<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>chuyện tù &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<atom:link href="https://t-van.net/tag/chuy%e1%bb%87n-tu/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://t-van.net</link>
	<description>Văn Học và Đời Sống</description>
	<lastBuildDate>Wed, 10 Jan 2024 00:19:34 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.7.5</generator>

<image>
	<url>https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/02/t-van-favicon.png?strip=all&#038;resize=32%2C32</url>
	<title>chuyện tù &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<link>https://t-van.net</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Phạm Đức Nhì: VÀI KỶ NIỆM VỚI CA SĨ DUY TRÁC   </title>
		<link>https://t-van.net/pham-duc-nhi-vai-ky-niem-voi-ca-si-duy-trac/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phạm Đức Nhì]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 07 Nov 2023 06:05:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[Truyện Tù Cải Tạo]]></category>
		<category><![CDATA[chuyện tù]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=66923</guid>

					<description><![CDATA[Hát Trong Tù &#8211; Tranh: THANH CHÂU Hát Tù Ca Với Anh Trác Ở Trại Z30D&#160; Khoảng tháng 6 năm 1979 tôi bị giải từ Phước Long về trại Z30D Hàm Tân. Ngay ngày đầu tiên tôi đã quen với Vũ Mạnh Dũng, một sinh viên văn khoa (trước 75) bị bắt vì tội tuyên [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/04/Tu-Khuc.jpg?strip=all&w=2560"><img fetchpriority="high" decoding="async" width="1024" height="545" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/04/Tu-Khuc-1024x545.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-54975" style="aspect-ratio:1.8788990825688074;width:596px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2022/04/Tu-Khuc-300x160.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/04/Tu-Khuc-1024x545.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2022/04/Tu-Khuc-768x409.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/04/Tu-Khuc.jpg?strip=all 1151w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Hát Trong Tù &#8211; Tranh: THANH CHÂU</em></p>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><strong>Hát Tù Ca V</strong><strong>ới Anh Tr</strong><strong>ác </strong><strong>Ở Trại Z30D&nbsp;</strong><strong></strong></p>



<p>Khoảng tháng 6 năm 1979 tôi bị giải từ Phước Long về trại Z30D Hàm Tân. Ngay ngày đầu tiên tôi đã quen với Vũ Mạnh Dũng, một sinh viên văn khoa (trước 75) bị bắt vì tội tuyên truyền phản cách mạng. Không biết Dũng hỏi ai mà biết tôi ở Phước Long thường “gầy sòng” tụ họp anh em hát tù ca nên đến thăm và bắt chuyện làm quen với tôi trước.&nbsp;Dũng trẻ hơn tôi mấy tuổi nhưng lanh lợi, ăn nói hoạt bát và đặc biệt là ngôn ngữ giao tiếp rất “văn chương”.</p>



<p>Hôm sau Dũng dẫn tôi về chỗ của mình ở một nhà khác và hai anh em “giao lưu” tù ca. Dũng đệm đàn vững và giọng hát cũng truyền cảm, dễ thương. &nbsp;Trong lúc “xả hơi” Dũng cho biết ở cùng nhà có ca sĩ Duy Trác (một trong hai nam ca sĩ nổi tiếng bậc nhất của Miền Nam trước 1975) rất được bạn tù ngưỡng mộ và yêu mến vì đã sáng tác hai bản tù ca rất hay. Dũng bảo tôi sẵn sàng để sáng Chủ Nhật tới sẽ sắp xếp cho tôi gặp anh Trác ở chỗ của Dũng.&nbsp;</p>



<p>Chủ Nhật ấy, đã hẹn trước nên khi tôi đến đưọc vài phút thì một “trung niên hán tử”, dáng người nhỏ nhắn, khuôn mặt thanh tú, hiền lành, từ đầu nhà bước lại. Đó là ca sĩ Duy Trác, người mà tôi chưa từng gặp mặt nhưng đã mến mộ từ lâu. Anh em bắt tay nhau rồi cùng leo lên tầng trên và lui hẳn vào chỗ nằm của Dũng ở trong góc. &nbsp;</p>



<p>Sau vài câu thăm hỏi xã giao Dũng cầm đàn dạo nhạc và hát nho nhỏ một bản nhạc tình để “khởi động” rồi đưa đàn cho anh Trác. &nbsp;</p>



<p>Anh cầm đàn rồi kể chuyện một đêm Giáng Sinh, nhìn qua khe vách, nghe tiếng chim hót trên bờ rào kẽm gai, nghĩ đến thân phận tù đày, mủi lòng viết bản nhạc có tựa đề LỜI NGUYỆN TRONG TÙ. Và anh dạo đàn rồi bắt đầu hát:&nbsp;</p>



<p>Có con chim nhỏ trên hàng rào kẽm gai.</p>



<p>Đứng im than thở; cuộc đời còn có ai?</p>



<p>“Này chim có biết nơi đây sống kiếp đọa đày,</p>



<p>sống không ngày mai, như kiếp cỏ cây?”&nbsp;</p>



<p>Có ngôi sao nhỏ trên bầu trời giá đêm.</p>



<p>Suốt đêm không ngủ thương ngục tù tối đen.</p>



<p>“Nhờ sao đem đến tin vui tới khắp mọi người:</p>



<p>Chúa đã giáng sinh cứu rỗi trần ai.”&nbsp;</p>



<p>ĐK:</p>



<p>“Xin Chúa hãy vỗ về, ru no tròn giấc ngủ trẻ thơ.</p>



<p>Xin một giấc mơ lành cho mẹ già từ lâu mong nhớ.</p>



<p>Xin nguyện cầu cho vợ hiền lẻ bóng nơi xa.</p>



<p>Xin nguyện cầu, xin nguyện cầu cho cuộc đời vang tiếng tình ca.</p>



<p>Hãy cho tôi khóc bằng mắt Maria,</p>



<p>những cuộc đời khổ đau tăm tối.</p>



<p>Hãy cho tôi khóc bằng mắt Maria,</p>



<p>những cuộc tình bơ vơ tóc rối.</p>



<p>Xin quét hết lũ người sống hận thù, không óc, không tim.</p>



<p>Xin tiếng hát nụ cười cho mọi người được sống bình yên”.&nbsp;</p>



<p>Anh trở lại điệp khúc một lần nữa rồi chấm dứt ở Coda:&nbsp;</p>



<p>“Vinh danh Thiên Chúa! Vinh danh Thiên Chúa! A – men”.&nbsp;</p>



<p>Tiếp theo, Dũng hát MưaTrên Ngục Tù của Nguyễn Hưng Đạo (“cư dân” trại Z30D), tôi hát Bò Đỏ &#8211; thơ Nguyễn Văn Kỳ, Trương Văn Út phổ nhạc &#8211; thi sĩ và nhạc sĩ đều từ Phước Long. (Vì đây là bài viết về anh Trác nên phần trình bày của 2 “nhân vật phụ” xin được “tiềm ẩn”)&nbsp;</p>



<p>Xong, chúng tôi trò chuyện một lúc lâu rồi tôi trao đàn cho anh Trác.&nbsp;</p>



<p>Anh Trác ôm đàn và trước khi hát, cũng kể lể chút nguồn cơn:&nbsp;</p>



<p>Một hôm, chúng tôi được đưa đi đắp một con đường từ quốc lộ 1 vào trại Z30D. Đang lao động, tôi thấy một cô gái khoảng 20 tuổi, đeo ba lô đi về phía trại giam. Lúc cô gái đến gần chỗ mình tôi chào và hỏi thăm:&nbsp; &nbsp;</p>



<p>&#8220;Sài Gòn có gì vui không em?&#8221; &nbsp;</p>



<p>Cô nhỏ nhẹ trả lời:&nbsp;</p>



<p>&#8220;Sài Gòn chỉ vui khi các anh về&#8221;.</p>



<p>&nbsp;Xúc động vì câu trả lời của cô gái tôi đã viết bản nhạc có tựa đề SÀI GÒN CHỉ VUI KHI CÁC ANH VỀ.&nbsp;Rồi anh bắt đầu dạo đàn và cất tiếng hát:&nbsp;</p>



<p>Tôi đã gặp em, bỡ ngỡ tình cờ</p>



<p>Đôi mắt ngây thơ, đến từ thành phố</p>



<p>Ngục tù tối tăm nói với cuộc đời:</p>



<p>“Sài Gòn có vui? Sài Gòn có vui?”&nbsp;</p>



<p>Em ngước nhìn tôi, cúi đầu nói nhỏ:</p>



<p>“Còn gì nữa đâu, thành phố mộng mơ</p>



<p>Thành phố đớn đau vẫn thường nhắn nhủ:</p>



<p>‘Sài Gòn chỉ vui khi các anh về’”&nbsp;</p>



<p>“Tôi sẽ về đòi lại quê hương đã mất.</p>



<p>Tôi sẽ về cùng em lau khô hàng nước mắt</p>



<p>Tôi sẽ mời em dạo chơi phố xá tươi vui</p>



<p>những con đường tình trường xưa công viên tràn nắng mới.</p>



<p>Tôi sẽ về qùy bên thánh giá bao dung</p>



<p>Tôi sẽ nguyện cầu cho tình yêu và cuộc sống</p>



<p>Đem tiếng khóc cười dâng đời khúc hát say mê</p>



<p>Cám ơn Sài Gòn, tôi sẽ trở về”.&nbsp;</p>



<p>Anh Trác lập lại điệp khúc một lần nữa rồi kết thúc bằng CODA.&nbsp;</p>



<p>Ca từ của bản nhạc đơn giản, dễ hiểu và dễ cảm. Đơn giản nhưng vẫn đủ đẹp để chuyển tải tâm sự của tác giả. Có điều tâm sự của tác giả thì, do đối diện trực tiếp với cảnh đời, nên rất thật, và dĩ nhiên, cảm xúc cũng rất thật. Đặc biệt, sức gợi của câu ca từ (cũng là cái tựa của bản nhạc) &#8211; Sài Gòn Chi Vui Khi Các Anh Về &#8211; thật ghê gớm:&nbsp;</p>



<p>Không cần tranh luận ai chính nghĩa, ai phi nghĩa, không cần những tĩnh từ, trạng từ xấu xa để mô tả thái độ, cách cư xử của những người cộng sản đối với người dân miền nam. Chỉ cần một câu ngắn gọn “Sài Gòn Chỉ Vui Khi Các Anh Về” là đủ. Những gì còn lại sẽ được hiểu ngầm, sẽ tự động thấm vào hồn người thưởng thức.&nbsp;</p>



<p>Từ một góc nhỏ ở tầng trên của căn lán (nhà tập thể) khá lớn trong trại Z30D tiếng hát anh Trác &#8211; có tiếng đàn Ghi-ta nho nhỏ phụ họa &#8211; đã trôi thẳng vào tâm hồn hai người tù trẻ tuổi. Giọng anh Trác ấm quá, luyến láy điêu luyện quá, ca từ lại hợp cảnh hợp tình nên một số bạn tù khác đang nằm thư giãn gần đấy cũng ngồi dậy lắng nghe.&nbsp;Riêng tôi, nghe hết CODA:&nbsp;</p>



<p>“Sài Gòn mến yêu! Người Tình dấu yêu! Tôi sẽ … trở … về” &nbsp;</p>



<p>lúc giọng anh Trác vẫn còn ngân vang, đưa tay lên vuốt mặt thì không biết nước mắt đã ướt mi từ lúc nào.&nbsp;</p>



<p>Anh em nói chuyện một lúc nữa thì có tiếng lao xao chuẩn bị lãnh cơm trưa (Chủ Nhật không đi lao động nên trại phát cơm trưa sớm). Anh Trác nhoài người ra cầu thang và trước khi vịn tay vào móc sắt vừa trèo vừa đu xuống tầng dưới để bước xuống nền nhà còn nói với một câu giã từ đầy hứa hẹn:&nbsp;</p>



<p>Khi nào “gầy được sòng” cứ hú tôi. Cái gì chứ văn nghệ thì tôi không từ chối.”&nbsp;</p>



<p>Buổi “văn nghệ bỏ túi” kế tiếp chưa thực hiện được thì tôi đã bị nhốt xà lim và sau đó bị giải về A 20 Xuân Phước. Anh Trác và Vũ Mạnh Dũng cũng có mặt trong đoàn tù này.&nbsp;</p>



<p><strong>Anh Trác Hát </strong><strong>Ở A20&nbsp;</strong></p>



<p>Từ Z30D chuyển đến A20 được vài ngày, vào một buổi chiều se se lạnh (chúng tôi còn đang học nội quy, chưa bị đi lao động) chợt có tiếng hát nơi phòng ăn. Tôi đến nơi thì thấy Rene’ Hanh và Toàn (rỗ), cựu sĩ quan trẻ, người đàn, người hát bài &#8220;Lá Đỏ&#8221; (nhạc bộ đội Trường Sơn). Rene’ Hanh hát khá hay. Giọng ấm, phát âm rõ ràng, ăn nhịp. Bài hát chấm dứt. Một số anh em thưởng ngoạn vỗ tay. Toàn cao hứng tiếp tục với bài &#8220;Tình Đất Đỏ Miền Đông&#8221; của Trần Long Ẩn. &nbsp;</p>



<p>Khi Toàn hát xong tôi bấm Vũ Mạnh Dũng định chiếm sân khấu làm một phùa văn nghệ “phe ta” thì đã thấy anh Trác bước tới cầm đàn. Người ca sĩ được rất nhiều người ưa thích ở miền nam, không một lời giới thiệu, dạo đàn và cất tiếng hát. Giọng anh còn rất ngọt với bài Lời Nguyện Trong Tù do chính anh sáng tác. Mọi người lắng nghe say sưa. &nbsp;Bài hát vừa hết thì Toàn kéo René Hanh đi và nói khá lớn tiếng:&nbsp;</p>



<p>“Mình đi thôi. Anh ấy hát nhạc không đúng chính sách”.&nbsp;</p>



<p>Đụng vào chỗ nhột, những người khác cũng bỏ đi. Và âm mưu “gầy sòng” của tôi thất bại.&nbsp;</p>



<p>Nhưng trong không khí “ngột ngạt, khó thở” của A20 (tên gọi khác là Trại Trừng Giới) – nơi tập trung những thành phần “cứng đầu, khó bảo” từ các trại khác dồn về &#8211; mà dám hát một bản nhạc “không đúng chính sách” như anh Trác thì nếu độ lớn của lá gan không ở mức “đáng nể” thì “cơn hứng của nghệ sĩ” cũng cao ngất để có thể phủ mờ nỗi lo lắng, sợ sệt của lý trí.&nbsp;</p>



<p>Dù ở vào trường hợp nào đi nữa đám tù trẻ chúng tôi đều nhìn anh với đôi mắt kính trọng và cảm phục&nbsp;</p>



<p><strong>Nhân Cách C</strong><strong>ủa Một Nghệ Sĩ &nbsp;</strong><strong></strong></p>



<p>Ở A20 vào thời điểm đó, có chân trong đội văn nghệ, cơ hội sống sót để trở về với gia đình – so với các anh em khác (trừ đội nhà bếp) – có thể nói là cao hơn rất nhiều. Ở các đội khác mọi người phải dầm mưa dãi nắng, cuốc đất, gieo trồng, khuân vác nặng nhọc suốt 8 tiếng mỗi ngày, ăn uống thiếu thốn, kham khổ, thân xác héo mòn. Còn ở đội văn nghệ chỉ hát hỏng khoảng 3 tiếng trong hội trường mát mẻ rồi thì tự do đi tìm rau hoang cỏ dại, nấu canh nóng sốt để bữa ăn có thêm chất bổ dưỡng.&nbsp;</p>



<p>Vì thế, nhiều người bon chen, cậy cục để có một chỗ “ngồi mát ăn bát vàng”. &nbsp;</p>



<p>Là một ca sĩ nổi danh như anh Trác, làm sao tránh khỏi đôi mắt và đôi tai “tinh quái” của tay cán bộ giáo dục (tên Hanh). Nội tình việc giới thiệu, đề cử (hay bắt buộc) anh vào đội văn nghệ xảy ra như thế nào thì tôi không rõ. Nhưng anh đã vào đội văn nghệ và đã có một số ngày lên hội trường tập tành với mọi người trong đội. Điều này thì ai cũng biết.&nbsp;</p>



<p>Riêng tôi, một hôm trên đường ra bãi tập họp chờ đi lao động, thấy đội văn nghệ cũng hàng lớp lên hội trường tập dợt, không nhớ ai đó đã chỉ anh Trác vừa cười vừa nói: &nbsp;</p>



<p>“Nhìn ca sĩ Duy Trác kìa! Lên hội trường ca hát mà mặt thểu não cứ như là đi đưa đám ma ấy”.&nbsp;</p>



<p>Tôi đưa mắt nhìn về hướng anh đi và lặng yên thông cảm.&nbsp;</p>



<p>Thế rồi mấy ngày sau tôi được lệnh không đi lao động để ở nhà “làm việc” với cán bộ Tri an ninh. Chờ hơn một tiếng thì thấy anh Trác trên đường từ hội trường về nhà 3 (cùng nhà với tôi), mặt mày tươi vui và vừa đi vừa nhảy chân sáo. Đi qua chỗ tôi anh cười cười nói nhỏ: &nbsp;</p>



<p>“Bị đuổi rồi. Hát sai nhịp.”&nbsp;</p>



<p>Tôi phì cười. Mừng cho anh. Nhưng rồi lại ái ngại cho anh. Và sau cùng thì hết lòng nể phục anh.&nbsp;</p>



<p>Với vóc người nhỏ con yếu đuối như thế, may mắn được vào chỗ mát mẻ, nhàn hạ, thỉnh thoảng được tặng thêm miếng cháy, kiếm thêm lá rau dại, cơ hội sống còn để trở về với vợ con nhiều hơn, lại vùng vằng không chịu, chấp nhận ra đội nắng, dầm mưa, chịu đói. Để được cái gì? Để khỏi phải hát những lời không hợp với lòng mình. &nbsp;</p>



<p>Với tôi, dám làm điều đó, anh đã biểu lộ một nhân cách rất cao đẹp của người Nghệ Sĩ.&nbsp;</p>



<p><strong>Hai Món Quà T</strong><strong>ết Qu</strong><strong>ý Giá &nbsp;</strong><strong></strong></p>



<p>Sáng mồng 1 Tết năm Nhâm Tuất (1982) tôi đang ngồi nhâm nhi mấy lát khoai mì H34 thì Ngọc Đen và Hải Bầu chạy vào, mặt vô cùng phấn khích. Ngọc lên tiếng: “Ở trại giờ vắng hoe, chỉ còn 1 thằng võ trang ở tít cổng ngoài; chắc tụi nó tụ họp ăn nhậu ở khu trung tâm. Mày tính sao?”&nbsp;</p>



<p>Tôi vẫn chưa hiểu ý Ngọc Đen nên hỏi lại: “Tính cái gì?”</p>



<p>Hải Bầu chêm vào: “Tụi tui tính nói với ông (tôi không thân với Hải nên vẫn gọi nhau là ông, xưng tôi) nhân dịp này làm một buổi văn nghệ long trời lở đất, không phải e dè gì nữa, chơi tới bến luôn!”</p>



<p>Tôi hỏi: “Chơi ở đâu? Và bao giờ chơi?”</p>



<p>“Nhà 3 mình.” Ngọc Đen trả lời ngay không cần suy nghĩ.</p>



<p>“Tụi tao tính một tiếng nữa sẽ bắt đầu. Làm sao phải xong trước giờ lãnh cơm trưa.”&nbsp;</p>



<p>Như vậy tôi chỉ có một tiếng đồng hồ để soạn một chương trình văn nghệ “tới bến”. Nhưng là tay chuyên “gầy sòng” ở các trại cũ nên tôi cũng không nao núng. Những tiết mục khác của chương trình thì đã có sẵn trong đầu. Tuy nhiên, nghĩ đến 2 bản nhạc của anh Trác thì chợt nhớ ra là&nbsp; “Người đã về rồi” nên tôi hơi bối rối. &nbsp;</p>



<p>Trong trại có Vũ Trọng Khải và Hải Bầu hát 2 bài này “có nét” nhất. Anh Khải giọng ấm hơn nên tôi đã nghiêng về phía ông Đại Úy cảnh sát. Hơn nữa, Hải Bầu đã rất nhuyễn bản Tình Yêu Từ Thung Lũng Khổ Sai của Trần Đức Long nên tôi cũng đỡ áy náy khi dành cả 2 bản nhạc của anh Trác cho Vũ Trọng Khải. Vả lại thời gian gấp rút quá nên tôi đã tự quyết định chứ không bàn bạc với anh em.</p>



<p><a href="https://t-van.net/ph%e1%ba%a1m-d%e1%bb%a9c-nh-nh%e1%bb%afng-ti%e1%ba%bfng-ht-b%e1%bb%abng-sng-a20/">(Những Tiếng Hát Bừng Sáng A20)</a></p>



<p>Rất may, trong 5 buổi văn nghệ của 3 ngày Tết năm đó – sau này được anh em truyền tụng là Những Tiếng Hát Bừng Sáng A20 &#8211; Vũ Trọng Khải đã thể hiện rất thành công tâm tình của anh Trác trong Lời Nguyện Trong Tù và Sài Gòn Chỉ Vui Khi Các Anh Về.&nbsp;</p>



<p>Có người đã phát biểu “AnhTrác về mà còn để lại cho anh em hai món quà Tết thật quý giá” (Xin đọc Vũ Trọng Khải thể hiện hai bản nhạc của anh Trác theo link đã dẫn ở phần trên).&nbsp;</p>



<p><strong>Bu</strong><strong>ổi Văn Nghệ Dở Dang&nbsp;</strong></p>



<p>Trong lúc chạy hàng cho bà chị họ con ông bác ở quận 8, bán vải ở chợ An Đông tôi có quen một chị cũng có sạp vải (rất khá giả), thích văn nghệ và cũng mê giọng ca Duy Trác. Nghe tôi kể về tính nghệ sĩ của anh, chị nhờ tôi mời anh về nhà để làm một chầu văn nghệ bỏ túi. Tôi đề nghị thì anh vui vẻ nhận lời ngay. &nbsp;</p>



<p>Anh bảo tôi: “Ông chuẩn bị sẵn cây đàn. Tôi hát, còn ông vừa hát vừa đọc thơ là có thể ‘bao dàn’ một chương trình kha khá”.&nbsp;</p>



<p>Thế là vào tối Thứ Bảy trong tuần lễ đầu tháng 3 năm 1984 tôi với anh mỗi người một chiếc xe đạp từ cuối đường Lý Thái Tổ (Ngã 7 Cộng Hòa) nhắm hướng Cầu Chữ Y thẳng tiến. &nbsp;</p>



<p>Đến nơi, tôi và anh Trác được chị tiếp đón vui vẻ và đưa lên một căn phòng rộng ở trên lầu. Cây đàn Ghi-ta đã để sẵn cạnh chiếc ghế ở vị trí trung tâm. Chỉ vài phút sau là khán giả bước vào tấp nập. Vì lý do an ninh nên không có màn giới thiệu “nghệ sĩ trình diễn” và cũng không có MC dẫn chương trình. &nbsp;</p>



<p>Khán giả vào chỗ ngồi thì anh Trác dạo đàn để không khí thêm chút tươi vui. Khi mọi người yên vị thì anh cất tiếng hát. Bản nhạc MỜI TÔI BẠN NHÉ sẽ làm nóng chương trình.&nbsp;</p>



<p>MỜI TÔI BẠN NHÉ&nbsp;</p>



<p>Này bạn mời tôi ca tôi sẽ ca ngay</p>



<p>Dù giọng khàn môi khô tôi hát say sưa</p>



<p>Này bạn bảo tôi vui tôi sẽ vui liền</p>



<p>Dù buồn phiền quanh đây bao nhiêu năm tháng&nbsp;</p>



<p>Này bạn mời đi xa đã thấy mê tơi</p>



<p>Vì từ nhiều năm qua vẫn cứ loay hoay</p>



<p>Lòng cầu được bình yên sao vẫn rối bời</p>



<p>Giờ ngồi thuyền ra khơi“sướng như Thiên Đàng”.&nbsp;</p>



<p>ĐK:&nbsp;</p>



<p><em>Ni</em><em>ềm vui ở đ</em><em>ây đâu ch</em><em>ỉ ri</em><em>êng tôi</em></p>



<p><em>Mà là ni</em><em>ềm vui tất cả mọi người</em></p>



<p><em>Ni</em><em>ềm đau ở đ</em><em>ây đâu ph</em><em>ải ri</em><em>êng ai</em></p>



<p><em>Mà là ni</em><em>ềm đau khắp cả mọi miền.&nbsp;</em></p>



<p>Này bạn bảo tôi điên tôi thấy vui vui</p>



<p>Vì cuộc đời quanh đây ai đã không điên</p>



<p>Nhiều chuyện kể vui tai nghe rất đau lòng</p>



<p>Chuyện kẻ ở người đi nghe sao không chán&nbsp;</p>



<p>(Tôi quên mất một phiên khúc)&nbsp;</p>



<p>Được nghe một ca sĩ lừng danh hát bản nhạc vừa vui nhộn vừa có chút “nỗi niềm riêng tư” hợp với lòng mình nên khán giả ai cũng mặt mày rạng rỡ, phấn khích. Thấy vậy, anh Trác hát lại cả bài và kết thúc ở Điệp Khúc (Đoạn in nghiêng). &nbsp;</p>



<p>Khán giả vỗ tay rất nồng nhiệt. Có người còn la to “Hết sẩy”, “Quá độc”. Tôi vội đưa ngón tay lên miệng và thì thầm hai tiếng “Nho nhỏ”.&nbsp;</p>



<p>Có thêm vài khách nữa mới đến nên mọi người chen nhau ngồi lấn lên phía trước để gần ca sĩ hơn. Không khí thật vui nhộn, hào hứng. &nbsp;</p>



<p>Anh Trác liếc nhìn tôi có ý dò hỏi. Tôi nhẹ nhàng hất hàm nhép miệng (nói thầm không ra tiếng): “Anh hát tiếp đi”.&nbsp;</p>



<p>Chờ cho những lời ngợi khen, bàn tán của khán giả lắng dịu anh dạo đàn và hát bài Ở LẠI:&nbsp;</p>



<p>Ở lại để thấy người ra đi rất nhiều</p>



<p>Ở lại để nghe những hận hờn vọng mãi đêm thâu</p>



<p>Ở lại để thấy những đổi thay trên nét mặt người</p>



<p>Ôi nếp nhăn nào tựa vết roi&nbsp;</p>



<p>Ở lại để thấy đường đi không lối về</p>



<p>……………..</p>



<p>(Phần còn lại của bài hát tôi đã quên)&nbsp;</p>



<p>Bài hát nói đến hoàn cảnh xã hội thay đổi (theo hướng xấu) mà người dân miền nam – không vượt biên được,&nbsp; phải ở lại &#8211; đang căng mình chịu đựng. &nbsp;</p>



<p>Khán giả lại vỗ tay vang dội. Anh đưa mắt nhìn tôi rồi định chuyển đàn Ghi-ta qua nhưng tôi xua tay từ chối. Bởi “tranh tài với anh trong lời ca tiếng hát” lúc ấy thì chỉ có thua thiệt. Tôi chọn lối chơi khác &#8211; sử dụng “chiêu độc” của mình là đọc thơ.</p>



<p>Và tôi hắng giọng rồi nói với mọi người là sẽ đọc một bài thơ tình: SÀI GÒN MỘT CHIỀU EM LỖI HẸN&nbsp;</p>



<p><em>Bài thơ này là “h</em><em>ậu quả” của một hiểu lầm. T</em><em>ôi v</em><em>ới N</em><em>àng h</em><em>ẹn nhau ở c</em><em>ông viên Tao Đàn nhưng tôi l</em><em>ại đ</em><em>ãng trí ra quán nư</em><em>ớc quen ở gần chợ Bến Th</em><em>ành ng</em><em>ồi chờ. Dĩ nhi</em><em>ên, Nàng không đ</em><em>ến. Kh</em><em>ông g</em><em>ặp “người thương” n</em><em>ên bu</em><em>ồn b</em><em>ã n</em><em>ổi hứng viết mấy vần thơ tr</em><em>ách móc. &nbsp;</em></p>



<p>Nhưng trong cái không khí của buổi văn nghệ hôm ấy khán giả có ý chỉ mong “tiết mục phụ” của tôi chóng qua để được tiếp tục nghe anh Trác hát nên tôi “biết thân, biết phận” bỏ cái phần “giải thích dài dòng” (chữ in nghiêng) đó để đi thẳng vào bài thơ. &nbsp;</p>



<p>SÀI GÒN MỘT CHIỀU EM LỖI HẸN&nbsp;</p>



<p>Sao em nỡ tiếc anh</p>



<p>một chiều hò hẹn</p>



<p>khi chúng mình đã nguyện</p>



<p>cho nhau hết cả những ngày xuân?&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Trời chiều nay trong xanh</p>



<p>lang thang ngoài phố</p>



<p>anh nghe lòng mình</p>



<p>ngập tràn thương nhớ&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Đây quán nước hôm nào hai đứa</p>



<p>ngồi bên nhau</p>



<p>nhìn ly kem óng ánh mấy màu</p>



<p>sao em nói “Em yêu chỉ mình anh thôi” nhỉ?</p>



<p>Gió thổi tóc anh bay nhè nhẹ</p>



<p>như chiều nào đứng đợi trước công viên</p>



<p>Ồ kia rồi! Vóc dáng thân quen</p>



<p>em như nàng tiên</p>



<p>mỗi lần đến mang một niềm vui mới&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Còn nhớ không?</p>



<p>Có lần anh lấn tới</p>



<p>cũng một buổi chiều em vẽ một lằn ranh</p>



<p>“Đây là biên giới!</p>



<p>Đừng bao giờ vượt quá nghe anh”&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Đường chiều dập dìu áo đỏ áo xanh</p>



<p>chẳng áo nào đẹp bằng chiếc áo em thường mặc</p>



<p>hàng nghìn khuôn mặt</p>



<p>chẳng ai duyên dáng bằng người anh yêu&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Tình đôi ta đẹp quá những buổi chiều</p>



<p>dù trời mưa hay nắng</p>



<p>cả Sài Gòn chiều nay im vắng</p>



<p>chỉ vì bên anh</p>



<p>thiếu buớc chân em.&nbsp;</p>



<p>Cũng may, bài thơ tình tứ ướt át nên cũng được khá nhiều tiếng vỗ tay tán thưởng. Tuy nhiên, ngay sau đó mọi ánh mắt của khán giả đều đổ dồn về phía anh Trác. Anh mỉm cười cầm đàn dạo nhạc và hát bản ÁO DÀI.&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; ÁO DÀI&nbsp;</p>



<p>Ngày nào mới mặc áo dài</p>



<p>Tay em run quá chẳng cài nổi khuy</p>



<p>Chuyện giờ kể có khác đi</p>



<p>Run run anh cởi hết khuy em cài&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Ngày nào mới thở hương người</p>



<p>Em say ngây ngất rụng rời ngón tay</p>



<p>Chuyện giờ kể có khác đi</p>



<p>Tay em buông thõng mỗi khi nhớ người&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Ngày nào anh cũng làm thơ</p>



<p>Dù em là chiếc gương mờ đã lâu</p>



<p>Trước khi đi ngủ, chải đầu</p>



<p>Ðể trong giấc mộng gặp nhau đàng hoàng&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Ngày nào mắt ngọc xanh tình</p>



<p>Ðêm khuya anh nhớ dịu hiền mắt em</p>



<p>Chuyện giờ kể có khác đi</p>



<p>Mi xanh mắt ngọc bút chì tô quanh&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Ngày nào mới mặc áo dài</p>



<p>Trông gương soi bóng tự cài lấy khuy</p>



<p><em>Chuy</em><em>ện giờ kể c</em><em>ó khác đi</em></p>



<p><em>Không đem bán áo l</em><em>ấy g</em><em>ì nuôi nhau&nbsp;</em></p>



<p>Hai câu cuối của bản nhạc còn có chút “hoàn cảnh xã hội”. Vào thời điểm đó cuộc sống của dân miền nam thiếu thốn, cơ cực quá nên bàn ghế tủ giường, tivi radio máy hát &#8211; tất tật mọi thứ &#8211; kể cả sách quý hiếm, quần áo đẹp (kỷ niệm) đều bị lôi ra bán để kiếm chút bỏ bụng cho đỡ đói.&nbsp;Có lẽ lâu lắm mới được nghe những lời hát vừa đậm chất tình, vừa dễ thương, vừa đúng với cảnh đời (chứ không phải toàn những lời tuyên truyền) nên khán giả sướng quá, đồng loạt vỗ tay thật lớn, thật dài.&nbsp;</p>



<p>Khi tiếng vỗ tay nhỏ dần thì có một giọng Bắc dõng dạc cất lên: &nbsp;</p>



<p>“Anh hát như thế là ngầm nói xấu chế độ đấy. Hát hỏng kiểu ấy ở nhà tôi là không được đâu.” &nbsp;</p>



<p>Chị chủ nhà mặt biến sắc vội chạy lại vừa kéo tay ông lão vào phía trong vừa vẫy tay ra hiệu cho mọi người giải tán.&nbsp;Tôi và anh Trác được mọi người nhường đường rút lui trước. Hai anh em hai chiếc xe đạp vù qua Cầu Chữ Y rồi vừa cười vừa sóng đôi đạp về nhà anh Trác ở Ngã Bảy.&nbsp;</p>



<p>Sau này mới biết ông lão là bố của chị chủ nhà. Chị biết thái độ, lập trường của bố mình đối với những lời nhạc kiểu này nên đã cho người chở ông xuống bà cô ở khu Chợ Bàn Cờ để giúp họp bàn tổ chức đám hỏi cho cháu gái (con bà cô) vào tháng sau. Không hiểu sao ông không chờ con đến đón mà đi xe ôm về sớm, làm bể chương trình văn nghệ đang hấp dẫn. &nbsp;</p>



<p>Hôm sau gặp ở chợ An Đông, chị xin lỗi tôi và nhờ chuyển lời xin lỗi đến anh Trác.&nbsp;</p>



<p>Sự kiện này làm tôi nhớ đến“câu giã từ đầy hứa hẹn” của anh sau khi cùng hát tù ca với tôi và Vũ Mạnh Dũng ở Z30D năm nào:&nbsp;</p>



<p>Khi nào “gầy được sòng” cứ hú tôi. Cái gì chứ văn nghệ thì tôi không từ chối.&nbsp;</p>



<p>Quả đúng như vậy. Với văn nghệ thì anh đã “rất chịu chơi” chứ không từ chối. Không những chỉ “rất chịu chơi” mà còn có khả năng “chơi rất đẹp” nữa.&nbsp;</p>



<p><strong>M</strong><strong>ột Buổi Đọc Thơ Đặc Biệt&nbsp;</strong></p>



<p>Một hôm có việc cần gặp anh Phạm Chí Thành (cũng là bạn anh Trác, ở ngã tư Hồng Thập Tự &#8211; Lê Văn Duyệt) mà không thấy anh ở nhà tôi bèn đạp xe thẳng ra nhà anh Trác ở gần đấy tìm anh. Không thấy anh Thành nhưng anh Trác đã đon đả mời tôi vào nhà.&nbsp;</p>



<p>“Sao? Chiều Thứ Bảy tuần này có bận gì không? Tôi định rủ ông đến nhà anh Sỹ chơi. Có cả Nguyễn Hữu Nhật ở đấy. Hai thi sĩ tha hồ mà đọc thơ”.&nbsp;</p>



<p>Anh đã bóng gió nói chuyện này với tôi từ lâu nhưng có lẽ tuần này mới tiện dịp. Tôi trả lời:&nbsp;</p>



<p>“Hôm ấy định ra Chợ Lớn nhận ít hàng cho bà chị, nhưng không gấp. Có chuyện vui chơi thì để hôm sau cũng đưọc”.&nbsp;</p>



<p>Tôi đến nhà anh Trác khoảng 1 giờ trưa Thứ Bảy. Thư thả uống trà một lúc rồi hai anh em hai chiếc xe đạp ra đường Cộng Hòa (Nguyễn Văn Cừ), qua Đại Học Khoa Học một đoạn rồi rẽ phải. Nhà anh Sỹ ở trong một con hẻm rộng trên đường này,&nbsp;đường An Dương Vương.&nbsp;</p>



<p>Đến nơi, một người đứng tuổi, dáng vẻ trí thức, mặt phúc hậu, ra cửa đón vào. Trong nhà đã có một người nữa đứng cạnh bàn. Anh Trác lịch thiệp giới thiệu và mọi người vui vẻ bắt tay nhau. Người đứng tuổi là nhà văn Doãn Quốc Sỹ (sinh năm 1923), người kia trẻ hơn là nhà thơ Nguyễn Hữu Nhật (1942), chồng nhà văn Nguyễn Thị Vinh (em gái Nguyễn Tường Tam và là thành viên trẻ tuổi nhất của Tự Lực Văn Đoàn). Bên cạnh anh Trác (1936), tôi trẻ nhất (1952) – năm đó mới 32 cái xuân xanh.&nbsp;Anh Sỹ mời mọi người ngồi và rót trà tiếp đãi rất lịch sự. Sau vài phút thăm hỏi xã giao là phần diễn đọc thơ. Anh Nhật được coi là người nhà (thơ của anh đã rất quen thuộc với nhóm văn nghệ sĩ quen biết anh Sỹ) nên anh Sỹ mời anh mở đầu chương trình. &nbsp;Anh Nhật nhắp một hớp trà rồi bắt đầu đọc bài thơ HOA CÚC VÀNG&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; HOA CÚC VÀNG&nbsp;</p>



<p>Chỗ anh đứng chờ em ra</p>



<p>Bây giờ thiên hạ trồng hoa cúc vàng</p>



<p>Mỗi lần có dịp đi ngang</p>



<p>Nhớ em anh tưởng áo vàng lụa bay&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Nghĩ&nbsp; hoài sống mũi cay cay</p>



<p>Mấy năm chẳng được một ngày gần nhau</p>



<p>Hạnh phúc thường hay qua mau</p>



<p>Vắng nhau thì thấy ở đâu cũng buồn&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Tự dưng thương ghế thương bàn</p>



<p>Nơi em đã để cho làn hương rơi</p>



<p>Anh muốn kêu lên em ơi</p>



<p>Nhớ gì nhớ đến chết người như không&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Tay vò hoa cúc nát lòng</p>



<p>Vàng phai hay ý chờ mong nhạt dần.</p>



<p>(Bài thơ này đã được anh Đinh Văn Trang phổ nhạc tại trại Thanh Cẩm vào năm 1979) (<strong>1</strong>)&nbsp;</p>



<p>Đây là tâm tình của anh trong những tháng năm cải tạo xa cách vợ hiền. Anh Trác đã kể tôi nghe về chuyện tình của anh Nhật với chị Vinh &#8211; chị hơn anh 18 tuổi. Ở thời điểm ấy – Nàng ra đời trước Chàng từng ấy năm &#8211; kể cũng hơi khác thường.&nbsp;</p>



<p>Nhưng phải công nhận tình yêu và nỗi nhớ thương của anh với người tình đậm đà, sâu sắc, lãng mạn và rất Thơ – nghe rất khoái.&nbsp;Chờ một lát cho chất tình, chất lãng mạn, chất Thơ thấm vào hồn khán giả, anh Nhật nhắp một hớp trà nữa rồi đọc tiếp 4 câu thơ:&nbsp;</p>



<p>Một ngày không thấy mặt nhau</p>



<p>Đã như phát ốm phát đau một ngày</p>



<p>Xa nhau đã mấy năm nay</p>



<p>Mình không bỏ mạng là may lắm rồi&nbsp;</p>



<p>Như đã nói ở trên, chị hơn anh 18 tuổi nên nghe đoạn thơ rất sâu sắc, đậm tính lãng mạn đó, anh Sỹ, anhTrác và cả tôi đều cười thích thú. &nbsp;</p>



<p>Đến đây anh Sỹ nhìn tôi thân thiện nói:&nbsp;</p>



<p>Nghe anh Trác kể thơ anh Nhì được anh em trong trại cải tạo rất ưa thích. Nhân dịp này cho chúng tôi nghe vài bài nhé.&nbsp;</p>



<p>Tôi cũng cầm ly nhấp một hớp trà thấm giọng rồi tự giới thiệu và đọc bài thơ HẸN MỘT NGÀY MAI. Tôi viết bài này ở phân trại E năm 1981, lúc mới bước qua tuổi 30.&nbsp;&nbsp;&nbsp;</p>



<p>HẸN MỘT NGÀY MAI&nbsp;</p>



<p>Ai chẳng muốn có một mái nhà êm ấm</p>



<p>khi đã bước qua tuổi ba mươi</p>



<p>một cô vợ hiền lành duyên dáng</p>



<p>một hai đứa con kháu khỉnh tươi cười&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Bắt tay vào xây dựng tương lai</p>



<p>trong muôn nghìn việc chung của quê hương dân tộc</p>



<p>ai chẳng có một đôi khoảnh khắc</p>



<p>nghĩ về những riêng tư&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Tôi còn bà mẹ già</p>



<p>như ngọn đèn sắp tắt</p>



<p>mong đứa con trai từng giờ, từng phút</p>



<p>sớm trở về nhà lấy vợ, đẻ con&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Mang trong lòng một hoài bão sắt son</p>



<p>“Bồi đắp vun trồng những mầm non nước Việt”</p>



<p>tôi cũng muốn mai đây trong cánh rừng tươi đẹp</p>



<p>có một, đôi cây mang vóc dáng của mình</p>



<p>ngạo nghễ giữa trời xanh&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Nhưng hôm nay nghĩ đến chuyện gia đình</p>



<p>tôi như chạm phải vết thương nhức nhối</p>



<p>đất nước vẫn chìm trong đêm tối</p>



<p>lũ quỷ đỏ dã man vẫn đày đọa muôn dân</p>



<p>đường đấu tranh sẽ còn lắm gian nan</p>



<p>mà sự nghiệp chỉ đôi bàntay trắng&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Tôi biết mình chưa thể chu toàn bổn phận</p>



<p>làm chồng, làm cha khi chí vẫn tang bồng</p>



<p>vẫn chưa chồn chân lội suối băng rừng</p>



<p>vẫn đôi tay muốn ghì chặt súng</p>



<p>trên đầu tóc vẫn đang dựng đứng</p>



<p>mắt vẫn in rõ mặt quân thù&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Và trái tim</p>



<p>vẫn hằng đêm</p>



<p>nhói đau trong ngực</p>



<p>khi xa xa vọng về tiếng khóc</p>



<p>của những bà mẹ già, những đứa trẻ thơ&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Nên dù có lời hứa đợi chờ</p>



<p>của cô láng giềng tôi yêu tha thiết</p>



<p>dù mẹ tôi khao khát</p>



<p>mong cô con dâu, mong đứa cháu gọi bà</p>



<p>tôi vẫn lắc đầu và mỉm cười vu vơ</p>



<p>khi có người hỏi</p>



<p>“Sao chưa lấy vợ?”&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Tôi mơ đến một khoảng trời rộng mở</p>



<p>có những đoàn quân</p>



<p>tiến về Sài Gòn</p>



<p>đòi lại quê hương đã mất</p>



<p>và hòa trong ào ào tiếng thét</p>



<p>“Tiến lên! Hãy tiến lên!”</p>



<p>có bóng tôi lao vút như tên.&nbsp;</p>



<p>Vâng. Đó là tâm sự của tôi– một thanh niên sắp “tam thập nhi lập” nhưng hoàn cảnh trớ trêu, vẫn còn nằm trong trại cải tạo, chưa được ra đời thực hiện những ước mơ &#8211; xây dựng gia đình, tạo lập tương lai sự nghiệp.&nbsp;</p>



<p>Tứ thơ “nhất khí liền mạch”, âm điệu chảy thành dòng làm chỗ dựa cho cảm xúc cùng những mảnh tâm sự bám theo đi vào tâm hồn những người yêu thơ. Anh Sỹ đang gật gù như muốn nhờ năng lượng từ sự chuyển động của cái đầu đưa cảm xúc thấm sâu vào tâm hồn.&nbsp;</p>



<p>Không khí lặng đi một lúc lâu.&nbsp;</p>



<p>Rồi anh Sỹ ngẩng đầu lên nhìn tôi nhẹ nhàng “ra lệnh”:&nbsp;</p>



<p>Một bài nữa đi anh Nhì.&nbsp;</p>



<p>Tôi dùng vài phút kể lể sự tình: &nbsp;</p>



<p>Sau khi bị đánh đập dập xương sống, bị cùm kẹp đến liệt hai chân và rối loạn cơ tròn, không kiểm soát được đường tiểu tiện và đại tiện, tôi nằm chờ chết trong xà lim. Nhờ sự can thiệp tận tình của hai bác sĩ tù Trần Quý Nhiếp và Trần Văn Lịch, cộng thêm đề nghị của một phái đoàn Thanh Tra Y Tế Trung Ương, tôi được chuyển vào một bệnh xá nhỏ ở Phân Trại B, nơi giam giữ tù hình sự.</p>



<p>Tôi đã sống chung với đủ mọi loại tội phạm: Giết người, trộm cướp, hiếp dâm, lừa đảo, xì ke ma tuý v.v. Lúc ấy ở bệnh xá có khoảng 30 bệnh nhân, toàn là tù hình sự. Chỉ mình tôi “lạc loài”.&nbsp;</p>



<p>Rồi tôi bắt đầu đọc bài thơ&nbsp;TÔI ĐÃ GẶP Ở ĐÂY:</p>



<p>Tôi đến đây</p>



<p>trong một lần đi trốn</p>



<p>khi đang trong cuộc một trò chơi lớn</p>



<p>trò chơi đấu tranh&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Nhìn quanh</p>



<p>tôi thấy toàn thú dữ</p>



<p>mắt tròn xoe đổ lửa</p>



<p>uống máu ăn thịt lẫn nhau</p>



<p>trong khi bên ngoài những lớp rào và những hào sâu</p>



<p>bầy quỷ sứ đứng canh ngả nghiêng cười khoái trá&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Ở đây</p>



<p>một nắm rau dại một con sâu, con dế</p>



<p>lắm khi tàn tạ thân xác một con người</p>



<p><em>m</em><em>ột mẩu t</em><em>àn thu</em><em>ốc rơi</em></p>



<p><em>có th</em><em>ể l</em><em>àm máu đ</em><em>ổ &nbsp;</em></p>



<p>Tử thần đang mừng rỡ</p>



<p>bước từng bước đến gần</p>



<p>những con người khốn khổ</p>



<p>họ không có gì chống đỡ</p>



<p>nên chỉ biết bán rẻ nhân cách của mình</p>



<p>biến thành những con vật đê hèn</p>



<p>ngụp lặn trong vũng bùn tội lỗi&nbsp;</p>



<p>May mắn thay</p>



<p>tôi đã gặp ở đây</p>



<p>ân tình đong thật đầy</p>



<p>của những người bạn mới</p>



<p>(giữa rừng cỏ dại quanh bờ suối</p>



<p>lác đác một hai khóm trúc đào)&nbsp;</p>



<p>Tôi quên sao được hương vị ngọt ngào</p>



<p>của cành hoa các anh trao giữa muôn nghìn cay đắng</p>



<p>đàng sau những vệt máu, những giọt mồ hôi, những tia nhìn thù hận</p>



<p>là màu xanh ước mơ</p>



<p>những nét nhạc, những vần thơ</p>



<p>khung trời quê hương, biển tình yêu và cuồn cuộn dâng nhựa sống</p>



<p>tâm hồn tôi như bay cao giữa trời gió lộng</p>



<p>dù xác thân vẫn trĩu nặng gông xiềng&nbsp;</p>



<p>Tôi cũng gặp những đứa em</p>



<p>còn chút dáng người giữa bầy dã thú</p>



<p>đói thắt ruột và roi quất trên đầu, trên cổ</p>



<p>vẫn chẳng nỡ ăn thịt đồng loại của mình (ý nói không làm Ăng &#8211; ten)</p>



<p>tôi ôm các em vào lòng</p>



<p>thủ thỉ bên tai những lời thân ái</p>



<p>để các em quen dần tiếng nói</p>



<p>của loài người đã quên mất từ lâu&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Tôi đã bị đẩy xuống tận đáy vực sâu</p>



<p>dù đường còn rất xa, và rất nhiều khó nhọc</p>



<p>vẫn cố trèo lên miệng vực</p>



<p>dù bọn quỷ sứ muốn biến tôi thành súc vật</p>



<p>trái tim tôi vẫn ăm ắp tình người</p>



<p>vẫn quay quắt nhớ người yêu</p>



<p>xa tít một phương trời</p>



<p>và vẫn niềm tin</p>



<p>ở một ngày mai.&nbsp;</p>



<p>Viết cuối năm 1982 ở Bệnh Xá Phân Trại B&nbsp;</p>



<p>Tôi cũng giải thích một chi tiết (coi như một chú thích) cho 2 câu thơ <em>ch</em><em>ữ nghi</em><em>êng </em>để có sự thông cảm của khán giả: &nbsp;</p>



<p>Một ngày Chủ Nhật, được nghỉ lao động, có 2 em tù hình sự đến &#8220;cà kê dê ngỗng&#8221; kể chuyện tôi nghe. Số là cả 2 em đều ghiền thuốc nặng, lúc đang cuốc đất, thấy tên công an võ trang đứng gần đấy vứt cái tàn thuốc mới hút xong, cùng xông tới giành nhau. Đứa bị dộng báng súng lên ngực, chiều tối về phòng mới ói máu; đứa bị chân giầy đạp lên mặt, máu răng, máu miệng bê bết &#8220;giữa trận tiền&#8221;. Một em vừa cười vừa nói với tôi: &#8220;Biết là ăn đòn nhưng ghiền quá chịu không nổi anh ơi!&#8221;&nbsp;</p>



<p>Đến đây anh Trác chen vào lên tiếng mời anh Nhật đọc thơ tình để thay đổi không khí. Anh Nhật là tay đọc thơ chuyên nghiệp nên dù đã sẵn sàng vẫn chờ thêm khoảng một phút nữa để thu hút sự chú ý của khán giả.&nbsp;Rồi anh không giới thiệu mà, thật chậm rãi, đi thẳng vào bài thơ:&nbsp;</p>



<p>Ngày nào mới mặc áo dài</p>



<p>Tay em run quá chẳng cài nổi khuy</p>



<p>Chuyện giờ kể có khác đi</p>



<p>Run run anh cởi hết khuy em cài</p>



<p>……………….</p>



<p>&nbsp;À thì ra đây là bài thơ ÁO DÀI được phổ nhạc mà anh Trác đã hát trong “buổi văn nghệ dở dang” ở Quận 8 hôm nào. Phải công nhận tình yêu của anh với người tình tình – hơn anh đến 18 tuổi &#8211; đậm đà, sâu sắc, lãng mạn và rất Thơ – càng nghe càng thấy khoái.&nbsp;</p>



<p>Sau đó là giờ giải lao. &nbsp;</p>



<p>Chị con dâu của nhà văn Doãn Quốc Sỹ đem chè đậu xanh lên mời khách. Đến chỗ tôi chị đặt chén chè lên bàn rồi nhỏ nhẹ nói: “Cháu mời chú ăn chè”.&nbsp;Tôi giật nẩy mình. (Chị ít ra cũng hơn tôi vài tuổi). Tôi nhìn anh Sỹ đỏ mặt, ngượng ngùng. Nhưng nhà văn đáng tuổi cha chú tôi đã lịch thiệp lên tiếng:&nbsp;</p>



<p><em>Anh Nhì à! Anh Trác là b</em><em>ạn t</em><em>ôi. Anh là b</em><em>ạn anh Tr</em><em>ác t</em><em>ức cũng l</em><em>à b</em><em>ạn t</em><em>ôi. Hơn n</em><em>ữa, ch</em><em>úng ta là nhà văn, nhà thơ – mà nhà văn, nhà thơ thì không có tu</em><em>ổi. Ch</em><em>áu xưng hô v</em><em>ới anh như vậy l</em><em>à đúng đ</em><em>ấy. Anh đừng ngại.</em> (<strong>2</strong>)&nbsp;</p>



<p>Tôi bỗng nghĩ đến câu “Trong văn chương thì ‘gừng càng già càng cay’, nhưng cũng có khi ‘tài không đợi tuổi’”. Như vậy câu nói của anh Sỹ cũng có phần đúng của nó.&nbsp;Nhưng rồi cũng có câu “Hãy kính trọng người già khi bạn còn trẻ” rất hợp với truyền thống, lễ giáo, cách xưng hô, giao tiếp của người Việt Nam &#8211; theo tôi, cũng không nên coi thường. Bởi vậy cách xưng hô của chị con dâu có làm tôi áy náy đôi chút.&nbsp;</p>



<p>Tuy nhiên, “nhập gia tùy tục”nên tôi không có ý kiến gì thêm.&nbsp;</p>



<p>Ăn chè xong, chị châm thêm một bình trà mới và chương trình đọc thơ lại tiếp tục. Tôi và anh Nhật cứ xen kẽ nhau trổ tài. Tôi đọc 2 bài (HOA DẠI và VÌ THẾ TÔI RA ĐI), anh Nhật đọc tiếp 3 bài nữa.&nbsp;Khi tôi đọc xong bài VÌ THẾ TÔi RA ĐI thì ba vị khán giả yêu thơ lim dim mắt, gật gù như muốn thử tìm xem có chỗ nào có thể cảm thông với nỗi niềm tâm sự hơi lạ đời đó không. Chắc là cũng có đôi chút nên ngồi uống trà một lát, anh Sỹ lại nhìn tôi có vẻ thúc giục.&nbsp;</p>



<p>Anh Trác khuyến khích: &nbsp;</p>



<p>“Cứ chơi thoải mái đi ông Nhì”.&nbsp;</p>



<p>Và tôi đọc thêm bài thơ TẬP VẼ. &nbsp;</p>



<p>Bài này tôi cũng viết lúc đang nằm ở bệnh xá phân trại B. &nbsp;Một em tù hình sự có học lại có hoa tay,&nbsp; vẽ đẹp nên được ưu tiên cho về đội nhà bếp để thỉnh thoảng vẽ cờ, hoa, khẩu hiệu trang trí cho phân trại. Em mến tôi và lúc bớt việc lại đến bệnh xá đề nghị tôi hát mấy bản nhạc vàng mà em ưa thích.&nbsp;</p>



<p>Một hôm em tâm sự là rất buồn, rất chán khi bị bắt buộc phải vẽ những hình, khẩu hiệu mà em “không có cảm tình”. &nbsp;Bài thơ ra đời trong khung cảnh ấy.&nbsp;</p>



<p>TẬP VẼ&nbsp;</p>



<p>Thuở bé thầy giáo thường khen em</p>



<p>có hoa tay, vẽ nhanh, vẽ đẹp</p>



<p>chỉ vài nét</p>



<p>là có hình người muông thú, cỏ hoa&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Thế mà mấy năm qua</p>



<p>em luôn bị điểm 2 môn vẽ</p>



<p>chăm chỉ, miệt mài tính em vẫn thế</p>



<p>chứ có đâu biếng nhác, ươn hèn&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Nhớ hôm vẽ cờ búa liềm</p>



<p>em đã ngắm kỹ từng đường cong nét thẳng</p>



<p>em cũng ướm thử từng đoạn dài đoạn ngắn</p>



<p>nhưng đến hết giờ</p>



<p>em vẽ cũng vẫn … sai&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Đưa lưng cho thầy quất mấy roi</p>



<p>em ngỡ liềm cứa thịt da em rách</p>



<p>thước kẻ thầy đánh vào tay</p>



<p>em tưởng búa đập xương em dập nát&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Một hôm khác</p>



<p>lớp em vẽ hình Lê- Nin</p>



<p>em hết nhìn thẳng lại nhìn nghiêng</p>



<p>để ý từ chòm râu, sóng mũi&nbsp;</p>



<p>Nhưng lạ chưa!</p>



<p>Lê – Nin của em vào cuối buổi</p>



<p>trông cứ như đang múa vuốt, nhe nanh</p>



<p>xem bài em thầy giáo giật mình</p>



<p>đánh em ngã lăn giữa lớp&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Hôm vẽ Bác Hồ lòng em hồi hộp</p>



<p>thầy đứng bên em chẳng phút nào rời</p>



<p>thầy nhắc em Bác nhân đức yêu người</p>



<p>thầy sánh Bác với vua Hùng dựng nước&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Em cố vẽ theo lời thầy nhưng không sao vẽ được</p>



<p>tay chén chè tàu tay ly rượu Vốt- Ka</p>



<p>Bác Hồ của em trông gian ác, điêu ngoa</p>



<p>em lại bị thêm trận đòn tím bầm thân thể&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Bản đồ nước Việt Nam</p>



<p>một hôm em đang vẽ</p>



<p>này biển, này sông, này rừng núi, ruộng vườn</p>



<p>này những thành phố quê hương</p>



<p>em đặt hết tâm hồn vào trang giấy nhỏ&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Thầy đứng sau lưng cầm cây cọ đỏ</p>



<p>bôi kín tấm bản đồ tổ quốc em yêu</p>



<p>đỏ biển, đỏ sông, đỏ những đê điều</p>



<p>đỏ phố, đỏ phường</p>



<p>đỏ hết cả núi rừng, nương rẫy&nbsp;</p>



<p>.</p>



<p>Em bỏ ngôi trường làng ra đi từ dạo ấy</p>



<p>lang thang như một khách giang hồ</p>



<p>Ôi! Nhớ làm sao những lần tập vẽ ngày xưa</p>



<p>Ồ! Giá trường em giờ có thầy giáo mới&nbsp;</p>



<p>Em sẽ chạy về ngay</p>



<p>không để lỡ một ngày, một buổi</p>



<p>ngồi vào hàng ghế ngày xưa</p>



<p>thầy đang dậy những câu hát mẹ ru</p>



<p>còn em háo hức chờ đến giờ tập vẽ.&nbsp;&nbsp;</p>



<p>Lúc viết bài thơ này, dù còn đang bại liệt trong trại cải tạo, tôi đã mơ đến chuyện ra đi chứ không như ngày 29 tháng tư năm 1975:&nbsp;</p>



<p>Khi đoàn tàu chở đơn vị tôi</p>



<p>chuẩn bị rời Vũng Tàu hướng ra Đông Hải</p>



<p>thương cha mẹ già, đàn em dại</p>



<p>tôi bước lên bờ ở lại quê hương.</p>



<p>(Bờ Vẫn Quá Xa, Phạm Đức Nhì)&nbsp;</p>



<p>Bởi thông tin truyền vào qua thăm nuôi cho biết “sĩ quan cải tạo” trở về nếu không nhanh chóng tìm đường ra đi thì ở lại sẽ bị tước đoạt hết mọi cơ hội kiếm sống, sẽ chỉ là gánh nặng cho gia đình mà thôi.&nbsp;&nbsp;&nbsp; &nbsp;</p>



<p>Và đây cũng là bài cuối của chương trình. Khác mấy bài trước, bài này được 3 khán giả đón nhận nồng nhiệt.&nbsp;</p>



<p>Trong gần 3 tiếng đồng hồ thả hồn vào thơ, anh Nhật đọc 7 bài. Tôi đọc 5 bài. Thỉnh thoảng cũng có những “lời bình ngắn” rất uyên bác, điệu nghệ của anh Sỹ và anh Trác. &nbsp;Vì đây là bài viết về anhTrác nên tôi chỉ đưa vào 3 bài thơ của anh Nhật và 3 bài của tôi để độc giả có thể mường tượng ra phần nào khung cảnh, không khí của buổi đọc thơ. Mục đích chính của đoạn này là làm nổi bật vai trò “đạo diễn ngầm” của anh Trác.</p>



<p>Độc giả có thể đọc cả 5 bài thơ tôi đọc tại nhà anh Sỹ theo link sau đây:</p>



<p><a href="https://maybaitho.blogspot.com/2023/10/may-bai-tho-oc-o-nha-anh-doan-quoc-sy.html">https://maybaitho.blogspot.com/2023/10/may-bai-tho-oc-o-nha-anh-doan-quoc-sy.html</a></p>



<p>Còn 4 bài khác nữa của anh Nhật, rất tiếc lâu quá, tôi đã quên.&nbsp;</p>



<p>Anh Nhật đọc thơ rất có duyên. Anh để ý “luyến láy” từng chữ, từng câu. Anh đọc thơ của chính mình, lại thuộc lòng, nên dễ dàng lột tả được những chỗ ý tứ sâu sắc, “chữ tình” đằm thắm, thiết tha.&nbsp;Cái thú khi nghe thơ anh Nhật là không phải “ngẫm” cũng có thể hiểu rồi cảm được ý tứ sâu sắc, cảm xúc dạt dào đằm thắm được gói ghém khéo léo trong những câu thơ có ngôn ngữ, hình tượng tỏa ra nét đẹp văn chương óng mượt. &nbsp;</p>



<p>Thơ tôi dễ đọc hơn. Bài thơ dài, nhất khí liền mạch và tôi đã thuộc như cháo nên khi đọc cứ thả hồn theo dòng chảy của tứ thơ, dòng cảm xúc và nhờ dòng âm diệu dẫn đưa về Bến Đỗ.&nbsp;</p>



<p>Một người đọc thơ, 3 người còn lại cũng lặng yên thả hồn vào từng chữ, từng câu. Phòng khách thì rộng rãi, thoáng mát nhưng cũng hoàn toàn im ắng như muốn cùng hòa điệu với những người thưởng thức thơ ca toàn tâm, toàn ý.&nbsp;</p>



<p>Trước khi chia tay anh Sỹ dặn tôi:&nbsp;</p>



<p>“Anh Nhì nhớ cho tôi mấy bài thơ để gởi cho các anh ấy ở bên kia nhé.”&nbsp;</p>



<p>Được một người như nhà văn Doãn Quốc Sỹ quý trọng, yêu mến thơ của mình và bộc lộ một cách tế nhị như thế thật là một điều vinh hạnh. Điều đó đã giúp tôi tự tin hơn, thoải mái hơn khi phóng bút viết những bài thơ sau này.&nbsp;</p>



<p>Ra về tôi không nói gì thêm với anh Trác nhưng lòng thầm cám ơn anh đã có công “gầy sòng” rồi cùng anh Sỹ “đạo diễn” để tôi có một buổi đọc thơ đáng nhớ trong đời. &nbsp;</p>



<p>Tôi chưa kịp “trao thơ” thì anh Sỹ, anh Trác và một số nhà văn, nhà thơ khác đã bị bắt trong vụ Những Tên Biệt Kích Cầm Bút. (Chuyển “thơ văn chống đối chế độ” từ trong nước ra hải ngoại) (<strong>3</strong>)&nbsp;</p>



<p><strong>G</strong><strong>ặp Lại Nh</strong><strong>à Văn Doãn Qu</strong><strong>ốc Sỹ&nbsp;</strong></p>



<p>Giữa tháng 2 năm 2003 anh Trác gọi điện thoại rủ tôi đi dự văn nghệ mừng Thượng Thọ 80 của nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Buổi lễ được tổ chức tại một hội trường lớn ở thành phố Houston. Anh Trác và tôi chọn hai chỗ sát lối đi ở bên trái khán đài, anh Sỹ cùng gia đình ngồi ở phía bên kia lối đi.&nbsp;Chương trình văn nghệ bên cạnh “cây nhà lá vườn” tại Houston còn có vài ca sĩ từ xa đến chung vui. Người hát nhạc vàng trước 75, người hát nhạc mới sáng tác tại hải ngoại. Cũng có người đọc bài thơ “Mừng Bác 80” để chúc thọ nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Không khí thật rộn ràng, vui vẻ. Được ngày nghỉ lên khu trung tâm thành phố chơi nên tôi thả hồn vào lời ca tiếng hát. &nbsp;</p>



<p>Bỗng MC cao giọng: &nbsp;“Để thay đổi không khí chúng tôi xin giới thiệu anh Phạm Đức Nhì. Anh sẽ đọc một bài thơ do chính anh sáng tác. Xin mời nhà thơ Phạm Đức Nhì”.&nbsp;</p>



<p>Hơi bị bất ngờ, tôi đứng dậy nhìn anh Trác thì thấy anh cười nói: “Ông cứ lên cho bà con thưởng thức một bài cho vui.” Thì ra anh đã “gài độ” trước.&nbsp;</p>



<p>Năm 1996, sau khi dự lễ khai mạc kỳ đài tại Houston, nhìn lá cờ vàng 3 sọc đỏ phất phới bay trong gió, cảm xúc dâng trào, tôi đã viết bài thơ LÁ CỜ CHÍNH NGHĨA. Thời gian đó chưa có Facebook, nhưng chỉ qua Emails bài thơ đã được loan truyền rộng rãi trên các diễn đàn. &nbsp;Lễ mừng thượng thọ nhà văn Doãn Quốc Sỹ &#8211; một người yêu tự do, đã bị chính quyền Cộng Sản bỏ tù – mà đọc bài thơ ấy thì rất hợp cảnh hợp tình.</p>



<p>Nhưng đứng trên khán đài nhìn anh Sỹ, rồi lại nhìn anh Trác ở bên kia lối đi giữa hội trường, kỷ niệm buổi đọc thơ 19 năm trước tại nhà anh Sỹ lại hiện về.&nbsp;Qua những “lời bình ngắn” ý nhị hôm ấy, tôi biết hai anh &#8211; đặc biệt là anh Sỹ &#8211; có lòng ưu ái với bài thơ TẬP VẼ của tôi. Thế là sau một chút lưỡng lự tôi đã quyết định đọc “bài thơ kỷ niệm” ấy.&nbsp;</p>



<p>Bài thơ được mọi người nhiệt tình tán thưởng, tiếng vỗ tay lớn và kéo dài rất lâu. Xuống khán đài về chỗ ngồi, lúc qua chỗ anh Sỹ, anh đứng lên kéo tôi lại gần rồi ghé sát tai tôi nói nhỏ:&nbsp;</p>



<p>“Tôi vẫn nhớ mấy bài thơ anh đọc năm nào tại nhà tôi. Riêng bài Tập Vẽ bây giờ nghe lại càng thấy thấm thía”.&nbsp;</p>



<p>Tôi chỉ biết đứng yên, miệng lí nhí “Cám ơn anh” nhưng trong đầu lại hiện ra khuôn mặt khả ái và nụ cười ý nhị của ca sĩ Duy Trác.&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; &nbsp;</p>



<p><strong>Ti</strong><strong>ệc Gi</strong><strong>ã T</strong><strong>ừ Đời Ca H</strong><strong>át</strong> &nbsp;</p>



<p>Một hôm chị Trác gọi điện thoại mời vợ chồng tôi vào chiều cuối tuần (lâu quá tôi đã quên ngày tháng) đến dự buổi tiệc họp mặt gia đình và thân hữu để anh “rửa tay gác kiếm” – giã từ đời ca hát. Buổi tiệc khoảng hơn trăm người tại một nhà hàng (hôm đó không tiếp khách vãng lai) nên không khí gần gũi, thân tình và ấm cúng.&nbsp;</p>



<p>Trong phần văn nghệ tôi có dịp nghe lại bản nhạc Lời Nguyện Trong Tù (đã được đổi tên thành Giáng Sinh Trong Ngục Tù) do con gái của anh Trác hát. Tôi để ý thấy ở đoạn:&nbsp;</p>



<p>“Xin quét hết lũ người sống hận thù không óc không tim. Xin tiếng hát nụ cười cho mọi người được sống bình yên”&nbsp;</p>



<p>nhóm chữ “Xin quét hết lũ người” đã được đổi thành “Xin cứu vớt những người”.&nbsp;</p>



<p>Hai chữ “sân hận” màu đỏ máu lửa ngày xưa đã được buông bỏ. Thay vào đó là hai chữ “nhân ái” màu xanh hiền hòa mát dịu. Tôi bỗng thấy lòng thật vui. Và mừng cho sự đổi thay trong tâm hồn anh Trác. Ở tuổi anh, như thế sẽ nhẹ lòng hơn, thanh thản hơn để sống những năm tháng còn lại của cuộc đời.&nbsp;</p>



<p>Tôi cũng may mắn, có“duyên” &#8211; gặp được “cao nhân đạt đạo”, giúp cởi bỏ hận thù trong tâm khảm – đã bắt tay kết bạn với khá nhiều “kẻ thù xưa” trong chốn văn chương và cả ngoài đời thường. Lại gặp cái “nghiệp” bị Nàng Thơ quyến rũ, mê hoặc suốt mấy chục năm trời đến mức đã “dại dột” bước vào lãnh địa Phê Bình – “đưa ra lời khen, tiếng chê, cái này ‘đường mới’ cái kia ‘lối mòn’, bài thơ này đúng hướng, bài thơ kia lạc đường”. Bởi vậy, nếu còn khư khư ôm giữ lập trường, phân định “địch ta” thì làm sao có được công tâm trong việc nhận định giá trị nghệ thuật của một thi phẩm.&nbsp;</p>



<p>Vào buổi họp mặt để anh “giã từ đời ca hát”, tôi nhận ra anh với tôi còn có thêm một điểm tương đồng nữa: Đó là hai chữ “nhân ái” hiền hòa màu xanh mát dịu ẩn hiện đâu đó trên mặt của anh. Còn tôi, sau nhiều năm cởi bỏ được hai chữ “hận thù”, thỉnh thoảng soi gương thấy mặt mình cũng “hiền” hơn xưa khá nhiều. Có điều hai chữ “nhân ái” trên mặt anh tự nhiên hơn, rõ nét hơn, còn của tôi, do dính líu chút “tư ý tư dục” trong chuyện thơ văn nên mờ nhạt hơn. &nbsp;</p>



<p><strong>K</strong><strong>ết Luận&nbsp;</strong></p>



<p>Tôi với anh Khuất Duy Trác, tức ca sĩ Duy Trác, tuổi đời có đến hơn 16 năm cách biệt. Học vấn, kiến thức, địa vị trong xã hội tôi kém anh rất xa. Cung cách ứng xử văn hóa trong giao tiếp, so với anh, tôi thấy mình còn quá “bình dân”. Xưng hô thì anh gọi tôi là Ông, xưng Tôi, tôi gọi anh là Anh, xưng Tôi – cũng không được gần gũi lắm.&nbsp;</p>



<p>Chúng tôi gặp nhau trong hoàn cảnh tội tù khắc nghiệt, giống nhau ở lòng đam mê âm nhạc, thi ca. Nhờ “Duyên” đã có cơ hội “cùng nhau vui chơi” để lại vài kỷ niệm &#8211; những kỷ niệm in đậm tính cách, nhân cách của anh &#8211; một Nghệ Sĩ Chân Chính.&nbsp;</p>



<p>League City tháng 11/ 2023</p>



<p>Phạm Đức Nhì</p>



<p><a href="mailto:nhidpham@gmail.com">nhidpham@gmail.com</a>&nbsp; &nbsp;</p>



<p><strong>CHÚ THÍCH:</strong>&nbsp;</p>



<p>1/ <a href="https://www.diendantheky.net/2012/06/tho-nguyen-huu-nhat-hoa-cuc-vang-tho.html">https://www.diendantheky.net/2012/06/tho-nguyen-huu-nhat-hoa-cuc-vang-tho.html</a></p>



<p><strong>2</strong>/ Sau này nhờ tâm hồn cởi mở, phong cách phóng khoáng trong giao tiếp với bè bạn văn chương của anh Sỹ và đặc biệt là câu “Chúng ta là nhà văn, nhà thơ &#8211; mà nhà văn, nhà thơ thì không có tuổi” tôi đã có cái nhìn tự do hơn, khách quan hơn đối với các nhà văn, nhà thơ và tác phẩm của họ.&nbsp;</p>



<p>Tôi đã tìm tòi, học hỏi, nghiên cứu để tạo cho mình một nền tảng kiến thức lý luận văn học và khi nhận xét, đánh giá một bài thơ, một tác phẩm văn chương tôi chỉ dựa trên cái nền tảng kiến thức đó.</p>



<p>Kết quả là tôi đã bỏ được một “thói xấu” trong phê bình: Coi trọng đến mức tôn thờ tác phẩm của các “cây cổ thụ văn chương” – không dám “đụng đến” những khuyết điểm, dù sờ sờ trước mắt, của họ &#8211; và ngược lại, coi thường đến mức bất công tác phẩm của những văn thi sĩ còn non trẻ.&nbsp;</p>



<p><strong>3</strong>/ Còn tôi mấy tháng sau cũng bị bắt ở Bến Lức, Long An vì tội vượt biên. Trong khi bị “tập trung cải tạo” ở Nhơn Hoà Lập thì được công an thành phố HCM đến “đón” về trại giam Phan Đăng Lưu, Gia Định. Lý do: Trong thời gian ở A20, một bạn tù hỏi xin và tôi có chép bài thơ Từ Ngục Tù Cộng Sản cho anh đem về. Ít lâu sau anh vượt biên bị bắt cùng với bài thơ và bị xử 12 năm tù.&nbsp;</p>



<p>Anh không khai gì để tổn hại đến tôi, nhưng một thời gian sau nữa có ăng &#8211; ten khai báo và công an truy xét nét chữ đã tìm ra tôi. Mấy cán bộ công an bắt tôi phân tích và “bình” bài thơ của mình suốt 6 tháng trời. Cứ đến chỗ đụng chạm đến chế độ tôi lại bị hạch sách đủ điều. Có lần còn bị công an võ trang len lén đến tát vào mặt, đấm vào lưng vì đã xúc phạm đến Bác Hồ.</p>



<p>Vũ Văn Ánh, người sáng lập và chủ biên tờ Hợp Đoàn, sau khi kết cung đã “lên đài” nói với tôi (hét to trực tiếp từ xà lim này qua xà lim kia):</p>



<p>“Chắc không đến nỗi ‘dựa cột’ (tử hình) như Tạ Vinh đâu; nhưng lịch thì chở cả (xe) GMC cũng không hết”. &nbsp;</p>



<p>Tuy nhiên, khi ông Nguyễn Văn Linh lên nắm quyền với chủ trương cởi mở chính trị, những người liên quan đến vụ Hợp Đoàn ở A20, vụ của nhà văn Doãn Quốc Sỹ, ca sĩ Duy Trác … và cả tôi đều được thả về. Tôi về sau các anh vài tháng.&nbsp;&nbsp;&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Vương Mộng Long: Ngọc Nát</title>
		<link>https://t-van.net/vuong-mong-long-ngoc-nat/</link>
					<comments>https://t-van.net/vuong-mong-long-ngoc-nat/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Tác Giả]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 06 Aug 2019 05:02:23 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Truyện Tù Cải Tạo]]></category>
		<category><![CDATA[chuyện tù]]></category>
		<category><![CDATA[truyện tù cải tạo]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=40129</guid>

					<description><![CDATA[Âm Vang &#8211; Tranh: Thanh Châu (Câu chuyện vượt ngục của những người tù CS năm xưa, được kể lại bằng một giọng văn tỉnh táo, mạch lạc và lôi cuốn ngay từ đầu. Để lưu giữ lại một đoạn đời khó quên của những người tù cải tạo, và nhất là để gởi lại [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/08/AM-VANG-3.jpg?strip=all"><img decoding="async" class="aligncenter wp-image-40131" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/08/AM-VANG-3-300x243.jpg?strip=all" alt="" width="393" height="318" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/08/AM-VANG-3-300x243.jpg?strip=all 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/08/AM-VANG-3.jpg?strip=all 643w" sizes="(max-width: 393px) 100vw, 393px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><em>Âm Vang &#8211; Tranh: Thanh Châu</em></p>
<p><em>(Câu chuyện vượt ngục của những người tù CS năm xưa, được kể lại bằng một giọng văn tỉnh táo, mạch lạc và lôi cuốn ngay từ đầu. Để lưu giữ lại một đoạn đời khó quên của những người tù cải tạo, và nhất là để gởi lại cho đời sau một trang sử viết bằng máu của người trong cuộc, Chuyên Mục Tù Khúc của trang mạng văn học TV&amp;BH xin phép tác giả Vương Mộng Long được đăng tải và lưu trữ bài viết này. T.Vấn)</em></p>
<p>Giữa năm 1978, toán bốn người cựu sĩ quan của Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa, tù cải tạo ở Trại 4, Xã Cẩm-Nhân, Yên-Bái, vượt ngục lần thứ nhì, nhưng bị thất bại. Đại Úy Lê Bá Tường chết trong rừng. Còn lại Thiếu Tá Đặng Quốc Trụ, Đại Úy Trần Văn Cả và tôi (Thiếu Tá Vương Mộng Long) bị bắt đưa về tạm giam ở Đoàn 776 Yên-Bái.</p>
<p>Ngày đầu, một vệ binh còn rất trẻ tên Lời đã thẳng tay nện một báng súng A.K vào mặt tôi, một cái răng gãy. Tên vệ binh Cộng-Sản trẻ tuổi này đã nặng tay với tôi, vì hắn vừa tìm thấy trong ba-lô của tôi một bài thơ “phản động”. Chưa hả giận, hôm sau y trở lại. Tôi bị quật thêm một báng súng vào ngực, gãy một cái xương sườn.</p>
<p>Qua ngày thứ tư thì chúng tôi bị đưa xuống phà để về Trại 9 bên hồ Thác Bà, Xã Cẩm-Nhân, Yên-Bái.</p>
<p>Hai bạn đồng hành của tôi, Thiếu Tá Trụ và Đại Úy Cả bị nhốt trên nhà kho của trại. Tôi không rõ họ bị đối xử ra sao. Còn tôi là người cầm đầu cuộc vượt ngục này, nên bị tách riêng, giam trong nhà kỷ luật, sát với hàng rào khu cưa xẻ thợ mộc. Tôi bị cùm cả hai chân, còng cả hai tay.</p>
<p>Khi ấy đang mùa hè, trong hầm nóng nực, muỗi như trấu, bất kể đêm, ngày. Da mặt, da cổ, da tay chân của tôi trở nên sần sùi vì muỗi đốt.</p>
<p>Tôi được phát hai cái ống nứa lồ ô dựng gần chân nằm.. Một ống nứa để đại tiểu tiện, một để chứa nước uống. Tay bị còng, chân bị cùm, vấn đề đi đại, tiểu tiện quả là một cực hình. Nhưng vì bụng đói liên miên, nên vấn đề đại tiện cũng khó xảy ra thường xuyên.</p>
<p>Cũng do biên bản bàn giao lại từ Đoàn 776, nên từ hôm về Trại 9, ngày nào tôi cũng trải qua một trận đòn hội chợ, kéo dài trên, dưới hai tiếng đồng hồ. Tôi bị bắt đứng giữa phòng trực trại, bốn góc phòng là bốn vệ binh. Tôi bị đánh chuyền tay từ góc này sang góc khác, xoay tròn quanh phòng. Má bên trái vừa lãnh một cú đấm chưa kịp cảm thấy đau thì má bên phải đã lãnh cú đấm tiếp theo. Những đợt máu mũi phọt ra ồng ộc tràn trên má và trên ngực tôi chỉ làm cho những tên vệ binh trẻ tuổi hăng tiết thêm.</p>
<p>Trọng lượng thân tôi thời này còn chừng trên ba mươi ký lô là cùng.. Những cú đấm móc tận lực làm cho tôi có cảm tưởng như là đang “bay” từ góc nhà này, sang góc nhà khác. Sau mỗi tiếng “hự!” máu tôi lại trào ra như xối. Không biết máu từ mồm tôi hay từ phổi tôi phun qua hai lỗ mũi thành vòi? Mặt tôi bầm tím sưng vù, đôi mắt híp lại, nhìn một vật hóa hai. Sau khi bị hàng chục cú đá cật lực vào bụng dưới, cứt đái trong bụng tôi cứ tự do tuôn ra quần. Tôi cố nín, cũng không nín được.</p>
<p>Lãnh những trận đòn thù như thế này, tôi mới thấm ý câu hăm he của tên sĩ quan an-ninh Trại 9, “chúng ông sẽ đánh cho mày té đái, vãi phân”.</p>
<p>Nhiều lần tôi bị đánh mửa mật xanh, mật vàng mà vẫn chưa được tha; đến lúc tôi mềm như sợi bún, vệ binh mới kéo tôi ra vứt ngoài cửa phòng trực. Có hôm cả giờ sau trực trại mới cho người kè tôi về nhà giam.</p>
<p>Chắc nhiều bạn tù thấy cảnh tôi nằm rũ như cái xác không hồn nơi góc sân phơi sắn khô, nên một người được tha về Ban-Mê-Thuột đã đến nhà ông bà nhạc của tôi kể lại rằng tôi trốn trại và bị vệ binh đánh chết rồi!</p>
<p>Khi nhận tin này, ông anh vợ của tôi lo quá, vội đề nghị với bà mẹ vợ tôi, “Đừng nói cho con Loan hay tin chồng nó chết. Nghe tin này nó không sống nổi đâu! Nó mà chết thì đàn con nó sẽ bơ vơ…”</p>
<p>Những ngày không bị dẫn lên “khung” để lãnh đòn, tôi nằm chờ thời gian trôi qua.</p>
<p>Một tia nắng xuyên khe mái nứa, in một đốm sáng trên nền nhà. Nhìn vị trí đốm nắng di chuyển, tôi biết giờ giấc. Chấm nắng bắt đầu xuất hiện trên vách nhà hướng Tây vào lúc kẻng giải lao thứ nhứt của trại (khoảng chín giờ sáng) rồi từ từ di chuyển dần về hướng đông. Khi tiếng kẻng báo giờ điểm danh chiều (khoảng năm giờ chiều) thì chấm nắng tới giữa vách hướng Đông, thế là hết một ngày!</p>
<p>Hàng ngày, tù nhân của nhà bếp đem cho tôi một bát sắn khô nấu nhão nhoét. Anh ta phải để bát sắn nơi cửa buồng giam; tiếp xúc với người đang bị cùm là điều cấm kỵ!</p>
<p>Khi người tù đưa cơm rời bước, đàn gà của trại vội tranh giành nhau những mẩu sắn trong tô. Tới giữa trưa, tên bộ đội trực trại mới đến mở cửa hầm giam cho tôi ăn bữa cơm tù độc nhất trong ngày. Nhiều khi, tô sắn tới tay, tôi chỉ thấy một mớ bầy hầy đất cát và vài cọng sắn khô cỡ ngón tay. Tôi đói tới run chân, run tay, đói ngủ không được.</p>
<p>Hình như không có “chế độ” ẩm thực nào áp dụng cho những trường hợp tù cải tạo vượt trại. Có hôm tôi được một củ sắn lớn cỡ cườm tay, dài một gang. Cũng có ngày tôi được hai củ khoai lang luộc nặng chừng nửa ký. Thường xuyên, thực đơn cho tù trốn trại là một tô cháo sắn phơi khô rắc muối.</p>
<p>Từ lâu lắm rồi, không nghe ai nhắc tới hai chữ “nhân quyền”. Trong thời gian tôi bị cùm ở trại này thì, cứ cách hai hay ba tiếng đồng hồ, một tên bộ đội đi tuần tra lại ghé kiểm soát tình trạng khóa, chốt, còng, cùm một lần. Trong bóng tối, để chắc chắn rằng tôi còn sống, anh ta thường “tiện tay” khện cho tôi một cái bạt tai hay một báng súng để nghe tôi la lên oai oái vì đau.</p>
<p>Đêm nào nghe thấy tiếng chân nhiều người đi tuần, lòng tôi lại phập phồng,… biết đâu?… rất có thể, người ta sẽ ập vào, hè nhau đè tôi xuống, bịt miệng, khóa tay tôi, tròng một sợi dây thòng lọng vào cổ tôi, rồi lôi thân tôi lên xà nhà, như cách đây hai năm họ đã làm, để giết một anh tù vượt ngục bên Trại 4. Những cái chết như thế sẽ được thông báo là “tù tự tử”, thật đơn giản.</p>
<p>Một ngày, khi vệt nắng vừa chấm chân vách tường hướng Tây, từ bên sân của đội cưa xẻ, sát hàng rào có tiếng người nhắn sang, tôi nhận được đó là tiếng thằng bạn thân Vũ Văn Bằng,</p>
<p>” Long ơi! Thợ mộc được lệnh đóng ba cái áo quan. Chắc tụi mày sẽ bị xử bắn. Trưa mai tao sẽ đem cơm cho mày. Mày có nhắn gì cho gia đình thì nói với tao, tao sẽ thư cho gia đình tao, rồi chuyển cho gia đình mày. Tao cứ tưởng tụi mày đã đi thoát, không ngờ…”</p>
<p>Rồi nó nấc lên, nghẹn ngào…</p>
<p>Thằng Bằng cũng là dân Bắc-Kỳ Di Cư như tôi. Chúng tôi thân thiết sáu năm cùng lớp Trung Học Trần Quí Cáp. Sau khi tốt nghiệp Tú Tài 1, nó tình nguyện đi Khóa 63 A Sĩ-Quan Không-Quân.</p>
<p>Thiếu Tá Vũ Văn Bằng là Trưởng Phòng Quân-Báo Sư Đoàn 6 Không-Quân. Mỗi lần từ tiền đồn về thăm Pleiku, tôi thường gặp nó.</p>
<p>Nằm trong cùm, nghe tiếng khóc của người bạn đồng môn, lòng tôi chạnh nhớ ngôi trường đã đào tạo tôi thành người.</p>
<p>Tiếng thày hiệu trưởng Tăng Dục, ngày đầu Đệ Thất, còn đâu đây,</p>
<p>“Trường chúng ta được hân hạnh mang tên Trần Quí Cáp. Cụ Trần là một vị anh hùng ái quốc. Thày mong muốn các em chăm chỉ học hành, để sau này thành đạt, ra giúp nước, làm rạng danh cho trường.”</p>
<p>Hôm ấy có một vị khách, vốn là một giáo viên, bạn của thày hiệu trưởng, tới thăm và nói chuyện. Vị khách này là thân sinh ra anh Phạm Phú Nhàn, người ngồi bên cạnh tôi.</p>
<p>Ông khách mở đầu bài diễn văn bằng một câu mà tôi nhớ cả đời,</p>
<p>“Tụi mi nhớ đây! Thà làm một viên ngọc nát, chứ không làm một viên ngói lành. Nếu tụi mi không chăm chỉ học hành thì suốt đời tụi mi chỉ là những cục cứt xái mà thôi!”</p>
<p>Sau đó ông già dài dòng kể về lý lịch và cuộc đời người anh hùng ái quốc Trần Quí Cáp, qua đấy, chúng tôi biết cụ Trần vì yêu quê hương, yêu đồng bào, nên đã bị cầm tù, bị đưa lên đoạn đầu đài.</p>
<p>Tôi lớn lên, tự hào và hãnh diện là một đứa con của cụ Trần. Tôi cứ nhớ mãi hai danh từ “viên ngọc nát”‘ và “cục cứt xái” mà ông bố anh bạn học của tôi đã đem ra ví von trong câu truyện khuyên nhủ tụi nhỏ.</p>
<p>Tháng Năm năm 1908 cụ Trần Quí Cáp đã bị đưa ra pháp trường, xử trảm ngang lưng. Ngày đó khóc bạn, cụ Phan Bội Châu đã viết,</p>
<p>“Ngọc toái bất ngõa toàn, tam tự ngục hàn, sơn hải khấp<br />
Hồng khinh nhi thái trọng, thiên thu luận định, nhật tinh huyền.” (Phan Bội Châu)</p>
<p>Dịch:</p>
<p>Ngọc nát vẫn hơn ngói lành, nhà tù ba chữ, núi biển khóc<br />
Thái Sơn nặng, lông hồng nhẹ, bàn luận nghìn năm, còn thấy sao trời sáng.</p>
<p>Bảy chục năm sau, tháng Năm năm 1978, một người vì yêu đất nước, yêu đồng bào cũng đang nằm chờ giờ ra pháp trường.</p>
<p>Hai người, tôi và cụ Trần Quí Cáp, tuy sinh ra không cùng thế kỷ, nhưng đã phạm cùng một tội: “Tội mất nước” (Phan Bội Châu)</p>
<p>Thế mới biết, những người yêu nước có thể bị giết, nhưng tinh thần ái quốc của một dân tộc thì bất diệt.</p>
<p>Trưa nay nghe tiếng khóc của thằng bạn, tôi thở dài,</p>
<p>“Thôi thế cũng là xong! Cứ coi như một lần ra trận…”</p>
<p>Mười hai năm lửa đạn, vào sinh ra tử, tôi đã không ngừng cố gắng để hoàn thành phần nào ước vọng của thày tôi ngày đầu Đệ Thất. Là đệ tử của cụ Trần Quí Cáp, tôi đã noi gương cụ, cống hiến trọn đời tôi cho tổ quốc.</p>
<p>Tiếc thay, đất nước tôi đã tới thời mạt vận, nên tôi đành chấp nhận những tai ương giáng xuống số phận mình.</p>
<p>Đêm hôm đó tôi thức trắng. Tôi nằm im, nhắm đôi mắt lại, mường tượng ra trong trí, từng khuôn mặt của những người thân. Trước hình ảnh mỗi người, tôi lẩm nhẩm nhắn nhủ lời vĩnh biệt. Lần lượt, tôi chia tay với mẹ tôi, rồi tới vợ tôi, cùng ba đứa con gái.</p>
<p>Đến lúc phải tưởng tượng ra khuôn mặt thằng con út thì óc tôi quay mòng mòng. Tôi không làm sao vẽ ra trong trí khuôn mặt của thằng con. Nó sinh ra ba tháng sau ngày Miền Nam sụp đổ, lúc đó tôi đã ở trong tù rồi.</p>
<p>Trưa hôm sau thằng Bằng năn nỉ anh bạn tù trưởng bếp để nó thay anh ta đem phần ăn một ngày sắn khô cho tôi. Nó đứng ngoài cửa buồng giam, miệng cười hô hố,</p>
<p>– Long ơi! Chiều hôm qua, sau khi đóng xong ba cái áo quan, về lán tao không ngủ được. Tao buồn, tao thương mày, tao khóc suốt đêm. Sáng nay tao mới biết, Trại 7 có năm thằng chết đuối vì bị chìm mảng khi đi chặt nứa. Nhưng Trại 7 chỉ có hai cái áo quan, nên tụi tao phải đóng thêm ba cái nữa. Thế mà tao cứ ngỡ là áo quan để dành cho ba đứa tụi mày…</p>
<p>Thằng Bằng chưa dứt lời đã có tiếng vệ binh quát tháo,</p>
<p>– Anh kia! Đem cơm cho “phạm” xong là phải đi ngay. Lớ ngớ ở đây tôi cho một báng súng bây giờ.</p>
<p>Lúc đó vệt nắng nằm ngay giữa nền nhà, đúng Ngọ! Anh bạn Thiếu Tá Vũ Văn Bằng vừa báo cho tôi một tin vui. Như vậy là, ít nhứt tôi cũng còn sống thêm một, vài ngày nữa!</p>
<p>Nhưng vừa cảm thấy vui đó, lòng tôi lại chùng xuống ngay. Bởi vì, suy nghĩ lại, thì đó cũng là một tin rất buồn, vì tôi vừa mất năm đồng đội. Mai đây, ở một nơi xa xôi nào đó, trong Nam, sẽ có năm gia đình đau khổ vô cùng khi được báo tin này.</p>
<p>Chuyện ra pháp trường của tôi đã không xảy ra. Hôm sau chúng tôi bị chuyển trại. Ba người bị trói quặt hai tay ra đàng sau. Thêm vào đó là một sợi thừng được buộc vào cánh tay phải của tôi, luồn qua lưng anh Trụ, tới cánh tay trái của anh Cả. Đi hướng nào, chúng tôi cũng bị dính chùm.</p>
<p>Hai khẩu A.K kèm chúng tôi rời Trại 9 vào giờ tù tập họp đi lao động. Những khuôn mặt hốc hác vì đói khát của đồng đội đang hướng về phía chúng tôi. Có đôi bàn tay gầy guộc đưa lên má vội vàng quệt nước mắt.</p>
<p>Chúng tôi bị dẫn đi một vòng quanh chợ Cẩm-Nhân để cho dân địa phương coi mặt. Cũng may, lần này dân chúng chỉ đứng nhìn theo ba người tù bị trói một cách tò mò, không có ai chạy theo ném đá hay đả đảo, sỉ nhục chúng tôi như thời 1976.</p>
<p>Năm 1976, sau khi bị bắt vì tội vượt ngục lần đầu từ Trại 3, tôi và Thiếu Tá Đặng Quốc Trụ đã bị trói ngoặt cánh khuỷu, rồi bị dẫn riệu qua đây để dân địa phương bày tỏ lòng căm thù “Ngụy Quân ác ôn”. Chúng tôi bị ném đá sưng đầu, sưng cổ.</p>
<p>Cùng thời gian đó, toán bị bắt bên kia sông Hồng, về qua đây cũng bị dân đánh đập tơi bời, Thiếu Tá Hồ Văn Hòa gãy xương sườn, Thiếu Tá Nguyễn Văn Nghiêm sưng vù hai má, Thiếu Tá Trần Tấn Hòa dập mũi.</p>
<p>Riêng toán đi từ Trại 4 là bị “chiếu cố” kỹ càng nhứt: Đại Úy Nguyễn Tấn Á bị đánh bằng đòn gánh, xệ vai trái, Thiếu Tá Chu Trí Lệ bị quật lọi cẳng chân, Thiếu Tá Nguyễn Hữu Đông bị đấm lòi mắt. Không những thế, ba anh này còn bị nhốt trong chuồng trâu, bị dân quân nắm tóc, dúi mặt vào hố phân trâu bò nhiều đợt, xém chết ngạt.</p>
<p>Trong hai năm bị giam giữ ở đây, chúng tôi có nhiều dịp đi lao động “vần công” với các hợp tác xã nông nghiệp của dân địa phương.. Qua những lần tiếp xúc ấy, người dân có lẽ đã nhận ra rằng, những sĩ quan Việt-Nam Cộng-Hòa không phải là những kẻ “ác ôn” như họ từng nghe chế độ Bắc-Việt tuyên truyền. Dần dà, dân chúng nơi này đã nhìn chúng tôi với đôi mắt khác xưa. Càng ngày, dân trong vùng càng tỏ ra thân thiện với chúng tôi hơn.</p>
<p>Rời chợ Cẩm-Nhân, vệ binh dẫn chúng tôi nhắm hướng Lũng Ngàn: thế là chúng tôi về lại Trại 4!</p>
<p>Tháng Tám năm 1976 tôi đã bị cùm ở buồng giam Trại 4 hơn ba tháng trời. Rồi cũng từ nơi này, đầu năm 1978, tôi lại xuất phát cuộc vượt ngục lần thứ hai.</p>
<p>Nay bị đưa trở lại nơi đây để chấp cung thì quả là điều đáng sợ đối với tôi.</p>
<p>Cũng như ở bên Trại 9, hai bạn tôi bị nhốt trên ban chỉ huy. Còn tôi bị cùm riêng trong nhà kỷ luật nơi góc trái cổng trại, sát hàng rào, bên bờ suối.</p>
<p>Vừa đặt chân vào phòng giam, tôi đã nhìn thấy một cái cùm mới cáo cạnh. Cái cùm chân này tinh vi và chắc chắn hơn cái cũ nhiều.</p>
<p>Trước đây, năm 1976, chân người bị cùm có thể duỗi dài thoải mái, hai chân sát đất trong buồng giam.</p>
<p>Lần này cùm làm bằng hai tấm ván ghép, mỗi tấm được khoét hai nửa vòng tròn vừa cổ chân. Sau khi gác hai cổ chân tù nhân lên hai hình bán nguyệt của tấm ván dưới, cai tù sẽ kéo sập tấm ván trên xuống và khóa chốt. Thế là, tù nhân chỉ còn cách nằm ngửa, vắt hai chân lên cao 45 độ. Chân người bị phạt sẽ lòi ra ngoài ô cửa sổ đầu hồi. Lính canh không phải đi tới cửa buồng giam, mà chỉ cần bước qua cổng chính là đã nhìn thấy đôi chân người có tội rồi.</p>
<p>Sau này tôi mới biết, cái cùm đó được hoàn thành chỉ vài ngày trước khi chúng tôi bị giải về đây. Người vẽ kiểu cùm là viên Thượng Úy Việt-Cộng tên Xuyên, Chính Trị Viên của Trại 4. Người tù thợ mộc được giao nhiệm vụ đóng cái cùm lại là một cựu Hải Quân Thiếu Tá VNCH, bạn cùng lớp Trần Quí Cáp của tôi.</p>
<p>Còng tay là một cặp khoen sắt rèn số 8 vừa sát với cổ tay. Khóa của nó là loại khóa cửa, lớn bằng bàn tay, nặng chừng một ký lô. Cái khóa này đè trên ngực làm cho tù nhân khó thở vô cùng.</p>
<p>Ngay buổi chiều đầu tiên, tôi đã bị tên vệ binh Lê Văn Tưởng tới “hỏi thăm sức khỏe”.</p>
<p>Vệ binh Lê Văn Tưởng và vệ binh Hồ Ngọc Thắng, biệt danh “Thắng Bo” là hai hung thần của Trại 4. Thấy bóng dáng hai tên này từ đàng xa, anh em bạn tù đã run rồi.</p>
<p>Tên Tưởng ló đầu bên cửa sổ đầu hồi, đôi mắt chớp chớp, miệng cười cười,</p>
<p>– Anh Long ơi! Mạnh khỏe chứ?</p>
<p>– Thưa anh bộ đội, tôi vẫn khỏe.</p>
<p>– Người ta đồn, nửa đường, máy bay lên thẳng của Mỹ đến đón, nhưng các anh thích đi bộ cho khỏe chân, nên mới bị bắt lại, có đúng không?</p>
<p>– Tôi không biết chuyện này anh bộ đội ạ!</p>
<p>– Mình “nhớ” anh muốn chết! Anh có “nhớ” mình không?</p>
<p>Tôi lặng thinh.</p>
<p>– Anh đi vắng mấy ngày? Anh nhỉ?</p>
<p>– Tôi trốn sáu mươi bốn ngày.</p>
<p>Tên bộ đội gỡ cái băng đạn A.K ra khỏi súng, nhoài người qua cửa sổ,</p>
<p>– Sáu mươi tư ngày! Kỷ lục đấy!</p>
<p>Hắn dơ cao cái băng chứa đầy đạn A.K gõ xuống hai chân đang bị cùm của tôi, rồi lớn tiếng dõng dạc đếm,</p>
<p>– Một!…Hai! …Ba!… Bốn!…</p>
<p>Sống của cái băng đạn giáng trên xương ống quyển làm cho tôi thót tim. Tôi la lên,</p>
<p>“Ối!… Ối!…Ối! …”</p>
<p>Thấy tôi đau líu lưỡi, Tưởng cười khoái trá. Nó cười bằng miệng, và cười cả bằng đôi mắt,</p>
<p>– Anh Long đi vắng sáu mươi tư ngày. Tôi khổ vì anh sáu mươi tư ngày. Tôi sẽ gõ chân anh sáu mươi tư lần để anh nhớ! Mười hai! Mười ba! Mười…</p>
<p>Tôi đau đến chảy nước mắt, đau nhảy nhổm, đau quằn quại, giẫy đành đạch.</p>
<p>Vệ binh Lê Văn Tưởng vẫn tỉnh bơ, mặt không đổi sắc, tay nó dơ lên, giáng xuống, đều đều…</p>
<p>Ống chân tôi sưng lên, rồi tóe máu. Mắt tôi bắt đầu hoa, tai tôi ù như sắp điếc đặc.</p>
<p>Đau quá, tôi điên tiết, ngồi bật dậy. Tôi dơ hai tay có cái còng lên cao, nện một phát thẳng cánh, trúng cổ tay thằng mất dạy.</p>
<p>Bất ngờ bị một cú đau điếng, nó buông rơi băng đạn. Mặt nó đổi sắc thành màu tím. Nó nghiến răng, rít lên,</p>
<p>– Tiên sư cha nhà mày! Ông cho mày biết tay. Từ nay mày chỉ còn nước bò thôi, hết đi được nữa rồi! Con ơi!…</p>
<p>Nó cúi xuống rút con dao găm đeo trên dây lưng. Một tay nó cầm bàn chân phải của tôi, tay kia dí mũi dao vào nhượng chân. Chỉ một giây đồng hồ nữa là gân nhượng chân tôi bị cắt! Tôi sẽ thành phế nhân!</p>
<p>– Ngừng tay ngay!</p>
<p>Tiếng quát của ai đó làm cho tên khát máu chùn tay, mũi nhọn của con dao găm vừa chạm lớp da khuỷu chân tôi thì ngừng lại.</p>
<p>Người vừa quát là cán bộ Vấn.</p>
<p>– Đồng chí có nhiệm vụ gì ở đây? Sao lại định cắt gân chân người ta?</p>
<p>– Thủ trưởng ơi! Thằng này hỗn láo quá! Nó chửi tôi. Tôi phải dạy nó một bài học.</p>
<p>Cán bộ Vấn nghiêm giọng,</p>
<p>– Chuyện gì cũng phải báo cáo với cấp trên. Đồng chí không được tự tiện.</p>
<p>Hung thần họ Lê đi vòng sang cửa chính, khom mình lượm cái băng đạn. Nó lườm lườm nhìn tôi với đôi mắt căm hờn,</p>
<p>– Tiên sư cha mày! Số mày còn may lắm đấy!</p>
<p>Tôi cũng nghiến răng, trợn mắt, nhìn ngay mặt nó,</p>
<p>– Tổ mẹ mày! Đồ con chó!</p>
<p>Cán bộ Vấn ra lệnh,</p>
<p>– Đồng chí Tưởng ra khỏi đây ngay! Từ nay, nếu không phải phiên trực, tôi cấm đồng chí léo hánh tới đây.</p>
<p>Chờ cho tên Tưởng qua khỏi cổng, cán bộ Vấn mới bước tới sát cửa phòng giam, nhỏ giọng nói với tôi,</p>
<p>– Chuyện đâu còn có đó. Anh Long yên chí nằm nghỉ đi, đừng lo nghĩ gì cả.</p>
<p>Viên Trung Úy Cộng-Sản tên Bùi Văn Vấn này là dân Hải-Dương. Anh ta làm quản giáo ở đây từ ngày mới lập trại.</p>
<p>—–o—–</p>
<p>Đêm tháng Năm, muỗi vo ve…</p>
<p>Ngoài rào có tiếng chân người lội lõm bõm dưới nước; chắc đó là ông già Khê người dân tộc Tày? Đêm nào già Khê cũng đi cắm cần câu cá dọc theo con suối.</p>
<p>Nhà của già Khê nằm sát rào Trại 4. Trước khi trốn trại, mỗi lần tôi đi ngang qua rào, ông cụ tốt bụng này thường dúi cho tôi một gói ớt hiểm, kèm với lời dặn dò,</p>
<p>“Ở nơi thâm sơn cùng cốc này, nhớ mỗi ngày làm một quả ớt hiểm để chống sốt rét, ngã nước!”</p>
<p>Có ánh đèn pin loang loáng, rồi tôi nghe già Khê lớn tiếng hỏi người nào đó,</p>
<p>– Làm gì mà ngồi đây thế? Thấy hết hồn… tưởng ma!</p>
<p>Người kia trả lời,</p>
<p>– Suỵt! … Suỵt!… Cháu… ngồi …chơi…</p>
<p>Tiếng người này nhỏ nhí, nhưng tôi vẫn nghe được đó là tiếng vệ binh Đèo Văn Thắng. Trại 4 có hai vệ binh tên là Thắng. Đèo Văn Thắng người Cao-Bằng, hiền như bụt nên chúng tôi gọi là “Thắng Phật”. Tính nết “Thắng Phật” trái ngược hẳn với “Thắng Bo” Hồ Ngọc Thắng người Bắc-Thái rất độc ác dữ dằn. Gặp điều không vừa ý, “Thắng Bo” đánh tù không nương tay. Chữ “Bo” là từ chữ “Porteur” tiếng Pháp, có nghĩa là “phu khuân vác”. Biệt danh của hai vệ binh tên Thắng đều do anh em tù Trại 4 đặt ra, và truyền miệng với nhau.</p>
<p>Già Khê lại lớn tiếng thắc mắc,</p>
<p>– Ngồi chơi mà chong súng như canh kẻ trộm? Có báo động hử?</p>
<p>– Không…không…cháu ngồi chơi mà…</p>
<p>– Ừ! thôi nhá! Có rảnh vào nhà rít điếu thuốc lào rồi hãy về…</p>
<p>– Vâng…vâng…</p>
<p>Sau đó tôi nghe mấy tiếng “Thịch! Thịch! Thịch!…” trên nền đất, có lẽ già Khê đang dậm dậm gót chân vài cái cho ráo nước?</p>
<p>Rồi tiếng chân bước xa dần, đêm trở lại với mớ âm thanh hỗn độn của ếch nhái, côn trùng…</p>
<p>Tôi đang thiu thiu sắp ngủ thì có bóng người bước vào. Người đó vỗ nhè nhẹ bên hông tôi,</p>
<p>– Dậy! Dậy mau! Ban chỉ huy trại thấy anh tiến bộ nên xét tha cho anh về lán đấy!</p>
<p>Tên vệ binh cúi xuống lấy chìa khóa mở còng tay cho tôi, rồi y đi vòng ra ngoài đầu hồi tháo chốt cái cùm chân.</p>
<p>Bất ngờ nghe lệnh được tha về đội lao động, tôi vừa ngạc nhiên, vừa mừng rỡ.</p>
<p>Tôi chưa đứng vững, tên bộ đội đã thúc giục,</p>
<p>– Đi mau! Anh lên “khung” gặp trực trại, ký giấy tha rồi về lán cho sớm!</p>
<p>Tôi thấy ngoài trời tối đen như mực, nên chùn bước,</p>
<p>– Tối thế này làm sao thấy đường mà đi? Mọi đêm, các anh dẫn tôi đi đâu cũng có cái đèn bão mà?</p>
<p>– Hôm nay chỉ lên ký cái giấy thôi, cần gì đèn với đóm?</p>
<p>Linh tính báo cho tôi biết, hình như có điều gì không ổn, nên tôi vội ngồi bệt xuống bực cửa,</p>
<p>– Tôi không đi đâu! Muốn tôi đi, phải có đèn, đi không đèn thì vệ binh gác trên chòi sẽ bắn tôi chết!</p>
<p>Tên bộ đội thấy tôi ngồi ì ra trước thềm, bèn rút túi, lấy ra một khúc nến. Y bật quẹt đốt nến lên, trao cho tôi,</p>
<p>– Đây! Đèn đây, anh cầm lấy rồi đứng lên đi đi!</p>
<p>Tôi ù lì,</p>
<p>– Nếu anh đưa cái đèn bão, tôi sẽ cầm đi ngay. Cây nến này ra gió là tắt liền, tôi không đi đâu!</p>
<p>Tức quá, nó quát ầm lên,</p>
<p>– A! Cứng đầu hả? Anh không đi, tôi điệu anh đi!</p>
<p>“Huỵch! Huỵch!”</p>
<p>Bị hai cái báng súng đánh vào vai, đau lắm, nhưng vẫn không nao núng, tôi cứ ngồi ôm chặt cây cột cửa không chịu buông.</p>
<p>Sau cùng, thằng vệ binh đành quàng khẩu súng ngang vai để hai tay nó được tự do nắm cổ áo tôi, lôi ra cửa. Biết mình không đủ sức vật nhau để cướp súng, tôi đành ôm cánh tay kẻ thù, nhe răng cắn tới tấp. Đau quá, nó đành buông tôi ra. Tay xoa chỗ bị cắn, miệng nó chửi,</p>
<p>– Đồ chó cắn càn!</p>
<p>Tôi la lên,</p>
<p>– Anh muốn bắn tôi phải không? Bắn thì bắn bây giờ đi! Tôi không ngu mà bước ra cổng cho anh bắn đâu! Tôi biết tỏng… tòng… tong… âm mưu của anh rồi!</p>
<p>Hình như câu nói đó làm cho tên vệ binh chạm nọc, nó ấp úng,</p>
<p>– Ấy! Ấy! Tôi không bắn anh đâu! Mà sao anh biết? Ơ …ơ …ơ…</p>
<p>Bộ dạng bối rối của thằng cai tù kèm với câu “Mà sao anh biết?…” khiến tôi suy ra ngay,</p>
<p>“Đúng rồi! Tụi nó gài cho mình không đèn đóm đi ra cổng để giết mình! Mấy thằng bộ đội chong súng ngoài kia đang ngồi phục kích chờ bắn mình chứ đâu phải ngồi chơi?”</p>
<p>Thấy chết đến nơi, tôi đánh nước liều, chõ mồm về hướng các lán tù, tôi gào lên,</p>
<p>– Anh em ơi! Người ta giết tôi! Anh em ơi! Chúng nó bắt tôi đi ra khỏi rào để bắn tôi! Anh em ơi! Cứu tôi với!</p>
<p>Ngay từ lúc đôi bên giằng co, đã có vài người tù ở Lán 1 và Lán 5 ló đầu ra theo dõi. Nghe tiếng tôi kêu cứu, họ cũng hét ầm lên,</p>
<p>– Không được giết người! Không được giết người!</p>
<p>– Chúng nó giết tù! Anh em ơi! Chúng nó giết tù! Anh em ơi!</p>
<p>Tiếng la lớn nhứt tôi nghe được, rõ ràng là tiếng của Đại Úy Phạm Xuân Độ.</p>
<p>Gặp cảnh bất ngờ, tên bộ đội đứng ngẩn người, không biết xử trí ra sao.</p>
<p>Bỗng có ba tiếng súng chỉ thiên phát ra từ chòi gác ngoài cổng trại. Rồi một tốp bộ đội ôm A.K chạy túa vào sân.. Tên trưởng toán vệ binh thét lớn,</p>
<p>– Tù làm loạn hả? Vào lán! Đóng cửa lại! Đứa nào lớ ngớ ngoài hiên chúng ông bắn bỏ mẹ! Nghe chưa?</p>
<p>Có tiếng lên đạn, “Cà róch!… Cà rách!…”</p>
<p>Tôi bị tống năm, sáu báng súng vào ngực, vào lưng, rồi bị đẩy vào nhà kỷ luật trở lại. Hai phút sau, còng, cùm khóa xong. Vệ binh tản mát dần. Cảnh vật lại yên tĩnh như không có gì xảy ra.</p>
<p>Trại tù đèn tắt tối thui, nhưng tôi yên tâm nhắm mắt ngủ, vì tôi tin tưởng rằng qua khe vách liếp của các lán tù, thế nào cũng có vài đôi mắt đang theo dõi sự an nguy của tôi.</p>
<p>Sáng hôm sau, trước khi nghe tiếng kẻng xuất trại lao động, có bốn, năm người bị gọi lên trình diện cán bộ an ninh của trại, trong số này có anh Phạm Xuân Độ. Đại Úy Biệt Động Quân Phạm Xuân Độ là một người đàn em trong đơn vị tôi. Tôi và Độ thân nhau như anh em ruột.</p>
<p>Khi đi ngang qua nhà giam, Độ lớn tiếng, cốt cho tôi nghe,</p>
<p>“Thái Sơn ơi! Đàn em không bỏ đại ca đâu! Đại ca ơi!”</p>
<p>Tôi ngồi nhìn theo bóng chú Độ, lòng bồn chồn, thấp thỏm không yên.</p>
<p>Chừng một tiếng đồng hồ sau, nhóm tù dính líu tới vụ lộn xộn đêm qua được thả về. Ngang qua chỗ tôi ngồi, Độ lại phát thanh bổng,</p>
<p>“Thái Sơn ơi! Chỉ có một tờ kiểm điểm, không nhằm nhò gì.”</p>
<p>Nghe vậy, tôi mới thấy lòng nhẹ nhõm, hết lo âu.</p>
<p>Mấy cái báng súng đêm trước đã khơi động những chấn thương cũ trong thân thể tôi. Tôi chợt thấy ngực mình đau nhói một cách kỳ lạ.</p>
<p>“Bục!…Bục!…Ục!…Ục!…”</p>
<p>Ruột gan tôi như đang lộn lạo, sôi sùng sục. Có một vật gì tròn tròn, mềm mềm như cái bong bóng đang tìm đường chui qua cổ họng tôi để thoát ra ngoài.</p>
<p>“Ộc!…Ộc! Phè!…Phè!…” Máu từ ngực tôi vọt qua hai hàm răng, văng tung tóe trên đùi và trên nền ván gỗ.</p>
<p>Tôi ói máu liên tục. Lúc này, trước mắt tôi chỉ còn những đốm sao chớp chớp, lập lòe. Rồi tất cả tối sầm lại, đen đặc. Tôi gục đầu hôn mê trên chiếc còng tay…</p>
<p>“Lai tỉnh đi Long! Long ơi!… Lai tỉnh đi Long!…”</p>
<p>Tôi mở mắt ra, thấy mình đang nằm thoải mái trên nền đất nhầy nhụa, hôi tanh, tay không còng, chân không cùm. Ông thầy thuốc Nam của trại một tay bóp miệng cho tôi thở, tay kia không ngừng giựt giựt mớ tóc mai bên thái dương tôi.</p>
<p>Cán bộ Nghiễm trực trại, đang đứng trước cửa theo dõi. Thấy tôi mở mắt tỉnh lại, y buột miệng,</p>
<p>– Tưởng đi luôn rồi chứ!</p>
<p>Sau đó y ra lệnh cho tên lính gác,</p>
<p>– Dẫn nó ra suối!</p>
<p>Thế rồi, sau nhiều ngày ủ mình trong bộ quần áo kaki đầy máu me, cứt đái hôi thối, tôi được đi tắm. Sức yếu, hai chân lại đau, tôi đi không nổi, đành phải bò. Tới cổng, tôi níu vào hàng rào đứng lên, cố gắng lần mò từng bước. Có hai anh bạn đánh liều chạy tới đỡ, dìu tôi đi. Thấy thế, vệ binh cũng làm ngơ.</p>
<p>Trong lúc tôi đi vắng, một anh bạn tù bị bắt làm công tác vệ sinh nhà giam với một thúng tro.</p>
<p>Tới suối, tôi tụt hết quần áo, lết nhanh xuống dòng nước mát. Hai tên lính canh đã ghìm súng ngồi sẵn trên bờ. Cán bộ Nghiễm ra điều kiện,</p>
<p>– Anh Long có mười phút tắm gội. Cấm không được lặn!</p>
<p>Tôi bỏ ngoài tai lời đe dọa, cứ gục đầu xuống uống đầy một bụng nước, rồi lặn ngụp, vò đầu vò tai. Những con cá lòng tong bu vào gặm nhấm lớp da phủ vảy máu mủ chưa khô trên ống quyển. Lúc đầu, răng cá làm cho những vết thương chân của tôi thật là đã ngứa. Sau đó máu tươm ra, tôi bắt đầu cảm thấy xót, thấy đau.</p>
<p>Buổi chiều, trực trại sai hai bạn tù kè nách đưa tôi lên phòng làm việc. Tôi phải viết hai tờ tự kiểm, phải thành tâm hối hận về hành động trốn trại vừa qua để xin ban chỉ huy trại khoan hồng.</p>
<p>Tôi nại cớ hai tay bị cùm, bị đánh, đã tê dại, không cầm bút được. Thế là một anh bạn gốc Không Quân đang ngồi tỉa bắp trên kho bị điệu vào ghi chép tờ tự khai cho tôi. Tôi nói anh bạn muốn viết gì thì viết, rồi tôi nhắm mắt ký bừa, không cần đọc lại. Lúc nộp hai tờ tự kiểm cho cán bộ, hình như anh ta đã ghi lộn họ Vương của tôi thành họ… Nguyễn thì phải?</p>
<p>Trong thời gian chờ cán bộ của Nha Quân-Pháp Bộ Quốc-Phòng Cộng-Sản từ Hà-Nội về chấp cung, tôi không được đi ra ngoài. Mọi sinh hoạt tiêu, tiểu đều ở ngay chỗ nằm. Hằng ngày, ông thầy thuốc Nam của trại có nhiệm vụ đi vứt cứt đái cho tôi. Biết tôi bị nội thương, ông ta lén dấu cho tôi vài viên xuyên tâm liên. Ông thầy thuốc này cũng là tù cải tạo. Tù mắc bịnh gì ông ta cũng cho uống xuyên tâm liên! Từ thời ông ta đảm nhận công tác y tế của trại, tôi chưa thấy ai chết vì xuyên tâm liên cả.</p>
<p>Ngày Chủ Nhật, trại được nghỉ lao động. Hai cổng trước sau đều bị khóa. Tên lính gác trên chòi cao ngồi ngủ gà ngủ gật. Các bạn tù túa ra sân, người thì tay chân bận bịu với ca cóng trong việc nấu nướng, kẻ tụ họp đánh cờ, vài anh khác mải mê tập thể dục, dưỡng sinh. Có bóng người lạng qua cửa nhà cùm.</p>
<p>“Vèo!…Vèo!…Độp!…Độp!…” vài cục đường thẻ và mấy củ khoai lang luộc được quăng vào nhà kỷ luật.</p>
<p>Hai củ khoai bay tuốt vào góc phòng, ngoài tầm tay với. Còn hai cục đường vì nhẹ, nên rơi nơi bục cửa, tôi chụp lẹ, rồi đưa ngay vào mồm.</p>
<p>Oái oăm làm sao! Cục đường trong miệng lại nằm kẹt ngay chỗ cái răng đã bị tên Lời đập gãy, tôi đau điếng người! Cả hàm răng tê tái, cứng đờ, cục đường nằm trong họng mãi không chịu tan.</p>
<p>Hai ông bạn tù vừa ném đồ ăn cho tôi, một ông là Hải Quân Thiếu Tá Trần Văn Căn, bạn cùng lớp Trần Quí Cáp, người thứ nhì là Đại Úy Vương Thành Lân Khóa 19 Võ-Bị.</p>
<p>Lâu ngày mới thấy chất ngọt, nước dãi trong mồm tôi tiết ra ào ào, nuốt không kịp.</p>
<p>Tới trưa hôm đó mới khổ! Tôi chưa kịp cởi quần đã bị “Tào Tháo” đuổi, bắt tại chỗ! Tay còng, chân cùm, tôi đành nằm chịu trận.</p>
<p>Chờ mãi, tôi mới thấy bóng dáng ông thầy thuốc Nam trước cửa nhà bếp. Tôi lên tiếng gọi, rồi mắc cỡ, nói với ông ta rằng vì bị trúng gió, tôi đã “bĩnh” ra quần.</p>
<p>Ông lang sốt sắng chạy vội lên gặp cán bộ trực trại. Tôi được “chiếu cố” cho ra suối tắm rửa lần nữa.</p>
<p>Hai ngày sau, vào lúc xế chiều, cán bộ Vấn xuất hiện. Đứng chân trong, chân ngoài ngạch cửa, anh ta dặn dò,</p>
<p>– Ngày mai có người từ trên Bộ xuống chấp cung. Tính mạng của anh coi như an toàn rồi đấy! Tôi cũng mừng cho anh. Có điều là cần kín miệng.</p>
<p>Nói vừa xong câu, anh ta vội vàng xoay lưng, bước đi.</p>
<p>Chín giờ sáng ngày hôm sau, tôi ngồi đối mặt với một thượng úy của Nha Quân-Pháp Cộng-Sản. Công tác chấp cung xảy ra đúng ba ngày.</p>
<p>Ngày thứ nhứt…</p>
<p>Tay nhấn cái nút “Play” màu trắng, đồng thời với cái nút “Record” màu đỏ của chiếc cassette để trên bàn, tên cán bộ bắt đầu cuộc thẩm vấn,</p>
<p>– Trong thời gian ở Trại 4 này, cán bộ và chiến sĩ của trại có làm điều gì trái với chính sách của đảng và nhà nước khiến cho anh và các trại viên khác bất mãn không?</p>
<p>Tôi thoáng nghĩ,</p>
<p>“Phủ bênh phủ, huyện bênh huyện, mình có nói ra những hà khắc, bất nhân của cán binh trại này, chưa chắc hắn ta đã làm được điều gì thay đổi. Mà không chừng, tố cáo những gì mình chứng kiến, có khi còn mang vạ vào thân…”</p>
<p>Hai bàn tay xếp trên đùi, tôi tránh đôi mắt người đối diện,</p>
<p>– Thưa cán bộ, tôi thấy rằng ở trại nào thì chế độ cũng như nhau. Tôi không có điều gì để khiếu nại cả.</p>
<p>– Vậy thì, nguyên nhân nào đã khiến anh vượt trại?</p>
<p>– Tôi trốn trại là để đi tìm tự do.</p>
<p>– Sao lại phải đi tìm? Bao giờ học tập xong, anh sẽ được trả tự do thôi!</p>
<p>Ngẩng đầu lên, thấy vẻ mặt người sĩ quan Cộng-Sản không có nét gì là giận dữ, tôi đánh bạo,</p>
<p>– Thưa cán bộ. Cán bộ có thể cho tôi biết, đến bao giờ thì khóa học của tôi mới chấm dứt?</p>
<p>Thừ người ra một phút, viên thượng úy nhịp nhịp cái bút chì trên mặt bàn,</p>
<p>– Cái ấy cũng tùy, một năm, vài ba năm, tùy nơi các anh…</p>
<p>Lúc đó mắt tôi chợt nhìn thấy trong góc phòng một cái giá súng, trên đó dựng bốn khẩu A.K của vệ binh. Một ý nghĩ thoáng qua,</p>
<p>“Hai giây đồng hồ để nhảy từ đây tới cái giá súng. Một giây chụp khẩu A.K. Một giây kéo cơ bẩm. Hai giây vượt qua cửa sổ.. Một phút sau có mặt trong vườn sắn. Lính canh trên chòi gác không thể quan sát được phía sau vườn sắn. Phải tốn ít nhất là năm phút, vệ binh mới tập họp xong. Chỉ cần năm phút phù du ấy là ta đã lên tới Lũng Ngàn rồi!”</p>
<p>Tiếng gõ nhịp bút chì chợt ngừng thình lình. Tôi liếc mắt thấy vẻ mặt hơi thất sắc của tên cán bộ. Hình như hắn ta đã thấy mắt tôi đang dán vào cái giá súng?</p>
<p>Y vụt xô ghế, đứng dậy,</p>
<p>– Thôi anh về nghỉ, ngày mai ta làm việc tiếp.</p>
<p>Tôi chột dạ, nhưng cũng không tỏ vẻ bối rối. Phải chống hai tay lên ghế lấy đà, tôi mới từ từ đứng lên được. Lúc này tôi chợt sực tỉnh: sức tôi yếu quá! Tôi đứng còn khó khăn, nói chi tới chuyện chạy, nhảy, leo trèo?</p>
<p>Ngày thứ nhì…</p>
<p>Bước vào phòng trực, tôi không còn thấy cái giá súng A.K trong góc nhà nữa. Bên ngoài cửa sổ thấp thoáng bóng vệ binh ôm súng, rảo bước đi qua, đi lại.</p>
<p>Chờ cho tôi ngồi xuống ghế, viên sĩ quan quân pháp chỉ tay vào một cái bịch giấy dày cộm trên bàn,</p>
<p>– Tôi đã có toàn bộ hồ sơ quân bạ của anh Long ở đây. Đầy đủ hết! Từ bản tướng mạo công vụ, cho tới từng cái giấy phạt, giấy khen, huy chương, khai sinh, giá thú … không thiếu bất cứ thứ gì. Nếu không tin, anh có thể tự tay kiểm tra lại, xem tôi nói có đúng không?</p>
<p>Rồi y rút ra đưa cho tôi mấy tờ huy chương và bản tướng mạo công vụ của tôi. Thoáng nhìn thôi, tôi đã biết đó là thứ thật.</p>
<p>Thấy tôi có vẻ không hứng thú với việc đọc mớ giấy tờ kia, hắn từ tốn cất chúng vào bao trở lại, rồi gật gù,</p>
<p>– Hôm nay chương trình sẽ là nghe vài cuộn băng.</p>
<p>Cuộn băng thứ nhứt dài nửa giờ ghi lại phiên tòa ngoài trời, cách đây không lâu, xử một anh tù cải tạo tên Phê (?) trốn trại ở đâu dưới Vĩnh-Phú hay Thanh-Hóa gì đó. Tiếng loa vang vang lời kết tội phát ra từ miệng một “cải tạo viên”, có lẽ là trật tự hay thi đua,</p>
<p>“Tên ngụy quân này đã ngoan cố vượt trại, không chịu học tập! Đề nghị xử tử!”</p>
<p>Hàng chục người khác nhao nhao tán đồng,</p>
<p>“Đồng ý! “…”Nhất trí!”…”Đồng ý!”…”Nhất trí!”…</p>
<p>Một người nữa phát biểu,</p>
<p>“Thằng này đã cướp súng bắn lại cán bộ! Phải xử tử nó ngay!”</p>
<p>Đám đông lại thét gào,</p>
<p>“Xử tử!”…”Xử tử!”…”Xử tử!”…</p>
<p>Một ý kiến khác,</p>
<p>“Chúng tôi không an tâm học tập khi tên ác ôn này còn sống và tiếp tục quấy rối chúng tôi…”</p>
<p>Khán giả dường như đã say máu,</p>
<p>“Xử tử nó đi!”…”Xử tử nó ngay!”…”Xử tử nó!”…”Xử tử!”…</p>
<p>Đa nghi cách mấy tôi cũng không thể nói cuộn băng này là giả tạo được! Rõ mồn một, đấy là tiếng nói, tiếng la, tiếng hét của đồng đội tôi. Tôi không thể nghe lầm: Đồng đội của tôi đang tranh nhau đòi giết bạn mình!</p>
<p>Là một tù nhân sắp ra tòa lãnh án, tôi không mảy may sợ hãi cái chết, nhưng những tiếng la hét của những người đồng ngũ lại làm cho tôi đau đớn vô cùng.</p>
<p>Cuộn cassette dài có nửa giờ, vậy mà tôi cảm như mình đang trải qua một cuộc tra tấn dài vô tận. Ngón đòn cân não đã có hiệu quả! Lòng đau như cắt, hai lá nhĩ lùng bùng, đầu tôi choáng váng như muốn nổ tung vì những tiếng thét đầy man rợ,</p>
<p>“Xử tử!”…”Xử tử!”…”Xử tử!”…”Xử tử!”…</p>
<p>Cuộn băng ghi âm chấm dứt không có đoạn kết của phiên tòa. Viên thượng úy xoi mói nhìn vào mặt tôi, như tìm đọc phản ứng của tôi, rồi y bồi theo một câu, như phát đạn ân huệ,</p>
<p>– Anh Phê bị xử bắn rồi đấy anh Long ạ!</p>
<p>Thấy tôi ngồi lặng thinh, hắn ta nói nhỏ,</p>
<p>– Tôi không cần hỏi thêm anh về lai lịch hay thành tích nữa làm gì. Chúng tôi có đủ tài liệu và hồ sơ để xác định tội trạng của anh rồi. Tuy nhiên, tôi cũng mạnh miệng bảo đảm rằng, tội của anh chưa đến mức bị xử tử hình. Tin tôi đi!</p>
<p>Sau khi được uống một bát nước lạnh, tôi tiếp tục ngồi nghe cuộn băng thứ nhì, cuộn băng ghi lời phát biểu của hai vị đại tá bị Cộng Quân bắt tại mặt trận Ban-Mê-Thuột.</p>
<p>Cuộn băng chót là một buổi học tập, phê bình, kiểm thảo của một nhóm sĩ quan cấp tướng và đại tá.</p>
<p>Qua hai cuộn ghi âm vừa rồi, tôi nhận ra giọng nói của những vị tôi đã từng dưới quyền, đã từng thân thiết. Vẫn giọng nói xưa, nhưng những lời tôi nghe được lại như từ miệng ai đó, tôi chưa từng gặp, chưa từng tiếp xúc bao giờ!</p>
<p>Trong cơn bão tố cuồng điên, con thuyền quốc gia của dân tộc tôi chìm nhanh quá! Giữa biển khơi không thấy bến bờ, những người sắp chết đuối thấy vật gì bồng bềnh trước mắt, cứ ngỡ rằng đấy là một cái phao, đâu ngờ đó chỉ là đám bọt nước mà thôi!</p>
<p>Thực tình, từ ngày mất nước, tôi chưa bao giờ có ý oán trách bất cứ ai, kể cả các cấp chỉ huy và bạn đồng ngũ của tôi. Tôi chỉ thấy xót thương cho bạn bè mình, và buồn cho số phận của chính mình.</p>
<p>Người cán bộ xếp dọn đồ nghề, rồi nói câu chấm dứt buổi thẩm cung,</p>
<p>– Thôi! Mai ta tiếp tục anh Long nhé!</p>
<p>Tôi khập khiễng trên đoạn đường từ ban chỉ huy trại về buồng giam, sau lưng là một họng A. K.</p>
<p>Ngày chấp cung thứ ba…</p>
<p>Viên thượng úy xoa xoa hai bàn tay vào nhau,</p>
<p>– Hôm nay chủ đề trao đổi giữa chúng ta sẽ là: “Quốc-Gia và Cộng-Sản.” Tôi sẽ không đánh đập anh đâu. Đừng e ngại, sợ sệt, cứ việc phát biểu một cách công tâm. Tôi cho phép, và khuyến khích anh nói thật lòng mình, về những gì anh cho là sai, là đúng của hai chế độ. Mục đích chuyến công tác của tôi lần này chỉ có thế!</p>
<p>Tôi ngồi ngẩn mặt ra. Thật là ngoài mức tưởng tượng! Tôi đã một lần nếm mùi cái “kinh nghiệm thương đau” của kẻ bị tra khảo vì tội trốn trại rồi, nên tôi biết, trong thời gian chấp cung, tù vượt ngục nào cũng bị đánh cho tới bò lê, bò càng, cả tháng sau, thân mình còn ê ẩm.</p>
<p>Tôi nghĩ lần này cũng lại bị đánh, bị buộc tội trối chết, rồi phải tỏ ra ăn năn, hối lỗi những việc mình đã làm, sau cùng là ký bản cam kết, hứa hẹn sẽ không còn tái phạm nữa…vân vân.</p>
<p>Ấn nút cho máy ghi âm chạy, thẩm vấn viên hất hàm,</p>
<p>– Theo anh, cuộc chiến tranh vừa qua chính nghĩa thuộc về phe Quốc-Gia hay Cộng-Sản?</p>
<p>Tôi đáp liều,</p>
<p>– Mỗi bên tham chiến có lý lẽ riêng để bênh vực cho chủ trương của phía mình. Người Cộng-Sản có lý của họ, còn chúng tôi, có lý của chúng tôi.</p>
<p>Người hỏi cung lắc đầu, nghiêm giọng,</p>
<p>– Anh hãy nói thẳng ra ý kiến của cá nhân anh. Phải là “ý kiến tôi thế này, ý kiến tôi thế kia!” Không được nói quanh quanh, nói chung chung kiểu…”chúng tôi thế này, chúng tôi thế kia…”</p>
<p>Tôi nuốt nước bọt rồi trả lời thẳng thừng,</p>
<p>– Tôi chiến đấu có chính nghĩa vì tôi là người tự vệ, Miền Bắc là kẻ xâm lược.</p>
<p>Hắn ta vội át giọng tôi,</p>
<p>– Anh nói sai rồi! Chúng tôi mới có chính nghĩa vì chúng tôi chiến đấu để giải phóng Miền Nam thoát ách cai trị của ngoại bang.</p>
<p>– Không có ngoại bang nào cai trị Miền Nam cả. Việt-Nam Cộng-Hòa là một nước độc lập.</p>
<p>Y hét lên,</p>
<p>– Độc lập giả tạo! Thực chất Ngụy-Quyền Miền Nam chỉ là tay sai của đế quốc Mỹ.</p>
<p>– Việt-Nam Cộng-Hòa là một quốc gia đồng đẳng với các nước khác trên thế giới. Miền Nam có chính phủ riêng, hiến pháp luật lệ riêng. Tổng Thống và Quốc Hội nước Việt-Nam Cộng-Hòa là do dân bầu lên, có nhiệm kỳ hiến định hẳn hoi, sao lại gọi là tay sai được?</p>
<p>Tôi ngừng lại, chờ xem ý kiến của người đối diện ra sao thì thấy y đã tắt máy.</p>
<p>Ngồi im một lát như để tĩnh tâm, rồi thật chậm rãi, hắn ta ôn tồn trở lại,</p>
<p>– Tôi sẽ không đấu lý với anh nữa. Vì nếu cãi nhau thì anh sẽ ở vào thế yếu, còn tôi ở thế mạnh, không được công bằng. Từ bây giờ tôi chỉ đặt câu hỏi. Anh được tự do trả lời theo ý anh! Như vậy có được không?</p>
<p>Thấy tôi gục gục đầu, hắn nhấn nút cho máy quay, rồi tiếp tục,</p>
<p>– Anh nói rằng Miền Nam là tự do, vậy hãy diễn tả cái tự do đó thể hiện ra sao ngay trong cuộc đời của chính anh.</p>
<p>– Tôi lớn lên trong một chế độ mà trong đó, chúng tôi muốn nói gì thì nói, nghe gì thì nghe, đọc gì thì đọc. Không bị ai nhồi nhét tư tưởng này, tư tưởng kia vào đầu. Ngay như tôi là một thiếu tá, mà suốt mười hai năm quân ngũ tôi chưa bị bắt buộc phải vào dự một buổi học tập chính trị nào cả. Những hiểu biết về Cộng-Sản, hay Tự-Do là do cái vốn kiến thức thu thập từ thực tế và tự tìm hiểu qua báo chí, sách vở. Không ai ép buộc tôi phải tôn thờ chủ nghĩa này, đả phá chủ nghĩa kia.</p>
<p>– Nếu nói rằng Miền Nam tôn trọng tự do tín ngưỡng, thì tại sao lại có những cuộc biểu tình, xuống đường của Cha, Cố, Giáo Dân cũng như của Tăng Ni, Phật Tử?</p>
<p>– Chính vì có tự do nên mới xảy ra những chuyện xuống đường, phản kháng, nếu không có tự do thì toàn dân sẽ câm như hến.</p>
<p>– Anh có là một thành viên của đảng Dân-Chủ không? Nếu một người lính mà không là đảng viên đảng Dân-Chủ thì có bị thiệt thòi gì không?</p>
<p>– Thú thật tôi không để ý đến vụ đảng phái. Tôi không gia nhập đảng nào. Tôi cũng chưa thấy đảng nào công khai gây ảnh hưởng trong đơn vị tôi bao giờ.</p>
<p>– Trong thời gian qua, anh đã có dịp tiếp xúc với dân chúng Miền Bắc, anh có nhận xét gì về nếp sống của dân chúng Miền Bắc không?</p>
<p>Thấy có dịp giải tỏa ấm ức, tôi hứng chí nói một mạch,</p>
<p>– Miền Bắc và Miền Nam khác hẳn nhau. Ở trong Nam, người dân có thể sống theo ý mình muốn. Còn Miền Bắc là một xã hội có quy củ, có khuôn phép. Từ vấn đề cơm, áo, gạo, tiền, nhà cửa, ruộng vườn, cái gì cũng có tiêu chuẩn cả. Cái gì cũng tem phiếu, sổ sách. Hàng còn nằm trong kho quốc doanh có một giá, tới lúc tuồn ra ngoài, nó thành giá khác, đắt gấp chục lần. Lao động xã hội chủ nghĩa thì người này dựa vào người kia. Làm việc hợp đồng, vần công chỉ là chuyện lãng phí nhân lực. Tôi đã thấy có một mảnh ruộng cỡ nửa sào, mà ào xuống mười người, với mười con trâu, và mười cái cày. Họ làm việc chừng một giờ đồng hồ, mà chấm công là một ngày. Thời giờ còn lại, mạnh ai nấy đi canh tác riêng để cải thiện. Lý thuyết là không có quyền tư hữu, tất cả là tài sản chung, nhưng trên thực tế, ai cũng lo mưu cầu lợi ích riêng, vì ai cũng thiếu thốn cả. Có lẽ vì thế mà mấy chục năm nay Miền Bắc vẫn nghèo, không khá lên được.</p>
<p>Tôi thấy kỹ thuật thẩm vấn của người Cộng-Sản có vẻ na ná với kỹ thuật khai thác của Đức Quốc-Xã thời Thế Chiến thứ 2 trong những tài liệu mà tôi đã đọc qua. Thoạt đầu, với đôi ba câu hỏi bâng quơ, tù binh được nói thoải mái thả giàn vài phút. Sau đó, thẩm vấn viên mới ra tay, bằng những câu hỏi dồn dập, tới tấp, loanh quanh, lẩn quẩn một vấn đề, làm cho óc người bị thẩm vấn rối tung lên, không biết đâu mà chống đỡ.</p>
<p>Với những câu hỏi ngoắt ngoéo, viên thượng úy Cộng-Sản đã cố gắng moi móc những gì tôi cất dấu trong đầu về cuộc đời tôi, từ thuở mới di cư, đến khi ngập ngũ, rồi tới ngày rã ngũ.</p>
<p>Trong thời chiến, tôi đã qua lớp Tình-Báo Tác-Chiến Singapore, rồi nhiều năm, đảm nhận chức Trưởng Phòng Quân- Báo của Bộ Chỉ-Huy Biệt Động Quân, Quân-Khu 2, Việt-Nam Cộng-Hòa. Tôi đã thẩm vấn rất nhiều tù binh, và đã hoàn tất nhiều bản cung từ.</p>
<p>Do đó, tôi đủ bản lãnh để luồn lách, tránh né những bí mật liên quan tới sinh mạng những người đã cộng tác với tôi thời trước, như tên tuổi các mật báo viên trong mạng lưới mật báo của Phòng 2 Biệt Động Quân Quân-Khu 2, danh sách các cán binh chiêu hồi đã hướng dẫn các chuyến xâm nhập vào lòng địch của tôi trong thời gian 1972- 1973.</p>
<p>Chỉ sau vài câu hỏi trùng lặp, tôi đã nghiệm ra ngay chủ đề của cuộc “thi vấn đáp” trường chinh hôm ấy là nhằm khai thác tin tức liên quan tới “Vai trò của Chính-Trị và Tôn-Giáo trong Quân-Đội Việt-Nam Cộng-Hòa” Về cả hai lãnh vực trên đây, quả tình, tôi chỉ là một tay ấm ớ, nên người tra hỏi chẳng biết được gì.</p>
<p>Cứ thế, trừ đi cỡ sáu, bảy phút cho hai lần đi tiểu, và khoảng mười phút cho bữa ăn trưa với một củ khoai lang luộc, tôi phải trả lời hàng trăm câu hỏi trong thời gian dài từ sáng sớm tới xế chiều. Tôi không nhớ có bao nhiêu cuộn băng mới đã được thay, mấy lần pin mới được lắp vào máy.</p>
<p>Chấm dứt ngày làm việc cuối cùng, không chỉ người bị chất vấn, mà ngay cả người đặt câu hỏi cũng thấy mồ hôi vã ra đầy mặt.</p>
<p>Người cán bộ châm điếu thuốc lá, rít một hơi, rồi trao nó cho tôi,</p>
<p>– Anh Long ạ! Tôi đã thực hiện công tác phỏng vấn này với một ông sư, một ông cha, một nghị sĩ, một dân biểu, hai cấp tướng, hai cấp đại tá, và ba người cầm đầu đảng phái chính trị. Mỗi anh có nhân cách riêng khi đối diện với tôi. Cũng những câu hỏi ấy nhưng mỗi người trả lời khác nhau. Mỗi anh có lý lẽ riêng. Anh là người tuổi nhỏ nhất và có địa vị thấp nhất mà tôi đã gặp trong công tác này đấy! Bây giờ tôi có một câu hỏi riêng tư với anh. Câu hỏi cuối cùng. Anh có vui lòng trả lời tôi không?</p>
<p>Tôi rít một hơi thuốc dài, nuốt ực vào, ém khói trong phổi, thấy tỉnh táo dần,</p>
<p>– Vâng! Tôi sẽ trả lời cán bộ.</p>
<p>– Nào! Anh hãy thành thật, tuyệt đối thành thật, trả lời tôi: Quan niệm của anh ra sao đối với sự sống và sự chết?</p>
<p>Tôi nhìn thẳng vào đôi mắt người đối diện, dò chừng. Hình như hắn ta không có âm mưu gì chứa ẩn trong câu hỏi. Tôi hắng giọng, rồi nhỏ nhẹ trả lời, rõ ràng từng tiếng một,</p>
<p>-Thưa cán bộ. Tôi nghĩ, đời tôi bây giờ có sống cũng chẳng thấy vui thú gì, thì nếu chết, tôi cũng coi như là trở về cùng cát bụi. Tôi không có điều gì phải hối hận hay vướng bận cả.</p>
<p>Viên thượng úy Cộng-Sản đứng lên, bàn tay y xiết bàn tay tôi một cái rất nhẹ, rồi buông ra ngay. Y nói với tôi, nhưng có vẻ như nói một mình,</p>
<p>-Tiếc thay! Anh lớn lên ở Miền Nam. Nếu ngày đó anh không di cư, thì có lẽ, giờ này, những người tầm cỡ như tôi, muốn gặp mặt anh cũng là một điều khó khăn.</p>
<p>Buổi trưa sau ngày hoàn tất hồ sơ thẩm vấn, đầu óc thật thoải mái, tôi nằm im, đón nghe trong gió vọng về những âm thanh quen: tiếng ve sầu rên rỉ trên Lũng Ngàn, tiếng chân trâu kéo gỗ nặng nề qua đoạn đường quanh, tiếng xẻng cạo chảo bên nhà bếp. Gần tôi nhứt là tiếng “kẽo! kẹt!” của loài mọt gỗ đang đục khoét cái cột giữa nhà.</p>
<p>Tôi ngửa cổ nhìn lên nóc tranh, trước mắt tôi là cảnh một con ruồi xanh đang cố gắng một cách tuyệt vọng tìm cách thoát khỏi cái màng lưới nhện. Thân phận tôi giờ đây ví như thân phận con ruồi xanh trên kia, không hơn, không kém. Nhện và ruồi là hai động vật khác loài. Chúng giết nhau để sinh tồn. Còn tôi và những người đang giam cầm tôi lại cùng chủng loại.</p>
<p>Tuần lễ sau, vào giờ cơm chiều, cán bộ Vấn bước vào, ngồi trên bệ cửa, rút bao Cửu-Long ra, bật lửa châm cho tôi một điếu. Chờ tôi hút xong điếu thuốc lá thơm, anh ta mới mở lời,</p>
<p>– Bà mẹ anh ngày xưa đẹp nhất làng Trác-Châu đó! Anh có biết không?</p>
<p>Tôi trố mắt,</p>
<p>– Cán bộ có lớn tuổi hơn tôi nhiều đâu? Làm sao mà cán bộ biết điều này?</p>
<p>– Ngày anh bị đưa về cùm lần đầu ở trại này, tôi đã đọc qua lý lịch của anh rồi. Tôi biết tên bố mẹ anh và tất cả họ hàng bên ngoại của anh nữa. Nhà tôi ở sát rào nhà cụ Ngãi, ông ngoại của anh. Thời còn là con gái, bà cụ sinh ra tôi là bạn thân của bà cụ nhà anh. Mẹ tôi nói hồi đó mẹ anh có làn da trắng như trứng gà bóc. Mẹ anh không lấy người trong làng, lại đi lấy người làng bên. Sau khi bố anh bị giết, mẹ con anh đã bỏ xứ, ra đi biệt tăm. Không ngờ sau đó gia đình anh di cư vào Nam, và anh đã làm tới chức thiếu tá. Dù gì thì chúng ta cũng là người cùng làng…</p>
<p>Tới lúc đó, tôi mới hiểu lý do vì sao viên sĩ quan Cộng-Sản này lại nương tay với mình.</p>
<p>Cán bộ Vấn thọc tay vào túi, lôi ra một cái phong bì. Mở phong bì, móc cái ảnh cỡ 6×9 cm đưa cho tôi, anh ta nói nhỏ,</p>
<p>– Anh Long có thơ. Nhưng tôi không được phép đưa thơ cho anh. Tôi “diếm” cho anh cái ảnh của vợ con anh. Nhớ giữ kín đừng cho ai biết.</p>
<p>Nói xong câu này, Vấn nhét vào tay tôi một điếu thuốc nữa, rồi đứng lên, lững thững đi về hướng nhà bếp.</p>
<p>Có lẽ cái thư chứa tấm hình đã tới trại trong thời gian tôi tại đào. Trong hình là vợ tôi bế thằng con út ngày nó vừa biết lật. Nay chắc thằng bé đã biết nói, biết chạy rồi?</p>
<p>Ấp cái ảnh vợ con vào lòng, tôi nghe rõ ràng, tim mình đang thổn thức…</p>
<p>Tôi được nhìn thấy mặt bố tôi lần cuối cùng (1946), ngày tôi lên bốn tuổi. Còn thằng con tôi, không biết suốt đời, nó có dịp nào nhìn thấy mặt bố nó hay không?</p>
<p>Từ lúc đó cho tới tối mịt, cứ lâu lâu, tôi lại dở cái ảnh ra xem.</p>
<p>Vằng vặc trăng trôi…</p>
<p>Tôi nằm quay mặt về hướng Tây. Cửa chính của phòng giam không bao giờ đóng. Ngoài kia ánh nguyệt chan hòa.</p>
<p>“Tưng!… Tửng!… Từng!… Tưng!…”</p>
<p>có tiếng đờn ghi ta vọng cổ bay sang từ Lán 1. Tiếp đó là một câu hò (hay sàng xê) não nuột,</p>
<p>“Đêm nay trăng sáng…(á!) lung linh, em ngồi trông trăng.<br />
Lòng nhớ thương anh, mà lòng… (ừ!) buồn mông mênh.<br />
Mình cách xa nhau rồi…(à!) Mình mất nhau muôn đời.<br />
Đêm ngồi trông trăng, mà mắt lệ …(ý! à!) tuôn rơi…”</p>
<p>Tôi không phân biệt được giọng hò này là của ông trung tá con rể bà Bút Trà, hay là của ông đại úy con rể cụ dân biểu Hoàng Kim Quy?</p>
<p>Ánh trăng lùa tiếng đờn tràn qua cửa phòng giam.</p>
<p>“Từng!” …”Tưng!”…”Tứng!”…”Tứng!” …”Tưng!”…</p>
<p>Nhịp đờn bỗng rối rít hẳn lên, quện vào tiếng hát, xoắn lại như con chốt, rồi vút lên thật cao,</p>
<p>” Trời ơi! … Bởi sa cơ giữa chiến trường thọ tiễn<br />
Nên Võ Đông Sơ đành chia tay vĩnh viễn Bạch Thu … Hà…</p>
<p>…Tưng! Từng!…Tưng! Tửng!…Từng! Tưng!… Ư…ưng… ư…ưng…”</p>
<p>Giữa đêm trăng lạnh, vô tình, khúc “Võ Đông Sơ” đã như mũi dao nhọn, xoáy vào tim người nghe…</p>
<p>Ngày xưa tôi là chúa ghét vọng cổ. Cứ thấy mấy anh kép cải lương “miệt rừng” trong đơn vị vừa cất giọng, “Biên cương lá rơi, Thu Hà em ơi!” … tôi lại bấm bụng cười thầm, lỉnh nhanh đi chỗ khác.</p>
<p>Vậy mà giờ đây, giọng ca của mấy ông nghệ sĩ tay ngang cũng làm cho tim tôi xốn xang. Tôi nằm trằn trọc hoài mà không nhắm mắt được. Đêm sao quá dài…</p>
<p>—–0——</p>
<p>Từ đầu tháng Sáu, sau giờ ăn trưa mỗi ngày, tôi được mở còng cùm vài phút để đi vệ sinh. Chuyện ỉa đái của tôi xảy ra ngay trong vòng rào mà vệ binh cũng phải kè kè đi kèm. Khi tới đầu Lán 11, vì sợ thối nên tên bộ đội đành dừng lại, ôm súng đứng canh, cách nhà cầu chừng sáu chục thước. Mắt nó cứ lom lom theo dõi những người tù trên đường ra nhà xí. Nó soi mói, kiểm soát kỹ càng những ống vầu chứa nước họ xách theo để rửa đít. Nó sợ bạn tù lén lút liên lạc tiếp tế cho tôi!</p>
<p>Bọn cai tù không thể ngờ rằng, trước khi tôi được mở cùm, đã có hai ba anh bạn tới ẩn mình trong cầu tiêu rồi. Họ tranh nhau nhét vào miệng tôi, cục đường, củ khoai, và cả những viên thuốc bổ. Tôi chỉ được phép ở trong chuồng xí có năm phút. Trong năm phút, tôi vừa ăn, vừa đại tiểu tiện, vừa nói chuyện với bạn bè.</p>
<p>Hàng ngày, bạn tù chia phiên nhau giúp đỡ cho ba người đang bị phạt. Các anh Thiếu Tá Hoàng Văn An, Đại Úy Vương Thành Lân, Đại Úy Nguyễn Hữu Quang, Đại Úy Phạm Xuân Độ, và Đại Úy Đỗ Dũng là những người tôi gặp mặt thường xuyên, ngoài ra còn nhiều bạn khác nữa. Họ lo cho tôi vào giữa trưa, và lo cho anh Trụ, anh Cả vào lúc xế chiều. Nếu hôm nào cả trại phải đi lao động suốt ngày, thì các anh trực lán sẽ làm công tác cứu trợ.</p>
<p>Thời gian này người tù mang cơm cho nhà kỷ luật là Nguyễn Hữu Quang, bạn cùng khóa Võ-Bị của tôi. Những khi có dịp thuận tiện, anh Quang thường lén lút ém thêm phần ăn cho người bị giam.</p>
<p>Cũng may những chuyện này không đổ bể. Chứ cai tù mà biết được thì các bạn tôi chỉ có nước vào cùm!</p>
<p>Trong cảnh hoạn nạn, tôi đã không bị bạn bè bỏ rơi. Những sự trợ giúp ấy đã khiến tôi tăng thêm sức lực cả về thể chất lẫn tinh thần. “Khốn khó có nhau, là huynh đệ chi binh!” phải gặp cơn nguy biến mới thấy cái cao đẹp của tình đồng đội.</p>
<p>Những tháng tiếp theo, tôi và hai anh bạn bị đưa đi vòng vòng, lần lượt nhốt trong các trại tù quanh vùng Cẩm-Nhân, Yên-Bình. Mỗi khi tới trại mới, ba “cải tạo viên” vượt ngục lại trở thành những cái bao cát cho bọn vệ binh của trại đó thực tập võ nghệ.</p>
<p>Cuối cùng chúng tôi bị dẫn vào Trại 2 trong Tích-Cốc, nhốt chung với một tay “Papillon” của trại này.. Anh ta nằm trong căn bìa của nhà kỷ luật, cách tôi một tấm phên.</p>
<p>Ghé mõm sát cái lỗ nhỏ dưới chân vách, tôi hỏi nhỏ,</p>
<p>– Này! Tên gì? Cấp gì?</p>
<p>– Thường! Đại úy!</p>
<p>– Đi lúc nào?</p>
<p>– Sau các cha một tháng.</p>
<p>– Mấy người?</p>
<p>– Bốn..</p>
<p>– Ba ông nội kia đâu?</p>
<p>– Thoát rồi!</p>
<p>– Còn cha? Sao lại nằm đây?</p>
<p>– Mình bị sa ruột, giữa đường đành bỏ cuộc, bị dân quân bắt, dẫn về giao lại cho trại, rồi bị tống vào đây.</p>
<p>– Đã bị chấp cung chưa?</p>
<p>– Rồi!</p>
<p>– Có bị đánh không?</p>
<p>– Tơi bời! Đau lắm các cha ơi!</p>
<p>Mấy ngày sau, người đưa cơm của Trại 2, vốn là một đại úy Biệt Động Quân thì thầm với tôi rằng,</p>
<p>“Một toán vệ binh của Trại 2 đã kêu gọi được ba người bạn của anh Thường ra đầu hàng rồi. Nhưng ngay sau đó, chúng bắn chết hết ba người này, rồi đổ hô là họ bỏ chạy lúc ban đêm!”</p>
<p>Nghe chuyện này, tôi nhớ lại cái đêm trời tối đen như mực cách đó không lâu, nếu tôi nghe lời tên vệ binh, bước ra khỏi cổng để lên ban chỉ huy ký giấy cho về đội lao động, thì tôi đã bị bắn chết rồi!</p>
<p>Cuối năm 1978 có tin Trung-Cộng sắp đánh Việt-Cộng, ba chúng tôi lại bị còng dính vào nhau đưa lên xe, vượt sông Lô, qua đèo Khế, ghé Tân-Trào, rồi chạy một lèo về Trại Phú-Sơn 4, Thái-Nguyên.</p>
<p>Tại đây, vừa được tháo còng ra, tôi đã bị tống vào đội trừng giới số 12 toàn là dân vượt ngục, chuyên làm lò gạch. Đồng cảnh ngộ, nên anh em trong đội này đã thương yêu, đùm bọc lẫn nhau như người thân trong một nhà.</p>
<p>Tháng Ba năm 1979 quân Tầu ào qua biên giới, chúng tôi lại bị còng từng cặp, đưa lên Molotova, chạy một mạch qua thủ đô Hà-Nội về tuốt miệt Hà-Nam, Phủ-Lý.</p>
<p>Trong lúc chờ phà vượt sông Hát, đoàn xe bị dân chúng ném đá tơi bời. Tù chỉ còn nước ôm đầu, úp mặt xuống sàn xe. Thì ra dân chúng tưởng chúng tôi là tù binh Trung-Quốc!</p>
<p>Đến khi biết trên xe là tù cải tạo Việt-Nam Cộng-Hòa thì dân chúng lại đua nhau ném chúng tôi lần nữa! Chúng tôi lại lo ôm đầu, úp mặt. Nào ngờ, lần này đầu cổ, tóc tai lãnh toàn là xôi, đường, kẹo bánh, xu hào, cải bắp!</p>
<p>Quý hóa hơn mọi món quà mà chúng tôi nhận được ngày hôm đó là, lần đầu kể từ khi bại trận, chúng tôi lại được nghe hai tiếng “Hoan hô!” từ miệng của đồng bào tôi.</p>
<p>Dù chỉ có vài tiếng “Hoan hô!” rụt rè phát ra trong đám đông thôi, đã khiến đôi mắt tôi cay xè. Nhìn sang bên, tôi thấy mặt anh bạn chung còng cũng nhạt nhòa nước mắt…</p>
<p>Từ ấy, cứ vài năm một lần, tôi lại bị chuyển sang trại mới, cuối cùng là Z30 D Hàm-Tân. Tới năm 1988 tôi được tha.</p>
<p>Nhớ lại, một ngày mùa đông năm 1965, tôi đã quỳ xuống giữa vũ đình trường Lê-Lợi Trường Võ-Bị Quốc-Gia Việt-Nam để tuyên thệ rằng sẽ đem xương máu mình bảo vệ tổ quốc, phục vụ đồng bào. Sau khi đứng lên, tôi trở thành một sĩ quan Biệt Động Quân. Qua bao nhiêu năm xông pha nơi chiến trường, rồi trầm luân trong tù ngục, tôi vẫn ghi tạc trong lòng một lời khuyên,</p>
<p><strong><em>“Thà làm một viên ngọc nát, chứ không làm một viên ngói lành!”</em></strong></p>
<p><strong>Vương Mộng Long</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/vuong-mong-long-ngoc-nat/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Trần Yên Hạ: Những chặng đường chông gai</title>
		<link>https://t-van.net/tran-yen-ha-nhung-chang-duong-chong-gai/</link>
					<comments>https://t-van.net/tran-yen-ha-nhung-chang-duong-chong-gai/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Trần Yên Hạ]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 10 Apr 2019 05:40:28 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[chuyen thang 4]]></category>
		<category><![CDATA[chuyện tù]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=39067</guid>

					<description><![CDATA[                                           Âm Vang &#8211; Tranh: Thanh Châu  Lại một lần nữa nghe lời Hảo, bỏ đơn vị đang biệt phái là Bộ Tư Lệnh Quân đoàn 4 để về Vĩnh Long với hắn. Bạn bè chinh chiến hai năm mới gặp lại. Thằng gầy, thằng đen, thằng nào cũng &#8220;bụi&#8221; như lính đào binh, nhưng [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong>   <a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/04/AM-VANG-1.jpg?strip=all"><img decoding="async" class="wp-image-39068 aligncenter" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/04/AM-VANG-1-300x243.jpg?strip=all" alt="" width="406" height="329" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/04/AM-VANG-1-300x243.jpg?strip=all 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/04/AM-VANG-1.jpg?strip=all 643w" sizes="(max-width: 406px) 100vw, 406px" /></a>                                        </strong></p>
<p style="text-align: center;"><em>Âm Vang &#8211; Tranh: Thanh Châu</em></p>
<p> Lại một lần nữa nghe lời Hảo, bỏ đơn vị đang biệt phái là Bộ Tư Lệnh Quân đoàn 4 để về Vĩnh Long với hắn. Bạn bè chinh chiến hai năm mới gặp lại. Thằng gầy, thằng đen, thằng nào cũng &#8220;bụi&#8221; như lính đào binh, nhưng mặt mày vẫn non choẹt với lon Trung uý chưa kịp rửa. Gặp nhau, nhậu một trận đã đời rồi chia tay vội vã vì cơn lũ Tháng Tư  75 uà đến &#8230; cho đến hôm nay, ba mươi năm sau, vẫn có người chưa gặp lại!</p>
<p>Cái quyết định ngu dại nhất trong đời &#8220;bại binh&#8221; cuả tôi là đem theo một tháng gạo, cùng Lý Phước Hồng đón xe lôi đi ở tù! Có lẽ trên thế gian nầy, chưa có đoạn quân sử quốc gia nào ghi chép những điều kỳ quái như thế.  Sau một tháng &#8220;học tập&#8221; tại trường Phan Thanh Giản Cần Thơ, mấy tên tù binh lơ láo như tôi tưởng được thả về, không ngờ lại bị đưa thẳng vào trại Chi Lăng, nhốt ở đó một năm sáu tháng, không cho thư từ, thăm viếng. Bài học thuộc lòng đầu tiên là đói&#8230; Đói đến nỗi không dám cười, thân hình chỉ còn da bọc xương. Bài học thứ hai là ăn cây cỏ dại, chuột cống lang &#8230; thoi thóp qua ngày!</p>
<p>Ở Chi lăng một năm, tôi đã có ý nghĩ phải tìm cách trốn thoát. Đây là vùng núi và biên giới, mà tiểu đoàn tôi đã quần nát dấu chân, tôi nghĩ sẽ dễ dàng vượt qua biên giới. Biết đâu, ở đó có quân kháng chiến.</p>
<p>Năm thứ hai (1976) &#8230; mới sáu giờ sáng, tôi còn nằm nướng trên manh vải bố dưới đất thì Nguyễn Văn Sáu ở phòng cạnh bên bước vào, nằm xuống cạnh tôi. Thoáng chút ngạc nhiên &#8220;Mầy làm gì dậy sớm vậy?”. Tôi cất giọng nhừa nhựa trong cơn lười biếng. Sáu không trả lời, kéo tấm mền của tôi đắp ké. Tôi lơ mơ trong giấc ngủ chập chờn, vì bắt đầu có nhiều người thức dậy nói chuyện, đùa giỡn. Sáu nằm bên tôi khoảng một tiếng rồi lặng lẽ bỏ đi. Tôi cũng quên đi nhanh chóng việc nầy. Cho đến ba hôm sau thì có tin một toán bốn người đã chui rào vượt trại, trong đó có Sáu! Chừng đó, tôi mới nhớ lại và hối tiếc, tại sao mình lại vô tâm đến thế? Có thể Sáu muốn nói điều gì? Một lời trối trăn vì con đường đi muôn vàn nguy hiểm?  Toán cuả Sáu đi ngay con đường có bãi mìn ngập nước từ lâu. Đây cũng chính là con đường tôi đã gỉa vờ đi hái rau muống dại và có ý định sẽ trốn thoát bằng lối đó.</p>
<p>Hai ngày sau, bọn cán bộ thông báo đã bắt được ba trong bốn tên vượt trại. Tôi và Hồng lo sợ có Sáu trong đó, tìm cách dò hỏi nhưng không có tin gì. Cầu mong cho Sáu được bình yên! Mãi đến gần mười tám năm sau, khi đến Mỹ, tôi mới được tin  Sáu đã thật sự bình yên ở nơi nào đó, qua cái chết trên đường vượt biên, sau khi trở về với người vợ thân yêu một thời gian ngắn.</p>
<p>***</p>
<p>Hai tháng sau khi Sáu trốn đi, lòng tôi buồn nao nao. Nhìn đỉnh Thiên Cấm Sơn mù mù trong sương chiều, nơi tôi đã từng thức trắng đêm canh giặc để giữ yên thành phố. Cũng nơi đó, biết bao chàng trai trẻ với lý tưởng kiêu hùng đã bỏ lại thịt xương. Thế mà xương trắng, máu đào và những hy sinh, những chiến tích lừng lẫy cũng tan loãng như mây trời. Tôi bỗng nghe thèm quá một khẩu súng &#8211; <em>Súng xưa đâu, thép lạnh lùng</em> (1*)-  Bởi tôi muốn rời khỏi trại tù nầy, đi về Thiên Cấm Sơn, về bên kia biên giới. Có lẽ, những chiến sĩ, những đồng đội của tôi còn đâu đó!  Rồi tôi nghe se thắt cả cõi lòng khi nhớ đến mẹ và đứa em gái nhỏ vừa mới xong trung học, không biết sẽ sống bằng cách nào. Tôi nhớ đến người yêu ở Sài Gòn chưa biết tin. Giờ nầy, chắc em đang ngỡ ngàng với cuộc đổi đời đầy cay đắng!</p>
<p>Một buổi sáng, tiếng gọi tập họp của tên cán bộ đầy hách dịch:</p>
<p>-Đội 5, cho năm người đi lao động. Từ tên nầy, một, hai, ba, bốn, năm &#8211; có tôi trong đó.</p>
<p>Tên vệ binh chừng mười bảy tuổi, mang khệ nệ khẩu AK dẫn đầu cùng năm tên tù ra khỏi cổng rào chừng một, hai cây số.</p>
<p>-Các anh &#8216;nàm&#8217; mỗi người một &#8216;nuống&#8217; đất trồng khoai, cao 3 tấc, ngang 3 tấc, mỗi &#8216;nuống&#8217; dài từ hàng cây “lầy” đến hàng cây kia. &#8216;Nàm&#8217; xong sớm thì nghỉ sớm. Rõ chưa?</p>
<p>Tôi cuốc đất một cách uể oải vì đói. Ở đây, nhìn dãy núi thật gần. Mây mù vần vũ, trời lại mưa.</p>
<p>-Thưa cán bộ, trời mưa!.</p>
<p>-Đã biết! không cần báo cáo. Nhưng các anh phải &#8216;nàm&#8217; xong mới  được về.</p>
<p>Tên vệ binh trùm đầu bằng tấm poncho và đến ngồi co ro bên gốc cây, cạnh nơi tôi đang cuốc. Trời sấm sét, mưa mù mịt. Dãy núi đã biến mất trong làn mưa, chỉ còn loé lên những lằn ánh sáng và tiếng nổ chát chúa nơi hướng núi. Tôi nhớ ba năm trước, lần đánh chiếm lại Núi Dài, đạn bom long trời, lở đất, như cơn sấm sét thịnh nộ ngày hôm nay. Nước mưa thấm lạnh cả thân thể gầy gò, vậy mà lòng tôi bỗng nóng ran như lửa đốt. Một ý nghĩ chợt hiện lên “Sao không nắm lấy cơ hội này để trốn thoát?” Một cán cuốc đập mạnh. Chính xác. Quyết liệt. Vào cái đầu đang trùm poncho xoay lưng lại, tước khẩu AK và chạy về phía núi. Không biết mấy người bạn tù đằng kia sẽ phản ứng ra sao? Tôi nghĩ nhanh, bắt bốn người  kia đi theo một khoảng xa, khi đã an toàn,  ai muốn trở lại trại, tuỳ ý.</p>
<p>Nhìn lại cái khối tròn nhô lên trong tấm poncho, tôi cắn chặt răng. Một cú đập đủ kết liễu mạng người hay ít ra cũng làm cho bất tỉnh. Tôi vận dụng sức lực lên đôi tay, giơ cuốc lên &#8230; rồi lại cuốc đất<em>.</em> Tại sao thằng vệ binh nầy lại ngồi im? Tại sao nó không lên giọng phách lối đáng ghét?  Tôi cố moi trong đầu óc. Tìm.  Kiếm.  Nhớ&#8230; những điều khiến tôi căm thù. Rồi tôi nhớ đến nét mặt và giọng nói đểu giả của tên thiếu tá chính ủy Trần Thâu khi lên lớp &#8220;Bọn ngụy các anh chuyên cướp của giết hại dân lành, tội lỗi của các anh biển Đông rửa cũng không sạch&#8221;.  Hừ! đúng là cái bọn ngậm máu phun người. Bây giờ, ta mới thật sự là kẻ giết người, ta giết bọn bây, cái bọn vừa ăn cướp, vừa la làng! Tôi giơ cuốc lên. Một ánh chớp và tiếng gầm run chuyển đất trời. Tôi lại nghĩ&#8230; nhà thằng nhóc nầy chắc ở miền quê Bắc Việt. Không chừng, mẹ nó cũng đang cuốc đất, trồng khoai, lê lết cuộc sống đói nghèo trong cái xã hội chủ nghĩa. Không chừng, em nó cũng vừa bỏ học để tìm miếng ăn.  Chiếc cuốc chợt run rẩy trong tay tôi.</p>
<p>Tên vệ binh vẫn ngồi co ro bên gốc cây, ôm khẩu súng dựa vai. Hình như nó đang ngủ.  Năm tên tù ướt loi ngoi thất thểu trở về trại. Cái đói vẫn hành hạ bọn tôi một cách tàn nhẫn.</p>
<p>Hai ngày sau, vào một buổi chiều trời vừa sập tối, một loạt AK nổ vang phía Khung 4. Bản tin chuyền nhanh sáng hôm sau, thiếu úy Tuấn bị kiết lỵ, xin đi cầu tiêu, bị tên vệ binh non choẹt  nổ nguyên băng đạn AK vào người khi anh đang quằn mình trong cơn đau bụng vật vã. Tuấn chết tại chỗ, nơi bờ rau muống vừa vượt ngọn. Cán bộ tập họp thông báo, thằng Tuấn cực kỳ phản động, dám giựt khẩu súng của vệ binh để trốn trại, đã đền tội.</p>
<p>Ai cũng biết anh Tuấn có đệ nhị đẳng huyền đai Thái Cực đạo. Nhưng cả tuần nay anh bị kiết lỵ, đi đứng không nổi, nói gì đến chuyện giựt súng, trốn trại! Tôi mở to đôi mắt, nhìn trừng trừng vào tên vệ binh giết người vừa được thăng cấp. Kẻ chiến bại không đủ tàn nhẫn để nện một cán cuốc. Kẻ chiến thắng thì sẵn sàng nhả đạn vào một con người không chút oán thù để lập &#8220;chiến tích&#8221;. Tôi nhìn hắn, hai tay nắm chặt, tự hứa với lòng &#8220;<em>Mai ta đi đòi lại kiếp làm người!&#8221;</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>***</p>
<p>Sau khi thoát khỏi nạn đói nhờ liều mạng ăn chuột cống lang, tôi thấy khoẻ ra, nên bắt đầu luyện tập thể lực để chờ thời cơ. Sáng nào cũng chạy mấy chục vòng sân. Tôi gặp Hồ cũng chạy (sau nầy khi qua đảo, nghe Hồ trốn trại ở Xuyên Mộc, mới nhớ lại chuyện cũ. Thì ra, nó cũng như mình)</p>
<p>Ở Chi Lăng hai năm, tôi được gặp nhiều bạn cùng khóa như Thạnh, Nghệ, An, Điều, Nẫm, Nhơn, Tiễn, Long,  Hồ&#8230; Lúc đó, Nghệ ăn chay trường, hắn ta có tài kể chuyện rất có duyên. Cả nhóm hay ngồi say mê nghe Nghệ kể chuyện &#8220;Tam Quốc Chí&#8221;. Không ngờ, hắn cũng có đầu óc kinh tế, nên đến đoạn gây cấn &#8220;Trận Xích Bích&#8221;, hắn làm eo, làm xách, anh em phải lo lót ít rau muống hay đọt lang để chấm tương mới chịu kể tiếp. Dù được chiều chuộng, nhưng hắn cũng thường dở hơi bất tử. &#8220;Tui mệt quá, ngày mai kể tiếp!&#8221;. Cái thằng! ăn chay trường mà toan tính như  &#8220;ác nhân&#8221;. Có lần tôi đè hắn ra, hăm he sẽ đổ &#8220;dầu hợi&#8221; (mỡ heo) vào miệng hắn. Nghe đến dầu hợi hắn sợ lắm, bắt làm gì cũng làm.</p>
<p>Anh em gặp nhau vui vẻ chẳng bao lâu lại phải chia tay. Tôi bị đưa đến trại Vườn Đào, Mộc Hóa và bị xếp vào diện ác ôn, nguy hiểm, nên không hề được đi ra ngoài công tác, cứ quanh quẩn trong vòng rào, thật khó mà trốn  thoát như dự định. Ở Vườn Đào, tôi tìm được người đồng chí hướng là Nguyễn Đức Tân. Hai đứa bàn kế hoạch, làm sao được xung vào toán mổ heo trong dịp gần Tết (1978) để có cơ hội ra ngoài bờ kinh, từ đó vọt về Cát Lái. Thời cơ đến, ban nhà bếp đang tìm người biết mổ heo. Chúng tôi khai là có nhiều kinh nghiệm “gia truyền”, nhưng giờ chót Tân không được chọn. Một mình ra ngoài, tôi vừa thất vọng, vừa khổ sở, vất vả với hai con heo. Thật sự, trong đời chưa hề đụng đến con heo thì làm sao mà biết mổ. Cuối cùng, đành phải trở lại trại, sau khi chôm chỉa bộ lòng và hai lít rượu đế chia cho mấy thằng bạn.</p>
<p>Sau cơn đại lụt ở Vườn Đào khoảng tháng 6 năm 1978, lòng tôi nôn nóng như ai cào cấu. Phải làm sao đi trong năm nay, vì nghe đâu sẽ bị chuyển đến một trại kiên cố hơn nhiều. Lần nầy, tôi tập họp được ba người bạn. Nguyễn Thạch Bửu, nhiệm vụ tích trữ tiền bạc và thuốc men. Trần Bạch Đằng liên lạc bên ngoài để đưa cả bọn về Vũng Tàu rồi ra rừng Long Khánh (nghe tin có nhóm kháng chiến ngoài đó). Nguyễn văn Tước tích trữ lương khô và cung cấp vật liệu khi tôi cần.Tôi  phụ trách việc đào hầm và chịu trách nhiệm hướng dẫn nhóm về đến Mỹ Tho. Rồi từ Mỹ Tho người của Đằng sẽ đưa về Long Khánh. Đồng ý kế hoạch, chúng tôi bắt đầu thực hiện. Thời điểm để trốn thoát là dịp Tết năm 1979. Chúng tôi tình nguyện gia nhập đội văn nghệ và đăng ký trình diễn vũ khúc Hahiti tự sáng tác. Lợi dụng thời gian ban quản giáo cho phép nhóm được tách riêng ở một góc vắng để tập vũ trong giờ các tù nhân khác nghe đọc sách, chúng tôi cùng nhau bàn bạc kế hoạch. Sau khi đã quyết định, chúng tôi bắt đầu hành động từng bước với lời thề &#8220;Một là thoát, hai là sẽ chống cự đến chết, nhất định không để bị bắt lại và bị hành hạ chết dần mòn như bao nhiêu anh em đi trước&#8221;.</p>
<p>Trước hết là chuẩn bị sức khoẻ để đủ sức băng rừng vượt suối khi cần. Ở trại Vườn Đào, chỉ có mấy cái ao nước tiểu quanh các dãy nhà và ao này sẽ ngập đầy khi con nước lớn.  Mỗi ngày, chúng tôi tập bơi lặn vài tiếng trong cái ao bẩn thỉu đó với tư thế bị trói hai tay. Khu trại Vườn Đào có hai vòng đai. Bên trong cùng là dãy nhà của tù vì được cất giữa đồng hoang, nên bên ngoài những dãy nhà là ao nước. Bao bọc dãy nhà của tù là bờ đê cao, có rào cẩn thận với dãy doanh trại cuả vệ binh. Từ bờ đê trại, vệ binh có một vòng đai cho &#8220;tù&#8221; trồng rau cải, ao cá, cầu xí. Bên ngoài cùng là những lớp rào và vọng gác cuả vệ binh. Ban ngày chúng cho &#8220;tù&#8221; tự do sinh hoạt ở vòng đai ngoài. Vệ binh gác ngoài cùng. Đến sáu giờ chiều thì lùa hết vào trong doanh trại, có bờ đê rào chặt chẽ, đèn điện sáng và hệ thống doanh trại vệ binh canh gác thật nghiêm ngặt. Làm thế nào có thể ở lại bên ngoài an toàn sau sáu giờ để khi vệ binh vào gác bên trong, ta sẽ thoát? Ngồi núp lại dưới hầm cầu thì đã có hai người vượt thoát. Trốn trong hầm ngầm dưới mặt nước ao, trước khi vệ binh lùa vào trong là thượng sách.</p>
<p>Để tránh sự chú ý cuả đám &#8220;ăng-ten&#8221;, chỉ một mình tôi đào hầm  -kiểu hầm ngầm dưới ao cuả VC. Hầm có cửa vào nằm dưới mặt nước, chỉ cần lặn xuống nước thì biến mất trong hầm. Địa điểm hầm được chọn gần ngay dãy trại cuả vệ binh để tránh sự dòm ngó cuả bọn chỉ điểm. Ròng rã suốt một tháng tôi mới đào hầm xong, vì mỗi khi có bạn tù đến gần thì phải ngưng để làm việc khác.  Tôi chôn giấu quần áo, lương khô, thuốc men ở một liếp rau, dùng cỏ khô đậy cửa hang lại kỹ lưỡng, chờ giờ thuận tiện để xuất phát. &#8220;Kế hoạch hành quân&#8221; quyết định sẽ bắt đầu vào chiều 28 tháng chạp năm 1978.</p>
<p>Theo kế hoạch, đúng 5 giờ 25 chiều, bốn người sẽ ngồi chăm bón rau gần hầm, khi thấy không  có ai chú ý thì tôi sẽ phóng xuống ao vào hầm trước,  lần lượt  Đằng, Bửu, Tước sẽ theo sau. Nhưng cho đến 5 giờ 15, tôi vẫn chưa rời khỏi phòng được, vì T, một tên &#8220;ăng-ten&#8221; khét tiếng cuả đội 3 cứ quanh quẩn nhìn tôi bằng cái nhìn dò xét. Trong lòng tôi nơm nớp lo sợ, không lẽ anh ta đã đánh hơi được cái gì? Nếu mình ra ngoài, hắn đi theo thì tiêu tan kế hoạch. Tôi phải đánh lạc hướng bằng cách đi tắm, và chăm sóc con gà sắp đẻ mà tôi đã nuôi mấy tháng nay. Đến 5giờ 30, có một người bạn kéo T. đi đánh pingpong ở đội 5 (T. hiện ở CaLi. Không biết anh ta có lần nào bị ray rứt vì những chuyện đã làm?). Khi hắn đi khuất, tôi bỏ con gà, chạy một mạch ra điểm hẹn. Đến nơi thì hỡi ôi!  cả người tôi lạnh toát!. Đằng đang ướt loi ngoi ngồi cạnh bên Bửu và Tước, giã vờ nhổ cỏ. Gần đó, anh Đức đang cuốc đất và vài người nữa đang chăm sóc luống rau, câu cá. Tôi hỏi, Đằng cho biết là đã đến giờ hẹn mà không thấy tôi, nên liều mạng xuống ao trước, nhưng không thấy cửa, lại leo lên bờ ngồi đó. Nhận thấy tình hình không thể chui vào hầm lúc nầy, tôi bảo Đằng phải vào thay quần áo thật nhanh và trở lại, đừng để người xung quanh chú ý. Khoảng mười phút sau, Đằng trở ra. Chỉ còn mười phút nữa. Vài người gần đó đã đi vào trại. Chỉ còn anh Đức đang cuốc đất cách chúng tôi chừng mười lăm mét. Chưa biết tính sao thì Trần Văn An lù lù đi tới và ngồi xuống cạnh tôi. Lại thêm một rối rắm nữa. Với cái giọng cà tửng, An nói:</p>
<p>-Tao ngồi chơi với mầy, chừng nào mầy vô, tao vô luôn.</p>
<p>Suốt mấy năm ở trại, chưa bao giờ An chơi kiểu nầy, vậy mà ngay phút giây sinh tử cuả bọn tôi, không biết ma xui, quỷ giục làm sao hắn lại xuất hiện. Tôi không hề sợ An khai báo nếu biết sự thật, nhưng tôi sợ An sẽ xúc động, không giấu được nét lo âu, có thể làm  bọn &#8220;ăng-ten&#8221; chú ý, nên năn nỉ hắn:</p>
<p>-Mầy vô trước nấu trà thơm, tao sẽ mang bánh ngọt qua, anh em mình nhâm nhi tối nay.</p>
<p>Thấy An có vẻ chần chừ, tôi đẩy An đi mà lòng chợt bồi hồi, không biết có còn gặp lại nhau nữa không?</p>
<p>Chỉ còn mười phút phù du. Anh Đức vẫn thản nhiên cuốc xới. Cuối cùng, tôi phải quyết định táo bạo. Bước lại gần anh, tôi nói nhỏ:</p>
<p>-Anh vào ngay đi, đừng ở đây bị liên lụy, tụi tôi vượt trại ngay bây giờ.</p>
<p>Anh Đức ngưng cuốc nhìn tôi, mặt tái xanh:</p>
<p>-Vượt trại?</p>
<p>-Ừ! ngaycái ao nầy. Coi như anh chưa từng nghe tôi nói gì, đi ngay đi.</p>
<p>Anh Đức buông cuốc đi một mạch. Anh là người rất hiền lành và tốt bụng nên đã không báo cáo để hại bạn. Nếu tình cờ đọc được những dòng chữ nầy, xin anh Đức nhận nơi đây lời cảm ơn muộn màng của chúng tôi.</p>
<p>Ngay tức khắc, chúng tôi lặn xuống ao, chui vào hầm. Cái hầm rất nhỏ, vừa đủ cho bốn người ngồi ôm nhau thật sát. Chúng tôi chỉ mặc vỏn vẹn chiếc quần đùi. Mực nước cao sát cằm. Cảm giác đầu tiên giống như bị cù lét, nhột nhạt không thể tả. Cái nhột nhạt do ôm nhau ở dưới nước làm cả bốn người không thể nín  cười được, dù không ai muốn cười trong hoàn cảnh nầy. Càng cố nín cười không thành tiếng, thân mình càng bị run lên và cọ quẹt vào nhau nên, càng nhột nhạt. Càng nhột, lại càng cười. Khoảng hơn mười phút sau, cơn cười mới lắng dần vì ngộp thở. Bọn tôi mệt lã vì thiếu không khí, do lỗ thông hơi quá nhỏ.  Khi vào hầm thử thì chỉ có mình tôi và mực nước thấp, nên không lường được hậu quả nầy. Cả bọn phải dùng tay móc thêm lỗ thông hơi nhưng vẫn không đủ không khí để thở.</p>
<p>Không thể chờ đợi đến gần khuya cho thật an toàn như kế hoạch, tôi quyết định phải chui ra, ngay khi ánh sáng từ lỗ hỏng hơi mờ nhạt. Có lẽ, lúc ấy khoảng hơn bảy giờ. Tôi bới tìm túi quần áo đã chôn dấu, bơi qua hồ cá tra, lần lượt cả bọn bò ra khỏi các hàng rào. Trời tối dần. Nhìn lại vòng đai canh gác, đèn điện sáng choang, thấp thoáng bóng dáng mấy tên vệ binh qua lại và văng vẳng tiếng lao xao của anh em bên trong. Chúng tôi tiếp tục bò đi trong rừng cỏ hoang của đồng tháp chừng một cây số mới dám đứng lên. Quay nhìn một lần nữa khu trại tù với ánh đèn lấp loáng. Vĩnh biệt mi, trại tù hắc ám đang giam hãm cả một thế hệ trai trẻ.</p>
<p>Phiá trước là đồng hoang tối đen như mực. Tương lai mình sẽ về đâu? Tôi tự hỏi với một thoáng hoang mang, nhưng dù sao, lòng đã quyết, không thể tiếp tục khuất phục trước kẻ thù. Cỏ lác cao tận cổ, chúng tôi nắm chặt tay đi hàng ngang vì sợ lạc. Có nhiều lần, bốn tên bất ngờ bị lọt xuống trủng sâu làm điếng hồn, rồi lại bò lên đi tiếp. Đi liên tục khoảng bốn tiếng trong bóng đêm dầy đặc, không nhìn thấy gì ở xung quanh. Có lẽ, Ơn Trên đã làm phép lạ, nên bốn thằng chúng tôi, chỉ vỏn vẹn chiếc quần đùi, đi chân không, chen giữa rừng cỏ lác cao ngang đầu, bằng những bước hối hả, vậy mà không ai bị thương tích hay sướt da. Chúng tôi định hướng được Sài Gòn qua vùng sáng lớn nhất. Nhờ định phương hướng bằng sao trời, chúng tôi tìm ra được hướng Cai lậy và Mỹ Tho, nên quyết định đi về con đường lộ xe chạy &#8211; từ Cai lậy đến Vườn đào- rồi băng qua lộ, xuống đồng luá, đi về Trung Lương, từ đó, tìm xe đến  Mỹ Tho. Tiếp tục bước chân trần trên cỏ lát và bóng đêm, cho đến khi cả bọn bị lọt tủm xuống một ao nước sâu mới biết rằng đã kề cận với xóm nhà ven con kinh.</p>
<p>Bơi qua con kinh, tiếp tục đi khoảng hai tiếng nữa về hướng đèn Mỹ Tho thì gặp con kinh lớn cặp ven lộ Cai Lậy. Lúc đó, xem đồng hồ là hai giờ ba mươi sáng. Tôi nghĩ, nếu tiếp tục băng qua lộ đá xuống đồng, đi về Trung Lương như kế hoạch cũ thì có thể đến sáng, cả bốn người còn lang thang giữa đồng. Khu đó là đồng luá, những người làm việc sẽ thấy, vậy chẳng khác nào “lạy ông con ở bụi nầy!&#8221;.  Vì thế, tôi quyết định lên lộ đá, đi thẳng ra Cai lậy, đón xe về Mỹ Tho, vì nghĩ rằng bọn cán bộ không bao giờ ngờ chúng tôi dám trốn ra Cai lậy.</p>
<p>Chúng tôi qua lộ đá, tìm chỗ tắm rửa, thay quần áo sạch. Lần nầy, thay đổi chiến thuật là đi công khai. Vừa đi, vừa nói chuyện, đuà giỡn ỏm tỏi như mới đi nhậu về. Thỉnh thoảng, cũng có vài căn nhà ven lộ thức dậy, chuyển hàng xuống ghe. Gặp một chiếc xe máy ba gác chở hàng, chúng tôi đón lại xin quá giang ra chợ. Người đàn ông lớn tuổi không hề thắc mắc, chở chúng tôi đi. Đến Cai Lậy chợ cũng vừa họp. Sau khi mua cho mỗi người một đôi dép, chúng tôi tản ra như bốn người xa lạ, theo xe lam ra đến Mỹ Tho lúc sáu giờ ba mươi sáng.</p>
<p>Khi ghé vào tiệm hủ tiếu ăn sáng &#8211; có lẽ, đây là tô hủ tiếu và ly cà phê ngon nhất trong đời tôi &#8211;  mới khám phá ra tai cuả tôi và Tước còn dính bùn đất. Sau khi ních một bụng no nê, cả bọn nhìn nhau cười thoải mái, dù chưa biết chuyện gì sẽ xảy ra kế tiếp. Ăn xong, ba chúng tôi ngồi chờ Đằng tìm địa điểm, nơi sẽ đón bọn tôi. Một tiếng sau, Đằng trở lại cho biết, ở nhà đó, không người nào có tên như mẹ Đằng đã nói. Đến tìm đúng số nhà, nhưng chủ nhà không biết gì cả, và họ lại là người Tàu không rành tiếng Việt &#8211; Sau nầy mới biết, trong lần thăm nuôi chót, mẹ Đằng chưa kịp nói đủ mật mã để nhận diện ở Mỹ Tho thì đã bị cán bộ đuổi về. Chúng tôi quá đỗi kinh hoàng, vì không biết đi đâu và sẽ làm gì trong hoàn cảnh nầy. Biết tìm đâu ra chỗ trú ngụ an toàn trong khi chờ Đằng liên lạc với mẹ của anh ở Vũng Tàu? Gần bốn năm trong tù, nay trở về phố lạ, chúng tôi lạc lõng, ngơ ngáo thật tội nghiệp. Ly cà phê bỗng đắng đến rợn người.</p>
<p>Đang miên man suy nghĩ phải giải quyết thế nào, tự nhiên tôi chợt nhớ số nhà cuả Phan Tấn Lộc, người bạn tù cùng tổ khi anh tâm sự về  gia đình. Lộc còn một mẹ già, vợ và hai đứa con nhỏ. Để ba người bạn ngồi lại, tôi vội đón xích lô tìm nhà Lộc. Đến con hẻm nhỏ, tìm đúng số nhà, tôi bước vào thì gặp một bác người Nam còm cõi, áo có nhiều miếng vá. Tôi đoán là mẹ cuả Lộc, nên hỏi vài câu để thăm dò. Khi biết đúng là bà, tôi thú thật là bạn của Lộc đang ở trong tình huống cùng đường. Vừa nghe qua, bà đứng dậy, chạy đến, ôm đầu tôi nghẹn ngào trong nước mắt:</p>
<p>-Con ơi là con! tội nghiệp các con, cứ đưa anh em đến đây đi rồi tính sau.</p>
<p>Tôi xúc động đến lặng người, không nói được lời cám ơn! Lòng can đảm và tình thương vô biên cuả một người mẹ già xa lạ đã cứu chúng tôi trong lúc nguy nan.</p>
<p>Trở lại quán ăn, chúng tôi bàn tính làm sao để cả bốn thanh niên lạ mặt vào nhà bà mà không bị  hàng xóm để ý. Hôm đó là ngày hai mươi chín Tết, chúng tôi giả dạng là những người cháu họ của bà từ  miền Tây đến thăm với nhành mai, dưa hấu trên tay, cười nói vui vẻ bước vào con hẻm. Căn nhà thuê thật chật hẹp nằm trong dãy nhà cuối hẻm gồm bốn căn, ngăn cách nhau bằng những tấm vách gỗ. Từ ngày Lộc đi tù, gia đình chỉ còn bà mẹ và vợ với hai đứa con nhỏ năm, bảy tuổi. Chị Lộc phải đi bán vé số để sinh sống qua ngày. Nhà nghèo đến độ bà mẹ già lom khom ra chợ, nhặt lá cải vụn bị loại bỏ, đem về làm dưa chua ăn Tết, nhặt từng cọng lá chuối khô, rơm rác bỏ phế ở để làm củi. Bao nhiêu tiền bán vé số cuả chị Lộc đều dành mua thực phẩm đi thăm nuôi Lộc. Gia đình chỉ sống lây lất qua ngày bữa cháo, bữa rau không đầy bụng.</p>
<p>Hôm đó, chúng tôi trú ngụ trong phòng của chị  Lộc &#8211; thật ra chỉ là một chiếc  giường tre, được ngăn bằng  tấm màn vải &#8211; để chờ chị  Lộc đi Bến Tre liên lạc với người bà con, nhờ họ báo cho mẹ của Đằng ở Vũng Tàu tìm cách đưa chúng tôi đi khỏi Mỹ Tho. Chúng tôi nằm chờ tin. Một ngày, một đêm chầm chậm trôi qua chừng như nghẹt thở! Đến trưa ngày hôm  sau –ba mưoi Tết-  chị Lộc trở về nhà, với nét  mặt hốt hoảng chị cho  biết,  bé Thành, con trai nhỏ của chị, sang khoe với đứa bạn ở căn nhà sát vách &#8220;nhà tao có bốn chú trốn tù&#8221;. Mẹ của đứa bé nghe được liền cho chị Lộc biết. Không bao lâu, có một tên công an trẻ đi đến nhà bên cạnh, chẳng biết làm gì, rồi hắn lại đi một cách vội vã. Trong lo âu, hồi hộp, chúng tôi bàn cách đối phó, nếu bị khám nhà bất ngờ và tìm cách ra khỏi căn nhà nầy mà không phải đi bằng lối ra vào duy nhất là con hẻm nhỏ phía trước. Đây là con hẻm cụt, phía sau dãy nhà chị Lộc là một cái ao nước đen, không có đường đi. Xóm nhà trong hẻm nầy chỉ có mấy căn, ai cũng biết nhau. Hai ngày qua, chúng tôi im phăng phắc trong nhà, bây giờ tự nhiên có bốn người thanh niên lạ bước ra, rất dễ bị để ý và nghi ngờ. Bên phải nhà chị Lộc là một căn nhà lầu cao, có rào kẽm gai bao quanh. Chị Lộc cho biết, nhà nầy có cô gái tên Nhung là bạn thân của chị.  Tôi thầm nghĩ, đường thoát ra ngoài đã có chút ánh sáng.</p>
<p>Vách nhà chị Lộc bằng gỗ cũ kỹ, sát với hàng rào kẽm gai nhà bên cạnh. Nếu được sự thương tìnhcủa chị Nhung, chúng tôi sẽ cắt vách, cắt rào, chui qua nhà chị là có thể đi thẳng ra đường lớn phía trước, không phải qua con hẻm. Đánh bạo một ván bàn tẩy, tôi xin chị Lộc mời chị Nhung sang để nhờ chị giúp đỡ. Nhìn bốn  tên tù vượt ngục quá đỗi thảm thương, nên chị Nhung đồng ý. Chị trở về nhà, cắt một lỗ rào, bên nầy tôi cắt một lỗ ván dưới ngay gầm giường và chui qua sân sau nhà chị Nhung. Từ nhà chị Nhung, chúng tôi tản ra phố Mỹ Tho đến một giờ đêm mới trở lại để dò la tình hình. Thấy có vẻ bình thường, chúng tôi chui rào, qua vách để trở lại nhà chị Lộc. Đêm hôm sau cũng “di tản” như thế. Ban ngày, thay phiên nhau gác ở cửa trước và lúc nào cũng trong tư thế sẵn sàng chui qua lỗ rào thoát thân, nếu công an tới khám nhà.</p>
<p>Đến sáng ngày mùng hai Tết, mẹ của Đằng nhận được tin đã đến đưa chúng tôi đi Vũng Tàu. Mọi người đều mừng khi vượt qua được một đoạn đường khó khăn. Mẹ và vợ của Lộc đã tiễn chúng tôi đi với hàng nước mắt. Ôm vai tôi, mẹ của Lộc nói:</p>
<p>-Mẹ cầu cho các con đi bình an vô sự. Khổ cho các con!</p>
<p>Tôi chỉ biết cầu Chúa ban phước lành cho người mẹ già và gia đình nhân ái nầy. (Năm 1987, gia đình Lộc đã được một người quen cho đi vượt biên. Hiện nay, anh chị Lộc rất thành công tại SC).</p>
<p>Khi ngang qua Sài Gòn, tôi xin được vài mươi phút để ghé thăm Nguyệt, người con gái tôi yêu và yêu tôi, đã mòn mỏi đợi chờ tôi suốt tám năm qua. Lúc ấy, tôi đang học quân sự ở Đà Lạt. Ra trường, nhận đơn vị chiến đấu, ngày từng ngày đối diện với cái chết, tôi không dám nghĩ đến chuyện kết hôn. Trong những năm tôi đi tù, em đã ba lần tìm kiếm để thăm tôi. Lần thăm cuối cùng ở Vườn Đào, tôi đã nhét vào tay em một lá thư thay lời vĩnh biệt, vì tôi không biết tương lai mình ra sao khi vượt trại. Gặp nhau, hai đứa nghẹn ngào, không nói được những gì cần phải nói đã đến phút chia tay. Em &#8211; người con gái yếu đuối với tình yêu bất hạnh. Tôi &#8211; người trốn tù biệt xứ hôm nay. Cuộc tình này rồi sẽ đi về đâu?  Vừa ngỡ ngàng như đang trong giấc mơ, vừa hoang mang không biết nên hy vọng hay tuyệt vọng trong niềm đau hay hạnh phúc. Trong thời khắc ngắn ngủi còn lại, chúng tôi lặng yên như khối đá, tay nắm tay, không nói được một lời.</p>
<p><em>“Em lặng nhìn rất vội lúc chia phôi,</em></p>
<p><em>Tôi mạnh bước mà nghe hồn nhỏ lệ” (2*)</em></p>
<p>Chỉ hai câu thơ nầy mới diễn tả trọn vẹn tâm trạng chúng tôi trong giây phút cuối cùng còn được nhìn thấy nhau. Nhìn em nhạt nhòa trong dòng nước mắt, với câu hỏi như lời ai oán “Bao giờ mình sẽ gặp lại hở anh?”.Tôi lắc đầu “Anh không biết!” rồi vội vã ra khỏi cổng rào. Nhưng chỉ vài bước tôi quay lại, cầm tay em nói một cách quả quyết “Anh tin mình sẽ có ngày gặp lại”, rồi cúi đầu bước nhanh vào dòng người đang ngược xuôi trên đường phố. Những giọt nước mắt nghẹn ngào, đau xót cùng với tình yêu chung thủy, nồng nàn cuả em trong những ngày tháng cùng cực, bi thảm ấy đã là sợi chỉ hồng tươi thắm, cột chặt cuộc đời chúng tôi vào nhau cho đến ngày hôm nay và suốt quãng đời còn lại.</p>
<p>Ở Vũng Tàu mười ngày, cứ đêm đến, để an toàn, bốn anh em chúng tôi phải trèo tường lên nóc nhà để ngủ. Ngày qua ngày, chúng tôi chờ đợi trong lo âu hồi hộp mà vẫn không liên lạc được với nhóm kháng chiến nào! Khi hỏi ra mới biết, sự thật mẹ Đằng cũng chỉ nghe đồn thôi chứ chưa hề gặp họ. Đến nước nầy đành phải trở lại Sài gòn để tìm chỗ nương thân.</p>
<p>Trở lại nhà Nguyệt, tôi được ba má em đón tiếp ân cần và sẵn sàng chứa chấp cho đến khi nào có đường đi. May mắn cho tôi, lại một lần nữa gặp được tấm lòng nhân hậu vô lượng. Sáu tháng trôi qua vẫn chưa bắt liên lạc được với đường dây kháng chiến nào. Tình yêu chúng tôi càng thêm tha thiết, mặn nồng. Em nhất quyết, dù ở bất cứ hoàn cảnh nào cũng chờ đợi tôi và chỉ yêu một mình tôi. Thế là chúng tôi vui vẻ đánh ván bài liều: làm lễ hỏi &#8211; thật kín đáo, chỉ trong gia đình &#8211; và tìm đường vượt biên.</p>
<p>Ba tháng sau, tôi bắt được đường dây vượt biên ở Rạch Sỏi, nhưng vì không đủ tiền tôi đành bỏ lại sau lưng mối tình sâu đậm, một mình dấn thân vào nơi sóng gió. Đêm chia tay nhau, em chỉ toàn nước mắt và nước mắt. Tôi bước chân đi mà lòng đau như cắt.</p>
<p>Trên đường đưa ra tàu lớn ở Sông Cái, chiếc ghe nhỏ chở  tôi và Bửu bị chận bắt ở đồn công an Rạch Sỏi, với đầy đủ  hải bàn và hải đồ trên ghe. Tôi nghĩ, nếu lọt vào tay bọn chúng thì chỉ có một con đường duy nhất là chết. Vì vậy, lợi dụng lúc tên công an đang mò mẫm từng chữ để viết báo cáo, tôi ngầm ra hiệu cho bác lái tàu. May mắn thay, bác bắt được ý tôi. Bất thần tôi phóng xuống ghe, bác tài giật máy và chiếc ghe lướt đi giữa những làn đạn bay vun vút trên đầu.</p>
<p>Về lại Sài gòn sau hai tuần lưu lạc, nhìn người vợ chưa cưới của mình héo hắt như cọng cỏ khô mà lòng tôi xót xa, bồi hồi. Gặp lại nhau, em mừng vui như tôi vừa sống lại. Ngay giây phút ấy, tôi nói với em, sẽ không bao giờ tôi đi một mình nữa, dù ở lại có chết cũng cam lòng. Từ đó, tôi bắt đầu một cuộc phiêu lưu để tìm đường vượt biên. Tôi lặn lội, tìm kiếm những bạn bè ở vùng sông biển để rủ rê, bàn tính kế hoạch. Nhưng với hai bàn tay trắng, không một đồng dính túi, bạn bè, đứa nào cũng nghèo xác, nghèo xơ, nên cuối cùng tôi đành phải vào làm công cho một lò đường ở ven sông Cửu Long, thuộc tỉnh Vĩnh Bình, để chờ thời cơ. Nhớ những ngày vác mía trầy trụa đôi vai, đầu bù tóc rối mà thương cho những người cơ cực trong cuộc sống.</p>
<p>Gặp lúc chủ lò đường làm ăn khó khăn, nợ nần tứ phía, không biết cách nào giải quyết, tôi khuyên nên tổ chức vượt biên, tìm khách đóng đủ số vàng đang cần, để lại cho gia đình trả nợ rồi ra đi. Người chủ đồng ý, chúng tôi bắt tay nhau tiến hành, sửa chữa chiếc ghe &#8220;cà dom&#8221; nhỏ, dài chín mét, ngang hai mét. Tôi đi một vòng để tìm người góp tiền vượt biên. Lặn lội tìm bạn bè khắp nơi từ Châu Phú, Long Xuyên, qua Phụng Hiệp, Cần Thơ, Long Hải đến đâu cũng gặp tình cảnh nghèo xác xơ của những người bạn mới ra tù. Từ giã bạn, tôi bước đi mà lòng chua xót, tội nghiệp bạn mà cũng tội nghiệp cho chính thân mình.</p>
<p>Tôi bắt đầu học lái ghe trên sông và đi qua lại các trạm biên phòng nhiều lần để dò đường. Từ sông ra biển không có gì đáng ngại. Nhưng ra đến ngoài biển thì làm sao lái tàu đến nơi? Một bài toán nan giải. Những ngày về Sài gòn, tôi lang thang trong chợ sách cũ để tìm&#8230; Ngày từng ngày vẫn hững hờ trôi qua. Bỗng một hôm, tôi nhìn thấy quyển sách có nhan đề &#8220;Cách xử dụng hải bàn khi đi biển&#8221; treo lơ lửng trên sợi dây trước cửa hàng  sách. Chúa ơi! có phải Ngài đang ra tay! Tôi cầm ngay cuốn sách và hỏi giá. Cô bán sách tươi cười với đôi mắt có đuôi:</p>
<p>-Chỉ có tám mươi đồng thôi anh ơi! .</p>
<p>Móc hết tiền trong túi, chỉ vỏn vẹn có mười đồng. Tôi năn nỉ:</p>
<p>-Cô làm ơn cho tôi đặt tiền cọc và cất quyển sách này vào trong dùm, chiều nay tôi sẽ trở lại mua.</p>
<p>Tôi chạy đi tìm Nguyệt, lúc đó đang làm việc ở trường Dược. Hai đứa tìm Tuyết Nga, đứa em nuôi, cầu cứu. Nga cũng không có tiền, nên cho mượn chiếc máy may để đem cầm. Tôi trở lại mua sách với tất cả sự hân hoan và niềm hy vọng.</p>
<p>Trở lại Vĩnh Bình, tôi tiếp tục nghiên cứu, sửa chữa chiếc ghe và trôi nổi, thao dợt nhiều ngày tháng trên sông. Ngày 19 tháng 3 năm 1982, vợ chồng tôi xuống tàu ra khơi khi đứa con gái đầu lòng vừa sinh được một tháng mười tám ngày. Vượt qua một đêm sóng gió kinh hoàng, tưởng cả tàu đã chìm nghỉm trong những lượn sóng đen ngòm như bàn tay tử thần vươn tới. Sau ba ngày lênh đênh trên biển chẳng biết đâu bờ bến, chỉ nhìn sao và hải bàn, định hướng Nam mà đi. Nước uống và lương thực trên tàu đã gần cạn, tôi vô cùng lo lắng. Đến đêm thứ ba, nhiều người trên ghe nhìn thấy ánh sáng chợt hiện, chợt tắt ở hướng Đông, mọi người cho rằng đó là đất liền, nên yêu cầu tôi đổi hướng. Tôi hoang mang, vì theo hải đồ phải đi hướng Nam mới đến Nam Dương (Indonesia), còn hướng Đông thì vào vô tận&#8230; làm sao tôi dám đổi hướng với những dự đoán mơ hồ. Nhưng nếu tôi vẫn giữ hướng nầy và nếu tàu đi biền biệt &#8230;? Trong nỗi phân vân lo lắng tôi chắp tay cầu nguyện <em>&#8220;Khi xưa Thánh GiuSe và Mẹ Maria đã đưa Chúa vượt biên sang Ai Cập để tỵ nạn, nay chúng con cũng vượt biển nguy nan. Con xin phó thác trong tay Chúa, xin Ngài cho một dấu hiệu để con biết đường nào đúng để đi!&#8221;</em>. Vài phút sau, một ánh sao băng từ giữa bầu trời rơi xuống chân trời thật chậm, đủ để tôi nhìn vào hải bàn và thấy đúng ngay hướng ghe đang đi. Tôi mừng rỡ, vì tin rằng đó là dấu chỉ nhiệm mầu. Và bằng niềm tin vững vàng, tôi thông báo với mọi người rằng tôi quyết định không đổi hướng.</p>
<p>Ngày hôm sau, chiếc ghe nhỏ mỏng manh giữa trùng dương mang theo ba mươi ba người, trong đó có một đứa bé vừa ra đời, chưa tròn hai tháng và một em bé còn trong bụng mẹ, gặp được tàu giàn khoan của Mỹ. Chiếc tàu lớn đã vớt chúng tôi, vì có người phụ nữ đang chuyển bụng sắp sinh con và sau đó đã đưa chúng tôi vào đảo Kuku, Indonesia.</p>
<p>Vừa tới bờ, sắp xếp xong chỗ ở, tôi bước vào căn nhà nguyện nghèo nàn trên đảo, hai bên vách đầy những hàng chữ nguệch ngoạc tạ ơn. Tôi quỳ phục xuống đất, nước mắt tuôn trào. Trong những dòng nước mắt hạnh phúc vì đã vượt qua được muôn ngàn gian truân, nguy hiểm, có những giọt lệ xót xa khi biết rằng mình đã bỏ lại quê hương thân yêu ở phía sau, nơi đó có mẹ già và anh chị em, biết đến bao giờ mới gặp lại []</p>
<p><strong>Trần Yên Hạ<br />
</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em>(1*) thơ Thảo Nguyên</em></p>
<p><em>(2*) thơ Uyên Thao</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> </em></p>
<p>©T.Vấn 2019</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/tran-yen-ha-nhung-chang-duong-chong-gai/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Đỗ Xu&#226;n T&#234;: Th&#225;ng S&#225;u v&#224; T&#244;i</title>
		<link>https://t-van.net/do-xun-t-thng-su-v-ti/</link>
					<comments>https://t-van.net/do-xun-t-thng-su-v-ti/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Đỗ Xuân Tê]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 15 Jun 2015 22:02:28 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Ghi Chép]]></category>
		<category><![CDATA[chuyện tù]]></category>
		<category><![CDATA[ghi chép]]></category>
		<category><![CDATA[đỗ xuân tê;]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=22257</guid>

					<description><![CDATA[Tháng sáu trời mưa Tôi đưa em về dưới quê Tôi đi học tập hẹn nhau một tháng anh về… Ngày tháng của cộng sản cứ thế kéo dài như cao su. Hẹn nhau một tháng sẽ về (như thông cáo của ủy ban quân quản) nhưng đôi tình nhân trong phút chia tay không [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://vanhocnghethuat.files.wordpress.com/2012/06/giot_mua.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2015/06/clip_image0022.jpg?strip=all&fit=354%2C228" alt="clip_image002" width="354" height="228" border="0" /></a></p>
<p><i>Tháng sáu trời mưa</i></p>
<p><i>Tôi đưa em về </i></p>
<p><i>dưới quê</i></p>
<p><i>Tôi đi học tập</i></p>
<p><i>hẹn nhau </i></p>
<p><i>một tháng anh về…</i></p>
<p>Ngày tháng của cộng sản cứ thế kéo dài như cao su. Hẹn nhau một tháng sẽ về (như thông cáo của ủy ban quân quản) nhưng đôi tình nhân trong phút chia tay không hề biết tháng sáu 13 là ngày đại bịp. Để rồi người vợ trẻ cứ vô vọng ngóng trông.</p>
<p><i>Đã bao mùa mưa </i></p>
<p><i>Hàng cau trước ngõ</i></p>
<p><i>Trổ bông bao lần</i></p>
<p><i>Anh vẫn biệt tăm…</i></p>
<p>Đâu có ai ngờ dã man đến độ ‘một tháng’ trở thành 5 năm, 10 năm, 15 năm, 17 năm, có khi thành thiên thu như số phận nhiều người đã vùi thân trên đất Bắc.</p>
<p>Từ sau ngày Sài gòn tắt thở người miền Nam quen gọi biến cố 30-4 là ngày Quốc hận. Nhóm từ này đã có từ hồi 1954, khi đất nước bị chia cắt và hơn triệu người đã di cư từ Bắc vô Nam.</p>
<p>Lịch sử lập lại hai mươi năm sau, lần này không phải vì chia cắt mà lại là gắn liền hai mối Bắc-Nam. Trớ trêu thay, hai chữ quốc hận vẫn còn tồn tại, không hẳn là mối hận của dòng người bỏ nước ra đi sau tháng tư đen, mà cũng là nỗi đau khôn nguôi của những người dại lầm ở lại.</p>
<p>Đau vì phải sống dưới một chế độ độc tài toàn trị, khổ vì phải ăn nằm với một xã hội thiếu thốn đói khổ triền miên. Hệ quả là người dân hai miền phải làm quen với lối sống lọc lừa, sản phẩm của những ngôn từ, chủ trương đại bịp.</p>
<p>Chẳng phải tự nhiên mà cái chủ nghĩa xa lạ mang tên Chủ Nghĩa Xã Hội được những người bên thắng cuộc vinh danh hết mức, lại trở thành nhóm từ ‘<i>Cứ Nói Xạo Hoài’</i> trên môi miệng của cư dân phía Nam. “Xạo”, một tĩnh từ đặc thù của ngôn ngữ Nam bộ có nghĩa phổ cập là nói dối, nói điêu, nói không đúng sự thật, nói không có cơ sở, nói để lừa, nói để bịp…thường ám chỉ và gắn liền vớì những kẻ có ý đồ lừa lọc, nhưng ở đây lại là một chế độ, một chủ trương cố tình cố ý để tồn tại và đánh bại kẻ thù.</p>
<p>Nếu sự kiện 30-4 được coi như canh bạc bịp, khi phía Bắc Việt không tôn trọng cái hiệp định mà họ đã ký trước đó hai năm, quyết lấn đất dành dân xua quân tiến chiếm các phần lãnh thổ trọng yếu của miền Nam, từ cao nguyên đổ xuống đến Trị Thiên đổ vào buộc các lực lượng phía Nam bị dồn vào thế bị động dẫn đến cảnh cả một chế độ bị bức tử, một quân đội bị tan hàng, một đất nước bị tan hoang, để từ đây kẻ tự coi là thắng cuộc mặc tình thao túng và trị dân theo lối luật rừng.</p>
<p>Cái đáng nói là sau tháng tư đen, những người thua cuộc trở thành những nạn nhân của một cuộc trả thù không hề thương sót có một không hai trong lịch sử từ ngày dựng nước. Máu lại đổ, nước mắt lại chảy, nhưng không giống cảnh đấu tố, bỏ tù công khai như cảnh tượng xảy ra ở miền Bắc khi cộng sản họ chiếm được nửa nước. Lần này tinh vi hơn, dã man hơn được che dấu bởi cái vỏ bọc mang nhãn hiệu ‘nhân đạo, khoan hồng’, thực chất đã đọa đầy hàng trăm ngàn sĩ quan, công nhân viên và những người ít nhiều dính líu đến chế độ cũ.</p>
<p>Nhân nhớ ngày đại bịp (tháng sáu 13, 1975), với tư cách người lính già và cũng là nạn nhân của 13 năm xé lịch, tác giả chỉ xin đề cập đến diện bị trả thù ác liệt nhất chiếm tỷ lệ tuyệt đại đa số trong các nạn nhân là thành phần chủ lực của chế độ, các sĩ quan của Quân lực VNCH. Cộng sản họ thù diện này nhất vì họ cho là trực tiếp cầm súng chống họ trong suốt chiều dài cuộc chiến, và vốn cảnh giác họ phải xử lý thế nào để tập thể này phải thuần phục, không còn là mối đe dọa cho chế độ khi hai miền đã ngừng tiếng súng.</p>
<p>Cái khó là trong cảnh xã hội mới đổi đời, tình hình còn phức tạp tùy nơi tùy chỗ, làm sao để đưa đám người này vốn có trình độ, vừa bán tín bán nghi về chính sách của nhà cầm quyền, lại nằm lòng câu nói của ông Thiệu, “<i>đừng nghe những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm”, đ</i>ể chịu ngoan ngoãn chui vào rọ một cách êm ái, tự nguyện, tránh cảnh gây rối, tuyên truyền phản động, thậm chí chống đối dẫn đến bạo loạn, gây khó xử cho chánh quyền quân quản sở tại.</p>
<p>Nói vậy trong số anh em chúng tôi vẫn còn nhiều người rất ngây thơ vì đa phần sanh đẻ rồi lớn lên ở miền Nam chưa hề có chút trải nghiệm nào về cộng sản, thậm chí ngay cả những người Bắc di cư cũng bị lừa cháy túi, điển hình là viên trung tá lái tàu về từ đảo Guam yên chí sẽ được khoan hồng đã đi rồi lại quay về, hệ lụy là được nhà nước tiếp đón bằng mười hai năm cải tạo trên đất Bắc, nơi ông này đã xuống tàu há mồm cùng cha mẹ dắt díu nhau vào Nam hồi 1954.</p>
<p>Bằng thủ thuật lọc lừa của những người cộng sản, phe thắng cuộc chế ra cái gọi là chính sách khoan hồng 10 điểm, rồi ngụy danh dưới danh nghĩa học tập cải tạo, tùy theo cấp bậc, hạ sĩ quan chỉ học một tuần, hàng sĩ quan thì đi một tháng, kẻ trước người sau cứ trình diện học tập cho tốt sẽ được khoan hồng trở về lương thiện làm ăn. Dứt khoát không có hiện tượng tắm máu như bọn láng giềng Pôn-Pốt, không có chuyện trả thù như bọn cộng sản Trung-Xô. Việt nam mình khác, Bắc-Nam xum họp một nhà/dù sao đi nữa cũng là anh em, ai nỡ hại nhau.</p>
<p>Cái tài tình và tinh vi là họ làm đúng một phần lời hứa, cả nửa triệu hạ sĩ quan học ngay ở phường, đúng một tuần là …tốt nghiệp. Cả tháng sau mới đến lượt sĩ quan. Và cái thông cáo khốn kiếp ra đời, đỉnh cao ngôn từ mang tính ưu việt của những kẻ gài bẫy. Tôi không nhắc nguyên văn thông cáo ở đây, chỉ biết tác giả là viên trùm công an thành phố, một đồng hương của tôi nơi nước mặn đồng chiêm chốn quê nghèo miền Bắc.</p>
<p>Trở lại ngày đại bịp, nhiều cảnh cười ra nước mắt, ai đời tự nguyện đi tù lại phải đóng tiền ăn cho một tháng, lại nên mang áo ấm dù chỉ một tháng với thời tiết nắng nóng quanh năm, thông cáo đã nói rõ diện nào phải trình diện, diện nào tạm chờ, ấy vậy mà có ông giải ngũ rồi vẫn ‘xin được đi học sớm’ để còn về nhà chân chỉ làm ăn (anh bạn tôi dại dột và là người đầu tiên nằm lại Yên Bái). Ngày nhập kho cứ như ngày hội tựu trường, có ông nọ còn cho đứa nhỏ gái 4 tuổi cùng vợ đi theo tiễn chân, miệng con bé líu lo ‘<i>như có ngày vui đại thắng…’! </i>Chưa hết, đến nơi trình diện, ngay bữa tối được xếp ngồi ăn cơm thồi món Tàu (toàn nhà hàng nổi tiếng bên Chợ Lớn mang đến), được tiếp đón như những người anh em lâu năm chí cốt, cán bộ còn cho phép ai quên gì cứ về lấy, ba ngày mới hết hạn nhập trường!</p>
<p>Vừa khóa sổ thì ngay chiều chủ nhật (15 tây), cơm thồi chẳng thấy, mì gói cũng không, cả đám được lệnh sửa sọan hành trang, chuẩn bị đến nơi …học tập. Mỗi tổ 10 người, 3 tổ một xe, xe tải bít bùng, chờ phố lên đèn, Sài gòn ngủ yên, chuẩn hướng ngoại thành.</p>
<p>Qua kẽ hở của thân xe, tôi chỉ còn nhận ra, cảnh ngoại ô đèn vàng, hàng me rũ lá, tiếng vọng cổ u buồn từ một căn gác chông chênh.</p>
<p>Từ đây, kẻ lên Suối Máu, người xuống Hóc Môn, bị dồn vào các doanh trại cũ, chẳng giường chẳng chiếu, nằm đất trải dài như cá hộp, ăn uống đạm bạc như cảnh tù, mở đầu cho những ngày tháng trung chuyển gạn lọc để đưa đi Bắc và rừng núi phía nam, nơi mà nhà nước đã dặn trong thông cáo là phải mang theo áo ấm!</p>
<p>Ấy vậy mà đã bốn mươi năm, thế hệ chúng tôi kẻ đã ra đi, người còn ở lại cũng ở tuổi thất thập mang theo nhiều thương tật cả tâm hồn lẫn thể xác. Còn được an ủi là chúng tôi &#8211; những người sống sót &#8211; đã nhìn thấy hai điều, tưởng là khó xảy ra chưa đầy một thế hệ, một là chủ nghĩa cộng sản bị xóa sổ, hai là những kẻ “bên thắng cuộc” một thời bêu riếu chúng tôi ôm chân đế quốc, giờ này lại hồ hởi bám đít kẻ cựu thù.</p>
<p>Điều đáng buồn là nhà cầm quyền có một sách lược mới, trớ trêu lại nhắm vào những người yêu nước, bị coi là thành phần đối kháng trong cảnh đòi quyền sống và cảnh giác bá quyền. Họ bị đánh, bị bắt, bị bỏ tù đến nỗi nhà văn Nguyên Ngọc, một đảng viên một đời sống chết vì đảng, một người tên tuổi gắn liền với mảnh đất Tây Nguyên đã phải thốt lên,</p>
<p><em>Một đảng, một nhà nước kỳ lạ. Đánh người toàn bằng đánh trộm, thụi ngầm và phi tang. </em>(<a href="https://www.danluan.org/tin-tuc/20150526/nha-van-nguyen-ngoc-van-hoc-va-nha-van-khong-la-cong-cu-cua-ai-het">Nguyên Ngọc</a>)</p>
<p>Với tôi, cùng những Người lính già, nạn nhân của trò đại bịp 40 năm trước, xin bổ sung thêm, “…<i>Hại người</i> <i>toàn bằng trò bịp bợm, tinh vi và dã man</i>.”</p>
<p>Cali, tháng sáu 13 &#8211; 2015</p>
<p><b>Ng</b><b>ười Lính Già (đxt)</b></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2015</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/do-xun-t-thng-su-v-ti/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Captovan: Ba Ch&#224;ng &#8220;Ngu Lam&#8230;&#8221;.</title>
		<link>https://t-van.net/phila-t-ba-chng-ngu-lam/</link>
					<comments>https://t-van.net/phila-t-ba-chng-ngu-lam/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Captovan]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 24 Apr 2015 09:09:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[chuyện tù]]></category>
		<category><![CDATA[phila tô]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=21796</guid>

					<description><![CDATA[Trong thời gian ở tù VC, tôi được ở chung với rất nhiều đồng môn, có nhiều tấm gương sáng để cho tôi soi, trong số đó có 3 người mà tôi hãnh diện được tôn các anh lên bậc “Thầy” mà tôi gọi đùa là “Ba Chàng Ngự Lâm”, đó là Thầy Trần Toán, [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2015/04/clip_image00224.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2015/04/clip_image002_thumb19.jpg?strip=all&fit=354%2C287" alt="clip_image002" width="354" height="287" border="0" /></a></p>
<p>Trong thời gian ở tù VC, tôi được ở chung với rất nhiều đồng môn, có nhiều tấm gương sáng để cho tôi soi, trong số đó có 3 người mà tôi hãnh diện được tôn các anh lên bậc “Thầy” mà tôi gọi đùa là “Ba Chàng Ngự Lâm”, đó là Thầy Trần Toán, Phan Bát Giác và Võ Văn Đức.</p>
<p>Từ ngày ra tù, tôi đã mong ước được gặp lại các anh để đứng nghiêm chào, nhưng vẫn không biết hai niên trưởng Trần Toán và Phan Bác Giác ở đâu, nay bất ngờ nghe tin anh Trần Toán đã về cõi phúc!</p>
<p>Tôi thành kính chia buồn cùng tang quyến và các Niên Trưởng K18.</p>
<p>Xin kính chúc ông Thầy Trần Toán thảnh thơi trên Thiên Quốc.</p>
<p>NT Trần Toán và tôi cùng ở chung đội tù 12 trại Vĩnh Quang A mà đội trưởng là tên Ngoạ.. lùn. Anh Toán có những đức tính của “người trên”, không những đối với đồng tù và ngay cả với cai tù. Cai tù thấy uy tín và ảnh hưởng của anh đối với đồng tù nên có ý lợi dụng để làm khó tù nhân, nhưng trước những lý luận tình người, tính cương quyết nhưng không chống đối khiến cai tù không tìm ra bất cứ lý do gì để hại anh và anh em tù nên đành cúi đầu chịu thua.</p>
<p>Chúng tôi, những đứa em hãnh diện có một đàn anh như thế, mong ngày ra tù được gặp anh, nhưng đã hơn 30 năm không biết anh ở đâu? Nay nghe tin anh giã từ gia đình và đồng khóa, từ xa xôi, tôi xin cúi đầu vĩnh biệt anh: Ông Thầy Trần Toán K18 Trường VBQGVN.</p>
<p>***.</p>
<p>Khác với anh Trần Toán, anh Phan Bát Giác thì lại có nhiều “góc cạnh” đáng nể, tôi gọi anh là “Tám Cạnh”. Một buổi sáng năm 1977 tại trại tù Yên Bái, khi chúng tôi vừa từ trong Nam chuyển ra cái cốc này, tù được lệnh lên núi chặt cây để làm hàng rào nhốt mình, chặt nứa để làm nhà, các tù đang chặt nứa* trên núi, tôi bỗng nghe tiếng tên bộ đội la lớn rồi tiếng kéo cơ bẩm AK47, tôi liếc nhìn xem chuyện gì thì thấy “Tám Cạnh” hai chân dạng háng, tay phanh áo ngực thách thức:</p>
<p>_ “Mày bắn đi, tao muốn mày bắn”.</p>
<p>Mũi súng AK đang nhắm vào anh Giác, hai bên im lặng gườm nhau, tình thế căng thẳng tột độ, chỉ cần ngón trỏ xê dịch là anh Giác trở thành “chiến sĩ vô danh trong chốn rừng sâu Bắc Việt”! Nhưng lửỡi lê AK đầu súng hạ xuống, tên bộ đội quay đi, “đại nghĩa đã thắng hung tàn”, anh Giác phản đối là vì tên bộ đội chỉ có nhiệm vụ xách súng đi theo canh chừng tù, còn chỉ tiêu chặt bao nhiêu là do cai tù (cán bộ), nhưng tên bộ đội bắt tù chặt 2 bó nứa*, thay vì một bó theo chỉ tiêu trại quy định, hắn lợi dụng bắt tù làm thêm cho chúng.</p>
<p>(* một loại tre nhỏ thẳng, đập dập ra, cài sát vào nhau để lợp mái hay làm phên, làm vách che, mỗi bó 25 cây, khá nặng)</p>
<p>Tuy cùng tổ nhưng vì mới “biên chế” nên chưa biết gốc gác của nhau, tôi mon men đến xin làm quen “tượng đài’ này.</p>
<p>_ Xin lỗi, trước đây anh ở đơn vị nào?</p>
<p>_ Tôi ở TQLC (anh Giác trả lời sau khi nhìn tôi nghi ngờ).</p>
<p>Nghe anh Giác nói ở TQLC tôi không tin nên hỏi thêm tí nữa.</p>
<p>_ Anh học quân trường nào và ở tiểu đoàn TQLC nào?</p>
<p>Tám Cạnh trừng mắt nhìn tôi:</p>
<p>_ Hỏi làm gì lắm thế, muốn điều tra hả?</p>
<p>_ Xin lỗi chuyện đường đột làm quen, vì nhờ anh mà tôi khỏi phải chặt 2 bó&#8230;</p>
<p>_ Tôi Khóa 18 Võ Bị, nhưng bị &#8230; “sọoc-ti-lát”, sau về TĐ4/TQLC, được vài chuyếnn hành quân rồi sau trận Bình Giả 31/12/1964 thì “chống nạng cày bừa”, hưng không giải ngũ&#8230;</p>
<p>Phải nói thật là ngay lúc đó tim tôi đập loạn nhịp, một đàn anh VB, một đồng đội TQLC và là một tượng đài ngay trứơc mặt mà tôi không biết, tôi đứng nghiêm, đưa tay chào và nói nhỏ:</p>
<p>_ Tân Khóa Sinh K19.. và TQLC trình diện niên trưởng.</p>
<p>_ Làm việc đi, không tụi nó quay lại bắn cả hai bây giờ, tối về lán nói chuyện sau.</p>
<p>Khi K18VB tốt nghiệp thiếu úy thì Binh Chủng TQLC không tuyển mộ được ai, ngoãi trừ anh Giác là trường hợp đặc biệt. Vả lại do khác tiểu đoàn nên chúng tôi không biết nhau, nay đã là anh em một nhà, một trường giữa chốn ngục tù thì dựa lưng vào nhau mà sống.</p>
<p>Trong đội này còn có các anh Trần Đình Đàng K13, Trần Công Đài K16, Đinh Xuân Lãm, Lê Văn Huyền K17, Lê Xuân Sơn K21, nhưng vì hợp tính ẩu nên anh Giác và tôi là cặp “bài trùng”. Chúng tôi chung tổ, chung đội từ cốc Yên Bái rồi sang trại 8 Hoàng Liên Sơn.</p>
<p>Năm 1979, khi Tiểu Bình dạy cho “Ba-ác Hồ” một bài học thì tù chuyển từ quân đội sang cho bò vàng (Công An) săn sóc, chúng tôi từ Hoàng Liên Sơn về trại Vĩnh Quang A nhưng bị phân tán, anh Giác đội 14, tôi đội 12, cách nhau khá xa. Sau giờ lao động thì đội nào ở riêng đội đó, bị cấm tuyệt đối “quan hệ linh tinh”, vi phạm là cùm.</p>
<p>Một sáng Chúa Nhật, nghỉ lao động, trong khi những nhà “tư bản” thì ca-cóng, nấu nướng, còn tôi đang học tiếng Anh chống đói (cai tù bảo rằng học tiếng Anh thì được nhưng tuyệt đối cấm học tiếng Mỹ) thì nghe ai có gọi, ngó ra cổng thấy “ông nội” Phan Bát Giác vẫy tay, tôi vội chạy ra, chưa kịp hỏi chuyện gì thì anh nắm tay tôi kéo đi:</p>
<p>_ Qua tau ăn chè.</p>
<p>_ Anh ẩu quá, nó cùm bây giờ.</p>
<p>“Tù trong tù”, trong tù mà còn bị cùm thì còn gì khổ cực hơn, nhưng ai đã từng đói trong tù thì biết vị ngọt nó quý như thế nào, tôi sợ bị nhốt nhưng nghĩ tới chén chè thì nước miếng cứ ứa ra, miệng “em chả, em chả”, mà chân tôi thì chạy nhanh hơn anh Giác.</p>
<p>Giữa đội 14 của anh Giác và đội 12 của tôi cách nhau một cái sân trống dài chừng 200m, đây là vùng cấm tù không được đi lại, lúc nào cai tù và trật tự cũng rình để bắt nhốt những tù nào dám vi phạm đi lang thang muốn vượt qua đoạn đường chiến binh. Đây là đoạn đường chiến binh mà chướng ngại vật không phải là kẽm gai, mìn giả mà là có đạn thật AK và còng số 8, vậy mà anh em tôi nhắm mắt làm liều thì kể cũng liều thật.</p>
<p>Lách mình chui qua cánh cửa hẹp của đội 14 mà cửa lúc nào cũng đóng, nội bất xuất, ngoại bất nhập, anh em tôi ngồi bệt xuống đất, trên miếng giấy ciment có hai cái bát và một xoong chè “bà cốt”. Chè “bà cốt” là chè nấu bằng gạo nếp với đường đen (nâu) nêm thêm miếng gừng là thành chè “bà cốt, chè này ít thông dụng với những ai có đời sống bình thường, mà người ta chỉ nấu để cúng cô hồn, ma đói vào ngày rằm tháng 7 hằng năm. Anh Giác và tôi cùng bao nhiêu tù nhân chính trị khác đang là những “ma đói, cô hồn” năm này qua năm khác trong các trại giam, ngục tù CS, nên khi vừa nhận được gói quà có bọc đường đen móng trâu và kí nếp, hai báu vật trong tù, anh Giác thanh toán ngay thành nồi chè&#8230;</p>
<p>Chén anh chén tôi, loáng một cái là đáy nồi chè sạch như lau, nhìn nhau thầm tiếc, giá mà chưa ăn thì còn nồi chè để mà ngắm. Trong tù có nhiều cảnh cười ra nước mắt,<br />
“cám treo heo nhịn đói”, lãnh chén cơm độn thóc chưa vội ăn ngay mà cứ ngồi nhặt từng hạt thóc mà cắn lấy cái nhân để kéo dài bữa ăn cả tiếng đồng hồ, thực ra ăn hay không ăn vẫn đói như nhau nên mới bày ra trò ăn bằng mắt cho nó sướng, tự đối lòng rằng mình có của ăn của để.</p>
<p>Đang tiếc nồi chè thì Tám Cạnh lôi ra cái điếu cày, anh em mỗi người làm một bi thuốc lào hiệu ba số 8 (888), rít một hơi dài, ngậm miệng ém khói nên khói lén tìm đường thoát ra bằng lỗ mũi, chân tay tê-mê, đầu gật gù rồi chúi nhũi xuống&#8230;, thế là xướng tận cung mây.</p>
<p>Tỉnh cơn say, tôi đang lo lắng tìm cách nào có thể vượt đoạn đường chiến binh để trở về đội mình thì anh Giác nhét vào túi tôi 2 tán móng trâu đường và bảo:</p>
<p>_ Đừng có lo, thằng Ng.. nó sẽ dẫn mi về, hắn tới kia rồi.</p>
<p>Vừa lúc đó thì “trật tự” Nguyễn Đình Ng.., bạn ta, cũng vừa đến, hắn ngó qua một vòng đội 12 rồi đi ra, thế là tôi bám liền theo sau hắn mà chẳng chào hỏi gì nhau.</p>
<p>Hai tên đồng môn, đồng khóa mà như hai kẻ xa lạ, không nói với nhau nửa lời, Ng&#8230; cứ thủng thỉnh bước tới, coi như không biết có ai theo sau, nhưng những con mắt cú vọ, thần chết VC thấy trật tự đi trước, tù theo sau thì chúng lại tưởng trật tự dẫn tù đi “làm việc” với quản giáo. Còn anh em tôi hiểu rằng Ng&#8230; làm bình phong cho tù tôi trở về buồng 12 trong trạng thái thơ thới với tình huynh đệ giữa anh Giác, Ng.. và tôi.</p>
<p>Miếng ngon nhớ lâu, điều đau nhớ đời, chuyện tôi tôn “Tám Cạnh” là thầy không phải do chén chè mà từ trước lâu rồi anh là “cây tùng trước bão”. Với Ng.., tuy bị mang tiếng là trật tự nhưng Ng.. không chỉ bao che cho một đồng khóa mà còn bao che rất nhiều những chàng tù khác nữa, họ đã “vi phạm” quy định nhà tù nhưng được Ng.. chống đỡ một cách rất kín đáo, đôi khi người nhận ơn không nhìn ra. Rất tiếc có những trường hợp “làm ơn mắc oán”, có anh vi phạm nội quy, gây ra những lỗi mà Ng.. hết “đường binh” nên phao tin đồn nhảm, oán trách Ng&#8230;</p>
<p>Những anh trong thời gian đi tù mà trại chỉ định làm đội trưởng hay trật tự thì thường bị đứng giữa hai lằn đạn, trại bắt phải làm, còn đồng tù chụp cho những cái mũ gian ác. Điều đó không sai, nhưng không phải tất cả, mà có những đội trưởng và trật tự biết việc phải làm và biết làm làm sao cho không hại đồng tù mà xong chuyện trại bắt làm, các anh xứng đáng nhận được thiện cảm của đa số anh em.</p>
<p>Ngược lại cũng có không ít những ông “thần nước mặn” núp trong đám đông, dựa vào đám đông để tránh nặng tìm nhẹ khiến cả đội phải chịu ảnh hưởng tại hại vì đương sự. Vì họ mà cả đội không đựơc tắm sau một ngày làm việc cực khổ trên rừng, họ là một tên ích kỷ, chính họ mới là người đáng trách, vốn dĩ nhát gan nhưng sau này ra khỏi tù, ở hải ngoại họ lại là những ngừơi vỗ ngực xưng hùng và đổ lên các đội trưởng và trật tự những chuyện tưởng tượng. Mới đây, ông Trần Nọ vỗ ngực xưng là PhD* viết email đưa lên internet tố cáo ông Trần Kia khi làm trật tự đã ra trại “gia binh” giặt quần cho vợ cán bộ!</p>
<p>Thưa ông Trần Nọ, có thật ông thấy không và làm sao ông nhận ra cái quần mà ông Trần Kia giặt là quần của vợ cán bộ? Trừ khi ông đã thấy và đã làm. Phịa vừa thôi, ngậm máu phun người thì miệng ai tanh trước? Cái bằng PhD của ông không phải là tiến sĩ như ông khoe mà là “Pizza H&#8230; Delivery”.</p>
<p>Trở về chuyện “Ba Chàng Ngự Lâm”. Thầy Trần Toán thì đã an bình trên Thiên Quốc, trật tự Ng&#8230; cũng thế, nhưng Thầy Tám Cạnh Phan Bát Giác thì “giờ này anh ở đâu”? Các anh không chỉ là niên trưởng K18 mà còn là bậc “thầy” của tôi, xin dâng nén nhang lên hương linh Thầy Trần Toán, xin kính gửi lời chào và chúc sức khỏe Thầy Phan Bát Giác, thế nào cũng có dịp gặp lại, tôi biết Thầy Tám Góc hiện đang định cư ở San Jose’.</p>
<p>Ông “thầy” thứ ba tôi xin nhắc tới là một tay vô cùng ngoan cố, chuyên “phá hoại” tài sản và hoa màu của “nhà lước XHCN”: Võ Văn Đê. Đê với tôi cùng tổ từ trại 8 Hoàng Liên Sơn rồi lại cùng tổ, cùng đội 12 tại trại Vĩnh Quang A, Vĩnh Phú. Chàng gốc ND, giàu kinh nghiệm mưu sinh thoát hiểm nên không bao giờ đói.</p>
<p>Cụ Phan nói rằng “khi đói thì bới đất cuốc cỏ mà nhét cho đầy bụng đói”, nhưng với Đê thì cứ bắp non, sắn non, bí rợ non mà nhét cho đầy bụng đói, Đê to con, khỏe như voi, mưu sinh giỏi nên tôi theo voi ăn bã mía cũng vững dạ.</p>
<p>Khi cây sắn (mì) vừa cao ngang ngực mà mặt đất gần gốc có vết nứt là biết sắn có củ non, Đức dùng thanh tre vót nhọn nhấn xuống, kéo lên một củ mì non cỡ ngón tay cái, ngon ngọt vô cùng, còn cây sắn thì vẫn cứ tươi tốt mọc cao còn củ thì Đê đã móc đi rồi, đố ai biết.</p>
<p>Nhưng đi đêm thì có ngày gặp&#8230;sóc, mùa hái bắp, Đê và tôi giấu vào hang đá hơn trăm trái để phòng đói những tháng ngày “giáp hạt”, nào ngờ bọn sóc phá hoại, chúng moi ra, gặm nham nhở rồi tha đi khắp nơi khiến chúng tôi tiếc, “mưu sự tại nhân, thành sự tại con sóc”</p>
<p>Một lần Đê chôm được ở đâu một nải chuối thật to, chàng dấu ngay sau cánh liếp, nơi cửa ra vào mà không ai biết. Khi chuối ửng vàng sắp tới ngày &#8230;thì bị quản giáo Môn phát giác và kêu Đê trình diện va buộc tội, nhưng Đức cương quyết chối. Đức truyền kinh nghiệm cho tôi:</p>
<p>_ Đừng bao giờ tự giác nhận tội, dù có bị bắt tại trận, nắm được tay, day tận tóc thì cũng cứ giật tay ra mà chối, cóc có việc gì mà phải nhận tội khi phá tài sản XHCN.</p>
<p>Không có nhân chứng nên quản giáo tên Môn, (Môn người miền Nam có vẻ dễ tính) thâu hồi vật chứng và không kết án được Đê, nhưng Đê thì kết tội tên Gia Tôn Tẩn, vì nghi Gia tố cáo nên Đê tính chùm mền Gia khiến tôi phải vất vả cản ngăn. Một mất mười ngờ, anh em đồng tù cứ lục đục nhau trong cảnh túng thiếu khiến trúng kế cai tù.</p>
<p>Võ Văn Đê thuộc dạng “dài lưng tốn vải” nên còn có tục danh Đê-Cồ, Cồ làm biếng tổ.., nên thường bị đội trưởng Ngoạ..lùn cự nự và đòi mét-bu quản giáo, Đê Cồ chỉ mỉm cười..</p>
<p>Rồi một sáng Chúa Nhật mùa Đông lạnh lẽo, anh em đội 12 thấy đội trưởng Ngoạ..lùn mang mùng mền chăn chiếu đi giặt, vì đêm qua có ai bỏ “caca” vào màn khiến chàng đội trưởng nằm đè lên, cả phòng than phiền mùi xú uế do Ngoạ.. lùn đủn-ìa, trong khi Đê cười mím chi, đúng là “đức cống”. Từ đó đội trưởng ít bép xép hơn, đội trưởng biết thủ phạm là ai nhưng đành cắn răng ngậm bồ hòn làm ngọt, vì Đê-Ngọa cùng là “anh em với nhau” ở đơn vị cũ cả mà.</p>
<p>Chọc quê mấy anh đội trưởng, tổ trưởng mẫn cán là “chuyện thường ngày ở huyện”, Đê còn cố tình chọc quê bộ đội và quản giáo. Khi quản giáo ra chỉ thị hay phát biểu điều gì xong là Đê đều xin có ý kiến, mà toàn những ý kiến “giả khờ ăn tiền”. Đang cuốc lỗ để trồng sắn, thấy quản giáo lảng vảng canh chừng kiểm soát Đê đưa tay:</p>
<p>_“Xin có ý kiến”.</p>
<p>Quản giáo đến:</p>
<p>_ “Cái rì thế anh Đê?”</p>
<p>Đê ra điều chú tâm tìm hiểu canh tác, phát huy năng xuất cây trồng theo chỉ thị của trại nên Đê hỏi quản giáp lý do tại sao phải đào hố rồi mới bỏ hom sắn xuống, bỏ như thế nào có năng xuất cao v.v&#8230; Đê hỏi linh tinh chuyện trên trời dưới đất còn quản giáo tưởng thật nên cũng giảng giải từ đất lên trời, thấy Đê chống cuốc đứng đàm đạo với quản giáo là anh em tù cũng chống cuốc nghe theo, thế là phe ta nghỉ phẻ ít ra cũng 15 hay 20 phút.</p>
<p>Đi lao động ngoài đồng, luôn có bộ đội cầm súng đi theo canh chừng, quản giáo và bộ đội ra lệnh ai muốn “đi ngoài” thì phải báo cáo cho “cán bộ nắm”, thế là Đê có lý do đi ngoài liên miên, khi thì tiểu khi thì đi đại, nhưng để ý mới biết Đê đểu, xỏ ngọt cai tù. Đê nói to:</p>
<p>_ Báo cáo, tôi xin đi ỉa để cán bộ nắm&#8230;</p>
<p>_ Đựơc (bộ đội chỉ trả lời một chữ “được).</p>
<p>Thế là Đê tủm tỉm cười vì 4 tiếng &#8230; “để cán bộ nắm”. Lát sau Đê lại lớn tiếng:</p>
<p>_ Báo cáo&#8230;, tôi xin đi đái, để cán bộ nắm.</p>
<p>Mới cuốc đựơc vài hố mà Đê bắt cai tù nắm hết cái nọ đến cái kia, mà đi tiêu còn có cái để nắm chứ đi tiểu thì nắm được cái gì nên cai tù bực mình:</p>
<p>_ Anh Đê làm cái rì mà đi ỉa “nắm” thế?</p>
<p>Vài hàng kỷ niệm vui buồn với các thầy trong những ngày tù tội, Thầy Toán, Thầy Giác là biểu tượng của những “cây tùng trước bão”, nhưng với Thầy Đê có một lối chống đối, phá thối “chính sách khoan hồng nhân đạo” rất là “hết ý”, làm ít, cãi nhiều nên tôi phải thêm một chữ thầy nữa cho đúng với tài năng ứng biến của Đê: “thầy cãi”.</p>
<p><b>Phila Tô</b></p>
<p><b>Cali 14/4/2015</b></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2015</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/phila-t-ba-chng-ngu-lam/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>T.Vấn: Di sản của một nh&#224; văn</title>
		<link>https://t-van.net/t-van-di-san-cua-mot-nh-van/</link>
					<comments>https://t-van.net/t-van-di-san-cua-mot-nh-van/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[T.Vấn]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 31 Dec 2014 05:01:25 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[bùi ngọc tấn]]></category>
		<category><![CDATA[chuyện tù]]></category>
		<category><![CDATA[T.Vấn]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=20579</guid>

					<description><![CDATA[Bùi Ngọc Tấn (1934-2014) Nhà văn Bùi Ngọc Tấn, tác giả “Chuyện Kể năm 2000”, sau nhiều tháng lâm trọng bệnh đã qua đời hôm thứ năm 18 tháng 12 năm 2014 tại Hải Phòng, hửơng thọ 81 tuổi. Khi một nhà văn chết đi, cái còn lại hiển nhiên là tác phẩm của họ. [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2014/12/clip_image00224.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2014/12/clip_image002_thumb20.jpg?strip=all&fit=304%2C337" alt="clip_image002" width="304" height="337" border="0" /></a> <a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2014/12/clip_image0049.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image004" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2014/12/clip_image004_thumb8.jpg?strip=all&fit=304%2C498" alt="clip_image004" width="304" height="498" border="0" /></a></p>
<p align="center"><b>Bùi Ngọc Tấn (1934-2014)</b></p>
<p>Nhà văn Bùi Ngọc Tấn, tác giả “Chuyện Kể năm 2000”, sau nhiều tháng lâm trọng bệnh đã qua đời hôm thứ năm 18 tháng 12 năm 2014 tại Hải Phòng, hửơng thọ 81 tuổi.</p>
<p>Khi một nhà văn chết đi, cái còn lại hiển nhiên là tác phẩm của họ. Ở trường hợp Bùi Ngọc Tấn, tác phẩm lớn nhất, tiêu biểu nhất, được nói đến nhiều nhất, phải là <i>“ Chuyện kể năm 2000</i>”, bởi vì “ . . . Không có sự ra đời của “ C<em>huyện kể năm 2000 </em>“, hầu như ta có thể nói không có nhà văn Bùi Ngọc Tấn hiện hữu trong nền văn học đầy những biến động của Việt Nam cận đại, bất kể văn nghiệp của ông đã khởi đầu từ rất lâu, từ trước khi bước chân vào nhà tù, và sau “<em>Chuyện kể năm 2000&#8243;</em> ông đã cho ra đời thêm nhiều tác phẩm khác<a href="https://t-van.net/?p=4254"><span style="color: #ff0000;">. (T.Vấn &#8211; Chuyện kể về nhà tù sau ngày chiến tranh chấm dứt)</span></a><span style="color: #ff0000;">.</span></p>
<p>Nói cách khác, “<i>Chuyện kể năm 2000</i>” không chỉ là di sản của riêng nhà văn Bùi Ngọc Tấn, mà còn là di sản tiêu biểu của một “nền văn học đầy những biến động của Việt Nam cận đại”.</p>
<p>Bài sưu tập về cách đưa tin cái chết của nhà văn do báo chí chính thống trong nước thực hiện của tác giả H.V. trên trang mạng Diễn Đàn (<a href="http://www.diendan.org/">diendan.org</a>) đã cho chúng ta một cái nhìn khá xác thực về “nền báo chí trong nước&#8221; hiện nay, dù chỉ qua bản tin về cái chết của một nhà văn:</p>
<p><b>Chúng ta hãy đọc vài trích đọan:</b></p>
<p>“ . . . Gú-gần &#8220;Nhà văn Bùi Ngọc Tấn qua đời&#8221;, người ta có thể thấy một số thông tin sau (chỉ kể những báo chính thống trong nước):</p>
<p>&#8211; Tờ Thanh Niên đưa tin đầu tiên, vào lúc 9g30 sáng (tất cả giờ giấc trong bài này là giờ Việt Nam GMT+7), theo tin từ nhà văn Phạm Xuân Nguyên, chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội.</p>
<p>&#8211; Tiếp theo là các tờ VnExpress (9g45), Một Thế giới (10g07), VietnamNet (10g27), Tuổi Trẻ (10g49), Đời sống&amp;Pháp luật (10g49), Lao Động (11g49) đưa theo VnExpress, Thời báo Kinh tế Sài Gòn (16g06), Tập chí Sông Hương (17g28) v.v.</p>
<p>. . . ..</p>
<p>1/ <a href="http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/sach/lang-van/nha-van-bui-ngoc-tan-qua-doi-3122163.html"><b>VnExpress</b></a> có hai câu trong tiểu sử của ông: &#8220;<i>Giai đoạn từ tháng 11/1968 đến tháng 3/1973  ông vướng vào lao lý. Bùi Ngọc Tấn có một thời gian &#8220;ẩn dật&#8221; với văn chương, ngừng viết từ 1974 tới 1994</i>&#8220;, nhưng lại &#8220;quên&#8221; CKN2000 trong danh mục các tác phẩm của Bùi Ngọc Tấn. Nhưng chuyện này cũng khá ly kỳ. Khi trên FB một người đưa tin dẫn bài báo của VnE với địa chỉ của nó, người đọc sẽ thấy như sau:</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2014/12/clip_image005.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image005" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2014/12/clip_image005_thumb.jpg?strip=all&fit=440%2C120" alt="clip_image005" width="440" height="120" border="0" /></a></p>
<p>(hình chụp lúc 23g30 ngày 18.12.2014, giờ Paris)</p>
<p>Nhưng khi bấm vào dòng địa chỉ để mở bài ra, thì lại thấy câu đầu là: &#8220;<i>Tác giả của &#8220;Biển và chim bói cá&#8221; tạ thế lúc 6h15 sáng nay, ngày 18/12..</i>.&#8221;. Vậy là thế nào? Đơn giản: tác giả bài báo đã nêu ra trong câu viết của mình, nhà văn là &#8220;tác giả của CKN2000&#8221;, nhưng bài đưa lên rồi thì bị rút xuống để sửa, CKN2000 &#8220;được&#8221; xoá đi, như nó đã bị nghiền nát trong thực tế. Không còn tồn tại! Một thủ thuật quen thuộc của ban Tuyên giáo, nhưng cũng không loại trừ khả năng tự kiểm duyệt của toà báo.</p>
<p>2/ <a href="http://www.thanhnien.com.vn/van-hoa-nghe-thuat/nha-van-bui-ngoc-tan-qua-doi-518194.html"><b>Thanh Niên</b></a> không trực tiếp nói gì về những năm ông bị &#8220;cải tạo&#8221;, nhưng lại có câu gián tiếp: Trong một lần trả lời phỏng vấn báo chí, ông nói: “<i>Thế hệ chúng tôi đã chứng kiến biết bao biến động của lịch sử. Một thế hệ nhiều năm rồi nằm trong tầm súng bắn tỉa của thần chết, đang biến mất khỏi hành tinh này không để lại một vết xước nào. Tôi chỉ muốn thật trung thực trong khi viết để góp phần vào việc lưu giữ ký ức của dân tộc</i>”, và có ghi CKN2000 trong danh mục tác phẩm của nhà văn.</p>
<p>3/ <a href="http://www.thesaigontimes.vn/124203/Nha-van-Bui-Ngoc-Tan-qua-doi.html"><b>TBKTSG</b></a> có cách viết tương tự như Thanh Niên, đề cập tới thời gian bị &#8220;cải tạo&#8221; của ông qua vài câu bóng gió (như: &#8220;<i>Không có tên trong bộ Từ điển văn học Việt Nam, hay chỉ được nhắc đến một cách khá dè dặt trong những tài liệu văn học sử chính thống nhưng không thể phủ nhận được một sự thật: Bùi Ngọc Tấn vẫn là một tên tuổi lớn của văn học Việt Nam hiện đại.</i>&#8220;&#8230;), và không quên CKN2000 trong những &#8220;tác phẩm tiêu biểu&#8221; của nhà văn.</p>
<p>4/ <a href="http://www.tienphong.vn/van-nghe/nho-bui-ngoc-tan-nguoi-song-de-ke-lai-798550.tpo"><b>Tiền Phong</b></a> chỉ có bài vào ngày hôm sau (6g43, 19.12), mặc dù bài có tít rất hay (<i>Nhớ Bùi Ngọc Tấn, người “sống để kể lại”</i>) nhưng lại &#8220;quên&#8221; câu chuyện đáng nhớ nhất đã chép thành sách của ông: CKN2000. Ngược lại tác giả bài báo lại có dũng cảm nhắc lại chuyện &#8220;<i>Khoảng dăm năm trước, một hôm Bùi Ngọc Tấn gọi điện, nói ông chính thức nhờ báo <em>Tiền Phong</em> lên tiếng lật lại vụ án oan khuất hồi 1969-1973, đòi lại công bằng cho ông, nếu không làm lúc này thì chẳng còn biết bao giờ</i>&#8221; &#8211; không chỉ nói chuyện &#8220;lao lý&#8221; chung chung, mà nói thẳng &#8220;vụ án oan khuất&#8221;. Rõ ràng, cái sự &#8220;quên&#8221; kia vậy mà không phải vậy: có một bàn tay nào cầm kéo đi sau tác giả!</p>
<p>5/ Nổi bật với khả năng tẩy xoá lịch sử thuộc hàng cao thủ là <a href="http://tuoitre.vn/tin/van-hoa-giai-tri/20141218/nha-van-bui-ngoc-tan-qua-doi/686817.html"><b>Tuổi Trẻ</b></a> (ôi, cái thời Tuổi Trẻ của Võ Như Lanh, Kim Hạnh, bao giờ cho đến ngày xưa!), <a href="http://tapchisonghuong.com.vn/tin-tuc/p4/c17/n18059/Nha-van-Bui-Ngoc-Tan-qua-doi.html"><b>Sông Hương</b></a> (Tô Nhuận Vỹ cũng đã nghỉ từ lâu), hay <a href="http://vietnamnet.vn/vn/van-hoa/212420/nha-van-bui-ngoc-tan-qua-doi.html"><b>VietnamNet</b></a>: KHÔNG có một dòng, câu chữ nào nhắc lại những năm nhà văn bị đầy đoạ trong nhà tù dù chẳng có tội tình gì, cũng như, hoàn toàn vắng bóng CKN2000, tác phẩm tới nay được mọi người coi là tác phẩm tiêu biểu nhất của Bùi Ngọc Tấn. Khi cái hèn của người ra lệnh được cộng hưởng với cái hèn của kẻ thừa hành, ta có kết quả điển hình cho chế độ một tổng biên tập thực từ xa điều khiển những tổng biên tập bù nhìn ở mỗi toà soạn!<a href="http://www.diendan.org/viet-nam/bao-chi-va-nha-van-bui-ngoc-tan">“<span style="color: #ff0000;"> ( Trích : H.V. &#8211; Báo chí trong nước và tin nhà văn Bùi Ngọc Tấn qua đời  )</span></a>&#8221;</p>
<p>Qua những lúng túng trong cách đưa tin của nền báo chí chính thống trong nước nói đến ở trên, chúng ta hiểu được một điều: cái chết của một nhà văn, nhất là một nhà văn phản kháng, không hề có nghĩa là cuộc chiến chống lại sự phi nhân tàn ác ấy của nhà văn sẽ theo ông xuống mồ. Cuộc chiến ấy sẽ vẫn còn tiếp diễn, bằng tính cách di sản của tác phẩm, mà ở trường hợp nhà văn Bùi Ngọc Tấn, đó là tác phẩm “Chuyện kể năm 2000”.</p>
<p>“ . . . Quả đúng là sự lựa chọn hình thức tiểu thuyết để kể lại cuộc đời tù tội (trong nhà tù Cộng sản) và kể cả khi đã được “nhà nước ưu ái, khoan hồng&#8221; cho phép bước từ nhà tù nhỏ (trại cải tạo) ra nhà tù lớn (xã hội công an trị) là một sự lựa chọn độc sáng của nhà văn Bùi Ngọc Tấn, và phải kể cả đến văn tài nẩy nở từ những khổ đau ông phải chịu. Không có những đau khổ, tủi nhục ông phải trải qua, chưa chắc văn tài của ông có dịp trau dũa để chín mùi như khi ông viết “<em>Chuyện kể năm 2000&#8243;</em> trong âm thầm, không biết rồi đây những trăn trở buốt lòng ấy có dịp đến với người đọc khắp nơi, ở bên này và bên kia bờ Thái Bình Dương, để chỉ thỏa mãn khát vọng chia sẻ, đánh động lương tâm con người chứ không phải sự nổi tiếng.</p>
<p>Nhà văn Bùi Ngọc Tấn đã được cả hai thứ. Ông xứng đáng nhận phần thưởng ấy cho những nỗ lực đầy đau đớn của mình.</p>
<p>Lịch sử bao giờ cũng có những sự ngạc nhiên dành cho chúng ta. Cái cách cuộc chiến Việt Nam kết thúc năm 1975 là một sự ngạc nhiên chết người. Bức tường Bá Linh bị kéo đổ năm 1989 và tiếp theo đó sự tan rã hàng lọat của hệ thống nhà nước Cộng sản thế giới lại là một sự ngạc nhiên khác lớn không kém. Rồi những người tù năm xưa từ hệ thống nhà tù độc ác nhất thế giới của chính quyền Cộng sản Việt Nam bỗng một sớm một chiều từ địa vị công dân hạng nhì, chỉ được tạm trú trong chính căn nhà mình sinh ra, trên đất nước mà cha mẹ tổ tiên bao đời gìn giữ, những con người “cặn bã&#8221; ấy đã được trọng vọng nhờ vào những năm “cải tạo&#8221; ở những trại tù. Càng nhiều năm cải tạo, càng có giá, càng nắm chắc được chiếc vé máy bay bay vào “thiên đường&#8221; (Mỹ quốc).</p>
<p>Nhiều năm sau, từ những vùng đất tự do ngòai đất nước, nhiều câu chuyện về “nhà tù&#8221; được kể lại, được lan truyền, bằng nhiều hình thức khác nhau. Đó là một mảng văn học rất đặc thù nẩy sinh từ một hòan cảnh lịch sử cũng đặc thù không kém. Tác phẩm “Chuyện kể năm 2000&#8243; của nhà văn Bùi Ngọc Tấn chiếm một vị trí đáng chú ý nhất trong mảng văn học này, vì nó đã phản ánh một cách trung thực nhất, bi tráng nhất, thuyết phục nhất những hình ảnh khó quên về cái gọi là “Trại Cải Tạo&#8221; trong tâm tưởng hàng chục triệu những nạn nhân của nó. . . “<a href="https://t-van.net/?p=4254"><span style="color: #ff0000;">.(T.Vấn &#8211; Chuyện kể về nhà tù sau ngày chiến tranh chấm dứt)</span></a><span style="color: #ff0000;">.</span></p>
<p>Nay thì thân xác bọt bèo của nhà văn Bùi Ngọc Tấn đã về nằm sâu trong đất lạnh, nhưng hình ảnh một nhà văn với dáng dấp thấp nhỏ, bình dị vẫn sẽ là nỗi ám ảnh khôn nguôi cho chế độ cầm quyền đã từng hành hạ ông gần nửa đời người, bởi vì không thứ bạo lực nào trên thế giới này có thể thiêu hủy được di sản của nhà văn để lại.</p>
<p>Kính chúc ông thanh thản an nghỉ sau khi đã chiến đấu bằng tất cả tài năng, nghị lực ông có được để góp phần mình vào việc tố cáo trước nhân lọai sự tàn ác phi nhân một chế độ.</p>
<p>Xin ông yên lòng ra đi. Lịch sử đang viết về ông. Văn học đang viết về ông. Để cuộc đời đau khổ của ông không bao giờ là sự phí hòai.</p>
<p><b>T.Vấn</b></p>
<p><b>Ngày 22 tháng 12 năm 2014</b></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2014</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Đọc Thêm:</strong></p>
<h4><a href="http://www.danchimviet.info/archives/92194/uyen-thao-bui-ngoc-tan-va-hau-chuyen-ke-nam-2000/2014/12" target="_blank">(Nguồn : Đàn Chim Việt)</a></h4>
<h1 class="title">Uyên Thao: Bùi Ngọc Tấn và Hậu Chuyện Kể Năm 2000</h1>
<p><a href="http://www.danchimviet.info/wp-content/uploads/2014/12/hau-chuyen-ke-nam-2000-e1418309503574.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-92197" src="http://www.danchimviet.info/wp-content/uploads/2014/12/hau-chuyen-ke-nam-2000-450x304.jpg" alt="hau chuyen ke nam 2000" width="450" height="304" /></a><br />
Bùi Ngọc Tấn sinh năm 1934 tại làng Câu Tử Ngoại, xã Hợp Thành, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng. Ông gia nhập làng báo sau khi theo đội Thanh Niên Xung Phong vào tiếp quản Hà Nội tháng 10-1954 với vai trò phóng viên cho tờ Tiền Phong. Thời gian này, ông ký bút danh Tân Sắc và bắt đầu sáng tác văn nghệ, dù có lệnh cấm nhà báo viết văn nên phải viết chui tức ký bút danh khác. Cái lệnh kỳ quái này không cản được Bùi Ngọc Tấn sáng tác và ông đã gửi một truyện ngắn — Chị Trúc — dự thi giải văn nghệ của báo Văn Nghệ. Truyện của ông được Tô Hoài khen hay nhưng không được in và tất nhiên không được chấm giải, vì bị cho là nói đến những mất mát của chiến tranh “hơi quá liều lượng.” Tất nhiên sau đó Bùi Ngọc Tấn phải điều chỉnh cách viết để có thể tiếp tục góp mặt trong sinh hoạt văn nghệ nhưng đã cố giữ khoảng cách với “hàng ngũ nhà văn cung đình.”</p>
<p>Cuối năm 1959, ông chuyển về Hải Phòng làm biên tập viên báo Hải Phòng Kiến Thiết, đồng thời tiếp tục viết văn và đã có một số tác phẩm được xuất bản. Về khoảng thời gian này, trong một lần trả lời phỏng vấn, ông đã tâm sự “chuyển về thành phố quê hương Hải Phòng với ước mong thâm nhập công nông để viết được tác phẩm của đời mình.”</p>
<p>Chưa kịp viết tác phẩm ấy thì tháng 11-1968, Bùi Ngọc Tấn bị tống vào tù với tội danh “tuyên truyền phản cách mạng” trong vụ án “nhóm xét lại chống Đảng, làm tay sai cho nước ngoài” có mặt các bạn ông như nhà văn Vũ Thư Hiên, nhà điện ảnh Huy Vân, nhà báo Vũ Huy Cương, nhà báo Kỳ Vân… dù Bùi Ngọc Tấn chưa bao giờ là đảng viên đảng Cộng Sản Việt Nam và không hề biết cái tội mình bị quy kết kia mặt ngang mũi dọc ra sao. Từ đây, khúc ngoặt cuộc đời Bùi Ngọc Tấn mở ra với bước khởi đầu là 5 năm sống trong các trại tù mang mỹ danh “trại tập trung cải tạo.”<br />
Đầu tháng 4-1973, đúng 2 tháng 7 ngày sau khi Hiệp Định chấm dứt chiến tranh Việt Nam ký kết tại Paris, Bùi Ngọc Tấn được ra khỏi nhà tù. Tuy nhiên, những ngày sống ngoài nhà tù lại u ám ghê hãi hơn cả cảnh sống giữa những bức vách nhà tù — như ông ghi lại:</p>
<p>“Trong những năm tháng hậu tù thất nghiệp đi bốc vác, kéo xe bò… thoi thóp kinh hoàng ấy, tôi có làm một cuộc khảo sát đời sống: Ra đầu phố những giờ đi làm và tan tầm, nhìn những người đạp xe qua Ngã Sáu và phát hiện một điều: Tất cả những người trên đường không một ai cười. Giống nhau. Xam xám. Đăm chiêu. Đồng phục quần áo. Đồng phục mặt người ……</p>
<p>Khi tôi kêu lên: “Các ông ấy bần cùng hóa nhân dân ghê quá”, Nguyên Bình nghiêm mặt bảo tôi: “Cuộc sống này gần với cuộc sống loài vật. Đâu phải cuộc sống con người.”</p>
<p>Thực tế không dừng tại đó.</p>
<p>Giữa cảnh đọa đầy đẩy con người xuống ngang loài vật ấy, Bùi Ngọc Tấn lại chỉ được xếp vào hạng phó người — chính xác hơn là thua cả loài vật. Cùng với những cực nhọc lam lũ do bị vây hãm bởi nhu cầu cơm áo trong thân phận phó người sống bên lề xã hội phải lao vào đủ loại việc mưu sinh khổ ải nhếch nhác là mạng lưới công an mật vụ luôn vây bọc từng giờ từng phút. Bùi Ngọc Tấn không ngừng bị cách ly, bị theo dõi, bị kiểm tra, bị dọa nạt… dưới nhiều hình thức khiến không tránh khỏi mối ám ảnh luôn bị đeo bám bởi một “người vô hình” : “… Ai cũng có một người vô hình để mà trình bày, để mà sợ sệt và thầm cãi lại. Người vô hình luôn bên cạnh mỗi người như hình với bóng, cả trong giấc ngủ …</p>
<p>Tôi thấy rợn hết cả người khi nghĩ đã có mấy thế hệ theo dõi tôi, săn đuổi tôi, vu cáo tôi. Họ đã già đi. Đã về nghỉ, hưu trí an nhàn. Nhiều người đã chết. Một thế hệ khác tiếp tục việc theo dõi. Rồi một thế hệ tiếp theo nữa. Đời này sang đời khác.</p>
<p>Tất cả đều là Gia-ve. Những Gia-ve với lòng dạ đen tối, không phải tìm sự thật mà chỉ nhăm nhăm hãm hại người lương thiện…”</p>
<p>Cuộc sống không còn là cuộc sống mà chỉ là sự tồn tại.</p>
<p>Ý nghĩa duy nhất về sự tồn tại của bản thân với Bùi Ngọc Tấn thời kỳ này là “sống vì những đứa con.” Nhưng mục đích này cũng không dễ theo đuổi vì toàn bộ gia đình thân thuộc của lớp phó người đều phải gánh chung thân phận phó người. Những đứa trẻ ngây thơ vô tội kể cả đứa chỉ mở mắt chào đời khi người cha đã bị đưa vào tù vẫn bị ngăn trở mọi sinh hoạt, kể cả việc cắp sách tới trường … khiến luôn thúc đẩy những cơn tự dằn vặt rồi bùng sôi phẫn nộ : …Tôi càng thấm thía tội lỗi làm bố của mình. Chỉ vì tôi. Chỉ vì tôi nên con tôi có thể thất học… Người tôi sôi lên. Hỡi bọn chó đểu kia. Chúng mày làm gì tao thì làm, bỏ tù lại tao cũng được. Nhưng đừng triệt hạ con tao!!”</p>
<p>May mắn duy nhất với Bùi Ngọc Tấn là không thể từ bỏ cây bút, dù cầm bút là chuyện thiên nan vạn nan. Vì thế kiếp sống phó người đã hiện thành những trang sách để cuối cùng góp mặt với cái tên Chuyện Kể Năm 2000. Đây là tác phẩm được Bùi Ngọc Tấn khởi viết từ cuối năm 1990 sau hơn 20 năm rời xa chữ nghĩa và tiếp tục hoàn chỉnh gần 10 năm cho tới khi có cơ hội ấn hành vào đầu năm 2000. Thế nhưng ngay khi vừa in xong, tác phẩm đã bị gom lại ghiền nát, ngâm thành bột “như thi hành án một tội phạm tử hình với khâu cuối cùng là bác sĩ khám nghiệm tử thi và chôn cất.” Riêng tác giả chưa kịp hưởng “niềm vui trúng số” vì tác phẩm được chào đời đã phải nai nịt và ngụy trang mỗi khi ra đường vào thời điểm đó: “… Mũ Nin-da, thứ mũ có lưỡi trai, trùm kín đầu kín tai kín mặt, xuống tận cổ, chỉ để hở hai con mắt. Rất lợi hại… Trùm vào ấm đã hẳn, người ta lại còn không biết mình là ai. Chưa kể nó bảo vệ mặt tránh được những ca át-xít… Cái cảm giác có đuôi ngày nào trước khi bị bắt năm 1968 lại phả hơi lạnh, hơi bẩn sau gáy.”</p>
<p>Hậu Chuyện Kể Năm 2000 ghi lại nhiều diễn biến quanh tác phẩm Chuyện Kể Năm 2000 từ các đoạn đường hoàn thành tới khi tác phẩm chào đời và những ngày kế tiếp. Tựa đề đầu tiên của Hậu Chuyện Kể Năm 2000 là Thời Biến Đổi Gien được Hoàng Hưng diễn giải là “Một thời đại ghê gớm trên quê hương chúng ta mà cái “gien” NGƯỜI đã bị biến đổi đến thảm hại!”</p>
<p>Đó là thời đại quét sạch mọi quyền sống căn bản của con người buộc toàn thể xã hội luôn cúi đầu quỳ gối tôn thờ những kẻ thủ đoạt quyền lực — thời đại mà hết thẩy người dân không được phép có một hành vi, một ý nghĩ nào khác ngoài việc tự biến thành công cụ phục vụ ý đồ của kẻ thủ đoạt quyền lực được coi là tín ngưỡng tối cao độc nhất vô nhị. hưng những dòng hồi ức Hậu Chuyện Kể Năm 2000 cho thấy mọi thủ đoạn bất nhân, mọi chủ trương tàn ác không hoàn toàn đáp ứng đúng tham vọng của kẻ thủ đoạt quyền lực. Qua những điều gần như vụn vặt nhỏ nhoi nhất trong cuộc sống, tình người vẫn luôn vươn lên bằng mọi cách thuộc mọi lúc và ở mọi nơi.</p>
<p>Vợ con người tù tới thăm mộ chồng không dám cất tiếng khóc vì đã có lệnh cấm khóc, nhưng không lệnh nào có thể cấm được nỗi đau dâng lên trong trái tim họ. Cũng không có lệnh nào hỗ trợ nổi cho các luận điệu dối trá nói trắng thành đen để buộc mọi người phải đặt trọn niềm tin vào những điều vu cáo.</p>
<p>Sự câm lặng của người vợ và những đứa con trước mộ chồng, mộ cha cũng như những cái gật đầu của đám đông trước các luận điệu dối trá chỉ biểu tỏ một tâm thế chịu đựng nhất thời trong khi sức sống của tình người hướng về thương yêu, hướng về sự thật luôn kiên trì tồn tại với độ nóng có thể còn vượt mức độ bình thường.</p>
<p>Chính vì thế, cuốn sách bị kết án tử hình, bị ghiền thành bột đã lập tức phát tán khắp nơi qua mọi hình thức và được truyền tay từ người này sang người khác với số lượng khó thể ước đoán. Thêm nữa, những dòng hồi ức Hậu Chuyện Kể Năm 2000 đã ghi rõ tên tuổi từng người liên hệ tới mọi chuyện kể. Điều này không chỉ diễn tả tấm lòng tôn vinh sự thật mà còn cho thấy thái độ bất chấp mọi chủ trương trấn áp, mọi thủ đoạn bạo hành — thái độ bất khuất của ý chí kiên trì sự sống đúng nghĩa.</p>
<p>Năm 2012 tại Paris vào dịp Festival Livre Et Mer trao tặng giải thưởng cho tác phẩm Biển Và Chim Bói Cá của Bùi Ngọc Tấn, nhà văn kiêm kịch sĩ Francois Bourgeon đã phát biểu : “… Từ khi lập ra giải thưởng này, tác phẩm của Bùi Ngọc Tấn đã hoàn toàn làm chúng tôi thoả mãn. Tác giả là người Việt Nam. Bùi Ngọc Tấn tặng cho chúng ta một cuốn tiểu thuyết nhân văn… Bùi Ngọc Tấn biết cái giá của tự do. Tiểu thuyết của Bùi Ngọc Tấn là một tác phẩm không thể quên. Thậm chí có lẽ là… một tác phẩm làm cho ta tốt hơn.”</p>
<p>Dù chỉ nêu nhận định về tác phẩm Biển Và Chim Bói Cá, nhưng Francois Bourgeon đã cho thấy cái nhìn bao quát về thế giới chữ nghĩa của Bùi Ngọc Tấn trong đó không thể vắng tác phẩm Hậu Chuyện Kể Năm 2000. Và có thể nói kết luận của Francois Bourgeon về “một tác phẩm làm cho ta tốt hơn” càng chính xác khi dành cho Hậu Chuyện Kể Năm 2000 tức Thời Biến Đổi Gien.</p>
<p>Bởi Hậu Chuyện Kể Năm 2000 không chỉ phác họa trung thực chân dung “ba kiếp sống” của những thế hệ nạn nhân Việt Nam trong thời đại quyền lực độc tôn mặc tình tác ác mà đã cho thấy ý chí bất khuất và sức sống phi thường của tình người qua vô số diễn biến cụ thể trong cuộc sống thường ngày đang quằn quại dưới đủ mọi thủ đoạn bất nhân tàn khốc. Những dòng hồi ức của Bùi Ngọc Tấn qua Hậu Chuyện Kể Năm 2000 đã dựng lên hình ảnh một chân trời yêu thương đầm ấm với âm hưởng lời ca thúc đẩy những bước chân dũng cảm kiên trì vươn tới chân trời ấy để “làm cho ta tốt hơn” — như cảm nghĩ của Francois Bourgeon — hầu đạt tới cuộc sống tốt đẹp hơn.</p>
<p>© Uyên Thao</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/t-van-di-san-cua-mot-nh-van/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Phạm Đức Nh&#236;: T&#212;I Đ&#195; GẶP Ở Đ&#194;Y</title>
		<link>https://t-van.net/ph%e1%ba%a1m-d%e1%bb%a9c-nh-ti-d-g%e1%ba%b7p-%e1%bb%9f-dy/</link>
					<comments>https://t-van.net/ph%e1%ba%a1m-d%e1%bb%a9c-nh-ti-d-g%e1%ba%b7p-%e1%bb%9f-dy/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phạm Đức Nhì]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 23 Mar 2013 21:10:54 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Truyện Tù Cải Tạo]]></category>
		<category><![CDATA[chuyện tù]]></category>
		<category><![CDATA[phạm đức nhì]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=9400</guid>

					<description><![CDATA[Sau khi bị đánh đập, cùm kẹp đến liệt hai chân và rối loạn cơ tròn, không kiểm soát được đường tiểu tiện và đại tiện, tôi nằm chờ chết trong xà lim. Nhờ sự can thiệp tận tình của hai bác sĩ tù Trần Quý Nhiếp và Trần Văn Lịch, cộng thêm đề nghị [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2013/03/anh-o-day-1.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-11245" title="anh o day 1" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2013/03/anh-o-day-1.jpg?strip=all" alt="" width="522" height="428" srcset="https://cdn.t-van.net/2013/03/anh-o-day-1-300x246.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2013/03/anh-o-day-1.jpg?strip=all 746w" sizes="(max-width: 522px) 100vw, 522px" /></a></p>
<p><em>Sau khi bị đánh đập, cùm kẹp đến liệt hai chân và rối loạn cơ tròn, không kiểm soát được đường tiểu tiện và đại tiện, tôi nằm chờ chết trong xà lim. Nhờ sự can thiệp tận tình của hai bác sĩ tù Trần Quý Nhiếp và Trần Văn Lịch, cộng thêm đề nghị của một phái đoàn Thanh Tra Y Tế từ trung ương, tôi được chuyển vào một bệnh xá nhỏ ở Phân Trại B, nơi giam giữ tù hình sự. Tôi đã sống chung với đủ mọi loại tội phạm: giết người, trộm cướp, hiếp dâm, lừa đảo, xì ke ma tuý …v. v.</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Tôi đến đây</p>
<p>trong một lần đi trốn</p>
<p>khi đang trong cuộc một trò chơi lớn</p>
<p>trò chơi đấu tranh</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>nhìn quanh</p>
<p>tôi thấy toàn thú dữ</p>
<p>mắt tròn xoe đổ lửa</p>
<p>uống máu ăn thịt lẫn nhau</p>
<p>trong khi bên ngoài những lớp rào</p>
<p>và những hào sâu</p>
<p>bầy quỷ sứ đứng canh</p>
<p>ngả nghiêng cười khoái trá</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>ở đây</p>
<p>một nắm rau dại</p>
<p>một con sâu,</p>
<p>con dế</p>
<p>lắm khi là giá một mạng người</p>
<p>một mẩu tàn thuốc rơi</p>
<p>có thể làm máu đổ</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>tử thần đang mừng rỡ</p>
<p>bước từng bước đến gần</p>
<p>những con người khốn khổ</p>
<p>họ chỉ biết bán rẻ nhân cách của mình</p>
<p>biến thành những con vật đê hèn</p>
<p>ngụp lặn trong vũng bùn tội lỗi</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>may mắn thay</p>
<p>tôi đã gặp ở đây</p>
<p>ân tình đong thật đầy</p>
<p>của những người bạn mới</p>
<p>(giữa rừng cỏ dại quanh bờ suối</p>
<p>lác đác một hai khóm trúc đào)</p>
<p>tôi quên sao được</p>
<p>hương vị ngọt ngào</p>
<p>của cành hoa các anh trao</p>
<p>giữa muôn nghìn cay đắng</p>
<p>đàng sau những vệt máu,</p>
<p>những giọt mồ hôi,</p>
<p>những tia nhìn thù hận</p>
<p>là màu xanh ước mơ</p>
<p>những nét nhạc,</p>
<p>những vần thơ</p>
<p>khung trời quê hương,</p>
<p>biển tình yêu</p>
<p>và cuồn cuộn dâng nhựa sống</p>
<p>tâm hồn tôi như bay cao giữa trời gió lộng</p>
<p>dù xác thân</p>
<p>vẫn trĩu nặng gông xiềng</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>tôi đã gặp những đứa em</p>
<p>còn chút dáng người giữa bầy dã thú</p>
<p>đói thắt ruột</p>
<p>và roi quất trên đầu, trên cổ</p>
<p>vẫn chẳng nỡ ăn thịt đồng loại của mình</p>
<p>tôi ôm các em vào lòng</p>
<p>thủ thỉ bên tai</p>
<p>những lời thân ái</p>
<p>để các em quen dần tiếng nói</p>
<p>của loài người</p>
<p>đã quên mất từ lâu</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>tôi đã bị đẩy xuống tận đáy vực sâu</p>
<p>dù đường còn rất xa</p>
<p>và rất nhiều khó nhọc</p>
<p>vẫn cố trèo lên miệng vực</p>
<p>dù bọn quỷ sứ</p>
<p>muốn biến tôi thành súc vật</p>
<p>trái tim tôi</p>
<p>vẫn ăm ắp tình người</p>
<p>vẫn quay quắt nhớ người yêu</p>
<p>nơi ấy một phương trời</p>
<p>và vẫn niềm tin</p>
<p>ở một ngày mai.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>(Viết cuối năm 1982</strong></p>
<p><strong>ở Bệnh Xá Phân Trại B</strong></p>
<p><strong>Phạm Đức Nhì)</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2013</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ph%e1%ba%a1m-d%e1%bb%a9c-nh-ti-d-g%e1%ba%b7p-%e1%bb%9f-dy/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>H&#242;ai Nam: Xu&#226;n Điềm, Xu&#226;n Lạ, v&#224; c&#226;y đ&#224;n T&#244;-bia</title>
		<link>https://t-van.net/hai-nam-xun-di%e1%bb%81m-xun-l%e1%ba%a1-v-cy-dn-t-bia/</link>
					<comments>https://t-van.net/hai-nam-xun-di%e1%bb%81m-xun-l%e1%ba%a1-v-cy-dn-t-bia/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Tù Khúc]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 09 Jul 2012 14:44:39 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Tù Khúc]]></category>
		<category><![CDATA[chuyện tù]]></category>
		<category><![CDATA[ghi chép]]></category>
		<category><![CDATA[hòai nam]]></category>
		<category><![CDATA[tùy bút]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=6806</guid>

					<description><![CDATA[Người tù và cây đàn – Tranh: Trần Thanh Châu &#160; Tôi và hai anh em nhạc sĩ Xuân Điềm &#38; Xuân Lạ không thân nhau lắm, nhưng những kỷ niệm với hai anh từ hơn 40 năm về trước, tôi vẫn khắc ghi. Nhân dịp T.Vấn &#38; Bạn Hữu giới thiệu một số “tù [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h4 style="text-align: center;"><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2012/07/Tu-Khuc-cây-dan-tobia.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-11288" title="Tu Khuc- cây dan tobia" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2012/07/Tu-Khuc-cây-dan-tobia.jpg" alt="" width="464" height="342" srcset="https://t-van.net/wp-content/uploads/2012/07/Tu-Khuc-cây-dan-tobia-300x220.jpg 300w, https://t-van.net/wp-content/uploads/2012/07/Tu-Khuc-cây-dan-tobia.jpg 580w" sizes="(max-width: 464px) 100vw, 464px" /></a></h4>
<p align="center"><strong>Người tù và cây đàn – Tranh: Trần Thanh Châu</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Tôi và hai anh em nhạc sĩ Xuân Điềm &amp; Xuân Lạ không thân nhau lắm, nhưng những kỷ niệm với hai anh từ hơn 40 năm về trước, tôi vẫn khắc ghi.</p>
<p>Nhân dịp <em>T.Vấn &amp; Bạn Hữu</em> giới thiệu một số “tù khúc” của nhạc sĩ Xuân Điềm, tôi xin phép ghi lại những kỷ niệm ấy, không phải để ca tụng, tô son điểm phấn cho nhau, mà chỉ để hoài niệm hai quãng đời &#8211; một hoa mộng, một khổ đau &#8211; của bản thân, trong đó không thể không nhắc tới Xuân Điềm và Xuân Lạ.</p>
<p><strong><em>Một thời hoa mộng</em></strong></p>
<p>Tôi biết anh Xuân Điềm – tên đầy đủ là Lê Xuân Điềm &#8211; vào khoảng năm 1964, 1965. Thời gian này, anh là nhạc sĩ chơi đàn mandoline trong Ban đại hòa tấu Trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn, thường tới Trường Mù La-san ở đường Nguyễn Thông để hướng dẫn các em trong ban nhạc của trường, mà đàn mandoline là nhạc khí chính.</p>
<p>Viết rằng tôi chỉ “biết” Xuân Điềm, bởi ngày ấy tôi tới Trường Mù La-san với mục đích chính là ngắm các “người đẹp”, chứ không phải để giao kết với anh.</p>
<p>Nguyên T, một người cậu họ cùng lứa tuổi với tôi là bạn thân của anh Xuân Điềm. T khoe với tôi rằng khi tới Trường Mù La-san, T thường gặp các “em” mầm non trong Ban Việt Nhi và lò đào tạo ca sĩ Nguyễn Đức, tới tập dợt chung với ban nhạc của trường. Thế là tôi đi theo T tới Trường Mù La-san.</p>
<p>Tại đây, ngoài anh Xuân Điềm, tôi còn được hân hạnh gặp gỡ một trong những cây đại thụ của nền tân nhạc Việt Nam là nhạc sĩ Lê Thương, người đã tận tụy công sức hướng dẫn học sinh của trường.</p>
<p>Nhưng như đã viết, “mục tiêu” chính của tôi là các mầm non ca sĩ trong lò Nguyễn Đức. Các mầm non vừa từ giã tuổi ô mai để bước vào tuổi dậy thì. Giờ này, gần một nửa thế kỷ đã trôi qua, tôi vẫn còn nhớ mái tóc và những nét cao sang dung dị của Phương Hoài Tâm, nhan sắc mặn mà và những đường cong trước tuổi của Phương Hồng Hạnh, cái mũi hếch đáng yêu của Phương Hồng Quế&#8230;</p>
<p>Nhưng vào cái thời hoa mộng xa xưa ấy, bọn con trai chúng tôi chỉ thập thò chiêm ngưỡng chứ chẳng tay nào có can đảm tới gần để làm quen. Bởi vì các em luôn luôn được mẹ đưa đón, và canh phòng cẩn mật!</p>
<p>* * *</p>
<p>Lẽ dĩ nhiên, khi các mầm non ấy thành danh và thành người lớn, tôi cũng không còn đủ hứng thú để lui tới Trường Mù La-san nữa. Đường đời muôn lối, lẽ ra tôi đã quên hẳn Lê Xuân Điềm nếu như không gặp Lê Xuân Lạ, em trai kế của anh.</p>
<p>Nguyên sau khi nhập ngũ, về phục trong ngành Chiến Tranh Chính Trị của quân chủng Không Quân, tới năm 1970, tôi ra Đà Lạt theo học Khóa 8 Căn Bản tại Đại Học Chiến Tranh Chính Trị. Cùng trong nhóm sĩ quan Không Quân, còn có hai người bạn thân của tôi là nhà thơ Phan Lạc Giang Đông và nhà thơ/nhà báo Trần Ngọc Tự, bạn cùng xóm từ nhỏ.</p>
<p>(Lẽ ra còn có cả đàn anh nhà văn Dương Hùng Cường, tức nhà báo Dê Húc Càn, nhưng vào giờ chót anh xin “hoãn” để ở nhà tập tành làm tài tử xi-nê – phim Người Tình Không Chân Dung)</p>
<p>Ba anh em chúng tôi đều tham gia Ban Báo Chí và Ban Văn Nghệ của khóa học. Qua sinh hoạt trong Ban Văn Nghệ, chúng tôi quen biết Thiếu-úy Lê Xuân Lạ, Sĩ quan CTCT thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh; từ đó tôi mới biết Xuân Lạ là em trai của Xuân Điềm.</p>
<p>Tuy là hai anh em ruột, nhưng hai người khác nhau hoàn toàn, về cả ngoại hình, diện mạo lẫn tính tình. Xuân Điềm người tầm thước, vạm vỡ, trông giống như một “võ sĩ” Tây Sơn, Bình Định (quê quán của hai anh em) hơn là một “nhạc sĩ” trong Ban đại hòa tấu Trường Quốc Gia Âm Nhạc. Xuân Lạ trái lại dáng dấp thư sinh, cao ráo, và&#8230; đẹp trai hơn (xin lỗi anh Xuân Điềm nhé!)</p>
<p>Về tính tình, trong khi Xuân Điềm vui vẻ, hay đùa, dễ hòa đồng thì tính Xuân Lạ hơi&#8230; lạ. Cùng ở cái tuổi chưa “tam thập nhi lập”, trong khi đám sĩ quan trẻ độc thân chúng tôi đùa nghịch, ồn ào, quậy phá khắp nơi thì Xuân Lạ cứ như một vị thầy tu trẻ, nét mặt luôn đăm chiêu như suy tư điều gì, khi cần phải mở miệng thì ăn nói nhỏ nhẹ như con gái. Với bạn bè cùng lứa tuổi, Xuân Lạ xưng hô “mình” và “bạn”, nghe càng thiếu chí khí nam nhi.</p>
<p>Đặc biệt khi ra phố Đà Lạt, Xuân Lạ chưa bao giờ nhập băng với chúng tôi trong mục cặp kè dung dăng dung dẻ.</p>
<p>Như người Đà Lạt, hoặc chỉ cần tới sống ở Đà Lạt trong một thời gian đủ dài cho một mối tình văn nghệ vẫn còn nhớ, ở thành phố hoa anh đào ngày ấy hầu như không có ai, nhất là giới sinh viên đại học, các sĩ quan khóa sinh, và sinh viên sĩ quan của các quân trường “chiều một mình qua phố” cả, mà phải quen cho bằng được một “em gái má đỏ môi hồng” để cho có đôi.</p>
<p>Vẫn biết đa số chỉ mang tính cách văn nghệ, tốn tiền ngồi cà-phê Tùng, Mékong, Thủy Tạ&#8230;, mỏi chân leo Đồi Cù, mòn gót cuốc bộ ven hồ Xuân Hương&#8230;, mà tới lúc rời Đà Lạt có khi cũng chưa hề được nắm “năm ngón thiên thần” của nàng xem nó mềm mại hay chai cứng, người ta cũng cứ dung dăng dung dẻ!</p>
<p>Cùng lắm, Xuân Lạ chỉ vào quán cà-phê <em>Tình Nhớ</em> , gần dốc Nhà thờ Tin Lành, nơi anh em chúng tôi thường tụ tập trước khi trở về Trường.</p>
<p>“Nghề” của Xuân Lạ trong Ban Văn Nghệ là vĩ cầm. Một buổi tối nọ, tập dợt xong, khi chỉ còn một vài anh em ở lại hội trường, Xuân Lạ nổi hứng hát bản <em>Mùa Thu Chết</em> của Phạm Duy phổ thơ Apollinaire – bài hát thịnh hành nhất thời bấy giờ. Nghe Xuân Lạ hát, tôi từ ngạc nhiên tới sững sờ: không chuyên nghiệp, không uốn nắn nhưng thu hút lạ thường!</p>
<p>Gần cuối khóa học, anh em phối hợp với Cơ Sở Nhân Văn Đà Lạt tổ chức một buổi thơ nhạc tại Trường nữ trung học Bùi Thị Xuân. Phan Lạc Giang Đông và Trần Ngọc Tự ngâm thơ, anh Hậu (tôi không nhớ đầy đủ tên họ) hát du ca, tôi đứng sau cánh gà để&#8230; cổ vũ tinh thần. Xuân Lạ xuất hiện gần cuối chương trình, dĩ nhiên để độc tấu vĩ cầm. Anh vừa đàn xong, chúng tôi đứng phía trong xúi anh hát bản Mùa Thu Chết. Anh ngập ngừng một chút rồi hát với tất cả say mê, với hết tâm hồn.</p>
<p>Không ngờ tiết mục ngoài chương trình ấy lại được hoan hô nhiều nhất, mà đại đa số khán giả ái mộ là các nữ sinh. Lúc ấy, tôi ước gì mình là Xuân Lạ!</p>
<p>Sau khi mãn khóa và trước khi trở về đơn vị ở tận Pleiku, tôi chỉ gặp lại Xuân Lạ một lần duy nhất ở quán cà-phê không tên cuối đường Pasteur, nơi tụ hội quen thuộc của anh em báo chí, văn nghệ. Tôi nhớ hôm đó có cả anh Lê Đình Điểu, một đàn anh bị gọi nhập ngũ chung khóa Thủ Đức với tôi và Trần Ngọc Tự. (Lê Đình Điểu “làm lớn” ở Tổng Thống Phủ, anh cũng là người mà theo tôi, ngâm bài thơ <em>Hồ Trường </em>hay nhất trong giới “tài tử”. Sang Hoa Kỳ, anh làm Tổng Thư Ký báo <em>Người Việt</em> và qua đời cách đây hơn 10 năm).</p>
<p>Cuối năm 1971, tôi đi phép về Sài Gòn, tới cà-phê Pasteur, thì được anh em cho biết Xuân Lạ (khi ấy mang cấp bậc Trung-úy) đã đền nợ nước tại chiến trường Snoul ở tận bên kia biên giới Việt – Miên. Anh em ai cũng ngậm ngùi tiếc thương một người bạn trẻ tài hoa mệnh yểu.</p>
<p>Trần Ngọc Tự nói:</p>
<p>“Nét mặt hắn lúc nào cũng đăm chiêu, buồn buồn thế nào ấy, đúng là tướng chết yểu!”</p>
<p>Tôi tính cãi lại “tại hắn chết rồi nên cậu mới nói vậy, chẳng khác nào đợi đảo chánh xong mới đem Sấm Trạng Trình ra để diễn giải”, nhưng rồi thôi. Bởi chính tôi, tuy cùng niềm tin với Xuân Lạ “mọi sự do Thượng Đế an bài”, cũng hoang mang tự hỏi không hiểu trong trường hợp này, nét mặt con người có liên quan gì tới số mạng hay không?</p>
<h3>Cây đàn “Tobia”</h3>
<p>Năm 1975, sau khi miền Nam đổi chủ, anh em sĩ quan cấp Trung-úy ở quận Phú Nhuận phải “trình diện học tập cải tạo” tại Đại Học Văn Khoa, từ đó được đưa lên Thành Ông Năm ở Hốc Môn, trước kia là một doanh trại của Công Binh VNCH. Tại đây, sau năm lần bảy lượt di chuyển từ T (tiểu đoàn) này sang T khác, tới khi được “định cư” trong dẫy nhà trước kia là Khu Gia Binh, tôi bỗng thấy mình ở cùng Đội với anh Lê Xuân Điềm.</p>
<p>Tuy khác Tổ (10 người), trên nguyên tắc không được qua lại nhưng vì thời gian này cán bộ quản giáo ngoài Bắc vào chưa có bao nhiêu, đa số “cai tù” còn là dân “giải phóng” cho nên không khí cũng tương đối dễ thở.</p>
<p>Sống gần gũi Xuân Điềm trong cảnh cá chậu chim lồng, tôi càng thêm cảm phục; anh luôn lạc quan (có lẽ vì Đức Tin của anh mạnh), thân thiện, hay giúp đỡ mọi người, khéo tay hơn người, kể cả mục “cải thiện”, tức kiếm rau cỏ chế biến thành thức ăn.</p>
<p>Chỉ có điều lúc đó ai cũng phải “thủ” nên tôi và anh Xuân Điềm ít khi nhắc lại chuyện xưa, nhất là các sáng tác mang màu sắc quốc gia của anh – chẳng hạn bản “Việt Nam Không Quân ca” anh viết chung với Xuân Lạ năm 1967. Những ca khúc anh ghi ra để anh em đàn chỉ là phần nhạc không lời trong mấy bản nhạc tình, hoặc tình tự quê hương viết chung với Đắc Đăng, một người bạn trong nhóm La-san ngày trước.</p>
<p>* * *</p>
<p>Tới đây nói về cây đàn ghi-ta và cây đàn banjo chúng tôi đóng ở Thành Ông Năm, nếu không phải hai cây đàn đầu tiên thì cũng nằm trong số những cây đàn đầu tiên được đóng trong trại cải tạo.</p>
<p>Cây banjo do anh Xuân Điềm thực hiện một mình, nhưng cây ghi-ta thì cần tới một toán “văn nghệ sĩ kiêm handyman” hùng hậu.</p>
<p>Trước hết, nói về nhân tài trong tổ của tôi và Trần Ngọc Tự (hai thằng luôn “nắm áo nhau để khỏi lạc” từ ngày đi học Thủ Đức).</p>
<p>Người thứ nhất là Trung-úy Khương Hữu Thành, cháu của Hải Quân Phó Đề Đốc Khương Hữu Bá, một tay “bách nghệ tinh”, vừa chơi ghi-ta classique vừa bốc thuốc Nam, kiêm hội viên Thông Thiên Học. Chính Thành đã truyền thụ cho tôi cách sử dụng “quả lắc cảm xạ học” để biết trước “tọa độ”, tức phương hướng và xa gần, của trại cải tạo sắp bị đưa tới; và sau khi cả hai được thả, Thành đã chỉ tôi cách làm xà-bông bột sao cho có nhiều bọt để gạ bán cho các bà ngoài chợ trời.</p>
<p>Người thứ hai là Trung-úy Nguyễn Văn Chúc (mới qua đời tại Hoa Kỳ vào tháng 2/2011, mà T.Vấn đã thương tiếc qua bài “Tiễn Người đi”).</p>
<p>Chúc cũng chơi ghi-ta classique, cùng trạc tuổi và cùng ở khu ngã tư Trương Minh Ký &amp; Nguyễn Huỳnh Đức với tôi và Trần Ngọc Tự. Trước năm 1975, ông cụ thân sinh của Chúc là chủ nhân Tiệm sắt Thăng Long ở gần Cổng xe lửa số 6. Làm business nhưng cung cách của Cụ giống như một nhà giáo, lại hiền lành, tốt bụng, nên ai cũng quý trọng. Nhưng không mấy người biết trưởng nam của cụ là Đại-tá Nguyễn Văn Toán, Khóa 1 Nam Định (cùng khóa với các tướng Nguyễn Cao Kỳ, Phạm Quốc Thuần&#8230;), từng làm Tư lệnh Sư Đoàn 25 Bộ Binh.</p>
<p>Riêng tôi và Chúc chỉ biết nhau qua việc người anh kế của Chúc chơi thân với một người cậu của tôi (cả hai sau này đều đền nợ nước). Năm 1970, chúng tôi gặp lại nhau tại Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt, nơi tôi và Trần Ngọc Tự học Khóa 8 Căn Bản còn Chúc học Khóa 2 Sinh Viên Sĩ Quan, giữ chức Nhạc trưởng.</p>
<p>Tổ kế bên thì có Hiếu (tôi không nhớ họ), một tay đàn ghi–ta chuyên nghiệp, chơi cho các vũ trường ở Sài Gòn, và Phạm Khắc Khiêm, một “handyman” siêu đẳng, trước kia phục vụ tại Hải Quân Công Xưởng.</p>
<p>Bằng đó “nghệ sĩ” và “nhân tài” đã đủ để đi tới quyết định đóng một cây đàn ghi-ta. Đàn đóng bằng ván ép, thùng đàn có hình thù giống như cái quan tài nho nhỏ của người tây phương, cần đàn và “bộ khóa” lên dây đàn đẽo bằng gỗ, ngăn phím làm bằng lõi đồng của dây điện, dây đàn làm bằng các sợi thép lấy trong ruột dây điện thoại: dây “mí” thì một sợi, dây “si” hai sợi xoắn lại, dây “sol” ba sợi, v.v&#8230;</p>
<p>Cùng thời gian, anh Xuân Điềm thực hiện cây banjo. Tôi không còn nhớ rõ cấu tạo của nó, chỉ biết mặt thùng đàn là một cái đĩa nhôm “chôm” từ nhà bếp!</p>
<p>Ngày ấy, đầu mùa cải tạo, chưa có ai sáng tác “tù ca”, nhưng ít ra hai cây đàn dã chiến ấy cũng trở thành niềm vui không nhỏ cho anh em chúng tôi trong những tháng ngày căng thẳng đợi chờ số phận.</p>
<p>Cây banjo do anh Xuân Điềm độc quyền sử dụng, bởi chúng tôi mù tịt, còn cây ghi-ta thì cho cả nhóm. Hiếu là người đàn nhiều nhất và được “ái mộ” nhất, bởi hắn có khả năng đàn từ nhạc thời trang tới nhạc jazz, nhạc rock&#8230; Kế tới là Khương Hữu Thành, còn Chúc rất ít đàn, phần vì bản tính trầm lặng, phần vì hắn khó tính, chê đàn “dổm”!</p>
<p>Những lần hiếm hoi được nghe Chúc đàn, tôi nhận ra hai bản classique quen thuộc: <em>Fur Elise </em>và <em>Amour Interdits</em>. Một buổi tối nọ, tôi vô cùng ngạc nhiên khi nghe Chúc đàn một đoạn trong <em>Kinh Hòa Bình</em>, một bản thánh ca nổi tiếng của người Công Giáo Việt Nam, nguyên là lời kinh do Thánh Phan-xi-cô (St Francis of Assissi) đặt, được Linh mục Kim Long dịch sang lời Việt và phổ nhạc.</p>
<p>Tôi ngạc nhiên vì biết gia đình Chúc theo đạo Phật. Sau này, Chúc giải thích với tôi: từ trước năm 1975, anh đã luôn luôn xúc động trước lời hát, và rung động trước nét nhạc của bản thánh ca đầy vị tha, tình người, và hy vọng này, nhất là khi được được trình bày dưới hình thức đại hợp xướng. Tới đây thì tôi hiểu, bởi Chúc đã từng điều khiển ban hợp xướng của Đại Học Chiến Tranh Chính Trị ngày nào.</p>
<p>Ở cùng Đội với tôi và Chúc, còn có một số Trung-úy cũng xuất thân Khóa 2 ĐH/CTCT, thường lui tới tán chuyện, nhắc nhớ những kỷ niệm xưa, trong đó có Đỗ Nguyên Thiện và Hoàng Văn Toán, hai người mà T.Vấn cho biết hiện nay đang sống ở Hoa Kỳ.</p>
<p>* * *</p>
<p>Đầu năm 1976, gần tới Tết ta, tôi còn nhớ rõ là ngày tiễn Ông Táo về trời (23 tháng Chạp), xảy ra cuộc chuyển trại quy mô đầu tiên, và tôi là người duy nhất trong tổ bị gọi tên.</p>
<p>Mặc dù ngày ấy không ai biết người đi sẽ đi về phương trời nào, và số phận kẻ ở lại sẽ ra sao, nhưng theo tâm lý thông thường, kẻ ở lại bao giờ cũng lo âu, ái ngại cho người ra đi.</p>
<p>Vì thế, mặc dù chẳng góp được bao công sức trong việc đóng đàn và tài đàn cũng chẳng bằng ai, khi tôi đòi đem theo cây ghi-ta, anh em ở lại không ai phản đối.</p>
<p>Sau ba ngày đêm lênh đênh trên biển Đông, chiếc hải vận hạm HQ-405 (lúc này đã mang cờ Cộng Sản VN) chở chúng tôi cập đảo Phú Quốc vào tối khuya. Trước cổng trại giam – trước kia là Trại Tù Phiến Cộng, chúng tôi xếp hàng một, từng người lần lượt bước vào trước ánh đèn pha và những cặp mắt đầy hận thù của cán bộ và vệ binh từ miền Bắc vào. Khi tôi đi ngang, thấy cây đàn trên vai, một tay cán bộ cười nhạt, nói:</p>
<p><em>&#8211; Mang theo cả đàn nữa cơ à! Gớm, còn yêu đời thế nhỉ!</em></p>
<p>Nghe gã nói, tôi lạnh người, biết tương lai của mình chắc chắn không phải màu hồng. Cũng may, thời gian bị đọa đày, đói khổ, và có thể chết hay cụt chân vì mìn khi đi lao động ở Phú Quốc chỉ kéo dài sáu tháng. Nguyên nhân là cuộc xung đột giữa hai anh em CSVN và CS Căm-bốt (Khmer Đỏ). Sau khi Khmer Đỏ đánh phá đảo Thổ Châu ở gần đó, sợ tù cải tạo nhân lúc rối loạn có thể trốn trại hay nổi loạn, nhà cầm quyền CSVN đã cấp tốc đưa tù về đất liền. Cây đàn ghi-ta lại theo tôi, lần này là trên chiếc dương vận hạm HQ-503; cuối cùng về tới Trảng Lớn, Tây Ninh.</p>
<p><em>[Xin mở ngoặc để viết về trường hợp “tái ông thất mã” của tôi, một trong những sĩ quan CTCT cấp Trung-úy hiếm hoi không bị đưa ra miền Bắc. Nguyên khi diễn ra cuộc “tuyển người” để đưa ra Bắc đợt thứ nhất, thì tôi đã ra Phú Quốc; từ Phú Quốc trở về đất liền, thay vì bị đưa tới Long Giao, nơi sẽ “tuyển người” để đưa ra Bắc đợt hai, tôi lại được đưa về Trảng Lớn. Bù lại, trong thời gian 6 năm tù cải tạo, tôi đã bị chuyển trại tổng cộng 9 lần và ở 7 trại khác nhau, tức là có những trại ở hai lần!]</em></p>
<p>Nếu không kể các trại cải tạo do địa phương quản trị mà chỉ tính các trại của trung ương, thì phải nói Trảng Lớn là “thiên đường cải tạo”.</p>
<p>Bởi tuy cùng một “chính sách” nhưng khi thi hành thì mỗi trại mỗi khác, tùy thuộc mức độ hận thù và nhân tính còn lại nơi viên thủ trưởng, tay chính trị viên, đám cán bộ quản giáo, vệ binh&#8230;</p>
<p>Bên cạnh đó, diện tích khu vực Trảng Lớn chẳng có là bao, lại không ở gần núi rừng hay đồng hoang cỏ cháy, cho nên tù cải tạo không có nhiều cơ hội, phương tiện để thực thi khẩu hiệu “Lao động là vinh quang”.</p>
<p>Ngày hai buổi tà tà học tập trong hội trường hoặc thơ thẩn ngoài vườn chăm sóc mấy luống rau, ăn uống đầy đủ (cho dù chỉ là ăn độn), nếu may mắn gặp cán bộ “tài vụ” dễ dãi còn có thể gửi tiền (cộng thêm chút thù lao) nhờ họ mua giúp thứ này thứ khác&#8230;</p>
<p>Thành thử so sánh về cả mặt tinh thần lẫn thể xác, giữa đám tù cải tạo tiều tụy vừa từ “địa ngục” Phú Quốc về và các đồng đội may mắn được ở lại Trảng Lớn từ đầu mùa cải tạo, có một sự tương phản tới mức đau lòng, phi lý!</p>
<p>Người đã vậy, đàn cũng thế thôi. Vào thời điểm tôi về Trảng Lớn, anh em tù cải tạo ở đây đã có thời giờ và phương tiện để đóng những cây đàn ghi-ta y như đàn thiệt, tức là thùng</p>
<p>đàn cũng có eo hình số 8, mặt đàn bằng ván ép đánh vẹc-ni bóng láng, bộ khóa lên dây đàn bằng kim loại và dây đàn “origin” do thân nhân gửi vào&#8230;</p>
<p>Vì thế, họ đặt cho cây đàn thô lậu, hình dạng như cái quan tài của tôi một cái tên vừa mỉa mai vừa khôi hài nhưng khá chính xác: cây đàn Tô-bia. “Tobia” nguyên là tên một nhà hòm nổi tiếng ở Sài Gòn trước năm 1975. Nhưng dứt khoát không vì sự miệt thị ấy mà tôi rẻ rúng boặc bỏ rơi cây đàn.</p>
<p>Sau này tôi đem nó lần lượt về Đồng Ban (cũng thuộc Tây Ninh), Phước Long, Bù Đăng (Sông Bé), và Suối Máu (Biên Hòa).</p>
<p>Tại Suối Máu, sau khi tù cải tạo được Quân Đội Nhân Dân bàn giao cho Công An Nhân Dân (cai tù chuyên nghiệp thuộc Cục Trại Giam), tiếp thep là vụ “nổi loạn” đêm Giáng Sinh 1979, không biết số phận mình sẽ ra sao, đợi tới khi có thăm nuôi, tôi đưa cây đàn cho vợ mang về nhà.</p>
<p>Cuối năm 1981, ít lâu sau khi được thả về từ trại Tống Lê Chân (Bình Long), tôi cùng gia đình vượt biên. Vì đội lốt “ngư phủ” trên một cái ghe giả dạng làm “ghe cào”, để tránh bị lộ tẩy khi công an hoặc hải quan lục soát, tôi bắt buộc phải để lại Sài Gòn hai thứ duy nhất có liên quan tới thời gian học tập cải tạo, là cái Giấy Ra Trại và cây đàn Tô-bia, trên có khắc ghi 7 địa danh tôi đã sống qua trong quãng đời tù tội.</p>
<p><strong><em>Ba mươi năm sau&#8230;</em></strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Khoảng năm 2005, tức 30 năm sau ngày chia tay anh Xuân Điềm ở Thành Ông Năm, và an cư lạc nghiệp ở Úc được hơn 20 năm, tôi mới biết tin tức về anh. Nguyên sau khi định cư tại Hoa Kỳ, Xuân Điềm đã thực hiện và phát hành CD <em>Tưởng Niệm Chiến Sĩ Tự Do</em>, trong đó có bản “Việt Nam Không Quân ca”, được phổ biến trên website “Cánh Thép”. Sau khi được Liên Hội Không Quân ở Úc liên lạc, anh đã gửi tặng CD này cùng với tập nhạc <em>Dấn Thân</em>. Ngày ấy tôi đã có đôi hàng giới thiệu bản “Việt Nam Không Quân ca” và hai tác giả trên đặc san Lý Tưởng của Không Quân ở Úc Châu.</p>
<p>Nay đọc bài viết của T.Vấn, mới biết thêm một chi tiết thú vị: năm 1976, Xuân Điềm cũng “may mắn” được đưa ra Phú Quốc, rồi về Trảng Lớn, sau này lên Đồng Ban như tôi, nhưng ở khác T nên anh em không gặp nhau. Nhìn hình anh (trên <em>T.Vấn &amp; Bạn Hữu</em> ) với cây đàn banjo đầy kỷ niệm, tôi thấy hình như anh không già đi chút nào so với ngày còn ở Thành Ông Năm hơn 30 năm về trước (có lẽ vì anh luôn sống lạc quan), chưa kể có phần còn&#8230; đẹp trai hơn!</p>
<p>Hôm nay, một lần nữa, nhân dịp<em>T.Vấn &amp; Bạn Hữu</em> giới thiệu một số tù khúc của Xuân Điềm, tôi xin được gửi tới anh và người bạn đời – chị Thanh Liễu &#8211; những lời cầu chúc chân tình.</p>
<p>Riêng với người bạn trẻ đã khuất, xin dành cho anh một lời cầu nguyện. Vẫn biết Xuân Lạ sống ngay lành, chết xứng đáng, có lẽ đã tìm thấy bóng thiên đường cuối trời từ lâu lắm rồi. Nhưng tôi vẫn nguyện cầu. Bởi trong trường hợp này, còn lời nào khác hơn để tưởng nhớ!</p>
<h5><span style="font-weight: bold;">Hoài Nam</span></h5>
<p><em>Melbourne, Úc-đại-lợi, tháng 7/2012</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2012</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/hai-nam-xun-di%e1%bb%81m-xun-l%e1%ba%a1-v-cy-dn-t-bia/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>T.Vấn: Chuyện kể về nh&#224; t&#249; sau ng&#224;y chiến tranh chấm dứt</title>
		<link>https://t-van.net/t-v%e1%ba%a5n-chuy%e1%bb%87n-k%e1%bb%83-v%e1%bb%81-nh-t-sau-ngy-chi%e1%ba%bfn-tranh-ch%e1%ba%a5m-d%e1%bb%a9t/</link>
					<comments>https://t-van.net/t-v%e1%ba%a5n-chuy%e1%bb%87n-k%e1%bb%83-v%e1%bb%81-nh-t-sau-ngy-chi%e1%ba%bfn-tranh-ch%e1%ba%a5m-d%e1%bb%a9t/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[T.Vấn]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 05 Nov 2011 04:40:11 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Ghi Chép]]></category>
		<category><![CDATA[chuyện tù]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=4254</guid>

					<description><![CDATA[Nhà văn Bùi Ngọc Tấn, tác gỉa “Chuyện kể năm 2000&#8243;, một người tù “cam chịu lịch sử&#8221;, trong bản tham luận viết cho dự án “Tái xây dựng diện mạo và vị trí của cộng đồng người Việt&#8221; ((Re) Constructing Identity and Place in Vietnamese Diaspora) của William Joiner Center: “Với kinh nghiệm sống [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/11/bnt-2000.jpg?strip=all&fit=240%2C162"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-11535" title="bnt -2000" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/11/bnt-2000.jpg?strip=all&fit=240%2C162" alt="" width="240" height="162" /></a></p>
<p>Nhà văn Bùi Ngọc Tấn, tác gỉa “<a href="http://buingoctan.wordpress.com/category/tac-ph%e1%ba%a9m/chuy%e1%bb%87n-k%e1%bb%83-nam-2000/">Chuyện kể năm 2000&#8243;</a>, một người tù “cam chịu lịch sử&#8221;, trong <a href="https://t-van.net/?p=4234">bản tham luận</a> viết cho dự án “Tái xây dựng diện mạo và vị trí của cộng đồng người Việt&#8221; ((Re) Constructing Identity and Place in Vietnamese Diaspora) của William Joiner Center: “<em>Với kinh nghiệm sống trong một đất nước liên tiếp có những cuộc chiến tranh, tôi hiểu chiến tranh không chỉ đến một mình. Bao giờ nó cũng có một người bạn đồng hành: Nhà tù. Đó là người anh em sinh đôi của chiến tranh</em><em> . . .</em> “</p>
<p>Cái nhà tù mà nhà văn Bùi Ngọc Tấn nói đến trong tác phẩm gây xôn xao dư luận một thời, chính là nhà tù đã giam giữ “<em>Những người đã từng cộng tác với Pháp, với Mỹ, những người có biểu hiện thiếu lòng tin vào sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản, những phần tử đáng ngờ, những kẻ trộm cắp, du thủ du thực,&#8230; tóm lại tất cả những gì là vẩn đục so với yêu cầu trong như pha lê của một xã hội cần pha lê hoá, đều bị tập trung cải tạo và đó được coi là một biện pháp không thể thiếu.</em><em>..&#8221; </em></p>
<p>Và theo ông: “<em>Tổng kết về một cuộc chiến tranh không được quên những người đó. Họ đã góp phần vào chiến thắng, bằng cuộc đời mình, bằng sự đóng góp phần cao quý nhất của mình: Tự Do!<br />
Họ có quyền được chia sẻ niềm tự hào, dù là sự tự hào nhục nhã.<br />
Dù họ chỉ là những người cam chịu lịch sử.<br />
Lịch sử phải viết về họ.<br />
Văn học phải viết về họ.</em><em>&#8221;<br />
</em></p>
<p>Với tác phẩm “<em>Chuyện kể năm 2000&#8243;</em>, nhà văn Bùi Ngọc Tấn đã thực hiện nhiệm vụ của mình, bằng tư cách một người làm văn học – hơn nữa, nạn nhân của chính nhà tù ấy, của sự “<em>cam chịu lịch sử&#8221;</em>. Một nhiệm vụ được hòan thành xuất sắc. Không có sự ra đời của “C<em>huyện kể năm 2000&#8243;</em>, hầu như ta có thể nói không có nhà văn Bùi Ngọc Tấn hiện hữu trong nền văn học đầy những biến động của Việt Nam cận đại, bất kể văn nghiệp của ông đã khởi đầu từ rất lâu, từ trước khi bước chân vào nhà tù, và sau “<em>Chuyện kể năm 2000&#8243;</em> ông đã cho ra đời thêm nhiều tác phẩm khác.</p>
<p>Ít nhất, đó là cái nhìn từ bên ngòai đất nước, của những người đã từng có thời ở chung một nhà tù với ông, nhưng không phải với tư cách “cam chịu lịch sử&#8221; theo lối nói của ông nhằm chỉ những người “<em>đã góp phần vào chiến thắng</em><em> (của cuộc chiến tranh )</em><em>, bằng cuộc đời mình, bằng sự đóng góp phần cao quý nhất của mình: Tự Do!&#8221;</em><em>.</em></p>
<p>Những kẻ “cam chịu lịch sử&#8221; bước chân vào nhà tù (Cộng sản) với tâm trạng của người bị bắt oan, của người vẫn tin vào sự lãnh đạo của Đảng, sự tốt đẹp của nhà nước Cộng sản, nhưng vì những nguyên nhân mà họ không biết được, họ đã bị nghi ngờ là chống phá nhà nước, không chịu đi theo Đảng. Kể cả khi được thả ra ngòai xã hội, họ vẫn còn mang tâm trạng ấy, và, tuy có vùng vẫy, cũng là sự vùng vẫy nhằm kêu gào cho sự oan ức của mình.</p>
<p>Cũng nhà tù ấy, cũng người anh em sinh đôi của chiến tranh ấy, sau khi chiến tranh chấm dứt vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, đã đón nhận hàng trăm ngàn người tù mới, những người thuộc về phe bại trận, những người không thuộc thành phần “cam chịu lịch sử&#8221;, tức những người không góp phần vào chiến thằng bằng sự tự do mà bằng vào chính khả năng sử dụng sự tự do ấy để ngăn cản không cho sự chiến thắng (của người Cộng sản) xẩy ra. Chẳng may, họ đã thất bại. Và vì là kẻ bại trận, họ chấp nhận thân phận tù đày. Chẳng có gì oan ức cho những người tù sau cuộc chiến tranh ý thức hệ cả. Và sự vùng vẫy của họ, nếu có, là sự vùng vẫy nhằm chống lại sự tòan trị của chế độ, nhằm lật đổ chế độ, hay nhẹ hơn là tìm cách thoát ra khỏi đất nước bị kềm kẹp bởi chế độ đó.</p>
<p>Nhưng, đối với những tên cai tù trong nhà tù nhỏ là những trại cải tạo mọc lên như nấm trên khắp miền đất nước sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 hay những tên cai tù hiện thân là những viên chức chính quyền trong nhà tù lớn là cả đất nước Việt Nam những ngày khó quên ấy, thì tù là tù, bất kể anh “cam chịu lịch sử&#8221;, oan ức hay đích thị là “bọn phản động chống phá cách mạng”.</p>
<p>Vì tù nào cũng là tù, nên sự đối xử chỉ là một.</p>
<p>Như nhà phê bình Thụy Khê đã nhận xét: “<em>Từ trước đến nay, độc giả -nhất là độc giả ngoài nước- đã được đọc nhiều hồi ký cải tạo của những người cầm bút ở hai miền Nam Bắc. Mỗi hồi ký đều nói lên những khía cạnh khác nhau của đời tù cải tạo. Qua những tác phẩm đó, người đọc biết được đại cương đời sống trong tù. Nhưng thể hồi ký, luôn luôn gò bó người viết trong tư thế nhất định của cái tôi chủ quan nên khó có thể bước vào thế giới mộng tưởng nghệ thuật. Ở hồi ký, người viết cũng lại gần như bắt buộc phải đưa ra những việc thực, người thực nghèo nàn, giết chết khả năng sáng tạo. </em></p>
<p><em>     Sự lựa chọn thể tiểu thuyết, nơi Bùi Ngọc Tấn, là một sự lựa chọn độc sáng. Với tiểu thuyết, nhà văn có thể tung hoành, sống nhiều cái tôi, đứng trên muôn vàn khía cạnh để rọi những lăng kính khác vào cuộc đời Goulag</em><em> . . .&#8221; </em></p>
<p>Quả đúng là sự lựa chọn hình thức tiểu thuyết để kể lại cuộc đời tù tội (trong nhà tù Cộng sản) và kể cả khi đã được “nhà nước ưu ái, khoan hồng&#8221; cho phép bước từ nhà tù nhỏ (trại cải tạo) ra nhà tù lớn (xã hội công an trị) là một sự lựa chọn độc sáng của nhà văn Bùi Ngọc Tấn, và phải kể cả đến văn tài nẩy nở từ những khổ đau ông phải chịu. Không có những đau khổ, tủi nhục ông phải trải qua, chưa chắc văn tài của ông có dịp trau dũa để chín mùi như khi ông viết “<em>Chuyện kể năm 2000&#8243;</em> trong âm thầm, không biết rồi đây những trăn trở buốt lòng ấy có dịp đến với người đọc khắp nơi, ở bên này và bên kia bờ Thái Bình Dương, để chỉ thỏa mãn khát vọng chia sẻ, đánh động lương tâm con người chứ không phải sự nổi tiếng.</p>
<p>Nhà văn Bùi Ngọc Tấn đã được cả hai thứ . Ông xứng đáng nhận phần thưởng ấy cho những nỗ lực đầy đau đớn của mình.</p>
<p>Lịch sử bao giờ cũng có những sự ngạc nhiên dành cho chúng ta. Cái cách cuộc chiến Việt Nam kết thúc năm 1975 là một sự ngạc nhiên chết người. Bức tường Bá Linh bị kéo đổ năm 1989 và tiếp theo đó sự tan rã hàng lọat của hệ thống nhà nước Cộng sản thế giới lại là một sự ngạc nhiên khác lớn không kém. Rồi những người tù năm xưa từ hệ thống nhà tù độc ác nhất thế giới của chính quyền Cộng sản Việt Nam bỗng một sớm một chiều từ địa vị công dân hạng nhì, chỉ được tạm trú trong chính căn nhà mình sinh ra, trên đất nước mà cha mẹ tổ tiên bao đời gìn giữ, những con người “cặn bã&#8221; ấy đã được trọng vọng nhờ vào những năm “cải tạo&#8221; ở những trại tù. Càng nhiều năm cải tạo, càng có giá, càng nắm chắc được chiếc vé máy bay bay vào “thiên đường&#8221;.</p>
<p>Nhiều năm sau, từ những vùng đất tự do ngòai đất nước, nhiều câu chuyện về “nhà tù&#8221; được kể lại, được lan truyền, bằng nhiều hình thức khác nhau. Đó là một mảng văn học rất đặc thù nẩy sinh từ một hòan cảnh lịch sử cũng đặc thù không kém. Tác phẩm “Chuyện kể năm 2000&#8243; của nhà văn Bùi Ngọc Tấn chiếm một vị trí đáng chú ý nhất trong mảng văn học này, vì nó đã phản ánh một cách trung thực nhất, bi tráng nhất, thuyết phục nhất những hình ảnh khó quên về cái gọi là “Trại Cải Tạo&#8221; trong tâm tưởng hàng chục triệu những nạn nhân của nó.</p>
<p>Trang T.Vấn &amp; Bạn Hữu, nhân giới thiệu công trình góp nhặt cát đá của anh Ngộ Không Phí Ngọc Hùng qua chuyên đề <a href="https://t-van.net/?p=4234">Tác Giả Tác Phẩm &#8211; Bùi Ngọc Tấn</a>, cũng nhân cơ hội nhìn lại một đọan đời không bao giờ quên của những bằng hữu thường xuyên góp mặt trên trang viết này. Vì những dấu ấn từ đọan đời tù đày ấy lúc nào cũng lảng vảng – một cách ý thức hay không ý thức – trên những sáng tác thơ, văn, nhạc mà các bạn hữu chúng tôi gởi đến đóng góp.</p>
<p>Qua “<a href="https://t-van.net/?p=4240">Những hình bóng cũ&#8221;</a> của Trần Lê Việt, chúng ta hiểu được tâm tư, hòan cảnh những bài nhạc của anh ra đời và cũng gián tiếp được gợi nhắc lại những bài tù khúc từng được thuộc nằm lòng bởi hàng chục ngàn tù nhân cải tạo và làm rơi nước mắt hàng triệu những thân nhân chúng ta năm nào. Hoặc với “<a href="https://t-van.net/?p=4219">Một cỗ xe trâu&#8221;</a> hay “<a href="https://t-van.net/?p=4251" target="_blank">Vùng đất chim độc thọai&#8221;</a> của Đỗ Xuân Tê, gợi nhớ đến những năm tháng vô vọng, những cái chết “lãng nhách&#8221; rình rập người tù không án nơi miền thượng du rừng thiêng nước độc. Hoặc “<a href="https://t-van.net/?p=427">Đốm lửa trong đêm tù&#8221;</a> của Như Hoa Lê Quang Sinh làm nhớ đến những anh em “đồng tù&#8221; một thuở chia nhau từ thỏi đường viên kẹo cho đến viên thuốc hiếm hoi nhận được từ gia đình. Hoặc những <a href="https://t-van.net/?p=1152">bài thơ viết từ năm tháng khốn khó nơi trại tù</a> của Ngọc Phi, cho người vợ trẻ phải thay chồng bươn chải miếng cơm manh áo nuôi con, nuôi mẹ cùng với nỗi cô đơn cùng cực của một người đàn bà trẻ chờ đợi vô vọng sự trở về của người xưa.</p>
<p>Những bạn hữu nói trên của chúng tôi đã sống những điều mình viết, đã rất nhiều năm chôn vùi tuổi trẻ trong sự khốn khổ nhưng không tuyệt vọng, chịu đựng nhưng không đầu hàng, để cuối cùng điều quan trọng nhất đã đạt được: sống sót trở về.</p>
<p>Để ngày hôm nay, chúng tôi có cơ hội góp phần viết một trang sử cần được viết bởi nhiều người cho các thế hệ mai sau.</p>
<p><strong>T.Vấn</strong></p>
<p>3 tháng 11 năm 2011</p>
<p>©T.Vấn 2011</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/t-v%e1%ba%a5n-chuy%e1%bb%87n-k%e1%bb%83-v%e1%bb%81-nh-t-sau-ngy-chi%e1%ba%bfn-tranh-ch%e1%ba%a5m-d%e1%bb%a9t/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Đỗ Xu&#226;n T&#234; : V&#249;ng Đất Chim Độc Thoại</title>
		<link>https://t-van.net/d%e1%bb%97-xun-t-vng-d%e1%ba%a5t-chim-d%e1%bb%99c-tho%e1%ba%a1i/</link>
					<comments>https://t-van.net/d%e1%bb%97-xun-t-vng-d%e1%ba%a5t-chim-d%e1%bb%99c-tho%e1%ba%a1i/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Đỗ Xuân Tê]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 05 Nov 2011 04:36:25 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[chuyện tù]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=4251</guid>

					<description><![CDATA[&#160; Hình : Chim Bắt Cô Trói Cột của rừng núi Yên Bái Yên Bái, mùa hè 1976&#8230; Đoàn tù chúng tôi sang phà sông Hồng. Trời tối mịt, từng cá nhân với chút hành trang lỉnh kỉnh từ miền Nam ra mò mẫm đi vào vùng cấm địa. Sau này mơí biết đây là [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/11/bat-co-troi-cot-3.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-11767" title="bat-co-troi-cot-3" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/11/bat-co-troi-cot-3.jpg?strip=all" alt="" width="600" height="360" srcset="https://cdn.t-van.net/2011/11/bat-co-troi-cot-3-300x180.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/11/bat-co-troi-cot-3.jpg?strip=all 600w" sizes="(max-width: 600px) 100vw, 600px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong><em>Hình : Chim Bắt Cô Trói Cột của rừng núi Yên Bái</em></strong></p>
<p>Yên Bái, mùa hè 1976&#8230;</p>
<p>Đoàn tù chúng tôi sang phà sông Hồng. Trời tối mịt, từng cá nhân với chút hành trang lỉnh kỉnh từ miền Nam ra mò mẫm đi vào vùng cấm địa. Sau này mơí biết đây là bến phà Âu Lâu, gần thị xã Yên Bái, ai lên mạn ngược đều biết điạ danh này.</p>
<p>Traị tù nằm sâu trong thung lũng hẹp, dựa theo sườn đông của rặng Hoàng liên sơn. Địa hình vùng này quả là nơi lý tưởng để giam tù caỉ tạo. Bốn bề là đôì núi, cây trái không thứ nào ăn được, ăn lầm là hết thở. Thú rừng trừ loài khỉ, các loài khác không có đất sống. Chim chóc thì độc một loài với tiếng kêu độc thoaị mà các cụ tôi thường kể cho nghe hồi thơ ấu, đó là loài chim “bắt cô trói cột” mang âm hưởng của một vong hồn oan nghiệt, nghe riết phát khùng. Tuy chỉ sống ở đây khoảng gần hai năm, nhưng ký ức về vùng đất này lại là những tháng ngày không thể nào quên.</p>
<p>Nơi đây, các bạn tù của tôi nhiều người đã nằm xuống. Chủ nhân hai mộ phần đầu tiên được thiết lập trên đất Bắc laị là người có quan hệ mật thiết với tôi, một ông là cấp chỉ huy cũ cùng ngành bị chết ngộp trên tàu khi chưa đến trại, một ông cùng đơn vị vì chứng sốt vàng da. Nhiều nấm mộ mới tiếp tục mọc lên trong những tháng ngày kế tiếp. Nguyên nhân tử vong cũng chỉ nằm trong ba dạng, hoặc tự tử vì sợ không có ngày về, hoặc sốt vàng da do sơn lam chướng khí, nặng nhất là kiết lỵ do cầu tiêu lộ thiên, dòi bọ ô nhiễm nguồn nước.</p>
<p>Luôn được nhắc nhở phải an tâm cải tạo để có ngày về, nhưng những traị viên còn sống sót vẫn không tin vào chính sách vì tử thần luôn rình rập chẳng biết ngày nào đến phiên mình quay lại Ba Đình thăm lăng Bác.</p>
<p>Rồi học tập đâu chẳng thấy, chỉ thấy lên non lao động môĩ ngày. Ăn uống lại chẳng được no, còn chết co vì rét. Thân lính lệ ngày xưa nghe nói đóng đồn ở vùng này tuy ‘ngày thời canh điếm, tôí dồn việc quan’, có vất vả thật nhưng tuị Tây hay bọn quan viên còn cho ăn no mặc ấm. Ngày nay dù đám lính canh giữ tù, mang tiếng là Quân đôị nhân dân nhưng cũng chẳng khá hơn, sức trai bắt ăn tiêu chuẩn nhiều đứa cũng đói, phải xin khoai mì của dân để caỉ thiện thêm. Chính vì thấy đám lính đáng tuổi con em mình sau những năm tháng phải ‘vượt Trường sơn đi đánh Mỹ’ laị bị đầy lên vùng đất này để tiếp tục phí phạm tuổi xuân thì nỗi cay đắng của những tù nhân biệt xứ cũng tạm vơi đi khi nhìn lại thân phận mình.</p>
<p>*</p>
<p>Nhân một chuyến đi bắt heo về cho traị nhằm ngày 2-9 (nói cho ngay, cả năm được dăm ba lần ăn thịt heo hoặc trâu), chúng tôi năm ngươì được lệnh theo viên quản giáo và một chú bộ đội ra phà Âu lâu. Mấy tháng cùi cuị trong rừng, mọi chuyện bưng bít chẳng hiểu từ đâu đến đâu, nay được ra bến sông nhìn nước sông Hồng, lòng thấy vui vui.</p>
<p>Càng đi xa trại, càng thấy lác đác nhà dân, laị gặp từng tốp Kinh có, Tày có, nam ít nữ nhiều trên đường vô thung làm rẫy. Trên đường đi laị được nghe âm vang của chiếc đài chú bộ đội đeo toòng teng bên khẩu AK đang hồ hơỉ phát ra những vần thơ của Giang Nam ca ngơị Tổ quốc mến yêu, quê hương giàu đẹp. Bài thơ bóng bảy, chải chuốt, đậm đà tình tự dân tộc (được sáng tác nhân quốc hội khai tử cái gọi là Mặt trận GPMN, khai trương nước Việt nam thống nhất) nghe thấy nhẹ lòng dù có đọan xa rời thực tế, khi nhà thơ nhắc đến Hoàng liên sơn, vùng đất của loài chim độc thoại mà mười bàn chân chúng tôi đang rảo bước đi qua.</p>
<p>Gần đến bến sông, mắt bọn tôi đang dán vào mấy sơn nữ đi ngược chiều, thì một hình ảnh đập ngay vào mắt muốn tránh cũng không được vì con đường độc đạo. Đó là một mái nhà tranh, bên trong trừ một cái chõng tre, còn thì trống trơn. Ngoài cửa lại treo cái bảng ‘Nhà Giữ Trẻ’, nhưng trẻ đâu không thấy, chỉ thấy một con trâu già với bãi cứt trâu to tướng. Tôi đoán có thể con trâu là của Hợp tác xã gưỉ nhờ qua đêm, còn trẻ thì từ lâu chắc không ai đem đến gửi. Nhưng nghịch lý ở chỗ có cái bảng gỗ với hàng chữ kẻ sơn rất ngay ngắn, “chủ nghĩa Lê-nin vô địch muôn năm” nằm ngay kế bên. Anh bộ đội có vẻ ngượng, tắt đài, dục tụi tôi đi nhanh lên.</p>
<p>Tới bến phà, chúng tôi rẽ vào một khu xóm có khoảng mấy chục nóc gia, theo lối sinh hoạt chắc là gốc Kinh, về sau mới biết họ là những người dưới miền xuôi do gốc gác thành phần bị mất quyền sau cải cách ruộng đất bị chỉ định lên cư trú vùng này. Viên quản giáo cùng anh đôị trưởng vào nhà dân tìm thu mua heo, bốn anh em chúng tôi với chú bộ đôị chờ ngoài quán nước. Goi là quán nhưng hàng hóa cũng lèo tèo. Bà chủ quán già chắc hết tuôỉ lao động từ lâu, biết chúng tôi từ Nam ra, vồn vã mời chào. Chúng tôi thú thật không có tiền vì trại không cho phép giữ tiền, xin ngồi nghỉ thôi. Bà cụ đổi thái độ, quay sang dúi cho anh bộ đội hai điếu Đồ sơn tất nhiên không tính tiền.</p>
<p>Chú bộ đội vốn cảnh giác, sợ tụi tôi trốn, nên chỉ đứng ngoài, để mặc tuị tôi ngồi trong quán (ngồi dưới đất cho dễ kiểm soát). Đột nhiên bà cụ quay lại nói nhỏ, ‘các anh cứ hút thuốc lào và uống chè (trà) thoải maí, không tính tiền đâu mà sợ.’ Laị cho một nải chuối già và chỉ cái rổ khoai lang khỏang vài chục củ bảo cứ ăn. Chú bộ đội biết nhưng cũng lờ đi vì nể bà cụ. Đối với anh ta làm gì thì làm miễn là đừng&#8230; trốn. Hơn nữa chọn năm thằng tôi đều thuộc loại ‘lao động tốt, học tập tốt’ nên cũng yên tâm.</p>
<p>Ấy vậy mà lúc ngồi trong quán, tôi thấy anh Thìn gốc Thủy Quân Lục Chiến cứ mắt la mày lém, tôi ngại cái ông này dám trốn lắm, vì đã có mấy trường hợp trốn rồi tuy không thoát dù họ toàn là những cao thủ chuyên chiến đấu nơi rừng núi sình lầy. Lựa lúc chú bộ đội quay đi, bằng một thao tác rất nhanh, Thìn cởi aó tù bên ngoaì, lột cái aó len của vợ mới gửi cho mặc bên trong, lén trao cho bà cụ. Bà cụ bảo các anh cứ “vẽ “(tiếng Nam là bày đặt), nhưng cũng vui vẻ nhận liền và dấu ngay dưới cái sạp tre. Qua trao đổi, tuị tôi biết được ít nhiều về cái xã miền núi này tuy nghèo nhưng có cái tên khá đẹp: Việt Hồng.</p>
<p>Xục xạo mãi cũng mua được hai con heo và ba con chó (chắc cho cánh bộ đôị). Bắt hai con heo không khó khăn, nhưng đuổi và tóm ba chú cẩu là hết sức vất vả. Rút cục phải nhờ mấy ông chủ nhà giúp sức. Hỏi ra thì hai ông bộ đội là dân ăn thịt chó và giết chó nhiều lần nên mấy chú cẩu đánh mùi không chịu cho bắt.</p>
<p>Trên đường về trại, đẩy xe cải tiến đã thấy thấm mệt, tự nhiên có đám con nít chay theo, một thằng cứ hát toáng lên ‘Lợn to! Giò mơí ngon!’ nhái theo điệp khúc của bài hát rất thịnh hành sau “ giaỉ phóng” (Như có Bác trong ngày vui đại thắng). Anh bộ đội vội quát lớn, ‘Thằng ranh con bố láo, đi chỗ khác chơi không chết bây giờ.’ Chắc sợ nên tuị nhỏ vòng ra ngả khác, nhưng âm hưởng của điệp khúc ‘Việt nam! Hồ chí Minh!’ bị pha chế vẫn còn vọng laị trong cảnh tĩnh lặng của chiều hoang.</p>
<p>Thật sự, miệng lưỡi của con trẻ ai mà cản được, nhưng ngạc nhiên ở chỗ sao dưới chế độ cộng sản, được dạy dỗ và suy tôn Bác như thế mà đám thiếu nhi cháu ngoan của Bác vẫn ‘bố láo’ như vậy! Hai anh chàng bộ đội có vẻ khó ăn khó nói với bọn tôi, dù sao họ cũng là thế hệ được lớn lên từ xã hôị này.</p>
<p>Về đến trại, anh đội trưởng dặn ngay chúng tôi thằng quản giáo (trước mặt xưng hô theo nôị qui, sau lưng hai bên đều goị nhau bằng thằng) nó dặn tuị mình ai hỏi đi bắt heo ở đâu thì nói trong thung, đừng nói lung tung lần sau không cho đi nữa! Tuị tôi hiểu ý chữ ‘lung tung’ nên giữ mồm giữ miệng về những điều tai nghe mắt thấy.</p>
<p>Nhưng làm gì có lần sau, vì cuối năm đó họ sợ chúng tôi trốn nên dời chúng tôi xuống các trại miền xuôi do tình hình căng thẳng vùng biên giới Trung quốc dẫn đến cuộc chiến tranh năm 79 giữa hai anh láng giềng ‘vừa là đồng chí vừa là anh em’.</p>
<p>ĐỖ XUÂN TÊ</p>
<p>©T.Vấn 2011</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/d%e1%bb%97-xun-t-vng-d%e1%ba%a5t-chim-d%e1%bb%99c-tho%e1%ba%a1i/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>

<!--
Performance optimized by W3 Total Cache. Learn more: https://www.boldgrid.com/w3-total-cache/?utm_source=w3tc&utm_medium=footer_comment&utm_campaign=free_plugin

Page Caching using Disk: Enhanced 

Served from: t-van.net @ 2026-06-10 23:52:48 by W3 Total Cache
-->