<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>cái chết &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<atom:link href="https://t-van.net/tag/cai-ch%e1%ba%bft/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://t-van.net</link>
	<description>Văn Học và Đời Sống</description>
	<lastBuildDate>Wed, 15 Apr 2026 12:19:58 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.7.5</generator>

<image>
	<url>https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/02/t-van-favicon.png?strip=all&#038;resize=32%2C32</url>
	<title>cái chết &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<link>https://t-van.net</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>T.Vấn: Giọt lệ cho sự bất trắc của đời sống</title>
		<link>https://t-van.net/t-v%e1%ba%a5n-gi%e1%bb%8dt-l%e1%bb%87-cho-s%e1%bb%b1-b%e1%ba%a5t-tr%e1%ba%afc-c%e1%bb%a7a-d%e1%bb%9di-s%e1%bb%91ng/</link>
					<comments>https://t-van.net/t-v%e1%ba%a5n-gi%e1%bb%8dt-l%e1%bb%87-cho-s%e1%bb%b1-b%e1%ba%a5t-tr%e1%ba%afc-c%e1%bb%a7a-d%e1%bb%9di-s%e1%bb%91ng/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[T.Vấn]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 30 Jul 2011 23:39:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Ghi Chép]]></category>
		<category><![CDATA[cái chết]]></category>
		<category><![CDATA[thảm kịch]]></category>
		<category><![CDATA[thân phận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=2669</guid>

					<description><![CDATA[Hôm thứ sáu 29 tháng 7 năm 2011 vừa rồi, một tuần lễ sau cuộc thảm sát vô nghĩa vô lý ở Oslo, Norway, 77 nạn nhân đã được đưa đến nơi an nghỉ cuối cùng. Như vậy là người chết đã được chôn cất. Nhưng sau khi lớp đất cuối cùng và những giọt [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image002198.jpg"><img decoding="async" style="background-image: none; margin: 0px 20px 10px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; float: left; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image002_thumb128.jpg?strip=all&fit=240%2C160" alt="clip_image002" width="240" height="160" align="left" border="0" /></a></p>
<p>Hôm thứ sáu 29 tháng 7 năm 2011 vừa rồi, một tuần lễ sau cuộc thảm sát vô nghĩa vô lý ở Oslo, Norway, 77 nạn nhân đã được đưa đến nơi an nghỉ cuối cùng.</p>
<p>Như vậy là người chết đã được chôn cất. Nhưng sau khi lớp đất cuối cùng và những giọt nước mắt phủ đầy nấm mộ người chết, liệu những nỗi đau có được chôn cất? Liệu những tra vấn về sự bất trắc của đời sống có chịu tạm nằm yên, không ray rứt tâm tư người còn sống? Người sống ấy có thể là thân nhân họ hàng của 77 nạn nhân đã chết, hay người sống ấy là những người tận mắt chứng kiến cuộc thảm sát, hay người sống ấy là hàng tỉ con người ở khắp nơi trên thế giới, đọc cái tin về hành động điên cuồng của một kẻ cực đoan mà bỗng rùng mình vì sự mong manh của kiếp người, vì khả năng hủy diệt của những thế lực độc ác trong thời đại này bỗng trở nên to lớn và đáng sợ hơn bao giờ hết trong lịch sử nhân lọai.</p>
<p>Điều đáng sợ nhất ở hành động của anh thanh niên người Norway 32 tuổi này là thái độ của anh ta sau khi đã lạnh lùng xả súng giết người, trẻ già trai gái không phân biệt, có nghĩa là bất cứ ai ở trong tầm mắt. Kẻ sát nhân thú nhận rằng “<i>hành động giết người này quá đáng thật, nhưng là sự quá đáng cần thiết phải được làm&#8221;</i>. Ý anh ta muốn nói, đó là cách anh ta truyền đạt thông điệp của mình đến xã hội.</p>
<p><b>Thông điệp của Anders Behring Breivik – kẻ sát nhân vô cảm – là gì?</b></p>
<p>Bản “tuyên ngôn&#8221; dầy hơn 1500 trang mà kẻ sát nhân đã gởi qua e-mail đến hàng trăm người trước khi ra tay mở màn cuộc thảm sát, tiết lộ rằng anh ta muốn phát động cuộc cách mạng xã hội chống lại một châu Âu đã bị ô nhiễm vì những làn sóng người di dân gốc Hồi giáo tràn vào và chính sách mở cửa, khoan nhượng của các chính quyền châu Âu, nhất là chính quyền Oslo nằm trong tay đảng Lao Động hiện nay. Vì vậy, mà anh ta đặt xe bom ở khu vực các trụ sở chính quyền thuộc thành phố Oslo, làm 8 người chết và nhiều tòa nhà hư hại. Và chỉ hai tiếng đồng hồ sau khi quả bom phát nổ, giả dạng như một viên cảnh sát, kẻ sát nhân đã tấn công một trại hội thảo chính trị dành cho thanh niên ở một hòn đảo bên ngòai thành phố, giết chết thêm 69 nạn nhân, phần lớn đều là những người trẻ tuổi, thuộc nhiều sắc tộc, tôn giáo, thành phần xã hội khác nhau.</p>
<p>Trong các xã hội dân chủ, người ta có rất nhiều phương tiện khác nhau và được quyền tự do nói lên quan điểm của mình về tất cả mọi vấn đề mà người ta quan tâm. Nhưng, dùng những phương cách đầy bạo lực và tội ác như thế này để phát biểu quan điểm của mình thì qủa thật . . . điên cuồng, bệnh họan.</p>
<p><i>“ . . . Thời nào cũng có những người điên, những kẻ sát nhân. Nhưng người điên, kẻ sát nhân trong thời đại kỹ thuật tuyệt đỉnh này đã là mối đe dọa lớn nhất, khó tiên đóan nhất và hậu quả sự điên khùng của họ khó lường nhất&#8221;.</i></p>
<p>Thế giới này có quá nhiều những người điên. Người điên nhân danh một đất nước như vị tổng thống Iran Mahmoud Ahmadinejad, thay vì ưu tiên cho các vấn đề dân sinh trong nước, lại dồn nỗ lực vào việc thách đố cả thế giới bằng cách thử nghiệm việc chế tạo bom nguyên tử, để mặc cho nhân dân đói rách, bệnh tật. Người điên nhân danh một niềm tin tôn giáo như ở Iraq, lấy sự bất an, chết chóc, khủng bố người khác làm thành tích để cho linh hồn mình được sống bình an đời đời . . .” (trích: <a href="https://t-van.net/?p=808">Thời của những kẻ sát nhân. T.Vấn</a>).</p>
<p>Nay chúng ta có thêm người điên ở Oslo, mới 32 tuổi, nhân danh một trật tự xã hội mới, để sẵn sàng xả súng giết người mà không hề ân hận.</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image00670.jpg"><img fetchpriority="high" decoding="async" style="background-image: none; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image006" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image006_thumb40.jpg?strip=all&fit=420%2C285" alt="clip_image006" width="420" height="285" border="0" /></a></p>
<p>Tất cả những gì mang bản chất “cực đoan&#8221; đều là mầm mống của những tai họa. Thế giới đã chứng kiến bao tội ác khó tha thứ của những tín đồ “Hồi giáo Cực Đoan&#8221;. Và bây giờ, gần 100 người dân hiền hòa vô tội lại trở thành nạn nhân của tên “chống Hồi giáo Cực Đoan&#8221;. Dùng “cực&#8221; này để chống lại “cực&#8221; kia, liệu có thể là giải phảp giúp giải quyết được vấn đề, hay chỉ làm cho mọi sự trở nên rối tinh rối mù hơn?</p>
<p>Sau mỗi một tội ác xẩy ra, cái nghịch lý là kẻ gây tội ác lại được dư luận quan tâm nhiều hơn là chính nạn nhân của hắn. Sự sống bỗng nhiên bị tước đọat, tiếng kêu than được cất lên, nấm mồ được vùi lấp. Rồi thôi. Nỗi đau bây giờ đã thuộc về quá khứ với xã hội. Còn kẻ gây tội ác, vì hắn vẫn hiện hữu – dù hiện hữu trong những nhà tù kiên cố &#8211; hắn vẫn được coi là có mặt trong cuộc sống bất trắc này. Và cũng mỉa mai hơn nữa, sự bất trắc ấy có phần tiếp tay của hắn làm cho tính bi kịch trở nên thêm trầm trọng.</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image00840.jpg"><img decoding="async" style="background-image: none; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image008" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image008_thumb22.jpg?strip=all&fit=435%2C245" alt="clip_image008" width="435" height="245" border="0" /></a></p>
<p>Chúng ta đã nhiều lần nhỏ nước mắt khóc cho những cuộc đời bỗng dưng bị tước đọat, nhất là những cuộc đời non trẻ đang chuẩn bị tạo dựng tương lai cho mình, góp phần làm giàu có, làm đẹp đẽ thêm xã hội. Sau khi những nạn nhân mới nhất của bạo lực thế kỷ được chôn cất, đôi mắt ướt lệ có thể đã tạm được lau khô, nhưng không có nghĩa đây là lần nhỏ lệ cuối cùng của nhân lọai cho sự bất trắc của đời sống. Đáng sợ hơn nữa, ai là người có thể an tâm rằng, mình (hay những người thân yêu của mình) sẽ không phải là nạn nhân của tội ác kế tiếp?</p>
<p>Mặt đất này bao la, nhưng đâu là chỗ an lành để cho chúng ta ẩn trốn?</p>
<p><strong>T.Vấn</strong></p>
<p>30 tháng 7 năm 2011</p>
<p>©T.Vấn 2011</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/t-v%e1%ba%a5n-gi%e1%bb%8dt-l%e1%bb%87-cho-s%e1%bb%b1-b%e1%ba%a5t-tr%e1%ba%afc-c%e1%bb%a7a-d%e1%bb%9di-s%e1%bb%91ng/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang qua đời</title>
		<link>https://t-van.net/nh%e1%ba%a1c-si-nguy%e1%bb%85n-d%e1%bb%a9c-quang-qua-d%e1%bb%9di/</link>
					<comments>https://t-van.net/nh%e1%ba%a1c-si-nguy%e1%bb%85n-d%e1%bb%a9c-quang-qua-d%e1%bb%9di/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lưu Na]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 28 Mar 2011 20:11:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Ghi Chép]]></category>
		<category><![CDATA[cái chết]]></category>
		<category><![CDATA[con người]]></category>
		<category><![CDATA[giới thiệu]]></category>
		<category><![CDATA[nhạc sĩ]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/testsite/wordpress/?p=2119</guid>

					<description><![CDATA[Khỏanh khắc này đây đầu óc tôi mụ mẫm, chẳng nghĩ được gì, chẳng viết được gì, chẳng muốn làm gì. Thấp thóang xa xa, giữa bầu trời u ám của mùa đông xứ người, tôi chỉ thấy ẩn hiện một đích đến. Của tôi, của các bạn bè tôi, của một thế hệ sắp [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image002165.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; margin: 0px 20px 10px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; float: left; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image002_thumb100.jpg?strip=all&fit=160%2C240" alt="clip_image002" width="160" height="240" align="left" border="0" hspace="12" /></a><strong></strong></p>
<p>Khỏanh khắc này đây đầu óc tôi mụ mẫm, chẳng nghĩ được gì, chẳng viết được gì, chẳng muốn làm gì. Thấp thóang xa xa, giữa bầu trời u ám của mùa đông xứ người, tôi chỉ thấy ẩn hiện một đích đến. Của tôi, của các bạn bè tôi, của một thế hệ sắp đi vào bóng tối của vực thẳm không cùng. Và xa hơn nữa , phía <em>Bên kia sông . Là ánh mặt trời</em>.</p>
<p><em>Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, sau một căn bịnh hiểm nghèo kéo dài hơn tháng qua, đã qua đời lúc 4 giờ sáng hôm nay </em><em>– Chủ Nhật 27 tháng 3 năm 2011 &#8211;</em><em>tại California. </em><em></em></p>
<p><em>Nhạc sĩ tên thật Nguyễn đức Quang, sinh năm 1944 tại Sơn Tây.<br />
Theo gia đình vào Nam năm 1954.<br />
Sinh sống tại Ðà Lạt từ năm 1958.<br />
Tốt nghiệp đại học Ðà Lạt phân khoa Chính Trị Kinh Doanh khóa 1.<br />
Bắt đầu sáng tác nhạc năm 1961. Ca khúc đầu tay dành cho Hướng đạo với tên Gươm Thiêng Hào Kiệt.<br />
Sau biến chuyển chính trị lớn ở miền Nam năm 63, bắt đầu cảm hứng về nhạc Thanh niên và những vấn đề đất nước.<br />
Năm 1964, chuyển qua hẳn những ca khúc có chủ đề Tuổi trẻ, Quê hương, Dân tộc, xây dựng những đề tài mới cho tập Trầm Ca, hát nhạc tranh đấu xã hội và nhạc sinh hoạt thanh niên và thành lập Phong Trào Du Ca Việt Nam năm 1966 .<br />
Năm 1979 cùng gia đình đến Hoa Kỳ, hoạt động liên tục trong nghành truyền thông tại hải ngoại. </em></p>
<p><strong><em>Mục Lục Những Ca Khúc Tiêu Biểu:</em></strong><em></em></p>
<p><em>Măi đến sau 1965, một số những bài hát của Nguyễn Đức Quang mới xuất hiện rải rác trên một số ấn phẩm sách, báo và vài tuyển tập sơ sài do Tình hình thiếu thốn phương tiện và điều kiện lúc bấy giờ, người ta đã thấy có các tập nhạc in bằng ronéo như : Trầm ca, Những bài Ca Khai Phá, Ruồi và Kên Kên, Thỏ Thẻ Loan Phòng v..v.</em></p>
<p><em>Năm 1995, Ngô Mạnh Thu và Nguyễn Thiện Cơ trong nhóm Đồng Vọng thu gom lại hầu hết bả nhạc trong các tập nhạc chính và ấn hành tuyển tập Dưới Ánh Mặt trời gồm 69 bài. Duới đây là những nét chính và 9 tập nhạc đã được tác giả hình thành trên suốt quãng đường sinh hoạt và sáng tác của anh. ( Trích trong &#8221; về những ca khúc Nguyễn Đức Quang đă viết&#8221; trong tuyển tập &#8220;Dưới Ánh Mặt Trời&#8221; )</em></p>
<p><strong><em>Ấn Phẩm Đã Phát Hành:</em></strong><em><br />
<strong>1.- Chuyện Chúng Mình :</strong><br />
52 ca khúc, viết từ 1960 đến 1964,thời kỳ đầu sáng tác,<br />
hầu hết là các khúc tình ca tuổi học trò và thời gian sinh sống tại Đà lạt . Một số bài như : Chuyện Người Con Gái , Khôn Hồn Có Cánh Thì Bay, Trẫm Nhớ Ái Khanh Không ( phổ thơ Nhất Tuấn) , Lửa Từ Bi ( Thơ Vũ Hoàng Chương).</em></p>
<p><strong><em>2.-Trầm Ca:</em></strong><em><br />
10 ca khúc cho thanh niên và thời cuộc, những thao thức lớn nhất về con người, đất nước.<br />
Những ca khúc này tạo nên cả một cao trào tuổi trẻ nhập cuộc vào các sinh hoạt.<br />
Nỗi Buồn Nhược Tiểu, Người Anh Vĩnh Bình, Tiếng Hát Tự Do, Chiều Qua Tuy Hòa, Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ<br />
là dấu ấn chưa phai mờ trong nhiều thế hệ thanh niên Việt Nam từ đó đến nay.</em></p>
<p><strong><em>3.- Những Bài Ca Khai Phá :</em></strong><em><br />
trên 40 ca khúc sinh hoạt đặc biệt cho tuổi trẻ , sinh viên, học sinh<br />
dùng trong các buổi họp mặt công tác xã hội,<br />
các hoạt động đám đông, là tiếng kêu gọi tuổi trẻ đến với nhau cùng xây dựng một đất nước và niềm tin :<br />
Không Phải Là Lúc , Về Với Mẹ Cha, Đưới Ánh Mặt Trời, Chuyện Quê Ta, Hy Vọng Đã Vươn Lên, Một Giấc Chiêm Bao, Về Miền Gian Nan v..v..<br />
Khởi động phong trào hát cộng đồng , hát chung khắp mọi nơi,<br />
sau này được lan truyền sang nhiều địa hạt và nhiều giới khác,<br />
kể cả tôn giáo .<br />
Du Ca trở thành hình ảnh mẫu mực con người xã hội mới, đi vào phim ảnh Xin Nhận Nơi Này Làm Quê Hương.</em></p>
<p><strong><em>4.-Cần Nhau:</em></strong><em><br />
12 tình khúc được biết đến nhiều với :<br />
Bên Kia Sông, Vì ́ Tôi Là Linh Mục, Cần Nhau, Như Mây Trên Cao, Vỗ Cánh Chim Bay ..</em></p>
<p><strong><em>5.- Thỏ Thẻ Loan Phòng (hay Lời Nguyện Cầu Hạnh Phúc):</em></strong><em><br />
18 bài sinh hoạt trong ngày hạnh phúc lứa đôi, hình thành 1969 ,<br />
nhiều bài hì́nh như đă thành nếp trong các đám cưới như:<br />
Lời Nguyện Cầu Hạnh Phúc, Đám Cưới Chúng Mình,<br />
Lũ Chén Diã Có Tội Tì́nh Gì, Đường Đến Hạnh Phúc .</em></p>
<p><strong><em>6.- Khúc Nhạc Thanh Xuân:</em></strong><em><br />
Khoảng 40 bài nhạc sinh hoạt thanh niên quốc tế.<br />
Nhiều nhất là các ca khúc trong thời lập quốc Do Thái, phong trào Kibbuz,<br />
những bài hát nhân quyền, tự do từ Âu sang Á và Mỹ như:<br />
Về Miền Gian Nan, Bài Ca Hải Tặc , Quân Đoàn Thức Tỉnh, Không Ai Là Hoang Đảo …<br />
được chuyển qua lời Việt để sử dụng trong nhiều sinh hoạt tuổi trẻ.</em></p>
<p><strong><em>7.- Hương Đồng Quê:</em></strong><em><br />
Các khúc Dân Ca và nhạc đồng quê nổi tiếng trên thế giới<br />
chuyển dịch sang lời Việt,<br />
gần 200 bài như Bài Ca Sông Hồng, Những Bụi Hoa Dại, Em Yêu Dấu Hỡi, Bên Bờ Sông Ohio, Tâm Sự Chú Lừa …<br />
hầu hết bị thất lạc năm 1975.</em></p>
<p><strong><em>8.-Phúc Ca Mùa Lễ:</em></strong><em><br />
25 bài đồng dao quốc tế hát trong mùa Gíáng sinh như : Jingle Bells, The Christmas Tree, Silent Night…<br />
được coi là những khúc hát vui trong mùa an bình của nhân loại.</em></p>
<p><strong><em>9.-Ruồi Và Kên Kê:</em></strong><em><br />
Hoàn tất năm 1970, gồm 11 bài,<br />
là những ca khúc bi phẫn về những vấn đề lớn nhất<br />
trong một khung cảnh chính trị và xă hội đen tối nhất của cả 2 miền đất nước:<br />
Im Lặng Là Ðồng Lõa, Ruồi Và Kên Kên, Bọn Lái Buôn Ở Khắp Nơi, Phòng Thí Nghiệm Công Cộng, Vụ Án Cuối Cùng…<br />
Những ca khúc này vẫn được yêu chuộng cho đến nay.</em></p>
<p><strong><em>10.-Dưới Ánh Mặt Trời:</em></strong><em><br />
gỗm những sáng tác trong tập<br />
Trầm Ca, Những Bài Ca Khai Phá, Ruồi và Kên Kên, Chuyện Chúng Mình,<br />
Cần Nhau, Khúc Nhạc Thanh Xuân, Lời Nguyện Cầu Hạnh Phúc….<br />
Bìa: Nguyễn Ðồng, Nguyễn Thị Hợp<br />
Hý họa : Tạ Tỵ, Chóe, Hiếu Ðệ<br />
Chân dung: Lê Phúc<br />
Kẻ nhạc: Phạm Xuân Ðài<br />
Trình bày: Nguyễn Thiện Cơ, Ngô Mạnh Thu<br />
Hình ảnh sưu tập: Trần Ðại Lộc<br />
Hình bìa: Hồ Ðăng<br />
Xuất bản Ðồng Vọng 1997 tại Cali- USA </em><em></em></p>
<p><em>( Theo Người Việt Boston )</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Ngay buổi tối hôm Chủ Nhật, tôi nhận được bài viết ngắn dưới đây của người bạn trẻ Lưu Na gởi đi từ California cùng những hình ảnh cuối cùng của Nguyễn Đức Quang trước khi anh vào bệnh viện.</p>
<p>Kiếp nhân sinh có sinh có diệt. Ai cũng biết điều đó nhưng sao vẫn thấy hụt hẫng, bàng hòang khi nghe tin một con người vừa lìa bỏ mặt đất.</p>
<p>Khỏanh khắc này đây đầu óc tôi mụ mẫm, chẳng nghĩ được gì, chẳng viết được gì, chẳng muốn làm gì. Thấp thóang xa xa, giữa bầu trời u ám của mùa đông xứ người, tôi chỉ thấy ẩn hiện một đích đến. Của tôi, của các bạn bè tôi, của một thế hệ sắp đi vào bóng tối của vực thẳm không cùng. Và xa hơn nữa , phía <em>Bên kia sông . Là ánh mặt trời</em>.</p>
<p>Cám ơn Lưu Na, người bạn trẻ lúc nào cũng rất nhậy bén với nỗi buồn của thế hệ đi trước.</p>
<p>T.Vấn</p>
<p><em><span style="font-size: large;">ANH ĐÃ LẶNG IM</span></em></p>
<p><em><span style="font-size: small;"><strong>Lưu Na</strong></span></em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em>Đã 8:30 tối, nhưng hôm nay phá lệ 4 giờ chiều, tôi qua ngồi cùng Áo mơ phai. Dưới ánh đèn vàng, Áo mơ phai, Hồng Ngọc (cô Toàn), Vạn ngày sầu (chuyên hát đời là vạn ngày sầu…), Thư, và tôi, quây quần xem lại chương trình hát cho Nguyễn đức Quang ở nhà hàng Emerald Bay lúc chiều. Chúng tôi mỗi người mắc một chuyện gì đó, và mỗi người nghe tin dữ đang lúc làm một cái gì đó, bây giờ cuối một ngày mới có dịp ngồi bên nhau tưởng nghĩ đến một người bạn, khá là thân với gia đình N.Đ.Toàn và mới quen biết với tôi, với Vạn ngày sầu. Một nửa chung rượu và một làn khói tỏa, chúng tôi cười bên nhau và dấu lẫn nhau một nỗi ngậm ngùi.</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em>Mới 2 tháng trước khi Về đây nghe em sang Mỹ chơi, chúng tôi cà kê ở Lyly café với nhà thơ trẻ Nguyễn phan nhật Nam, vợ chồng Trần quang Lộc… Áo mơ phai nói, này trình diện đi chứ. NĐQuang: thì đương nhiên là hát cho Lộc rồi. Không, tôi nói trình diện, không phải trình diễn. Cười cười. Du ca không nói, chỉ cười cười. Tôi méo mó nghề nghiệp mang máy ra chụp lia lịa. Có bức hình nghịch ngợm chỉ có 3 đôi chân với giầy, ông Toàn nói đôi giầy nào đẹp nhất chính là chân của Du ca_nó (!) đang yêu. Được một bức vừa mắt, Du ca hả hê: như vầy là đủ kiếm chác (?) rồi.</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image00477.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image004" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image004_thumb40.jpg?strip=all&fit=236%2C354" alt="clip_image004" width="236" height="354" border="0" hspace="12" /></a><em></em></p>
<p><em>Hôm đó, buổi hát cho Trần quang Lộc (Jan 27,2011), Du ca đã hòa cùng anh em, trong tiếng đàn thùng, cất tiếng hát vỡ phổi của một thời du ca mà hát, hát vang cho bạn, và có lẽ hát riêng cho mình, cho một tình yêu vừa chớm… Có biết đâu, đó là lần cuối tôi được thấy Du ca hát, tôi được nghe những dòng nhạc cuối của một người hát triền miên, cho quê hương cho tuổi trẻ cho tình yêu. Du ca, một đời quên lãng trong tiếng đàn thùng bập bùng cũng đủ lãng quên đời, đã ra đi. Những đứa trẻ lớn lên trong chiến tranh như chúng tôi, có lẽ đứa nào cũng biết hát bài Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ. Hôm nay nghe lại bài hát do ban Ngàn Khơi trình diễn cùng dàn nhạc Orchestra, tôi buồn. Tôi nhớ những buổi dợt nhóm bài Chiều qua Tuy Hòa. Tôi nhớ buổi ca hát cuối tháng Mười 2010 do Du ca tổ chức với rất nhiều giọng hát trẻ và hay về góp tiếng. Buổi đó, đứng trên sân khấu đồng ca ngó xuống còn thấy Lính tháng Ba vóc siêu siêu đi hết nổi vẫn đến ngồi xem Du ca hát… Tôi nhớ buổi Văn nghệ cuối năm, Trần quang Lộc còn cười toác hoác ghẹo Du ca… Không chỉ những người của một thời du ca hưng ca hướng đạo tuổi trẻ là thương tiếc Nguyễn đức Quang. Chúng tôi, những đứa trẻ lớn lên trong chiến tranh cũng nợ chữ của những người viết, nợ nhạc của những nhạc sĩ như anh vì khi hát to giọng lên thấy mình yêu quê hương tha thiết, thấy hãnh diện cho một tuổi trẻ dại khờ mà vẫn dấn thân. Cái đẹp của du ca, của hưng ca là cái đẹp mộc mạc, ấm áp như tiếng đàn thùng. Lãn mạn, là tình yêu trong lẽ hiến dâng. Tiếng hát cuối cùng cho bè bạn cho tình người đã được cất lên. Dòng nhạc cuối cùng cho tình yêu đã được chia xẻ. Vĩnh biệt Du ca. Anh Quang, bên kia sông là ánh mặt trời…, mong anh thấy ánh mặt trời.</em><em></em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image00649.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image006" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image006_thumb23.jpg?strip=all&fit=402%2C270" alt="clip_image006" width="402" height="270" border="0" /></a></p>
<p><strong><em>Nguyễn Đình Tòan, Chị Trần Quang Lộc, Chị Nguyễn Đình Tòan, Nguyễn Phan Nhật Nam, Trần Quang Lộc và Nguyễn Đức Quang.</em></strong></p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image00825.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image008" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image008_thumb9.jpg?strip=all&fit=235%2C359" alt="clip_image008" width="235" height="359" border="0" /></a></p>
<p><strong><em>Nguyễn Đức Quang và Lê Uyên</em></strong></p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image01014.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image010" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image010_thumb3.jpg?strip=all&fit=383%2C257" alt="clip_image010" width="383" height="257" border="0" /></a></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/nh%e1%ba%a1c-si-nguy%e1%bb%85n-d%e1%bb%a9c-quang-qua-d%e1%bb%9di/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>T.Vấn: Nhớ đứng chờ ta ở c&#245;i si&#234;u *</title>
		<link>https://t-van.net/nh%e1%bb%9b-d%e1%bb%a9ng-ch%e1%bb%9d-ta-%e1%bb%9f-ci-siu/</link>
					<comments>https://t-van.net/nh%e1%bb%9b-d%e1%bb%a9ng-ch%e1%bb%9d-ta-%e1%bb%9f-ci-siu/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[T.Vấn]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 26 Mar 2011 02:07:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[cái chết]]></category>
		<category><![CDATA[con người]]></category>
		<category><![CDATA[giới thiệu]]></category>
		<category><![CDATA[phạm công thiện]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/testsite/wordpress/?p=1984</guid>

					<description><![CDATA[1. Mẩu tin trên mạng một buổi sáng lang thang đã đem đến cho tôi nỗi ngậm ngùi. Người mà tôi mơ ước được một lần gặp gỡ để &#8220;thanh tóan cho xong cái quá khứ đã chấp trong tôi &#8221; bằng cách bắt chước chính ông &#8220;Phùng Phật sát Phật. Phùng Miller sát Miller&#8221;, [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://1.bp.blogspot.com/-tY35oYA3mzo/TXihlkVkFEI/AAAAAAAABSY/DJRR5RXy3IU/s1600/phamconthienmed.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; margin: 0px 20px 10px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; float: left; padding-top: 0px; border-width: 0px;" title="clip_image001" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image00180.jpg?strip=all&fit=197%2C240" alt="clip_image001" width="197" height="240" align="left" border="0" /></a></p>
<p><strong>1.</strong></p>
<p>Mẩu tin trên mạng một buổi sáng lang thang đã đem đến cho tôi nỗi ngậm ngùi. Người mà tôi mơ ước được một lần gặp gỡ để &#8220;<em><a href="http://www.voanews.com/vietnamese/blogs/hoang/mat-troi-khong-co-thuc-12-29-2010-112619654.html">thanh tóan cho xong cái quá khứ đã chấp trong tôi</a></em> &#8221; bằng cách bắt chước chính ông &#8220;<em>Phùng Phật sát Phật. Phùng Miller sát Miller&#8221;</em>, để rồi biến thành &#8220;<em><a href="http://www.voanews.com/vietnamese/blogs/hoang/mat-troi-khong-co-thuc-12-29-2010-112619654.html">Phùng Phạm sát Phạm</a></em>&#8220;, không còn nữa. Phạm Công Thiện đã qua đời trước khi tôi có cơ hội &#8220;<em>sát thủ</em>&#8220;.</p>
<p>Phạm công Thiện chết rồi, mặt trời sẽ hy vọng có thực. Ngày ông qua đời, thứ Ba 8 tháng 3 năm 2011, mặt trời mùa đông vạch mây ngó xuống. Đó là một ngày nắng hiếm hoi.</p>
<p>Trong bài tựa cho <a href="http://vnthuquan.net/diendan/%28S%28nximew3bbae0fwu4vqgqztqd%29%29/printable.aspx?m=199078">lần tái bản quyển sách nổi tiếng &#8220;Ý thức mới trong văn nghệ và Triết học</a>&#8221; do nhà xuất bản An Tiêm ấn hành năm 1970, ông viết:</p>
<p><em>&#8220;Bây giờ gần 30 tuổi thì tôi lại xuống núi (chứ không phải lên núi như Zarathustra) để làm nước chảy ồn ào trong những lỗ cống của cuộc đời.<br />
Thực ra còn đến hai tháng nữa, tôi mới đúng 29 tuổi. Tôi cho phép tôi làm nước chảy trong cống rãnh trong thời gian một năm nữa thôi, từ 29 tuổi đến 30 tuổi.<br />
Từ 30 tuổi trở đi cho đến 40 tuổi thì tôi sẽ không là tôi nữa. Đó là điều bí mật chỉ có tôi mới biết rõ vì sao tôi sẽ không là tôi nữa.<br />
Từ 40 tuổi cho đến 50 tuổi, hư vô sẽ thổi trên mặt đất.<br />
Từ 50 tuổi cho đến 60 tuổi thì kỷ nguyên Tây lịch đã tới năm 2000.<br />
Từ 60 tuổi cho đến 70 tuổi thì trái đất sẽ rất nhiều chim, những con chim biết nói tiếng Phạn.<br />
Từ 70 tuổi cho đến 80 tuổi thì núi Hy mã lạp sơn sẽ sụp đổ và chảy tan thành một đại dương mới.<br />
Từ 80 tuổi cho đến 90 thì Thái Bình Dương sẽ trở thành nấm mồ chôn hết lục địa.<br />
Từ 90 tuổi cho đến 100 thì mặt trời trở thành mặt trăng và mặt trăng trở thành địa cầu mới.&#8221;</em></p>
<p>Chẳng may, ông đã mất năm 71 tuổi (ông sinh năm 1941). Ông không kịp chờ cho &#8220;<em>núi Hy mã lạp sơn sẽ sụp đổ và chảy tan thành một đại dương mới.&#8221;</em>. Nhưng nếu ông còn sống, liệu ngày ấy có đến không?</p>
<p><em><a href="http://www.diendantheky.net/2011/03/pham-cong-thien-i-mat-han-i-roi.html">Đã đi mất hẳn đi rồi .</a></em></p>
<p>Đó là câu thơ của chính ông trong tập thơ cuối cùng (Trên Tất Cả Các Đỉnh Cao Là Lặng Im) mà nhà thơ Viên Linh đã mượn làm đề tựa bài viết ngắn về cái chết của vị triết gia thi sĩ thần đồng. Có thật là Phạm Công Thiện &#8220;<em>đã đi mất hẳn đi rồi</em>&#8220;?</p>
<p>Với ai thì chắc hẳn là không cần phải hỏi lại. Nhưng với Phạm Công Thiện thì khác. Vẫn phải bắt chước ông (lại một lần nữa tôi bắt chước ông!) hỏi chính mình: <em><a href="http://www.vanchuongviet.org/vietnamese/vanhoc_tacpham.asp?TPID=10988&amp;LOAIID=30&amp;TGID=1139">Đã đi rồi đã đi chưa</a>?</em></p>
<p>Tại sao?</p>
<p>Vì Phạm Công Thiện là một hiện tượng chưa một lần được lý giải thỏa đáng cho người đương thời, cho các thế hệ nối tiếp mỗi khi họ ngồi trước đèn lần giở những trang cảo thơm của quá khứ. Kể từ khi xuất hiện năm 1957, lúc mới 16 tuổi, bằng cách tự xuất bản quyển Anh Ngữ Tinh Âm, rồi tiếp theo ông cho ra đời những tác phẩm gây chấn động cả một tầng lớp trí thức, sinh viên thành thị dưới nhiều hình thức: nghiên cứu triết học, tôn giáo, thi ca, văn học v..v. Ở tuổi chưa tới 30, ông đã lần lượt đảm trách nhiều chức vụ nghiên cứu, giảng dạy khác nhau ở đại học và các tu viện Phật giáo (dù ông xuất thân từ một gia đình theo Thiên Chúa Giáo). Đó là chưa kể những sự kiện khác thường trong cuộc đời của ông. Năm 1964, giữa lúc tiếng tăm nổi lên như cồn, ông từ bỏ Thiên Chúa giáo của mình để trở thành một nhà sư với pháp danh Thích Nguyên Tánh. Năm 1970, rời bỏ đất nước sang Israel, Đức, rồi Pháp sinh sống. Tại đây, ông cởi áo cà sa, lấy vợ &#8211; một người theo đạo Thiên chúa.</p>
<p>Từ bấy đến nay đã hơn 50 năm trôi qua, nhiều người già tóc bạc da mồi đương thời với ông vẫn còn phải tự hỏi mình:</p>
<p><strong><em>Phạm Công Thiện, ông là ai?</em></strong></p>
<p>Cho đến buổi chiều ngày thứ Ba 8 tháng 3 năm 2011 lúc mà Phạm Công Thiện &#8220;<em><a href="http://www.hopluu.net/D_1-2_2-136_4-1673/">mệt dần, bắt đầu nhập định và ra đi nhẹ nhàng</a> &#8221; </em>tại thành phố Houston, tiểu bang Texas, câu hỏi lại càng nổi cộm hơn bao giờ hết, vì đã đến lúc &#8220;cái quan định luận&#8221;, khi thể xác ông đã thực sự là một thi hài như thi hài của bao con người khác khi chết. Thiên tài hay thường nhân, bạo chúa hay minh vương, nằm xuống rồi cũng thì có khác gì nhau. Thế nên, với Phạm Công Thiện, câu hỏi từ 50 năm vẫn lơ lửng.</p>
<p><em>Phạm Công Thiện là một triết gia hay kẻ mắc bệnh điên tư tưởng? Là một học gỉa hay chỉ là con mọt sách? là một thi sĩ, một nhà văn hay kẻ lộng ngôn xem chữ nghĩa như một trò chơi? Là bậc tu hành tinh thông lẽ đạo bằng trí thông minh tuyệt vời hay kẻ mượn áo cà sa trốn lánh việc đời rồi hốt nhiên trở nên &#8220;ngộ&#8221; một cách bất đắc dĩ? Là con người lập dị nhờ vào khả năng ngôn ngữ hơn người hay kẻ phá phách cậy mình thông kinh đạt quyển nên tung hòanh chốn trường văn trận bút như chỗ không người? Là vị thần đồng thực sự hay kẻ kiêu ngạo coi trời bằng vung?</em></p>
<p>Nhiều người đương thời đã tìm cách lý giaỉ hiện tượng Phạm Công Thiện với nhiều cách nhìn khác nhau, đôi khi đối nghịch.</p>
<p><strong>2.</strong></p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image002157.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border-width: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image002_thumb92.jpg?strip=all&fit=367%2C263" alt="clip_image002" width="367" height="263" border="0" hspace="12" /></a></p>
<p>Hãy đọc tiểu sử của Phạm Công Thiện:</p>
<p><em>Sinh ngày 01 tháng 6 năm Tân Tỵ, 1941, tại Mỹ Tho, Việt Nam.<br />
&#8211; Tiến Sĩ Triết Học tại Đại Học Sorbonne, Pháp,<br />
&#8211; Nguyên Giáo Sư Triết Học tại Đại Học Toulouse, Pháp,<br />
&#8211; Nguyên Khoa Trưởng Phân Khoa Văn Học và Khoa Học Nhân Văn tại Đại Học Vạn Hạnh, Sài Gòn; Giám Đốc Soạn Thảo Chương Trình Giảng Dạy cho tất cả các Phân Khoa của Viện Đại Học Vạn Hạnh từ năm 1966 tới năm 1970,<br />
&#8211; Nguyên Chủ Biên Tạp Chí Tư Tưởng của Viện Đại Học Vạn Hạnh, Sài Gòn,<br />
&#8211; Nguyên Giáo Sư Phật Học tại các Học Viện, Cao Đẳng Phật Học tại Hoa Kỳ,<br />
&#8211; Nguyên Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Văn Hóa, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại Tại Hoa Kỳ, Văn Phòng 2 Viện Hóa Đạo .</em></p>
<p>Hãy đọc danh sách những tác phẩm của ông:</p>
<p><em>• Tiểu Luận Về Bồ Ðề Ðạt Ma, tổ sư Thiền Tông (1964)<br />
• Ý Thức Mới Trong Văn Nghệ Triết Học (1965)<br />
• Ngày sanh Của Rắn (1967)<br />
• Trời Tháng Tư (1966)<br />
• Im Lặng Hố Thẵm (1967)<br />
• Hố Thẳm Của Tư Tưởng (1967)<br />
• Mặt Trời Không Bao Giờ Có Thực (1967)<br />
• Bay Ði Những cơn Mưa Phùn (1970)<br />
• Ði Cho Hết Một Ðêm Hoang Vu Trên Mặt Ðất (1988)<br />
• Sự Chuyển Ðộng Toàn Diện Của Tâm Thức Trong<br />
Tư Tưởng Phật Giáo (1994)<br />
• Triết Lý Việt Nam Về Sự Vượt Biên (1995)<br />
• Làm Thế Nào Ðể Trở Thành Một Bậc Bồ Tát<br />
• Sáng Rực Khắp Bốn Phương Trời (1998)<br />
• Tinh Tuý Trong Sáng Của Ðạo Lý Phật Giáo (1998)<br />
• Trên Tất Cả Ðỉnh Cao Là Im Lặng<br />
• Một Ðêm Siêu Hình Với Hàn Mặc Tử<br />
• Khai Ngôn Cho Một Câu Hỏi Dễ Hiểu: Triết Học Là Gì?<br />
• Ðối Mặt Với 1000 Năm Cô Ðơn của Nietzche </em></p>
<p><strong><em>Tác phẩm dịch đã xuất bản</em></strong><em><br />
•</em> <em>Jiddu Krishnamurti, Tự do đầu tiên và cuối cùng (1968)<br />
•</em> <em>Martin Heidegger, Về thể tính của chân lý (1968)<br />
•</em> <em>Martin Heidegger, Triết lý là gì? (1969)<br />
•</em> <em>Friedrich Nietzsche, Tôi là ai? Đây là người mà chúng ta mong đợi! (1969)<br />
•</em> <em>Nikos Kazantzakis, Rèn luyện tâm thuật huyền linh (1991)</em></p>
<p>Một tiểu sử và những thành tựu đáng nể. Cho tới nay, trong thế giới người Việt ở cả trong lẫn ngòai nước, chưa thấy ai có những thành tựu đa dạng và ở một số tuổi ít ỏi như thế.</p>
<p>Ông là một thiên tài. Điều này ít ai có thể chứng minh ngược lại. Không phải là thiên tài thì làm sao có được sự nghiệp đồ sộ khó ai bì như vậy. Nhưng không phải là không có người bảo ông điên. Mặt khác, cũng chính ông đã từng viết &#8220;<em>bệnh điên trở thành một thời trang làm dáng cho bọn tự nhận là thiên tài&#8221;. </em>Ở Phạm Công Thiện dường như điều đơn giản nhất cũng trở nên rối rắm, khó hiểu. Thí dụ như định nghĩa về thiên tài. Và  hình như cũng chính ông làm cho ranh giới vốn đã mong manh giữa thiên tài và cuồng sĩ lại càng trở nên mong manh hơn.</p>
<p>Ông là một triết gia. Chính bản thân mình, ông chưa bao giờ tự nhận là triết gia. Có lẽ là do ông dạy Triết, viết sách Triết, nghiên cứu Triết với ngôn ngữ của kẻ lập ngôn nên nhiều người tưởng lầm, hoặc do quá hâm mộ nên tôn xưng ông là triết gia. Hệ lụy đời ông có lẽ cũng bắt đầu từ ngộ nhận mang tầm vóc bi kịch này. Và cũng từ đây, có kẻ đương thời khẳng quyết triết gia là kẻ mắc bệnh ung thư tư tưởng.</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image00344.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; margin: 0px 20px 10px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; float: left; padding-top: 0px; border-width: 0px;" title="clip_image003" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image003_thumb24.jpg?strip=all&fit=167%2C229" alt="clip_image003" width="167" height="229" align="left" border="0" hspace="12" /></a></p>
<p><em>Cư sĩ Phạm Công Thiện, pháp danh Nguyên Tánh</em></p>
<p>Ông là một học gỉa. Tinh thông nhiều ngọai ngữ, là chìa khóa mở ra những cánh cửa văn hóa thế giới. Có đọc Phạm Công Thiện (tuy không hiểu được hết những điều ông viết), mới thấy hết sự mênh mông của sở học mà ông chiếm hữu. Đã thế, những trang sách Phạm Công Thiện mang một đặc tính khác thường so với những trang sách kinh điển: hòai nghi, phản kháng, phủ nhận, với sự mãnh liệt và thái độ cao ngạo của tuổi trẻ. Vì vậy mà có người cho rằng ông là kẻ phá phách, coi trời bằng vung chăng? Dẫu cho có là một thiên tài, thì tuổi trẻ vẫn cứ là tuổi trẻ với những thuộc tính làm nên một lực đẩy khiến nhiều người già khó chịu. Thiên tài cộng với tuổi trẻ thì khó tránh được những điều ong tiếng ve. Hãy đọc một đọan trích trong bài tựa cho lần tái bản thứ tư của quyển sách <em><a href="http://vnthuquan.net/diendan/%28S%28nximew3bbae0fwu4vqgqztqd%29%29/printable.aspx?m=199078&amp;AspxAutoDetectCookieSupport=1">Ý thức mới trong văn nghệ và triết học</a> </em><em>(</em>YTMTVNVTH) thì sẽ thấy quả chẳng oan cho ông tí nào:</p>
<p><em>&#8221; . . .Tôi thực sự bắt đầu viết quyển Ý thức mới trong văn nghệ và triết học vào năm 1960 (thực sự khởi từ năm 1959), nghĩa là lúc tôi được mười tám và mười chín tuổi. Bây giờ tôi gần 30 tuổi. Bao nhiêu nước chảy trôi phăng qua cầu trong mười năm trời. Bây giờ nhìn lại chặng đường xưa, tôi không ngờ lúc 18 – 19 tuổi tôi lại thông minh dễ thương như vậy, rồi nhớ lại lúc 13-14 tuổi cho đến lúc 16 tuổi, tôi đã xuất bản một quyển, sách về ngôn ngữ học và đã viết trên 20 quyển sách về văn học quốc tế và ngôn ngữ học (trong đó có một quyển mà Nguyễn Hiến Lê đề tựa giới thiệu và ngạc nhiên không ngờ tôi mới 16 tuổi), sau này khi tôi được 18 tuổi thì tôi đốt sạch hết tất 20 quyển ấy!<br />
Tai nạn lớn lao nhất trong đời tôi là phải chịu đoạ đầy làm thần đồng lúc còn thơ dại, rồi lúc lớn lên làm thanh niên thì phải chịu đoạ đầy làm thiên tài . . . &#8220;.</em></p>
<p>Ông là người tinh thông đạo Phật. Chắc cũng khó chối cãi. Mới 23 tuổi, ông đã viết sách về Bồ Đề Đạt Ma, vị tổ sư của Thiền tông. Rồi một lọat những trọng trách ông đảm nhận liên quan đến việc giáo dục các tăng sĩ, những chức vụ trong các tổ chức Phật giáo, những họat động nhằm xiển dương Phật giáo, những tác phẩm nghiên cứu về Phật pháp sau này. Nhưng cũng có người cho rằng ông mặc áo nhà tu, rồi cởi áo nhà tu, rồi lại tuồng như mặc lại chiếc áo ấy chỉ là phản ánh sự bất định trong tâm hồn một người tưởng mình là cái rốn của vũ trụ. Ngày ông lên chùa Hải Đức ở Nha Trang cạo đầu, mặc áo cà sa, mang pháp danh Thích Nguyên Tánh, người thời ấy bảo ông trốn việc quan đi ở chùa. Có người bảo ông tìm nơi an tịnh để chữa bệnh &#8220;khủng hỏang tâm linh&#8221;. <a href="http://vnthuquan.net/diendan/%28S%28nximew3bbae0fwu4vqgqztqd%29%29/printable.aspx?m=199078&amp;AspxAutoDetectCookieSupport=1">Giải thích gián tiếp về việc này</a>, ông viết &#8220;<em>sự chọn lựa đi tu cũng là một thái độ sống trước hư vô. Đi tu đâu phải là chuyện dễ; có lẽ có thể nói rằng phải có can đảm lắm và nhiều sức mạnh lắm mới đi vào con đường cô đơn ấy . . . &#8221; . </em>Nhưng cũng có người mãi đến hôm nay vẫn xưng tụng ông là Bồ tát (chính xác <em>hơn là &#8220;</em><em>khi <a href="http://old.thuvienhoasen.org/nghivenhatho-phamcongthien.htm">Thiền sư Thi sĩ Phạm Công Thiện từ trần,</a> chắc chắn sẽ có rất nhiều người gọi anh là Bồ tát, một danh hiệu rất mực tôn kính trong nhà Phật, chỉ đứng sau danh hiệu Ðức Phật.&#8221;).</em></p>
<p>Ông là nhà văn. Quả thật, chỉ với &#8220;<em>Bay đi những cơn mưa phùn</em>&#8220;, viết từ năm chưa tới 30 tuổi, kẻ ganh tị nhất với ông cũng phải thốt lên lời tán thưởng. Đó là những trang văn xuôi của thơ, là hình ảnh trau chuốt của cái đẹp, là sự thăng hoa của tâm hồn con người, là chữ nghĩa cuối cùng đã thóat ra khỏi được những giam hãm của đời sống. Có người bảo bao tinh anh của ông đã phát tiết hết cả từ những ngày còn trẻ, phát rộ sớm thì lụi tàn sớm, thế nên nhiều năm nay ở hải ngọai ông có còn viết được gì nữa đâu ngòai một tập tùy bút &#8220;<em>Đi cho hết một đêm hoang vu trên mặt đất&#8221;.</em></p>
<p>Ông là nhà thơ. Đến đây thì chắc nhiều cái đầu gật gù. Theo nhiều người thân cận với ông thì ông chỉ muốn là, được gọi là, thi sĩ. <a href="http://vnthuquan.net/diendan/%28S%28nximew3bbae0fwu4vqgqztqd%29%29/printable.aspx?m=199078&amp;AspxAutoDetectCookieSupport=1">Ông đã từng khẳng định chắc nịch</a> &#8220;<em>Tôi không là một tên tiên tri nào cả, ngôn ngữ của tôi là ngôn ngữ của thi sĩ. Ai muốn hiểu làm sao thì hiểu.</em>&#8220;. Chắc ông đã mãn nguyện. Tập thơ mỏng manh &#8220;Ngày sanh của rắn&#8221; xuất bản năm 1966 ở Sài Gòn đã khẳng định vị trí thi sĩ của ông. Sau này, với bài <em><a href="http://www.tienve.org/home/viet/viewVietJournals.do?action=viewArtwork&amp;artworkId=80">Trường Giang Mỹ Tho </a></em>viết năm 1980 đã được nhiều người coi là tuyệt tác, hoặc tập thơ cuối cùng &#8220;<em><a href="http://vietsach.blogspot.com/2009/08/tren-tat-ca-inh-cao-la-lang-im.html">Trên tất cả đỉnh cao là lặng im</a></em>&#8220;, với lời mở đầu rất &#8220;<em>Phạm Công Thiện</em>&#8221; nhưng tôi chưa thấy ai phàn nàn:</p>
<p><em>&#8220;&#8230; Một đêm, tôi nằm chiêm bao thấy Goethe hiện về, bảo tôi hãy nhớ lại câu thơ ngắn của ông và gợi ý gián tiếp cho nhan đề tập thơ này:<br />
</em><em>Ueber allen Gipfeln</em><em><br />
</em><em>Ist Ruh</em><em><br />
(Trên Tất Cả Những Đỉnh Cao<br />
Là Bình Yên)</em></p>
<p>Có lẽ là vì trần gian này đã có quá nhiều thi sĩ ngông nên có thêm một vị nữa cũng chẳng chết &#8220;thằng tây&#8221; nào chăng? Nhưng mà ngày xưa, ông đã bị mỉa mai là &#8220;thi sĩ khều mặt trời&#8221; với những câu thơ &#8220;đình đám&#8221; trong tập &#8220;<a href="http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&amp;artworkId=7154">Ngày sanh của rắn</a>&#8220;:</p>
<p><em>tôi giao cấu mặt trời sinh ra mặt trăng<br />
tôi thủ dâm thượng đế sinh ra loài người<br />
cho quế hương nằm ở nhà thương điên của trí nhớ<br />
mặt trời có thai!<br />
Mặt trời có thai!<br />
Sinh cho tôi một đứa con trai mù mắt</em></p>
<p><em>( Ngày sanh của rắn )</em></p>
<p>Vì đình đám quá nên những câu thơ &#8220;thời thượng&#8221; mà ai cũng biết ấy đã che khuất đi những câu thơ tuyệt vời khác, chẳng hạn :</p>
<p>&#8220;<em>Mưa chiều thứ bẩy tôi về muộn</em></p>
<p><em>Cây khế đồi cao trổ hết bông &#8220;</em></p>
<p>Quả là khẩu khí một thi sĩ . . . triết gia.</p>
<p><strong>3.</strong></p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image00521.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; margin: 0px 20px 10px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; float: left; padding-top: 0px; border-width: 0px;" title="clip_image005" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image005_thumb8.jpg?strip=all&fit=141%2C240" alt="clip_image005" width="141" height="240" align="left" border="0" hspace="12" /></a></p>
<p>Nhưng với tôi, kẻ mang một quá khứ không thể tách rời cái tên Phạm Công Thiện thì <a href="http://www.tienve.org/home/viet/viewVietJournals.do?action=viewArtwork&amp;artworkId=80">cách lý giải của Nguyễn Ngọc Tuấn trên Tiền Vệ</a> khiến tôi dễ dàng chấp nhận hơn :</p>
<p><em>&#8220;. . . theo tôi, Phạm Công Thiện là một nhà thơ trước khi là một nhà tuỳ bút; là một nhà tuỳ bút trước khi là một nhà văn; là một nhà văn trước khi là một nhà tư tưởng; là một nhà tư tưởng trước khi là một người phá phách và là một người phá phách trước khi là một kẻ lập dị. Suốt mấy chục năm nay, Phạm Công Thiện luôn luôn chịu đựng một sự đánh giá bất công cũng như những sự khen ngợi oan ức khi người ta nhìn ông theo một chiều hướng khác, ngược lại.</em></p>
<p><em>Phạm Công Thiện có một cái tài đặc biệt rất hiếm người có là ông có thể làm cho độc giả đọc ông một cách thích thú, say mê và thán phục mặc dù, khi gấp sách lại, người ta hoàn toàn không hiểu là ông nói cái gì cả. Bởi vậy, mặc dù tác phẩm của ông nổi tiếng là khó hiểu, ông vẫn có một lượng độc giả khá lớn, khá trung thành, và đôi khi khá bình dân. Nói như thế cũng có nghĩa là nói thế mạnh đầu tiên và nổi bật nhất của Phạm Công Thiện chính là ở khả năng diễn đạt, hay nói cách khác, ở giọng văn của ông. Đó là một giọng văn có sức hấp dẫn lạ lùng, một giọng văn vừa uyên bác vừa sôi nổi, vừa rất trí tuệ và lại rất giàu chất thơ. . . &#8220;</em></p>
<p>Những người không sống ở Sài Gòn vào thập niên 1960s, khỏang thời gian cái tên Phạm Công Thiện biểu trưng cho một hiện tượng thật đình đám dù là không khí chiến tranh đã ngự trị khắp nơi kể cả những thành phố lớn, có thể không cảm và hiểu hết được những tác động đối nghịch nhau mà Phạm Công Thiện đã tạo cho người đương thời. Nay, gần 50 năm đã trôi qua, cái gì còn đọng lại đã chứng tỏ gía trị của chúng, hoặc ít nhất cũng chứng tỏ khả năng sống sót sau cơn lũ thời gian. Với trường hợp Phạm Công Thiện, dù ông vẫn không ngừng sáng tác sau khi rời nước để phiêu bạt giang hồ từ năm 1970, nhưng những đề tài được bàn luận về ông, cho tới hôm nay, phần lớn vẫn là về những gì ông viết trong thập niên đáng nhớ ấy. Liệu chi tiết này có nói thêm được gì không về giá trị những suy tưởng của một thanh niên chưa tới 30 tuổi ngày nào?</p>
<p><strong>4.</strong></p>
<p>Trong tập thơ <a href="http://www.hoadamonline.com/2011/03/pham-thi-thu-tang-pham-cong-thien.html">Nhân Gian, xuất bản năm 2006</a>, nhà thơ Phạm Thiên Thư đã vẽ Phạm Công Thiện bằng 4 câu thơ:</p>
<p><em>Con người hóa kiếp nhà thơ<br />
Khi bay thành nhạc khi chờ là hương<br />
Lang thang trong cuộc đoạn trường<br />
Lấy trăng thái cổ soi đường bến mê</em></p>
<p>Con người dù có hóa kiếp nhà thơ cũng sẽ đến lúc phải &#8220;<em><a href="http://nguoivietboston.com/?p=34667">xả bỏ thân tứ đại</a></em> &#8220;. Thọ 71 tuổi như ông, tuy chưa đủ để gọi là chết già, nhưng &#8220;<em>lang thang trong cuộc đọan trường</em>&#8221; bấy nhiêu năm ai mà không mệt mỏi, dù có là thiên tài. Cho nên, nằm xuống là yên nghỉ . . . đời đời. Khi sinh thời, nhà thi sĩ triết gia nổi tiếng cao ngạo vốn đã bỏ ngòai tai mọi lời chê tiếng khen thì lúc này đây, còn có gì để ông phải bận tâm dùng dằng. Có bận tâm chăng là bận tâm cho kẻ hậu sinh ôm di sản của ông mà chợt rùng mình nghĩ đến gánh nặng oằn vai trên đọan đường dài trước mặt. Từ đây, trọng tâm của mọi cuộc bàn luận sẽ chỉ còn là về những gì ông để lại cho đời. Khi mặt đất này không còn bóng dáng con người mang cái đầu quá lớn trên thân xác nhỏ nhoi của mình nữa, thì mọi hệ lụy trần gian cũng sẽ biến thành hạt bụi theo gió bay đi như những cơn mưa phùn.</p>
<p>Nhà thơ <a href="http://lambamblog.wordpress.com/2010/08/25/khi-thi-ca-thanh-ton-giao-ph%E1%BA%A1m-cong-thi%E1%BB%87n/">Nguyên Sa sinh thời</a> có viết bài thơ nói chuyện phải quấy với Phạm Công Thiện, trong đó có hai câu cuối:</p>
<p><em>Này người bỏ sóng sang thuyền tĩnh</em></p>
<p><em>Nhớ đứng chờ ta ở cõi siêu</em></p>
<p><em>( Nói chuyện phải quấy với Phạm Công Thiện – Nguyên Sa)</em></p>
<p>Tôi chợt có ý nghĩ rằng, có lẽ giây phút này đây, chính thi sĩ triết gia Phạm CôngThiện đang thét vang trong gió hai câu thơ ấy của người bạn cũ.</p>
<p><em>Nhớ đứng chờ ta ở cõi siêu</em>. Thắp nén hương lòng, tôi cầu chúc cho ông đạt được ý nguyện./.</p>
<p><strong>T.Vấn</strong></p>
<p>03-12-2011</p>
<p>*Thơ Nguyên Sa</p>
<p>*<em>Bài này có nhiều chỗ trích dẫn, trích giải. Tuy nhiên, nó không có tầm cỡ một bài khảo luận nên tôi nghĩ không nên làm cho bài viết trở nên nặng nề một cách không cần thiết bằng những dấu chỉ gốc của những đọan trích dẫn, trích giải. Thay vào đó, tôi dùng thủ thuật nối kết (Hyperlink) dẫn đến nguồn của đọan trích dẫn, trích giải được hiển thị qua những chữ đổi màu trong bài. T.Vấn</em></p>
<p><strong><em><span style="text-decoration: underline;">Phụ Lục:</span></em></strong></p>
<p>Bài viết này xuất hiện lần đầu tiên trên trang mạng damau, trong thời điểm tin về cái chết của Phạm Công Thiện vẫn còn làm thế giới văn chương xúc động. Vì thế, qua chức năng &#8220;diễn đàn mở&#8221; của damau, nhiều thức giả đã góp ý, bình luận và cung cấp thêm nhiều chi tiết về con người, cuộc đời của nhân vật kỳ bí nhất trong lịch sử văn học miền Nam (tôi dùng chữ miền Nam để chỉ &#8220;miền Nam&#8221; trước năm 1975 và, ở một chừng mực giới hạn nào đó, hàm cả &#8220;hải ngọai&#8221; sau 1975) trong vòng 50 năm trở lại đây.</p>
<p>Như một ngọai lệ, tôi kèm theo những bình luận này ở cuối bài viết để mọi người quan tâm có thêm cơ hội tìm hiểu thêm về ông.</p>
<p>T.Vấn</p>
<p>26 tháng 3 năm 2011</p>
<p> <strong><em><a href="http://tienve.org/home/authors/viewAuthors.do?action=show&amp;authorId=1">Hoàng Ngọc-Tuấn</a> </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Thưa nhà văn T. Vấn,</p>
<p>Trong bài này, anh/chị có nói đến &#8220;cách lý giải của Hoàng Ngọc-Tuấn trên Tiền Vệ&#8221; về Phạm Công Thiện. Nhưng theo cái link của anh/chị thì thấy đó không phải là Hoàng Ngọc-Tuấn mà lại là Nguyễn Ngọc Tuấn (tên thật của nhà phê bình văn học Nguyễn Hưng Quốc).<br />
<a href="http://www.tienve.org/home/viet/viewVietJournals.do?action=viewArtwork&amp;artworkId=80">http://www.tienve.org/home/viet/viewVietJournals.do?action=viewArtwork&amp;artworkId=80</a></p>
<p>Vậy xin anh/chị sửa chữa giùm chỗ nhầm lẫn này, kẻo các trang web khác đăng đi đăng lại bài viết này thì sự nhầm lẫn lại lan rộng ra.</p>
<p>Xin cảm ơn anh/chị.</p>
<p>Nhân dây, tôi cũng xin góp thêm một ý nhỏ.</p>
<p>T. Vấn viết: &#8220;… Chính bản thân mình, ông chưa bao giờ tự nhận là triết gia. Có lẽ là do ông dạy Triết, viết sách Triết, nghiên cứu Triết với ngôn ngữ của kẻ lập ngôn nên nhiều người tưởng lầm, hoặc do quá hâm mộ nên tôn sưng [xưng] ông là triết gia. Hệ lụy đời ông có lẽ cũng bắt đầu từ ngộ nhận mang tầm vóc bi kịch này. Và cũng từ đây, có kẻ đương thời khẳng quyết triết gia là kẻ mắc bệnh ung thư tư tưởng.&#8221;</p>
<p>Theo tôi nghĩ, chữ &#8220;triết gia&#8221; (philosopher) không có gì lớn. Nó cũng là một chữ bình thường như những chữ &#8220;thi sĩ&#8221;, &#8220;kỹ sư&#8221;, &#8220;kiến trúc sư&#8221;, &#8220;nhạc sĩ&#8221;, &#8220;họa sĩ&#8221;, v.v.</p>
<p>Theo American Heritage Dictionary, chữ &#8220;philosopher&#8221; được định nghĩa là:</p>
<p>1. A student of or specialist in philosophy.<br />
2. A person who lives and thinks according to a particular philosophy.<br />
3. A person who is calm and rational under any circumstances.</p>
<p><a href="http://www.answers.com/main/ntquery?s=philosopher&amp;gwp=13">http://www.answers.com/main/ntquery?s=philosopher&amp;gwp=13</a></p>
<p>Trong những cuộc hội thảo về triết ở Úc, những diễn giả còn đang là sinh viên triết, khi lên đọc tham luận, thì cũng được ban tổ chức giới thiệu là &#8220;philosophers&#8221; đàng hoàng. Cũng như các sinh viên âm nhạc khi lên sân khấu trình diễn, hay các sinh viên mỹ thuật khi triển lãm tác phẩm trước công chúng, cũng đều được giới thiệu là &#8220;musicians&#8221;, &#8220;singers&#8221;, &#8220;painters&#8221;, &#8220;sculptors&#8221; đàng hoàng.</p>
<p>Tôi có một anh bạn Úc, tốt nghiệp cử nhân triết học, hiện đang làm việc tại Bộ Nghệ Thuật NSW, trong business card của anh (do chính phủ in cho anh) có ghi rất đàng hoàng chính thức là &#8220;Philosopher / Arts Policy Consultant&#8221;, mặc dù anh chưa hề xuất bản một cuốn sách triết học nào cả, chỉ mới đăng lác đác vài bài essays hay reviews trên các tạp chí. So với anh bạn triết gia Úc này thì ông Phạm Công Thiện cao hơn 100 cái đầu.</p>
<p>Tôi không hiểu vì sao mà người Việt Nam ta vẫn bị ám ảnh rằng &#8220;triết gia&#8221; là một chức nghiệp hay danh phận gì rất là to tát! Có lẽ vì đất nước mình chưa phát triển về triết học, nên thấy &#8220;triết&#8221; là một cái gì rất cao xa, sang cả quá chăng?</p>
<p>—————-<br />
<em>[Ghi chú của BBT Da Màu: Lỗi lầm về tên người là của BBT trong khi nhuận sắc bài viết! Tác giả T. Vấn không viết sai. Chúng tôi đã sửa ở trên. Xin chân thành cáo lỗi cùng tác giả và các bạn đọc.]</em></p>
<p>&#8211; 15.03.2011 vào lúc 3:37 am</p>
<p> <strong><em>Bảo Bình </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Ở đầu phần 2 trong bài, tác giả T.Vân viết: &#8220;Hãy đọc tiểu sử của Phạm Công Thiện: Sinh ngày 01 tháng 6 năm Tân Tỵ, 1941, tại Mỹ Tho, Việt Nam. Tiến Sĩ Triết Học tại Đại Học Sorbonne, Pháp&#8221;. Tuy nhiên, theo Wikipedia (<a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%E1%BA%A1m_C%C3%B4ng_Thi%E1%BB%87n">http://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%E1%BA%A1m_C%C3%B4ng_Thi%E1%BB%87n</a>) thì ông Phạm Công Thiện chưa hề lấy một bằng cấp nào ở trong hay ngoài nước cả?</p>
<p>&#8211; 15.03.2011 vào lúc 8:49 am</p>
<p> <strong><em>đôc giả vô danh </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Trích đài RFA tiếng Việt ngày 12-3-2011:<br />
…<br />
Phạm Công Thiện sinh năm 1941 tại Mỹ Tho. Học vấn của ông là cả một bí ẩn. Tuy chưa bao giờ có một mảnh bằng tú tài trong tay nhưng ông đã được nhiều trường đại học nổi tiếng thế giới mời giảng dạy trong đó có trường đại học Yale của Mỹ và Sorbonne của Pháp.<br />
…<br />
Link: http://www.rfa.org/vietnamese/programs/LiteratureAndArts/poet-phamcongthien-mlam-03122011142556.html</p>
<p>&#8211; 15.03.2011 vào lúc 11:07 am</p>
<p> <strong><em>Một bạn đọc miệt vườn </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Kính chào ông/bà Bảo Bình,</p>
<p>Có lẽ tác giả T.Vấn cập nhật tiểu sử Phạm Công Thiện từ &#8220;Cáo Bạch&#8221; trên trang Người Việt Boston ngày 09 tháng 03 năm 2011 mà tôi copy lại dưới đây:</p>
<p>By DuyAn • Mar 9th, 2011 • Category: Tin Buồn<br />
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT HOA KỲ<br />
VIETNAMESE AMERICAN UNITED BUDDHIST CONGREGATION<br />
HỘI ĐỒNG ĐIỀU HÀNH<br />
COUNCIL OF MANAGEMENT<br />
CENTRAL OFFICE<br />
803 S. Sullivan St., Santa Ana, CA 92704 – U.S.A.<br />
Tel.: (714) 571-0473 * Fax: (714) 568-1009</p>
<p>CÁO BẠCH</p>
<p>Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật,</p>
<p>Kính bạch chư Tôn Thiền Đức,<br />
Kính thưa quý đồng hương Phật tử,</p>
<p>Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hoa Kỳ xin kính cáo bạch cùng chư tôn Thiền Đức và đồng hương Phật tử mười phương:<br />
Giáo Sư Phạm Công Thiện, Pháp danh Nguyên Tánh,<br />
Sinh ngày 01 tháng 6 năm Tân Tỵ, 1941, tại Mỹ Tho, Việt Nam,<br />
&#8211; Tiến Sĩ Triết Học tại Đại Học Sorbonne, Pháp,<br />
&#8211; Nguyên Giáo Sư Triết Học tại Đại Học Toulouse, Pháp,<br />
&#8211; Nguyên Khoa Trưởng Phân Khoa Văn Học và Khoa Học Nhân Văn tại Đại Học Vạn Hạnh, Sài Gòn; Giám Đốc Soạn Thảo Chương Trình Giảng Dạy cho tất cả các Phân Khoa của Viện Đại Học Vạn Hạnh từ năm 1966 tới năm 1970,<br />
&#8211; Nguyên Chủ Biên Tạp Chí Tư Tưởng của Viện Đại Học Vạn Hạnh, Sài Gòn,<br />
&#8211; Nguyên Giáo Sư Phật Học tại các Học Viện, Cao Đẳng Phật Học tại Hoa Kỳ,<br />
&#8211; Nguyên Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Văn Hóa, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại Tại Hoa Kỳ, Văn Phòng 2 Viện Hóa Đạo,</p>
<p>Đã thuận thế vô thường, xả bỏ thân tứ đại vào ngày 8 tháng 3 năm 2011 (nhằm mùng 04 tháng Hai, Tân Mão), tại Thành Phố Houston, Texas, hưởng thọ 71 tuổi.</p>
<p>Để tưởng niệm công đức lớn lao mà Cố Giáo Sư Phạm Công Thiện đã đóng góp cho nền văn hóa, giáo dục và hoằng pháp của Phật Giáo Việt Nam trong cũng như ngoài nước suốt nửa thế kỷ qua, GHPGVNTNHK sẽ long trọng cử hành lễ tưởng niệm và cầu siêu vào lúc 11 giờ sáng Chủ Nhật, ngày 13 tháng 3 năm 2011 tại Chùa Viên Thông, 15933 Clark Avenue, Bellflower, CA 90706. Tel. (562) 867-8929.</p>
<p>Kính cung thỉnh chư tôn đức Tăng, Ni từ bi quang lâm chứng minh hộ niệm và kính mời quý đồng hương Phật tử hoan hỷ đến tham dự để trợ niệm cho Giác Linh Cố Giáo Sư Phạm Công Thiện, Pháp danh Nguyên Tánh được nhờ Phật lực tiếp dẫn vãng sanh về Cực Lạc quốc. Đồng thời, Giáo Hội thành tâm khuyến thỉnh chư tôn đức Tăng, Ni tại các Chùa, Tự Viện, Tu Viện tùy hoàn cảnh sở tại thiết lễ tưởng niệm công đức và cầu nguyện cho Giác Linh Cố Giáo Sư Phạm Công Thiện siêu sanh Tịnh Độ.</p>
<p>Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật tác đại chứng minh.</p>
<p>Santa Ana, ngày 09 tháng 3 năm 2011,<br />
Hội Đồng Điều Hành GHPGVNTNHK<br />
Chủ tịch,<br />
Sa Môn Thích Trí Chơn</p>
<p>Trân trọng,<br />
Một bạn đọc</p>
<p>&#8211; 15.03.2011 vào lúc 11:49 am</p>
<p> <strong><em><a href="http://tienve.org/home/authors/viewAuthors.do?action=show&amp;authorId=1">Hoàng Ngọc-Tuấn</a> </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Thưa bạn Bảo Bình,<br />
Những thông tin về tiểu sử của Phạm Công Thiện trên Wikipedia rất không khả tín. Có lẽ vì người viết wiki ấy thiếu điều kiện nghiên cứu.</p>
<p>Trong số rất nhiều chi tiết lệch lạc về tiểu sử của Phạm Công Thiện trên Wikipedia, có chi tiết này là SAI HOÀN TOÀN 100%. Wikipedia viết:</p>
<p>&#8220;Ông rời Việt Nam từ năm 1970, chuyển sang sống ở Israel, Đức, rồi sống lâu dài tại Pháp. Tại đây ông trút áo cà sa để lấy một cô vợ Pháp theo đạo Cơ Đốc…&#8221;</p>
<p>Sự thật là năm 1971, Phạm Công Thiện lập gia đình tại Pháp với chị Lê Khắc Thanh-Hoài, một người Việt hoàn toàn, chứ không phải là người Pháp. Chị Lê Khắc Thanh-Hoài trước kia có đạo Công Giáo, chứ không phải đạo Cơ Đốc. Sau khi lập gia đình, chị theo đạo Phật.</p>
<p>Chị Lê Khắc Thanh-Hoài sinh năm 1950 tại Huế, học trường Jeanne D&#8217;Arc cho đến năm 1967, rồi vào Sài Gòn học tại các trường Trưng Vương, Đại Học Vạn Hạnh, rồi năm 1970 du học ở Bruxelles (Bỉ). Chị lập gia đình với Phạm Công Thiện năm 1971, sinh được 5 người con. Trong số đó có người con trai tên là Phạm Không-Lộ (sinh ngày 8 tháng 2 năm 1973) hiện nay là đạo diễn phim.</p>
<p>Chị Lê Khắc Thanh-Hoài cũng là một nhạc sĩ, đã xuất bản nhiều tập nhạc và 2 cái CD: &#8220;Đời em là giòng sông&#8221; và &#8220;Vui sống đạo&#8221;. Trang web chính thức của chị ở link này:<br />
<a href="http://www.lekhacthanhhoai.com/">http://www.lekhacthanhhoai.com/</a></p>
<p>&#8211; 15.03.2011 vào lúc 3:01 pm</p>
<p> <strong><em>Phan Đức </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Hình như từ khi Nguyễn Hưng Quốc phê bình 2 câu thơ sau là<br />
hay nhất của Phạm Công Thiện thì hầu hết mọi người đều tán<br />
thành mà điển hình là tác giả bài viết này :<br />
Mưa chiều thứ bảy tôi về muộn<br />
cây khế đồi cao trổ hết bông.<br />
Thú thật là tôi rất khó hiểu dù cũng đồng ý với nhiều người<br />
là hay,tuy thế cũng xin mạo muội nói những gì mình khó hiểu.<br />
Mưa thì khó nhìn rõ sự vật mà xảy ra buổi chiều &#8220;tôi về muộn&#8221;<br />
như vậy,tôi e càng khó nhìn rõ hơn nữa nhưng trái lại tác giả<br />
nhìn rõ &#8220;cây khế đồi cao&#8221; trổ hết bông,chứ không phải 1,2 cái<br />
lại càng lạ lùng hơn nữa !<br />
Vậy thì chỉ có thi sĩ thực thụ may ra mới có tầm nhìn cỡ PCT.!</p>
<p>&#8211; 15.03.2011 vào lúc 5:03 pm</p>
<p> <strong><em>thuy </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Chị Lê Khắc Thanh Hoài, thứ nữ của BS Lê Khắc Quyến thuộc gia đình Phật Giáo thuận thành, em trai út của chị Hoài là thầy CE Hằng Trường . Chị Hoài hồi còn nhỏ học trường so&#8217; tại Huế nhưng không theo đạo Thiên chúa. Quí vị có thể đọc thêm tại website <a href="http://www.lekhacthanhhoai.com">http://www.lekhacthanhhoai.com</a></p>
<p>&#8211; 15.03.2011 vào lúc 8:51 pm</p>
<p> <strong><em><a href="http://tienve.org/home/authors/viewAuthors.do?action=show&amp;authorId=1">Hoàng Ngọc-Tuấn</a> </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Cảm ơn lời góp ý của độc giả thuy.</p>
<p>Tuy nhiên trên website của chị Lê Khắc Thanh-Hoài, trong phần tiểu sử, không thấy ghi chị ấy thuộc gia đình Phật giáo thuận [thuần] thành.</p>
<p>Chỉ thấy ghi &#8220;học đàn với các Ma Soeur tại trường Jeanne D&#8217;Arc lúc bảy tuổi&#8221;, &#8220;theo học trường Jeanne D&#8217;Arc cho đến Tú tài bán phần&#8221; cho đến năm 1967. Rồi năm 1968, chị Thanh-Hoài mới vào Sài Gòn học trường Trưng Vương và đậu Tú tài toàn phần.<br />
<a href="http://www.lekhacthanhhoai.com/vietnamese/tieusu.html">http://www.lekhacthanhhoai.com/vietnamese/tieusu.html</a></p>
<p>Như thế, nghĩa là từ nhỏ cho đến năm 17 tuổi, chị Thanh-Hoài hoàn toàn học trong trường Công giáo.</p>
<p>Theo giáo sư Ngô Văn Lại, một giáo sư của trường Jeanne D&#8217;Arc, thì &#8220;Trường thuộc tài sản của Giáo hội và do giáo hội Vatican trực tiếp quản lý&#8221;, và &#8220;Đương nhiên học sinh của trường toàn là tín đồ Công giáo.&#8221;</p>
<p>Xem bài viết về trường Jeanne D&#8217;Arc của giáo sư Ngô Văn Lại ở trang:<br />
<a href="http://www.khaiminh.org/ngo_van_lai/tb4_jeanne_d_arc.htm">http://www.khaiminh.org/ngo_van_lai/tb4_jeanne_d_arc.htm</a></p>
<p>Chính vì giáo sư Ngô Văn Lại nói &#8220;Đương nhiên học sinh của trường toàn là tín đồ Công giáo&#8221;, cho nên tôi mới nghĩ rằng chị Lê Khắc Thanh-Hoài là người có đạo Công giáo.</p>
<p>Nếu gia đình chị ấy là gia đình Phật giáo thuần thành ở Huế thời &#8220;xung đột tôn giáo&#8221; ấy mà gửi con gái vào học trong trường Công giáo thuần thành suốt từ tiểu học đến hết Tú tài bán phần (1967), rồi sau biến cố Mậu Thân mới đem vào Sài Gòn (1968), thì kể cũng khá lạ.</p>
<p>&#8211; 16.03.2011 vào lúc 12:16 am</p>
<p> <strong><em>Phan Đức </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Phạm Công Thiện là một huyền thoại,không biết ông cố ý tạo ra<br />
hay chính cuộc đời huyền thoại hóa ông khi chỉ mới 15,16 tuổi<br />
đã viết sách xuất bản ?</p>
<p>Một trong những huyền thoại là trong &#8220;Ngày sinh của rắn&#8221;,ông đã<br />
tự giới thiệu theo học đại học Pháp nhưng không cần trình luận án<br />
vì &#8220;khinh bỉ&#8221; các giáo sư triết học và trường lớp.Còn một bài nữa<br />
viết về ông thì cho rằng ông được đại học Vạn Hạnh gửi đi du học<br />
vào khoảng năm 1970.Phải chăng ông du học lẫn tu nghiệp 2 lần ?<br />
Nếu tôi nhớ không lầm thì khoảng từ 1960-1970 ông hầu như sống ở<br />
VN.và viết nhiều nhất cho tạp chí Phổ Thông của nhà thơ Nguyễn Vỹ,<br />
ngoài việc dạy và giữ chức khoa trưởng Văn khoa của đại học V.H.<br />
(Tôi đọc Diễn Đàn (Paris) thì không hề nói gì về cái chết của ông,<br />
dù chỉ 1 giòng báo tin.Cũng lạ ! Có lẽ tôi lầm chăng ? )</p>
<p>&#8211; 16.03.2011 vào lúc 2:51 am</p>
<p> <strong><em>thuy </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Tôi chưa được nói chuyện với chị Thanh Hoài nhưng từng đến nhà ba mẹ của chị ấy đường Bùi thị Xuân, Sài Gòn. Còn nhớ rõ mẹ chị là bác Thanh rất giỏi về đàn tranh. Ba chị ấy là bác sĩ Lê Khắc Quyến , là người Phật tử thuộc phe Ấn Quang, nếu tôi không nhớ lầm. BS Lê Khắc Quyến từng là khoa trưởng đại học Y Khoa Huế. Cả ba lẫn mẹ chị mất có các thầy sư đến làm lễ . Em út chị ấy là thầy Hằng Trường, 1 tu sĩ Phật Giáo VN rất nổi tiếng ở hải ngoại, từng được đăng trên LA Times , tên tục của thầy là Lê Khắc Nhàn.<br />
Trên website của chị Hoài, người đọc có thể biết ba của chị từng in sách cho thầy PCT, Trụ Vũ…và chị từng theo học ở đại học Vạn Hạnh trước khi qua Bruxelles du học.<br />
Còn trên website của con trai PCT là LoPham, bạn đọc có thể biết PCT có 5 người con với chị Hoài là<br />
-Phạm Khuông Việt (con trai trưởng) nhà vật lý học, giảng dạy tại đại học University of Paris XI.<br />
-Phạm Không Lộ : writer and film maker<br />
-Thông Phạm: graphic designer<br />
-Quốc Phạm: có vẻ có gene di truyền giống cha nhất, bỏ Pháp đi chu du trên thế giới lúc 13 tuổi, hiện sống ẩn dật tại Pháp.<br />
-Phạm Lưu Ly: Bác sĩ trưởng khoa cấp cứu Nhi khoa tại 1 bệnh viện nổi tiếng tại Paris, cô tốt nghiệp thủ khoa y khoa tại Pháp.<br />
Ngoài ra theo Lô Phạm, anh còn có 3 người em gái cùng cha khác mẹ.</p>
<p>&#8211; 16.03.2011 vào lúc 8:45 am</p>
<p> <strong><em><a href="http://T-Van.Net">T.Vấn</a> </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Thân gởi anh Hòang Ngọc Tuấn,</p>
<p>Về tên tác giả đọan trích dẫn mà anh nhắc đến, BBT damau đã nhanh chóng giải quyết. Nhưng nhờ vậy và qua sự tiết lộ của anh, tôi mới biết Nguyễn Ngọc Tuấn cũng chính là Nguyễn Hưng Quốc, cây bút phê bình tài hoa. Tôi tự nói với mình: Thảo nào!</p>
<p>Chữ &#8220;tôn sưng&#8221; anh mở ngoặc đơn: (xưng). Đúng phải là &#8220;xưng&#8221;. Tôi không hiểu sao mình để sót &#8220;hạt sạn&#8221; này trong bài, dù đã đọc lại nhiều lần. Xin cám ơn anh!</p>
<p>Về danh xưng Triết gia. Theo sự hiểu biết của tôi, trong trường hợp Phạm Công Thiện, phải đặt danh xưng ấy vào bối cảnh của thập niên 1960s ở Việt Nam mới nhìn thấy nó không đơn giản như một danh xưng thông thường mà anh nói đến. Thuở ấy, khả năng tinh thông ngọai ngữ để có thể tiếp cận với văn hóa phương Tây chỉ có ở một số ít người. Đã thế, triết học còn mang tầm vóc một đề tài ở trên mức hiểu biết của một người bình thường nên danh xưng &#8220;Triết gia&#8221; thời ấy, với đa số quần chúng, kể cả người có học, là một chức vị &#8220;ghê gớm&#8221; hơn nhiều so với giáo sư, nhạc sĩ hay điêu khắc gia như anh so sánh (nói nhỏ với anh HNT: anh gọi tôi là &#8220;nhà văn&#8221; làm tôi đổ mồi hôi hột. Danh xưng này với tôi cũng &#8220;ghê gớm&#8221; lắm, tôi không dám, chẳng phải vì khiêm tốn mà là &#8220;sợ&#8221; thật anh HNT ạ!)</p>
<p>Vì &#8220;ghê gớm&#8221; như thế, mà vị triết gia thiên tài của chúng ta dạo ấy lại chỉ mới ở lứa tuổi chưa tới &#8220;tam thập nhi lập&#8221;, cho nên, ngưỡng mộ ông cũng lắm, mà dè bỉu ông cũng không phải là không có. Do vậy, tôi mới có ý nghĩ &#8220;Hệ lụy đời ông có lẽ cũng bắt đầu từ ngộ nhận mang tầm vóc bi kịch này &#8220;.</p>
<p>Ngày nay, có thể đúng như anh Hòang Ngọc Tuấn đã viết, nhiều người (Việt) không còn thấy chức danh &#8220;triết gia&#8221; là &#8220;ghê gớm&#8221; như xưa, vì với khỏang thời gian nửa thế kỷ, chả lẽ chúng ta không ít nhiều chinh phục được cái &#8220;cao siêu ghê gớm&#8221; ấy chút nào sao?</p>
<p>Thưa độc giả Bảo Bình,</p>
<p>Cũng trong nội dung bối cảnh &#8220;hiện tượng Phạm Công Thiện&#8221; của 50 năm trước, có nhiều huyền thọai được lan truyền về nhân vật chính của chúng ta vừa qua đời. Một trong những huyền thọai đó là về việc ông không có chút bằng cấp nào, kể cả bằng Tú Tài (như một &#8220;độc giả vô danh&#8221; đã dẫn chương trình phát thanh của đài RFA). Từ ngày ra hải ngọai, ông lại khá kín tiếng, cũng không bận tâm &#8220;giải mã&#8221; những huyền thọai về mình (hay có mà tôi không được biết). Thú thật với Bảo Bình, tôi rất phân vân, đắn đo về học vị &#8220;tiến sĩ Triết học&#8221; đứng trước tên ông trong bản Cáo Bạch của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ở Hoa Kỳ ngày 9 tháng 3 năm 2011 với chữ ký của vị chủ tịch Hội đồng Điều hành là Sa Môn Thích Trí Chơn (đúng như &#8220;Một bạn đọc miệt vườn&#8221; đã đóan) . Trong khi đó, theo Wikipedia, thì ông không có một bằng cấp nào. Vậy tôi nên tin ai? Một bên là Giáo hội Phật Giáo với chữ ký &#8220;làm tin&#8221; của một vị hòa thượng và một bên là diễn đàn Mở (có nghĩa là mọi thông tin đều có thể được hiệu đính bởi bất cứ ai và cũng theo anh Hòang Ngọc Tuấn &#8220;không khả tín&#8221;) lại không có tên của một ai để khi cần, tôi &#8220;túm áo&#8221; kêu cứu. Đó là lý do cho sự chọn lựa sử dụng nội dung tiểu sử Phạm Công Thiện dựa theo bản Cáo Bạch nói trên.</p>
<p>Thưa anh Phan Đức,</p>
<p>Anh viết &#8220;Hình như từ khi Nguyễn Hưng Quốc phê bình 2 câu thơ sau là hay nhất của Phạm Công Thiện thì hầu hết mọi người đều tán thành mà điển hình là tác giả bài viết này :<br />
Mưa chiều thứ bảy tôi về muộn<br />
cây khế đồi cao trổ hết bông. &#8221;</p>
<p>Như trong phần trên nhân sự tiết lộ của anh Hòang Ngọc Tuấn (Nguyễn Ngọc Tuấn và Nguyễn Hưng Quốc là một), tôi mới &#8220;vỡ lẽ&#8221;. Như vậy, với riêng tôi, việc &#8220;khen ngợi&#8221; hai câu thơ này không bị ảnh hưởng bởi nhận xét của nhà phê bình tài hoa NHQ. Nếu có chăng, thì cũng là &#8220;hùa theo&#8221; Nguyễn Ngọc Tuấn, một cái tên cũng &#8220;nhẹ bâng&#8221; như cái tên T.Vấn mà thôi.</p>
<p>Theo tôi nghĩ, nếu một vật hay một người đẹp mà có nhiều người cùng cho là như thế thì, có lẽ, vật ấy, người ấy phải đẹp thật. Mặt khác, cái đẹp – dù là vật thể, tinh thần, nghệ thuật . . . – luôn có giá trị tương đối, vì nó &#8220;tùy người đối diện&#8221;. Hai câu thơ nói trên, mặc dù có nhiều người khen hay, nhưng một ai đó lại không cho là hay, hay tuy đồng ý là hay nhưng không hiểu (như anh Phan Đức) thì cũng là điều bình thường. Chúng ta đang sống trong một xã hội (cụ thể hơn: phát biểu trên trang mạng damau) mà mọi người đều có quyền nói lên ý nghĩ riêng của mình về một vấn đề nào đó và ý kiến riêng của chúng ta – trên nguyên tắc – phải được những người khác tôn trọng.</p>
<p>T.Vấn</p>
<p>&#8211; 16.03.2011 vào lúc 9:28 am</p>
<p> <strong><em>Phan Đức </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Nhân ý kiến của anh Hoàng Ngọc Tuấn,tôi xin được góp ý thêm.<br />
Chẳng biết có phải vì trí nhớ giảm không mà ông Ngô Văn Lại<br />
lại viết sai như thế ? Theo chổ tôi biết thì hầu hết mọi gia<br />
đình giàu có hay trung lưu ở miền Trung đều gửi con vào học<br />
nội trú các trường công giáo do bà xơ quản lý như Jeanne d&#8217;Arc<br />
hay do sư huynh như Pellerin.Không phân biệt tôn giáo.Có thể<br />
vì ông Ngô Văn Lại chỉ lo việc dạy chứ không lo về việc hành<br />
chánh,do đó ông không biết thì cũng đúng thôi.<br />
Cũng cần nói thêm là bà Lê Khắc Thanh Hoài con của cố bác sĩ<br />
Lê Khắc Quyến có thời làm khoa trưởng Y khoa Huế và từng làm<br />
chủ tịch Hội đồng Nhân dân Cứu quốc (trên danh nghĩa) lúc xảy<br />
ra Biến động miền Trung năm 1966 tại Huế.</p>
<p>&#8211; 16.03.2011 vào lúc 3:02 pm</p>
<p> <strong><em>thuy </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Có lẽ đối với Phạm Công Thiện ông không cần đến danh hiệu, chức tước mà người đời gọi, đặt cho ông như nhiều nhà Phật học, thí dụ Phan Tấn Hải trên Việt Báo đã gọi ông là Bồ Tát (mà đã là Bồ Tát thì tất cả đều vô thường, có phải?) , cho nên ông chẳng bao giờ lên tiếng xác định hay phủ định những gì nói về ông và càng làm cho ông trở thành một huyền thoại trong nền văn học của VN. Tôi có đọc sơ qua những bài viết của Lê Khắc Thanh Hoài trên website của bà, bà có kể chuyện bà giúp ông apply học bổng, phần học bổng của ông cho ba miệng ăn và một đứa bé sắp ra đời , và có lần bà viết là ông đang học để lấy bằng cao nhất chưa từng có , nhưng không thấy hay chưa thấy(vì bà còn để phần viết tiếp Chuyện Người Đàn Bà Có Năm Con) bà Hoài nói ông đã tốt nghiệp học vị Tiến Sĩ.<br />
Cũng trên website này tôi được biết nhạc sĩ Thanh Hoài đã phổ nhạc thơ của PCT, có bài nhạc là Sông Hoài, Sông Hoài lời thơ của thi sĩ tặng bà. Bà Hoài cũng viết 1 bài thơ tặng cho T.(Thiện?) , hình như là Cám Ơn Anh thì phải.</p>
<p>&#8211; 16.03.2011 vào lúc 8:21 pm</p>
<p> <strong><em>Trần Tâm </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Đây là câu thơ của Hoàng Trúc Ly , nhà thơ mà Phạm Công Thiện rất thích và thường nhắc đến . Phạm Công Thiện &#8220;lấy&#8221; câu thơ đầu của Hoàng Trúc Ly cho 2 câu thơ (rất hay) của mình</p>
<p>Mưa chiều thứ bảy tôi về muộn,<br />
Em ngủ một mình đêm gió mưa.</p>
<p>(Hoàng Trúc Ly)</p>
<p>Mưa chiều thứ bảy tôi về muộn<br />
Cây khế đồi cao trổ hết bông.<br />
(Phạm Công Thiện)</p>
<p>&#8211; 17.03.2011 vào lúc 6:43 am</p>
<p> <strong><em>hồ đình nghiêm </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Thưa ông Trần Tâm, hai câu thơ của Hoàng Trúc Ly mà ông trích dẫn, tôi e là sai biệt với nguyên bản, như vầy:<br />
&#8220;Đời lê thê quá tôi về muộn,<br />
Em ngủ một mình đêm gió mưa&#8221;.<br />
Tiện đây tôi xin tâm sự, tôi rất yêu chuộng những góp ý của anh Hoàng Ngọc-Tuấn, bởi sức thuyết phục cao: Nói có sách, mách có chứng. Tạm thời, &#8220;đời lê thê quá&#8221; tôi chưa tìm ra được bài thơ của Hoàng Trúc Ly để dẫn chứng. Sẽ bổ túc khiếm khuyết ấy ở bận sau.<br />
Kính.</p>
<p>&#8211; 18.03.2011 vào lúc 4:07 am</p>
<p> <strong><em><a href="http://phamthientho.wordpress.com/">phamthientho</a> </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>VĨNH BIỆT PHẠM CÔNG THIỆN<br />
HÀNH TRÌNH CỦA BỒ ĐỀ ĐẠT MA ĐI VÀO CÕI THIÊN THU<br />
* * *</p>
<p>&#8220;Thời gian thì chỉ vẫn là một giây phút, dù hai chục năm hay năm chục năm hay cả mấy tỷ năm trôi đi trên tinh cầu…&#8221; (Trích trong lá thư ngày 27.7.1983 gởi cho người bạn trẻ tha huơng của Phạm Công Thiện).</p>
<p>71 năm Phạm Công Thiện đã bước lang thang trên mặt đất, nhưng đó cũng chỉ là một giây phút thôi, Thiện đã nhìn cuộc đời như một sát-na theo tư tưởng Phật giáo.</p>
<p>Đối với Thiện có lẽ tất cả đều vô nghĩa nếu như cõi đời còn chìm đắm trong cơn mộng vì thế Thiện đã lang thang đi tìm Tình yêu trong Nỗi chết, nói như Krishnamurti &#8220;Tình yêu là ngọn lửa không khói&#8221;. 71 năm lang thang Thiện đã cay mắt, ngột ngạt, khó thở vì khói bụi trần gian nên Thiện luôn khao khác đi theo hành tung của Bồ Đề Đạt Ma, muốn thiên thu ngồi diện bích, đi giữa lằn ranh tử sinh, núi cao và hố thẳm để có những giây phút &#8220;đón nhận mây trời linh hiện (Dharmamegha; pháp vân), mảnh đất (Bhumi) cuối cùng của con người vừa sực tỉnh mộng (Bodhisattva).&#8221;</p>
<p>Hôm nay Thiện vĩnh viễn đi trong &#8220;Lặng Im&#8221;, giờ phút phục sinh của ngọn lửa không khói, trả lại cho thời gian những khoảnh khắc linh hiện đầu tiên và cuối cùng, đi về trong vô thủy vô chung.</p>
<p>&#8211; 18.03.2011 vào lúc 11:27 am</p>
<p> <strong><em><a href="http://raccoon3805.blogspot.com/">black raccoon</a> </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Mưa chiều thứ bảy tôi về muộn<br />
Cây khế đồi cao trổ hết bông.<br />
(Phạm Công Thiện)</p>
<p>Thử mạo muội &#8220;chôm&#8221; nghề quý ông BVP và NHQ , tìm hiểu chút chút coi sao :</p>
<p>@ Cứ theo cách nói của VN :12,1,2 giờ trưa. 3,4,5,6 giờ chiều. 7,8,9 giờ tối. Vậy, về nhà buổi chiều muộn , chắc là trong vòng 6 giờ chiều là muộn nhứt.</p>
<p>@ Đồi cao. Đồi đất cao vài chục mét đến trăm mét.<br />
Khế trổ hết bông. Bông khế màu vàng rực hoặc màu hồng điều. Trổ hết bông, là trổ đầy bông. Thật nhiều.</p>
<p>Hình ảnh một cây khế ra hoa đầy. Vàng rực hoặc đỏ thắm. Hình ảnh đó trong chiều tà , từ dưới đồi nhìn lên , có thể nhận được. Rất đẹp và thơ.<br />
Vui thôi. Chứ đem riêng 2 câu thơ từ một bài thơ (chưa được đọc) , đã là một sự hụt hẫng kém sút.</p>
<p>Màu bông khế<br />
<a href="http://good-times.webshots.com/photo/1042278154032164967VRkmAD">http://good-times.webshots.com/photo/1042278154032164967VRkmAD</a><br />
<a href="http://www.flickr.com/photos/pro_toby/3884575398/">http://www.flickr.com/photos/pro_toby/3884575398/</a></p>
<p>&#8211; 18.03.2011 vào lúc 11:43 am</p>
<p> <strong><em>Mimosa </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Kính thưa Quý Vị Độc Giả,<br />
Để góp tiếng nói về đời thầy Phạm Công Thiện tôi xin có vài giòng đơn sơ như sau.<br />
Đầu thập niên 60, thầy Phạm Công Thiện dạy trường Việt Anh Dalat. Tôi không học thầy nhiều, chỉ vài giờ Việt văn. Thầy dạy Anh Văn cho các lớp Đệ Nhị,Tam, Tứ …Trong thời gian này thầy Lê Phỉ làm Hiệu Trưởng với các thầy Nguyễn Đình Chung Song, Lê Phổ và cô Lê Thị Tuý Đại …Thầy rất dịu dàng và thương mến học trò, thầy có vẻ già trước tuổi.Thường thì thầy trầm ngâm, suy tư nhưng đôi lúc thầy cũng vui tươi bất chợt. Có lần tôi thấy thầy hái những loài hoa dại nào đó, cắm vào bình rồi cười nói huyên thuyên làm cho thầy Giám Thị tức cười và chọc ghẹo thầy.<br />
Thuở ấy tôi còn quá nhỏ, nên dù biết thầy là người có tài tôi cũng chẳng chú ý lắm. Khi lớn thêm một chút được đọc sách của thầy, tôi lấy làm hâm mộ thì thầy chẳng còn ở Dalat nữa. Hình như thầy có tìm thấy hạnh phúc trong thời gian ở Dalat, trong những tác phẩm của Thầy có nói về Dalat với những tình cảm thân thương. Và Quế Hương, một nhân vật nữ thấp thoáng trong Thơ cuả thầy có phải chăng là Quế Hương nữ sinh trường Áo Tím Việt Anh thuở nọ. Trong bài thơ của thầy có câu:<br />
Anh khinh bỉ mùa Thu trên tóc em…<br />
Có phải chăng mùa Thu rất đẹp nhưng còn thua mái tóc của em. Quế Hương nhan sắc trung bình nhưng trong thơ của thầy đó là một giai nhân tuyệt sắc. Có thể văn thơ của thầy rất khó hiểu, nhưng trong mỗi chúng ta đôi lúc lại thấy chính mình trong những tình cảm, ý tưởng mà thầy trang trải trên những trang sách. Đại khái như: trong một đêm cô đơn mất ngủ nào đó tôi cảm thấy sợ hải đến toát mồ hôi khi tự hỏi mình là ai, là ai mà đang sống giữa thế giới này …nỗi sợ hải đó ai trong mỗi chúng ta mà không cảm thấy …<br />
Đành rằng ai cũng phải ra đi, nhưng nghe tin Thầy qua đời tôi cũng băn khoăn, bàng hoàng làm sao. Nhưng thầy ra đi nhẹ nhàng là một điều quá tốt.<br />
Thưa thầy, những đóa hoa Capucine vẫn xinh xắn trên những vệ cỏ bên đường như những bước chân của thầy ngày xưa. Thầy đã thật sự ra đi…</p>
<p>Mimosa.</p>
<p>&#8211; 18.03.2011 vào lúc 5:20 pm</p>
<p> <strong><em><a href="http://raccoon3805.blogspot.com/">black raccoon</a> </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Tui đọc PCT ngay trên diễn đàn này . Ngày xưa, thuở còn đi học, có nghe đến tên ông . Nghe nói đến Hố thẳm , Ý thức mới , … còn đọc thì chưa . Chưa đọc quyển nào cả . Chưa đọc chứ không phải đọc không … nổi .</p>
<p>Bây giờ đọc lại ông lai rai , ít ỏi . Tuy nhiên, cũng như hầu hết người cầm bút miền Nam trước 75 mà tui có dịp đọc qua , PCT viết văn chuyên nghiệp . Ăn nằm với chữ nghĩa , nói theo nhà văn Bùi Vĩnh Phúc . Ông viết văn chuyên nghiệp , mà còn có cá tính . Cá tính mạnh . Và có bản lĩnh . Theo tui , đó là một điều đáng quý .</p>
<p>Tui nhớ , những nhà văn nhà thơ lúc bấy giờ . Người nào ra người đó . Đọc Bình Nguyên Lộc là biết ngay . Đọc Nguyễn Hiến Lê là biết ngay . Đọc Nguyễn Mạnh Côn, Duyên Anh, Chu Tử , Tuý Hồng , Thuỵ Vũ , Nhã Ca, Sơn Nam, Lê Xuyên, Bùi Giáng, Tô Thuỳ Yên, Phạm Thiên Thư …. là người đọc nhận chân ra họ ngay . Không lầm . Không lộn . Mỗi người một ngọn bút . Mỗi người một căn nhà .</p>
<p>Cái đó, khó mà dễ . Khó lúc đầu , có thể sẽ loá mắt. Nhưng rồi sẽ dễ . Thích &#8220;nhà&#8221; nào , người đọc cứ gõ cữa . Rôì nhà sẽ mở cữa mời vào viếng thăm kỳ hoa dị thảo, trân châu bích ngọc … Còn không thích ? Qua nhà khác . Dễ ẹc .</p>
<p>&#8211; 19.03.2011 vào lúc 11:25 am</p>
<p> <strong><em>mirordor </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Tôi lên mạng tìm tài liệu về PCT để tìm câu trả lời cho thắc mắc của một người bạn về PCT. Người bạn viết:</p>
<p>&#8220;Những cơn động đất&#8221; của tâm thức có thể giải thích cho những ngông cuồng ngạo mạn tuổi trẻ, lại là một tuổi trẻ có những thao thức sớm hơn người, hững rượu, những sex, những nổ lực tìm kiếm chính mình của một nhân cách trí tuệ?&#8221; Hai tài liệu chính tôi dùng là Ý thức mới trong văn nghệ và triết học (ấn bản 1970 với nhật ký viết năm đó) và Những bước chân nhẹ nhàng trở về sự im lặng. Tôi muốn đọc Tiểu luận về Bồ Đề Đạt Ma nhưng tìm không ra trên mạng; vì thế những ý kiến của tôi về PCT chắc sẽ còn thiếu sót, ít nhất về phương diện sở học về Thiền của ông. Sau đây là những góp ý của một chuyên gia tâm bệnh học/phân tâm học.</p>
<p>Mời các bạn đọc lại những lời trích văn này (từ cuối chương 5 của Ý thức mới…):</p>
<p>&#8220;Có một buổi chiều nổi cơn điên, tôi chạy hối hả tại thư viện của trường đại học Columbia ở Nữu Ước để mượn toàn thể tác phẩm của Saroyan để đọc lại, từ trường đại học Columbia, hai tay ôm hai chồng sách, tôi thả bộ lừ đừ trở về phòng tôi ở khu phố Riverside Drive gần con sông Hudson, gió thổi lạnh vì trời sắp đổ tuyết, tôi bước đi lểnh khểnh như chàng say rượu, mặc dù buổi chiều ấy, tôi không uống một giọt rượu nào cả. Cả thành phố New York đã ám sát tôi, một &#8220;thiên tài hạng nặng&#8221; từ Việt Nam gửi đến, tôi, một đứa con trai của một nước nghèo nhất thế giới, một nước ngang tàng nhất thế giới. Tôi cao có một thước sáu mươi phân, thế mà tôi có cảm tưởng hai chân của tôi đang đạp lên đầu của cái cao ốc cao nhất nước Mỹ, Empire State Building!</p>
<p>Tôi, một người con trai của một đất nước quê mùa thất học nhiều nhất ở thế giới, đã nắm trọn cả văn hoá Mỹ quốc trong mười ngón chân. Tôi thừa biết rõ rằng một ngày nào gần đây trong tương lai gần đây, nếu tôi còn sống, nhất định tôi sẽ chinh phục cai trị Mỹ quốc với năm ngón tay phải của tôi; tôi sẽ viết những quyển sách ký đi bằng chữ Anh và xô đẩy toàn thể Mỹ quốc vào trong hố thẳm!</p>
<p>Lòng tôi đầy căm thù, thù hận mặc dù tôi thừa biết rằng chỉ có  trái tim nguyên vẹn của tôi mới có sức chuyển hoá thế giới tan nát này thành một toà sen vĩ đại!</p>
<p>Tôi căm thù Mỹ quốc nhưng tôi sẵn sàng khoan dung tha thứ tội lỗi của Mỹ quốc: vì Mỹ quốc cũng tạo ra được những đứa con hoang đàng vĩ đại như Thoreau, Emerson, Whitman, Henry Miller, Faulkner, Wolfe, Robinson Jeffers, E.E. Cummings, Kenneth Patchen, Saroyan, Salinger, Tennessee Wiliams, Carson Mc Culler. Leswis Mumford, và ad infinitum!</p>
<p>Mấy ngày trước đó, tôi đã nhận thư mời của viện Giáo Dục Quốc tế ở New York, tức là Institute of International Education (I.I.E): viện này cử tôi làm đại diện sinh viên ngoại quốc để dự buổi tiếp tân do đại sứ Arthur Golberg khoản đãi; trong một thoáng căm hờn bốc đồng, tôi đã viết thư cho Viện Giáo Dục Quốc tế ấy rằng &#8220;tôi là thiên tài vĩ đại của nước Việt Nam gửi đến, tôi không tham dự buổi tiếp tân nào hết, tôi đã chán ngấy Mỹ quốc, vì thấy Mỹ quốc chỉ là trống rỗng, hoàn toàn trống rỗng.(utterly empty, awfully, dreadfully empty).</p>
<p>Có lẽ nhờ thiên thần hộ vệ, bức thư ấy được gửi đi rồi, thế mà tính mạng tôi vẫn an toàn.</p>
<p>Không ai ám sát tôi, vì chắc họ cho tôi là một thằng điên, điên, điên, điên.</p>
<p>Chỉ có những thằng điên mới cứu vớt thế giới này khỏi điên loạn.</p>
<p>Saroyan, buổi chiều hoang trống ở Nữu Ước dạo ấy, tôi đã đóng kín cửa phòng, đóng kín cửa sổ, bật đèn lên, cởi truồng ra, nằm soải người ra để đọc Saroyan và tôi khóc như đứa con nít.</p>
<p>Sức nóng của tình người đã thổi vào phòng tôi buổi chiều hoang vắng ấy. Tôi thương hết tất cả, tất cả. Tôi thương con gà, con bò, con cá, con chó, con kiến; tôi thương trái đất, trái cây, trái vú; tôi thương dân Mỹ, dân Nga, dân Tàu, dân Pháp, dân da đen, da đỏ, dân Tây, dân Thổ, dân nghèo, dân giàu…&#8221;</p>
<p>Người bình thường đọc không hiểu và điên đầu là phải. Nhưng chuyên gia tâm bệnh học có cảm giác là đang ngồi đối diện với một người bệnh trong cơn full-blown manic . Tác giả T. Vấn hỏi &#8220;Phạm Công Thiện là một triết gia hay kẻ mắc bệnh điên tư tưởng?&#8221; Câu hỏi về triết gia đã được trả lời phần nào nhưng &#8220;bệnh điên tư tưởng&#8221; nghĩa là gì? Một điều tạo nên khó khăn cho câu trả lời là chữ điên. Chữ điên – hay crazy – không có nghĩa gì trong chuyên khoa tâm bệnh; và đại khái ta gọi ai ăn nói tầm phào, không đầu không đuôi, không hợp thực tế, v.v., là điên. Điên thường được dịch sang Anh ngữ là psychotic, hay schizophrenic. Nếu đó là cái nghĩa mà mọi người nghĩ đến khi dùng chữ điên thì PCT và Bùi Giáng không điên. Thôi thì ta cứ tạm gọi là họ &#8220;khùng&#8221;, cho dù rằng chữ khùng cũng không có nghĩa chính xác nào trong y học.</p>
<p>PCT đau bệnh Bipolar Disorder (tên cũ là manic-depressive disorder có thể quen thuộc hơn cho một số người đọc.) . Triệu chứng đặc thù nhất của bệnh này là những cơn manic, những gian đoạn mà PCT đã tả như &#8220;những cơn động đất thường xuyên của đời mình&#8221; hay những &#8220;cơn chuyển động toàn diện của tâm thức&#8221;. Trong giai đoạn manic, tư tưởng đến dồn dập trong đầu người bệnh (100-miles-per-hour thought process), và họ nói uyên thuyên, ba hoa chích choè, trên trời dưới đất, đầu Ngô mình Sở, không ai theo kịp. Trong giai đoạn đó họ coi trời bằng vung, tự kiêu tự đại (grandiose thinking). Họ nghĩ là họ có thể làm bất cứ gì họ muốn, họ tiêu tiền như rác, và họ yêu cuồng sống vội. Khác với người mang bệnh schizophrenia, người manic có thể được hiểu, nhưng chỉ được đại khái, và vì họ nói nhiều quá, cuối cùng ta chả nhớ họ nói gì, và chả hiểu họ nói gì.</p>
<p>PCT biết ta có tâm bệnh nhưng chấp nhận chuyện đó rất miễn cưởng. &#8220;Từ đây tôi có bệnh loạn thần kinh, tôi có khắc khoải, có xao xuyến trước cuộc đời; đó là tại tôi, tại tôi không mở mắt ra mà nhìn vào lòng mình. Chính mình tự tạo ra bóng ma hãi hùng: chính tôi đã giết đời tôi; đến lúc hấp hối tôi chạy loanh quanh lẩn quẩn để tìm kẻ cứu tôi, nhưng thật sự không có ai có thể cứu tôi được, ngay đến Phật, đến Chúa, đến Mahomet .&#8221; và tôi nghĩ là bệnh đã manh nha từ tuổi 15, khi ông bỏ nhà ra đi vì cha mẹ bất hoà, chỉ cái nhau tối ngày (về tiển của?) thay vì thấy rằng thằng con trai của mình là thần đồng nhưng mang tâm bệnh và cần thương yêu, vổ về, chữa chạy.</p>
<p>Trí tuệ của PCT không giúp PCT kìm hãm được những chu kỳ manic-depressive nhưng đã giúp PCT phần nào trong nổ lực tránh một thân phận như Bùi Giáng &#8220;Tôi không là một tên tiên tri nào cả, ngôn ngữ của tôi là ngôn ngữ của thi sĩ. Ai muốn hiểu làm sao thì hiểu.</p>
<p>Ngôn ngữ của người điên không khác ngôn ngữ của thi sĩ lắm, chỉ có khác một điều: xã hội loài người có dựng lên bao nhiêu nhà thương điên mà không chịu dựng lên nhà thương thi sĩ.</p>
<p>Khi muốn phản đối người nào thì người ta nhốt hắn vào nhà thương điên; từ ngày bệnh điên trở thành một cái thời trang làm dáng cho bọn tự nhận là thiên tài thì phân tâm học ra đời tự nhận là phi thiên tài. Cái hạng người gọi là &#8220;bình thường&#8221; đầy dẫy ở mặt đất: trước khi nói một lời thì họ uốn lưỡi bảy lần, và vì uốn lưỡi nhiều quá cho nên lưỡi họ trở thành cong cong như lưỡi câu cá. Tội nghiệp cho những con cá mắc câu!&#8221; (trích từ Gửi một người đọc không quen trong phần mở đầu của Ý thức mới …, 1970.)</p>
<p>Một kết quả của nổ lưc này là khuynh hướng phủ nhận mình là một triết gia và tự xem mình là một thi sĩ. Tội nghiệp cho PCT là dù muốn tránh chuyện nằm nhà thương tâm trí, hy vọng được chữa trị vẫn phản ảnh trong chữ &#8220;chịu&#8221; trong &#8220;câu xã hội loài người có dựng lên bao nhiêu nhà thương điên mà không chịu dựng lên nhà thương thi sĩ.&#8221; Người Việt độc nhất mà PCT ca ngợi hay nể phục là Bùi giáng, một nạn nhân của BPD. BG cũng đau cùng một bệnh (tôi biết vì một cô bạn thân &#8220;nằm&#8221; cùng trại với BG ở nhà thương Biên Hoà kể lại,) những có vẻ nhẹ hơn, có thể vì có &#8220;bị&#8221; chữa chạy. Tôi đoán là Williams Saroyan, nhà văn đươc PCT bàn luận trong chương hai cuả &#8220;Ý thức mới…&#8221; cũng là nạn nhân của BPD. BPD thường được thấy trong giới văn nghệ sĩ vì tư tưởng của họ &#8220;có vẻ&#8221; phong phú hơn nhiều trong cơn manic. Đời rất nhàm chán cho người nghệ sĩ giữa &#8220;những cơn chuyển động toàn diện của tâm thức&#8221; và nhiều người không chịu chữa chạy hay uống thuốc vì thế. Ca sĩ Connnie Francis mà PCT ưa thích trong thập niên 60 thường nghĩ uống thuốc vài ngày trước mổi lần trình diễn, và bạn đọc có thể đoán dể dàng là cô bị bệnh gì.</p>
<p>Tiếc thay cho số phận hẩm hiu của một thiên tài. Nếu PCT có cơ hội tiếp tục học và thâu thập những căn bản thường thức ở trường thì đời ông sẽ ra sao? PCT có kiến thức rất sâu những khía cạnh ngôn ngữ (và ta phải nhận rằng ông là thần dồng trên lãnh vực này, nhưng tôi thắc mắc tại sao ông lại phải học chữ Hán 6 tháng hồi 1964 ở chùa Hải Đức nếu ông đã rành tiếng Hoa từ năm 15 tuổi?) , triết và Thiền học, nhưng kiến thức của ông có vẻ phiếm diện, không có bề rộng. Ông có vẻ không biết gì nhiều về khoa học, ngoại cảnh, môi trường đang sống (dù ông yêu vẻ đẹp thiên nhiên, và về bản thân ông. Thái độ của ông về tâm bệnh học/phân tâm học có thể đã khác nếu ông có kiến thức thưc tiễn thay vì thành kiến.</p>
<p>Có vài người thắc mắc về chuyện PCT có hề ở Úc chăng (Ông xuất ngoại từ năm 1970, từ Âu châu qua Mỹ năm 1983, và chưa hề rời Mỹ sau đó.) Và dĩ nhiên ta cũng có thế có những câu hỏi tương tự về cái bằng tiến sĩ ở Sorbone, hay chuyện PCT viết trong hồi ký năm 1970 rằng ông đã gặp Henry Miller năm 1965 tại Pacific Palisades, hay gặp Krishnamurti ở Paris trước năm 1970, những năm ông chưa hề xuất ngoại, theo các tài liệu về tiểu sử của ông tìm thấy trên mạng. Ta có thể kết luận rằng những &#8220;dữ kiện&#8221; trên là kết quả của những huyễn tưởng mà ông có trong những cơn manic. Tôi chưa hề gặp PCT nên không có ý kiến về sự thắc mắc làm sao một người với bệnh BPD và với những chu trình manic thường xuyên như ông có thể giữ nhiều chức vụ liên quan đến đại học Vạn Hạnh như thế.</p>
<p>PCT không phải là một triết gia theo nghĩa người nghiên cứu sâu rộng về triết để đi đến một hệ thống tư tưởng. (Và cái lý luận về năm chữ &#8220;chay, cháy, chày, chảy, chạy&#8221; không đáng gọi là triết). Nhưng ông đọc rất nhiều về triết hiện sinh như ta có thể thấy từ những tên tuổi của trường phái hiện sinh (Sartre, de Baeuvois, Heiddeger, Kirkegard, v.v.) mà ông nhắc nhở hay phân tích. Nghiên cứu triết lý hiện sinh là chuyện tự nhiên cho một người thông minh giữa những thập niên 1950, 60 muốn tìm câu trả lời cho thân phận mình &#8220;chỉ có tôi là mới có thể cứu tôi được, chỉ có tôi mới là kẻ thù của tôi, muốn tìm giải thoát, muốn tìm thanh bình cho cõi lòng; chính tôi, phải tự tìm cho tôi; tôi có thể tìm được nếu tôi có đủ đức tin nơi tôi, nếu tôi tự tin.&#8221; Nghiên cứu rồi thất vọng nên sau này PCT viết là ông chán họ vì họ chỉ lập đi lập lại. Và ông chỉ trích Sartre thậm tệ – vì Sartre làm ông mất thì giờ đọc về hiện sinh, và có thể về lý thuyết cọng sản, thay vì đi ngay vào Thiền?. Tại sao PCT thù không đội trời chung với Khổng Tử thì có lẽ không ai biết nhưng tôi có thể võ đoán từ kinh nghiệm bản thân (thân phụ tôi là một học giả về Khổng học.)</p>
<p>Triết học không giúp PCT, ông không tìm được niềm tin nơi chính ông nên ông quay qua tôn giáo, và chuyện tự nhiên với người như PCT là nghiên cứu Thiền. Và thí phát quy y. Nhưng đức tin mới đó cũng không kéo dài bao lâu, có lẽ rằng điều mà PCT mong muốn nơi Thiền là lối chữa bệnh hay giải thoát khỏi BPD, nhưng &#8220;những cơn động đất thường xuyên của đời mình&#8221; hay những &#8220;cơn chuyển động toàn diện của tâm thức&#8221; vẫn cứ dồn dập xẩy ra. PCT không tìm được đức tin nơi chính ông, và cũng không tìm được đức tin nơi tôn giáo &#8220;Không ai nghe tôi cả. Chúa không nghe. Mahomet không nghe. Phật không nghe. Không ai cả. Vox clamantis…&#8221; Đọc câu này tôi nhớ đến bài &#8220;Này em có nhớ&#8221; của Trịnh Công Sơn :</p>
<p>Chúa đã bỏ loài người<br />
Phật đã bỏ loài người<br />
Này em xin cứ phụ người. Ông đã vài lần tính tự tử nhưng tôi có cảm giác là các cơn manic đã cứu ông, như ông đã viết trong chương hai của &#8220;Ý thức mới…&#8221;</p>
<p>PCT biết rất sâu về Thiền, nhưng biết không có nghĩa là hiểu. Ông chê Suzuki là sai lầm khi đặt câu hỏi &#8220;What is Zen?&#8221;, nhưng chính ông đã phạm lỗi lầm khi loạn ngôn về thiền, Ông phạm lỗi này vì thiên tài của ông dựa trên ngôn ngữ và vì người manic chỉ biết nói, không biết lặng thinh, cho dù rằng ta đã học là ta không thể hiểu Thiền và &#8220;ngộ&#8221; qua chữ nghĩa. Vì thế càng tranh luận về Thiền như PCT đã làm trong những thập niên 60, ông càng chứng tỏ là ông biết nhiều nhưng chỉ thu thập được những cái hiểu chủ quan, chưa diệt được ngã.</p>
<p>PCT có kiến thức rất sâu về Thiền nhưng kiến thức đó không giúp ông tĩnh tâm hay định thân. Vì không thể tĩnh tâm, ông tranh luận về Thiền với đời trong khi kiến thức đó đã cho ông biết là người tu thiền không màng tranh cải, cũng như không nên tranh cải. Vì không thể định tâm, ông đi lang thang khắp chốn (Sài gòn, Nha Trang, Israel , Â châu, California, Texas), hoàn tục và lấy mấy đời vợ.</p>
<p>&#8220;Quyển sách này được viết chậm rãi thong dong từ trên 10 năm nay, từ năm 1983 tại Los Angeles và tại những vùng phụ cận Los Angeles, California, Hoa Kỳ. Từ năm 1970 cho đến 1983, tôi đã sống ở Do Thái, rồi ở Ðức quốc và ở lâu dài tại Pháp quốc; đến năm 1983, qua một cơn chuyển động toàn diện của tâm thức viễn ly, tôi đã trở lại Hoa Kỳ, trở lại thành phố Los Angeles sau một thời gian xa vắng gần 20 năm; từ năm 1983 cho đến năm 1994, trên 11 năm nay, lại qua nhiều cơn chuyển động toàn diện liên tục của tâm thức viễn ly, tôi vẫn tiếp tục sống ở thành phố Los Angeles; sau vài chuyến lui về vùng đồi núi im lặng ở Úc châu, tôi vẫn trở lại thành phố Los Angeles như trở về tập sống hồn nhiên tự tại với những cơn động đất thường xuyên của đời mình…&#8221; (Trích từ &#8220;Những bước chân nhẹ nhàng trở về sự im lặng&#8221;) Nếu có thể sống hồn nhiên tự tại thì tại sao lại tiếp tục uống rược hủ chìm hủ nổi? Làm thiền gia tức là có khả năng chấp thuận hiện tượng phù du của cuộc đời, sao lại còn hệ luỵ với những cơn động đất thường xuyên của đời mình? Làm sao vừa bị hệ luỵ với những cơn động dất thường xuyên của đời mình vừa có thể tranh luận về Thiền với quần chúng? Đoạn văn này nhắc ta những câu:</p>
<p>Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi<br />
Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt<br />
Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt<br />
Rọi suốt trăm năm một cõi đi về… trong bài &#8220;Một cõi đi về&#8221; của TCS</p>
<p>Tôi đang tìm cách đọc một bản của &#8220;Tiểu Luận về Bồ Đề Đạt Ma&#8221;. Tôi nghe nói nó làm ông nổi tiếng, nhưng không tìm ra chi tiết. Tác phẩm về Thiền mà được ngợi khen và xem như là một mấu chốt quan trọng trong phong trào nghiên cứu Thiền ở Viêt Nam phải được viết một cách nghiêm túc, có lập luận vững chắc và có thể làm đa số người đọc hiểu và đồng ý, điều mà tôi không thấy trong những tác phẩm khác của PCT.</p>
<p>Tôi thương PCT ở chổ là ông biết thân phận và không hể tuyên bố là ta đã &#8220;ngộ&#8221;, ngay cả trong những lúc loạn ngôn nhất. Tôi không nghĩ là PCT có cơ hội đạt được giác ngộ vì những chu kỳ dồn dập của manic episodes mà ông gọi là &#8220;những cơn động đất thường xuyên của đời mình&#8221; hay những &#8220;cơn chuyển động toàn diện của tâm thức&#8221; không cho ông cơ hội tĩnh tâm nào đủ lâu dài để ông diệt được Phật, Chúa, và khai thị. Không những đã không có cơ hội khai thị và giác ngộ, PCT cũng đã không dùng được kiến thức của mình về Thiền để sống bình an. Về cuối đời, ông còn phải nương vào Phật Quán Thế Âm để có người nhắc đến mình.</p>
<p>Tôi ráng đọc hết bài &#8220;Bước chân thứ nhất đảo ngược trở về sự im lặng&#8221; trong cuốn &#8220;Những bước chân nhẹ nhàng…&#8221; và cảm thấy buồn cười. Cho một bài viết về việc trở về với sự im lặng, PCT đã nói quá nhiều, quá ồn ào. Ông cười Freud đã viết tào lao trên đề tài sợ hãi, nhưng ông cũng viết tào lao không kém. Bao nhiêu chữ nghĩa về Thiền của ông trôi theo giòng đời từ lâu rồi. Có lẽ người ta đúng khi nghĩ là PCT viết về Phật Học để kiếm sống.</p>
<p>Buồn thay cho một phận người.</p>
<p>HKG</p>
<p> <strong><em>Nguyễn Hoàng </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Thưa ông HKG Mirodor</p>
<p>Nghi đoán của ông về bipolar hay manic depression ở hai nhà thơ Bùi Giáng và Phạm Công Thiện cũng chỉ là nghi thuyết chơi cho vui thôi.</p>
<p>Có một câu hỏi mà ông quên đặt ra là tại sao có hàng nghìn trường hợp manic depression xưa nay trên đất Việt mà rốt cùng chỉ có hai người đã làm rực rỡ phong nhiêu thơ ca của Việt Nam khá là bất thường, phi thường như hai bác BG va PCT.</p>
<p>Phương tiện thiện xảo. Hai con người ưu tú này của gia sản tâm linh Việt Nam rõ ràng đã biết biến cái đau buồn và hân hoan cực độ mà họ gánh chịu để làm nên những ruộng vườn cây trái tốt lành nhất mà họ có thể làm được. Nhất là trong hoàn cảnh chiến tranh tàn tệ anh em bà con giết chóc nhau của lịch sử dân tộc cận đại và hiện đại, BG va PCT – chỉ xét hai vị mà ông chiếu cố – đã không chỉ để lại cho chúng ta những tác phẩm ngôn ngữ trác tuyệt lại còn lại rất bình tỉnh đã gióng lên những tiếng kêu nhân bản, từ bi, hơn bất luận những ai ai cho sự tan hoang trầm thống này.</p>
<p>Đối nghịch với họ, tôi thiết nghĩ, không ai xa cả: chính là những lãnh tụ anh minh và vĩ đại đã rất &#8216;tỉnh táo&#8217; đẩy người vào làm mồi cho bom đạn, cho chủ nghĩa, cho thiên đàng không tưởng &#8216;nhất tướng công thành vạn xác khô&#8217;- ôi một cuộc chiến mà hệ lụy đau thương của nó kinh khiếp gấp bội lần tất cả mọi thứ đại họa thiên tai, không biết bao giờ dân tộc Việt mới lành mạnh lại?</p>
<p>Trước cái sự kinh khủng lớn và bàng hoàng chưa thấu đạt kia thì Những nghi thuyết nho nhỏ bên lề khác của ông về BG va PCT quả thực là chuyện nghe chơi.</p>
<p>Cái câu cuối &#8220;buồn thay cho một phận người&#8221; thì quả là cả một sự bất kính.</p>
<p>Nguyễn Hoàng</p>
<p>&#8211; 22.03.2011 vào lúc 3:39 am</p>
<p> <strong><em>mirordor </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Chào Ông Nguyễn Hoàng.</p>
<p>Câu kết &#8220;Buồn thay cho một phận người.&#8221; phản ảnh cái nhìn của tôi về sự kiện rằng Phạm Công Thiện đã sinh không nhằm thời, chứ không phải được viết ra để đả kích hay chê bai cá nhân ông. Tôi chấp nhận PCT là một thần đồng/thiên tài. Tôi biết ông đã viết nhiều về nỗi đớn đau của một người Việt sinh ra trong thời loạn, đất nước phân ly. Nhưng nếu tôi không lầm, PCT không bao giờ viết về chính trị, hay đả kích một chế độ/chính quyền nào. Ông nghiên cứu về tư tưởng của Karl Marx và Sartre nhưng ông không nhắc đến chử nghĩa cọng sản. Tại sao ta phải nhắc đến chính trị khi bàn về một nhà trí thức không hề để chính trị ảnh hưởng đến những nghiên cứu và cảm nghĩ của ông? Nếu thật sự muốn tỏ lòng kính trọng PCT, tại sao ta không nên nghĩ rằng môt phần lý do làm những nghiên cứu và suy luận của ông đóng góp và làm phong phú nhiều cho nhân bản học là vì ông đứng trên chính trị và những thị phi của đời?</p>
<p>Nếu tôi không lầm, ông bạn có thành kiến về tâm bệnh và chỉ &#8220;thấy ngón tay&#8221; trong khi tôi đang &#8220;chỉ mặt trăng&#8221; Tâm bệnh không có gì xấu hổ, và manic-depressive disorder/BPD không làm giảm giá trị của PCT hay Bùi Giáng (BG là tác giả tôi mê nhất khi tôi đang học về văn chương thời trung học qua cuốn sách ông viết về Cao Bá Quát.) Nếu hoàn cảnh của PCT khác đi, có thể rằng với óc thông minh của ông, ông đã học hiểu nhiều về thân xác của ông, gạt bỏ các thành kiến và mặc cảm về tâm bệnh, và có cơ hội làm một người &#8220;bình thường&#8221; (bệnh BPD tương đối dể chữa và có vài thuốc rất hiệu ngiệm.) Nhưng ông bạn có thể tưởng tượng một PCT &#8220;bình thường&#8221; như mọi người khác, và những mất mát sẽ đến cho nền thi văn Viêt Nam nếu tôi gặp PCT ngày xưa và giúp ông &#8220;bình thường&#8221;? Chưa chắc gì PCT đã muốn vậy, và tôi sẽ không ép, vì tôi kính trọng thiên tài và sở nguyện của ông. Nhưng tôi sẽ tiếp tục nghĩ &#8220;buồn thay cho một phận người!&#8221;</p>
<p>Một người bạn đề nghị tôi viết bài này cho độc giả trên Da Màu để góp phần &#8220;giãi quản&#8221; sự thắc mắc mà nhiều người đã có khi đọc PCT, hay BG. &#8220;Họ có &#8216;điên&#8217; không?&#8221; Câu trả lời &#8220;dứt khoát&#8221; của tôi, một chuyên gia tâm bệnh là họ không điên. Đó không phải là một nghi thuyết mà là ý kiến chuyên môn. Tôi nghĩ là một số độc giả có lẽ sẽ vui lòng khi biết rằng PCT không điên và chính tâm bệnh của ông đã đóng góp phần lớn trong tiến trình học hỏi và sáng tác của ông, cũng như trong sự độc đáo, khó hiểu &#8220;có một không hai&#8221; của ông (đã rành về Thiền, có đầu óc &#8220;sáng suốt&#8221; thì phải biết ăn nói mạch lạc, thông suốt chứ nhĩ!)</p>
<p>Người để ý đến sở học và sáng tác của PCT là người cũng như ông đã khoắc khoải trong tuồi vị thành niên và trước khi trưởng thành với những câu hỏi hiện sinh về thân phận mình và thân phận người:&#8221; Ta là gì? tại sao ta hiện hữu? ta phải sống như thế nào?&#8221; Người thích tìm hiểu PCT là người có ít nhiều khuynh hướng muốn học về Thiền. Bài góp ý này của tôi được viết ra để giúp những người đó hiểu tại sao PCT khó hiễu, biết có cái gì khác biệt về sự khó hiểu của PCT và sự khó hiểu của thiển sư. Hai cái &#8220;khó hiểu&#8221; đó hoàn toàn khác nhau, và nếu ta không biết phân biệt khi nào thì PCT-&#8220;khùng&#8221; đang nói và khi nào PCT-học giả về thiển đang nói, thiên tài, sở học và kiến thức của PCT không giúp được gì cho đời cả.</p>
<p>&#8211; 22.03.2011 vào lúc 9:58 am</p>
<p> <strong><em>Nguyễn Hoàng </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Thưa ông HKG Mirodor</p>
<p>Ông đã giải đáp cái câu cuối comment. Tôi chưa từng nghe được biết cuốn sách của thi sĩ Bùi Giáng viết về Cao bá Quát mà ông nói đã yêu thích thời nào. Trong giai kỳ thơ ca thế kỷ thứ 19 tôi được biết BG ngưỡng mộ Nguyễn Du. PCT cũng yêu thích Nguyễn Du, trong một chừng mực ít hơn, chàng có dịch một bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du. Sự yêu chuộng Nguyễn Du, Quách Tấn, Ba Tiêu của PCT là một điều tôi cho là sự quân bình Đông Tây hoàn vũ của PCT với những ưa thích riêng biệt ông đã dành cho những tác giả Tây phương thuộc bộ tộc &#8220;lạc loài&#8221; như Henry Miller, Thomas Wolfe, Max Jacob, William Saroyan… PCT tự động không thích những nhà văn đã nổi đình nổi đám mà nay ta gọi là celebrities. Chàng yêu những nhà văn thất bại, bên lề, thua cuộc. Tôi đoán chừng vậy. Không có gì chuẩn xác cả. Và tôi đoán(lại đoán nữa) PCT không ưa phân tâm học. Có lẽ chàng yêu thích khoa học vật lý hơn, những gặp gỡ của vật lý hiện đại và quan niệm của Phật giáo về thế giới.</p>
<p>Cảm ơn sự hồi âm của ông</p>
<p>Nguyễn Hoàng</p>
<p>&#8211; 23.03.2011 vào lúc 3:28 am</p>
<p> <strong><em>Phan Đức </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Xin góp ý với Nguyễn Hoàng,<br />
Thật ra,sách viết về một số nhà thơ như Nguyễn Khuyến,<br />
Cao Bá Quát,Nguyễn Công Trứ v.v.của BG.là bộ sách giáo<br />
khoa dành cho học sinh trung học mà tôi cũng từng học.<br />
Nhà thơ BG.có rất nhiều giai thoại (đa phần là có thật)<br />
nhưng hình như không ai biết ông có thời làm chủ bút tờ<br />
nguyệt san Định Hướng của Nguyễn Thiện Dzai.Trong thời<br />
Đệ I Cộng Hòa,ông NTD.thuộc Sở Nghiên Cứu Chính Trị.</p>
<p>&#8211; 23.03.2011 vào lúc 2:25 pm</p>
<p> <strong><em><a href="http://tienve.org/home/authors/viewAuthors.do?action=show&amp;authorId=1">Hoàng Ngọc-Tuấn</a> </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Ý kiến của Mirordor có rất nhiều chỗ hiểu lầm về ý nghĩa của những câu văn của PCT.</p>
<p>Thử lấy một ví dụ: <em>&#8220;Sự chuyển động toàn diện của tâm thức&#8221;</em> không phải là một triệu chứng manic, nhưng là một trạng thái của thiền định, Krishnamurti gọi đó là &#8220;the whole movement of conciousness&#8221;, và Sri Aurobindo gọi đó là &#8220;the total movement of consciousness&#8221;.</p>
<p>Và chỉ một đoạn văn sau đây thì đã đưa ra rất nhiều điều sai:</p>
<p><em>Có vài người thắc mắc về chuyện PCT có hề ở Úc chăng (Ông xuất ngoại từ năm 1970, từ Âu châu qua Mỹ năm 1983, và chưa hề rời Mỹ sau đó.) Và dĩ nhiên ta cũng có thế có những câu hỏi tương tự về cái bằng tiến sĩ ở Sorbone, hay chuyện PCT viết trong hồi ký năm 1970 rằng ông đã gặp Henry Miller năm 1965 tại Pacific Palisades, hay gặp Krishnamurti ở Paris trước năm 1970, những năm ông chưa hề xuất ngoại, theo các tài liệu về tiểu sử của ông tìm thấy trên mạng. Ta có thể kết luận rằng những &#8220;dữ kiện&#8221; trên là kết quả của những huyễn tưởng mà ông có trong những cơn manic.</em></p>
<p>1/ Sự thật là song thân của PCT ở Queensland, Úc, nên trong những năm 80, PCT thường xuyên về Úc. Sau đó, PCT đã lập gia đình với LPS ở Úc. Chị LPS là bạn thân của gia đình chúng tôi. PCT và LPS (người vợ cuối cùng của PCT) đã ở tại nhà số 28/85 Homer St, Earlwood, New South Wales 2206, Australia, trước khi dời sang Mỹ.</p>
<p>Chúng tôi vẫn thường xuyên đến chơi với PCT trong những năm đó. Thượng Tọa Thích Viên Lý và một số nhà sư ở Mỹ cũng đã có lần sang Úc và ở trọ tại ngôi nhà của PCT ở Earlwood:</p>
<p>Xem các bài:</p>
<p>&#8220;Hơi thở là con bướm trắng tung tăng trên cỏ&#8221; của Hoàng Ngọc-Tuấn:<br />
<a href="http://tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&amp;artworkId=12313">http://tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&amp;artworkId=12313</a></p>
<p>&#8220;5 bài thơ 5 chữ&#8221; của Phạm Công Thiện:<br />
<a href="http://tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&amp;artworkId=5960">http://tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&amp;artworkId=5960</a></p>
<p>&#8220;Giáo sư Phạm Công Thiện, một con người rất Người&#8221; của Thích Viên Lý:<br />
<a href="http://www.lytuongnguoiviet.com/index.php?option=com_content&amp;task=view&amp;id=4643&amp;Itemid=">http://www.lytuongnguoiviet.com/index.php?option=com_content&amp;task=view&amp;id=4643&amp;Itemid=</a></p>
<p>2/ PCT đã xuất ngoại từ cuối năm 1964, sang Mỹ du học, rồi sang Pháp năm 1966, gặp Thi Vũ, Nh. Tay Ngàn, Trần Hiếu… tại Paris.</p>
<p>Xem bài: &#8220;Về một bài thơ của Phạm Công Thiện&#8221; của Thi Vũ:<br />
<a href="http://www.gio-o.com/ThiVuPhamCongThienVeMotBaiTho.htm">http://www.gio-o.com/ThiVuPhamCongThienVeMotBaiTho.htm</a></p>
<p>3/ Không hề có bất cứ một lời nói hay một câu viết nào của PCT tự xưng là có bằng tiến sĩ ở Sorbonne. Vì thế, không thể dùng những lời đồn đãi của những kẻ khác để kết án ông.</p>
<p>4/ Năm 1965 PCT thật sự có gặp Henry Miller tại California, và một tình bạn vong niên đẹp đẽ đã diễn ra. PCT đã cho tôi xem khá nhiều thư từ, hình ảnh, tâm sự trao đổi giữa PCT và Henry Miller. Một số thư Henry Miller gửi PCT những năm 1965, 1966, đã có in trong cuốn TRIBU (xuất bản ở đại học Toulouse năm 1984). Cách đây 14 năm, tiến sĩ David Stephen Calonne (University of Texas at Austin) đã xuất bản cuốn sách: THE COLOSSUS OF ARMENIA: G.I. GURDIEFF AND HENRY , WITH FIVE PREVIOUSLY UNPUBLISHED MILLER LETTERS TO PHAM CONG THIEN (Ann Abor, MI: Roger Jackson, 1997). Trong đó có in 5 bức thư của Henry Miller gửi PCT:</p>
<p>Letter from Miller to Pham Công Thiên of September 28, 1972, trang 37-53.<br />
Letter from Miller to Pham Công Thiên of October 18, 1972, trang 54.<br />
Letter from Miller to Pham Công Thiên of November 7, 1972, trang 55-56.<br />
Letter from Miller to Pham Công Thiên of November 23, 1972, trang 57-58.<br />
Letter from Miller to Pham Công Thiên of December 12, 1972, trang 59-64.</p>
<p>Cuốn sách có quảng cáo trên Amazon:</p>
<p><a href="http://www.amazon.com/colossus-Armenia-Gurdjieff-previously-unpublished/dp/B0006RLP0G">http://www.amazon.com/colossus-Armenia-Gurdjieff-previously-unpublished/dp/B0006RLP0G</a></p>
<p>Và trên Google Books:</p>
<p><a href="http://books.google.com.au/books?id=X2adGwAACAAJ&amp;dq=%22THE+COLOSSUS+OF+ARMENIA%22&amp;hl=en&amp;ei=EquJTZGUOtTzcf-UgacM&amp;sa=X&amp;oi=book_result&amp;ct=result&amp;resnum=1&amp;ved=0CC4Q6AEwAA">http://books.google.com.au/books?id=X2adGwAACAAJ&amp;dq=%22THE+COLOSSUS+OF+ARMENIA%22&amp;hl=en&amp;ei=EquJTZGUOtTzcf-UgacM&amp;sa=X&amp;oi=book_result&amp;ct=result&amp;resnum=1&amp;ved=0CC4Q6AEwAA</a></p>
<p>5/ PCT thật sự có gặp Krishnamurti 2 lần vào năm 1966 tại Paris, khi đến tham dự 2 buổi nói chuyện của Krishnamurti tại Société Théosophique de France, 4 Square Rapp, 75007 Paris. Lần thứ nhì khi PCT đến Square Rapp thì có dắt theo thi sĩ Nh. Tay Ngàn. PCT có cho tôi xem vài cuốn sách do chính Krishnamurti ký tặng PCT tại Square Rapp, có thủ bút của Krishnamurti, ghi &#8220;Paris, Avril 1966″.</p>
<p>Vân vân…</p>
<p>Nói tóm lại, bài viết cần phải có sự nghiên cứu, tìm hiểu chính xác và cẩn thận hơn.<br />
NÊN TRÁNH NGHE LỜI ĐỒN ĐÃI.<br />
TRÁNH SỰ CỐ Ý XUYÊN TẠC.<br />
VÀ ĐỪNG VIẾT VÌ ÁC Ý.</p>
<p>&#8211; 23.03.2011 vào lúc 6:52 pm</p>
<p> <strong><em>mirordor </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Dĩ nhiên là PCT không ưa phân tâm học. Người nghiên cứu triết thuyết Hiện sinh sẽ có dịp đọc Sigmund Freud và (dù rằng tôi không thấy ai nói đến khi viết tiểu sử của PCT,) ông rành tiếng Đức. Mời bạn đọc đoạn trích văn sau đây, từ &#8216;Gữi một người đọc không quen&#8217; ở phần đầu của Ý thức mới…</p>
<p>&#8220;Ngôn ngữ của người điên không khác ngôn ngữ của thi sĩ lắm, chỉ có khác một điều: xã hội loài người có dựng lên bao nhiêu nhà thương điên mà không chịu dựng lên nhà thương thi sĩ.</p>
<p>Khi muốn phản đối người nào thì người ta nhốt hắn vào nhà thương điên; từ ngày bệnh điên trở thành một cái thời trang làm dáng cho bọn tự nhận là thiên tài thì phân tâm học ra đời tự nhận là phi thiên tài. Cái hạng người gọi là &#8220;bình thường&#8221; đầy dẫy ở mặt đất: trước khi nói một lời thì họ uốn lưỡi bảy lần, và vì uốn lưỡi nhiều quá cho nên lưỡi họ trở thành cong cong như lưỡi câu cá. Tội nghiệp cho những con cá mắc câu!&#8221;</p>
<p>Không ai nhốt thi sĩ vào nhà thương điên, nhưng triết gia/thiền gia thì có thể bị ngộ nhận là điên, nhất là người ăn nói ngang tàng như PCT! Không những PCT không thích phân tâm học (vì ông thừa thông minh để hiểu rằng Freud nói tào lao hơi nhiều, cũng như để hiếu là phâm tâm gia giỏi có thể &#8220;đi guốc vào bụng ông&#8221;), ông sợ phải nằm nhà thương điên như Bùi Giáng. Định bệnh đúng và chữa trị đúng thì bệnh nhân nhờ, nhưng định bệnh sai, hay cho thuốc sai thì khổ cho bệnh nhân lắm vì thuốc chữa tâm bệnh tạo nhiều hậu quả tai hại mà PCT có thể đã nghe BG kể. Phân tâm học chữa bệnh bằng phân tâm – nghe và nói, không bằng thuốc; tôi không biết có bao nhiêu người đáng gọi là phân tâm gia trong thời PCT ở Việt Nam, nhưng thuốc Thorazine thì chắc chắn có rồi.</p>
<p>Tôi cũng không nghĩ là PCT yêu thích khoa học vật lý. (Tôi viết kiến thức của ông có vẻ khiếm diện vì vậy). Người thông minh và thích khoa học vật lý sẽ dùng kiến thức về khoa học để đi tìm câu trả lời cho câu hỏi hiện sinh của mình. Tôi không bao giờ &#8220;thấy&#8221; PCT viết dài dòng về khoa học, và dù thỉnh thoảng ông nói đến cái đẹp của ngoại cành, ông nói như một nhà thơ, không như một người tìm hiểu sinh môi. Ngay chính cái tên hoa độc nhất bằng tiếng Việt mà ông nhắc đến, ông không dùng đúng (Hoa phong lữ mà ông có lần nói đến có lẽ là hoa mỏ hạc.) Những kiến thức căn bản vể khoa học từ những lớp trung học có thể thay đổi hẳn cái nhìn, hướng đi, tương lai và định mệnh của mỗi người. Vì thế tôi phân vân đời PCT sẽ ra sao nếu ông học hết tung học.</p>
<p>&#8211; 23.03.2011 vào lúc 9:07 pm</p>
<p> <strong><em>IAGN </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Phản hồi này sẽ không xuất hiện nếu không có những lời lăng nhăng của Dr. mirordor. duyên khởi là vậy vậy! Vì sao lăng nhăng? Lăng nhăng là gì?</p>
<p>1. Những trích dẫn vu vơ, rẻ tiền vài lời nhạc của Trinh Công Sơn để bàn về Phạm Cong Thiện.<br />
2. Tối thiểu nhất: Viết bậy tên những người không thể viết bậy nếu muốn bàn luận nghiêm túc: Heidegger, Kierkegaard<br />
3. Lăng nhăng nhất là đoạn này:<br />
&#8220;Tôi thương PCT ở chổ là ông biết thân phận và không hể tuyên bố là ta đã &#8220;ngộ&#8221;, ngay cả trong những lúc loạn ngôn nhất. Tôi không nghĩ là PCT có cơ hội đạt được giác ngộ vì những chu kỳ dồn dập của manic episodes mà ông gọi là &#8220;những cơn động đất thường xuyên của đời mình&#8221; hay những &#8220;cơn chuyển động toàn diện của tâm thức&#8221; không cho ông cơ hội tĩnh tâm nào đủ lâu dài để ông diệt được Phật, Chúa, và khai thị. Không những đã không có cơ hội khai thị và giác ngộ, PCT cũng đã không dùng được kiến thức của mình về Thiền để sống bình an. Về cuối đời, ông còn phải nương vào Phật Quán Thế Âm để có người nhắc đến mình.&#8221;</p>
<p>Nếu có chút ít &#8220;cảm thức&#8221; thiền, ngộ, etc, không thể viết theo điệu giun dế như vậy.<br />
Thiền là gì? Ngộ là chi chi?</p>
<p>&#8221; Lời Thang hỏi Cức&#8221; Phía Bắc miền hiếm cây, có bể thẳm, tức có ao trời. Có loài cá, nó rộng vài nghìn dặm, tên nó là CÔN. Có loài chim tên nó là BẰNG. Lưng bằng núi Thái, cánh như đám mây rủ ngang trời[&#8230;]. Dứt hơi mây, đội trời xanh tung đường sang Nam…&#8221;<br />
Con sẻ bên chầm cười rằng:&#8221; Nó sắp đi đâu vậy? Ta nhảy nhót bay lên, chẳng qua vài thước rồi xuống. Lượn lờ giữa đám cỏ tranh, bay đến thế cũng RẤT MỰC rồi! Nó tung cánh đi đâu vậy?&#8221;<br />
Đó là chỗ phân biệt LỚN, NHỎ,…[&#8230;]. Đem cả đời mà khen, không nức lòng thêm, đem cả đời mà chê, không bận lòng thêm[&#8230;]&#8221; (Trang Tử)</p>
<p>Đây cũng là một thứ lăng nhăng khởi bệnh từ &#8220;đơn thuốc&#8221; của Dr. mirordor.</p>
<p>Buồn thay cho ngôn từ!</p>
<p>&#8220;Trên tất cả đỉnh cao là im lặng&#8221;. PCT.</p>
<p>&#8211; 24.03.2011 vào lúc 8:08 am</p>
<p> <strong><em>thuy </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Hình như đọc câu &#8221; có lý khi cho PCT viết về Phật học để kiếm sống&#8221; có vẻ khinh thường triết gia PCT theo tôi. PCT không chỉ viết về Phật học, ông từng là giáo sư(giáo sư thì cần gì viết ngoài viết trên bảng?) , làm văn và làm thơ. Tôi chỉ nhớ mang máng các anh chị tôi đua nhau tìm sánh PCT để đọc trước 75 , mà trước 75 các tác giả sống sung túc nếu sách được độc giả ưa chuộng. Qua bên Pháp ông cũng từng đi dạy như vậy nghề giáo đã là nghề của ông, văn chương là nghiệp thì phải.<br />
Như tôi đã viết nhưng có lẽ bị kiểm duyệt, nếu chỉ dựa trên sách vở, không thăm khám bệnh nhân mà cho rẳng PCT bị schizophrenia hay psychosis tôi thấy có vẻ võ đoán. Sư chẩn bệnh phải dựa trên tiếp xúc, tối thiểu là nói chuyện với người bệnh để định bệnh. Nếu vậy thì có lẽ hầu hết các nhà văn đều mang tâm bệnh vì toàn là ta ôm trăng, ta ôm mặt trời , gửi tình yêu theo gió với mây…</p>
<p>&#8211; 24.03.2011 vào lúc 11:13 am</p>
<p> <strong><em>mirordor </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>&#8220;Thiền là gì? Ngộ là chi chi?&#8221;</p>
<p>Ông bạn (hay cô bạn?) có thể tự tìm câu trả lời bằng cách đọc PCT, Tuệ Sĩ, D.T. Suziki, Shunyu Susuki v.v…(hy vọng tôi không có đánh vần sai tên nào); hay đọc Bích Nham Lục, và Vô Môn Quan, nếu ông bạn không muốn dựa theo ý của người trung gian và thật tình muốn học hỏi về Thiền.</p>
<p>Còn nếu ông bạn chỉ muốn dùng ngôn từ và biện luận để đả kích người thì ông bạn xem thường người đọc/viết trên Da Màu quá.</p>
<p>&#8211; 24.03.2011 vào lúc 11:41 am</p>
<p> <strong><em>mirordor </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>&#8220;Hình như đọc &#8216;câu có lý khi cho PCT viết về Phật học để kiếm sống&#8217; có vẻ khinh thường triết gia PCT theo tôi.&#8221; Câu này đúng ra phải nên viết rỏ là cho thời điểm sau 1990. Trước &#8217;75, PCT viết cho mình nhiều hơn là cho người đọc; vì thế ông đã có lần viết là ông đốt hết 20 cuốn sách viết trong thuở thiếu thời. PCT đi dạy một phần dĩ nhiên là để mưu sinh vì ông không nương tựa vào gia đình từ lâu, và một phần vì Vạn Hạnh nhận ra tài ông. Tuy nhiên, một người biết rất rỏ về PCT (quý vị có thể đọc trên Đàn Chim việt) nêu ý kiến là ông &#8220;bị&#8221; sư thân cọng cài vào chùa Hải Đức và Vạn Hạnh vì họ muốn dùng cái biết của ông về Thiên chúa giáo; tôi không tin thuyết này, và nếu thuyết có đúng thì PCT không mắc bẩy, vì ông đứng trên thị phi và tôn giáo. Ban đầu ông học vế thiền, không phải vế Phật giáo. Chuyện ông tìn vào thần chú &#8220;Án Ma Ni Bát Di Hồng!&#8221; là chuyện xảy ra ở cuối đời ông.</p>
<p>&#8220;Sự chẩn bệnh phải dựa trên tiếp xúc, tối thiểu là nói chuyện với người bệnh để định bệnh.&#8221; Câu này chỉ đúng cho trường hợp bệnh thể xác. Bạn cứ hình dung một người bệnh tự nhiên á khẩu, không chịu nói chuyện, hay đang nổi cơn và bị trói hay giam, làm sao mà &#8220;nói chuyện&#8221;? Vì thế, định bệnh tâm thần dựa trên nhận xét và báo cáo của người thân hay của nhân viên trong trại, và trên bệnh sử. Trong trường hợp PCT, tìm bệnh sử là điều không khó vì chính ông là &#8220;nhân chứng&#8221; quan trọng nhất và đã lưu lại hàng trăm trang giấy dưới dạng tuỳ bút, khảo luận, nhật ký về đời mình, nghiên cứu, và suy luận của mình. Thay vì phái gợi chuyện, phân tâm gia chỉ cần &#8220;đọc&#8221; trước tác của ông. Trong thời buổi internet này, tìm nhân chứng về PCT cũng không khó gì. Điều khó là mấy người chịu khó đọc qua hàng trăm trang trên mạng, đối chiếu những tài liệu đôi khi tương phản nhau và hiểu thế đứng của người viết về PCT. Có nhiều &#8220;loại&#8221; người trong trường hợp này. Người thích hay chê Thiền, người mộ đạo hay không, người thích hay không thích thơ văn (và thích kiểu nào?), người lớn lên cùng thời với PCT, hay người làm học trò của ông. Và người thích hay ghét Trịnh Công Sơn!</p>
<p>Tôi không &#8220;võ đoán&#8221; đâu, tôi &#8220;nói có sách, mách có chứng&#8221; trong trường hợp PCT!</p>
<p>Cuối cùng, cho phép tôi sửa sai câu &#8220;…mà cho rẳng PCT bị schizophrenia hay psychosis&#8221;. Viết như thế là không hiểu gì ý tôi cả. Tôi không bao giờ nghĩ hay gọi PCT là schizophrenic hay psychotic. Hai chữ đó có nghĩa là &#8220;điên – crazy &#8221; trong lối nói bình dân, và bài viết của tôi muốn chứng mình rằng người đời không biết ta đang nói gì. Vì không hiểu PCT đang nói gì, và không biết ta đang nói gì, cứ gọi ông điên là xong. PCT không &#8220;điên&#8221; và PBD không đồng nghĩa với schizophgrenia hay psychosis. Hành văn và ngôn từ của PCT rất độc đáo và khó mà ví với sáng tác của đa số văn nghệ sĩ, nhưng đó không là bằng chứng rằng ông điên. Chì có Bùi Giáng, Saroyan và vài người khác giống ông, nhưng cũng chỉ trong vài trường hợp. Một người bạn của tôi gợi ý là PCT đã từng phạm tội &#8220;đạo ý&#8221;, và nếu bạn chịu khó đọc lại Ý thức mới về văn nghệ và triết học thì bạn có thể để ý rằng ông viết ra nhiều câu như thể đó lả ý tưởng đang đến trong đầu rồi đăng câu nguyên bản bằng tiếng Anh hay Pháp ngay dưới đó. Người khó tính còn có thể nghĩ đến đạo văn!</p>
<p>&#8211; 24.03.2011 vào lúc 12:45 pm</p>
<p> <strong><em>mirordor </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>&#8220;Ý kiến của Mirordor có rất nhiều chỗ hiểu lầm về ý nghĩa của những câu văn của PCT.&#8221;</p>
<p>Cám ơn anh Hoàng Ngọc Tuấn rất nhiều. Một người bạn ở Úc có báo tôi biết là anh sẽ phản hồi và sửa sai ý kiến của tôi.</p>
<p>Rất tiếc là những người biết nhiều về PCT như anh không lên tiếng sớm hơn để &#8220;giải mã&#8221; những thắc mắc mà người đọc cảm nhận sau khi đọc những tài liệu có trên mạng về tiểu sử của ông, nhất là khi những tài liệu đó được đăng tải bởi các cơ sở Phật Giáo thường xuyên liên lạc với ông hồi sinh thời. Con trai của ông nhắc đến Miller, the Surrealists, Campbell, Hegel, và Nietzsche trong danh sách những người ảnh hưởng đến mình nhưng không nhắc đến cha, mặc dù PC Lộ đang tìm người dịch qua Anh ngữ những best-sellers của cha, vì &#8220;It&#8217;s worth it.&#8221;</p>
<p>&#8220;Không hề có bất cứ một lời nói hay một câu viết nào của PCT tự xưng là có bằng tiến sĩ ở Sorbonne. Vì thế, không thể dùng những lời đồn đãi của những kẻ khác để kết án ông.&#8221; Tôi đọc lại những câu tôi viết và không thấy nơi nào tôi viết rằng ông &#8220;tự xưng&#8221; là có bằng tiến sĩ Sorbonne. Tôi cũng không nghĩ là PCT ham có cái mảnh bằng, cho dù nó đến từ Sorbonne, hay Yale. Hơn nữa, &#8220;kết án&#8221; PCT để làm gì? Ông chỉ hơn tôi vài tuổi, cũng mang những thắc mắc, hoài bảo như tôi trong tuổi thiếu thời, cũng đi những đoạn đường tôi đi qua để học làm người, tại sao tôi phải kết án ông?</p>
<p>Dù sao chăng nữa, những dữ kiện anh cung cấp giải toả một phân vân của tôi về tình trạng tâm thần của PCT. Phân vân đó là về huyễn tưởng hay loạn tưởng (delusion) rất hiếm thấy trong chứng bệnh BPD và nếu có, thường không kéo dài lâu, tháng này qua năm nọ. Không có delusion có nghĩa là bệnh của PCT chưa bao giờ nặng đến mức trở thành psychotic.</p>
<p>&#8220;Sự chuyển động toàn diện của tâm thức&#8221;, (và câu &#8220;những cơn động đất thương xuyên của đời mình&#8221;) có thể là lấy ý từ Krishnamurti hay Sri Aurobindo, nhưng cũng rất có thể là một lối nói văn hoa, và khá chính xác, để tả những manic episodes! PCT có khuynh hướng dùng ý, văn của các tác giả mà ông đang bàn đến và viết trong tiếng Việt như thể rằng chúng là của mình rồi đăng tiếp nguyên tác ngay ở dưới (hằng hà sa số trong tác phẩm &#8220;Ý thức mới…&#8221;). Nếu không có những hàng nguyên tác đó, chắc chắn có người đã buộc ông tội đạo văn! Lấy ý người làm ý mình thì cũng không sao; tôi nhớ một triết gia nào đó của Pháp (?) viết là khi một đứa bé hiểu được lời Khổng Tử, nó có thể nhận là nó nói!</p>
<p>Người tu Thiền có thể có một &#8220;the whole movement of conciousness&#8221; hay &#8220;the total movement of consciousness&#8221;, nhưng không có &#8220;chuyển động toàn diện của tâm thức phân ly&#8221; vì những ngôn từ Krishnamurti và Sri Auribindo dùng là để tả trạng thái &#8220;ngộ&#8221;. Người tu Thiền chỉ ngộ một lần và sau đó tiếp tục tu để đạt được đến &#8220;giác&#8221;, họ không ngộ trở lại, hay ngộ tiếp về một công án khác. Và &#8220;những động đất thường xuyên của đởi mình&#8221; chắc chắn không thể dùng để tả hiện tượng ngộ. Người tu Thiền &#8220;mong&#8221; được ngộ, và vui vì ngộ, không ai khỗ sau khi đột nhiên sáng mắt và thấy đời lên hương! Mời anh đọc bài thơ sau đây Thiền sư Vô Môn viết ngay sau khi ngộ.</p>
<p>Thanh thiên bạch nhật nhất thanh lôi<br />
Đại địa quần sinh nhãn hoát khai<br />
Vạn tượng sum la tề khể thủ<br />
Tu-di bột khiêu vũ tam đài.</p>
<p>Đó là một &#8220;whole movement of conciousness&#8221;. Mặc dù người đời có khuynh hướng gọi PCT là Thiền sư (PC Lộ xem cha là Zen Master), ông chưa hề ngộ.</p>
<p>&#8211; 24.03.2011 vào lúc 5:01 pm</p>
<p>T.Vấn tổng hợp ( Mar. 25, 2011)</p>
<p>©T.Vấn 2011</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/nh%e1%bb%9b-d%e1%bb%a9ng-ch%e1%bb%9d-ta-%e1%bb%9f-ci-siu/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>T.Vấn: Tiễn Người đi</title>
		<link>https://t-van.net/ti%e1%bb%85n-ng%c6%b0%e1%bb%9di-di/</link>
					<comments>https://t-van.net/ti%e1%bb%85n-ng%c6%b0%e1%bb%9di-di/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[T.Vấn]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 10 Mar 2011 01:59:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[cái chết]]></category>
		<category><![CDATA[giới thiệu]]></category>
		<category><![CDATA[thân phận]]></category>
		<category><![CDATA[thơ văn]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/testsite/wordpress/?p=2002</guid>

					<description><![CDATA[&#160; &#160; Kinh Kha sao chẳng qua sông Dịch Sao cứ đứng ngồi nhớ cố hương &#160; (Chiêu Niệm Tháng Tư- Nguyễn văn Chúc 02/2011) &#160; 1. Sáng thứ Bẩy 12 tháng 2 năm 2011, khi tôi rời Wichita xuôi nam về Dallas tham dự buổi ra mắt sách của một nàng dâu Nguyễn Trãi [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><em><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image002159.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; margin: 0px 20px 10px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; float: left; padding-top: 0px; border-width: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image002_thumb94.jpg?strip=all&fit=240%2C180" alt="clip_image002" width="240" height="180" align="left" border="0" /></a></em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em>Kinh Kha sao chẳng qua sông Dịch</em></p>
<p><em>Sao cứ đứng ngồi nhớ cố hương</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em>(Chiêu Niệm Tháng Tư- Nguyễn văn Chúc 02/2011)</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>1</strong>.</p>
<p>Sáng thứ Bẩy 12 tháng 2 năm 2011, khi tôi rời Wichita xuôi nam về Dallas tham dự buổi ra mắt sách của một nàng dâu Nguyễn Trãi thì hai bên đường vẫn sừng sững những núi tuyết đọng lại từ một tuần lễ giá buốt và bão tuyết kỷ lục của miền Trung nước Mỹ. Đến Dallas, trời đã ấm dần và nắng chan hòa. Ngày chủ nhật 13 tháng 2 quay về lại Wichita vào buổi hòang hôn chập chọang, những núi tuyết đã nhỏ dần, có chỗ chúng biến mất hẳn chỉ để lại dấu vết là những vũng nước lênh láng. Nhiệt độ ấm áp đã thay đổi bộ mặt thành phố trong lúc chúng tôi tạm vắng mặt. Sáng thứ hai 14 tháng 2, trên đường ra khỏi nhà đến sở, nắng đã chan hòa. Khi không, tôi chợt nhớ đến bài hợp xướng năm nào âm vang cả núi rừng Hòang Liên Sơn giữa cái buốt giá thấu xương của mùa Đông miền thượng du Bắc Việt. Bài hát mở đầu bằng những câu thật rộn rã:</p>
<p><em>Trời nắng lên rồi . Nắng lên r</em><em>ồi</em><em>.</em><em> . . . Nắng lên rồi . . . *</em></p>
<p>Hai câu hát ngắn nhưng được ngân nga kéo dài và đuổi nhau bằng các giọng bè liên lủy như những đợt sóng. Hãy tưởng tượng mùa đông xứ Bắc và cái đói rét của tù cải tạo. Mỗi sợi nắng lóe lên từ bầu trời đầy sương mù là một sợi hạnh phúc. Hạnh phúc đến muốn chảy nước mắt.</p>
<p>Tôi đang ngồi trong lòng xe ấm áp, nhìn bên ngòai cái nắng ngọt ngào của mùa đông xứ người mà lại nhớ đến câu hát năm xưa nơi trại cải tạo Phong Quang, một trong những trại tù khủng khiếp nhất của miền Bắc, tọa lạc ngay dưới chân đỉnh Sapa và cách cửa khẩu đường biên giới Việt Nam –Trung quốc chỉ 17 cây số đường chim bay.</p>
<p>Tất nhiên, tôi nhớ đến những người bạn tù, những lồng ngực xẹp lép, những cái cổ trơ cục táo Adam, những cái miệng hốc hác ra sức rống lên câu hát chào ngọn nắng mùa đông năm nào, mà nhớ nhất là người nhạc trưởng tài hoa Nguyễn văn Chúc, xuất thân khóa 2 ĐH/CTCT/ Đà lạt với hai bàn tay đánh nhịp vốn đã gầy gò lại càng gầy gò vì thiếu ăn, thiếu mặc.</p>
<p>Đó là một con người mà mới nhìn vào, người ta đã có cảm giác tin cậy, thân thuộc. Anh có một khuôn mặt và vóc dáng nghệ sĩ, từ mái tóc đến đôi gọng kính cận mà thỉnh thỏang anh có thói quen lấy ngón tay trỏ của bàn tay phải đẩy nhẹ ngược trở lại sống mũi. Giọng nói Hà nội nhẹ, ấm áp, hiền lành. Hàng đêm, sau khi bị lùa vào phòng giam chứa 50 con người, giữa cái đói và cái lạnh liên tục cào xé thân thể, chúng tôi chờ nghe tiếng đàn Classic của anh thánh thót vang ra từ chiếc đàn tây ban cầm tự chế. Tiếng đàn ấy chính là vị cứu tinh đã đưa chúng tôi tạm thời thóat khỏi sự hành hạ của đói và rét. Người nhạc sĩ tài hoa ấy cũng đói và rét chẳng kém chúng tôi, nhưng hàng đêm anh vẫn gò lưng ôm đàn. Ít nói, khiêm tốn, sống chan hòa với mọi người, cộng thêm tài năng âm nhạc, là ca trưởng ban hợp xuớng đội văn nghệ trại tù Phong Quang, nên anh dễ dàng kết thân với mọi người, nhất là với những người trẻ tuổi cùng trang lứa, cùng tâm hồn say mê thơ nhạc, trong đó có tôi và người bạn nhạc sĩ Trần Lê Việt. Ngòai ra, Nguyễn văn Chúc còn là đàn anh của tôi ở trường CTCT. Ngày ấy, chúng tôi còn trẻ lắm, gặp nhau giữa rừng núi thượng du Bắc Việt khi tuổi đời chưa có ai vượt quá 30. Bao hòai vọng, bao mơ ước, bao tâm sự được chia sẻ đồng đều cùng với những điếu thuốc đen khét lẹt, những bi thuốc lào cần kiệm và những thỏi đường đen ngòm bẻ ra chia nhau mỗi người một miếng nhỏ như chia nhau những mảnh vỡ của một tuổi trẻ vô vọng trong những nhà tù không biết đến ngày trở về. Trong đám trẻ lúc nào cũng đầy uất ức ấy, Nguyễn Văn Chúc điềm đạm đương nhiên đóng vai trò đầu đàn. Trái tim nghệ sĩ của Chúc chứa đựng nhiều tham vọng lắm, nhưng do bản tính hiền hòa, ít nói, anh không bao giờ để lộ ra như những bạn trẻ ồn ào. Chúc viết nhạc, Chúc sọan hòa âm, Chúc làm thơ. Tội nghiệp thay thế hệ tuổi trẻ chúng tôi. Những năm tháng đẹp nhất đời một con người, những năm tháng mạnh mẽ nhất của sự sáng tạo, lại bị phí hòai trong bốn bức tường ngục tù. Chưa kể, còn bị kềm hãm bởi chế độ cai tù nghiêm nhặt, bởi cái đói, cái rét, những thứ đời thường cột chân, cột cánh người nghệ sĩ, như chàng nghệ sĩ thật đáng yêu Nguyễn văn Chúc của tôi.</p>
<p>Đời cải tạo vốn bị di chuyển liên miên, nay trại này mai trại nọ. Dạo chúng tôi ở Phong Quang là cuối năm 1978. Khi rục rịch có tin &#8220;Trung quốc sẽ cho Việt Nam một bài học&#8221;, vì trại Phong Quang nằm sát ngay biên giới Việt Trung, nên để phòng hờ chúng tôi &#8220;được&#8221; Trung quốc giải thóat, họ đã chuyển tòan bộ tù sĩ quan &#8220;ngụy&#8221; về Vĩnh Quang, một trại nằm ở miền Trung du Vĩnh Phú. Về Vĩnh Phú, anh em chúng tôi bị &#8220;tan đàn sẻ nghé&#8221;. Anh Chúc về đội 7 nông nghiệp, tôi qua đội 6 tổ cầy, Trần Lê Việt về đội 8 cũng là nông nghiệp.</p>
<p>Năm tháng tù tội tuy dài đằng đẵng nhưng rồi cũng trôi qua. Nhiều năm sau, chúng tôi lần lượt được thả khỏi trại tù. Lớp được về từ trại Vĩnh Quang, lớp bị đưa vào Nam &#8220;cải tạo&#8221; thêm một thời gian rồi mới được thả. Tôi và Việt ở dạng thứ hai. Còn anh Chúc ra trại từ Vĩnh Quang (hay được đưa đi Nam Hà? chi tiết này tôi không nhớ vì nhiều năm sau chúng tôi mỗi người một đội, ở những phòng giam khác nhau, có sinh họat khác nhau nên không thể nhớ. Vả chăng, đã mấy chục năm rồi, trí nhớ ngày một còm cõi, tôi không dám quả quyết được điều gì).</p>
<p>Khi ra khỏi trại tù nhỏ, chúng tôi còn mất một thời gian dài thất điên bát đảo với bao nỗi truân chuyên của nhà tù lớn là đất nước những năm 80s. Khi ấy, chúng tôi thực sự lạc nhau. Tôi và Việt còn gặp nhau say sưa hàng ngày bên những xị rượu Cây Lý uống vào chỉ đái ra máu, còn Chúc thì chẳng biết thất lạc phương nào. Dường như anh về lại Trại Hầm, Đà Lạt kiếm kế sinh nhai cùng với gia đình.</p>
<p>Chúng tôi xa nhau từ ngày ra khỏi trại tù.</p>
<p><strong>2</strong>.</p>
<p>Tháng 8 năm 2008, tôi đưa gia đình về Nam Cali tham dự ngày hội ngộ 35 năm khóa Nguyễn Trãi 3 Ra trường. Ngày nghỉ thì ngắn, mà bao nhiêu công việc gặp gỡ, hẹn hò, bàn tính chiếm khá nhiều thì giờ khiến tôi quên bẵng Chúc, dù trước khi ra đi đã được Việt dặn dò hãy tìm cách gặp Chúc một lần.</p>
<p>Một buổi trưa, sau khi xong công việc hội ngộ, tôi và gia đình cùng với vài người bạn đi San Diego thăm Sea World, như để đền bù cho các con vì chúng đã phải theo bố mẹ bận rộn những việc không có chút nào liên quan đến &#8220;vacation&#8221; như tôi hứa hẹn với chúng từ ở nhà. Điện thọai reo. Nhìn số rất lạ, nhưng thuộc khu vực Nam Cali. Đầu dây bên kia vang lên giọng nói ấm áp dịu dàng của Chúc, dịu dàng ấm áp đến độ không thể lầm được dù đã hơn 20 năm chưa nói chuyện. Chúc đang ngồi với mấy người bạn cùng khóa, và một trong những niên trưởng ở đó có số điện thọai của tôi. Sau những câu hỏi thăm về gia đình, về đời sống, Chúc nói rất nhiều đến những bài viết của tôi mà Chúc có dịp đọc đây đó, như một nhắc nhở rằng dù xa xôi cách trở, dù không một sợi dây liên lạc, Chúc vẫn ưu ái nhớ đến anh em bằng hữu và những chia sẻ từ những ngày khốn khó năm xưa. Tôi ngỏ ý muốn được gặp Chúc trước khi rời Nam Cali về lại Wichita. Chúc bảo bận tâm làm gì đến việc đó, cứ lo cho gia đình vui chơi trong khỏang thời gian ngắn ngủi còn lại. Anh em mình thiếu gì dịp gặp gỡ nhau trong tương lai.</p>
<p>Ngày ấy, tôi rời Nam Cali mà không gặp Chúc, không cả cú điện thọai nói lời tạm biệt.</p>
<p>Cuộc sống lại như những con sóng, đẩy tôi đi như đẩy những cái phao lênh đênh không một cơ hội dừng chân lại. Tôi quên bẵng Chúc như trước đây, ngày ra khỏi trại giam tôi quên bẵng Chúc.</p>
<p><strong>3</strong>.</p>
<p>Một hôm, tôi nhận được e-mail của niên trưởng Lê Như Phò khóa 2. Anh giới thiệu trang Web của khóa 2 vừa được thực hiện để vận động cho ngày hội ngộ 40 năm vào tháng 5 năm 2011. Tôi vào trang Web có bài vở rất phong phú và trình bầy thật trang nhã này và bắt gặp mấy bài thơ của Chúc.</p>
<p>Những bài thơ nhắc tôi nhớ đến những ngày chúng tôi hàng đêm ngồi bên nhau, với tiếng đàn tiếng hát, với những hòai bão, ẩn ức chất chứa trong lòng. Tất cả những gì chất chứa trong trái tim nghệ sĩ của Chúc ngày ấy, hiển hiện rõ trong từng câu thơ trước mặt tôi. Đọc thơ Chúc mà như đọc đôi mắt hiền lành dấu dưới cặp kính cận dầy cộm ngày nào.</p>
<p><em>. . . . . . . .</em></p>
<p><em>Lại nhớ những mùa đông viễn xứ<br />
Thân tù héo hắt nỗi nhục vinh<br />
Ôi những đời trai ôm chí cả<br />
Cũng tàn theo vận nước điêu linh<br />
Đã thế thì thôi ly nữa nhé<br />
Ngàn chung chắc hẳn xóa niềm đau<br />
Mắt cay chắc hẳn vì hơi rượu<br />
Đâu phải vì ta thấm nỗi sầu<br />
Xa quê bạc tóc đi tìm bạn<br />
Mượn chút tình chia sớt sầu riêng<br />
Để khi chát đắng hồn lưu lạc<br />
Lại thấy trong nhau cả nỗi niềm</em></p>
<p><strong><em>Nguyễn Văn Chúc </em></strong></p>
<p>Tôi định bụng sẽ dành hẳn trang Ghi Chép trên trang Web của mình để nói về những bài thơ của Chúc, những &#8220;<em>bài thơ làm từ ngày tháng nọ / Mấy mươi năm câu chữ vận theo người </em>&#8220;. Những bài thơ đã được tôi lấy đem về máy, cất đó để rồi sẽ được lấy ra đọc lại, viết một đôi điều gởi đến Chúc như dạo nào Chúc đã nói với tôi về những bài viết của tôi mà Chúc đã đọc.</p>
<p>Rồi công việc viết lách cũng bị cuốn theo những sự kiện mà tôi không thể bỏ qua. Những bài thơ của Chúc vẫn nằm đó, cho đến khi nào, tôi không biết. Tôi cũng chẳng hề cho Chúc biết ý định của mình. Muốn dành cho người niên trưởng đáng yêu đáng kính một bất ngờ, như để đền đáp chút ân tình ngày nào.</p>
<p><strong>4.</strong></p>
<p>Chiều ngày thứ Hai 14 tháng 2 năm 2011, đi làm về. Như thói quen thường lệ, tôi mở hộp thư điện tử. Có một thư gởi từ nhóm thư của cựu tù Phong Quang, Vĩnh Quang. Lá thư vỏn vẹn vài hàng cho biết Nguyễn Văn Chúc đột ngột qua đời vào lúc 2:30 trưa cùng ngày, vì heart attack.</p>
<p>Chưa bao giờ tôi sửng sốt đến tê người như hôm nay. Thật vậy sao? Mới sáng nay, nhìn &#8220;<em>N</em><em>ắng lên rồi. Nắng đã lên rồi</em>&#8221; rực rỡ giữa bầu trời mùa đông, tôi đã nhớ đến bài hát năm nào mà Chúc là nhạc trưởng, tôi đã rống to &#8220;nắng lên rồi&#8221; với tất cả niềm vui vì sự ấm áp của đất trời. Nhớ bài hát, rồi nhớ bạn bè, nhớ Chúc. Và ý định viết về những bài thơ của Chúc lại chợt thôi thúc đến độ chỉ muốn ngồi vào bàn viết. Và chỉ vài tiếng đồng hồ sau, được tin Chúc đã bỏ gia đình, bỏ bằng hữu, ra đi.</p>
<p>Tôi vội viết vài hàng hỏi thăm một niên trưởng cùng khóa của Chúc cũng định cư ở Nam Cali. Cái chết đã được xác định. Chẳng phải là hoax, chẳng phải là &#8220;cá tháng tư&#8221; vì bây giờ mới tháng 2 và mùa xuân đang ngấp nghé ngòai ngõ.</p>
<p><em>Chúc đã ngủ và không bao giờ Chúc thức dậy nữa.</em></p>
<p>Còn tôi, đã không kịp làm bất cứ điều gì, viết bất cứ điều gì, về những bài thơ của Chúc, về những hòai bão, những ước mơ, những uất ức của Chúc, của tôi, của tuổi trẻ năm xưa, về cái &#8220;<em>Tháng Tư hảo hán cũng rơi lệ / Nước mắt đã đầy một biển Đông&#8221;, </em>cái tháng Tư mà Chúc mới vừa nhắc lại đây vào tháng 2 năm 2011. Cũng mới mấy hôm đây thôi, Chúc than thở <em>&#8220;Mấy chục năm xa lạc dấu quê / Tuyết sương từ độ phơi tóc trắng / Chẳng biết có không một nẻo về /&#8221;.</em></p>
<p>Có hay không một nẻo về hả Chúc? Tôi tin rằng, người anh, người bạn của tôi giờ đã có câu trả lời. Nhưng cũng sẽ chỉ mình anh biết, mình anh hay, trên nẻo về lạnh lẽo ấy.</p>
<p>Đời tôi đã hai lần hụt với Chúc. Cái hụt gặp Chúc một lần trước khi Chúc lên đường về nơi miên viễn, cái hụt viết về bạn đôi điều trước khi bạn vĩnh viễn khép đôi mắt hiền lành ngủ yên trong cõi vô thường.</p>
<p>Đường thì xa xôi cách trở. Nợ áo cơm thì nặng nề. Chúc thấy không &#8220;<em>Lâu nay viễn xứ đời cơm áo? Quay cuồng không phải một mình ta /&#8221;,</em> nên hẳn là tôi vẫn sẽ không thể đến để đặt tay lên nắp quan tài bạn như cái xiết tay hẹn tái ngộ nhau chốn nẻo về. Nhưng vẫn kịp viết đôi điều về bạn, về những ngày xưa khốn khó của chúng ta, về &#8220;<em>tháng Tư có kẻ ra biển đứng / Lớn tiếng kêu than vọng đất trời /&#8221;.</em></p>
<p>Có ai không, những anh em bằng hữu của chúng ta, đốt dùm tôi những dòng chữ này tiễn Chúc lên đường về cố quận? **</p>
<p><strong>T.Vấn</strong></p>
<p>15 tháng 2 năm 2011</p>
<p>*Trích trong trường ca &#8221; Ngày Trọng Đại &#8221; của Hòang Thi Thơ. Nguyễn văn Chúc sọan hòa âm 3 giọng bè. Hãy tưởng tượng nhạc Hòang Thi Thơ được chính thức công diễn trên sân khấu trại tù Cộng sản nhờ sự can đảm lẫn khôn khéo của Nguyễn văn Chúc.</p>
<p>**Những dòng chữ tưởng niệm một người bạn cuối cùng cũng đã được đọc trước quan tài của người đi. Xin cám ơn những tấm lòng tri kỷ.</p>
<p>***Tất cả những đọan in nghiêng, trong ngoặc kép, là thơ của Nguyễn văn Chúc. Cám ơn thượng đế, người đi nhưng thơ vẫn ở lại.</p>
<p>Dưới đây là bài thơ &#8220;Chiêu niệm tháng 4&#8221;, di cảo của Nguyễn văn Chúc, viết một tuần trước ngày Chúc nằm xuống.</p>
<p><em>CHIÊU NIỆM THÁNG TƯ</em></p>
<p><em>Tháng Tư có kẻ ra biển đứng<br />
Lớn tiếng kêu than vọng đất trời<br />
Nên gió gào thét sóng gào thét<br />
Hải âu cánh dạt mịt mù khơi<br />
Tháng Tư có kẻ bầy hương án<br />
Nến thắp đôi hàng chiêu niệm ai<br />
Ta nghe thảm thiết lời kinh khổ<br />
Nhang khói gọi hồn sông núi ơi<br />
Tháng Tư nghe tiếng hờn ai oán<br />
Anh hùng hào kiệt thác oan khiên<br />
Chương sử trăm hồi chưa chép hết<br />
Còn động trời NAM tiếng sấm rền<br />
Tháng Tư nắng đỏ thấm sắc máu<br />
Hỏi người còn nhớ cuôc binh đao?<br />
Bạn ta chết dữ không bia mộ<br />
Phách tán hồn xiêu ở chốn nào?</em></p>
<p><em>Tháng Tư hảo hán cũng rơi lệ<br />
Nước mắt đã đ</em><em>ầ</em><em>y một biển đông<br />
Tràn lấp càn khôn mờ nhật nguy</em><em>ệ</em><em>t<br />
Thành lời thống hối tạ non sông<br />
Tháng Tư kể chuyện người biệt xứ<br />
Mấy chục năm xa lạc dấu quê<br />
Tuyết sương từ độ phơi tóc trắng<br />
Chẳng biết có không một nẻo về<br />
Chúng ta ơi những đời vong quốc<br />
Gặp nhau lại thấy Tháng Tư buồn<br />
Kinh Kha sao chẳng qua sông Dịch<br />
Sao cứ đứng ngồi nhớ cố hương?<br />
<strong>Nguyễn Văn Chúc</strong></em></p>
<p><strong><em>(1948-2011)</em></strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2011</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ti%e1%bb%85n-ng%c6%b0%e1%bb%9di-di/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Như Hoa: Người Đi Qua Nhà Tôi</title>
		<link>https://t-van.net/ng%c6%b0%e1%bb%9di-di-qua-nh-ti/</link>
					<comments>https://t-van.net/ng%c6%b0%e1%bb%9di-di-qua-nh-ti/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Như Hoa]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 23 Feb 2011 20:32:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Ghi Chép]]></category>
		<category><![CDATA[cái chết]]></category>
		<category><![CDATA[tuổi già]]></category>
		<category><![CDATA[tùy bút]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/testsite/wordpress/?p=2142</guid>

					<description><![CDATA[Trong dòng sống tất bật mà chúng ta bị hút vào mỗi ngày, có lúc nào bạn đủ sức cưỡng lại, bước ra đứng bên lề , để nhìn thật kỹ sự hiện hữu của mình, sự hiện hữu của người, của vạn vật chung quanh. Có lúc nào bạn chợt nhận ra, một người [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image002168.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; margin: 0px 20px 10px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; float: left; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image002_thumb102.jpg?strip=all&fit=261%2C173" alt="clip_image002" width="261" height="173" align="left" border="0" hspace="12" /></a></p>
<p><em>Trong dòng sống tất bật mà chúng ta bị hút vào mỗi ngày, có lúc nào bạn đủ sức cưỡng lại, bước ra đứng bên lề , để nhìn thật kỹ sự hiện hữu của mình, sự hiện hữu của người, của vạn vật chung quanh. Có lúc nào bạn chợt nhận ra, một người nào , một vật nào đó đó vừa biến mất khỏi thế gian này . Và có lúc nào bạn giật mình nghĩ đến cái khỏanh khắc mình cũng mất tăm như thế, không ai biết, không ai hay ? Có biết, có hay, có thương tiếc của người thân , của bạn bè rồi thì cũng nguôi ngoai theo ngày tháng. Ai cũng phải sống cuộc đời của mình cho đến ngày . . . chết.</em></p>
<p><em>Tôi nhận được đỏan văn sau đây của nhà thơ Như Hoa Lê Quang Sinh, một vị lão niên tuổi đời đã khá nặng nề. Những ghi chép của ông về một con người đi qua nhà ông không bằng con mắt dửng dưng của kẻ đứng bên lề. Ông nhận ra sự hiện hữu của một sinh vật ( người đàn ông ) . Và thật đáng yêu, ông cũng nhận ra được sự không còn tồn tại của sinh vật ấy.</em></p>
<p><em>Hy vọng &#8221; người đi qua nhà tôi &#8221; sẽ về được nơi ông muốn về.</em></p>
<p><em>T.Vấn</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-size: x-large;">Người Đi Qua Nhà Tôi</span></p>
<p><span style="font-size: x-small;"><strong><em>Như Hoa Lê Quang Sinh</em></strong></span></p>
<p>Một ngày như mọi ngày… Từ sáng sớm hơi sương còn lãng đãng trong không gian tĩnh lặng, một bóng người lầm lủi lê gót chân từng bước, từng bước khập khễnh đi ngang qua sân trước nhà tôi. Từ cửa sổ thư phòng nhìn ra ngoài, hình bóng một người đàn ông trạc tuổi lục tuần ẩn hiện sau hàng cây cảnh trước sân nhà. Bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông, dù nắng mưa hay rét mướt, người đàn ông này vẫn xuất hiện với cây gậy trên tay chống đỡ tấm hình hài gầy guộc, tật nguyền, vẫn chiếc nón lưỡi trai che đầu mưa nắng, vẫn chiếc áo khoác xanh cũ kỹ phai màu và cái túi xách nhỏ quàng ngang vai. Thoạt đầu tôi cứ tưởng ông ta là một người vô gia cư, hay một người hành khất lang thang trên con đường vô định…</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image00348.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image003" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image003_thumb28.jpg?strip=all&fit=399%2C263" alt="clip_image003" width="399" height="263" border="0" /></a></p>
<p>Hỏi ra mới biết ông ta là một người tù cải tạo, qua định cư tại Hoa Kỳ dưới dạng tỵ nạn chính trị sau khi vượt biên qua ngả Thái Lan. Ông đi một mình để lại vợ con ở quê nhà. Qua Mỹ ông bắt đầu làm việc kiếm sống. Nhưng không may ông bị tai nạn lao động gãy một chân nên từ đó không kiếm được việc làm. Ông sống với sự trợ cấp của chính phủ. Nơi ở của ông là một căn phòng nhỏ thuê lại của chủ nhà. Ông sống cô đơn, không người thân, không bạn bè, thậm chí ông không có đến một phương tiện gì để giải trí, như TV, Radio… Cuộc sống của ông là những chuổi ngày thầm lặng bên lề xã hội. Mặc dù tật nguyền, ốm yếu, ông cũng tự lo lấy đời sống của mình qua ba việc rất đổi bình thường: đi chợ mua thức ăn nấu sẳn, tự giặt giủ áo quần, và tối đến là lên giường ngủ. Vợ ông ở Saigon đã đi lấy chồng và không còn liên lạc với ông nữa. Ông cũng không có đủ khả năng để bảo lãnh hai đứa con qua Mỹ, đành âm thầm sống một mình trong cô đơn giữa một xã hội văn minh vốn có sẳn nhiều phương tiện kỷ thuật tân tiến phục vụ con người.</p>
<p>Đã mấy năm nay, mỗi sáng sớm tôi vẫn thấy ông đi qua nhà tôi, một mình lủi thủi lê bước chân khập khiễng, tay tựa trên chiếc gậy mong manh như thân xác gầy gò xanh xao không còn sinh lực của ông. Ông bước đi chậm rãi, luôn luôn cúi mặt xuống đất không nhìn lên trời, có lẽ ông không muốn nhìn thấy cảnh đời bon chen xuôi ngược để cho cõi lòng mình được yên bình thanh thản. Hình như chiếc mũ lưỡi trai chụp trên đầu cũng đồng tình với ông; nó che khuất tầm nhìn lên của ông. Sáng sớm ông đi và đến xế trưa ông mới trở về. Ông sống nơi phồn hoa đô thị mà cầm bằng như ở chốn lâm tuyền. Ông chỉ biết một con đường từ nhà ông đến chợ và trở về. Đôi khi mỏi mệt ông dừng chân trước sân nhà tôi để ngắm những bông hoa, cây cảnh trong vườn. Ông chiêm ngưỡng thật lâu những cánh hoa màu đỏ thắm của cây lựu nở rộ vào mùa Xuân. Có thể màu đỏ thắm của hoa lựu làm ông nhớ lại màu hoa phượng vĩ trước sân trường ghi dấu ấn những kỷ niệm êm đềm của thời dĩ vãng, thời học sinh thơ mộng xa xưa…</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image00525.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image005" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image005_thumb12.jpg?strip=all&fit=417%2C276" alt="clip_image005" width="417" height="276" border="0" /></a></p>
<p>Mùa Đông năm nay ở Dallas thời tiết khá lạnh không như những năm trước đây và kéo dài rất lâu. Ban đêm hàn thử biểu xuống 25-28 độ F, ban ngày lên chút đỉnh đến 30-40 độ F. Ngồi trong xe còn phải mở máy nóng. Thế nhưng ông vẫn mặc chiếc áo khoác mỏng với chiếc quần kaki cũ kỹ và vẫn bình thản đi đi về về bất chấp cái lạnh buốt xương. Ông phải đi để mua thức ăn hằng ngày đã nấu sẳn ở chợ; ông không biết làm bếp, và bà chủ nhà không cho ông sử dụng tủ lạnh để trữ thức ăn. Hoàn cảnh của ông thật bi đát. Cảm thông tình cảnh của ông, tôi đem tặng ông chiếc áo khoác bằng nỉ và một cái khăn choàng cổ cho đở lạnh. Ông vui vẻ nói lời cám ơn.</p>
<p>Mùa Đông qua đi, rồi mùa Xuân lại đến. Những cây cảnh trước sân nhà đã cùng với tiết xuân đơm hoa nở nhụy. Cây lựu đã nở rộ những chùm hoa đỏ rực tươi thắm như mời gọi người khách qua đường dừng chân chiêm ngưỡng. Nhưng mùa Xuân năm nay, từ cửa sổ thư phòng nhìn ra vườn, tôi không còn thấy bóng dáng ông đi qua nhà tôi nữa.</p>
<p>Như Hoa Lê Quang Sinh</p>
<p>Xuân Tân Mão</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2011</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ng%c6%b0%e1%bb%9di-di-qua-nh-ti/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>T.Vấn: Th&#234;m một c&#225;i chết trẻ thơ</title>
		<link>https://t-van.net/thm-m%e1%bb%99t-ci-ch%e1%ba%bft-tr%e1%ba%bb-th%c6%a1/</link>
					<comments>https://t-van.net/thm-m%e1%bb%99t-ci-ch%e1%ba%bft-tr%e1%ba%bb-th%c6%a1/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[T.Vấn]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 14 Jan 2011 21:10:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Ghi Chép]]></category>
		<category><![CDATA[cái chết]]></category>
		<category><![CDATA[thảm kịch]]></category>
		<category><![CDATA[thế hệ trẻ]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/testsite/wordpress/?p=2152</guid>

					<description><![CDATA[&#160; Cái chết của trẻ thơ, không phải là cái chết theo nghĩa thông thường. Các em chỉ ra khỏi chỗ mà con mắt trần gian có thể nhìn thấy được. Nhưng là người cha, người mẹ, chúng ta đã để cho những điều ác xẩy ra, khiến các em phải lìa bỏ trần gian. [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image002169.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; margin: 0px 20px 10px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; float: left; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image002_thumb103.jpg?strip=all&fit=290%2C196" alt="clip_image002" width="290" height="196" align="left" border="0" /></a></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em>Cái chết của trẻ thơ, không phải là cái chết theo nghĩa thông thường. Các em chỉ ra khỏi chỗ mà con mắt trần gian có thể nhìn thấy được. Nhưng là người cha, người mẹ, chúng ta đã để cho những điều ác xẩy ra, khiến các em phải lìa bỏ trần gian. Liệu chúng ta có thể yên ổn bước chân lên giường ngủ hàng đêm, yên ổn làm dấu thánh gía trước khi nhắm mắt lại tìm sự nghỉ ngơi cho thân xác, yên ổn tin rằng ngày mai con em mình sẽ đến trường, sẽ được trở về nhà bình an, sẽ lại nằm thỏai mái trong căn phòng quen thuộc của chúng?</em></p>
<p>Bài viết từ nhiều năm trước, quay trở về ám ảnh, khi trước mắt tôi trên màn ảnh truyền hình, tang lễ của bé gái 9 tuổi Christina Taylor Green, đang diễn ra dưới sự chứng kiến của hầu như rất nhiều người trên tòan thế giới.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image00349.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border: 0px;" title="Congresswoman Shot" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image003_thumb29.jpg?strip=all&fit=399%2C264" alt="Congresswoman Shot" width="399" height="264" border="0" /></a></p>
<p>Ngày thứ bẩy 8 tháng 1 năm 2011, trong cuộc gặp gỡ cử tri của dân biểu Gabrielle Giffords tại thành phố Tucsons, tiểu bang Arizona, một thanh niên 22 tuổi đã nã súng bắn vị dân biểu và vào đám đông tụ tập chung quanh bà. Bà dân biểu bị thương nặng ở đầu, 5 người chết và 13 người bị thương. Trong số 5 người chết, có 1 bé gái mới 9 tuổi.</p>
<p>Chritina Taylor Green, bé gái nạn nhân của bạo lực, của kẻ điên cuồng, của tội ác, của những tranh cãi chính trị, là nỗi nhức nhối của tất cả những ai còn lương tâm, còn nghĩ đến con người, còn nghĩ đến việc xây dựng một thế giới xứng đáng cho con cháu mai sau sinh sống.</p>
<p>Christina sinh đúng ngày 11 tháng 9 năm 2001, ngày mà bạo lực chứng tỏ sự độc ác vô nhân nhất của nó qua hành động khủng bố cướp máy bay đâm vào tòa tháp đôi ở thành phố New York khiến hơn 3 ngàn người thiệt mạng. Cái ngày sinh định mệnh ấy dường như có một dấu ấn trên tâm hồn trẻ thơ. Cô bé có một sự quan tâm đặc biệt đến chính trị, đến việc tạo dựng một xã hội dân chủ, văn minh cho con người. Chính vì lẽ đó, cô có mặt trong cuộc meeting dành cho người lớn nói về những vấn đề chung của đất nước. Và cũng chính vì sự có mặt đó, cô bé trở thành nạn nhân trẻ nhất của một bi kịch chính trị.</p>
<p>Tổng thống Obama, trong bài diễn văn gây nhiều xúc động cho nước Mỹ, đã nhấn mạnh: <em>&#8220;Cô bé đã nhìn mọi chuyện xẩy ra trong thế giới người lớn bằng đôi mắt trẻ thơ, vốn chưa hề bị ô nhiễm vì những sự cay độc mà người lớn chúng ta đã quá quen thuộc. Tôi muốn chúng ta phải làm sao đạt được điều mà Christina mong đợi nơi thế giới người lớn. Tôi muốn rằng, nền dân chủ của chúng ta phải tốt đẹp như Chritina đã tưởng tượng . . . &#8220;</em></p>
<p>Kẻ sát nhân 22 tuổi là một thanh niên khá bình thường về mọi phương diện. Anh ta học đại học về quản lý thương nghiệp, về Tóan. Anh ta học cả Yoga, nghệ thuật thiền và học làm thơ.</p>
<p>Một người học thiền, học làm thơ lại trở thành kẻ sát nhân bạo lực, sở hữu cây súng vốn là thứ thuộc về những kẻ có dòng máu bạo lực trong người. Là nhà thơ, sao anh ta nỡ cầm súng mà bắn vào con người, bắn vào đứa trẻ nhỏ thơ dại.</p>
<p>Đành rằng, ngày nay có những kẻ làm thơ như một phương tiện giết chóc, nhưng ít nhất những kẻ ấy biết rõ mục tiêu của mình khi làm việc đó và có đầy đủ lý lẽ để chứng minh cho &#8220;thơ bạo lực&#8221; của mình.</p>
<p>Nhưng giết những con người vô tội, giết một đứa bé, thì lý lẽ nào để biện minh?</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image00478.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border: 0px;" title="APTOPIX Congresswoman Shot" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image004_thumb41.jpg?strip=all&fit=437%2C305" alt="APTOPIX Congresswoman Shot" width="437" height="305" border="0" /></a></p>
<p>Giọt nước mắt trẻ thơ, nhỏ ra cho chị mình, có làm bậc làm cha làm mẹ thêm đau xót?</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image00526.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border: 0px;" title="Congresswoman Shot" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image005_thumb13.jpg?strip=all&fit=438%2C312" alt="Congresswoman Shot" width="438" height="312" border="0" /></a></p>
<p>Có lau bao nước mắt, liệu người lớn chúng ta có thể tự cảm thấy bớt đi mặc cảm tội lỗi, mặc cảm bất lực vì đã không bảo vệ được con cái chúng ta?</p>
<p><a href="http://news.yahoo.com/nphotos/Christina-Taylor-Green-funeral-Ariz/ss/events/us/011011christinagreen"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border: 0px;" title="Congresswoman Shot" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image00650.jpg?strip=all&fit=440%2C279" alt="Congresswoman Shot" width="440" height="279" border="0" /></a></p>
<p><em>Một thế giới người lớn tả tơi vì hận thù, vì tranh chấp, vì hơn thua, vì danh vọng, vì quyền lợi, vì trăm ngàn thứ hão huyền khác có xứng đáng là chỗ tươi đẹp cho con cháu nhân lọai mai sau?</em></p>
<p>Giờ đây, trước mắt tôi, cỗ quan tài của Christina Taylor Green dường như quá nhỏ nên không thể chứa hết được nỗi đau khổ và sự tuyệt vọng của hơn 2 ngàn người đến tham dự tang lễ của cô. Thánh đường St.Elizabeth Ann Seton chật ních người đến tiễn đưa cô bé 9 tuổi, mà sự sống của cô bắt đầu cũng như kết thúc bởi hai sự kiện đau đớn nhất của một quốc gia.</p>
<p>Như những người tham dự tang lễ hôm nay mong ước: cái chết vô nghĩa của bé gái 9 tuổi ít nhất cũng đem lại điều mà ai cũng mong ước: sự bình an. Nay Đấng bề trên đã giơ tay đón cô về nhà. Chắc hẳn Ngài cũng sẽ không quên ban cho những con người phiền muộn hôm nay sự bình an.</p>
<p>Nhưng, có còn không một nơi chốn bình an trên quả địa cầu chúng ta đang sống?</p>
<p><strong>T.Vấn</strong></p>
<p>13 tháng 1 năm 2011</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2011</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/thm-m%e1%bb%99t-ci-ch%e1%ba%bft-tr%e1%ba%bb-th%c6%a1/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>T.Vấn: Người đ&#227; về Kinh Bắc</title>
		<link>https://t-van.net/ng%c6%b0%e1%bb%9di-d-v%e1%bb%81-kinh-b%e1%ba%afc/</link>
					<comments>https://t-van.net/ng%c6%b0%e1%bb%9di-d-v%e1%bb%81-kinh-b%e1%ba%afc/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[T.Vấn]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 13 May 2010 22:25:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Ghi Chép]]></category>
		<category><![CDATA[cái chết]]></category>
		<category><![CDATA[giới thiệu]]></category>
		<category><![CDATA[thơ văn]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/testsite/wordpress/?p=2262</guid>

					<description><![CDATA[&#160; Từ &#8220;Bên kia sông Đuống&#8221;, nhà thơ Hòang Cầm đã trở &#8220;về Kinh Bắc&#8221;. Cuộc trở về lần cuối cùng của một nhan sắc trần gian bị đầy đọa. Ông cũng là người cuối cùng của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm lên đường. Khi sống, không được tự do &#8220;yêu ai cứ bảo là [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>&nbsp;</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image002178.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; margin: 0px 20px 10px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border-width: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image002_thumb110.jpg?strip=all&fit=250%2C161" alt="clip_image002" width="250" height="161" align="left" border="0" /></a></p>
<p>Từ &#8220;Bên kia sông Đuống&#8221;, nhà thơ Hòang Cầm đã trở &#8220;về Kinh Bắc&#8221;. Cuộc trở về lần cuối cùng của một nhan sắc trần gian bị đầy đọa. Ông cũng là người cuối cùng của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm lên đường. Khi sống, không được tự do &#8220;yêu ai cứ bảo là yêu, ghét ai cứ bảo là ghét&#8221;, nay thì các ông hòan tòan được &#8220;giải phóng&#8221;. Những đảng, những tố hữu, những hồ chí minh chẳng còn là gì ngòai mớ hồi ức về một &#8220;thời ấu trĩ&#8221;.</p>
<p>Chỉ có vậy thôi sao?</p>
<p>Hãy đọc lại đôi lời &#8220;Tâm tình với bạn đọc Talawas&#8221; của Hòang Cầm khi ông cho mạng này công bố tác phẩm &#8220;Về Kinh Bắc&#8221;, tác phẩm được chính nhà thơ xem như là đại diện cho toàn bộ sự nghiệp của mình: &#8221;</p>
<p><em>&#8220;Về Kinh Bắc ra đời trong một hoàn cảnh rất đặc biệt. Vào cuối những năm 1950, bốn anh em chúng tôi (Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng) sau khi đi lao động cải tạo về, vẫn nằm trong thời kỳ bị kiểm soát chặt chẽ. Nói cho đúng thì riêng tôi không phải đi lao động, (không biết vì lý do gì mà những nơi Hội Nhà văn liên hệ để đưa tôi đến lao động đều không nơi nào chịu nhận, thế là tôi thoát!) trong khi Lê Đạt thì đi Phú Thọ, Trần Dần đi Thái Nguyên. Và nói về sự kiểm soát thì tôi cũng được thoải mái hơn hai anh ấy. Tôi cứ việc ở nhà trong khi Lê Đạt và Trần Dần thì tất cả các buổi sáng phải đến ngồi ở Hội Nhà văn. Chỉ uống nước chè, tán chuyện, cười ha hả thôi, nhưng vẫn phải đến. Nhưng việc in ấn thì dứt khoát là không được phép. Trong tình cảnh ấy, tôi đề xướng với các bạn: lúc này chính là lúc bọn mình phải để tâm vào việc phá ra về thi pháp, phải phá ra khỏi kiểu thơ Tố Hữu, hay nói rộng ra là kiểu thơ cũ mà mình đã chán ngấy. Thế là bốn anh em thống nhất về đường lối sáng tác. Từ đấy hai anh Trần Dần, Lê Đạt ở Hội Nhà văn sáng sáng chỉ tán chuyện một lúc rồi mỗi người yên lặng cắm cúi viết lách. Trần Dần viết Cổng tỉnh dựa vào những kỷ niệm thời thanh niên ở Nam Định. Lê Đạt thì những kỷ niệm ở Yên Bái (thân phụ của anh làm sếp ga ở đó) cho anh loạt thơ sau in trong Bóng chữ. Đặng Đình Hưng, với sự &#8220;đỡ đầu&#8221; (dùng đúng từ anh nói) của Trần Dần, cũng viết được những bài thơ mới hẳn, lâu lâu anh lại đến khoe, rất hào hứng. Tôi rất thích những bài thơ ấy của Hưng, và học tập được khá nhiều ở tinh thần mới mẻ của anh. </em></p>
<p><em><br />
Riêng tôi, như đã nhiều lần tự bạch, tôi viết Về Kinh Bắc hoàn toàn nhờ chìm đắm vào những kỷ niệm thời thơ ấu. Tôi luôn nghĩ rằng: với bất cứ anh thi sĩ nào, cái thời kỳ từ 5 đến 15 tuổi là thời kỳ quyết định hơi thơ, cốt cách thơ của cả đời anh ta. Từ năm 4 tuổi đến 14 tuổi (lúc đỗ certificat &#8211; Chứng chỉ hết bậc tiểu học), tôi sống ở một phố nhỏ trên đường quốc lộ 1, cách thị xã Bắc Giang 6 km. Mười năm ấy ăn vào mình nhiều nhất. Chỗ tôi ở là một con phố đìu hiu, lèo tèo vài hàng quán, ông thân sinh tôi mở hàng thuốc bắc ở đó, còn mẹ tôi thì có gánh hàng xén. Cái phố ấy vẫn có phong vị nông thôn với rặng tre, cây đa, con đường đất nhỏ, lại có tí văn minh với cảnh ô tô, tàu hỏa, tôi hay ra ga xem khách lên khách xuống, tàu đến tàu đi. Những đêm trăng cô hàng xóm thích hát xướng tập họp bọn trẻ trong phố ra giữa đường hoặc cái bãi rộng sau ga hát trống quân, cò lả… </em></p>
<p><em><br />
Có lẽ vì thế mà toàn bộ tập Về Kinh Bắc chìm trong cái buồn, cái buồn của sự hoài vọng quê hương, bài nào cũng buồn, câu nào cũng buồn. Hồi trong Hỏa Lò &#8211; Trại tạm giam của CA Hà Nội, nguyên là trại giam cũ thời Pháp mang tên Maison Centrale, ở phố Hỏa Lò, bị buộc phải viết kiểm điểm về tập thơ này, tôi cũng dễ dàng thừa nhận là tập thơ buồn quá. Nguyên cái buồn ấy hình như đã là chống lại đường lối văn nghệ của Đảng rồi, vì Đảng yêu cầu văn nghệ phải phấn khởi tươi vui. Nhưng ngoài cái đó ra, tôi còn phải nhắm mắt tự nhận tội với những từ nặng nề nhất như phản động, chống Đảng. Có điều tôi cũng viết rất khéo sao cho nếu bản kiểm điểm sau này được công bố thì bạn bè và công chúng cũng thấy đó là sự nhận tội không tự nguyện, nhận mà là không nhận. Thí dụ như tôi dẫn chứng câu thơ &#8220;Tướng sĩ đỏ đen chui sấp ngửa&#8221; là rủa Đảng, bài thơ &#8220;Lá Diêu bông&#8221; và một số bài khác là mang tính chất tư sản, than thở số phận con người, qua đó thấy cuộc sống thất vọng quá, buồn quá, những ước nguyện đẹp nhất đều không thực hiện được. </em></p>
<p><em><br />
Sau khi tôi ra tù, không ít bạn trách tôi vì sao lại nhận tội như thế? Có phải là hèn quá chăng? Nhưng thực tế hoàn cảnh tôi trong tù rất khốn đốn, sau ba tháng là sức khỏe suy sụp, nếu kéo dài thêm hai tháng nữa thì có thể chết trong tù. Vì vậy, trước sức ép ngày đêm của những người công an thụ lý và những hứa hẹn của họ, tôi suy nghĩ: phải giữ cái mạng của mình cái đã, phải tồn tại, phải sống, còn tác phẩm của mình chẳng đi đâu mà mất, nó còn hay không là do nó, nó có giá trị thì nó sẽ tồn tại. Cho nên tôi quyết định nhận tội. Khi tôi viết xong bản kiểm điểm (dài 6 trang giấy thếp thì phải), anh công an thụ lý tên N. đọc ngay, và bảo &#8220;Tốt quá rồi!&#8221;. Hôm sau, anh đem đến một cái cassette mới toanh, bảo tôi tự đọc bản kiểm điểm vào máy. Anh cẩn thận dặn tôi phải đọc hết sức tự nhiên, không phải như người bị ép buộc hoặc như đọc dictée &#8211; chính tả. Là một diễn viên kịch, tôi thừa sức để &#8220;diễn&#8221; theo đúng ý anh. Tôi muốn tỏ ra hết sức ngoan ngoãn, cốt để được về. Tôi vừa đọc xong, anh ta chồm dậy, bắt tay tôi rối rít và cảm ơn cảm ơn hai lần liền, sau đó cho người đi mua phở cho tôi ăn. Anh còn tuyên bố: &#8220;Chúng tôi sẽ đề nghị để Tết này anh được về&#8221;. Tôi mừng quá, viết thư về cho bà Yến &#8211; vợ Hoàng Cầm &#8211; báo tin vui. Thế là suốt những ngày gần Tết năm ấy tôi cứ khấp khởi đợi chờ. Sau này tôi biết bà Yến nhà tôi cũng trong tâm trạng ấy. Sáng 30 Tết bà bắt anh con rể mang xe đến chờ ở cổng Hỏa Lò suốt từ sáng tới tối. Nhưng thực tế là tôi không được thả như lời hứa của công an mà ngay mồng 4 Tết thì bị chuyển tới &#8220;xà lim bộ&#8221; &#8211; Trung tâm thẩm vấn của Bộ CA, ở ngoại thành Hà Nội &#8211; và tiếp tục bị giam, tổng cộng là 18 tháng. </em></p>
<p><em><br />
Vì sao lại có chuyện thay đổi như thế? Có phải anh công an tên N. đã nói lừa tôi cốt để tôi nhận tội cho được việc của anh ta? Tôi cũng không rõ sự thực thế nào. Cho đến một hôm, sau khi đã ra tù, tôi tình cờ gặp một anh công an thụ lý khác (xin phép không nêu tên) ở quán bia Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật (đường Trần Hưng Đạo, Hà Nội). Trông thấy tôi anh mừng lắm, anh mời tôi vào uống bia để tâm sự. Anh nói là anh đã ra khỏi ngành, và anh kể cho tôi một chuyện khá bất ngờ. Chuyện đại ý như sau: Sau khi tôi nhận tội, công an đã định cho tôi về thật. Nhưng trong thời gian chờ đợi giải quyết, thì một hôm ông Lê Đức Thọ &#8211; UV Bộ Chính trị ĐCSVN, phụ trách nội chính, tổ chức &#8211; gọi công an lên hỏi vụ Hoàng Cầm ra sao rồi, và thông báo rằng có một số trí thức Pháp, những người quen biết nhiều với ông, đã giúp đỡ ông và đoàn đại biểu Việt Nam ở Hội nghị Paris, vừa gửi thư cho ông yêu cầu nếu xét Hoàng Cầm không có tội trạng gì cụ thể thì hãy thả ngay nhà thơ ra. Ông còn nhắc nhở: &#8220;Các cậu xem thế nào thì giải quyết đi, không có thì mang tiếng lắm&#8221;. Sự việc trên được công an báo cáo với Tố Hữu &#8211; lúc ấy là Phó Thủ tướng. Ông này lập tức hạ lệnh: &#8220;Ngoại quốc can thiệp hả? Đã thế thì cho thêm một năm nữa!&#8221; </em></p>
<p><em><br />
Thái độ cứng rắn đến nghiệt ngã của Tố Hữu với riêng tôi cũng như với các anh em Nhân văn &#8211; Giai phẩm rất nhất quán. Ngay cả đối với những sáng tác mà anh em chúng tôi tìm lối mới vào cuối những năm 1950 nói trên, ông cũng rất ghét, mặc dù không biết ông có đọc hay không. Lại nói, sau khi bốn người chúng tôi bật ra được thứ thơ ấy, ai cũng mãn nguyện vì đã lộ rõ cốt cách từng người. Riêng tôi thì ngay từ lúc viết xong Về Kinh Bắc, tôi đã tin là nó có giá trị, có đóng góp cho văn học nước nhà. Tuy tôi không dám truyền đi rộng rãi, chỉ cho vài người bạn đọc, nhưng rồi nó được tự động lan truyền, đặc biệt có những bạn sinh viên trẻ say mê nó lạ lùng. Phải nói tình yêu đối với Về Kinh Bắc có cái gì đó rất đặc biệt. Tôi không tin là tập thơ dễ hiểu chút nào, đặc biệt là phần Nhịp một với &#8220;những đêm ngũ hành&#8221; kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Ngay nhà thơ Lữ Huy Nguyên, cố Giám đốc NXB Văn học, cũng thú thực với tôi rằng: &#8220;Em in cho anh thì cứ in chứ nói thật là em chỉ hiểu được 1/4 tập thơ&#8221;. Đến anh công an thụ lý N. sau khi tôi nhận tội cũng thú nhận: &#8220;Thực tình tôi chẳng hiểu anh nói gì, bây giờ anh khai ra tôi mới biết ý đồ chống Đảng của anh, thì ra anh thâm thúy thật!&#8221; </em></p>
<p><em><br />
Việc chúng tôi sáng tác những tác phẩm mới nhanh chóng được báo cáo với Tố Hữu. Một người bạn được tham dự buổi họp tuyên giáo mở rộng kể với tôi rằng trong cuộc họp, Tố Hữu đã cảnh báo: &#8220;Tụi Trần Dần Hoàng Cầm… bây giờ đang thực hiện đúng khẩu hiệu phục xuống sáng tác mà Văn Cao đã khởi xướng. Phải canh chừng và dập tắt ngay&#8221;. </em></p>
<p><em><br />
Đây là lần đầu tiên tôi nói rõ một số chuyện liên quan đến Về Kinh Bắc, nói ra để khép lại những cái đau buồn ấu trĩ của một thời. Bây giờ, tôi xin các bạn thưởng thức nó vượt qua mọi bối cảnh chính trị xã hội, thưởng thức nó như một tác phẩm nghệ thuật mà đến hôm nay tôi vẫn thấy hài lòng&#8221;.<br />
</em><em>(</em><em>lời mở đầu tác phẩm &#8220;<a href="http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=9662&amp;rb=08">Về Kinh Bắc</a>&#8221; đăng trên Talawas ngày 5/4/2007.)</em><em><br />
</em></p>
<p>Hòang Cầm mất ngày 6 tháng 5 năm 2010, hưởng thọ 88 tuổi. Cả một đời lao đao lận đận chỉ vì nhà thơ đã can đảm cùng bạn hữu đòi lại quyền tự do sáng tác của người văn nghệ sĩ. Bây giờ, người ta nhắc đến câu chuyện đời của ông (và của cả một đất nước với hàng triệu con người vô tội nạn nhân của bao chính sách sai lầm của đảng cộng sản Việt nam) như là &#8220;những cái đau buồn ấu trĩ của một thời&#8221;.</p>
<p>Đơn giản chỉ có vậy thôi sao? Ấu trĩ? Ai ấu trĩ? Đảng ấu trĩ? Dân ấu trĩ? Cả một dân tộc ấu trĩ? Bao nhiêu người nằm xuống, chỉ vì một sự ấu trĩ? bao nhiêu người sống như chết (như Hữu Loan, như Hòang cầm, như Trần Dần, như Lê Đạt và hàng triệu nạn nhân vô danh khác) chỉ vì một sự ấu trĩ? cả một đất nước trì trệ về mọi phương diện, chỉ vì một sự ấu trĩ?</p>
<p>Phỏng một lời xin lỗi trước mộ huyệt người vừa qua đời, có ích gì không? hay chỉ như viên thuốc an thần rẻ tiền dành cho người sống?</p>
<p>Tôi nghĩ rằng, hãy để cho nhà thơ thảnh thơi về với Kinh Bắc. Ông đâu có cần đến những lời xin lỗi đãi bôi từ miệng những tội đồ của dân tộc. Cả dân tộc đâu cần đến những lời xin lỗi đãi bôi của những người đại diện cho một chế độ đã làm khổ hằng mấy thế hệ Việt Nam.</p>
<p><a href="http://lh6.ggpht.com/_yI4S0BU2yDI/S-VOcQbXM0I/AAAAAAAAAYs/wCInG668MFI/s1600-h/clip_image0083.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="margin: 0px 20px 0px 0px; display: inline; border-width: 0px;" title="clip_image004" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image00486.jpg?strip=all&fit=402%2C264" alt="clip_image004" width="402" height="264" align="left" border="0" /></a></p>
<p><em>Từ thuở ấy<br />
Em cầm chiếc lá<br />
Đi đầu non cuối bể.<br />
Gió quê vi vút gọi.<br />
Diêu Bông hời&#8230;<br />
ới Diêu Bông!</em></p>
<p>Những tác phẩm chính trong sự nghiệp sáng tác của Hòang Cầm gồm: <em>Trương Chi</em> (xuất bản năm 1993),<em> Bên kia sông Đuống</em> (thơ, 1948), Về <em>Kinh Bắc</em> (thơ, 1959), <em>Men đá vàng</em> (truyện thơ, 1973), <em>Mưa Thuận Thành</em> (thơ, 1959), <em>Lá Diêu Bông</em> (thơ, 1993), <em>Đến từ hư không</em> (thơ, 2000)&#8230;</p>
<p>©T.Vấn 2010</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ng%c6%b0%e1%bb%9di-d-v%e1%bb%81-kinh-b%e1%ba%afc/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>T.Vấn: Về cái chết của một nhà thơ</title>
		<link>https://t-van.net/v%e1%bb%81-ci-ch%e1%ba%bft-c%e1%bb%a7a-m%e1%bb%99t-nh-th%c6%a1/</link>
					<comments>https://t-van.net/v%e1%bb%81-ci-ch%e1%ba%bft-c%e1%bb%a7a-m%e1%bb%99t-nh-th%c6%a1/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[T.Vấn]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 31 Mar 2010 01:55:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[cái chết]]></category>
		<category><![CDATA[giới thiệu]]></category>
		<category><![CDATA[thơ văn]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/testsite/wordpress/?p=2007</guid>

					<description><![CDATA[Tôi là cây gỗ vuông chành chạnh/ suốt đời đã làm thất bại mọi âm mưu đẽo tròn/ để muốn tùy tiện lăn long lóc thế nào thì long lóc / ( Chuyện Di Tề- thơ Hữu Loan -1988 ) 1. Nhà thơ Hữu Loan, tác giả bài thơ bất hủ &#8221; Màu tím hoa [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image002160.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; margin: 0px 20px 10px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; float: left; padding-top: 0px; border-width: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image002_thumb95.jpg?strip=all&fit=179%2C240" alt="clip_image002" width="179" height="240" align="left" border="0" /></a></p>
<p><em>Tôi là cây gỗ vuông chành chạnh/</em></p>
<p><em>suốt đời đã làm thất bại mọi âm mưu đẽo tròn/</em></p>
<p><em>để muốn tùy tiện lăn long lóc thế nào thì long lóc /</em></p>
<p><em>( Chuyện Di Tề- thơ Hữu Loan -1988 )</em></p>
<p><strong>1.</strong></p>
<p>Nhà thơ Hữu Loan, tác giả bài thơ bất hủ &#8221; Màu tím hoa sim &#8220;, vừa mới qua đời, hưởng thọ 95 tuổi.</p>
<p>Những ngày sau trận địa chấn kinh hoàng ở Haiti, vùi thây hơn 200 ngàn người chỉ trong khỏanh khắc của định mệnh, khiến hơn một triệu người sống sót lâm vào cảnh địa ngục cả thể xác lẫn tinh thần, thì thêm một cái chết nữa, của một người thọ đã đến 95 tuổi, ở một phần đất hiu quạnh của một đất nước nhiễu sự, thì chắc gì đã khiến người ta thêm mũi lòng?</p>
<p>Dù ông ta là một nhà thơ, nhưng thơ phú liệu có giúp ích được gì không, khi người ta hàng ngày phải đối đầu với những khó khăn của đời sống, của công ăn việc làm, của bao trăn trở trước những vấn nạn chưa tìm được câu trả lời của một thực tại Việt Nam rối rắm, mà người xa quê hương cũng như kẻ trong nước vẫn ngày đêm khắc khỏai?</p>
<p>Lịch sử một đất nước, cũng như lịch sử một nhân lọai, có những giai đọan chấn thương quyết liệt để lại những dấu ấn khó quên trong tâm thức những thế hệ chẳng may phải kinh qua cơn chấn thương ấy. Có lẽ điều đáng nói nhất về cái chết của nhà thơ là ở vị trí của ông, thái độ của ông, nhân cách của ông, trong một giai đọan chấn thương của đất nước Việt Nam. Nói đến ông, là nói đến giai đọan lịch sử ấy, là nói đến nỗi đau chung của ít nhất 2 thế hệ đã kinh qua những ngày tháng đen tối nhất đời mình. Ông sống gần một thế kỷ (<strong><em>02/04/1916 – 18/03/2010</em></strong>), sáng suốt cho đến cả những ngày cuối cùng của cuộc đời, để là một nhân chứng sống cho những não trạng lịch sử mà rất nhiều thế hệ mai sau sẽ còn nhắc đến, bàn luận, tranh cãi.</p>
<p><strong>2.</strong></p>
<p><em>Hữu Loan tên thật là Nguyễn Hữu Loan, sinh tại quê ở làng Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông học thành chung ở Thanh Hóa</em><em>, </em><em>sau đó đi dạy học và tham gia Mặt trận bình dân năm 1936, tham gia Việt Minh ở thị xã Thanh Hóa (nay là thành phố Thanh Hóa).<br />
Năm 1943, ông về gây dựng phong trào Việt Minh ở quê và khi cuộc Cách mạng tháng Tám nổ ra, ông làm Phó chủ tịch Uỷ ban khởi nghĩa huyện Nga Sơn. Sau Cách mạng tháng Tám, ông được cử làm Uỷ viên Văn hóa trong Uỷ ban hành chính lâm thời tỉnh Thanh Hóa, phụ trách các ty: Giáo dục, Thông tin, Thương chính và Công chính. Kháng chiến chống Pháp, Hữu Loan tham gia quân đội Nhân dân Việt nam, phục vụ trong Đại đoàn 304. Sau năm 1954, ông làm việc tại Báo Văn nghệ trong một thời gian.<br />
Trong thời gian 1956-1957, ông tham gia Phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm do nhà văn Phan Khôi chủ trương. Ông sáng tác những tác phẩm lên án thẳng thắn và quyết liệt đến những tiêu cực của các cán bộ cộng sản nịnh hót</em><em>, </em><em>đố kỵ, ám hại nhau v.v&#8230; như tác phẩm </em><em>&#8221; </em><em>Cũng những thằng nịnh hót</em> <em>&#8221; </em><em>và truyện ngắn </em><em>&#8221; </em><em>Lộn sòng</em><em>&#8221; </em><em>. Trong tác phẩm của mình, ông coi mình là nạn nhân của xã hội cộng sản và phê phán xã hội này một cách kịch liệt.<br />
Sau khi phong trào Nhân Văn Giai Phẩm bị dập tắt vào năm 1958, nhà thơ Hữu Loan phải vào trại cải tạo vài năm. Cuối đời ông sống tại quê nhà.</em><em> (Nguồn: Wikipedia.org)</em></p>
<p>Bài thơ Màu Tím Hoa Sim là bài thơ khóc người vợ trẻ (người vợ đầu) đã qua đời trong lúc ông đang trên đường chinh chiến. Hãy nghe ông kể:</p>
<p><em>Ba tháng sau (ngày cưới), tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồng (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lấy tấm áo bị nước cuốn đi nên trượt chân té xuống sông chết đuối! Con nước lớn đã cuốn em đi vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại cho tôi nỗi đau không gì có thể bù đắp nổi! Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi. (Hữu Loan và Hoa Sim &#8211; Tự truyện Hữu Loan).</em></p>
<p>Người vợ trẻ đã chết. Đó là điều bi thảm. Nhưng bi thảm hơn nữa, ông không được tự do khóc cho nỗi đau của đời mình:</p>
<p><em>Nỗi đau ấy tôi phải giấu kín trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn&#8230; Dường như càng kìm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm tư gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong tôi được dịp bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng. Hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi, chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra:<br />
Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội<br />
Những em nàng có em chưa biết nói<br />
Khi tóc nàng đang xanh&#8230;<br />
&#8230;Tôi về không gặp nàng&#8230; </em><br />
(Hữu Loan và Hoa Sim- Tự truyện Hữu Loan).</p>
<p>Kể từ đây, với nỗi đau người vợ chẳng may vắn số, và nỗi uất ức đã bị cấm đóan không được công khai khóc thương cái chết của chính vợ mình, cuộc đời nhà thơ Hữu Loan đã bắt đầu một khúc ngoặt quan trọng, quyết định chỗ đứng của ông trong một giai đọan lịch sử nhiễu nhương, góp phần tạo những huyền thọai chung quanh bài thơ , để rồi người đời tiếp tục truyền tụng bài thơ ấy hơn 50 năm nay (1), được nhiều nhạc sĩ nổi tiếng phổ thành nhạc (2), rồi trở thành bài thơ đắt giá nhất lịch sử văn học Việt Nam với sự kiện năm 2004, Công ty Vitek VTB ở Việt Nam đề nghị mua bản quyền bài Màu Tím Hoa Sim của ông với giá 100 triệu đồng (tiền Việt nam thời gía 2004) (3).</p>
<p>Con đường đi kháng chiến chống Pháp, giành độc lập cho quê nhà là con đường mà bất cứ người thanh niên yêu nước nào cũng phải lựa chọn. Hữu Loan cũng là một trong số những người trai yêu nước ấy. Ông đã say sưa lao theo lý tưởng của người trai thời lọan. Nhưng, với cái chết của &#8220;người vợ bé bỏng&#8221;, đồng thời cũng là cơ hội để ông nhìn ra bộ mặt lừa phỉnh của những người khởi xướng kháng chiến. Lý tưởng của họ không phải là giải phóng đất nước khỏi sự đô hộ của ngọai bang, mà là sự áp đặt chủ nghĩa ngọai lai Cộng sản trên đất nước sau khi giành được quyền cai trị.</p>
<p>Ông kể: &#8220;<em>Đó là cái thời 1955 ‒ 1956 khi phong trào Văn nghệ sĩ chống Ðảng bắt đầu bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, và đồng thời chống những Văn nghệ sĩ bồi bút đang tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca tụng Ðảng để kiếm chút cơm thừa canh cặn của chế độ. Làm thơ phải có cái tâm mà phải là cái tâm linh thật thiêng liêng thì mới có thơ hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải làm về Ðảng, ca tụng Ðảng, ca tụng cộng sản, ca tụng cái buôn bán chiến tranh. Bởi vì cái đánh nhau là cái dễ kiếm chác lắm. Mà kiếm chác ở cái chiến tranh ấy thì khó kiểm tra lắm cho nên những cái bọn ăn bẩn ấy bao giờ cũng chủ trương chiến tranh, buôn bán chiến tranh. Mà tôi thì tôi thấy cái đấy là cái khổ dân nhất nên tôi chống hết sức. Lúc giờ người ta đang một tí là đề cao Hồ Chí Minh, hai tí là đề cao Hồ Chí Minh&#8230; trong khi tôi lại đề cao cái Tình Yêu. Tôi khóc người Vợ tử tế với mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó khóc như vậy, nó cho là khóc cái tình cảm riêng</em><em> . . . </em>(Hữu Loan và Hoa Sim &#8211; Tự truyện Hữu Loan).</p>
<p>Thế là ông mạnh dạn phủi tay với cách mạng. Ông về quê, đi cầy, đập đá, thồ xe kiếm sống qua ngày. Ông hăng hái tham gia nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, sánh vai cùng với những Phùng Quán, Trần Dần, Hòang Cầm, Nguyễn hữu Đang . . . đòi hỏi tự do sáng tác cho văn nghệ sĩ, để rồi bị trù dập, bị theo dõi (thậm chí âm mưu ám sát ), rồi bị tù đày. Tuy vậy, ông vẫn sống, sống mạnh sống hùng, không quy lụy, không đầu hàng. Và rồi &#8220;<em>Cuộc đời đẩy đưa, định mệnh dắt tôi đến với một người phụ nữ khác, sống cùng tôi đến ngày hôm nay. Bà tên Phạm Thị Nhu, cũng là một người phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Bà vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố điền chủ của Việt Minh.&#8221;</em></p>
<p>Cũng chính theo lời kể của Hữu Loan, cha mẹ bà Nhu là địa chủ nhưng rất giàu lòng nhân đạo, rất yêu nước thương người. Đã nhiều lần ông bà cho tá điền gánh gạo đến giúp đỡ bộ đội, giúp đỡ dân nghèo. Đợt cải cách ruộng đất &#8220;long trời lở đất&#8221;, ông bà bị đấu tố, bị nhục mạ, rồi bị chôn sống chỉ để hở &#8220;<em>có cái đầu lên thôi. Xong, họ cho trâu kéo bừa qua lại hai cái đầu cho đến chết.</em><em>&#8221; </em>Bà Nhu, lúc bấy giờ mới 17 tuổi, được tha chết nhưng bị đuổi ra khỏi nhà đi lang thang, không ai dám chứa chấp hay thuê mướn làm công, vì &#8220;cách mạng&#8221; cấm không cho giúp đỡ con cái địa chủ cường hào. Từ xa, biết được câu chuyện thảm thương xảy ra cho gia đình người địa chủ tốt bụng, ông đã lặn lội về xã xem cô con gái họ sinh sống ra sao. Ông gặp cô lang thang rách rưới đi lượm mót củ khoai cái bắp còn sót đâu đó trên đồng làm thức ăn qua ngày. Tấm lòng nhà thơ quá xúc động, ông quyết định đem cô về quê mình, bất chấp mọi lịnh cấm của cách mạng ông lấy cô Nhu làm vợ. Từ bấy đến nay, trải bao sóng gió vùi dập của những cơn lốc cách mạng, họ vẫn ở bên nhau cho đến giây phút nhà thơ nhắm mắt lìa đời, quây quần chung quanh là 10 người con và hơn 30 đứa cháu nội ngọai.</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image00345.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter" style="background-image: none; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border-width: 0px;" title="clip_image003" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image003_thumb25.jpg?strip=all&fit=297%2C355" alt="clip_image003" width="297" height="355" border="0" hspace="12" /></a></p>
<p>Năm 1988, sau hơn 30 năm &#8220;ở ẩn&#8221;, từ chối những &#8220;<em>ve vãn, mời mọc gia nhập hội nhà văn</em>&#8220;, cương quyết không <em>chịu tham gia học tập, kiểm điểm,</em><em> không làm đơn xin khôi phục lại đảng tịch</em><em>, </em>ông tái xuất giang hồ, theo chân nhóm văn nghệ sĩ tỉnh Lâm Đồng làm cuộc hành trình dài gần một năm trời đi dọc suốt ba miền đất nước đòi hỏi tự do sáng tác, tự do báo chí, tự do xuất bản và đổi mới thực sự.</p>
<p>Năm 2007, trong một cử chỉ nhằm gián tiếp phục hồi cho nhóm Nhân văn Giai Phẩm, nhà nước Việt Nam quyết định trao giải thưởng văn học nghệ thuật cho nhà văn nhà thơ: Hòang Cấm, Lê Đạt, Trần Dần và Phùng Quán. Riêng Hữu Loan, tuy có tên trong danh sách đề cử của Hội đồng chấm giải, nhưng vào giờ chót đã bị lọai ra mà không ai được biết lý do. Có lẽ, nhờ vậy, nhân cách sáng ngời của Hữu Loan vẫn trọn vẹn cho đến giây phút cuối cùng.</p>
<p><strong>3.</strong></p>
<p>Nhà thơ đã nằm xuống, nhưng vẫn còn đó những vấn đề lịch sử mà nhắc đến tên ông, người ta không thể không nghĩ đến, thí dụ như cuộc Cải Cách Ruộng Đất làm chết oan hơn 500 ngàn người chưa được những kẻ trách nhiệm sòng phẳng với lịch sử, như sự lỗi thời và tội làm trì trệ đất nước của chủ nghĩa Cộng sản chưa được đảng cầm quyền thực tâm nhìn nhận .</p>
<p>Vì thế, viết về cái chết của nhà thơ, không phải chỉ nói đến một nhân cách rực rỡ vừa lịm tắt , mà còn là sự nhắc nhở nỗi hổ thẹn của một chế độ chưa bao giờ là sự lựa chọn của tòan dân. Bao lâu những chấn thương lịch sử ấy chưa được chữa lành, ngòai giá trị văn học vĩnh cửu của bài thơ Màu tím hoa sim, cái tên Hữu Loan đi kèm theo ấy còn gợi nhắc đến một thời kỳ bi thảm nhất của đất nước chúng ta.</p>
<p><strong>T.Vấn</strong></p>
<p>(1)Theo những câu chuyện truyền khẩu, sau khi làm bài thơ Màu tím hoa sim, Hữu Loan qúa đau khổ nên sinh bệnh. Một người lính cận vệ của ông (có lẽ lúc đó ông đã giữ chức Chính trị viên Tiểu đòan) đem áo bẩn đi giặt, thấy bài thơ ấy trong túi, bèn chịu khó chép lại. Thời gian sau, khi đòan quân di chuyển ngang qua huyện nhà (người vợ chết), anh ta trao bản sao bài thơ ấy cho bà mẹ vợ ông. Từ đó, bài thơ được truyền đi từ người nọ sang người kia, mà không một ai, kể cả Hữu Loan, biết được số phận vừa bi vừa tráng của nó sau này.</p>
<p>(2) bài thơ đã được phổ nhạc với :</p>
<p>-Những đồi hoa sim – Dzũng Chinh (Đây là bài nhạc phổ mà Hữu Loan cho rằng gần gủi hơn với tâm tình của ông , nổi tiếng nhất với giọng ca Phương Dung)</p>
<p>-Áo anh sứt chỉ đường tà &#8211; Phạm Duy (Nổi tiếng nhất với giọng ca Thái Thanh, Elvis Phương)</p>
<p>-Chuyện hoa sim &#8211; Anh Bằng (Nổi tiếng nhất với giọng ca Như Quỳnh)</p>
<p>-Màu tím hoa sim &#8211; Duy Khánh (Duy Khánh hát giao duyên cùng bài thơ qua giọng ngâm Hồng Vân)</p>
<p>(3) Theo lời viên giám đốc công ty Vitek (Viet Technology Corporation), công ty của ông chọn bài thơ này trong số rất nhiều bài thơ viết về chiến tranh, vì đó là &#8220;<em>tiếng lòng của một người lính chiến khóc vợ</em>&#8220;. Mặt khác, cũng theo ông, thì việc mua bản quyền bài thơ cũng là một hình thức bảo vệ sản phẩm văn hóa, công ty Vitek sẽ lưu giữ và phổ biến bản chuẩn nhất để tác phẩm khỏi bị mai một. (Theo Thy Nga, phóng viên RFA).</p>
<p>©T.Vấn 2010</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/v%e1%bb%81-ci-ch%e1%ba%bft-c%e1%bb%a7a-m%e1%bb%99t-nh-th%c6%a1/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>T.Vấn: Xin cho người về được nơi sẽ đến</title>
		<link>https://t-van.net/xin-cho-ng%c6%b0%e1%bb%9di-v%e1%bb%81-d%c6%b0%e1%bb%a3c-n%c6%a1i-s%e1%ba%bd-d%e1%ba%bfn/</link>
					<comments>https://t-van.net/xin-cho-ng%c6%b0%e1%bb%9di-v%e1%bb%81-d%c6%b0%e1%bb%a3c-n%c6%a1i-s%e1%ba%bd-d%e1%ba%bfn/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[T.Vấn]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 30 Mar 2010 22:39:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Ghi Chép]]></category>
		<category><![CDATA[cái chết]]></category>
		<category><![CDATA[giới thiệu]]></category>
		<category><![CDATA[hữu loan]]></category>
		<category><![CDATA[thơ văn]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/testsite/wordpress/?p=2363</guid>

					<description><![CDATA[Thế là đã xong một đời lận đận. 95 năm làm người, nhà thơ Hữu Loan có được bao nhiêu ngày an vui, hạnh phúc ? Chắc chẳng có bao nhiêu. Nhưng, 95 năm ấy, là tất cả những năm ông đã cố để sống như một con người tự do, vượt lên trên hết [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<div class="wp-block-image"><figure class="aligncenter is-resized"><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image002187.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image002_thumb118.jpg?strip=all&fit=374%2C281" alt="clip_image002" width="374" height="281" title="clip_image002"/></a></figure></div>



<p class="has-text-align-center"></p>



<p>Thế là đã xong một đời lận đận. 95 năm làm người, nhà thơ Hữu Loan có được bao nhiêu ngày an vui, hạnh phúc ? Chắc chẳng có bao nhiêu. Nhưng, 95 năm ấy, là tất cả những năm ông đã cố để sống như một con người tự do, vượt lên trên hết mọi ràng buộc, cho dù đó là những ràng buộc sống chết của chính quyền Cộng sản. Ông đi trọn con đường đời mình, đầu ngẩng cao, mắt nhìn thẳng. Không một lần sợ hãi bi lụy. Không một lần yếu lòng bán linh hồn cho quỷ. Không một lần chùn bước trước bao chông gai chờ đợi trước mặt.</p>



<p>Điều gì nâng đỡ ông trong suốt đọan đường thập giá 95 năm oan nghiệt ấy? Điều gì giúp ông chống trả lại cả một chế độ độc ác , lúc nào cũng nhìn ông như một kẻ thù phải tiêu diệt? Điều gì ở ông, khiến ông trở thành biểu tượng của những mảnh đời bi tráng trong một giai đọan lịch sử khốn cùng của đất nước?</p>



<p>Câu trả lời chỉ có thể là chính tâm hồn ông, tâm hồn một con người sinh ra trong trời đất, với bản năng tự do, ý thức sự tự do và cương quyết sống cho tự do.</p>



<p>Tự do hay là chết. Đó không phải là một khẩu hiệu suông. Nó đã là máu thịt của một con người bất khuất có 95 năm giữa chốn hồng trần cát bụi. Nay, ông đã về với đất, về với tự do, vì ông đã từ đất, từ sự tự do tự tại, mà đến với cuộc đời này. Xin cầu nguyện cho người, về được nơi sẽ đến.</p>



<p>Ngòai cái bóng sừng sững bất diệt ông để lại cho đời, còn là những bài thơ đã từng chinh phục bao thế hệ. Tưởng cũng nên một lần đọc lại, và giữ lại, khi những tế bào Hữu Loan đang từ từ ngấm vào lòng đất mẹ. Vì những vần thơ tuyệt vời của ông, cũng đang từ từ thấm vào lòng người, và sẽ ở lại đó muôn đời.</p>



<p>Như ông đã về với mẹ muôn đời.</p>



<p>T.Vấn</p>



<p><strong><em><span style="text-decoration: underline;"><span style="font-size: small;">Vài bài thơ của&nbsp; Hữu Loan</span></span></em></strong></p>



<p><strong><em><span style="font-size: large;">ĐÈO CẢ </span></em></strong></p>



<figure class="wp-block-table"><table><tbody><tr><td><em><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image00494.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; margin: 0px auto; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; padding-top: 0px; border-width: 0px;" title="clip_image004" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image004_thumb55.jpg?strip=all&fit=240%2C160" alt="clip_image004" width="240" height="160" border="0"></a><br>Núi cao vút<br>Mây trời Ai Lao<br>sầu<br>đại dương<br>Dặm về heo hút<br>Đá bia mù sương<br>Bên quán Hồng Quân<br>người<br>ngựa<br>mỏi<br>Nhìn dốc ngồi than<br>thương ai<br>lên đường<br>Chầy ngày<br>lạc<br>giữa suối<br>Sau lưng<br>suối vàng<br>xanh<br>tuôn<br>Dưới khe<br>bên suối độc<br>cheo leo<br>chòi canh<br>ven rừng hoang<br>Những người<br>đi<br>Nam Tiến<br>Dừng lại đây<br>giữa<br>đèo núi quê hương<br>Tóc tai<br>trùm<br>vai rộng<br>Không nhận ra<br>người làng<br>Rau khe<br>cơm vắt<br>áo<br>pha màu<br>sa trường<br>Ngày thâu<br>vượn hót<br>Đêm canh<br>gặp hùm<br>lang thang<br>Gian nan lòng không nhợt<br>Căm hờn trăm năm xa<br>Máu thiêng trôi dào dạt<br>Từ nguồn thiêng ông cha<br>Giặc<br>từ trong<br>tràn tới<br>Giặc<br>từ Vũng Rô<br>bắn qua<br>Đèo Cả<br>vẫn<br>giữ vững<br>Chân đèo<br>máu giặc<br>mấy lần<br>nắng khô<br>Sau mỗi trận thắng<br>Ngồi bên suối đánh cờ<br>Kẻ hái cam rừng ăn nheo mắt<br>Người vá áo thiếu kim mài sắt<br>Người đập mảnh chai vểnh cằm cạo râu<br>Suối mang<br>bóng người<br>Trôi những về đâu&#8230;.<br>Hữu Loan<br>( 1947)</em></td></tr></tbody></table></figure>



<p><strong><em><a href="http://www.thica.net/2010/03/20/ngay-mai/"><span style="font-size: large;">Ngày mai</span></a></em></strong></p>



<figure class="wp-block-image"><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image00664.jpg"><img decoding="async" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image006_thumb36.jpg?strip=all" alt="clip_image006" title="clip_image006"/></a></figure>



<p><em>Khi nắng chiều tắt thở<br>Trên hàng cau úa vàng<br>Bóng từng đoàn nạng gỗ<br>Đi kêu trên đường làng<br>Đàn ai<br>Trong chiều tàn<br>Tiếng âm rơi<br>Tan vỡ<br>Có đem dư hưởng về<br>Xa thẳm<br>Em đến<br>Mồ xưa biếc cỏ vàng<br>Em hiền như chị<br>Mắt ngời xanh lam<br>Em mang trong tóc<br>Nắng thơm hoa ngàn<br>Em là đôi mắt<br>Xưa ngời xanh lam<br>Của chàng lính trẻ<br>Say em hát<br>Ngồi lặng hình dung<br>Mắt một nàng<br>Em là chân mất<br>Là tay mất<br>Của một chàng trai<br>Của một chàng<br>Áo quần loang vết mủ<br>Vết thương nhày<br>Hôi tanh<br>Em đem về giặt giũ<br>Chong đèn<br>Vá thâu canh<br>Mai những người vui<br>Có áo lành<br>Bờ ao vang tiếng cú<br>Một bông hoa<br>Lìa cành<br>Kim chùng<br>Tay rớm máu<br>Long lanh<br>Ngày mai em đi khỏi<br>Ai thương người<br>Thương binh?<br>Rằng:<br>&#8211; Em từ đâu lại?<br>Mắt lam màu<br>Xa vời<br>Ngày xưa có<br>Chuyện đẹp<br>Nàng tiên đi<br>Thử người!</em></p>



<p><strong><em><a href="http://www.thica.net/2010/03/19/hoa-lua/"><span style="font-size: medium;">Hoa lúa</span></a></em></strong></p>



<figure class="wp-block-image"><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image00835.jpg"><img decoding="async" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image008_thumb18.jpg?strip=all" alt="clip_image008" title="clip_image008"/></a></figure>



<p><em>Em là con gái đồng xanh<br>Tóc dài vương hoa lúa<br>Đôi mắt em mang chân trời quê cũ<br>Giếng ngọt, cây đa<br>Anh khát tình quê ta trong mắt em thăm thẳm<br>Nhạc quê hương say đắm<br>Trong lời em từng lời<br>Tiếng quê hương muôn đời và tiếng em là một<br>Em ca giữa đồng xanh bát ngát<br>Anh nghe quê ta sống lại hội mùa<br>Có vật trụi, đánh đu, kéo hẹ, đánh cờ<br>Có dân ca quan họ<br>Trai thôn Thượng, gái thôn Đoài hai bên gặp gỡ<br>Cầm tay trao một miếng trầu<br>Yêu nhau cởi áo cho nhau<br>Về nhà dối mẹ qua cầu gió bay<br>Quê hương ta núi ngất, sông đầy<br>Bát ngát làng tre, ruộng lúa<br>Em gái quê hương mang hình ảnh quê hương<br>Xa em năm nhớ, gần em mười thương<br>Còn bàn tay em còn quê hương mãi<br>Em mang nguồn ân ái<br>Căng ngực trẻ hai mươi<br>Và trong mắt biếc nhìn anh<br>Em gái quê si tình<br>Chưa bao giờ được yêu đương trọn vẹn…</em></p>



<p><em>Anh yêu em muôn vàn như quê ta bất diệt<br>Quê hương ta ơi từ nay càng đẹp<br>Tình yêu ta ơi từ nay càng sâu<br>Ta đi đầu sát bên đầu<br>Mắt em thăm thẳm đựng màu quê hương.<br>(1955)</em></p>



<p><strong><em><a href="http://www.thica.net/2009/06/06/dem/"><span style="font-size: medium;">Đêm</span></a></em></strong></p>



<figure class="wp-block-image"><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image01021.jpg"><img decoding="async" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image010_thumb9.jpg?strip=all" alt="clip_image010" title="clip_image010"/></a></figure>



<p><em>Những đêm Hà Nội ngày xưa<br>Trằn trọc<br>Không yên<br>Những cửa<br>Từ đầu hôm<br>Như những mắt nhắm nghiền<br>Bóng nhà bóng cây<br>Ôm nhau<br>Run sợ<br>Đêm Hà Nội ngày xưa<br>Như con bệnh hạ xoài<br>Nung mủ<br>Như một nhà thương điên<br>Lên cơn hôn mê<br>Thiết giáp<br>Xe tăng<br>Lính tẩy<br>Phòng Nhì.<br>Tiếng rú của người<br>Tiếng rít của xe<br>Những chiếc jeep điên<br>Đuổi gái<br>Nghiến người<br>Quắc mắt đèn pha<br>Đỏ tia đòng đọc<br>Đêm Hà Nội ngày xưa<br>Đầu người<br>Và tình yêu<br>Treo<br>Trên đầu sợi tóc<br>Và sau từng đêm<br>Mệt nhọc<br>Hốc hác<br>Hồ Gươm<br>Như mắt thâm quầng</em></p>



<p><em>Hốt hoảng gọi nhau<br>Không kịp vớ áo quần<br>Những đêm Hà Nội ngày xưa<br>Loã lồ<br>Mình đầy ung độc<br>Đã xuống tàu đêm<br>Vào Sài Gòn<br>Tất cả<br>Những đêm Sài Gòn<br>Ngày mai<br>Đêm giang mai<br>Tẩu mã<br>Đang mâng<br>Cấp cứu gấp vạn lần<br>Những đêm xưa Hà Nội<br>&#8220;10$ 1 cốc cà phê<br>100$ con gái…&#8221;<br>Quảng cáo đóng đầy<br>Ngực đêm<br>Như áo ngủ Sài Gòn</em></p>



<p><em>Đêm Hà Nội<br>Ngày nay<br>Như em nhỏ nằm tròn<br>Ru trong nôi chế độ<br>Những đèn dài đại lộ<br>Như những tràng hoa đêm<br>Nở long lanh<br>Trong giấc ngủ<br>Bình yên<br>Ngã Tư Sở, Cống Vọng, Khâm Thiên<br>Nằm ngủ<br>Những đêm<br>Giữa tình cảm lớn<br>Gió đêm về<br>Thơm hoa rừng, lúa ruộng<br>Đặt bàn tay<br>Lên những cửa ô nghèo<br>Khi chúng ta về<br>Ánh sáng<br>Đã về theo<br>Và từng cặp người yêu<br>Đem về trong giấc mơ<br>Hình ảnh hồ Gươm<br>Đẹp như hồ thần thoại<br>In bóng người yêu<br>Chung thuỷ<br>Đợi chờ.</em></p>



<p><em>(6-56)</em></p>



<p><strong><em><a href="http://www.thica.net/2008/02/04/mau-tim-hoa-sim/"><span style="font-size: medium;">Màu tím hoa sim</span></a></em></strong></p>



<figure class="wp-block-image"><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image01217.jpg"><img decoding="async" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image012_thumb6.jpg?strip=all" alt="clip_image012" title="clip_image012"/></a></figure>



<p><em>Nàng có ba người anh đi bộ đội<br>Những em nàng<br>Có em chưa biết nói</em></p>



<p><em><br>Khi tóc nàng xanh xanh<br>Tôi người Vệ quốc quân<br>xa gia đình<br>Yêu nàng như tình yêu em gái</em></p>



<p><em><br>Ngày hợp hôn<br>nàng không đòi may áo mới<br>Tôi mặc đồ quân nhân<br>đôi giày đinh<br>bết bùn đất hành quân<br>Nàng cười xinh xinh<br>bên anh chồng độc đáo<br>Tôi ở đơn vị về<br>Cưới nhau xong là đi</em></p>



<p><em><br>Từ chiến khu xa<br>Nhớ về ái ngại<br>Lấy chồng thời chiến binh<br>Mấy người đi trở lại<br>Nhỡ khi mình không về<br>thì thương<br>người vợ chờ<br>bé bỏng chiều quê…</em></p>



<p><em>Nhưng không chết<br>người trai khói lửa<br>Mà chết<br>người gái nhỏ hậu phương</em></p>



<p><em><br>Tôi về<br>không gặp nàng<br>Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối<br>Chiếc bình hoa ngày cưới<br>thành bình hương<br>tàn lạnh vây quanh</em></p>



<p><em><br>Tóc nàng xanh xanh<br>ngắn chưa đầy búi<br>Em ơi giây phút cuối<br>không được nghe nhau nói<br>không được trông nhau một lần</em></p>



<p><em><br>Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím<br>áo nàng màu tím hoa sim</em></p>



<p><em><br>Ngày xưa<br>một mình đèn khuya<br>bóng nhỏ<br>Nàng vá cho chồng tấm áo<br>ngày xưa…</em></p>



<p><em>Một chiều rừng mưa<br>Ba người anh trên chiến trường đông bắc<br>Được tin em gái mất<br>trước tin em lấy chồng</em></p>



<p><em><br>Gió sớm thu về rờn rợn nước sông<br>Đứa em nhỏ lớn lên<br>Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị</em></p>



<p><em><br>Khi gió sớm thu về<br>cỏ vàng chân mộ chí<br>Chiều hành quân<br>Qua những đồi hoa sim</em></p>



<p><em><br>Những đồi hoa sim<br>những đồi hoa sim dài trong chiều không hết<br>Màu tím hoa sim<br>tím chiều hoang biền biệt</em></p>



<p><em><br>Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa<br>Áo anh sứt chỉ đường tà<br>Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu</em></p>



<p><em><br>Ai hỏi vô tình hay ác ý với nhau<br>Chiều hoang tím có chiều hoang biết<br>Chiều hoang tím tím thêm màu da diết</em></p>



<p><em><br>Nhìn áo rách vai<br>Tôi hát trong màu hoa<br>Áo anh sứt chỉ đường tà<br>Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu…</em></p>



<p><em>Màu tím hoa sim, tím tình tang lệ rớm<br>Tím tình ơi lệ ứa<br>Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành</em></p>



<p><em><br>Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn<br>Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím<br>Tôi ví vọng về đâu<br>Tôi với vọng về đâu</em></p>



<p><em><br>Áo anh nát chỉ dù lâu…</em></p>



<p><em>(1949, khóc vợ Lê Đỗ Thị Ninh)</em></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/xin-cho-ng%c6%b0%e1%bb%9di-v%e1%bb%81-d%c6%b0%e1%bb%a3c-n%c6%a1i-s%e1%ba%bd-d%e1%ba%bfn/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>T.Vấn: M&#249;a lốc x&#243;ay</title>
		<link>https://t-van.net/ma-l%e1%bb%91c-xay/</link>
					<comments>https://t-van.net/ma-l%e1%bb%91c-xay/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[T.Vấn]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 18 Mar 2010 01:53:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[bão dữ]]></category>
		<category><![CDATA[cái chết]]></category>
		<category><![CDATA[con người]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/testsite/wordpress/?p=2014</guid>

					<description><![CDATA[Cơn lốc xóay hình phễu đang cuốn sạch mọi thứ trên đường đi 1. Hình như những ngày tháng mùa đông đã thấm mệt sau một chuỗi những hòanh hành và những con số kỷ lục được ghi nhận. Một mùa đông lạnh gía nhất từ mấy chục năm nay. Nhiều người gìa lặng lẽ [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image002161.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; margin: 0px 20px 10px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; float: left; padding-top: 0px; border-width: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image002_thumb96.jpg?strip=all&fit=287%2C188" alt="clip_image002" width="287" height="188" align="left" border="0" /></a></p>
<p><strong><em>Cơn lốc xóay hình phễu đang cuốn sạch mọi thứ trên đường đi</em></strong></p>
<p><strong>1.</strong></p>
<p>Hình như những ngày tháng mùa đông đã thấm mệt sau một chuỗi những hòanh hành và những con số kỷ lục được ghi nhận. Một mùa đông lạnh gía nhất từ mấy chục năm nay. Nhiều người gìa lặng lẽ qua đời. Cái lạnh đã kết thúc cuộc đời họ nhanh hơn dự trù. Cái nhanh hơn ấy, có ý nghĩa dịu dàng với một số người này, nhưng lại là độc ác với một số người khác. Cũng như những trận bão tuyết. Có kẻ ít khi được ngồi trong nhà ấm áp nhìn ra bên ngòai một màn tuyết trắng xóa, thấy thiên nhiên đẹp như một bài thơ (1). Có người mỗi tối đón nghe tin tức dự báo khí tượng, sáng dậy thật sớm lo cạo tuyết ngập đầy trước sân nhà.</p>
<p>Dù sao thì những ngày đầu tháng Ba, thời tiết đã ấm áp hơn. Nhưng lại đáng lo hơn. Cũng tháng này hàng năm, người ta bắt đầu chuẩn bị đối phó với những cơn lốc xóay (Tornado). Theo các phân tích khoa học, khi có một nguồn khí lạnh ở trên đi xuống và một luồng khí ấm ở dưới đi lên, khi ấy là điều kiện tuyệt hảo cho lốc xóay hình thành. Mùa đông vừa qua, do độ lạnh bất thường, đã làm cho không khí trở nên ẩm ướt hơn. Và khi nhiệt độ mặt đất ấm dần lên, độ ẩm do lạnh kéo dài sẽ bắt tay tương tác với luồng hơi ấm ấy, tạo chuyển động mạnh. Kết quả là những trận gió xóay bất ngờ, nhiều khi không thể tiên đóan sớm hơn cho người ta có đủ thì giờ đi tìm nơi trú ẩn. Khi ấy, thảm họa thiên nhiên gây thiệt hại khó lường. Trên thế giới, Hoa Kỳ là nước có con số lốc xóay cao nhất và số thiệt hại về lốc xóay cũng cao nhất. Phần lớn, những cơn lốc xóay xẩy ra ở khu vực miền Trung Tây. Theo thống kê thì, &#8220;<em>Trận lốc xoáy tồi tệ nhất ở Mỹ xảy ra ngày 18 tháng 3 năm 1925. Cùng một lúc 7 lốc xoáy đã xuất hiện ở 3 </em><em>tiểu </em><em>bang Illinois, Mis</em><em>s</em><em>ou</em><em>r</em><em>i, Indian</em><em>n</em><em>a làm 740 người thiệt mạng và phá huỷ nhiều cấu trúc hạ tầng. Một thảm hoạ lốc xoáy khác cũng đáng nhớ không kém xảy ra vào ngày 3 tháng 4 năm 1974, nó là tập hợp của 148 lốc xoáy nhỏ, giết chết 315 người từ bắc Alabama đến Ohio.&#8221;</em></p>
<p>Tháng Ba năm 1991, khi tôi và gia đình vừa đặt chân đến Wichita, Kansas, ngày hôm sau đã được một trận gió xóay hung dữ chào đón. Tuy tai qua nạn khỏi, nhưng cũng đã được một phen hú vía. Chẳng lẽ, chưa kịp sống đã chết hay sao! Tuy nhiên, ở một ngôi làng lân cận, nhiều căn nhà đã bị phá hủy và nhiều người chết. Lúc ấy, vừa rời khỏi cuộc sống kềm kẹp và nghèo khổ ở quê nhà, tôi mang tâm trạng háo hức của người chuẩn bị làm lại cuộc đời nơi mảnh đất nhiều hứa hẹn, thì những buổi nghe còi hụ phải chạy vội xuống hầm nhà tìm nơi trú ẩn đã như những gáo nước lạnh tạt vào mặt làm nguội dần những háo hức tội nghiệp ấy. Bao nhiêu năm phải lo đối phó với con người, tôi đã quên bẵng thiên nhiên, một thế lực vô hình mà đầy quyền năng.</p>
<p>Con người hung dữ với nhau, đã đành. Đôi khi thiên nhiên, cũng hung dữ với người không kém.</p>
<p><strong>2.</strong></p>
<p>Khác với chiến tranh, sự độc ác của thiên nhiên không có dấu hiệu dễ dàng cho người ta nhận diện. Như trường hợp những cơn lốc xóay, chúng thường đến ban đêm, khi khí lạnh hội tụ đủ để bắt tay với nhiệt độ ấm từ dưới đất bốc lên. Khi ấy, mọi người đang say nồng trong giấc ngủ sau một ngày làm việc (2). Thần chết đến thình lình. Lưỡi hái vung lên ngọt xớt. Không ai có thì giờ cảm được sự đau đớn. Kể ra đó cũng là một ân sủng của . . . trời. Như cũng độ này dăm năm trước, một cơn gió xóay thổi ngang qua đầu tôi, đúng lúc tôi vừa ngồi xuống bàn viết chuẩn bị những dòng đầu tiên cho bài viết thường kỳ. Trong cơn bất chợt, tôi chỉ nghe được một âm thanh váng cả đầu óc, rồi sau đó là sự im lặng . . . đáng sợ. Chỉ mãi ngày hôm sau, tôi mới biết cơn lốc xóay hung dữ đã đổ bộ xuống một ngôi làng lân cận, san bằng ngôi làng ấy thành bình địa, đồng thời luỡi hái tử thần lấy đi gần 10 mạng người. Theo dòng người hú hồn vì thóat chết, tôi đã ghé thăm công trình hủy họai ấy của thiên nhiên. Đó là ngôi làng tôi đã từng có dịp đến công tác cho sở, từng ngồi uống cà phê ở cái quán duy nhất trong khu downtown cũ kỹ, từng giơ tay chào hỏi người qua kẻ lại trên đường phố một buổi chiều mùa hè êm ả năm nào. Hai năm sau đó, tôi cũng đã có dịp quay trở lại thăm ngôi làng, nay đã trở thành một thành phố hiện đại, kiểu mẫu. Nhờ sự thẳng tay của thiên nhiên, con người có dịp làm lại cuộc sống của mình: đẹp hơn, tiện nghi hơn, khoa học hơn.</p>
<p>Nhưng bù lại, có những cái mất khó thể đền bù. Như con người, như những kỷ niệm mà một sớm một chiều đã bỗng biến mất.</p>
<p>Tôi đã từng đứng ngẩn ngơ trước căn nhà tuổi thơ của mình , nhìn nó bốc cháy, rồi từ từ sập hẳn xuống, cùng với căn nhà là biết bao những kỷ niệm, những trang lưu bút của bạn bè, của mình. Năm Mậu Thân 1968, chiến tranh đi vào thẳng thành phố để cho người dân ở đó biết thế nào là chiến tranh. Những người anh em bên kia, thừa hành lệnh của cấp trên điên cuồng, đã biến đường phố thành những bãi chiến trường, biến những ngôi nhà dân thành công sự chiến đấu, biến người dân thành những tấm bia đỡ đạn. Để rồi, sau khi họ rút đi, hoặc ngã gục đâu đó trong những con hẻm cụt, là những đổ nát không phương gì hàn gắn, dù sau đó, nơi những xóm nhà cháy tan hoang đã mọc lên những tòa chung cư nhiều tầng sừng sững. Nhưng đổ nát vẫn cứ là đổ nát, nhất là trong những tâm hồn non trẻ, thứ đổ nát sẽ hằn sâu những dấu ấn theo đuổi họ suốt đời.Chiến tranh chẳng bao giờ là một kinh nghiệm ngọt ngào, dù là kẻ thắng hay thua trong trận chiến.</p>
<p>Có lẽ, chịu đựng sự hủy họai của thiên nhiên dễ dàng hơn chịu đựng sự độc ác của con người chăng?</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image00476.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border-width: 0px;" title="clip_image004" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image004_thumb39.jpg?strip=all&fit=373%2C241" alt="clip_image004" width="373" height="241" border="0" /></a></p>
<p><strong><em>Một cảnh tan hoang đổ nát vì lốc xóay ở Kansas</em></strong></p>
<p><strong>3.</strong></p>
<p>Dầu vậy, sự mất mát vẫn cứ là mất mát. Và mất mát nào cũng làm người ta đau lòng. Hàng năm, vào mùa gió xóay, ngoài những cảnh giác , nhắc nhở nhau phải cẩn thận, chú ý đến những đổi thay của thời tiết, người dân thành phố vẫn không quên nhắc đến những người đã chết vì gió xóay, những cái chết thình lình, không được báo trước. Có sự khác biệt nào không giữa cái chết vì chiến tranh, cũng bất thình lình, cũng không báo trước và không ngờ với những cái chết từ trời rơi xuống? Một bà mẹ đã nói về cái chết vì lốc xóay của con mình như là &#8220;sự quan hòai của Thượng Đế&#8221;. Khi nghe còi hụ vang rền khắp khu phố, cả gia đình bà đã chạy xuống tầng hầm căn nhà (basement) để tìm chỗ trú ẩn an tòan. Đứa con nhỏ nhất, 9 tuổi, ngồi giữa hai người anh của mình. Bên ngòai, cái cây cạnh nhà bị gió cuốn trốc gốc, ngã đè lên bệ thông khói của lò sưởi. Lớp gạch bị sức nặng của cây, làm sập mái nhà và rơi xuống tận dưới hầm trú ẩn. Đứa bé ngồi giữa hai anh bị gạch đè chết, còn hai người anh chỉ bị sây sát nhẹ. Với người mẹ, cái chết của đứa con là một sự mất mát khó bù đắp, nhưng ý tưởng về một sự lựa chọn của Thượng đế, phần nào an ủi được nỗi đau của người mẹ. Dù vậy, nhiều năm sau bà cũng vẫn không thể trở về mảnh đất cũ, nơi vốn tọa lạc căn nhà của bà lúc trước cơn thảm họa, dù chỉ là để viếng thăm. Nhìn những bức hình chụp ngay sau khi cơn lốc xóay sát nhân đi qua, tôi liên tưởng đến những bãi chiến trường. Chỉ khác, ở đây không có sự chống cự của phía thua trận. Tôi đã từng bước đi giữa những đổ nát của chiến tranh, chân rón rén sợ đạp lên những mảnh xương, mảnh thịt nạn nhân của bom đạn vô tình. Tôi cũng đã bước đi giữa những hoang tàn của thảm họa thiên nhiên, chân cũng rón rén sợ dẫm lên những mảnh kỷ niệm của từng căn nhà , của từng người còn sống hay đã chết. Đó là những mất mát không thể bù đắp. Con người và quá khứ. Cái cảm giác đau nhói khi đứng nhìn cảnh tan hoang rụi cháy của căn nhà tuổi thơ năm xưa lại trở về. Ngay từ dạo ấy, một phần đời của tôi đã chết theo với sự đổ nát của căn nhà. Mọi thứ đẹp đẽ &#8211; dù rất hiếm hoi – cũng đã bị chôn vùi trong đó.</p>
<p>Vượt thóat được những ám ảnh của chiến tranh, tôi lại thấy mình bị những bóng đen của gió xóay rình mò sau lưng. Như cái đêm tôi ngồi xuống bàn viết nghe tiếng vỗ cánh của thần chết chói chang trên đầu mấy năm trước.</p>
<p>Lời cầu kinh hằng đêm vẫn được (tôi) lẩm nhẩm, vì không biết lần này thì cái bóng đen kịt hình phễu đáng sợ kia có đủ độ lượng tha cho tôi như lần trước hay không ?</p>
<p>T.Vấn</p>
<p>( Mùa gió xóay 2010)</p>
<p>(1)Anh bạn chủ báo Ca Dao là một trong những con người lãng mạn đáng yêu ấy. Nhìn tờ bìa số báo 234 với tấm hình chụp cảnh thành phố Dallas ngập trong tuyết, tôi hiểu sự thích thú của anh ta khi được nhìn những lọn tuyết quyến rũ rơi xuống từ bầu trời mùa đông xám ngắt. Đã bao năm nay, Dallas mới được đẫm mình trong tuyết. Còn tôi, cứ mỗi mùa đông là cánh tay lại thêm phần &#8220;vạm vỡ&#8221;, nhờ xúc tuyết, dọn đường, cạo kính xe mỗi buổi sáng.</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image00648.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; margin: 0px 20px 10px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; float: left; padding-top: 0px; border-width: 0px;" title="clip_image006" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image006_thumb22.jpg?strip=all&fit=187%2C240" alt="clip_image006" width="187" height="240" align="left" border="0" /></a></p>
<p>(2)Vì thế, từ ngày định cư ở thành phố Wichita, Kansas, cái nôi của những trận lốc xóay đáng kính và đáng sợ, tôi đã trở nên ngoan đạo hơn. Hàng đêm, trước khi đi ngủ, tôi đã chịu khó ngồi đọc kinh, cầu nguyện <em>&#8221; xin chúa hãy gìn giữ tôi ban ngày cũng như ban đêm, kẻo phải chết tươi ăn năn tội chẳng kịp . . . &#8221; .</em> Người tỏ ra hài lòng nhất là mẹ của các con tôi. Bà cụ tin rằng, nhờ sự &#8220;giáo dục&#8221; của vợ mà tôi đã càng ngày càng khác xưa. Điều này có đúng không thì hẳn chỉ có . . . Chúa mới biết được mà thôi.</p>
<p>©T.Vấn 2010</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ma-l%e1%bb%91c-xay/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>

<!--
Performance optimized by W3 Total Cache. Learn more: https://www.boldgrid.com/w3-total-cache/?utm_source=w3tc&utm_medium=footer_comment&utm_campaign=free_plugin

Page Caching using Disk: Enhanced 

Served from: t-van.net @ 2026-04-27 23:41:39 by W3 Total Cache
-->