<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>chuyện vãn Vương Trùng Dương &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<atom:link href="https://t-van.net/tag/chuyen-van-vuong-trung-duong/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://t-van.net</link>
	<description>Văn Học và Đời Sống</description>
	<lastBuildDate>Sat, 30 May 2026 17:06:22 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.7.5</generator>

<image>
	<url>https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/02/t-van-favicon.png?strip=all&#038;resize=32%2C32</url>
	<title>chuyện vãn Vương Trùng Dương &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<link>https://t-van.net</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Vương Trùng Dương: Chuyện Vãn: Ba Tư &#038; Nghìn Lẻ Một Đêm</title>
		<link>https://t-van.net/vuong-trung-duong-chuyen-van-ba-tu-nghin-le-mot-dem/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Vương Trùng Dương]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 02 Jun 2026 06:08:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[chuyện vãn Vương Trùng Dương]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=89549</guid>

					<description><![CDATA[“Tôi chưa thể trở thành một người viết truyện giả tưởng hay truyện triết lý sâu sắc, cho đến khi tôi đọc Nghìn Lẻ Một Đêm với mười bốn lần” (Văn hào Pháp Voltaire 1694-1778) “Tôi nghĩ Nghìn Lẻ Một Đêm là một trong những kỳ quan của thế giới, một kỳ quan không thể [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/vtd-1.jpg?strip=all&w=2560"><img fetchpriority="high" decoding="async" width="1024" height="717" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/vtd-1-1024x717.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-89550" style="width:570px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/05/vtd-1-300x210.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/vtd-1-1024x717.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2026/05/vtd-1-768x537.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/vtd-1.jpg?strip=all 1396w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><em>“Tôi chưa thể trở thành một người viết truyện giả tưởng hay truyện triết lý sâu sắc, cho đến khi tôi đọc Nghìn Lẻ Một Đêm với mười bốn lần”</em></p>



<p>(Văn hào Pháp Voltaire 1694-1778)</p>



<p><em>“Tôi nghĩ Nghìn Lẻ Một Đêm là một trong những kỳ quan của thế giới, một kỳ quan không thể đo đạc bằng không gian mà bằng thời gian&#8230; Nó là một lục địa của những giấc mơ”.</em><em></em></p>



<p>(Văn hào Argentina Jorge Luis Borges 1899-1986)</p>



<p><em>“Nghìn Lẻ Một Đêm là một mạng lưới không có điểm bắt đầu và cũng không có điểm kết thúc. Nó giống như một tấm thảm bay dệt bằng ngôn ngữ, đưa người ta đi từ kỳ quan này sang kỳ quan khác mà không bao giờ muốn hạ cánh”</em></p>



<p>(Nhà triết học Đức Walter Benjamin 1892-1940)</p>



<p><em>“Nghìn Lẻ Một Đêm, cuốn sách này chứa đựng tất cả: sự nguy nga của phương Đông, phép thuật của những vị thần, và trên hết là những ham muốn, lòng tham, tình yêu và sự mưu trí rất đỗi con người”</em></p>



<p>(Nhà phê bình văn học Anh Leigh Hunt 1784-1859)</p>



<p><em>“Nghìn Lẻ Một Đêm không chỉ là một cuốn sách, nó là chiếc chìa khóa mở toang cánh cửa vào thế giới hiện thực huyền ảo của phương Đông, nơi lanh giới giữa giấc mơ và đời thực hoàn toàn bị xóa nhòa”.</em></p>



<p>(Nhà văn Colombia Gabriel García Márquez 1927-2014)</p>



<p>*</p>



<p>Ba Tư thời xa xưa là xứ sở huyền bí với nhiều huyền thoại và nền văn minh, nhiều di tích lịch sử của vùng Trung Đông.</p>



<p>Nghìn Lẻ Một Đêm có lẽ đây là bộ sách duy nhất, khi nói về tác phẩm nghĩ đến xứ sở Ba Tư và ngược lại.</p>



<p>Tiền thân của tác phẩm là một tập truyện cổ Ba Tư có tên là Hezār Afsān (Một nghìn câu chuyện) xuất hiện từ trước thế kỷ thứ VIII. Hai nhân vật chính &#8211; Vua Shahryar (nghĩa là chúa tể) và nàng Scheherazade (nghĩa là Người có dòng dõi cao quý) tên thuần gốc Ba Tư.</p>



<p>Nhiều bài viết và sách về chuyện nhỏ chuyện to xưa nay trong đời thường cũng tương tự như chuyện vãn vừa có tính cách giải trí vừa mang lại ý nghĩa thâm thúy với nội dung. Đặc biệt với từng mẩu chuyện qua pho truyện cổ Nghìn Lẻ Một Đêm vào thế kỷ 17. Bản thảo đầu tiên có nguồn gốc ở Baghdad vào thế kỷ thứ 9 (nơi đây trung tâm chính trị, kinh tế và tôn giáo của thế giới Ả Rập lúc bấy giờ, và hiện là thủ đô của Iraq). Phát xuất từ tiếng Ả Rập nhưng bối cảnh xảy ra ở Ba Tư. Tương tự như Truyền Kỳ Mạn Lục của danh sĩ Nguyễn Dữ vào thế kỷ 17, Truyện Kể Nước Nam của cụ Ôn Như Hầu Nguyễn Văn Ngọc vào đầu thế kỷ 20, truyện cổ nhân gian…</p>



<p>Tiếng Ba Tư Pahlavi thời trung đại trong bốn thế kỷ 3 đến 7 được gọi là Middle Persian sử dụng dưới triều đại Sassanid trở thành ngôn ngữ chính thức của đế chế. Sau cuộc xâm chiếm Hồi Giáo vào thế kỷ thứ 7, hệ thống chữ viết Ba Tư &#8211; Ả Rập được phát triển dựa trên chữ Ả Rập, thay thế cho chữ viết Pahlavi. Tiếng Ba Tư bắt đầu phát triển từ thế kỷ thứ 9, vẫn chịu ảnh hưởng từ tiếng Ả Rập vì vậy các nhà nghiên cứu, dịch giả thường dựa vào tiếng Ả Rập.</p>



<p>Bộ sách nhấy được dịch ra nhiều thứ tiếng, trong đó bản tiếng Pháp của Antoine Galland và bản tiếng Anh của Richard Francis Burton vào năm 1885 đến 1888 được phổ biến nhiều nhất.</p>



<p>Bản tiếng Việt đầu tên của dịch giả Trần Văn Lai do Tân Việt xuất bản năm 1942 từ Les Mille et Une Nuits của Antoine Galland. Bác sĩ Trần Văn Lai, thị trưởng đầu tiên của thành phố Hà Nội thời chính phủ Trần Trọng Kim. Ông được xem là người có công trong việc tìm ra cách đặt tên phố phường Hà Nội thay cho tên Pháp đặt, một cách hợp lý và khoa học tương tự như nhà văn, nhà họa đồ Ngô Văn Phát (Thuần Phong) đặt tên đường cho thủ đô Sài Gòn sau năm 1954.</p>



<p>Bộ sách Nghìn Lẻ Một Đêm được phổ biến ở miền Nam Việt Nam, thuở học trò, giới trẻ chúng tôi thuê sách và say sưa đọc.</p>



<p>Ngoài sách, về điện ảnh, những câu chuyện từ Nghìn Lẻ Một Đêm từ lâu đã trở thành đề tài quen thuộc của các bộ phim, khởi đầu từ Le Palais des Mille et une Nuits (1905) của Georges Méliès. Phim được biết đến nhiều nhất là phim hoạt hình Aladdin (1992) của hãng Walt Disney. Robert Irwin cho rằng The Thief of Bagdad (1924), The Thief of Bagdad (1940) và Arabian Nights (1974) nằm trong số “những tuyệt tác của điện ảnh thế giới”… Sinbad và Ali Baba.</p>



<p>Về âm nhạc, Nghìn Lẻ Một Đêm đã ảnh hưởng đến các nhạc phẩm của: François-Adrien Boieldieu: Le calife de Bagdad (1800). Carl Maria von Weber: Abu Hassan (1811). Luigi Cherubini: Ali Baba (1833). Peter Cornelius: Der Barbier von Bagdad (1858). Ernest Reyer: La statue (1861). Horneman (1840-1906), Aladdin (overture), 1864. Rimsky-Korsakov: Scheherazade Op. 35 (1888). Dikran Tchouhadjian (1837-1898), Zemire (1891). Henri Rabaud: Marouf, savetier du Caire (1914). Carl Nielsen, Aladdin Suite (1918-1919). Renaissance: Scheherazade and Other Stories (1975). Fikret Amirov: Arabian Nights (Ballet, 1979). Ezequiel Viñao, La Noche de las Noches (1990). Carl Davis, Aladdin. Kamelot, Nights of Arabia (1999). Sarah Brightman, Harem and Arabian Nights (2003)…</p>



<p>*</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/vtd-2.jpg?strip=all&w=2560"><img decoding="async" width="1024" height="609" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/vtd-2-1024x609.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-89551" style="width:622px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/05/vtd-2-300x178.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/vtd-2-1024x609.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2026/05/vtd-2-768x456.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/vtd-2.jpg?strip=all 1400w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p>Trước khi vào chuyện, khái quát về lịch sử Ba Tư, từ cái nôi của nền văn minh đến thảm họa đất nước. Ba Tư (Persia) ngày xưa (nay là Iran) tiêu biểu nền văn minh Trung Đông, với Ba Tư nổi bật đế quốc cổ đại. Trước công nguyên, thời kỳ Achaemenid với diện tích hơn 5 triệu km2. Sau nguyên công nguyên lãnh thổ của Ba Tư có nhiều thay đổi qua các triều đại khác nhau tranh chấp hưng thịnh, suy vong.</p>



<p>Ba Tư trải qua thời kỳ đen tối nhất lịch sử vào thế kỷ 13 đến 15 khi Thành Cát Tư Hãn và các tướng sĩ Mông Cổ đã đánh nhà Khwarezm Shah ngã quỵ, tàn sát dân chúng của nhiều thành phố lớn nhỏ, khiến dân số tộc Ba Tư và các chủng tộc khác trong vùng bị suy giảm một cách thê thảm. Sau khi Thành Cát Tư Hãn về xứ, Oa Khoát Đài dẫn đại quân Mông Cổ trở lại chiếm hầu hết đất Ba Tư, trước sức tấn công của Húc Liệt Ngột, thành trì cuối cùng của triều đại Ismail bị hạ.</p>



<p>Húc Liệt Ngột và các con cháu lập niên nhà Y Nhĩ Hãn đô hộ đất nước. Thiết Mộc Nhi dấy nghiệp ở Trung Á, thôn tính toàn cõi Ba Tư và tiến xa đến bán đảo Tiểu Á. Ông ta xưng là dòng dõi Thành Cát Tư Hãn, nhưng chiếm đến đâu cũng dùng tiếng Ba Tư làm ngôn ngữ chính thức. Con cháu ông ta nối nhau làm vua được thêm một thế kỷ, triều đại Timur…</p>



<p>Trải qua các triều đại tranh chấp nhau làm suy yếu bởi phân tranh cho đến triều đại Qajar vào thế kỷ 18. Người Turkmen một dân tộc Turk bản địa Trung Á, lợi dụng thời thế nổi dậy thống nhất được Ba Tư và tái lập được trật tự, đóng đô ở Tehran.  </p>



<p>Với dân tộc thiểu số cai trị Ba Tư bị mất dần lãnh thổ. Sau cuộc chiến tranh Nga &#8211; Ba Tư (1804-1813), kết thúc bằng hòa ước Gulistan, Ba Tư phải nhượng cho đế quốc Nga các vùng đất. Sau cuộc chiến tranh lần thứ hai (1826-1828), Ba Tư phải nhượng thêm đất. Vào năm 1881, đế quốc Nga chiếm thêm các vùng đất khác nữa..</p>



<p>Vào thế kỷ 20, triều đại Pahlavi (1925-1979) Reza Khan lên ngôi vua, trở thành Reza Shah và tự đặt cho mình họ Pahlavi. Ông chấn hưng kỹ nghệ, giáo dục, y tế&#8230;, cải cách xã hội, quân đội, hành chính, tài chính, v.v&#8230; Ông ra luật buộc dân phải ăn mặc Âu phục, bỏ y phục truyền thống, buộc phụ nữ phải bỏ che mạng. Năm 1935, Chính phủ Iran yêu cầu cộng đồng quốc tế chính thức dùng tên Iran (nghĩa là “vùng đất của người Aryan”).</p>



<p>Tháng 8 năm 1941, vì lý do chiến lược, quân Anh và quân Liên Xô phối hợp tấn công Iran, truất phế vua Reza Shah và lập con trai ông là Reza Pahlavi lên ngôi vua.</p>



<p>Vua Reza Pahlavi tiếp tục đường lối cải cách của cha, tuy mềm dẻo hơn chút ít dưới tên chương trình là Cách Mạng Trắng từ năm 1963, nhưng vẫn gặp nhiều chống đối từ quần chúng và đặc biệt là giới tu sĩ, cho đến khi bị phong trào của ông Ruhollah Khomeini lật đổ năm 1979.</p>



<p>Sau khi Khomeini nắm được chính quyền, ông trở thành người có quyền cao nhất ở Iran mang danh nghĩa “Lãnh Tụ Tối Cao &#8211;  Lãnh Tụ Của Cuộc Cách Mạng (Rahbar). Khomeini trở thành Đại Giáo Chủ của Hồi Giáo Shia. Tuy có tổng thống và nội các, quân đội nhưng quyền hành thực sự là Lực Lượng Vệ Binh Cách Mạng Hồi Giáo (IRGC) cánh tay đắc lực nắm quyền lực sâu rộng trong an ninh, chính trị, kinh tế, đối nội, đối ngoại. IRGC kiểm soát các ngành công nghiệp chủ chốt như dầu khí, xây dựng, viễn thông và tài chính… cai trị trong chế độ độc tài!</p>



<p>Trong cuộc chiến tranh Iran-Iraq từ năm 1980 đến 1988, mà con số thương vong phía Iran được ước lượng là 500.000 đến 1.200.000 người. Trong thập niên 2001-2010, Iran tuyên bố muốn xóa tên xứ Israel (Do Thái) trên bản đồ thế giới hỗ trợ “trục kháng chiến” gồm các nhóm vũ trang ủy nhiệm tại Trung Đông để tấn công Israel, nổi bật nhất là Hezbollah (Lebanon), Hamas (Palestine), Houthi (Yemen)… Vì vậy Israel coi Iran như kẻ thù không đội trời chung.</p>



<p>Iran trở thành nước có tiềm năng quân sự hùng mạnh ở Trung Đông về vũ khí, hỏa tiễn cho quân dội, hải và không quân… Đặc biệt kho dự trữ 440 kg uranium, theo cơ quan Năng Lượng Nguyên Tử Quốc Tế (IAEA), cho biết vào tháng 10/2025 lượng uranium này &#8211; nếu được làm giàu thêm &#8211; sẽ đủ để chế tạo 10 quả bom nguyên tử. Đây là sự nguy hiểm cho thế giới nếu Iran chế tạo vũ khí nguyên tử!</p>



<p>Mỹ và Israel đã phát động chiến dịch quân sự quy mô lớn mang tên “Operation Epic Fury” với các cuộc không kích chưa tùng có vào tối ngày 28/2/2026. Và từ đó, cuộc chiến giữa Mỹ Và Israel với Iran trở thành tâm điểm quan trọng nhất trên thế giới…</p>



<p>*</p>



<p></p>



<p>Bán đảo Ả Rập (nay gọi là Arab Saudi &#8211; Ả Rập Xê-Út) ngày xưa bán đảo lớn nhất thế giới ở Tây Nam châu Á, nằm giữa Địa Trung Hải, Hồng Hải và Ấn Độ Dương. Bán đảo Ả Rập là nơi tiếp giáp giữa ba châu lục: châu Á, châu Âu, châu Phi, nơi giao lưu đường thương mại. Tuy bị ngăn cách bởi vịnh Ả Rập và Ba Tư nhưng một phần của đai cát đi ngang qua Ba Tư, tới tận sa mạc Gobi. Tiếng Arabe (Ả Rập) có nghĩa là khô khan. Hai nước nầy vào thời kỳ đó được coi là cái nôi của nền văn minh và ngôn ngữ thông dụng.</p>



<p>Nhân cuộc chiến nầy nói về những mẩu chuyện vào thời xa xưa giữa vua Shahriya<strong>r</strong> (Shahryar), vua Ba Tư và nàng  Scheherazade.</p>



<p>Ngày đó, Ba Tư, có vị vua Shahriyar (nhân vật có thật, vị hoàng đế thứ 5 của triều đại Abbasid, trị vì từ năm 786 đến 809 nổi tiếng với tài năng trị vì thiên hạ nhưng sau đó trở nên độc ác và dã man! Vua Shahriyar có tài trị quốc nhưng nhưng hoàng hậu dâm gian với người hầu và các phi tần ngoại tình nên ông uất hận, đâm ra chán nản, ghét và hận tất cả phụ nữ trên đời. Vua ra chỉ thị cho viên tể tướng rằng, mỗi ngày hãy bắt một cô gái còn trinh tại bất cứ nơi đâu, sau một đêm ngủ với nàng thì sẽ giết nàng vào sáng sớm hôm sau. Rất nhiều cô gái trong kinh thành đã bị bắt đi và sát hại như thế. Dân chúng kêu ca và oán thán không ngớt.</p>



<p>Nàng Sheherazade, con vị tể tướng, thông minh, hiểu biết rộng thấy kinh thành lâm nguy và phụ nữ bị giết, nàng tình nguyện xin thân phụ vào hầu vua. Ông tể tướng sợ con gái bị giết như bao cô gái khác nên nhất quyết ngăn cản nhưng với sự quyết tâm của con gái con cô gái nhất định vào cung, đành chấp nhận theo ý muốn.</p>



<p>Trước khi dâng hiến thân xác cho nhà vua, nàng xin được phép kể câu chuyện và được chấp thuận. Mỗi câu chuyện kể còn dang dở trước khi trời sáng và nhà vua tò mòn muốn nghe tiếp. Thế là Sheherazade liên tục kể chuyện gần 3 năm trời với hàng trăm câu chuyện, từ tình cảm xã hội đến chính trị, chuyện nhân gian phố phường đến truyện cổ tích tưởng tượng. Sau gần 3 năm nghe Sheherazade kể, nhà vua dần dần không còn tính tình nóng nảy ghét hờn phụ nữ nữa. Thay vào đó, ông ta thương nàng Sheherazade và quyết định không giết nàng nữa.</p>



<p>Một đêm, hai đêm… cho đến nghìn lẻ một đêm, hai người họ đều chìm vào những câu chuyện huyền ảo đầy lôi cuốn như thế. Đó là sự màu nhiệm, điển hình như trong đạo Phật, kẻ ác khi chú tâm nghe kinh kệ lâu ngày được cảm hóa thành người lương thiện.</p>



<p>Antoine Galland (1646-1715) là nhà Đông Phương học, khảo cổ học người Pháp, thông thạo ngôn ngữ Ả Rập và Ba Tư người đầu tiên dịch và giới thiệu bộ truyện Nghìn Lẻ Một Đêm (Les Mille et Une Nuits) sang tiếng Pháp (1704-1717). Ông có công lớn trong việc biên dịch, chỉnh sửa và đưa các câu chuyện dân gian vùng Trung Đông và Nam Á đến với độc giả phương Tây, được phổ biến toàn cầu của tác phẩm.</p>



<p>Tác phẩm này được sưu tập qua nhiều thế kỷ bởi nhiều tác giả, dịch giả và học giả khắp Tây Á, Trung Á, Nam Á và Bắc Phi. Các câu truyện được truy tìm nguồn gốc ngược về nền văn chương và truyện kể dân gian Ả Rập, Ba Tư, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Do Thái và Ai Cập. Nhiều truyện dân gian từ thời đại Khalifah, trong khi đó một số truyện khác, đặc biệt là truyện nền, phần lớn có thể đã được lấy từ tác phẩm văn chương Ba Tư cổ là Hazār Afsān (Một Ngàn Truyện Thần Thoại)…</p>



<p>Năm 988, Mohamed Ishaq viết: “Tác giả tập Truyện Các Tể Tướng là An Jasihiyari (Agdul Al Jahshitari) bắt tay soạn một cuốn sách trong đó ông chọn một nghìn truyện của người A Rập, người Ba Tư, người Hy Lạp và nhiều dân tộc khác, các truyện đều riêng biệt không có quan hệ gì với nhau. Ông tập hợp một số người làm nghề kể chuyện lại, mời họ kể cho nghe rồi chọn những truyện hay nhất, những ngụ ngôn, cổ tích mà ông thích nhất. Là một người có tài, ông đúc kết những câu chuyện ấy lại thành bốn trăm tám mươi đêm, mỗi đêm là một truyện trọn vẹn dài trên dưới năm chục trang. Nhưng ông chết bất ngờ trước khi hoàn thành một nghìn truyện như dự định”.</p>



<p>Khi ở Paris, Antoine Galland một hôm tình cờ đọc được một bản chép tay bảy truyện cổ A Rập, ông có ý định dịch và cho xuất bản. Sách sắp in ra thì dịch giả được biết những truyện này thực ra rút ra từ một pho đồ sộ gồm nhiều tập đề là Nghìn Lẻ Một Đêm. Ông nhờ người tìm kiếm hộ, chỉ gửi đến cho ông có bốn tập. Ông dịch ngay tập đầu tiên cho xuất bản năm 1704. Món quà nhỏ mọn như lời ông viết trong thư gửi tặng hầu tước phu nhân O, lập tức được hoan nghênh,. Thành công hết sức to lớn. Cùng với hầu tước phu nhân O cả triều đình nghị viện, từ giai cấp tư sản cho đến các tầng lớp nghèo hèn, tóm lại là tất cả những ai biết đọc biết viết ở Pháp đều đổ xô vào tranh nhau tập sách.</p>



<p>Trong bốn năm, từ 1704 đến 1708, mười hai tập lần lượt ra đời. Năm 1709, A. Galland được một người bạn A Rập đến Paris trao thêm cho một số truyện nữa, ông lại dịch và cho in tiếp.</p>



<p>Chừng hai thế kỷ sau A. Galland một bản dịch tiếng Pháp khác của Nghìn Lẻ Một Đêmra đời. Dịch giả là tiến sĩ J.C. Mardrus, bản dịch theo quan niệm và phong cách hoàn toàn khác. Mardrus không bỏ sót một chi tiết nào, kể cả những đoạn rườm rà dâm tục và tất cả những thơ rải rác trong các truyện.</p>



<p>Ngoài bản dịch của BS Trần Văn Lai, đến đầu thập niên 1970, dịch giả Phan Quang dịch bộ sách Nghìn Lẻ Một Đêm. Trong Lời Giới Thiệu,&nbsp; tác giả viết:</p>



<p>“Hai thế kỷ sau Antoine Galland, một bản dịch tiếng Pháp khác của Nghìn Lẻ Một Đêm ra đời. Các nhà nghiên cứu văn học đều đánh giá cao bản dịch của Antoine Galland. Người dịch đã cố tình tước bớt, để tránh cho những người đọc đỡ ngượng ngùng, một số chi tiết tả tỉ mỉ những cảnh sinh hoạt mà cho dù có in ra cũng không cho biết thêm một điều gì mới mẻ về phong tục…</p>



<p>Nhà văn Pháp Charles Nodier chuyên viết truyện cổ tích đầu thế kỷ 19 đã đánh giá bản dịch của Antoine Galland như sau: “Bản dịch của Antoine Galland là một tác phẩm có thể coi là kinh điển trong thể loại văn học này, và nếu nó có phải chịu vài điều chê trách của những nhà Đông phương học nào đó mê tín sự trung thành với các nguyên tác, ấy là vì những vị này coi trọng lợi ích ngành học thuật chuộng màu sắc xa lạ của họ hơn là tinh thần của ngôn ngữ và những yêu cầu của nền văn học dân tộc chúng ta…</p>



<p>“Nhà văn Macxim Gorki viết: “Trong số các di tích tuyệt diệu của sáng tác truyền khẩu dân gian, các truyện cổ tích của nàng Sheherazade là di tích đồ sộ nhất. Những truyện cổ tích này thể hiện với mức hoàn hảo kỳ diệu, xu hướng của nhân dân lao động muốn buông mình theo phép nhiệm màu của những ảo giác êm đẹp, theo sự kết hợp phóng khoáng của từ ngữ thể hiện sức mạnh vũ bão của trí tưởng tượng hoa mỹ của các dân tộc phương Đông &#8211; người A Rập, người Ba Tư, người Ấn Độ. Công trình dệt gấm bằng từ ngữ này xuất hiện từ thời tối cổ, những sợi tơ muôn màu của nó lan khắp bốn phương, phủ lên trái đất một tấm thảm từ ngữ đẹp lạ lùng”…</p>



<p>Nhà văn Gaston Picard gần đây khi soát lại bản dịch của Galland để cho in lại (bản in năm 1962) sau khi trích dẫn ý kiến của tạp chí Bách khoa đã hóm hỉnh nhận xét thêm: Antoine Galland ý tứ hơn nhiều so với tiểu thư Sheherazade.</p>



<p>J. C. Mardrus cho rằng không phải ngẫu nhiên mà toàn bộ bản dịch của ông để tặng Stéphane Mallarmé và tập I để tặng Paul Valérỵ, hai nhà thơ bí hiểm. Vì những lẽ đó, một số nhà phê bình</p>



<p>có xu hướng coi bản dịch của Mardrus nặng tính chất một công trình nghiên cứu phong tục hơn là một tác phẩm văn học…”</p>



<p>Và câu chuyện xảy ra qua Lời Giới Thiệu với hai anh em cùng ngự trị ngai vàng:</p>



<p>“Ngày xưa có hai anh em cùng làm vua. Anh làm vua nước Đại Ba Tư choán một phần lớn trái đất. Em là vua nước Đại Tartari, chư hầu của anh. Một hôm, được lệnh của anh triệu về, em vội vã lên đường. Xa giá vừa ra khỏi kinh thành, đã nghỉ lại; nhà vua nhớ hoàng hậu, một mình lén trở lại cấm cung định tự tình với người vợ quý yêu một lần nữa. Nhưng hỡi ôi! Nhà vua không được gặp hoàng hậu như ở trong cảnh nhớ nhung thao thức mà lại thấy hoàng hậu đang ngủ say trong vòng tay một người đàn ông khác ngay trên giường ngự của mình. Nổi giận, nhà vua chém chết đôi gian phu dâm phụ, ném xác xuống hào rồi lặng lẽ trở lại hành cung và ra lệnh khởi hành.</p>



<p>Vua tuyệt nhiên không hé răng cho bất cứ ai biết nỗi khổ riêng đang giày xé lòng mình.</p>



<p>Song cũng từ buổi tối bất hạnh ấy, một nỗi buồn ghê gớm xâm chiếm nhà vua và thường xuyên lộ ra nét mặt. Cảnh hoàng đế thân hành ra đón từ ngoài kinh thành, cảnh hội hè yến tiệc, nghi lễ linh đình cũng như sự săn sóc chân tình của vua anh đều không thể làm tiêu tan nỗi u uẩn.</p>



<p>Nhà vua nước Đại Tartari tự cho mình là người đau khổ, bất hạnh nhất trần gian. Nhưng một hôm tình cờ nhà vua bắt gặp hoàng hậu, chị dâu của mình, ngoại tình với một tên da đen trong khi hoàng đế mải đi săn. Vua em thấy nhẹ hẳn người: “À, ra không phải chỉ có ta là người đau khổ duy nhất. Vinh hiển, phú quý, quyền uy chấn động thiên hạ đến như hoàng đế anh ta mà vẫn bị vợ lừa dối, phản bội. Vậy thì việc gì ta phải tự giày vò cho khổ thân!”</p>



<p>Đến lượt vua anh, khi được tự mình chứng kiến hành động dâm ô của hoàng hậu, ông cũng vô cùng chán ngán. Hai anh em cùng một lúc từ bỏ ngai vàng, từ bỏ mọi phú quý vinh hoa trên trần thế. Hai anh em ra đi định tìm chốn ẩn thân đến trọn đời ở một nơi chân trời góc bể nào đó cho khuây khỏa nỗi buồn, cho nguôi đi vết nhục. Nhưng tình cờ &#8211; vẫn là sự tình cờ &#8211; hai vua bắt gặp một thần linh từ dưới đáy biển nổi lên, ghé vào bờ. Trên đầu thần đội một chiếc hòm thủy tinh khóa bằng bốn chiếc khóa. Để phòng ngừa vợ có thể không chung thủy, thần đã nhốt ả vào trong đó và giấu tận đáy đại dương, chỉ mở cho ra những khi nào mình cần yêu đương tình tự. Ấy thế mà người đàn bà đẹp này đã từng ngoại tình với những chín mươi tám người đàn ông khác. Mỗi người sau phút ái ân, phải để lại cho ả một chiếc nhẫn làm kỷ niệm. Và mỉa mai làm sao! Hai nhà vua, hai ông chồng đang buồn rầu ngao ngán về thế sự này lại chính là những kẻ bị ả ép buộc làm những tình nhân bất đắc dĩ thứ chín mươi chín và thứ một trăm.</p>



<p>Vậy ra đàn bà ở đâu cũng vậy và ai cũng như ai thôi. Không thể có cách nào đủ hiệu lực ngăn ngừa, để cho họ giữ vẹn lòng chung thủy với chồng.</p>



<p>Chỉ còn một cách &#8211; hoàng đế nước Đại Ba Tư rút ra kết luận &#8211; là giết ngay người con gái vừa chung chăn gối, không để cho sống đến ngày hôm sau. Đó chính là cách trả thù đời, trả thù đám đàn bà, trả thù vợ của những ông chồng bị cắm sừng mà trong tay có quyền lực tối cao.</p>



<p>Từ buổi đó, một luật lệ mới được ban hành ở nước Đại Ba Tư. Một luật lệ vô cùng dã man, hết sức khắc nghiệt. Vua truyền cho tể tướng cứ mỗi đêm bắt vào cung một cô gái trinh để hầu hạ mình, rồi rạng sáng hôm sau, khi đêm vừa hết, thì ra lệnh giết chết cô gái ấy.</p>



<p>Thế là cứ mỗi đêm một cô gái trinh đi lấy chồng và sáng ra một người đàn bà thiệt mạng. Cảnh tang tóc bao phủ khắp kinh thành. Cung đình tràn ngập máu. Nỗi đau đớn xé lòng mọi người mẹ, người cha, người yêu, người chồng chưa cưới. Giữa lúc ấy xuất hiện cứu tinh, nàng Scheherazade, con gái yêu của chính tể tướng, người chịu trách nhiệm thi hành lệnh tàn bạo của vua…</p>



<p>Với hàng trăm câu chuyện hoàn chỉnh, bao gồm truyện lịch sử, truyện tình, bi kịch, hài kịch, thơ, truyện hài và truyền thuyết kết cấu thành tác phẩm, Nghìn Lẻ Một Đêm có một giá trị hết sức to lớn trong việc phản ánh một thế giới muôn mặt trong đời sống hiện thực xã hội thông qua một óc tưởng tượng cực kỳ phong phú, chủ đề vô cùng khác lạ, nhân vật đủ mọi loại vẻ, với những khung cảnh vừa rộng lớn vừa luôn luôn thay đổi. Về nghệ thuật, Nghìn Lẻ Một Đêm hết sức hoàn chỉnh về kết cấu, bất ngờ trong việc dẫn dắt mạch truyện, phức tạp nhưng rất chặt chẽ trong các tình tiết và cũng rất điêu luyện trong việc sử dụng ngôn ngữ, mặc dù có một số truyện qua tay nhiều người, được nhiều thế hệ ghi chép nên đã ít nhiều bị pha tạp hoặc bị hiện đại hóa”&#8230;</p>



<p>Các truyện trong Nghìn Lẻ Một Đêmrất phong phú và đa dạng. Lúc chuyện xảy ra trong thế giới thần tiên, lúc ở nơi đầu đường xó chợ. Về tôn giáo, có những người theo đạo Hồi, có những người theo đạo Thiên Chúa, đạo Do Thái, lại có những người thờ thần lửa&#8230; Về không gian, các chuyện xảy ra những nơi ngày nay được ghi trên bản đồ là Ấn Độ, Sri Lanka, Liên Xô, Trung Quốc, Jordan và Iran và trước hết là Tây Á, Bắc Phi, Ai Cập, Iraq, Syria&#8230; Tóm lại, khung cảnh rất rộng lớn, chủ đề thật đa dạng, tình tiết hết sức bất ngờ, ngôn ngữ vô cùng phong phú, nhân vật rất thực và cũng rất hư cấu.</p>



<p>*</p>



<p>Những câu truyện kể nổi tiếng nhất của Sheherazade là Aladdin &amp; Cây Đèn Thần, Thủy Thủ Sinbad, Ali Baba &amp; Bốn Mươi Tên Cướp, tuy vậy, thực tế thì Aladdin và cây đèn thần cùng với Ali Baba và bốn mươi tên cướp chỉ được đưa vào lúc thế kỷ 18 bởi Antoine Galland, cho rằng đã từng nghe kể về chúng ở Aleppo, Syria… phù thủy và những nơi huyền thoại, thường được đặt lẫn với người và vùng địa lý thật.</p>



<p>Những lúc nàng Sheherazade ngừng lại và nói: “Tiếc thay trời đã sáng rồi mà phần còn lại là đoạn hay nhất trong câu truyện&#8230;” hoặc “Những truyện vừa rồi hay thật đấy nhưng không thể nào so sánh được chuyện bệ hạ sắp nghe đây&#8230;”, “Đêm đã khuya lắm rồi xin cho phép bệ hạ dừng lại đây, đêm mai tôi xin kể nốt hầu ngài&#8230;”. Lối ngắt chuyện này là thủ thuật như các cuốn sách về chương hồi gợi sự tò mò, hiếu kỳ để lôi cuốn người đọc…</p>



<p>Nghìn Lẻ Một Đêm có tầm ảnh hưởng to lớn lên nền văn học thế giới. Nhiều nhà văn đã ám chỉ đến Nghìn Lẻ Một Đêm trong tác phẩm của họ hoặc chịu ảnh hưởng từ tác phẩm này. Trong số đó có Henry Fielding, Naguib Mahfouz, John Barth, Jorge Luis Borges, Salman Rushdie, Johann Wolfgang von Goethe, Walter Scott, William Makepeace Thackeray, Wilkie Collins, Elizabeth Gaskell, Charles Nodier, Gustave Flaubert, Marcel Schwob, Stendhal, Alexandre Dumas, Gérard de Nerval, Arthur de Gobineau, Aleksandr Sergeyevich Pushkin, Lev Nikolayevich Tolstoy, Hugo von Hofmannsthal, Arthur Conan Doyle, William Butler Yeats, H. G. Wells, Constantine P. Cavafy, Italo Calvino, Georges Perec, H. P. Lovecraft, Marcel Proust, A. S. Byatt và Angela Carter…</p>



<p>Nghìn Lẻ Một Đêm cũng là tác phẩm yêu thích và nguồn cảm hứng của nhiều tác giả Anh thời Lãng Mạn và Victoria. Theo A. S. Byatt “Trong nền thi ca Lãng Mạn Anh, Nghìn Lẻ Một Đêm là điều tuyệt vời đối nghịch với thứ trần tục, là thứ giàu tính tưởng tượng đối nghịch với sự buồn tẻ và ngày một phi lý”. Wordsworth và Tennyson còn nhắc về tập truyện trong những bài thơ của họ. Không khí của Nghìn Lẻ Một Đêm được Charles Dickens mang vào đoạn mở đầu tiểu thuyết cuối cùng The Mystery of Edwin Drood (1870).</p>



<p>Như đã dẫn chứng ở trên, những nhà văn nổi danh trên thế giới đã nhận định:</p>



<p>“Tôi chưa thể trở thành một người viết truyện giả tưởng hay truyện triết lý sâu sắc, cho đến khi tôi đọc Nghìn Lẻ Một Đêm với mười bốn lần”</p>



<p>(Văn hào Pháp Voltaire 1694-1778)</p>



<p>“Tôi nghĩ Nghìn Lẻ Một Đêm là một trong những kỳ quan của thế giới, một kỳ quan không thể đo đạc bằng không gian mà bằng thời gian&#8230; Nó là một lục địa của những giấc mơ.&#8221;</p>



<p>(Văn hào Argentina Jorge Luis Borges 1899-1986)</p>



<p>“Nghìn Lẻ Một Đêm là một mạng lưới không có điểm bắt đầu và cũng không có điểm kết thúc. Nó giống như một tấm thảm bay dệt bằng ngôn ngữ, đưa người ta đi từ kỳ quan này sang kỳ quan khác mà không bao giờ muốn hạ cánh”</p>



<p>(Nhà triết học Đức Walter Benjamin 1892-1940)</p>



<p>“Nghìn Lẻ Một Đêm, cuốn sách này chứa đựng tất cả: sự nguy nga của phương Đông, phép thuật của những vị thần, và trên hết là những ham muốn, lòng tham, tình yêu và sự mưu trí rất đỗi con người”</p>



<p>(Nhà phê bình văn học Anh Leigh Hunt 1784-1859)</p>



<p>“Nghìn Lẻ Một Đêm không chỉ là một cuốn sách, nó là chiếc chìa khóa mở toang cánh cửa vào thế giới hiện thực huyền ảo của phương Đông, nơi lanh giới giữa giấc mơ và đời thực hoàn toàn bị xóa nhòa”.</p>



<p>(Nhà văn Colombia Gabriel García Márquez 1927-2014)</p>



<p>Điều đó chứng tỏ Nghìn Lẻ Một Đếm rất giá trị trong kho tàng văn chương của nhân loại.</p>



<p>Một số nhà văn còn viết dưới hình thức như Nghìn Lẻ Hai Đêm, chẳng hạn Théophile Gautier (La Mille Deuxième Nuit, 1842), Joseph Roth (Die Geschichte von der 1002. Nacht, 1939) và Edgar Allan Poe với tác phẩm The Thousand and Second Tale of Scheherazade (1845), trong đó mô tả thêm chuyến đi thứ tám cũng là cuối cùng của Sinbad, kết thúc bằng việc nhà vua xử tử Scheherazade. Một số tác giả hiện đại cũng chịu ảnh hưởng của Nghìn Lẻ Một Đêm là James Joyce, Marcel Proust, Jorge Luis Borges và John Barth…</p>



<p>Văn hào người Pháp Voltaire từng chia sẻ rằng ông không thể viết nên những tác phẩm triết lý sâu sắc nếu chưa đọc Nghìn Lẻ Một Đêm tới 14 lần. Điều đó chứng tỏ trí tưởng tượng rất phong phú.</p>



<p>Âm nhạc</p>



<p>Nghìn Lẻ Một Đêm đã ảnh hưởng đến các tác phẩm âm nhạc của: François-Adrien Boieldieu: Le calife de Bagdad (1800). Carl Maria von Weber: Abu Hassan (1811). Luigi Cherubini: Ali Baba (1833). Peter Cornelius: Der Barbier von Bagdad (1858)</p>



<p>Ernest Reyer: La statue (1861). Horneman (1840-1906), Aladdin (overture), 1864. Rimsky-Korsakov: Scheherazade Op. 35 (1888). Dikran Tchouhadjian (1837-1898), Zemire (1891). Henri Rabaud: Marouf, savetier du Caire (1914). Carl Nielsen, Aladdin Suite (1918-1919). Renaissance: Scheherazade and Other Stories (1975). Fikret Amirov: Arabian Nights (Ballet, 1979). Ezequiel Viñao, La Noche de las Noches (1990). Carl Davis, Aladdin. Kamelot, Nights of Arabia (1999). Sarah Brightman, Harem and Arabian Nights (2003)…</p>



<p>*</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/vtd-3.jpg?strip=all&w=2560"><img decoding="async" width="1024" height="715" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/vtd-3-1024x715.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-89552" style="width:628px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/05/vtd-3-300x209.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/vtd-3-1024x715.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2026/05/vtd-3-768x536.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/vtd-3.jpg?strip=all 1400w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p>Trong các tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung, xứ Ba Tư (Persia) được nhắc đến như một vùng đất huyền bí, xa xôi, gắn liền với nguồn gốc của Minh Giáo (Manichaeism). Những chi tiết này xuất hiện chủ yếu trong tác phẩm Ỷ Thiên Đồ Long Ký. &nbsp;Nguồn gốc Minh Giáo (Mani Giáo) vào Trung Nguyên. Tôn giáo cổ của Ba Tư, do Mani (216-277), sáng lập vào khoảng thế kỷ 3, vào Trung Nguyên đời nhà Đường vào đầu thế kỷ thứ 7.</p>



<p>Vào thời cổ đại, nhà hiền triết Zarathushtra đi truyền đạo của ông là Mazdayasna tiếng Việt gọi là Hỏa Hiên Giáo hay Bái Hỏa Giáo. Hỏa Giáo cho lửa là biểu tượng của quang minh, do đó có nghi lễ thờ lửa. Bái Hỏa Giáo đã trở thành quốc giáo của Ba Tư cổ đại, truyền vào bắc Trung Hoa đời nhà Đường, thế kỷ thứ 6 theo các đoàn lạc đà của người Ba Tư. Đến đời Tùy, họ được thành lập ở Trường An những khu vực riêng để hành đạo. Đền thờ của Bái Hỏa Giáo được xây dựng cho người “Hồ” ở kinh đô Tràng An. Đến đời Tống thì Hỏa Giáo dần mất chỗ đứng ở trung nguyên.</p>



<p>Nguồn gốc của Minh Giáo cũng tương tự như Bái Hỏa Giáo, Ma Ní Giáo vào thế kỷ thứ 3 sau công nguyên. Ma Ni Giáo như là tà giáo lại được nhanh chóng vượt biên giới Ba Tư lan nhanh về phía Tây, xuất hiện ở Ai Cập, Bắc Phi, Nam Tây Ban Nha trong thế kỷ thứ 3.</p>



<p>Khi Mani Giáo truyền vào trung nguyên. Người Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương theo Mani Giáo, sau đó phát triển rộng khắp Tân Cương Thế kỷ thứ 8, đền thờ của Ma Ní Giáo xây dựng ở Trường An lấy tên là Đại Vân Quang Minh tự. Vài năm sau, một dải Thái Nguyên, Lạc Dương xuống tận Kinh, Dương, Hồng, Việt (châu) đều mọc lên các đền thờ của Ma Ní Giáo…</p>



<p>Giữa thế kỷ thứ 9, tộc Khiết Đan hùng bá phương bắc Trung Hoa, đánh bại cả người Duy Ngô Nhĩ lẫn người Hán và triệt hại các giáo phái đã xâm nhập từ Ba Tư.</p>



<p>Trong tác phẩm Kim Dung trong bối cảnh từ đời nhà Tống, Ma Ní Giáo (Minh Giáo) rút vào hoạt động bí mật với nhiều cao thủ võ công tuyệt đỉnh đối đầu võ lâm trung nguyên.</p>



<p>Ngoài tổng đàn Minh Giáo đặt trên đỉnh Quang Minh, dãy núi Côn Luân với Tứ Đại Pháp Vương: Kim Mao Sư Vương (Tạ Tốn), Bạch Mi Ưng Vương (Ân Thên Chính, sau đó lập ra Thiên Ưng Giáo), Tử Sam Long Vương (Đại Ỷ Ty &#8211; Kim Hoa bà bà ) và Thanh Dực Bức Vương (Vi Nhất Tiếu) gây chấn động chốn võ lâm.</p>



<p>Dưới chức Giáo Chủ Minh Giáo là Quang Minh tả sứ và Quang Minh hữu sứ. Minh Giáo thờ thần lửa. Thánh Hỏa Lệnh, Minh Giáo nắm giữ 6 lệnh bài Thánh Hỏa (Thánh Bái), là biểu tượng quyền lực cao nhất, khắc các môn võ công kỳ dị, tốc độ nhanh, khác hẳn võ học chính tông trung nguyên.</p>



<p>Đại Ỷ Ty, thánh nữ của Minh Giáo, cũng là mẹ của Tiểu Chiêu và là sư phụ của Ân Ly. Bà sang trung nguyên để tìm bí kíp Càn Khôn Đại Na Di, võ công thất lạc của Minh Giáo Ba Tư. Sau khi Giáo Chủ Dương Đỉnh Thiên mất tích, nội bộ Minh Giáo bất hoà, Ân Thiên Chính thành lập ra Thiên Ưng Giáo. Bạch Mi Ưng Vương là cha của Ân Tố Tố (vợ Trương Thúy Sơn phái Võ Đang), ông ngoại của Trương Vô Kỵ.</p>



<p>Tạ Tốn ngoại hiệu là Kim Mao Sư Vương (sau nầy nghĩa phụ của Vô Kỵ và Vô Kỵ cũng là giáo chủ mới của Minh Giáo về sau này. Vi Nhất Tiếu ngoại hiệu là Thanh Dực Bức Vương, đứng thứ 4 trong Tứ Đại Pháp Vương. Võ công vô cùng cổ quái và lập dị. Vi Nhất Tiếu luyện công bị tẩu hỏa nhập ma, do đó khi khai triển nội công đều phải hút máu người sống, nếu không thì sẽ bị lạnh cóng toàn thân và chết nên mang tiếng xấu “Con dơi hút máu người”. Sau này nhờ Trương Vô Kỵ dùng Cửu Dương Thần Công chữa trị, nên Vi Nhất Tiếu không còn phải hút máu người sau khi vận nội công nữa. Từ đó Vi Nhất Tiếu đã trở thành một trợ thủ đắc lực cho Trương Vô Kỵ. Nhờ tài khinh công tuyệt đỉnh thuộc hàng đệ nhất thiên hạ của mình mà nhiều phen Vi Nhất Tiếu đã giải cứu nhóm người Trương Vô Kỵ khỏi những lúc nguy nan. Ngoài ra, ông còn có võ công Hàn Băng Miên Chưởng.</p>



<p>Trong tiểu thuyết Ỷ Thiên Đồ Long Ký tuy hư cấu nhưng liên quan đến lịch sử là Chu Nguyên Chương. Chu Nguyên Chương gia nhập Minh Giáo, đã cứu Trương Vô Kỵ một lần khi Vô Kỵ còn nhỏ (khi Vô Kỵ cùng Bất Hối đến gặp Dương Tiêu). Chu Nguyên Chương không giỏi võ công nhưng đa mưu túc trí, đã dò ra được tung tích của lục đại môn phái khi họ bị Triệu Mẫn bắt. Chu Nguyên Chương độc ác, nham hiểm nên Trương Vô Kỵ có phần ái ngại. Mặc dù vậy Chu Nguyên Chương vẫn được cất nhắc lên vị trí cao trong Minh Giáo, góp công lớn tiêu diệt nhà Nguyên, và bè đảng Trần Hữu Lượng, lập ra nhà Minh, lên ngôi hoàng đế. Sau đó ông sát hại rất nhiều công thần của mình. Vài tài liệu cho rằng Chu Nguyên Chương xuất thân từ Minh Giáo nên lập ra nhà Minh. Nhà Minh rất gian ác khi xâm chiếm nước ta, trong Bình Ngô Đại Cáo của đại công thần&nbsp; nhà Lê là Nguyễn Trãi đã phơi bày tội ác tầy trời!</p>



<p>Trong quyển Tiếu Ngạo Giang Hồ, Nhật Nguyệt Thần Giáo được xây dựng ở Hà Bắc, trên đỉnh Hắc Mộc Nhai. Với giáo chủ Nhậm Ngã Hành trong lúc tu luyện Hấp Tinh Đại Pháp đã bị tẩu hoả nhập ma, Đông Phương Bất Bại đoạt quyền, giam cầm Nhậm Ngã Hành, trở thành giáo chủ. Sau đó, Đông Phương Bất Bại luện Quỳ Hoa Bảo Điển. Hai môn công phu nầy gây tác hại vô cùng đã làm cho võ lâm trung nguyên khốn đó. Lệnh Hồ Xung trong chính phái với mối tình cùng Nhâm Doanh Doanh (con gái Nhậm Ngã Hành). Sau đó, Lệnh Hồ Xung cùng với Nhậm Ngã Hành, Hướng Vấn Thiên, Thượng Quan Long, Nhậm Doanh Doanh lên Hắc Mộc Nhai tiêu diệt Đông Phương Bất Bại, xóa bỏ Nhật Nguyệt Thần Giáo.</p>



<p>Từ khi đọc pho truyện Ngàn Lẻ Một Đêm cho đến khi đọc tác phẩm võ hiệp của Kim Dung, hình ảnh Ba Tư không xa lạ với độc giả miền Nam Việt Nam trước năn 1975, nay Iran đang là tâm điểm của chế độ độc tài và nguy hiểm khi xảy ra cuộc chiến với Mỹ và Israel trở thành tin tức hàng đầu mỗi ngày trên thế giới.</p>



<p><em>Little Saigon, May 28/2026</em></p>



<p><strong>Vương Trùng Dương</strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Vương Trùng Dương: Chuyện Vãn: Cà Kê Dê Ngỗng</title>
		<link>https://t-van.net/vuong-trung-duong-chuyen-van-ca-ke-de-ngong/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Vương Trùng Dương]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 12 Feb 2026 07:04:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[chuyện vãn Vương Trùng Dương]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=87079</guid>

					<description><![CDATA[Thành ngữ Việt Nam “Cà kê dê ngỗng” với mọi người rất quen thuộc trong cuộc sống thường nhật. Chuyện dông dài, chuyện tầm phào, lan man, không đi vào trọng tâm, vô thưởng vô phạt, những chuyện vụn vặt, tán gẫu, chuyện nhân sinh, chuyện trên trời dưới đất, chuyện nầy xọ chuyện kia, [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/02/ckdn-1.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="682" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/02/ckdn-1-1024x682.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-87080" style="width:602px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/02/ckdn-1-300x200.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/02/ckdn-1-1024x682.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2026/02/ckdn-1-768x511.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/02/ckdn-1.jpg?strip=all 1400w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Thành ngữ Việt Nam “Cà kê dê ngỗng” với mọi người rất quen thuộc trong cuộc sống thường nhật. Chuyện dông dài, chuyện tầm phào, lan man, không đi vào trọng tâm, vô thưởng vô phạt, những chuyện vụn vặt, tán gẫu, chuyện nhân sinh, chuyện trên trời dưới đất, chuyện nầy xọ chuyện kia, không chủ đề, chuyện ba lơn (bài thơ Chuyện Ba Lơn Ngày Gặp Bạn của Trần Huy Sa)… Và chuyện vãn của tôi với lối phiếm “cà kê dê ngỗng”, Đông, Tây, kim, cổ với thế thái nhân tình nhan nhãn trong cuộc sống…  Ngày xưa các cụ cũng thường ví von, ẩn dụ để tránh sự đụng chạm với triều đình, quan phủ… Ngày nay được thịnh hành hơn từ chính trị đến vài lãnh vực khác.</p>



<p>* Cà kê</p>



<p>Về ý nghĩa thì “cà” có hai cách giải thích:</p>



<p>1.- “Cà” có thể là cách gọi cổ của con gà (gà), còn “kê” chính là gà (từ Hán-Việt)… Theo cụ “nói chuyện dông dài”. Vấn đề đặt ra con cà, con kê là gì? Cà là nói tắt có phải cà cưỡng, cà cuống, cà dúi, cà tong…?</p>



<p>2.- Tác giả Hàng Văn Hành trong “Kể Chuyện Thành Ngữ Tục Ngữ” cho rằng “cà” và “kê” ở đây là cây cà và cây kê.</p>



<p>Ngày xưa người nông dân đến mùa trồng cà, kê, thường nhổ cây non rồi bó thành từng bó để đem ra ruộng trồng lại. Đây là việc đòi hỏi sự tỉ mỉ nên tốn thời gian, làm mãi không xong. Từ đó tạo ra thành ngữ “cà kê” mới được dùng để chỉ việc dai dẳng, hoài không dứt.</p>



<p>Trong ca dao cũng có câu:</p>



<p>“Hết kê rồi lại đến cà</p>



<p>Nhổ lên, trồng lại mãi mà không xong”</p>



<p>Đại Nam Quốc Âm Tự Vị (1885) do cụ Huỳnh Tịnh Của chủ biên cũng định nghĩa: “con thuốc: cây thuốc mới ương, mới mọc”. Như vậy, cách gọi “con cà, con kê” để chỉ cây cà, cây kê là có lý.</p>



<p>Lãng Nhân Phùng Tất Đắc là học giả, nhà nghiên cứu, thông thạo nhiều thứ tiếng. Khi còn trẻ đóng góp văn học, thời kỳ ngoài Bắc từ tờ Đông Tây ban đầu chỉ có hai người viết là Hoàng Tích Chu và cụ. Sau nầy quy tụ nhiều cây bút nổi tiếng Phan Khôi, Trần Tuấn Khải, Vi Huyền Đắc, Thiết Can, Hoàng Ngọc Phách&#8230;</p>



<p>Ngoài ra, cụ từng đóng góp bài vở cho các báo như Cri de Hanoi, Fléchettes, Nhựt Tân, Duy Tân, Hải Phòng tuần báo, Ích Hữu…</p>



<p>Năm 1954, cụ đưa gia đình di cư và Sài Gòn được người bạn nhờ trông coi nhà in Taupin do Pháp để lại; cơ sở này là hậu thân của nhà in lớn IFM (Imprimerie Française d&#8217;Outremer) thời Pháp thuộc để trở thành Kim Lai ấn quán.</p>



<p>Sau các tác phẩm Trước Đèn (1939), Chuyện Vô Lý (1942), Chơi Chữ (1960), Cá Tồn (1963), Giai Thại Làng Nho (1963), Hán Văn Tinh Túy (1965), trong quyển Chuyện Cà Kê của nhà nghiên cứu Lãng Nhân Phùng Tắc Đắc, gồm 28 bài phiếm, sách dày 274 trang do Nam Chi Tùng Thư, Sài Gòn xuất bản năm 1968. Sách nổi tiếng với văn phong dí dỏm, sâu sắc, chân thực xã hội qua những câu chuyện nhỏ nhưng ý nghĩa, thâm thúy. Phản ảnh đời sống xã hôi, văn hóa, thói hư tật xấu, nét đẹp trong xã hội Việt Nam, mang tính châm biếm nhẹ nhàng.</p>



<p>Khi đặt tên sách Chuyện Cà Kê, cụ Lãng Nhân giải thích khi đặt câu hỏi “Chuyện gì là chuyện cà kê?”. Cụ không giải thích “cà kê” mà nói:</p>



<p>&#8211; Rõ khéo, chuyện con cà con kê mà còn phải hỏi!</p>



<p>&#8211; Kê là gà đành rồi. Thế cà là con gì? Hay là gà kê, nói chạnh ra cà kê cho xuôi tai?</p>



<p>&#8211; Ồ, thế thì khi người ta nói cà kê dê ngỗng, gà là kê, không lẽ dê lại là ngỗng?</p>



<p>Và cụ nói tiếp:</p>



<p>&#8211; Thì ta cứ cho chuyện cà kê là chuyện “dây cà ra dây muống”, “ông nói gà bà nói vịt”, “râu ông nọ cắm cằm bà kia”, cũng là được đi. Chúng ta ngồi đây, có thiếu gì chuyện, chuyện mưa nắng, chuyện nhạt chuyện nồng, “chuyện bà còng đi chợ trời mưa, cái tôm cái tép đi đưa bà còng”, chuyện “muốn cho chợ họp đến chiều, cho lắm kẻ bán cho nhiều người mua”, tóm lại là “nói bỡn nói cợt mà chơi”, chứ “áo ai nấy mặc có mùi gì đâu”…</p>



<p>Thế nào là cà kê?</p>



<p>Hỏi như thế vì lâu nay ta thường nghe nói đến “chuyện nổ như pháo ran”, “chuyện nổ như bắp rang”, “chuyện nọ xọ chuyện kia”, “chuyện hươu chuyện vượn”, “chuyện trên trời dưới đất”… Thậm chí ở Quảng Nam còn có câu “chuyện ông huyện để dái” là ngụ ý câu chuyện mà họ đang nói đến, bàn đến chỉ tàm xàm, bá láp, nói dông dài mất thời gian, chẳng đâu và đâu.</p>



<p>Chuyện ở đây là hiểu theo nghĩa từ hai đến vài người cùng trò chuyện, nói chuyện với nhau lúc “trà dư tửu hậu”, họ nói chuyện gẫu, nói cách khác chính là lúc rảnh rỗi cùng “buôn dưa lê”. Ủa, sao lại “buôn lê”? Chẳng có trái lê, trái lựu gì đây sất, đơn giản là người ta tách “lê” từ câu quen thuộc “ngồi lê đôi mách” để tạo ra hai chữ mới mang sắc thái bông phèng, tếu táo khiến nội dung không còn “nghiêm trọng” như vốn có.</p>



<p>Với người dân miền Nam, nhất là Sài Gòn với “bỏ đi tám” là cách nói “tám” có thể hiểu là “tám chuyện” (nói nhiều) dần dà trở nên thành ngữ “bỏ qua đi tám” (thôi đi), “bỏ đi mà sống” (phớt đời). Và thường ví von nam/nữ nói chuyện không đâu vào đâu với chữ “tám”… thay vì “cà kê dê ngỗng”.</p>



<p>Năm 2021, bài viết của Hoàng Tuấn Công trên tuần báo Saigon Nhỏ “Con cà, con kê” là con gì?.</p>



<p>Trích:</p>



<p>“Con cà con kê” là thành ngữ thông dụng, nghĩa bóng hầu như ai cũng hiểu. Tuy nhiên, đúng như nhận xét của một độc giả: “nghĩa đen của “con cà con kê” mới là thứ tốn hao giấy mực, lôi nhiều nhà ngôn ngữ học, xã hội học, dân tộc học, thậm chí cả côn trùng học vào cuộc, để phân tích hai con quái đó, trong hơn nửa thế kỷ, trải dài trên cả 3 miền đất nước. Mà tới nay vẫn chưa ngã ngũ, vì chưa có lời giải thỏa đáng.”…</p>



<p>Đều là con gà (nhóm một):</p>



<p>“Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam” (GS Nguyễn Lân): “con cà con kê (Cà là do từ cổ có nghĩa là gà). Chê người nói dài dòng, hết chuyện này sang chuyện khác”.</p>



<p>“Từ điển tiếng Việt” (New Era): “cà kê 1. Kéo dài lằng nhằng mãi không hết. Chuyện cà kê (cũng nói chuyện con cà con kê). Kê: có nghĩa là gà. Trong từ ngữ trên, tiếng cà do tiếng gà đọc trại ra. 2. (ngb) Chuyện vặt vô tích sự, chuyện mà ai cũng biết, không cần nói tới, nói ra chỉ mất thời giờ vô ích. Chuyện cà kê vô bổ”.</p>



<p>“Từ điển thành ngữ tục ngữ Việt Nam trong hành chức” (GS.TS Đỗ Thị Kim Liên chủ biên): “con cà con kê (cà: do từ cổ ka có nghĩa là “gà”; kê: từ Hán có nghĩa là “gà”.</p>



<p>Nhà nghiên cứu Văn hóa dân gian Nguyễn Hùng Vĩ: Con gà âm Hán là kê, tiếng Mường là kha, tiếng Nghệ Tĩnh là ga, cổ âm đồng hóa với ca, cà. “Con cà con kê” là nói đi nói lại cùng một chuyện, dài dòng, luẩn quẩn và trùng lặp, “hết con gà lại quay lại… con gà”</p>



<p>GS.TS Vũ Quang Côn, Hội Côn Trùng Học Việt Nam lại nhìn nhận, gà là con vật hay lang thang bới móc tìm kiếm thức ăn, đường đi của chúng cũng lòng vòng. Con cà hay con kê đều là con gà sẽ phù hợp với cách nói lòng vòng, nhăng cuội, không có chủ đích, mất thời gian.</p>



<p>Cây cà và cây kê (nhóm hai):</p>



<p>Lê Gia, trong sách “1575 thành ngữ, tục ngữ cần bàn thêm” giải thích: Quả cà và bông kê là hai thứ “rất nhiều hột”, khi gieo ương thì mọc rất nhiều cây con và thường gọi là “con cà con kê”, để “chỉ sự sinh sản ra quá nhiều, thường dùng chỉ về sự nhiều việc, nhiều chuyện xảy ra”.</p>



<p>TS Phạm Văn Tình trong bài “Con cà con kê: có phải đều là gà?” đống ý quan điểm “cà” và “kê” chẳng liên quan gì tới “gà qué”, mà là cây cà và cây kê. Phân tích sau đây của ông gần như là một bản sao của bài “Con cà con kê” trong sách “Kể chuyện thành ngữ tục ngữ”:</p>



<p>“Trăm nghìn cây cà còn nhỏ mọc lên kín luống. Kê cũng gieo thành đám, mọc ken dày như mạ. Cây cà, cây kê đến độ trồng tỉa, người ta nhổ lên, bó thành từng bó nhỏ rồi đưa đi cấy giặm từng cây một. Một luống cây cà hay cây kê non có thể nhổ đem trồng trên một thửa ruộng khá lớn. Công việc trồng cà, trồng kê đòi hỏi phải tỉ mẩn, nhất là vào những ngày mưa, với việc tỉa ra từng cây, rề rà, chậm chạp (vì cây non mềm, dễ gãy và giập nát). Chính từ đó mà hình thành nên nghĩa đen của thành ngữ này là: mất nhiều thời gian, hết cây cà lại sang cây kê, kéo dài mãi như không dứt. Cách giải thích này xem ra thuyết phục hơn, vì nó có cơ sở thực tế (từ nhà nông ta) và phù hợp với ngữ nghĩa biểu trưng của thành ngữ “con cà con kê” như cách dùng phổ biến hiện nay trong dân gian…</p>



<p>“Tục ngữ lược giải” (Lê Văn Hoè): “Kể lể con cà con kê: Kể lể những việc lặt vặt nhỏ nhen như chuyện con cà và con kê. Con cà là cây cà con để làm giống. Con kê là cây con để làm giống. Nói cả chuyện con cà, con kê thì còn chuyện gì là chuyện không nói nữa”.</p>



<p>Xuất xứ từ Pháp: Caquet (từ tượng thanh đọc là ca kê) chỉ tiếng gà cục tác, nghĩa bóng là ba hoa. “Caqueter (động từ) nghĩa là nói không ngừng, nói dông dài, nói chuyện tầm phơ khiến người nghe phải khó chịu”. Ta đã “nhập cảng” caquet của Pháp, rồi Việt hóa thành “cà kê”…</p>



<p>TS Phạm Văn Tình và Nhóm Hoàng Văn Hành đã hoàn toàn đúng khi viết: “Nhiều người cho rằng “con cà con kê” là một thành ngữ có sự kết hợp của hai từ cùng ý nghĩa trong tiếng Việt và tiếng Hán, đó là “cà” (trong tiếng Việt cổ “ca” nghĩa là “gà”) và “kê” (tiếng Hán có nghĩa là “gà”). Song nếu vậy thì nghĩa đen của thành ngữ này hiểu một cách nôm na là: dài dòng luẩn quẩn, trùng lặp, “hết con gà lai quay lại con gà”? Mà như thế thì nghĩa đen này không phù hợp với nghĩa biểu trưng của thành ngữ theo cách dùng phổ biến hiện nay”.</p>



<p>Vậy, “con cà con kê” được hiểu nghĩa đen thế nào?. “Con cà con kê” (dị bản “cà kê dê ngỗng”) là chuyện lan man, dông dài, hết chuyện này sang chuyện khác, không theo chủ đề nào, giống như từ chuyện “cây cà” chuyển sang chuyện “cây kê”; từ “dê” lại sang chuyện “ngỗng”, dù “cà” với “kê”, “dê” với “ngỗng” là những giống loài hoàn toàn khác nhau, vốn chẳng dính dáng, liên quan gì đến nhau…</p>



<p>Như vậy, con cà, con kê; hay con dê, con ngỗng ở đây đều là những sự vật quen thuộc, nhỏ nhặt trong cuộc sống hàng ngày, không có gì lạ, hay đặc sắc; chẳng khác nào những câu chuyện vãn, chuyện phiếm, chuyện vặt, cốt giết thời giờ rảnh rỗi. Vì là chuyện gẫu (gặp đâu nói đó) nên đặc điểm của “con cà con kê” là chuyện không đầu không cuối, từ chủ đề này chuyển sang chủ đề khác lúc nào không hay. Mặt khác, chính bối cảnh nhàn rỗi, chẳng có gì thúc bách về thời gian đã tạo nên tính chất rề rà của chuyện “con cà con kê”, chứ không phải việc trồng cà, trồng kê tỉ mẩn, rề rà, chậm chạp, lâu xong, nên mới thành nghĩa đen…” (ngưng trích)</p>



<p>Chuyện Cà Kê của tác giả Lãng Nhân Phùng Tất Đắc, sách được nhà xuất bản Nam Chi Tùng Thư ấn hành đầu năm 1968. Tuyển tập gồm 28 bài phiếm luận, giai thoại hài hước, sách dày 274 trang.</p>



<p>Gọi là “chuyện cà kê”, lối hành văn hóm hỉnh, phản ảnh đời sống bình dân, văn hóa làng xã, thói hư tật xấu và nét đẹp trong xã hội Việt Nam, thường mang tính châm biếm nhẹ nhàng.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/02/ckdn-2.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="690" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/02/ckdn-2-1024x690.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-87081" style="width:576px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/02/ckdn-2-300x202.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/02/ckdn-2-1024x690.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2026/02/ckdn-2-768x517.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/02/ckdn-2.jpg?strip=all 1400w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p>* Dê, ngỗng</p>



<p>Dê và ngỗng có lẽ chẳng liên quan gì với nhau?</p>



<p>Con ngan có tên khoa học là Cairina moschata, là loại gia cầm thường được gọi là vịt xiêm. Vịt và vịt xiêm là khác nhau. Vịt xiêm là cách gọi của người miền Nam về con ngan. Vịt thích nghi sống ở dưới nước, ngan có thể bơi dưới nước nhưng thích nghi nuôi trên cạn tương tự gà.</p>



<p>Ngan không phải là ngỗng. Con ngỗng là loại gia cầm thuộc họ Vịt (Anatidae). Ngỗng có nhiều giống khác nhau như ngỗng trời, ngỗng xám, ngỗng sư tử, các đặc điểm như cổ dài (nhưng không dài bằng thiên nga), thân to, ăn cỏ và các loại rau, cám.</p>



<p>Thiên nga (swan) là loại chim nước lớn cũng thuộc họ Vịt (Anatidae). Thiên nga và ngỗng tuy gần gũi, nhưng lại thuộc những chi khác nhau. Một số loài thiên nga phổ biến là thiên nga trắng (cygnus olor), thiên nga đen (cygnus atratus) và thiên nga cổ đen (cygnus melancoryphus)…</p>



<p>Thiên nga nổi tiếng qua vở ballet Hồ Thiên Nga của nhạc sĩ tài danh Tchaikovsky, sáng tác khoảng năm 1875. Kịch bản năm 1895 của Modest Tchaikovsky, Marius Petipa và Lev Ivanov.</p>



<p>Hình ảnh đêm trăng sáng, hồ thiên nga hiện ra giữa đống tàn tích đổ nát của một ngôi nhà nguyện xưa. Nhiều người đặt tên cho gái là Thiên Nga (không có Gà, Vịt, Ngan, Ngỗng… Chị tôi gọi các cháu nội khi sinh ra là gà, vịt để gọi trong nhà nhưng gắn liền với tên tuổi. Tôi cũng nhầm lẫm tên các cháu).</p>



<p>Vì vậy khi gọi cà, kê thì phải đi cùng với ngan, ngỗng, những con tương cận mới hợp lý nhưng có lẽ vần “ê”, dê ngỗng cho có vần, có điệu (?)</p>



<p>*</p>



<p>Trong cuốn Văn Học Miền Nam, nhà văn Võ Phiến nhận xét: “Thời kỳ 1954-1975, các nhà văn gốc Nam khi nói đến chiến tranh trên đất nước thường chỉ nói về cuộc chiến chống Pháp mà tránh cuộc chiến chống cộng. Viết truyện như Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam đều thế. Đến lượt Lê Xuyên, ông cũng thế. Mặt khác, các vị gốc Bắc thì chuyên về cuộc sống và con người đô thị, còn các vị gốc Nam thường viết về nông dân, nông thôn. Lê Xuyên cũng thế. Chuyện ấy dễ hiểu. Người Nam chưa biết qua chế độ cộng sản thì không mặn nồng với việc chống cộng; người Bắc di cư, bao nhiêu văn nhân, nghệ sĩ trí thức vào Nam đều sống ở đô thị nên chỉ biết viết về đô thị.</p>



<p>Người đọc văn Lê Xuyên có thể là giới bình dân, lao động, thợ thuyền, nông dân nhưng bên cạnh đó cũng phải kể đến giới trí thức miền Nam, kể cả những người Bắc “di cư” vào Nam năm 1954…”.</p>



<p>Trong các tác phẩm văn học Miền Nam thường có những đoạn văn hay đối thoại lan man, dông dài, mang tính “cà kê dê ngỗng”. Tiêu biểu như nhà văn Lê Xuyên, viết tiểu thuyết theo kiểu ngồi nghe người kể chuyện, nói chậm, nhớ đâu kể đó, không lan man để khoe chữ, mà lan man vì đời sống thường nhật trong cuộc sống. Những mẩu đối thoại của ông “dài dòng văn tự” hỏi, đáp… chuyện nầy chuyện kia với văn phong miêu tả chi tiết quá mức, gây cảm giác lê thê, chậm chạp.</p>



<p>Theo nhận xét của Nguyễn Mạnh Trinh “Viết feuilleton cho báo hàng ngày thời đó không phải dễ dàng mà còn là một nghệ thuật. Trường thiên tiểu thuyết của ông dường như tranh đua một cách gián tiếp với truyện kiếm hiệp Kim Dung lúc đó đang ở tuyệt đỉnh chú ý của mọi người, ở đâu cũng nói chuyện Cô gái Ðồ Long, Anh Hùng Xạ Ðiêu thì những trường thiên tiểu thuyết như “Chú Tư Cầu” như “Ðêm Không Cùng” phải có một hấp lực rất lớn.</p>



<p>Số lượng độc giả hàng ngày của các nhật báo là mức đo sự lôi cuốn của tờ báo mà những truyện nằm ở trang trong là một biểu hiện. Tiểu thuyết của Lê Xuyên có những đời sống chân chất ruộng đồng, những suy nghĩ giản dị của người bình dân, những ngôn ngữ của đời bình thường nhưng vào trong đối thoại truyện lại thành những lôi cuốn mở ra những cảm giác sẵn có cho những cuộc tình nóng bỏng đầy ắp dục tình. Ðối thoại của Lê Xuyên cứ nửa kín nửa hở, cứ vừa đố vừa giảng một cách “tửng tửng” nhưng tự nhiên gợi đến những cảm xúc của thịt da, của những giây phút nóng hổi của cuộc sống. Nhưng chẳng phải là ngôn ngữ của trụy lạc khiêu dâm. Mà còn có một điều gì ẩn khuất của con người, của nét nhân bản phảng phất.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/02/ckdn-3.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="679" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/02/ckdn-3-1024x679.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-87082" style="width:636px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/02/ckdn-3-300x199.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/02/ckdn-3-1024x679.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2026/02/ckdn-3-768x509.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/02/ckdn-3.jpg?strip=all 1387w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Nhớ đến nhà văn Lê Xuyên, thì tự nhiên người đọc nhớ ngay đến tiểu thuyết Chú Tư Cầu nhưng thực ra vẫn còn những tiểu thuyết dài viết từng ngày đăng ở trang trong các nhật báo cũng lơi cuốn độc giả không kém như Nguyệt Đồng Xoài, Rặng Trâm Bầu, Vợ Thầy Hương, Kinh Cầu Muống… độc giả theo dõi diễn biến cốt truyện hàng ngày với phong cách vừa đố vừa giảng…”</p>



<p>Nhà văn Mai Thảo viết: “Tuy đăng từng ngày, mỗi ngày một tiểu đoạn nhưng cách viết và lối dựng truyện phải là những bí quyết sắc bén giam nhốt không rời thần trí và ham thích người đọc, đã bước chân qua cửa truyện là không thể trở lui, phải từng số từng ngày đợi chờ đọc tiếp. Người người viết truyện trữ tình đăng trên nhật báo bây giờ thảy đều mơ tưởng trở thành một Kim Dung kiếm hiệp. Một mở đầu đã dầy dặc những tình tiết bốc cháy từ những mê đắm thứ nhất. Chuyển đoạn vừa đố vừa giảng. Chuyện đang chân trời hiện tại thoắt đã chân trời tương lai. Đang những diễn biến bây giờ, bằng hồi tưởng, đột ngột kéo ngược hết về quá khứ. Bất ngờ cắt đứt một xáo trộn, đóng khung trong một cảnh trí này, ném bổng xáo trộn ấy vào một cảnh trí hồn tồn khác biệt. Đang thuật đang tả chuyển thành viết thư nghiêng sang nhật ký. Và thuật tả cũng luôn luôn phải đối thoại len vào. Trăm nghìn xảo thuật hâm nóng cảm giác làm ngỡ ngàng mọi tưởng trước, sai lạc mọi phán đoán ấy đã được chuyên chở bộn bề vào tiểu thuyết đăng báo chúng ta hiện nay, bằng con đường điện ảnh bằng vay mượn và phối hợp cách thức viết với cách thực hiện phim ảnh. Nói chung đó là kỹ thuật của loại phim truyện trinh thám, nghẹt thở, giật gân, bao giờ cũng tạo được tác dụng làm căng thẳng giác quanh ta…”</p>



<p>Chú Tư Cầu là một trong những tiểu thuyết tiêu biểu nhất của Lê Xuyên, nổi tiếng không phải vì cốt truyện gay cấn mà vì cách kể đời, kể người rất… lê thê mà thấm. Chú Tư Cầu, người đàn ông từng trải, vốn dốt nát, chỉ biết đọc năm ba chữ quốc ngữ, giang hồ nửa mùa giống một đời người được kể lại, chứ không phải “một câu chuyện”. Nhật báo Sài Gòn Mai đăng Chú Tư Cầu trong suốt hai năm liền, từ tháng 2/1961 đến tháng 2/1963.</p>



<p>Với nhật báo đã đăng suốt hai năm cũng hiểu dài lê thê rồi. Nội dung tóm lược về cuộc đời tình ái của một chàng nông dân &#8211; Chú Tư Cầu &#8211; ngây thơ, nhân hậu, có số đào hoa, không ve vãn gái mà gái vẫn chạy theo quyến rũ chàng rần rần. Trước hết là cô Phấn, bạn gái cùng quê, dám hiến thân cho chàng, rồi rủ chàng lên Sài Gòn để xây tổ uyên ương. Nhưng khi tới Cần Thơ, bị tên khách trú Lâm Sanh dụ dỗ, Phấn chịu làm vợ và dùng kế gạt chàng xuống tàu để trở về quê.</p>



<p>Tư Cầu đi lộn tàu lên Nam Vang. Dọc đường gặp đồng hành là chú Bảy. Chú ta cảm thương Tư Cầu nên khi tới Nam Vang giới thiệu chàng giúp việc cho tiệm cơm người chị ruột chú là cô Năm. Tại đây, Tư Cầu có nhiều dịp tiếp xúc với phường trộm cắp, phường dao búa, và được lòng cô Ba Xá Lỵ gái nặc nô xinh đẹp, uy trấn một góc xã hội du côn nho nhỏ trên đất này. Cô ta mê chàng vì tấm lòng nhân hậu và hào hiệp của chàng, tìm mọi cách để quyến rũ chàng. Rồi cả hai tằng tịu say mê nhau. Nhưng sau một thời gian sống hạnh phúc trên đất Chùa Tháp, vì nhớ quê, Tư Cầu xin trở về quê, rủ nàng theo, nhưng cô ta biết rằng chốn ruộng đồng không phải là chốn môi sinh thích thú của mình nên từ chối.</p>



<p>Tư Cầu về quê, được mẹ chàng cho chàng biết Phấn đã có chồng Lâm Sanh, có về quê vài lần và lần nào cũng đến thăm hỏi chàng. Cô ta giúp đỡ gia đình chàng trong cơn ngặt nghèo nên bà rất cảm kích cô ta lắm. Rồi cha mẹ chàng buộc chàng phải cưới cô Thơm làm vợ. Cô này vốn là gái Việt gốc Miên rất được chàng yêu thương quý trọng. Cuộc sống lứa đôi của chàng tạm bình yên hạnh phúc.</p>



<p>Nhưng vào lúc xảy ra cuộc chiến Nhật- Pháp, Sài Gòn bị dội bom. Phấn về quê để gặp Tư Cầu, rủ chàng đến chỗ khác xây dựng lại cuộc sống lứa đôi đã từng dang dở. Cô cũng cho chàng biết đứa con trai của cô vốn là con ruột của chàng. Cô Thơm bắt gặp quả tang cả hai lén lút tâm sự nhau nên ghen lồng lộn. Rốt cuộc Phấn phải trở về Sài Gòn, tiếp tục sống với người chồng như cũ.</p>



<p>Biến động xảy ra, trong các Sóc Thổ, người Miên nổi dậy phong trào “cáp duồn” (giết người Việt). Cô Thơm dù vốn là gốc Miên nhưng đã từng được cha mẹ Việt nuôi từ thở ấu thơ, rồi khi lớn lên lấy chồng Việt nên cũng bị người Miên cho là thứ Miên gian. Trong một chuyến về quê thăm cha mẹ nuôi, cô bị bọn Miên hãm hiếp và bị chúng hạ sát. Tư Cầu điên tiết giết chúng để báo thù cho vợ.</p>



<p>Tư Cầu nghe theo lời Ba Kiên gia nhập vào nhóm du kích kháng chiến, bị bắt giải lên Sài Gòn, chuyển qua dinh cơ của sĩ quan người Pháp có phận sự canh giữ các tù nhân trước khi giải họ đi Côn Đảo. Không ngờ viên sĩ quan này là chồng hờ của cô Ba Xá Lỵ. Tình cũ gặp nhau, cô Ba Xá Lỵ hết lòng giúp đỡ Tư Cầu để được gần gũi ân ái với chàng. Chàng chỉ làm phụ dịch nhẹ nhàng thôi. Một hôm, Tư Cầu theo nhóm tù nhân đến tiệm bán cây mà viên sĩ quan đã đặt tiền mua để chất cây lên đoàn vận tải quân xa đem về nhà hắn. Tình cờ Tư Cầu gặp Phấn, vợ tên khách trú ngày trước, nay trở thành chủ nhân tiệm bán cây ấy. Phấn cùng cô Ba Xá Lỵ giúp đỡ Tư Cầu ẩn trú. Tại nhà riêng do Phấn thuê, Tư Cầu bị lính tuần tiễu bố ráp nên bị bắt đưa về bót cảnh sát Catinat để cho bọn bao bố (để khỏi nhận diện) nhìn mặt nhưng không nhận chàng là Việt Minh nội thành và cho nên chàng được tha.</p>



<p>Tư Cầu lại về quê, nhập vào toán du kích kháng chiến địa phương. Trong cuộc tấn công quân xa của lính Tây, Tư Cầu cùng đồng bọn hạ sát được tên chồng sĩ quan hờ của cô Ba Xá Lỵ. Nhưng chàng không cứu được cô. Tên chánh trị viên giết cô ta. Tư Cầu toan báo thù cho người yêu của mình nhưng hắn đã kịp thời cao bay xa chạy mất rồi.</p>



<p>Tư Cầu lên Châu Đốc tìm chú Bảy và làm vườn cho chú. Chàng chiếm được trái tim cô Thắm, và được chú Bảy gả con gái cưng của chú cho chàng. Nhưng rồi chàng lại đi theo kháng chiến bị chết trong trận đánh Tây. Trong khi đó ở quê nhà, cô Phấn mang thai. Rồi đứa con trai của chàng chào đời. Nhưng dù sao chàng cũng đuợc an ủi vì trong lúc lâm chung, thằng em vợ của chàng đọc cho chàng nghe bức thư báo tin mừng của vợ.</p>



<p>Chuyện dài dòng văn tự như vậy, hết chuyện nọ xọ chuyện kia nhưng vì sự tò mò, hiếu kỳ của độc giả diễn tiến thế nào nên lôi cuốn độc giả.</p>



<p>Tác phẩm Dưới Rặng Trâm Bầu (1965) mang bối cảnh màu hoài niệm rất Nam Bộ, hàng cây trâm bầu ở miền quê ven kênh rạch đất Nam Kỳ Lục Tỉnh. Câu chuyện lan man như lúc “trà dư tửu hậu”. Truyện nầy lúc đó bị phê phán mang tính phản chiến!</p>



<p>Sau năm 1975 người ta mới thấy rõ con người ‘nhẫn nhục’ của Lê Xuyên. Một con người ‘khí tiết’ đã chịu sống an phận trong nghèo khổ, hằng ngày ngồi sau tủ thuốc lá lẻ tại ngã tư đường Bà Hạt &#8211; Ngô Quyền, Chợ Lớn… khi cảm thấy ngòi bút ngày trước không còn là của mình. Trải qua sau 2 năm trời bệnh hoạn vì cơ cực và nghèo khổ nhưng nụ cười luôn nở trên môi.&nbsp; Nhà&nbsp; văn Lê Xuyên qua đời ngày 2 tháng 3 năm 2004 tại Sài Gòn!</p>



<p>Sống trên xứ Cờ Huê, với nội tình chính trị đang xảy ra giữa đảng nầy đảng kia, mỗi người có quan điểm khác nhau (ngay cả trong gia đình giữa vợ chồng, con cái) nếu hàng ngày gặp nhau cà phê cà pháo cùng tán gẫu liên quan đến nội tình rồi cũng rã đám! Chỉ có “cà kê dê ngỗng” mới có chuyện dài ngày nầy năm nọ, giữ được tình bằng hữu.</p>



<p>Ngay cả mục “Chuyện Vãn” cho tờ báo cũng không đề cập đến nội tình chính trị ở đây vì giữa độc giả với nhau… Biết chết liền!</p>



<p><em>Little Saigon, January 2023</em></p>



<p><strong>Vương Trùng Dương</strong></p>



<p></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Vương Trùng Dương: Chuyện Vãn: Sách Nấu Ăn Soán Chỗ Văn Học Pháp</title>
		<link>https://t-van.net/vuong-trung-duong-chuyen-van-sach-nau-an-soan-cho-van-hoc-phap/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Vương Trùng Dương]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 06 Oct 2025 06:58:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[chuyện vãn Vương Trùng Dương]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=84023</guid>

					<description><![CDATA[“Sách vở ích gì cho buổi ấy” (Nguyễn Khuyến) “Văn chương hạ giới rẻ như bèo” (Tản Đà) Trước đây, thủ đô Paris của Pháp được xem như cái nôi truyền bá các trào lưu triết học, văn học nghệ thuật, âm nhạc, hội họa… Trong bài viết về Tổng Quan Sách Dịch của tôi, [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/vtd-3.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="896" height="1024" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/vtd-3-896x1024.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-84024" style="width:498px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/10/vtd-3-263x300.jpg 263w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/vtd-3-896x1024.jpg?strip=all 896w, https://cdn.t-van.net/2025/10/vtd-3-768x878.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/vtd-3.jpg?strip=all 1080w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><em>“Sách vở ích gì cho buổi ấy”</em></p>



<p>(Nguyễn Khuyến)</p>



<p><em>“Văn chương hạ giới rẻ như bèo”</em></p>



<p>(Tản Đà)</p>



<p>Trước đây, thủ đô Paris của Pháp được xem như cái nôi truyền bá các trào lưu triết học, văn học nghệ thuật, âm nhạc, hội họa… Trong bài viết về Tổng Quan Sách Dịch của tôi, từ thập niên 1920’ đến hai thập niên ở miền nam Việt Nam, nhiều tác phẩm trong các lãnh vực trên đã được các dịch giả, giáo sư, nhà văn… dịch và ấn hành rộng rãi. Trong khi đó, sách dạy nấu ăn ấn hành cũng khá nhiều nhưng “chuyện đàn bà” chỉ dành cho những người nội trợ.</p>



<p>Quyển sách Le Cuisinier Francois do đầu bếp trứ danh người Pháp Francois Pierre de la Varenne&nbsp;in lần đầu tại Hà Lan năm 1655, cho đến nay trên thế giới chỉ còn lưu giữ được 3 ấn bản thuộc đợt phát hành đầu tiên, trong đó một cuốn thuộc sở hữu của bảo tàng Hermitage.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/vtd-1.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="768" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/vtd-1-1024x768.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-84026" style="width:664px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/10/vtd-1-300x225.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/vtd-1-1024x768.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2025/10/vtd-1-768x576.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/vtd-1.jpg?strip=all 1400w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p>Hai quyển sách dạy nấu ăn Annam ấn hành ở Sài Gòn cách nay một thế kỷ cho thấy các món ẩm thực quê hương đã được phổ biến.</p>



<p>Sau những thập niên lại có chuyện thay đổi ở trời Tây, sách dạy nấu ăn lại chiếm thượng phong. Trong bài viết của Tuấn Thảo trên RFI cho biết: “Mỗi lần đến dịp lễ lạc hay ăn mừng sinh nhật, gia đình ở Pháp thường hay tặng cho nhau thời trang mỹ phẩm, sách in truyện tranh, smartphone hay hàng công nghệ ….. Riêng trong ngành xuất bản, một trong những món quà tặng phổ biến vẫn là các tựa sách về nghệ thuật ẩm thực và đặc biệt hơn nữa là sách dạy nấu ăn. Tại Pháp, gương mặt thành công nhất trong lãnh vực này chính là đầu bếp kiêm nhà nhiếp ảnh Jean-François Mallet…</p>



<p>Quyển sách Simplissime gồm 100 công thức nấu ăn “cực kỳ đơn giản” do nhà xuất bản Hachette phát hành, lập kỷ lục số bán với hơn 3 triệu bản. Theo lời tác giả Jean-François Mallet: Nhiều độc giả không chỉ hưởng ứng sách do tôi viết, mà còn mua khá nhiều quyển sách của giới đầu bếp trứ danh. Ở đây, có thể phân biệt thành nhiều đối tượng bạn đọc khác nhau. Có người mua sách để học cách nấu ăn, có người mua sách chủ yếu để làm quà tặng. Cũng có người mua sách để làm kỷ niệm, để nhớ lại một quán ăn hay một đầu bếp nổi tiếng mà họ từng có dịp trải nghiệm. Ngoài ra, có một thành phần độc giả mà ít ai nghĩ tới, đó là những người muốn trở thành đầu bếp chuyên nghiệp, họ đang được đào tạo trong các trường dạy nấu ăn, để phục vụ trong ngành nhà hàng khách sạn. Những quyển sách của các bậc thầy trứ danh giống như những quyển cẩm nang giúp cho họ.”Cũng trên RFI trong tạp chí văn hóa, bài viết của Tuấn Thảo Pháp: Ngành xuất bản bội thu nhờ bán sách dạy nấu ăn,đăng ngày&nbsp;26/9/2025:</p>



<p>“Vào mùa thu năm nay, sẽ có khoảng 480&nbsp;cuốn tiểu thuyết được phát hành để chuẩn bị cho mùa giải văn học 2025 tại Pháp. Sách dạy nấu ăn (với khoảng 400 đầu sách mới) cũng sẽ chiếm một vị trí quan trọng trên các tủ trưng bày…</p>



<p>Marion, chuyên viên làm việc cho nhà xuất bản La Martinière từng chứng kiến nhiều sự thay đổi trong lãnh vực này:“Xu hướng mới trong sách dạy nấu ăn là những quyển sách này giống như những món quà trang trí mà khách hàng Pháp mua về để biếu tặng cho nhau. Sách có lối trình bày đẹp mắt, từ ảnh chụp cho đến cách in ấn, giống như các tạp chí mỹ thuật thời trang. Sách cũng dày hơn nhiều từ 300 đến 400 trang. Sách không chỉ bao gồm các công thức nấu ăn, mà còn thường được kết hợp với nhiều giai thoại lịch sử văn hóa, thông tin hướng dẫn du lịch. Sách dạy nấu ăn thời nay thường là những quyển sách đẹp. Trong số những đầu sách phổ biến nhất có tác phẩm của đầu bếp người Anh Yotam&nbsp;Ottolenghi hay của đầu bếp Pháp Jean-Francois Mallet, được xem như&nbsp;hai hiện tượng của ngành xuất bản.&nbsp;</p>



<p>Đối với các chủ hiệu sách, những tên tuổi này mang đến nhiều cơ hội thuận lợi, cho phép họ bán những cuốn sách đắt tiền hơn, với giá trung bình dao động từ 35 đến 60 euro. Nhờ vào ảnh chụp ngoạn mục, tranh minh họa đầy ấn tượng, sách dạy nấu ăn tạo thêm cơ hội cho bạn đọc muốn đi tham quan du lịch. Điều này lại càng đúng với nền ẩm thực thế giới: kể cả các đầu sách nói về các món ăn Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Việt Nam…</p>



<p>Theo cô Deborah Dupont-Daguet, chủ tiệm sách chuyên về “Librairie Gourmande”, nằm trên đường Montmartre, ở quận 2 Paris, sách dạy nấu ăn ngày càng phong phú đa dạng do nội dung liên tục được cập nhật, thay đổi hầu đáp ứng nhu cầu của bạn đọc, thường quan tâm đến các trào lưu thời thượng.“Tại Pháp các quyển sách dạy nấu ăn phát triển mạnh từ đầu những năm 1950 với các đầu bếp như Ginette Mathiot hay Françoise Bernard. Vào thời bấy giờ, sách của họ một phần là để đơn giản hóa công việc của các bà nội trợ, nhưng đồng thời họ dùng công thức nấu ăn, để có thể bán thêm nhiều nồi áp suất cũng như những thiết bị gia dụng khác… Từ khoảng một năm nay, lại bùng phát hiện tượng&nbsp;Airfryer, loại nồi chiên&nbsp;không dầu để chiên khoai tây, làm nem rán hay cánh gà nướng. Thị trường Pháp hiện nay ngập tràn những cuốn sách (Les recettes au Airfryer)&nbsp;với những công thức làm món ăn với nồi chiên không dầu. Mỗi quyển sách có thể được bán cả trăm ngàn bản”.</p>



<p>Với lời cuối: “Liệu cơn sốt xuất bản nhiều sách ẩm thực có từ từ hạ nhiệt hay chăng? Đa số các chủ hiệu sách đều nghĩ rằng, hiện giờ, thị trường sách dạy nấu ăn tại Pháp gần như đã bão hòa, nhưng biết đâu chừng có thể bùng phát trở lại khi ngành xuất bản tìm ra được những ý tưởng mới”.&nbsp;</p>



<p>Với người Việt hiện nay ở hải ngoại có lẽ ít quan tâm đến sách dạy nấu ăn vì YouTube đã phổ biến rất nhiều. Ngay bản thân tôi muốn nấu món nào, vào YouTube “search” món đó sẽ xuất hiện nhiều cách chế biến từ ướp và cách nấu. Cũng như quý ông, chẳng bao giờ đọc sách vì ít thực dụng hơn xem.</p>



<p>Người bạn cùng khóa với tôi là HBE, lúc đó độc thân vui tính, giảng viên Anh ngữ ở quân trường, bạn bè không biết nghề đầu bếp của anh. Năm 1975 khi định cư tại Hawaii, với tên Mark Phu, mở nhà hàng và có chương trình dạy nấu ăn trên đài truyền hình. Không ngờ Lê Bá Chư, chủ nhân trung tâm băng nhạc Giáng Ngọc, cũng là “chef cook”… Sau đó người Việt có nhiều “chef cook” nổi tiếng trên đất Mỹ mà lạ thay đều là đấng mày râu.</p>



<p>Ngày trước các vị thường giữ bí mật cách pha chế, tẩm, ướp… nếu có phổ biến cũng giữ bí quyết vì coi đó như “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” nên chỉ truyền nghề cho người thân mà thôi.</p>



<p>Các tác phẩm xa xưa về ẩm thực, tùy bút văn chương, như Miếng Ngon Hà Nội của nhà văn Thạch Lam (tập bút ký về ẩm thực phố phường Hà Nội xưa) và tùy bút Hà Nội Băm Sáu Phố Phường viết về phở, bún chả, quà vặt)… Món Ngon Hà Nội của nhà văn Vũ Bằng (tùy bút nổi tiếng viết về ẩm thực đất Bắc) và Thương Nhớ Mười Hai cũng có nhiều đoạn miêu tả món ăn, tập tục ăn uống. Bếp Lửa Hồng của nhà văn Nguyễn Tuân (tản văn về nghệ thuật nấu nướng, thưởng thức), đặc biết ông viết về phở… Miếng Lạ Miền Nam của Sơn Nam (khảo cứu văn hóa Nam Bộ, có nhiều đoạn về món ăn). Phong Vị Miền Nam của nhà văn &nbsp;Bình Nguyên Lộc với các món ăn đặc sản… Những nhà văn nầy không phải là đầu bếp nhưng đã đưa ẩm thực vào văn chương.</p>



<p>Với các món ăn Huế, cầu kỳ và kiểu cách đã được đề cập từ cung đình đến dân giả. Ngoài ra mỗi miền, mỗi nơi đều có đặc sản từng món ăn từ thời xa xưa cho đến nay.</p>



<p>Vài món ăn tiêu biểu như phở Bắc, bún bò Huế, mì Quảng, cao lầu Hội An, don Quảng Ngãi, bánh căn Nha Trang, bánh khọt miền Tây (tương tự như bánh căn), hủ tiếu Mỹ Tho… xưa nay rất quen thuộc. Mỗi món ăn còn tùy khẩu vị của người dân mỗi miền, chẳng hạn như món phở.</p>



<p>Nói đến ẩm thực Pháp đã từng nổi tiếng trên thế giới với Le petit déjeuner (bữa ăn sáng), Le déjeuner (bữa ăn trưa), Le dîner (bữa ăn tối)… dân sành điệu với đồ uống cho hai bữa ăn chính dùng trước [(khai vị) (crudités, charcuterie)]bữa ăn gọi là apéritif và sau bữa ăn gọi là digestif. </p>



<p>Với loài ốc sên, người Việt không thể nào ngờ Ốc Sên Escargot món ăn đưa ẩm thực Pháp có giá khá đắt đỏ. Để làm món Escargot, người đầu bếp phải làm sạch ruột ốc sên bằng cách rửa chúng trong các loại thảo dược đặc biệt, nấu chín ốc rồi nhét lại vào vỏ và nấu cùng bơ thảo mộc, hỗn hợp làm từ tỏi, hẹ, rau mùi tây và bơ, chế biến trong vài ngày, nấu ở thời gian thích hợp cùng nhiệt độ khoảng 160 độ C.Trước đây, người bạn tôi qua Pháp thuyết trình về văn hào Stendhal, được bạn chiêu đãi nhà hàng sang trọng ở Paris món nầy, anh nói khi còn ở trong trại tù, con gì nhúc nhích được cũng ăn, ngoại trừ ốc sên.</p>



<p>Thời Sinh Viên Sĩ Quan ở Trường ĐH.CTCT Đà Lạt, vị chỉ huy trưởng mời cô Alice Kiều Oanh thuyết trình về Giao Tế Nhân Sự, cô trình bày cách ăn uống lịch sự và cầu kỳ ở Pháp. Thưởng thức món ăn bằng các cách khác nhau, tùy thuộc vào loại thực phẩm và hoàn cảnh. Ví dụ, khi thưởng thức món ăn phải sử dụng dao và nĩa, người Pháp sẽ cầm dao bằng tay phải và nĩa bằng tay trái, với lòng bàn tay hướng lên. Để 2 tay trên bàn và giữa dao, dĩa bằng ngón trỏ. Cách để dao, dĩa thông báo chưa dùng bữa xong (nĩa và dao hình chữ T trên đĩa) và kết thúc (nĩa, dao nằm cạnh nhau), cần dọn dẹp. Khi muốn thanh toán, gọi nhân viên hoặc giơ tay lên cao…Nam nữ thường mang theo hộp quẹt, không gọi nhân viên phục vụ mà sử dụng hộp quẹt bật lửa. (Hành động vẫy tay để gọi nhân viên phục vụ bị coi là khiếm nhã).</p>



<p>Khi uống rượu, họ sẽ nhấp nháp từng chút một, thưởng thức từng hương vị và hương thơm khác nhau của loại rượu đó. Và mỗi loại rượu cũng tùy theo món ăn.Người Pháp rất sành điệu trong việc kết hợp món ăn với rượu các món ăn với rượu. Chẳng hạn như Bordeaux thường dùng kèm với thịt đỏ, tùy theo loại thịt mà dùng rượu với nồng độ khác nhau, thường dùng vang trắng cho phù hợp với từng loại hải sản. Champagne để khai vị, loại rượu ngọt như Porto để tráng miệng.</p>



<p>Kinh đô ánh sáng Paris nay không còn như xưa bởi nhiều sắc dân bất hợp pháp, hầu hết gọi là “rệp” đã làm thay đổi nếp sống văn minh đã từng tự hào dân Parisien cũng như Hà Nội ngày xưa với câu “Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”.Có lẽ ngày nay phong cách nhà hàng Pháp ngày trước cũng thay đổi phần nào.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/vtd-2.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="423" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/vtd-2-1024x423.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-84025" style="width:712px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/10/vtd-2-300x124.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/vtd-2-1024x423.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2025/10/vtd-2-768x318.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/vtd-2.jpg?strip=all 1400w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p>Trở lại với sách dạy nấu ăn hiện nay ở Pháp đã chiếm ngôi vị nhiều tác phẩm của các trào lưu triết học, văn học nghệ thuật, âm nhạc, hội họa…Đây là điều không thể nào ngờ“giá trị tinh thần” bị nhường ngôi cho “giá trị vật chất”! “Vào mùa thu năm nay, có khoảng 480&nbsp;cuốn tiểu thuyết được phát hành để chuẩn bị cho mùa giải văn học 2025 tại Pháp. Sách dạy nấu ăn (với khoảng 400 đầu sách mới) cũng sẽ chiếm một vị trí quan trọng trên các tủ trưng bày…”</p>



<p>Những tên tuổi đã đi vào lịch sử triết học Pháp điển hình như René Descartes, Blaise Pascal, Pierre Bayle, Montesquieu, Jean Jacques Rousseau, Voltaire,&nbsp;J.P Sartre… Những nhà văn nổi tiếng của Pháp với những tác phẩm được phổ biến trên thế giới như: Victor Hugo, Alexandre Dumas, Guy de Maupassant, Anatole France, Marcel Proust, Émile Zola, Albert Camus, Marguerite Duras, Charles Perrault, George Sand, Saint-Exupéry, Charles Baudelaire, Honoré de Balzac, Simone de Beauvoir…</p>



<p><strong>Những nhạc sĩ của pháp như như </strong>Claude Debussy (nhà soạn nhạc đầu tiên của trường phái Ấn Tượng), Maurice Ravel, Hector Berlioz, <strong>Georges Bizet… Ngay những nhà soạn nhạc của các nước ở trời Âu (Đức, Áo, Ý, Ba Lan…) cũng có cơ hội xuất hiện ở Pháp, tạo tiếng vang trên thế giới: </strong>Johann Sebastian Bach (Đức), <em>Wolfgang Amadeus Mozart (Áo), Ludwig van Beethoven (Đức), </em><strong>Richard Wagner (Đức), Franz Joseph Haydn (Áo), </strong><em>Johannes Brahms (Đức), </em><strong>Franz Schubert (Áo),</strong></p>



<p><strong>Robert Schumann (Đức), </strong><em>Frideric Handel (Đức),</em> Mendelssohn (Đức), Franz Liszt (Hungary), <em>Chopin (Ba Lan, mối tình với nhà văn Pháp </em>George Sand<em>), </em><strong>Hector Berlioz (Ý, </strong>chuyển đến Paris khi 18 tuổi), <em>Puccini (Ý)…</em>Ngay cả Paganini (Ý), ngoài tài năng sáng tác, ông còn là một trong những thiên tài chơi violon nổi tiếng nhất trong thời đại được mệnh danh “tiếng vĩ cầm ma quái”, “phù thủy của tiếng đàn vĩ cầm”, sống cho đến cuối đời chết trên đất Pháp.</p>



<p>Paris của nước Pháp của một thời tự hào, như đã đề cập, về giá trị tinh thần nhiều lãnh vực được lan tỏa khắp nơi… và “ngày ấy nay còn đâu”!</p>



<p>Trở lại với vấn đề ẩm thực, nước nào cũng có nhiều món ăn được phổ biến trong sách nhưng không chiếm ngôi vị “hàng đầu” như Pháp hiện nay. Chẳng hạn như nước Mỹ, nhà sách đầu tiên của Barnes &amp; Noble, thành phố New York vào năm 1932. Nay có nhiều kệ bán sách ẩm thực nhiều hơn các lãnh vực khác (hình vừa chụp ở tiệm sách trong khu Bella Terra, Huntington Beach) nhưng không có quyển nào như quyển sách Simplissime của đầu bếp Jean-François Mallet.</p>



<p>Theo ghi nhận của giới truyền thông, bộ sách Simplissime của Jean-François Mallet đã tiêu thụ khoảng 3 triệu quyển vì những công thức chế biến đơn giản với các nguyên liệu và gia vị mua ở chợ, siêu thị cho từng món ăn gia đình.</p>



<p>Ngày xưa, nhà xuất bản Hachette Livre của Pháp còn ấn hành loại sách, khi đọc phải dùng dao con rọc từng trang mới cảm nhận thú đọc sách. Nhà thơ Quách Tấn đã đề cập đến thú đọc sách loại nầy, có lẽ ngày nay trở thành “cổ lỗ sĩ”.</p>



<p>Theo con số thống kê cho biết danh sách 10 cuốn sách bán chạy nhất ở Pháp năm 2024, theo số liệu của GfK và các bảng xếp hạng uy tín. “Quels sont les livres les plus vendus en France en 2024?”.</p>



<p><em>La femme de ménage của Freida McFadden với 603.000 bản. </em><em></em></p>



<p><em>La Sage-femme d’Auschwitz&nbsp; của Anna Stuart với 499.639 bản </em><em></em></p>



<p><em>Un animal sauvage của Joël Dicker với 424.526 bản </em><em></em></p>



<p><em>Angélique của Guillaume Musso với 415.621 bản </em><em></em></p>



<p><em>Quelqu’un d’autre của Guillaume Musso của 391.371 bản </em><em></em></p>



<p><em>Houris&nbsp; của Kamel Daoud với 391.085 bản </em><em></em></p>



<p><em>Instinct của Inoxtag với 356.016 bản </em><em></em></p>



<p><em>Jacaranda của Gaël Faye với 344.187 bản </em><em></em></p>



<p><em>Les Femmes du bout du monde của Sophie Da Costa với 325.581 bản </em><em></em></p>



<p><em>Les Yeux de Mona của Thomas Schlesser với 317.535 bản </em><em></em></p>



<p>So với những tác phẩm ở Pháp vài cuốn sách kinh điển của các nhà văn Pháp trong quá khứ được xem là những tác phẩm bán chạy nhất trên thế giới.</p>



<p><em>Le Petit Prince (Hoàng </em><em>Tử Bé</em><em>) của Antoine de Saint-Exupéry gần 200 triệu bản, cuốn sách tiếng Pháp được dịch rất nhiều ngôn ngữ trong đó ở miền nam Việt Nam</em><em></em></p>



<p><em>Les Misérables của Victor Hugo&nbsp; được xem là cuốn sách bán chạy nhất tuy không bằng Le Petit Prince, cuốn sách tiếng Pháp được dịch rất nhiều ngôn ngữ trong đó ở miền nam Việt Nam</em><em></em></p>



<p>Với các tác giả Molière, Alexandre Dumas, Guy de Maupassant, Émile Zola, Albert Camus, Francois Sagan, Simone de Beauvoir… </p>



<p>Ở Việt Nam trong vài thập niên qua đã đề cao “văn hóa ẩm thực” mà thật kỳ quặc như quán bún chửi Hà Nội vẫn có nhiều thực khách không thấy bị xúc phạm “lao đầu vào ăn”!</p>



<p><em>Thôi thì </em><em>“Văn chương hạ giới rẻ như bèo” </em>như cụ Tản Đà ngày xưa ở nước ta, nay thể hiện trên đất Pháp.</p>



<p><strong>Vương Trùng Dương</strong></p>



<p><em>Little Saigon, October 2025</em></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Vương Trùng Dương: Chuyện Vãn: Tiếng Lóng Xưa &#038; Nay</title>
		<link>https://t-van.net/vuong-trung-duong-chuyen-van-tieng-long-xua-nay/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Vương Trùng Dương]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 17 Jul 2025 09:22:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[chuyện vãn Vương Trùng Dương]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=82216</guid>

					<description><![CDATA[Hầu hết các nước trên thế giới đều sử dụng tiếng lóng ra đời từ rất lâu, thường được lưu truyền trong dân gian. Đó là khẩu ngữ, phương ngữ trong cách giao tiếp bằng loại ngôn ngữ riêng được áp dụng trong nhóm người, địa phương và cả trong cộng đồng… Các loại tiếng [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/07/lolng-1.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="592" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/07/lolng-1-1024x592.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-82217" style="width:650px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/07/lolng-1-300x174.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/07/lolng-1-1024x592.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2025/07/lolng-1-768x444.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/07/lolng-1.jpg?strip=all 1400w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Hầu hết các nước trên thế giới đều sử dụng tiếng lóng ra đời từ rất lâu, thường được lưu truyền trong dân gian. Đó là khẩu ngữ, phương ngữ trong cách giao tiếp bằng loại ngôn ngữ riêng được áp dụng trong nhóm người, địa phương và cả trong cộng đồng… Các loại tiếng lóng thường được lưu truyền thời gian trong xã hội. Xấu hay tốt còn tùy thuộc vào đối tượng sử dụng với nội dung, ý nghĩa muốn truyền đạt là gì. Trong sinh hoạt cuộc sống, mỗi nhóm vay mượn có tiếng lóng riêng giao tiếp hằng ngày…</p>



<p>Tiếng lóng mang tính khẩu ngữ, thông thường không mang nghĩa trực tiếp mà chỉ được hiểu theo ý nghĩa tượng trưng, ẩn dụ mà cụ thể thì chỉ những người sử dụng mới hiểu. Dần dà theo thời gian được phổ biến rộng rãi. Cũng như tiếng Pháp, tiếng Anh hay các sinh ngữ khác, tiếng Việt phát triển thay đổi theo thời gian là tất yếu. Vì vậy các bộ tự điển luôn cập nhật, nhất là danh xưng về khoa học, kỹ thuật, điện toán… nhưng không có tiếng lóng.</p>



<p>Trước hết, tôi xin nói rõ không phải là nhà ngôn ngữ học, bình luận văn học để phân tích, cội nguồn chữ nghĩa mà dẫn chứng tổng quát qua các bài viết, tài liệu thu thập với chuyện vãn. Trong bài viết nầy có những tiếng lóng lặp lại vì trùng với sự trích dẫn cho trọn ý.</p>



<p>Vào thời VNCH ở Đại Học Văn Khoa Sài Gòn môn Ngôn Ngữ Học là môn học khó nuốt nhất, sinh viên qua được cửa ải nầy cảm thấy nhẹ nhàng. Các giáo sư nổi tiếng nhất như LM Lê Văn Lý, chuyên gia về ngữ pháp tiếng Việt trong Luận Án Tiến Sĩ Quốc Gia Le Parler Vietnamien sau nầy ấn hành Sơ Thảo Ngữ Pháp Việt Nam. GS Nguyễn Đăng Liêm, nhà ngữ học chuyển từ nguyên bản tiếng Pháp luận án Le Parler Vietnamien sang tiếng Anh The Vietnamese Spoken Language. GS Lê Ngọc Trụ tuy không có bằng cấp cao, học vị nhưng là học giả nổi tiếng về ngôn ngữ học, tác giả Tự Điển Cánh Tả Tự Vị, Tầm Nguyên Tự Điển Việt Nam…</p>



<p>GS Lê Ngọc Trụ đề cập tiếng lóng xì bo, xít bo, ết bo… Khi kênh kết hợp với xì bo để trở thành tiếng lóng là theo cấu trúc Việt &#8211; Pháp nửa nạc nửa mỡ, bởi tiếng Việt đã có chữ kênh được hiểu là kênh kiệu, vênh váo, kiêu căng. Người miền Nam còn sử dụng từ nghinh là vác mặt lên, xem kẻ đối diện không ra gì, chỉ coi bằng nửa con mắt bằng cái nhìn khiêu khích, những muốn gây sự. Nhà thơ Tú Mỡ viết: Bạn gái ngày xưa thích xịch bo.</p>



<p>Trong tiếng Anh slang có nghĩa là tiếng lóng thường được sử dụng. Tiếng Pháp gọi là argot hoặc verlan. Argot là tiếng lóng truyền thống. Verlan là đảo âm của từ l’envers (nghĩa là ngược lại). Tiếng lóng (argot des déclassés) bao gồm một số từ bí hiểm để che dấu tư tưởng của người nói, không phổ biến nhiều người khác trong mình biết. Quyển Les jeux de Mots (Chơi Chữ) của Pierre Guiraud, đề cập tiếng lóng largonji của tiếng Pháp. Thổ Nhĩ Kỳ là argo; Bồ Đào Nha là gíria; Ba Lan là gwara; Hà Lan là straattaal; Đức là umgangssprache…</p>



<p>Trong tiếng Hoa (Hán) gọi là 俚语, phiên âm tiếng Việt là lǐ yǔ (lý ngữ). 俚 (lǐ) nghĩa là dân dã, bình dân, thô tục, 语 (yǔ) nghĩa là ngôn ngữ, lời nói.</p>



<p>Vì vậy chữ Nôm được hình thành từ cuối thế kỷ 10 và phổ biến từ thế kỷ 13 đã sử dụng tiếng lóng và sau đó trong thơ, văn… vì chữ Nôm biến đổi chữ Hán để ghi lại tiếng nói của mình. Chữ Nôm bằng cách ghép hai yếu tố: Bộ thủ (gợi nghĩa) và chữ Hán mang âm gần giống (gợi âm), sau nầy có chữ Quốc Ngữ.</p>



<p>Tiếng Việt đơn âm nên đã du nhập trong tiếng Anh, tiếng Pháp trong tiếng lóng thành một chữ, có khi hai, ba chữ… nên rất đa diện.</p>



<p>Tiếng lóng là ngôn ngữ đã được biến thể và sáng tạo dựa vào loại ngôn ngữ đã có sẵn. Hầu như các quốc gia đều có tiếng lóng, Việt Nam thì đa dạng hơn bởi ngoài tiếng lóng tiếng Việt, thì còn xuất hiện thêm tiếng lóng tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Hán… Tiếng Việt là ngôn ngữ chung, chính thức đang được mọi người sử dụng hằng ngày nên mọi người đều hiểu nhưng tiếng lóng thì có số đặc thù riêng như chỉ có tính tạm thời, được sử dụng trong phạm vi hẹp, không có hệ thống rõ ràng trong giao tiếp.</p>



<p>Ở thời đại ngày nay, giới trẻ cũng hay sáng tạo những từ lóng riêng và được sử dụng trong giao tiếp hằng ngày, hoặc trên các trang mạng xã hội. Ở trong nước hiện nay sử dụng tiếng lóng rất nhiều, trở thành trào lưu tiếng lóng như trên Facebook, có những chữ chỉ đọc một lần, không hiểu gì cả vì vay mượn tùy tiện tự ý lung tung, nửa Việt nửa Anh, Pháp…! Vì vậy tiếng lóng ngày nay trở thành hiện tượng tràn lan nhiều nhất, không thể cập nhật hết!</p>



<p>Nhà văn Song Thao trước đây trong bài phiếm Tiếng Lóng Sài Gòn “khi Sài Gòn còn tên, khi mất tên thì Sài Gòn đâu còn là Sài Gòn nữa”. Trong bài nầy tác giả dẫn chứng vài mẩu chuyện xảy ra với các nhân vật và các mẩu chuyện liên quan đến Tiếng Lóng Sài Gòn. Sau khi liệt kê chuyện xưng hô thứ bậc trong xã hội được phân chia theo chín giai cấp rất cứng nhắc, tác giả dẫn chứng:</p>



<p>“… Tiếng lóng Sài Gòn nổi tiếng nhất có lẽ là “OK Salem”. Tôi chắc là tới ngày nay mọi người vẫn chưa quên từ “OK Salem”. Có điều vui vui là ngay chữ OK đã là một tiếng lóng của Mỹ. Có nhiều giả thuyết về tiếng lóng ngày nay được dùng khắp nơi trên thế giới này. Một số người cho chữ này bắt nguồn từ chữ “okeh” của bộ lạc da đỏ Choctaws ở châu Mỹ. Nghĩa của “okeh” là… OK. Theo nhà ngôn ngữ học Allen Waiker Read, OK là dạng viết tắt của cụm từ “All Correct”…</p>



<p>Năm 1965, những quân nhân đầu tiên của Tiểu Đoàn 3, Thủy Quân Lục Chiến Mỹ, đổ bộ xuống Đà Nẵng, tiếng lóng OK đã theo chân các chú G.I. du nhập vào Việt Nam. OK lập tức được Việt hóa thành “OK Salem” khi dân đạp xích lô, trẻ đánh giầy chạy theo lính Mỹ chìa tay xin thuốc lá hay kẹo cao su. Càng ngày số lính Mỹ tại Việt Nam càng gia tăng. Họ có mặt trên nhiều tỉnh thành. Các quán snack bar mọc lên như nấm để phục vụ nhu cầu giải trí của họ.</p>



<p>Khác với các snack bar bên Mỹ là những cửa hàng bán thức ăn nhẹ, xì-nách-ba ở Việt Nam là nơi uống rượu giải sầu của đám thanh niên trai tráng xa nhà. Giải sầu phải có các cô gái ngồi bên cùng uống mới có ép-phê nên một loạt các cô gái bán bar với áo quần cũn cỡn, đổ xô nhau hành nghề. Họ không uống rượu mà mè nheo lính Mỹ mua “Saigon tea” với giá khoàng 1 đến 2 đô một ly cho họ uống. “Saigon Tea” trở thành một tiếng lóng mà anh lính Mỹ nào cũng nằm lòng. Các cô gái bán ba thường ít học, không biết tiếng Mỹ nên sáng chế ra các tiếng lóng giả cầy mà anh lính Mỹ nào cũng hiểu như “No star where” (Không sao đâu), “Buy me Saigon tea” (Mua Saigontea cho em). Tiếng Mỹ giả cầy còn có từ “mumber one” mà ta gọi là “số dzách”. Thành phần bình dân giao dịch với lính Mỹ muốn khen anh G.I. chi xộp chỉ cần giơ một ngón tay: “You number one”. Vậy là hai bên đều hiểu là một câu khen. Trái ngược lại “number ten” là câu chê. Thậm tệ hơn là câu chê “năm-bơ-ten tháo giường”. Đó là phiên âm của&nbsp; “number ten thousand”!</p>



<p>Sài Gòn là thành phố rất sinh động nên thời nào cũng phát sinh ra tiếng lóng của thời đó. Thời Pháp thuộc, nhà bưu điện gọi là “nhà dây thép”, con tem gọi là “con cò”, cảnh sát trưởng một quận được gọi là “ông cò”, nhân viên sửa morasse tại các tòa báo là “thầy cò”, tay môi giới chạy việc là “cò mồi”, tiền môi giới chạy việc gọi là “tiền cò”. Không biết có còn những “cò”nào&nbsp; khác không?</p>



<p>Khi kinh tế phát triển, xe hơi có tiếng lóng là “xế hộp”, xe ngựa là “ôtô hí” , xe đạp là “xế độp”, đi nhảy đầm là “đi bum”, đi tán gái là “chim gái” hoặc “cua gái” hay “o mèo”, cua gái với ý đồ xấu là “bắt bò lạc”, đi ngắm gái là “đi nghễ”, quần là “quởn”, quần áo xịn diện đi chơi là “đồ vía”, chơi tứ sắc là “đi xòe”, đánh chắn là “múa quạt”, chơi mạt chược là “đi xoa”, đi uống rượu là “đi nhậu”, tiền bạc gọi là “địa”, nhiều tiền là “đông địa”, làm tiền người khác là “bắt địa”, ăn cắp là “chôm chỉa” hay “nhám tay” hoặc “cầm nhầm”, tuyệt vời là “hết sảy”, không giữ lời hứa là “xù”, bố mẹ là “ông bà via” hoặc “khứa lão”…</p>



<p>Báo hàng ngày gọi là “nhật trình”. Nhật trình ra hàng ngày nên những giờ trước khi báo ra tòa soạn nhộn nhịp như đánh vật. Kẻ chạy ra, kẻ đi vô, cột báo thiếu mấy phân cần trám vô, vậy là “tin kho tiêu” được moi ra. Tin kho tiêu là tin không cần thời gian, cứ vứt đó, khi nào có một khoảng trống cần ráp vô là moi ra xài… Tin loại “chó cán xe” đáp ứng được cái tính đó. Những tin quan trọng được gọi là “tin vơ-đét”, nhại từ chữ tây vedette, được bưng lên trang nhất. Tóm tắt tài liệu thành một bài tóm gọn gọi là “luộc bài”, chắp nhiều nguồn vào thành một bài gọi là “xào bài”. Tin tung ra để thăm dò dư luận là “tin ba-lông”. Đây là một thứ tin có thể có thật chưa được tiết lộ, tung ra để coi phản ứng của độc giả. Tin ba-lông khác với “tin phịa” là tin hoàn toàn bịa đặt…” (Song Thao)</p>



<p>Ngoài ra, loan tin thất thiệt, lóng gọi là “tin phịa”, nhưng trong “tin phịa” còn có hai mảng chấp nhận được đó là loan tin thăm dò có chủ đích, lóng gọi là “tin ballons” tức thả quả bóng thăm dò, hay tin nói dối chỉ được xuất hiện vào đầu tháng Tư, gọi là “tin Cá tháng Tư”.</p>



<p>Thời các vũ trường du nhập Sài Gòn, dân chơi gọi Tài-pán tức người điều phối nhóm vũ nữ, bằng tiếng lóng du nhập như Tài-pán, Cai gà tức người điều phối nhóm vũ nữ. Gọi cảnh sát là “mã tà”, “phú lít”, vì police (cảnh sát) hay mang cái dùi cui, tiếng Tây là matraque, đọc trại thành “mã tà”. “Gác-dang” người làm bảo vệ, tiếng Pháp gardien đọc trại ra thành gác-dang. Gọi sở bưu điện là nhà dây thép, mua tem dán bao thư gọi là “con cò”. Nếu gọi “ông cò” là chỉ cảnh sát trưởng mấy quận ở thành phố, như tuồng cải lương Ông Cò Quận 9 (lúc đó thủ đô sài Gòn không có quận 9). Gọi “thầy cò” tức là các ông chữa morasse các tòa báo do chữ correcteur, nhưng nói “cò mồi” là tay môi giới chạy việc, “ăn tiền cò” thì cũng giống như sau nầy “tiền bo”, nhưng chữ này chỉ dùng cho dịch vụ môi giới.</p>



<p>Cải lương hát bội, người Sài Gòn gọi là làng “hia mão”, có một số tiếng lóng người ngoài làng có khi nghe không hiểu. “Kép chầu” là đào kép đó tuy cũng tài sắc nhưng vì một lý do nào đó không được phân vai diễn gánh hát, đêm đêm họ cũng xách vali chầu chực, trang phục phấn son đến ngồi café cóc trước rạp hay túc trực bên cánh gà, để đợi, ngộ nhỡ có đào kép chính nào trục trặc không đến rạp được, thì kép chầu thay thế vào ngay. “Kép chầu” phải thuần thục rất nhiều tuồng để đau đâu chữa đó. Ðào chính chuyên đóng vai sầu thảm gọi là “đào thương”, kép chính chuyên đóng vai hung tàn gọi là “kép độc”. Có một cụm tiếng lóng xuất phát từ hai nơi, một là cải lương rạp hát, hai là quanh các tòa soạn báo chí, đó là “café à la&#8230; ghi” tức uống café thiếu ghi sổ&#8230;</p>



<p>Đi nghỉ mát Vũng Tàu gọi là “đi cấp”, đi khiêu vũ gọi là “đi bum”, đi tán tỉnh chị em gọi là đi “chim gái”, đi ngắm chị em trên phố gọi là “đi nghễ”, gọi chỉ vàng là “khoẻn”, gọi quần là “quởn”, gọi bộ quần áo mới là “đồ día-vía”. Ði chơi bài tứ sắc các bà gọi là “đi xòe”, đi đánh chắn gọi là “múa quạt”, đi chơi bài mạt chược các ông gọi là “đi thoa, đi xoa”, đi uống bia gọi “đi nhậu”, đi hớt tóc gọi đi “húi cua”. “Đi đầu dầu”, tức các chàng trai ăn diện “đi nghễ” với đầu trần không mũ nón, để cái mái tóc chải dầu brillantine láng cóng, dù nắng chảy mỡ. Tuyệt vời gọi là “hết sẩy”, quê mùa chậm chạp gọi là “âm lịch”… “Địa” là moi tiền túi, “bắt địa” làm tiền, có thời trong giới bụi đời thường kháo câu “khứa lão đa địa” có nghĩa ông khách già đó lắm tiền. Không giữ lời hứa gọi là “xù, xủ quẻ”, “xù tình”, tức cặp bồ rồi tự bỏ ngang. Ăn cắp là “chôm chỉa”, tương tự như “nhám tay” hay “cầm nhầm” những thứ không phải của mình.</p>



<p>Có đến bảy tiếng lóng để thay cho từ chết. Ðó là “tịch”, “tiêu” (tiêu tùng), “mặc chemise gỗ”, “đi auto bươn”, “về chầu diêm chúa”, “đi buôn trái cây” hay “vào nhị tỳ”, “nhị tỳ” thay cho nghĩa địa và “số dách” thay cho số một&#8230; đều ảnh hưởng từ ngôn ngữ minh họa theo người Hoa nhập cư.</p>



<p>Thời điểm truyện và phim kiếm hiệp của Kim Dung nói chung là chuyện Tầu thịnh hành, người Sài Gòn đã chế ra nhiều tiếng lóng, như ai dài dòng gọi là “vòng vo Tam Quốc”, ai nói chuyện trên trời dưới đất gọi là “chuyện Tề Thiên”, tính nóng nảy gọi là “Trương Phi”. Tính đa nghi gọi là “Tào Tháo”…</p>



<p>Một số tên nhân vật điển hình của Kim Dung được dùng để chỉ tính cách của một người nào đó. Tỷ như gọi ai là “Nhạc Bất Quần”, “Ngụy Quân Tử” tức ám chỉ người ngụy quân tử, đạo đức giả. “Lão Ngoan Đồng” (Chu Bá Thông, sư đệ Vương Trùng Dương) là ông già vui tính. “Vi Tiểu Bảo” là người ma lanh, láu cá. “Điền Bá Quang” với danh hiệu Vạn Lý Độc Hành, Đại Đạo Hái Hoa, ám chỉ con người dâm tặc. “Con trâu nước” sư phụ Hồng Thất Công gọi Quách Tĩnh bởi tướng người cục mịch, da ngăm đen, chậm hiểu, nhưng sau nầy Quách Tĩnh trở thành nhân vật võ công thâm hậu. “Sinh Tử Phù” là môn ám khí do Thiên Sơn Đồng Lão sáng chế. Khi bị trúng Sinh Tử Phù thì vật vã khổ sở, muốn sống không được, chết cũng không xong. Trước năm 1975 và sau nầy ở hải ngoại khi gọi kẻ nào đó bị cấy “sinh tử phù”&nbsp; là bị đầu độc để thừa lệnh phải thi hành. Ở trong nước thì ví von cho Trung Cộng để thừa lệnh…</p>



<p>Dân chơi miệt vườn gọi “công tử Bạc Liêu”. “Dân chơi cầu ba cẳng” có lẽ tên Pallicao, lêu nghêu 3 cẳng cao như dáng vẻ cowboy trong các phim bắn súng, nên mới gọi “dân chơi cầu ba cẳng”. “Dân xà bát”, “anh chị bự”, “main jouer” tay chơi ra đời, chạy xe đua gọi là “anh hùng xa lộ”, bị bắt gọi là “tó”, vào tù gọi là “xộ khám”. Bỏ học gọi là “cúp cua”, bỏ sở làm đi chơi gọi là “thợ lặn”, thi hỏng gọi là “bảng gót”. Cũng do scandal chàng nhạc sĩ nổi tiếng kia dẫn em dâu là ca sĩ KN qua Nhà Bè ăn chè, để ngoại tình trong túp lều cỏ bị bắt, từ đó “đi ăn chè” trở thành tiếng lóng về hành vi ngoại tình trốn ra ngoại ô.</p>



<p>Cũng có một số tiếng lóng do nói lái mà ra như “chà đồ nhôm” tức “chôm đồ nhà”, “chai hia” tức chia hai chai bia bên bàn nhậu, nó cùng họ với “cưa đôi”. Tiếng lóng thời sự loại này có “tô ba lây đi xô xích le” tức “Tây ba lô đi xe xích lô”. Trong tiếng lóng còn chất chứa ân tình. Họa sĩ chuyên vẽ tranh sơn mài đề tài lá hoa sen xuất thân xứ Ca Trù hay than “buồn như chấu cắn”, hay có người than phiền vì câu né tránh trách nhiệm với hai tiếng “lu bu” để thất hứa, nay còn có người nhấn thêm “lu xu bu” nại lý do không rõ ràng để trốn việc.</p>



<p>Những âm sắc theo chân người Hà Nội vào Nam rồi trở thành tài sản chung của người Việt. Bắt quả tang thành “quả tó”, gọi chiếc xe Honda là “con rim”, gọi tờ giấy 100USD là “vé”, đi ăn cơm bình dân gọi là “cơm bụi”, xuống phố dạo chơi gọi là “đi bát phố”, gọi người lẩm cẩm là “dở hơi”&#8230; Gọi cảnh sát là “mã tà”, “phú lít” vì police (cảnh sát) hay mang cái dùi cui, tiếng Tây là matraque, đọc trại thành “mã tà”. “Tiền boa” tiền cho thêm người phục vụ tiếng Pháp: pour-bois âm bồi gọi “tiền boa”, sau này chế ra là “tiền bo”.</p>



<p>Gọi sở bưu điện là “nhà dây thép”, mua tem dán bao thư gọi là “con cò”, còn nếu gọi “ông cò” là chỉ cảnh sát trưởng mấy quận ở thành phố, gọi “thầy cò” tức là các ông chữa morasse các tòa báo do chữ correcteur, nhưng nói “cò mồi” là tay môi giới chạy việc, “ăn tiền cò” thì cũng giống như “tiền bo”, nhưng chữ này chỉ dùng cho dịch vụ môi giới.</p>



<p>Đi nghỉ mát Vũng Tàu gọi là “đi cấp”, đi khiêu vũ gọi là “đi bum”, đi tán tỉnh chị em gọi là đi “chim gái”, đi ngắm chị em trên phố gọi là “đi nghễ”, gọi chỉ vàng là “khoẻn”, gọi quần là “quởn”, gọi bộ quần áo mới là “đồ día-vía”. Ði chơi bài tứ sắc các bà gọi là “đi xòe”, đi đánh chắn gọi là “múa quạt”, đi chơi bài mạt chược các ông gọi là “đi thoa. Đi xoa”, đi uống bia gọi “đi nhậu”, đi hớt tóc gọi đi “húi cua”. “Đi đầu dầu” ám chỉ các chàng trai ăn diện “đi nghễ” với đầu trần không mũ nón, để cái mái tóc chải dầu brillantine láng cóng, dù nắng chảy mỡ.</p>



<p>Tiền bạc gọi là “địa”, có thời trong giới bụi đời thường kháo câu “khứa lão đa địa” có nghĩa ông khách già đó lắm tiền, không giữ lời hứa gọi là “xù”, “xù tình”, tức cặp bồ rồi tự bỏ ngang. Làm tiền ai gọi là “bắt địa”, ăn cắp là “chôm chỉa”, tương tự như “nhám tay” hay “cầm nhầm” những thứ không phải của mình.</p>



<p>Cải lương hát bội, người Sài Gòn gọi là làng “hia mão”, có một số tiếng lóng người ngoài làng có khi nghe không hiểu. Tỷ như gọi “kép chầu”, có nghĩa là đào kép đó tuy cũng tài sắc nhưng vì một lý do nào đó không được phân vai diễn gánh hát, đêm đêm họ cũng xách vali trang phục phấn son đến ngồi café cóc trước rạp hay túc trực bên cánh gà, để đợi, ngộ nhỡ có đào kép chính nào trục trặc không đến rạp được, thì kép chầu thay thế vào ngay. “Kép chầu” phải thuần thục rất nhiều tuồng để đau đâu chữa đó.</p>



<p>Ðào chính chuyên đóng vai sầu thảm gọi là “đào thương”, kép chính chuyên đóng vai hung tàn gọi là “kép độc”. Có một cụm tiếng lóng xuất phát từ hai nơi, một là cải lương rạp hát, hai là quanh các tòa soạn báo chí, đó là “café à la&#8230; ghi” tức uống café thiếu ghi sổ&#8230;</p>



<p>Ông Nguyễn Văn Khang, Viện Ngôn Ngữ Học năm 2001 xuất bản Tiếng Lóng Việt Nam khoảng 250 trang (khoảng 40 trang nói về tiếng lóng và phần sau là Tự Điển Tiếng Lóng) sau nầy bổ túc thêm nhiều lần… Tôi không có quyển sách nầy nên không thể góp ý.</p>



<p>Trong xã hội hiện đại, tiếng lóng phát triển mạnh ở giới trẻ và hiện tượng này xảy ra ở tất cả các nước, chứ không riêng gì Việt Nam. Như ở Mỹ, người ta gọi tiếng lóng là ngôn ngữ đường phố, ngôn ngữ của giới trẻ và có người còn đùa rằng, ai muốn trẻ lại thì nói thật nhiều tiếng lóng. Điều đáng nói là việc sử dụng tiếng lóng trong giao tiếp đã trở thành một hiện tượng, một xu thế phổ biến của giới trẻ nói chung và học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường nói. Nhiều bạn trẻ hiện nay quan niệm rằng, phải nói như thế mới hợp thời, mới đúng mốt. Dần dần, cách nói này được nhiều người sử dụng một cách tùy tiện, nhất là trong giờ ra chơi, đi ngoài đường, ngồi nói chuyện ở hành lang hay cả trong giao tiếp với người lớn tuổi. Nhiều học sinh còn vô tình đưa tiếng lóng vào cả bài kiểm tra của mình.</p>



<p>Các nhà ngôn ngữ học cho rằng, nếu sử dụng tiếng lóng một cách tùy tiện sẽ dẫn đến hậu quả lớn. Một mặt, nó làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt. Mặt khác, môi trường xã hội và ứng xử giữa giữa học sinh với học sinh, học sinh với người ngoài xã hội sẽ bị pha tạp. Thực tế cho thấy, việc lạm dụng tiếng lóng trong một thời gian dài có thể khiến cho học sinh quên đi cách sử dụng từ ngữ theo đúng chuẩn mực, gây trở ngại trong quá trình giao tiếp với những người không cùng thế hệ. Xa hơn, thường xuyên sử dụng ngôn ngữ này một cách bừa bãi cũng sẽ ít nhiều ảnh hưởng tới tính cách mỗi người như tùy tiện, hời hợt, cẩu thả&#8230; (trích bài viết của nhà thơ Cao Thoại Châu về quyển sách nầy ở phần sau).</p>



<p>Theo ông TS Hoàng Anh, trước hết, cần giáo dục học sinh về những nguyên tắc, vai trò của việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Trong cuộc sống hằng ngày, nhà trường cần phối hợp với gia đình nhắc nhở, điều chỉnh khi giới trẻ lạm dụng thứ ngôn ngữ này.</p>



<p>Sổ Tay Từ-Ngữ Lóng Tiếng Việt của Đoàn Từ Huyên và Lê Thị Yến ấn hành năm 2008.</p>



<p>Theo lời tác giả: “ Chúng tôi chưa dám gọi đây là Từ Điển trước hết vì những người biên soạn không phải là những nhà ngôn ngữ học nên không giải quyết được vấn đề lý thuyết cơ bản… Chúng tôi không hoàn toàn căn cứ theo những định nghĩa tiếng lóng đã có trong các sách nghiên cứu tiếng Việt; chúng có khá nhiều nhưng cũng chưa hoàn toàn thống nhất và có chỗ không còn hợp với thực tế phát triển của ngôn ngữ hiện đại…” Và, dẫn chứng những đặc điểm, liệt kê tiếng lóng theo mẫu tự alphabet (A-Z)…</p>



<p>Khi vào ChatGPT tìm hiểu thêm về tiếng lóng cũng không có gì mới và cho biết những chữ sử dụng cụ thể.</p>



<p>Tiếng lóng là những từ ngữ, cụm từ (nhóm chữ) đặc biệt được một nhóm người sử dụng trong hoàn cảnh không chính thức, thường mang ý nghĩa khác với nghĩa thông thường. Tiếng lóng có thể phản ánh đặc điểm văn hóa, nghề nghiệp, tuổi tác, khu vực địa lý, hoặc giới tính của người dùng.</p>



<p>Tiếng lóng là ngôn ngữ không chính thức, dùng trong giao tiếp hàng ngày giữa những người thân quen hoặc trong nhóm cộng đồng nhất định (ngoài nhóm có thể không hiểu hoặc hiểu sai ý nghĩa), để diễn đạt một cách hài hước, bí mật, nhanh gọn, hoặc mang tính ẩn dụ, đôi khi có sắc thái giễu cợt hoặc phản kháng.</p>



<p>Không chính thống: Không được dạy trong trường học hay ghi trong từ điển học thuật.</p>



<p>Theo nhóm xã hội: giới trẻ, học sinh, giang hồ, nghệ sĩ&#8230; Theo vùng miền: Bắc, Trung, Nam hoặc tỉnh thành.</p>



<p>Khi hỏi về tiếng lóng trong lãnh vực văn học xưa và nay, chỉ dẫn chứng khái quát:</p>



<p>Tự Lực Văn Đoàn (truyện của Khái Hưng, Hoàng Đạo…) Dùng tiếng lóng nhẹ nhàng mang chất tiểu tư sản Hà Nội: Tây hóa, kẹo kéo, sành điệu, cưa gái, kẹt xì&#8230;</p>



<p>Người Không Mang Họ của Hồ Biểu Chánh, một số bản in lại dùng tiếng lóng miền Nam pha giang hồ: xộ khám, bà chằng, bẻ cò, nghía… Bẻ cò: bóp cò súng, ẩn dụ cho tay súng, tội phạm có vũ khí. Hắn là tay bẻ cò có số má trong giới. Đụng chuyện là xả hàng không nương tay. Tôi Là Lính của Hồ Hữu Tường (phóng sự đăng trên nhật báo Sài Gòn năm 1969) Tao là lính ‘tà lọt’ thượng sĩ, lương ba cọc ba đồng, mà ngày nào cũng bị thằng thiếu úy chửi ‘đồ rề rề’. Tà lọt: lính sai vặt cho sĩ quan. Ba cọc ba đồng: lương ít ỏi, nghèo. Rề rề: chậm chạp, ì ạch.</p>



<p>Vòng Tay Học Trò của Nguyễn Thị Hoàng: đi dzui, cúp cua, đi ké, ghét ghê, tám chuyện.</p>



<p>Thư Ở Trại Tù Phan Đăng Lưu của Duyên Anh: đâm xóc, làm hàng, đi trại, bóc lịch, tháo xích&#8230;</p>



<p>Hạ Sĩ Quan Truyền Tin của Phan Nhật Nam: dzọt lẹ, mót gạo, chết mịa, cà chớn, xì-tin (kích động)&#8230; Mặt Trận Không Tuyến của Phan Nhật Nam: Đám lính tụi tôi vừa hành quân về, thằng nào cũng đói như heo đói bảy ngày, chờ phát C ration mà dài cổ. Thằng Tư xì khói: ‘Tụi mình mà không dzọt lẹ, lát nữa ăn pháo thì thành banh xác cá nục! C ration: lương khô Mỹ (combat ration). Dzọt lẹ: rút lui nhanh, chạy lẹ. Ăn pháo: trúng pháo kích. Banh xác cá nục: chết tan xác (ẩn dụ, hài hước rùng rợn).</p>



<p>Sống &amp; Chết Ở Sa Huỳnh của Trần Hoài Thư: Tụi này đi hành quân, tụi nó đồn là vùng ‘răng cưa’. Mà răng cưa là nóng bỏ mẹ, đi đêm không rút êm là dính chấu liền!. Vùng răng cưa: khu vực bị tranh chấp ác liệt. Nóng bỏ mẹ: nguy hiểm cao độ. Rút êm: rút lui an toàn. Dính chấu: trúng đạn, bị thương hoặc tử trận. Trong vài bài thơ của Trần Hoài Thư cũng dùng tiếng lóng trong ngôn ngữ nhà binh. Tác giả có chú thích tiếng lóng.</p>



<p>“Súng đưa khỏi đầu</p>



<p>Từng con * một vượt sông”</p>



<p>Chú thích: * “Con”, tiếng lóng nhà binh chỉ người lính.</p>



<p>“Báo cáo trong tiếng mất tiếng còn</p>



<p>Về những thằng bị kiến cắn * ngủ yên”</p>



<p>Chú thích: * Bị “kiến cắn”: Tử trận</p>



<p>Tiếng lóng lính VNCH phổ biến như Bốc mùi: Chết, xác bắt đầu thối. Xoáy đồ: Lấy trộm, ăn cắp vật tư quân đội. Hành quân răng cưa: Đánh vào vùng tranh chấp nguy hiểm. Dzọt lẹ: Rút lui nhanh, rút quân. Ăn chấu: Trúng đạn. Lính kiểng: Lính văn phòng, không tác chiến. Gãy cánh: phi cơ rớt trong lúc lâm trận… Trong lúc hành quân, các đơn vị thường dùng tiếng lóng làm đặt hiệu truyền tin liên lạc như mật mã để bảo vệ danh tánh, đơn vị, cấp chỉ huy, đơn vị bạn và trong đơn vị… Chẳng hạn Bạch Long (Đại Tướng Đỗ Cao Trí), Lê Lợi (Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng)… Ngoài ra còn sử dụng 9 con số cho các đơn vị.</p>



<p>Tiếng lóng khác với phương ngữ (Quyển Tự Điển Tiếng Huế của Bùi Minh Đức, ông là bác sĩ, định cư ở Mỹ, có công sưu tầm rất công phu). Ví dụ: bồ (người yêu), cày (làm việc cực), tạch (rớt), ngoắc (gọi &#8211; miền Nam), khoai (củ sắn &#8211; miền Bắc).</p>



<p>Mười Năm Yêu Em của Nhã Ca: Anh là dân đi cà phê ngồi mốc meo cả buổi, hút thuốc ‘gô’ mà làm như triết gia!. Đi cà phê: lối sống thị dân, nhàn rỗi. Mốc meo: ngồi lâu, không làm gì. Thuốc gô: thuốc rê, rẻ tiền &#8211; chơi sang giả dạng.</p>



<p>Nhà văn Võ Hương An trong bài Tiếng Huế, Một Ngoại Ngữ?. Ông dẫn chứng Người bạn đời gốc Bắc (nhà văn Thanh Nam) của nữ sĩ Túy Hồng có lần đã phát biểu cảm nghĩ về tiếng Huế như sau:</p>



<p>Người Huế nói chuyện với nhau bằng ngoại ngữ Huế, người Nam người Bắc đứng ở ngoài nghe, không làm sao chen vào được một câu…</p>



<p>Mới nghe qua tưởng như đùa, nhưng đem đối chiếu với kinh nghiệm thực tế qua giao tiếp thì quả ý kiến ấy không phải là không có lý, tuy hơi cường điệu một chút. Ai người Huế trên bước đường tha hương lại không hơn một lần gây bối rối cho người đồng hương khác xứ khi đối thoại với rặt giọng sông Hương?</p>



<p>Bựa qua: hôm qua. Lôi giau: lôi nhau. Ngầy lộn: gây gổ. Chờn: cái giường. Trữa cươi: giữa sân. Bể mỏ: vỡ mồm, giập miệng.&nbsp; U trốt: u đầu…. Chữ bựa còn có ý là phịa như Nó bựa quá… Thường kèm với nickname như XYV bựa cũng như những kẻ nổ sảng như XYV Long Bình (kho đạn lớn nhất của Mỹ ở Long Bình thời chiến tranh Việt Nam).</p>



<p>Với chữ tám rất thông dụng của dân miền Nam. Trong ca khúc Sức Mấy Mà Buồn của Phạm Duy: Sức mấy mà buồn, buồn ơi bỏ đi Tám. Sức mấy mà buồn, buồn ơi là hết buồn….</p>



<p>Chữ Tám trong tiếng lóng có nghĩa là nói chuyện, tám chuyện, tám nhảm, tán gẫu, lắm chuyện… Bà tám, ông tám là nhân vật ẩn dụ tượng trưng cho người thích nói nhiều nhưng thường dùng cho phái nữ nhiều hơn. Bỏ đi tám tức là đừng nói chuyện linh tinh nữa, đừng lan man, hoặc ngừng cãi vã, tranh luận không cần thiết…</p>



<p>Bài viết Một Ít Tiếng Lóng Sài Gòn của nhà thơ Cao Thoại Châu, anh là nhà giáo, động viên vào Khóa 24 ở Trường Bộ Binh Thủ Đức và cùng ở trong Ban Biên Tập liên khóa 23 &amp; 23 của nguyệt san BB Thủ Đức.</p>



<p>Anh đề cập trong quyển Tiếng Lóng Việt Nam Nguyễn Văn Khang: Tiếng lóng vốn xuất hiện từ lâu và khá phổ biến, có sức lan tỏa rất nhanh vì là ngôn ngữ chợ búa, vỉa hè, nói ít hiểu liền bất cần ngữ pháp! Có lẽ chỉ các bậc tu hành mới không có (chứ không phải không dùng) tiếng lóng chuyên dùng. Thoạt kỳ thủy đó là tiếng của một giới nào đó (ăn chơi, mánh mung, lính tráng…), là con đẻ của một ngoại cảnh nào đó, không phải tiếng lòng, tức không phải của nội tâm, càng không là ngôn ngữ của tư duy.</p>



<p>Ở đâu cũng có tiếng lóng nhưng Sài Gòn là đất trẻ, nhiều dân tứ xứ là địa bàn quý hiếm cho tiếng lóng sinh sôi. Bắc Trung Nam, Tây Tầu Ấn, chỉ có Nga là chưa thấy… Thành phố đầu mối công thương nghiệp tạo thành lớp cư dân hoạt bát, nhiều sắc thái, nhiều người cá tính hơi bốc, trọng nghĩa khí mang tính giang hồ, thích sống thoáng, khoát hoạt. Sài Gòn còn là đất cảng nên hơn nhiều nơi khác, sức ma sát ở đây rất mạnh, càng mạnh càng bén nhạy trở thành đắc địa của tiếng lóng…một thứ phương ngữ độc đáo của Sài Gòn.</p>



<p>Nhớ hồi 1956-1957 gì đó, có cô ca sĩ nổi tiếng một lần đi chơi với bạn trai… tới Nhà Bè, hồi ấy còn rất hoang vắng. Hai người làm gì trong xe hơi chẳng biết nhưng bất ngờ bị tuần cảnh xét hỏi, bèn nói em với ảnh đi… ăn chè. Ối trời, tại Nhà Bè thuở đó mua cả chỉ vàng cũng không có thứ gọi là chè ấy. Thế là trong từ điển tiếng lóng, ăn chè ra đời, dùng làm gì thì cứ thử ắt biết.</p>



<p>Sang tới giới công chức, quân nhân thời xưa, không có lệ họp bình bầu kiểm điểm, anh nào từ phòng sếp ra mặt hơi bị không vui thì biết anh ta được mời lên uống trà, hoặc… uống cà phê đen! Nếu thấy anh ta mệt mỏi hãy thông cảm vì trong phòng sếp anh đã phải làm đèn cầy (đứng ngay đơ) cho sếp xát xà bông.</p>



<p>Tiếng lóng sinh ra rất nhanh từ một giới nào đó và đời tiếng lóng cũng ngắn. Khi lính Mỹ ào ạt sang miền Nam, chập choạng tối là những cây than (Mỹ đen) hay lảng vảng ở các khu vực bến xe hay những khu bình dân. Đám dắt mối, ăn xin, du thủ du thực chế ngay ra OK Salem, tức tiếng bồi cộng với ngôn ngữ hình thể, nói bằng miệng thì ít mà bằng tay thì nhiều làm ngôn ngữ tiếp thị món gà móng đỏ.</p>



<p>Ngày nay việc dùng cái bao cao su được tuyên truyền rộng rãi trên pa nô, báo đài và còn có cả việc các thanh niên đi phát nó trong các cộng đồng. Cái vật này thời trước ở Sài Gòn thường chỉ được hiểu rộng rãi là phương tiện ngừa bệnh của dân ăn chơi, họ gọi là áo mưa, chắc là lấy từ chữ capote của tiếng Pháp. Đang khi ấy, một vị tân đại sứ tại Sài Gòn có tên là… Cabot Lodge, thế là trong từ điển tiếng lóng của chốn ăn chơi có ngay Ông đại sứ mà ngay cả những má ít học nhất cũng sẵn sàng cung cấp mỗi khi khách có yêu cầu!</p>



<p>Ra chợ Bến Thành, những chú lính Yankee đụng ngay đám ăn xin lóc nhóc, một chữ Việt bẻ đôi cũng không biết nhưng tiếng Anh bồi, phương tiện hành nghề thì đám này xài nhanh như gió, kiểu nô bà ba, nô mà ma, ghi vờ mi, oăn đồ la, có nghĩa là không cha không mẹ, cho tôi một đồng!. Tuy loại ngôn ngữ này không hề có trong bất cứ thứ từ điển nào nhưng than nghe là hiểu, không chết liền!</p>



<p>Thời Nguyễn Văn Thiệu làm Tổng Thống, tiếng lóng tông tông dành riêng cho ông ta, người đứng đầu Phủ Đầu Rồng… Còn Quế tướng công là… đặc sản dành cho viên Tư Lệnh Sư Đoàn 2 ở Quảng Ngãi, lợi dụng mở cuộc hành quân… tìm quế cho tướng…</p>



<p>Người Sài Gòn sau nầy làm quen với những xế điếc (xe đạp), xế nổ (xe máy), đánh quả (phi vụ làm ăn), con phe (dân mánh), một vé (100 đô), bôi trơn (đút lót)&#8230; trong đó bôi trơn có tuổi thọ như ông Bành Tổ!</p>



<p>Ngày nay, có hai thứ không phải ngôn ngữ nhưng rất… biểu cảm: Cục gạch cắm miếng giấy (chỗ bán xăng lẻ) và cái phong bì, không biết có nên cho chúng vào từ điển tiếng lóng thông dụng hay không? Có một tiếng không biết có nên cho vào từ điển tiếng lóng hay không, chỉ biết hàng năm cứ đến mùa thi là nó xuất hiện trên các báo: Chọi, nghe rất bạo lực sứt đầu bể trán nhưng lại hiền khô là&#8230; thi tuyển vào đại học!</p>



<p>Tiếng lóng sinh nhanh mà già cỗi cũng nhanh cứ như hoa phù dung sớm nở tối tàn. Hoàn cảnh sống khác đi lập tức tiếng lóng bèn đi trước đón đầu thật nhanh cứ như hình với bóng. Chân dài không chỉ là cặp giò có số đo hơi bị nhiều, mà là đối tác của đại gia trong quan hệ bên tiền bên sắc. Biết chết liền là cách nói đa dạng trong mọi lãnh vực, phủ định cũng được mà khẳng định cũng không sao. Em đẹp không? Đẹp chết liền (phủ định, chọc), Không chết liền (khẳng định, nịnh) đều không gây mất lòng cũng không gây cho người đẹp yên tâm là mình đẹp, bởi nó mang tính cách đùa bỡn, sao cũng được! Bài này hay không?, Hay chết liền; Món này ngon chứ?, Ngon chết liền…”</p>



<p>(Cao Thoại Châu)</p>



<p>Nhắc đến tiếng lóng mà quên nhà văn quá cố Nguyên Hồng là một sự thất lễ. Trước năm 1945 (gọi cho sang trọng là thời tiền chiến), cụ đã lên đời loại tiếng vỉa hè này, đưa nó vào văn chương hẳn hoi. Tiểu thuyết Bỉ Vỏ &#8211; nội cái nhan đề đã là một tiếng lóng (chỉ người đàn bà móc túi) &#8211; của cụ đọc thật bá chấy (hết xẩy, khỏi chê)</p>



<p>Lần đầu tiên người đọc được nghe tiếng của giới giang hồ đất cảng Hải Phòng: Mõi (móc túi); kỳ bẽo (cờ bạc); sò quỷnh (người nhà quê); đông địa (nhiều tiền) v.v&#8230; Một dân móc túi thuộc loại trinh sát theo dõi một người nhà quê có vẻ có tiền, khi thấy ông ta vào quán cơm bụi, đã báo cho đàn anh biết một cách gần như công khai: Sò quỷnh đông địa tranh vòm (lão nhà quê có nhiều tiền đã vào quán)!</p>



<p>Trong khi chưa tìm ra ai khác nhà văn Nguyên Hồng, xin cứ tôn xưng cụ là… vua tiếng lóng, vì nhân vật của cụ nói được nguyên một câu bằng tiếng lóng, còn đám hậu sinh trong một câu chỉ đệm được vài từ là cùng.</p>



<p>Theo tác giả Phanxipang: Kỳ thực, tự điển còn góp nhặt hàng loạt tiếng lóng dùng trong trại giam ở miền Bắc thập niên 1960 thông qua tiểu thuyết Chuyện Kể Năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn (Hà Nội, 2000) nhưng lại không chua nguồn thư tịch…</p>



<p>Có thể trưng thêm cả lô tiếng lóng bị Nguyễn Văn Khang giải thích thiếu sót, lắm phen nhầm lẫn tới mức… phi thực!..</p>



<p>Nhiều từ ngữ bị tự điển của Nguyễn Văn Khang ghi sai chính tả, điều khó chấp nhận đối với loại sách dùng để tra cứu. Ví như rụt dè (rè), sui (xui/rủi) thấy mồ. Nhiều tiếng lóng bị ghi không đúng hình thức ngữ âm. Chẳng hạn bá chảy (cháy/chấy), chè nghim (ghim), đam (đâm) chuột. Từ chè ghim xuất hiện bởi nói lái chìm ghe. Từ đâm chuột được diễn dịch đâm tí rồi nói lái chệch thành đi tắm. Do thiếu tìm tòi về từ nguyên, đặc biệt là những tiếng lóng có nguồn gốc ngoại ngữ hoặc được cấu tạo bởi phương thức nói lái, nên Nguyễn Văn Khang chưa giải thích đúng, đủ, đảm bảo sức thuyết phục. Đó là loạt từ đai, mo, xuya, bứt cỏ, chà đồ nhôm, hạ cờ tây, v.v.</p>



<p>Trong Việt ngữ hiện đại, tiếng lóng ngày càng có xu hướng phát triển mạnh, nhất là với giới trẻ ở các đô thị. Điều đó tạo hiện tượng được các nhà nghiên cứu đặt tên là ngôn ngữ đường phố (street languages). Hiểu biết và vận dụng tiếng lóng đạt mức độ cần thiết có thể tạo nên những tác phẩm văn chương lẫn báo chí giá trị, hấp dẫn. Jacques Prévert (1900-1977) ở Pháp là minh chứng sinh động: thơ của ông đầy rẫy tiếng lóng, có tập được xuất bản tới hàng triệu cuốn. Giữa thời nguyên tử, cú bùng nổ thi ca vô tiền khoáng hậu ấy khiến thiên hạ suy nghĩ quanh câu hỏi: tiếng lóng thu hút đông đảo bạn đọc vậy ư? Với việc dịch thuật, gặp những văn bản nhất định, cũng rất cần tiếng lóng. Tiểu thuyết The Godfather &#8211; Bố Già lừng danh của nhà văn Mỹ gốc Ý Mario Puzo (1920-1999) đã được nhiều người dịch sang tiếng Việt, song bản chuyển ngữ của Ngọc Thứ Lang trước năm 1975 ở Sài Gòn thành công nhất nhờ tìm được chuỗi tiếng lóng Mỹ &#8211; Việt tương ứng…</p>



<p>Văn hào Pháp Victor Hugo (1802-1885) từng chú ý sử dụng tiếng lóng trong tác phẩm Le Dernier Jour d&#8217;un Condamné &#8211; Ngày Cuối Cùng Của Một Tử Tù (1828), thậm chí còn dành hẳn cả quyển VII trong phần thứ tư của bộ tiểu thuyết đồ sộ nổi tiếng Les Misérables &#8211; Những Người Khốn Khổ (1861) để bàn luận về tiếng lóng.</p>



<p>Victor Hugo nhận định: Tiếng lóng là gì? Nó là quốc gia, đồng thời là quốc âm; đó là một đánh cắp dưới hai hình thức: nhân dân và ngôn ngữ. (&#8230;) Tiếng lóng vừa là một hiện tượng văn học, vừa là một kết quả xã hội. Tiếng lóng, căn bản, là gì? Tiếng lóng là ngôn ngữ của khốn cùng. (&#8230;) Mọi nghề, mọi nghiệp, có thể mọi ngẫu nhiên của hệ thống xã hội và hết thảy các hình thức của trí tuệ, đều có tiếng lóng của nó. Về phương diện thuần túy văn học, nghiên cứu tiếng lóng có thể là kỳ thú hơn nhiều khoa học khác. (Bản dịch của Huỳnh Lý, Vũ Đình Liên, Lê Trí Viễn, Đỗ Đức Hiểu).</p>



<p>Tự Điển Việt Nam của Ban Tu Thư Khai Trí (Sài Gòn, 1971) giải thích: Thứ tiếng dùng riêng với nhau trong một bọn, một hạng người cùng nghề. Từ Điển Le Petit Larousse Illustré (Paris, 1993) viết: Từ vựng riêng biệt của một nhóm, một nghề, hoặc một giai tầng xã hội. Advanced learner&#8217;s English dictionary (London, 1993) nêu: Các từ, cụm từ rất thân mật, không nghi thức, thường dùng trong lời nói, nhất là những người cùng một nhóm xã hội, làm việc cùng nhau và không được xem là thích hợp cho những bối cảnh nghi thức, cũng như chẳng thể sử dụng lâu dài.</p>



<p>Một thực tế nữa: chưa hẳn tiếng lóng chỉ thuộc bọn người xấu, càng không thể là ngôn ngữ dưới đáy xã hội. Tùy quan niệm rộng hẹp mà có những cách nhìn nhận khác nhau về tiếng lóng đối với công cuộc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt hiện nay.</p>



<p>Từ đầu thế kỷ XX, tiếng lóng Việt Nam đã được bao học giả trong lẫn ngoài nước chú ý nghiên cứu.</p>



<p>Một trong những công trình đầu tiên là của Jean Nicolas Arthur Chéon (1856 &#8211; 1928), mang tiêu đề L&#8217;argot Annamite &#8211; Tiếng Lóng Việt Nam đăng trên BEFEO (Bulletin de l&#8217;Ecole Française d&#8217;Extrême-Orient: tập san trường Viễn Đông Bác Cổ) năm 1905. Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố (1889-1947) từng có khảo luận L&#8217;argot Annamite de Hanoï &#8211; Tiếng Lóng Việt Nam ở Hà Nội công bố năm 1925. Nhiều chuyên gia Việt ngữ học thời gian qua cũng dành công sức nghiền ngẫm tiếng lóng…</p>



<p>Tôi không có cuốn Tự Điển Tiếng Lóng nầy để phân tích, trích dẫn nhưng với cả cuốn tự điển về tiếng lóng sẽ có nhiều vô số.</p>



<p>Vào thời tiền chiến, tiếng lóng được sử dụng phổ thông qua các tác phẩm phóng sự vì liên quan đến cuộc sống.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/07/lolng-2.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="786" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/07/lolng-2-1024x786.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-82218" style="width:654px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/07/lolng-2-300x230.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/07/lolng-2-1024x786.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2025/07/lolng-2-768x589.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/07/lolng-2.jpg?strip=all 1400w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Nhà văn Vũ Trọng Phụng (1912-1939) với tác phẩm Cạm Bẫy Người (1933), tiếng lóng trong cờ bạc bịp: mòng, mẻng, bắt, viên đạn, hòn đạn, của, lộ tẩy, cản, quých, v.v. các tác phẩm Kỹ Nghệ Lấy Tây (1934), Số Đỏ (1936), Làm Đĩ (1936), Lục Xì (1937) tiếng lóng ẩn ngữ giang hồ: chạy làng, chánh, chúa, hoa đào, ngày phiên, trô, xé giấy, v.v.</p>



<p>Lục Xì phát âm hai từ tiếng Anh “look, see”. Nhà Lục Xì là cơ quan y tế chuyên chữa bệnh hoa liễu cho phụ nữ làm đĩ. Trong quyển nầy tác giả chú thích những chữ khó hiểu, trong đó có tiếng lóng.</p>



<p>Tác phẩm Bỉ Vỏ ((bỉ: đàn bà, con gái; vỏ: ăn cắp), tác phẩm đầu tay năm 1937 của nhà văn Nguyên Hồng (1918-1982) dùng nhiều tiếng lóng trong giới lưu manh trộm cắp. Vỏ lỏi: ăn cắp còn nhỏ tuổi. Chạy vỏ: ăn cắp (chỉ chung những ăn cắp đường, ăn cắp chợ). Chạy dọc: ăn cắp trên tàu thủy, tàu hỏa, ô tô. Cớm: tiếng chỉ chung mật thám và đội xếp. Bướu: tiền. Bồi: tiền ăn cắp của bọn ăn cắp trích nộp đàn anh. Đét: không ăn cắp được, túng bấn. Trùng bướu: ăn cắp được nhiều tiền. Hiếc: lần lưng móc túi. Siên: lấy đi. Loại tươi: lấy ngay. Dựa nhẩu: lấy nhanh. Mõi: móc, rút&#8230;</p>



<p>Câu được vần vè khiến bạn đọc dễ nhớ: Không vòm, không sộp, không te. Niễng mũn không có, ai mê nỗi gì?. Vòm là nhà. Sộp là giàu sang, hào phóng. Te là xinh đẹp. Niễng mũn là một trinh nhỏ, tức nửa xu.</p>



<p>Chẳng hạn, trước đây trong Nam có chữ kênh xì bo hàm chỉ cái nhìn ai đó có ý gây sự, hách cái mặt, khiêu khích. Xì-po là vay mượn tiếng Pháp sport. Nhà thơ Tú Mỡ viết: Bạn gái ngày xưa thích xịch bo. Ngoài ra, nói ngược là xì po là bo xì tỏ thái độ ăn miếng trả miếng, không chần chừ “Mầy liệu hồn bị bo xì”.</p>



<p>Năm 1932, nhà báo Tam Lang viết thiên phóng sự Tôi Kéo Xe cho đăng trên Hà Thành Ngọ Báo và Mai Lĩnh ấn hành năm 1935.&nbsp; Theo lời tác giả: Viết những trang ký sự này, chúng tôi không có ý khen hoặc chỉ trích ai, mục đích chỉ muốn phác họa một bức tranh tả cái cảnh sinh hoạt khổ sờ của một hạng người trong xã hội</p>



<p>Nhà phê bình văn học Vũ Ngọc Phan trong bộ sách Nhà Văn Hiện Đại nhận xét: Không có lối văn nào giúp ích cho việc cải cách, cho nhà đương chức, nhà pháp luật và nhà xã hội học bằng các thiên phóng sự.</p>



<p>Những tiếng lóng thông dụng như: gà chết; gà nuốt dây thun; mừng hết lớn; quá cỡ thợ mộc (hết cỡ, vượt ra ngoài khuôn khổ); mút mùa Lệ Thủy (chỉ thời gian xa thăm thẳm); xưa rồi Diễm (chuyện đó cũ xì, cũ mốc rồi); mát trời ông Địa (chỉ trạng thái hài lòng, hả hê sung sướng); hết sảy (chắc như bắp rang, không trật vào đâu nữa); đi bốn vùng chiến thuật (đi khắp nới khắp chốn, từ đồng bằng, hải đảo đến cao nguyên), đi vùng 5 (đi về âm phủ); xi cà que (người bị tật ở chân, hàng kém chất lượng); nâng bi (nịnh bợ); xôi cồ (ngực to); lặn (đi trốn); địa (bị theo dõi); con ghệ (con gái); cớm (cảnh sát); cớm chìm (công an mặc thường phục); sơ-mi gỗ (quan tài); vãn tuồng (kết thúc); tận cùng bằng số (bắt chước theo cách báo tin kết quả xổ số kiến thiết, qua đài phát thanh); thanh minh thanh nga (giãi bày, phân trần chuyện oan ức); đổng (đồng hồ); lấy le (phô trương, tỏ ra là người quan trọng); làm tàng (ỷ mình hơn người mặt nào đó thì coi thường họ); hầm bà lằng, búa xua, tá lả (lộn xộn); xế (xe); xế điếc (xe đạp); xế độ (xe máy lên đời), xế hộp (xe hơi); bá chấy bò chét (hết sảy, tuyệt); chị em ta (gái mại dâm); bề hội đồng (hiếp dâm tập thể); lết bánh (xỉn quắc cần câu); chơi líp ba ga (chơi tới bến, chơi xả láng sáng về sớm); chơi cho đáng mặt bầu cua cá cọp (chơi đàng hoàng, chơi ra chơi, không ba que xỏ lá); dân chơi Cầu Ba Cẳng (dám làm mà không dám chịu); xệ, quê xệ (ẹ quá, tệ quá); quê độ (quê quá xá là quê); chó lửa (súng lục); leo cây (chờ đợi theo lời hứa nhưng người đó xù luôn, không đến); đô (bự con); 35 dê (chỉ người có máu dê xồm); cùi (chuyện đó không thể xảy ra); mới cáu cạnh, mới cáo xèng (mới 100%); đổng (đồng hồ đeo tay); xí xọn, xí xa xí xọn (làm bộ, làm điệu) sau nầy thông dụng với tiếng chảnh và “phượt” đi chơi nơi nầy nơi nọ như bụi đời với ba lô, xe gắn máy…</p>



<p>Xì trum (nhân vật Xì Trum qua các truyện tranh của Peyo và Thierry Culliford &#8211; con trai Peyo &#8211; sáng tác). Xì Trum (tiếng Pháp: Les Schtroumpfs, tiếng Anh: The Smurfs) tên một chủng tộc tí hon do họa sĩ Peyo hư cấu, xuất hiện lần đầu trong truyện Johan et Pirlouit và trở thành tên loạt truyện tranh độc lập bắt đầu phát hành vào năm 1958 và sau đó có hoạt hình, phim ảnh nên rất thông dụng. Chữ xì trum đã sử dụng cho nhiều trường hợp, Theo Kiwipedia: Chữ xì trum thay thế cho nhiều động từ (“Cậu phải nghe tất cả những gì Tí xì trum” nghĩa là “Cậu phải nghe tất cả những gì Tí dặn dò). Cho nhiều tính từ, thán từ (Tí than thở “Thật xì trum!” tức “Thật khó khăn!”), Thậm chí cả danh từ (Tí nói “Là xì trum cuối cùng của chúng ta rồi” nghĩa là “Là giải pháp cuối cùng của chúng ta rồi”).</p>



<p>Đôi khi chữ xì trum gọi nhân vật có ý mỉa mai. “Ổng được gọi là Xì Trum Nhạc Sĩ” hay “Schtroumpf Musicien” là nhạc công tệ nhất. Ổng chơi nhạc tệ đến nỗi bất kỳ nhạc cụ nào ổng cố gắng chơi cũng đều nghe chói tai, nghe đến nổi điên đầu… Sau nầy giới trẻ sử dụng loạn xà ngầu, chẳng hiểu gì cả!</p>



<p>Nào là bọn trộm cắp (foot-pads), ăn mày (beggars), dân lang thang (gypsies &#8211; tầng lớp hạ lưu như dân gypsy), bọn lường gạt (cheats), bọn đào ngạch, khoét vách, bẻ khóa (house-breakers), phu bốc vác (shop-lifters), bọn cướp đường (highway-men), bóng bàn (ping pong), cà vạt (cravate) hay gọi là khô mực; ngoài ra còn có ý dung tục…</p>



<p>Trong tám thập niên nước ta trong thời Pháp thuộc nên rất nhiều tiếng Pháp được phiên âm sang tiếng Việt, trong đó có nhiều chữ trở thành tiếng lóng thông dụng, nhất là các tác phẩm phóng sự với môi trường xã hội thời đó.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/07/lolng-3.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="658" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/07/lolng-3-1024x658.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-82219" style="width:696px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/07/lolng-3-300x193.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/07/lolng-3-1024x658.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2025/07/lolng-3-768x494.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/07/lolng-3.jpg?strip=all 1400w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Cách nay đúng hai thập niên, tôi viết bài Nguyễn Thị Thụy Vũ, Giữa Dòng Đời Nghiệt Ngã, đề cập đến các tác phẩm của bà. Bà dạy tiếng Anh cho me Mỹ đề cập đến “giới chị em ta” buôn hương bán phấn với tiếng Mỹ bồi các chàng GI. Vì tiếp xúc với giới nầy nên bà viết rất bạo. Ví dụ như No star where! (Không sao đâu!) Go boom boom (Quan hệ tình dục)…</p>



<p>Bà viết rất “bạo”, cảnh ái ân được mô tả như “làm đùng đùng như cù dậy” hoặc “làm đùng đùng như con cá sấu đập đuôi bánh lái ghe chài”. “Mầy là con đĩ ăn cám uống hèm nên ngu si đần độn”. “Mày ngựa quá mà. Bây giờ nó tính sao với mày đây?”. “Nó hùng hục như con trâu đực”. “Mày là đồ uống máu dơ&#8230;”. “Làm tình với cột nhà cháy”. “Sau cái chết của ông Tư chăn dê, bà dan díu với ông Năm Còm bạn chè chén của ông Tư”.</p>



<p>Điển hình như tập truyện Mèo Đêm, trong truyện Mèo Đêm, bà viết về “ái ăn sương” trẻ, già sống sượng “thả mồi bắt bóng” vời GI Mỹ quan hệ tình dục… Tác phẩm rất ăn khách nên mèo đêm trở thành tiếng lóng. Với ngôn ngữ trần trịu của bà khi mô tả hành động làm tình trắng trợn nên bị các nhà mô phạm lên án, vô tình gợi sự tò mò của độc giả nên một số tác phẩm của bà “ăn nên làm ra” của cô giáo viết văn.</p>



<p>Với tiếng lóng trong giới anh chị bụi đời, giang hồ ở Sài Gòn thuở đó với nhà văn Duyên Anh (1935-1997) và Nguyễn Thụy Long (1938-2009) vào thập niên 1960’ &amp; 1970’.</p>



<p>Duyên Anh như Điệu Ru Nước Mắt, Vết Thù Hằn Trên Lưng Ngựa Hoang&#8230; Với Nguyễn Thụy Long như Bước Giang Hồ, Tay Anh Chị, Loan Mắt Nhung, Gái Thời Loạn (1969), Nữ Chúa, Xóm Cô Hồn, Nợ Máu… Với giới giang hồ, bụi đời luôn sử dụng nhiều tiếng lóng nên hai nhà văn nầy chịu khó tìm hiểu để viết mới sinh động.</p>



<p>Tiếng Lóng Xưa &amp; Nay ở nước ta đã thay đổi rất nhiều qua từng giai đoạn và hoàn cảnh xã hội, nhờ được phổ biến trong các tác phẩm và bài viết nên được phổ biến và lưu truyền. Tốt hay xấu, hữu dụng hay vô bổ… tùy theo quan điểm mỗi người và cần loại bỏ bớt, lạm dụng bừa bãi, tối nghĩa để duy trì trong ngôn ngữ cuộc sống.</p>



<p><em>Little Saigon, July 2025</em></p>



<p><strong>Vương Trùng Dương</strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Vương Trùng Dương: Chuyện Vãn: Tái Ông Thất Mã, Giữa Họa &#038; Phúc</title>
		<link>https://t-van.net/vuong-trung-duong-chuyen-van-tai-ong-that-ma-giua-hoa-phuc/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Vương Trùng Dương]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 09 Jul 2025 09:29:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[chuyện vãn Vương Trùng Dương]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=81908</guid>

					<description><![CDATA[Trong cuộc sống của chúng ta cũng thường gặp phải bao chuyện xảy ra họa (rủi ro) và phúc (may mắn). Khi có người bị họa thì lấy thành ngữ “Tái ông thất mã” nghĩa Hán Việt: Tái là “cửa ải”, Ông là “ông lão, ông già”, Tái ông là “ông già sống gần biên [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/07/tai.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="538" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/07/tai-1024x538.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-81909" style="width:692px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/07/tai-300x158.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/07/tai-1024x538.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2025/07/tai-768x403.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/07/tai.jpg?strip=all 1400w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Trong cuộc sống của chúng ta cũng thường gặp phải bao chuyện xảy ra họa (rủi ro) và phúc (may mắn). Khi có người bị họa thì lấy thành ngữ “Tái ông thất mã” nghĩa Hán Việt: Tái là “cửa ải”, Ông là “ông lão, ông già”, Tái ông là “ông già sống gần biên ải” ám chỉ khi người gặp họa trước thì may mắn được phúc sau. Thông thường thì thành ngữ nầy chí với tự bản thân để an ủi. Trong Tự Điển Hán Nôm thì phúc và phước viết giống nhau. Theo cách gọi miền Bắc là phúc, Trung và Nam là phước. Với phước, họa thì khôn lường được. Câu nói Lưu Hướng trong Thuyết Uyển “Phúc bất trùng chí, họa tất trùng lai”, phúc chỉ may mắn một lần, họa thì liên miên. Hay “Phúc vô song chí, họa bất đơn hành”.</p>



<p>Với thành ngữ ta “Của đi thay người” rất phổ biến khi an ủi, chia sẻ vì vừa liên quan đến số phận khi họa và phúc xảy ra. Trường hợp người bạn già của tôi ở Los Angeles cách nay hơn mười năm. Anh mua bảo hiểm chỉ một chiều, tuổi già lái xe lạng quạng húc xe trước khi dừng lại lúc đèn đỏ. Đầu xe anh bị dập nhưng may mắn thân thể không bị hề hấn gì.&nbsp; Tuổi già cô đơn nên anh thường đi xe bus casino chơi slot machine giải trí… Vài hôm sau vì không có xe đến chỗ xe bus nên nằm nhà. Tai nạn xảy ra trong chuyến xe bus bị lật vì tài xế lạc tay lái. Câu nói “Của đi thay người”&nbsp; đúng hơn “Tái Ông thất mã”.</p>



<p>Từ câu chuyện thời xa xưa tận bên Tàu dựa vào điển tích và được truyền tụng qua thời gian, trở nên thành ngữ mang tính chất triết lý dân gian&#8230; Cũng như câu&nbsp; “Đắc mã thất mã nan tri họa phúc” (Được ngựa mất ngựa chưa biết họa phúc ra sao). Trong họa lại có phúc như câu chuyện trên bàn bạc trong đời người. Họa, phúc luôn xoay vần, vì vậy không nên tuyệt vọng khi gặp họa và không nên vui mừng quá khi gặp phúc.</p>



<p>Sách Hoài Nam Tử chép rằng: Có một ông lão kia sinh sống gần biên ải (tức Tái Ông). Nhà ông nuôi một con ngựa quý. Thế nào nó tự nhiên đi vào đất bắc mất hút. Những người quen biết đến nhà hỏi thăm, ông nói với họ: “Mất ngựa biết đâu lại là điềm may”. Quả nhiên, mấy hôm sau con ngựa nọ trở về, lại “rủ” thêm mấy con tuấn mã nữa đi cùng. Hàng xóm láng giềng đến chia vui, ông lại chép miệng nói: “Ôi dào! Được thêm ngựa biết đâu lại là hoạ đó”.</p>



<p>Con trai ông thấy ngựa đẹp bèn mải mê tập cưỡi, phi ngựa suốt ngày để đến nỗi một hôm ngã gãy cả chân. Tội quá! Trước sự kiện này, mọi người cho là tai hoạ, nhưng Tái Ông vẫn ung dung: “Biết đâu lại là phúc đó!”. Mà cũng nghiệm vậy. Sau đó, đất nước bị giặc giã, trai tráng tất thảy phải ra trận. Mà xung trận tiền thì “mười thằng chết chín” là cái chắc. Riêng cậu con trai ông vì tàn tật mà được ở lại và sống sót, ở với cha trọn đời, sinh con đẻ cái…</p>



<p>Trong truyện cổ Ấn Độ kể rằng, có vị quốc vương, khi ra ngoài đi săn không may bị đứt mất một ngón tay, mới hỏi vị đại thần thân cận nên làm thế nào? Đại thần nói với giọng lạc quan, nhẹ nhõm: “Đây là việc tốt!” Quốc vương nghe vậy giận lắm, trách ông hí hửng khi thấy người khác gặp nạn, vì thế ra lệnh nhốt ông vào đại lao chờ ngày xét xử.</p>



<p>Một năm sau, quốc vương lại ra ngoài đi săn, bị lạc đến khu rừng xa hẻo lánh bị thổ dân bắt sống, trói vào đàn tế, chuẩn bị làm vật tế thần. Thầy phù thủy đột nhiên phát hiện quốc vương khuyết mất một ngón tay, cho rằng đây là vật tế không hoàn chỉnh, bèn thả quốc vương ra, thay vào đó bắt viên đại thần tùy tùng làm vật hiến tế.</p>



<p>Trong niềm vui thoát nạn, quốc vương nghĩ tới viên đại thần vui vẻ từng nói rằng mất ngón tay là việc tốt, liền ra lệnh thả ông, và xin lỗi vì đã vô cớ bắt ông chịu nạn một năm trong ngục tối. Vị đại thần này vẫn lạc quan nói: “Cái họa họa năm ngồi tù cũng là việc tốt”. Nhà vua còn đang thác mắc với câu nói trên, vị đại thần nói tiếp: “Nếu như tôi không bị họa ngồi tù, thì thử nghĩ vị đại thần theo người đi săn mà bị lên đàn hiến tế kia sẽ là ai?”.</p>



<p>Với quan điểm của người xưa về tâm linh “Thiện ác hữu báo. Phúc họa tương sinh” nhằm khuyên nhủ con người, tư tưởng nhân quả, ở hiền gặp lành, ở ác gặp báo… Tuy nhiên trong thực tế, biết bao người ở hiền mà gặp họa, ở ác được may mắn! Những kẻ độc ác gian trá lại được hưởng lợi từ bản thân đến các thế hệ con cháu. Vì vậy trong cõi đời ô trọc vô thường nên không thể nào minh chứng giữa chánh và tà, giữa thiện và ác.</p>



<p>Trong lịch sử, văn chương Việt Nam, họa và phúc cũng là đề tài từ văn học dân gian đến văn học hiện đại.</p>



<p>Trong Truyền Kỳ Mạn Lục của danh sĩ Nguyễn Dữ, cuối thế kỷ XVI nhà Lê Sơ, đầu thời nhà Mạc. Câu chuyện thứ 16 (trong 20 câu chuyện) Nam Xương Nữ Tử Lục (Thiếu Phụ Nam Xương). Truyện kể về bối cảnh từ thời nhà Trần cho đến nhà Hồ, người con gái có tên Vũ Thị Thiết, quê ở Nam Xương. Nàng là người có dung hạnh vẹn toàn. Chồng là Trương Sinh, con nhà hào phú, ít học, tính tình ghen tuông, nghi ngờ vợ. Trương Sinh đi lính, để lại mẹ già và vợ ở nhà. Một thời gian sau, nàng sinh ra đứa con đầu lòng đặt tên là Đản. Ở nhà, nàng chăm nom con và mẹ chồng rất mực chu đáo.</p>



<p>Vì nhớ thương con, mẹ Trương Sinh ngày càng ốm nặng rồi mất, nàng lo tang ma chay tế lễ, lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình. Để đỡ nhớ chồng và sợ con thiếu thốn tình cha, nàng hay đùa với con bằng cách chỉ cái bóng của mình trên vách và nói với con đó là cha Đản.</p>



<p>Sau cuộc chiến, Trương Sinh trở về. Biết tin mẹ già mất, con vừa học nói. Chàng đau buồn ra thăm mộ mẹ, bế bé Đản theo, ra đến đồng đứa trẻ quấy khóc và bảo: “Trương Sinh không phải là cha Đản, cha Đản đêm nào cũng đến, mẹ Đản ngồi cũng ngồi nhìn nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả”. Vì tính ghen tuông, nóng nảy Trương Sinh đã mắng mỏ vợ rồi đuổi nàng đi, dù cho hàng xóm thanh minh. Không thể thanh minh được. Nàng nhảy xuống dòng sông Hoàng Giang tự tử, để lấy cái chết minh oan cho chính sự trong sạch của mình!</p>



<p>Vào một đêm phòng không vắng vẻ, chàng ngồi buồn dưới ngọn đèn khuya, chợt đứa con chỉ vào bóng chàng và bảo đó là cha, Trương Sinh mới tỉnh ngộ, thấu nỗi oan của vợ, nhưng việc trót đã qua rồi. Dân làng thương tiếc lập miếu thờ bà trên bờ sông Hoàng Giang thuộc làng Vũ Điện, huyện Nam Xương, tỉnh Hà Nam.</p>



<p>Bài thơ Miếu Vợ Chàng Trương của vua Lê Thánh Tông (1442-1497) được giảng dạy trong chương trình Quốc Văn lớp Đệ Ngũ thời VNCH:</p>



<p><em>“Nghi ngút đầu ghềnh toả khói hương,</em></p>



<p><em>Miếu ai như miếu vợ chàng Trương.</em></p>



<p><em>Bóng đèn dầu nhẫn đừng nghe trẻ,</em></p>



<p><em>Cung nước chi cho luỵ đến nàng.</em></p>



<p><em>Chứng quả đã đôi vầng nhật nguyệt,</em></p>



<p><em>Giải oan chi lọ mấy đàn tràng?</em></p>



<p><em>Qua đây mới biết nguồn cơn ấy,</em></p>



<p><em>Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng”.</em></p>



<p>Lê Thánh Tông là bậc minh quân của nhà Hậu Lê, trị vì từ năm 1460 đến 1497. Không những được coi là một trong những vị vua đức độ nhất trong lịch sử Việt Nam, với sự nghiệp xây dựng một triều đại hưng thịnh và ổn định. Nhà vua sáng lập Hội Tao Đàn, quy tụ 28 danh sĩ để sáng tác thơ ca.</p>



<p>Nguyễn Trãi (1380-1442) với hình ảnh “Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần” có công lớn phò Lê Lợi đánh đuổi quân Minh lập nên nhà Lê. Dòng họ Nguyễn và Trần (bên ngoại) nổi danh trong giai đoạn nầy. Thế nhưng trong phúc lại gặp họa trong vụ án Lệ Chi Viên.</p>



<p>Năm 1442 vua Lê Thái Tông đi tuần về miền Đông, Chí Linh. Nguyễn Trãi tuy đã cáo quan về hưu nhưng vẫn còn nổi danh, mời vua ngự ở chùa Côn Sơn. Khi vua đi chơi ở Lệ Chi Viên (vườn Vải), ven sông Thiên Đức thì bất ngờ băng hà. Nguyễn Trãi quy vào tội giết vua và bị “tru di tam tam tộc”. Dòng họ Nguyễn Trãi ở Chi Ngại, Nhị Khê gần như bị thảm sát hết.</p>



<p>Tháng 8 năm 1464, sau 22 năm, vua Lê Thánh Tông đã xuống chiếu giải oan cho Nguyễn Trãi, truy tặng ông tước hiệu là Tán Trù Bá, bãi bỏ lệnh truy sát của triều đình với gia quyến Nguyễn Trãi và ra lệnh bổ dụng con cháu ông làm quan. Dòng họ Nguyễn được nối giỏi tông đường. Ngoài ra nhà vua còn ra lệnh phục hồi thơ văn của Nguyễn Trãi.</p>



<p>Trong bài thơ Quân Minh Thần Lương của vua Lê Thánh Tông có câu: “Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo” được treo ở đền thờ Nguyễn Trãi. Nguyễn Trãi được tôn vinh là Thánh Tổ ngành Chiến Tranh Chính Trị thời Việt Nam Cộng Hòa. Sinh Viên Sĩ Quan của Trường ĐH. CTCT mang tên Nguyễn Trãi I đến Nguyễn Trãi VI.</p>



<p>Nếu không có bậc minh quân Lê Thánh Tông thì nỗi oan của đại công thần Nguyễn Trãi bị chôn vùi qua sáu thế kỷ và áng văn tuyệt tác Bình Ngô Đại Cáo không còn lưu lại hậu thế.</p>



<p>Vào thời kỳ Trịnh/Nguyễn phân tranh trong 46 năm. Nguyễn Hoàng (1525-1613) phò Lê diệt Trịnh nhưng thế lực của Trịnh Kiểm (1503-1570) và con là Trịnh Tùng (1550-1623) mạnh hơn, phế lập vua Lê, thâu tóm quyền hành.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/07/tai-2.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="636" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/07/tai-2-1024x636.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-81910" style="width:586px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/07/tai-2-300x186.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/07/tai-2-1024x636.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2025/07/tai-2-768x477.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/07/tai-2.jpg?strip=all 1400w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Sách sử ghi rằng, Nguyễn Hoàng thấy anh trai là Nguyễn Uông bị Trịnh Kiểm hại chết, nên lo lắng cho tính mạng của mình, liền sai người đến xin ý kiến Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585). Trạng Trình dắt sứ giả của Nguyễn Hoàng ra hòn non bộ, chỉ vào đàn kiến đang bò và bảo: “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, ám chỉ một dải Hoành Sơn có thể dung thân muôn đời.</p>



<p>Theo lời khuyên của Trạng Trình, Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa lánh nạn, nhưng với tài năng và mưu lược thực hiện chính sách an dân, khai hoang lập ấp và thu hút lưu dân từ miền Bắc vào sinh sống. Nhờ những đóng góp to lớn, ông được nhân dân hết mực kính trọng và tôn xưng là Chúa Tiên. Dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Hoàng, Thuận Hóa không chỉ trở thành vùng đất trù phú, ổn định mà còn giữ vai trò trung tâm trong tiến trình mở rộng lãnh thổ Đại Việt về phương Nam.</p>



<p>Sau Nguyễn Hoàng, các đời chúa Nguyễn như: Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1563-1635), Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan (1601-1648), Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần (1620-1687), Chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Thái (1650-1691), Chúa Minh Nguyễn Phúc Chu (1675-1725), Chúa Ninh Nguyễn Phúc Chú (1697-1738), Chúa Vũ Nguyễn Phúc Khoát (1714-1765) ông nội vua Gia Long, Chúa Định Nguyễn Phúc Thuần (1754-1777)… Và sau nầy với 13 đời vua.</p>



<p>Trong lịch sử Việt Nam đã đề cập đến nhiều nhân vật và trường hợp xảy ra khi gặp họa nhưng rồi may mắn thành công “Hết cơn bĩ cực đến hối thái lai”, hết họa đến phúc.</p>



<p>Nhà văn Hồ Biểu Chánh (1884-1958) với khoảng sáu mươi tác phẩm hơn bốn thập niên hầu hết với bối cảnh xã hội ở Nam Lỳ Lục Tỉnh, trong đó có số tác phẩm nói về tình đời, tình người trong mọi hoàn cảnh với phúc/họa, họa/phúc. Và với tâm hồn nhân bản nên kết thúc có hậu. Cụ được coi là nhà văn tiêu biểu trong lãnh vực nầy.</p>



<p>Trong 15 tác phẩm kiếm hiệp của nhà văn Kim Dung đề cập đến nhiều nhân vật trong chốn võ lâm với họa/phúc, phúc/họa. Các nhân vật bị họa ập đến nhưng nhờ may mắn trở thành võ công thượng thừa đã hành hiệp chánh đạo. Ngược lại những nhân vật may mắn võ công thâm hậu nhưng tâm tà rồi cuối cùng lãnh họa vào thân. Có lẽ chuyện vãn sau nầy, tôi sẽ đề cập đến các nhân vật tiêu biểu giữa chánh giáo và tà giáo. Trong chánh phái có những kẻ tâm tà, độc ác và trong trong tà phái cũng có vài nhân vật hướng thiện… và kết quả “ác giả ác báo”,&nbsp; “thiện giả thiện báo” như trong cuộc sống thế gian để suy ngẫm.</p>



<p>Nhà văn Kim Dung qua truyện chưởng, kiếm hiệp không những thi thố võ công, chưởng lực, kiếm pháp, đấu đá… mà trong đó với triết lý nhân sinh về họa và phúc như trong thành ngữ “Thiện ác đối đầu chung hữu báo”</p>



<p>Sau nầy trong các phim về võ hiệp, phim cổ trang, đạo diễn khai thác cái họa triền miên xảy ra giữa dòng tộc, cá nhân quá dài từ tập này đến tập khác, đến vài tập cuối mới trả cái họa đã từng cam chịu để rửa hận và hưởng vinh quang.</p>



<p>Trong phạm vi chuyện vãn nên không đề cập vấn đề chính trị trong lịch sử các dân tộc, trong đó có số người gặp họa bỏ cố hương tìm được cuộc đời mới và được hưởng phúc.</p>



<p>Trong Truyện Cổ Nước Nam của hai cụ Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc &amp; Tử An Trần Lê Nhân xuất bản ấn hành cách nay tròn một thế kỷ. Hai học giải truy lục khoảng 250 mẩu chuyện xảy ra của người xưa về nhân sinh quan với đạo làm người. Với đạo làm người dĩ nhiên có những mẩu chuyện về ác, thiện và họa, phúc để lưu lại tấm gương cho hậu thế.</p>



<p>Trong phần Tiểu Tựa, theo lời hai cụ thì “Có ý bảo tồn tinh hoa của cổ học nhớ đến nguồn gốc từ bao nhiêu nghìn năm về trước, rõ các điển tích thường dẫn trong văn chương nước nhà, thêm trước được ít tài liệu có khi làm văn phải dùng đến, rộng được ít tri thức tuy thuộc về cổ học mà thật khác nào ‘như thóc gạo, như vải lụa, thường cần đến hàng ngày”.</p>



<p>Kẻ hậu bối học hỏi được chữ tâm của bậc tiền nhân làm lẽ sống. Trải qua năm tháng với họa, phúc cũng là lẽ vô thường như mọi người, cố gắng giữ được chữ tâm để phiên phiến tuổi già.</p>



<p><em>Little Saigon, July 2025</em></p>



<p><strong>Vương Trùng Dương</strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Vương Trùng Dương: Chuyện Vãn:  Người Xưa Sửa Lưng</title>
		<link>https://t-van.net/vuong-trung-duong-chuyen-van-nguoi-xua-sua-lung/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Vương Trùng Dương]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 04 Jul 2025 09:17:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[chuyện vãn Vương Trùng Dương]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=81826</guid>

					<description><![CDATA[Trước đây tôi đã viết bài phiếm Cao Nhơn, Nhơn Trị từ thành ngữ “Cao nhân tất hữu cao nhân trị” ghi vài nhân vật ngày xưa kiến thức rộng, giỏi văn chương nên tự phụ “mục hạ vô nhân” nhưng người xưa cho rằng “Nhất sơn hoàn hữu nhất sơn cao” (Núi cao còn [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/07/TDP.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="642" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/07/TDP-1024x642.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-81827" style="width:610px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/07/TDP-300x188.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/07/TDP-1024x642.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2025/07/TDP-768x482.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/07/TDP.jpg?strip=all 1400w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Trước đây tôi đã viết bài phiếm Cao Nhơn, Nhơn Trị từ thành ngữ “Cao nhân tất hữu cao nhân trị” ghi vài nhân vật ngày xưa kiến thức rộng, giỏi văn chương nên tự phụ “mục hạ vô nhân” nhưng người xưa cho rằng “Nhất sơn hoàn hữu nhất sơn cao” (Núi cao còn có núi cao hơn) để nói về con người suy ngẫm. Vì vậy chuyện “sửa lưng” nói nôm na nhẹ nhàng hơn “phản pháo, đá giò lái” giữa hai nhân vật qua lời nói hay hành động. Người xưa sửa lưng không những chỉ người có quyền thế sửa lưng người thất thế mà ngược lại…</p>



<p>Trên chính trường của Mỹ, thú vị nhất trước bàn dân thiên hạ khi các ứng cử viên tranh luận (debate) “tả xung hữu đột” phải nhạy bén, nhanh, nếu “uốn lưỡi bảy lần trước khi nói” như trong thành ngữ Pháp “Il faut tourner sept fois sa langue dans sa bouche avant de parler” thì sẽ hết giờ. Ở đây không bàn về chính trị mà đề cập đến các nhân vật ngày xưa đã sửa lưng như thế nào?.</p>



<p>Chuyện bên Tàu, gia đình Tô gia phụ tử, cụ Tô Lão Toàn (Tô Tuân) có ba người con lỗi lạc: Tô Thức và hai người em là Tô Triệt, Tô Tiểu Muội; cả ba người đều đỗ Tiến sĩ và được nổi danh “Tam Tô khoa bảng” trong thời BắcTống.</p>



<p>Tô Thức (1037-1101), tự là Tử Chiêm, hiệu là Đông Pha cư sĩ. Năm 21 tuổi Tô Thức đỗ tiến sĩ và thời đó, em gái của ông cũng đỗ tiến sĩ, vua Tống Nhân Tông đã ban lời khen cho cả gia đình và cá nhân ông, vì vậy ông mới huênh hoang: “Trong thiên hạ có bốn bồ chữ, ông chiếm hai bồ, hai người em của ông chiếm một bồ, còn một bồ phân phối cho thiên hạ”.</p>



<p>Tô Thức là một trong những nhà thơ tài hoa, lỗi lạc nhất của Trung Hoa, chữ viết như rồng bay phượng múa, văn tài độc đáo, có tài kinh bang tế thế, tuy nhiên với chức quan trong sử quán đời Tống Thần Tông không làm ông vừa lòng với tài ba của mình với “Nhất đại văn gia chi tông” và cùng cha và em là ba nhân vật được liệt kê “Đường Tống bát đại gia”. Cùng thời với ông có Vương An Thạch (1021-1086) là một văn nhân và nhà chính trị có khuynh hướng cải cách táo bạo. Tô Thức làm thơ châm biếm triều đình và bất đồng chính kiến với Tể Tướng Vương An Thạch, cho rằng Vương là con người độc đoán, tự mãn. Tô Thức không ngần ngại chỉ trích mạnh mẽ tân pháp của Tân Đảng do Vương An Thạch cầm đầu vì vậy ông là cái gai của vị Tể Tướng nầy.</p>



<p>Năm 1071, Tô Đông Pha bị cách chức, lưu đày làm tri huyện ở Hàng Châu, Triết Giang. Trong buổi tiễn biệt, thị nữ Xuân Nương muốn theo ông đến tận chân trời góc bể nhưng ông khước từ, nàng tự vận. Chứng kiến hình ảnh đau thương đó, ông lại càng ngông, càng khinh miệt thế nhân. Phong cảnh Hàng Châu rất đẹp, sông nước hữu tình, ông cất nhà ở phía Đông, mang hiệu Đông Pha cư sĩ, vì vậy gọi ông là Tô Đông Pha.</p>



<p>&nbsp;Đến đời vua Tống Tiết Tông, Tô Đông Pha được triệu về kinh làm Binh Bộ Thượng Thư (Quốc Phòng) kiêm Hàn Lâm học sĩ, được 3 năm, cũng vì tính ngang của ông làm cho bọn quan thần ghen tỵ, sàm tấu nên ông bị giáng chức làm tri huyện ở Hàng Châu, tỉnh Triết Giang. Tại đây, Tô Đông Pha có dịp làm bạn với các nhà sư, đọc sách Phật.</p>



<p>Trong tác phẩm Cái Cười Của Thánh Nhân của Thu Giang đã trích đăng từ “Thiền Truyện” ghi lại câu chuyện làm bài học cho đời.</p>



<p>“Tô Đông Pha, một thi hào Trung Hoa đời Tống có một người bạn chí thân, sư Pháp Diễn.</p>



<p>Am của Pháp Diễn ở bên tả ngạn sông Dương tử, còn nhà của Tô Đông Pha ở bên hữu ngạn.</p>



<p><em>Ngày kia Tô Đông Pha đến thăm bạn, nhưng bạn đi vắng. Không có gì làm khi ngồi không, ông lấy giấy viết lên mấy câu: “Tô Đông Pha, con nhà Phật vĩ đại mà cả thiên long</em> <em>bát bộ cũng không làm gì lay chuyển được một gang tay”. Viết xong, bỏ đó ra về.</em></p>



<p>Khi Pháp Diễn về, đọc mấy hàng chữ trên đây, bèn lấy bút ghi thêm: <em>“Nói bậy! những gì anh viết trên đây, chỉ không bằng một cái rắm của ta!”</em> Rồi cho gửi tờ giấy ấy cho Tô Đông Pha.</p>



<p>Giận quá, Tô bèn xuống thuyền, vượt qua sông to, tìm đến Pháp Diễn. Gặp mặt, Tô vừa chụp tay, vừa quát to:</p>



<p><em>&#8211; Anh là hạng người gì mà dám ăn nói với tôi như thế, tôi không phải là một Phật tử trung thành với đạo pháp sao? Anh biết tôi lâu rồi mà! Tại sao anh lại có thể mù quáng đến thế!</em></p>



<p><em>Pháp Diễn nhìn bạn, mỉm cười, bình tĩnh đáp:</em></p>



<p><em>&#8211; À! thì ra nhà đại thi hào Tô Đông Pha, người Phật tử vĩ đại đã thách cả thiên long bát bộ không sao lay chuyển được một gang tay, vậy mà chỉ bị có một tiếng rắm nhẹ kia đã phải từ bên kia đại trường giang bay tuốt đến đây, sao lại có chuyện lạ nhỉ!”.</em></p>



<p>Giai thoại khác vẫn tương tự như trên nhưng có vẻ thâm thúy hơn. Tô Đông Pha thân quen với Pháp Diễn đạo sư, còn gọi là đại sư Phật Ấn. Tô cho mình là nhà Phật học uyên bác, thơ của mình siêu thoát chốn phàm trần. Một hôm, Tô đến thăm đại sư, vắng chủ. Tô lấy giấy viết <em>“Bát phong suy bất động&#8230;”</em> tự cho mình con người “vĩ đại”, cả thiên long bát bộ cũng không làm gì lay chuyển được gang tay.</p>



<p>Khi đại sư về thấy lời thơ trịch thượng của Tô, bèn viết ngay chữ “thí”, cho đồ đệ mang sang đưa cho Tô. Thấy chữ “thí” &#8211; nghĩa: <em>tiếng địt, đánh rắm &#8211;</em> Tô giận quá, xuống thuyền, vượt sông sang “vấn tội” đại sư. Nhìn nét mặt hằm hằm của Tô, đại sư mỉm cười, thản nhiên đáp:</p>



<p><em>&#8211; Nhà thơ vĩ đại, cả thiên long bát bộ không sao lay chuyển được gang tay, chỉ có tiếng địt, đã vượt trường giang, bay sang đây, sao lại có chuyện lạ nhỉ?.</em> Rồi đọc tiếp câu thơ: <em>Bát phong suy bất động &#8211; Nhứt thí mã quá giang (Gió tám phương thổi tâm không động</em> &#8211; <em>Một chữ rắm xì đã vội vã vượt sông).</em></p>



<p>Nhà thơ vô cùng kiêu ngạo, ngạo nghễ, chiếm hết hai bồ chữ trong thiên hạ. Khi về miền sơn cước mới vỡ lẽ chưa biết tường tận đã sửa lưng người khác và bị nhà sư sửa lưng một cú rất thấm thía.</p>



<p>Đơn cử trường hợp khác về nhà thơ tài hoa Tô Đông Pha với sự trả đũa vô cùng thâm thúy của Vương An Thạch cũng đang nổi tiếng nhà thơ, nhà văn, uyên bác, thông suốt kinh sử, đại quan của triều đình.</p>



<p>Một hôm, Tô Đông Pha vào yết quan Tể Tướng, nhân lúc Vương An Thạch nghỉ trưa, ngồi đợi bên án thư, nhà thơ họ Tô thấy bản thảo tập thơ của Vương nên cầm lấy xem. Khi đọc đến bài ngũ ngôn tứ tuyệt, có hai câu thơ:</p>



<p><em>“Minh nguyệt sơn đầu khiếu</em></p>



<p><em>Hoàng khuyển ngọa hoa tâm”.</em></p>



<p>Tô Đông Pha buồn cười cho rằng Vương An Thạch làm thơ lẩm cẩm, trăng sáng mà “kêu” đầu núi, chó vàng mà “nằm” nhụy hoa! chẳng ra thể thống gì cả. Tô bèn lấy bút chữa hai chữ “khiếu” thành “chiếu”, “tâm” thành “âm” &#8211; sửa lưng nhà thơ Tể tướng chơi.</p>



<p><em>“Minh nguyệt sơn đầu chiếu</em></p>



<p><em>&nbsp;Hoàng khuyển ngọa hoa âm”.</em></p>



<p><em>&nbsp;(Trăng sáng chiếu đầu núi</em></p>



<p><em>&nbsp;Chó vàng núp bóng hoa).</em></p>



<p>Vương An Thạch nhận thấy Tô Đông Pha chưa hiểu rộng biết xa mà ngang nhiên sửa lưng nhưng vẫn thản nhiên, đợi lúc nào đó cho chàng mở mắt nhận thức.</p>



<p>Khi Tô Đông Pha mang tội làm thơ châm biếm triều đình, bị đại quan Vương An Thạch đày ra Hàng Châu. Nơi miền sơn lâm nầy Tô Thức cư sĩ có dịp ngao du mới biết có loài chim gọi là Minh Nguyệt và loài sâu gọi là Hoàng Khuyển.</p>



<p><em>“Chim Minh Nguyệt hót ở đầu núi</em></p>



<p><em>&nbsp;Sâu Hoàng Khuyển nằm giữa đóa hoa”</em></p>



<p>Vương An Thạch đã tả cảnh chốn núi rừng nầy chim Minh Nguyệt kêu đầu núi, sâu Hoàng Khuyển nằm giữa nhụy hoa. Tuyệt.</p>



<p>Hình ảnh Tô Đông Pha, sau thời gian bị lưu đày đi xa, được học sàng khôn, tâm tính khoáng đạt. Sau khi Vương An Thạch qua đời, Tô Đông Pha đã ngợi ca: “<em>Vương An Thạch thuở nhỏ học Khổng Mạnh, cuối đời theo Mặc Địch, Lão Đam, thu thập di văn lục nghe, lấy ý mình quyết đoán, trở thành một kỳ nhân mới mẻ”.</em></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/07/VOL.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="640" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/07/VOL-1024x640.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-81828" style="width:596px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/07/VOL-300x188.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/07/VOL-1024x640.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2025/07/VOL-768x480.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/07/VOL.jpg?strip=all 1400w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Chuyện bên Tây, hai nhà tư tưởng nổi tiếng, Voltaire (1694-1778) &amp; Jean-Jacques Rousseau (1712-1778). Voltaire nổi tiếng trước, lúc đầu J.J Rousseau ngưỡng mộ Voltaire nhưng sau đó hai ông có nhiều tranh cãi tư tưởng và sau này ghét nhau. Tác phẩm Candide, viết theo lối châm biếm, nhạo báng và phê bình các tổ chức và tầng lớp lớn lao trong xã hội thời đó…</p>



<p>“Jean-Jacques làm triết gia” Voltaire từng nói, “giống như khỉ làm người”: hao hao nhưng không bao giờ bằng.&nbsp; Voltaire chửi rất đau.</p>



<p>Đúng vậy, một lý do khác giữa hai ông là Rousseau hài nghiêm trọng, nhưng Voltaire là vua châm biếm.&nbsp; Vì châm biếm mà ông vào tù Bastille một thời gian.&nbsp; Vì châm biếm mà ông phải bỏ Pháp qua nước khác vài lần. Voltaire sáng tác rất nhiều tác phẩm: kịch; thơ; luận về xã hội, chính trị, văn hóa; và nhất là quyển Từ Điển Triết Học (Dictionnaire Philosophique) dầy cộm và quan trọng nhất thời đó.&nbsp; Nhưng tác phẩm phổ thông nhất của ông là quyển tiểu thuyết mỏng có tựa đề tên nhân vật chính Candide.&nbsp;Tiểu thuyết viết theo lối châm biếm, tức là hài hước loại phê bình nặng nề làm độc giả vừa cười vừa khóc như không phải tếu lâm đơn thường.&nbsp;</p>



<p>Về quan điểm, với Voltaire tư tưởng tự do tiến bộ (liberal): Con người phải chế ngự tự nhiên qua lý trí. Ca ngợi văn minh, khoa học, nghệ thuật. Châm biếm thần quyền, hoài nghi Thượng Đế. Ủng hộ tự do cá nhân. Văn minh làm con người tha hóa. Tin vào Thượng đế tự nhiên (Deism), đạo đức nội tâm. Voltaire muốn cải cách ôn hòa hơn vì tin vào lý trí con người. Rousseau tư tưởng cách mạng cấp tiến (radical), ca ngợi trực giác, bản năng và thiên tính con người. Ông đặt con tim trên trí óc, tinh thần cách mạng, cải cách xã hội vì xã hội lúc giờ tổn thương quá nặng bình đẳng và tự do con người.</p>



<p>Với quan niệm mỗi người mỗi ý nhưng “Hai hổ không thể nhốt chung một chuồng” và Voltaire tự coi bản thân như bậc đàn anh mà Roussaeau đâu phải vừa nên nên không chấp nhận lời phê bình của nhà tư tưởng “đàn anh”.</p>



<p>Voltaire chửi “Jean-Jacques làm triết gia”… “giống như khỉ làm người”: hao hao nhưng không bao giờ bằng.&nbsp;</p>



<p>Bức thư của Rousseau gửi Voltaire ngày 18/8/1756: “Ông Voltaire giống như con chó già trong chuồng: nó gặm xương một cách khôn ngoan, nhưng sủa vào mọi thứ nó không thể ăn”.</p>



<p>Với hai nhân vật tên tuổi mà khi xung khắc dùng lời lẽ thiếu tế nhị, thật đau lòng. Đến khi cả hai đều nhắm mắt xuôi tay, cùng nằm gần nhau, mộ phần tại điện Panthéon là niềm hãnh diện, ai là cao nhơn (?), tùy suy ngẫm của mỗi người.</p>



<p>Câu nói bất hủ của Voltaie: “Những tư tưởng lớn thường gặp nhau” (Les beaux esprits se rencontrent) những giữa ông và J.J. Rousseau thì nghịch nhau! Đời là thế “Nói một đằng, làm một nẻo” nhan nhản trong cuộc sống, nhất là các “ông thần” làm chính trị!</p>



<p>Chuyện nước ta, vào thế kỷ XVIII, Lê Quý Đôn (1726-1784), học giả uyên bác, thuở còn trai trẻ nổi danh thần đồng, thông minh lanh lẹ. Năm 18 tuổi, Lê Quý Đôn thi Hương đỗ Giải nguyên, 27 tuổi đỗ Hội nguyên, rồi đỗ Đình Nguyên Bảng Nhãn vào bậc lỗi lạc, văn hay chữ tốt, kiến thức đầy mình khó ai sánh kịp.</p>



<p>Với tuổi trẻ mang mặc cảm tự tôn nên kiêu ngạo, tự cao tự đại, cho treo tấm biển “<em>Thiên hạ nghĩ nhất tự lai vấn” (Thiên hạ có chữ gì không biết, cứ lại mà hỏi), </em>giống như lời Tô Đông Pha. Thế rồi một hôm vị Sa Di nhà chùa ghé ngang, gặp ông đố giải chữ <em>“nhất</em>” ông bị lúng túng và khi thân phụ ông qua đời, vị túc nho tới phúng điếu, nhờ ông viết hộ, nhà nho chậm rãi đọc chữ <em>“chi, chi, chi”,</em> ông không biết viết chữ <em>“chi”</em> nào&#8230; Ông cứ chần chừ không hạ bút chữ chi nào. Ông nhìn lên thấy vị Sa Di vẫn thản nhiên đợi ông hạ bút! Phải chăng cái thâm của nhà nho làm cho ông sực tỉnh và gỡ tấm biển đi?. Nhắc lại câu chuyện của bậc tiền nhân lúc trẻ không có dụng ý bôi bác mà làm bài học tuổi trẻ cao ngạo cho hậu thế. Giai thoại nói vậy nhưng cũng oan cho ông bởi khi đọc <em>“chi, chi, chi”</em> không lẽ viết ra một số chữ chi.</p>



<p>Theo Tự Điển Việt Hán Nôm, chữ chi đơn giản nhất có 2 nét (làm chi, hèn chi), với các bộ thì ý nghĩa khác nhau: bộ chỉ là chi ly, bộ tiết, bộ kỷ chi là bình rươu ngày xưa, bộ khẩu chỉ tiếng cửa kẹt mở, bộ khẩu là tiếng chim non kêu, bộ chi là chi ly, bộ mộc là nhánh cây, bộ nhục là tứ chi,bộ điểu, bộ thảo, bộ thủ…</p>



<p>Theo Tự Điển Thiều Chửu thì chữ chi có nhiều cách viết nào là trưởng chi, con thứ. Tránh, nhánh: (dòng tránh). Nếu có một dòng mà chia thành nhiều dòng ngang thì được gọi là chi cả. Giữ, cầm, cố sức ứng phó: (chi trì). Tính: (tính toán). Chia rẽ: (chi li, vụn vặt). Địa chi: chỉ 12 chi (Tí, Sửu, Dần, mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi). Chân tay (tứ chi). Cành, nhánh)… Tôi dốt chữ Hán, Nôm nên không lạm bàn và không muốc lạc nội dung.</p>



<p>Thành ngữ ta có câu <em>“Đi một đàng học một sàng khôn”</em> vì vậy sau cụ Lê Quý Đôn làm quan, các đợt đi công cán ở các vùng Sơn Nam, Tuyên Quang, Lạng Sơn những năm 1772, 1774, làm nhiệm vụ điều tra nỗi khổ của người dân cùng tệ tham nhũng, ăn hối lộ của quan lại, khám đạc ruộng đất các vùng ven biển bị địa chủ, cường hào địa phương man khai, trốn thuế…</p>



<p>Chính nhờ quãng thời gian đi nhiều, thấy nhiều, nghe nhiều, biết nhiều việc đời như vậy nên cụ viết trong lời tựa sách Kiến Văn Tiểu Lục: “Tôi vốn là người nông cạn, lúc còn bé thích chứa sách, lúc trưởng thành ra làm quan, xem lại sách đã chứa trong tủ, vâng theo lời dạy của cha, lại được giao du nhiều với các bậc hiền sĩ đại phu. Thêm vào đấy phụng mệnh làm việc công, bốn phương rong ruổi: mặt bắc sang sứ Trung Hoa, mặt tây bình định Trấn Ninh, mặt nam trấn thủ Thuận Quảng (Thuận Hóa, Quảng Nam). Đi tới đâu cũng để ý tìm tòi, làm việc gì mắt thấy tai nghe đều dùng bút ghi chép, lại phụ thêm lời bình luận sơ qua, giao cho tiểu đồng đựng vào túi sách”.</p>



<p>Cụ Lê Quý Đôn đúng là bậc thức giả chân chính, tấm gương sáng cho hậu thế, từ tuổi trẻ kiêu ngạo đến khi tiếp xúc với các bậc hiền sĩ đại phu đã tự cho tuổi trẻ là “người nông cạn”. Tuổi trẻ cao ngạo nên bị sửa lưng, khi về già đã “học được sàng khôn” nên tự bộc bạch sửa lưng bản thân, đúng là bậc thức giả chân chính. Tuổi trẻ cao ngạo nên bị sửa lưng, khi về già đã “học được sàng khôn” nên tự bộc bạch sửa lưng bản thân, đúng là bậc tri thức đáng kính.</p>



<p>Vài tác phẩm của cụ Lê Quý Đôn đã lưu lại hậu thế rất giá trị như: Vân Đài Loại Ngữ, Đại Việt Thông Sử và Kiến Văn Tiểu Lục, tập bút ký nói về lịch sử và văn hóa Việt Nam từ đời Trần đến đời Lê…</p>



<p>Ngôi trường trung học cổ nhất Sài Gòn là Collège Indigène thành lập năm 1874, sau đó được đổi thành Collège Chasseloup Laubat, theo tên Bộ Trưởng Hải Quân Pháp. Sau năm 1954 trường được đổi tên là Jean Jacques Rousseau. Năm 1967, trường trở thành trung tâm giáo dục Lê Quý Đôn. Ở Nha Trang cũng có trường trung học Lê Quý Đôn nằm trên đường cùng mang tên.</p>



<p>Nhân sinh, không biết mà thưa thốt thì hằng hà sa số. Thời nào, ở đâu cũng vậy. Có vậy mới vui, mới bát nháo, có chuyện để bù khú với nhau. Thiếu nó, chán bỏ bu. Ngậm miệng như mấy tên nghị gật, như đại biểu nhân dân nhà nước chỉ biết “nhất trí” để bị giống nòi khinh khi, phỉ nhổ.</p>



<p>Nói đến cái ngông là nói đến cái vô tận của người cầm bút từ xưa đến nay đã để lại không biết bao giai thoại, hình ảnh được lưu truyền. Chọn cuộc sống bằng cái nhìn khuynh khoát, thái độ khinh bạc thế nhân và tự nó cũng rước lấy lắm điều chua cay!. Một trong những khuôn mặt tiêu biểu trong văn học Việt Nam cho cái ngông được ghi lại: nhà thơ Cao Bá Quát.</p>



<p>Cao Bá Quát (1808-1855) hiệu Chu Thần, cùng anh là Cao Bá Đạt, khoa thi Tân Mão 1831 (Thiệu Trị thứ 12) trong kỳ thi hương, ông đỗ Thủ khoa, còn anh là Cao Bá Đạt đậu Á khoa.</p>



<p>Tuy nhiên, ông lại trượt cả 2 kỳ thi Hội vì không chịu theo khuôn phép trường thi; từ đó ông có thái độ bất mãn, ngao du đó đây, bầu bạn với thơ túi rượu bầu, lấy văn chương làm thú vui tiêu khiển. Ông là người văn hay chữ tốt, có thái độ ngạo mạn. Khi nhà vua ra câu đối <em>“Nhất bào song sinh.</em>..”, ông đáp lại “<em>Thiên tải nhất ngộ.</em>..” đủ thấy cái “lối” của Chu Thần. Ông được vua Tự Đức ngợi ca <em>“Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán”</em>. Được thể, ông càng ngạo nghễ, khi dễ cả vua vì vậy sau nầy ông tự chuốc lấy bao điều bất hạnh cho mình.</p>



<p>Trong cái ngông nghênh, kiêu ngạo, cho mình quán thông nên đã “show off” câu nói để đời: “Trong thiên hạ có bốn bồ chữ, ông chiếm hai bồ, anh ông chiếm một bồ, còn một bồ phân phối cho thiên hạ”.</p>



<p>Thật ra, câu nói ấy, Cao Chu Thần đã bắt chước cái ngạo mạn của Tô Đông Pha đời Tống&nbsp; ở Trung Hoa.</p>



<p>Theo Đại Nam Thực Lục, tháng 8/1841, Cao Bá Quát được cử làm sơ khảo trường thi Thừa Thiên. Thấy một số bài thi hay nhưng có chỗ phạm trường quy, ông bàn với đồng sự là Phan Thời Nhạ lấy son hòa với muội đèn chữa lại 24 bài. Khi sự việc bại lộ, Cao Bá Quát nhận tất cả lỗi về mình. Sau khi án được dâng lên vua Thiệu Trị, tất cả các thành viên đều bị xử tội với những mức phạt khác nhau. Cao Bá Quát và Phan Thời Nhạ bị tội tử hình. Vua Thiệu Trị thấu hiểu nỗi lòng của cao Bá Quát nên ra lệnh tha tội chết cho ông với lời phán rằng “Chọn người tài giỏi là một điển lễ long trọng, bọn Quát dám làm trái phép như thế, khép vào tội nặng cũng đáng. Song ta nghĩ do sự khờ dại mà làm ra, chứ không có tình tiết gì khác, còn có thể khoan tha cho tội xử tử…&#8221;. Nhờ đó, ông bị tống ngục.</p>



<p>Sau gần 3 năm bị giam, vì có công trạng nên được vào Viện Hàn Lâm để lo việc sưu tầm và xếp đặt văn thư. Bởi khí phách không được lòng một số quan lớn trong Triều, năm 1850, Cao Bá Quát bị đày đi làm giáo thụ ở phủ Quốc Oai (Sơn Tây cũ). Đến cuối năm 1850, đời vua Tự Đức, ông lấy cớ về quê chịu tang cha, sau đó xin ở lại nuôi mẹ già để thôi chức.</p>



<p>Cuộc khởi nghĩa Cao Bá Quát (1854-1856) ở Hà Tây bị thất bại, khi lên pháp trường&nbsp; ông ứng khẩu hai câu:</p>



<p><em>“Ba hồi trống dục đù cha kiếp</em></p>



<p><em>Một nhát gươm đưa đéo mẹ đời”</em></p>



<p>Tuổi trẻ Cao Bá Quát cao ngạo nhưng sau nầy ông trở thành con người cương trực, dám làm dám chịu và coi cái chết nhẹ tựa lông hồng.</p>



<p>Trong cuộc chiến xảy ra giữa nhà Nguyễn và nhà Tây Sơn với hai nhân vật qua hai câu đối đã&nbsp; lưu lại hậu thế trải hơn hai thế kỷ. Tôi đã viết khá lâu, nay nhắc lại.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/07/NTN.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="638" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/07/NTN-1024x638.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-81829" style="width:600px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/07/NTN-300x187.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/07/NTN-1024x638.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2025/07/NTN-768x478.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/07/NTN.jpg?strip=all 1400w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Ngô Thì Nhậm, Ngô Thời Nhiệm (1746-1803) là danh sĩ nổi tiếng ở Bắc hà vốn là quan dưới thời vua Lê &#8211; chúa Trịnh. Năm 1788, Nguyễn Huệ ra Bắc cầu hiền, ông cùng nhiều quan lại cũ phục vụ cho Tây Sơn, được thăng đến Thượng Thư Bộ Lại. Trong thời gian này, có nho sĩ là Đặng Trần Thường (1759-1816) đến gặp mặt xin làm quan. Tuy nhiên nhìn điệu bộ khúm núm, Ngô Thì Nhậm coi thường mà nói rằng:</p>



<p>&#8211; Ở đây cần dùng người vừa có tài vừa có hạnh, giúp vua cai trị nước. Còn muốn vào luồn ra cúi thì đi nơi khác.</p>



<p>Đặng Trần Thường hổ thẹn nên bỏ vào Nam theo Nguyễn Ánh. Năm 1802, Nguyễn Ánh đánh bại quân Tây Sơn, lên ngôi vua Gia Long. Đặng Trần Thường gặp lại Ngô Thì Nhậm đang bị chịu tội tại Văn Miếu, bèn ra câu đối:</p>



<p>&#8211; Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai</p>



<p>Ngô Thì Nhậm khẳng khái đáp:</p>



<p>&#8211; Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế&nbsp;</p>



<p>Đặng Trần Thường tức giận ngầm sai người tẩm thuốc độc vào roi. Sau những người bị đánh đều bình phục, chỉ có Ngô Thì Nhậm bị thuốc độc ngấm vào tạng phủ, biết mình không qua khỏi. Giai thoại cho rằng trước khi qua đời ông ứng khẩu bài thơ gửi tặng Đặng Trần Thường như sau:</p>



<p><em>“Ai tai Đặng Trần Thường</em></p>



<p><em>Chân như yến xử đường</em></p>



<p><em>Vị Ương cung cố sự</em></p>



<p><em>Diệc nhĩ thị thu trường”.</em></p>



<p>(Thương thay Đặng Trần Thường, quyền thế lắm đấy nhưng như chim yến làm tổ trong nhà sắp cháy rồi tai ương sẽ đến. Giống như Hàn Tín giúp Hán Cao Tổ Lưu Bang rồi bị Cao Tổ giết ở Vị Ương. Kết cục của ngươi cũng thế).</p>



<p>Quả nhiên sau này bài thơ ứng nghiệm, Đặng Trần Thường bị vua Gia Long xử tử. Cả hai nhân vật có tài lỗi lạc với cái chết bi thảm nhưng hình ảnh sĩ phu Ngô Thì Nhiệm lưu lại trang sử còn Đặng Trần Thường vì trả thù thành kẻ tiểu nhân. Và hai câu đối đó cho thấy lúc cụ Ngô Thì Nhậm sắp chết đã ứng xử cao tay hơn kẻ thù.</p>



<p>Vào hậu bán thế kỷ XIX, Phan Văn Trị (1830-1910) &amp; Tôn Thọ Tường (1825-1877), lúc đầu cả hai ở trong nhóm Bạch Mai Thi Xã nhưng sau đó vì thời cuộc trở thành chiến tuyến đã bút chiến qua thơ trong giai đoạn thăng trầm của lịch sử.</p>



<p>Cụ Phan Văn Trị là nhà thơ, chí sĩ yêu nước, tiêu biểu sĩ khí của người dân Nam Bộ như các cụ Nguyễn Hữu Huân, Bùi Hữu Nghĩa, Nguyễn Đình Chiểu, Huỳnh Mẫn Đạt. Năm Kỷ Dậu (1849) thi Hương tại trường thi Gia Định và đỗ cử nhân. Tuy đỗ đạt cao nhưng cụ không ra làm quan, mà về mở trường dạy học. Trong thời kỳ Pháp thuộc cụ Nguyễn Đình Chiểu và cụ bất mãn với triều đình Huế, dùng ngòi bút chiến đấu chống thực dân Pháp.</p>



<p>Trong khi đó Tôn Thọ Tường lại đi ngược lại quan điểm nên hợp tác và xảy ra cuộc bút chiến với nhau qua mười bài Tự Thuật.</p>



<p>Tôn Thọ Tường với bài Từ Thứ Quy Tào theo tích Từ Thứ bỏ Lưu Bị về hàng Tào Tháo. Mượn chuyện Từ Thứ, Tôn Thọ Tường muốn thanh minh rằng mình theo Pháp chẳng qua cũng chỉ là chuyện chẳng đặng đừng chớ cái tình đối với bè bạn cũ, cái nghĩa đối với sơn hà xã tắc. Tôn Thọ Tường cho rằng, mất nước là định mệnh của dân tộc, có hy sinh bao nhiêu xương máu cũng chỉ uổng công vô ích nên ca ngợi sức mạnh quân sự của Pháp.</p>



<p>Cụ Phan Văn Trị cho rằng cuộc chiến đấu của dân tộc không phải vô vọng như chuyện như chuyện lấy thước đo trời hay bắc cầu qua biển, tuy những tổn thất của phong trào yêu nước, song sự tổn thất ấy cũng như chim hồng không may rụng mất mấy cái lông, mà <em>“Hồng dẫu hư lông đâu sợ sẻ”</em> và&nbsp; kết luận:</p>



<p><em>“Đứa dại trót già đời cũng dại,</em></p>



<p><em>Lựa là tuổi mới một đôi mươi”.</em></p>



<p>Hai cụ dùng thơ với tích xưa bên Tàu để đối đáp nhau nhưng cho tháy thế thượng phong của cụ Phan Văn Trị. Những bài thơ yêu nước và sĩ khí của cụ Phan Văn Trị được giảng dạy trong chương trình và sách giáo khoa môn Quốc văn (Việt văn) bậc trung học ở miền Nam Việt Nam trước 1975.</p>



<p>Năm 1871, Tôn Thọ Tường được thăng Đốc Phủ Sứ. Năm 1877, trong lần theo viên lãnh sự Pháp đi quan sát miền thượng du Bắc Kỳ, mắc bệnh sốt rét ác tính rồi mất.</p>



<p>Thời Việt Nam Cộng Hòa có tên đường hai cụ nhưng (hình như) chỉ có tên trường trung học Phan Văn Trị.</p>



<p><em>“Ôn cố tri tân”,</em> xin nhắc lại chuyện xưa đã đi vào văn học. Cứ gọi nôm na chuyện sửa lưng cho tiện sổ sách.</p>



<p>Cái thâm của nhà nho ngày xưa trị nhau khi bị sửa lưng. Nó nhẹ nhàng, từ tốn, lịch sự, không ồn ào với đao to búa lớn, không hùng hổ với ngôn ngữ hàng tôm hàng cá, cái hay của nó ở chỗ thâm thúy và sự cảm hóa.</p>



<p>Người xưa thường nói <em>“Cao nhơn tắc hữu, cao nhơn trị”</em>. Dù có tài ba lỗi lạc đến đâu mà huênh hoang tự đắc có ngày cũng bị tổ trác&#8230; Khiêm nhường là đức tính cao đẹp nhất trong việc xử thế, trong đạo làm người.</p>



<p>Thuở còn đi học, thầy giáo đã dạy cho sự khiêm nhường, nhắc lại câu nói của Rivarol làm bài học để nhớ: <em>“Có điều gì cao hơn kiêu căng và sang hơn háo danh, đó là sự khiêm nhường”</em> nhưng biết khiêm nhường để tự đề cao khó hơn khiêm nhường để bị hiểu lầm khờ khạo?.</p>



<p>Nói chuyện sửa lưng, không ai bằng ta với ta!. Càng hiểu rộng, càng có ý tứ thâm trầm và tế nhị, vấn đề sửa lưng càng độc đáo. Trong cuộc sống của chúng ta, có lẽ nhiều lần vấp phải bị sửa lưng, cũng là chuyện bình thường. Tốt, xấu tùy theo tinh thần xây dựng hay đố kỵ ganh ghét. Hình như quý cụ ông, tính thẳng như ruột ngựa nên bị quý cụ bà, thâm thúy, tế nhị sửa lưng? Sửa gì thì sửa nhưng lưng không còng (khom lưng) là quý rồi. Quý vị nghĩ sao?.</p>



<p><em>Little Saigon, July 2025</em></p>



<p><strong>Vương Trùng Dương</strong></p>



<p></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Vương Trùng Dương: Chuyện Vãn: Bạn Thù Muôn Mặt</title>
		<link>https://t-van.net/vuong-trung-duong-chuyen-van-ban-thu-muon-mat/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Vương Trùng Dương]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 14 Jun 2025 09:46:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[chuyện vãn Vương Trùng Dương]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=81125</guid>

					<description><![CDATA[“Sông sâu còn có kẻ dò, Lòng người nham hiểm ai đo cho cùng” (Ca Dao) Khi Hiệp Định Paris sắp được Mỹ ký kết với Bắc Việt, TT Nguyễn Văn Thiệu đã phản đối vì có những điều khoản bất lợi cho VNCH. Trong lá thư của TT Mỹ Richard Nixon gởi TT Thiệu [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/vtrd2.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="786" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/vtrd2-1024x786.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-81126" style="width:558px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/06/vtrd2-300x230.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/vtrd2-1024x786.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2025/06/vtrd2-768x590.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/vtrd2.jpg?strip=all 1400w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><em>“Sông sâu còn có kẻ dò,</em></p>



<p><em>Lòng người nham hiểm ai đo cho cùng”</em></p>



<p>(Ca Dao)</p>



<p>Khi Hiệp Định Paris sắp được Mỹ ký kết với Bắc Việt, TT Nguyễn Văn Thiệu đã phản đối vì có những điều khoản bất lợi cho VNCH. Trong lá thư của TT Mỹ Richard Nixon gởi TT Thiệu ngày 16/1/1973: <em>“Tôi đã quyết định sẽ ký hiệp định vào ngày 23/1/1973 tại Paris… Trong trường hợp đó, tôi phải giải thích công khai rằng chính phủ của ông cản trở hòa bình”.</em> Thế rồi sau đó người bạn đồng minh “tháo chạy” cắt đứt mọi viện trợ quân sự và tài chánh vì vậy Quân Lực VNCH chiến đấu trong đơn độc thiếu đạn dược, phi cơ, xăng dầu… ngay cả đề nghị vay nợ ba trăm triệu Mỹ kim cũng bị Quốc Hội Mỹ bác bỏ!</p>



<p>Câu nói để đời của TT Nguyễn Văn Thiệu: <em>“Làm kẻ thù của Mỹ thì dễ, làm bạn với Mỹ thì rất khó”</em>. Làm kẻ thù với Mỹ chỉ trực tiếp đối đầu còn làm bạn với Mỹ phải chấp nhận yêu sách, quyền lợi của Mỹ… nếu không sẽ bị “đá giò lái, đâm sau lưng” và có lúc bị bán đứng đất nước!</p>



<p>Nhìn lại lịch sử quá khứ giữa bạn và thù chỉ trong gang tấc, hôm trước là bạn, hôm sau là thù. Huynh đệ tương tàn!</p>



<p>Cuối thời Xuân Thu (722-480 trước Công Nguyên) &amp; Thời Chiến Quốc (481-221 trước CN) ở Trung Hoa, tại đất Dương Thành có Vương Dũ, một ẩn sĩ chọn Vân Mộng Sơn làm nơi tu luyện. Tiên sinh tài năng trí tuệ tuyệt vời, được thiên hạ xưng tụng Quỷ Cốc tiên sinh, là người biết suy việc trước, đoán việc sau, thao lược biến hóa vô cùng, bố trận điều binh rất diệu, kiến thức uyên bác, mưu lược khôn lường và có tấm lòng khoan dung độ lượng. Tiên sinh rất kén chọn đệ tử, trong số môn sinh thụ giáo đó có 4 nhân vật mà hơn hai nghìn năm vẫn thường nhắc nhở: Bàng Quyên, Tôn Tẫn, Trương Nghi, Tô Tần.</p>



<p>Cùng thọ giáo sư phụ uyên thâm, đức độ, cùng am cùng cốc, cùng chia ngọt xẻ bùi, luận kiếm bàn văn&#8230; Thế nhưng vì danh vì lợi, vì lòng đố kỵ hơn thua, từ bạn biến thành mối thâm thù lưu truyền mãi với đời, làm bài học suy ngẫm cho thế thái nhân tình, cho tâm địa của con người trước âm mưu hành sử <em>“cạn tàu ráo máng”.</em></p>



<p>Bàng Quyên người nước Ngụy, Tôn Tẫn người nước Tề cùng lúc, cùng thời, nhập cuộc làm đồ đệ của Quỷ Cốc tiên sinh. Sau 3 năm thọ giáo, trước khi hạ san, Bàng Quyên có thề nguyền và hứa hẹn với bạn đồng môn Tôn Tẫn sẽ tận tình giúp đỡ người bạn đồng môn nên danh nên phận.</p>



<p>Với tài kinh luân, thao lược, Bàng Quyên được tiến cử làm quân sư cho Ngụy Huệ Vương, nhập cuộc, bách chiến bách thắng, tiếng tăm lẫy lừng, được hưởng bổng lộc triều đình nên đem lòng ngạo mạn, kiêu căng và muốn độc quyền trong địa vị. Bàng Quyên nghĩ tới người bạn đồng môn Tôn Tẫn, không muốn tiến cử vì biết người bạn lại giỏi hơn mình nên nghĩ tới mối nguy của người bạn lấn mình hơn là chung lưng sát cánh với mình. Bàng Quyên làm ngơ người bạn đồng môn Tôn Tẫn như đã hứa thề.</p>



<p>Biết tài Tôn Tẫn, Mặc Địch thấy chuyện bất bình nên yết kiến Ngụy Huệ Vương để tiến cử Tôn Tẫn. Bàng Quyên đành lòng đón rước Tôn Tẫn về giúp Huệ Vương. Bàng Quyên vừa bầy tỏ thâm tình thắm thiết vừa âm mưu lập mưu kế hãm hại, trong khi đó Tôn Tẫn cả tin nên bị mắc bẫy. Ngụy Huệ Vương chặt giò Tôn Tẫn và cho thọ án hình.</p>



<p>Bàng Quyên giả lòng nhân ái, nhận lãnh Tôn Tẫn về cho ăn ở nhưng thật tình cố ép Tôn Tẫn chép lại bộ binh thư mà sư phụ đã truyền dạy riêng cho Tôn Tẫn năm xưa, Bàng Quyên không được sư phụ truyền đạt.</p>



<p>Tôn Tẫn vỡ lẽ, bèn tương kế tựu kế, giả khùng giả điên, thần kinh bấn loạn. Bàng Quyên bèn phơi bày tâm địa của mình, nhốt Tôn Tẫn vào chuồng heo để coi Tôn Tẫn điên thật hay giả, Tôn Tẫn thản nhiên ăn ở chung với heo.</p>



<p>Mặc Địch biết chuyện, thương người có tài gặp hoạn nạn, tìm cách liên lạc cho Điền Kỵ biết, lập phương kế sang Ngụy để nhận kẻ điên và cụt giò về Tề. Tôn Tẫn trở lại bình thường và được Tề Hầu phong làm Quân Sư.</p>



<p>Ngụy, Tề xảy ra chiến trận. Bàng Quyên thống lãnh ba quân của Ngụy, Tôn Tẫn coi đạo quân của Tề, dụ Bàng Quyên tới Mã Lăng, quân Ngụy bị đánh tan nát, Bàng Quyên bị vây khốn, chợt thấy nơi cây đại thọ có hàng chữ được khắc trước:<em> “Bàng Quyên tử thử thọ hạ. Quân sư Tôn thị”.</em> Binh phục của Tôn Tẫn bắn chết Bàng Quyên như lời thề của Tôn Tẫn dưới gốc cây nầy quyết tiêu diệt người bạn lòng lang dạ thú, táng tận lương tâm.</p>



<p>Bàng Quyên và Tôn Tẫn, hai người bạn đồng môn, trở thành hai kẻ thâm thù truyền kiếp.</p>



<p>Tôn Tẫn sau khi rửa được mối thâm thù, lập được công danh, chán cảnh hồng trần, từ bỏ danh lợi vào núi ẩn dật, tu tiên, bầu bạn với trời mây sông nước.</p>



<p>Tôn Tẫn được nhiều nhà sử học cho là cháu đích tôn của Tôn Tử (514 &#8211; 496 trước CN), một nhà quân sự, chiến lược tài tình ở nước Ngô, cuối thời Xuân Thu.&nbsp;</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/vtrd.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="712" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/vtrd-1024x712.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-81127" style="width:530px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/06/vtrd-300x209.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/vtrd-1024x712.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2025/06/vtrd-768x534.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/vtrd.jpg?strip=all 1400w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Tôn Tử, tên Vũ, tự Tràng Khanh, ở Lạc An, nước Tề, có nhiều giai thoại nói về bước tiến thân của Tôn Tử với Ngô Vương, tự mình tiến thân, Ngũ Tử Tư đề cử, giúp Ngô Vương đánh Sở, chinh phục Tấn, Tần. Lập ra “Mười Ba Thiên Binh Pháp” nói về kỹ thuật điều binh khiển tướng, mưu lược, dụng trí, tình báo&#8230; ý văn dồi dào, sâu sắc chung quanh cũng về Ta-Địch giữa Bạn-Thù.</p>



<p>Theo Sử Ký của Tư Mã Thiên (145-90 trước CN)<em>: “Tôn Tử tên là Vũ, người Tề, nhân dâng binh thư, được vào yết kiến Ngô Vương Lạp Lư&#8230; Lạp Lư biết Tôn Tử có tài dụng binh bèn dùng ông làm tướng. Tây phá được cường Sở, vào được Dĩnh Đô, Bắc uy hiếp được Tề, Tấn nổi tiếng với chư hầu, phần nào nhờ có sức Tôn Tử. Tôn Vũ chết rồi, hơn trăm năm sau có Tôn Tẫn,&nbsp; sinh ở vùng A Quyên, cũng là dòng dõi Tôn Vũ&#8230;</em></p>



<p><em>&#8230; Ngô Khởi người Vệ, thích quân sự, đã từng theo học Tăng Tử và thờ Lỗ Quân. Tề đánh Lỗ, Lỗ Quân muốn phong Ngô Khởi làm tướng nhưng vì vợ Ngô Khởi là người Tề, nên còn ngờ,&nbsp; muốn cho danh phận được trót lọt, Ngô Khởi bèn giết vợ để chứng tỏ mình không thân Tề. Và Ngô Khởi được Lỗ phong tướng. Ngô Khởi cầm quân đánh Tề và quân Tề bị tan rã”.</em></p>



<p>Sau nầy thêm phần bổ túc của Ngô Khởi, người nước Vệ, đời Đông Châu (Ngô Khởi là người giết vợ tiến thân) nên được gọi là Tôn Ngô Binh Pháp.</p>



<p>Theo Hán Thư Nghệ Văn Chi, sách binh pháp của Ngô Khởi có 48 thiên và hiện chỉ còn lưu lại 6 thiên về Đồ Quốc, Liệu Địch, Trị Binh, Luận Tướng, Biến Hóa, Lệ Sĩ.</p>



<p>Tôn Tử viết: <em>“Đẩy vào tử địa rồi sẽ còn, dồn vào đất chết rồi sẽ sống”</em> cho thấy khi bị dồn đến mức tận cùng bao giờ cũng nẩy ra sức đề kháng, phản công phi thường. Ông bà ta cũng khuyên chớ nên dồn chó vào chân tường. Vì vậy, ở đời nên học lấy lời người xưa mà giữ mình. Tôn Tẫn đã biết sống, cam chịu cực hình, nhịn nhục để nuôi chí phục thù, loại trừ phần tử xấu xa trong xã hội.</p>



<p>Lịch sử Việt Nam đã để lại hậu thế biết bao <em>“bài học đau</em> <em>thương”</em> giữa những con người đã làm nên trang sử vẻ vang cho dân tộc nhưng trong tận cùng sâu thẳm của tâm thức trở thành niềm đau nhức nhói. Điển hình như hình ảnh đau thương của vị đại công thần dân tộc, một lòng cho sơn hà xã tắc cuối cùng bị bội phản bởi bằng hữu một thời gian lao, khổ đau bên nhau, cùng cắt máu thề nguyền ở hội thề Lũng Nhai trong giai đoạn khởi nghĩa chống kẻ thù bạo tàn Bắc phương!.</p>



<p>Khi nước nhà bị quân nhà Minh xâm lăng, bạo tàn và khát máu. Nơi núi rừng Lam Sơn, hội thề Lũng Nhai qui tụ 28 người con thân yêu của tổ quốc, đã tìm đến với nhau, cắt máu thề nguyền, nguyện vào sinh ra tử, chấp nhận muôn ngàn gian lao nguy hiểm, khổ cực một lòng, sống chết bên nhau. Lời thề ấy đã tạo thành sức mạnh nhiệm mầu trong suốt 10 năm (1418-1427) nằm gai nếm mật, đánh đuổi giặc Minh, quang phục tổ quốc. Nguyễn Trãi (1380-1442) cùng với Lê Lợi mang nặng thù nhà, nợ nước, quyết một lòng đánh đuổi quân Minh. Hình ảnh <em>“Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần”</em> đã làm nên trang sử hào hùng của dân tộc Việt Nam.</p>



<p>Trong gian lao, Bình Định Vương Lê Lợi xem Nguyễn Trãi (cháu ngoại Trần Nguyên Đán) và Trần Nguyên Hãn (cháu nội Trần Nguyên Đán) trong tình ruột thịt như máu và tim.</p>



<p>Đánh đuổi được giặc Minh ở Bắc phương, vị anh hùng dân tộc áo vải Lam Sơn trở thành hoàng đế, lập ra triều đại Tiền Lê (1428-1527), đem lại thanh bình cho đất nước.</p>



<p>Thế nhưng! trong ánh hào quang của giai đoạn đầu bước chân vào ngưỡng cửa danh vọng, bởi danh và lợi, triều đình quy nạp bầy tôi đố kỵ, nịnh bợ&#8230; biến bạn thành thù, tấu hót với nhà Vua để loại trừ những công thần đã tận trung với nước.</p>



<p>Lê Thái Tổ (1428-1433) đã ghi lại trang sử vàng son cho dân tộc, tiếc rằng nhà vua cho bắt giết Tả Tướng Trần Nguyên Hãn, Thái Úy Phạm Văn Xảo&#8230; và ngay cả đệ nhất công thần Nhập Nội Hành Khiển, Lại Bộ Thượng Thư Nguyễn Trãi cũng bị hạ ngục. Trong lúc gian nguy, bạn cùng chí hướng có nhau đến khi thái bình bị đám bầy tôi chỉ biết ganh ghét ăn hại, đem lời gièm pha, lung lạc tình cảm với bậc minh quân chuyển bạn thành thù trong miếng đỉnh chung.</p>



<p>Đến đời Lê Thái Tông (1434-1442), Nguyễn Trãi đã trải qua bao giai đoạn thăng trầm, điêu linh trong lúc triều đại xảy ra diễn biến dồn dập&nbsp; bởi bọn nịnh thần, năm 1437, Nguyễn Trãi lui về quy ẩn vói cỏ cây ở núi Lam Sơn&nbsp; nhưng rồi oan nghiệt lại ập đến trong vụ án Lệ Chi Viên, nhận lãnh bản án thảm khốc “tru di tam tộc”!</p>



<p>Trong cuốn Việt Nam Sử Lược, cụ Trần Trọng Kim ghi lại những dòng ai oán:</p>



<p>“Nghĩ mà buồn thay cho mấy người công thần đời xưa chỉ lầm ví hai chữ công danh mà đem tấm lòng son sắt đi phù tá quân vương trong lúc gian nguy, mong được chút hiển vinh để cho thỏa cái chí trượng phu ở đời, ngờ đâu chim bay đã hết, cung tốt cất đi, thỏ lanh chết rồi, chó săn phải giết; đến khi công việc xong rồi thì không những là một thân một mình cũng không được trọn vẹn mà cả họ hàng thường cũng vạ lây! Thế mới biết, chỉ có Trương Tử Phòng nhà Hán là người kiến cơ hơn cả”.</p>



<p>Tài năng và đức độ của bậc chính nhân quân tử đã có ảnh hưởng quan trọng, vì thế Nguyễn Trãi chết đi nhưng không bị uất hận nghìn thu.</p>



<p>Hai mươi năm sau đời Lê Nhân Tông (1443-1459), vua Lê Thánh Tông (1460-1497) nhận biết được tấm lòng và thiên tài Nguyễn Trãi nên cởi oan khiên, truy phong chức tước, tên tuổi của Nguyễn Trãi được lưu truyền hậu thế. Lê Thánh Tông cho đi tìm con cháu lưu lạc sống sót để được hưởng bổng lộc.</p>



<p>Chân dung Nguyễn Trãi còn được ghi tạc trong câu thơ của Lê Thánh Tông:</p>



<p><em>“Tấm lòng Nguyễn Trãi sáng đẹp như sao Khuê,”</em> để đời đời ghi nhớ.</p>



<p>Khi oan nghiệt của Nguyễn Trãi về sau được Lê Thánh Tông giải oan và phục hồi danh dự, tuy muộn màng nhưng đã tô điểm lại vết son đã bị bôi đen cho triều đại nhà Lê.</p>



<p>Nhắc đến nhà Minh, trong Ỷ Thiên Đồ Long Ký của nhà văn Kim Dung vào thế kỷ XIV, tuy tiểu thuyết hư cấu nhưng liên quan đến lịch sử Trung Hoa. Kim Dung mô tả Chu Nguyên Chương chỉ là phường áo rách khố ôm, chăn dê, chăn bò cho địa chủ, gia nhập Minh Giáo, dần dà được cất nhắc lên vị trí cao trong Minh Giáo, góp công lớn tiêu diệt nhà Nguyên và bè đảng Trần Hữu Lượng, lập ra nhà Minh.</p>



<p>Hai đại công thần với Chu Nguyên Chương và Từ Đạt và Thường Ngộ Xuân, cùng cắt máu ăn thề. Sau khi Chu Nguyên Chương lên ngôi, hai nhân vật nầy được trở thành đại tướng quân. Nhưng bản chất đa nghi của Chu Nguyên Chương nên ra tay tàn nhẫn sát hại công thần và tất cả thân tín bị kết tội nghịch thần! Lịch sử Trung Hoa ghi nhận, trong 14 năm, hoàng đế Chu Nguyên Chương đã giết 45.000 người, chủ yếu là các công thần, lão tướng và họ hàng thân tộc của họ! Một con người tàn bạo, giết người không gớm tay.</p>



<p>Trong lịch sử Việt Nam cũng thường đề cập đến hình ảnh hai người bạn đã một thời sinh hoạt cùng chiến tuyến rồi trở thành đối nghịch: Đặng Trần Thường và Ngô Thì Nhậm vào thời Nguyễn &#8211; Tây Sơn cách đây tròn hai thế kỷ.</p>



<p>Nhân đây, đề cập trong lãnh vực văn chương qua vài câu đối đã lưu lại hậu thế, còn trong chính trị thì nhan nhản.</p>



<p>Đặng Trần Thường (1759-1813), người Nam Định, trước kia theo Tây Sơn cùng với Ngô Thì Nhậm, cả hai đều uyên bác nên thường tranh chấp và bất đồng ý kiến, Đặng Trần Thường vào Gia Định, theo Nguyễn Ánh, chống lại Tây Sơn. Ông được thăng chức từ Tán Lý đến Binh Bộ thượng thư. Khi đạt được vinh quang, ông có tính cao ngạo, hiềm khích với mọi người.</p>



<p>Ngô Thì Nhậm (1746-1803), nhà ngoại giao lỗi lạc, khi quân Tây Sơn của Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc để <em>“phò Lê diệt Trịnh”</em>, Ngô Thì Nhậm được tiến cử phong chức Công Bộ thị lang, mưu thần trong quân trướng. Khi quân Thanh đem quân sang xâm lăng nước ta, Ngô Thì Nhậm đã sát cánh cùng vua Quang Trung đánh đuổi quân Thanh; ông được đảm nhận Binh Bộ Thượng Thư và Chánh Sứ.</p>



<p>Vua Quang Trung ngợi khen về Ngô Thì Nhậm:<em> “Ngọn bút của Ngô Thì Nhậm có sức mạnh phi thường, ngăn được 20 vạn quân sĩ nhà Thanh”.</em></p>



<p>Khi nhà Nguyễn tiêu diệt Tây Sơn, Ngô Thời Nhậm bị bắt giải về Bắc Thành, vẫn hào khí, một lòng với Tây Sơn nên khi bị Đặng Trần Thường trả đũa vì mối tị hiềm bất đồng chính kiến năm xưa, bèn ra câu đối móc hiểm.</p>



<p>“<em>Ai công hầu, ai khanh tướng, trong trần ai ai dễ biết ai?”.</em></p>



<p>Ngô Thời Nhậm thản nhiên đối đáp: <em>“Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế!”.</em></p>



<p>Đặng Trần Thường sai người đánh Ngô Thời Nhậm đến chết. Oan khiên quả báo, sau nầy đại quan Đặng Trần Thường hiềm khích với tướng quân Lê Chất, bị Lê Chất tố ngược, vướng phải lỗi lầm, hạ ngục và bị xử giáo.</p>



<p>Thời kỳ Tự Đức (1847-1883) thực dân Pháp xâm lăng VN, hòa ước Nhâm Tuất, Pháp bắt triều đình Huế ký 3 tỉnh miền Đông Nam kỳ cho Pháp. Trong thời buổi nhiễu nhương đó, có hai ông bạn “văn hữu” Phan Văn Trị &amp; Tôn Thọ Tường, người vì dân tộc, quê hương, kẻ vì vinh thân phì gia nên dứt bạn thành thù.</p>



<p>Phan Văn Trị (1830-1910), người Vĩnh Long, thường gọi là Cử Trị và Tôn Thọ Tường (1825-1877), tỉnh Gia Định. Cả hai cùng sinh hoạt thơ văn với nhau với nhau, tham gia trong nhóm Bạch Mai Thi Xã, bầu rượu túi thơ, tương tri tương đắc.</p>



<p>Đau thương trước hoạn nạn của đất nước, không chịu ra hợp tác với thực dân Pháp để được hưởng vinh hiển mà cùng nhóm sĩ phu nổi dậy chống Pháp. Giao du với nhiều nhà nho yêu nước ở miền Nam như Bùi Hữu Nghĩa, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông&#8230;, Phan Văn Trị được thực dân mời hợp tác nhưng đã từ chối và dùng ngòi bút của kẻ sĩ yêu nước bút chiến với “văn hữu” Tôn Thọ Tường. Phan Văn Trị coi Tôn Thọ Tường như kẻ thù ngu dại, dơ bẩn và tồi tệ đã mượn “hơi hùm” của thực dân để phản bội đất nước, ông cảm thấy xấu hổ vì có người bạn trong thi xã năm xưa. Trong các bài thơ bút chiến, Phan Văn Trị đã khẳng khái chửi thẳng vào bọn tham quan hại dân hại nước, trong đó có Tôn Thọ Tường:</p>



<p><em>“Đứa dại trót đời già cũng dại</em></p>



<p><em>&nbsp;Lựa là tuổi mới một đôi mươi”.</em></p>



<p>Tôn Thọ Tường theo thực dân Pháp, mượn thơ văn để lấp liếm thái độ “thức thời” của “Từ Thứ Quy Tào” nên trả đũa lại Phan Văn Trị:</p>



<p><em>“Trâu ngựa dù kêu chi cũng mặc,</em></p>



<p><em>Thân còn chẳng kể, kể chi danh”</em></p>



<p>Trong cuộc bút chiến, ngoài Mười Bài Liên Hoàn của Tôn Thọ Tường, và bài Tôn Phu Nhân Quy Thục mượn hình ảnh ngày xưa trước thời thế để nói thái độ thức thời của ông. Phan Văn Trị đã họa lại Mười Bài Liên Hoàn đó và bài Cảm Hoài gồm mười bài để họa lại bài thơ Tôn Phu Nhân Quy Thục.</p>



<p>Khi Tôn Thọ Tường qua đời, Phan Văn Trị chỉ sáng tác những dòng thơ nói về niềm đau của đất nước bị xâm lăng, không nhắc gì về Tôn Thọ Tường.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; *</p>



<p>Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Trãi, Ngô Thì Nhậm, Phan Văn Trị&#8230; với tâm hồn trong sáng, thái độ minh bạch, con đường chính đạo, qua thời gian và lịch sử dù có biến thiên nhưng vẫn không phai mờ.</p>



<p>Nhà văn Pháp Voltaire (1694-1778) còn là một triết gia và nhà lý luận cho rằng có thể đề phòng với kẻ thù nhưng không thể đề phòng với bạn. Thực tế đã chứng minh rất nhiều trong lịch sử.</p>



<p>Nói đến kẻ thù, nói đến mối hiểm nguy, đáng sợ. Saadi đã nói rất chí lý kẻ thù của bạn dù khiêm nhượng đến đâu, bạn phải nên nhớ, hắn là kẻ đáng sợ.</p>



<p>Nói đến bạn, trong tiếng Anh, Pháp, Hán&#8230; và nhất là ngôn ngữ chúng ta có rất nhiều từ để gọi tùy theo nghề nghiệp, chức năng, hoàn cảnh, môi trường&#8230; áp dụng cho phù hợp với ý nghĩa của nó. Mỗi từ (chữ), tự nó thể hiện ý nghĩa sâu sắc, biết được thân hay sơ, tri kỷ tri bỉ, qua đường. Với thù, có lẽ chẳng có bao nhiêu từ. Đã thù thì luận giải cho nhiều làm gì, nhọc công, tốn sức.</p>



<p>Một người bạn xấu chỉ hãm hại được người bạn xấu, nhưng bạn ở lãnh vực rộng lớn, tầm cỡ “đất nước” như <em>“người bạn đồng minh”</em> mà chơi xấu thì nguy hại cho cả dân tộc, đất nước.</p>



<p>Nhìn lại lịch sử, nhìn lại bi thảm của cuộc chiến xảy ra trên đất nước rồi nhìn lại những diễn tiến xảy ra, phơi bày sự thật của quá khứ giữa bạn “đồng minh” cùng kẻ thù đã mập mờ, lấp lửng với nhau, thật đau lòng và căm phẫn!</p>



<p>Trong và ngoài cuộc chiến Việt Nam đã để lại không biết bao nhiêu bài học đau thương về bạn &#8211; thù nhất là là hình ảnh <em>“người bạn đồng minh”</em> đã một thời vào sinh ra tử thế nhưng lại thay lòng đổi dạ để làm cho cả một dân tộc điêu đứng, tang thương!.</p>



<p>Kẻ chiến bại vào vòng lao lý, gia đình tan nát và tìm vùng đất hồi sinh nơi hải ngoại; trong khi đó <em>“người bạn đồng minh</em>” vạch lại lộ trình nhằm giao hảo với kẻ thù năm xưa.</p>



<p>Người cựu thù năm xưa Đại Úy Douglas “Pete” Peterson, tháng 9 năm 1966 thi hành phi vụ 67 trên chiếc Phantom F-4B, trúng hỏa tiễn SAM-2, thảm bại bên gốc cây xoài ở Xuân Đoài, Bắc Việt rồi trải qua 6 năm rưỡi trong lao tù ở Hỏa Lò, Hà Nội. Sau ba thập niên kẻ thù hùng hổ áp tải “tên giặc lái”, thời thế thay đổi kẻ thù khúm núm đón tiếp kẻ thù năm xưa, vẫn hình ảnh Pete Peterson. Sự nhố nhăng, kịch cỡm, tráo trở trong lá bài chính trị, vừa hô hào chống đối, vừa khúm núm tiếp rước, thể hiện bản chất con người Cộng Sản luôn luôn tay hình đổi dạng!.</p>



<p>Hình ảnh “giặc lái P. Peterson” như hàng trăm hình ảnh “giặc lái” khác của “đế quốc thâm thù” bỗng trở thành những người bạn vĩ đại, được đón tiếp long trọng còn hơn lãnh tụ lụ khụ trong hệ thống Xã Hội Chủ Nghĩa, nghĩ cho cùng, khác gì trò cười cho thế nhân.</p>



<p>Hỡi ôi! khi rời nhà tù Hỏa Lò, ví von “Khách Sạn Hilton” ở Hà Nội vào tháng 3 năm 1973, chàng P.&nbsp; Peterson thề thốt: <em>“Lạy Chúa, con thề sẽ không bao giò trở lại chốn nầy nữa!”. Thế nhưng, sau 31 năm xa cách lời thề, tháng 5/1997 Pete Peterson đến Hà Nội được báo chí gọi đùa “phi vụ 68”.</em> Chàng tuyên bố: <em>“Xây dựng chiếc cầu qua dòng sông của khổ đau”</em> làm bàn dân thiên hạ liên tưởng đến hình ảnh “Cầu Sông Kwai”!.</p>



<p>Chiếc cầu thời kỳ Nhật Hoàng Hirohito vào đầu thập niên 1940 thực hiện cho tuyến đường sắt nối liền từ Mã Lai qua Thái Lan và vùng núi non hiểm trở Thanbyuzayat ở Miến Điện. Chiếc cầu bắt qua dòng sông Mae Khlong với cái giá máu xương trên nửa triệu người tù binh và dân chúng bỏ thây nơi núi rừng ám khí. Con số đó tương đương với oan hồn của người Việt đi tìm tự do bị vùi thây trên biển cả, trên núi rừng biên giới!</p>



<p>Sự đời muôn vàn mỉa mai và buồn cười!. Đổi bạn ra thù và chọn thù bầu bạn chỉ là hành vi và thái độ bất chính, tà đạo, dù có thành công cũng chỉ được giai đoạn, cuối cùng cũng bị đào thải và bị nguyền rủa. Khổng Tử cho rằng có ba loại bằng hữu có ích: hữu dụng, trực hữu dụng, hữu đa văn. Và, có 3 hạng bằng hữu vô tích sự: hữu biền tịch, hữu thiện nhu, hữu biền nịnh. Nhà thơ ngụ ngôn Pháp La Fontaine lưu ý về sự&nbsp; tráo trở của con người khi trở thành kẻ thù: <em>con rắn độc.</em></p>



<p>Về chuyện Johm McCain… nhân vật từ chiến trường, tù binh chiến tranh và trong chính giới Mỹ được bàn tán nhiều vì giữ sự khách quan nên trích:</p>



<p>Theo VOA: “Ngày 26/10/1967, tại hồ Trúc Bạch, quân và dân Hà Nội bắt sống phi công John Sydney McCain, thiếu tá không quân thuộc lực lượng Hải Quân Hoa Kỳ đã lái chiếc máy bay A4 bị bắn rơi tại nhà máy điện Yên Phụ”, ông nhảy dù xuống hồ Trúc Bạch. “Ông McCain bị giam giữ trong nhà tù của Việt Nam trong 5 năm cho đến khi được trao trả theo Hiệp Định Paris năm 1973… Sau khi chiến tranh kết thúc, Mỹ cấm vận Việt Nam trong nhiều năm. Ông McCain đã trở thành một thượng nghị sĩ vào năm 1987 và có nhiều hoạt động ủng hộ việc bình thường hóa quan hệ Việt-Mỹ vào năm 1995 và sau đó là thúc đẩy mối quan hệ này…. Bản thân ông đã nhiều lần quay lại thăm Việt Nam, bao gồm cả ghé thăm tấm phù điêu về chính ông”.</p>



<p>Theo Wikipedia (dựa vào hồi ký của McCain): “Chiếc phi cơ A-4E của ông bị một hỏa tiễn bắn trúng trên bầu trời Hà Nội… McCain bị gãy cả hai tay và một chân khi phóng ra khỏi chiếc phi cơ, và gần như bị chết đuối khi nhảy dù xuống Hồ Trúc Bạch…</p>



<p>Mặc dù McCain bị thương trầm trọng, ông cáo buộc những người bắt ông đã từ chối điều trị các vết thương cho ông, đánh ông và tra khảo ông để lấy thông tin; ông được chăm sóc sức khỏe chỉ khi người Việt khám phá ra rằng cha ông là một vị tướng cao cấp (Ghi chú thêm: Ông nội ông là John S. McCain Sr., Đô Đốc từng là Tư Lệnh Hải Quân Mỹ ở Thái Bình Dương. Lúc đó, cha ông là John S. McCain Jr., Tư Lệnh Hải Quân Đệ Thất Hạm Đội). Câu nói dân gian của ta <em>“Đánh chó phải kiêng chủ nhà”</em> vì vậy “McCain trải qua sáu tuần lễ trong bệnh viện, ông nói rằng mình đã nhận được những chăm sóc y tế rất tốt. Vào lúc đó ông mất 50 lb (23 kg) và tóc bắt đầu bạc, McCain từ nhà tù Hỏa Lò đưa đến một trại giam khác nằm ở ngoại ô Hà Nội vào tháng 12 năm 1967.</p>



<p>Tháng 8 năm 1968, McCain cáo buộc rằng một chương trình tra tấn khắc nghiệt bắt đầu được thực hiện lên người ông. Ông nói rằng mình bị buộc bằng dây thừng và bị đánh đập cứ hai giờ một lần trong lúc ông đang bị bệnh kiết lỵ. Bị nhiều vết thương hơn đã khiến cho ông bắt đầu tìm cách tự vẫn nhưng được những người canh giữ ông ngăn chặn. Sau bốn ngày, McCain ký vào ‘giấy tự thú’ tuyên truyền chống Mỹ&#8230; McCain nói rằng những tù binh Mỹ khác cũng bị tra tấn và đối xử tệ để lấy ‘lời thú nhận tội’ và những lời tuyên bố mang tính tuyên truyền. Trong số đó có những người phải chịu đựng sự đối xử tệ hại hơn và dài hơn; gần như tất cả tù binh cuối cùng cũng phải khuất phục một phần nào đó trước những người bắt họ. McCain kể rằng ông bị đánh ba lần mỗi tuần vì ông tiếp tục từ chối ký thêm các bản tự thú khác.</p>



<p>Tính chung, McCain làm tù binh tại Hà Nội trong 5 năm rưỡi. Ông được thả vào ngày 14 tháng 3 năm 1973. Các vết thương của ông vào thời chiến vẫn còn khiến cho ông vĩnh viễn không thể đưa hai tay qua khỏi đầu” (Wikipedia).</p>



<p>Bài viết của nhà văn Huy Phương: John McCain, ‘cái quan luận định!’ đăng trên nhật báo Người Việt:</p>



<p>“Người xưa có nói <em>“cái quan luận định”</em> (đậy nắp hòm rồi mới có thể khen chê hay dở!). Trường hợp Thượng Nghị Sĩ John McCain, không những nắp hòm đã đậy mà quan tài cũng đã đem chôn, nói vài lời về ông cũng là việc phải…</p>



<p>Thượng Nghị Sĩ John McCain đã là một trong những chính khách vận động với chính phủ Hoa Kỳ trong việc điều đình lâu dài và kiên trì với chính phủ CSVN để cho chúng tôi, hơn 350,000 cựu tù nhân “cải tạo” và gia đình được đến định cư tại Hoa Kỳ. Ơn ấy sánh bằng trời biển! Nhờ sự can thiệp của Thượng Nghị Sĩ John McCain, qua Tu Chính Án mang tên ông, vào năm 1998, Quốc Hội Hoa Kỳ sửa lại tu chính án này để cho phép những người con của cựu tù nhân “cải tạo,” bị từ chối trước ngày 1 tháng Tư, 1995 vì lý do trên 21 tuổi, nay được nộp đơn xin cứu xét định cư tại Hoa-Kỳ…</p>



<p>Sự góp phần vận động cho chương trình tái định cư những cựu tù đã bị giam cầm trong “trại cải tạo” của ông đã làm thay đổi tương lai của cả một thế hệ con cháu của những người cựu quân nhân VNCH. Ngoài ra ông còn có công trong việc thông qua Luật “The Amerasian Homecoming Act,” cho phép từ 23 đến 25 ngàn con lai và thân nhân định cư tại Hoa Kỳ…</p>



<p>Nhắc lại tiểu sử, sự nghiệp của John McCain, người ta đã ca ngợi ông như một anh hùng của nước Mỹ và là một “đại ân nhân” của CSVN. Mỹ và Bắc Việt đã từng là kẻ thù của nhau, có thể nào một anh hùng của đất nước này lại là một ân nhân của đất nước kia không? Ông không những có công với người Việt hải ngoại đã vì chống đối chế độ trong nước mà khăn gói ra đi, ông cũng là một trong những người vận động bỏ cấm vận và mở lại bang giao Việt Mỹ, để người Việt gọi ông là “đại ân nhân,” chúng ta đã thấy hình ảnh nhiều người dân ôm ảnh ông vào lòng mà sụt sùi sau khi ông mất.</p>



<p>Có điều khá khó hiểu là vì sao đối với một “đại ân nhân” như John McCain, CSVN không xây cho ông một tượng đài mươi tỷ, không hoành tráng như tượng “bác Hồ” thì cũng tạm như tượng ông Fidel Castro. Cái tượng tạc ông, nói cho đúng một bức phù điêu nhếch nhác xây bên bờ hồ Trúc Bạch, mô tả cảnh ông quỳ gối, dang tay đầu hàng…</p>



<p>Đây rõ ràng không phải là một bức tượng “vinh danh” hay “tri ân” mà là một bức tượng “sỉ nhục” tả ông trong tư thế quỳ gối, hai tay đưa thẳng lên cao khỏi đầu. Điều làm tôi ngạc nhiên là Thượng Nghị Sĩ John McCain đã tỏ ra “tự hào” khi được Việt Nam dựng “bia” tại hồ Trúc Bạch, nơi máy bay của ông bị bắn rơi. Một bức ảnh chụp lại bức phù điêu này được treo trong phòng làm việc của ông, và ông đã có lần nói với ông Đại Sứ CSVN Nguyễn Quốc Cường là: “Đây là bức ảnh tôi quý nhất!”…</p>



<p>Người ta cho rằng tư thế quỳ gối đầu hàng của một chiến binh là một sự sỉ nhục ở tầm quốc gia. Câu chuyện này đã làm tôi nhớ lại việc Iran công bố đoạn video ghi lại cảnh 10 thủy thủ Mỹ quỳ gối khi bị bắt giữ ở hải phận Iran, dưới thời Obama. Nhưng ông John McCain chỉ bị bắn rơi và cũng chẳng bao giờ giơ hai tay lên khỏi đầu và quỳ gối với tư thế ươn hèn như vậy…</p>



<p>Nếu nay mai, CSVN lấy tên ông John McCain, “đại ân nhân” để đặt cho một con đường ở Hà Nội, thì trước hết phải phá bỏ bức phù điêu “quỳ gối đầu hàng” của ông bên hồ Trúc Bạch, để ít ra cho thiên hạ thấy chế độ này còn một chút liêm sỉ!” (Huy Phương)</p>



<p>Theo nguồn tin trên internet, phù điêu “Quân dân thủ đô bắn rơi máy bay Mỹ” và phù điêu “Bắt sống phi công Mỹ John McCain” cùng thời điểm, lúc đó phù điêu thực hiện bằng xi-măng chỉ trơ trọi&#8230; Sau nầy Thượng Nghị Sĩ McCain có công tái lập bang giao Mỹ-Việt, vì vậy trước phù điêu mới được trồng bồn hoa, trở thành địa điểm thăm viếng. Khi bước vào chính trường Mỹ, ông McCain đã từng ghé thăm nơi nầy và cho biết thích phù điêu nầy vì nói lên quá khứ từng là người lính chiến đấu, bay vào lòng đất địch và tù binh chiến tranh như những đồng đội khác… Giữa thù và bạn thay đổi theo thời gian. Vì vậy gọi là “vinh danh” hay “sỉ nhục” (?) tùy theo quan điểm mỗi người.</p>



<p>Bên cạnh phù điêu ghi hàng chữ in: “Ngày 26-10-1967 tại hồ Trúc Bạch quân và dân thủ đô Hà Nội bắt sống tên John Sney Ma Can (?) thiếu tá không quân Mỹ lái chiếc máy bay A4 bị bắn rơi tại nhà máy điện Yên Phủ đây là một trong 10 chiếc máy bay bị bắn rơi cùng ngày”. Sau nầy thay đổi cách gọi “Phi công John Sidney Mccain thiếu tá không quân thuộc lực lượng Hải Quân Hoa Kỳ”.</p>



<p>Ngẫm lại câu nói của TT Nguyễn Văn Thiệu: <em>“Làm kẻ thù của Mỹ thì dễ, làm bạn với Mỹ thì rất khó”</em>. Nửa thế kỷ sau khi Putin xua quân Nga xâm lăng Ukraine. Tổng Thống, Quân, Dân Ukraine quyết tâm chống trả với kẻ thù Nga tàn bạo sát hại và phá nát đất nước Ukraine. Trong khi đó nhiều “bạn” đồng minh hết lòng hỗ trợ nhưng cũng có “bạn” lúc thế nầy, lúc thế kia làm áp lực cho TT Zelensky không biết đâu mà lường!&#8230;</p>



<p>Than ôi! người đời muôn mặt, giữa chính và tà, giữa bạn và thù&#8230; nếu không bình tâm suy ngẫm, không nhận chân sự thật, trắng đen&#8230; làm tổn thương cho nhau, tạo nên bao vết thương lòng!.</p>



<p><em>Little Saigon, June 2025</em></p>



<p><strong>V</strong><strong>ương Trùng Dương</strong><strong></strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Vương Trùng Dương: Chuyện Vãn: Nổ Như Tạc Đạn &#038; Kho Đạn Long Bình</title>
		<link>https://t-van.net/vuong-trung-duong-chuyen-van-no-nhu-tac-dan-kho-dan-long-binh/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Vương Trùng Dương]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 05 Jun 2025 09:25:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[chuyện vãn Vương Trùng Dương]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=80829</guid>

					<description><![CDATA[Nhà văn Hoàng Hải Thủy (Dương Trọng Hải), sinh năm 1933 Hà Đông (có bút hiệu Công Tử Hà Đông, cùng với các bút hiệu khác Ngụy Công Tử, Con Trai Bà Cả Đọi, Hạ Thu, Hồ Thành Nhân, Văn Kỳ Thanh, Gã Thâm, Dương Hồng Ngọc, Triều Đông, Người Sài Gòn …). Ông vào [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/NO-NHU-1.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="752" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/NO-NHU-1-1024x752.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-80830" style="width:572px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/06/NO-NHU-1-300x220.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/NO-NHU-1-1024x752.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2025/06/NO-NHU-1-768x564.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/NO-NHU-1.jpg?strip=all 1400w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Nhà văn Hoàng Hải Thủy (Dương Trọng Hải), sinh năm 1933 Hà Đông (có bút hiệu Công Tử Hà Đông, cùng với các bút hiệu khác Ngụy Công Tử, Con Trai Bà Cả Đọi, Hạ Thu, Hồ Thành Nhân, Văn Kỳ Thanh, Gã Thâm, Dương Hồng Ngọc, Triều Đông, Người Sài Gòn …). Ông vào Nam từ 1951, là một trong những nhà văn phóng tác tiểu thuyết ăn khách nhất ở miền Nam Việt Nam.</p>



<p>Khi định cư ở Virginia, Công Tử Hà Đông hàng tuần Viết Ở Rừng Phong tổng cộng 709 bài, nhiều bài dành cho tuần báo Saigon Nhỏ. Ông qua đời ngày 12/6/2020, hai ngày sau tôi viết bài: Nhà Văn Hoàng Hải Thủy “Vĩnh Biệt Rừng Phong”! Trong đó đã liệt kê các tác phẩm từ thập niên 1950’ đến hải ngoại.</p>



<p>Tiểu sử Hoàng Hải Thủy được tác giả tóm lược: “Năm 1950 tôi từ Bắc Ninh, Bắc Giang trở về Hà Nội. Tôi đi học lại. Trường Văn Lang. Năm 1951 ông thân tôi là công chức, đổi vào làm việc ở Sài Gòn, mẹ tôi, anh em tôi vào theo. Năm 1951 tôi học trường Tân Thanh ở đường Lacoste. Năm 1952 tôi được vào làm phóng viên nhật báo Ánh Sáng, cuối năm 1952 tôi được Giải Nhất Cuộc Thi Truyện Ngắn năm 1952 của nhật báo Tiếng Dội. Tôi đi lính 2 năm. Năm 1954 tôi làm phóng viên, nhân viên nhật báo Sài Gòn Mới. 1956, 1957 tôi làm nhân viên USOM &#8211; United States Operation Mission &#8211; tiền thân của USAID. Cuối năm 1957 tôi trở về toà báo Sài Gòn Mới. Tôi viết tiểu thuyết phóng tác dzài dzài từ 1956 đến 1975, tôi viết truyện nhiều nhất ở nhật báo Ngôn Luận…”.</p>



<p>Với tài phóng tác của ông khoảng năm mươi tác phẩm (Anh, Pháp) nhưng trong một cuộc phỏng vấn năm 2011 ông cũng xác định một cách “nửa đùa, nửa thật” khi được hỏi chắc là ông phải rất giỏi ngoại ngữ nên mới chuyên về phóng tác: “Tôi mà “giỏi ngoại ngữ” thì trên cõi đời này còn có ai “dzốt ngoại ngữ?” Tôi tiếng Tây Bồi, tiếng Anh Bồi, tiếng Mỹ cũng bồi.”</p>



<p>Phóng tác đầu tiên của ông là cuốn tiểu thuyết trinh thám tiếng Pháp (Series Noir), “Après moi, le déluge”. Tác phẩm “Après moi, le déluge” của Cleve F. Adams (tạm dịch: Sau ta, hồng thủy) là một câu nói nổi tiếng thường được gán cho vua Louis XV của Pháp hoặc Madame de Pompadour, người tình của ông.</p>



<p>Hoàng Hải Thủy dựa theo quyển sách Après moi, le déluge phóng tác thành Nổ Như Tạc Đạn với 36 chương như thành ngữ nầy không liên quan nhiều đến nguyên tác. (Có người cho rằng theo quyển Sabotage của Cleve Franklin Adams, nhà văn Mỹ, trong Série Noire, xuất bản năm 1940, được dịch sang chữ Pháp). Hoàng Hải Thủy phóng tác với bối cảnh và nhân vật trong nước… Hùng con nhà khá giả gia giáo lọt vào một nhóm bạn (tất cả chừng 17, 18 tuổi)&nbsp; Hùng ăn chơi, rất James Dean và có triết lý sống tự do tuyệt đối, hư vô chủ nghĩa, coi việc người con gái lấy chồng như là trở thành cái máy đẻ kiêm máy giặt. Hùng có giao tình với Hạnh, rồi hai người cùng Duy (lý thuyết gia của nhóm) tham gia một vụ “săng ta” (chantage, tống tiền). Với 3 chữ “Nu Ven Va” xuất hiện vài lần, muốn nói đến trào lưu “Nouvelle Vague” Ðợt Sóng Mới. Phong trào mới ở Âu Châu những năm 1960. Cuộc sống của những “enfant terrible” của Sài Thành một thuở được miêu tả rất sinh động trong lớp trẻ với lối sống hiện sinh…</p>



<p>Phóng tác này được đăng feuilleton nhiều kỳ trên nhật báo Ngôn Luận. Theo ông, “Nổ Như Tạc Đạn là tiểu thuyết phóng tác đầu tiên của tôi và ấn hành năm 1956. Và cho biết “Ba chìm, bẩy nổi, chín lênh đênh.. Năm 2000, con tôi tình cờ tìm được Nổ Như Tạc Đạn trong một tiệm sách cũ ờ Sài Gòn. Sau 50 năm không nhìn thấy mặt nhau, Nổ Như Tạc Đạn đến Kỳ Hoa Đất Trích với tôi”.</p>



<p>Súng máy, súng liên thanh là loại súng bắn bắn liên thanh (rapid-fire) hoàn toàn tự động, có khả năng bắn thành các loạt bắn rất dài cho hết băng đạn… Đầu thập niên 1990’, Mỹ chế ra súng trung liên Bar và sau đó với đại liên 30, 50 bắn liên tục cả thùng đạn. Trong thập niên 1950 với tiểu liên Thompson, súng cầm tay gọn nhẹ nhưng chỉ bắn ở cự ly gần. Ngày nay Mỹ sản xuất LWMMG (Lightweight Medium Machine Gun (LWMMG) đạt tốc độ bắn 500 viên/phút, tầm bắn hiệu quả với cự ly lên đến 1.800 m. Loại nầy mới đích thực nổ như tạc đạn vì làm cho đối phương điếc con ráy.</p>



<p>Có nhiều tựa đề quyển sách từ danh từ riêng trở thành danh từ chung, trong đó có quyển Nổ Như Tạc Đạn của Hoàng Hải Thủy khi ví von, đả kích nhân vật bắn sùi bọt mép võ mồm.</p>



<p>*</p>



<p>Tháng 8 năm 2020, tôi viết bài Ngẫm Chuyện Xưa Nay: Từ Lục Súc Đến Lục Tiên &amp; Bài Học Lịch Sử với bút hiệu Lâm Triều Anh (người tình của Vương Trùng Dương trong tác phẩm của Kim Dung).</p>



<p>Trích: “Vào thời trung học đệ nhất cấp trong chương trình Việt Văn của Bộ Quốc Gia Giáo Dục đã học về tác phẩm “Lục Súc Tranh Công” của khuyết danh (Vô Danh Thị) được hình thành vào thời kỳ Trịnh &#8211; Nguyễn phân tranh, cuối thế kỷ XVIII… Cùng thân phận với nhau nhưng 6 con vật tìm cách kể “công trạng” của mình và chê bai “công trạng” của bạn đồng loại kém cỏi, tầm thường. Và, khi kể công thì kiếm đủ lý do để “vinh danh” nhằm lập cho được thành tích, ngoài ra còn chê bai đối thủ đến tận cùng bằng số. Đó là hình ảnh của ngưu (trâu), khuyển (chó), mã (ngựa), dương (dê), kê (gà), thỉ (heo) lần lượt kể công:</p>



<p>Trâu:</p>



<p>“… Việc cày bừa, nông vụ vừa xong,</p>



<p>Lại xe gỗ, dầm công liên khoái…”</p>



<p>Chó:</p>



<p>“… Đêm năm canh con mắt như chong</p>



<p>Đứa đạo tặc nép oai khủng động,</p>



<p>Ngày sáu khắc, lỗ tai bằng trống,</p>



<p>Đứa gian tham thấy bóng cũng kinh…”</p>



<p>Ngựa:</p>



<p>“… Tao đã từng đi quán, về quê</p>



<p>Đã nghe trận đánh Nam, dẹp Bắc.</p>



<p>Mỏi gối lưng phò xã tắc,</p>



<p>Mòn lưng cúi đội vương công…”</p>



<p>Dê:</p>



<p>“… Hễ có việc, lấy dê làm trước</p>



<p>Dê dâng rồi, người mới lạy sau…”</p>



<p>Gà:</p>



<p>“… Trên đầu đội văn quan một mũ;</p>



<p>Dưới chân đeo hai cựa thần thương</p>



<p>Đã ghe phen đến chốn chiến trường,</p>



<p>Lập công trận vang tai, lói óc…”</p>



<p>Heo:</p>



<p>“… Kìa những việc hôn nhơn giá thú</p>



<p>Không heo ta, tính đặng việc chi?</p>



<p>… Việc hòa giải, heo đầu công trạng,</p>



<p>Thấy mặt heo, nguôi dạ oán thù…”</p>



<p>Hỡi ôi! lục súc mà cũng kể công, thấy trâu kể công, chó đâu có vừa, rồi ngựa, rồi gà… kể như có công, đến cả dê và lợn cũng kể công trạng, hết ý. Dù bù lu bù loa kể công trạng, có ít xít cho nhiều hầu chủ nhân bố thí chút tình cảm thương hại, chiều chuộng, đối xử khá hơn đồng loại nhưng lại không biết khi nào chủ cần “thanh toán” thì gặp phải tình cảnh cắt cổ, trụng nước sôi, luộc cho nhừ… và nhấm nháp.</p>



<p>Thuở đó cứ tưởng ngu như súc vật mới dại dột tranh công, gấu ó nhau cho cố rồi cuối cùng cũng bị “thịt”…</p>



<p>Tiếp tục đèn sách, đọc Phạm Quỳnh thấy ông phán: “Người đời thật không khác gì súc vật, có khi không bằng súc vật cũng nên” nghe mà tóa hỏa tam tinh, ghê gớm cho người đời, ông còn hạ loại người nào đó xuống dưới “đẳng cấp” súc vật&#8230;</p>



<p>Tác phẩm Tiếu Ngạo Giang Hồ của Kim Dung, với nhiều nhân vật, “mỗi người một vẻ” nhưng đến hồi thứ 61 trong quyển 4, theo bản dịch của Hàn Giang Nhạn, hình ảnh Đào Cốc Lục Tiên với 6 nhân vật quái gở xuất hiện trong thế giới võ lâm, Kim Dung dùng chữ “tiên” nghe cho kêu, thánh thiện nhưng thuộc loại trời gầm đất lở, ba trời ba trợn, nhố nhăng, kịch cỡm, nửa thầy nửa thợ nửa đười ươi, ba que, xỏ lá hết thuốc chữa…</p>



<p>Sáu nhân vật cũng nổi danh, bất chấp hắc bạch giang hồ, bất chấp luật lệ võ lâm: đại ca Đào Cán Tiên, nhị ca Đào Căn Tiên, tam ca Đào Chi Tiên, Đào Hoa Tiên, Đào Thực Tiên và Đào Diệp Tiên. Thuộc loại “Xú… Quái”. Tuy nghe tiên mẫu cho biết vậy nhưng ở vào tuổi ngoài năm mươi, sáu chàng vẫn mộng tưởng được bàn dân thiên hạ khen tặng như Phan An, Tống Ngọc…</p>



<p>Trong một lần “lâm trận”, trước tình thế nguy nan, Lệnh Hồ Xung tìm cách giải cứu bèn khen ngợi dung nhan tuấn mỹ của Đào Cốc Lục Tiên: “Đào Căn huynh cốt cách thanh kỳ, Đào Cán huynh thân thể khôi vỹ, Đào Chi huynh tứ chi dài rộng, Đào Diệp huynh mi thanh mục tú, Đào Hoa huynh… chà chà… mắt sang như sao, trên trời hiếm có. Đào Thực huynh tinh thần quắc thước. Bất luận ai mới ngó thấy sáu vị một lần cũng biết ngay các vị là những đấng anh hùng mặt ngọc, chuyên làm điều nghĩa hiệp”. Qua lời tâng bốc rồi được quần hùng phụ họa, thế rồi 6 tên “xú quái” quên hẳn địch thủ để tranh luận với nhau về nhan sắc của mình cho phủ phê thú tính.</p>



<p>Nơi nào có Đào Cốc Lục Tiên xuất hiện thì nơi đó huyên náo, cãi vã, tranh hơn tranh thua với lập luận chày cối… Đào Cốc Lục Tiên, 6 nhân vật trong võ lâm quái gỡ, với cái thói kiêu ngạo, ngông cuồng, dọa dẫm, bướng bỉnh, ngu dại… vẫn tưởng sự nhố nhăng, hung hãn của bọn chúng làm mưa làm gió nơi chốn võ lâm nhưng đối tượng nhìn vào thấy rõ chỉ là hình ảnh làm trò cười, kịch cỡm làm nhân vật bung xung cho những tay cao thủ của hắc bạch…</p>



<p>Mỗi nhân vật trong Đào Cốc Lục Tiên là hình ảnh “hiệp sĩ hoang tưởng” Don Quichotte của nhà văn Cervantès vào thế kỷ XVII. William Shakespeare (1546-1617), kịch tác gia nổi tiếng của Anh, trong tác phẩm The Comedy of Errors của ông đã để lại câu nói thành danh ngôn: “Danh vọng! Danh vọng! Danh vọng! Ôi, tôi đã mất danh vọng. Tôi đã mất cái phần bất tử của chính tôi và cái còn lại là cái thú vật”. Phải chăng “cái phần bất tử” đó là nhân cách?&#8230;” (Lâm Triều Anh)</p>



<p>*</p>



<p>Tổng kho Long Bình với diện tích 24Km2 là kho vũ khí lốn nhất được Mỹ xây dựng giữa năm 1965, cách thành phố Biên Hoà khoảng 7 km và cách Sài Gòn khoảng 20 km về phía đông. Tổng kho Long Bình là nơi đặt Bộ Tư Lệnh Dã Chiến II và Bộ Tư Lệnh Hậu Cần số 1 của Mỹ, nơi đây cũng là kho bom, đạn lớn của Mỹ ở miền Nam Việt Nam.</p>



<p>Ngoài những nhà kho trên mặt đất còn có hệ thống hầm ngầm lớn có nhiều lớp cửa, khóa cửa có mã khóa bí mật. Thường gọi là Kho Đạn Long Bình.</p>



<p>Chữ nổ thường đi kèm với danh từ như súng nổ, đạn nổ, pháo nổ, bình ga nổ, bánh xe nổ… Với những ai hay khoe khoang, khoác lác thì miệng nổ, đem “cái tôi đáng ghét” thường dợt le (với phái nữ. Với phái nữ cũng có nhưng nói về vạt chất nhiều hơn)… bị phán là nổ, bựa, tán phét hay ví von Kho Đạn Long Bình.</p>



<p>Những tay nổ thì thường đem chuyện hồi đó như “chó chạy rong” ra nói hươu nói vượn… tội nghiệp cho lỗ tai “Biết rồi, khổ lắm nói mãi” mỗi khi gặp nhau. Điệp khúc nầy chẳng mấy xa lạ mà cứ nói dai dẳng!</p>



<p>Bệnh nổ giống như bệnh tưởng, bệnh nầy thì bác sĩ bó tay. Trước đây tôi viết bài Bệnh Tưởng, Hài Kịch &amp; Cuộc Sống. “Hài kịch Bệnh Tưởng (Le Malade Imaginaire) gồm 9 hồi, các nhân vật: Argan (thầy thuốc, người bệnh tưởng), Beline (vợ kế của Argan), Angélique (con gái của Argan và người yêu Clealte), Luison (con gái của Argan và em gái của Angélique), Beralde (em trai của Argan), Diafoirut (thầy thuốc, con trai là Thomas Diafoirut, người yêu của Angélique), Purgon (thầy thuốc của Argan), Toinette (hầu gái trong gia đình Argan). Nhân vật Argan với đầu óc hoang tưởng dần dà trở thành bệnh tưởng.</p>



<p>Hài kịch Le Malade Imaginaire của văn hào Pháp Molière được học giả Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) dịch là Bệnh Tưởng, ấn hành năm 1920 tại Hà Nội, nay đã hơn một thế kỷ mà thời đó “bức tranh vân cẩu” trời Tây đã du nhập vào trong nước, được diễn tại Hà Nội ngày 25/4/1920, mở đường hình thành nghệ thuật kịch nói ở Việt Nam.</p>



<p>Câu nói của người xưa “mục hạ vô nhân” để nói đến người cao ngạo, tưởng bản thân ghê gớm lắm nên xem thường thiên hạ.</p>



<p>Bài thơ Mục Hạ Vô Nhân của nhà thơ Nguyễn Khuyến ví von với tình trai gái:</p>



<p>“Chúng anh đây mục hạ vô nhân</p>



<p>Nghe em nhan sắc lòng xuân anh não nùng.</p>



<p>Dù em má phấn chỉ hồng</p>



<p>Dửng dưng anh chẳng thèm trông làm gì”.</p>



<p>Trong Tâm Lý Học đề cập đến mặc cảm tự ti (inferiority complex) và mặc cảm tự tôn (superiority complex) cũng là “Bệnh Tưởng”… Người mang mặc cảm tự ti, cảm thấy bản thân thua kém, không ra gì nên để khoác lác với mọi người với mặc cảm tự tôn với “cái tôi và cái tôi” trên hết, tự cao tự đại, kiêu ngạo, huênh hoang tự đắc, tự cao tự đại… vì vậy ít được thiện cảm.</p>



<p>Câu nói của Chesterfield “Khiêm nhường là đức tính tuyệt vời và là một trong những đức tính chân chính nhất”. Và trong cuộc sống, câu nói của Henri Frederic Amiel “Khó mà tôn trọng người khác nếu bản thân không tự khiêm nhường” rất chí lý.</p>



<p>Nhà văn Anh George Bernard Shaw nói rằng: “Làm người thì đừng bao giờ quá đề cao bản thân mình”. Người xưa cho rằng “Nước càng sâu càng tĩnh, người càng hiểu biết càng khiêm nhường” vì vậy trong quá khứ đã có những bậc vỹ nhân, thức giả, những thiên tài trong các lãnh vực… nhưng rất khiêm nhường, được mọi người tôn vinh và lưu truyền lại hậu thế. Trong mục Văn Hóa của tờ Đại Kỷ Nguyên lấy câu nói nầy làm tựa đề bài viết.</p>



<p>Kỳ thực, người tự cao tự đại, kiêu ngạo với người khác lại chính bản thân đôi khi cảm thấy không bằng người khác hay thấp kém nên kiêu ngạo, tự cao chính mình để khỏa lấp chỗ trống trong lòng, họ sợ người khác coi thường bản thân. Ngược lại, khiêm nhường lại xuất phát từ sự tự tin của nội tâm, không màng hư danh, lợi ảo của người đời. Người chân chính có đại trí đại huệ, xưa nay vẫn luôn khiêm nhường, tôn kính vạn vật…</p>



<p>Khiêm nhường ở đây không có nghĩa là hạ thấp giá trị bản thân mình, buông bỏ đi ý chí tiến thủ của mình, mà là ngược lại. Một người càng có ý chí tiến thủ thì càng hiểu được giá trị của sự tu dưỡng tâm tính, hiểu được giá trị của sự khiêm nhường. Khi gặp cảnh đường chật, ngõ hẹp nhường người một bước, có thể vì người mà suy nghĩ, thì đó lại chính là cảnh giới của người nhìn xa trông rộng.</p>



<p>Khiêm nhường cũng là cách giúp bản thân thoát khỏi dục vọng danh lợi và tham lam. Mà một người có thể đứng ngoài danh lợi, khi đó họ sẽ có thể nhìn được càng cao, hiểu được rộng hơn những người khác. Người chịu cúi thấp mình hơn người khác không hẳn đã là người chịu thiệt. Họ là những người hiểu rõ bản thân mình, là người biết cách dựa vào chính thực lực của mình mà đi lên. Họ hiểu rõ, làm người thì càng ung dung điềm đạm sẽ càng được đi xa thêm…</p>



<p>Người có thể giữ được đức tính khiêm nhường, đôn hậu, điềm tĩnh cũng như biển lớn, có thể dung nạp trăm sông nghìn suối, bất luận nước trong hay đục. Nước chịu mình ở chỗ thấp mà không tranh giành nhưng lại có thể dung nạp được vạn vật, nuôi dưỡng vạn vật. Biển lớn chịu mình thấp hơn sông suối nhưng nào ai dám phủ nhận sự thâm sâu của biển?&#8230;</p>



<p>Vậy nên, đừng bao giờ tự mãn, kiêu căng, cũng đừng bao giờ tự cho mình là “bậc cao nhân, thức giả” mà nên biết điều nuôi dưỡng cho mình một sự cao quý từ chính phẩm chất khiêm nhường và đẩy lùi sự hèn mọn. Có câu “Nước càng sâu càng tĩnh, người càng hiểu biết nhiều càng khiêm nhường” cũng chính là ý này vậy…”</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/NO-NHU-2.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="816" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/NO-NHU-2-1024x816.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-80831" style="width:492px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/06/NO-NHU-2-300x239.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/NO-NHU-2-1024x816.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2025/06/NO-NHU-2-768x612.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/NO-NHU-2.jpg?strip=all 1080w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Với tựa đề “Người Đi Trên Mây” của nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, trong tác phẩm không liên quan đến “Bệnh Tưởng” nhưng trở thành 4 chữ ví von khi nói đến ai mang nặng mặc cảm tự tôn. Nếu người nào đó nổ sảng cũng là nhân vật “Người Đi Trên Mây”.</p>



<p>Bài thơ Đừng Tưởng của nhà thơ Bùi Giáng qua thể thơ lục bát khá dài với triết lý nhân sinh, với 2 câu lục bát tựa như ca dao trong dân gian Việt Nam:</p>



<p>“Đừng tưởng không nói là câm.</p>



<p>Không nghe là điếc, không trông là mù…</p>



<p>Đừng tưởng có của đã sang.</p>



<p>Cứ im lặng tưởng là vàng nguyên cây…</p>



<p>Đừng tưởng giàu hết cô đơn.</p>



<p>Cao sang hết ốm, tham gian hết nghèo…</p>



<p>Đừng tưởng trong lưỡi có đường,</p>



<p>Nói lời ngon ngọt mười phương chết người…</p>



<p>Đừng tưởng cứ giỏi là hay,</p>



<p>Nhiều khi thất bại đắng cay muôn phần…</p>



<p>Đừng tưởng quan chức là rồng,</p>



<p>Đừng tưởng dân chúng là không biết gì.</p>



<p>Đời người lúc thịnh, lúc suy,</p>



<p>Lúc khỏe, lúc yếu, lúc đi, lúc dừng.</p>



<p>Bên nhau chua ngọt đã từng,</p>



<p>Gừng cay, muối mặn, xin đừng quên nhau.</p>



<p>Ở đời nhân nghĩa làm đầu,</p>



<p>Thủy chung sau trước, tình sâu, nghĩa bền.</p>



<p>Ai ơi, nhớ lấy đừng quên”</p>



<p>Bài thơ nầy có vài dị bản, không rõ bài thơ nầy xuất hiện lúc nào, ở đâu nhưng sau khi nhà thơ Bùi Giáng qua đời, ở trong nước có người tự nhận là tác giả của bài thơ Đừng Tưởng sáng tác năm 1992 có giấy chứng nhận của Cục Bản Quyền Tác Giả thuộc Bộ Văn Hóa, Thể Thao &amp; Du Lịch ngày 5/10/2015 và đăng trên báo đã gây xôn xao trong dư luận. Theo tác giả (?) bài thơ nầy cho biết “Nhiều năm qua vẫn không ngừng tìm kiếm tập bản thảo 50 bài thơ bị thất lạc. Trong số đó, chỉ còn giữ bản nháp và phục hồi được hơn 20 bài và có nguy cơ ‘mất vĩnh viễn’ hơn một nửa tác phẩm còn lại vì cái ‘tật’ rất quen của nhiều người sáng tác thơ là không bao giờ nhớ nổi thơ mình!”</p>



<p>Năm 2016, lại có tác giả khác lên tiếng: “Tôi khẳng định bài thơ Đừng Tưởng không phải do ông… sáng tác. Tôi có đầy đủ bằng chứng về thời gian để chứng minh tôi đã viết ra 20 câu thơ trong bài thơ Đừng Tưởng mà ông… ‘đăng ký’ quyền tác giả”. Bài thơ Suy Ngẫm chỉ có 16 câu đưa ra để giành lại bản quyền…</p>



<p>Với tôi, coi như chuyện ruồi bu nên không để tên. Với bài thơ Đừng Tưởng, hay, thú vị nhưng tại sao không phổ biến trên báo, trên internet… mà đợi đến 13 năm sau (1992-2015) chỉ viết nguyệch ngoạc bài thơ trên tờ giấy gởi đến bộ, ký bản quyền, lộng khung. Thật vớ vẩn.</p>



<p>Ông Nguyễn Thanh Hoài &#8211; người giữ gìn di cảo của Bùi Giáng &#8211; cho biết trước đây đã có vài người hỏi ông Đừng Tưởng có phải là thơ của Bùi Giáng không nhưng ông không chắc, vì Bùi Giáng để lại quá nhiều thơ và đã có nhiều trường hợp gán tên ông vào những bài thơ không phải do ông sáng tác từ thời ông còn sống.</p>



<p>Trong bài viết Nghi Vấn Quanh Bài Thơ Đừng Tưởng Của Bùi Giáng, tác giả Nguyễn Ngọc Chính đề cập nhiều chi tiết và kết: “Chỉ tiếc một điều, thi sĩ Bùi Giáng tài hoa của chúng ta không còn hiện diện trên cõi đời này để lên tiếng giữa những tranh cãi về quyền tác giả của một bài thơ!”.</p>



<p>Tội nghiệp nhà thơ Bùi Giáng, tài hoa nhưng đau khổ, lận đận cả một đời trong cõi ô trọc nầy, khi rũ bỏ quần áo Cái Bang “Sài Gòn Chợ Lớn rong chơi. Đi lên đi xuống đã đời du côn!” ra đi bên kia thế giới… còn có người tranh chấp bài thơ. Thế mới biết “ở chốn nhân gian” xô bồ điều gì cũng có thể xảy ra, nhất là những người bệnh tưởng. Với bản nhạc thì “cầu chứng” để giữ tác quyền nhưng với bài thơ thì có lẽ chỉ bài thơ Đừng Tưởng!</p>



<p>*</p>



<p>Trong những lần trò chuyện với bằng hữu, có người lên tiếng phán ông nầy, ông kia là chủ nhân “kho đạn Long Bình” mang từ trong nước ra hải ngoại… Nghe ông nói về cái tôi từ những nhân vật tiếng tăm trong chính giới Sài Gòn đến vũ trường, vũ nữ… nghe mà ớn lạnh! Với loại người “Người Đi Trên Mây” để rồi “Nổ Như Tạc Đạn”… nổ tiều, nổ sảng, nổ banh xác pháo, với lão ông đã từng trải qua, kinh nghiệm coi như nhân vật Xuân Tóc Đỏ, chỉ có vài lão bà bản tính chân thật, nhẹ dạ mới tin!</p>



<p>Trước đây, có ông bạn từ Paris sang Little Saigon chơi, ông nói Paris như trong lòng bàn tay ông, nơi nào ăn chơi, giải trí đều nói vanh vách. Tôi hỏi Trạch Gầm thì được biết, nó lái taxi hơn hai thập niên.</p>



<p>Ngày nay ở trong nước, bệnh nổ trở thành “dịch nổ” nhan nhản trong nhà ngoài phố khoe khoang đủ thứ trên đời, thượng vàng hạ cám! Không nổ bất thành nhân… nhưng là nhân vật quái gỡ như Đào Cốc Lục Tiên.</p>



<p>Hai câu nói để đời: “Người biết ít thường nói nhiều, trong khi người biết nhiều thường nói ít” (Jean Jacques Rousseau”. “Cái vỏ rỗng tạo ra âm thanh lớn nhất” (William Shakespeare).</p>



<p>Người xưa khuyên rằng: “Biết thì thưa thốt, không biết dựa cột mà nghe” nhưng những kẻ đã sống chết với bệnh nổ thì chẳng biết hổ hẹn với lời khuyên chân chính.</p>



<p>Giữa chốn nhân gian, “Những ai mắc phải bệnh này cho họ có cơ hội để tu sửa” như câu nói của cô ca sĩ có lần chia sẻ khi nghe vài người phê phán… Nữ giới dễ tính hơn nam giới, đôi khi vì tế nhị nên cảm thông. Nhưng bệnh nổ cũng như bệnh tưởng, trở thành bệnh kinh niên thì không có liều thuốc!</p>



<p><em>Little Saigon, 6/2025</em></p>



<p><strong>Vương Trùng Dương</strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Vương Trùng Dương: Chuyện Vãn: “Vợ Già Chồng Trẻ”, TT Pháp &#038; Đệ Nhất Phu Nhân</title>
		<link>https://t-van.net/vuong-trung-duong-chuyen-van-vo-gia-chong-tre-tt-phap-de-nhat-phu-nhan/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Vương Trùng Dương]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 02 Jun 2025 09:17:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[chuyện vãn Vương Trùng Dương]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=80708</guid>

					<description><![CDATA[“Có phúc lấy được vợ già, Sạch cửa sạch nhà lại ngọt cơm canh”. (ca dao dân gian) Trong Chuyện Vãn: Mối Tình “Vòng Tay Học Trò” gần đây, tôi viết về mối tình trong tác phẩm của nhà văn Nguyễn Thị Hoàng giữa cô giáo và học trò. Trong đó nhắc đến mối tình [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/05/VTD-1.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="697" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/05/VTD-1-1024x697.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-80709" style="width:494px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/05/VTD-1-300x204.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/05/VTD-1-1024x697.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2025/05/VTD-1-768x523.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/05/VTD-1.jpg?strip=all 1400w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><em>“Có phúc lấy được vợ già,</em></p>



<p><em>Sạch cửa sạch nhà lại ngọt cơm canh”.</em></p>



<p>(ca dao dân gian)</p>



<p>Trong Chuyện Vãn: Mối Tình “Vòng Tay Học Trò” gần đây, tôi viết về mối tình trong tác phẩm của nhà văn Nguyễn Thị Hoàng giữa cô giáo và học trò. Trong đó nhắc đến mối tình của Emmanuel Macron và Brigitte Trogneux.</p>



<p>Cuộc tình đã 18 năm rồi nên ở trong nước ít ai để ý tới, hạ tuần tháng 5 vừa qua, TT Pháp Emmanuel Macron và Đệ Nhất Phu Nhân Brigitte Trogneux đến Việt Nam nên hình ảnh nầy được đề cập rất nhiều, nhất là các cụ “hồi xuân” có lý do để phổ biến mối tình so le.</p>



<p>Cuốn tiểu thuyết “Vợ Già Chồng Trẻ” của nhà văn Hồ Biểu Chánh, một trong những cây bút tiêu biểu của văn học Nam Bộ đầu thế kỷ 20. Tác phẩm được xuất bản lần đầu năm 1957 tại Phú Nhuận, Sài Gòn, cach nay cũng gần bảy thập niên.</p>



<p>Câu chuyện xoay quanh cuộc sống của cô Hai Xuyến, lớn tuổi hơn chồng mình là Giao. Sau khi chồng cũ của Hai Xuyến qua đời, cô tái hôn với Giao, người đàn ông trẻ tuổi hơn cô 11 tuổi. Ban đầu, cuộc sống hôn nhân êm đềm, nhưng dần dần xuất hiện những mâu thuẫn và thử thách, đặc biệt khi Hai Xuyến phát hiện Giao có tình nhân trẻ bên ngoài nên ngậm ngùi cho số phận.</p>



<p>Khi tìm trong sách Âu, Mỹ có tác phẩm nào như vậy chưa nhưng chưa tìm được. Vào chatGPT, cho biết tổng quát vài tác phẩm như: “The May-December Marriage”, tiểu thuyết &amp; phim truyền hình Mỹ mối tình cách biệt lớn tuổi tác. “The Reader” của Bernhard Schlink với chàng trai trẻ người Đức và người phụ nữ lớn tuổi hơn mình rất nhiều, được chuyển thể thành phim nổi tiếng với Kate Winslet và giành Oscar. The Idea of You của Robinne Lee với mối tình Solène, phụ nữ 39 tuổi, tình cờ phải đưa con gái đến buổi hòa nhạc của nhóm nhạc nam nổi tiếng và sau đó phát sinh mối tình với Hayes, thành viên 20 tuổi của nhóm. On the Island của Tracey Garvis Graves với chân dung Anna, giáo viên 30 tuổi, và T.J., học sinh 16 tuổi, bị mắc kẹt trên đảo hoang sau tai nạn phi cơ. Câu chuyện sinh tồn kết hợp với tình yêu vượt qua rào cản tuổi tác, mang đến cảm xúc mạnh mẽ cho người đọc.</p>



<p>Ở Mỹ đả xảy ra nhan nhản vụ cô giáo dụ dỗ, làm tình với học sinh vị thành nên nên bị đáo tụng đình vào nhà lao!</p>



<p>How Stella Got Her Groove Back của Terry McMillan, cô Stella, 40 tuổi, trong kỳ nghỉ tại Jamaica, gặp gỡ và yêu Winston, chàng trai 20 tuổi. The Forbidden Man của Karina Halle, cô Thalia, 40 tuổi, trong công việc mới tại đội bóng tròn ở Tây Ban Nha, mối tình với cầu thủ 23 tuổi Alejo…</p>



<p>Trở lại cuộc tình giữa TT Pháp Macron và Đệ Nhất Phu Nhân Brigitte Marie-Claude Macron (Brigitte Trogneux). Ông Emmanuel Macron (sinh năm 1977), bà Brigitte Trogneux (sinh năm 1953). Cả hai đều sinh ra tại thị trấn Amiens ở miền Bắc nước Pháp.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/05/VTD-2.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="406" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/05/VTD-2-1024x406.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-80710" style="width:684px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/05/VTD-2-300x119.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/05/VTD-2-1024x406.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2025/05/VTD-2-768x304.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/05/VTD-2.jpg?strip=all 1400w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Ngày 22 tháng 6 năm 1974, Brigitte kết hôn với chủ ngân hàng André-Louis Auzière, có với ba đứa con: Sébastien Auzière sinh 1975, Laurence Auzière-Jourdan sinh 1977 và Typhaine Auzière sinh 1984. Họ sống ở Truchtersheim cho đến năm 1991, khi họ chuyển đến Amiens. Bà đã ly dị Auzière vào năm 2006.</p>



<p>Năm 1992, cậu học trò Macron mới 15 tuổi tại trường La Providenc, Amiens gặp cô giáo Trogneux đã từng kết hôn và có 3 người con. Lúc đó cô giáo hơn chàng chàng trai trẻ Macron “sơ sơ” 24 tuổi. Bà đang dạy môn văn học Pháp và Kịch khi lần đầu tiên gặp Macron. Hai người cùng nhau viết một vở kịch. Nhưng sau đó, cha mẹ Macron thấy con trai mới “nứt mắt” đã sa ngã vào chuyện tình ái nên gửi ông tới học tại Paris. Thế nhưng “tình cũ không&nbsp; rủ cũng tới”, hai người thỉnh thoảng vẫn liên lạc. Đến năm Macron 18 tuổi, bà Trogneux thời điểm này đã ly dị chồng và chuyển tới Paris sống. Họ gặp lại và yêu nhau. Hai người làm đám cưới vào năm 2007.</p>



<p>Vào thời điểm nầy, Marcon còn quá trẻ, đẹp trai chưa có nghề nghiệp nhưng “tiếng sét ái tình” đưa đẩy đến hôn nhân. Dĩ nhiên, tuy nếp sống văn minh nhưng cha mẹ Marcon thấy đôi đũa lệch nên không bằng lòng nhưng với sự quyết định của con nên đành cho “phóng lao theo lao”.</p>



<p>Với lối sống và theo quan niệm phóng khoáng của Tây phương về cuộc tình so le giữa nam và nữ là chuyện bình thương nhưng khi Macron ứng viên Tổng Thống Pháp vào tháng 8 năm 2016 thì trở thành đề tài cho giới truyền thông. Dư luận chú ý bởi sự hiếu kỳ, tò mò chứ không phải vì gây tranh cãi.</p>



<p>Trong tiệc cưới ông Marcon cảm ơn cha mẹ Trogneux vì chấp nhận mối quan hệ giữa họ, Macron thừa nhận ông và bà Trogneux “Không phải một cặp đôi bình thường như bao cặp đôi khác. Dù không thích cách miêu tả đó nhưng chúng tôi thực sự là một cặp và chúng tôi có tồn tại”.</p>



<p>Không hiểu theo lá số tử vi của Đông phương thế nào, bà có thuộc “vượng phu ích tử” trong 3 cung hoàng đạo là Thiên Bình, Ma Lết, Xử Nữ và ở trong 3 sao như Bạch Dương, Bọ Cạp, Song Tử? Với nhân tướng học thì mẫu người vượng phu ích tử: Người phụ nữ “vượng phu ích tử” cần có những nét tướng đặc biệt sau: Thân hình trên dưới đều đặn, xương thịt tương xứng. Ngũ quan, lục phủ cân xứng dễ nhìn. Mặt phúc hậu, đầy đặn, xinh xắn. Tóc đen, đôi má ửng hồng, da dẻ trắng hồng. Tiếng nói thanh như chuông vàng và từ tốn. Mắt dài, đen trắng phân minh, sáng sủa, phối hợp với chân mày thanh tú. Ánh mắt trong sáng, nhìn chính trực. Mũi ngay ngắn thuộc loại mật treo (huyền đỡm tỵ) hoặc dọc dừa, tỵ lương và chuẩn đầu và tỵ lương sáng sủa, phối hợp với lưỡng quyền cân xứng vừa vặn. Tai trắng và dầy, trán rộng và tròn trịa. Răng trắng và đều, cười tươi không lộ chân răng. Bàn tay mịn đỏ hồng, ngón tay búp măng, lòng bàn tay dầy và ấm, chỉ tay mịn và rõ. Đi đứng khoan thai, vững vàng, nằm ngồi đoan chính…</p>



<p>Tôi thích tìm hiểu về tướng số, trong loại sách nầy tôi thích hai quyển sách của ông Vũ Tài Lục: Tướng Mệnh Khảo Luận &amp; Người Đàn Bà Trong Tướng Mệnh Học. Quyển thứ hai nầy dày 350 trang, gồm 4 Chương: Đường Chồng Con (trang 21-58). Nhan Sắc &amp; Tướng Cách (trang 59-238). Tình Duyên &amp; Thân Phận (239-293). Dâm Tướng (trang 295-347). Ông nghiên cứu nhiều sách và tổng hợp lại qua nhận xét của người xưa, thơ từng phần trên khuôn mặt, thân thể và cả ẩn tướng.</p>



<p>Thông thường tướng số và tử vi phải phối hợp nhau mới chính xác vì cùng giờ, ngày khi sinh ra (ai cũng như ai) với nhân tướng kèm theo để luận đoán.</p>



<p>Với những điểm trên thì bà Trogneux chưa thể hiện những đặc điểm về tướng diện. Nhưng từ khi ông Marcon lấy bà Trogneux, con đường công danh sự nghiệp như diều gặp gió.</p>



<p>Bộ Trưởng Kinh Tế năm 2014 trong chính quyền Tổng Thống Pháp Francois Hollande và có thời gian làm nhà môi giới đầu tư tại ngân hàng Rothschild &amp; Cie. Thừa thắng xông lên, ra tranh cử tổng thống Pháp, theo ký giả Sylvie Kauffmann, báo Le Monde “Trong suốt chiến dịch tranh cử và đã được bàn tán khắp nơi. Câu hỏi về vấn đề này từng được đặt ra với ông Macron trong nhiều cuộc phỏng vấn. Ông ấy trả lời thẳng thắn, giải thích rõ ràng rằng ông ấy hiểu việc này là không phổ biến nhưng nó đã xảy ra và mọi chuyện vẫn ổn”.</p>



<p>Giới truyền thông và dư luận bàn tán về chàng ứng cử viên trẻ tuổi, đẹp trai, cao ráo, nét cương nghị với người vợ “sồn sồn” có 3 đứa con riêng không có nét gì quý phái cả trở thành “quảng cáo không công” trong thời gian tranh cử.</p>



<p>Khi bà Trogneux trở thành Đệ Nhất Phu Nhân của Pháp cũng là thời điểm thời trang như nhiều vị nữ lưu khác. Theo Christelle Graillot của tạp chí Vivendi Talent, Đệ Nhất Phu Nhân Pháp đã tạo phong cách mới mẻ phụ nữ thế hệ bà và “cho họ thấy mọi chuyện đều có thể xảy ra… Bà ấy là một phụ nữ Pháp tự do, cởi mở”, bà chủ Điện Elysee thừa nhận rằng hằng sáng khi nhìn thấy người chồng trẻ trung, bà lại cảm thấy khoảng cách tuổi tác giữa hai người: “Tất nhiên, khi chúng tôi dùng bữa sáng, tôi thì đầy nếp nhăn, còn anh ấy thì tươi mới, nhưng nó là như thế đấy”. Tuy bà cũng mặc cảm về tuổi tác và nhan sắc khi nói ra nhưng trong cuộc sống vẫn đầy nghị lực, sát cánh cùng phu quân. Gần mười năm nay, bà ít xuất hiện trước công chúng nhưng rồi chuyến đi của TT Macron sang Việt Nam sang Đông Nam Á gồm ba nước Việt Nam, Indonesia và Singapore vào hạ tuần tháng 5 đến thượng tuần tháng 6 với sự hiện diện của Đệ Nhất Phu Nhân đã gây sự chú ý trước dư luận quốc tế.</p>



<p>Theo Pierre-Oliver Costa, cố vấn của bà Brigitte Macron cho biết, bà đã nhận được 200 bức thư viết tay mỗi ngày từ những người hâm mộ. Hầu hết những người viết thư là phụ nữ lớn tuổi, họ nói lời ca ngợi phong cách của bà và cảm ơn bà vì đã cho họ thấy rằng những phụ nữ lớn tuổi vẫn có thể tạo sức hút và sự quyến rũ.</p>



<p>“Nhiều phụ nữ trong độ tuổi 60 hoặc 70 viết thư cho bà Brigitte để nói lời cảm ơn, họ nói &#8216;cảm ơn bà vì tôi đã không biết chuyện này là có thể, cảm ơn vì tôi đã không dám mặc loại váy đó, cảm ơn vì cho thấy rằng một người vẫn có thể cuốn hút ở tuổi bảy mươi”. Với phái nữ lớn tuổi, thời trang rất quan trọng làm tươi mát, tự nhiên và trẻ trung, miễn là đừng lòe loẹt, diêm dúa, kịch cỡm.</p>



<p>Với vợ chồng Emmanuel Macron và Brigitte Trogneux như lời người xưa “Vợ già chồng trẻ là duyên ba đời” nhưng rất hiếm. Mấy lão bà không nên học đòi muốn hồi xuân, cặp kè với kép trẻ không nên duyên phận mà “ngậm đắng nuốt cay” khi bị quất ngựa truy phong, biết mô mà tìm! Đành ca bài Nửa Hồn Thương Đau của Phạm Đình Chương: “Nhắm mắt chỉ thấy một chân trời tím ngắt… khóc lẻ loi một mình!”. Với lão ông thì gọi “trâu già gặm cỏ non” nhưng với lão bà chưa biết gọi là gì! Kính lão đắc thọ. Thiện Tai!</p>



<p><em>Little Saigon, May 28, 2025</em></p>



<p><strong>Vương Trùng Dương</strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Vương Trùng Dương: Chuyện Vãn: Quanh Chuyện Tóc Bạc &#038; Sợ Vợ</title>
		<link>https://t-van.net/vuong-trung-duong-chuyen-van-quanh-chuyen-toc-bac-so-vo/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Vương Trùng Dương]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 21 Apr 2025 09:42:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[chuyện vãn Vương Trùng Dương]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=79110</guid>

					<description><![CDATA[Trong Thiên Long Bát Bộ của nhà văn Kim Dung có nhân vật Chung Vạn Cừu là chủ nhân của Vạn Kiếp cốc vừa bị vợ cắm sừng vừa sợ vợ. Đoàn Chính Thuần là Trấn Nam Vương, em trai Bảo Định Đế Đoàn Chính Minh nước Đại Lý. Đoàn Chính Thuần văn võ song [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/04/Pic-AnhCoCBT.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="741" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/04/Pic-AnhCoCBT-1024x741.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-79111" style="width:588px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/04/Pic-AnhCoCBT-300x217.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/04/Pic-AnhCoCBT-1024x741.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2025/04/Pic-AnhCoCBT-768x556.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/04/Pic-AnhCoCBT.jpg?strip=all 1400w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Trong Thiên Long Bát Bộ của nhà văn Kim Dung có nhân vật Chung Vạn Cừu là chủ nhân của Vạn Kiếp cốc vừa bị vợ cắm sừng vừa sợ vợ. Đoàn Chính Thuần là Trấn Nam Vương, em trai Bảo Định Đế Đoàn Chính Minh nước Đại Lý. Đoàn Chính Thuần văn võ song toàn, nổi danh trong chốn võ lâm, đa tình với thói trăng hoa nên chinh phục được những người tình sắc nước hương trời, giỏi võ công.</p>



<p>Nguyễn Tinh Trúc, quái quỷ, ranh mãnh, bướng bỉnh, tiếng đàn Thiên Ma Cầm tấn công địch. Tần Hồng Miên, biệt hiệu Tu La Đao, vẻ đẹp ví như chim sa cá lặn. Lý Thanh La còn được gọi là Vương phu nhân, chủ nhân của Mạn Đà sơn trang, vừa đẹp, tài trí hơn người, võ nghệ cao cường. Cam Bảo Bảo biệt hiệu Tiếu Dược Xoa nhưng tuyệt thế giai nhân, giỏi võ. Khang Mẫn không biết võ công nhưng đẹp và rất hấp dẫn, “đôi mắt mang hình viên đạn” nên khi liếc chàng nào thì hồn xiêu phách tán, bà tự nguyện dâng hiến cho Đoàn Chính Thuần rồi bị chàng lửng lơ con cá vàng nên tìm đến Mã Đại Nguyên, phó bang chủ Cái Bang gọi là Mã phu nhân.</p>



<p>Cam Bảo Bảo tằng tịu với Đoàn Chính Thuần mang thai thì chàng cao bay xa chạy! Trong lúc buồn chán, Cam Bảo Bảo được Chung Vạn Cừu, chủ nhân  Vạn Kiếp Cốc, ngỏ lời yêu thương nên chấp nhận vì nghĩ đến đứa con trong bụng (sau nầy là Chung Linh), nàng quyết định cho con có nơi nương tựa tử tế. Thế nhưng “tình cũ không rủ cũng đến” Chung phu nhân vẫn lén lút hẹn hò với Đoàn Chính Thuần trong mật thất. Cung Vạn Cừu luôn ghen tuông với Đoàn Chính Thuần nhưng sợ Bảo Bảo ra phết, họ Chung cộc cằn thô lỗ nhưng khi Bảo Bảo cau mày tức giận thì Chung Vạn Cừu xẹp như cái bánh tiêu, không dám hó hé lời nào. Chung Vạn Cừu “nuôi con tu hú” mà không hề hay biết, và đầu ông có 2 chiếc sừng to tướng.</p>



<p>Lúc đó, đọc Thiên Long Bát Bộ ngoài chuyện thi tài võ công, chưởng pháp… của những nhân vật lừng danh chốn võ lâm còn thú vị với những chuyện lẩm cẩm sự đời rát thú vị. Mê gái, dại gái như Du Thản Chi. Sợ vợ và bị cắm sừng như Chung Vạn Cừu nên hai nhân vật nầy dùng để ví von cho nhân vật trong cuộc sống.</p>



<p>*</p>



<p>Trong bài viết trước đây Cái Tóc Là Góc Con Người chỉ đề cập đến nữ giới qua những dòng thơ và lời ca còn nam giới chẳng được hân hạnh “góc con người”.</p>



<p>Cuối năm 1966, nhà thơ Luân Hoán bước vào quân trường, hình ảnh đầu tiên anh than thở với mái tóc bị “húi” sạch gọi là “tóc ba phân” và nếu đứng xa nhìn có lẽ “ngố” như nhau với tiêu chuẩn ấn định.</p>



<p>Bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng là một trong những bài thơ hay nhất của ông với hình ảnh:</p>



<p>“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc</p>



<p>Quân xanh màu lá dữ oai hùm</p>



<p>Mắt trừng gửi mộng qua biên giới</p>



<p>Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”</p>



<p>Sau vụ án Nhân Văn &#8211; Giai Phẩm, Quang Dũng bị lên án đã viết những bài thơ ủy mị, tiểu tư sản, thiếu yếu tính giai cấp. Bài thơ Tây Tiến bị lên án “đoàn quân không mọc tóc, quân xanh màu lá” là đả kích, chế diễu bị sốt rét xanh xao đến nổi không còn sợi tóc!&#8230;</p>



<p>Kể từ khi bước vào quân trường, sáu thập niên trôi qua, Luân Hoán cũng như tôi, tóc đen đi chỗ khác chơi với lão ông từ hoa râm đến tóc bạc. Và, câu chuyện hớt tóc của tôi:</p>



<p>Nhiều lần “ta lại hẹn ta” uống cà phê xong rồi đi hớt tóc nhưng rồi y chang như bốn câu thơ của Nguyễn Bắc Sơn.</p>



<p>“Buổi sáng mang tiền đi hớt tóc</p>



<p>Vô tình ngang một quán cà-phê</p>



<p>Giang hồ hảo hán dăm thằng bạn</p>



<p>Mải mê tán dóc chẳng cho về…”</p>



<p>Thề rồi buổi chiều ra hớt tóc. Cô thợ hớt tóc&nbsp; hỏi “Bác có muốn nhuộm tóc không?”.</p>



<p>Tôi nói ngày xưa cụ Nguyễn Công Trứ đã khuyên tôi: “… Nhân tình (thế thái) đã biết rồi. Lạt như nước ốc bạc như vôi” nên không nhuộm. Cô hỏi: “Cụ Nguyễn Công Trứ là gì của bác?”.</p>



<p>Tôi nói: Cụ là chủ nhân “Làm cây thông đứng giữa trời mà reo”, tôi là người quét lá thông cho cụ.</p>



<p>Cô nói: “Tính bác vui vẻ, nếu bác nhuộm tóc thì trông cũng trẻ”.</p>



<p>Tôi nói: “Phụ nữ lớn tuổi sợ tóc bạc còn đàn ông hầu hết không sợ tóc bạc mà sợ vợ”</p>



<p>&#8211;&nbsp; Sao vậy bác?</p>



<p>&#8211;&nbsp; Đầu bạc thì vợ không để ý, nếu nhuộm thì vợ nghi ngờ “có vấn đề” mèo chuột cô nào nên vừa lái xe ra khỏi nhà, vợ theo dõi, mở iPhone xem đến đâu, ghé lại nơi nào? Không còn tự do tự tại với cái thú thích lang thang.</p>



<p>&#8211;&nbsp; Bác là nhà văn nên nói chuyện vui quá, chắc ngày xưa bác bay bướm</p>



<p>&#8211;&nbsp; Bướm có bay chỗ nầy chỗ khác nhưng không có hoa nào cho bướm đậu!&#8230;</p>



<p>Nơi xứ người, đàn bà khi gặp nhau trò chuyện không đề cập chuyện sợ chồng nhưng cánh đàn ông lại bàn đến “cheveux” (cheveux là tóc, âm tiếng Pháp đọc thành sợ vợ) nên thường dùng tiếng Pháp thay cho tiếng Việt.</p>



<p>Trong Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du với hình ảnh Thúc Sinh &#8211;&nbsp; đệ nhất cao thủ võ lâm… sợ vợ &#8211; vì máu ghen của Hoạn Thư”!</p>



<p>Thúc Sinh cũng là tay chơi khi cứu Thúy Kiều thoát khỏi chốn lầu xanh nhưng khi máu ghen Hoạn Thư &#8211; vợ Thúc Sinh &#8211; nổi trận lôi đình, Hoạn Thư ra tay hành hạ Thúy Kiều, người tình của Thúc Sinh làm “trò chơi nhân gian hạ độc” ra hầu rượu cho mình:</p>



<p>“Sinh càng nát ruột tan hồn</p>



<p>Chén mời phải cạn bồ hòn ráo ngay”.</p>



<p>Sai Kiều đánh đàn trước mặt như trò tiêu khiển nhưng Thúc Sinh đành ngậm bồ hồn:</p>



<p>“Giọt châu lã chã khôn cầm</p>



<p>Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt sương”.</p>



<p>“Sinh đà rát ruột như bào</p>



<p>Nói ra chẳng tiện, trông vào chẳng đang”.</p>



<p>Thúc Sinh nhu nhược câm như hến, không dám hó hé, ngăn cản bảo vệ người tình!. Và rồi phủi tay với người tình Thúy Kiều:</p>



<p>“Liệu mà xa chạy cao bay,</p>



<p>Ái ân ta có ngần nầy mà thôi!”</p>



<p>Trong quyển Việt Nam Thi Văn Giảng Luận, Hà Như Chi đã phê bình: “Thúc sinh có thương Kiều nhưng hành vi cử chỉ của chàng chỉ cho ta nhận thấy ở chàng một kẻ mê gái tầm thường, đến lúc không có cách gì gần người đẹp nữa thì chỉ còn biết nuốt nước bọt trông theo mà không làm gì hơn nữa”.</p>



<p>Thế là, Hoạn Thư bắt Kiều phải viết tờ cung khai kể lại sự tình. Trong đó, Kiều trình bày nguyện vọng xin được đi tu. Hoạn Thư dĩ nhiên cho xuất gia, tu ở Quan Âm Các ngay sau tư dinh, lấy pháp danh Trạc Tuyền.</p>



<p>“Phật tiền thảm lấp sầu vùi,</p>



<p>Ngày pho thủ tự, đêm nhồi tâm hương…”.</p>



<p>Chữ “sợ” theo tự điển: Ở trạng thái không yên lòng vì cho rằng có cái gì đó trực tiếp gây nguy hiểm, tác hại bản thân, không thể chống lại hoặc tránh khỏi. Không yên lòng đo lường trước sự việc xảy ra…&nbsp; “Sợ vợ là trạng thái tâm lý của người chồng thường được biểu lộ qua ngôn ngữ, cử chỉ hay hành động mà ở đó biểu hiện sự phục tùng của người chồng đối với vợ về một hay nhiều phương diện trong cuộc sống”.</p>



<p>Cần phân biệt sợ vợ với tôn trọng vợ, nể vợ, yêu vợ và nhường nhịn vợ. Tôn trọng vợ là sự tương kính với nhau. Nể vợ là cảm thấy khó làm trái ý, làm mất lòng vợ vì lòng quý mến. Yêu vợ là có tình cảm dễ chịu khi tiếp xúc với vợ, muốn gần gũi và thường vì vợ mà hết lòng. Nhường nhịn vợ là chịu phần kém, phần thiệt về mình, để cho vợ được hưởng phần hơn trong quan hệ đối xử.</p>



<p>Còn đối với sợ vợ là biểu hiện sự phục tùng của người chồng đối với vợ. Tuy nhiên, sự phục tùng này có thể xuất phát từ việc kính, nể, tôn trọng, yêu thương, chiều chuộng vợ hoặc có thể ngược lại.</p>



<p>Tục ngữ có câu: “Nhất vợ nhì trời. Lệnh ông không bằng cồng bà”.</p>



<p>Ca dao còn có câu:</p>



<p>“Trời ơi ngó xuống mà coi</p>



<p>Vợ tôi nó đánh bằng roi trâm bầu”</p>



<p>Và, ví von lập luận của phe sợ vợ:</p>



<p>“Muốn cho trong ấm ngoài êm</p>



<p>Vợ ta, ta sợ cả đêm lẫn ngày.</p>



<p>Muốn cho êm ấm cửa nhà</p>



<p>Vợ kêu chồng dạ bẩm bà, tôi đây!”</p>



<p>Sợ vợ chẳng có gì lạ, là hiện tượng phổ biến trên thế giới. Ngày xưa với quan niệm Á Đông thì ít đề cập đến sợ vợ vì giữ Tam Tòng: Tại gia tòng phụ,&nbsp; xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử. Và câu tục ngữ “Trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng” nên không có chuyện sợ vợ. Vài giai thoại cho rằng sợ vợ có sự khác nhau được ví von như:</p>



<p>Đàn ông Pháp khi sợ vợ thường chui vào hầm rượu vang, uống cho thật say và nằm im. Đến khi tỉnh lại, họ đi kiếm một chai Champagne mang về tạ lỗi.</p>



<p>Đàn ông Anh khi sợ vợ thường kiếm một đám sương mù thật dày đặc để chui vào. Trong đám sương đó, họ lén lút viết đơn xin ly dị và để rồi lén lút đốt đi khi sương tan.</p>



<p>Đàn ông Tây Ban Nha mỗi khi sợ vợ là chán đời đi đánh nhau với bò tót. Sợ càng nhiều, họ đánh lại càng hăng. Kết quả là các nhà vô địch sợ vợ đều ít khi trở về nhà sau mỗi trận đấu, hoặc nếu có trở về thì cũng khiến cho vợ thất vọng tràn trề vì “gia tài còn lại một vòi nước trong”.</p>



<p>Đàn ông Ý khi sợ vợ thường chui vào bếp nấu món mỳ ống. Nấu nướng xong, họ bưng lên, rắc cà chua và phó-mát vào, rồi ngồi chờ vợ cho phép mới dám ăn.</p>



<p>Đàn ông Đức mỗi khi bị vợ mắng là ra xe hơi nằm. Chính những lúc tâm hồn u uất, nằm suy nghĩ về những mối tương quan vật chất và tinh thần giữa vợ và xe vậy mà họ làm ra được những chiếc xe hơi nổi tiếng nhất thế giới.</p>



<p>Không thấy đàn ông Mỹ khi sợ vợ thì thế nào? Các cụ ta ở Mỹ khi sợ vợ thì chui vào đâu?</p>



<p>Sợ vợ cũng tùy theo độ tuổi, trung niên (30-40), sồn sồn (50-60), già (70-80), già khú đế (80 trở lên) … Ở đây chỉ nói về giai đoạn tóc bạc cho vui.</p>



<p>“Tuổi chiều trắng tóc bạc râu</p>



<p>Nhớ em chết dở, sống đau từng ngày!”</p>



<p>(Hà Huyền Chi)</p>



<p>Có lần trong quán cà phê, lúc trà dư tửu hậu, bàn chuyện này, tôi cảm thông và bênh vực “Hội Les Cheveux”. Ông bạn già ở xa ghé chơi, thấy tôi hút thước lá liên tục nên hỏi: “Mỗi ngày ông hút bao nhiêu điếu?”. Tôi nói: “Trung bình mỗi ngày một gói ba số 5, nhưng khi ngồi trong garage viết lách, làm báo, nghe nhạc thì hút nhiều hơn”. Ông ta liền phán: “Thế là ông không sợ vợ, vì không có bà nào để cho chồng hút nhiều như vậy”. Tôi trả lời: “Không phải tôi không sợ vợ mà năn nỉ vợ thông cảm vì khi đi tù về, tôi hành nghề vấn thuốc lá, vấn chui mỗi ngày sao cả chục kí lô thuốc rê trong căn phòng nhỏ khói ngập cả căn phòng… thế mà khi đi diện H.O, khám phổi tốt, trong khi vài người bạn lại bị nám phổi”. Ông nói “Chuyện ngày xưa ở trong nước, bà nào cũng đồng tình với chồng hút thuốc thoải mái nhưng qua đây lại ngăn cấm”. Thôi thì ăn theo thưở ở theo thời, lỡ “phóng lao theo lao” đã bước vào tuổi tám bó, có còn hơn không!</p>



<p>Đầu năm 1975, Phim Màu Scope: Sợ Vợ Mới Anh Hùng do Mỹ Vân phim sản xuất. Với phim hài vì hai chữ sợ sợ tương phản với anh hùng. Sau nầy ở Mỹ, năm 1989 hài kịch Sợ Vợ Mới Anh Hùng do nghệ sỹ Túy Hồng đạo diễn với: Hùng Cường vai Chú Phón, La Thoại Tân vai&nbsp; ông chủ, Túy Hồng vai Chị Năm và các diễn viên trong ban kịch Túy Hồng.</p>



<p>Thơ rằng: “Sợ vợ thì mới anh hùng</p>



<p>Nếu không sợ vợ… nửa khùng nửa điên”</p>



<p>(Thử hình dung với cái đài phát thanh trong nhà, suốt ngày đêm xướng ngôn viên cứ ra rả, cằm rằm, than vãn, đàn áp lỗ tai, không khùng điên mới lạ. Ngày trước nói rằng “điếc không sợ súng” nơi chiến trận thì nay “điếc không sợ vợ” trong nhà)</p>



<p>Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc trong bài phiếm Tôi Nhìn Ra Tôi có ta thán về cái già xồng xộc đã đến với mình, và ông tẩn mẩn phân tích diễn biến từ “già” tiến dần đến “già khú” (chắc là hư thúi như dưa khú?), rồi ngất ngưởng leo lên bậc “già khú đế” (hàng vương tước của già khú?) Tuy nhiên người ta có câu “tình yêu không có tuổi”. Thế nên dù là già, già khú, hay già khú đế, các cụ vẫn bị thần tình yêu Cupid bắn tên ngay chóc trúng tim, từ chết ngắc đến bị thương nằm la liệt trên chiến trường.</p>



<p>Hôm ngồi uống cà phê gặp ông bạn cũ khá lâu, cùng đi với “phu nhân” (?) cũng loại “già khú”, bà thì tóc giả, còn ông nhuộm tóc đen nhưng lông mày và râu không nhuộm nên khuôn mặt nổi bật hai màu trắng, đen… trông cũng ngồ ngộ.</p>



<p>Tôi thích bài viết của nhà văn Tràm Cà Mau với Phiên Phiến Tuổi Già&nbsp; với câu cuối “Tuổi già, cứ phiên phiến với mọi sự, cho khoẻ, cho sướng cái thân già của mình”. Chỉ có những lão ông thích của lạ “trâu già gặm cỏ non” mới bày trò “dị dung thuật” trông cũng hơi quái dị! Mài sừng cho lắm cũng là trâu! Với tôi, được sinh ra sao, để vậy, cứ phiên phiến tuổi già… “tri nhàn, tiện nhàn” trong cõi nhân gian.</p>



<p><em>Little Saigon, April 2025</em></p>



<p><strong>Vương Trùng Dương</strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>

<!--
Performance optimized by W3 Total Cache. Learn more: https://www.boldgrid.com/w3-total-cache/?utm_source=w3tc&utm_medium=footer_comment&utm_campaign=free_plugin

Page Caching using Disk: Enhanced 

Served from: t-van.net @ 2026-06-12 04:37:57 by W3 Total Cache
-->