<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>bản thảo khoảnh khắc chiêm bao &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<atom:link href="https://t-van.net/tag/ban-thao-khoanh-khac-chiem-bao/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://t-van.net</link>
	<description>Văn Học và Đời Sống</description>
	<lastBuildDate>Sat, 26 Mar 2022 02:17:26 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.7.5</generator>

<image>
	<url>https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/02/t-van-favicon.png?strip=all&#038;resize=32%2C32</url>
	<title>bản thảo khoảnh khắc chiêm bao &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<link>https://t-van.net</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Phan Tấn Hải: NGÔ THẾ VINH VÀ 18 CHÂN DUNG VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VÀ VĂN HOÁ</title>
		<link>https://t-van.net/phan-tan-hai-ngo-the-vinh-va-18-chan-dung-van-hoc-nghe-thuat-va-van-hoa-2/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phan Tấn Hải]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 26 Mar 2022 02:17:26 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Giới Thiệu Tác Phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[bản thảo khoảnh khắc chiêm bao]]></category>
		<category><![CDATA[giới thiệu tác phẩm]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=54368</guid>

					<description><![CDATA[Ngô Thế Vinh là người viết rất cẩn trọng, và tôi là người đọc ông rất trân trọng. Chữ của Ngô Thế Vinh không phải từ những giấc mơ hiện ra, nhưng là từ nỗi lo sâu sắc cho dân tộc và từ những bước chân đi xa nhiều ngàn cây số bên dòng Cửu [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<div class="wp-block-image"><figure class="aligncenter size-medium is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/03/tuyen-tap-chan-dung-van-hoc-nghe-thuat-ngo-the-vinh.jpg?strip=all"><img fetchpriority="high" decoding="async" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/03/tuyen-tap-chan-dung-van-hoc-nghe-thuat-ngo-the-vinh-300x200.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-54369" width="461" height="307" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/03/tuyen-tap-chan-dung-van-hoc-nghe-thuat-ngo-the-vinh-300x200.jpg?strip=all 300w, https://cdn.t-van.net/2022/03/tuyen-tap-chan-dung-van-hoc-nghe-thuat-ngo-the-vinh-768x512.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/03/tuyen-tap-chan-dung-van-hoc-nghe-thuat-ngo-the-vinh.jpg?strip=all 862w" sizes="(max-width: 461px) 100vw, 461px" /></a></figure></div>



<div style="height:20px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Ngô Thế Vinh là người viết rất cẩn trọng, và tôi là người đọc ông rất trân trọng. Chữ của Ngô Thế Vinh không phải từ những giấc mơ hiện ra, nhưng là từ nỗi lo sâu sắc cho dân tộc và từ những bước chân đi xa nhiều ngàn cây số bên dòng Cửu Long để viết lên hai tác phẩm biên khảo Cửu Long Cạn Dòng Biển Đông Dậy Sóng và Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch–nơi giữa những dòng chữ, độc giả có thể ngửi thấy mùi bùn non đồng ruộng chen lẫn với mồ hôi, nước mắt của đồng bào.</p>



<p>Và bây giờ là tuyển tập Ngô Thế Vinh viết về 18 người mà ông trực tiếp có giao tình, có hoạt động nghệ thuật một thời với họ, hay từng là môn sinh. Nơi đây chữ của ông kể lại nhiều thập niên từ quê nhà tới quê người, qua 18 người hoạt động văn học và văn hóa độc đáo, và họ là một phần những gì đẹp nhất của một thời VNCH. Trong đó, có những người đã lìa xa, nhưng không bao giờ trôi vào quá khứ —&nbsp; như Võ Phiến, như Thanh Tâm Tuyền, như Mai Thảo, và tất cả — vì tác phẩm của họ vẫn đang hiện ra trong các sắc màu bất tử của văn học dân tộc, chứ không chỉ riêng của Miền Nam VN.</p>



<p>Tác phẩm Chân Dung Văn Học Nghệ Thuật và Văn Hoá (nơi đây, sẽ gọi tắt là Chân Dung) của Ngô Thế Vinh viết về: Mặc Đỗ, Như Phong, Võ Phiến, Linh Bảo, Mai Thảo, Dương Nghiễm Mậu, Nhật Tiến, Nguyễn Đình Toàn, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn-Xuân Hoàng, Hoàng Ngọc Biên, Đinh Cường, Nghiêu Đề, Nguyên Khai, Cao Xuân Huy, Phùng Nguyễn, Phạm Biểu Tâm, Phạm Hoàng Hộ.</p>



<p>Trong đó, hai người cuối danh sách là 2 nhà khoa học, từng là thầy của Ngô Thế Vinh trong Đại Học Y Khoa.</p>



<p>Bạn có thể thắc mắc: danh sách các chân dung văn học nghệ thuật như thế là không đủ… Như vậy, còn thiếu Tạ Tỵ, Nguyễn Mộng Giác, Vũ Khắc Khoan, Cung Tiến, Doãn Quốc Sỹ, vân vân… Không phải đâu, họ vẫn bàng bạc hiện ra trong sách Ngô Thế Vinh. Bạn sẽ thấy tên của các nhà văn vừa nêu đó, và rất nhiều nhà văn khác hiện diện trong nhiều trang sách và cả hình ảnh. Như thế, Chân Dung có thể xem là một phần của văn học Miền Nam VN trước 1975, và một phần văn học hải ngoại.</p>



<p>Tôi là một trong vài người có cơ duyên được đọc sớm những gì Ngô Thế Vinh viết, mỗi khi ông gửi bài để phổ biến lên báo. Bài ông viết mang tính sử liệu cao, thường dài, phức tạp, nhiều hình, và do vậy khi đưa lên trang web là cả một vấn đề. Để giữ đúng thứ tự hình trong bài, giữ đúng vị trí và giữ luôn cả những cách Ngô Thế Vinh trình bày văn bản, như các chữ nghiêng và chữ đậm, chỉ có cách lấy ra từng tấm hình… Những việc như thế, thường mất gần một tiếng đồng hồ cho một bài viết. Nghĩa là, cực kỳ gian nan. Và tôi phải tự mình trình bày bài Ngô Thế Vinh như thế. Bởi vì, nếu tôi chuyển sang Ban Kỹ Thuật, bài của Ngô Thế Vinh sẽ được phóng lên chớp nhoáng, sẽ không được trình bày như&nbsp; nguyên bản, và có thể bị cắt bỏ rất nhiều hình để làm cho nhanh.</p>



<p>Nếu tất cả các bài viết gửi tới tờ báo đều phải trình bày cẩn trọng như thế, một tờ nhật báo không thể thực hiện được, khi hàng ngày phải đọc cả trăm bản tin, phải chọn ra vài chục bản tin để dịch, và có khi phải viết các bài bình luận chính trị khẩn cấp trong ngày. Nhưng với Ngô Thế Vinh, tôi tự thấy mình không có quyền để cho chữ của ông chệch ra khỏi cách trình bày nguyên thủy – vì với tôi, chữ của Ngô Thế Vinh đã khắc họa lên những chân dung của văn học, văn hóa… nơi đó, các tác giả sống trong đam mê sáng tạo, khát khao tìm cái mới và đẹp của nghệ thuật, và đồng thời chia sẻ những đau đớn với đồng bào trong cuộc chiến Nam-Bắc.</p>



<p>Ngô Thế Vinh có cơ duyên trưởng thành trong nhiều lĩnh vực. Ông viết văn, làm báo từ thời còn là sinh viên Đại học Y khoa Sài Gòn. Ngô Thế Vinh tự trình bày về cơ duyên xuất bản sách này:</p>



<p>“…<em>Với 18 chân dung văn học nghệ thuật và văn hoá đã hoàn tất, tôi nhận được nhiều gợi ý nên cho xuất bản như một tuyển tập, nếu có một cuốn sách “tạo dựng [lại] diện mạo của các nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ” như vậy, thì đây sẽ là trang sách riêng đề tặng cho Phùng Nguyễn</em>.”</p>



<p>Cảm giác của tôi là: nói là viết để tặng Phùng Nguyễn, một nhà văn thế hệ đi sau nhưng cũng chia sẻ những gian nan một thời chiến tranh VN, trong tận thâm tâm Ngô Thế Vinh đã viết để tặng cho đời sau. Mỗi bài viết của Ngô Thế Vinh là một mảng lịch sử về dân tộc mình. Bạn có thể đọc Ngô Thế Vinh như đọc những sử liệu có thể không tìm ra nơi đâu, những sử liệu của người trong cuộc kể lại. Văn của Ngô Thế Vinh không để giải trí. Nó có thể làm chúng ta mất ngủ, trằn trọc. Khi đọc sách Ngô Thế Vinh về dòng sông Mekong, chúng ta có thể cảm nhận trên trang giấy có bùn lầy Miền Tây, đang loang những trận mưa nước mắt của đồng bào. Và khi đọc về 18 chân dung văn học và văn hóa, bạn sẽ thấy hơn một nửa thế kỷ lịch sử hiện ra, nơi đó tác giả Ngô Thế Vinh kể lại từ góc nhìn của một nhà văn, và là một bác sĩ.</p>



<p>Không ai kể được chi tiết về bệnh của họa sĩ Đinh Cường như Ngô Thế Vinh, và cũng là người khéo chọn hai câu của họa sĩ để từ biệt trần gian:</p>



<p>“…<em>Vĩnh biệt Đinh Cường. Tưởng nhớ cuộc đời tài hoa Đinh Cường qua hai câu thơ man mác của chính anh:</em></p>



<p><em>Ra đi mới biết lòng vô hạn</em></p>



<p><em>sương có mờ thêm trên sông Hương</em>.”</p>



<p>Chúng ta cũng có thể nhận ra nét bút rất riêng của Ngô Thế Vinh mà không nhà biên khảo văn học nào có thể đạt tới, một nét bút mô tả như ảnh chụp về nhà văn Mai Thảo:</p>



<p>“…<em>Chỉ có một bàn viết, chiếc giường đơn với nơi đầu giường là một chân đèn chụp rạn nứt và dưới gậm giường mấy chai rượu mạnh; trên vách là mấy tấm hình Mai Thảo; đặc biệt là tấm ảnh phóng lớn có lẽ chụp trước 1975, Mai Thảo cao gầy ngồi trên bậc thềm nhà cùng với nhà thơ Vũ Hoàng Chương mảnh mai trong áo dài the, phía dưới là một kệ sách</em>…”</p>



<p>Ngô Thế Vinh cũng kể về những mâu thuẫn trong văn giới về cách biên khảo văn học, qua bài viết về Võ Phiến:</p>



<p>“…<em>cho dù Võ Phiến đã phải lao động bền bỉ suốt 15 năm [1984-1999] để hoàn tất bộ sách Văn Học Miền Nam nhưng chính ông chưa hề tự coi đó là một công trình hoàn hảo nên vẫn ao ước việc đánh giá nền văn học 1954-75 cần được bắt đầu nghiêm chỉnh.</em></p>



<p><em>Cho dù bộ sách Văn Học Miền Nam của Võ Phiến có những hạn chế đưa tới nhiều tranh cãi khá gay gắt. Người ta đã nặng lời trách ông về những phần thiếu sót trong bộ sách ấy: như khi ông đã gạt một số tên tuổi văn học của thời kỳ 1954-75 ra khỏi bộ Văn Học Miền Nam Tổng Quan, rồi cả cách ông phê bình các nhà văn, nhà thơ được ông chọn đưa vào sách cũng bị ông sử dụng cái sở trường văn phong tuỳ bút / nay thành sở đoản để châm biếm mỉa mai cá nhân với nhiều định kiến thiên lệch.</em></p>



<p><em>Nhà văn Mặc Đỗ nhóm Quan Điểm thì thật sự bất bình, Mai Thảo nhóm Sáng Tạo trong lần trò chuyện cuối cùng với Thuỵ Khuê 07/ 1997 cũng không kềm được cảm xúc nói tới “bọn vua Lê chúa Trịnh”, và nói thẳng: “Võ Phiến cũng có chỗ được chỗ không được. Đại khái như phê bình văn học, đối với tôi thì không được. Văn Học Miền Nam tổng quan đó thì không được. Thơ dở. Tạp văn hay.”…”</em></p>



<p>Trong bài viết về Nguyễn Đình Toàn, chúng ta sẽ nhận ra cách đọc văn của Ngô Thế Vinh, không chỉ đối chiếu với các diễn biến lịch sử quê nhà, mà cũng là phân tích về nỗ lực sáng tạo:</p>



<p>“<em>Áo Mơ Phai là dự cảm về một thành phố Hà Nội sắp mất, Đồng Cỏ là một tác phẩm khác dự báo một Sài Gòn sắp mất. Nguyễn Đình Toàn mẫn cảm với thay đổi thời tiết cũng như với những biến chuyển của lịch sử. Dự cảm hay trực giác của nhà văn đi trước tấn thảm kịch, đi trước những đổ vỡ chia ly đã mang tính tiên tri…</em></p>



<p><em>…Nguyễn Đình Toàn với kỹ thuật viết mới, viết truyện mà không có truyện, những trang chữ là một chuỗi những hình ảnh tạo cảm xúc và là một trải dài độc thoại nội tâm. Nguyễn Đình Toàn thành công trong nỗ lực tự làm mới văn chương nhưng không vì thế mà bảo ông chịu ảnh hưởng và chạy theo phong trào tiểu thuyết mới của Pháp</em>.”</p>



<p>Trong bài viết về Thanh Tâm Tuyền, chúng ta cũng đọc được các lá thư trao đổi giữa nhà thơ và Ngô Thế Vinh – đó là các lá thư mang tính sử liệu, ghi lại những chặng đường sáng tác và suy tư của Thanh Tâm Tuyền.</p>



<p>Ngô Thế Vinh viết:</p>



<p>“…<em>Những người bạn gần và hiểu TTT đều nghĩ rằng thái độ sống ẩn dật, từ chối những tiếp xúc và khép kín của anh có lý do của một TTT đang tự lột xác, lặng lẽ tích luỹ, TTT vẫn đọc rất nhiều và không ngừng đi tìm cái mới, với “giấc mộng lớn” để rồi khi tái xuất hiện là một TTT hoá thân, đó sẽ là một TTT khác, một TTT phục sinh để anh có thể viết trở lại / re-écrire. Nhưng rồi, như một định mệnh, TTT đã không còn thời gian</em>.”</p>



<p>Vâng, Thanh Tâm Tuyền không còn thời gian. Nhưng các tác phẩm văn học của Thanh Tâm Tuyền đã trở thành một tượng đài, vương các lớp bụi thời gian và vẫn đứng sừng sững trước mắt chúng ta.</p>



<p>Hay như hình ảnh Nhật Tiến qua lời kể Ngô Thế Vinh – cả hai người đều là nhân chứng sống của một thời 1963. Lúc đó, nhà văn Nhất Linh trước khi tuẫn tiết đã chép một bản sao di chúc gửi cho chàng sinh viên y khoa Ngô Thế Vinh đề ngừa mật vụ tịch thu và bóp méo sự kiện. Lúc đó, nhà văn Nhật Tiến đã can đảm đọc bài tiễn biệt Nhất Linh giữa vòng vây mật vụ. Ngô Thế Vinh kể lại:</p>



<p>“…<em>Nhất Linh đã viết thêm một bản di chúc thứ hai giao cho nhóm sinh viên. Lúc đó tôi đang học năm thứ ba Y khoa. Vào những ngày đầu của tháng Bảy, 1963, Nguyễn Tường Quý chở anh là Nguyễn Tường Vũ [con của ông Nguyễn Tường Thụy, người anh cả của mấy Anh Em gia đình Nguyễn Tường] xuống Đại học xá Minh Mạng tìm tôi. Quý chờ xe ở ngoài, chỉ có Nguyễn Tường Vũ vào gặp. Không nói gì nhiều, Vũ trao tay cho tôi một phong thư mỏng, cho biết đó là một trong hai bản di chúc viết tay của Nhất Linh: “Nhờ Vinh giữ, khi cần Vinh đưa lại“.</em></p>



<p><em>…Điếu văn của nhà văn trẻ Nhật Tiến lúc đó mới 27 tuổi, giữa vòng vây của mật vụ thời ấy, Nhật Tiến đã can đảm phát biểu với tính cách một nhà văn độc lập cho dù lúc đó Anh đang là Phó Chủ tịch Văn Bút. Nhật Tiến đã ràn rụa nước mắt với hết tâm can nói tới cái chết của nhà văn Nhất Linh: “Văn hào đã hình thành sứ mạng cao quý của người cầm bút. Văn hào đã nêu cao sĩ khí bất khuất của truyền thống những nhà văn chân chính.”…”</em></p>



<p>Những dòng kể lại tự thân đã trở thành một phần lịch sử.</p>



<p>Bên cạnh vai trò nhân chứng lịch sử, bản thân Ngô Thế Vinh cũng là một nhân chứng y khoa. Như trong bài Ngô Thế Vinh viết về Cao Xuân Huy:</p>



<p>“…<em>Melanoma-mắt là loại ung thư hiếm, rất thầm lặng và khi phát hiện thường là trễ…</em></p>



<p><em>Huy và tôi, qua cell vẫn liên lạc với nhau hàng tuần, thường là ngày thứ Năm sau ngày tái khám ở UCLA về. Thường là tôi phone cho Huy, nhưng lần này Huy gọi tôi báo tin cho biết CT scan mới phát hiện có bướu nhỏ trong gan. Nhiều phần có thể là do di căn từ ung thư mắt</em>…”</p>



<p>Chúng ta cũng sẽ gặp những tấm ảnh hiếm gặp, những khoảnh khắc của lịch sử ghi lại qua ống kính máy ảnh. Thí dụ, trong bài viết về Giáo sư Phạm Biểu Tâm, bên cạnh các tấm hình có từ thân nhân Giáo sư họ Phạm, chúng ta sẽ thấy một tấm hình có nguồn từ Life Magazine, với ghi chú của Ngô Thế Vinh:</p>



<p>“…<em>Hình 1: Gs Phạm Biểu Tâm nói chuyện với SVYK trong một giảng đường 28 Trần Quý Cáp, Sàigòn sau vụ Thầy bị bắt trước biến cố 1963. [nguồn: Life Magazine</em>]”</p>



<p>Cuối bài viết này, Ngô Thế Vinh mượn chính dòng thơ của Giáo sư Phạm Biểu Tâm, người được mô tả là “một vị danh sư đã để lại những dấu ấn lâu dài trong Ngành Y của Việt Nam từ thế kỷ trước” để như lời từ biệt của môn sinh gửi tới người thầy ngành y:</p>



<p>“<em>Nhớ Thầy Phạm Biểu Tâm, đọc lại bài thơ thiền của Thầy, để tìm được nguồn an ủi:</em></p>



<p><em>Trăm năm trước thì ta chưa có</em></p>



<p><em>Trăm năm sau có cũng như không</em></p>



<p><em>Cuộc đời sắc sắc không không</em></p>



<p><em>Trăm năm còn lại tấm lòng từ bi…”</em></p>



<p>Vâng, câu hỏi trong đời của từng người chúng ta vẫn là: trăm năm còn lại chút gì? Câu trả lời là, ước mơ một nét văn hóa Việt nơi phương trời xa. Ngô Thế Vinh viết về họa sĩ Nguyên Khai, và ghi ước mơ này:</p>



<p>“<em>Mong ước, rồi ra ngoài một Gallery Nguyên Khai trên không gian ảo www.nguyenkhaiart.com, căn nhà nhỏ mơ ước của Nguyên Khai – chữ của Trịnh Cung, nơi thị trấn Tustin, Orange County California và một số tranh tượng ấy sẽ được giữ lại như thêm một nét văn hoá Việt nơi thủ đô tỵ nạn của một thế hệ di dân thứ nhất.”</em></p>



<p>Hay như để hóa thân vào một nền văn học khác, như trường hợp Nguyễn Xuân Hoàng, khi được một nhà nghiên cứu văn học Nhật Bản dịch sang tiếng Nhật. Ngô Thế Vinh viết:</p>



<p>“<em>Tanaka Aki, tên cô gái Nhật Bản, Aki có nghĩa là “Mùa Thu”, cô đã không có may mắn được gặp nhà văn Nguyễn-Xuân Hoàng mà cô rất ngưỡng mộ nhất là sau này khi được đọc tác phẩm Người Đi Trên Mây, Sa Mạc, Bụi và Rác. Aki đã bị cuốn hút ngay với tác phẩm Người Đi Trên Mây vì mối quan tâm của cô về môi trường, hoàn cảnh sinh hoạt của Sài Gòn trước 1975. Aki đã từng sống và làm việc ở Việt Nam hơn 13 năm nhưng là thời kỳ sau 1975. Và cô có ý muốn dịch Người Đi Trên Mây sang tiếng Nhật nhằm chia sẻ một tác phẩm hay với độc giả người Nhật.”</em></p>



<p>Để nói ngắn gọn, thời gian đang cuốn trôi tất cả, nhưng tác phẩm Chân Dung Văn Học Nghệ Thuật và Văn Hoá của Ngô Thế Vinh sẽ vẫn ở mãi với văn học Việt Nam, vừa là sử liệu, vừa là chứng liệu, vừa là nhận định văn học từ chính một người cùng chia sẻ nỗ lực sáng tạo một thời. Nơi một góc thư viện, tác phẩm của Ngô Thế Vinh vẫn là độc đáo, và những dòng chữ đó – dù là viết về dòng sông Mekong hay về dòng sông văn học – cũng là từ máu tim của ông. Xin trân trọng mời đọc.</p>



<p><strong>Phan Tấn Hải</strong></p>



<p><em>(Trích bản thảo Khoảnh Khắc Chiêm Bao)</em></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nguyên Giác Phan Tấn Hải: TUYỂN TẬP “TÂM TRONG”: KHI 10 NHÀ THƠ HỘI NGỘ</title>
		<link>https://t-van.net/nguyen-giac-phan-tan-hai-tuyen-tap-tam-trong-khi-10-nha-tho-hoi-ngo/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phan Tấn Hải]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 05 Mar 2022 03:10:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Giới Thiệu Tác Phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[bản thảo khoảnh khắc chiêm bao]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=53795</guid>

					<description><![CDATA[Xin mời đọc hai dòng thơ lục bát sau: Khom lưng nhặt hạt bồ đề Hỏi tâm mới thấy tỉnh mê kiếp người… Đó là thơ của thi sĩ Nguyễn Thanh Huy ở trang 152, trong tập “Tâm Trong” – một tuyển tập thơ đầy đạo vị, và cũng là một cuộc hội ngộ hy [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<div class="wp-block-image"><figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/03/tam-trong.jpg?strip=all&fit=385%2C274"><img decoding="async" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/03/tam-trong.jpg?strip=all&fit=385%2C274" alt="" class="wp-image-53796" width="385" height="274"/></a></figure></div>



<div style="height:40px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Xin mời đọc hai dòng thơ lục bát sau:</p>



<p><em>Khom lưng nhặt hạt bồ đề</em></p>



<p><em>Hỏi tâm mới thấy tỉnh mê kiếp người…</em></p>



<p>Đó là thơ của thi sĩ Nguyễn Thanh Huy ở trang 152, trong tập “Tâm Trong” – một tuyển tập thơ đầy đạo vị, và cũng là một cuộc hội ngộ hy hữu, của 10 nhà thơ.</p>



<p>Trong những ngày Xuân, không gì vui hơn là đóng vai độc giả để lắng nghe cuộc hội ngộ của 10 nhà thơ (và hiển nhiên, may mắn là, ngồi đọc sẽ đỡ mệt nhọc hơn là “khom lưng nhặt hạt bồ đề”)…</p>



<p>Và do vậy, chữ nghĩa của họ rất là phiêu bồng.</p>



<p>Tuyển tập thơ “Tâm Trong” xuất bản bởi NXB Trung Đạo cuối năm 2015, ngay trong Lời Nói Đầu đã giải thích cơ duyên hội ngộ 10 thi sĩ với những hình ảnh rất Thiền vị, rằng đây là một thuận duyên, rằng cái đẹp là quay về chính mình, rằng đây chỉ là bóng nhạn lướt qua sông, hay tựa tơ trời bãng lãng…</p>



<p>Trích Lời Nói Đầu do Bạch Xuân Phẻ viết, như sau:</p>



<p>“<em>Xin cảm ơn! Cuốn sách nằm trong tay của quý vị là một thuận duyên cho tất cả chúng ta đang có mặt với nhau, giữa người đọc và người viết. Nơi đây là sự gặp gỡ giữa những tấm lòng vị tha đang cùng hướng gần đến Chân-Thiện-Mỹ. Ai trong chúng ta đều có những nỗi niềm, kỷ niệm, hoài vọng, ước mơ và hy vọng. Chúng ta đều biết thổn thức, trăn trở, rung động hay cảm nhận trước những gì xảy ra xung quanh chúng ta. Nhưng cái khó hơn là nhận chân những gì đang xảy ra ở trong ta. Cái hay, cái đẹp, phải chăng là sự quay về với chính mình. Cho và nhận tuy hai là một. Nhận và cho tuy một nhưng hai. Vì thế giữa người đọc và người viết không có một khoảng cách, có chăng chỉ là bóng nhạn lướt qua sông hay tựa tơ trời bãng lãng.</em></p>



<p><em>Cuốn sách này là một nỗ lực chung để làm văn hoá và ngôn ngữ Việt Nam ngày càng phong phú hơn và được phát hành qua hệ thống Amazon, và nếu có lợi nhuận (sau khi ấn loát), số tiền lời sẽ được nhà xuất bản làm việc văn hoá xã hội. Tuyển tập này sắp đặt theo thứ tự của họ tên người viết, bao gồm: Bạch Xuân Phẻ, Hàn Long Ẩn, Huyền, Nguyên Lương, Nguyễn Hoàng Lãng-Du, Nguyễn Thanh Huy, Nguyễn Phúc Sông Hương, Phan Thanh Cương, Trần Kiêm Đoàn và Tuệ Lạc. Rất mong sự hoan hỷ và biết ơn của tất cả quý vị, người đọc và người viết</em>…” (trang 5)</p>



<p>Khi 10 thi sĩ gặp nhau &#8212; trong đó có một nhà sư (và là nhà thư pháp nổi tiếng ở San Jose) và hầu hết là các cư sĩ đã gần trọn đời gánh vác Phật sự &#8212; ai cũng sẽ hình dung được rằng, vị cư sĩ thứ 11 sẽ từ mặt đất hiện lên (xin hiểu, đất Tâm) để hoan hỷ, tán thán về hạnh phòng hộ Tâm Trong: đó là khi nhà bình luận Huỳnh Kim Quang bước tới, đọc thơ và giới thiệu qua bài “Vào Cõi Tâm Trong” trên Việt Báo ngày 25-12-2015 – trích như sau:</p>



<p><em>&#8220;&#8230;Tâm Trong là lòng sạch như băng tuyết trên đỉnh cao chót vót, là lòng trong sáng rạng ngời như nhật nguyệt trên tầng không bao la vô tận. Như mặt hồ trong và lặng có thể phản chiếu ánh trăng trong sáng tròn đầy, tâm trong lắng xuống những ô trược để phản chiếu tự tánh thanh tịnh hồn nhiên.</em></p>



<p><em>“Hồ tâm phẳng lặng lung linh trăng vàng.”</em></p>



<p><em>(Dưới Nhành Liễu Xanh, Huyền)</em></p>



<p><em>Nhà Phật gọi tâm đó là tâm chúng sinh, gồm có chân và vọng, thật và giả, Phật và chúng sinh. Cái tâm trong đó bao trùm tất cả các pháp, lớn thì như cõi thái hư mười phương pháp giới, nhỏ thì như một hạt bụi vi trần mắt phàm không thấy nổi. Từ tâm đó mà các pháp sinh. Từ tâm đó mà thơ ra đời. Tâm càng trong cảnh hiện càng rõ, càng nguyên sơ. Khi tâm cảnh hòa quyện lấy nhau, thơ sẽ là âm ba, là giai điệu oà vỡ trong những khoảnh khắc tuyệt vời nhất. Tâm càng trong, thơ càng vi diệu, mượt mà, sâu lắng, rung động lòng người.</em>..&#8221;(hết trích)</p>



<p>*</p>



<p>Trước tiên là thơ&nbsp; Bạch Xuân Phẻ (Tâm Thường Định). Trong loạt Những Bài Thơ Haiku về Trăng, nơi Bài số 5, trang 9, trích:</p>



<p><em>Trăng thuỷ tinh lấp lánh</em></p>



<p><em>Lung linh mặt nước động chân nguyên</em></p>



<p><em>Tỉnh &#8211; quay về Phật tánh</em>.</p>



<p>Hay trong bài Lời Nhắn Tình Yêu, trang 11, họ Bạch viết:</p>



<p><em>…Có ai về bến đó</em></p>



<p><em>Cho tôi gởi đôi lời</em></p>



<p><em>Phù du cười cát bụi</em></p>



<p><em>Ngậm ngùi miền tử sinh.</em></p>



<p>Hay là bài Vô Ngôn, trang 17, họ Bạch viết:</p>



<p><em>Kính tặng Thầy Minh Đạt</em></p>



<p><em>Điện Phật trầm hương tỏa</em></p>



<p><em>Trăng khuya soi dáng gầy</em></p>



<p><em>Thầy trầm tư tĩnh tọa</em></p>



<p><em>Vô ngôn thay cảnh này.</em></p>



<p>*</p>



<p>Nhà thơ&nbsp; thứ nhì trong tuyển tập là thi sĩ Hàn Long Ẩn, cũng là nhà thư pháp.</p>



<p>Trong bài Vết Cháy Thời Gian, thi sĩ HLA nơi trang 32 viết:</p>



<p><em>Ta cắn vỡ thời gian tìm kỷ niệm</em></p>



<p><em>Nghe đời mình loang lỗ vết máu xanh</em></p>



<p><em>Mắt đã ráo khô đôi dòng lệ</em></p>



<p><em>Mùa thu ơi, chiếc lá mục trên cành</em>… (hết trích)</p>



<p>Hay là trong bài “Ở Hai Đầu Sanh Tử” thi sĩ Hàn Long Ẩn viết:</p>



<p>…<em>Ở hai đầu sanh tử</em></p>



<p><em>Là cuộc mộng bắt đầu</em></p>



<p><em>Ta làm người lữ khách</em></p>



<p><em>Gánh mãi một niềm đau</em>… (hết trích)</p>



<p>*</p>



<p>Nhà thơ thứ ba trong tuyển tập là Huyền.</p>



<p>Trong bài thơ tựa đề “Sư đi Sư lại về” nơi trang 65-66, được ghi là “Thay lẵng hoa tang kính dâng Giác linh Hòa Thượng Thích Huyền Quang,” nhà thơ Huyển viết, trích:</p>



<p>“&#8230;<em>Cuộc đời là tạm bợ</em></p>



<p><em>Sư thị hiện ta-bà</em></p>



<p><em>Hoá thân là khách trọ</em></p>



<p><em>Sư gieo mầm liên hoa</em></p>



<p>&nbsp;.</p>



<p><em>Nơi ao tù nước đọng</em></p>



<p><em>Sư gạn đục lắng trong</em></p>



<p><em>Từ khô cằn sỏi đá</em></p>



<p><em>Từng bước Sư thong dong</em></p>



<p><em>&nbsp;.</em></p>



<p><em>Huyễn mộng bào ảnh thôi!</em></p>



<p><em>Sư hóa cánh chim trời</em></p>



<p><em>Băng ngang vùng bão nổi</em></p>



<p><em>Mưa sầu giăng muôn nơi</em></p>



<p><em>&nbsp;.</em></p>



<p><em>Sư đứng bên bờ Giác</em></p>



<p><em>Dõi mắt về bờ Mê</em></p>



<p><em>Thương chúng sanh lầm lạc</em></p>



<p><em>Sư đi Sư lại về</em></p>



<p>.</p>



<p><em>Sư bước xuống dòng sông</em></p>



<p><em>Bùn nhơ hoá nước trong</em></p>



<p><em>Liên hoa toà nở rộng</em></p>



<p><em>Đưa Sư ngược bến Không</em></p>



<p><em>.</em></p>



<p><em>Không đến cũng không đi</em></p>



<p><em>Không tụ không phân ly</em></p>



<p><em>Cùng pháp giới vô vi</em></p>



<p><em>Sư đi Sư lại về&#8230;(</em>hết trích)</p>



<p>*</p>



<p>Kế tiếp là nhà thơ Nguyên Lương.</p>



<p>Trong bài Nói Một Lần Thôi, trang 75-76, thi sĩ Nguyên Lương viết, trích:</p>



<p><em>&#8230;Nói gì không biết nói</em></p>



<p><em>Người đi ta hết lời</em></p>



<p><em>Ngày xưa chưa dám nói</em></p>



<p><em>Ngày nay cũng vậy thôi</em></p>



<p><em>&nbsp;.</em></p>



<p><em>Viết gì không dám viết</em></p>



<p><em>Mực chảy từ trái tim</em></p>



<p><em>Ghi xuống một vài chữ</em></p>



<p><em>Thật lòng ta yêu em</em></p>



<p><em>&nbsp;.</em></p>



<p><em>Phải rồi: ta yêu em</em></p>



<p><em>Cỏ cây có biết không?</em></p>



<p><em>Đất trời nay chứng kiến</em></p>



<p><em>Ta nói rồi nghe không!</em></p>



<p><em>.</em></p>



<p><em>Ta nói một lần thôi</em></p>



<p><em>Úp mặt lòng bàn tay</em></p>



<p><em>Nhớ người sao nhớ quá</em></p>



<p><em>Trái tim cuồng vỡ đôi</em></p>



<p><em>&nbsp;.</em></p>



<p><em>Yêu người sao khó quá!</em></p>



<p><em>Tháng tám trời đổ mưa</em></p>



<p><em>Mực khô nhỏ nước mắt</em></p>



<p><em>Tình khô thêm nước mưa</em>…(hết trích)</p>



<p>*</p>



<p>Trong khi đó, nhà thơ&nbsp; Nguyễn Hoàng Lãng-Du bay bổng.</p>



<p>Trong bài nơi trang 116, NHLD viết, trích:</p>



<p><em>Tái Sinh</em></p>



<p><em>Ừ, ta gió núi mây ngàn;</em></p>



<p><em>Đồi trăng suối chảy, tơ đàn mưa bay.</em></p>



<p><em>Lối xưa vang tiếng hạc gầy,</em></p>



<p><em>Có con bướm lạ chờ ngày hóa thân</em>. (hết trích)</p>



<p>Hay là bài nơi trang 120, NHLD viết, trích:</p>



<p><em>Trăng Hạnh-Phúc</em></p>



<p><em>Mở trang sách đọng trầm hương,</em></p>



<p><em>Cái tình hư-ảo như sương khói mờ.</em></p>



<p><em>Tìm trăng thấy cõi bơ-vơ,</em></p>



<p><em>Ai ngờ trăng ngủ trên bờ vai em</em>. (hết trích)</p>



<p>*</p>



<p>Trong khi đó, nhà thơ Nguyễn-Phúc Sông Hương qua bài Buổi Chiều Đàn Trâu Nhớ Con, nơi trang 130 đã viết, trích:</p>



<p><em>Không phải chim gõ kiến</em></p>



<p><em>Gõ gỗ trong rừng sâu,</em></p>



<p><em>Là tiếng mõ bản Thượng</em></p>



<p><em>Chiều về gõ gọi trâu.</em></p>



<p><em>&nbsp; .</em></p>



<p><em>Trại tù vang tiếng kẻng,</em></p>



<p><em>Thằng chăn thúc bước mau.</em></p>



<p><em>Đoàn tù đi bước chậm</em></p>



<p><em>Bầy trâu gầy chờ nhau.</em></p>



<p><em>.</em></p>



<p><em>Đàn trâu về bản Thượng,</em></p>



<p><em>Tiếng nghé kêu lạc bầy.</em></p>



<p><em>Tim người tù đau đớn</em></p>



<p><em>Tưởng con mình đâu đây!</em></p>



<p>.</p>



<p><em>Không phải chim gõ kiến</em></p>



<p><em>Gõ gỗ trong rừng sâu,</em></p>



<p><em>Tiếng mõ và tiếng kẻng</em></p>



<p><em>Chiều về gõ gọi trâu</em>. (hết trích)</p>



<p>*</p>



<p>Trong khi đó, nhà thơ Nguyễn Thanh Huy luôn luôn quan tâm về những cõi bờ sinh tử. Trong bài Xác Thân Rồi Cũng Xa, nơi trang 153, NTH viết:</p>



<p><em>Người qua rồi một thuở,</em></p>



<p><em>Ta mất đi hình hài</em></p>



<p><em>Cõi lòng ta tan vở</em></p>



<p><em>Đêm buồn giữa trần ai.</em></p>



<p><em>&nbsp;.</em></p>



<p><em>Từ khi ta thấy có,</em></p>



<p><em>Là không đang đợi chờ</em></p>



<p><em>Vốn chẳng dừng lại đó,</em></p>



<p><em>Nên đời mãi ước mơ.</em></p>



<p><em>.</em></p>



<p><em>Thời gian thì vẫn thế,</em></p>



<p><em>Chỉ có ta thấy già,</em></p>



<p><em>Đêm buồn ngồi kể lể,</em></p>



<p><em>Một mình ta với ta.. .</em></p>



<p>.</p>



<p><em>Lửa tàn theo điếu thuốc,</em></p>



<p><em>Khói buồn chẳng bay xa,</em></p>



<p><em>Có không rồi cũng vậy,</em></p>



<p><em>Nghĩ chi cho mau già.</em></p>



<p><em>.</em></p>



<p><em>Lời xưa thầy đã dạy</em></p>



<p><em>Đây là cõi ta bà,</em></p>



<p><em>Hơn thua gì cho mệt,</em></p>



<p><em>Xác thân rồi cũng xa</em>&#8230; (hết trích)</p>



<p>*</p>



<p>Kế tiếp là nhà thơ Phan Thanh Cương, trong bài Lời Ru Xanh, trang 168, ghi nhận:</p>



<p><em>Ngoài kia ngọn cỏ lay</em></p>



<p><em>Giữa trời cao đất rộng</em></p>



<p><em>Viết câu thơ về mẹ</em></p>



<p><em>Ngọn cỏ về trên tay</em></p>



<p><em>Mẹ để màu cho cây</em></p>



<p><em>Mẹ để lời cho gió</em></p>



<p><em>Mẹ ơi! cây và gió</em></p>



<p><em>Lời ru xanh nơi này</em></p>



<p><em>Để con làm nắng ấm</em></p>



<p><em>Mẹ qua hết đêm đen</em></p>



<p><em>Để con làm hoa nở</em></p>



<p><em>Mẹ qua hết đông dài</em></p>



<p><em>Có con chim ngây thơ</em></p>



<p><em>Tưởng đo được trời rộng</em></p>



<p><em>Có áng mây vu vơ</em></p>



<p><em>Vẽ lên hình hài mẹ</em></p>



<p><em>Thơ bằng lời ru xanh</em></p>



<p><em>Tình mẹ mênh mông quá</em></p>



<p><em>Suốt ngàn năm qua đi</em></p>



<p><em>Mà sao thơ không thành</em>. (hết trích)</p>



<p>*</p>



<p>Trong khi đó, nhà thơ Trần Kiêm Đoàn rất mực lãng mạn, qua bài tựa đề “40 – Valentine” nơi trang 194-195, với ghi chú rằng, “Viết tặng Lê, 40 năm ngày cưới của chúng ta.” Bài thơ trích như sau:</p>



<p><em>Nhổ vài cọng râu bạc</em></p>



<p><em>Anh ngỡ mình bớt già</em></p>



<p><em>Nhuộm đường ngôi tóc trắng</em></p>



<p><em>Em nghe mình trẻ ra</em></p>



<p><em>&nbsp;.</em></p>



<p><em>Nhấm cốc rượu sương pha</em></p>



<p><em>Ta nhen hồng cảm xúc</em></p>



<p><em>Chân chim từng khóe mắt</em></p>



<p><em>Tuổi xuân gần hay xa</em></p>



<p><em>&nbsp; .</em></p>



<p><em>Gọi bình minh thịt da</em></p>



<p><em>Chút phấn hồng tươi mới</em></p>



<p><em>Nhớ giọng nói tiếng cười</em></p>



<p><em>Nếp nhăn đời xa lạ</em></p>



<p><em>&nbsp; .</em></p>



<p><em>Ngày Tình Yêu hôm nay</em></p>



<p><em>Bốn mươi năm Ngày đó</em></p>



<p><em>Sông xuôi về nỗi nhớ&#8230;</em></p>



<p><em>Những mùa Valentine</em>… (hết trích)</p>



<p>*</p>



<p>Cuối cùng là nhà thơ&nbsp; Tuệ Lạc (Nguyễn Điều).</p>



<p>Trong bài tựa đề Say Trăng, thi sĩ Tuệ Lạc viết, trích:</p>



<p>“&#8230;<em>Lắm lúc ta nhìn trăng dưới ao.</em></p>



<p><em>Lung linh…không biết ấy trăng nào?</em></p>



<p><em>Bấy nhiêu đáy nước, bao gương nguyệt…</em></p>



<p><em>Trăng cũng nhiều như những ánh sao?</em></p>



<p><em>.</em></p>



<p><em>Trăng ở quê nhà, trăng chứa thơ.</em></p>



<p><em>Ngày xưa ta vẫn khóc trăng mờ.</em></p>



<p><em>Chừ trăng đất khách, trăng hoang lạnh.</em></p>



<p><em>Ta vẫn nhìn trăng, dạ ngẩn ngơ….”</em></p>



<p>Có thể nói thêm gì về tuyển tập thơ “Tâm Trong”?&nbsp; Nơi đây xin mượn lời nhà phê binh Huỳnh Kim Quang:</p>



<p>“<em>Đọc từng trang của tuyển tập thơ Tâm Trong, tôi thấy như mình đang bước vào một vườn hoa văn học với vô số những kỳ hoa dị thảo đang khoe sắc thắm tươi và tỏa hương ngào ngạt. Đọc từng câu thơ của Tâm Trong lòng tôi cũng nhẹ bớt đi phiền não lao xao của cuộc sống đời thường, và thấy tâm mình cũng trong theo với những vần thơ trong vắt của mười tác giả. Điều may mắn của tôi là có thể đọc được những bài thơ hay của mười tác giả trong một tuyển tập mà không cần phải mất công tìm tòi ở đâu xa để đọc và thưởng thức. Quả tình, nếu không đọc được Tâm Trong thì chưa chắc tôi đã có duyên để đọc thơ của tất cả những nhà thơ có mặt trong tuyển tập thơ này</em>.”</p>



<p>Lời bình trên là đầy đủ vậy. Không dễ có cuộc hội ngộ của 10 nhà thơ với tâm hồn trong vắt như thế.</p>



<p><strong>Nguyên Giác Phan Tấn Hải</strong></p>



<p><em>(Trích bản thảo Khoảnh Khắc Chiêm Bao)</em></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Phan Tấn Hải: LỮ QUỲNH VỚI NHỮNG CON CHỮ LANG THANG KHÔNG NGÀY THÁNG</title>
		<link>https://t-van.net/phan-tan-hai-lu-quynh-voi-nhung-con-chu-lang-thang-khong-ngay-thang-2/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phan Tấn Hải]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 28 Feb 2022 03:15:56 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[bản thảo khoảnh khắc chiêm bao]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=53519</guid>

					<description><![CDATA[Hình dung thế nào về tác giả Lữ Quỳnh? Như một nhà thơ, hay như một nhà văn, hay như một người chiêm ngắm cuộc đời? Nhìn từ bất cứ hướng nào, có lẽ cũng không đủ chữ để nói về Lữ Quỳnh, một tài năng văn học rất mực đa dạng. Nhà văn Nguyễn [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<div class="wp-block-image"><figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/02/lq.jpg?strip=all&fit=183%2C275"><img decoding="async" width="183" height="275" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/02/lq.jpg?strip=all&fit=183%2C275" alt="" class="wp-image-53520"/></a></figure></div>



<p></p>



<p>Hình dung thế nào về tác giả Lữ Quỳnh? Như một nhà thơ, hay như một nhà văn, hay như một người chiêm ngắm cuộc đời? Nhìn từ bất cứ hướng nào, có lẽ cũng không đủ chữ để nói về Lữ Quỳnh, một tài năng văn học rất mực đa dạng.</p>



<p>Nhà văn Nguyễn Mộng Giác nhìn về Lữ Quỳnh: “<em>Ôi, thời đó chúng tôi lãng mạn biết chừng nào, ngây thơ biết chừng nào…</em>”</p>



<p>Nhà thơ Du Tử Lê nói về họ Lữ: <em>“…đọc lại những trang văn của Lữ Quỳnh, tôi vẫn còn nghe thoảng hương thơm của lòng nhân hậu.</em>”</p>



<p>Nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ nhận ra nơi Lữ Quỳnh là: “<em>Nhà thơ, như một hành giả đang lặng lẽ Nhìn, lặng lẽ Thấy và lặng lẽ Nghe</em>.”</p>



<p>Nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh nhìn thấy nơi Lữ Quỳnh như một: “…<em>thi sĩ đi trong thời gian của mình những bước thao thức của giấc mơ, người thơ Lữ Quỳnh</em>.”</p>



<p>Tuyển tập mới ấn hành của Lữ Quỳnh có nhan đề “Những Con Chữ Lang Thang Không Ngày Tháng” đã cho thấy tác giả hiện ra đa dạng hơn, phức tạp hơn, rất mực tài năng và đúng như các tác giả trên nhận xét về họ Lữ: lãng mạn và ngây thơ, trên các trang văn thoảng hương thơm của lòng nhân hậu, nhà thơ hành giả lặng lẽ nhìn và nghe, và đi trong những bước thao thức của giấc mơ…</p>



<p>Tuyển tập gồm nhiều phần: thơ, thơ chuyển ngữ, truyện ngắn, truyện vừa, ký, tạp văn, bài của bằng hữu.</p>



<p>Trong các bài thơ của Lữ Quỳnh, bài Áng Mây Vàng nơi trang 9, nói về mẹ chắc chắn sẽ làm xúc động tất cả độc giả:</p>



<p><em>giọt nước đựng trời mây</em></p>



<p><em>tàn hương bay lấp lánh</em></p>



<p><em>lắt lay bóng mẹ về</em></p>



<p><em>tóc con chừ điểm bạc</em></p>



<p><em>.</em></p>



<p><em>tám năm ngày mẹ đi</em></p>



<p><em>vẫn nụ cười trên mộ</em></p>



<p><em>trần gian đường gập ghềnh</em></p>



<p><em>hoàng hôn đời lệ nhỏ</em></p>



<p><em>.</em></p>



<p><em>một năm rồi mười năm</em></p>



<p><em>chỉ dài như hơi thở</em></p>



<p><em>thanh tịnh quang chân tâm</em></p>



<p><em>áng mây vàng tưởng niệm…</em></p>



<p>Trong khi đó nhà văn Khuất Đẩu ghi nhận rằng một bài thơ của Lữ Quỳnh có thể gọi là hay nhất trong các bài thơ về tình nghĩa phu thê.</p>



<p>Khuất Đẩu trong bài phân tích “Những hồi ức buồn” đã viết, trích:</p>



<p><em>“&#8230;Tôi xin chép trọn bài thơ mà tôi cho là đẹp nhất, một bài tụng ca tình nghĩa phu thê còn đằm thắm lung linh hơn cả bài “Tình quê” của Hàn Mặc Tử.</em></p>



<p><em>Em vẫn đi về</em></p>



<p><em>Dòng sông ký ức</em></p>



<p><em>Vầng trăng đại vực</em></p>



<p><em>In bóng thuyền tôi</em></p>



<p><em>.</em></p>



<p><em>Tóc em mây trôi</em></p>



<p><em>Trên sông áo lụa</em></p>



<p><em>Thuyền tôi hạt lúa</em></p>



<p><em>Vàng lung linh vàng</em></p>



<p>.</p>



<p><em>Một chuyến đò ngang</em></p>



<p><em>Sông xưa mất ngủ</em></p>



<p><em>Từ em thiếu phụ</em></p>



<p><em>Lúa vàng thôi trôi</em></p>



<p>.</p>



<p><em>Từ em thiếu phụ</em></p>



<p><em>Tóc rối vành nôi</em></p>



<p><em>Hồn xanh bóng phủ</em></p>



<p><em>U uẩn lời ru</em></p>



<p><em>.</em></p>



<p><em>Sông em sóng nổi</em></p>



<p><em>Hạt lúa thuyền tôi</em></p>



<p><em>Vàng không bến đậu</em></p>



<p><em>Mù sa bãi bồi.”</em></p>



<p>Trong khi đó nhà văn Nguyễn Mộng Giác khi sinh tiền trong bài viết “Những Ảo Tưởng Một Thời” đã ghi nhận về Lữ Quỳnh, một bạn văn từ những năm đầu thập niên 70, thời đất nước còn chìm trong nội chiến:</p>



<p><em>“… Thế hệ chúng tôi, thế hệ của Lữ Quỳnh, cũng có những ảo tưởng khác. Đọc lại truyện cũ chúng tôi viết ở Quy Nhơn thời đó, không hiểu sao chúng tôi thích dựng truyện trong một khung cảnh khá khác thường: truyện xảy ra trong vùng xôi đậu, có bên này và bên kia một dòng sông, có cây cầu bắc qua hay con đò lặng lẽ lén lút chèo giữa đám sương mù. Lữ Quỳnh có Sông sương mù. Tôi có Cây cầu tuổi dại. Chiến tranh lúc đó đối với chúng tôi là một điều phi lý, dù không ai thoát ra khỏi được cuộc chiến tranh ấy. Cho nên người bên này hay bên kia đều dễ thương như nhau, ít ra là “dễ thương như nhau” qua đôi mắt trẻ thơ của bé Phượng trong Sông sương mù. Mà những người dễ thương như thế thì không có lý do chính đáng nào để ghét nhau, nói chi đến chuyện thù nhau, rồi tìm cách giết nhau. Chỉ cần nắng lên và sương mù tan hết, cuộc sống sẽ trong sáng, người ta nhìn thẳng vào mặt nhau để thấy người đối diện thật xứng đáng để thương yêu. Ôi, thời đó chúng tôi lãng mạn biết chừng nào, ngây thơ biết chừng nào. Những kẻ nắm trong tay quyền lực để sai khiến lịch sử chắc “cười đến chảy nước mắt” sự ngây thơ của chúng tôi. Chúng tôi bị gọi là “ngụy hòa”, là “nhân đạo chung chung”, là “tung hỏa mù xóa nhòa ranh giới giữa chiến tranh xâm lược và chiến tranh giải phóng” … Những thứ tội tầy đình ấy chúng tôi phải lắng nghe, tự xưng tội công khai mà lòng ấm ức. Nhưng khi cơn bão đã qua, như lúc viết những dòng này, chúng tôi không thấy hổ thẹn với lòng tin ngây thơ ấy. Chúng tôi dù sao cũng còn tin ở lòng tốt của con người. Không tin, thì còn biết làm sao với cuộc sống mà mình không được quyền lựa chọn? Không tin, mình còn biết chơi với ai?”</em></p>



<p>Nghĩa là, theo Nguyễn Mộng Giác, Lũ Quỳnh và nhiều nhà văn cùng thế hệ mang đầy những ảo tưởng, bên này bên kia đều dễ thương như nhau, lãng mạn và ngây thơ, tin vào lòng tốt của con người…</p>



<p>Trong khi đó, nhà thơ Du Tử Lê nhìn về Lữ Quỳnh:</p>



<p>“…<em>Hôm nay, đọc lại những trang văn của Lữ Quỳnh, tôi vẫn còn nghe thỏang hương thơm của lòng nhân hậu. Hay, tính-lành của một con người không bị ô nhiễm bởi lầm than, nguy nàn, tổ quốc.</em></p>



<p><em>Hôm nay, đọc lại những trang văn của Lữ Quỳnh, tôi vẫn còn nghe được tiếng reo vui, hân hoan của những con chữ búng mình trên mặt sông máu / xương gập ghềnh nghiệt, oan vận nước.</em></p>



<p><em>Hôm nay, đọc lại những trang văn của Lữ Quỳnh, tôi vẫn còn nghe được những hồi chuông, khánh tình yêu thao thiết. Hay, những ngọn nến cháy bằng tim bấc trăm năm, giữa nghìn sao rung động, thứ nhất.</em></p>



<p><em>Hôm nay, đọc lại những trang văn của Lữ Quỳnh, tôi cũng còn nghe được tiếng gọi rộn rã thanh niên, đi ra từ trái tim sóng sánh nhiệt-hứng-trẻ-thơ tình bằng hữu</em>…”</p>



<p>Nghĩa là, theo Du Tử Lê, trang văn Lữ Quỳnh có thoảng hương thơm của lòng nhân hậu, âm vang những hồi chuông, khánh tình yêu thao thiết…</p>



<p>Trong khi đó, nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ nhìn về nhà thơ Lữ Quỳnh:</p>



<p><em>“Nhà thơ đã nhập thân vào Mây. Mây tinh khiết như giấc mơ. &#8220;lời vô ngôn / những giấc mơ nồng nàn / lạ lẫm&#8221; để rồi, &#8220;sáng ra không nhớ gì / chỉ là cõi hoang / chập chờn mây và mây&#8221;. Thực và Mộng nhất quán trong cõi Thanh Tịnh miên viễn. Thơ đã dậy lên màu hương chín để cất lên tiếng hát diệu kỳ giữa thinh không diệu vợi!</em></p>



<p><em>&#8220;Mây Trong Những Giấc Mơ&#8221; đã có những chiêm nghiệm thật sâu lắng về Không-Thời-Gian, vẫn thấm đẫm Tình Đời, Tình Người. Nhà thơ, như một hành giả đang lặng lẽ Nhìn, lặng lẽ Thấy và lặng lẽ Nghe. &#8220;Mây Trong Những Giấc Mơ&#8221; cũng chính là những tâm tình chân thành nhất mà nhà thơ muốn trao gửi đến bạn đọc và bằng hữu xa gần.”</em></p>



<p>Nghĩa là, theo Nguyễn Lương Vỵ, Lữ Quỳnh là Thực và Mộng nhất quán, là tiếng hát diệu kỳ, là chiêm nghiệm thật sâu lắng, như một hành giả đang lặng lẽ Thấy và Nghe…</p>



<p>Trong khi đó, nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh nhìn về nhà thơ Lữ Quỳnh:</p>



<p>“…<em>đến từ miền bắc Calif. miền đất nở ra một thung lũng hoa vàng thơ mộng, nên thi sĩ đi trong thời gian của mình những bước thao thức của giấc mơ, người thơ Lữ Quỳnh…</em></p>



<p><em>…Ánh sáng nhất trong dòng thơ Lữ Quỳnh là tình bạn. Và ẩn chìm trong ánh sáng ấy là con mắt của giấc mơ. Vì, trong những giờ phút đẹp, thực của cuộc sống Lữ Quỳnh cũng dùng con mắt giấc mơ để hưởng thụ nó, để cảm xúc vui buồn cùng nó. Như một nghệ thuật (hay kinh nghiệm?) để trộn lẫn giữa thực và phi thực. Cái phi thực là áo khoác của thơ mộng lên tất cả những niềm vui lẫn đau buồn, trong thơ Lữ Quỳnh…</em></p>



<p><em>Tôi nghĩ, anh quý thương bạn bè, và anh đã được hạnh phúc chia cùng họ, rất thực, những phút giây đẹp đẽ, đẹp đến nỗi anh cho nó là giấc mơ. Mơ trong lúc sống thực nhé. Rồi khi một mình anh lại sống thêm một lần nữa thời khắc ấy, bằng giấc mơ. Trời ạ, người thơ sao biết sống quá vậy! Bởi vì lúc tỉnh hay mơ anh đều mơ cả… Cho nên, cái lúc tỉnh ra thấy quạnh hiu kia, tôi nghĩ, chắc nó chỉ xảy ra ở vào giấc ngủ cuối cùng, cho đến khi anh nhắm con mắt của giấc mơ</em>…”</p>



<p>Trong phần Thơ Chuyển Ngữ, một số bài được dịch ra Anh văn và Pháp văn. Các dịch giả chuyển ngữ là: Trương Văn Dân, Elena Pucillo Truong, N. Sao Mai, Phan Tấn Hải.</p>



<p>Trong phần Bài của bằng hữu, là các bài của: Nguyên Minh, Huỳnh Như Phương, Đinh Cường, Nguyễn Mộng Giác, Trần Thị Nguyệt Mai, Du Tử Lê, Lữ Kiều, Nguyễn Mạnh Trinh, Nguyễn Thị Khánh Minh, Nguyễn Thị Hải Hà, Trần Hoài Thư, Luân Hoán, Nguyễn Lệ Uyên, Trần Văn Nam, Đỗ Nghê, Đỗ Hồng Ngọc, Cao Kim, Khuất Đẩu, Nguyễn Xuân Thiệp, Huyển Chiêu, Nguyễn Quang Chơn, Phan Tấn Hải, Nguyễn Lương Vỵ, Trần Huiền Ân, Lê Ký Thương, Trần Đình Sơn Cước, Nguyễn Chí Kham.</p>



<p>Lữ Quỳnh tên thật là Phan Ngô, sinh năm 1942 tại Thừa Thiên – Huế. Cha mất lúc một tuổi, thuở nhỏ phần lớn ông sống tự lập. Từ năm 1959 đến 1962 ông là học sinh trường Quốc Học Huế. Năm 1962-1963 dạy học tại trường Bán công Vinh Lộc.</p>



<p>Lữ Quỳnh là cựu Sĩ Quan VNCH (Khóa 19 Trường Bộ Binh Thủ Đức), phục vụ tại các đơn vị: Tổng Y Viện Duy Tân – Đà Nẵng (năm 1965-66), Tiểu đoàn 22 Quân Y -Bình Định (năm 1967-70), Quân Y Viện Quy Nhơn (năm 1971-75). Ông có mười năm sống ở Quy Nhơn.</p>



<p>Sau 1975, ông bị tù cải tạo ở trại Cồn Tiên, Ái Tử (Quảng Trị). Năm 2000 Lữ Quỳnh sang định cư tại San Jose, California.</p>



<p>Lữ Quỳnh đã sáng tác từ cuối thập niên 1950s, cộng tác với nhiều tạp chí trong và ngoài nước, đã ấn hành nhiều tác phẩm thơ, tập truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài, ký…</p>



<p>Nhìn thời gian trôi qua, với rất nhiều bạn thân đã ra đi bên đời, Lữ Quỳnh có lúc ngậm ngùi viết:</p>



<p>…<em>tháng tư dành tưởng niệm. ngậm ngùi</em></p>



<p><em>sao người đi nhiều hơn kẻ ở</em></p>



<p><em>tôi ngồi chép A Di Đà Sám</em></p>



<p><em>thay làm thơ cho một cõi đi về</em>…</p>



<p>Tuyển tập “Những Con Chữ Lang Thang Không Ngày Tháng” của Lữ Quỳnh đã có trên Amazon.com. Tuyển tập dày 548 trang.</p>



<p><strong>Phan Tấn Hải</strong></p>



<p>(Trích Bản Thảo Khoảnh Khắc Chiêm Bao)</p>



<p></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Phan Tấn Hải: NHẠC SĨ NGHIÊM PHÚ PHÁT  VỚI DÒNG NHẠC MỚI</title>
		<link>https://t-van.net/phan-tan-hai-nhac-si-nghiem-phu-phat-voi-dong-nhac-moi/</link>
					<comments>https://t-van.net/phan-tan-hai-nhac-si-nghiem-phu-phat-voi-dong-nhac-moi/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phan Tấn Hải]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 12 Nov 2021 06:20:17 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[bản thảo khoảnh khắc chiêm bao]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=52020</guid>

					<description><![CDATA[Kinh Phật nào ngắn nhất? Đó là khi Đức Phật im lặng. Ca khúc Phật Giáo nào ngắn nhất? Đó là khi Đức Phật im lặng. Chúng ta có thể hình dung ra những câu vấn đáp trên, khi đọc lại Kinh Phật và suy nghĩ về cách hoằng pháp của Đức Phật. Khi dùng [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2021/11/page_41.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-52021" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2021/11/page_41-232x300.jpg?strip=all" alt="" width="232" height="300" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2021/11/page_41-232x300.jpg?strip=all 232w, https://cdn.t-van.net/2021/11/page_41-768x994.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2021/11/page_41-791x1024.jpg 791w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2021/11/page_41.jpg?strip=all 1156w" sizes="(max-width: 232px) 100vw, 232px" /></a></p>
<p>Kinh Phật nào ngắn nhất?</p>
<p>Đó là khi Đức Phật im lặng.</p>
<p>Ca khúc Phật Giáo nào ngắn nhất?</p>
<p>Đó là khi Đức Phật im lặng.</p>
<p>Chúng ta có thể hình dung ra những câu vấn đáp trên, khi đọc lại Kinh Phật và suy nghĩ về cách hoằng pháp của Đức Phật.</p>
<p>Khi dùng ngôn ngữ, Kinh Phật đã ghi lại những bản kinh dài, kinh vừa, kinh ngắn. Nhưng quen thuộc nhất với giới học giả và quần chúng Tây Phương là Kinh Pháp Cú (The Dhammapada), ghi lại theo thể thơ, có khi chỉ bốn dòng, hay dài hơn. Thậm chí, có một lúc Đức Phật còn nói rằng Đức Phật trọn đời hoằng pháp chưa từng nói một lời&#8230; Tuy là truyền thuyết, nhưng hẳn là có ý nghĩa nào đó.</p>
<p>Một trường hợp kiệm lời khác: bản kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa gồm 24 tập 600 quyển được cô đọng vào 260 chữ. Truyền thuyết ghi rằng Ngài Long Thọ là tác giả bản tiếng Bắc Phạn (Sanskrit), nhưng bản kinh phổ biến hằng ngày tại các chùa Việt Nam là dựa vào bản Hán dịch của ngài Tam Tạng Trần Huyền Trang.</p>
<p>Như thế, chúng ta thấy truyền thống sử dụng ngôn ngữ là tùy, khi cần nhiều lời là sẽ nhiều lời, khi cần ngắn gọn vẫn là không có bao nhiêu chữ.</p>
<p>Về âm nhạc Phật Giáo cũng thế, khi cần có những trường ca, đã thấy có những nhạc sĩ như Phạm Thế Mỹ, Võ Tá Hân&#8230;</p>
<p>Và bây giờ, trong dòng âm nhạc Phật Giáo kiệm lời – nghĩa là ngắn gọn, nghĩa là ít lời, nghĩa là trực chỉ tâm người – đã thấy có nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát.</p>
<p>Nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát &#8212; người nổi tiếng với âm nhạc Phật Giáo từ khi dạy ở Trường Bồ Đề được Hòa Thượng Thích Quảng Liên bổ nhiệm vào chức vụ phụ trách mọi chuyện về văn nghệ cho hệ thống trường này – từ năm 1965 đã dạy ở trường Bồ Đề và trường Lasan Taberd (của Dòng Lasan, Thiên Chúa Giáo). Cũng nên nhắc rằng, nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát là người sáng lập Nhóm Hương Thiền gồm một số ca sĩ, nhạc sĩ – nhóm đã trình diễn tại Quận Cam qua ba chương trình nhạc về Phật Giáo.</p>
<p>Khi Hòa Thượng Thích Quảng Liên trao nhiệm vụ hướng dẫn văn nghệ Gia Đình Phật Tử, hỏi rằng làm sao xây dựng dòng nhạc Phật Giáo thích nghi nhanh chóng cho thanh thiếu niên&#8230; nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát trả lời rằng cần cả trăm năm nữa, văn nghệ của trường Bồ Đề mới theo nổi văn nghệ của trường Tabert.”</p>
<p>Nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát kể lại như thế, khi trình bày với hai người bạn đạo về những suy nghĩ của ông, rằng cần có một dòng nhạc ngắn gọn, vui tươi, và mang Phật tính thích nghi đặc biệt cho thanh thiếu niên Phật tử hải ngoại, những em tiếng Việt rất là kém. Đó là lý do thời gian gần đây, nhạc sĩ họ Nghiêm đã tập trung sáng tác các ca khúc ngắn như thế.</p>
<p>Thực tế là các phụ huynh, các huynh trường Gia Đình Phật Tử đều thấy: những ca khúc bất tử truyền thống của Phật Giáo đều không dạy nổi cho các em, vì tiếng Việt các em quá kém. Những ca khúc như Lòng Mẹ của Y Vân, hay Bông Hồng Cài Áo của Phạm Thế Mỹ, và ngay cả các bài nghi lễ truyền thống như Phật Giáo Việt Nam của Lê Cao Phan, hay Trầm Hương Đốt của Bửu Bác&#8230; chỉ có vài em hát và thuộc lời.</p>
<p>Tình hình cũng y hệt như thể: chúng ta đã trao tiền vào túi các em, nhưng các em không xài được, vì đã qua cõi khác rồi. Nếu chỉ dùng nhạc Hướng Đạo tiếng Việt hay tiếng Anh, tuy ngắn và dễ thuộc hơn, thì Phật Pháp lại không trao truyền được.</p>
<p>Chỉ có cách, thế hệ chúng ta phải có dòng nhạc Phật Giáo ngắn, dễ nhớ&#8230; cho các em hát. Và đã có khoảng hơn chục ca khúc như thế vừa do nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát sáng tác, nhưng chưa có cơ duyên phổ biến được. Nhạc sĩ họ Nghiêm đã mở cho Cư sĩ Tâm Diệu và người viết xem các tờ đã kẻ xong khuôn nhạc, viết lời nhạc – như các ca khúc Cúng Hương, Mừng Vu Lan, Tiếng Từ Bi, Hiện Pháp Lạc Trú, Tìm Đâu Lối Vào, Tứ Diệu Đế, Bất Chánh Đạo, Mừng Đản Sanh, Tu Là Chuyển Nghiệp&#8230;</p>
<p>Vấn đề là, dòng nhạc Phật Giáo kiểu ngắn gọn lại kén ca sĩ, vì chúng sinh cõi này (nhất là với ca sĩ nổi tiếng) không ưa thích những gì ngắn gọn, những gì cô đọng, những gì dễ hiểu – đó cũng một phần là lý do nhiều Phật Tử không để ý tới Kinh Pháp Cú (chưa cần nhắc tới mấy bài Kinh Im Lặng của Đức Phật).</p>
<p>Thực ra, các ca khúc ngắn vẫn được thế giới ưa chuộng từ lâu, và các thiên tài âm nhạc cũng thường khi không ưa dài dòng.</p>
<p>Trong các ca khúc ngắn nổi tiếng nhất trong giới âm nhạc cận và hiện đại có bài “Her Majesty” (Chúc Mừng Nữ Hoàng Anh), khi ban nhạc The Beatles trình diễn trực tiếp chỉ dài có 26 giây đồng hồ.</p>
<p>Ca khúc &#8220;Her Majesty&#8221; do nhạc sĩ Paul McCartney sáng tác, ghi âm vào ngày 2 tháng 7-1969, nằm một phần trong đĩa nhạc Abbey Road, phát hành ra thị trường ngày 26-9-1969. Trong Lễ hội mừng Nữ Hoàng Anh 50 năm trên ngai vàng (Golden Jubilee of Elizabeth II) vào năm 2002, đích thân McCartney trình diễn ca khúc này trực tiếp ở cung điện Buckingham Palace. Ca khúc chỉ dài có 23 giây đồng hồ.</p>
<p>Ca khúc này được nhiều người đưa vào YouTube, có thêm vài khung giới thiệu, nên dài thêm vài giây đồng hồ.</p>
<p>Nói như thế để thấy rằng ca khúc ngắn vẫn được cả các giới hoàng gia, trí thức, quần chúng Tây Phương trân trọng. Cũng nên ghi rằng, ban nhạc thiên tài The Beatles còn một số ca khúc ngắn khác, thí dụ:</p>
<p>&#8211; Ca khúc Maggie Mae, dài 40 giây đồng hồ, đăng trong đĩa nhạc Let It Be.</p>
<p>&#8211; Ca khúc Dig It, dài 49 giây đồng hồ, trong đĩa nhạc Let It Be.</p>
<p>&#8211; Ca khúc Wild Honey Pie, dài 52 giây đồng hồ, trong điã nhạc The Beatles, còn có tên là The White Album.</p>
<p>&#8211; Ca khúc Mean Mr. Mustard, dài 1 phút 6 giây, trong đĩa nhạc Abbey Road.</p>
<p>Tất cả các ca khúc ngắn trên đều được ghi rõ trong Tự Điển Bách Khoa Wikipedia, và đều nghe được ở YouTube. Nêu lên trường hợp các ca khúc ngắn này để hy vọng làm giảm sự kỳ thị (nếu có) từ nhiều người, từ nhiều ca sĩ, từ nhiều tăng ni đối với nhu cầu ca khúc ngắn.</p>
<p>Một vấn đề là, nếu chúng ta cứ chuyên sáng tác các ca khúc dài và chữ nghĩa khó hiểu, số người nghe tất phải giảm, may ra thính giả chỉ còn một số vị bô lão. Trong khi đó, ngay các em trung niên ở hải ngoại, khả năng tiếng Việt cũng kém rồi; với các em trung niên, thuộc được ca khúc Bông Hồng Cài Áo cũng đã là một kỳ công – và thực tế, không mấy em thuộc nổi.</p>
<p>Nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát nói rằng, nhạc sĩ hiện cần rất nhiều hỗ trợ để đưa dòng nhạc này tiếp cận với các em Phật Tử &#8212; đặc biệt là hỗ trợ từ các nhạc sĩ, các ca sĩ, quý tăng ni tự viện, các huynh trưởng Gia Đình Phật Tử.</p>
<p>Lời cuối nơi bài này, xin nhắc rằng Đức Phật đã rất nhiều lần nói các bản Kinh ngắn, rất ít lời. Và do vậy ca khúc ngắn cho thanh thiếu niên Phật Tử vẫn nằm trong truyền thống của Kinh Phật.</p>
<p><strong>Nguyên Giác Phan Tấn Hải</strong></p>
<p><em>(Trích Bản thảo Khoảng Khắc Chiêm Bao)</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/phan-tan-hai-nhac-si-nghiem-phu-phat-voi-dong-nhac-moi/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Phan Tấn Hải: VIẾT VỀ NHÃ CA, TRẦN DẠ TỪ</title>
		<link>https://t-van.net/phan-tan-hai-viet-ve-nha-ca-tran-da-tu/</link>
					<comments>https://t-van.net/phan-tan-hai-viet-ve-nha-ca-tran-da-tu/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phan Tấn Hải]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 28 Sep 2021 05:36:34 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[bản thảo khoảnh khắc chiêm bao]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=51467</guid>

					<description><![CDATA[Gần như luôn luôn, rất khó viết về những gì thân thiết với chúng ta. Thí dụ, viết về những người chúng ta gặp năm lần, bảy lượt mỗi tuần. Có khi họ trở thành ký ức chúng ta có về họ nhiều năm trước, nhiều tháng trước… trong khi cõi này, chuyển biến chảy [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2021/09/maxresdefault.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter  wp-image-51468" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2021/09/maxresdefault-300x169.jpg?strip=all" alt="" width="350" height="197" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2021/09/maxresdefault-300x169.jpg?strip=all 300w, https://cdn.t-van.net/2021/09/maxresdefault-768x432.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2021/09/maxresdefault-1024x576.jpg 1024w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2021/09/maxresdefault.jpg?strip=all 1280w" sizes="(max-width: 350px) 100vw, 350px" /></a></p>
<p>Gần như luôn luôn, rất khó viết về những gì thân thiết với chúng ta. Thí dụ, viết về những người chúng ta gặp năm lần, bảy lượt mỗi tuần. Có khi họ trở thành ký ức chúng ta có về họ nhiều năm trước, nhiều tháng trước… trong khi cõi này, chuyển biến chảy xiết vô thường từng khoảnh khắc. Ngay cả khi chúng ta hàng ngày soi gương, cũng không chắc là nên tự viết ra sao về bản thân mình, kiểu khách quan gọi là, đứng từ xa mà ngó.</p>
<p>Vâng, bài này sẽ cố gắng “đứng từ xa mà ngó” về anh chị Nhã Ca, Trần Dạ Từ &#8212; hai người mà tôi có cơ duyên làm việc chung từ hơn hai thập niên. Nghĩa là, gần như gặp hàng ngày.</p>
<p>Điểm lạ, họ thành công trên nhiều lĩnh vực. Nhưng trước tiên và trên hết, Nhã Ca và Trần Dạ Từ là hai nhà thơ. Và là nhà thơ từ khi còn tuổi rất nhỏ. Có nhiều bài thơ họ làm từ hơn nửa thế kỷ trước, đọc lại vẫn đầy sức mạnh. Trong đó có một số bài thơ được Cung Tiến, Phạm Duy và Phạm Đình Chương phổ nhạc.</p>
<p>Hai người cũng là những nhà báo xuất sắc &#8212; và bản thân tôi, đã học rất nhiều kỹ thuật nghề báo từ anh Từ, chị Nhã (như cách tôi hàng ngày gọi anh Trần Dạ Từ và chị Nhã Ca). Tôi tin rằng những tờ Báo Xuân Việt Báo hàng năm là những nỗ lực đẹp nhất có thể có trong nghề báo tại Quận Cam.</p>
<p>Sách của chị Nhã Ca – cuốn <em>Giải Khăn Sô Cho Huế</em> &#8212; được Giáo sư Olga Dror dịch sang tiếng Anh, ấn bản “<em>Mourning Headband for Hue: An Account of the Battle for Hue, Vietnam 1968</em>” đang bán trên Amazon.com.</p>
<p>Bản thân anh Trần Dạ Từ cũng sáng tác nhạc – anh đã ấn hành ít nhất là 2 CD nhạc.</p>
<p>Một điều không thấy (hay rất ít thấy) trong rất nhiều bài viết liên hệ tới anh chị Từ-Nhã là, bản thân nhà thơ Nhã Ca là một học trò trực tiếp của Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14, và bản thân chị vẫn bảo trợ cho việc tu học của nhiều vị lạt ma tái sanh &#8212; trong đó, có một vị được kể là trong nhiều kiếp quá khứ là một vị sư Tây Tạng nổi tiếng về nghiêm tu thiền định.  Trung bình, một năm hay hai năm, chị Nhã Ca lại sang Dharamsala, Ấn Độ, dự khóa tu thường niên do Đức Đạt Lai Lạt Ma tổ chức.</p>
<p>Trong khi đó, gia đình anh chị Từ-Nhã là học trò của Thầy Trí Thủ khi Thầy sinh tiền, và trong cơ duyên nghề báo có tình thân với quý Thầy Nhất Hạnh, Mãn Giác, Tuệ Sỹ&#8230;</p>
<p>Nhà văn Nhã Ca trong bài viết nhan đề &#8220;Thầy Nhất Hạnh Ở Kim Sơn, 10-1999&#8221; đã kể về khi gặp lại Thầy Nhất Hạnh ở Chùa Kim Sơn, Bắc Calif., trích:</p>
<p>&#8220;&#8230; <em>tôi gặp lại Chân Không. Mỉm cười với nhau. Thì vậy, nụ cười đã gần gụi theo những hộp quà từ Làng Hồng về Việt Nam, trong cơn thập tử nhất sinh của cả nước. Cầm tay, lắc lắc. “Chị nhận không ra phải không&#8221; Em già rồi!” Chân Không nói. Cười. Bao nhiêu dấu vết tuổi tác, chỉ một nụ cười cũng đủ để xóa hết. Nụ cười không bao giờ có tuổi.</em></p>
<p><em>Chân Không bỏ vào trong, lát sau cầm ra một CD: “Có CD Tiếng Hát Chân Không tặng chị”. Tôi siết tay cô Chín thân thương của đàn con: “Đây là lần đầu tiên, nhận một món quà mà không phải thùng đồ”. Cười&#8230;</em></p>
<p><em>…</em></p>
<p><em>Ánh nắng chếch lên một tí, để nhảy chiếu vào khi hai ly trà được đặt lên bàn.</em></p>
<p><em>“Rồi cũng có lúc cùng ngồi uống trà, Nhã Ca.”</em></p>
<p><em>Thầy cười. Nụ cười như tiếng nói vẫn nhẹ nhàng, chừng mực.</em></p>
<p><em>“Từ có nhắc tới lần chở thầy trên chiếc xe Mô bi lét tới đài phát thanh không?”</em></p>
<p><em>“Có, thầy. Chưa kịp nhắc thì thầy đã nhớ.”</em></p>
<p><em>Đó là chuyện ba mươi lăm năm trước, thời thầy Nhất Hạnh lập trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội, dựng Phương Bối Am ở Bảo Lộc, làm báo “Giữ Thơm Quê Mẹ” ở Saigon.</em></p>
<p><em>“Các cháu&#8221;”</em></p>
<p><em>Tôi cảm động vì sự quan tâm của thầy. Từ những ngày khổ ải ở Việt Nam, tới khi thoát thân tới Thụy Điển, rồi qua Mỹ, làm báo. Không lúc nào thầy không lo cho, hỏi thăm, nhắc nhở. Tôi kể chuyện Từ, các cháu, từng đứa.</em></p>
<p><em>Khi tôi quyết định đi Kim Sơn gặp Thầy, tôi không hề có ý định phỏng vấn để viết báo. Người ta đã phỏng vấn, đã viết quá nhiều về thầy. Tôi chỉ mong gặp thầy, thăm thầy, để nói vài điều mà tôi muốn nói riêng với thầy. Và tôi nói liền.</em></p>
<p><em>Tôi nói về chuyện sư phụ tôi, Hòa Thượng Thích Trí Thủ, về những oan nghiệp mà sư phụ tôi đã cắn răng chịu lúc cuối đời. Một lúc nào đó, tôi nhìn, thấy Thầy Nhất Hạnh ngồi thật im lặng, môi hơi mím lại. Thầy nghĩ gì, tôi không biết. Nhưng tôi thấy trong mắt thầy, thoáng nét buồn của sư phụ tôi. Tôi thấy trong người nhẹ đi nhiều, vì tôi đã nói ra được&#8230;&#8221;(</em>ngưng trích)</p>
<p>.</p>
<p>Tôi nghĩ rằng, bài thơ &#8220;Tiếng chuông Thiên Mụ&#8221; của chị Nhã Ca sáng tác năm 1963, sẽ vẫn được nhắc hoài trong giới nghiên cứu văn học (nếu tương lai, văn hóa Việt chưa bị Trung Quốc xóa sổ), trích:</p>
<p>&#8220;&#8230;<em>Tiếng chuông đến dịu dàng lay tôi dậy</em></p>
<p><em>Tiếng chuông đến và đi chỉ mình tôi thấy</em></p>
<p><em>Chỉ mình tôi nhìn thấy tiếng chuông tan</em></p>
<p><em>Tiếng chuông tan đều như hơi thở anh em</em></p>
<p><em>Tiếng chuông tan rời như lệ mẹ hiền</em></p>
<p><em>Tiếng chuông tan lâu như mưa ngoài phố</em></p>
<p><em>Tiếng chuông tan dài như đêm không ngủ</em></p>
<p><em>Tiếng chuông tan tành như tiếng vỡ trong tôi</em>&#8230;&#8221; (ngưng trích)</p>
<p>Trong thời gian trong trại tù Gia Trung năm 1979, Trần Dạ Từ đã viết bài thơ <em>“Ném Con Cho Giông Tố”</em> và tự soạn thành ca khúc nhẩm trong đầu. Đây là một bài thơ hay, và là một ca khúc hay. Sáng tác này không chỉ làm xúc động những người từng gửi con lên ghe vượt biên, mà cũng đã tự thân đưa một cảm xúc riêng trở thành một trong những dấu mốc lịch sử. Trích:</p>
<p>“<em>Em có lũ con thơ  </em></p>
<p><em>bị quê hương ruồng bỏ </em></p>
<p><em>Từ bóng tối hận thù.  </em></p>
<p><em>Em nghiến răng&#8230; </em></p>
<p><em>Ném con cho giông tố&#8230;</em></p>
<p><em>. </em></p>
<p><em>“Giông tố giông tố  </em></p>
<p><em>ngoài khơi xa </em></p>
<p><em>Ta gửi ngươi con ta </em></p>
<p><em>Xương thịt ta. Tâm hồn ta.  </em></p>
<p><em>Hy vọng ta&#8230;” </em>(ngưng trích)</p>
<p><em> </em>Thơ hay như thế, nhạc hay như thế. Mỗi lĩnh vực đều có vị trí riêng cho Trần Dạ Từ.</p>
<p>Một món quà tuyệt vời khác anh Từ, chị Nhã trao tặng cho văn học Việt Nam là Giải Viết Về Nước Mỹ: Chương trình Việt Báo Viết Về Nước Mỹ khởi sự từ ngày 30 Tháng Tư năm 2000, với ngân sách giải thưởng hàng năm là 35,000 mỹ kim.</p>
<p>Tới giờ, như thế là 19 năm rồi. Họp mặt phát giải thưởng và ra mắt sách Việt Báo Viết Về Nước Mỹ năm thứ mười chín &#8211; gồm những bài viết được phổ biến trên nhật báo Việt Báo và trên vietbao.com từ ngày 1 tháng Bẩy 2017 tới 30 tháng Sáu 2018 &#8211;  sẽ tổ chức vào Chủ Nhật 12 Tháng Tám 2018, và 20 tác giả sẽ nhận các giải thưởng.</p>
<p>Sang năm thứ 19, sách “Viết Về Nước Mỹ”  do Việt Báo ấn hành đã được 21 cuốn, mỗi cuốn 640 trang. Ngoài các ấn bản chính thức của Việt Báo, hàng ngàn bài viết cũng liên tiếp được trích đăng lại trên các sách báo Việt ngữ trong ngoài nước, nhiều cuốn sách được in đi in lại.  Không kể số lượng người đọc sách báo, chỉ riêng tổng số lượt đọc viết về nước Mỹ trên Việt Báo online hiện đã xấp xỉ 800 triệu. Một số tác giả có bài viết đạt kỷ lục trên dưới 1 triệu lượt người đọc. Tính chung, gần 5500 bài viết của hàng ngàn tác giả Viết Về Nước Mỹ trong 18 năm qua hiện được phổ biến trên Vietbao.com.</p>
<p>Từ góc nhìn khác, lịch sử đã chiếu rọi những phương diện khác của hai nhà văn này. Khi nghĩ tới Nhã Ca, một số người  nghĩ ngay tới Mậu Thân 1968. Khi nghĩ tới Trần Dạ Từ, một số người nhớ chuyện năm 1963, khi ông Từ bước ra khỏi nhà tù trong ngày chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ. Nhưng phần lớn, luôn luôn trong những gì tôi nghĩ tới Nhã Ca và Trần Dạ Từ &#8212; trước tiên rằng họ là thi sĩ. Đó là phần tuyệt vời.</p>
<p>Tới đây, xin nói thêm rằng tôi không giỏi về kỹ thuật, nên không rõ Wikipedia phần tiếng Việt có phải là viết từ các viên chức Bộ Thông Tin Hà Nội hay không. Nhưng nên thấy: rất nhiều thông tin sai. Về sách Giải Khăn Sô Cho Huế, Wikipedia viết rằng, “<em>Nhã Ca nói lý do việc mình hư cấu.</em>..” và rồi Wikipedia dẫn ra báo Công An Nhân Dân và báo Tiền Phong. Hai báo này bịa đặt.</p>
<p>Thực tế, sách Giải Khăn Sô Cho Huế chỉ kể chuyện mắt thấy và tai nghe, không hề hư cấu. Những bất toàn nếu có, chỉ là vì mắt thấy và tai nghe. Đó là, theo lời Nhã Ca nói trên RFA ngày 2008-02-03 (không thấy ghi rõ tháng 2 hay tháng 3), trả lời nhà báo Mặc Lâm rằng đó là tập bút ký:</p>
<p>“<em>&#8230;xin coi cuốn sách này như một bó nhang đèn góp giỗ. Tinh thần ấy không thay đổi&#8230; bút ký hoặc truyện ký của một người chạy loạn Tết Mậu Thân tại Huế, kể lại những điều mắt thấy tại nghe. Trong cảnh bom đạn, chết chóc, dù mắt chính mình có thấy vẫn không thể thấy hết mọi phía&#8230; Dù tai nghe mắt thấy, có sao viết vậy, hẳn nhiên cũng không khỏi thiếu sót hoặc sai sót&#8230; Về những nhân vật thật, nêu đích danh chỉ có anh Lê Văn Hảo, thị trưởng Huế Mậu Thân do phía quân giải phóng cử ra. Anh Hảo nay đã tị nạn cộng sản tại Pháp, đã chính thức lên án việc quân giải phóng tàn sát dân Huế hồi Tết Mậu Thân. Nhân vật thứ hai trong sách mang tên Phủ là nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, nguyên Tổng Thư Ký Liên Minh Các Lực Lượng Dân Tộc Dân Chủ và Hòa Bình Thành Phố Huế thời Tết Mậu Thân&#8230; Năm 1997, anh Tường đã đến Paris, lên tiếng trên đài RFI, nói về &#8216;nỗi thống thiết tận đáy lòng mỗi khi tôi nghĩ về những tang tóc thê thảm mà  nhiều gia đình người Huế đã phải gánh chịu, do hà nh động giết oan của quân nổi dậy trên mặt trận Huế năm Mậu Thân. Đó là một sai lầm không thể nào biện bác được&#8230;&#8217; Anh cũng đã công khai &#8216;gửi lời cám ơn sự khách quan của chị Nhã Ca dành cho tôi&#8217; và  nói nguyên văn rằng &#8216;Giải Khăn Sô Cho Huế đối với tôi, vẫn là  một bút ký hay viết về Huế Mậu Thân; hàng chục năm qua đọc lại, tôi vẫn còn thấy quặn lòng.&#8217; Văn bản lời anh Tường trả lời cuộc phỏng vấn của chị Thụy Khuê đài RFI hiện còn lưu trên internet, ai cũng có thể đọc được. Nhân vật thứ ba trong sách có tên là Đắc, theo lời kể mà  tai tôi nghe, liên quan tới cái chết đau thương của người bạn tên là Mậu Tý. Nhà  báo Nguyễn Đắc Xuân, một phụ tá của anh Hoàng Phủ Ngọc Tường, có viết bài phản bác, nói là  anh không hề liên quan.</em></p>
<p><em>Cả ba nhân vật kể trên, đều đã có lòng đích thân đến gặp tôi trước ngày chúng tôi rời Saigon sang Thụy Điển. Đoạn kể lại những gặp gỡ này trong Hồi Ký Nhã Ca có được trích in trong sách mới Giải Khăn Sô Cho Huế.&#8221;</em></p>
<p>Trích lại như trên, để độc giả không bị Wikipedia đánh lạc hướng.</p>
<p>Cuối bài, xin có mấy dòng thơ tặng anh chị Nhã Ca – Trần Dạ Từ:</p>
<p><em>Nét mực ngân chuông Thiên Mụ</em></p>
<p><em>hồn thơ lắng biển Sắc Không</em></p>
<p><em>xông xáo mấy rừng văn tự</em></p>
<p><em>ngậm ngùi trăm cõi núi sông.</em></p>
<p><strong>Phan Tấn Hải</strong></p>
<p>(Trích bản thảo Khoảnh Khắc Chiêm Bao)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/phan-tan-hai-viet-ve-nha-ca-tran-da-tu/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Phan Tấn Hải: ĐỂ NHỚ MỘT NGỌN NÚI –  HỌA SĨ VÕ ĐÌNH</title>
		<link>https://t-van.net/phan-tan-hai-de-nho-mot-ngon-nui-hoa-si-vo-dinh-2/</link>
					<comments>https://t-van.net/phan-tan-hai-de-nho-mot-ngon-nui-hoa-si-vo-dinh-2/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phan Tấn Hải]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 21 Sep 2021 05:19:52 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[bản thảo khoảnh khắc chiêm bao]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=51396</guid>

					<description><![CDATA[Họa sĩ Võ Đình (Ảnh: Sangtao.org) Tôi có một vài ký ức về họa sĩ Võ Đình. Gặp nhau thực sự không nhiều, nhưng hình ảnh về anh vẫn khắc sâu trong trí nhớ. Trong những ngày tôi cư trú ở Virginia, gặp họa sĩ Võ Đình thường là trong một số sự kiện cộng [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2021/09/vo-dinh.jpg?strip=all&fit=202%2C250"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-51397" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2021/09/vo-dinh.jpg?strip=all&fit=202%2C250" alt="" width="202" height="250" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><em>Họa sĩ Võ Đình (Ảnh: Sangtao.org)</em></p>
<p>Tôi có một vài ký ức về họa sĩ Võ Đình. Gặp nhau thực sự không nhiều, nhưng hình ảnh về anh vẫn khắc sâu trong trí nhớ.</p>
<p>Trong những ngày tôi cư trú ở Virginia, gặp họa sĩ Võ Đình thường là trong một số sự kiện cộng đồng, có khi tại nhà một vài người trong giới văn nghệ &#8212; mà thời đó, những năm cuối thập niên 1980s, tôi là một người tuổi nhỏ, so với các bậc tôn túc có dịp quen thân và làm việc chung, như Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, nhà văn Trương Anh Thụy, nhà bình luận Trương Hồng Sơn (bây giờ là họa sĩ Trương Vũ)…</p>
<p>Không khí văn nghệ thời đó ở Virginia vui lắm: mọi người, cho dù nổi tiếng thế nào đi nữa – thí dụ, giỏi nhiều ngôn ngữ xuất sắc như GS Nguyễn Ngọc Bích và phu nhân (chị Đào Thị Hợi cũng là một giáo sư về ngữ học tại một đại học ở thủ đô Washington DC), vẫn là những hình ảnh gần gũi, dễ thấy, dễ nói chuyện.</p>
<p>Nhưng hình ảnh của Võ Đình khác hơn và là cái gì độc đáo, dị thường hơn. Nghĩa là, không đời thường. Ngay cả khi nói chuyện với anh Võ Đình, tôi vẫn thấy như dường anh đang đứng lơ lửng trên núi tuyết.</p>
<p>Thử nhắm mắt lại, hình dung về anh, tôi nhận ra trong trí tôi các hình ảnh gắn liền với Võ Đình: kính trắng, đôi mắt sáng đăm chiêu, tay cầm tẩu thuốc, những khoảng trời tuyết trắng, những rặng cây xanh. Và đặc biệt, là hoa sen và mặt trăng. Hoa sen thì dễ hiểu, vì Võ Đình có quan tâm nhiều về Phật giáo. Nhưng còn mặt trăng? Kể cả khi gặp anh ban ngày, giữa trưa, tự nhiên tôi vẫn nghĩ tới mặt trăng. Có thể vì Võ Đình thường vẽ trăng? Có lẽ, nhưng không hẳn. Bởi vì trong nhiều bức tranh trừu tượng, Võ Đình có khi vẽ như là mặt trời đang rọi sáng rất phức tạp. Cũng có thể, khi nói chuyện với tôi (lúc đó, tôi đã có vài bài viết về Thiền Tông đăng trên vài báo ở California) và rồi anh Võ Đình kể về mặt trăng, vì anh là bạn thân với Thầy Thích Nhất Hạnh và có dịch một số bài của thầy này sang tiếng Anh – vì Thiền Tông thường nói về mặt trăng rọi sáng khắp sông hồ mà không phân biệt.</p>
<p>Nên ghi chú rằng, lúc đó, tôi quen gọi tất cả những người hoạt động văn nghệ Virginia là anh hay chị, vì khi rãnh rỗi là tôi thiện nguyện giúp anh Giang Hữu Tuyên (khi sinh tiền anh Tuyên là chủ bút Hoa Thịnh Đốn Việt Báo) làm chuyện linh tinh trong nghề báo.</p>
<p>Trong cương vị nhà báo khi rãnh rỗi (hình như chữ trong nước gọi là không-chuyên, hay nghiệp-dư, toàn những chữ lạ, tới giờ tôi vẫn chưa hiểu hết) hễ đi tới, đi lui là quen gần như hầu hết giới văn nghệ cả vùng. Nhưng ít gặp, vì họa sĩ Võ Đình ở xa khu vực cộng đồng. Nhớ có lần, anh Trương Vũ nói với tôi rằng anh Võ Đình ở trên núi mà. Hình như là có cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Vì nơi anh Võ Đình cư ngụ nơi hẻo lánh, nơi núi xa. Và cũng mang nghĩa bóng, là anh Võ Đình ở gần mây hơn người thường.</p>
<p>Tôi rời Virginia, về California khoảng cuối năm 1989. Khi tôi cưới vợ năm 1992, anh Võ Đình có điện thoại, chúc lành, hỏi địa chỉ, và rồi anh gửi qua bưu điện chúc mừng &#8212; một tấm tranh vẽ trên giấy bìa cứng, hình chiếc ghe, mang họa tiết hoa sen nơi mũi thuyền, và mặt trăng trên cao có lấm tấm bụi. Tuyệt vời không ngờ. Mặt trăng lấm tấm bụi… Sao anh Võ Đình vẽ như thế? Ám chỉ rằng đời Phan Tấn Hải phải lấm bụi mới học thêm nhiều? Có lẽ. Hay anh Võ Đình muốn trình bày gì khác? Dĩ nhiên, tôi không bao giờ hỏi anh những chuyện bận tâm trong lòng anh.</p>
<p>Trong trí tôi, họa sĩ Võ Đình luôn luôn là một ngọn núi. Anh ở hải ngoại nhiều thập niên, triển lãm khắp thế giới, viết sách tiếng Anh, dịch và minh họa sách Thầy Nhất Hạnh qua tiếng Anh. Tôi nghiệm ra một điều, giới họa sĩ Việt Nam ít chịu đọc sách tiếng Anh, ít chịu viết tiếng Anh. Có ngoại lệ trong những họa sĩ tôi có cơ duyên quen biết là họa sĩ Võ Đình và họa sĩ Nguyễn Quỳnh, hai người đều đọc nhiều, và viết tiếng Anh tuyệt vời. Dĩ nhiên, không nói tới giới trẻ làm chi.</p>
<p>Thời ở Virginia, tiếng Anh của tôi còn kém lắm. Có lần, ngồi trong lớp, nghe bà giáo nói liên tục nửa giờ mà không nhận ra được một câu, tôi gục đầu xuống bàn và khóc. Mình học hoài sao dở quá, tôi nghĩ như thế, lại nhớ tới họa sĩ Võ Đình viết sách tiếng Anh mà lòng cứ thôi thúc, tự xấu hổ vì sẽ không làm gì được cho đất nước. Nhưng tự rầy mình, cũng đâu có làm cho mình giỏi được, và tôi liên tục học ngày, học đêm, đọc đủ thứ sách, và hễ nghĩ tới nhu cầu học tiếng Anh là tự nhắc về GS Nguyễn Ngọc Bích và họa sĩ Võ Đình – hai đỉnh cao về ngôn ngữ.</p>
<p>Thời đó chưa có Internet, niềm vui là cầm lên các trang giấy. Mở trang sách ra, hay trải tờ báo ra, nghe tiếng loạt soạt của giấy là lòng tôi vui. Nhưng thời đó, có một sự kiện tôi tránh né, không bàn tới, phần nữa, tự biết mình chỉ nên dựa cột mà nghe. Đó là khi anh Võ Đình tranh luận về lý thuyết hội họa với một họa sĩ khác ở địa phương, về trường phái nét vẽ bằng mực tàu và cọ tre. Trí nhớ của tôi mơ hồ về chuyện này, vì mình không hiểu tận tường, tự biết không trang bị nhiều về lý thuyết hội họa. Cũng không nhớ lại về các tấm tranh nào dẫn tới tranh luận.</p>
<p>Cuộc tranh luận kéo dài nhiều tuần lễ. Lúc đó tôi vẫn đọc đều đặn các bản tin từ hai tờ báo, tờ của anh Giang Hữu Tuyên và tờ của anh Ngô Vương Toại. May mắn, các báo có chuyện tranh luận để làm sôi nổi một nơi Miền Đông Hoa Kỳ thường rất im vắng. Lúc đó, tôi tự biết mình kiến thức còn quá kém… đọc và chỉ thấy mơ mơ hồ hồ.</p>
<p>Đó là lần đầu tiên tôi đọc họa sĩ Võ Đình về lý thuyết hội họa. Sau này về Quận Cam, tôi mua sách lý thuyết hội họa đọc đủ thứ, lại ra thư viện công cộng mượn sách đọc. Ngồi đọc sách nửa đêm, thỉnh thoảng lại gặp một vài điểm lạ trong lý thuyết hội họa mới nghiệm ra rằng, mình chỉ là dân ngoại đạo đối với hội họa và thẩm mỹ, trong khi anh Võ Đình du học ở Pháp, từ nhiều thập niên trước đã hít thở không khí của màu sắc các trường phái hội họa Châu Âu… Và nhìn các tấm tranh của Võ Đình, nhận ra rằng anh vẫn là một tổng hợp của Đông phương và Tây phương.</p>
<p>Nhìn kỹ, Võ Đình vẫn rất là trừu tượng Paris cho dù anh vẽ hoa sen và trăng. Và cho dù anh vẽ, hay viết, Võ Đình vẫn là một  chiếc ghe chở trăng, nơi mũi ghe là một khắc họa hoa sen để hướng về một nơi bình an bên bờ kia. Đối với tôi, họa sĩ Võ Đình là một ngọn núi để tôi ngước nhìn lên. Tôi đã khâm phục nét vẽ thơ mộng dị thường của anh, đã khâm phục trình độ tiếng Anh tuyệt vời của anh. Và tự biết mình, tôi vẫn luôn luôn nhìn anh Võ Đình như một ngọn núi. Nơi đó, một thời tôi có cơ duyên quen anh – một ngọn núi.</p>
<p><strong>Phan Tấn Hải</strong></p>
<p><em>(Trích Bản Thảo Khoảnh Khắc Chiêm Bao)</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2021</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/phan-tan-hai-de-nho-mot-ngon-nui-hoa-si-vo-dinh-2/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Phan Tấn Hải: NHÀ THƠ VŨ HOÀNG CHƯƠNG: GƯƠM BÁU CÀI LƯNG</title>
		<link>https://t-van.net/phan-tan-hai-nha-tho-vu-hoang-chuong-guom-bau-cai-lung/</link>
					<comments>https://t-van.net/phan-tan-hai-nha-tho-vu-hoang-chuong-guom-bau-cai-lung/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phan Tấn Hải]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 21 Jul 2021 05:38:16 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[bản thảo khoảnh khắc chiêm bao]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=50601</guid>

					<description><![CDATA[Nhà thơ Vũ Hoàng Chương (1916 – 1976) từ trần ngày 6 tháng 9 năm 1976. Và tuần lễ này, là tròn 40 năm, ngày thi sĩ họ Vũ khuất bóng. Bản thân tôi có một kỷ niệm mơ hồ về nhà thơ Vũ Hoàng Chương. Tôi học lớp Đệ Nhất B2 &#8212; tức là, [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2021/07/vu-hoang-chuong.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-50604" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2021/07/vu-hoang-chuong-228x300.jpg?strip=all" alt="" width="228" height="300" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2021/07/vu-hoang-chuong-228x300.jpg?strip=all 228w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2021/07/vu-hoang-chuong.jpg?strip=all 648w" sizes="(max-width: 228px) 100vw, 228px" /></a></p>
<p>Nhà thơ Vũ Hoàng Chương (1916 – 1976) từ trần ngày 6 tháng 9 năm 1976. Và tuần lễ này, là tròn 40 năm, ngày thi sĩ họ Vũ khuất bóng.</p>
<p>Bản thân tôi có một kỷ niệm mơ hồ về nhà thơ Vũ Hoàng Chương. Tôi học lớp Đệ Nhất B2 &#8212; tức là, lớp 12 Ban B (ban Toán) &#8212; tại trung học Chu Văn An, Sài Gòn.  Hình ảnh Thầy Vũ Hoàng Chương hiện lên trong mắt các học trò trường này là một vóc dáng gầy, ngồi xích lô tới trường, và trông lúc nào cũng như trên mây.</p>
<p>Thầy Vũ Hoàng Chương dạy Ban C, nghĩa là Ban Văn Chương. Cho nên, tôi không có duyên ngồi học chính thức. Thỉnh thoảng, tên bạn nào đó bên Đệ Nhất C, theo tôi nhớ có thể là Tô Chí Để, bảo là có hứng muốn vào nghe Thầy Vũ Hoàng Chương thì canh giờ mà vào, chờ điểm danh xong, là bước vào lớp ngồi, chẳng có vấn đề gì, vì Thầy Chương chẳng bao giờ thắc mắc.</p>
<p>Thực sự, tôi không chuyên về văn học, trí nhớ lại kém, đầu óc chỉ lo thi bên Ban B, nên vào nghe thơ với phú, chẳng nhớ gì.</p>
<p>Duy nhớ hình ảnh thơ mộng  khi nhà thơ Vũ Hoàng Chương tới trường, thường là bộ đồ vest (nói theo thói quen từ VN, nhưng nói theo Mỹ là bộ suit) màu trắng, hay màu ngà &#8212; thực sự, không nhớ chính xác về màu sắc, nhưng thường là màu sáng.</p>
<p>Nói cho đúng, lúc đó cũng có một vị thầy khác ưa đi xích lô tới Chu Văn An, đó là Thầy Nguyễn Đăng Thường. Tôi học Pháp văn với Thầy Thường và sau này có tin Thầy đi du học và ở lại Anh sau 1975. Thầy Thường cũng là một nhà thơ nổi tiếng, nhưng văn phong rất là “thế kỷ 21,” nếu không phải là trước rất xa cả thời đại hiện nay.</p>
<p>Nhưng vị trí Thầy Vũ Hoàng Chương có tính lịch sử đặc biệt. Không chỉ vì nhà thơ họ Vũ lúc đó là một tượng  đài ngôn ngữ Việt,  nhưng còn là hình ảnh rất mực sương khói trong suy nghĩ của những cậu học trò như tôi thời đó.</p>
<p>Không phải vì thơ phải như thế. Không, không phải thế. Lúc đó, tôi đã thích thơ Thanh Tâm Tuyền, thơ Bùi Giáng rồi. Nhưng họ Vũ có một ngọn núi riêng, không dính bao nhiêu với đời thường. Hình ảnh nhà thơ họ Vũ tưởng như không có thực &#8212; khi mở trang giấy ra, thơ của Thầy Chương hệt như  một sợi khói bay lên dịu dàng, và rồi biến vào một cõi tri nhớ mơ hồ của người đọc. Nhiều năm sau, chợt nhớ lại, người đọc bỗng thấy nhói trong tim, thấy cõi đời mang mang. Vậy đó, nhà thơ Vũ Hoàng Chương là một bảo vật của dân tộc Việt, một người đã viết được xuống giấy vẻ đẹp ngôn ngữ Việt, và đã nắm giữ những hồn rất Việt của tiếng Việt.</p>
<p>Sau năm 1975, nhà thơ Vũ Hoàng Chương bị trù dập. Chúng ta sẽ không bao giờ hiểu được những gì người cộng sản suy nghĩ&#8230;</p>
<p>Sau này, có một bạn nói rằng, hai câu thơ lưu truyền trong dân chúng sau 1975:</p>
<p><em>Nam Kỳ khởi nghĩa tiêu Công Lý,</em></p>
<p><em>Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do&#8230;</em></p>
<p>để nói chuyện CSVN đổi tên 2 con đường Công Lý và Tự Do thành Nam Kỳ Khởi Nghĩa và Đồng Khởi là thơ của Vũ Hoàng Chương.</p>
<p>Có đúng không? Tôi không biết. Xã hội sau 1975 là những mớ hỗn độn, mù mờ.</p>
<p>*</p>
<p>Theo tiểu sử chính thức ghi trên Wikipedia, chúng ta có vàì nét về nhà thơ Vũ Hoàng Chương như sau. Cũng cần cảnh giác, hình như tự điển Wikipedia tiếng Việt chủ yếu do chính phủ Hà Nội biên soạn.</p>
<p>Vũ Hoàng Chương (5 tháng 5 1916 – 6 tháng 9 1976) là một nhà thơ nổi tiếng của Việt Nam. Ông sinh tại Nam Định, nguyên quán tại làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, nay là huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên.</p>
<p>Văn phong của ông được cho là sang trọng, có dư vị hoài cổ, giàu chất nhạc, với nhiều sắc thái Đông phương.</p>
<p>Thuở nhỏ, ông học chữ Hán ở nhà rồi lên học tiểu học tại Nam Định. Năm 1931 ông nhập học trường Albert Sarraut ở Hà Nội, đỗ Tú tài năm 1937.</p>
<p>Năm 1938 ông vào Trường Luật nhưng chỉ được một năm thì bỏ đi làm Phó Kiểm soát Sở Hỏa xa Đông Dương, phụ trách đoạn đường Vinh &#8211; Na Sầm.</p>
<p>Năm 1941, ông bỏ Sở hỏa xa đi học Cử nhân toán tại Hà Nội, rồi lại bỏ dở để đi dạy ở Hải Phòng. Trong suốt thời gian này, ông không ngừng sáng tác thơ và kịch. Sau đó trở về Hà Nội lập &#8220;Ban kịch Hà Nội&#8221; cùng Chu Ngọc và Nguyễn Bính. Năm 1942 đoàn kịch công diễn vở kịch thơ Vân muội tại Nhà hát Lớn. Cũng năm đó ông gặp Đinh Thục Oanh, chị ruột nhà thơ Đinh Hùng và hai người thành hôn năm 1944.</p>
<p>Sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông về Nam Định và cho diễn vở kịch thơ Lên đường của Hoàng Cầm. Kháng chiến toàn quốc nổ ra, Vũ Hoàng Chương tản cư cùng gia đình về Thái Bình, làm nghề dạy học. Đến 1950, gặp lúc quân Pháp càn đến ruồng bắt cả nhà, ông bỏ miền quê, hồi cư về Hà Nội nơi dạy toán rồi chuyển sang dạy văn và làm nghề này cho đến 1975.</p>
<p>Năm 1954, Vũ Hoàng Chương di cư vào Nam, tiếp tục dạy học và sáng tác ở Sài Gòn.</p>
<p>Năm 1959 ông đoạt &#8220;Giải Văn học Nghệ thuật Toàn quốc&#8221; của Việt Nam Cộng hòa với tập thơ Hoa đăng. Trong năm này ông sang Âu châu tham dự Hội nghị Thi ca Quốc tế tại Bỉ.</p>
<p>Năm 1964 ông tham dự Hội nghị Văn bút Á châu họp tại Bangkok; năm sau, 1965 lại tham dự Hội nghị Văn bút Quốc tế họp tại Bled, Nam Tư. Năm 1967, ông lại tham dự Hội nghị Văn bút Quốc tế họp tại Abidjan, thủ đô Côte d&#8217;Ivoire.</p>
<p>Thời gian 1969-1973 Vũ Hoàng Chương là Chủ tịch Trung tâm Văn bút Việt Nam. Năm 1972 ông đoạt giải thưởng văn chương toàn quốc lần thứ hai. Ông còn được vinh danh là &#8220;Thi bá&#8221; Việt Nam.</p>
<p>Ngày 13 tháng 4 năm 1976, bị Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam bắt giam tại khám Chí Hòa. Bệnh nặng đưa về nhà được 5 ngày thì ông mất ngày 6 tháng 9 năm 1976 tại Sài Gòn.</p>
<p>*</p>
<p>Đó là biên niên sử. Ẩn sau những dòng về ngày, tháng, năm&#8230; là một dòng sống sinh động và nhà thơ là  người ghi lại những cảm xúc thơ mộng.</p>
<p>Những dòng thơ thường được trích dẫn của Vũ Hoàng Chương là trong bài “Đời vắng em rồi say với ai” cực kỳ quay quắt:</p>
<p>“&#8230;<em>Gặp gỡ chừng như truyện Liêu Trai.</em></p>
<p><em>Ra đi chẳng hứa một ngày mai.</em></p>
<p><em>Em ơi! lửa tắt bình khô rượu,</em></p>
<p><em>Đời vắng em rồi say với ai?</em></p>
<p><em>.</em></p>
<p><em>Phương Âu mờ mịt lối quê Nàng</em></p>
<p><em>Trăng nước âm thầm vạn dặm tang</em></p>
<p><em>Ghé bến nào đây, người hải ngoại</em></p>
<p><em>Chiều sương mặt bể có mơ màng</em>?”</p>
<p>*</p>
<p>Tuy nhiên, thơ như thế là trần gian quá&#8230; Thế rồi, tới một thời gian, thi sĩ nghiêng về đạo học.</p>
<p>Nhà bình luận Khải Tâm   trên tạp chí Giác Ngộ qua bài viết “Ngày xuân đọc &#8220;Nguyện cầu&#8221; của Vũ Hoàng Chương” đã nhận định về một bài thơ gần với lẽ đạo.</p>
<p>Khải Tâm viết:</p>
<p>“<em>Nhưng những ai đã từng đọc Vũ Hoàng Chương đều có cùng nhận định rằng nhiều năm về sau, thơ ông không say men rượu nữa, mà say trong lẽ huyền vi, say trong cõi Thiền. Đọc “Nguyện cầu” hẳn chúng ta nhận ra điều đó:</em></p>
<p><em>“Ta còn để lại gì không?</em></p>
<p><em>Kìa non đá lở, này sông cát bồi</em></p>
<p><em>Lang thang từ độ luân hồi</em></p>
<p><em>U minh nẻo trước, xa xôi dặm về.</em></p>
<p><em>Trông ra bến hoặc bờ mê</em></p>
<p><em>Nghìn thu nửa chớp, bốn bề một phương</em></p>
<p><em>Ta van cát bụi bên đường</em></p>
<p><em>Dù nhơ dù sạch đừng vương gót này.</em></p>
<p><em>Để ta tròn một kiếp say</em></p>
<p><em>Cao xanh liều một cánh tay níu trời.</em></p>
<p><em>Nói chi thua được với đời</em></p>
<p><em>Quản chi những tiếng ma cười đêm sâu.</em></p>
<p><em>Tâm hương đốt nén linh sầu</em></p>
<p><em>Nhớ quê dằng dặc, ta cầu đó thôi!</em></p>
<p><em>Đêm nào ta trở về ngôi</em></p>
<p><em>Hồn thơ sẽ hết luân hồi thế gian.</em></p>
<p><em>Một phen đã nín cung đàn</em></p>
<p><em>Nghĩ chi còn mất hơi tàn thanh âm.”(</em>hết trích)</p>
<p>*</p>
<p>Có một điểm rất mực độc đáo trong đời nhà thơ Vũ Hoàng Chương là thói quen làm giỗ thi sĩ Nguyễn Du.</p>
<p>Trên Tạp Chí Sông Hương, tác giả Hoàng Quốc Hải ghi lời kể của bà Thục Oanh, hiền thê của thi sĩ Vũ Hoàng Chương,  qua bài viết tựa đề “Gặp bà Thục Oanh &#8211; nhớ thi tài Vũ Hoàng Chương” ghi lại, trích:</p>
<p>“&#8230;Tôi nhớ bữa ấy vào khoảng chiều ngày 9 (lại ngày 9) tháng 8 năm Bính Thìn (2.10.1976). Vũ gọi tôi lại gần, với giọng nhẹ nhàng, anh bảo:</p>
<p>&#8211; Này mình, ngày mai Mùng mười tháng Tám là ngày giỗ Nguyễn Du đấy. Mình đi kiếm ít hoa trái về để mai anh làm giỗ Nguyễn.</p>
<p>Sớm hôm sau, tôi bầy hoa, bánh và ít trái cây lên bàn thờ, pha thêm ấm trà cúng. Tôi vừa xong các việc thì anh đã áo quần tề chỉnh, đứng trước bàn thờ, tự tay thắp nhang, rót trà. Và anh khấn Nguyễn Du bằng thơ.</p>
<p>Nghe giọng anh xúc động, khiến tôi rơi nước mắt. Tôi cảm như có sự hiện diện của cả Nguyễn Du nữa. Lạ lắm, lúc ấy tôi không nghĩ Nguyễn Du đã khuất từ hơn hai trăm năm, mà chỉ nghĩ tới một người khách của anh Vũ vừa đến thăm nhà mình. Thay vì sợ hãi, tôi thấy lòng ấm áp.</p>
<p>Nguyên văn bài thơ Vũ khấn như sau:</p>
<p><em>Đọc lại người xưa</em></p>
<p><em>Văn tự hà tằng vi ngã dụng</em></p>
<p><em>Cơ hàn bất giác thụ nhân liên.</em></p>
<p><em>Nguyễn Du</em></p>
<p><em>.</em></p>
<p><em>Chẳng dùng chi được nhân tài</em></p>
<p><em>Thân này lụy áo cơm ai bất ngờ</em></p>
<p><em>Phút giây chết điếng hồn thơ</em></p>
<p><em>Nét đau mặt chữ bây giờ còn đau</em></p>
<p><em>Chắc gì ba trăm năm sau</em></p>
<p><em>Đã ai vào nổi cơn sầu nằm đây</em></p>
<p><em>Nếu không cơm áo đọa đầy</em></p>
<p><em>Như thân nào thịt xương này bỗng dưng</em></p>
<p><em>Chết theo vào đến lưng chừng</em></p>
<p><em>Say từng mảnh rớt, mê từng khúc rơi</em></p>
<p><em>Nửa chiều say ngất mê tơi</em></p>
<p><em>Khúc đâu lơ láo mảnh đời Thi vương</em>.”(hết trích)</p>
<p>*</p>
<p>Nhà văn Mai Thảo sau khi ra hải ngoại  viết bài hồi ký, tưạ đề “Mấy Tháng Cuối Cùng Với Vũ Hoàng Chương” trong đó kể lại:</p>
<p>“<em>Một đêm tôi ở lại với ông thật khuya, tới sát giờ giới nghiêm cộng sản. Xã hội thê lương nằm phục bốn chung quanh tường Gác Bút. Ông đưa tôi xem một lá thư Trần Dần. Bị trừng phạt nặng nề, bị treo bút vĩnh viễn, nhà thơ Trần Dần, tài thơ trác tuyệt nhất của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, không được vào Nam, đã gửi cho ông một lá thư đầy những lời lẽ kính trọng, như ông vẫn nguyên vẹn là thi bá của cả một thế hệ thi sĩ đã hai miền chia cách suốt 30 năm chiến tranh. Lá thư, tôi chỉ còn nhớ được câu này: “Thơ anh, thơ Đinh Hùng, sống muôn đời với thi ca Việt Nam.” Đêm đó, cầm nỗi kính phục của Trần Dần đối với ngôi sao Bắc đẩu miền Nam trên tay, tôi nhìn bạn ngồi thư thái êm đềm trước mặt, đã chia xẻ được với thi ca một niềm sung sướng thống khoái vô tả. Kính phục của Trần Dần chắc còn lớn lao gấp bội. Nếu nhà thơ miền Bắc còn nhìn thấy được cõi thơ cuối đời và cái hiện tượng thăng hoa của tâm thức phóng thoát, ở thi sĩ!</em>”(hết trích)</p>
<p>*</p>
<p>Nơi đây, nhân ngày tưởng niệm 40 năm nhà thơ Vũ Hoàng Chương ra đi, người viết xin mượn mấy dòng thơ của thi hào Nguyễn Du trích từ bài “Ký hữu” (Gửi bạn) để bày tỏ lòng tưởng nhớ một bậc Thầy:</p>
<p><em>Mạc mạc trần ai mãn thái không,</em></p>
<p><em>Bế môn cao chẩm ngoạ kỳ trung.</em></p>
<p><em>Nhất thiên minh nguyệt giao tình lại,</em></p>
<p><em>Bách lý Hồng Sơn chính khí đồng.</em></p>
<p><em>Nhãn để phù vân khan thế sự,</em></p>
<p><em>Yêu gian trường kiếm quải thu phong.</em></p>
<p><em>Vô ngôn độc đối đình tiền trúc,</em></p>
<p><em>Sương tuyết tiêu thời hợp hoá long.</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Thi sĩ Quách Tấn dịch:</p>
<p><em>Đầy trời lớp lớp dậy trần hiêu</em></p>
<p><em>Đóng cửa nằm cao tạnh sớm chiều</em></p>
<p><em>Chánh khí muôn thu ngàn hống vững</em></p>
<p><em>Giao tình một mối bóng trăng treo</em></p>
<p><em>Chuyện đời ghé mắt mây lơ lửng</em></p>
<p><em>Gươm báu cài lưng gió hắt hiu</em></p>
<p><em>Lặng lẽ bên hiên lòng đối trúc</em></p>
<p><em>Hóa rồng chờ thuở tuyết sương tiêu&#8230;</em></p>
<p>.</p>
<p>Thế đó, nhà thơ Quách Tấn dịch câu “Yêu gian trường kiếm quải thu phong” của Nguyễn Du là “Gươm báu cài lưng gió hắt hiu”&#8230; Vâng, với nhà thơ Vũ Hoàng Chương, ngôn ngữ thơ chính là gươm báu mà dân tộc Việt đã trao cho ông.</p>
<p>Đặc biệt, một bài thơ của Vũ Hoàng Chương đã trở thành bất tử, nhan đề Lửa Từ Bi, viết tại Sàigòn ngày 15 tháng 7 năm 1963, để tưởng niệm Hòa Thượng Bồ Tát Thích Quảng Đức. Bài thơ như sau.</p>
<p>LỬA TỪ BI</p>
<p><em>Lửa, lửa cháy ngất tòa sen, </em></p>
<p><em>Tám chín phương nhục thể trần tâm hiện thành thơ, quỳ cả xuống </em></p>
<p><em>Hai vầng sáng rưng rưng </em></p>
<p><em>Đông Tây nhòa lệ ngọc </em></p>
<p><em>Chắp tay đón một mặt trời mới mọc </em></p>
<p><em>Ánh Đạo vàng phơi phới đang bừng lên, dâng lên </em></p>
<p><em>Ô đích thực hôm nay trời có mặt </em></p>
<p><em>Giờ là hoàng đạo nguy nga </em></p>
<p><em>Muôn vạn khối sân si vừa mở mắt </em></p>
<p><em>Nhìn nhau: tình huynh đệ bao la </em></p>
<p><em>Nam mô Đức Phật Di Đà </em></p>
<p><em>Sông Hằng kia bởi đâu mà cát bay.</em></p>
<p><em>Thương chúng sinh trầm luân bể khổ </em></p>
<p><em>Người rẽ phăng đêm tối đất dày </em></p>
<p><em>Bước ra ngồi nhập định về hướng Tây </em></p>
<p><em>Gọi hết lửa vào xương da bỏ ngỏ </em></p>
<p><em>Phật Pháp chẳng rời tay </em></p>
<p><em>Sáu ngã luân hồi đâu đó </em></p>
<p><em>Mang mang cùng nín thở </em></p>
<p><em>Tiếng nấc lên từng nhịp báng xe quay </em></p>
<p><em>Không khí vặn mình theo, khóc òa lên nổi gió </em></p>
<p><em>Người siêu thăng… giông bảo lắng từ đây </em></p>
<p><em>Bóng người vượt chín tầng mây </em></p>
<p><em>Nhân gian mát rượi bóng cây Bồ đề. </em></p>
<p><em>.</em></p>
<p><em>Ngọc hay đá, tượng chẳng cần ai tạc </em></p>
<p><em>.</em></p>
<p><em>Lụa hay tre, nào khiến bút ai ghi </em></p>
<p><em>Chỗ người ngồi: một thiên thu tuyệt tác </em></p>
<p><em>Trong vô hình sáng chói nét từ bi. </em></p>
<p><em>Rồi đây…rồi mai sau…còn chi ? </em></p>
<p><em>Ngọc đá cũng thành tro, lụa tre dần mục nát </em></p>
<p><em>Với thời gian, lê vết máu qua đi </em></p>
<p><em>Còn mãi chứ, còn trái tim Bồ tát </em></p>
<p><em>Dội hào quang xuống chốn A tì </em></p>
<p><em>O? ngọn lửa huyền vi… </em></p>
<p><em>.</em></p>
<p><em>Thế giới ba nghìn, phút giây ngơ ngác </em></p>
<p><em>Từ cõi vô minh </em></p>
<p><em>Hướng về cực lạc </em></p>
<p><em>Vần điệu thi nhân chỉ còn là rơm rác </em></p>
<p><em>Và cũng chỉ nguyện được là rơm rác </em></p>
<p><em>Thơ cháy lên theo với lời kinh </em></p>
<p><em>Tụng cho nhân loại hòa bình </em></p>
<p><em>Trước sau bền vững tình huynh đệ này </em></p>
<p><em>Thổn thức nghe lòng trái đất </em></p>
<p><em>Mong thành quả phúc về Cây </em></p>
<p><em>Nam Mô Thích ca Mưu Ni Phật </em></p>
<p><em>Đồng loại chúng con nắm tay nhau tràn nước mắt </em></p>
<p><em>Tình thương hiện tháp chín tầng xây.</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Phan Tấn Hải</strong></p>
<p><em>(Trích Bản Thảo: Khoảnh khắc chiêm bao)</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2021</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/phan-tan-hai-nha-tho-vu-hoang-chuong-guom-bau-cai-lung/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Phan Tấn Hải: LÊ GIANG TRẦN: TRẠM NGƯỜI QUÁ BƯỚC</title>
		<link>https://t-van.net/phan-tan-hai-le-giang-tran-tram-nguoi-qua-buoc/</link>
					<comments>https://t-van.net/phan-tan-hai-le-giang-tran-tram-nguoi-qua-buoc/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phan Tấn Hải]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 15 Jun 2021 05:24:08 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[bản thảo khoảnh khắc chiêm bao]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=50137</guid>

					<description><![CDATA[Thơ của Lê Giang Trần là một trận gió &#8220;thơ mộng mãnh liệt&#8221; &#8212; khi bạn mở trang sách ra, sẽ thấy những dòng chữ được nhà thơ ném lên trời, và rồi biến thành những trận gió lạnh buốt làm cho chàng run rẩy đối mặt với cuộc đời thơ mộng. Lê Giang Trần, [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2021/06/index-3.jpg?strip=all&fit=259%2C194"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-50138" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2021/06/index-3.jpg?strip=all&fit=259%2C194" alt="" width="259" height="194" /></a></p>
<p>Thơ của Lê Giang Trần là một trận gió &#8220;thơ mộng mãnh liệt&#8221; &#8212; khi bạn mở trang sách ra, sẽ thấy những dòng chữ được nhà thơ ném lên trời, và rồi biến thành những trận gió lạnh buốt làm cho chàng run rẩy đối mặt với cuộc đời thơ mộng.</p>
<p>Lê Giang Trần, trong phần Kết, cũng đã tự trình bày về thi tập này:</p>
<p>&#8220;<em>Những bài thơ này chuyên chở đời sống của những người đã sống một cách “thơ mộng” mãnh liệt mà nhờ tình cờ hay tình thân tôi được biết. Chính cái chất thơ mộng hay mãnh liệt ấy gây xúc động cho tôi viết xuống một mảng đời. Nhất là cuộc sống đau đáu ấy lại là đời sống tị nạn lưu vong</em>.&#8221;(trang 153)</p>
<p>Thơ của Lê Giang Trần đa dạng, ngôn ngữ có nơi đùa cợt như khi gặp lại bằng hữu sau nhiều năm xa cách, có nơi bùi ngùi khi nhớ bạn đã bước qua cõi bên kia, có nơi tha thiết với mùi hương của tình nhân chợt nhớ lại&#8230;</p>
<p>Sống với những thơ mộng mãnh liệt, nghĩa là trực diện về tính cô đơn của cuộc đời, là thấy rõ những hư vỡ và bất toàn của đời, và cũng là nếm trải vô thường khi từng người tình biến mất &#8212; những ý nghĩa này lại nổi bật khi Lê Giang Trần đưa vào thơ thỉnh thoảng những dòng Kinh Phật.</p>
<p>Và ngay cả khi Lê Giang Trần phải chấp nhận tính vô thường của cuộc đời, trong thơ vẫn ẩn tàng những nét khó hiểu của đau đớn.</p>
<p>Trong bài &#8220;Nhớ nhà rừng mai,&#8221; Lê Giang Trần viết khi nhớ tới thi sĩ Phạm Công Thiện, chúng ta nhìn thấy những hình ảnh của thơ Thiền, như trăng sáng, rừng im, lạnh tỏa, rừng mai&#8230; và cả những bùi ngùi thương nhớ, trích:</p>
<p><em>&#8230;rằm tháng giêng mất ngủ</em></p>
<p><em>trăng sáng trắng trên đầu</em></p>
<p><em>rừng im sương lạnh tỏa</em></p>
<p><em>lòng cạn như hồ sâu.</em></p>
<p><em>.</em></p>
<p><em>lại lui về thị tứ</em></p>
<p><em>xuân nhớ nhà rừng mai</em></p>
<p><em>thương bạn bè quá cố</em></p>
<p><em>buồn bâng quơ tương lai</em>&#8230;(tr. 23)</p>
<p>Trong chương &#8220;Vào Thơ,&#8221; Lê Giang Trần nóí về duyên khởi của thi tập:</p>
<p>&#8220;<em>&#8230;Khi chạm đến cái giới hạn của trí tuệ mới nhìn ra cái mông mênh của tri thức, như lời đức Phật dạy về hiểu biết bằng thí dụ nắm lá trong tay. Cho nên, dù tạm gọi là nghiệp dĩ thơ, sẽ có lúc thi nhân dừng lại vì năng lực chỉ đến đấy. Người nào luôn là kẻ lên đường sống từng giây phút mới lạ sinh động bất ngờ, người đó mới có thể có được sự mới mẻ đầy ân sủng, yêu đời tươi thắm trong tư tưởng. </em></p>
<p><em>Những bài thơ trong tuyển tập Trạm Người Quá Bước này là một số may mắn còn lưu giữ từ năm 1992 được gom lại và xuất hiện trong một ấn bản in năm 2013, do nhiều thân hữu góp tặng ấn phí và tuần báo Sống nhận phát hành. Từ nay đời sống của những bài thơ này tùy thuộc vào độc giả, ngoài tầm tay của tác giả.</em></p>
<p><em>Mai kia mốt nọ nếu tôi có vài bài thơ thất thểu lang thang, mong được xem như là vết chân của người quá bước ngang qua vườn thơ.”</em> (Trang 8)</p>
<p>Có phải thi sĩ Lê Giang Trần đã &#8220;bước ngang qua vườn thơ&#8221; như vừa nói? Hay cõi này thực ra chỉ là một cõi đầy đau đớn của người lưu vong?</p>
<p>Đau đớn đó được ghi lại trong bài &#8220;Câu hỏi không trả lời,&#8221; hình ảnh quê hương không mấy gì vui, trích:</p>
<p><em>&#8230;hãy đọc thơ văn những người cầm bút</em></p>
<p><em>người cầm bút như những kẻ chưa hoàn hồn</em></p>
<p><em>không có độc ác nào ác độc hơn</em></p>
<p><em>giam cầm tâm trí trong hồi niệm và ảo tưởng</em></p>
<p><em>quê hương có thể trở về thăm thú</em></p>
<p><em>là một quê hương xa cách nghìn trùng</em>.(tr. 16)</p>
<p>Hay là như khi thương cảm cho người phụ nữ Việt Nam và thế hệ trẻ:</p>
<p><em>&#8230;hãy nghe tâm sự thiếu phụ phục hồi nhan sắc</em></p>
<p><em>làm sao có thể con gái họ về sống</em></p>
<p><em>nơi thân phận nữ nhân là nô lệ hay món đồ</em></p>
<p><em>và đối với tuổi trẻ Việt ngoài thế giới</em></p>
<p><em>Việt Nam như căn nhà xưa còn lại của ông bà.</em> (tr. 17)</p>
<p>Do vậy, nhà thơ đã đau đớn ra đi. Lê Giang Trần viết trong bài &#8220;Tháng tư,&#8221; trích:</p>
<p><em>&#8230;tháng tư ơi ngồi xuống</em></p>
<p><em>để Việt Nam quỳ lạy tháng tư</em></p>
<p><em>rồi chia tay vĩnh viễn.</em> (tr. 19)</p>
<p>Nhưng tuyệt vời thơ mộng là khi Lê Giang Trần tìm cách ướp xuống trang giấy những hương lay ngào ngạt, để rồi cảm nhận trên môi hôn là những mưa nồng và mùi hương cổ tích, qua bài &#8220;Mùa sương sớm&#8221; gửi tặng nàng, trích:</p>
<p><em>&#8230;tôi ở chỗ đầy hương lay ngào ngạt</em></p>
<p><em>xứ mùa sương đẫm ướt chồi non</em></p>
<p><em>có lần em ôm tôi như trẻ nít</em></p>
<p><em>mùi hương cổ tích nhớ còn mê.</em></p>
<p><em>.</em></p>
<p><em>có sông chảy trong vòng tay ôm siết</em></p>
<p><em>có mưa nồng trên những nụ môi hôn</em></p>
<p><em>mầm thơ xanh rêu sắp sớm nở</em></p>
<p><em>dậy mình như con gái đêm trăng.</em></p>
<p><em>.</em></p>
<p><em>mưa thơ ướt tràn trên giấy trắng</em></p>
<p><em>lòng rỗng không như trời rộng chim bay</em></p>
<p><em>tiếng chim hót rộn hàng cây trơ nhánh</em></p>
<p><em>như thời gian rớt vỡ rộn ràng</em>.(tr. 27)</p>
<p>Ngay cả khi Lê Giang Trần chất vấn những ý nghĩa uyên áo của cuộc đời, cái nhìn thơ mộng vẫn lưu chuyển trong thơ anh. Như trong bài &#8220;Chuyện ngoài cửa thất,&#8221; sau khi nhà thơ quỳ lạy và hỏi Đức Phật, rồi chỉ nhận được câu trả lời là &#8220;kinh mất tích, tướng tuyệt ngôn&#8221;&#8230; chàng mới quay sang hỏi cô tình nhân bé nhỏ, trích:</p>
<p><em>&#8230;Dòng sông cuồng chảy rân trong mắt</em></p>
<p><em>sóng vỗ chập chùng lệ kim cương.</em></p>
<p><em>Ta hỏi, chuông ngừng, kinh mất tích</em></p>
<p><em>vấn lạy Như Lai, tướng tuyệt ngôn&#8230;</em></p>
<p>.</p>
<p>..<em>.Hỏi em, ta hỏi lời nhỏ nhẹ</em></p>
<p><em>yêu đương cho lịch lãm vô thường.</em></p>
<p><em>Nếu em thật sự là ánh sáng</em></p>
<p><em>sao đứng ngoài xa ngõ bóng đêm?</em></p>
<p><em>Tôi hỏi, như em huyền diệu sáng</em></p>
<p><em>còn tôi đêm quá. tìm không ra.(</em>tr. 31-32)</p>
<p>Cuối bài, Lê Giang Trần ghi chú rằng: &#8220;<em>Phần đời tôi cũng thấy giống, nên gởi đến một phần đời Du Tử Lê</em>.&#8221; Hóa ra, phải chăng, chỉ vì Đức Phật &#8220;vô ngôn,&#8221; nên các nhà thơ mới tìm tới những nàng thơ trong đời để được nghe líu lo không ngừng?</p>
<p>Nhưng vẫn có một thế giới bao trùm trong tâm thức Lê Giang Trần, một khúc nhạc đệm không ngừng trôi chảy trong tâm thức nhà thơ Bạc Liêu này: hình ảnh quê hương.</p>
<p>Lê Giang Trần đã về thăm Việt Nam nhiều lần, thăm thân nhân dòng họ, thăm bạn, và những hình ảnh quê nhà lại dội vào thơ anh.</p>
<p>Xin mời đọc bài &#8220;Trạm người quá bước,&#8221; trích:</p>
<p><em>Ừ. Thì đi về Việt Nam</em></p>
<p><em>Lên Đơn Dương thăm người bạn rẫy</em></p>
<p><em>Xuống Cà mau thi rượu bác chèo đò.</em></p>
<p><em>.</em></p>
<p><em>Kể cho người rừng, tôi thương em điếm nhỏ</em></p>
<p><em>Đôi mắt bán thân nâu thẳm sóng vô thần</em></p>
<p><em>Cánh lưng cong lên, vòng môi mím chặt</em></p>
<p><em>Ngọn vú non hồng se buốt ngực vô tâm</em></p>
<p><em>Những dày vò không phải trả thù trên thân thể</em></p>
<p><em>Những con sói cuồng hoang về phá nát đồng thơm.</em></p>
<p><em>.</em></p>
<p><em>Kể cho người sông nghe, em ăn mày giữa chợ</em></p>
<p><em>Hai bắp chân khô xanh rợn những đường gân</em></p>
<p><em>Thớt thịt chợ lồng, khóm cỏ công viên, hốc cùng bến cảng</em></p>
<p><em>Là nhà đêm trằn trọc ngắm trăng sao</em></p>
<p><em>Tuổi ấu thơ như những đồng tiền rách nát</em></p>
<p><em>Đổi được gì đâu, ngoài một nắm hàn vi</em>.(tr. 45)</p>
<p>Bạn có thể đọc lại lần nữa, và đọc thêm lần nữa. Để thấy rằng thơ của Lê Giang Trần đau đớn như thế. Với hình ảnh em điếm nhỏ, với em ăn mày giữa chợ&#8230;</p>
<p>Trong thi tập, Lê Giang Trần cũng giới thiệu về &#8220;Phan Thanh Thúy, nhà tôi.&#8221;</p>
<p>Ngay sau trang đăng hình phu nhân, Lê Giang Trần khởi đầu chương &#8220;Kể chuyện tình&#8221; với bốn câu thơ mang đầy những cảm nhận về tính mong manh vô thường của đời:</p>
<p><em>Mỹ nhân bất quá như chén rượu</em></p>
<p><em>Thi phú coi như khói phù du</em></p>
<p><em>Nghiệp duyên đôi khắc như quỳnh nở</em></p>
<p><em>Lại say tình chẳng biết hổ ngươi!</em> (tr. 65)</p>
<p>Mỹ nhân như chén rượu? Chỗ này xin không đồng ý, và hy vọng các nhà nữ quyền lên tiếng chỗ này.</p>
<p>Trong tập thơ &#8220;Trạm Người Quá Bước,&#8221; Lê Giang Trần cũng có những bài thơ tặng hay tưởng nhớ bạn hữu, trong đó có Lê Uyên Phương, Nguyễn Tất Nhiên, Mai Thảo, Phạm Công Thiện, Cao Xuân Huy, và nhiều nữa.</p>
<p>Thi tập cũng có một số ca khúc, do Việt Dzũng, Lê Uyên Phương phổ thơ Lê Giang Trần.</p>
<p>Trong phần &#8220;Kết,&#8221; Lê Giang Trần đã có lời tự bạch như sau:</p>
<p>&#8220;<em>Hai mươi năm thơ ấy, có bài như giọng điệu một kẻ trưởng thành, có bài vẫn như lời lẽ đứa trẻ ngu ngơ. Là tác giả, xem lại mấy bài như trẻ con vớ vẩn ấy, vậy mà trong lòng có phần vui cái lãng mạn ngây ngô của nó.</em></p>
<p><em>Bài thơ nào cũng hình thành từ một sự thật. Có cái gì ẩn trong đời thật ấy reo rắc, réo rắc, réo gọi&#8230; để thành hình nên thơ. Bài thơ ra đời xong, sau đó tùy thuộc vào độc giả. Còn thì lưu danh, ngược lại, không khác lý vô thường.</em></p>
<p><em>Xin cảm tạ những tấm lòng chia sẻ cùng tập thơ này.</em></p>
<p><em>Trang trọng</em>.&#8221;</p>
<p>Để nói ngắn gọn về tập thơ của Lê Giang Trần, chúng ta có thể mượn bốn chữ trong bài để nói, rằng thơ của anh thực sự là những dòng chữ “thơ mộng mãnh liệt.” Và để viết như thế, lòng anh tất là như thế, cũng cảm nhận đau đáu nỗi vô thường trên thịt da.</p>
<p>Không phải là tuyệt vời sao, không phải chỉ là đọc, mà chúng ta còn có thể tới bá vai, rót rượu, cụng ly với mảng đời “thơ mộng mãnh liệt” như thế.</p>
<p><strong>Nguyên Giác Phan Tấn Hải</strong></p>
<p><em>(Trích trong tập bản thảo chưa xuất bản “Khoảnh Khắc Chiêm Bao” với tấm lòng trân trọng tất cả những người đã đem chữ nghĩa, âm nhạc, hội họa để làm đẹp hơn cho cuộc đời, cùng lúc là để làm sáng tỏ ý nghĩa Phật pháp – Lời Thưa).</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2021</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/phan-tan-hai-le-giang-tran-tram-nguoi-qua-buoc/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Phan Tấn Hải: TƯỞNG NHỚ  NHÀ VĂN VŨ HUY QUANG</title>
		<link>https://t-van.net/phan-tan-hai-tuong-nho-nha-van-vu-huy-quang/</link>
					<comments>https://t-van.net/phan-tan-hai-tuong-nho-nha-van-vu-huy-quang/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phan Tấn Hải]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 09 Jun 2021 05:41:55 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[bản thảo khoảnh khắc chiêm bao]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=50091</guid>

					<description><![CDATA[Không thể có một Vũ Huy Quang (1942-2017) thứ nhì trên đời này, dù là trong đời thường hay trong tiểu thuyết. Bởi vì, anh độc đáo một cách tự nhiên, cả trong giao tiếp lẫn chữ nghĩa. Khi ngồi nói chuyện với anh vài câu, bạn biết ngay không mấy ai có nhiều kiến [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2021/06/vu-huy-quang-portrait-by-phan-tan-hai.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-50092" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2021/06/vu-huy-quang-portrait-by-phan-tan-hai-300x207.jpg?strip=all" alt="" width="300" height="207" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2021/06/vu-huy-quang-portrait-by-phan-tan-hai-300x207.jpg?strip=all 300w, https://cdn.t-van.net/2021/06/vu-huy-quang-portrait-by-phan-tan-hai-768x530.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2021/06/vu-huy-quang-portrait-by-phan-tan-hai.jpg?strip=all 833w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></a></p>
<p>Không thể có một Vũ Huy Quang (1942-2017) thứ nhì trên đời này, dù là trong đời thường hay trong tiểu thuyết. Bởi vì, anh độc đáo một cách tự nhiên, cả trong giao tiếp lẫn chữ nghĩa. Khi ngồi nói chuyện với anh vài câu, bạn biết ngay không mấy ai có nhiều kiến thức sách vở như anh, nhưng cái nhìn luôn luôn mang theo nhiều chất vấn, nêu lại rất nhiều vấn đề không mấy người nhìn thấy. Khi đọc vài trang văn của Vũ Huy Quang, bạn biết ngay anh có một vị trí riêng trong văn học bất kể rằng anh viết không nhiều, nhưng lại rất đẹp về văn và rất khó tính với những gì có tính hệ thống.</p>
<p>Vũ Huy Quang khó tính với chữ nghĩa &#8212; cân nhắc, suy tính từng chữ một những gì anh viết. Anh cũng dễ nổi giận với những chữ anh nghĩ là không thích nghi, dù của anh hay của người khác. Cách anh soạn Bản Lên Tiếng yêu cầu nhà cầm quyền Hà Nội trả tự do cho nhà văn Dương Thu Hương cho thấy chữ nghĩa anh khó tính. Lúc đó là khoảng một hay hai năm sau 1990, thời chưa có Internet, cũng chưa có điện thoại di động. Phương tiện truyền thông tối tân nhất là dùng máy fax. Anh lúc đó ở cùng với mẹ trong một căn nhà ở Garden Grove.</p>
<p>Anh điện thoại, bảo tôi tới nhà anh, cho đọc bản thảo Bản Lên Tiếng, phân tích từng chữ một và anh nói rằng anh viết hay rất mực, rồi bảo tôi đi tìm một số nhà văn ký tên chung. Tôi nói, tôi ký thì không có vấn đề gì, nhưng người khác thì khó, chỉ trừ Phạm Việt Cường và Khánh Trường thôi, chỉ cần đọc bản văn cho hai tên này nghe qua điện thoại là đủ. Thêm nữa chứ, còn cụ Nghiêm Xuân Hồng, tôi nói thêm, nhưng phải đưa bản giấy cho cụ đọc. Kể như thế để thấy rằng, anh quan sát tình hình trong nước kỹ hơn rất nhiều người khác, và nhìn rất xa; lúc đó, tôi chưa đọc cuốn tiểu thuyết nào của Dương Thu Hương, chỉ mới đọc các bản tin liên hệ.</p>
<p>Cuộc đời của anh nhiều sóng gió, trong đời thường, đời văn và cả về tình cảm. Anh là người nói khéo, nói dịu dàng, nói đúng giọng Bắc Kỳ 1954, biết cách nói tinh nghịch làm người đối thoại bật cười, nhưng đời thường lúc nào cũng bất trắc. Sau khi gia đình anh tan vỡ và hai con của anh đi theo mẹ, anh về ở với mẹ anh ở Garden Grove, và nhiều năm sau cũng theo mẹ về Bắc California. Viết văn hay, nói khéo, nên có nhiều hình bóng giai nhân trong đời anh. Tuy nhiên, đôi khi anh nổi giận, và những lúc đó, anh thường nói lớn tiếng, có khi gay gắt, dễ làm nhiều người mất lòng. Một lần, anh từ Bắc Cali về thăm Quận Cam, anh tới nhà tôi ngủ, kể cho vợ chồng tôi nghe rằng anh tốt bụng, muốn chỉ dẫn cho nam diễn viên Đơn Dương cách vào cao đẳng cộng đồng học để rồi sẽ thành công trong giới điện ảnh Mỹ, nhưng rồi anh nổi giận sao đó, lớn tiếng… Nổi nóng là không nên, tôi chỉ nói thế với anh.</p>
<p>Anh là người mê học, mê đọc. Anh học những gì anh thích, và anh tìm đọc những cuốn sách thuộc loại cấm kỵ. Khi còn ở Quận Cam, anh kể về tiệm sách Mỹ ở Laguna Beach có tên là Bookstore 540, nơi cũng là một tiệm cà phê. Tôi không nhớ chính xác tên tiệm này, vì đóng cửa lâu rồi. Anh giải thích về con số 540, rằng đó là nhan đề một cuốn sách khoa học viễn tưởng, nói về một thời sẽ tới, khi nhiệt độ nóng tới 540 độ (độ F, hình như, cũng có thể là 504 độ, hay 405 độ?), các trang giấy tự động bốc cháy, lúc đó nhân loại sẽ không còn sách nữa; tôi lại chưa đọc cuốn sách đó, vì mình quan tâm loại khác.</p>
<p>Anh bảo là tôi phải chở anh lên tiệm này cho biết, đó là nơi anh gặp các cuốn sách cấm. Thường thường, sách cấm ở Mỹ là khái niệm chỉ thấy ở các thư viện công cộng và trường học, nơi sách cần thích nghi cho công chúng mọi trình độ, hoặc riêng cho giới học trò. Nước Mỹ là tự do, sách cấm thường có nghĩa là sách bị cộng đồng kỳ thị, hoặc sách không bán được – nghĩa là, không mấy nhà xuất bản muốn in, và nếu in cũng không mấy tiệm sách muốn bày ra, vì sẽ chẳng mấy ai mua. Tiệm sách/cà phê này nhìn ra biển; cà phê dĩ nhiên đắt nhưng chẳng ngon gì.</p>
<p>Về sau, anh Vũ Huy Quang về Bắc California, rồi cư ngụ theo mẹ. Và rồi anh nói rằng anh khám phá ra một tiệm sách San Francisco, nơi anh gặp một vài cuốn sách cấm, hoặc sách đã tuyệt bản. Tôi hỏi sách gì. Anh nói, đó là sách về Cộng sản Đệ tứ Quốc tế, về Trotsky và về Trần Độc Tú. Nghĩa là về người khai sáng chế độ Cộng sản ở Liên Xô, và người khai sáng ra Cộng sản Trung quốc – cả hai đều bị thanh trừng. Tôi nói, tôi không bận tâm về những chuyện đó, sao anh cứ đứng cuối thế kỷ mà mải nói chuyện đầu thế kỷ.</p>
<p>Trước đó, anh quan tâm về những người Đệ tứ Quốc tế ở Pháp. Anh liên lạc với cụ Hoàng Khoa Khôi, một người Đệ tứ, một phong trào đã bị ông Hồ, đại diện cho lập trường CS Đệ tam Quốc tế ở Việt Nam càn quét. Lúc đó, cũng có người đồn rằng nhà văn Đỗ Kh. Là Đệ tứ, có lẽ vì Vũ Huy Quang sang Pháp là tìm gặp ngay nhà văn này. Chẳng biết đúng hay sai, nhưng thời này nhiều tin trật lắm. Thêm nữa, Đỗ Kh. rất là thơ mộng, chẳng mê làm chi mấy ông cụ chỉ còn sống với sách cổ.</p>
<p>Thực sự, tôi không bận tâm chuyện chính trị và lịch sử. Thời nó thế, thì chẳng bận tâm làm gì. Nhưng Vũ Huy Quang không phải là người của chính trị, bất kể anh bước giữa những lằn ranh và đã hứng cả những trận mưa đạn và mưa hoa từ hai phía. Những gì anh viết trong một thập niên cuối đời, không thích hợp với báo đời thường, nơi bài cần ngắn và cần đi sát cuộc đời, trong khi các bài nghiên cứu của anh rất phức tạp và dài. Có bao nhiêu người tại California chịu đọc các nghiên cứu về chuyện Mao Trạch Đông và Trần Độc Tú? Có ai muốn đọc chuyện di chúc của Tôn Dật Tiên? Hay chuyện Trotsky? Nhưng bài của anh được một số giới nghiên cứu tán thưởng, quan tâm, sau khi đăng ở một số mạng, trong đó có Talawas và blog của nhà văn Nhật Tuấn (em của nhà văn Nhật Tiến). Về sau, anh có tình thân với Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, anh gửi bài cho blog Boxitvn, nhưng tôi đoán, chẳng ai bận tâm chuyện đầu thế kỷ làm gì.</p>
<p>Có một thời, tôi thất nghiệp, và anh cũng thế. Lúc đó, cụ Nghiêm Xuân Hồng, nhà nghiên cứu Phật học tuyệt vời thơ mộng, mỗi tháng hễ lãnh tiền già, là điện thoại bảo anh Vũ Huy Quang chở cụ ra một tiệm ăn, rồi bảo nhớ gọi Phan Tấn Hải nữa nhé. Cụ già rồi, đâu có ăn gì, chỉ ngồi hỏi chuyện và nghe chuyện từ anh Quang và tôi. Những buổi như thế, anh Quang cười tươi hẳn ra, nói chuyện vui kể gì, chủ yếu chuyện trong đời thường hay làng văn. Tôi còn nhớ hình ảnh đôi khi chở cụ Nghiêm Xuân Hồng về nhà, một căn biệt thự khổng lồ ở Fountain Valley của con trai cụ. Đường tới nhà cụ đẹp tuyệt vời, có cổ thụ bên đường, có các băng cỏ viền các khu phố, có nắng và có gió rất mực bình yên.</p>
<p>Một lần, Vũ huy Quang chạy xe từ San Jose về Quận Cam, đưa cho tôi một tape ghi âm, bảo hãy nghe đi, vì đây là thần chú của Đức Phật. Anh nói, anh chứng kiến là khi để máy cassette giữa vườn cỏ, mở băng này ra, khi thần chú này hát lên, chim từ đâu bay tới trong vườn. Tôi nói, nhà tôi làm gì có vườn, mà thần chú thì phải trang nghiêm, tôi học từ nhỏ tới giờ, biết là linh nghiệm từ lâu rồi, đâu cần phải nghe máy. Anh nói, anh bảo đảm là tôi chưa từng nghe. Đúng vậy, thần chú này được hát rất hay. Về sau, khi có mạng YouTube, tôi dò ra rằng đó là bài Chú Đại Bi, bản tiếng Sanskrit do một nữ nhạc sĩ Mã Lai tên là Imee Ooi phổ nhạc và hát. Không chỉ bài này, nhiều bài khác do nữ Phật Tử này phổ nhạc cũng hay tuyệt vời, trong đó, tôi nghĩ, một tác phẩm bất tử sẽ là Ca Khúc Từ Bi (The Chant Of Metta) soạn ra từ bản Pali Kinh Metta Sutta. Nhưng dùng thần chú để triệu hồi cả đàn chim đáp xuống vườn cỏ, có lẽ chỉ riêng anh Vũ Huy Quang nghĩ ra.</p>
<p>Một lần, anh Vũ Huy Quang kể rằng, mẹ anh kể là trong khu nhà giành cho người già, có một bà cụ người Trung Quốc. Tới ngày Lễ Giáng Sinh, khi mọi người, nơi đó đa số là Mỹ da trắng, cùng hát bài Oh Mary, bà cụ người Hoa này hát bài Đông Phương Hồng, rồi bà hô khẩu hiệu “Hoan hô Mao Trạch Đông.” Bà cụ này hát và hô khẩu hiệu bằng tiếng Tàu. Rồi anh Quang cười vui kể gì. Tôi có dùng máy ảnh để quay video khi anh kể bà cụ người Hoa hô khẩu hiệu, dài hơn một phút, phóng lên YouTube.</p>
<p>Sau khi mẹ anh từ trần vài tháng, tôi lái xe lên Half Moon Bay thăm anh. Lúc đó, anh còn giữ căn chung cư 2 phòng do Sở Xã Hội California cấp cho mẹ anh, nơi anh sẽ phải trả lại, vì không còn tiêu chuẩn chăm sóc bà cụ nữa. Trong đêm đó, tôi ngồi trả lời anh và hướng dẫn anh về sử dụng máy tính, bảo vệ và gỡ các trở ngại email. Chỉ tới đâu, anh ghi xuống giấy tới đó. Vợ tôi chỉ lên vách tường, ngạc nhiên vì những mẩu giấy ghi chú về máy tính dán đầy tường. Anh nói, nơi anh ở gần Tòa Tổng Lãnh Sự VN, và có một cậu gì trên ấy nói rằng lúc nào bác Quang hỏng máy là cứ gọi cậu ấy tới sửa máy tính miễn phí. Tôi nói thôi, đừng, vì thời này có phần mềm keylogger, hễ cậu sứ quán gài vào máy xong, là từ xa ngàn dặm họ biết mình gõ những gì.</p>
<p>Để hiểu được Vũ Huy Quang mê sách như thế nào, hãy nghe anh giải thích trong bài “Sự Thê Thảm Của Cách Mạng Trung Quốc” trên blog nhà văn quá cố Nhật Tuấn hồi tháng 9/2012, trích:</p>
<p>“&#8230;<em>Thỉnh thoảng tôi được vài người bạn từ phương xa đến thăm. Được hân hạnh gặp khách phương xa ghé đến, nhưng ai mà ít phương tiện, thì tôi cũng hân hạnh đến thăm họ. Người nào người nấy trên 70 cả rồi. Tâm sự hồi lâu với nhau, sau rồi những người ấy đều có chung câu hỏi,”Nếu không còn việc gì vui ngoài việc đọc sách, sao không chia xẻ với bàn dân thiên hạ những điều đọc được?” Dù tôi nêu bất cứ lý do gì để thoái thác, như “Đọc rồi viết bài điểm sách cũng không dễ. Đọc mà dịch ra thành sách, thì gặp nhiều khó khăn khác. Nào trích dẫn, ảnh minh họa, xin phép xuất bản, xin phép dịch thuật, kỹ thuật ấn loát…Có một mình, kém kỹ thuật, nên không làm gì.” Họ bảo, “Nếu cứ kể lại chuyện đọc sách…như bạn bè mỗi lần ngồi với nhau thế này cũng vui, thuật lại được tới đâu hay tới đó. Chả lẽ đọc xong rồi yên lặng? Sách ở đâu mà ra? Sách là do đời đem đến. Đọc rồi, sao không trả nợ đời, nợ người?” Tôi ngẫm nghĩ, thấy cũng có lý. (Phục nhất, là các cô làm ở Thư Viện tỉnh tôi ở, lần nào cũng niềm nở giúp đỡ cho tôi việc mượn sách). Cho nên tôi có bài viết không phải điểm, chẳng phải dịch này</em>…”(ngưng trích)</p>
<p>Có một số cuốn sách anh không tìm được ở thư viện công cộng, nhưng lại nằm trong nhóm sách tham khảo anh cần tìm, anh mới nhờ mua giùm trên Amazon. Như thế, anh dò ra những bí ẩn trong cách mạng Trung Quốc thời đầu thế kỷ 20. Đó là những cánh cửa tối ám, theo cách anh diễn tả, khi viết về Trần Độc Tú (1879 -1942), người sáng lập Đảng Cộng sản Trung Quốc, từng bị Quốc tế Cộng sản đưa ra khỏi Trung Ương, và là người Vũ Huy Quang viết trong bài “Cánh Cửa Tối Ám”:</p>
<p>“…<em>tôi nẩy ra ý dịch chút ít về Trần Độc Tú, một trong những người khổng lồ không chỉ của Trung quốc, mà cả nhân lọai.</em></p>
<p><em>Trần Độc Tú (1879-1942), sinh quán An Huy, lãnh tụ đầu tiên của đảng Cộng sản Trung quốc 1921, cũng là lãnh tụ phong trào Tân Thanh niên 1915 và Cách mạng Văn Hóa 1917, sinh ra Ngũ Tứ Vận Động 1919 sau này. Hiếm ai bị vu khống, mạ lị, hiểu lầm, và bị nhiều bi kịch như ông – cũng như ít ai được ngưỡng mộ ngày càng nhiều như ông. Vết tích về họat động Trần chỉ có rất ít người thu thập được rồi viết ra, hoặc vài đồng chí cũ sống sót, hoặc học giả ngoại quốc khảo cứu, hoặc do người đời sau sưu khảo các tài liệu cũ mà thành, như Thomas C. Kuo. Sách ông này xuất bản 1975, được đánh giá cao.</em></p>
<p><em>Sau đây là những ghi nhận của Kuo về tư tưởng chính trị Trần Độc Tú lúc cuối đời, Chen Last Political view, dịch từ trang 238-248: “Chen Tu-Hsiu and the Chinese Communist Movement” </em>&#8211; T.C.Kuo.”(ngưng trích)</p>
<p>Than ôi, viết như thế, chỉ có học giả mới đọc thôi.</p>
<p>Tương tự, Vũ Huy Quang nghiên cứu về bản di chúc Tôn Dật Tiên (1866 – 1925) đã viết trong bài “Di Chúc Tôn Dật Tiên” rằng:</p>
<p>“…<em>Xem ra Quốc phụ Tôn Văn không hiểu Tây phương, không hiểu Trung quốc, lại cũng không hiểu nội bộ nhân sự của Đảng mình lẫn Quốc tế Cộng sản. Lịch sử trớ trêu hơn nữa, khi mà di chúc Tôn Văn, cả Lục địa, cả Đài Loan đều dấu nhẹm đi, không hề nhắc tới. Theo tác giả Lyon Sharman, đây là văn bản gây bối rối tột bậc cho giới lãnh đạo &#8211; cả Quốc lẫn Cộng. Cho nên hầu hết dân Trung quốc không hề biết di chúc Quốc phụ</em>….”(ngưng trích)</p>
<p>Anh đọc sách tuyệt vời như thế. Không mấy ai bằng. Nhưng khi thơ mộng, Vũ Huy Quang cũng làm thơ tuyệt vời, như một bài thơ anh viết, và thi si Khế Iêm đăng trên Tạp Chí Thơ Tân Hình Thức, trích:</p>
<p>.</p>
<p>“<em>LÀM THƠ CŨNG PHẢI CÓ DÂN CHỦ</em></p>
<p><em>Thế này thì chết. Thế</em></p>
<p><em>này thì tôi cũng đến</em></p>
<p><em>chết. Thơ, nghe nói là</em></p>
<p><em>có một bọn chuyên môn</em></p>
<p><em>là thơ dở. Kể ra</em></p>
<p><em>đọc thì cũng hiểu chứ</em></p>
<p><em>không phải là không. Nhưng</em></p>
<p><em>mà đọc riết rồi cũng</em></p>
<p><em>nhập tâm. Thành ra tôi</em></p>
<p><em>lại cũng làm thơ Tân</em></p>
<p><em>hình thức. Có điều vừa</em></p>
<p><em>làm thơ tôi lại vừa</em></p>
<p><em>tưới cây. Vừa làm thơ</em></p>
<p><em>vừa tưới cây. Lại vừa</em></p>
<p><em>cười tủm tỉm. Vì làm</em></p>
<p><em>thơ cũng phải có dân</em></p>
<p><em>chủ.</em>”</p>
<p>(hết bài thơ, ngưng trích)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Vũ Huy Quang tuyệt vời là thế. Nghĩ tới anh, là thấy những nụ cười.</p>
<p>Tuy là Vũ Huy Quang chơi thân với những người Đệ tứ Quốc tế, anh cũng có giao tình với những người Đệ tam, hay từng có một thời có khuynh hướng Đệ tam. Do vậy, tạp chí Diễn Đàn ở Pháp đã viết về anh rất trân trọng khi có tin anh từ trần, trích:</p>
<p>“<em>Vũ Huy Quang (1942-2017)</em></p>
<p><em>Nhà văn Vũ Huy Quang đã từ trần ngày 14.1.2017 tại Hoa Kỳ</em></p>
<p><em>Chúng tôi đau buồn thông báo với bạn đọc và bạn bè, nhà văn Vũ Huy Quang đã từ trần ngày 14 tháng 1 năm 2017 tại Pacifica (bang California) sau một thời gian chống trả bệnh ung thư, thọ 74 tuổi.</em></p>
<p><em>Vũ Huy Quang sinh ngày 9.7.1942. Đại uý Quân lực Việt Nam Cộng hoà, ông bắt đầu sự nghiệp sáng tác và biên dịch văn học tại Mỹ trong khi làm nhiều công việc lao động nặng nhọc. Ông cộng tác với nhiều tờ báo, trong đó có Diễn Đàn. Tác phẩm đã xuất bản: Nơi trại trừng giới, Chín truyện ngắn, Mười truyện tân liêu trai&#8230; bản dịch: Đường lên trời, Nhục Bồ Đoàn&#8230;</em></p>
<p><em>Những năm gần đây, Vũ Huy Quang ít sáng tác. Thi thoảng, anh viết những bài chính luận đầy nhiệt huyết trên lập trường trốt-kít. Vốn dị ứng với phương tiện truyền thông hiện đại, &#8220;Thăng Long Văn Sĩ&#8221; ít giao dịch với bạn bè ở xa, giới hạn tiếp xúc trong vòng bạn bè tại chỗ, bên li rượu. Những người có may mắn được gặp Vũ Huy Quang không bao giờ quên óc trào phúng, tự riễu mình, tính khí độc đáo (thậm chí lập dị), nhiệt tâm và sự độc lập suy nghĩ của anh. Càng mến văn phong Vũ Huy Quang, lại biết anh chịu đọc và tinh thông văn học Anh ngữ, Pháp ngữ, bạn bè càng tiếc rằng tác phẩm đã hoàn thành quá ít và khiêm tốn so với vốn sống và tiềm năng sáng tác của nhà văn. Có lẽ vì, đối với anh, tình bạn cao hơn văn học. Và mãi mãi còn lại trong hồi ức của người ở lại, là tình bạn của Vũ Huy Quang</em>.”(ngưng trích)</p>
<p>Phụ nữ nghĩ gì về nhà văn Vũ Huy Quang? Tôi không thể biết chính xác suy nghĩ của những phụ nữ từng có cảm tình với anh. Và nếu biết, cũng không ghi ra giấy làm chi. Nơi đây, xin mời đọc Phan Thị Trọng Tuyến, một nhà văn nữ thuộc thế hệ sau anh một thập niên, trong bài “Nhớ Vũ Huy Quang, Thăng Long Văn Sĩ” trên ấn bản tháng 2/2017 của Tạp Chí Thơ Tân Hình Thức nhìn về Vũ Huy Quang:</p>
<p><em>“&#8230;Chỉ mới vài tháng trước đây thôi, ngồi quán, chúng tôi nghe anh kể chuyện. Về những người bạn. Cũ và mới. Mỹ và Việt. Người anh thích nhiều và ít thích. Thích nhiều với giọng ân cần, quý mến. Thích ít thì cũng kể về họ, phần lớn vì tôi nhắc họ, những người tôi biết qua anh. Mỗi người một nét chấm phá qua một giai thoại, đôi chi tiết, dăm ba câu đối thọai hay cãi cọ&#8230; mà anh với cách diễn tả hóm hỉnh, thông minh, đôi mắt đen (trại) trừng (giới) đôn hậu, đôi môi bậm vừa ra dáng khinh khỉnh vừa che răng khuyết (?), nụ cười má lúm đồng tiền, khiến các đương sự mang vẻ “nhân gian“ rất mực người đời và có duyên như anh khiến tôi nghe mình rất gần họ và cũng thích họ, như anh&#8230; Trong các bài bút ký hay tạp bút, truyện ngắn, giọng văn, y như cách nói của anh, trôi chảy, di dỏm, nhẹ nhàng, lôi cuốn, sắc sảo</em>&#8230;”(ngưng trích)</p>
<p>Nhìn chung, Vũ Huy Quang viết truyện là hay tuyệt vời. Tuyển tập “Chín Truyện Ngắn” của anh là thượng thừa, không dễ mấy ai quên. Hay như tuyển tập các chuyện Tân Liêu Trai của anh, lãng mạn, thơ mộng…</p>
<p>Tôi vẫn tự hỏi, làm thế nào, một người như anh, đọc sử, khám phá ra những “cánh cửa tối ám” chết chóc trong lịch sử, lại có thể viết về những mối tình rất mực đằm thắm trong nhân gian.</p>
<p>Trong truyện “<em>Tiếng Hát Giết Người</em>” viết theo thể Tân Liêu Trai, Vũ Huy Quang kể về chàng trai tên Sinh, một hôm vào một sân khấu để nghe đàn hát, lần đầu nghe một nữ ca sĩ trẻ có “<em>giọng ca hồn nhiên ngây thơ, bài nào cũng gợi lại thời thơ ấu của Sinh, lúc vui lúc buồn..</em>.” và rồi khi chàng bước ra về, tình cờ gặp cô, được cô gỡ chiếc gù ở mũ tặng chàng, và chiếc gù này hễ chàng cầm tới là toát ra mùi hương, người khác cầm thì không sao… Vũ Huy Quang viết:</p>
<p>“…<em>Từ nhỏ sống đời khô khan chưa được nghe giọng êm dịu như thế bao giờ. Sinh cảm động lảo đảo theo giòng người ra cửa để ra về, thì tình cờ làm sao, chạm mặt cô nàng, lúc ấy hát xong cũng ra về cùng lúc.</em></p>
<p><em>Sinh ngây ngất, vừa yêu vừa giận, trợn mắt nhìn nàng. Mỹ nhân thấy lạ tủm tỉm cười rồi tháo chiếc gù ở mũ mà tặng cho Sinh. Nàng nghĩ bụng: người đâu có người lạ đời, mắt thì như mắt giặc mà miệng thì lầu bầu chả thốt được lời cảm ơn nào&#8230;</em></p>
<p><em>Sinh cầm cái gù về nhà, giở sách thánh hiền ra đọc, tự cho hình sắc là giả dối, sắc đẹp chỉ lừa gạt người, âm thanh là huyễn mộng nên tránh xa đi là hơn. Bèn treo cái gù nơi góc nhà, bạn đến chơi hỏi han cũng chỉ ậm ừ qua chuyện. Một hôm bào huynh ở xa tới thăm em, Sinh dọn lại nhà cửa để đón tiếp, nghĩ mình sống thanh bạch lâu nay, mân mê cái gù muốn vứt bỏ (ý không muốn giữ đồ kỷ niệm của đàn bà con gái) thì lạ thay cái gù nhỏ mềm mại bỗng như tỏa mùi hương thơm. Sinh ngạc nhiên lắm, để ý nghiệm rằng người khác cầm vào thì không sao, cứ hễ mình sờ tới lại như có mùi hương kín đáo tỏa ra quyện vào nơi tay vậy</em>…” (ngưng trích)</p>
<p>Tuyệt vời thơ mộng… Cô ca sĩ này chỉ là hư cấu, hay là có trong đời thực của nhà văn họ Vũ? Hay có phải, giọng ca của cô đã hóa thân vào bài thần chú, mà anh đã tình cờ nhận thấy sức mạnh triệu hồi chim trời về nơi sân cỏ trước nhà?</p>
<p>Chỉ có một điều biết được chắc thật rằng: những trang giấy của Vũ Huy Quang sẽ ở lại với đời này, và sẽ “như có mùi hương kín đáo tỏa ra quyện vào nơi tay” những độc giả cầm tới sách của anh.</p>
<p><strong>Nguyên Giác Phan Tấn Hải</strong></p>
<p><em>(Trích trong tập bản thảo chưa xuất bản “Khoảnh Khắc Chiêm Bao” với tấm lòng trân trọng tất cả những người đã đem chữ nghĩa, âm nhạc, hội họa để làm đẹp hơn cho cuộc đời, cùng lúc là để làm sáng tỏ ý nghĩa Phật pháp – Lời Thưa).</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2021</p>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/phan-tan-hai-tuong-nho-nha-van-vu-huy-quang/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Phan Tấn Hải: NGHĨ VỀ NHÀ THƠ PHẠM CÔNG THIỆN</title>
		<link>https://t-van.net/phan-tan-hai-nghi-ve-nha-tho-pham-cong-thien/</link>
					<comments>https://t-van.net/phan-tan-hai-nghi-ve-nha-tho-pham-cong-thien/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phan Tấn Hải]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 28 May 2021 05:41:50 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[bản thảo khoảnh khắc chiêm bao]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=49945</guid>

					<description><![CDATA[Làm thế nào để hình dung về Phạm Công Thiện (1941-2011)? Một lần tôi đã tự hỏi mình như thế. Và ngay lập tức trước mắt tôi hiện ra một cặp kính cận dày cộm và chòm tóc trắng phất phơ&#8230; Có lẽ, nếu vẽ vài nét trên giấy kiểu tốc hoạ thì thế như [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2021/05/pct.jpg?strip=all&fit=204%2C248"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-49946" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2021/05/pct.jpg?strip=all&fit=204%2C248" alt="" width="204" height="248" /></a></p>
<p>Làm thế nào để hình dung về Phạm Công Thiện (1941-2011)? Một lần tôi đã tự hỏi mình như thế. Và ngay lập tức trước mắt tôi hiện ra một cặp kính cận dày cộm và chòm tóc trắng phất phơ&#8230; Có lẽ, nếu vẽ vài nét trên giấy kiểu tốc hoạ thì thế như dường là đủ. Không, chưa đủ. Vậy thì nghe thêm giọng nói Nam bộ đặc biệt của anh. Hay là thêm khuôn mặt tròn, và đôi mắt thơ ngây&#8230;</p>
<p>Nhưng tận cùng, Phạm Công Thiện là một nhà thơ và là một thiền sư – và đó là những phẩm chất rất khó hình dung, vì mỗi nhà thơ và mỗi thiền sư đều có những độc đáo riêng. Và tôi tin rằng, khi nào thân xác anh rời khỏi thế giới đời thường này, rất nhiều người sẽ gọi Phạm Công Thiện là một vị Bồ tát, một danh hiệu tôn quý trong Phật giáo và là một hạnh nguyện để chỉ một người tái sinh từ kiếp này sang kiếp khác để giúp cho mọi người hiểu được thật nghĩa của vũ trụ. Trong những năm qua, rất nhiều tăng ni Phật tử đã gọi nhà thơ Bùi Giáng là một vị Bồ tát, và tôi tin là sau này, Phạm Công Thiện cũng sẽ được tôn vinh như thế, bất chấp những đời thường bất toàn mà chúng ta đôi khi gặp nơi anh.</p>
<p>Thực sự, tôi đã nhìn anh như một vị Bồ tát từ những ngày tôi mới lớn, và ngay khi lần đầu đọc cuốn Ý thức mới trong văn nghệ và triết học. Lúc đó, tôi đang học lớp đệ tứ, hay đệ tam ở Chu Văn An, Sài Gòn. Bây giờ gọi là lớp 9 hay lớp 10. Đâu đó, khoảng giữa thập niên 1960. Dù là đọc ngấu nghiến, nhưng một ngày không đủ, và đọc một tuần cũng không đủ. Vì có những dòng tôi phải đọc đi đọc lại, không hoàn toàn vì tính bí hiểm triết lý, mà chỉ vì tính thơ mộng dị thường trong ngòi bút của anh. “<em>Đi cho hết những đêm hoang vu trên mặt đất</em>&#8230;” Thế đấy, tôi đã đi như thế từ bốn thập niên trước trên các trang sách của anh.</p>
<p>Tôi đã ngồi ở sân Chùa Xá Lợi, dưới các tàng cây ngọc lan và bông sứ lần giở từng trang sách đó. Và rồi lại ngồi trong một quán cà phê cách trường Chu Văn An vài mươi bước, ngay lối vào ký túc xá Minh Mạng của các anh chị sinh viên lớn. Không phải chuyện ngồi đọc cho ra vẻ triết gia, mà thực sự vì có những đoạn văn trong cuốn Ý thức mới làm tôi run rẩy cả người. Từng trang một, giữa các dòng chữ của Phạm Công Thiện toát ra một hơi lạnh của vũ trụ vô cùng vô tận. Và tuy là văn xuôi, hầu hết, nhưng thi tính vẫn dày đặc kinh ngạc.</p>
<p>Lúc đó, tôi chưa từng gặp anh, nhưng lại có cảm giác Phạm Công Thiện phải là một cái gì có màu xanh, phải liên hệ tới màu xanh, thí dụ xanh da trời hay xanh lá cây. Không biết tại sao, nhưng trong trí óc tôi lúc đó, là một thiếu niên say mê đọc sách và cứ nghĩ tới triết gia Phạm Công Thiện là thấy hiện lên một màu xanh. Phải màu xanh mới lạnh chứ. Vì từng trang Ý thức mới đều mang theo hơi lạnh đó. Trong đó, có hơi lạnh Đà Lạt, có sương mù Paris, có ngồi thiền trên đồi vắng, có chất vấn về triết lý với cái búa của Nietzsche, với hiện sinh Camus, và vân vân, và vân vân. Đủ thứ mà bây giờ tôi không thể nhớ hết. Cứ mở trang sách ra, là hơi lạnh của vũ trụ vô cùng vô tận lại toát ra từ các dòng chữ của anh. Bất kể lúc đó, tôi đang ngồi trong sân chùa Xá Lợi, hay vài tuần sau nữa tới la cà tại các quán cà phê trên đường Nguyễn Thiện Thuật, nơi đó có khi tôi ngồi ở quán cà phê Bình Minh và có khi bước sang kế cận ngồi ở quán Hoàng Hôn, và nơi đó cứ mỗi chiều trở về đêm là đèn đường hắt xuống màu vàng mờ nhạt làm tôi cứ ngỡ mình đang ngồi giữa Paris đọc sách.</p>
<p>Mới biết, văn chương mạnh như thế. Sau này, nhiều thập niên sau, khoảng đầu thập niên 1990, được cơ duyên gặp nhà thơ Phạm Công Thiện tại Quận Cam, California, tôi ngạc nhiên không hiểu vì sao thời mới lớn mình lại cứ hình dung anh ra một màu xanh. Nhớ lại mới ngạc nhiên. Đúng ra, nếu phải liên kết với màu sắc, nơi anh phải là một màu trắng. Tóc trắng một chòm, kính trắng dày cộm, đôi mắt cực kỳ ngây thơ, khuôn mặt bầu, lại thường mặc áo trắng hay màu sáng. Và toàn thân Phạm Công Thiện toát ra cả một màu trắng hồn nhiên, thơ ngây. Nhưng tới tuổi trung niên rồi, tôi không còn bận tâm chuyện màu sắc nữa, dù là người hay chữ, hay mực, hay giấy. Thêm nữa, khi đọc lại anh, tôi không còn nhiều rung động mạnh mẽ như thời mới lớn, dù là lòng tôn kính anh vẫn không mờ nhạt trong tôi.</p>
<p>Nếu phải giải thích, có lẽ cảm giác màu trắng sau này nhiều phần tôi có cũng từ một bài thơ của Phạm Công Thiện được nhạc sĩ Lê Uyên Phương phổ nhạc. Trong bài thơ, tôi nhớ có những câu dị thường như:</p>
<p><em>&#8230; Mười năm qua gió thổi đồi tây </em></p>
<p><em>Tôi long đong theo bóng chim gầy </em></p>
<p><em>Một sớm em về ru giấc ngủ </em></p>
<p><em>Bông trời bay trắng cả rừng cây&#8230; </em></p>
<p><em> </em>Và nhớ nhất là mấy chữ:</p>
<p><em>&#8230; Tôi đứng trên đồi mây trổ bông&#8230; </em></p>
<p>Thực sự, gọi Phạm Công Thiện bằng “anh” là điều không phải lẽ đối với tôi, trên nguyên tắc. Vì tôi đã từng trực tiếp nghe nhiều vị danh tăng gọi Phạm Công Thiện bằng danh xưng “thầy” rất là tôn kính, trong những vị gọi như thế có những thượng toạ hiện là tác giả và dịch giả nhiều sách về Phật học. Dễ hiểu, Phạm Công Thiện đã từng dạy ở Đại học Vạn Hạnh, nơi đào tạo nhiều thế hệ tăng ni và trí thức Phật giáo.</p>
<p>Đứng về mặt đời thường, lý ra tôi cũng phải gọi anh là thầy. Vì thực tế, Phạm Công Thiện còn là thầy của vợ tôi – nàng kể lại rằng trong thập niên 1980 vẫn thường mỗi tuần sang Chùa Liên Hoa, trên đường Bixby, thị xã Garden Grove, Quận Cam, để nghe thầy Thiện giảng Kinh Kim Cang.</p>
<p>“<em>Không hiểu gì cả, nhưng ông Phạm Công Thiện dạy hay hơn mấy thầy khác nhiều, kể cả mấy thầy ở Đại học Vạn Hạnh hồi xưa</em>.” Đó là lời nàng kể, khi còn nhắc là năm 1974, nàng đã từng học miệt mài ở Đại học Vạn Hạnh&#8230;</p>
<p>Tại sao không hiểu gì hết, mà lại thấy hay? Tôi nghĩ, chỉ có Kinh Phật và thơ mới hay như thế thôi.</p>
<p>Như thế, đúng ra tôi phải gọi nhà thơ Phạm Công Thiện bằng thầy. Nhưng cơ duyên lại là, lòng anh Thiện rất mực thoải mái, không nghi lễ. Và tôi lại là bạn thân của các nhà thơ Lê Giang Trần, Phạm Việt Cường&#8230; những người thân tình và thường uống rượu với anh. Nói là uống rượu nghe có vẻ trần gian lắm, nhưng phải nhìn thấy Phạm Công Thiện mới thấy là hoàn toàn không có gì gọi là trần gian nữa. Tất cả thế gian quanh anh đều thoạt hiện ra như thơ, như văn, như nhạc, như hoạ&#8230; Và cả đôi khi tôi ghé nhà Lê Giang Trần ở trong một khu mobile home chật chội, u tối, tại Santa Ana và gặp anh Phạm Công Thiện đang ngồi trong nhà Trần với chai rượu trên bàn. Tất cả thế gian đều như mộng, như huyễn, như sương rơi, như điện chớp&#8230; Sự hiện diện của anh Phạm Công Thiện như dường để nhắc tới tính vô thường đó.</p>
<p>Khi tôi tới Quận Cam năm 1990, anh Phạm Công Thiện đã tạm ngưng các lớp Phật học ở Chùa Liên Hoa mấy năm rồi, nhưng thỉnh thoảng tôi vẫn cơ may gặp nhà thơ dị thường này. Và nếu sau này có ai muốn biết về các chuyện đời thường của Phạm Công Thiện, tôi nghĩ rằng nhà thơ Lê Giang Trần có thể kể lại trên cả ngàn trang sách, vì cứ hễ anh Thiện về Quận Cam thì chỉ nghe về ở nhà Lê Giang Trần, một nhà thơ cũng thơ mộng lạ lùng và dị thường. Còn thì, khi nghe tin anh đi Úc, khi nghe nói anh lên ngụ ở chùa Diệu Pháp ở Los Angeles, và khi thì nghe đủ thứ địa danh trên địa cầu. Nói thế, không có nghĩa Trần là bạn đời thường của anh Thiện. Thực sự, nhà thơ Lê Giang Trần nhìn nhà thơ Phạm Công Thiện như một vị Bồ tát. Một hoá thân, không thể khác hơn được, trong mắt của Trần.</p>
<p>Người ta không thể hình dung hết những tôn kính mà nhiều người dành cho Phạm Công Thiện. Bất kể là anh đã từng sống rất đời thường, hệt như bao nhiêu người khác giữa phố chợ trần gian. Bất kể là anh cũng viết báo lung tung, cũng một thời tranh luận từ trước 1975 tại Sài Gòn, và rồi lại viết báo tranh luận tại Los Angeles thời 1980 sau này. Và bất kể là anh uống rượu cũng tưng bừng, cũng mấy lần vợ con, cũng thích hút thuốc lá, cũng nhiều thứ rất trần gian&#8230; Nên thấy, trong những người tôn kính Phạm Công Thiện có nhiều vị sư, có nhiều nhà thơ, và tôi tin là không thể đếm hết.</p>
<p>Không phải những người đó tôn kính Phạm Công Thiện chỉ vì anh từng là giáo sư Đại học Vạn Hạnh (nơi này có cả trăm giáo sư chứ), hay vì anh làm thơ hay (trước và sau anh cũng có nhiều nhà thơ xuất sắc chứ), hay vì anh đã hùng biện để bảo vệ Phật giáo (đâu có mấy ai nhớ anh đã gây lộn với ai, và về đề tài gì), hay vì anh có thể vừa mới rời một quán nhậu nơi đường Westminster là bước vào ngôi chùa đường Bixby giảng Kinh Kim Cang mà vẫn dạy hay hơn tất cả các ông sư trên đời này (có thể, nhưng chi tiết này cần phải kiểm chứng, vì các vị giảng sư chưa chắc đã đồng ý là có ai giảng Kinh này hay hơn họ), hay vì anh mỗi lần vào thư viện Mỹ là mượn ra cùng một lúc 30 cuốn về đọc tốc độ còn mau hơn các thiếu niên Sài Gòn đọc truyện võ hiệp Kim Dung (tôi tin có người còn đọc nhanh hơn), và vân vân&#8230;</p>
<p>Có thể vì vai trò của Phạm Công Thiện trong sự phát triển Phật giáo cũng lớn lao? Thực ra, có nhiều vị đã đóng góp cho Phật giáo nhiều hơn anh nhiều. Thí dụ, như cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám, HT Minh Châu, HT Trí Thủ, HT Thanh Từ, HT Nhất Hạnh, TT Tuệ Sỹ, GS Lê Mạnh Thát&#8230; Thực sự, Phạm Công Thiện không viết nhiều về Phật giáo.</p>
<p>Còn nói về các chức vụ chính thức thì Phạm Công Thiện cũng không hơn nhiều vị khác, dù anh từng là “<em>nguyên Giáo sư Triết học Tây phương Viện Đại học Toulouse, Pháp quốc, nguyên Giáo sư Phật giáo Viện College of Buddhist Studies, Los Angeles, Hoa Kỳ, nguyên Giám đốc soạn thảo tất cả chương trình giảng dạy cho tất cả phân khoa Viện Đại học Vạn Hạnh từ năm 1966-1968, nguyên khoa trưởng phân khoa Văn học và Khoa học Nhân văn của Viện Đại học Vạn Hạnh từ năm 1968-1970, sáng lập viên và nguyên chủ trương biên tập tạp chí Tư tưởng của Viện Đại học Vạn Hạnh, 1966-1970.”</em> (Theo phần chú thích trong bài “Hai vị thiền sư,” Phạm Công Thiện viết tại California ngày 18.10.1988 về TT Tuệ Sỹ và TT Trí Siêu, vị sau này thường dùng tên là GS Lê Mạnh Thát. Báo Nguồn Sống số 16-17, 1989, San Jose, California).</p>
<p>Vậy mà, cũng như nhà thơ Lê Giang Trần nói trên, tôi tin Phạm Công Thiện phải là một kiểu hoá thân Bồ tát. Nếu Tây Tạng có các hoá thân Đạt Lai Lạt Ma, Ban Thiền Lạt Ma, Karmapa, Rinpoche, vân vân&#8230; thì Việt Nam mình ngay trong thời này cũng có các hoá thân Bồ tát như các nhà thơ Tuệ Sỹ, Bùi Giáng, Phạm Công Thiện&#8230; Bạn không tin? Hãy hỏi các vị sư Sài Gòn ở thế hệ trung niên trở lên, như dường cũng có nhiều vị sư chia sẻ niềm tin như thế.</p>
<p>Còn nói theo kiểu bây giờ, thì Phạm Công Thiện đã xuất hiện trong Phật giáo một cách “rất là ấn tượng.” Chuyện Phạm Công Thiện trở thành nhà sư Thích Nguyên Tánh thì cũng có nhiều người biết, và vẫn được truyền tụng hoài. Nhưng nơi đây, để nghe tận nguồn, chúng ta hãy nghe nhà thơ Quách Tấn kể lại, trong “Hồi ký về thượng toạ Thích Trí Thủ”, khi giới thiệu anh Thiện với thượng toạ Trí Thủ (lúc giữ chức Giám viện Phật học Viện Hải Đức, nơi thi sĩ Quách Tấn dạy các tăng ni môn quốc văn), trích:</p>
<p>Khoảng đầu năm 1964, Phạm Công Thiện bị khủng hoảng tinh thần, ở Mỹ Tho ra Nha Trang an dưỡng. Lên chơi chùa Hải Đức, Thiện ước được sống trong cảnh u tịch trong ít lâu để lấy lại sức khỏe. Tôi liền đến xin thượng toạ, và tỏ thật rằng Thiện là một thiên tài và là người Cơ Đốc giáo, mọi người trong chùa tỏ ý không bằng lòng. Thượng toạ cười:</p>
<p>“Không hề gì, có bác Quách bảo đảm.”</p>
<p>Nhưng để “đề phòng”, thượng toạ cho dọn một căn phòng dưới xưởng làm hương để Thiện ở, trưa chiều lên chùa ăn cơm.</p>
<p>Được nơi ăn chốn ở vừa ý, Thiện bảo tôi:</p>
<p>“Để đền ơn ông, tôi xin hẹn trong sáu tháng sẽ đọc và hiểu được kinh chữ Hán.”</p>
<p>Tôi không dám tin, nhưng cũng không dám ngờ.</p>
<p>Ở Trại Thuỷ, cả ngày Thiện nằm đọc sách. Thỉnh thoảng tôi đến thăm Thiện và thượng toạ Trí Thủ. Một hôm thượng toạ bảo tôi:</p>
<p>“Anh chàng có đạo tâm.”</p>
<p>Tôi cười thầm trong bụng: “Đạo Thiên Chúa hay đạo Phật.”</p>
<p>Ba tháng sau, tôi lên Hải Đức, không thấy Thiện nơi xưởng hương. Hỏi người làm hương trong xưởng cho biết rằng thượng toạ Trí Thủ đem anh lên ở nơi cốc của thượng toạ hơn một tháng rồi.</p>
<p>Tôi bèn leo dốc lên cốc: một nhà sư trẻ đang ngồi xếp bằng ngay ngắn, mắt lim dim trên chiếc ghế dài nơi cốc. Nhìn kỹ thì là Phạm Công Thiện! Rõ là một nhà sư 100 phần trăm. Thiện ngồi yên, tôi lẳng lặng đi vào cốc. Thượng toạ Trí Thủ mừng rỡ, muốn gọi Thiện. Tôi “xin đừng”. Sau mấy câu thường lệ, thượng toạ nói:</p>
<p>“Thiện quy y với tôi rồi, tôi đặt cho pháp danh là Nguyên Tánh.&#8221;</p>
<p>Tôi không tỏ ý tán thành cũng không tỏ ý phản đối. Đối với Thiện quy y cũng thế mà không quy y vẫn thế.</p>
<p>Mấy tháng sau – tháng 9 năm 1964. Tôi lên Hải Đức một lần nữa. Cốc đóng — người trong chùa cho biết thượng toạ cùng Thiện vào Sài Gòn, còn lâu mới về. Tôi cảm thấy bùi ngùi như nhớ nhung, như thương tiếc.</p>
<p>Tôi ngẫu chiếm một tuyệt:</p>
<p><em>Lịu địu </em></p>
<p><em>Áo giũ ngày sương gió </em></p>
<p><em>Lên chùa thăm cố nhân </em></p>
<p><em>Non nghiêng thềm nắng xế </em></p>
<p><em>Lịu địu bóng nhàn vân. </em></p>
<p>Sau nghe tin Thiện dạy học ở Đại học Vạn Hạnh, rồi đi Mỹ, đi Pháp. Còn thượng toạ Thích Trí Thủ thì trụ trì chùa Già Lam, rồi được phong hoà thượng, thỉnh thoảng mới về Nha Trang thăm chùa cũ và nghỉ ngơi. Thiện thì từ ngày từ giã Nha Trang, tôi không còn gặp lại&#8230;”</p>
<p>Bây giờ Phạm Công Thiện không viết nhiều như ngày xưa nữa. Những cuốn sách gần đây đa số là viết về Phật A Di Đà và Bồ tát Quan Thế Âm. Từ lâu, anh cũng không làm thơ nhiều nữa. Những tác phẩm thời trẻ của anh, khoảng hơn hai mươi cuốn, còn được quần chúng nhớ đặc biệt là vài cuốn, như: <em>Tiểu luận về Bồ Đề Đạt Ma, Tổ sư Thiền tông</em> (1964), <em>Ý thức mới trong văn nghệ và triết học</em> (1965), <em>Ngày sanh của rắn</em> (1967)&#8230; Cuốn được nhớ tên nhất tại hải ngoại của Phạm Công Thiện, có lẽ là cuốn <em>Đi cho hết một đêm hoang vu trên mặt đất</em> (1988)&#8230;</p>
<p>Nhưng đêm hoang vu của anh vẫn chưa hết, cho nên vẫn thấy anh đi liên tục. Để theo dõi bước đi một đoạn đời của anh, hãy trích một chút sau đây từ cuốn <em>Những Bước Chân Nhẹ Nhàng Trở Về Sự Im Lặng</em> của Phạm Công Thiện, xuất bản 1994 tại Los Angeles, từ Lời nói đầu:</p>
<p>“<em>Quyển sách này được viết chậm rãi thong dong từ trên 10 năm nay, từ năm 1983 tại Los Angeles và tại những vùng phụ cận Los Angeles, California, Hoa Kỳ. Từ năm 1970 cho đến 1983, tôi đã sống ở Do Thái, rồi ở Đức quốc và ở lâu dài tại Pháp quốc; đến năm 1983, qua một cơn chuyển động toàn diện của tâm thức viễn ly, tôi đã trở lại Hoa Kỳ, trở lại thành phố Los Angeles sau một thời gian xa vắng gần 20 năm; từ năm 1983 cho đến năm 1994, trên 11 năm nay, lại qua nhiều cơn chuyển động toàn diện liên tục của tâm thức viễn ly, tôi vẫn tiếp tục sống ở thành phố Los Angeles; sau vài chuyến lui về vùng đồi núi im lặng ở Úc châu, tôi vẫn trở lại thành phố Los Angeles như trở về tập sống hồn nhiên tự tại với những cơn động đất thường xuyên của đời mình</em>&#8230;”</p>
<p>Bây giờ Phạm Công Thiện vẫn còn đi. Và đôi khi vẫn còn viết – như một nghiệp tiền định của anh.</p>
<p>Nếu bạn nhớ rằng Phạm Công Thiện sinh năm 1941 thì mới kinh ngạc, khi biết rằng anh in cuốn Tiểu luận về Bồ Đề Đạt Ma năm 1964, nghĩa là khi mới 23 tuổi. Nơi đây, chúng ta không nói chuyện cuốn sách anh viết đã có giúp gì cho ai về mặt giác ngộ hay không (chuyện này, khó có thước đo), nhưng chỉ nói về đề tài để khảo sát, suy nghĩ và viết xuống thì đã là một điều hết sức dị thường. Tôi từng đọc rằng khi anh còn ở tuổi vị thành niên, anh đã soạn một cuốn Tự điển Anh ngữ tinh âm, nhưng vì tôi chưa bao giờ đọc cuốn này cho nên không dám bàn. Nhưng ở tuổi 23, mà anh viết sách Thiền tông thì phải có một tâm hồn rất mực thơ mộng, một khát khao trí tuệ rất mực mãnh liệt, dù là, đối với Thiền tông, đúng hay sai và mê hay ngộ cũng là chuyện rất mực khó dò&#8230;</p>
<p>Nhưng vì sao một người đời thường lại được cả các tăng ni tôn kính? Mà người đời thường này, anh Phạm Công Thiện, lại không hề biết cách kiếm tiền&#8230; Tôi nghĩ, nhiều phần là trong các kiếp trước, Phạm Công Thiện đã từng là thầy, từng là bậc tôn túc của các vị tăng ni kia, và của nhiều cư sĩ đời thường như tôi&#8230;</p>
<p>Và tôi tin rằng, khi Thiền sư Thi sĩ Phạm Công Thiện từ trần, chắc chắn sẽ có rất nhiều người gọi anh là Bồ tát, một danh hiệu rất mực tôn kính trong nhà Phật, chỉ đứng sau danh hiệu Đức Phật. Tại sao như thế&#8221; Tôi không thể trả lời chính xác. Nhưng nhà thơ Bùi Giáng đã được tôn xưng là Bồ tát, và tôi tin, chắc chắn rằng Phạm Công Thiện cũng sẽ được tôn xưng như thế. Thêm nữa, Kinh Pháp Hoa cũng viết rằng tất cả mọi người đều là Phật – và bây giờ nhiều người trong chúng ta đã quen thuộc với cách Phật giáo Tây Tạng gọi ngài Đạt Lai Lạt Ma là Bồ tát Quan Thế Âm, gọi ngài Ban Thiền Lạt Ma là Phật A Di Đà hoá thân&#8230;</p>
<p>Để trả lời cho bớt vẻ thần bí hơn, có lẽ nên nói rằng nhà thơ Phạm Công Thiện đã đánh thức được nơi rất nhiều người niềm say đắm với cuộc đời. Bất kể là nhân loại thường trực đối diện với biết bao nhiêu là hố thẳm và hoang vu, chính niềm say đắm này đã và đang dẫn chúng ta đi qua biết bao nhiêu là ngọn đồi mây trắng&#8230;</p>
<p><strong>Nguyên Giác Phan Tấn Hải</strong></p>
<p><em>(Trích trong tập bản thảo chưa xuất bản “Khoảnh Khắc Chiêm Bao” với tấm lòng trân trọng tất cả những người đã đem chữ nghĩa, âm nhạc, hội họa để làm đẹp hơn cho cuộc đời, cùng lúc là để làm sáng tỏ ý nghĩa Phật pháp – Lời Thưa).</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2021</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/phan-tan-hai-nghi-ve-nha-tho-pham-cong-thien/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>

<!--
Performance optimized by W3 Total Cache. Learn more: https://www.boldgrid.com/w3-total-cache/?utm_source=w3tc&utm_medium=footer_comment&utm_campaign=free_plugin

Page Caching using Disk: Enhanced 

Served from: t-van.net @ 2026-06-16 02:52:04 by W3 Total Cache
-->