<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Đường về thủy phủ &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<atom:link href="https://t-van.net/tag/duong-ve-thuy-phu/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://t-van.net</link>
	<description>Văn Học và Đời Sống</description>
	<lastBuildDate>Thu, 31 Oct 2024 16:44:08 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.7.5</generator>

<image>
	<url>https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/02/t-van-favicon.png?strip=all&#038;resize=32%2C32</url>
	<title>Đường về thủy phủ &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<link>https://t-van.net</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Doãn Cẩm Liên: Đọc tiểu thuyết “Đường về thủy phủ” của Trịnh Y Thư</title>
		<link>https://t-van.net/doan-cam-lien-doc-tieu-thuyet-duong-ve-thuy-phu-cua-trinh-y-thu/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Tác Giả]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 Nov 2024 06:37:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Giới Thiệu Tác Phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[giới thiệu tác phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[Đường về thủy phủ]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=75282</guid>

					<description><![CDATA[Đọc Trịnh Y Thư là đọc một nghệ thuật viết tiểu thuyết vừa siêu hình vừa hiện thực. Nó thực thực hư hư đầy bất ngờ ở những bước ngoặt tình tiết. Độc giả thoạt thấy câu chuyện là như vầy, nhưng đoạn sau nó lại mở ra một cảnh mới, nhân vật cũ mà [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/10/i3iJXUOJ-image001.jpg?strip=all&w=2560"><img fetchpriority="high" decoding="async" width="552" height="802" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/10/i3iJXUOJ-image001.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-75283" style="width:410px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/10/image001-206x300.jpg 206w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/10/i3iJXUOJ-image001.jpg?strip=all 552w" sizes="(max-width: 552px) 100vw, 552px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Đọc Trịnh Y Thư là đọc một nghệ thuật viết tiểu thuyết vừa siêu hình vừa hiện thực. Nó thực thực hư hư đầy bất ngờ ở những bước ngoặt tình tiết. Độc giả thoạt thấy câu chuyện là như vầy, nhưng đoạn sau nó lại mở ra một cảnh mới, nhân vật cũ mà cảnh thì khác. Lối sắp xếp câu chuyện, dàn cảnh như trong phim trường. Tác giả dẫn dắt khán giả như đang xem một cuốn phim mà nhà đạo diễn đổi cảnh quay, đổi đề tài, đổi tâm tính mà vẫn luôn giữ khán giả ở lại với nhân vật của truyện, của con người Việt Nam trong suốt ba cuộc bể dâu.</p>



<p>Nhà văn Trịnh Y Thư thuộc nền văn học hiện đại, tại hải ngoại kể từ 1975. Nhìn dáng dấp, khuôn mặt, cách nói chuyện của ông, người ta thấy cái “cá tính” của ông hiện lên một cách rõ ràng. Những ai quen biết ông đều thấy cái gì ông đụng vào đều làm nó trở thành siêu! Làm nhân viên ngành điện tử viễn thông, viết văn, chơi classical guitar, sáng tác nhạc, ông đều làm tròn vai trò một cách xuất sắc.</p>



<p><em>Đường về thủy phủ</em> là quyển sách gồm ba truyện vừa. Thoạt tiên độc giả cứ tưởng ba mẩu chuyện <em>Ký ức của loài bò sát, Dưới những gốc nho biển</em> và <em>Đường về thủy phủ</em> với tình tiết của những nhân vật khác nhau, ở những thời điểm khác nhau, chẳng liên hệ gì với nhau. Thế nhưng không! Trịnh Y Thư đã không tiết lộ gì cả ở hai truyện đầu, và chỉ dần mở ra rồi nối kết chúng lại ở truyện vừa thứ ba <em>Đường về thủy phủ</em>. Các nhân vật bác sĩ Mẫn trong <em>Ký ức của loài bò sát</em>, nhân vật “cô” trong <em>Dưới những gốc nho biển</em>, nhân vật “tôi” trong <em>Đường về thủy phủ</em> đều có dây mơ rễ má với nhau.</p>



<p>Đọc Trịnh Y Thư để thấy tính cách, lối suy nghĩ, hành xử của người Việt Nam, tạm đại diện bởi những nhân vật trong truyện của ông, ở ba thời đại. Thời kỳ Pháp thuộc, thời hậu chiến tranh 1975, và thời kỳ lưu vong nơi xứ người. Cả ba thế hệ tuy với số tuổi cách biệt nhau từ 80 năm đến 20 năm tuổi đều có những tình cảm, nỗi niềm, khổ sở, chấn động tâm lý chẳng khác nhau là mấy. Cái hay của tác giả là lịch sử đất nước, con người Việt Nam trải dài từ hậu bán thế kỷ 20 đến đầu thế kỷ 21, tất cả đều rất đúng, đều có thực. Ông đã tiểu thuyết hóa các nhân vật, trong đó là đại diện cho một số người có thật ở từng thời và từng vùng.</p>



<p>Ở <em>Ký ức của loài bò sát</em>, những nhân vật ở độ tuổi thiếu niên niên lớn dần thành những thanh niên sống trong khung cảnh lịch sử của người Việt chống Pháp. Họ sống động và sống thực, nên họ khóc cười, nôn ọe giống y tình huống thực của người đương thời ngày ấy. Những thiếu niên đùa phá rồi cười khúc khích khi xem trộm cảnh cô gái tắm bên giếng vườn sau nhà. Rồi thời gian trôi, người ngày lớn dần lên, cuộc chiến ngày càng khốc liệt, cách đối xử của hai phe Việt Minh và kẻ xâm lấn – người Pháp – ngày càng tàn khốc. Tác giả đã tả chân và thực đến nỗi độc giả cũng phải muốn ọe theo tình cảnh của truyện. Nhưng tác giả vẫn luôn giữ được tính nhân bản của người Việt Nam ở phần kết, ở lời ru bú mớm của nhân vật Xụ Phụn Phèn. Cô ru đứa con khi cả hai mẹ con đều không còn trên cõi đời nữa: “Yêu là gì, hả mẹ?” “Yêu là có thể hy sinh thân mình cho người mình yêu.” “Thế mẹ có yêu bố không” […] “Bố sẽ về với mẹ con mình mãi mãi…” “Bao giờ, hả mẹ?” “Bố hẹn với mẹ con mình ở thủy phủ…” […] “… Họ cùng về thủy phủ với mình, nơi không còn bom đạn hay hận thù, nơi mẹ con mình sẽ gặp bố, bố sẽ yêu thương bảo bọc mẹ con mình. Thôi con nhé, con hãy ngủ đi, khi nào mặt trời mọc là mình đến nơi.”</p>



<p>Trịnh Y Thư tài tình là vậy, ông chiếu cảnh người tàn sát người, người với bao nhiêu là tính xấu hành xử với người chân chất thật thà, nhưng ông vẫn lồng vào đấy “tình người”. Sự yêu thương giữa người và người có thật, cho dù thật hiếm hoi vì nó phải được che phủ dưới một lớp mặt lạnh lùng, vào thời điểm đó. Cái tài tình nhất là ông chấm dứt câu chuyện ở tình yêu thương của mẹ và con và người cha. Ông thuyết phục độc giả lấy lại niềm tin về con người. Con người có đốn mạt bao nhiêu vẫn không thể xóa hết những tính yêu thương chân thật trong lòng. Tính yêu thương của những người thật là “người”, không phải là “ngợm”!</p>



<p>Trong <em>Dưới những gốc nho biển</em>, nhân vật “cô” là nhân vật có thật đâu đó, trải dài suốt đất nước Việt Nam. Với tình huống chính trị đã qua thời chiến tranh, súng đạn của người miền Bắc – cộng sản xâm chiếm người miền Nam – Việt Nam Cộng Hòa, đã ngưng bặt. Nhưng người Việt ở cả hai miền Bắc-Nam nào được sống thanh bình trong yêu thương. Chế độ cộng sản và con người cộng sản vẫn còn tính hung tàn. Chẳng hiểu tại sao!? Nên, người miền Nam phải ra đi tìm tự do, cho dù họ quăng mình vào biển cả một mất một còn. Người vượt biển có thể thành công để đến bến bờ bên kia, ở một nước thứ ba. Hoặc họ thất bại thì lại tìm đường về Thủy Phủ, nơi không còn hận thù hay oán ghét. Nhân vật “cô” sống như ảo ảnh trên cõi đời vì thiếu tình thương mẫu tử. Mặc dù bên cạnh cô vẫn còn một bóng người yêu thương cô đấy, ông “bác sĩ bộ đội”. Có phải chăng nhân vật Mẫn trong truyện <em>Ký ức của loài bò sát</em> xuất hiện trở lại? Nhưng tình yêu của ông ta vẫn không thể thay thế được tình mẹ con mà cô đang tìm kiếm.</p>



<p>Và cuối cùng cô cũng tìm về Thủy Phủ!</p>



<p>Tiếp đến truyện thứ ba <em>Đường về thủy phủ</em>, độc giả cứ ngỡ và chờ nhân vật “tôi” cuối cùng cũng tìm đường về Thủy Phủ. Nhưng không! Tác giả không cho phép là vậy. Ông dùng kỹ thuật nghệ thuật viết tiểu thuyết tạo dựng nhân vật “tôi” bước ra từ trang sách của một nhà văn-giáo sư. “Tôi” như ảo ảnh dưới mắt độc giả. Nhân vật nữ mà giáo sư-nhà văn đã vẽ ra trong truyện để rồi cô sống thật. Mà chính nhân vật này đã nhiều lần “càm ràm” với giáo sư-nhà văn là mình quái đản cũng do vì ông đã tạo ra nó. Cả tác giả lẫn nhân vật sống quyện vào nhau, tạo ra những cảnh “thật” mà giống như “không thật” ở một xứ sở văn minh nhất trái đất. “Tôi” quay cuồng sống mà thẳm sâu trong tâm thức cô vẫn hỏi rằng “tôi là ai”, “bố mẹ tôi là ai?” Cô thiếu tình yêu thương máu mủ từ cha mẹ. Để rồi… “tôi” làm một chuyến trở về quê hương. Tìm kiếm lại gốc gác của mình với hy vọng mong manh là thấy lại được người mẹ ruột của mình. Và độc giả đã cùng “tôi” thấy được bao cảnh đời có thật mà người Việt phải chịu đựng trong cái gọi là “thời bình” đầy nhiễu nhương này.</p>



<p>“Tôi” không tìm ra được mẹ, nhưng ngược lại cô tìm được một ông “bố”. “Bố và con” rất tương đắc ở thời gian này. Bố-con chẳng có mảy may huyết thống nào, nhưng lại có được một tình thương yêu chân thật là nhờ vào cái gạch nối “mẹ” của cô. “Tôi” gần như sống trọn vẹn ở thời gian hiện tại, nơi “mẹ” cô từng ngồi. Và cuối cùng “tôi” quên khuấy cái chết cứu cánh mà cô đã từng nghĩ đến.</p>



<p>Thủy Phủ bị bỏ quên!</p>



<p>Màn từ từ hạ cùng với tiếng cười của hai “bố-con” ở nơi “mẹ” đã từng ngồi.</p>



<p>“Thủy Phủ” là chốn dành cho người có ước mơ mà không thành và cũng cho cả người đạt được ước mơ, nữa chứ. Ai mà chả chết! Thủy Phủ sẽ là thiên đường hay địa ngục tùy ở từng người. Người nào lúc ra đi với tâm hung ác thì Thủy Phủ chỉ có thể là địa ngục. Địa ngục ngay ở trần gian, ngay khi còn hít vào thở ra. Còn với người ra đi với tâm lành thiện, nhiều yêu thương thì Thủy Phủ sẽ trở thành thiên đường với đầy yêu thương, trở lại bản tính nguyên thủy của con người.</p>



<p>Thiện-ác, thiên đường-địa ngục là hai phạm trù mà con người khó tránh khỏi. Cái vấn đề ở đây là sống làm sao để ta có ngay thiên đường khi đang còn hít thở. Địa ngục-thiên đường nó nằm trong tâm. Cái tâm không ai nhìn thấy nó đang ở đâu, nhưng nó lại được nhận ra bởi sự yêu thương của người trao cho người. Nó còn được nhận ra bởi ánh mắt, tiếng cười và lời nói mà con người trao cho nhau.</p>



<p>Thủy Phủ sẽ tràn đầy lòng yêu thương và vang tiếng cười khi con người hiểu biết thế nào là tâm lành và tâm thiện!</p>



<p><em>&nbsp;<strong>Doãn Cẩm Liên</strong></em></p>



<p>(California, ngày 30 tháng 10, 2024)</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nina Hòa Bình Lê: Đường về thủy phủ: Khi mặt trời mọc là mình đến nơi</title>
		<link>https://t-van.net/nina-hoa-binh-le-duong-ve-thuy-phu-khi-mat-troi-moc-la-minh-den-noi/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Tác Giả]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 14 Jul 2024 06:31:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Giới Thiệu Tác Phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[giới thiệu sách]]></category>
		<category><![CDATA[Đường về thủy phủ]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=72923</guid>

					<description><![CDATA[Cuốn sách này, như chính tựa đề, Đường về thủy phủ, đã báo hiệu điều gì đó huyễn hoặc. Vì vậy, bạn đọc nếu chờ đợi một câu chuyện tiểu thuyết thông thường có đầu đuôi, có lô-gích, có sự tình chặt chẽ hợp lý, xin gấp sách lại, hãy tìm đọc một cuốn khác. [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/kTl2u7z8-image001.jpg?strip=all&w=2560"><img decoding="async" width="552" height="802" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/kTl2u7z8-image001.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-72924" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/07/kTl2u7z8-image001-206x300.jpg 206w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/kTl2u7z8-image001.jpg?strip=all 552w" sizes="(max-width: 552px) 100vw, 552px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Cuốn sách này, như chính tựa đề, <em>Đường về thủy phủ</em>, đã báo hiệu điều gì đó huyễn hoặc. Vì vậy, bạn đọc nếu chờ đợi một câu chuyện tiểu thuyết thông thường có đầu đuôi, có lô-gích, có sự tình chặt chẽ hợp lý, xin gấp sách lại, hãy tìm đọc một cuốn khác.</p>



<p>Là một tác phẩm hư cấu không có chủ ý đáp ứng những quy củ tiểu thuyết thông thường, <em>Đường về thủy phủ</em> của Trịnh Y Thư là một tập hợp của ba câu chuyện, ba toa riêng lẻ của một chuyến tàu, vận hành trên cùng một đường rầy thiên lý, theo chiều dài của một giai đoạn lịch sử chiến tranh tanh nồng, nơi hành khách là những nhân vật bị ném lên tàu, vất vưởng chuyển động trên một trục cố định, dốc toàn bộ sức lực và trí tưởng tượng gắng tìm cho mình một lối thoát, hay theo tác giả, tìm một lối về.</p>



<p>Chuyến tàu thật ra không khởi hành từ những ngày binh đao khói lửa, mà xuất xứ từ một chốn thanh bình nơi “<em>Ký ức của loài bò sát</em>” hay Phần I, câu chuyện thứ nhất bắt đầu, với lời kể chuyện của một ông già chín mươi tư tuổi:</p>



<p><em>“Để tiếp chuyện ông bạn trẻ từ nước ngoài xa xôi vạn dặm lặn lội về đây thăm, tôi sẽ kể ông bạn nghe câu chuyện thời mới lớn của tôi sống trên mảnh đất rách rưới tang thương này. Bởi vì chỉ có mấy năm trời ấy là có đôi điều đáng nói, còn lại mấy chục năm sau, chỉ là đồ bỏ, chẳng đáng gì.”</em></p>



<p>Ngược dòng thời gian, ông già chín mươi tư tuổi bấy giờ là một cậu bé 13 tuổi lớn lên trong khung cảnh yên lành từ một gia đình người Hà Nội khá giả, học ở trường Bưởi, một ngôi trường nằm ven Hồ Tây cảnh trí thơ mộng nơi ông già hay thằng bé đã có được<em>“những buổi chiều thật đẹp nhìn ngắm không biết chán mặt gương sáng bạc của cảnh quan đẹp nhất Hà Nội.”</em></p>



<p>Khởi truyện với bối cảnh tiền chiến, câu chuyện đưa độc giả cùng nhân vật sống lại ký ức tuổi thơ vô ưu của những cậu học trò tinh nghịch, từ những chiều giắt ná bắn chim đến rủ nhau leo cây bị kiến cắn bi vắt vẻo chờ xem trộm:</p>



<p><em>“…cô gái chắc chắn hơn tuổi chúng tôi nhưng có lẽ không quá mười tám mười chín. Cô đi về phía hai cái vại sành đựng nước mưa được quây xung quanh bằng một tấm nan sơ sài. Cô mở tấm nan, không buồn khép lại mà từ tốn cởi hết quần áo máng lên chậu cây thâm thấp bên cạnh rồi cầm gáo múc nước giội lên người. Da cô trắng muốt, mái tóc đen xõa tung trên hai bờ vai tròn lẳn…”</em></p>



<p>Những ngày thanh bình chỉ hiện diện vỏn vẹn trong trên dưới mười trang giấy. Quân Nhật tràn vào chiếm đóng Đông Dương, chiến tranh bao trùm, miền Bắc rơi vào nạn đói Ất Dậu lấy đi sinh mạng của trên 2 triệu dân đen.</p>



<p><em>“Quê tôi dưới Thái Bình, cậu ạ. Mấy tháng qua làng tôi đói đến độ chết gần hết cả làng. Thoạt tiên là bọn trẻ con. Chúng chết nhanh lắm. Chỉ ba hôm không có cái ăn là bụng chúng ỏng ra, hai mắt như chó dại, ngồi đâu ngồi một chỗ, ruồi nhặng bám đầy mặt đầy người cũng không buồn xua đi. Chỉ một đêm là chết.”</em></p>



<p>Đó là lời của ông làm giò ăn thịt con, chôn vợ, đốt nhà rồi gia nhập đoàn người bỏ làng bỏ xóm thất thểu đi kiếm cái ăn để rồi người ta thấy ông tách về phía bờ sông và mất hút như <em>“một điểm nhỏ xíu, vô cùng bé nhỏ, nhỏ đến độ không một chút trọng lượng giữa vũ trụ bao la này.”</em></p>



<p>Cũng như thân phận của hàng trăm ngàn thanh niên lớn lên phụng sự và “tỉnh ngộ” ở Bắc Việt, nhân vật chính trong truyện từ một cậu bé sống trong một gia đình yên lành, no ấm, trở thành nạn nhân của chiến tranh loạn lạc, tan tác. Hơn ba thập niên lịch sử chiến tranh hằn khắc biến những giấc mơ bình dị của chàng trai Hà Nội thành một lão già <em>“hiện thân hắn là cứt”. </em>Lịch sử cuộc chiến qua cái nhìn của tác giả Trịnh Y Thư đầy dẫy những man rợ, xảo trá, ác độc của từng cá nhân và của cả một thể chế, nhưng cũng không thiếu mùi vị của lương tri con người nơi tình yêu và tình bạn, trong trí tưởng tượng của tác giả, là nguyên tố tranh đấu kháng cự giữ cho con người không gục ngã khi lý tưởng suy sụp. Tình yêu của chàng thanh niên dân quân và cô gái thiểu số, hay tình bạn của người phiên dịch hỏi cung và người tù nhân Pháp là thứ nhân tính mà chế độ cộng sản không thể “quản lý”.</p>



<p>Phần I kết thúc với cuộc hành trình về thủy phủ của mẹ con Xụ Phụn Phèn. Tác giả vẽ ra hình thể một xứ sở trong trí tưởng tượng của mình, nơi những đứa con lưu lạc có thể trở về. Trớ trêu thay, hình ảnh âm phủ, nơi tận cùng địa ngục, nơi cậu bé hỏi mẹ: “<em>Con thấy những xác người trôi bên cạnh, nhiều lắm, họ cùng về thủy phủ với mình, hả mẹ” </em>lại là một hứa hẹn tươi sáng hơn thế giới u tối của hai mẹ con: <em>“Khi nào mặt trời mọc là mình đến nơi.”</em>&nbsp;</p>



<p>Chúng ta có thể hy vọng cùng với tác giả hay không? Liệu sự cạn kiệt, tận cùng có thể là nhân tố hồi sinh? Và con người có bao giờ gột rửa trút bỏ hết thống khổ trở thành vô tri vô giác như ký ức của loài bò sát?</p>



<p>Với Phần I đóng lại trong giới hạn địa lý và những hệ lụy tác động từ cuộc chiến đối với người dân Bắc Việt, Phần II mở ra câu chuyện của người con gái miền Trung lưu lạc vào một thành phố miền Nam sinh sống, rồi nổi trôi ra Bắc trầm mình tự sát. Câu chuyện mở đầu: <em>“Hôm cô tự kết liễu đời mình, cô mặc chiếc áo lụa trắng ra chợ huyện như một thói quen. Ra chợ nhưng cô không mua thức ăn như mọi lần về nấu cho cô và gã bác sĩ bộ đội ăn tối. Đầu óc cô hoàn toàn trống rỗng như tờ giấy trắng tinh&#8230;”</em></p>



<p>Tuy trong Lời ngỏ tác giả đã báo động rằng đây hoàn toàn là một tác phẩm hư cấu, với tất cả các nhân vật và nơi chốn đều là sản phẩm của trí tưởng tượng do tác giả cảm nhận cuộc chiến qua tài liệu sách vở, nhưng độc giả đọc đến đây đã thấy mình gắn liền với các nhân vật và dễ dàng liên tưởng đến cái bối cảnh không gian lịch sử ấy. Khung cảnh miền Nam sau những ngày bị miền Bắc tiếp quản được tác giả dựng lên tài tình qua các nhân vật: gã bác sĩ bộ đội, vợ chồng người anh họ vượt biên, mụ tú bà vợ cán bộ, và cô gái ôm con đói rách bất lực có chồng học tập cải tạo chết mất xác trong rừng…</p>



<p>Sau 1975, Sài Gòn đổi đời, chính quyền cộng sản một mặt bắt hàng trăm ngàn người chồng, người cha đi học tập cải tạo, mặt khác tịch thu nhà, siết của, đẩy cả một thế hệ các bà vợ trẻ có con mọn ra đường lây lất, đói khổ. Nhân vật “Cô” trong câu chuyện thứ hai không gì khác hơn một phần tử sản sinh từ cái mà người cộng sản tự hào gọi là “chính sách khoan hồng” của Đảng và nhà nước.</p>



<p>Nhân vật Cô tuy được hư cấu dựng lên từ chất liệu lịch sử, nhưng mang số mệnh của cả một thế hệ phụ nữ miền Nam không đủ sức phản kháng; họ sống cũng như chết, nổi trôi mặc số phận đẩy đưa như thể định mệnh đã an bài sẵn cho một đám tàn dân. Họ bị những người cùng phe khinh khi, ruồng bỏ, bị xã hội chà đạp xô ngã vào lòng phe thắng cuộc. Họ sống vừa với mặc cảm tội lỗi vừa với những hành hạ thân tâm của kẻ đánh mất cả lương tri lẫn quá khứ, mà tương lai, là một canh bạc, trong đó bản thân họ chỉ là một quân tốt đen của ván cờ đời oan khiên.</p>



<p>Với tất cả chà đạp, nhơ nhớp, bỉ nhục người đời dán lên thân phận của những người đàn bà lạc loài này, thì trong trí tưởng tượng của tác giả, nhân vật Cô là một người phụ nữ trẻ, đẹp, thích mặc chiếc áo lụa trắng.</p>



<p>Lớn lên ở miền Trung, cuộc sống Cô yên lành không hề thấy cảnh súng đạn giết chóc cho đến một ngày Mùng Năm Tết:</p>



<p><em>“Nó ập đến ngưỡng cửa nhà cô như một cơn lốc. Nó là cơn ác mộng, kinh hoàng. Đêm mùng Năm Tết, cha cô bị một toán sáu bảy người lạ mặt súng ống đầy người phá cửa xông vào nhà bắt dẫn đi…”</em></p>



<p>Tuy những trang sách này không gọi rõ tên cuộc tấn công, nhưng hình ảnh cuộc thảm sát Mậu Thân tại Huế đã dần hiện rõ với cảnh người mẹ của Cô đi tìm xác chồng:</p>



<p><em>“Bà ngồi xổm, hai tay bưng cái sọ người, ngắm nghía thật kỹ hàm răng trắng nhởn… Hai hốc mắt sâu hoắm của cái sọ người chĩa thẳng… Cái miệng nhe ra… Xem đến cái đầu lâu thứ mười tám thì bà biết chắc đây là đầu chồng bà.”</em></p>



<p>Mất cha, mất mẹ, bị cuộc đời xô đẩy, người con gái trong cuộc hành trình vô Nam theo lời trăng trối của người mẹ đã tự cắm vào thân những vết sẹo không thể gột rửa. Nhưng có lẽ tác giả có trái tim nhân hậu, nên đã nhiều lần quẳng cho Cô những chiếc phao – ba nhân vật: người chồng, đứa con gái, và gã bác sĩ bộ đội – dù chỉ là những giai đoạn ngắn ngủi trong đời, dù thiếu vắng ngọn lửa tình yêu ấm áp, nhưng đủ giúp giữ Cô tạm thời ở lại, để rồi <em>“Con người một khi bị kẹt cứng trong bi kịch đời sống, sớm muộn sẽ chọn cái chết cho chính mình?”</em></p>



<p>Một điểm khá thú vị xuất hiện nhiều lần trong Phần II là lối viết siêu hư cấu cho phép tác giả xâm nhập vào câu chuyện, xâm nhập vào các nhân vật, lồng ý niệm và suy tư của tác giả vào trang sách, như thể nhắc nhở người đọc sự có mặt của người viết. Nhân vật bác sĩ bộ đội của Trịnh Y Thư khiến người đọc phần nào liên tưởng đến nhân vật Tomas của Kundera trong tiểu thuyết <em>Đời nhẹ khôn kham</em>, một nhân vật được sinh ra từ một tình huống, một bối cảnh mà ở đây là tình hình miền Nam những ngày Sài Gòn thất thủ, dù muốn dù không dân trong Nam phải sống chung với các “đồng chí” Bắc Việt tràn như kiến lửa vào thành phố.</p>



<p>Là một bác sĩ phẫu thuật đã từng được gửi sang tu nghiệp bên Liên Xô, gã bác sĩ bộ đội đang say mê đời sống trong Nam bỗng dưng bị gọi về thủ đô làm việc với trưởng phòng Quân huấn, tên này là bạn học bên Liên Xô cùng thời với gã, hắn muốn đưa gã về thủ đô làm việc với điều kiện gã phải bỏ mối quan hệ với Cô gái. Gã từ chối. Không lâu sau đó gã bị cơ quan yêu cầu ký vào tờ công văn kỷ luật, gã bị tước danh hiệu sĩ quan, trở về đời sống dân sự mà không được hưởng một khoản phúc lợi quân nhân nào. Nhưng thay vì lo buồn, gã lại thấy <em>“lòng thơ thới hân hoan, chưa bao giờ gã thấy nhẹ nhàng như vậy. Như bị táo bón lâu ngày, một hôm được tống ra sạch ruột non ruột già các thứ cặn bã dơ bẩn.”</em></p>



<p>Nhân vật bác sĩ bộ đội, như một tầng lớp trí thức miền Bắc trải qua cuộc khủng hoảng lý tưởng, đức tin sụp đổ, bám víu vào tình yêu thiêng liêng mà sống còn. Nghịch lý ở đây là Cô gái miền Trung-Nam bộ yếu ớt đáng thương nay không còn khả năng yêu thương, trong khi đó một gã bộ đội miền Bắc vốn bị người trong Nam cho là phường gian ác, thiếu nhân tính lại yêu Cô bằng cả trái tim và sinh mạng còn lại: <em>“Gã yêu cô. Từ đó cho đến hết đời.”</em></p>



<p>Có lẽ Phần II là cốt lõi của cuốn tiểu thuyết, là phần kết nối quá khứ với hiện tại, tương lai, với sự hiện hữu của các nhân vật của cả ba thế hệ, những con người đánh mất bản thể và lưu lạc trên chuyến tàu lịch sử đăng đẳng, chờ đợi một lần “tìm lại”, dõi trông một “cõi về”. &nbsp;</p>



<p>Trong những trang cuối Phần II, nhân vật Cô hay người đàn bà với chiếc áo lụa trắng biến mất, kết lại câu chuyện với hình ảnh một ông già hằng ngày vác chiếu đến ngôi đền trên Cống Liệp, <em>“một ngôi đền nằm giữa một vườn cây xanh rợp bóng mát trông ra biển.”</em></p>



<p>Về cơ bản, Phần I và Phần II tuy được viết dưới thể dạng vừa siêu thực vừa hư cấu, Phần III mới là siêu điểm của mọi sự bất thường, nơi câu chuyện, nhân vật, bối cảnh, ngôn ngữ, tình cảm, tất cả đều ra đời như một cuộc hẹn siêu tưởng. Nhà văn nữ Virginia Woolf trong nhật ký của bà vào năm 1929 đã viết: “<em>Tôi chán viết kể chuyện</em>,” qua đó gợi ý rằng một cuốn tiểu thuyết được duy trì và tồn tại nhờ sự tấn công của các tiểu thuyết gia vào các quy củ truyền thống. Bằng cách phá vỡ bố cục, phát minh ra ngôn ngữ của riêng họ, tập hợp câu chuyện dài không bằng một cốt truyện, mà bằng nhiều tổ khúc nối kết nhau qua chủ đề hay phạm trù ý tưởng, lối viết tiểu thuyết này ra đời giữa thế kỷ 19. Trong khi John Simmons Barth, một nhà văn Hậu Hiện đại người Mỹ được cho là cha đẻ của thể loại này, thì tiểu thuyết gia tiêu biểu cho xu hướng siêu hư cấu – như tác giả Trịnh Y Thư đã nhắc tới trong phần Lời ngỏ – là nhà văn người Tiệp Khắc Milan Kundera với <em>Tập sách cái cười và sự lãng quên</em>. Người đọc thể loại này không để tâm đến sự liền lạc chặt chẽ của câu chuyện hoặc tin vào sự tồn tại có thật của các nhân vật, mà chú ý tập trung vào diễn tiến tư tưởng nhân vật, bối cảnh xã hội, lịch sử, những suy diễn thuận nghịch&#8230; Sự kết nối của bảy tổ khúc trong tác phẩm của Kundera chính là hai vế <em>cái cười </em>và<em> sự lãng quên</em>, trong khi đó <em>Đường về thủy phủ</em> của Trịnh Y Thư nối kết ba câu chuyện bằng những hệ lụy và thân phận lạc loài của con người dọc theo thời gian cuộc chiến dài trên 30 năm, xuyên suốt quãng đường từ Bắc, Trung, Nam, qua tận Hoa Kỳ.</p>



<p>Phần III với câu chuyện mang tựa đề chính của cuốn tiểu thuyết, <em>Đường về thủy phủ</em>, có lẽ là phần thi vị nhất, được dàn dựng vào những năm sau khi cuộc chiến Việt Nam đã chấm dứt, tại một đất nước xa xôi cách trở một đại dương.</p>



<p>Mở ra bằng những lời tự sự của một nhân vật siêu hư cấu, một nhân vật ảo, <em>Đường về thủy phủ</em> dẹp bỏ mọi quy tắc cấu trúc trật tự, mà hỗn loạn và xung đột từ chính sự ra đời và ý nghĩa tồn tại của nhân vật chính.</p>



<p><em>“Tôi thù gã nhà văn khôn tả. Tôi thù gã đến độ tôi muốn giết chết gã. Tôi ao ước có một mũi dao nhọn sắc lẻm cho tôi ấn sâu vào ngực gã với động tác êm nhẹ, từ tốn để trái tim gã khi bị mũi dao đâm thủng vẫn không hay biết mình đang bị đâm mà tiếp tục hân hoan…</em></p>



<p>Trái ngược với nhân vật chính của Phần II là một nhân vật vô tri vô giác không còn khả năng làm chủ tình cảm của mình được tác giả gọi bằng “Cô”, nhân vật chính của Phần III xưng “tôi”. Tuy ra đời là một nhân vật ảo, nhưng cô gái có bản tính nổi loạn với đầy đủ si mê sân hận. Cũng như tất cả các nhân vật khác trong cuốn tiểu thuyết, cô gái ra đời từ một bối cảnh của trên một triệu người Việt lưu vong đến sinh sống trên mảnh đất có nhiều ân oán nợ nần với quê hương họ.</p>



<p>Là một nhân vật ảo được tạo dựng để đáp ứng một nhu cầu, cô gái mơ hồ không hiểu vì sao mình hiện hữu:</p>



<p><em>“… tôi tự hỏi tôi muốn gì nơi cuộc sống này, những khao khát của người đàn bà trong tôi là gì, rồi ngay cả những ước mơ, những đòi hỏi thầm kín, tôi cũng hoàn toàn mù mờ, tất cả như đám mây chiều hư ảo hỗn độn ngoài kia. Tôi vẫn ngủ với gã nhà văn hằng đêm. Gã vẫn làm tình với tôi mặc dù tôi biết gã có những người đàn bà khác. Nhưng điều ấy có gì là hệ trọng lắm đâu khi tôi chỉ là hình bóng ảo của gã…”</em></p>



<p>Mối liên hệ giữa gã nhà văn và cô gái là một chuyện tình tiêu biểu của thời hiện đại, nơi hai người ở bên nhau ôm nhau ăn ngủ làm tình hằng đêm nhưng lòng vẫn cảm giác <em>“hoang lạnh như khu nghĩa trang với những nấm mồ quanh năm không người thăm viếng.”</em></p>



<p>Nhân vật gã nhà văn ở đất nước xa xôi này là điểm nối dài những hệ lụy của cuộc chiến lấy đi sinh mạng của trên 60,000 lính Mỹ và để lại cả một thế hệ người Mỹ lạc lõng, vô hướng ngay trên chính quê hương của họ.</p>



<p><em>“Tôi cũng có cảm tưởng Thượng Đế bỏ quên tôi. Tôi tuột dần vào một tâm trạng khủng hoảng vô bờ, chẳng biết làm gì hôm nay, ngày mai đi đâu cũng chẳng có dự tính nào… Tôi đã ném tất cả mọi lý tưởng và hoài bão, cùng các thứ rác rến khác của tuổi trẻ, qua cửa sổ rồi. Tôi viết chỉ vì nếu không, tôi chẳng biết làm gì khác. Và kiếm tiền sống.”</em></p>



<p>Câu chuyện của gã nhà văn được tác giả trình bày trên một bề mặt giống như một tấm gương nứt, trong đó phản chiếu những mảnh ráp nối của đổ vỡ, mảnh lớn nhất là sự rạn nứt giữa tình cảm cha con:</p>



<p><em>“Hai chữ Việt Nam từ lâu đã là nỗi ám ảnh đen tối lớn cho cuộc đời tôi từ lúc trưởng thành. Vì nó, tôi và cha tôi không nhìn mặt nhau hơn hai mươi năm, từ thời tôi học năm thứ hai đại học cho đến khi ông gần lìa cõi đời. Năm 1965 trong lúc ông lái chiếc máy bay phản lực F-4 cùng các đồng đội của ông gầm rú đánh phá cầu Hàm Rồng hay một nơi nào đó trên cái mảnh đất xa xôi mù mịt bên kia bờ đại dương thì tôi và các bạn sinh viên trong trường đại học Yale đứng trước mặt hàng trăm Vệ binh Quốc gia đốt thẻ trưng binh.”</em></p>



<p>Tác giả mô tả sự xuống dốc, tan nát của cả một gia đình người cựu chiến binh Mỹ sau khi ông sống sót trở về, và sự hối hận dằn vặt của chàng thanh niên trên giường bệnh của người cha, sau tất cả những phản kháng, chống đối, để cuối cùng:</p>



<p><em>“Tôi ngồi cạnh ông, tay tôi nắm tay ông, nước mắt giàn giụa, cha con không nói với nhau lời nào, nhưng tôi nghĩ ông hiểu tất cả và tôi cũng hiểu tất cả. Cái cuộc chiến phi lý và khốn nạn ấy đã cướp mất của cha con chúng tôi hơn hai mươi năm. Suốt cuộc đời sau đó của tôi, tôi sống trong ân hận và cố tìm kiếm một cái gì khả dĩ giúp tôi vơi bớt nỗi buồn khổ dằn vặt khôn nguôi.”</em></p>



<p>Trong khúc quanh của câu chuyện, người đọc cảm nhận được bàn tay vô hình của tác giả thò vào tấm gương bẻ cô gái từ nhân vật chính thành biến thể trong mảnh gương vỡ của gã nhà văn, cho cô ra đời như một sứ mệnh cứu chuộc lỗi lầm của gã. Cứ như thế, suốt câu chuyện, hai nhân vật, hai thực thể xung đột trong chiếc kính vạn hoa không ngừng phóng lên những tấm ảnh vạn hình thể của hai tâm hồn ở tận đáy sâu bản ngã, cô đơn, trống trải, xa vắng, bên nhau mà vẫn luôn thất lạc nhau…</p>



<p>Những tấm ảnh tiếp tục lóe lên như những thước phim đậm lạt sáng tối phác họa nhiều thể dạng của sự xấu, cái đẹp… và cuối cùng dừng lại. Tại một mảnh đất xa xôi nơi mà quá khứ cha ông đã ném hai thân phận sinh ra ở hai bờ đại dương vào cùng chuyến tàu lịch sử, họ tìm ra nhau. Trái tim được bồi dưỡng chữa lành bằng tất cả tình yêu thương, sự hiểu biết còn nguyên vẹn truyền từ bao thế hệ.</p>



<p><em>Đường về thủy phủ</em> kết lại với cảnh cô gái và ông già (gã bác sĩ bộ đội thời trước) <em>“níu nhau hướng về ngôi đền le lói ánh đèn trên mỏm đất cao.” </em>Có lẽ đây cũng là ước mong thầm kín của tác giả, bằng một phép mầu nào đó, một ngày nào đó, triệu người Việt lưu lạc trên thế giới này sẽ có ngày tìm thấy đường về, dù “thủy phủ” chỉ hiện hữu đâu đó trong ước mơ, hay trong niềm tin.</p>



<p>– <strong>Nina Hòa Bình Lê</strong></p>



<p><em>Irvine, 5 Tháng Bảy, 2024</em></p>



<p>Sách có bán trên BARNES &amp; NOBLE</p>



<p>326 trang, bìa cứng, 6” x &nbsp;9”, giá bán: US$25.00</p>



<p>Xin bấm vào đường dẫn sau:</p>



<p><a href="https://www.barnesandnoble.com/w/duong-ve-thuy-phu-trinh-y-thu/1145847142?ean=9798331414085">Duong ve thuy phu by Trinh Y. Thu, Hardcover | Barnes &amp; Noble® (barnesandnoble.com)</a></p>



<p>Từ tìm kiếm: duong ve thuy phu, trinh y thu</p>



<p>Hoặc liên lạc với tác giả / NXB qua hai địa chỉ email sau để mua sách có chữ ký của tác giả:</p>



<p><a href="mailto:trinhythu@gmail.com">trinhythu@gmail.com</a></p>



<p><a href="mailto:vanhocpress@gmail.com">vanhocpress@gmail.com</a></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Bùi Vĩnh Phúc: Và khi về ngồi dưới những gốc nho biển</title>
		<link>https://t-van.net/bui-vinh-phuc-va-khi-ve-ngoi-duoi-nhung-goc-nho-bien/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Tác Giả]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 02 Jul 2024 07:52:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Giới Thiệu Tác Phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[giới thiệu tác phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[Đường về thủy phủ]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=72685</guid>

					<description><![CDATA[Đường về thủy phủ, tiểu thuyết Trịnh Y Thư, Văn Học Press xuất bản, 2024. Tiểu thuyết Đường về thủy phủ của Trịnh Y Thư là một bức vẽ, mang nhiều đường nét ấn tượng, về sự thất lạc của con người trong chiến tranh. Nói như thế người đọc vẫn có thể không rõ [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/image001.jpg?strip=all&w=2560"><img decoding="async" width="552" height="802" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/image001.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-72686" style="width:446px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/07/image001-206x300.jpg 206w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/07/image001.jpg?strip=all 552w" sizes="(max-width: 552px) 100vw, 552px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Đường về thủy phủ, tiểu thuyết Trịnh Y Thư,</em> <em>Văn Học Press xuất bản, 2024.</em></p>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Tiểu thuyết <em>Đường về thủy phủ</em> của Trịnh Y Thư là một bức vẽ, mang nhiều đường nét ấn tượng, về sự thất lạc của con người trong chiến tranh. Nói như thế người đọc vẫn có thể không rõ lắm, và hiểu rằng, dựa trên lịch sử, bám vào lịch sử, đây là một trình bày với những nét cọ, cho dù có những chỗ mạnh bạo, chỗ lơi tay, với những bôi xoá, những bệt màu đậm nhạt của người vẽ, nhưng về tổng thể vẫn là một sự trình bày ít nhiều mang tính “hiện thực”, về chiến tranh, về lịch sử. Về những khổ đau, oan khiên của con người. Về sự tan tác của những mảnh đời trong vòng lửa đỏ của cuộc chiến, trong cái mù loà của lịch sử vốn đưa dẫn bước chân của chính nó. Và tất cả được bao phủ bởi cái hơi thở đầy thán khí độc hại của lửa, khói, của máu và nước mắt.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Thật sự, ở một mức độ nào đó, người đi vào quyển sách đều có thể nhận ra ít nhiều, ở chỗ này hay chỗ khác, qua những góc quay khác nhau, với những mức độ đậm nhạt khác nhau, tất cả các dự cảm vừa được trình bày ở trên. Nhưng nếu nghĩ đây là một cuốn tiểu thuyết lịch sử, hay một tiểu thuyết chiến tranh, chúng ta sẽ ngộ nhận tác giả. Tiểu thuyết này, với tính chất và cái nhìn đặc thù của tác giả, không hề có mục đích ấy. Lịch sử có ở đó, cùng với khuôn mặt kinh hoàng, gian trá, điên đảo, và tàn bạo của chiến tranh. Nhưng đây là một cuốn tiểu thuyết chỉ lấy lịch sử làm một cái nền với những gam màu rất mờ nhạt, và, dĩ nhiên, nổi bật lên vẫn là một màu đỏ nhờ nhờ, điên quái, bất tín và bất-khả-tín, khi thì chỉ ươn ướt, chỗ lại đặc quánh những vết thương làm mủ của lịch sử.</p>



<p><a>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Trong trí tưởng tượng (và hẳn cũng là trong nỗi đớn đau) của mình, tác giả Trịnh Y Thư đã nhìn lịch sử chiến tranh Việt Nam trong suốt ba mươi năm giữa thế kỷ XX, cùng với những hậu chấn buồn đau và xót xa của nó, với một cái nhìn của một kẻ sáng tạo. Với những “ấn tượng” riêng của mình. Tác giả nhìn vào cái bối cảnh của cuộc chiến ấy, và thấy ra bao điều đau xót. Tính chất hư cấu cho phép của thể loại, dù sao, không đẩy tác giả vào sự phá tác tuỳ tiện. Ông vẽ ra những chi tiết một phần từ ký ức riêng của tuổi thơ, một phần qua sự học hỏi, tìm hiểu, và một phần khác, qua ký ức tập thể. Và nhất là, trong cái nhìn của tôi, qua </a><a>vô thức tập thể</a>. Cái vô thức ấy, có thể được gọi như thế này chăng, là một “vô thức quỷ ám”. Có thể cái vô thức ấy đã được chủ thể hoá, được tạo nên, được phóng ra từ những ấn tượng riêng của người viết. Nó “đúng” ở mức độ nào, và nó có lý ở những khía cạnh nào, chúng ta không dám quyết đoán. Nhưng nó, cái “vô thức tập thể” ấy, có ở đấy. Trong dạng “nguyên sinh” của nó, cái vô thức ấy làm cho chúng ta quằn quại, không yên. Nó bám vào những hình ảnh, những giấc mơ người, và nó phóng chiếu, ánh xạ, nhẩy múa điên cuồng trong ý thức ta khi con người mở mắt. Ngoài những ám ảnh luôn nắm lấy hơi thở và mọi giác quan của sự sống ấy, làm nên cái chất, cái nền của bức vẽ, mọi sự còn lại tác giả dựa vào hư cấu, vào ấn tượng, và vào sự tưởng tượng riêng của mình.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Hư cấu của một nhà văn có thể giúp kẻ ấy sáng tạo nên những điều không hề có trong hiện thực. Nhưng những điều ấy sống trong trí óc hắn, trong các tế bào mang DNA của hắn, sống trong chữ viết, trong mắt nhìn hắn vào tấm sơ đồ của hiện thực. <a>Và từ đó, nhà văn tạo xương thịt và thổi sức sống vào cái sáng tạo của mình. Trong tiểu thuyết này, Trịnh Y Thư vẽ nên một bức tranh khá rộng và tàn bạo, kinh khiếp về cuộc chiến ba mươi năm giữa thế kỷ XX trên đất Việt. Có máu, có lửa, có những cơn co giật, đau xé của lịch sử. Có điên đảo, gian trá, say cuồng, mê lầm, ảo tưởng, lý tưởng, thất vọng, vùi dập, oan khiên của những con người. Tuy nhiên, giữa những nét vẽ hung bạo, bóp thắt và chảy máu ấy, nhà văn lại đưa được vào đó những cảnh đẹp thiết tha, thơ mềm và say lòng của thiên nhiên, của những dáng nét quê hương:</a></p>



<p><em>Tôi bỏ Hà Nội lại sau lưng. Ôi, biết bao kỷ niệm. Tôi vừa đạp xe vừa cố nhìn lần chót những hình ảnh của Hà Nội mà chẳng biết bao giờ mới có dịp về nhìn lại. Hồ Hoàn Kiếm vẫn xanh biếc với tháp Rùa, cầu Thê Húc, đình Trấn Ba. Đường Hoàng Gai, nơi bán đèn Trung Thu mà hằng năm mẹ tôi dắt chị em tôi ra mua đèn về chơi. Trường nữ học Đồng Khánh với những tà áo bay. Rồi vườn trại Ngọc Hà với chợ hoa những ngày cận Tết […] Tôi còn nhớ cả tiếng chày chí chát của đám thợ đập vàng trên phố Hàng Bông Đệm, hay tiếng chuông leng keng, tiếng bánh xe nghiến trên đường sắt của chiếc tàu điện chật cứng người mỗi ngày tôi lấy đi học hay đi chơi. Những bức tường rêu phong loang lổ, những vỉa hè, những con ngõ nhỏ như ngõ Phất Lộc với những căn nhà bé xíu thụt ra thụt vô, dây leo chằng chịt, trông rất ma quái […] Và ngõ Cấm Chỉ phố Hàng Bông gần nhà, nơi tôi hay ngồi ăn quà buổi sáng.&nbsp; Cũng không thể phai mờ trong tâm trí tôi là rặng bàng khô lá, lối đi quen thuộc từ những ngày còn cắp sách đánh vần với những kỷ niệm tuổi học trò thơ dại. Rồi năm Cửa Ô, cửa nào cũng có vết chân tôi. &nbsp;Cửa Ô Quan Chưởng với gạch ngói cổ xưa, loang lổ dấu vết thời gian. Cửa Ô Cầu Giấy với hàng phượng vỹ mùa hè đỏ ối rợp bóng hai bên đường. Cửa Ô Cầu Dền nơi thuở nhỏ tôi hay theo mẹ đi chợ Tết. Với Cửa Ô Đống Mác, đường đi Bát Tràng, thì tôi không thể quên những quả ổi ương ương chấm muối ớt ăn ngon nhớ đời. Và Cửa Ô Chợ Dừa, muốn ra đó phải đi ngang phường Dạ Lạc, phố Khâm Thiên, có thằng con trai mới lớn đỏ mặt, trống ngực đánh thình thịch mỗi lần thấy các cô gái má đỏ môi son đứng trong nhà nhìn ra cửa. Tất cả quay về tuần tự như khúc phim dĩ vãng vàng ố chiếu giọi chờn vờn trước mắt tôi.</em></p>



<p>Những góc quay rất đẹp về Hà Nội ngày nào làm bập bùng trong ta những ánh lửa ký ức. Ký ức thực của con người, hay ký ức về những trang văn đầy thiết tha, say đắm của những ngòi bút tài hoa từng viết về Hà Nội.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Hay của sự nhớ về một kỷ niệm đẹp, riêng tư, làm mê lòng, trên bước đường lưu lạc của nhân vật chính trong truyện đầu, giữa khung cảnh lửa khói phủ lấp cuộc toàn quốc kháng chiến đang bùng dậy:</p>



<p><em>Thân thể các cô thôn nữ này toát ra một mùi vị lạ lùng, khó diễn tả bằng lời. Nó ngai ngái như mùi hoa dại, mà nồng ấm ngọt ngào chứ không chua. Cái mùi ấy quyện lấy tôi trong lúc giã gạo và lưu lại mãi trong khứu giác tôi.</em></p>



<p>Đẹp. Như thấp thoáng cảnh và tình trong <em>The Dancing Girl of Izu</em> của Yasunari Kawabata. Hay một cảnh đi thuyền trên sông:</p>



<p><em>Lần đầu tiên tôi được đi thuyền xuôi dòng sông mà lại đi vào ban đêm. Quả chẳng có cái thú nào bằng. Đêm trong vắt, bầu trời đầy sao lấp lánh, không một tiếng động nào ngoài tiếng sóng vỗ vào mạn thuyền oàm oạp nghe như một điệu hát ru em.</em></p>



<p>Cảnh này làm tôi nhớ đến bài thơ chứa chan cái đẹp của Cao Bá Quát, khi, từ Thanh Đàm (đầm Thanh Liệt, huyện Thanh Trì), ông buông thuyền xuôi Nam: màu chiều đang vào tối, mây vàng bảng lảng, vòm trời thấp, mặt trời chìm xuống, chiều trên sông ngả bóng tối sầm, con thuyền lạnh lùng lướt đi trên mặt thuỷ, và lòng người như mở ra, hạnh ngộ với sóng nước, với hùng tráng ba đào. Mọi sự trong tối, như thế, bất chợt nở sáng bùng lên cái chí vạn dặm của con người:</p>



<p><em>Thanh Đàm thôi biệt duệ</em></p>



<p><em>Nhị thuỷ tiễn hành khâm</em></p>



<p><em>Sa khoát hoàng vân mộ</em></p>



<p><em>Thiên đê bạch nhật trầm</em></p>



<p><em>Khách châu hàn phiếm phiếm</em></p>



<p><em>Giang sắc vãn âm âm</em></p>



<p><em>Bất kiến ba đào tráng</em></p>



<p><em>An tri vạn lý tâm?</em></p>



<p>Những đoạn tả cảnh của Trịnh Y Thư, và bài thơ <em>Thanh Trì Phiếm Châu Nam Hạ</em> của Cao Bá Quát, trong trí nhớ còm cõi của tôi, làm cho bao cảnh ghê người, bạo liệt và “vô tâm” của cuộc chiến trước mắt tôi, khi đối diện với trang sách, được xoa dịu đi nhiều.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tác phẩm của Trịnh Y Thư kết hợp ba truyện vừa, không phải là một tiểu thuyết theo đúng dạng “truyền thống” của nó. Nhưng ba truyện này được viết để diễn tả cùng một chủ đề. Đó là sự thất lạc của con người trong cuộc sống, trong chiến cuộc, và rồi tiếp tục trong cái sống thoi thóp sau đó. Nói như tác giả, đó là “<em>sự thất lạc của con người trong cuộc sống hiện đại. Thất lạc trong chiến tranh, thất lạc trong đời sống, và thất lạc cả trong cõi chết</em>”. Ba truyện, một cách nào đó, có sự gắn kết vào nhau, qua những ý tưởng hướng về chủ đề, qua cái ánh sáng nhờ nhờ màu đỏ của cuộc chiến (trong cái nhìn của tôi), cho dù chúng cũng được đan xen đâu đó, thi thoảng, bằng những khoảng xanh trong, đẹp tươi, của lục diệp, của bầu trời, ánh nước, và của những tình cảm con người. Hơn nữa, chúng lại còn được nối kết vào nhau qua hành trạng của các nhân vật, nhất là trong hai truyện <em>Dưới những gốc nho biển</em> và <em>Đường về thủy phủ</em>.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Hành trạng của các nhân vật đan cài vào nhau, nối tiếp nhau, xoắn xuýt vào nhau. Có khi, sự đan cài xoắn xuýt đó chỉ được tác giả cất giấu trong một dòng chữ. Nhưng cũng có khi, đó là sự xuất hiện trở lại một cách rõ rệt của các nhân vật. Họ xa cách nhau trong thời gian, và rồi tìm lại được nhau trên dòng chảy phù du của cuộc đời. Một thứ “<em>le temps retrouvé</em>”, của Proust. Một thứ “thời gian tìm lại được”. Cho dù sự “tìm lại được” này <a>thấm đẫm cái thời tính của phôi pha</a>, <a>thấm đẫm </a>cái chất và cái màu thời gian xanh lục của rêu rong đắp tụ, cũng như thấm đẫm, đong đầy chất và lượng khổ đau trong nó. Ba câu truyện là ba hành âm của một tổ khúc. Một tổ khúc đớn đau và tan nát. Nhưng vẫn có những ánh sáng lấp loé đâu đó.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Những đoạn tả cảnh chết đói hết sức đau xót của người dân năm Ất Dậu, cảnh tình yêu giữa hai nhân vật ở hai phía trong cuộc chiến, và, thậm chí, cảnh những chàng trai trẻ, mới lớn, tò mò khám phá cái ham muốn trong con người mình qua việc đi xem trộm một người con gái tắm, có thể gợi cho người đọc nhớ đến những câu truyện, hay những phân cảnh, trong những tác phẩm khác của văn chương thế giới. Như cảnh cùng khốn, đau thương của những cái khổ, cái nhục, cái chết vì đói trong những tiểu thuyết của Dư Hoa, đặt trong bối cảnh đặc thù của Trung Quốc thế kỷ XX, khoảng <a>thập niên ’50-’60. </a>Như cuộc tình giữa cô gái Pháp, Lucille – trong thời thế chiến, thập niên <a>’</a>40, khi lính Đức tràn về một thị trấn nhỏ ở Bussy (Pháp) – với viên sĩ quan người Đức, Bruno, trong <em>Suite Française</em> của Irène Némirovsky. Hay như cảnh tác giả cùng mấy người bạn nghịch ngợm, đang hồi tuổi lớn của mình, khám phá dục tình bằng cách rủ nhau đi xem trộm con gái tắm, trong khung cảnh xóm đêm nghèo khổ của Limerick, Ireland, qua bức tranh toàn cảnh của một đất nước Ireland còn nhiều xung đột, khoảng thập niên ’50-’60 của thế kỷ XX, trong hồi ký <em>Angela’s Ashes</em> của Frank McCourt. Tất cả những sự gần gũi, mang tính nhân loại này, cho thấy cái đồng dạng muôn thuở và muôn nơi của con người trên cõi thế.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; <em>Đường về thủy phủ</em>, trong sự chia sẻ rất con người ấy, cho dù tất cả những cảnh, những chuyện vừa nói, trong tiểu thuyết của Trịnh Y Thư, đều mang đậm nét Việt, tâm tình Việt, cảnh thổ Việt, qua nét vẽ ấn tượng của tác giả, cho ta thấy cái khổ đau, cái rung động trong tình yêu, hay cái nghịch ngợm, tò mò của tuổi trẻ, là của con người nói chung. Của con người muôn thuở và muôn nơi. Tất cả đều phản ánh những nét nhân sinh. Từ sự đớn đau quằn quại, đến cái tế vi, những ngã quặt bất ngờ và mong manh trong những mối tơ của đời sống, của tình cảm con người, cho đến cái tự nhiên, phải khởi phát như những đọt non bùng thức trong nhịp sống của muôn loài. Của nhân loại giữa “cõi người ta”.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Toàn bộ câu truyện, kết hợp bởi ba hành âm của một tổ khúc như đã nói, được viết bằng một cái nhìn tỉnh táo của tác giả, với kỹ thuật pha trộn giữa <em>metafiction – siêu hư cấu</em>, cho thấy sự cố tình để lộ việc thâm nhập của tác giả vào câu truyện, sự đan xen tinh quái của chính tác giả trong đó, nhắc nhở người đọc về sự có mặt của người viết, với những chỗ tác giả xưng “tôi” chen ngang vào mạch kể, để nhấn mạnh đến tính hư cấu của truyện – và cách viết theo phong cách hiện thực huyền ảo. Ở những không gian khác, chẳng hạn như trong phần đầu truyện thứ ba của quyển sách, hình ảnh, ngôn ngữ ở đây lại rất hiện thực. Nhân vật nữ chính, ở thời điểm này, có chút gì “tâm thần”. Có chút gì của Haruki Murakami. Thế nhưng, nó lại phản ánh thật sát cái “gốc rễ” của hai nhân vật chính. &nbsp;Cái tâm lý. Cái bối cảnh xã hội, lịch sử mà, từ đó, họ được sinh ra và lớn lên.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Thế nhưng, dù ý thức, qua sự nhắc nhở của tác giả, rằng đây là một câu truyện hư cấu, người đọc vẫn rơi vào khung cảnh và sự cuốn hút của những câu chuyện, những tình tiết, vào cái toàn cảnh sinh động của cuộc chiến, mà tác giả khéo léo tạo nên. Pha trộn một vài nét triết lý và thơ mộng xuyên suốt cuốn truyện, nhà văn, trong khi lôi kéo người đọc vào những suy nghĩ sâu xa về cái bi khốc của chiến tranh, của những cuộc chém giết tàn bạo, của ý nghĩa về phận người, của các lý tưởng-ảo tưởng-huyễn tưởng-mộng tưởng chen kẽ lẫn lộn, xâm chiếm cái sống cái chết của con người, vẫn đẩy người đọc đối diện với cái kinh hoàng của cuộc chiến trước mắt, của một lịch sử sôi động. Và của những gì xảy ra sau đó. Cuốn sách vẽ ra được một toàn cảnh với các chi tiết, tạo được một ấn tượng về cuộc chiến, về không gian và cuộc sống xã hội, lịch sử của các giai đoạn <em>gối tiếp</em> nhau.&nbsp; Và về cuộc bể dâu mà con người phải đối mặt, với những quyết định sai lầm của chính nó. Hay với cái “quyết định”, cái hướng đi mù loà, xiên xẹo và xộc xệch của lịch sử.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Nhưng, ở phần cuối của cuốn sách, nơi truyện thứ ba của tổ khúc đớn đau này, nhân vật nữ chính, trở về ngồi dưới những gốc nho biển, nơi Bố và Mẹ của cô trước đây vẫn hay ngồi. Và cô đã nhìn thấy gì?</p>



<p><em>Trước mặt, hoàng hôn vàng đỏ vỗ về mặt biển nhấp nhô sóng. Những cánh hải âu chao liệng. Một đàn cốc biển bay thành hàng một về phía chân trời xa xa, nơi có những hòn đảo lờ mờ nổi trên mặt nước. Những hình ảnh này, có lẽ mẹ tôi đã trông thấy y như tôi thấy bây giờ. Ý nghĩ này làm tôi ấm lòng.&nbsp;</em></p>



<p>Cuốn truyện khép lại như thế, với một nốt nhạc dịu, cho thấy nhân vật đã tìm lại được một chốn bình yên để trú ẩn, để quay về, như mục đích của truyện mà nhà văn đã mong ước và hướng tới: Tiểu thuyết, cái nẻo vào lạ lùng ấy, có thể “<em>cung cấp một bối cảnh văn học phong phú và đa dạng. Nó giúp xóa nhòa đường biên của tranh chấp, hận thù. Nó vuốt ve những khổ ải, đớn đau</em>”. Đúng như thế, cuốn tiểu thuyết này, với lịch sử được dùng làm một phông nền qua những gam mầu rất mờ nhạt, và ước muốn của nó, theo tôi thấy, là hướng về phía ánh sáng, về sự yên bình, về sự xoa dịu, qua lòng hiểu biết và niềm tin vào cái thiện, cái tốt.</p>



<p><a>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Chia sẻ mong ước ấy của tác giả, nhà văn Trịnh Y Thư, t</a>ôi hy vọng người đọc tìm được cái ánh sáng và niềm tin ấy nơi tiểu thuyết nói chung. Và nơi quyển sách này, nói riêng. Nỗ lực của tác giả, tôi tin, người đọc có thể nhìn thấy, luôn ánh lên đâu đó, trong suốt hành trình đi vào và đi ra khỏi quyển sách của mình.&nbsp;</p>



<p>(Tựa, cho <em>Đường về thủy phủ</em> của Trịnh Y Thư).</p>



<p><em>– Bùi Vĩnh Phúc</em></p>



<p>Tustin Ranch, Calif.</p>



<p>Tháng Năm, 2024, trong mưa Xuân.</p>



<p>@@@</p>



<p>Sách có bán trên BARNES &amp; NOBLE</p>



<p>326 trang, bìa cứng, 6” x &nbsp;9”, giá bán: US$25.00</p>



<p>Xin bấm vào đường dẫn sau:</p>



<p><a href="https://www.barnesandnoble.com/w/duong-ve-thuy-phu-trinh-y-thu/1145847142?ean=9798331414085">Duong ve thuy phu by Trinh Y. Thu, Hardcover | Barnes &amp; Noble® (barnesandnoble.com)</a></p>



<p>Từ tìm kiếm: duong ve thuy phu, trinh y thu</p>



<p>Hoặc liên lạc với tác giả / NXB qua hai địa chỉ email sau để mua sách có chữ ký của tác giả:</p>



<p><a href="mailto:trinhythu@gmail.com">trinhythu@gmail.com</a></p>



<p><a href="mailto:vanhocpress@gmail.com">vanhocpress@gmail.com</a></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nguyễn Thị Khánh Minh: Cảm nhận nhân đọc Ký Ức Của Loài Bò Sát&#8230;</title>
		<link>https://t-van.net/nguyen-thi-khanh-minh-cam-nhan-nhan-doc-ky-uc-cua-loai-bo-sat/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Thơ Nhiều Tác Giả]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 14 Dec 2023 10:40:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[giới thiệu]]></category>
		<category><![CDATA[Đường về thủy phủ]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=67867</guid>

					<description><![CDATA[Bản vẽ Duy Thanh [1931-2019]. Phần III: Cảm nhận nhân đọc Ký Ức Của Loài Bò Sát (Một chương trong tiểu thuyết Đường Về Thủy Phủ của nhà văn Trịnh Y Thư) 1. Tựa đề của chương này là Ký Ức Của Loài Bò Sát. Với sự tự hỏi, tôi bật ra tưởng tượng, một [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/RcbLty41-image001.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="880" height="682" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/RcbLty41-image001.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-67868" style="width:474px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/12/image001-300x233.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2023/12/image001-768x595.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/12/RcbLty41-image001.jpg?strip=all 880w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Bản vẽ Duy Thanh [1931-2019].</em></p>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><em><strong>Phần III: Cảm nhận nhân đọc Ký Ức Của Loài Bò Sát (Một chương trong tiểu thuyết Đường Về Thủy Phủ của nhà văn Trịnh Y Thư)</strong></em></p>



<p><strong>1.</strong></p>



<p>Tựa đề của chương này là Ký Ức Của Loài Bò Sát. Với sự tự hỏi, tôi bật ra tưởng tượng, một con thú bò sát, cá sấu chẳng hạn, nằm trong bóng mát của một đầm lầy, đang nghỉ ngơi để điều hòa thân nhiệt, nó bỗng nhớ đến quá khứ một thời, nơi đó cũng là một đầm lầy, lầy hơn, hôi hám hơn, có con vật hai chân, máu nóng, được gọi là con Người, đông như kiến, và những chuyện kinh khiếp xảy ra trong đầm lầy đó tệ hại hơn nhiều nơi này vì trong dòng máu nóng ấy rất ít hoặc không có những tế bào tình người. Cho đến một ngày, toàn bộ con Người nơi đó bị diệt chủng. Bây giờ, loài bò sát, là nó được hóa thân. Thân xác tuy khác, nhưng ký ức không hề bị xóa, đôi khi hiện ra sáng tỏ như trời vừa tan sương, đủ sức lôi nó về cái kiếp Người xa xưa, và những hạt nước mắt từ vô thức ứa ra… Ký ức, phải chăng là một nghiệp theo đuổi chủ thể đến vô cùng? Chủ thể ấy là nhân vật xưng Tôi trong toàn bộ chương này.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Ký ức ấy khởi đi từ một mảnh đất chữ S ốm o, cưu mang những con dân bất hạnh luôn bị đọa đầy trong máu lửa, mang tên Việt Nam, từng vang lên những câu hát của những tù nhân, <em>một ngàn năm nô lệ giặc Tàu, một trăm năm đô hộ giặc Tây, hai mười năm nội chiến từng ngày&#8230; </em>Người ta có thể hình dung nỗi bi thống của máu và nước mắt tình người nát tan như thế nào trong những chữ <em>nô lệ, đô hộ, nội chiến</em>?</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tôi sẽ dẫn bạn đi theo những sự kiện, như theo những vết chân của cảm xúc theo những dòng chữ. Cảm xúc ấy tức thì và tôi tôn trọng nó, cho dù có người sẽ nói rằng chủ quan, riêng tôi nghĩ, đọc một tác phẩm, cái cảm xúc ngay lập tức đó, là tất cả để cho rằng tác phẩm ấy có ở lại trong lòng mình hay không.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Thăm thẳm ký ức của loài bò sát, nơi mà bạn sẽ thấy tắt ngúm mọi hy vọng trước những phận đời vô cùng nghiệt ngã, nơi mà xác chết con người không còn là một sự để tâm thương tiếc, nơi mà <em>sự hoang vu phả lên mặt mũi…, </em>vết xe tăng trên bờ đê, những ngôi làng cháy dở, những đường rầy quạnh vắng, đó là thời của trăm năm giặc Tây, của súng đạn đôi bên, trên xứ sở này. Đó là nơi mà bạn nghe “<em>Tiếng hô đầy vẻ thù hằn. Nó không phải tiếng nói của con người với con người. Nó như tiếng gầm của con thú hoang này trước một con thú hoang khác giống</em>.” Đó là nơi mà bạn ngộ ra một điều xương máu như tác giả: <em>Loài vật giết nhau vì định luật sinh tồn tự nhiên, nhưng con người giết nhau chỉ vì không chấp nhận kẻ khác không giống mình.</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; […] Chiến trận ngày mỗi lan rộng, mức độ tàn phá cũng gia tăng khủng khiếp. Mỗi lần quân Pháp vào làng càn quét, dân chúng lại bồng bế nhau tản cư, chỉ còn dân quân tự vệ ở lại bảo vệ nhưng cũng yếu ớt lắm. Khi quân Pháp rút, để lại hàng chục xác chết, dân lại trở về chôn cất người chết, dựng lại gian nhà tranh bị thiêu rụi rồi tiếp tục cày cuốc kiếm sống.</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; […] Bác sĩ Mẫn ngoáy con dao mãi vẫn không tìm thấy viên đạn. Tiếng thét hãi hùng vang lên từng chặp. Có lẽ cả làng, ai cũng nghe thấy tiếng thét, đúng ra, nó là tiếng thét vang vọng suốt thế kỷ khổ đau, trầm thống này. Nó xoáy vào màng nhĩ tôi, nằm sâu trong đó suốt cuộc đời tôi, chẳng bao giờ buông tha. Con dao thọc vào sâu thêm, tiếng thét trở thành tiếng rú như con vật bị chọc tiết. Có lẽ con vật bị chọc tiết, phản ứng cũng không dữ dội như thế. Cứ thế từng hồi, từng chặp. Nhưng bác sĩ Mẫn gan lì lắm, anh vẫn tiếp tục chọc ngoáy con dao nhíp nhỏ xíu tìm kiếm viên đạn.</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Làm sao có thể đối đầu với một bên là xe tăng, đại bác, một bên là phẫu thuật sống người bệnh kiểu như thời Trung Cổ này? Vậy mà kéo dài cả mấy chục năm, và họ chịu đựng được là do lòng yêu nước mãnh liệt. Ngày đó, đi kháng chiến chống Pháp là lý tưởng của thanh niên. Không lạ gì sức mạnh của toàn quốc kháng chiến. Cho tới lúc này trong những lớp học của trường Chu Văn An nơi tản cư đã có: <em>Đặc biệt là lớp chính trị. Lần đầu tiên tôi được nghe những cụm từ lạ tai như duy vật sử quan, đấu tranh giai cấp, bạo lực cách mạng, chuyên chính vô sản, địa chủ, bần cố nông, công nhân tiên tiến, và nhiều từ khác. Những khái niệm hoàn toàn mới lạ với tôi…”</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Và họ say mê với lý tưởng giải phóng đất nước khỏi ách nô lệ và nghèo đói, cùng hình ảnh một cuộc cách mạng, bình đẳng, chuyên chính vô sản. Lúc đó không ai nghĩ rằng đó là điều vừa may mắn vừa bất hạnh cho Việt Nam.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Đây là lời của một trong lứa thanh niên mang lý tưởng ấy:</p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; […] Nó là cuộc cách mạng. Một cuộc cách mạng chưa từng có bao giờ trên đất nước ta. Tất cả sẽ phải thay đổi. Và những người chủ trương cuộc cách mạng quyết theo đuổi nó đến tận kỳ cùng. Bằng mọi giá, dù phải đổ máu, họ phải đạt cho bằng được kết quả sau cùng.”</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Bằng mọi giá có nghĩa là gì? Tất tần tật đều là phương tiện? Phải mà những kẻ nắm quyền lực trong tay biết đâu là sự dừng lại của cái gọi là “bằng mọi giá” thì thế giới từ ngàn xưa tới giờ đâu có những cuộc chiến tranh, tàn sát đẫm máu!</p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; […] Càng nghĩ tôi càng thấy anh là người tài giỏi và có lý tưởng. Lúc đó tôi không hề biết con đường từ lý tưởng đến cuồng tín chỉ là một khoảng cách rất ngắn, ngắn lắm, chỉ vài milli-mét thôi, và chỉ cần một lực tác động nhẹ vài milli-gam là đủ cho một con người ôm ấp lý tưởng trở thành kẻ sát nhân, sẵn sàng chém giết đồng loại để thực hiện lý tưởng của mình.</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; […] Thế hệ thanh niên chúng tôi bị thất lạc trong cơn lốc lịch sử này. Tuổi trẻ với bầu nhiệt huyết sôi sục sẵn sàng lao đầu vào chỗ chết, hy sinh mạng sống mình cho đất nước, cho dân tộc. Nhưng tất cả chỉ là huyền thoại. Chúng tôi từng nghe rất nhiều những huyền thoại như thế. Tuổi trẻ chúng tôi mù lòa vì huyền thoại, bởi huyền thoại sáng rực như ngọn đèn một nghìn nến chiếu thẳng vào đồng tử khiến mọi thứ như lóa đi trong cơn đồng thiếp.</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Thật ngậm ngùi cho một thế hệ đã cống hiến tuổi trẻ và sinh mạng mình – cho một huyền thoại – Tôi nghĩ chỉ với đoạn văn súc tích rõ ràng này, Trịnh Y Thư hầu như đã có một lời giải đáp cho tất cả hệ lụy mà huyền thoại ấy đã gây ra.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Hình ảnh người lính kháng chiến lúc ấy mang nét quyến rũ của kiêu hùng và lãng mạn, khoảng ký ức này được đan xen nhiều vẻ đẹp của nhân tính – đủ để kéo ta về với cảm xúc con người – nhân vật xưng Tôi ở đây là một người có tâm hồn thơ mộng, dọc đường kháng chiến, bên cạnh những hiểm nguy mà vẫn say đắm với cảnh thiên nhiên, có lẽ nhờ bản chất ấy mà nhân vật này sống sót được. Cũng nhờ vậy mà ta được đọc những đoạn tả cảnh của nhà văn Trịnh Y Thư, rất hay ở những cặp tĩnh từ sinh động cùng những tỷ dụ rất mới, ví dụ, tôi mở ngoặc ở đây để nhắc đến đoạn Trịnh Y Thư tả cảnh nhìn trộm cô gái tắm:</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; <em>[…]</em> <em>và trước khi tụt xuống gốc cây bàng tôi đủ thời gian dán mắt vào đôi mông ấy. Núng nính. Nủng nỉnh. Như hai túi bột ai túm lại rồi lắc lắc…</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tôi rất thích hình ảnh của tỷ dụ này, không ngăn được tủm tỉm cười, chất khôi hài trong đoạn này như thể một ông thầy giáo nghiêm khắc cho học sinh đôi phút thở trong giờ học căng thẳng.</p>



<p>Và ta cũng không khỏi bâng khuâng trong văn phong đằm thắm thơ mộng ở những đoạn tả cảnh.</p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; […] Lần đầu tiên tôi được đi thuyền xuôi dòng sông mà lại đi vào ban đêm. Quả chẳng có cái thú nào bằng. Đêm trong vắt, bầu trời đầy sao lấp lánh, không một tiếng động nào ngoài tiếng sóng vỗ vào mạn thuyền oàm oạp nghe như một điệu hát ru em. Thuyền trôi êm.</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; […] </em><em>Lại đi ven những bờ ruộng, hay dọc theo đường tàu hỏa chỉ còn lại vết tích đường rầy năm xưa. Xóm làng hiu quạnh lắm. Vết xích xe tăng còn in hằn trên bờ đê, những ngôi đình bị bom cháy rụi đổ nát, những thân cây lỗ chỗ vết đạn. Cả một dải đất dài ngút mắt tới tận chân trời không hề có dấu vết của cuộc sống. Sự hoang vu như phả lên mặt mũi ba anh em…</em><em></em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Sự hoang vu như phả lên mặt mũi, </em>tả cảnh đẹp vừa thực vừa nên thơ đến nao lòng.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Và những nơi tản cư, dân tụ lại thành một phố chợ ven sông, thật ngạc nhiên cảnh náo động vội vã sống ấy, thú vị nhất là được biết sinh hoạt của một số các văn thi họa nhạc sĩ lừng lẫy của Việt Nam tại một quán phở, như Văn Cao, Phạm Duy, Tạ Tỵ, Đinh Hùng… đoạn Trịnh Y Thư tường thuật lại buổi họ tranh luận về văn chương nghệ thuật, nói đến các trào lưu mới ở phương Tây, họ có hoài bão đổi mới trong sáng tạo, tôi cảm giác có gì đó cả tin ngây thơ trong sự dấn thân của họ vào cuộc kháng chiến. Họ chỉ biết một điều đuổi giặc Tây với trái tim nóng bỏng của lòng yêu nước pha màu lãng mạn, nghĩ lại thấy vừa thương vừa ngậm ngùi, đấy là lứa bị vỡ mộng nhiều nhất sau này khi cục diện chính trị đổi thay.</p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; […] Cuối cùng chúng tôi có bàn, mà lại bàn tốt, ngay gần chỗ thu tiền, khá rộng rãi. Quán có cả phở xào, phở áp chảo, và không thiếu cà-phê. Trong lúc chờ nhà bếp đem phở lên, anh Mẫn cúi đầu nói nhỏ với chúng tôi:</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Hai em thấy bốn ông ngồi bàn bên kia sát chỗ thu tiền không?” Anh đưa mắt về phía trong, tôi và Toại cùng liếc theo, thấy bốn người đàn ông chắc đã ăn phở xong, đang ngồi uống trà, nói chuyện oang oang. Anh Mẫn nói tiếp: “Cái ông nước da tai tái, hai mắt sắc lạnh là nhạc sĩ Văn Cao. Ngồi cạnh ông Văn Cao, người đô con to lớn là họa sĩ Tạ Tỵ. Ngồi đối diện, cái ông tóc tai bù xù, vai so cổ rụt, môi thâm xì thuốc phiện là thi sĩ Đinh Hùng. Ngồi cạnh ông Đinh Hùng, đeo kính cận thị chính là nhạc sĩ Phạm Duy”.</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Đó là thời mà nhạc Phạm Duy đã rất được ưa chuộng từ chiến sĩ đến người dân và được dùng như một thứ vũ khí để hô hào chiến đấu.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “<em>Ông Phạm Duy nổi danh sau Văn Cao nhưng hiện thời ông là chiến sĩ trong đoàn Văn Nghệ Giải Phóng, có mặt khắp các miền trung du và thượng du, hát cho chiến sĩ nghe để khích động tinh thần chiến đấu của họ. Những bài hùng ca của ông hay lắm. Chính tôi cũng thuộc nhiều bài nhờ hát chung trong các buổi sinh hoạt tại trường.”</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Cũng may, Phạm Duy vào Nam sau này, chúng ta mới có được một Phạm Duy khẳng định được với thời gian tài năng âm nhạc của mình, nếu không, với tính cách nghệ sĩ tự do phóng khoáng, không chịu câu thúc, thì hẳn đã không còn Phạm Duy nữa…</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Có tình tiết đẹp đến nỗi người mang ký ức này nói là nhớ đời, ký ức về những trang hồng nhan nổi tiếng, may thay họ sống sót qua thời chiến tranh để cống hiến tài sắc cho văn học nghệ thuật miền Nam Việt Nam sau này.</p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; […] Hai em có thấy cô ngồi ở quầy thu tiền không? Mấy ông tướng này si tình cô ấy, ngày nào cũng vào quán chiếm cái bàn sát chỗ cô ấy, ngồi lì cả ngày không chịu về. […] Anh còn nghe đồn ông Đinh Hùng có lần nèo cô ấy xin một lọn tóc đem về bỏ trong bì thư nhét dưới đáy ba-lô, lâu lâu đem ra ngửi”.</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Quả thật đó là một trang thiếu nữ đang tuổi thanh xuân, đẹp thanh nhã, đài các, nhưng nét đẹp sao u buồn đến não nùng, chẳng bút mực nào tả xiết, như thể cô có tâm sự gì u uất lắm trong lòng. Có lẽ nhờ thế trông cô quyến rũ vô cùng. Tôi chỉ dám liếc nhìn cô thôi đã thấy rúng động cả cõi lòng.</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Anh biết tên cô ấy không?”. Tôi hỏi anh Mẫn.</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Cô ấy tên Thái. Nhưng có thời gian trước đây đi theo ban kịch của ông Thế Lữ và bà Song Kim nên có tên sân khấu là Thái Hằng”</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; <em>[…] Người bưng phở là một cô gái tôi áng chừng mười ba, mười bốn, tức là còn nhỏ tuổi hơn tôi. Cô mặc áo cánh trắng, tóc kẹp buông sau lưng, khuôn mặt sáng láng như trăng rằm. Cả ba chúng tôi ngẩn người ra nhìn cô. Cô nhanh nhẹn đặt ba bát phở trước mặt chúng tôi, nhoẻn miệng cười:</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Mời các anh dùng phở cho nóng, ạ”. Giọng cô ngọt, trong văn vắt.</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Anh Mẫn nghiêng đầu hỏi cô:</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Em tên gì? Anh vào đây ăn nhiều lần mà sao không thấy em bao giờ”.</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Dạ, em mới nghỉ học, vào làm được mấy hôm nay thôi. Em tên Băng Thanh. Em là em ruột của chị Thái Hằng ngồi đằng kia”.</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Cái tên Băng Thanh, giọng nói, khuôn mặt, cử chỉ, hình dáng ấy theo tôi trên đường về. Nó vẫn ở lại, ngọt ngào trong trí nhớ, tâm khảm tôi suốt quãng đời còn lại.</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Kể ra trong ký ức đó, có những hình ảnh diễm lệ này thì con người vẫn còn cái đẹp để tượng trưng cho nhân tính, và là tấm khiên mỏng manh che chắn những cái ác, nhưng, liệu có đủ sức cho những điều trong ba sự việc sau đây – cảnh xử tử một xác chết, cảnh đói năm Ất Dậu, và cảnh thảm sát một làng H’Mong?</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Trong một cuộc chiến, không chấp nhận có tù binh. Chỉ có xác chết và vũ khí được coi là chiến lợi phẩm được đếm số. Bản chất thú vật trong con người còn hơn là thú dữ, vì hành xử cái ác có ý thức. Đành rằng đuổi ngoại xâm là một điều hợp lý đứng trên phương diện tôn trọng quyền lãnh thổ, quyền được sống tự do, độc lập của một dân tộc, nhưng nhân danh gì để tìm cách diệt nhau một cách tàn bạo? Trịnh Y Thư nói “<em>tôi không viết về chiến tranh, mà chỉ viết về ấn tượng của tôi về chiến tranh”, </em>những ấn tượng <em>bám chặt tôi, bắt tôi chịu đựng sự hành hạ của nó suốt đời.</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Ấn tượng về chiến tranh ấy người ta không bao giờ được đọc trên chính sử, cho nên nếu không có những tiểu thuyết như Đường Về Thủy Phủ này, người ta khó biết được thực chất dã man của một cuộc chiến xảy ra bất cứ đâu trên cõi bụi đỏ này! Theo tôi, nó không chỉ hành hạ suốt đời người, mà thành một ấn tích lưu dấu trong ký ức những đời khác. Nó như một nhắc nhở đau đớn về sự thúc thủ của con người trước cái ác không thể hình dung nổi của con người.</p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; […] “Đồng chí Sơn! Tôi ra lệnh cho đồng chí cắt đầu thằng Tây này cho tôi. Tại sao đồng chí cãi lệnh tôi, hử?”<br>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Tôi không quen làm công việc này. Xin đồng chí chỉ định một đồng chí khác.” Anh Sơn gượng gạo trả lời.<br>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Chúng ta không có thời gian. Đồng chí phải làm ngay. Đồng chí mà còn từ chối, tôi sẽ ghép đồng chí vào tội bất tuân lệnh thượng cấp, đồng chí sẽ phải chịu hình phạt kỷ luật.”<br>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Anh Sơn miễn cưỡng ngồi thụp xuống bên xác người sĩ quan Pháp…</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tôi không đủ can đảm để trích đoạn này, đọc một lần là quá đủ cho cảm xúc kinh hãi về việc cắt đầu một xác chết với con dao lưỡi lê! Trời ơi, cho đến lúc này tôi mới biết biên giới để thỏa mãn cái ác là vô tận! Không biết sau khi nhân vật Sơn vất vả với việc xử tử xác người sĩ quan Pháp, anh còn đủ nhiệt huyết của lòng yêu đời mà theo mộng văn chương?</p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; […] Anh túm tóc cái đầu lâu khủng khiếp đưa cho ông Lê Lân. Ông này cầm lên nhìn chòng chọc, mặt ông đanh lại, nhổ một bãi nước bọt vào mặt nó. Đoạn ông ra lệnh cho một anh bộ đội khác cắm nó vào một cây sào tre đem dựng trước cổng đồn. Tôi thấy anh Sơn cầm súng lên lảo đảo đi vài bước rồi ôm ngực nôn thốc nôn tháo.</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tôi để ý, bao giờ cũng vậy, sau khi trưng ra những bất hạnh, những hình ảnh khiếp đảm, bao giờ nhà văn Trịnh Y Thư cũng để lại sau đó ánh lóe lên của thiện lương và nhân tính, việc anh Sơn nôn thốc nôn tháo là gì, phải chăng đó là cái nhân tính trong con người anh trỗi dậy, phản ứng lại cái thú tính? Cái nhân tính mà Trịnh Y Thư nhắc nhở, chí ít cũng là một cái phao hy vọng cho người ta bám lấy để sống tiếp trong chiến tranh và đói khát.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Vâng, nạn đói năm Ất Dậu ở miền Bắc, vào thời mà một triệu quân Nhật chiếm đóng ở Việt Nam. Tôi cũng không đủ bình tĩnh để trích lại đoạn tả cảnh đói. Nó quá sức cho sự thương tâm và phẫn nộ.</p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; […] “Suốt đêm tôi không ngủ được mà chỉ nghĩ đến miếng giò. Thằng Cu Vĩnh nhà tôi chết rồi, nó chết từ nửa đêm, và tôi quyết định lóc thịt nó ra giã làm giò. Tôi chẳng nghĩ ngợi gì được, làm như cái máy…”</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Người chồng sau khi lóc thịt xác con làm giò, hai vợ chồng ăn giò, vợ chết vì bội thực, ông cho rằng vợ ông “<em>Đứt ruột vì ăn thịt con</em>”. Ông phát rồ đốt nhà đi lang thang… rồi “<em>ông đi mãi về phía những doi đất màu hồng. Tôi thấy ông nhúng hai chân xuống nước rồi lại rút lên. Tôi nhìn theo ông. Trong mắt tôi, cái bóng ông bây giờ chỉ còn nhỏ xíu. Vô cùng bé nhỏ, nhỏ đến độ không một chút trọng lượng giữa vũ trụ bao la này.”</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Ông đi về Thủy Phủ?</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Đây chỉ là một trên hai triệu nạn nhân trong cảnh bị bỏ đói thảm khốc năm Ất Dậu 1945 ở miền Bắc Việt Nam. Một trận đói như thế mà không có một thống kê chính xác về số người chết, mãi đến tháng 7.2022, cuốn sách Nạn Đói&nbsp;Năm&nbsp;1945 Ở&nbsp;Việt Nam của hai tác giả: GS.&nbsp;Văn Tạo, GS. Furuta Motoo xuất bản trong nước, mới ghi rõ hơn 2 triệu người chết đói (dân số Việt Nam lúc ấy là 20 triệu). Một trận đói kinh hoàng trong lịch sử các trận đói của loài người. Không một tòa án quốc tế nào xét xử tội ác. Không một ai nhận trách nhiệm và chí ít một lời xin lỗi oan hồn của hơn hai triệu người. Tôi nhớ bài thơ <em>Đói</em> của thi sĩ Bàng Bá Lân, được thầy việt văn Vũ Thược đọc cho chép năm lớp đệ tam, <em>Những thây ma thất thểu đầy đường</em>… Lúc đọc bài này thầy rưng nước mắt. May thay, còn những hạt lệ theo dấu bước lang thang của hai triệu cái bóng chết đói…</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Và, có một cõi rất nhỏ nhoi. Nhỏ hơn hạt cát trong cuồng phong chiến tranh.</p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; […] tôi ra suối chờ Xụ Phụn Phèn. Tôi biết hằng ngày cô ra nương ngô, lúc về, ra suối tắm rồi mới về nhà. Cô và các bạn của cô. Nơi các cô tắm là một duềnh nước trong vắt. Con suối đổ từ cao xuống đến đây biến thành cái vụng to, cây cỏ um tùm xung quanh che rợp, nhưng tôi biết một chỗ kín đáo rình xem các cô tắm (kinh nghiệm từ ngày theo đám nhãi ranh làng Thụy Khuê xem trộm cô con gái cụ Chánh Phùng Gia Tuyên). Nhưng từ ngày cô và tôi trở thành tình nhân, cô cấm tuyệt tôi không được làm cái trò khỉ ấy nữa. Cô hẹn tôi ở một nơi khác, mãi tận khúc suối trên nguồn cách xa cả cây số, vắng vẻ. Tắm xong, cô về nhà làm cơm bỏ vào ống tre đem ra cho tôi và cô cùng ăn. Tại đây có một cái lán xiêu vẹo bỏ không, tôi sửa sang, dọn dẹp thành căn lều lý tưởng cho hai chúng tôi yêu nhau.</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tả cảnh yêu nhau, văn Trịnh Y Thư bình bình trầm trầm mà đầy cảm xúc, như khi tả cảnh thiên nhiên, giản dị, hết sức con người, cho ta thấm thía cái quý báu của cảm giác thịt da, tự nhiên đến độ bật lên sự trong sáng ngây thơ của đôi tình nhân, đúng như chữ của Trịnh Y Thư “<em>say đắm và tinh tuyền”. </em>Có lẽ đây đoạn êm ả hiếm hoi trong tập tiểu thuyết này khiến cho người đọc được thở một cách nhịp nhàng.</p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; […] Cô cảm động nhìn tôi âu yếm rồi cởi áo, cầm tay tôi đặt lên ngực mình. Vú cô bé lắm, chỉ nhỉnh hơn quả cau một chút, nhưng đầu vú to, màu hồng. Tôi thích nghịch vú cô. Cô biết thế. Tôi đưa môi hôn cô, tay mân mê đầu vú xinh xắn, ngọt ngào.</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Cái màu trắng trong của tình yêu ở đoạn trên nó tương phản làm sao với màu đỏ của đêm thảm sát ở đoạn sau, nỗi bi thảm thành muôn tiếng vỡ tan tành của cảm xúc. Lần này, tôi sẽ trích hết đoạn văn, để chúng ta cùng đối diện với một cảnh mà tôi cho rằng không ai còn có thể sống được với tâm thái của một con người hiền lương được nữa, như thể, đôi tay mình, lương tâm mình cũng vấy máu. Những hàng chữ cũng loang máu. Đứng trên nền nhân tính, tình người, chúng ta ăn nói làm sao với ba trăm mạng người bị thảm sát như thế?</p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; […] Nhưng khi về gần đến thôn bản, linh tính báo cho tôi biết có chuyện chẳng lành, và tôi không thể tin mắt mình khi trước mặt tôi, cả cái buôn bị cháy rụi, không một căn nhà nào còn, không một dấu hiệu nào cho thấy bất cứ một sinh linh nào còn sống, con người cũng như con vật. Tôi bàng hoàng đến tê tái cả người. Chuyện gì xảy ra? Cả một buôn bản, gần ba trăm con người biến đi đâu? Nhà cửa chỉ còn lại những đám tro than bắt đầu nguội lạnh. Tôi kinh hãi chạy như điên dại trên đống tro tàn.</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; […] Tôi quá đỗi hoang mang như trong ác mộng. Không một bóng người cho tôi hỏi thăm. Tất cả im lặng đến ghê người, chỉ có tiếng u u từ cõi mịt mùng của núi rừng vọng đến cùng tiếng gió đánh vào cành lá kêu xào xạc. Tôi chạy ra bờ suối nơi tôi và Xụ Phụn Phèn thường hẹn hò. Có lẽ mấy hôm nay mưa to trên thượng nguồn nên bây giờ con suối là một cái thác nhỏ, nước bắn tung tóe trên những tảng đá to tròn nằm hỗn độn hai bên bờ. Không có gì khác lạ. Đứng nhìn con suối một lúc lâu, đầu óc trống rỗng, tôi thẫn thờ đi trở lại buôn. “Phải tìm cho ra lẽ chuyện gì đã xảy ra nơi đây. Ai là thủ phạm gây nên thảm cảnh này?”</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; […] Thế là, đích thân ông Lê Lân – theo lời anh Sơn, vốn là người ghét tay sai, chỉ điểm cho Pháp hơn cả Pháp – chỉ huy một đại đội về thôn bản, nửa đêm lùa hết dân chúng ra bờ suối. Những người dân H’Mông xưa nay chỉ biết làm nương rẫy, trong tay chỉ có vài cây rìu, vài con dao, làm sao chống cự nổi súng đạn. Có lẽ cũng có vài anh thanh niên liều mình đánh trả, nhưng cuối cùng tất cả già trẻ lớn bé bị lùa hết ra bờ suối. Đêm đó trời mưa như trút nước, anh dân quân kể, con suối bình thường nước chảy lờ đờ, đêm đó biến thành một dòng thác lũ, nước chảy cuồn cuộn. Sau khi bắt mọi người đứng quay lưng nhìn xuống suối, một viên đạn vào sau ót, một cái đạp, xác người đó lập tức biến mất trong làn nước hung hãn. Không phải từng người mà hàng chục người mỗi lượt. Không phải ai cũng lãnh đạn, có kẻ bị bổ rìu vào đầu, óc phọt ra. Trẻ em sơ sinh không bị bắn, cũng không bị rìu bổ, họ nắm cổ chân đứa bé quật vào thân cây to, óc vỡ toang, và tiện đà ném bay cái xác nhỏ xíu xuống suối.</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Chỉ một loáng, gần ba trăm con người đã bị xử tử như thế.</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Dòng suối máu kia có chảy xuống đồng bằng loan tin thảm sát không? Những điều này có trong sử sách không? Hay chúng ta chỉ biết được qua ấn tượng được kể lại trong những cuốn như tiểu thuyết Đường Về Thủy Phủ này?</p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; […] Tôi không biết mình sẽ đi đâu, nhưng tôi phải ra khỏi vùng núi rừng này. Nó kinh khiếp quá đỗi. Con suối trước kia xinh đẹp thơ mộng dường nào, bây giờ là suối máu. Tôi băng rừng, cứ nhắm bừa phía trước mà đi, vừa đi vừa gọi tên Xụ Phụn Phèn. Ôi, cô gái H’Mông xinh đẹp! Tình yêu của cô cho tôi, nó hoang dại như núi rừng này, nhưng nó say đắm và tinh tuyền như tình yêu của loài muông thú. Nhờ nó, muông thú tìm đến nhau, trái đất này còn tồn tại. Nó giữ cho trái đất khỏi nổ tung. Nhưng nó bị người ta lấy mất của tôi, bởi người ta đang có một âm mưu kinh khiếp là toa rập nhau phá vỡ trái đất ra thành nhiều mảnh vụn, không cách gì hàn gắn lại được.</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Cõi địa đàng ở một <em>cái lán xiêu vẹo bỏ không</em>. Ôi! Phải chi mà Adam và Eva tội nghiệp này cứ mãi ở đó đừng ra chi cái cõi trần gian khốn nạn này!</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Có lòng từ bi nào đủ lực để cứu chuộc cho những loại tội ác như thế?</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Thôi thì với Ký Ức Của Loài Bò Sát này của Trịnh Y Thư như giọt máu hồng từ sâu thẳm trái tim đau đớn ứa ra, nhỏ xuống mảnh đất ruột thịt Việt Nam này, phần nào giải oan cho họ, đi tới một miền đất nào may mắn hơn, hiền lương hơn.</p>



<p><strong>2.</strong></p>



<p>Trong Lời Ngỏ, Trịnh Y Thư nói rằng “<em>Tôi tuyệt đối không có ý định viết một cuốn sách lịch sử chiến tranh, cũng không phải một cuốn tiểu thuyết lịch sử.</em>” Anh không viết sử, nhưng cuộc đời của các nhân vật trong Đường Về Thủy Phủ, nhất là nhân vật Tôi ở chương Ký Ức Của Loài Bò Sát, đều gắn liền với tất cả thăng trầm bi đát của lịch sử khiến người đọc biết được bối cảnh chiến tranh Việt Nam trong suốt ba mươi năm giữa thế kỷ XX, nhất là mặt bóng tối của nó, phản chiếu qua cuộc đời như địa ngục của những nạn nhân trực tiếp hay gián tiếp của cuộc chiến, những điều chúng ta không hề được đọc trong những trang chính sử.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tất cả <em>chỉ là chiếc lá nhỏ nhoi trong cơn lốc lịch sử. </em>Và bụi xác của lá tan vào hư vô.</p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; […] Tôi chỉ mong trở lại sống những ngày như dạo mới về làm công việc đi đo ruộng đất cho bác Đương. Với một con ngựa như con Tiểu Thố ngày trước, tôi sẽ ngày ngày đi lang thang khắp chốn núi rừng, đẫm mình vào thiên nhiên tuyệt đẹp của miền Tây Bắc cho tôi quên đi những cơn ác mộng tôi phải chịu đựng mấy năm nay suốt từ thời gian tôi mới lớn cho đến bây giờ. Tôi chẳng còn lòng dạ và tâm trí đâu để lao đầu vào những trò chiến đấu điên cuồng này. Tôi chỉ muốn sống, sống như một con người. Ôi, chưa bao giờ một đời sống giản dị như cỏ cây lại có thể khó khăn như vậy.</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; <em>[…]</em> <em>Sự thật là chẳng bao giờ có tình đoàn kết giữa những người anh em, lòng trắc ẩn với đồng loại cũng không, và sự đồng cảm lại càng không có. Ở buổi hoàng hôn của nhân loại, tôi vẫn thấy Sisyphus hì hục lăn tảng đá lên đỉnh núi chỉ để nhìn nó lăn xuống lần nữa. Vĩnh viễn. Như đóng đinh vào tận thế.</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Ở đây, tôi trích một số đoạn nói về thân phận trớ trêu bi thảm, bi hài của nhân vật Tôi, với bản chất một người trí thức hiền lành, làm thông dịch tiếng Pháp trong những buổi hỏi cung tù nhân Pháp, anh ta không đáng bị một hoàn cảnh nghiệt ngã, vô lý, kéo dài cả chục năm trong tù ngục như thế, hãy nghe anh kể, lúc bị giải đi đến nhà tù:</p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; […] Từ người trông trại tù tôi biến thành tù nhân chỉ trong một chớp mắt. Con tắc kè đổi mầu chắc không thể nhanh hơn. Sau đó ba người bộ đội lại dẫn tôi đi sâu vào khu rừng thông. Người đi trước cầm cây đèn bão dẫn đường. Tôi nghe tiếng thông vi vu trong gió đêm, chỉ có tiếng lá thông tấu khúc nhạc du dương. Khu rừng thông này chắc là đẹp lắm, không hiểu tại sao người Pháp lại cho xây trại tù giữa một vùng rừng núi thơ mộng như vầy, ở tù trong này chắc cũng thú vị đấy. Tôi thầm nghĩ trong lúc rảo bước theo ba anh bộ đội đi về phía trước nơi tôi thấy lờ mờ dưới bầu trời sao ba bốn dãy nhà dài nằm ẩn hiện dưới những cây thông cao vút. Mỗi bước đi, tôi nghe tiếng rào rạo của lá thông khô lâu ngày tích tụ thành những đống nhỏ…</em><em></em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Bao lâu ở trong tù thì anh mới biết rằng cái tâm hồn lãng mạn chỉ là trò đùa đầy khôi hài với định mệnh mình?</p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; […] Mười năm tôi nằm trong cái xà-lim của trại tù giữa cánh rừng thông thơ mộng gần Nhã Nam. Mười năm tôi bị tù không một phiên tòa xử, không một cái án, không người thăm nuôi, không tin tức bên ngoài. Mười năm họ nhốt tôi mà không cho tôi biết vì sao họ nhốt. Mấy năm đầu tôi còn kêu than, nhưng mỗi lần kêu là mỗi lần bị đánh đập dã man nên riết rồi đâm chai lỳ, an phận với số mệnh.</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; […] Ở một đất nước trại tù nhiều hơn trường học.</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; […] Chính phủ ta rất sáng suốt và khoan hồng, đồng chí thành thực khai báo tất cả những gì đồng chí hay biết, đồng chí sẽ được tự do ngay…</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Câu nói này rất quen. Sau 1975, trong những trại tù cải tạo, cũng là những câu này, và sau đó cũng là những số phận bị giam giữ cả chục năm nơi những trại tù khắc khổ.</p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; […] Tôi là một người tù chuyên nghiệp, ông có thể gọi tôi như thế. Nhưng dù ở trong trại tù hay ngoài đời, tù nhân này làm một công việc duy nhất là bốc cứt. Trong trại tù, bốc cứt đã đành, ngoài đời hắn cũng chỉ biết làm, đúng hơn, được phép làm một nghề kiếm ăn duy nhất là đi đổ thùng phân nhà người ta, tức là bốc cứt. Cứt nuôi hắn, hắn sống nhờ cứt. Hắn không thấy cứt ghê tởm nữa, dù là cứt người, một thứ cứt hôi thối tởm lợm hơn cứt tất cả các loài sinh vật khác sống trên mặt đất, dưới mặt đất hay trên không trung. Mùi cứt từ người hắn lúc nào cũng xộc vào mũi kẻ khác, nó ăn sâu vào từng lỗ chân lông của hắn, khiến ai vô ý đứng gần phải bịt mũi quay đi chỗ khác. Tóc hắn, trước khi bạc trắng và lơ thơ vì tuổi tác như bây giờ, có mầu vàng khè vì sống với cứt lâu ngày, như một minh chứng không thể phủ nhận cho định luật tiến hóa, biến đổi màu lông theo môi trường sống của sinh vật trên thế gian. Hiện thân hắn là cứt, cả cuộc đời hắn là cứt, chân dung, bản mặt hắn là cứt, bản ngã hắn là cứt, bản sắc hắn là cứt, bản nguyên hắn là cứt, và cuối cùng bản thể hắn cũng là cứt nốt.</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Thương tâm mà không khóc nổi, cười chua chát cũng không trút được nỗi tấm tức trong lòng, nó là sự phẫn nộ. Thời gian, tù ngục, hận thù, ngược đãi, và sự chịu đựng đã để dấu trên tâm linh và thể xác tù nhân muôn hình vạn trạng của bi thương. Và cũng như những trường hợp tương tự, Trịnh Y Thư để lại một an ủi nhỏ của tình người &nbsp;khiến nhân vật này sống sót trong cảnh địa ngục.</p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; […] Và Luke. Anh không quên tôi. Sau giải phóng Miền Nam, anh lò mò sang Việt Nam tìm tôi. Anh từng là Thứ trưởng Văn hóa dưới thời Tổng thống Mitterrand nên quen biết nhiều trong chính giới Pháp cũng như Việt Nam. Chính anh đã vận động để tôi được tự do trong một thời gian dài. Tôi không được gặp anh, nhưng anh có viết cho tôi một lá thư dài với lời lẽ chân tình, chứng tỏ tình cảm đậm đà anh dành cho tôi vẫn còn nguyên vẹn trong anh dù bao năm tháng trôi qua, bao biển dâu dời đổi. Tôi giữ lá thư của anh rất kỹ, thi thoảng lấy ra đọc lại. Nhờ lá thư, tôi còn một chút hy vọng mong manh trong tim mình là tình cảm giữa con người với nhau chưa hoàn toàn tan biến khỏi vũ trụ…</em></p>



<p><strong>3.</strong></p>



<p>Xuyên qua hai chương tôi đọc, và hẳn là toàn tập Đường Về Thủy Phủ, dù Trịnh Y Thư khẳng định không hề có chủ ý đưa ra một luận đề hay thông điệp nào, nhưng người đọc – như tôi chẳng hạn – luôn nhận ra nỗi ưu tư khắc khoải của anh về sự Lương Thiện. Sự ưu tư triền miên pha lẫn niềm khát khao, nỗi thất vọng, có thể cấu thành một thông điệp. Anh muốn gửi gắm gì qua những phân đoạn đầu, nơi màu áo trắng trinh bạch mà hai cô gái quyết liệt dùng mạng sống của mình để quay trở lại với nó, có phải là vì họ tin rằng sự Lương Thiện sẽ bảo vệ được con người?</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Một điều nữa, trong bối cảnh tàn bạo của chiến tranh, con người đánh mất mình trong cuộc xóa sổ lòng nhân đạo, Trịnh Y Thư vẫn còn tin vào Nhân Tính và Tình Người. Dẫu là những chi tiết thấp thoáng nhưng đủ để đánh động vào cảm xúc người đọc, qua các hình ảnh tôi xin nhắc lại ở đây:</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; – Hình ảnh chờ đợi mỗi chiều trên bờ biển của gã bác sĩ bộ đội mong mỏi người yêu từ hư vô trở về là gì, nếu không là lòng chung thủy?</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; – Cái nôn thốc tháo của Sơn sau khi cắt đầu xác một sĩ quan Pháp – điều đó chỉ xảy ra từ phản ứng của nhân tính.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; – Và, lá thư đậm tình bạn và lòng tri ân của Luke khiên nhân vật Tôi có thể tiếp tục sống trong cái “định mệnh cứt” của mình. <em>[…] Tôi giữ lá thư của anh rất kỹ, thi thoảng lấy ra đọc lại. Nhờ lá thư, tôi còn một chút hy vọng mong manh trong tim mình là tình cảm giữa con người với nhau chưa hoàn toàn tan biến khỏi vũ trụ.</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Cảm động nhất với riêng tôi, là niềm tin siêu hình, có linh hồn sau khi chết.</p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; […] Xụ Phụn Phèn chết oan ức và thảm khốc nên linh hồn cô không siêu thoát. Ngày nào còn sống, tôi có bổn phận chăm sóc linh hồn cô. Và tôi có cảm tưởng linh hồn cô vẫn lẩn quất xung quanh tôi chứ không đi đâu xa. Tôi và cô vẫn chuyện trò với nhau trong những đêm thanh vắng.</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; […]</em> <em>Tôi hỏi cô: “Phèn lấy kử làm chồng rồi mình về Yên Đương làm ruộng bên đó. Phèn chịu theo kử không?”</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Phèn đi theo anh đến tận bụng trời rốn bể.” Cô nghiêm trang trả lời.</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Bụng trời rốn bể” của cô là Thủy Phủ, nơi cô tin sẽ thành tựu mọi ước mơ. Và hình ảnh hai mẹ con cô hân hoan đi về Thủy Phủ, tôi nghĩ chỉ với lòng nhân ái mới để họ ra đi không mang chút thù hận nào trong lòng, mới cho linh hồn họ tan vào mầu xanh biển ước mơ. Họ thất lạc nhau trong đời sống, tôi tin với lời hẹn hò, họ sẽ may mắn hơn, không còn thất lạc nhau trong cõi chết. Đó là Thủy Phủ của Trịnh Y Thư, nơi ẩn dụ cho cõi nương tựa của niềm tin, hy vọng, nơi Trịnh Y Thư nhắn nhủ rằng, tất cả những điêu linh sẽ tan vào mầu xanh vị tha.</p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; […] </em>“<em>Đúng vậy, con ạ. Họ cùng về thủy phủ với mình, nơi không còn bom đạn hay hận thù, nơi mẹ con mình sẽ gặp bố, bố sẽ yêu thương bảo bọc mẹ con mình. Thôi con nhé, con hãy ngủ đi, khi nào mặt trời mọc là mình đến nơi.”</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Kết cấu mỗi chương là một truyện vừa, có thể đứng độc lập, nhưng xuyên suốt tiểu thuyết Đường Về Thủy Phủ được chiếu bằng một thứ ánh sáng, của Lương Thiện, Tình Người, và Nhân Bản, lấp lánh qua văn phong tả chân, bạo liệt mà không thiếu tính trữ tình của lòng nhân ái, đa cảm.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Như trong phần mở đầu tôi đã nói đến sự tưởng tượng của mình, nó dẫn tôi đến một kết luận vừa buồn vừa bất lực vừa như một sự tránh né đối diện với sự thật, vừa như tìm một giải pháp siêu hình cho một vấn nạn – làm con Người với máu nóng còn đủ tình người, thật khó kham nổi với những dã man do con Người gây ra, hay là, về làm loài bò sát, với máu lạnh, để không còn cảm xúc với những nỗi đau? Nhân vật Tôi sau khi trút bỏ những ký ức thống khổ này, ông với vỏ bọc bò sát, có thoát xác được không để sống như loài cỏ hoa dịu dàng, giản dị như ông ước mơ?</p>



<p>Thưa nhà văn Trịnh Y Thư, có thể ý nghĩ của tôi không đúng với anh, nhưng chẳng sao, cảm xúc tôi bật ra như phản xạ từ chữ nghĩa của anh, và cho dù ý nghĩ ấy chỉ vỏn vẹn vừa đủ một nụ cười vớt vát về sự lương thiện của con Người. Cho nhau dũng khí gây lại niềm tin.</p>



<p><strong>– Nguyễn Thị Khánh Minh</strong></p>



<p>(12/11/2023)</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Trịnh Y Thư: Ký ức của loài bò sát (Phân đoạn 16-17)</title>
		<link>https://t-van.net/trinh-y-thu-ky-uc-cua-loai-bo-sat-phan-doan-16-17/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Trịnh Y Thư]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 16 Nov 2023 10:50:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[Đường về thủy phủ]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=67140</guid>

					<description><![CDATA[Bản vẽ Duy Thanh [1931-2019]. 16. Về lại buôn bản sau trận công đồn, ngay chiều hôm sau, tôi ra suối chờ Xụ Phụn Phèn. Tôi biết hằng ngày cô ra nương ngô, lúc về, ra suối tắm rồi mới về nhà. Cô và các bạn của cô. Nơi các cô tắm là một duềnh [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/11/vDuHU6gu-image001.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="880" height="682" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/11/vDuHU6gu-image001.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-67141" style="width:448px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/11/image001-300x233.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2023/11/image001-768x595.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/11/vDuHU6gu-image001.jpg?strip=all 880w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Bản vẽ Duy Thanh [1931-2019].</em></p>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>16.</p>



<p>Về lại buôn bản sau trận công đồn, ngay chiều hôm sau, tôi ra suối chờ Xụ Phụn Phèn. Tôi biết hằng ngày cô ra nương ngô, lúc về, ra suối tắm rồi mới về nhà. Cô và các bạn của cô. Nơi các cô tắm là một duềnh nước trong vắt. Con suối đổ từ cao xuống đến đây biến thành cái vụng to, cây cỏ um tùm xung quanh che rợp, nhưng tôi biết một chỗ kín đáo rình xem các cô tắm (kinh nghiệm từ ngày theo đám nhãi ranh làng Thụy Khuê xem trộm cô con gái cụ Chánh Phùng Gia Tuyên). Nhưng từ ngày cô và tôi trở thành tình nhân, cô cấm tuyệt tôi không được làm cái trò khỉ ấy nữa. Cô hẹn tôi ở một nơi khác, mãi tận khúc suối trên nguồn cách xa cả cây số, vắng vẻ. Tắm xong, cô về nhà làm cơm bỏ vào ống tre đem ra cho tôi và cô cùng ăn. Tại đây có một cái lán xiêu vẹo bỏ không, tôi sửa sang, dọn dẹp thành căn lều lý tưởng cho hai chúng tôi yêu nhau.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tôi ngồi chờ một lát thì cô đến. Cô mừng đến chảy nước mắt khi thấy tôi trở về nguyên vẹn. Tôi bảo cô tôi có phải đánh đấm gì đâu mà chẳng nguyên vẹn, tôi chỉ là anh dân quân đi theo dọn dẹp chiến trường, nhưng cô có vẻ khâm phục tôi lắm. Tôi lục ba-lô lấy ra hai món vật đưa cho cô, một chiếc đồng hồ dạ quang và chiếc xuyến vàng lóng lánh:</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “<em>Kử</em> nhặt được ở đồn Pháp. Đồng hồ cho <em>phỉ</em>, còn cái xuyến cho <em>kõ</em>.”</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Cô trố mắt nhìn hai món vật. Đó là cả một gia tài đối với cô, tôi nhặt được trong lúc đi lục soát cái đồn Tây, và mặc dù anh Mẫn luôn mồm gọi tôi là thằng mán rừng, nhưng tôi đủ khôn ngoan giấu hai món vật trong ba-lô đem về làm quà cho Phèn. Cô cảm động nhìn tôi âu yếm rồi cởi áo, cầm tay tôi đặt lên ngực mình. Vú cô bé lắm, chỉ nhỉnh hơn quả cau một chút, nhưng đầu vú to, màu hồng. Tôi thích nghịch vú cô. Cô biết thế. Tôi đưa môi hôn cô, tay mân mê đầu vú xinh xắn, ngọt ngào.</p>



<p>17.</p>



<p>Tiểu đoàn của ông Lê Lân đang dưỡng quân và chờ bổ sung quân số. Sau trận công đồn, mặc dù triệt hạ được đồn theo lệnh cấp trên, giết sạch bốn năm chục lính và sĩ quan đóng trong đồn, nhưng tiểu đoàn ông bị thiệt hại nặng. Gần hai trăm bộ đội chết và bị thương. Không thấy anh Sơn về buôn bản gặp tôi nói chuyện vãn nữa. Không hiểu sau cái màn cắt đầu người ấy, anh còn bình tĩnh viết xuống sổ tay trải nghiệm này để mai sau viết tiểu thuyết không. Tôi được điều sang một đơn vị dân quân khác lên Lào Kai tiếp thu súng ống, đạn dược của Trung quốc. Lúc này bên Trung quốc, Mao Trạch Đông đã đánh đuổi xong quân Tưởng Giới Thạch sang đảo Đài Loan, súng đạn thừa mứa, nên họ viện trợ cho Việt Minh đánh Pháp. Mỗi chuyến đi như vậy thường mất cả hai, ba tháng trời, mặc dù có quân xa chở vũ khí đạn dược. Lý do chậm vì xe chỉ dám chạy ban đêm để tránh máy bay Pháp không tập, và không phải lúc nào cũng ngồi xe. Có những đoạn đường cả đoàn dân quân gần trăm người phải dùng ngựa thồ hoặc vác súng trên vai đi phân phối cho các đơn vị chiến đấu ở vùng xa hiểm trở. Tôi đi được hai chuyến, mất hơn năm tháng trời thì có lệnh trở về đơn vị cũ, chờ. Tàu hỏa từ Kôn Minh có trục trặc gì đó, chưa sang biên giới được. Tôi về buôn, định bụng gặp Xụ Phụn Phèn tặng cô cái khăn trùm tóc bằng lụa Tô Châu tôi mua ở chợ Cốc Lếu. Tôi nôn nao, tưởng tượng lúc ôm Xụ Phụn Phèn vào lòng. Gần nửa năm trời xa cách, nhớ lắm, và tôi biết Xụ Phụn Phèn cũng nhớ tôi chẳng kém. Nhưng khi về gần đến thôn bản, linh tính báo cho tôi biết có chuyện chẳng lành, và tôi không thể tin mắt mình khi trước mặt tôi, cả cái buôn bị cháy rụi, không một căn nhà nào còn, không một dấu hiệu nào cho thấy bất cứ một sinh linh nào còn sống, con người cũng như con vật. Tôi bàng hoàng đến tê tái cả người. Chuyện gì xảy ra? Cả một buôn bản, gần ba trăm con người biến đi đâu? Nhà cửa chỉ còn lại những đám tro than bắt đầu nguội lạnh. Tôi kinh hãi chạy như điên dại trên đống tro tàn. Nhà Xụ Phụn Phèn, căn khang trang nhất buôn, cột gỗ kê, đòn tay tre, ba gian, hai chái, mái chảy, nằm lấp lửng trên một triền đồi, với hàng cây đào, mận sum suê đằng trước, cũng cháy nham nhở, sụp đổ tan tành, không sao nhận ra được nữa.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tôi quá đỗi hoang mang như trong ác mộng. Không một bóng người cho tôi hỏi thăm. Tất cả im lặng đến ghê người, chỉ có tiếng u u từ cõi mịt mùng của núi rừng vọng đến cùng tiếng gió đánh vào cành lá kêu xào xạc. Tôi chạy ra bờ suối nơi tôi và Xụ Phụn Phèn thường hẹn hò. Có lẽ mấy hôm nay mưa to trên thượng nguồn nên bây giờ con suối là một cái thác nhỏ, nước bắn tung tóe trên những tảng đá to tròn nằm hỗn độn hai bên bờ. Không có gì khác lạ. Đứng nhìn con suối một lúc lâu, đầu óc trống rỗng, tôi thẫn thờ đi trở lại buôn. “Phải tìm cho ra lẽ chuyện gì đã xảy ra nơi đây. Ai là thủ phạm gây nên thảm cảnh này?” Tôi nhủ lòng như thế.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Ý nghĩ đầu tiên đến với tôi lúc mới nhìn thấy cảnh tượng không thể tin nổi này là Pháp đánh vào thôn bản và đốt sạch nhà cửa vì dân chống cự. Nhưng sau giây phút đầu tiên bất ngờ choáng váng, suy nghĩ lại, tôi thấy điều ấy không hợp lý. Không hề có một dấu hiệu nào cho thấy có giao tranh xảy ra, không một thân cây nào có vết đạn, các lán vẫn nguyên vẹn, chỉ nhà người H’Mông bị đốt cháy rụi. Những quan sát đó khiến tôi càng hoang mang. Chẳng lẽ họ thiêu hủy toàn bộ thôn bản của mình để dời sang một vùng khác làm nương rẫy mới? Không đời nào. Người H’Mông không phải dân du mục, họ làm rẫy, và sống chết bám chặt lấy mảnh đất cũ kỹ của mình. Với những suy nghĩ ấy, tôi lấy lương khô trong ba-lô ra ăn rồi tìm chỗ ngủ.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Thực chất, người H’Mông không quan tâm lắm đến cuộc chiến này. Họ xem đó là chuyện giữa người Kinh và người Pháp, phe nào thắng, phe nào thua, cuộc sống họ không thay đổi. Tuy nhiên, họ không sống yên vì bị lôi kéo vào chiến tranh một cách bất đắc dĩ. Việt Minh dùng núi rừng nơi họ sinh sống làm an toàn khu, và mặc dù không muốn, họ đành chấp nhận vì không có chọn lựa nào khác. Dĩ nhiên Việt Minh phủ dụ, lôi kéo họ về phe mình chống Pháp, nhưng họ quen tự do xưa nay, họ có một số lề thói, tập tục riêng và cuộc sống họ không bị câu thúc bởi bất cứ luật lệ, nguyên tắc chỉ đạo nào từ bên ngoài. Bởi thế đã có không ít những mâu thuẫn bất mãn xảy ra.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Lúc đó có lẽ tôi không nhận thức được điều này, nhưng một cách mơ hồ, tôi linh cảm những gì tôi chứng kiến không do Pháp gây ra.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Hôm sau tôi mò sang buôn kế cận cách đó chừng hai mươi cây số. Tại đây tôi gặp lại một anh trong đội dân quân du kích, và từ anh ta, tôi biết sự thật. Một sự thật quá đau lòng. Anh dân quân có lẽ chỉ biết đánh vần, thêm tật nói lắp, nhưng từ những điều anh ta kể, tôi có thể chắp nối sự việc xảy ra như sau:</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Người trưởng đồn bị cắt đầu là em ruột một ông Đại tá Pháp đang chỉ huy một lữ đoàn Nhảy Dù. Ông ta điên lên vì tức giận khi hay tin em mình bị bêu đầu, ông ta yêu cầu cấp trên cho ông ta toàn quyền xử lý vụ trừng phạt đơn vị Việt Minh đã gây nên “tội ác.” Sau khi nhận được chấp lệnh, việc đầu tiên ông ta làm là dùng của cải đút lót các thôn bản quanh vùng để lấy thông tin chỗ trú quân của tiểu đoàn ông Lê Lân. Một người trong thôn bản của Xụ Phụn Phèn tham của hay bất mãn Việt Minh, ra mật khai hết tình hình của tiểu đoàn, vị trí chỗ trú quân, quân số bộ đội, cho Pháp. Thế là nổ ra một cuộc hành quân truy quét quy mô ba gọng kềm có xe bọc sắt và phi cơ yểm trợ đánh vào an toàn khu. Bị đánh bất ngờ, nhưng nhờ đường dây báo động hữu hiệu và canh gác kỹ lưỡng nên chỉ hơn hai mươi bộ đội bỏ xác lại, và khoảng ba chục người khác bị thương, tiểu đoàn thoát hiểm kịp, trong đó có ông Lê Lân, mở đường máu chạy tuốt về một an toàn khu khác ở Sơn La. Một tháng sau khi quân Pháp rút đi, sự việc người trong thôn bản ra mật khai với Pháp bay đến tai ông Lê Lân. (Nội tuyến của kháng chiến có mặt hầu như khắp mọi nơi). Thế là, đích thân ông Lê Lân – theo lời anh Sơn, vốn là người ghét tay sai, chỉ điểm cho Pháp hơn cả Pháp – chỉ huy một đại đội về thôn bản, nửa đêm lùa hết dân chúng ra bờ suối. Những người dân H’Mông xưa nay chỉ biết làm nương rẫy, trong tay chỉ có vài cây rìu, vài con dao, làm sao chống cự nổi súng đạn. Có lẽ cũng có vài anh thanh niên liều mình đánh trả, nhưng cuối cùng tất cả già trẻ lớn bé bị lùa hết ra bờ suối. Đêm đó trời mưa như trút nước, anh dân quân kể, con suối bình thường nước chảy lờ đờ, đêm đó biến thành một dòng thác lũ, nước chảy cuồn cuộn. Sau khi bắt mọi người đứng quay lưng nhìn xuống suối, một viên đạn vào sau ót, một cái đạp, xác người đó lập tức biến mất trong làn nước hung hãn. Không phải từng người mà hàng chục người mỗi lượt. Không phải ai cũng lãnh đạn, có kẻ bị bổ rìu vào đầu, óc phọt ra. Trẻ em sơ sinh không bị bắn, cũng không bị rìu bổ, họ nắm cổ chân đứa bé quật vào thân cây to, óc vỡ toang, và tiện đà ném bay cái xác nhỏ xíu xuống suối.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Chỉ một loáng, gần ba trăm con người đã bị xử tử như thế.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Cháu sợ quá, cậu ạ.” Anh dân quân gọi tôi bằng cậu, xưng cháu, chứ không “đồng chí” nữa, mặc dù anh hơn tôi ít nhất cả chục tuổi. Tôi nhìn thấy nét khiếp hãi trong cử chỉ, giọng nói run run, ánh mắt thất thần của anh.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Rồi sao nữa?” Tôi hỏi anh.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Họ ra lệnh cho dân quân du kích chúng cháu ở lại mấy hôm sau chờ tạnh mưa đốt hết nhà cửa trong thôn bản. Cả một cái thôn bản không còn một mống.”</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tôi thừ người nghe anh kể, tôi không biết suy nghĩ gì nữa. Một sự thật ngoài mức tưởng tượng của tôi. Anh dân quân lại nói tiếp:</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Cháu không hiểu nổi, cậu ạ. Cháu cũng không hiểu một điều nữa là khi bị xử tử, những người H’Mông này, họ không thốt một lời kêu van, tất cả im lặng, cúi đầu chịu chết. Thành thử suốt buổi, cháu không nghe một tiếng động nào ngoài tiếng súng độp độp, tiếng khóc như ri của đám trẻ nít lẫn tiếng suối chảy và tiếng mưa. Lạ lùng lắm cơ… À, suýt tí nữa thì cháu quên, lúc này đầu óc cháu mụ mẫm lắm, chả còn nhớ cái gì nữa.”</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Anh rút từ trong ba-lô ra một cái túi thổ cẩm nhỏ bằng bàn tay đưa cho tôi.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Lúc cháu đang đốc suất dân thôn bản di chuyển ra khỏi nhà, bỗng một cô gái chạy lại đưa cho cháu cái này, nhờ cháu đưa lại cho cậu. Cô ấy nói tiếng Kinh mình sõi lắm và gọi đích danh cậu. Cháu bảo cô ấy cứ an tâm, ‘Tôi hứa sẽ làm tròn lời cô dặn.’ Thế rồi cô ấy lầm lũi đi theo đoàn người ra bờ suối.”</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tôi cầm cái túi thổ cẩm nhỏ. Tôi biết vật gì bên trong. Tôi cũng biết từ nay, nó là món vật duy nhất còn lại cho tôi liên tưởng đến hình ảnh Xụ Phụn Phèn.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Đơn vị mình tan rã cả rồi, anh định làm gì bây giờ?” Tôi hỏi anh dân quân.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Cháu định về lại nhà cháu ở Nghĩa Lộ, chứ cháu sợ lắm…”</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Anh phải báo cáo lên đơn vị rồi chờ quyết định, nếu không, họ sẽ xử bắn anh về tội bỏ ngũ.”</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Vâng, cháu biết&#8230; Nhưng cháu không sống ở đây được nữa. Về Nghĩa Lộ cháu sẽ tìm đường trốn sang Lào, cậu ạ. Gia đình cháu có mấy người trốn sang Lào từ trước kháng chiến. Sang đấy, may ra cháu tìm được đất sống. Cháu bị bắt vào dân quân, chứ cháu nào có muốn cầm súng đánh giặc như thế này.”</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tôi chia tay anh dân quân, chúc anh may mắn. Tôi không biết mình sẽ đi đâu, nhưng tôi phải ra khỏi vùng núi rừng này. Nó kinh khiếp quá đỗi. Con suối trước kia xinh đẹp thơ mộng dường nào, bây giờ là suối máu. Tôi&nbsp; băng rừng, cứ nhắm bừa phía trước mà đi, vừa đi vừa gọi tên Xụ Phụn Phèn. Ôi, cô gái H’Mông xinh đẹp! Tình yêu của cô cho tôi, nó hoang dại như núi rừng này, nhưng nó say đắm và tinh tuyền như tình yêu của loài muông thú. Nhờ nó, muông thú tìm đến nhau, trái đất này còn tồn tại. Nó giữ cho trái đất khỏi nổ tung. Nhưng nó bị người ta lấy mất của tôi, bởi người ta đang có một âm mưu kinh khiếp là toa rập nhau phá vỡ trái đất ra thành nhiều mảnh vụn, không cách gì hàn gắn lại được.</p>



<p><strong>– <em>Trịnh Y Thư</em></strong></p>



<p>(Trích đoạn tiểu thuyết <em>Đường về thủy phủ</em>).</p>



<div style="height:500px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>©T.Vấn 2023</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nguyễn Thị Khánh Minh: Cảm nhận nhân đọc “Dưới những gốc nho biển (phân đoạn 10-18)”&#8230;:</title>
		<link>https://t-van.net/nguyen-thi-khanh-minh-cam-nhan-nhan-doc-duoi-nhung-goc-nho-bien-phan-doan-10-18/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Thơ Nhiều Tác Giả]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 03 Nov 2023 06:37:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[giới thiệu]]></category>
		<category><![CDATA[Đường về thủy phủ]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=66862</guid>

					<description><![CDATA[Bản vẽ Duy Thanh [1931-2019]. Cảm nhận nhân đọc “Dưới những gốc nho biển (phân đoạn 10-18)” trong tiểu thuyết “Đường về thủy phủ” của nhà văn Trịnh Y Thư Những phân đoạn này thuộc vào phần có tựa là “Dưới những gốc nho biển,” nằm trong tiểu thuyết “Đường về thủy phủ.” Tuy nhiên, cũng như [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/11/image001.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="880" height="839" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/11/image001.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-66863" style="aspect-ratio:1.0488676996424315;width:594px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/11/image001-300x286.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2023/11/image001-768x732.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/11/image001.jpg?strip=all 880w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Bản vẽ Duy Thanh [1931-2019].</em></p>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p class="has-text-align-center"><strong>Cảm nhận nhân đọc “Dưới những gốc nho biển (phân đoạn 10-18)” trong tiểu thuyết “Đường về thủy phủ” của nhà văn Trịnh Y Thư</strong></p>



<p>Những phân đoạn này thuộc vào phần có tựa là <a href="https://t-van.net/trinh-y-thu-duoi-nhung-goc-nho-bien-phan-doan-13-18/">“Dưới những gốc nho biển,” nằm trong tiểu thuyết “Đường về thủy phủ.”</a> Tuy nhiên, cũng như phân đoạn [1-3] tôi đã nói ở trên, nó vẫn mang đủ những yếu tố của một truyện ngắn. Hẳn nhiên người đọc sẽ thấy rõ đây là dụng ý của tác giả. Và chỉ đến lúc đọc xong trọn “Đường về thủy phủ,” thì mới có một suy nghiệm tổng thể, và có thể bật ra cách ráp nối những mảnh hình, những sự kiện, và lóe sáng một sợi dây xuyên suốt tác phẩm qua bản chất của các nhân vật, để từ đó hiểu rõ hơn chủ đề của nhà văn Trịnh Y Thư.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Mở đầu phân đoạn 10-12, nhân vật “Cô” xuất hiện cùng lúc với nỗi ám ảnh của giấc mơ về người chồng xấu số. Tác giả nhắc ngay điều ấy để người đọc càng về sau càng thấy rằng, cuộc đời cô, ngoài thân xác bị đọa đầy, tâm thức cô triền miên bị ám ảnh bởi những chiếc bóng, vừa của thương yêu vừa của quỷ dữ. Cuộc đời cô qua lời văn của Trịnh Y Thư, như thể anh đang quay cho chúng ta xem một đoạn phim về một cô gái đang bước vào những bất hạnh đời mình trong giấc mộng du, không lý trí, không tình cảm, không phản ứng. Cô cũng là một cái bóng, không có tên, hắt lên tất cả những phận đời bất hạnh trong thời chiến tranh điêu linh, trong một xã hội không còn một sự lương thiện khả dĩ để người ta đặt niềm tin.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Ký ức của cô được khởi đi ở điểm rất chính xác từ thời gian cho đến nơi chốn, một điểm như ánh lửa lóe hoài trong trí nhớ: Mùng Năm Tết, ở Huế, năm Mậu Thân, một toán lính xông vào nhà cô.&nbsp;<em>Nó là cơn ác mộng kinh hoàng.&nbsp;</em>Tôi đọc đoạn này với tất cả rung động của tâm trí lẫn thân xác, vì nó gợi cho tôi cơn ác mộng của gia đình tôi sau biến cố 1975.</p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; … Trước khi bị dẫn đi, ông còn bình tĩnh ôn tồn bảo mẹ con cô, lúc đó đang níu vào nhau run rẩy, mặt mày tái mét, “Ba chắc không sao đâu, mẹ con ở nhà yên tâm, ba sẽ tìm cách báo tin về nhà. Đây chỉ là một sự lầm lẫn.” Họ bắt ông đi nhanh lắm, mẹ cô không kịp sửa soạn gì cho ông, chỉ choàng vội vào cổ ông chiếc phu-la màu huyết dụ vì ông có chứng ho khan mỗi khi trời trở lạnh.</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Đây cũng là cảnh của gia đình tôi một đêm năm 1976, cũng “<em>một toán sáu bảy người lạ mặt súng ống đầy người</em>” bắt ba và hai em trai tôi, đôi tay người nào cũng bị còng, đẩy lên một cái xe bít bùng,&nbsp;ba tôi vẫn mặc bộ áo bà ba màu mỡ gà, cậu em lớn lầm lũi bước, cậu em nhỏ ngoái nhìn chúng tôi, đầy nước mắt, cùng bị bắt theo là toàn bộ sách của ba tủ sách lớn trong nhà. Ba chiếc xe rú lên rồi mất hút vào ngõ tối. Cái “<em>níu vào nhau run rẩy&nbsp;mặt mày tái mét”</em>&nbsp;của cô và của tôi không thể khác vào đâu được! Những vòng tay sợ hãi của mẹ và bốn chị em chúng tôi bấu vào nhau chặt đến nỗi nếu bị bung ra chắc là chúng tôi sẽ đứt mạch sống mà chết.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Một cảnh ngộ như thế dễ gì quên?</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Rồi đến cảnh mẹ cô, và những người dân Huế đi tìm xác người thân ở những hố chôn người khắp nơi trong thành phố,</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; … <em>Những cảnh tượng vô cùng khiếp hãi chỉ thấy trong phim kinh dị hiện ra trước mắt bà. Người ta mặc áo sô trắng, đầu chít khăn tang, đứng bu quanh những xác người thối rữa bên trong những bao ny-lông màu đen hay những hòm gỗ nhỏ, mùi hôi thối không bút mực nào tả xiết, tiếng khóc gào thảm thiết vang động cả một góc trời…</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; …&nbsp;Bà bảo hai người lính lúc họ đặt cái xác xuống mô đất:</em></p>



<p><em>“Đây là chồng tui. Cảm ơn hai chú.”</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Bà nhận ra do thi thể còn vướng chiếc khăn quàng cổ màu huyết dụ bà choàng cho ông đêm ông bị bắt.</p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; … Bà không khóc được, có lẽ nước mắt bà đã cạn. Cũng có thể sự mệt mỏi thể xác lẫn tinh thần sau mười tháng trời tìm kiếm trong vô vọng khiến trí óc bà tê cứng, mê muội, không khóc nổi nữa. Nhưng, trời ơi, sao thế này? Bà hoảng vía, chết lặng một lúc lâu mới quay sang hỏi một trong hai người lính: “Chú ni ơi… Còn cái đầu mô? … Răng không thấy cái đầu?…”</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Người lính nhìn cái xác đoạn nhìn lại bà, ánh mắt đầy vẻ thương xót, ái ngại. Một lúc lâu sau anh ta mới thốt được: “Nói thím đừng buồn… Chắc là bị chặt đầu… Tụi tui thấy nhiều lắm.”</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Bà rụng rời, không thể tin được lời người lính. Anh ta bảo bà chờ. Đoạn hai người tiếp tục đi khiêng xác lên. Bà ngồi bệt xuống đất bên cạnh bộ xương không đầu của người chồng rồi không hiểu sao bà gào lên chửi rủa với những lời lẽ có lẽ nghe thấu tận trời xanh… Mụ cô bây… Mụ cô bây…</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; … Ba tiếng “Mụ cô bây” cứ thế tuôn ra đều đều như tiếng láy rền của điệu nhạc cáo chung kỷ nguyên văn minh loài người… Hình ảnh người đàn bà trong chiếc áo dài màu nâu cánh gián lem luốc đất cát bẩn thỉu, đầu tóc rối bù, nằm co quắp giữa một đống xương người có lẽ chỉ tìm thấy ở hai nơi: địa ngục và mảnh đất khốn khổ này. Chiếc nón lá nằm lăn lóc bên cạnh bị gió thổi bay là là, đến bờ miệng hố chôn xác người nó đậu lại, rồi một cơn gió nữa thổi tốc cuốn nó rơi xuống hố…</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; … Xem đến cái đầu lâu thứ mười tám thì bà biết chắc đây là đầu chồng bà.</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tôi muốn trích nhiều hơn nữa để những ai chưa đọc “Giải Khăn Sô Cho Huế” của Nhã Ca xuất bản hồi năm 1969, nay được đọc “Đường về thủy phủ” này sẽ tìm được câu trả lời về Mậu Thân 1968. (Phải nói rằng sau vụ Mậu Thân, nhờ “Giải Khăn Sô Cho Huế” của Nhã Ca, ca khúc “Chiều Đi Lên Bãi Dâu” của Trịnh Công Sơn, người ta mới hình dung ra được hết cảnh tượng sau Mậu Thân, với những sự bắt bớ, trả thù, và những mồ chôn người tập thể.)</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Cô hẳn cùng lứa với tôi thuở ấy, là lớp nữ sinh thành thị:</p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; … Suốt tuổi ấu thơ và thời thanh xuân, cô chỉ biết chiến tranh qua báo chí, truyền thanh, truyền hình, hay chuyện kể từ những người thân quen. Hoặc đôi khi những đoàn công-voa nhà binh chạy rầm rập ngoài đường phố khiến cô và các cô nữ sinh khác, bạn cô, phải vội vã nép xe đạp vào lề đường né tránh. Vào những đêm thanh vắng, cô nghe tiếng đại bác cầm canh từ xa vọng về thành phố, rì rầm như tiếng sấm động. Nhưng đời sống trong thành phố lặng lẽ trôi qua, thi thoảng bị khuấy động bởi vài biến cố chính trị nhưng khói lửa chiến tranh thì cô chưa chứng kiến bao giờ…</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Vậy đó, tin tức chiến sự cùng tin lính tử trận đều đều in trên báo, trên TV, mà không đánh động tâm can lớp thị dân, giới giàu sang vẫn hượng thụ ăn chơi, sinh viên thì biểu tình phản chiến, tôi cho rằng đây là một lỗ hổng của Dân Vận Việt Nam Cộng Hòa, và sự áp dụng dân chủ không đi đôi với trình độ ý thức chính trị, nên mới bị lợi dụng. Lấy hai mốc đau thương là năm Mậu Thân 1968, và 1975, người dân thành phố mới thực sự đối đầu với hậu quả khốc liệt của chiến tranh quân sự lẫn ý thức hệ, bật tung mọi gốc rễ của cuộc sống gia đình, xã hội.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; … <em>Chiến tranh đến với nhà cô như một cơn gió lốc, nó cuốn đi tất cả. Tất cả mộng mơ thời tuổi trẻ, cô chẳng giữ được hình ảnh nào, cô lao đầu vào cuộc sống mới với một tâm trạng khủng hoảng, tan nát…</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Rồi những cảnh cuộc đời cô bị đày đọa.&nbsp;Cô khá là đơn giản, mộc mạc và ngây thơ, là miếng mồi ngon cho những kẻ bất lương, như O Lê ở đây, người chuyên dụ dỗ để buôn bán xác thân những cô gái sa cơ thất thế.</p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; … Đó là vết thương đầu đời của cô. Vết thương quá đau đớn và tủi nhục đến nỗi cô đành chôn sâu nó trong lòng chứ không bao giờ dám thổ lộ cùng ai. Và càng chôn sâu nó càng nung nấu giày vò tâm tư cô. Nó là căn bệnh cô mang trong người cho đến mãn đời, không cách gì chữa khỏi.</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; &#8230; Chỉ hai phút sau một cái bóng khác bước vào. Cái bóng to lớn. Cái bóng đè lên người cô, và nó vẫn đè lên người cô lúc cô ngồi dưới những gốc nho biển. Chờ.</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Từ đây, chúng ta thấy cô song hành với những cái bóng, như thể trên hai vai có ông Thiện ông Ác. Chỉ mong cho những bóng Thiện nó giúp cô sức mạnh chống chọi với ma quỷ, cái bóng&nbsp;tai ương của lịch sử khiến gia đình tử biệt sinh ly<em>,&nbsp;</em>cuộc đời cô tan nát<em>.</em>&nbsp;Mẹ cô từ khi tận mắt nhìn thấy cái chết thảm của chồng, bà&nbsp;<em>chỉ còn cái xác biết di động</em>, thành một cái bóng u ẩn lặng lẽ bên cô con gái mới 20 tuổi, và – cái khốn nạn cho cô là chữ “những” ở đây – những cái bóng dã thú đè nặng cô. Không thể không nhắc đến người chồng xấu số mà cô hay gặp trong những giấc mơ, anh là cái bóng nhỏ nhoi duy nhất của hạnh phúc, hai phận đời điển hình cho những nạn nhân của hai sự kiện mà đối với người dân miền Nam đó là dấu ấn đau thương – Mậu Thân 1968 và biến cố 1975. Anh có số phận thảm khốc tới độ gây cho tôi sự phẫn nộ. Từ một thiên tài Toán, đỗ Cử nhân, anh bị động viên, bị thương, rồi thành người tù cải tạo sau 1975, rồi “<em>Trong lúc chặt cây, anh ngã xuống hẻm núi, vỡ sọ, tay chân gãy lìa, chết ngay tại chỗ. Xác anh nằm đó, không ai buồn xuống nhặt đem đi chôn. Xác thân một thiên tài Toán học trở thành miếng ăn cho thú rừng cắn xé</em>.”&nbsp;Biết bao tù nhân cùng số phận như anh? Đọc đoạn này, tôi cảm thấy tiếc nuối cho một sai lầm đã để biết bao nhân tài của đất nước bị hủy hoại trong buổi đa đoan của vận nước. Sau biến cố 1975, thảm cảnh thuyền nhân, lớp dân thành thị bị xô về những vùng gọi là kinh tế mới sống trong cảnh tự sinh tự diệt, chịu bao nhiêu cảnh sinh ly tử biệt, những người vợ lính thành một lứa vọng phu trông mong chồng nơi trại-cải-tạo. Vâng, những trại tập trung cải-tạo, như văn hào Nga&nbsp;Alexandre Soljenitsyne, giải Nobel văn học năm 1970, hai mươi ngày trước 30.4.1975 đã tuyên bố trên đài truyền hình Paris rằng “<em>Việt Nam sẽ trở thành một nhà tù khổng lồ</em>.” (Michel Tauriac,&nbsp;<em>Hồ sơ đen Cộng Sản Việt Nam</em>, Nguyễn Văn dịch, California, Văn Mới 2002, tr. 36.)</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Thương cho cô một chút hạnh phúc như hạt trấu rơi xuống nia:</p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; … “Tại sao con người lại ác độc với con người như thế, hả anh? Em không hiểu được.</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Gã ngẫm nghĩ một lúc khá lâu rồi mới trả lời cô:</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Mỗi người có một cách lý giải khác nhau, tùy vào kiến văn và trải nghiệm cá nhân mình. Riêng anh thì anh nghĩ có lẽ nó là cái ý thức hệ. Thời gian học bên Liên Xô, anh có đọc một cuốn sách của ông nhà văn Solzhenitsyn, chắc là cuốn Quần đảo Gulag. Theo ông nhà văn này thì nguyên ủy của tội ác là ý thức hệ. Ý thức hệ cung cấp kẻ ác sự bền bỉ và quyết tâm, bằng mọi giá, phải tiêu diệt tất cả những kẻ cản trở bước ường của mình&#8230;</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; …&nbsp;<em>Cô không hiểu lắm những điều gã nói, bởi nó xa vời với cô quá, nó trừu tượng quá. Những điều gã nói chẳng hề nhập tâm cô, nó chẳng gieo vào tâm khảm cô một ý niệm gì. Nhưng cô mơ hồ hiểu con người vốn độc ác, và tìm được một người lương hảo để gần gũi là vô cùng khó khăn. Cô xoay người sang ôm gã bác sĩ bộ đội, dụi đầu vào ngực gã, như thầm cảm ơn gã đã đến với cô trong đời…</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Chí ít cô cũng có chút an ủi gã bác sĩ bộ đội là một kẻ trí thức – không phải là khỉ hay chó – nhưng tôi không khỏi ngậm ngùi cho tình cảnh cô, bị đẩy đưa để cùng gã bác sĩ bộ đội “<em>nằm cạnh nhau trên giường nói chuyện vãn</em>”, có rất nhiều trường hợp xảy ra như cô thời sau 1975, những kết hợp làm cho quả bóng của phân chia thù hận xì hơi đôi chút, khiến có người cười gừng rằng, nói chuyện hòa giải hòa hợp dân tộc thì hơi đao to búa lớn!</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Trong cảm xúc đông lạnh, cứ một lần bị nghịch cảnh giáng xuống, cô luôn kết luận, tôi hình dung cô với cái nhếch mép cười nhạt:</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; <em>… Cô có cảm tưởng nó là con khỉ làm trò trong gánh xiệc, một con khỉ đóng vai con người, một con khỉ tưởng mình đang nắm vận mệnh thế giới trong tay, một con khỉ tưởng mình có quyền sinh sát, định đoạt số phận bất cứ ai, một con khỉ muốn toàn thể nhân loại phủ phục dưới chân mình…</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; …Từ ngày đó cô thấy khỉ nhiều lắm, khắp mọi nơi…</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; … Nhưng lão không biết là trong đầu cô lúc đó hoàn toàn trống rỗng, thân xác cô rã ra như quả bong bóng xì hơi, nhưng nó chẳng có cảm giác đau đớn khủng khiếp gì. Cô bình thản chấp nhận thêm một cảnh ngộ bất hạnh nữa xảy ra cho đời mình. Cô xem như mình đang bị một con chó dại cắn.</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Ở xứ sở nơi cô sinh sống, chó dại nhiều vô số kể…</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Mỗi câu kết ở dưới mỗi đoạn thật ấn tượng, giống như sức mạnh của một cú knock-out, tôi rùng mình khi hình dung cô đang giãy giụa sống trong cái chuồng-người. Ở trong một môi trường được kích động, cổ vũ, hay được làm ngơ, thì người ta sẽ bộc lộ cái bản năng súc vật, như nhà văn Trịnh Y Thư đã nói ở phân đoạn trên. Màu áo trắng cô mặc vào ngày thất thân, có phải là cái lương thiện đang vật vã chống lại sự bất lương? Trong cuộc truy tìm bản ngã con người qua những nhân vật của mình hẳn nhà văn Trịnh Y Thư sẽ bị thương tổn tình cảm không ít, không thấy anh phê phán, phẫn nộ, một trạng thái kềm lòng để đeo đẳng theo chi tiết và diễn biến của cuộc đời nhân vật trong những biến cố hầu có một bản phác họa trung thực về lịch sử, và bản chất con người.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Vì vậy, để có được cái nhìn khách quan và nhân bản, khi nghiên cứu lịch sử xã hội trong thời gian nào, không phải chỉ bằng những trang sử trong sách giáo khoa, mà phải bổ sung thêm qua các tác phẩm văn học nghệ thuật, những di sản văn hóa này rất quan trọng vì đó là kho tàng lưu trữ sự thật lịch sử.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tại sao người ta thất vọng với văn bản lịch sử chính thống? Tiểu thuyết gia người Anh, Samuel Butler có lẽ đầy kinh nghiệm thấm thía về sự dối trá đó, đã nói rằng,&nbsp;“<em>Chúa không thể thay đổi quá khứ, tuy sử gia thì có thể.”&nbsp;Dễ gì tìm ra được sử gia chân chính dám bỏ mình vì sự thật – chỉ tôn trọng lịch sử, không lệ thuộc chính trị – như anh em Thái Sử nước Tề thời Xuân Thu là Bá, Trọng, Thúc, Quý? (Ngày quan Đại Phu Thôi Trữ giết vua chiếm quyền, Thái Sử Bá ghi “Thôi Trữ giết vua”. Bị chém. Người em là Thái sử Trọng lại ghi “Thôi Trữ giết vua”. Bị chém. Người em thứ hai là Thúc vẫn can đảm ghi tiếp “Thôi Trữ giết vua”. Bị chém. Đến người em út Quý cũng là quan Thái Sử, Thôi Trữ bảo, ba người anh ngươi đã bị chém, nay ngươi ghi lại khác đi thì được tha. Quý khẳng khái không nghe, lần này Thôi Trữ không dám giết nữa, nhờ thế, đời sau mới biết được là Thôi Trữ giết vua!)</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Bắt đầu ở phân đoạn 15:</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; …&nbsp;<em>Hôm cô tự kết liễu đời mình, trước chợ có một vụ đâm chém nhau.</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Khí văn ở đây nghe như là lãnh đạm tường thuật một sự kiện xảy ra ở một nơi đông đúc là trước chợ, như thể chuyện thường ngày, không ai ngạc nhiên về sự chết chóc. Nhưng dường như sự thương cảm đối với nhân vật của mình đã trở nên quá mức, nên &nbsp;Trịnh Y Thư nén lại trong một câu như tiếng thở dài. Ở những người trầm lặng, họ thường bình thường hóa hết mức sự bày tỏ thái độ và tình cảm, phải vậy không thưa nhà văn Trịnh Y Thư?</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Những phân đoạn 16, 17, 18 hé mở cho chúng ta thấy nguyên do cô tìm tới cái chết.</p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; … Nhân vật tôi gọi là “cô” trong thiên truyện này cũng mắc kẹt trong bi kịch đời sống như Anna Karenina của Tolstoy. Hơn thế nữa, cô còn bị đè bẹp bởi tấn bi kịch lịch sử khốc liệt mà thế hệ cô gánh chịu. Nhưng mặc dù định mệnh đẩy cô vào những cảnh huống bi thảm hơn nhiều so với Anna, tôi vẫn không nghĩ đó là động lực thúc đẩy cô đi tìm cái chết.</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em>Gần như trong suốt thời gian gọi là sống,&nbsp;<em>bi kịch của lịch sử, bi kịch của đời sống</em>&nbsp;như tấm lưới bủa vây, cô giãy giụa giữa một đám bóng quỷ ám.&nbsp;<em>Cô không biết ngày mai sẽ ra sao&nbsp;chỉ biết làm bất cứ cái gì để sống sót cho hết ngày hôm nay, hết đêm nay.</em>” “<em>Bi kịch của cô là cô không tìm thấy chút lửa nào trong trái tim mình.”&nbsp;</em>Ở trong cảnh đầu óc tắc nghẽn như vậy, thân xác sẽ cất lên tiếng nói của nó. Nó chối bỏ cảm xúc. Sự phản kháng quyết liệt của nó đưa cô vào trạng thái vô cảm, trơ lỳ hay liều lĩnh cuốn theo sự đẩy đưa.&nbsp;Đó có phải là sự&nbsp;“rối loạn lưỡng cực” mà nhà văn Trịnh Y Thư đã đề cập đến?&nbsp;</p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em>Dường như cô chỉ là mình trong&nbsp;<em>lúc cô ngồi dưới những gốc nho biển. Chờ.&nbsp;</em>Như thể cô chắc chắn một ngày mình sẽ tới được bến hẹn ở xa khơi kia. Không biết lúc nào nó mở cho cô một dòng trong để tắm gội cho hết những nhơ nhớp cuộc đời.</p>



<p>Trịnh Y Thư chỉ viết một chữ “Chờ” rồi chấm, mà sao tôi thấy nó dằng dặc…</p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; … Nó là tiếng gọi từ cõi xa xăm huyền bí nào đó kêu réo cô hãy trở về thủy phủ. Vâng, thủy phủ. Cô chẳng hiểu ý nghĩa tiếng kêu đó là gì, chỉ nghe nó ngọt ngào quyến dụ vô cùng. Trong lúc chín lịm vào những cơn trầm cảm, cô nghe nó mời gọi tha thiết như lời mật ngọt rót vào tai, và cô hoàn toàn quy phục để nó dẫn dắt mình theo ý nó…</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Hiểu thế nào về cái chết của cô? Thân xác tứ đại kia với trái tim bi cảm nọ, dường như có một sự đụng độ sâu sắc, cô bị phân mảnh, tôi tin thế, vì cái lúc thực sự cô sống là mình, là lúc cô ngồi dưới những gốc nho biển từ sáng tinh sương đến chiều khi đoàn ngư phủ về bến, để chờ, để nghe một tiếng gọi khôn nguôi trong tâm tư, chờ, đó là phút giây hưng phấn, nhưng, cùng lúc cái trầm cảm tràn vào châu thân thì&nbsp;<em>cô hoàn toàn quy phục để nó dẫn dắt mình theo ý nó.&nbsp;</em>Sự xung đột ấy, huyền diệu thay, nổ bùng thành một giấc mơ:</p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; … Đến lúc cô cảm thấy nóng bức chịu không nổi và định đứng dậy bỏ ra về thì bóng một chiếc thuyền từ ngoài khơi tiến về ngay phía cô. Chiếc thuyền phóng vùn vụt trên mặt nước. Cô có cảm tưởng nó sẽ đâm vào bãi cát, và nó đâm thật.</em></p>



<p><em>Cô định thần nhìn kỹ thì thấy đó là một chiếc thuyền thúng. Lạ nhỉ? Ở vùng này làm gì có thuyền thúng, và hình như người trên thuyền chẳng có mái chèo mà sao chiếc thuyền vẫn phóng như bay. Một người đàn ông từ trên thuyền bước xuống, đúng hơn, một ông lão, vì râu tóc ông bạc phơ. Nhưng trông ông quắc thước, khỏe mạnh lắm. Chắc là dân đi biển lâu năm, từ thuở ông còn trai tráng. Trên người ông mặc bộ quần áo vải nâu bạc phếch, loại ngày nay không ai mặc nữa. Hình như ông là người từ quá khứ trở về…</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Từ quá khứ hay từ giấc mơ, cũng đều đem đến điều cô đã chờ đợi bao lâu nay, là đưa cô về nơi hẹn Thủy Phủ. Tôi phân vân tự hỏi tại sao lại là Nước? Và tôi đi tìm câu trả lời hoàn toàn dựa trên cảm xúc riêng tư của mình.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Khi cô ngồi trên chiếc thuyền thúng giấc mơ,&nbsp;<em>Chiếc áo lụa trắng bay phất phới trong gió biển.</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Bỗng nhiên làm tôi nhớ đến nhân vật Tôi của Gã Nhà Văn, ở phân đoạn 1-3 trên, cô không muốn sống với những sắc màu vấy bẩn lên tà áo trắng ngày gã tạo nên cô, và đó là lý do cô luôn phản kháng để tìm lại con người thật của mình. Ở đây, cũng thế, cô luôn ở trạng thái “chờ” để thoát khỏi vũng lầy cuộc đời, cô mặc chiếc áo lụa trắng ngày bị nhúng chàm đầu đời, để đi về Thủy Phủ, có phải chỉ nơi đó mới có dòng trong xóa sạch vết nhơ, xóa sạch cho cô những ký ức một nơi gọi là địa ngục? Giấc mơ đưa cô ra đi với trạng thái hân hoan, buông hết, không đem theo gì, ngoài chiếc áo trắng trên người, mà cô biết chắc nơi đó&nbsp;<em>–&nbsp;làn nước trong xanh –</em>&nbsp;trả lại cho cô sự trong trắng cô hằng có, giải cho cô hết những oan khiên của định mệnh. Cô và Nước hòa vào nhau trong suốt, một Thủy Phủ huy hoàng, tôi thấy.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Cô có cách giải oan cho cô.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Và hẳn cô cũng biết rằng, ngày ngày “gã bác sĩ bộ đội” vẫn ra biển ngóng cô về, lại một cuộc chờ. Kết từ phân đoạn này, nhà văn Trịnh Y Thư đã nhân ái để lại một bóng Thiện Lương trên bãi cát cuộc đời, chí ít là một điểm tựa cho ta còn có lý do tin vào cuộc sống và con người. Khơi gợi cho ta rằng trong vô vàn cái Ác, dẫu chỉ còn một điều Thiện nhỏ nhoi, nó cũng là ánh sáng để vực dậy những tối tăm.&nbsp;</p>



<p>&nbsp; &nbsp;&nbsp;Tôi thầm nghĩ, Trịnh Y Thư viết để giải oan. Cho những “tang thương ngẫu lục” của phận người.</p>



<p><em>&nbsp;</em><strong>Nguyễn Thị Khánh Minh</strong><em></em></p>



<p>(10/24/2023)</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nguyễn Thị Khánh Minh: Cảm nhận nhân đọc phân đoạn 1-3 tiểu thuyết “Đường Về Thủy Phủ” của nhà văn Trịnh Y Thư</title>
		<link>https://t-van.net/nguyen-thi-khanh-minh-cam-nhan-nhan-doc-phan-doan-1-3-tieu-thuyet-duong-ve-thuy-phu-cua-nha-van-trinh-y-thu/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Thơ Nhiều Tác Giả]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 20 Oct 2023 06:25:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Ghi Chép]]></category>
		<category><![CDATA[giới thiệu]]></category>
		<category><![CDATA[Đường về thủy phủ]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=66612</guid>

					<description><![CDATA[Phế tích của ảo ảnh, tranh sơn dầu của họa sĩ Phan Chánh Khánh, 30”x30”, lấy cảm hứng từ tập thơ Phế tích của ảo ảnh của nhà thơ Trịnh Y Thư. Với tôi, Trịnh Y Thư, trước hết là một nhà thơ, với thi phẩm Phế Tích Của Ảo Ảnh; là một nhà văn, [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/10/SozUKDmn-image001.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="728" height="749" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/10/SozUKDmn-image001.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-66613" style="aspect-ratio:0.9719626168224299;width:410px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/10/image001-292x300.jpg 292w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/10/SozUKDmn-image001.jpg?strip=all 728w" sizes="(max-width: 728px) 100vw, 728px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center">Phế tích của ảo ảnh<em>, tranh sơn dầu của họa sĩ Phan Chánh Khánh, 30”x30”, lấy cảm hứng từ tập thơ </em>Phế tích của ảo ảnh<em> của nhà thơ Trịnh Y Thư.</em></p>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Với tôi, Trịnh Y Thư, trước hết là một nhà thơ, với thi phẩm Phế Tích Của Ảo Ảnh; là một nhà văn, với các tác phẩm Chỉ Là Đồ Chơi, Theo Dấu Thư Hương; là một dịch giả các tác phẩm ngoại quốc nổi tiếng như Cái Cười Và Sự Lãng Quên, Jane Eyre, Đời Nhẹ Khôn Kham, Căn Phòng Riêng; là một&nbsp; cầm thủ ghi-ta cổ điển, một nhạc sĩ sáng tác. Với tư cách nào Trịnh Y Thư cũng chinh phục được người đọc, người nghe. Nói riêng về lãnh vực thơ văn, văn phong trữ tình mà không thiếu ánh sáng lóng lánh của trí tuệ. Có đủ cả hai như thế là do Trịnh Y Thư vừa có trái tim nhạy cảm của nhà thơ vừa có nội lực dồi dào của tri thức. Điều đó càng khẳng định hơn khi gần đây, Trịnh Y Thư đã phổ biến trên các trang web một số truyện ngắn, và các trích đoạn của tiểu thuyết sắp xuất bản “Đường Về Thủy Phủ”.&nbsp;Tôi cũng như một số bằng hữu không khỏi ngỡ ngàng về cuộc dấn thân mới mẻ trong lãnh vực tiểu thuyết của anh, không riêng là lần đầu thể hiện, mà thể hiện một cách rất mới và rất khác từ lời văn cho đến kết cấu câu truyện. Không lặp lại ai, không theo một khuôn mẫu nào, chỉ là nổi bật một Trịnh Y Thư bản lĩnh, can đảm, nghiêm khắc và nhân ái.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tôi viết những cảm nhận ở đây căn cứ vào những trích đoạn đã phổ biến, không đặt nó vào bối cảnh toàn diện của cuốn tiểu thuyết “Đường Về Thủy Phủ”, vì cuốn sách chưa ra đời, nhưng cũng có được cái nhìn về thủ pháp bố cục truyện và văn phong của nhà văn Trịnh Y Thư. Qua trích đoạn này, được cấu trúc từ phi hiện thực để giải mã hiện thực, khiến anh có một thái độ khách quan khi đặt vấn đề đối với những sự kiện liên hệ đến ý thức hệ và sự kiện lịch sử, và cũng làm cho diễn biến câu truyện có những gút mở thú vị hơn. Bất cứ một gợi mở tiểu đề nào của Trịnh Y Thư cũng đưa tới người đọc một dấu hỏi, và không dễ hài lòng, phải đọc tới đọc lui một số đoạn văn, phải đọc cho tới dấu chấm cuối cùng của câu truyện, để tìm câu trả lời thỏa đáng cho nghi vấn của mình. Bạn phải lần theo sợi chỉ tự sự của một nhân vật ảo để tự tìm thấy chủ đề mà tác giả muốn nói đến. Cho dù như vậy đi nữa, bạn cũng vẫn không thôi băn khoăn về nó. Bạn muốn tìm thấy tác giả? Vô ích. Ở đây chỉ có câu hỏi, vấn đề khơi gợi. Cứ tưởng như bạn đang được mời tham dự một trò chơi, cách nắm bắt điều khiển tùy vào bạn. Không biết đó có phải là một trong những tố chất khiến tiểu thuyết “Đường Về Thủy Phủ” có lực hút người đọc?</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Ở <a href="https://t-van.net/trinh-y-thu-duong-ve-thuy-phu-trich-doan-1-3/">trích đoạn 1-3 trong tiểu thuyết “Đường Về Thủy Phủ”,</a> mặt khác theo tôi, nó cũng có thể đứng độc lập là truyện ngắn. Một kiểu truyện không có cốt truyện, Trịnh Y Thư có một lối dựng truyện rất lạ, hư cấu từ sự xuất hiện của nhân vật cho đến những cảnh ngộ mà nhân vật đó sống. Ở đây có hai nhân vật, Tôi và Gã Nhà Văn, trong đó, Tôi lại là một nhân vật của Gã Nhà Văn. Nhưng Gã Nhà Văn chỉ được nhận diện qua lòng thù hận bởi nhân vật của Gã. (Cho nên tôi đã cãi với chính mình, thật ra chỉ có một nhân vật xưng là&nbsp;<em>Tôi</em>&nbsp;thôi). Có lúc tôi ngừng lại giữa một trạng thái như phân thân, tự hỏi, mình đang lạc vào truyện của nhân vật Gã Nhà Văn, hay truyện của Trịnh Y Thư? Hay chẳng là của ai vì tình tiết diễn biến câu truyện cứ thế bật ra từ suy tư của một nhân vật ảo.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; “<em>Tôi thù gã nhà văn khôn tả. Tôi thù gã đến độ tôi muốn giết chết gã…</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tôi thấy khuôn mặt tôi đanh lại, tiếng nói tôi nhỏ nhẹ như thì thầm với trái tim của gã. Trái tim ơi, sau phút giây này mi sẽ vĩnh viễn nằm im trong cái lồng ngực thâm u mông muội ấy và ngàn đời mi chẳng bao giờ nhìn thấy ánh sáng của trí huệ. Mi sẽ nằm mãi trong cái ngục tối ấy cho đến khi vũ trụ này tan biến trở về cõi huyền tẫn mịt mù như thuở hồng hoang khi vạn vật mới chỉ là khối cát bụi hỗn huyễn, ngu ngơ. Mi sẽ không còn khả năng nhân danh những điều diệu kỳ, cao đẹp hay bất cứ cái gì để thỏa mãn lòng tham đê hèn vô độ của mi. Sẽ không có luân hồi cho mi, sẽ không có kiếp nào cho mi nữa, mi sẽ không bao giờ đầu thai lên cõi trần làm bất cứ sinh vật gì. Mi sẽ đời đời kiếp kiếp nằm sâu trong ngục tối của cõi a tỳ để ăn năn sám hối về những gì mi đã gây cho ta…”</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Nhân vật Tôi xuất hiện với một tâm thái vừa thù hận, vừa ảnh hưởng của triết lý Phật Giáo, về nhân quả, luân hồi.</p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Nhưng tôi chẳng thể nào giết chết gã nhà văn bằng mũi dao nhọn như thế được, bởi tôi chỉ là người con gái chân yếu tay mềm, và quan trọng hơn, giết gã như thế, máu từ vết thương trên người gã sẽ bắn vọt ra làm ô uế tấm áo lụa màu trắng tinh khiết trên người tôi. Và bởi tôi chỉ là ảo ảnh. Tôi chỉ hiện hữu trong thần trí tưởng tượng của gã, một thần trí tưởng tượng chẳng liên quan gì đến suy nghĩ trong đầu óc tôi lúc này”.</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Nhân vật này phủ nhận nhân vật kia, nói khác, một&nbsp;<em>thần trí tưởng tượng</em>&nbsp;và một thực-thể-ảo xung đột nhau, là sự va chạm giữa ảo và thực, tuy cả hai ảo thực đều thuộc phạm trù triết lý siêu hình. Tôi cho rằng với cấu trúc như vậy, đưa đến hai hiệu quả khả dĩ có thể, tác giả độc lập với nhân vật của mình, phó thác cho nó tự do suy tưởng, và nhân vật cũng không lệ thuộc vào tác giả, làm câu truyện có &nbsp;tính phổ quát hơn. Một cấu trúc quả là lợi hại. Tôi nói thế vì trong việc viết lách đã có chút kinh nghiệm thất bại khi bị ràng buộc vào mối liên quan giữa mình với nhân vật.</p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Nhưng rồi chuyện gì xảy ra và họ bị lùa vào đây sống như bầy súc vật, tôi nói thế bởi lý do giản dị là bản năng súc vật của họ không thể không chui ra từ đáy sâu bản ngã họ, gầm gào múa nanh múa vuốt để sinh tồn trong vũng bùn nhầy nhụa hôi tanh này. Họ chẳng là con người cả đấy ư? Nhưng một khi biến thành súc vật rồi, linh hồn họ còn không? Họ còn cơ hội quay trở lại làm người không? Hay cuộc sống vẫn mãi thản nhiên trôi chảy?”</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Điều này đã khẳng định trong lịch sử tất cả những nhà tù, lò sát sinh con người, từ ngàn xưa cho đến nay, không ai không thấy, nhất là nạn nhân, không khỏi khiếp sợ khi bị rơi vào tình huống con người bị kích động bản năng súc vật. Tôi cảm thấy nỗi đau của tác giả khi viết những đoạn như vậy, phải chăng đó cũng chính là nỗi phiền muộn nặng nề vô vọng của anh khi nghĩ về thân phận con người, sự tàn bạo của con người, và phải dùng đến một nhân vật hư cấu để ám chỉ? Đó cũng là cách để bớt phẫn nộ – đây là hiệu quả thứ ba của thủ pháp Trịnh Y Thư:</p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Quả thật tôi không tin tưởng gì cả vào sự tốt lành của cuộc sống và sự hiện hữu của tôi nơi đây, trên thế gian này, hoàn toàn là không do chủ ý của tôi”.</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Nhân vật “Tôi”, nàng luôn giãy giụa để trốn thoát, để được sống với cái bản nguyên chính của nàng lúc mới được gã nhà văn tạo dựng: “Tấm áo lụa màu trắng tinh khiết”. Gã Nhà Văn thì cũng đầy chán chường trong cuộc sống thừa thãi ham muốn, cô đơn, gã trốn chạy bấu víu vào nhân vật tưởng tượng của mình để rốt cuộc thấy rằng “<em>Tốt hơn anh chỉ nên sống với ảo ảnh</em>”.&nbsp; Ở đâu trên thế gian này cũng bùng nổ những cuộc trốn chạy. Nơi nào để nương náu cùng với nỗi cùng quẫn, cô đơn của con người? Một cái kén ảo như Gã Nhà Văn kia chăng?</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Và có phải “<em>Bà sống thật với đời sống này nên bà hạnh phúc. Chẳng lẽ hạnh phúc lại giản dị tới mức đó sao? Nếu thế tại sao người ta phải tốn biết bao giấy mực để nói về hạnh phúc mà chẳng bao giờ tìm ra lời giải đáp?”</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em>Thế nào là sống thật với đời sống này? Đơn giản hóa tối thiểu suy tư? Bình thường hóa những nghịch lý, bất công, đôi khi đến vô nhân đạo của cuộc sống và con người? An phận với thuyết Định Mệnh? Một hạnh phúc có được như thế có thực sự là nghĩa của hạnh phúc không? Vẫn mãi là câu hỏi từ xưa đến giờ, như thể hỏi và tìm là hành trình của cuộc sống.</p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Còn lại một mình trong căn phòng lạ bên bờ biển hiu quạnh, tôi không biết mình đang ở đâu trên mặt hành tinh này. Sự thanh vắng của vùng biển lạnh lẽo heo hút càng khiến tôi thấy cô độc. Cuộc sống này có gì vui đâu mà người ta thèm sống đến thế? Tôi tự hỏi trong lúc dõi tia mắt qua ô kính cửa sổ nhìn những cánh hải âu chao lượn ngoài trời. Câu hỏi có lẽ đã được nhiều người hỏi trước tôi. Có lẽ nó là câu hỏi có từ khi con người mới bắt đầu có ý thức về cuộc sống, và bởi thế tôi không nên tìm kiếm câu trả lời”.</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tôi thấy không yên ổn và thương cảm khi nhân vật này sau bao phẫn nộ, thù hận, tra vấn, để rồi “<em>Trong lúc gã đi vào tôi, đầu tôi hất ra đằng sau, hai mắt nhắm nghiền và tôi cố trôi theo dòng nghĩ tôi là người đàn bà của gã</em>.”</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; An phận, thúc thủ. Trôi theo dòng nghĩ, trôi theo dòng đời?</p>



<p>Đọc hết trích đoạn 1-3 này tôi vẫn bị vướng mắc trong dấu hỏi, thêm cả buồn bã nữa. Cả câu truyện không là truyện này là một chuỗi tra vấn của nhân vật, chạm đến mọi khía cạnh về cuộc sống và bản chất con người, làm sao để tìm được hạnh phúc giữa nghịch cảnh và những mâu thuẫn nội tại con người? Dưới cấu trúc dựa vào hư cấu để hiện thực một cuộc truy tìm và lôi ra ánh sáng những điều tội tệ nhất trong thẳm sâu bản ngã con người,&nbsp;mà vì một số những rào cản về đạo lý, hoặc vì dối trá, người ta đã không thẳng thắn thừa nhận.&nbsp;Nếu dụng ý của tác giả là để người đọc “phản quang” lại mình, thì với trích đoạn 1-3 “Đường Về Thủy Phủ” này, anh đã thành công. Đặt không gian truyện trên một nền ảo toàn bộ như thế, có thể, vô hình trung, Trịnh Y Thư đã khiến cho ta thấy một nhân sinh quan nhuốm chút ít màu sắc giáo lý nhà Phật, cái thực tướng của con người kia chỉ là giả, là tạm, thì sao phải trăn trở với quá nhiều hệ lụy của cuộc sống, của lòng tham và thù hận. Sáng tỏ được điều này thì, với riêng tôi, khả dĩ tìm được một điểm tựa yên bình sau khi viết một bài, chẳng nhiều cảm nhận mà toàn là câu hỏi.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tuy thế, có lúc tôi được đi vào dưới hai hàng cây bóng mát, nghỉ ngơi sau một đoạn đường nắng bỏng. Bóng mát của văn chương trữ tình làm tôi vương vấn.</p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “… Có những con đường với hai hàng cây cổ thụ san sát nhau đan thành cái vòm trên cao trông như họng một con quái thú đang nuốt chửng chúng tôi vào…”</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “… Tôi quấn mảnh khăn lụa che mái tóc rồi bước ra ghềnh đá đen đúa sát gần mực nước. Sóng biển vỗ tung tóe vào ghềnh đá dưới chân tôi. Đang là mùa hè nhưng gió biển vẫn lạnh căm. Tôi không biết đây là đoạn biển nào, ở đâu, chỉ biết phong cảnh xung quanh trông hoang sơ, vắng vẻ lắm. Bên cạnh cái khách sạn không quá mươi phòng chúng tôi ngủ đêm nay là một quán ăn nhỏ lụp xụp le lói ánh đèn, xa hơn tí nữa vài nóc nhà rầu rầu ẩn hiện dưới làn sương lam chiều lờ mờ, ảm đạm”.</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “<em>… vài nóc nhà rầu rầu ẩn hiện dưới làn sương lam chiều lờ mờ, ảm đạm,”</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tất cả kéo tôi trở lại là mình với những cảm xúc dịu dàng. Ở đó tôi gặp Nhà Thơ Trịnh Y Thư.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Cho dù dưới làn sương tất cả hiện hữu cũng chỉ là ảnh ảo.</p>



<p><strong>&nbsp;Nguyễn Thị Khánh Minh</strong></p>



<p>(Oct. 11/2023)</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Trịnh Y Thư: Ký ức của loài bò sát (Phân đoạn 14-15)</title>
		<link>https://t-van.net/trinh-y-thu-ky-uc-cua-loai-bo-sat-phan-doan-14-15/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Trịnh Y Thư]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 25 Sep 2023 09:35:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[Đường về thủy phủ]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=66163</guid>

					<description><![CDATA[14. Mười chín tuổi, tôi trở thành một dân quân du kích. Tôi được phát một khẩu súng và một băng đạn. Tôi cũng được tập bắn súng, nhưng mỗi lần tập chỉ được bắn ba phát vì không có nhiều đạn. Khẩu súng là vật bất ly thân, mặc dù công việc của tôi [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/09/hpt2fTkC-image002.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="384" height="298" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/09/hpt2fTkC-image002.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-66164" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/09/image002-300x233.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/09/hpt2fTkC-image002.jpg?strip=all 384w" sizes="(max-width: 384px) 100vw, 384px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><strong>14.</strong></p>



<p>Mười chín tuổi, tôi trở thành một dân quân du kích. Tôi được phát một khẩu súng và một băng đạn. Tôi cũng được tập bắn súng, nhưng mỗi lần tập chỉ được bắn ba phát vì không có nhiều đạn. Khẩu súng là vật bất ly thân, mặc dù công việc của tôi mỗi ngày là trồng ngô sắn, và đi mua lương thực như thịt cá về cho nhà bếp. Có hôm vào rừng đẵn những cây nứa to về làm lán, mỗi lán có ba, bốn du kích hay bộ đội trú ngụ. Lán của tôi do chính tay tôi cùng với năm anh du kích khác dựng, nên tôi làm kỹ lắm, trước cửa tôi còn trồng mấy bụi hoa rừng màu tim tím dễ thương.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Hình như có một tiểu đoàn bộ đội trú quân trong cánh rừng này, họ không tập trung ở một nơi mà tản mác ra khắp các buôn bản xung quanh. Họ di chuyển luôn luôn để tránh bị phát hiện. Hành tung của họ bí mật đến nỗi mặc dù vào sống chung trong một khu rừng cả năm, sáu tháng rồi mà tôi vẫn không biết họ ở đâu, làm gì mỗi ngày. Tôi nghe các anh du kích khác kháo nhau rằng châm ngôn của họ là “Đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng.” Khó nhất trong châm ngôn ba điều này là nấu ăn không tỏa khói. Họ có một phương pháp đào lỗ, khoét rãnh dưới đất làm lò nấu ăn, gọi là bếp Hoàng Cầm, chắc là do một anh nuôi nào đó tên Hoàng Cầm sáng chế. Cái bếp làm rất khéo, phải chọn vị trí theo hướng gió để không phải quạt ở cửa bếp, phủ trên miệng rãnh có những cành cây nhỏ đặt ngang. Công dụng của nó là khói từ củi lửa tỏa ra theo các rãnh, tản mác bay lên không trung thành những làn khói nhẹ rồi mau chóng tan biến chứ không thành cột. Nhờ thế, máy bay thám thính của địch trên cao không biết dưới đất có một đoàn quân đang trú đóng.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Thi thoảng gặp một anh bộ đội nào đó, tôi làm quen, nói chuyện vãn. Trong số, tôi thân nhất với anh Sơn. Anh gốc Nam Định, trước ở Liên khu Tư, Thanh Hóa, không hiểu sao bây giờ lại được biên chế về phục vụ trong tiểu đoàn này ở đây. Tính tình anh khá ấm áp, nét mặt tình cảm. Khi quen nhau lâu hơn, có lần tâm sự với tôi, anh nói người yêu anh ở Nam Định không chờ anh về mà đã lấy chồng khác. Tôi đoán có lẽ vì thế anh đâm ra buồn bã và xin về đây chiến đấu cho vơi bớt nỗi buồn. Nhưng chúng tôi không có thời gian nhiều cho những chuyện tình cảm vu vơ. Nhiều hôm tôi thấy anh vắng mặt cả tháng trời. Hỏi ra mới biết anh vừa trở về sau một vụ “nhổ” đồn Tây. Anh kể tôi nghe về vụ công đồn, giọng anh buồn bã chứ chẳng hào hứng như anh bộ đội hôm ghé lớp học của tôi kể về trận Sông Lô. Anh nói mỗi lần đi “nhổ” đồn Tây, anh lại mất một số bạn, và không biết bao giờ đến phiên anh. Nhưng ngay sau đó anh tự an ủi, “Chiến tranh, đạn tránh mình chứ mình làm sao tránh được đạn. Số mình chết thì sẽ chết thôi.”</p>



<p>&nbsp;&nbsp; Tôi chưa được dự một trận đánh nào. Dân quân như tôi chỉ đi theo thu dọn chiến trường chứ ít khi tham gia chiến trận lớn, ngoài những lần đi tuần, phục kích những đám lính Tây đi lẻ tẻ hay dò thám động tĩnh vùng Tây đóng. Cho đến một hôm, anh đội trưởng đội du kích bảo bọn tôi chuẩn bị vũ khí đạn dược sáng sớm mai lên đường. Sáng sớm hôm sau, chúng tôi, hai tiểu đội du kích, mất hơn ba tiếng đồng hồ trèo đèo lội suối mới đến một khu rừng khác rậm rạp hơn. Giữa cánh rừng bạt ngàn, giữa trưa không thấy ánh mặt trời, tôi thấy một ngôi nhà lớn và nhiều lán làm bằng nứa rải rác xung quanh. Trên đường đi vào có nhiều trạm canh được ngụy trang bằng lá cây rừng, người ở trong bất ngờ nhảy xổ ra lúc nào không biết, chặn đường hỏi mật khẩu, súng trường lăm lăm trên tay. Tôi đoán đây là bản doanh của tiểu đoàn. Đến nơi, chúng tôi được lệnh nghỉ ngơi, đem lương khô ra ăn. Tôi ngồi dưới một gốc cây to, vén quần lên bắt hết vắt, đỉa trên ống chân, đùi mới giở món ăn của mình đựng trong một ống tre. Tôi hồi hộp không biết Xụ Phụn Phèn làm món gì cho tôi ăn. Hóa ra là mèn mén. Biết sáng nay tôi ra trận, cô dậy từ lúc gà chưa gáy để nấu món này cho tôi đem theo, đủ ăn ít nhất ba ngày. Đưa vội ống tre cho tôi nhét vào ba-lô, cô quay mặt chạy đi ngay, không nói một lời, nhưng tôi vẫn kịp thấy hai dòng nước mắt của cô giàn giụa chảy xuống hai bên má. Xụ Phụn Phèn là cô gái H’Mông mới mười lăm tuổi nhưng yêu tôi lắm. Da dẻ cô trắng hồng chứ không đen đủi như nhiều cô H’Mông khác. Khuôn mặt cô trong sáng, đôi mắt nâu, hai làn môi mỏng lúc nào cũng thắm đỏ, và khi cô trút bỏ chiếc áo thổ cẩm màu đen, nằm dài trên thảm cỏ mượt mà bên bờ suối thì trước mắt tôi hiện ra một bông hoa rừng tuyệt đẹp, chờ đợi tôi cúi xuống chiêm ngưỡng và chiếm đoạt. Cô dạy tôi nói tiếng H’Mông và nấu những món ăn của dân tộc cô cho tôi ăn, tôi thích nhất món mèn mén này. Nó được xem là món ăn chính của đồng bào dân tộc vùng Tây Bắc bởi được chế biến từ ngô, một thứ nông phẩm sẵn có, trồng ở miền núi cao dễ hơn là lúa gạo. Mèn mén có thể để dành ăn trong ngày hoặc vài ngày khi đi nương, đi rừng. Làm món ăn này, người phụ nữ dân tộc phải mất khá nhiều thời gian để chế biến cho được mẻ mèn mén vừa dẻo vừa thơm. Tôi vừa ăn vừa nghĩ đến Xụ Phụn Phèn, tôi hình dung cô trong chiếc váy thổ cẩm màu đen, đầu chít khăn, lưng đeo <em>lù kở</em>, đang đi trên những con đường mòn dốc thoai thoải giữa một vùng thiên nhiên bao la xanh thẳm. Tôi nhớ cô quá mất thôi.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Chiều chưa xuống mà sương lam đã phủ kín mờ mịt không gian. Đoàn ngựa thồ của toán bộ đội hậu cần vừa về đến nơi, họ khuân xuống những bao tải to tướng. Một chặp sau, mọi người được mời ra ăn tối. Bàn ghế làm bằng những thân cây rừng ghép lại. Mọi người cầm đũa tre, khi ăn, một đầu gắp thức ăn, xong trở đầu đũa và cơm vào miệng. Thức ăn để trên những tàu lá chuối, không có canh, thịt toàn là thịt trâu, và rau củ vài loại. Bát cơm, ai có thì dùng, còn không, phải dùng ca uống nước thay thế. Xung quanh tôi, toàn màu rêu áo trấn thủ, vì khí trời đã rét buốt. Đông lắm, có lẽ cả tiểu đoàn tập kết tại đây trước giờ công đồn. Ăn xong, mọi người ai nấy cầm bát đũa dơ ra suối rửa, con suối nhỏ cách đấy không xa. Có một toán bộ đội đi thu dọn rác rến đem chôn dưới một cái hố lớn. Có cả kẹo lạc và trà nóng đem ra cho mọi người thưởng thức. Buổi tối là giờ học tập, nghe hiệu triệu từ các cấp chỉ huy, và sau cùng là chương trình văn nghệ hát những bài hùng ca. Tất cả chui vào căn nhà lớn, chen chúc nhau ngồi xếp bằng dưới sàn. Học tập và hiệu triệu thì tôi chẳng thấy hứng thú gì mấy, toàn những điều đã nghe cả trăm lần, nhưng chương trình văn nghệ phong phú và hấp dẫn lắm, có cả màn kịch do ban kịch của tiểu đoàn trình diễn. Có sân khấu đàng hoàng, dù chỉ là cái bục cao chưa tới đầu gối. Vở kịch tuyên truyền, kích động lòng căm thù giặc Tây, nhưng diễn viên khá xuất sắc nhất là vai nữ. Trong các bài hùng ca, tôi thích nhất bài Xuất quân của ông Phạm Duy. Chẳng biết lúc này ông đang ở đâu, nghe nói ông đi cùng khắp đất nước hát cho bộ đội nghe, thậm chí Bình Trị Thiên ông cũng đã vào. “<em>Ngày bao hùng binh tiến lên. Bờ cõi vang lừng câu quyết chiến</em>…” Nghe cả trăm cái miệng cùng há to hát, có tiếng đàn ghi-ta của hai anh bộ đội thì thùng đệm theo, tôi có cảm giác máu trong người chảy mạnh.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Lúc học tập và nghe hiệu triệu, các đơn vị ngồi riêng ra, nhưng lúc văn nghệ thì mọi người tìm bạn ngồi với nhau, vừa hát vừa nói chuyện vãn rôm rả. Anh Sơn cũng có mặt. Ban chiều tôi nhác trông thấy anh ngoài rừng, nhưng không tiện lại hỏi han. Lúc ngồi xem kịch nghe hát, anh lại chỗ tôi ngồi, rút bao Bastos mời tôi, anh bảo bao thuốc lá là chiến lợi phẩm trong trận “nhổ” đồn Tây cách đây hai tháng. Anh thích nói chuyện với tôi, có lẽ vì thấy tôi chịu khó lắng nghe chuyện người khác. Mộng ước của anh là sau này trở thành nhà văn, nên lúc nào anh cũng giữ một cuốn sổ tay nhỏ trong ba-lô, ngồi đâu là rút sổ ra hí hoáy viết. Những kinh nghiệm sống này sẽ không bao giờ tìm lại được, anh bảo tôi. Chỉ cần sau này viết lại những gì mình trải nghiệm trong cuộc chiến tranh này là đã quá dư thừa cho những tác phẩm hay. Nhưng làm sao viết được những tác phẩm hay? Kinh nghiệm bản thân chỉ cho mình chất liệu tốt chứ chưa chắc giúp mình cho ra đời một tác phẩm hay để đời. Anh bảo. Chỉ có cách đọc những danh tác quốc tế, và muốn thế phải có căn bản ngoại ngữ. Mình đọc họ không phải để xem họ viết cái gì. Cái gì, không quan hệ. Chuyện đời, bản chất con người, đâu đâu cũng như nhau, thời nào cũng vậy. Cái quan hệ là xem họ viết như thế nào. Làm văn là viết như thế nào chứ không phải viết cái gì… Có vẻ như anh sinh ra để viết văn chứ không phải đánh giặc. Anh bảo tôi văn học Việt Nam mình còn non nớt lắm, nổi đình đám hơn cả là nhóm Tự Lực Văn Đoàn, nhưng trong nhóm chẳng ai có tầm vóc quốc tế, ông Nhất Linh thì viết theo công thức luận đề xã hội, đọc chán phè phè, ông Thạch Lam thì chỉ có cái văn chương đèm đẹp. “Nếu viết văn, tôi sẽ viết như Dostoevsky.” Anh nói tiếp. “Minh đã đọc ông nhà văn người Nga này bao giờ chưa? Nếu chưa thì sau này có dịp nên tìm đọc. Văn chương của ông ấy khai thác tâm lý con người đến tột cùng ở bối cảnh chính trị, xã hội của nước Nga vào cuối thế kỷ mười chín, nhưng khi đọc ông, ta không thấy xa lạ…”</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Ông này đúng là dân Nam Định trăm phần trăm.” Nghe anh nói tôi nghĩ thầm trong bụng. Dân Nam Định hình như ai cũng là văn sĩ, thi sĩ, và chẳng bao giờ họ xem kẻ khác viết ra cái gì. Nhưng tối nay, trong bầu không khí say sưa phấn khích trước ngày ra trận, anh không bàn luận văn chương với tôi, anh choàng tay qua vai tôi thân mật rù rì chuyện trò, kể nhiều điều thú vị về các nhân vật quan trọng trong tiểu đoàn. Chẳng hạn như ông thiếu tá Lê Lân, chỉ huy trưởng tiểu đoàn.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Ông này có mối thù không đội trời chung với Pháp vì cha ông ấy bị mật vụ Pháp giết.” Anh Sơn bảo tôi.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Cha ông ấy bị giết trong trường hợp nào, hả anh?” Tôi hỏi lại anh.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Thì lập hội kín chống Pháp, tổ chức ám sát sĩ quan Pháp ngay Hà Nội, bị mật vụ Pháp ghi tên vào sổ đen truy lùng. Mật vụ Pháp tìm bắt mấy lần không được, vì ông ta trốn lên Yên Bái này. Vợ con ở một nơi bí mật khác. Thế mà Phòng Nhì Pháp truy ra. Chúng nó bắn ông chết ngay trước cửa căn nhà trọ. Sau này có người bảo ông bị mật thám Pháp phăng ra vì có kẻ tố giác nơi ông ẩn nấp. Vì thế ông Lê Lân thù Pháp một, thù tay sai cho Pháp mười.”</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Chuyện ông Lê Lân chưa hết, anh Sơn lại thì thào vào tai tôi:</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Minh thấy nhóm bộ đội có anh chàng tóc húi cua, răng hô như cải mả ngồi gần sân khấu không? Họ trong toán cảm tử đấy. Có ít nhất một anh ngày mai ôm bom ba càng.”</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tôi cũng đang thắc mắc về nhóm bộ đội này. Họ có chừng chục người, ngồi tách biệt hẳn với mọi người xung quanh, ngay cả lúc ăn cơm ngoài mé rừng, và không hề thấy họ mở miệng nói với ai câu nào. Họ cũng không vỗ tay hát theo những bài hùng ca. Họ dõi mắt nhìn lên sân khấu với những đôi mắt vô cảm như thể tâm tư họ để mãi đâu đâu. Nghe anh Sơn nói, tôi mới biết họ là những chiến sĩ trong đội quyết tử, và họ biết ngày mai họ sẽ chết. Tôi thấy mặt mày họ lạnh lẽo đến độ lạ lùng, không hiểu trong đầu họ lúc này đang nghĩ ngợi gì.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Nhưng tôi biết bom ba càng là gì. Tôi từng thấy nó lúc Trung đoàn Thủ đô chặn đánh quân Pháp ở Hà Nội. Nó là một thứ vũ khí chống tăng cảm tử, có dạng hình phễu, bộ phận kích nổ là ba chiếc càng sắt nhú ra từ đầu bom, vì thế người ta gọi nó là bom ba càng. Quả bom được lắp vào một thanh gậy gỗ dài hơn một thước. Chiến sĩ đánh bom ôm thanh gậy với quả bom như cầm giáo lao vào hông tăng địch, bom nổ, lớp thép dày của chiếc tăng bị xuyên thủng, nhưng chiến sĩ cũng tan xác theo.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Họ có được hưởng ân huệ sau cùng gì trước cái chết ngày mai không, anh?” Tôi hỏi anh Sơn một câu có vẻ hơi ngớ ngẩn.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Có chứ. Minh đợi tí nữa sẽ biết.”</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Mãi khuya mọi người mới lục tục đứng dậy ra khỏi ngôi nhà, chui vào lán đi ngủ. Tôi thấy một nhóm phụ nữ ăn mặc như dân quân đến nắm tay các anh cảm tử quân. Mỗi chị nắm tay một anh. Từng cặp, họ chui vào những gian buồng quây bằng nan trông như bồ lúa sát vách sau ngôi nhà. Và tôi hiểu.</p>



<p><strong>15.</strong></p>



<p>Chiều hôm sau mọi người ăn cơm sớm. Quanh bãi đất trống, tôi thấy vũ khí bày la liệt, có cả hai khẩu súng cối 60 ly dựng dưới gốc cây, vài khẩu đại liên, trung liên với những hòm đạn cũ kỹ, các loại súng nhẹ máng trên cành cây hoặc chụm ba lại thành giá súng dưới đất. Cơm nước xong, mọi người lại lục tục kéo vào ngôi nhà lớn. Sân khấu đêm qua bây giờ được di chuyển ra giữa nhà, trên đặt một sa bàn y hệt đồn Pháp. Mọi người vào ngồi xung quanh. Đợi ai nấy yên vị, ông Lê Lân đứng dậy, tay cầm một thanh que dài chỉ lên sa bàn nhắc lại nhiệm vụ của từng đơn vị. Đồn có bao nhiêu sĩ quan chỉ huy, bao nhiêu lính Pháp, bao nhiêu lính Partisan, bao nhiêu lính ta, lính Thổ, bao nhiêu súng nặng nhẹ, bao nhiêu xe, bao nhiêu lương thực, kho đạn để chỗ nào, tinh thần lính trong đồn ra sao, nhất nhất đều đã được nội tuyến báo cáo đầy đủ. Không khí thật trang nghiêm. Tôi nhìn nét mặt mọi người rắn đanh như sắt thép. Lúc này tôi mới có dịp nhìn rõ ông Lê Lân. Người ông tầm thước, khuôn mặt không có gì đặc biệt, nước da tái, hai môi dầy, thâm, nhưng cặp mắt như có tia điện quang chiếu lấp lánh, giọng nói gằn từng tiếng, sắc lạnh, nghe tàn nhẫn.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Trời sâm sẩm tối, mọi người được lệnh lên đường. Bộ đội vũ trang súng ống đạn dược đeo đầy trên người. Đội cảm tử cầm những ống bộc phá nội hóa dài, thang tre và kìm cắt dây thép gai. Tôi cũng khoác súng lên đi theo toán du kích do anh đội trưởng hướng dẫn. Chúng tôi, tay chống gậy tre, đi trong im lặng xuyên qua những cánh rừng thâm u rùng rợn giữa tiếng côn trùng rỉ rả. Đến gần nửa đêm thì có lệnh dừng lại, chia quân thành hai toán, một toán lên công đồn, toán kia bố trí chỗ phục kích viện binh địch. Chiến thuật công đồn đả viện này được các đồng chí Trung quốc dạy kỹ lắm. Tôi đi theo toán quân công đồn, tiếp tục đi nữa. Tiếng súng đại bác của Pháp từ trong đồn bắn đi ầm vang cả núi rừng, nhưng đấy chỉ là tiếng súng cầm canh thường lệ, bắn vu vơ. Đi cả tiếng đồng hồ nữa, tôi được lệnh nằm chờ sau mấy mô đất. Dưới ánh sao trời, tôi lờ mờ trông thấy cái đồn Pháp. Tiếng súng đại bác đã dứt, chỉ còn tiếng đêm của núi rừng yếu ớt, đứt quãng như đang thoi thóp chờ đợi cái gì hung bạo khiếp hãi sắp xảy ra. Không biết bộ đội nấp ở đâu, họ như bóng ma, mới thấy đó đã biến đâu mất tăm. Tôi thấy hồi hộp trong lòng. Chẳng gì khổ sở hơn khi phải chờ đợi ở những giây phút nặng nề nghẹt thở như vầy, nhưng tôi vẫn phải chờ.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Đồn bót là một thất bại lớn trong chiến lược chống Việt Minh lúc bấy giờ của Pháp. Để đương đầu một đoàn quân lúc ẩn lúc hiện như bóng ma, Pháp cho quân mình chường mặt ra trong những đồn bót đặt khắp nơi, phơi bày như những bia tập bắn. Việt Minh nắm thế chủ động. Tuy không đủ quân xa, hoàn toàn không có phi cơ, nhưng họ muốn đi đâu, muốn đánh chỗ nào, lúc nào, tùy ý. Trong khi quân Pháp chết bẹp dí trong những pháo đài chẳng lấy gì làm kiên cố, thường lại không đúng chỗ hoặc không thể giữ được vì vị thế hiểm trở, tiếp tế và cứu viện khó khăn, như cái đồn bộ đội sắp “nhổ” đây. Nó nằm trơ trọi giữa một mỏm đất cao, từ đó dùng ống nhòm có thể dễ dàng quan sát quốc lộ chạy dài bên dưới, nhưng chẳng ai ngu dại vác súng đi ngờ ngờ trên quốc lộ cho bị phát hiện. Các tướng lĩnh Pháp, ông nào ông nấy đầy sao lấp lánh trên cầu vai binh phục – năm sao như Carpentier, Navarre, bốn sao như Valluy, Salan, ba sao như Alessandri, De Linarès – mà sao không nhớ nổi lời dạy của Napoléon: <em>Les forts sont faits pour être pris!</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Hơi lạnh của núi rừng bây giờ thấm vào người tôi, mặc dù tôi đã thủ chiếc áo dạ bên trong bộ quần áo vải dân quân màu đen bạc phếch. Hình như tôi thiếp đi thì phải. Lạnh thế mà vẫn ngủ được. Tôi chỉ choàng tỉnh khi nghe tiếng súng cối nổ phát đầu tiên và tiếng đạn xé gió rít trên không trung nghe rợn người, và tiếp theo là tiếng súng lớn nhỏ nổ dồn dập liên hồi. Khi hai quả hỏa châu tỏa sáng trước cổng đồn, tôi thấy bộ đội cầm súng vừa bắn vừa chạy lên. Họ dũng cảm lắm, súng bắn xuống như mưa mà vừa nghe tiếng “Xung phong!” là họ cúi rạp người chạy lên, không hề chần chừ. Đội cảm tử đã cắt đứt hàng rào thép gai vừa đủ chỗ cho một người lọt qua, nhưng hai khẩu đại liên từ sau lô cốt và mấy chục họng súng nhỏ khạc lửa ra dữ dội khiến hết lớp xung phong này đến lớp khác lao lên mà vẫn chưa dứt điểm được. Một lúc lâu sau, tiếng súng thưa dần, không thấy bộ đội xung phong nữa, tôi tưởng trận chiến đã kết thúc. Nhưng không. Chỉ mươi phút sau tiếng súng lại nổ giòn, lần này ở phía sau đồn chứ không phải phía trước. Một toán bộ đội cảm tử khác dùng thang tre trèo lên đột kích sau đồn, nơi phòng vệ yếu hơn. Vài bộ đội đã tràn vào sân đồn, hai khẩu đại liên quay mũi, và chỉ đợi có thế, hai anh bộ đội từ phía trước liều chết phóng lên ném tới tấp những ống bộc phá. Bộc phá nội hóa chỉ gây tiếng nổ mạnh chứ ít khi gây tử vong, nhưng đủ làm chấn động nghẹt thở quân địch trong tích tắc, và tại chiến trường một tích tắc là quá đủ cho một tràng đạn từ phía bên kia ghim lên thân xác mình. Lúc đó, hàng rào dây thép gai đã mở toang, chiếc cổng lớn cũng bị trung liên bắn sập, bộ đội túa lên như đàn ong vỡ tổ. Mãi lúc bấy giờ mới nghe anh đội trưởng du kích hô to “Anh em xung phong!” Tôi lồm cồm ngồi dậy ôm súng chạy lên đồn. Xung phong cái quái gì nữa, giống như đang tập trận giả thôi. Xác bộ đội nằm kín lối đi, người chết kẻ bị thương. Vài bó đuốc được đốt lên soi sáng cảnh chiến trường tan hoang, hãi hùng. Đội cứu thương đang làm phận sự. Cả cái đồn bốn, năm chục lính Pháp, lính Việt, lính Thổ, đầu bếp, lao công, không ai sống sót, người buông súng giơ tay đầu hàng cũng bị bắn, kẻ bị thương được bồi một phát ân huệ vào đầu. Không có tù binh.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Cáng tre được đem lên khiêng bộ đội tử trận và bị thương. Tôi thuộc toán này. Nhưng lúc tôi đến nơi, họ đã làm gần xong. Tôi được chỉ định khiêng chiến lợi phẩm gồm súng ống, đạn dược, thuốc men, thực phẩm, và cả thuốc lá. Chạy lục soát các phòng, tôi bỗng thấy mình lọt vào phòng của trưởng đồn, tôi đoán thế, vì phòng có giường nệm và bộ quân phục quan Ba còn vắt trên thành ghế. Đồ vật tung tóe dưới sàn, tôi thấy một khung ảnh. Tôi nhặt lên xem, mặc dù mặt kính đã vỡ, tôi vẫn thấy ảnh một thiếu phụ da trắng bế một cậu bé trai kháu khỉnh. Chắc là vợ con người trưởng đồn. Ông ta không kịp mặc quân phục, cầm súng ra chiến đấu và bây giờ chết bỏ xác ở đây. Vợ ông ta nghĩ gì khi nghe tin chồng mình tử trận ở cái chốn đèo heo hút gió này? Còn thằng con? Nó mất cha từ khi chưa biết nói, tương lai nó sẽ ra sao? Nhưng tôi không có thời gian nghĩ ngợi thêm vì có tiếng người lao xao ở phía trước. Tôi chạy ra, thấy thiếu tá Lê Lân đang đứng trước một xác chết còn mặc đồ ngủ kiểu nhà binh một mảnh liền từ cổ xuống chân bó sát người, chắc là xác người trưởng đồn mà tôi vừa xem ảnh vợ con ông ta. Dưới ánh đuốc, tôi thấy ông ta còn trẻ lắm, chắc không quá ba mươi, râu quai nón và tóc màu hung đỏ. Ông bị một tràng đạn ghim lên ngực, máu ướt đỏ bộ đồ ngủ màu trắng ngà. Đứng cạnh là anh Sơn. Mấy người bộ đội khác đứng vòng ngoài, tay hờm súng trong tư thế tác chiến. Tôi nghe ông Lê Lân quát bảo anh Sơn:</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Đồng chí Sơn! Tôi ra lệnh cho đồng chí cắt đầu thằng Tây này cho tôi. Tại sao đồng chí cãi lệnh tôi, hử?”</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Tôi không quen làm công việc này. Xin đồng chí chỉ định một đồng chí khác.” Anh Sơn gượng gạo trả lời.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Chúng ta không có thời gian. Đồng chí phải làm ngay. Đồng chí mà còn từ chối, tôi sẽ ghép đồng chí vào tội bất tuân lệnh thượng cấp, đồng chí sẽ phải chịu hình phạt kỷ luật.”</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Anh Sơn miễn cưỡng ngồi thụp xuống bên xác người sĩ quan Pháp. Anh thò tay ra sau định tìm dao nhưng chắc chợt nhớ mình không có dao găm hay con dao lạc đâu mất rồi, anh ngần ngừ trong chốc lát rồi rút lưỡi lê từ đầu khẩu súng trường ra, dùng nó cứa cổ cái xác. Nhưng cái lưỡi lê dài cả nửa thước dùng để đâm, muốn cắt không dễ dàng, anh cứa đi cứa lại mãi mà chỉ có tí máu rướm ra, yết hầu của người trưởng đồn vẫn không đứt. Anh bèn chọc mạnh lưỡi lê vào một bên cổ đoạn dùng sức giật ngược ra. Máu ộc ra thành vũng dưới đất. Anh làm mấy lượt như thế mà cái đầu vẫn không đứt hẳn. Bây giờ dây nhợ lòng thòng đỏ loét, không biết là những thứ gì, từ trong cổ người trưởng đồn theo lưỡi lê xổ tung ra bầy nhầy như lũ giun sán. Loi nhoi lúc nhúc. Anh vẫn kiên nhẫn chọc vào giật ra từng mảnh nhỏ một. Cái cổ người trưởng đồn nát ngướu nhưng nó không chịu đứt lìa vì cột sống vẫn dính liền với đầu. Anh có vẻ lúng túng, chẳng biết phải làm sao. Cuối cùng anh trở ngược báng súng đập cho giập nát chỗ cột sống mới bứt được cái đầu ra khỏi thân mình. Anh túm tóc cái đầu lâu khủng khiếp đưa cho ông Lê Lân. Ông này cầm lên nhìn chòng chọc, mặt ông đanh lại, nhổ một bãi nước bọt vào mặt nó. Đoạn ông ra lệnh cho một anh bộ đội khác cắm nó vào một cây sào tre đem dựng trước cổng đồn. Tôi thấy anh Sơn cầm súng lên lảo đảo đi vài bước rồi ôm ngực nôn thốc nôn tháo. Một lúc lâu sau anh mới định thần lại được và theo đoàn người, hai người khiêng một cái cáng, dò dẫm từng bước đi xuống chân đồi, bỏ lại phía sau cái đồn đang bốc cháy với cái đầu lâu của người trưởng đồn lắc lư trên đầu ngọn sào. Nhìn theo. Những sợi dây lòng thòng từ cái cổ nát ngướu, chẳng biết là gì, dây thần kinh, động mạch, tĩnh mạch, đung đưa như lá phướn vẫy chào đoàn chiến binh, hẹn ngày tái ngộ.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Các sợi dây thần kinh trong người tôi hình như đều quá mức chịu đựng, nhưng không hiểu sao tôi đứng đó như trời trồng nhìn cho đến hết cái màn cắt đầu chỉ có thể diễn ra dưới địa ngục. Nó như cơn ác mộng. Không, có lẽ nó khủng khiếp hơn ác mộng, vì trong ác mộng, tuy ta chẳng trốn vào đâu được nhưng khi tỉnh giấc những hình ảnh đó phai nhạt dần rồi biến mất hẳn khỏi tâm trí ta. Còn sự thật tôi chứng kiến khiếp đảm hơn ác mộng vì chẳng hiểu sao nó bắt tôi đứng đó thu hết từng chi tiết vào ký ức, và nó vẫn bám chặt tôi, bắt tôi chịu đựng sự hành hạ của nó suốt đời.</p>



<p>–<strong> Trịnh Y Thư</strong></p>



<p>(Trích đoạn tiểu thuyết <em>Đường về thủy phủ</em>).</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Trịnh Y Thư: Đường về thủy phủ (Trích đoạn 1-3)</title>
		<link>https://t-van.net/trinh-y-thu-duong-ve-thuy-phu-trich-doan-1-3/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Trịnh Y Thư]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 04 Sep 2023 10:26:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[truyện]]></category>
		<category><![CDATA[Đường về thủy phủ]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=65630</guid>

					<description><![CDATA[Bản vẽ Duy Thanh [1931-2019] 1. Tôi thù gã nhà văn khôn tả. Tôi thù gã đến độ tôi muốn giết chết gã. Tôi ao ước có một mũi dao nhọn sắc lẻm cho tôi ấn sâu vào ngực gã với động tác êm nhẹ, từ tốn để trái tim gã khi bị mũi dao [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/09/image001.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/09/image001.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-65631" width="462" height="418" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/09/image001-300x271.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2023/09/image001-768x695.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/09/image001.jpg?strip=all 924w" sizes="(max-width: 462px) 100vw, 462px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Bản vẽ Duy Thanh [1931-2019]</em></p>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><strong>1.</strong></p>



<p>Tôi thù gã nhà văn khôn tả. Tôi thù gã đến độ tôi muốn giết chết gã. Tôi ao ước có một mũi dao nhọn sắc lẻm cho tôi ấn sâu vào ngực gã với động tác êm nhẹ, từ tốn để trái tim gã khi bị mũi dao đâm thủng vẫn không hay biết đang bị đâm mà vẫn hân hoan đập những những nhịp đập hối hả như sợ ngày mai không còn được đập. Tôi thấy khuôn mặt tôi đanh lại, tiếng nói tôi nhỏ nhẹ như thì thầm với trái tim của gã. Trái tim ơi, sau phút giây này mi sẽ vĩnh viễn nằm im trong cái lồng ngực thâm u mông muội ấy và ngàn đời mi chẳng bao giờ nhìn thấy ánh sáng của trí huệ. Mi sẽ nằm mãi trong cái ngục tối ấy cho đến khi vũ trụ này tan biến trở về cõi huyền tẫn mịt mù như thuở hồng hoang khi vạn vật mới chỉ là khối cát bụi hỗn huyễn, ngu ngơ. Mi sẽ không còn khả năng nhân danh những điều diệu kỳ, cao đẹp hay bất cứ cái gì để thỏa mãn lòng tham đê hèn vô độ của mi. Sẽ không có luân hồi cho mi, sẽ không có kiếp nào cho mi nữa, mi sẽ không bao giờ đầu thai lên cõi trần làm bất cứ sinh vật gì. Mi sẽ đời đời kiếp kiếp nằm sâu trong ngục tối của cõi a tỳ để ăn năn sám hối về những gì mi đã gây cho ta.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Nhưng tôi chẳng thể nào giết chết gã nhà văn bằng mũi dao nhọn như thế được, bởi tôi chỉ là người con gái chân yếu tay mềm, và quan trọng hơn, giết gã như thế, máu từ vết thương trên người gã sẽ bắn vọt ra làm ô uế tấm áo lụa màu trắng tinh khiết trên người tôi. Và bởi tôi chỉ là ảo ảnh. Tôi chỉ hiện hữu trong thần trí tưởng tượng của gã, một thần trí tưởng tượng chẳng liên quan gì đến suy nghĩ trong đầu óc tôi lúc này. Tôi thù gã chỉ vì gã đã ném tôi ra ngoài thế gian này như ném một món đồ phế thải.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Đã đến giờ ăn tối, từ hành lang tiếng chuông báo hiệu ré lên như xoáy óc kéo tôi về thực tại, tôi đang ở trong tù và trên người tôi là chiếc áo tù bằng vải thô nhám màu xám xỉn chứ không phải chiếc áo lụa trắng cố hữu tôi mặc từ ngày gã cho tôi ra đời. Tôi vào đây hơn sáu tháng rồi. Có những điều tôi chẳng nên nói về đời sống tù, bởi nó nằm ngoài mọi tưởng tượng của tôi. Nhưng thật ra cái bẩn thỉu, xấu xí trong này chỉ là sự nén ép đậm đặc đến tối đa cái bẩn thỉu, xấu xí ngoài kia thôi. Nơi nào cũng là nhà tù, tôi chẳng có chọn lựa nào khác một khi tôi bị ném ra ngoài thế gian.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Cửa xà lim xịch mở, tôi nhỏm dậy thò đầu ra ngoài. Hình như tất cả các cái đầu đều không hẹn thò ra cùng lúc. Tù nhân lũ lượt theo nhau đi về phía phòng ăn, tiếng cười, tiếng nói chuyện râm ran. Toàn nữ tù bởi trại tù này là nơi giam giữ phụ nữ phạm tội hình. Trước đây họ là những người con gái với tất cả những ước mơ đẹp đẽ. Cũng có thể họ là những bà mẹ đảm đang thương chồng, thương con. Nhưng rồi chuyện gì xảy ra và họ bị lùa vào đây sống như bầy súc vật, tôi nói thế bởi lý do giản dị là bản năng súc vật của họ không thể không chui ra từ đáy sâu bản ngã họ, gầm gào múa nanh múa vuốt để sinh tồn trong vũng bùn nhầy nhụa hôi tanh này. Họ chẳng là con người cả đấy ư? Nhưng một khi biến thành súc vật rồi, linh hồn họ còn không? Họ còn cơ hội quay trở lại làm người không? Hay cuộc sống vẫn mãi thản nhiên trôi chảy? Quả thật tôi không tin tưởng gì cả vào sự tốt lành của cuộc sống và sự hiện hữu của tôi nơi đây, trên thế gian này, hoàn toàn là không do chủ ý của tôi.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tôi ra nhập bọn tù, cúi gằm đầu vừa đi vừa nhìn mũi đôi giày vải dưới ống quần vải rộng rung rinh theo nhịp chân mình. Bỗng nhiên tôi có cảm giác có ai khều nhẹ vai tôi. Tôi quay lại nhận ra con nhỏ tù da trắng mặt đầy tàn nhang. Nó vào đây với cái án hai năm như tôi chỉ vì tội ăn cắp vặt. Nó thì thầm vào tai tôi:</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Mày cẩn thận, đêm nay chúng nó định làm thịt mày đấy.”</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tôi biết chúng nó ở đây là ai và định giở trò gì với tôi. Tôi gật đầu cám ơn con nhỏ rồi tiếp tục lầm lũi đi về phía phòng ăn. Con nhỏ đã bị chúng nó làm thịt và bây giờ đến phiên tôi. Đấy là quy luật của cuộc sống, tôi phải tập tính chai lì thôi bởi tôi không có cách nào thoát ra khỏi cuộc sống ấy, một cuộc sống tôi kinh tởm đến cực độ. Càng nghĩ tôi càng thù ghét gã nhà văn.</p>



<p><strong>2.</strong></p>



<p>Công bằng mà nói thì thời gian đầu hiện hữu trong cuộc sống này, đôi lúc tôi có cảm thấy hạnh phúc. Gã nhà văn làm nghề dạy học, mặc dù gã ghét cay ghét đắng cái nghề đó. Buổi tối gã đưa tôi đi ăn tại những nhà hàng đắt tiền rồi về nhà làm tình với tôi. Thời gian gần đây gã lôi tôi đi khắp nơi, mỗi nơi chỉ ở dăm ba bữa rồi lại leo lên xe tiếp tục rong ruổi trên những con đường vắng vẻ, sâu hun hút. Có những con đường với hai hàng cây cổ thụ san sát nhau đan thành cái vòm trên cao trông như họng một con quái thú đang nuốt chửng chúng tôi vào. Tôi hỏi gã mình đang đi đâu nhưng bao giờ gã cũng ném sang tôi câu trả lời chẳng hợp tình hợp lý chút nào. Ngồi sau tay lái chiếc xe jeep cũ kỹ nhưng nhiều mã lực của gã, mặt gã lầm lì trông dễ sợ, lâu lâu gã liếc sang tôi như canh chừng xem tôi có hành vi đáng nghi nào không như mở tung cửa xe rồi buông người rơi xuống vực sâu trong lúc chiếc xe đang bám đường đèo với tốc độ đáng sợ. Nhưng cũng có lúc xe chạy với tốc độ đều đều trên một đoạn đường thẳng tắp, gã đưa bàn tay phải sang đặt lên đùi tôi bóp nhẹ. Mấy lần tôi hất tay gã ra nhưng gã trơ trẽn lắm và cuối cùng tôi đành chịu thua để hắn mặc tình xoa bóp đùi mình. Chạy mãi cũng chán, gã bảo tôi như ra lệnh:</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Tối nay mình ngủ đêm ở đây.”</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Gã dừng xe trước một cái khách sạn khá đẹp nằm trông ra biển. À, thì ra chúng tôi vừa vượt một cánh rừng phong bát ngát và đã ra đến bờ biển. Hoàng hôn đang xuống dần. Vài con hải âu và cả bồ nông biển bay là là trên mặt nước kiếm mồi. Một đàn vịt trời trên chục con líu ríu dắt díu nhau trên bãi cát nâu, vừa đi lạch bạch vừa ve vẩy những chiếc đuôi ngắn ngủn như vẫy chào tôi. Tôi quấn mảnh khăn lụa che mái tóc rồi bước ra ghềnh đá đen đúa sát gần mực nước. Sóng biển vỗ tung tóe vào ghềnh đá dưới chân tôi. Đang là mùa hè nhưng gió biển vẫn lạnh căm. Tôi không biết đây là đoạn biển nào, ở đâu, chỉ biết phong cảnh xung quanh trông hoang sơ, vắng vẻ lắm. Bên cạnh cái khách sạn không quá mươi phòng chúng tôi ngủ đêm nay là một quán ăn nhỏ lụp xụp le lói ánh đèn, xa hơn tí nữa vài nóc nhà rầu rầu ẩn hiện dưới làn sương lam chiều lờ mờ, ảm đạm. Gió biển thổi tung bay phần phật chiếc áo lụa trên người tôi. Gió biển cũng đem theo vị mặn hôn lên má lên môi tôi và đám mây hồng nương theo ráng chiều sà xuống như đòi làm tình với tôi. Những đám mây suồng sã nằm sõng soãi vắt ngang nền trời chiều khiến tôi thèm được yêu, ngay nơi đây, ngay lúc này.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Để hiện hữu trong thần trí tưởng tượng của gã tôi phải biết yêu cảnh đẹp như cảnh biển chiều tà này bởi gã là nhà văn, nhưng gã đã phạm một sai lầm nghiêm trọng, đó là sau khi tạo dựng nên tôi, thay vì cất tôi vào ngăn kéo thì gã lôi tôi ra đời sống này. Nằm yên trong ngăn kéo tôi sẽ ngủ yên nhưng bên ngoài đời sống tôi có đời sống riêng của tôi và điều tất yếu xảy ra là tôi nổi loạn. Tôi nổi loạn với chính kẻ đã tạo dựng nên tôi. Gã biết điều đó. Và gã chấp nhận cuộc sống bất an có tôi bên cạnh.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Có lần tôi hỏi gã lúc nằm trần truồng bên nhau sau khi làm tình:</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Tại sao anh cho em ra đời?”</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Tại vì anh sợ cô đơn.” Gã trả lời sau chừng ba giây ngẫm nghĩ.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Tại sao anh không tìm một người đàn bà khác, một người đàn bà bình thường có thể cảm thông anh và cùng là đồng loại với anh? Em chỉ là hình bóng ảo của anh thôi.”</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Không người đàn bà bình thường nào kham nổi anh.” Gã nói giọng trầm trầm. “ Người đàn bà nào đến với anh cũng chuốc lấy sự khổ đau. Tốt hơn anh chỉ nên sống với ảo ảnh.”</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Anh nghĩ như thế là đúng. Nhưng anh có biết em cũng khổ sở lắm mặc dù em chỉ là ảo ảnh của anh. Em không thích cuộc sống ngoài đời này chút nào, nó xấu xa vô cùng. Em thù anh lắm vì anh đã lôi kéo em ra ngoài này. Em chỉ thích sống trong tiểu thuyết của anh thôi.”</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Anh biết thế gian này không phải là chốn của em nhưng anh không thể thiếu em. Em ở bên cạnh anh như thế nào, anh không cần biết.”</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Nhưng anh phải biết sống như vậy chỉ làm khổ nhau.”</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Sống với nhau là làm khổ nhau. Điều đó từ muôn kiếp trước nơi cõi trần này đã là như thế, không phải bây giờ mới có. Anh xin lỗi em đã đem em ra ngoài này. Bây giờ chỉ có cái chết mới chia cách hai đứa mình ra khỏi nhau thôi.”</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Em không nghĩ thế. Ngay cả trong cái chết anh cũng không tha cho em đâu.”</p>



<p>&nbsp;&nbsp; “Có lẽ thế&#8230; Vì anh yêu em&#8230;” Gã bỏ lửng câu nói nhưng lúc đó tôi tin gã nói thật. Chỉ lúc đó thôi.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Con người gã là cả một nghịch lý. Nói yêu tôi nhưng đêm đêm gã thường xuyên bỏ nhà đi ngủ với những người đàn bà khác. Nửa đêm lúc gã về nhà tôi ngửi thấy mùi đàn bà ngai ngái trên người, trên tóc, trên môi gã. Tôi bảo gã phải đánh răng, gội đầu, tắm rửa thật kỹ nếu muốn vào giường ngủ chung với tôi. Gã có vẻ ân hận, vào phòng tắm tắm rửa kỳ cọ thân thể lâu lắm trước khi leo lên giường ôm tôi ngủ. Tôi bảo con người gã đầy nghịch lý, nói cô đơn nhưng không lúc nào ngơi nghỉ đi tìm đàn bà. Gã bảo chính vì sợ cô đơn nên gã mới làm như thế và càng say mê đàn bà gã càng cô đơn. Ngay cả lúc có tôi. Tôi bảo gã tôi chỉ là ảo ảnh, sẽ có lúc tôi tan biến khỏi cuộc đời gã mà không hề báo trước. Gã cười cười bảo tôi sự hiện hữu của tôi nằm trong thần trí tưởng tượng của gã, một khi gã không cho tôi bước ra khỏi khối óc sắp đặc cứng, kín mít như cái xà lim nằm sâu dưới đất của gã thì tôi như bị giáng lên đầu bản án chung thân trong cái nhà tù ấy. Tôi thù gã nhà văn khôn tả. Làm sao tôi giết chết gã bây giờ? Chỉ có cách giết chết gã tôi mới thoát ra khỏi cái nhà tù khiếp đảm ấy thôi.</p>



<p><strong>3.</strong></p>



<p>Gã khoác áo ngoài rồi mở cửa phòng bước ra ngoài đi dạo. Còn lại một mình trong căn phòng lạ bên bờ biển hiu quạnh, tôi không biết mình đang ở đâu trên mặt hành tinh này. Sự thanh vắng của vùng biển lạnh lẽo heo hút càng khiến tôi thấy cô độc. Cuộc sống này có gì vui đâu mà người ta thèm sống đến thế? Tôi tự hỏi trong lúc dõi tia mắt qua ô kính cửa sổ nhìn những cánh hải âu chao lượn ngoài trời. Câu hỏi có lẽ đã được nhiều người hỏi trước tôi. Có lẽ nó là câu hỏi có từ khi con người mới bắt đầu có ý thức về cuộc sống, và bởi thế tôi không nên tìm kiếm câu trả lời. Làm gì có lời giải đáp cho một câu hỏi như thế. Chỉ hoài công. Thu hẹp lại một chút, tôi tự hỏi tôi muốn gì nơi cuộc sống này, những khao khát của người đàn bà trong tôi là gì, rồi ngay cả những ước mơ, những đòi hỏi thầm kín, tôi cũng hoàn toàn mù mờ, tất cả như đám mây chiều hư ảo hỗn độn ngoài kia. Tôi vẫn ngủ với gã nhà văn hằng đêm. Gã vẫn làm tình với tôi mặc dù tôi biết gã có những người đàn bà khác. Nhưng điều ấy có gì là hệ trọng lắm đâu khi tôi chỉ là hình bóng ảo của gã. Quan hệ giữa tôi và gã dựa trên cái gì không thật và cho dù nó có thật đi chăng nữa, đến lúc nào đó nó cũng tàn phai, hoang lạnh như khu nghĩa trang với những nấm mồ quanh năm không người thăm viếng.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Có tiếng gõ cửa phòng. Tôi vén màn cửa sổ nhìn ra. Bà chủ quán ăn đem cơm sang cho chúng tôi. Tôi mở cửa cho bà bước vào với hai phần cơm tối thanh đạm gồm cá chẽm hấp với măng tây và xà lách trộn giấm. Bà đặt hai phần ăn xuống bàn, rút từ giỏ đeo chai vang trắng rồi quay sang tươi cười hỏi tôi cần gì thêm không. Tôi lắc đầu giúi vào tay bà vài tờ bạc lẻ. Bà cảm ơn rồi quày quả bước về quán ăn. Bà phải là người sống hạnh phúc. Gương mặt tròn trĩnh sáng sủa vô tư lự như trăng rằm của bà cho tôi biết như thế. Bà sống giản dị như đám cỏ hoa dại trên triền núi ngoài kia. Chắc bà chẳng bao giờ thắc mắc lý do tại sao chồng mình đêm nay không yêu mình. Bà sống thật với đời sống này nên bà hạnh phúc. Chẳng lẽ hạnh phúc lại giản dị tới mức đó sao? Nếu thế tại sao người ta phải tốn biết bao giấy mực để nói về hạnh phúc mà chẳng bao giờ tìm ra lời giải đáp?</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Khi sắc trời ngả sang màu tím thẫm gã nhà văn mới quay về phòng. Tôi nghe hơi thở gã có phần gấp gáp, hổn hển, có lẽ gã đi bộ khá nhiều chiều hôm nay. Thấy tôi ngồi bất động bên hai phần cơm đã nguội lạnh, gã bảo tôi:</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Sao em không ăn trước, đợi anh làm gì.”</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tôi ghét cay ghét đắng câu nói ấy của gã. Một câu hỏi mà cũng có thể là một mệnh lệnh. Tại sao tôi không ăn trước? Tại sao tôi phải đợi gã về ngồi xuống chung bàn vừa ăn vừa chia sẻ với tôi một câu chuyện vu vơ nào đó hay nghe tôi nói huyên thuyên những chuyện đàn bà của tôi? Tại sao gã không nhìn ra sự thật vô cùng đơn giản đó? Hạnh phúc của tôi chỉ có thế thôi sao gã không cho tôi được? Tại sao gã vô tình đến độ không biết ra những khao khát tầm thường ấy của tôi? Gã làm nhà văn để làm gì? Gã viết ra những điều cao siêu khó hiểu làm chi trong khi tôi chỉ mong gã cho một cử chỉ, một câu nói tầm thường chứng tỏ gã có quan tâm đến những khát vọng của tôi.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Khát vọng của tôi biến thành thất vọng bởi gã bỏ tôi ngồi đấy, cởi khăn quàng cổ và áo khoác ngoài rồi vào phòng tắm, đóng chặt cửa. Tôi ngồi nghe tiếng động gã tắm rửa. Khi gã bước ra mình trần với chiếc khăn lông trắng vắt trên vai thì tôi đã chui vào chăn nằm co ro như con mèo. Gã lại bàn mở nút chai vang cầm nguyên chai tu một hơi rồi cũng chui vào nằm cạnh tôi. Tôi&nbsp;vùi mình trong chăn ậm ừ trong cổ họng khi gã hỏi tôi&nbsp;có ngủ được chút nào không. Gã đặt tay lên bờ vai tôi, cúi xuống hôn nhẹ lên mái tóc tôi và nằm xuống gối dỗ giấc ngủ. Khi tiếng ngáy mệt nhọc của gã bắt đầu vang lên đều đặn thì tôi&nbsp;ngồi choàng dậy chống tay nhìn ngắm gã. Từng nét một, trong ánh sáng lù mù của ngọn đèn đêm, thật khó đoán gương mặt của con người sống gần hết đời người. Gã có mãn nguyện với cuộc sống của mình không? Gã có bao nhiêu lần thật hạnh phúc trong đời? Gã yêu điều gì nhất ở con người? Gã có yêu tôi hay chỉ tỏ vẻ?&nbsp;Tôi&nbsp;nhìn đôi mắt bòng bọng nhắm nghiền, cái miệng hơi trễ xuống mệt mỏi tuy nét môi còn rất đẹp. Tôi&nbsp;đưa ngón tay di nhẹ vòng vòng trên trán gã, thấy thương vầng trán bôn ba với những nốt đồi mồi của năm tháng, xót mái tóc chỉ còn lơ thơ buồn như những cọng cỏ úa. Tôi&nbsp;ngắm nhìn gã, nhìn mãi, thấy thương một kiếp con người.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Gã tỉnh giấc, còn tôi&nbsp;vẫn chưa ngủ. Ngoài trời gió bắt đầu vần vũ gầm gào như con quái thú nổi cơn thịnh nộ, căn phòng nép xuống như chịu trận. Gã choàng người âu yếm tôi, bộ não tôi lại&nbsp;liên tục giáp chiến như kẻ tâm thần phân liệt giữa hạnh phúc và ê chề. Có phải hai tâm hồn đang thật sự cô đơn nương dựa vào nhau ở miền hư ảo? Tôi&nbsp;không biết nữa. Hai chân tôi&nbsp;khép lại nhưng rồi dang rộng ra hết mức khi gã đưa tay xuống dưới. Trong lúc gã đi vào tôi, đầu tôi hất ra đằng sau, hai mắt nhắm nghiền và tôi cố trôi theo dòng nghĩ tôi là người đàn bà của gã.</p>



<p>– <strong>Trịnh Y Thư</strong></p>



<p>(Trích đoạn tiểu thuyết <em>Đường về thủy phủ</em>).</p>



<div style="height:500px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>©T.Vấn 2023</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Trịnh Y Thư: Dưới những gốc nho biển (Phân đoạn 13-18)</title>
		<link>https://t-van.net/trinh-y-thu-duoi-nhung-goc-nho-bien-phan-doan-13-18/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Trịnh Y Thư]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 28 Jul 2023 11:27:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[truyện ngắn]]></category>
		<category><![CDATA[Đường về thủy phủ]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=64623</guid>

					<description><![CDATA[Bản vẽ Duy Thanh [1931-2019]. 13. Người chồng cô có một số phận khá kỳ lạ. Anh sinh ra trong một gia đình nghèo khó trong vùng đồng bằng sông Cửu Long. Cha anh thời trẻ là một tá điền, nhưng dưới quê làm ruộng vất vả vắt mồ hôi vẫn không đủ nuôi bầy [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/07/rjsq5qTH-image001.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/07/rjsq5qTH-image001.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-64624" width="440" height="420" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/07/image001-300x286.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2023/07/image001-768x732.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/07/rjsq5qTH-image001.jpg?strip=all 880w" sizes="(max-width: 440px) 100vw, 440px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Bản vẽ Duy Thanh [1931-2019].</em></p>



<p>13.</p>



<p>Người chồng cô có một số phận khá kỳ lạ. Anh sinh ra trong một gia đình nghèo khó trong vùng đồng bằng sông Cửu Long. Cha anh thời trẻ là một tá điền, nhưng dưới quê làm ruộng vất vả vắt mồ hôi vẫn không đủ nuôi bầy con nhỏ, ông đưa gia đình lên thị xã Cần Thơ sinh sống bằng những nghề lao động tay chân. Mẹ anh phải gánh gánh chè đi bán ngoài chợ, ngoài đường phố kiếm thêm tiền. Đông con, nên dù ra thành phố, cuộc sống họ chẳng khá hơn bao nhiêu so với thời ở dưới quê. Nhưng họ cố cho anh đi học vì anh nổi tiếng là thần đồng, nhất là môn Toán. Không hiểu sao giữa một vùng quê nghèo khổ tăm tối lại hiện lên một ngọn đèn sáng rực. Anh giỏi Toán đến nỗi, sau khi đỗ Tú tài Toàn phần với hạng tối ưu, người thầy của anh tìm cách đưa anh lên Sài Gòn học Toán tại đại học Khoa học với người thầy của chính ông, một nhà Toán học nổi tiếng thế giới. Chỉ sau một năm học, vị giáo sư này cũng phải công nhận anh là người giỏi Toán xuất chúng. Ông định giúp anh xin học bổng sang học tại trường Princeton bên Mỹ sau khi anh tốt nghiệp Cử nhân, vì ông từng được mời sang đấy với tư cách giáo sư thỉnh giảng. Số phận anh tưởng như thế là sẽ đi lên. Nhưng chiến tranh không cho phép anh trở thành nhà Toán học lừng lẫy như vị giáo sư khả kính nọ. Không hiểu vì lý do gì, anh không đi du học mà còn bị gọi động viên khi chiến tranh trở nên khốc liệt hơn, và bị đẩy ra chiến trường Pleiku. Chiến tranh không phân biệt giữa một thiên tài Toán học và một tên sát nhân. Tại đây, trong một trận giao tranh, anh bị thương ở đùi. Trong lúc nằm điều trị tại quân y viện, anh ngỡ mình sẽ thành phế nhân, cuộc đời xem như bỏ, nhưng vết thương không nặng lắm, sau khi bình phục, anh chỉ bước khập khiễng thôi chứ không phải chống nạng. Anh không được giải ngũ, mà thuyên chuyển về làm thư ký trong văn phòng của tiểu khu. Tại đây, anh quen thân với người chánh văn phòng. Người này ít lâu sau được thuyên chuyển về Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo, và vì quen thân với anh, biết anh giỏi Toán nên xin cho anh về làm việc trong phòng Mật mã của Phủ. Anh về sinh sống ngay tại Sài Gòn, không phải cầm súng, an toàn, công việc lại hợp khả năng, sở thích. Cuộc đời anh lại lên hương. Nó còn lên một bậc nữa khi người giúp đưa anh về Sài Gòn có một cô em họ từ Huế vào tìm sống vì gia đình cô tan nát sau biến cố Tết Mậu Thân, và người này muốn mai mối cô cho anh. Khi được giới thiệu, anh không bao giờ nghĩ cô chịu lấy mình, vì cô là một trang thiếu nữ xinh đẹp, còn anh là một anh lính quèn, mặt mũi xấu xí thô lậu, tay chân cục mịch như một nông dân, lại bị thương chân, đi đứng ngả nghiêng như người say rượu. Nhưng cô chịu lấy anh. Trong đám cưới, anh tưởng đời mình như vậy là lên hết mức rồi, nhất là ba tháng sau khi về chung sống, cô báo tin cô sắp đẻ cho anh một đứa con. Nhưng cái ngày đứa con ra đời cũng chính là ngày vận anh đi xuống, xuống tận cùng đất đen theo nghĩa đen, vì đó là ngày đội quân chính quy miền Bắc xua xe tăng ủi sập cổng sắt cái dinh thự lớn nhất miền Nam. Anh chẳng biết làm gì hơn là ngồi ôm đứa con sơ sinh rồi khóc. Anh biết số phận mình sẽ ra sao. Những người làm việc trong cái Phủ chuyên về tình báo ấy hình như không ai thoát nạn bị trả thù, vì một nhân vật cấp cao trong Phủ lại là nội tuyến cho quân miền Bắc. Chẳng ai trốn thoát được. Anh bị lùa lên một trại cải tạo miền cao. Tại đây người ta không cần giết anh bằng phát súng nào. Họ chỉ cần bắt anh đi lao động vào một ngày mưa như trút nước trên một ngọn núi trơn trượt. Cái chân bị thương đi đứng bình thường trên đất bằng đã khó khăn, huống chi phải trèo lên vách núi cheo leo, chớn chở chặt những thân cây to đem về làm cột nhà. Trong lúc chặt cây, anh ngã xuống hẻm núi, vỡ sọ, tay chân gãy lìa, chết ngay tại chỗ. Xác anh nằm đó, không ai buồn xuống nhặt đem đi chôn. Xác thân một thiên tài Toán học trở thành miếng ăn cho thú rừng cắn xé.</p>



<p>14.</p>



<p>Cô có hạnh phúc với người chồng không? Cô không rõ lắm, và nếu có thì nó ngắn ngủi quá, vỏn vẹn một năm sinh sống với nhau trong căn nhà nhỏ, và nó là thứ hạnh phúc ở bề mặt thôi, bên trong, cô chẳng hiểu nó là gì. Anh hiền lành, nhưng ngoài những phương trình và thuật toán rắc rối làm điên đầu kẻ bình thường không am hiểu, anh chẳng biết gì nhiều về cuộc sống ngoài kia và tâm lý đàn bà. Anh thương cô, chiều chuộng cô hết mực, nhưng cô không thấy chút rung động với tình thương của anh. Anh lại vụng về trong cách biểu lộ tình cảm, nên chẳng bao giờ giữa cô và anh có sự thắm thiết nồng nàn của một cặp vợ chồng, nói gì giữa tình nhân. Đôi lúc, cô có cảm tưởng anh và người anh họ là một, cô mến cả hai người, và hai người thương cô, nhưng cô chỉ đáp lại tình thương của anh bằng sự chiều chuộng lại, rất nhiều khi gượng gạo và đóng kịch. Bi kịch của cô là cô không tìm thấy chút lửa nào trong trái tim mình. Cô không hiểu nó có ở đó bao giờ không mà sao cô cố thắp lên mãi vẫn không thấy tia lửa nào lóe lên.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Có lẽ đó là lý do vì sao cô thấy bình thản trong thời gian “đi khách” cho bà chủ cái quán cà-phê trá hình ở Sài Gòn dạo trước. Cô xem bọn đàn ông này như một lũ chó, lâu lâu bị chúng sủa bậy, cắn bậy. Thế thôi. Và cô cũng chẳng khổ sở bao nhiêu sau cái đêm cô bị lão già, người anh của gã bác sĩ bộ đội, cưỡng hiếp.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tối hôm đó, gã bác sĩ bộ đội có ca trực tại bệnh xá, cô và gã mới về ở căn nhà trên phố huyện chưa được một tháng, nhà cửa còn bề bộn. Cô đang dọn dẹp trong nhà thì nghe tiếng gõ cửa. Cô ngạc nhiên không hiểu ai đến tìm cô vào giờ này. Cô ra mở cửa, thấy người anh Cả đứng nhìn cô với đôi mắt lạ lùng, khó hiểu. Người anh Cả thật ra là con cùng cha khác mẹ với gã bộ đội. Lão ta chưa già lắm, quãng bốn mấy năm mươi thôi, trông lão ta chẳng có nét nào giống người em trai mình. Trong khi gã bộ đội trắng trẻo, dáng người dong dỏng cao thì lão đậm người bề ngang, thấp lùn, nước da đen xỉn, nhợt nhạt, cái trán láng bóng vì tóc đã hói quá nửa.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “À, anh Cả… Anh sang em có việc gì ạ? Nhà em đêm nay trực…” Cô mời lão vào nhà, rót nước mời.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “À… Tôi chỉ tiện đường tạt vào xem chú thím cần gì không thôi… Tôi ở chợ huyện ra, có mua biếu chú thím tí quà gọi là mừng nhà mới.”</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Lão đặt chiếc hộp các-tông lên bàn, mở ra, bên trong là một bộ chén bát kiểu, có lẽ đồ sứ Chu Đậu. Cô hơi chột dạ. Mặc dù biết lão không lâu nhưng cô đã nhận ra con người ở lão là kẻ nham hiểm tham tiền, làm chuyện gì cũng nghĩ đến điều lợi. Chắc chắn không phải vì quý mến vợ chồng người em mà lão chịu bỏ tiền ra mua món quà khá đắt giá ấy. Cô nói vài câu cám ơn và hỏi thăm bà mẹ, thêm vài câu khách sáo nữa, đột nhiên lão đứng dậy rút trong túi ra một xấp tiền đặt lên bàn, nói:</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Cô… cô… Cô đi khách bao nhiêu tiền mỗi lần? Tôi chỉ có ngần này thôi, đủ không?”</p>



<p>&nbsp;&nbsp; “Anh Cả nói gì, em không hiểu.” Cô ngẩn người không tin vào đôi tai mình.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Cô đừng có mà giả câm giả điếc! Người ta nói hết về cô cho tôi nghe rồi. Ở trong Nam cô làm đĩ, đúng không? Đĩ mà chê tiền à!” Lão bỗng đổi giọng, to tiếng như quát vào mặt cô.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Cô chưa có phản ứng gì thì lão đã chồm tới vật cô xuống sàn nhà. Lão đứng thấp hơn cô nhưng đôi tay nông dân của lão khỏe lắm, lão bóp cổ cô, quắp hai chân đè lên thân hình cô. Lão làm việc này thành thạo lắm, có lẽ lão đã từng cưỡng hiếp không biết bao nhiêu cô thôn nữ ngây thơ và phụ nữ cô thế trong làng. Cô bị bóp cổ nhưng không nghẹt thở, vì lão chỉ muốn hiếp cô chứ không có ý định giết. Lúc lão lột được quần cô và thúc mạnh lên người cô liên hồi thì lão nới hai bàn tay ác quỷ ra một chút. Cô thở hổn hển xen lẫn tiếng ho sặc sụa. Lão vẫn hờ hai bàn tay trên cổ cô, đề phòng cô hét lên kêu cứu hoặc có phản ứng mạnh. Nhưng lão không biết là trong đầu cô lúc đó hoàn toàn trống rỗng, thân xác cô rã ra như quả bong bóng xì hơi, nhưng nó chẳng có cảm giác đau đớn khủng khiếp gì. Cô bình thản chấp nhận thêm một cảnh ngộ bất hạnh nữa xảy ra cho đời mình. Cô xem như mình đang bị một con chó dại cắn.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Ở xứ sở nơi cô sinh sống, chó dại nhiều vô số kể.</p>



<p>15.</p>



<p>Hôm cô tự kết liễu đời mình, trước chợ có một vụ đâm chém nhau.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Lúc viết dòng chữ này ở phân đoạn Một của thiên truyện, tôi ngờ mình bị ám ảnh bởi nhân vật Anna Karenina của Tolstoy. Ở phần kết kiệt tác văn chương này, Tolstoy thuật nàng Anna gieo mình xuống bánh xe chiếc tàu hỏa đang chạy. Quyên sinh.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Một cái chết thảm khốc và oan khiên. Trước đó khá lâu, đúng ra là hôm gặp Vronsky lần đầu trên sân ga, Anna chứng kiến một người đàn ông chết như thế. Nhưng vào cái hôm định mệnh xảy ra cái chết của Anna, nàng ra trạm ga để đón người tình Vronsky, chứ không hề có ý định đi tìm cái chết! Lúc từ trong nhà ra khỏi cửa, ý tưởng quyên sinh không chút lởn vởn trong trí óc nàng. Vronsky về quê thăm mẹ và hẹn nàng mười giờ khuya sẽ về.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Thật khó hiểu duyên do cái chết của Anna. Tại sao nàng tự kết liễu đời mình?</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Ở bề mặt, câu trả lời có vẻ là khá hiển nhiên. Trước hết, suốt một thời gian dài những người thân quen trong thế giới nàng quay lưng lại nàng. Thứ hai, nàng rất khổ tâm vì phải sống xa đứa con trai, Seryozha. Thứ ba, cuộc tình giữa nàng và Vronsky đi vào chỗ bế tắc, và cho dù Vronsky vẫn yêu thương nàng chăng nữa, nàng hãi sợ tình yêu đó, tình yêu khiến nàng kiệt lực, tâm tư nàng sôi sục, nàng còn ghen tuông một cách vô lý. Nàng là người đàn bà sống bởi cảm xúc, cho cảm xúc. Nàng cảm thấy như bị kẹt cứng trong bi kịch, bi kịch đời sống. Vâng, tất cả những điều đó khiến người ta dễ dãi đi đến kết luận bởi vì sao Anna quyên sinh.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Nhưng sự thật không đơn giản như thế, và ngay cả chúng ta hiểu ra chiều sâu nỗi khổ của nàng, cái chết của Anna vẫn là điều bí ẩn, khó lòng giải thích tận tường.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Con người một khi bị kẹt cứng trong bi kịch đời sống, sớm muộn sẽ chọn cái chết cho chính mình? Không hẳn như thế, lập luận này ít thuyết phục được ai, bởi phần nhiều chúng ta bằng cách này cách nọ đều tìm ra con đường nào đó khả dĩ thích ứng với bi kịch cuộc đời mình để tiếp tục sống, dù là một đời sống chìm đắm trong khổ đau, buồn bã. Nhân vật tôi gọi là “cô” trong thiên truyện này cũng mắc kẹt trong bi kịch đời sống như Anna Karenina của Tolstoy. Hơn thế nữa, cô còn bị đè bẹp bởi tấn bi kịch lịch sử khốc liệt mà thế hệ cô gánh chịu. Nhưng mặc dù định mệnh đẩy cô vào những cảnh huống bi thảm hơn nhiều so với Anna, tôi vẫn không nghĩ đó là động lực thúc đẩy cô đi tìm cái chết. Tôi biết duyên do cái chết của cô. Nó là tiếng gọi từ cõi xa xăm huyền bí nào đó kêu réo cô hãy trở về thủy phủ. Vâng, thủy phủ. Cô chẳng hiểu ý nghĩa tiếng kêu đó là gì, chỉ nghe nó ngọt ngào quyến dụ vô cùng. Trong lúc chín lịm vào những cơn trầm cảm, cô nghe nó mời gọi tha thiết như lời mật ngọt rót vào tai, và cô hoàn toàn quy phục để nó dẫn dắt mình theo ý nó.</p>



<p>16.</p>



<p>Bây giờ cô ngồi bó gối dưới mấy gốc nho biển nhìn ra biển cả. Nắng mai vẫn chưa đánh tan lớp sương mù, mặt biển xanh mờ dưới màn sương trắng mỏng. Bãi vắng. Các tàu đánh cá ra khơi sớm lắm, từ ba bốn giờ sáng. Mãi chiều, nhiều khi tối mịt, tàu mới về. Lúc đó những người đàn bà trong làng, áo quần lam lũ, đầu sùm sụp nón lá, ngồi đợi sẵn trên bãi với quang gánh thúng mủng để gánh cá ra đổ lên chiếc xe tải chờ sẵn trên con đường đất đỏ cạnh Cống Liệp, và từ đó chạy ra chợ huyện. Cô không thể hình dung mình có thể làm công việc của những người đàn bà này. Họ trông gầy guộc yếu ớt lắm, nhưng đôi vai họ lại có thể gánh hai cái thúng, mỗi cái nặng hàng chục kí-lô, và bước thoăn thoắt trên bãi cát.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Cô chờ mãi vẫn không thấy động tĩnh gì và cô đâm ra sốt ruột. Sương bây giờ đã tan, bầu trời trong xanh, không gian im ắng, chỉ có tiếng những con hải âu chao chát bay liệng trên nền trời và tiếng sóng biển ì oạp vỗ vào bờ. Cô ngồi chờ. Chờ mãi.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Cô ngắt một lá nho biển cầm trên tay ngắm nghía. Phiến lá to tròn như lá trầu không, gân lá màu đỏ tía trông thật đẹp. Cô nhớ gã bác sĩ bộ đội bảo cô nho biển chỉ mọc ở vùng ven biển nhiệt đới như vùng này. Dân làng gọi nó là cây tra. Nó khỏe lắm, sống trên cát mà mọc cao cả mười lăm hai mươi mét, tán lá rộng, nhưng quả thì chua lắm. Gã hái vài quả cho vào mồm nhai ngon lành, gã ăn chua như đàn bà có mang ba tháng. Cô cắn thử một quả, nhưng chưa kịp nhai đã phải nhổ ra phì phì vì nó chua đến ê răng. Gã cười bảo cô: “Em phải có thai ba tháng mới thấy nó ngon như thế nào.” Cô cười, biết đó là câu nói đùa, nhưng dù là câu nói đùa, nó vẫn đượm giọng buồn bã, chua xót làm sao.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Đó là những buổi chiều hiếm hoi gã bác sĩ bộ đội có chút thời gian rảnh rỗi sau những ca trực đêm tại bệnh xá, lấy xe đạp đèo cô ra đây ngắm hoàng hôn. Hai người ngồi bên nhau thủ thỉ, nhưng thật ra gã nói nhiều chứ cô lâu lâu mới ậm ừ đáp trả một câu hỏi nào đó của gã. Hơn một lần gã hỏi cô:</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Anh phải làm gì cho em để em thoát ra khỏi nỗi buồn kéo dài như thiên thu này?”</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Anh chẳng làm gì được đâu.” Cô trả lời gã. Cô định nói cô bị bệnh buồn, bị từ thời con gái, nhưng hai chữ “bệnh buồn” đối với cô chẳng có ý nghĩa gì cả, thậm chí ngớ ngẩn. Cô sợ gã bác sĩ bộ đội cười mình, bảo mình dở hơi nếu cô bảo gã cô mắc chứng bệnh đó. Nhưng thật ra đó lại là một sai lầm tai hại khác của cô. Tôi nghĩ giá như lúc đó cô cứ nói với gã, biết đâu trong đầu óc gã bỗng lóe lên ý nghĩ cô bị chứng bệnh ấy thật, và biết đâu gã có cách chạy chữa cho cô, bởi sự thật là cô bị chứng tâm bệnh mà ngày nay người ta có cái tên gọi hay ho là “rối loạn lưỡng cực.”</p>



<p>17.</p>



<p>Cô không biết bây giờ là mấy giờ, chỉ cảm thấy trời mỗi lúc mỗi&nbsp; nóng thêm. Đến lúc cô cảm thấy nóng bức chịu không nổi và định đứng dậy bỏ ra về thì bóng một chiếc thuyền từ ngoài khơi tiến về ngay phía cô. Chiếc thuyền phóng vùn vụt trên mặt nước. Cô có cảm tưởng nó sẽ đâm vào bãi cát, và nó đâm thật. Cô định thần nhìn kỹ thì thấy đó là một chiếc thuyền thúng. Lạ nhỉ? Ở vùng này làm gì có thuyền thúng, và hình như người trên thuyền chẳng có mái chèo mà sao chiếc thuyền vẫn phóng như bay. Một người đàn ông từ trên thuyền bước xuống, đúng hơn, một ông lão, vì râu tóc ông bạc phơ. Nhưng trông ông quắc thước, khỏe mạnh lắm. Chắc là dân đi biển lâu năm, từ thuở ông còn trai tráng. Trên người ông mặc bộ quần áo vải nâu bạc phếch, loại ngày nay không ai mặc nữa. Hình như ông là người từ quá khứ trở về, chiếc khăn ông quấn trên đầu chỉ làm tăng thêm vẻ xa lạ đến độ dị kỳ. Ông đến gần cô, nói:</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Già xin cô thứ lỗi cho vì đã bắt cô đợi lâu.” Giọng ông nghe quê mùa nhưng ấm áp, chân tình.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Không sao đâu, thưa cụ. Mình đi chưa?” Cô đáp lời, thấy hơi lạ về cách xưng hô của ông lão, cô chưa bao giờ nghe ai xưng là “già.”</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Mình đi ngay. Mẫu đang đợi cô dưới thủy phủ.” Ông ôn tồn bảo cô.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Từ đây xuống đấy, có xa lắm không, thưa cụ?” Cô hỏi ông lão.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Xa lắm. Nhưng với tài chèo thuyền của già thì chỉ độ nửa ngày là đến.”</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Nói đến đây, ông có vẻ ngần ngừ như có chuyện gì khó nói. Mãi một lúc sau, ông mới thốt:</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Già xin hỏi cô một điều là cô đã nhất quyết, không còn gì vướng bận trong lòng để đi xuống gặp Mẫu chưa?”</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Thưa cụ, cụ nói như thế là có ý như thế nào ạ?” Cô thắc mắc hỏi lại.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Ông lão đưa tay lên gãi gãi đầu, nét mặt nhăn nhó mãi, cuối cùng ông nói:</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Vì khi cô bước vào thuyền rồi thì cô không thể trở lui được nữa. Nghĩa là cô sẽ không bao giờ về lại đây. Mẫu&nbsp; dặn đi dặn lại già phải hỏi cô như thế. Chỉ cần cô có một tí do dự, nghi ngại nào cũng không được quyền đem cô đi.”</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Thưa cụ, cháu đã quyết.” Không ngẫm nghĩ, cô bảo ông lão, giọng cả quyết.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Nếu thế thì xin mời cô lên thuyền ngay. Cô phải bỏ lại tất cả vật dụng tùy thân, ngoại trừ chiếc áo đang mặc.”</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; “Vâng, cháu chả có gì trên người ngoài chiếc áo này.”</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Ông lão không nói gì nữa, ông chỉ làm nhiệm vụ của kẻ thừa hành, kẻ tôi tớ trong nhà, kẻ quen tính kín đáo, không bao giờ hỏi han tọc mạch chuyện người khác. Cô bước theo ông lão. Chiếc áo lụa trắng bay phất phới trong gió biển. Ông lão nhường bước cho cô bước vào thuyền trước. Từ bãi cát, cô nhấc chân bước vào chiếc thuyền thúng. Rất lạ. Nó chẳng chòng chành chút nào. Bắc ngang giữa thuyền là một băng ghế dài làm bằng những thanh tre đều đặn. Cô ngồi xuống đó, ông lão theo sau bước vào thuyền. Ông đứng chứ không ngồi. Hai mắt nhìn thẳng ra khơi, ông phất tay, chiếc thuyền lao vụt đi, chỉ trong chớp mắt nó đã biến dạng sau làn nước trong xanh. Phẳng lì. Ngút mắt.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Từ đó, không ai thấy người đàn bà với chiếc áo lụa trắng đâu nữa. Năm đó cô vừa đúng hai mươi chín tuổi.</p>



<p>18. &nbsp;<em>Kết từ</em></p>



<p>Nhiều năm về sau, miền đất ven biển đó đổi thay nhiều, nhất là từ khi các tập đoàn công ty nước ngoài đến xây dựng các nhà máy công nghệ đủ loại. Các nhà máy này thải chất cặn ra biển, lâu lâu giết chết cá hàng loạt. Nhưng chỉ sau vài tháng ồn ào phản đối chiếu lệ, chẳng ai làm gì bởi xung quanh các nhà máy đó là một tập thể cả&nbsp; ngàn con người, dân thường cũng như quan chức nhà nước, sống tầm gửi nhờ tiền bạc hào phóng của những chủ nhân ông trong nhà máy. Người ta đốn gần sạch các gốc nho biển để có chỗ cho các khách sạn cao tầng mọc lên. Nhà cửa, hàng quán, ổ điếm, nhà nghỉ, nhà xoa bóp chen chúc nhau trên những con phố chật hẹp, rác rưởi bẩn thỉu. Từ một ngôi làng đánh cá bé nhỏ xinh đẹp hiền hòa, nó biến thành nơi không chuyện gì khiếp hãi trên thế gian không xảy ra, từ xì-ke ma túy cho đến đâm chém giết người.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Sự biến đổi nhanh đến chóng mặt, duy một chuyện không hề đổi khác dù bao năm đã trôi qua. Thi thoảng người ta vẫn thấy người đàn ông già nua dáng dấp tiều tụy, gầy còm, lưng hơi còng, râu tóc bạc trắng, da dẻ nhăn nheo, ra ngồi dưới đôi ba gốc nho biển còn sót lại, dõi mắt nhìn ra biển khơi như mong ngóng cái gì. Ông ngồi như thế hàng giờ, mỗi lần thấy bóng một con tàu hay một vết đen gì từ ngoài khơi tiến vào bờ, ông đứng hẳn người dậy nghển cổ nheo mắt cố nhìn. Nhưng lần nào cũng thế, ông lại thất vọng ngồi xuống, lại thấp thỏm đợi chờ. Không biết ông chờ đợi ai, cái gì. Khi ráng chiều đỏ quạch đến man rợ phủ xuống mặt biển xanh đen, khi các cô gái điếm níu tay níu vai các gã người Hàn cao lớn, người Úc bụng phệ đi dạo đầy bãi biển, khi đèn đuốc bật lên sáng choang trong khu phố chỗ nào cũng ngửi thấy mùi thịt cá nướng và rượu bia, ông già lại ôm chiếc chiếu con vào nách, lững thững ra về. Chẳng ai chú ý đến ông, chẳng ai hỏi han ông, nhưng bất chợt có người lớn tuổi nào đó chạm mặt ông, người đó cung kính cúi đầu chào “Bác sĩ ạ.” Ông gật đầu chào lại, không nói năng gì, mắt không nhìn người đó, lầm lũi đi.</p>



<p>– <strong><em>Trịnh Y Thư</em></strong></p>



<p>(Trích đoạn tiểu thuyết <em>Đường về thủy phủ</em>)</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>

<!--
Performance optimized by W3 Total Cache. Learn more: https://www.boldgrid.com/w3-total-cache/?utm_source=w3tc&utm_medium=footer_comment&utm_campaign=free_plugin

Page Caching using Disk: Enhanced 

Served from: t-van.net @ 2026-04-24 12:10:15 by W3 Total Cache
-->