<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>giới thiệu tác phẩm &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<atom:link href="https://t-van.net/tag/gioi-thieu-tac-pham/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://t-van.net</link>
	<description>Văn Học và Đời Sống</description>
	<lastBuildDate>Wed, 10 Jun 2026 12:01:34 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.7.5</generator>

<image>
	<url>https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/02/t-van-favicon.png?strip=all&#038;resize=32%2C32</url>
	<title>giới thiệu tác phẩm &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<link>https://t-van.net</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Đặng Thơ Thơ: Tuỳ Bút của Bùi Vĩnh Phúc &#8212; Trường Nghĩa và Tính Liên Văn Bản</title>
		<link>https://t-van.net/dang-tho-tho/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Tác Giả]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 10 Jun 2026 06:36:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[giới thiệu tác phẩm]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=89760</guid>

					<description><![CDATA[tác phẩm của Bruce Nauman tại MoMA- Nữu Ước&#160; Trong văn học, tùy bút là thể loại bộc lộ rõ nhất cá tính, tư duy và suy nghiệm của người viết. Với Bùi Vĩnh Phúc, mối quan hệ giữa chuyện sống và sáng tác được cô đọng qua nhận định: “Với tôi, sống hay viết [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/06/FaedlgAX-image001.jpg?strip=all&fit=300%2C252&w=2560"><img fetchpriority="high" decoding="async" width="300" height="252" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/06/FaedlgAX-image001.jpg?strip=all&fit=300%2C252" alt="" class="wp-image-89762" style="width:612px;height:auto"/></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>tác phẩm của <strong>Bruce Nauman</strong> tại MoMA- Nữu Ước&nbsp;</em></p>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Trong văn học, tùy bút là thể loại bộc lộ rõ nhất cá tính, tư duy và suy nghiệm của người viết. Với Bùi Vĩnh Phúc, mối quan hệ giữa chuyện sống và sáng tác được cô đọng qua nhận định:</p>



<p><em>“Với tôi, sống hay viết thì cũng vậy. Viết là một dạng sống. Và sống, nhìn một cách nào đó, cũng là một dạng viết. Tôi viết nên tôi trong sự sống mình.”</em></p>



<p>Một nhận định mang tính hiện sinh! Quan niệm này cho thấy tác giả coi văn chương là một cách định hình và xác lập bản thể. Thật vậy, đọc Bùi Vĩnh Phúc là dịp cho chúng ta hiểu con người anh, đi cùng anh trong hành trình anh đã trải qua, đi vào tâm cảm một người thơ lãng mạn, một nghệ sĩ mẫn cảm, một nhà nghiên cứu phê bình uyên bác, với phong cách như Nguyễn Thị Tịnh Thy đã viết: “<em>Thận trọng nhưng quyết đoán, giàu cảm xúc nhưng giữ sự tỉnh táo của một người làm khoa học văn chương, Bùi Vĩnh Phúc luôn làm mềm hóa lý thuyết, chứng tỏ rằng việc áp dụng lý thuyết vào phê bình và nghiên cứu là do yêu cầu tự thân của tác phẩm và tác giả chứ không hề bị áp đặt, khiên cưỡng.”</em>&nbsp; Bùi Vĩnh Phúc đã ghi lại dưới dạng tuỳ bút những ký ức thời niên thiếu, những biến động trong cuộc đời&#8211; từ chuyện vượt biên đến cuộc sống lưu vong tại hải ngoại, trong đó anh sử dụng ba phương thức biểu đạt chính: tính liên văn bản, hệ thống trường nghĩa /semantic fields (vận hành qua cả hai nguyên lý tương phản và bổ sung) cùng việc duy trì chất thơ trong văn xuôi. Cách tiếp cận này giúp anh hệ thống hóa ký ức, kiến giải các chấn động tâm lý và xây dựng một cấu trúc tinh thần độc lập để đối diện với thực tại.</p>



<p><strong>I. Tính liên văn bản: sự liên kết giữa ký ức và tri thức</strong></p>



<p>Nhà thơ-nhà phê bình-nhà ngôn ngữ học của chúng ta viết: <em>“Tất cả chữ viết của con người, kết hợp lại, là một liên văn bản bất tận.”</em></p>



<p>Đọc Bùi Vĩnh Phúc là đọc những liên văn bản, đủ thể loại, băng qua nhiều trục thời gian, nhiều không gian văn hoá và tâm cảm. Tính liên văn bản trong tùy bút của Bùi Vĩnh Phúc là cách anh liên kết những kinh nghiệm cá nhân với các hệ thống ký hiệu văn hóa, văn chương thế giới, và khoa học. Tác giả gọi đó là <em>“một sự dệt nối”</em> trong vô thức, diễn ra ở nhiều cấp độ.</p>



<p>Đầu tiên, chúng ta có thể thấy ảnh hưởng văn học và nghệ thuật phương Tây lên những hình ảnh thường tái hiện trong hồi ức và những giấc mơ, và ý nghĩa của chúng trong đời sống của tác giả, đặc biệt khi rơi vào những hoàn cảnh đầy thử thách như đối diện với cái chết trên biển hay sự cô độc trong thời gian vừa định cư ở Hoa Kỳ. Đoạn văn đầu tiên trong tuỳ bút “Những Đóa Hoa Dịu Dàng Phất Phơ Trong Gió” mở đầu bằng một giấc mơ trong đó tác giả còn là một đứa trẻ:</p>



<p><em>“Khi tôi tỉnh dậy, mặt trời đang xuống, để loang trong khoảng không trước mắt tôi một dòng sông máu thê thiết. </em>Soleil cou coupé<em>. Thằng bé quá nhỏ trong giấc mơ tôi bỗng nhớ tới một câu thơ của Apollinaire. </em>Mặt trời bị cắt cổ<em>. Câu thơ rơi về từ một ký ức xưa cũ, nhưng trong giấc mơ, cái ký ức ấy thuộc về phía tương lai trước mặt của thằng bé. Vậy mà câu thơ vẫn hiện ra.”</em></p>



<p>Bùi Vĩnh Phúc tìm đến các tác phẩm văn chương đã tiếp cận từ thời trẻ như một hệ quy chiếu để suy nghiệm và lý giải thực tại. Anh đặt hình tượng mặt trời bị cắt cổ trong thơ Apollinaire vào tâm thức của một đứa trẻ năm tuổi trong giấc mơ của một người viết, với mục đích xóa nhòa ranh giới thời gian (quá khứ và tương lai), dệt nối các biểu tượng thi ca Pháp với văn hoá Việt (mùi rơm khô trên cánh đồng, chiều cuối năm đón Tết) để gợi đến dự cảm về một tương lai bất ổn sau này trong chuyến vượt biên cận kề cài chết.</p>



<p><em>“… một sự dệt nối, giữa những ngọn tháp ở New York trong tâm trí của Lorca, rồi sau đó là trong tâm trí của tôi, của hắn, với chiếc thuyền mong manh như một chiếc lá khô, giòn và mỏng, giữa trận mưa cuồng. Có gì đó liên hệ với </em>Thanatos<em> chăng? Bản năng chết của vô thức. Để cân bằng với </em>Eros<em>, bản năng sống. Tình yêu. Khoái cảm. Sự sống. Hay, đúng hơn, đó là lúc hai bản năng sống và chết ấy ôm choàng lấy nhau trong cái tôi hạt bụi và mong manh trước miệng hố sâu.”</em></p>



<p>Ngay giữa cơn bão biển khốc liệt trong cuộc vượt biên, tác giả liên tưởng đến <em>“những ngọn tháp ở New York trong tâm trí của Lorca”</em>, một nhà thơ Tây Ban Nha. Tập thơ <em>Poeta en Nueva York</em> của Lorca phản ảnh sự lạc lõng của con người trước nền văn minh cơ khí. Đặt hình ảnh những khối bê tông sừng sững của nền văn minh hiện đại cạnh chiếc thuyền nhỏ mong manh giữa đại dương, Bùi Vĩnh Phúc đã khái quát hóa nỗi cô đơn và sự bất lực của cá nhân trước định mệnh thành một kinh nghiệm phổ quát của con người trong dòng thời gian vô tận của những nền văn minh nối tiếp nhau. Một liên văn bản giữa ký ức cá nhân/tập thể và tri thức văn hoá của nhân loại,</p>



<p>Đoạn tuỳ bút trên của Bùi Vĩnh Phúc còn là liên văn bản giữa phân tâm học và các dấu chỉ văn hóa. Anh phân giải cuộc xung đột sinh tồn bằng các khái niệm phân tâm học của Sigmund Freud: Thanatos (Bản Năng Chết) và Eros (Bản Năng Sống). Tại lằn ranh sinh tử, thay vì triệt tiêu nhau, hai bản năng này tồn tại đồng thời, tạo ra một trạng thái cân bằng tâm lý đặc biệt khi con người đối diện với nguy cơ hủy diệt. Để cụ thể hóa cuộc xung đột giữa sống và chết, tác giả đưa ẩn dụ <em>“trận đấu bò Tây Ban Nha”</em> để ví cơn bão biển như con bò mộng đang lao tới, chiếc thuyền là kẻ đấu bò bị thương, và tình trạng nguy nan được nhấn mạnh bằng chi tiết người đấu bò không còn “<em>miếng vải đỏ thần thánh</em>” (<em>muleta</em>) để điều khiển trận đấu. Ẩn dụ này, liên kết với phân tâm học Freud, giúp tác giả cấu trúc lại một sự kiện hỗn loạn thành một tình thế mang tính biểu tượng, đầy kịch tính. Ngay giây phút cận kề cái chết, Bùi Vĩnh Phúc đã tự phân thân, thành kẻ ngồi trên khán đài xem trận đấu bò đang diễn tiến, mà chính anh là kẻ đấu bò bị thương. Đây là biện pháp khách quan hoá cái tôi khi rơi vào tình thế của thảm kịch.</p>



<p>Việc Bùi Vĩnh Phúc chuyển đại từ nhân xưng từ “Tôi” sang “Hắn” khi viết về những thứ kinh hoàng trong lúc vượt biên cũng là biểu hiện của cơ chế tự vệ tâm lý (psychological defense mechanisms) dưới góc nhìn phân tâm học. Khi một chấn thương (trauma) vượt quá sức chịu đựng của bản ngã (Ego), ngôn ngữ buộc phải tự đứt gãy để bảo vệ kẻ đang chấn thương. Cơ chế này tạo ra sự phân mảnh chủ thể và khách thể. Đại từ “Tôi” đại diện cho chủ thể đang sống, đang cảm nhận nỗi sợ hãi tột cùng của một kẻ sắp chìm. Nếu tiếp tục dùng “Tôi”, người viết sẽ phải sống lại toàn bộ cơn bão. Bằng cách gọi mình là “Hắn”, tác giả đã trục xuất phần bản thể bị tổn thương ra bên ngoài. “Hắn” là một kẻ lạ, một khách thể tội nghiệp nằm dưới đáy thuyền, còn “Tôi” lúc này đã biến thành một khán giả đứng từ xa quan sát. Sự ngập ngừng <em>“đẩy tôi (không, đẩy hắn)”</em> chính là khoảnh khắc dao động và phân thân của bản ngã: ý thức nhận ra nỗi đau quá lớn và lập tức đẩy ký ức đó cho một kẻ khác gánh thay.</p>



<p>Hành vi gọi mình là “hắn” còn là một cách vô hiệu hóa siêu ngã (superego). Bằng cách biến mình thành một người khác, người viết dễ dàng hơn trong việc mô tả sự hoảng loạn, sự run sợ của “hắn”, một cách khách quan nhất, mà không bị sự kiểm duyệt của siêu ngã, lòng tự trọng hay sự phán xét của chính mình ở hiện tại. “Hắn” chịu trách nhiệm cho nỗi sợ, còn “Tôi” giữ sự tỉnh táo để ghi chép lại nỗi sợ đó. Việc chuyển đổi nhân xưng ngôi thứ này cho thấy văn chương là một liệu pháp phân tâm học. Bằng cách tạo ra “hắn”, Bùi Vĩnh Phúc đã đổi vị trí từ một nạn nhân lịch sử thành một chủ thể toàn quyền kiểm soát có thể cấu trúc lại bi kịch của chính mình thông qua trò chơi ngôn ngữ.</p>



<p>Khi cơn bão qua đi, người viết quay trở lại với ngôi thứ nhất “Tôi” để thu hồi bản thể. Nhưng <em>“Tôi đã không còn tôi cũ.”</em> &nbsp;“Tôi” đã thay đổi, biến dạng, đã nghiêng ngã và tìm hướng chuyển dời để sống còn. Việc đưa bức tranh <em>Cây ngả</em> (<em>Bent Tree</em>) của Chaim Soutine vào tuỳ bút cũng là sự liên kết văn bản để thiết lập một ẩn dụ thị giác. Những nét vẽ vặn vẹo, biến dạng của cây cối trong tranh Soutine có thể hiểu theo cách chúng bị cong oằn và uốn theo chiều gió của những cơn mưa bão trong bài viết của Bùi Vĩnh Phúc. Và người đọc sẽ có sự liên tưởng đến cảnh <em>“gió thổi bồng bồng/ mây trắng như bông”</em> (thơ Bùi Vĩnh Phúc) bay ngang và thổi tung thành phố của Chaim Soutine lên trời.</p>



<p>Tuỳ bút của Bùi Vĩnh Phúc có cấu trúc phi tuyến tính, thể hiện qua việc tác giả liên kết các văn bản do chính mình viết ở những thời điểm khác nhau: tùy bút năm 1986 và phần viết thêm năm 2017, cùng những bài thơ thuộc nhiều giai đoạn sống. Anh viết tuỳ bút như theo dòng vận hành của ký ức, mà ký ức thì như một cuộn phim đang chiếu lại các hình ảnh cũ (chợ Tết, hoa mào gà, tiếng pháo), cắt ghép với hình ảnh thực tại (giảng đường ở Mỹ, căn nhà ở California), tạo nên một mạng lưới văn bản ký ức chồng lấp lên nhau. Ở một thời điểm nào đó, anh nhìn lại: <em>“Bây giờ, tôi đã lớn rồi. Trái tim tôi đã cũ đi nhiều. Tôi đã sống phiêu bạc nay đây mai đó bao nhiêu năm như một con thuyền chìm nổi. Tôi đẩy tất cả những lượng sống mình cho những ước mơ và cho những điều tôi tin tưởng, hướng về.”</em> Trong niềm tiếc nuối quá khứ, anh sử dụng các câu hỏi từ âm nhạc của Dalida (<em>“Que sont devenues les fleurs du temps passé?”</em>) và thơ của François Villon (<em>“Où sont les neiges d’antan?”</em>). Việc đối thoại liên tục với các văn bản khác nhau có thể phần nào giúp tác giả giải quyết sự gãy nứt của thời gian, bắc cầu qua những biên giới địa lý-văn hoá, và sắp xếp lại những sự kiện trong đời thành một diễn ngôn mang ý nghĩa cho mình, đồng thời tiếp tục cuộc trò chuyện với tương lai về những thứ còn dang dở.</p>



<p><strong>II. Hệ thống trường nghĩa (semantic fields): trục tương phản và nguyên lý bổ sung</strong></p>



<p>Đọc Bùi Vĩnh Phúc là trôi và chìm ngập trong những trường chữ và nghĩa, những trường hình ảnh, ấn tượng, xúc cảm, liên tưởng, và kinh nghiệm. Trong cái viết của anh, <em>“các nghĩa trượt lên nhau, trượt vào nhau và trượt qua nhau đã làm thành một trường nghĩa rộng lớn. Nghĩa tạo ra nghĩa, từ những liên nghĩa, hàm nghĩa, nghĩa ẩn, nghĩa chìm, và dấu vết của chúng, sau khi bị vượt qua, vẫn còn tiếp tục nằm ở đấy, làm đầy cái không gian ngữ nghĩa.”</em></p>



<p>Ngôn ngữ trong tùy bút Bùi Vĩnh Phúc được cấu trúc chặt chẽ dựa trên các trường nghĩa lớn. Các từ ngữ không đứng riêng biệt mà kết hợp và cộng hưởng với nhau tạo thành những mạng lưới ý nghĩa đa tầng. Chúng vừa vận hành theo trục tương phản để tạo những góc nhìn đối điểm, vừa phối hợp theo nguyên lý bổ sung để thiết lập sự tương tác giữa các trường nghĩa khác từ những góc nhìn phân cực.</p>



<p>Hãy xét về trục tương phản của thực tại và ký ức. Tôi chú ý đến trường nghĩa liên quan đến kỷ niệm – cội nguồn –tết – quê hương trong tuỳ bút “Những Đóa Hoa Dịu Dàng Phất Phơ Trong Gió.” &nbsp;Trường nghĩa này tập hợp các từ ngữ giàu cảm tính, hình ảnh, âm thanh, mùi vị, xúc cảm. Về thị giác, đó là <em>nồi bánh chưng, hoa mào gà mọc hoang, xác pháo hồng, xe thổ mộ, chậu cúc đại đóa, chợ Tết Nguyễn Huệ, bàn thờ thiên khói hương</em>. Về thính giác và khứu giác, đó là <em>tiếng pháo nổ râm ran, tiếng nước sôi sùng sục, tiếng vó ngựa lóc cóc, tiếng gà trưa êm ả, mùi khói rơm rạ, mùi trầm hương, mùi thuốc pháo khen khét, mùi vôi mới</em>. Các ký hiệu này dựng lại một không gian văn hóa nguyên bản, nơi tâm lý con người đạt trạng thái ổn định và <em>“thanh bình”</em> trong trường nghĩa của những gì thuộc về ký ức.</p>



<p>Đối trọng với ký ức tuổi thơ là không gian thực tại của người di dân tại hải ngoại, mang đặc tính cô lập và bất ổn. Đây là trường nghĩa lưu vong – đứt gãy – tha hoá, đặc biệt rõ nét trong tuỳ bút “Hãy Ngước Mặt và Thả Bay Đi Những Cơn Mưa.” Trường nghĩa này tập hợp các từ ngữ nói lên tâm trạng lưu vong: <em>lang thang, không nhà, cắt vụn, gãy gập, đứt đoạn, chia lìa, bơ vơ, lạc lõng, khắc khoải, vong thân, cuốn phim rè, kẻ lạ ngay trên quê hương của mình, nhịp đâp của một trái tim giả vv…</em> và cảm thức trong không gian xa lạ bất trắc: <em>cơn mưa đen phủ chụp, sắc lẻm như dao, trận mưa cuồng, miệng hố sâu, giấc mơ đen trắng, bóng đèn vàng vọt, sạp chợ đìu hiu, chiến đấu với hư không, chiếc phong vũ biểu của tâm hồn tôi hạ thấp đến một mức độ thảm hại nhất …</em> Các ký hiệu này gộp lại, tạo thành trường nghĩa mang không khí bất ổn của hiện tại, nơi những thân phận di dân trở thành những văn bản bị lỗi hay cuốn phim bị đứt, hỏng, thiếu sót.</p>



<p>Sự tương phản giữa hai trường nghĩa tạo ra cấu trúc đối điểm rõ rệt: quá khứ sống động phong nhiêu còn hiện tại thì đơn sắc, nghèo nàn. Nếu trục tương phản của trường nghĩa biểu hiện sự xung đột của những chặng đời, thì tính bổ sung giữa các trường nghĩa có vai trò giúp tác giả đối mặt với những chấn động tâm lý và suy giải các yếu tính của thời gian. Các trường nghĩa vì vậy không triệt tiêu nhau; chúng thâm nhập, mượn đặc tính của nhau để hoàn thiện một diễn ngôn chung. Chẳng hạn như trường nghĩa về thiên nhiên ở vùng đất mới (<em>những cánh đồng poppy dại phất phơ, xa lộ California</em>) đã giao thoa và bổ sung cho trường nghĩa quê nhà. Tác giả nhìn những đóa hoa dại ở Mỹ nhưng lại nhớ đến những bụi hoa mào gà ở Việt Nam; anh đứng giữa xa lộ hiện đại nhưng tâm trí lại dẫn về tiếng vó ngựa lóc cóc kéo chiếc xe thổ mộ của quá khứ. Ở đây, thực tại đóng vai trò là chất xúc tác giác quan, còn ký ức là nội dung biểu đạt. Sự bổ sung này xóa bỏ biên giới địa lý, hoà hợp các không gian để tác giả định vị lại nội tâm và bản sắc văn hoá của mình.</p>



<p>Một cách hữu hiệu để kết hợp các trường nghĩa là vận dụng nhịp điệu và nhạc tính (musicality) của từ ngữ. Bùi Vĩnh Phúc viết tùy bút với ý thức và tâm hồn của một người làm thơ. Câu văn của anh có sự uyển chuyển, trầm bổng và giàu nhạc tính do cách vận dụng từ ngữ tạo dư âm:</p>



<p><em>“Rừng dừa vẫn vỗ đập cái tiếng vỗ chất ngất của nó trong mưa và gió biển ngoài kia.”</em></p>



<p>hay:</p>



<p><em>“Dòng sông ngân lên thành một khúc nhạc trắng muốt. Dòng sông trắng ngân lên như một phím dương cầm.”</em></p>



<p>Những cụm điệp từ hay từ láy <em>“lung linh nhoà nhạt”,</em> <em>“dập dờn như sóng”</em>, <em>“chấp chới bay”</em>, <em>“xôn xao máy động”,</em> hay <em>“phất phơ phơ phất”,</em> <em>“bồi hồi lay động”</em>… xuất hiện liên tục. Chúng tạo ra một thứ nhịp điệu lững lờ chuyển động vô hình trong tâm tưởng người đọc. Khi viết về loài hoa <em>coquelicots </em>(hoa anh túc), anh tả cả thanh âm: <em>“Nghe như có cả một đàn chuông rung liên hồi vào không gian những âm thanh trong veo bất tuyệt.”</em> Đặt âm thanh vào hình ảnh một loài hoa, đưa thi ca vào văn miêu tả, trong đó có bài thơ viết thay con gái để tặng mẹ, hay trích dẫn các câu thơ Pháp, Việt vào mạch văn xuôi; những yếu tố này biến toàn bộ bài tùy bút thành một bài thơ mở rộng và mang cấu trúc đa tầng, đa văn bản.</p>



<p>Những đoạn văn về mưa tạo ra một trường nghĩa đầy ám ảnh:</p>



<p><em>“Những mũi tên trắng xoá của trời hình dung thấy cắm thẳng xuống đất. Những mũi tên cứ giăng đầy và cắm xuống mãi. Những hình ảnh không màu ấy trong giấc mơ là một loại phim đen trắng và không</em> <em>có âm thanh. Nhưng chính vì đen trắng mà lại vô thanh nên nó đã có hiệu ứng chấn động kinh khủng… Những cơn mưa, ám ảnh mình hoài, từ đó, trở thành một cái gì thân thiết mà tàn bạo. Tàn bạo và thân thiết như định mệnh con người.”</em></p>



<p>Và mùi hương trong mưa:</p>



<p><em>“Mùi thơm ướt át của hoa lá thoáng nhẹ tự nhiên làm trái tim người ta mềm ra. Mùi thơm hình như vỗ lại một vài kỷ niệm nhỏ nhoi nào đó trong đời.”</em></p>



<p>Những cơn mưa trên đường phố Sài Gòn, mưa trên sân thượng, mưa trên sông vắng, mưa tối vượt biên, mưa bây giờ tại thành phố Cali gần biển, vv… mưa đã tạo thành một trường nghĩa theo đuổi nhà thơ, ngồi viết cùng nhà thơ, và tấu lên những cung bậc đầy hạnh phúc và đầy ám ảnh trong tâm hồn tác giả.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/06/nbypYgXR-image003.jpg?strip=all&w=2560"><img decoding="async" width="965" height="663" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/06/nbypYgXR-image003.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-89764" style="width:716px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/06/image003-300x206.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2026/06/image003-768x528.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/06/nbypYgXR-image003.jpg?strip=all 965w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em><strong>Semantic Fields </strong>của <strong>đặng thơ thơ</strong></em></p>



<p>III.<strong> Thời gian qua lăng kính triết học và vật lý lượng tử</strong></p>



<p>Nếu nhìn hai tùy bút của Bùi Vĩnh Phúc dưới lăng kính của trường nghĩa, chúng ta sẽ thấy tác giả cấu trúc ký ức thành những vùng không gian, thời gian và cảm xúc. Từ ngữ trong các trường nghĩa khác nhau đối thoại và tương tác với nhau, tạo thành những mạng lưới ý nghĩa đan xen chồng chéo. Điểm giao thoa giữa các trường nghĩa là những suy nghiệm của Bùi Vĩnh Phúc về bản chất của thời gian. Bùi Vĩnh Phúc đưa hiện tượng học cùng khái niệm vật lý lượng tử vào tùy bút để suy giải bài toán thời gian và sự tồn tại của ký ức, tạo ra một cuộc đối thoại giữa các văn bản khoa học, triết học, và văn học.</p>



<p>Thay vì nhìn thời gian theo trục tuyến tính (quá khứ đã qua và biến mất vĩnh viễn), Bùi Vĩnh Phúc đề nghị một cách nhìn mang tính vật lý lượng tử qua nhận định:</p>



<p><em>“Những hình ảnh rộn rã và làm ấm lòng mình ấy dĩ nhiên là không bị mất đi đâu, chúng chỉ lui vào cõi thời gian xa xăm. Chúng nằm ở một chiều, một biên giới thời gian nào đó mà con người chưa biết cách để khơi động lại.”</em></p>



<p>Bùi Vĩnh Phúc từ chối cách hiểu thời gian là một đường thẳng. Ngoài hồi niệm quá khứ, anh còn nói đến một thứ “ký ức tương lai” khi trong giấc mơ, tác giả mô tả đứa trẻ nhớ về câu thơ của Apollinaire — một câu thơ mà đứa trẻ đó sẽ đọc rất lâu sau này. Sự đảo lộn trình tự này xóa nhòa ranh giới thời gian, biến thực tại thành một trạng thái đồng hiện, cho phép mọi hiện tượng cùng xảy ra. Trong đời sống, con người chịu sự chi phối của thời gian cơ học, vận động của đồng hồ, những múi giờ và ngày tháng…, nơi dòng chảy một chiều đào thải và làm tiêu biến mọi sự kiện. Việc anh nói về quá khứ <em>“dĩ nhiên là không bị mất đi đâu”</em> thể hiện một niềm tin xác quyết mang tính khoa học hơn là cảm xúc thuần túy, hay chỉ là cách nói văn chương. Những hình ảnh rộn rã của ngày Tết quê hương, tiếng pháo hay mùi khói bếp mà chúng ta tưởng là đã mất hút, thật ra chỉ dịch chuyển sang không gian hiện hữu mới của chúng, <em>“lui vào cõi thời gian xa xăm.”</em> Quá khứ không phải là hư vô hoặc chỉ nằm trong ký ức, mà là một thực thể tồn tại ở trạng thái bảo toàn năng lượng. Hiện tượng tác giả vẫn ngửi thấy mùi sơn mới hay mùi khói rơm ngay trong hiện tại (dù nó thuộc về 30 năm trước) cũng là một cách suy nghiệm theo khoa học lượng tử, cho phép có xác suất rằng chúng ta ngửi được mùi của quá khứ qua những hàm sóng của ý tưởng và hồi ức.&nbsp;</p>



<p>Nhận định rằng những điều đã qua nằm ở <em>“một chiều, một biên giới thời gian nào đó mà con người chưa biết cách để khơi động lại”</em> thật ra rất gần với giả thuyết về không gian đa chiều trong vật lý hiện đại. Tác giả xem ký ức như những hạt năng lượng hoặc những làn sóng phát ra từ một biến cố lịch sử. Khi một sự kiện xảy ra (như một tiếng vó ngựa lóc cóc trên đường phố cũ), chấn động vật lý và tâm lý do sự kiện gây ra không biến mất mà tiếp tục di chuyển mãi vào vũ trụ. Sự cách biệt giữa con người và quá khứ không phải là khoảng cách về địa lý, mà là ranh giới giữa các chiều thời gian. Theo cách lập luận này, nhớ về quá khứ không phải là hồi tưởng về một điều không còn nữa, mà là hướng tâm thức về một điểm nào đó trong vũ trụ, tại một tọa độ xác định, nơi quá khứ vẫn đang diễn ra một cách độc lập. Tuy nhiên, chúng ta phải đối mặt với vấn nạn hiện sinh vì <em>“con người chưa biết cách để khơi động lại”</em>. Nhận định này chỉ ra giới hạn của con người khi bị giam cầm trong thực tại vật chất. Chính tại giới hạn này, văn chương và tùy bút xuất hiện như một biện pháp, một nỗ lực dùng nghệ thuật mở rộng biên giới tâm tưởng để đi vào một chiều thời gian khác, để <em>“tất cả mọi chuyện đã xảy ra đều được thu cất đầy đủ trong cuộn phim thời gian vô tận. Có lẽ chỉ cần tìm được một chỗ đứng thích ứng nào đó là ta thấy lại được tất cả.”</em></p>



<p>Tùy bút của Bùi Vĩnh Phúc là một văn bản có cấu trúc phức tạp, nơi hành vi viết đồng nhất với tiến trình nhận thức hiện sinh (viết là sống, và sống là viết lên cuộc đời mình). Bằng việc kết hợp tính liên văn bản, hệ thống trường nghĩa giữa hai trục tương phản – bổ sung, với cách nhìn phi tuyến tính về thời gian, tác giả đã chuyển hóa những kinh nghiệm cá nhân thành đối tượng nghiên cứu mang tính thẩm mỹ và triết học. Văn chương của anh là một nỗ lực sử dụng ngôn từ và cấu trúc văn bản để định vị những vùng ký ức đang tồn tại ở một chiều không gian khác.</p>



<p><strong>Kết</strong></p>



<p>Để tạm kết luận cho phần trình bày này, tôi muốn nói rẳng những trường nghĩa dày đặc và hình thức liên văn bản với <em>“những hình ảnh kết nối bất khả suy niệm”</em> đã tạo ra chất thơ đặc thù trong tuỳ bút Bùi Vĩnh Phúc, mà theo tôi, còn giàu chất thơ hơn cả thi ca của anh. Với chất thơ đậm đặc trong các ẩn dụ văn chương, cách vận dụng từ ngữ tạo thanh và hình ảnh; các lý thuyết văn hoá, khoa học, triết học, vv… &nbsp;kỹ thuật liên văn bản giúp tác giả tạm thời mở ra một lối đi tắt vào biên giới thời gian ở một trường nghĩa mang tính thi ca, nơi các mảnh vỡ ký ức tồn tại song song và tự do, thoát khỏi quy luật của thực tại, để hiện hữu dưới dạng những hạnh phúc trong đời.</p>



<p>Bùi Vĩnh Phúc là một con người hạnh phúc. Anh tìm thấy hạnh phúc trong những gì anh trải qua, với mọi mùi vị của chúng, và trong những gì anh tận lực làm: dịch thuật, dạy học, làm thơ, nghiên cứu, phê bình văn học, đọc và viết, thưởng thức nghệ thuật, sống và yêu thương cuộc sống. Anh viết:</p>



<p><em>“Sáng nay, với cơn mưa, tôi đã bất chợt ngửi thấy trở lại những mùi hạnh phúc ẩm mốc cũ. Một chút hạnh phúc ẩm mốc dịu dàng. Hạnh phúc không phải chỉ là những niềm vui. Nó còn là những nỗi buồn. Hạnh phúc không chỉ là những nụ cười. Nó còn là những giọt nước mắt. Nó là niềm sung sướng nhưng đồng thời cũng là nỗi đớn đau. Hạnh phúc là tất cả những điều ấy khi chúng đan dệt với nhau để làm thành tấm áo của kỷ niệm ta.”</em></p>



<p>Đấy là tuỳ bút, thơ, cái viết, và cách sống của Bùi Vĩnh Phúc.&nbsp;</p>



<p>&nbsp;<strong>Đặng Thơ Thơ</strong></p>



<p><strong>hình ảnh</strong></p>



<p>1&nbsp; Nghệ sĩ đa phương tiện Bruce Nauman sáng tác theo nhiều thể loại như sắp đặt, video, trình diễn, điêu khắc và nhiếp ảnh. Những tác phẩm mang tính văn bản của ông là những điêu khắc bằng ánh sáng neon, chú trọng vào ngữ nghĩa học (semantics), về những thay đổi nhỏ nhặt trong từ ngữ có thể tạo ra hiệu ứng ý nghĩa như thế nào.</p>



<p>2. Sắp đặt chữ-nghĩa dựa trên văn bản của Bùi Vĩnh Phúc</p>



<p><strong>PHỤ LỤC:</strong></p>



<p><strong>Chiều Thơ, Nhạc &amp; Phê Bình &#8220;Chữ Nghĩa &amp; Không Gian Văn Chương&#8221;</strong></p>



<p><strong><em>Ra Mắt Sách của nhà phê bình văn học Bùi Vĩnh Phúc</em></strong></p>



<p>Xin bấm vào link bên dưới:</p>



<figure class="wp-block-embed is-type-video is-provider-youtube wp-block-embed-youtube wp-embed-aspect-16-9 wp-has-aspect-ratio"><div class="wp-block-embed__wrapper">
<iframe title="Chiều Thơ Nhạc &amp; Phê Bình &quot;Chữ Nghĩa &amp; Không Gian Văn Chương&quot; / Ra Mắt Sách của Bùi Vĩnh Phúc" width="800" height="450" src="https://www.youtube.com/embed/R7DauRsbTWA?feature=oembed" frameborder="0" allow="accelerometer; autoplay; clipboard-write; encrypted-media; gyroscope; picture-in-picture; web-share" referrerpolicy="strict-origin-when-cross-origin" allowfullscreen></iframe>
</div></figure>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Bùi Vĩnh Phúc: CHỮ NGHĨA &#038; KHÔNG GIAN VĂN CHƯƠNG</title>
		<link>https://t-van.net/bui-vinh-phuc-chu-nghia-khong-gian-van-chuong/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[TV và BH]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 09 Jun 2026 06:45:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[TÁC PHẨM MỚI]]></category>
		<category><![CDATA[giới thiệu tác phẩm]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=89767</guid>

					<description><![CDATA[TV&#38;BH vừa nhận được Tạp Chí Văn Học Nghệ Thuật NGÔN NGỮ, ẤN BẢN ĐẶC BIỆT: Bùi Vĩnh Phúc: CHỮ NGHĨA &#38; KHÔNG GIAN VĂN CHƯƠNG do nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học Bùi Vĩnh Phúc gởi tặng. Bùi Vĩnh Phúc là một cây bút quan trọng của văn học hải ngoại [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/06/IMG_6120-1.jpeg?strip=all&w=2560"><img decoding="async" width="579" height="806" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/06/IMG_6120-1.jpeg?strip=all" alt="" class="wp-image-89769" style="width:437px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/06/IMG_6120-1-216x300.jpeg 216w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/06/IMG_6120-1.jpeg?strip=all 579w" sizes="(max-width: 579px) 100vw, 579px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>TV&amp;BH vừa nhận được Tạp Chí Văn Học Nghệ Thuật NGÔN NGỮ, ẤN BẢN ĐẶC BIỆT: Bùi Vĩnh Phúc: CHỮ NGHĨA &amp; KHÔNG GIAN VĂN CHƯƠNG do nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học Bùi Vĩnh Phúc gởi tặng. Bùi Vĩnh Phúc là một cây bút quan trọng của văn học hải ngoại từ hơn 30 năm nay và chắc chắn không xa lạ gì với độc giả Việt Nam trong và ngoài nước</p>



<p>Sách dầy 725 trang, là&nbsp;một tuyển tập đồ sộ ở cả hình thức lẫn nội dung. Sách gồm 6 phần.</p>



<p>Phần I: Tản Văn / Tùy Bút</p>



<p>Phần II: Tiểu Luận / Chuyên Luận (Trích)</p>



<p>Phần II: Thơ (Tuyển 50 bài)</p>



<p>Phần IV: Dịch Thuật</p>



<p>Phần V: Đối Thoại (Các bài Phỏng Vấn)</p>



<p>Phần VI: Phụ Lục (Gồn một số hình ảnh kỷ niệm và bài viết của một số thân hữu)</p>



<p> Sách do NHÀ XUẤT BẢN NHÂN ẢNH phát hành năm 2026. </p>



<p>Xin trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả của TV&amp;BH và cám ơn nhã ý của tác giả.</p>



<p>Độc giả có thể tìm mua trên Amazon, hiện có 2 ấn bản (in màu, in đen trắng) của sách “Tạp Chí Ngôn Ngữ Số Đặc Biệt: Bùi Vĩnh Phúc – Chữ Nghĩa &amp; Không Gian Văn Chương” — trực tiếp vào link:</p>



<p>– Ấn bản màu, 60 USD:&nbsp;<a href="https://www.amazon.com/dp/B0GFSZ3666/">https://www.amazon.com/dp/B0GFSZ3666/</a>&nbsp;&nbsp;</p>



<p>– Ấn bản đen trắng, 50 USD:&nbsp;<a href="https://www.amazon.com/dp/B0GFSJN1LP/">https://www.amazon.com/dp/B0GFSJN1LP/</a></p>



<p>Hoặc vào Amazon.com và gõ nhóm chữ “bui vinh phuc” để sách hiển thị. Hoặc liên lạc trực tiếp với tác giả tại&nbsp;<a href="mailto:bvphuc2000@yahoo.com">bvphuc2000@yahoo.com</a>&nbsp;để có sách với chữ ký của tác giả.</p>



<p><strong>PHỤ LỤC</strong>: Một số bài viết về tuyển tập <strong>Bùi Vĩnh Phúc: CHỮ NGHĨA &amp; KHÔNG GIAN VĂN CHƯƠNG </strong></p>



<p><a href="https://t-van.net/phan-tan-hai-buoi-chieu-tho-nhac-phe-binh-mung-bui-vinh-phuc-ra-mat-sach/">Phan Tấn Hải: Buổi chiều thơ, nhạc, phê bình: Mừng Bùi Vĩnh Phúc ra mắt sách</a></p>



<p><a href="https://t-van.net/phan-tan-hai-doc-bui-vinh-phuc-chu-nghia-khong-gian-van-chuong/">Phan Tấn Hải: Đọc Bùi Vĩnh Phúc: Chữ Nghĩa &amp; Không Gian Văn Chương</a></p>



<p><a href="https://t-van.net/tran-thi-nguyet-mai-bui-vinh-phuc-nguoi-ban-thoi-hoa-mong/">TRẦN THỊ NGUYỆT MAI: Bùi Vĩnh Phúc, “Người Bạn” Thời Hoa Mộng</a></p>



<p><a href="https://t-van.net/trinh-y-thu-bui-vinh-phuc-phe-binh-van-hoc-nhu-la-mot-hanh-dong-cua-tinh-yeu/">Trịnh Y Thư: Bùi Vĩnh Phúc: Phê bình Văn học như là một hành động của tình yêu</a></p>



<p><a href="https://t-van.net/dang-tho-tho/">Đặng Thơ Thơ: Tuỳ Bút của Bùi Vĩnh Phúc &#8212; Trường Nghĩa và Tính Liên Văn Bản</a></p>



<p><strong>VIDEO:</strong></p>



<p><strong>Chiều Thơ, Nhạc &amp; Phê Bình &#8220;Chữ Nghĩa &amp; Không Gian Văn Chương&#8221;</strong></p>



<p><strong><em>Ra Mắt Sách của nhà phê bình văn học Bùi Vĩnh Phúc</em></strong></p>



<p>Xin bấm vào link bên dưới:</p>



<figure class="wp-block-embed is-type-video is-provider-youtube wp-block-embed-youtube wp-embed-aspect-16-9 wp-has-aspect-ratio"><div class="wp-block-embed__wrapper">
<iframe title="Chiều Thơ Nhạc &amp; Phê Bình &quot;Chữ Nghĩa &amp; Không Gian Văn Chương&quot; / Ra Mắt Sách của Bùi Vĩnh Phúc" width="800" height="450" src="https://www.youtube.com/embed/R7DauRsbTWA?feature=oembed" frameborder="0" allow="accelerometer; autoplay; clipboard-write; encrypted-media; gyroscope; picture-in-picture; web-share" referrerpolicy="strict-origin-when-cross-origin" allowfullscreen></iframe>
</div></figure>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngô Nguyên Nghiễm: LẠC THƯ CỬU TINH ĐỒ (Tuyển Tập)</title>
		<link>https://t-van.net/ngo-nguyen-nghiem-lac-thu-cuu-tinh-do-tuyen-tap/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Tác Giả]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 03 Jun 2026 06:47:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[TÁC PHẨM MỚI]]></category>
		<category><![CDATA[giới thiệu tác phẩm]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=89580</guid>

					<description><![CDATA[XIN BẤM VÀO ĐÂY Ngô Nguyên Nghiễm: LẠC THƯ CỬU TINH ĐỒ (Tuyển Tập)]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/bia-sach-NNN-2.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="525" height="730" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/bia-sach-NNN-2.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-89581" style="width:397px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/05/bia-sach-NNN-2-216x300.jpg 216w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/bia-sach-NNN-2.jpg?strip=all 525w" sizes="(max-width: 525px) 100vw, 525px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p class="has-text-align-center"><strong>XIN BẤM VÀO ĐÂY</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>Ngô Nguyên Nghiễm: LẠC THƯ CỬU TINH ĐỒ (Tuyển Tập)</strong></p>



<div data-wp-interactive="core/file" class="wp-block-file"><object data-wp-bind--hidden="!state.hasPdfPreview" hidden class="wp-block-file__embed" data="https://cdn.t-van.net/2026/05/LAC-THU-CUU-TINH-DO.pdf" type="application/pdf" style="width:100%;height:600px" aria-label="Embed of LAC THU CUU TINH DO."></object><a id="wp-block-file--media-dff83974-a56b-41f9-a3fe-90b0fbe11d7f" href="https://cdn.t-van.net/2026/05/LAC-THU-CUU-TINH-DO.pdf" class="mcloud-attachment-89582">LAC THU CUU TINH DO</a><a href="https://cdn.t-van.net/2026/05/LAC-THU-CUU-TINH-DO.pdf" class="wp-block-file__button wp-element-button mcloud-attachment-89582" download aria-describedby="wp-block-file--media-dff83974-a56b-41f9-a3fe-90b0fbe11d7f">Download</a></div>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/bia-sau-LACTHU.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="526" height="703" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/bia-sau-LACTHU.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-89583" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/05/bia-sau-LACTHU-224x300.jpg 224w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/bia-sau-LACTHU.jpg?strip=all 526w" sizes="(max-width: 526px) 100vw, 526px" /></a></figure></div>]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Lãng Thanh: TIỆM HOA GÃ KHỜ (THƠ &#8211; TẬP MỘT)</title>
		<link>https://t-van.net/lang-thanh-tiem-hoa-ga-kho-tho-tap-mot/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Tiểu Lục Thần Phong]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 28 Mar 2026 06:11:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[TÁC PHẨM MỚI]]></category>
		<category><![CDATA[giới thiệu tác phẩm]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=87938</guid>

					<description><![CDATA[TV&#38;BH vừa nhận được tập thơ TIỆM HOA GÃ KHỜ (THƠ &#8211; TẬP MỘT) của tác giả Lãng Thanh, một bút hiệu khác của Tiểu Lục Thần Phong, một cây bút rất sung sức và đa dạng của trang Văn Học và Đời Sống T.Vấn &#38; Bạn Hữu. Sách dầy hơn 300 trang, gồm khoảng [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/03/tho-tltp-resized.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="880" height="797" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/03/tho-tltp-resized.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-87939" style="width:574px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/03/tho-tltp-resized-300x272.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2026/03/tho-tltp-resized-768x696.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/03/tho-tltp-resized.jpg?strip=all 880w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>TV&amp;BH vừa nhận được tập thơ TIỆM HOA GÃ KHỜ (THƠ &#8211; TẬP MỘT) của tác giả Lãng Thanh, một bút hiệu khác của Tiểu Lục Thần Phong, một cây bút rất sung sức và đa dạng của trang Văn Học và Đời Sống T.Vấn &amp; Bạn Hữu. Sách dầy hơn 300 trang, gồm khoảng 200 bài thơ (một số bài đã được giới thiệu trên trang TV&amp;BH). Sách do nhà xuất bản LOVE phát hành năm 2026. Tấm tranh bìa  họa sĩ Aryan Eko Purwanto  thực hiện. Phần trình bày và layout do Võ Phú.</p>



<p>Độc giả muốn có sách xin liên lạc tác giả: freedomsteven_01@yahoo.com</p>



<p>Hoặc NXB: lovepublishing2025@gmail.com</p>



<p>Xin trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả của TV&amp;BH và cám ơn nhã ý của tác giả. Ngoài ra, tác giả Lãng Thanh còn có nhã ý gởi tặng độc giả của TV&amp;BH ấn bản điện tử của tập thơ như sẽ được trình bày dưới đây:</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/03/bia-thgk.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="737" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/03/bia-thgk-1024x737.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-87940" style="width:674px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/03/bia-thgk-300x216.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/03/bia-thgk-1024x737.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2026/03/bia-thgk-768x553.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2026/03/bia-thgk-1536x1106.jpg 1536w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/03/bia-thgk.jpg?strip=all 1920w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><strong>XIN BẤM VÀO ĐÂY:</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>Lãng Thanh: TIỆM HOA GÃ KHỜ (THƠ &#8211; TẬP MỘT)</strong></p>



<div data-wp-interactive="core/file" class="wp-block-file"><object data-wp-bind--hidden="!state.hasPdfPreview" hidden class="wp-block-file__embed" data="https://cdn.t-van.net/2026/03/Lang-Thanh_TiemHoaGaKho_01_Dau-2.pdf" type="application/pdf" style="width:100%;height:600px" aria-label="Embed of Lang Thanh_TiemHoaGaKho_01_Dau (2)."></object><a id="wp-block-file--media-25f6810b-65cf-4939-86bd-9ead89c6e263" href="https://cdn.t-van.net/2026/03/Lang-Thanh_TiemHoaGaKho_01_Dau-2.pdf" class="mcloud-attachment-87941">Lang Thanh_TiemHoaGaKho_01_Dau (2)</a><a href="https://cdn.t-van.net/2026/03/Lang-Thanh_TiemHoaGaKho_01_Dau-2.pdf" class="wp-block-file__button wp-element-button mcloud-attachment-87941" download aria-describedby="wp-block-file--media-25f6810b-65cf-4939-86bd-9ead89c6e263">Download</a></div>



<p class="has-text-align-center"><strong>THAY LỜI TỰA</strong></p>



<p><strong>LÀN SÓNG VÔ THANH</strong></p>



<p>Mình&nbsp;đi&nbsp;qua cõi nhân gian với bao nhiêu hệ lụy buồn vui. Con người ta trong cõi này thường mặc định trăm năm, tuy nhiên dễ mấy ai đạt được? Suốt cuộc trăm năm ấy mình quanh quẩn, loay hoay mưu sinh. Kẻ thì say danh vọng, người cần tiền tài, danh lợi… nhưng cũng đâu dễ được. Số người được như chóp nón còn số người không được thì như vành nón. Cũng trong cuộc trăm năm ấy nhưng có không ít kẻ lại suốt đời đi tìm cái đẹp trong đời, để rồi tạo tác cái đẹp, để dâng cái đẹp cho đời. Bọn họ có thể là những tay du tử soạn nhạc, vẽ tranh, tạc tượng, viết văn, làm thơ…Bọn du tử này suốt đời đi tìm cái đẹp. Ở đây chỉ nói đến những kẻ thật sự yêu cái đẹp, đi tìm cái đẹp, hiến dâng cái đẹp… còn những kẻ nhân danh đi tìm cái đẹp nhưng thực chất là tìm danh vọng, tìm lợi lộc, xu phụ quyền thế, khom lưng uốn gối thì không cần nói đến làm gì!</p>



<p>Từ xưa đến nay, từ Đông sang Tây… bọn du tử đam mê cái đẹp, đi tìm cái đẹp, sống chết với cái đẹp chẳng bao giờ chấp nhận cái lồng nhốt cho dù đó là cái lồng bằng vàng, sợi xích bằng vàng. Bọn du tử yêu tự do, vì tự do cũng chính là hiện thân của cái đẹp. Bọn du tử không làm chính trị, không can dự vào chính sự nhưng khi chính trị bại hoại, chính sự hà khắc thì bọn họ cũng cất lên tiếng nói tự do, cất lên tiếng nói vì dân tộc, vì quốc gia, vì nhân văn, vì thiên nhiên… Tiếng nói ấy cũng chính là cái đẹp dõng mãnh và kiêu hùng trong muôn vàn vẻ đẹp.</p>



<p>Bọn du tử đi tìm cái đẹp như con tằm nhả tơ, chấp nhận gầy hao, chấp nhận cùng kiệt để cho ra những sợi tơ vàng óng ả. Nhạc, họa, điêu khắc, văn, thơ… là phương tiện chuyển tải cái đẹp, cái đẹp không hề phù phiếm vì cái đẹp ấy do con người, của con người, vì con người.</p>



<p>Thời đại công nghệ cao, kỹ thuật tân tiến, trình độ phát triển vượt bậc với IT, AI (trí tuệ nhân tạo)…có thể làm thay rất nhiều việc cho người, trong số ấy bao gồm cả sáng tác, tạo tác cái đẹp. Vậy thì liệu cái đẹp còn có giá trị gì chăng? Liệu có còn những gã du tử đi tìm cái đẹp chăng? Những tác phẩm nhạc, họa, văn, thơ do AI (trí tuệ nhân tạo) làm ra liệu có phải là cái đẹp đáp ứng được &nbsp;nhu cầu thưởng thức của tâm hồn người chăng?</p>



<p>Xin thưa với bạn văn, AI (trí tuệ nhân tạo) là máy móc, là vật chất vô tri vô giác. AI (trí tuệ nhân tạo) không có ý thức hay nhận thức; không có tâm hồn hay tư tưởng. AI (trí tuệ nhân tạo) chỉ làm cái việc sử dụng nguồn tư liệu khổng lồ có sẵn trên mạng NET rồi lọc, lựa, cắt, ghép, nén, ép… lại thành tác phẩm theo chủ đề mà con người yêu cầu. Tóm lại AI (trí tuệ nhân tạo) không có sáng tác, đó chỉ là sản phẩm nhái, hàng giả….Đó không phải là cái đẹp , không phải là nghệ thuật!</p>



<p>Xin thưa với bạn văn, Khi nào mà con người còn tâm hồn, còn nhận thức, còn tình cảm, còn trái tim, còn biết rung động với cái đẹp, còn biết cảm thông với nỗi đau của tha nhân, còn biết yêu đất nước – con người… thì thế giới này vẫn còn những tay du tử đi tìm cái đẹp, tạo tác cái đẹp để sống và để hiến dâng cho đời. Khoa học kỹ thuật có phát triển cao cỡ nào đi nữa cũng không thể thay thế được tâm hồn con người. AI, IT có thể mổ não, thay tim người nhưng không thể thay được tâm hồn, không thể thay được sự rung cảm trong tình yêu, tình người, tình đời.</p>



<p>Thế giới này dù bên Đông hay bên Tây, dù xưa hay nay, thời nào và ở đâu cũng có những tay du tử rong chơi giữa đời. Bọn họ lạc loài giữa cõi nhân gian, đến đi lững thững không bến bờ, tháng ngày tràn mộng mơ yêu cái đẹp, đi tìm cái đẹp, chế tác cái đẹp. Những gã du tử như kẻ mở tiệm hoa giữa thảo nguyên hoa cỏ. Cứ ngỡ vô tích sự, mơ mộng viễn vông nhưng có ai ngờ chính nhờ tiệm hoa ấy mà thảo nguyên kia trở nên có hồn hơn, đẹp hơn, mang dáng dáp cõi người ta hơn. Gã khờ mở tiệm hoa giữa thảo nguyên hoa cỏ nào phải để bán mua, bốn mùa trống trải, nằm dài trên hoa cỏ, hái cỏ hoa dại tết làm vòng đội đầu cho em. Đời có thế nào đi nữa, xã hội có ra sao đi nữa vẫn không bao giờ thiếu những gã du tử như thế.</p>



<p>Những bài thơ trong tập thơ này rất vụng về y như bản thân kẻ ấy, thiếu trau chuốt, không bóng bẩy giống hệt chủ nhân viết ra; chẳng có bút pháp, không chút làm màu cứ thật thà tựa tánh tình y… Tất cả chỉ là như những vết chân trần trên cát, vết hài trên thảo nguyên hoa cỏ. Những bài thơ như vòng đội đầu tết bằng chính hoa cỏ thảo nguyên để tặng người thương trong buổi chiều Hạ biếc, trong nắng vàng Thu, trong buổi Xuân sang, trong mùa Đông băng giá…Dĩ nhiên cũng có thể là một tiếng chuông chùa trầm mặc, có thể là một vệt đèn vàng trong quán rượu nơi góc phố chiều hôm, một giọng ca thanh thót, một bóng dáng gợi lên ký ức…Cái đẹp ẩn tàng khắp mọi nơi, chỉ cần một chút rung động của những gã &nbsp;du tử thì nó sẽ tuôn trào, sẽ bùng lên, sẽ tỏa ra như những làn sóng vô thanh trong đất trời, trong tâm hồn người đồng điệu.</p>



<p><strong>LÃNG THANH</strong><br>Ất Lăng thành, 1225</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Trịnh Y Thư: Nguyễn Viện: Tiểu thuyết Có những kẻ đi mãi không về – Cuộc trốn chạy trong mê cung Lịch sử</title>
		<link>https://t-van.net/trinh-y-thu-nguyen-vien-tieu-thuyet-co-nhung-ke-di-mai-khong-ve-cuoc-tron-chay-trong-me-cung-lich-su/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Trịnh Y Thư]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 14 Mar 2026 05:09:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[giới thiệu tác phẩm]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=87632</guid>

					<description><![CDATA[1. Trong văn học, hành vi “thoát khỏi chiến tranh” hay “thoát khỏi cuộc sống” thường được thể hiện một cách gián tiếp, thông qua các phép ẩn dụ gợi lên sự rút lui, tan biến, siêu thoát hoặc quên lãng chứ không phải là sự chạy trốn theo nghĩa đen. Tuy vậy, trong cuốn [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/03/ni3VvtC3-image001.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="687" height="1024" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/03/image001-687x1024.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-87633" style="width:471px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/03/image001-201x300.jpg 201w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/03/image001-687x1024.jpg?strip=all 687w, https://cdn.t-van.net/2026/03/image001-768x1145.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2026/03/image001-1030x1536.jpg 1030w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/03/ni3VvtC3-image001.jpg?strip=all 1288w" sizes="(max-width: 687px) 100vw, 687px" /></a></figure></div>


<p>1.</p>



<p>Trong văn học, hành vi “thoát khỏi chiến tranh” hay “thoát khỏi cuộc sống” thường được thể hiện một cách gián tiếp, thông qua các phép ẩn dụ gợi lên sự rút lui, tan biến, siêu thoát hoặc quên lãng chứ không phải là sự chạy trốn theo nghĩa đen. Tuy vậy, trong cuốn tiểu thuyết <em>Có những kẻ đi mãi không về</em> của nhà văn Nguyễn Viện, ta thấy đó là một cuộc chạy trốn thật sự ra khỏi những thực tại tàn bạo, khốc liệt của chiến tranh, của đời sống. Nó không phải giấc ngủ hay giấc mơ để tạm thời quên đi những nhọc nhằn, khổ ải do đời sống đem lại, như giấc ngủ của <em>Iliad</em> của Homer, hoặc như Shakespeare từng nói: “<em>Giấc ngủ hàn gắn những vết thương lòng</em>.”</p>



<p>Con người trong thiên truyện này của nhà văn Nguyễn Viện không được quyền ngủ, hắn phải tỉnh thức, tỉnh thức để nhận lãnh tất cả mọi khổ đau, bầm dập của cái-gọi-là đời sống, và tỉnh thức để biết đường trốn chạy ra khỏi cái mê cung kinh hoàng của chiến tranh, của những thế lực phi nhân tính, phi đạo đức luôn sẵn sàng đè bẹp những tâm hồn yếu đuối chỉ có một mong ước duy nhất là được sống, được sống như con người.</p>



<p>Cuốn tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Viện va chạm đến vấn đề cốt lõi của cuộc sống hiện đại: tại sao sống như một con người lại khó khăn đến thế; tại sao sống là trốn chạy, là bế tắc, một nghịch lý hết thuốc chữa khi những tiến bộ về cả mặt khoa học lẫn tư tưởng đều đạt được những thành tựu lớn lao chưa từng thấy trong lịch sử?</p>



<p>2.</p>



<p>Thạch Xung, nhân vật chính diện của cuốn tiểu thuyết, người con của núi rừng, sinh ra trong một ngôi làng hẻo lánh heo hút ở vùng cao, với cái tên hoang dã, như chính nó, Rume. Mẹ gã trao thân cho một người đàn ông được mọi người trong làng gọi là “ông Thày” và sinh ra gã. Bà được gả cho một người đàn ông khác trong làng trước khi gã ra đời. Bởi thế trong suốt thời thơ ấu và niên thiếu gã mặc nhiên xem người đàn ông đó là cha mình. Cùng lúc có một người đàn bà khác cũng hiến dâng thân xác cho “ông Thày” và sinh ra một người con gái tên Thị. Ngôi làng mang một khí hậu hiện thực huyền ảo, “… <em>ẩn khuất giữa đám cây rừng ấy chưa bao giờ lạnh lẽo. Nó luôn được sưởi ấm bởi những hơi thở nóng của đàn bà ở Rume. Bởi không một người đàn bà nào không bị xao xuyến bởi ánh mắt dịu dàng của Thày</em>…” Và nặng mùi dục tính, “<em>Mùi ma mị của bà hoà quyện với mùi rừng man dại nhồi ông lên xuống giữa chơi vơi của đất trời. Mơ và thật. Bà Mắm rất tự hào vì được ông yêu. Như ân sủng. Như biệt đãi. Cho dẫu niềm tự hào ấy vẫn phải che giấu như bóng tối trong lô cốt, nhưng vẫn làm cho thần thái bà trở nên rạng ngời</em>.” (Tiểu đoạn 1: <em>Cái lô cốt ở Rume</em>).</p>



<p>Tình cảm khắng khít giữa Thạch Xung và Thị theo thời gian ngày càng nảy nở, nhưng không có một tình huống&nbsp; “Trăm năm cô đơn” nào xảy ra, mà thay vào đó là chiến tranh. Chiến tranh ập đến kéo theo tất cả những chết chóc, đổ vỡ, chia lìa, tan tác. Làng Rume bị chặt khúc ra từng mảnh bởi cả hai phe, Quốc gia lẫn Giải phóng. Ông Thày bị cắt đầu vì bị tình nghi là Việt gian, các người khác như bầy chim vỡ tổ, mỗi người tìm một phương lánh nạn. Thạch Xung và Thị cũng bị cuốn trôi theo cơn thác lũ ấy về thành phố chạy trốn, kiếm miếng ăn, nhưng mất liên lạc với nhau một thời gian dài.</p>



<p>Nhà văn Nguyễn Viện dành khá nhiều câu chữ trong cuốn tiểu thuyết để nói về cuộc chiến tranh ấy, tuy vậy, ông không hề đả động gì đến việc cuộc chiến xảy ra như thế nào; năm tháng, những biến cố trọng đại cũng không được moi ra từ lịch sử hoặc ký ức, mà chỉ nói về những hệ lụy đau đớn do cuộc chiến gây ra. Điều này không lạ. Bởi sứ mệnh (nếu có) của tiểu thuyết không phải minh họa cho Lịch sử, mà là lấp đầy những chỗ trống do Lịch sử vô tình hay cố ý bỏ quên. Nguyễn Viện nhìn chiến tranh với con mắt kinh hoàng tột độ, “… <em>Con người bị ném vào chiến tranh như miếng thịt ném cho thú dữ trong sở thú.</em>” Ở một đoạn khác, ông viết:</p>



<p><em>“Đao kiếm hay súng ống, xưa nay vẫn là thứ vũ khí để giết người và nó gắn bó với lịch sử con người như một thuộc tính. Một cám dỗ huỷ diệt, mãnh liệt và ám ảnh. Vì thế, vũ khí mỗi ngày một tinh vi và hiệu quả hơn. Nó cũng lôi cuốn con người hơn. Mang đao kiếm hay súng ống không chỉ là tự vệ hay giết người, mà nó nâng cấp và thị uy bản ngã.” </em>(Tiểu đoạn 5: <em>Thành phố</em>).</p>



<p>Đọc đến đây, tôi bỗng nhớ một câu viết của nhà văn Mỹ Henry Miller, “<em>Chúng ta giết nhau vì chúng ta hãi sợ chính cái bóng của mình, sợ rằng nếu chúng ta sử dụng một chút lý trí, chúng ta sẽ phải thừa nhận rằng những nguyên tắc cao cả của chúng ta là sai lầm</em>.”</p>



<p>Đoạn văn trên của Nguyễn Viện là tiếng dội từ vách núi vọng về của câu nói của Henry Miller, mà tôi hiểu như sau:</p>



<p>Chiến tranh là sự hủy diệt mang tính biểu tượng đối với kẻ khác, nhưng bạo lực không bắt nguồn từ sức mạnh hay niềm tin, mà từ nỗi sợ hãi. Sợ hãi khi nhận ra khả năng tàn ác của chính mình. Sợ hãi khi thừa nhận rằng chúng ta không trong sạch về mặt đạo đức như chúng ta tuyên bố. Sợ hãi rằng “kẻ thù” không hoàn toàn ở bên ngoài, mà phản ánh điều gì đó chưa được giải quyết bên trong chúng ta. Bằng cách phóng chiếu bóng tối này ra bên ngoài, chúng ta biến xung đột nội tâm thành xung đột ngoại tại. Kẻ thù trở thành một vật chứa tiện lợi cho những gì chúng ta không thể chịu đựng được ở chính mình. Do đó, bạo lực là một hình thức trốn tránh tâm lý.</p>



<p>Đoạn, cái “bản ngã được nâng cấp” của Nguyễn Viện hay cái “nguyên tắc cao cả” của Henry Miller là gì, và tại sao chúng ta hãi sợ nó là sai lầm?</p>



<p>Đây là lời buộc tội cốt lõi. Miller không tấn công các nguyên tắc nói chung, mà là các nguyên tắc được tôn vinh – những lý tưởng được nâng lên vượt quá sự phê phán và tách biệt khỏi thực tế. Chúng trừu tượng (quốc gia, sứ mệnh, cách mạng, tự do, sự trong sạch, sự tiến bộ, hệ tư tưởng, vv.) Họ đòi hỏi sự hy sinh – nhưng không bao giờ từ những kẻ định nghĩa chúng. Họ biện minh cho sự tổn hại là cần thiết, không thể tránh khỏi. Nói cách khác, chiến tranh, việc giết chóc tiếp diễn không phải vì con người thiếu hệ thống đạo đức, mà vì họ bám víu vào chúng quá cứng nhắc. Bạo lực trở thành một cơ chế phòng vệ để bảo vệ hình ảnh bản thân về mặt ý thức hệ.</p>



<p>Tại đây, ý thức hệ được trừu tượng hóa; những lý luận đạo đức, luân lý thông thường bị đàn áp, dẹp bỏ; bạo lực được biện minh như một nguyên tắc. Và, khốn nạn thay! Ranh giới giữa nguyên tắc và tội ác mỏng manh hơn chúng ta nghĩ.</p>



<p>Câu chuyện “ông Thày” bị cắt đầu trong thiên tiểu thuyết không là một biểu tượng ẩn dụ, không là một sản phẩm của tưởng tượng. Nó từng thật sự xảy ra nhiều lần trong thời chiến tranh Việt Nam, từ nhiều phe phái, không riêng gì phe Việt Minh hay Cộng sản. Cắt đầu người, một hành động tàn bạo kinh khiếp, bạn đừng nghĩ nó chỉ xảy ra vào thời Trung cổ phong kiến, nó từng xảy ra vào thời gọi là văn minh hiện đại. Câu hỏi được đặt ra là, tại sao con người lại có thể tàn ác, nhẫn tâm như thế với đồng loại?</p>



<p>Câu hỏi này đã được chính nhà văn Nga Aleksandr Solzhenitsyn hỏi, và câu trả lời của ông giản dị là: Nó chính là cái ý thức hệ.</p>



<p>Theo Solzhenitsyn, nguyên uỷ của tội ác là ý thức hệ. Ý thức hệ cung cấp kẻ ác sự bền bỉ và quyết tâm, bằng mọi giá, phải tiêu diệt tất cả những kẻ cản trở bước đường của mình. Nó được bao bọc bởi lớp hào quang giả tạo rồi trang trọng đưa lên ban thờ. Từ đó kẻ gây tội ác cứ việc an tâm gây tội ác mà lương tâm chẳng hề bị cắn rứt, bởi hắn chỉ cần vái lạy, nhân danh cái ý thức hệ đó thì bất cứ việc gì, dù tàn độc cách mấy, hắn vẫn có thể thản nhiên làm được. Cái ác tiềm ẩn trong DNA của mỗi chúng ta, với ý thức hệ như thùng phuy dầu xăng, chỉ cần một tia lửa nhỏ lóe lên cũng đủ cho nó biến thành đám cháy lớn thiêu đốt bất kỳ thứ gì nằm cản đường cản lối nó.</p>



<p>3.</p>



<p>Những người con của núi rừng bỏ chạy về thành phố, một nơi chốn hỗn loạn, xã hội suy đồi đến tận đáy đất đen, mọi giá trị truyền thống bị lật nhào, không lý tưởng, mọi ý nghĩa tiêu tan, người ta giẫm đạp lên nhau mà sống, con trai làm du đãng, con gái làm đĩ, hoặc khá lắm thì buông thả, sao cũng được, miễn sống. “<em>Một chủ nghĩa hiện sinh được hiện thực hoá đồng hành trong cuộc chiến giữa chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa tư bản</em>.” Tác giả viết như thế ở tiểu đoạn 7.</p>



<p>“… <em>Trong cơn lốc xoáy ấy, Thạch Xung không muốn cầm súng vì tổ quốc hay một lý tưởng nào, chàng cũng không muốn cầm súng như cách để kiếm miếng ăn, hoặc giết người để bảo vệ cách sống của mình. […] Chiến tranh là một mâu thuẫn và nó tạo ra những mâu thuẫn khác. Hơn bao giờ hết, những mâu thuẫn nội tại xé vụn Thạch Xung. Và đó là một Thạch Xung du đãng. Từ chối làm nghĩa vụ công dân. Phủ nhận thực tại. Mỗi bước đi của Thạch Xung là một hố thẳm&#8230; Và chàng trở thành hố thẳm, bất khả vãn hồi</em>.” (Tiểu đoạn 7: <em>Những ngã ba lạc lối</em>).</p>



<p>Thế là Thạch Xung bắt đầu cuộc trốn chạy của mình, trốn chạy theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Gã bị phe Quốc gia bắt lính. Đào ngũ. Bị đuổi, bơi qua sông trốn, gặp ngay thằng em Thạch Xâm chĩa AK vào đầu, lại bơi ngược về phía Quốc gia. Lại chạy. Chạy thục mạng. Chạy miết. Cho đến khi trở thành một tay du đãng khét tiếng.</p>



<p>Tiếng tăm gã được đồn thổi, và các thế lực chính trị thuộc cả hai phe tìm đến gã mời mọc, chèo kéo, thậm chí dọa nạt. Nhưng gã cương quyết và khôn khéo chối từ, “<em>Tôi không đủ cao cả để hy sinh thân mình cho điều gì. Sự thật, tôi là kẻ sợ chết. Nên tôi sẽ không thể làm gì nguy hiểm đến an nguy của tôi. Tôi cũng không muốn gây nợ máu với ai</em>.” (Tiểu đoạn 8: <em>Những giấc mơ bụi bặm</em>).</p>



<p>Thế nhưng, do hoàn cảnh và thời thế đưa đẩy, bỗng một hôm Thạch Xung trở thành một nhân vật chính trị sáng giá. Và, kết quả đáng buồn là gã ngày càng bị cuốn hút sâu vào vũng lầy của những thủ đoạn, mưu toan chính trị đen tối. “<em>Chính trị vẫn là bán mình cho quỷ</em>.” Gã phải quỵ lụy “điếu đóm” các nhân vật như cụ Dunhill, lão Hà Việt bên cốc rượu hay bàn đèn thuốc phiện. Gã cảm thấy chán ngán và cuối cùng, chịu đựng hết nổi, gã bỏ lại tất cả, đi lập một cái am và giả dạng thầy tu. Gã lại bắt đầu một cuộc trốn chạy mới.</p>



<p>“<em>Thạch Xung không muốn bị cuốn vào cuộc sát phạt địch-ta… Nhưng địch hay ta sẽ chẳng có bên nào cho con người quyền lựa chọn</em>.” (Tiểu đoạn 8: <em>Những giấc mơ bụi bặm</em>). Đó là bi kịch của chiến tranh Việt Nam.</p>



<p>Chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến phức tạp, có kẻ nhìn nó dưới góc độ một cuộc chiến ủy nhiệm giữa hai khối Tư bản và Cộng sản trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh toàn cầu. Sự thật là sau khi tách cái vỏ bọc mạ vàng giả, gạt bỏ tất cả những khẩu hiệu tuyên truyền, đại loại như “chống Mỹ cứu nước” hoặc “bảo vệ tiền đồn tự do”, thì cuộc chiến ấy hiện nguyên hình là một cuộc nội chiến, anh em giết nhau, không hơn không kém. Sự lựa chọn bi thảm của một con người trong cuộc nội chiến xuất phát từ sự xung đột giữa nghĩa vụ đạo đức, bản sắc cá nhân và lưỡi răng cưa tàn bạo của cỗ máy lịch sử vô nhân tính. Không giống như các cuộc chiến tranh thông thường chống lại kẻ thù rõ ràng từ bên ngoài, nội chiến làm tan vỡ chính khung cảnh đạo đức. Nó xóa bỏ sự phân biệt giữa “chúng ta” và “họ”, biến hàng xóm thành kẻ thù, anh em thành đối địch, và lương tâm cá nhân thành một chiến trường tranh chấp khốc liệt. Bi kịch không chỉ nằm ở sự đau khổ hay mất mát, mà còn ở sự không thể tránh khỏi việc lựa chọn sai lầm, lựa chọn nào cũng là một lựa chọn mà cuối cùng đều đưa đến những hậu quả đau đớn, những thảm cảnh, chẳng những cho mình mà còn cho bao người khác.</p>



<p>Nó không phải sự tự do lựa chọn giữa thiện và ác; thay vào đó, con người buộc phải lựa chọn giữa những điều tốt đẹp nhưng lại mâu thuẫn với nhau. Lòng trung thành với gia đình có thể xung đột với lòng trung thành với phe phái mình ủng hộ; lòng trung thành với nguyên tắc đạo đức có thể mâu thuẫn với sự sống còn; lòng trung thành với sự thật có thể gây nguy hiểm cho những người thân yêu. Bất kể con đường nào được lựa chọn, hắn đều phản bội điều gì đó thiết yếu đối với bản sắc của mình. Hành động lựa chọn không giải quyết được xung đột, nó vĩnh viễn bị đóng đinh vào tính cách của hắn.</p>



<p>Nội chiến cũng phá hủy chuẩn mực của sự rõ ràng về đạo đức. Trong lý luận đạo đức thông thường, trách nhiệm dẫn đến một khuôn khổ giá trị ổn định. Nội chiến phá vỡ khuôn khổ đó. Mỗi bên đều tuyên bố tính hợp pháp, công lý và sự cần thiết. Sự tuyên truyền, đe dọa, nỗi sợ hãi, lòng bất mãn, vv., làm méo mó nhận thức, khiến hắn gần như không thể biết liệu mình đang bảo vệ công lý và chính nghĩa hay đang phá hoại cho đất nước trở nên tan hoang. Người chọn một phe thường làm như vậy trong điều kiện bất ổn cực đoan, bởi biết rằng sự phán xét trong tương lai – bởi lịch sử hoặc bởi lương tâm của chính mình – có thể lên án hắn.</p>



<p>Một khía cạnh bi thảm khác là sự cưỡng bức được ngụy trang dưới dạng lựa chọn. Trong một cuộc nội chiến, trung lập thường bị xem là phản bội. Một con người có thể bị buộc phải chiến đấu không phải vì hắn tin tưởng, mà vì từ chối có nghĩa là chết, tù đày, gia đình bị liên lụy. “Sự lựa chọn” của hắn trở thành hành động sinh tồn chứ không phải niềm tin. Tuy nhiên, ngay cả hành động bị cưỡng bức cũng để lại hệ quả đạo đức. Hắn phải sống với những gì mình đã làm, ngay cả khi hắn chưa bao giờ thực sự muốn điều đó. Bi kịch xuất hiện ở đây từ khoảng cách giữa ý chí và trách nhiệm: hắn phải chịu trách nhiệm về những hành động mà hắn không thể nào tránh khỏi.</p>



<p>Chiến đấu trong một cuộc nội chiến thường đòi hỏi phải phi nhân hóa những người từng thân quen – những người nói cùng một ngôn ngữ, chia sẻ cùng phong tục, cùng một lịch sử. Giết một kẻ thù như vậy gây ra vết thương sâu sắc hơn so với giết một người lạ, bởi nó hủy diệt một thế giới chung. Ngay cả khi mục đích là chính đáng, hành động đó vẫn làm xói mòn bản chất đạo đức của con người. Hắn không chỉ đối mặt với nguy cơ tử vong, mà còn đối mặt với nguy cơ trở thành một người vong thân không thể nào hoàn toàn hòa giải với con người trước đây của mình.</p>



<p>Nội chiến cũng đặt ra một lựa chọn bi thảm giữa hành động và tội lỗi. Hành động là tham gia vào bạo lực và bất công; không hành động là cho phép bạo lực và bất công hoành hành không kiểm soát. Điều này phản ánh một vở bi kịch Hy Lạp cổ điển, trong đó mọi hành động có thể đều vi phạm một giá trị thiêng liêng nào đó. Con người bị mắc kẹt trong một tình thế tiến thoái lưỡng nan về đạo đức, nơi hắn làm gì hay không làm gì đều có tội như nhau. Bi kịch của hắn không phải là hắn lựa chọn sai lầm, mà vì cái thế giới hắn ở bên trong đã được cài đặt để bất kỳ chọn lựa nào cũng sai lầm.</p>



<p>Cái bi kịch ấy không chấm dứt sau khi chiến tranh kết thúc. Con người phải sống trong một xã hội có những ký ức khác biệt so với hắn. Người chiến thắng viết nên lịch sử; người thua cuộc mang theo sự im lặng. Những hành động từng được ca ngợi là anh hùng có thể sau này bị coi là tội ác, hoặc ngược lại. Hòa giải đòi hỏi sự quên lãng, nhưng lương tâm lại chống lại sự xóa bỏ. Con người trở thành một mâu thuẫn sống – vừa là người tham gia vừa là người chứng kiến, vừa là nạn nhân vừa là thủ phạm – không thể hoàn toàn biện minh hay hoàn toàn hòa giải. Theo nghĩa này, lựa chọn bi thảm của con người trong chiến tranh không phải là một khoảnh khắc mà là một trạng thái tê liệt kéo dài suốt đời. Nó tiết lộ một sự thật cơ bản về đời sống đạo đức của con người dưới áp lực cực đoan: rằng bi kịch không phát sinh từ sự yếu đuối về tính cách, mà từ những tình huống mà trật tự đạo đức tự thân sụp đổ. Nội chiến cho thấy sự mong manh của đạo đức, và cái giá phải trả để giữ được nhân tính khi lịch sử không cho phép ai có được một đôi bàn tay sạch sẽ và sự minh triết trong sáng.</p>



<p>Tôi đã đọc cuốn tiểu thuyết <em>Có những kẻ đi mãi không về</em> của nhà văn Nguyễn Viện (hay bất cứ một cuốn sách lịch sử cũng như văn học nào về chiến tranh Việt Nam) với tâm trạng như trên.</p>



<p>4.</p>



<p>Cuộc chiến nào cuối cùng rồi cũng kết thúc, nhưng gã Thạch Xung không tìm được nơi chốn an thân mà vẫn tiếp tục cuộc trốn chạy.</p>



<p>Thời chiến tranh lúc chạy về thành phố, gã gặp lại Thị, và khi biết ra hai người là anh em cùng cha khác mẹ, gã xem Thị như người em gái. Thị được xem là hoa khôi trong các chốn ăn chơi có lính Mỹ lui tới và được một người lính Mỹ tên James yêu thương lấy làm vợ. Thị theo anh ta về Mỹ sinh sống. Thạch Xung cũng gặp một cô gái tên Mimi Đen, một cô gái lớn lên trong thời loạn, sống buông thả, bất cần. Cô gái bám chặt gã trong bất kỳ cảnh huống nào, dù là khi gã đội lốt tu hành. Cuộc sống như bào ảnh. “<em>Không phải sống, cũng không phải chết. Một cảnh giới vượt thoát mọi giới hạn, nhưng không phải niết bàn, mà chỉ là nhất thể hoá ba la mật, chân như thực tại.</em>” (Tiểu đoạn 10: <em>Đào thoát</em>).</p>



<p>Cuộc sống ấy, như chúng ta đều biết, là một cuộc sống không có ngày mai, ngay cả khi đất nước thống nhất, hòa bình trở lại, khi xã hội đầy bất công, phi lý, khi con người bị phân biệt đối xử như súc vật. Gã vẫn sống với Mimi Đen, cả hai bươn chải kiếm sống, tình yêu ấy vẫn còn, nhưng là một thứ tình yêu bị đầu độc.</p>



<p>“<em>Tình yêu để kết sinh hoa trái nhưng tình yêu đã bị đầu độc. Bản năng và khao khát làm mẹ của Mi bị bóp chết nhưng nàng không dám ép Thạch Xung, bởi nàng biết hiện tại của họ mong manh bất trắc, mà tương lai thì không ai dám tin</em>.” (Tiểu đoạn 13: <em>Đường dài</em>).</p>



<p>Cứ thế diễn tiến, phần I của cuốn tiểu thuyết chấm dứt với những nốt nhạc đượm buồn, chua xót trong câu nói của Thạch Xâm: “<em>Chiến tranh hay hoà bình, lịch sử hay cuộc sống vẫn là cái cối xay thịt</em>.” (Tiểu đoạn 13: <em>Đường dài</em>).</p>



<p>Trong phần II của cuốn tiểu thuyết, Thạch Xung từ chủ thể ngôi thứ ba trở thành ngôi thứ nhất, và lúc này đã là một ông già bảy mươi tuổi. Từ hòa bình tới chiến tranh rồi trở lại hòa bình, nhưng bao giờ ông cũng cảm thấy bị mắc kẹt giữa gọng kềm của kiếp sống. Hòa bình là một cuộc chiến khác không tiếng súng. Thế rồi, ông tự an ủi rằng dẫu sao ông sống sót, và ông tìm về sống trong ngôi làng Rume xưa cũ của ông. Rất khó khăn cho ông làm thế, không chỉ vì tiền bạc mà còn bởi một ký ức mà ông muốn xóa nhòa. Trở về ngôi làng xưa là một cách thế hòa giải với chính con người ông, bởi nó chính là món bảo vật linh thiêng nuôi dưỡng tâm hồn ông suốt đời người. “<em>Tôi đã gìn giữ cái huyền hoặc ấy cho suốt cuộc đời mình như một thứ gia bảo. Đồng thời, tôi cũng bị dập vùi trong hiện thực khốc liệt của con người, một cách trần trụi nhất mà tôi không thể trốn chạy, dù tôi luôn trốn chạy</em>.” (Tiểu đoạn 1, Phần II: <em>Ký ức của mùi</em>).</p>



<p>Lúc này Mimi Đen đã qua đời, Thị sống ở bên kia đại dương, những người thân yêu chẳng còn ai, ông Thạch về quê cũ Rume mua đất, dựng nhà làm lại từ đầu. Ngày ngày ông đi chăn bò, trồng rau, trồng cây, sống với những người dân quê lam lũ nhưng chân chất. Ông cũng vui vì có người bạn già, ông Giải phóng, vốn là người theo cách mạng dạo trước nhưng bị đánh bật ra ngoài như bao kẻ khác. Ông tạm ổn trong tuổi già, tự an ủi bằng ý nghĩ, “<em>Con người có thể tàn ác, bất chấp… nhưng tính người sẽ không bao giờ mất đi.</em>” (Tiểu đoạn 3, Phần II: <em>Mùi ở chân mây</em>). Ông an phận, vui với cuộc sống bình dị nơi thôn dã cho dù một hôm cơ ngơi của ông bị nhà nước nhân danh sự phát triển kinh tế cho xe ủi đất đến ủi bằng, cướp sạch. Ông chỉ cười, tự giễu, “… <em>Tôi chỉ là kẻ trốn chạy. Luôn luôn trốn chạy. Nên chẳng chẳng làm gì ra hồn</em>.” (Tiểu đoạn 5, Phần II: <em>Mùi chuột đồng</em>).</p>



<p>Ông Thạch cũng vui vì có một tình yêu khác với người phụ nữ thông minh lịch lãm tên Lữ Thảo, nhưng Lữ Thảo đến đến đi đi và cuối cùng cô đi luôn, không bao giờ trở lại. Chẳng còn thiết tha chạy theo cuộc sống nữa, ông dựng một cái am tre mãi tận thượng nguồn xa vắng của dòng suối, đêm đêm gõ mõ tụng kinh. Niềm an ủi sau cùng là trong những ngày cuối đời ông có người đàn bà quê mùa gốc Miên săn sóc ông, chính cô là người viết hai chữ THẠCH XUNG lên mộ chí của ông bên bờ suối. Kết thúc một đời người.</p>



<p>5.</p>



<p>Cuốn tiểu thuyết được viết với một văn phong bàng bạc tính hiện thực huyền ảo, đôi khi như phi thực, tuy không sử dụng những thủ pháp hiện đại như siêu hư cấu hoặc dòng ý thức. Chủ yếu của cuốn tiểu thuyết vẫn là miêu thuật một câu chuyện. Câu chữ mạnh mẽ, có lúc sống sượng, như muốn lột tả tính cách tàn bạo của điều muốn thuật. Cấu trúc truyện được viết theo tự sự biên niên, có những đoạn chuyển mạch bất ngờ. Bối cảnh truyện là lịch sử nhưng không đi sâu vào biến cố, cũng không đào sâu tâm lý nhân vật. Tự sự được sử dụng như những nét chấm phá trên một toàn cảnh dàn trải rộng lớn, và những chấm phá tự sự đó nối kết nhau để tạo nên mặt dệt của cuốn truyện.</p>



<p>Nhà văn Nguyễn Viện có tham vọng tóm gọn một đời người trong cuốn tiểu thuyết trên bốn mươi nghìn từ ấy, từ lúc sinh ra đời cho đến khi nhắm mắt xuôi tay trở về cát bụi. Cuốn tiểu thuyết là khúc giao hưởng buồn bã nói lên toàn bộ sự phi lý của kiếp người. Sống là trốn chạy. Sống trong thất lạc. Mọi chọn lựa đều vô nghĩa, đều đem đến cho bản thân sự hủy diệt.</p>



<p>Tự thân cuộc sống vốn là vô nghĩa, nó dửng dưng với ta một cách phi lý. Câu hỏi mang tính hiện sinh là, ta phải làm gì khi đối đầu với nó. Triết gia Jean-Paul Sartre có câu trả lời rất giản dị và dễ hiểu: Bởi hiện thể đi trước bản thể, điều đó có nghĩa là sự quan tâm hàng đầu cho mỗi cá nhân là chính cá nhân đó – một con người (“hiện thể”) độc lập trong hành động và có trách nhiệm, có ý thức – không phải cái gì thuộc về nhãn hiệu, vai trò, khuôn mẫu, định nghĩa, hoặc những phân loại ước định khác gán ghép lên cá nhân đó (“bản thể”). Đời sống thực sự của cá nhân mới đích thực là cái cấu tạo nên “chân bản thể” của hắn, không phải một bản thể do kẻ khác tùy tiện áp đặt lên hắn, định nghĩa hắn là gì. Do đó, con người, xuyên qua ý thức bản thân, kiến tạo nên giá trị cho chính mình và định hình một ý nghĩa cho cuộc sống.</p>



<p>Nói cho cùng, sống là đấu tranh và cuộc đấu tranh không hẳn là toàn bộ câu chuyện.</p>



<p>Chúng ta không ngừng cố gắng vượt qua cuộc sống bởi vì sự đấu tranh gắn liền với ý nghĩa. Nỗi đau, những nỗ lực và sự bất định là cái giá phải trả cho việc quan tâm đến điều gì đó – sự sống còn, tình yêu, sự phát triển, phẩm giá. Nếu không có gì quan trọng, sẽ không có đấu tranh… nhưng cũng sẽ không có lý do để thức dậy mỗi sáng.</p>



<p>Sự đấu tranh là bằng chứng của giá trị. Chúng ta không chiến đấu vì những điều vô nghĩa đối với mình. Chính việc cuộc sống cảm thấy khó khăn có nghĩa là có điều gì đó quan trọng trong đó.</p>



<p>Hơn nữa, chúng ta được tạo hóa ban cho hy vọng. Về mặt sinh học và tâm lý, con người được tạo ra để tìm kiếm sự giải thoát, sự cải thiện và những khả năng – ngay cả sau thất bại. Hy vọng không phải ngây thơ; nó là khả năng thích nghi.</p>



<p>Sự phát triển chỉ xảy ra khi có sự kháng cự. Sức mạnh vật thể, kỹ năng, tính cách, trí tuệ – tất cả đều hình thành bởi vì có điều gì đó chống lại.</p>



<p>Những khoảnh khắc quý giá bù đắp cho sự nỗ lực. Niềm vui, sự kết nối, vẻ đẹp, tiếng cười, tình yêu – những điều này không xóa bỏ nỗi đau khổ, nhưng chúng khiến nỗi đau khổ trở nên đáng chịu đựng.</p>



<p>Chính sự lựa chọn là sức mạnh. Ngay cả khi chúng ta không thể kiểm soát hoàn cảnh, việc lựa chọn cách phản ứng mang lại cho cuộc sống cảm giác chủ động thay vì chỉ đơn thuần là chịu đựng. Chúng ta không vượt qua cuộc sống để chiến thắng nó, mà để tham gia vào cuộc sống. Để nói rằng, “Tôi vẫn ở đây. Tôi vẫn đang lựa chọn.”</p>



<p>Và đôi khi, vào những ngày khó khăn hơn, câu trả lời đơn giản và nhẹ nhàng hơn: Chúng ta cố gắng bởi vì việc dừng lại, bỏ cuộc, là cái gì tồi tệ hơn là tiếp tục.</p>



<p>Khác với nhân vật Billy Pilgrim, trong cuốn tiểu thuyết <em>Lò sát sinh số Năm</em> của nhà văn Mỹ Kurt Vonnegut, từ chiến trận trở về tâm trí trở nên không bình thường, sống với những giấc mơ hoảng loạn, Thạch Xung của Nguyễn Viện may mắn hơn. Sau chừng ấy khổ đau và tuyệt vọng, ông vẫn tỉnh táo tìm được niềm vui an tĩnh ở cuối đời và có cái chết tương đối êm ả. Ta còn mong muốn gì hơn thế?</p>



<p><em>– </em><strong>Trịnh Y Thư</strong></p>



<p>(California, Trọng Đông, 2026)</p>



<p>*</p>



<p><em>Có những kẻ đi mãi không về</em></p>



<p>Tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Viện</p>



<p>Nhân Ảnh xuất bản</p>



<p>Giá US$20.00</p>



<p>Sách có bán trên amazon.com. Xin bấm vào đường dẫn sau:</p>



<p><a href="https://www.amazon.com/C%C3%B3-Nh%E1%BB%AFng-M%C3%A3i-Kh%C3%B4ng-Vietnamese/dp/B0GRD5W4W6/ref=sr_1_1?crid=36M9DPNUC7Z1F&amp;dib=eyJ2IjoiMSJ9.hw5oqTnpvmyytwz6xti00t03RJ3K76pCIDpqpLOOI_GNve4mfPaBI0jeMaQYZE1gYMM7k1b9TGajD1p-RO2zzH6wBv1L08KOKt06buWJoOOq_MUazRghpOe5HiS4xs2-MBWyjRLvaPt1Biuis6HiEZDIpQOF_QJG5m5R8IchHmOd6v2Lp-xYTTLM-1U7RYe_3NvBPiRT-ac5WNGmcyMLFkkH1BBPiiaaC6oDzthca9g.spW3tXzF5v_1yoFwJ-YHeMi5bPuNyPUKFnrsxJfRORI&amp;dib_tag=se&amp;keywords=Co+nhung+ke+di+mai+khong+ve&amp;qid=1772912358&amp;sprefix=co+nhung+ke+di+mai+khong+ve%2Caps%2C186&amp;sr=8-1">Amazon.com: Có Những Kẻ Đi Mãi Không Về (Vietnamese Edition): 9798295678660: Vien, Nguyen: Books</a></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nguyễn Thị Tịnh Thy: NHỮNG CON CHỮ ĐỐI THOẠI CỦA TRƯƠNG VĂN DÂN</title>
		<link>https://t-van.net/nguyen-thi-tinh-thy-nhung-con-chu-doi-thoai-cua-truong-van-dan/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Tác Giả]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 12 Feb 2026 07:01:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[TÁC PHẨM MỚI]]></category>
		<category><![CDATA[giới thiệu tác phẩm]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=87055</guid>

					<description><![CDATA[Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/02/1cl2Tb4P-image001.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="598" height="861" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/02/1cl2Tb4P-image001.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-87056" style="width:442px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/02/image001-208x300.jpg 208w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/02/1cl2Tb4P-image001.jpg?strip=all 598w" sizes="(max-width: 598px) 100vw, 598px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?&#8230; Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.</p>



<p>Nửa đầu thế kỷ XX, trong các công trình khoa học của mình, nhà lý luận M.Bakhtin đã đề ra thuyết đối thoại trong văn học. Qua tiểu thuyết của Đôtxtôiepxki, M.Bakhtin khẳng định: “Tất cả đều là phương tiện, đối thoại là mục đích. Một tiếng nói không kết thúc gì hết và không giải quyết gì hết. Hai tiếng nói là cái tối thiểu của sự sống, cái tối thiểu của tồn tại”<sup>1</sup>. Đối thoại chính là việc “dẫn dắt chủ đề theo một số tiếng nói khác nhau, là bản thân tính nhiều tiếng nói, tính khác tiếng nói về nguyên tắc”. Đối thoại thực chất là thể hiện sự đối lập về lập trường tư tưởng của nhân vật, làm nên đặc điểm đa thanh, phức điệu cho tác phẩm. Trong những tác phẩm của Trương Văn Dân, đối thoại thể hiện ba mục đích sáng tác rất rõ. Đó là sáng tác để trình bày luận đề, sáng tác để giãi bày tình cảm và sáng tác để chia sẻ tri âm.</p>



<p>Đối thoại với thế sự thể hiện tính luận đề là đặc điểm chung của tiểu thuyết Trương Văn Dân. Trong <em>Bàn tay nhỏ dưới mưa</em> và <em>Trò chuyện với thiên thần<sup>2</sup></em>, nói như nhà văn Nhất Linh, Trương Văn Dân đã thực hiện cái ý định dùng tiểu thuyết để làm một việc gì đó. “Việc” mà Trương Văn Dân muốn làm, theo thuật ngữ văn học, chính là luận đề tiểu thuyết. Thông qua đối thoại với nhiều hình thức văn bản: văn bản trần thuật, văn bản báo chí, nhật ký, thư tín, thơ ca, báo cáo…, rất nhiều vấn nạn của quốc gia và thế giới, của cá nhân và cộng đồng nhân loại hiển hiện. Đằng sau câu chuyện về một cuộc tình không trọn vẹn của người đàn bà đi qua bao giông bão đời người trong <em>Bàn tay nhỏ dưới mưa</em> và niềm hạnh phúc lẫn nỗi âu lo đầy trách nhiệm của đôi vợ chồng hiếm muộn trong <em>Trò chuyện với thiên thần</em>, Trương Văn Dân đã luận đề về mọi mặt của đời sống trong “trần gian điên dại này”. Trái đất cạn kiệt, môi trường ô nhiễm, dịch bệnh hiểm nguy, thực phẩm biến đổi gien, con người vô cảm, mặt trái của văn minh và toàn cầu hóa và rất nhiều vấn đề “nóng” thuộc về hậu quả của “cơn điên tăng trưởng” được thể hiện vừa trực diện vừa hàm ẩn cho thấy mối quan tâm và âu lo của nhà văn với cõi nhân sinh.</p>



<p>“Viết luận đề tiểu thuyết nghĩa là viết tiểu thuyết để nêu lên một lý thuyết, để tán dương, tuyên truyền một cái gì tác giả cho là tốt đẹp, để đả đảo một cái gì tác giả cho là xấu xa, viết tiểu thuyết để phụng sự, để chứng tỏ một cái gì đó”<sup>3</sup>. Những điều tốt đẹp lẫn xấu xa trong tiểu thuyết được Trương Văn Dân tích lũy từ vốn sống của cả đời người và đưa vào trang văn của mình chủ yếu thông qua đối thoại. Đó có thể là những vấn đề lớn như “Thảm hoạ hạt nhân”, “Những quái vật nhân tạo”, “Trí tuệ và khoa học”,&nbsp; “Chính trường và chiến trường”, “Thân và phận”… của “một giống loài khốn khổ” khiến nhà văn thẳng thừng tuyên bố: “Xin các nghị viện quốc tế hãy chấm dứt thảo luận các vấn đề vô bổ. Xin các vị đừng nhắm mắt như con đà điểu vùi đầu dưới cát hay quyết định không quyết định gì để biến di sản Trái đất thành hỏa ngục. Nếu không, khi các người chết đi và để lại cho thế hệ kế tiếp là chúng tôi và con cháu một tương lai đầy rác rưởi, đau khổ. Chúng tôi không thể đồng lõa với tội ác của các người. Và chúng tôi muốn nói với những người có trách nhiệm là chúng tôi đang mang trong lòng một nỗi khinh bỉ vô tận; các người luôn rao giảng đạo đức và khuyên chúng tôi phải sống thế này, thế kia nhưng chính các người đang sống phi đạo đức nhất. Chúng tôi biết các người sẽ chết trước khi chịu trách nhiệm về những điều mình làm. Nhưng chúng tôi sẽ phỉ nhổ lên những bộ xương khô thế hệ đã hành động vô trách nhiệm với Quả địa cầu” <em>(Bàn tay nhỏ dưới mưa)</em>. Đó có thể là những vấn đề nhỏ khiến nhà văn day dứt: “Mẹ biết lấy gì nuôi con?” giữa cơ man nào là thực phẩm biến đổi gien, thực phẩm chứa độc tố nếu như ngay bây giờ con “gõ cửa trần gian” <em>(Trò chuyện với thiên thần)</em>.</p>



<p><em>Trò chuyện với thiên thần</em> là một cuộc đối thoại (tâm tình) dài giữa ba nhân vật: người cha, người mẹ với thai nhi. Hai đấng sinh thành đã nói lên những âu lo, trăn trở, buồn nản về thế giới loài người những năm tháng này. Thế giới ấy không có chỗ nào, lĩnh vực nào an toàn cho con trẻ trú ngụ. Ba mẹ nói hết với con về tất cả những gì chờ đón con, để con chuẩn bị tinh thần trước khi trở thành thành viên của cõi đời này. Bạo lực, tham nhũng, ô nhiễm, bất công… bao phủ lên bầu khí quyển mà con sẽ hít thở. Hiểu tất cả rồi, con có quyền chọn lựa nên hay không nên làm người. Đây quả là một ý tưởng táo bạo theo motif hỏi ý kiến thai nhi trước khi chào đời trong <em>Xã hội thủy quái Kappa</em> của nhà văn Nhật Bản R.Akutagawa và quan điểm “Sinh ra tôi sao không hỏi ý kiến tôi” của triết gia J.P.Sartre. Sử dụng hình thức tự sự đối thoại qua trần thuật đa chủ thể, Trương Văn Dân đã phác họa bức tranh màu xám của thế giới từ suy nghĩ và ngôn ngữ đậm màu sắc triết học của nhân vật. &nbsp;</p>



<p>Từng mẫu đối thoại, khi ngắn gọn khắc khoải; khi dằng dặc miên man, <em>Trò chuyện với thiên thần </em>chất chứa tầng tầng lớp lớp những luận đề mà nhà văn muốn gửi gắm đến bạn đọc. Tất cả đều thể hiện một tấm lòng mượn nghệ thuật để luận nhân sinh đầy trách nhiệm, đầy tâm huyết và vô cùng thiết tha của nhà văn.</p>



<p>Đối thoại với lòng mình ăm ắp tình cảm được Trương Văn Dân tập trung ở mảng tùy bút, đặc biệt là tùy bút về người thân. Trong bút ký <em>Tia nắng mùa đông</em> của tập truyện <em>Hành trang ngày trở lại</em>, tình cảm gia đình, lịch sử gia đình trải dài cùng dòng tâm tình được viết theo mô thức “vi đối thoại” (đối thoại với chính mình) qua một sự cố buồn đau: cái chết của người anh trai. Tình cảm, lòng biết ơn, nỗi xót xa pha lẫn ân hận đối với người anh chất chứa trong tim và vỡ òa trên trang viết. Ở tản văn mang tính riêng tư này, chắc chắn Trương Văn Dân không viết cho độc giả. Ông viết cho chính mình, viết về nỗi đau thương của dân tộc, gia tộc và cá nhân. Đây không phải là lúc, là chỗ để thi triển tài nghệ văn chương hay tô trát phấn son chữ nghĩa. Tuy vậy, bằng tất cả xúc cảm chân thành được dồn nén bấy lâu, Trương Văn Dân đã chắt chiu những con chữ yêu thương để trao về người yêu thương. Và, những con chữ giàu sức nặng nội tâm ấy lại thể hiện nét bút tài hoa của một người khiêm tốn tự nhận rằng mình viết văn với vốn liếng tiếng Việt của năm mười tám tuổi &#8211; năm rời xa tổ quốc &#8211; và hơn bốn mươi năm sau mới cất bước trở về.</p>



<p><em>Tia nắng mùa đông</em> tỏ rõ thế mạnh của văn viết về cảm xúc của Trương Văn Dân. Ba mươi lăm trang viết cuốn hút người đọc không chỉ bằng nỗi lòng tử biệt sinh ly gây xúc động mà còn bằng thứ tiếng Việt “mười tám tuổi” đẹp đẽ một cách vừa non tơ vừa già dặn: “<em>Vậy thì anh hãy đi đi!… Anh sẽ ngủ một giấc dài… Kết thúc mọi nghiệp chướng tiền oan. Anh sẽ không còn phải băn khoăn, nhọc lòng quyết định một việc gì. Anh sẽ mãi mãi không còn tự ép mình, thôi thúc mình, buộc phải làm những điều mình không muốn như đã phải từng làm trong suốt sự hiện hữu đầy khổ đau và nhẫn nhục của anh. Anh sẽ không còn phải sống những bi kịch bi đát của nội tâm vò xé, suy gẫm về những mâu thuẫn của bổn phận và nhiệm vụ… Thôi, hãy bỏ lại tất cả những phù phiếm đó, cho tất cả tan vào hư không, anh nhé!</em>”… “<em>Tất cả cuộc đời của thế hệ chúng tôi hỗn tạp một cách kỳ lạ đến nỗi phải gánh lấy những trách nhiệm và ưu tư quá lớn trước khi đến tuổi trưởng thành&#8230; Rồi bỗng nhiên tôi muốn khóc, muốn để mặc cho những giọt nước mắt chảy dài, để có thể nức nở rồi chìm sâu vào cơn sóng tuyệt vọng rồi quỵ ngã trong nỗi đau cùng cực. Tôi muốn được tự do gào thét, nằm duỗi người hai chân vùng vẫy, đạp liên hồi trên thảm cỏ như một đứa bé thảm sầu trong cơn cuồng nộ&#8230;</em>”</p>



<p><em>Tia nắng mùa đông</em> như là tản văn đại diện cho phong cách ngôn từ nghệ thuật của Trương Văn Dân trong toàn tập truyện <em>Hành trang ngày trở lại</em>. Tác phẩm này có những ưu điểm của tiểu thuyết <em>Bàn tay nhỏ dưới mưa</em>. Đó là văn phong. Trương Văn Dân có vốn từ ngữ biểu cảm rất phong phú và dồi dào, như thể đó là vốn từ của người Việt chưa hề rời xa quê hương, dù chỉ một giây phút. Ông lại có một bút lực rất mạnh với khả năng viết, khả năng diễn đạt cảm xúc bền bỉ hiếm có. <em>Buổi chiều trên nghĩa trang</em> cũng thế. Nó giản dị nhưng bộc lộ được tâm hồn người viết. Trong văn chương của mình, Trương Văn Dân hay viện dẫn nhiều triết lý. Tuy vậy, ông chinh phục người đọc bằng chính những câu chữ bình dị nhất &#8211; câu chữ của tình yêu. Bởi, như ông từng nhận định trong bài viết về người bạn đời của mình: “<em>Tình yêu là hằng số cuộc đời</em>”. &nbsp;</p>



<p>Những đối thoại với bạn bè, đặc biệt là bạn văn chương, lại gây bất ngờ về một Trương Văn Dân rộn ràng, sôi nổi, tinh nhạy và dí dỏm trong những bình luận chính xác về chất người và chất văn của người khác. <em>Huỳnh Kim Bửu và Tiếng hạc bay qua trên dòng sông Côn</em>, <em>Nguyên Minh &#8211; Một cuộc đời với văn chương</em>… và đặc biệt là <em>Kiệt Tấn, đôi khi thèm chết nhưng vẫn mê đời</em> cho thấy năng khiếu tạc dựng chân dung bằng ngôn từ của Trương Văn Dân. Đây là bút ký chân dung thành công về mọi mặt, từ nhan đề, tiêu đề cho đến ngôn ngữ, giọng điệu; lột tả được cả phẩm cách của người viết lẫn người được viết. Từ tính cách rất cá biệt “<em>chỉ biết ham sống</em>”, “<em>si tình và đam mê đàn bà</em>”, “<em>điên có bằng cấp hẳn hoi</em>” để “<em>cười vào mũi cuộc đời</em>” bằng “<em>những ý nghĩ cuốn theo gió ngược chiều</em>” của nhà văn Kiệt Tấn, Trương Văn Dân khái quát được cái “nết” rất chung của những người cầm bút: “Ngẫm cho cùng, người viết nào mà không <em>ngu ngu và điên điên</em>? Có lẽ chính trong sự <em>‘cô-đơn-sáng-tạo’</em> đó họ đã tìm thấy chính mình… Những trang viết giúp họ lướt qua những ngày thống khổ của kiếp người!” &nbsp;</p>



<p>Các nhân vật trong những tùy bút của tác phẩm <em>Milano Sài Gòn, đang về hay sang?</em> đều có hình có sắc, sống động đến bất ngờ đã bộc lộ một sở trường khác của Trương Văn Dân. Đồng thời, qua những tùy bút này, người đọc còn nhận ra khả năng thẩm bình tác phẩm của ông. <em>Câu chuyện bàn rượu về “những thằng già nhớ mẹ” </em>lột tả được cái hồn cốt của văn phong “sặc mùi ethanol” của Vũ Thế Thành: “Anh viết như người say. Mà té ra rất tỉnh… bằng giọng điệu của kẻ “buôn dưa lê” có chút “duyên” ngầm,… thể hiện những điều mình đề cập bằng thứ ngôn ngữ cô đọng, giàu hình ảnh khiến người đọc cứ phải buồn vui theo dõi”. Vũ Thế Thành viết: “Sáng nay, khi xuống lầu đi làm, tôi buộc miệng <em>‘Mẹ ở…’ (… nhà con đi làm đây!)</em>. Tôi khựng lại, chợt nhớ ra bà mất rồi. Tôi nhìn lên bàn thờ, thắp nén nhang, rồi đi…”. Vũ Thế Thành thật và hay đến choáng váng. Trương Văn Dân cũng thấu cảm thế này: “Tôi thấm thía và cảm thấy ớn lạnh toàn thân khi đọc đoạn văn này! Giọng văn sắc và lạnh, cảm giác dồn dập như đang chạy, gặp phải bức tường mà dừng không kịp. Mấy dấu chấm lửng sau hai chữ <em>“rồi đi”</em> giống như những giọt nước mắt của người vừa mất mẹ đang chảy trên trang viết…”. Bình luận và phân tích như thế, thật chẳng uổng phí văn chương của người khác.</p>



<p>Theo tôi, đối thoại với các nhà văn và tác phẩm trong phần tùy bút là mảng đề tài thành công nhất của toàn tập văn nhiều thể loại <em>Milano Sài Gòn, đang về hay sang?</em> Chính mảng đề tài này đã thắp lên ngọn lửa đủ sưởi ấm cho cái giá lạnh của phần truyện ngắn và những trích đoạn từ tiểu thuyết <em>Bàn tay nhỏ dưới mưa</em> ở phần phụ lục.</p>



<p>Nếu đánh giá thật đầy đủ và chính xác về hoạt động văn học của Trương Văn Dân, cần phải kể đến vai trò và tâm huyết của ông với tập san văn học nghệ thuật Quán Văn; đồng thời, không thể bỏ qua thành tựu dịch thuật từ tiếng Ý với tiểu thuyết <em>Mùa hè tươi đẹp</em> của Cesare Pavese, nhiều truyện ngắn, truyện vừa, tùy bút của Dino Buzzati, Elena Pucillo Truong và các tác giả khác. Tiếc thay, không mấy người cùng lúc rành rẽ cả tiếng Ý lẫn tiếng Việt để có thể đưa ra những nhận định, đánh giá về vai trò của Trương Văn Dân với tư cách là một dịch giả văn chương. Ở phương diện sáng tác, Trương Văn Dân là người sáng tác có tư tưởng, có nền tảng văn hóa và triết học. Cái chết, sự hy sinh, tình thương, sự vô cảm và cảm nghiệm nhân sinh như mộng là nỗi ám ảnh xuyên suốt, trở thành tâm thức sáng tác của ông. <a>Đọc tác phẩm của Trương Văn Dân, ta thấy được nỗi day dứt, nghe được tiếng kêu cứu vì môi trường sinh thái đang bị hủy hoại, môi trường xã hội đang bị suy thoái về mọi mặt. Đó chính là sự nhạy cảm, là trách nhiệm của nhà văn “nghệ thuật vị nhân sinh”.</a> Về nghệ thuật sáng tác, thế mạnh của Trương Văn Dân là văn biểu cảm &#8211; cảm xúc và cảm giác. Đi liền với nó là văn miêu tả tính dục đầy cảm xúc, giàu nhục cảm nhưng không sa vào dung tục tầm thường <em>(Bàn tay nhỏ dưới mưa)</em>.</p>



<p>Tuy nhiên, để tiếp tục cày cuốc trên cánh đồng chữ nghĩa, Trương Văn Dân còn phải khắc phục, gọt giũa ngòi bút của mình nhiều để có thể thu về những hạt thóc tròn trịa hơn. Vì vậy, chúng tôi dành phần kết của bài viết này để đối thoại cùng tác giả với thiện chí mong muốn được đón nhận nhiều tác phẩm hoàn thiện hơn của ông. Sâu và sắc, nén và bung, chặt chẽ trong từng chi tiết nhỏ đến cấu trúc lớn là những nguyên tắc sáng tác đòi hỏi nhà văn phải kỳ công theo đuổi. Tiểu thuyết luận đề là con dao hai lưỡi. Nếu không giỏi điều khiển trận đồ chữ nghĩa, tác phẩm văn chương sẽ trở thành những văn bản tuyên truyền, giáo điều, phê phán và thậm chí là mạt sát mang đậm dấu ấn của “tác giả thực tế”; trong khi văn chương hư cấu rất cần “tác giả ẩn tàng” và “người kể chuyện”. “Cái chết của tác giả” trong lý thuyết của M.Foucault và R.Barthes luôn là nguyên tắc vàng của tác phẩm hư cấu. Mục đích của tiểu thuyết luận đề là diễn giải cho một tư tưởng hoặc một quan điểm có trước, vì thế, dẫu có viết khéo đến đâu thì đôi lúc vẫn để lộ những chỗ gượng gạo, khiên cưỡng, áp đặt. Bậc thầy tiểu thuyết luận đề Nhất Linh cũng đã từng tiếc nuối rằng vì mải theo luận đề mà không cố viết cho đúng tâm lý, tính cách nhân vật trong các tiểu thuyết <em>Đoạn tuyệt</em> và <em>Lạnh lùng</em>. Ông “chỉ coi nhân vật như những quân cờ để đánh một ván bài” và chỉ dùng những chi tiết nào có lợi cho cái ý chứng tỏ luận đề của mình, “không theo sát cuộc đời thực”… mà đổi cuộc đời thực cho luận đề<sup>4</sup>. <s></s></p>



<p>“Tiểu thuyết luận đề minh hoạ cho một tư tưởng, một quan điểm có sẵn, một vấn đề mà nhà văn luôn đau đáu suy nghĩ và tìm cách đấu tranh cho nó. Nhà văn có khi sẵn sàng hy sinh nghệ thuật, bỏ đi những cái hay trong nghệ thuật để phục vụ cho luận đề của mình”<sup>5</sup>. Dẫu biết vậy, nhưng Trương Văn Dân đã “hy sinh” hơi quá, khiến hai tiểu thuyết của ông rơi vào ôm đồm (vì luận quá nhiều vấn đề). Nhìn tổng thể, hai tác phẩm (đặc biệt là <em>Trò chuyện với thiên thần</em>) đều mắc lỗi dài dòng và trùng lặp ý, trích dẫn nhiều, chuộng diễn giải và nhận định chủ quan; đặc biệt là chưa thật sự thể hiện chủ đề thông qua hệ thống hình tượng nhân vật, không gian, thời gian, tình tiết, sự kiện. Nghệ thuật nói chung và văn chương nói riêng luôn yêu cầu “less is more”, nghĩa là viết ít nhất nhưng biểu đạt nhiều nhất, cô đúc tiết chế nhất nhưng mở rộng và lan tỏa nhất. Tất cả phải toát lên từ hình tượng, nếu thoát ly hình tượng, nếu để cái biểu đạt ngang bằng với cái được biểu đạt thì nghệ thuật sẽ không còn là nghệ thuật nữa.</p>



<p>Trong xây dựng tính cách nhân vật, khát vọng gửi gắm những suy nghĩ của mình đến với người đọc rất mạnh mẽ, đầy tâm huyết và nhiệt tình đã khiến nhà văn Trương Văn Dân thiên về thi pháp “Schiller hóa” hơn là “Shakespeare hóa”<sup>6</sup>. Nghĩa là biến nhân vật thành những “cái loa phát thanh cho tư tưởng của nhà văn”<sup>7</sup>. Điều đó đã khiến cho nhân vật không bộc lộ được tính cách, tác phẩm cũng vì thế mà trở nên đơn điệu, không trở thành “thế giới của vạn tâm hồn”.</p>



<p>Trương Văn Dân là người am hiểu lý luận sáng tác, có vốn sống, vốn trải nghiệm phong phú. Chúng ta tin rằng, nhà văn Trương Văn Dân sẽ còn tiếp tục trao cho người đọc những bản dịch hay, những sáng tác mới &#8211; những đối thoại mới &#8211; hoàn hảo hơn, xứng đáng với tâm huyết chọn văn chương để thể hiện trách nhiệm với cuộc đời của ông.</p>



<p>&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8211;</p>



<p>CHÚ THÍCH</p>



<p>1. Bakhtin M. (1993),&nbsp; <em>Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki</em> (Trần Đình Sử dịch), NXB Giáo dục, tr.235.</p>



<p>2. Tiểu thuyết đang ở dạng bản thảo</p>



<p>3&amp;4. Nhất Linh, <em>Viết và đọc tiểu thuyết</em>,</p>



<p>&nbsp;<a href="http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=9297&amp;rb=08">http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=9297&amp;rb=08</a></p>



<p>5. Nguyễn Thị Phương Thuý, <em>Ảnh hưởng của tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn đến tiểu thuyết ở đô thị Nam Bộ 1945-1954</em>, <a href="http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&amp;view=article&amp;id=3604%253">http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&amp;view=article&amp;id=3604%3</a></p>



<p>6. “Shakespeare hóa” là khái niệm chỉ phương thức tư duy nghệ thuật đối lập với phương thức “Schiller hóa”, nghĩa là phải “cá tính hóa nhân vật thật cụ thể, sinh động, sắc nét”… để tác phẩm văn học trở thành “thế giới của vạn tâm hồn”.</p>



<p>7. Đặng Thị Hảo và tgk (2004), <em>Từ điển văn học</em>, NXB Thế giới, tr. 1542.</p>



<p>&nbsp;Nguồn: Bài đăng trong ts Quán Văn 61&nbsp; ( ra mắt ngày 13.1.2019)</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nhật Chiêu: Đọc &#8220;BÀN TAY NHỎ DƯỚI MƯA&#8221; của Trương Văn Dân</title>
		<link>https://t-van.net/nhat-chieu-doc-ban-tay-nho-duoi-mua-cua-truong-van-dan/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Tác Giả]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 26 Jan 2026 07:00:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[TÁC PHẨM MỚI]]></category>
		<category><![CDATA[giới thiệu tác phẩm]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=86665</guid>

					<description><![CDATA[Rất may mắn và được tin cậy khi Trương Văn Dân giao quyển sách đầu tiên cho tôi đề tựa, đó là quyển “Bàn tay nhỏ dưới mưa”. Khi tôi đọc tôi có cảm giác hạnh phúc vì nhận được một điều xứng đáng. Một quyển đáng để cho mình đề tựa. Tất cả các [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/01/MGNycINk-image001.jpg?strip=all&fit=188%2C299&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="188" height="299" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/01/MGNycINk-image001.jpg?strip=all&fit=188%2C299" alt="" class="wp-image-86551" style="width:278px;height:auto"/></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Rất may mắn và được tin cậy khi Trương Văn Dân giao quyển sách đầu tiên cho tôi đề tựa, đó là quyển “<strong>Bàn tay nhỏ dưới mưa</strong>”. Khi tôi đọc tôi có cảm giác hạnh phúc vì nhận được một điều xứng đáng. Một quyển đáng để cho mình đề tựa.</p>



<p>Tất cả các nhà văn rất đều băn khoăn đến cuộc sống hiện đại với tất cả các mặc định của nó. Khi mà tôi đọc “Quyển bàn tay nhỏ dưới mưa” điều mà tôi trân quý là nhà văn Trương Văn Dân có một quan tâm dường như rất là sâu sắc với cuộc sống đương đại của chúng ta với những vấn đề phức tạp và kỳ lạ của nó.&nbsp; Có lẽ chưa có một thời đại nào mà cuộc sống lại phức tạp và kỳ lạ như cuộc sống hiện đại hay là hậu hiện đại của chúng ta.</p>



<p>Vào thế kỷ 18, thế kỷ của ánh sáng, thế kỷ khoa học tiến lên như vũ bảo và mọi người tin chắc khoa học sẽ giải quyết mọi vấn đề, sẽ đưa con người đến bến bờ hạnh phúc. Thế kỷ 18 tin chắc nịch vào điều đó, thế kỷ ánh sáng, ánh sáng là khoa học và lý trí, thì niềm tin đó chẳng bao lâu bị đổ, …đổ một cách thê thảm mà nhân loại trải qua những khủng khoảng, có nhiều nguyên nhân nhưng phần lớn là do khoa học gây ra ví dụ như việc chế tạo bom nguyên tử đã đưa đến bao nhiêu thảm họa như chúng ta đã biết (2.35).</p>



<p>Tất nhiên các nhà khoa học không có ý dùng khoa học để mà gây sát thương hay gây khủng bố. Tất cả các nhà khoa học không ai nghĩ như vậy thế mà thảm họa đã có, từ đó lòng tin vào ánh sáng khoa học, ánh sáng của lý tính là đưa chúng ta đến bến bờ hạnh phúc tan vỡ hoàn toàn. Nhiều nhà văn trên thế giới đã lên tiếng phản ánh tình trạng mà chúng ta tự hủy diệt mình với khoa học, với cái sự gọi là tiến bộ. Từ đó rất nhiều tác phẩm nhằm phê phán thời hiện đại hoặc hậu hiện đại của chúng ta. Khi tôi đọc “Bàn tay nhỏ dưới mưa “ thì vấn đề được văn chương thế giới quan tâm sâu, phản ánh rất là nổi bật trong “Bàn tay nhỏ dưới mưa”. Có những trang tôi vừa đọc vừa rùng mình, lý do thế này, có những nhà khoa học tự hào chế được bom mà khi làm bốc cháy cơ thể thì không cách nào dập tắt được. Trương Văn Dân miêu tả rằng họ đã mở tiệc mừng vì họ đã tạo ra một hóa chất làm cho một cơ thể sống bị hỏa thiêu không thể dập tắt được lửa dù lăn xuống nước, lăn xuống đất. Những trang đó làm ta rợn tóc gáy, con người mất nhân cách và đạo lý đến mức độ nào… và điều đáng quý những trang viết ấy không nhắm vào một xứ nào, một phe phái nào, một thế lực nào.</p>



<p>Không ai có thể dành cái đó về phía mình, cả Phương Đông cũng như Phương Tây không thể giành ý này nhằm bênh vực họ hay nhắm vào kẻ địch của họ, vì không có kẻ địch nào ở đây, không có những người hoàn toàn tốt, không có người hoàn toàn xấu, chỉ có khoa học đang gây những khủng khiếp như vậy.</p>



<p>Và những quan tâm về môi trường sinh thái, những quan tâm rất đặc biệt, và đặc biệt hơn nữa <strong>khi Việt Nam chưa nổi lên<a href="#_ftn1" id="_ftnref1"><strong>[1]</strong></a> sự tìm hiểu vấn đề phê bình môi trường sinh thái</strong>. “Bàn tay nhỏ dưới mưa” được viết <em>trước khi ý tưởng phê bình sinh thái được đề cập rộng rãi ở</em> <em>VN, viết trước khi mà các tác phẩm chuyên khảo về sinh thái ở VN bắt đầu xuất hiện</em>. Như vậy là những vấn đề quan đâm về tự tại, về sinh thái, về khoa học và đạo lý có thể nói là có tầm sâu trong quyển “Bàn tay nhỏ dưới mưa”, và sau này khi mà tôi được đọc nhiều tác phẩm khác của nhà văn Trương Văn Dân, kể cả những dạng ở dạng còn ở <strong>bản thảo</strong> (như tiểu thuyết <strong>Trò Chuyện Với Thiên Thần</strong>)<a href="#_edn1" id="_ednref1">[i]</a>, mà <em>chưa biết khi nào mới phát hành</em>, thì tôi cũng thấy nhà văn Trương Văn Dân tiếp tục đeo đuổi những suy tưởng đó, anh lại tiếp tục băng khoăn rằng con người đi về đâu, chúng ta đang đi về đâu, đó là câu hỏi thường xuyên trong tác phẩm của anh giữa thời đại mà khoa học, nhân danh tiến bộ&#8230; (6p45-6p47). Anh luôn luôn tìm cách đặt câu hỏi đó, đặt lại câu hỏi đó, tất nhiên anh không có một trả lời thỏa đáng nào cả, bởi không thể có cách giải quyết vấn đề đơn giản nào, mà không có nhà văn nào có quyền năng mà trả lời câu hỏi “Chúng ta đang đi về đâu”, mà nếu mà không khéo thì cả hành tinh này đi về, tận sâu vào hố đen. Nếu tình hình không cải thiện, thì không một tầng ozone hay tên lửa nào có thể bảo vệ được hành tinh này. Những băn khoăn chúng ta đang đi về đâu trên hành tinh đang đi về đâu cũng không biết, thì câu hỏi đau đáu, chúng ta sẽ gặp đi gặp lại hết những tác phẩm này đến tác phẩm khác của anh Trương Văn Dân, đó là điều tôi thấy đáng quý cho đến giờ phút này.</p>



<p>Người đầu tiên giới thiệu tác phẩm đầu tiên của anh Trương Văn Dân trong bản sách, tôi theo dõi bước đường của anh. Tôi hi vọng những tác phẩm sau này của anh gợi cho chúng ta nhiều suy nghĩ về một câu hỏi cơ bản (nhân bản). Thật ra chúng ta sinh từ đâu không quan trọng bằng chúng ta đi về đâu. Một người có ngày sinh, ngày sinh đó không quan trọng. Thực ra sinh từ đâu? Sinh ở xứ nào? Sinh ở địa phương nào? có gì quan trọng đâu bằng vấn đề là chúng ta đi về đâu?</p>



<p>Tôi cho rằng Trương Văn Dân là người tâm huyết với câu hỏi “Chúng ta đi về đâu ?”. Anh cố gắng tìm một vài cách, một vài cách thôi trả lời câu hỏi đó và điều đó khiến cho người ta tìm đọc tác phẩm của anh và người ta yêu anh ./.</p>



<p><strong>Nhật Chiêu</strong></p>



<hr class="wp-block-separator has-alpha-channel-opacity"/>



<p><a href="#_ftnref1" id="_ftn1">[1]</a> Tác giả TVD bắt đầu viết BTNDM trong thời gian từ 2007 và hoàn thành năm 2010.</p>



<hr class="wp-block-separator has-alpha-channel-opacity"/>



<p><a href="#_ednref1" id="_edn1">[i]</a> Trò chuyện với thiên thần viết từ tháng 4-2014 và được nxb Tổng Hợp in năm 2020</p>



<p>Mời nghe:</p>



<figure class="wp-block-embed is-type-video is-provider-youtube wp-block-embed-youtube wp-embed-aspect-16-9 wp-has-aspect-ratio"><div class="wp-block-embed__wrapper">
<iframe title="Nv Nhật Chiêu nói về nhà văn TVD, với tt&quot;Bàn tay nhỏ dưới mưa&quot;, bản thảo&quot;Trò chuyện với thiên thần&quot;" width="800" height="450" src="https://www.youtube.com/embed/jYsojD-Gzcs?feature=oembed" frameborder="0" allow="accelerometer; autoplay; clipboard-write; encrypted-media; gyroscope; picture-in-picture; web-share" referrerpolicy="strict-origin-when-cross-origin" allowfullscreen></iframe>
</div></figure>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>TUẤN TRẦN: “HẠT BỤI LÊNH ĐÊNH”- TỪ ĐẤT Ý HÓA KIẾP THÂN THƯƠNG DƯỚI TRỜI NAM</title>
		<link>https://t-van.net/tuan-tran-hat-bui-lenh-denh-tu-dat-y-hoa-kiep-than-thuong-duoi-troi-nam/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Tác Giả]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 14 Oct 2025 06:24:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[giới thiệu tác phẩm]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=84199</guid>

					<description><![CDATA[       (Cảm nhận Phần Truyện Ngắn trong tập “HẠT BỤI LÊNH ĐÊNH” – ELENA PUCILLO TRUONG) Rơi ra từ căn phòng bài trí trang trọng của một tòa lâu đài cổ kính. “HẠT BỤI” kia đã chọn kiếp “LÊNH ĐÊNH” để rồi một ngày lưu dấu hồn trần nơi “quê người đất khách”. Hẳn là [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/dgWOr5Aa-image001.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="778" height="1024" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/image001-778x1024.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-84200" style="width:304px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/10/image001-228x300.jpg 228w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/image001-778x1024.jpg?strip=all 778w, https://cdn.t-van.net/2025/10/image001-768x1011.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2025/10/image001-1167x1536.jpg 1167w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/dgWOr5Aa-image001.jpg?strip=all 1459w" sizes="(max-width: 778px) 100vw, 778px" /></a></figure></div>


<p>      </p>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p> (Cảm nhận Phần Truyện Ngắn trong tập “HẠT BỤI LÊNH ĐÊNH” – ELENA PUCILLO TRUONG)</p>



<p>Rơi ra từ căn phòng bài trí trang trọng của một tòa lâu đài cổ kính. “HẠT BỤI” kia đã chọn kiếp “LÊNH ĐÊNH” để rồi một ngày lưu dấu hồn trần nơi “quê người đất khách”. Hẳn là trong sự lựa chọn “nghịch thường” đó, hàm chứa một điều lớn lao địa cửu thiên trường nơi thân mệnh mong manh cánh chuồn. &#8220;HẠT BỤI LÊNH ĐÊNH&#8221; – ngay từ nhan đề… đã cho thấy sắc tính Á Đông thông dụng. Điều đặc biệt ở đây. Nó được viết bởi ELENA PUCILLO TRƯƠNG một nhà văn, một nhà Khoa học/ học giả Ngữ Văn của Tây Phương – Ý.</p>



<p>Thế nhưng, không nên hiểu nhan đề như sự mô tả/ minh họa thông thường. Đó không phải là bước đời nổi trôi đau đáu về nghìn trùng xa cách, tháng năm thương thầm tiễn biệt. Mà là cái “lênh đênh” để kiếm tìm, để bám chạm, cầm nắm, ôm nâng, “xẻ xan”&#8230;. Để thấy trước mắt mình và sau lưng người “Một cuộc đời không bao giờ có những giây phút “không – tình- yêu”. Thế thì tuyệt diệu biết bao!”.</p>



<p>“HẠT BỤI” đã kiên nhẫn, ân cần bén rễ vào cảnh tình, môi sinh, kiến tạo mối cộng sinh đặc biệt – như đã từng trong lịch sử Danh nhân – “Giữa Mạc Tự Khoa nghe câu hò Nghệ Tĩnh”. Phải chăng đây là “đóa bách hợp” giữa trời thu hòa bình…</p>



<p>Trên sân khấu Văn chương nước nhà – đương đại, sự góp mặt của nữ văn sĩ Elena Pucillo Truong, đã như một “hạt nắng”, tuy nhỏ nhoi nhưng đủ rọi tin rằng: Tiếng Việt, Văn chương Việt, có khả năng lớn lao chạm cảm đến tận chân trời. Đó là sự tự cất lời, là khả năng thẩm thấu, giao kết, ăn bắt bền chặt của chính bản thân chữ nghĩa &#8211; Tiếng Việt, mà ta cứ tưởng quá đỗi gian nan khi ra biển rộng, tạo ra những thách thức hằn học trong chuyển ngữ. Nhưng thực tế, Văn chương đâu phải thế, rào cản của nó là ở tâm hồn và trái tim, không phải chờ những phương tiện chuyên chở/ bợ đỡ như truyền thông hay dịch thuật…</p>



<p>Nơi mảnh đất mà nỗi đau thành thực róng riết hơn bất cứ đâu trên địa cầu này, thì việc đồng điệu với những thân phận lòng riêng khi soi tìm để ôm vỗ đôi bờ trong nhau là điều không khó. Và có lẽ, sâu trong tâm thức “áng tóc vàng trữ tình” đó, có đeo mang một nỗi niềm thân phận như “hạt mưa sa”, như “chẽn lúa đòng đòng”, như “bảy nổi ba chìm”… Ấy thế mới có sự cộng hưởng, song trùng cho cùng Tiếng Việt, để rung ngân những sợi đàn lòng trong tỉnh thức: “Sự quên lãng chính là thứ quà tặng quý báu, vì sau nhiều ngày hôn mê, khi tỉnh dậy, bé không còn nhớ gì về những việc đã qua… Thế rồi cuộc đời nó như được tái sinh, khởi đầu bằng sự đón nhận bình yên và thanh thản cùng với gương mặt dịu hiền…”.</p>



<p>Quả thật! cuộc đời của “HẠT BỤI” cũng côi cút, truân chuyên như bao phận nữ nhi thường tình nơi “Cửa Khổng sân Trình” hay một kiếp đời hiu hắt sinh ra trong bối cảnh tử chiến. Tương đồng mật thiết nhất là với tuổi thơ của “Bông hồng nơi chiến hào” (Xuân Quỳnh). “Cô gái tóc vàng” cũng vậy – qua lời tự bạch trầm mặc thấm thía: “Tôi là một đứa bé mồ côi, bị bỏ rơi nơi góc đường trong một thành phố nhỏ… Có ai đó đã nhặt tôi lên và cho tôi ăn uống… Và có lẽ một điều gì đó kinh khủng đã xảy ra và tôi bị đưa vào trại trẻ mồ côi”. Không khuất nhục trước số phận, thiếu nữ bất hạnh kia đã học và học rất giỏi để mong rằng một ngày trở lại với ngôi nhà đầy hương hoa oải hương &#8211; nơi mà cô đã được ai đó nhặt lên, chăm nuôi và có những khoảng sống hạnh phúc hiếm có trong một đời người… Đến đây bạn đã hiểu phần nào về sợi dây phép màu đã kết bện mối nhân duyên tưởng “nghịch chiều” này rồi chứ!</p>



<p>Và tất nhiên, quy luật của cuộc sống là quy luật của tình yêu &#8211; Bởi &#8220;Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi&#8221; (Quote: Lưu Quang Vũ). Nên mối lương duyên nặng nghĩa này không thể nằm ngoài hai chữ &#8220;yêu nhau&#8221;. Những lời &#8220;chất vấn ngào ngọt&#8221; trào dâng từ dòng chữ thư tay&#8230; Tình cảm của &#8220;họ&#8221; cũng như bao chàng trai, cô gái cùng thời đại, nó được bắt đầu từ những bức thư. Bức thư của &#8220;anh&#8221; gửi đến nhiều hơn một lần, cùng những lời ân cần và thành thật chính là &#8220;căn cứ&#8221; xác tín để cho cô gái trẻ &#8220;đang chìm trong sự trĩu buồn của thân phận&#8221; quyết định &#8220;dâu bể xứ người&#8221;&#8230; Từ khoảnh khắc &#8220;&#8230;trái tim ngừng đập trong giây phút đôi môi rụt rè đã thấy nhau&#8221;, hai số phận đã cùng sang trang&#8230;</p>



<p>Có thể nói rằng tình yêu đôi lứa đã trở thành “duyên cớ” để cho cô gái Italia yêu đất, yêu người Bình Định (quê hương của phu quân) – yêu đất yêu người Việt Nam. Tình yêu của Elena Pucillo Truong mang màu sắc hoài cổ, và đó cũng chính là sắc màu chủ đạo của tình yêu Việt Nam. Yêu nét đẹp văn hóa, yêu những mùa qua, yêu giọt cà phê, nữ sĩ đi tìm tình yêu trong tiếng nói người xưa nơi đỉnh núi thiêng, nơi ngôi chùa cổ, qua những cuộc chuyện trò ngõ vắng, lắng nghe thanh âm mưu sinh máu thịt&#8230; “Cô gái Italia” kể chuyện rất đôn hậu, tỉ mỉ và đong tình đậm nghĩa về những “cử chỉ” đẹp trong trong đời.</p>



<p>Những đoản khúc ân tình hiện ra chân thực, mang nhân sinh quan nhân văn, nhân bản của người con Lạc Việt. Có thể nói Elena Pucillo Truong đã huyền hòa thẩm sâu trong điệu hồn dân tộc này, mới thể hiện được ánh nhìn bản sắc đậm đà nơi chữ nghĩa đó: “Tôi không thể nào quên cuộc gặp gỡ với bà lão bán nhang… cụ cầm bàn tay tôi ấp giữa hai tay mình… sau đó bà đặt bàn tay bà lên trái tim tôi và sau đó lên trái tim bà… Tôi đáp lại nụ cười của bà bằng một vòng ôm thân thiện và từ ngày đó tôi thường mang theo mình cái cử chỉ che chở ấy trong những lúc gặp khó khăn trong đời”.</p>



<p>Tiếng Việt mà Elena dùng để bộc lộ tình yêu với người Việt rất giản dị, hồn hậu mà thấm lắng sâu sắc. Hòa lẫn trong đó cái “hồn nhiên” như để “yếm thế” nỗi buồn “góc bể chân mây”, nỗi ưu uất phận người bạc lãnh bể dâu: “Đó là cảm giác tuyệt vời mà có lẽ tôi chưa bao giờ được trải nghiệm! cái cảm giác mình vô địch thật hết sức sinh động. Vô địch mà không cần chiến tích, không cần tham gia những trận tranh đua, không cần phải mang trên người chiếc mặt nạ, xa rời cái thế giới mà con người chỉ biết phán xét hay đánh giá vì vẻ ngoài, vì những thứ phô trương, sở hữu chứ không phải nhờ giá trị như mình thực sự có”.</p>



<p>Với giọng trung dung giữa Tự sự và trữ tình tản mạn. Có thể gọi “HẠT BỤI LÊNH ĐÊNH” là những lời tâm sự tỉnh thức khơi mạch nguồn từ “tình yêu”: Tình yêu “chàng”, rồi yêu đất, yêu người và yêu nhân loại. Tình yêu đó được xây dựng từ cốt lõi của đạo lớn/ của đức hạnh rất mực Đông Phương, đã bằng cách nào đó ngẫu nhiên tương phùng với chủ thể &#8211; một người phụ nữ tóc vàng, da trắng, mắt xanh. Chị không mang trong mình dòng máu đất Phật nhưng đã sớm trở thành “đồng lõa” của thế giới “Người vẫn ngọt bùi qua muôn nỗi đắng cay” này! Và đi trong ánh sáng “tuệ nhãn”… Để rồi:</p>



<p>Những trang viết của Elena thấm nhuần triết lý Buddha về vô thường và vô ngã &#8211; vô sở cầu. Nhận thức được rằng mọi thứ đều mong manh, chóng vánh. Hạnh phúc, nỗi buồn, thậm chí cả ký ức. Tất cả rồi sẽ tan biến như hạt bụi trong đời “tai bay vạ gió”. Nhưng chính vì thế, chị đã học cách yêu thương ngay khi còn có thể. Đó là bước đầu giác ngộ của một tâm hồn đã từng quạnh quẽ. Một tâm hồn không bi lụy, không than van, mà biến sự mong manh thành động lực sống trọn vẹn: “Tiếng nói của một người lạ mặt đã cho tôi cái sức mạnh mà trước đây tôi cứ tưởng là mình không còn nữa. Âm thanh đó còn cho tôi biết là trên đời này tôi không còn cô độc. Nghĩa là tôi cũng có thể có một phần hạnh phúc, tôi phải tin như thế”.</p>



<p>Đọc “HẠT BỤI LÊNH ĐÊNH”, ta không hề tuyệt vọng. Trái lại, cảm giác bình thản, an ủi lan tỏa. Elena nhìn thẳng vào sự “tạm bợ”, “oải mục” kiếp số để đánh thức hi vọng. Biết rồi đây mình cũng sẽ tan biến. Nhưng trước khi hóa hư vô, ta muốn sống như hạt bụi trong nắng – nhỏ bé mà sáng trong. Có phải đó là điều Elena muốn nói&#8230; Là triết lý sống đẹp, khích lệ bạn đọc không buông xuôi trước sự vô thường.</p>



<p>Khi đặt tác phẩm trong bối cảnh văn học Việt Nam hiện đại, ta nhận thấy nó góp thêm một tiếng nói cần thiết. Văn học hôm nay đang tìm kiếm những tác phẩm có tầm vóc nhân văn, có triết lý sâu xa mà vẫn dung dị, đời thường – “… trên đường phố không thiếu những người nông dân quang gánh trên vai, chiếc nón lá trên đầu và nụ cười hiền hậu thường trực trên môi”.</p>



<p>“HẠT BỤI LÊNH ĐÊNH” với “dung lượng tinh thần”, không phức tạp về kết cấu, nhưng nhờ chiều sâu tư tưởng và sự đồng cảm rộng rãi, nó đã trở thành một tác phẩm đáng để đọc. Đọc để trở về với chính ta, một thế giới nội tại hoàn kết – trong sự im lặng tĩnh tại “… mở ra cánh cửa của vùng trí tuệ tiềm ẩn, không phán xét và cũng không phân biệt, chỉ đơn giản giúp ta nghe được chính ta, ngoại cảnh và kẻ khác. Đó chính là khám phá được kho tàng giống như lời Phật dạy: “Ai từ bỏ thế giới thì sẽ nghe được âm thanh của niết bàn”.</p>



<p>Đó là một hành trình chiêm nghiệm về thân phận, một lời nhắc nhở về sự vội vã hữu hạn của thời gian trong một đời người đồng thời giục giã yêu thương. Một lần nữa, trước sự thật: chúng ta chỉ là những hạt bụi, bé nhỏ, lênh đênh. Elena ngọt ngào cất tiếng: Nhưng cũng chính vì thế &#8211; nhỏ bé và lênh đênh mà ta càng cần yêu, cần sống, cần sẻ chia cho ngay bây dừ&#8230;</p>



<p>Không ồn ào, không phô trương, chân phương mà bền vững, như chính hạt bụi – nhỏ nhoi mà bất diệt, gió dập sóng vùi vẫn muôn đời đồng hiện cho cùng cái đẹp…: “Nhiều lần anh nói đùa là anh đã cưới em vì em đã dạy anh nhìn những ánh sao trên bầu trời hay lắng nghe tiếng rì rào của biển và chuyển động của thủy triều, còn em thì nói yêu anh vì sự bền bỉ, tính kiên trì và bằng cách mà chúng ra đã gần gũi và chia sẻ cùng nhau trong từng cảnh ngộ vui buồn”. Trân trọng!</p>



<p><strong>Tuấn Trần</strong></p>



<figure class="wp-block-image size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/U58ZyEEY-image003.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="768" height="1024" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/image003-768x1024.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-84201" style="width:246px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/10/image003-225x300.jpg 225w, https://cdn.t-van.net/2025/10/U58ZyEEY-image003-768x1024.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2025/10/image003-1152x1536.jpg 1152w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/U58ZyEEY-image003.jpg?strip=all 1440w" sizes="(max-width: 768px) 100vw, 768px" /></a></figure>



<p><em>Tác giả và nhà văn Ý Elena Pucillo Truong</em></p>



<p></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Một Người đa cảm như Lionel Richie đã học cách ‘Tấn công Sư tử’ như thế nào</title>
		<link>https://t-van.net/mot-nguoi-da-cam-nhu-lionel-richie-da-hoc-cach-tan-cong-su-tu-nhu-the-nao/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Gemini]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 03 Oct 2025 05:09:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[ChatGPT]]></category>
		<category><![CDATA[giới thiệu tác phẩm]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=83941</guid>

					<description><![CDATA[Lionel Richie (tại nhà riêng ở California) đã bán được hơn 100 triệu album trên toàn thế giới. &#8220;Truly&#8221; là cuốn sách đầu tay của anh. Nguồn: Chantal Anderson cho tờ New York Times The NYT: How a Sentimentalist Like Lionel Richie Learned to ‘Attack the Lion’ (Chuyển ngữ tiếng Việt: Gemini; Hiệu đính (và [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/09/VC9Ea9Yl-image001.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="600" height="905" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/09/VC9Ea9Yl-image001.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-83942" style="width:430px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/09/image001-199x300.jpg 199w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/09/VC9Ea9Yl-image001.jpg?strip=all 600w" sizes="(max-width: 600px) 100vw, 600px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Lionel Richie (tại nhà riêng ở California) đã bán được hơn 100 triệu album trên toàn thế giới. &#8220;Truly&#8221; là cuốn sách đầu tay của anh. Nguồn: Chantal Anderson cho tờ New York Times</em></p>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><strong><a href="https://www.nytimes.com/2025/09/28/books/review/truly-lionel-richie.html">The NYT: How a Sentimentalist Like Lionel Richie Learned to ‘Attack the Lion’</a></strong></p>



<p><em>(Chuyển ngữ tiếng Việt: Gemini; Hiệu đính (và chịu trách nhiệm): T.Vấn)</em></p>



<p><strong>Một Người đa cảm như Lionel Richie đã học cách ‘Tấn công Sư tử’ như thế nào</strong></p>



<p><em>Các ca khúc của ông đã truyền cảm hứng cho người hâm mộ suốt năm thập kỷ. Giờ đây, nhạc sĩ không ngừng nghỉ này đã kể lại toàn bộ câu chuyện trong cuốn hồi ký dày 463 trang.</em><em></em></p>



<p><strong>Tác Giả: </strong><strong>Elisabeth Egan</strong></p>



<p>Lionel Richie đi đi lại lại trong hành lang tại ngôi nhà khổng lồ của mình ở Beverly Hills, chăm chú nhìn vào một video trên điện thoại của người quản lý. Video cho thấy các bản sao cuốn hồi ký của ông, <strong>&#8220;Truly&#8221;</strong> (Thực sự), đang chạy trên băng chuyền tại một nhà in ở Virginia.</p>



<p>Richie lắc đầu chậm rãi, đưa tay che miệng, như thể đang ngắm nhìn một đứa trẻ sơ sinh.</p>



<p>Đằng sau ông là hai phòng khách, mỗi phòng đều được trang bị một cây đàn piano lớn. Một phòng có các kệ chất đầy giải thưởng cao vút lên tận trần nhà. Phòng còn lại có một bệ đỡ đặt cuốn sổ khách bằng da được chạm khắc, với chữ ký của những người bạn nổi tiếng của Richie, bao gồm Pharrell Williams, Sidney Poitier, Jackie Chan và Gregory Peck.</p>



<p>Richie, 76 tuổi, vừa trở về sau chuyến lưu diễn châu Âu và sắp bắt đầu một chuyến lưu diễn khác ở Nam Mỹ. Trong suốt 50 năm qua, ông đã bán được hơn <em>100 triệu album</em>, là tiếng nói lý trí trong chương trình <strong>&#8220;American Idol&#8221;</strong> và biểu diễn tại các sân vận động chật cứng khán giả, trước những đám đông khổng lồ trông như đại dương từ sân khấu.</p>



<p>Thế nhưng, khi đối diện với câu chuyện cuộc đời mình, Richie lại lặng thinh.</p>



<p>“Đây không phải là một cuốn sách về việc tôi đã gặp ai và quen biết ai,” ông nói, sải bước với đôi giày thể thao màu cam rực rỡ vào một căn phòng khác. “Nó nói về nỗi sợ hãi. Liệu bạn có thể vượt qua những nỗi sợ hãi tồi tệ nhất của mình và tiến về phía trước không?”</p>



<p><strong>‘Khó khăn gấp đôi’</strong></p>



<p>Ngoài đời, Richie chính xác như những gì ông thể hiện trong các video và trên sân khấu: Sôi nổi và quyến rũ, với xu hướng thích châm ngôn, thành ngữ và những bài học cuộc sống của một người đã ngoài thất tuần. Khi biết tôi đang phải đối mặt với một tổ ấm vừa trống vắng (con cái đã trưởng thành và rời đi), ông lấy một hộp khăn giấy và đưa cho tôi chiếc khăn trên cùng, được gấp thành hình hoa hồng.</p>



<p>“Để tôi giúp bạn, cô bé,” Richie nói. Ông chạm vào ba chiếc nhẫn đeo trên một sợi dây chuyền quanh cổ, mỗi chiếc tượng trưng cho một người con của mình. “Từ giờ trở đi, bạn sẽ biết liệu chúng có hiểu được điều đó không.”</p>



<p>Ý nói, sự trân trọng đối với những chủ đề mà Richie say mê: Gia đình và các mối liên hệ, cội rễ và đôi cánh, nỗ lực phi thường để nuôi dạy con người trưởng thành. Ông không né tránh sự chân thành – đó là thương hiệu của ông – nhưng ông biết cách thể hiện sự chân thành mà không bị ủy mị.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/09/9yurHjHh-image003.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="330" height="501" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/09/9yurHjHh-image003.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-83943" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/09/image003-198x300.jpg 198w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/09/9yurHjHh-image003.jpg?strip=all 330w" sizes="(max-width: 330px) 100vw, 330px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>&#8220;Truly&#8221; là một cuốn sách dày dặn 463 trang thỏa mãn người đọc, chứa đầy những ký ức tuổi thơ, những giai thoại về ngành công nghiệp âm nhạc và 25 trang ảnh.</em></p>



<p>Cuốn sách theo chân Richie từ thời thơ ấu ở Tuskegee, Alabama (ông từng mơ ước trở thành một linh mục Giám lý); đến những năm tháng ông chơi saxophone và hát cho ban nhạc The Commodores (ông đã phải ngủ dưới gầm bàn trong mùa hè đầu tiên của ban nhạc ở Harlem); sự đột phá của ông với tư cách là một nghệ sĩ solo (với &#8220;Hello,&#8221; &#8220;Stuck On You&#8221; và ca khúc đặt tên cho cuốn sách); và hình ảnh hiện tại của ông như một triết gia lãng du, nổi tiếng vì sức bền bỉ của mình.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/09/XE3X6iKv-image005.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="288" height="384" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/09/XE3X6iKv-image005.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-83944" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/09/image005-225x300.jpg 225w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/09/XE3X6iKv-image005.jpg?strip=all 288w" sizes="(max-width: 288px) 100vw, 288px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Lionel Richie (ở tuổi 7) lớn lên ở Tuskegee, Alabama, nơi mẹ anh là giáo viên tiếng Anh và bà ngoại anh là nghệ sĩ piano cổ điển. Nguồn… thông qua Lionel Richie</em></p>



<p>Việc Richie biến mất khỏi mắt công chúng gần một thập kỷ chỉ chiếm hai chương trong sách, nhưng chúng là những chương dễ tổn thương và mạnh mẽ nhất. Đây là giai đoạn ông bắt đầu đối diện với những bất an đã mang theo từ Tuskegee đến Los Angeles.</p>



<p>Ông viết về nỗi sợ hãi rằng, sau The Commodores, ông sẽ không bao giờ có thêm một bài hit nào nữa. Nỗi sợ bị bỏ lỡ; sợ làm gia đình thất vọng; sợ không có kế hoạch dự phòng. Và những đấu tranh của ông với chứng sợ sân khấu, A.D.H.D. (Rối loạn tăng động giảm chú ý) và trầm cảm.</p>



<p>&#8220;Truly&#8221; không phải là một cuốn sách buồn, nhưng nó là một cuốn sách thẳng thắn. Và Richie cởi mở một cách đáng mừng về chủ đề chủng tộc.</p>



<p>Ngày xưa, Tuskegee, theo mô tả của Richie, là nơi ẩn náu của &#8220;những bác sĩ giỏi nhất, luật sư giỏi nhất, bác sĩ phẫu thuật giỏi nhất, những người tình cờ là người Da đen.&#8221;</p>



<p>Trong sách, ông kể lại cuộc phỏng vấn năm 1986 với Barbara Walters, ban đầu dự kiến có tiêu đề &#8220;Lionel Richie, Từ nghèo khó đến giàu sang&#8221; cho đến khi bà đến thăm ngôi nhà tao nhã bên cạnh trường đại học, được thừa kế cho gia đình Richie bởi những người thừa kế của Booker T. Washington. (Ông bà của Richie cũng là bạn của George Washington Carver.)</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/09/UmJtwQbz-image007.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="295" height="384" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/09/UmJtwQbz-image007.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-83945" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/09/image007-230x300.jpg 230w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/09/UmJtwQbz-image007.jpg?strip=all 295w" sizes="(max-width: 295px) 100vw, 295px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Trước khi chuyển sang âm nhạc, Richie nghĩ rằng anh có thể trở thành một linh mục Episcopal. Nguồn…qua Lionel Richie</em></p>



<p>Ông viết, “Tất cả chúng tôi đều hiểu rằng nếu bạn là người Da đen, bạn phải giỏi gấp đôi tiêu chuẩn. Bạn phải chịu đựng sự nghi ngờ và vượt qua những trở ngại khó khăn gấp đôi.”</p>



<p>Khi Richie lên 8 tuổi, cha ông đã bị khiển trách một cách tàn nhẫn sau khi con trai ông uống nước từ vòi nước “Chỉ dành cho người Da trắng” ở Montgomery, Alabama. Richie nhớ lại cách người cha kiên cường của mình đã co rúm lại trước cơn thịnh nộ của những người xa lạ. Năm 1963, người bạn thầm yêu của Richie, Cynthia Diane Wesley, 14 tuổi, đã chết trong một vụ đánh bom nhà thờ, một tội ác thù hận mãi mãi khiến cô trở thành một trong “Bộ tứ Birmingham”.</p>



<p>Ông viết: “Tôi không thể hiểu nổi điều đó. Không phải lúc đó. Không phải bây giờ.”</p>



<p>Trong cuộc trò chuyện của chúng tôi, Richie liên tục quay lại ý tưởng về sự kiên cường: “Cha tôi thường nói, ‘Con đang đứng thẳng ư? Hay con đang trốn sau ghế sofa? Sự giống nhau giữa người hùng và kẻ hèn nhát là gì? Cả hai đều sợ chết khiếp. Một người bước tới, và một người lùi lại.’”</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/09/YLj9mtfR-image009.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="256" height="384" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/09/YLj9mtfR-image009.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-83946" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/09/YLj9mtfR-image009-200x300.jpg 200w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/09/YLj9mtfR-image009.jpg?strip=all 256w" sizes="(max-width: 256px) 100vw, 256px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Richie viết về những năm tháng gắn bó với The Commodores với những ca khúc hit như &#8220;Three Times a Lady&#8221; và &#8220;Brick House&#8221;. Nguồn: Cailin Sundry</em></p>



<p><strong>‘Cậu bé đeo kính’</strong></p>



<p>Mẹ của Richie là một giáo viên tiếng Anh. Bà nội ông là một nghệ sĩ piano cổ điển. “Ông lớn lên trong một cộng đồng hướng tới sách vở, đời sống tri thức và những người đặt câu chữ lên trang giấy,” Elizabeth Mitchell, biên tập viên của Richie tại HarperOne, cho biết.</p>



<p>Tuy nhiên, ông đã có một chút lo lắng về việc viết hồi ký. Khi cam kết thực hiện, ông đã cân nhắc việc học theo Cher – chia thành hai tập – nhưng nhà xuất bản và người cộng tác của ông, Mim Eichler Rivas, đã nhẹ nhàng bác bỏ ý tưởng này. (“Các nhà xuất bản của tôi cũng không thích ý tưởng đó,” Cher nói trong một cuộc phỏng vấn, “nhưng sau đó họ nhận ra rằng không thể là một cuốn sách được. Bạn sẽ không thể nhấc nó lên nổi.”)</p>



<p>Ban đầu Richie và Rivas làm việc cùng nhau vài giờ mỗi buổi chiều. Sau đó, các buổi làm việc của họ chuyển sang khung giờ yêu thích của Richie, bắt đầu vào khoảng <em>một giờ sáng</em> và kết thúc gần bình minh.</p>



<p>Richie nói: <strong>“</strong>Tôi phải có mặt khi Chúa rảnh rỗi. Không luật sư. Không quản lý. Không người đại diện. Không báo chí. Không gì cả.”</p>



<p>Richie kể chuyện, và Rivas hỏi và ghi âm lại. Đã có những bất đồng nhỏ, như khi Rivas thêm vào một từ như <strong>“</strong>flabbergasted<strong>” (kinh ngạc)</strong>, Richie nói. “Tôi sẽ nói, ‘Mim. Tôi là người Da đen.’” Đây không phải là một từ ông sẽ dùng.</p>



<p>Richie nói đùa rằng phần khó nhất là <strong>“</strong>thừa nhận với bản thân và với cả thế giới<strong>”</strong> rằng ông không phải là một vận động viên, một học sinh nổi bật hay thậm chí là đặc biệt nổi tiếng trong những ngày đi học.</p>



<p>“Anh ấy là cậu bé đeo kính,” Ronald LaPread, người lớn lên cùng Richie và chơi bass cho The Commodores, nói. “Anh ấy gầy gò. Rất tầm thường.”</p>



<p>Richie nhớ lại khoảnh khắc khi tình thế bắt đầu thay đổi, tại một buổi biểu diễn tài năng ở Đại học Tuskegee (nay là một trường đại học).</p>



<p>“Câu nói tuyệt vời nhất tôi từng nghe, phát ra từ miệng một cô gái: ‘Hát đi, anh yêu!<strong>’</strong>” Richie nói. “Đó là một trong những khoảnh khắc mà, OK, tôi nghĩ mình đang trở nên khá ngầu. Tôi chưa bao giờ ngầu trong đời.”</p>



<p>LaPread nói, “Chúng tôi không chỉ có một người dẫn dắt tốt, anh ấy còn là một nhạc sĩ tuyệt vời. Mọi thứ đều trở nên ngọt ngào.”</p>



<p>Dù Richie bị cám dỗ muốn giảm nhẹ các chủ đề đau buồn, ông biết mình sẽ lãng phí thời gian nếu không đào sâu vào những điều khó khăn trong sách. Ông cũng có một câu châm ngôn cho điều này: “Nếu bạn chạy trốn con sư tử, con sư tử sẽ đuổi theo bạn. Nếu bạn tấn công con sư tử, con sư tử sẽ bỏ chạy.”</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/09/6q0CYQVi-image010.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="600" height="400" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/09/6q0CYQVi-image010.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-83947" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/09/6q0CYQVi-image010-300x200.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/09/6q0CYQVi-image010.jpg?strip=all 600w" sizes="(max-width: 600px) 100vw, 600px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Năm 1983, Richie bắt đầu chuyến lưu diễn solo đầu tiên của mình. Ảnh: Alan Silfen</em></p>



<p><strong>‘Chúa đã có bước đi tiếp theo cho bạn’</strong></p>



<p>Đọc <strong>“Truly”</strong>, người ta có thể cảm nhận được sự không thoải mái của Richie – và quyết tâm công bằng của ông – khi ông đi sâu vào sự tan vỡ của hai cuộc hôn nhân và ban nhạc Commodores. (“Tôi chắc chắn điều đó không dễ dàng với anh ấy và cũng không dễ dàng với chúng tôi,” LaPread nói. “Tất cả những gì chúng tôi biết là nhau.”)</p>



<p>Richie tìm lại được sự tươi sáng khi ông mô tả &#8220;We Are the World,&#8221; ca khúc ông viết cùng Michael Jackson và thu âm trong một buổi làm việc thâu đêm với một nhóm các nhân vật nổi tiếng vào năm 1985.</p>



<p>Richie viết: “‘We Are the World’ đã thay đổi cuộc đời tôi. Nó khiến tôi tự hỏi, ‘Chà, nếu tôi đang ở mùa giải vô địch của mình, tôi có thể làm điều gì tốt với nó?’”</p>



<p>Theo cuốn sách, đĩa nhạc đã bán được 800.000 bản chỉ trong ba ngày và quyên góp được 80 triệu đô la cho công tác cứu trợ nạn đói ở châu Phi.</p>



<p>Sau đó, Richie cảm thấy mình đang ở trên mũi tên lửa. Mọi người khác trong quỹ đạo của ông đều an toàn bên trong – người đại diện, người quản lý, gia đình, bạn bè.</p>



<p>“Tên lửa này bay quá nhanh, bạn không biết mình đã đi qua ba năm,” Richie nói. “Và bạn là bất khả chiến bại.”</p>



<p>Ông tiếp tục: “Nếu bạn bước vào một căn phòng và quét sạch mọi thứ trên bàn, mọi người sẽ nói, ‘Ồ tuyệt vời, Lionel, chúng tôi sẽ dọn dẹp nó.’ Bạn thích con gái ư? Tất cả các cô gái. Bạn thích ma túy ư? Tất cả ma túy. Cái tôi ư? Tất cả cái tôi.”</p>



<p>Rồi cha của Richie qua đời. Cuộc hôn nhân đầu tiên của ông kết thúc, công khai và đau đớn. Giọng hát của ông yếu đi.</p>



<p>Ông nói: “Tôi không biết mình có thể tan rã cùng với tên lửa.”</p>



<p>Richie đã trải qua cái mà ông mô tả là một “suy nhược thần kinh”. Năm 1991, ông đã dành năm ngày một mình ở Jamaica, ngồi trên ghế bãi biển và uống Cristal khi thủy triều dâng lên xung quanh. Ông viết, mỗi đêm, “nhân viên khách sạn sẽ đi ra, bế tôi lên ghế, và lấy lại chai champagne rỗng, giờ đã đầy nước muối, để đưa tôi trở lại đất khô – đánh thức tôi trước khi tôi chết đuối.”</p>



<p>Ông trở về nhà ở Tuskegee, nơi người bà 97 tuổi của ông đã động viên và đưa ra lời khuyên không vòng vo: “Tại sao con không ngủ một giấc thật ngon? Chúa đã có bước đi tiếp theo cho con.”</p>



<p>Ngay cả đối với một độc giả chưa từng đạt đĩa bạch kim đa lần, chưa từng ôm Nelson Mandela hay biểu diễn trước hai tỷ người tại Thế vận hội, những đoạn này, theo nhiều cách, vẫn dễ đồng cảm.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/09/gMO6osPI-image011.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="600" height="735" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/09/gMO6osPI-image011.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-83948" style="width:550px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/09/image011-245x300.jpg 245w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/09/gMO6osPI-image011.jpg?strip=all 600w" sizes="(max-width: 600px) 100vw, 600px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Mặc dù &#8220;Truly&#8221; có nhắc đến những cái tên quen thuộc như Quincy Jones, Frank Sinatra và Muhammad Ali, nhưng &#8220;đây không phải là cuốn sách về những người tôi đã gặp và những người tôi biết&#8221;, Richie nói. Nguồn… Chantal Anderson cho The New York Times</em></p>



<p>Đối với Richie, khoảng thời gian gián đoạn đó là một sự cứu tinh.</p>



<p>“Tôi sẽ nói với bạn điều đó vì nó rất quan trọng để biết,” ông nói, ngả lưng trên một chiếc ghế trắng nhìn ra một sân hiên xanh tươi mà ông tự chăm sóc. (Richie cũng làm vườn cho con gái Nicole Richie, mà những người hàng xóm rất thích thú khi thấy ông trong sân nhà cô, cắt tỉa và ngân nga.)</p>



<p>Richie đi trị liệu. Ông tái hôn. Ông trải qua một cuộc phẫu thuật phục hồi giọng nói đầy rủi ro và học hát lại từ đầu.</p>



<p>Ông bước trở lại ánh đèn sân khấu. Ông đã ở đó kể từ đó, cùng với các nhạc sĩ bền bỉ như Bruce Springsteen, Diana Ross, Billy Joel và Cher.</p>



<p>Cher đã có một lời khuyên cho ông vào đêm trước ngày xuất bản sách:</p>



<p>“Bạn phải tự làm mình cứng rắn. Bạn phải đặt một thanh thép vào xương sống của mình,” cô nói. “Và lắng nghe câu hỏi của mọi người trước khi bạn lao vào trả lời, để họ tiêu hóa. Hãy dành thời gian.”</p>



<p>Sau cùng, Cher nói thêm, “Đó là cuộc đời của bạn.”</p>



<p>Richie đã sẵn sàng.</p>



<p>Ông nói một lần nữa: “Mỗi khi bạn cảm thấy sợ hãi, hãy bước tới. Đó là điều tôi luôn giữ trong tâm trí mình bây giờ. Hôm nay có khó hiểu không? Có. Ngày mai có thể sẽ không. Tại sao? Bởi vì tôi đã đối diện với ngày hôm nay.”</p>



<p><strong>Elisabeth Egan</strong><strong></strong></p>



<p>(<strong>Elisabeth Egan</strong><strong> </strong>là một nhà văn và biên tập viên tại <em>The Times Book Review</em>. Bà đã làm việc trong ngành xuất bản được 30 năm.)</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Phan Tấn Hải: Đọc Tập Truyện “Hạt U Minh” CủaTrần Kiêm Trinh Tiên</title>
		<link>https://t-van.net/phan-tan-hai-doc-tap-truyen-hat-u-minh-cuatran-kiem-trinh-tien/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phan Tấn Hải]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 02 Oct 2025 06:24:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[giới thiệu tác phẩm]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=83896</guid>

					<description><![CDATA[Tập truyện ngắn vừa phát hành của nhà văn Trần Kiêm Trinh Tiên có một nhan đề rất là buồn, “Hạt U Minh.” Nhiều truyện trong tập này như dường viết về các lằn ranh bị vượt qua. Thí dụ, lằn ranh tình yêu (hay như dường là tình yêu) giữa một ni cô và [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/09/HAT-U-MINH.jpeg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="808" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/09/HAT-U-MINH-1024x808.jpeg?strip=all" alt="" class="wp-image-83897" style="width:618px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/09/HAT-U-MINH-300x237.jpeg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/09/HAT-U-MINH-1024x808.jpeg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2025/09/HAT-U-MINH-768x606.jpeg 768w, https://cdn.t-van.net/2025/09/HAT-U-MINH-1536x1212.jpeg 1536w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/09/HAT-U-MINH.jpeg?strip=all 1920w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Tập truyện ngắn vừa phát hành của nhà văn Trần Kiêm Trinh Tiên có một nhan đề rất là buồn, “Hạt U Minh.” Nhiều truyện trong tập này như dường viết về các lằn ranh bị vượt qua. Thí dụ, lằn ranh tình yêu (hay như dường là tình yêu) giữa một ni cô và một chàng trai trong trường Dòng. Hay thí dụ, mối tình giữa một thiếu nữ Huế và chàng trai Mỹ, và chàng chết khi bùng nổ các trận đánh trong Tết Mậu Thân ở Huế. Hay như truyện cuối trong tập, khởi đầu là các hình ảnh liên hệ tới Kinh Thánh Ki Tô Giáo, giữa truyện là ký ức một thiếu nữ về một truyện Thiền&#8230; Cuộc đời, vâng cuộc đời, thực sự là không có lằn ranh, dù là màu da hay tôn giáo. Tác giả có vẻ như muốn nêu chủ đề từ những chuyện đời thường.&nbsp;</p>



<p>U minh&#8230; Có một địa danh là Huyện U Minh ở tỉnh Cà Mau, và có một khu rừng tên là Rừng U Minh nằm ở tỉnh An Giang và Cà Mau, sát Vịnh Thái Lan. Nghĩa là, rất xa. Nếu bạn nhớ thêm, thời học Văn trong lớp Đệ Tứ (bây giờ là lớp 9) ở Miền Nam trong các năm 1960s, hẳn là bạn đã từng học về chữ “u minh” được hiểu theo nghĩa rất buồn trong Hoa Tiên Truyện, một truyện thơ Nôm thế kỷ thứ 18 của Nguyễn Huy Tự. Chữ “u minh” có nghĩa là: bóng tối và ánh sáng, cũng có nghĩa là cõi chết và cuộc sống. Trích mấy câu trong Hoa Tiên Truyện:</p>



<p><em>U-minh đôi ngả khơi chừng,</em></p>



<p><em>Một niềm sắt-đá biết rằng thấu không?</em></p>



<p><em>Kiếp này đã lỏng giải đồng,</em></p>



<p><em>Mảnh duyên gắn-bó còn hòng kiếp sau</em></p>



<p>Than ôi, buồn tới như vậy kìa. Dĩ nhiên, Hoa Tiên Truyện không liên hệ gì tới tập truyện ngắn Hạt U Minh. Nhưng cõi này là những nỗi buồn bất tận, như dường Trần Kiêm Trinh Tiên viết truyện như lời kể buồn nhiều hơn vui. Những dòng cuối truyện ngắn &#8220;Hạt U Minh&#8221; cũng rất là buồn, ghi lời kể từ tôi, nhân vật chính, trích:</p>



<p>&#8220;<em>Niệm Tâm Kinh Bát Nhã mà lòng tôi như cơn gió thổi qua thảo nguyên trống không, thăm thẳm.Từ nay trong ngôi chùa xưa chỉ còn lại một mình tôi, hạt u minh của mẹ. Và mẹ là trang cổ thư, tôi có đọc suốt đời cũng không sao hiểu hết</em>.&#8221; (Hạt U Minh, tập truyện <em>Hạt U Minh</em>, trang 29)</p>



<p>Hạt U Minh cũng là tựa đề một truyện ngắn trong tập truyện cùng tên, được viết trong một bầu không khí kể lại theo kỹ thuật, có lúc như tự sự, có lúc như tả thực, có lúc như kể theo trí nhớ. Truyện ngắn trung tâm này được viết theo lời kể của nhân vật chính là một ni cô, về sau lên làm trụ trì một ngôi chùa nhỏ, nhưng cảm xúc có khi nghĩ về một chàng trai bên một trường Dòng, hiểu là của một dòng tu Thiên Chúa Giáo.</p>



<p>Khi độc giả tìm sách này trên mạng Amazon, sẽ thấy phần giới thiệu là:</p>



<p>“Trinh Tiên có duyên với văn chương từ thời còn đi học. Năm 1974, truyện &#8220;Sao núi&#8221; của Tiên- được ký tên với bút danh Trần Thị Thái Khương- được chấm giải nhất của Báo Điện Tín trong cuộc thi &#8220;Viết cho Việt Nam Hoà Hợp&#8221;. Và bây giờ, tập truyện ngắn &#8220;Hạt U Minh&#8221; của Tiên ra đời, gồm những tác phẩm Tiên đã viết trong một thời gian dài, sau khi đã rời Huế và thiên di qua những vùng miền rất xa.</p>



<p>Tập truyện này chỉ gồm 8 truyện ngắn, nhưng ôm chứa trong lòng một thế giới rộng dài: những câu chuyện trong đó đã diễn ra trong khoảng thời gian hơn nửa thế kỷ, trong không gian trải rộng qua nhiều châu lục. Đó là những cuộc đời Việt tại Úc, Nhật, Pháp, Mỹ&#8230;Những câu chuyện khiến ta xúc động bùi ngùi, vì trong đó có rất nhiều hợp tan, mừng tủi và thương nhớ&#8230;”</p>



<p>Phần giới thiệu trên là trích từ bài “Nhẹ nhàng mà day dứt khôn cùng” của Trần Thùy Mai nơi đầu sách, trang 9-10. Bạn có thể tìm thấy sách này ở:</p>



<figure class="wp-block-embed"><div class="wp-block-embed__wrapper">
https://www.amzn.com/B0DZGL1FJX
</div></figure>



<p>Trên trang web riêng, nhà phê bìnhTrần Kiêm Đoàn có một bài bình luận, nhận định về tập truyện Hạt U Minh của Trần Kiêm Trinh Tiên, trích như sau:</p>



<p>“&#8230;Tác phẩm Hạt U Minh là một cánh diều căng gió với không gian riêng của nó; một không gian điên đảo mà bình lặng đầy ắp biến cố giữa thuở chiến tranh, ngày hòa bình, buổi giao thời, bước thoát ly, thái độ khước từ, nhập cuộc, khổ hạnh, đóng đinh và hệ lụy lâu dài hay tức thời của nó ở bất cứ vùng trời nào khi mà con người vừa là một sản phẩm mà cũng vừa là động cơ tái tạo của hoàn cảnh.</p>



<p>Thế giới trong tác phẩm Hạt U Minh là những mảnh đời hiện thực và chuỗi biến hiện – thánh thiện, bác ái, từ bi, nhỏ nhen, độc ác, âm mưu vừa phản kháng vừa hội nhập – mang đậm tính người vừa gian manh bất ổn như tên chúa đảng hải tặc; vừa thiện lành như vị thiền sư có mặt nhan nhản từ Huế tới muôn phương. Tác giả đã hồi tưởng hay xây dựng nhân vật của tác phẩm với tầm nhìn từ những góc khuất tâm lý, trải nghiệm và hoàn cảnh xuất thân thấm đẫm nếp văn hóa nhạc và hoa nhiều hơn là hận thù và vũ khí.</p>



<p>Triết lý Phật giáo bàng bạc như những dấu ấn vô hình thâm xuyên các truyện không theo lối thuyết giảng, mà thẩm thấu qua từng chi tiết đời thường: là tiếng chuông u minh chùa Thiên Mụ vọng về lẫn trong tiếng rền xa của đại bác từ Trường Sơn&#8230;” (Trần Kiêm Đoàn: <a href="https://trankiemdoan.net/hat-u-minh/">https://trankiemdoan.net/hat-u-minh/</a>)</p>



<p>Thực tế, nói một cách truyền thống theo các cụ thì ngay những dòng đầu truyện đã cho thấy là “oan nghiệt” khi một ni cô ngẩn ngơ nhớ tới một thầy Dòng (Ki Tô Giáo). Các đoạn văn đầu tiên của truyện Hạt U Minh được tác giả Trần Kiêm Trinh Tiên viết, trích:</p>



<p>“Lần thứ hai trong năm, lúc Chùa sửa soạn cho vụ mùa, Sư bà trụ trì lại cho tôi hai tuần nhập thất. Khi nghe Sư cô Giáo Thọ báo tin, cổ họng tôi đắng khô. Bao giờ Nhà Dòng ở bên kia đồi cũng phái thầy Huyên kéo chiếc máy cày sang làm đất giúp Chùa vài hôm. Như thế là tiêu tan hy vọng được gặp lại thầy mùa này. Tôi ngẩn ngơ đứng nhìn ra chiều đang vàng lắm ở trên đồi mà không thấy Sư cô Giáo Thọ quay đi, giấu tiếng thở dài.</p>



<p>“Ngay từ hôm đầu tiên vào thất, tôi đã bắt gặp cái tâm tôi như “vượn chuyền cành”. Chỉ một tiếng người lao xao bên ngoài cũng đủ làm cho con ngựa chứng bất kham trong tôi trỗi dậy. Tôi nhớ thầy Huyên. Không biết từ mùa nào, khi Thầy kéo chiếc xe máy cày về lại Nhà Dòng, lòng tôi cũng đi theo về bên ấy&#8230;” (HUM, trang 17-18)</p>



<p>Thôi thì, phải dằng co như thế mới thành truyện cho gay cấn? Truyện không có nhiều chi tiết kịch tính, nhưng tác giả đi sâu vào diễn biến tâm lý nhân vật &#8220;tôi&#8221; &#8212; một ni cô trẻ. Ni cô có nỗi nhớ da diết với thầy Huyên, và tự ý thức rằng đang có &#8220;tâm vượn chuyền cành.&#8221;Tác giả cũng trích dẫn lời dạy của Thiền sư Thích Nhất Hạnh để cho thấy ni cô đang muốn an tâm, khi nỗi nhớ thầy Huyên ám ảnh đến mức &#8220;hồ như mình đang bước đi trên sóng&#8221; (trang 18) hay &#8220;cái tâm cuồng si tội nghiệp ấy đang mang đến cho tôi vị mặn đậm của mùi mồ hôi đàn ông&#8221; (trang 19). Những hình ảnh này cho thấy sự đấu tranh quyết liệt giữa đời và đạo, giữa khao khát tình yêu đời thường và giới luật của một người tu hành.</p>



<p>Nút thắt của câu chuyện được mở ra khi Sư bà gửi ni cô về Huế tìm mẹ. Đây không chỉ là một chuyến đi vật lý mà còn là một hành trình tinh thần quan trọng. Việc nhận ra mẹ mình là O Lượm, một người đàn bà mất trí, đã giúp nhân vật &#8220;tôi&#8221; chuyển hóa nhận thức. Bất hạnh của người mẹ trở thành nơi an trú cho tâm hồn cô, ý thức thâm sâu về nỗi khổ trần gian. Cái nhìn về Khổ Đế hiện thân nơi người mẹ giúp ni cô nhìn lại những xao động của bản thân, nhận ra cái &#8220;tâm như vượn chuyền cành&#8221; ngày xưa chỉ là sự &#8220;chém những đường gươm vô minh vào khoảng không&#8221; (trang 26).</p>



<p>U Minh là tối và sáng, là sống và chết, là sinh và diệt. Hạt U Minh là hình ảnh biểu tượng, khi ni cô trong vai nhân vật &#8220;tôi&#8221; tự coi mình là một &#8220;hạt giống lạc loài&#8221; bị số phận thả rơi xuống chốn cửa thiền – “Tôi là hạt giống của cõi nào mà cánh chim đã thả lạc nơi này?” (trang 19). Tương tự, ni cô kể, “Tôi thầm cảm ơn cánh chim của số phận đã thả rơi tôi, hạt giống lạc loài, xuống chốn cửa thiền” (trang 27).</p>



<p>Sau khi tìm thấy cội nguồn, ni cô nhận ra mình chính là &#8220;hạt u minh&#8221; của mẹ &#8212; một hạt mầm được sinh ra từ cõi tối tăm, bất hạnh của một người phụ nữ mất trí. Tuy nhiên, hạt mầm đó lại nảy nở trong môi trường thanh tịnh của nhà chùa, rồi cuối cùng, chính hạt mầm này lại trở về làm nơi nương tựa cho người mẹ bất hạnh. Cái chết của người mẹ càng khiến &#8220;hạt u minh&#8221; ấy trở nên quý giá và thiêng liêng, là &#8220;trang cổ thư&#8221; (trang 29) mà cô nguyện suốt đời đọc, suốt đời chiêm nghiệm.</p>



<p>Trần Kiêm Trinh Tiên sử dụng lối kể chuyện nhẹ nhàng, giàu chất thơ, kết hợp nhuần nhuyễn giữa tự sự, độc thoại nội tâm và miêu tả. Tác giả thường xen kẽ Kinh Phật, như Bát Nhã Tâm Kinh, và lời dạy an tâm của Thầy Nhất Hạnh. Một đôi nơi, tác giả trích dẫn Kinh Thánh. Nhưng nổi bật về thủ pháp truyện là cách sử dụng nhiều hình ảnh, mà chúng ta đọc, đôi khi thấy như xem phim. Thí dụ, như các hình ảnh kinh điển (tâm vượn chuyền cành, hiệp sĩ mù chém gươm vô minh) và so sánh tinh tế (mẹ tôi nằm bình yên như chiếc lá khô)&#8230;</p>



<p>Một truyện khác, cũng gợi nhiều suy nghĩ, là truyện ngắn Dáng Xưa (trang 49-71). Có thể nói theo kiểu nhạc tình trước 1975 thì truyện này là “Bản tình ca dang dở giữa khói lửa chiến tranh,” nơi đây là mối tình lặng lẽ nhưng nồng nàn giữa cô gái Huế tên là Hiên và chàng trai Mỹ tên Timothy. Họ lo sợ nghĩ về nhau, nhớ nhau trong khi các trận đánh Tết Mậu Thân 1968 bùng nổ từ góc phố này tới góc phố kia, và khi Huế êm tiếng súng thì cô Hiên mới biết rằng xác anh Timothy được tìm thấy ở An Lăng. Bi thảm là, Timothy không có lời nào trong truyện cho thấy anh là chiến binh Mỹ. Trong truyện, anh được tác giả kể là làm cho “Ty” và như thế, có thể anh là cố vấn nông nghiệp cho Việt Nam hay nhà nghiên cứu về nông nghiệp, vì anh làm việc với các số liệu về những con thỏ, con bò&#8230; Tác giả không nói rõ chỗ này.</p>



<p>Mối tình cô gái Huế với chàng trai Mỹ rất là gian nan. Thân phụ của cô nói: “Con nhà gia giáo không lấy chồng Mỹ.” Chúng ta không thể hình dung mối tình này sẽ như thế nào, nếu chàng Timothy không chết trong trận Mậu Thân. Trong dòng văn học Việt Nam, có nhiều tác phẩm viết về chiến tranh và ký ức tuổi trẻ. Nhưng “Dáng Xưa” của Trần Kiêm Trinh Tiên lại mang đến một âm hưởng riêng: nhẹ nhàng mà ám ảnh, bi thương mà sâu lắng tình người. Đây không chỉ là một câu chuyện tình dang dở, mà còn là lời tưởng niệm một thế hệ thanh xuân bị chôn vùi trong khói lửa.</p>



<p>Cô gái Huế tên Hiên và chàng trai Hoa Kỳ Timothy. Họ có những giây phút đẹp đẽ, những hẹn hò ngập nắng vàng, những món quà bé nhỏ đầy thương nhớ. Nhưng chiến tranh đã không cho phép tình yêu ấy nở hoa. Ngày hẹn Tết Mậu Thân, Hiên chờ đợi trong vô vọng, và kể từ đó, “dáng xưa” chỉ còn ở lại trong ký ức.</p>



<p>Điều làm nên sức hút của truyện là cách Trần Kiêm Trinh Tiên kết hợp giữa hoài niệm riêng tư và ký ức lịch sử. Câu chuyện của Hiên và Timothy không chỉ là chuyện tình cá nhân, mà là biểu tượng cho rất nhiều mối tình bị tan vỡ trong chiến tranh. Từng chi tiết đời thường – một vòng chỉ thêu, tiếng chuông đồng hồ, bản nhạc Phạm Duy, bữa cơm Tết đơn sơ – trở thành những ký ức đau lòng, cho thấy hạnh phúc mong manh đến thế nào trước bạo lực súng đạn.</p>



<p>Giọng văn trong “Dáng Xưa” mềm mại, đậm chất trữ tình, nhiều chỗ như thơ. Người đọc bắt gặp những hình ảnh gợi cảm: “dáng cành ngô đồng in như mực tàu trên lụa ngà” (trang 51), “vạt áo dài nâu trông buồn hiu hắt trong nắng hanh” (trang 51), hay tiếng gõ của chuông đồng hồ “như hỏi mình: đã học bài chưa?” (trang 55). Chính chất thơ ấy làm dịu đi cái bi thương, nhưng cũng khiến nó thấm sâu hơn, như một dư ba kéo dài sau khi gấp lại trang sách.</p>



<p>Cái kết của truyện đưa nhân vật “tôi” trở lại với gia đình Timothy nơi đất khách. Người mẹ già đã lẫn trí nhớ, những kỷ vật còn lại – cây ngựa gỗ, chiếc lược ngà, khung ảnh – đều gợi lên một khoảng trống mênh mông. Đó là khoảng trống của tình yêu chưa trọn, của tuổi trẻ không bao giờ trở lại, và của một thế hệ bị lịch sử bỏ lại phía sau.</p>



<p>“Dáng Xưa” vì thế không chỉ là truyện ngắn về tình yêu, mà còn là một bản tưởng niệm tuổi xuân. Nó khiến người đọc nhận ra: chiến tranh không chỉ giết sinh mạng, mà còn hủy diệt những mầm hạnh phúc. Và trong nỗi mất mát đó, ký ức trở thành nơi nương tựa duy nhất. “Dáng xưa” ấy, dù mong manh, vẫn sống mãi trong lòng người kể và trong tâm thức độc giả.</p>



<p>Một hình ảnh rất kinh điển về Tết Mậu Thân ghi trong nhật ký của cô Hiên, nhân vật chính của truyện Dáng Xưa: “Súng nổ rền bốn phía không ngớt, cho đến gần sáng. Có những tiếng nổ lớn như tiếng bộc phá khiến con Mực hoảng sợ, sủa inh ỏi. Thầy vặn thử radio như những khi Sàt Gòn có đảo chánh nhưng không bắt được làn sóng. Không ai đoán được chuyện gì đang xảy ra. Mẹ trải chiếu dưới gầm bộ ngựa gõ cho cả nhà nằm tạm. Lòng em như lửa đốt. Mẹ nhắc em niệm Phật. Em không còn nhớ nổi một câu kinh. Ôi Timmy, sao em cứ mãi lo sợ điều bất trắc xảy đến cho anh?” (trang 61)</p>



<p>Truyện ngắn của Trần Kiêm Trinh Tiên nhìn chung là những bước đi có vẻ như vượt qua những lằn ranh cách biệt. Tác giả gài những mối tình gay cấn vào những lằn ranh tôn giáo, màu da trong một bối cảnh Việt Nam, trong và rồi ngoài nước. Đúng như nhà phê bình Trần Kiêm Đoàn đã viết: “Triết lý Phật giáo bàng bạc như những dấu ấn vô hình thâm xuyên các truyện&#8230;”</p>



<p>Có thể có một lời nào ngắn gọn nói về các truyện ngắn của chị Trần Kiêm Trinh Tiên? Có lẽ nên nói rằng, đó là những lời kể thơ mộng để nói lên ước mơ yêu thương và hòa bình từ một nhà văn nữ trưởng thành trong thời nội chiến Việt Nam, nơi tất cả mọi người dân Việt đều mang theo những vết thương hậu chiến. Nơi đó, những dòng chữ của tác giả được viết như “muốn gửi lòng mình trên chiếc lá khô trôi theo con sông về xuôi&#8230; anh đã nằm lại với mảnh đại bác xuyên thủng ngực. Cũng bên một khúc quanh của dòng sông” (trang 36-37).</p>



<p>Nơi đó, tác giả tự nhìn về nỗi cô đơn sáng tác của mình như lời kể ở trang 138: “&#8230; tôi nhìn lên phía sau, chỉ âm u bóng đêm. Nơi ấy, trong khu vườn quạnh hiu, có con chim đang đứng hót một mình.”</p>



<p><strong>Phan Tấn Hải</strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>

<!--
Performance optimized by W3 Total Cache. Learn more: https://www.boldgrid.com/w3-total-cache/?utm_source=w3tc&utm_medium=footer_comment&utm_campaign=free_plugin

Page Caching using Disk: Enhanced 

Served from: t-van.net @ 2026-06-15 10:42:40 by W3 Total Cache
-->