<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>giới thiệu ngô thế vinh &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<atom:link href="https://t-van.net/tag/gioi-thieu-ngo-the-vinh/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://t-van.net</link>
	<description>Văn Học và Đời Sống</description>
	<lastBuildDate>Thu, 15 Feb 2024 17:04:00 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.7.5</generator>

<image>
	<url>https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/02/t-van-favicon.png?strip=all&#038;resize=32%2C32</url>
	<title>giới thiệu ngô thế vinh &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<link>https://t-van.net</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Trịnh Y Thư: Ngô Thế Vinh: NHÀ VĂN CỦA MỘT THỜI BÃO NỔI</title>
		<link>https://t-van.net/trinh-y-thu-ngo-the-vinh-nha-van-cua-mot-thoi-bao-noi/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Trịnh Y Thư]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 19 Feb 2024 10:50:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Giới Thiệu Tác Phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[giới thiệu ngô thế vinh]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=69601</guid>

					<description><![CDATA[1. Trong một bối cảnh đất nước nhiễu nhương, hỗn loạn, nhà văn thường đóng một vai trò quan trọng bằng cách sử dụng ngôn từ của mình để phản ánh, phê bình, truyền cảm hứng và đôi khi thậm chí thách thức hiện trạng. Trong suốt chiều dài lịch sử, nhà văn phản ứng [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/02/ngothevinh.jpg?strip=all&fit=259%2C234&w=2560"><img fetchpriority="high" decoding="async" width="259" height="234" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/02/ngothevinh.jpg?strip=all&fit=259%2C234" alt="" class="wp-image-69602" style="width:383px;height:auto"/></a></figure></div>


<div style="height:100px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><strong>1.</strong></p>



<p>Trong một bối cảnh đất nước nhiễu nhương, hỗn loạn, nhà văn thường đóng một vai trò quan trọng bằng cách sử dụng ngôn từ của mình để phản ánh, phê bình, truyền cảm hứng và đôi khi thậm chí thách thức hiện trạng. Trong suốt chiều dài lịch sử, nhà văn phản ứng với những biến động khác nhau, cho dù đó là xã hội, chính trị hay văn hóa. Các nhà văn thường đóng vai trò là người quan sát nhạy bén về thế giới xung quanh. Trong thời kỳ hỗn loạn, họ có thể suy ngẫm về nguyên nhân và hậu quả của biến động xã hội, cung cấp những hiểu biết và phân tích có giá trị. Thông qua các tác phẩm của mình như tiểu thuyết, tiểu luận, kể cả những bài báo và xã luận, nhà văn có thể đưa ra những bình luận giúp người đọc hiểu rõ hơn về sự phức tạp của tình huống.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Quan trọng hơn cả, văn học luôn là phương tiện mạnh mẽ để diễn tả những trải nghiệm của con người, kể cả những thời kỳ hỗn loạn. Nhà văn có thể sáng tác tiểu thuyết, truyện ngắn hoặc thơ ca nắm bắt được tác động về mặt cảm xúc và tâm lý của những thời kỳ hỗn loạn. Những tác phẩm này có thể phục vụ như một hình thức thanh lọc cho cả tác giả và độc giả.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tôi nghĩ về nhà văn Ngô Thế Vinh như thế suốt mấy chục năm qua từ khi có cơ hội đọc những cuốn tiểu thuyết của ông xuất bản trước 1975 cho đến mãi gần đây với những bài biên khảo giá trị về mối hiểm họa ở vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long do nguy cơ con sông Mekong đang bị thách thức trầm trọng.</p>



<p>    Tác phẩm của ông thường xoay quanh các chủ đề hướng về quê hương Việt Nam, những vấn nạn mảnh đất đang gánh chịu và những con người cùng khổ trong đó. Ông là nhà văn “nổi trôi” cùng vận nước, những tư duy siêu hình mang tính triết học không nằm trong bộ từ vựng của ông Ông viết từ trái tim của mình, và những điều đó đi thẳng vào trái tim người đọc.</p>



<p><strong>2.</strong></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/02/BvCSWqhJ-image001.jpg?strip=all&w=2560"><img decoding="async" width="473" height="749" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/02/BvCSWqhJ-image001.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-69603" style="width:301px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/02/image001-189x300.jpg 189w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/02/BvCSWqhJ-image001.jpg?strip=all 473w" sizes="(max-width: 473px) 100vw, 473px" /></a></figure></div>


<p></p>



<p>Cuốn tiểu thuyết <em>Vòng Đai Xanh</em> của ông được khởi viết từ những năm giữa của thập niên ‘60, khi có phong trào&nbsp;FULRO&nbsp;nổi dậy trên Tây Nguyên (1964). Lúc đó ông đang giữ chức Chủ bút báo <em>Tình Thương</em> (1963-1966), một cơ quan tranh đấu văn hóa xã hội của sinh viên Y khoa Sài Gòn. Cuốn sách được hoàn tất trong thời gian ông gia nhập Lực&nbsp;lượng Đặc biệt, giữ chức vụ Y sĩ trưởng Liên đoàn 81 Biệt cách Dù, với địa bàn hoạt động&nbsp;chính&nbsp;là&nbsp;Tây Nguyên, nhà Thái Độ xuất bản lần đầu năm 1970, và năm sau, được trao tặng giải thưởng Văn chương Toàn quốc bộ môn Văn.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Khi Ngô Thế Vinh hoàn tất cuốn sách này, chiến tranh Việt Nam đang đi vào giai đoạn khốc liệt nhất, đó là đầu thập niên ‘70 khi chính quyền Mỹ đẩy mạnh cuộc “Việt Nam hóa” chiến tranh để tìm cách rút lui khỏi miền Nam trong danh dự sau khi nhận ra họ không thể chiến thắng bằng quân sự mặc dù đã đổ không biết bao nhiêu tài nguyên và xương máu vào cuộc chiến. Cuộc chiến kết thúc năm năm sau đó với một kết quả và hệ quả cực kỳ bi thảm cho một tập thể con người miền Nam, hoặc bị ném vào những trại giam khắc nghiệt mệnh danh là “trại cải tạo” hoặc phải bồng bế nhau liều chết vượt biên đi kiếm sống ở những chân trời xa lạ đầy trắc trở, khó khăn. Cuộc chiến đã gây chấn thương trong lòng dân tộc, một vết thương quá lớn đến nỗi dù đã gần nửa thế kỷ trôi qua từ ngày tiếng súng ngưng nổ mà dư âm và nỗi ám ảnh quá khứ vẫn đau nhức khôn nguôi trong tâm tư người dân Việt, dù ở bên này hay bên kia chiến tuyến.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Sinh trưởng trong một bối cảnh lịch sử nhiễu nhương cộng thêm nhiệt huyết phẫn nộ của tuổi trẻ và lòng yêu quê hương tha thiết, nhà văn Ngô Thế Vinh đã hoàn tất tác phẩm của mình như một thực chứng cho một giai đoạn lịch sử. <em>Vòng Đai Xanh</em> được đánh giá bởi giới trí thức và phê bình là một trong những tác phẩm viết về chiến tranh Việt Nam trung thực nhất. Ở đây không thấy “ta-địch,” không thấy “chính-ngụy,” mà chỉ thấy nỗi thống khổ của những nạn nhân bất hạnh bị ném vào lò lửa chiến tranh bởi những mưu đồ thâm hiểm và tàn bạo của những thế lực đối nghịch sử dụng ý thức hệ và những lý tưởng tuy đẹp đẽ nhưng đầy màu sắc hoang tưởng để biện minh cho một cuộc phân liệt tranh giành ảnh hưởng, đất đai trong bối cảnh cuộc Chiến tranh Lạnh toàn cầu.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Tác phẩm tiểu thuyết quan trọng khác nhà văn Ngô Thế Vinh viết trong thời đoạn này là cuốn <em>Mây Bão</em>. Cuốn sách – viết năm tác giả mới 19 tuổi, xét về mặt biên niên, là cuốn tiểu thuyết đầu tay – nhưng ngay cả thế, người đọc vẫn thấy sự tàn bạo của chiến tranh hiển hiện một cách đau đớn trên trang sách. Hãy đọc lại đôi dòng trong cuốn tiểu thuyết: “<em>Đó là một thứ nhân đạo trong chiến tranh để tránh cho đồng bạn khỏi mòn mỏi đau đớn đi dần tới cái chết và</em> <em>thực tiễn hơn nữa là để khỏi phải rơi vào tay địch, khỏi phải sợ những trường hợp bị ‘fuite’ tin cơ mật</em>.” Và cuộc “mổ sống” diễn ra như phân cảnh một cuốn phim kinh dị, rùng rợn quá sức chịu đựng cho một độc giả bình thường: “<em>Vũ nhanh nhẹn cầm dao xẻ những mảnh da thịt vắt lên, kẹp máu các động mạch rồi đưa những nhát cưa xoèn xoẹt như cưa gỗ. Mặc sức cho con bệnh la hét chửi rủa giãy giụa trên mặt bàn đã bị siết cứng. Làm gì còn thuốc mê hay gây ngủ ở chốn đèo heo hút gió này</em>…”</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Làm sao một thanh niên 19 tuổi lại có thể viết được những dòng chữ về những điều bạo tàn dường ấy? Nhiều khi tôi tự hỏi.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Ngô Thế Vinh là một trong những nhà văn tích cực tham gia vận động và hoạt động thông qua tác phẩm của mình. Cụm từ “nhà văn dấn thân” có thể bị lạm dụng ở chừng mực nào đó, nhưng có lẽ khó tìm được một danh xưng nào khác nói về họ. Họ sử dụng ngòi bút như một nền tảng để nâng cao nhận thức về các vấn đề xã hội, sự bất công, thậm chí sự phẫn nộ, bất mãn. Nơi đây, nhà văn có thể truyền cảm hứng cho sự thay đổi bằng cách huy động dư luận và khuyến khích hành động tập thể. Trong thời kỳ hỗn loạn, nhà văn có thể thách thức các chuẩn mực, hệ tư tưởng hoặc quyền lực chính trị đã được thiết lập. Nhà văn Ngô Thế Vinh đã làm như thế với bút ký ngắn <em>Mặt Trận Ở Sài Gòn</em>.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Trong thiên truyện này, nhà văn thuật chuyện một đám lính của ông đang đi hành quân bỗng bị gọi về thủ đô Sài Gòn để dẹp những đám người biểu tình. Cảnh huống mười phần vô lý đó đã khiến ông phẫn nộ phải hạ bút viết những dòng chữ: “<em>Không lẽ những mộng tưởng binh nghiệp chỉ có thể biến chúng tôi thành những tên gác-dan cho bọn nhà giàu, một thứ cảnh sát công lộ chỉ đường trên dòng luân lưu của lịch sử… Rằng ngoài chiến trường súng đạn quen thuộc, họ còn phải đương đầu với một trận tuyến khác mỏi mệt hơn, đó là cảnh thối nát bất công của xã hội mà dân tộc đang phải hứng chịu trong tối tăm và tủi nhục</em>…”</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Chẳng có gì ngạc nhiên, vì những dòng chữ đó mà Ngô Thế Vinh bị bắt ra hầu tòa với tội danh “<em>phổ biến những</em> <em>luận điệu phương hại trật tự công cộng và làm suy giảm kỷ luật, tinh thần chiến đấu của quân đội</em>…”</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Thật là khôi hài. Nhưng không phải vì thế mà Ngô Thế Vinh chịu khuất phục, ông vẫn tiếp tục viết như thế rải rác trên nhiều trang sách khác, chỉ vì ông là nhà văn của lương tâm. Ngoài vai trò một nhà văn, ông còn là một người lính, ông không muốn sự hy sinh của mình và các bạn đồng đội chỉ nhằm bảo vệ cho một “<em>xã hội trên cao</em>”, một xã hội hưởng thụ thừa mứa của “<em>một đám người kêu gọi chiến tranh nhưng lúc nào cũng ở trên và đứng ngoài cuộc chiến ấy</em>.”</p>



<p><strong>3.</strong></p>



<p>Với một tâm thức và cảm thức luôn hướng về đất nước, dân tộc, nhà văn Ngô Thế Vinh, khi bước sang lĩnh vực biên khảo, đã không chọn con đường dễ dãi ngồi nhà đọc vài cuốn sách rồi xướng lên thuyết này thuyết nọ. Ông chọn con đường gai góc hơn nhiều.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Trong vòng mấy chục năm qua – với hai tác phẩm quan trọng gây tiếng vang không ít, <em>Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng</em> và <em>Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch</em>, cộng thêm hàng chục tiểu luận biên khảo, nghiên cứu giá trị về những biến đổi nguy hại của hệ sinh thái sông Mekong – ông mặc nhiên được xem như một chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực này, và một cách ưu ái hơn, con chim “báo bão” về mối đe dọa thường xuyên và ghê rợn từ phương Bắc đối với sự sinh tồn của đất nước và dân tộc. Để thực hiện các bộ sách về sông Mekong ông đã lặn lội từ tỉnh Vân Nam, Trung Quốc xuống các quốc gia Lào, Thái Lan, Kampuchia và đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam. Qua các chuyến đi quan sát thực địa, ông đã tận mắt chứng kiến sự suy thoái bất khả đảo nghịch của con sông Mekong, “<em>hậu quả dây chuyền của những bước khai thác tự hủy, tàn phá sinh cảnh, làm cạn kiệt nguồn tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường</em>,” do chính sách phát triển kinh tế bất chấp hậu quả tai hại ra sao của nhà cầm quyền Trung Quốc, mà Việt Nam là quốc gia lãnh chịu hậu quả nặng nề và thiệt thòi nhất.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Gần đây hơn, chính xác là năm 2023, ông liên tiếp tung ra một loạt những bài biên khảo về dự án kênh Phù Nam Techo, một thủy lộ vận tải đầu tiên của Kampuchia nối liền hệ thống sông Mekong và đường biển. Nhà văn Ngô Thế Vinh cảnh báo rằng con kênh này, do nhà nước Kampuchia đang gấp rút triển khai, “<em>không chỉ có mục đích đơn thuần nhằm giải quyết những thách đố khó khăn trong lãnh vực vận chuyển đường thủy, nhưng xa hơn thế, đây là một Con Kênh Đa Năng với nhiều tham vọng, nhằm kích hoạt các hoạt động kinh tế và xã hội tới một tầm mức cao mới</em>.” Và quan trọng hơn hết, sự phát triển có tính bừa bãi, bất chấp đến hệ sinh thái thiên nhiên, sẽ gây nên tình trạng tàn phá rộng rãi, “<em>một Biển Hồ như trái tim của Kampuchia chỉ còn một nhịp đập thoi thóp do thiếu nước, không còn sáu tháng với nước sông Mekong chảy ngược vào Biển Hồ, nơi cũng là vựa cá lớn nhất và là nguồn protein chính của người dân Kampuchia</em>.”</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Lời cảnh báo của nhà văn Ngô Thế Vinh từ mấy chục năm nay có tính tiên tri. Thực tế cho thấy, mùa khô những năm gần đây, tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn thường xuyên xảy ra ở các địa phương vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long. Đơn cử thời điểm giữa mùa khô 2021-2022, nước mặn từ biển theo các kênh rạch xâm nhập sâu vào nội đồng các huyện Long Phú, Trần Đề, Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng với nồng độ mặn rất cao, gây ảnh hưởng đến sản xuất, sinh hoạt của người dân.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Báo chí địa phương và cả các cơ sở thông tin quốc gia cho biết là vào khoảng cuối tháng 2 năm 2022, nồng độ mặn đo được tại các trạm trên một số tuyến sông, kênh rạch ở các huyện tỉnh Sóc Trăng dao động từ 2,5 đến trên 18,4‰. Không chỉ thế, nước mặn từ biển ngày càng tiến sâu vào đất liền và ngâm lâu ở các kênh, rạch, gây nhiều khó khăn cho người dân lấy nước cho việc sản suất, sinh hoạt. Tại thành phố Cần Thơ, từ năm 2015 đến nay, một số khu vực thuộc địa bàn thành phố xuất hiện rõ nét tình trạng mặn xâm nhập từ biển vào qua tuyến sông Hậu.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Liệu có ngày có hiện tượng “Cửu Long cạn dòng” không? Dĩ nhiên ta phải hiểu “cạn dòng” đây là cạn dòng nước ngọt, nước sẽ vẫn lênh láng trên mặt sông, nhưng là nước biển mặn, chẳng còn phù sa màu mỡ tưới khắp ruộng đồng nữa. Lúc đó có ai còn nhớ đến Ngô Thế Vinh không?</p>



<p><strong>4.</strong></p>



<p>Nhà văn Ngô Thế Vinh và tôi có mối giao tình từ lâu. Tôi quý mến và quý trọng nhân cách, tài năng của ông, ngược lại, ông cũng rất quý mến tôi. Điều đó tôi nghĩ một phần là do tấm lòng nhân hậu của ông. Sự nhân hậu đối với bằng hữu đã khiến ông cho xuất bản bộ sách <em>Tuyển Tập Chân Dung Văn Học Nghệ Thuật &amp; Văn Hóa</em> gồm hai tập. Đó là một bộ sách vẽ “chân dung” bằng chữ nghĩa các văn nghệ sĩ và các nhà văn hóa trong mắt nhìn của ông.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/02/image003.jpg?strip=all&w=2560"><img decoding="async" width="705" height="1014" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/02/image003.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-69604" style="width:393px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/02/image003-209x300.jpg 209w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/02/image003.jpg?strip=all 705w" sizes="(max-width: 705px) 100vw, 705px" /></a></figure></div>


<p>Những chân dung văn học nghệ thuật và văn hóa, qua giọng văn đầy thân ái và nhân hậu của nhà văn Ngô Thế Vinh, là một công trình biên soạn phong phú tư liệu, một tập hợp quý hiếm quy tụ những khuôn mặt văn nghệ và văn hóa tiêu biểu của một thời đại vốn được xem là nhiễu nhương nhất của dân tộc, suốt nửa sau thế kỷ XX cho đến nay. Ngô Thế Vinh không khoác áo nhà phê bình, ông không làm kẻ đứng trên bục giảng nghiêm khắc phê phán tác phẩm hay sự nghiệp mỗi văn nghệ sĩ được nhắc đến. Ông không làm thế, bởi họ chẳng phải ai xa lạ mà chính là những bằng hữu văn nghệ, những vóc dáng tài năng, gần như trọn đời người, đã cùng ông dấn thân trên những chặng đường trắc trở nhất, trong những điều kiện ngặt nghèo nhất, để xây dựng một nền văn nghệ nhân bản đích thực và có giá trị nghệ thuật cao cho dân tộc. Ông mượn tác phẩm của họ như cái cớ để ngồi xuống nhẩn nha lần giở từng trang ký ức bộn bề, len lỏi vào từng ngõ ngách tâm hồn dưới lớp bụi dày thời gian, cố tìm lại những cung bậc hoài niệm mù tăm để làm nên những trang viết thật đẹp, thật ấm áp tình bằng hữu, thật chan chứa tình người. Tất cả những gì ông viết trong bộ sách gần như chỉ là những nét phác họa đại cương về con người, khung cảnh sống, hoàn cảnh sáng tạo của những văn nghệ sĩ, mà chính ông cũng là một thành viên. Đan xen vào đấy là những không gian và thời gian kỷ niệm, đầy ắp kỷ niệm, kỷ niệm nào cũng được nâng niu, trân quý như món bảo vật khó tìm. Tuy thế, đọc kỹ hơn, chúng ta có thể cảm nhận ra một điều, là bên dưới lớp sắc màu tương đối hiền hòa, dịu êm ấy là niềm xác tín chắc nịch, một cái nhìn quả quyết cộng thêm chút tự hào, về một nền văn nghệ, văn hóa miền Nam Việt Nam tự do thời kỳ 54-75 và, trong chừng mực nào đó, vẫn tiếp nối ở hải ngoại, mà sự đột phá về các mặt tư tưởng, nghệ thuật, nhân sinh, tưởng như chưa thời nào qua mặt nổi.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Bộ sách hai tập ấy có những trang viết chân tình, đẹp đến nao lòng. Tình bằng hữu, nhất là bằng hữu văn nghệ, không phải một sớm một chiều có ngay. Từ điểm hội tụ, nó cần được chưng cất, tinh luyện nhiều tháng năm với tấm lòng chân thành, tha thiết. Điểm hội tụ đó chính là lòng đam mê văn chương, nghệ thuật mà Ngô Thế Vinh cùng các bằng hữu của ông có thừa.</p>



<p><strong>5.</strong></p>



<p>Hình như tố chất đam mê đã chảy rất sớm trong huyết quản nhà văn Ngô Thế Vinh. Chính niềm đam mê đã giúp ông suốt văn nghiệp có thể đảm nhận trách nhiệm bảo tồn ký ức văn hóa và lịch sử của xã hội Việt Nam trong thời kỳ nhiễu loạn. Thông qua các tác phẩm tiểu thuyết cũng như biên khảo, hoặc các tài liệu phi hư cấu, ông góp phần tạo nên ký ức chung và giúp đảm bảo rằng những câu chuyện quan trọng không bị lãng quên.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Trong những thời điểm xung đột hoặc chia rẽ, ông đã cố gắng xây dựng những cầu nối hiểu biết giữa các nhóm khác nhau. Thông qua công việc của mình, ông nuôi dưỡng sự đồng cảm và thúc đẩy đối thoại, tìm kiếm điểm chung và tính nhân văn chung.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Ngay cả trong những thời điểm đen tối nhất, một nhà văn như Ngô Thế Vinh vẫn có thể mang đến cảm giác hy vọng và cảm hứng. Thông qua lời nói của ông, chúng ta có thể đưa ra tầm nhìn về một tương lai tốt đẹp hơn, thúc đẩy các cá nhân kiên trì và hướng tới sự thay đổi tích cực.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Nói như thế bởi tôi luôn luôn nghĩ ông là kẻ dầm mình đi trong bão tố để tìm con đường sáng sủa hơn cho tương lai dân tộc Việt Nam, một dân tộc chịu quá nhiều khổ đau và thiệt thòi.</p>



<p><strong>– Trịnh Y Thư</strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>TRẦN THỊ NGUYỆT MAI: THEO DẤU NGÔ THẾ VINH QUA NHỮNG TRANG VĂN</title>
		<link>https://t-van.net/tran-thi-nguyet-mai-theo-dau-ngo-the-vinh-qua-nhung-trang-van/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Trần Thị Nguyệt Mai]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 15 Feb 2024 10:22:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Giới Thiệu Tác Phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[giới thiệu ngô thế vinh]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=69552</guid>

					<description><![CDATA[Ngô Thế Vinh trên khúc sông Lancang-Mekong, xa phía sau là nơi sắp xây con đập Cảnh Hồng&#8230; Ngô Thế Vinh là một tên tuổi đã thành danh ngay từ trước năm 1975 tại miền Nam Việt Nam. Ông đoạt Giải Văn Học Nghệ Thuật VNCH năm 1971 với tác phẩm Vòng Đai Xanh. Sau [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/02/image011.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="850" height="601" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/02/image011.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-69554" style="width:466px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/02/image011-300x212.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2024/02/image011-768x543.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/02/image011.jpg?strip=all 850w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Ngô Thế Vinh trên khúc sông Lancang-Mekong, xa phía sau là nơi sắp xây con đập Cảnh Hồn</em>g&#8230;</p>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Ngô Thế Vinh là một tên tuổi đã thành danh ngay từ trước năm 1975 tại miền Nam Việt Nam. Ông đoạt Giải Văn Học Nghệ Thuật VNCH năm 1971 với tác phẩm Vòng Đai Xanh. Sau này ông có thêm hai giải thưởng: 1) Giải Văn Học Montréal 2002 Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do với <em>Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng</em> và 2) Giải Văn Việt Đặc Biệt 2017 với <em>Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng</em> và <em>Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch.</em></p>



<p>Một trùng hợp thật ngẫu nhiên khi tạp chí văn học nghệ thuật Ngôn Ngữ phát hành vào tháng 2-2024 cũng vào dịp Tết Giáp Thìn 2024 ra số đặc biệt giới thiệu Bác sĩ / Nhà văn / Nhà hoạt động môi sinh Ngô Thế Vinh. Năm Rồng, giới thiệu người kết nghĩa với Cửu Long, tưởng không còn gì thích hợp hơn.</p>



<p>Như trong bài Tựa viết cho tập truyện “Mặt Trận Ở Sài Gòn”, nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng nhận định: <em>“Không có một khoảng cách nào giữa tác giả và những trang viết của ông. Người đọc có cơ hội theo dõi những tác phẩm của Ngô Thế Vinh, từ tiểu thuyết đầu tay </em>Mây Bão<em> xuất bản vào thập niên 60 tại Sài Gòn, đến tập truyện </em>Mặt Trận Ở Sài Gòn<em> này, vào giữa thập niên 90 ở California Hoa Kỳ, chắc chắn sẽ nhận ra ngay điều này: Ngô Thế Vinh trong sách và Ngô Thế Vinh ngoài đời chỉ là một.”</em> Thế nên người viết mạo muội lần theo những trang sách, lắp ghép những mảnh puzzles đó đây, để mong được biết thêm về ông. Hy vọng bài viết sẽ góp chút tài liệu nhỏ nhoi cho những thế hệ sau tìm hiểu sâu hơn về cuộc đời và văn nghiệp của một thầy thuốc tận tụy với bệnh nhân, một nhà văn luôn muốn hướng ngòi viết đến cải cách xã hội, có tầm nhìn xa đã quan tâm sâu sắc tới vấn đề Kinh-Thượng ngay khi còn là sinh viên Y khoa, và cũng là nhà môi sinh gióng tiếng chuông “Cửu Long cạn dòng, Biển Đông dậy sóng” từ hơn 20 năm nay. Một luận án tiến sĩ về ông chắc chắn sẽ mở ra nhiều vấn đề lý thú. Rất mong các bạn trẻ sẽ quan tâm.</p>



<p class="has-text-align-center"><strong>THEO DẤU NGÔ THẾ VINH QUA NHỮNG TRANG VĂN</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>(Xin bấm vào dưới đây để đọc tiếp)</strong></p>



<div data-wp-interactive="core/file" class="wp-block-file"><object data-wp-bind--hidden="!state.hasPdfPreview" hidden class="wp-block-file__embed" data="https://cdn.t-van.net/2024/02/TTNM-Theo-dau-NTV.pdf" type="application/pdf" style="width:100%;height:600px" aria-label="Embed of TTNM - Theo dau NTV...."></object><a id="wp-block-file--media-f1385b25-b05d-405d-a36a-244de71628e6" href="https://cdn.t-van.net/2024/02/TTNM-Theo-dau-NTV.pdf" class="mcloud-attachment-69553">TTNM &#8211; Theo dau NTV&#8230;</a><a href="https://cdn.t-van.net/2024/02/TTNM-Theo-dau-NTV.pdf" class="wp-block-file__button wp-element-button mcloud-attachment-69553" download aria-describedby="wp-block-file--media-f1385b25-b05d-405d-a36a-244de71628e6">Download</a></div>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Trần Thị Nguyệt Mai: Đọc Tuyển Tập II &#8211; Chân Dung VHNT &#038; VH của NGÔ THẾ VINH</title>
		<link>https://t-van.net/tran-thi-nguyet-mai-doc-tuyen-tap-ii-chan-dung-vhnt-vh-cua-ngo-the-vinh/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Trần Thị Nguyệt Mai]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 17 Mar 2022 22:59:39 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Giới Thiệu Tác Phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[giới thiệu ngô thế vinh]]></category>
		<category><![CDATA[giới thiệu tác phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[Trần thị Nguyệt Mai]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=54248</guid>

					<description><![CDATA[Ngô Thế Vinh là một tên tuổi không xa lạ trên văn đàn miền Nam từ những năm 1960. Khởi viết từ năm 22 tuổi với tiểu thuyết Mây Bão (Sông Mã, Saigon 1963) khi đang là sinh viên Y khoa Đại học đường Saigon. Rồi tiếp tục với những tiểu thuyết Bóng Đêm (Khai [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<div class="wp-block-image"><figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/03/TUYEN-TAP-2.jpg?strip=all&fit=263%2C390"><img loading="lazy" decoding="async" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/03/TUYEN-TAP-2.jpg?strip=all&fit=263%2C390" alt="" class="wp-image-54249" width="263" height="390"/></a></figure></div>



<div style="height:15px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Ngô Thế Vinh là một tên tuổi không xa lạ trên văn đàn miền Nam từ những năm 1960. Khởi viết từ năm 22 tuổi với tiểu thuyết <em>Mây Bão</em> (Sông Mã, Saigon 1963) khi đang là sinh viên Y khoa Đại học đường Saigon. Rồi tiếp tục với những tiểu thuyết <em>Bóng Đêm</em> (Khai Trí, Saigon 1964) và <em>Gió Mùa</em> (Sông Mã, Saigon 1965) khi vẫn đang là sinh viên Y khoa. Ông cũng là một thành viên trong Ban biên tập, nguyên Tổng thư ký rồi Chủ bút báo sinh viên Tình Thương của trường Y Sài Gòn từ số đầu tiên ra mắt vào tháng 1-1964 cho đến khi báo đình bản năm 1967. Tiểu thuyết <em>Vòng Đai Xanh</em> (Thái Ðộ, Saigon 1970) được ấp ủ từ những ngày làm báo Tình Thương và viết xong 1969, một năm sau khi tốt nghiệp trường Y (1968) và đang là Y sĩ trưởng Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù, đã được trao giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc năm 1971 bộ môn Văn. Sau biến cố tháng Tư Đen, như tất cả những sĩ quan quân đội và viên chức thuộc chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ông đã trải qua các trại cải tạo Suối Máu, Trảng Lớn, Phước Long, Bù Gia Mập… hơn ba năm trước khi định cư tại Hoa Kỳ (1983). Tại vùng đất mới, ông tiếp tục hoàn tất tập truyện ngắn <em>Mặt Trận Ở Sài Gòn</em> (Văn Nghệ, California 1996] “với khí thế hừng hực của ngòi bút, với chất lửa cháy bừng bừng trong mỗi câu văn, làm người đọc vừa say mê vừa choáng váng&#8230;” <sup>[1]</sup> như Lời Bạt mà họa sĩ / nhà văn / nhà thơ Tạ Tỵ đã nhận xét.</p>



<p>Sau tập truyện này, trong hơn hai mươi năm nay, ông hướng ngòi bút tới những vấn đề môi sinh, “với hai tác phẩm quan trọng gây tiếng vang không ít, <em>Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng</em> và <em>Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch</em>, cộng thêm hàng chục tiểu luận biên khảo, nghiên cứu giá trị về những biến đổi nguy hại của hệ sinh thái sông Mekong” (sđd, tr. 12). Gần đây nhất là tường trình về đại công trình Sông Cờ Đỏ của Trung Quốc, dài trên 6.180 km với kế hoạch hàng năm chuyển dòng lấy 60 tỉ mét khối nước ngay từ nguồn&nbsp;không cho xuống hạ lưu các sông Mekong, Salween và Brahmaputra, bất kể nguy hại đến nguồn sống của bao nhiêu triệu cư dân nơi đây. “Ông mặc nhiên được xem như một chuyên gia trong lĩnh vực này, một con chim “báo bão” về mối đe dọa thường xuyên và ghê rợn từ phương Bắc đối với sự sinh tồn của đất nước và dân tộc” (sđd, tr. 12)như nhà thơ / nhà văn Trịnh Y Thư đã ghi lại trong Thay Lời Tựa của tập sách này.</p>



<p>Bên cạnh đó, Ngô Thế Vinh cũng chọn thể hiện những chân dung Văn Học Nghệ Thuật và Văn Hóa như một sự “tình cờ” khởi đi từ bài viết ‘Nhớ về người bạn Tấm Cám Nghiêu Đề’, một cố tri từ tuổi rất thanh xuân. Ông đã nhận được rất nhiều khích lệ của bạn bè, đặc biệt là “họa sĩ Đinh Cường tỏ ra rất tâm đắc với bài viết và đã đưa ra nhận định: không thể viết về Nghiêu Đề hay hơn Ngô Thế Vinh nên có đề nghị sẽ đưa vào cuốn sách Đi Vào Cõi Tạo Hình II sắp xuất bản viết về những họa sĩ cùng thời từ 1957 đến 1966, năm thành lập Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam.”<sup>[2]</sup></p>



<p>Tuyển tập I đã ra đời năm 2017 được độc giả tiếp đón nồng hậu với cả thảy 18 chân dung gồm 16 nhân vật thuộc Văn học Nghệ thuật (Mặc Đỗ, Như Phong, Võ Phiến, Linh Bảo, Mai Thảo, Dương Nghiễm Mậu, Nhật Tiến, Nguyễn Đình Toàn, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Xuân Hoàng, Hoàng Ngọc Biên, Đinh Cường, Nghiêu Đề, Nguyên Khai, Cao Xuân Huy, Phùng Nguyễn) và 2 chân dung Văn hóa (GS Phạm Biểu Tâm, GS Phạm Hoàng Hộ).</p>



<p>Tuyển tập II ra mắt vào tháng 2 năm nay, gồm chân dung của 15 văn nghệ sĩ và nhà văn hóa: Nguyễn Tường Bách và Hứa Bảo Liên, Hoàng Tiến Bảo, Tạ Tỵ, Trần Ngọc Ninh, Lê Ngộ Châu, Nguyễn Văn Trung, Dohamide, Lê Ngọc Huệ, Nghiêm Sỹ Tuấn, Đoàn Văn Bá, Mai Chửng, Trần Hoài Thư và Ngọc Yến, Phan Nhật Nam, John Steinbeck cộng thêm phần phụ lục Con đường sách Sài Gòn và Câu chuyện đốt sách.</p>



<p>Xin được điểm qua từng chân dung:</p>



<p>1 &amp; 2. Bác sĩ Nguyễn Tường Bách và bà Hứa Bảo Liên.</p>



<p>Nguyễn Tường Bách là người em út trong gia đình Nguyễn Tường của phong trào Tự Lực Văn Đoàn. Tuy “tốt nghiệp y khoa, nhưng đã chọn bước sang con đường khác – cầm bút để chiến đấu! &#8230; là một trong số bác sĩ thế hệ tiên phong của thập niên 1940 đã đi vào lãnh vực báo chí và văn nghệ sớm như vậy” <a>(sđd, tr. 34)</a>.</p>



<p>Ông từng làm giám đốc báo Ngày Nay bộ mới và hoạt động chính trị rất sớm (1939), tham gia đảng Đại Việt Dân Chính [về sau kết hợp với Việt Nam Quốc Dân Đảng rồi Đại Việt Quốc Dân Đảng để thành Quốc Dân Đảng]. Nguyên ủy viên trung ương Việt Nam Quốc Dân Đảng, phụ trách công tác tổ chức đảng và tuyên truyền. “Tháng 5/1946, tình hình biến chuyển bất lợi cho phe quốc gia, trước nguy cơ khủng bố của Việt Minh, Nguyễn Tường Bách cùng với các đồng chí &#8230; phải rút lên Việt Trì, rồi Yên Báy, Lào Cai. Cuối cùng, theo quyết định của Trung ương Đảng bộ VNQDĐ, Vũ Hồng Khanh ở lại Đệ Tam Khu, còn Nguyễn Tường Bách đi Côn Minh để cùng với Nguyễn Tường Tam phụ trách hải ngoại vận” (sđd tr. 35).</p>



<p>Không thể ngờ được đó là chuyến đi định mệnh để từ đó ông gặp lại và thành hôn với bà Hứa Bảo Liên, người bạn gái thân thiết trước đây khi còn ở Hà Nội, vào cuối năm 1946, mắc kẹt với “giấc đông miên” của một “Y sĩ đồng quê” sống trên đất Trung Quốc 42 năm. Rồi cũng do một ngẫu nhiên của lịch sử, từ làn sóng nạn kiều, Lý Trung Nhân (tốt nghiệp Bách Khoa Hà Nội) là con trai của Bác sĩ Lý Hồng Chương, một bạn đồng môn Y khoa Hà Nội, sang Trung Quốc và được gia đình ông cưu mang. Rồi Lý Trung Nhân trở thành rể của gia đình và sau đó được người mẹ sống ở Hoa Kỳ bảo lãnh. Nhân mang theo vợ Hứa Anh, để từ đó, đến năm 1988, ông bà Nguyễn Tường Bách được sang Mỹ định cư đoàn tụ với các con cũng như gặp lại các cháu thuộc dòng họ Nguyễn Tường. Nơi đây, “ở tuổi 72, như cá gặp nước, Nguyễn Tường Bách hăng say đi tiếp ngay một cuộc hành trình không ngưng nghỉ thêm hơn 20 năm nữa với bao nhiêu là dự án: Thành lập “Ủy Ban Điều Hợp Các Tổ Chức Tranh Đấu cho Việt Nam Tự Do”, rồi “Mặt Trận Dân Tộc Dân Chủ Việt Nam”, và bền bỉ nhất là “Hoạt Động Nhân Quyền và Dân Chủ cho Việt Nam” kết hợp với “Mạng Lưới Nhân Quyền”” (sđd, tr. 64).</p>



<p>Trong hồi ký “Nguyễn Tường Bách và tôi”, bà Hứa Bảo Liên cho hay, “Anh Bách thường nói, bác sĩ là chức nghiệp, cách mạng là sự nghiệp, nhưng văn nghệ mới là ước nguyện chính. Sau khi về hưu, còn ở Phật Sơn, anh cầm bút tranh thủ thời gian viết. Anh viết rất hăng say, chẳng khác gì khi còn trẻ&#8230;” (sđd, tr. 64).</p>



<p>3. Giáo sư Hoàng Tiến Bảo là một nhân cách lớn. Nguyên Giáo sư Đại học Y Khoa Sài Gòn, Trưởng khu Chỉnh Trực bệnh viện Bình Dân, ông có công phát triển ngành học mới Bướu Xương / Bone Tumor và Phẫu thuật Cột sống / Spine Surgery tại Việt Nam, đã giúp nhiều bệnh nhân bị lao cột sống và chấn thương cột sống có khả năng trở lại sinh hoạt bình thường (sđd, tr. 76-77). “Thấy được sự cách biệt về trình độ và phẩm chất đào tạo giữa nhóm nội trú và một đa số ngoại trú hành lang / externes des couloirs, Thầy Bảo đã mạnh dạn chủ trương là phải mở rộng chương trình nội trú, gia tăng sĩ số sinh viên nội trú trúng tuyển để mọi sinh viên ưu tú có khả năng có cơ hội đồng đều để trở thành những bác sĩ giỏi. Một mô hình tiến rất gần tới chế độ nội trú &#8211; thường trú [Internship and Residency] của giáo dục Y khoa của Mỹ” (sđd, tr. 79).</p>



<p>Với lòng nhiệt thành và thân ái, Thầy Bảo “giảng dạy những điều rất thực tế để sinh viên có thể lãnh hội và áp dụng được ngay khi bước vào đời&#8230; Ông đã để lại những dấu ấn trong suốt học trình Y khoa trên đám môn sinh được học Thầy” (sđd, tr. 77-78).</p>



<p>Sau 1975, bị kẹt lại nơi quê nhà, Thầy Bảo “vẫn hàng ngày đứng mổ, tận tụy phục vụ người bệnh, giảng dạy học trò cho đến ngày về hưu, đi định cư ở Hoa Kỳ năm 1983” (sđd, tr. 82).</p>



<p>4. Họa sĩ / Nhà văn / Nhà thơ Tạ Tỵ tốt nghiệp khoa Sơn Mài tại trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương năm 1943. Ông thành danh khá sớm, và đoạt được nhiều giải thưởng tranh. “Nhưng dấu ấn Hội họa của ông không phải là những tác phẩm Sơn Mài. Tạ Tỵ luôn luôn đi tìm cái mới, và được xem là người đi tiên phong vào lãnh vực Lập Thể / Cubisme và Trừu Tượng / Abstrait của hội họa Việt Nam” (sđd, tr. 106).</p>



<p>“Vào đầu thập niên 1960, Tạ Tỵ vẽ một loạt chân dung các văn nghệ sĩ Việt Nam với một phong cách rất độc đáo, anh nhạy bén bắt được cái thần ở từng khuôn mặt, và đây là một lãnh vực tài hoa khác của Tạ Tỵ mà chưa ai sánh được. Tác phẩm của Tạ Tỵ còn được trưng bày tại các bảo tàng viện nghệ thuật quốc tế ở Tokyo, San Francisco, New York và Paris” (sđd, tr. 110).</p>



<p>Về văn học, ông “đã cộng tác với các tạp chí văn học tại miền Bắc và miền Nam từ năm 1950 đến 30-4-1975: Thế Kỷ, Đời Mới, Nguồn Sống Mới, Sáng Tạo, Văn, Văn Học, Hiện Đại, Nghệ Thuật, Bách Khoa và Tin Văn, và sau 1975: Thế Kỷ 21 tại Hoa Kỳ” và đã có tổng cộng 14 tác phẩm đã xuất bản tại Việt Nam và Hoa Kỳ (sđd, tr. 114-115).</p>



<p>Sau tháng 4/1975, tuy là một Trung Tá Tổng Cục Chiến tranh Chính trị đã giải ngũ vào tháng 6/1974, nhưng họa sĩ Tạ Tỵ vẫn phải “trải qua 8 trại Tập Trung Cải Tạo từ Nam ra Bắc&#8230; đã sống và đã chứng kiến bao nhiêu trạng thái bi thương…” <sup>[3]</sup>. Ra tù vào đầu năm 1981 với tấm thân tàn ma dại, ông tìm đường vượt biên. Hồi ký <em>Đáy Địa Ngục</em> được viết và hoàn tất tại trại tỵ nạn Mã Lai năm 1982, tố cáo cùng toàn thế giới: “Người tù chính trị Việt Nam sau ngày 30-4-1975, quả thực, một vết nhơ trên ‘tấm thảm lương tri nhân loại’. Họ được đối xử như những con vật, đôi khi không bằng con vật. Họ luôn luôn sống trong lo âu, hồi hộp, chẳng biết chuyện gì sẽ xảy đến với họ&#8230; Họ ‘ăn không đủ no, đói không đủ chết’&#8230; Nếu ai đã trải qua một lần trong bất cứ Trại Tập Trung Cải Tạo nào của Cộng sản Việt Nam, người đó có quyền coi thường mọi nhà tù trên Thế Giới.” <sup>[3]</sup></p>



<p>Dù vậy, đến cuối đời Tạ Tỵ đã chọn lựa trở về sống tại quê hương dù không biết trước được những bất trắc gì sẽ xảy đến cho mình, với lòng tin tưởng “nước Việt Nam dù dưới chủ nghĩa nào cũng chỉ tạm thời, cái Vĩnh Viễn là mảnh đất do tất cả Dân Tộc dựng nên, cái đó mới tồn tại lâu dài, Vĩnh Viễn!” (sđd, tr. 136-137). Ngô Thế Vinh đã ví Tạ Tỵ như “con cá Hồi dũng mãnh sau những tháng năm vẫy vùng ngoài đại dương, đến cuối đời sức cùng lực kiệt, vẫn với một bộ nhớ không suy suyển, để từ biển rộng trở lại con sông dài, bất chấp những ghềnh thác, chỉ để được trở về nguồn – nơi mảnh đất có tên gọi rất thiêng liêng là Việt Nam” (sđd, tr. 138). Thật đẹp và chính xác.</p>



<p>5. Giáo sư Trần Ngọc Ninh, tốt nghiệp Thạc Sĩ Y khoa Pháp (1961), nguyên Giáo sư và Trưởng khoa phẫu khoa chỉnh trực và phẫu nhi khoa tại Đại học Y khoa Sài Gòn, Tổng trưởng Văn hóa Xã hội đặc trách Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa, Giáo sư Văn minh Đại cương và Văn hóa Việt Nam tại Đại học Vạn Hạnh Sài Gòn, Thành viên sáng lập Tổ chức Hội đồng Bộ trưởng Giáo dục Đông Nam Á (SEAMEO), Hội viên Hội đồng Quốc Gia Giáo dục, Sài Gòn Việt Nam.</p>



<p>Ông đã xuất bản các tác phẩm về văn hóa, y học và tôn giáo. Bên cạnh đó, ông có hơn 200 bài khảo cứu chuyên khoa được in trong các Tạp chí Y khoa xuất bản tại Việt Nam, Pháp và Mỹ. Ngoài ra ông còn viết nhiều bài báo liên quan tới các đề tài văn hóa trên các tạp chí Tình Thương, Bách Khoa, Thế Kỷ 21 và Khởi Hành (sđd, tr. 146).</p>



<p>6. Nhà báo Lê Ngộ Châu là linh hồn của tạp chí Bách Khoa &#8211; “Diễn đàn chung của tất cả những người tha thiết đến các vấn đề Chính trị, Kinh tế, Văn hóa, Xã hội” (sđd, tr. 178). Tác giả đã kể rõ ngọn nguồn của tạp chí Bách Khoa, những thay đổi về tên gọi, địa chỉ tòa soạn cũng như nhà in, những khó khăn mà Bách Khoa gặp phải trong suốt 18 năm hiện diện&#8230;</p>



<p>“Lê Ngộ Châu đã khéo léo dung hòa được mọi khuynh hướng chính trị, tôn giáo khác biệt để Bách Khoa càng ngày càng quy tụ được nhiều cây bút có uy tín thuộc cả ba miền Nam, Trung, Bắc, thuộc các thế hệ già trẻ tiếp nối&#8230; Đáng kể hơn nữa, Lê Ngộ Châu còn phát hiện thêm những cây viết trẻ và đa số đều thành danh những năm về sau này. Với các cây bút nam như Lê Tất Điều, Trần Hoài Thư, Hoàng Ngọc Tuấn, Thế Uyên, Nguyễn Mộng Giác&#8230; và các cây bút nữ như Túy Hồng, Nguyễn Thị Hoàng, Trùng Dương, Nguyễn Thị Thụy Vũ…” (sđd, tr. 185).</p>



<p>Bên cạnh đó, tác giả cũng nhắc đến “Nhà báo tài năng Nguiễn Ngu Í, người đã bền bỉ đi suốt cuộc hành trình 18 năm của Tạp chí Bách Khoa&#8230; là người có công lao rất lớn tạo nên được một nhân dáng sinh động và phong phú của mục Sinh hoạt báo Bách Khoa” (sđd, tr. 199).</p>



<p>Đọc chương này, độc giả không khỏi nuối tiếc cho “thư viện phong phú của Bách Khoa một đời ông (Lê Ngộ Châu) dày công sưu tập cũng không giữ được và cuối cùng cũng phải nộp cho Hai Khuynh tức Nguyễn Huy Khánh, là một trong “ngũ hổ tướng” của Thành ủy Sài Gòn lúc bấy giờ&#8230; Sau này, cũng những cuốn sách có gốc gác từ thư viện Bách Khoa ấy, với cả thủ bút các tác giả ký tặng Lê Ngộ Châu, đã được thấy bày bán nơi mấy tiệm sách cũ, mà khách tìm mua có cả những học giả từ miền Bắc vào&#8230; Ai cũng hiểu rằng đó là niềm đau xót sâu thẳm của Lê Ngộ Châu mà không bao giờ anh nói ra (sđd, tr. 202).</p>



<p>7. Giáo sư Nguyễn Văn Trung, một trí thức lận đận, người bị nhiều tai tiếng nhất từ khi còn trong nước cho đến khi ra hải ngoại vẫn chưa dứt. Nguyên Giáo sư Triết và Văn ở Đại học Văn Khoa Sài Gòn và Đại học Huế. Tại Đại học Văn Khoa Sài Gòn, ông là Trưởng ban Triết Tây phương, có thời gian được bầu làm Khoa trưởng Đại học Văn Khoa Sài Gòn (1969). Sau 1975, không được trở lại giảng dạy, ông chỉ có thể làm công việc nghiên cứu văn học và triết học tại Khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp TP. HCM (sđd, tr. 216).</p>



<p>Nguyễn Văn Trung đã có công sáng lập và điều hành tạp chí Đại Học ở Huế, và sau này là các tạp chí Hành Trình, Đất Nước, Trình Bầy và cộng tác với nhiều tờ báo như Bách Khoa, Sáng Tạo, Thế Kỷ Hai Mươi, Văn, Văn Học, Nghiên Cứu Văn Học, Thái Độ, Đối Diện, Tin Sáng, Sống Đạo, Dân Chủ Mới, Tân Văn&#8230; (sđd, tr. 221), cổ võ “một chủ nghĩa xã hội không cộng sản mang tính cách ảo tưởng về một con đường thứ ba&#8230; (sđd, tr. 227), thiên tả, phản chiến giữa giông bão của cuộc chiến tranh quốc cộng” (sđd, tr. 228).</p>



<p>Sau này, Nguyễn Văn Trung viết: “… Trong ý định nhìn lại những chặng đường đã đi qua, nghĩa là những gì tôi viết liên quan đến các giới Việt Nam, tôi không phiền trách tố cáo lại ai, để phân trần tự biện minh, mà chỉ cố gắng tìm hiểu phần trách nhiệm của tôi đã gây ra mọi sự do chính những lựa chọn căn bản có ý thức của tôi và nhất là do những lệch lạc hay thiếu sót đã không thực hiện đúng, đầy đủ của những lựa chọn đó…” (sđd, tr. 235).</p>



<p>Tác giả Ngô Thế Vinh cũng chia sẻ: “Nguyễn Văn Trung luôn luôn đã phải trả giá cho những điều anh phát biểu – giữa hỗn mang của thời cuộc, không có trắng và đen mà chỉ là trong một vùng xám giữa đúng và sai – nhưng có điều chắc chắn đó là tiếng nói lương tâm trong chọn lựa dấn thân của Nguyễn Văn Trung. Anh cất lên tiếng nói cho những điều mà lúc đó anh thực tâm tin tưởng, và anh đã phải chịu nhiều ngộ nhận và oan khiên đến cả vùi dập” (sđd, tr. 247).</p>



<p>Ở chương này có nhắc đến, “Tình hình miền Nam sau 1963, vô cùng rối ren với những vụ khủng bố, Việt Cộng thảm sát Bác sĩ Lê Minh Trí, Giáo sư Y khoa Trần Anh, Giáo sư Quốc Gia Hành Chánh Nguyễn Văn Bông, nhà báo Từ Chung và ám sát hụt nhà báo Chu Tử, sinh viên Bùi Hồng Sĩ&#8230;” (sđd, tr. 232). Trong thời kỳ nhiễu nhương đó, năm 1969, Gs Nguyễn Văn Trung đã can đảm nhận chức vụ Khoa trưởng Đại học Văn Khoa Sài Gòn và muốn tổ chức một ban ấn loát riêng của nhà trường để in bán cours cho sinh viên với một giá phải chăng (sđd, tr. 233). Cũng vì đó ông bị những sinh viên với nguồn lợi liên quan kéo thêm báo <em>Con Ong</em> bên ngoài hỗ trợ, dùng những từ ngữ xấu xa nhất để mạt sát, mạ lỵ ông. Có thể ví đó như một vết chàm nhỏ trên khuôn mặt đẹp của thời VNCH.</p>



<p>8. Dohamide / Đỗ Hải Minh là một trí thức người Chăm, đã tốt nghiệp Học Viện Quốc Gia Hành Chánh (1962),&nbsp; Cao học M.A. về Chánh trị học tại Đại học Kansas, Hoa Kỳ (1967), biết nói và viết nhiều thứ tiếng: Chàm, Việt, Pháp, Anh, Á Rập, Mã Lai, Cam Bốt. Ông cũng là tác giả của loạt bài chuyên khảo về lịch sử và văn minh Champa trên tạp chí Bách Khoa từ những năm 1960, và đồng tác giả với người em Dorohiêm của cuốn sách <em>Dân tộc Chàm lược sử</em> (1965). Sau cuộc đổi đời tháng 4/1975, “Dohamide lần lượt chuyển qua các trại lao động khổ sai ngoài miền Bắc ngót 10 năm (sđd, tr. 267). Chín năm sau khi ra tù, phải đến tháng 3/1993, qua bao nhiêu thủ tục giấy tờ phức tạp, qua chương trình H.O., Dohamide cùng gia đình được xuất cảnh sang Mỹ” (sđd, tr. 269).</p>



<p>Dohamide với suốt một đời đau đáu đi tìm về cội nguồn đã cùng người em Dorohiêm viết <em>Bangsa Champa: tìm về một cội nguồn cách xa</em> xuất bản tại California, Hoa Kỳ 2004. Ông “có cách nhìn ôn hòa, rộng mở và tin tưởng vào con đường văn hóa, mong mỏi hai tập sách <em>Dân tộc Chàm Lược sử</em> và <em>Bangsa Champa</em> được phổ biến rộng rãi trong các thế hệ thanh niên Chăm không chỉ ở hải ngoại mà cả ở trong nước, để họ không bị lôi cuốn vào phong trào “hận thù mất nước”, đang được nhóm đồng tộc Chăm cực đoan Champaka khích động theo chủ thuyết “dân tộc bản địa” – như một khuynh hướng phục quốc và ly khai&#8230; Họ phủ nhận hướng đi theo con đường hòa bình của Dohamide, và cho rằng Dohamide đã thỏa hiệp nếu không muốn nói là đầu hàng. Điều ấy khiến Dohamide vô cùng nặng lòng vào những năm cuối đời” (sđd, tr. 287).</p>



<p>9. Giáo sư Lê Ngọc Huệ tốt nghiệp điêu khắc từ trường Mỹ thuật Montpellier (Pháp) mới từ Paris về đã cùng với mấy sinh viên khoa điêu khắc trường Mỹ Thuật Huế: Mai Chửng, Lê Tài Điển, Trần Văn Danh… chung sức thực hiện trong khoảng thời gian hơn hai năm từ 1961 tới 1963 thì gần như hoàn tất quần thể tượng mười lăm sự mầu nhiệm mân côi ở nhà thờ Đức Mẹ La Vang, Quảng Trị. Qua đó cho thấy “trong lãnh vực điêu khắc, Lê Ngọc Huệ là một tài năng lớn với thủ pháp tinh tế, đường nét tinh giản nhưng mạnh mẽ, đầy tính tượng trưng và sáng tạo&#8230; Ông đã để lại một công trình nghệ thuật tôn giáo quan trọng và lớn lao, ghi những dấu ấn sâu đậm trong ngành điêu khắc Việt Nam, tạo được sự kết hợp thăng hoa giữa nghệ thuật và tôn giáo” (sđd, tr. 319).</p>



<p>10. Bác sĩ Nghiêm Sỹ Tuấn, nguyên thư ký báo Tình Thương của sinh viên Y khoa Saigon, tốt nghiệp Y khoa ở tuổi 28, gia nhập binh chủng Nhảy Dù và đã hy sinh trên chiến trường Khe Sanh tháng 4/1968 ở tuổi 31, người đã để lại dấu ấn đậm sâu trong lòng tất cả những ai có dịp tiếp xúc với anh. Phạm Liêu trong một bài viết trên tập san Mũ Đỏ, sau đó được đăng lại trên báo Tiền Phong số 38 (18/12/1968) đã ghi lại: “Những người bạn anh kể rằng anh tôn trọng kỷ luật đến độ làm cho những người khác khó chịu. Dưới một bề ngoài trầm lặng, tiềm tàng một nếp sống nội tâm cuồng nhiệt. Anh thật nhiều tham vọng. Anh muốn nhiệm vụ của một quân nhân Dù đi kèm một Y sĩ tiền tuyến của anh phải kiện toàn. Không bao giờ ta thán bất cứ một sự gì. Không bao giờ tìm tòi sơ hở của kẻ khác để chỉ trích, phê bình, chê bai. Người khác có cảm tưởng anh im lặng để hành động nhiều hơn, hữu hiệu hơn, thật đúng là một triết lý của hành động” (sđd, tr. 328). “Anh chấp nhận tất cả: Ngay những điều bất hạnh có thể xảy ra trong mai hậu khi anh dấn thân. Nhiều người cho những sự hy sinh của anh vô nghĩa, nếu không nói phi lý, anh hiền hòa đáp lại: “Làm gì có xương nào phơi vô nghĩa, càng vô nghĩa bao nhiêu càng ý nghĩa bấy nhiêu. Vả chăng xương nào thay được xương mình. Trái đậu thì hoa tàn. Hạt giống có chết cây mới nẩy mầm xanh, sao nói là vô nghĩa được.” Anh chấp nhận ngay cả sự chết một mai của mình nếu không nói những áng văn của anh như bản di chúc cuối cùng của một người sắp ra đi. Chấp nhận sự chết để tự dọn mình là một triết lý khổ hạnh, mà ít người bằng tuổi anh đã dám nhận làm chỉ nam cho đời mình” (sđd, tr. 329).</p>



<p>11. Bác sĩ Đoàn Văn Bá, là người bạn đồng môn với Bác sĩ Nghiêm Sỹ Tuấn và cũng thuộc Quân y Nhảy Dù, “đã biểu lộ lòng can đảm phi thường, bất chấp nguy hiểm cho sinh mạng mình và chỉ quan tâm tới những người bệnh, với kết quả là ông đã cứu được nhiều mạng sống” (sđd, tr. 353) của lính Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ khi cộng quân tấn công vào thành phố Huế dịp Tết Mậu Thân 1968, nên được tưởng thưởng Huy chương Anh dũng Bội tinh với Ngôi Sao Đồng của Bộ Tư Lệnh Chỉ huy Viện trợ Quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam vào tháng 5/1968. Ông là một mẫu người can đảm dám nói dám làm, không hãi sợ bất cứ một trở lực nào nên từng được bạn bè gọi là “Bá điên” hoặc “l‘homme des situations difficiles”. “Sau khi miền Nam Việt Nam bị rơi vào tay cộng sản Bắc Việt, Y sĩ Thiếu Tá Đoàn Văn Bá bị bắt vào các trại tù cộng sản cùng toàn thể sĩ quan và viên chức cao cấp của chính quyền miền Nam, bị đày ải qua các trại tù Hóc Môn, Suối Máu, Bù Gia Mập, Bù Đăng trong hoàn cảnh bị lao động cưỡng bức, thiếu ăn, và bệnh tật không thuốc men” (sđd, tr. 358). “Ra tù sau 4 năm, gia đình bị ly tán&#8230; Anh đã dẫn theo một đứa con gái vượt thoát ra khỏi nước như một “thuyền nhân” và sau đó được đi định cư tại Hoa Kỳ. Trên vùng đất mới Bá lại trải qua một thời gian phấn đấu khó khăn nữa. Là bác sĩ ngoại quốc ở tuổi đã cao, Bá vẫn say mê học tập và vượt qua được các kỳ thi&#8230; để trở thành một bác sĩ nội khoa và chuyên khoa về Thận (Internist / Nephrologist) ở tuổi đã 51 &#8212; Ngũ Thập Nhi Tri Thiên Mệnh” (sđd, tr. 358).</p>



<p>12. Điêu khắc gia Mai Chửng, là một trong những học trò của Giáo sư Lê Ngọc Huệ đã góp phần thực hiện quần thể tượng mười lăm sự mầu nhiệm mân côi ở nhà thờ Đức Mẹ La Vang, Quảng Trị. Ông là tác giả của “Tượng đài Bông Lúa bằng đồng lá biểu tượng nền văn minh nông nghiệp dựng tại thị xã Long Xuyên (1970)” bị CS phá sập sau 1975 và “bức tượng Mầm (1973) cao 1,50m, làm bằng cả ngàn vỏ đạn súng trường được hàn lại, biểu tượng cho sự sống vẫn vươn lên giữa tàn phá của chiến tranh” cũng bị biến mất sau 1975 (sđd, tr. 378-379).</p>



<p>Mai Chửng tốt nghiệp Cao đẳng Mỹ thuật Huế năm 1961, Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn năm 1963. Nguyên thành viên và Chủ tịch Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam (1966-1975). Từ 1968, dạy ở trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật và năm 1974 tại Đại học Kiến trúc Sài Gòn. Ông có thời gian nhập ngũ khóa Sĩ quan trừ bị Thủ Đức, làm việc tại Tổng cục Chiến tranh Chính trị với cấp bậc cuối cùng là Đại úy. Sau đó được biệt phái về dạy Đại học Kiến trúc. Năm 1975 ông bị bắt học tập cải tạo gần 3 năm, được thả vào cuối năm 1978 (sđd, tr. 385). Là một điêu khắc gia rất tài năng, sau 1975, hai lần đoạt giải nhất mẫu <em>Tượng Đài Chiến Thắng</em> của Hội Mỹ Thuật Thành Phố Sài Gòn để dựng tại Công Trường Quốc Tế nhưng sau đó đã không được thực hiện “chỉ vì Mai Chửng là một người lính của chế độ cũ” (sđd, tr. 389). Tài năng không được sử dụng trong nước buộc Mai Chửng phải tìm đường vượt biên năm 1981. Sang Mỹ năm 41 tuổi bận rộn với sinh kế cùng gánh nặng gia đình, “đã qua nhiều nghề để kiếm sống, bằng xe fast food ở San Jose, rồi sau đó bằng nghề lái taxi trong nhiều năm ở Hawaii&#8230; Tới thời điểm vượt qua được nợ cơm áo, thì Mai Chửng không còn trẻ nữa và sức khỏe cũng đã suy yếu, giấc mộng lớn điêu khắc của Mai Chửng vẫn có đó nhưng khó thành” (sđd, tr. 391). Cuối đời dù “sức khỏe sút kém sau phẫu thuật cắt bướu ung thư bao tử, nhưng ông vẫn không ngừng làm việc và rất hào hứng hoàn tất một số tác phẩm để tham gia cuộc triển lãm lớn vào tháng 7 năm 2001 cùng với các họa sĩ, điêu khắc gia Việt Nam trong và ngoài nước, tổ chức tại Gallery Vĩnh Lợi Sài Gòn” (sđd, tr. 393).</p>



<p>13. Vợ chồng Nhà văn Trần Hoài Thư &#8211; Nguyễn Ngọc Yến là những người tiên phong trong “nỗ lực phục hồi Di Sản Văn Học Miền Nam 1954-1975” (sđd, tr. 402). Trần Hoài Thư nguyên là giáo sư Toán đệ nhị cấp trường trung học Trần Cao Vân, Tam Kỳ, tỉnh Quảng Tín, bị động viên năm 1967 nhập ngũ khóa 24 SQTB Thủ Đức. Phục vụ tại đại đội 405 Thám kích sư đoàn 22 Bộ binh, bị thương ba lần (sđd, tr. 402), rồi phóng viên chiến trường vùng IV. Đã cộng tác với các tạp chí Bách Khoa, Văn, Văn Học, Đời, Bộ Binh, Thời Tập, Vấn Đề, Khởi Hành, Ý Thức&#8230; Nhờ văn chương ông đã có một mối tình thật đẹp với cô gái Cần Thơ Nguyễn Ngọc Yến và hai người đã nên duyên chồng vợ năm 1971. Sau cuộc đổi đời tại miền Nam với hơn 4 năm tù khổ sai, “vượn người” <sup>[4]</sup> Trần Hoài Thư với tấm thân xác nặng chưa tới 35 ký lô trở thành người bán cà rem dạo ở Cần Thơ trong thời gian bị quản chế. Ngày “xả chế” (cuối năm 1979) cũng là ngày ông lên ghe vượt biển bắt đầu cuộc sống tỵ nạn xa quê hương. Ở lại cũng không yên thân, bà Nguyễn Ngọc Yến cũng ôm đứa con trai duy nhất vượt biển đoàn tụ cùng chồng sau đó. Hai vợ chồng đã cố gắng làm việc, học hành, tạo dựng một mái ấm gia đình. Trần Hoài Thư tốt nghiệp cử nhân điện toán với thứ hạng cao được nhận làm việc tại hãng AT &amp;T, được hãng “trả tiền cho học thêm bán thời gian. Sau hai năm, đậu thêm văn bằng Cao học Toán Ứng dụng / Master of Applied Mathematics&#8230; Khi chi nhánh của Thư được chuyển nhượng cho hãng điện toán IBM, Thư lên tới chức vụ Project Leader. Và khi nó <em>outsourcing</em> chuyển qua Ấn Độ, THT quyết định nghỉ hưu để có toàn thời gian thực hiện điều mơ ước: thực hiện tủ sách DI SẢN VĂN CHƯƠNG MIỀN NAM” (sđd, tr. 416-417).</p>



<p>Theo Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn, “Có thể nói một cách tự tin rằng so với những bài viết về Trần Hoài Thư trước đây, bài viết về Trần Hoài Thư trong Tuyển tập II là đầy đủ nhứt” (sđd, tr. 517).</p>



<p>14. Nhà văn Phan Nhật Nam, “kẻ sống sót sau một cuộc chiến tranh dài hơn trí nhớ”, với những chấn thương không chảy máu. Tốt nghiệp Khóa 18 trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, gia nhập binh chủng Nhảy Dù, từng là thành viên của Ban Liên Hợp Quân Sự Trung Ương 4 và 2 Bên.&nbsp; Sau 1975, ông bị tù cải tạo 14 năm qua các trại giam miền Bắc với 2 đợt kiên giam (2/1979 đến 8/1980; 9/1981 đến 5/1988). Khi ra tù ông bị quản chế và chỉ định cư trú tại Lái Thiêu cho đến khi đi định cư tại Hoa Kỳ theo diện ODP vào năm 1993. Theo tác giả, những tác phẩm “viết về Chiến Tranh Việt Nam trước 1975 của Phan Nhật Nam là hay nhất đối với cả hai miền Nam Bắc” (sđd, tr. 451). Bút ký chiến tranh Phan Nhật Nam được tái bản nhiều lần ở miền Nam trước 1975 và cả ở hải ngoại sau này. Riêng cuốn Mùa Hè Đỏ Lửa được tái bản tới lần thứ 30 do nhiều nhà xuất bản khác nhau (sđd, tr. 440). Sau này ở Hoa Kỳ ông còn viết và xuất bản thêm 6 tác phẩm mới. Ngoài ra, tác phẩm của ông cũng được dịch sang tiếng Pháp (Dấu Binh Lửa, Mùa Hè Đỏ Lửa) và tiếng Anh (Những Chuyện Cần Được Kể Lại, Tù Binh và Hòa Bình&#8230;)</p>



<p>15. Nhà văn John Steinbeck, tiếp theo sau Ernest Hemingway 1954, là nhà văn Mỹ thứ 6 được giải Nobel Văn chương 1962 cho toàn sự nghiệp “do những trang sách viết trộn lẫn hiện thực và tưởng tượng, kết hợp sự u mặc tinh tế và ý thức xã hội sắc bén &#8230; Các nhân vật của ông đều là nạn nhân của lịch sử, của thời kỳ suy thoái” (sđd, tr. 473). Steinbeck được xem như phe “diều hâu” công khai ủng hộ sự tham chiến của quân đội Mỹ ở Việt Nam mà ông coi đó một cuộc dấn thân anh hùng (sđd, tr. 477). Ông “đã đi khắp miền Nam Việt Nam, trong vòng sáu tuần lễ [từ tháng 12.1966 tới đầu năm 1967] &#8230; được bảo vệ an toàn, làm sao John Steinbeck hiểu được rằng: quân cộng sản Bắc Việt lúc ấy cũng đã được trang bị với những vũ khí tối tân nhất của Liên Xô và Trung Quốc, và ngay ở lãnh thổ miền Bắc lúc đó đã có hàng sư đoàn quân chí nguyện Trung Quốc giả dạng quân Bắc Việt với những dàn hỏa tiễn phòng không tối tân sẵn sàng nghênh chiến với hàng đoàn phản lực cơ Thần Sấm từ Hạm đội 7 bay vào oanh tạc miền Bắc” (sđd, tr. 476) được tiết lộ từ hai cuốn sách do chính Lý Tiểu Bình viết, <em>The Dragon in the Jungle: The Chinese Army in the Vietnam War</em> (xuất bản 2020) và <em>History of the Modern Chinese Army</em> (xuất bản 2007).</p>



<p>Phần phụ lục tác giả giới thiệu Con Đường Sách Saigon, “hình ảnh một mini-đường sách Lê Lợi của hơn 40 năm trước” (sđd, tr. 493), một địa điểm sinh hoạt văn hóa lý tưởng hiện nay, nên được các tác giả sống ở trong lẫn ngoài nước chọn làm nơi ra mắt sách. Cũng là nơi độc giả có thể tìm mua những cuốn sách cũ “tàn dư Mỹ Ngụy” rất quý hiếm còn sót lại.</p>



<p>Trong từng chương, tác giả đã giới thiệu, trình bày rất cặn kẽ để độc giả có thể nắm bắt và hiểu thêm hơn sự kiện. Chẳng hạn ở chương Bác sĩ Nguyễn Tường Bách, khi nói đến cái chết rất đột ngột của Hoàng Đạo, bà Hứa Bảo Liên, khi đó là em dâu, đã phải chạy vạy sang Quảng Châu vay bạn 500 đồng HK để có tiền chôn cất cho anh chồng. Ngô Thế Vinh đã soi sáng trường hợp Nhất Linh bị Việt Minh bôi nhọ: “Cũng để thấy rằng, cả Hải ngoại vụ Việt Nam Quốc Dân Đảng nghèo và đời sống khắc khổ thiếu thốn như thế nào, trong khi đó thì Việt Minh vẫn rêu rao tung tin bôi nhọ Nguyễn Tường Tam đã biển thủ công quỹ, mang theo hai triệu đồng của Bộ Ngoại Giao khi chạy sang Trung Hoa” (sđd, tr. 50). Trong chương cuối, John Steinbeck, nhân nói đến việc Hồng quân Trung Cộng đã hiện diện tại miền Bắc từ thời Chiến tranh Việt Nam, tác giả lên tiếng: “Sự kiện lớn lao và quan trọng như vậy mà trong bộ chính sử mới nhất của Hà Nội cho đến nay vẫn còn giấu giếm. Đó là trong cuộc chiến tranh để đối phó với Mỹ và miền Nam, giữa giai đoạn 1965 và 1970, thể theo yêu cầu của Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông đã đưa sang miền Bắc VN 320.000 Hồng quân Trung Cộng. Tới 1968, Mao đưa thêm sang Lào 110.000 quân nữa (tổng cộng: 430.000 quân) (sđd, tr. 476). Việc này cũng từng được nhà văn Vũ Thư Hiên, con trai của cụ Vũ Đình Huỳnh nguyên Bí thư của Chủ tịch&nbsp;<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh">Hồ Chí Minh</a>, sau làm Vụ trưởng Vụ Lễ Tân Bộ Ngoại Giao Hà Nội, tiết lộ trong hồi ký “Đêm Giữa Ban Ngày” “… Chính Lê Duẩn là người chủ trương mời quân đội Trung Quốc vào miền Bắc Việt Nam để trấn giữ hộ miền Bắc trong khi toàn bộ quân đội miền Bắc được đưa vào chiến trường miền Nam&#8230; Trong công tác phóng viên tôi đến Khu tự trị Việt&nbsp; Bắc và khu mỏ Hồng Quảng nhiều lần. Trở về tôi kể lại cho cha tôi những gì tôi thấy. Nghe chuyện dân vùng núi Việt Bắc không được phép kiếm củi ngay trong những khu rừng quê hương họ nay đã trở thành khu vực đóng quân của Trung Quốc, chuyện những thợ mỏ muốn đi tắt đến nơi làm việc qua phần đất đã được giao cho Trung Quốc cũng không được, họ bị bộ đội Trung Quốc xua đuổi, ông rơm rớm&nbsp; nước mắt&#8230;” <sup>[5]</sup></p>



<p>Chương Giáo sư Hoàng Tiến Bảo thể hiện rất rõ tinh thần Tôn Sư Trọng Đạo của môn sinh Y khoa Đại học đường Saigon. Về phần Thầy Bảo thì lúc nào cũng hết lòng, rất thương và lo cho học trò. “Có lần đã sắp tới ngày thi FLEX của Thầy, nhưng Thầy không quá quan tâm, vẫn dẫn một phái đoàn lên gặp Medical Board trên Sacramento, tranh đấu cho đám sinh viên ra trường sau 1975 được công nhận là tương đương và được quyền thi cử để trở lại y nghiệp. Một lần khác, Thầy xin nghỉ hẳn một ngày ở USC, và tôi được biết Thầy đã đi bus lên Pomona, để gặp và khuyên một môn sinh đừng bỏ học” (sđd, tr. 84). Thầy cũng tổ chức nhóm học thi để giúp các môn sinh chậm đến Mỹ lấy được bằng hành nghề. “Với uy tín sẵn có, Thầy dễ dàng mời các bác sĩ đã thành đạt trong dòng chính/ mainstream, đang hành nghề và cả giảng dạy, &#8230; đến từ các chuyên khoa khác nhau, chia sẻ những kinh nghiệm lâm sàng và thi cử: như GS Vũ Quí Đài, Phùng Mạnh Lành, Bạch Thế Thức, Quỳnh Kiều, Phạm Văn Hạnh, Phùng Gia Thanh, Trà Mi&#8230; (sđd, tr. 86-87). Khi Thầy bị bệnh phải mổ thì học trò lo cho Thầy từ đầu đến cuối. “Bạch Thế Thức thu xếp cho Thầy được gặp bác sĩ Minh Lu Huang, là một trong 8 bác sĩ giải phẫu cardiothoracic giỏi nhất trong vùng&#8230; Thầy không phải nhập viện sớm, do mọi chuyện Pre-op Thức đều lo cho Thầy. Thầy còn một mối lo khác, khi mổ cần truyền máu nếu lấy từ blood bank, thì cái risk AIDS và Hepatitis tuy ít nhưng vẫn có. Rất may, Bạch Thế Thức thuộc nhóm máu O – universal donor, Thức đã tình nguyện hiến máu trước cho Thầy khi cần” (sđd, tr. 92). Thật cảm động biết bao!</p>



<p>Ở chương Giáo sư Trần Ngọc Ninh, Ngô Thế Vinh nhắc lại những chuyện bên lề về ‘Bài giảng cuối cùng” của thầy Ninh (sđd, tr. 151) hoặc chuyện “Gs Phạm Biểu Tâm, từng là Khoa Trưởng Đại học Y khoa Saigon, phải lau chùi cầu tiêu bị té ngã bầm dập ở bệnh viện Bình Dân” &#8230; Hay &nbsp;trong “những buổi hội chẩn hay giao ban cùng với các ông y sĩ cách mạng phần đông chưa qua hết bậc trung học <em>“chỉ có hồng mà không chuyên”</em> nhưng rất huênh hoang từ ngoài Bắc vào hay từ trong rừng ra. Điển hình là trong một buổi sáng giao ban tại bệnh viện Bình Dân sau 1975, bác sĩ Lê Quang Dũng báo cáo về một trường hợp mổ <em>áp xe</em> vú, thì bị một bác sĩ quân quản Việt cộng vặn hỏi: “Tại sao anh lại cho mổ <em>áp xe </em>vú?” Bs Dũng đáp: “Tại vì <em>áp xe</em> vú có mủ nên phải mổ dẫn lưu.” Dũng đã bị họ mắng: “Anh dốt quá, ở chiến khu tôi nhai <em>lá sống đời</em> xong rồi đắp lên vú thì 5 phút sau <em>áp xe</em> biến mất, không phải mổ gì cả.”” (sđd, tr. 166-167). Những chuyện đau lòng và ngán ngẩm đó đã là nguyên nhân chính khiến những nhân sĩ trí thức cũ phải lưu vong mặc dù họ đã ở lại quê hương vào thời điểm cuối cùng của chế độ VNCH.</p>



<p>Độc giả cũng sẽ xót thương, phẫn nộ trong chương Tạ Tỵ, khi tác giả đã nhắc đến: “Cùng với bao nhiêu đồng đội và thế hệ văn nghệ sĩ miền Nam, anh đã bị đày ải trong những nhà tù từ Nam ra Bắc&#8230; nhưng may mắn sống sót, trong khi đó nhiều đồng đội cùng với các nhà văn nhà báo miền Nam bạn anh thì đã chết rũ trong tù như Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Hoàng Vĩnh Lộc, Nguyễn Mạnh Côn, Phạm Văn Sơn, Trần Văn Tuyên, Trần Việt Sơn, Vũ Ngọc Các, Anh Tuấn Nguyễn Tuấn Phát, Dương Hùng Cường… hay vừa ra khỏi nhà tù thì chết như Vũ Hoàng Chương, Hồ Hữu Tường” (sđd, tr. 117). Bởi vậy, “Nói tới Văn Học Miền Nam, không thể không có một “cuốn sách trắng / livre blanc” về thời kỳ đó, một Wikipedia mở, như một “bộ nhớ” cho các thế hệ Việt Nam tương lai” (sđd, tr. 419). Hay khi nói về hai cuốn sách của Trần Hoài Thư, tác giả đã đặt câu hỏi: “Cả hai cuốn sách trên đã được quảng cáo trên báo chí nhưng không bao giờ được ra mắt. Đó là những tác phẩm bị thất lạc, thêm vào những tổn thất trong chiến tranh, vĩnh viễn đi vào sự quên lãng. Những tổn thất nhân mạng trong chiến tranh đã được thống kê và nói tới. Thế còn những tổn thất trong văn học, liệu đây có phải là phần trách nhiệm của các sử gia?” (sđd, tr. 422). Và có nên thêm ở đây những tác phẩm đã bị phần thư tuyệt bản, những tranh tượng nghệ thuật sáng tác trước 1975 bị phá bỏ hoặc mất tích? Chưa kể đến khả năng sáng tạo ở thời kỳ sung mãn nhất của văn nghệ sĩ bị mai một, tàn lụi sau thời gian dài trong trại cải tạo của CS. Khi ra ngoài, tài năng đó cũng không được sử dụng. Như trường hợp Điêu khắc gia Mai Chửng, sau 1975, đã hai lần đoạt giải mẫu <em>Tượng Đài Chiến Thắng</em> của Hội Mỹ Thuật Thành Phố Sài Gòn đánh bạt cả những điêu khắc gia tăm tiếng miền Bắc cùng tham dự, nhưng cuối cùng mẫu này vẫn không được thực hiện vì anh đã từng là một người “Lính Ngụy”! Nhà phê bình nghệ thuật Huỳnh Hữu Ủy kể lại: “Tôi còn nhớ chính Mai Chửng quay bàn xoay để tôi nhìn mẫu hình pho tượng. Pho tượng rất đơn giản mà cực kỳ quyến rũ&#8230; Dù mới chỉ là một mô hình phác thảo, cũng đã cho thấy một không khí rất vĩ đại và tráng lệ&#8230; Một người phụ nữ với chiếc khăn quàng cổ tung bay, mái tóc tung bay, khẩu súng trường nắm trong tay phải được giương cao, người phụ nữ ấy đứng thẳng trên mình con chim vươn mình sải cánh trải dài. Hình tượng con chim, rõ ràng là Mai Chửng đã dựa vào nét cách điệu trừu tượng con chim Lạc trên các trống đồng cổ của nền văn minh Đông Sơn, điển hình nhất là những con chim Lạc bay ngược chiều kim đồng hồ trên trống đồng Ngọc Lũ. Dựa vào hình ảnh con chim Lạc ấy, nhưng Mai Chửng đã biến đổi đi, nên con chim sải cánh rất thực, chứ không phải chỉ là một đường lượn gợi ý, và người phụ nữ đứng trên mình con chim thì chỉ là một thành phần nhỏ của pho tượng, với tỉ lệ có lẽ chỉ khoảng chừng 1/10 của pho tượng. Mới chỉ là một đồ án phác thảo, đặt trên một mặt bàn với đường kính chừng hai thước, đã làm cho người xem ngây ngất vì một hấp lực thơ mộng, hoành tráng, và rất hiện đại”. Vẫn với những dòng chữ đanh thép, trong sự tiếc nuối, Huỳnh Hữu Ủy tiếp: “Định kiến chính trị và sự thù hằn giới tuyến đã làm đất nước mất đi một công trình nghệ thuật lớn. Nếu tượng đài này được dựng lên thì Việt Nam đã có một tượng đài chiến thắng có thể đủ lời lẽ để nói chuyện với thế giới, có thể đặt ngang với những tượng đài chiến thắng khắp nơi trên hành tinh, hòa nhập vào đời sống hiện đại mà vẫn là độc sáng của một nền văn hóa riêng biệt, với một ngôn ngữ và tâm hồn riêng bắt nguồn từ một quá khứ xa thẳm” (sđd, tr. 387-388).</p>



<p>Và còn nhiều nữa. Ở mỗi chương, Ngô Thế Vinh như vắt cạn tâm tư mình chia sẻ để mọi người nhìn thấy cảnh quan rồi tùy công tâm mà nhận xét hay tìm ra hướng đi cho chính mình. Cuốn sách có thể dùng làm tài liệu tham khảo, vì như ông đã có lần chia sẻ “bài viết có thể thiếu nhưng phần tư liệu thì cần chính xác và không thể sai”. <sup>[2]</sup></p>



<p>Nhớ xưa Vua Tự Đức (1829-1883) trong bài thơ chữ Hán “Quan Châm” (Khuyên kẻ làm quan) đã viết: <em>Di tử hoàng kim mãn doanh bất như nhất kinh</em> [Để lại cho con vàng đầy rương không bằng (để lại cho con) một quyển sách] <sup>[6]</sup>. Riêng nhà văn Ngô Thế Vinh, từ hơn hai năm nay ông liên tiếp cho ra ba tác phẩm song ngữ, <em>Mặt Trận Ở Sài Gòn</em> (Văn Học Press &amp; Việt Ecology Press 2020), <em>Vòng Đai Xanh</em> (Văn Học Press &amp; Việt Ecology Press 2020) và <em>Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch</em> (Việt Ecology Press 2021), hướng tới những thế hệ tương lai, chia sẻ những mối quan tâm, những trải nghiệm, cùng những thông điệp dấn thân, hy sinh, quên mình vì lợi ích của dân tộc như những thế hệ cha ông mà không nghĩ đến lợi ích riêng tư cho cá nhân hoặc gia đình của chính mình. Vì với ông, “Lớp Người Trẻ, như lực lượng tiên phong sẽ nhận lãnh trách nhiệm bảo vệ các hệ thống giá trị vĩnh hằng, những chuẩn mực về quyền của con người – mà bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền vẫn mãi là một thông điệp sống động khẳng định quyền người dân được sống trong tự do với đầy đủ phẩm giá và nhân cách” (sđd, tr. 350).</p>



<p>Điều này cũng được ông tiếp tục thể hiện trong Tuyển Tập Chân Dung II VHNT &amp; VH. Ông đã giới thiệu nhân vật chính cùng hoàn cảnh xã hội, văn hóa, chính trị, đan xen những dật sự, nếu có, trong thời đại của họ, nhờ đó bài viết thêm sinh động và những độc giả trẻ thích thú hiểu được thêm về nhân vật cùng lúc mở rộng tầm nhìn hơn. Ngoài đời, nhà văn Ngô Thế Vinh có mối quan hệ khá thân thiết với những nhân vật được ông giới thiệu, cộng thêm thân nhân và bạn bè, nên phần tư liệu rất phong phú với những hình ảnh, thủ bút quý hiếm.</p>



<p>Cuộc đời con người theo quy luật sinh, trụ, dị, diệt. “Với đời người như một cơn gió thoảng, với lịch sử chỉ là một chớp mắt, nhưng lại là một chặng đường rất dài trải nghiệm những tang thương. Thêm một chớp mắt nữa, thế hệ những người cầm bút 1954-1975 đều trở về với cát bụi” (sđd, tr. 419). Nơi đây xin được cảm tạ Nhà văn Ngô Thế Vinh đã giữ lại cho thế hệ sau những chân dung văn học nghệ thuật và văn hóa của miền Nam một thời vàng son lừng lẫy. Một cuốn sách rất nên được lưu giữ trong tủ sách của mỗi gia đình Việt Nam.</p>



<p><strong>Trần Thị Nguyệt Mai</strong></p>



<p><em>Tháng 3/2022</em></p>



<p>&#8212;&#8211;</p>



<p>Tham khảo:</p>



<p>[1] Tạ Tỵ – Ngô Thế Vinh: Mặt Trận Ở Sài Gòn (Sách song ngữ – Văn Học Press &amp; Việt Ecology Press – 2020), Lời Bạt – tr. 156</p>



<p>[2] Ngô Thế Vinh – Trả lời ba câu hỏi của Phùng Nguyễn:</p>



<figure class="wp-block-embed"><div class="wp-block-embed__wrapper">
https://www.diendantheky.net/2017/04/ngo-vinh-tra-loi-ba-cau-hoi-cua-phung.html
</div></figure>



<p>[3] Tạ Tỵ &#8211; Đáy Địa Ngục.</p>



<p>[4] <em>“Tôi muốn ngồi trên cây tràm như một con <strong>vượn người</strong>.”</em> – Trần Hoài Thư – Cảm tạ văn chương.</p>



<p>[5] Vũ Thư Hiên – Đêm Giữa Ban Ngày</p>



<p>[6] Bài thơ này được ban tặng cho ông Trần Hưng Nhượng, nguyên Lang trung tại bộ Hộ, đảm nhận nhiệm vụ Thanh sứ tại Ty Thanh Lại Nam Kỳ (sứ thần thừa lệnh nhà vua đi thanh tra để giữ sự thanh liêm cho quan lại các tỉnh phía nam Kinh thành). Theo Phú Bình – Hai bài ngự chế của vua Tự Đức, báo Quảng Nam online:</p>



<p><a href="https://baoquangnam.vn/van-hoa-van-nghe/hai-bai-ngu-che-cua-vua-tu-duc-261.html">https://baoquangnam.vn/van-hoa-van-nghe/hai-bai-ngu-che-cua-vua-tu-duc-261.html</a></p>



<p>*</p>



<p>Sách đã được phát hành tháng 2/2022<br><a href="http://vietecologypress.blogspot.com/">Việt Ecology Press</a><br>ISBN # 9781990434181<br><a href="https://www.amazon.com/dp/1088025714">www.amazon.com</a>, các hiệu sách<br>P.O. Box 3893, Seal Beach, CA 90740</p>



<p>*</p>



<p>Ghi thêm:</p>



<p>Nếu đang ở tại Hoa Kỳ,</p>



<p>bạn có thể đặt mua bộ sách này qua Barnes and Noble</p>



<p>bìa cứng in màu với giá rất đặc biệt.</p>



<p><a href="https://www.barnesandnoble.com/w/ch-n-dung-van-h-c-ngh-thu-t-van-h-a-ngo-the-vinh/1132322811" target="_blank" rel="noreferrer noopener">Tuyển Tập Chân Dung I</a></p>



<p><a rel="noreferrer noopener" href="https://www.barnesandnoble.com/w/ch-n-dung-van-h-c-ngh-thu-t-van-h-a-t-p-2-ngo-the-vinh/1141093159" target="_blank">Tuyển Tập Chân Dung II</a></p>



<div style="height:500px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>©T.Vấn 2022</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Vương Tr&#249;ng Dương: V&#242;ng Đai Xanh, T&#225;c Phẩm Qua C&#225;c Nhận Định</title>
		<link>https://t-van.net/vuong-trng-duong-vng-dai-xanh-tc-pham-qua-cc-nhan-dinh/</link>
					<comments>https://t-van.net/vuong-trng-duong-vng-dai-xanh-tc-pham-qua-cc-nhan-dinh/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Vương Trùng Dương]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 25 Jan 2021 06:31:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[giới thiệu ngô thế vinh]]></category>
		<category><![CDATA[vòng đai xanh]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=47623</guid>

					<description><![CDATA[Nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hòa số 134, tháng 10, 2020 đăng bài viết: Đọc sách “Mặt Trận Ở Sài Gòn” của Ngô Thế Vinh của Nguyễn Văn Tuấn. Trong phần Lời Tòa Soạn đã nhắc đến tác phẩm Vòng Đai Xanh (VĐX) của nhà văn Ngô Thế Vinh, nhà xuất bản Thái Độ ấn [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2021/01/clip_image002.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" class="" style="margin-right: auto; margin-left: auto; float: none; display: block; background-image: none;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2021/01/clip_image002_thumb.jpg?strip=all&fit=247%2C189" alt="clip_image002" width="247" height="189" border="0" /></a></p>
<p><em>Nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hòa số 134, tháng 10, 2020 đăng bài viết: Đọc sách “Mặt Trận Ở Sài Gòn” của Ngô Thế Vinh của Nguyễn Văn Tuấn. Trong phần Lời Tòa Soạn đã nhắc đến tác phẩm Vòng Đai Xanh (VĐX) của nhà văn Ngô Thế Vinh, nhà xuất bản Thái Độ ấn hành năm 1970 được giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc năm 71. Đây là tác phẩm thứ tư sau Mây Bão (1963), Bóng Đêm (1964), Gió Mùa (1965) từ thời sinh viên y khoa. Tác phẩm VĐX nầy đã gây xôn xao trong giới cầm bút ở Sài Gòn và giới chức chính quyền vì nhận thức khác nhau vào thời điểm đó. </em></p>
<p><em>Tốt nghiệp Y Khoa năm 1968, Ngô Thế Vinh, bác sĩ trưng tập, gia nhập quân y, phục vụ tại binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt và sau đó giữ chức vụ Y Sĩ Trưởng Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù.</em></p>
<p><em>Nhà văn Trang Châu, tác giả bút ký Y Sĩ Tiền Tuyến, tác phẩm được trao giải Giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc 1969; Tốt nghiệp Y Khoa năm 1966, bác sĩ trưng tập, phục vụ trong binh chủng Nhảy Dù. </em></p>
<p><em>Đầu thập niên 60, nguyệt san Tình Thương của sinh viên Đại Học Y Khoa Sài Gòn không thuần túy về lãnh vực chuyên môn mà với những bài viết văn học nghệ thuật rất giá trị. Hai con chim đầu đàn của tờ Tình Thương là Trang Châu và Ngô Thế Vinh, được 4 năm thì bị đóng cửa vào năm 1966 vì lý do chính trị.</em></p>
<p><em>(Giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc là giải thưởng do Phủ Tổng Thống trao tặng nên còn gọi là Giải Văn Chương Tổng Thống. Sau năm 1970, Giải này do Phủ Quốc Vụ Khanh Đặc Trách Văn Hóa tổ chức. Có các bộ môn tranh giải tùy theo năm về Hội Họa, Âm Nhạc, Điện Ảnh, Thơ, Truyện (truyện ngắn truyện dài)…</em></p>
<p>*</p>
<p>Sau 1975, Ngô Thế Vinh bị 3 năm tù ở Suối Máu, Trảng Lớn, Phước Long, Bù Gia Mập&#8230; Ra tù, về Sài Gòn, thời gian sau trở lại làm việc tại Trung Tâm Phục Hồi Bà Huyện Thanh Quan và Vật Lý Trị Liệu Sài Gòn. Năm 1983 được định cư tại Hoa Kỳ (vợ vượt biên và bảo lãnh).</p>
<p>Trong thời gian ở Sài Gòn, anh là chứng nhân của giai đoạn lịch sử nên khi ở Hoa Kỳ, ấn hành tuyển tập Chân Dung Văn Học Nghệ Thuật &amp; Văn Hóa gồm 18 chân dung (có Cao Xuân Huy &amp; Phùng Nguyễn được biết sau nầy). Và, hai tác phẩm Cửu Long Cạn Dòng Biển Đông Dậy Sóng, Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch như lời cảnh báo mà hiện nay đang xảy ra.</p>
<p>Cuốn sách Y Sĩ Tiền Tuyến Nghiêm Sỹ Tuấn – Người Ði Tìm Mùa Xuân của một nhóm tác giả do Ngô Thế Vinh chủ biên, được ra mắt vào đúng ngày 30 tháng Tư năm 2019. Qua những tác phẩm của Ngô Thế Vinh thể hiện tấm lòng của anh với chiến hữu, đồng nghiệp và quê hương trải qua bao giai đoạn thăng trầm của lịch sử.</p>
<p>Tác phẩm Vòng Đai Xanh được tái bản lần thứ nhất tại hải ngoại vào năm 1986. Tác phẩm được dịch qua tiếng Anh dưới tựa đề The Green Belt (Ivy House Publishing Group 2004). Lần tái bản nầy Vòng Đai Xanh &#8211; The Green Belt &#8211; Bilingual Viet/English, do Văn Học Press &amp; Việt Ecology Press ấn hành. Sách dày 448 trang. Phần tiếng Việt có 245 trang. Gồm 20 chương và các bài viết về tác giả, tác phẩm. Phần tiếng Anh từ trang 257 qua bản dịch của Nha Trang &amp; William L. Pensinger.</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2021/01/clip_image004-1.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="margin-right: auto; margin-left: auto; float: none; display: block; background-image: none;" title="clip_image004" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2021/01/clip_image004_thumb-50x50.jpg?strip=all" alt="clip_image004" width="354" height="249" border="0" /></a></p>
<p>Theo lời nhà xuất bản Văn Học Press đã giới thiu tổng quát về tác phẩm “… Cuốn sách viết về số phận bi đát của những người Thượng sống trên vùng đất mà ngày nay gọi là Tây Nguyên. Sẵn có mối mâu thuẫn với người Kinh, cộng thêm chính sách “Dinh Điền” đầy bất công dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa, người Thượng giang rộng vòng tay đón nhận sự trợ giúp của đoàn quân Mũ Xanh Mỹ với niềm hy vọng thiết lập một quốc gia Đông Sơn riêng biệt, hoặc chí ít một vùng đất tự trị bao gồm gần 30 sắc dân khác nhau sinh sống trên suốt dải đất miền cao đó. Giấc mơ của họ đã bị đập tan không thương tiếc, một phần vì họ đã quá ngây thơ…</p>
<p>… Khi chấp nhận cộng tác với lính Mũ Xanh, những người Thượng hiểu rõ họ đã trở thành thù địch của phe Cộng, và khi bị phe lính Mũ Xanh bỏ rơi, thật mau chóng và dễ dàng họ biến thành miếng mồi ngon cho phe Cộng, và đối với phe Cộng hình phạt nhẹ nhất cho kẻ phản bội là chặt đầu, ném xác xuống suối! Nặng hơn thì cả một buôn bản bị tàn sát, không chừa một mống dù là con vật…”</p>
<p>Và, tác hại đắng cay của người Thượng:</p>
<p>“… Sau khi Cộng Sản chiếm trọn miền Nam năm 1975, hàng chục ngàn người Thượng đã bị lùa vào các “trại cải tạo,” lãnh tụ bị hành quyết, buôn bản cô lập, từng đoàn người già trẻ lớn bé phải vượt đường bộ tìm lẽ sống qua cái chết sang tị nạn tại các quốc gia láng giềng. Sự ngược đãi tưởng như chưa sắc dân nào trên thế giới chịu đựng nhiều hơn. Thậm chí gần đây, làn sóng người Thượng tị nạn từ Việt Nam sang Campuchia vẫn không ngưng, mà chỉ chậm lại khi chính quyền Campuchia ra lệnh trao trả lại Việt Nam những người tị nạn đó.</p>
<p>Bởi thế tính thời sự của cuốn tiểu thuyết Vòng Đai Xanh không hề suy giảm. Nó vẫn nóng bỏng với những chất vấn cho lương tâm nhân loại ở kỷ nguyên hiện đại này”.</p>
<p>Qua hai lần tái bản Vòng Đai Xanh, ghi lại tiêu biểu những dòng chia sẻ, nhận định của các vị thức giả và đồng nghiệp về tác phẩm:</p>
<p>* BS Trần Ngọc Ninh, GS đại học Y Khoa Sài Gòn, Tổng Trưởng Văn Hóa Xã Hội đặc trách Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa,: “Vòng Đai Xanh là một công trình của lương tâm và dấn thân can đảm. Ngay khi xuất bản lần đầu tiên, cuốn sách đã được giới trí thức miền Nam đón nhận rộng rãi và tán thưởng nhưng đồng thời cũng bị chính quyền miền Nam lên án là phá hoại…</p>
<p>… Đối với người Việt, thì thảm kịch của thời đại chúng ta là mọi cuộc chiến tranh hôm nay và cả trong tương lai đều mang mầm mống hủy hoại mà Vòng Đai Xanh như một điển hình đa diện và ở nhiều mức độ khác nhau. Những sắc dân Thượng ấy đã không có tiếng nói. Đến bao giờ thì ‘tiếng nói thầm lặng’ của họ mới thực sự được lắng nghe?”</p>
<p>* Mặc Đỗ, nhà văn, nhà nghiên cứu cùng Nghiêm Xuân Hồng, Vũ Khắc Khoan thành lập nhóm Quan Điểm, và thành viên sáng lập tờ nhật báo Tự Do đầu tiên ở Miền Nam: “Trong cơn lốc bão táp của cuộc chiến tranh Việt Nam đang bị sa lầy, các nhà quan sát như thành phần liên hệ đã đưa ra những quan điểm thiên lệch. Ngô Thế Vinh đã trực tiếp tham dự và Vòng Đai Xanh đã cống hiến chúng ta tất cả những sự kiện”.</p>
<p>* Theo Gerald C. Hickey, tác giả Free in the Forest, Ethnohistory of the Vietnamese Central Highlands, 1954-1976</p>
<p>“Tôi đọc Vòng Đai Xanh với nhiều quan tâm. Cuốn sách đã gợi lại ký ức về Cao Nguyên vào những năm 60 và cả những biến cố liên quan tới Phật Giáo và sinh viên cũng trong giai đoạn bất an đó. Rõ ràng là tác giả Ngô Thế Vinh đã hiểu biết rất rõ về các sắc dân Thượng cùng với những nguyện vọng của họ giữa và sau cuộc chiến tranh. Những tin tức hiện nay mà tôi nhận được từ Cao Nguyên thật đáng buồn. Người Thượng đang phải đối đầu với những mối đe dọa tệ hại hơn bao giờ hết trên nếp sống của họ. Cũng như người Pháp trước đây, người Mỹ đã dùng người Thượng và sau đó đã lạnh lùng bỏ rơi họ. Điều mà người ta có thể làm là cố gắng tạo mối quan tâm từ các nhà lãnh đạo Mỹ ở Hoa Thịnh Đốn. Hy vọng và vẫn chỉ là hy vọng”.</p>
<p>* Theo Oscar Salemink, tác giả The Ethnography of Vietnam’s Central Highlanders: “Tôi rất xúc cảm về những hiểu biết, tầm nhìn xa và mối từ tâm mà Ngô Thế Vinh đã dàn trải trong Vòng Đai Xanh, cuốn sách được viết từ hơn 30 năm trước. Mặc dầu là một tiểu thuyết nhưng nhiều biến cố mang ‘dấu ấn lịch sử’ và một số nhân vật thì như là rất thật. Đối với những phe phái liên hệ, qua những biến động và nghịch cảnh, thì các sắc dân Thượng luôn luôn là hình ảnh nạn nhân của các chính sách và những cuộc tranh chấp.</p>
<p>* Jose Quiroga, Giám Đốc Chương Trình Các Nạn Nhân Bị Tra Tấn, Los Angeles: “Các sử gia, nhà báo, chính trị gia, các nhà quân sự và tiểu thuyết gia đã viết nhiều sách về cuộc chiến tranh Việt Nam. Vòng Đai Xanh là một tiểu thuyết mạnh mẽ, lôi cuốn và đặc sắc do một y sĩ nhà văn viết ra, về những tác hại của cuộc chiến tranh trên con người đặc biệt trên thiểu số những người Thượng sống trên các vùng Cao nguyên Trung phần Việt Nam và họ là nạn nhân của sự kỳ thị. Do vùng đất ấy vốn là địa bàn chiến lược trong cuộc chiến khiến cho cuộc sống vốn thanh bình của những người Thượng đã bị biến đổi vĩnh viễn. Các điều kiện nhân quyền của những nhóm người Thượng thiểu số cần được sự quan tâm của quốc tế.</p>
<p>* Nhà văn Nhật Tiến: “Đọc Vòng Đai Xanh, để thấy từ hơn ba thập niên trước, Ngô Thế Vinh đã vẽ lại khung cảnh một Cao Nguyên Trung phần Việt Nam với tất cả những khía cạnh bi thảm trong thời chiến, đã phơi bày đâu là cội nguồn của sự bất an và soi rọi ánh sáng của từ tâm vào thân phận của các sắc dân Thượng. Trên 30 năm đã trôi qua, tình cảnh của người Thượng hầu như không đổi khác nếu không muốn nói là tồi tệ hơn. Thế giới bên ngoài hầu như vẫn chưa nhận ra hết hệ quả của những định kiến sai lầm vốn đã góp phần vào những thảm kịch đó.”</p>
<p>* Nhà văn Phan Nhật Nam: “Nỗi đau thương của đất và người – người Việt Nam, người sắc tộc thiểu số ở Tây Nguyên luôn giữ nguyên sắc đột từ bao đời nay. Vận mệnh nước Việt miên Nam chỉ trong vòng 50 năm qua đã được quyết định từ những lần thất thủ, bỏ mất Tây Nguyên. Với tấc lòng tha thiết trung hậu, từ viễn kiến sắc sảo của kẻ sĩ dụng văn, Ngô Thế Vinh trong những năm xa xôi, lúc tuổi còn rất trẻ, đã thấy ra điều bất hạnh của 29 sắc dân thiểu số, viết nên cuốn sách về một vòng đai không hề nối kết được ở Tây Nguyên, “về một cuộc chiến bị lãng quên giữa chiến tranh Việt Nam, được nhắc nhở nhiều nhất trong lịch sử báo chí Mỹ”.</p>
<p>* Nguyễn Sa Mai, Wordbridge Magazine: “Vòng Đai Xanh không phải là một tường thuật về cuộc chiến tranh Việt Nam, một cuộc chiến tranh hao mòn đối với các phe tham chiến cho tới ngày sụp đổ của miền Nam Việt Nam năm 1975. Vòng Đai Xanh thực chất là chứng nhân cho nỗi thống khổ của con người nói chung, và cho cuộc đấu tranh sinh tồn của các dân cư trong cuộc chiến tranh ấy. Tác giả gọi đó là “cuộc chiến bị lãng quên” với những người Thượng trên Cao Nguyên Trung phần Việt Nam hoàn toàn không được bảo vệ, họ điển hình là những nạn nhân chiến tranh bị kẹt giữa hai làn đạn và không có lối thoát”.</p>
<p>* Ánh Nguyệt, Radio France Internationale: “Có lẽ Vòng Đai Xanh là một trong những tác phẩm hiếm hoi đã tìm kiếm và soi rọi căn nguyên cuộc chiến đấu của những sắc tộc thiểu số ở Tây nguyên . Ít ai nhìn thấy bên trong cái vẻ chất phác của những con người sống gần và sống với thiên nhiên ấy là niềm khao khát tự trị, tự do, giống như một ngọn lửa cháy mãi từ bao nhiêu năm qua mà không cơn cuồng phong nào dập tắt hẳn được. Nhưng khát vọng ấy nếu không bị vùi dập cũng đã bị bao nhiêu thế lực lợi dụng và, cho đến ngày nay tình thế của nguời Thượng vẫn không thay đổi.</p>
<p>… Vòng Đai Xanh vừa là cái nhìn tỉnh táo của một nhà quan sát, vừa là cảm xúc của một nguời cầm bút, là tấm lòng của một con người đối với con người bị áp bức, kém may mắn hơn mình về mọi mặt. Không chỉ ba mươi năm trước mà cho đến mãi mãi về sau, Vòng Đai Xanh vẫn xứng đáng là một tiểu thuyết tiêu biểu của một cuộc chiến đấu dai dẵng vì một khát vọng chính đáng”.</p>
<p>* GS Nguyễn Văn Tuấn, Garvan Institute, Sydney Australia: “Vòng Đai Xanh không phải chỉ là tiêu đề của cuốn tiêu thuyết, đó là một ý niệm quân sự từ Ngũ Giác Đài trong thời kỳ Chiến Tranh Lạnh nhằm ngăn chặn sự bành trướng của Cộng Sản trên toàn thế giới. Những đơn vị Mũ Xanh đã được thành lập với nhiệm vụ xâm nhập vào các cộng đồng sắc tộc thiểu số trên các vùng rừng núi cao nguyên, trong đó có Việt Nam nhằm biến những người Thượng thành những lực lượng quân sự có khả năng ngăn chặn sự xâm nhập của Bắc quân vào miền Nam Việt Nam, hay nói một cách khác họ tìm cách thiết lập một vòng đai xanh nhằm ngăn chặn cộng quân.</p>
<p>… Quyền lợi của người Mỹ không nhất thiết liên quan tới quyền lợi của người Thượng. Đó cũng là tấn thảm kịch khi quá lệ thuộc vào quyền lực ngoại bang. Vòng Đai Xanh viết về tấn thảm kịch ấy.</p>
<p>Mặc dầu tiểu thuyết Vòng Đai Xanh đề cập tới tấn thảm kịch của người Thượng ở Cao Nguyên trong cuộc chiến tranh Việt Nam, nhưng vẫn có thoáng xen kẽ vào đó là chuyện tình giữa một nhà báo và một cô gái thành thị trung lưu rất Tây phương và học thức có tên Như Nguyện. Câu chuyện tình ấy được kể bằng một ngôn ngữ rất tượng trưng và rất thơ mộng.</p>
<p>Vòng Đai Xanh sẽ giúp ích cho những ai muốn tìm hiểu về một ‘khía cạnh khác ít biết’ về giai đoạn can thiệp quân sự của người Mỹ ở Việt Nam”.</p>
<p>* Nhà văn Hoàng Mai Đạt: “Vòng Đai Xanh vẫn để lại trong người đọc một nỗi buồn về thân phận các dân tộc thiểu số trên Cao nguyên Việt Nam. Thân phận của họ đã bị dày xéo giữa các thế lực trong chiến tranh cũng như sau thời chiến. Sự tồn tại của dân tộc Thượng đang mỗi lúc một bi thảm hơn, bước dần tới sự diệt vong trong thế kỷ này. Ngô Thế Vinh đã viết Vòng Đai Xanh với phân tích thời sự trong thập niên 60 qua đôi mắt của một bác sĩ chuyên nghiệp, ông cũng viết tác phẩm này với lương tâm của một nhà văn”.</p>
<p>* Nhà văn Nguyễn Quốc Trụ, người bạn vong niên, trong bài viết Đỉnh Cồn, Vòng Đai Xanh, ghi nhận: “Thật kỳ cục, đọc Vòng Đai Xanh, tôi vẫn có cảm giác đây là một cuốn biên khảo, một thứ khảo cổ học (archeology), được sử dụng theo nghĩa của Michel Foucault, không họ hàng gì với địa chất học (geology), hoặc phả hệ học (genealogy). Ở đây là khảo cổ học về nguồn gốc một cuộc chiến (trong một cuộc chiến). Hoặc có thể coi đây là chương mở đầu của một trường thiên tiểu thuyết về cuộc chiến Việt Nam”.</p>
<p>* Tâm tình Ngô Thế Vinh qua Vòng Đai Xanh của Lại Mạnh Cường trong giới Y Khoa, trích đoạn: “Trong vai trò một chứng nhân lịch sử có ý thức thật cao, Ngô Thế Vinh mượn các nhân vật trong Vòng Đai Xanh như một diễn đàn, để phân tích thời cuộc tại Tây Nguyên thật sâu sắc. VĐX làm nhiệm vụ &#8220;cái móc áo&#8221;, để tác giải diễn đạt tâm tư thầm kín của mình trước tình thế dầu sôi lửa bỏng của quê hương và dân tộc.</p>
<p>… Trong VĐX tác giả nhiều lần dẫn chứng thái độ không nên không phải của người Mỹ đối với phía VN. Người Mỹ thường nói xấu đồng minh thân thiết nhất của mình. Họ chê bai, dè bỉu phía VN vừa lười vừa hay ăn hối lộ, ăn chặn tiền viện trợ&#8230; Cố vấn Mỹ lại thường tỏ thái độ trịch thượng, thích bắt chẹt khi phía VN nhờ vả trong bất cứ chuyện gì, kể cả khi cứu trợ nạn nhân chiến cuộc. Đã thế họ còn gieo tiếng xấu cho phía VN…”</p>
<p>*</p>
<p>Năm 1969, tôi về phục vụ tại Tiểu Đoàn 20 CTCT, biệt phái làm Trưởng Ban Điều Hành của Trung Tâm Hành Quân Tâm Lý Chiến Vùng II Chiến Thuật nên có cơ hội đi khắp vùng cao nguyên. Vì ở nơi nầy nên nghe đề cập đến phong trào Fulro nổi dậy rất mạnh ở Cao Nguyên.</p>
<p>Dưới thời Vua Bảo Đại, người Thượng được hưởng quy chế tự trị hưởng đặc quyền, đất của họ được gọi là “Hoàng Triều Cương Thổ”. Nhưng dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, họ bị tước mất các quyền nói trên, nên họ nổi dậy phong trào mệnh danh là “Thượng Tự Trị”, khởi đầu từ năm 1957; và những năm sau cũng là thời cơ cho Thượng cộng tuyên truyền, khích động lòng hận thù đối với người Kinh qua các vụ thảm sát thân nhân sĩ quan VNCH và cả thường dân.</p>
<p>Trung Tướng Vĩnh Lộc, Tư Lệnh Quân Đoàn II thuyết phục đồng bào Thượng, hỗ trợ đời sống đồng bào Thượng từ phương tiện di chuyển đến y tế, trường học… và bổ nhiệm các nhân vật người Thượng vào cơ quan công quyền. Là vị Tướng có công thu phục phong trào Fulro trong giai đoạn đó.</p>
<p>Lực Lượng Đặc Biệt (LLĐB &#8211; ARVNSF) đơn vị quân sự tinh nhuệ của Quân Lực VNCH nhưng sau những biến động chính trị nên bị giải tán.</p>
<p>Khi Mỹ hỗ trợ Lực Lượng Đặc Biệt (Special Forces) chỉ là tổ chức Dân Sự Chiến Đấu (CIDG &#8211; Civilian Irregular Defense Group) gồm toàn người Thượng cao nguyên. LLĐB được Mỹ huấn luyện, vũ trang, cung cấp quân nhu, tổ chức thành đơn vị đồn trú tại một số trại lớn rải rác ở miền núi, hành quân dọc theo biên giới giữa cao nguyên Việt Miên Lào. Mỗi trại được đặt dưới quyền chỉ huy của một số sĩ quan Quân Lực VNCH và một số sĩ quan Cố Vấn Hoa Kỳ… Khoảng tháng 9/1969, xảy ra chuyện đổi tiền đô la đỏ, chị tôi nhờ đổi giùm và quen với sĩ quan ở C2 LLĐB đồn trú ở Pleiku, gần Quân Đoàn, tôi mới biết thêm về binh chủng nầy.</p>
<p>Vì vậy khi tác phẩm Vòng Đai Xanh vừa ấn hành, tôi đọc rất thích vì tìm hiểu thêm về vai trò LLĐB và người Thượng cao nguyên trong thời chiến tranh.</p>
<p>Khi đọc tờ Bách Khoa (6/1972) nhà văn Ngô Thế Vinh cho biết: “Tôi đã phải tự cắt xén đi gần một nửa số trang của cuốn sách. Đó gần như một sự phá hỏng tác phẩm với mục đích để được xuất bản…</p>
<p>… Thoạt tiên anh Thế Nguyên chủ trương nhà Trình Bày, nhận xuất bản. Sau anh chịu thua kiểm duyệt. Anh Thế Uyên chủ trương nhà Thái Độ lại nhảy vào vòng tranh đấu và anh kiên nhẫn làm đơn từ lên xuống mãi, rồi sau cùng thì kiểm duyệt nhượng bộ, Thế Uyên thành công và Vòng Đai Xanh được ra đời sau những hậu thuẫn nhiệt thành của các anh em cầm bút trên báo chí”.</p>
<p>Lúc đó, cảm nhận lối hành văn qua bút ký của tác giả lôi cuốn người đọc vào tác phẩm, sự trăn trở, tình cảm sâu xa của tác giả của người Thượng, sự ngạo mạn của sĩ quan Mỹ Green Beret… Có lẽ điều đó bị kiểm duyệt vì sợ đụng chạm đến người bạn Đồng Minh.</p>
<p>Sau nầy khi đọc tác phẩm Khi Đồng Minh Tháo Chạy của TS Nguyễn Tiến Hưng, hồi tưởng lại trong Vòng Đai Xanh viết thời trai trẻ với tầm nhìn quá già dặn, xuất sắc.</p>
<p>Nhận được tác phẩm Vòng Đai Xanh &#8211; The Green Belt vừa mới ấn hành do tác giả gửi tặng. Qua email, Việt Hải khơi dòng:</p>
<p>“Nguyên thủy Vòng Đai Xanh không phải chỉ là một tác phẩm xếp dưới dạng loại tiểu thuyết, mà chính ra nó là một tập sách về thời cuộc, dạng xã hội chính trị, loại biên khảo sử liệu giữa nhiều yếu tố như người Thượng cao nguyên sống giữa 3 thế lực: người Mỹ, CS Bắc Việt và VNCH. Sách chỉ qua được sự kiểm duyệt của Bộ Thông Tin, nếu sách được trình bày như một cuốn tiểu thuyết. Bởi lẽ vì những yếu tố ‘nhậy cảm’ bên ‘phe ta’ cần những giới hạn ‘phải giới hạn’. Cho nên tác giả phải ‘ngụy trang’ sách như truyện tiểu thuyết. Khi ta nghiên cứu lịch sử hay chấp bút biên khảo môn nhân chủng về một sắc dân bị đè nén, bị thiệt thòi (có thể bị diệt chủng chẳng hạn), yếu tố công minh tôn trọng sự thật rất cần thiết đối với tình huống cho ngòi bút bị giới hạn bởi sự nhiêu khê, khi ta phải chọn lựa giữa 2 điều khó xử (dilemma of choices). Đề tài trong tác phẩm đã được tác giả nêu ra khéo léo về sự thiệt thòi của người Thượng đáng thương hại, nạn cửa quyền tham ô ăn chận viện trợ của quan ta, nạn hống hách của quan Mỹ, và sự tàn ác của CS.</p>
<p>… Đoc Vòng Đai Xanh tôi trân quý tác phẩm, tôi muốn tôn vinh ngòi bút Ngô Thế Vinh. Ra trường y khoa, một bác trẻ từ bỏ cuộc sống sung sướng của thủ đô với ánh đèn màu, tình nguyện gia nhập binh chủng tác chiến với màu áo camouflage, LLĐB trấn đóng nơi vùng Tam Biên, đèo heo hút gió ở khu vực Tam Giác Vàng, giữa 3 biên giới. Trong thời tiết khắt nghiệt chịu đựng giá rét mưa rào, địa thế ngã ba Đông Dương, giao điểm tiếp giáp Kon Tum (Việt Nam), Attapeu (Lào) và Rattanakiri (Campuchia). Người lính trận chịu đựng những gian nguy, khổ cực. Bao nhiêu người muốn như vậy?”.</p>
<p>Việt Hải nói tôi viết về Vòng Đai Xanh trong tình thế hiện nay… Khởi đầu Chương III, tác giả viết: “Trên khắp cao nguyên tôi ít thấy những người lính Mỹ nói tốt về các đồng minh Việt Nam của họ. Đó cũng là một lối diễn tả được coi là nhẹ nhất khi nói về mối ác cảm của dư luận báo chí Mỹ đối với những khó khăn Kinh Thượng ở cao nguyên…</p>
<p>… Thật không phải lúc khi chúng tôi đang đứng ở một cứ điểm nóng nhất của cuộc chiến tranh để nghĩ vẩn vơ về một dư luận bên trời Âu hay ở tận nước Mỹ”.</p>
<p>Từ cứ điểm nóng nhất ở đồi Delta năm 1969 đến nay đã hơn nửa thế kỷ ở Little Saigon, báo chí Mỹ hay truyền thông Mỹ đã đánh mất vai trò khách quan, trung thực, chính xác mà John Hohenberg, giáo sư báo chí của Đại Học Columbia đề cập trong quyển The Professional Journalist. Truyền thông bây giờ càng ngày càng đi vào vũng lầy của dư luận, phe nhóm, đê tiện, dựng chuyện, Fake News… chửi bới lung tung, hạ cấp.</p>
<p>Với tác phẩm Vòng Đai Xanh, nếu tôi viết cũng là sự trùng lặp những dòng chia sẻ, nhận xét của nhiều cây bút đã nêu trên.</p>
<p><i>Little Saigon, Jan 23, 2021</i></p>
<p><b>Vương Trùng Dương</b></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/vuong-trng-duong-vng-dai-xanh-tc-pham-qua-cc-nhan-dinh/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Đi tìm sự yên tĩnh với “Mặt Trận Ở Sài Gòn”</title>
		<link>https://t-van.net/di-tim-su-yen-tinh-voi-mat-tran-o-sai-gon/</link>
					<comments>https://t-van.net/di-tim-su-yen-tinh-voi-mat-tran-o-sai-gon/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[TV và BH]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 12 Sep 2020 05:23:13 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Ghi Chép]]></category>
		<category><![CDATA[giới thiệu ngô thế vinh]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=44590</guid>

					<description><![CDATA[(Nguồn: Sáng Tạo) Hoàng Ngọc Nguyên Trong những ngày đang phải cố thủ tại gia một cách tuyệt vọng trước “kẻ thù vô hình” Corona virus giăng mắc, phong tỏa nơi nơi, “Mặt Trận Ở Sài Gòn” là một nguồn quên lãng lớn cơn đại dịch này. Trước hiện tại đang thêm phần đen tối [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="posttitle"></div>
<div class="entry">
<p><a href="https://vanhocnghethuat.files.wordpress.com/2020/09/bia_mat_tran_o_saigon.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" class="size-medium wp-image-127179 aligncenter" src="https://vanhocnghethuat.files.wordpress.com/2020/09/bia_mat_tran_o_saigon.jpg?w=193&amp;h=300" sizes="(max-width: 193px) 100vw, 193px" srcset="https://vanhocnghethuat.files.wordpress.com/2020/09/bia_mat_tran_o_saigon.jpg?w=193&amp;h=300 193w, https://vanhocnghethuat.files.wordpress.com/2020/09/bia_mat_tran_o_saigon.jpg?w=386&amp;h=600 386w, https://vanhocnghethuat.files.wordpress.com/2020/09/bia_mat_tran_o_saigon.jpg?w=97&amp;h=150 97w" alt="" width="193" height="300" data-attachment-id="127179" data-permalink="https://sangtao.org/2020/09/07/di-tim-su-yen-tinh-voi-mat-tran-o-sai-gon/bia_mat_tran_o_saigon/" data-orig-file="https://vanhocnghethuat.files.wordpress.com/2020/09/bia_mat_tran_o_saigon.jpg" data-orig-size="400,621" data-comments-opened="0" data-image-meta="{&quot;aperture&quot;:&quot;0&quot;,&quot;credit&quot;:&quot;&quot;,&quot;camera&quot;:&quot;&quot;,&quot;caption&quot;:&quot;&quot;,&quot;created_timestamp&quot;:&quot;0&quot;,&quot;copyright&quot;:&quot;&quot;,&quot;focal_length&quot;:&quot;0&quot;,&quot;iso&quot;:&quot;0&quot;,&quot;shutter_speed&quot;:&quot;0&quot;,&quot;title&quot;:&quot;&quot;,&quot;orientation&quot;:&quot;0&quot;}" data-image-title="bia_mat_tran_o_saigon" data-image-description="" data-medium-file="https://vanhocnghethuat.files.wordpress.com/2020/09/bia_mat_tran_o_saigon.jpg?w=193" data-large-file="https://vanhocnghethuat.files.wordpress.com/2020/09/bia_mat_tran_o_saigon.jpg?w=400" /></a></p>
<p>(Nguồn: Sáng Tạo)</p>
<p><strong>Hoàng Ngọc Nguyên</strong></p>
<p>Trong những ngày đang phải cố thủ tại gia một cách tuyệt vọng trước “kẻ thù vô hình” Corona virus giăng mắc, phong tỏa nơi nơi, “Mặt Trận Ở Sài Gòn” là một nguồn quên lãng lớn cơn đại dịch này. Trước hiện tại đang thêm phần đen tối không chỉ vì đại dịch Cô-Vy và nạn suy thoái/ lạm phát mà chủ yếu vì một chính tình thối nát, có khi người ta phải đi vay mượn một vài tia sáng từ quá khứ để có thể ngày qua ngày. Những câu chuyện cách đây cả 50 năm ở một nơi nay quá xa xôi bỗng dưng sống lại một cách da diết trong trí nhớ, trong con tim của mỗi chúng ta khi có “Mặt Trận Ở Sài Gòn” đặt đầu bàn ngủ (không phải gối đầu giường).<br />
<span id="more-127176"></span><br />
Tác phẩm này là một tuyển tập truyện ngắn, ấn bản 2020 là song ngữ Việt Anh, nhưng tôi vẫn xem đó cũng là một tuyển tập tạp bút, tạp ghi từ những đau nhức của một thời của thế hệ chúng tôi – thời đó chúng ta chỉ mới hăm mấy, ba mấy, nhưng nay đã bước qua tuổi cổ lai hi rồi. Thời gian có thể qua nhanh như vậy sao? Truyện ngắn ít nhiều vẫn có tính hư cấu (“truyện”), đặt chuyện từ mục đích của người viết muốn chuyển tải. Bởi vậy, có khi “truyện” có vẻ không thật và người xem sau khi gấp sách lại có thể nhún vai coi như xong.</p>
<p>Tạp bút thì nói lên những ghi nhận, suy tư, tâm trạng buồn vui, hoan hỉ, phẫn nộ của người viết từ những kinh nghiệm thực tế trong cuộc sống. Đối với một tác giả như Ngô Thế Vinh, cuộc sống từ thời thơ ấu đã từng trải từ bắc vô trung và vào nam; trường học đã đi từ Khải Định Huế đến Chu Văn An Sài Gòn, rồi trường Y Khoa; và những năm làm y sĩ tiền tuyến tại những chiến trường xa xôi, heo hút đẫm máu vùng Tam Biên (Việt-Miên-Lào) cho đến ngày mất nước… cuộc đời của ông đã thừa sự phong phú mà không cần vay mượn sự tưởng tượng.</p>
<p>Tạp ghi có lẽ là một thể loại thích hợp nhất cho Ngô Thế Vinh. Ông có đủ sự tự hào và tự tin về mình để nói lên và tìm cách diễn đạt những gì mình quan sát, nhận định, suy tư mà người nghe, người đọc có thể đón nhận. Mặt khác, ông cũng có đủ sự khiêm tốn cần thiết của một người hiểu được sự nhỏ bé, bất lực của con người trước “bể khổ mênh mông” mà “Nước mắt của Đức Phật” chỉ làm cho cái “nghiệp” của con người thêm đáng thương, đau buồn rõ ràng.</p>
<p>Rất nhiều người Sài Gòn trong những năm sau của thập kỷ 60 đã đọc tạp chí Tình Thương của sinh viên trường Y Khoa Sài Gòn, bởi vì trên mặt trận hỗn tạp của báo chí thời đó, Tình Thương không phải là một “sản phẩm thương mại”, nhưng lại có sức thu hút với người đọc đang tìm kiếm một tạp chí thể hiện những giá trị nhân bản tưởng như đang thất lạc trong cuộc sống đầy bất trắc. Ngô Thế Vinh từng ở trong ban biên tập, tổng thơ ký và chủ bút của tạp chí này, một nhịp cầu cho những bác sĩ tương lai đến với một xã hội thực sự tin “lương y như từ mẫu”. Chắc chắn Ngô Thế Vinh đã có những niềm tin, những đam mê lớn lắm mới cống hiến sức mình góp phần làm nên Tình Thương, và chính Tình Thương đổi lại đã góp phần định hướng cho anh suốt cả cuộc đời – đến với những người dân lành bị bỏ quên trong xã hội, hay những người lính ngoài trận địa chẳng mấy khi được những người hậu phương nhớ đến.</p>
<p>“Mặt Trận Ở Sài Gòn” là một tuyển tập gồm 12 “truyện bút ký”. Một nửa nói lên những trăn trở của một bác sĩ quân y ngoài tiền tuyến, đứng giữa làn tên mũi đạn, một nửa là những trăn trở của một người đã dấn thân vào việc tạo dựng một cuộc đời mới trên chốn “tạm dung” đất khách quê người, nhưng lại không đành để quá khứ lại đàng sau. Ít ra chỉ để nêu lên những câu hỏi cho dù câu trả lời càng ngày người ta càng không màng! Ít ra để có thể mơ mộng hão huyền – dù không xua tan được những ám ảnh như ác mộng – “Sẽ rực rỡ mùa thu này” với “Giấc mộng con năm 2000”.</p>
<p>Mười hai “truyện bút ký” (Mặt trận ở Sài Gòn, Nước mắt của Đức Phật, Dấu ngoặc lịch sử, Hòa bình không sớm hơn, Giấc mơ Kim Đồng, Chiến trường tạm yên tĩnh, Cựu Kim Sơn – chưa hề giã biệt, Một bức tường khác, In Retrospect – nhìn lại, Người y tá cũ, Sẽ rực rỡ mùa thu này, Giấc mộng con năm 2000) mang cùng văn phong (le style, c’est l’homme), kể chuyện nghe như những lời tâm tình, lúc cao giọng như phẫn nộ, lúc trầm tĩnh như buồn bã, thể hiện những trăn trở mà tác giả, một người trong cuộc, muốn chia sẻ và muốn được tin cậy đón nhận, cám cảnh, đồng tình.</p>
<p>Có thể Ngô Thế Vinh, với thói quen nghề nghiệp, ưa xem xét cặn kẽ mọi dấu hiệu, triệu chứng, và tìm cách giải thích hết mức khi chẩn bệnh. Nhưng cũng rõ ràng, là một quân nhân tiền tuyến, ông mang những tình cảm sâu đậm có tính cách ruột thịt với đồng đội, những người cùng vào sinh, ra tử, và là một lương y, ông đau đớn vô kể khi thấy đồng đội ngã xuống không kịp nhắm mắt tại những nơi hoang địa rừng núi sâu thẳm. Ngô Thế Vinh là y sĩ trưởng của Liên đoàn 81 Biệt Cách Dù. “Mặt trận ở Sài Gòn” đã thể hiện nơi anh con người của đồng đội, do đồng đội, vì đồng đội. Một tình đồng đội như chúng ta có thể thấy qua bức ảnh của Tình Thương, bốn sinh viên y khoa cùng các bạn đồng môn đảm trách tờ báo này mà thời đó tên tuổi chẳng phải xa lạ với dân Sài Gòn [Hình 1].</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://vanhocnghethuat.files.wordpress.com/2020/09/ngo_the_vinh-ban_huu_bao_tinh_thuong.png"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter" src="https://vanhocnghethuat.files.wordpress.com/2020/09/ngo_the_vinh-ban_huu_bao_tinh_thuong.png?w=300&amp;h=400" alt="" width="300" height="400" /></a><br />
Hình 1: <em> Toà báo SVYK Tình Thương 113 Nguyễn Bỉnh Khiêm Sài Gòn (1965).</em><br />
Từ trái: <em>Bùi Thế Hoành, Trang Châu, Ngô Thế Vinh, Phạm Đình Vy</em> [tư liệu Ngô Thế Vinh]</p>
<p>Hay bức ảnh của những sĩ quan trong đơn vị Biệt Cách: Trung úy Nguyễn Sơn (liên toán trưởng các toán thám sát), Trung úy Nguyễn Ích Đoan (đại đội trưởng Đại đội 1 Xung kích), Y sĩ Trung úy Ngô Thế Vinh, Trung úy Nguyễn Hiền, sĩ quan Ban 2 [Hình 2].</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://vanhocnghethuat.files.wordpress.com/2020/09/ngo_the_vinh-chien_huu_biet_cach_du.png"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter" src="https://vanhocnghethuat.files.wordpress.com/2020/09/ngo_the_vinh-chien_huu_biet_cach_du.png?w=400&amp;h=233" alt="" width="400" height="233" /></a><br />
Hình 2: <em>Hành quân Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù, Dakto tháng 5, 1971.</em><br />
Từ trái: <em>Trung uý Nguyễn Sơn, Liên Toán Trưởng các toán Thám Sát, Trung uý Nguyễn Ích Đoan, Đại Đội Trưởng Đại Đội 1 Xung Kích, Y sĩ Trung uý Ngô Thế Vinh, Trung uý Nguyễn Hiền, sĩ quan Ban 2</em> [tư liệu Nguyễn Hiền].</p>
<p>Đã hẳn, tình đồng đội trong một đơn vị đặc biệt như Biệt Cách Dù hẳn đặc biệt hơn cả bởi vì nhiệm vụ đặc biệt của đơn vị “cách biệt” này cùng cách hành sự cũng đặc biệt của nó. Như tác giả kể lại một câu chuyện, Liên đoàn Biệt Cách Dù này đang tiến hành một cuộc hành quân vào tháng năm 1971, căn cứ xuất phát là Dakto, một vùng rừng núi thuộc tỉnh Kontum cao nguyên Trung phần. Đây chính là thời điểm quân Sài Gòn mở chiến dịch tấn công vào vùng Hạ Lào nhằm giải tỏa áp lực của Bắc quân trên vùng Trung nguyên và làm suy yếu khả năng của Miền Bắc đưa quân và khí giới xâm nhập Miền Nam. Chiến dịch này gây nhiều tranh cãi, chủ yếu là vì Mỹ muốn thử thách xem “Việt Nam hóa” là thế nào, Tổng thống Thiệu thì muốn phô trương tài lãnh đạo của mình trước cuộc bầu cử độc diễn trong năm, nhưng lại không biết “bảo mật” cho nên để lực lượng quốc gia chịu nhiều tổn thất. Các toán Biệt Cách Dù có nhiệm vụ thám sát và theo dõi sự di chuyển của Bắc quân dọc biên giới xuống tới vùng Tam Biên Việt-Miên-Lào trong mục đích khám phá đường mòn “Hồ Chí Minh” ở nơi “cùng cốc, thâm sơn”. Vùng Tam Biên này rừng núi trùng trùng điệp điệp, đi dễ khó về vì chẳng dễ tìm đường ra. Những nhóm “Biệt Cách” này chỉ biết trao sinh mạng cho nhau, và cho tử thần. Nếu không có nhau, làm sao người ta có thể sống sót được qua những điệp vụ như thế.</p>
<p>“Mặt trận ở Sài Gòn” là câu chuyện của một đơn vị Biệt Cách Dù đang chiến đấu gian khổ trong vùng rừng núi Tam Biên thì được đưa về thủ đô Sài Gòn. Tác giả ngậm ngùi và tự hào: “<em>Không kể những người đã chết, chỉ riêng trong đám sống sót trở về – có thể nói họ xứng đáng mang danh anh hùng bằng chính những chiến tích lẫy lừng đi vào huyền thoại</em>”. Lính tráng đều vui mừng vì có dịp về thành phố mừng tủi gặp lại gia đình và tha hồ vui chơi. Nhưng tác giả chẳng có gì thú vị vì hiểu rằng nhiệm vụ mới là một cuộc “chiến tranh trong thành phố”. “<em>Chúng tôi trở về thủ đô giữa một không khí rục rịch biểu tình khởi đi từ những phong trào quần chúng đấu tranh chống chính phủ</em>”. Tác giả đã trải qua những tháng ngày rất mệt mỏi trong cuộc nội chiến để bảo vệ độc lập và toàn vẹn lãnh thổ. Ông đã chứng kiến bao nhiêu hy sinh của đồng đội; ông cũng ngán ngẩm trước đối phương xem sinh mạng của “bộ đội” như cỏ rác. Và ông cũng đau lòng trước thống khổ của người dân trong vùng chiến, vừa sợ bom đạn chiến tranh, vừa lo khủng bố, vừa bị túng quẫn vì miếng ăn… “<em>Người lính chỉ ao ước được cầm súng chiến đấu cho tổ quốc, hy sinh cho một lý tưởng cao cả, một chính nghĩa sáng ngời, mà khỏi cần phải bận tâm suy nghĩ điều gì. Nhưng bây giờ thì họ hiểu rằng, đã thất lạc và qua rồi sự bình an giả tạo sau những mỏi mệt trở về từ rừng rú. Rằng ngoài chiến trường súng đạn quen thuộc, họ còn phải đương đầu với một trận tuyến khác mỏi mệt hơn – đó là cảnh thối nát, bất công của xã hội mà dân tộc đang phải hứng chịu trong tốí tăm tủi nhục… Vậy phải lựa chọn chiến trường nào? Rằng không phải chỉ ở chốn xa xôi biên cương – mà đích thực chiến trường thách đố của họ phải là ở Sài Gòn</em>”.</p>
<p>Câu chuyện sau đó, “Nước mắt của Đức Phật”, cũng có thể làm cho người đọc đã từng sống những ngày tháng tao loạn thời đó rơi nước mắt. Bối cảnh những truyện kể đều là thời “Việt Nam hóa chiến tranh” của Nixon, hay đúng hơn là “giải Mỹ hóa”, (de-Americanization), tức lính Mỹ tháo chạy, bỏ rơi đồng minh, cho dù Nixon nói, “peace with honor”. Quan điểm của tác giả ngay từ thời đó đã rõ ràng: Mỹ đã quyết rút khỏi “tiền đồn”, vì Nixon đã có kế hoạch đi Nga, đi Tàu. Lúc đó là vào năm 1971, theo chỉ đạo của cố vấn Mỹ, quân Miền Nam đánh qua biên giới Campuchia để truy tầm “Cục R”, tức bộ chỉ huy của địch lập trên đất Miên để điều khiển cuộc chiến. Cuộc hành quân này như là bước đầu thử nghiệm “Việt Nam hóa”. Đơn vị Biệt Cách Dù được thả xuống đất Miên như lạc vào trong một khu rừng hoang không biết lối ra. Toán thám sát này vừa truy tầm vừa nhằm phá hoại địch, tác giả gọi đó là “một chiến tích lẫy lừng của các anh hùng vô danh”. Nhưng kết cuộc là thế nào. Tác giả viết: “<em>Và suốt trong đêm hôm đó tại một ngôi chùa Miên bỏ hoang, có một người lính Công giáo Việt Nam kiệt quệ và đau khổ, quỳ gối bên xác một đồng bạn, mắt đẫm lệ hướng lên vẻ mặt an tĩnh của Phật thành tâm cầu nguyện cho linh hồn người bạn xấu số sớm được giải thoát…</em>” Đây là câu chuyện ở Thị trấn Krek, Campuchia, sát biên giới Miền Nam ở Tây Ninh.</p>
<p>Những truyện được viết trong thời chiến của Ngô Thế Vinh mà chúng ta đọc được qua tuyển tập “Mặt Trận Ở Sài Gòn” đều mang âm hưởng tương tự: như một tiểu thuyết chiến tranh với sự căng thẳng, chết chóc, mệt mỏi, tang thương, bi đát, anh hùng, và ai điếu… Rất rõ rệt Ngô Thế Vinh mang nặng nghiệp cầm bút (thời đó chưa có computer), ông không thể không viết trước những bức bách của thực tế cuộc sống, xã hội, đất nước, nhưng nếu không là y sĩ ở tuyến đầu, sẵn sàng dấn thân trong chốn trận mạc, đương nhiên ông không thể có những kinh nghiệm phong phú như thế để ghi lại – không chỉ những gì đã xảy ra mà cả những suy nghĩ, biến động trong nội tâm của ông. Diễn biến nội tâm đúng là phức tạp, khủng hoảng mà chỉ có người trong cuộc mới hiểu nổi: ông vừa thấy cuộc chiến là sống còn cho Miền Nam vừa thấy cuộc chiến là phi nhân vì lãnh đạo Hà Nội thì bất nhân (đã thí mạng đến cả nửa triệu thanh niên) và lãnh đạo Sài Gòn thì “vô tâm” (quân đội, chính khách, lãnh đạo tôn giáo mãi lo quyền lực, quyền lợi của mình hơn quyền sống của người dân).</p>
<p>Truyện ngắn “Mặt Trận Ở Sài Gòn”, khoảng 5,000 chữ, xuất hiện đơn độc lần đầu tiên trên tạp chí Trình Bầy ngày 18-12-1971 và sau đó tác giả bị đưa ra tòa – chẳng bao lâu sau khi “Vòng Đai Xanh” của ông được trao giải thưởng. “Mặt Trận Ở Sài Gòn” bị khép vào tội có “<em>luận điệu phương hại trật tự công cộng, và làm suy giảm kỷ luật, tinh thần chiến đấu của quân đội</em>”. Tờ báo bị tịch thu, bị “phạt vạ” và đình bản mấy tháng sau đó. Nhưng năm 1972 là năm Mùa Hè Đỏ Lửa, và vụ án đã nhanh chóng chìm vào quên lãng. Mãi đến sau này, vào năm 1996 khi tác giả tập họp một số truyện ngắn để có tuyển tập “Mặt Trận Ở Sài Gòn” xuất bản ở California, nhiều tác giả hữu danh như Nguyễn Xuân Hoàng, Tạ Tỵ, Phan Nhật Nam… lên tiếng, chia sẻ những trăn trở của tác giả vì đất nước, vì xã hội trong thời chiến. Nguyễn Xuân Hoàng cho rằng giữa “con người và tác phẩm” không có khoảng cách. Và Ngô Thế Vinh là một tác giả của xã hội. Ngô Thế Vinh cũng có dịp bộc bạch tâm sự của mình trong một số bàí phỏng vấn dài của tạp chí Bách Khoa và của nhà báo Nguyễn Mạnh Trinh.</p>
<p>Như thế, nay chúng ta có thể nói thêm gì đây?</p>
<p>Người đọc nay có thể nhìn lại để thấy “Mặt Trận Ở Sài Gòn” không chỉ là tiểu thuyết chiến tranh mà còn có một nội dung chính trị sôi sục của một người đối kháng vì lương tâm. Chính trị là một nội dung mà tác giả đã chất chứa trên từng trang giấy của từng truyện. Một điều chúng ta đều có thể thấy nhưng ít người viết tiện nói ra, nói thẳng, nói thật, đó chính là sự “bất túc” của lãnh đạo Miền Nam cho nên cuộc chiến đã trở thành một cuộc phiêu lưu ngày qua ngày thay vì là một Hội nghị Diên Hồng tập họp quần chúng trong một cuộc chiến sống còn của đất nước. Không chỉ là nhân chứng, Ngô Thế Vinh là người dấn thân ở chốn trận tiền. Hiểu rất rõ sinh mệnh mong manh của người cầm súng. Cho nên không sợ mang tiếng “phản chiến” ông có quyền đặt những câu hỏi chính trị. Khi không hiểu đúng và đủ nội dung và ý nghĩa của chính trị, nhiều người – nhất là giới văn nghệ sĩ – ngại ngùng và muốn tránh xa “chính trị”. Nhưng khi hiểu chính trị chụp lên đời sống của tất cả mọi người, quyết định sự sống còn của con người, của xã hội, của đất nước, là sự mưu tìm dân chủ, tự do, nhân quyền và công bằng xã hội, thì đó là điều người viết không thể tránh né. Và hẳn sai lầm khi tránh né.</p>
<p>Quyết định của Ngô Thế Vinh có một ấn bản song ngữ giữa năm đại dịch này bởi thế đáng hoan nghênh. Không chỉ vì đó là một nỗ lực táo bạo, phi thường mà vì ông nghĩ đến chuyện gởi gắm cho những thế hệ những đời sau một di chúc xứng đáng. Dĩ nhiên, càng ngày người ta càng ít đọc. Mong muốn những thế hệ trẻ cầm sách về lịch sử hay chính trị đất nước Việt Nam trước đây đúng là chuyện “giấc mộng con”. Cũng như muốn người Mỹ phải hiểu rõ hơn lịch sử và chính trị của Hoa Kỳ để cho nội chiến đa chủng, đa văn hóa, thực sự chấm dứt. Nhưng Ngô Thế Vinh bao giờ cũng là người sống trong giấc mộng con người phải tốt đẹp hơn để xã hội tốt đẹp hơn.</p>
<p>Đọc “Mặt Trận Ở Sài Gòn”, chúng ta tưởng chừng như đang nghe thổn thức “Tình khúc trên chiến trường tồi tệ”. “Mặt Trận Ở Sài Gòn” hay “Chiến trường tồi tệ” (tác giả là Ngô Đình Vận, người bạn ở Saigon Post) sẽ chẳng thế nào rời khỏi tâm trí của những người đã sống một thời đầy đau nhức đó, và nay đã là một ám ảnh đau buồn khi chợt nghĩ ra rằng chúng ta chỉ có một thời để sống.</p>
<p><strong>Hoàng Ngọc Nguyên</strong><br />
Utah, 5/9/2020</p>
<p><em>Tác giả tốt nghiệp Cao học Hành chánh (Sài Gòn), đã qua các trường Hertford College (Oxford) và David Eccles School (University of Utah). Theo đuổi “nghiệp báo” rất sớm, chính thức vào nghề với The Saigon Post (với Chủ bút Trần Nhã) từ 1968 tới 1975. Tham gia nhóm nghiên cứu đổi mới kinh tế của Tiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh trong những năm 80. Sang Mỹ, tiếp tục viết báo về các chủ đề kinh tế, cộng tác chặt chẽ với The Việt Mercury News, Việt Tribune, Saigon Nhỏ, Bút Tre và hiện định cư tại bang Utah.</em></p>
</div>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/di-tim-su-yen-tinh-voi-mat-tran-o-sai-gon/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Mặt Trận Ở Sài Gòn – The Battle of Saigon</title>
		<link>https://t-van.net/mat-tran-o-sai-gon-the-battle-of-saigon/</link>
					<comments>https://t-van.net/mat-tran-o-sai-gon-the-battle-of-saigon/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[TV và BH]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 10 Aug 2020 05:42:20 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Ghi Chép]]></category>
		<category><![CDATA[giới thiệu ngô thế vinh]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=44146</guid>

					<description><![CDATA[(Nguồn: Báo Tiếng Dân) LTS: Cuốn sách Mặt Trận Ở Sài Gòn của nhà văn Ngô Thế Vinh, được nhà xuất bản Văn Nghệ xuất bản năm 1996, sẽ được xuất bản bằng song ngữ Việt – Anh trong trong tháng 8/2020: “The Battle of Saigon – Bilingual Short Story Collection” do Văn Học Press [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="td-post-content">
<div class="heateorSssClear"></div>
<p style="text-align: center;"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter  wp-image-87152 td-animation-stack-type0-2" src="https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2020/08/1-24.jpg" sizes="(max-width: 588px) 100vw, 588px" srcset="https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2020/08/1-24.jpg 588w, https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2020/08/1-24-246x300.jpg 246w, https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2020/08/1-24-344x420.jpg 344w" alt="" width="308" height="376" /></p>
<p>(Nguồn: Báo Tiếng Dân)</p>
<p><strong>LTS</strong>: Cuốn sách <strong><a href="https://www.amazon.com/M%E1%BA%B7t-Tr%E1%BA%ADn-%E1%BB%9E-S%C3%A0i-G%C3%B2n/dp/1629881023" target="_blank" rel="noopener noreferrer">Mặt Trận Ở Sài Gòn</a></strong> của nhà văn Ngô Thế Vinh, được nhà xuất bản Văn Nghệ xuất bản năm 1996, sẽ được xuất bản bằng song ngữ Việt – Anh trong trong tháng 8/2020: “<strong>The Battle of Saigon – Bilingual Short Story Collection</strong>” do Văn Học Press &amp; Việt Ecology Press xuất bản, nhằm phục vụ độc giả 2 thế hệ, ưu tiên thế hệ thứ 2 không rành tiếng Việt và cả độc giả thế giới chỉ đọc tiếng Anh. <span id="more-87151"></span></p>
<p>Nhân dịp này, chúng tôi xin giới thiệu với các độc giả mới, bài điểm sách của nhà văn Đoàn Nhã Văn: “Mặt Trận Ở Sài Gòn và Những Giấc Mộng Con”, sau Thông Cáo Báo Chí “Mặt Trận Ở Sài Gòn – The Battle of Saigon” của nhà xuất bản.</p>
<p>***</p>
<p>Thông Cáo Báo Chí</p>
<p>MẶT TRẬN Ở SÀI GÒN – THE BATTLE OF SAIGON</p>
<p>Tập truyện song ngữ Việt Anh</p>
<p>NGÔ THẾ VINH</p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-87152 td-animation-stack-type0-2" src="https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2020/08/1-24.jpg" sizes="(max-width: 588px) 100vw, 588px" srcset="https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2020/08/1-24.jpg 588w, https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2020/08/1-24-246x300.jpg 246w, https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2020/08/1-24-344x420.jpg 344w" alt="" width="588" height="717" /></p>
<p>Vẫn liên tiếp xuất hiện những cuốn sách viết về Chiến Tranh Việt Nam, tuy nhiên có rất ít sách đề cập tới quan điểm từ miền Nam, từ góc cạnh của những người thất trận nhưng họ đã từng chiến đấu và tin tưởng ở một nền Cộng Hòa miền Nam mới khai sinh.</p>
<p>Ngô Thế Vinh qua kinh nghiệm của một y sĩ trong một đơn vị Biệt Cách thiện chiến đã đem tới cho chúng ta những lý giải và soi sáng về những tình huống lưỡng nan ngoài trận địa. Rồi ông cũng đề cập tới cuộc sống hỗn mang ban đầu của một người tỵ nạn tạo dựng lại cuộc đời trong sự xa lạ của một miền Nam California, với phấn đấu để trở lại nghiệp cũ giữa một cộng đồng di dân gồm cả nửa triệu thuyền nhân với những khuynh hướng chánh trị phân hóa đa dạng.</p>
<p>Một bối cảnh như vậy hầu như hoàn toàn bị lãng quên trong văn học. Người đọc sẽ thấy mình bị lôi cuốn vào tâm thức của một y sĩ tiền tuyến, của một tù nhân trong các trại tù gulag và rồi đến một người tỵ nạn bị bật ra khỏi gốc rễ được giải thoát để hội nhập vào một tầng lớp trung lưu Mỹ mới vừa hình thành.</p>
<p>Đọc Mặt Trận Ở Sài Gòn để cảm nhận lắng nghe nỗi bâng khuâng của một con người vẫn gắn bó với những cội rễ tinh thần của một quê hương Việt Nam không thể tách rời. TIM PAGE, Time – Life, UPI free lance reporter</p>
<p>Văn Học Press &amp; Việt Ecology Press</p>
<p>ISBN # 9781989993194</p>
<p>www.amazon.com, các hiệu sách</p>
<p>vanhocpress@gmail.com, <a href="mailto:vietecologypress@gmail.com" target="_blank" rel="noopener noreferrer">vietecologypress@gmail.com</a>,</p>
<p>P.O. Box 3893, Seal Beach, CA 90740</p>
<p>oOo</p>
<p>Press Release</p>
<p>THE BATTLE OF SAIGON – MẶT TRẬN Ở SÀI GÒN</p>
<p>Bilingual Short Story Collection</p>
<p>NGÔ THẾ VINH</p>
<p><em>“There have been a succession of books on the Vietnam conflict, though there have been few that have told it from the South Vietnam point of view, from the aspect of the true losers, those who fought for a and believed in the nascent Southern Republic.</em> <em>Ngo The Vinh brings us essays illuminating his experience as doctor with the crack rangers, here in dealing with the dichotomies of combat. He then moves to the disconcerting life of a refugee rebuilding a life in the strangeness of Southern California and the struggle to reestablish in his profession amongst the politically riven ex-pat community of the 1/2 million boat people. A perspective totally neglected in prose so far.</em> <em>You will find yourself slipping in the mindset of the soldier doctor, prisoner in the </em><em>g</em><em>ulag and liberated uprooted refugees through to nascent middle class American.</em> <em>The whole time you hear the plaintive tones of a man attached still to the spiritual roots of that haunting country Viet Nam.”</em></p>
<p>TIM PAGE, Time – Life, UPI free lance reporter</p>
<p>Văn Học Press &amp; Viet Ecology Press</p>
<p>ISBN # 9781989993194</p>
<p>www.amazon.com, bookstores</p>
<p><a href="mailto:vanhocpress@gmail.com" target="_blank" rel="noopener noreferrer">vanhocpress@gmail.com</a>, <a href="mailto:vietecologypress@gmail.com" target="_blank" rel="noopener noreferrer">vietecologypress@gmail.com</a><br />
P.O. Box 3893, Seal Beach, CA 90740</p>
<p>oOo</p>
<p><strong>Communiqué de Presse</strong></p>
<p>LA BATAILLE DE SAIGON – MẶT TRẬN Ở SÀI GÒN</p>
<p>Collection Bilingue de Nouvelles Anglais – Vietnamien</p>
<p>NGÔ THẾ VINH</p>
<p><em>“</em><em>Il y a eu une succession de livres sur le conflit du Vietnam, bien qu’il y en ait eu peu qui l’ont raconté du point de vue du Sud Vietnam, du point de vue des vrais perdants, de ceux qui se battaient pour et croyaient en la naissante République du Sud Vietnam. Ngo The Vinh nous apporte des essais éclairant son expérience de médecin avec les superbes rangers</em><em>,</em><em> faisant face là aux dichotomies du combat. Il passe ensuite à la vie déconcertante d’un réfugié reconstruisant sa vie dans l’étrangeté de la Californie du Sud et à la lutte pour rétablir sa profession parmi la communauté expatriée</em><em>,</em><em> politiquement déchirée d</em><em>’un</em><em> demi-million de</em><em> “</em><em>boat people”</em><em>.</em> <em>Une perspective en prose totalement négligée jusqu’à present</em><em>. </em><em>Vous vous retrouverez à glisser dans l’etat d’esprit du soldat-médecin, prisonnier dans les goulag et des réfugiés libérés</em><em>, </em><em>déracinés jusqu’à la naissante classe moyenne américaine</em><em>. </em><em>Pendant tout ce temps, vous entendez les tons plaintifs d’un homme toujours attaché aux racines spirituelles de ce pays obsédant, le Viet Nam.</em><em>” </em></p>
<p>TIM PAGE, Time – Life, UPI free lance reporter</p>
<p>Văn Học Press &amp; Viet Ecology Press</p>
<p>ISBN # 9781989993194<br />
www.amazon.com, bookstores</p>
<p>vanhocpress@gmail.com, <a href="mailto:vietecologypress@gmail.com" target="_blank" rel="noopener noreferrer">vietecologypress@gmail.com</a>,</p>
<p>P.O. Box 3893, Seal Beach, CA 90740</p>
<p>***</p>
<p><strong>Đoàn Nhã Văn: Mặt Trận Ở Sài Gòn và Những Giấc Mộng Con</strong></p>
<figure id="attachment_87153" class="wp-caption aligncenter" style="width: 563px;" aria-describedby="caption-attachment-87153"><img loading="lazy" decoding="async" class="wp-image-87153 td-animation-stack-type0-2" src="https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2020/08/2-6.jpg" sizes="(max-width: 754px) 100vw, 754px" srcset="https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2020/08/2-6.jpg 416w, https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2020/08/2-6-300x214.jpg 300w, https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2020/08/2-6-100x70.jpg 100w" alt="" width="563" height="402" /><figcaption id="caption-attachment-87153" class="wp-caption-text">Đoàn Nhã Văn</figcaption></figure>
<p><em>Đoàn</em><em> Nhã Văn, tên thật Lê Tạo,</em><em> sinh tại Nha Trang. Bắt đầu cầm bút</em><em> làm thơ, viết văn và phê bình văn học </em><em>từ đầu thập niên 1990 trên các tạp chí văn chương hải ngoại</em><em> như Văn Uyển, Văn Học, Văn, Hợp Lưu, Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng…</em><em> Hiện sinh sống</em><em> và làm việc tại Nam California</em><em>. Tác phẩm: Bình Minh Đến [thơ, Nxb Ngàn Lau, Hoa Kỳ]; Phác Thảo 15 Chân Dung Văn Học [tiểu luận phê bình, Nxb Văn Mới, Hoa kỳ]  </em></p>
<p><strong>**</strong><strong>*</strong></p>
<p>Những năm đầu thập niên 1970, miền Nam nhuộm đầy khói lửa chiến tranh. Tiếng đạn bom vang rền từ khắp nơi vọng về các thành phố lớn. Người ta đọc báo, nghe radio, truyền tai nhau những tin tức nóng bỏng gởi về từ những địa danh lạ hoắc ở chiến trường. Giữa một xã hội đầy biến động như vậy, những câu chuyện văn chương, những đề tài văn hóa dường như bị lấn áp bởi chuyện thời sự nóng bỏng, chuyện thực tế sôi động trong đời sống hằng ngày.</p>
<p>Vậy mà có một người thuộc giới văn nghệ, hầu như được cả Sài Gòn, hay nói rộng hơn là cả miền Nam, đều nghe nhắc đến, bởi tên ông được đăng trên các nhật báo, tuần báo ở Sài Gòn lúc bấy giờ. Mọi người biết đến ông không phải vì tác phẩm Vòng Đai Xanh của ông vừa đoạt giải Văn Học Nghệ Thuật toàn quốc 1971, mà biết nhiều đến ông qua vụ hầu tòa sau khi đăng một truyện ngắn. Và hai mươi lăm năm sau, năm 1996, truyện ngắn đã mang ông ra trước vành móng ngựa ngày nào, nay được dùng làm nhan đề cho tuyển tập truyện ngắn của ông. Đó là tuyển tập Mặt Trận Ở Sài Gòn. Và nhà văn đó chính là Ngô Thế Vinh.</p>
<p>Mặt Trận Ở Sài Gòn gồm mười hai truyện ngắn, trong đó có năm truyện ngắn viết trước năm 1975, một truyện viết năm 1971 và hoàn tất 1981 ở Sài Gòn, sáu truyện còn lại được viết tại hải ngoại. Sau mấy mươi năm thai nghén, tác phẩm hoàn thành. Một tác phẩm mang nhiều ước mơ khác nhau, mà tác giả gọi là những giấc mộng con, qua nhiều thời kỳ biến động của một đất nước mang hình chữ S, và của một đời người – một y sĩ quân nhân, một nhà văn khi còn ở trong nước và một bác sĩ, một lưu dân ở xứ người.</p>
<p>Lớn lên trong thời chiến, Ngô Thế Vinh đã thấy rõ được những chết chóc không thể tránh khỏi của chiến tranh.  Bước chân vào trường Y, mang trong mình một bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ, ông muốn làm tất cả những gì có thể được để thay đổi cục diện của chiến tranh, để thay đổi bộ mặt của đất nước. Vì thế, ông mang trong mình những ước vọng, không phải của riêng ông mà của rất nhiều người trẻ trong giai đoạn này: sớm chấm dứt chiến tranh.</p>
<p>Khi bước chân vào lính, đối diện với cái chết từng phút từng giây, ước mơ này càng trỗi lên mãnh liệt. Cho nên, ông và bạn bè không ngần ngại đổ máu ở chiến trường để tạo một hậu phương yên vui. Ngay cả cái ngày phát giải thưởng văn chương toàn quốc, đáng lẽ ông phải đứng trên bục cao để nhận giải thưởng cho tác phẩm Vòng Đai Xanh, thì ông “vẫn còn lận đận hành quân ở cao nguyên”.</p>
<p>Đứng trước những gian nguy ở chiến trường, ông đặt niềm tin ở hậu phương. Hay nói cách khác, ông mong đợi một hậu phương “sạch sẽ” từ  guồng máy lãnh đạo đến những người dân bình thường.  Một hậu phương vững chắc để tạo một thế đứng, một niềm lạc quan cho những người đối diện với thần chết ở chiến trường. Tuy nhiên, sau những phút giây kinh hoàng nơi chiến tuyến, nhìn lại hậu phương, ông thất vọng. Với một số người, hậu phương là nơi chốn để trở về, để giải khuây sau những ám ảnh của đạn bom và nỗi chết. Nhưng đối với ông và bạn bè có tâm huyết, khi nhìn lại hậu phương, nơi ăn chơi đú đởn, nơi buôn lậu giàn trời khiến ông không khỏi đau lòng. <em>“Âm thanh của những tiếng cười nói ồn ào. Không khí dày đặc khói thuốc và hơi rượu mạnh. Nhạc sống và khiêu vũ. Những người đàn bà dễ dãi.”</em> (Trang 20) đã làm ông nhờm tởm.</p>
<p>Một hậu phương như vậy, liệu có xứng đáng cho những người bạn thân đã nằm xuống vĩnh viễn hay để lại những phần thịt xương trên chiến trận? Còn nữa, hậu phương cũng là nơi đầy rẫy cảnh mua quan bán tước, tranh giành quyền lợi trên xương máu của những người lính. Những điều này đã cắt vào tâm khảm ông những vết cắt lút cán, để đời. Vì thế, với thân phận của một người lính, <em>“ngoài chiến trường súng đạn quen thuộc, họ còn phải đương đầu với một trận tuyến khác mỏi mệt hơn</em><em> – đó là cảnh thối nát bất công của xã hội mà dân tộc đang phải hứng chịu trong tối tăm tủi nhục</em><em>.”</em> (Trang 25). Nhiều lúc, họ bị điều động về từ những chiến trường xa xôi để bảo vệ những chiếc ghế danh lợi hẹp hòi, những vị kỷ nhỏ nhen.</p>
<p>Ôi, làm sao không thương người lính, làm sao không thấy họ lẻ loi tội nghiệp khi từ giã núi rừng <em>“để trấn đóng ngay giữa trái tim Sài Gòn, chìm khuất giữa những buildings cao dập dìu đĩ điếm, nằm kế bên Hội Kỵ mã lúc nào cũng nhởn nhơ những con ngựa giống với từng bờ mông láng nhãy.”</em>  (Trang 24) Vì thế, ông cảm thấy thiếu vắng những “chiến sĩ xã hội”, những người làm cho xã hội tốt hơn, sạch hơn. Ước mơ của ông tuy nhỏ nhoi, bình thường nhưng quả khó thực hiện, bởi ông chỉ là một con ốc nhỏ nhoi trong một guồng máy chiến tranh khổng lồ. <em>“Từ ba mươi năm nay, đã và đang có quá nhiều anh-hùng-của-chiến-tranh trong khi lại quá thiếu vắng những chiến sĩ xã hội. Vậy phải lựa chiến trường nào? Rằng không phải chỉ ở chốn xa xôi biên cương mà đích thực chiến-trường thách-đố của họ phải là ở Sài Gòn</em><em>.”</em> (Trang 25).  Những mơ ước về một xã hội tốt đẹp hơn trong tương lai, từ một trái tim nóng bỏng của người lính với những nhịp đập thiết tha vì công cuộc chung, đã bị bóp nát từ trong trứng nước. Rốt cục, ông phải đi hầu tòa vì truyện ngắn này.</p>
<p>Cuộc sống yên bình vốn đã đa dạng; cộng thêm với chiến tranh, đã tạo nên một môi trường cho lũ thò lò xuất hiện. Những con thò lò có mặt trên từng cây số của đất nước, dưới bất kỳ bộ áo nào. Hãy nghe Ngô Thế Vinh viết rất ngắn về một trong những con thò lò muôn mặt này, để thấy rằng, hậu phương có những chiến sĩ xã hội, nhưng là một thứ giả tạo, mang màu sắc biến đổi của những chú kỳ đà. <em>“Lẫn trong đám sinh viên, ông bác sĩ nhân sĩ vẫn lăng xăng cầm cuốc đào bới và luôn ngửa mặt cười cho người nhà chụp hình. Mấy hôm nữa đây, khuôn mặt xã hội của ông xuất hiện tràn ngập trên mặt báo Sài Gòn, và dĩ nhiên không thiếu những chi tiết trên tờ báo riêng mang tên ông</em><em>.”</em> (Trang 76).</p>
<p>Cuộc chiến mà ông ghi lại có nhiều cảnh cười ra nước mắt. Một gia đình có người con trai và đứa cháu. Một đứa “nhảy núi”, đứa kia theo lính “Cộng Hòa”. Trong một cuộc đụng độ, hai anh em bắn nhau. Mỗi người gãy một chân. Nước mắt người cha lưng tròng, cũng như Mẹ Việt Nam nhỏ lệ suốt hơn 4000 năm trôi nổi. <em>“Những cẳng chân bị đạn bắn gãy nát của lũ con cháu khiến ông nghĩ tới sự gãy đổ của cả một gia tộc, mà với ông gia tộc là trọn vẹn hình ảnh quê hương đất nước</em><em>.” </em>(Trang 80).  Dù không nói ra bằng lời, nhưng ông đã cho người đọc thấy được đây là một cuộc chiến tranh không cần thiết phải có. Một cuộc chiến mà người ta nhân danh, người ta tô son, mạ vàng, để rồi cuối cùng <em>“dù là gốc Bắc hay Nam, cùng nhân danh giấc mơ Việt Nam, khoác thêm một nhãn hiệu và đang hăm hăm cầm súng, AK hoặc M16 như các đồng bạn khác – để có thể là đêm nay trong tầm tã của cơn mưa ngã cây lở núi, đang sợ hãi thất lạc trong hoang vu của núi rừng Tây Nguyên, bên chân dãy Trường Sơn mò mẫm rình chờ lùng kiếm hạ ngã nhau như những con thú</em><em>.” </em> (Trang 67-68).</p>
<p>Viết về chiến tranh, Ngô Thế Vinh viết bằng lối văn mạch lạc, khúc chiết, gãy gọn.  Vì thế ông đã lôi cuốn người đọc ngay từ những trang đầu của tập truyện. Nước Mắt Của Đức Phật là một trong những truyện hay của tập truyện này. Truyện kể lại cuộc xâm nhập của một toán Biệt Cách, nhảy vào trận địa, tạo những nút chặn, gây rối loạn ngay từ tuyến sau của các đơn vị địch quân. Toán quân này đã đụng độ, và đã giao tranh ác liệt với số địch quân rất lớn trong một hoàn cảnh hết sức khốc liệt, nan giải. Tàn cuộc giao tranh, hai người lính trong toán dìu nhau đi trên đất bạn, xứ Chùa Tháp. Bảy ngày sau, tại một ngôi chùa Miên bỏ hoang, <em>“có một người lính công giáo Việt Nam kiệt quệ và đau khổ, quỳ gối bên xác một đồng bạn, mắt đẫm lệ hướng lên vẻ mặt an tĩnh của Đức Phật thành tâm cầu nguyện cho linh hồn người bạn xấu số sớm được giải thoát. Và bên ngoài trời cơn mưa bão vẫn tràn trề.”</em> (Nước mắt của Đức Phật, trang 38).</p>
<p>Hình ảnh kết thúc câu chuyện là một hình ảnh bi hùng. Đức Phật chỉ là một sự gián tiếp để nói lên cái cao đẹp, cái bình an mà con người đang nhắm tới. Không còn một sự cách biệt nào trong tôn giáo ở những cảnh ngộ đầy nước mắt như vầy. Các đấng tối cao của các tôn giáo là người luôn hướng dẫn mọi người sống một đời an lành, hạnh phúc, không cấu xé lẫn nhau. Đó cũng là ước mơ của nhà văn Ngô Thế Vinh, và cũng là ước mơ của bao người. Nhưng chiến tranh được điều khiển bởi những tập đoàn quyền lực. Cho nên giấc mộng của những người lính bình thường, hay những người dân thấp cổ, bé miệng khó thành hiện thực.</p>
<p>Kết thúc câu chuyện ông viết <em>“Gió lung lay cả đêm dài vô minh đang bao trùm khắp Á châu lục địa.”</em> (Trang 38).  Chữ “lung lay”, bản chất không mới, nhưng ông dùng rất hay, trong trường hợp này, tạo cho người đọc thấy cái sầm sập, dữ dội của gió, thấy cái trùng trùng, phẫn nộ của bão.  Khi nói lung lay, người ta thường sử dụng trong những hình ảnh có gốc, có rễ, như cây dừa đang lung lay trong cơn gió mạnh, căn nhà đang lung lay trước cơn bão táp, v.v…  Hình ảnh cho thấy một phần gốc còn dính lại, và cả thân hình đang lắc lư, đong đưa, nghiêng ngả. Nhưng ở đây là màn đêm. Màn đêm biểu tượng cho cái gì trong thời điểm bấy giờ? Có phải là chiến tranh? Nếu vậy thì cái gốc của chiến tranh ở đâu? Và gió tiêu biểu cho sức mạnh nào để lung lay cái gốc rễ chiến tranh? Mỗi người đọc, ở một vị thế khác nhau trong cuộc chiến, có một câu trả lời khác nhau. Truyện ngắn đã đến con chữ cuối cùng, nhưng chưa thật sự chấm dứt, bởi ông đã để lại những câu hỏi chưa có câu trả lời khiến cho vấn đề không ngừng lại ở đó.</p>
<p>Vì hiểu được bản chất của chiến tranh không bắt đầu từ những người lính, ở cả hai phía, cho nên người lính Ngô Thế Vinh vẫn luôn mang thông điệp nhân bản trên vai ông, ngay cả ở những phút giây hiểm nghèo nơi chiến trường. Và dù có tạo nên thêm vài tổn thất cho bên kia thì hòa bình vẫn không đến sớm hơn được. Người lính không là gốc rễ chiến tranh thì cũng khó là bắt đầu của một hòa bình. Nhiều truyện ngắn của ông chuyên chở ý nghĩa này. Xin được nêu ra một ví dụ nhỏ nhoi trong suốt bản văn của ông.</p>
<p><em>“Khi đoàn trực thăng đã thực sự rời xa bãi, tên trung sĩ cận vệ thân tín lên tiếng nhắc tôi và cố nói to: “Em thấy là Hổ Xám quên.” “Không, lần này không phải tao quên.”  Nó nhắc tôi việc gài một trái lựu đạn rút kíp dưới xác người tù binh mới chết phải bỏ lại dưới bãi. Hơn một lần địch đã hành động như vậy và gây cho chúng tôi tổn thất. Nhưng ở lần này thì tôi nghĩ lại rằng cho dù có làm thêm một cạm bẫy xác nữa, gây thêm được một vài chết chóc, không vì thế mà ngày mai Hòa bình sẽ trở lại sớm hơn.”</em>  (Hòa bình không sớm hơn, trang 63)</p>
<p>Truyện ngắn “Người Y Tá Cũ” kể về người y tá, tên Tụng, trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Sau tháng Tư 1975, anh là một trong số rất hiếm hoi những hạ sĩ quan của chế độ cũ được lưu dung để làm việc tại một bệnh viện. Cũng chính nơi đây anh được săn sóc những người chiến hữu của anh, những người đang mang thương tật, sống vất va vất vưởng, không bao giờ được ngó ngàng tới, mà cuộc sống chỉ còn là thoi thóp. Dĩ nhiên anh làm sao ngoảnh mặt, bởi ngoảnh mặt trước niềm đau thì nỗi đau ấy tăng gấp hai. Nó là niềm hạnh phúc của anh, hạnh phúc của một người y tá bình thường sau cuộc chiến. <em>“Có lẽ suốt cuộc đời còn lại, chẳng bao giờ Tụng có thể quên được những đôi mắt trống vắng lạnh tanh của những người thương binh cũ, còn xa hơn cả sự tuyệt vọng buồn thảm, họ chưa chết hết phần xác nhưng đã chết cả phần hồn. Cuộc sống chỉ là đếm thêm cho mỗi từng ngày.”  </em>(Trang 117).</p>
<p>Nhưng niềm hạnh phúc mong manh của Tụng cũng bị tắt ngúm. Anh bị sa thải, trở lại quê nhà và tiếp tục cuộc đời ruộng nương thuở trước. Không giúp được bao nhiêu cho chiến hữu thương tích đầy người, nhưng được sống bên Mẹ già cũng là niềm hạnh phúc mới, dù rất nhỏ nhoi, của anh.  Niềm hạnh phúc nhỏ nhoi đó không kéo dài được bao lâu thì tai vạ ập tới. Giữa đời sống dân thường, giữa ruộng nương chất phác, <em>“đang miên man giữa cái hạnh phúc của đất và người, bất chợt bàn chân Tụng đạp lên một vật như thép lạnh cứng – chưa kịp rút chân lại thì “ụp” tiếp theo là tiếng kêu “má ơi!” Cảm giác đau như xé khiến Tụng ngã quỵ, nhìn xuống thì một bàn chân đã đứt rời. Kinh nghiệm chiến trận khiến Tụng nhận ra ngay không phải lựu đạn mà là thứ mìn muỗi chống cá nhân, chẳng biết ai đã ném vô và nằm im trong đám ruộng nhà mình tự bao giờ…. Hòa bình rồi hạnh phúc tính là dài lâu nhưng rồi ra cũng chỉ là tính riêng cho mỗi từng ngày</em><em>.” </em>(Trang 122).  Ước mơ khi còn chiến tranh là được sống trong cảnh thanh bình.  Nhưng sau tháng Tư 1975, đất nước tưởng có độc lập, nhưng niềm hạnh phúc cũng chỉ là ngàn cân treo sợi tóc!  Niềm vui chỉ được tính từng ngày.</p>
<p>Những ước mơ bình thường của người dân trong thời kỳ chiến tranh bị bóp chết từ trong trứng nước. Niềm hạnh phúc sau khi đất nước thống nhất cũng chỉ là niềm hạnh phúc được tính từng ngày. Tuy nhiên, Ngô Thế Vinh không hề bỏ cuộc. Con đường ông đã vạch ra từ mấy chục năm trước, ông vẫn cứ đi, dù chông gai vẫn đầy rẫy và hố ngăn cách vẫn trùng trùng. Bởi, không có gì ngăn cản một trái tim rộng mở tình thương. Không có gì làm chùn bước một tấm lòng tha thiết với đời.</p>
<p>Ở lớp tuổi tri thiên mệnh, làm một lưu dân, giấc mộng con năm 2000 vẫn bừng bừng trong ông như thời mới lớn. Giấc mộng con là làm sao để tạo được một thế đứng cho lớp lưu dân, dựng nên một gạch nối để thắt chặt tình thân và sự gần gũi cho trăm họ đang lìa xa Tổ Quốc. <em>“…</em><em> Bước khởi đầu vận động hình thành không phải chỉ là một mái nhà cho Hội Y sĩ, mà bao quát hơn là một Convention Center, một tòa nhà Văn hóa, một viện Bảo tàng, một Công viên Việt Nam. Đó phải là công trình biểu tượng có tầm vóc, sẽ được thực hiện ưu tiên qua từng giai đoạn. Nếu nghĩ rằng ngôi đình là biểu tượng cho cái thiện của làng, thì khu Công viên Văn hóa ấy là biểu tượng cho cái gốc tốt đẹp không thể thiếu cho các thế hệ di dân Việt Nam từ những ngày đầu đặt chân tới lục địa mới của cơ hội này, nó sẽ như một mẫu số chung rộng rãi cho một cộng đồng hải ngoại đang rất phân hóa, giúp đám trẻ hãnh tiến hướng Việt tìm lại được cái căn cước đích thực của tụi nó</em><em>.”</em> (Trang 154).  Ngô Thế Vinh luôn nhìn về phía trước, bởi giá trị của quá khứ là bàn đạp để hướng về tương lai. Vì thế, niềm “<em>ao ước không phải để có một ngôi đền thờ phụng, mà là một mái ấm của Trăm Họ Trăm Con, nơi ấy sưu tập và lưu trữ những giá trị của quá khứ, nơi hội tụ diễn ra sức sống sinh động của hiện tại, và là một điểm tựa thách đố hướng về tương lai, chốn hành hương cho mỗi người Việt Nam đang sống bất cứ ở đâu trong lòng của thế giới</em><em>.</em>” (Trang 157).</p>
<p>Đây là một giấc mơ đẹp.  Giấc mơ không chỉ của riêng ông mà là của rất nhiều người. Một người không nặng lòng với Tổ Quốc, với Quê Hương, không kỳ vọng vào tương lai của lớp trẻ, không bao giờ nghĩ đến những điều này. Từ những dòng chữ đầu tiên, đến những con chữ cuối cùng của tập sách, người đọc thấy lấp lánh một tấm lòng.</p>
<p>Tuy nhiên, chỉ ước mơ, chưa đủ.  Ước mơ mà thiếu sự chuẩn bị, thiếu một hướng đi đúng thì những ước mơ này trước sau cũng chỉ là… mơ ước. Ông hiểu như vậy. Và đây, một sự gợi ý, một hướng đi để biến giấc mơ trở thành sự thật của ông. <em>“Mỗi Y Nha Dược sĩ đóng 2000 Mỹ kim như một phần khấu trừ thuế rất nhỏ trong phần thuế khóa rất lớn mà họ đóng góp hàng năm trên các vùng đất tạm dung đang cưu mang họ, thì với một ngàn người tham gia số tiền hành sự đã lên đến hai triệu đô la tiền mặt, với tiềm năng ấy thì không có việc gì mà hội Y Nha Dược Thế giới không làm được…”</em> (trang 146)  hay <em>“Bước khởi đầu chỉ đơn giản chỉ một đô la cho mỗi đầu người mỗi năm thì chúng ta đã có hơn một triệu Mỹ kim cộng thêm với hai triệu Mỹ kim nữa của Hội Y Nha Dược, Hội Chuyên gia và các giới doanh thương. Sẽ không phải là nhỏ với ba triệu đô la mỗi năm để làm nền móng khởi đầu cho Dự Án 2000 ấy.”</em> (trang 155)</p>
<p>Đọc đến lối gợi ý để giải quyết những bế tắc đương thời, hay nói rõ hơn là kỳ vọng để biến giấc mộng con thành hiện thực, người đọc có hơi ngờ ngợ với những điều mà ông đưa ra, dù đó là những điều tâm huyết. Với những người dân bình thường, việc quyên góp khó, nhưng dễ.  Khó ở chỗ, họ là những người có lợi tức thấp, và dễ ở chỗ, tấm lòng họ luôn rộng mở vì lợi ích cho công cuộc chung. Điển hình qua những lần lạc quyên, đóng góp giúp đỡ đồng bào tỵ nạn, qua những công cuộc đấu tranh chung. Với vài triệu đô la mỗi năm, từ hội Y Nha Dược, thành quả này có được hay không, thực tế mấy chục năm qua trong cộng đồng người Việt hải ngoại, cho thấy cần phải xét lại. Dĩ nhiên, độc giả vẫn hiểu, Giấc mộng con năm 2000, trước sau cũng chỉ là giấc mộng của Chính, tên của một y sĩ trong truyện, hay giấc mộng của Ngô Thế Vinh.  Nói một cách khác, đây chỉ là một truyện ngắn chứ không phải một dự án để bàn luận đến sự giải quyết rốt ráo một vấn nạn lớn – hố cách ngăn, chia rẽ, hay lòng người phân tán trong cộng đồng người Việt lưu vong hôm nay.</p>
<p>Xuyên suốt tác phẩm, nhà văn Ngô Thế Vinh rất ít khi nhắc đến hình ảnh của bà Mẹ, những bà Mẹ Việt Nam đúng nghĩa. Tuy vậy, ông có nhắc lại một chi tiết rất cảm động. Một bà Mẹ đã đau với cái đau triền miên của đất nước và lòng rộng mở vô biên, bất chấp “tai vách mạch rừng” của chế độ, một chế độ mà ngay cả cha và con còn chưa thể tin được nhau. <em>“Hòa bình rồi được có con về là má vui, mặc cho họ nói chi thì nói, cái mửng bắt má dẹp khung hình thằng Ba thằng Tư trên bàn thờ là không khi nào má chịu. Lính ngụy hay không lính ngụy tụi nó vẫn là con Má. Chòm xóm có gia đình nào mà không có con vô lính rồi chết trận, vẻ vang hay không vẻ vang có cái đau nào bằng cái đau của bà mẹ mất con. Họp tổ phường khóm má nói toáng ra</em><em> như vậy, chịu hay không chịu thì thôi…”</em>  (Người y tá cũ, trang 120).</p>
<p>Một vài nét cọ, ông đã tạo nên một bức tranh đẹp, một hình ảnh sắc nét, để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người thưởng ngoạn.  Hình ảnh bà mẹ rõ ràng, dứt khoát, sẵn sàng nói những điều muốn nói và nghĩ những điều dám nghĩ nhưng lòng thương con thì bao la, vô tận.  Đây là một thành công khác của ông.</p>
<p>Qua Mặt Trận Ở Sài Gòn, người đọc thấy Ngô Thế Vinh rất chú trọng tới cách hành văn.  Từ trang đầu tới trang cuối, từ những truyện ngắn được viết ở những năm đầu thập niên 70, đến những truyện ngắn mới viết gần đây, tác giả vẫn sử dụng một lối viết gãy gọn, khúc chiết. Câu văn không lê thê để tạo sự “ẩn mật”, bùa chú.  Câu văn không ngắn cũn cỡn kiểu chặt khúc, bẻ đoạn, uốn éo chữ nghĩa để làm dáng như một mốt thời thượng. Điều này đã nói lên được sự thiết tha với chữ nghĩa của ông dù ông đã từng phải đối diện với bao nhiêu thăng trầm, dâu bể của đời thường.  Xa hơn nữa, người đọc không hề thấy ông phẫn nộ, mà trước sau vẫn bình thản với ngôn từ.</p>
<p>Mặt Trận Ở Sài Gòn mang một niềm khát vọng hướng về tương lại. Hướng về tương lai không phải mơ ước một đất nước có nhiều anh hùng mà là có nhiều chiến sĩ xã hội để hàn gắn những vết thương do lịch sử khắc nghiệt gây ra. Khát vọng đó lấp lánh một tấm lòng của người thầy thuốc, của người nghệ sĩ.</p>
<p>Nhà-văn-thời-cuộc là người sống thực và nói thực lòng mình về những điều đang xảy ra chung quanh. Họ dùng ngòi bút để đẩy cuộc đời đi xa hơn, lên cao hơn. Trong một xã hội nhiễu nhương, họ dùng ngòi bút hướng dẫn quần chúng đấu tranh để tiến tới một xã hội tiến bộ. Trong một xã hội tiến bộ, họ vẫn tiếp tục đấu tranh để khuôn mặt xã hội sáng hơn, đẹp hơn. Không bao giờ họ chịu ngưng nghỉ. Ngô Thế Vinh là một trong số hiếm những nhà-văn-thời-cuộc, hôm nay. Và quan trọng hơn, đáng quý hơn, bao nhiêu năm qua, trước sau, ông vẫn oằn vai với những giấc mộng con.</p>
</div>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/mat-tran-o-sai-gon-the-battle-of-saigon/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Phan Tấn Hải: Ngô Thế Vinh và 18 Chân Dung Văn Học Nghệ Thuật và Văn Hoá</title>
		<link>https://t-van.net/phan-tan-hai-ngo-the-vinh-va-18-chan-dung-van-hoc-nghe-thuat-va-van-hoa/</link>
					<comments>https://t-van.net/phan-tan-hai-ngo-the-vinh-va-18-chan-dung-van-hoc-nghe-thuat-va-van-hoa/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phan Tấn Hải]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 16 Oct 2017 14:52:59 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[giới thiệu ngô thế vinh]]></category>
		<category><![CDATA[phan tấn hải]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=33095</guid>

					<description><![CDATA[Ngô Thế Vinh là người viết rất cẩn trọng, và tôi là người đọc ông rất trân trọng. Chữ của Ngô Thế Vinh không phải từ những giấc mơ hiện ra, nhưng là từ nỗi lo sâu sắc cho dân tộc và từ những bước chân đi xa nhiều ngàn cây số bên dòng Cửu [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/10/Tuyen-tap-chan-dung-van-hoc-nghe-thuat_ngo-the-vinh.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-33096" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/10/Tuyen-tap-chan-dung-van-hoc-nghe-thuat_ngo-the-vinh-300x200.jpg?strip=all" alt="Tuyen tap chan dung van hoc nghe thuat_ngo the vinh" width="383" height="255" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/10/Tuyen-tap-chan-dung-van-hoc-nghe-thuat_ngo-the-vinh-300x200.jpg?strip=all 300w, https://cdn.t-van.net/2017/10/Tuyen-tap-chan-dung-van-hoc-nghe-thuat_ngo-the-vinh-768x512.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/10/Tuyen-tap-chan-dung-van-hoc-nghe-thuat_ngo-the-vinh.jpg?strip=all 600w" sizes="(max-width: 383px) 100vw, 383px" /></a></p>
<p>Ngô Thế Vinh là người viết rất cẩn trọng, và tôi là người đọc ông rất trân trọng. Chữ của Ngô Thế Vinh không phải từ những giấc mơ hiện ra, nhưng là từ nỗi lo sâu sắc cho dân tộc và từ những bước chân đi xa nhiều ngàn cây số bên dòng Cửu Long để viết lên hai tác phẩm biên khảo <em>Cửu Long Cạn Dòng Biển Đông Dậy Sóng</em> và <em>Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch</em>–nơi giữa những dòng chữ, độc giả có thể ngửi thấy mùi bùn non đồng ruộng chen lẫn với mồ hôi, nước mắt của đồng bào.</p>
<p>Và bây giờ là tuyển tập Ngô Thế Vinh viết về 18 người mà ông trực tiếp có giao tình, có hoạt động nghệ thuật một thời với họ, hay từng là môn sinh. Nơi đây chữ của ông kể lại nhiều thập niên từ quê nhà tới quê người, qua 18 người hoạt động văn học và văn hóa độc đáo, và họ là một phần những gì đẹp nhất của một thời VNCH. Trong đó, có những người đã lìa xa, nhưng không bao giờ trôi vào quá khứ &#8212;  như Võ Phiến, như Thanh Tâm Tuyền, như Mai Thảo, và tất cả &#8212; vì tác phẩm của họ vẫn đang hiện ra trong các sắc màu bất tử của văn học dân tộc, chứ không chỉ riêng của Miền Nam VN.</p>
<p>Tác phẩm <em>Chân Dung Văn Học Nghệ Thuật và Văn Hoá</em> (nơi đây, sẽ gọi tắt là <em>Chân Dung</em>) của Ngô Thế Vinh viết về: Mặc Đỗ, Như Phong, Võ Phiến, Linh Bảo, Mai Thảo, Dương Nghiễm Mậu, Nhật Tiến, Nguyễn Đình Toàn, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn-Xuân Hoàng, Hoàng Ngọc Biên, Đinh Cường, Nghiêu Đề, Nguyên Khai, Cao Xuân Huy, Phùng Nguyễn, Phạm Biểu Tâm, Phạm Hoàng Hộ.</p>
<p>Trong đó, hai người cuối danh sách là 2 nhà khoa học, từng là thầy của Ngô Thế Vinh trong Đại Học Y Khoa.</p>
<p>Bạn có thể thắc mắc: danh sách các chân dung văn học nghệ thuật như thế là không đủ… Như vậy, còn thiếu Tạ Tỵ, Nguyễn Mộng Giác, Vũ Khắc Khoan, Cung Tiến, Doãn Quốc Sỹ, vân vân… Không phải đâu, họ vẫn bàng bạc hiện ra trong sách Ngô Thế Vinh. Bạn sẽ thấy tên của các nhà văn vừa nêu đó, và rất nhiều nhà văn khác hiện diện trong nhiều trang sách và cả hình ảnh. Như thế, <em>Chân Dung</em> có thể xem là một phần của văn học Miền Nam VN trước 1975, và một phần văn học hải ngoại.</p>
<p>Tôi là một trong vài người có cơ duyên được đọc sớm những gì Ngô Thế Vinh viết, mỗi khi ông gửi bài để phổ biến lên báo. Bài ông viết mang tính sử liệu cao, thường dài, phức tạp, nhiều hình, và do vậy khi đưa lên trang web là cả một vấn đề. Để giữ đúng thứ tự hình trong bài, giữ đúng vị trí và giữ luôn cả những cách Ngô Thế Vinh trình bày văn bản, như các chữ nghiêng và chữ đậm, chỉ có cách lấy ra từng tấm hình… Những việc như thế, thường mất gần một tiếng đồng hồ cho một bài viết. Nghĩa là, cực kỳ gian nan. Và tôi phải tự mình trình bày bài Ngô Thế Vinh như thế. Bởi vì, nếu tôi chuyển sang Ban Kỹ Thuật, bài của Ngô Thế Vinh sẽ được phóng lên chớp nhoáng, sẽ không được trình bày như  nguyên bản, và có thể bị cắt bỏ rất nhiều hình để làm cho nhanh.</p>
<p>Nếu tất cả các bài viết gửi tới tờ báo đều phải trình bày cẩn trọng như thế, một tờ nhật báo không thể thực hiện được, khi hàng ngày phải đọc cả trăm bản tin, phải chọn ra vài chục bản tin để dịch, và có khi phải viết các bài bình luận chính trị khẩn cấp trong ngày. Nhưng với Ngô Thế Vinh, tôi tự thấy mình không có quyền để cho chữ của ông chệch ra khỏi cách trình bày nguyên thủy – vì với tôi, chữ của Ngô Thế Vinh đã khắc họa lên những chân dung của văn học, văn hóa… nơi đó, các tác giả sống trong đam mê sáng tạo, khát khao tìm cái mới và đẹp của nghệ thuật, và đồng thời chia sẻ những đau đớn với đồng bào trong cuộc chiến Nam-Bắc.</p>
<p>Ngô Thế Vinh có cơ duyên trưởng thành trong nhiều lĩnh vực. Ông viết văn, làm báo từ thời còn là sinh viên Đại học Y khoa Sài Gòn. Ngô Thế Vinh tự trình bày về cơ duyên xuất bản sách này:</p>
<p>“…Với 18 chân dung văn học nghệ thuật và văn hoá đã hoàn tất, tôi nhận được nhiều gợi ý nên cho xuất bản như một tuyển tập, nếu có một cuốn sách &#8220;tạo dựng [lại] diện mạo của các nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ&#8221; như vậy, thì đây sẽ là trang sách riêng đề tặng cho Phùng Nguyễn.”</p>
<p>Cảm giác của tôi là: nói là viết để tặng Phùng Nguyễn, một nhà văn thế hệ đi sau nhưng cũng chia sẻ những gian nan một thời chiến tranh VN, trong tận thâm tâm Ngô Thế Vinh đã viết để tặng cho đời sau. Mỗi bài viết của Ngô Thế Vinh là một mảng lịch sử về dân tộc mình. Bạn có thể đọc Ngô Thế Vinh như đọc những sử liệu có thể không tìm ra nơi đâu, những sử liệu của người trong cuộc kể lại. Văn của Ngô Thế Vinh không để giải trí. Nó có thể làm chúng ta mất ngủ, trằn trọc. Khi đọc sách Ngô Thế Vinh về dòng sông Mekong, chúng ta có thể cảm nhận trên trang giấy có bùn lầy Miền Tây, đang loang những trận mưa nước mắt của đồng bào. Và khi đọc về 18 chân dung văn học và văn hóa, bạn sẽ thấy hơn một nửa thế kỷ lịch sử hiện ra, nơi đó tác giả Ngô Thế Vinh kể lại từ góc nhìn của một nhà văn, và là một bác sĩ.</p>
<p>Không ai kể được chi tiết về bệnh của họa sĩ Đinh Cường như Ngô Thế Vinh, và cũng là người khéo chọn hai câu của họa sĩ để từ biệt trần gian:</p>
<p>“&#8230;Vĩnh biệt Đinh Cường. Tưởng nhớ cuộc đời tài hoa Đinh Cường qua hai câu thơ man mác của chính anh:</p>
<p>Ra đi mới biết lòng vô hạn</p>
<p>sương có mờ thêm trên sông Hương.”</p>
<p>Chúng ta cũng có thể nhận ra nét bút rất riêng của Ngô Thế Vinh mà không nhà biên khảo văn học nào có thể đạt tới, một nét bút mô tả như ảnh chụp về nhà văn Mai Thảo:</p>
<p>“…Chỉ có một bàn viết, chiếc giường đơn với nơi đầu giường là một chân đèn chụp rạn nứt và dưới gậm giường mấy chai rượu mạnh; trên vách là mấy tấm hình Mai Thảo; đặc biệt là tấm ảnh phóng lớn có lẽ chụp trước 1975, Mai Thảo cao gầy ngồi trên bậc thềm nhà cùng với nhà thơ Vũ Hoàng Chương mảnh mai trong áo dài the, phía dưới là một kệ sách…”</p>
<p>Ngô Thế Vinh cũng kể về những mâu thuẫn trong văn giới về cách biên khảo văn học, qua bài viết về Võ Phiến:</p>
<p>“&#8230;cho dù Võ Phiến đã phải lao động bền bỉ suốt 15 năm [1984-1999] để hoàn tất bộ sách Văn Học Miền Nam nhưng chính ông chưa hề tự coi đó là một công trình hoàn hảo nên vẫn ao ước việc đánh giá nền văn học 1954-75 cần được bắt đầu nghiêm chỉnh.</p>
<p>Cho dù bộ sách Văn Học Miền Nam của Võ Phiến có những hạn chế đưa tới nhiều tranh cãi khá gay gắt. Người ta đã nặng lời trách ông về những phần thiếu sót trong bộ sách ấy: như khi ông đã gạt một số tên tuổi văn học của thời kỳ 1954-75 ra khỏi bộ Văn Học Miền Nam Tổng Quan, rồi cả cách ông phê bình các nhà văn, nhà thơ được ông chọn đưa vào sách cũng bị ông sử dụng cái sở trường văn phong tuỳ bút / nay thành sở đoản để châm biếm mỉa mai cá nhân với nhiều định kiến thiên lệch.</p>
<p>Nhà văn Mặc Đỗ nhóm Quan Điểm thì thật sự bất bình, Mai Thảo nhóm Sáng Tạo trong lần trò chuyện cuối cùng với Thuỵ Khuê 07/ 1997 cũng không kềm được cảm xúc nói tới &#8220;bọn vua Lê chúa Trịnh&#8221;, và nói thẳng: &#8220;Võ Phiến cũng có chỗ được chỗ không được. Đại khái như phê bình văn học, đối với tôi thì không được. Văn Học Miền Nam tổng quan đó thì không được. Thơ dở. Tạp văn hay.&#8221;&#8230;”</p>
<p>Trong bài viết về Nguyễn Đình Toàn, chúng ta sẽ nhận ra cách đọc văn của Ngô Thế Vinh, không chỉ đối chiếu với các diễn biến lịch sử quê nhà, mà cũng là phân tích về nỗ lực sáng tạo:</p>
<p>“Áo Mơ Phai là dự cảm về một thành phố Hà Nội sắp mất, Đồng Cỏ là một tác phẩm khác dự báo một Sài Gòn sắp mất. Nguyễn Đình Toàn mẫn cảm với thay đổi thời tiết cũng như với những biến chuyển của lịch sử. Dự cảm hay trực giác của nhà văn đi trước tấn thảm kịch, đi trước những đổ vỡ chia ly đã mang tính tiên tri…</p>
<p>&#8230;Nguyễn Đình Toàn với kỹ thuật viết mới, viết truyện mà không có truyện, những trang chữ là một chuỗi những hình ảnh tạo cảm xúc và là một trải dài độc thoại nội tâm. Nguyễn Đình Toàn thành công trong nỗ lực tự làm mới văn chương nhưng không vì thế mà bảo ông chịu ảnh hưởng và chạy theo phong trào tiểu thuyết mới của Pháp.”</p>
<p>Trong bài viết về Thanh Tâm Tuyền, chúng ta cũng đọc được các lá thư trao đổi giữa nhà thơ và Ngô Thế Vinh – đó là các lá thư mang tính sử liệu, ghi lại những chặng đường sáng tác và suy tư của Thanh Tâm Tuyền.</p>
<p>Ngô Thế Vinh viết:</p>
<p>“&#8230;Những người bạn gần và hiểu TTT đều nghĩ rằng thái độ sống ẩn dật, từ chối những tiếp xúc và khép kín của anh có lý do của một TTT đang tự lột xác, lặng lẽ tích luỹ, TTT vẫn đọc rất nhiều và không ngừng đi tìm cái mới, với &#8220;giấc mộng lớn&#8221; để rồi khi tái xuất hiện là một TTT hoá thân, đó sẽ là một TTT khác, một TTT phục sinh để anh có thể viết trở lại / re-écrire. Nhưng rồi, như một định mệnh, TTT đã không còn thời gian.”</p>
<p>Vâng, Thanh Tâm Tuyền không còn thời gian. Nhưng các tác phẩm văn học của Thanh Tâm Tuyền đã trở thành một tượng đài, vương các lớp bụi thời gian và vẫn đứng sừng sững trước mắt chúng ta.</p>
<p>Hay như hình ảnh Nhật Tiến qua lời kể Ngô Thế Vinh – cả hai người đều là nhân chứng sống của một thời 1963. Lúc đó, nhà văn Nhất Linh trước khi tuẫn tiết đã chép một bản sao di chúc gửi cho chàng sinh viên y khoa Ngô Thế Vinh đề ngừa mật vụ tịch thu và bóp méo sự kiện. Lúc đó, nhà văn Nhật Tiến đã can đảm đọc bài tiễn biệt Nhất Linh giữa vòng vây mật vụ. Ngô Thế Vinh kể lại:</p>
<p>“&#8230;Nhất Linh đã viết thêm một bản di chúc thứ hai giao cho nhóm sinh viên. Lúc đó tôi đang học năm thứ ba Y khoa. Vào những ngày đầu của tháng Bảy, 1963, Nguyễn Tường Quý chở anh là Nguyễn Tường Vũ [con của ông Nguyễn Tường Thụy, người anh cả của mấy Anh Em gia đình Nguyễn Tường] xuống Đại học xá Minh Mạng tìm tôi. Quý chờ xe ở ngoài, chỉ có Nguyễn Tường Vũ vào gặp. Không nói gì nhiều, Vũ trao tay cho tôi một phong thư mỏng, cho biết đó là một trong hai bản di chúc viết tay của Nhất Linh: “Nhờ Vinh giữ, khi cần Vinh đưa lại“.</p>
<p>…Điếu văn của nhà văn trẻ Nhật Tiến lúc đó mới 27 tuổi, giữa vòng vây của mật vụ thời ấy, Nhật Tiến đã can đảm phát biểu với tính cách một nhà văn độc lập cho dù lúc đó Anh đang là Phó Chủ tịch Văn Bút. Nhật Tiến đã ràn rụa nước mắt với hết tâm can nói tới cái chết của nhà văn Nhất Linh: “Văn hào đã hình thành sứ mạng cao quý của người cầm bút. Văn hào đã nêu cao sĩ khí bất khuất của truyền thống những nhà văn chân chính.”…”</p>
<p>Những dòng kể lại tự thân đã trở thành một phần lịch sử.</p>
<p>Bên cạnh vai trò nhân chứng lịch sử, bản thân Ngô Thế Vinh cũng là một nhân chứng y khoa. Như trong bài Ngô Thế Vinh viết về Cao Xuân Huy:</p>
<p>“&#8230;Melanoma-mắt là loại ung thư hiếm, rất thầm lặng và khi phát hiện thường là trễ&#8230;</p>
<p>Huy và tôi, qua cell vẫn liên lạc với nhau hàng tuần, thường là ngày thứ Năm sau ngày tái khám ở UCLA về. Thường là tôi phone cho Huy, nhưng lần này Huy gọi tôi báo tin cho biết CT scan mới phát hiện có bướu nhỏ trong gan. Nhiều phần có thể là do di căn từ ung thư mắt&#8230;”</p>
<p>Chúng ta cũng sẽ gặp những tấm ảnh hiếm gặp, những khoảnh khắc của lịch sử ghi lại qua ống kính máy ảnh. Thí dụ, trong bài viết về Giáo sư Phạm Biểu Tâm, bên cạnh các tấm hình có từ thân nhân Giáo sư họ Phạm, chúng ta sẽ thấy một tấm hình có nguồn từ Life Magazine, với ghi chú của Ngô Thế Vinh:</p>
<p>“&#8230;Hình 1: Gs Phạm Biểu Tâm nói chuyện với SVYK trong một giảng đường 28 Trần Quý Cáp, Sàigòn sau vụ Thầy bị bắt trước biến cố 1963. [nguồn: Life Magazine]”</p>
<p>Cuối bài viết này, Ngô Thế Vinh mượn chính dòng thơ của Giáo sư Phạm Biểu Tâm, người được mô tả là “một vị danh sư đã để lại những dấu ấn lâu dài trong Ngành Y của Việt Nam từ thế kỷ trước” để như lời từ biệt của môn sinh gửi tới người thầy ngành y:</p>
<p>“Nhớ Thầy Phạm Biểu Tâm, đọc lại bài thơ thiền của Thầy, để tìm được nguồn an ủi:</p>
<p>Trăm năm trước thì ta chưa có</p>
<p>Trăm năm sau có cũng như không</p>
<p>Cuộc đời sắc sắc không không</p>
<p>Trăm năm còn lại tấm lòng từ bi…”</p>
<p>Vâng, câu hỏi trong đời của từng người chúng ta vẫn là: trăm năm còn lại chút gì? Câu trả lời là, ước mơ một nét văn hóa Việt nơi phương trời xa. Ngô Thế Vinh viết về họa sĩ Nguyên Khai, và ghi ước mơ này:</p>
<p>“Mong ước, rồi ra ngoài một Gallery Nguyên Khai trên không gian ảo www.nguyenkhaiart.com, căn nhà nhỏ mơ ước của Nguyên Khai &#8211; chữ của Trịnh Cung, nơi thị trấn Tustin, Orange County California và một số tranh tượng ấy sẽ được giữ lại như thêm một nét văn hoá Việt nơi thủ đô tỵ nạn của một thế hệ di dân thứ nhất.”</p>
<p>Hay như để hóa thân vào một nền văn học khác, như trường hợp Nguyễn Xuân Hoàng, khi được một nhà nghiên cứu văn học Nhật Bản dịch sang tiếng Nhật. Ngô Thế Vinh viết:</p>
<p>“Tanaka Aki, tên cô gái Nhật Bản, Aki có nghĩa là &#8220;Mùa Thu&#8221;, cô đã không có may mắn được gặp nhà văn Nguyễn-Xuân Hoàng mà cô rất ngưỡng mộ nhất là sau này khi được đọc tác phẩm <em>Người Đi Trên Mây, Sa Mạc, Bụi và Rác</em>. Aki đã bị cuốn hút ngay với tác phẩm <em>Người Đi Trên Mây</em> vì mối quan tâm của cô về môi trường, hoàn cảnh sinh hoạt của Sài Gòn trước 1975. Aki đã từng sống và làm việc ở Việt Nam hơn 13 năm nhưng là thời kỳ sau 1975. Và cô có ý muốn dịch <em>Người Đi Trên Mây</em> sang tiếng Nhật nhằm chia sẻ một tác phẩm hay với độc giả người Nhật.”</p>
<p>Để nói ngắn gọn, thời gian đang cuốn trôi tất cả, nhưng tác phẩm <em>Chân Dung Văn Học Nghệ Thuật và Văn Hoá</em> của Ngô Thế Vinh sẽ vẫn ở mãi với văn học Việt Nam, vừa là sử liệu, vừa là chứng liệu, vừa là nhận định văn học từ chính một người cùng chia sẻ nỗ lực sáng tạo một thời. Nơi một góc thư viện, tác phẩm của Ngô Thế Vinh vẫn là độc đáo, và những dòng chữ đó – dù là viết về dòng sông Mekong hay về dòng sông văn học – cũng là từ máu tim của ông. Xin trân trọng mời đọc.</p>
<p>GHI CHÚ:</p>
<p>Tác phẩm <em>Chân Dung Văn Học Nghệ Thuật và Văn Hoá</em> của Ngô Thế Vinh đang lưu hành ở Amazon, ấn bản màu và ấn bản đen trắng ở:</p>
<p><a href="https://www.amazon.com/s/ref=nb_sb_noss_1?url=search-alias%3Daps&amp;field-keywords=ngo+the+vinh">https://www.amazon.com/s/ref=nb_sb_noss_1?url=search-alias%3Daps&amp;field-keywords=ngo+the+vinh</a></p>
<p>Liên lạc tác giả hay nhà xuất bản: <a href="mailto:vietecologypress@gmail.com">vietecologypress@gmail.com</a></p>
<p>P.O. Box 3893, Seal Beach, CA 90740</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Phan Tấn Hải</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2017</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/phan-tan-hai-ngo-the-vinh-va-18-chan-dung-van-hoc-nghe-thuat-va-van-hoa/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>

<!--
Performance optimized by W3 Total Cache. Learn more: https://www.boldgrid.com/w3-total-cache/?utm_source=w3tc&utm_medium=footer_comment&utm_campaign=free_plugin

Page Caching using Disk: Enhanced 

Served from: t-van.net @ 2026-06-14 19:14:15 by W3 Total Cache
-->