<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>chữ nghĩa làng văn &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<atom:link href="https://t-van.net/tag/ch%e1%bb%af-nghia-lang-van/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://t-van.net</link>
	<description>Văn Học và Đời Sống</description>
	<lastBuildDate>Wed, 02 Oct 2024 16:37:37 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.7.5</generator>

<image>
	<url>https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/02/t-van-favicon.png?strip=all&#038;resize=32%2C32</url>
	<title>chữ nghĩa làng văn &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<link>https://t-van.net</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 280)</title>
		<link>https://t-van.net/ngo-khong-chu-nghia-lang-van-ky-280/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 02 Oct 2024 16:36:56 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Chữ Nghĩa Làng Văn]]></category>
		<category><![CDATA[chữ nghĩa làng văn]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không;cnlv]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=74664</guid>

					<description><![CDATA[Văn học lưu vong Tiếp đến Võ Phiến cho in cuốn Văn học miền Nam tổng quan với mục đích khôi phục lại thực trạng văn học miền Nam, một nền văn học &#8220;đang bị tiêu hủy&#8221;. Tác phẩm đã được đón nhận nồng nhiệt tại hải ngoại khi mới ra đời. Mười ba năm [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/07/cnlv-hinh.jpg?strip=all&fit=300%2C205&w=2560"><img fetchpriority="high" decoding="async" width="300" height="205" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/07/cnlv-hinh.jpg?strip=all&fit=300%2C205" alt="" class="wp-image-32105" style="width:414px;height:auto"/></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><strong>Văn học lưu vong</strong></p>



<p>Tiếp đến Võ Phiến cho in cuốn <em>Văn học miền Nam tổng quan</em> với mục đích khôi phục lại thực trạng văn học miền Nam, một nền văn học &#8220;đang bị tiêu hủy&#8221;. Tác phẩm đã được đón nhận nồng nhiệt tại hải ngoại khi mới ra đời. Mười ba năm sau, Võ Phiến hoàn tất bộ <em>Văn Học Miền Nam</em> gồm 7 tập gồm 3229 trang.</p>



<p>Bộ <em>Văn Học Miền Nam</em> của Võ Phiến là một tuyển tập, có tham vọng kết hợp hai lối trình bày của Vũ Ngọc Phan trong <em>Nhà văn hiện đại</em> và Hoài Thanh trong <em>Thi nhân Việt nam</em>, tức là vừa giới thiệu tác giả vừa in kèm tác phẩm tiêu biểu của họ, do đó có bề dầy. Về cuốn Tổng quan, trong chỗ riêng tư, Mai Thảo sinh thời đã có ý phàn nàn về những phán đoán thiên lệch trong sách, nhưng ông không phát biểu công khai. Nhưng sau khi Võ Phiến hoàn tất bộ <em>Văn Học Miền Nam</em>, nhiều người khác lên tiếng phản đối cách phê bình của Võ Phiến trong bộ <em>Văn Học Miền Nam, </em>nhất là về Vũ Khắc Khoan, Mai Thảo, Bình Nguyên Lộc&#8230;, đặc biệt những người cùng thời với ông như Viên Linh trong bài <em>&#8220;Trăm năm thân thế&#8221;</em> &nbsp;viết về Vũ Khắc Khoan, Nguyễn Văn Trung trong bài <em>&#8220;Hướng về miền Nam Việt Nam&#8221;</em> và bài Mặc Đỗ trả lời phỏng vấn của Nguyễn Tà Cúc.</p>



<p>Cuốn <em>Văn học miền Nam tổng quan</em> của Võ Phiến ra đời đúng lúc người di tản đang còn bàng hoàng trước cuộc đổi đời, phẫn nộ trước những tin về cải tạo, đau đớn về chuyện thuyền nhân, phẫn uất về việc đốt sách ở quê nhà, nên nó đã đáp ứng đúng nhu cầu của người đọc di tản, nó gây ra một số vấn đề tranh luận. Tuy vậy, cuốn <em>Văn học miền Nam tổng quan</em> vẫn là một tác phẩm cần thiết, nó đã được viết ra sớm nhất trong hoàn cảnh lưu vong, và cũng là một tư liệu văn học viết về thời kỳ 54-75, ở miền Nam, xuất hiện sớm nhất sau chiến tranh.</p>



<p>Bởi vì, trong suốt thời kỳ cực thịnh của sách báo ở miền Nam, chưa có tác giả nào lưu tâm đến việc ghi lại lịch sử văn học của thời kỳ này. Cho nên có thể nói đây là cuốn sách đầu tiên <em>viết về sinh hoạt văn học</em> ở miền Nam trong giai đoạn 1954- 1975, tương đối khá đầy đủ.</p>



<p>(Thụy Khuê – Văn học miền Nam)</p>



<p><strong>Truyện cực ngắn &#8211; </strong><strong>Chiến tranh</strong></p>



<p>Truyện chớp hay cực ngắn có truyện chỉ một vốc chữ, thậm chí một dúm câu. Nhưng truyện vẫn có hồn, có cốt, có tráng qua một chút văn chương. Nghĩa là đọc nó, người ta không có cảm giác ngột ngạt như bị vo nén lại rồi nhét vào trong cái ống điếu…<strong></strong></p>



<p>“Hắn chỉ thực là lính sau khi hắn vượt biên. Ở Mỹ, cuối tuần nào cũng thế, ngồi trong phòng khách, với ly bia trên tay, giữa đám bạn bè mới, hắn say sưa kể về cuộc đời lính chiến của hắn. Hắn kể say sưa và đầy tự tin: hắn biết chắc chắn trong những trận đánh ấy hắn không bao giờ thua trận. Bạn bè hắn cũng thích thú. Họ nâng ly, cổ vũ: “dzô!”.</p>



<p><strong>Biên khảo</strong></p>



<p>Trong lãnh vực biên khảo không có tác phẩm nào được viết bởi một cá nhân mà chẳng tránh được những thiếu sót và sai lầm. Mặc dù là những nhà biên khảo thành danh, kiến văn quảng bác và những học giả có học vị, lão thành, mà họ đã cẩn trọng, nghiên cứu có phương pháp, tài liệu dồi dào.</p>



<p>Vì những dữ kiện sai lạc đôi khi hai, ba chục năm sau mới tìm ra.</p>



<p>(Trần Bích San – Văn Khảo)</p>



<p><strong>Thơ thiền</strong></p>



<p>Từ những Thiền Sư Khuông Việt thế kỷ thứ 9 đến các Thiền Sư Vạn Hạnh, Viên Chiếu, Huệ Sinh, Ngộ Ấn, Mãn Giác&#8230; thế kỷ thứ 10 đến các Thiền Sư Đạo Hạnh, Không Lộ, Diệu Nhân, Huyền Quang&#8230; vào thế kỷ thứ 11, chưa kể hai vì Vua Lý Thái Tông năm (1001-1054) và Trần Thái Tông (1218-1277) cũng trước tác nhiều bài thơ thiền xuất chúng để đời. Và các Thiền Sư Trúc Lâm, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hương Hải và Chân Nguyên trong các thế kỷ 13, 14, 15 và 16 nối tiếp phát triển thơ thiền lưu lại hậu thế.</p>



<p>(Thái Tú Hạp &#8211; Thơ thiền Việt Nam, Đường thi Trung Hoa)</p>



<p><strong>Việt khác Hoa thế nào</strong></p>



<p>Trị thủy thì người Trung Quốc khơi sâu và khơi nhiều dòng chảy. Người Việt đắp đê.<br>Người Hoa ở nhà hầm. Người Việt ở nhà sàn.<br>Trung Quốc đúc đỉnh, Việt Nam đúc trống.<br>Kẻ sĩ Trung Quốc nằm ở các đô thị. Trí thức Việt &#8211; phần lớn nằm ở làng quê.<br>Trung Quốc tâm lý làm lớn, làm lố. Việt ta tâm lý dân tộc, chủ tình <em>ưa dung hòa nửa vời.</em></p>



<p>(Trần Quốc Vượng &#8211; Văn hóa Việt Nam)</p>



<p><strong>Giòng hay dòng</strong></p>



<p>Thụy Khuê, nhà phê bình văn học, với bài viết <em>&#8220;Nhất Linh, Giòng Sông Thanh Thủy&#8221;</em> . Trong bài bà đổi tên tác phẩm Giòng Sông Thanh Thủy của Nhất Linh từ <em>Giòng</em> thành chữ <em>Dòng</em> với lời chú thích như sau:</p>



<p>&#8220;Nguyên tựa của Nhất Linh là Giòng Sông Thanh Thủy, chúng tôi sửa lại là Dòng Sông Thanh Thủy cho đúng chính tả&#8221;.</p>



<p>Đọc lời chú thích đó chúng tôi phân vân tự hỏi Thụy Khuê theo chính tả nào và chính tả nào là đúng? Viết &#8220;Dòng&#8221; đúng chính tả vậy viết &#8220;Giòng&#8221; có là sai chính tả hay không? Nếu chữ &#8220;giòng&#8221; viết nhỏ trong một câu văn ta không chú ý nhưng nếu đã thành tên một tác phẩm in chữ lớn ngoài bìa như <em>Giòng</em> Dỏi (Học Phi), Bên <em>Giòng</em> Lịch Sử (Linh mục Cao Văn Luận), <em>Giòng</em> Lệ Thơ Ngây ( Thanh Nam), <em>Dòng</em> Sông Đinh Mệnh (Doãn Quốc Sỹ) là sự lựa chọn của tác giả, chúng ta chấp nhận cả hai mà không coi là sai.<br><br>(Đặng Trần Huân – Chữ nghĩa bề bề)</p>



<p><strong>Đầu cua tai nheo</strong></p>



<p>Hầu như mọi người đều hiểu <em>“tai”</em> ở đây là cơ quan của thính giác trong khi thực ra nó lại có nghĩa là <em>cái mang của con cá</em>. Đó là một từ Việt gốc Hán bắt nguồn ở một từ âm Hán Việt là “tô lai thiết” (xem <em>Khang Hy tự điển</em>), có nghĩa là mang cá.</p>



<p>Đã rõ “tai” là mang cá, “tai nheo” tất nhiên là mang của cá nheo.</p>



<p>(Phan Trọng Hoa – Thành ngữ, tục ngữ khó hiểu)</p>



<p><strong>Hội nhập</strong></p>



<p>Ngôn ngữ của tôi là thứ ngôn ngữ hơn năm chục năm về trước. Tôi nói: &#8220;Tôi đi nhà thương mổ mắt&#8221; nhưng bây giờ &#8220;người trong nước&#8221; nói :&#8221;Tôi đi bệnh viện làm <em>phẫu thuật</em> mắt&#8221;, nghe văn vẻ hơn khiến tôi có mặc cảm mình &#8220;quê một cục&#8221; !</p>



<p>Một cháu bé sáu tuổi nói với mẹ :&#8221;Con có <em>ảo ảnh</em>, con biết chỉ có một cái cốc mà con nhìn thấy có hai cái&#8221;. Người lớn trẻ con bây giờ ai ai cũng dùng những từ ngữ Hán Việt một cách rất chuẩn và rất tự nhiên như tiếng mẹ đẻ, xưa kia những từ ấy chỉ thấy trên sách báo của các nhà trí thức. &#8220;Hàn Lâm Viện&#8221; đã xuống đường!</p>



<p>(Nguyễn Thị Chân Quỳnh – Câu chuyện “hội nhập”)</p>



<p><strong>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Từ tiếng Việt nào dài nhất?</strong></p>



<p><strong>&#8211; </strong>7 mẫu tự coi như dài nhất như: <em>Nghiêng</em> thành &#8211; <em>Khuyếch</em> trương</p>



<p>(Nguồn ĐatViet.com)</p>



<p><strong>Quá quan trì, quan quan bê…</strong><strong> </strong><strong> </strong><strong> </strong><strong><br>                  </strong><strong> </strong></p>



<p>Chuyện kể, trong lần Mạc&nbsp;Đĩnh Chi&nbsp;đi sứ năm 1308, do&nbsp;đường xa, mưa gió nên sứ bộ&nbsp;đến cửa ải Nam Quan chậm mất một ngày. Viên quan giữ cửa ải không cho mở cửa để sứ bộ qua. Mạc Đĩnh Chi nói mãi chúng cũng không chịu cho qua. Sau đó họ ném từ trên cửa ải xuống một vế câu đối, bảo hễ đối được thì sẽ mở cửa cho qua, còn nếu chưa đối được thì hãy ở tạm bên dưới qua đêm, đợi đến sáng hôm sau..</p>



<p>Vế ra đối viết :</p>



<p>&#8211;&nbsp;Quá quan trì, quan quan bế, nguyện quá khách quá quan.</p>



<p>Nghĩa là&nbsp;:</p>



<p>&#8211; Qua cửa quan chậm, cửa quan đóng, mới khách qua đường qua cửa quan.</p>



<p>Thật là một câu đối hiểm hóc, nội dung nói lên việc Mạc Đĩnh Chi đang cần qua cửa quan để sang Yên Kinh. Song khó ở chỗ trong 11 chữ của vế đối mà có tới bốn lần nhắc lại chữ quan. Mạc Đĩnh Chi nghĩ vế ra quả là khó đối lại nhưng im lặng thì mất thể diện.</p>



<p>Ông ứng khẩu đọc lại vế đối :</p>



<p>&#8211;&nbsp;Xuất đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh tiên đối.</p>



<p>Nghĩa là :</p>



<p>&#8211; Ra câu đối dễ, đối câu đối khó, xin tiên sinh đối trước.</p>



<p>Mọi người đều đang bí thì nghe Mạc Đĩnh Chi đọc vế đối lại. Quân lính nhà Nguyên phải chịu&nbsp;và mở cửa ải để ông đi qua. (Vế đối cũng có bốn chứ đối).</p>



<p>(Nguyễn Lập Sơn – Dư Phát Linh)</p>



<p><strong>Chữ nghĩa máy vi tính</strong></p>



<p>Xưa, giai thoại được truyền miệng từ người này sang người khác nên được gọi là văn học dân gian. Nay, truyện dân gian thời internet có thêm một nguồn khác được gọi là…chat, thí dụ như.</p>



<p>Email anh viết thật bay</p>



<p>Bướm em mong đợi cả ngày lẫn đêm</p>



<p><strong>Ngũ</strong></p>



<p>Nhà ở, người ta thường làm 5 gian.</p>



<p>(Nếu 3, thì vẩy thêm 2 cái chái, gọi là ba gian hai chái).</p>



<p>Tín ngưỡng, có tục thờ quan <em>ngũ</em> dinh (5 ông hổ)</p>



<p>Đối với tổ 5 đời, người ta lấy gỗ mơ rồi khắc (hoặc viết) họ tên, năm sinh, năm mất lên đấy làm bài vị để thờ, gọi là: “<em>Ngũ</em> <em>đại mai thần chủ</em>”</p>



<p>Đời người, đến tuổi 50, đã biết được thế nào là mệnh Trời, cho nên mới có câu: “<em>Ngũ</em> <em>thập tri thiên mệnh</em>”.</p>



<p>Mở rộng thêm còn có 5 canh (trong <em>đêm 5 canh, ngày 6 khắc</em>)</p>



<p>Thêm những cái “<em>Ngũ</em>” trong ngày tết: Ngoài mâm <em>ngũ</em> quả, trước bữa ăn, để khai vị còn có rượu <em>ngũ</em> xà. Sau khi ăn xong, tráng miệng có mứt <em>ngũ</em> vị. Chơi tam cúc, nếu lên bài được đủ 5 quân tốt đen (hoặc 5 quân tốt đỏ) gọi là <em>ngũ</em> tử.</p>



<p>(Phùng Thành Chủng &#8211; Phiếm bàn về con số 5)</p>



<p><strong>Hoán dụ</strong></p>



<p>Hoán dụ là phương thức tu từ thực hiện bằng việc chuyển nghĩa của các từ, dựa vào sự gần nhau của đối tượng, sự vật. Tương tự như ẩn dụ, hoán dụ là đặt một nghĩa bóng cho một từ vốn có nghĩa đen, như <em>Đàn bà dễ có mấy tay/Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan</em> (thơ Nguyễn Du), thì các từ <em>tay</em>, <em>mặt</em>, <em>gan</em> không mang nghĩa đen chỉ đối tượng (cái tay, khuôn mặt, bộ gan) mà dùng để trỏ con người trong nghĩa bóng của nó, như vậy bộ phận của con người được dùng để trỏ chính con người).</p>



<p>(nguồn Wikipedia)</p>



<p><strong>Chữ và nghĩa</strong></p>



<p>Trong quân đội chức vụ hạ sĩ quan có <em>thượng sĩ, trung sĩ, hạ sĩ</em>.</p>



<p>Những chữ này từ đâu mà có? Theo Nguyễn Công Trứ, nước ta thời xưa có năm tước “Tước hữu ngũ, sĩ cư kỳ liệt” là:</p>



<p>Thượng đại phu, hạ đại phu<em>, thượng sĩ, trung sĩ, hạ sĩ</em>.</p>



<p><strong>Ông Tàu già bán lạc rang</strong></p>



<p>Còn phải kể thêm một nhân vật gần Hồ Gươm khác nữa mà các học sinh chúng tôi (TG) của những năm đầu thập niên 1950 chắc không sao quên được.</p>



<p>Nhân vật này là ông Tàu già bán lạc rang, còn gọi là phá-xa, mùa hè cũng như mùa đông, lúc nào cũng quanh quẩn ở bên tháp Hòa Phong (*). Ông Tàu này già hơn và mập mạp hơn anh Tàu bán thịt bò khô gần quán Mụ Béo phía đền Ngọc Sơn, đeo trước bụng một cái thùng thiếc có bao quanh bằng một lớp vải bông để ủ giữ cho lạc lúc nào cũng ấm. Cũng với giá một đồng một múc bằng cỡ một vốc nắm tay, cái thứ lạc trộn húng lìu được rang lên, hột lạc tròn và đều nhai dòn tan. Vào những chiều đông lạnh, ông Tàu già này đứng tránh gió trong lòng tháp, nhưng khách hàng quen thuộc vẫn biết để dễ dàng tìm ra.</p>



<p>Năm 1957, ở Sài Gòn, một lần tôi trông thấy ông Tàu già bán lạc rang này đang lang thang trên đường Lê Văn Duyệt trông sang cửa vườn hoa Tao Đàn phía bên kia đường. Không thấy ông đeo cái thùng thiếc trước bụng nữa, và trong Nam trời nóng quanh năm, hẳn ông không còn bán cái thứ quà chỉ thích hợp với khí hậu Hà Nội mà thôi. Tôi không bao giờ gặp lại ông Tàu gìa này nữa, cũng như không còn thấy lại Mụ Béo, anh Tàu bán thịt bò khô mà tôi đã ăn không biết bao nhiêu lần! Tôi không khỏi ngậm ngùi mỗi khi nghĩ đến <em>những người muôn năm cũ,</em> <em>hồn ở đâu bây giờ?</em> &#8211; <em>Thơ Vũ Đình Liên</em>.</p>



<p>(*) Tháp này xưa kia nằm trong phạm vi và thuộc về chùa Báo Ân (chùa Bảo Ân nơi bây giờ là tòa nhà bưu điện). Không rõ vì sao và vào lúc nào ngôi chùa Báo Ân này không còn nữa và di tích duy nhất ngôi chùa để lại chỉ là tháp Hòa Phong. Đây là tòa tháp vuông mỗi chiều dài chừng 3 thước, 4 cạnh trổ ra 4 cửa có thể đi xuyên qua bên dưới trong lòng tháp, phía trên có 2 tầng thu nhỏ lại hơn và trên cùng là mái tháp bao tròn chung quanh.</p>



<p>(TG &#8211; Hà Nội những năm tháng cũ)</p>



<p><strong>Truyện ngắn, truyện dài</strong></p>



<p>Nhiều nhà phê bình văn học cho rằng: “Cho đến nay, các nhà văn Việt Nam sở trường về truyện ngắn hơn là truyện dài. Các tiểu thuyết có thể rất hay ở khúc đầu, nhưng càng đọc đến chương hai, ba gì gì đó càng thấy … “hụt hơi”.</p>



<p>(Trần Quốc Vượng – Văn hóa Việt Nam)</p>



<p><strong>Ngộ&nbsp; Không</strong></p>



<p>(Sưu Tập)</p>



<div style="height:500px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>©T.Vấn 2024</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 279)</title>
		<link>https://t-van.net/ngo-khong-chu-nghia-lang-van-ky-279/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 26 Sep 2024 06:11:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Chữ Nghĩa Làng Văn]]></category>
		<category><![CDATA[chữ nghĩa làng văn]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không;cnlv]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=74496</guid>

					<description><![CDATA[Nhà văn, nhà báo Không ai bẩm sinh là nhà văn, nhà báo. Họ trở thành nhà văn, nhà báo là vì viết nhiều. Nhà báo Mỹ Henry Lewis Mencken, tác giả cả chục cuốc sách đã nói: &#8211; Viết văn cũng như làm tình. Tất cả chỉ là công việc thường ngày, làm nhiều [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/07/cnlv-hinh.jpg?strip=all&fit=300%2C205&w=2560"><img decoding="async" width="300" height="205" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/07/cnlv-hinh.jpg?strip=all&fit=300%2C205" alt="" class="wp-image-32105" style="width:440px;height:auto"/></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><strong>Nhà văn, nhà báo</strong></p>



<p>Không ai bẩm sinh là nhà văn, nhà báo. Họ trở thành nhà văn, nhà báo là vì viết nhiều. Nhà báo Mỹ Henry Lewis Mencken, tác giả cả chục cuốc sách đã nói:</p>



<p>&#8211; Viết văn cũng như làm tình.</p>



<p>Tất cả chỉ là công việc thường ngày, làm nhiều thành quen. Và không làm không được: Viết là viết. Viết. Viết. Viết. Viết.</p>



<p>(Vũ Thụy Hoàng – Múa bút)</p>



<p><strong>Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mõ</strong></p>



<p>Thiền sư đang ngồi không, thiền sinh vào đun bếp châm trà. Thiền sư nhìn thấy trong túi học trò mình có quả trứng. Ông hỏi:</p>



<p>&#8211; Con mang quả trứng để làm gì?</p>



<p>&#8211; Con muốn tìm hiểu con gà có trước hay quả trứng có trước.</p>



<p>Thiền sư từ tốn lấy quả trứng đập vỡ lên cái đĩa nhỏ. Ông hỏi:</p>



<p>&#8211; Con có thấy con gà không?</p>



<p>&#8211; Thưa thầy, không.</p>



<p>Thiền sư bưng đĩa lên húp một hơi. Ông lại hỏi tiếp:</p>



<p>&#8211; Thấy quả trứng không?</p>



<p>&#8211; Thưa thầy, không.</p>



<p>Xong, thiền sư vừa thưởng trà vừa ngâm nga:</p>



<p>Không có có</p>



<p>Có có không</p>



<p>Trước là không hay trước là có?</p>



<p>Gật đầu dấu nghĩa có hay không?</p>



<p>Lắc đầu muốn nói không hay có?</p>



<p>Làm thinh không có có hay không</p>



<p><strong>Tiếng Việt vừa khó vừa dễ</strong></p>



<p>Tiếng Việt miền Nam nè:<br>&#8211; Heo lang: heo đen có xen đốm trắng.<br>&#8211; Heo voi: heo nhà loại lớn con<br>&#8211; Heo bông: heo đốm đen trắng lẫn lộn.<br>&#8211; Heo nưa: heo vàng mỡ.<br>&#8211; Heo lứa: heo choai choai mới lớn..<br><br>(Trau giồi tiếng Việt &#8211; ĐatViet.com)</p>



<p><strong>Bản thảo</strong></p>



<p>Theo Tầu là sách ghi chép…<em>các vị thuốc.</em> Theo Ta là bản viết tay, bản đánh máy của một tác phẩm trước khi mang đi in ấn.</p>



<p><strong>Chữ</strong></p>



<p>Nếu chữ là yếu tố căn bản của ngôn ngữ thì câu là yếu tố căn bản của văn chương.</p>



<p>Chữ, trong văn chương không có chữ hay hay chữ dở, chữ thanh hay chữ tục, chữ cũ hay chữ mới: Chỉ có những chữ “đắt” hay không mà thôi. Chữ “đắt” sẽ không còn là những cái xác nằm bẹp dí trên trang sách, như chúng vốn nằm vậy, trong các cuốn từ điển, mà chúng trở thành những sinh vật biết ngọ nguậy khiến người đọc nếu không ngạc nhiên một cách thích thú thì ít nhất cũng chú ý, từ đó, ghi nhớ.</p>



<p>Như Đỗ Phủ đã từng nói: &#8220;Ngữ bất kinh nhân, tử bất hưu&#8221; (<em>Chữ dùng không làm thiên hạ giật mình thì chết không an tâm</em>).</p>



<p>(Nguyễn Hưng Quốc – Chữ: Cần nhất là biết gây ấn tượng)</p>



<p><strong>Chữ nghĩa làng văn</strong></p>



<p><em>Bản thảo</em> là <em>văn bản</em> do <em>tác giả</em> viết ra trong quá trình sáng tạo ra <em>tác phẩm.</em></p>



<p>Bản thảo là nguồn văn bản quan trọng nhất trong việc xác định văn bản chuẩn của tác phẩm, là tư liệu có giá trị cho việc nghiên cứu lịch sử hình thành tác phẩm văn học, quá trình sáng tác của nhà văn, là đối tượng của các bộ môn khoa học như <em>văn bản học.</em></p>



<p>Theo ý nghĩa của khái niệm, bản thảo là bản viết tay của chính tác giả. Tuy nhiên nội hàm khái niệm cũng bao gồm cả những văn bản tác giả đọc cho người khác viết hoặc đánh máy (trên máy chữ hoặc máy vi tính). Một tác phẩm có thể có nhiều bản thảo khác nhau do có sự sửa chữa, bổ sung nhiều lần của tác giả.</p>



<p><strong>Chữ nghĩa trong sử Việt</strong></p>



<p>Thời Lý Bí lấy quốc hiệu là Đại Cồ Việt. <em>Cồ</em> là “<em>Cù</em>”. <em>Cù</em> tiếng Hán chỉ loại chim ưng mắt sáng, đuôi cụt.</p>



<p>Thời Hồ Qúy Ly lấy quốc hiệu là “Đại Ngu”. <em>Ngu</em> đây không phải là ngu dốt mà là…<em>vui.</em></p>



<p><strong>Tam phủ</strong></p>



<p>Từ tín ngưỡng <em>“tam phủ”</em> với “trời, đất, nước”, “con người, thời gian, không gian”, trong truyền thống văn hóa Việt Nam, quan hệ của con người với tự nhiên, với quan hệ tay ba, những mối tình tay ba qua truyền thuyết, qua truyện cổ tích:</p>



<p>&#8211; Sơn Tinh, Thủy Tinh, Mỵ Nương,</p>



<p>&#8211; Trầu Cau với vợ-chồng-em chết đi biến thành “<em>trầu-cau-vôi”</em>.</p>



<p>&#8211; Chuyện ba ông đầu rau biến thành bộ ba “<em>thần đất-thần bếp-thần chợ búa”.</em></p>



<p>(Trần Ngọc Thêm – Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam)</p>



<p><strong>Tương lai từ vựng tiếng Việt</strong></p>



<p><br>Tiếng Việt hết sức giàu từ cụ tượng hữu cảm và từ trừu tượng cảm xúc. Cảm, bất kể do ngũ quan hay do tâm hồn, không thể giải thích.<br><br>Ví dụ: “Lạnh” là từ cụ tượng vô cảm, tức từ đặt ra để gọi tên cảm giác lạnh. Lạnh chỉ là cái tên gọi. Trong khi, chẳng hạn, “gây gấy” là một âm thanh có gói ghém trong nó một cảm giác của nhiệt độ bên ngoài đối với cơ thể. Nó là từ cụ tượng hữu cảm: nó có chứa cảm và nếu người nghe nó là người Việt thì nó có gợi cảm. Nhưng nếu người nghe nó là người nước ngoài thì gây gấy không gợi gì hết và dù ta có hết sức dài dòng cắt nghĩa thì người nước ngoài cũng không thể nào thực hiểu được…<em>gây gấy</em>!<br>Ví dụ: “<em>Nao nao</em>” trong “nao nao dòng nước uốn quanh” là từ cụ tượng hữu cảm chứa cảm xúc của Kiều khi nhìn dòng nước chảy gần mả Ðạm Tiên. Cảm xúc ấy thế nào, làm sao cắt nghĩa được cho người ngoại quốc!<br>Ví dụ: Kiều ở lầu xanh tiếp Thúc Sinh, lòng Kiều “đoạn trường lúc ấy nghĩ mà buồn tênh”. Buồn tênh là từ trừu tượng cảm xúc chứa tâm trạng Kiều khi nghĩ đến hoàn cảnh “hoa đã lìa cành” của mình. Buồn là buồn, nhưng <em>“buồn tênh”</em> thì dịch ra tiếng người nước ngoài thế nào đây hở trời?!<br><br>Nghe từ cụ tượng hữu cảm và từ trừu tượng cảm xúc, Tây với Tàu dù có quý tiếng Việt đến đâu cũng đành&#8230; ngẩn tò te. Khắp mặt đất bao la không một giống người khác nào tri kỷ, cô đơn lắm có phải không, hỡi những <em>nhấp nhô, róc rách, ngạt ngào, gây gấy, chua lè, nao nao, nho nhỏ, đìu hiu, man mác, se sắt, bẽ bàng, chống chếnh, xao xuyến, xốn xang, ngỡ ngàng, ngẩn ngơ, buồn tênh, bịn rịn</em> ..v..v.. của ta ơi!<br><br>(Thu Tứ &#8211; Gocnhin.net)</p>



<p><strong>Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ</strong></p>



<p>Trái măng cụt tiếng Hán là “Giáng châu”.</p>



<p>Nghĩa là viên ngọc từ trên trời rớt xuống…</p>



<p><strong>Dấu phẩy trong tiếng Việt‏ !</strong></p>



<h2 class="wp-block-heading">&nbsp;</h2>



<p>Chữ Việt &#8220;đa dạng&#8221; khi chúng ta viết không dấu, nay lại được chỉ dẫn cách dùng dấu phẩy một cách tài tình, như dươi đây.<br>Toà xử vụ án ngoại tình, phán với người chồng:<br>”Ở với vợ lớn, không được ở với vợ nhỏ”.<br>Ông chồng đưa bản án về nhà cho vợ lớn, chỉ sửa lại dấu phẩy:<br>”Ở với vợ lớn không được, ở với vợ nhỏ”<br><br>Hoặc giả như:<br>”Mỗi gia đình có 2 con, vợ chồng hạnh phúc”<br>Chỉ sửa lại dấu phẩy là thành:<br>”Mỗi gia đình có 2 con vợ, chồng hạnh phúc”.</p>



<p><strong>Giai thoại làng văn</strong></p>



<p>Cuối năm 1973, nhà văn Bùi Ngọc Tấn được thả khỏi tù. Lúc đến văn phòng làm thủ tục giấy tờ phóng thích, ông chợt nhìn thấy một tác phẩm của mình trên bàn giấy của những nhân viên công an ở trại:</p>



<p>“Tên hắn in trên bìa sách chứng tỏ điều đó. Như có một ma lực, hắn bước đến chỗ ấy. &nbsp;Hắn buột miệng kêu to như gặp lại con mình:</p>



<p>&#8211; &nbsp;Thưa các ông các bà, đây là sách tôi viết.</p>



<p>Mọi người ngơ ngác…</p>



<p>&#8211; &nbsp;Cái gì? Anh nói cái gì?</p>



<p>Hắn cầm lấy cuốn truyện. Bìa có đóng dấu trại. Hắn nhìn mãi vào những tên hắn in trên bìa sách. Thật không tin được. .. Hắn lắp bắp như người nghẹn thở:</p>



<p>&#8211; &nbsp;Quyển sách này của tôi.</p>



<p>Cô trung sĩ nhìn giấy tờ của hắn. &nbsp;Rồi lại nhìn tên hắn in trên bìa sách. &nbsp;Cô đưa tờ lệnh tha cho ông Thanh Vân đọc. &nbsp;Ông ngẩng lên nhìn hắn chăm chú từ đầu đến chân. &nbsp;Rồi với giọng hiểu biết:</p>



<p>&#8211; &nbsp;Anh lại Nhân Văn Giai Phẩm chứ gì?</p>



<p>&#8211; Báo cáo ông, Nhân văn Giai Phẩm có từ năm 1956, tôi bị bắt năm 1968.</p>



<p>&#8211; &nbsp;Thế anh bị bắt về tội gì?</p>



<p>(Bùi Ngọc Tấn &#8211; <a href="http://buingoctan.wordpress.com/category/tac-ph%E1%BA%A9m/chuy%E1%BB%87n-k%E1%BB%83-nam-2000/" target="_blank" rel="noreferrer noopener">Chuyện kể năm 2000</a>)</p>



<p><strong>Chữ Tàu chữ Ta</strong></p>



<p>Cát kê yên dụng ngưu đao</p>



<p>Cắt cổ gà dùng dao mổ trâu<br></p>



<p><strong>Chữ nghĩa làng văn</strong></p>



<p>Phong kiều dạ bạc của Trương Kế đời Đường:</p>



<p>Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên&nbsp;<br>Giang phong ngư hoả đối sầu miên&nbsp;<br>Cô Tô thành ngoại Hàn San Tự&nbsp;<br>Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.<br><br>Dịch thơ:&nbsp;<br>Trăng tà,tiếng qụa kêu sương&nbsp;<br>Lửa chài,cây bến sầu vương giấc hồ&nbsp;<br>Thuyền ai đậu bến Cô Tô&nbsp;<br>Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.<br>(Nguyễn Hàm Ninh)</p>



<p> Trước đây cho là của Tản Đà dịch, nhưng gần đây có nguồn cho là của Nguyễn Hàm Ninh. Nhưng không có dẫn chứng.</p>



<p>(Nguyễn Khôi – Thăm Hàn San tự)</p>



<p><strong>Beef luk lak</strong></p>



<p>Tại nhà hàng ở Hà Nội, đọc thấy trong “menu” tiếng Pháp (hay Anh) có món&nbsp;<em>beef luk lak</em>.</p>



<p>Hỏi ra mới hay đó là&nbsp;<em>bò lúc lắc</em>.</p>



<p>(Cao Tự Thanh)</p>



<p><strong>Tầm chương trích cú</strong></p>



<p><em>Chinh phụ ngâm</em> bản chữ Hán có câu:</p>



<p><em>Kiêm kiêm</em> dã vô tình</p>



<p>Tỵ dục tương tùy quá nhất sinh</p>



<p><em>Kiêm kiêm</em> là một loài…chim một mắt.</p>



<p>Con trống có mắt bên trái, con mái có mắt bên phải.</p>



<p>(Hoàng Hải Thủy &#8211; Chín tầng gươm báu trao tay)</p>



<p><strong>Những hình dạng mới của chữ nghĩa</strong></p>



<p>Một giáo sư ngữ học dậy khoa Văn tại Đại học tổng hợp ở Hà Nội cho biết nhiều nhà văn, nhà thơ thành danh đã phạm những lỗi ngữ pháp kếch sù đó là cái lỗi có tên là trùng ngôn (tautology) một lỗi rất nặng cả về tiếng Việt, về tư duy lôgích, như:</p>



<p>&#8211; <em>&#8220;ánh nắng mặt trời&#8221;</em> không hiểu rằng <em>ánh nắng</em> chỉ có thể là ánh sáng trực tiếp của mặt trời, chứ không thể có thứ ánh nắng nào khác (nếu thay mặt trời bằng mặt trăng, sao, đèn, lửa, chớp, ai cũng sẽ thấy ngay là hết sức vô lý).</p>



<p><strong>Câu đố</strong></p>



<p>Xét trong quan hệ với vật đố, tức cách biểu thị vật đố ra sao, hình ảnh ở lời đố thường được sử dụng theo lối lạ hoá (gọi là tính lạ hoá của hình ảnh).&nbsp;Ở mức độ chung, trên tổng thể văn bản lời đố, tính lạ hoá được thể hiện theo hai hướng: miêu tả một vật đố bằng nhiều dạng vẻ không giống nhau; và sự miêu tả khác thường một vật đố, tạo nên một thứ kì dị. Như:</p>



<p><em>“Tám sào chống cạn,</em><em><br>Hai nạng chống xiên,<br>Con mắt láo liên;<br>Cái đầu không có!”</em></p>



<p>(Con cua)<em></em></p>



<p>(Triều Nguyễn &#8211; Cách sử dụng hình ảnh trong câu đố)</p>



<p><strong>Cái quan…áo quan</strong></p>



<p>“Cái quan luận định” nghĩa là đợi đến lúc đậy nắp quan tài lại rồi hãy bàn</p>



<p>“Sáu tấm” là cái áo quan. Một lối gọi khác là “bốn dài hai ngắn”. Thêm “sơ mi gỗ” từ chữ áo quan mà ra. Từ áo chuyển qua “sơ mi”. “Sơ mi” bằng gỗ là cái quan tài.</p>



<p>(Việt Tide)</p>



<p><strong>Ngộ&nbsp; Không</strong></p>



<p>(Sưu Tập)</p>



<div style="height:500px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>©T.Vấn 2024</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 272)</title>
		<link>https://t-van.net/ngo-khong-chu-nghia-lang-van-ky-272/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 20 Aug 2024 06:32:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Chữ Nghĩa Làng Văn]]></category>
		<category><![CDATA[chữ nghĩa làng văn]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không;cnlv]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=73683</guid>

					<description><![CDATA[Văn hóa cà phê Nếu bạn muốn uống cà phê sữa…Ở Sài Gòn: cho xin một ly bạch sửu. Ở Hà Nội: nếu bạn gọi một ly bạch sửu bạn sẽ nhận được câu trả lời &#8211; không có, hoặc bạn bị coi là&#8230; hâm. Đọan so sánh về ly &#8220;bạch sửu&#8221; làm sống lại [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/07/cnlv-hinh.jpg?strip=all&fit=300%2C205&w=2560"><img decoding="async" width="300" height="205" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/07/cnlv-hinh.jpg?strip=all&fit=300%2C205" alt="" class="wp-image-32105" style="width:450px;height:auto"/></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><strong>Văn hóa cà phê</strong></p>



<p>Nếu bạn muốn uống cà phê sữa…Ở Sài Gòn: cho xin một ly bạch sửu. Ở Hà Nội: nếu bạn gọi một ly bạch sửu bạn sẽ nhận được câu trả lời &#8211; không có, hoặc bạn bị coi là&#8230; hâm.</p>



<p>Đọan so sánh về ly &#8220;bạch sửu&#8221; làm sống lại trong tôi những quán cà phê Tàu, những quán cà phê đã làm nên một đặc tính &#8220;văn hóa cà phê&#8221; rất Sài Gòn. Thực ra, chữ bạch sửu có lẽ là do đọc trại đi từ &#8220;bạc xỉu&#8221;, gọi tắt của cụm chữ &#8220;bạc tẩy xỉu phé&#8221;. Mấy chữ đó là âm từ tiếng Quan Thọai, thứ tiếng Tàu khá phổ thông trong số</p>



<p>những người Tàu sống ở Sài Gòn. Bạc là màu trắng, Tẩy là cái ly không, Xỉu là một chút, và Phé là cà phê. Rõ nghĩa hơn, đó là một thức uống theo khách hàng:</p>



<p>Sữa nóng thêm một chút cà phê. Sữa đặc pha với nước sôi thường có mùi hơi khó uống, nên chút cà phê thêm vào sẽ làm cái mùi ấy mất đi. Ở những quán cà phê bình dân của người Tàu (những năm 50s, 60s, Sài Gòn đầy dẫy những quán cà phê bình dân kiểu này, chúng thường chiếm vị trí thuận lợi ở mỗi đầu con hẻm), khi khách hàng Việt gọi một món thức ăn, thức uống bằng tiếng Việt, phổ ky (người hầu bàn) thường có thói quen đứng từ bàn của khách nói vọng vào bếp món thức ăn, thức uống ấy bằng tiếng Tàu. Dần dà, người khách Việt thuộc lòng món ưa thích bằng tiếng Tàu và sau đó, đã sử dụng luôn chúng trong lúc gọi thực đơn. Và từ đó, ngôn ngữ Việt đã đồng hóa một số từ thức ăn, thức uống trong tiếng Tàu thành ngôn ngữ riêng của mình, trong đó có từ &#8220;bạc xỉu&#8221;.</p>



<p>Vì đó là đặc tính &#8220;văn hóa cà phê&#8221; riêng của Sài Gòn nên Hà Nội làm sao biết được. Ngay cả Sài Gòn bây giờ, có mấy người trẻ hiểu được thói quen của mấy ông bà lớn tuổi, vào quán cà phê bình dân đầu hẻm, khi vừa ngồi xuống đã vội kéo một chân lên ghế (đẩu), vừa lớn tiếng gọi &#8220;cho cái xây chừng coi !&#8221; (xây chừng: ly cà phê đen nhỏ), hay &#8220;sang&#8221;hơn một chút: &#8220;Phổ ky! cho cái xây nại!&#8221; (xây nại: ly cà phê sữa nhỏ).</p>



<p>Để nói về &#8220;văn hóa cà phê&#8221; Sài Gòn những năm đó, người ta cần cả một pho sách.</p>



<p>(T.Vấn – Văn hóa cà phê)</p>



<p><strong>Ca dao trữ tình</strong></p>



<p><em>Cơm chín tới, cải vồng non, gái một con, gà nhảy ổ</em>.<br><em>Cau phơi tái, gái đoạn tang, chim ra ràng, gà mái ghẹ.</em></p>



<p><strong>Tiếng Việt, dễ mà khó</strong></p>



<p>Trước đây, có lần, đọc cuốn <em>Trong Cõi</em> của Trần Quốc Vượng, một nhà nghiên cứu sử học, khảo cổ học và văn hoá dân gian nổi tiếng ở trong nước, tới đoạn ông bàn về hai chữ <em>&#8220;làm thinh&#8221;,</em> tôi ngỡ đã tìm thấy một phát hiện quan trọng.</p>



<p>Theo Trần Quốc Vượng, &#8220;thinh&#8221; là thanh, âm thanh, hay là tiếng ồn. <em>&#8220;Nín thinh&#8221;</em> là kiềm giữ tiếng động lại, là im lặng. Thế nhưng &#8220;làm thinh&#8221; lại không có nghĩa là gây nên tiếng động mà lại có nghĩa là&#8230; im lặng. Cũng giống như chữ &#8220;nín thinh&#8221;. Trần Quốc Vượng xem đó như là một trong những biểu hiện của Phật tính trong ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam: &#8220;nín&#8221; và &#8220;làm&#8221; y như nhau; có và không y như nhau; ấm và lạnh cũng y như nhau (áo ấm và áo lạnh là một!); &#8220;đánh bại&#8221; và &#8220;đánh thắng&#8221; y như nhau.</p>



<p>Thú thực, đọc những đoạn phân tích như thế, tôi cảm thấy mừng rỡ và thích thú vô hạn.<br><br>Thế nhưng, chẳng bao lâu sau, đọc bài viết <em>&#8220;Tìm nguồn gốc một số từ ngữ tiếng Việt qua các hiện tượng biến đổi ngữ âm&#8221;</em> của Lê Trung Hoa, tôi lại bàng hoàng khám phá ra là chữ &#8220;làm thinh&#8221; thực chất chỉ là biến âm của chữ <em>&#8220;hàm thinh&#8221;</em> trong chữ Hán.</p>



<p><em>&#8220;Hàm&#8221;</em> có nghĩa là ngậm (như trong các từ: hàm ân, hàm oan, hàm huyết phún nhân&#8230;).</p>



<p><em>&#8220;Hàm thinh&#8221;</em> là ngậm âm thanh lại, không cho chúng phát ra, tức là không nói, tức là&#8230; im lặng. Y như chữ &#8220;nín thinh&#8221;. Nhưng sự giống nhau ở đây chỉ là sự giống nhau của hai từ đồng nghĩa, chứ chả có chút Phật tính hay Trang Tử tính quái gì trong đó cả.<br><br>Tôi mới biết là mình mừng hụt.</p>



<p>(Nguyễn Hưng Quốc &#8211; e-cadao.com)</p>



<p><strong>Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ</strong></p>



<p>Cứ tuần chồng trẻ nói: “Mình đi chơi ”.</p>



<p>Chồng già nói: “Mình đi nghỉ ”.</p>



<p><strong>Chữ nghĩa tiếng Việt sao khó thế</strong></p>



<p>Hỏi : “Dã tràng <em>xe</em> cát biển đông” và “Dã tràng <em>se</em> cát biển đông” câu nào đúng? Nếu có vị nào biết, xin chỉ giùm tui và nếu có thể, xin dẫn chứng. Đa tạ!!!!</p>



<p>Đáp<em> : “xe”</em> và <em>“se”</em> là hai chữ đồng âm dị nghĩa. Rất tiếc ta không có nguyên bản của câu trên. Ý nghĩa của <em>“xe”</em>&nbsp; và <em>“se” </em>còn tuy theo <em>“xe”</em> hay <em>“se” </em>là động tự hay danh tự?<br><br>Xe (xe cộ) là một dụng cụ dùng để chuyên chở. Đứng trên bờ biển, trên bãi cát, ta thấy hàng ngàn con dã tràng đang bê (ôm) những viên cát đi về phía đất liền. Nhìn chúng như những chiếc xe đang chở cát. Vậy có thể gọi chúng là <em>“xe”</em>.<br><br>Những hạt cát nhỏ xíu, không dính liền nhau, được con dã tràng vo viên lại thành một cục rồi ôm mang để lên bờ. Từ trạng thái rời rạc được bó lại, kết lại, vo lại thành một cục to, bự gọi là <em>“se” </em>.<br>Dã tràng se (xe) cát biển đông<br>Nhọc lòng mà chẳng nên công cán gì.<br><br>Tôi không rõ xuất xứ, thời gian của câu này. Nhưng người Việt thường hay có lối nói ví von, một câu có nghĩa đen, nghĩa bóng. Vậy tôi xin…chào thua.<br><br>(Trau giồi tiếng Việt &#8211; ĐatViet.com)</p>



<p><strong>Tiếng Việt trong sáng</strong></p>



<p><em>Phản ánh</em> trong Hán Việt tự điển ghi: “ánh sáng chiếu trở lại” và không có cụm từ <em>“phản ảnh”.</em></p>



<p><em>Đại tự điển tiếng Việt</em> ghi “phản ánh” là “phản ảnh”.</p>



<p>(Hiếu Thiện Nguyễn Chu Hậu – Tiếng Việt, tiếng nước tôi)</p>



<p><strong>Giá sách cũ</strong></p>



<p>Giữa năm 1932, tôi còn ở Cẩm Giàng, thấy anh Tam và anh Long có bàn qua về việc ra một tờ báo, lấy tên là Tiềng Cười. Phỏng theo tờ Le Rire và tờ báo trào phúng Le Canard enchainé (Con vịt bị buộc) ở bên Pháp.. Nhưng sau tờ Tiếng Cười không được cấp giấy phép, vì thực dân đâu muốn cấp cho một người đã từng du học ở Pháp về. Anh Tam đâu có chịu bó tay. Anh xoay và xoay rất cừ. Bấy giờ, nhân có tờ báo của anh Phạm Hữu Ninh&#8230;anh Tam đề nghị&#8230;nhường lại cho mình làm chủ bút, chỉ cần mất chút tiền thuê báo. Người viết, bài vở lúc đó cũng đã sẵn sàng.<br></p>



<p>Tự Lực Văn Đoàn được thành lập công bố trên báo Phong Hóa số 87 ra ngày 2.3.1933.</p>



<p>Dưới sự tổ chức của Nhất Linh, đã tạo nên một nhóm cây viết, một văn đàn gắn bó với nhau. Ngay trong nhà đã có ba cây viết rồi, cộng với Tú Mỡ là bốn, lại vừa kéo thêm được một tài năng nữa, đó là Khái Hưng. Ngay hồi đó, anh Trần Khánh Giư (tên thật) đã viết cho tờ báo Duy Tân cùng với mấy nhà văn Lãng Nhân Phùng Tất Đắc và Tchya (tôi chẳng yêu ai?) Đái Đức Tuấn. Một số bài nữa đã đăng trên tờ Phong Hoá (cũ) và tờ Văn Học tạp chí của anh em Dương Bá Trạc.</p>



<p>Nhóm 5 người này quyết tâm sáng tạo một đường lối mới, cả về hình thức lẫn nội dung. Họ sẽ bỏ lối viết sáo rỗng, nặng nề, để dùng một lối văn trong sáng, bình dân hơn. Họ chống lại những lạc hậu, cổ hủ. Họ sẽ đưa một bầu không khí mới mê, tươi tắn trong cái ao tù bảo thủ truyền thống vẫn đè nặng lên con người từ trước tới nay.<br>Ngay trong số đầu, nhóm Phong Hoá Tự lực văn đoàn đã rất tự tin trong ý muốn đưa lại một luồng sinh khí mới cho làng báo. Và có khí phách, khi đụng chạm tới hai nhân vật lão thành quyền uy. Một là Nguyễn Văn Vĩnh với tờ Trung Bắc Tân Văn và Đông dương tạp chí, hai là Phạm Quỳnh với tờ Nam Phong&#8230; Hai ông Vĩnh và Quỳnh quả thực có tài nhưng người ta đã thấy họ quá ư đạo mạo, cũ kỹ đối với lớp trẻ phóng khoáng hơn.</p>



<p>Báo Phong Hóa (sau là Ngày Nay đình bản năm 1940) ở phố phố Quan Thánh. Anh Nguyễn Kim Hoàn, lúc ấy giữ việc quản lý trong ban trị sự nhà báo.</p>



<p>(Nguyễn Tường Bách –Việt Nam, một thế kỷ qua)</p>



<p><strong>Khác biệt văn hóa</strong></p>



<p>Chửi người khác ngu…<br>Hà Nội: chuối<br>Sài Gòn: củ mì<br><br><strong>Chữ nghĩa tiếng Việt sao khó thế</strong></p>



<p>Các chữ dưới đây dùng như thế nào mới đúng ? Các bạn cho biết lý do nghe? Cám ơn nhiều lắm nha.<em><br><br>* Dòng chữ, giòng chữ<br>* Dòng nhạc, giòng nhạc<br>* Dòng tu, giòng tu (nhà dòng, nhà giòng)<br>* Dòng sông, giòng sông (dòng Cửu Long, giòng Cửu Long)<br>* Dòng nước, giòng nước<br>* Dòng dõi, giòng dõi<br>* Dòng lịch sử, giòng lịch sử<br><br>* Sử dụng, xử dụng<br>* Sử nữ, xử nữ<br>* Sử tử, xử tử</em></p>



<p>(Trau giồi tiếng Việt &#8211; ĐatViet.com)</p>



<p><strong>Luận văn trong nước</strong></p>



<p>Đề: Tả cô giáo.</p>



<p>Cô giáo em cao khoảng 2 mét, cô có nước da trắng nõn nà, mặt cô tròn như cái trống trường em.</p>



<p><strong>Phù dung, phù du</strong></p>



<p>Phù là nổi lên mặt nước, còn có nghĩa khác là hư không.</p>



<p>Phù dung là một loại cây sống trong nước. Lá to, hoa đỏ, trắng hay vàng.</p>



<p><em>(Lý Bạch, Vương Xương Linh cho &#8220;phù dung&#8221; là một loài sen)</em></p>



<p>Phù du là tiếng Hán, tiếng Việt là con vờ hay con vờ vờ. Một thứ côn trùng ban ngày bay ở trên mặt nước, tối hay bay ở gần bóng đèn và mau chết.</p>



<p>Phù dung và phù du chỉ đời sống ngắn ngủi, vô thường.</p>



<p><strong>Tam bành lục tặc</strong></p>



<p>Trong truyện Kiều, cụ Nguyễn Du viết:</p>



<p>Mụ nghe nàng nói hay tình</p>



<p>Bấy giờ mới nổi <em>tam bành</em> mụ lên</p>



<p><em>Tam bành</em> ở bộ chữ <em>“tam bành lục tặc”</em> mà ra. Tam bành trong <em>Thái Thượng Tam Thi Trung Kinh</em> của Lão Tử viết <em>“Thượng thi”</em> tên Bành Cứ vốn ở cái đầu người ta, <em>“Trung thi”</em> tên Bành Chất vốn ở cái dạ dầy, <em>“Hạ thi”</em> tên Bành Kiên tức ở cái chân.</p>



<p>Ba vị thần này được gọi là <em>Tam Bành</em> hay xúi dục người ta giận dữ hay làm bậy làm bạ.</p>



<p><em>Lục Tặc</em> kinh của nhà Phật viết sáu thứ có hại là sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp.</p>



<p>Cùng với diễn giải là người tu đạo không nhìn sắc đẹp, tai không nghe tiếng, mũi không ngửi mùi thơm, miệng không nếm vị ngọt, thân thể xa người khác, lòng không tâm tưởng điều tà bậy.</p>



<p><strong>Tiếng Việt trong sáng</strong></p>



<p>&#8220;Phát&#8221;, người trong nước thay cho…&#8221;phát biểu&#8221;</p>



<p>(Như &#8220;Xin mời anh ‘<em>phát</em>’ cho. Chúng tôi đang chờ.)</p>



<p>(Bùi Vĩnh Phú – Trên những đường bay của chữ)</p>



<p><strong>Tiếng Việt không dấu</strong></p>



<p>Ông bố đi công tác xa lâu ngày nhận được tin nhắn của con:</p>



<p>&#8220;Bo ve ngay, me dang om mot thang nam tren giuong!&#8221;</p>



<p>Không kịp nhắn tin lại, ông bố bắt xe tức tốc về sau khi nhận tin nhắn. Về đến nhà ông hầm hầm bước vào và hỏi thằng con:</p>



<p>&#8211; Đâu thằng nào, có thật không?</p>



<p>&nbsp;Hoá ra con nhắn tin cho bố:</p>



<p>Mẹ ốm một tháng nằm trên giường, bố về ngay.</p>



<p>&nbsp;(Dương Nguyên Vũ sưu tầm)</p>



<p><strong>Ngộ&nbsp; Không</strong></p>



<p>(Sưu Tập)</p>



<div style="height:500px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>©T.Vấn 2024</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 271)</title>
		<link>https://t-van.net/ngo-khong-chu-nghia-lang-van-ky-271/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 15 Aug 2024 06:17:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Chữ Nghĩa Làng Văn]]></category>
		<category><![CDATA[chữ nghĩa làng văn]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không;cnlv]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=73603</guid>

					<description><![CDATA[Văn hóa ẩm thực: Thịt kho tàu Thịt kho tàu không phải là món ăn của người…Tầu. Đúng ra là “tàu”. Tàu đây hiểu theo người Nam ở miệt dưới như sông Cái Tàu Thượng, sông Cái Tàu Hạ. Tàu nghĩa là…“lạt”. Và kho tàu là kho lạt lạt chứ không phải là kho mặn. [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/07/cnlv-hinh.jpg?strip=all&fit=300%2C205&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="300" height="205" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/07/cnlv-hinh.jpg?strip=all&fit=300%2C205" alt="" class="wp-image-32105" style="width:444px;height:auto"/></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><strong>Văn hóa ẩm thực: Thịt kho tàu</strong></p>



<p>Thịt kho tàu không phải là món ăn của người…Tầu.</p>



<p>Đúng ra là “tàu”. Tàu đây hiểu theo người Nam ở miệt dưới như sông Cái Tàu Thượng, sông Cái Tàu Hạ.</p>



<p>Tàu nghĩa là…<em>“lạt”.</em></p>



<p>Và kho tàu là kho lạt lạt chứ không phải là kho mặn.</p>



<p>Tàu chứ không phải là…Tầu hay kho theo Tầu. Vì bên Tầu lạnh nên không có dừa để có nước dừa tươi chêm vào nồi thịt kho tàu.</p>



<p>(Bình Nguyên Lộc)</p>



<p><strong>Nguồn gốc địa danh Sài Gòn</strong></p>



<p>Ðã có nhiều thuyết về nguồn gốc địa danh Sài Gòn. Theo Bình Nguyên Lộc, tất cả những thuyết ấy đều có chỗ không ổn.<br><br>Theo ông: Sài Gòn là từ Sài Gòong, mà Sài Gòong là tên của một vùng ở tỉnh Quảng Ðông bên Tầu. Ðất Sài Gòn vốn là Gia Ðịnh kinh. Khi Gia Ðịnh kinh bị Pháp chiếm, người Việt bỏ đi nhiều, người Tầu từ Ðề Ngạn (Chợ Lớn) ùa ra ở, đặt lại tên thành phố là Sài Gòng để tưởng nhớ quê hương bên Tầu của họ.<br><br>Liệu đây có phải sự thực về cái tên đất này chưa? Sai hay đúng thì cái tên Sài Gòn đã đi vào…cổ sử từ lâu.<br>(Thu Tứ &#8211; Gocnhin.net)</p>



<p><strong>Nhất tướng công thành vạn cốt khô</strong></p>



<p>Nhiều người hiểu <em>“công thành”</em> ở đây là <em>“tấn công”</em> một cái thành để hiểu sai thành ngữ trên là <em>“một ông tướng mà tấn công thành thì tốn vạn xương cốt”.</em></p>



<p>Thực ra <em>“công thành”</em> ở đây là <em>“thành công”.</em> Vì vậy câu trên nên hiểu là <em>“một ông tướng thành công thì hàng vạn quân lính phải vong thân, xương cốt chết thành đống”.</em></p>



<p>Người Việt và người Tầu dùng chữ khác nhau: Như “khứ hồi” là <em>“hồi khứ”,</em> “tiền sử” thay vì <em>“sử tiền”.</em> Ngày nay, người trong nước theo chân người Tầu đảo ngược lại với đơn giản là <em>giản đơn</em>, bảo đảm là <em>đảm bảo</em>, dãi dầu là <em>dầu dãi</em>, vùi dập là <em>dập vùi</em>..v.v.. Nói khác đi người trong nước đang nói tiếng…Tầu mà họ không hay.</p>



<p>(Duy Lý – báo Tự Do)</p>



<p><strong>Tứ thời bát tiết</strong></p>



<p>Trong câu đối ngày Tết của cụ Nguyễn Khuyến viết cho anh hàng thịt hàng xóm góa vợ:</p>



<p><em>Tứ thời bát tiết canh chung thủy</em></p>



<p><em>Ngạn liễu gò bồ dục điểm trang</em></p>



<p><em>“Tứ thời”</em>&nbsp; theo âm lịch có bốn mùa. Mỗi mùa ba tháng. Năm chia làm 24 tiết. Môt tháng có hai tiết (giữa tháng và đầu tháng).</p>



<p>“Bát tiết” tức tám tiết trong một năm: Xuân phân, thu phân, hạ chí, đông chí và lập xuân, lập hạ, lập thu, và lập đông.</p>



<p>(Khuyết danh)</p>



<p><strong>Thơ Bàng Bá Lân và ca dao…</strong></p>



<p><em>Hỡi cô tát nước bên đàng</em></p>



<p><em>Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi</em></p>



<p>Hai câu thơ trên là của Bàng Bá Lân, hay ca dao nhập vào hồn thơ thi sĩ? Vẫn còn là nghi vấn trong xóm làng văn chương?</p>



<p><strong>Ngộ&nbsp; Không</strong></p>



<p>(Sưu Tập)</p>



<div style="height:500px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>©T.Vấn 2024</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 270)</title>
		<link>https://t-van.net/ngo-khong-chu-nghia-lang-van-ky-270/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 10 Aug 2024 16:26:40 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Chữ Nghĩa Làng Văn]]></category>
		<category><![CDATA[chữ nghĩa làng văn]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không;cnlv]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=73416</guid>

					<description><![CDATA[Hồi ký Hồi ký của tác giả cộng sản ngoài Hà Nội có những nét riêng của nó không trộn lộn được với ai. Trong Từ Bến Sông Thương do nhà xuất bản Văn Học in năm 1986, nữ sĩ Anh Thơ kể chuyện những mối tình của người ta và chuyện đời văn của [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/07/cnlv-hinh.jpg?strip=all&fit=300%2C205&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="300" height="205" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/07/cnlv-hinh.jpg?strip=all&fit=300%2C205" alt="" class="wp-image-32105" style="width:424px;height:auto"/></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><strong>Hồi ký</strong></p>



<p>Hồi ký của tác giả cộng sản ngoài Hà Nội có những nét riêng của nó không trộn lộn được với ai. Trong <em>Từ Bến Sông Thương</em> do nhà xuất bản Văn Học in năm 1986, nữ sĩ Anh Thơ kể chuyện những mối tình của người ta và chuyện đời văn của chính mình.</p>



<p>Bà kể báo Đông Tây mời bà cộng tác do thư đề ngày 1. 4.1942, bà nhận lời và sau đó đi phỏng vấn Vũ Trọng Phụng, Tản Đà mặc dầu hai ông này chết từ trước đó ba năm.</p>



<p>Bà cũng kể năm 1944 Thạch Lam viết thư cho bà đề nghị xuất bản một cuốn tiểu thuyết.</p>



<p>Tiếc thay Thạch Lam đã mất từ năm 1942, không biết ai viết thư hộ ông đây? Còn nhiều cái lẩm cẩm nữa mà chính báo ở Hà Nội cũng đã lên tiếng rồi. Người ta nói thi sĩ hay mơ mộng, đúng đấy!<br><br>Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan khi viết hồi ký <em>Những Năm Tháng Ấy</em> thì nghiêm trang kể chuyện văn chương như khi viết Nhà Văn Hiện Đại, nhưng rải rác suốt cuốn sách chẳng lúc nào quên ca tụng chế độ cộng sản, ca tụng bác Hồ và ca tụng Hằng Phương thi sĩ vợ của ông.<br><br>Về một số sách nói tới mặt trái của chế độ Hà Nội xuất bản tại hải ngoại như Hoa Xuyên Tuyết, Mặt Thật (Bùi Tín), Tử Tù Tự Xử Lý (Trần Thư), Đêm Giữa Ban Ngày (Vũ Thư Hiên), hay cuốn sách viết lủng củng, văn bất thành cú, dẫn chứng khoe khoang ta đã đọc hết danh nhân này tới danh nhân khác như cuốn Viết Cho Mẹ &amp; Quốc Hội của Nguyễn Văn Trấn v. v. thì tính chất hồi ký không nổi bật mà ta chỉ dùng như những bản cáo trạng chế độ cộng sản nhiều hơn.</p>



<p>(Đặng Trần Huân &#8211; Không có xe nằm nhà đọc hồi ký)</p>



<p>&nbsp;<strong>Chữ nghĩa làng văn</strong></p>



<p>Nguyễn Hưng Quốc viết:</p>



<p>“Đức tính lớn nhất đối với một người cầm bút,&#8230; chính là sự táo bạo. Không táo bạo, không thể sáng tạo. Trong lãnh vực văn học, người dám xông thẳng vào bụi rậm và gai góc để lần mò một lối đi riêng bao giờ cũng có triển vọng đi xa hơn những kẻ khôn ngoan phóng mình theo những lối mòn có sẵn.”</p>



<p><strong>Diếc</strong></p>



<p>Diếc: mắng mỏ</p>



<p>(nó cười diếc)</p>



<p>(Tự điển tiếng Việt cổ &#8211; Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện)</p>



<p><strong>Chợ Đồng Xuân</strong></p>



<p>Từ hồ Gươm thẳng lên phía bắc từ <em>Hàng Đào </em>qua<em> Hàng Ngang, </em>sang <em>Hàng Đường </em>là tới<em> chợ Đồng Xuân</em>.</p>



<p>Đây có thể coi như trung tâm khu phố cổ của Hà Nội, cắt ngang đường xe điện này là các phố Cầu Gỗ, Hàng Bồ, Hàng Bạc, Hàng Thuốc Bắc, Hàng Buồm (khu phố Tàu của Hà Nội), Hàng Mã, Hàng Chiếu. Phố Hàng Chiếu hướng về phía sông Hồng có một di tích lịch sử, đó là Ô Quan Chưởng.</p>



<p>Hà Nội có 5 cửa ô, chỉ Ô Quan Chưởng còn nguyên vẹn, các cửa ô kia đều có tên nhưng không còn dấu tích gì.</p>



<p><strong>Ngầu pín là gì?</strong></p>



<p><em>Ngầu</em>&nbsp;là&nbsp;<em>ngưu</em>, tức con bò (thủy ngưu mới là con trâu).</p>



<p><em>Pín</em>&nbsp;là âm Hoa Hán giọng Quảng Đông, giọng Quan thoại chỉ công cụ gây giống của con đực.</p>



<p>(Cao Tự Thanh)</p>



<p><em><strong>Hỏi thăm cô Tú có chồng hay chưa?</strong></em></p>



<p>Trong dân gian có những câu sấm để tuyên truyền cho một phe phái nào đó. Câu sấm được truyền trong dân gian bằng cách dạy cho trẻ con hát khi nô đùa. Chẳng hạn câu sấm sau đây, dưới hình thức ca dao, được truyền là của các cựu thần nhà Mạc tổ chức chống Trịnh làm ra để liên lạc với người của mình tìm đến cơ sở ở mạn Bắc:</p>



<p><em>Ai lên Phố Cát Ðại Ðồng</em><br><em>Hỏi thăm cô Tú có chồng hay chưa?</em><br><em>Có chồng năm ngoái năm xưa</em><br><em>Năm nay chồng bỏ như chưa có chồng</em></p>



<p>(Ca dao lịch sử &#8211; Phương Nghi)</p>



<p><strong>Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ</strong></p>



<p>Con cò đi uống rượu đêm.&nbsp;<br>Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.&nbsp;<br>Còn anh chả uống ngụm nào.&nbsp;<br>Cũng say ngây ngất ngã vào lòng em.</p>



<p><strong>Dốt hay nói chữ</strong></p>



<p>Chuyện dốt hay sính chữ từ truyện “Tam đại con gà”. Chuyện kể:</p>



<p>Xưa có anh học trò rất dốt, nhưng có người tưởng anh hay chữ thật, đón về nhà dạy trẻ.</p>



<p>Một hôm, dạy thằng con nhà chủ đọc sách Tam thiên tự, sau chữ “tước” là sẻ, đến chữ “kê” là gà, thầy ta thấy cái chữ nhiều nét khó không biết dịch nghĩa sao cả. Khi trẻ hỏi gấp, thầy cuống quýt đọc liều “dủ dỉ là con dù dì”. Tối hôm ấy, nhân nhà chủ có bàn thờ thổ công, thầy đến khấn thầm, xin ba đài âm dương xem chữ ấy có đúng không. Thổ công không nói gì cả. Thầy cho là phải, lấy làm đắc sách. Hôm sau, thầy bệ vệ ngồi trên giường bảo lũ học trò đọc to rằng; “Dủ dỉ là con dù dì, dủ dỉ là con dù dì”. Người chủ đang ở vườn, thấy vậy bỏ cuốc chạy vào hỏi thầy:</p>



<p>&#8211; Chết chửa, chữ ấy là chữ “kê” sao lại dạy chúng nó là con dù dì.</p>



<p>Bấy giờ thầy mới nghĩ: “Mình đã dốt, thổ công nhà này cũng dốt nữa”, song nhanh trí gỡ rằng:</p>



<p>&#8211; Ông tưởng tôi không biết chứ kê, mà kê nghĩa là gà hay sao? Nhưng tôi dạy chúng nó thế là để chúng biết đến tam đại con gà kia đấy.</p>



<p>Nhà chủ ngạc nhiên hỏi:</p>



<p>&#8211; Tam đại con gà là thế nào?</p>



<p>Thầy cắt nghĩa:</p>



<p>&#8211; Thế này nhé: Dủ dỉ là chị con công; Con công là ông con gà. Thế chẳng phải tôi đã dạy chúng hiểu ba đời con gà là gì.</p>



<p>Nhà chủ đành chịu thầy, rồi ra nói với thằng con: “Thày này đã dốt lại hay nói chữ”.</p>



<p>Theo truyện “Tam đại con gà” – “Truyện cổ nước Nam”, Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc</p>



<p>(Nguồn: Tìm hiểu điển tích thành ngữ)</p>



<p><strong>Dín</strong></p>



<p>Dín: nhỏ nhẹ</p>



<p>(nó cười dín)</p>



<p>(Tự điển tiếng Việt cổ &#8211; Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện)</p>



<p><strong>Chữ nghĩa làng văn</strong></p>



<p><em>Nguyễn Xuân Hoàng</em>:&nbsp;Ông (Võ Phiến) vừa nói đến cốt truyện và đến vấn đề chi tiết trong truyện. Tôi nghĩ đến Nhất Linh.</p>



<p>Nhất Linh coi thường cốt truyện, không muốn gọi bằng cái tên thường gọi là cốt truyện: ông đặt tên nó là “Các việc xảy ra”!</p>



<p>Theo ông thì trong một cuốn tiểu thuyết cái đó không quan trọng chút nào, vậy muốn viết nên cuốn tiểu thuyết hay tốt hơn là đừng bận tâm về cốt truyện. Quan trọng nhất là chi tiết. Theo Nhất Linh, các nhà văn hơn kém nhau ở chỗ tìm chi tiết.</p>



<p>Ông có cho rằng nói như thế là quá đáng không?</p>



<p><em>Võ Phiến</em>:&nbsp;Ối, tôi mà cho là thế này thế nọ thì có nghĩa gì đâu. Có lần trong một cuộc đàm thoại về tiểu thuyết, hai nhà văn lớn của Nhật bản là Yukio Mishima và Kenzaburo Oe cũng đi đến những ý kiến của Nhất Linh.</p>



<p>Thoạt tiên ông bảo không nên chú trọng quá về chi tiết; Mishima hoàn toàn bác bỏ ý nghĩ của nhà văn đàn em, và cuối cùng đã thuyết phục được Oe. Họ đồng ý với nhau rằng đặc điểm của tiểu thuyết Nhật là sở trường về chi tiết, và đó là chỗ thành công của tiểu thuyết Nhật. Tiểu thuyết là một công trình hư cấu, giả tưởng. Cái giả ấy mà thành tuyệt diệu được là nhờ những chi tiết rất thực. Chi tiết mà thực thì công trình giả cấu hoá nên sống động.</p>



<p>Ông kể rằng vừa đọc một câu chuyện cấu trúc loạng choạng nhưng có nhiều chi tiết hay. Ông định chê, nhưng Mishima bênh vực, nói ngay là ông thích Oe cũng chính vì trong truyện có những chi tiết hay, ông khen Oe thành công về chi tiết.</p>



<p>Như vậy ở đây cũng lại cốt truyện không cần, chi tiết là nhất. Trong khi ấy, kẻ đọc nhảy đọc nhanh lại nhảy phóc qua đầu các chi tiết, chỉ lo rượt đuổi cái cốt truyện.</p>



<p>(Nguyễn Xuân Hòang, Võ Phiến &#8211; Viết một cuốn đọc nghìn cuốn)</p>



<p><strong>Cảm nhận của một người Hà Nội về người Sài Gòn<br><br></strong>Người Sài Gòn sáng cafe ăn sáng vỉa hè, cafe nhạt, kèm theo bình trà, vài ba tờ báo ngồi dưới những hàng cây cao nhìn dòng người qua lại. Đồ ăn sáng Sài Gòn cũng đơn giản, bánh canh, hủ tíu, phở Bắc, phở Hoa, món nào vỉa hè cũng ngon, ngu nhất là ghé vào mấy quán trong nhà, có thương hiệu vì mắc chết mẹ.<br></p>



<p><strong>Tiếng Việt trong sáng</strong></p>



<p><em>Lái xe</em>: Đó là một động từ, hay đúng hơn là một từ kép gồm một động từ và một túc từ. Tuy nhiên, ngày nay người ta cũng dùng từ nầy để chỉ <em>người lái xe</em>, tức là danh từ.</p>



<p>Vì vậy, người ta có thể nói: “Sáng nay, lái xe đang lái xe gặp một lái xe khác cũng lái xe, cả hai lái xe cùng lái xe về nhà”.</p>



<p><br>Thực là buồn cười. Trước đây ở miền Nam, lái xe dứt khoát chỉ là động từ. Còn danh từ phải là người lái xe hay gọn hơn thì&nbsp;dùng từ phiên âm Quảng Đông là <em>tài xế</em> rõ ràng minh bạch hơn.</p>



<p>(Triêu Thanh tạp chí)</p>



<p><strong>Câu đối phúng</strong></p>



<p><em>Nhà chỉn rất nghèo thay, nhờ được bà hay lam hay làm, thắt lưng bó que, xắn váy quai cồng,</em> <em>tất tưởi chân nam chân chiêu, ví tớ đỡ đần trong mọi việc</em>.</p>



<p><em>Bà đi đâu vội mấy, để cho lão vất vơ vất vưởng, búi tóc củ hành, buông quần lá toạ,</em> <em>gật gù tay đũa tay chén, cùng ai kể lể chuyện trăm năm.</em></p>



<p>(Nguyễn Khuyến &#8211; Câu đối khóc vợ)</p>



<p><strong>Gàn bát sách</strong></p>



<p>Trong hồi ký <em>Thi tù tùng thoại </em>của Hùynh Thúc Kháng ở Côn Đảo 1915 có ghi thú chơi tổ tôm, chắn với 120 quân bài. Trong đó có bốn quân bài: chi chi, nhị sách,<em> bát sách</em> và cửu vạn.</p>



<p><em>“Gàn bát sách”</em> là tiếng của người Bắc, người Trung, người Nam không biết “gàn bát sách” là cái gì. Ấy là chưa kể không biết vì sao người Bắc có tục lệ bỏ cỗ bài chắn hay tổ tôm vào quan tài, để “bọn quân bài đi theo hầu hạ người chết”.</p>



<p>Nhưng bỏ quân “<em>bát sách”</em> ra. Vì sợ thằng bát sách nó gàn, nó làm, nó nói những điều gàn dở làm phiền người quá vãng.</p>



<p>(Hoàng Hải Thủy – báo Văn Nghệ Tiền Phong)</p>



<p><strong>Đất lề quê thói</strong></p>



<p>Tang chế</p>



<p>Trong thời kỳ vợ cư tang chồng không được sỉa răng và tắm rửa.</p>



<p>(Người Việt đất Việt – Toan Ánh)</p>



<p><strong>Phường Hà Khẩu</strong></p>



<p><strong>Phố Hàng Buồm</strong></p>



<p>Nơi phường Diên Hưng với phố người Hoa kiều, sách<em> Dư địa chí </em>của Nguyễn Trãi gọi là phường Đường Nhân (phố người Tàu) bán áo diệp. <em>Đại Nam nhất thống chí</em> gọi là phố Việt Đông.</p>



<p>Như vậy Hàng Buồm ban đầu chưa phải là nơi tập trung của Hoa kiều; <em>họ ở phố Việt Đông (nay là Hàng Ngang)</em> rồi ở lan sang mấy phố chung quanh đó như Hàng Bồ, phố Phúc Kiến<em> (Lãn Ông)</em> rồi đến Hàng Buồm.</p>



<p>Nghề sở trường của họ là buôn bán mà <em>Hà Khẩu</em> &#8211; tên cũ là<em> Giang Khẩu</em>. Phường Hà Khẩu sát bên sông Nhị và trên bờ sông Tô Lịch hầu hết sống bằng nghề liên quan đến sông nước như buồm và một thứ mành mành buồm cũng đan bằng cói, có nẹp tre.<br></p>



<p><strong>Sự xuất hiện của bài Từ</strong></p>



<p>Trong văn học Trung hoa, <em>Từ </em>là một thể thơ với những câu dài ngắn không đều và xuất hiện sau <em>Thi.</em> Đó là nhà thơ Trung hoa muốn phá vỡ những quy tắc khắt khe của bài Đường luật để đem lại cho điệu thơ nhiều biến đổi, cũng để thích ứng lời thơ cho việc phổ nhạc. Bài Từ khởi lên ngay từ đời Đường&nbsp;<em>(Lý Bạch đã có làm, Ôn Đình Quân đời Vãn Đường thường chuyên)</em>, qua đời Tống thì rất thịnh hành. Bài Từ không có một khuôn khổ duy nhất. Các thi gia, nhạc gia chế ra nhiều điệu, đặt cho mỗi điệu một tên&nbsp;Mỗi điệu có một số câu với số chữ và cách gieo vần nhất định.</p>



<p>Trong văn học ta bài Từ chữ Hán có ngay từ đời Lý&nbsp;<em>(bài Từ nổi tiếng của sư Ngô Chân Lưu tiễn sứ giả Lý Giác, theo điệu Tống Vương Lang quy)</em>. Song về Việt văn thì có lẽ chỉ tới đây ta mới băt gặp lần đầu dưới ngòi bút của Phạm Thái và Quỳnh Như.</p>



<p>Cũng bởi Từ là lối sáng tác nặng tình cảm, để đạo đạt những u tình, kiến ngộ, nhất là rất xứng hợp để tài tử giai nhân khơi tả nỗi sầu tư luyến tưởng. Cho nên ta không lấy làm ngạc nhiên thấy xuất hiện dưới bút của đôi công tử tiểu thư Lê mạt này trong câu truyện tình duyên của họ.</p>



<p>Tuy nhiên loại Từ này không thấy nẩy nở về sau, trừ có ngành ca Huế về sau lợi dụng nó rộng rãi, còn không thấy dưới ngòi bút các thi gia. Có lẽ phần vì nó lả lướt, phóng túng, không mực thước nghiêm trang như bài Đường Luật, nên không hợp với óc quy củ của nho gia ta, phần nữa vì nếu chỉ cần cho âm điệu biến đổi, tiết tấu phong phú thì ta đã có sẵn những lối song thất, hát nói, giầu nhạc tính hơn nhiều.</p>



<p>Trong những sáng tác của Phạm Thái và Quỳnh Như, còn lưu lại mươi bài Từ, thường được lồng vào những câu lục bát hoặc song thất. Như <em>Thăm chùa Non Nước, Gửi Trương Quỳnh Như, vv..</em></p>



<p>(Phạm Thế Ngũ<strong> &#8211; </strong>Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên II)</p>



<p><strong>Góa phụ</strong></p>



<p>Tôi đã gặp vài lần chữ <em>góa phụ</em> trong sách vở để chỉ người đàn bà có chồng đã chết. Gọi như thế là sai vì tính từ góa là tiếng Nôm, không thể đặt trước danh từ phụ được. Phải gọi người đàn bà góa (toàn Nôm) hay người quả phụ (toàn Hán Việt) thì mới đúng.</p>



<p>(Triêu Thanh tạp chí)</p>



<p><strong>Khác biệt giữa Hà Nội và Sài Gòn</strong></p>



<p>Phở<br>Hà Nội: khó mà thiếu mì chính, quẩy (Chầu cháo quẩy)<br>Sài gòn: Làm sao ăn phở được khi mà không có rau, giá và tương đỏ (hoặc đen)</p>



<p><strong>Ngộ&nbsp; Không</strong></p>



<p>(Sưu Tập)</p>



<div style="height:500px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>©T.Vấn 2024</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 268)</title>
		<link>https://t-van.net/ngo-khong-chu-nghia-lang-van-ky-268-2/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 06 Aug 2024 06:14:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Chữ Nghĩa Làng Văn]]></category>
		<category><![CDATA[chữ nghĩa làng văn]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không;cnlv]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=73414</guid>

					<description><![CDATA[Ben Ben: đi theo (ai thong thả trâu nào ben cho kịp) (Tự điển tiếng Việt cổ &#8211; Nguyễn Ngọc San,&#160; Đinh Văn Thiện) Từ điển văn học bộ mới Vừa được phát hành đầu năm 2005, là tái bản của Từ Điển cùng tên, ra đời trước đây hai mươi năm và có nhiều [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/07/cnlv-hinh.jpg?strip=all&fit=300%2C205&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="300" height="205" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/07/cnlv-hinh.jpg?strip=all&fit=300%2C205" alt="" class="wp-image-32105" style="width:396px;height:auto"/></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><strong>Ben</strong></p>



<p>Ben: đi theo</p>



<p>(ai thong thả trâu nào ben cho kịp)</p>



<p>(Tự điển tiếng Việt cổ &#8211; Nguyễn Ngọc San,&nbsp; Đinh Văn Thiện)</p>



<p><strong>Từ điển văn học bộ mới</strong></p>



<p>Vừa được phát hành đầu năm 2005, là tái bản của Từ Điển cùng tên, ra đời trước đây hai mươi năm và có nhiều thay đổi cái nhìn mới, tư duy mới, và cái mới nghiêm túc. Một ví dụ đánh dấu cởi mở, là đề mục Vũ Hoàng Chương.&nbsp;Bộ Mới đã xóa bỏ câu này:</p>



<p><em>&#8221;&nbsp;Tập thơ Hoa Đăng&#8230; phụ họa với bộ máy tâm lý chiến của Mỹ Ngụy. Từ chỗ sa dọa trong sinh hoạt, suy đồi trong nghệ thuật, Vũ Hoàng Chương rốt cuộc đã sa đọa cả trong chính trị&#8221;, cũng tập thơ ấy, ngày nay được cũng người viết ấy xem như là &#8221;&nbsp;những bài bốc đồng, thiếu chín chắn về mặt chính trị của một người thực chất chỉ biết say, mộng và tràn ngập một trời sầu&#8221;</em> và soạn giả còn viết nhiều đoạn đề cao Vũ Hoàng Chương <em>&#8221;&nbsp;tài hoa, sang trọng&#8230; đã diễn tả thật thấm thía, nhức nhối tình cảnh và tâm trạng bơ vơ, lạc loài của những cái tôi không tìm thấy chỗ đứng và hướng đi&#8230;&#8221;</em></p>



<p>Soạn giả (Vũ Hạnh) lại tìm&nbsp; được và trích một đoạn thơ dài ca ngợi cách mạng Tháng Tám,&nbsp;chói lói sao vàng hoa vĩ đại&#8230;Vũ Hoàng Chương thừa hưởng được một trang dài ngang phần với&#8230; Vũ Hạnh trấn ngay bên cạnh. Để đáp lại thịnh tình, tôi xin mách :</p>



<p>Vũ Hoàng Chương không sinh năm 1916 như đã ghi theo lý lịch, mà sinh nhằm ngày 1 tháng tư năm Ất Mão, tức là 15 tháng 5 năm 1915. Năm 1969 ông có làm bài thơ đùa, mừng mình lên 55 tuổi (ta), vượt Khổng Minh một niên !</p>



<p>Nhân nhắc đến Vũ Hạnh, xin mạn phép nhận xét: soạn giả danh mục này quá ư chăm chút cho thành tích cách mạng của đương sự, nên không còn mấy quan tâm đến sự nghiệp văn học, không biết gì đến những tác phẩm có lẽ là khá nhất của Vũ Hạnh, là các tập truyện&nbsp;Chất Ngọc,&nbsp;Mùa Xuân trên đỉnh Non Cao, và&nbsp;Bút Máu.</p>



<p>(Đặng Tiến – Chimviet.free.fr)</p>



<p><strong>Chữ và nghĩa: Lái Thiêu</strong></p>



<p>Tên Lái Thiêu bắt nguồn từ chuyện ông <em>lái</em> gốm họ Huỳnh đã <em>thiêu</em> nhà vì say rượu.</p>



<p>(Hồ Đình Vũ – <em>Nguồn gốc một số địa danh miền Nam</em>)</p>



<p><strong>Chữ nghĩa làng văn IV</strong></p>



<p>Văn chương là nghệ thuật ngôn ngữ. Căn bản nhất của ngôn ngữ là từ vựng. Nhà văn nào cũng cần có vốn từ vựng dồi dào và cần có khả năng chọn được những từ ngữ thích hợp, chính xác và độc đáo nhất để diễn tả những gì mình muốn nói. Chuyện đó hầu như ai cũng biết. Dù không phải ai cũng có thể làm được.</p>



<p>Nếu chữ là yếu tố căn bản của ngôn ngữ thì câu mới là yếu tố căn bản của văn chương. Chữ, trong văn chương, bao giờ cũng nằm trong một ngữ cảnh nhất định. Bởi vậy, không có chữ hay hay chữ dở, chữ thanh hay chữ tục, chữ cũ, chữ mới: Chỉ có những chữ dùng đắc thế hay không mà thôi: Chữ sẽ không còn là những cái xác nằm bẹp dí trên trang sách, như chúng vốn nằm trong các cuốn từ điển, mà chúng trở thành những sinh vật biết ngọ nguậy hay biết nhảy múa, và người đọc nếu không ngạc nhiên một cách thích thú thì ít nhất cũng chú ý, từ đó, ghi nhớ.</p>



<p>Tài năng chính của một nhà văn, có thể nói, ở khả năng kiến tạo câu văn. Người lười chỉ viết được những câu văn tuy đúng ngữ pháp nhưng câu nào cũng giống câu nào, tất cả đều đầy đặn và bằng phẳng, hàng nối hàng suông đuột, cứ trôi tuột qua mắt người đọc, không để lại một ấn tượng gì cả. Người chịu khó, ngược lại, không ngừng thay đổi cấu trúc câu để mỗi câu có một cái dáng và một cái thế riêng; hoặc nếu không, cũng có một cái vẻ riêng, tuy nằm cạnh nhưng lại không lẫn với những câu khác, khiến người đọc, dù không cố tâm, vẫn phải chú ý.</p>



<p>Nhưng một bài văn hay không phải chỉ hay ở câu. Hay, phải hay toàn bài. Bài hay có thể cứu được những câu dở, nhưng câu hay lại không cứu nổi bài dở. Bởi vậy cách tạo câu, quan trọng bằng cách lập ý, tức cấu trúc chung của cả bài. Lập ý giống như bày trận. Mỗi câu, mỗi ý và mỗi chi tiết được phải được sắp xếp làm sao để chúng có thể hỗ trợ cho nhau, cuối cùng, để lại một ấn tượng thật sâu trong lòng người đọc.</p>



<p>Trận đánh kết thúc ở câu/đoạn/ý cuối cùng. Theo tôi, người không biết kết thúc một bài văn cũng giống như một người chơi cờ mà không biết cách chiếu tướng.</p>



<p>(Nguyễn Hưng Quốc – Kinh nghiệm viết văn…)</p>



<p><strong>Đất lề quê thói</strong></p>



<p>Sinh đẻ</p>



<p>Đàn bà có thai phải kiêng:</p>



<p>Kiêng ăn đồ cúng trong đám tang.</p>



<p>(để tránh cho đứa bé bị sài đẹn)</p>



<p>(Người Việt đất Việt – Toan Ánh)</p>



<p><strong>Liên kiều</strong></p>



<p>Chữ <em>liên</em> tên gọi cây thuốc <em>liên kiều</em> viết với bộ <em>sước</em> nghĩa là “nối liền&#8221;, còn chữ <em>liên</em> để chỉ cây sen cũng là chữ liên đó nhưng thêm bộ <em>thảo</em> ở trên mà giới học chữ Hán gọi là <em>thảo đầu.</em>Chữ <em>kiều</em> là chữ tên cô Kiều của Nguyễn Du, viết với bộ <em>vũ</em> chữ <em>kiều</em> nghĩa là xinh, đẹp trong <em>yêu kiều, kiều nữ</em> thì viết với bộ <em>nữ.</em></p>



<p>Tên gọi các cây thuốc vị thuốc trong Trung Y thường được đặt theo một số tiêu chuẩn như dựa vào tính chất (<em>phòng phong</em>), khí vị (<em>cam thảo</em>), màu sắc (<em>tử thảo</em>), cách sống (<em>bán hạ</em>), bộ phận (<em>quế chi</em>) v.v… và nhất là hình thái. <em>Câu đằng</em> là một thứ dây leo có gai cong giống như lưỡi câu (<em>câu =</em>lưỡi câu, <em>đằng =</em>dây leo). <em>Cẩu tích</em> là vị thuốc trông giống lưng con chó (<em>cẩu =</em>chó, <em>tích</em>= cột xương sống). <em>Ngưu tất</em> là vị thuốc có đốt phình ra giống đầu gối con trâu (<em>ngưu =</em>trâu, <em>tất =</em>đầu gối). <em>Ô đầu</em> là vị thuốc trông giống đầu con quạ (<em>ô =</em>quạ, <em>đầu =</em>đầu).</p>



<p>Như vậy, <em>liên kiều</em> có thể được định danh vì các cánh hoa mọc liền nhau, chi chít. <br><br>Các sách dược liệu học chữ Hán và chữ Nhật đều viết <em>liên kiều</em> với <em>liên</em> không có <em>thảo đầu</em>.</p>



<p>(Mai không phải là mai, liên không hẳn là sen – Trần Văn Tích)</p>



<p><strong>Đề: Tả một loại cây mà em biết.</strong></p>



<p>Hàng ngày chúng em vui đùa dưới bóng cây khoai lang.</p>



<p><strong>Tiếng Việt vừa dễ vừa khó</strong></p>



<p>Hỏi: Ách là chi vậy?</p>



<p>Đáp:<br>1/ Đoạn gỗ cong mắc lên cổ trâu bò để buộc dây kéo xe, cày, bừa: quàng ách vào cổ trâu.<br>2/ Gông cùm, xiềng xích: ách áp bức ách đô hộ phá ách kìm kẹp.<br>3/ Tai hoạ phải gánh chịu: ách giữa đàng quàng vào cổ.<br>4/ Ngăn, chặn lại, làm cho phải ngừng, dừng lại: ách xe giữa đường để hỏi giấy tờ.<br>5/ Bị đầy ứ gây khó chịu: no anh ách.</p>



<p>(Nguồn ĐatViet.com)</p>



<p><strong>Vật lộn với chữ nghĩa II</strong></p>



<p>Bài viết nhắm làm sáng tỏ nguyên nghĩa (sens étymologique) của chữ <em>&#8221;mặc khải&#8221;</em> được dịch từ chữ Hy-lạp &#8221;ποκάλυψις&#8221;, được đọc là: &#8221;apocalypsis&#8221;..Nhiều tiếng như La-tinh, Anh, Pháp, Đức, Tây-ban-nha, Ý&#8230; cũng có các chữ tương tự: &#8221;apocalypsis, apocalyse, Apokalyse, apocalipsis, apocalisse &#8230;&#8221;. Do ý nghĩa này, chữ &#8221;revelatio, revelation, révélation, revelation, revelacióna, rivelazione&#8221; là những danh từ của động từ gốc La-tinh &#8221;revelare&#8221; có nghĩa đen (nghĩa thật: sens propre) là &#8221;lấy, cất cái màn che đi&#8221;! Cho nên, bài viết&nbsp;&nbsp;ủng hộ &#8221;dụng ý tốt&#8221; (bonne intention) của rất nhiều học giả thần học bởi vì chữ &#8221;mặc khải: révélation &#8221; lấy từ nguồn là kinh thánh !&nbsp;</p>



<p><strong>Khi các cụ ta xưa&#8230;xổ nho</strong></p>



<p><em>Em là con gái có chồng</em></p>



<p><em>Mồ cha những đứa đem lòng nọ kia</em></p>



<p><em>(Ca dao)</em></p>



<p><strong>Văn học giải phóng Miền Nam</strong></p>



<p>Những sách biên khảo văn học xuất bản ở trong nước sau 1975, thường không nhắc gì đến nền văn học miền Nam từ 1954 đến 1975, mà thay vào đó là nền văn học được gọi là &#8220;văn học giải phóng miền Nam&#8221;. Văn học &#8220;giải phóng&#8221; kê khai rất nhiều tên tuổi, đọc lên thì người miền Nam không biết họ là ai. Trên thực tế, văn đàn miền Nam lúc đó chỉ có vài người như Vũ Hạnh, Lữ Phương&#8230; là thực thụ có mặt (chủ trương tờ Tin Văn). Vũ Hạnh là một trong những cây bút chính của tạp chí Bách Khoa, khuynh hướng chính trị đối lập với Võ Phiến. Vì vậy, có thể nói, nền &#8220;Văn học giải phóng miền Nam&#8221; đã được xây dựng trên những tên tuổi trá hình; là một nền văn học &#8220;giả&#8221; được &#8220;dựng&#8221; nên để thay thế một nền văn học thật, đã bị xoá bỏ. Hiện trạng lấy giả xoá thật này, vẫn còn tồn tại trong sinh hoạt văn học chính thức và trong giáo dục học đường hiện nay ở Việt Nam.</p>



<p>Nhưng các tác phẩm của văn học miền Nam, đối với một số đông người đọc trong nước vẫn còn xa lạ, trừ vài trường hợp đặc biệt như sách của Bình Nguyên Lộc được in lại những năm gần đây và trong năm nay một vài cuốn của Dương Nghiễm Mậu cũng đã xuất hiện. Nhưng lại có ngay sự phản hồi: Vũ Hạnh đã viết bài cực lực phản đối sự phổ biến các tác phẩm &#8220;độc hại&#8221; của Dương Nghiễm Mậu. Như thế, hơn ba mươi năm sau ngày thống nhất đất nước, việc in những tác phẩm của nhà văn miền Nam vẫn còn gặp nhiều cản lực. Cản lực đến từ phiá chính quyền và từ những cá nhân bảo thủ, đố kỵ.</p>



<p>(Thụy Khuê – Văn học miền Nam)</p>



<p><strong>Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ</strong></p>



<p>Anh xây em bằng cát.<br>Rồi hôn em một phát.<br>Ôi nụ hôn chua chát. <br>Toàn là đất với cát…<br><br><strong>Phật</strong></p>



<p>Chữ Phật gồm có một bên chữ “nhân” là người, một bên chữ <em>“phất”</em> là <em>chẳng.</em></p>



<p>Như vậy Phật là người <em>chẳng</em> nghĩ đến thế tục (thoát tục).</p>



<p>Trong <em>Sãi vãi</em> của Nguyễn Cư Trinh có câu: “Suy chữ nọ cho chơn – Chữ Phật là “<em>phất</em> trí nhân sự”.</p>



<p><em>Phất</em> còn có nghĩa là phủi bụi. Tầu lấy “đuôi ngựa” làm vật để phủi bụi và kêu là “mã vĩ”.</p>



<p>Ta dùng lông gà nên gọi là <em>“chổi lông gà”.</em> Hay <em>“cái phất trần”.</em></p>



<p><strong>Văn ta, văn Tàu</strong></p>



<p>Ta có thể chia các thể văn của ta ra làm hai loại: một là những thể văn mượn của Tàu, hai là những thể văn riêng của ta.Những thể văn mượn của Tàu có thể chia làm hai hạng, Vận văn là văn có vần. Biền văn là văn không có vần mà có đối.</p>



<p>Những thể văn riêng của ta là: lục bát, song thất, nói lối đều thuộc về loại văn vần cả. Còn các lối văn xuôi của Tàu (như tự, bạt, truyện, ký, bi, luận) thì các cụ hồi xưa ít viết bằng quốc âm.<br>Một điều khiến ta phân biệt được thể văn nào là mượn của Tàu và thể văn nào là riêng của ta là cách gieo vần. Những thể văn vần của Tàu thì bao giờ vần gieo cũng ở cuối câu. Những thể văn của ta thì vần vừa gieo ở cuối câu vừa gieo ở lưng chừng câu.</p>



<p>(Dương Quảng Hàm -Việt Nam văn học sử yếu<em>)</em></p>



<p><strong>Bét</strong></p>



<p>Bét: hết cỡ</p>



<p>(mở cửa bét)</p>



<p>(nát bét – bét con mắt đòi ăn)</p>



<p>(Tự điển tiếng Việt cổ &#8211; Nguyễn Ngọc San,&nbsp; Đinh Văn Thiện)</p>



<p><strong>Giai thoại làng văn xóm chữ</strong></p>



<p><strong>Tống Quân Nam-phố</strong></p>



<p>Vùng Nam-hạ, hồi xưa có một ông buôn đồ cổ, sưu tầm được nhiều bộ ấm chén rất quý. Theo đòi vả cũng ít nhiều bút nghiên, song học đã sôi kinh nhưng chửa chín &#8230; May gặp lúc Cognacq là giám đốc y tế nhưng có quyền to lại sành đồ cổ, ông mượn người đánh tiếng, rồi khi cái bát Khang-hy, khi đôi bình Ung-chính, chẳng bao lâu ông được ân sủng đến nỗi một ngày kia có nghị định bổ đi tri huyện miền trung du. Nên đám sĩ phu có người gọi mỉa ông là &#8220;huyện chén&#8221;, do đó thành tên gọi thường ngàỵ</p>



<p>Vài năm, ông bị sốt rét mà bỏ mình. Khi đưa linh cửu về an táng ở thành Nam, một ông bạn nhà nho viếng bốn chữ:</p>



<p>Tống Quân Nam-phố (tiễn đưa ông ở Nam-phố)<br><br>Ai đọc cũng phải chịu là hay, vì lấy chữ sẵn trong Sở-từ nói lên được lòng tha thiết tiễn bạn, lại được chữ Nam-phố với thành Nam. Mãi sau mới có người vạch ra cái ẩn ý của người viếng. Bốn chữ này không ham một ý gì tiễn đưa mến tiếc, chỉ là móc cái chỗ xuất thân của ông huyện: thì trong bộ đồ chè nào chẳng có một chén tống và bốn chén quân, mà ông huyện nhà ta vốn lại có tên huyện chén ở khắp phố thành Nam!<strong></strong></p>



<p>(Lãng Nhân Phùng Tất Đắc &#8211; Chơi chữ 1960)</p>



<p><strong>Tiếng rao hàng I</strong></p>



<p>Có những giọng rao hàng giữa trưa nghe không rõ tiếng:</p>



<p>&#8211; Ai ngủ hôn?</p>



<p>Đó là tiếng rao của chị bán tàu hũ. Nghe kỹ mới biết là:</p>



<p>&#8211; Ai ăn tàu hũ hôn!</p>



<p><strong>Ngộ&nbsp; Không</strong></p>



<p>(Sưu Tập)</p>



<div style="height:500px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>©T.Vấn 2024</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 268)</title>
		<link>https://t-van.net/ngo-khong-chu-nghia-lang-van-ky-268/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 02 Aug 2024 06:38:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Chữ Nghĩa Làng Văn]]></category>
		<category><![CDATA[chữ nghĩa làng văn]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không;cnlv]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=73304</guid>

					<description><![CDATA[Tuyển tập thơ đầu tiên Lê Quý Đôn soạn bộ Toàn Việt thi lục, sách soạn xong năm Mậu Tý 1768 thời vua Lê Hiển Tông. Gồm 20 quyển với 897 bài thơ của 73 tác giả từ thời Lý đến thời Trần. Lê Quý Đôn người làng Diên Hà, trấn Sơn Nam thượng (Thái [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/07/cnlv-hinh.jpg?strip=all&fit=300%2C205&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="300" height="205" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/07/cnlv-hinh.jpg?strip=all&fit=300%2C205" alt="" class="wp-image-32105" style="width:390px;height:auto"/></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><strong>Tuyển tập thơ đầu tiên</strong></p>



<p>Lê Quý Đôn soạn bộ <em>Toàn Việt thi lục</em>, sách soạn xong năm Mậu Tý 1768 thời vua Lê Hiển Tông. Gồm 20 quyển với 897 bài thơ của 73 tác giả từ thời Lý đến thời Trần.</p>



<p>Lê Quý Đôn người làng Diên Hà, trấn Sơn Nam thượng (Thái Bình). Ông đỗ Bảng nhãn thời vua Lê Hiển Tông và là tác giả những bộ <em>Kiến văn tiểu lục, Vân đài loại ngữ</em>..v..v..</p>



<p>(Phùng Thanh Chủng – <em>Hợp tuyển thơ </em>&nbsp;đầu tiên ở nước ta)</p>



<p><strong>Nguồn gốc tiếng Việt V</strong></p>



<p>Khi nhắc đến nguồn gốc của Việt ngữ, ông Phạm Thế Ngũ cũng có nêu giả thuyết là người Việt có cùng tông tổ với người Mường, vì các nhà khảo cổ, khi xét về phong tục, lịch sử cũng như ngôn ngữ của người Việt, đã thấy có rất nhiều điểm giống với người Mường. Hiện nay, trong tiếng Việt có rất nhiều tiếng tương tự với tiếng Mường, và có thể xem đó là hình thức tối cổ của tiếng Việt tương đương, thí dụ :<br><br>Một hai ba trời đất núi sông trâu gà tằm ăn lá dâu<br><br>Móc hai pa tlòy tất nủy không tlu kà thảm ăn lá tô<br><br>Thứ tiếng cổ ấy, về sau, trong ngôn ngữ người Việt, thâu nhận thêm những yếu tố vay mượn của các chủng tộc lân cận mà trở thành tiếng Việt. Và ông kết luận rằng: &#8220;Dân tộc Việt Nam là kết quả tạp chủng và lai lẫn với các dân tộc đã sinh sống trên bán đảo Ðông Dương, và tiếng Việt là kết quả trại lẫn của nhiều thứ tiếng của các dân tộc ấy.&#8221;<br>(Tĩnh Túc &#8211; thanh.nguyen@student.uni-ulm.de)</p>



<p><strong>Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ</strong></p>



<p>Trên trời mây trắng như bông</p>



<p>Ở giữa cánh đồng <em>mông</em> trắng như mây</p>



<p><strong>Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ: Bếp núc</strong></p>



<p>Nghe vẻ nghe ve nghe vè thợ nấu<br>Muốn ăn cho nhẹ, bỏ ít lá chanh<br>Rắn lục cườm chanh, nấu canh với bún<br>Cải nồi bẹ dưa, bóp lộn thạch sùng<br>Bắt ít con trùn, đem về bầm chả<br>Muốn ăn cho đã, chuột xạ xào măng<br>Rắn mối xào lăn, kỳ nhông xào ló</p>



<p><strong>Tiếng Bắc tiếng Nam</strong></p>



<p>Một hôm bố tôi, cao hứng bảo khi nào nàng bạn gái tôi nấu cơm Nam kỳ cho gia đình cùng ăn. Cô nàng hí ha hí hửng nói liền :<br>&#8211; Dạ ! (lại dạ!), để bữa nào cháu nấu bún(g) mắm dzới thịt heo ba rọi cho bác ăn(g), bún(g) mắm thịt ba rọi Trà Dinh ngoong nhức miền Nam nghe bác!<br>&#8211; Sao? cô muốn búng hả? Lỗ tai tôi đây này, muốn búng bao nhiêu thì cứ búng đi !<br><br>Thế là cả nhà cháu được một trận cười nắc nẻ. Nào đã hết đâu, mẹ cháu chợt bảo:<br>&#8211; Cháu xuống bếp lấy cho bác mấy cái “cùi dìa” với cái ”muôi” để trong ngăn kéo đấy!<br>Nàng ngớ ra, cứ như được nghe tiếng&#8230;Tây, nhìn cháu cầu cứu. Cháu cười hì hì khoái tỉ, ra cái điều thông thái giải thích ngay :<br>&#8211; Cái “cùi dìa” Nam kỳ kêu là cái “muỗng”, tại Bắc kỳ sống lâu với bọn Tây, chúng nó gọi là ”la cuiller” thì Bắc kỳ gọi luôn là cái “cùi dìa” cho tiện. Còn cái “muôi” Nam kỳ kêu là cái “vá”, chữ “vê” thì đọc là “dê” cho nên gọi là cái “dzá”, phải không ?<br><br>Nàng đỏ mặt, bĩu môi : <em>Cái đồ dzô dziêng, tui đi dzìa à nghen !<br><br></em>(Nguyễn Hữu Huấn – Cái duyên Nam Bắc)</p>



<p><strong>Tục ngữ Ta và Tầu</strong></p>



<p>Bút sa gà chết.</p>



<p>Hắc bút tả bạch chỉ, nhất tự định sinh tử</p>



<p><em>(Giấy trắng mực đen, một chữ định sống chết)</em></p>



<p>(Nguyễn Lập Sơn – Dư Phát Linh)</p>



<p><strong>Tiếng Huế…</strong></p>



<p>Từ Huế trở ra Hà Tĩnh, Nghệ An, giọng nói nặng dần với:</p>



<p>&#8211; Dấu sắc nghe như dấu hỏi.</p>



<p>&#8211; Dấu huyền nghe như dấu nặng.</p>



<p>Về âm sắc: âm nọ đọc trại qua kia, trại cả mẫu âm lẫn phụ âm và đầu từ: <em>nêm mói</em> (nên muối), <em>keng bù</em> (canh bầu), <em>hấng nác</em> (hứng nước), <em>cắm</em> (cắn), <em>nóai</em> (nói), <em>cấy</em> (cái), <em>dư</em> (như), <em>ôông</em> (ông), <em>khôông</em> (không), <em>dà</em> (nhà), <em>tổ quấc</em> (tổ quốc) và…</p>



<p>…“yêng êm mềng” là…anh em mình.</p>



<p>(Lê Văn Lân – Thổ âm xứ Huế)</p>



<p><strong>Chữ nghĩa làng văn</strong></p>



<p>Phê bình bài trả lời phỏng vấn của ông Hoàng Ngọc Hiến (giáo sưu đại học, nhà nghiên cứu văn học tại Hà Nội) trên Talawas, ông Trần Mạnh Hảo nhắc một câu nói của ông Hiến: “Theo tôi (Hoàng Ngọc Hiến), dùng tiếng Việt chính xác mới là yêu tiếng Việt, mà cái yếu nhất trong văn học Việt Nam từ 1945 đến nay không chính xác về từ ngữ. Toàn dùng những từ chung chung, từ khuôn sáo, không chọn được từ chính xác.”<br><br>(Nguyễn Xuân Hoàng &#8211; Văn học Việt Nam trong và ngoài nước)</p>



<p><strong>Văn hóa ẩm thực: Lốn, bần, vố, lù</strong></p>



<p><br>Theo Vũ Bằng qua Miếng ngon Hà Nội: “Có phải ở trong Nam người ta gọi hẩu lốn là “sà bần” không? Thực là kỳ lạ: Cũng thuộc vào loại hẩu lốn, Tàu có “tả pín lù”, Tây có “lâm vố”, mà ở đây thì có “sà bần”; ba thứ này, cũng như hẩu lốn, đều do các thứ ăn đổ lộn lại với nhau nấu chín lên, nhưng tại sao ăn vào tôi vẫn thấy một cái gì “khác”, không làm cho mình mãn nguyện hoàn toàn?”.<br><br>Hẩu lốn âm Hán Việt là cái hoả lò. Theo tên gọi thì có thể suy ra rằng trong bữa ăn ngày xưa, nồi hẩu lốn được để trên hoả lò, đặt trước mặt mọi người.</p>



<p>(Nguyễn Dư &#8211; “Cao lầu, hẩu lốn, loạn&#8230; sà bần”)</p>



<p><strong>Chữ nghĩa thập niên 20</strong></p>



<p>Lương Ý Nương với bài thơ <em>Tiêu tương</em> có những câu:</p>



<p>Quân tại Tương giang đầu</p>



<p>Thiếp ở Tương giang vĩ</p>



<p>Tương tư bất tương kiến</p>



<p>Đồng ẩm Tương giang thủy</p>



<p>Nghĩa là: Chàng ở đầu sông Tiêu tương, thiếp ở cuối sông Tiêu tương, nhớ nhau không thấy nhau, cùng uống nước sông Tiêu tương. Cho nên chữ “đầu cuối Tiêu tương” ý nói là tương tư nhau.</p>



<p>(Phan Mạnh Danh – Thập tứ hàn)</p>



<p><strong>Tiếng Việt cổ</strong></p>



<p>Cúi: heo, lợn</p>



<p>Xẻ: chẻ</p>



<p><strong>Văn học miền Nam (VI)</strong></p>



<p>Gần đây, chúng tôi cố gắng đưa vấn đề Văn học miền Nam trở lại văn đàn, vì có những người thực sự yêu văn chương ở trong nước muốn tìm hiểu về những tác giả và tác phẩm đã bị loại trừ sau 30/4/1975. Chúng tôi xin giới thiệu Vương Trí Nhàn, một trong những nhà phê bình miền Bắc đã không ngừng tiếp cận với văn học miền Nam từ thời kỳ phân chia Nam Bắc đến ngày nay.</p>



<p>***</p>



<p><em>Thụy Khuê</em>:<em> Nếu so sánh sinh hoạt văn học hiện nay ở trong nước với sinh hoạt văn học miền Nam trước 75, anh có thấy điểm tương đồng nào giữa hai nền văn học này?</em></p>



<p>Vương Trí Nhàn: Nghe thấy lạ song có cảm tưởng là văn học ở trong nước hiện nay đang có nhiều điểm giống như Văn học miền Nam trước 75, kể cả sự phát triển văn hóa đại chúng, kể cả sự học đòi nhiều lúc hơi xô bồ, tuỳ tiện đối với phương Tây, cái mệt mỏi của con người, nỗi băn khoăn của người trí thức để có một nền văn học khác đi, trí tuệ hơn mà cũng là hiện đại hơn. Nhiều lúc ở Hà Nội này, tôi đọc và cảm thấy có những hiện tượng quanh mình tôi đã gặp một lần đâu đó, sau nhớ lại hóa ra tôi đã đọc ở Sàigòn trước năm 75, thời ấy bên cạnh <em>Bách Khoa</em>, bên cạnh <em>Văn</em>, đã có đủ thứ nhốn nháo, nhố nhăng, tùy tiện rất buồn cười khiến nhiều người phải kêu trời. Về hội nhập mà nói, so với văn học trong cả nước hôm nay, văn học miền Nam cũng đã đi trước.</p>



<p>Ngoài sự trì trệ, ấn tượng chính của tôi về đời sống văn học trước mắt là các nhà văn trẻ đang muốn thay đổi, họ cũng không muốn viết, không muốn sáng tác như những người đi trước như bọn tôi nữa. Thế nhưng sự chuẩn bị không có. Thiếu sự chuẩn bị như thế, dĩ nhiên lỗi không chỉ ở lớp trẻ mà là ở lớp người đi trước, chúng tôi đã không góp phần chuẩn bị cho họ. Thành ra, ngay ở phương diện này, các nhà văn trẻ cũng có thể tìm thấy trong các tác phẩm của các nhà văn miền Nam, những ví dụ, những bài học. Để học theo có, mà để rút kinh nghiệm cũng có, theo hay tránh thì đều là những bài học hữu ích cho công việc của họ.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; (Thụy Khuê: Nói chuyện với nhà phê bình Vương Trí Nhàn)</p>



<p><strong>Chữ nghĩa làng văn</strong></p>



<p>&#8211; Bếp <em>núc:</em> nhân dân ta gọi <em>ông núc hoặc ông đầu rau</em>, thường đắp bằng đất sét để tạo thành kiềng. Ba ông núc đứng riêng nhưng rất vững như kiềng ba chân dùng để đun nấu ở nông thôn.</p>



<p><strong>Văn khảo I</strong></p>



<p>Khảo cứu văn học, tức văn khảo, là khoa nghiên cứu về văn học, truy tầm tận gốc rễ (nghiên: nghiền nhỏ ra) về lịch sử, nghệ thuật, văn bản để giải thích, đánh giá những sự kiện, tác phẩm, tác giả, trào lưu, thời kỳ văn học.&nbsp; Văn khảo được chia ra làm 3 ngành chính là<em>: văn học sử, phê bình văn học và lý luận văn học.&nbsp;</em></p>



<p>Ngoài ra còn có những ngành phụ như phương pháp luận văn khảo như quy nạp, diễn dịch, tổng hợp, khái quát, phân tích, so sánh&#8230;, tâm lý học văn học, xã hội học văn học, nghiên cứu cấu trúc, phương thức thực hiện nội dung tác phẩm.&nbsp;</p>



<p>Để hổ trợ cho 3 ngành chính của văn khảo có các môn phụ như văn bản học, thư mục học..v..v.. <br><br>(Trần Bích San – Văn khảo khái luận)</p>



<p><strong>Ca dao lơ mơ lỗ mỗ</strong></p>



<p>Cái gì chỉ có một đầu</p>



<p>Có mồm không mắt, đeo râu xồm xoàm</p>



<p>Khỏe đứng thẳng, nhọc nằm&nbsp; ngang</p>



<p>Thất thường tính khí họ hàng không ưa</p>



<p>Của lạ xài mấy cũng vừa</p>



<p>Của nhà thì cứ dây dưa khất lần</p>



<p><strong>Giai thoại làng văn: Lý Toét Xã Xệ</strong></p>



<p>Nhiều người cho rằng hai nhân vật này có mặt đầu tiên trên tờ Phong Hóa trước khi có tờ Ngày Nay của TLVĐ. Không phải vậy. Tưởng thế là lầm. Hai ông có mặt trong một vở gọi là&nbsp;<em>Chèo cải luơng</em>&nbsp;vào khoảng năm 1930. Lúc đó Lý Toét lại đóng vai ông Lý Đình Dù. Lý Đình Dù tức là ông lý trưởng làng Đình Dù.</p>



<p>Họa sĩ Đông Sơn vẽ Lý Toét vào đầu thập niên 1930, và tờ báo đầu tiên đăng tranh Lý Toét, là Phong Hóa. Nhất Linh giải thích trong bài viết “Lịch sử Lý Toét…”, Báo Xuân Ngày Nay 1940, tóm tắt như sau: Tên Lý Toét ra đời trước, rồi hình người Lý Toét mới ra đời sau.</p>



<p>Năm 1930, trong báo Tứ Dân, người đẻ ra “tên-Lý Toét” lại là Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu (chuyên viên thơ trào phúng của Tự Lực Văn Đoàn), từ “đẻ ra” sáng tác bởi Nhất Linh.</p>



<p>Họa sĩ Đông Sơn và bà Phụ Nữ Thời Đàm đẻ ra “hình-Lý Toét” sau. Sự tích là: Đông Sơn một hôm đang xem báo Phụ Nữ, vẽ nghịch một ngườì nhà quê, thấy hay hay nên xé ra vứt vào ô kéo, chưa biết để làm gì. “Quý vị ơi! Nhìn hình dưới đây đi! Nó đấy, chính nó đấy, mảnh giấy nhật trình có chân dung “thủy tổ” của tất cả các Lý Toét sau này đấy!”:</p>



<p>Nhưng ngắm tranh Lý Toét lâu, ta thấy cụ có vẻ hơi cô độc, thiếu bạn. Và: Xã Xệ xuất hiện là một nhân vật bằng vai phải lứa với Lý Toét. Xã Xệ béo ịt, thấp lè tè, đầu trọc lông lốc, có độc một sơi tóc xoắn ốc trên đỉnh. Hình ảnh Xã Xệ hoàn toàn đối chọi với Lý Toét gầy đét và cao lênh khênh. Xã ra đời để đấu láo với Lý, cãi chầy cãi cối với Lý, chung buồn chung vui với Lý…</p>



<p>Cha đẻ của Xã Xệ là họa sĩ Bút Sơn, từ Saigon gửi tranh vẽ ra Hà Nội. Ông lấy hiệu Bút Sơn để nhái Đông Sơn. Nhưng Nhất Linh đến khi mất, vẫn chưa biết tên thật của Bút Sơn. Trên tờ di cảo “Đời làm báo” Nhất Linh có hàng chữ sau: Bút Sơn ở Saigon (Người đẻ ra Xã Xệ), tên thật chưa biết. Xin ông Bút Sơn (nếu ông còn sống) hoặc các bạn, cho biết tên thật.</p>



<p><strong>Cốc mò cò xơi</strong></p>



<p>Hay “công như công cốc” với cốc là con chim cốc, là loài chim lông đen, cổ dài, chân có màng (như chân vịt) nên bơi lội bắt cá rất giỏi. Khi bắt được cá bay lên, mỏ ngậm cá, chưa nuốt được ngay vì còn phải thở để lấy hơi thì bị cò chực sẵn cướp mất.</p>



<p>Ý nói với công sức khó khăn mà không được hưởng.</p>



<p>(Bút Chì – Hiểu đúng thành ngữ, tục ngữ, điển tích)</p>



<p><strong>Ngộ&nbsp; Không</strong></p>



<p>(Sưu Tập)</p>



<div style="height:500px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>©T.Vấn 2024</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 267)</title>
		<link>https://t-van.net/ngo-khong-chu-nghia-lang-van-ky-267/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 26 Jul 2024 06:46:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Chữ Nghĩa Làng Văn]]></category>
		<category><![CDATA[chữ nghĩa làng văn]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không;cnlv]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=73169</guid>

					<description><![CDATA[&#160;Ăn mày chữ nghĩa Khổng Tử đi chơi ra phía đông, thấy hai đứa bé cãi nhau, hỏi tại làm sao, thì một đứa nói rằng: &#8220;Tôi thì tôi cho mặt trời, lúc mới mọc, ở gần ta hơn. Về buổi trưa, ở xa ta hơn.&#8221;Còn một đứa nói: &#8220;Tôi thì tôi cho mặt trời [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/07/cnlv-hinh.jpg?strip=all&fit=300%2C205&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="300" height="205" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/07/cnlv-hinh.jpg?strip=all&fit=300%2C205" alt="" class="wp-image-32105" style="width:396px;height:auto"/></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>&nbsp;<strong>Ăn mày chữ nghĩa</strong></p>



<p>Khổng Tử đi chơi ra phía đông, thấy hai đứa bé cãi nhau, hỏi tại làm sao, thì một đứa nói rằng:</p>



<p>&#8220;Tôi thì tôi cho mặt trời, lúc mới mọc, ở gần ta hơn. Về buổi trưa, ở xa ta hơn.&#8221;<br>Còn một đứa nói: &#8220;Tôi thì tôi cho mặt trời lúc mới mọc ở xa ta hơn. Về buổi trưa, ở gần ta hơn.&#8221;<br>Ðứa trước cãi: &#8220;Mặt trời lúc mới mọc to nhứ cái bánh xe. Đến giữa trưa, nhỏ như cái bát ăn, thế chẳng phải tại xa ta mới nhỏ, gần ta mới to là gì?&#8221;<br>Ðứa sau cãi: &#8220;Lúc mặt trời mới mọc, thì mát mẻ. Đến giữa trưa thì nóng nực, thế chẳng phải gần ta mới nóng, xa ta mới mát là gì?&#8221;</p>



<p>Khổng Tử nghe nói, không giải quyết được ra làm sao!.</p>



<p><strong>Tiếng Việt mình&#8230; khó quá!?</strong></p>



<p>Xin sang chuyện viết. Cháu nội tôi học lớp 5 của một trường tiểu học, khi ngồi cùng với ông nội để “làm quen với máy tính”, thấy ông đánh trên máy “Công ty ứng dụng kỹ thuật&#8230;”, cháu vội sửa “Ông mắc lỗi chính tả rồi! Phải đánh là Công ti ứng dụng kĩ thuật”, tức là <em>không dùng chữ “y”,</em>vì “cô giáo bảo thế”.</p>



<p>Trước mặt cháu phải tôn trọng cô giáo, ông nội&#8230; không dám cãi, nhưng thử hỏi cả nước này, có ai viết “Ti i tế” (thay cho Ty Y tế) hay không? Nếu là ngành giáo dục<em>…”dại”</em> (dạy) như vậy, cả nước sẽ&#8230;mắc lỗi chính tả mất thôi! Và biết bao nhiêu người&#8230;sẽ phải sửa lại biển hiệu để thay chữ y bằng chữ i cho đúng chính tả?<br><br>(Nguyễn Lê Bách &#8211; Nguồn ĐatViet.com)</p>



<p><strong>Truyện ngắn IV</strong></p>



<p>Nhiều nhà văn miền Nam cho là <em>truyện ngắn</em> có trước truyện dài.</p>



<p>Dương Nghiễm Mậu: “Phải trải qua truyện ngắn trước truyện dài”.</p>



<p>Nguyễn Thụy Long: “Truyện ngắn là bước khởi đầu của nhà văn”.<em></em></p>



<p>Mai Thảo: “Truyện ngắn là những bước chân đi vào văn chương”.</p>



<p>Tuy nhiên cái tinh thần coi trọng truyện dài từ thế kỷ 18 của Tây phương khi truyện ngắn chưa định hình được lập đi lập lại bởi chính những nười cầm bút:</p>



<p>“Nhà văn chưa phải là nhà văn nếu chưa viết được truyện dài”.</p>



<p>Đã đến lúc phải xét lại với quan niệm sai lầm và lỗi thời.</p>



<p>(Trần Bích San – Văn Khảo)</p>



<p><strong>Giai đoạn phiên âm</strong></p>



<p>Đây là những chữ trích trong sách của giáo sĩ Christoforo Borris xuất bản năm 1631 tại La Mã, viết bằng chữ Ý. Chúng ta có thể coi những chữ phiên âm trong sách nầy đã được ông dùng trong thời gian từ 1618 đến 1621, là thời gian ông sống ở Đàng Trong.</p>



<p>Phiên âm : Nghĩa</p>



<p>Anam: An Nam<br>Cacciam: Cả chàm (Kẻ Chàm)<br>Quamguya: Quảng Nghĩa<br>Quignin: Qui Nhơn</p>



<p>Bũa: Vua<br>Chiuna: Chúa</p>



<p>Chià : Trà&#8230;&#8230;.</p>



<p>Nuoecman: Nước mặn<br><br>Tuijciam biet: Tui chẳng biết</p>



<p>Scin mocaij: Xin một cái<br><br><strong>Hồng mao</strong></p>



<p>Không ai lạ gì hai câu này trong <em>Chinh phụ ngâm</em> “Chí làm trai dặm nghìn da ngựa – Gieo Thái Sơn nhẹ tựa <em>hồng mao</em>”.</p>



<p>Nhưng nhiều người nhầm “hồng mao” là sợi lông mầu hồng.</p>



<p>Thực ra “hồng mao” là lông con chim hồng. Một giống nhạn bên Tầu (hồng nhạn).</p>



<p>(Duy Lý – báo Tự Do)</p>



<p><strong>Tùy bút hay</strong></p>



<p>Tùy bút &#8211; tùy hứng là phóng bút &#8211; là một thể rất tự do, gặp gì chép nấy, nghĩ sao nói vậy: <em>Một cơn mưa, một giọng hát, một hớp trà, một trang sách, một tà áo phất phơ dưới gió, một tiếng ve rỉ rả trong rừng.</em>.. bất kỳ một cảnh vật nào, một sự việc nào, hễ gợi hứng cho ta cũng có thể là đề tài một thiên tùy bút. Nó tựa như nhật ký mà không phải là nhật ký, vì nó là &#8220;bút&#8221; chứ không phải là &#8220;ký&#8221;; nó tựa như nghị luận mà không phải là nghị luận, vì nó là tùy hứng suy đoán chứ không phải dụng ý biện luận.<br><br>Nó phóng túng như vậy nên ta tưởng là dễ, nhưng có viết thử mới thấy khó. Trước hết nó phải thanh thoát, nhẹ nhàng như ngồi bên giàn hoa hay một ấm trà. Nó không dài, trung bình mươi trang trở lại, nhưng lời phải tự nhiên, có duyên, nội dung phải có ý vị.<br><br>Quan trọng nhất vẫn là nghệ thuật. Tiểu thuyết mà dở thì người ta vẫn gọi là tiểu thuyết; thơ mà dở thì cũng vẫn là thơ &#8211; thơ con cóc. Còn tùy bút mà thiếu nghệ thuật thì không có tên để gọi vì lẽ không ai thèm biết tới. Cho nên lựa thể tùy bút là làm một công việc chỉ có thành công hay thất bại, không thể nhùng nhằng được.</p>



<p>(Nguyễn Hiến Lê – Gocgio.net)</p>



<p><strong>Tiếng Tầu tiếng Việt</strong></p>



<p>Từ chuyện An Tiêm bị đày ra đảo Hải Nam, nhặt được hạt trồng thành cây có quả và đặt tên là “tây qua”. Người Tầu ăn thấy ngon khen là “hẩu lớ”.</p>



<p>Từ “hẩu” biến âm ra “hấu” nên có tên là quả dưa…hấu.</p>



<p><strong>Tiếng nói xưa và nay</strong></p>



<p>Theo ý kiến của giáo sư Lê Thước và nhà văn Hoàng Ngọc Phách thì từ ghép “Chùa chiền” được hiểu như sau:</p>



<p><em>Chùa</em> &#8211; có nguồn kinh tế là <em>tự điền</em> (ruộng sở hữu của nhà chùa) để lấy hoa lợi dùng vào việc đèn hương cúng tế.</p>



<p><em>Chiền</em> &#8211; không có <em>tự điền</em> nhưng được thu thuế ở một ngôi chợ bên cạnh để dùng vào việc đèn hương cúng tế. Các chợ này thường có tên gọi là <em>chợ chùa</em>.</p>



<p><strong>Báo chí và văn học</strong></p>



<p>Ở miền Nam, trong giai đoạn 1954-75, những cây bút hàng đầu như Doãn Quốc Sỹ và Nguyên Sa đều đi dạy học, Võ Phiến suốt đời làm công chức; trong khi đó, ở miền Bắc, trong cùng thời kỳ, tất cả đều làm cán bộ và ăn lương cán bộ. Hai là, nếu muốn dấn thân hoàn toàn vào công việc viết lách, người ta chỉ còn một cách là làm báo. Có ba cách thức làm báo: tự mình làm chủ báo; làm nhân viên toà soạn hay biên tập viên thường trực; và làm cộng tác viên hưởng tiền nhuận bút theo từng bài được in. Lâu nay nói đến quan hệ giữa việc viết văn và làm báo, chủ yếu người ta chỉ đề cập đến hai cách thức đầu.</p>



<p>Ở hai cách thức ấy, tỉ lệ nhà văn Việt Nam làm báo khá đông. Theo Võ Phiến, trong tổng số 33 nhà văn viết tiểu thuyết, phóng sự và bút ký quen thuộc ở miền Nam trong giai đoạn từ 1954 đến 1975, có đến 19 người, tức chiếm 58% là chủ báo hoặc cộng tác thường xuyên với các toà báo. So với thế giới chắc chắn tỉ lệ này thuộc loại rất cao. Theo thống kê của R.D. Altick, tại Anh, trong giai đoạn từ 1800 đến 1835, trong số 282 nhà văn tương đối có tiếng, chỉ có 17 người là nhà báo chuyên nghiệp; trong giai đoạn từ 1900 đến 1935, trong số 363 nhà văn, chỉ có 37 người là nhà báo chuyên nghiệp.</p>



<p>Nếu chúng ta nhìn từ cách thức làm báo thứ ba nêu trên, tức dùng các tờ báo như một phương tiện công bố tác phẩm đồng thời tăng thêm nguồn thu nhập từ số tiền nhuận bút do các toà báo trả thì có thể nói gần như toàn bộ các cây bút viết văn làm thơ chuyên nghiệp và bán chuyên nghiệp của Việt Nam đều làm báo.</p>



<p>(Nguyễn Hưng Quốc &#8211; Văn học, một nền văn học nghiệp dư)</p>



<p><strong>Thơ lơ mơ lỗ mỗ</strong></p>



<p>Sáng đèo cơm đi ăn phở</p>



<p>Trưa hăm hở rước phở đi ăn cơm</p>



<p>Chiều cơm về nhà cơm, phở về nhà phở</p>



<p>Tối nằm với cơm, nghe thơm mùi phở</p>



<p><strong>Chữ nghĩa biên khảo: Trà hay chè</strong></p>



<p>Với tự điển thì <em>trà</em> là búp trà đã sao, đã chế biến để pha nước uống (pha trà tầu).&nbsp;</p>



<p><em>Chè</em> là lá, búp bỏ vào nồi, đun sôi lên làm nước uống (chè tươi).</p>



<p>Theo Võ Phiến dân dã ở thôn quê miền Trung, người ta gọi nó là Chè, mà không gọi là Trà. Uống Trà Tàu là cái thú của hạng giàu sang; người bình dân thì uống Chè Huế.</p>



<p>Trà Tàu, pha theo lối Tàu. Chè Huế nấu lối Huế. Lối Huế không giống lối nấu chè tươi hay chè khô ngoài Bắc. Từ Huế, lần vào các tỉnh nam Trung phần, lối nấu chắc chắn cũng có thay đổi ít nhiều ở Nam Ngãi, Bình Phú&#8230;</p>



<p>(Võ Phiến – Hạt bọt trà)</p>



<p><strong>Giai thoại làng văn</strong></p>



<p>Vi Huyền Đắc, nhà viết kịch nổi tiếng, khi còn sống ở Sài Gòn đã kể rằng:<em>“Đi hát với Nguyễn Tuân tốn kém lắm! Ngoài tiền chi cho chầu hát còn phải đền cho chủ nhà những ly chén do Nguyễn Tuân trong cơn say đã làm vỡ”.</em></p>



<p>Do có tiếng đàn, tiếng phách, tiếng ca, chén rượu như vậy mà Nguyễn Tuân đã viết ra được quyển&nbsp;<em>Chùa đàn</em>&nbsp;năm 1945.</p>



<p>(Nguyễn Quang Tuấn &#8211; Nguyễn Tuân với thú hát Ả đào)</p>



<p><strong>Tương tư</strong></p>



<p>Nói đến tương tư, <em>Kinh thi</em> có câu:</p>



<p>Nhất nhật bất kiến như tam thu hề</p>



<p>(<em>Một ngày không gặp như xa cách ba thu</em>)</p>



<p>Nguyễn Bính nước ta cũng có bài <em>Tương tư</em> với hai câu đầu:</p>



<p>Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông</p>



<p>Một người chín nhớ mười mong một người</p>



<p>(Xuân Đẩu – Vài nét chấm phá trong thơ)</p>



<p><strong>Tứ thời bát tiết</strong></p>



<p>Cuối năm, cụ Nguyễn Khuyến được anh hàng thịt hàng xóm góa vợ mang sang biếu bát tiết canh và đôi bồ dục để xin câu đối Tết.</p>



<p>Tứ thời bát<em>tiết canh</em><em> </em>chung thủy</p>



<p>Ngạn liễu gò<em>bồ dục</em><em> </em>điểm trang</p>



<p>Cụ phóng bút hai câu tả cảnh xuân với liễu bên gò cỏ bồ. Cụ ghép chữ thứ 4 và 5 ở câu trên và dưới ra <em>“tiết canh”</em> và “<em>bồ dục</em>” để đối với anh hàng thịt.</p>



<p><em>Tứ thời bát tiết</em><em> </em>canh chung thủy</p>



<p>Ngạn liễu gò bồ dục điểm trang</p>



<p>Tứ thời: năm theo âm lịch có bốn mùa. Mỗi mùa ba tháng. Năm chia làm 24 tiết. Môt tháng có hai tiết (đầu tháng và giữa tháng).</p>



<p>Bát tiết: tám tiết trong một năm: xuân phân, thu phân, hạ chí, đông chí và lập xuân, lập hạ, lập thu lập đông.</p>



<p>Đêm chia ra năm canh: Canh một vào khoảng từ 7 giờ tối cho đến 9 giờ. Canh hai từ 9 giờ cho đến 11 giờ. Canh ba (giờ Tý canh ba) bắt đầu từ 11 giờ đến 1 giờ sáng.v..v..</p>



<p>Ngày chia làm sáu khắc, bắt đầu từ 5 giờ sáng đến 7 giờ tối.</p>



<p><strong>Khó khăn với tiếng Việt</strong></p>



<p>Cuồng sĩ Bùi Giáng tự “Bùi bàng giúi”, hay “Búi báng giùi”, hoặc “Vân mồng”, hay “Đười ươi thi sĩ” đã nhập đồng <em>nhắc chữ</em> với <em>đọc chữ</em> qua bài “<em>Lá hoa cồn”</em> như thế này đây :</p>



<p>“…<em>Sử lịch</em> sai trang</p>



<p>Chạy quàng</p>



<p>Là <em>lịch sử</em>…”</p>



<p><strong>Dâm thư</strong></p>



<p>Từ bài thơ <em>Điệp tử thư trung</em>, trong <em>Thanh Hiên thi tập</em> của Nguyễn Du, một nhà văn hóa cổ đại cho rằng “dâm thư” là sách quý chứ không theo nghĩa dung tục là sách dâm tình thời nay.</p>



<p>Vân song tằng kỷ nhiễm thư hương<br>Tạ khước phong lưu vị thị cuồng<br>Bạc mệnh hữu duyên lưu giản tịch<br>Tàn hồn vô lệ khốc văn chương<br>Đố ngư dị tỉnh phồn hoa mộng<br>Huỳnh hoả nan khôi cẩm tú trường<br>Văn đạo dã ưng cam nhất tử<br><em>Dâm thư</em> do thắng vị hoa mang<br></p>



<p><strong>Bướm chết trong sách</strong><strong><br></strong>Quách Tấn dịch 1967</p>



<p>Song vân từng thấm vị thư hương<br>Bỏ thú phong lưu há phải cuồng<br>Mệnh bạc còn duyên vương sử sách<br>Hồn tàn không lệ khóc văn chương<br>Khó mong lửa đóm thiêu lòng gấm<br>Dễ khiến thân sâu tỉnh mộng vàng<br>Đạo lý sớm nghe chiều chết thỏa<br>Hoa sao bằng chữ dám cưu mang<br><br>(Chép lại từ <em>Tố Như thi trích dịch</em> từ thư tịch của nhà văn Quách Tấn An Tiêm xuất bản, tại Paris 1995)</p>



<p><strong>Truyện chớp &#8211; </strong><strong>Chiến tranh</strong></p>



<p>Khi bị bại trận, hắn kê khẩu súng sát vào màng tang.</p>



<p>Và bóp cò.</p>



<p>Gần ba mươi năm sau, hắn vẫn chưa nghe tiếng súng nổ.</p>



<p><strong>Ngộ&nbsp; Không</strong></p>



<p>(Sưu Tập)</p>



<div style="height:500px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>©T.Vấn 2024</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 266)</title>
		<link>https://t-van.net/ngo-khong-chu-nghia-lang-van-ky-266/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 20 Jul 2024 06:41:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Chữ Nghĩa Làng Văn]]></category>
		<category><![CDATA[chữ nghĩa làng văn]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không;cnlv]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=73075</guid>

					<description><![CDATA[Tết và tiết Chữ “Tết” đồng âm với chữ “Tiết” trong 24 “tiết khí” của lịch nông nghiệp. Tết Việt Nam lại hầu như trùng với ngày đầu tiên của Tiết lập xuân, là ngày khởi đầu cho việc trồng trọt, gọi là ngày Nguyên Đán. Cho nên người Việt chúng ta bắt đầu nhầm [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/07/cnlv-hinh.jpg?strip=all&fit=300%2C205&w=2560"><img fetchpriority="high" decoding="async" width="300" height="205" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/07/cnlv-hinh.jpg?strip=all&fit=300%2C205" alt="" class="wp-image-32105" style="width:414px;height:auto"/></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><strong>Tết và tiết</strong></p>



<p>Chữ “Tết” đồng âm với chữ “Tiết” trong 24 “tiết khí” của lịch nông nghiệp. Tết Việt Nam lại hầu như trùng với ngày đầu tiên của <em>Tiết lập xuân</em>, là ngày khởi đầu cho việc trồng trọt, gọi là ngày Nguyên Đán. Cho nên người Việt chúng ta bắt đầu nhầm lẫn, sau đó là thành thói quen và cuối cùng đã biến Tết, một ngày lễ hội mừng năm mới theo Lịch nông nghiệp thành Tết Nguyên Đán.<br><br>Một số người cho rằng từ nguyên của <em>Tết</em> là xuất xứ từ <em>tiết</em><em> </em>Nguyên Đán bên Tàu. Sự nhầm lẫn này đã tạo ra suy nghĩ Tết cổ truyền Việt Nam có xuất xứ từ Tàu. Và cho rằng chúng ta lệ thuộc vào văn hóa Tàu. Tết cổ truyền Việt Nam là lễ hội có trước ngày lễ “Tân niên”, lễ mừng ngày Nguyên Đán của người Tàu rất lâu. Và nếu như hai ngày lễ này có giống nhau về truyền thống, thì chính người Tàu bắt chước người Việt mới có lễ hội này chứ không thể nói rằng Tết cổ truyền Việt Nam xuất xứ từ Tàu được.</p>



<p>Hãy xem Khổng Tử viết trong sách Kinh Lễ như sau:</p>



<p>”Ta không biết Tết là gì, nghe đâu đó là tên của một ngày lễ hội lớn của bọn nguời Man, họ nhảy múa, uống ruợu và ăn chơi vào những ngày đó, họ gọi tên cho ngày đó là “Tế sạ”.</p>



<p>Sách Giao Chỉ Chí cũng có đoạn viết “Người Giao Quận thường tập trung lại nhảy múa hát ca, ăn uống trong nhiều ngày để vui mừng một mùa cấy trồng mới, gọi ngày đó là Nèn- Thêts. Chỉ có bọn man di mới có ngày hội đó, bên ta không có như thế..”</p>



<p><br>***<br>Trong khi lễ “Tân Niên” của người Tàu thì sao?</p>



<p>Theo lịch sử Trung Hoa, nguồn gốc Xuân tiết, Tân niên hoặc Nông lịch tân niên có từ đời Tam đại, nhà Hạ chọn ngày đầu tháng giêng. Nhà Thương lấy ngày đầu tháng chạp, làm tháng đầu năm. Nhà Chu chọn tháng mười một.</p>



<p>Như vậy là ngày Tân Niên của Tàu có sau ngày Tết cổ truyền Việt rất xa. Thế thì tại sao lại nói ngày Tết cổ truyền Việt Nam là có từ tết Tàu được.</p>



<p><br>Nếu tra theo từ “nguyên” của chữ Tết, vốn chẳng liên quan gì đến chữ “tiết” trong tiết Nguyên Đán của lịch Tàu cả. Vì bởi Nguyên Đán vốn không phải là tiết trong 24 bốn tiết khí của thời tiết. Nguyên Đán chỉ là buổi sáng đầu tiên trong ngày khởi đầu của tiết lập xuân thôi. Nguyên: nguyên vẹn, khởi đầu, Đán: buổi sáng, vốn không phải là tiết khí, vả lại ngày Nguyên Đán là ngày đầu của Tiết Lập Xuân, không nhất thiết trùng với ngày đầu tiên của tháng đầu tiên trong năm được.</p>



<p>Vì vậy Tết không thể là “Tiết” Nguyên Đán và càng không phải là “Tết” Nguyên Đán được.</p>



<p><strong>Những tác giả tiên phong của thơ mới</strong></p>



<p>Khi nói đến phong trào thơ mới, thường văn học sử hay nhắc đến bài <em>Tình già</em> của Phan Khôi xuất hiện trên tờ Phụ Nữ Tân Văn số 122 ra ngày 10 tháng 3 năm 1932. Sẽ là thiếu sót nếu không kể thêm các tác giả khác như Nguyễn Thị Manh Manh (*) với bài <em>Hai cô thiếu nữ</em> năm 1933 và Hồ Văn Hảo với bài <em>Con nhà thất nghiệp</em> cũng năm 1933.</p>



<p>Manh Manh tên thật là Nguyễn Thị Kiêm, người Gò Công sinh năm 1914, ngoài làm thơ còn là một nữ diễn giả thời kỳ đó. Bài <em>Hai cô thiếu nữ</em> nói về hai cô gái, một ở quê, một ở tỉnh thành. Họ cùng gặp một bà lão nghèo khổ đang tự nuôi thân và đứa cháu mồ côi. Cô ở quê cho bà lão giỏ cá, cô tỉnh thành cho bó hoa.</p>



<p>Cô ở đồng tay đưa giỏ cá</p>



<p>Bà ơi, cá tui bán được giá cao</p>



<p>….</p>



<p>Hai cô thiếu nữ đi khỏi đồng</p>



<p>Cô áo hồng mang nặng cái giỏ bông</p>



<p>Hồ Văn Hải xuất hiện trên Phụ Nữ Tân Văn ở Sài Gòn và nổi danh với bài <em>Tình thầm</em> và <em>Con nhà thất nghiệp</em>:</p>



<p>Ngọn đèn leo lét</p>



<p>Xơ xác một nóc nhà tranh</p>



<p>…</p>



<p>Ngọn đèn tàn</p>



<p>Hết dầu nên lu lạt</p>



<p>(Nguyễn Thị Vinh – Cỏ bồng lìa gốc)</p>



<p><strong>Tiếng Việt trong sáng</strong></p>



<p>Trong tự điển đã có <em>“nhắc nhở”</em> rồi, sao lại còn đổi qua “<em>nhắc nhớ</em>”?. <em>“Nhắc nhở”</em> không khác “<em>nhắc nhớ</em>” bao nhiêu, dùng đã quen rồi thì đổi làm gì.</p>



<p>(Hiếu Thiện Nguyễn Chu Hậu – Tiếng Việt, tiếng nước tôi)</p>



<p><strong>Tiếng Việt dễ và…dễ thương</strong></p>



<p>Mèn quơi! Trung tui già rầu mà còn đòi biết &#8220;hôn&#8221; là chi ta <img loading="lazy" decoding="async" width="16" height="16" src=""><br>Ứa , mà &#8220;hôn&#8221; với &#8220;hun&#8221; có khác nhau không ta ?</p>



<p>Hôn nhau trên cầu gọi là cầu hôn<br>Hôn người nào đó gọi là hôn nhân<br>Hôn con vật nào đó gọi là hôn thú<br>Hôn thêm cái nữa gọi là tái hôn<br>Hôn 2 cái một lượt gọi là song hôn<br>Hôn từ giã gọi là từ hôn<br><br>(Trau giồi tiếng Việt &#8211; ĐatViet.com sưu tầm)</p>



<p><strong>Tam muội</strong></p>



<p>Ba điều tối tăm mê muội là <em>tham, sân, si.</em></p>



<p>Trong <em>Sãi vãi</em> của Nguyễn Cư Trinh có câu “Ước siêu <em>tam muội,</em> ngõ thoát cửu tuyền”.</p>



<p><strong>Chữ nghĩa tiếng Việt</strong></p>



<p>Với phát hiện của Võ Phiến, ông nêu lên sự giàu có của lớp từ vựng chỉ việc chế biến bằng lửa các món ăn mặn trong tiếng Việt: <em>nấu, nướng, chiên, kho, hầm, hâm, ninh, hấp, rán, ran, chưng, luộc,chần, trụng, lùi, trui, phi, xào, xáo, quay, um, tráng (chả), đổ (bánh bèo), rim, tiềm, đồ, xôi, thổi, đun, hun, nhúng, khử, đồ, chấy, thắng, đúc (bánh), bung, sao, hui, (thịt) hon, khìa, thưng, thuôn (thịt), om (cà), tần, ám (cá), v.v&#8230;</em></p>



<p>Sau đó, ông nhận xét: “hầu hết là tiếng thuần Việt” và bàn tiếp: “Trong các lãnh vực văn học, triết học, hành chánh, kỹ thuật nông nghiệp&#8230; ta phải mượn vô số tiếng của người, kho ngôn ngữ ta lổn nhổn đầy tiếng Hán Việt. Nhưng khi vào bếp thì ta ngẩng cao đầu, không cần học theo ai, không mượn tiếng nói của ai cả.”</p>



<p>(Nguyễn Hưng Quốc – Đi tìm Võ Phiến)</p>



<p><strong>Tao nhân mặc khách</strong></p>



<p><em>Tao nhân</em>: Khuất Nguyên người nước Sở có bài <em>Ly tao</em>. Từ đó có từ “<em>tao nhân”</em>. Rồi đến câu <em>tao nhân mặc khách </em>với<em> “mặc” </em>&nbsp;là mực.</p>



<p><em>Tao nhân mặc khách</em> chỉ người <em>tao nhã</em>, người <em>văn chương</em>.</p>



<p>(Đào Duy Anh – Hán Việt từ điển)</p>



<p><strong>Văn học miền Nam</strong></p>



<p>Bình Nguyên Lộc có một lập trường văn học riêng, không theo Bắc, hoàn toàn theo Bắc như Ðông Hồ, cũng không giữ nguyên đặc chất Nam kỳ như Hồ Biểu Chánh, Vương Hồng Sển. Trong truyện ngắn chất Nam thường nổi bật, trong truyện dài ông ngả theo lối Bắc. Ðó là một thái độ lựa chọn: Bình Nguyên Lộc chọn thái độ trung dung trong tinh thần giao hoà Nam Bắc, kết hợp lịch sử di dân với ngôn ngữ con người.<br><br>Ngay từ đầu thế kỷ XX, Hồ Biểu Chánh đã dùng tiếng Nam như một chính ngữ; như thể Hồ Biểu Chánh muốn chống lại thành kiến của số đông người Bắc, tự cho tiếng Bắc là &#8220;chính&#8221;, là &#8220;chuẩn&#8221;, tiếng Nam là &#8220;phụ&#8221;, là tiếng &#8220;địa phương&#8221;, &#8220;quê mùa&#8221;, &#8220;hủ lậu&#8221;. Thành kiến này, gần đây, vì lý do chính trị, có vẻ được củng cố mạnh mẽ hơn, cho nên 30 năm sau ngày thống nhất đất nước, vẫn có người không bằng lòng khi thấy một số bảng hiệu ở ngoài Bắc đã bắt đầu dùng tiếng Nam. Ðối với môt số thành phần bảo thủ ở Bắc, tiếng Nam, vẫn tiếp tục là thứ tiếng ngoại vi &#8220;không chấp nhận&#8221; được. Dùng tiếng Nam làm chính ngữ, Hồ Biểu Chánh chỉ làm một việc tự nhiên.</p>



<p>Ðông Hồ Lâm Tấn Phác đi ngược lại phong cách Hồ Biểu Chánh. Tâm hồn Ðông Hồ và ngôn ngữ Ðông Hồ dường như đã bị &#8220;Bắc hoá&#8221; hoàn toàn. Dưới con mắt những người như Vương Hồng Sển, Ðông Hồ có thể bị &#8220;khai trừ&#8221; khỏi &#8220;thổ ngơi&#8221; miền Nam. Văn phong Ðông Hồ không thoát khỏi không khí Tương Phố, Á Nam Trần Tuấn Khải.<br><br>Cái &#8220;gốc Bắc&#8221;, &#8220;tổ tiên&#8221; nguồn cội ngoài Bắc, được Bình Nguyên Lộc trân trọng tìm kiếm, không riêng gì khía cạnh lịch sử Nam tiến, mà còn cả về nguồn cội ngôn ngữ. Ngoài sách biên khảo, trong tiểu thuyết, khi dùng một chữ có tính chất đặc biệt địa phương miền Nam, ông thường tìm cách giải thích ngay bên cạnh, chữ này ngoài Bắc dùng chữ gì. Ðôi khi còn phê bình luôn là chữ Nam hay chữ Bắc hay hơn, có lý hơn, hoặc nói rõ xuất xứ tại sao lại có sự khác biệt như vậy. Tất cả những lý giải, nhiều khi trở thành nhược điểm làm nặng sáng tác, nhưng chúng thoát thai từ lối kể chuyện đường dài, trong truyền thống &#8220;kể&#8221;, &#8220;nói&#8221; của văn chương miền Nam.<br><br>Trong hoàn cảnh thiếu tư liệu để có một cái nhìn về tiểu thuyết của Bình Nguyên Lộc, qua một vài tác phẩm đã đọc, chúng tôi tin rằng: Ông tiếp nối truyền thống tiểu thuyết Tự Lực Văn Ðoàn. Ông chưa mở ra được một hướng đi mới cho tiểu thuyết như ông đã làm cho truyện ngắn: ảnh hưởng Khái Hưng, Nhất Linh.</p>



<p>(Thụy Khuê – Bình Nguyên Lộc: Đất nước và con người)</p>



<p><strong>Giá sách cũ</strong></p>



<p>Một biến chuyển rất quan trọng cho chữ quốc ngữ là việc triều đình Huế là bài bỏ các kỳ thi Hán học. Kỳ thi Hương cuối cùng ở Bắc kỳ là năm Ấy Mão 1915.</p>



<p>Ở Huế là năm Mậu Ngọ 1918. Trong kỳ thi Mậu Ngọ này, ngoài những bài thi bằng chữ quốc ngữ như luận, toán, sử địa còn có Pháp văn nữa trong phần khảo hạch.</p>



<p>Năm Kỷ Mùi 1919 khoa thi Hội cuối cùng ở Huế và trên toàn quốc.</p>



<p>(Tạ Quang Khôi – Sơ lược nền văn học Việt Nam thế kỷ 20)</p>



<p><strong>Tiếng Việt vừa dễ vừa không dễ</strong></p>



<p>Hỏi: Mình thấy câu tục ngữ <em>“bút sa gà chết”</em> rất hay. Ý nó muốn nói đến việc phải suy nghĩ kỹ trước khi đưa ra một quyết định nào đó. Nhưng tại sao lại là gà &#8220;chết&#8221;? Bạn nào biết giải nghe coi.Đáp : Có nhiều câu &#8220;tục&#8221; ngữ, tui nghĩ nó chẳng xuất xứ từ sách vở hay điển cố nào, mà tùy hứng từ bàn nhậu của mấy ông nhà báo năm nảo năm nao, nếu truy ra thì có trời mới biết được như câu tương tự <em>“Sai một con toán, bán một con trâu”.</em>&nbsp; Trong câu “Bút sa gà chết này” này sở dĩ con gà phải chịu chết, chắc chẳng qua là nó xấu số, tên của nó cùng một vần với…chữ <em>sa</em>.</p>



<p>Thí dụ như bây giờ tui nói : Có tài mà cậy chi tài, chữ tài liền với chữ đai (die) một vần. Biết đâu vài mươi năm nữa, có khối người sẽ thắc mắc &#8220;thành ngữ&#8221; trên ở đâu mà ra…như bạn dzậy!?</p>



<p>(Trau giồi tiếng Việt &#8211; ĐatViet.com)</p>



<p><strong>Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ</strong></p>



<p><strong>Đàu gối cao</strong></p>



<p>Em nằm coi bộ phim Tầu</p>



<p>Đĩa cơm nằm kế bên đầu gối cao</p>



<p>Ăn xong hút thuốc phì phào</p>



<p>Trên chăn dưới gối chỗ nào cũng hôi</p>



<p>Sớm mai em bỏ về rồi</p>



<p>Anh châm điếu thuốc anh mồi bài thơ</p>



<p><em>(Nguyên Sa)</em></p>



<p><strong>Tiếng Việt cổ</strong></p>



<p>Thời Lê Trịnh người Tầu tràn qua nước ta cả 50000 người, hoạt động của họ ảnh hưởng tới mọi ngành kể cả ngôn ngữ.</p>



<p>Bản dịch của Langlet cho biết họ chi phối ngôn ngữ của ta với những từ mới của họ như: “…<em>hoa, quả, thuyền, thìa</em>&nbsp; đi vào Việt ngữ là vậy…”</p>



<p>(Hiếu Thiện Nguyễn Chu Hậu – Tiếng Việt, tiếng nước tôi)</p>



<p><strong>Truyện chớp: Chuyện tối qua</strong></p>



<p>Em đến bên anh nhẹ nhàng trong một buổi tối êm dịu như đêm qua, và những gì xảy ra trên giường của anh còn đọng lại trong anh những cảm giác khó tả. Em chợt đến từ một nơi hư vô nào đó, không hề báo trước. Em nằm trên người anh, em làm tan biến cảm giác băng giá trong anh. Em cắn anh, không hề tội lỗi, em làm cho anh phát điên. Cuối cùng anh chìm vào trong giấc ngủ.<br><br>Sáng nay, khi anh tỉnh dậy thì em đã đi rồi. Anh tìm em nhưng không thấy dấu vết chỉ có những bức tường chứng kiến chuyện đôi ta đêm hôm qua. Cơ thể anh vẫn còn in dấu vết của em. Đêm nay, anh sẽ thức chờ em. Ngay khi em đến anh sẽ vồ lấy em, anh sẽ không để em ra. Anh sẽ giữ chặt em trong lòng bàn tay anh để em mãi mãi không biến mất. Anh sẽ giết chết em:</p>



<p>Những con muỗi đáng ghét nhất trần đời.<br><em>(Phụ chú: Truyện trích từ nhật ký của một sinh viên trọ học thường xuyên bị…muỗi cắn).</em></p>



<p><strong>Ngộ&nbsp; Không</strong></p>



<p>(Sưu Tập)</p>



<div style="height:500px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>©T.Vấn 2024</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 264)</title>
		<link>https://t-van.net/ngo-khong-chu-nghia-lang-van-ky-264/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 11 Jul 2024 08:38:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Chữ Nghĩa Làng Văn]]></category>
		<category><![CDATA[chữ nghĩa làng văn]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không;cnlv]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=72787</guid>

					<description><![CDATA[Chữ nghĩa làng văn II Năm tôi (Nguyễn Dữ) học lớp nhất trường tiểu học Thạnh Mỹ Tây (Thị Nghè, 1954) gặp mấy chuyện nửa cười nửa mếu. Và xin bắt đầu lại câu chuyện, mỗi tuần phải viết một bài chánh tả. Viết xong, cả lớp đổi tập cho nhau. Cô giáo đọc lại, [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/07/cnlv-hinh.jpg?strip=all&fit=300%2C205&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="300" height="205" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/07/cnlv-hinh.jpg?strip=all&fit=300%2C205" alt="" class="wp-image-32105" style="width:426px;height:auto"/></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><strong>Chữ nghĩa làng văn II</strong></p>



<p>Năm tôi (Nguyễn Dữ) học lớp nhất trường tiểu học Thạnh Mỹ Tây (Thị Nghè, 1954) gặp mấy chuyện nửa cười nửa mếu. Và xin bắt đầu lại câu chuyện, mỗi tuần phải viết một bài chánh tả. Viết xong, cả lớp đổi tập cho nhau. Cô giáo đọc lại, giảng nghĩa, chỉ cách viết các chữ khó. Cả lớp dò theo, sửa lỗi cho nhau. Bạn bè đứa nào cũng khoái bắt lỗi thằng ngồi bên cạnh. Đứa nào cũng chăm chú sửa cho bạn, không bỏ sót một cái dấu phết. Sửa bài như vậy vừa nhanh, vừa kĩ, lại vừa đỡ mệt cho cô.</p>



<p>Có lần tôi bị một lỗi vì một cái lá, mà đây chỉ là cái lá chuối &#8220;nỏn &#8220;.</p>



<p>Cô giáo nhấn mạnh chữ &#8221; nỏn &#8221; dấu hỏi. Tôi giơ tay xin nói. Cô hất hàm cho phép. &#8221; Thưa cô, nõn dấu ngã chớ không phải dấu hỏi &#8220;. Cô giáo lắc đầu : &#8221; Dấu hỏi chớ không phải&#8230; dấu ngả &#8220;. &#8221; Dạ, nõn dấu ngã &#8220;. &#8221; Cãi bậy &#8220;. Cô đập thước kẻ xuống bàn : &#8221; Lên đây coi &#8221; Tôi bất đắc dĩ phải lên chỗ cô đứng. Cô cầm thước chỉ vào trang sách &#8221; Sách viết dấu hỏi nè, thấy chưa ? &#8220;. Tôi bắt đầu run. &#8221; Dạ thấy &#8220;. Trong bụng muốn nói thêm &#8221; Thấy cả mẹ em rồi, cô ơi &#8220;. <em>Nói có sách, mách có chứng</em> đàng hoàng, đâu phải chuyện giỡn. Cãi nữa thì ăn đòn. Em chịu thua cô.</p>



<p>Mấy năm sau mới được học câu <em>Tận tín thư bất như vô thư</em>. Thấm thía nhưng hơi muộn.</p>



<p>Chỉ tiếc cho cái lá chuối &#8221; nỏn &#8220;, già héo mất rồi.</p>



<p>(Nguyễn Dư – Chimviet.free.fr)</p>



<p><strong>Khi các cụ ta xưa&#8230; xổ nho</strong></p>



<p><em>Chém cha cái nước sông Bờ</em></p>



<p><em>Nghĩ rằng báng nước, ai ngờ báng con</em></p>



<p>(Ca dao)</p>



<p><strong>Tía</strong></p>



<p>Trong ngôn ngữ Trung-hoa, có tiếng&nbsp;<em>Tía</em>&nbsp;của Quan thoại, mà&nbsp;<em>Tía</em>&nbsp;là&nbsp;<em>Đệ</em>&nbsp;tức em trai. Thổ ngữ Triều châu có tiếng&nbsp;<em>Tía</em>&nbsp;tức dại danh từ&nbsp;<em>Pá</em>&nbsp;đó, nhưng danh từ&nbsp;<em>cha</em>&nbsp;của ta là danh từ chớ không phải đại danh từ, vả lại&nbsp;<em>Tía</em>&nbsp;cũng khó lòng biến thành&nbsp;<em>Cha</em>, và người Triều-châu chỉ leo heo có mấy huyện ở bên Tàu thì nếu phải vay mượn, ta không vay mượn của đám thiểu số ấy đâu. Năm 1658, có nhóm lưu vong nhà Minh sang Nam-kỳ, gồm rất đông Triều-châu, nên người miền Nam quả có mượn đại danh từ&nbsp;<em>Tía</em>&nbsp;của Triều-châu thật đó, khi con xưng hô với cha, nhưng toàn quốc thì không hề có vay mượn ngôn ngữ của nhóm ấy.</p>



<p><em>Pà, Pá, Ba, Bố, Tía</em>&nbsp;gì cũng để dùng xưng hô, thí dụ:&nbsp;<em>&#8220;Ba ơi, cho con đi chơi&#8221;</em>&nbsp;hoặc:&nbsp;<em>&#8220;Tía ơi, con đói bụng&#8221;</em>&nbsp;chớ không ai lại nói:&nbsp;<em>&#8220;Gia đình gồm ông, bà, ba, mẹ, và các con.&#8221;</em></p>



<p>Đại danh từ Bố đã hơi được biến thành danh từ thật đó, người ta nói:&nbsp;<em>&#8220;Bố anh Nam rất già.&#8221;</em>Nhưng chưa biến hẳn, chẳng hạn không thể nói:&nbsp;<em>&#8220;Chém bố cái kiếp ba đào&#8221;</em>&nbsp;hay có thể nói, nhưng chỉ nói đùa, hoặc nói một cách thân mật mà thôi.</p>



<p>(Bình Nguyên Lộc &#8211; Dân Lạc Việt qua ngôn ngữ Việt Nam)</p>



<p><strong>Bàn độc</strong></p>



<p>Bàn độc: bàn thờ</p>



<p>(Tự điển tiếng Việt cổ &#8211; Nguyễn Ngọc San,&nbsp; Đinh Văn Thiện)</p>



<p><strong>Địa danh miền Trung trong văn học sử</strong></p>



<p><strong>Xứ Bình Định</strong></p>



<p>Đời nhà Tần, đời nhà Hán là huyện Tượng Lâm thuộc quận Nhật Nam. Năm 803, nhà Đường bỏ đất này.</p>



<p>Bình Định xưa là đất thuộc Việt Thường, sau đó người Chàm đã tới chiếm lĩnh vùng đất này và được đổi là Đồ Bàn.</p>



<p>Đời nhà Lê, năm 1602, chúa Nguyễn Hoàng cho đổi phủ Hoài Nhơn thành phủ <em>Quy Nhơn</em> thuộc dinh <em>Quảng Nam</em>.</p>



<p>Từ 1773 đến 1797, nhà Tây Sơn chiếm cứ đất này, sau khi lấy lại đất này <a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Gia_Long">Ng</a>u<a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Gia_Long">yễn Ánh</a> đổi tên đất này là dinh Bình Định.</p>



<p>Năm 1814, vua Gia Long cho xây dựng lại thành Bình Định mới, ngày nay ở thị trấn Bình Định, nằm về phía đông nam và cách thành cũ khoảng 5 km ở phía gần sông Côn.</p>



<p>(…)</p>



<p>Bản đồ tỉnh Bình Định của nhà Nguyễn Việt Nam in trong Đại Nam nhất thống chí.</p>



<p>Năm 1888 đặt Kon Tum thuộc về Bình Định.</p>



<p>Năm 1905, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập Pleikou Derr (Pleiku) thuộc tỉnh Bình Định.</p>



<p><strong>Giai thoại</strong></p>



<p>Giai thoại là những chuyện đẹp.</p>



<p>Giai là đẹp, như trong hai chữ giai nhân, giai phẩm.</p>



<p>(Giai thoại và sự thật&nbsp;– Viên Linh)</p>



<p><strong>Tiếng Huế, tiếng Chàm II&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</strong></p>



<p>Tác giả xin ghi lại liên hệ tiếng Huế &#8211; tiếng Chàm. Nhớ chi ghi nấy, từ những ngày xa xưa hồi giỏ (nhỏ) còn ở Huế. Thời đó bà con mình có khi giận Huế tại răng mà ác tăng ác tơ, ác nhân ác nghiệt như ri! Buồn sự đời nhiều nỗi đa đoan, buồn Huế rồi băng hăng bó hó, gọi Huế là nơi ô châu ác địa! <br>Những câu ca dao tục ngữ văng vẳng bên tai, nhiều câu vọng lại tiếng Huế, tiếng Chàm, một thời Ô Châu linh địa ôn mệ mình để lại ngoài nớ:<br>Chim xa rừng thương cây nhớ <em>cội</em><br>Người xa người tội lắm người ơi!<br><em>Cội</em> gốc tiếng Chàm là cái chắc! Mình đọc cội, đồng bào gốc Chăm nói “a-kôi” có nghĩa là nguồn cội, gốc rễ.</p>



<p>Hỏi anh có chổ <em>mô</em> chưa<br>Hay còn như ngọn đèn&#8230; treo trước gió, đu đưa rứa hoài.<br>Chổ <em>mô </em>chưa! Vẫn còn đây, vẫn chưa chộ thấy chổ mô ngó được! Chộ với chổ, đi mô rứa, không răng mô! Người Lào, người Thái nói “mô tê” như đồng bào gốc Chăm như bà con mình từ miệt ngoài vô miệt trong, xứ Thuận-xứ Quảng.</p>



<p>Tay <em>bưng</em> rổ khế qua cầu<br>Hỏi thăm <em>o</em> nớ bán trầu chợ mô.<br><em>Bưng</em> (Chàm: bưng) như bưng cơm, bưng nước, tay bưng miệng cười. Mang rổ, bưng rổ có rất nhiều đồng nghĩa, kể cho hết sợ e o bán trầu chờ lâu o buồn, o về mét mạ, mạ la (Chàm: mla-h) chết!<br><br><em>O</em> (Chàm: o) trong câu ca dao chỉ chung phái yếu còn cắp sách đi học cho đến khi có gia thất hay không, vẫn còn o! O, động từ, nghĩa khác là o mèo là tìm cách quen biết, tán tỉnh bạn gái&#8230;</p>



<p>(Nguyên Hương &#8211; Bên lề 700 năm Thuận Hóa &#8211; Phú Xuân &#8211; Huế)</p>



<p><strong>Chữ nghĩa với cây…(I)</strong></p>



<p>Hỏi : Cây được mọi người dùng sau khi ăn…là cây gì?</p>



<p><strong>Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ</strong></p>



<p>Hôm qua ngại ngùng đến thăm em</p>



<p>Thấy em đang đái chạy ra xem</p>



<p>Em tôi mắc cở buông quần xuống</p>



<p>Làm cho anh đứng ngẩn ngơ thèm</p>



<p><em> </em><strong>Hai tiếng &#8220;Bình Định&#8221; có nghĩa gì?! </strong><br><br>Vua Lê Thánh Tôn chiếm được kinh đô Ðồ Bàn và đặt tên là phủ Hoài Nhơn, phủ lỵ đóng tại thành Ðồ Bàn cũ. Tiếp đến là chúa Nguyễn Hoàng, những người Việt Nam từ các tỉnh phía Bắc bị bắt, bị đày hay theo chân chúa Nguyễn đã lần lần vào đây lập nghiệp và biến đổi vùng đất này thành quê hương của mình. Cái tên phủ Hoài Nhơn được Nguyễn Hoàng đổi ra Qui Nhơn. </p>



<p>Sách Lê Quý dật sử chép rằng: Nguyễn Nhạc chiếm đất của chúa Nguyễn. Năm 1778 Nguyễn Nhạc cho đổi tên là thành Hoàng Đế và sau đó là kinh đô của Hoàng đế Nguyễn Nhạc.</p>



<p>Nguyễn Ánh đã chiếm được thành Qui Nhơn rồi đổi tên Qui nhơn ra Bình Định. Sự đổi tên này mang một ý nghĩa đã thắng nhà Tây Sơn và nay chúa Nguyễn đã &#8220;bình định&#8221; được.&nbsp;</p>



<p>(…)</p>



<p>Ở nam ngạn sông Côn có những núi Ông Bình, núi Ông Nhạc, v…v…Vi vậy mới có tên Nhạc, Bình. Bình là tên chữ Nguyễn Huệ (Nguyễn Quang Bình). Sông Côn thuộc địa phận Bình Khê (tức huyện Tây Sơn) tỉnh Bình Định.</p>



<p>(B.H &amp; S.T. &#8211; Địa chí Bình Định)</p>



<p><em> </em><strong>Đất lề quê thói</strong></p>



<p>Sinh đẻ</p>



<p>Đàn bà có thai phải kiêng:</p>



<p>Kiêng ăn cua để tránh sinh ngang.</p>



<p>(hoặc đi hay bò ngang như cua).</p>



<p>(Ngừời Việt đất Việt – Toan Ánh)</p>



<p><strong>Dạ quang bôi</strong></p>



<p>Câu của bài thơ Đường “Lương Chân Từ” là: <em>Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi</em>. Dịch giả ta đều dịch dạ quang bôi ra là “chén ngọc” kể cả ông Ngô Tất Tố, cũng dịch là:</p>



<p><em>Rượu bồ, chén ngọc sáng choang.</em></p>



<p>Tôi hơi ngạc nhiên, vì hồi còn là học trò trung học, tôi có học về địa chất, và không thấy ở đâu có nói đến loại ngọc nào mà dạ quang (sáng ban đêm) hết. Tôi đọc những gì mà người Tàu viết về các thứ ngọc. Nhưng chẳng thấy ngọc “sáng ban đêm” ở đâu cả.</p>



<p>Đến khi tôi học tới Kinh Thi, thì tôi thấy có thơ cổ nói về loại chén rượu chế tạo bằng sừng con tê ngưu. Sách chưa nghĩ rằng hồi cổ thời, người Tàu khoét sừng con tê ngưu để làm chén uống rượu. Sự thật là đây. Sừng con tê ngưu chứa đầy dẫy chất lân. Và chính loại chén đó mới sáng ban đêm bởi chất lân, ở trong bóng tối sáng lên trước mắt ta. Dược khoa Tàu đã giỏi từ thờì cổ, và họ đã dùng chất lân để trị vài thứ bịnh, mà một là bịnh liệt dương. Ngày nay y học thái Tây cũng thường trị bịnh liệt dương bằng chất lân. Thế nên Tàu xưa mới dùng chén bằng sừng tê ngưu, mong chất lân của sừng tê thấm vào rượu, để họ uống mỗi hôm hầu được tráng dương. Chuyện chén rượu bằng sừng tê không phải là huyền thoại đâu.</p>



<p>Nhà chơi đồ cổ Vương Hồng Sển có cho tôi xem một cái chén như thế, nhưng bằng sứ chớ không phải là bằng sừng con tê ngưu. Đây là sứ trắng tinh không có vẽ hình màu, được gọi là sứ Bạch Định, chế tạo tại tỉnh Phúc Kiến dưới trào nhà Minh, nhại giống hệt sừng của con tê ngưu. Dĩ nhiên là chén nầy đặt lên bàn không được vì sừng tê nhọn, người dùng chén phải cho chén một cái đế bằng gỗ nó mới đứng được.</p>



<p>Thế thì cái chén “sáng ban đêm” ấy không hề là “chén ngọc” bao giờ cả, mà là chén bằng sừng. Chữ Tàu rắc rối quá sức, họ viết một đàng mà hiểu một ngã, thì ta tự nhiên phải điên đầu về chữ nghĩa của họ, không có gì phải ngạc nhiên.</p>



<p>(Học lại chữ Tàu – Bình Nguyên Lộc)</p>



<p><strong>Bao nả</strong></p>



<p>Bao nả: nhiều</p>



<p>(làm cho lắm được bao nả?)</p>



<p>(Tự điển tiếng Việt cổ &#8211; Nguyễn Ngọc San,&nbsp; Đinh Văn Thiện)</p>



<p><em> </em><strong>Viết và nói tiếng Việt</strong></p>



<p>Giáo sư Cao Xuân Hạo là nhà ngữ học ở Hà Nội đã viết nhiều bài về tình trạng “viết và nói tiếng Việt”. Tiếng Việt và tiếng &#8220;Hán-Việt&#8221; bị sử dụng sai nghĩa, sai ngữ pháp như: <em>Răn đe hay ngăn đe?</em></p>



<p>Về điểm này, cần phải giải thích một chút về từ nguyên: cặp từ mới chỉ xuất hiện vào giữa thập kỷ 1960 khi Mỹ đẩy mạnh cuộc chiến không quân tại miền Bắc. Giới quân sự Mỹ gọi hành động này là deterrence response, tức là đánh phủ đầu để cảnh cáo.</p>



<p>Cánh biên dịch chúng tôi bàn với nhau, tham khảo cả ý kiến của Giáo sư Ðặng Chấn Liêu, một chuyên gia hàng đầu về tiếng Anh, và cuối cùng thống nhất dịch là phản ứng <em>ngăn đe</em> (hàm ý vừa ngăn chặn vừa đe dọa).</p>



<p>Vậy là từ <em>ngăn đe</em> có trước, rồi sau đó người ta đọc chệch thành <em>răn đe</em> và viết rập theo như thế luôn. Ðời sống ngôn ngữ có những phát triển thật bất ngờ: Về sau, bất cứ khi nào tôi viết ngăn đe, người ta đều sửa thành “răn đe”! Tôi tò mò giở <em>Ðại từ điển tiếng Việt</em> của Bộ Giáo dục và Ðào tạo và Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hoá Việt Nam ra tra:</p>



<p>Hỡi ôi, trong đó chỉ có từ mục <em>răn đe</em> mà không có <em>ngăn đe</em>!</p>



<p><strong>Help..!</strong></p>



<p>Một cô bé bị một con chó dữ đuổi theo nên vừa chạy vừa kêu to: &#8220;Help&#8230;help&#8230;help&#8230;&#8221;<br>Một ông lão ngồi trong nhà nhìn ra, rồi gật gù nói với bà lão ngồi kế bên: &#8220;bà coi con nhỏ điên kia kìa&#8230;&#8230;. chó rượt mà cứ kêu là heo, heo, heo&#8230;?!?&#8221;</p>



<p><strong>Tháp Chàm Bình Định</strong></p>



<p>Cách đây hơn 1700 năm, vương quốc Champa được thành lập vào cuối thế kỷ thứ 2 CN nằm giữa các nước Ấn Độ, Java, Khmer và VN. Người Chàm qua lịch sử là những thương nhân, thủy thủ và chiến binh, và <strong>nghệ thuật và kiến trúc cổ Champa.</strong></p>



<p>Người Chàm đã hấp thụ ảnh hưởng nghệ thuật từ Ấn Độ, Java, Khmer qua nghệ thuật Hindu (Ấn giáo) cổ. Về nền kiến trúc tôn giáo Hindu của Champa, nơi không có truyền thống xử dụng vật liệu đá. Công nghệ xây dựng Champa nổi bật với việc xử dụng gạch, trong khi Khmer và Java thì nghiên hẳn về xử dụng đá qua các ngôi đền Angkor Wat (ở Cambodia), hoặc Prambanam (ở Indonesia). Một ngôi đền đá đòi hỏi nguồn nhân lực để đục cắt và vận chuyển. Trong khi, một ngôi đền gạch với một số lượng nhân công khiêm tốn hơn, được tận dụng trong một thời hạn nhất thiết, có khả năng kiến tạo những ngôi đền có kích cỡ bề thế như nhóm tháp Dương Long (ở Bình Định), là một trong những ngôi đền Hindu bằng gạch cao nhất ở Đông Nam Á (42 mét).</p>



<p>Bình đồ trong kiến trúc Chàm thường bao gồm đơn thuần một hình vuông giản dị, trong khi những cấu trúc đá của Khmer và Java thường phức tạp hơn rất nhiều. Không gian kiến trúc Chàm, dựa trên nhiều khối vuông riêng rẽ, kết hợp đơn điệu, trong khi mô hình Khmer và Java kết hợp được phức thể của những dạng thức khác nhau.</p>



<p>(Để kết những viên gạch lại với nhau, họ dùng nhựa cây gọi là&nbsp;<em>dầu rái</em>, được trồng thành rừng ở miền Trung. Ngoai di tích những lò gạch, các nhà khảo cổ tìm được nhiều lò gốm Chàm xác định niên đại từ thế kỷ 13 đến 15 CN. Chúng có vẻ đẹp đơn sắc màu xanh nhạt và màu vàng nâu. Đó là các loại gốm thô làm theo kiểu không có bàn xoay).</p>



<p><em>(Trần Kỳ Phương</em> &#8211; <em>Giải mã nghệ thuật cổ Champa)</em></p>



<p><strong>Dạy văn, mổ lợn</strong></p>



<p>Viết văn chẳng khó gì, na ná như mổ lợn, thao tác chính là lọc phần thịt, để trơ ra phần cốt &#8211; cái nội dung xã hội của tác phẩm.</p>



<p>(Nguồn: Phạm Duy Nghĩa)</p>



<p><strong>Ngộ&nbsp; Không</strong></p>



<p>(Sưu Tập)</p>



<div style="height:500px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>©T.Vấn 2024</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>

<!--
Performance optimized by W3 Total Cache. Learn more: https://www.boldgrid.com/w3-total-cache/?utm_source=w3tc&utm_medium=footer_comment&utm_campaign=free_plugin

Page Caching using Disk: Enhanced 

Served from: t-van.net @ 2026-07-29 18:00:39 by W3 Total Cache
-->