<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>con người &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<atom:link href="https://t-van.net/tag/con-ng%C6%B0%E1%BB%9Di/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://t-van.net</link>
	<description>Văn Học và Đời Sống</description>
	<lastBuildDate>Sat, 11 May 2019 21:41:42 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.7.7</generator>

<image>
	<url>https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/02/t-van-favicon.png?strip=all&#038;resize=32%2C32</url>
	<title>con người &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<link>https://t-van.net</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Đỗ Xuân Tê: Giọt lệ cho người xứ Bùi</title>
		<link>https://t-van.net/gi%e1%bb%8dt-l%e1%bb%87-cho-ng%c6%b0%e1%bb%9di-x%e1%bb%a9-bi/</link>
					<comments>https://t-van.net/gi%e1%bb%8dt-l%e1%bb%87-cho-ng%c6%b0%e1%bb%9di-x%e1%bb%a9-bi/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Đỗ Xuân Tê]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 30 Jul 2011 15:32:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[chuyện tù]]></category>
		<category><![CDATA[con người]]></category>
		<category><![CDATA[tùy bút]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/testsite/wordpress/?p=2394</guid>

					<description><![CDATA[Ba mươi năm sau viết về anh mà vẫn thấy anh như đang ngủ say, quên dậy đi lao động trên non như các buôỉ sáng thường ngày ở Traị, một traị tù nằm sâu trên miền đất hoang vu vùng thượng nguồn sông Hồng do bộ đôị miền Bắc quản lý. Anh gốc ngươì [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image002192.jpg"><img decoding="async" style="background-image: none; margin-top: 0px; margin-right: 20px; margin-bottom: 10px; margin-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border-color: initial; border-style: initial; border-width: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image002_thumb123.jpg?strip=all" alt="clip_image002" align="left" border="0" /></a></p>
<p>Ba mươi năm sau viết về anh mà vẫn thấy anh như đang ngủ say, quên dậy đi lao động trên non như các buôỉ sáng thường ngày ở Traị, một traị tù nằm sâu trên miền đất hoang vu vùng thượng nguồn sông Hồng do bộ đôị miền Bắc quản lý.</p>
<p>Anh gốc ngươì xứ Buì, một xứ đạo thuộc địa phận Buì chu, tỉnh Hà Nam Ninh. Bố anh là một ông Trùm, không phaỉ trùm Mafia như ngươì ta thường goị trong phim Bố Già, nhưng là ngươì có vai vế trong một xứ đạo. Uy tín và đức độ của ông chỉ thua vị cha xứ và gần như tiếng noí của ông có sức nặng trong moị sinh hoạt về phần đơì.</p>
<p>Lớn lên anh được lên tỉnh học trường Nguyễn Khuyến, một trường công lập nôỉ tiếng thành Nam. Xong trung học trở laị quê thì cũng là lúc chiến tranh lan về vùng châu thổ. Rôì Việt minh lên nắm chính quyền, tuy không ưa các cha cố, nhưng chính quyền xã thôn cũng có sự nể vì, ít xen lấn vào nôị bộ của xứ đạo, miễn là các anh đừng chống tôi, đừng theo Pháp diệt tôi.</p>
<p>Laị nữa, Cụ Hồ như biết thế của mình còn yếu, nên làm một màn dân vận khá ngoạn mục là Bác thân hành đến thăm Tổng giám mục Lê Hữu Từ, ngươì lãnh đạo tinh thần của địa phận Phát diệm nhưng uy tín của người traỉ daì khắp các xứ đạo miền Bắc. Nên nói chung là đạo đơì, công giáo cộng sản chưa có gì va chạm gay gắt lắm.</p>
<p>Tuy nhiên nhìn sang các làng bên thuộc địa phận quê tôi thì laị không được như vậy. Các phe phái thanh toán nhau, thù nghịch nhau làm cho không khí làng quê mang sắc thái man rợ của thơì Trung cổ. Các đôị ám sát của Việt minh vơí những thanh niên tuôỉ ngoaì hai mươi đa phần là con đám bần nông hoặc mõ làng, vai đeo mã tấu lê khắp xã thôn mang theo những bản án viết tay, tuy mang tiếng là Tòa án nhân dân, nhưng chữ nghĩa nguyệch ngoạc cho có lệ, laị đóng thêm caí triện hình ngôi sao mầu phẩm đỏ cho thêm oai. Có lúc chúng vào từng nhà, lựa lúc đôí tượng đang đau ốm, hoặc ngủ say rôì ra tay khiến nạn nhân không kịp chống cự, có lúc kéo nạn nhân ra baĩ tha ma, chặt đầu phân thành hai khúc, bản án ghim trên ngực, rôì phơi xác kẻ xấu số ngay bên lề đường để sáng mai “quần chúng” đi chợ sẽ thấy gương bọn “Việt gian” để mà lấy đó làm gương, răn đe cảnh cáo chung.</p>
<p>Chẳng hiểu do chủ trương từ đâu, nhưng đám dân quê trước kia vốn có cảm tình vơí Việt minh nay vì có dây mơ rễ má vơí đám nạn nhân, nên cũng có sự ta thán cho rằng caí trò hèn mạt đâm ngầm giết lén những thân phận cô thế không xứng vơí tầm vóc của một Mặt trận tự xưng là cách mạng cứu nước, cứu dân. Ấy thế mà các lãnh đạo quan trên cũng chẳng thấy sửa sai gì, khiến đám bần dân say máu vẫn cứ làm càn.</p>
<p>Trước tình hình nhố nhăng như vậy, anh biết một ngày nào đó mã tấu cũng lê đến quê anh, nhất là bố anh laị là ông trùm bị qui Việt gian là caí chắc. Anh âm thầm gia nhập khóa I Sĩ quan Nam định, khóa đào tạo Sĩ quan đầu tiên cho lứa tuôỉ động viên của thanh niên miền Bắc, cùng khóa vơí Nguyễn cao Kỳ và mấy ông tướng của quân đôị quốc gia sau này. Anh ra trường vơí cấp bậc Chuẩn úy, tình nguyện về một Tiểu đoàn lưu động, tham gia các chiến dịch lùng và diệt các đơn vị cơ động của Việt minh. Có một thơì gian anh hành quân ngay trên vùng châu thổ sông Hồng, trong đó có cả địa bàn quê anh.</p>
<p>Khi hai phe đình chiến, anh theo đơn vị vào Nam. Ông tiểu đoàn trưởng của anh nay là giám đốc một cơ quan tác động tâm lý kéo anh về ngành này. Bây giờ anh mơí khám phá là mình cũng có taì làm thơ. Vùng quê anh vốn nằm trên ngã ba sông, cạnh một vùng lầy có các loài chim hiếm quí từ miền Bắc Á thường bay về trú đông, nên ngay từ thơì còn trai trẻ môĩ khi tức cảnh sinh tình anh laị làm ít baì thơ song thất tặng bạn bè, thôn nữ trong xóm đạo. Tôi nghiệm hễ ai quê vùng trung du, nuí non hay trở thành nhà văn, ai gần sông nước dễ thành nhà thơ, hoặc ngược laị, ai vùng biển mặn có cơ may thành ngươì viết nhạc. Nhưng taì làm thơ dù có giúp anh ra được một tập thơ ngắn, và một số bài đăng trên các báo quân đôị để đóng góp vơí đơì, nhưng thơ anh tròn trịa quá, tròn trịa giống như cách sống của anh nên sự nghiệp văn chương không làm cho anh được bạn bè, xếp lớn xếp nhỏ biết mặt biết tên mà caí taì mọn học được từ ông chú lại làm cho anh được nhiều người quí mến là cách chế biến món…thịt chó.</p>
<p>Thịt chó là món ăn quốc hồn quốc túy của mấy ông Bắc kỳ, thường thì mấy vị bên xóm đạo ăn nhiều hơn bên lương, về sau thì phổ biến đạo đơì ăn tuốt. Chả là du kích hay hoạt động về đêm, đám chó thấy ngươì thì nó phaỉ sủa, nhất là đêm hôm khuya khoắt trộm cướp như rươi. Qua thơì caỉ cách ruộng đất, đám chó càng sủa hăng vì nó biết có ngươì bị đấu oan, nên nhất cử lưỡng tiện du kích nhà ta cho chúng đi tàu suốt để hết sủa. Thây ngươì còn đem phơi hay cho trôi sông, chứ chó ai ngu mà làm chuyện này nên phong trào ăn thịt chó phát triển từ ngày ấy.</p>
<p>Ngươì ta có thể chế biến thịt chó thành nhiều món hấp dẫn mà món dôì chó thì nhiều khách sành điệu mê đến độ “xuống âm phủ biết có hay không”, nhưng caí món luộc trân trần ăn kèm lá mơ, chấm mắm tôm chanh mơí là món sở trường của anh. Ông xếp của anh, sau này cũng là xếp tôi, vốn có chứng phong thấp (bị nhiễm khi hành quân ngoaì Bắc) được mấy thầy lang mách nước nên ăn thịt chó cho đỡ bị nhức laị có cơ may chữa lành. Ông xếp ngươì Huế, rất kỵ món này, nhưng sau thấy linh nghiệm nên hay gần guĩ anh và cũng là lý do kéo anh về cùng ngành để thầy trò dễ giao lưu.</p>
<p>Lẽ ra so vơí các bạn cùng khóa, thâm niên trong ngành anh phaỉ lên tơí Đaị tá khi xuất ngũ, nhưng bản chất xuề xòa dĩ hòa vi quí, hay sợ mếch lòng, laị không tham vọng, chẳng chịu tranh đua nên trong binh nghiệp anh chuyên được giao các chân lúc làm phó, lúc làm phụ tá, chức trưởng không bao giờ đến lượt anh. Được caí có taì quán xuyến laị thích nấu thịt chó đaĩ bạn bè nên anh về đơn vị nào, đơn vị đó khách tham quan cũng đông. Các xếp của anh hay giao cho anh liên hệ chuyện xăng nhớt, quân trang, quân dụng, giấy in, mực in, sơn vẽ…có bàn tay anh giao du sắp xếp, moị việc cứ một chầu thịt chó là xong ngay.</p>
<p>Đơn vị cuối của anh là một đơn vị nằm gần Đaì phát thanh Saigòn. Laị cũng làm phó, nhưng lần này sắp đến tuôỉ mãn lính, về hưu. Đưa đẩy thế nào, trong kế họach “trẻ hóa” quân đôị sau khi đã “Việt nam hóa” chiến tranh thì tôi laị được xếp lớn nâng đỡ cho về đơn vị này và trở thành…xếp của anh. Thoí thưòng gặp cảnh này, chắc ngươì ta lộn ruột, bất mãn chưỉ thề, tự nhiên ở đâu đưa một thằng đàn em về ngôì trên lưng mình, nhưng traí vơí dự kiến của tôi, anh laị ôn tồn noí riêng,”chú cứ về đây anh giúp cho, mấy tháng nữa anh go home rôì khỏe caí thân già.” Anh cũng thành thật cảnh giác đơn vị tôi sắp về toàn ”ổ kiến lửa cả đấy, chú liệu mà luồn lách!” Tôi ở trong thế kẹt nên luôn đôí xử coi anh như vai trên, laị hay nghe lơì cố vấn “tròn trịa” của anh nên cũng chẳng làm sạch hơn, mạnh hơn cho đơn vị là bao.</p>
<p>Ấý vậy rôì caí số làm quan của tôi vơí anh đều đi vào bước ngoặt, anh giaỉ ngũ đúng hạn kỳ theo ý nguyện, tôi tan hàng sớm trong tức tươỉ khôn nguôi. Để rôì cả hai chẳng hẹn mà gặp, cùng nhau hôị tụ nơi nuí rừng Yên baí, một vùng nước độc, giang sơn của loaì chim độc thoaị khác vơí loaì chim vạc trắng cổ hồng quê anh.</p>
<p>Lẽ ra thì anh chẳng thuộc caí diện bị đày ra chốn heo hút này, vì anh đã giaỉ ngũ, không còn lon lá như xưa. Diện của anh cứ theo thông cáo của giám đốc công an thành phố, thì chỉ học tập hai tuần, trong khi diện của tôi một tháng tròn mang theo tiền ăn đóng đủ. Nhưng dòng đơì đâu cứ ai cũng phaỉ giống ai, nhất là sau ngày “giaỉ phóng” họ muốn bắt ai thì bắt, tha ai thì tha, mà chuyện bắt laị nhiều hơn tha, nên khi hết vạ thì má đã sưng.</p>
<p>Anh thuộc loaị bị sưng má, đêm 15.6.75 là hết hạn trình diện cho cấp tá, thì ngay đêm đó công an xông vô nhà bắt anh lên bót Phan đăng Lưu, vì đám “cách mạng 30 tháng tư” tố anh thuộc diện cấp tá sao chưa chịu đi trình diện? Anh trưng bằng cớ đã giaỉ ngũ chờ trình diện theo như thông cáo. Chẳng cần xem giấy tờ họ giaí giao anh và cả chục ông nữa lên thẳng Suôí Máu chỗ chúng tôi. Tuy ăn thịt chó nhưng ít khi anh chưỉ tục, lần này vừa chưỉ thầm vừa lẩm bẩm tính ra như vậy “lỗ” mất hai tuần nếu so vơí mấy thằng chưa giaỉ ngũ! Đọc mấy dòng này, ông Mai chí Thọ chắc cươì ngất vì sao bọn “ngụy” ngây thơ đến như vậy, ngay thánh kinh cũng có noí một ngày bằng ngàn năm, thì thông cáo của ông hai tuần nhằm nhò gì (ông mơí mất năm truớc, báo Thanh Niên xưng tụng ông là “ngươì có tình”, cũng mong như vậy để ông yên nghỉ).</p>
<p>Nhớ laị hôm ra Bắc trên chuyến tàu Sông Hương, một tàu buôn được trưng dung để chở tù ra Bắc. Ba anh em chúng tôi, anh vơí tôi cùng Đặng Trần Huân (tác giả Chuyện Cấm Đàn Bà), đều có những kỷ niệm đẹp vơí Huế nên tên con tàu làm tuị tôi quên đi phần nào nôĩ nhọc nhằn dươí hầm tàu. Lúc đó thật tình cũng chưa biết đi đâu nên có tâm sự vơí nhau cứ tưởng học tập đôi ba tuần là về nên anh em quay ra ý định mở quán thịt chó, vì đây mơí là thơì cơ, sở trường của anh. Bọn nón côí nó thích món này, chợ Ngã Ba Ông Tạ đông như kiến cỏ vì cung không đủ cầu. Tôị nghiệp anh Huân nhà văn chính cống bảo nếu mày làm ông chủ, tao xin chân dọn bàn, chứ tan hàng rôì viết lách gì nữa. Hai ông đã chọn xong tên quán: Quán Lá Mơ, nhưng rất tiếc giấc mộng con của hai ông già đầu bạc không có cơ trở thành hiện thực, một ông ở laị vơí nuí rừng, ông kia đi trọn gần mươì hai năm không nghỉ. Cộng sản họ thù hai ông cũng đúng vì làm ở caí ngành dám lấy Nguyễn Traĩ làm thánh tổ, mà thánh tổ thì khuyên đừng nên làm cái chuyện, “Hận thù rôì kêu goị trả thù thì oán maĩ không thôi”.</p>
<p>Mỗi caí chết của con người có caí duyên cớ của nó và nếu tin dị đoan có caí ‘điềm’ của nó. Caí chết của anh không đến trong sự tình cờ nhưng laị đi trong thanh thản. Thanh thản đến caí độ nó êm ả, tĩnh mịch như khung cảnh nuí rừng vào lúc trăng xuông. Nó có bị khuấy động vì có tiếng kêu của một con cú, không hiểu bay từ đâu đến, vì traị anh ở không phaỉ đất của nó, mà là vùng của loaì chim “bắt cô trói cột” mang âm hưởng của một oan hồn chỉ có trên mạn ngược này.</p>
<p>Anh vốn không quen lao động, tuôỉ laị già, mắt cận thị, dáng ngươì gầy yếu, nên khi gặp cảnh vác nứa, chặt cuỉ, đốn gỗ trên rừng thì anh không kham nôỉ. Một hôm, khi vác bó nứa xuống nuí, không chuẩn được lối mòn, anh bước hụt vào một vũng đầm lầy nước đọng, một loaị nước sình đặc quánh như mật, trên mặt nổi váng màu vàng như cà phê sữa, do sự trầm tích của các loaị lá rừng lưu cữu nhiều năm tháng. Maỉ lo cứu bó nứa cho khoỉ chìm để không mất công điểm lao động trong ngày, anh dầm mình dươí sình quá lâu, mồ hôi laị ra nhiều, lỗ chân lông hở, nên thân anh từ thắt lưng đổ xuống bị nhiễm chất độc của vũng lầy, sau này mơí biết có loaị vi khuẩn của chứng sốt vàng da.</p>
<p>Đêm đó anh bị sốt, sốt cao. Nói cho ngay họ có cho anh đi bệnh xá, đến khi hạ sốt cho về laị lán tạm nghỉ lao động. Anh nhắn ngươì cho goị tôi, vì còn do bộ đôị quản lý nên đi laị còn dễ dàng trừ ban đêm. Tôi sang gặp anh, ngươì anh coi bộ còn mệt, da đôỉ sang màu vàng, mắt vàng, nhưng trong ngươì xương cốt nhức moỉ không tả nôỉ. Anh nhờ tôi đấm bóp cho anh và nhắn tôi sang chỉ vì vụ đấm bóp này. Những ngày kế tiếp, cứ lao động về sau giờ ăn chiều, tôi lại qua thăm, đấm bóp cho anh. Anh biết tôi cũng moỉ, nên cứ khen tôi mát tay, rôì kiếm đủ chuyện noí để giữ chân tôi. Anh tâm sự nhiều điều thường là kỷ niệm quê anh, anh có vẻ tiếc nuôí khi linh cảm không còn dịp trở laị quê để ngắm bầy chim trú đông, không còn được nghe tiếng chuông nhà thờ xứ buôỉ lễ chiều, chẳng còn dịp đóng khố đi mò tôm nơi baĩ lầy cạnh bến sông… Chuyện ăn uống anh bảo còn ít cháo chú ăn đi, tôi chẳng thèm gì chỉ trừ…miếng thịt chó, một thứ mà chính những ngươì quản lý anh họ cũng thèm, nhưng giờ này biết kiếm đâu ra.</p>
<p>Mấy hôm cuối, đôi bàn tay gầy guộc hết sinh khí cầm một tấm hình mơí nhận được trước khi ra Bắc, anh đem khoe vơí tôi. Hình có thằng con trai út đang sinh hoạt ở Nhà Văn hóa thiếu nhi quận Bình Thạnh, cổ quàng khăn đỏ, đang tập hát vơí đám bạn. Anh tỏ vẻ vui vì tuôỉ thơ của nó còn được hát không bị mặc cảm về thân phận tù đầy của bố nó.Tôi thấy anh chẳng đả động gì, thù hận gì Cộng sản, mà cứ đổ cho, “vận nước hết chú ạ, quê hương mình nó vậy đó, giờ chỉ lo cho đám con cháu mình thôi. Đừng để nó ảnh hưởng chuyện của cha chú nó.” Tôi xoa bóp chân anh mà nghe như lòng anh đaị lượng quá, có thể bố anh ông Trùm xứ đạo đã dạy anh nhiều điều về giáo lý đaị để, “Hãy yêu kẻ thù nghịch mình và cầu nguyện cho họ.” Tuyệt nhiên không bao giờ anh nhắc đến caí thông cáo hai tuần. Rồi dòng đơì chả biết thế nào, cháu thiếu nhi trong hình chụp, chục năm sau trở thành một ca sĩ nôỉ tiếng của thành phố và là ngươì viết nhạc được hâm mộ của giơí trẻ, không phaỉ chỉ ở trong Nam, mà còn lan ra cả Hà nôị. Cháu là một trong số ít oỉ trường hợp không bị phân biệt vì lý lịch do taì năng tự phát. Lúc này bố cháu đã đi xa rôì.</p>
<p>Trở laị chuyện của anh, trước hôm anh đi xa, anh dặn tôi mai chú khỏi sang, tôi hỏi lý do anh không noí. Đêm ấy, theo anh bạn nằm cạnh cùng đạo kể laị, anh có nói nhắn về nhà anh chết lành. Anh còn dặn là hai giờ sáng anh đi. Ông bạn hoảng hốt sao ông già này nói gở. Anh không nói gở, anh nói nghiêm túc.</p>
<p>Trăng hạ tuần hạ dần, bầu trơì của rừng tôí xẫm laị, khung cảnh rừng khuya êm ắng lạ thường. Bỗng một tiếng cú rúc làm vang động các lán, ông bạn nằm cạnh xem đồng hồ (lúc này chưa bị thu) thì kim ngắn chỉ đúng số 2, kim daì luì hai con số. Tôi bị thức giấc, lạnh ngươì, tự nhiên liên tưởng đến anh. Chờ sáng cho qua mau, tôi ghé lán của anh. Được ông bạn chứng nhân cho biết anh đã đi lúc cú kêu, hai giờ đêm qua, chết lành, không dặn gì thêm.</p>
<p>Lần đầu tiên tôi khóc kể từ khi vào traị, giọt lệ trào ra một cách tự phát như thương tiếc một ngươì anh thân thương, tuy khác họ nhưng cùng quê, đã một thơì gắn bó trong tình đồng đôị, trong cảnh đồng tù. Tôi vẫn cứ xoa bóp chân anh, bẵng quên là thân xác anh đâu còn nhức mỏi. Mấy ngày sau khi hoàn hồn, hôì tưởng laị tôi mơí thấy quả thật anh “nằm chết như mơ” như baì hát của TCS, một cách thoát ly thế gian của những ngươì được phước. Cứ nghĩ như vậy nôĩ buồn tôi nguôi ngoai, giúp tôi đi tiếp mười một năm còn laị trên đất Bắc.</p>
<p>Anh mang mộ phần số 1, ngươì đầu tiên nằm laị trên đất quê mà chẳng phaỉ quê. Mười lăm năm sau, ca sĩ Th.H. ra hốt cốt ông bố đem về nam. Anh tái ngộ Saigòn, mộng bán thịt chó trả về âm phủ, anh ta bà lên chốn cao hơn, nơi dành cho những ngươì chết lành theo đức tin của ngươì quá cố.</p>
<p>Ít năm sau, gia đình anh qua Mỹ theo diện H.O. vì có ngươì thân chết trong tù. Chàng nhạc sĩ taì hoa của Nhà Văn Hóa quận năm xưa, mải đeo sự nghiệp ca nhạc, như thỏa lòng, lập gia đình ở laị thành phố.</p>
<p>Đỗ Xuân Tê</p>
<p>©T.Vấn 2011</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/gi%e1%bb%8dt-l%e1%bb%87-cho-ng%c6%b0%e1%bb%9di-x%e1%bb%a9-bi/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Không : Thằng em cán gáo</title>
		<link>https://t-van.net/th%e1%ba%b1ng-em-cn-go-2/</link>
					<comments>https://t-van.net/th%e1%ba%b1ng-em-cn-go-2/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 15 Jul 2011 05:03:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[con người]]></category>
		<category><![CDATA[quá khứ]]></category>
		<category><![CDATA[thân phận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=2631</guid>

					<description><![CDATA[“ . . . Hình như cuộc sống đến một lúc nào đó phải chấp nhận những gì…”không bình thường” và cứ xem nó như…bình thường. Chấp nhận những gì mà mình đã có. Đang có được hay sẽ có. Hoặc không. Để chịu đựng qua cơn bão, để làm sao biết tìm nơi trứ [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image002_thumb127.jpg?strip=all&fit=239%2C319"><img fetchpriority="high" decoding="async" class="size-full wp-image-2630 alignleft" style="margin: 10px 20px;" title="clip_image002_thumb.jpg" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image002_thumb127.jpg?strip=all&fit=239%2C319" alt="" width="239" height="319" /></a>“ . . . <em>Hình như cuộc sống đến một lúc nào đó phải chấp nhận những gì…”không bình thường” và cứ xem nó như…bình thường. Chấp nhận những gì mà mình đã có. Đang có được hay sẽ có. Hoặc không. Để chịu đựng qua cơn bão, để làm sao biết tìm nơi trứ ẩn dưới cơn mưa . . . “</em></p>
<p><em>“. . . Ấy là gã đang khoan cái lỗ để nhìn xuyên qua quá khứ… Từ một nơi chốn đi về, quá khứ của gã đang ẩn hiện, xa vắng vời vợi. Cuối cùng gã nheo mắt, săm soi đút…cái que xuyên qua…hai cái lỗ trái dừa để làm…cái gáo.</em></p>
<p><em>Và gã bâng khuâng…</em></p>
<p><em>Trong vườn nhà gã hình như thiếu vắng cái chum thì phải? . . . “</em></p>
<p>Mỗi lần đọc Ngộ Không Phí Ngọc Hùng, là tôi lại tìm về được cái làng quê miền Bắc xa xôi, cái làng quê tôi chưa bao giờ được nhìn thấy, sờ thấy, cảm thấy nhưng nó cứ mơ mơ hồ hồ đâu đó trong tiềm thức. Vốn liếng ca dao tục ngữ miền Bắc trong ông thật là phong phú. Viết như nói. Nói như viết. Những câu ca dao xuất hiện đúng chỗ, đúng nơi. Đặc biệt là ở câu chuyện “ thằng em cán gáo “. Một câu chuyện quen thuộc với rất nhiều người Việt Nam đã từng sống qua một nửa thế kỷ nhiễu nhương của đất nước. Chẳng có gì mới trong câu chuyện, nhưng bàng bạc trong cái giọng văn nửa khinh bạc, nửa văn vẻ, nửa cay đắng, nửa trìu mến , tôi càng thấy đậm nét tấn bi kịch mà dân tộc đã và đang trải qua.</p>
<p>Những câu chuyện của Ngộ Không Phí Ngọc Hùng – theo lời ông – đều là những chuyện thật. Điều này thì tôi tin.</p>
<p>Ngộ Không viết như là “đang khoan cái lỗ để nhìn xuyên qua quá khứ…”</p>
<p>T.Vấn</p>
<p>11 tháng 7 nằm 2011</p>
<p>&nbsp;</p>
<h1>Thằng em cán gáo</h1>
<p><em><strong>Ngộ Không Phí Ngọc Hùng</strong></em></p>
<p>Cũng trên dưới mươi năm, tôi được xem chương trình Những tình khúc bất tử của người trong nước. Máy quay phim ngừng lại ở một khoảng tường loang lỗ bên đường có cái bàn húi tóc lạc lõng, chiếc ghế đẩu chỏng chơ, khung gương cũ kỹ. Những hình ảnh ấy đã đẩy đưa tôi về một Hà Nội năm 54…Vì nếu ống kính nhích thêm vài bước nữa, nếu có cái cổng gỗ hai cánh nặng nề thì đúng là căn nhà của ông cụ bà cụ tôi.</p>
<p>Ít lâu sau về thăm căn nhà cũ số 32 phố Chợ Đuổi, mái ngói đỏ ngày nào đã ngả mầu xanh nâu, rêu phong đọng nước, ngai ngái mùi ẩm mốc. Tôi đã chẳng thầm tránh khỏi những giao động cùng những năm tháng của cái tuổi mới lớn, tại mảng tường này, tôi có thằng em họ chơi đùa nghịch ngợm. Từ ngoài đường nhìn vào qua khe cổng, ở cái sân gạch tầu trong kia, tôi thoáng bắt gặp những chiếc lá bàng ửng vàng nâu đỏ chơ vơ bên bể nước.. Để rồi bồi hồi cùng cảnh vật qua người muôn năm cũ còm cõi qua một kiếp phù sinh, tôi bâng khuâng về thằng em không biết bây giờ lưu lạc ở phương nao.</p>
<p>***</p>
<p>Ngược về năm 54 với cái thằng tôi được gọi là…“nó”.</p>
<p>Và chuyện một nhớ hai quên như thế này đây:</p>
<p>Một ngày, nó thấy ông cụ nó tiếp khách ở nhà trên, đang râm ran to nhỏ chuyện thời cuộc. Hỏi bà cụ, nó được biết đó là ông chú, chồng bà cô em ông cụ nó ở Thái Bình lên chơi. Hôm sau, chú nó về lại tỉnh Thái, và nó thóang nghe được bà cụ…xiết pháo xiết ông cụ: “ôi dào, lại mang vạ cái lão cám hấp, đồ phải gió phải giây…”. Ngay tuần tới thì nhà có chuyện. Chuyện là nó đang đứng dưới gốc cây bàng lui cui chơi bên cạnh cái bể nước, nghe tiếng giật chuông kêu kính coong, nó ra mở cổng và nổ con đom đóm mắt nhìn ông chú nó, tay cái thùng gỗ, bên cạnh là thằng oắt tì, vai khóac cái tay nải, cứ như chạy lọan hay tản cư không bằng.</p>
<p>Ông chú chỉ thằng oắt con, bắt khoanh tay cúi đầu chào nó bằng…anh. Vừa lúc ông cụ bà cụ bước ra, rồi…bác bác, em em loạn cào cào châu chấu. Cả ba lên nhà trên, để lại ngòai sân hai thằng nhóc, bấy giờ nó như Cao bồi Hà Nội “kên sì-po” thằng em họ từ chân lên đầu. Lúc đó nó mới khám phá ra: Giời ạ, thằng này đi…chân đất. Còn cái đầu. Cái thằng gì mà đầu to chành giành, tóc húi cua trọc lóc như…cái đầu gáo.</p>
<p>Từ đấy thằng em có tên là: Thằng đầu gáo.</p>
<p>Thế là nó có bạn mới, có điều thằng thằng đầu gáo vừa lắp, vừa ngọng, nói năng cứ như đá ngược lên tận mái ngói, đến quặn cả mồm miệng. Lại nữa, lúc nào thằng đầu gáo cũng “đằng ấy” với “tớ” ngọt sớt, thọat tiên nghe chòm chõm, riết rồi nó cũng “tớ” với “đằng ấy” ngon ơ. Thế nhưng thằng em hình như khắc khẩu với bà cụ nó, nên lâu lâu bà cụ vẫn bêu riếu “thằng nhà quê sáng tay họ, điếc tai cầy”. Mỗi lần như vậy nó lại mắt hấp ha hấp háy, vén cặp môi đỉa trâu, nhăn nhăn nhở nhở cười như trêu ngươi, bà cụ nó lại được thể điên tiết: “mới nứt mắt ra đã cốc láo”.</p>
<p>Thằng đầu gáo gọi bố là bằng thầy, sáng sáng thầy nó mang đồ nghề ra cái tường bên hông nhà, treo cái gương, cái thùng gỗ đồ nghề “tông-đơ”, dao cạo, kéo, lược, nó mới biết ông chú nó là phó cạo, có tiếng ở phố Lê Lợi tỉnh Thái Bình. Thằng đầu gáo quanh quẩn bên thầy nó chỗ cắt tóc, lúc bưng chậu nước cạo râu, khi vò khăn lau mặt, sau đó tất bật quét dọn. Vắng khách, nó rủ thằng em chơi đáo tường, ăn thua bằng nắp chai bia, hay chai “limonade” đập cho tòe ra gọi là “đồng xèng”. Và nó lên mặt dân Hà Nội, chỉ cho thằng nhà quê chơi đáo tường, không phải cứ táng binh vào tường là nó bật ra, mà vừa lia, vừa dựt ngược lại, vòng lên như cầu vồng “đồng cái” mới đi xa. Mỗi lần nghe giảng thằng thằng đầu gáo mặt cứ nghệt ra “Thế cơ…” hoặc “Ừ nhẩy…” .</p>
<p>Đất có thổ công, sông có hà bá, sang đến đánh khăng nó nhường cho dân đồng chua nước mặn. Trò chơi gì mà hì hục đào cái lỗ, “khẩy” con khăng đi, đứa nào chụp được, “quăng” lại rồi “quất” cái vù. Xong, chồm hổm dùng cái khăng cái, lom khom đo như…cua bò, nên nó ì ra. Thằng đầu gáo chỉ cho nó đặt cái khăng con nằm dọc theo cái lỗ, nhích đi nhích lại, miệng dặn dò: ”Đằng ấy gõ vào đầu này nhá, đợi cái khăng con bung lên khỏi mặt đất, thì..”. Nó ra hiệu chỉ vào ngang đầu gối, nhổ nước bọt đáng bẹt vào bàn tay, xoa xoa, tiếp: “Rồi đằng ấy cứ nhắm tịt mắt, quất cái vù”. Nó thấy ngon như óc chó…”a-lê-hấp”…vẹo người, nhắm mắt nhắm mũi phang bừa…Lại…hụt nữa.</p>
<p>Thằng đầu gáo cáu, chửi đổng: “Mẹ, ngu như lợn”.</p>
<p>Nó ngán ngẩm cái trò đánh khăng như chó già gậm xương, như chuyện “ông giẳng ông giăng, ông giằng búi tóc, ông khóc ông cười, mười ông một cỗ, đánh nhau vỡ đầu”. Mà…vỡ đầu thật, một bữa cái khăng con nhè trán nó táng một cái bốp, u một cục bằng…hột đậu phụng rang. Nó gào tóang lên, chú nó cuống cuồng lấy muối đắp lên, lấy đũa cả hơ lửa di di, nóng quá, nó được thể gào tợn. Ông chú nó dỗ dành, kể chuyện nhà quê nhà mùa, chuyện con gà mái bị đạp mái, chạy te te kêu: “Rát rát”, con gà trống gân cổ kêu: “Khổ khổ”, đàn gà con kêu… Sau này lớn lên, nó nghiệm một điều là chú nó và thằng em đều có khiếu kể chuyện kiến trong lỗ cũng phải bò ra, và nó nghĩ dại:</p>
<p>Thế nào sau này thằng đầu gáo cũng là…”phó cúi”. Cho mãi tận đến ngày ri cư, nó mới khám phá ra một điều là: Thằng đầu gáo chưa một ngày…đi học.</p>
<p>***</p>
<p>Gia đình nó vào Nam trước hiệp định đình chiến. Đến gần cuối năm, họ hàng nó mới lục đục vào bằng máy bay, bằng tầu há mồm. Ngày nào nó cũng ra cửa nhà ngóng thằng em họ, nhưng chẳng thấy tăm hơi gì sất. Cứ dăm ba bữa nghe nhắn tin, bà cụ và nó lại hớt hải leo lên chiếc taxi con cóc, chạy đôn chạy đáo hết khu Phú Thọ Lều đến Khu Dân Sinh, rồi từ Nhà Hát Tây đảo về trại Học Sinh Di Cư Phú Thọ. Chiều về nghe ông cụ nó nhiếc bà cụ: “ Rõ ngớ ngẩn, chú cháu nó bao giờ…đi học đâu”.</p>
<p>Đi học thì mãi đến tận cuối năm 54, thầy giáo là người Nam, trò nghe như vịt nghe sấm đại loại như Bắc gọi “cái cù dìa”, Nam kêu là “cái muỗng”. Bắc nói “gầy”, Nam nói “ốm”, Bắc nói “ốm”, Nam kêu “bịnh”. Mà bịnh ”thiệt” vì nó quên béng thằng em họ hồi nào “hổng” hay, chỉ những lúc nào đánh đáo, chơi bi mới chịu nhớ…”chút xíu” thôi. Một lần, nó ngớ ra khi nghe hai đứa học trò trong Nam nhại nhau: “bắt con cá gô, bỏ trong cái gồ, nó kêu gột gột”. Sau đó hiểu ra, nó ngơ ngẩn đến thằng “con tâu tắng nằm bờ te tụi”, và ngẩn ngơ đến cả nửa buổi. Vả lại nó cũng đã nhớn rồi, mười lăm, mười sáu tuổi chứ ít ỏi gì. Vì nó đã tập tành làm người nhớn là ngồi ở cái quán cóc gần nhà, húp đĩa cà phê “bí tất”, buồn buồn móc túi: Một đồng ba điếu Ruby.</p>
<p>***</p>
<p>“Yêu em đốt cháy cuộc đời – Vàng tay khói thuốc vẫn còn yêu em” , nó trở thành “gã” lúc nào cũng chẳng biết nữa…Yêu rồi lấy, nhưng số gã ruồi, vợ gã được Chúa gọi về nước Chúa, thế mới…bịnh. Những ngày cuối tuần, đóng tuồng người di tản buồn, gã rị mọ mấy băng nhạc tiền chiến cũ xưa, những tình khúc bất tử và gậm nhấm nỗi buồn như trấu cắn ấy, gã nghe mãi không chán. Chợt màn ảnh hiện lên dẫy tường loang lổ bên góc phố có treo cái gương thợ cạo. Trong gã dấy lên một chuỗi hình ảnh ở cái tuổi ấu thời với cái cổng gỗ hai cánh nặng nề, cái khóa to bản đã hoen rỉ, then gài là cái đòn gánh. Mỗi lần đẩy cánh cổng, âm thanh rít lên kít kít như…võng đưa kẽo kẹt bê hè.</p>
<p>Thời gian bay như….quạ bay. Năm mươi năm chẳng là bao, nhưng nửa thế kỷ có dài thật qua khuôn mặt, dáng dấp của thằng em họ ngày nào như mới đâu đây, thóang ẩn thóang hiện. Nghe bát nháo nó cũng mới vào Sài Gòn, gã so đo chắc phải về thăm nhà một chuyến. Một công đôi chuyện, chuyện của gã cũng dễ hiểu thôi, nghe tin nồi chõ vợ gã mất, bà chị cùng cha khác mẹ gã đã săm soi chấm được chỗ ấm lòng cho cậu em yên bề gia thất, sau đó, cứ mè nheo gã mãi. Hay là cứ chiều bà chị một lần cho biết chuyện về Việt Nam, sau một tháng tìm hiểu dấm dớ bờ bụi là…có vợ ngay.</p>
<p>***</p>
<p>Đùng một cái, vào một ngày không nắng cũng chẳng mưa, gã có mặt ở Sài Gòn, chẳng ai biết chẳng ai hay. Ngay đến ông chú gã cũng ngẩn người ra khi nhìn thấy gã bước vào cửa. Gã tự giới thiệu, bắt tay, đến mấy giây sau, với khuôn mặt lờ đờ, bất động, ông chú mới gục gặc cái đầu, buông thõng một câu hờ hững: “À, cháu mới về…”. Rồi thôi. Đến cái bắt tay như không cảm súc, lạnh lùng xa lạ làm gã hụt hẫng.</p>
<p>Sau đấy, ông chú chậm rãi hỏi thăm về ông cụ bà cụ gã, giọng đều đều như muốn giữ một khỏang cách nào đó, tất cả như rơi vào quên lãng, không vồn vã mà cũng chẳng gần gũi, ngay như cả với thằng Ngụy là thằng cháu của ông đây. Ông chỉ cành đào Trung Quốc ở bàn thờ và chép miệng là cũng khẩm tiền. Gã ngao ngán ậm ừ và lơ đãng nhìn theo, trên tường, không thấy nhang khói, ngòai bức hình lộng kính ông Hồ, áo đại cán, mắt sâu hoắm, chòm râu ngô lơ thơ. Gã chỉ muốn “liệng cống” ngay cho rồi.</p>
<p>Hóa ra cành đào chỉ là cái cớ, khuôn mặt ông chú dịu lại, ông chỉ cái huy chương “Sao vàng” treo gần đấy. Giọng ông khi cao khi thấp về chiến dịch “Trường Sơn anh hùng”, thành quả của ông là dựng được cái cầu cho xe Molotova chạy…qua cầu. Gã lâu lâu đẩy đưa một, hai câu hỏi địa danh để thăm dò, từ đó mới biết, ông chú thượng tá công binh, chỉ mới hẻo lánh tới…chân núi, chưa mò đến đỉnh Trường Sơn. Chuyện nhạt như nước ốc tiếp tục, giọng ông trầm hẳn xuống, như tiếc nuối cờ đến tay chưa kịp phất vừa mới qua, rằng chan tương đổ mẻ, ông hụt mất cái ghế thứ trưởng thơm như múi mít. Đến đây đầu gã như say sóng, nhấp nhô đến cái thùng đồ nghề dao, kéo cũ xưa, đang bập bềnh cùng con nước thủy triều…cuốn xa và mất hút.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Nói cho lắm tắm cởi truồng, nào có hay ho gì chuyện bá vơ trên. Vì qua ông cụ gã kể, gã biết tỏng ông…theo cách mạng cuối mùa thu chết, chẳng qua cũng là chuyện gió đánh đò đưa. Số là ông hành nghề húi tóc ở Thái Bình, say sỉn tới bến hồi nào chẳng biết nữa…Với con dao cạo, ông hoa tay nhè cái tai khách sớt một miếng ngon lành, khách là ông quan một Bảo Chính Đoàn nổi hung rút súng ra bắn chỉ thiên “pằng, pằng”. Thế là ông bỏ của chạy lấy người, ông lên Hà Nội…tị nạn. Đến lúc ông cụ bà cụ gã đeo máy bay vào Nam, tiếc của ông về quê bán ruộng nên…chạy không kịp, nên đành ở lại theo bác. Rõ ra chuyện ông…phấn đấu bản thân để rồi cốc mò cò xơi, mất bu nó mất cái chân thứ trưởng và ông đau hơn hoạn là thế!.</p>
<p>Vẫn chưa xong cái nợ đời, ông còn khoe mẽ thằng con ông là phó biên tập tờ Nhân Dân. Gã nghe thấy cũng hay hay, vì nghĩ lại từ cái thưở mặc quần thủng đít, rõ ra thằng em họ này chưa một ngày…đi học cơ mà. Gã ngúc ngắc đầu và nhủ thầm thằng con ông đổ đốn nay là…nhà văn. Giời ạ, chuyện gánh bùn sang ao là vậy đấy, thiên hạ cứ tự nhận bá vơ mình là nhà thơ, nhà văn, chẳng ai nhận mình là…nhà cầu, nhà quàn gì sất cả. Gã lầu bầu trong cổ họng rằng chạy trời không khỏi nắng, thôi thì con giống cha nhà có phúc, bố là …cán búa, con là…là…cán gáo là đúng quá cha rồi còn gì nữa.</p>
<p>Chưa hết, trong gã vừa bực mình, vừa lấn cấn với khuôn mặt nhăn quéo, thô gầy của ông chú với giọng nói khô rong róc…Nói cho ngay, bấy lâu nay gã vẫn ấm ức ông là chuyện này, cũng qua ông cụ gã: số là thằng em ruột gã…được đi học tập cải tạo. Ông cụ gã gửi tiền về nhờ vả ông em rể đi thăm nuôi thằng cháu. Nghe thằng em kể lại ông chú có tới…thăm thật, nhưng chỉ tới nhà thằng nón cối nào đó cách trại cả năm, ba cây số để “tham quan” và nhờ tên này mang vào trại cải tạo gói quà vắng gió đìu hiu là gói sôi nếp và dăm phong kẹo lạc cho thằng cháu…cưỡi ngựa xem hoa.</p>
<p>Vì ông chú mà gã mất vui, hình ảnh thằng em của cái tuổi thiếu thời trong gã cứ thế lặng lẽ nhạt dần theo sương khói. Bây giờ thay vào là thằng cán gáo, thằng em xã hội chủ nghĩa, gã mất đi cái hào khí của dòng nhạc: “Khi đất nước tôi thanh bình, tôi sẽ đi không ngừng, Sài Gòn ra Trung, Hà Nội vô Nam, tôi đi chung cuộc mừng…”. Và gã chẳng mùng gì mấy, rời nhà ông chú đến thăm thằng em. Trên đường đi, gã lầu nhầu…truyền thống dân tộc tân tiến của người trong nước lúc này quái thật, ngày tư ngày Tết vác xác tới giờ ăn trưa chả có mốc khô gì để hốc, nên bụng dạ gã đói meo.</p>
<p>Nhưng cũng chẳng lạ gì vì gặp họ hàng hang hốc gần xa, những người kẹt lại sau 54. Nói chung chẳng phải vơ đũa cả nắm, với cảm quan phiến diện của gã dường như họ, tất cả đều có một mẫu số chung là: Trong khi nói chuyện, thoạt kỳ thủy họ e dè giữ một khoảng cách đến nhạt nhẽo, nhất là đụng chạm đến chuyện thời thế, thời này thế đấy thời trước thế đó. Hoặc giả như cọ xát đến những nhân vật thời sự “có vấn đề” đang nổi cộm trong nước, họ tìm cách tránh né vì “nhậy cảm và tế nhị”. Hỏi tới nữa, họ sẽ có những bài bản gần giống nhau là họ…rất ít thật và rất nhiều giả.</p>
<p>Như ông chú gã đây hay thằng em lát nữa sẽ gặp chẳng hạn.</p>
<p>Cái kim để trong bọc lâu ngày cũng lòi ra, khi không, gã nhớ lại câu nói xưa kia của bà cụ về ông chú “ôi dào, lại mang vạ cái lão cám hấp, đồ phải gió phải giây…”. Mặc dù ngày ấy, gã chả hiểu “cám hấp”…liên hệ với “đồ phải gió…” là khỉ gió gì. Ngồi trong xe, gã bỗng chán chường, và ngại ngùng không lẽ giỏ nhà ai quai nhà ấy, vì cũng qua bà cụ, đến thằng em họ gã là “thằng nhà quê sáng tay họ, điếc tai cầy” từ bé đã “mới nứt mắt ra đã cốc láo”. Bỗng dưng gã thở ra một tiếng…thở dài.</p>
<p>Rời nhà ông chú gã cảm thấy lêu bêu như Từ Thức về trần với những đổi thay. Tuy nhiên, gã không quên dặn dò ông đừng cho thằng em biết vì gã muốn dành…một bất ngờ. Bụng dạ đang đói meo, gã bèn “lên kế hoạch” là sẽ chiêu đãi người anh em xã hội chủ nghĩa ở một tiệm ăn thương hiệu với những món ăn đặc sản như…mối chúa chẳng hạn. Sau đó có đấm mõm nó thêm tí ti hủ hóa ”trăm năm bia đá cũng mòn, bia chai cũng vỡ chỉ còn…bia ôm” cũng chẳng chết thằng răng đen mã tấu nào. Sau đấy dậu đổ bìm leo, được nghe nó nói chuyện…văn học thì vui biết mấy. Nhưng vội lắc đầu sua đuổi ý tưởng chữ nghĩa eo sèo hay lạc quan tếu ấy đi, để tiêu pha thì giờ đường xa vò võ, gã nhìn ra ngòai ngắm cảnh phố xá. Đột nhiên trái nắng trở trời, gã chúm môi huýt sáo “Từ quê nghèo lên phố lớn, bàn tay ta nắm &#8211; Biển xanh sông gấm, nối liền một vòng tủ sinh…” và ngáo ra tự hỏi quái lạ! Vào cái thời buổi nhất phe nhì cánh với “nhà ở phố, bố làm lớn” mà nhà thằng em nhè hóc bò tó tận Hóc Môn, Bà Điểm xa tít mù khơi.</p>
<p>***</p>
<p>Quẹo trái, quẹo phải mấy cái hương lộ, trời cao, nắng nỏ, thấp thóang đằng sau căn nhà, bụi cây, lúa vàng như duối chín, vàng ưng ửng trong một ngày nhạt nắng.</p>
<p>Và bây giờ gã sắp gặp lại người muôn năm cũ…</p>
<p>Thằng em đi ra, che mắt vì tia nắng có vệt lọt qua khe cửa, mặt mày ngơ ngác vì chẳng biết ông khách lạ nào đây. Gã đã định bụng sẵn với…một bất ngờ. Chuyện là gã biết tẩy mấy anh cán bộ…lao động văn hóa cật lực này, thường hay sợ hoảng sợ tiều sau thời kỳ…hậu cởi trói văn nghệ. Và họ sợ nhất bị bạn văn, bạn thơ chụp…cái nón cối thì vỡ mặt. Thế nên gã hú họa nó:</p>
<p>&#8211; Tôi là cán bộ bảo vệ văn hóa của Hội nhà văn…</p>
<p>Gã làm mặt nghiêm và buồn:</p>
<p>&#8211; Ông là Đạm?</p>
<p>Mặt thằng em xanh như đít nhái, nó lắp bắp:</p>
<p>&#8211; T…ôi…tô…i…</p>
<p>Thấy khuôn mặt thằng em mà tội nghiệp nên gã thôi:</p>
<p>&#8211; Đạm phải không?</p>
<p>Khuôn mặt thằng em ẩn hiện sau bàn tay che nắng, mắt hấp háy…Gã mỉm cười:</p>
<p>&#8211; Anh Hùng con bác Tư đây.</p>
<p>Ba giây. Gã nhớ rõ đúng ba giây…</p>
<p>Như chòang tỉnh giấc kê vàng, thằng em chồm tới ôm chầm lấy gã:</p>
<p>&#8211; Anh Hùng…</p>
<p>Và ghì chặt lấy gã không muốn buông rơi, như muốn níu kéo…Lắng đọng thật lâu, thật dài, dài cả năm mươi năm, cả nửa thế kỷ. Thằng em nghẹn ngào:</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&#8211; Anh Hùng…</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Gã nhẹ nhàng gỡ tay thằng em ra, thóang lặng nhìn từ trên xuống dưới, khóe mắt nó hình như ươn ướt…Nhìn xuống một chút nữa, như ngày xưa cũ kỹ, không đổi thay: Giờ ạ! Nó vẫn đi…chân đất. Hai anh em ôm chòang lấy nhau một lần nữa. Giọng thằng em thì thào qua tai gã, như tỉnh giấc mê trần:</p>
<p>&#8211; Em biết thế nào anh cũng về…</p>
<p>Mắt gã cũng đọng nước thì phải. Gã đánh trống lảng hỏi nó khỏe không? Nó ghì mạnh gã rồi chợt buông ra, quay lưng đi vào trong nhà và quệt mắt. Nó nói vọng lại:</p>
<p>&#8211; Em vào thay quần áo. Bình thường thôi anh.</p>
<p>Nhìn thằng em từ sau lưng qua bờ vai đầy an phận. Gã lan man thời buổi này được bình thường như nó thì gã chẳng mong đợi gì hơn, không bình thường mới có chuyện. Lần đầu tiên vê thăm quê nhà, gã thấy đầu óc dịu nhẹ với bề ngoài thằng em có những nét bình dị. Gã lơ đãng đảo mắt nhìn vào phía trong, đúng là nhà trống ba gian, không vách ngăn, không cửa nẻo, thông thốc tới tận cái bếp, cái sân sau. Gã bắt gặp thằng em vuốt tóc, chải đầu…bằng tay. Gã bần thần nhìn mớ đồ đạc đơn sơ quanh nhà, gã cảm thấy thoáng đãng và gần gũi với thằng em hơn. Vì nhìn quanh quất trên tường, gã không thấy hình ảnh…cha già dân tộc và mấy cái bằng tưởng lục ruồi bu.</p>
<p>Chợt nó nói vọng ra:</p>
<p>&#8211; Bác đợi em hâm tí nước nhá.</p>
<p>Giọng nói có một chút nào…hâm hâm, mà cũng quái lạ, nó lại đổi tông qua “bác, bác, em, em”, đúng điệu cán gáo hay Bắc kỳ hương lý, nhà quê nhà mùa. Thằng cán gáo đi ra tay bưng khay nước, tay cài…cúc quần. Gã nghĩ quẩn là cái thằng của nợ này cũng nho phong sĩ khí chán, vẫn còn giữ được văn minh, văn vật Hà thành nghìn năm mây bay là phải đóng bộ cho tươm tất để tiếp khách. Nhưng lấn cấn trong đầu gã thằng cán gáo mặc cái quần tây nhàu nát, không mang thắt lưng, chả hiểu nó quên hay chẳng có mà đeo. Rồi hai anh em râm ran, chuyện xưa chuyện nay, chuyện này chuyện kia, nó hỏi gã dồn dập, gã như ngộp thở chóng mặt. Gã kể cho nó nghe vừa ghé thăm “thầy” nó, với chuyện huy chương “Sao vàng”, với “Trường Sơn anh hùng”. Nó nhấm nhẳng:</p>
<p>&#8211; Tưởng chuyện gì. Chuyện đó bình thường thôi.</p>
<p>Rồi thằng em làu nhàu:</p>
<p>&#8211; Tốn cả trăm đô để có cái của nợ ấy, bác ạ. Tiền chứ có phải vỏ hến đâu, vả lại thầy em chỉ được cái nước hão, đã có dạo đói vàng mắt ra đấy. Bình thường mà.</p>
<p>Xong nó tặc lưỡi:</p>
<p>&#8211; Thầy em, chỉ được cái theo voi ăn bã mía, đi sau đổ vỏ cho thằng ăn ốc.</p>
<p>Có hầu chuyện với ông chú, gã mới u ơ nó là phó biên tập một tờ báo nhớn. Dòm kỹ thì bề ngoài chẳng…văn vẻ gì cho mấy, gã vén môi hỏi bỡn nó:</p>
<p>&#8211; Chú làm gì mà…cây đa cây đề quá thể vậy?</p>
<p>Thằng cán gáo bát nháo rằng:</p>
<p>&#8211; Báu gì thưa bác, phó…nào có khác gì như tủ lạnh chạy đầy đường. Em học khoa văn, nhẩy sang khâu…kinh tế. Họ không có chó thì bắt mèo ăn cứt vậy thôi, thưa bác.</p>
<p>Cũng qua ông chú, đột biến thằng em đốc chứng hưu non, ngày ngày đọc sách thánh hiền, dường như đang ôm giấc mộng lớn, mộng con với tề gia trị quốc bình thiên hạ thì phải. Gã gặng hỏi cớ sự gì lạ quá thể, thằng em xao xác:</p>
<p>&#8211; Bình thường thôi bác, để lát nữa em sẽ…kinh qua nhiều hơn.</p>
<p>Thấy bếp vắng người, gã vừa định hỏi chuyện vợ con nó cho phải phép, cũng vừa lúc gã đảo mắt xuống cái chum cuối sân. Sợi giây treo quần áo oằn xuống vì sáu, bẩy cái “sì-líp” đàn bà to đùng như cái nồi ba mươi, dềnh dàng thồn thộn làm gã hãi quá sức. Gã nhẩm chừng, chắc vợ nó cũng tốt tướng phì nhiêu lắm đây. Nó thì người ngợm như que tăm, kiểu đuôi chuột ngó ngoáy lọ mỡ lớ quớ sặc gạch có ngày. Tiếp, gã buồn miệng hỏi thăm…hiền thê, nội tướng nó đâu. Nó lấp lửng:</p>
<p>&#8211; Nhà em đi “Mút cu” sắm ít đồ, mua đầu chợ bán cuối sông ấy mà.</p>
<p>Gã súyt nhẩy dựng vì…mút cu. Vì chẳng là mới đây gã ghé Vũng Tầu…tham quan. Ngay bãi trước, sát bên hông chợ, đập chát vào mắt gã có con đường mang cái tên quái quỷ là…“Bú cu”. Gã đực mặt ra như ngỗng ỉa, bèn há họng hỏi thằng bạn thổ công đất biển cớ sự gì hay vậy nhẩy. Bạn gã thuyết mình ấy là tên của một ông phi hành gia….người Nga. Gã lại ngáo ra nữa. Quái! Mắc mớ gì mang tên ông phi hành gia có cái tên…thiếu cơ sở văn hóa đến như vậy để đặt tên đường. Gã chả hiểu mồ cha không khóc lại đi khóc cái tổ mối, khi không rước người Nga này về làm gì chẳng biết nữa. Đang phất phơ đến đây, như có thần giao cách cảm, nó quại một câu trơ khấc:</p>
<p>&#8211; Nhà em…người Nga.</p>
<p>Gã chớ phở ra và há họng:</p>
<p>&#8211; Chú nói gì! Người Nga?</p>
<p>Nó cười tóet, nụ cười thật hiền hậu, rổn rảng kể lể:</p>
<p>&#8211; Chẳng phải tay vừa đâu bác, nhà em dậy Ngôn ngữ học đấy</p>
<p>Gã đớ người ra như cán cuốc, bổ một câu thật ngớ ngẩn:</p>
<p>&#8211; Ngôn ngữ học?</p>
<p>Gã chưa kịp hòan hồn, nó đã láu táu:</p>
<p>&#8211; Để em sắp bữa cơm quấy quá mời bác sơi.</p>
<p>Nó vào nhà trong, gã nhìn theo, mắt lại va vào…mấy cái “si-líp”. Và rủa thầm cái thằng quái! Vợ đi vắng mang mấy cái của nợ treo làm khỉ gì chẳng biết nữa? Đang lẩn thẩn vậy thì…thì…bất chợt gã bắt gặp nó rất…vô tư: gã thấy nó vén quần…tồ tồ ngay cái chum. Gã lại mầy mò sao thằng em nhè cái chum mà tung tóe. Tiếp đến, lấy cái gáo dừa múc nước rửa tay, tiện tay nó lại xoa mặt, vuốt tóc. Cái này thì giời ạ, gã thấy thằng cán gáo…không bình thường chút nào.</p>
<p>Vừa mang bát đũa, ly tách ra, nó vừa nói: “Vợ chồng em như con cua, cái ốc nơi xó đồng, cả đời duyên nợ với chữ nghĩa, nay nhà em xoay ra sọan tự điển Nga-Việt”. Như bực bội, nó lấy ra quyển tự điển của người Hòang Phê nào đó trong ngăn kéo, mở ra phân bua: ”Bác xem, họ làm ăn chẳng ra ngô ra khoai gì cả, “cái ly” trong Nam mà ngoài Bắc mình gọi là “cái cốc” để uống rượu” ấy mà, thì họ cho là phương ngữ.</p>
<p>Nghe “phê” qúa thể, gã bèn hỏi móc lò:</p>
<p>&#8211; Chú thấy tiếng Việt trong sáng…</p>
<p>Chưa nghe hết, nó đã gạt ngang:</p>
<p>&#8211; Tiếng Việt trong sáng ở cái khổ nào, như “nhắc nhở” đẻ ra “nhắc nhớ”. Rồi cứt trâu hóa bùn với “năng nỗ”….</p>
<p>Đột nhiên gã bốc thối:</p>
<p>&#8211; Bình thường thôi mà</p>
<p>Nó gân cổ cãi:</p>
<p>&#8211; Bình thường sao được! Dân trong này họ nói chệch ra là “năng nổ”…nổ như lựu đạn ấy, mấy ông ngôn ngữ trí tuệ, đành ngồi trơ mắt ếch nhìn nhau.</p>
<p>Gã cũng trơ mắt nhìn nó vì chả hiểu sao thằng em mang chuyện “tự điển” vào đây cho rách chuyện. Cầm…cái đồ để uống trà, gã chịu chết chả hiếu nó là cái cốc hay cái ly?. Bắt qua chuyện…văn vẻ, gã hỏi thằng em dạo này còn viết lách gì nữa chăng?</p>
<p>&#8211; Thưa với bác, em tịt bút từ lâu. Ở đây, bác muốn viết gì thì viết, tự do nhân bản mà, nhưng đừng dại viết những gì đang có trong đầu. Nói thực với bác, cứ theo cái nghề thợ cạo xưa kia của thầy em đè đầu đè cổ thiên hạ, thế mà hay…</p>
<p>Gã nhủ thầm đúng là thằng cán gáo cầm cu cho chó đái bây giờ mới chịu vỡ bọng cứt ra. Hai anh em rù rì nói chuyện như vậy cho mãi đến sế chiều, nhìn thông qua sân sau, nắng quái chiếu qua tàn cây, song cửa một mầu đỏ tím rịm…Có một lúc gã mông lung, mãi sau mới nhớ ra, và hỏi thằng em lúc này nó còn “con tâu tắng nằm bờ te tụi” nữa chăng…</p>
<p>***</p>
<p>Làm như không nghe gã hỏi, khi không thằng em đứng dậy mò mẫm cái tủ sách sau lưng. Nó cúi xuống kệ cuối cùng lục lọi mãi mới lôi ra được một quyển sách dường như được giấu kín ở đấy từ lâu và đưa cho gã. Gã liếc thoáng qua: sách bọc giấy dầu đã sờn rách, chắc đã được đọc qua nhiều lần. Nó ngồi xuống, rướn người gần nửa cái bàn về phía gã, mặt mày đăm chiêu, thì thầm về quyển sách mà thằng em thửa được. ấy là quyển Hoa xuyên tuyết của Bùi Tín. Và giọng nó trầm hẳn xuống cho gã biết bạn bè truyền tay nhau xem, mê lắm.</p>
<p>Rồi mặt mày thằng em dáo dác, mắt lấm lét, chẳng ra dáng nhân sĩ Bắc Hà tí ti ông cụ nào. Nó sì sầm thật nhỏ, lúng ta lúng túng như gái ngồi phải cọc. Mãi sau gã mới hiểu có đầu có đũa. Hóa ra nó nhờ gã làm cách nào để có quyển Đêm giữa ban ngày của Vũ Thư Hiên, sách gối đầu giường của bạn bè nó bây giờ. Theo nó thì họ giấu như giấu mả tổ, nó chỉ nghe nói có nhiều chuyện thâm cung bí sử, rung rinh cả triều chính, như chuyện ông Hồ có ba vợ, có con chẳng hạn. Sợ gã không nghe rõ, thằng em dăn dò thêm: “Bác nhớ nhá. Bác làm cách nào gửi cho em nhá”.</p>
<p>Nhá với nhem, gã lẩm bẩm, vậy mà cũng nhỏ to. Mà nó cần quái gì phải đọc, gã nhủ thầm: Cả chặng đường đã qua của thằng em là…đêm giữa ban ngày rồi còn gì nữa! Nghĩ thì nghĩ vậy, nhưng gã biết nói gì với thằng em đây…Hình như cuộc sống đến một lúc nào đó phải chấp nhận những gì…”không bình thường” và cứ xem nó như…bình thường. Chấp nhận những gì mà mình đã có. Đang có được hay sẽ có. Hoặc không. Để chịu đựng qua cơn bão, để làm sao biết tìm nơi trứ ẩn dưới cơn mưa.</p>
<p>Như dựa dẫm vào dăm ba quyển sách chẳng hạn! Như thằng em gã bây giờ.</p>
<p>***</p>
<p>Lặn lội từ Bắc vào Nam gã không thửa được vợ. Nhưng khuân về được hình bóng mội thời, một thưở của thằng em họ. Mấy tháng sau đang ngồi ngoài vườn, bất giác nhìn lên khỏang không, đất trời trùng hẳn xuống, gió thổi mây xoắn tít. Gió như bước chân mùa thu khẽ tới, hoa lá cụm lại thủ thỉ lời chia tay với nỗi nhớ nhung. Gã cứ lất phất với hình ảnh thằng đầu gáo ngày nào chỉ cho gã đánh khăng:</p>
<p>“…Đặt cái khăng con nằm dọc theo cái lỗ, nhích đi nhích lại, miệng dặn dò: ”Đằng ấy gõ vào đầu này nhá, đợi cái khăng con bung lên khỏi mặt đất, thì..”. Thằng em ra hiệu chỉ vào ngang đầu gối, nhổ nước bọt đáng bẹt vào bàn tay, xoa xoa, tiếp: “Rồi đằng ấy cứ nhắm tịt mắt, quất cái vù”. Nó thấy ngon như óc chó…”a-lê-hấp”…vẹo người, nhắm mắt nhắm mũi, phang bừa….Lại…hụt nữa.</p>
<p>Thằng đầu gáo cáu, vỗ đùi cái đét, chửi đổng: “Mẹ, ngu như lợn…”.</p>
<p>Nắng khơi khơi, mây khan khan…Nhìn đất trời mãi cũng ngán ngẩm, không ngoài hòa mình vào những hoài niệm của quá khứ thì cũng vậy…vậy thôi. Bất chợt nhớ tối hôm qua đi ăn ngoài, tiệm có treo trên tường mấy cái hộp kính đựng đàn cò, đàn gáo. Thế là gã tìm về quá vãng bằng cách ngồi tủn mủn cưa, cắt khúc cây cả một lúc lâu mà chẳng ra…cái khăng con, cái khăng cái của cái tuổi thiếu thời. Mà quái lạ, càng đẽo, càng gọt nhẵn thín lại giống…cái que.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Và gã bật ra một ý nghĩ…Bỏ cưa với dao đấy, gã vù ra chợ mua về một trái dừa tươi to bằng cái bong bóng lợn, may mà không phải là trái dừa điếc. Gã lây lất đến thằng em những ngày ở quê ra ao soi ếch, ra đồng hun chuột. Gã mường tượng thầy nó là ông phó cạo với những tháng ngày búng ghét đuổi ruồi và kể chuyện gà trống đạp mái, gà con chạy te te kêu khiếp khiếp, con chó thấy vậy kêu đâu đâu.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Đâu chẳng thấy, tẩn mẩn lột mớ sơ dừa, gã đong đưa về quê nhà đất Bắc, sơ dừa dùng làm bùi nhùi. Đầu óc gã thêm rối tinh với hình ảnh cô vợ Nga của nó có cái mông chành bành như cái lồng bàn, đang cọ nồi cọ chảo bằng mớ bùi nhùi đầy tình tự dân tộc. Vẫn chưa xong, gã lan man với cùi thân dừa làm “cù dìa”, chữ cù từ cùi, dìa ở dừa mà ra, tiếng Việt khó thế đấy.</p>
<p>Như gã đang cưa, cắt, mài, khoan đây, mờ người ra chứ đâu có dễ.</p>
<p>Ấy là gã đang khoan cái lỗ để nhìn xuyên qua quá khứ… Từ một nơi chốn đi về, quá khứ của gã đang ẩn hiện, xa vắng vời vợi. Cuối cùng gã nheo mắt, săm soi đút…cái que xuyên qua…hai cái lỗ trái dừa để làm…cái gáo.</p>
<p>Và gã bâng khuâng…</p>
<p>Trong vườn nhà gã hình như thiếu vắng cái chum thì phải?</p>
<p>Thạch trúc gia trang</p>
<p>Phí ngọc Hùng</p>
<p>©T.Vấn 2011</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image002197.jpg"><img decoding="async" style="background-image: none; margin: 0px 20px 10px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; float: left; padding-top: 0px; border: 0px none;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image002_thumb127.jpg?strip=all&fit=239%2C319" alt="clip_image002" width="239" height="319" align="left" border="0" hspace="12" /></a></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/th%e1%ba%b1ng-em-cn-go-2/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Không : Những chiếc nón cối</title>
		<link>https://t-van.net/nh%e1%bb%afng-chi%e1%ba%bfc-nn-c%e1%bb%91i/</link>
					<comments>https://t-van.net/nh%e1%bb%afng-chi%e1%ba%bfc-nn-c%e1%bb%91i/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 15 Jul 2011 04:30:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[con người]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không]]></category>
		<category><![CDATA[truyện ngắn]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/testsite/wordpress/?p=2048</guid>

					<description><![CDATA[&#160; “ . . . Cũng thực lòng mình, mình tức là cái thằng tôi đây, trong trận chiến giữa “ta” và “địch” vừa rồi, tôi vẫn còn “thua” gã ở cái “tình người”. Tất cả đã đẩy đưa tôi có những suy nghĩ vụn vặt, chẳng thể chối bỏ, về những người kẹt lại [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image002164.jpg"><img decoding="async" style="background-image: none; margin-top: 0px; margin-bottom: 10px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border-style: initial; border-color: initial; margin-left: 12px; margin-right: 12px; border-width: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image002_thumb99.jpg?strip=all" alt="clip_image002" align="left" border="0" hspace="12" /></a></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em>“ . . . Cũng thực lòng mình, mình tức là cái thằng tôi đây, trong trận chiến giữa “ta” và “địch” vừa rồi, tôi vẫn còn “thua” gã ở cái “tình người”. Tất cả đã đẩy đưa tôi có những suy nghĩ vụn vặt, chẳng thể chối bỏ, về những người kẹt lại năm 54, làm thế nào được khi mà ý thức hệ, thể chế và 20 năm chiến tranh đã để lại cho tôi những cái nhìn phiến diện và lệch lạc giữa kẻ đi, người ở. Tôi và họ, trong cuộc chiến chẳng có gì để mà chọn lựa, không đứng bên này thì cũng ở bên kia, và vô hình chung đành chịu trận giữa hai lằn đạn . . . “</em></p>
<p>Trên đây là một đoạn trích trong “ Những chiếc nón cối “ của Ngộ Không . Nhân vật “ gã “ ông nhắc đến để thú nhận rằng ông thua “ gã” ở cái tình người là nhân vật xuất hiện ở nửa đầu câu chuyện , có cái tên ông đặt cho là “ thằng nón cối “.</p>
<p>Thằng Nón Cối , tự cái tên gọi đã khiến người đọc hình dung ra được gã là ai, sinh sống ở đâu. Nhưng gã đã làm gì để ông Ngộ, một người “ di tản buồn “ của miền Nam bại trận, thú nhận ông “lại thua một phen nữa “ ? Qua từng trang chuyện, tôi đã chưng hửng với mỗi tình tiết được khai mở.</p>
<p>Nhưng cũng vẫn chưa “ gay cấn “ bằng nửa sau của câu chuyện “ Những chiếc nón cối “. Câu chuyện vẫn là về những “thằng đội nón cối “ nhưng không còn đội cái nón cối quê mùa trên đầu nữa. Nhưng gốc nón cối thì vẫn cứ là nón cối. Và trên bàn rượu của Sài Gòn thế kỷ 21, trận chiến cũ của 36 năm trước được ông Ngộ nhắc lại. Đúng hơn, trận chiến ấy lại xẩy ra lần nữa. Tất cả vẫn cứ như cũ thôi. Những kẻ thắng vẫn cứ hả hê trong cuộc chiến tưởng mình thắng. Những kẻ bại – mà tiêu biểu là ông Ngộ của tôi – cũng hả hê với ngón nghề bậc thầy “ di tản chiến thuật “.Quả là tuyệt chiêu của chữ nghĩa ông Ngộ trong thủ thuật “ tái hiện 55 ngày đêm của cuộc đại thắng mùa Xuân “ năm nào.</p>
<p>Thế rồi, trong lúc vẫn còn tối tăm mặt mũi vì những chiếc nón cối đang hả hê “ bòn rút những khúc ruột ngàn dặm “ thì bỗng dưng ông Ngộ chuyển “ tông “ thật đột ngột và cũng thật đắt.</p>
<p><em>“ . . . Đứng trước hiên nhà, mùa xuân đã trở lại, dàn hoa vàng của những chùm hoa vông vang ẩn mình trong nắng hanh. Một hình bóng ẩn khuất bấy lâu, đâu đó đang mời gọi… “Mận hỏi thì đào xin thưa – Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào”. Và tôi gõ cửa thật nhẹ…Cửa mở thật êm và như đêm giữa ban ngày . . . “</em></p>
<p>Lại thêm một lần ông làm tôi chưng hửng !</p>
<p>T.Vấn</p>
<p>28 tháng 6 năm 2011</p>
<p><strong>__________________________________________________</strong></p>
<p><span style="font-size: x-large;">Những chiếc nón cối</span></p>
<p><strong><em>Ngộ Không Phí Ngọc Hùng</em></strong></p>
<p>Tôi, thằng Bắc Kỳ, người di tản buồn, bấy lâu nay ôm nỗi buồn không tên qua bóng ngả đường chiều. Cứ năm hết Tết đến thêm nỗi sầu nhân thế “<em>Mỗi năm hoa đào nở &#8211; Lại nhớ cánh mai vàng “,</em> và hụt hẫng nhớ đến miền Nam mưa nắng hai mùa, quên tiệt đất Bắc mưa phùn gió bấc mãi tận đâu đâu. Buồn với nhớ đất lề quê thói còn đấy, tự nhủ chắc phải về thăm nhà một chuyến, một công đôi chuyện sắm ít đồ cổ dối già…</p>
<p>Vậy mà khất lần đến nửa năm, Sài Gòn cát bụi, tôi chán ngấy, Hà Nội xô bồ, tôi đã nhẵn thín qua mặt báo nên đâm ra chần chừ. Rồi vất vưởng trong đầu hay là về Bắc thăm bà chị cùng cha khác mẹ, hơn năm mươi năm có lẻ, hai chị em chưa bao giờ gặp nhau. Số là ngày chị từ quê ra Hà Nội, tôi đeo theo tầu há mồm vào Nam. Ngày chị vào Sài Gòn tìm tôi, tôi lại đu theo tầu hải quân qua cái xứ chết bầm chết dí này.</p>
<p>Từ cái dạo đứt phim ấy, hai chị em chỉ liên lạc với nhau qua thư từ, thương chị, năm cùng tháng tận, dấm dúi chị ít tiền lì xì, vậy thôi. Mượn dịp bà chị tống cho cái thư chữ nghĩa như gà bới: “Cậu cố gắng thu xếp về thăm mồ mả gia tiên, nhà từ đường…”. Mà quái lạ, mấy thứ này với tôi hình như xa vời vợi, đến quê cha đất tổ còn chưa một lần giáp mặt. Lâu lâu nếu có, không ngoài nhấm nhẳng với câu thơ nẫu người “<em>Ai ra bến nước trông về Bắc &#8211; Chỉ thấy mây trôi chẳng thấy làng”. </em>Nghĩ tới nghĩ lui, chạy trời không khỏi nắng là chắc phải…về quê rồi, nhưng vẫn còn ngại ngùng <em>“Tôi bước đi không thấy phố, không thấy nhà &#8211; Chỉ thấy mưa sa trên mầu cờ đỏ”</em>. Thế nên bèn ngẫu hứng qua cầu, chu miệng thổi sáo một khúc nhạc họ Trịnh để có hào khí với một mai: <em>“Khi đất nước tôi thanh bình, tôi sẽ đi không ngừng, Sài Gòn ra Trung, Hà Nội vô Nam, tôi đi chung cuộc mừng và mong sẽ quên…chuyện non nước mình…”.</em></p>
<p>***</p>
<p>Và chuyện non nước mình là như thế này đây: Chả là đáp xuống phi trường Nội Bài, từ cái quầy thủ tục quan thuế, va vào mắt tôi là mấy cái nón “cát-két” viền băng đỏ, họ lật từng trang sổ thông hành như bới bèo tìm bọ. Ngứa miệng tôi quay qua người bên cạnh nhỏ to: “Năm hay mười đây ông?” Khỉ gió gì đâu, vừa lúc có cái nón “cát-két” khác đi tới. Tôi sợ vãi đái ra quần vì hắn dương mắt cú vọ nhìn khúc ruột ngàn dặm nối dài là tôi đây như cú nhìn nhà bệnh. Hắn ghé vào tai tôi: “Năm hay mười cũng…thỏai mái thôi“. Chữ nghĩa nghe mất vui chẳng thỏa thuê tí nào. Để rồi nước non ngàn dậm ra đi, tôi quên béng mất cái cảm giác giao động của những giây phút ban đầu. Ấy là khi trở về quê mẹ, đặt chân xuống mảnh đất quê hương mà có ai đó bày tỏ nỗi niềm là quỳ gối xuống sàn xi-măng phi trường hôn rõ đến chụt một cái.</p>
<p>Nói cho ngay, tôi bị ám ảnh vi những cái nón, nhưng ấy là chuyện sau.</p>
<p>Trong hàng người lố nhố, tôi thấy cánh tay vẫy vẫy của bà chị tôi, chân chị nhẩy cẫng lên như sáo sậu. Hai chị em ôm chầm lấy nhau, mừng mừng tủi tủi, mắt tôi cay cay đọng nước. Trong tôi dâng tràn những cảm giác lạ lẫm như đứa con hoang trở về, sau bao nhiêu năm dài bỏ làng, bỏ nước mà đi. Trên xe, bà chị tôi huyên thuyên chuyện đầu cua tai nheo, chuyện họ hàng xa gần từ Bắc vào Nam. Tới khách sạn, chưa ngồi yên chỗ, bà chị tôi đã mau mắn với miếng trầu là đầu câu chuyện:</p>
<p>&#8211; Cậu nghĩ thế nào về chuyện ấy để chị tính?</p>
<p>&#8211; Chị để thư thả, em đang…suy nghĩ!</p>
<p>Tôi thầm hiểu chị tôi muốn nói gì nhưng cứ ậm ừ tránh né, vả lại tôi cũng chưa mặn mà cho lắm về <em>“một hình bóng”</em> nào đó. Đêm đến, tôi cứ trằn trọc với câu dọ dẫm của bà chị, chẳng qua không ngòai chuyện chị có lòng muốn mai mối cho cậu em đang cha già con cọc. Tôi thì dị ứng với những chuyện ép dầu ai nỡ ép duyên này, niết bàn, địa ngục tôi còn lạng quạng tin được. Chứ một tháng trời…tìm hiểu thì khỉ ạ, không có tôi, cứ như chuyện thầy bói mù sờ voi không bằng. Nằm bâng khuâng nghĩ chuyện xa gần, chuyện về Việt Nam lấy vợ đông như tổ đỉa&#8230; Mà chẳng đâu xa, một khứa cùng trường với tôi, ở miền bắc lạnh giá, già lại thích chơi trống bỏi <em>“Thứ nhất thịt bò tái, thứ nhì gái đương tơ”,</em> mò mẫm về Bắc khuân được một em @ còng thuộc diện 19x, 20x qua đây. Một lũ tụi tôi mời vợ chồng khứa xuống để…xem mắt người “Hà Nội trong mắt tôi”. Hẹn năm giờ ngòai quán, sáu giờ chưa thấy tăm hơi, bẩy giờ mình khứa tiu nghỉu dẫn xác tới. Hỏi ra thì tại một trạm xe buýt nào đó giữa đàng, vợ khứa đánh nước bài chuồn êm như mơ. It lâu sau, ngựa quen đường cũ <em>“Gà tơ xào với mướp già &#8211; Vợ hai mươi mốt, chồng đà sáu mươi”,</em> khứa mang qua một em khác thật mướt. Bạn bè hỏi chưa thấm đòn hả? Khứa tỉnh như ruồi: “Nhưng vẫn còn cái thú đau thương”.</p>
<p>Và chuyện của tôi thì cũng dễ hiểu thôi, nhà tôi mất cách đây không lâu, bà chị săm soi chấm được một hình bóng nào đấy cho cậu em yên bề gia thất. Sau đó, cứ mè nheo tôi mãi, thôi cũng đành chiều bà chị một lần cho biết…cái thú đau thương. Trằn trọc không ngủ được, vì ai chẳng có lúc bị đẩy đưa cùng nước chẩy bèo trôi. Rồi lẩn thẩn về chuyện của hai chị em nói hồi nẫy và hoang tưởng đến cô em gái kết nghĩa của bà chị <em>“Mận hỏi thì đào xin thưa – Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào”</em>. Tôi thiếp vào giấc hoàng lương qua một chuyến đò nên duyên và bắt gặp cô Bắc Kỳ nho nhỏ: <em>mắt như trời bao dung…trước khi nhìn đám đông, hãy nhìn sâu chút nữa, trước khi vào đám đông! em có biết anh không…</em> giữa Sài Gòn cát bụi với áo lụa Hà Đông.</p>
<p>Ấy đấy, vào cái tuổi nhạt nắng tôi vẫn có lúc thả hồn đi hoang như thế đó…</p>
<p>***</p>
<p>Sáng hôm sau đang ngon giấc, tôi bật dậy vì có tiếng gà gáy te te và ngơ ngác chẳng biết mình đang ở đâu. Giống sau năm 75, nửa đêm chòang tỉnh dậy, tóat mồ hôi hột vì vừa nằm mơ thấy bị mấy ông dép râu đuổi chạy vắt gìo lên cổ, tiện chân bèn chạy tuốt luốt qua đây, nên chưa thóat nạn của cái bệnh…u mặc. Châm điếu thuốc lá, ra cửa trầm ngâm nhìn xuống phố phường, trên lề người người đi lại tấp nập, tiếng rao hàng lanh lảnh. Và đập chát vào mắt tôi trong ngày đầu tiên là bức tranh vân cẩu với cuộc đổi đời, rằng giữa lòng Hà Nội 36 phố phường của một sáng tinh mơ là một trang hảo hán đang còng lưng đạp xích lô, đầu đội…chiếc nón cối.</p>
<p>Mẹ ơi, từ tấm bé đến lớn, bây giờ tôi mới nhìn thấy chiếc nón cối từ thời Tây đánh thành Hà Nội, chỉ khác là nó mầu xanh bộ đội bệnh họan. Tôi khựng lại. Tôi có khựng lại thật, nhưng vẫn nheo mắt ngắm cho kỹ…Y trang hồi nào ở xạ trường Thủ Đức, giữa gió lộng bao la của đất trời, tôi cũng đã một lần nheo mắt qua đầu ruồi khẩu M16, ngắm thẳng băng ngay chóc…cái nón cối. Và bấm cò…một cái tách!</p>
<p>Đến trưa, bà chị xách tôi tới thăm vợ chồng gã em họ bên ngoại của chị. Trên đường đi tôi cứ lơ mơ với cái bia tập bắn ở quân trường vẽ khuôn mặt mồm vêu, răng vẩu, chấn thêm cặp môi đỉa trâu thâm sì. Nhưng cũng may, gặp gã, tôi có cảm tình ngay vì gã trẻ trung, bề ngoài sạch nước cản và khuôn mặt có những góc cạnh mang dáng dấp của người Hà thành năm xưa. Thế nhưng gã có giọng nói nhà quê đặc, chém chết cũng là dân đất đồng chua nước mặn với “<em>con tâu tắng buộc bờ te tụi</em>” đâu đó. Vừa nói chuyện gẫu, tôi vừa đảo mắt nhìn quanh nhà, bất chợt tôi nhìn thấy ngay trên tường có treo chình ình một…cái nón cối. Thêm một lần tôi ngây người ra nhìn&#8230;</p>
<p>Từ đấy tôi gọi gã là thằng nón cối.</p>
<p>Thằng nón cối lấy xe đưa chị em tôi đi khắp hang cùng ngõ hẻm, từ Hồ Hoàn Kiếm bắt qua chợ Đồng Xuân, miếng ngon Hà Nội thì từ bún chả Cầu Gỗ đến bún ốc ngõ Tạm Thương. Nhưng xe là của cơ quan, có cả bác tài nữa, tôi nói với chị tôi gửi tiền gã cho phải phép, nhưng thằng nón cối lắc đầu nguây nguẩy, tôi nghĩ cái thằng lạ, chỉ sĩ diện hão, nhưng chẳng sao, trước sau tôi cũng phải tính với gã cho ra nhẽ. Tiếp đến, chỉ khổ một nỗi trên xe, gã cứ chan chát như chầy giã gạo với một mảng ngôn từ lạ hoắc với “tham gia lưu thông”, “xa tốc” kia, “cầu cạn” nọ, xe này “cực độc”, xe đó chạy “láng lụa”, hết “kinh qua” đến “ùn tắc”, “quá tải” thế này thì thế nào cũng có ngày “tai tệ nạn”, tôi nghe bồm bộp nên tức như bò đá.</p>
<p>Qua một ngày đi với nhau, tôi thấy cái thằng ba đời bần cố nông này cũng không đến nỗi nào, lằng nhằng vậy thôi, nhưng cũng dễ để…nối vòng tay lớn. Vì vậy, trong chuyến đi, tôi và gã chuyện trò không hục hặc như chó hóc xương giống buổi đầu nữa. Đến bến phà Tân Đệ, thằng nón cối cho xe tạt vào một cái quán nghỉ chân ăn trưa. Ngồi ở trong quán, nhìn qua bên đường tôi thấy cái đài tử sĩ có ngôi sao đỏ to chành bành chọc vào mắt chẳng mãn nhãn chút nào. Trong khi chờ đợi nhà hàng bắt gà đuổi vịt, tôi hỏi để…giao lưu văn hóa cho có chuyện:</p>
<p>&#8211; Ông thấy đẹp không?</p>
<p>Thằng nón cối quại ngay một câu:</p>
<p>&#8211; Hơi bị đẹp.</p>
<p>Tôi ngọng trông thấy, ấy là năm 2000, chữ nghĩa tiếng Việt trong sáng với tôi còn lớ quớ. Mà giao lưu văn hóa kiểu này nhức nhối thật, thà vén quần nói chuyện với đầu gối sướng hơn. Như đi guốc trong bụng tôi, gã “thuyết minh” thêm: “Chữ nghĩa bây giờ bồ bã lắm bác ạ, để em kể chuyện này cho bác nghe nhá. Một lần em đi…điền dã”. Tôi định hỏi gã điền dã là chạy bộ hả thì gã đã tiếp: “Em đọc thấy cái báo cáo tường cụ tỉ và cô súc như thế này đây: Báo cáo các anh, các chị buổi nay cơ quan không có gì để báo cáo. Nếu mai không có gì để báo cáo các anh, các chị. Cơ quan sẽ báo cáo các anh, các chị là không có gì để báo cáo. Báo cáo các anh, các chị là báo cáo buổi nay thay cho báo cáo hôm qua vì không có gì để báo cáo. Nay báo cáo.</p>
<p>Tôi chẳng biết làm gì hơn là…làm thinh. Hơn nữa, cái thằng không có tướng lại có tính này khôn như rận nên tôi chả dại. Lớn tuổi rồi đi xa hay mắc tè, muốn đi thăm bác Hồ nhưng không có cái mả đá nào chỗ để xả. Thả bộ cả chục thước, ngó quanh ngó quẩn vén quần làm một bãi, về chỗ đã thấy thằng nón cối đã chi chầu ăn rồi. Tôi vốn Bắc Kỳ kỹ nên hay lo xa là sao lại tử tế với nhau thế này nhỉ? Chắc mẩm gã chơi cái trò bỏ con săn sắt, bắt con cá rô gì đây! Với gã thì phải đề cao cảnh giác, bác và đảng của gã đã dậy như vậy rồi mà. Nhìn cái mặt xanh như đít nhái của gã, tôi không tin tưởng chút nào, từ đấy: Tôi với thằng nón cối như…mèo rình chuột.</p>
<p>Con đường sống trâu về quê tôi bụi mịt mù, tịnh không một bóng người. Nghĩa địa của làng tôi kia, ngay giữa cánh đồng chơ vơ, mồ mả tổ tiên tôi đã bao năm cô quạnh nằm ở đấy. Xuống xe, bước vào thửa ruộng, đạp lên những gốc rạ khô để gặp lại các cụ, qua những mộ bia nghiêng ngả, buồn đến nẫu ruột. Và miên man, người nằm xuống, người đi và người ở lại…Như chị tôi đang đứng đằng kia, thẫn thờ như con gà rù giữa buổi đồng vắng, gió thổi lay lắt những bụi cỏ gà…Tôi miên man đến một hình bóng khác, không biết bây giờ đang ở nơi nao, hay như bụi cỏ gà đang nhao nhác lăn theo cơn gió thỏang. Trong tôi đang dấy lên một chút bâng khuâng và chẳng hiểu tại sao, trong lúc này lại cảm hoài mang mang về cô ấy…Người mà tôi chưa một lần gặp mặt, giữa nghĩa địa hoang vắng trong cánh đồng chiều.</p>
<p>Qua cái ao nuôi cá mè là bước vào căn nhà khi xưa của ông cụ tôi, nay ông cậu của chị tôi tức bố của thằng nón cối thay mặt trông nom nhang đèn hương khói. Bước ra sân sau, qua đống rơm rạ là vườn cây cây ăn trái và tôi bắt gặp chị tôi đang nấp bóng dưới cây xoan hoa tím. Tôi bồi hồi nhìn chị, chị tôi vẫn giữ dáng dấp chân quê mộc mạc, tôi bùi ngùi ngắm chị đang thơ thẩn một mình. Qua bóng dáng của chị tôi, tôi hình dung ra người trong mộng của riêng tôi, hiền lành và bình dị như đất quê đang mỏi mòn đợi mong tôi. Cô thua chị tôi một giáp, chị tôi an phận ở lại, cô rời lũy tre xanh, bờ đê, mảnh vườn để tìm một nơi chốn đất lành chim đậu ở một nơi chốn có hai mùa mưa nắng.</p>
<p>Chỉ dăm hôm nữa thôi, tôi sẽ suôi Nam gặp cô em gái Bắc Kỳ nho nhỏ…Tôi sẽ an phận với đất quê, đất quê lành lắm, cam chịu và nhẫn nại, quẳng xuống cây gì cũng sinh hoa sinh trái, xòai cũng như cam, ngọt nhờ đắng chịu&#8230;</p>
<p>***</p>
<p>Từ quê về sửa sọan hành lý bay vào Sài Gòn. Vợ chồng thằng nón cối điện thọai mời đi ăn cơm niêu ngòai cửa Nam. Tôi nhận lời ngay. Vì cũng mượn dịp này để trả món nợ đời với vợ chồng gã, cho nhẹ mình nhẹ mẩy cùng một thoáng mây bay.</p>
<p>Quán trên gác, nhỏ và ấm cúng, bữa ăn đầy không khí gia đình, vui chuyện vui trò, tôi kể cho mọi người về cái thú chơi đồ cổ của tôi. Cầm cái niêu của tiệm, tôi giảng giải cho gã về những sắc thái đầy tình tự dân tộc của nghề gốm làng Chu Đậu. Và cũng nói với gã, chỗ tôi ở, được cái niêu tân tạo này, chôn xuống đất dăm năm hóa thành đồ cổ ngay với qúy hồ tinh bất qúy hồ đa. Gã chăm chú nghe và hình như có gì đang suy nghĩ lung lắm. Đến lúc tôi ra trả tiền thì mới vỡ nhẽ…vợ nó đã thanh tóan rồi. Thế mới đau!</p>
<p>Trưa hôm sau, đang lúc leo lên xe ra sân bay vợ chồng gã hộc tốc tới ôm món quà để tặng tôi. Không phải một mà là hai. Tôi ngỡ ngàng vì bất ngờ, từ chối cũng không xong vì vợ nó cứ cò cưa…của ít lòng nhiều để lấy thảo với “anh giai”. Cho đến khi xe chạy, tôi ngóai cổ lại nhìn, hai vợ chồng nó vẫn lặng lẽ ngóng theo. Hai món quà gói vội bằng giấy báo, vừa ngồi xuống ghế là tôi bóc một mảng ra xem, gói thứ nhất là bộ ấm trà Bát Tràng. Gói thứ hai, vừa hé nhìn thấy tôi tê người và buột miệng chửi thề:</p>
<p>&#8211; Sư mày…Thằng nón cối.</p>
<p>Và đó là cái niêu đất làng Chu Đậu còn dính mấy…hạt cơm nguội.</p>
<p>Suốt chuyến bay từ Bắc vào Nam, tôi cứ ân hận qua những ân tình của gã. Cũng thực lòng mình, mình tức là cái thằng tôi đây, trong trận chiến giữa “ta” và “địch” vừa rồi, tôi vẫn còn “thua” gã ở cái “tình người”. Tất cả đã đẩy đưa tôi có những suy nghĩ vụn vặt, chẳng thể chối bỏ, về những người kẹt lại năm 54, làm thế nào được khi mà ý thức hệ, thể chế và 20 năm chiến tranh đã để lại cho tôi những cái nhìn phiến diện và lệch lạc giữa kẻ đi, người ở. Tôi và họ, trong cuộc chiến chẳng có gì để mà chọn lựa, không đứng bên này thì cũng ở bên kia, và vô hình chung đành chịu trận giữa hai lằn đạn.</p>
<p>Vậy mà mới hôm nào đây, tôi gặp họ ở bến phà Tân Đệ, bên dòng sông Hồng, trong một ngày không nắng cũng chẳng mưa, con sông mát rượi, mặt nước dập dờn như gợn sóng, qua kè đá phủ rêu xanh trơn trợt, ở đấy, tôi bắt gặp những dấu chân rất người.</p>
<p>***</p>
<p>Về đến Sài Gòn, với người kẹt lại năm 54, tôi tòan gặp những chuyện thổ tả…</p>
<p>Nhẩm tính sổ nợ đời thì còn rơi rớt lại thằng anh họ. Tôi gọi nó bằng thằng vì trước cũng một thời ăn cùng mâm, nằm cùng chiếu, học cùng trường, nên mày tao chi tớ là vậy. Họ nhà tôi đâu phải họ nhà tôm, cứt lộn lên đầu! Ấy vậy mà nó học giỏi thần sầu, riêng khỏan láu tôm láu cá nhất Bắc Kỳ nhì Đông Dương không ai ngoài nó. Nay vật đổi sao rời, quỷ tha ma bắt, tôi chịu chẳng hiểu nổi mồ mả của dòng họ tôi táng ở huyệt hàm rồng nào mà nó leo núi vượt đèo, đào khoai móc sắn quơ quào được cái quân hàm thượng tá của quân đội nhân dân. Chưa hết, nó lại có tên trong quân sử qua trận đánh Ban Mê Thuột mù trời dậy đất năm 75, trong khi cái thằng tôi vắt vai chỉ lẻ bóng có cái hoa mai vàng, không bị tống vào trại cải tạo nhờ phúc đức ông bà để lại…</p>
<p>Qua chuyện họ hàng hang hốc kể lại, muốn gặp mấy bố cách mạng quan to súng ngắn này thì còn khó hơn gặp người cõi trên. Lại nữa, năm 75, tôi bỏ của chạy lấy người, mới lóp ngóp về đây, láo ngáo như người khách lạ trên chính quê hương mình. Không lẽ gõ cửa cháo ám nhà nó để quấy quả, để nghe nó hát đồng dao, nói chuyện…lịch sử, mà trong sách vở đã rạch ròi: “<em>Lịch sử là gì?</em>”, và câu trả lời ngắn ngọn rạch ròi là: <em>“Lịch sử là chuyện kể của kẻ chiến thắng!”.</em> Trang sử cuộc nội chiến Nam Bắc đã lật qua, dù sao nó cũng là thằng anh con ông bác ruột, không gặp không xong. Lại nữa, tôi vừa mới đi thăm mồ mả tổ tiên về, hương đèn còn đấy, khói nhang còn mờ mịt gió mây. Và tôi gọi điện thọai mời nó đi ăn, nếu sau đó có đấm mõm nó thêm tí ti hủ hóa…bia ôm, thì cũng chẳng chết thằng răng đen mã tấu nào. Tôi nghĩ vậy!</p>
<p>Đến đón tôi bằng xe Honda, người to hơn xe, con nhà võ có khác, dáng đi gù gù như gấu, khuôn mặt đôn hậu, nụ cười hiền hòa. Riêng cái bắt tay làm ấm lòng người khiến tôi như trút được một gánh nặng, vì đã nghĩ quẩn về nó như đã nháo nhào ở trên. Mà cha mẹ ơi, thằng này lè phè thấy rõ, quần jean, áo bỏ ngoài quần, vậy mà đầu chơi nguyên con…cái nón cối có gắn ngôi sao đỏ màu nước vỏ lựu máu mào gà. Tôi đùa dai: “Thủ trưởng làm gì mà “sịn” quá thể vậy”. Nó cười tươi cho biết hôm nay kỷ niệm ngày “Tây Nguyên Ta Giải Phóng”. Tôi nhủ thầm, chết mẹ, tự nhiên rủ nó đi “liên hoan” đúng vào cái “ngày treo cờ đỏ”. Đúng là cầm cu cho chó đái, may mà chỉ có riêng tôi với nó.</p>
<p>Nhưng chẳng may gì, vừa bước vào quán, tôi thấy hai thằng bạn của nó đã ngồi phục kích ở đấy tự bao giờ. Tôi chột dạ, thôi rồi, mình bị gài độ, bị bề hội đồng là cái cẳng. Cái trò con tiều này thì xưa như trái đất, nhưng cứ để xem lũ chuột đồng này nó quậy ra sao đã. Nên tôi giả ngu giả điếc, bình thản bước tới và sẵn sàng chấp nhận cuộc chơi. Dẫu gì tôi cũng là thiếu úy quân nhân biệt phái, chưa bắn một phát súng, nhưng nhập trận là phải…chơi đẹp.</p>
<p>Thằng anh họ tung tẩy giới thiệu với tôi đó là hai sĩ phu Bắc Hà của đất nghìn năm văn vật. Một tên trong hội nhà văn, tham quan đế quốc Mỹ năm rồi, tên họ nghe như chum kêu chậu vỡ. Mà thằng này cũng ma bùn, chẳng “liên hệ” gì, gặp lần đầu, cứ như quen nhau tự kiếp trước, ồn ào, đốp chát ngay để người nghe có lúc sượng mặt, khô người. Còn tên kia là Bắc Kỳ 2 nút. Vô duyên đối diện bất tương phùng, trước là giáo sư phó tiến sĩ ngồi ở viện cóc nhái gì gì đó, cũng mới ra biên chế, nên đang là “ẩn sĩ”. Chắc là dân “nòng nợn nuộc” làng Cổ Nhuế hay Kẻ Noi vì đầu môi chót lưỡi với câu “Óc thằng này nà óc chó”. Nên tôi né, tránh “viện sĩ” chẳng xấu mặt nào. Chung sự tòan là quan chức, cây đa cây đề chốn cung đình, tôi nghĩ chuyến đi này về, tha hồ mà nở mày nở mặt với bằng hữu. Ai nói đi xa về nhà nói khóac đến thầy chạy thì tôi cũng…thua.</p>
<p>Hai anh em tôi ngồi hai đầu bàn, hai cây đa cây đề ngồi bên trái. Bỏ mẹ, còn hai cái ghế bên phải còn trống hóac đợi thằng cốt đột nào nữa đây. Mẹ, của khôn người khó, bị bắt địa thấy rõ, quá cha ăn cướp rồi còn gì.</p>
<p>Mặt trận Ban Mê Thuột…giờ H-1:</p>
<p>Tự nhiên như người Hà Nội, thằng nhà văn búng tay kêu một thùng Tiger, mỗi thằng một cái đùi trừu ướp rượu vang nướng chanh, cứ như dân Gaulois không bằng. Bia mang ra, nó rót tồ tồ vào ly cối rồi đưa lên hướng về phía tôi, giọng Bắc kỳ đểu: “Mừng quan bác…Khúc ruột ngàn dặm nối dài”. Rồi đưa về phía thằng “anh hùng quân đội nhân dân” kiêm anh họ tôi: “Mừng quan anh…Chiến thắng Buôn Mê Thuột”.</p>
<p>Trong khi thằng anh tôi mặt mày cứ phưỡn ra, tôi thầm nhủ: Rồi chiến trường đã được tụi Bắc quân điều nghiên, trận địa đã được tụi nó chọn sẵn là Ban Mê Thuột. Còn Nam quân là cái thằng tôi thì như cá nằm trong rọ, nằm đợi tụi nó khai hỏa, tụi đặc công vẫn chưa thấy ló mặt, mới chỉ thấy pháo Tiger bắn dọ dẫm. Tôi lắc đầu nhủ thầm, chuyện nhỏ, nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ này, như muỗi đốt gỗ và tôi cầm chai bia dốc ngược tu cái một, thằng nhà văn củ cải chộp liền, vác sơn pháo 82 ly ra nã tức thì:</p>
<p>&#8211; Bác đừng nốc bia như ở bên ấy, ở đây nó chửi đấy. Bác phải ề à nâng lên hạ xuống, nhấp nháp rồi lau mép, xúc miệng vài câu chửi thề rồi mới khà một tiếng…</p>
<p>Tôi đang bí lù, nó trấn áp và giáo điều thêm:</p>
<p>&#8211; Bố phải trở về nguồn, phải nói năng đéo lắt, bụi bụi một chút. Phải trở về với dân tộc tính, bố ăn uống phải đầu gối quá mang tai, phải xụp xọap như heo xục cám, nhai xương phải nhai rau ráu như chó gặm…</p>
<p>Tôi bị pháo kích phủ đầu đến chóng mặt, đinh tai nhức óc. Ắt hẳn thằng nhà văn cũng cảm thông như vậy, nên tạm thời ngưng chiến da beo, gắp cho tôi một lát rau Đà Lạt tươi mát, lát cà chua đỏ tươi. Tôi dại dột buông một câu “cảm ơn”.</p>
<p>Thế là nó vác B-40 nã ầm ầm:</p>
<p>&#8211; Thượng đế ơi, Ngài chỉ được cái lịch sự nhảm, nghe chán bỏ mẹ. Thượng đế “chiêu đãi” tụi này thì cảm với cúm gì nữa hở!</p>
<p>Bá ngọ cái thằng bán cái này, nó lọan ngôn loạn chữ, tôi có “chiêu đãi” tụi nó hồi nào đâu? Nó rải đạn như sương sa hạt lựu để tôi là thằng chi tiền. Mà cái thằng dân Hà Nội vỉa hè, miệng lưỡi như vẹm, thằng nào thằng nấy nói năng cùng một sách vở như con vẹt: Nó réo tôi từ “bác” qua “bố”, bây giờ khơi khơi phong vương tôi là “Thượng đế”.</p>
<p>Nhưng phải công nhận, chữ nghĩa tụi nó gọi “Buôn Mê Thuột” chuẩn xác hơn…ta.</p>
<p>Mặt trận Ban Mê Thuột…giờ H-2:</p>
<p>Cũng vừa lúc có hai con nhạn là đà tới, mặc quần áo dân sự, nhưng khi được giới thiệu thì hóa ra cá mè một lứa. Cũng anh hùng Tây Nguyên khỉ gió nào đó, chẳng cần biết lon lá, tôi cứ gọi hai thằng là “thủ trưởng” cho êm. Mặt trận cánh tôi có hơi lắng dịu một chút, nhờ có mặt của hai tên thủ trưởng này, nhưng tôi vẫn phập phồng lo ngại…</p>
<p>Vì rằng tụi Bắc quân vẫn chưa lộ diện, sư đòan 310 còn đang ở phía bắc, bên kia biên giới, sư đòan 968 và 320A đang lẩn quất đâu đây ở phía đông, nhưng không khí chết chóc bao trùm thị trấn nặng nề, ngộp thở đến đáng ngại. Chờ đợi và lo lắng…</p>
<p>Vì tụi nó đang họp kiểm thảo chính trị nội bộ, triển khai rút ưu khuyết điểm. Chưa uống hết ly bia, hai tên thủ trưởng khai pháo trước. Tụi nó nghiêng về phía tướng Trần Độ, và dè bĩu ông cai đồn điền cao su Lê Đức Anh. Trận Căm Bu Chia, ông này mới chỉ là đại tá, không đáng xách dép cho ông tướng về hưu, một mình một ngựa đang múa thương như Triệu Tử Long trong trận Đương Dương Trường Bản. Còn hai nhân sĩ Bắc Kỳ thì ôm khư khư lấy Bùi Tín, một Tô Tần tân thời, đang uốn ba tấc lưỡi ở bên trời Âu để đi tìm một hậu thuẫn chính trị quốc tế nào đấy. Bức tường Bá Linh đã đổ, bất chiến tự nhiên thành, tất cả đang rục rịch sắp sếp cho một cuộc đổi thay êm thắm nay mai.</p>
<p>Nhưng tôi biết tỏng tụi nó đang bất mãn kinh niên. Vì thời buổi “nhất phe nhì cánh” để ăn trên ngồi chốc, mấy bố lại bị treo niêu về hưu non ngồi chơi sơi nước, nên hóa rồ nói chuyện “phản kháng” cho sướng miệng đấy thôi. Thế nhưng cũng phải thầm công nhận để ngậm tăm, chẳng dám nói hở với ai vì sợ bị chụp cái nón cối thì vỡ mặt. Là tụi nó tư duy logic, lập luận gẫy gọn hay ra phết. Tụi nó ăn nói bài bản đâu ra đấy, chữ nghĩa bề bề, ngẫu hứng qua cầu, chấm phá bằng thơ phú, điểm thêm một, hai câu ca dao đầy tình tự dân tộc…Như viện sĩ phó tiến sĩ có châm chọc “Thằng này thiếu văn hóa, ngu như nợn” thì quan võ cũng chỉ nhẹ nhàng <em>“Từ ngày cách mạng mùa thu &#8211; Thằng khôn đi học, thằng ngu làm thầy”.</em> Đến cớ sự này thì thằng anh họ tôi phải hòa đồng hòa giải dân tộc, không nên dân chủ đa…mang quá, chỉ làm lợi cho…địch.</p>
<p>Không biết nó có chơi chữ với tôi không vì nó đâu biết rằng, thằng Ngụy tôi đang ngồi chồm hổm trên đống lửa và cũng đang sợ thọt dái lên đến tận cổ. Tụi nó rượu vào lời ra, đổ nợ không biết chừng: Vì tụi “bò vàng” ngồi lảng vảng đâu đây, chúng nó mà nhúm thì thằng “Việt kiều yêu nước” như tôi, lạng quạng dính trấu là cái chắc. Nên tôi rét thật tình, tai bay vạ gió, một cổ đôi tròng, hú họa dám thành là người của mặt trận này, mặt trận kia…Nay mai chường mặt lên báo, rồi vang danh bốn bể chứ đâu có đùa.</p>
<p>Cũng may vừa lúc hai thằng thủ trưởng gọi thêm đồ ăn thức uống. Lại nữa, cũng chẳng may gì! Vì chúng nó kêu…”đại” cho mỗi thằng một con cua bể Hải Phòng, con nào con nấy to bằng cái đĩa Tây và một thùng Heineken ướp lạnh…</p>
<p>Thế là từ phía đông thị xã, tiền pháo hậu sung, sư đòan 968 thọc ngang hông, cắt đôi lực lượng Nam quân làm hai, hỏa tiễn Heineken 122 ly tụi nó quất ngập đường ngập phố dọn đường cho tank cua bể T-54. Sư đòan 320A tập hậu, bọc vòng ngòai vừa để công đồn đả viện, vừa làm nút chặn với dàn 12 ly 8 và 14 ly 5, chúng bắn như đĩ, đạn phòng không đan như lưới. Mẹ, con ruồi cũng chui không lọt huống chi cái thằng tôi…</p>
<p>Tôi, tứ bề thọ địch, vừa lo tránh pháo vừa lẩm nhẩm ước tính thiệt hại quân số:</p>
<p>Hỏa tiễn và phòng không tôi coi như pha, ê càng nhất là cua bể T-54: Trong túi sẵn có mấy trăm ngàn, sáng nay mới đổi 100 đô, vị chi có hơn hai triệu, một trăm ngàn một con cua bể, sáu con là quá lóng chóng số tiền dằn túi chứ còn mẹ gì nữa. Nhưng sau hai giờ đụng trận vẫn còn…tử thủ được, đạn được súng ống dư xăng. Mặc dù vố này tụi nó chơi tôi hơi nặng, tôi vẫn cầm chai bia cụng với hai thằng thủ trưởng cái cốp. Nhưng trong bụng lẩm bẩm chửi đổng hai thằng sư trưởng của sư đòan 968 và 320A: “Sư hai anh nón cối. Hai anh chơi thế này thì chơi với ai”.</p>
<p>Mặt trận Ban Mê Thuột…giờ H-3:</p>
<p>Nhưng tôi vẫn hồi hộp vì chưa thấy tăm hơi sư đòan 310 đâu sất cả?</p>
<p>Bỗng tôi thấy thằng anh họ thượng tá thì thầm gì với “người” phục vụ viên. Thầm thì quái gì mà lâu quá thể vậy hả giời, tôi nín thở qua sông và nghĩ: Mẹ! Điệu này tụi nó chơi trò xa luân chiến thì bỏ mạng sa truờng, không có đất mà chôn. Y trang, “người” phục vụ biến mất, một lúc lâu sau, lâu lắm, tôi muốn bá thở và lặng người đi, khi thấy “người” mang ra một chai Cordon Bleu cỡ một lít, to đùng, và một cái lẫu ba ba bự sự.</p>
<p>Rồi, vậy là sư đòan 310 tân lập hay F10 đã lộ diện qua chai Cordon Bleu AT3, lọai hỏa tiễn hiện đại nhất, nằm chềnh ềnh trên Molotova mười bánh. Riêng hỏa tiễn 122, Sam7 lẫu ba ba thì không kể. Chúng vừa vượt qua biên giới, từ phía bắc kéo xuống. Ba mũi giáp công cùng hai sư đòan 968, 320A với biển người trong tiếng hò hét vang dội, lẫn tiếng xích sắt ken két ầm ầm của tùng thiếc, cùng tiếng sơn pháo ì ầm từ hướng phi trường. Quận Phụng Dực bị tràn ngập, con đường huyết mạch dẫn vào thành phố bị bỏ ngỏ…Ban Mê Thuột như sợi chỉ treo chuông, không phải hằng ngày, hằng đêm mà từng giờ mà từng phút, với sức ép của ba sư đòan Bắc quân vào một buôn Thượng nhỏ bé làm đầu cầu. Đó là chưa kể sư đòan 316 đang tiến vào để tăng viện từ Nghệ An.</p>
<p>Thằng sư trưởng sư đòan 310, chính là thằng anh họ khốn khiếp của tôi dứt điểm không thương tiếc bằng chục trái B40 vào thị xã, tiếng nổ long trời lở đất, ù tai mờ mắt. Ngay lúc ấy, tôi thầm nghĩ: Tiêu rồi! Coi như xong, tôi đã đi hết láng vào canh bạc chót này… Đúng là chưa thấy quan tài chưa đổ lệ, vì tôi tự biết rằng, mình vừa mất béng một trăm đô la tiền tươi cho chai rượu ngoại…vô duyên kia.</p>
<p>Mặt trận Ban Mê Thuột…giờ H-4:</p>
<p>Bắc quân hòan tòan làm chủ tình hình thị xã Ban Mê Thuột…</p>
<p>Trong khi chúng đang say men chiến thắng, cười nó hô hố, ăn uống ồn ào, tôi lẳng lặng chui vào…cầu tiêu. Mặt mày táo bón, bụng dạ cực kỳ xốn xang để không hiểu nổi: Gặp người dưng nước lã thời đi nhẹ về nặng. Gặp người trong họ thì không chết cũng bị thương. Mà tụi này cũng chơi ép quá, lấy thịt đè người, sức người có hạn và tụi nó cũng đã đi quá đà. Mẹ! Chắc phải…nói chuyện phải quấy với tụi nó quá, nếu cần răng đổi răng, mắt đổi mắt. Và tôi nghĩ vậy. Nghĩ vậy nhưng củ cải cái đầu đất ùn tắc của tôi, cứ chậm tiêu nên bí đặc, không động não động tình tí nào. Bèn tự than thầm, từ Bắc vào Nam, không lẽ chết dí ở cái lỗ chân trâu này sao hở giời. Cuối cùng thì các cụ ta xưa dậy cấm sai bao giờ, ấy là cùng tắc biến, biến tắc thông và khi không tôi nhẩy nhổm lên quên cả…kéo quần.</p>
<p>Ấy là trong một giây phút yên sĩ phi lý thuần, đang mặt mày bí rị tôi bật ra cái ý tưởng: Tụi Bắc quân vừa phạm phải một sai lầm chiến thuật chết người của Nã Phá Luân và Hít Le, là mang quân quá sâu vào đất địch, để sa lầy vì không có…”tiếp liệu”.</p>
<p>Đến như Hàn Tín luồn trôn cũng phải lắc đầu chào thua, đã đến lúc phải phản công. Tôi kéo quần lên và đi ra, tôi diễn xuất màn khổ nhục kế của Hàn Tín, xoa tóc vuốt mặt cho đầu bù tóc rối, vò áo xốc quần cho xốc sếch, đúng như một…”tù binh” có thật. Tôi bước thất thểu, chân cao chân thấp, mặt mày thảm não, như chưa bao giờ sầu thảm đến như thế. Tôi đi về phía tụi nó thật chậm, đọan đường chiến binh thật dài. Qua chỗ ngồi, không ngừng lại…Tụi nó nhìn tôi ngạc nhiên, tưởng tôi say sỉn, thằng này ngó thằng kia…Ghé sát tai thằng anh họ, tôi học thói thằng nón cối em họ chị tôi:</p>
<p>&#8211; Báo cáo anh! Đau bụng quá! Phải chém vè thôi…</p>
<p>Qua thằng anh họ…Điều tôi muốn nhắn nhủ với tụi Bắc quân là: “Chúng tôi là kẻ bại trận, nên không thể như Đặng Tiểu Bình để dậy các anh một <em>Bài học lịch sử.</em> Các anh đánh đâu thắng đó, từ Điện Biên Phủ đến Ban Mê Thuột. Nhưng rất tiếc, di tản chiến thuật là nghề của chúng tôi, chúng tôi là:…bậc thầy”.</p>
<p>Và tôi ngạo nghễ đi ra cửa. Như tráng sĩ sang Tần, một đi không trở lại:</p>
<p>Kinh Kha quán lạnh, sầu nghiêng chén</p>
<p>Ai kẻ dâng vàng, kẻ biếu tay</p>
<p>Mơ gì ấp Tiết thiêu văn tự</p>
<p>Giày cỏ gươm cùn Ta đi đây</p>
<p>***</p>
<p>Giầy cỏ gươm cùn Ta đi đây…Đi đâu chưa biết, nhưng muốn ghé Lái Thiêu thăm cô em gái kết nghĩa của bà chị tôi thì phải đợi đến cuối tuần. Cuối cùng thì ngày ấy cũng tới, trời xanh, mây trắng, nắng vàng, tôi rong ruổi đi về một nơi chốn đầy tình người.</p>
<p>Qua Thủ Đức…Tôi bồi hồi lắng đọng về một nơi chốn xưa cũ, con đường tình ta đi như suối Lồ Ồ ngày nào. Ngày nào…Tôi có một mối tình học trò với một cô bé Trưng Vương, có đôi mắt buồn muôn thuở, để rồi…em tan trường về đường mưa nho nhỏ. Từ đấy…Tôi gắn bó với những âm hưởng của Phạm Thiên Thư với…lên non tìm động hoa vàng. Và bây giờ…Tôi đang não tình với cô Bắc Kỳ nho nhỏ, đang nặng nợ với một Nguyễn Tất Nhiên để vấn vương, vương vấn…em buồn như ma-sơ…</p>
<p>Đứng trước hiên nhà, mùa xuân đã trở lại, dàn hoa vàng của những chùm hoa vông vang ẩn mình trong nắng hanh. Một hình bóng ẩn khuất bấy lâu, đâu đó đang mời gọi… <em>“Mận hỏi thì đào xin thưa – Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào”</em>. Và tôi gõ cửa thật nhẹ…Cửa mở thật êm và như đêm giữa ban ngày. Giời ạ, ông giời có mắt xuống đây mà xem, mộng dưới hoa của tôi lừng lững xuất hiện và tôi lặng ngắm từ dưới lên trên:</p>
<p>Chân mang dép Bình Trị Thiên. Tay cầm cái cuốc. Đầu đội…chiếc nón cối.</p>
<p>Thạch trúc gia trang</p>
<p>Phi Ngọc Hùng</p>
<p>©T.Vấn 2011</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/nh%e1%bb%afng-chi%e1%ba%bfc-nn-c%e1%bb%91i/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang qua đời</title>
		<link>https://t-van.net/nh%e1%ba%a1c-si-nguy%e1%bb%85n-d%e1%bb%a9c-quang-qua-d%e1%bb%9di/</link>
					<comments>https://t-van.net/nh%e1%ba%a1c-si-nguy%e1%bb%85n-d%e1%bb%a9c-quang-qua-d%e1%bb%9di/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lưu Na]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 28 Mar 2011 20:11:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Ghi Chép]]></category>
		<category><![CDATA[cái chết]]></category>
		<category><![CDATA[con người]]></category>
		<category><![CDATA[giới thiệu]]></category>
		<category><![CDATA[nhạc sĩ]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/testsite/wordpress/?p=2119</guid>

					<description><![CDATA[Khỏanh khắc này đây đầu óc tôi mụ mẫm, chẳng nghĩ được gì, chẳng viết được gì, chẳng muốn làm gì. Thấp thóang xa xa, giữa bầu trời u ám của mùa đông xứ người, tôi chỉ thấy ẩn hiện một đích đến. Của tôi, của các bạn bè tôi, của một thế hệ sắp [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image002165.jpg"><img decoding="async" style="background-image: none; margin: 0px 20px 10px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; float: left; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image002_thumb100.jpg?strip=all&fit=160%2C240" alt="clip_image002" width="160" height="240" align="left" border="0" hspace="12" /></a><strong></strong></p>
<p>Khỏanh khắc này đây đầu óc tôi mụ mẫm, chẳng nghĩ được gì, chẳng viết được gì, chẳng muốn làm gì. Thấp thóang xa xa, giữa bầu trời u ám của mùa đông xứ người, tôi chỉ thấy ẩn hiện một đích đến. Của tôi, của các bạn bè tôi, của một thế hệ sắp đi vào bóng tối của vực thẳm không cùng. Và xa hơn nữa , phía <em>Bên kia sông . Là ánh mặt trời</em>.</p>
<p><em>Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, sau một căn bịnh hiểm nghèo kéo dài hơn tháng qua, đã qua đời lúc 4 giờ sáng hôm nay </em><em>– Chủ Nhật 27 tháng 3 năm 2011 &#8211;</em><em>tại California. </em><em></em></p>
<p><em>Nhạc sĩ tên thật Nguyễn đức Quang, sinh năm 1944 tại Sơn Tây.<br />
Theo gia đình vào Nam năm 1954.<br />
Sinh sống tại Ðà Lạt từ năm 1958.<br />
Tốt nghiệp đại học Ðà Lạt phân khoa Chính Trị Kinh Doanh khóa 1.<br />
Bắt đầu sáng tác nhạc năm 1961. Ca khúc đầu tay dành cho Hướng đạo với tên Gươm Thiêng Hào Kiệt.<br />
Sau biến chuyển chính trị lớn ở miền Nam năm 63, bắt đầu cảm hứng về nhạc Thanh niên và những vấn đề đất nước.<br />
Năm 1964, chuyển qua hẳn những ca khúc có chủ đề Tuổi trẻ, Quê hương, Dân tộc, xây dựng những đề tài mới cho tập Trầm Ca, hát nhạc tranh đấu xã hội và nhạc sinh hoạt thanh niên và thành lập Phong Trào Du Ca Việt Nam năm 1966 .<br />
Năm 1979 cùng gia đình đến Hoa Kỳ, hoạt động liên tục trong nghành truyền thông tại hải ngoại. </em></p>
<p><strong><em>Mục Lục Những Ca Khúc Tiêu Biểu:</em></strong><em></em></p>
<p><em>Măi đến sau 1965, một số những bài hát của Nguyễn Đức Quang mới xuất hiện rải rác trên một số ấn phẩm sách, báo và vài tuyển tập sơ sài do Tình hình thiếu thốn phương tiện và điều kiện lúc bấy giờ, người ta đã thấy có các tập nhạc in bằng ronéo như : Trầm ca, Những bài Ca Khai Phá, Ruồi và Kên Kên, Thỏ Thẻ Loan Phòng v..v.</em></p>
<p><em>Năm 1995, Ngô Mạnh Thu và Nguyễn Thiện Cơ trong nhóm Đồng Vọng thu gom lại hầu hết bả nhạc trong các tập nhạc chính và ấn hành tuyển tập Dưới Ánh Mặt trời gồm 69 bài. Duới đây là những nét chính và 9 tập nhạc đã được tác giả hình thành trên suốt quãng đường sinh hoạt và sáng tác của anh. ( Trích trong &#8221; về những ca khúc Nguyễn Đức Quang đă viết&#8221; trong tuyển tập &#8220;Dưới Ánh Mặt Trời&#8221; )</em></p>
<p><strong><em>Ấn Phẩm Đã Phát Hành:</em></strong><em><br />
<strong>1.- Chuyện Chúng Mình :</strong><br />
52 ca khúc, viết từ 1960 đến 1964,thời kỳ đầu sáng tác,<br />
hầu hết là các khúc tình ca tuổi học trò và thời gian sinh sống tại Đà lạt . Một số bài như : Chuyện Người Con Gái , Khôn Hồn Có Cánh Thì Bay, Trẫm Nhớ Ái Khanh Không ( phổ thơ Nhất Tuấn) , Lửa Từ Bi ( Thơ Vũ Hoàng Chương).</em></p>
<p><strong><em>2.-Trầm Ca:</em></strong><em><br />
10 ca khúc cho thanh niên và thời cuộc, những thao thức lớn nhất về con người, đất nước.<br />
Những ca khúc này tạo nên cả một cao trào tuổi trẻ nhập cuộc vào các sinh hoạt.<br />
Nỗi Buồn Nhược Tiểu, Người Anh Vĩnh Bình, Tiếng Hát Tự Do, Chiều Qua Tuy Hòa, Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ<br />
là dấu ấn chưa phai mờ trong nhiều thế hệ thanh niên Việt Nam từ đó đến nay.</em></p>
<p><strong><em>3.- Những Bài Ca Khai Phá :</em></strong><em><br />
trên 40 ca khúc sinh hoạt đặc biệt cho tuổi trẻ , sinh viên, học sinh<br />
dùng trong các buổi họp mặt công tác xã hội,<br />
các hoạt động đám đông, là tiếng kêu gọi tuổi trẻ đến với nhau cùng xây dựng một đất nước và niềm tin :<br />
Không Phải Là Lúc , Về Với Mẹ Cha, Đưới Ánh Mặt Trời, Chuyện Quê Ta, Hy Vọng Đã Vươn Lên, Một Giấc Chiêm Bao, Về Miền Gian Nan v..v..<br />
Khởi động phong trào hát cộng đồng , hát chung khắp mọi nơi,<br />
sau này được lan truyền sang nhiều địa hạt và nhiều giới khác,<br />
kể cả tôn giáo .<br />
Du Ca trở thành hình ảnh mẫu mực con người xã hội mới, đi vào phim ảnh Xin Nhận Nơi Này Làm Quê Hương.</em></p>
<p><strong><em>4.-Cần Nhau:</em></strong><em><br />
12 tình khúc được biết đến nhiều với :<br />
Bên Kia Sông, Vì ́ Tôi Là Linh Mục, Cần Nhau, Như Mây Trên Cao, Vỗ Cánh Chim Bay ..</em></p>
<p><strong><em>5.- Thỏ Thẻ Loan Phòng (hay Lời Nguyện Cầu Hạnh Phúc):</em></strong><em><br />
18 bài sinh hoạt trong ngày hạnh phúc lứa đôi, hình thành 1969 ,<br />
nhiều bài hì́nh như đă thành nếp trong các đám cưới như:<br />
Lời Nguyện Cầu Hạnh Phúc, Đám Cưới Chúng Mình,<br />
Lũ Chén Diã Có Tội Tì́nh Gì, Đường Đến Hạnh Phúc .</em></p>
<p><strong><em>6.- Khúc Nhạc Thanh Xuân:</em></strong><em><br />
Khoảng 40 bài nhạc sinh hoạt thanh niên quốc tế.<br />
Nhiều nhất là các ca khúc trong thời lập quốc Do Thái, phong trào Kibbuz,<br />
những bài hát nhân quyền, tự do từ Âu sang Á và Mỹ như:<br />
Về Miền Gian Nan, Bài Ca Hải Tặc , Quân Đoàn Thức Tỉnh, Không Ai Là Hoang Đảo …<br />
được chuyển qua lời Việt để sử dụng trong nhiều sinh hoạt tuổi trẻ.</em></p>
<p><strong><em>7.- Hương Đồng Quê:</em></strong><em><br />
Các khúc Dân Ca và nhạc đồng quê nổi tiếng trên thế giới<br />
chuyển dịch sang lời Việt,<br />
gần 200 bài như Bài Ca Sông Hồng, Những Bụi Hoa Dại, Em Yêu Dấu Hỡi, Bên Bờ Sông Ohio, Tâm Sự Chú Lừa …<br />
hầu hết bị thất lạc năm 1975.</em></p>
<p><strong><em>8.-Phúc Ca Mùa Lễ:</em></strong><em><br />
25 bài đồng dao quốc tế hát trong mùa Gíáng sinh như : Jingle Bells, The Christmas Tree, Silent Night…<br />
được coi là những khúc hát vui trong mùa an bình của nhân loại.</em></p>
<p><strong><em>9.-Ruồi Và Kên Kê:</em></strong><em><br />
Hoàn tất năm 1970, gồm 11 bài,<br />
là những ca khúc bi phẫn về những vấn đề lớn nhất<br />
trong một khung cảnh chính trị và xă hội đen tối nhất của cả 2 miền đất nước:<br />
Im Lặng Là Ðồng Lõa, Ruồi Và Kên Kên, Bọn Lái Buôn Ở Khắp Nơi, Phòng Thí Nghiệm Công Cộng, Vụ Án Cuối Cùng…<br />
Những ca khúc này vẫn được yêu chuộng cho đến nay.</em></p>
<p><strong><em>10.-Dưới Ánh Mặt Trời:</em></strong><em><br />
gỗm những sáng tác trong tập<br />
Trầm Ca, Những Bài Ca Khai Phá, Ruồi và Kên Kên, Chuyện Chúng Mình,<br />
Cần Nhau, Khúc Nhạc Thanh Xuân, Lời Nguyện Cầu Hạnh Phúc….<br />
Bìa: Nguyễn Ðồng, Nguyễn Thị Hợp<br />
Hý họa : Tạ Tỵ, Chóe, Hiếu Ðệ<br />
Chân dung: Lê Phúc<br />
Kẻ nhạc: Phạm Xuân Ðài<br />
Trình bày: Nguyễn Thiện Cơ, Ngô Mạnh Thu<br />
Hình ảnh sưu tập: Trần Ðại Lộc<br />
Hình bìa: Hồ Ðăng<br />
Xuất bản Ðồng Vọng 1997 tại Cali- USA </em><em></em></p>
<p><em>( Theo Người Việt Boston )</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Ngay buổi tối hôm Chủ Nhật, tôi nhận được bài viết ngắn dưới đây của người bạn trẻ Lưu Na gởi đi từ California cùng những hình ảnh cuối cùng của Nguyễn Đức Quang trước khi anh vào bệnh viện.</p>
<p>Kiếp nhân sinh có sinh có diệt. Ai cũng biết điều đó nhưng sao vẫn thấy hụt hẫng, bàng hòang khi nghe tin một con người vừa lìa bỏ mặt đất.</p>
<p>Khỏanh khắc này đây đầu óc tôi mụ mẫm, chẳng nghĩ được gì, chẳng viết được gì, chẳng muốn làm gì. Thấp thóang xa xa, giữa bầu trời u ám của mùa đông xứ người, tôi chỉ thấy ẩn hiện một đích đến. Của tôi, của các bạn bè tôi, của một thế hệ sắp đi vào bóng tối của vực thẳm không cùng. Và xa hơn nữa , phía <em>Bên kia sông . Là ánh mặt trời</em>.</p>
<p>Cám ơn Lưu Na, người bạn trẻ lúc nào cũng rất nhậy bén với nỗi buồn của thế hệ đi trước.</p>
<p>T.Vấn</p>
<p><em><span style="font-size: large;">ANH ĐÃ LẶNG IM</span></em></p>
<p><em><span style="font-size: small;"><strong>Lưu Na</strong></span></em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em>Đã 8:30 tối, nhưng hôm nay phá lệ 4 giờ chiều, tôi qua ngồi cùng Áo mơ phai. Dưới ánh đèn vàng, Áo mơ phai, Hồng Ngọc (cô Toàn), Vạn ngày sầu (chuyên hát đời là vạn ngày sầu…), Thư, và tôi, quây quần xem lại chương trình hát cho Nguyễn đức Quang ở nhà hàng Emerald Bay lúc chiều. Chúng tôi mỗi người mắc một chuyện gì đó, và mỗi người nghe tin dữ đang lúc làm một cái gì đó, bây giờ cuối một ngày mới có dịp ngồi bên nhau tưởng nghĩ đến một người bạn, khá là thân với gia đình N.Đ.Toàn và mới quen biết với tôi, với Vạn ngày sầu. Một nửa chung rượu và một làn khói tỏa, chúng tôi cười bên nhau và dấu lẫn nhau một nỗi ngậm ngùi.</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em>Mới 2 tháng trước khi Về đây nghe em sang Mỹ chơi, chúng tôi cà kê ở Lyly café với nhà thơ trẻ Nguyễn phan nhật Nam, vợ chồng Trần quang Lộc… Áo mơ phai nói, này trình diện đi chứ. NĐQuang: thì đương nhiên là hát cho Lộc rồi. Không, tôi nói trình diện, không phải trình diễn. Cười cười. Du ca không nói, chỉ cười cười. Tôi méo mó nghề nghiệp mang máy ra chụp lia lịa. Có bức hình nghịch ngợm chỉ có 3 đôi chân với giầy, ông Toàn nói đôi giầy nào đẹp nhất chính là chân của Du ca_nó (!) đang yêu. Được một bức vừa mắt, Du ca hả hê: như vầy là đủ kiếm chác (?) rồi.</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image00477.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image004" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image004_thumb40.jpg?strip=all&fit=236%2C354" alt="clip_image004" width="236" height="354" border="0" hspace="12" /></a><em></em></p>
<p><em>Hôm đó, buổi hát cho Trần quang Lộc (Jan 27,2011), Du ca đã hòa cùng anh em, trong tiếng đàn thùng, cất tiếng hát vỡ phổi của một thời du ca mà hát, hát vang cho bạn, và có lẽ hát riêng cho mình, cho một tình yêu vừa chớm… Có biết đâu, đó là lần cuối tôi được thấy Du ca hát, tôi được nghe những dòng nhạc cuối của một người hát triền miên, cho quê hương cho tuổi trẻ cho tình yêu. Du ca, một đời quên lãng trong tiếng đàn thùng bập bùng cũng đủ lãng quên đời, đã ra đi. Những đứa trẻ lớn lên trong chiến tranh như chúng tôi, có lẽ đứa nào cũng biết hát bài Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ. Hôm nay nghe lại bài hát do ban Ngàn Khơi trình diễn cùng dàn nhạc Orchestra, tôi buồn. Tôi nhớ những buổi dợt nhóm bài Chiều qua Tuy Hòa. Tôi nhớ buổi ca hát cuối tháng Mười 2010 do Du ca tổ chức với rất nhiều giọng hát trẻ và hay về góp tiếng. Buổi đó, đứng trên sân khấu đồng ca ngó xuống còn thấy Lính tháng Ba vóc siêu siêu đi hết nổi vẫn đến ngồi xem Du ca hát… Tôi nhớ buổi Văn nghệ cuối năm, Trần quang Lộc còn cười toác hoác ghẹo Du ca… Không chỉ những người của một thời du ca hưng ca hướng đạo tuổi trẻ là thương tiếc Nguyễn đức Quang. Chúng tôi, những đứa trẻ lớn lên trong chiến tranh cũng nợ chữ của những người viết, nợ nhạc của những nhạc sĩ như anh vì khi hát to giọng lên thấy mình yêu quê hương tha thiết, thấy hãnh diện cho một tuổi trẻ dại khờ mà vẫn dấn thân. Cái đẹp của du ca, của hưng ca là cái đẹp mộc mạc, ấm áp như tiếng đàn thùng. Lãn mạn, là tình yêu trong lẽ hiến dâng. Tiếng hát cuối cùng cho bè bạn cho tình người đã được cất lên. Dòng nhạc cuối cùng cho tình yêu đã được chia xẻ. Vĩnh biệt Du ca. Anh Quang, bên kia sông là ánh mặt trời…, mong anh thấy ánh mặt trời.</em><em></em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image00649.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image006" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image006_thumb23.jpg?strip=all&fit=402%2C270" alt="clip_image006" width="402" height="270" border="0" /></a></p>
<p><strong><em>Nguyễn Đình Tòan, Chị Trần Quang Lộc, Chị Nguyễn Đình Tòan, Nguyễn Phan Nhật Nam, Trần Quang Lộc và Nguyễn Đức Quang.</em></strong></p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image00825.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image008" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image008_thumb9.jpg?strip=all&fit=235%2C359" alt="clip_image008" width="235" height="359" border="0" /></a></p>
<p><strong><em>Nguyễn Đức Quang và Lê Uyên</em></strong></p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image01014.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image010" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image010_thumb3.jpg?strip=all&fit=383%2C257" alt="clip_image010" width="383" height="257" border="0" /></a></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/nh%e1%ba%a1c-si-nguy%e1%bb%85n-d%e1%bb%a9c-quang-qua-d%e1%bb%9di/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>T.Vấn: Nhớ đứng chờ ta ở c&#245;i si&#234;u *</title>
		<link>https://t-van.net/nh%e1%bb%9b-d%e1%bb%a9ng-ch%e1%bb%9d-ta-%e1%bb%9f-ci-siu/</link>
					<comments>https://t-van.net/nh%e1%bb%9b-d%e1%bb%a9ng-ch%e1%bb%9d-ta-%e1%bb%9f-ci-siu/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[T.Vấn]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 26 Mar 2011 02:07:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[cái chết]]></category>
		<category><![CDATA[con người]]></category>
		<category><![CDATA[giới thiệu]]></category>
		<category><![CDATA[phạm công thiện]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/testsite/wordpress/?p=1984</guid>

					<description><![CDATA[1. Mẩu tin trên mạng một buổi sáng lang thang đã đem đến cho tôi nỗi ngậm ngùi. Người mà tôi mơ ước được một lần gặp gỡ để &#8220;thanh tóan cho xong cái quá khứ đã chấp trong tôi &#8221; bằng cách bắt chước chính ông &#8220;Phùng Phật sát Phật. Phùng Miller sát Miller&#8221;, [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://1.bp.blogspot.com/-tY35oYA3mzo/TXihlkVkFEI/AAAAAAAABSY/DJRR5RXy3IU/s1600/phamconthienmed.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; margin: 0px 20px 10px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; float: left; padding-top: 0px; border-width: 0px;" title="clip_image001" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image00180.jpg?strip=all&fit=197%2C240" alt="clip_image001" width="197" height="240" align="left" border="0" /></a></p>
<p><strong>1.</strong></p>
<p>Mẩu tin trên mạng một buổi sáng lang thang đã đem đến cho tôi nỗi ngậm ngùi. Người mà tôi mơ ước được một lần gặp gỡ để &#8220;<em><a href="http://www.voanews.com/vietnamese/blogs/hoang/mat-troi-khong-co-thuc-12-29-2010-112619654.html">thanh tóan cho xong cái quá khứ đã chấp trong tôi</a></em> &#8221; bằng cách bắt chước chính ông &#8220;<em>Phùng Phật sát Phật. Phùng Miller sát Miller&#8221;</em>, để rồi biến thành &#8220;<em><a href="http://www.voanews.com/vietnamese/blogs/hoang/mat-troi-khong-co-thuc-12-29-2010-112619654.html">Phùng Phạm sát Phạm</a></em>&#8220;, không còn nữa. Phạm Công Thiện đã qua đời trước khi tôi có cơ hội &#8220;<em>sát thủ</em>&#8220;.</p>
<p>Phạm công Thiện chết rồi, mặt trời sẽ hy vọng có thực. Ngày ông qua đời, thứ Ba 8 tháng 3 năm 2011, mặt trời mùa đông vạch mây ngó xuống. Đó là một ngày nắng hiếm hoi.</p>
<p>Trong bài tựa cho <a href="http://vnthuquan.net/diendan/%28S%28nximew3bbae0fwu4vqgqztqd%29%29/printable.aspx?m=199078">lần tái bản quyển sách nổi tiếng &#8220;Ý thức mới trong văn nghệ và Triết học</a>&#8221; do nhà xuất bản An Tiêm ấn hành năm 1970, ông viết:</p>
<p><em>&#8220;Bây giờ gần 30 tuổi thì tôi lại xuống núi (chứ không phải lên núi như Zarathustra) để làm nước chảy ồn ào trong những lỗ cống của cuộc đời.<br />
Thực ra còn đến hai tháng nữa, tôi mới đúng 29 tuổi. Tôi cho phép tôi làm nước chảy trong cống rãnh trong thời gian một năm nữa thôi, từ 29 tuổi đến 30 tuổi.<br />
Từ 30 tuổi trở đi cho đến 40 tuổi thì tôi sẽ không là tôi nữa. Đó là điều bí mật chỉ có tôi mới biết rõ vì sao tôi sẽ không là tôi nữa.<br />
Từ 40 tuổi cho đến 50 tuổi, hư vô sẽ thổi trên mặt đất.<br />
Từ 50 tuổi cho đến 60 tuổi thì kỷ nguyên Tây lịch đã tới năm 2000.<br />
Từ 60 tuổi cho đến 70 tuổi thì trái đất sẽ rất nhiều chim, những con chim biết nói tiếng Phạn.<br />
Từ 70 tuổi cho đến 80 tuổi thì núi Hy mã lạp sơn sẽ sụp đổ và chảy tan thành một đại dương mới.<br />
Từ 80 tuổi cho đến 90 thì Thái Bình Dương sẽ trở thành nấm mồ chôn hết lục địa.<br />
Từ 90 tuổi cho đến 100 thì mặt trời trở thành mặt trăng và mặt trăng trở thành địa cầu mới.&#8221;</em></p>
<p>Chẳng may, ông đã mất năm 71 tuổi (ông sinh năm 1941). Ông không kịp chờ cho &#8220;<em>núi Hy mã lạp sơn sẽ sụp đổ và chảy tan thành một đại dương mới.&#8221;</em>. Nhưng nếu ông còn sống, liệu ngày ấy có đến không?</p>
<p><em><a href="http://www.diendantheky.net/2011/03/pham-cong-thien-i-mat-han-i-roi.html">Đã đi mất hẳn đi rồi .</a></em></p>
<p>Đó là câu thơ của chính ông trong tập thơ cuối cùng (Trên Tất Cả Các Đỉnh Cao Là Lặng Im) mà nhà thơ Viên Linh đã mượn làm đề tựa bài viết ngắn về cái chết của vị triết gia thi sĩ thần đồng. Có thật là Phạm Công Thiện &#8220;<em>đã đi mất hẳn đi rồi</em>&#8220;?</p>
<p>Với ai thì chắc hẳn là không cần phải hỏi lại. Nhưng với Phạm Công Thiện thì khác. Vẫn phải bắt chước ông (lại một lần nữa tôi bắt chước ông!) hỏi chính mình: <em><a href="http://www.vanchuongviet.org/vietnamese/vanhoc_tacpham.asp?TPID=10988&amp;LOAIID=30&amp;TGID=1139">Đã đi rồi đã đi chưa</a>?</em></p>
<p>Tại sao?</p>
<p>Vì Phạm Công Thiện là một hiện tượng chưa một lần được lý giải thỏa đáng cho người đương thời, cho các thế hệ nối tiếp mỗi khi họ ngồi trước đèn lần giở những trang cảo thơm của quá khứ. Kể từ khi xuất hiện năm 1957, lúc mới 16 tuổi, bằng cách tự xuất bản quyển Anh Ngữ Tinh Âm, rồi tiếp theo ông cho ra đời những tác phẩm gây chấn động cả một tầng lớp trí thức, sinh viên thành thị dưới nhiều hình thức: nghiên cứu triết học, tôn giáo, thi ca, văn học v..v. Ở tuổi chưa tới 30, ông đã lần lượt đảm trách nhiều chức vụ nghiên cứu, giảng dạy khác nhau ở đại học và các tu viện Phật giáo (dù ông xuất thân từ một gia đình theo Thiên Chúa Giáo). Đó là chưa kể những sự kiện khác thường trong cuộc đời của ông. Năm 1964, giữa lúc tiếng tăm nổi lên như cồn, ông từ bỏ Thiên Chúa giáo của mình để trở thành một nhà sư với pháp danh Thích Nguyên Tánh. Năm 1970, rời bỏ đất nước sang Israel, Đức, rồi Pháp sinh sống. Tại đây, ông cởi áo cà sa, lấy vợ &#8211; một người theo đạo Thiên chúa.</p>
<p>Từ bấy đến nay đã hơn 50 năm trôi qua, nhiều người già tóc bạc da mồi đương thời với ông vẫn còn phải tự hỏi mình:</p>
<p><strong><em>Phạm Công Thiện, ông là ai?</em></strong></p>
<p>Cho đến buổi chiều ngày thứ Ba 8 tháng 3 năm 2011 lúc mà Phạm Công Thiện &#8220;<em><a href="http://www.hopluu.net/D_1-2_2-136_4-1673/">mệt dần, bắt đầu nhập định và ra đi nhẹ nhàng</a> &#8221; </em>tại thành phố Houston, tiểu bang Texas, câu hỏi lại càng nổi cộm hơn bao giờ hết, vì đã đến lúc &#8220;cái quan định luận&#8221;, khi thể xác ông đã thực sự là một thi hài như thi hài của bao con người khác khi chết. Thiên tài hay thường nhân, bạo chúa hay minh vương, nằm xuống rồi cũng thì có khác gì nhau. Thế nên, với Phạm Công Thiện, câu hỏi từ 50 năm vẫn lơ lửng.</p>
<p><em>Phạm Công Thiện là một triết gia hay kẻ mắc bệnh điên tư tưởng? Là một học gỉa hay chỉ là con mọt sách? là một thi sĩ, một nhà văn hay kẻ lộng ngôn xem chữ nghĩa như một trò chơi? Là bậc tu hành tinh thông lẽ đạo bằng trí thông minh tuyệt vời hay kẻ mượn áo cà sa trốn lánh việc đời rồi hốt nhiên trở nên &#8220;ngộ&#8221; một cách bất đắc dĩ? Là con người lập dị nhờ vào khả năng ngôn ngữ hơn người hay kẻ phá phách cậy mình thông kinh đạt quyển nên tung hòanh chốn trường văn trận bút như chỗ không người? Là vị thần đồng thực sự hay kẻ kiêu ngạo coi trời bằng vung?</em></p>
<p>Nhiều người đương thời đã tìm cách lý giaỉ hiện tượng Phạm Công Thiện với nhiều cách nhìn khác nhau, đôi khi đối nghịch.</p>
<p><strong>2.</strong></p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image002157.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border-width: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image002_thumb92.jpg?strip=all&fit=367%2C263" alt="clip_image002" width="367" height="263" border="0" hspace="12" /></a></p>
<p>Hãy đọc tiểu sử của Phạm Công Thiện:</p>
<p><em>Sinh ngày 01 tháng 6 năm Tân Tỵ, 1941, tại Mỹ Tho, Việt Nam.<br />
&#8211; Tiến Sĩ Triết Học tại Đại Học Sorbonne, Pháp,<br />
&#8211; Nguyên Giáo Sư Triết Học tại Đại Học Toulouse, Pháp,<br />
&#8211; Nguyên Khoa Trưởng Phân Khoa Văn Học và Khoa Học Nhân Văn tại Đại Học Vạn Hạnh, Sài Gòn; Giám Đốc Soạn Thảo Chương Trình Giảng Dạy cho tất cả các Phân Khoa của Viện Đại Học Vạn Hạnh từ năm 1966 tới năm 1970,<br />
&#8211; Nguyên Chủ Biên Tạp Chí Tư Tưởng của Viện Đại Học Vạn Hạnh, Sài Gòn,<br />
&#8211; Nguyên Giáo Sư Phật Học tại các Học Viện, Cao Đẳng Phật Học tại Hoa Kỳ,<br />
&#8211; Nguyên Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Văn Hóa, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại Tại Hoa Kỳ, Văn Phòng 2 Viện Hóa Đạo .</em></p>
<p>Hãy đọc danh sách những tác phẩm của ông:</p>
<p><em>• Tiểu Luận Về Bồ Ðề Ðạt Ma, tổ sư Thiền Tông (1964)<br />
• Ý Thức Mới Trong Văn Nghệ Triết Học (1965)<br />
• Ngày sanh Của Rắn (1967)<br />
• Trời Tháng Tư (1966)<br />
• Im Lặng Hố Thẵm (1967)<br />
• Hố Thẳm Của Tư Tưởng (1967)<br />
• Mặt Trời Không Bao Giờ Có Thực (1967)<br />
• Bay Ði Những cơn Mưa Phùn (1970)<br />
• Ði Cho Hết Một Ðêm Hoang Vu Trên Mặt Ðất (1988)<br />
• Sự Chuyển Ðộng Toàn Diện Của Tâm Thức Trong<br />
Tư Tưởng Phật Giáo (1994)<br />
• Triết Lý Việt Nam Về Sự Vượt Biên (1995)<br />
• Làm Thế Nào Ðể Trở Thành Một Bậc Bồ Tát<br />
• Sáng Rực Khắp Bốn Phương Trời (1998)<br />
• Tinh Tuý Trong Sáng Của Ðạo Lý Phật Giáo (1998)<br />
• Trên Tất Cả Ðỉnh Cao Là Im Lặng<br />
• Một Ðêm Siêu Hình Với Hàn Mặc Tử<br />
• Khai Ngôn Cho Một Câu Hỏi Dễ Hiểu: Triết Học Là Gì?<br />
• Ðối Mặt Với 1000 Năm Cô Ðơn của Nietzche </em></p>
<p><strong><em>Tác phẩm dịch đã xuất bản</em></strong><em><br />
•</em> <em>Jiddu Krishnamurti, Tự do đầu tiên và cuối cùng (1968)<br />
•</em> <em>Martin Heidegger, Về thể tính của chân lý (1968)<br />
•</em> <em>Martin Heidegger, Triết lý là gì? (1969)<br />
•</em> <em>Friedrich Nietzsche, Tôi là ai? Đây là người mà chúng ta mong đợi! (1969)<br />
•</em> <em>Nikos Kazantzakis, Rèn luyện tâm thuật huyền linh (1991)</em></p>
<p>Một tiểu sử và những thành tựu đáng nể. Cho tới nay, trong thế giới người Việt ở cả trong lẫn ngòai nước, chưa thấy ai có những thành tựu đa dạng và ở một số tuổi ít ỏi như thế.</p>
<p>Ông là một thiên tài. Điều này ít ai có thể chứng minh ngược lại. Không phải là thiên tài thì làm sao có được sự nghiệp đồ sộ khó ai bì như vậy. Nhưng không phải là không có người bảo ông điên. Mặt khác, cũng chính ông đã từng viết &#8220;<em>bệnh điên trở thành một thời trang làm dáng cho bọn tự nhận là thiên tài&#8221;. </em>Ở Phạm Công Thiện dường như điều đơn giản nhất cũng trở nên rối rắm, khó hiểu. Thí dụ như định nghĩa về thiên tài. Và  hình như cũng chính ông làm cho ranh giới vốn đã mong manh giữa thiên tài và cuồng sĩ lại càng trở nên mong manh hơn.</p>
<p>Ông là một triết gia. Chính bản thân mình, ông chưa bao giờ tự nhận là triết gia. Có lẽ là do ông dạy Triết, viết sách Triết, nghiên cứu Triết với ngôn ngữ của kẻ lập ngôn nên nhiều người tưởng lầm, hoặc do quá hâm mộ nên tôn xưng ông là triết gia. Hệ lụy đời ông có lẽ cũng bắt đầu từ ngộ nhận mang tầm vóc bi kịch này. Và cũng từ đây, có kẻ đương thời khẳng quyết triết gia là kẻ mắc bệnh ung thư tư tưởng.</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image00344.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; margin: 0px 20px 10px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; float: left; padding-top: 0px; border-width: 0px;" title="clip_image003" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image003_thumb24.jpg?strip=all&fit=167%2C229" alt="clip_image003" width="167" height="229" align="left" border="0" hspace="12" /></a></p>
<p><em>Cư sĩ Phạm Công Thiện, pháp danh Nguyên Tánh</em></p>
<p>Ông là một học gỉa. Tinh thông nhiều ngọai ngữ, là chìa khóa mở ra những cánh cửa văn hóa thế giới. Có đọc Phạm Công Thiện (tuy không hiểu được hết những điều ông viết), mới thấy hết sự mênh mông của sở học mà ông chiếm hữu. Đã thế, những trang sách Phạm Công Thiện mang một đặc tính khác thường so với những trang sách kinh điển: hòai nghi, phản kháng, phủ nhận, với sự mãnh liệt và thái độ cao ngạo của tuổi trẻ. Vì vậy mà có người cho rằng ông là kẻ phá phách, coi trời bằng vung chăng? Dẫu cho có là một thiên tài, thì tuổi trẻ vẫn cứ là tuổi trẻ với những thuộc tính làm nên một lực đẩy khiến nhiều người già khó chịu. Thiên tài cộng với tuổi trẻ thì khó tránh được những điều ong tiếng ve. Hãy đọc một đọan trích trong bài tựa cho lần tái bản thứ tư của quyển sách <em><a href="http://vnthuquan.net/diendan/%28S%28nximew3bbae0fwu4vqgqztqd%29%29/printable.aspx?m=199078&amp;AspxAutoDetectCookieSupport=1">Ý thức mới trong văn nghệ và triết học</a> </em><em>(</em>YTMTVNVTH) thì sẽ thấy quả chẳng oan cho ông tí nào:</p>
<p><em>&#8221; . . .Tôi thực sự bắt đầu viết quyển Ý thức mới trong văn nghệ và triết học vào năm 1960 (thực sự khởi từ năm 1959), nghĩa là lúc tôi được mười tám và mười chín tuổi. Bây giờ tôi gần 30 tuổi. Bao nhiêu nước chảy trôi phăng qua cầu trong mười năm trời. Bây giờ nhìn lại chặng đường xưa, tôi không ngờ lúc 18 – 19 tuổi tôi lại thông minh dễ thương như vậy, rồi nhớ lại lúc 13-14 tuổi cho đến lúc 16 tuổi, tôi đã xuất bản một quyển, sách về ngôn ngữ học và đã viết trên 20 quyển sách về văn học quốc tế và ngôn ngữ học (trong đó có một quyển mà Nguyễn Hiến Lê đề tựa giới thiệu và ngạc nhiên không ngờ tôi mới 16 tuổi), sau này khi tôi được 18 tuổi thì tôi đốt sạch hết tất 20 quyển ấy!<br />
Tai nạn lớn lao nhất trong đời tôi là phải chịu đoạ đầy làm thần đồng lúc còn thơ dại, rồi lúc lớn lên làm thanh niên thì phải chịu đoạ đầy làm thiên tài . . . &#8220;.</em></p>
<p>Ông là người tinh thông đạo Phật. Chắc cũng khó chối cãi. Mới 23 tuổi, ông đã viết sách về Bồ Đề Đạt Ma, vị tổ sư của Thiền tông. Rồi một lọat những trọng trách ông đảm nhận liên quan đến việc giáo dục các tăng sĩ, những chức vụ trong các tổ chức Phật giáo, những họat động nhằm xiển dương Phật giáo, những tác phẩm nghiên cứu về Phật pháp sau này. Nhưng cũng có người cho rằng ông mặc áo nhà tu, rồi cởi áo nhà tu, rồi lại tuồng như mặc lại chiếc áo ấy chỉ là phản ánh sự bất định trong tâm hồn một người tưởng mình là cái rốn của vũ trụ. Ngày ông lên chùa Hải Đức ở Nha Trang cạo đầu, mặc áo cà sa, mang pháp danh Thích Nguyên Tánh, người thời ấy bảo ông trốn việc quan đi ở chùa. Có người bảo ông tìm nơi an tịnh để chữa bệnh &#8220;khủng hỏang tâm linh&#8221;. <a href="http://vnthuquan.net/diendan/%28S%28nximew3bbae0fwu4vqgqztqd%29%29/printable.aspx?m=199078&amp;AspxAutoDetectCookieSupport=1">Giải thích gián tiếp về việc này</a>, ông viết &#8220;<em>sự chọn lựa đi tu cũng là một thái độ sống trước hư vô. Đi tu đâu phải là chuyện dễ; có lẽ có thể nói rằng phải có can đảm lắm và nhiều sức mạnh lắm mới đi vào con đường cô đơn ấy . . . &#8221; . </em>Nhưng cũng có người mãi đến hôm nay vẫn xưng tụng ông là Bồ tát (chính xác <em>hơn là &#8220;</em><em>khi <a href="http://old.thuvienhoasen.org/nghivenhatho-phamcongthien.htm">Thiền sư Thi sĩ Phạm Công Thiện từ trần,</a> chắc chắn sẽ có rất nhiều người gọi anh là Bồ tát, một danh hiệu rất mực tôn kính trong nhà Phật, chỉ đứng sau danh hiệu Ðức Phật.&#8221;).</em></p>
<p>Ông là nhà văn. Quả thật, chỉ với &#8220;<em>Bay đi những cơn mưa phùn</em>&#8220;, viết từ năm chưa tới 30 tuổi, kẻ ganh tị nhất với ông cũng phải thốt lên lời tán thưởng. Đó là những trang văn xuôi của thơ, là hình ảnh trau chuốt của cái đẹp, là sự thăng hoa của tâm hồn con người, là chữ nghĩa cuối cùng đã thóat ra khỏi được những giam hãm của đời sống. Có người bảo bao tinh anh của ông đã phát tiết hết cả từ những ngày còn trẻ, phát rộ sớm thì lụi tàn sớm, thế nên nhiều năm nay ở hải ngọai ông có còn viết được gì nữa đâu ngòai một tập tùy bút &#8220;<em>Đi cho hết một đêm hoang vu trên mặt đất&#8221;.</em></p>
<p>Ông là nhà thơ. Đến đây thì chắc nhiều cái đầu gật gù. Theo nhiều người thân cận với ông thì ông chỉ muốn là, được gọi là, thi sĩ. <a href="http://vnthuquan.net/diendan/%28S%28nximew3bbae0fwu4vqgqztqd%29%29/printable.aspx?m=199078&amp;AspxAutoDetectCookieSupport=1">Ông đã từng khẳng định chắc nịch</a> &#8220;<em>Tôi không là một tên tiên tri nào cả, ngôn ngữ của tôi là ngôn ngữ của thi sĩ. Ai muốn hiểu làm sao thì hiểu.</em>&#8220;. Chắc ông đã mãn nguyện. Tập thơ mỏng manh &#8220;Ngày sanh của rắn&#8221; xuất bản năm 1966 ở Sài Gòn đã khẳng định vị trí thi sĩ của ông. Sau này, với bài <em><a href="http://www.tienve.org/home/viet/viewVietJournals.do?action=viewArtwork&amp;artworkId=80">Trường Giang Mỹ Tho </a></em>viết năm 1980 đã được nhiều người coi là tuyệt tác, hoặc tập thơ cuối cùng &#8220;<em><a href="http://vietsach.blogspot.com/2009/08/tren-tat-ca-inh-cao-la-lang-im.html">Trên tất cả đỉnh cao là lặng im</a></em>&#8220;, với lời mở đầu rất &#8220;<em>Phạm Công Thiện</em>&#8221; nhưng tôi chưa thấy ai phàn nàn:</p>
<p><em>&#8220;&#8230; Một đêm, tôi nằm chiêm bao thấy Goethe hiện về, bảo tôi hãy nhớ lại câu thơ ngắn của ông và gợi ý gián tiếp cho nhan đề tập thơ này:<br />
</em><em>Ueber allen Gipfeln</em><em><br />
</em><em>Ist Ruh</em><em><br />
(Trên Tất Cả Những Đỉnh Cao<br />
Là Bình Yên)</em></p>
<p>Có lẽ là vì trần gian này đã có quá nhiều thi sĩ ngông nên có thêm một vị nữa cũng chẳng chết &#8220;thằng tây&#8221; nào chăng? Nhưng mà ngày xưa, ông đã bị mỉa mai là &#8220;thi sĩ khều mặt trời&#8221; với những câu thơ &#8220;đình đám&#8221; trong tập &#8220;<a href="http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&amp;artworkId=7154">Ngày sanh của rắn</a>&#8220;:</p>
<p><em>tôi giao cấu mặt trời sinh ra mặt trăng<br />
tôi thủ dâm thượng đế sinh ra loài người<br />
cho quế hương nằm ở nhà thương điên của trí nhớ<br />
mặt trời có thai!<br />
Mặt trời có thai!<br />
Sinh cho tôi một đứa con trai mù mắt</em></p>
<p><em>( Ngày sanh của rắn )</em></p>
<p>Vì đình đám quá nên những câu thơ &#8220;thời thượng&#8221; mà ai cũng biết ấy đã che khuất đi những câu thơ tuyệt vời khác, chẳng hạn :</p>
<p>&#8220;<em>Mưa chiều thứ bẩy tôi về muộn</em></p>
<p><em>Cây khế đồi cao trổ hết bông &#8220;</em></p>
<p>Quả là khẩu khí một thi sĩ . . . triết gia.</p>
<p><strong>3.</strong></p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image00521.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; margin: 0px 20px 10px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; float: left; padding-top: 0px; border-width: 0px;" title="clip_image005" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image005_thumb8.jpg?strip=all&fit=141%2C240" alt="clip_image005" width="141" height="240" align="left" border="0" hspace="12" /></a></p>
<p>Nhưng với tôi, kẻ mang một quá khứ không thể tách rời cái tên Phạm Công Thiện thì <a href="http://www.tienve.org/home/viet/viewVietJournals.do?action=viewArtwork&amp;artworkId=80">cách lý giải của Nguyễn Ngọc Tuấn trên Tiền Vệ</a> khiến tôi dễ dàng chấp nhận hơn :</p>
<p><em>&#8220;. . . theo tôi, Phạm Công Thiện là một nhà thơ trước khi là một nhà tuỳ bút; là một nhà tuỳ bút trước khi là một nhà văn; là một nhà văn trước khi là một nhà tư tưởng; là một nhà tư tưởng trước khi là một người phá phách và là một người phá phách trước khi là một kẻ lập dị. Suốt mấy chục năm nay, Phạm Công Thiện luôn luôn chịu đựng một sự đánh giá bất công cũng như những sự khen ngợi oan ức khi người ta nhìn ông theo một chiều hướng khác, ngược lại.</em></p>
<p><em>Phạm Công Thiện có một cái tài đặc biệt rất hiếm người có là ông có thể làm cho độc giả đọc ông một cách thích thú, say mê và thán phục mặc dù, khi gấp sách lại, người ta hoàn toàn không hiểu là ông nói cái gì cả. Bởi vậy, mặc dù tác phẩm của ông nổi tiếng là khó hiểu, ông vẫn có một lượng độc giả khá lớn, khá trung thành, và đôi khi khá bình dân. Nói như thế cũng có nghĩa là nói thế mạnh đầu tiên và nổi bật nhất của Phạm Công Thiện chính là ở khả năng diễn đạt, hay nói cách khác, ở giọng văn của ông. Đó là một giọng văn có sức hấp dẫn lạ lùng, một giọng văn vừa uyên bác vừa sôi nổi, vừa rất trí tuệ và lại rất giàu chất thơ. . . &#8220;</em></p>
<p>Những người không sống ở Sài Gòn vào thập niên 1960s, khỏang thời gian cái tên Phạm Công Thiện biểu trưng cho một hiện tượng thật đình đám dù là không khí chiến tranh đã ngự trị khắp nơi kể cả những thành phố lớn, có thể không cảm và hiểu hết được những tác động đối nghịch nhau mà Phạm Công Thiện đã tạo cho người đương thời. Nay, gần 50 năm đã trôi qua, cái gì còn đọng lại đã chứng tỏ gía trị của chúng, hoặc ít nhất cũng chứng tỏ khả năng sống sót sau cơn lũ thời gian. Với trường hợp Phạm Công Thiện, dù ông vẫn không ngừng sáng tác sau khi rời nước để phiêu bạt giang hồ từ năm 1970, nhưng những đề tài được bàn luận về ông, cho tới hôm nay, phần lớn vẫn là về những gì ông viết trong thập niên đáng nhớ ấy. Liệu chi tiết này có nói thêm được gì không về giá trị những suy tưởng của một thanh niên chưa tới 30 tuổi ngày nào?</p>
<p><strong>4.</strong></p>
<p>Trong tập thơ <a href="http://www.hoadamonline.com/2011/03/pham-thi-thu-tang-pham-cong-thien.html">Nhân Gian, xuất bản năm 2006</a>, nhà thơ Phạm Thiên Thư đã vẽ Phạm Công Thiện bằng 4 câu thơ:</p>
<p><em>Con người hóa kiếp nhà thơ<br />
Khi bay thành nhạc khi chờ là hương<br />
Lang thang trong cuộc đoạn trường<br />
Lấy trăng thái cổ soi đường bến mê</em></p>
<p>Con người dù có hóa kiếp nhà thơ cũng sẽ đến lúc phải &#8220;<em><a href="http://nguoivietboston.com/?p=34667">xả bỏ thân tứ đại</a></em> &#8220;. Thọ 71 tuổi như ông, tuy chưa đủ để gọi là chết già, nhưng &#8220;<em>lang thang trong cuộc đọan trường</em>&#8221; bấy nhiêu năm ai mà không mệt mỏi, dù có là thiên tài. Cho nên, nằm xuống là yên nghỉ . . . đời đời. Khi sinh thời, nhà thi sĩ triết gia nổi tiếng cao ngạo vốn đã bỏ ngòai tai mọi lời chê tiếng khen thì lúc này đây, còn có gì để ông phải bận tâm dùng dằng. Có bận tâm chăng là bận tâm cho kẻ hậu sinh ôm di sản của ông mà chợt rùng mình nghĩ đến gánh nặng oằn vai trên đọan đường dài trước mặt. Từ đây, trọng tâm của mọi cuộc bàn luận sẽ chỉ còn là về những gì ông để lại cho đời. Khi mặt đất này không còn bóng dáng con người mang cái đầu quá lớn trên thân xác nhỏ nhoi của mình nữa, thì mọi hệ lụy trần gian cũng sẽ biến thành hạt bụi theo gió bay đi như những cơn mưa phùn.</p>
<p>Nhà thơ <a href="http://lambamblog.wordpress.com/2010/08/25/khi-thi-ca-thanh-ton-giao-ph%E1%BA%A1m-cong-thi%E1%BB%87n/">Nguyên Sa sinh thời</a> có viết bài thơ nói chuyện phải quấy với Phạm Công Thiện, trong đó có hai câu cuối:</p>
<p><em>Này người bỏ sóng sang thuyền tĩnh</em></p>
<p><em>Nhớ đứng chờ ta ở cõi siêu</em></p>
<p><em>( Nói chuyện phải quấy với Phạm Công Thiện – Nguyên Sa)</em></p>
<p>Tôi chợt có ý nghĩ rằng, có lẽ giây phút này đây, chính thi sĩ triết gia Phạm CôngThiện đang thét vang trong gió hai câu thơ ấy của người bạn cũ.</p>
<p><em>Nhớ đứng chờ ta ở cõi siêu</em>. Thắp nén hương lòng, tôi cầu chúc cho ông đạt được ý nguyện./.</p>
<p><strong>T.Vấn</strong></p>
<p>03-12-2011</p>
<p>*Thơ Nguyên Sa</p>
<p>*<em>Bài này có nhiều chỗ trích dẫn, trích giải. Tuy nhiên, nó không có tầm cỡ một bài khảo luận nên tôi nghĩ không nên làm cho bài viết trở nên nặng nề một cách không cần thiết bằng những dấu chỉ gốc của những đọan trích dẫn, trích giải. Thay vào đó, tôi dùng thủ thuật nối kết (Hyperlink) dẫn đến nguồn của đọan trích dẫn, trích giải được hiển thị qua những chữ đổi màu trong bài. T.Vấn</em></p>
<p><strong><em><span style="text-decoration: underline;">Phụ Lục:</span></em></strong></p>
<p>Bài viết này xuất hiện lần đầu tiên trên trang mạng damau, trong thời điểm tin về cái chết của Phạm Công Thiện vẫn còn làm thế giới văn chương xúc động. Vì thế, qua chức năng &#8220;diễn đàn mở&#8221; của damau, nhiều thức giả đã góp ý, bình luận và cung cấp thêm nhiều chi tiết về con người, cuộc đời của nhân vật kỳ bí nhất trong lịch sử văn học miền Nam (tôi dùng chữ miền Nam để chỉ &#8220;miền Nam&#8221; trước năm 1975 và, ở một chừng mực giới hạn nào đó, hàm cả &#8220;hải ngọai&#8221; sau 1975) trong vòng 50 năm trở lại đây.</p>
<p>Như một ngọai lệ, tôi kèm theo những bình luận này ở cuối bài viết để mọi người quan tâm có thêm cơ hội tìm hiểu thêm về ông.</p>
<p>T.Vấn</p>
<p>26 tháng 3 năm 2011</p>
<p> <strong><em><a href="http://tienve.org/home/authors/viewAuthors.do?action=show&amp;authorId=1">Hoàng Ngọc-Tuấn</a> </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Thưa nhà văn T. Vấn,</p>
<p>Trong bài này, anh/chị có nói đến &#8220;cách lý giải của Hoàng Ngọc-Tuấn trên Tiền Vệ&#8221; về Phạm Công Thiện. Nhưng theo cái link của anh/chị thì thấy đó không phải là Hoàng Ngọc-Tuấn mà lại là Nguyễn Ngọc Tuấn (tên thật của nhà phê bình văn học Nguyễn Hưng Quốc).<br />
<a href="http://www.tienve.org/home/viet/viewVietJournals.do?action=viewArtwork&amp;artworkId=80">http://www.tienve.org/home/viet/viewVietJournals.do?action=viewArtwork&amp;artworkId=80</a></p>
<p>Vậy xin anh/chị sửa chữa giùm chỗ nhầm lẫn này, kẻo các trang web khác đăng đi đăng lại bài viết này thì sự nhầm lẫn lại lan rộng ra.</p>
<p>Xin cảm ơn anh/chị.</p>
<p>Nhân dây, tôi cũng xin góp thêm một ý nhỏ.</p>
<p>T. Vấn viết: &#8220;… Chính bản thân mình, ông chưa bao giờ tự nhận là triết gia. Có lẽ là do ông dạy Triết, viết sách Triết, nghiên cứu Triết với ngôn ngữ của kẻ lập ngôn nên nhiều người tưởng lầm, hoặc do quá hâm mộ nên tôn sưng [xưng] ông là triết gia. Hệ lụy đời ông có lẽ cũng bắt đầu từ ngộ nhận mang tầm vóc bi kịch này. Và cũng từ đây, có kẻ đương thời khẳng quyết triết gia là kẻ mắc bệnh ung thư tư tưởng.&#8221;</p>
<p>Theo tôi nghĩ, chữ &#8220;triết gia&#8221; (philosopher) không có gì lớn. Nó cũng là một chữ bình thường như những chữ &#8220;thi sĩ&#8221;, &#8220;kỹ sư&#8221;, &#8220;kiến trúc sư&#8221;, &#8220;nhạc sĩ&#8221;, &#8220;họa sĩ&#8221;, v.v.</p>
<p>Theo American Heritage Dictionary, chữ &#8220;philosopher&#8221; được định nghĩa là:</p>
<p>1. A student of or specialist in philosophy.<br />
2. A person who lives and thinks according to a particular philosophy.<br />
3. A person who is calm and rational under any circumstances.</p>
<p><a href="http://www.answers.com/main/ntquery?s=philosopher&amp;gwp=13">http://www.answers.com/main/ntquery?s=philosopher&amp;gwp=13</a></p>
<p>Trong những cuộc hội thảo về triết ở Úc, những diễn giả còn đang là sinh viên triết, khi lên đọc tham luận, thì cũng được ban tổ chức giới thiệu là &#8220;philosophers&#8221; đàng hoàng. Cũng như các sinh viên âm nhạc khi lên sân khấu trình diễn, hay các sinh viên mỹ thuật khi triển lãm tác phẩm trước công chúng, cũng đều được giới thiệu là &#8220;musicians&#8221;, &#8220;singers&#8221;, &#8220;painters&#8221;, &#8220;sculptors&#8221; đàng hoàng.</p>
<p>Tôi có một anh bạn Úc, tốt nghiệp cử nhân triết học, hiện đang làm việc tại Bộ Nghệ Thuật NSW, trong business card của anh (do chính phủ in cho anh) có ghi rất đàng hoàng chính thức là &#8220;Philosopher / Arts Policy Consultant&#8221;, mặc dù anh chưa hề xuất bản một cuốn sách triết học nào cả, chỉ mới đăng lác đác vài bài essays hay reviews trên các tạp chí. So với anh bạn triết gia Úc này thì ông Phạm Công Thiện cao hơn 100 cái đầu.</p>
<p>Tôi không hiểu vì sao mà người Việt Nam ta vẫn bị ám ảnh rằng &#8220;triết gia&#8221; là một chức nghiệp hay danh phận gì rất là to tát! Có lẽ vì đất nước mình chưa phát triển về triết học, nên thấy &#8220;triết&#8221; là một cái gì rất cao xa, sang cả quá chăng?</p>
<p>—————-<br />
<em>[Ghi chú của BBT Da Màu: Lỗi lầm về tên người là của BBT trong khi nhuận sắc bài viết! Tác giả T. Vấn không viết sai. Chúng tôi đã sửa ở trên. Xin chân thành cáo lỗi cùng tác giả và các bạn đọc.]</em></p>
<p>&#8211; 15.03.2011 vào lúc 3:37 am</p>
<p> <strong><em>Bảo Bình </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Ở đầu phần 2 trong bài, tác giả T.Vân viết: &#8220;Hãy đọc tiểu sử của Phạm Công Thiện: Sinh ngày 01 tháng 6 năm Tân Tỵ, 1941, tại Mỹ Tho, Việt Nam. Tiến Sĩ Triết Học tại Đại Học Sorbonne, Pháp&#8221;. Tuy nhiên, theo Wikipedia (<a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%E1%BA%A1m_C%C3%B4ng_Thi%E1%BB%87n">http://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%E1%BA%A1m_C%C3%B4ng_Thi%E1%BB%87n</a>) thì ông Phạm Công Thiện chưa hề lấy một bằng cấp nào ở trong hay ngoài nước cả?</p>
<p>&#8211; 15.03.2011 vào lúc 8:49 am</p>
<p> <strong><em>đôc giả vô danh </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Trích đài RFA tiếng Việt ngày 12-3-2011:<br />
…<br />
Phạm Công Thiện sinh năm 1941 tại Mỹ Tho. Học vấn của ông là cả một bí ẩn. Tuy chưa bao giờ có một mảnh bằng tú tài trong tay nhưng ông đã được nhiều trường đại học nổi tiếng thế giới mời giảng dạy trong đó có trường đại học Yale của Mỹ và Sorbonne của Pháp.<br />
…<br />
Link: http://www.rfa.org/vietnamese/programs/LiteratureAndArts/poet-phamcongthien-mlam-03122011142556.html</p>
<p>&#8211; 15.03.2011 vào lúc 11:07 am</p>
<p> <strong><em>Một bạn đọc miệt vườn </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Kính chào ông/bà Bảo Bình,</p>
<p>Có lẽ tác giả T.Vấn cập nhật tiểu sử Phạm Công Thiện từ &#8220;Cáo Bạch&#8221; trên trang Người Việt Boston ngày 09 tháng 03 năm 2011 mà tôi copy lại dưới đây:</p>
<p>By DuyAn • Mar 9th, 2011 • Category: Tin Buồn<br />
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT HOA KỲ<br />
VIETNAMESE AMERICAN UNITED BUDDHIST CONGREGATION<br />
HỘI ĐỒNG ĐIỀU HÀNH<br />
COUNCIL OF MANAGEMENT<br />
CENTRAL OFFICE<br />
803 S. Sullivan St., Santa Ana, CA 92704 – U.S.A.<br />
Tel.: (714) 571-0473 * Fax: (714) 568-1009</p>
<p>CÁO BẠCH</p>
<p>Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật,</p>
<p>Kính bạch chư Tôn Thiền Đức,<br />
Kính thưa quý đồng hương Phật tử,</p>
<p>Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hoa Kỳ xin kính cáo bạch cùng chư tôn Thiền Đức và đồng hương Phật tử mười phương:<br />
Giáo Sư Phạm Công Thiện, Pháp danh Nguyên Tánh,<br />
Sinh ngày 01 tháng 6 năm Tân Tỵ, 1941, tại Mỹ Tho, Việt Nam,<br />
&#8211; Tiến Sĩ Triết Học tại Đại Học Sorbonne, Pháp,<br />
&#8211; Nguyên Giáo Sư Triết Học tại Đại Học Toulouse, Pháp,<br />
&#8211; Nguyên Khoa Trưởng Phân Khoa Văn Học và Khoa Học Nhân Văn tại Đại Học Vạn Hạnh, Sài Gòn; Giám Đốc Soạn Thảo Chương Trình Giảng Dạy cho tất cả các Phân Khoa của Viện Đại Học Vạn Hạnh từ năm 1966 tới năm 1970,<br />
&#8211; Nguyên Chủ Biên Tạp Chí Tư Tưởng của Viện Đại Học Vạn Hạnh, Sài Gòn,<br />
&#8211; Nguyên Giáo Sư Phật Học tại các Học Viện, Cao Đẳng Phật Học tại Hoa Kỳ,<br />
&#8211; Nguyên Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Văn Hóa, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại Tại Hoa Kỳ, Văn Phòng 2 Viện Hóa Đạo,</p>
<p>Đã thuận thế vô thường, xả bỏ thân tứ đại vào ngày 8 tháng 3 năm 2011 (nhằm mùng 04 tháng Hai, Tân Mão), tại Thành Phố Houston, Texas, hưởng thọ 71 tuổi.</p>
<p>Để tưởng niệm công đức lớn lao mà Cố Giáo Sư Phạm Công Thiện đã đóng góp cho nền văn hóa, giáo dục và hoằng pháp của Phật Giáo Việt Nam trong cũng như ngoài nước suốt nửa thế kỷ qua, GHPGVNTNHK sẽ long trọng cử hành lễ tưởng niệm và cầu siêu vào lúc 11 giờ sáng Chủ Nhật, ngày 13 tháng 3 năm 2011 tại Chùa Viên Thông, 15933 Clark Avenue, Bellflower, CA 90706. Tel. (562) 867-8929.</p>
<p>Kính cung thỉnh chư tôn đức Tăng, Ni từ bi quang lâm chứng minh hộ niệm và kính mời quý đồng hương Phật tử hoan hỷ đến tham dự để trợ niệm cho Giác Linh Cố Giáo Sư Phạm Công Thiện, Pháp danh Nguyên Tánh được nhờ Phật lực tiếp dẫn vãng sanh về Cực Lạc quốc. Đồng thời, Giáo Hội thành tâm khuyến thỉnh chư tôn đức Tăng, Ni tại các Chùa, Tự Viện, Tu Viện tùy hoàn cảnh sở tại thiết lễ tưởng niệm công đức và cầu nguyện cho Giác Linh Cố Giáo Sư Phạm Công Thiện siêu sanh Tịnh Độ.</p>
<p>Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật tác đại chứng minh.</p>
<p>Santa Ana, ngày 09 tháng 3 năm 2011,<br />
Hội Đồng Điều Hành GHPGVNTNHK<br />
Chủ tịch,<br />
Sa Môn Thích Trí Chơn</p>
<p>Trân trọng,<br />
Một bạn đọc</p>
<p>&#8211; 15.03.2011 vào lúc 11:49 am</p>
<p> <strong><em><a href="http://tienve.org/home/authors/viewAuthors.do?action=show&amp;authorId=1">Hoàng Ngọc-Tuấn</a> </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Thưa bạn Bảo Bình,<br />
Những thông tin về tiểu sử của Phạm Công Thiện trên Wikipedia rất không khả tín. Có lẽ vì người viết wiki ấy thiếu điều kiện nghiên cứu.</p>
<p>Trong số rất nhiều chi tiết lệch lạc về tiểu sử của Phạm Công Thiện trên Wikipedia, có chi tiết này là SAI HOÀN TOÀN 100%. Wikipedia viết:</p>
<p>&#8220;Ông rời Việt Nam từ năm 1970, chuyển sang sống ở Israel, Đức, rồi sống lâu dài tại Pháp. Tại đây ông trút áo cà sa để lấy một cô vợ Pháp theo đạo Cơ Đốc…&#8221;</p>
<p>Sự thật là năm 1971, Phạm Công Thiện lập gia đình tại Pháp với chị Lê Khắc Thanh-Hoài, một người Việt hoàn toàn, chứ không phải là người Pháp. Chị Lê Khắc Thanh-Hoài trước kia có đạo Công Giáo, chứ không phải đạo Cơ Đốc. Sau khi lập gia đình, chị theo đạo Phật.</p>
<p>Chị Lê Khắc Thanh-Hoài sinh năm 1950 tại Huế, học trường Jeanne D&#8217;Arc cho đến năm 1967, rồi vào Sài Gòn học tại các trường Trưng Vương, Đại Học Vạn Hạnh, rồi năm 1970 du học ở Bruxelles (Bỉ). Chị lập gia đình với Phạm Công Thiện năm 1971, sinh được 5 người con. Trong số đó có người con trai tên là Phạm Không-Lộ (sinh ngày 8 tháng 2 năm 1973) hiện nay là đạo diễn phim.</p>
<p>Chị Lê Khắc Thanh-Hoài cũng là một nhạc sĩ, đã xuất bản nhiều tập nhạc và 2 cái CD: &#8220;Đời em là giòng sông&#8221; và &#8220;Vui sống đạo&#8221;. Trang web chính thức của chị ở link này:<br />
<a href="http://www.lekhacthanhhoai.com/">http://www.lekhacthanhhoai.com/</a></p>
<p>&#8211; 15.03.2011 vào lúc 3:01 pm</p>
<p> <strong><em>Phan Đức </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Hình như từ khi Nguyễn Hưng Quốc phê bình 2 câu thơ sau là<br />
hay nhất của Phạm Công Thiện thì hầu hết mọi người đều tán<br />
thành mà điển hình là tác giả bài viết này :<br />
Mưa chiều thứ bảy tôi về muộn<br />
cây khế đồi cao trổ hết bông.<br />
Thú thật là tôi rất khó hiểu dù cũng đồng ý với nhiều người<br />
là hay,tuy thế cũng xin mạo muội nói những gì mình khó hiểu.<br />
Mưa thì khó nhìn rõ sự vật mà xảy ra buổi chiều &#8220;tôi về muộn&#8221;<br />
như vậy,tôi e càng khó nhìn rõ hơn nữa nhưng trái lại tác giả<br />
nhìn rõ &#8220;cây khế đồi cao&#8221; trổ hết bông,chứ không phải 1,2 cái<br />
lại càng lạ lùng hơn nữa !<br />
Vậy thì chỉ có thi sĩ thực thụ may ra mới có tầm nhìn cỡ PCT.!</p>
<p>&#8211; 15.03.2011 vào lúc 5:03 pm</p>
<p> <strong><em>thuy </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Chị Lê Khắc Thanh Hoài, thứ nữ của BS Lê Khắc Quyến thuộc gia đình Phật Giáo thuận thành, em trai út của chị Hoài là thầy CE Hằng Trường . Chị Hoài hồi còn nhỏ học trường so&#8217; tại Huế nhưng không theo đạo Thiên chúa. Quí vị có thể đọc thêm tại website <a href="http://www.lekhacthanhhoai.com">http://www.lekhacthanhhoai.com</a></p>
<p>&#8211; 15.03.2011 vào lúc 8:51 pm</p>
<p> <strong><em><a href="http://tienve.org/home/authors/viewAuthors.do?action=show&amp;authorId=1">Hoàng Ngọc-Tuấn</a> </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Cảm ơn lời góp ý của độc giả thuy.</p>
<p>Tuy nhiên trên website của chị Lê Khắc Thanh-Hoài, trong phần tiểu sử, không thấy ghi chị ấy thuộc gia đình Phật giáo thuận [thuần] thành.</p>
<p>Chỉ thấy ghi &#8220;học đàn với các Ma Soeur tại trường Jeanne D&#8217;Arc lúc bảy tuổi&#8221;, &#8220;theo học trường Jeanne D&#8217;Arc cho đến Tú tài bán phần&#8221; cho đến năm 1967. Rồi năm 1968, chị Thanh-Hoài mới vào Sài Gòn học trường Trưng Vương và đậu Tú tài toàn phần.<br />
<a href="http://www.lekhacthanhhoai.com/vietnamese/tieusu.html">http://www.lekhacthanhhoai.com/vietnamese/tieusu.html</a></p>
<p>Như thế, nghĩa là từ nhỏ cho đến năm 17 tuổi, chị Thanh-Hoài hoàn toàn học trong trường Công giáo.</p>
<p>Theo giáo sư Ngô Văn Lại, một giáo sư của trường Jeanne D&#8217;Arc, thì &#8220;Trường thuộc tài sản của Giáo hội và do giáo hội Vatican trực tiếp quản lý&#8221;, và &#8220;Đương nhiên học sinh của trường toàn là tín đồ Công giáo.&#8221;</p>
<p>Xem bài viết về trường Jeanne D&#8217;Arc của giáo sư Ngô Văn Lại ở trang:<br />
<a href="http://www.khaiminh.org/ngo_van_lai/tb4_jeanne_d_arc.htm">http://www.khaiminh.org/ngo_van_lai/tb4_jeanne_d_arc.htm</a></p>
<p>Chính vì giáo sư Ngô Văn Lại nói &#8220;Đương nhiên học sinh của trường toàn là tín đồ Công giáo&#8221;, cho nên tôi mới nghĩ rằng chị Lê Khắc Thanh-Hoài là người có đạo Công giáo.</p>
<p>Nếu gia đình chị ấy là gia đình Phật giáo thuần thành ở Huế thời &#8220;xung đột tôn giáo&#8221; ấy mà gửi con gái vào học trong trường Công giáo thuần thành suốt từ tiểu học đến hết Tú tài bán phần (1967), rồi sau biến cố Mậu Thân mới đem vào Sài Gòn (1968), thì kể cũng khá lạ.</p>
<p>&#8211; 16.03.2011 vào lúc 12:16 am</p>
<p> <strong><em>Phan Đức </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Phạm Công Thiện là một huyền thoại,không biết ông cố ý tạo ra<br />
hay chính cuộc đời huyền thoại hóa ông khi chỉ mới 15,16 tuổi<br />
đã viết sách xuất bản ?</p>
<p>Một trong những huyền thoại là trong &#8220;Ngày sinh của rắn&#8221;,ông đã<br />
tự giới thiệu theo học đại học Pháp nhưng không cần trình luận án<br />
vì &#8220;khinh bỉ&#8221; các giáo sư triết học và trường lớp.Còn một bài nữa<br />
viết về ông thì cho rằng ông được đại học Vạn Hạnh gửi đi du học<br />
vào khoảng năm 1970.Phải chăng ông du học lẫn tu nghiệp 2 lần ?<br />
Nếu tôi nhớ không lầm thì khoảng từ 1960-1970 ông hầu như sống ở<br />
VN.và viết nhiều nhất cho tạp chí Phổ Thông của nhà thơ Nguyễn Vỹ,<br />
ngoài việc dạy và giữ chức khoa trưởng Văn khoa của đại học V.H.<br />
(Tôi đọc Diễn Đàn (Paris) thì không hề nói gì về cái chết của ông,<br />
dù chỉ 1 giòng báo tin.Cũng lạ ! Có lẽ tôi lầm chăng ? )</p>
<p>&#8211; 16.03.2011 vào lúc 2:51 am</p>
<p> <strong><em>thuy </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Tôi chưa được nói chuyện với chị Thanh Hoài nhưng từng đến nhà ba mẹ của chị ấy đường Bùi thị Xuân, Sài Gòn. Còn nhớ rõ mẹ chị là bác Thanh rất giỏi về đàn tranh. Ba chị ấy là bác sĩ Lê Khắc Quyến , là người Phật tử thuộc phe Ấn Quang, nếu tôi không nhớ lầm. BS Lê Khắc Quyến từng là khoa trưởng đại học Y Khoa Huế. Cả ba lẫn mẹ chị mất có các thầy sư đến làm lễ . Em út chị ấy là thầy Hằng Trường, 1 tu sĩ Phật Giáo VN rất nổi tiếng ở hải ngoại, từng được đăng trên LA Times , tên tục của thầy là Lê Khắc Nhàn.<br />
Trên website của chị Hoài, người đọc có thể biết ba của chị từng in sách cho thầy PCT, Trụ Vũ…và chị từng theo học ở đại học Vạn Hạnh trước khi qua Bruxelles du học.<br />
Còn trên website của con trai PCT là LoPham, bạn đọc có thể biết PCT có 5 người con với chị Hoài là<br />
-Phạm Khuông Việt (con trai trưởng) nhà vật lý học, giảng dạy tại đại học University of Paris XI.<br />
-Phạm Không Lộ : writer and film maker<br />
-Thông Phạm: graphic designer<br />
-Quốc Phạm: có vẻ có gene di truyền giống cha nhất, bỏ Pháp đi chu du trên thế giới lúc 13 tuổi, hiện sống ẩn dật tại Pháp.<br />
-Phạm Lưu Ly: Bác sĩ trưởng khoa cấp cứu Nhi khoa tại 1 bệnh viện nổi tiếng tại Paris, cô tốt nghiệp thủ khoa y khoa tại Pháp.<br />
Ngoài ra theo Lô Phạm, anh còn có 3 người em gái cùng cha khác mẹ.</p>
<p>&#8211; 16.03.2011 vào lúc 8:45 am</p>
<p> <strong><em><a href="http://T-Van.Net">T.Vấn</a> </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Thân gởi anh Hòang Ngọc Tuấn,</p>
<p>Về tên tác giả đọan trích dẫn mà anh nhắc đến, BBT damau đã nhanh chóng giải quyết. Nhưng nhờ vậy và qua sự tiết lộ của anh, tôi mới biết Nguyễn Ngọc Tuấn cũng chính là Nguyễn Hưng Quốc, cây bút phê bình tài hoa. Tôi tự nói với mình: Thảo nào!</p>
<p>Chữ &#8220;tôn sưng&#8221; anh mở ngoặc đơn: (xưng). Đúng phải là &#8220;xưng&#8221;. Tôi không hiểu sao mình để sót &#8220;hạt sạn&#8221; này trong bài, dù đã đọc lại nhiều lần. Xin cám ơn anh!</p>
<p>Về danh xưng Triết gia. Theo sự hiểu biết của tôi, trong trường hợp Phạm Công Thiện, phải đặt danh xưng ấy vào bối cảnh của thập niên 1960s ở Việt Nam mới nhìn thấy nó không đơn giản như một danh xưng thông thường mà anh nói đến. Thuở ấy, khả năng tinh thông ngọai ngữ để có thể tiếp cận với văn hóa phương Tây chỉ có ở một số ít người. Đã thế, triết học còn mang tầm vóc một đề tài ở trên mức hiểu biết của một người bình thường nên danh xưng &#8220;Triết gia&#8221; thời ấy, với đa số quần chúng, kể cả người có học, là một chức vị &#8220;ghê gớm&#8221; hơn nhiều so với giáo sư, nhạc sĩ hay điêu khắc gia như anh so sánh (nói nhỏ với anh HNT: anh gọi tôi là &#8220;nhà văn&#8221; làm tôi đổ mồi hôi hột. Danh xưng này với tôi cũng &#8220;ghê gớm&#8221; lắm, tôi không dám, chẳng phải vì khiêm tốn mà là &#8220;sợ&#8221; thật anh HNT ạ!)</p>
<p>Vì &#8220;ghê gớm&#8221; như thế, mà vị triết gia thiên tài của chúng ta dạo ấy lại chỉ mới ở lứa tuổi chưa tới &#8220;tam thập nhi lập&#8221;, cho nên, ngưỡng mộ ông cũng lắm, mà dè bỉu ông cũng không phải là không có. Do vậy, tôi mới có ý nghĩ &#8220;Hệ lụy đời ông có lẽ cũng bắt đầu từ ngộ nhận mang tầm vóc bi kịch này &#8220;.</p>
<p>Ngày nay, có thể đúng như anh Hòang Ngọc Tuấn đã viết, nhiều người (Việt) không còn thấy chức danh &#8220;triết gia&#8221; là &#8220;ghê gớm&#8221; như xưa, vì với khỏang thời gian nửa thế kỷ, chả lẽ chúng ta không ít nhiều chinh phục được cái &#8220;cao siêu ghê gớm&#8221; ấy chút nào sao?</p>
<p>Thưa độc giả Bảo Bình,</p>
<p>Cũng trong nội dung bối cảnh &#8220;hiện tượng Phạm Công Thiện&#8221; của 50 năm trước, có nhiều huyền thọai được lan truyền về nhân vật chính của chúng ta vừa qua đời. Một trong những huyền thọai đó là về việc ông không có chút bằng cấp nào, kể cả bằng Tú Tài (như một &#8220;độc giả vô danh&#8221; đã dẫn chương trình phát thanh của đài RFA). Từ ngày ra hải ngọai, ông lại khá kín tiếng, cũng không bận tâm &#8220;giải mã&#8221; những huyền thọai về mình (hay có mà tôi không được biết). Thú thật với Bảo Bình, tôi rất phân vân, đắn đo về học vị &#8220;tiến sĩ Triết học&#8221; đứng trước tên ông trong bản Cáo Bạch của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ở Hoa Kỳ ngày 9 tháng 3 năm 2011 với chữ ký của vị chủ tịch Hội đồng Điều hành là Sa Môn Thích Trí Chơn (đúng như &#8220;Một bạn đọc miệt vườn&#8221; đã đóan) . Trong khi đó, theo Wikipedia, thì ông không có một bằng cấp nào. Vậy tôi nên tin ai? Một bên là Giáo hội Phật Giáo với chữ ký &#8220;làm tin&#8221; của một vị hòa thượng và một bên là diễn đàn Mở (có nghĩa là mọi thông tin đều có thể được hiệu đính bởi bất cứ ai và cũng theo anh Hòang Ngọc Tuấn &#8220;không khả tín&#8221;) lại không có tên của một ai để khi cần, tôi &#8220;túm áo&#8221; kêu cứu. Đó là lý do cho sự chọn lựa sử dụng nội dung tiểu sử Phạm Công Thiện dựa theo bản Cáo Bạch nói trên.</p>
<p>Thưa anh Phan Đức,</p>
<p>Anh viết &#8220;Hình như từ khi Nguyễn Hưng Quốc phê bình 2 câu thơ sau là hay nhất của Phạm Công Thiện thì hầu hết mọi người đều tán thành mà điển hình là tác giả bài viết này :<br />
Mưa chiều thứ bảy tôi về muộn<br />
cây khế đồi cao trổ hết bông. &#8221;</p>
<p>Như trong phần trên nhân sự tiết lộ của anh Hòang Ngọc Tuấn (Nguyễn Ngọc Tuấn và Nguyễn Hưng Quốc là một), tôi mới &#8220;vỡ lẽ&#8221;. Như vậy, với riêng tôi, việc &#8220;khen ngợi&#8221; hai câu thơ này không bị ảnh hưởng bởi nhận xét của nhà phê bình tài hoa NHQ. Nếu có chăng, thì cũng là &#8220;hùa theo&#8221; Nguyễn Ngọc Tuấn, một cái tên cũng &#8220;nhẹ bâng&#8221; như cái tên T.Vấn mà thôi.</p>
<p>Theo tôi nghĩ, nếu một vật hay một người đẹp mà có nhiều người cùng cho là như thế thì, có lẽ, vật ấy, người ấy phải đẹp thật. Mặt khác, cái đẹp – dù là vật thể, tinh thần, nghệ thuật . . . – luôn có giá trị tương đối, vì nó &#8220;tùy người đối diện&#8221;. Hai câu thơ nói trên, mặc dù có nhiều người khen hay, nhưng một ai đó lại không cho là hay, hay tuy đồng ý là hay nhưng không hiểu (như anh Phan Đức) thì cũng là điều bình thường. Chúng ta đang sống trong một xã hội (cụ thể hơn: phát biểu trên trang mạng damau) mà mọi người đều có quyền nói lên ý nghĩ riêng của mình về một vấn đề nào đó và ý kiến riêng của chúng ta – trên nguyên tắc – phải được những người khác tôn trọng.</p>
<p>T.Vấn</p>
<p>&#8211; 16.03.2011 vào lúc 9:28 am</p>
<p> <strong><em>Phan Đức </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Nhân ý kiến của anh Hoàng Ngọc Tuấn,tôi xin được góp ý thêm.<br />
Chẳng biết có phải vì trí nhớ giảm không mà ông Ngô Văn Lại<br />
lại viết sai như thế ? Theo chổ tôi biết thì hầu hết mọi gia<br />
đình giàu có hay trung lưu ở miền Trung đều gửi con vào học<br />
nội trú các trường công giáo do bà xơ quản lý như Jeanne d&#8217;Arc<br />
hay do sư huynh như Pellerin.Không phân biệt tôn giáo.Có thể<br />
vì ông Ngô Văn Lại chỉ lo việc dạy chứ không lo về việc hành<br />
chánh,do đó ông không biết thì cũng đúng thôi.<br />
Cũng cần nói thêm là bà Lê Khắc Thanh Hoài con của cố bác sĩ<br />
Lê Khắc Quyến có thời làm khoa trưởng Y khoa Huế và từng làm<br />
chủ tịch Hội đồng Nhân dân Cứu quốc (trên danh nghĩa) lúc xảy<br />
ra Biến động miền Trung năm 1966 tại Huế.</p>
<p>&#8211; 16.03.2011 vào lúc 3:02 pm</p>
<p> <strong><em>thuy </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Có lẽ đối với Phạm Công Thiện ông không cần đến danh hiệu, chức tước mà người đời gọi, đặt cho ông như nhiều nhà Phật học, thí dụ Phan Tấn Hải trên Việt Báo đã gọi ông là Bồ Tát (mà đã là Bồ Tát thì tất cả đều vô thường, có phải?) , cho nên ông chẳng bao giờ lên tiếng xác định hay phủ định những gì nói về ông và càng làm cho ông trở thành một huyền thoại trong nền văn học của VN. Tôi có đọc sơ qua những bài viết của Lê Khắc Thanh Hoài trên website của bà, bà có kể chuyện bà giúp ông apply học bổng, phần học bổng của ông cho ba miệng ăn và một đứa bé sắp ra đời , và có lần bà viết là ông đang học để lấy bằng cao nhất chưa từng có , nhưng không thấy hay chưa thấy(vì bà còn để phần viết tiếp Chuyện Người Đàn Bà Có Năm Con) bà Hoài nói ông đã tốt nghiệp học vị Tiến Sĩ.<br />
Cũng trên website này tôi được biết nhạc sĩ Thanh Hoài đã phổ nhạc thơ của PCT, có bài nhạc là Sông Hoài, Sông Hoài lời thơ của thi sĩ tặng bà. Bà Hoài cũng viết 1 bài thơ tặng cho T.(Thiện?) , hình như là Cám Ơn Anh thì phải.</p>
<p>&#8211; 16.03.2011 vào lúc 8:21 pm</p>
<p> <strong><em>Trần Tâm </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Đây là câu thơ của Hoàng Trúc Ly , nhà thơ mà Phạm Công Thiện rất thích và thường nhắc đến . Phạm Công Thiện &#8220;lấy&#8221; câu thơ đầu của Hoàng Trúc Ly cho 2 câu thơ (rất hay) của mình</p>
<p>Mưa chiều thứ bảy tôi về muộn,<br />
Em ngủ một mình đêm gió mưa.</p>
<p>(Hoàng Trúc Ly)</p>
<p>Mưa chiều thứ bảy tôi về muộn<br />
Cây khế đồi cao trổ hết bông.<br />
(Phạm Công Thiện)</p>
<p>&#8211; 17.03.2011 vào lúc 6:43 am</p>
<p> <strong><em>hồ đình nghiêm </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Thưa ông Trần Tâm, hai câu thơ của Hoàng Trúc Ly mà ông trích dẫn, tôi e là sai biệt với nguyên bản, như vầy:<br />
&#8220;Đời lê thê quá tôi về muộn,<br />
Em ngủ một mình đêm gió mưa&#8221;.<br />
Tiện đây tôi xin tâm sự, tôi rất yêu chuộng những góp ý của anh Hoàng Ngọc-Tuấn, bởi sức thuyết phục cao: Nói có sách, mách có chứng. Tạm thời, &#8220;đời lê thê quá&#8221; tôi chưa tìm ra được bài thơ của Hoàng Trúc Ly để dẫn chứng. Sẽ bổ túc khiếm khuyết ấy ở bận sau.<br />
Kính.</p>
<p>&#8211; 18.03.2011 vào lúc 4:07 am</p>
<p> <strong><em><a href="http://phamthientho.wordpress.com/">phamthientho</a> </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>VĨNH BIỆT PHẠM CÔNG THIỆN<br />
HÀNH TRÌNH CỦA BỒ ĐỀ ĐẠT MA ĐI VÀO CÕI THIÊN THU<br />
* * *</p>
<p>&#8220;Thời gian thì chỉ vẫn là một giây phút, dù hai chục năm hay năm chục năm hay cả mấy tỷ năm trôi đi trên tinh cầu…&#8221; (Trích trong lá thư ngày 27.7.1983 gởi cho người bạn trẻ tha huơng của Phạm Công Thiện).</p>
<p>71 năm Phạm Công Thiện đã bước lang thang trên mặt đất, nhưng đó cũng chỉ là một giây phút thôi, Thiện đã nhìn cuộc đời như một sát-na theo tư tưởng Phật giáo.</p>
<p>Đối với Thiện có lẽ tất cả đều vô nghĩa nếu như cõi đời còn chìm đắm trong cơn mộng vì thế Thiện đã lang thang đi tìm Tình yêu trong Nỗi chết, nói như Krishnamurti &#8220;Tình yêu là ngọn lửa không khói&#8221;. 71 năm lang thang Thiện đã cay mắt, ngột ngạt, khó thở vì khói bụi trần gian nên Thiện luôn khao khác đi theo hành tung của Bồ Đề Đạt Ma, muốn thiên thu ngồi diện bích, đi giữa lằn ranh tử sinh, núi cao và hố thẳm để có những giây phút &#8220;đón nhận mây trời linh hiện (Dharmamegha; pháp vân), mảnh đất (Bhumi) cuối cùng của con người vừa sực tỉnh mộng (Bodhisattva).&#8221;</p>
<p>Hôm nay Thiện vĩnh viễn đi trong &#8220;Lặng Im&#8221;, giờ phút phục sinh của ngọn lửa không khói, trả lại cho thời gian những khoảnh khắc linh hiện đầu tiên và cuối cùng, đi về trong vô thủy vô chung.</p>
<p>&#8211; 18.03.2011 vào lúc 11:27 am</p>
<p> <strong><em><a href="http://raccoon3805.blogspot.com/">black raccoon</a> </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Mưa chiều thứ bảy tôi về muộn<br />
Cây khế đồi cao trổ hết bông.<br />
(Phạm Công Thiện)</p>
<p>Thử mạo muội &#8220;chôm&#8221; nghề quý ông BVP và NHQ , tìm hiểu chút chút coi sao :</p>
<p>@ Cứ theo cách nói của VN :12,1,2 giờ trưa. 3,4,5,6 giờ chiều. 7,8,9 giờ tối. Vậy, về nhà buổi chiều muộn , chắc là trong vòng 6 giờ chiều là muộn nhứt.</p>
<p>@ Đồi cao. Đồi đất cao vài chục mét đến trăm mét.<br />
Khế trổ hết bông. Bông khế màu vàng rực hoặc màu hồng điều. Trổ hết bông, là trổ đầy bông. Thật nhiều.</p>
<p>Hình ảnh một cây khế ra hoa đầy. Vàng rực hoặc đỏ thắm. Hình ảnh đó trong chiều tà , từ dưới đồi nhìn lên , có thể nhận được. Rất đẹp và thơ.<br />
Vui thôi. Chứ đem riêng 2 câu thơ từ một bài thơ (chưa được đọc) , đã là một sự hụt hẫng kém sút.</p>
<p>Màu bông khế<br />
<a href="http://good-times.webshots.com/photo/1042278154032164967VRkmAD">http://good-times.webshots.com/photo/1042278154032164967VRkmAD</a><br />
<a href="http://www.flickr.com/photos/pro_toby/3884575398/">http://www.flickr.com/photos/pro_toby/3884575398/</a></p>
<p>&#8211; 18.03.2011 vào lúc 11:43 am</p>
<p> <strong><em>Mimosa </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Kính thưa Quý Vị Độc Giả,<br />
Để góp tiếng nói về đời thầy Phạm Công Thiện tôi xin có vài giòng đơn sơ như sau.<br />
Đầu thập niên 60, thầy Phạm Công Thiện dạy trường Việt Anh Dalat. Tôi không học thầy nhiều, chỉ vài giờ Việt văn. Thầy dạy Anh Văn cho các lớp Đệ Nhị,Tam, Tứ …Trong thời gian này thầy Lê Phỉ làm Hiệu Trưởng với các thầy Nguyễn Đình Chung Song, Lê Phổ và cô Lê Thị Tuý Đại …Thầy rất dịu dàng và thương mến học trò, thầy có vẻ già trước tuổi.Thường thì thầy trầm ngâm, suy tư nhưng đôi lúc thầy cũng vui tươi bất chợt. Có lần tôi thấy thầy hái những loài hoa dại nào đó, cắm vào bình rồi cười nói huyên thuyên làm cho thầy Giám Thị tức cười và chọc ghẹo thầy.<br />
Thuở ấy tôi còn quá nhỏ, nên dù biết thầy là người có tài tôi cũng chẳng chú ý lắm. Khi lớn thêm một chút được đọc sách của thầy, tôi lấy làm hâm mộ thì thầy chẳng còn ở Dalat nữa. Hình như thầy có tìm thấy hạnh phúc trong thời gian ở Dalat, trong những tác phẩm của Thầy có nói về Dalat với những tình cảm thân thương. Và Quế Hương, một nhân vật nữ thấp thoáng trong Thơ cuả thầy có phải chăng là Quế Hương nữ sinh trường Áo Tím Việt Anh thuở nọ. Trong bài thơ của thầy có câu:<br />
Anh khinh bỉ mùa Thu trên tóc em…<br />
Có phải chăng mùa Thu rất đẹp nhưng còn thua mái tóc của em. Quế Hương nhan sắc trung bình nhưng trong thơ của thầy đó là một giai nhân tuyệt sắc. Có thể văn thơ của thầy rất khó hiểu, nhưng trong mỗi chúng ta đôi lúc lại thấy chính mình trong những tình cảm, ý tưởng mà thầy trang trải trên những trang sách. Đại khái như: trong một đêm cô đơn mất ngủ nào đó tôi cảm thấy sợ hải đến toát mồ hôi khi tự hỏi mình là ai, là ai mà đang sống giữa thế giới này …nỗi sợ hải đó ai trong mỗi chúng ta mà không cảm thấy …<br />
Đành rằng ai cũng phải ra đi, nhưng nghe tin Thầy qua đời tôi cũng băn khoăn, bàng hoàng làm sao. Nhưng thầy ra đi nhẹ nhàng là một điều quá tốt.<br />
Thưa thầy, những đóa hoa Capucine vẫn xinh xắn trên những vệ cỏ bên đường như những bước chân của thầy ngày xưa. Thầy đã thật sự ra đi…</p>
<p>Mimosa.</p>
<p>&#8211; 18.03.2011 vào lúc 5:20 pm</p>
<p> <strong><em><a href="http://raccoon3805.blogspot.com/">black raccoon</a> </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Tui đọc PCT ngay trên diễn đàn này . Ngày xưa, thuở còn đi học, có nghe đến tên ông . Nghe nói đến Hố thẳm , Ý thức mới , … còn đọc thì chưa . Chưa đọc quyển nào cả . Chưa đọc chứ không phải đọc không … nổi .</p>
<p>Bây giờ đọc lại ông lai rai , ít ỏi . Tuy nhiên, cũng như hầu hết người cầm bút miền Nam trước 75 mà tui có dịp đọc qua , PCT viết văn chuyên nghiệp . Ăn nằm với chữ nghĩa , nói theo nhà văn Bùi Vĩnh Phúc . Ông viết văn chuyên nghiệp , mà còn có cá tính . Cá tính mạnh . Và có bản lĩnh . Theo tui , đó là một điều đáng quý .</p>
<p>Tui nhớ , những nhà văn nhà thơ lúc bấy giờ . Người nào ra người đó . Đọc Bình Nguyên Lộc là biết ngay . Đọc Nguyễn Hiến Lê là biết ngay . Đọc Nguyễn Mạnh Côn, Duyên Anh, Chu Tử , Tuý Hồng , Thuỵ Vũ , Nhã Ca, Sơn Nam, Lê Xuyên, Bùi Giáng, Tô Thuỳ Yên, Phạm Thiên Thư …. là người đọc nhận chân ra họ ngay . Không lầm . Không lộn . Mỗi người một ngọn bút . Mỗi người một căn nhà .</p>
<p>Cái đó, khó mà dễ . Khó lúc đầu , có thể sẽ loá mắt. Nhưng rồi sẽ dễ . Thích &#8220;nhà&#8221; nào , người đọc cứ gõ cữa . Rôì nhà sẽ mở cữa mời vào viếng thăm kỳ hoa dị thảo, trân châu bích ngọc … Còn không thích ? Qua nhà khác . Dễ ẹc .</p>
<p>&#8211; 19.03.2011 vào lúc 11:25 am</p>
<p> <strong><em>mirordor </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Tôi lên mạng tìm tài liệu về PCT để tìm câu trả lời cho thắc mắc của một người bạn về PCT. Người bạn viết:</p>
<p>&#8220;Những cơn động đất&#8221; của tâm thức có thể giải thích cho những ngông cuồng ngạo mạn tuổi trẻ, lại là một tuổi trẻ có những thao thức sớm hơn người, hững rượu, những sex, những nổ lực tìm kiếm chính mình của một nhân cách trí tuệ?&#8221; Hai tài liệu chính tôi dùng là Ý thức mới trong văn nghệ và triết học (ấn bản 1970 với nhật ký viết năm đó) và Những bước chân nhẹ nhàng trở về sự im lặng. Tôi muốn đọc Tiểu luận về Bồ Đề Đạt Ma nhưng tìm không ra trên mạng; vì thế những ý kiến của tôi về PCT chắc sẽ còn thiếu sót, ít nhất về phương diện sở học về Thiền của ông. Sau đây là những góp ý của một chuyên gia tâm bệnh học/phân tâm học.</p>
<p>Mời các bạn đọc lại những lời trích văn này (từ cuối chương 5 của Ý thức mới…):</p>
<p>&#8220;Có một buổi chiều nổi cơn điên, tôi chạy hối hả tại thư viện của trường đại học Columbia ở Nữu Ước để mượn toàn thể tác phẩm của Saroyan để đọc lại, từ trường đại học Columbia, hai tay ôm hai chồng sách, tôi thả bộ lừ đừ trở về phòng tôi ở khu phố Riverside Drive gần con sông Hudson, gió thổi lạnh vì trời sắp đổ tuyết, tôi bước đi lểnh khểnh như chàng say rượu, mặc dù buổi chiều ấy, tôi không uống một giọt rượu nào cả. Cả thành phố New York đã ám sát tôi, một &#8220;thiên tài hạng nặng&#8221; từ Việt Nam gửi đến, tôi, một đứa con trai của một nước nghèo nhất thế giới, một nước ngang tàng nhất thế giới. Tôi cao có một thước sáu mươi phân, thế mà tôi có cảm tưởng hai chân của tôi đang đạp lên đầu của cái cao ốc cao nhất nước Mỹ, Empire State Building!</p>
<p>Tôi, một người con trai của một đất nước quê mùa thất học nhiều nhất ở thế giới, đã nắm trọn cả văn hoá Mỹ quốc trong mười ngón chân. Tôi thừa biết rõ rằng một ngày nào gần đây trong tương lai gần đây, nếu tôi còn sống, nhất định tôi sẽ chinh phục cai trị Mỹ quốc với năm ngón tay phải của tôi; tôi sẽ viết những quyển sách ký đi bằng chữ Anh và xô đẩy toàn thể Mỹ quốc vào trong hố thẳm!</p>
<p>Lòng tôi đầy căm thù, thù hận mặc dù tôi thừa biết rằng chỉ có  trái tim nguyên vẹn của tôi mới có sức chuyển hoá thế giới tan nát này thành một toà sen vĩ đại!</p>
<p>Tôi căm thù Mỹ quốc nhưng tôi sẵn sàng khoan dung tha thứ tội lỗi của Mỹ quốc: vì Mỹ quốc cũng tạo ra được những đứa con hoang đàng vĩ đại như Thoreau, Emerson, Whitman, Henry Miller, Faulkner, Wolfe, Robinson Jeffers, E.E. Cummings, Kenneth Patchen, Saroyan, Salinger, Tennessee Wiliams, Carson Mc Culler. Leswis Mumford, và ad infinitum!</p>
<p>Mấy ngày trước đó, tôi đã nhận thư mời của viện Giáo Dục Quốc tế ở New York, tức là Institute of International Education (I.I.E): viện này cử tôi làm đại diện sinh viên ngoại quốc để dự buổi tiếp tân do đại sứ Arthur Golberg khoản đãi; trong một thoáng căm hờn bốc đồng, tôi đã viết thư cho Viện Giáo Dục Quốc tế ấy rằng &#8220;tôi là thiên tài vĩ đại của nước Việt Nam gửi đến, tôi không tham dự buổi tiếp tân nào hết, tôi đã chán ngấy Mỹ quốc, vì thấy Mỹ quốc chỉ là trống rỗng, hoàn toàn trống rỗng.(utterly empty, awfully, dreadfully empty).</p>
<p>Có lẽ nhờ thiên thần hộ vệ, bức thư ấy được gửi đi rồi, thế mà tính mạng tôi vẫn an toàn.</p>
<p>Không ai ám sát tôi, vì chắc họ cho tôi là một thằng điên, điên, điên, điên.</p>
<p>Chỉ có những thằng điên mới cứu vớt thế giới này khỏi điên loạn.</p>
<p>Saroyan, buổi chiều hoang trống ở Nữu Ước dạo ấy, tôi đã đóng kín cửa phòng, đóng kín cửa sổ, bật đèn lên, cởi truồng ra, nằm soải người ra để đọc Saroyan và tôi khóc như đứa con nít.</p>
<p>Sức nóng của tình người đã thổi vào phòng tôi buổi chiều hoang vắng ấy. Tôi thương hết tất cả, tất cả. Tôi thương con gà, con bò, con cá, con chó, con kiến; tôi thương trái đất, trái cây, trái vú; tôi thương dân Mỹ, dân Nga, dân Tàu, dân Pháp, dân da đen, da đỏ, dân Tây, dân Thổ, dân nghèo, dân giàu…&#8221;</p>
<p>Người bình thường đọc không hiểu và điên đầu là phải. Nhưng chuyên gia tâm bệnh học có cảm giác là đang ngồi đối diện với một người bệnh trong cơn full-blown manic . Tác giả T. Vấn hỏi &#8220;Phạm Công Thiện là một triết gia hay kẻ mắc bệnh điên tư tưởng?&#8221; Câu hỏi về triết gia đã được trả lời phần nào nhưng &#8220;bệnh điên tư tưởng&#8221; nghĩa là gì? Một điều tạo nên khó khăn cho câu trả lời là chữ điên. Chữ điên – hay crazy – không có nghĩa gì trong chuyên khoa tâm bệnh; và đại khái ta gọi ai ăn nói tầm phào, không đầu không đuôi, không hợp thực tế, v.v., là điên. Điên thường được dịch sang Anh ngữ là psychotic, hay schizophrenic. Nếu đó là cái nghĩa mà mọi người nghĩ đến khi dùng chữ điên thì PCT và Bùi Giáng không điên. Thôi thì ta cứ tạm gọi là họ &#8220;khùng&#8221;, cho dù rằng chữ khùng cũng không có nghĩa chính xác nào trong y học.</p>
<p>PCT đau bệnh Bipolar Disorder (tên cũ là manic-depressive disorder có thể quen thuộc hơn cho một số người đọc.) . Triệu chứng đặc thù nhất của bệnh này là những cơn manic, những gian đoạn mà PCT đã tả như &#8220;những cơn động đất thường xuyên của đời mình&#8221; hay những &#8220;cơn chuyển động toàn diện của tâm thức&#8221;. Trong giai đoạn manic, tư tưởng đến dồn dập trong đầu người bệnh (100-miles-per-hour thought process), và họ nói uyên thuyên, ba hoa chích choè, trên trời dưới đất, đầu Ngô mình Sở, không ai theo kịp. Trong giai đoạn đó họ coi trời bằng vung, tự kiêu tự đại (grandiose thinking). Họ nghĩ là họ có thể làm bất cứ gì họ muốn, họ tiêu tiền như rác, và họ yêu cuồng sống vội. Khác với người mang bệnh schizophrenia, người manic có thể được hiểu, nhưng chỉ được đại khái, và vì họ nói nhiều quá, cuối cùng ta chả nhớ họ nói gì, và chả hiểu họ nói gì.</p>
<p>PCT biết ta có tâm bệnh nhưng chấp nhận chuyện đó rất miễn cưởng. &#8220;Từ đây tôi có bệnh loạn thần kinh, tôi có khắc khoải, có xao xuyến trước cuộc đời; đó là tại tôi, tại tôi không mở mắt ra mà nhìn vào lòng mình. Chính mình tự tạo ra bóng ma hãi hùng: chính tôi đã giết đời tôi; đến lúc hấp hối tôi chạy loanh quanh lẩn quẩn để tìm kẻ cứu tôi, nhưng thật sự không có ai có thể cứu tôi được, ngay đến Phật, đến Chúa, đến Mahomet .&#8221; và tôi nghĩ là bệnh đã manh nha từ tuổi 15, khi ông bỏ nhà ra đi vì cha mẹ bất hoà, chỉ cái nhau tối ngày (về tiển của?) thay vì thấy rằng thằng con trai của mình là thần đồng nhưng mang tâm bệnh và cần thương yêu, vổ về, chữa chạy.</p>
<p>Trí tuệ của PCT không giúp PCT kìm hãm được những chu kỳ manic-depressive nhưng đã giúp PCT phần nào trong nổ lực tránh một thân phận như Bùi Giáng &#8220;Tôi không là một tên tiên tri nào cả, ngôn ngữ của tôi là ngôn ngữ của thi sĩ. Ai muốn hiểu làm sao thì hiểu.</p>
<p>Ngôn ngữ của người điên không khác ngôn ngữ của thi sĩ lắm, chỉ có khác một điều: xã hội loài người có dựng lên bao nhiêu nhà thương điên mà không chịu dựng lên nhà thương thi sĩ.</p>
<p>Khi muốn phản đối người nào thì người ta nhốt hắn vào nhà thương điên; từ ngày bệnh điên trở thành một cái thời trang làm dáng cho bọn tự nhận là thiên tài thì phân tâm học ra đời tự nhận là phi thiên tài. Cái hạng người gọi là &#8220;bình thường&#8221; đầy dẫy ở mặt đất: trước khi nói một lời thì họ uốn lưỡi bảy lần, và vì uốn lưỡi nhiều quá cho nên lưỡi họ trở thành cong cong như lưỡi câu cá. Tội nghiệp cho những con cá mắc câu!&#8221; (trích từ Gửi một người đọc không quen trong phần mở đầu của Ý thức mới …, 1970.)</p>
<p>Một kết quả của nổ lưc này là khuynh hướng phủ nhận mình là một triết gia và tự xem mình là một thi sĩ. Tội nghiệp cho PCT là dù muốn tránh chuyện nằm nhà thương tâm trí, hy vọng được chữa trị vẫn phản ảnh trong chữ &#8220;chịu&#8221; trong &#8220;câu xã hội loài người có dựng lên bao nhiêu nhà thương điên mà không chịu dựng lên nhà thương thi sĩ.&#8221; Người Việt độc nhất mà PCT ca ngợi hay nể phục là Bùi giáng, một nạn nhân của BPD. BG cũng đau cùng một bệnh (tôi biết vì một cô bạn thân &#8220;nằm&#8221; cùng trại với BG ở nhà thương Biên Hoà kể lại,) những có vẻ nhẹ hơn, có thể vì có &#8220;bị&#8221; chữa chạy. Tôi đoán là Williams Saroyan, nhà văn đươc PCT bàn luận trong chương hai cuả &#8220;Ý thức mới…&#8221; cũng là nạn nhân của BPD. BPD thường được thấy trong giới văn nghệ sĩ vì tư tưởng của họ &#8220;có vẻ&#8221; phong phú hơn nhiều trong cơn manic. Đời rất nhàm chán cho người nghệ sĩ giữa &#8220;những cơn chuyển động toàn diện của tâm thức&#8221; và nhiều người không chịu chữa chạy hay uống thuốc vì thế. Ca sĩ Connnie Francis mà PCT ưa thích trong thập niên 60 thường nghĩ uống thuốc vài ngày trước mổi lần trình diễn, và bạn đọc có thể đoán dể dàng là cô bị bệnh gì.</p>
<p>Tiếc thay cho số phận hẩm hiu của một thiên tài. Nếu PCT có cơ hội tiếp tục học và thâu thập những căn bản thường thức ở trường thì đời ông sẽ ra sao? PCT có kiến thức rất sâu những khía cạnh ngôn ngữ (và ta phải nhận rằng ông là thần dồng trên lãnh vực này, nhưng tôi thắc mắc tại sao ông lại phải học chữ Hán 6 tháng hồi 1964 ở chùa Hải Đức nếu ông đã rành tiếng Hoa từ năm 15 tuổi?) , triết và Thiền học, nhưng kiến thức của ông có vẻ phiếm diện, không có bề rộng. Ông có vẻ không biết gì nhiều về khoa học, ngoại cảnh, môi trường đang sống (dù ông yêu vẻ đẹp thiên nhiên, và về bản thân ông. Thái độ của ông về tâm bệnh học/phân tâm học có thể đã khác nếu ông có kiến thức thưc tiễn thay vì thành kiến.</p>
<p>Có vài người thắc mắc về chuyện PCT có hề ở Úc chăng (Ông xuất ngoại từ năm 1970, từ Âu châu qua Mỹ năm 1983, và chưa hề rời Mỹ sau đó.) Và dĩ nhiên ta cũng có thế có những câu hỏi tương tự về cái bằng tiến sĩ ở Sorbone, hay chuyện PCT viết trong hồi ký năm 1970 rằng ông đã gặp Henry Miller năm 1965 tại Pacific Palisades, hay gặp Krishnamurti ở Paris trước năm 1970, những năm ông chưa hề xuất ngoại, theo các tài liệu về tiểu sử của ông tìm thấy trên mạng. Ta có thể kết luận rằng những &#8220;dữ kiện&#8221; trên là kết quả của những huyễn tưởng mà ông có trong những cơn manic. Tôi chưa hề gặp PCT nên không có ý kiến về sự thắc mắc làm sao một người với bệnh BPD và với những chu trình manic thường xuyên như ông có thể giữ nhiều chức vụ liên quan đến đại học Vạn Hạnh như thế.</p>
<p>PCT không phải là một triết gia theo nghĩa người nghiên cứu sâu rộng về triết để đi đến một hệ thống tư tưởng. (Và cái lý luận về năm chữ &#8220;chay, cháy, chày, chảy, chạy&#8221; không đáng gọi là triết). Nhưng ông đọc rất nhiều về triết hiện sinh như ta có thể thấy từ những tên tuổi của trường phái hiện sinh (Sartre, de Baeuvois, Heiddeger, Kirkegard, v.v.) mà ông nhắc nhở hay phân tích. Nghiên cứu triết lý hiện sinh là chuyện tự nhiên cho một người thông minh giữa những thập niên 1950, 60 muốn tìm câu trả lời cho thân phận mình &#8220;chỉ có tôi là mới có thể cứu tôi được, chỉ có tôi mới là kẻ thù của tôi, muốn tìm giải thoát, muốn tìm thanh bình cho cõi lòng; chính tôi, phải tự tìm cho tôi; tôi có thể tìm được nếu tôi có đủ đức tin nơi tôi, nếu tôi tự tin.&#8221; Nghiên cứu rồi thất vọng nên sau này PCT viết là ông chán họ vì họ chỉ lập đi lập lại. Và ông chỉ trích Sartre thậm tệ – vì Sartre làm ông mất thì giờ đọc về hiện sinh, và có thể về lý thuyết cọng sản, thay vì đi ngay vào Thiền?. Tại sao PCT thù không đội trời chung với Khổng Tử thì có lẽ không ai biết nhưng tôi có thể võ đoán từ kinh nghiệm bản thân (thân phụ tôi là một học giả về Khổng học.)</p>
<p>Triết học không giúp PCT, ông không tìm được niềm tin nơi chính ông nên ông quay qua tôn giáo, và chuyện tự nhiên với người như PCT là nghiên cứu Thiền. Và thí phát quy y. Nhưng đức tin mới đó cũng không kéo dài bao lâu, có lẽ rằng điều mà PCT mong muốn nơi Thiền là lối chữa bệnh hay giải thoát khỏi BPD, nhưng &#8220;những cơn động đất thường xuyên của đời mình&#8221; hay những &#8220;cơn chuyển động toàn diện của tâm thức&#8221; vẫn cứ dồn dập xẩy ra. PCT không tìm được đức tin nơi chính ông, và cũng không tìm được đức tin nơi tôn giáo &#8220;Không ai nghe tôi cả. Chúa không nghe. Mahomet không nghe. Phật không nghe. Không ai cả. Vox clamantis…&#8221; Đọc câu này tôi nhớ đến bài &#8220;Này em có nhớ&#8221; của Trịnh Công Sơn :</p>
<p>Chúa đã bỏ loài người<br />
Phật đã bỏ loài người<br />
Này em xin cứ phụ người. Ông đã vài lần tính tự tử nhưng tôi có cảm giác là các cơn manic đã cứu ông, như ông đã viết trong chương hai của &#8220;Ý thức mới…&#8221;</p>
<p>PCT biết rất sâu về Thiền, nhưng biết không có nghĩa là hiểu. Ông chê Suzuki là sai lầm khi đặt câu hỏi &#8220;What is Zen?&#8221;, nhưng chính ông đã phạm lỗi lầm khi loạn ngôn về thiền, Ông phạm lỗi này vì thiên tài của ông dựa trên ngôn ngữ và vì người manic chỉ biết nói, không biết lặng thinh, cho dù rằng ta đã học là ta không thể hiểu Thiền và &#8220;ngộ&#8221; qua chữ nghĩa. Vì thế càng tranh luận về Thiền như PCT đã làm trong những thập niên 60, ông càng chứng tỏ là ông biết nhiều nhưng chỉ thu thập được những cái hiểu chủ quan, chưa diệt được ngã.</p>
<p>PCT có kiến thức rất sâu về Thiền nhưng kiến thức đó không giúp ông tĩnh tâm hay định thân. Vì không thể tĩnh tâm, ông tranh luận về Thiền với đời trong khi kiến thức đó đã cho ông biết là người tu thiền không màng tranh cải, cũng như không nên tranh cải. Vì không thể định tâm, ông đi lang thang khắp chốn (Sài gòn, Nha Trang, Israel , Â châu, California, Texas), hoàn tục và lấy mấy đời vợ.</p>
<p>&#8220;Quyển sách này được viết chậm rãi thong dong từ trên 10 năm nay, từ năm 1983 tại Los Angeles và tại những vùng phụ cận Los Angeles, California, Hoa Kỳ. Từ năm 1970 cho đến 1983, tôi đã sống ở Do Thái, rồi ở Ðức quốc và ở lâu dài tại Pháp quốc; đến năm 1983, qua một cơn chuyển động toàn diện của tâm thức viễn ly, tôi đã trở lại Hoa Kỳ, trở lại thành phố Los Angeles sau một thời gian xa vắng gần 20 năm; từ năm 1983 cho đến năm 1994, trên 11 năm nay, lại qua nhiều cơn chuyển động toàn diện liên tục của tâm thức viễn ly, tôi vẫn tiếp tục sống ở thành phố Los Angeles; sau vài chuyến lui về vùng đồi núi im lặng ở Úc châu, tôi vẫn trở lại thành phố Los Angeles như trở về tập sống hồn nhiên tự tại với những cơn động đất thường xuyên của đời mình…&#8221; (Trích từ &#8220;Những bước chân nhẹ nhàng trở về sự im lặng&#8221;) Nếu có thể sống hồn nhiên tự tại thì tại sao lại tiếp tục uống rược hủ chìm hủ nổi? Làm thiền gia tức là có khả năng chấp thuận hiện tượng phù du của cuộc đời, sao lại còn hệ luỵ với những cơn động đất thường xuyên của đời mình? Làm sao vừa bị hệ luỵ với những cơn động dất thường xuyên của đời mình vừa có thể tranh luận về Thiền với quần chúng? Đoạn văn này nhắc ta những câu:</p>
<p>Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi<br />
Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt<br />
Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt<br />
Rọi suốt trăm năm một cõi đi về… trong bài &#8220;Một cõi đi về&#8221; của TCS</p>
<p>Tôi đang tìm cách đọc một bản của &#8220;Tiểu Luận về Bồ Đề Đạt Ma&#8221;. Tôi nghe nói nó làm ông nổi tiếng, nhưng không tìm ra chi tiết. Tác phẩm về Thiền mà được ngợi khen và xem như là một mấu chốt quan trọng trong phong trào nghiên cứu Thiền ở Viêt Nam phải được viết một cách nghiêm túc, có lập luận vững chắc và có thể làm đa số người đọc hiểu và đồng ý, điều mà tôi không thấy trong những tác phẩm khác của PCT.</p>
<p>Tôi thương PCT ở chổ là ông biết thân phận và không hể tuyên bố là ta đã &#8220;ngộ&#8221;, ngay cả trong những lúc loạn ngôn nhất. Tôi không nghĩ là PCT có cơ hội đạt được giác ngộ vì những chu kỳ dồn dập của manic episodes mà ông gọi là &#8220;những cơn động đất thường xuyên của đời mình&#8221; hay những &#8220;cơn chuyển động toàn diện của tâm thức&#8221; không cho ông cơ hội tĩnh tâm nào đủ lâu dài để ông diệt được Phật, Chúa, và khai thị. Không những đã không có cơ hội khai thị và giác ngộ, PCT cũng đã không dùng được kiến thức của mình về Thiền để sống bình an. Về cuối đời, ông còn phải nương vào Phật Quán Thế Âm để có người nhắc đến mình.</p>
<p>Tôi ráng đọc hết bài &#8220;Bước chân thứ nhất đảo ngược trở về sự im lặng&#8221; trong cuốn &#8220;Những bước chân nhẹ nhàng…&#8221; và cảm thấy buồn cười. Cho một bài viết về việc trở về với sự im lặng, PCT đã nói quá nhiều, quá ồn ào. Ông cười Freud đã viết tào lao trên đề tài sợ hãi, nhưng ông cũng viết tào lao không kém. Bao nhiêu chữ nghĩa về Thiền của ông trôi theo giòng đời từ lâu rồi. Có lẽ người ta đúng khi nghĩ là PCT viết về Phật Học để kiếm sống.</p>
<p>Buồn thay cho một phận người.</p>
<p>HKG</p>
<p> <strong><em>Nguyễn Hoàng </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Thưa ông HKG Mirodor</p>
<p>Nghi đoán của ông về bipolar hay manic depression ở hai nhà thơ Bùi Giáng và Phạm Công Thiện cũng chỉ là nghi thuyết chơi cho vui thôi.</p>
<p>Có một câu hỏi mà ông quên đặt ra là tại sao có hàng nghìn trường hợp manic depression xưa nay trên đất Việt mà rốt cùng chỉ có hai người đã làm rực rỡ phong nhiêu thơ ca của Việt Nam khá là bất thường, phi thường như hai bác BG va PCT.</p>
<p>Phương tiện thiện xảo. Hai con người ưu tú này của gia sản tâm linh Việt Nam rõ ràng đã biết biến cái đau buồn và hân hoan cực độ mà họ gánh chịu để làm nên những ruộng vườn cây trái tốt lành nhất mà họ có thể làm được. Nhất là trong hoàn cảnh chiến tranh tàn tệ anh em bà con giết chóc nhau của lịch sử dân tộc cận đại và hiện đại, BG va PCT – chỉ xét hai vị mà ông chiếu cố – đã không chỉ để lại cho chúng ta những tác phẩm ngôn ngữ trác tuyệt lại còn lại rất bình tỉnh đã gióng lên những tiếng kêu nhân bản, từ bi, hơn bất luận những ai ai cho sự tan hoang trầm thống này.</p>
<p>Đối nghịch với họ, tôi thiết nghĩ, không ai xa cả: chính là những lãnh tụ anh minh và vĩ đại đã rất &#8216;tỉnh táo&#8217; đẩy người vào làm mồi cho bom đạn, cho chủ nghĩa, cho thiên đàng không tưởng &#8216;nhất tướng công thành vạn xác khô&#8217;- ôi một cuộc chiến mà hệ lụy đau thương của nó kinh khiếp gấp bội lần tất cả mọi thứ đại họa thiên tai, không biết bao giờ dân tộc Việt mới lành mạnh lại?</p>
<p>Trước cái sự kinh khủng lớn và bàng hoàng chưa thấu đạt kia thì Những nghi thuyết nho nhỏ bên lề khác của ông về BG va PCT quả thực là chuyện nghe chơi.</p>
<p>Cái câu cuối &#8220;buồn thay cho một phận người&#8221; thì quả là cả một sự bất kính.</p>
<p>Nguyễn Hoàng</p>
<p>&#8211; 22.03.2011 vào lúc 3:39 am</p>
<p> <strong><em>mirordor </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Chào Ông Nguyễn Hoàng.</p>
<p>Câu kết &#8220;Buồn thay cho một phận người.&#8221; phản ảnh cái nhìn của tôi về sự kiện rằng Phạm Công Thiện đã sinh không nhằm thời, chứ không phải được viết ra để đả kích hay chê bai cá nhân ông. Tôi chấp nhận PCT là một thần đồng/thiên tài. Tôi biết ông đã viết nhiều về nỗi đớn đau của một người Việt sinh ra trong thời loạn, đất nước phân ly. Nhưng nếu tôi không lầm, PCT không bao giờ viết về chính trị, hay đả kích một chế độ/chính quyền nào. Ông nghiên cứu về tư tưởng của Karl Marx và Sartre nhưng ông không nhắc đến chử nghĩa cọng sản. Tại sao ta phải nhắc đến chính trị khi bàn về một nhà trí thức không hề để chính trị ảnh hưởng đến những nghiên cứu và cảm nghĩ của ông? Nếu thật sự muốn tỏ lòng kính trọng PCT, tại sao ta không nên nghĩ rằng môt phần lý do làm những nghiên cứu và suy luận của ông đóng góp và làm phong phú nhiều cho nhân bản học là vì ông đứng trên chính trị và những thị phi của đời?</p>
<p>Nếu tôi không lầm, ông bạn có thành kiến về tâm bệnh và chỉ &#8220;thấy ngón tay&#8221; trong khi tôi đang &#8220;chỉ mặt trăng&#8221; Tâm bệnh không có gì xấu hổ, và manic-depressive disorder/BPD không làm giảm giá trị của PCT hay Bùi Giáng (BG là tác giả tôi mê nhất khi tôi đang học về văn chương thời trung học qua cuốn sách ông viết về Cao Bá Quát.) Nếu hoàn cảnh của PCT khác đi, có thể rằng với óc thông minh của ông, ông đã học hiểu nhiều về thân xác của ông, gạt bỏ các thành kiến và mặc cảm về tâm bệnh, và có cơ hội làm một người &#8220;bình thường&#8221; (bệnh BPD tương đối dể chữa và có vài thuốc rất hiệu ngiệm.) Nhưng ông bạn có thể tưởng tượng một PCT &#8220;bình thường&#8221; như mọi người khác, và những mất mát sẽ đến cho nền thi văn Viêt Nam nếu tôi gặp PCT ngày xưa và giúp ông &#8220;bình thường&#8221;? Chưa chắc gì PCT đã muốn vậy, và tôi sẽ không ép, vì tôi kính trọng thiên tài và sở nguyện của ông. Nhưng tôi sẽ tiếp tục nghĩ &#8220;buồn thay cho một phận người!&#8221;</p>
<p>Một người bạn đề nghị tôi viết bài này cho độc giả trên Da Màu để góp phần &#8220;giãi quản&#8221; sự thắc mắc mà nhiều người đã có khi đọc PCT, hay BG. &#8220;Họ có &#8216;điên&#8217; không?&#8221; Câu trả lời &#8220;dứt khoát&#8221; của tôi, một chuyên gia tâm bệnh là họ không điên. Đó không phải là một nghi thuyết mà là ý kiến chuyên môn. Tôi nghĩ là một số độc giả có lẽ sẽ vui lòng khi biết rằng PCT không điên và chính tâm bệnh của ông đã đóng góp phần lớn trong tiến trình học hỏi và sáng tác của ông, cũng như trong sự độc đáo, khó hiểu &#8220;có một không hai&#8221; của ông (đã rành về Thiền, có đầu óc &#8220;sáng suốt&#8221; thì phải biết ăn nói mạch lạc, thông suốt chứ nhĩ!)</p>
<p>Người để ý đến sở học và sáng tác của PCT là người cũng như ông đã khoắc khoải trong tuồi vị thành niên và trước khi trưởng thành với những câu hỏi hiện sinh về thân phận mình và thân phận người:&#8221; Ta là gì? tại sao ta hiện hữu? ta phải sống như thế nào?&#8221; Người thích tìm hiểu PCT là người có ít nhiều khuynh hướng muốn học về Thiền. Bài góp ý này của tôi được viết ra để giúp những người đó hiểu tại sao PCT khó hiễu, biết có cái gì khác biệt về sự khó hiểu của PCT và sự khó hiểu của thiển sư. Hai cái &#8220;khó hiểu&#8221; đó hoàn toàn khác nhau, và nếu ta không biết phân biệt khi nào thì PCT-&#8220;khùng&#8221; đang nói và khi nào PCT-học giả về thiển đang nói, thiên tài, sở học và kiến thức của PCT không giúp được gì cho đời cả.</p>
<p>&#8211; 22.03.2011 vào lúc 9:58 am</p>
<p> <strong><em>Nguyễn Hoàng </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Thưa ông HKG Mirodor</p>
<p>Ông đã giải đáp cái câu cuối comment. Tôi chưa từng nghe được biết cuốn sách của thi sĩ Bùi Giáng viết về Cao bá Quát mà ông nói đã yêu thích thời nào. Trong giai kỳ thơ ca thế kỷ thứ 19 tôi được biết BG ngưỡng mộ Nguyễn Du. PCT cũng yêu thích Nguyễn Du, trong một chừng mực ít hơn, chàng có dịch một bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du. Sự yêu chuộng Nguyễn Du, Quách Tấn, Ba Tiêu của PCT là một điều tôi cho là sự quân bình Đông Tây hoàn vũ của PCT với những ưa thích riêng biệt ông đã dành cho những tác giả Tây phương thuộc bộ tộc &#8220;lạc loài&#8221; như Henry Miller, Thomas Wolfe, Max Jacob, William Saroyan… PCT tự động không thích những nhà văn đã nổi đình nổi đám mà nay ta gọi là celebrities. Chàng yêu những nhà văn thất bại, bên lề, thua cuộc. Tôi đoán chừng vậy. Không có gì chuẩn xác cả. Và tôi đoán(lại đoán nữa) PCT không ưa phân tâm học. Có lẽ chàng yêu thích khoa học vật lý hơn, những gặp gỡ của vật lý hiện đại và quan niệm của Phật giáo về thế giới.</p>
<p>Cảm ơn sự hồi âm của ông</p>
<p>Nguyễn Hoàng</p>
<p>&#8211; 23.03.2011 vào lúc 3:28 am</p>
<p> <strong><em>Phan Đức </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Xin góp ý với Nguyễn Hoàng,<br />
Thật ra,sách viết về một số nhà thơ như Nguyễn Khuyến,<br />
Cao Bá Quát,Nguyễn Công Trứ v.v.của BG.là bộ sách giáo<br />
khoa dành cho học sinh trung học mà tôi cũng từng học.<br />
Nhà thơ BG.có rất nhiều giai thoại (đa phần là có thật)<br />
nhưng hình như không ai biết ông có thời làm chủ bút tờ<br />
nguyệt san Định Hướng của Nguyễn Thiện Dzai.Trong thời<br />
Đệ I Cộng Hòa,ông NTD.thuộc Sở Nghiên Cứu Chính Trị.</p>
<p>&#8211; 23.03.2011 vào lúc 2:25 pm</p>
<p> <strong><em><a href="http://tienve.org/home/authors/viewAuthors.do?action=show&amp;authorId=1">Hoàng Ngọc-Tuấn</a> </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Ý kiến của Mirordor có rất nhiều chỗ hiểu lầm về ý nghĩa của những câu văn của PCT.</p>
<p>Thử lấy một ví dụ: <em>&#8220;Sự chuyển động toàn diện của tâm thức&#8221;</em> không phải là một triệu chứng manic, nhưng là một trạng thái của thiền định, Krishnamurti gọi đó là &#8220;the whole movement of conciousness&#8221;, và Sri Aurobindo gọi đó là &#8220;the total movement of consciousness&#8221;.</p>
<p>Và chỉ một đoạn văn sau đây thì đã đưa ra rất nhiều điều sai:</p>
<p><em>Có vài người thắc mắc về chuyện PCT có hề ở Úc chăng (Ông xuất ngoại từ năm 1970, từ Âu châu qua Mỹ năm 1983, và chưa hề rời Mỹ sau đó.) Và dĩ nhiên ta cũng có thế có những câu hỏi tương tự về cái bằng tiến sĩ ở Sorbone, hay chuyện PCT viết trong hồi ký năm 1970 rằng ông đã gặp Henry Miller năm 1965 tại Pacific Palisades, hay gặp Krishnamurti ở Paris trước năm 1970, những năm ông chưa hề xuất ngoại, theo các tài liệu về tiểu sử của ông tìm thấy trên mạng. Ta có thể kết luận rằng những &#8220;dữ kiện&#8221; trên là kết quả của những huyễn tưởng mà ông có trong những cơn manic.</em></p>
<p>1/ Sự thật là song thân của PCT ở Queensland, Úc, nên trong những năm 80, PCT thường xuyên về Úc. Sau đó, PCT đã lập gia đình với LPS ở Úc. Chị LPS là bạn thân của gia đình chúng tôi. PCT và LPS (người vợ cuối cùng của PCT) đã ở tại nhà số 28/85 Homer St, Earlwood, New South Wales 2206, Australia, trước khi dời sang Mỹ.</p>
<p>Chúng tôi vẫn thường xuyên đến chơi với PCT trong những năm đó. Thượng Tọa Thích Viên Lý và một số nhà sư ở Mỹ cũng đã có lần sang Úc và ở trọ tại ngôi nhà của PCT ở Earlwood:</p>
<p>Xem các bài:</p>
<p>&#8220;Hơi thở là con bướm trắng tung tăng trên cỏ&#8221; của Hoàng Ngọc-Tuấn:<br />
<a href="http://tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&amp;artworkId=12313">http://tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&amp;artworkId=12313</a></p>
<p>&#8220;5 bài thơ 5 chữ&#8221; của Phạm Công Thiện:<br />
<a href="http://tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&amp;artworkId=5960">http://tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&amp;artworkId=5960</a></p>
<p>&#8220;Giáo sư Phạm Công Thiện, một con người rất Người&#8221; của Thích Viên Lý:<br />
<a href="http://www.lytuongnguoiviet.com/index.php?option=com_content&amp;task=view&amp;id=4643&amp;Itemid=">http://www.lytuongnguoiviet.com/index.php?option=com_content&amp;task=view&amp;id=4643&amp;Itemid=</a></p>
<p>2/ PCT đã xuất ngoại từ cuối năm 1964, sang Mỹ du học, rồi sang Pháp năm 1966, gặp Thi Vũ, Nh. Tay Ngàn, Trần Hiếu… tại Paris.</p>
<p>Xem bài: &#8220;Về một bài thơ của Phạm Công Thiện&#8221; của Thi Vũ:<br />
<a href="http://www.gio-o.com/ThiVuPhamCongThienVeMotBaiTho.htm">http://www.gio-o.com/ThiVuPhamCongThienVeMotBaiTho.htm</a></p>
<p>3/ Không hề có bất cứ một lời nói hay một câu viết nào của PCT tự xưng là có bằng tiến sĩ ở Sorbonne. Vì thế, không thể dùng những lời đồn đãi của những kẻ khác để kết án ông.</p>
<p>4/ Năm 1965 PCT thật sự có gặp Henry Miller tại California, và một tình bạn vong niên đẹp đẽ đã diễn ra. PCT đã cho tôi xem khá nhiều thư từ, hình ảnh, tâm sự trao đổi giữa PCT và Henry Miller. Một số thư Henry Miller gửi PCT những năm 1965, 1966, đã có in trong cuốn TRIBU (xuất bản ở đại học Toulouse năm 1984). Cách đây 14 năm, tiến sĩ David Stephen Calonne (University of Texas at Austin) đã xuất bản cuốn sách: THE COLOSSUS OF ARMENIA: G.I. GURDIEFF AND HENRY , WITH FIVE PREVIOUSLY UNPUBLISHED MILLER LETTERS TO PHAM CONG THIEN (Ann Abor, MI: Roger Jackson, 1997). Trong đó có in 5 bức thư của Henry Miller gửi PCT:</p>
<p>Letter from Miller to Pham Công Thiên of September 28, 1972, trang 37-53.<br />
Letter from Miller to Pham Công Thiên of October 18, 1972, trang 54.<br />
Letter from Miller to Pham Công Thiên of November 7, 1972, trang 55-56.<br />
Letter from Miller to Pham Công Thiên of November 23, 1972, trang 57-58.<br />
Letter from Miller to Pham Công Thiên of December 12, 1972, trang 59-64.</p>
<p>Cuốn sách có quảng cáo trên Amazon:</p>
<p><a href="http://www.amazon.com/colossus-Armenia-Gurdjieff-previously-unpublished/dp/B0006RLP0G">http://www.amazon.com/colossus-Armenia-Gurdjieff-previously-unpublished/dp/B0006RLP0G</a></p>
<p>Và trên Google Books:</p>
<p><a href="http://books.google.com.au/books?id=X2adGwAACAAJ&amp;dq=%22THE+COLOSSUS+OF+ARMENIA%22&amp;hl=en&amp;ei=EquJTZGUOtTzcf-UgacM&amp;sa=X&amp;oi=book_result&amp;ct=result&amp;resnum=1&amp;ved=0CC4Q6AEwAA">http://books.google.com.au/books?id=X2adGwAACAAJ&amp;dq=%22THE+COLOSSUS+OF+ARMENIA%22&amp;hl=en&amp;ei=EquJTZGUOtTzcf-UgacM&amp;sa=X&amp;oi=book_result&amp;ct=result&amp;resnum=1&amp;ved=0CC4Q6AEwAA</a></p>
<p>5/ PCT thật sự có gặp Krishnamurti 2 lần vào năm 1966 tại Paris, khi đến tham dự 2 buổi nói chuyện của Krishnamurti tại Société Théosophique de France, 4 Square Rapp, 75007 Paris. Lần thứ nhì khi PCT đến Square Rapp thì có dắt theo thi sĩ Nh. Tay Ngàn. PCT có cho tôi xem vài cuốn sách do chính Krishnamurti ký tặng PCT tại Square Rapp, có thủ bút của Krishnamurti, ghi &#8220;Paris, Avril 1966″.</p>
<p>Vân vân…</p>
<p>Nói tóm lại, bài viết cần phải có sự nghiên cứu, tìm hiểu chính xác và cẩn thận hơn.<br />
NÊN TRÁNH NGHE LỜI ĐỒN ĐÃI.<br />
TRÁNH SỰ CỐ Ý XUYÊN TẠC.<br />
VÀ ĐỪNG VIẾT VÌ ÁC Ý.</p>
<p>&#8211; 23.03.2011 vào lúc 6:52 pm</p>
<p> <strong><em>mirordor </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Dĩ nhiên là PCT không ưa phân tâm học. Người nghiên cứu triết thuyết Hiện sinh sẽ có dịp đọc Sigmund Freud và (dù rằng tôi không thấy ai nói đến khi viết tiểu sử của PCT,) ông rành tiếng Đức. Mời bạn đọc đoạn trích văn sau đây, từ &#8216;Gữi một người đọc không quen&#8217; ở phần đầu của Ý thức mới…</p>
<p>&#8220;Ngôn ngữ của người điên không khác ngôn ngữ của thi sĩ lắm, chỉ có khác một điều: xã hội loài người có dựng lên bao nhiêu nhà thương điên mà không chịu dựng lên nhà thương thi sĩ.</p>
<p>Khi muốn phản đối người nào thì người ta nhốt hắn vào nhà thương điên; từ ngày bệnh điên trở thành một cái thời trang làm dáng cho bọn tự nhận là thiên tài thì phân tâm học ra đời tự nhận là phi thiên tài. Cái hạng người gọi là &#8220;bình thường&#8221; đầy dẫy ở mặt đất: trước khi nói một lời thì họ uốn lưỡi bảy lần, và vì uốn lưỡi nhiều quá cho nên lưỡi họ trở thành cong cong như lưỡi câu cá. Tội nghiệp cho những con cá mắc câu!&#8221;</p>
<p>Không ai nhốt thi sĩ vào nhà thương điên, nhưng triết gia/thiền gia thì có thể bị ngộ nhận là điên, nhất là người ăn nói ngang tàng như PCT! Không những PCT không thích phân tâm học (vì ông thừa thông minh để hiểu rằng Freud nói tào lao hơi nhiều, cũng như để hiếu là phâm tâm gia giỏi có thể &#8220;đi guốc vào bụng ông&#8221;), ông sợ phải nằm nhà thương điên như Bùi Giáng. Định bệnh đúng và chữa trị đúng thì bệnh nhân nhờ, nhưng định bệnh sai, hay cho thuốc sai thì khổ cho bệnh nhân lắm vì thuốc chữa tâm bệnh tạo nhiều hậu quả tai hại mà PCT có thể đã nghe BG kể. Phân tâm học chữa bệnh bằng phân tâm – nghe và nói, không bằng thuốc; tôi không biết có bao nhiêu người đáng gọi là phân tâm gia trong thời PCT ở Việt Nam, nhưng thuốc Thorazine thì chắc chắn có rồi.</p>
<p>Tôi cũng không nghĩ là PCT yêu thích khoa học vật lý. (Tôi viết kiến thức của ông có vẻ khiếm diện vì vậy). Người thông minh và thích khoa học vật lý sẽ dùng kiến thức về khoa học để đi tìm câu trả lời cho câu hỏi hiện sinh của mình. Tôi không bao giờ &#8220;thấy&#8221; PCT viết dài dòng về khoa học, và dù thỉnh thoảng ông nói đến cái đẹp của ngoại cành, ông nói như một nhà thơ, không như một người tìm hiểu sinh môi. Ngay chính cái tên hoa độc nhất bằng tiếng Việt mà ông nhắc đến, ông không dùng đúng (Hoa phong lữ mà ông có lần nói đến có lẽ là hoa mỏ hạc.) Những kiến thức căn bản vể khoa học từ những lớp trung học có thể thay đổi hẳn cái nhìn, hướng đi, tương lai và định mệnh của mỗi người. Vì thế tôi phân vân đời PCT sẽ ra sao nếu ông học hết tung học.</p>
<p>&#8211; 23.03.2011 vào lúc 9:07 pm</p>
<p> <strong><em>IAGN </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Phản hồi này sẽ không xuất hiện nếu không có những lời lăng nhăng của Dr. mirordor. duyên khởi là vậy vậy! Vì sao lăng nhăng? Lăng nhăng là gì?</p>
<p>1. Những trích dẫn vu vơ, rẻ tiền vài lời nhạc của Trinh Công Sơn để bàn về Phạm Cong Thiện.<br />
2. Tối thiểu nhất: Viết bậy tên những người không thể viết bậy nếu muốn bàn luận nghiêm túc: Heidegger, Kierkegaard<br />
3. Lăng nhăng nhất là đoạn này:<br />
&#8220;Tôi thương PCT ở chổ là ông biết thân phận và không hể tuyên bố là ta đã &#8220;ngộ&#8221;, ngay cả trong những lúc loạn ngôn nhất. Tôi không nghĩ là PCT có cơ hội đạt được giác ngộ vì những chu kỳ dồn dập của manic episodes mà ông gọi là &#8220;những cơn động đất thường xuyên của đời mình&#8221; hay những &#8220;cơn chuyển động toàn diện của tâm thức&#8221; không cho ông cơ hội tĩnh tâm nào đủ lâu dài để ông diệt được Phật, Chúa, và khai thị. Không những đã không có cơ hội khai thị và giác ngộ, PCT cũng đã không dùng được kiến thức của mình về Thiền để sống bình an. Về cuối đời, ông còn phải nương vào Phật Quán Thế Âm để có người nhắc đến mình.&#8221;</p>
<p>Nếu có chút ít &#8220;cảm thức&#8221; thiền, ngộ, etc, không thể viết theo điệu giun dế như vậy.<br />
Thiền là gì? Ngộ là chi chi?</p>
<p>&#8221; Lời Thang hỏi Cức&#8221; Phía Bắc miền hiếm cây, có bể thẳm, tức có ao trời. Có loài cá, nó rộng vài nghìn dặm, tên nó là CÔN. Có loài chim tên nó là BẰNG. Lưng bằng núi Thái, cánh như đám mây rủ ngang trời[&#8230;]. Dứt hơi mây, đội trời xanh tung đường sang Nam…&#8221;<br />
Con sẻ bên chầm cười rằng:&#8221; Nó sắp đi đâu vậy? Ta nhảy nhót bay lên, chẳng qua vài thước rồi xuống. Lượn lờ giữa đám cỏ tranh, bay đến thế cũng RẤT MỰC rồi! Nó tung cánh đi đâu vậy?&#8221;<br />
Đó là chỗ phân biệt LỚN, NHỎ,…[&#8230;]. Đem cả đời mà khen, không nức lòng thêm, đem cả đời mà chê, không bận lòng thêm[&#8230;]&#8221; (Trang Tử)</p>
<p>Đây cũng là một thứ lăng nhăng khởi bệnh từ &#8220;đơn thuốc&#8221; của Dr. mirordor.</p>
<p>Buồn thay cho ngôn từ!</p>
<p>&#8220;Trên tất cả đỉnh cao là im lặng&#8221;. PCT.</p>
<p>&#8211; 24.03.2011 vào lúc 8:08 am</p>
<p> <strong><em>thuy </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>Hình như đọc câu &#8221; có lý khi cho PCT viết về Phật học để kiếm sống&#8221; có vẻ khinh thường triết gia PCT theo tôi. PCT không chỉ viết về Phật học, ông từng là giáo sư(giáo sư thì cần gì viết ngoài viết trên bảng?) , làm văn và làm thơ. Tôi chỉ nhớ mang máng các anh chị tôi đua nhau tìm sánh PCT để đọc trước 75 , mà trước 75 các tác giả sống sung túc nếu sách được độc giả ưa chuộng. Qua bên Pháp ông cũng từng đi dạy như vậy nghề giáo đã là nghề của ông, văn chương là nghiệp thì phải.<br />
Như tôi đã viết nhưng có lẽ bị kiểm duyệt, nếu chỉ dựa trên sách vở, không thăm khám bệnh nhân mà cho rẳng PCT bị schizophrenia hay psychosis tôi thấy có vẻ võ đoán. Sư chẩn bệnh phải dựa trên tiếp xúc, tối thiểu là nói chuyện với người bệnh để định bệnh. Nếu vậy thì có lẽ hầu hết các nhà văn đều mang tâm bệnh vì toàn là ta ôm trăng, ta ôm mặt trời , gửi tình yêu theo gió với mây…</p>
<p>&#8211; 24.03.2011 vào lúc 11:13 am</p>
<p> <strong><em>mirordor </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>&#8220;Thiền là gì? Ngộ là chi chi?&#8221;</p>
<p>Ông bạn (hay cô bạn?) có thể tự tìm câu trả lời bằng cách đọc PCT, Tuệ Sĩ, D.T. Suziki, Shunyu Susuki v.v…(hy vọng tôi không có đánh vần sai tên nào); hay đọc Bích Nham Lục, và Vô Môn Quan, nếu ông bạn không muốn dựa theo ý của người trung gian và thật tình muốn học hỏi về Thiền.</p>
<p>Còn nếu ông bạn chỉ muốn dùng ngôn từ và biện luận để đả kích người thì ông bạn xem thường người đọc/viết trên Da Màu quá.</p>
<p>&#8211; 24.03.2011 vào lúc 11:41 am</p>
<p> <strong><em>mirordor </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>&#8220;Hình như đọc &#8216;câu có lý khi cho PCT viết về Phật học để kiếm sống&#8217; có vẻ khinh thường triết gia PCT theo tôi.&#8221; Câu này đúng ra phải nên viết rỏ là cho thời điểm sau 1990. Trước &#8217;75, PCT viết cho mình nhiều hơn là cho người đọc; vì thế ông đã có lần viết là ông đốt hết 20 cuốn sách viết trong thuở thiếu thời. PCT đi dạy một phần dĩ nhiên là để mưu sinh vì ông không nương tựa vào gia đình từ lâu, và một phần vì Vạn Hạnh nhận ra tài ông. Tuy nhiên, một người biết rất rỏ về PCT (quý vị có thể đọc trên Đàn Chim việt) nêu ý kiến là ông &#8220;bị&#8221; sư thân cọng cài vào chùa Hải Đức và Vạn Hạnh vì họ muốn dùng cái biết của ông về Thiên chúa giáo; tôi không tin thuyết này, và nếu thuyết có đúng thì PCT không mắc bẩy, vì ông đứng trên thị phi và tôn giáo. Ban đầu ông học vế thiền, không phải vế Phật giáo. Chuyện ông tìn vào thần chú &#8220;Án Ma Ni Bát Di Hồng!&#8221; là chuyện xảy ra ở cuối đời ông.</p>
<p>&#8220;Sự chẩn bệnh phải dựa trên tiếp xúc, tối thiểu là nói chuyện với người bệnh để định bệnh.&#8221; Câu này chỉ đúng cho trường hợp bệnh thể xác. Bạn cứ hình dung một người bệnh tự nhiên á khẩu, không chịu nói chuyện, hay đang nổi cơn và bị trói hay giam, làm sao mà &#8220;nói chuyện&#8221;? Vì thế, định bệnh tâm thần dựa trên nhận xét và báo cáo của người thân hay của nhân viên trong trại, và trên bệnh sử. Trong trường hợp PCT, tìm bệnh sử là điều không khó vì chính ông là &#8220;nhân chứng&#8221; quan trọng nhất và đã lưu lại hàng trăm trang giấy dưới dạng tuỳ bút, khảo luận, nhật ký về đời mình, nghiên cứu, và suy luận của mình. Thay vì phái gợi chuyện, phân tâm gia chỉ cần &#8220;đọc&#8221; trước tác của ông. Trong thời buổi internet này, tìm nhân chứng về PCT cũng không khó gì. Điều khó là mấy người chịu khó đọc qua hàng trăm trang trên mạng, đối chiếu những tài liệu đôi khi tương phản nhau và hiểu thế đứng của người viết về PCT. Có nhiều &#8220;loại&#8221; người trong trường hợp này. Người thích hay chê Thiền, người mộ đạo hay không, người thích hay không thích thơ văn (và thích kiểu nào?), người lớn lên cùng thời với PCT, hay người làm học trò của ông. Và người thích hay ghét Trịnh Công Sơn!</p>
<p>Tôi không &#8220;võ đoán&#8221; đâu, tôi &#8220;nói có sách, mách có chứng&#8221; trong trường hợp PCT!</p>
<p>Cuối cùng, cho phép tôi sửa sai câu &#8220;…mà cho rẳng PCT bị schizophrenia hay psychosis&#8221;. Viết như thế là không hiểu gì ý tôi cả. Tôi không bao giờ nghĩ hay gọi PCT là schizophrenic hay psychotic. Hai chữ đó có nghĩa là &#8220;điên – crazy &#8221; trong lối nói bình dân, và bài viết của tôi muốn chứng mình rằng người đời không biết ta đang nói gì. Vì không hiểu PCT đang nói gì, và không biết ta đang nói gì, cứ gọi ông điên là xong. PCT không &#8220;điên&#8221; và PBD không đồng nghĩa với schizophgrenia hay psychosis. Hành văn và ngôn từ của PCT rất độc đáo và khó mà ví với sáng tác của đa số văn nghệ sĩ, nhưng đó không là bằng chứng rằng ông điên. Chì có Bùi Giáng, Saroyan và vài người khác giống ông, nhưng cũng chỉ trong vài trường hợp. Một người bạn của tôi gợi ý là PCT đã từng phạm tội &#8220;đạo ý&#8221;, và nếu bạn chịu khó đọc lại Ý thức mới về văn nghệ và triết học thì bạn có thể để ý rằng ông viết ra nhiều câu như thể đó lả ý tưởng đang đến trong đầu rồi đăng câu nguyên bản bằng tiếng Anh hay Pháp ngay dưới đó. Người khó tính còn có thể nghĩ đến đạo văn!</p>
<p>&#8211; 24.03.2011 vào lúc 12:45 pm</p>
<p> <strong><em>mirordor </em></strong><em>viết: </em></p>
<p>&#8220;Ý kiến của Mirordor có rất nhiều chỗ hiểu lầm về ý nghĩa của những câu văn của PCT.&#8221;</p>
<p>Cám ơn anh Hoàng Ngọc Tuấn rất nhiều. Một người bạn ở Úc có báo tôi biết là anh sẽ phản hồi và sửa sai ý kiến của tôi.</p>
<p>Rất tiếc là những người biết nhiều về PCT như anh không lên tiếng sớm hơn để &#8220;giải mã&#8221; những thắc mắc mà người đọc cảm nhận sau khi đọc những tài liệu có trên mạng về tiểu sử của ông, nhất là khi những tài liệu đó được đăng tải bởi các cơ sở Phật Giáo thường xuyên liên lạc với ông hồi sinh thời. Con trai của ông nhắc đến Miller, the Surrealists, Campbell, Hegel, và Nietzsche trong danh sách những người ảnh hưởng đến mình nhưng không nhắc đến cha, mặc dù PC Lộ đang tìm người dịch qua Anh ngữ những best-sellers của cha, vì &#8220;It&#8217;s worth it.&#8221;</p>
<p>&#8220;Không hề có bất cứ một lời nói hay một câu viết nào của PCT tự xưng là có bằng tiến sĩ ở Sorbonne. Vì thế, không thể dùng những lời đồn đãi của những kẻ khác để kết án ông.&#8221; Tôi đọc lại những câu tôi viết và không thấy nơi nào tôi viết rằng ông &#8220;tự xưng&#8221; là có bằng tiến sĩ Sorbonne. Tôi cũng không nghĩ là PCT ham có cái mảnh bằng, cho dù nó đến từ Sorbonne, hay Yale. Hơn nữa, &#8220;kết án&#8221; PCT để làm gì? Ông chỉ hơn tôi vài tuổi, cũng mang những thắc mắc, hoài bảo như tôi trong tuổi thiếu thời, cũng đi những đoạn đường tôi đi qua để học làm người, tại sao tôi phải kết án ông?</p>
<p>Dù sao chăng nữa, những dữ kiện anh cung cấp giải toả một phân vân của tôi về tình trạng tâm thần của PCT. Phân vân đó là về huyễn tưởng hay loạn tưởng (delusion) rất hiếm thấy trong chứng bệnh BPD và nếu có, thường không kéo dài lâu, tháng này qua năm nọ. Không có delusion có nghĩa là bệnh của PCT chưa bao giờ nặng đến mức trở thành psychotic.</p>
<p>&#8220;Sự chuyển động toàn diện của tâm thức&#8221;, (và câu &#8220;những cơn động đất thương xuyên của đời mình&#8221;) có thể là lấy ý từ Krishnamurti hay Sri Aurobindo, nhưng cũng rất có thể là một lối nói văn hoa, và khá chính xác, để tả những manic episodes! PCT có khuynh hướng dùng ý, văn của các tác giả mà ông đang bàn đến và viết trong tiếng Việt như thể rằng chúng là của mình rồi đăng tiếp nguyên tác ngay ở dưới (hằng hà sa số trong tác phẩm &#8220;Ý thức mới…&#8221;). Nếu không có những hàng nguyên tác đó, chắc chắn có người đã buộc ông tội đạo văn! Lấy ý người làm ý mình thì cũng không sao; tôi nhớ một triết gia nào đó của Pháp (?) viết là khi một đứa bé hiểu được lời Khổng Tử, nó có thể nhận là nó nói!</p>
<p>Người tu Thiền có thể có một &#8220;the whole movement of conciousness&#8221; hay &#8220;the total movement of consciousness&#8221;, nhưng không có &#8220;chuyển động toàn diện của tâm thức phân ly&#8221; vì những ngôn từ Krishnamurti và Sri Auribindo dùng là để tả trạng thái &#8220;ngộ&#8221;. Người tu Thiền chỉ ngộ một lần và sau đó tiếp tục tu để đạt được đến &#8220;giác&#8221;, họ không ngộ trở lại, hay ngộ tiếp về một công án khác. Và &#8220;những động đất thường xuyên của đởi mình&#8221; chắc chắn không thể dùng để tả hiện tượng ngộ. Người tu Thiền &#8220;mong&#8221; được ngộ, và vui vì ngộ, không ai khỗ sau khi đột nhiên sáng mắt và thấy đời lên hương! Mời anh đọc bài thơ sau đây Thiền sư Vô Môn viết ngay sau khi ngộ.</p>
<p>Thanh thiên bạch nhật nhất thanh lôi<br />
Đại địa quần sinh nhãn hoát khai<br />
Vạn tượng sum la tề khể thủ<br />
Tu-di bột khiêu vũ tam đài.</p>
<p>Đó là một &#8220;whole movement of conciousness&#8221;. Mặc dù người đời có khuynh hướng gọi PCT là Thiền sư (PC Lộ xem cha là Zen Master), ông chưa hề ngộ.</p>
<p>&#8211; 24.03.2011 vào lúc 5:01 pm</p>
<p>T.Vấn tổng hợp ( Mar. 25, 2011)</p>
<p>©T.Vấn 2011</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/nh%e1%bb%9b-d%e1%bb%a9ng-ch%e1%bb%9d-ta-%e1%bb%9f-ci-siu/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>T.Vấn: Đời sống: Khổ đau v&#224; Hạnh ph&#250;c</title>
		<link>https://t-van.net/d%e1%bb%9di-s%e1%bb%91ng-kh%e1%bb%95-dau-v-h%e1%ba%a1nh-phc/</link>
					<comments>https://t-van.net/d%e1%bb%9di-s%e1%bb%91ng-kh%e1%bb%95-dau-v-h%e1%ba%a1nh-phc/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[T.Vấn]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 23 Feb 2011 23:00:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[con người]]></category>
		<category><![CDATA[giới thiệu]]></category>
		<category><![CDATA[sự kiện]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/testsite/wordpress/?p=1956</guid>

					<description><![CDATA[(Đọc &#8220;Gởi chút niềm riêng&#8221; của Ngân Bình) &#160; 1. Văn hào người Nga Leo Tolstoy, tác giả bộ trường thiên tiểu thuyết lừng danh &#8220;Chiến tranh và Hòa Bình&#8221; , trong lời mở đầu của một tác phẩm khác cũng nổi tiếng không kém là &#8220;Anna Karenina&#8220;, đã viết như sau: &#8220;Trong mỗi gia [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>(Đọc &#8220;<strong><em>Gởi chút niềm riêng</em></strong>&#8221; của Ngân Bình)</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image002154.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; margin: 0px 20px 10px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; float: left; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image002_thumb89.jpg?strip=all&fit=209%2C324" alt="clip_image002" width="209" height="324" align="left" border="0" hspace="12" /></a></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>1.</strong></p>
<p>Văn hào người Nga Leo Tolstoy, tác giả bộ trường thiên tiểu thuyết lừng danh &#8220;<strong><em>Chiến tranh và Hòa Bình</em></strong>&#8221; , trong lời mở đầu của một tác phẩm khác cũng nổi tiếng không kém là &#8220;<strong><em>Anna Karenina</em></strong>&#8220;, đã viết như sau: &#8220;Trong mỗi gia đình, hạnh phúc thì giống nhau, nhưng sự đau khổ thì lại khác nhau hòan tòan&#8221;.</p>
<p>Chúng ta đã gấp tập sách Gởi Chút Niềm Riêng lại, như tạm bỏ qua một bên nỗi bùi ngùi sau khi nghe Ngân Bình kể lể những đau khổ, ngang trái, truân chuyên của nhiều mảnh đời tội nghiệp. Như Tolstoy đã nhận xét, dưới những mái gia đình qua truyện kể của Ngân Bình, mỗi nỗi đau khổ đều mang một hình thái khác nhau, mỗi sự oan trái đều có những nguyên nhân khác nhau, và mỗi niềm truân chuyên đều ở một mức độ khác nhau.</p>
<p>Tuy sách đã gấp lại, nhưng liệu chúng ta có gấp lại được không sự thổn thức của con tim, sự đồng cảm với những mảnh đời hình như từ cuộc sống chung quanh nhẩy vào trong những trang sách, nỉ non kể lể như muốn gởi chút niềm riêng vào hư không, rồi lại lặng lẽ bước ra khỏi trang sách, tiếp tục sống cuộc sống của mình bên cạnh những con người vừa nghe mình kể lể, cũng lau nước mắt như mình lau nước mắt, cũng thở dài như mình vừa thở dài.</p>
<p>Những câu chuyện của Ngân Bình nghe quen lắm. Vì thế, tay gấp sách, mà đầu óc vẫn cứ nghĩ ngợi đăm chiêu. Và buồn bã.</p>
<p>Ai trong chúng ta cũng đều đã trải qua những ngày vui, những ngày buồn, những ngày thất vọng. Nếu không thế, cuộc sống không còn là cuộc sống, chúng ta không còn là những con người. Giữa bao chộn rộn lao xao của dòng đời, như những dấu nghỉ trong một bài hát có nhiều cung bậc cao thấp bổng trầm, chúng ta cũng cần những khỏanh khắc đứng lại, hay ngồi yên. Để nhìn lại mình, nhìn lại những người thân yêu chung quanh, nhìn lại bằng hữu, láng giềng, qua ánh đèn lung linh dưới mỗi mái nhà. Nhà mình. Nhà người. Để thấy cuộc nhân sinh qủa là gập ghềnh trắc trở, vui ít buồn nhiều.</p>
<p>Có lẽ đó là lý do khiến tôi có cảm giác &#8220;quen quen&#8221; khi đọc những câu chuyện trong tập GCNR của Ngân Bình.</p>
<p>Một đứa con bàng hòang khi chính mắt nhìn thấy bố mình – người bố mà cô luôn luôn thương yêu và kính trọng – đi bên cạnh một người đàn bà không phải là mẹ mình từ phòng mạch khám thai bước ra. Bao nhiêu câu hỏi nhẩy múa trong đầu cô &#8220;tại sao? tại sao?&#8221; nhưng cô vẫn không nói nửa lời với mẹ. Để rồi sau cùng, cô khám phá bao điều bí ẩn giữa bố và mẹ, và càng thương yêu và kính trọng người cha &#8220;<em>đã phụ bạc mẹ mình</em>&#8221; hơn <strong><em>(Như tiếng thở dài)</em></strong>. Những nghịch lý ấy, trong đời sống, chúng ta đã từng thấy, nhưng ít khi giải thích được, vì dù sao thì, như lời người xưa đã nói: &#8220;<em>đèn nhà ai nấy rạng</em>&#8220;.</p>
<p>Một cô gái xinh đẹp, nết na đằm thắm, chấp nhận sống bên cạnh người đàn ông lúc nào cũng ghen tuông, độc đóan, muốn kiểm sóat tất cả những gì thuộc về cô. Anh ta có lúc đã đi quá đà và không ngần ngại dùng bạo lực để trấn áp người phụ nữ yếu đuối mảnh mai. Nhưng cô gái vẫn không thể rời bỏ anh ta được, bất chấp những lời góp ý chân thành của cô em gái đã từng bao lần chứng kiến chị mình bị ngược đãi. Chỉ vì cô quá yêu anh và tin tưởng rằng, những biểu lộ bạo lực của anh ta chỉ chứng tỏ rằng anh cũng rất yêu thương cô <strong><em>(Hãy hồn nhiên như em đã từng).</em></strong> Thêm một nghịch lý có thật trong đời sống. Hành hạ đánh đập mình như thế mà vẫn tin rằng những hành động ấy đến từ tình yêu ư? Trên thế gian này có bao nhiêu người đàn ông dùng bạo lực để giải quyết những vấn đề của đời sống từ trong gia đình ra đến ngòai xã hội?</p>
<p>Một mối tình dị chủng Mỹ-Việt. Anh là lính viễn chinh ở Việt Nam. Qua những lần đến quán Bar giải trí, anh đã gặp được nàng, cô gái 18 tuổi phải hy sinh làm &#8220;gái bán Bar&#8221; để lấy tiền giúp đỡ gia đình. Để ý đến nét &#8220;<em>ngây thơ và hiền lành đến tội nghiệp</em>&#8221; của cô gái trẻ, anh quyết định đề nghị cô về ở với anh, với tư cách một người vợ. Cô nhận lời. Gia đình cô, nhờ vậy, cũng đã trở nên khấm khá hơn về vật chất, dù thực sự cũng không vui vẻ lắm với thành kiến về hiện tượng &#8220;lấy Mỹ&#8221; lúc bấy giờ. Anh hết hạn phục vụ về nước, cô gạt nước mắt theo chồng, bỏ mẹ, bỏ các em và mảnh quê hương ngút ngàn khói lửa chiến tranh. Thông cảm cho nỗi lòng người vợ, anh hết lòng chiều chuộng, chăm sóc, thậm chí đi tìm người đồng hương của vợ, một quân nhân thuộc quân đội Việt Nam Cộng Hòa lúc ấy đang tham dự khóa huấn luyện ở Mỹ, để cho cô có bạn, có dịp nói thứ ngôn ngữ mẹ đẻ của mình. Oan khiên xẩy ra từ tấm lòng quá thương yêu vợ của người chồng. Cô gái trẻ, 18 tuổi đã bươn chải ra đời giúp đỡ gia đình, chưa một lần được sống cho chính tuổi trẻ của mình, bỗng dưng thấy mình như không cưỡng được những cám dỗ của một mối tình lãng mạn. Cô bỏ người chồng dị chủng, dù anh ta đã đối xử với cô bằng tất cả tấm lòng, để chạy theo tiếng gọi &#8220;lãng mạn&#8221; của con tim, chạy theo người đàn ông đã đem đến cho cô những giây phút tuyệt vời của một &#8220;tình yêu muộn màng&#8221; và đứa con &#8220;tóc đen, da mầu nâu sẫm&#8221; chứ không phải &#8220;tóc vàng, mắt xanh, da trắng&#8221; dù lúc hạ sinh đứa con, cô vẫn còn ở dưới mái nhà người chồng đáng thương. Dù vậy, anh sẵn sàng tha thứ, nhưng vẫn không giữ được vợ. Sau bao thăng trầm của thời cuộc, của tình đời, sau những năm tháng nếm trải mọi cay đắng của &#8220;lãng mạn&#8221;, cô gái cuối cùng cũng đã lại trở về với người chồng dị chủng, vì chỉ đến lúc này, cô mới nhận ra ai là người thực sự yêu thương cô, quan tâm đến cô <strong><em>(Cho đến kiếp sau). </em></strong><em>Tình yêu, trước hết là sự quan tâm đến người mình yêu.</em> Định nghĩa đơn giản này chỉ có được sau bao nhiêu những lỗi lầm. Trong đời sống, kẻ mắc lỗi lầm thì không ít, nhưng bao nhiêu người có được cơ hội sửa chữa những lỗi lầm của mình?</p>
<p>Một đứa con chẳng may sống trong hòan cảnh cha mẹ &#8220;<em>ông ăn chả, bà ăn nem</em>&#8220;, rồi kết cuộc là sự ly dị. Nó mang mặc cảm bị bỏ rơi, cả cha lẫn mẹ đều chỉ biết lo cho niềm vui của riêng mình, mà không đóai hòai gì đến nó. 19 tuổi đầu, phải vừa đi học vừa đi làm lo cho cuộc sống, nó bắt đầu nẩy sinh tình cảm óan hận cha mẹ. Mỗi khi cần đến sự giúp đỡ, nó chạy đến bố thì được bảo rằng sao con không hỏi mẹ, chạy đến mẹ thì bị mắng sa sả sao không biểu thằng bố mày nó lo cho. Ngàn đời nó không bao giờ hiểu nổi điều vô cùng nghịch lý. Ngày xưa, khi còn rất bé, nó được cha mẹ bảo rằng &#8220;<em>con là kết tinh của một tình yêu tuyệt vời </em>&#8221; giữa cha và mẹ, vậy mà bây giờ, tuy vẫn là con của cha của mẹ, nó bỗng trở thành &#8220;<em>gánh nợ ngàn cân trên vai bố mẹ. Một món nợ thừa thãi không ai muốn nhận. Không thừa th</em><em>ã</em><em>i sao được khi bố đã có một gia đình khác. Còn mẹ, mẹ cũng cần những giờ phút riêng tư với người tình trẻ, không muốn bị ai quấy rầy</em><em>&#8220;. </em>Nỗi óan hận những kẻ sinh ra mình đã khiến nó có tư tưởng trả thù. Nó quyết định dùng nhan sắc của một đứa con gái trẻ để rù quyến chính &#8220;thằng bồ nhí&#8221; của mẹ mình. Quả là một sự trả thù độc đáo, có lẽ chỉ có giữa những người thân thuộc với nhau. Kết cuộc, người bạn trai của nó – vì vô tình – đã ghen tuông, hờn giận khi thấy nó sánh vai với người đàn ông lạ. Trong lúc quẫn lòng, vừa vì bị bỏ rơi bởi cha bởi mẹ, vừa vì cảm tưởng mình đã mất đi chỗ dựa duy nhất là người bạn trai đầy nghĩa hiệp, nó tự chấm dứt đời mình <strong><em>(Hạnh phúc ở đâu</em></strong>). Bi kịch này, có bao nhiêu người làm cha làm mẹ rùng mình nghĩ đến, mỗi khi đặt bút ký tên trên tờ giấy ly dị? có bao nhiêu người làm cha, người làm mẹ, trong lúc mải mê sống với những lạc thú riêng mình, chợt giật mình tự hỏi: <em>con mình giờ này sống ra sao khi cha ở một nơi, mẹ một nẻo?</em></p>
<p>Đó là những câu chuyện – theo tôi – nổi bật trong tập GCNR của Ngân Bình. Chúng có nguyên mẫu từ đời sống. Từ đời sống, những nhân vật của truyện đi vào trang sách, kể lại câu chuyện đời mình không phải chỉ để nhận được những giọt nước mắt chia sẻ, đồng cảm mà còn tự nguyện hóa thân thành những tiếng chuông tỉnh thức. Hãy mở to mắt nhìn lại cuộc sống mình đang sống, đừng mặc nhiên xem mọi chuyện như nó phải xẩy ra như thế, đừng để dòng sống cuốn mình đi mà không tìm cách dừng lại nghe ngóng. Hãy xem nỗi đau của người khác như nỗi đau của chính mình, để ít nhất, không để điều ấy xẩy ra với chính mình trong tương lai.</p>
<p>Rải rác trong các câu chuyện của Ngân Bình vẫn là những đề tài muôn thuở. Tình yêu, sự ghen tuông hờn giận, những éo le trắc trở mà người ta hay gọi là định mệnh, nhưng rất nhiều khi lại do lòng tự ái (yêu mình hơn là yêu người mình yêu), sự cố chấp, tính ích kỷ. Lẫn trong mớ bòng bong của yêu thương, thù hận vẫn nổi bật bóng dáng đẹp đẽ của những tấm lòng hy sinh vì con cái, vì cha mẹ, vì người mình yêu.</p>
<p>Giữa những suy tư &#8220;cao siêu&#8221; về những đề tài &#8220;lớn&#8221; như: đất nước, dân chủ, quốc gia, cộng sản, thì nội dung tập sách của Ngân Bình có vẻ như &#8220;đàn bà&#8221; . Đúng vậy, Ngân Bình là một người đàn bà. Và vì là đàn bà, nên sự quan tâm của họ phần lớn chỉ giới hạn dưới mái gia đình riêng tư. Nhiều vị nam tử (Việt) sẽ cho đây là chuyện nhỏ, không đáng bàn tới. Nhưng, có thật đây là những chuyện &#8220;nhỏ&#8221; không? Người xưa có nói: <em>Tề gia, trị quốc, bình thiên hạ</em>. Có nghĩa là phải làm cho mái gia đình yên ấm trước, rồi mới có thể nghĩ đến chuyện làm việc nước, chinh phục thiên hạ. Tôi cho rằng những chuyện này không nhỏ chút nào. Một mái gia đình yên ấm, vợ hiền, con ngoan chẳng phải là chuyện lớn sao? Nhưng cuộc đời đâu phải lúc nào cũng xuôi chèo mát mái, thế nên mái gia đình có lúc không yên ấm, vợ có lúc không . . . hiền, con có lúc chẳng. . . ngoan. Đến lúc ấy, có thể những câu chuyện &#8220;đàn bà&#8221; của Ngân Bình may ra góp phần giúp các đấng nam tử &#8220;gỡ rối tơ lòng&#8221;, tuy không một cách trực tiếp, nhưng cũng có thể gián tiếp qua việc ảnh hưởng đến cách cư xử của &#8220;người đàn bà trong nhà&#8221;.</p>
<p>Lớn hay nhỏ, thì những câu chuyện trong tập sách của Ngân Bình chỉ như chút niềm riêng tư, gởi theo thinh không cho cõi lòng nhẹ nhõm. Như thế, vẫn dễ chịu hơn là như ai kia:</p>
<p><em>Có những niềm riêng một đời dấu kín</em></p>
<p><em>Như rêu như rong đắm trong biển khơi</em></p>
<p><em>Có những niềm riêng một đời câm nín</em></p>
<p><em>Nên khi xuôi tay còn chút ngậm ngùi</em></p>
<p><em>(Lê Tín Hương)</em></p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image00473.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image004" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image004_thumb36.jpg?strip=all&fit=218%2C338" alt="clip_image004" width="218" height="338" border="0" hspace="12" /></a></p>
<p><strong>2.</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Đích danh, phải gọi tập GCNR của Ngân Bình là một tập truyện kể. Người kể truyện, luôn là một nhân vật xưng tôi. Có lẽ, chỉ có &#8220;<em>tôi</em>&#8220;, mới có thể kể câu chuyện của chính &#8220;<em>tôi</em> &#8221; một cách chính xác với đầy đủ cung bậc buồn vui óan giận. Đó cũng là một lựa chọn khôn ngoan của tác gỉa. Bằng một bút pháp trong sáng, thông minh, tác giả đã dẫn người đọc đi vào những ngõ ngách tâm tư của nhân vật không một chút khó khăn. Thủ pháp theo lối điện ảnh về khỏang cách thời gian có khi hàng mấy chục năm của câu chuyện, khi hiện tại, khi quá khứ được tác giả sử dụng khá nhuần nhuyễn. Nữ tính tóat lên từ từng mỗi câu chuyện, từ từng mẩu đối thọai, kể cả khi tác giả &#8220;triết lý &#8220;. Cũng dễ hiểu, nội dung, thể lọai như thế này chỉ có một cây viết nữ mới thuyết phục được người đọc, hoặc ít nhất, giữ người đọc lại trên những trang truyện.</p>
<p>Phải nhìn nhận rằng, những trang viết của GCNR thổi một hơi thở rất lạ cho một thể loại văn không có gì mới mẻ. Ngân Bình đã nâng thể loại tâm sự riêng tư lên một cấp độ gần với văn học. Giọng văn trong sáng, câu chuyện được sắp xếp hợp tình hợp lý, tâm lý nhân vật được đào sâu đúng mức, không quá đà khiến trở thành nhân vật tiểu thuyết, cũng không quá hời hợt để nhân vật mau chóng bị người đọc quên lãng. Theo tôi biết, đó là những câu chuyện có thật của một người hay của nhiều người được tác gỉa chắt lọc, tổng hợp rồi kể lại. Độc giả, ở mỗi lứa tuổi, phái tính, thành phần xã hội, đọc Gởi chút niềm riêng và tìm thấy trong đó một mảnh của riêng mình và cũng đồng thời có thể tự rút ra một giải pháp cho những vấn đề riêng mà mình đã, đang phải đối phó.</p>
<p>Đời sống không bao giờ là vườn hồng, nhưng cũng không phải là cánh đồng hoang đầy mìn bẫy hầm chông. Con người không phải ai cũng là chó sói, nhưng cũng không phải ai cũng là con cừu non. Đường đời thì muôn vạn lối, có lối dắt đến vườn hồng, có lối dắt đến cánh đồng đầy hầm bẫy mìn chông, có lối đưa ta gặp cừu non, có lối đẩy ta vào hang chó sói. Nhưng vườn hồng hay cánh đồng mìn bẫy cũng đều có nước mắt và nụ cười. Chó sói hay cừu non vẫn ẩn chứa dưới sâu thẳm cái hình bóng con người.</p>
<p>Tôi có thể ví von ẩn dụ như thế về thế giới những trang viết Gởi chút niềm riêng của Ngân Bình .</p>
<p><strong>T.Vấn</strong></p>
<p>Những ngày chớm thu 2010</p>
<p><em>Mua sách &#8220;Gởi Chút Niềm Riêng&#8221;, xin liên lạc:</em></p>
<p><em>Đặng Hiếu Sinh</em></p>
<p><em>ĐT: 469-471-8932</em></p>
<p><em>E-mail: <a href="mailto:nganbinh13@yahoo.com">nganbinh13@yahoo.com</a></em></p>
<p><em>Gía bán: $18 (Gởi check đề tên: Nguyệt Đặng- PO Box 451704-Garland, TX 75045-1704)</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2011</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/d%e1%bb%9di-s%e1%bb%91ng-kh%e1%bb%95-dau-v-h%e1%ba%a1nh-phc/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>T.Vấn: Nước Mỹ c&#243; c&#242;n l&#224; mảnh đất của những cơ hội ?</title>
		<link>https://t-van.net/n%c6%b0%e1%bb%9bc-m%e1%bb%b9-c-cn-l-m%e1%ba%a3nh-d%e1%ba%a5t-c%e1%bb%a7a-nh%e1%bb%afng-c%c6%a1-h%e1%bb%99i/</link>
					<comments>https://t-van.net/n%c6%b0%e1%bb%9bc-m%e1%bb%b9-c-cn-l-m%e1%ba%a3nh-d%e1%ba%a5t-c%e1%bb%a7a-nh%e1%bb%afng-c%c6%a1-h%e1%bb%99i/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[T.Vấn]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 21 Jan 2011 22:20:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[con người]]></category>
		<category><![CDATA[kinh tế]]></category>
		<category><![CDATA[quê nhà quê người]]></category>
		<category><![CDATA[sự kiện]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/testsite/wordpress/?p=1885</guid>

					<description><![CDATA[1. Nước Mỹ có còn là mảnh đất của những cơ hội, nơi những giấc mơ (Mỹ) biến thành hiện thực hay không? Người Việt Nam có câu nói rất thông dụng: Xấu đẹp tùy người đối diện. Có nghĩa là việc đánh gía vẻ ngòai của một con người tùy thuộc vào con mắt [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image00170.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; margin: 0px 20px 10px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; float: left; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image001" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image001_thumb45.jpg?strip=all&fit=190%2C240" alt="clip_image001" width="190" height="240" align="left" border="0" /></a></p>
<p><strong>1.</strong></p>
<p>Nước Mỹ có còn là mảnh đất của những cơ hội, nơi những giấc mơ (Mỹ) biến thành hiện thực hay không?</p>
<p>Người Việt Nam có câu nói rất thông dụng: <em>Xấu đẹp tùy người đối diện</em>. Có nghĩa là việc đánh gía vẻ ngòai của một con người tùy thuộc vào con mắt của người ngắm nhìn. Sẽ có người cho là đẹp, trong khi đó lại có kẻ cho là xấu. Cùng khái niệm ấy có thể được dùng để trả lời câu hỏi về nước Mỹ ở trên. Có người trả lời rằng nước Mỹ đã hết còn là mảnh đất để cho cả thế giới mong ước được đến để sinh sống nữa rồi. Nhưng cũng không ít người vẫn khao khát được là công dân Mỹ quốc (1).</p>
<p>Thực ra, cho đến hôm nay, sau cuộc khủng hỏang kinh tế kéo dài và số người thất nghiệp dài hạn không giảm bớt đi bao nhiêu, để trả lời câu hỏi ấy về nước Mỹ chẳng phải dễ dàng gì.</p>
<p>Kể từ cuộc khủng hỏang kinh tế dữ dội năm 1929, chưa bao giờ nước Mỹ đứng trước một viễn cảnh tồi tệ làm phá sản bao luận thuyết về kinh tế như hiện nay.</p>
<p>Có phải mảnh đất của những cơ hội ấy nay đã mất hết những cơ hội rồi chăng?</p>
<p>Khi nói đến những cơ hội, người Mỹ muốn ám chỉ đến những điều kiện để từ đó, một người siêng năng làm việc, học hành, sẽ được bình đẳng đặt chân lên bậc thang xã hội (và kinh tế) rồi từ từ bước dần lên cao hơn nữa. Ở Mỹ, để có vị trí ở nấc thang cao nhất (cả về xã hội lẫn kinh tế), trước đó, người ta phải đặt chân lên được nấc thang thấp nhất. Tiến trình đi từ thấp lên cao và cao ở mức độ nào tùy thuộc vào khả năng mỗi người. Chính ở điểm này, người ta chấp nhận sự không bình đẳng về kinh tế trong xã hội Mỹ.</p>
<p>Theo những nhà kinh tế xã hội học đương thời, thì hình ảnh sau đây đang rất quen thuộc với mọi người. Ở Mỹ hiện nay, sự bất bình đẳng kinh tế ngày càng lên cao. Kẻ giầu thì ngày càng giầu thêm, còn người nghèo thì vẫn cứ nghèo. Những người thuộc thành phần trung lưu thì thu nhập chựng lại (stagnate). Từ sự kiện đó, dẫn đến một kết luận: Cơ hội ở Mỹ không còn có nhiều như trước đây nữa.</p>
<p>Khả năng vươn lên của một con người (cả về mặt xã hội lẫn kinh tế) tỉ lệ thuận với trình độ học vấn của người đó. Ở nước Mỹ, điều này hòan tòan có cơ sở xác đáng. Con số thống kê cho thấy, những người có bằng đại học luôn luôn có mức thu nhập cao hơn người chỉ tốt nghiệp trung học hoặc dropouts (bỏ học khi chưa xong bậc trung học), tỉ lệ thất nhiệp thấp hơn, và gia đình ổn định hơn (ít ly dị). Ngược lại, những người ít học có thu nhập thường chỉ vừa đủ cho nhu cầu, khi kinh tế suy thóai là lớp người đầu tiên chịu ảnh hưởng, từ đó dẫn đến những tệ nạn xã hội (hút sách, ma túy, rượu chè, cờ bạc . . .) và kết quả thường thấy là gia đình không ổn định, có con ngòai hôn nhân, phải trả tiền trợ cấp nuôi con hàng tháng v.v.. hệ quả là những đứa trẻ sinh ra từ tầng lớp nghèo này không có được cơ hội bình đẳng như những đứa trẻ sinh ra từ những gia đình khá gỉa hơn để được hưởng sự giáo dục tốt hơn, cơ hội vào đại học cao hơn và khi tốt nghiệp có khả năng trội vượt để dễ dàng kiếm được công việc có thu nhập cao, vừa ý (2). Cứ như thế, sự nghèo khó truyền từ đời cha sang đời con. Hình ảnh này chẳng xa lạ gì với người Việt Nam chúng ta. Câu ca dao: <em>Con vua thì lại làm vua, con sãi ở chùa lại quét lá đa</em>, ai cũng biết.</p>
<p>Nhưng, có vẻ như nước Mỹ chỉ mới biết đến điều này khi phải đối đầu với cuộc suy thóai kinh tế kéo dài. Thất nghiệp nhiều, ngân sách không thu được tiền thuế lợi tức, lại còn phải chi thêm ra để trợ cấp cho người bị mất việc, dẫn đến thâm thủng. Ngân sách thâm thủng, phải cắt giảm chi phí. Thường thì chi phí giáo dục luôn là nạn nhân đầu tiên. Chính ở điểm này, người ta kêu lên rằng nước Mỹ đã không còn những cơ hội như trước đây nữa. Và cũng chỉ ở những thời kỳ kinh tế suy thóai, người Mỹ mới nhìn thấy những hệ lụy của sự nghèo khó.</p>
<p><strong>2.</strong></p>
<p>Người Việt Nam chúng ta định cư ở Mỹ đã nhiều năm kể từ đợt đầu tiên tháng 4 năm 1975 khi cuộc chiến tranh 30 năm chấm dứt. Từ đó, nhiều lớp người nối đuôi nhau chọn mảnh đất này làm quê hương thứ hai. Thành phần đi khai phá để đặt nền tảng cho người đi sau vốn mang theo mình một quyết tâm làm lại cuộc đời nên không nề hà cực khổ, thiếu thốn, hy sinh (3). Đối với lớp người này, nước Mỹ quả là mảnh đất của những cơ hội. Sự siêng năng, cần cù đã đem lại những kết quả rực rỡ mà nếu còn ở quê nhà, cùng một mức độ siêng năng cần cù ấy chưa chắc đã đem lại được dù chỉ một phần nhỏ những gì họ đạt được trên xứ người. Quan trọng hơn nữa, từ những thành quả vật chất này, đã tạo cơ hội cho thế hệ nối tiếp đặt bước chân thứ nhất lên nấc thang xã hội. Đó là việc bước chân vào ngưỡng cửa những trường đại học lừng danh của nước Mỹ, nơi mà trước đó chỉ năm mười năm họ thậm chí không dám mơ ước đến. Con đường đi từ những người cha người mẹ lam lũ trong bộ quần áo thợ, làm việc sáu bẩy ngày một tuần, mười đến mười hai tiếng một ngày trong những xưởng may, xưởng máy bụi bậm đến những người con ung dung nhàn nhã đến sở làm, ngồi vào bàn làm việc sạch sẽ tinh tươm, bàn tay lúc nào cũng khoan thai với chiếc máy điện thọai, con chuột điều khiển máy tính, chỉ năm ngày một tuần 8 tiếng một ngày mà thu nhập vẫn cao hơn đồng lương nhiều giờ của bố mẹ, con đường ấy không dài hơn khỏang cách một thế hệ, quá ngắn so với những gì chúng ta đạt được (4).</p>
<p>Trong số hàng triệu người Việt sinh sống trên đất Mỹ, ai là người có thể phủ nhận rằng nước Mỹ không còn là mảnh đất của những cơ hội, kể cả những người nhập cư muộn màng với hàng chục những lý do khác nhau?</p>
<p><strong>3.</strong></p>
<p>Chúng ta đến đây định cư, mặc nhiên thừa hưởng mọi di sản – tốt cũng như xấu – của nước Mỹ. Và, cũng như mọi công dân Mỹ, chúng ta cùng chia sẻ mọi niềm vui và nỗi buồn của xứ người. Nước Mỹ đang trải qua một giai đọan &#8220;rất khó ở&#8221;. Nhưng những ngày đầu năm cho thấy một dấu hiệu tương đối làm vui lòng người. Số người thất nghiệp đã giảm sụt, tuy không nhiều nhưng đó là dấu hiệu của hồi sinh. Những xí nghiệp lớn đang chuẩn bị gọi công nhân tạm nghỉ việc quay lại. Con nhà nghèo còn không chê cha mẹ khó, huống hồ đây chỉ là hòan cảnh tạm thời chung cho mọi người. Chúng ta đã từng nghèo khổ, đã từng đói rách. Ngày nay, tuy ở trong tình trạng kinh tế khó khăn chung, nhưng cũng chưa đến nỗi phải chịu đói, chịu lạnh. Cùng lắm là một số người phải giảm đi những tiện nghi không cần thiết hàng ngày vì đồng tiền trợ cấp thất nghiệp không đủ cho những thứ ấy (thí dụ như điện thọai di động, Internet, Cables v…v ).</p>
<p><em>Sau cơn mưa trời lại sáng. </em>Người Việt mình lúc nào cũng mang trong lòng sự lạc quan cần thiết để vượt qua những chặng khó khăn trên đường đời. Thiết tưởng, cũng nên coi thái độ lạc quan ấy là sự may mắn đầu năm khi chúng ta đang chuẩn bị hành trang cho cả một năm dài trước mặt.</p>
<p>T.Vấn</p>
<p>T.Vấn © 2011</p>
<p><strong><em>Chú thích:</em></strong></p>
<p>(1)Hàng ngày, người ta vẫn nghe câu chuyện về những du sinh từ Việt Nam, tuy gia đình khá gỉa (có khá gỉa mới có thể gởi con đi du học ở Mỹ), vẫn tìm mọi cách ở lại Mỹ sau khi học xong (thí dụ như kết hôn với người có quốc tịch Mỹ), hoặc triển hạn thời gian ở Mỹ bằng cách xin đi làm hay học cao hơn nữa.</p>
<p>(2)Kẻ viết bài này đã có nhiều năm làm việc bán thời gian cho một công ty khai thuế lớn nhất nước Mỹ &#8211; H&amp;R Block, và đã có nhiều cơ hội đối mặt với từng lớp &#8220;nghèo&#8221; này của xã hội Mỹ khi làm hồ sơ khai thuế cho họ. Đa số những người thuộc thành phần này có mức thu nhập rất thấp, hòan cảnh gia đình ly dị, có nhiều con nhưng chúng mang những cái họ khác nhau (vì có những người cha khác nhau). Vì thu nhập thấp, họ phải trông vào sự trợ cấp của chính quyền hoặc các cơ quan từ thiện. Trong hòan cảnh đó, những đứa con thường sống trong môi trường không lành mạnh, cả về vật chất (nhà cửa dơ bẩn, bừa bộn vì trẻ con đông lại thiếu người chăm sóc – chỉ có người mẹ và . . . boyfriend) lẫn tinh thần (người lớn trong nhà hút sách, uống rượu), nên bị ảnh hưởng rất lớn đến việc học hành (dù miễn phí mọi thứ: sách vở, trang bị máy tính, ăn trưa v…v). Khi trưởng thành, hầu như chúng cũng dễ dàng đi theo con đường mà cha mẹ chúng đã đi. Và cứ thế mà cái nợ đồng lần nối tiếp nhau, tạo nên một tầng lớp rất đặc thù của xã hội Mỹ. Khi kinh tế suy thóai, những phúc lợi xã hội bị cắt giảm, ngừơi ta mới có dịp nhận ra rằng bên lề xã hội (Mỹ) vẫn có một tầng lớp cần sự chú ý hơn của mọi người để kéo họ ra khỏi cái vòng lẩn quẩn &#8220;con sãi ở chùa lại quét lá đa&#8221; ấy.</p>
<p>(3)Gần 20 năm trước, vợ chồng tôi đến Mỹ với hai bàn tay rất trắng và số tuổi không còn trẻ lắm. Những năm khởi nghiệp, tôi vừa đi học vừa đi làm nhà hàng buổi tối. Khi tốt nghiệp rồi, không tìm được việc làm (đúng lúc kinh tế Mỹ ở vào giai đọan suy thóai định kỳ), công việc làm ở nhà hàng vẫn là thu nhập chính cho một gia đình với đứa con mới đẻ. Trong hòan cảnh ấy, chúng tôi vẫn vui với sự &#8220;thiếu thốn&#8221;. Nói thiếu thốn là so với tiêu chuẩn một gia đình trung lưu Mỹ, nhưng lại là &#8220;đầy đủ, khá gỉa&#8221; so với cuộc sống ở Việt Nam mới chỉ vài năm trước đó của chúng tôi. Chỉ khi đi định cư xứ người, chúng tôi mới được ở chung một mái nhà dù hôn thú đã làm từ mấy năm trước. Đó là lý do lớn nhất làm chúng tôi thỏa mãn với hiện tại. Nhờ nước Mỹ, chúng tôi mới có cơ hội lập một mái gia đình, sinh con đẻ cái và nuôi dưỡng chúng nên người.</p>
<p>(4) Hãy nghe câu chuyện của một người vượt biên đến Mỹ từ năm 19 tuổi với 4 đứa em còn nhỏ dại <em>&#8220;</em><em>Tôi chỉ 19 tuổi khi tới Mỹ, cùng với 4 đứa em nhỏ. Lúc đó tôi thấy bơ vơ, lo lắng lắm, không biết làm sao sống. Cũng may, chúng tôi nhờ tằn tiện nên phần trợ cấp tối thiểu của chính phủ cho chị em tôi cũng tạm đủ sống.<br />
</em><em>Không người thân, nhưng có một nhà thờ tình nguyện giúp đỡ, hướng dẫn, giới thiệu việc làm thêm&#8230; Tóm lại họ rất tận tình, dù chúng tôi không có đạo, nhưng không hề gì. Họ không có một chút gì thúc ép, việc này tuy nhỏ nhưng làm tôi rất nể phục. Họ giúp chúng tôi một cách vô tư dù tôi biết trong lòng họ cũng mong có một ngày chúng tôi đổi ý, cảm ơn Chúa, mà theo đạo.<br />
</em><em>Tôi đi học sơ qua về kiến thức điện tử trong một năm rồi ra đi làm. Ba đứa em tôi thì học trung học. Một mình tôi đi làm lương tối thiểu, nhờ làm thêm giờ, tiền kiếm được vẫn đủ nuôi ba đứa em. Cứ sau ba tháng tôi còn dành dụm được ít tiền gửi về giúp ba mẹ cùng 4 đứa em nhỏ khác (tôi có tất cả 8 chị em).<br />
</em><em>Nhiều khi cô đơn với cuộc sống tha hương trên xứ lạ, nhưng nghĩ tới trách nhiệm nặng nề của mình với gia đình, tôi &#8211; đứa con gái ở lứa tuổi 20, thấy mình mạnh mẽ đứng thẳng người, nhìn về tương lai phía trước.<br />
</em><em>Thấm thoát các em tôi đều lên đại học. Vì là con bà phước, nghĩa là mồ côi không cha mẹ bên cạnh, nên các em tôi đều được học bổng toàn phần của chính phủ, từ tiền trường, sách vở đến mỗi tháng dôi ra vài trăm cho chi phí ăn ở. Nhờ vậy sau bốn năm học tập, các em tôi đều có bằng kỹ sư ra đi làm, lương cao, nghề nghiệp ổn định.<br />
</em><em>Riêng bản thân tôi dù không như các em tốt nghiệp đại học, nhưng với bản chất thông minh, lanh lợi thêm tính siêng năng, chịu khó, nên đi làm được chủ rất thương mến, xếp cho tôi lên chức leader một nhóm 6 người. Ba năm sau tôi được thăng chức supervisor cả nhóm 15 người. Đương nhiên lương cũng theo đó tăng cao, số tiền tôi gửi về giúp gia đình, bà con ở Việt Nam ngày càng nhiều.</em><em> . . &#8221; ( Trích từ báo VNEXpress ở trong nước ).</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2011</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/n%c6%b0%e1%bb%9bc-m%e1%bb%b9-c-cn-l-m%e1%ba%a3nh-d%e1%ba%a5t-c%e1%bb%a7a-nh%e1%bb%afng-c%c6%a1-h%e1%bb%99i/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Cao Xu&#226;n Huy &#8211; Người ở lại Thuận An</title>
		<link>https://t-van.net/cao-xun-huy-ng%c6%b0%e1%bb%9di-%e1%bb%9f-l%e1%ba%a1i-thu%e1%ba%adn-an/</link>
					<comments>https://t-van.net/cao-xun-huy-ng%c6%b0%e1%bb%9di-%e1%bb%9f-l%e1%ba%a1i-thu%e1%ba%adn-an/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Đỗ Xuân Tê]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 20 Jan 2011 15:22:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[cao xuân huy]]></category>
		<category><![CDATA[con người]]></category>
		<category><![CDATA[sự kiện]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/testsite/wordpress/?p=2060</guid>

					<description><![CDATA[* Trân trọng giới thiệu cây bút Đỗ Xuân Tê và bài viết – có lẽ cuối cùng – về nhà văn người lính Cao Xuân Huy, sau khi thân xác bọt bèo của nhà văn đã tan trong biển lửa, chỉ còn lại chút tro tàn nằm ở một nơi bình yên nhất , [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h6><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/01/kentruydieu2.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-2061" title="kentruydieu2" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/01/kentruydieu2.jpg?strip=all" alt="" width="301" height="365" srcset="https://cdn.t-van.net/2011/01/kentruydieu2-247x300.jpg 247w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/01/kentruydieu2.jpg?strip=all 301w" sizes="(max-width: 301px) 100vw, 301px" /></a></h6>
<p><em>* Trân trọng giới thiệu cây bút Đỗ Xuân Tê và bài viết – có lẽ cuối cùng – về nhà văn người lính Cao Xuân Huy, sau khi thân xác bọt bèo của nhà văn đã tan trong biển lửa, chỉ còn lại chút tro tàn nằm ở một nơi bình yên nhất , dù rằng hương hồn ông vẫn mãi mãi ở lại Thuận An, cùng với những đồng đội quả cảm năm nào. T.Vấn</em></p>
<p><em><br />
</em></p>
<p><strong><span style="font-size: large;">Hồi kèn truy điệu cho Người ở lại Thuận An</span></strong></p>
<p><a href="http://damau.org/archives/author/doxuante/">Đỗ Xuân Tê</a></p>
<p>Cao xuân Huy đã trở về cát bụi. Thân xác ông đã được hỏa thiêu sau một tang lễ vừa trang nghiêm theo nghi lễ quân cách vừa thân mật đơn giản như một cuộc chia tay trong đó có đông đủ thân nhân, đồng đội, bạn bè, bạn văn, bạn làm báo và độc giả của ông.</p>
<p><img decoding="async" title="More..." src="https://t-van.net/wordpress/wp-includes/js/tinymce/plugins/wordpress/img/trans.gif" alt="" /></p>
<p>Hiếm thấy một người vướng vào nghiệp văn bút, báo bổ tại một vùng đất vốn được đồng hương gọi đùa là &#8216;gió tanh mưa máu&#8217;, nhưng lại được quí mến gần gũi tâm đắc, rồi đến lúc đau yếu nhắm mắt xuôi tay lại được nhiều người nhiều giới chia buồn phúng điếu đưa tiễn bằng lời nói bằng bài viết trên các phương tiện truyền thông hải ngoại tựu chung tỏ lòng thương tiếc sâu sắc một con người mà hồi sinh thời rất can trường trong chiến đấu, nghiêm túc trong công việc nhưng lại &#8216;hết mình&#8217; trong cuộc chơi với những người vốn biết và giao lưu với ông.</p>
<p>Cuộc đời Cao xuân Huy mà người ta quen gọi là &#8216;ông Gẫy Súng&#8217; cũng khá lạ kỳ. Nhờ vào lính mà sau này mới trở thành nhà văn, rồi từ tác phẩm đầu tay <em>Tháng Ba Gẫy Súng</em> người ta mới biết ông qua danh xưng &#8216;nhà văn&#8217; hơn là …&#8217;nhà binh&#8217;. Với ai khác được gọi là nhà văn chắc phải hãnh diện về thiên chức của nó, nhưng oái oăm thay ông vẫn không chịu nhận mình là nhà văn và cứ xin coi ông là &#8216;người lính&#8217;, môt người lính quay sang cầm bút sau khi gẫy súng để tường thuật những sự việc do chính ông trải nghiệm, đặc biệt ở thời điểm cuối cùng của cuộc chiến. Bằng ngòi bút ông viết lại một cách trung thực như những gì nó đã xảy ra, không hư cấu không vẽ vời không tô hồng không đánh bóng. Khi một người lính nói sự thật theo bản chất &#8216;nói thẳng như lính&#8217; thậm chí kèm theo cả ngôn ngữ chửi thề, thì những điều ông kể ra cùng với tài viết văn tiềm ẩn tự phát chẳng ai dạy nhưng trời cho đã được người ta nhanh chóng tin ông và chấp nhận ông để từ đây giới văn bút coi ông là nhà văn, độc giả gọi ông là nhà văn, dù sau này có nghiêng về làm báo và hai mươi lăm năm sau mới ra một đầu sách mới, nhưng chỉ một <em>Tháng Ba Gẫy Súng </em>tên tuổi ông đã thành danh và &#8216;lừng lững&#8217; đi vào dòng văn học sử hải ngoại như một bạn văn ca ngợi mới đây.</p>
<p>Những gì về sự nghiệp văn bút và chủ biên văn học của Cao xuân Huy đã và sẽ còn được nhiều người viết và nhắc nhớ. <em>Tháng Ba Gẫy Súng</em> sẽ được đánh giá như một tập hồi ký sử thi chứng nhân cho ngày tàn của cuộc chiến, nó sẽ được độc giả trân trọng như <em>Mùa Hè Đỏ Lửa </em>của Phan Nhật Nam và một số bút ký chiến tranh nổi bật của số ít tác giả miền Nam, thậm chí kể cả <em>Nỗi Buồn Chiến tranh</em> của Bảo Ninh nếu không ngại phân biệt về mặt quan điểm.</p>
<p>Ở đây người viết chỉ để ý một khía cạnh là không hiểu vì sao mà Cao xuân Huy cứ trăn trở chuyện xin coi ông là người lính thay vì nhà văn. Tất nhiên có những nguyên ủy của nó, mà dễ hiểu nhất thì vẫn tại vì bản thân ông…là lính! Hãy nghe ông tự sự từ đáy lòng mình về tình yêu của ông với đời quân ngũ,</p>
<p>&#8220;<em>tôi yêu đơn vị tôi, tôi yêu màu mũ, màu áo tôi, tôi yêu thuộc cấp tôi và tôi kính trọng thượng cấp tôi. Tôi bình thản chấp nhận mọi thói hư tật xấu của thượng cấp và thuộc cấp, và chính tôi cũng có quá nhiều thói hư tật xấu.&#8221;</em></p>
<p>Đơn vị ông là Tiểu đoàn 4 Thủy Quân Lục Chiến, màu mũ là màu xanh của binh chủng, màu áo là màu rằn ri tựa như dấu in cọp biển, thuộc cấp là lính thuộc đại đội ông khoảng trên dưới một trăm, thượng cấp thì quá nhiều vì cấp bậc của ông chỉ là trung úy đại đội phó. Dù thượng cấp hay thuộc cấp ông vẫn yêu họ như chính mình, dù ai xấu ai tốt thì ông cũng chẳng hơn ai và chẳng dám đoán xét ai. Vào lính ở tuổi hai mươi trong một đợt tuyển quân cao điểm hồi Mậu Thân 68, trải qua các chiến trường từ Cà mâu đến miền giới tuyến, cuối cùng trụ lại làm anh lính gác giặc theo tuyến phòng thủ bảo vệ cố đô sau Hiệp định Paris trải dài từ sông Thạch Hãn qua Phá Tam giang xuống tận Thuận an và gẫy súng tại đây sau một cuộc rút quân hỗn lọan.</p>
<p>Trở lại chuyện của ông quả ít ai có tâm hồn luôn thiết tha với màu cờ sắc áo, sau khi gẫy súng bị bắt làm tù binh ông vẫn mặc đồ trận, người ta cũng chẳng cấp bộ đồ tù chỉ yêu cầu cởi bỏ lon lá, sau này ra hải ngoại có dịp ông vẫn mặc quân phục, vẫn đeo huy hiệu của binh chủng mình, nhưng chỉ mang bảng tên trên ngực ghi <strong>HUY 4</strong>, có nghĩa là tên &amp; đơn vị của ông, đến khi vào quan tài thì cũng được liệm nguyên bộ đồ này. Con số 4 luôn theo chân ông, ông sống chết với nó suốt bảy năm quân ngũ, một đơn vị tác chiến cấp tiểu đoàn nhưng đã lừng danh bốn vùng chiến thuật, chính đơn vị này là đơn vị đầu tiên đã chạm trán quân chính qui Bắc Việt tại chiến trường Bình Giả miền Đông năm 1964, mở đầu cho cuộc thư hùng của những trận đánh lớn sau này. Cũng đơn vị ông trở thành mũi nhọn trong trận tái chiếm Cổ thành mùa hè 72 khiến đội quân đối nghịch khi rút về bên kia sông Thạch Hãn lúc đi đủ chục lúc về còn ba. Nói vậy chứ tổn thất trả giá cho những lần quyết tử cũng là những con số chóng mặt, chính tôi đã mục kích khăn sô trắng đầu các cô nhi quả phụ trong trại gia binh cạnh hậu cứ tiểu đoàn của ông tại Vũng Tàu để thấy cái khắc nghiệt của chiến tranh và sự hy sinh cao độ của các đồng đội của ông suốt chiều dài cuộc chiến. Tôi thiết nghĩ chính vì cứ trăn trở bởi những hình ảnh này mà Trung úy Huy người may mắn sống sót sau những trận để đời đã không ngoảnh mặt quên đi quá trình chiến đấu để nhận những phong vị khác xem ra cao trọng hơn cho tên tuổi của mình.</p>
<p>Dù gẫy súng ông vẫn chết với tư cách một người lính, xứng đáng được đồng đội phủ cờ hôm tang lễ vừa qua vì thực chất ông không thuộc diện đầu hàng buông súng. Ông bị gẫy súng trong tư thế đang chiến đấu và chịu làm tù binh khi các cấp chỉ huy của ông không thể xoay chuyển được chiến trường. Ông trở thành một trong những &#8216;người ở lại Thuận An&#8217; và trở thành chứng nhân cho bi kịch thời đại của một cuộc rút quân Waterloo thu nhỏ tại cửa biển oan nghiệt này vào một ngày tháng ba, &#8216;tháng ba gẫy súng&#8217;, dự báo cho một &#8216;tháng tư tan hàng&#8217;, xóa sổ tức tưởi một đạo quân được coi là chiến đấu rất can trường trong quân sử Việt.</p>
<p>Cửa biển Thuận an, một địa danh không xa lạ gì với người dân xứ Huế,<em> </em>và anh em chúng tôi khi được lệnh tăng phái từ Phủ đầu Rồng để bảo vệ cố đô, nhưng không ngờ vào thời điểm sắp tàn cuộc chiến thì Thuận an trở thành chứng tích của những cái chết vô nghĩa trong thảm cảnh gẫy súng nửa đường. Biển Thuận an trăng sáng thuở nào vẫn mang vị mặn nhưng không phải của muối, biển mặn vì máu. Máu của những người lính trẻ đã chết oan vì các tư lệnh của họ đã bỏ cuộc, đã bỏ chạy trước khiến họ phải chân đất chạy ra cửa Thuận an, con đường độc đạo ra biển để chờ tàu xuôi Nam, trốn chạy những người anh em cùng màu da nhưng khác máu từ phương Bắc đang rượt đuổi theo họ. Nhiều kiểu chết nhiều cách chết, vừa tự xử bằng lưỡi lê, lựu đạn, vừa trúng thương bằng tăng bằng súng của đối phương, vừa bỏ thây vì sóng cao biển rộng nhưng phải đọc tác phẩm của Cao xuân Huy mới cảm nhận sâu sắc tấn bi kịch &#8216;mang con bỏ chợ&#8217; của những lãnh đạo miền Nam và nét hào hùng của những người lính quyết tử theo màu cờ sắc áo.</p>
<p>Khốn khổ thay cho những người lính về từ địa ngục sau khi kẹt lại Thuận an lại bị dồn vào các trại tù cải tạo chờ đợi biến cố họ không mong vào cuối tháng tư rồi sống tiếp trong cảnh &#8216;đáy địa ngục&#8217; sau 75, trong đó có người lính Cao xuân Huy.</p>
<p>Cao xuân Huy, người ở lại Thuận an. Nhờ &#8216;Ông Gẫy Súng&#8217; mà người ta mới thấy hết nét bi thương của những ngày tháng Ba, nhờ ông mà những đồng đội nằm lại vĩnh viễn trên cửa Thuận an mới có cơ hội &#8216;lên tiếng&#8217;. Chúng tôi trân trọng ông về điều này và xin vinh danh ông với tư cách nhà văn song hành với danh xưng người lính. Xin ông cứ nhận ông là nhà văn vì chính ông là một nhà văn đích thực, một nhân chứng chỉ biết nói sự thật, và sự thật thì sống mãi ngàn thu.</p>
<p><em>Đỗ xuân Tê</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em>©T.Vấn 2011</em></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/cao-xun-huy-ng%c6%b0%e1%bb%9di-%e1%bb%9f-l%e1%ba%a1i-thu%e1%ba%adn-an/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>T.Vấn: Nh&#226;n ng&#224;y lễ Tạ Ơn</title>
		<link>https://t-van.net/nhn-ngy-l%e1%bb%85-t%e1%ba%a1-%c6%a1n/</link>
					<comments>https://t-van.net/nhn-ngy-l%e1%bb%85-t%e1%ba%a1-%c6%a1n/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[T.Vấn]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 25 Nov 2010 05:49:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[con người]]></category>
		<category><![CDATA[lễ tạ ơn]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/testsite/wordpress/?p=1754</guid>

					<description><![CDATA[“ tạ ơn trên người vẫn thương người . . . “ (Trầm Tử Thiêng) Duy trì một thái độ luôn trân trọng và biết ơn đến đời sống rất có ích cho sức khỏe. Đó là kết luận tạm thời của một nhóm nhà nghiên cứu, vốn tin tưởng rằng, biểu lộ lòng biết [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h6></h6>
<p><em>“ tạ ơn trên người vẫn thương người . . . “</em></p>
<p><em>(Trầm Tử Thiêng)</em></p>
<p>Duy trì một thái độ luôn trân trọng và biết ơn đến đời sống rất có ích cho sức khỏe. Đó là kết luận tạm thời của một nhóm nhà nghiên cứu, vốn tin tưởng rằng, biểu lộ lòng biết ơn là một trong những cách thức hữu hiệu để yêu đời, sống lạc quan và nâng đỡ mình trong những lúc gặp cơn họan nạn.</p>
<p>Ngày nay, nghiên cứu sâu rộng về cảm thức biết ơn đang trở thành một lãnh vực thu hút sự chú ý của nhiều nhà tâm lý học, vì những tác động rõ rệt của cảm thức biết ơn đến thái độ sống của một con người. Nó giúp người ta sống yêu đời hơn.</p>
<p>Tuy nhiên, có một điểm cần chú ý. Người ta cần nói tiếng cám ơn hơn một lần trong năm. Chỉ biết biểu lộ sự biết ơn vào dịp lễ Tạ Ơn hằng năm thôi, thì cũng chẳng có tác dụng gì tốt đẹp hơn.</p>
<p>Giáo sư Sonja Lyubomirsky thuộc trường đại học California (UC) cho rằng “<em>nếu bạn không thực hành nó thường xuyên thì sẽ chẳng được ích lợi gì. Giống như bạn chỉ đến Gym một lần trong năm, bạn sẽ được gì khi làm chuyện đó?&#8221;</em></p>
<p>Nhà tâm lý học David DeSteno của Northeastern University, trong một công trình nghiên cứu được tài trợ bởi National Science Foundation, phát hiện ra rằng “<em>lòng biết ơn hướng con người đến những hành vi đạo đức hoặc ít vị kỷ hơn. Và nó củng cố mối quan hệ mật thiết với xã hội, vốn là yếu tố nền tảng cho sự phát triển cả về vật lý lẫn tâm lý của con người.”</em></p>
<p>Robert Emmons, giáo sư tâm lý học của UC tin rằng, những người luôn tỏ lòng biết ơn thường ít có tính ganh tị và ít khi ân hận. Họ ngủ lâu hơn, tập thể dục nhiều hơn và áp suất máu hạ thấp.</p>
<p>Brenda Shoshana, một nhà tâm lý học ở New York, đồng ý. “B<em>ạn không thể nào mắc bệnh trầm cảm và tỏ ra biết ơn</em> <em>cùng một lúc. Lòng biết ơn làm cho một người trở nên khỏe mạnh về thể xác lẫn tinh thần”.</em></p>
<p>Vì thế, vào ngày thứ năm cuối cùng của tháng Mười Một sắp tới đây, rất nhiều gia đình sẽ tụ họp nhau lại dưới một mái ấm quen thuộc, và ngồi quây quần chung quanh bàn tiệc, tay nắm tay, hân hoan đốt ngọn nến lòng mang tên Tạ Ơn.</p>
<p>Chúng ta tạ ơn Ơn Trên, tạ ơn đời, tạ ơn bằng hữu nhân lọai, tạ ơn cha mẹ anh em, tạ ơn chồng vợ con cái, tạ ơn hết thảy những con người, những vật thể đem đến niềm vui, sức khỏe và sự no đủ cho chúng ta.</p>
<p>Và không chỉ biết tạ ơn một lần trong năm, nhân dịp lễ Tạ Ơn. Và cũng không phải chỉ tạ ơn những người đã từng giúp đỡ chúng ta khi họan nạn. Cảm thức biết ơn còn hiện diện cả những khi chúng ta chìa tay cho người khác nắm lấy, đứng dậy.</p>
<p>Hôm trước, tôi nhận được một DVD do Hội Bạn Người Cùi ở Hoa Kỳ gởi biếu. Những hình ảnh người cùi đau khổ ở quê nhà đã khiến tôi ý thức hơn bao giờ hết sự may mắn của mình và gia đình. Hình như, chỉ khi chứng kiến sự đau khổ của người khác, người ta mới biết trân trọng những gì mình đang có, dù những gì đang có không phải là những thứ làm người thụ hưởng vui lòng. Từ sự trân trọng những thứ đang có trong hiện tại, nẩy sinh ra cảm thức biết ơn nơi tâm hồn con người.</p>
<p>Nhưng chỉ cảm thức biết ơn thôi, tôi nghĩ rằng vẫn chưa đủ.</p>
<p>Nhiều người đã biến cảm thức biết ơn thành hành động cụ thể. Thí dụ như hội bạn người cùi.</p>
<p>Trong suốt cuốn DVD, những người cùi kém may mắn không ngớt lời cám ơn những ân nhân đã góp công, góp của để giúp đỡ họ có tiền chạy chữa thuốc men, có miếng ăn dù đạm bạc hàng ngày vì họ không thể đi làm, có được nơi chốn trú thân tránh mưa tránh nắng, kể cả việc giúp đỡ con cái họ ăn học thành tài. Những người thụ nhận sự giúp đỡ ấy, không biết rằng, những người cho cũng cần phải lên tiếng cám ơn những người nhận. Vì, thế gian này có những người đau khổ, những người cần được giúp đỡ, nên những kẻ may mắn hơn mới có cơ hội chứng tỏ lòng biết ơn của mình, có cơ hội sống như một con người không quay lưng lại trước nỗi đau của đồng lọai. Và nhờ vậy, tâm hồn họ được bình an.</p>
<p>Nhìn khuôn mặt ràn rụa nước mắt của những người bệnh, tôi thấy niềm vui ánh lên trên những vết nứt của da thịt. Cái niềm vui của cảm giác được quan tâm chăm sóc, vì từ bao lâu nay họ sống trong sự hắt hủi, xa lánh của mọi người, kể cả những người thân ruột thịt. Những người trưởng thành từ Việt nam hẳn đã có cơ hội nhìn thấy người mắc bệnh cùi bằng xương bằng thịt lê la trên những nẻo đường bụi bậm để ăn mày lòng thương xót của những kẻ may mắn hơn. Và hẳn cũng đã kinh nghiệm cái cảm giác “sờ sợ&#8221; khi đến gần họ, dù chỉ là để bỏ vào trong chiếc ca ăn mày đồng bạc nhỏ nhoi chắt chiu dành dụm. Nay nhìn thấy tận mắt những người lành lặn hy sinh thì giờ, tiền bạc đến chăm sóc giúp đỡ những người bệnh, mới thấy xã hội độc ác biết là chừng nào. Dù cùi hủi, họ cũng vẫn là những con người cần đến tình thương yêu của đồng lọai. Ngòai những giúp đỡ to lớn về vật chất, trong ý nghĩa là bạn những người cùi, hội Bạn những người cùi ở Hoa Kỳ đã đáp ứng được nhu cầu sâu thẳm nhất của những kẻ kém may mắn ấy. <em>Một bàn tay lành lặn chìa ra nắm lấy bàn tay lở lói, cụt ngón cụt móng, không e dè, không “sờ sợ&#8221;</em>. Cử chỉ ấy lớn lao hơn rất nhiều những đồng bạc từ thiện, nhất là đối với những người bệnh bị cách ly với xã hội như những người cùi. Những người khởi xướng nên hội bạn những người cùi không phải là những vị tu hành, xuất gia nguyện đem cuộc đời phục vụ nhân lọai. Họ là những con người bình thường trong xã hội. 16 năm trước đây, 1994, chỉ với một cuốn DVD gởi đến từ một vị linh mục ở Việt Nam, họ nhìn thấy “<em>người bệnh nhân phong hai tay đã bị cụt hết rồi, họ phải lấy dây thun cột phần cẳng tay còn lại vào cán cuốc để cuốc đất trồng khoai, trồng ngô. Nhìn hình ảnh đó, nước mắt chúng tôi cứ tràn ra, vì thấy họ sao khổ quá. Chúng tôi nghĩ ngay là mình phải giúp cho họ một cái gì đây, một cái máy cày chẳng hạn, thì họ sẽ không còn phải khổ cực như vậy. Thế là anh em chúng tôi cùng nhau tổ chức bán “garage sale,” nấu cơm bán sau buổi Thánh Lễ chiều Thứ Bảy, mời bà con mua. Lần đầu tiên đó chúng tôi đã thu được gần $8,000. Gia đình một anh chị trong ban tổ chức đã mang số tiền đó về trại phong Cam Tân, gặp đức cha ở đó, để trao số tiền. Họ dùng tiền đó để mua một cái máy cày mới tinh. Hiện giờ chiếc máy cày đó vẫn còn hoạt động . . . “ ( *)</em></p>
<p>Từ số tiền $8,000 ở buổi quyên góp đầu tiên, cách đây 16 năm, đến nay Hội Bạn Người Cùi đã không ngừng tạo được niềm tin và sự tín nhiệm nơi ân nhân, để số tiền ủng hộ mỗi năm cứ tăng lên, tăng lên, có khi lên đến $700,000, để hội có thể bảo trợ cho gần 5,000 bệnh nhân phong cùi ở khắp Việt Nam.</p>
<p><em><strong>Ban tổ chức Hội Bạn Người Cùi trong đêm đại nhạc hội “Tạ Ơn Trên Người Vẫn Thương Người” lần thứ 16, nhằm gây quỹ giúp đỡ bệnh nhân phong cùi ở Việt Nam. </strong></em></p>
<p>Tôi tin rằng những người trong hội bạn người cùi Hoa Kỳ và hơn 8 ngàn người khác từ 16 năm nay vẫn kiên trì đóng góp phần của mình trong việc giúp đỡ những con người khốn khổ nhất xã hội là những người biết bầy tỏ lòng biết ơn của mình với Thượng Đế một cách thiết thực nhất, cụ thể nhất. Câu ca dao cũ càng nghe càng thấm thía. <em>Dù xây chín bậc phù đồ. Không bằng làm phúc giúp cho một người.</em></p>
<p>Và tôi cũng tin rằng, mình sẽ cảm thấy bình an hơn nữa, nếu như làm được những điều sau đây:</p>
<p><em>Hãy biết ơn ai đó đã làm ta tổn thương, vì nhờ họ ta trở nên cứng rắn hơn.</em></p>
<p><em>Hãy biết ơn ai đã lừa dối ta, vì nhờ họ ta nhìn đời bằng con mắt từng trải hơn.</em></p>
<p><em>Hãy biết ơn ai đã đánh ta đau, vì nhờ họ ta ít gây ra nhiều nghiệp chướng.</em></p>
<p><em>Hãy biết ơn ai đã ruồng bỏ ta, vì nhờ họ ta biết làm sao để đứng vững một mình.</em></p>
<p><em>Hãy biết ơn ai đã làm ta vấp ngã, vì nhờ họ mà ta vững bước hơn trên đường đời.</em></p>
<p><em>Hãy biết ơn ai đã làm ta nhục nhã, vì nhờ họ mà ta khôn ngoan và biết chịu đựng hơn.</em></p>
<p><em>(Tác giả : unknown)</em></p>
<p>T.Vấn</p>
<p>Lễ Tạ Ơn 2010</p>
<p><em> © T.Vấn 2010</em></p>
<p><em>________________________________-</em></p>
<p><em>*Trích bài phỏng vấn Hội Bạn Người Cùi của nhật báo Người Việt tháng 6 năm 2010 : <a href="http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=114106">“ Hội Bạn Người Cùi’: ‘Quyên tiền khó, sử dụng đồng tiền còn khó hơn’ “.</a></em></p>
<p><em>Hội Bạn Người Cùi Hoa Kỳ có địa chỉ như sau : </em></p>
<p><em><strong>Hội Bạn Người Cùi</strong></em></p>
<p><em><strong>P.O. Box 1408</strong></em></p>
<p><em><strong>Tustin, CA 92781</strong></em></p>
<p><em><strong>www.nguoicui.org</strong></em></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/nhn-ngy-l%e1%bb%85-t%e1%ba%a1-%c6%a1n/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>T.Vấn: Nh&#226;n giải thưởng Nobel về H&#242;a B&#236;nh năm 2010</title>
		<link>https://t-van.net/nhn-gi%e1%ba%a3i-th%c6%b0%e1%bb%9fng-nobel-v%e1%bb%81-ha-bnh-nam-2010/</link>
					<comments>https://t-van.net/nhn-gi%e1%ba%a3i-th%c6%b0%e1%bb%9fng-nobel-v%e1%bb%81-ha-bnh-nam-2010/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[T.Vấn]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 08 Oct 2010 17:03:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[con người]]></category>
		<category><![CDATA[sự kiện]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/testsite/wordpress/?p=1619</guid>

					<description><![CDATA[Ngày 8 tháng 10 năm 2010, Ủy ban giải thưởng Nobel của Na-Uy đã công bố tên người được nhận giải Nobel về Hòa Bình năm 2010: nhà họat động ly khai người Trung quốc Lưu Hiểu Ba (Liu Xiaobo), 54 tuổi, vì &#8220;những nỗ lực bất bạo động và bền bỉ nhằm tranh đấu [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h6><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2010/10/clip_image0012.jpg?strip=all&fit=226%2C170"><img loading="lazy" decoding="async" class="alignnone size-full wp-image-1620" title="clip_image0012" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2010/10/clip_image0012.jpg?strip=all&fit=226%2C170" alt="" width="226" height="170" /></a></h6>
<p>Ngày 8 tháng 10 năm 2010, Ủy ban giải thưởng Nobel của Na-Uy đã công bố tên người được nhận giải Nobel về Hòa Bình năm 2010: nhà họat động ly khai người Trung quốc Lưu Hiểu Ba (Liu Xiaobo), 54 tuổi, vì &#8220;<em>những nỗ lực bất bạo động và bền bỉ nhằm tranh đấu cho những quyền cơ bản nhất của con người ở Trung quốc&#8221;</em>, quê hương của ông.</p>
<p>Ông Lưu Hiểu Ba là ai? Như những trường hợp tương tự ở Việt Nam, Cuba, Trung quốc, tên của những nhà họat động dân chủ, nhân quyền tuy quen thuộc với thế giới nhưng lại khá xa lạ với chính những người dân ở trong nước, những người mà vì chính quyền lợi thiết thân của họ mà những nhà họat động nhân quyền liều mình tranh đấu. (*)</p>
<p><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image002117.jpg?strip=all&fit=189%2C240"><img loading="lazy" decoding="async" class="alignnone size-full wp-image-1615" title="clip_image002.jpg" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image002117.jpg?strip=all&fit=189%2C240" alt="" width="189" height="240" /></a></p>
<p><em><strong>Ông Lưu Hiểu Ba</strong> </em></p>
<p>Ở Trung quốc, ít người biết ông Lưu Hiểu Ba là ai. Nếu có biết, thì qua bộ máy tuyên truyền và báo chí kiểm duyệt ở trong nước, thì ông Lưu Hiểu Ba là một tội phạm phá họai sự an ninh phúc lợi của nhà nước và nhân dân Trung quốc, hiện đang đền tội với bản án 11 năm tù ở.</p>
<p>Nhưng cộng đồng những người yêu chuộng dân chủ rộng rãi trên thế giới và ủy ban xét giải thưởng Hòa Bình Nobel thì không xa lạ gì với cái tên Lưu Hiểu Ba.</p>
<p>Ông là một nhà văn, học gỉa được mời thỉnh giảng ở nhiều trường đại học trên thế giới, trong đó có đại học Columbia ở New York (Hoa Kỳ), trường đại học Oslo của Na-Uy (Norway).</p>
<p>Là con của một người lính hồng quân, ông thuộc thành phần sinh viên đại học những năm 1970s, tương đối ổn định sau những năm tháng xã hội Trung quốc hỗn lọan vì cuộc cách mạng văn hóa đẫm máu. Năm 1998, lần đầu tiên ông được đi nước ngòai, nhận thỉnh giảng tại đại học Oslo, Na-Uy. Cũng chính từ đây, tầm mắt ông được mở rộng. Mấy tháng sau, trong lúc đang thỉnh giảng ở trường đại học Columbia, New York, cuộc phản kháng Thiên An Môn của sinh viên Bắc Kinh bùng nổ, ông cắt ngang công việc và lên đường về nước để tham gia cuộc phản kháng này. Tại đây, cùng với những nhà họat động tương đối lớn tuổi khác, ông đã thuyết phục sinh viên hãy trở về nhà trước khi cuộc tàn sát đẫm máu những người biểu tình ngày 4 tháng 6 năm 1989 của nhà cầm quyền Trung quốc.</p>
<p>Sau cuộc bạo động Thiên An Môn, với tư cách là một trong những kẻ chủ chốt khích động sinh viên, ông bị án tù, nhưng được thả ra vào đầu năm 1991 vì, theo các cơ quan truyền thông chính phủ, ông đã &#8220;<em>ăn năn hối cải và có những đóng góp đáng khen thưởng</em>&#8220;.</p>
<p>Tuy nhiên, chỉ 5 năm sau đó, 1996, ông đã bị đi học tập cải tạo trong 3 năm vì đã góp phần sọan thảo một lá thư ngỏ yêu cầu truất phế viên chủ tịch nước lúc bấy giờ là Giang Trạch Dân.</p>
<p>Năm 2008, ông là đồng tác giả bản Hiến Chương 08, đòi hỏi dân chủ, nhân quyền, tự do ngôn luận, tự do hội họp cho nhân dân Trung Quốc bằng những biện pháp hòa bình và bất bạo động, tương tự như bản Hiến Chương 07 ở Tiệp Khắc năm 1989 đã dẫn tới cuộc cách mạng nhung quét sạch nhà cầm quyền cộng sản ở nước này. Ngày 8 tháng 12 năm 2008, chỉ vài giờ trước khi bản Hiến Chương 08 được công bố, công an đã bắt giữ Lưu Hiểu Ba. Với nhà cầm quyền Trung quốc, Hiến Chương 08 là một sự thách đố trực tiếp 60 năm độc quyền lãnh đạo của đảng Cộng sản Trung quốc. Ngày 25 tháng 12 năm 2009, Lưu Hiểu Ba bị kết án 11 năm tù với tội danh phá họai nền an ninh quốc gia.</p>
<p><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image00328.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="alignnone size-medium wp-image-1616" title="clip_image003.jpg" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image00328-300x213.jpg?strip=all" alt="" width="300" height="213" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image00328-300x213.jpg?strip=all 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image00328.jpg?strip=all 439w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></a></p>
<p><em><strong>Những người ủng hộ ông Lưu Hiểu Ba biểu tình đòi nhà cầm quyền thả tự do cho ông</strong></em></p>
<p>Tháng 3 năm 2010, một giáo sư Triết học tại đại học Princeton, Hoa Kỳ, đã đề cử Lưu Hiểu Ba cho giải thưởng Nobel Hòa Bình năm 2010. Trong tổng số 237 ứng cử viên được đề cử nhận giải, một con số kỷ lục kể từ khi giải ra đời, Lưu Hiểu Ba đã chính thức nhận được sự ủng hộ của những người từng được nhận giải thưởng này như Tổng Giám Mục Desmond Tutu của Nam Phi, nhà lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng Đức Đạt lai Lạt Ma và một số người khác.</p>
<p>Đây là lần đầu tiên giải thưởng Nobel Hòa Bình được trao cho một người đang bị cầm tù vì những họat động nhân quyền của mình. Trong quyết định trao giải, Ủy ban Nobel đã nhận xét rằng &#8220;<em>qua việc chịu một bản án trừng phạt nặng nề, Lưu Hiểu Ba đã trở thành một biểu tượng lỗi lạc trong nỗ lực tranh đấu tòan diện cho nhân quyền ở Trung quốc</em>&#8220;.</p>
<p>Ngay từ thời gian nhiều tháng trước khi xét trao giải, Ủy ban Giải thưởng Nobel về hòa bình đã chịu áp lực từ phía nhà cầm quyền Trung quốc về sự lựa chọn của mình, kể cả việc họ sẽ có những quyết định bất lợi trên mặt ngọai giao với Na-Uy. Nhưng dù cho chính phủ Na-Uy có vì &#8220;<em>tình hữu nghị của hai nước</em>&#8221; mà có sự khuyến cáo với ủy ban xét giải, cũng sẽ không có kết quả gì. Ủy ban Nobel thường làm việc độc lập và không một áp lực nào, của chính phủ hay các nhóm họat động chính trị, tôn giáo, có thể ảnh hưởng đến sự lựa chọn của họ.</p>
<p>Vài giờ trước khi chính thức công bố tên người nhận giải, chủ tịch Ủy Ban Nobel Hòa Bình ông Thorbjoern Jagland đã phát biểu trên đài truyền hình địa phương rằng sự lựa chọn năm nay sẽ gây nhiều tranh cãi, và mọi người sẽ hiểu khi tên người nhận giải được chính thức thông báo.</p>
<p>Ngay sau khi Ủy ban Nobel công bố danh tính người nhận giải thưởng Hòa Bình năm 2010, Đức Đạt Lai Lạt ma đã chính thức lên tiếng chúc mừng ông Lưu Hiểu Ba và kêu gọi nhà cầm quyền Trung quốc hãy phóng thích ông Lưu Hiểu Ba cùng với những tù nhân lương tâm khác đã bị giam giữ vì tội thực thi quyền tự do tư tưởng của mình.</p>
<p>Giới cầm quyền Trung quốc phản ứng thật gay gắt. Bộ ngọai giao Trung quốc kết tội ủy ban Nobel Hòa bình đã &#8220;<em>hòan tòan đi ngược lại những nguyên tắc cơ bản của giải thưởng hòa bình, thậm chí còn là hành động báng bổ&#8221; khi trao giải thưởng cho &#8220;một tên tội phạm đã bị kết án bởi luật pháp Trung quốc vì những hành động vi phạm pháp luật&#8221; </em>của y. Họ còn cảnh cáo rằng, quyết định &#8220;<em>sai trái</em>&#8221; của Ủy Ban Nobel về Hòa Bình đã làm thiệt hại nghiêm trọng mối quan hệ song phương giữa Trung quốc và Na-Uy.</p>
<p>Thủ tướng Na-Uy Jens Stoltenberg cho rằng ông không thấy có lý do nào để Trung quốc &#8220;<em>trừng phạt</em>&#8221; Na-Uy với tư cách một quốc gia chỉ vì một giải thưởng. Ông cũng tin rằng, nếu Trung quốc làm như vậy, sẽ tạo nên một hình ảnh rất xấu cho chính mình trước cộng đồng quốc tế. Vả chăng, là một cường quốc, cách cư xử đó là một hành động nhỏ nhen, không xứng đáng với vị trí mà Trung quốc đang có .</p>
<p>Mặt khác, ở Trung quốc, những tin tức liên quan đến kết quả giải thưởng Nobel Hòa Bình đã bị ngăn chặn. Chương trình phát hình của CNN liên quan đến giải Hòa bình Nobel bị xóa. Các trang mạng có nhiều người xem đã bị gỡ đi những phần tin tức, bình luận liên quan đến giải Nobel (dù đó giải về văn chương, về khoa học). Trang Sina Microblog, một trang tương tự như Twitter, tất cả những nội dung nào có chữ &#8220;Xiaobo&#8221; đều bị xóa sạch. Những tin nhắn (messages) qua điện thọai có những chữ &#8221; Liu Xiaobo &#8221; cũng đều không chuyển được.</p>
<p><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image00462.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="alignnone size-medium wp-image-1617" title="clip_image004.jpg" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image00462-300x238.jpg?strip=all" alt="" width="300" height="238" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image00462-300x238.jpg?strip=all 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image00462.jpg?strip=all 435w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></a></p>
<p><em><strong>Bà vợ ông Lưu Hiểu Ba cầm bức ảnh của chồng</strong></em></p>
<p>Vào hôm thứ sáu 8 tháng 10 năm 2010, nhiều giờ sau khi tên người nhận giải được công bố, vợ ông Lưu Hiểu Ba, do bị công an canh chừng, không cho bà tiếp xúc với các phóng viên, nên bà chỉ có thể gởi những tin nhắn qua điện thọai ra bên ngòai với nội dung bà rất sung sướng, và vào ngày thứ bảy 9 tháng 10, bà sẽ đến thăm ông trong nhà tù (cách xa khỏang 300 dặm) để báo cho ông biết tin mừng. Có nghĩa là, trong lúc cả thế giới xôn xao và chúc mừng, thì người nhận giải thưởng Nobel Hòa Bình năm 2010 vẫn chưa biết tin, vì ông không được phép sử dụng điện thọai để liên lạc với bên ngòai.</p>
<p><em>Đó là câu chuyện khó tin, nhưng có thật.</em></p>
<p>Lại nhớ đến giải thưởng Nobel Hòa Bình năm 1973 được trao cho hai cá nhân: Bộ trưởng Ngọai giao Hoa Kỳ Henry Kissinger và Ủy viên bộ chính trị Bắc Việt Nam Lê Đức Thọ vì những &#8220;<em>cố gắng nhằm chính thức chấm dứt cuộc chiến tranh ở Việt Nam&#8221;</em>.</p>
<p>Trước đó, ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định Paris đã được các bên ký kết ở Pháp, theo đó, quân Mỹ sẽ rút tòan bộ về nước và các bên tranh chấp sẽ giải quyết những bất đồng bằng biện pháp hòa bình. Với thế giới, như thế là chiến tranh đã chấm dứt. Hai ông Kissinger và Lê Đức Thọ được trao giải thưởng hòa bình vì hai ông đã nỗ lực để cho hiệp định Paris được ký kết.</p>
<p><em>Ông Kissinger vui vẻ nhận giải, còn Lê Đức Thọ thì từ chối, không chịu nhận</em>.</p>
<p><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image00515.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="alignnone size-medium wp-image-1618" title="clip_image005.jpg" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image00515-226x300.jpg?strip=all" alt="" width="226" height="300" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image00515-226x300.jpg?strip=all 226w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image00515.jpg?strip=all 307w" sizes="(max-width: 226px) 100vw, 226px" /></a></p>
<p><em><strong>Kissinger và Lê Đức Thọ bắt tay chúc mừng nhau </strong></em></p>
<p>Mới đây, hôm thứ tư 29 tháng 9 năm 2010, trong một cuộc hội thảo tại bộ Ngọai giao Hoa Kỳ với đề tài sự dính líu của nước Mỹ ở khu vực Đông Nam Á, ông Kissinger đã thú nhận rằng cái cách mà người Mỹ tiến hành chiến tranh ở Việt Nam đã làm cho người Mỹ xâu xé lẫn nhau. Ông cũng thú nhận rằng, ông đã nhượng bộ phe Cộng sản quá nhiều trong các cuộc hòa đàm, vì bên đối phương quá kiên trì với những đòi hỏi của họ, còn ông thì bằng mọi cách phải kéo nước Mỹ ra khỏi vũng lầy Việt Nam. Ông còn tỏ lòng ngưỡng mộ kẻ đối thủ của ông lúc đó là Lê Đức Thọ, &#8220;<em>đã khéo léo và kiên trì làm tròn những chỉ thị từ cấp trên của mình để vượt trội hơn</em> <em>người Mỹ</em> &#8220;. Theo ông, đó là vì &#8220;<em>Người Mỹ muốn nhượng bộ. Còn Hà Nội thì muốn chiến thắng</em>.&#8221; (America wanted compromise. Hanoi wanted victory.). Khi ký kết hiệp định Paris, ông biết rằng đó không phải là một hiệp định đem lại hòa bình cho khu vực, và rằng nó chỉ làm suy yếu thêm chính quyền miền Nam trong cuộc tranh chấp với kẻ đối thủ phương Bắc mà thôi. Nhưng người Mỹ lúc ấy không còn có sự lựa chọn nào khác.</p>
<p>Giải thưởng Nobel Hòa bình năm 1973 quả là một sự mỉa mai. Kẻ nhận giải là Kissinger biết rõ rằng nỗ lực của mình không mang lại hòa bình, chỉ giúp cho một bên đối đầu sớm ngã gục và bên kia sớm giành thắng lợi trong cuộc chiến. Mục tiêu chính trong những nỗ lực của Kissinger <em>không phải là hòa bình, mà là sự rút lui của người Mỹ.</em></p>
<p>Kẻ từ chối nhận giải biết rõ hơn bất cứ ai rằng, những nỗ lực của mình thay mặt cho đảng Cộng sản và chính phủ của mình, không bao giờ nhằm mục tiêu hòa bình. Vì nếu vì mục tiêu hòa bình, thì họ đã không phát động cuộc chiến tranh đẫm máu kéo dài trong 21 năm khiến hơn 5 triệu người vừa dân vừa lính của cả hai bên thiệt mạng. So với dân số của cả hai miền năm 1975 thì con số đó là hơn 10 phần trăm. Họ chỉ muốn chiến thắng, muốn thâu gồm cả đất nước trong tay để thực thi một thể chế chính trị sai lầm làm chết hàng bao triệu con người, kéo lùi đất nước cả 30 năm. Với người Cộng sản, chỉ có bạo lực mà họ gọi là bạo lực cách mạng. Hòa bình không mang một khái niệm bình thường của hòa bình trong tâm tư người cộng sản. Chính vì thế, họ không thể nhận giải. Họ không muốn ở vào vị thế há miệng mắc quai. Vả chăng, cá nhân Lê Đức Thọ chẳng là gì dưới con mắt của bộ chính trị. Dù Thọ có muốn đứng ra nhận giải, cũng không thể làm điều đó theo ý mình.</p>
<p>Năm 1975, cuộc chiến tranh Việt Nam thực sự chấm dứt. Sự mỉa mai của giải thưởng Nobel Hòa Bình năm 1973 đã lộ rõ. Cả thế giới đã mở mắt để nhìn nhận thực trạng của hòa bình năm 1973 ở Việt Nam. Ông Kissinger có ý định trả lại giải, nhưng ủy ban Nobel Hòa Bình không chịu nhận. Còn Lê Đức Thọ (hay chính phủ Hà Nội) có lẽ mải vui với chiến thắng, nên đã quên đi vòng vương miện hòa bình chỉ mới cách đó 2 năm.</p>
<p>Có lẽ nhà cầm quyền Trung quốc nên nhìn lại sự kiện này để bớt vẻ hung hăng với quyết định trao giải năm nay của Ủy ban Nobel Hòa Bình.</p>
<p><em>Chuyện có gì đâu mà làm ầm ĩ lên như vậy. Năm 1973, giải cứ trao mà kẻ được giải (tuy không nhận nhưng vẫn là kẻ được giải) cứ mạnh tay bóp cổ hòa bình. Còn bây giờ thì mặc cho cái ủy ban rách việc ấy ở Oslo. Trao giải thì cứ trao giải, còn Lưu Hiểu Ba cứ tiếp tục án tù. Làm gì nhau được nào? Hay là chơi một đòn cao tay, thả ông Lưu Hiểu Ba ra, bắt phải đi Oslo mà nhận giải. Nhận xong rồi thì tìm chỗ khác mà ở, chứ cái xứ sở Trung quốc vĩ đại này nhất quyết không mở cửa cho đứa con ngỗ nghịch trở về. Đó là cách xử tử một nhà họat động phản kháng hữu hiệu nhất. Về phương diện này thì giới chức Trung Nam Hải phải học hỏi lũ học trò của mình ở Ba Đình.</em></p>
<p><strong>T.Vấn</strong></p>
<p><strong>8 tháng 10 năm 2010</strong></p>
<p>* Tháng 7 năm 2009, tôi có mặt ở Sài Gòn trong lúc nhà cầm quyền cho lệnh công an bắt giữ sinh viên Nguyễn Tiến Trung, một người tuổi trẻ can đảm đòi hỏi nhà cầm quyền Cộng sản phải tôn trọng các quyền tự do cơ bản của con người. Ngòai Bắc, viên cựu trung tá Trần Anh Kim, một nhà họat động dân chủ,  cũng bị bắt giữ với tội trạng giống như Nguyễn Tiến Trung: &#8220;Về hành vi Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, theo Điều 88 Bộ luật Hình sự&#8221;. Những người tôi quen biết ở Việt Nam, kể cả những người trẻ tuổi, không ai biết Nguyễn Tiến Trung, Trần Anh Kim là ai, trong khi đó, tôi là người sinh sống ở hải ngọai, lại biết khá rõ những tên tuổi này. Họ cầm tờ báo Công an thành phố, có tin và hình về hai cuộc bắt giữ nói trên, dửng dưng như đọc tin về bất cứ tội phạm hình sự nào. Tôi không trách những người dân ở Việt Nam không biết đến những người đang ngày đêm bất chấp hiểm nguy tranh đấu cho quyền làm người của mình, mà chỉ thấy ghê rợn cho sự bưng bít mọi thông tin của chính quyền và sự thỏa hiệp đáng tội nghiệp của những người làm báo lề phải ở Việt Nam. T.Vấn</p>
<p><em><span style="text-decoration: underline;">Tin thêm ghi nhận ngày 5 tháng 11 năm 2010:</span></em></p>
<p><em>Tòa đại sứ Trung Quốc ở Oslo (thủ đô Norway) đã chính thức gởi thư đến các vị đại sứ các quốc gia châu Âu (tọa lạc ở Oslo), yêu cầu họ không tham dự buổi lễ phát giải Nobel Hòa Bình sẽ được tổ chức vào ngày 10 tháng 12 tới đây tại Oslo. Bức thư của Đại sứ Trung Quốc còn yêu cầu các nhà ngọai giao Tây Phương không ra những tuyên bố có nội dung ủng hộ ông Lưu Hiểu Ba, vì theo lập trường &#8220;trước sau như một&#8221; của nhà cầm quyền Trung Quốc, ông Lưu Hiểu Ba là một tội phạm gây rối nền an ninh công cộng trong nước và việc Ủy Ban Nobel quyết định trao giải cho ông này là một hành động can thiệp vào nội tình Trung Quốc. T.Vấn</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong><em>©T.Vấn 2010</em></strong></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/nhn-gi%e1%ba%a3i-th%c6%b0%e1%bb%9fng-nobel-v%e1%bb%81-ha-bnh-nam-2010/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>

<!--
Performance optimized by W3 Total Cache. Learn more: https://www.boldgrid.com/w3-total-cache/?utm_source=w3tc&utm_medium=footer_comment&utm_campaign=free_plugin

Page Caching using Disk: Enhanced 

Served from: t-van.net @ 2026-08-16 22:30:22 by W3 Total Cache
-->