỗi lầm trong đời, và cảm thấy thanh thản, nhẹ nhõm.<br><br>Giờ đây cũng thế, đối diện với tử thần, tâm hồn tôi thật thanh thản!<br><br>* * *<br><br>Mặc dù cả bầu trời lẫn mặt biển tối đen như mực, không thể nhìn thấy các ngọn sóng, nhưng so với sức gió lúc ban chiều mà Lý nói là bão cấp 2, tôi đoán giờ đây chúng tôi đang gặp bão cấp 3. Sức gió, tiếng sóng thật khủng khiếp, muốn nói điều gì, chúng tôi phải hét vào tai nhau.<br><br>Vào khoảng 10 giờ đêm, Tiến &#8211; một trong hai thanh niên lo bãi bến và cũng là tài công phụ &#8211; từ trong khoang chui ra hốt hoảng báo cho ông anh cột chèo của tôi biết sàn ghe đã bị ngập nước. Cả hai ông anh vội vã bỏ vào trong lấy đèn pin soi thì thấy tất cả mọi người đều đang ngồi xổm. Ông anh cột chèo vội chui xuống khoang đặt máy ghe thì hỡi ôi, nước đã lên tới 1/3.<br><br>Ông anh đoán có những mép ván ở đáy ghe bị hở do bị sóng đánh quá mạnh, và nước biển đã vào ghe qua những kẽ hở này. Lúc ban ngày, khi bị bão lần thứ nhất, ông anh chưa thấy nước trong khoang máy, như vậy nước mới vào từ lúc bị cơn bão thứ hai.<br><br>Giải pháp trước mắt là tát nước. Thế là Tiến &#8211; cậu bé canh me mà sau này chúng tôi gọi là Tiến “con” &#8211; được phân công cùng với Trung, em cột chèo của Tiến, lấy xô múc nước trong khoang máy chuyền tay nhau đổ ra ngoài.<br><br>Khoảng 15 phút sau, sàn gỗ trong khoang của đàn bà con nít đã hết ngập, như vậy tốc độ nước vào ghe cũng không nhanh, suy ra chỗ ván bị hở cũng không lớn lắm. Sau nửa giờ đồng hồ, nước trong khoang máy đã gần cạn. Từ lúc đó cho tới khi cuộc hành trình kết thúc, Tiến “con” được trao trách nhiệm canh chừng mực nước trong khoang máy, khi nào thấy đủ để lấy xô múc thì tự động làm bổn phận.<br><br>* * *<br><br>Cuối cùng, cơn bão thứ hai mà tôi đoán tối thiểu phải là cấp 3 đã không đủ sức đánh bể hoặc nhận chìm chiếc ghe bầu 7 mét rưỡi; và tới khoảng 4 giờ sáng ngày 18/10/1981, bắt đầu giảm cường độ, tới 5 giờ sáng thì chấm dứt.<br><br>Tới lúc đó tôi cũng cảm thấy hoàn toàn kiệt lực, vào trong khoang lấy một bộ quần áo khô ra thay, giao cái địa bàn cho ông anh cột chèo rồi lăn ra ngủ phía mũi ghe. Lý cũng giao cho Tiến lái ghe rồi nằm ngủ cạnh tôi&#8230;<br><br>Khi tôi giật mình thức dậy thì đã 7, 8 giờ sáng. Biển chỉ động nhẹ nhưng mây đen vẫn giăng kín tứ phương. Lý cũng đã thức từ hồi nào và đang bẻ lái. Ông anh cột chèo giao lại cái địa bàn cho tôi rồi vào chui vào trong khoang. Ông không nói một lời nào nhưng tôi biết ông đã suy sụp, tinh thần cũng như thể xác, sau gần một ngày chống chọi với hai cơn bão.<br><br>Tôi không biết trong lòng ông có ân hận vì đã quyết định “đánh” vào giữa mùa bão hay không, nhưng qua quan sát thái độ im lặng, nét mặt không còn cảm xúc của ông, tôi rất ái ngại, tự nhủ lòng cố gắng san sẻ trách nhiệm với ông&#8230;<br><br>Khoảng 9, 10 giờ sáng, tiếng sấm rền bắt đầu vọng lại từ hướng tây, mây càng lúc càng dày và thấp, gió càng lúc càng mạnh. Ông anh họ vợ tới bên cạnh tôi, nói vừa đủ nghe:<br><br>&#8211; Sắp bão nữa chú ạ!<br><br>Sau hai trận bão, giờ này tôi đã hoàn toàn tin lời nhà dự đoán thời tiết này. Tôi hỏi lại:<br><br>&#8211; Có mạnh bằng đêm qua không anh?<br><br>&#8211; Tôi đoán cũng tầm đó&#8230; Nhưng ban ngày đỡ lo hơn vì mình nhìn thấy sóng.<br><br>Độ nửa tiếng đồng hồ sau, cơn bão tới, không biết sức gió có mạnh bằng hồi đêm hay không nhưng qua so sánh chiều cao của các ngọn sóng tôi biết chắc chắn phải dữ dội hơn chiều hôm trước, tức là từ cấp 3 trở lên!<br><br>Mỗi lần chiếc ghe bị ngọn sóng tung lên cao, đứng ở mũi nhìn xuống, tôi thấy cả một vực thẳm hãi hùng trước mặt mà đêm hôm qua tôi không thể nhìn thấy trong màn đêm tối đen. Lúc này, lo sợ trong lòng tôi mới lên tới cực điểm.<br><br>Trước chuyến vượt biên, tôi mới đi biển tổng cộng ba lần trong đời. Lần thứ nhất khi di cư vào Nam năm 1954 trên một chiếc tàu vận tải lớn của Hải Quân Hoa Kỳ, lần thứ hai khi bị đưa từ Tân Cảng (Sài Gòn) ra đảo Phú Quốc trên chiếc hải vận hạm HQ-405 của VNCH để lại, lần thứ ba khi bị đưa từ Phú Quốc về đất liền trên chiếc dương vận hạm HQ-501, cũng của VNCH để lại.<br><br>Trong ba lần nói trên, chỉ có chuyến đi ra Phú Quốc trên chiếc hải vận hạm hạng trung (HQ-405) gặp bão, sau này tôi đoán là bão cấp 2. Tôi còn nhớ con tàu bị sóng ngang đánh mạnh nhiều lúc tưởng như muốn lật, nhưng vì ngồi dưới sàn tàu không nhìn thấy mặt biển nên tôi không có cảm giác sợ hãi như trong chuyến vượt biên sau này.<br><br>Cũng như chiều hôm trước, giờ đây việc giữ hướng của tôi tạm dẹp sang một bên, việc trước mắt là bẻ lái sao cho ghe khỏi bị lật, bị chìm. An nguy của 26 mạng người hoàn toàn tùy thuộc vào sức chịu đựng của chiếc ghe và tài “gối sóng” của Lý.<br><br>Mặc dù trong lòng đã dứt khoát chấp nhận cái chết nếu mình “tới số”, mỗi lần chiếc ghe bị ngọn sóng hất tung lên, tôi lại nhắm mắt lại, đợi cho ghe lao xuống vực thẳm rồi trồi lên, mới dám mở mắt ra! Nhưng trong khi nhắm mắt, tôi lại phải cố lắng tai nghe xem có tiếng động lạ nào không; nói trắng ra là chiếc ghe có bị sóng đánh vỡ hay chưa!<br><br>Tới lúc đó, tôi mới thấy việc tôi và ông anh họ vợ bỏ bao công sức ra để đóng thêm hai công đà cho chiếc ghe bầu đã sắp mục nát không uổng phí một chút nào. Thật vậy, không chỉ mình tôi mà cả hai ông anh sau này hồi tưởng lại đều đồng ý với tôi rằng nếu không đóng thêm hai công đà ấy, chắc hẳn chiếc ghe đã bị sóng đánh bể nát trong đêm bão đầu tiên!<br><br><strong>* * *</strong><br><br>Tới khoảng 3, 4 giờ chiều, Lý vừa mệt mỏi rã rời vừa buồn ngủ, nói Tiến giữ lái thay mình. Dĩ nhiên, chúng tôi không thể nài ép Lý vì sức người có hạn, nhưng những gì diễn ra sau đó đã khiến chúng tôi nhiều lần phải xanh mặt: kinh nghiệm và khả năng gối sóng của Tiến không bằng phân nửa của Lý, cứ sau một ngọn sóng bổ tới, chiếc ghe lại tròng trành một cách đáng sợ, khiến mọi người ở trong khoang hốt hoảng, la ơi ới&#8230;<br><br>Bà chị vợ của tôi vội đánh thức chồng dậy, ông từ trong khoang bước ra, không nói không rằng, nét mặt lộ rõ sự tuyệt vọng&#8230; Về phần tôi chỉ biết thầm cầu nguyện xin Đức Mẹ và Thánh Mác-tin phù hộ.<br><br>Cũng may, sau khi Tiến thay Lý được hơn một tiếng đồng hồ thì sức gió giảm bớt, sóng chỉ còn cao hơn một mét, và trước khi màn đêm buông xuống bão đã dứt hẳn. Cho dù không biết những gì sẽ xảy ra vào ngày mai, chúng tôi cũng có cảm tưởng mình vừa chết đi sống lại.<br><br><strong>* * *</strong><br><br>Khi đêm tới, trên bầu trời bắt đầu xuất hiện những vì sao, trăng hạ tuần sắp lặn ở phương tây nhưng vẫn đủ sáng để soi bóng xuống mặt biển êm như hồ thu.<br><br>Tôi lấy cái địa bàn bộ binh ra để lấy hướng. Sau hơn một ngày một đêm bị bão liên tục, tới lúc này tôi mới có thì giờ (và can đảm) để tự hỏi: ghe chúng tôi hiện đang ở đâu?<br><br>Sau ba trận bão, với sức gió từ 150 tới 200 cây số/giờ, chủ yếu là gió tây, chắn chắc ghe chúng tôi đã bị trôi giạt về phương đông, nhưng bao xa so với lộ trình đã dự tính thì không thể nào ước đoán. Mà một khi không biết mình đang ở đâu thì biết lấy hướng nào để đi?<br><br>Biết mọi người đang lo âu, tôi cố làm ra vẻ bình tĩnh, bắt đầu óc làm việc để tìm một câu trả lời hợp lý nhất.<br><br>Trước hết tôi nhớ lại tấm hải đồ biển Đông mà mình đã thuộc lòng, nếu không bị bão và lấy hướng 180 độ (165 độ + 15 độ giạt) thì giờ này chúng tôi đang ở trên lộ trình nam-bắc của tàu bè quốc tế và đã đi được 2/3 đoạn đường 700 km từ Vũng Tàu tới đảo Laut của Nam Dương. Nhưng sau hơn một ngày một đêm bị bão, chúng tôi đã bị trôi giạt về hướng đông một khoảng mà tôi ước đoán có thể lên tới cả trăm km. Tạm thời xem là 100 km, nếu từ vị trí này chúng tôi cứ tiếp tục lấy hướng 180 độ thì rất có thể sẽ đi lệch về phía bên trái và không nhìn thấy đảo Laut, và phải đi thêm khoảng 500 km nữa mới tới lãnh thổ của Mã Lai trên đảo Borneo, nơi chỉ có những bộ lạc bán khai sinh sống!<br><br>Vì thế, tôi quyết định lựa chọn hướng tây-nam (225 độ), cho dù có đi lệch về phía bên phải và cũng không nhìn thấy đảo Laut, ít ra sau khi đi thêm 300, 400 km chúng tôi cũng tới được Mã Lai hoặc Singapore.<br><br>Khoảng nửa đêm, trăng đã khuất, nhìn lên thấy một bầu trời đầy sao, lòng tôi nổi lên một cảm giác cô đơn, hoang mang khôn tả, bởi vì nói gì thì nói, tôi cũng chỉ là một anh lính văn phòng vượt biển lần đầu tiên, lại trải qua ba cơn bão, làm sao tôi có thể tin tưởng vào sự suy đoán của mình. Nhưng dù bán tín bán nghi, tôi bắt buộc phải có một sự lựa chọn!<br><br>Lúc này biển êm, gió nhẹ, không khí thật dễ chịu, mọi người đều lăn ra ngủ, trừ ông anh cột chèo và Lý. Rồi tôi cũng thiếp đi lúc nào không hay, và một cơn ác mộng đã đến trong giấc ngủ: ghe chúng tôi bị công an biên phòng chặn bắt, tôi lại bị đưa vào trại cải tạo, lần này không có ngày về&#8230;<br><br>Đúng lúc ấy, ông anh cột chèo lay tôi dậy: ông nhìn thấy đất liền!<br><br>Ông chỉ về phía trước mặt, nói đó là bờ biển có ánh đèn. Trước thái độ phấn khích của ông, tôi cố dương mắt quan sát và thấy hình như có một dải đen ở trước mặt, rất có thể là bờ biển. Ông anh cột chèo vội đánh thức cả ông anh họ vợ dậy&#8230;<br><br>Lúc đó, đầu óc tôi không còn đủ minh mẫn để đặt câu hỏi: nếu là bờ biển trước mặt thì đó là lãnh thổ Mã Lai hoặc Singapore, nhưng tại sao bị bão trôi về hướng đông mà giờ đây ghe lại cập bờ biển ở hướng tây?<br><br>Tôi vội vã mường tượng những gì sẽ xảy ra một khi ghe cập vào bờ biển trong đêm tối. Chắc là mọi người sẽ ngồi lại ở bờ biển chờ tôi tìm cách liên lạc với nhà chức trách địa phương. Dĩ nhiên, tôi sẽ sử dụng tiếng Anh; hy vọng sẽ gặp được một vài người dân bản xứ biết tiếng Anh&#8230;<br><br>Trong lúc đầu óc tôi làm việc, ông anh họ vợ giữ lái cho ghe chạy thẳng vào “bờ”, còn ông anh cột chèo vào trong khoang vui mừng báo cho mọi người biết sắp tới đất liền!<br><br>Thế nhưng ngay lúc đó, ông anh họ vợ, cũng giống như tôi, khi được ông em họ chỉ cho thấy “bờ biển có ánh đèn”, cũng chỉ thấy “hình như có bờ biển”, giờ này không còn thấy gì nữa. Và chính tôi cũng không thấy gì nữa!<br><br>Rồi tới lượt ông anh cột chèo, từ trong khoang trở ra, cũng thấy “bờ biển có ánh đèn” đã biến mất! Ông dụi mắt một hồi, dáo dác nhìn tứ phương nhưng vẫn không thấy gì!&#8230;<br><br>Như vậy, ông anh cột chèo đã bị ảo giác, và hai người chúng tôi bị&#8230; ảo tưởng!<br><br>Tôi chợt nhớ tới chuyến khám phá Tân thế giới của Christopher Columbus lần thứ nhất vào năm 1942-1943, trong cơn tuyệt vọng, các thủy thủ làm nhiệm vụ quan sát trên cột buồm cũng nhiều lần thấy “đất liền”, nhưng sau đó tất cả đều biến mất.<br><br>Có khác chăng là chúng tôi không đến nỗi bị khủng hoảng tinh thần tới mức điên loạn như các thủy thủ trên tàu Santa Maria năm xưa, bởi ngày ấy vẫn còn có nhiều người không tin trái đất tròn mà cho rằng tận cùng của “mặt đất” sẽ là hố thẳm vô tận!&#8230;<br><br>Ông anh cột chèo thẫn thờ, im lặng một hồi rồi quyết định&#8230; thả neo! Dù ông không nói ra, tôi cũng hiểu ông vẫn cố tin rằng “bờ biển có ánh đèn” mà ông nhìn thấy lúc nãy là có thật, chẳng qua chúng tôi đã để mất hướng mà thôi. Ông quyết định thả neo với hy vọng sáng ra sẽ nhìn thấy bờ biển trước mặt!<br><br><strong>* * *</strong><br><br>Việc thả neo ngoài biển Đông, nơi có những hố sâu hơn 5500 mét thoạt nghe qua là “chuyện tề thiên”, nhưng trên thực tế, nếu từ Vũng Tàu hoặc các tỉnh miền Tây đi Thái Lan, Mã Lai, Singapore, Nam Dương thì độ sâu trung bình chỉ từ 25 tới 75 mét.<br><br>Nguyên trong thời gian chuẩn bị chuyến đi, qua nghiên cứu tấm hải đồ biển Đông, tôi được biết vùng biển nằm giữa Trung Hoa, Việt Nam, đảo Borneo và Phi-luật-tân (tức vùng biển hiện nay được gọi là “đường lưỡi bò”) tuy có độ sâu từ 1000 tới 5500 mét nhưng nếu từ Việt Nam không lấy hướng đông (Phi-luật-tân) mà lấy hướng nam thì độ sâu ngoài khơi cũng chỉ bằng trong vịnh Thái Lan, tối đa 85 mét.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/08/bathymetry.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/08/bathymetry.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-65090" style="width:689px;height:594px" width="689" height="594" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/08/bathymetry-300x259.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2023/08/bathymetry-768x663.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/08/bathymetry.jpg?strip=all 918w" sizes="(max-width: 689px) 100vw, 689px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Bản đồ độ sâu trên biển Đông; những vùng màu trắng có độ sâu 0-50 mét</em></p>



<p><br>Khi được tôi cho biết chi tiết này, ông anh cột chèo đã quyết định chơi một cái neo “vĩ đại” với cuộn dây dài 60 mét!&#8230;<br><br>Thoạt tiên, trong bụng tôi không an tâm một chút nào trước việc thả neo giữa biển, nhưng nhớ lại trước đó, khi ông anh cột chèo nói rằng ông thấy phía trước có bờ biển và ánh đèn, chính tôi cũng thấy hình như có bờ biển thật; như vậy đầu óc tôi cũng không còn tỉnh táo, minh mẫn nữa, cho nên tốt hơn hết là cứ thả neo rồi sáng mai tính sau!<br><br>Sau khi tắt máy ghe, thả neo hết cuộn dây 60 mét, ghe của chúng tôi nằm im, không hiểu vì neo đã chạm đáy biển hay vì lúc đó biển êm như mặt hồ thu, không một chút gió, hoặc vì cả hai?<br><br>Chỉ biết đêm hôm đó, ba anh em chúng tôi người nào cũng ngủ một giấc khá dài, dù có trải qua những cơn ác mộng thì ít ra cũng lấy lại sức sau gần hai ngày chống chỏi với giông bão.<br><br>Sáng hôm sau, khi mặt trời đã mọc ở phương đông, ông anh cột chèo của tôi dù muốn hay không cũng phải trở về với thực tế phũ phàng: trước mặt sau lưng, bên trái bên phải không có bờ biển nào cả!<br><br>Riêng tôi, chưa bao giờ được ngắm bình minh đẹp đến như thế; trong một khoảnh khắc ngắn ngủi tôi quên hẳn việc mình đang ở giữa biển cả không biết bờ bến phương nào để hòa mình vào cảnh sắc thiên nhiên&#8230;<br><br>Mọi người trong khoang cũng kéo nhau ra ngoài hít thở không khí trong lành. Nhìn mặt mọi người tôi lại muốn bật cười nhưng đã cố nén được: sau ba ngày, những khuôn mặt nhem nhuốc vì bị bám khói dầu cặn từ buồng máy lọt sang, giờ này đã trở đen bóng như được xịt một lớp hắc ín, trông giống hệt mấy tay hề trong các gánh xiếc tây phương!<br><br>Tôi vào trong khoang thăm dò tình trạng của vợ, thấy nàng đã có thể ngồi lên tựa lưng vào vách ghe, tôi cũng an tâm phần nào.<br><br>Sau khi kéo neo lên, tôi đề nghị ông anh cột chèo tiếp tục lấy hướng tây-nam vì hiện nay tôi không biết đích xác vị trí của ghe thì thà cập bến Mã Lai hoặc Singapore còn hơn đi lạc vào vùng biển Borneo ở hướng đông-nam, không biết bao giờ mới tới bờ. Ông anh đồng ý.<br><br>Ghe nổ máy. Lúc này tôi mới có thì giờ chú ý tới tiếng máy ghe. Sau ba ngày đêm, cái động cơ Yanmar F10 tân trang vẫn nổ đều đặn. Thật may cho chúng tôi là nó không bị trục trặc, bởi ghe chúng tôi không hề có máy sơ-cua (tức cái máy đuôi tôm Kohler mà ông anh cột chèo đã tự tính lúc đầu), nếu cái máy F10 mà ăn vạ thì cũng cùng số phận với cái ghe của các con bà chị vợ trước đây: trôi lênh đênh theo chiều gió!<br><br>Lúc này mặt biển rất êm cho nên nhìn xuống tôi có thể nhận thấy chiếc ghe chạy quá chậm so với tiếng máy nổ dòn. Không cần đợi tôi đo vận tốc ghe, ông anh cột chèo cũng nhận ra điều này; ông nghĩ có thể chân vịt bị trục trặc gì đây, liền cho tắt máy ghe và lại thả neo. Rồi ông cởi quần áo nhảy xuống.<br><br>Chỉ một phút sau ông trồi lên cho biết chân vịt bị lưới đánh cá cuốn chằng chịt và nói chúng tôi đưa cho ông con dao. Phải mất hơn 10 phút ông mới thanh toán xong mớ lưới với những sợi nylon to gần bằng ngón tay. Hèn chi chân vịt quay mà không có sức đẩy!<br><br>Rồi lại nhổ neo, nổ máy. Chiếc ghe chạy thật ngon lành!<br><br><strong>* * *</strong><br><br>Khoảng giữa trưa, tôi nhìn thấy một vật lạ nhô lên ở cuối chân trời về hướng chính nam (180 độ). Tôi lấy ống nhòm quan sát thì thấy trông giống như một cái cột ăng-ten trên tàu buôn. Sau khi bàn thảo, chúng tôi quyết định thử vận may lần cuối, cho ghe đổi hướng tiến về phía con tàu, hy vọng, dù rất mong manh, sẽ được vớt.<br><br>Nhưng trái với mấy ngày đầu, chỉ cần 15, 20 phút ghe chúng tôi và con tàu đi ngược chiều đã tới gần nhau, lần này chúng tôi đi cả nửa tiếng đồng hồ vẫn thấy cái cột ăng-ten tàu còn khá xa, giống như con tàu đó đang thả neo giữa biển.<br><br>Phải đi thêm nửa tiếng đồng hồ nữa, nhìn qua ống nhòm tôi mới biết đây không phải tàu buôn mà là một giàn khoan dầu!<br><br>Càng tốt, mấy ngày trước gặp trên dưới hai chục chiếc tàu mà có chiếc nào thèm vớt đâu, còn giàn khoan nằm cố định một chỗ, vớt mình thì họ cũng đâu bị trở ngại gì!<br><br>Vào thời gian chuẩn bị vượt biên, chúng tôi được biết cùng với việc nhiều người vượt biển được tàu buôn vớt còn có những ghe cặp vào giàn khoan ngoài khơi, được họ vớt lên chờ tới khi có tàu buôn đi ngang qua, hoặc tàu tiếp tế cho giàn khoan tới nơi thì cho “quá giang” tới đất liền.<br><br>Giàn khoan chúng tôi gặp là một giàn khoan treo cờ Nhật. Khi còn cách khoảng 500 mét, tôi mới thấy được tính cách vĩ đại của giàn khoan khổng lồ này, rồi nhìn lại chiếc ghe bé nhỏ mong manh mà giật mình.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/08/japanese-oil-rig.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/08/japanese-oil-rig-1024x683.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-65091" style="width:512px;height:342px" width="512" height="342" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/08/japanese-oil-rig-300x200.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/08/japanese-oil-rig-1024x683.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2023/08/japanese-oil-rig-768x512.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2023/08/japanese-oil-rig-1536x1024.jpg 1536w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/08/japanese-oil-rig.jpg?strip=all 1920w" sizes="(max-width: 512px) 100vw, 512px" /></a></figure></div>


<p><em>Ảnh minh họa: một giàn khoan của Nhật Bản trên biển Đông, tương tự giàn khoan chúng tôi đã gặp (hình Internet)</em></p>



<p>Lúc này hầu như tất cả mọi người đã ra khỏi khoang để chiêm ngưỡng cái giàn khoan một cách thích thú, và vui mừng vì sắp được vớt, kết thúc chuyến hải hành hãi hùng sau ba trận bão!<br><br>Khi ghe tới mặt phía bắc của giàn khoan chỉ còn cách khoảng 100 mét, tôi thấy một nhân viên đứng trên lan can của tầng thấp nhất lấy tay làm hiệu cho ghe chúng tôi chạy vòng ra mặt hướng nam. Sau đó tôi mới hiểu cái cầu tàu của giàn khoan nằm ở phía nam.<br><br>Khi chúng tôi cho ghe tiến vào cầu tàu, đã có mấy người đứng sẵn trên đó chờ đợi.<br><br><em>(Còn tiếp)</em></p>



<div style="height:500px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>©T.Vấn 2023</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>

<!--
Performance optimized by W3 Total Cache. Learn more: https://www.boldgrid.com/w3-total-cache/?utm_source=w3tc&utm_medium=footer_comment&utm_campaign=free_plugin

Page Caching using Disk: Enhanced 

Served from: t-van.net @ 2026-06-04 08:36:28 by W3 Total Cache
-->