<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>chiến tranh &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<atom:link href="https://t-van.net/tag/chi%e1%ba%bfn-tranh/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://t-van.net</link>
	<description>Văn Học và Đời Sống</description>
	<lastBuildDate>Thu, 29 Jan 2026 06:33:59 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.7.5</generator>

<image>
	<url>https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/02/t-van-favicon.png?strip=all&#038;resize=32%2C32</url>
	<title>chiến tranh &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<link>https://t-van.net</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Đoàn Xuân Thu:  Dieter Weber – Người lính trở về giữa đống tro tàn Frankfurt.</title>
		<link>https://t-van.net/doan-xuan-thu-dieter-weber-nguoi-linh-tro-ve-giua-dong-tro-tan-frankfurt/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Tác Giả]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 29 Jan 2026 06:40:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Ghi Chép]]></category>
		<category><![CDATA[chiến tranh]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=85601</guid>

					<description><![CDATA[Tháng Ba năm 1947, trong cái rét còn vương trên những bức tường cháy nám của nước Đức bại trận, Dieter Weber trở về quê nhà với bộ quân phục nhàu nát và đôi mắt đã mất đi ánh nhìn của một người trẻ tuổi. Ba năm trong trại tù binh tại Pháp không giết [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/12/nguoi-linh.jpg?strip=all&w=2560"><img fetchpriority="high" decoding="async" width="512" height="640" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/12/nguoi-linh.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-85602" style="width:386px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/12/nguoi-linh-240x300.jpg 240w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/12/nguoi-linh.jpg?strip=all 512w" sizes="(max-width: 512px) 100vw, 512px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Tháng Ba năm 1947, trong cái rét còn vương trên những bức tường cháy nám của nước Đức bại trận, Dieter Weber trở về quê nhà với bộ quân phục nhàu nát và đôi mắt đã mất đi ánh nhìn của một người trẻ tuổi. Ba năm trong trại tù binh tại Pháp không giết chết ông, nhưng nó bào mòn từng chút linh hồn một người lính từng tin rằng mình đang phục vụ Tổ quốc. Giờ đây, khi gió sông Main thổi qua những con đường đổ nát của Frankfurt, ông hiểu rằng cuộc chiến không chỉ làm sụp đổ thành phố—nó đã nghiền nát cả một thế hệ.</p>



<p>Frankfurt năm ấy là một bức tranh tiêu điều. Những chuyến oanh tạc của Đồng Minh đã san bằng gần 70% diện tích đô thị. Nhà ga Hauptbahnhof vẫn còn đó, nhưng chỉ còn trơ mấy vòm sắt gãy nát. Nhà thờ St. Paul, nơi Quốc hội Đức từng họp vào thế kỷ trước, chỉ còn lại khung tường cháy xém. Dọc theo Kaiserstrasse, những dãy phố sang trọng ngày xưa giờ giống như xác tàu mắc cạn sau bão. Và giữa cảnh hoang tàn ấy, những người dân còn sống sót đứng xếp hàng trước các trạm phát chẩn của quân Mỹ, nhận từng ổ bánh mì đen để chống đói.</p>



<p>Giữa những đổ nát, Dieter đi tìm một điều duy nhất: gia đình. Liesel—người vợ ông cưới năm 1936—và hai đứa trẻ, Anna và Hans. Ngày ra trận năm 1943, ông đã nắm tay vợ thật lâu trước cửa nhà, thề rằng mình sẽ trở về. Nhưng căn nhà ấy giờ chỉ còn một đống gạch vụn. Không lá thư nào, không tin tức, không lời nhắn gửi từ những người hàng xóm cũ. Cứ như thể cả gia đình ông đã bị cuốn khỏi mặt đất cùng với những cơn bão lửa đêm mùa hè 1944, khi không quân Anh ồ ạt trút xuống thành phố hơn 6.000 tấn bom.</p>



<p>Ông lần theo danh sách những người tị nạn treo tại các khu chợ lộ thiên. Ông tìm đến các nông trại ngoại ô nơi người Frankfurt từng chạy loạn. Ông hỏi han những người sống sót—những người đàn bà mang khăn đen, những cụ già mất con cháu, những đứa trẻ gầy nhom vì suy dinh dưỡng. Nhưng ai cũng lắc đầu. Người ta bảo mỗi tuần đều có những gia đình bị ghi nhận “mất tích vĩnh viễn”—nạn nhân của bom, của dịch bệnh, của di tản trong hỗn loạn cuối chiến tranh. Có những người ra đi trên đường Đông Phổ, bị không quân Liên Xô bắn phá; có những người chết giữa biển người tị nạn; và cũng có những người đơn giản biến mất không dấu vết dưới lớp gạch vụn của một ngôi nhà cháy rụi.</p>



<p>Dieter hiểu điều ấy. Nhưng hiểu không có nghĩa là chấp nhận được.</p>



<p>Ông đi dọc theo bờ sông Rhine, nơi quân đội Mỹ dựng lên những cầu dã chiến bằng thép. Những chiếc xe tải Dodge chở hàng cứu trợ chạy qua, để lại trên không vị bụi kim loại ngai ngái. Ở phía xa, người ta đang dựng lên những khu nhà tạm bằng gỗ, báo hiệu một thời kỳ tái thiết bắt đầu manh nha dưới chính sách Trật Tự Mới của tướng Clay. Nhưng đối với người lính trở về này, tất cả vẫn mờ mịt như màn sương xám phủ lên thành phố mỗi sáng.</p>



<p>Nhiều buổi chiều, ông đứng lặng trên những bậc thềm còn sót lại của nhà thờ Dom, nhìn trẻ con chơi giữa đống gạch vụn mà ngày xưa là quảng trường đông vui nhất Frankfurt. Dù mang khuôn mặt lấm lem, chúng vẫn cười được—và trong tiếng cười ấy, Dieter bất chợt nhận ra điều mà những năm tháng chiến tranh đã cướp đi nơi ông: hy vọng.</p>



<p>Một hôm, trong lúc phụ khuân gạch cho một đội tái thiết, Dieter gặp một viên chức người Mỹ thuộc Cơ quan Cứu Trợ UNRRA. Nghe kể hoàn cảnh của ông, vị này nói với giọng trầm buồn: “Ông Weber, nước Đức bây giờ có hàng triệu người như ông. Mất gia đình, mất nhà cửa, mất tất cả. Nhưng chỉ có một điều ông không được để mất: chính mình.” Câu nói ấy, tưởng chừng đơn giản, lại trở thành ngọn nến le lói trong những ngày tăm tối của Dieter.</p>



<p>Ông bắt đầu lao vào công việc. Ban đầu chỉ là thu dọn gạch vụn. Rồi dựng những bức tường tạm. Rồi lắp lại cửa kính cho các cửa tiệm còn sót. Với mỗi viên gạch đặt lên, ông thấy lòng mình nhẹ hơn đôi chút. Sự bận rộn cứu ông khỏi cơn tuyệt vọng.</p>



<p>Tin tức về gia đình vẫn biệt vô âm tín. Nhưng thay vì lang thang trong những con hẻm hoang vắng chờ phép lạ, Dieter bắt đầu ghi chép tên người mất tích, sưu tầm danh sách tị nạn, hy vọng một ngày nào đó điều gì đó sẽ hiện ra. Trong lúc đó, cuộc sống cứ chậm rãi tiếp diễn quanh ông: chợ đen vẫn hoạt động tấp nập, trẻ con trao đổi bánh mì lấy than củi, và phụ nữ đi xin những mảnh vải vụn để khâu lại áo quần cho mùa đông tới.</p>



<p>Nước Đức năm 1947 là một quốc gia vừa bại trận vừa nghèo đến mức tận cùng. Nhưng chính trong sự nghèo ấy, người ta lại học được cách nương nhau mà sống. Dieter, từng là một bánh răng của cỗ máy chiến tranh, giờ trở thành một phần của nỗ lực xây dựng lại một xã hội mới—một xã hội không có tiếng bom, không có sự thù hằn mà ông đã từng chứng kiến tận xương tủy.</p>



<p>Nhiều năm sau, khi Frankfurt đã dần đứng dậy với những tòa nhà mới dọc bờ sông Main, người ta thấy Dieter Weber vẫn còn đó: dáng người gầy, mắt trầm nhưng hiền, làm việc lặng lẽ như thể bù đắp cho những mất mát mình không bao giờ tìm lại được.</p>



<p>Ông chưa bao giờ biết điều gì đã xảy ra với Liesel và các con. Nhưng ông hiểu một điều mà chiến tranh buộc những người sống sót phải chấp nhận: sự mất mát cũng có một hình thù cao cả, vì nó buộc con người phải đứng dậy, phải tiếp tục sống—không phải để quên, mà để không phản bội những gì đã mất.</p>



<p>Con đường trở về của Dieter không dẫn ông đến đoàn tụ, mà dẫn ông đến một nhận thức khác: rằng ngay cả khi mọi thứ quanh ta đã hóa tro tàn, thì lòng người, nếu còn một chút ánh sáng, vẫn có thể được xây dựng lại. Và Frankfurt, như chính cuộc đời ông, là minh chứng cho khả năng hồi sinh ấy.</p>



<p><strong>Đoàn Xuân Thu.</strong></p>



<p>Melbourne.</p>



<p>*Bài do CTV/TVBH gởi</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Thái Bá Tân: CHIẾN TRANH</title>
		<link>https://t-van.net/thai-ba-tan-chien-tranh/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Tác Giả]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 01 Oct 2024 06:05:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Ghi Chép]]></category>
		<category><![CDATA[chiến tranh]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=74620</guid>

					<description><![CDATA[Chiến tranh và Người Chết &#8211; Tranh: Michael Knepper (Nguồn: www.singulart.com) (Truyện mi-ni) Ba mươi năm trôi qua kể từ ngày chiến tranh kết thúc. Một sáng nọ ông cụ ngủ dậy, bảo vợ: &#8211; Tôi đi bà nhé?Bà cụ, cũng già và ốm yếu như chồng, lúc ấy đang hý húi đun nước dưới [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/09/WAR.jpeg?strip=all&w=2560"><img decoding="async" width="400" height="500" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/09/WAR.jpeg?strip=all" alt="" class="wp-image-74621" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/09/WAR-240x300.jpeg 240w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/09/WAR.jpeg?strip=all 400w" sizes="(max-width: 400px) 100vw, 400px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Chiến tranh và Người Chết &#8211; Tranh: Michael Knepper (Nguồn: www.singulart.com)</em></p>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><em>(Truyện mi-ni)</em><br></p>



<p>Ba mươi năm trôi qua kể từ ngày chiến tranh kết thúc.</p>



<p>Một sáng nọ ông cụ ngủ dậy, bảo vợ:</p>



<p>&#8211; Tôi đi bà nhé?<br>Bà cụ, cũng già và ốm yếu như chồng, lúc ấy đang hý húi đun nước dưới bếp, đáp:</p>



<p>&#8211; Ừ thì ông đi, một khi không thể không đừng được. Đi mà đưa nó về.<br>Nó là con trai duy nhất của họ, chết trong trận nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 ở Quảng Trị. Khi chuẩn bị xong xuôi mọi thứ cho chồng, gồm chiếc ba lô cũ từ thời chống Pháp, nắm cơm và ít tiền, bà cụ nói thêm:<br>&#8211; Ông đi, xong việc rồi ta nghỉ.<br>&#8211; Ừ.</p>



<p>Ông cụ đáp, bước ra khỏi nhà, thong thả đi về phía hướng ga Mỹ Lý rồi từ đó lên tàu chợ đến Quảng Trị để bốc mộ con mang về quê an táng, một việc muốn đã lâu nay mới làm được.<br>Tôi là cháu gọi cụ bằng bác, lúc ấy đang về quê nghỉ phép. Tôi xin được đi cùng nhưng cụ không chịu.</p>



<p>Mười ngày sau, cụ quay về. Tôi gặp cụ ở ga Mỹ Lý vì đang có việc phải vào Vinh. Chiếc ba lô cũ trên vai bây giờ căng phồng. Anh con trai duy nhất của cụ đang ở trong đó.</p>



<p>Buổi chiều. Trời có vẻ sắp mưa. Tôi đứng lặng, nhìn theo bác tôi lầm lũi bước đi về làng. Mái đầu bạc, thân hình gầy gò, cái lưng còng giờ còng thêm vì anh con to lớn hai mươi tuổi trên vai.</p>



<p>Và tôi nghĩ về chiến tranh cùng những điều khủng khiếp nó gây ra. Và rằng cả tôi, nay là một ông già tóc bạc ngoài sáu mươi, do số phận dun dủi, có thể cũng hy sinh trong cuộc chiến tranh ấy, và cũng được bố tôi cõng trên lưng như thế đi suốt chiều dài đất nước, suốt cả cuộc đời đau khổ của mình.</p>



<p>Một tháng sau khi chôn cất anh con vào nghĩa trang dòng họ, cả hai bác tôi qua đời. Không ốm đau và gần như cùng một lúc.</p>



<p>“Ông đi, xong việc rồi ta nghỉ”.</p>



<p><em>Hà Nội, 22.6.2011 </em></p>



<p>(Bài do CTV/TVBH sưu tập)</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Captovan: ĐI THEO XÁC CHỒNG</title>
		<link>https://t-van.net/captovan-di-theo-xac-chong/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Captovan]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 18 May 2024 08:40:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[chiến tranh]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=71652</guid>

					<description><![CDATA[Tiếc Thương &#8211; Ảnh: NAG Nguyễn Ngọc Hạnh Ngày Mai Đi Nhận Xác Chồng. .. Ngày mai đi nhận xác chồngSay đi để thấy mình không là mình. ….Mùi hương cứ tưởng hơi chồngNghĩa trang mà ngỡ như phòng riêng ai. &#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160; ***. &#160;&#160;&#160;&#160; &#160;Sau khúc nhạc Hồn Tử Sĩ dạo đầu, cô ca sĩ [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/05/ngay-mai-di-nha-xac-chong-1.jpg?strip=all&w=2560"><img decoding="async" width="532" height="800" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/05/ngay-mai-di-nha-xac-chong-1.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-71653" style="width:348px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/05/ngay-mai-di-nha-xac-chong-1-200x300.jpg 200w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/05/ngay-mai-di-nha-xac-chong-1.jpg?strip=all 532w" sizes="(max-width: 532px) 100vw, 532px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Tiếc Thương &#8211; Ảnh: NAG Nguyễn Ngọc Hạnh</em></p>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><em>Ngày Mai Đi Nhận Xác Chồng.</em></p>



<p>..</p>



<p><em>Ngày mai đi nhận xác chồng<br>Say đi để thấy mình không là mình.</em></p>



<p><em>….<br>Mùi hương cứ tưởng hơi chồng<br>Nghĩa trang mà ngỡ như phòng riêng ai.</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; ***.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; &nbsp;Sau khúc nhạc <em>Hồn Tử Sĩ</em> dạo đầu, cô ca sĩ vừa cất tiếng hát: “Ngày mai đi nhận xác chồng” thì người đần ông ở tuổi 82 với 13 năm cầm súng bỗng rụng rời chân tay, mặc dù đã nghe nhiều lần khi còn là lính. Dù nghe ngoài chiến trường, nghe ở hậu phương, nghe khi còn trẻ, nghe khi đã về già, nghe ở mọi thời gian và không gian thì con tim nào mà không xúc động với lời thơ của thi sĩ Lý Thị Ý do nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc, xúc động cho nỗi đau mất chồng của người vợ lính, sống với hình ảnh người vợ lính khóc bên xác chồng.</p>



<p>Thi sĩ đã tâm sự với nhà báo Đinh Quang Anh Thái về hoàn cảnh sáng tác bài thơ:</p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; ***</em></p>



<p><em>-“Lúc đó là năm 1970, tôi sống tại Pleiku, thành phố nhỏ bé này vào giai đoạn chiến tranh khốc liệt, chỉ thấy lính, vợ lính, xe tăng, xe Jeep, hầu như không thấy gì khác nữa. Nhà tôi ở gần nhà xác của quân đội. Tôi chứng kiến cảnh biết bao các bà đi nhận xác chồng. Tôi thấy đàn bà, con nít đến lật cái poncho quấn xác để nhìn mặt người thân, cảnh đó khiến tôi đau đớn không chịu nổi. Rõ ràng nỗi đau của những người có chồng chết trận là nỗi đau của chính mình. Thành thật, tôi vô cùng xúc động và chính tôi sống bằng hình ảnh những người vợ lính, vợ sĩ quan khóc bên xác chồng. Nỗi buồn đau đó là nỗi buồn đau của mình.”</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; ***.</em></p>



<p>Không là vợ lính, chưa là vợ lính mà tác giả đã sống với hình ảnh người vợ lính khóc bên xác chồng thì còn nỗi đau nào hơn của người goá phụ đi nhận xác chồng.</p>



<p>Đi nhận xác chồng để đem về lo hậu sự thật là dau đớn, nhưng rồi thời gian sẽ xoa dịu vết thương lòng khi biết “anh” đã mồ yên mả đẹp, “em” còn biết anh ở nơi nào để đến thăm với bó hoa, nén nhang, còn được ngửi mùi hương mà nhớ tưởng hơi chồng.</p>



<p>Nhưng còn những bà mẹ, goá phụ không đi nhận mà phải đi tìm xác con, xác chồng thì không còn nỗi đau nào hơn. Trịnh Công Sơn rên xiết:</p>



<p><em>Khi đất nước tôi không còn chiến tranh.</em></p>



<p><em>Mẹ già lên núi tìm xương con mình</em><em>!</em></p>



<p><em>&nbsp;</em>&nbsp; &nbsp; &nbsp; &nbsp;&nbsp; Khi không còn chiến tranh, đồng đội đã về đoàn tụ với gia đình mà chẳng thấy bóng dáng các anh đâu, các anh đã nằm lại nơi rừng sâu, góc biển, không manh chiếu rách phủ xác, côn trùng, mối mọt đục khoét thân xác người lính mất tích nên nỗi đau người goá phụ càng thêm chồng chất ngày đêm nên phải đi tìm, nhưng biết anh nằm ở đâu mà tìm!</p>



<p>Khi không còn chiến tranh, đã có biết bao goá phụ TQLC đi tìm xác chồng, trong đó có các chị goá phụ HNH, chị ĐHT, chị NXPv.v.. đã vượt trăm gian ngàn khổ, liều mình tìm đến chiến trường xưa, nhưng vật đổi, sao dời, biết ai mà hỏi, biết đâu mà tìm, đứng giữa chốn hoang vu, chiến trường xưa mà khóc, ngay cả đám đất, nơi anh nằm xuống cũng không biết là đâu để thắp nén nhang cho chồng.</p>



<p>Mà dẫu có tìm đến nơi anh tử trận, biết anh nằm chung cùng đồng đội, nhưng làm sao phân biệt xương cốt để rước anh về.</p>



<p>Chị quả phụ Tô Thanh Chiêu cùng người anh là Tô Hạnh*, em Tô Giao đã tìm đến thôn An Dương để tìm xác chồng, xác em, xác anh, nhưng xương cốt Đại Uý Chiêu đã trộn lẫn cùng với 132 bộ hài cốt đồng đội, nên người goá phụ chỉ còn biết khóc than:</p>



<p>-Anh! Xưa anh chiến đấu cùng đồng đội, thì nay xin anh tiếp tục cùng đồng đội chung một nấm mồ: “Thập Loại Cô Hồn Hiển hách Chi Mộ”.</p>



<p>(*Từ Mỹ và Úc, Tô Hạnh, Tô Giao đã đôi lần về thôn An Dương thắp nhang cho Chiêu, tháng 2/2023, Hạnh chuẩn bị về thăm em Chiêu lần nữa thì bất ngờ Hạnh mất, Hạnh không về thăm em bằng máy bay mà bay theo gió!).</p>



<p><em>“Khi đất nước tôi không còn chiến tranh, mẹ già lên núi tìm xương con mình!”</em></p>



<p>Mẹ già Tô Thị Tiếp lên núi Bá Hô tìm xương con trai trưởng của bà là Kình Ngư Vũ Văn Tuấn.</p>



<p>Vũ Văn Tuấn được Tiểu Đoàn Trưởng Trần Xuân Quang TĐT/TĐ 4 Kình Ngư cho làm tài xế theo lời đề nghị của mẹ Tuấn, vì em ruột của Tuấn là Vũ Văn Hùng, tuy chưa tới tuổi đi lính, nhưng đã dùng khai sinh của Tuấn để tình nguyện vào Cọp Biển rồi Hùng tử trận. Nhưng Tuấn nói với mẹ Tiếp:</p>



<p>-“Con không thể chết 2 lần”.</p>



<p>&nbsp;Thế là Tuấn xin ra tác chiến khi đang làm tài xế.</p>



<p>Năm 1972, trên đỉnh Bá Hô, VC tấn công vào cánh B của TĐ.4 dưới quyền ông Phó Nguyễn Đăng Hoà, quân ta thiệt hại và Vũ Văn Tuấn được báo cáo là mất tích!</p>



<p>Khi hết chiến tranh “mẹ già lên Bá Hô tìm xương con mình” nhưng bà có biết Bá Hô là nơi mô. Núi đồi nhấp nhô trùng điệp, bà hốt nắm đất Quảng Trị, tin rằng có xương cốt con mình trong đó, rồi nhớ thương con, mẹ đi theo con, nắm đất con Tuấn đã nằm trong quan tài mẹ Tiếp!</p>



<p>Mẹ già Kình Ngư Hữu Dũng thở dài: “<em>Biết tìm con nơi đâu!”</em></p>



<p>&nbsp;Kình Ngư Nguyễn Hữu Dũng ĐạiĐội 4 Tiểu Đoàn 4 cùng đồng đội tham dự hành quân Lam Sơn 719 Hạ Lào. Hỏa lực của địch tàn khốc quá. Dũng bị tử thương ngày 21/3/1971, mất xác ở một ngọn đồi, mà sau nầy không ai biết ngọn đồi nằm ở toạ độ nào.</p>



<p>Huyền Nga- em gái Dũng, nhắc lại lời của Tô Hải, kẻ bên kia, “bên thắng cuộc”. Tác giả &#8220;Thằng Hèn&#8221; viết:</p>



<p><em>-“Trong </em><em>đ</em><em>o</em><em>à</em><em>n qu</em><em>â</em><em>n của ph</em><em>í</em><em>a b</em><em>ê</em><em>n kia, </em><em>đã</em><em> chứng kiến v</em><em>à</em><em> kh</em><em>ó</em><em>c lặng trước c</em><em>á</em><em>i chết của một tiểu </em><em>đ</em><em>o</em><em>à</em><em>n,</em><em>&nbsp;</em><em>của một </em><em>đ</em><em>o</em><em>à</em><em>n xe, h</em><em>à</em><em>ng tr</em><em>ă</em><em>m th</em><em>â</em><em>y người, x</em><em>á</em><em>c người l</em><em>í</em><em>nh Quốc Gia, x</em><em>á</em><em>c l</em><em>í</em><em>nh bộ </em><em>đ</em><em>ội nằm lẫn lộn, chất cao như ngọn </em><em>đ</em><em>ồi, m</em><em>à</em><em> chẳng b</em><em>ê</em><em>n n</em><em>à</em><em>o kịp chôn cất hoặc thắp b</em><em>ó</em><em> hương cầu cho linh hồn họ </em><em>đ</em><em>ược si</em><em>ê</em><em>u tho</em><em>á</em><em>t. Chiến tranh thật l</em><em>à</em><em> t</em><em>à</em><em>n nhẫn!</em></p>



<p>Mẹ già đã khóc rất nhiều vì thương con trai Hữu Dũng ra đi khi chưa được 22 tuổi đời. Mẹ già đã tìm đến rừng núi Hạ Lào, “<em>Mẹ già lên núi tìm xương con mình”</em> nhưng rừng núi mênh mông, mắt mờ vì mẹ già khóc con thì còn biết tìm nơi đâu! Thôi thì đành nhờ vào thần linh, nhờ vào bói toán, nhờ nhà “ngoại cảm” v.v.. nhưng không ai tìm ra được nơi nào là ngọn đồi vùi xác con nên mẹ già đành bốc nắm đất mang về.</p>



<p>Hoài Thanh-đồng đội Dũng, thay bạn báo mộng về cho Mẹ Già Bình Thạnh:</p>



<p><strong><em>Hồn Gọi</em></strong></p>



<p><em>Đây nắm xương tàn, đây nắm xương</em></p>



<p><em>Nằm trơ vất vưởng ở ven rừng</em></p>



<p><em>Qua bao niên tuế, vùi chôn mãi</em></p>



<p><em>U uất vong linh chốn tục trần</em></p>



<p><em>Bao nắm xương tàn, bao nắm xương</em></p>



<p><em>Hồn hoang đêm xuống khóc thảm thương!</em></p>



<p><em>Mẹ ở phương trời xa có thấu?</em></p>



<p><em>Hồn con thổn thức, bấy thu trường!</em></p>



<p><em>Sao mẹ không lên núi tìm con?</em></p>



<p><em>Máu xương con hòa đất tha hương</em></p>



<p><em>Nhưng hồn con mãi mong về mẹ</em></p>



<p><em>Sao mẹ không về núi tìm con?</em></p>



<p>Đồng đội Dũng khóc thay cho Mẹ Già Bình Thạnh.</p>



<p><strong><em>Mẹ Ru Hồn</em></strong></p>



<p><em>Mẹ đã bao lần lên núi non</em></p>



<p><em>Tìm con mù mịt, sức hao mòn,</em></p>



<p><em>Đôi chân rời rã, lòng tơi tả,</em></p>



<p><em>Nhưng mẹ không tìm đâu thấy con?</em></p>



<p><em>Mẹ ở chân trời, xa núi non,</em></p>



<p><em>Nhớ con tóc mẹ nhuốm u buồn!</em></p>



<p><em>Khóc con mắt mẹ khô dòng lệ!</em></p>



<p><em>Mẹ nhớ con nhiều, ôi hỡi con!</em></p>



<p><em>Thôi nhé con ngoan ngủ thật nồng</em></p>



<p><em>Dù trời giông bão nắng mưa chang</em></p>



<p><em>Lời đau mẹ vẫn ru hồn ngủ</em></p>



<p><em>Qua mấy Thu tàn, qua mấy Đông./.</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; ***.</p>



<p>Chúng tôi xin kết thúc câu chuyện nỗi đau mất chồng của các chị goá phụ TQLC bằng câu chuyện bi thảm hơn, sau khi đã tìm được xác chồng thì người goá phụ lại “đi” theo chồng, để lại sầu thương cho đàn con dại.</p>



<p><em>&nbsp;“</em><em>Đi” Theo Xác Chồng.</em><em></em></p>



<p>Tôi đã đọc nhiều lần bài viết “Hoạ Vô Đơn Chí” của chị Trần Thị Huy Lễ, Trưởng Phòng Xã Hội Sư Đoàn TQLC nói về người goá phụ “đi” theo xác chồng. Câu chuyện quá bi thương đậm nét “tâm linh”, khó tin nhưng có thật nên tôi cố đi tìm hiểu, nhưng ít ai biết.</p>



<p>Tưởng chuyện đã đi vào quên lãng thì bất ngờ tháng 2/2023, TQLC Nguyễn Kha Lạt từ Dallas chuyển cho tôi bài viết “Hoạ Vô Đơn Chí” và hỏi:</p>



<p>-Anh(tôi) có biết gì về chuyện này không, các em mong được nghe rõ đầu đuôi.</p>



<p>Lời yêu cầu của các đồng đội làm tôi suy nghĩ, chỉ có một người có thể biết đầu đuôi. Nhưng tôi hơi e ngại, vì từ ngày tị nạn CS tại Hoa Kỳ,ông và tôi chưa liên lạc với nhau bao giờ, nay có người thúc dục, giúp tôi thêm can đảm nên tìm cách liên lạc với ông.</p>



<p>Người đó là Trung Tá Hồ Quang Lịch, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ.5/TQLC, đặc lệnh truyện tin của ông là “Quang Dũng”. Quang Dũng là tên con trai đầu lòng củaông, Quang Dũng luôn quấn quýt bên chú Trần Ba. Trần Ba là Thiếu Tá Tiểu Đoàn Phó TĐ.5/TQLC- người Quang Dũng coi như em ruột. Trần Ba mất tích trong trận đánh tháng 4/1972.</p>



<p>Hiện nay (3/2023) Quang Dũng đã 87 hiện định cư tại North Carolina, tôi liên lạc với ông bằng cel-phôn mà cứ tưởng như đang dùng máy truyền tin C25</p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; ***</em></p>



<p>-Cần Thơ gọi Quang Dũng nghe không trả lời?</p>



<p>-Quang Dũng nghe Cần Thơ 5/5, có gì nói đi!</p>



<p>Giọng một ông đã 87 mà nghe sang sảng như lão Ngoan Đồng?</p>



<p>-Anh khoẻ không?</p>



<p>-Khoẻ, nhưng đang chạy chơi với thằng cháu nội-con Quang Dũng nên hơi mệt.</p>



<p>-Ông mà còn được chạy vui chơi với cháu nội, ngoại là một điều hạnh phúc nhất trần đời. Tôi đọc bài viết “Hoạ Vô Đơn Chí” của bà Huy Lễ, xin Quang Dũng cho biết một số tin tức về Thiếu Tá Trần Ba, Tiểu Đoàn Phó của anh.</p>



<p>Giọng Quang Dũng sôi nổi như ngày xưa ra lệnh xung phong:</p>



<p>-Th/Tá Trần Ba tốt nghiệp Khoá 3 Nha Trang (Đồng Đế), cùng với Th/Tá Đoàn Đức Nghi, nay thì cả hai đã tử trận rồi! Nghi tử trận khi là TĐP/TĐ.1, Ba tử trận khi là TĐP/TĐ.5 của tôi. Có chuyện gì mà Cần Thơ lại đi cào vào vết thương của tôi cho rỉ máu?</p>



<p>-Bà Huy Lễ, Trưởng Phòng Xã Hội đã viết bài “Hoạ Vô Đơn Chí”, nội dung bi thảm quá, nhiều TQLC chưa biết về trường hợp Th/Tá Trần Ba, xin anh cho biết thêm chi tiết.</p>



<p>Hồi lâu mới nghe Quang Dũng nói:</p>



<p>-Quang Dũng đã đọc bài viết này rồi, nội dung đúng, ngoại trừ một vài chi tiết về thời gian ngày tháng liên quan. Đây là sự thật quá đau lòng nên Quang Dũng giữ im lặng từ đó đến nay, không muốn nói với ai cả, vì mỗi khi nhắc đến, anh đều bị nghẹn họng không nói được, anh cũng không viết ra được, nay Cần Thơ hỏi thì Quang Dũng sẽ nói rõ, có những chi tiết thuộc về tâm linh, tuỳ lòng tin của mỗi người. Trần Ba không chỉ là cánh tay mặt, mà còn hơn thế nữa, một nửa đời người của Quang Dũng, “niềm đau nhớ đời” nên những gì xảy ra với Trần Ba nó hằn sâu trong đầu anh, nhớ từng chi tiết cho tới chết”.</p>



<p>Thì ra Quang Dũng biết là sẽ khó nói, vì suốt trong câu chuyện, Quang Dũng cứ nghẹn lời, có những lúc anh ngừng lại hơi lâu khiến tôi phải “a-lô” thì mới nghe tiếng xụt xịt. Quang Dũng tiếp tục:</p>



<p>-Trần Ba là một trong những sĩ quan giỏi và can đảm nhất mà anh từng chỉ huy. Trước ngày TĐ.5/TQLC đi hành quân Quảng Trị, sáng 4/4/1972, anh dẫn mấy sĩ quan ra ngã ba Cai Lơn (Dĩ An, Biên Hoà) ăn sáng, gồm có Tiểu Đoàn Phó Trần Ba, các Đại Đội Trưởng Ngô Thành Hữu, Dương Công Phó, Nguyễn Văn Quang v.v.., Ngô Thành Hữu nói nhỏ với anh: “Em có người bạn là cảnh sát đi theo, xin Quang Dũng cho nhập tiệc nhá”.</p>



<p>Anh nói với Ngô Thành Hữu cứ tự nhiên, “tứ hải giai huynh đệ” mà…</p>



<p>-Alo! Alo! Quang Dũng, stop, stop cho Cần Thơ hỏi”..</p>



<p>-Hỏi đi”.</p>



<p>-Thời gian tháng 4/72 cả Sư Đoàn TQLC đang ở tuyến đầu, Huế Quảng Trị, sao ngày 4/4/72 anh vẫn còn ở ngã ba Cai Lơn, Biên Hoà?</p>



<p>-Không phải cả Sư Đoàn, mà chỉ có Lữ Đoàn 147/TQLC và 258/TQLC đang ở tuyến đầu, ngày 2/4/72 Bộ Tỗng Tham Mưu mới điều động Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn và Lữ Đoàn 369 từ Saigon ra Huế. Lữ Đoàn 369 của Đại Tá Phạm Văn Chung gồm có TĐ.2 của anh Nguyễn Xuân Phúc, TĐ.9 của Đà Lạt Nguyễn Kim Đễ và TĐ.5 của Quang Dũng lần lượt được không vận ra Huế. Quang Dũng đi chót nên ngày 5/4 mới ra tới Huế.</p>



<p>Quang Dũng nói tiếp về bữa ăn sáng:</p>



<p>-“Ăn được chừng 10 phút thì anh bạn Cảnh Sát của Hữu xin phép nói đôi lời. Chuyện hơi lạ, hiếm khi trong bàn ăn của đàn Cọp Biển mà có người ngoài dám xen vào lên tiếng trước, Quang Dũng tò mò nên đồng ý ngay.</p>



<p>Anh Cảnh Sát ấp úng thưa:</p>



<p>-“Thưa quý anh, vì quá thương mến và kính phục các anh TQLC nên em xin đi theo anh Hữu để được làm quen, không ngờ tới đây, em thấy có chuyện cần thưa, có thể điều em nói làm các anh không vui, nhưng vì em là bạn thân của anh Ngô Thành Hữu…”</p>



<p>Thấy anh Cảnh Sát có vẻ lo âu rào đón, Quang Dũng phất tay:</p>



<p>-Bạn cứ nói đại đi!</p>



<p>Anh Cảnh Sát ngó thẳng vào Trần Ba nói:</p>



<p>-Thưa anh, (tức Trần Ba) “thiên cơ bất khả lậu”, nhưng vì em vô cùng quý trọng anh, nên em nghĩ rằng phải nói ra, dù sau này em gặp điều không may. Anh (tức Trần Ba) phải hết sức thận trọng, đề phòng bất trắc, nếu không thì trong vòng 10 ngày tới anh sẽ gặp đại nạn, có thể mất mạng, em báo cho anh biết trước để đề phòng.</p>



<p>Quang Dũng thở dài rồi nói tiếp:</p>



<p>-Sau khi nghe anh Cảnh Sát nói thế, không khí bữa ăn sáng không còn ồn ào, nhưng ai đã là lính đánh giặc thì cũng đôi lần gặp những lời “tiên tri” như thế này rồi, đôi khi sai, đôi khi đúng. Dù sai hay đúng, đã là lính cầm súng ra trận thì không có quyền đề phòng gì cả, mà chỉ việc tuân lệnh cấp chỉ huy, dù nhìn thấy cái chết trước mắt. Chúng ta đã từng chứng kiến trong chiến trận như: Binh Nhất A xung phong vào mục tiêu, chưa tới nơi đã gục ngã, tức thì Hạ Sĩ B tiến lên, nhưng vẫn gục ngã giữa đường, trung đội trưởng ngó vào Trung Sĩ C ngoắc tay, thế là C phóng tới, không có đề phòng con mẹ gì cả. Tuy vậy để trấn an thằng em, buổi chiều hôm ấy (4/4/72), vợ chồng Quang Dũng mời vợ chồng Trần Ba qua ăn cơm, nhà hai thằng cùng trong trại gia binh TĐ.5/TQLC (cạnh suối Lồ Ồ, Dĩ An), 4 con gái của Trần Ba và thằng Quang Dũng con của anh vẫn vui đùa. Sau một hớp rượu cay, Trần Ba ghé tai anh nói nhỏ:</p>



<p><strong><em>-“Đại Bàng! Em thương vợ em quá, nếu có chuyện gì thì em sẽ đem vợ em theo</em></strong>”.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tôi tưởng nghe lầm, nghe không rõ lời Quang Dũng nên vội ngắt lời:</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; -Anh Lịch, anh còn nhớ rõ không mà nói thế…</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; -Mày* không tin lời tao nói phải không? Tao là thằng Hồ Quang Lịch, đã 87 tuổi rồi, mày cũng đã 82, chúng ta có thế quên chuyện hôm qua, nhưng chuyện sống chết mấy chục năm về trước thì nó hằn sâu trong đầu, trong tim, vì đó là những nỗi đau vô cùng tận. Hơn nữa Trần Ba nó đang ở trên cao, đang nghe tao nhắc lại chuyện xưa, chuyện 51 năm về trước, làm sao tao dám phịa chuyện?</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; *Hình như Quang Dũng phật lòng về câu hỏi của tôi nên anh “mày tao”, điều này chứng tỏ anh nói là thật lòng nên tôi vội vàng xin lỗi:</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; -Xin lỗi anh, vì lời tâm sự của Trần Ba làm tôi phát hoảng, xin anh nói tiếp.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; -Chiều ngày 5/4/72 Tiểu Đoàn tao đáp xuống Phú Bài, GMC chở tiểu đoàn tao về chỗ Cao Bằng LĐ.369 của Đại Tá Chung để hoạt động trong khu vực Mỹ Chánh.</p>



<p>Ngày 6/4/72 một đơn vị Địa Phương Quân bị VC tấn công, ông Cao Bằng lệnh cho tao bảo đưa cánh B đi tiếp viện. Nhớ lời tiên tri của người cảnh sát, thay vì đưa cánh B của Trần Ba đi tiếp viện theo lệnh Cao Bằng, tao dẫn 3 đại đội đi tiếp viện còn Trần Ba với 1 đại đội ở lại để làm trừ bị. Chuyện tiếp viện chẳng có gì khó, VC bỏ chạy để lại 10 xác. Chắc mày hiểu quyết định của tao để Trần Ba ở lại làm trừ bị.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Nghe giọng Quang Dũng sôi nổi như đang điều quân rồi muốn chửi thề nên tôi cần giảm “nhiệt độ” của anh xuống bằng cách nhắc lại chuyện của tôi:</p>



<p>-Quang Dũng, tôi hiểu quyết định của anh đầy lý và tình, tôi cũng đã có lần làm như anh. Đại Đội Phó của tôi mới cưới vợ trước khi đi hành quân, Chính than buồn, nên khi nhảy trực thăng vào kinh Cái Thia, tôi sắp xếp cho Chính nhảy sau cùng với trung đội súng nặng, nhưng Chính vẫn lên tuyến đầu và rồi tử trận, để lại mẹ già và..</p>



<p>Quang Dũng ngắt lời khi tôi chưa nói hết câu, anh bảo:</p>



<p>-Sao giống trường hợp của tao: Ngày 7/4/72, tiểu đoàn tao nhận 5 ngày tiếp tế để hành quân lục soát. Mờ sáng ngày 8/4/72 xuất phát, cánh A tao tiến chiếm những mục tiêu chính, nặng, còn cánh B của Trần Ba có đại đội của Dương Công Phó và Đỗ Trung Giao, tao cho tiến theo các mục tiêu phụ (nhẹ). Nhưng tao luôn nhắc Trần Ba là phải đi thật chậm, nếu cần thì dừng quân lại ngay, không cần tiến quân ngang hàng với tao.</p>



<p>Khoảng 8 giờ 30, cánh A tao chạm địch, cùng lúc nghe súng nổ bên cánh B, tao luôn nhớ lời anh cảnh sát nói lúc ăn sáng tại ngã ba Cai Lơn nên tao thét Trần Ba dừng lại, kiếm vị trí cố thủ để tao lo điều động cánh A sang giúp nó.</p>



<p>Vài phút sau, tao nghe Trần Ba báo cáo tịch thu được súng cối và đại liên, tao biết tính Trần Ba khi đụng trận nên tao thét bạch văn luôn:</p>



<p>-Trần Ba, tao ra lệnh cho mày dừng quân lại ngay, nghe chưa Ba?</p>



<p>Nhưng rồi tao không nghe Trần Ba trả lời, tao gọi cho Phó, Giao cũng không nghe, mất liên lạc với cánh B! Tao liếc nhìn đồng hồ lúc đó là 8.45 sáng ngày 8/4/1972! Mất liên lạc với cánh B, mất liên lạc với Trần Ba, người tao lạnh toát, cứng đơ, tao kêu trời:</p>



<p><strong><em>-Chưa tới 10 ngày, mới chỉ có 4 ngày thôi mà! Trần Ba ơi!</em></strong></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; ***</p>



<p>Im lặng hồi lâu, Quang Dũng nghẹn lời, tôi biết, tôi thấy anh đang khóc! Tôi cũng đã thét lên khi nghe Th/Uý Quang báo Tr/Uý Chính chết! Tiểu Đoàn Trưởng Đồ Sơn hỏi, tôi khóc không trả lời được nên ông mắng: “Cậu đừng làm người khác mất tinh thần”. (Hiện nay Đồ Sơn đang ở San Jose, ông còn nhớ chuyện này)</p>



<p>Tôi cần tôn trọng những giọt nước mắt của Quang Dũng đối với Trần Ba, không được phép hỏi thêm bất cứ điều gì lúc này, nên tôi (nói dối) xin phép tạm ngưng “vì còn phải đi đón cháu ngoại”. Nghe tôi phải đi đón cháu ngoại thì anh cũng nói:</p>



<p>&#8211; “Ừ đi đi, tao cũng đi chơi với cháu nội, nó đang ngó tao khóc, mai gọi lại”.</p>



<p>Thiếu Tá Trần Ba “mất tích” lúc 8 giờ 45 phút sáng ngày 8/4/1972 cùng với trung đội đi đầu! Nếu có gọi lại, tôi sẽ không hỏi Quang Dũng bất cứ chi tiết nào liên quan tới trận chiến Th/Tá Trần Ba mất tích, vì anh có giải thích thế nào tôi cũng không hiểu, đơn giản là tôi không ở trong cuộc, và không muốn cào thêm vết thương đau cũ của anh.</p>



<p>Từ tháng 4, tháng 5/1972, và những tháng sau đó, trận chiến khốc liệt liên tiếp xảy ra ở vùng địa đầu giới tuyến Huế, Quảng Trị. Ngoài Sư Đoàn 1 và Sư Đoàn 3BB, thượng cấp còn đưa luôn toàn bộ 2 Sư Đoàn Tổng Trừ Bị là Nhảy Dù và TQLC tham dự, cho tới khi tái chiếm được Quảng Trị ngày 16/9/1 972, xương máu đổ ra, có biết bao quân tử trận, mất tích, bị thương. Trận chiến tiếp diễn ngay cả sau khi có đình chiến ngày 28/1/1973.</p>



<p>Cho nên ngày hôm sau tôi gọi lại Quang Dũng, tôi chỉ cần nghe anh nói về việc tìm ra hài cốt của Th/Tá Trần Ba.</p>



<p>-A-lô Cần Thơ gọi Quang Dũng.</p>



<p>-Quang Dũng nghe đây, tao chờ chú mày.</p>



<p>-Anh kể vắn tắt cho tôi nghe việc tìm thấy hài cốt anh Trần Ba.</p>



<p>-Mày biết là sau cái ngày gọi là “đình chiến”, TQLC vẫn hành quân “giữ đất”, trong một lần hành quân vào vùng nơi Trần Ba mất tích, tao bất ngờ nhận được lệnh từ cấp trên cho tạm dừng quân. Tao không thắc mắc dừng quân để làm gì, nhưng tao sực nhớ ra nơi đây là toạ độ, là vùng Trần Ba mất tích nên tao vội cho Thượng Sĩ Thường Vụ tên Đông cùng anh em Đại Đội Chỉ Huy đi lùng sục trong phạm vi dừng quân. Khu vực này đã bị bom đạn cày nát, chỉ còn những bụi cây nhỏ và những bãi cỏ may. Lục tìm bụi cây, bới đất, tới chiều thì toán của Thượng Sĩ Đông báo cáo tìm được 12 bộ hài cốt, không còn ai nữa. Tao cho lệnh Thượng Sĩ Đông dẫn anh em về vị trí đóng quân. Một lúc sau Đông gọi máy báo cáo không hiểu tại sao Đông cứ bị vấp té hoài, không đứng dậy được, kêu tao lên cứu.</p>



<p>Linh tính cho tao biết có chuyện…, tao gọi thầm tên Trần Ba và nói Thượng Sĩ Đông khấn vái xem sao. Thượng Sĩ Đông bèn quỳ gối vái lạy:</p>



<p>-“Lạy Đại Bàng Trần Ba, xin Đại Bàng hướng dẫn cho chúng tôi tìm dược…”.</p>



<p>Thượng Sĩ Đông đứng dậy được, đi tới như có lực đẩy sau lưng, đi quanh co một hồi thì Đông trông thấy một vạt cỏ xanh, xanh hơn những chỗ khác, Đông vẹt đám cỏ xanh ra và trông thấy bộ quân phục rằn ri đã mục nát, rồi Đông hốt hoảng báo cho tao: “</p>



<p>-Tìm thấy rồi, thấy rồi Quang Dũng ơi.</p>



<p>Toàn thân tao nổi gai ốc, không biết nói thế nào về cảm xúc của tao trong lúc đó. Nhớ thương thằng em cả năm nay rồi, nay tìm thấy hài cốt thì lại đau lòng, em tao chết thật rồi, không còn tia hy vọng mất tích rồi có ngày sẽ trở về!</p>



<p>Dưới vạt cỏ, Đông tìm thấy bộ quân phục TQLC đã mục nát, nhưng trên nắp túi áo có thêu chữ: TRAN BA. Tìm thêm được thẻ bài mang tên TRẦN BA và bộ xương</p>



<p>Trần Ba đã về với đồng đội và gia đình vào tháng 4/1973 sau 1 năm “mất tích”.</p>



<p>Tối hôm đó, Quang Dũng cho rửa sạch hài cốt, cho binh sĩ thay nhau đứng gác bên hài cốt suốt đêm, sáng hôm sau tao xin phương tiện đưa hài cốt Trần Ba về Sài Gòn, đồng thời lệnh hậu cứ biệt phái 1 xe Jeep cho chị Trần Ba dùng tới khi nào không cần nữa.</p>



<p><em>Hoạ Vô Đơn Chí</em></p>



<p>Hậu cứ TĐ.5 báo cáo cho tao tin tức hằng ngày, và đúng như bà Huy Lễ đã viết.</p>



<p>Hậu cứ sắp xếp quàn hài cốt Trần Ba tại chùa thì chị Trần Ba xin quàn tại nhà và chôn tại nghĩa trang Quân Đội Biên Hoà, thay vì nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi.</p>



<p>Đại Tá LĐQ, Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn đã đến tư gia viếng hài cốt, truy thăng Cố Trung Tá và gắn Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc cho Thiếu Tá Trần Ba.</p>



<p>Tài xế hậu cứ lái xe Jeep đưa chị Trần Ba, bố và em trai Trần Ba là Trần Lành đến nghĩa trang Quân Đội Biên Hoà để lo việc xây kim tĩnh cho Cố Trung Tá Trần Ba.</p>



<p>Khi gần đến nghĩa trang, một xe GMC của Mỹ đi từ Biên Hoà về hướng Sài Gòn, bất ngờ lạc tay lái, bay qua đường ngăn đôi xa lộ, đâm trực diện vào xe Jeep!</p>



<p>Hậu quả là Bố và chị Trần Ba tử nạn tại chỗ, tài xế và Trần Lành bị thương nặng. Quang Dũng nghẹn lời, dù anh biết như thế nhưng vẫn tự đặt câu hỏi:</p>



<p><strong><em>-Có phải Trần Ba đã về đón vợ đi theo như đã nói trong bữa cơm chiều tại nhà Quang Dũng ngày 4/4/1972 không?</em></strong></p>



<p>Im lặng…</p>



<p>Dù độc giả cũng như tôi còn muốn biết thêm nhiều chi tiết khác liên quan tới trận chiến cuối cùng của “Người Hùng Trần Ba”, nhưng sau khi nghe Quang Dũng tự đặt câu hỏi như trên thì độc giả và tôi không nên hỏi thêm bất cứ chi tiết nào khác nữa, ngoài những chi tiết mà Quang Dũng đã bộc lộ sau hơn 50 năm chôn chặt trong lòng.</p>



<p>Tôi hỏi câu chót:</p>



<p>-Hiện nay anh có liên lạc được với các con của Cố Trung Tá Trần Ba không?</p>



<p>-Hiện nay tao còn liên lạc được với 1 trong 4 cháu gái con Trần Ba, cháu này ở Maryland, 3 cháu kia vẫn còn ở Việt Nam./.</p>



<p><strong>Captovan&nbsp;</strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Vũ Thất: ĐÊM ĐÌNH CHIẾN</title>
		<link>https://t-van.net/vu-that-dem-dinh-chien/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Vũ Thất]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 13 Apr 2024 09:02:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[chiến tranh]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=70739</guid>

					<description><![CDATA[Cõi Người Ta (10) &#8211; Tranh: THANH CHÂU Dinh không biết chính xác mỗi đêm, bắt đầu vào lúc nào, các loại côn trùng rủ nhau đồng loạt cất tiếng nhưng có điều anh chú ý đến âm điệu sầu thảm bi thương đó từ sau 10 giờ. Đó là thời điểm Dinh dỗ giấc [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/11/coi-nguoi-ta-10.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="762" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/11/coi-nguoi-ta-10-1024x762.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-59077" style="width:506px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2022/11/coi-nguoi-ta-10-300x223.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/11/coi-nguoi-ta-10-1024x762.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2022/11/coi-nguoi-ta-10-768x572.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/11/coi-nguoi-ta-10.jpg?strip=all 1084w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Cõi Người Ta (10) &#8211; Tranh: THANH CHÂU</em></p>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Dinh không biết chính xác mỗi đêm, bắt đầu vào lúc nào, các loại côn trùng rủ nhau đồng loạt cất tiếng nhưng có điều anh chú ý đến âm điệu sầu thảm bi thương đó từ sau 10 giờ. Đó là thời điểm Dinh dỗ giấc ngủ khi không nhằm phiên canh gác. Ở hậu cứ, cũng vào giờ này, chừng mươi mười lăm phút là anh đã ngủ say nhưng đêm nào nằm bên bờ kinh Vĩnh Tế âm u hoang vắng tràn ngập tiếng rên rỉ nỉ non của các loài côn trùng anh không tài nào nhắm kín đôi mắt. Có một lần anh lấy bông gòn bịt chặt đôi tai đưa đến giấc ngủ ngon lành, bèn phổ biến kinh nghiệm đó cho Hân, bị Hân chửi là đứa ngu đần. Giữa vùng hành quân mà bịt kín hai tai thì có khác gì tự sát. Từ đó anh chịu khó nghe cái hợp âm chói tai đó cho đến bình minh.</p>



<p>Riêng ba đêm vừa qua, từ sau buổi gặp gỡ người yêu mà nàng gọi là lần gặp cuối cùng, những tiếng kêu đều đều thống thiết của chúng càng tác động mạnh khiến bao ý nghĩ bi quan đổ về tràn ngập. Anh thấy rõ là cuộc tình của anh với Hoàng đã hoàn toàn đến chỗ bế tắc, hoàn toàn đã đến hồi kết cuộc, mãi mãi chia tay. Hoàng cho biết đã năn nỉ ba mẹ hết lời nhưng ông bà cứ khăng khăng lắc đầu. Nàng muốn trốn đi với anh nhưng rồi nghĩ anh cứ đi hành quân hoài, nàng sợ phải bơ vơ…</p>



<p>Ba đêm qua, không đêm nào không có lúc anh muốn bật dậy, muốn nhảy khỏi giang đỉnh, một mình đi sâu vào vùng địch để cùng chết với vài tên địch. Thà thế còn hơn là cứ nằm im nghe con tim nhức nhối vỡ vụn.</p>



<p>Thế mà đêm nay anh lại hoàn toàn quên Hoàng. Đêm nay anh cũng không còn cái ước muốn đi vào vùng địch vì theo thuyền trưởng Hoạt, chắc chắn địch sẽ đến với anh. Hồi chạng vạng, “Thẩm quyền” đã ân cần nhắc nhở là phải hết sức đề cao cảnh giác. Theo tin tình báo, đêm nay nhất định địch sẽ vượt sông tiến chiếm xã Ba Chúc bằng mọi giá trước 8 giờ sáng mai. Đó là thời điểm lệnh ngưng bắn có hiệu lực và địch cần có ít đất ít dân để khoe với thế giới. Dinh ước ao là đêm nay địch xuất hiện thật đông để có dịp chơi xả láng, chơi thẳng tay một lần cuối, rồi có đền nợ nước cũng… sướng thân! Dinh tự đùa với mình: “Chúng mày muốn… sang sông thì phải bước qua xác bố mày!”</p>



<p>Từ 8 giờ tối, ngay sau khi cả giang đoàn vào vị trí phục kích, Dinh đã bắt đầu dỗ giấc ngủ để tỉnh táo nhận phiên trực từ nửa đêm và để có đủ sức đụng trận tới… ngưng bắn. Nhưng cái nôn nao lạ lùng lấn át mọi tạp âm rên rỉ và dù chưa tới phiên, anh cũng ôm khẩu M16 bò lại nằm kề bên Quốc đang thủ khẩu đại liên 50.</p>



<p>Hân cũng đã có mặt ôm khẩu tiểu liên nằm bên thuyền trưởng Hoạt. Ông đang nâng chiếc tinh quang kính ngang mắt. Đây là loại dụng cụ điện tử tối tân, nhìn xuyên qua bóng đêm. Chỉ cần ánh sao xa thẳm, nó biến vùng trời đen tối thành vùng ánh sáng ngà ngọc. Thuyền trưởng chầm chậm quét nửa vòng hết về bên phải rồi về bên trái. Từ hàng cây rõ nét ven bờ, các mảnh ruộng lúa ngăn chia bằng các con đê ngang dọc chạy dài chìm dần vào bóng tối. Dinh hỏi khẽ:<br>– Có động tịnh gì chăng, thuyền trưởng?<br>Hoạt lắc đầu, đặt tinh quang kính lên sàn, nhấc khẩu phóng lựu liên thanh M79:<br>– Có thể còn hơi sớm…</p>



<p>Bất kể thuyền trưởng khẳng định tin tình báo khả tín là địch sẽ xâm nhập giành dân lấn đất cấp tiểu đoàn, Dinh vẫn cho rằng khả tín có nghĩa là không phải lúc nào cũng đúng. Phần nào an tâm, Dinh trườn đến bên Hân, thì thầm ý nghĩ lạc quan đó với người bạn tâm giao. Hân gằn giọng:<br>– Tao thì tin lũ chuột sẽ chường mặt. Đây là dịp cuối cùng chúng cố chiếm vài cái hang…<br>Dinh ngắt lời, kêu khẽ:<br>– Hân!<br>– Gì?<br>– Ơ hay, bữa nay sao mày ăn nói cộc cằn thế. Thường mày lịch sự lắm mà!<br>– Lịch sự cái củ kẹt! Sắp đụng trận lớn đến nơi mà cứ lải nhải chuyện yêu đương. Nàng Hoàng của mày có lý. Hãy quên nàng đi. Mày đã thấy vợ tao khổ cực trăm bề nuôi con…<br>Dinh vẫn kiên nhẫn:<br>– Hân à! Ngày mai ngưng bắn, mọi sự rồi đâu vào đấy!<br>– Chỉ mong thế. Còn mày, mày tìm người… thay thế chứ?<br>Giọng Dinh buồn buồn:<br>– Tao không biết. Nhưng nếu thật sự có ngưng bắn, chắc tao sẽ buồn chết được.<br>Hân rời cò súng, đưa tay xoa đầu bạn:<br>– Yên chí! Rồi mày sẽ chóng vui. Trai đang thiếu, gái đang thừa mà!<br>Dinh lắc đầu, thở dài:<br>– Thừa nhưng vẫn thiếu Hoàng của tao!<br>Hân rút tay về, lại đặt ngón tay vào cò súng, vừa nói vừa đăm đăm nhìn phía trước mũi:<br>– Ngưng bắn rồi, không biết họ có cho mình giải ngũ không? Tao chỉ muốn được giải ngũ để lo cho vợ con đầy đủ hơn.<br>Dinh ngẫm nghĩ rồi nói:<br>– Mày có nghề cơ khí, giải ngũ làm thợ sửa máy xe, máy tàu, hốt bạc! Còn tao, cái nghề trọng pháo chả biết làm gì. Chẳng lẽ làm nghề… giết mướn!<br>Hân cười khẽ:<br>– Làm cái nghề đó thất đức! Tao đề nghị mày xin nhập tịch Mỹ, qua Mỹ sửa súng cho mấy thằng cao bồi! Cũng… hốt bạc!<br>Dinh không cười nổi trước lời đùa của bạn, cất giọng buồn buồn:<br>– Tụi nó giờ toàn đi xe hơi, đâu còn ai làm cao bồi! Có lẽ tao nên tận dụng cái nghề của tao… lần cuối!<br>Hân quay sang bạn:<br>– Nghĩa là?<br>– Nghĩa là tao đặt nòng khẩu M16 này dưới cằm và bấm cò…<br>Hân kêu hốt hoảng:<br>– Nói bậy mày! Nếu có giải ngũ, tao mở tiệm sửa xe, mày phụ tá tao. Máy tàu thì rắc rối chứ máy xe gắn máy rất dễ ăn. Coi tao sửa vài chiếc là mày rành rẽ.</p>



<p>Dinh lặng thinh nhìn màn đêm âm u. Anh quan sát một lúc, bất chợt nhìn chăm chăm vào con đê hơi chếch về bên phải. Có vài dáng dấp lay động thật chậm ven mép đê, rất gần bờ. Anh nói nhỏ với thuyền trưởng Hoạt:<br>– Thuyền trưởng! Nhìn kỹ bên phải.<br>Hoạt nâng tinh quang kính, rồi nói:<br>– Có công ăn việc làm rồi!<br>Nói xong Hoạt chụp ống liên hợp:<br>– Tango đây Hotel, vài con chuột xuất hiện bên phải tôi, xin cho lệnh.<br>Hân lắng nghe tiếng thẩm quyền:<br>– Tất cả giữ thật yên lặng cho chúng vượt sông. Tập trung hỏa lực vào tiểu đoàn sắp xuất hiện. Sử dụng mọi loại súng, bắn tối đa khi có lệnh.<br>Thuyền trưởng Hoạt đáp khẽ:<br>– Nhận năm, thẩm quyền!</p>



<p>Hoạt hiểu ý của thẩm quyền. Theo kinh nghiệm, đây chỉ là toán dò đường. Khi họ qua sông trót lọt, cả tiểu đoàn mới cùng vượt sau. Anh thấy rõ chúng đang leo lên xuồng cao su rồi ra sức bơi thật nhanh. Anh nhìn về phía trước. Chừng mười phút sau, rất nhiều bóng dáng lố nhố xuất hiện thành hàng ngang tiến chậm đến bờ sông.<br>Giọng sắt lạnh của Chỉ huy trưởng:<br>– Lệnh của Tango. Tất cả bắn!<br>– Nhận rõ!</p>



<p>Hân miết cò súng. Hoạt đặt tinh quang kính lên sàn tàu và bắt đầu cho khạc đạn khẩu phóng lựu. Dinh kết hợp với Hân giữ cho khẩu 50 nòng kép nổ liên tục. Hàng chục làn đạn lửa từ ven sông như màn lưới phủ chúc xuống cánh đồng. Chen lẫn âm thanh giòn giã của đủ loại súng lớn nhỏ từ hai phía là tiếng la hét tiến quân của địch. Có tiếng đạn va lụp bụp vào tàu. Dinh siết chặt cò khẩu M16, rải đạn theo hàng dọc. Quốc cũng nhả đều khẩu tiểu liên. Tiếng nổ giòn tan, vang rền phá vỡ không gian. Âm thanh chát chúa ầm ầm rung chuyển đất trời. Đâu đó có tiếng rên la đau đớn…</p>



<p>Dinh bỏ khẩu súng cá nhân, nhoài người nối kết thùng đạn thứ tư vào khẩu đại liên. Hân chưa kịp bắn thì một tiếng ầm đinh tai điếc óc vang lên cùng lúc các mảng lửa và bụi đất bắn tóe lên giang đỉnh. Cùng lúc nhiều tràng AK nối tiếp. Dinh mọp sát lên sàn, cả người chấn động. Anh nằm yên nghe ngóng. Sau khi chắc chắn mình không bị thương, Dinh ngó qua Hân. Hân vẫn ngồi thẳng người say sưa miết cò. Như nhớ đến an nguy của bạn, Hân chợt quay sang ngó Dinh:<br>– Có sao không?<br>Dinh lắc đầu, cười gượng:<br>– Nô xoẹt! (No sweat: không sao)<br>Hân lại hướng về phía trước bóp cò. Dinh nghe tiếng Hoạt nói như hét:<br>– Dinh, cho tàu rút ra giữa sông.</p>



<p>Dinh chạy vụt vào phòng lái và hiểu lý do. Thông thường, đang tác xạ mà có lệnh rút ra xa có nghĩa là nhường chiến địa cho pháo binh dập nát địch. Tàu vừa ra đến giữa sông là loạt đạn pháo đầu tiên bay tới. Những tiếng nổ dồn long trời lở đất, từng chập, từng chập. Các đốm lửa tóe lên bùng vỡ không gian. Khi tất cả dịu dần, hai trực thăng võ trang xuất hiện, nhả những tia lửa nghiêng nghiêng, linh động, đẹp mắt. Hỏa châu thả liên tục ngay trên đầu địch, soi rọi mục tiêu cho xạ thủ liên thanh. Dinh nhìn những trái hỏa châu treo lơ lửng, chầm chậm hạ thấp. Trái này chưa kịp tắt đã nối tiếp trái kia. Không một dấu hiệu nào cho thấy địch vượt sông. Không một chiếc bè cao su nào xuất hiện. Mặt sông vàng úa êm đềm, phẳng lặng với hình dạng các giang đỉnh đang lênh đênh bờ đối diện…</p>



<p>Hai trực thăng rời vùng bay xuôi về phía Nam. Khung trời trở lại mịt mùng thăm thẳm đến tận các vì sao bắt đầu mờ nhạt. Loài côn trùng dường chưa hết kinh hoàng để nối lại hợp âm than thở. Không gian im lắng đến rợn người. Dinh nhìn đồng hồ: Gần 2 giờ sáng. Cuộc đụng độ kéo dài không quá nửa tiếng mà như lê thê. Nếu theo đúng lệ thường, sau mỗi cuộc phục kích có đụng độ, chi khu sẽ điều động bộ binh đổ bộ khai thác chiến trường. Lần này chắc chắn họ sẽ đếm xác địch mệt nghỉ. Cả một tiểu đoàn lọt ổ phục kích của cả giang đoàn thì chịu sao thấu. Bộ binh hành quân chỉ mang cấp số đạn giới hạn, nhưng giang đỉnh thì đầy một tàu. Đụng với giang đoàn là chỉ có từ chết tới bị thương. Có rút lui thì cũng không còn người lành lặn. Dinh nghĩ, giờ chót của cuộc chiến mà bắt được một huy chương thì cũng là kỷ niệm đáng quý! Ngôi sao đồng cũng được. Không còn kỷ niệm nào đẹp hơn cho đời lính là được tưởng thưởng huy chương anh dũng. Khi có gia đình, có nhà cửa đàng hoàng anh sẽ cho lộng kính và treo chỗ đẹp nhất ở phòng khách.</p>



<p>Anh thấy vui khi nghĩ đụng trận lớn thế này thì coi như đương nhiên là có huy chương. Nhưng sự việc có phần khẩn thiết hơn là… thu súng địch. Gần đây các sĩ quan Hoa Kỳ thích tìm súng của Việt Cộng mang về Mỹ như là một huy chương thành tích cụ thể. Kể cả cờ đỏ sao vàng. Hoặc tệ lắm là lá cờ giải phóng nửa đỏ nửa xanh. Lần phục kích ba tháng trước, đụng trận nhẹ, Dinh được phép đổ bộ và “chộp” được một khẩu AK, bán cho thằng ‘đối tác” được 50 đô. Càng gần ngày ký hiệp ước, giá càng cao. Tuần trước, vài thằng đặt mua súng ngắn hai trăm đô, súng dài một trăm. Cờ xí giá cũng không rẻ 50 đô. Xem ra sau đêm nay, giá còn lên dài dài cho đến khi Mỹ rút hết về nước. Trận cuối này xem ra được cái may là đụng lớn, chắc súng đang nằm lềnh khênh trên ruộng. Dinh vái thầm là sáng mai đừng có bộ binh. Không có bộ binh, chắc chắn thẩm quyền sẽ cho giang đoàn đổ bộ. Và với chiến trường không còn tiếng súng, mọi người mặc sức chọn lựa chiến lợi phẩm. Dinh nhất quyết sẽ chôm càng nhiều càng tốt. Rồi xin nghỉ phép, ôm tiền về Sài Gòn ăn chơi một phen cho đỡ buồn!</p>



<p>Không hẹn mà Hân cũng đang nghĩ đến các chiến lợi phẩm như Dinh. Từ ngày Liên trốn gia đình về sống với Hân, nàng đã quá vất vả. Rồi thêm sinh nở, ăn uống thiếu thốn nàng ốm nhom. Cái đáng quan tâm là cơ thể nàng không sinh sản đủ sữa cho thằng con vừa đầy tháng. Anh đã mua thêm sữa của quân tiếp vụ mà vì số lượng bán hạn chế nên phải mua thêm ở thị trường. Mà giá sữa ở thị trường thì mắc gấp đôi nên chỉ biết đau lòng nhìn con uống dặm nước cơm. Trận này là trận cuối, là dịp may cuối cùng để anh kiếm chát kha khá bồi bổ cho vợ con…</p>



<p>Tiếng của thuyền trưởng Hoạt vang lên đột ngột:<br>– Thẩm quyền đang xin trực thăng tản thương. Bên mình một chết, tám bị thương.<br>Giọng Hân hối hả:<br>– Thằng nào chết?<br>– Thằng Thịnh. Thịnh lát!<br>Dinh ngạc nhiên:<br>– Thằng dễ thương mà chết à? Tội nghiệp! Nó mới vừa được cô bồ ở Sài Gòn xuống thăm, cùng lúc cô bồ của tao…<br>Quốc đứng gần, cất giọng buồn buồn:<br>– Chết yên thân, chỉ tội người sống.<br>– Mày triết lý dữ! Biết tội cho người sống mà vẫn cứ tán tỉnh… người sống. Cái cô gì ở Tịnh Biên đó, tao mong cô đó đừng thương yêu gì mày!<br>– Bạn ta mong chi cho … thừa! Nay chỉ còn… buồn trong kỷ niệm!<br>Tiếng thuyền trưởng Hoạt từ phòng lái:<br>– Có chỉ thị của xếp! Đúng 8 giờ, tất cả giang đỉnh sẽ ủi bãi. Mỗi tàu được phép cho ba “thằng” đổ bộ lục soát. Tàu mình, tôi làm trưởng toán với Dinh và Quốc. Thằng Hân ở lại tàu, sẵn sàng khẩu đại liên 30 bắn yểm trợ khi có lệnh.<br>Hân phản đối:<br>– Tôi muốn đổ bộ. Thuyền trưởng cho tôi theo.<br>– Mày có vợ có con, ở lại tàu.<br>Hân xuống giọng:<br>– Ngưng bắn rồi, thuyền trưởng. Tôi cần kiếm vài khẩu súng. Thuyền trưởng thừa biết là tôi rất cần.<br>– Tao biết mày cần. Nhưng…<br>Hân nằn nì:<br>– Tôi cần lắm, thuyền trưởng!<br>Hoạt lặng yên một lúc rồi nhìn Dinh và Quốc:<br>– Thằng nào nhường cho thằng Hân?<br>Quốc nhìn Dinh. Dinh xua tay. Quốc gật đầu:<br>– Tôi, tôi ở lại tàu…<br>Hoạt đổi giọng, ra lệnh:<br>– Nghe cho kỹ: Chỉ vào sâu tối đa trăm mét. Đó là quy luật tác chiến. Thằng nào phạm luật, tao sẽ cho ngồi chuồng cọp. Đúng 8 giờ, có lệnh xếp là bắn dọn đường rồi đổ bộ. Áo giáp, nón sắt, súng đạn đầy đủ. Bây giờ ráng nghỉ dưỡng sức chờ sáng.<br>Hân hí hửng đùa:<br>– Nhận 5, thẩm quyền.</p>



<p>Hân tiếp tục giữ tay lái. Quốc bước về phía mũi, lặng lẽ nằm xuống cạnh khẩu đại liên. Con tàu trôi lềnh bềnh, máy standby kêu lịch bịch. Dinh buồn tình đặt ống dòm lên ngang mắt. Dòng sông hoàn toàn phẳng lặng. Anh hướng vào bờ. Mặt ruộng nhoẹt nhòa như phủ lớp lân tinh. Anh tưởng tượng tên tiểu đoàn trưởng địch nằm phơi xác với khấu súng ngắn bên hông. Thẩm quyền của anh thường kè kè khẩu rouleau, không biết tên vi-xi này mang kiểu súng gì! Súng lục của Liên Xô, Trung Cộng hay Tiệp Khắc? Của nước nào thì xem ra đều được giá, đều được tụi Mỹ hân hoan đón nhận!</p>



<p>Dinh bước lại gần Hân, cằn nhằn:<br>– Mày giành đổ bộ làm gì? Có mệnh hệ nào, thì vợ con ai lo!<br>Hân cười nhẹ:<br>– Tao tính kỹ rồi. 8 giờ là ngưng bắn thì còn… mệnh hệ nào nữa!<br>– Đâu có tin mấy thằng vi-xi được! Tết Mậu Thân, chính nó tuyên bố ngưng bắn để bất ngờ tấn công khắp nơi.<br>– Nhưng lần này nó ký hiệp ước hẳn hoi với quốc tế…<br>– Tao vẫn không tin lũ chuột nhắt này được. Thuyền trưởng sắp đặt hữu lý. Mày nên ở lại tàu để Quốc cùng tụi tao lục soát phải hơn.<br>Hân lắc đầu, khăng khăng:<br>– Không!<br>Dinh đăm đăm nhìn vào mắt Hân. Bóng tối không đủ che khuất những tia cương nghị của bạn.</p>



<p>Anh chợt cảm thông hoàn cảnh của bạn. Tuần rồi dự kỷ niệm con Hân đầy tháng Dinh đã nhìn thấy hoàn cảnh thiếu thốn của bạn. Căn phòng mướn nhỏ hẹp trong một xóm nghèo nàn. Thằng bé xem ra khá èo ọt. Anh choàng tay qua vai Hân:<br>– Tụi mình như anh em, để tao lo cho mày. Tất cả súng tao lấy được, tao sẽ tặng cho mày. Mày khỏi đi.<br>– Không!<br>Dinh kêu khẽ:<br>– Hân!<br>– Hân cái củ kẹt!<br>Dinh nằn nì:<br>– Hân! Mày đừng đi.<br>– Đừng cái củ kẹt!</p>



<p>Biết tính cứng rắn của bạn, Dinh chán nản bước về phía lái, ngả lưng lên chiếc võng căng ngang lòng tàu. Những vì sao đã nhạt mờ theo bóng đêm dần tan. Dinh tưởng tượng đến khẩu súng ngắn còn kè bên hông của xác tên tiểu đoàn trưởng. Ngoài ra, anh sẽ còn kiếm được thêm bao nhiêu khẩu AK? Ý định bán súng để giải sầu tan biến. Không chừng sầu không giải được mà còn buồn thêm? Giúp vợ chồng Hân tìm một nơi chốn tử tế là việc phải làm hơn. Dinh miên man chìm vào giấc ngủ…</p>



<p>Lệnh ủi bãi đổ bộ được ban ra khi mặt trời đã lên khá cao và mực nước lớn đã bắt đầu mấp mé các mảng bờ sụp lở. Mảnh ruộng phơi bày từng luống lúa ngã đổ trông như những miếng vá nham nhở. Vừa nhảy lên bờ, Hân đứng thẳng người quét ống dòm qua lại. Anh chợt nhận ra một dáng người mặc đồ đen nằm sấp như nổi trôi trên lúa. Ở phần thắt lưng, một dây đeo súng to bản vòng ngang. Hân quét qua phải. Một xác khác rồi thêm một xác nữa…</p>



<p>Một bàn tay vỗ lên vai anh. Hoạt ra dấu tiến quân. Chỉ chờ có thế, Hân buông thõng ống dòm, cặp cây M16 nhắm xác địch phóng tới. Hoạt ra lệnh Hân bước chậm theo hàng ngang. Dinh cũng hét lên bảo Hân chờ. Anh hét khan cả cổ nhưng Hân làm như không nghe, cố chạy nhanh hơn. Dinh phóng theo bạn đúng lúc một loạt đạn nổ giòn. Nghe nhói đau ở bắp chân, Dinh hốt hoảng sựng lại ngồi hụp xuống. Trước khi anh cúi xuống xem xét chân mình, Dinh chợt thấy người Hân lảo đảo rồi quỵ ngã. Dinh nhìn lui tìm Hoạt đúng lúc Hoạt đã tiến sát anh. Hoạt đang báo cho thẩm quyền biết toán anh vừa bị địch cho một tràng AK. Có thể một bị thương nặng. Thẩm quyền yêu cầu cho biết chắc chắn để xin trực thăng tản thương. Hoạt ra hiệu Dinh cùng tiến lên. Vừa nhả đạn vừa tiến. Một loạt đạn AK khác lại vang rền. Cả hai đáp trả thật giòn. Dinh nạp băng mới rồi nhoài người nằm xuống cạnh Hân. Anh lay động Hân:<br>– Hân! Hân! Có sao không?</p>



<p>Anh bỗng rùng mình khi thấy máu đang trào qua các lỗ đạn trên lưng áo bạn. Hình ảnh kinh khủng quá. Dinh đã nhiều lần thấy bạn bè bị thương nhưng chưa lần nào ghê gớm như lần này. Qua các lỗ đạn, máu vẫn trào ra có vòi. Thân người Hân giật giật từng lúc nhưng chắc chắn là không còn gì cứu vãn. Dinh không biết phải làm gì, tiếp tục kêu tên bạn như người mất hồn:<br>– Hân! Hân! Trời ơi!<br>Từ phía sau tiếng Hoạt thảng thốt:<br>– Thẳng Hân sao ra nông nổi vầy nè!</p>



<p>Âm thanh quen thuộc của các loạt đạn M16 nổ giòn từ hai bên. Tiếng ầm ầm của các quả M79 nhịp vang từ phía trước… Hoạt quỳ xuống, nhẹ nhàng lật ngửa Hân. Ngực Hân nhầy nhụa máu tươi. Mặt Hân bê bết bùn. Dinh trườn lên, nhìn vào mắt bạn. Đôi mắt trắng dã, trợn trừng. Đôi mắt đó, mới đây còn linh động ngay trong bóng đêm. Tiếng cười đùa, tiếng kể chuyện vợ con của Hân còn văng vẳng. Dinh nhắm mắt lại, nước mắt trào lăn. Tại sao không phải là mình? Mình đâu có thiết sống…<br>Hoạt giận dữ đứng thẳng người ghì chặt báng súng. Từng loạt đạn căm hờn tuôn ra giòn giã. Anh nhả cò súng, cầm ống liên hợp, nói bằng giọng hổn hển, nghẹn ngào:<br>– Tango. Hotel gọi. Báo cáo thẩm quyền, Hotel có một… giải ngũ!<br>Dinh ngẩn ngơ ngắm khuôn mặt thân thương của Hân một lúc rồi đưa tay nhẹ vuốt mắt bạn. “Hãy yên nghỉ. Tao hứa sẽ lo cho vợ con mày!”<br>Khi bàn tay anh qua khỏi, đôi mắt Hân đã hoàn toàn nhắm kín…</p>



<p><strong>Vũ Thất</strong><br><em>(Trích</em>&nbsp;“Một Dòng Sông Cho Chiến Đỉnh”<em>, Sài Gòn 1974)</em></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>màu ảnh chiến tranh</title>
		<link>https://t-van.net/mau-anh-chien-tranh/</link>
					<comments>https://t-van.net/mau-anh-chien-tranh/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[TV và BH]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 12 Apr 2021 05:26:20 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Ghi Chép]]></category>
		<category><![CDATA[chiến tranh]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=49029</guid>

					<description><![CDATA[Minh họa: Cao Bá Minh &#160; Ngu Yên Bạn thân tôi là quân nhân xuất sắc. Anh vào cuộc chiến với quân hàm thiếu úy. Sau sáu năm, rời chiến tranh bằng cố thiếu tá Trở về nhà, lạnh lùng, câm lặng, trong hộp gỗ, anh chỉ còn một cánh tay. &#160; Anh là người [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="pd_description nw_zoomcontent normal">
<div>
<div>
<div class="clear"></div>
<div class="nw_image"><a href="https://vietbao.com/images/file/QOVeDSD92AgBANVO/83.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" class="nw-img-responsive imglazy imgcontent aligncenter" title="83" src="https://vietbao.com/images/file/QOVeDSD92AgBANVO/w400/83.jpg" alt="83" width="400" height="351" data-info="1800,1581" data-original="/images/file/QOVeDSD92AgBANVO/w400/83.jpg" /></a></p>
<div></div>
<div class="nw_image_caption" style="text-align: center;"><em>Minh họa: Cao Bá Minh</em></div>
</div>
<p>&nbsp;</p>
<ul>
<li><a title="Ngu Yên" href="https://vietbao.com/author/post/6842/1/ngu-yen">Ngu Yên</a></li>
</ul>
<p>Bạn thân tôi là quân nhân xuất sắc.</p>
<p>Anh vào cuộc chiến với quân hàm thiếu úy.</p>
<p>Sau sáu năm, rời chiến tranh bằng cố thiếu tá</p>
<p>Trở về nhà, lạnh lùng, câm lặng,</p>
<p>trong hộp gỗ, anh chỉ còn một cánh tay.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Anh là người đàn ông thứ năm trong gia đình,</p>
<p>hy sinh tính mạng bảo vệ tổ quốc,</p>
<p>sau cha và ba anh trai.</p>
<p>Không nước mắt, mẹ anh đưa anh vào giữa nhà.</p>
<p>Ngồi cạnh quan tài, nắm tay anh,</p>
<p>im lặng, đôi mắt vô hồn nhìn lên bàn thờ,</p>
<p>nơi bốn bức ảnh những người lính đã chết.</p>
<p>Nhìn cảnh thương tâm đó, tôi sợ hãi.</p>
<p>Tất cả người mẹ đều đau khổ vì con,</p>
<p>Nhưng người mẹ mất con, đau khổ nhất.</p>
<p>Người đau khổ tiếp theo là vợ anh</p>
<p>và đứa con trong bụng.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>30 năm qua,</p>
<p>đôi khi tôi mơ về bạn mình.</p>
<p>Có lần, bạn tôi nói:</p>
<p>&#8211; “Tao mất cả hai tay.</p>
<p>Cánh tay trong quan tài của người lính khác. &#8221;</p>
<p>Lần sau, tâm sự:</p>
<p>&#8211; “Thằng bé không phải con tao.</p>
<p>Tao bị chấn thương nặng ở háng trong trận chiến đầu tiên. &#8221;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Không ai tin vào những giấc mơ,</p>
<p>nhưng lời nói của anh đóng đinh</p>
<p>hình ảnh chiến tranh đầy ám ảnh</p>
<p>trong hồn tôi.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>*</p>
<p><strong>Color of War Images</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>My best friend is an outstanding soldier.</p>
<p>He entered the war wearing the second lieutenant.</p>
<p>After six years, he left the war as a major.</p>
<p>Returning home, cold and mute,</p>
<p>in the wooden box, he lost an arm.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>He was the fifth man in his family,</p>
<p>sacrificing life to protect our homeland,</p>
<p>after his father and three brothers.</p>
<p>With no tears, his mother took him into their house.</p>
<p>Sitting next to the coffin, she holds his hand,</p>
<p>silent, eyes blankly stared at the altar,</p>
<p>where four pictures of the dead soldiers stood.</p>
<p>Seeing that pitiful scene, I was frightened.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>All mothers suffered for their children,</p>
<p>But the mother who lost her child suffered the most.</p>
<p>The following sufferers were his wife</p>
<p>and her womb child.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Over the past 30 years,</p>
<p>sometimes I dream about my friend.</p>
<p>Once, he told me:</p>
<p>&#8211; &#8220;I lost both arms.</p>
<p>The arm in the coffin belongs to another soldier.&#8221;</p>
<p>Another time, he said:</p>
<p>&#8211; &#8220;The boy is not my child.</p>
<p>I had a severe injury to my groin in the first battle.&#8221;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>No one believes in dreams,</p>
<p>but his words hammered haunted war images,</p>
<p>through my soul.</p>
<p>Ngu Yên</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>(Dich qua hệ thống SLTA</p>
<p>Download SLTA miễn phí:</p>
<p><a href="https://www.academia.edu/45629061/SLTA_Second_Language_Translation_Aids">https://www.academia.edu/45629061/SLTA_Second_Language_Translation_Aids</a>)</p>
</div>
<p>(Nguồn: Việt Báo)</p>
</div>
</div>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/mau-anh-chien-tranh/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nguyễn Lệ Uyên: THẾ HỆ NHÀ VĂN TRẺ: CHIẾN TRƯỜNG, TIẾNG CHIM HÓT VÀ HOA</title>
		<link>https://t-van.net/nguyen-le-uyn-the-he-nh-van-tre-chien-truong-tieng-chim-ht-v-hoa/</link>
					<comments>https://t-van.net/nguyen-le-uyn-the-he-nh-van-tre-chien-truong-tieng-chim-ht-v-hoa/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Lệ Uyên]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 30 Dec 2015 06:12:17 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[chiến tranh]]></category>
		<category><![CDATA[nguyễn lệ uyên]]></category>
		<category><![CDATA[phê bình]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=24875</guid>

					<description><![CDATA[&#160; (Thương Tiếc-Nguyễn Thanh Thu) Trên thế giới này, bất kỳ thời đại nào, chiến tranh luôn là tai họa đối với loài người. Kẻ gây chiến luôn gieo rắc tội ác đổ xuống nhân gian, là bọn khốn nạn, vô luân nhất trần gian… cùng vô vàn tính từ ghê tởm gắn cho chúng. [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>&nbsp;</p>
<p align="center"><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2015/12/thuongtiec61.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="thuongtiec61" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2015/12/thuongtiec61_thumb.jpg?strip=all&fit=304%2C451" alt="thuongtiec61" width="304" height="451" border="0"></a></p>
<p align="center"><strong>(Thương Tiếc-Nguyễn Thanh Thu)</strong></p>
<p>Trên thế giới này, bất kỳ thời đại nào, chiến tranh luôn là tai họa đối với loài người. Kẻ gây chiến luôn gieo rắc tội ác đổ xuống nhân gian, là bọn khốn nạn, vô luân nhất trần gian… cùng vô vàn tính từ ghê tởm gắn cho chúng.</p>
<p>Hai mươi năm nội chiến Nam-Bắc là cuộc chiến vô đạo, phi nhân đến từ một học thuyết xuẩn động và man rợ nhất, gieo rắc bao nỗi kinh hoàng, những cái chết phi lý, không đáng có.</p>
<p>Hàng triệu tấn bom đạn vãi ra, bằng con số ấy nhà cửa ruộng vườn nát tan, và với con số ấy những lương dân đã gục chết thê thảm, cũng chỉ bởi một dúm người không tim, chẳng có óc (!) đến nỗi một người dân bình thường phải thảng thốt kêu lên “<i>Chiến tranh con mẹ gì mà lâu thế</i>” (Y Uyên, Mùa xuân qua đèo) hay một người lính tham dự vào cuộc chiến cũng đã phẫn nộ “<i>Chiến tranh hả? Chiến tranh là cái c… chó gì!”</i> (Thảo Trường, Cánh đồng đã mất).</p>
<p>Nhưng đâu phải chỉ riêng Thảo Trường và nhân vật của ông mới lớn tiếng thóa mạ chiến tranh bằng cụm từ “tục tĩu”, mà gần như tất cả mọi chiến binh trên các chảo lửa chiến trường đều xem chiến tranh nhưứ “tai trời ách nước”. Chưa nói đến sứ mệnh cao cả là chiến đấu để bảo vệ nền dân chủ, tự do cho 17 triệu đồng bào miền Nam (thập niên 60), thì hầu như thế hệ thanh niên lúc này không có một sự chọn lựa nào khác. Hoặc nhảy vô bưng với những suy nghĩ lãng mạn hoang tưởng, hoặc tham dự vào đời sống quân ngũ bảo vệ nền cộng hòa, tự do, dân chủ. Đó là lựa chọn duy nhất, mà đa phần đều từ ý thức, số ít là buông xuôi. Để có được tự do, không phải là điều dễ dàng gì, mà cũng không là của cho không. Và, nhân vật của Thảo Trường đã nói thay tiếng nói tận đáy lòng của thế hệ thanh niên thời đó: <b>“</b><i>Tao nhìn nhận tự do là một cực hình. Tao tự do nhưng tao không biết quyết định ra sao cả. Tao muốn gia nhập vào bất cứ đám đông nào để được xác định là tao có mặt. Nhưng đám đông nào cũng bỏ rơi tao, cũng hất tao ra bên ngoài. Vì thế tao vẫn là kẻ không có chỗ đứng. Nhiều lúc tao phát khóc lên vì cái bất lực của mình. Bơ vơ sống để nhìn đất nước mình lụn bại. Bơ vơ sống để nhìn ngày tháng trôi xuôi. Tao thèm gia nhập như tao thèm sống. Tao thèm có mặt ở khắp nơi&#8230; Để được nói một câu rằng &#8220;tôi có mặt&#8221;. Chúng mày có biết không. Thế nên tao nhập ngũ</i>” (Thảo Trường, Bên trong lô cốt, Văn Nghệ số 24 tháng 6 &amp;7 &#8211; 63).</p>
<p>Nhắc lại: cái <i>đám đông</i> mà Thảo Trường đưa ra và nhắc đến là một ý thức lên đường. Nó không hề là <i>đám đông</i> được dựng lên, được hô hào, dựng vẽ bằng những hình nhân để tung hê vào cõi chết vì một ý thức hệ phi đạo đức, phi nhân tính, một thứ triết lý mộng mị lỗi thời, phá vỡ mọi giá trị truyền thống của xã hội chói sáng tính nhân văn từ hàng nghìn năm, mà tổ tiên đã dày công gầy dựng!</p>
<p>Những lời tung hê, cổ vũ quá máu me quá đỗi bi thảm kia, khi cầm bút, các nhà văn nhà thơ miền Bắc đã có lắng lòng để nghe trái tim mình, cái đầu minh mẫn hay u tối của mình khi đặt bút viết ra những câu thơ, đoạn văn để tránh phải ân hận, đau khổ, dằn vặt lương tâm như sau này nhà thơ Chế Lan Viên viết “Ai? Tôi?”:</p>
<p><i>Mậu Thân 2.000 người xuống đồng bằng</i></p>
<p><i>Chỉ một đêm, còn sống có 30</i></p>
<p><i>Ai chịu trách nhiệm về cái chết của 2.000 người đó?</i></p>
<p><i>Tôi!</i></p>
<p><i>Tôi &#8211; người viết những câu thơ cổ võ</i></p>
<p><i>Ca tụng người không tiếc mạng mình</i></p>
<p><i>Trong mọi cuộc xung phong</i></p>
<p><i>Một trong ba mươi người kia ở mặt trận</i></p>
<p><i>Về sau mười năm</i></p>
<p><i>Ngồi bán quán bên đường nuôi đàn con nhỏ</i></p>
<p><i>Quán treo huy chương đầy, mọi cỡ,</i></p>
<p><i>Chả huy chương nào nuôi được người lính cũ!</i></p>
<p><i>Ai chịu trách nhiệm vậy?</i></p>
<p><i>Lại chính là tôi!</i></p>
<p><i>Người lính cần một câu thơ</i></p>
<p><i>Giải đáp về đời</i></p>
<p><i>Tôi ú ớ,</i></p>
<p><i>Người ấy nhắc những câu thơ tôi làm người ấy xung phong</i></p>
<p><i>Mà tôi xấu hổ,</i></p>
<p><i>Tôi chưa có câu thơ nào hôm nay</i></p>
<p><i>Gíup người ấy nuôi đàn con nhỏ</i></p>
<p><i>Giữa buồn tủi chua cay vẫn có thể cười</i></p>
<p>Những trang văn ở miền Nam thời chiến mà tôi từng đọc, và sau này cũng chưa thấy nhà văn nào lên tiếng về những ân hận từ các trang viết của mình?</p>
<p>Ở đây, bản năng con người, dẫu được trui rèn qua binh lửa thì vẫn có những giây phút nỗi sợ hãi phập phù tấy lên, nỗi cô đơn la đà trỗi dậy: “<i>Tôi thấy tôi cô đơn quá. Biết tôi sẽ ra sao sau khi lát nữa đây tôi buông mình xuống cái vùng tối đen lạnh buốt. Tôi cũng nhớ khi đến không phận vùng hoạt động, kiểm soát lần cuối cùng chiếc dù của tôi xong, tôi đứng nhìn những người sẽ cùng nhảy với tôi, tôi mỉm cười với họ</i>” (truyện dẫn trên), khác hẳn với những trái tim và cái đầu lạnh của những kẻ điều khiển, cầm đầu bên kia.</p>
<p>Nhưng, ngay đến cả nhà văn thiên tả Thế Vũ, trong tình thế không thể lẩn tránh, đôi khi ông vẫn phải tự hỏi rằng tuổi trẻ đang trôi về đâu, về hướng nào một cách bình thản, không chút hằn học, dù rằng trong sâu thẳm đáy lòng ông, qua những trang viết của ông, chiến tranh gây tang tóc cho quê hương chính là những tên tay sai đế quốc! Vậy nhưng trong truyện ngắn Bữa tiệc dưới hầm, nhân vật tôi thản nhiên chấp nhận “cuộc chơi” bằng ngôn ngữ phản kháng rất tinh tế: Nhân vật của Thế Vũ bắt đầu cuộc chơi đầm đìa máu me kia từ “giam cầm, bị vây bủa, bị đẩy…”, và có cả “kẻ thù” từng là chỗ quen biết: “<i>Tôi chợt nhận ra giữa những thứ đó, mình bắt đầu bị giam cầm một cách thật nhẹ nhàng, mình bắt đầu những ngày bị bủa vây, bị đẩy đi quá xa, một nơi mình chưa hề chọn lựa. Hình như, tôi cũng cảm thấy rơi vào một cơn lốc hay một giòng nước xoáy nào đó mà tôi chưa nhìn ra được. Trong những ngày sẽ đến sau đây, cơn lốc nào, giòng nước cuốn nào cuồn cuộn trôi về cuốn phăng đi những người chung quanh, cả tôi, cuốn phăng ra biển khơi tất cả… Có gì lạ đâu, có lần toán kích của mình bắt được một tên đang hò reo mình ra hàng, khi đem về đồn, sau một đêm nhốt ngoài lô cốt, sáng hôm sau chúng tôi nhận ra đó là một khuôn mặt quen thuộc mà nhiều lần mình đã cho lên đồn ngủ nhờ…</i></p>
<p><i>Con biết con bắt đầu vào trận rồi đó. Con biết con không dừng lại được nữa. Chiếc xe cọc cạch đời con vừa bắt được dốc, con không ngừng dừng lại nổi nữa, con bắt đầu lao đi trong cuộc phiêụ lưu này, con bắt đầu làm quen hết tất cả, tất cả…</i><i> </i>(Thế Vũ, Bữa tiệc dưới hầm,Vấn Đề số 24 tháng 7-1969).</p>
<p>Đọc đoạn trích này, hẳn bạn đọc sẽ thấy sự khác biệt trong cách suy nghĩ, giữa một nhà văn miền Nam có khuynh hướng cộng sản với một nhà văn miền Bắc được tôi rèn bên trong bức màn sắt!</p>
<p>Hầu hết các tác phẩm của các nhà văn miền Nam, lăn lộn nơi chiến trường đều phản ánh trung thực những gì đã và đang xảy ra trước mắt họ và trong ý nghĩ của họ, không né tránh, không che lấp, lên gân đánh bóng. Ở đâu lại có những suy nghĩ, những phát ngôn nửa vời biểu thị nỗi hoang mang lẫn lộn giữa trách nhiệm và tiêu cực như nhân vật Tiến của Thảo Trường, trong tình cảnh bị địch vây khốn, đang lúc bị thương: “<i>Thật ý nghĩa và cũng thật vô nghĩa hai tiếng chiến đấu</i>”. Liệu những chiến binh như Tiến có được xã hội toàn trị chấp nhận trong lúc địch quân vây chặt bốn bề? Vậy thì tại sao các nhà văn miền Nam lại đưa những suy nghĩ của nhân vật vào truyện như một công khai bày tỏ thái độ, suy nghĩ cá nhân. Liệu sự bày tỏ tự do sáng tạo có được hệ thống chính trị phía bên kia chấp nhận cho các nhà văn của họ? Nhớ lại hai người lính trẻ của E.M. Remarque trong truyện dài “Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh”, đêm ra bờ sông “đi đồng ”, họ hỏi nhau: “<i>Không biết Quốc trưởng có đi ỉa như tụi mình không nhỉ</i>?”. Thời Quốc xã kinh hoàng là vậy, kỷ luật thép là vậy nhưng có ai ngăn cấm kiểu đặt ra những câu hỏi như trên? Hay như Lê Văn Thiện trong truyện Du lịch bằng trực thăng trên Bách Khoa (không nhớ số mấy) viết về những cuộc hành quân sâu vào bên trong Cambodge ở Snoul đã để cho hai người lính than thở về nỗi cơ cực khi phải chiến đấu ngoài biên giới, và nói đại ý “muốn tranh giành quyền lực thì lãnh tụ của hai phe tham chiến chọn một gò đất cao và hai người đánh nhau phân định thắng thua, chớ sao lại bắt dân lành phải gánh chịu?”</p>
<p>Có tòa án binh, có Sở Phối hợp nghệ thuật, họ sẵn sàng cắt đục, trọng cấm, truy tố… nhưng rõ ràng, những rào cản trên không thể và không hề làm cho nhà văn ngừng bày tỏ những suy nghĩ trong tác phẩm của mình. Thực tế thì các tạp chí miền Nam đã từng bị đục trắng, bị dập đen nhiều trang, nhiều đoạn, bị tịch thu, truy tố ra tòa án như trường hợp Ngô Thế Vinh bị tòa tiểu hình Sài Gòn truy tố xét xử (ngày 18.5.1972 gồm chủ nhiệm Thế Nguyên, chánh phạm. Hai tòng phạm là Ngô Thế Vinh với bài <i>Mặt trận ở SG</i>, ký giả Lạc Giao, bài <i>Những biện pháp kinh tế mới, một cuộc cách mạng đi ngược đường</i>, đăng trên tạp chí Trình Bày số 34, có nội dung làm nhụt ý chí chiến đấu của quân dân VNCH, làm lợi cho CS…, mỗi bị cáo bị tòa Tiểu hình tuyên phạt 100.000đ và bồi thường 1 đồng danh dự cho Bộ Nội Vụ!).</p>
<p>Những vụ xét xử tuyên phạt như vậy không hiếm đối các nhà văn, nhà báo miền Nam, nhưng đó lại là sự tự do tuyệt đối của người cầm bút. Đó là chất nhân văn trong văn chương miền Nam.</p>
<p>Các nhà phê bình văn học sẽ nghĩ sao, phê phán thế nào khi những người lính đi hành quân lại mang phong thái của những kẻ nhàn du, như một cuộc đi dạo trên những thảm cỏ xanh mượt, vàng ruộm sắc hoa và chim hót trên cao, như thể trên đất nước này chưa hề có tiếng bom đạn gầm réo?:</p>
<p><i>Nắng sớm mai long lanh</i></p>
<p><i>Xanh lá rừng che chắn</i></p>
<p><i>Gió đồng ca loanh quanh</i></p>
<p><i>Không chút gì lo lắng</i></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><i>Bước giày chợt bâng khuâng</i></p>
<p><i>Tìm thơ hay tìm giặc</i></p>
<p><i>Tảng đá chạm mũi chân</i></p>
<p><i>Giật mình tim co thắt</i></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><i>… loại giấy phép quí này</i></p>
<p><i>Được ký bằng đầu đạn</i></p>
<p><i>Từ chủ nghĩa bầy nhầy</i></p>
<p><i>Nếu may không bỏ mạng</i></p>
<p>(Luân Hoán)</p>
<p>Hay như Lâm Hảo Dũng:</p>
<p><i>Anh ở miền Nam lạc đến đây</i></p>
<p><i>Còn quân phương Bắc ngủ xuôi tay</i></p>
<p><i>Chiến tranh như thể trò tiêu khiển </i></p>
<p><i>Của lũ con buôn xác chết này</i></p>
<p>Và cả nhà thơ bác sĩ chiến trường Trang Châu:</p>
<p><i>Trong cuộc chiến hôm nay</i></p>
<p><i>Cho tôi xin chiến đấu không hận thù</i></p>
<p><i>Xin những vết thương bình đẳng</i></p>
<p><i>Cho tôi đổi một trăm chiến thắng</i></p>
<p><i>Lấy một giọt nước mắt kẻ thù</i></p>
<p>“Lạ. Không thể tin nổi…” Đó là những lời nói chân thật của một vài trí thức chân chính miền Bắc đã đọc những câu thơ loại như thế này trong buổi trà dư tửu hậu mạn đàm chuyện văn chương thời chiến, mà kẻ viết bài này ngồi tiếp chuyện cách đây khá lâu ở Pleiku, một thành phố cao nguyên Trung phần. Phải. Trong một xã hội mà nền giáo dục đã bị chính trị hóa toàn diện, được tuyên truyền từ chân lên đầu, họ kinh ngạc khi lần đầu tiếp xúc với văn chương miền Nam thì không có gì khó hiểu, nhất là khi họ nghe toàn văn bản bài <i>Uống rượu với người lính Bắc phương </i>của Phan Xuân Sinh:</p>
<p><i>Hãy rót cho ta thêm cốc nữa đi<br />
Ngồi với bạn hôm nay làm ta hứng chí<br />
Chuyện ngày mai có chi đáng kể<br />
Dẹp nó đi cho khỏi bận tâm<br />
Thằng lính nào mà không rét lúc ra quân<br />
Khi xung trận mà không té đái<br />
Ta cũng có người yêu nhỏ dại<br />
Mỏi mắt trông chờ song cửa quê nhà …<br />
Chuyện sống chết căn bệnh trầm kha<br />
Đâu dễ gì thoát vòng sinh mệnh<br />
Những thằng lính thời nay không mang thù hận<br />
Bạn hay thù chẳng một lằn ranh<br />
Thôi hãy uống. Mọi chuyện bỏ lại sau<br />
Nếu có thể ta gầy thêm cuộc nhậu<br />
Bày làm chi trò chơi xương máu<br />
Để đôi bên nuôi mầm mống hận thù<br />
Ta chán lắm rồi ba chuyện ruồi bu<br />
Chỉ có bạn, có ta là thua cuộc<br />
Người yêu của bạn ở ngoài phương Bắc<br />
Giờ này đang hối hả tránh bom<br />
Hay thẩn thờ dõi mắt vào Nam<br />
Để chờ người yêu mình trở thành liệt sĩ<br />
Rồi cũng sẽ quên, như bao điều suy nghĩ<br />
Tình yêu như một thứ điểm trang?<br />
Che đi chút dối lòng<br />
Uống với bạn đêm nay ta phải uống thật say<br />
Để không phải còn nhìn nhau hận thù ngun ngút</i><i></i></p>
<p>(những ngày đầu xuân 1972)</p>
<p><b></b>Trong truyện ngắn Kẻ đào ngũ của Kinh Dương Vương đăng trên tạp chí Văn số 153 ngày 1-5-1970, mô tả một đơn vị TQLC hành quân giải tỏa Huế hồi tết Mậu Thân, nhân vật Công: “…<i> nghe rõ hơn, như ở gần bên tai anh, nhưng dầu đã chú tâm lắng nghe, anh cũng không thể nhận được tiếng kêu phát ra từ hướng nào. Nó vẳng đến lúc to lúc nhỏ. Khi liên tiếp từng hồi, rồi lại ngắt ra từng quãng một. Hình như những âm thanh thảm não anh nghe được chỉ là những vọng âm đã bị những cơn gió xoay chiều làm tan vỡ. Anh nghe ở khắp mọi nơi. Từ trên trời xuống, từ dưới đất lên, từ bốn phương tám hướng. Nó bay cao trên thượng tầng, nó là là trên mặt đất, thoát ra từ các hố bom sâu, chìm vào trong hơi mưa giá buốt, dật dờ không định hướng, như tiếng than ai oán của các oan hồn trên chiến địa. Giọng thê lương đó như gởi lời réo gọi, van nài khẩn thiết đến cái thế giới vô cảm tàn ác ở chung quanh. Nó cất lên thật cao bằng tất cả nỗi nghẹn ngào rồi đột ngột chùng hẳn xuống trong niềm tuyệt vọng, dàn trải ra lây lất, mỏng manh và mệt mỏi đuối hơi</i>”.<i> </i></p>
<p>Và khi Công nhận ra <i>những âm thanh thảm não… Giọng thê lương đó như gởi lời réo gọi, van nài khẩn thiết đến cái thế giới vô cảm tàn ác ở chung quanh</i> chính là giọng của một sinh linh bé nhỏ, thay vì cùng đồng đội tấn công, xóa sổ ổ đại liên của địch trên thượng đài theo lệnh, thì Công đã lao về hướng phát ra tiếng gào đó, dưới làn mưa đạn của địch quân: “<i>Đúng vào lúc ấy, tiếng khóc bỗng cất lên, giọng the thé làm Công giật mình. Nó phát ra ngay dưới chân anh. Trong một hầm núp đào vội vã dưới bộ ván ngựa của một ngôi nhà gạch đã đổ nát, Công tìm ra đứa bé chưa quá tuổi thôi nôi, trong lúc nó đang vục đầu lên ngực, nhai núm vú của một người đàn bà đã chết. Toàn thể mình mẩy nó nhuộm máu đỏ lòm trông khủng khiếp. Máu khô quánh đặc se mớ tóc dày của nó thành từng lọn. Dưới ánh đèn soi thấy Công nó không ngạc nhiên. Miệng nó vẫn ngậm vú để phát ra những tiếng ư ứ hờn dỗi như một con heo con nhai phải chiếc vú không có sữa. Nó ngước đôi mắt sáng ngời của một con thú nhỏ nhìn Công, tự nhiên và thân thiện. Nhưng khi Công vừa đưa tay ra, nó vội nhả vú mẹ, hốt hoảng bò quanh hầm, miệng phát ra những tiếng khóc đặc biệt mà Công đã nghe. Nó bò ngang qua tử thi của một người đàn ông và dừng lại bên thi hài của một bà lão. Như tìm được người che chở, nó tự tín quay lại nhìn Công. &#8220;Thế là cả một gia đình&#8230; &#8220;, anh nói thầm…</i>”.</p>
<p>Và Công đã cứu được đứa bé bằng chính sinh mạng của mình. Cái chết đến với Công nhẹ như một lọn mây trắng xốp và đẹp tựa một cánh chim chao nghiêng trên bầu trời rực nắng, bên dưới là cánh đồng cỏ xanh mượt và hoa vàng và tiếng suối reo: “<i>Tiếp theo có những tiếng nổ giòn giã. Công thấy mình như một cánh chim đang say sưa nhẹ lướt trong khoảng trời cao rộng bỗng nhiên đôi cánh mỏi liệt. Khoảng không gian dao động và cánh chim lảo đảo. Mắt anh hoa lên, chan hòa một màu xanh của nghìn trùng lá non, màu xanh mênh mông của một đại dương lặng sóng lấp lánh nắng mai. Anh chìm xuống, chìm vào trong một màu xanh an lành bát ngát, xôn xao những mắt sáng trẻ thơ reo cười</i>”.</p>
<p>Người lính VNCH đâu chỉ có đánh giặc, đâu chỉ biết cầm súng chiến đấu? Họ cũng chỉ là những con người bình thường như hàng trăm ngàn chiến binh khác, nhưng ở họ có trái tim, có lòng nhân từ; khác chăng là khác với những giòng chữ ngập ngụa “máu lạnh” dưới ngòi bút một nhà văn, nhằm kích thích sự hận thù, chém giết một cách bệnh hoạn<i>: Quân ta ào lên, bắt giết, đâm, giẫm đạp. Một mụ nguỵ cái, ngực để trần, miệng há ra ú ớ. Niềm căm thù kẻ hạnh phúc hơn mình bốc lên ngùn ngụt trong ngực mình. Mình găm vào ngực mụ cả loạt khiến ngực mụ vỡ toác mà mặt mụ vẫn chưa tắt hy vọng. Giết người lúc ấy sao thấy sướng thế!</i>”. Một đoạn khác: “<i>chúng quay thằng Thiết như quay một con lợn rồi róc thịt uống rượu trả thù cho đồng đội</i>” (Tạ Duy Anh, <em>Đi tìm nhân vật</em>).</p>
<p>Nguyên mẫu bệnh lý cuồng sát từ các trang văn của các nhà văn miền Bắc đã được “giáo dục” từ triết lý dựng lên nỗi “căm hờn” <i>đốt chảy cả dãy Trường Sơn</i> ở truyện ngắn Giấc ngủ mười năm của Trần Lực như một chuẩn mực khi cầm bút: “<i>Người ta nói dân ở gần mặt trận ai cũng hăng. Có gì lạ đâu. Tây nó ác quá. Chúng bắt được đàn bà con gái, thì 7 tuổi đến 70 nó chẳng từ ai. Năm bảy thằng tranh nhau hiếp. Hiếp không chết, thì nó chặt đầu, móc mắt, mổ bụng, rạch trôn. Có khi chúng bắt con trai hiếp mẹ, cha hiếp con gái, cho chúng nó coi và cười. Không nghe thì chúng giết cả nhà</i>”. Một đoạn khác: “<i>Trẻ con thì chúng nó bắt bỏ trong chum, nấu nước sôi giội vào. Hoặc trói 2, 3 em lại một bó, quấn rơm và giẻ chung quanh, rồi chúng nó tưới dầu xăng đốt…. Tây ác như vậy, cho nên dân ta ai cũng hăng máu lên. Họ nói thà đánh Tây mà chết còn hơn để nó hành hạ mà chết”.</i></p>
<p>(<a href="http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=0&amp;cn_id=223316">http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=0&amp;cn_id=223316</a>).</p>
<p>Cũng thật dễ hiểu, sau bao nhiêu năm dài, dưới thể chế chính trị của miền Bắc XHCN, đã để lại những sản phẩm văn nghệ mang màu sắc xám xịt, đến nỗi những người trong cuộc như nhà văn Nguyễn Minh Châu phải cay đắng thốt lên trong một bài viết có tựa: Lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa: “…<i>mấy chục năm qua, tự do sáng tác chỉ có đối với lối viết minh họa, văn học minh họa, với những cây bút chỉ quen với công việc cài hoa, kết lá, vờn mây cho những khuôn khổ đã có sẵn mà chúng ta quy cho đấy đã là tất cả hiện thực đời sống đa dạng và rộng lớn. Nhà văn chỉ được giao phó công việc như một cán bộ truyền đạt đường lối chính sách bằng hình tượng văn học sinh động… Thất thiệt to lớn nhất của văn nghệ minh họa của ta là từ đấy những nhà văn đánh mất cái đầu và những tác phẩm văn học đánh mất tính tư tưởng, – nghĩa là những tư tưởng mới và độc đáo mang tính khái quát cuộc đời của riêng từng nhà văn. Như một người đánh mất phần hồn chỉ còn phần xác, hoặc chỉ còn cái phần hồn do nhà nước bao cấp… Văn chương gì mà muốn viết một câu trung thì phải viết một câu nịnh? Hèn, hèn chứ?</i>” (<i>Văn nghệ, </i>Hà Nội, số 49 &amp; 50 (5-12-1987).</p>
<p>Hẳn nhiên, lịch sử văn học Việt Nam sớm muộn gì cũng sẽ có những đánh giá khách quan về vấn đề vừa nêu…</p>
<p>Kẻ viết bài này vốn mê sách báo, đã từng ngốn không biết bao tiền bạc vào sách, đọc gần như trọn vẹn các tác phẩm văn chương miền Nam, từ Bình Nguyên Lộc, Võ Phiến, đến những nhà văn trẻ thuộc thế hệ chúng tôi và cả những nhà văn “phản kháng, lẫn thân cộng” có mặt trên Hành Trình, Đất Nước, Tự Quyết, Đối Diện… cũng chưa hề có ai đặt bút viết những giòng miêu tả đến mức đánh mất cả nhân tính, như những lưỡi dao xoáy ngập vào thân người như dẫn trên (!); ngược lại, cách hành xử ngoài đời thường và trong trang văn của thế hệ nhà văn trẻ cầm súng miền Nam vẫn thấm đẫm chất nhân văn, bởi họ là con người, những con người chân chính, phân biệt được cái đẹp cái xấu, không đánh lẫn giữa thiện và ác. Tại sao như vậy, bởi văn học đàng ngoài là loại văn học nguyên khối, một chiều nhằm ca tụng, tô vẽ và bảo vệ chế độ, còn đàng trong là muôn hình vạn trạng tự do trong sáng tạo, không ràng buộc, câu thúc, không uốn cong, khom lưng, không để não trạng bị đóng băng…</p>
<p>Với Phan Xuân Sinh: <i>Bày làm chi trò chơi xương máu/ Để đôi bên nuôi mầm mống hận thù</i>, là những lời thủ thỉ tâm tình giữa người lính phương Nam và phương Bắc trong giờ hưu chiến. Nhưng với Trần Hoài Thư, đang trên chiến trường, lúc hành quân, bỗng nghe tiếng hát cất lên bên bờ suối, thay vì nổ súng, tấn công, “diệt gọn” thì ông ngăn người lính, để yên cho cặp đôi bộ đội cất tiếng hát vang và lắng nghe. Thời khắc đó, giữa ta và địch không còn lằn ranh. Tất cả hòa vào không gian lung linh sắc giọng, đến nỗi <i>khiến rừng như thể im phăng phắc, lá như thể thôi lay động trên cành</i>. Đó mới chính là cái đẹp, là tính người. Đó mới chính là tính nhân bản trong văn chương miền Nam, của những người lính miền Nam cầm súng và cầm bút.</p>
<p>“<i>Trung đội thám kích đang săn tin về một đơn vị Bắc quân mới xâm nhập vùng Trường sơn, đã không ngờ gặp một cặp bộ đội đang hát bên bờ suối. Quân thù đó nhưng người lính đã không bắn. &#8220;Tôi không thể chơi cái trò dã man như vậy. Tôi muốn người thanh niên kia, ít ra, có một giờ phút vĩnh cửu (&#8230;) Tiếng hát như nói lên những điều câm nín từ những con tim của tuổi trẻ Việt Nam&#8230;. Tiếng hát như dậy khỏi mồ, bạt cả gió, khiến rừng như thể im phăng phắc, lá như thể thôi lay động trên cành. Và ít ra, tôi vẫn còn hiểu rằng, mỗi người đều có trái tim. Và trái tim thì lúc nào cũng sống vĩnh cửu&#8221; </i>(Trần Hoài Thư, trích từ Ban Mê Thuộc ngày đầu ngày cuối, Thư Ấn Quán xb 1997).</p>
<p>Vâng, những người cầm súng và cầm bút miền Nam chỉ cần: <i>Cho tôi đổi một trăm chiến thắng/Lấy một giọt nước mắt kẻ thù</i> mà nhà văn Trang Châu đã thốt lên tận đáy lòng như một tiêu biểu cho hành động và suy nghĩ của thế hệ “bị ném vãi ra chiến trường như trấu”.</p>
<p>Họ, các nhà văn miền Nam vẫn thường có tiếng chửi thề trong một vài đoạn văn, và nhiều hơn thế trong một tác phẩm văn học, nhưng không phải với giọng điệu thảo khấu, giang hồ mà chỉ để giải tỏa những cơn bực tức, bức bối thông thường: “<i>Ông thầy cho em miếng nước. &#8211; Đụ mẹ, tao là lính chứ đâu phải sĩ quan mà kêu tao ông thầy… &#8211; Thì đàn anh cho đệ tử một hớp. &#8211; Hớp cái con cặc, bộ mày không có bình toong à!</i>” (Cao Xuân Huy, Tháng Ba gãy súng).</p>
<p>Người lính miền Nam đôi khi cũng có những cái trân tráo, ba trợn và cũng có những lúc phải táo tợn (như ta thường nghe trong các chuyện kể dân gian), như thể họ đang ở một thôn làng bình yên nào đó, không hề là nơi chiến trường mịt mờ khói lửa, không hề là những tù binh lúc khốn cùng: “<i>Cứ như vậy cho đến khi nước uống được hai ả du kích cái mang ra. Nhiều người bu lại uống nước, lúc đầu còn uống tử tế, đến thùng thứ ba được mang ra, cũng vẫn nhiều người bu lại, nhưng chỉ một số người uống nước, số khác giả vờ chen lấn giành nước để bóp vú hai ả du kích…</i></p>
<p><i>Khi thùng nước kế tiếp được mang ra, màn bóp vú lại tái diễn, và khi hai nữ đồng chí được đề nghị mang thêm nước lần nữa thì trốn luôn. Không còn nước, không còn đàn bà, mọi người ngồi trở lại trong hàng. Một người lính vừa ngồi xuống bên cạnh quay sang nhìn tôi cười. &#8211; Đụ mẹ, bị bắt mà còn được bóp vú Việt cộng, đã quá! </i>(CXH, dẫn trên).</p>
<p>Những hoạt cảnh đời thường ấy được các nhà văn đưa vào truyện, không có ý bôi xấu, cũng chẳng phải vấn đề tình dục hay ẩn ức tình dục mà chỉ là một chút bỡn cợt trong hoàn cảnh không thể đừng, từ một hiện thực sống động trong bối cảnh chiến trường hoặc đã tan vỡ, hoặc đang đối mặt với những điều khủng khiếp sắp xảy ra cho họ và cho các chiến hữu trong những vòng đai phòng thủ, hay ngoài mặt trận súng đạn gào thét. Đó là những đóa hoa ngạt ngào hương sắc giữa lằn ranh của sự sống và cái chết chết.</p>
<p>Họ chiến đấu, nhưng không thể dửng dưng “đang làm con người, được làm người” như bao con người bình thường khác trên thế gian này chưa mất bản năng gốc.</p>
<p>Trong truyện dài Chạy trốn, Thảo Trường đã lồng vào một đoạn ngắn vô cùng sinh động, như trong một xã hội thu nhỏ ngoài đời, mà ở đây là một doanh trại: “<i>Một lát sau người vợ hốt hoảng kêu khe khẽ: &#8220;Đừng. Anh. Để đến đêm&#8221;. Người chồng không nói gì. Tôi vẫn ôm vợ tôi nằm yên nhắm mắt. Bên kia tiếng chõng tre kêu răng rắc dồn dập. Tiếng thở đàn ông lại càng dồn dập hơn. Tiếng thằng nhỏ ở ngoài gọi vào. &#8220;Ba ơi&#8221;. Người đàn ông quát: &#8220;Ở ngoài đó.&#8221;</i></p>
<p><i>Tôi vẫn nằm yên, vợ tôi mở mắt nằm yên. Tôi nhắm mắt lại, lúc mở ra thì vợ tôi cũng đã nhắm mắt lại. Vợ tôi nằm nguyên một dáng điệu duỗi xoải, đầu gối trên cánh tay. Nó nói nhỏ với tôi nhưng vẫn nhắm mắt: &#8220;Đến tối anh nhé!&#8221; Tôi không nói gì. Vẫn nhắm mắt. Bên kia tiếng thở đàn ông vẫn dồn dập, tiếng chõng tre cũng vẫn răng rắc. Chợt người gác ở trên chóp tháp canh gọi đổi gác. Một người khác ở tầng dưới nói vọng: &#8220;Tao lên bây giờ.&#8221; Người chồng nói vội:&#8221;Thong thả đã nhé&#8221; nhưng người vợ đã đẩy chồng xuống chõng đánh rầm. Hắn càu nhàu một lát rồi bước tới cầu thang nói lớn: &#8220;Rồi đó&#8221;. </i>(Thảo Trường, Chạy trốn).</p>
<p>Người lính không phải gỗ đá, tính cách đời thường vẫn luôn luôn gắn chặt với người lính ngoài chiến trường, mỗi khi có dịp<i>.</i> Rượu và nhà thổ đã vượt ra ngoại phạm vi luân lý, đạo đức phong kiến phương Đông.</p>
<p>Họ hành xử như một con người đúng nghĩa, bởi sống và chết chỉ cách nhau một sợi tóc nhỏ, kéo theo vô khối những hệ lụy với mọi con người mà dấu hiệu đầu tiên là vẻ mặt<i> “ngơ ngác”</i> mà Hoàng Ngọc Hiển đã kịp nhận ra. Những ẩn nhẫn chịu đựng của người dân luôn là dấu hỏi cho các nhà văn trẻ nơi chiến trường. Lương tâm, trách nhiệm và bổn phận trộn vào thực tế đắng cay luôn làm trái tim họ co thắt, đau đến tận cùng nỗi đau trước các chiến hữu, đồng bào họ, kẻ thù của họ: “<i>Nước dột đã tràn lên gần hết diện tích sàn hầm, mầu nước đỏ ngầu, lều bều rác rưởi, đồ mửa,… ngó phát lợm giọng. Đây là một trường hợp chiến tranh trên quê hương nghèo khổ, lắm tàn tích, lắm chủ nghĩa, lắm người ngoại quốc. Hơn lúc nào hết, bây giờ chúng tôi phải chiến đấu anh dũng trong những điều kiện eo hẹp. Đôi khi làm chúng tôi chán nản, vùi đầu vào những cơn say vô vị… Khi chúng tôi tiến vào Sóc Xoài, trời đã xế trưa, và chúng tôi không gặp một lực lượng chống cự nào cả. Dân ở đó gồm một nhóm người Thượng ngơ ngác nhìn chúng tôi, có lẽ họ cũng ngơ ngác như vậy khi nhìn Việt cộng vào sóc đêm qua? Lục soát kỹ, chúng tôi chỉ thấy những dấu vết chứng tỏ địch đã có mặt ở đó, và chúng mới di chuyển đi không lâu</i>” (Hoàng Ngọc Hiển, Cơn say, Khởi Hành số 73, ngày 1.10.1970).</p>
<p>Thực tế cay nghiệt luôn theo đuổi người lính ngoài mặt trận. Mới sáng còn ngồi trách móc nhau, hút thuốc, uống rượu thì đến tối đã biến mất, tan loãng vào cát bụi. Có mặt ở chiến trường, mới cảm hết nỗi đau thắt lòng với Lê Bá Lăng trong đoạn văn này: “<i>Tôi gạt thằng Nuôi qua một bên, châm cho người đàn ông điếu thuốc, nâng cằm hắn lên, nhìn và bảo: Trong “tăng-xê” thằng Nam vẫn đốt đèn ngồi cùng bọn thằng Hải, thằng Đắc. Trên một tấm ván thông vừa mới dựng, thằng Nam đã đặt cái cốc bằng nhựa đựng đầy gạo Mỹ, cắm mấy chân hương. Chỗ ngồi của mày đó Nuôi. Chỗ ngồi không bao giờ mày còn thấy, còn nhìn tao, còn say rượu nói tao mới ra trường chưa kinh nghiệm, chưa biết lấy tiền Việt-cộng đem xài</i>” (Lê Bá Lăng,<i> </i>Buổi dừng quân, Văn số 121, năm 1970)</p>
<p>Cung cách của các chiến hữu đối với nhân vật Nuôi khiến người đọc cảm thấy như những người còn sống bị chặt đứt một cánh tay, bàn chân… vượt lên trên tình ruột thịt máu mủ.</p>
<p>Trong khi đó, ở truyện ngắn Giờ hưu chiến của Vương Thanh viết vào tháng 11 năm 1967, đăng trên Văn Học (bìa rách không tìm ra số ngày tháng phát hành) có đoạn viết về cái chết của hai nữ chiến binh VC trong hầm, qua một bức thư gửi về người yêu của một sĩ quan VNCH: “<i>Vũ khí vô tội nhưng chúng ta có tội. Đáng ra quê hương này, đồi núi này phải là những đất đai êm ái cho cuộc sống của chúng ta. Từng làng xóm thân yêu, từng ruộng nương nuôi sống chúng ta đã chối bỏ. Trong một cuộc hành quân khác, anh khai một hầm trú ẩn và đã gặp ba người thanh niên, hai thiếu nữ với những vũ khí. Tất cả đều còn trẻ, thật trẻ, trên dưới hai mươi tuổi trời. Năm người ấy chung nhau một căn hầm chừng hai thước vuông. Họ đã vĩnh viễn ở lại trong đó, với đất của chính quê hương mình? Một trái phá được đặt giữa những người ngồi, đứng vây quanh. Tất cả họ đã tự sát. Hai thiếu nữ nửa phần dưới thân thể đã bị lột trần truồng, nửa phần trên được che bằng một mảnh yếm vải xanh. Tự nhiên, anh hiểu ngay họ là người đồng bào miền Bắc, có thể cùng làng xã chúng ta, họ hàng chúng ta, biết đâu, hai thể xác ấy không mang một tấm thông hành quê ở Hà Đông hay Phủ Lý.&nbsp; Đọc đến đây chắc em nghĩ ngay đến một cảnh tượng dâm ô nào đó trên phim ảnh, một cuộc hãm hiếp chẳng hạn. Không phải chuyện giản dị như vậy.&nbsp; Hai thiếu nữ, có thể với bản năng sinh tồn nào đó, họ đã muốn sống, đã muốn thoát lên khỏi miệng hầm theo lời dọa nạt và kêu gọi của bọn anh vẫn làm khi tìm ra một căn hầm bí mật. Nhưng ba người thanh niên chắc không muốn thế. Chắc họ muốn tụi anh lầm tưởng gian hầm đã được bỏ hoang và dưới đó chả có một chiến công nào đó với tụi anh.&nbsp; Họ đã cưỡng bức hai thiếu nữ ở lại với họ để giấu kín sự bí mật. Tính e thẹn của phụ nữ đã được dùng đến, hai mảnh quần đã được lột ra bằng vũ lực để hai thiếu nữ không còn tính chuyện đến trước một đám đông bọn anh mà họ đã từng được tuyên truyền là tàn bạo và dâm ô. Họ đã ở lại với các chiến hữu của họ cho sự bí mật được an toàn</i>”.</p>
<p>Cái chết quá thê thảm này, lỗi không do bọn họ, cũng không do trời đất, số mệnh… mà từ một chủ thuyết hoang cuồng: cũng chết nhưng bên này thì<i> </i><i>đặt cái cốc bằng nhựa đựng đầy gạo, cắm mấy chân hương</i>. Còn bên kia là sự khủng khiếp, man rợ không khác gì đám ôm bom tự sát ngày nay, mà còn hơn thế, bởi ba chiến binh nam đã lột truồng hai cô gái để họ phải xấu hổ ở lại với chúng trong căn hầm, khỏi lộ tung tích (!): <i>Một trái phá được đặt giữa những người ngồi, đứng vây quanh. Tất cả họ đã tự sát. Hai thiếu nữ nửa phần dưới thân thể đã bị lột trần truồng, nửa phần trên được che bằng một mảnh yếm vải xanh</i>.</p>
<p>Có những cái chết ngọt ngào, những cái chết tức tưởi, những cái chết anh hùng và những cái chết cuồng điên… trong văn chương chí đến xã hội. Trách ai?</p>
<p>Để kết thúc bài viết này, xin dẫn một đoạn trong tham luận <i>Tính“văn học” trong văn học miền Nam</i> của nhà văn Trần Doãn Nho đọc tại hội thảo Hai mươi năm văn học miền Nam, tổ chức tại nhật báo Người Việt, Hoa Kỳ ngày 6/12/2014 : “<i>Văn học miền Nam nói chung, trong quá trình phát triển của nó, đề cập đến con người như một hiện sinh, một thân phận chứ không chỉ như một hữu thể chính trị và cũng không chỉ như một hữu thể đạo đức, hiều theo nghĩa cổ điển. Do đó, ngoài những tác phẩm đề cao tình người, đề cao tình gia đình, một số tác phẩm cũng đề cập đến những ám ảnh tình dục, những ray rứt về phận người hay những vấn nạn triết lý về đời người và người đời…</i></p>
<p><i>Trong những tác phẩm viết về chiến tranh, tác giả không đề cập đến người lính như những kẻ chỉ biết “nhắm thẳng quân thù mà bắn”. Ngược lại, hầu hết đều viết về những gian khổ của người lính và những ray rứt của họ khi phải cầm súng bắn vào những người cùng máu mủ. Dù chống Cộng, không có một tác phẩm văn chương nào kêu gào giết cho đến người Cộng Sản cuối cùng.</i></p>
<p><i>Có thể nói, không giai đoạn nào mà văn học mang đầy đủ tính cách “người” như hai mươi năm văn học Miền Nam. Có khóc, có cười, có đau thương, có thống khổ, có vui mừng, phấn khởi, có lo âu, dằn vặt, thậm chí có dâm, có loạn. Một nền văn học thể hiện con người trong tất cả cái phức tạp của kiếp nhân sinh. Thay vì chỉ đề cập đến cái thiện, cái đẹp, người ta đề cập đến cả cái ác, cái xấu. Thay vì dùng văn chương chỉ để “tải đạo”, người ta dùng văn chương để lột trần những bề trái, những khía cạnh giấu ẩn, tăm tối, xấu xa của con người. </i><i>( </i><i><a href="http://damau.org/archives/34977">http://damau.org/archives/34977</a></i><i>)</i></p>
<p><b>Nguyễn Lệ Uyên</b></p>
<p><b>tháng 12/2015</b></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2015</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/nguyen-le-uyn-the-he-nh-van-tre-chien-truong-tieng-chim-ht-v-hoa/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Lưu Na: ĐỜI_TRƯỚC VÀ SAU.</title>
		<link>https://t-van.net/luu-na-doi_truoc-v-sau/</link>
					<comments>https://t-van.net/luu-na-doi_truoc-v-sau/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lưu Na]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 27 Oct 2015 13:59:08 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[chiến tranh]]></category>
		<category><![CDATA[lưu na]]></category>
		<category><![CDATA[việt nam]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=24031</guid>

					<description><![CDATA[Gió – Tranh: Mai Tâm (Bài viết này nguyên gốc được viết bằng Anh ngữ &#8211; xin xem phần phụ lục-, theo đề nghị của TV&#38;BH, tác giả đã chuyển bài viết sang Việt ngữ để giới thiệu với độc giả TV&#38;BH) Tôi sinh ra tại Sài gòn, Nam Việt Nam, năm 1959, trong một [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2015/10/clip_image00222.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2015/10/clip_image002_thumb22.jpg?strip=all&fit=354%2C237" alt="clip_image002" width="354" height="237" border="0" /></a></p>
<p align="center"><b>Gió – Tranh: Mai Tâm</b></p>
<p><em>(Bài viết này nguyên gốc được viết bằng Anh ngữ &#8211; xin xem phần phụ lục-, theo đề nghị của TV&amp;BH, tác giả đã chuyển bài viết sang Việt ngữ để giới thiệu với độc giả TV&amp;BH)</em></p>
<p>Tôi sinh ra tại Sài gòn, Nam Việt Nam, năm 1959, trong một gia đình Bắc Việt chọn di cư vào Nam sinh sống như hiệp định Geneva 1954 cho phép. Dù vẫn còn trong cảnh khó nghèo, gia đình tôi đã dần ổn định như bụi lắng xuống sau cơn bão dữ. Chỉ là, bão ấy đã không tan, bởi “..hiệp định Geneva [dẫu] được hình thành [để] bảo đảm hòa bình cho Việt Nam nhưng cuối cùng đã chỉ góp phần vào cuộc chiến.”</p>
<p>Chính nơi đó, ngày tháng đó, đời sống tôi bắt đầu: giữa hai cuộc chiến. Nếu nhìn ngược về trước Bài viết100 năm kể từ 1954, đó là cuộc chiến giành độc lập từ sự đô hộ của Pháp, (cuộc chiến) đáng ra phải chấm dứt với Thế Chiến thứ II năm 1945 nhưng vẫn tồn tại cho đến hiệp định Geneva. Nhìn trở về sau 100 năm, đó là chiến tranh Việt Nam, đáng ra cũng phải chấm dứt năm 1975 nhưng vẫn kéo dài dưới một hình thức khác. Cái gọi là hòa bình, là thời ngưng bắn, thực ra chỉ là những cái nấc cụt của cuộc đình chiến nửa vời.</p>
<p>Nơi đó, ngày tháng đó, tôi lớn lên một cách kỳ diệu không một viên đạn làm trầy xước, không một thảm họa trên cao đổ xuống. Tôi lớn lên với cuộc chiến ngày đêm trùm phủ trên đầu, như mây luôn có giữa bầu trời, lòng biết không hề có một tương lai sáng lạn nào cho bất cứ ai dưới bầu trời ấy. Làm sao có được, khi toàn bộ tài nguyên quốc gia (quốc gia = Nam Việt Nam, Việt Nam Cộng Hòa), bao gồm của cải và trí lực, dường chỉ được phân bổ cho việc chống xâm lăng của miền Bắc, hàn gắn những vết thương do cuộc chiến gây ra và những vấn đề liên quan. Xã hội và con người miền Nam đã sống trên những gì sót lại, nhưng đời sống vẫn đủ đầy bởi miền Nam giàu tài nguyên thiên nhiên, ít bị tàn phá bởi chiến tranh với Pháp và Nhật, và nhất là, người dân có đủ tự do cũng như sự ổn định chừng mực.</p>
<p>Thời tiểu học của tôi đánh dấu bằng cuộc tấn công 1968, theo sau là giới nghiêm và lựu đạn cay hằng ngày. Tuổi trung học đi qua với hỏa châu và những âm vang của đại bác hỏa tiễn hằng đêm. Tôi hằng cầu xin để gia đình tôi có thể nuôi tôi học hết trung học, lấy được tú tài, và lấy được một người chồng dân sự có công ăn việc làm. Anh em trai tôi thì cầu sao thoát quân dịch. Từng ngày qua, tôi xót thương cậu mình, anh em mình, những thằng bạn hàng xóm; người quen biết ai cũng chôn sâu trong lòng, rất sâu, ý nghĩ “thà nó chết hơn mình chết.” Tôi lớn lên với hiệp định Paris 1973 đọc hằng ngày trên báo, với vô số những cuộc biểu tình tẩy chay chống báng của sinh viên, của phong trào tuổi trẻ, giật mình biết ra dân miền Nam có những kẻ sang thuyền. Hết thẩy để chống chiến tranh. Tại sao? Chả có ai buồn giải thích sự thật đơn giản nhất: đây là cuộc chiến tự bảo vệ của miền Nam, chống lại sự xâm lăng của miền Bắc. Không phải sao, vì mặt trận và giao tranh toàn xảy ra trên đất miền Nam? Mọi quấy rối, tấn công, và nằm vùng, đều do miền Bắc tổ chức và khởi động để tóm quyền kiểm soát miền Nam nếu thành công hoặc tàn phá nếu thất bại. Miền Nam luôn ở thế bị động: chống hay chết. Trong mắt thiếu niên, đơn giản là người ta tấn công thì mình chống trả, vậy chống chiến tranh nên hướng đến kẻ-xâm-lược-miền-Bắc, không phải miền Nam, và sang thuyền nên là để di cư ra Bắc tựa như cha mẹ tôi và hàng triệu người dân khác đã đi từ Bắc vào Nam. Chống chiến tranh bằng cách ủng hộ kẻ xâm lăng? Kêu gọi hòa bình bằng cách trốn theo bọn nằm vùng trên đất nhà để giết người dân mình hằng chung sống? Tại sao? Tại sao và tại sao, quá nhiều điều tuổi thiếu niên không thể hiểu hết trong khi tôi còn phải chép thơ vào nhật ký giấu diếm, phải học thuộc những phương trình hóa học, bài giải toán, các định nghĩa vật lý… Tôi có bài kiểm phải qua, những kỳ thi phải đậu, có bộ vó cần trau chuốt, và bạn trai để níu lấy nếu một ngày các giấc mơ hiện thực, mà tất cả lại sẽ bất khả nếu việc sinh nhai của gia đình không bị tuột dốc và việc ấy đang xảy ra bởi miền Nam lúc đó đang lậm trong một vũng lầy.</p>
<p>Cái gọi là giải phóng năm 1975, đúng hơn là sự sụp đổ của Sài gòn, chấm dứt mọi điều. Chết chóc và đói nghèo là chuyện nhỏ, bởi tôi và đồng bào của mình, cùng với những người lính của miền Nam, khi thất trận thì mất luôn cả cái quyền có được lúc sinh ra: quyền làm người. Trong tù, vẽ vời là trại cải tạo, những người lính ấy chiến đấu với nạn đói triền miên, với những cuộc tra tấn cả nhục hình lẫn tinh thần, với nạn bóc lột sức lao động. Họ chống chọi, chỉ cốt giữ lại chút nhân phẩm. Bên ngoài, chúng tôi, dân miền Nam cũng triền miên chống trả với lăng mạ, tẩy não, và tước đoạt nhân quyền. Riêng tư, tôi lo mình sẽ phải lấy một người của phe “chiến thắng,” mà có gì khác hơn là thêm nỗi sỉ nhục. Trong với ngoài, tất cả chúng tôi thành nạn nhân của một lý tưởng lãng xẹt, phi lý, và bất nhân. Cho đến lúc đó, đời của tôi không có gì khác hơn một lỗ hổng, mà đáng ra phải là một quê hương yêu dấu với truyền thống văn hóa đủ đầy. Cho đến lúc đó, tôi chưa hề có cơ hội đi thăm đất nhà tươi thắm. Chính trên đất quê, chính lúc còn sống tại quê nhà, tôi chưa một lần được biết thế nào là một đời sống bình thường. Hy vọng duy nhất là vượt thoát bằng mọi giá, có khi quá cao, để sống một cuộc sống của con người, và tôi đã thoát.</p>
<p>Tôi đến tỵ nạn trên nước Mỹ như một phép màu, một đặc quyền tối thượng, một giấc mơ hiện thực, nhưng chả phải không có những nhọc nhằn. Lênh đênh trên đất lạ với nỗi đau từ nay vĩnh biệt gia đình, tôi chỉ còn là một công dân không tổ quốc. Trái đất to rộng mênh mông mà không một mảnh đất cho người Việt lưu đày. Thì đã sao nếu Má tôi không phải lúc nào cũng đúng, nếu niềm tin và hành xử theo đạo Khổng không nhất quán. Đời sống vẫn tiếp tục trôi, và trong đời sống này tôi là kẻ đơn độc. Không chỉ là những quan hệ máu mủ bị bứt rời, mà ngay cả khả năng và hiểu biết nhỏ nhoi của tôi cũng trở thành vô dụng. Cùng với đa số người tỵ nạn Việt Nam, tôi đã bắt đầu một đời sống mới từ chỗ tận cùng.</p>
<p>Tôi đã làm qua nhiều công việc với giờ giấc khác nhau để có một cuộc sống khiêm nhường và để có thể đến học tại đại học cộng đồng (cho dù việc học thất thường một cách rất đáng buồn), nhưng, cuối mỗi ngày dài tôi vẫn là một người cô lẻ trên đất Mỹ. Tôi nhớ thèm cái đói nghèo của kiếp đời xưa, khi tôi có mẹ cha anh chị em để cùng gánh bất cứ tai hoạ nào. Tôi khóc khi thấy người ta ăn Tết, bởi Tết có nghĩa gì đâu với một kẻ không nhà. Cuộc đời mới của tôi nơi này thường qua đi với ngày nuốt nước mắt và đêm dày ác mộng _ ác mộng những ngày trên đảo tỵ nạn ở đệ tam quốc gia, Bidong, Malaysia. Việc hòa nhập vào xã hội mới, xây dựng lại cuộc đời, là trò tồn sinh mà những kẻ mới nhập cư ai cũng biết. Với tôi, đó là việc phải sống với một vết thương không khép, bởi bị bứt rời khỏi quê hương thì có bao giờ lành.</p>
<p>Việc đơn giản nhất là học Anh ngữ, trong tự thân nó cũng không chỉ là một ngôn ngữ mới mà còn là việc chuyển đổi văn hóa. Từ những thói quen lâu ngày như việc nói quanh co thay vì nói rõ, cho đến việc nhìn vào mắt người đối diện khi tiếp xúc, những điều bé mọn giản đơn đó đã dẫn dắt tôi hòa nhập, vậy mà tôi vẫn thấy lạc loài. Cô đơn là cái gì đó không dễ chinh phục hay tảng lờ. Tôi nhận ra điều quan trọng không phải là nói giỏi tiếng Anh bao nhiêu, kiếm được bao nhiêu tiền, kết được bao nhiêu bạn … tôi chỉ sống trọn vẹn được đời mình nếu biết tự sống đủ, có lòng bác ái, và hiểu chính mình. Tôi hiểu ra tự do chính là biết tự chế, kiến thức là biết những giới hạn, cũng như mỗi lựa chọn đều có giá của nó.</p>
<p>Tôi hoàn tất chương trình cử nhân 20 năm sau, một thành tựu muộn màng và không lợi lộc, nhưng thành tựu đó khiến tôi nên vẹn một con người. Với thời gian, tôi đã biết sống cùng nỗi cô đơn, thấy ra vẻ đẹp của nó cũng như biết quý đặc ân học để nên người. “Biết đủ và tự đủ,” vốn là tư duy lý tưởng của một số người Đông phương và là rào cản chắc nịch cho một cuộc sống tử tế của kiếp đời xưa cũ của tôi, giờ chiếu ngời sự tĩnh lạc. Tôi nhìn lại chặng đường đã qua của tôi và của những người đồng hương, nhìn lại cuộc chiến đã xé đất nước ra thành “những giòng sông chia rẽ.” Câu hỏi của tuổi vị thành niên năm xưa vẫn vấn vương trong óc. Giờ đây, tôi có câu trả lời quả quyết, dẫu đúng hay sai vẫn còn tùy thuộc ở những hiểu biết về sau.</p>
<p>Giả mà Việt Cộng muốn có độc lập- hòa bình- và thống nhất, thì họ đã chung tay, [lần đầu] với chính phủ lâm thời của miền Nam năm 1945 khi Nhật đầu hàng, và một lần nữa, khi hiệp định Geneva 1954 có hiệu lực. Nói chuyện với người mình gọi là anh em hay máu thịt phải dễ hơn là khởi một cuộc chiến, [một cuộc chiến] chỉ để chứng minh một điều tàn hại là Chủ Nghĩa Xã Hội, hay đúng hơn là Chủ Nghĩa Cộng Sản, mà tôi không chắc họ thực hiểu đó là gì. Bốn mươi năm sau cuộc chiến, chúng tôi, những người Việt trong và ngoài đất nước, còn phân rẽ hơn bao giờ hết. Xã hội nơi quê nhà nay chỉ có phồn vinh giả tạo và nếp sống lọc lừa. Nền độc lập của Việt Nam bị đe dọa trầm trọng. Cái thực tế đó mở ra cho tôi một câu hỏi khác: người Việt chúng ta có thể đóng lại chương sử cũ, và sang trang? Bởi vì, những người đã từng tin rằng họ chiến đấu cho độc lập của nước nhà, những kẻ đã sang thuyền năm xưa và vẫn tin vào lẽ phải của riêng họ, [những người ấy] chưa bao giờ nhận sai lầm của mình.</p>
<p>Bao mạng sống, máu xương, hy vọng, niềm tin, và tiềm năng của Việt Nam đã đổ sâu xuống hố như những thiệt hại không thể tránh khỏi. [Giành] độc lập bằng chiến tranh có đáng không khi có thể đàm phán hòa bình? Một số người yêu nước nghĩ họ cao cả hơn tất cả mọi người; số khác, những người không trực tiếp lăn vào súng đạn, tin rằng hành động [theo cộng sản] của họ đẹp. Tôi thương cảm và thậm chí thấy chính mình trong số những người bị ép buộc hay bị dối lừa vào cuộc chiến, nhưng tôi khinh bỉ họ &#8211; những người chối hậu quả việc mình đã làm. Khi phủi tay với lỗi lầm theo cộng sản, họ [những người nghĩ mình chiến đấu giành độc lập] đã chối từ cơ hội cùng dân tộc khóc thương với nhau một lần cho những mất mát cũ hầu cho qua những việc đã qua và tái tạo một tương lai cho đất nước. Vết thương lòng bị trốc gốc bật rễ của tôi nay chồng thêm với những khác biệt khôn hàn gắn. Cuộc đời, trước và sau chiến tranh Việt Nam, vẫn là một sự mù mịt rối ren mà trong đó tôi đã được một phần khá khiển [hơn những người khác].</p>
<p>Mà, tôi vẫn hy vọng. Tôi hy vọng thế hệ của tôi và những thế hệ tiếp nối sẽ đạt được nhận thức tốt hơn hầu tìm ra một giải pháp cứu vãn cho một quá khứ không còn có thế cứu vãn. Miễn là người Việt hải ngoại còn mặc tấm áo dài truyền thống, còn giữ những tục lệ Lễ Tết, và nhất là thanh thiếu niên còn biết ăn món Việt Nam, thì dân Việt chúng ta vẫn còn một tương lai. Biết đâu tôi sẽ có thể xem những thắc mắc vấn vương trong tim như nước chảy qua cầu.</p>
<p><strong>Lưu Na</strong></p>
<p><strong>10152015</strong></p>
<p>J. Llewellyn et al, “The Geneva Accords of 1954”, Alpha History, accessed Sept 26, 2015, <a href="http://alphahistory.com/vietnam/geneva-accords-of-1954">http://alphahistory.com/vietnam/geneva-accords-of-1954</a>/ &#8211; See more at: <a href="http://alphahistory.com/vietnam/geneva-accords-of-1954/#sthash.B88VZqa3.dpuf">http://alphahistory.com/vietnam/geneva-accords-of-1954/#sthash.B88VZqa3.dpuf</a></p>
<p><strong>Phụ Lục (Nguyên bản Anh ngữ):</strong></p>
<h2><b>Lưu Na: LIFE_BEFORE AND AFTER</b></h2>
<p>I was born in Saigon, South Viet Nam, in 1959, to a North Vietnamese family who preferred to live in the South as the Geneva Accords of 1954 set forth. Even though still in poverty, our family gradually settled down, just like the dust after a fierce windstorm. Except that that windstorm did not die, because “[t]he Geneva Accords of 1954 were designed to secure peace in Vietnam but would eventually contribute to war.”</p>
<p>There and then, my life started in between the wars. If one looks back 100 years from 1954, it was the war to gain independence from the French domination, supposed to end with World War II in 1945 but did not until the Accords. Looking forward 100 years, it was the Vietnam War, which also supposed to end in 1975 but still goes on until now under another form. The so-called peace, or ceased-fire times were just hiccups of a partial truce.</p>
<p>There and then, I grew up miraculously untouched by a single bullet, or by any disaster fallen from way above. I grew up with the war looming over my head day by day, night by night, like clouds always appear in the sky, knowing that there is no bright future for anybody under that sphere. How could there be when the entire nation’s (nation=South Vietnam, the State of Vietnam) resources (materials and intellects) seemed to be distributed either for fighting the North’s invasion or healing the wounds and all other matters related to the war. Society and South people made do on whatever was left, yet life back then was still nourished, for the South was full of natural resources, less damaged from the war with France and Japan, and most of all, people had adequate freedom as well as a certain level of stability.</p>
<p>My time in grade school was marked with the 1968 attack, following with curfews and tear gas every day. My high school years were composed of red flares and echoes of cannon and rockets nightly. I prayed that my family could support me through high school, that I could get high school diploma, that I would get married with a civilian with a job. My brothers prayed that they would dodge military draft. Day by day, I felt sorry for my uncles, my brothers, and my neighbor male friends; people I knew buried the thought “better you than me” deep, very deep. I grew up reading about The 1973 Paris Agreement on daily papers, seeing numerous boycotts and protests by college students and youth movement, startling to learn there were South people who jumped boat. All for anti war. Why? Nobody ever explains the simplest truth: this war was the South defending the North’s invasion. Was it not, since the fights and fronts all happened on the land of the South? All disturbances, attacks, and insurgences, were organized and initiated by the North to either seize control if possible, or to damage the South had the attempts failed. South Vietnam was mostly in the passive position of a fight: defend or die. It was a simple thing in the eye of a teenager: you fight back when attacked, therefore, protesting/anti war should be directed at the North, not the South, and to jump boat is to relocate in the North just like my parents and a million others from North to South. Anti war by supporting the invader? Peace-appeal by joining the insurgence on your own land killing people you had been living with? Why? Why and why, too many things for a teenager to comprehend while I had poems to copy into my hidden journal; chemical formulas, math solutions, and physics definitions… to memorize. I had quizzes to take, tests to pass, an appearance to maintain, and a boyfriend to engage if dreams ever come true, all of which would never be possible if making a living for my family derailed, and it was because the South there and then was too deep in a mess.</p>
<p>The so-called liberation came in 1975, actually the collapse of Saigon, ended everything. Death and poverty were of the least concern, for I and all my fellows _ together with the soldiers who lost the war, also lost what were given at birth: the life of a human being. In prisons, painted as re-education camps, those soldiers fought with constant hungers, tortures (both physical and mental), and labor exploitation. They fought, just to barely remain a human being. Outside, we, the people of the South, fought with persistent humiliation, brainwash, and human right deprivation. Personally, I fought the threat of ending up with someone from the “victorious” side for what it was if not more of humiliation. In and out, we all fell victims to a nonsense, illogical, and inhuman ideology. My life until then was every thing but a void of what should be a dearest, beloved country with all its cultural traditions. Until then, I never had a chance to explore the beauty of my homeland. There and then, I never had the opportunities to learn what there was to a normal life. Escaping was the only hope that one paid at any price, some way to high a price, for the chance of surviving a human life, and I did escape.</p>
<p>Entering the U.S. as a refugee was a miracle, an extreme privilege, a dream-come-true, but not without confusion. I floated on the new land with the pain of never seeing my family again. I am but a citizen without a country. The planet is huge, vast, and there is no land for the Vietnamese exiles. So what if my mom is not always right, if the practice and beliefs of Confucianism carry inconsistency. Life goes on, and in this life I am alone. Not only my contact to homeland ripped, my skills and knowledge, how little it was, useless. As with the majority of Vietnamese refugees, I started a new life from scratch.</p>
<p>I worked different jobs at different hours to maintain a humble living while attending college (which sadly sporadic), yet, at the end of every long day I still was but a loner in America. I longed for the poor living condition of the past life when I had my parents and my siblings to shoulder with me whatever the disaster would be. I cried seeing others celebrating Tet festival, for the festival means nothing if one had no home. My new life normally went by with tears streaming inward by day, and nightmares _ of the time in the transition camp in a third country, namely Bidong, Malaysia _ by night. Adjusting to a new society, rebuilding a life, all new comers know the game of survival. For me, it was living a life with an open wound, because being uprooted can never be healed.</p>
<p>Simplest thing was learning English, and in it was not only a new language but also a change of culture. From long-been habits of beating around the bush instead of being specific, to having eye contact when speaking with others, those small and simple things gave way to blending in and I still found myself at a loss. Solitude was something not easily conquered or ignored. I came to realize that it does not matter how well my English is, how much money I make, how many friends I have&#8230;, the key of living to the fullest extend of my life is self sufficiency, compassion, and self awareness. I learned that freedom is self restraint, knowledge is to know the limits, and choices come with prices.</p>
<p>I finished my bachelor degree twenty years later, a late and unprofitable accomplishment but it made me whole. With time, I have learned to live with my solitude and appreciate the beauty of it as well the privilege of having an education for enrichment. Self-sufficiency, an ideal concept for some easterners and a definite barrier to a better living in my past life, shines its tranquility. I looked back at my path and that of my fellows, at the war that tore our nation into “divided rivers.” The question from formative years still lingers in the back of my head. I can answer that question now with a conviction, right or wrong pending on further understanding (!)</p>
<p>Had the Vietcong wanted independence, peace, and unification for Vietnam, they would have taken part with the then provisional government of the South in 1945 when Japan surrender, and again in 1954 after the Geneva Accord took effect. Talking to your so-called brothers/bloods has to be way easier than starting a war just to make a point _ a destructive point: socialism, or more accurately, communism, which I doubt if they truly knew what it was. Forty years after the war, we, the Viet people in and out, were divided more than ever. The society back home now carries but a false prosperity and deceitful living. Vietnam independence is seriously threatened. That reality brought me another question: can we, the Viet people, close this chapter and turn the page? Because those who believed they fought for Vietnam independence, those who jumped boat back then and still hold their righteousness, never acknowledge their mistake.</p>
<p>Lives, bloods, hopes, faiths, and potentials of Vietnam had gone down the dump as collateral damage. Could independence justify war instead of peace talk when opportunities were presented? Some patriots think they stand above all others; some who never actually and directly held guns believed their actions were poetic. I sympathized and identified myself with those who were forced and fooled into the war, but despised those who refused to look further to realize the damage of their actions. In denial of an honest mistake, they refuse us a chance to grieve together, to “let the bygones be bygones,” and to rebuild a future for Vietnam. My uprooted wound now topped with irreconcilable differences. Life, before and after the Vietnam war, some how remains an enigma in which I got a better hand.</p>
<p>Yet I still hope. I hope for my generation and the upcoming ones to gain better judgments, and hence arrive at a better solution to fix the unfixable past. As long as Vietnamese abroad still wear “ao dai,” (a traditional dress), maintain customs of Tet and other significant holidays, and especially if the youngsters still eat Vietnamese foods, Viet people still have a future and I might someday treat lingered questions in my heart as water under the bridge.</p>
<p><b>Luu Na</b></p>
<p><b>10152015</b></p>
<p>J. Llewellyn et al, “The Geneva Accords of 1954”, Alpha History, accessed Sept 26, 2015, <a href="http://alphahistory.com/vietnam/geneva-accords-of-1954">http://alphahistory.com/vietnam/geneva-accords-of-1954</a>/ &#8211; See more at: <a href="http://alphahistory.com/vietnam/geneva-accords-of-1954/#sthash.B88VZqa3.dpuf">http://alphahistory.com/vietnam/geneva-accords-of-1954/#sthash.B88VZqa3.dpuf</a></p>
<p>©T.Vấn 2015</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/luu-na-doi_truoc-v-sau/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Kh&#244;ng : Phi Lạc đi&#8230;T&#226;y</title>
		<link>https://t-van.net/ngo-khng-phi-lac-dity/</link>
					<comments>https://t-van.net/ngo-khng-phi-lac-dity/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 23 Feb 2015 15:45:52 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[chiến tranh]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không]]></category>
		<category><![CDATA[việt nam]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=21190</guid>

					<description><![CDATA[Nhè chuyện ăn uống với củi lửa, lão chạm phải…“ngòi nổ” kho đạn Gò Vấp. Ngồi trước mặt lão có một anh già vung vít chuyện vượt biển lạc vào đảo Hoàng Sa, anh già tranh luận chủ quyền biển đông với tướng Võ Nguyên Giáp có mặt tại đây. Tướng Giáp chịu “thua” phải [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2015/02/clip_image00110.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: left; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin: 0px 20px 10px 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image001" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2015/02/clip_image001_thumb10.jpg?strip=all&fit=254%2C575" alt="clip_image001" width="254" height="575" align="left" border="0" /></a></p>
<p>Nhè chuyện ăn uống với củi lửa, lão chạm phải…“ngòi nổ” kho đạn Gò Vấp.</p>
<p>Ngồi trước mặt lão có một anh già vung vít chuyện vượt biển lạc vào đảo Hoàng Sa, anh già tranh luận chủ quyền biển đông với tướng Võ Nguyên Giáp có mặt tại đây. Tướng Giáp chịu “thua” phải để anh già vượt biển tiếp và trả lại ba thẻ vàng đóng dấu nổi hiệu Kim Thành.</p>
<p>Nói cho ngay, chuyện bịa cứ như thật của anh già trong quán nhậu trên nhiều như tủ lạnh chạy đầy đường. Thế nhưng ngẫm chuyện nhân sinh với đất sinh cỏ già sinh tật, cái tật một tấc tận giời của mấy anh già với càng già càng nói dài, nói dai, nói dại. Bởi chó dại từng mùa, người dại quanh năm nên nhãn kiến vi thật tức <i>nhìn thấy mới cho là thật</i>, thật tình lão đang hong hanh đi tìm một hậu thân của Cống Quỳnh ”nói như trạng”. Hay một chuyện nào đó “cứ như đùa” để lão đưa vào làng văn xóm chữ. Nào ai biết ma ăn cỗ, lớ quớ lão dám lạc đường vào văn học sử cũng không chừng. Nếu vậy lão phải về thăm quê nhà một chuyến. Chuyện dễ hiểu thôi vì nước Việt ta có tới gần một trăm triệu dân, là đất địa linh nhận kiệt với tiền rừng bạc biển. Thêm nữa, lúc này người Việt ở trong nước rất tự hào, hãnh diện vì được cả thế giới biết đến qua chuyện <i>Phi hành gia đầu tiên trên thế giới bay lên mặt trăng và hiện còn ở đó là…chú Cuội</i>. Chuyện này cụ Nguyễn Khuyến đã có câu thơ: <i>Đầu đường ngang có một chỗ lội</i><i>, có miếu ông Cuội cao vòi vọi &#8211; Cho nên làng ấy sinh ra người, sinh ra rặt những thằng nói dối.</i></p>
<p>Ha! Quá đã! Thế là lão leo lên lưng cá chép bay về Sài Gòn đúng ngày ông Táo về trời.</p>
<p>Về Sài Gòn, nhớ đến miếu ông Cuội cao vòi vọi, lão ghé miếu cụ Lê Văn Duyệt có hai con voi chầu hai bên mộ chí. Lão “liên hệ” được ông thầy bói mù sờ voi xoi xói chỉ qua bên kia Cầu Bông. Bèn qua cầu trong một ngày sáng nắng chiều mưa, lão láo ngáo đi tìm hâu thân cụ Cống Quỳnh là nhà bác vật thâm niên cổ đại đang co cỏm đâu đây. Cuối cùng lão cũng mò mẫm ra “thảo lư” và bấm chuông. <i>Con thằn lằn chọn nghiệp</i> thò đầu ra tặc lưỡi một cái tách cho hay nhà bác vật đang ngồi ở quán Hiển Khánh cạnh rạp Đa Kao. Bèn ra quán chè ới “cái nồi ngồi trên cái cốc”. Ngó dáo dác chả thấy ai có dáng thông kim bác cổ sất! Lão nhấp một ngụm và nhăn mặt vì cà phê đăng ngắt, hốt nhiên có ông khách chõ mồm qua hóng hớt đó là “cà phê đểu”. Khách kéo ghế sang ngồi nói ấy là…cà phê giả. Tiếp đến, khách tự xưng danh tính là “Phi Lạc”, con nuôi nhà bác vật. Thế là lão đan lồng nhốt kiến với khách rằng đang đi tìm một kỳ nhân nói phét thành thần thuộc dạng nhất Bắc kỳ nhì Đông Dương. Hay kỳ tích của ai đấy mà ít người biết đến. Khách lực đực rằng kỳ nhân này đang nằm ấp ở Hàm Tân. Còn kỳ tích như…” huyền sử, huyền thoại” là đang tào lao thiên tôn với Lê Đưc Thọ để đưa Phạm Hùng hay Võ Văn Kiệt làm Quang Trung chống Tàu. Kỳ nhân dị sĩ này đây sẽ là Ngô Thời Nhiệm giúp ông Kiệt hoặc ông Hùng trong cơ nghiệp tạo cơ đồ chống Hà Nội xâm lược miền Nam.</p>
<p>Bỗng dưng không đâu khách lậu bậu “khôn ngoan quỷ quyệt chết lao chết tù, lủ khủ lù khù chết già chết rỗi”. Hơ! Hay là khách nói lão!? Thế nên lão trộm vía khách chứ…chứ khách “mặt tái mét nói phét thành thần” là cái chắc. Thế nhưng “nổ” bậy theo các cụ nho ta xưa phải có căn với <i>nhị sự bất tri</i>: Một là phải bản lai diện mục người nghe là ai. Lớ ngớ đụng phải kho đạn Gò Vấp khác văng miểng tứ tung, từ chết đến bị thương là cái cẳng. Ấy là <i>xử bất tri kỳ nhân</i>. Hai là nói những gì mình biết chứ đừng nói những “cóc nhái” mình cóc biết gì ráo! Lạng quạng có ngày không có đất mà chôn với bất kiến quan tài bất hạ lệ là <i>chưa thấy quan tài chưa đổ lệ. </i>Đó là <i>tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri</i>. Chả là lão ăn đong ăn vay tác giả Huỳnh Văn Phú nên mới lân la với “ngòi nổ” và…“nổ”. Ông nhà văn luận rằng phe ta nổ vì đẻ ở gần kho đạn Long Bình, kho đạn Cát Lái. Hay vì bẩm sinh, tạm hiểu là mới…phọt ra là đã nổ như lựu đạn rồi. Khỉ thế đấy!</p>
<p>Bởi những lý sự trên, lão trộm chia nổ bậy làm hai thể loại: Một là hay bốc cái tôi của mình. Hai là khoa trương kiến thức. Lụi đụi theo Freud thì những người hay bốc phét đều có tật hay quên. Vì vậy họ hay kể lại chuyện cũ, với những chi tiết hỡi ơi khác nhau nghe muốn khùng luôn. Họ bốc vì tự ty. Họ bốc cái tôi của mình như gà ấp bóng, vì dưới bụng gà có quả trứng quái nào đâu. Họ nấp bóng nên chỉ thích quảng giao với người có danh vị như nhà thơ, nhà văn, chứ họ không khoái….nhà quàn, nhà xác. Thể loại hai: Họ bốc vì tự tôn. Họ tự cho mình là người biết hết, và thông thái như Aristote, hay Rabelais. Họ khoa trương kiến thức như ba ba ấp bóng vì ba ba đẻ trứng vùi xuống cát có biết cái trứng nở ra…con khỉ gì. Họ thường nói chuyện cao siêu, siêu thực từ Chúa, Phật đến Socrates, Nietzsche. Họ như con bò nhai lại mớ kiến thức tủn mủn, họ say sưa nói nhưng…Lạy Chúa tôi! Họ chả biết mình nói khỉ mốc gì cả.<i></i></p>
<p>Lão đang phê như con tê tê đến đây, bỗng người Phi Lạc ngoả nguê rằng chuyện huyền thoại, huyền sử như “quân sư” Ngô Thời Nhiệm với Quang Trung phải ra Hà Nội gặp sử gia, sử nhân. Ngốc như con ốc cách mấy, lão vắn hai dài một rằng người “ăn ốc nói…mò, ăn măng nói …mọc, ăn cò nói…bay” đông như tổ đỉa, nhưng bởi có voi voi to, không voi bò là lớn nên lão cũng đành theo…voi ăn bã mía. Trong phiếu hốt người ư hử: <i>Dù hôm nay tôi chưa nhìn Sài Gòn, dù hôm nay tôi chưa thấy Hà Nội, nhưng sao lòng tôi chưa mất niềm tin</i><i>…</i>Vì niềm tin với nỗi niềm nào đấy của ông họ Trịnh, người móc cái iPhone 7X gọi “xe con” đi Hà Nội. Bởi muốn tinh vi sờ ti con lợn, lão hỏi mắc chứng gì phải có mặt ở Thăng Long nghìn năm văn vật? Người như thánh nhai ra chữ mà rằng với sử gia, sử nhân viết huyền thoại, huyền sử để dựng sử nào khác gì lão viết…văn bia đá, chữ bia ôm để thành chuyện “phét lác” như thằng mõ làng. <i></i></p>
<p>Ha! Qua bia đá, bia ôm với của đi tìm người, ngẫu nhiên lão gặp người mà nhà bác vật viết trong tiểu thuyết theo tuồng lịch sử: <i>Phi Lạc náo Sài Gòn, Phi Lạc bởn Nga, Phi Lạc đại náo Hoa Kỳ, Phi Lạc sang Tàu</i>. Lại cũng dựa dẫm hơi hám ông họ Trịnh như cánh vạc bay với…”<i>bia đá, bia ôm, bia nào cũng vậy&#8230;,làm sao em biết bia đá không say?</i>”. Và cũng dựa hơi thằng Phi Lạc cùng những ngẫu sự dưới đây biết đâu lão viết thành truyện&#8230;<i> Phi Lạc đi Tây.</i></p>
<p>Truyện với “Phi Lạc sang Tàu” thì Phi Lạc là một thứ Ngộ Không qua những nét đặc thù là khoác lác, ranh vặt. Nó là thằng mõ làng Phù Ninh nhưng giả danh dòng dõi họ Hồ, bà con với Hồ Thơm Nguyễn Huệ. Sự phét lác, ma bùn của nó đến tai thằng mõ làng Cổ Nhuế, một thằng ma tịt, ma gà khác. Vì muốn trả thù thằng mõ Phù Ninh, thằng mõ Cổ Nhuế bán làng Phù Ninh của nó cho ông sư Tàu Hồng Hạc, sư được sứ mệnh xuôi Nam, tìm đến &#8220;thảo lư&#8221; rước quân sư Khổng Minh về làm thánh sư, với nhiệm vụ phò Minh đuổi Thanh phục quốc. Cốt truyện là một thứ tiểu thuyết lối Tàu, mà chống Tàu. Trong đó tất cả những địa danh, tên người như Phù Ninh, Cổ Nhuế, Hồ Thơm, Hồ Thích, Phi Phúc, Phi Lạc, Hồng Hạc, và ngay như Ngộ Không đều có…thật với chính-tà, thật-giả, tiêu biểu cho thánh hiền hoặc giả hiền.</p>
<p>Lão so đo trong Phi Lạc sang Tàu, nhà bác vật gọi thằng Phi Lạc là “nó”, là “thằng”. Dám nó…gõ mõ cho xe mì gõ ở đường Đinh Tiên Hoàng lắm ạ. Mà thằng mõ làng Phù Ninh có mặt ở Đa Kao từ năm 1939, lão tuổi Thân, cũng là Ngộ Không. Ấy là chưa kể lão và thằng Phi Lạc cùng họ…”Phi”. Lão chắc mẩm dám đã gặp nó đâu đó ở Lăng Ông Bà Chiểu nên là bạn vong niên, là quên tuổi tác nên lão gọi là…“nó” cho rồi,&#8230;Rồi ở tinh gặp ma, ở quỷ gặp quái, lão gọi nó là…“thằng” cho dễ gọi. Thằng quái này được sư Hồng Hạc tôn như một sư phụ chuyên trị &#8220;cái biết&#8221; mà chẳng cần dựa vào &#8220;sách nào, trang mấy, tờ a, tờ b, dòng mấy, đoạn nào”. Tất cả những vòng vo rất tam quốc ấy, nói lên Phi Lạc sang Tàu là một tác phẩm chống lại tất cả khuôn mẫu bào chế tư tưởng: Thằng mõ làm đảo lộn trật tự tiên chỉ, làng xã, nó được thỉnh sang Tàu, sang Mỹ, sang Nga, như một “cố vấn”, một vị “phu tử” bằng vào sự&#8230;nói láo. Sự nói láo của thằng Phi Lạc, cũng như sự nói láo của…cụ Hành Giả, cụ đây cũng là…phu tử của lão qua những bài viết chữ như <i>Gã thiền giả</i>: Thật đấy giả đấy…Giả đấy nhưng cũng thật đấy.</p>
<p>Đối với nhà bác vật thâm niên cổ đại, sự thần phục người Tàu trên hơn hai ngàn năm, phát xuất trên núi từ Khổng Tử, Mạnh Tử, rồi hạ san xuống đến Mao, hậu Mao&#8230; như một sự xuống dốc không “thắng”. Theo sự leo thang xuống dốc, thằng Phi Lạc như con rối, huơ tay, huơ chân, đánh trống, khua chuông, hú hồn Trạng Trình Nguyễn Bình Khiêm về nhập thế, nhập vào thằng Phi Lạc, nói ra những…&#8221;minh triết&#8221; Việt. Hình thức truyện Tây du, có chia hồi như Hoàng Lê nhất thống chí, Tam Quốc chí. Cuộc Tàu du của thằng Phi Lạc giống cuộc Tây du của Ngộ Không và Hồng Hạc là hiện thân của Đường Tam Tạng. Hồng Hạc vào trong một cái liêu để nhập thiền. Đang phiêu phiêu thấy một đứa trẻ ngâm mấy câu thơ, sư giật mình tỉnh dậy, té ra là nó đọc <i>Sấm Trạng Trình</i>&#8230;Sư bèn theo hướng sấm dẫn dắt tới một nơi khói hương nghi ngút. Hỏi ra là đền thờ Tả quân Lê Văn Duyệt. Tả quân thương tình giới thiệu sư Hồng Hạc với nhà khảo cứu nổi tiếng nhất nước Nam là Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố, chính nhờ sự bác học của cụ Tố mà sư Hồng Hạc tìm được thằng Phi Lạc đưa về Tàu làm cố vấn.</p>
<p>***</p>
<p>Xe con đến Hà Nội, thằng mõ nói với “lái xe” tới quán thịt chó khu Nhật Tân.</p>
<p>Vừa bươc vào bắt gặp bà chủ quán đon đả: “Xin mời quan bác Liệu, quan bác Lê ngồi chiếu trên cho mát mẻ”. Tịch bất toạ rồi, gắp một miếng chả chìa, nhấp một ngụm nếp than, thằng mõ chỉ “quan bác Liệu” và rôm rả là sử thần <i>Trần Huy Liệu</i>, “quan bác Lê” là sử gia Phan Huy Lê. Đột biến quan bác Liệu nhoài người qua mâm thịt chó thì thào với quan bác Lê: “Ông đọc sử ông cũng biết vì chính trị, môn sử được biên soạn theo định hướng tuyên huấn ca tụng “bác” và chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiên tranh. Năm 1942, Mao Trạch Đông phủ nhận tính người, đề cao thực dụng của sử học&#8221;. Bác phụ họa theo: &#8220;Cần phải chiến thắng bằng mọi giá kể cả đốt cháy giải Trường Sơn, nếu cần&#8221;. Năm 1946, chưa kịp đốt cháy Trường Sơn, tôi “quân sư” cho bác “đốt cháy” Lê Văn Tám. Tôi bịa chuyện em bé bán đậu phộng rang Lê Văn Tám lao vào kho xăng Pháp ở Thị Nghè. Mà này ông, nếu tôi đang sống đột nhiên chuyển qua từ trần theo bác, trăm sự nhờ ông cải tạo, cải chính dùm không thì bỏ bố.</p>
<p>Lão căng tai ra nghe, vào lỗ tai ra lỗ miệng với nó chuyện…<i>quân sư</i> của ông sử thần họ Trần gì mà cứ như thật vậy. Nó gật gưỡng nói chữ là nghĩa với “quân sư” là “cố vấn”. Nó gật gừ nói “lái xe”…lái lên Điện Biên Phủ để gặp…thằng mõ làng Cổ Nhuế. Hơ! Cái thằng nói dơi nói chuột nghe lạ quá thể, lão vặn óc nghĩ không ra.</p>
<p>***</p>
<p>Hoá ra ngồi trong hang Dơi nhìn xuống chiến trường xưa, nó tha ma mộ địa…</p>
<p>Năm 50-54, qua hồi ký của La Quý Ba (Trưởng đoàn cố vấn quân sự): Sau thất bại của quân Pháp ở Tây Bắc, Raoul Salan kế nhiệm Jean de Lattre de Tassigny bị cách chức, thay thế là tướng Henri Navarre tăng cường quân nhảy dù xuống Điện Biên Phủ. Bố trí tác chiến của Vi Quốc Thanh (Đoàn trưởng đoàn cố vấn) đưa toàn bộ hỏa lực pháo binh tấn công địch ở phía đông và vùng tây bắc sân bay, khống chế điểm cao, cắt đường không vận của địch. Vi Quốc Thanh ngày đêm theo dõi chiến cuộc, tin tức từ tiền tuyến về hỗn loạn, lúc nói hạ được một cứ điểm, sau vài giờ lại nói chưa hạ được. Tình hình tấn công cứ điểm A1 cũng thế, lúc nói gặp đường hầm hào của địch đang đánh bộc phá, lúc thì không thể nào đánh bộc phá được. Sau đó Võ Nguyên Giáp bị chú trọng phê bình nghiêm khắc các biểu hiện của tư tưởng tiêu cực hữu khuynh của cán bộ, đặc biệt là cán bộ có hành vi vô kỷ luật không chấp hành mệnh lệnh kiếm cớ rời bỏ nhiệm vụ, báo cáo láo tình hình v.v&#8230;Vi Quốc Thanh rất bực tức, điện gấp về Quân uỷ Trung ương Trung Quốc, báo cáo tình hình này, Quân uỷ Trung Quốc cấp tốc điều một tiểu đoàn từng tác chiến ở Triều Tiên có kinh nghiệm đánh đường hào, đi nhanh ra tiền tuyến Điện Biên Phủ. Họ giúp bộ đội Việt Nam đào hầm ngầm thông đến đường hào cứ điểm A1.</p>
<p>Lúc này Võ Nguyên Giáp sốt ruột chưa đánh hạ được A1, liền ra lệnh tấn công C1. Võ Nguyên Giáp không bàn với Vi Quốc Thanh mà tự ý quyết định điều trung đoàn 102 của đại đoàn 308 tấn công đồi C1, kết quả bị hoả pháo địch sát thương nặng, thương vong trên 700 người. Chỉ huy “quả đoán” của Võ Nguyên Giáp không ngờ bị vấp váp. Vi Quốc Thanh vặn hỏi, Võ Nguyên Giáp báo cáo tình hình chiến đấu vừa qua không nói khuyết điểm chỉ nói chỉ huy các cấp giỏi như thế nào. Nội dung trống rỗng, trình bày quá trình chiến đấu cũng rất sơ sài. Sự thật bộ tham mưu chiến dịch nghe lời Vi Quốc Thanh đã lên kế hoạch “đánh nhanh, thắng nhanh”, kéo pháo “vào” để bắn thẳng xuống tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ và dùng chiến thuật “biển người” là cách đánh cố hữu của quân đội Trung Quốc ở Triều Tiên. Quyết định thay đổi kế hoạch, Võ Nguyên Giáp đã lấy trách nhiệm của “tướng ngoài mặt trận” chuyển sang “đánh chắc, thắng chắc” và kéo pháo “ra” là quyết định cá nhân ngày 25.1.1954, là “đổi trắng thay đen” của Võ Nguyên Giáp. Các nhà sử học Trung Quốc thừa nhận lúc đó, việc liên lạc giữa Bộ chỉ huy ở Điện Biên Phủ với Bộ chính trị không dùng vô tuyến điện, mà dùng ngựa, đi về phải nhiều ngày. Đến ngày 27.1.1954, Vi Quốc Thanh mới nhận được tin tức từ Bộ chính trị, tức là 2 ngày sau khi Võ Nguyên Giáp ra lệnh đổi kế hoạch. Trước đó, đang lúc tiền phương tiến hành chuẩn bị tác chiến khẩn trương, ngày 23/11/1953 Tổng tham mưu trưởng QĐNDVN Văn Tiến Dũng cử Cục trưởng Tác chiến Hà Văn Lâu gặp cố vấn Trung Quốc bàn vấn đề…</p>
<p>Nghe thủng đến đây lão bèn hỏi mắc chứng gì hai thằng leo núi như kéo pháo làm khỉ gì vậy. Thằng mõ Phù Ninh nhành mồm ra cười khì một cái vì Văn Tiến Dũng là…thằng mõ làng Cổ Nhuế. Sau đó thằng mõ Phù Ninh mồm miệng như tép nhảy như vày:</p>
<p>“…Cứ theo bố đẻ tôi thì xưa kia làng nào cũng có truyền thống làng đó. Có làng chuyên đan mẹt, có làng chuyên đan thúng, có làng lắm ông nghè, ông cống. Làng Phù Ninh bố tôi là làng văn học, có trường, có thầy, có học trò. Cạnh làng bố tôi là làng Cổ Nhuế làm nghê đổ thùng không có trường nên cả làng mù chữ. Thưở thiếu thời bố tôi có ông bạn làng Cổ Nhuế đưa con sang học nhờ. Cách mạng mùa thu đến, ngờ đâu bố tôi tốt phước, có được thằng con bạn chữ nghĩa lem nhem, bỏ gánh phân làm nghề thợ may, trời ngó lại thế nào làm tới Đại tướng chiến thằng mùa xuân. Bố tôi cảm phục quá lắm nên nhè gọi thằng con bạn là thằng mõ làng Cổ Nhuế, chẳng là bố tôi nhằm vào cái lúc có cút rượu với bạn và vui tính ấy mà&#8230;”</p>
<p>Tiếp đến thằng mõ đơn giản như đan rổ: Sau khi ông Giáp bị đày ra đảo Tuần Châu trồng dưa Tây chứ không phải ra…đảo Hoàng Sa ngắm mây bay gió thổi. Sau đấy ông viết hết hồi ký <i>Đường tới Điện Biên Phủ</i>, đến <i>Điện Biên Phủ điểm hẹn của lịch sử</i> để “phản hồi” hồi ký của La Quý Ba. Hiện nay ông đang học piano soạn giao hưởng Điện Biên Phủ qua âm hưởng trống trận thùng thùng và ì ùng của những cỗ xe đại pháo của chiến trường Waterloo với Napoleon Bonaparte. Nói có đầu có đũa xong, nó hỏi vậy chứ…một ông thợ may làng Cổ Nhuế họ Văn đi vào binh nghiệp, so với ông giáo sư dậy sử họ Võ mà Trần Huy Liệu ca tụng là một “thiên tài nghi binh” đã lừa được Navarre lên Điện Biên Phủ để có tên trong quân sử. Và nó sổ nho vậy chứ với “cấm giả lịnh giả thị”, là <i>ai cấm người mang bị nói khoác </i>thì ai là kỳ tướng dị nhân đây.</p>
<p>Đang ngọng trông thấy bỗng không nó rủ qua Tàu. Bèn hỏi trong Phi Lạc sang Tàu, thằng mõ Phù Ninh là nó chống Tàu lắm mà. Nó ủng oẳng là quên không kể chuyện này:</p>
<p>Trong buổi tống tiễn đoàn cố vấn quân sự và viện trợ Trung Quốc sang Việt Nam. Mao Chủ tịch nói với La Quý Ba: “Muốn làm tốt đoàn kết, chúng ta phải khiêm tốn. Bởi vì tổ tiên của chúng ta xưa kia một thời gian dài Việt Nam là thuộc địa của Trung Quốc từ triều Hán! Thời kỳ Đông Hán chẳng phải có Mã Viện “da ngựa bọc thân” đó sao! Là một viên đại tướng của Đông Hán, chính ông đã chính phục Việt Nam “Mã Viện chinh Giao Chỉ” chính là chuyện này, Mã Viện được phong là Phục Ba tướng quân trong lịch sử gọi ông là Mã Phục Ba. Bộ đội của ông đại bộ phận không trở về, ở lại đó và kết hôn với phụ nữ ở đó, lập gia đình xây sự nghiệp ở đó. Bộ đội các vương triều Minh, Thanh về sau của chúng ta cũng phần nhiều làm như thế đó”.</p>
<p>Lão nghe rát cả mặt, bèn bấn búi rằng Mã Viện trong cuộc viễn chinh nào có khác gì 300 cố vấn Tàu và tiểu đoàn tác chiến ở Triều Tiên có kinh nghiệm đánh đường hào. “Vương triều về sau” còn mang sang thêm một tiểu đoàn phòng không nữa. Theo lão họ dám “không trở về, …ở lại đó và kết hôn với phụ nữ…ở đó” lắm ạ! Nào ai biết…đó là đâu? Nó vung tít mẹt rằng:</p>
<p>Hồ Chí Minh và Vi Quốc Thanh đi ngựa, nhìn thấy một đám bò đầu to lông vàng tươi, Vi Quốc Thanh phấn khởi: “Những con bò này thật đẹp, vừa cao vừa to, hình dáng màu sắc đều rất đẹp, là loại giống tốt”. Hồ Chí Minh nói: “Đúng vậy, nhưng rất đáng tiếc, chẳng bao lâu sẽ bị Đoàn cố vấn ăn sạch”. Vi Quốc Thanh rất ngạc nhiên. Hồ Chí Minh nói: “Các đồng chí Đoàn cố vấn yêu cầu ăn cơm rất cao, bây giờ Đoàn cố vấn hơn 300 người (không kể người đi theo cố vấn để bảo vệ, đầu bếp), mỗi tuần đoàn ăn hết một con bò, mỗi người một con gà. Mãi như thế chúng tôi chịu không nổi!”. Khi Đoàn cố vấn ở Tả Mây, Hồ Chí Minh đến để tìm hiểu tình hình. Lúc này chúng tôi được ăn bít tết. Người ta nói đây là món ăn nổi tiếng của Pháp, làm bằng thịt bò tơ. Tuần sau Hồ Chí Minh trở lại và hoá trang thành thương binh, trên đầu băng bó có thể che bộ râu. Tôi càm giác thấy được Hồ Chí Minh đã rõ việc “một con bò, một con gà”.</p>
<p>***</p>
<p>Thằng mõ vạy vọ qua Tàu là để thăm…miếu Mã Viện. Nghe hãi quá thể nhưng ăn chơi sợ gì mưa rơi với “một con bò, một con gà” nên lão…gà gưỡng chui tọt vào “xe con”.</p>
<p>Tới Quỷ Môn quan, ải quan không cho qua vì không có hộ chiếu. Với ăn mặn nói ngay hơn ăn chay nói dối, nó ăn dối nói thật năm 1939 nó là “cố vấn” cho Tàu. Truyện kỳ sử này trong <i>Tứ khố toàn thư</i> ở Bắc Kinh còn lưu giữ. Thế nhưng ải quan không tin, thả xuống chân ải một câu đối: “Quá quan trì, quan quan bế, nguyện quá khách quá quan”, nghĩa là <i>qua cửa quan chậm, cửa quan đóng, mới khách qua đường qua cửa quan</i>. Thằng mõ xem xong ngửa cổ lên đối ngay cái bốp: “Xuất đối dị, đối đối nan, thỉnh ải quan tiên đối”. nghĩa là <i>ra câu đối dễ, đối câu đối khó, xin ải quan đối trước</i>. Thế là ải quan cho qua thay vì phải chui lỗ chó, ải quan thả thang xuống, lão và thằng mõ hì hục leo thang và…nhập quan. Nhìn xuống rành rành như canh nấu hẹ thủ cấp Mã Viện cắm trên cọc tre để răn đe. Vì ngạn ngữ nói: “Quỉ Môn quan, thập nhân khứ, nhất nhân hoàn”, nghĩa là tại Quỉ Môn quan, mười người (Trung quốc) ra đi (vào nước Nam), chỉ có một người trở về. Trên đường đi, mặt lão vừa chù hụ…miệng lão vừa mê muội với thằng mõ Phù Ninh về dăm bài báo viết những làng Việt trên đất Tàu, để lão lạc vào mê hồn trận với sử gia, nhà biên khảo cùng địa danh bắc giáp địa dư, tây giáp địa chí thế này đây&#8230;</p>
<p>Chuyện là đầu năm 2006, qua bài viết của một sử gia Tàu, chuyên ngành lịch sử dân tộc của đại học Vân Nam có bài tham luận tựa đề <i>Trung Quốc Nam phương dân tộc sử</i> mà sách báo trong nước đặt tựa: <i>Dân tộc Kinh ở Quảng Tây</i>. Theo ông: Từ đời Minh, nhóm người đánh cá từ vùng Đồ Sơn vì bão tố nên lạc vào Tam đảo lập lên 3 làng Vu Đầu, Vạn Vĩ và Sơn Tâm. Nhóm này là tộc Kinh Việt, gốc Giao Chỉ, hậu duệ của người Miêu, người Dao cổ đại. Nguyên là chi của Bách Việt, từ thời đồ đá mới đã định cư ở vùng tam giác châu thổ sông Hồng. Sách <i>Trung Nam bán đảo dân tộc</i> cho biết vào khỏang những năm triều Thanh, người Kinh ở làng xã ấy lập hương ước cho đúng phép tắc làng nước. Họ minh xác rằng tổ tiên họ đến từ đời Hậu Lê cách đây 400 năm. Tổ tiên họ nguyên cư trú ở vùng Cát Bà, lạc tới đây thấy đảo vắng vẻ không người ở, họ định cư hẳn không về nữa. Trước 1958, họ được gọi là “Đông Hưng các tộc tự trị huyện”, theo thống kê 1982 có 11.900 người sống bằng nghề chài lưới.</p>
<p>Cũng năm 2006. một nhóm sử gia, biên khảo trong nước đi thực tế, điền dã tới tận nơi để thông tin đại chúng có nhiều…chất liệu hơn: Chúng tôi không tìm thấy còn ai nói tiếng Việt nữa, một cụ già kể lại rằng đời cha các cụ chỉ nói được ít câu chữ Nôm, người Trung Quốc gọi là “Tự Nam”. Làng có chùa và đình miếu, chùa có chuông đồng đúc năm 1787. Đình thờ đức thánh Trần. Miếu thờ thần hòang, thổ địa. Lại có cả đền thờ Mã Viện nữa. Tổng thể họ vẫn giữ tập tục Tết nhất, lễ tảo mộ, cúng cô hồn và truyền thống văn hóa dân tộc biểu hiện qua ăn cơm với đặc sản nước mắm. Phụ nữ khóai ăn trầu cau và đặc sắc văn hóa là lời ca tiếng hát đối đáp trữ tình mà người Trung Quốc gọi là “Hát muội” với cái đàn bầu độc đáo “Độc hữu Kinh tộc”.</p>
<p>Ngày qua ngày, lão và thằng mõ làng Phù Ninh tới đất Đông Hưng có tam đảo, “xe con” phải qua phà qua đảo Vu Đầu là đảo đầu tiên. Tới Ưu Bà Miếu trong có thờ Mã Viện. Tình cờ cùng lúc đoàn văn công, văn hoá từ Hà Nội sang làm lễ tạ tội với ông tướng này.</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2015/02/clip_image0034.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image003" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2015/02/clip_image003_thumb4.jpg?strip=all&fit=172%2C115" alt="clip_image003" width="172" height="115" border="0" hspace="12" /></a></p>
<p>Nguyên văn tiêu đề báo chí đăng ở trong nước:</p>
<p>Lễ Gọi hồn Mã Viện chứng giám Hai Bà Trưng</p>
<p>và Thi Sách sang chuộc tội ở Quảng Tây.</p>
<p>Buổi lên đồng của đoàn văn công Việt Nam</p>
<p>biểu diễn tại Quảng Tây, Trung quốc.</p>
<p>Đoàn văn công với Hai Bà và chồng Thí Sách già như quả cà, họ sành điệu củ kiệu múa may khấn vái như lên đồng, hát như mèo cái gọi đực ấy. Bởi chả thấy sư trụ trì đâu? Bèn hỏi. Thằng mõ làm bàm rằng chùa miếu ở đấy không có hòa thượng hay ni cô trụ trì, chỉ có &#8220;Tự đầu&#8221; mà ta gọi ông Từ. Hốt nhiên thấy Hai Bà bưng một thúng hạt gì tròn tròn cúng tế Mã Viện và lạy như tế sao. Mắt tròn dấu hỏi. Thằng mõ mà rằng: “Sau khi thắng trận Mã Viện mang vê những “hạt tròn tròn” trên, vì bị phong thổ độc địa với sơn lam chướng khí nhưng nhờ ăn…”hạt bo bo” nên sắc diện hồng hào. Mã Viện mang bo bo về về nước quý như ngọc nên gọi là “Giao châu”. Quần thần ghen ghét sự nghiệp của Mã Viện nên dèm pha không dâng ngọc quý lên vua. Mã Viện bị kết tội khi quân và bị chém đầu, vợ không dám ra pháp trường chứng kiến”.</p>
<p>Lão ớ ra vì giống các nhà biên khảo trong nước đi thực tế, điền dã, và thằng mõ bịa như thật,…vì thật ra không có miếu Mã Viện mà chỉ có Ưu Bà Miếu. Chưa kịp rè ràng miếu bà cô hồn này là ai? Nó nói không có thì giờ qua đảo Vạn Vĩ và Sơn Tâm. Vì với “Trung Quốc Nam phương dân tộc sử”, muốn đi tìm nguồn cội tộc Việt phải lên Lạc Dương gặp Tư Mã Thiên.</p>
<p>***</p>
<p>Leo lên tửu lầu gặp ngay ông sử Tàu Tư Mã Thiên vừa ngồm ngoàm gặm đùi vịt Bắc Kinh vừa nói. Mà làm như có cô hồn hay ma xó ấy, không để cho hỏi và nói ngay chóc rằng trong <i>Sử Ký</i> không chép về vua Phục Hy, Thần Nông thời kỳ Hồng Bàng của chủng tộc ông vì ông cho là huyền thoại. Với <i>Thần Nông</i>, ông linh mục, triết nhân Việt bắt quàng làm họ là người Việt mình. Thấy ai đánh rắm to ở đâu là tìm đến, các nhà làm văn học của miền Bắc dựa hơi “minh triết Việt” của ông triết nhân nên phăm phở: Tờ <i>Nhân Dân cuối tuần</i> đăng một bài về <i>Phục Hy</i>, cụ tổ Trung Quốc chính là người làng Cần Kiệm, huyện Thạch Thất, tỉnh Sơn Tây. Dưới chân núi chùa Tây Phương còn có miếu của Tổ. Nơi “bác Hồ” rút khỏi Hà Nội về Chùa Thày, mỗi lần bác tập xe đạp đều ghé miếu lạy Tổ với hẹ và cơm trắng. Đúng là linh địa, miếu địa.</p>
<p>Làm một ngụm mai quế lộ, ông sử gia Tư Mã Thiên dậy: Sử gia Việt chỉ vay mượn, chắp vá từ thư tịch Tàu, thư viện Tây như họ dựa vào sử gia Tàu Vương Văn Quang với “Trung Quốc Nam phương dân tộc sử”: Nhóm này là tộc Kinh Việt, gốc Bách Việt. Dựa vào tích này, sử gia trong nước thêm thắt: Phụ nữ “khóai” ăn trầu cau. Nhưng họ không biết rằng sử gia Phạm Văn Sơn của miền Nam trong <i>Việt Sử Tòan Thư</i> đã viết: <i>Lấy gì để căn cứ nói rằng chúng ta là một trong nhóm Bách Việt và dẫn chứng bằng hình dáng, tính tình, phong tục và văn hóa để ấn định nguồn gốc và dòng giống ẩy</i>. Rồi ông Thiên họ Tư phẩy tay ‘”Tìm hiểu nguồn gốc tộc Việt làm gì nữa. Thôi hai tiên sư…Hẩu a! Xin lỗi bản mỗ nói lộn…hai tiên sinh về đi, hỏi vớ vẩn”.</p>
<p>Nghe vậy, nó xá một cái mà rằng: “Trí tri cửu hỉ”. Nghe tiếng Tàu như đấm vào tai hết “hẩu a” đến “hỉ” như…hỈ, nộ, áI, ố. Bèn hỏi. Nó cho hay nó trả lời ông phán quan họ Tư là: “Biết lâu rồi ạ!”. Ra khỏi cửa, thằng mõ bốc cái iPhone gọi ai đó? Nom dom quanh quất cửa đại lầu tửu quán không có cái đầu lâu Mã Viện. Lão thở ra như bò thở tính đợi nói chuyện rồi, lão sẽ tỉ tê với nó khi ở Quỉ Môn quan, mặt lão chù hụ…vì với “thập nhân khứ, nhất nhân hoàn” thì có về lại Sài Gòn được không đây? Lỡ như Kinh Kha sang Tần một đi không trở lại thì bỏ bu.</p>
<p>***</p>
<p>Xong điện thoại, nó nhấm nhẳng là phải đi Tây ngay để gặp Đại sứ Pháp Mérilion.</p>
<p>Lão rối rắm trông thấy vì lão không biết “pạc-lê-phăng-xe”, nhưng cũng phải chui đầu vào…xe. Đầu óc lão ngất ngây con gà Tây với mấy ông cố vấn Tàu được ăn bít tết làm bằng thịt bò tơ. Trong cái tâm thái chẳng ăn cũng thiệt, chẳng chơi cũng già, lão muốn thử cục “bít tết” mà Tây gọi là “sa-tô-bri-ăng” xem sao. Khổ nỗi lão chả biết óc ách thế nào, ắt là phải hỏi nó quá. Nhưng thằng này biết tiếng Tàu, tiếng Huê Kỳ vì đã từng có mặt trong Phi Lạc sang Tàu, Phi Lạc đại náo Hoa Kỳ nhưng chắc chỉ “ba xí ba tú” thôi. Còn tiếng Tây ngọng là cái cẳng!</p>
<p>Cuối cùng hai thằng Mít có mặt trên đường St Germain des Prés, bước vào quán cà phê <em>Les Deux Magots</em>, ở đó nơi sinh thời Jean Paul Sartre và Simone de Beauvoir hay ngồi để viết lách. Thay vì gọi miếng bít tết hay “sa-tô-bri-ăng” gì gì ấy thì nó lại kêu cái…café au lait.</p>
<p>Và thằng mõ làng Phù Ninh vào chuyện “quả văn quả kiến” là <i>ít nghe ít thấy</i>…</p>
<p>Mới đây có một tài liệu quí giá gọi là <i>Những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa</i>, là bản dịch cuốn hồi ký <i>Saigon et moi</i> (Saigon và tôi) của Jean M. Mérillon, cựu đại sứ Pháp tại Việt Nam trước 30/4/1975, và dịch giả là Vũ Hải Hồ tức ký giả Trần Trung Quân ở Paris.</p>
<p>Nguyệt san <i>Diễn đàn Việt Nam</i> số 4 in tại miền nam Tây Đức đã cho đăng bản dịch kể trên. Tòa soạn cho biết ông Mérillon đã ra mắt cuốn hồi ký Saigon et Moi tại khách sạn La Fayette, quận 6, Paris. Nhưng sau đó cuốn sách này bị Bộ ngoại giao Pháp thu hồi, nay chỉ có một bản duy nhất do một nhân vật (Vũ Hải Hồ) tình cờ có được cuốn đó&#8230;</p>
<p><em>(…. trích khúc đầu)</em></p>
<p>Tối 18/4/75:</p>
<p>Qua điện thoại, lần thứ nhất ông Martin mới nói ra ý định của Hoa Kỳ. Đối với chính trường nước Mỹ chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt sau Hiệp Định Paris năm 1973. Ông Martin muốn nhờ tôi làm trung gian chuyển đạt ý muốn của Mỹ cho phía Việt Cộng. Tôi trả lời:</p>
<p>&#8211; Điều mà ông yêu cầu, tôi sẽ thõa mãn cho ông 5 tiếng nữa nếu không có gì trở ngại trong việc liên lạc. Tuy nhiên tôi phải phúc trình lên chánh phủ của tôi, vậy ông đại sứ gởi cho tôi một công hàm ủy thác làm việc này.</p>
<p>&#8211; &#8220;Không thể được&#8221; người ta không muốn lưu lại bằng chứng.</p>
<p>&#8211; Như thế kể từ giờ phút này nước Pháp sẽ đảm nhận vai trò hòa bình cho Việt Nam.</p>
<p>&#8211; Chúng tôi cám ơn nước Pháp. Với tư cách cá nhơn tôi hoàn toàn chống lại chủ trương của Hoa Kỳ dành trọn quyền thắng trận cho Việt Cộng.</p>
<p>Sau đó chúng tôi chuyển sang phần tâm sự gia đình&#8230;Đại sứ Martin cho biết thêm nước Mỹ chán ngấy những vụ đảo chánh trước kia nên để cho ông Thiệu từ chức ra đi. Vai trò của ông Nguyễn Cao Kỳ không còn cần thiết sau khi Hoa Kỳ đã tặng phần thắng cho Việt Cộng.</p>
<p>(trích lục ngắn đoạn khúc giữa)</p>
<p>Cùng lúc mời thành viên MTGPMN hợp tác trong chánh phủ trung lập, Ðại tướng <em>Dương văn Minh</em> tuyên bố sẵn sàng bang giao với Trung Quốc. <em>Trung Quốc sẽ chụp lấy cơ hội này để cử đại sứ đến Sài Gòn ngay sau 24 giờ đồng hồ cùng với tiền viện trợ 420 triệu Mỹ kim là tiền sẽ trao cho Hà Nội mà nay trao cho chánh phủ hòa hợp hòa giải dân tộc. Kế họach này đánh phủ đầu Hà Nội bằng cách đưa đứa con nuôi của họ là MTGPMN lên nắm chính quyền…</em></p>
<p><em>Đến tao đoạn này, thằng mõ tầm chương trích cú là mặc dù đang ở </em>trại giam ở Hàm Tân (Bình Thuận) <em>nhưng bố nuôi nó cũng đã quân sư cho </em>Lê Đưc Thọ đưa Phạm Hùng hay Võ Văn Kiệt để tạo cơ đồ chống Hà Nội xâm lược miền Nam. Và nó giẹo giọ tiếp với ông Mérillon…</p>
<p>(Và…)</p>
<p><em>Tôi cũng thông báo cho ông Dương văn Minh hay tôi đã liên lạc với thành viên MTGPMN. Hầu hết đều tán thành giải pháp giúp họ thoát khỏi vòng quỹ đạo của Bắc Việt.</em></p>
<p><em>Ngày 27/4/1975</em><i></i></p>
<p><em>Tôi nhận được tin: Tướng Trần Văn Trà bắn tin nhờ tôi cấp tốc thành lập chánh phủ trung lập và ông gửi gấp hai nhân vật thân tín của ông vào chánh phủ là bà Nguyễn Thị Bình và ông Ðinh Bá Thi…Tùy viên quân sự của chúng tôi cũng xác nhận là hai sư đoàn tập kết của Trần Văn Trà sẽ vào tiếp thu Sài Gòn, phỗng tay trên của đạo quân Văn Tiến Dũng!!!”.</em></p>
<p><em>(…. trích khúc cuối)</em></p>
<p>Ngày 29/4/1975,</p>
<p>8:00 giờ tối, sau khi nhận lãnh chức tổng thống do Trần văn Hương bàn giao lại, ông Minh điện thoại xin lỗi chúng tôi, bày tỏ sự hối tiếc đã không hợp tác được với chánh phủ Pháp. Cách duy nhất mà ông phải chọn là đầu hàng Bắc Việt mới mong cứu sống được thủ đô Sài Gòn.</p>
<p>Tôi lạnh lùng trả lời một câu duy nhất:</p>
<p>&#8211; Thưa đại tướng, chúng tôi rất lấy làm tiếc. Giờ cuối cùng của chiến tranh Việt Nam cần có một người lãnh đạo cương quyết, nhưng chúng tôi lại đi chọn lầm một bại tướng.</p>
<p>Tôi cúp điện thoại ngay, và từ 10 năm qua tôi không muốn liên lạc với ông ta nữa.</p>
<p><em>(Hết trích dẫn)</em></p>
<p>Voilà… thằng mõ nhả tiếng Tây tiếng u xong, <em>nhấp một ngụm </em>café au lait<em> và cho lão hay </em>Saigon et moi của Jean M. Mérillon<em> được nhiều sử gia, biên khảo, tướng tá trích lục “tư liệu” vào bài vở của mình. Dưới đây chỉ ghi nhận một số tác giả, tác phẩm có “trọng lượng”, như:</em></p>
<p>Trong <i>Tâm tư Tổng thống Thiệu</i>, Nguyễn Tiến Hưng viết cựu Thủ tướng Cẩn kể lại: “Ngày 17 tháng 4 khi tôi tiếp Đại sứ Mérillon thì ông thao thao bất tuyệt bênh vực giải pháp Dương Văn Minh. Sau này tập hồi ký của Mérillon tiết lộ ngày 18 tháng 4, Đại sứ Martin chính thức nói với ông ta là đối với chính quyền Hoa Kỳ, trách nhiệm người Mỹ tại Việt Nam đã chấm dứt”.</p>
<p>Trần Đông Phong tác giả <i>VNCH, 10 ngày cuối cùng</i> qua dữ kiện của “Những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa”. Với trích dẫn như sau : <i>Về câu nói của cụ Trần Văn Hương nói với Đại sứ Mérillon thì tôi trích trong Saigon et Moi</i>.</p>
<p>“Oui”… Chán như con gián thật, nó lại sổ tiếng Tây nữa và thằng mõ làng Phù Ninh xằn xò là thiếu giống gì những “tư liệu” được trích dẫn trong “Những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa” của Vũ Hải Hồ từ “Saigon et Moi” của ông Mérillon, thảng như:</p>
<p><i>Việt Nam huyết lệ sử</i> của Cao Thế Dung.</p>
<p><i>Những ngày cuối của VNCH</i> do Nguyễn Kỳ Phong, bản dịch từ bản tiếng Anh <i>The Final Collapse</i> của Cao Văn Viên cho Center of Milirary History United States Army.</p>
<p><em>Bỗng có tiếng kêu “téc…téc…” như dế kêu, thằng mõ</em> bốc máy “Bonjour” một tiếng rõ to. Tiếp nó xuống giọng hết “Oui” đến “Non” rồi “Merci”. Máy kêu<em> “tít…tít…”. Nó mặt buồn nhiều hơn vui: “Au Revoir”. Rồi </em>hay hớm với lão là ông Đại sứ Mérillon không đến được nên <em>”text” cho nó. Nó đưa </em>màn hình <em>iPhone X7 </em>cho lão dòm vì chữ Tây “ăn đong” nên mù trất ống vố…</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><a href="https://sites.google.com/site/viendu99/documents/cuon-sach-saigon-et-moi/9011LettreMerillon.jpg?attredirects=0"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image005" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2015/02/clip_image0051.jpg?strip=all&fit=306%2C388" alt="clip_image005" width="306" height="388" border="0" /></a></p>
<p>Lão bực như con mực vì không biết “pạc-lê-phăng-xe” nên thằng mõ làng Phù Ninh được thể đụng dao đụng thớt “uy” với “nông” nghe lục cục như thằng mõ chặt thủ lợn cho các cụ, tổng lý, quan viên ngoài đình từ thời “xanh đít xăng cà cộ”.</p>
<p>Tiếp đến nó rao mõ như tụng kinh:</p>
<p>&#8211; Cái thư trên màn hình từ Giáo sư Hòang Ngọc Thành, nhà nghiên cứu sử học cẩn trọng đã đích thân viết thư hỏi Mérillon đang là Đại sứ Pháp tại Liên Xô có viết cuốn Hồi ký <em>Saigon et moi</em> không? Ông Đại sứ đã trả lời cho Giáo sư Thành bằng văn thư gửi từ Moscou có câu:<i> </i></p>
<p><i></i><em>Tôi không hề viết một cuốn Hồi ký như thế.</em></p>
<p>Đứng dậy ra gốc cây bên lề đường Saint Germain, tay cầm “bánh mì cầm tay” thằng mõ gọi cho ai đó một hồi dài. Quay lại mặt mày lạnh lùng con thạch sùng nói về Sài Gòn gấp. Lão chắc mẩm lại truyện Phi Lạc náo Sài Gòn nữa đây! Lão tê tái con gà mái vì bỏ lại <i>ga Lyon đèn vàng, lên xe tiễn em đi chưa bao giờ buồn thế</i>. Thế là lão lên xe lửa…<i>cho ấm mộng đêm nay</i>.</p>
<p><em>***</em></p>
<p>Xe lửa chui qua cầu sắt Bình Lợi, qua miếu Lê Văn Duyệt, tới Cầu Bông, về đến Đa Kao.</p>
<p>Nó mở cửa và ngẫn ngẫn là điện thoại cho bố nuôi nó kể lể những chuyện phét lác trong chuyến đi. Nghe xong, bố nó cũng vừa hoàn tất tác phẩm <em>Thuốc trường sanh</em>, chả hiểu nghĩ sao ông…lăn đùng ra chết ngay đơ. Lão vào bàn thờ thắp nén nhang cho người vừa khuất núi. Nhìn lên bàn thờ va vào mắt lão là con thằn lằn chọn nghiệp cũng leo lên bàn thờ ngồi hồi nào không hay và nó đang nấp sau bát nhang ngắm con gà khoả thân. Dòm kỹ hơn, trên trán con thạch thằn lằn u lên lên một cục to bằng trái ổi xá lị. Bèn hỏi nghĩa lý gì? Nó chép miệng cái tách rằng lại quên không kể: Chuyện là trước khi bố nuôi nó phiêu diêu miền cực lạc, đúng là cái nghiệp, con thằn lằn cũng nghe điện thoại và báng bổ là bố nó vẫn còn là người róc đời nhất Nam kỳ lục tỉnh, nhì Nam bộ, Nghe (không) quá đã! Bố nuôi tiện tay cầm dùi mõ, nhắm ngay đầu con thằn lằn đập một cái chát. Con thằn lằn bị đánh vỡ đầu…chết tốt.</p>
<p>Ngó lên bài vị bố nuôi thằng mõ làng Phù Ninh, lão bắt gặp hàng chữ: “Khổng Cưu Hồ Hữu Tường lưu dân từ Nghệ An thuộc họ Hồ cùng chi với Hồ Thơm Nguyễn Huệ, con cháu của Hồ Quí Ly của Đế Thuấn. Cố quận làng Thường Thạnh, quận Cái Răng, tỉnh Cần Thơ”.</p>
<p>Trong trống vắng, lão rủ thằng mõ ra quán Lá Mơ dưới chân cầu Thị Nghè gần đấy. Đang đói như trái chuối, vừa ngồi xuống cũng vừa lúc đĩa chả chìa thứ hai kêu ở quán thịt chó Nhật Tân ở Hà Nội hôm nảo hôm nào vừa được mang tới. Nói thật như nói dối là “tu chùa chẳng bằng tu nhà, ăn ở thật thà mới thật là tu”…bia nên lão ới một vại cửu xà nhất điểu.</p>
<p>Phải gió phải giăng gì chả biết nữa, chả phải nói dóc chứ…chứ ngó quanh quất toàn sĩ phu Bắc Hà ăn tục nói phét với “cái tôi” to bằng cái nồi ba mươi. Mà chuyện có ra chuyện, chuyện nào của họ cũng như thể luộc con trâu cả con trong nồi. Hoặc giả như tòan những chuyện cóc nọ leo thang, voi kia đẻ trứng này nọ. Gáy cho lắm chín đụn mười trâu, chết cũng hai tay cắp đít chứ ăn cái giải rút gì. Lão nghĩ vậy. Nghĩ thêm một quả nữa lão buồn như con chuồn chuồn vì cả chuyến đi từ Sài Gòn, Hà Nội, Điện Biên Phủ, Đông Hưng, Bắc Kinh, Paris, trải dài trên con đường phiêu lãng quên mình…lãng quên. Lão quên tuốt những gì góp nhặt sỏi đá bên đường bởi kỳ nhân đông như ruồi, kỳ tích chữ nghĩa dày đặc như ruồi bu. Thế nên lão chả nắm bắt được “tác giả &amp; tác phẩm” nào “hư cấu” nhất để nhồi nhét vào chữ nghĩa làng văn, để khoe mẽ với bạn già của lão rằng nói cho lắm tắm cởi truồng cũng thế thôi.</p>
<p>Ha! Với những chuyện giả đấy, nhưng thật đấy. Thật đó nhưng cũng giả đó. Với đại nghi đại ngộ, tiểu nghi tiểu ngộ, bất nghi bất ngộ, mà lão hiểu lơ mơ lỗ mỗ là <i>nghi lớn ngộ lớn, nghi nhỏ ngộ nhỏ, không nghi không ngộ</i>. Ừ thì hãy thử hỏi thằng mõ này…ngộ ra sao.</p>
<p>Nó vừa nhét vào mồm cái chả chìa…Ngỡ nó vơ bèo gạt tép chuyện <i>Dân tộc Kinh ở Quảng Tây</i> có 11.900 người Việt ta. Ba điều bốn chuyện với chuyện chết tiệt là không còn ai nói tiếng Việt nữa, nhưng họ vẫn múa hát quan họ. Ấy vậy mà họ đi đánh cá còn cẩn thận mang theo chuông đồng đúc năm 1787 gõ kêu “boong…boong…” để rồi gặp bão lạc vào đảo hoang cứ như ông Tây Robinson ấy thì nó vội nhả khúc chả chìa ra và khục khục như chó hóc xương:</p>
<p><i>Phi Lạc đi…Tây.</i></p>
<p>Hơ!</p>
<p><strong>Thạch trúc gia trang</strong></p>
<p><strong>Ngày 23 ông Táo về trời</strong></p>
<p><strong>Đông chí, Ất Mùi 2015</strong></p>
<p><strong>Ngộ Không Phí Ngọc Hùng</strong></p>
<p><strong>Nguồn:</strong> Thụy Khuê, Hồ Nam, Thiện Hỷ, Dương Danh Dy</p>
<p>Nguyễn Duy Chính, Đoàn Thanh Liêm, Trọng Đạt, Ngự Sử</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2015</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ngo-khng-phi-lac-dity/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Captovan: 40 Năm Tỵ Nạn&#8230; Nh&#236;n Lại Đoạn Đường</title>
		<link>https://t-van.net/phila-t-40-nam-ty-nan-nhn-lai-doan-duong/</link>
					<comments>https://t-van.net/phila-t-40-nam-ty-nan-nhn-lai-doan-duong/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Captovan]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 06 Dec 2014 01:14:12 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[chiến tranh]]></category>
		<category><![CDATA[cựu chiến binh]]></category>
		<category><![CDATA[phila tô]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=20235</guid>

					<description><![CDATA[&#160; (30/4/1975-2015) Sau khi bài viết về “Trâu Điên Và Cố Vấn Mỹ” được đăng trên Việt Báo ngày 11/11/14, trong đó tôi có nói đến Đại Úy Sheehan, là cố vấn Tiểu Đoàn 2/TQLC, sau này ông ta về Mỹ và lên tới cấp tướng 4 sao, là Tư Lệnh NATO, thì một bạn [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>&nbsp;</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2014/12/clip_image0025.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2014/12/clip_image002_thumb4.jpg?strip=all&fit=304%2C403" alt="clip_image002" width="304" height="403" border="0" /></a><b><i><br />
</i></b></p>
<p><b>(30/4/1975-2015)</b></p>
<p>Sau khi bài viết về “Trâu Điên Và Cố Vấn Mỹ” được đăng trên Việt Báo ngày 11/11/14, trong đó tôi có nói đến Đại Úy Sheehan, là cố vấn Tiểu Đoàn 2/TQLC, sau này ông ta về Mỹ và lên tới cấp tướng 4 sao, là Tư Lệnh NATO, thì một bạn cùng đơn vị, ra đi từ 1975, hiện định cư tại Paris 13, gửi email cho tôi, trong đó có một câu nửa đùa nửa thật như thế này:</p>
<p>_<i> </i>Hồi đó, 1968, ông Sheehan là đại úy cố vấn, sau này ông ta lên tới tướng 4 sao và là Tư Lệnh NATO, còn bạn lúc đó là đại úy đại đội trưởng, sau vào tù CS rồi ra đi HO thì nay bạn làm được cái “thống chế” gì chưa, hay vẫn là tư lệnh “NATO”?</p>
<p>Tôi hiểu ý bạn tôi viết chữ “NATO” trong ngoặc kép là muốn ám chỉ “No action, talk only”, bạn ấy muốn chọc quê tôi có làm được chuyện gì ra hồn đâu mà chỉ nói thôi. Tôi thấy đúng quá và vui vì cách gán ghép này nên email hồi âm:</p>
<p>_ Bị đi tù thì làm sao là tướng, nhưng nhìn thế hệ thứ hai làm tướng là sướng rồi.</p>
<p>Trong chỗ bạn bè đơn vị cũ, chiến trường xưa, chúng tôi thường có những câu đùa vui để nhớ về dĩ vãng, nhớ về “thời oanh liệt ấy nay còn đâu”! Tuy rằng đường binh nghiệp nửa đường gẫy gánh, tuy không được làm tướng, nhưng an ủi nhau rằng trước sau gì cũng là “Anh Sáu”.</p>
<p>Ngày xưa trong quân đội, chỗ thân tình anh em, chúng tôi thường gọi những vị đại tá mà chúng tôi kính trọng là “Anh Sáu”, nhưng nay, sống đời tỵ nạn, người lính trẻ nhất cũng lục tuần, chúng tôi đang sắp hàng tấn công lên đồi&#8230; nên “anh sáu” còn có hàm ý là sáu tấm. Trước khi làm anh sáu&#8230;, được mặc áo quan thì hãy ôn lại với nhau, sau 40 năm tỵ nạn, chúng ta đã làm được những gì hay chỉ nói thôi?</p>
<p><i></i>Mau thật, thế mà đã 40 năm rồi đấy, kể từ ngày “gẫy súng”, đã quá nửa đời người rồi mà sao tôi thấy mọi chuyện cứ như mới xẩy ra ngày hôm qua. “Hôm qua”, ngồi trong Trung Tâm Hành Quân Thủy Quân Lục Chiến tại căn cứ Non Nước Đà Nẵng thì tôi nhận được tin Đại Úy Tô Thanh Chiêu tử trận và mất xác tại bãi biển Thuận An! “Hôm qua”, lúc 6 giờ 30 sáng, các Trung Tá Nguyễn Xuân Phúc, Đỗ Hữu Tùng, Trần Văn Hợp và tôi cùng đứng bên bờ biển Non Nước, chia nhau điếu thuốc, ngụm cafe đựng trong cái ca nhôm nhà binh, cafe không đường, miệng chúng tôi đang đắng nghét, càng đắng thêm. “Hôm qua”, sau khi nghe “Đại Tướng Tổng Tư Lệnh Quân Đội” ra lệnh bắt chúng tôi buông súng, thì từ anh cả là Đại Tá Tư Lệnh Phó đến chú em út Binh Nhì đều ngửa mặt lên trời nuốt nước mắt rồi kêu thầm: “mất nước rồi”!<i></i></p>
<p>“Mất nước là mất tất cả”, mà thời gian trôi qua quá nhanh, “hôm qua và hôm nay”, cách nhau 40 năm mà như chỉ cách nhau “24 giờ phép, 4 giờ đi lại thêm 4 giờ về” nên chúng tôi, những cựu quân nhân có làm được gì đâu! Sau những năm tháng tù đày và “kéo cày” trên mảnh đất tạm dung đầy sỏi đá về ngôn ngữ. “Chí tuy còn mong tiến bước, nhưng sức không kham nổi đoạn đường” nên còn chút hơi để thở, để nói, “talk ony” là quý lắm rồi. Chúng tôi nói với chính mình, nói với các bạn đồng minh và nói với con cháu, gọi là thế hệ thứ hai, thứ ba.</p>
<p><b><i>1/ Nói Với Chính Mình:</i></b></p>
<p>Ai đã từng là quân nhân, đã đội trên đầu câu: “Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm”, đã đưa cao tay thề nơi vũ đình trường thì thời gian, không gian nào, dù “giấy rách cũng phải giữ lấy lề”, nên đại đa số các cựu quân nhân đã, đang và sẽ cùng với cộng đồng người Việt tỵ nạn xây dựng một xã hội mới. “Chúng ta đi mang theo quê hương” nên từ văn hóa, chính trị, kinh tế đang lớn nhanh trên đất tạm dung này.</p>
<p>Những cộng đồng gốc Á Châu khác, họ đã đến Mỹ hằng trăm năm trước, đến từ lúc là công nhân làm đường rầy xe lửa cho người bản xứ đi tìm vàng nên họ có China Town, Korean Town, Japan Town v.v.. chúng ta vừa mới chân ướt, chân ráo đến đây trong hoàn cảnh chạy giặc mà Quốc Kỳ VNCH đã tung bay khắp nơi, đã có Little Saigon, tuy chưa nhiều, nhưng rồi sẽ có nhiều. Mua một căn nhà cũng cần thời gian 30 năm mới trả xong nợ. Chỉ mới có 40 năm mà chúng ta đã xây dựng được một cộng đồng người Mỹ gốc VN như thế là đáng hãnh diện rồi. Mỗi người tỵ nạn xin xét mình để góp sức vào sự thành công này.</p>
<p><b><i>2/Nói Với “Đồng Minh”:</i></b></p>
<p><b><i></i></b>Thành phần phản chiến đi với tuyên truyền của VC đã khiến một số người dân, giới chức Hoa Kỳ hiểu lầm về cuộc chiến đấu chính nghĩa của chúng ta và hậu quả là những gì thì ai cũng biết, điều nguy hiểm hơn nữa là sách báo nói láo của VC tiếp tục chui vào “quần” chúng Mỹ.</p>
<p>Thầy Dan, giáo sư dạy Sử về chiến tranh Việt Nam ở Shoreline Communit College, WA, ông cứ theo sách trong thư viện mà dạy, mà ca tụng HCM và CS, bởi vì chúng ta chưa nói cho họ biết sự thật. Khi có học viên là một cựu quân nhân gốc Việt mang những vết thương trên người ra chứng minh rằng sách báo VC nói láo thì ông giáo sư Dan mới tin.</p>
<p>Vì vậy, mọi công dân VNCH, mọi nơi, mọi lúc, nên nói và phải nói cho các bạn “đồng minh” biết sự thật. Có nhiều người đã, đang làm điều đó, dù công khai hay âm thầm, từ trường học đến sở làm và kết quả rất đáng mừng, những người hiểu lầm đã dần dần tỉnh ngộ.</p>
<p>Về văn học, đã có rất nhiều sách viết về chính nghĩa Việt Nam Cộng Hòa, về tội ác VC đã được các nhà văn nhà báo Hoa Kỳ đọc và dịch sang tiếng Mỹ để phổ biến khắp nơi, một trong những thí dụ điển hình là cuốn “Giải Khăn Sô Cho Huế” của nhà văn Nhã Ca đã được Indiana University Press chuyển ngữ thành “Mourning Headband For Hue”.</p>
<p>Đã có biết bao ngưởi Việt tỵ nạn nói với “đồng minh” cho họ hiểu sự thật về cuộc chiến VN, vì sao chúng ta có mặt tại đây. Tôi xin nêu ra một vài trường hợp cụ thể.</p>
<p>Người đồng minh Hoa Hỳ từng chiến đấu bên cạnh quân đội VNCH thì sau 40 năm họ càng gắn bó thêm với đơn vị xưa. Một tấm hình thay cho ngàn lời nói, tấm hình các cựu quân nhân Hoa Kỳ sát cánh cùng các cựu BĐQ/VN dương cao Quốc Kỳ Việt Mỹ trong các buổi họp mặt hằng năm mà họ gọi là: “Together Then Together Now”.</p>
<p>Với TQLCVN thì các cựu cố vấn Mỹ, trong đó có các đại úy Sheehan và Hoar, sau này các ông là đại tướng 4 sao, chúng tôi vẫn “nói” với nhau nên càng ngày họ càng hiểu, càng nể phục TQLC, nói riêng, và quân đội VNCH nói chung. Thomas Campbell, cựu cố vấn TĐ2/TQLC sau khi về Mỹ, ông dạy môn lãnh đạo và chỉ huy tại Đại Học Austin Texas và viết sách. Trong tựa đề một cuốn sách, Đại Tá hồi hưu Thomas Campbell đã nói các TQLCVN Lê Hằng Minh, Nguyễn Thế Lương, Ngô Văn Định, Nguyễn Xuân Phúc là “ my best teachers”, ông ta viết như sau:</p>
<p>***</p>
<p><i>In November 1965 when I was assigned as an advisor to the Vietnamese Marines. <b>I thought that I would make them better Marines, but in the final analysis they made me a better Marine</b>. I learned things from them that are not taught in American military schools. My best teachers were Major Le Hang Minh, Major Nguyen The Luong, Major Dinh Van Ngo, Captain Nguyen Xuan Phuc and Minh’s ever faithful bodyguard.</i></p>
<p><i>This is the story and the lessons.</i></p>
<p><i>Co van My</i></p>
<p><i>Tom Campbell</i></p>
<p><i>Austin, Texas.</i></p>
<p><i>***.</i></p>
<p>Các cựu quân nhân hai quốc gia hiểu nhau, đến với nhau đã là quý, nhưng qua lời nói và hành động của mỗi người dân tỵ nạn khiến người dòng chính cảm phục mới là điều có ý nghĩa. Người anh em của tôi, Phạm Lương, tâm sự trong bài viết:<i> </i><i>15 năm làm worker cho Tiểu Bang”</i></p>
<p>Xin trích: Muốn làm công chức bình thường, không khó, nhưng muốn được những worker khác và supervisor hay Director thay đổi thái độ đối với mình, cần phải có thời gian và cách cư xử. Từ worker A&amp;B thành worker C bình thường phải cần từ 15-20 năm trong nghề, tôi đã trở thành worker C trong khoảng 3 năm. Công việc của worker C là Homeless Coordinator, là công việc nhiều người phải lắc đầu, vì hàng ngày họ phải làm việc với nhóm người “tận cùng bằng số, không còn gì để mất”, họ không có chỗ ở, không có tiền, nhưng khổ một nỗi, họ tự cho là dòng chính, họ nhìn tôi vẫn chỉ là một người thiểu số Á Châu.</p>
<p>Tôi không đủ thâm niên khi làm Homeless Coordinator, nhưng do khả năng làm việc và cách cư xử đã khiến cấp trên, đồng nghiệp, và cả những “homeless” dần dần dành cho tôi sự quý mến và cảm phục. Bà Harriette Harris, Director of Boston Family Housing, phỏng vấn tôi vì sao tôi lại có khả năng như thế? Tôi trả lời, là một cựu quân nhân VNCH, tôi từng chiến đấu cho sự thật và bảo vệ tự do, tôi đem kinh nghiệm đó vào nhiệm vụ của một Homeless Coordinator.</p>
<p>Bà Harriette Harris thực sự đã hiểu thế nào là người Việt tỵ nạn CS, bà ta hứa chuyển tôi lên một nhiệm vụ khác cao hơn, khó hơn và dĩ nhiên quyền lợi cũng thay đổi, bà ấy nói:</p>
<p>_ Hi. Mr. Pham. I offer you a new Job Interview on.. at… Are you ready for the interview?. You are the first one I pick from the list.</p>
<p>Tất nhiên, tôi sẵn sàng, 3 ngày sau cuộc Job Interview, bà ta lại nói:</p>
<p>_ Mr. Pham. Congratulation. I offer you the job. Are you ready to work?</p>
<p>_ Thank you very much for the job. I am always ready.</p>
<p>_ I know that from the beginning of the interview. (She laughs) (hết trích).</p>
<p>Một anh em kết nghĩa khác, Vương Mộng Long, ghi danh học lớp History 274 “U.S. and Vietnam” với mục đích tìm hiểu xem cuộc chiến tranh vừa qua đã được các sử gia Mỹ ghi chép lại như thế nào? Từ đó, hy vọng biết được phần nào, nguyên nhân vì sao, giữa đường, Mỹ đã bỏ rơi Việt Nam, vì sao chúng ta đã thua trận. Nhưng gặp ông giáo sư dạy sử phản chiến, mỗi khi nói tới phong trào Việt-Minh, ông ca tụng HCM như một lãnh tụ, ông nói những phần có lợi cho VC. Đã có đôi lần Long dơ tay nêu ý kiến, thì ông chỉ cười, chỉ tay vào quyển Sử: “Book said!”. Nhưng với quyết tâm nói cho “đồng minh” biết sự thật, Long đã trình bày cho ông nghe những gì Long sống và chiến đấu, cuối cùng ông phải phục người cựu quân nhân VNCH.</p>
<p>Xin trích đoạn bài viết: “Ông Giáo Sư Dạy Sử” của Vương Mộng Long:</p>
<p>***</p>
<p>Thưa giáo sư. Xin giáo sư vui lòng cho phép tôi được trình bày với ông đôi điều liên quan tới sự giảng dạy của ông trong thời gian vừa qua. Tôi có thể làm phiền ông vài phút được không?</p>
<p>Thầy Dan niềm nở:</p>
<p>&#8211; Dĩ nhiên là được. Ông có điều gì cần cứ nói.</p>
<p>&#8211; Thưa giáo sư, tôi là một người Việt-Nam tỵ nạn. Tôi là một cựu sĩ quan của Quân Đội VNCH. Tôi còn nhớ trong bài giảng đầu tiên, thầy có nhắc đi, nhắc lại rằng, phi vụ đầu tiên của pháo đài bay B52 trên Cao Nguyên Việt Nam là vụ oanh tạc Thung Lũng Ia-Drang&#8230;</p>
<p>Thầy chỉ biết tới những trận đụng độ đẫm máu trong thung lũng Ia-Drang qua báo chí, truyền thanh, và truyền hình. Còn tôi là người đã lặn lội mười năm ở đó, đã nhiều lần bị thương đổ máu ở đó, đã rơi lệ vuốt mắt cho nhiều đồng đội nằm xuống ở đó. Trong số những người nằm xuống ấy, không thiếu những thanh niên Mỹ đồng trang lứa với thầy. Nơi đó chúng tôi chiến đấu quên mình từng ngày, vì nền độc lập của đất nước tôi, và vì quyền lợi của nước Mỹ.Thầy chưa từng khoác áo nhà binh, chưa một lần có mặt trên chiến trường. Suốt đời thầy không hiểu nổi thế nào là niềm kiêu hãnh của một người lính chiến, thế nào là lòng khát khao chiến thắng, thế nào là tình huynh đệ chi binh&#8230;</p>
<p>Suốt đời thầy không hiểu được vì sao hơn 20 thương binh của BĐQ/VNCH phải mở đường máu rút lui mà vẫn cưu mang theo ba người lính Mỹ, trong đó có hai người bị trọng thương, và vì sao một đại tá Hoa Kỳ đã đưa thân che chở cho một thương binh Việt Nam để rồi ông bị mảnh đạn vỡ đầu. Mạng lưới truyền thông thiên Cộng khổng lồ của Hoa-Kỳ đã tiếp tay với bộ máy tuyên truyền của Cộng Sản Quốc Tế cố tình xuyên tạc, bóp méo tất cả những có liên quan tới nguyên nhân, diễn tiến, và hậu quả của cuộc Chiến-Tranh Việt-Nam&#8230;</p>
<p>Chúng tôi thất trận không phải vì chúng tôi kém khả năng, thiếu tinh thần chiến đấu, mà vì người Mỹ đã phản bội, nửa đường rút quân, cắt viện trợ. Từ khi người Mỹ rút lui, chúng tôi bị bó chân bó tay, bụng đói mà vẫn phải chiến đấu. Trong khi đó, Miền Bắc lại tràn ngập lương thực, quân dụng, quân nhu, và vũ khí viện trợ từ khối Cộng&#8230;</p>
<p>Chúng tôi đã chiến đấu cho chính nghĩa như thế đấy, chúng tôi đã hy sinh như thế đấy, và chúng tôi đã bị bỏ rơi như thế đấy. Tôi cũng không hiểu vì sao người Mỹ phản chiến, trong đó có thầy, lại xuống đường tranh đấu, cổ vũ cho kẻ thù của chúng tôi, và ngược đãi chiến binh của chính nước Hoa Kỳ? Thầy ơi! Sao thầy lại nỡ nhẫn tâm như thế! Thầy đã tiếp tay với kẻ thù, đâm sau lưng thân nhân và bạn bè đồng minh của thầy&#8230;</p>
<p>Ông thầy dạy Sử như bừng tỉnh cơn mơ:</p>
<p>&#8211; Tôi tin lời ông, vì chẳng có lý do gì để ông nói dối. Có điều là, từ đó tới nay, hơn hai mươi năm dài, kể từ ngày những gia đình Việt Nam đầu tiên tới định cư ở Hoa Kỳ, chưa ai nói cho tôi nghe những điều này. Có thể, người ta muốn quên đi quá khứ, hoặc là người ta không có can đảm nói ra. Tôi đã hiểu, và tôi phải cám ơn ông. Ông quả là một chiến binh thực thụ.</p>
<p>Nghe được những lời nói chân tình từ miệng ông giáo sư, lòng tôi cảm thấy ấm áp lạ lùng. Trước mắt tôi, ông đã thành một người bạn đồng minh, ông đưa bàn tay ra cho tôi bắt:</p>
<p>&#8211; Thưa người chiến binh. Ông vừa lập một chiến công! (hết trích)</p>
<p><b><i>3/ Nói Với Thế Hệ Thứ Hai, Thứ Ba.</i></b></p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2014/12/clip_image0041.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image004" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2014/12/clip_image004_thumb1.jpg?strip=all&fit=304%2C229" alt="clip_image004" width="304" height="229" border="0" hspace="12" /></a></p>
<p>Nói với chính mình, nói với “đồng minh” chỉ là để ôn chuyện cũ, “giấy rách phải giữ lấy lề”, còn nói với thế hệ thứ hai, thứ ba mới là chuyện quan trọng, chuyện tương lai cho cộng đồng Việt trên đất tạm dung hay cho chính quê hương VN không còn Việt Cộng.</p>
<p>Khi người bạn gọi tôi là thành viên “NATO”, tôi bảo chỉ cần nhìn thế hệ thứ hai làm tướng là sướng rồi, đó là Tướng Lương Xuân Việt. Truyền thông đã nói nhiều về vị Tướng gốc Việt đầu tiên này rồi nên tôi không cần nói gì nữa, nếu cần thì tôi xin thêm thân phụ của Tướng Xuân Việt là TQLC Lương Xuân Đương đã nói với con bằng chính hành động của mình, của một người lính.</p>
<p>TQLC Lương Xuân Đương đã “đi xa”, không thể đến tham dự ngày vui của con, và Lương Xuân Việt không còn dịp kính tặng cha nụ cười hạnh phúc, nhưng bù lại, đã có các TQLC là bạn của bố Đương đến chúc mừng Việt: “con hơn cha là nhà có phúc”. Tướng Việt hạnh phúc, cười vui mãn nguyện khi thấy các bộ quân phục TQLC của bố đến tham dự ngày Việt làm tướng.</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2014/12/clip_image006.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image006" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2014/12/clip_image006_thumb.jpg?strip=all&fit=304%2C385" alt="clip_image006" width="304" height="385" border="0" hspace="12" /></a></p>
<p>Một tuổi trẻ khác đang là cấp chỉ huy trên chiến hạm USS Carl Winson 70, với chức vụ là Navy Commander, AIMD  Aircraft Maintenance đó là Hải Quân Đại Tá Paul Long My Choate.</p>
<p>Truyền thông Mỹ Việt đã nói nhiều về Hải Quân Đại Tá Long Mỹ rồi. Nhưng điều tôi muốn nói ở đây là ít ai biết Long Mỹ là thế hệ thứ ba, anh đã thừa hưởng từ ông ngoại lòng dũng cảm, tận tụy với nhiệm vụ và rồi ông ngoại hy sinh vì nhiệm vụ. Ông ngoại của Long Mỹ là một phóng viên chiến trường trong ngành Cảnh Sát Quốc Gia, ông đã hy sinh trong trận chiến Mậu Thân đợt hai. Xin chúc Long Mỹ sẽ là vị tướng gốc Việt thứ hai trong quân đội Hoa Kỳ để ông ngoại mỉm cười nơi chín suối.</p>
<p>Tôi xin nói thêm một thí dụ nữa về thế hệ thứ hai đã noi theo gương cha. Giấc mơ của chúng tôi khi còn là SVSQ trường Võ Bị là được tuyển chọn đi học Westpoint như một vài đồng môn khác, nhưng lực bất tòng tâm, nên sau khi định cư tại Hoa Kỳ, Trương Khương khuyến khích các con vào Westpoint, và “hổ phụ sinh hổ tử”, Trương Vũ và em gái là Trương Nha Trang đều tốt nghiệp Westpoint, còn Trương Quân tốt nghiệp Air Force Academy</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2014/12/clip_image008.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image008" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2014/12/clip_image008_thumb.jpg?strip=all&fit=304%2C251" alt="clip_image008" width="304" height="251" border="0" hspace="12" /></a></p>
<p align="center"><i>(Trung Tá Trương Vũ và chiến trường Iraq) </i></p>
<p>Ngoài những sĩ quan Mỹ gốc Việt trên đây, chúng ta còn rất nhiều thế hệ thứ hai trong quân đội Hoa Kỳ với nhiều cấp bậc và chức vụ khác nhau, trong đó có con cháu của những TQLC Đoàn Trọng Cảo, Nguyễn Văn Diễn, Phạm Văn Tình, BB Quan Văn Kính, Nguyễn Phước Ái Đỉnh, KQ Võ Phi Hổ v.v.. đã đang phục vụ trong quân đội Hoa Kỳ hoặc đã giải ngũ để tiếp tục con đường học vấn.</p>
<p>Người Việt tỵ nạn CS cần có một thống kê về số con em gia nhập quân đội Hoa Kỳ, cần có và phổ biến tài liệu về những quân nhân Mỹ gốc Việt đã hy sinh trên chiến trường. Đó là những trang sử anh hùng, những thành quả và đóng góp đáng ghi nhớ của người Việt trên đất Mỹ sau 40 năm tỵ nạn. Tôi đề nghị Hội Quân Nhân Mỹ Gốc Việt, trong đó có các luật sư đang hành nghề vốn là các cựu quân nhân nên lưu ý đến trang sử này, hoặc trang Viết Về Nước Mỹ (VVNM) của nhật báo Việt Báo.</p>
<p>Ngoài những đóng góp về quân sự, còn có biết bao con cháu chúng ta tham gia và thành công trong nhiều ngành nghề khác nữa. Có rất nhiều “quan tòa” và luật sư gốc Việt mà truyền thông nhắc tới, nhưng cũng có những luật sư âm thầm làm việc nghĩa, tôi xin đơn cử một vài trường hợp.</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2014/12/clip_image010.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image010" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2014/12/clip_image010_thumb.jpg?strip=all&fit=304%2C230" alt="clip_image010" width="304" height="230" border="0" hspace="12" /></a></p>
<p>Anh chị KQ Joseph-Đàm Kim mời tôi đến tham dự lễ tốt nghiệp của 2 con, tôi thấy nổi bật trong đám đông mũ tốt nghiệp của các tân khoa là hai cái mũ có chữ “FOR DAD” và “FOR MOM” cháu gái Vân Anh tặng bố Joseph-To, cháu trai Quốc Anh tặng mẹ Đàm món quà quý báu. Điều tôi muốn nêu ra ở đây là do bố làm việc thiện khiến hai cháu chưa vội mưu sinh mà tình nguyện làm việc nghĩa theo gương bố trước đã.</p>
<p>Ít ai biết bố các cháu vừa làm việc vừa tích lũy các lon nhôm, chai nhựa rồi mang bán cho các chỗ mua đồ “recycle”, cứ mỗi 3 tháng, anh gom bạc cắc thu được rồi ký chi phiếu gửi tận tay lão Bà Hạnh Nhơn, Hội Trưởng Hội H.O để giúp anh em thương binh, vì vậy hai cháu theo gương bố, tình nguyện làm “Public Defender”. Các cháu luôn tìm mọi dịp để tiếp xúc, tìm hiểu tâm tư của các nghi can, đặc biệt là các nghi can thanh thiếu niên gốc Việt.</p>
<p>Các cháu đang làm việc tại Sacramento, nhưng các “thân chủ” nào ở vùng Quận Cam, nếu cần thì có thể vào website sau đây để tham khảo với các luật sư Pubdef gốc Việt.</p>
<p><a href="http://www.pubdef.ocgov.com/indexv.htm">http://www.pubdef.ocgov.com/indexv.htm</a>.</p>
<p>Luật sư Vân Khanh, ái nữ của TQLC Lê Nguyên Khang thì lại dấn thân vào việc tìm sự sống cho cho các bệnh nhân bị ung thư máu. Tôi đã nhiều lần gặp cô cùng các bạn trẻ trong những địa điểm hội chợ y tế để kêu gọi “đồng hương giúp đỡ đồng hương”, xin đồng hương cho một tí “nứơc bọt” để may ra, trong hằng chục ngàn người sẽ có người cùng tế bào tủy với bệnh nhân để mà cứu sống những người đang chờ thần chết. Còn gì cao quý cho bằng?</p>
<p>Cùng một nghĩa cử đối với bệnh nhân ung thư, cháu Xuân Dung, ái nữ của nhà văn CXH, sau khi bố ra đi vì bệnh ung thư mắt, cháu đã dồn tâm sức chạy bộ để gây quỹ<em> giúp tổ chức Ocular Melanoma Foundation (OMF) tài trợ các cuộc khảo cứu nhằm tìm ra phương thức điều trị tốt hơn và hy vọng có được cách chữa được chứng ung thư này. Thư của cháu gửi bố:</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2014/12/clip_image012.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image012" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2014/12/clip_image012_thumb.jpg?strip=all&fit=304%2C304" alt="clip_image012" width="304" height="304" border="0" hspace="12" /></a></p>
<p><em>Bố Yêu Quý.</em></p>
<p><em>Con dự cuộc chạy bộ này cho bố. Con chạy cho bố vì sự chịu đựng, quyết tâm, và nhất là nỗi đau đớn (của cuộc chạy đường dài này) nhắc con nhớ lại sức mạnh và ý chí của bố khi phải đối diện với một điều kinh khủng và hoàn toàn mù mờ lúc đó. Lời chẩn đoán của bác sĩ là một cú shock cho bố và con, vì mình hoàn toàn không biết mức độ của nó như thế nào. “Choroidal Melanoma” là hàng chữ mình đọc trong kết quả thử máu, nhưng bố và con, mình chỉ biết hỏi nhau và tự hỏi: “ung thư mắt?”, “dữ vậy sao?”. Chúng ta chẳng biết gì hết, Bố cũng chẳng biết bệnh tình mình thế nào nữa.</em></p>
<p><em>Con ước gì lúc đó mình biết nhiều hơn thế, con ước gì lúc đó bố có nhiều cách chữa trị để lựa chọn, con ước gì lúc đó có cách chữa bệnh cho bố… </em></p>
<p><em>Vì vậy, cuộc chạy này của con là để cho bố. Con chạy cuộc đua này để ủng hộ cho tổ chức đang nỗ lực tìm ra cách chữa trị căn bệnh đó.</em> <em>Con biết là bố sẽ hãnh diện khi biết con bố làm chuyện này. Mỗi ngày con tìm thấy phấn khởi và động lực trong cuộc sống từ bố và cuộc đời bố đã sống. Con biết là bố lúc nào cũng bên con, và con biết là  bố sẽ có mặt ở đó khi con vượt đích đến của cuộc đua,</em></p>
<p><em>Con yêu bố</em>.</p>
<p><em>Bé Xuân Dung.</em></p>
<p>Một cháu gái khác, vì muốn dấu tên và việc mình làm nên tôi gọi cháu là Trần Như Tiên. Như Tiên đã sớm biết theo gương ông nội và bố Trần Như H.. mà đem tình thương gieo khắp nơi, cháu cổ động phong trào làm đẹp cho đời bằng cách nhờ bố cầm “tông-đơ” hớt trọc để lấy tóc của mình làm tóc gỉa rồi đem tặng cho các bệnh nhân đang điều trị ki-mô. Chỉ có những phụ nữ mới hiểu giá trị của mái tóc, mới hết ý nghĩa cao quý của cháu Như Tiên.</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2014/12/clip_image014.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image014" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2014/12/clip_image014_thumb.jpg?strip=all&fit=304%2C217" alt="clip_image014" width="304" height="217" border="0" hspace="12" /></a></p>
<p>Thấy con đầu trọc, không tóc, bố khóc vì sung sướng, thấy con đẹp như tiên nữ, hạnh phúc quá, bố ôm con vào lòng, nghẹn lời không nói.</p>
<p>Các cháu biết hy sinh chuyện riêng tư để nghĩ đến tha nhân thì đó là những tấm gương sáng cho đời noi theo. Gương sáng không nên cất trong tủ để soi một mình mà hay đưa cho mọi người soi chung, làm đẹp chung.</p>
<p>Học giỏi và thành công của tuổi trẻ gốc Việt thì đông lắm, nhiều lắm, vì nhiều lý do, các cháu còn phải lo chuyện riêng tư cũng là điều hợp lý, nhưng quý biết bao những tấm gương tuổi trẻ mà tôi vừa nêu trên. Nhưng sẽ thiếu sót nếu chúng ta không nhắc tới tuổi trẻ đang tiếp bước cha ông để tham gia vào dòng chính, tranh đấu tự do cho Việt Nam.</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2014/12/clip_image016.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image016" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2014/12/clip_image016_thumb.jpg?strip=all&fit=304%2C451" alt="clip_image016" width="304" height="451" border="0" hspace="12" /></a></p>
<p>Trong các buổi lễ cộng đồng tại Nam CA, hẳn độc giả thường thấy một toán thanh thiếu niên trong quân phục TQLCVN rước Quốc Quân Kỳ, kể cả nghi lễ chào kính và biểu tình chống Cộng, các buổi gây quỹ cho thương binh VNCH và ủng hộ tuổi trẻ trong nước đấu tranh cho tự do dân chủ, thưa&#8230; đó là thế hệ thứ hai, thứ ba của TQLCVN, các cháu YM (Young Marines). Trong số này có cháu đã tốt nghiệp ngành luật, ngành y. Chim đầu đàn YM là cháu Thu Hà, ái nữ của TQLC Định Nguyên. Các cháu đang là những mầm non để nối tiếp anh chị đi trước, để làm đẹp cho cộng đồng tỵ nạn gốc Việt.</p>
<p>Trong lãnh vực chính trị, tuy chỉ mới 40 năm mà nhiều tuổi trẻ gốc Việt đã đang là những vị dân cử, đó là niềm hãnh diện, không riêng cho cộng đồng người Việt hải ngoại, mà ngay cả báo chí trong nước cũng loan tin, người Việt trong nước cũng không tiếc lời khen ngợi và chúc mừng các vị dân cử này thành công.</p>
<p>Trong mùa bầu cử tháng 11/2014, riêng tại Orange County, CA, tuổi trẻ gốc Việt đã mang hết tâm huyết vào một cuộc tranh cử với những ứng cử viên kỳ cựu dòng chính và tuổi trẻ gốc Việt đã thắng, đã là Thượng Nghị Sĩ Tiểu Bang, là 3 Thị Trưởng và nhiều nghị viên thành phố, ủy viên giáo dục. Đáng chú ý là em Nguyễn Bảo đã đắc cử Thị Trưởng Garden Grove, hơn cựu thị trưởng chỉ có 15 phiếu. Điều này nhắc cho những ai là người Mỹ gốc Việt hãy quyết tâm đi bầu cử. Mỗi lá phiếu của người Mỹ gốc Việt là tiếng nói mạnh nhất của chúng ta đối với dòng chính, dù cho không biết nói tiếng Mỹ. Có quyền nói mà chúng ta từ chối thì hóa ra ngọng, chúng ta mong gì người khác nói thay hay làm điều hữu ích cho chúng ta!</p>
<p>Nứơc Mỹ là môi trường lý tưởng cho tuổi trẻ tiến thân, mới chỉ trong thời gian ngắn, gần 40 năm mà thế hệ thứ hai thứ ba đã đạt được những thành quả đáng khâm phục thì chúng ta cứ vững tin ở các em. Các em không những sẽ đưa cộng đồng Việt tiến xa hơn nữa, tham gia dòng chính nhiều hơn nữa mà sẽ đem tự do, dân chủ, dân quyền về quê hương Việt Nam.</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2014/12/clip_image018.gif"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image018" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2014/12/clip_image018_thumb.gif?strip=all&fit=304%2C202" alt="clip_image018" width="304" height="202" border="0" hspace="12" /></a><em> </em></p>
<p>Hiện nay, nước Mỹ là nơi có số sinh viên ngoại quốc đến học tập đông nhất, trong đó có hơn 16 ngàn sinh viên đến từ Việt Nam. Dù cho họ xuất thân từ nguồn gốc giai cấp độc tài, nhưng họ đang sống và học tập trong môi trường tự do dân chủ thì chính thành phần này sẽ là người đóng đinh đậy nắp quan tài CSVN.</p>
<p>Tuổi trẻ người Mỹ gốc Việt, tuổi trẻ trong nước du học Hoa Kỳ sẽ là những người cất những cái bình vôi độc tài đảng trị vào gốc cây đa để nứơc Việt chúng ta sạch sẽ bóng bọn xâm lăng phương Bắc. Hãy tin vào tuổi trẻ, dù ngàn năm bị giặc Tàu đô hộ mà Việt Nam vẫn là Việt Nam thì ngày nay, tuổi trẻ Việt, tự do, dân chủ, văn minh học được từ Mỹ thì đừng lo bọn phương Bắc xâm lăng.</p>
<p>Nhiệm vụ chúng ta, những người đi trước hãy nói cho tuổi trẻ biết việc chúng ta đã làm, làm dang dở trong 40 năm qua để họ tiếp tục.</p>
<p>Nói với “đồng minh”, tôi xin mựơn câu nói của ông Dan, giáo sư dạy sử của Shoreline Community College nói với một học trò cựu quân nhân gốc Việt:</p>
<p>_<em> Từ đó tới nay, hơn hai mươi năm dài, kể từ ngày những gia đình Việt Nam đầu tiên tới định cư ở Hoa Kỳ, chưa ai nói cho tôi nghe những điều này. Có thể, người ta muốn quên đi quá khứ, hoặc là người ta không có can đảm nói ra. Tôi đã hiểu, và tôi phải cám ơn ông.</em></p>
<p>Để kỷ niệm 40 năm tỵ nạn, người viết xin cám ơn cộng đồng người Mỹ gốc Việt, cám ơn tuổi trẻ “Vẻ Vang Dân Tộc Việt” về những thành quả mà chúng ta đã đạt được để hy vọng và tin tưởng rằng tương lai tuổi trẻ gốc Việt sẽ là những dân biểu và thượng nghị sĩ Liên Bang, những thống đốc. Tuổi trẻ hải ngoại là hậu phương vững mạnh yểm trợ tuổi trẻ trong nước để đuổi bọn xâm lăng Trung Cộng ra khỏi lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam./.</p>
<p><b>Phila Tô</b></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2014</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/phila-t-40-nam-ty-nan-nhn-lai-doan-duong/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Captovan: X&#201; L&#193; THƯ T&#204;NH</title>
		<link>https://t-van.net/phila-t-x-l-thu-tnh/</link>
					<comments>https://t-van.net/phila-t-x-l-thu-tnh/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Captovan]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 14 Nov 2014 16:16:26 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[chiến tranh]]></category>
		<category><![CDATA[phila tô]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=19928</guid>

					<description><![CDATA[&#160; Cơm nước xong, theo lời đề nghị của nội tướng, gia đình tôi ngồi lại coi video “Lá Thư Chiến Trường” của trung tâm Asia. Vị nể tình vợ con nên tôi phải ngồi cho có mặt vậy thôi chứ khiếu văn nghệ của tôi thì tồi vô cùng, nhất là đối với những [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>&nbsp;</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2014/11/clip_image0028.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2014/11/clip_image002_thumb8.jpg?strip=all&fit=404%2C285" alt="clip_image002" width="404" height="285" border="0" /></a><i></i></p>
<p>Cơm nước xong, theo lời đề nghị của nội tướng, gia đình tôi ngồi lại coi video “Lá Thư Chiến Trường” của trung tâm Asia. Vị nể tình vợ con nên tôi phải ngồi cho có mặt vậy thôi chứ khiếu văn nghệ của tôi thì tồi vô cùng, nhất là đối với những sáng tác về sau này đại loại như: “Tình anh ngọn nến, xin em đừng đến”, hoặc giả “dậy đi em đừng ngủ dây dưa, dậy đi em mà nấu canh chua”! Lời ca tiếng hát không hợp khẩu vị, quần áo ca sĩ thì nghèo nàn, xệ trên hở dưới thấy mờ mờ ảo ảo, dẫu có nhìn sát màn hình thì chỉ thêm nhức đầu, chẳng ích gì cho tuổi xế chiều.</p>
<p>Hơn nữa, không hiểu sao hồi này cứ sau bữa cơm tối là cô nàng “Nhãn” lại rủ tôi lên giường sớm, viện cớ với lý do “căng da bụng thì chùng da mắt”, da bụng căng ra thì sẽ kéo da ở mắt khép lại, nhưng bác sĩ lại nói rằng sau khi ăn xong, đường trong máu tăng cao làm ta buồn ngủ chứ không phải tại da bụng căng ra làm mi mắt kéo lại. Đang lơ mơ ngủ gật, tôi giật mình nghe tiếng con gọi:</p>
<p>_ Bố bố, dậy mà xem trên TV người ta đọc lá thư chiến trường của Thiếu Tá Huỳnh Văn Phú kìa, lời thơ tình tứ và cảm động quá! Có phải đó là thư của bác Phú TQLC/K19 “của nhà mình” không? Có phải bác ấy viết cho bác Phượng không? Nếu không phải bác Phượng thì sao bác Phú dám liều mạng đưa thư gửi người tình lên tizi?</p>
<p>Tuy chưa mở mắt ra được, nhưng nghe con hỏi là tôi biết tác giả lá thư tình đó là ai rồi. Trong chốn văn chương tình ái, chưa có ai trùng tên Phú họ Huỳnh nên tôi xác định ngay:</p>
<p>_ Còn ai vào đây nữa, chính là bác Phú K19/TQLC ..“của nhà mình” đấy.</p>
<p>Không hiểu con gái tôi học được ở đâu câu nói: “của nhà mình” thay vì “bạn của bố”. Không riêng bác Phú mà bất cứ bác nào cháu biết thì đều vơ vào “của nhà mình”, có lẽ ý cháu muốn..“thấy sang bắt quàng làm họ”. Bác Doan, bác Bàng, bác Chiến, bác Giáng, bác Miên, bác Khương, bác Hải, bác Lâm, bác Đức, bác Cống, bác Cảo v.v đều là “của nhà mình” cả. Tôi đã nhắc cháu nhiều lần rằng nói như vậy có thể làm các bác buồn, nhưng cháu lại lý sự: “gọi như vậy nghe thân tình hơn” chứ bố (?).</p>
<p>Thấy con biết kính mến bạn của bố khiến tôi vui vui bèn giải thích thêm:</p>
<p>_ Lá thư có thật đó con, bác Phú viết cho người yêu, còn người yêu là ai thì bố không nhớ hết, vì là lính đánh giặc từ Bến Hải đến mũi Cà Mâu, dừng quân đâu là có tình yêu đó. Độc thân vui tính biết thả ..thơ thì ắt có nhiều tình yêu, có nhiều thì sợ gì mà không dám kể.</p>
<p>Thấy bố mạnh miệng bênh vực cho bạn, con gái nháy mắt với mẹ ngồi bên:</p>
<p>_ Bố có dám kể cho mẹ và con nghe lá thư bố viết cho người yêu không?</p>
<p>_ Không nhớ hết những lá thư bố viết, và viết cho những ai, có lá thư bố viết cho những người tên Mai, Lan, Cúc, Trúc, Dung v.v.. thì bị trả lại với dòng chữ ghi trên bì thư “không thèm đọc”. Nhưng ngược lại, bố nhớ mãi một lần có lá thư của người yêu gửi cho bố, bố nhận được mà chưa kịp đọc thì lá thư đó bị xé nát..</p>
<p>Tôi thấy nhói bên hông, hình như có người nào nhéo ba sườn thì phải, rồi nghe tiếng ai thì thào bên tai: “xạo hoài”! Nhưng con gái thì lại muốn trêu tức mẹ nên hỏi bố tới tấp về người yêu ngày xưa ấy là ai? Yêu từ hồi nào, hiện nay bà ấy ở đâu? Canada hay Hoa Kỳ, hoặc còn kẹt lại ở Việt Nam? Đã có gì với nhau chưa? Ai lại dám xé thơ người yêu của bố, có phải mẹ con xé vì ghen không v.v..</p>
<p>Liếc sang mẹ con gái, thấy bà ấy đang ngó lên TV nên tôi nói nhỏ với con:</p>
<p>_ Coi chừng bố bị xé xác bây giờ! Đầu đuôi là thế này, Tết năm 1963, chỉ huy trưởng trường Võ Bị là Thiếu Tướng Trần Tử Oai cho phân nửa K19 có điểm cao đi phép tết, nhân dịp này, bố quen được cô em của người bạn học cùng Pétrus Ký. Đêm giao thừa, SVSQ Võ Bị cầm tay nữ sinh Gia Long dung giăng đi xem hoa và xin xâm ở Lăng Ông, xâm nói tình yêu “tiền hung hậu kiết”, nghĩa là trục trặc ban đầu, hồi sau kết quả. ..</p>
<p>_ Rồi sao nữa bố, bố nói nhanh nhanh một tý, kết quả thế nào?</p>
<p>_ Quen nhau từ năm 1963 và mới chỉ tay cầm tay, anh tiền tuyến em hậu phương thôi, chưa có gì với nhau hết. Trao đổi thư đi tin lại được vài năm thì “không phải tại anh mà cũng không phải tại em” mà tại vì chiến tranh nên tình yêu bị gián đoạn! Đến năm 1968, tức 5 năm sau thì bố gặp lại cô ấy, vào dịp Tết Mậu Thân, nhưng gặp lại nhau trong hoàn cảnh khá bất ngờ.</p>
<p>Con gái tôi giống tính mẹ, kê nhẹ vào họng bố một câu:</p>
<p>_ Lại chuyện tình éo le cải lương, hai người yêu xưa gặp nhau trên phố, em đã tay bế tay bồng dắt theo ông chồng gìa, còn anh bận lo giữ biên cương nên vẫn còn độc thân, nay gặp nhau, liếc mắt ngậm ngùi rồi đường ai nấy đi!</p>
<p>_ Không phải gặp nhau trên phố, cô ấy cũng chưa có chồng, mà là bố cho lính bao vây và bắn vào nhà của cô ấy.</p>
<p>Mắt con gái tròn xoe ngạc nhiên, còn mắt mẹ thì cứ giả vờ, lơ đãng nhìn lên TV xem người ta đọc những “lá thư chiến trường”. Thôi thì cũng đành xâm mình kể đầu đuôi chuyện tình yêu ngày xưa cho con gái nghe, đại khái là thế này:</p>
<p>Tết Mậu Thân 1968, Việt Cộng đánh và chiếm nhiều nơi ở Saigon Chợ Lớn, Đại Đội 1/TĐ2 Trâu Điên của tôi có nhiệm vụ giải tỏa khu vực rạp cin<em>é</em> Đông Nhì trên đường Lê Quang Định, Gò Vấp. Tin dân báo cho biết là có một toán VC chiếm căn nhà lầu cao và giam giữ một số đồng bào trong đó. Sau nhiều giờ hành quân bao vây lục soát, bắn vài phát dò tình hình rồi xung phong, khi chiếm được căn nhà thì VC đã tẩu thoát, nhưng còn một số đồng bào bị VC nhốt ở tầng dưới cùng đề làm con tin, và thật bất ngờ tôi nhận ra trong đó có cô người yêu xưa.</p>
<p>May mắn mọi người được bình an và không thiệt hại gì nhiều nên ai cũng vui vẻ, mang bánh tét, dưa hấu, kẹo, thuốc lá tặng cho lính, tình quân dân thắm thiết. Tôi được cô người yêu cũ trao tận tay gói thuốc lá Ruby Queen, và dĩ nhiên sau đó thì chuyện “tình cũ không rủ cũng tới”.</p>
<p>Cô ấy và tôi đều còn độc thân nên chuyện tái hồi dễ dàng, nhớ lời bài ca “Anh đi chiến dịch xa vời, lòng súng nhân đạo cứu người lầm than” nên tôi cầm đại tay cô ấy và ca nho nhỏ: “lòng súng nhân đạo cứu người mình yêu”.</p>
<p>Tình yêu giữa hai chúng tôi tuy gắn bó hơn ngày xưa nhưng tình vẫn chỉ là chuyện tình một năm dăm ba ngày phép, rủ nhau dạo phố Nguyễn Huệ, ăn bò khô uống nước mía Viễn Đông, rồi anh ra tiền tuyến em ở lại hậu phương, “chúng ta cách xa hoài”! Tình yêu vẫn chỉ là thư đi tin lại, yêu nhau trên giấy được hơn một năm.. cho tới một hôm…ngày 19/6/1969, TĐ2/TQLC đang hành quân vùng Hỏa Lựu, tỉnh Chương Thiện thì được lệnh dừng quân để nhận thư và tiếp tế từ hậu cứ mang tới, tôi cũng nhận được thư của người yêu.</p>
<p>Đang đi hành quân, đang leo núi băng rừng lội sình mà nhận được thư gia đình, nhất là thư của người yêu thì mừng và quý lắm, cứ như gặp được người thật. Tâm trạng mừng vui tùy người, có anh vồ vập đọc ngay, có thằng từ từ mà cởi, mà cởi .. mở sao cho cái bì thư không bị rách (?). Chàng khác thì cầm chắc trong tay cứ như “tay lại cầm tay” mắt len lén nhìn quanh xem có ai để ý không rồi từ từ đưa thư lên mũi hôn như để tìm mùi da, mùi nước hoa quen thuộc. Còn tôi thì lúc nào cũng hôn tên người gửi rồi gói kỹ lại để dành tới cuối ngày khi dừng quân nằm đong đưa trên võng, uống café, hút thuốc lá mới bóc thư tình.</p>
<p>Còn gì vui bằng khi đóng quân xong, leo lên võng, đặt thư tình lên ngực tưởng như hai ta cùng chung võng, vừa đu đưa vừa đọc thư, kéo một hơi thuốc lá, nhả khói vòng tròn thấy khuôn trăng người tình trong đó. Chuyện lính chiến trường khi dừng quân, nhận và đọc thư người yêu thấy lãng mạn và dễ thương làm sao! Người hậu phương nếu biết được tình cảm ấy chắc chẳng bao giờ nỡ cách xa, nỡ sang ngang, hay không bao giờ muốn chuyện tình “đôi ta lại vỡ đôi”.</p>
<p>Nhưng thực tế không đẹp như mong ước mà nhiều khi còn vỡ nát con tim, gặp nhiều đau thương sau khi đọc thư tình: “mình ơi, em vẫn thương mình, nhưng mẹ bắt em đi lấy chồng, em không muốn mất chữ hiếu!”. Cũng có khi chưa đọc thư hoặc vừa đọc thư em xong thì anh đã ra người thiên cổ</p>
<p>Ai đã từng đọc “Những Buổi Sáng Của Lựu” trong tập truyện “Mùa Xuân Âm Thầm” của nhà văn Huỳnh Văn Phú chắc khó tin đó là chuyện tình có thật, chuyện tình đẹp như tranh giữa Trung Úy TQLC Nguyễn Quốc Chính, K20/Võ Bị, và người tình tên Lựu, nhưng nửa đường gẫy gánh!</p>
<p>Đã lâu lắm rồi nhưng tôi còn nhớ rõ như mới xẩy ra, chiều ngày 29/12/1967, sau khi đóng quân xong, Chính và tôi nằm võng cạnh nhau bên bờ sông Cai Lậy, café, thuốc lá và tâm tình, Chính lấy thơ của Lựu ra đọc, họ mới trao nhẫn đính hôn trước khi đi hành quân chuyến này. Sau khi đọc đi đọc lại nhiều lần, hôn hình vợ chưa cưới, Chính thở dài tâm sự:</p>
<p>_ Sao lần này đi hành quân, em thấy có cái gì lấn cấn và nhớ Lựu quá.</p>
<p>Chính là khóa đàn em và là đại đội phó của tôi, là một sĩ quan lý tưởng, tôi ngạc nhiên vì cử chỉ khác thường của thằng em nên chọc quê:</p>
<p>_ Chán! Chú mày mới đi dạm vợ thôi, mới xa người yêu có mấy tuần thôi mà đã rối lên, chắc là chú mày nhớ cái “lấn cấn” phải không?.</p>
<p>Sáng hôm sau, đại đội đổ bộ trực thăng xuống kinh Cái Thia (Cai Lậy), Chính là đại đội phó nên thường đi với trung đội đầu, nhưng nhớ lại tâm sự buồn của Chính chiều hôm trước nên tôi bảo Chính đi sau với trung đội súng nặng, nhưng Chính nhất định lên trực thăng nhẩy đầu với Th/Úy Huỳnh Vinh Quang (K22/VB). Trực thăng chở Chính và trung đội của Quang vừa đáp xuống ruộng lúa ven bờ kinh là bị VC trong bờ bắn ra rất mạnh, không còn cách nào hơn là phải xung phong thẳng vào mục tiêu và .. Nguyễn Quốc Chính đã tử trận ngay đợt đầu tiên, đạn xuyên màng tang!</p>
<p>Tử sinh ngoài chiến trường nhanh như chớp mắt, có những điềm báo trước khó tin nhưng có thật! Chiều tối, sau khi Chính chết, tôi ngồi trên nón sắt, hai tay ôm đầu gối bên miệng hố cá nhân mà khóc chú em. Có phải là dị đoan chăng khi Lựu có nốt ruồi dứơi khóe mắt mà dân gian thường gọi nốt ruồi này là “thương phu trích lệ”. Tôi cương quyết gạt bỏ cái tính mê tín dị đoan ngay. Chính hy sinh vì lòng dũng cảm của một lính chiến, vì tình huynh đệ của đồng môn Võ Bị, Chính tình nguyện nhẩy chuyến trực thăng đầu tiên là do muốn hướng dẫn, truyền kinh nghiệm cho một đàn em mới tra trường chứ không phải vì cái nốt ruồi&#8230;</p>
<p>Tôi đang mơ màng nghĩ đến Chính, thằng em thân thiết như ruột thịt mới “ra đi” sáng nay thì người em cận vệ của tôi, tên Đá, vừa đốt thuốc cho 2 bạn xong, quay ra thấy tôi buồn nên hắn đốt tiếp điếu thứ 3 cho “ông thầy”, hai cái đầu thầy trò chụm vào nhau để mồi thuốc, ánh lửa vừa đỏ lên thì một tiếng “chát”, tiếng súng xé toạc màn đêm, viên đạn trúng đầu Đá, em gục xuống, máu và óc thằng em văng đầy mặt tôi, tôi vội lăn xuống hố, chưa biết mình có bị thương hay không nhưng thằng em cận vệ Nguyễn Văn Đá thì nằm gục trên miệng hố. Đá quê Cát Lở, Vũng Tàu đi nhanh quá, chết nhanh như đạn đạo, em không còn để mang café, cơm xấy cho tôi nữa!</p>
<p>Lính trận kiêng không mồi thuốc lần thứ ba, không châm cùng một mồi lửa cho 3 người hút thuốc liên tiếp, họ cho đó là điềm xui, dị đoan cũng như dị đoan tin vào nốt ruồi “thương phu trích lệ”. Nhưng thực ra đó không phải là điềm xui, không nên tin đó là dị đoan, nguyên do chính là tên VC bắn tỉa, với cây CKC có ống nhắm, từ bìa rừng nó đã theo dõi mục tiêu. Khi đốm lửa đầu tiên lóe lên để đốt điếu thuốc lần thứ nhất thì nó lấy đường nhắm, khi mồi điếu thuốc lần thứ hai, đốm lửa đỏ vừa lóe lên thì ngón trỏ tên VC đặt vào cò súng CKC, khi ánh lửa từ điếu thuốc thứ ba vừa lóe sáng là nó ..bóp cò, rất chính xác, viên đạn chưa xuyên táo là may. Trong đêm tối, không thấy gì, trừ đốm lửa là thấy rõ, dù rất xa, đốm lửa lóe lên 3 lần là lãnh đạn của những tên bắn tỉa, không có dị đoan gì cả.</p>
<p>Nhớ lại kỷ niệm đau thương cũ, buổi sáng chú em bị bắn xuyên màng tang, buổi chiều tên đệ tử bị bắn nát óc, tôi lấy tay quẹt ngang mắt thì thấy con gái quay đi lau nước mắt, tôi vội trở lại câu chuyện lá thư tình của mình bị xé.</p>
<p>Khi nhận được thư, nhìn tên người gửi, tôi cầm lá thư dầy là biết có hình trong đó, vì thư trước người yêu đã hứa “sẽ bất ngờ đến thăm anh”. Tôi biết cuộc hành quân vùng Chương Thiện này là phải lội qua nhiều kinh rạch nên tôi bọc lá thư thật kỹ bằng nhiều lớp nylon, giằng dây thung bên ngoài, để thư lên túi áo trái cho khỏi ướt.</p>
<p>Khi nghe tôi nói để thư trên “túi áo trái” thì con gái mỉm cười:</p>
<p>_ Túi nào chẳng được mà bố lại tin dị đoan: “trai tay phải, gái tay trái”!</p>
<p>_ Không phải là tin dị đoan, mà vì trái tim nằm phía trái nên bố để thư của người yêu nằm phía túi áo trái đó cho&#8230;”.</p>
<p>Tuy là gái, nhưng cháu vẫn thường tìm hiểu về chiến tranh Việt Nam và đang viết bài thuyết trình về tình yêu quê hương và gia đình của người lính VNCH nên cần những tài liệu sống, vì vậy nhân dịp này tôi kể lại chi tiết cụ thể của chính mình cho cháu nghe đầu đuôi.</p>
<p>TĐ2/TQLC chia làm 2 cánh để tiến vào mục tiêu, cánh A do TĐT Nguyễn Xuân Phúc, K.16 và Trần Văn Hợp K19. Cánh B do tôi và đại đội của Vũ Đoàn Dzoan. Khi cánh B đổ trực thăng xuống cánh đồng ruộng nước để tiến vào làng thì tôi phát giác có dấu vết khả nghi trên các bờ mương, đường mòn dẫn vào mục tiêu. Theo lý thuyết học tại quân trường thì không bao giờ đi trên các đường mòn, vì vậy tôi cho lệnh đại đội lội dưới ruộng mà đi, men theo các bụi dừa nước để tiến vào làng. Nào ngờ, thực tế lại khác, VC đã gài sẵn mìn dưới gốc dừa, dây cước giăng chìm dưới nước luôn, làm sao biết mà tránh, mìn nổ tung ngay giữa ban chỉ huy cánh B, cố vấn Mỹ bị cụt tay, cận vệ tử thương, tôi bị trọng thương rồi không biết gì nữa.</p>
<p>Khi tỉnh dậy tôi mới hay mình đang nằm tại hành lang khu cấp cứu bệnh viện Phan Thanh Giản, Cần Thơ, trong tình trạng gẫy 1 chân và 2 tay, bể xương hàm, máu mũi và 2 lỗ tai chảy ra, tai nghe loáng thoáng các bác sĩ lựa thương sờ chân tôi rồi bàn với nhau: “phải cưa”! Vừa lúc đó thì bác sĩ TQLC Nguyễn Văn Hạnh đến nhận thương binh TQLC để chuyển thẳng ra phi trường về bệnh viện Lê Hữu Sanh tại Thị Nghè Sàigòn điều trị. Tôi thều thào nói với Hạnh: “đừng cưa” Hạnh mỉm cười vỗ vỗ an ủi rồi chích cho tôi thuốc ngủ, giảm đau v.v..</p>
<p>Nửa tỉnh nửa mê nằm trên giường bệnh, toàn thân bị bó bột, thoáng nghe tiếng ai nhỏ nhẹ bên tai, nhướng mắt lên, nhận ra người yêu, tay cô ấy đang cạy những vết máu và bùn đã khô còn dính lại trên đầu và mặt tôi. Thấy tôi mở mắt, cô ấy mỉn cười rồi thì thầm hỏi:</p>
<p>_ Anh đã nhận được thư và hình của em chưa?.</p>
<p>Lúc đó tôi mới sực nhớ đến lá thư trên túi áo trái, tôi vội hỏi Binh Nhất Xiêm, người em đi theo tôi, thì chú ấy lôi trong bọc nylon ra bộ đồ trận ẩm ướt hôi rình! Túi áo trái bị rách nát, lá thư và hình còn trong túi áo nhưng cũng bị rách! Trong bọc nylon gói thư, có một miểng kim loại lớn hơn đốt ngón tay út.</p>
<p>Tôi hiểu ngay điều may mắn kỳ diệu đã đến với tôi, lá thư chưa đọc được bọc trong nhiều lớp nylon, tấm hình và những tờ giấy “pelure” tuy mềm nhưng đủ sức giữ miểng kim loại ở lại trong túi áo, nếu không có lá thư làm “lá chắn” thì chắc chắn miểng kim loại đó đã bay thẳng vào tim! Tay run run cầm tấm hình bị xé rách và miểng đạn, tôi thều thào nói với người yêu:</p>
<p>_ Thư và hình của em bị đạn xé nát, nhưng chính hình em đã che chở cho anh, em đã cứu mạng anh, anh tặng em miểng đạn này để làm kỷ niệm “khi em sang sông”.</p>
<p>Vừa nghe tôi kể tới đó thì con gái lau nước mắt rồi cười ré lên:</p>
<p>_ Lãng mạn, lãng mạn! Khi em sang sông, anh tặng viên đạn đồng để làm kỷ niệm! Thế rồi cô ấy thấy tương lai của bố mờ mịt, bồ sẽ lê lết trên đôi nạng gỗ, sẽ làm khổ cô ấy nên cô ấy sang sông?</p>
<p>Nghe con cười và chọc quê bố, mẹ cháu cũng vui lây hát nho nhỏ:</p>
<p>_ Anh trở về trên đôi nạng gỗ, anh trở về làm .. không dang dở đời em!</p>
<p>Lúc này thì trên TV, lá thư tình của nhà văn Huỳnh Văn Phú đã sang trang, mẹ của con gái tôi toan đi ngủ thì con gái cầm tay mẹ kéo lại rồi quay qua điều tra bố thêm, cháu có vẻ như ghen thay cho mẹ.</p>
<p>_ Thế ngươi yêu ngày xưa ấy bây giờ ở đâu? Đã có chồng chưa, được mấy con? Chẳng hay cái&#8230; ấy hết hay còn, xuân sồn sồn nay được bao nhiêu và có bao giờ bố gặp lại bả không?</p>
<p>_ Thường xuyên, bà ta tuy có chồng có con nhưng vẫn còn đẹp, bố và bà ta vẫn thỉnh thoảng cùng nhau coi lại tấm hình và lá thư tình ngày xưa bị xé rách.</p>
<p>Con gái tôi ngạc nhiên tròn xoe đôi mắt:</p>
<p>_ Thôi nghe cha (bố), bố đừng có lạng quạng với bà ấy mà có ngày cả bố lẫn con bị bỏ đói hay phải ăn food-to-go. Nhưng mà bố này, bữa nào bố mượn lại bà ấy tấm hình đó đem về đây cho con xem bà ta có đẹp hơn mẹ con không mà bố dám liều mạng.</p>
<p>_ Nếu con muốn coi tấm hình đó thì hỏi mẹ, mẹ đang giữ.</p>
<p>Nghe tôi nói vậy bà già trầu mỉm cười, còn con gái thì phụng phịu:</p>
<p>_ Tưởng bố kể chuyện tình tiết éo le, hóa ra chuyện “huề vốn”, người trong hình bị xé là mẹ! Xé lá thư tình là do đạn xé chứ đâu phải bố. Chán bố quá!</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2014/11/clip_image003.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image003" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2014/11/clip_image003_thumb.jpg?strip=all&fit=400%2C321" alt="clip_image003" width="400" height="321" border="0" hspace="12" /></a></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Phila Tô</b></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2014</p>
<p>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/phila-t-x-l-thu-tnh/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>

<!--
Performance optimized by W3 Total Cache. Learn more: https://www.boldgrid.com/w3-total-cache/?utm_source=w3tc&utm_medium=footer_comment&utm_campaign=free_plugin

Page Caching using Disk: Enhanced 

Served from: t-van.net @ 2026-05-21 07:06:21 by W3 Total Cache
-->