<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>hòai nam &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<atom:link href="https://t-van.net/tag/hoai-nam/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://t-van.net</link>
	<description>Văn Học và Đời Sống</description>
	<lastBuildDate>Sat, 24 Jun 2023 03:11:32 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.7.5</generator>

<image>
	<url>https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/02/t-van-favicon.png?strip=all&#038;resize=32%2C32</url>
	<title>hòai nam &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<link>https://t-van.net</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Hoài Nam: NHỮNG CA KHÚC NHẠC NGOẠI QUỐC LỜI VIỆT (96) &#8211; NHẠC PHIM – Bổ túc: Những ca khúc lời Việt của Nhật Ngân</title>
		<link>https://t-van.net/hoai-nam-nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet-96-nhac-phim-bo-tuc-nhung-ca-khuc-loi-viet-cua-nhat-ngan/</link>
					<comments>https://t-van.net/hoai-nam-nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet-96-nhac-phim-bo-tuc-nhung-ca-khuc-loi-viet-cua-nhat-ngan/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Hòai-Nam]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 19 Mar 2020 05:32:42 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[hòai nam]]></category>
		<category><![CDATA[nhac ngoai quoc loi viet]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=42218</guid>

					<description><![CDATA[Trong loạt bài vừa qua, viết về những ca khúc nhạc ngoại quốc lời Việt, phần nhạc phổ thông, nhạc Pháp, và nhạc Đông Phương, chúng  tôi đã thiệu một số bản được cố nhạc sĩ Nhật Ngân (1942-2012) đặt ca từ, như: * Trước 1975 &#8211; Et pourtant (Giã từ em yêu) &#8211; Oh! [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2020/03/nhat-ngan.jpg?strip=all"><img fetchpriority="high" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-42219" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2020/03/nhat-ngan-271x300.jpg?strip=all" alt="" width="271" height="300" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2020/03/nhat-ngan-271x300.jpg?strip=all 271w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2020/03/nhat-ngan.jpg?strip=all 722w" sizes="(max-width: 271px) 100vw, 271px" /></a></p>
<p>Trong loạt bài vừa qua, viết về những ca khúc nhạc ngoại quốc lời Việt, phần nhạc phổ thông, nhạc Pháp, và nhạc Đông Phương, chúng  tôi đã thiệu một số bản được cố nhạc sĩ Nhật Ngân (1942-2012) đặt ca từ, như:</p>
<p>* Trước 1975</p>
<p>&#8211; <em>Et pourtant</em> (Giã từ em yêu)</p>
<p>&#8211; <em>Oh! mon Amour</em>  (Tình yêu, ôi tình yêu),</p>
<p>&#8211; <em>The Shadow of Your Smile</em> (Bóng tối nụ cười)&#8230;</p>
<p>* Sau 1975:</p>
<p><strong> </strong><strong>&#8211; </strong><em>Lui</em> (Chàng)</p>
<p>&#8211; <em>Je ne pourrais jamais t’oublier</em> (Mưa trên biển vắng)</p>
<p>&#8211; <em>Comme toi </em>(Về chốn thiên đường)</p>
<p>&#8211; <em>Ribaibaru </em>(Trời còn mưa mãi),</p>
<p><em>&#8211; </em><em>Kuko</em> (<em>Xin thời gian ngừng trôi)&#8230;</em></p>
<p>Những ca khúc kể trên chỉ là con số rất nhỏ trong tổng số khoảng 400 ca khúc nhạc ngoại quốc lời Việt của Nhật Ngân &#8211; một “thành tích” mà cả đến Phạm Duy cũng phải lên tiếng ca tụng.</p>
<p>Riêng trong lĩnh vực nhạc phim, Nhật Ngân đã đặt lời Việt cho 15 ca khúc trong các cuốn phim điện ảnh hoặc phim tập truyền hình.</p>
<p>Nay, sau khi kết thúc phần viết về các ca khúc trích trong phim, kịch, hoặc từ nhạc phim, nhạc kịch ngoại quốc được đặt lời Việt, chúng tôi nhận thấy còn khá nhiều ca khúc do Nhật Ngân đặt lời Việt, tuy không thuộc vào hàng bất hủ, nhưng đã một thời được hàng triệu người Việt yêu thích. Vì thế chúng tôi viết bài này với mục đích giới thiệu thêm bốn thành công điển hình của Nhật Ngân trong số những ca khúc nói trên, gồm một của Nhật Bản và ba của Trung Hoa: <strong><em>Burande Gurasu</em></strong><em> (Brandy Glass), <strong>Bến Thượng Hải</strong>, <strong>999 Đóa hồng</strong>, </em>và <strong><em>Uyên ương hồ điệp mộng</em></strong><em>.</em></p>
<p><em> </em><em>Burande Gurasu </em>(Brandy Glass<em>, </em>Ly Rượu) do Mitsuru Kotani soạn nhạc, Yoko Yamaguchi đặt lời, và Yujiro Ishihara thu đĩa năm 1977.</p>
<p><strong>Mitsuru Kotani</strong> (1945 &#8211; 1990) là một nhạc sĩ dương cầm (jazz), nhà nhà soạn nhạc, nhạc phim và soạn hòa âm nổi tiếng của Nhật từ giữa thập niên 1960 cho tới khi ông qua đời. Trong số hàng chục ca sĩ, ban nhạc được ông viết ca khúc có cả Đặng Lệ Quân (Teresa Teng).</p>
<p><strong>Yoko Yamaguchi</strong> (1937 – 2014) là một nhà viết ca từ và nữ văn   thi sĩ Nhật. Trong số những ca khúc do bà viết lời hát vào thập niên 1970, đã có nhiều bản lên Top, trong đó <em>Burande Gurasu </em>được xem là một trong hai ca khúc hay nhất của bà; đặc điểm trong ca từ của bà là lời hát đẹp như những bài thơ. Qua thập niên 1980, Yoko Yamaguchi chuyển sang lĩnh vực viết tiểu thuyết.</p>
<p><em>Burande Gurasu </em> được nam ca sĩ kiêm diễn viên <strong>Yujiro Ishihara</strong> thu đĩa năm 1977. Sinh năm 1934, Yujiro Ishihara trở thành thần tượng thời hậu chiến của giới trẻ Nhật Bản, thường được sánh với Elvis Presley của Mỹ. Sau khi Yujiro Ishihara qua đời ngày 7-7-1987, hàng năm cứ tới ngày “song thất”, truyền hình Nhật Bản lại có chương trình tưởng niệm.</p>
<p>Ngày ấy, ca khúc <em>Burande Gurasu </em>do Yujiro Ishihara thu đĩa đã đứng hạng 11 và ở trong Top 100 suốt 65 tuần lễ.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><strong> </strong><a href="https://www.youtube.com/watch?v=DNR0SJtT1NY" target="_blank" rel="noopener"><strong>ブランデーグラス Bulandee gulasu（石原裕次郎 Ishihara Yujirou）日本語・ローマ字歌詞付き（With Lyrics in Rōmaji）</strong></a></p>
<p><em>Burande Gurasu </em>được Nhật Ngân đặt lời Việt với tựa <em>Tình xưa xa rồi</em>, là một trong những ca khúc Nhật đầu tiên được ông đặt lời Việt tại hải ngoại, và cũng là một trong những thành công của Ngọc Lan trong những năm đầu sự nghiệp.</p>
<p><strong><em><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%ACnh_x%C6%B0a_xa_r%E1%BB%93i">Tình xưa xa rồi</a></em></strong></p>
<p><em> </em><em>Tình mình ngày đó bao êm đềm<br />
Nay còn tìm đâu vòng tay mê đắm giây phút xưa<br />
Em sống bây giờ tựa bóng đêm<br />
Ngày dài hiu hắt hướng về nơi phương trời nào</em></p>
<p>Còn nhớ xưa chúng ta<br />
Tựa là cánh chim tung trời bay đi khắp nơi<br />
Cánh chim bằng tung gió<br />
Say đắm bên nhau không rời giây phút</p>
<p>Bây giờ chỉ có em u buồn<br />
Âm thầm ngồi đây mà nghe nhung nhớ nơi chốn xa<br />
Ngày tháng rơi rơi ôi vô tình<br />
Lòng em sao mãi vẫn hoài vấn vương</p>
<p>Con đường tình đã xa xăm rồi<br />
Đâu còn chiều thắm nồng say môi ấm ngây ngất trao<br />
Người hỡi phương trời người có hay<br />
Tình này luôn hướng về bến nơi đợi chờ</p>
<p>Còn nhớ chăng hỡi anh<br />
Ngày nào mới *** ta hẹn hò nhau dưới mưa<br />
Đắm say làn môi ấm<br />
Mưa ướt đôi vai ta nào hay biết</p>
<p>Bây giờ trời vẫn mưa mưa hoài<br />
Con đường tình xưa mình em lê gót trong giá băng<br />
Người hỡi sao đi đi không về<br />
Để buồn năm tháng héo mòn cánh hoa.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=Sx5IJtEs56A" target="_blank" rel="noopener"><strong>Tình xưa xa rồi &#8211; tiếng hát Ngọc Lan</strong></a></p>
<p>Về sau, <em>Tình xưa xa rồi</em> cũng được nhiều nữ ca sĩ khác thu đĩa, trong số đó Khánh Hà.</p>
<p><strong>Phụ lục 1: <em>Tình xưa xa rồi</em>, Khánh Hà</strong></p>
<!--[if lt IE 9]><script>document.createElement('audio');</script><![endif]-->
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-42218-1" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type='audio/mpeg' src='https://cdn.t-van.net/2020/03/01-TinhXuaXaRoi-KhanhHa_rf65-1.mp3'/><a href='https://cdn.t-van.net/2020/03/01-TinhXuaXaRoi-KhanhHa_rf65-1.mp3'>Tinh Xua Xa Roi</a></audio>
<p>Tiếp theo, chúng tôi viết về ca khúc <em>Máu Nhuộm Bến Thượng Hải</em>, ca khúc đi liền với bộ phim truyền hình Bến Thượng Hải (1980), được nhiều người tin là ca khúc nhạc Hoa lời Việt được “nghe” nhiều nhất từ trước tới nay.</p>
<p>Riêng với những người vừa thích xem phim Tàu vừa thích nghe nhạc Hoa thì <em>Máu Nhuộm Bến Thượng Hải</em> phải được xem là ”đỉnh”!</p>
<p><em>[Theo một danh sách được phổ biến trên Internet, thứ tự Top 5 ca khúc trong phim ảnh của Trung Hoa như sau:</em></p>
<p><em> </em><em>1- Bến Thượng Hải </em><strong><em>(phim</em></strong> <em>Bến Thượng Hải, 1980</em><strong><em>)</em></strong></p>
<p><em>2- Xin hỏi đường ở nơi nào </em><strong><em>(phim</em></strong> <em>Tây du ký, 1986</em><strong><em>)</em></strong></p>
<p><em>3- Tân uyên ương hồ điệp mộng</em><strong> <em>(phim</em> </strong><em>Bao Thanh Thiên, 1993</em><strong><em>)</em></strong></p>
<p><em>4- Thiên ngôn vạn ngữ</em><strong> <em>(Mùa thu lá bay, phim</em> </strong><em>Thái vân phi</em><strong><em>)</em></strong></p>
<p><em>5- Hỏi lòng trong sáng</em><strong> <em>(phim</em> </strong><em>Người đến từ Triều Châu</em><strong><em>)]</em></strong></p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2020/03/mau-nhuom-bth.jpg?strip=all"><img decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-42220" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2020/03/mau-nhuom-bth-300x300.jpg?strip=all" alt="" width="300" height="300" srcset="https://cdn.t-van.net/2020/03/mau-nhuom-bth-150x150.jpg 150w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2020/03/mau-nhuom-bth-300x300.jpg?strip=all 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2020/03/mau-nhuom-bth.jpg?strip=all 500w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></a></p>
<p style="text-align: left;">Trước khi viết về ca khúc cũng xin có đôi dòng về bộ phim tập Bến Thượng Hải (Hán Việt: Thượng Hải Than, Anh ngữ: The Shangai Bund) của đài truyền hình TVB, Hương Cảng, bộ phim được xem là một tác phẩm kinh điển về đề tài xã hội đen, thường được xưng tụng là “The Godfather của Hương Cảng”; chính bộ phim này đã có công lăng-xê nam diễn viên <strong>Châu Nhuận Phát</strong>.</p>
<p>Bến Thượng Hải lấy bối cảnh Thượng Hải thời Trung Hoa Dân Quốc trước Đệ Nhị Thế Chiến, cốt truyện nói về các mối quan hệ ân oán, bạn thù trong thế giới xã hội đen và mối tình tay ba giữa ba nhân vật chính.</p>
<p>&#8211; Hứa Văn Cường (Châu Nhuận Phát, Chow Yun-fat): nhân vật chính của phim, là một thanh niên có học thức và tinh thần cách mạng, từng bị ở tù. Sau khi ra tù, anh tham gia vào thế giới xã hội đen Thượng Hải, trở thành một trong những trùm xã hội đen hàng đầu tại đây; tuy nhiên anh vẫn có lòng yêu nước và chống quân phiệt Nhật Bản. Vì vậy anh bị Phùng Kính Nghiêu, một tay đại tài phiệt ở Thượng Hải, tìm cách thanh toán.</p>
<p>&#8211; Đinh Lực (Lữ Lương Vĩ, Ray Lui): nghĩa đệ của Hứa Văn Cường, xuất thân nhà nghèo, nhờ tính cương trực, trọng nghĩa khí, ân oán phân minh đã tiến lên vị trí một trùm xã hội đen.</p>
<p>Cả Hứa Văn Cường và Đinh Lực đều đem lòng yêu Phùng Trình Trình (Triệu Nhã Chi, Angie Chiu), con gái cưng của Phùng Kính Nghiêu, một thiếu nữ xinh đẹp, thông minh. Phùng tiểu thư có nhiều tình cảm với Hứa Văn Cường hơn nhưng sau này lại quyết định kết hôn với Đinh Lực, để lại bao đắng cay đau khổ cho họ Hứa.</p>
<p>Ngoài ra, trong bộ phim Bến Thượng Hải còn có sự góp mặt của Lâm Kiến Minh trong vai Phương Diễm Vân, một người bạn học thầm yêu  Hứa Văn Cường nhưng không dám thố lộ, mà chỉ âm thầm phò giúp chàng, và Thang Chấn Nghiệp trong vai Trần Hàn Lâm, một người bạn học của Phùng Trình Trình nhưng chống lại Phùng Kính Nghiêu&#8230;</p>
<p>Cùng với diễn tiến ly kỳ, tình tiết hấp dẫn, bộ phim Bến Thượng Hải còn có ca khúc chủ đề được đánh giá là tác phẩm để đời của dòng nhạc Cantopop.</p>
<p>* * *</p>
<p>Cantopop, viết tắt của of &#8220;Cantonese pop music&#8221;, còn gọi là HK-pop (Hong Kong pop music), là dòng nhạc phổ thông hiện đại của Trung Hoa với lời hát bằng tiếng Quảng Đông. Tùy trường hợp sử dụng, chữ Cantopop còn có nghĩa là xu hướng sản xuất và thưởng thức.</p>
<p>Dòng nhạc Cantopop xuất hiện vào giữa thập niên 1970 và trở nên cực thịnh trong hai thập niên 1980, 1990. Cho nên cũng là một điều dễ hiểu khi cuốn phim điện ảnh, phim tập truyền hình nào của Hương Cảng cũng phải có một vài ca khúc Cantopop. Đó là lý do chính khiến dòng nhạc Cantopop trở nên phổ biến tại Hương Cảng, Hoa Lục, Đài Loan, Tân Gia Ba, Mã Lai, Nam Hàn, Nhật Bản, và miền nam Việt Nam, vốn là thị trường chính của phim ảnh Hương Cảng.</p>
<p>* * *</p>
<p>Ca khúc chủ đề bộ phim Bến Thượng Hải do Cố Gia Huy (Joseph Koo) soạn nhạc, Hoàng Triêm (James Wong) đặt lời, được Diệp Lệ Nghi (Frances Yip) trình bày bằng tiếng Quảng Đông.</p>
<p>Bến Thượng Hải đã được vào Top 10 ca khúc được trao giải Ca khúc vàng năm 1980 của RTHK (Radio Television Hong Kong).</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=eRWSNRKsR5Y" target="_blank" rel="noopener"><strong> </strong><strong><em>Nhạc phim Máu Nhuộm Bến Thượng Hải 1980 (bản Châu Nhuận Phát) &#8211; Diệp Lệ Nghi</em></strong></a></p>
<p>Mười sáu năm sau (1996), Bến Thượng Hải được đưa lên màn bạc với một kịch bản mới, qua đó Đinh Lực trở thành nhân vật chính, do Lưu Đức Hoa (Andy Lau) thủ diễn, vai Hứa Văn Cường được trao cho Trương Quốc Vinh (Leslie Cheung), vai Phùng Trình Trình do Ninh Tịnh (Ning Jing) đảm trách.</p>
<p>Tuy có cùng tựa “Bến Thượng Hải” với bộ phim tập truyền hình năm 1980, cuốn phim điện ảnh năm 1996 đã lấy tựa tiếng Anh là <em>Shanghai Grand</em> để phân biệt với bộ phim tập truyền hình (<em>Shangai Bund</em>).</p>
<p>Trong cuốn phim điện ảnh này, đích thân Lưu Đức Hoa đã trình bày ca khúc Bến Thượng Hải, và phiên bản này đã được giới mộ điệu yêu chuộng không thua gì phiên bản của Diệp Lệ Nghi trước đó 16 năm. Tuy nhiên, trong video clip chúng tôi giới thiệu sau đây, tiếng hát là của Lưu Đức Hoa, nhưng hình ảnh thì lại là hình ảnh lấy trong bộ phim truyền hình năm 1980; bởi vì mặc dù cho tới nay đã có 3, 4 bộ phim Bến Thượng Hải (truyền hình và điện ảnh), một khi nhắc tới ba chữ “Bến Thượng Hải”, đại đa số khán giả sẽ giả sẽ nhớ tới bộ phim đầu tiên do Châu Nhuận Phát thủ vai chính.</p>
<p><strong><em>VIDEO:</em></strong></p>
<p><strong><em> </em></strong><a href="https://www.youtube.com/watch?v=DA9njgp7Sog" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>Shanghai Beach (The Bund 上海灘) by Andy Lau with English Translation</em></strong></a></p>
<p>Ca khúc chủ đề của Bến Thượng Hải đã được Nhật Ngân đặt lời Việt với tựa <em>Máu nhuộm bến Thượng Hải</em>, tuy nhiên rất nhiều ấn bản đã chỉ ghi một cách ngắn gọn là “Bến Thượng Hải”.</p>
<p><strong><em>Máu nhuộm bến Thượng Hải</em></strong></p>
<p><em>Biển sóng dạt dào<br />
Trùng dương lớp lớp trôi đi về chốn nao<br />
Đời như những cơn sóng đùa<br />
Mà ngàn năm biết nơi đâu là bến bờ</em></p>
<p><em>Cuộc đời vui cuộc đời buồn<br />
Nào ai hay biết cho đâu là bến mơ<br />
Niềm hạnh phúc hay nỗi sầu<br />
Dòng đời trôi cuốn ta qua ngàn năm</em></p>
<p><em>Yêu em hờn em em biết cho chăng<br />
Cho dù tháng năm dài xa cách<br />
Anh luôn chờ mong bão tố phong ba<br />
Cuộc tình này ngàn kiếp vẫn không nhạt phai</em></p>
<p><em>Dù hạnh phúc dù đau buồn<br />
Dù bao oan trái vẫn muôn đời có nhau<br />
Như sóng nước mãi trôi chẳng ngừng<br />
Cuộc tình ta thiết tha hơn ngàn trùng dương</em></p>
<p><em>Biển sóng dạt dào<br />
Trùng dương lớp lớp trôi đi về chốn nao<br />
Đời như những cơn sóng đùa<br />
Mà ngàn năm biết nơi đâu là bến bờ</em></p>
<p><em>Cuộc đời vui cuộc đời buồn<br />
Nào ai hay biết cho đâu là bến mơ<br />
Niềm hạnh phúc hay nỗi sầu<br />
Dòng đời trôi cuốn ta qua ngàn năm</em></p>
<p><em>Yêu em… </em></p>
<p><strong>Phụ lục 2: </strong><strong><em>Máu nhuộm bến Thượng Hải</em></strong><strong>, Thái Châu</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-42218-2" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type='audio/mpeg' src='https://cdn.t-van.net/2020/03/02-BenThuongHai-ThaiChau_zatm.mp3'/><a href='https://cdn.t-van.net/2020/03/02-BenThuongHai-ThaiChau_zatm.mp3'>Máu Nhuộm Bến Thượng Hải - Thái Châu</a></audio>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=HfoIczX63W8" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>Bến Thượng Hải (Shanghai Beach 上海灘) by Hoạ Mi &amp; Elvis Phương</em></strong></a></p>
<p>Tiếp theo, chúng tôi viết về một ca khúc Trung Hoa nổi tiếng khác được Nhật Ngân đặt Việt, đó là bản <em>999 Đóa Hồng</em> (Hán Việt: Cửu bách cửu thập cửu đóa mai khôi), của nam ca nhạc sĩ Hương Cảng Thái Chánh Tiêu.</p>
<p><strong>Thái Chánh Tiêu</strong> (Samuel Tai) là một trường hợp khá đặc biệt trong làng ca nhạc Hoa ngữ. Sinh năm 1966 tại Hương Cảng trong một gia đình trung lưu theo Thiên chúa giáo, cha là một bác sĩ, ngay từ nhỏ, Thái Chánh Tiêu đã tôn Lý Tiểu Long làm thần tượng, theo học Thái Cực Đạo lên tới Đệ nhất đẳng huyền đai. Trong thời gian nằm nhà vì bị chấn thương, Thái Chánh Tiêu được ông bố mua cho một cây đàn ghi-ta để giết thì giờ, không ngờ từ đó cậu lại say mê ca nhạc. Tuy nhiên do ảnh hưởng (và áp lực) của ông bố bác sĩ, Thái Chánh Tiêu biết rằng lớn lên mình chỉ có một con đường để đi theo: y khoa.</p>
<p>Tốt nghiệp trung học với số điểm không cao lắm, Thái Chánh Tiêu không vào được Đại Học Y Khoa Hương Cảng, phải sang Đài Loan vào Trường Y Khoa Cao Hùng (Kaohsiung) theo học ngành kỹ thuật y khoa (medical technology).</p>
<p>Vừa đi học chàng trẻ tuổi vừa ca hát tại các nhà hàng ở Cao Hùng, và tới năm 21 tuổi (1988) tham dự cuộc thi ca nhạc phổ thông (Popular Music Competition), trở thành một trong năm người đoạt giải.</p>
<p>Sau mấy năm sáng tác, ca hát và thu đĩa tại Đài Loan, năm 1993   Thái Chánh Tiêu viết ca khúc <em>999 Đóa Hồng</em>.</p>
<p>Nội dung ca khúc kể về một chàng trai thầm yêu say mê một cô gái. Đã bao lần anh muốn mở miệng tỏ tình với nàng nhưng không đủ can đảm. Anh chỉ biết âm thầm tặng nàng những đóa hoa hồng thay lời yêu đương, và tự nhủ rằng khi nào đến đóa hồng thứ 1000 anh nhất quyết tỏ tình với nàng&#8230;</p>
<p>Nhưng trên thực tế, Thái Chánh Tiêu cho biết anh viết ca khúc này từ cảm xúc của chính anh khi gửi một bông hồng tưởng nhớ một nữ bệnh nhân ung thư mà anh có bổn phận chăm sóc vừa qua đời.</p>
<p>Chỉ một sớm một chiều, <em>999 Đóa Hồng</em> đã trở thành tình khúc được yêu chuộng nhất trong giới trẻ nói tiếng Hoa đương thời, ở khắp mọi miền nói tiếng phổ thông (quan thoại). Giai điệu nhẹ nhàng, sâu lắng trong <em>999 Đóa Hồng</em> đã trở thành nét độc đáo của chàng ca nhạc sĩ được xem là “nhà lành”, với hiệt hiệu “hoàng tử của những khúc tình ca”.</p>
<p>Ngoài thành công của bản thân, các tình khúc của Thái Chánh Tiêu còn đem lại thành công rực rỡ cho những danh ca khác như Đàm Vịnh Lân (lan Tam), Lê Minh (Leon Lai), Cổ Cự Cơ (Leo Ku)&#8230;</p>
<p>Có điều hơi lạ là càng đạt thành công, Thái Chánh Tiêu càng tìm cách xa lánh ánh đèn màu, nhất là sau khi lập gia đình và có một con trai. Mặc dù vẫn tiếp tục ra những album của riêng mình (mới nhất là vào năm 2012), Thái Chánh Tiêu chuyển dần sang lĩnh vực thực hiện đĩa nhạc,  và sáng tác thánh ca (Gospel music). Bên cạnh những album thánh ca, Thái Chánh Tiêu còn thủ vai chính trong một cuốn phim mang nội dung tôn giáo có tựa đề Source of Love.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><strong> </strong><a href="https://www.youtube.com/watch?v=Mb_tDurCAJI" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>999 Roses &#8211; Samuel Tai</em></strong></a></p>
<p><em>999 Đóa Hồng</em> (Cửu bách cửu thập cửu đóa mai khôi) được nhạc sĩ Nhật Ngân đặt lời Việt và giữ tựa đề trong nguyên tác.</p>
<p><strong><em>999 Đóa Hồng</em></strong></p>
<p><em>Gió mưa ngày qua cho đôi mình thêm xót xa<br />
Che dấu trong tim nụ cười khô héo bao ngày<br />
Hắt hiu đèn soi dung nhan chìm trong bóng đêm<br />
Ôi bóng thân yêu nơi phương nào</em></p>
<p>Gió khuya lạnh căm cho tâm hồn thêm giá băng<br />
Trong giấc mơ xưa kỷ niệm buồn luôn kéo nhau về<br />
Luyến lưu mà chi duyên xưa đành thôi cách xa<br />
Ðôi khi muốn quên đi mà lòng nào quên</p>
<p>Gửi trọn về em những cánh hồng<br />
Bông hoa thắm tươi ngát thơm hương nồng<br />
Từ ngày tình yêu lở bến rồi<br />
Bông hoa úa phai cánh hoa rơi rụng<br />
Bao yêu thương cũng tan theo mây trời<br />
Trôi lang thang tháng năm biết trôi về đâu</p>
<p>Gió khuya lạnh căm cho tâm hồn thêm giá băng<br />
Trong giấc mơ xưa kỷ niệm buồn luôn kéo nhau về<br />
Luyến lưu mà chi duyên xưa đành thôi cách xa<br />
Ðôi khi muốn quên đi mà lòng nào quên</p>
<p>Gửi trọn về em những cánh hồng<br />
Bông hoa thắm tươi ngát thơm hương nồng<br />
Từ ngày tình yêu lỡ bến rồi<br />
Bông hoa úa phai cánh hoa rơi rụng<br />
Bao yêu thương cũng tan theo mây trời<br />
Trôi lang thang tháng năm biết trôi về đâu</p>
<p><em>999 Đóa Hồng</em> đã được rất nhiều ca sĩ Việt Nam thu âm, như Lý Hải, Cẩm Ly, Nhật Kim Anh, Lam Trường, Lâm Nhật Tiến&#8230;</p>
<p>Có thể nói, <em>999 Đóa Hồng</em> là ca khúc nhạc Hoa lời Việt của Nhật Ngân được yêu chuộng nhất ở trong nước, và cũng là một trong những bản karaoke rất thịnh hành vào những năm cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21.</p>
<p>Gần đây, <em>999 Đóa Hồng</em> còn được các ca sĩ, ban nhạc trẻ ở trong nước “remix” (hòa âm và trình diễn theo thể điệu new wave), rất được lớp tuổi choai choai yêu thích, nhưng có thể nói đã không còn một chút gì của khúc tình ca dịu dàng <em>999 Đóa Hồng</em> của mấy chục năm về trước.</p>
<p><strong>Phụ lục 3: </strong><strong><em>999 Đóa Hồng</em></strong><strong>, Lý Hải </strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-42218-3" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type='audio/mpeg' src='https://cdn.t-van.net/2020/03/03-999DoaHoaHong-LyHai_37umm.mp3'/><a href='https://cdn.t-van.net/2020/03/03-999DoaHoaHong-LyHai_37umm.mp3'>999 doa Hoa Hong</a></audio>
<p><strong>Phụ lục 4: </strong><strong><em>999 Đóa Hồng</em></strong><strong>, Cẩm Ly</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-42218-4" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type='audio/mpeg' src='https://cdn.t-van.net/2020/03/04-999DoaHoaHong-CamLy-4767522.mp3'/><a href='https://cdn.t-van.net/2020/03/04-999DoaHoaHong-CamLy-4767522.mp3'>999 Đóa Hoa Hồng - Cẩm Ly</a></audio>
<p>Sau cùng, chúng tôi viết về ca khúc <em>Tân uyên ương hồ điệp mộng</em> (Xin yuan yang hu die meng).</p>
<p><em>Tân uyên ương hồ điệp mộng</em> là một sáng tác của ca nhạc sĩ <strong>Hoàng An </strong>(An Huang, Michael Huang), được tác giả thu âm trong album có cùng tựa, phát hành ngày 1 tháng 2 năm 1993, và ngay sau đó đã được đưa vào bộ phim truyền hình <em>Bao Thanh Thiên</em> (Justice Pao, Bao Công Kỳ Án) của Đài Loan, và sau này trong cuốn phim võ hiệp <em>Thiên Long Bát Bộ</em>.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2020/03/hoang-an-michael-huang.png?strip=all&fit=194%2C259"><img decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-42222" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2020/03/hoang-an-michael-huang.png?strip=all&fit=194%2C259" alt="" width="194" height="259" /></a></p>
<p style="text-align: center;">Ca nhạc sĩ <strong>Hoàng An </strong>(An Huang, Michael Huang)</p>
<p>Một điều đáng tiếc là trong khi <em>Tân uyên ương hồ điệp mộng</em> được xưng tụng là “một trong những ca khúc thành công nhất trong lịch sử âm nhạc Hoa ngữ”, được nhiều người đề cập tới một cách rất chi tiết, thì trên Internet (tiếng Anh, tiếng Việt) lại không có bất cứ thông tin nào về thân thế, sự nghiệp của tác giả Hoàng An!</p>
<p>Người ta chỉ được biết ca khúc này xuất phát từ một cảm xúc bất chợt của Hoàng An vào một buổi tối mùa thu năm 1992, khi ông đã hơn 30 tuổi, đã lập gia đình và có một con gái.</p>
<p>Sau khi hoàn tất phần giai điệu mang đậm phong cách ngũ âm Trung Hoa, Hoàng An đã đọc cuốn Đường Thi Tam Bách Thủ để tìm chất liệu viết ca từ.</p>
<p>Trước hết, ông lấy đoạn sau đây trong bài thơ “Tuyên Châu Tạ Thiếu Lâu Tiễn Biệt Hiệu Thư Thúc Vân” của Lý Bạch <em>“Kẻ vứt bỏ ta, ngày hôm qua chẳng thể níu kéo. Kẻ khiến ta bấn loạn, ngày hôm nay thật lắm ưu phiền. Rút dao chém nước, nước càng chảy, nâng chén tiêu sầu càng sầu thêm”</em>, sửa lại thành lời hát trong 5 câu đầu của ca khúc.</p>
<p>Sau đó, ông lấy lời thơ trong bài “Giai Nhân” của Đỗ Phủ để viết câu số 7 và số 8: <em>Chỉ thấy người mới cười. Đâu nghe người cũ khóc.</em></p>
<p>Ngoài ra, theo một số tác giả, có hai câu trong điệp khúc cũng được Hoàng An lấy từ thơ cổ, đó hai câu đầu tiên trong bài “Giá Cô Thiên” (Gia trú thương yên lạc chiếu gian &#8211; Nhà dưới bóng chiều phủ khói xanh) của Lục Du đời Tống:</p>
<p>“Sáp cước hồng trần dĩ thị điên. Cánh cầu bình địa thượng thanh thiên?”</p>
<p>Nghĩa là: <em>Sống tại nhân gian đã là điên, sao còn muốn lên tận trời xanh?</em></p>
<p>Lời hát nguyên tác <em>Tân uyên ương hồ điệp mộng</em> của Hoàng An được một tác giả (khuyết danh) dịch sang tiếng Việt như sau:</p>
<p><strong><em>Tân uyên ương hồ điệp mộng</em></strong></p>
<p><em>Chuyện hôm qua như nước chảy về đông<br />
Mãi xa ta không sao giữ được<br />
Nay lại có bao chuyện ưu phiền làm rối cả lòng ta.<br />
Rút dao chém xuống nước, nước càng chảy mạnh<br />
Nâng chén tiêu sầu, càng sầu thêm<br />
Gió sớm mai thổi đi bốn phương<br />
Xưa nay chỉ thấy người nay cười<br />
Nào nghe thấy tiếng người xưa khóc<br />
Hai chữ ái tình thật cay đắng<br />
Muốn hỏi cho rõ hay giả vờ ngây ngô<br />
Chỉ có thể biết nhiều hay ít, khó biết sao cho đủ.<br />
Giống như đôi uyên ương bươm bướm<br />
Trong những năm tháng khó khăn này<br />
Có ai thoát được kiếp sầu nhân thế<br />
Trong thế giới phồn hoa ấy<br />
Đôi uyên ương bươm bướm sống ở trên đời đã là chuyện điên rồ<br />
Sao còn muốn lên tận trời xanh<br />
Chi bằng cùng chìm vào giấc ngủ bình yên.</em></p>
<p>Ngay sau khi album <em>Tân uyên ương hồ điệp mộng</em> của Hoàng An được tung ra, ca khúc này đã được đưa vào bộ phim truyền hình Bao Thanh Thiên (Justice Pao, Bao Công Kỳ Án).</p>
<p>Vì nhiều người tin rằng bộ phim này đã có công lớn trong việc quảng bá ca khúc <em>Tân uyên ương hồ điệp mộng</em>, chúng tôi xin có đôi dòng về nhân vật Bao Thanh Thiên và bộ phim có cùng tựa.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2020/03/Bao-C¦ng-Kß¦-ün-Photo-001.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-42221" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2020/03/Bao-C¦ng-Kß¦-ün-Photo-001-300x97.jpg" alt="" width="300" height="97" srcset="https://t-van.net/wp-content/uploads/2020/03/Bao-C¦ng-Kß¦-ün-Photo-001-300x97.jpg 300w, https://t-van.net/wp-content/uploads/2020/03/Bao-C¦ng-Kß¦-ün-Photo-001.jpg 400w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></a></p>
<p>Bao Thanh Thiên, tức Bao Công, tên thật là Bao Chửng (999-1062), là một vị quan dưới thời hoàng đế <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%91ng_Nh%C3%A2n_T%C3%B4ng">T</a>ống Nhân Tông của nhà Bắc Tống bên Tàu. Ông nổi tiếng vì sự chính trực, liêm khiết và tài xử án công minh được dân gian lưu truyền qua nhiều giai thoại.</p>
<p>Theo truyền thuyết, Bao Công là một vị thần tên Văn Khúc Tinh Quân, một trong 7 vị Bắc Đẩu tinh quân, giáng trần. Vì vậy, ngoài việc xử án ban ngày ở dương gian, ban đêm, ông còn phải xử án dưới âm phủ. Trong văn hóa dân gian, vầng trăng trên trán ông tựa như ánh trăng soi sáng công lý ngay cả ở những nơi tăm tối nhất.</p>
<p>Năm 28 tuổi, Bao Công đã thi đậu tiến sĩ, sau đó được cử giữ chức Tri huyện Thiên Trường (nay thuộc tỉnh An Huy), sau đó làm Tri châu Đoan Châu (nay thuộc tỉnh Quảng Đông).</p>
<p>Nghe tiếng Bao Công tận tụy và thanh liêm, nhà vua cho triệu ông về kinh giao cho các chức vụ quan trọng, trong đó có chức Phủ doãn phủ Khai Phong, tương đương thị trưởng Bắc Kinh ngày nay, lo việc trị an kinh thành.</p>
<p>Một năm sau, ông được thăng chức Thừa tướng, Ngự sử đài. Cuối cùng là Khu mật Phó sứ, tương đương với chức Phó Tể tướng.</p>
<p>Theo tài liệu để lại, trong số những người bị Bao Công trừng trị, có hơn 30 đối tượng quyền quý, hoàng thân quốc thích đương thời. Thậm chí ngay cả quốc trượng Trương Nghiêu Tá &#8211; thân phụ của Trương quý phi rất được Tống Nhân Tông sủng ái &#8211; cũng bị Bao Công đàn hặc mà mất chức.</p>
<p>Năm 1062, ông lâm bệnh, và mặc dù đã được hoàng đế ưu ái ban thuốc, qua đời vào tuổi 63. Vì thời gian từ lúc lâm bệnh cho đến khi mất chỉ có 13 ngày, cho nên người ta nghi ngờ ông bị đầu độc do thuốc của hoàng đế ban cho (uống được 9 ngày thì chết).</p>
<p>Nguyên nhân do lúc sinh thời Bao Công từng xử những vụ án vạch mặt bọn thái y, nên có lẽ bị bọn này thù ghét, lén bỏ chất độc vào thuốc cho ông uống.</p>
<p><em>[Tuy nhiên sau này, khi các nhà khoa học thuộc Viện Khoa học Trung Quốc phối hợp với Viện Bảo tàng tỉnh An Huy tiến hành xét nghiệm những mảnh xương của Bao Công, kết quả cho thấy hàm lượng thạch tín (arsen) lại thấp hơn người thường. Cũng nên biết, ngày xưa, từ đông sang tây, chất độc phổ biến nhất trong việc đầu độc là thạch tín; cái chết của Hoàng đế Napoléon vào tuổi 51 khi bị lưu đày ở đảo Sainte Hélène cũng bị nghi là do người Anh đầu độc bằng thạch tín, có khác chăng là trong thời gian dài với liều lượng rất nhỏ mỗi ngày]</em></p>
<p>Tới thời kỳ Đại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A1ch_m%E1%BA%A1ng_V%C4%83n_h%C3%B3a">C</a>ách mạng Văn hóa (1966-1976), Bao Công bị truy kết vào tội ủng hộ, duy trì chế độ phong kiến, bị xếp vào loại “ngưu quỷ xà thần” phải xóa bỏ cho sạch di tích.</p>
<p>Từ đường họ Bao trở thành nhà nấu ăn của hợp tác xã, từ trong ra ngoài bị đập phá. Bia đá, hoành phi, liễn đối, tượng ảnh bị đập vụn. Bức tượng Bao Công được làm từ gỗ đàn hương, lớn như người thật, bị các Hồng vệ binh dùng dao chém nát. Bộ gia phả “Bao thị tông phả” và bức họa truyền thần Bao Công lúc sinh tiền được truyền từ đời Tống, Nguyên, Minh, Thanh, Dân quốc đã bị treo lên cây đốt cháy thành tro&#8230;</p>
<p>Riêng khu mộ của Bao Công tới năm 1973 được lệnh cải táng đi nơi khác để lấy chỗ xây lò nung vôi cho Xưởng luyện thép Hợp Phì. Tháng 8-1973, việc khai quật khu mộ phần của Bao Công hoàn tất, 11 bộ di cốt được hậu duệ Bao Công lén đưa từ Hợp Phì về an táng tại gò Long Sơn, huyện Phì Đông, là nơi an táng tổ phụ, thân phụ của Bao Công.</p>
<p>Gần 20 năm sau (1985) Bao Công được phục hồi danh dự, quần thể mộ phần và từ đường họ Bao tại Hợp Phì được khôi phục. Nhưng tới ngày 4 tháng 4 năm 1986, trước khi hạ huyệt, người ta mới khám phá ra rằng 11 cái vò đựng di cốt từ gò Long Sơn, huyện Phì Đông đưa tới hoàn toàn trống rỗng, không có một mảnh xương cốt nào!</p>
<p>Khi bị chất vấn, con cháu họ Bao nói rằng họ chẳng biết gì cả, trong khi người đảm trách việc di quan trước kia là Bao Tiên Chính thì đã qua đời cách đây mấy năm!</p>
<p><em>[Có lẽ hậu duệ của Bao Công đã bí mật cất dấu các bộ hài cốt để đề phòng một cuộc Đại Cách mạng Văn hóa thứ hai chăng?!]</em></p>
<p>Cũng may mà Học viện Khoa học Trung ương còn giữ được 35 mảnh xương của Bao Công.</p>
<p>Nguyên khi mộ phần bị khai quật vào năm 1973, 35 mảnh xương của Bao Công được lấy gửi đi giám định tại Khoa Nghiên cứu Cổ nhân loại, thuộc Học viện Khoa học Trung ương ở Bắc Kinh. Nay 20 trong số 35 mảnh xương ấy được bỏ vào một quan tài bằng gỗ quý đặt dưới huyệt của Bao Công, 15 mảnh còn lại được trưng bày ở Viện Bảo tàng An Huy.</p>
<p>* * *</p>
<p>Tới đây viết về bộ phim truyền hình Bao Thanh Thiên (Justice Pao, Bao Công Kỳ Án). Có thể nói đây là bộ phim quy mô, đầy đủ, và hay nhất về nhân vật Bao Công.</p>
<p>Bộ phim được chiếu trên màn ảnh truyền hình từ tháng 2-1993 tới tháng 1-1994, với nam diễn viên Kim Siêu Quần trong vai Bao Công, và Hà Gia Kính trong vai Triển Chiêu, cánh tay mặt của Bao Công.</p>
<p>Thoạt đầu hãng truyền hình CTS dự trù bộ phim sẽ gồm 15 tập, mỗi tập dài 60 phút, nhưng sau khi những tập đầu được khán giả chiếu cố nồng nhiệt, CTS đã quyết định kéo dài, cuối cùng lên tới 236 tập, kể về 41 vụ xử án của Bao Công, mỗi vụ kéo dài từ 4 đến 6 tập.</p>
<p>Bao Thanh Thiên không chỉ thu hút khán giả ở Đài Loan mà còn ở nhiều nước Á châu khác, như Trung Quốc, Hương Cảng, Nam Dương, Mã Lai, Nam Dương, Thái Lan, Tân Gia Ba, Việt Nam&#8230;</p>
<p>Mỗi tập của Bao Thanh Thiên được mở đầu bằng ca khúc có cùng tựa với bộ phim, do nam ca sĩ Hồ Qua trình bày.</p>
<p>Còn ca khúc kết thúc mỗi tập chính là <em>Tân uyên ương hồ điệp mộng</em> của Hoàng An.</p>
<p>Ca khúc này đã trở thành một hiện tượng lớn. Album có cùng tựa của Hoàng An đã trở thành một trong những album bán chạy nhất tại Đài Loan, với gần 1 triệu ấn bản, còn nếu tính trên toàn thế giới lên tới 6 triệu.</p>
<p>Có thể nói sự thành công của bộ phim Bao Thanh Thiên đã khiến cho ca khúc <em>Tân uyên ương hồ điệp mộng</em> của Hoàng An trở nên bất tử, nhưng cũng phải nhìn nhận ca khúc này đã góp phần không nhỏ vào sức thu hút của bộ phim.</p>
<p>Theo các nhà phê bình, giá trị của <em>Tân</em> <em>uyên ương hồ điệp mộng</em><em> là </em>sắc thái nhạc ngũ cung Trung Hoa kết hợp lời thơ cổ và ca từ mang tư tưởng Phật học đã khiến bài hát mang ý nghĩa văn hóa độc đáo.</p>
<p>Trong số những nhân vật nổi tiếng từng trình bày ca khúc này có cả ông Bộ trưởng Tư pháp Mã Anh Cửu (về sau trở thành Tổng thống Đài Loan).</p>
<p>Tới khi bộ phim Bao Thanh Thiên được chuyển ngữ tiếng Quảng Đông, một phiên bản <em>Tân uyên ương hồ điệp mộng</em><em> đã được </em>Lâm Tịch soạn ca từ bằng tiếng Quảng. Về sau có thêm hai phiên bản tiếng Quảng Đông khác. Ngoài ra còn phiên bản tiếng Phúc Kiến Đài Loan do Joyce Lim thu đĩa&#8230;</p>
<p>Riêng tiếng Anh có tới bốn phiên bản, &#8220;Butterfly Dream&#8221;, &#8220;Dream of a Butterfly Couple”,  “Wonderful World”, và phổ biến nhất là “Can&#8217;t Let Go” do ban nhạc Tokyo Square của Tân Gia Ba thu đĩa; bên cạnh đó còn có các phiên bản <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ti%E1%BA%BFng_Th%C3%A1i">t</a>iếng Thái, tiếng Khmer, tiếng Nam Dương, tiếng Phi-luật-tân, tiếng Việt&#8230;</p>
<p><em>Theo một danh sách trên Internet chúng tôi đã nhắc tới ở phần đầu, </em><em>Tân uyên ương hồ điệp mộng</em> <em>được xếp hạng 3 trong Top 5 ca khúc trong phim hay nhất của Trung Hoa, chỉ sau </em><em>Bến Thượng Hải</em> <strong>(phim </strong><em>Bến Thượng Hải</em><strong>), và </strong><em>Xin hỏi đường ở nơi nào</em> <strong>(phim </strong><em>Tây du ký 1986</em><strong>).</strong></p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=d226FCHAfUw" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>Tân Uyên Ương Hồ Điệp Mộng &#8211; Hoàng An [新鸳鸯蝴蝶梦 &#8211; 黃安]</em></strong></a></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=Oo7cvzXuZI8" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>Đàn Tranh: Tân Uyên Ương Hồ Diệp Mộng</em></strong></a></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=4_v9MZEkhwE" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>Piano: RICHARD CLAYDERMAN &#8211; New Dream Of The Lover</em></strong></a></p>
<p><em>Tân uyên ương hồ điệp mộng</em> được Nhật Ngân đặt lời Việt với tựa <em>Mộng uyên ương hồ điệp</em>.</p>
<p><strong><em>Mộng uyên ương hồ điệp</em></strong></p>
<p><em>Thời gian vẫn cứ trôi âm thầm<br />
Như dòng sông nước trôi xa dần<br />
Sao nỗi đau trong lòng ta vẫn đây<br />
Làm sao giữ nước thôi xuôi dòng<br />
U buồn nâng chén thêm u buồn<br />
Ai biết mai đây đời mình về đâu<br />
Tình yêu đến thắm trên môi cười<br />
Khi tình đi mắt ai vương lệ<br />
Ôi biết sao cho vừa tình thế nhân<br />
Lòng sao mãi vấn vương tơ tình<br />
Nhân tình kia biết sao cho vừa<br />
Ôi luyến lưu thôi đành tình làm ngơ<br />
Hỡi ơi tình yêu như bướm hoa, như cánh mây trôi bềnh bồng<br />
Tình yêu ơi ta có mấy ai qua mà không một lần khổ đau<br />
Trần gian đắm chìm lợi danh chói lòa<br />
Thôi đừng mơ mộng trời mây<br />
Thôi đừng xa rời người ơi,<br />
Hãy đưa nhau tới mộng bình yên!</em></p>
<p><strong>Phụ lục 5: </strong><strong><em>Mộng uyên ương hồ điệp, </em></strong><strong>Tuấn Đạt</strong><em> </em></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-42218-5" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type='audio/mpeg' src='https://cdn.t-van.net/2020/03/05-MongUyenUongHoDiep-TuanDat_q32w.mp3'/><a href='https://cdn.t-van.net/2020/03/05-MongUyenUongHoDiep-TuanDat_q32w.mp3'>Mong Uyen Uong Ho Diep - Tuan Dat_q32w</a></audio>
<p>Ở trong nước, <em>Tân uyên ương hồ điệp mộng</em> được ca sĩ Minh Thuận đặt lời Việt với tựa đề hơi khác một chút, <em>U</em><em>yên ương hồ điệp mộng, </em> ca từ mang nhiều nét “thời trang”, đôi khi được hát xen lẫn lời Anh trong bản “Can&#8217;t Let Go” của ban nhạc Tân Gia Ba Tokyo Square.</p>
<p><strong><em>U</em></strong><em><strong>yên ương hồ điệp mộng </strong></em><strong> </strong></p>
<p><em>Còn đâu đó dấu môi ngọt ngào,<br />
trong lòng ai bướm mơ hoa vàng<br />
Thu đã qua đông về buồn hắt hiu<br />
Còn đây những dấu chân dịu dàng,<br />
em là ai cớ sao vội vàng?<br />
Duyên hỡi duyên có là mộng xưa&#8230;</em></p>
<p>Kỷ niệm đó đã xa thật rồi,<br />
trong lòng vương vấn bao ưu phiền<br />
Như lá rơi bên hồ đời cuốn trôi<br />
Rồi năm tháng đắng cay nhạt nhòa,<br />
ly rượu say giúp ta quên người<br />
Khi đã yêu ta sầu một mình ta</p>
<p>Khói sương giờ đây cũng đã tan,<br />
theo gió mây bay về ngàn<br />
Còn lại ta lang thang với giấc mơ xưa<br />
buồn đau muôn đời mang theo<br />
Còn mơ bướm hoa, còn vương mắt buồn<br />
Mong được bên người mai sau,<br />
duyên mình sẽ là ngàn năm<br />
Xin đừng ngang trái tình ơi&#8230;!</p>
<p>Sướng vui cùng ai trong nỗi đau,<br />
trong giấc mơ ta ngậm ngùi<br />
Hồ điệp uyên ương ơi số kiếp ta<br />
mang sầu như hoa tàn thu sang<br />
Trời xanh có hay, tình duyên có là&#8230;&#8230;<br />
Đâu hồ điệp mộng uyên ương,<br />
duyên ngàn năm còn hay chăng,<br />
Nếu là duyên số tình còn đây&#8230;!</p>
<p><strong>Phụ lục 6: </strong><strong><em>U</em></strong><em><strong>yên ương hồ điệp mộng, </strong></em><em><strong>Minh Thuận</strong></em> <strong> </strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-42218-6" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type='audio/mpeg' src='https://cdn.t-van.net/2020/03/06-UyenUongHoDiepMong-MinhThuan-2262759.mp3'/><a href='https://cdn.t-van.net/2020/03/06-UyenUongHoDiepMong-MinhThuan-2262759.mp3'>Uyên Ương Hồ Điệp Mộng- Minh Thuận</a></audio>
<p><strong>HOÀI NAM</strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><em>* Tài liệu tham khảo: Bao Công, Wikipedia (tiếng Việt)</em></p>
<h2></h2>
<h2></h2>
<h2></h2>
<p>©T.Vấn 2020</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/hoai-nam-nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet-96-nhac-phim-bo-tuc-nhung-ca-khuc-loi-viet-cua-nhat-ngan/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		<enclosure url="https://cdn.t-van.net/2020/03/01-TinhXuaXaRoi-KhanhHa_rf65-1.mp3" length="3433432" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://cdn.t-van.net/2020/03/02-BenThuongHai-ThaiChau_zatm.mp3" length="3408100" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://cdn.t-van.net/2020/03/03-999DoaHoaHong-LyHai_37umm.mp3" length="3923962" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://cdn.t-van.net/2020/03/04-999DoaHoaHong-CamLy-4767522.mp3" length="5341516" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://cdn.t-van.net/2020/03/05-MongUyenUongHoDiep-TuanDat_q32w.mp3" length="4104639" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://cdn.t-van.net/2020/03/06-UyenUongHoDiepMong-MinhThuan-2262759.mp3" length="3859895" type="audio/mpeg" />

			</item>
		<item>
		<title>Hoài Nam: NHỮNG CA KHÚC NHẠC NGOẠI QUỐC LỜI VIỆT (93) &#8211; NHẠC PHIM – Memory (Kỷ Niệm), Andrew Lloyd Webber &#8211; Trevor Nunn &#038; T. S. Eliot</title>
		<link>https://t-van.net/nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet-93-phim-memory-ky-niem-andrew-lloyd-webber-trevor-nunn-t-s-eliothoai-nam/</link>
					<comments>https://t-van.net/nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet-93-phim-memory-ky-niem-andrew-lloyd-webber-trevor-nunn-t-s-eliothoai-nam/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Hòai-Nam]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 20 Nov 2019 06:41:23 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[hòai nam]]></category>
		<category><![CDATA[nhac ngoai quoc loi viet]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=41234</guid>

					<description><![CDATA[Những bài cuối cùng trong phần viết về những ca khúc trong phim, kịch, hoặc từ nhạc phim, nhạc kịch được đặt lời Việt, chúng tôi sẽ giới thiệu một số ca khúc điển hình trong những cuốn phim, những vở ca nhạc kịch nổi tiếng sau năm 1975. Ca khúc thứ nhất là bản [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/11/memory-cats-1.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-41238" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/11/memory-cats-1-300x155.jpg?strip=all" alt="" width="350" height="181" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/11/memory-cats-1-300x155.jpg?strip=all 300w, https://cdn.t-van.net/2019/11/memory-cats-1-768x397.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/11/memory-cats-1.jpg?strip=all 920w" sizes="(max-width: 350px) 100vw, 350px" /></a></p>
<p>Những bài cuối cùng trong phần viết về những ca khúc trong phim, kịch, hoặc từ nhạc phim, nhạc kịch được đặt lời Việt, chúng tôi sẽ giới thiệu một số ca khúc điển hình trong những cuốn phim, những vở ca nhạc kịch nổi tiếng sau năm 1975. Ca khúc thứ nhất là bản <em>Memory</em>, trích từ vở ca kịch Cats (1981) do Andrew Lloyd Webber soạn nhạc và Trevor Nunn đặt lời dựa trên ý thơ của T. S. Eliot.</p>
<p>Trước khi viết về ca khúc <em>Memory</em>, chúng tôi xin được điểm qua các ca khúc trong phim, hoặc nhạc phim được đặt lời hát từ năm 1975 trở về sau.</p>
<p>Theo đa số tác giả, nếu tính theo đơn vị “thập niên” (decade) thì những năm 1960s là thời gian có nhiều ca khúc hay nhất, trong đó có những ca khúc trong phim, hoặc nhạc phim được đặt lời hát, mà chúng tôi đã giới thiệu một số bản.</p>
<p>Bước sang thập niên 1970, những ca khúc trong phim, hoặc có gốc gác nhạc phim được yêu chuộng nhất đều là của 5 năm đầu, như <em>For All We Know</em> (phim Lovers and Other Strangers), <em>Where Do I Begin</em> (phim Love Story), <em>The Summer Knows</em> (phim Summer of ’42), <em>Speak Softly, Love</em> (phim The Godfather), <em>The Way We Were</em> (phim The Way We Were)&#8230;</p>
<p>Trong số các ca khúc nói trên, có một bản rất nổi tiếng nhưng chúng tôi chưa có dịp đề cập tới là <em>For All We Know</em> trong cuốn phim Lovers and Other Strangers (1970).</p>
<p>Theo ký ức của chúng tôi, ngày ấy cuốn phim Lovers and Other Strangers chưa được chiếu tại miền Nam VN, cho nên ca khúc <em>For All We Know</em> do Larry Meredith hát trong cuốn phim này lẽ ra cũng đã chẳng được người yêu nhạc biết tới nếu như không có đôi song ca Carpenters.</p>
<p><strong>Carpenters</strong> gồm hai anh em Richard Carpenter (sinh năm 1946) và Karen Carpenter (sinh năm 1950), được xem là một hiện tượng ca nhạc trong thập niên 1970. Gọi là “hiện tượng” bởi vì vào thời cực thịnh của rock-n-roll, của phản kháng văn hóa, họ hát nhạc êm, nội dung rất ư “nhà lành” mà lại đạt thành công rực rỡ. Những yếu tố chính đem lại thành công cho Carpenters là: “tiếng hát thiên thần” (giọng nữ trung) và tài đánh trống của Karen, nội dung các sáng tác, hòa âm và lối chơi nhạc độc đáo của Richard.</p>
<p>Trong 14 năm tồn tại (Karen qua đời vì đau tim năm 32 tuổi) Carpenters đã có tới ba bản đứng No.1 và năm bản đứng No.2 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 (tính tất cả mọi thể loại), 15 bản đứng No.1 trên bảng Easy Listening tại Hoa Kỳ, bán ra gần 100 triệu đĩa, và hiện nay vẫn nằm trong danh sách ca nhạc sĩ đã qua đời tiếp tục có số đĩa bán chạy nhất.</p>
<p>Tại Hòn Ngọc Viễn Đông ngày ấy, giới trẻ yêu nhạc ngoại quốc đã dành cho Carpenters một vị trí đặc biệt qua những ca khúc được yêu chuộng như <em>C</em><em>lose to You</em> (1970), <em>We Only Just Begin</em> (1970), <em>Superstar</em> (1971), <em>Goodbye to Love</em> (1972), <em>Sing</em><em> (1973</em>), <em>Yesterday Once More</em> (1973), <em>Please,</em> <em>Mr Postman</em> (1974)&#8230;</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=SJmmaIGiGBg" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>Carpenters &#8211; Superstar (Official Video)</em></strong></a></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=RR1v3MZcHDw" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>Yesterday Once More with Lyric</em></strong></a></p>
<p>Trong số những ca khúc được yêu chuộng nói trên, có ít nhất ba bản đã được đặt lời Việt, gồm:</p>
<p>&#8211; <em>C</em><em>lose to You</em>, LV: Buồn chợt đến, Nam Lộc</p>
<p>&#8211; <em>Yesterday Once More</em>, LV: Ngày xưa yêu dấu, Phạm Duy</p>
<p>&#8211; <em>Sing</em>, LV: Hát lên đi, Lê Hựu Hà</p>
<p><strong>Phụ lục 1: <em>Yesterday Once More (Ngày xưa yêu dấu)</em>, Kiều Nga</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-41234-7" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/11/01-ngay-xua-yeu-dau-yesterday-once-more.mp3?_=7" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/11/01-ngay-xua-yeu-dau-yesterday-once-more.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/11/01-ngay-xua-yeu-dau-yesterday-once-more.mp3</a></audio>
<p><strong>Phụ lục 2: <em>Sing (Hát lên đi),</em> Thúy Hà Tú (pre 1975)</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-41234-8" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/11/02-Hat-Len-Di-Sing_-Pre-75_-Thuy-Ha-Tu.mp3?_=8" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/11/02-Hat-Len-Di-Sing_-Pre-75_-Thuy-Ha-Tu.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/11/02-Hat-Len-Di-Sing_-Pre-75_-Thuy-Ha-Tu.mp3</a></audio>
<p>Xin trở lại với ca khúc <em>For All We Know</em> trong cuốn phim hài kịch Lovers and Other Strangers (1970).</p>
<p>Cuốn phim này được đề cử ba giải Oscar và đoạt một giải cho ca khúc viết riêng cho phim: <em>For All We Know</em>, do Fred Karlin soạn nhạc, Robb Royer và Jimmy Griffin viết lời hát, Larry Meredith thu âm.</p>
<p><strong><em>For All We Know</em></strong></p>
<p><em>Love, look at the two of us<br />
Strangers in many ways<br />
We&#8217;ve got a lifetime to share<br />
So much to say and as we go on from day to day<br />
I&#8217;ll feel you close to me<br />
But time alone will tell<br />
Let&#8217;s take a lifetime to say<br />
I knew you well<br />
For only time will tell us so<br />
And love may grow for all we know</em></p>
<p><em><br />
Love, look at the two of us<br />
Strangers in many ways<br />
Let&#8217;s take a lifetime to say<br />
I know you well<br />
But only time will tell us so<br />
And love may grow for all we know</em></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=jz4qKBUkTPc" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>For All We Know &#8211; Larry Meredith</em></strong></a></p>
<p>Trong một buổi tối rảnh rỗi hiếm hoi trong chuyến lưu diễn, Richard và Karen đi xem cuốn phim Lovers and Other Strangers; tới khi nghe ca khúc trong phim (<em>For All We Know</em>) Richard nhận thấy đây là một ca khúc lý tưởng để soạn lại hòa âm phối khí cho hai anh em thu đĩa.</p>
<p>Qua đầu năm 1971, <em>For All We Know</em> của Carpenters đã lên tới No. 3 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 và No. 1 cho thể loại Easy Listening trong suốt ba tuần lễ.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=exhiNToY3eI" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>The Carpenters &#8211; For All We Know (INCLUDES LYRICS)</em></strong></a></p>
<p>Vào khoảng thời gian này, <em>For All We Know</em> được đề cử giải Oscar cho ca khúc viết cho phim. Thông thường, ban tổ chức sẽ chọn một ca khúc viết cho phim (trong số những ca khúc được đề cử) để đưa vào chương trình văn nghệ phụ diễn của buổi lễ phát giải, và kỳ này họ chọn <em>For All We Know</em> vì ca khúc này (do Carpenters thu đĩa) đang làm mưa gió trên các bảng xếp hạng.</p>
<p>Tuy nhiên Larry Meredith, người thu âm ca khúc này trong phim, vì một nguyên nhân nào đó không thể tới dự, trong khi ban tổ chức lại không thể mời Carpenters trình diễn thế vì bị một điều lệ của giải điện ảnh Oscar ngăn cản: từ trước tới nay, Carpenters chưa từng xuất hiện trên màn bạc và cũng chưa hề hát trong một cuốn phim nào!</p>
<p>Vì thế ban tổ chức đã phải hỏi ý kiến của Carpenters muốn mời ai trong số những ca sĩ “hợp lệ” để hát For <em>All We Know</em> trong buổi lễ, và hai anh em đã chấm Petula Clark. Mười hai năm sau, hai ngày sau khi Karen Carpenter qua đời (4 tháng 2 năm 1983), Petula Clark đã hát lại ca khúc này trong buổi tưởng niệm.</p>
<p>* * *</p>
<p>Trái với thời gian 5 năm đầu, 5 năm cuối của thập niên 1970 chỉ có một ca khúc đoạt giải Oscar được nhiều người biết tới &#8211; đa số là những người ái mộ tiếng hát của Barbra Streisand &#8211; là bản <em>Evergreen</em> trong cuốn phim tình cảm ca nhạc A Star Is Born, do <strong>Barbra Streisand</strong> thủ vai chính bên cạnh nam diễn viên kiêm ca sĩ Kris Kristofferson.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/11/a-star-is-born-1976-1jpg.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-41240" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/11/a-star-is-born-1976-1jpg-214x300.jpg?strip=all" alt="" width="214" height="300" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/11/a-star-is-born-1976-1jpg-214x300.jpg?strip=all 214w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/11/a-star-is-born-1976-1jpg.jpg?strip=all 426w" sizes="(max-width: 214px) 100vw, 214px" /></a></p>
<p>Cốt truyện A Star Is Born nói về một nam ca sĩ đang ở trên đỉnh cao danh vọng gặp gỡ một nữ ca sĩ không tên tuổi, tìm cách giúp nàng vươn lên rồi tình yêu nảy sinh giữa hai người. Nhưng sau đó, trong khi nàng đạt thành công rực rỡ thì sự nghiệp của chàng lại đi xuống&#8230;</p>
<p>A Star Is Born đã được đưa lên màn bạc bốn lần:</p>
<p>&#8211; A Star Is Born (1937) với Janet Gaynor và Fredric March, được đề cử 7 giải Oscar, đoạt 1 cho cốt truyện; trang mạng phê bình Rotten Tomatoes cho phim này điểm 100%</p>
<p>&#8211; A Star Is Born (1954) với Judy Garland và James Mason, được đề cử 6 giải Oscar, không đoạt giải nào; Rotten Tomatoes cho điểm 97%</p>
<p>&#8211; A Star Is Born (1976) với Barbra Streisand và Kris Kristofferson,  được đề cử 4 giải Oscar, đoạt 1 giải cho ca khúc trong phim; Rotten Tomatoes cho điểm 36%</p>
<p>&#8211; A Star Is Born (2018) với Lady Gaga và Bradley Cooper, được đề cử 8 giải Oscar, đoạt 1 giải cho ca khúc trong phim; Rotten Tomatoes cho điểm 90%</p>
<p>Thế nhưng trong khi A Star Is Born năm 1976 bị các nhà bình phim cho đứng hạng chót trong số bốn cuốn phim, thì ca khúc trong cuốn phim này lại làm nên “lịch sử”: lần đầu tiên một nhà soạn nhạc thuộc giới quần hồng đoạt giải Oscar cho ca khúc trong phim: <strong>Barbra Streisand</strong>, với bản <em>Evergreen</em>, ca khúc chủ đề tình yêu trong phim (Love Theme).</p>
<p>Tên tuổi và sự nghiệp của Barbra Streisand (sinh năm 1942) đã được chúng tôi nhắc tới khá nhiều lần trong loạt bài này, ở đây chỉ xin ghi ra một cái “duy nhất” và hai cái “đầu tiên” của nàng ca sĩ, nhạc sĩ, diễn viên, đạo diễn kiêm nhà sản xuất phim tài ba này:</p>
<p>&#8211; Là ca nhạc sĩ duy nhất, tính tới nay, trong sáu thập niên liên tục đều có album đứng No.1.</p>
<p>&#8211; Là phụ nữ đầu tiên vừa viết kịch bản, sản xuất, đạo diễn và thủ vai chính trong một cuốn phim chính mạch (phim Yentl, 1983).</p>
<p>&#8211; Là phụ nữ đầu tiên đoạt giải Oscar qua việc soạn nhạc cho một ca khúc trong phim, tức bản<em> Evergreen</em> trong phim A Star Is Born (1976).</p>
<p><em>Evergreen</em> do Paul Williams đặt lời hát.</p>
<p>Paul Wlliams sinh năm 1940, là nhà soạn nhạc, nhà viết ca khúc, ca sĩ và diễn viên nổi tiếng của Mỹ. Từ thập niên 1970 trở về sau, ông chuyên về việc soạn ca từ, trong số này có hai bản đứng No.1 của ban Carpenters là <em>We&#8217;ve Only Just Begun </em>và <em>Rainy Days and Mondays.</em></p>
<p>Với <em>Evergreen</em>, Barbra Streisand và Paul Wlliams không chỉ đoạt giải Oscar cho ca khúc trong phim mà còn đoạt giải Trái Cầu Vàng (Golden Globe) cho ca khúc trong phim, và giải âm nhạc Grammy cho ca khúc trong năm.</p>
<p>Trên các bảng xếp hạng, <em>Evergreen</em> đã trở thành ca khúc thứ nhì của Barbra Streisand lên No.1; ca khúc trước đó là <em>The Way We Were</em> (1974).</p>
<p><em>Evergreen</em> đứng No.1 trên Billboard Hot 100 (ba tuần) và Easy Listening (sáu tuần), và đứng hạng tư cho cả năm 1977. Hiện nay, <em>Evergreen</em> đang đứng hạng 16 trong danh sách “100 years&#8230; 100 songs” của Viện Phim Ảnh Hoa Kỳ.</p>
<p><strong><em>Evergreen </em></strong></p>
<p><em>Love soft as an easy chair<br />
Love fresh as the morning air<br />
One love that is shared by two<br />
I have found with you<br />
Like a rose under the April snow<br />
I was always certain love would grow<br />
Love ageless and evergreen<br />
Seldom seen by two<br />
You and I will<br />
Make each night the first<br />
Everyday a beginning<br />
Spirits rise and their dance is unrehearsed<br />
They warm and excite us<br />
&#8216;Cause we have the brightest love<br />
Two lights that shine as one<br />
Morning glory and midnight sun<br />
Time, we&#8217;ve learned to sail above<br />
Time, won&#8217;t change the meaning of one love<br />
Ageless and ever, evergreen</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Phụ lục 3: <em>E</em></strong><strong><em>vergreen</em></strong><strong>, Barbra Streisand</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-41234-9" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/11/03-Evergreen-Love-Theme-From-A-Star-Is-Born.mp3?_=9" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/11/03-Evergreen-Love-Theme-From-A-Star-Is-Born.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/11/03-Evergreen-Love-Theme-From-A-Star-Is-Born.mp3</a></audio>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><strong> </strong><a href="https://www.youtube.com/watch?v=n3gQuu2lgGM" target="_blank" rel="noopener"><strong>BARBRA STREISAND &amp; KRIS KRISTOFFERSON – EVERGREEN</strong></a></p>
<p>Tới đây chúng tôi viết về ca khúc <em>Memory</em> trong vở ca kịch Cats (1981) của Andrew Lloyd Webber.</p>
<p>Trong một bài trước, giới thiệu ca khúc <em><a href="https://t-van.net/?p=40681">I Don&#8217;t Know How to Love Him</a></em> trong vở ca kịch &amp; cuốn phim Jesus Christ Superstar, chúng tôi đã viết về tiểu sử và những bước đầu sự nghiệp của (Sir) Andrew Lloyd Webber (1948 &#8211; ), nhà soạn nhạc, nhạc kịch tài ba bậc nhất của Anh quốc, trong bài này xin được viết tiếp.</p>
<p>Sau thành công của hai vở Jesus Christ Superstar (1970) với ca khúc <em>I Don&#8217;t Know How to Love Him</em> và Evita (1976) với ca khúc <em>Don&#8217;t Cry for Me, Argentina</em>, tới năm 1981, Andrew Lloyd Webber đã trình làng vở Cats, trong đó có ca khúc <em>Memory</em> chúng tôi giới thiệu trong bài này.</p>
<p>* * *</p>
<p>Cốt truyện của Cats được dựa trên tập thơ “Old Possum&#8217;s Book of Practical Cats” của thi sĩ Anh gốc Mỹ <strong>T.S. Eliot</strong> (Thomas Stearns Eliot, 1888 – 1965).</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/11/T.-S.-Eliot.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-41239" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/11/T.-S.-Eliot-300x169.jpg?strip=all" alt="" width="382" height="215" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/11/T.-S.-Eliot-300x169.jpg?strip=all 300w, https://cdn.t-van.net/2019/11/T.-S.-Eliot-768x432.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/11/T.-S.-Eliot.jpg?strip=all 800w" sizes="(max-width: 382px) 100vw, 382px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>T.S. Eliot</strong> (Thomas Stearns Eliot, 1888 – 1965)</p>
<p>Ra chào đời tại St. Louis, Missouri, năm 25 tuổi, T.S. Eliot sang Anh quốc sinh sống và làm việc tại đây. Năm 1927, vào tuổi 39, T. S. Eliot trở thành công dân Anh.</p>
<p>Là một nhà thơ thuộc trường phái hiện đại, T. S. Eliot được trao tặng giải Nobel Văn học năm 1948.</p>
<p>Ngoài thơ, T. S. Eliot còn được biết tới qua vai trò một nhà văn, kịch tác gia và nhà phê bình văn học.</p>
<p>“Old Possum&#8217;s Book of Practical Cats” (“Old Possum” &#8211; Con chuột sóc già &#8211; là một biệt hiệu của T. S. Eliot) xuất bản năm 1939, nói về một “bộ lạc” của giống mèo Jellicle. Cũng giống như con người, loài mèo  Jellicle cũng tìm kiếm một hạnh phúc dài lâu, cũng mơ tới một chốn thiên đường mà chúng gọi là Heaviside Layer. Mỗi năm, bộ lạc mèo Jellicle lại tề tựu tại ca vũ hội Jellicle Ball để cùng nhau ca hát, phô trương tài nghệ, và vị Trưởng tộc “Old Deuteronomy” sẽ chọn lấy một con để hưởng hạnh phúc nơi cõi thiên đường và đầu thai trong một kiếp Jellicle mới (trong tổng số 9 kiếp của loài mèo).</p>
<p>Năm ấy, Grizabella, con mèo già một thời nổi tiếng “thanh sắc”, nay đã bị gạt sang bên lề, qua những cố gắng tuyệt vọng của mình đã đánh động được lương tâm, thu phục được tình cảm của tập thể&#8230; và cuối cùng được chọn lên thiên đường đi đầu thai!</p>
<p>“Old Possum&#8217;s Book of Practical Cats” được T. S. Eliot viết cho các cháu của ông, và Andrew Lloyd Webber cho biết đây cũng là cuốn sách ông yêu thích nhất trong tuổi ấu thơ của mình.</p>
<p>Năm 1977, Andrew Lloyd Webber bắt đầu công việc phổ nhạc tập thơ của T. S. Eliot chỉ với mục đích “thực tập” và thử khả năng của mình trong việc soạn nhạc cho một nội dung có sẵn.</p>
<p>Mãi tới năm 1980, sau khi một tập hợp ca khúc của ông mang tựa đề <em>Tell Me on a Sunday</em> chiếu trên đài truyền hình BBC được nồng nhiệt đón nhận, Andrew Lloyd Webber mới nghĩ tới việc đem tập thơ của J. S. Eliot mà mình đã phổ nhạc lên truyền hình qua hình thức tương tự.</p>
<p>Ông mời nhà sản xuất kịch nghệ <strong>Cameron Mackintosh</strong> hợp tác, và “lịch sử của Cats” bắt đầu.</p>
<figure id="attachment_41241" aria-describedby="caption-attachment-41241" style="width: 297px" class="wp-caption aligncenter"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/11/cameron_mackintosh.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="size-medium wp-image-41241" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/11/cameron_mackintosh-297x300.jpg?strip=all" alt="" width="297" height="300" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/11/cameron_mackintosh-297x300.jpg?strip=all 297w, https://cdn.t-van.net/2019/11/cameron_mackintosh-768x776.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2019/11/cameron_mackintosh-1014x1024.jpg 1014w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/11/cameron_mackintosh.jpg?strip=all 1850w" sizes="(max-width: 297px) 100vw, 297px" /></a><figcaption id="caption-attachment-41241" class="wp-caption-text"><strong>              Cameron Mackintosh</strong></figcaption></figure>
<p>(Sir) Cameron Mackintosh, sinh năm 1946, là sản xuất ca nhạc kịch tài ba kiêm chủ nhân nhà hát giàu có bậc nhất Anh quốc. Xuất thân là một tay phụ việc trên sân khấu (stagehand) Cameron Mackintosh đã từng bước tiến thân trong nghề và trở thành nhà sản xuất ca nhạc kịch nổi tiếng bậc nhất thế giới, với những vở để đời như <em>Les Misérables</em>, <em>The Phantom of the Opera</em>, <em>Mary Poppins</em>, <em>Oliver!</em>, <em>Miss Saigon,</em> <em>Cats</em>, v.v&#8230;</p>
<p>Tới thập niên 1990, Cameron Mackintosh đã được tờ Nữu Ước Thời Báo xưng tụng là “nhà sản xuất kịch nghệ thành công nhất, tạo ảnh hưởng mạnh nhất, và thế lực nhất thế giới”.</p>
<p>Năm 2008, tờ <a href="https://en.wikipedia.org/wiki/The_Daily_Telegraph">T</a>he Daily Telegraph của Anh xếp ông đứng hạng 7 trong danh sách những nhân vật có thế lực nhất trong lĩnh vực văn hóa tại Anh quốc. Trong danh sách Rich List of 2019 của tờ Sunday Times, tài sản của Cameron Mackintosh được ước đoán khoảng 1.28 tỷ bảng Anh (1.65 tỷ Mỹ kim).</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>* * *</p>
<p>Mùa hè năm 1980, tập thơ của T. S. Eliot do Andrew Lloyd Webber phổ nhạc được Cameron Mackintosh giới thiệu dưới hình thức một tập hợp ca khúc với tựa đề <em>Practical Cats</em>, trình diễn tại Sydmonton Festival &#8211; một sinh hoạt có mục đích giới thiệu những tác phẩm mới – kịch nghệ, điện ảnh, truyền hình &#8211; tới một thành phần khán giả chọn lọc (private audience) để thăm dò mức độ thành công&#8230;</p>
<p>Nhưng bên cạnh phản ứng thuận lợi của đa số, cũng có những người cho rằng “nội dung <em>Practical Cats</em> quá buồn thảm đối với nhi đồng” (nhắc lại: Old Possum&#8217;s Book of Practical Cats được T. S. Eliot viết cho các cháu của ông).</p>
<p>Chính nhận xét này đã khiến Andrew Lloyd Webber quyết định triển khai <em>Practical Cats</em> thành một vở ca kịch với quy mô lớn dành cho mọi thành phần khán giả.</p>
<p>Cameron Mackintosh liền mời hai tên tuổi hàng đầu của nền kịch nghệ Anh quốc cộng tác: đạo diễn Trevor Nunn và nhà biên đạo vũ (choreographer) Gillian Lynne.</p>
<p>(Sir) <strong>Trevor Nunn</strong>, sinh năm 1940, là đạo diễn sân khấu nổi tiếng của Anh quốc, Giám đốc Nghệ thuật của đoàn Royal Shakespeare Company; ông cũng đạo diễn cả opera và ca nhạc kịch hiện đại, trong số đó có <em>Cats</em> (1981) và <em>Les Misérables</em> (1985). Ngoài ra ông làm công việc đặt ca từ theo ý thơ nguyên tác cho một số ca khúc trong các vở ca nhạc kịch.</p>
<p>(Dame) <strong>Gillian Lynne</strong> (1926 – 2018) là một tên tuổi hàng đầu trong làng nghệ thuật Anh quốc; bà vừa là vũ công ballet, vũ công hiện đại, biên đạo vũ, diễn viên, và đạo diễn sân khấu, truyền hình. Trong vai trò biên đạo vũ, bà nổi tiếng với hai vở Cats và The Phantom of the Opera.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/11/cats-1981.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-41235" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/11/cats-1981-200x300.jpg?strip=all" alt="" width="200" height="300" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/11/cats-1981-200x300.jpg?strip=all 200w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/11/cats-1981.jpg?strip=all 230w" sizes="(max-width: 200px) 100vw, 200px" /></a></p>
<p>Tại Anh quốc, Cats được mở màn tại hí viện New London Theatre ở trung tâm kịch nghệ West End ngày 11/5/1981, và tại Hoa Kỳ, tại hí viện Winter Garden Theatre ở Broadway ngày 7/10/1982.</p>
<p>Cats đã đoạt cả hai giải thưởng kịch nghệ cao quý nhất ở hai bên bờ  Đại Tây Dương: giải Laurence Olivier của Anh quốc và giải Tony của Hoa Kỳ. Ngoài ra, Cats còn đoạt bảy giải âm nhạc Hoa Kỳ Grammy trong đó có giải album Nhạc kịch xuất sắc nhất.</p>
<p>Bên cạnh vô số giải thưởng và những lời ca tụng của các nhà phê bình, Cats còn đạt thành công rực rỡ (và bất ngờ) về tài chính. Viết là “bất ngờ” bởi khi Andrew Lloyd Webber bắt tay vào việc thực hiện vở Cats, ông đã không tìm được một nguồn đầu tư nào, vì ai cũng tỏ ra nghi ngại trước hình thức và nội dung mới lạ của vở ca kịch này. Vì thế Andrew Lloyd Webber đã phải đem cả sản nghiệp của mình ra để “đánh bạc”: Cats thất bại thì ông cũng trắng tay!</p>
<p>Nhưng, như thực tế cho thấy, Andrew Lloyd Webber đã&#8230; hốt bạc!</p>
<p>Tính tới năm 2012, số thu của vở Cats trên toàn thế giới đã lên tới 3.5 tỷ Mỹ kim!</p>
<p>Tại trung tâm kịch nghệ West End của Anh quốc, Cats tạo kỷ lục với 8,949 buổi diễn trong 21 năm liên tục, và tại thủ đô kịch nghệ Broadway của Hoa Kỳ, với 7,485 buổi diễn trong 18 năm, Cats chỉ đứng sau vở The Phantom of the Opera.</p>
<p>Tại các quốc gia khác ngoài Anh quốc và Hoa Kỳ, thành công đáng kể nhất là ở Đức quốc, nơi Cats được diễn trên 6,100 buổi tại hí viện Operettenhaus ở Hamburg. Nhưng độc đáo nhất phải là tại Nhật Bản, nơi Cats được diễn trong 15 năm liên tục tại một hí viện được xây dựng và thiết kế riêng cho vở ca nhạc kịch này, và hiện nay vẫn tiếp tục diễn (không liên tục hàng năm). Tính từ năm 1983, Cats đã được diễn trên 10,000 buổi tại hí viện này.</p>
<p>Theo các nhà phê bình, Cats được ghi nhận là vở đầu tiên của thể loại “đại ca nhạc kịch” (megamusical), nghĩa là với hình thức đại quy mô và nhắm vào khán giả trên toàn thế giới. Cats đã mở đường cho những “megamusical” kế tiếp như <em>Les Misérables</em> (1985), <em>The Phantom of the Opera</em> (1986) và <em>Miss Saigon</em> (1989).</p>
<p>Năm 1998, <em>Cats</em> đã được người Anh thực hiện thành phim và phát hành qua video. Gần đây nhất, năm 2018, Cats được hãng Universal Pictures thực hiện thành phim điện ảnh dưới một hình thức quy mô hơn, do Tom Hooper đạo diễn, với thành phần diễn viên hỗn hợp Anh &#8211; Mỹ tên tuổi: James Corden, Judi Dench, Jason Derulo, Idris  Elba, Jennifer Hudson, Ian McKellen, Taylor Swift, Rebel Wilson, Francesca Hayward&#8230;, sẽ được trình chiếu vào dịp lễ Giáng Sinh 2019.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>* * *</p>
<p>Trở lại với Cats của năm 1981, vở này hoàn toàn không có đối thoại, gồm 24 ca khúc, nhạc khúc, vũ khúc (ballet và hiện đại), mà đỉnh cao là ca khúc <em>Memory</em>.</p>
<p>Giai điệu của <em>Memory</em> nguyên là một nhạc khúc trước đó được Andrew Lloyd Webber soạn cho một tác phẩm dự trù về Giacomo Puccini, nhưng về sau bỏ ý định.</p>
<p>[<strong>Giacomo Puccini</strong> (1858 – 1924) là nhà soạn nhạc kịch cổ điển (opera) của Ý thường được xưng tụng là “chỉ đứng sau Verdi”. Trong số tác phẩm nổi tiếng của ông có <em>La bohème</em> (1896), <em>Tosca</em> (1900), <em>Madama Butterfly</em> (1904), và <em>Turandot</em> (1924)]</p>
<p>Mặc dù không có chủ ý, giai điệu của nhạc khúc này đã mang nặng âm hưởng Puccini. Nhận ra điều này, trước khi quyết định đưa vào vở Cats, để tránh mang tiếng đạo nhạc, Andrew Lloyd Webber đã cẩn thận hỏi cha ông, một “chuyên gia” về  Puccini, xem nghe nó có giống một sáng tác nào đó của bậc thầy opera này không, cha ông trả lời:</p>
<p>“Nghe nó giống một triệu đô-la!” (It sounds like a million dollars!)</p>
<p>Sau đó, nhạc khúc này đã trở thành ca khúc bất hủ <em>Memory</em>, với lời hát của Trevor Nunn dựa trên ý thơ của T. S. Eliot, nói lên tâm sự của “nàng” mèo già hết thời Grizabella, hoài niệm một thưở huy hoàng nay chỉ còn trong trí tưởng&#8230;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong><em>Memory </em></strong></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Midnight<br />
Not a sound from the pavement<br />
Has the moon lost her memory<br />
She is smiling alone<br />
In the lamplight<br />
The withered leaves collect at my feet<br />
And the wind begins to moan</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em>Memory<br />
All alone in the moonlight<br />
I can smile happy your days (I can dream of the old days)<br />
Life was beautiful then<br />
I remember the time I knew what happiness was<br />
Let the memory live again<br />
Every street lamp seems to beat<br />
A fatalistic warning<br />
Someone mutters and the street lamp gutters<br />
And soon it will be morning</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em>Daylight<br />
I must wait for the sunrise<br />
I must think of a new life<br />
And I mustn&#8217;t give in<br />
When the dawn comes<br />
Tonight will be a memory too<br />
And a new day will begin</em></p>
<p><em>Memory</em> đã được nữ diễn viên ca kịch <strong>Elaine Paige</strong>, người đầu tiên thủ vai Grizabella, hát trên sân khấu West End, Luân-đôn, vào năm 1981.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=Pm5w7gHEtJI" target="_blank" rel="noopener"><strong> CATS Memory Elaine Paige</strong></a></p>
<p style="text-align: center;"><em><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/11/elaine-paige.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-41236" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/11/elaine-paige-300x211.jpg?strip=all" alt="" width="350" height="246" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/11/elaine-paige-300x211.jpg?strip=all 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/11/elaine-paige.jpg?strip=all 660w" sizes="(max-width: 350px) 100vw, 350px" /></a></em></p>
<p style="text-align: center;"><em><strong>Elaine Paige</strong></em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Memory</em> đã đoạt cả hai giải Ivor Novello Awards năm 1982 cho Nhạc và Ca từ (Ivor Novello Awards là tên gọi giải thưởng của BASCA: British Academy of Songwriters, Composers and Authors).</p>
<p><em>Memory</em> cũng được nhiều nhà phê bình xưng tụng là “ca khúc hay nhất xưa nay trong một vở ca nhạc kịch”, và về sau trở nên phổ biến tới mức nhiều người thưởng ngoạn đã không hề biết tới nguồn gốc ca nhạc kịch của nó.</p>
<p>Cho tới nay, không kể những nghệ sĩ sân khấu chuyên nghiệp, đã có trên 150 ca sĩ nổi tiếng thu đĩa <em>Memory</em>, trong số đó thành công nhất phải là phiên bản của Barbra Streisand, do đích thân Andrew Lloyd Webber thực hiện để đưa vào album “Memories” (1981) của cô.</p>
<p><strong>Phụ lục 4: </strong><strong><em>Memory</em></strong><strong>, Barbra Streisand</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-41234-10" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/11/04-Memory-Copy-2.mp3?_=10" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/11/04-Memory-Copy-2.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/11/04-Memory-Copy-2.mp3</a></audio>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=MWoQW-b6Ph8" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>Streisand &#8211; Memory</em></strong></a></p>
<p>Trong số những ban nhạc, ca sĩ hiện đại thu âm ca khúc <em>Memory</em>, chúng tôi xin giới thiệu một điển hình “hiện đại” nhất, đó là phiên bản của Epica, một ban “symphonic metal” nổi tiếng của Hòa-lan.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><strong> <a href="https://www.youtube.com/watch?v=EuOqYqxqEOU" target="_blank" rel="noopener"><em>Epica &#8211; Memory (HD)</em></a></strong></p>
<p>Về <em>Memory</em> lời Việt, từ nhiều năm qua chúng tôi đã được thưởng thức một phiên bản tựa đề “Kỷ niệm” qua tiếng hát Khánh Hà. Rất tiếc, dù đã bỏ công tìm hiểu qua nhiều nguồn tài liệu, tới nay chúng tôi cũng chưa biết ai là tác giả ca từ.</p>
<p>Gần đây, qua theo dõi báo chí Việt ngữ xuất bản tại Hoa Kỳ, chúng tôi được biết Bích Vân, một nữ ca sĩ opera gốc Việt, đã trình bày (live) <em>Memory – Kỷ Niệm</em> rất thành công trong các chương trình nhạc thính phòng, tuy nhiên không (hoặc chưa) được phổ biến trên các phương tiện truyền thông đại chúng.</p>
<p><strong>Phụ lục 5: </strong><strong><em>Memory (Kỷ niệm)</em></strong><strong>, Khánh Hà </strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-41234-11" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/11/05-K-ni-m-Memory-Khính-Há-Nh-c-Tr-sasa1608.mp3?_=11" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/11/05-K-ni-m-Memory-Khính-Há-Nh-c-Tr-sasa1608.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/11/05-K-ni-m-Memory-Khính-Há-Nh-c-Tr-sasa1608.mp3</a></audio>
<p><strong>HOÀI NAM</strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p>©T.Vấn 2019</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet-93-phim-memory-ky-niem-andrew-lloyd-webber-trevor-nunn-t-s-eliothoai-nam/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/11/01-ngay-xua-yeu-dau-yesterday-once-more.mp3" length="1863224" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/11/02-Hat-Len-Di-Sing_-Pre-75_-Thuy-Ha-Tu.mp3" length="8420006" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/11/03-Evergreen-Love-Theme-From-A-Star-Is-Born.mp3" length="7531720" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/11/04-Memory-Copy-2.mp3" length="9457900" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/11/05-K-ni-m-Memory-Khính-Há-Nh-c-Tr-sasa1608.mp3" length="4872176" type="audio/mpeg" />

			</item>
		<item>
		<title>Hoài Nam: NHỮNG CA KHÚC NHẠC NGOẠI QUỐC LỜI VIỆT (91) &#8211; NHẠC PHIM &#8211; I Don’t Know How To Love Him (Chuyện Tình Xưa), Andrew Lloyd Webber &#038; Tim Rice</title>
		<link>https://t-van.net/hoai-nam-nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet-91-nhac-phim-i-dont-know-how-to-love-him-chuyen-tinh-xua-andrew-lloyd-webber-tim-rice/</link>
					<comments>https://t-van.net/hoai-nam-nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet-91-nhac-phim-i-dont-know-how-to-love-him-chuyen-tinh-xua-andrew-lloyd-webber-tim-rice/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Hòai-Nam]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 26 Sep 2019 05:53:06 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[hòai nam]]></category>
		<category><![CDATA[nhạc nq lời việt]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=40681</guid>

					<description><![CDATA[Tiếp tục phần Nhạc Phim, bài này chúng tôi viết về ca khúc I Don&#8217;t Know How to Love Him, trích từ cuốn phim Jesus Christ Superstar (1973) do Andrew Lloyd Webber soạn nhạc và Tim Rice đặt lời. Trước năm 1975, I Don&#8217;t Know How to Love Him đã được Kỳ Phát đặt lời Việt với [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/09/MV5BMjE1MDAwMTczNV5BMl5BanBnXkFtZTYwNzA2NDI5._V1_.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-40690" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/09/MV5BMjE1MDAwMTczNV5BMl5BanBnXkFtZTYwNzA2NDI5._V1_-188x300.jpg?strip=all" alt="" width="237" height="378" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/09/MV5BMjE1MDAwMTczNV5BMl5BanBnXkFtZTYwNzA2NDI5._V1_-188x300.jpg?strip=all 188w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/09/MV5BMjE1MDAwMTczNV5BMl5BanBnXkFtZTYwNzA2NDI5._V1_.jpg?strip=all 297w" sizes="(max-width: 237px) 100vw, 237px" /></a></p>
<p>Tiếp tục phần Nhạc Phim, bài này chúng tôi viết về ca khúc <em>I Don&#8217;t Know How to Love Him,</em> trích từ cuốn phim Jesus Christ Superstar (1973) do Andrew Lloyd Webber soạn nhạc và Tim Rice đặt lời. Trước năm 1975, <em>I Don&#8217;t Know How to Love Him</em> đã được Kỳ Phát đặt lời Việt với tựa <em>Chuyện Tình Xưa</em>.</p>
<p>Trước khi viết về <em>I Don&#8217;t Know How to Love Him</em> chúng tôi cũng xin đôi dòng giới thiệu ca khúc đã đoạt giải Oscar cho ca khúc trong phim năm 1973: <em>The Way We Were</em>.</p>
<p><em>The Way We Were</em> là ca khúc trong cuốn phim có cùng tựa đề.</p>
<p>Một cách ngắn gọn, The Way We Were là một cuốn phim bi kịch tình cảm với nội dung thiên tả, tuy không được giới phê bình đánh giá cao, nhưng đã được khán giả bình bầu là một trong những cuốn phim tình cảm hay nhất của nền nghệ thuật thứ bảy, hiện được Viện Phim Ảnh Hoa Kỳ (AFI: American Film Institute) xếp hạng 6 trong danh sách <em>100 Years&#8230; 100 Passions</em>.</p>
<p>The Way We Were cũng được xem là thành công điển hình của bốn tên tuổi lớn trong làng điện ảnh Mỹ: đạo diễn Sydney Pollack, nam diễn viên Robert Redford, nữ diễn viên (kiêm ca sĩ) Barbra Streisand, văn sĩ kiêm nhà viết kịch bản Arthur Laurents.</p>
<p>* Đạo diễn <strong>Sydney Pollack</strong> (1934 – 2008) là một trong những đạo diễn, nhà sản xuất phim (kiêm diễn viên) tài ba bậc nhất của Hoa Kỳ. Ông đã sản xuất 44 cuốn phim, đạo diễn trên 20 cuốn phim, trên 10 show truyền hình, và thủ diễn trên 30 vai trò. Trong số những cuốn phim nổi tiếng của ông có They Shoot Horses, Don&#8217;t They? (1969), The Way We Were (1973), Tootsie (1982), và Out of Africa (1985) &#8211; cuốn phim đoạt 7 giải Oscar trong đó có 2 giải cho riêng ông (sản xuất, đạo diễn).</p>
<p>* <strong>Robert Redford</strong> (1936-), nam diễn viên tóc vàng được ái mộ hàng đầu của Mỹ, với những cuốn phim nổi tiếng như Butch Cassidy and the Sundance Kid (1969), Jeremiah Johnson (1972), The Candidate (1972), The Sting (1973), The Way We Were (1973)&#8230;, trong số này The Way We Were cho dù không phải cuốn phim được ca tụng nhiều nhất, đã trở thành dấu ấn sâu đậm nhất của ông trong lòng người ái mộ &#8211; ít ra cũng là nữ giới (trong đó có Công nương Diana của Vương quốc Anh).</p>
<p>* <strong>Barbra Streisand</strong> (1942-), một trong những nữ ca sĩ kiêm minh tinh điện ảnh nổi tiếng nhất, thành công nhất trên thế giới. Về ca nhạc, Barbra Streisand đã đoạt 10 giải Grammy, bán trên 150 triệu album, thu phục người ái mộ thuộc nhiều thế hệ khác nhau, với những ca khúc thuộc đủ mọi thể loại, từ cổ điển, jazz cho tới pop, điển hình là bản <em>Woman in Love</em> do ban Bees Gees viết riêng cho cô.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/09/The-Way-We-Were.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-40683" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/09/The-Way-We-Were-300x300.jpg?strip=all" alt="" width="300" height="300" srcset="https://cdn.t-van.net/2019/09/The-Way-We-Were-150x150.jpg 150w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/09/The-Way-We-Were-300x300.jpg?strip=all 300w, https://cdn.t-van.net/2019/09/The-Way-We-Were-768x768.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/09/The-Way-We-Were.jpg?strip=all 950w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></a></p>
<p><strong>Phụ lục 1: <em>Woman in Love</em>, Barbra Streisand</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-40681-12" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/09/01-Woman-In-Love-Barbra-Streisand.mp3?_=12" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/09/01-Woman-In-Love-Barbra-Streisand.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/09/01-Woman-In-Love-Barbra-Streisand.mp3</a></audio>
<p>Sau khi đạt thành công rực rỡ trong sự nghiệp ca hát, năm 1968 Barbra Streisand nhảy sang lĩnh vực điện ảnh với cuốn phim ca nhạc hài kịch Funny Girl, đoạt cả giải Oscar lẫn Trái Cầu Vàng cho vai trò đầu tiên của mình.</p>
<p>Tổng cộng trong sự nghiệp diễn xuất, Barbra Streisand đã đoạt hai giải điện ảnh Oscar, chín giải Trái Cầu Vàng, năm giải truyền hình Emmy, một giải kịch nghệ Tony&#8230;</p>
<p>Những cuốn phim nổi tiếng kế tiếp của Barbra Streisand gồm Hello, Dolly! (1969), What&#8217;s Up, Doc? (1972), The Way We Were<strong> </strong>(1973), A Star Is Born (1976), Yentl (1983)&#8230;</p>
<p>Cốt truyện The Way We Were dựa trên cuốn tiểu thuyết có cùng tựa của văn sĩ, kịch tác gia kiêm đạo diễn sân khấu, nhà viết kịch bản phim Arthur Laurents.</p>
<p><strong>Arthur Laurents</strong> (1917 – 2011) là tác giả và đạo diễn của nhiều vở kịch nổi tiếng trên sân khấu Broadway như West Side Story  (1957),  Gypsy (1959)&#8230; Trong số những cuốn phim do ông viết kịch bản có Anastasia (1956), Bonjour Tristesse (1958), The Way We Were (1973), The Turning Point (1977)&#8230;</p>
<p>Arthur Laurents là một người Mỹ gốc Do-thái có đầu óc thiên tả, The Way We Were lại lấy bối cảnh thời gian sau Đệ nhị Thế chiến với cuộc thanh lọc các phần tử thân cộng trong kỹ nghệ giải trí ở Mỹ, cho nên cũng không có gì đáng ngạc nhiên khi cuốn truyện/phim này có nội dung đề cao nữ nhân vật Katie Morosky (Barbra Streisand thủ diễn), một nhà hoạt động Mỹ gốc Do-thái theo chủ nghĩa Mác-xít, và mỉa mai xã hội Mỹ với những con người “vô tình”, “vô chính kiến”, chỉ biết hưởng thụ&#8230;</p>
<p>Trong The Way We Were, Katie Morosky và Hubbell Gardiner (Robert Redford) là hai người bạn ở đại học, mặc dù thu hút lẫn nhau nhưng không ai chịu ngỏ lời, để rồi đường đôi ngả. Sau thế chiến, hai người gặp lại nhau, Katie lúc đó đang hoạt động trong lĩnh vực truyền thông, còn Hubbell, một sĩ quan hải quân vừa giải ngũ và đang tìm cách tiến thân trong nghề viết kịch bản phim. Bất chấp khác biệt chính kiến, hai người yêu nhau tha thiết và kết hôn; tiếp theo, Katie đã phải hy sinh cả lý tưởng lẫn sự nghiệp để theo Hubbell tới kinh đô điện ảnh Hồ-ly-vọng.</p>
<p>Nhưng rồi diễn ra cuộc thanh lọc trong kỹ nghệ giải trí, những hoạt động thiên tả của Katie trong quá khứ bị phơi bày, sự nghiệp của Hubbell vì thế cũng bị ảnh hưởng xấu&#8230; Trước thái độ “kiên cường bất khuất” của vợ, Hubbell chán nản, cặp kè với một cô bạn học cũ nay đã ly dị chồng, đưa tới việc hai người quyết định chia tay nhau, mặc dù nàng đang mang thai&#8230;</p>
<p>Nhiều năm sau, Katie và Hubbell tình cờ gặp lại nhau ở Nữu Ước, khi ấy chàng đã ly dị cô bạn cũ và đi với một người đẹp khác, còn nàng hiện sống với đời chồng thứ hai. Hubbell rất thành công trong sự nghiệp viết kịch bản cho các phim tập truyền hình, Katie đang đoạt động mạnh trong phong trào phản chiến. Katie mời Hubbell và bạn gái của chàng tới nhà nhưng Hubbell từ chối, chỉ hỏi thăm về đứa con gái của hai người nhưng cũng không có ý định gặp mặt&#8230;</p>
<p>Hubbell và người bạn gái quay lưng, Katie tiếp tục phân phát truyền đơn “Ban the bomb”. Không còn gì có thể nối kết với những kỷ niệm đẹp của một thời yêu nhau, ngày mà cả hai ta không giống bây giờ &#8211; <em>the way we were</em>.</p>
<p>* * *</p>
<p>The Way We Were được giới thưởng ngoạn nhiệt liệt đón nhận, đứng hạng 5 trong danh sách những cuốn phim ăn khách nhất trong năm, nhưng đã không được các nhà bình phim trân trọng. Không phải vì nội dung thiên tả (nên nhớ những năm đầu thập niên 1970 là đỉnh cao của các phong trào cấp tiến, thiên tả) mà vì tính cách cường điệu của cốt truyện.</p>
<p>Với số điểm 7.1/10 của IMDb và 64% của Rotten Tomatoes, The Way We Were chỉ có thể gọi là một cuốn phim khá hay. Người được ca tụng nhiều nhất là Barbra Streisand (vai Katie) cũng chỉ được đề cử các giải Oscar, Trái Cầu Vàng và BAFTA (Điện Ảnh Anh Quốc) chứ không đoạt giải.</p>
<p>Theo nhận xét của nhiều người, một trong những yếu tố thu hút khán giả của phim The Way We Were chính phần nhạc phim của nhà sọan nhạc Marvin Hamlisch (1944 – 2012) và ca khúc trong phim mang cùng tựa đề <em>The Way We Were</em>, do Alan &amp; Marilyn Bergman đặt lời hát, được Barbra Streisand trình bày trong phim.</p>
<p><em>[Cặp vợ chồng Alan &amp; Marilyn Bergman cũng là tác giả lời hát <strong>The Summer Knows</strong> trong cuốn phim Summer of &#8217;42, chúng tôi đã giới thiệu trong bài 89]</em></p>
<p>Trong giải Oscar năm 1974, Marvin Hamlisch đã đoạt giải cho nhạc phim, và giải cho ca khúc trong phim (<em>The Way We Were</em>) chung với  Alan &amp; Marilyn Bergman.</p>
<p>Ngay sau khi phim The Way We Were được trình chiếu, ca khúc <em>The Way We Were</em> do Barbra Streisand hát trong phim cũng làm mưa gió trên các bảng xếp hạng, nằm trong danh sách Billboard Hot 100 suốt 23 tuần lễ, trong đó có ba tuần liên tục đứng No.1 trong tháng 2/1974.</p>
<p>Tới cuối năm 1974, <em>The Way We Were</em> được xếp hạng No.1 cho cả năm, và hiện đang đứng hạng 8 trong danh sách 100 ca khúc trong phim hay nhất của Viện Phim Ảnh Hoa Kỳ.</p>
<p>Ngày ấy, phim The Way We Were chưa kịp chiếu tại miền Nam VN thì đã xảy ra biến cố  30 tháng Tư 1975. Tuy nhiên kể cả trong trường hợp chiếu, chúng tôi tin rằng ca khúc đoạt giải Oscar <em>The Way We Were</em> cũng không được nhiều người quan tâm, ưa chuộng, vì cảm quan thưởng thức giới hạn, và cũng vì vào thời gian này Barbra Streisand chưa được nhiều người yêu nhạc ngoại quốc ở Sài Gòn biết tới tên tuổi.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong><em>The Way We Were</em></strong></p>
<p><strong><em> </em></strong><em>Memories light the corners of my mind<br />
Misty water-colored memories of the way we were<br />
Scattered pictures of the smiles we left behind<br />
Smiles we gave to one another for the way we were</em></p>
<p><em>Can it be that it was all so simple then<br />
Or has time rewritten every line<br />
If we had the chance to do it all again<br />
Tell me, would we?<br />
Could we?</em></p>
<p><em>Memories may be beautiful and yet<br />
What&#8217;s too painful to remember<br />
We simply choose to forget<br />
So it&#8217;s the laughter we will remember<br />
Whenever we remember<br />
The way we were<br />
The way we were</em></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong>Phụ lục 2: <em>The Way We Were</em>, Barbra Streisand</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-40681-13" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/09/02-The-Way-We-Were.mp3?_=13" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/09/02-The-Way-We-Were.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/09/02-The-Way-We-Were.mp3</a></audio>
<p>Tới đây chúng tôi viết về ca khúc <em>I Don’t Know How To Love Him</em>.</p>
<p>Đây là một ca khúc trích trong cuốn phim Jesus Christ Superstar trình chiếu năm 1973. Cuốn phim này thoát thai từ vở ca nhạc kịch mang cùng tựa đề được đưa lên sân khấu Broadway năm 1971, vì thế chúng tôi xin bắt đầu với vở ca nhạc kịch.</p>
<p>Jesus Christ Superstar là một vở ca nhạc kịch rock (rock opera) của  hai tên tuổi hàng đầu trong làng kịch nghệ Anh quốc: Andrew Lloyd Webber và Tim Rice.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/09/andrew-lloyd-webber-20825129-1-402.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-40687" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/09/andrew-lloyd-webber-20825129-1-402-300x300.jpg?strip=all" alt="" width="300" height="300" srcset="https://cdn.t-van.net/2019/09/andrew-lloyd-webber-20825129-1-402-150x150.jpg 150w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/09/andrew-lloyd-webber-20825129-1-402-300x300.jpg?strip=all 300w, https://cdn.t-van.net/2019/09/andrew-lloyd-webber-20825129-1-402-768x768.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2019/09/andrew-lloyd-webber-20825129-1-402-1024x1024.jpg 1024w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/09/andrew-lloyd-webber-20825129-1-402.jpg?strip=all 1200w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Andrew Lloyd Webber</strong> (1948- )</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Andrew Lloyd Webber</strong> (1948- ) là nhà soạn nhạc, nhạc kịch nổi tiếng bậc nhất của Anh quốc, được Hoàng gia Anh phong tước “Nam tước” (Baron Lloyd-Webber), ngang hàng với cựu nữ Thủ tướng Margaret Thatcher (Baroness Thatcher).</p>
<p>Andrew Lloyd Webber ra chào đời tại thủ đô Luân-đôn, con trai lớn của nhà soạn nhạc &amp; nhạc sĩ đại phong cầm William Lloyd-Webber (1914–1982) và nữ nhạc sĩ vĩ cầm &amp; dương cầm Jean Hermione Johnstone (1921–1993); em trai của ông, Julian Lloyd-Webber, là một tay độc tấu hồ cầm tên tuổi.</p>
<p>Andrew Lloyd Webber bắt đầu sáng tác vào năm lên 9. Năm 1965, vào tuổi 17, đang học môn lịch sử (được học bổng) tại Magdalen College, Oxford, Andrew đã bỏ dở để theo ngành nhạc kịch tại Royal College of Music.</p>
<p>Cùng thời gian này, chàng trẻ tuổi được giới thiệu với Tim Rice, một nhà viết ca khúc 20 tuổi, và hai người bắt đầu cùng nhau soạn ca nhạc kịch.</p>
<p style="text-align: center;"><strong><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/09/Tim-Rice-attends-the-Creative-Arts-Emmy-Awards-in-Los-Angeles_1.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-40684" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/09/Tim-Rice-attends-the-Creative-Arts-Emmy-Awards-in-Los-Angeles_1-260x300.jpg?strip=all" alt="" width="260" height="300" /></a> </strong></p>
<p style="text-align: center;"><strong>(Sir) Tim Rice</strong></p>
<p><strong>(Sir) Tim Rice</strong>, sinh năm 1944, thường được nhắc tới qua việc đặt ca từ nhưng thực ra ông có rất nhiều tài, làm nhiều công việc khác nhau: đặt ca từ, sản xuất đĩa hát, phụ trách thực hiện và làm người dẫn chương trình (host) phát thanh, truyền hình, các buổi lễ trao giải thưởng, viết sách, điều khiển công ty (CEO)&#8230;</p>
<p>Riêng trong công việc đặt ca từ, ngoài việc hợp tác với Andrew Lloyd Webber, Tim Rice còn cộng tác với nhiều nhạc sĩ khác, trong đó có Alan Menken và Elton John, với kết quả là hai ca khúc <em>A Whole New World</em> (phim hoạt họa Aladin) đoạt giải Oscar, Trái Cầu Vàng cho ca khúc trong phim, và giải Grammy cho ca khúc trong năm,<em> Can You Feel the Love Tonight </em>(phim The Lion King) đoạt giải Oscar và Trái Cầu Vàng cho ca khúc trong phim.</p>
<p>* * *</p>
<p>Vở ca nhạc kịch đầu tay của Andrew Lloyd Webber và Tim Rice, The Likes of Us (1965), không được mấy ai chú ý tới (sau này, mãi tới năm 2005, người ta mới khám phá ra giá trị và cho dựng vở này trên sân khấu).</p>
<p>Phải đợi tới năm 1968, một vở kịch của hai người mới được trình diễn trước công chúng; đó là vở ca nhạc kịch rock Joseph and the Amazing Technicolor Dreamcoat, nội dung dựa trên truyện tích “cái áo nhiều màu sặc sỡ” của ông Joseph trong sách Sáng Thế Ký (Genesis) của Kinh Thánh.</p>
<p>Với lời hát vui tươi, hài hước và ứng dụng các thể loại nhạc pop, rock’n’roll (kiểu Elvis Presley), Calypso, và nhạc country, Joseph and the Amazing Technicolor Dreamcoat đã mau chóng thu phục được đông đảo khán thính giả, đặc biệt học sinh và giới phụ huynh. Theo công ty bản quyền The Useful Group, tính tới năm 2008, đã có trên 20,000 trường học và các đoàn kịch tài tử dựng vở ca nhạc kịch này.</p>
<p>Bước qua năm 1970, Andrew Lloyd Webber và Tim Rice cho ra mắt vở Jesus Christ Superstar, và tới năm 1976 là Evita, một vở được yêu chuộng và gây tranh luận không thua gì vở Jesus Christ Superstar.</p>
<p>Cốt truyện của Evita kể về tiểu sử của Đệ nhất Phu nhân Á-căn-đình <strong>Eva Peron</strong> (1919 – 1952), đời vợ thứ hai của Tổng thống Juan Peron (1895–1974).</p>
<p>Eva Peron, tên con gái Eva Duarte, là con của một người vợ nhỏ của đại điền chủ Juan Duarte ở vùng quê Jurin, thuộc tỉnh Buenos Aires. Sau khi người vợ nhỏ này bị Juan Duarte bỏ rơi, mẹ con sống trong cảnh nghèo khổ. Tới tuổi dậy thì, Eva quyến rũ được một nam vũ công tango tới lưu diễn ở Jurin, và theo anh ta lên thủ đô Buenos Aires.</p>
<p>Theo một số người biết rõ lý lịch Eva Peron, ngay sau khi tới thủ đô, Eva đã đá chàng vũ công, rồi tiến thân bằng cách hiến thân, bắt đầu là nhữing sĩ quan cấp nhỏ và cuối cùng là Đại tá Juan Peron, người sau này trở thành Tổng thống Á-căn-đình vào năm 1946. Nói cách khác, người ta xem bà như một cô “gái điếm thượng lưu” có đầu óc!</p>
<p>Nhưng với những người dân Á-căn-đình nghèo khổ xem Đệ nhất Phu nhân Eva Peron – mà họ gọi thân mật là Evita – là ân nhân, thì bà là một vị “quốc mẫu” đầy lòng nhân từ, đến nỗi sau khi bà qua đời vì ung thư vào tuổi 33, dân chúng Á-căn-đình, vốn đại đa số theo Công giáo, đã ký thỉnh nguyện thư xin phong thánh cho bà!</p>
<p>Từ đó tới nay, Eva Peron đã trở thành đề tài của biết bao cuốn sách, phim ảnh, vở kịch&#8230; mà nổi tiếng nhất chính là vở ca nhạc kịch Evita của Andrew Lloyd Webber và Tim Rice, soạn năm 1976.</p>
<p>Khi soạn Evita, Andrew Lloyd Webber và Tim Rice cũng theo khuôn thức soạn Jesus Christ Superstar trước đó mấy năm: phát hành các ca khúc dưới hình thức một “concept album” rồi sau đó mới đưa lên sân khấu ca nhạc kịch.</p>
<p>Trong album này, phát hành năm 1976, vai Eva Peron được trao cho nữ ca sĩ kiêm diễn viên Anh Julie Covington (sinh năm 1946). Qua năm 1977, ca khúc <em>Don’t Cry for Me Argentina</em> trích trong album đã được phát hành dưới dạng đĩa đơn, đạt thành công rực rỡ: đứng No.1 tại Anh, Ái-nhĩ-lan, Hòa-lan, Bỉ, Úc, Tân-tây-lan, No.2 tại Thụy-điển, No.3 tại Thụy-sĩ, No.4 tại Đức&#8230;</p>
<p><strong>VIDEO: </strong></p>
<p><strong> </strong><a href="https://www.youtube.com/watch?v=adUPdnzCAk8" target="_blank" rel="noopener"><strong>Julie Covington &#8211; Don&#8217;t Cry For Me Argentina</strong></a><strong> </strong></p>
<p>Trong hơn 40 năm qua, <em>Don’t Cry for Me Argentina</em> đã trở thành một trong những ca khúc gốc ca nhạc kịch được các nữ danh ca quốc tế thu âm nhiều nhất, và được giới thưởng ngoại yêu chuộng nhất&#8230;</p>
<p><strong>Phụ lục 3: <em>Don&#8217;t Cry For Me Argentina</em>, Sarah Brightman</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-40681-14" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/09/03-Dont-Cry-For-Me-Argentina-1996-Sarah-Brightman.mp3?_=14" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/09/03-Dont-Cry-For-Me-Argentina-1996-Sarah-Brightman.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/09/03-Dont-Cry-For-Me-Argentina-1996-Sarah-Brightman.mp3</a></audio>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=ivOrKizry94" target="_blank" rel="noopener"><strong>Nicole Scherzinger: Don&#8217;t Cry For Me Argentina (2013)</strong></a></p>
<p>Năm 1978, Evita được đưa lên sân khấu West End, trung tâm kịch nghệ của Luân-đôn, và đoạt giải thưởng Oliver Award cho tập thể diễn viên. Năm 1980, Evita được diễn tại Broadway, Nữu Ước, đem lại giải kịch nghệ Tony nữ diễn viên ca kịch xuất sắc cho Patti LuPone, đồng thời đoạt giải Tony cho ca nhạc kịch hay nhất trong năm.</p>
<p>Evita cũng được ghi nhận là vở ca nhạc kịch hiếm hoi được diễn trên tất cả mọi đại lục, với số thu lên tới 2 tỷ Mỹ kim.</p>
<p>* * *</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/09/51FKmgXTL.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-40686" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/09/51FKmgXTL-300x298.jpg?strip=all" alt="" width="300" height="298" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/09/51FKmgXTL-300x298.jpg?strip=all 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/09/51FKmgXTL.jpg?strip=all 500w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></a></p>
<p>Trở lại với ca khúc <em>I Don’t Know How To Love Him</em> trích trong vở ca nhạc kịch Jesus Christ Superstar, ra mắt khán giả năm 1971. Vở ca nhạc kịch này gồm 24 ca khúc, và hầu như không có đối thoại.</p>
<p>Trước đó một năm, các ca khúc này đã được phát hành dưới hình thức một album để mọi người thưởng thức, đánh giá trước (concept album), sau đó mới đưa lên sân khấu ca nhạc kịch.</p>
<p>Nội dung Jesus Christ Superstar lấy cốt truyện trong bộ Tân Ước của Kinh Thánh, kể về tuần lễ cuối cùng trong cuộc đời của Chúa Cứu Thế, từ lúc Ngài và các môn đệ tới thành Jerusalem cho tới khi bị đóng đinh trên thập giá.</p>
<p>Tuy nhiên, đây không phải một kịch bản với nội dung kể truyện mà trình bày những diễn tiến hư cấu về tâm lý, xung khắc giữa các nhân vật chính: Chúa Jesus, phản đồ Judas, Giáo chủ Do-thái Caiaphas, vua Herod, Tổng trấn La-mã Pilate, nữ môn đệ Mary Magdalene&#8230;, trong đó đặc biệt chú trọng tới xung khắc tư tưởng giữa Judas và Chúa Jesus, sự bất mãn của Judas trước phương hướng Chúa dẫn dắt các môn đệ, và tình yêu đơn phương mà nữ môn đệ Mary Magdalene dành cho Chúa.</p>
<p>Tóm lại, nội dung của Jesus Christ Superstar là những gì không có trong Kinh Thánh (hoặc có thể có nhưng đã không được ghi lại).</p>
<p>Vở Jesus Christ Superstar được trình diễn ra mắt trên sân khấu Broadway ngày 12 tháng 10, 1971, và chấm dứt vào ngày 30 tháng 6, 1973 sau 711 xuất diễn.</p>
<p>Ngay tự tựa đề, vở Jesus Christ Superstar (Chúa Cứu Thế Siêu Sao) đã cho biết trước sẽ gây tranh luận. Nhiều tín dồ Thiên chúa giáo cho rằng nội dung mang tính cách phạm thượng, và tác giả đã dành cho phản đồ Judas quá nhiều thiện cảm; người Do-thái thì phản đối vì cho rằng sự mô tả các chức sắc Do-thái giáo như những nhân vật xấu xa mang tính cách xúc phạm người Do-thái, và quy trách cho dân Do-thái tội giết Chúa Jesus. Bên cạnh đó, việc nhân vật Judas được thể hiện qua hình ảnh một người gốc Phi Châu cũng gây nhiều tranh luận, bất mãn nơi người da đen!</p>
<p>Trong khi đó, Jesus Christ Superstar lại được nhiều nhà phê bình đánh giá cao về mặt nghệ thuật. Tại giải kịch nghệ Tony Award năm 1972, vở Jesus Christ Superstar được đề cử năm giải trong đó có âm nhạc, tuy nhiên không đoạt giải nào. Riêng Andrew Lloyd Webber được trao giải cho nhà soạn nhạc nhiều triển vọng (Most Promising Composer).</p>
<p>Qua năm 1972, Jesus Christ Superstar được dựng trên sân khấu West End của Luân-đôn và đạt thành công rực rỡ, được diễn trong tám năm liên tục, trở thành vở kịch được diễn lâu nhất tại Anh quốc, tính tới thời điểm đó.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><strong> </strong><a href="https://www.youtube.com/watch?v=kuN4Qd_dRj0" target="_blank" rel="noopener"><strong>&#8220;Jesus Christ Super Star&#8221; &#8211; Concept Album Version (1970) in Full Dimensional Stereo</strong></a></p>
<p>Cùng với Anh quốc, tháng 2/1972, Thụy-điển trở thành quốc gia đầu tiên ngoài Hoa Kỳ dựng vở Jesus Christ Superstar, với buổi diễn mở màn tại vận động trường Scandinavium ở Gothenberg với 74,000 khán giả (một kỷ lục vào lúc đó); đặc biệt vai nữ môn đệ Mary Magdalene đã được nữ ca sĩ <strong>Agnetta Faltskog</strong> của ban ABBA thủ diễn một cách xuất sắc.</p>
<p>Một tháng sau, 3/1972, vở Jesus Christ Superstar được dựng tại Úc và lần lượt diễn tại các thành phố Adelaide, Sydney, Melbourne; cũng tại Úc, lần đầu tiên vai Mary Magdalene được trao cho một nữ nghệ sĩ da đen (Úc gốc Mỹ): <strong>Marcia Hines</strong>.</p>
<p>Vở Jesus Christ Superstar trên sân khấu Úc được nhiều người xưng tụng có giá trị âm nhạc cao nhất; 45 năm sau (2018), phần thu âm live vở ca nhạc kịch vào năm 1973 đã được phát hành dưới dạng album.</p>
<p>Thêm một điều thú vị là sau khi Jesus Christ Superstar được diễn tại Úc, vào năm 1985, năm ca nhạc sĩ thủ các vai phụ gồm John Paul Young, Reg Livermore, Stevie Wright, Graham Russell và Russell Hitchcock đã cùng nhau hợp lại thành ban nhạc Air Supply nổi tiếng quốc tế.</p>
<p>Từ đó, Jesus Christ Superstar (nguyên tác Anh ngữ) đã được diễn, hoặc dựng lại tại hàng chục quốc gia khắp năm châu, cùng với các phiên bản tiếng Pháp, Tây-ban-nha&#8230;, và cả tiếng Nhật.</p>
<p>Gần đây nhất, Jesus Christ Superstar của đoàn hát Anh Regent&#8217;s Park đã được diễn tại hí viện Opera of Chicago từ cuối tháng 4 tới cuối tháng 5, 2018, và sau khi về Anh quốc để diễn vào mùa thu, sẽ trở lại Hoa Kỳ để tiếp tục lưu diễn vào tháng 11/2019.</p>
<p>* * *</p>
<p>Trước sự thành công và mức độ phổ biến của vở Jesus Christ Superstar, tới cuối năm 1972, đạo diễn Norman Jewison và nhà sản xuất phim/kịch Robert Stigwood quyết định cùng nhau đưa vở ca nhạc kịch này lên màn bạc để thu hút thành phần khán giả trẻ không mấy yêu chuộng bộ môn kịch nghệ, hoặc không có phương tiện, cơ hội tham dự các buổi diễn.</p>
<p><strong>Norman Jewison</strong> (1926 &#8211; ) là một đạo diễn, kiêm nhà sản xuất phim, kiêm diễn viên Gia-nã-đại, người sáng lập Trung tâm Phim ảnh của quốc gia này (Canadian Film Centre). Trong cương vị đạo diễn, Norman Jewison đã đọat một giải BAFTA (Điện ảnh Anh quốc), một giải Gấu Bạc (Đại hội Điện ảnh quốc tế Berlin), ba lần được đề cử giải Oscar, và vô số lần được đề cử giải Trái Cầu Vàng cùng những giải thưởng điện ảnh khác.<br />
Trong số những cuốn phim do ông đạo diễn có những tác phẩm nổi tiếng như: <em>The Cincinnati Kid</em> (1965), <em>The Russians Are Coming, the Russians Are Coming</em> (1966), <em>In the Heat of the Night</em> (1967), <em>The Thomas Crown Affair</em> (1968), <em>Fiddler on the Roof</em> (1971), <em>Jesus Christ Superstar</em> (1973), <em>Rollerball</em>  (1975),  <em>F.I.S.T.</em> (1978), <em>&#8230;And Justice for All</em> (1979), <em>A Soldier&#8217;s Story</em> (1984), <em>Agnes of God</em> (1985), <em>Moonstruck</em> (1987), <em>Other People&#8217;s Money</em> (1991),<em>The Hurricane</em>  (1999), <em>The Statement</em>  (2003)&#8230;</p>
<p>Còn<strong> Robert Stigwood</strong> (1934 – 2016) là nhà sản xuất đĩa nhạc, phim/kịch, ông bầu ca nhạc Anh gốc Úc nổi tiếng nhất, từng có công lăng-xê hai ban Cream và Bee Gees, từng sản xuất hai cuốn phim ca nhạc ăn khách <em>Grease</em> và <em>Saturday Night Fever</em>, hai vở nhạc kịch thời đại rock’n’roll <em>Hair</em> và <em>Jesus Christ Superstar</em> (trên sân khấu Úc).</p>
<p>Thành phần diễn viên chính trong phim Jesus Christ Superstar (1973) cũng là thành phần diễn viên trong vở kịch trên sân khấu Broadway (1971): Ted Neeley vai Chúa Jesus, Carl Anderson vai phản đồ Judas, Yvonne Elliman vai nữ môn đệ Mary Magdalene&#8230; Tất cả chưa từng thủ một vai chính nào trên màn bạc.</p>
<p>Kịch bản phim Jesus Christ Superstar được Norman Jewison và Melvyn Bragg chuyển thể từ kịch bản nguyên gốc. Để giảm bớt sự chống đối nơi các tổ chức Thiên chúa giáo, lời hát đã được sửa đổi phần nào để bớt bị xem là “phạm thượng”. Ngoài ra còn có thêm đối thoại để “dẫn dắt” khán giả, thêm hai ca khúc mới, đồng thời đoạn mở đầu và đoạn kết thúc đã được “thêm thắt”.</p>
<p>Trong đoạn mở đầu của cuốn phim, khán giả thấy một đoàn làm phim gồm các diễn viên, chuyên viên đi trên một chiếc xe bus vào sa mạc để diễn lại Cuộc tử nạn của Chúa Cứu Thế (the Passion of Christ).</p>
<p><em>[Toàn bộ ngoại cảnh của cuốn phim được quay tại khu phế tích Avdat ở Do-thái và một số địa điểm ở vùng Trung Đông]</em></p>
<p>Sau khi tới nơi, các diễn viên bắt đầu thay trang phục, trong đó một người (Ted Neeley) mặc chiếc áo trắng để thủ vai Chúa Jesus, và truyện kể bắt đầu&#8230;</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=VHJHf-0hVZA" target="_blank" rel="noopener"><strong> </strong><strong>JESUS CHRIST SUPERSTAR ( Overture ) HD</strong></a></p>
<p>Còn trong đoạn cuối cuốn phim, sau khi diễn xong cuộc tử nạn của Chúa Cứu Thế, đoàn người mặc lại quần áo cũ, lên xe bus để trở về. Trong số này, chỉ có ba diễn viên Barry Dennen (vai Tổng trấn Pilate), Yvonne Elliman (nữ môn đệ Mary Magdalene), và Carl Anderson (phản đồ Judas) nhận ra sự “mất tích” của nam diễn viên Ted Neeley, người thủ vai Chúa Jesus.</p>
<p>Việc “mất tích” này đã được Ted Neeley giải thích như sau: cả anh và đạo diễn Norman Jewison đã đồng ý với nhau rằng ngay sau khi bước xuống khỏi chiếc xe bus trong cảnh đầu phim, anh đã “nhập vai”, và vì thế sẽ không có cảnh “Chúa Jesus” trở lại xe bus!</p>
<p>Thêm một chi tiết thú vị trong đoạn kết (mà rất ít người chú ý tới) là sự xuất hiện bất ngờ của một mục tử và đoàn chiên dưới chân đồi khi ống kính chiếu về phía thánh giá (không còn xác Chúa) trên đồi dưới ánh hoàng hôn. Khi được ca tụng về ý nghĩa siêu hình của cảnh này (ngụ ý Chúa Cứu Thế sống lại, theo như Kinh Thánh), chính Ted Neeley và đạo diễn Norman Jewison đã khẳng định chi tiết này không hề có trong kịch bản của phim, và việc một mục tử và đoàn chiên đi ngang qua ống kính máy quay phim chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên.</p>
<p>* * *</p>
<p>Jesus Christ Superstar được trình chiếu tại Washington, D.C. ngày 28/6/1973, và trở thành cuốn phim ca nhạc có số thu cao nhất trong năm – vốn thực hiện 3.5 triệu Mỹ kim, thu 24.5 triệu.</p>
<p>Về phía dư luận, trong khi bị người Do-thái phản đối (với cùng nguyên nhân phản đối vở ca nhạc kịch), phim Jesus Christ Superstar đã được các nhà phê bình đánh giá từ trên trung bình cho tới khá hay: 55% trên trang mạng Rotten Tomaroes và 64/100 trên Metacritic; còn nhà bình phim nổi tiếng Roger Ebert thì cho tới 3/4 sao.</p>
<p>Tại giải Trái Cầu Vàng, hai diễn viên Ted Neeley, người thủ vai Chúa Cứu Thế, và Carl Anderson, người thủ vai phản đồ Judas, đã được đề cử giải Nam diễn viên vai chính và vai phụ xuất sắc.</p>
<p>Càng về sau này, phim Jesus Christ Superstar càng được nhiều người – giới thưởng ngoạn cũng như các nhà phê bình – đánh giá cao. Hiện nay, số điểm trên trang mạng IMDb là 7.4/10, còn trên Rotten Tomatoes, khán giả cho tới 76%. Riêng độc giả của Google, hiện nay có tới 86% yêu thích cuốn phim.</p>
<p>Năm 2012, tờ <em>Huffington Post</em> đã bình bầu Jesus Christ Superstar là “Best Jesus Movie”, và gọi đó là một “masterpiece” của nghệ thuật thứ bảy.</p>
<p>Về phía Thiên chúa giáo, trong khi vẫn có những cá nhân, tổ chức lên tiếng phản đối, thậm chí có cả một giáo hội Chính thống giáo ở Đông Âu nghiêm cấm tín đồ xem phim, thì Đức giáo hoàng Phao-lô đệ Lục (Paul VI, tại vị 1963 &#8211; 1978) lại hết lời ca tụng. Sau khi cuốn phim được chiếu tại Vatican, ngài đã nói với đạo diễn Norman Jewison:</p>
<p>“Thưa ông Jewison, tôi không chỉ cám ơn ông về một cuốn phim rock opera tuyệt vời, mà còn cám ơn ông vì cuốn phim này có sức thu hút nhiều người trên thế giới tới gần Thiên chúa giáo, hơn bất cứ tác phẩm nào trước đây.”</p>
<p>Cũng theo lời đạo diễn Norman Jewison kể lại, Đức giáo hoàng đặc biệt yêu thích ca khúc <em>I Don’t Know How To Love Him</em> mà ngài cho là “toát ra một vẻ đẹp tâm linh”.</p>
<p>Thực ra, nói chung về mọi mặt, ca khúc <em>Superstar</em>, tức lời Judas chỉ trích Chúa Jesus, được ghi nhận mang nhiều giá trị nghệ thuật hơn, dàn dựng công phu hơn.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=nlOxUcTcUH0" target="_blank" rel="noopener"><strong> </strong><strong>JESUS CHRIST SUPERSTAR ( Superstar &#8211; Carl Anderson &#8211; 1973 ) HD</strong></a></p>
<p>Tuy nhiên, <em>I Don’t Know How To Love Him</em>, tức tâm sự của nữ môn đệ Mary Magdalene, lại là ca khúc được yêu chuộng nhất, với nội dung nói về tình yêu đơn phương nàng dành cho Chúa Jesus.</p>
<p><strong>VIẾT THÊM VỀ MARY MAGDALENE</strong> (tiếng Pháp viết là Marie-Madeleine): là vị thánh nữ được xem là nữ môn đệ thân tín nhất của Chúa Jesus, cũng là nữ nhân vật được nhắc tới nhiều lần nhất trong Phúc Âm (Gospel) chỉ sau Đức Mẹ Maria.</p>
<p>Vào thời sơ khai của giáo hội Công Giáo, không hiểu do đâu mà nhiều người tin rằng Mary Magdalene chính là cô gái điếm thành Bethany, về sau ăn năn sám hối và đi theo Chúa Jesus.</p>
<p>Nguyên trong Phúc Âm của Thánh Luke (7:36-50) có kể chuyện một cô gái buôn hương bán phấn nổi tiếng ở thành Bethany, đã lấy dầu thơm rửa chân cho Chúa và lấy mái tóc dài của mình để lau chân Chúa, dẫn đưa tới sự dè bỉu của các giáo sĩ Do-thái, cho rằng Chúa Jesus đã để một cô gái tội lỗi chạm tới người mình.</p>
<p>Sự tin tưởng Mary Magdalene và cô gái điếm thành Bethany (Mary of Bethany) chỉ là một người ngày càng được loan truyền rộng rãi, thậm chí trong các bài giảng trong Mùa Phục Sinh (Easter) năm 581, Giáo hoàng Grêgoriô đệ Nhất (Pope Gregory I) đã nói đây là một tấm gương sám hối điển hình.</p>
<p>Tuy nhiên, theo những nguồn tài liệu đáng tin cậy, Mary Magdalene và Mary of Bethany dứt khoát là hai nhân vật khác nhau. Một số người còn tin rằng Mary Magdalene là một thiếu phụ giàu có ở vùng biển Galilee đã bán hết tài sản để đi theo Chúa.</p>
<p>Tới thời hiện đại, vào năm 1969, Đức giáo hoàng Phao-lô đệ Lục (Paul VI) đã ra lệnh hủy bỏ chi tiết “Thánh nữ Mary Magdalene chính là Mary of Bethany đã sám hối” trong tiểu sử của Thánh nữ trong cuốn General Roman Calendar (Lịch lễ mừng kính các Thánh). Thế nhưng cho tới nay, truyền thuyết “cô gái điếm Mary thành Bethany trở thành Thánh nữ Mary Magdalene” vẫn tiếp tục được nhiều tín đồ (và cả giáo sĩ) Công giáo truyền tụng, xem đó như một tấm gương về sự ăn năn hối cải.</p>
<p>(Tên Thánh nữ Mary Magdalene nhiều khi được viết ngắn gọn là “Magdalene”, hoặc “Madeleine” trong tiếng Pháp)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>I Don’t Know How To Love Him</strong></p>
<p>I don&#8217;t know how to love him<br />
What to do, how to move him<br />
I&#8217;ve been changed, yes really changed<br />
In these past few days, when I&#8217;ve seen myself</p>
<p>I seem like someone else<br />
I don&#8217;t know how to take this<br />
I don&#8217;t see why he moves me<br />
He&#8217;s a man. He&#8217;s just a man</p>
<p>And I&#8217;ve had so many men before<br />
In very many ways<br />
He&#8217;s just one more<br />
Should I bring him down?</p>
<p>Should I scream and shout?<br />
Should I speak of love<br />
Let my feelings out?<br />
I never thought I&#8217;d come to this</p>
<p>What&#8217;s it all about?<br />
Don&#8217;t you think it&#8217;s rather funny<br />
I should be in this position<br />
I&#8217;m the one who&#8217;s always been</p>
<p>So calm, so cool, no lover&#8217;s fool<br />
Running every show<br />
He scares me so<br />
I never thought I&#8217;d come to this</p>
<p>What&#8217;s it all about?<br />
Yet, if he said he loved me<br />
I&#8217;d be lost. I&#8217;d be frightened<br />
I couldn&#8217;t cope, just couldn&#8217;t cope</p>
<p>I&#8217;d turn my head. I&#8217;d back away<br />
I wouldn&#8217;t want to know<br />
He scares me so<br />
I want him so</p>
<p>I love him so</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><strong> </strong><a href="https://www.youtube.com/watch?v=CiN4olhHMFE" target="_blank" rel="noopener"><strong>JESUS CHRIST SUPERSTAR &#8211; 1973 ( I Don´t Know How To Love Him ) HD</strong></a></p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/09/R-4569747-1368798384-5870.jpeg.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-40682" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/09/R-4569747-1368798384-5870.jpeg.jpg?strip=all" alt="" width="300" height="300" srcset="https://cdn.t-van.net/2019/09/R-4569747-1368798384-5870.jpeg-150x150.jpg 150w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/09/R-4569747-1368798384-5870.jpeg.jpg?strip=all 300w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></a></p>
<p>Mặc dù <em>I Don’t Know How To Love Him</em> do Yvonne Elliman hát trong concept album, trong vở ca nhạc kịch và trong cuốn phim Jesus Christ Superstar chỉ lên tới hạng 22 trên bản xếp hạng của Billboard, ca khúc này cũng được ghi nhận là một trong những ca khúc được nhiều ca sĩ quốc tế thu âm nhất.</p>
<p>Nguyên nhân chính là vở Jesus Christ Superstar đã được diễn đi diễn lại trong suốt mấy chục năm qua ở hàng chục quốc gia khác nhau (trong đó có hai lần tại Nhật Bản), và theo thông lệ (có thể gọi là “truyền thống”) quốc gia nào có nền ca kịch nghệ phát triển đều cố gắng tự mình dựng lại vở kịch với dàn diễn viên địa phương, nếu không thì cũng cố tìm một nữ diễn viên kiêm ca sĩ  “cây nhà lá vườn” để thủ vai nữ môn đệ Mary Magdalene.</p>
<p>Riêng tại Pháp, vở Jesus Christ Superstar đã được nhà soạn ca từ thời danh Pierre Delanoë <strong>(</strong>1918 – 2006, chúng tôi đã nhắc tới nhiều lần) chuyển ngữ, vai Mary Magdalene được trao cho <strong>Anne-Marie David</strong><strong>, khi ấy đang nổi như cồn sau khi đoạt giải Eurovision với ca khúc </strong><em>Tu te reconnaîtras</em> (Xin Tự Hiểu Mình, chúng tôi đã giới thiệu trong bài 65).</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><strong> </strong><a href="https://www.youtube.com/watch?v=BsI9l3q5Na4" target="_blank" rel="noopener"><strong>Anne-Marie David Chanson de Marie-Madeleine</strong></a></p>
<p>Bên cạnh các nữ ca sĩ kiêm diễn viên hát bản <em>I Don&#8217;t Know How To Love Him</em> khi thủ vai nữ môn đệ Mary Magdalene, còn có nhiều nữ danh ca quốc tế thu âm ca khúc này.</p>
<p><strong>Phụ lục 4: </strong><strong><em>I Don&#8217;t Know How To Love Him</em></strong><strong>, Sarah Brightman</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-40681-15" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/09/04-I-Dont-Know-How-To-Love-Him-Sarah-Brightman.mp3?_=15" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/09/04-I-Dont-Know-How-To-Love-Him-Sarah-Brightman.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/09/04-I-Dont-Know-How-To-Love-Him-Sarah-Brightman.mp3</a></audio>
<p>Tại miền Nam VN ngày ấy, Jesus Christ Superstar không được nhiều người biết tới cho bằng những cuốn phim nổi tiếng trước đó, như Dr Zhivago, Romeo &amp; Juliet, Love Story, The Godfather, Summer of ’42, nhưng riêng với những người yêu thích nhạc rock, nhất là giới hippy có trình độ Anh ngữ, Jesus Christ Superstar có một vị trí trang trọng đặc biệt.</p>
<p>Trước năm 1975, ca khúc <em>I Don&#8217;t Know How to Love Him</em> đã được tác giả Kỳ Phát đặt lời Việt với tựa <em>Chuyện Tình Xưa</em>, với nội dung không dính dáng gì tới nguyên tác. Đây cũng là một điều dễ hiểu, bởi <em>I Don&#8217;t Know How to Love Him </em>là một tình khúc mang ý nghĩa tôn giáo, cho dù người đặt ca từ có đủ khả năng lột tả, chưa chắc đối tượng thưởng thức đã có cùng rung động.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/09/chuyßçn-tinh-x¦¦a-Th¦y-Anh.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-40688" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/09/chuyßçn-tinh-x¦¦a-Th¦y-Anh-300x169.jpg" alt="" width="355" height="200" srcset="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/09/chuyßçn-tinh-x¦¦a-Th¦y-Anh-300x169.jpg 300w, https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/09/chuyßçn-tinh-x¦¦a-Th¦y-Anh-768x432.jpg 768w, https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/09/chuyßçn-tinh-x¦¦a-Th¦y-Anh-1024x576.jpg 1024w, https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/09/chuyßçn-tinh-x¦¦a-Th¦y-Anh.jpg 1280w" sizes="(max-width: 355px) 100vw, 355px" /></a></p>
<p>Viết tới đây, chúng tôi nhớ lại ca khúc <em>Inch’Allah </em>(1967) của Adamo, ngày ấy đã được Phạm Duy “nặn óc” để đặt ca từ theo nội dung nguyên tác với tựa đề <em>Đường Về Đất Thánh</em>, thế nhưng công sức của ông đã không được nhiều người quan tâm chỉ vì nội dung tôn giáo của lời hát.</p>
<p><strong>Chuyện tình xưa</strong></p>
<p><strong> </strong>Nghe tiếng mưa rơi lòng tái tê tiếng mưa buồn<br />
Bay thướt tha trên khung trời chiều tiếng gió não nùng<br />
Giọt mưa thu ru hồn bay lượn trên phím ngà<br />
Như tiếng than van lòng ai.</p>
<p>Em nhớ khi xưa còn bé thơ<br />
Lúc tan trường anh đón em theo mưa về nhà<br />
Áo khép đôi tà giọt mưa đan tơ trời<br />
Trên làn tóc em ướt mềm<br />
Thấm ướt đôi vai mộng mơ ôi sao ngây thơ.</p>
<p>Khi trăng thề soi bóng<br />
Đôi môi mềm tươi tắn mái tóc thề tha thướt<br />
Cho mối tình luyến tiếc<br />
Anh yêu có nhớ đến em ngày xưa<br />
Biết bao là yêu đương.</p>
<p>Hôm nay thấy mưa rơi lại nhớ anh<br />
Nhớ bao ngày hai chúng ta yêu đương mặn nồng<br />
Nhớ mãi trong lòng giọt mưa não nùng<br />
Như tiếng côn trùng than khóc cho duyên tình ta.<br />
Thôi anh đi xa.</p>
<p>Anh yêu có nhớ đến em ngày xưa<br />
Biết bao là yêu thương<br />
Bao năm đã trôi qua chuyện chúng ta<br />
Đến bây giờ thì hai đứa xa nhau thật rồi<br />
Đã cách ngăn rồi còn ai ngóng chờ<br />
Anh đã hững hờ em khóc khi nghe trời mưa<br />
Rơi trong tim em đã mất anh rồi này anh xa em.</p>
<p>Trước năm 1975, <em>Chuyện Tình Xưa</em> đã được thu vào băng nhựa qua tiếng hát Thúy Anh (trong ban tam ca Thúy Hà Tú).</p>
<p><strong>Phụ Lục 5: <em>Chuyện Tình Xưa</em>, Thúy Anh (pre 1975)</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-40681-16" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/09/05-Chuy-n-t¼nh-xua-I-dont-know...-Ky-phat-Th¦y-Anh.mp3?_=16" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/09/05-Chuy-n-t¼nh-xua-I-dont-know...-Ky-phat-Th¦y-Anh.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/09/05-Chuy-n-t¼nh-xua-I-dont-know...-Ky-phat-Th¦y-Anh.mp3</a></audio>
<p>Sau này tại hải ngoại, <em>Chuyện Tình Xưa</em> đã được Thanh Lan thu vào CD, trình bày song ngữ.</p>
<p><strong>Phụ lục 6: <em>Chuyện Tình Xưa</em>, Thanh Lan </strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-40681-17" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/09/06-ChuyenTinhXua-ThanhLan-2505409.mp3?_=17" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/09/06-ChuyenTinhXua-ThanhLan-2505409.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/09/06-ChuyenTinhXua-ThanhLan-2505409.mp3</a></audio>
<h5></h5>
<h5>HOÀI NAM</h5>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2019</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/hoai-nam-nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet-91-nhac-phim-i-dont-know-how-to-love-him-chuyen-tinh-xua-andrew-lloyd-webber-tim-rice/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/09/01-Woman-In-Love-Barbra-Streisand.mp3" length="9402391" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/09/02-The-Way-We-Were.mp3" length="8453572" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/09/03-Dont-Cry-For-Me-Argentina-1996-Sarah-Brightman.mp3" length="5510400" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/09/04-I-Dont-Know-How-To-Love-Him-Sarah-Brightman.mp3" length="3775451" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/09/05-Chuy-n-t¼nh-xua-I-dont-know...-Ky-phat-Th¦y-Anh.mp3" length="8222060" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/09/06-ChuyenTinhXua-ThanhLan-2505409.mp3" length="6392797" type="audio/mpeg" />

			</item>
		<item>
		<title>Hoài Nam: NHỮNG CA KHÚC NHẠC NGOẠI QUỐC LỜI VIỆT (90) &#8211; NHẠC PHIM &#8211; Speak Softly, Love (Thú Đau Thương), Nino Rota &#038; Larry Kusik</title>
		<link>https://t-van.net/hoai-nam-nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet-90-nhac-phim-speak-softly-love-thu-dau-thuong-nino-rota-larry-kusik/</link>
					<comments>https://t-van.net/hoai-nam-nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet-90-nhac-phim-speak-softly-love-thu-dau-thuong-nino-rota-larry-kusik/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Hòai-Nam]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 29 Aug 2019 05:46:40 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[hòai nam]]></category>
		<category><![CDATA[nhac ngoai quoc loi viet]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=40319</guid>

					<description><![CDATA[Tiếp tục phần Nhạc Phim, bài này chúng tôi viết về ca khúc Speak Softly, Love, nguyên là nhạc khúc chủ đề tình yêu trong phim The Godfather (1972) của Nino Rota, do Larry Kusik đặt lời hát; trước năm 1975, ca khúc này đã được Trường Kỳ đặt lời Việt với tựa Thú Đau [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/08/fvfdq7sgmta_5_1200x720.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-40320" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/08/fvfdq7sgmta_5_1200x720-300x170.jpg?strip=all" alt="" width="374" height="212" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/08/fvfdq7sgmta_5_1200x720-300x170.jpg?strip=all 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/08/fvfdq7sgmta_5_1200x720.jpg?strip=all 640w" sizes="(max-width: 374px) 100vw, 374px" /></a></p>
<p>Tiếp tục phần Nhạc Phim, bài này chúng tôi viết về ca khúc <em>Speak Softly, Love</em>, nguyên là nhạc khúc chủ đề tình yêu trong phim The Godfather (1972) của Nino Rota, do Larry Kusik đặt lời hát; trước năm 1975, ca khúc này đã được Trường Kỳ đặt lời Việt với tựa <em>Thú Đau Thương</em>.</p>
<p>Trước khi viết về <em>Speak Softly, Love</em>, chúng tôi cũng xin giới thiệu một trong những ca khúc nổi tiếng đã được đề cử giải Oscar cho ca khúc trong phim trong những năm đầu thập niên 1970, đó là bản <em>Ben</em>.</p>
<p><em>Ben </em>là một sáng tác của nhà soạn nhạc Walter Scharf (1910 –2003) và nhà viết lời hát Don Black (1938-) viết cho cuốn phim có cùng tựa.</p>
<p><em>Ben</em> (1972) là cuốn phim kinh dị tiếp theo phim <em>Willard</em> (1971), nói về con chuột giết người tên “Ben” và cậu chủ của nó. <em>Ben</em> được Lee Montgomery và Michael Jackson hát trong phim, đoạt giải Trái Cầu Vàng (Golden Globe) và được đề cử giải Oscar năm 1972.</p>
<p>Trong buổi lễ trao giải Oscar, Michael Jackson, khi ấy 13 tuổi, đã hát live ca khúc <em>Ben</em>, và sau đó phiên bản này đã lên No.1 trên bảng xếp hạng ở Hoa Kỳ (Billboard Hot 100) và Úc-đại-lợi, được ghi nhận là bài hát solo đầu tiên của Michael Jackson đứng No.1 (những bản No.1 trước đó cậu hát chung với anh em trong ban The Jackson Five).</p>
<p><strong>Phụ lục 1: <em>Ben</em>, Michael Jackson (live)</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-40319-18" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/08/01-Ben-Michael-Jackson.mp3?_=18" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/08/01-Ben-Michael-Jackson.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/08/01-Ben-Michael-Jackson.mp3</a></audio>
<p>Sau đây chúng tôi viết về ca khúc <em>Speak Softly, Love</em>, tức nhạc khúc chủ đề tình yêu (love theme) trong cuốn phim The Godfather (1972) sau đó được đặt lời hát.</p>
<p>Nói về cuốn phim The Godfather không thể không nhắc tới cuốn truyện nguyên tác The Godfather của Mario Puzzo, trước năm 1975 được Ngọc Thứ Lang dịch với tựa Bố Già.</p>
<p><strong>Mario Puzzo</strong> (1920 – 1999) là một nhà văn, ký giả, và nhà viết kịch bản Mỹ gốc Ý. Ông ra chào đời và lớn lên tại  khu Hell’s Kitchen ở Nữu Ước trong một gia đình di dân Ý nghèo tới từ miền Campania, Ý-đại-lợi, và “di sản” này sẽ được thể hiện trong nhiều tác phẩm của ông.</p>
<p>Sau khi tốt nghiệp tại City College of New York, Mario Puzzo gia nhập Lục Quân Hoa Kỳ trong Đệ nhị Thế chiến, tuy nhiên vì thị lực quá kém, ông không phải đi tác chiến mà được cử giữ chức sĩ quan giao tế cho một đơn vị đồn trú tại Đức.</p>
<p>Sau Thế chiến, Mario Puzzo trở về Nữu Ước theo học tại New School for Social Research, tiếp theo là Columbia University.</p>
<p>Trong thập niên 1950 và những năm đầu thập niên 1960, công việc kiếm sống của Mario Puzzo là, cùng với nhiều nhà văn chưa nổi tiếng khác, viết những truyện “hư cấu kém giá trị” (pulp fiction) cho các tạp chí dành cho nam giới. Song song, Mario Puzzo còn viết truyện ngắn, truyện dài.</p>
<p>Hiện nay, nhắc tới tên tuổi Mario Puzzo, mọi người sẽ nhớ ngay tới cuốn The Godfather (1969), nhưng trên thực tế cuốn truyện này chỉ là một bản sao đã đươc “mafia hóa” của cuốn truyện The Fortunate Pilgrim của ông viết trước đó 4 năm.</p>
<p>The Fortunate Pilgrim được Mario Puzzo tự đánh giá là tác phẩm hay nhất, nhiều chất thơ nhất, có giá trị văn chương cao nhất của mình. Truyện kể về nhân vật Maria Santa mà Mario Puzo cho biết là dựa trên hình ảnh của mẹ ông, một phụ nữ di dân lương thiện đã phải phấn đấu nơi xã hội mới cũng như lòng can đảm và tình yêu thương bà dành cho các con.</p>
<p>Trong The Fortunate Pilgrim, nhân vật Maria Santa là một góa phụ đã lãnh đạo hai gia đình di dân Ý hòa nhập vào cuộc sống mới tại thành phố Nữu Ước, trải qua cuộc Đại khủng hoảng và những năm đầu của Thế chiến.</p>
<p>Một cuốn truyện với nội dung như trên, dù hay tới mức nào, cũng chỉ phổ biến rộng rãi trong cộng đồng di dân gốc Ý (mãi tới năm 1988, hơn 15 năm sau khi The Godfather được dựng thành phim, The Fortunate Pilgrim mới được thực hiện thành phim tập ngắn kỳ trên truyền hình (miniseries) do Sophia Loren thủ vai chính).</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/08/The-Godfather.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-40322" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/08/The-Godfather-211x300.jpg?strip=all" alt="" width="211" height="300" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/08/The-Godfather-211x300.jpg?strip=all 211w, https://cdn.t-van.net/2019/08/The-Godfather-768x1090.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2019/08/The-Godfather-721x1024.jpg 721w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/08/The-Godfather.jpg?strip=all 1396w" sizes="(max-width: 211px) 100vw, 211px" /></a></p>
<p>Vì thế ngày ấy, nhà xuất bản đã khuyên Mario Puzzo nên viết lại The Fortunate Pilgrim thành một cuốn truyện về anh chị mafia, chắc chắn sẽ ăn khách hơn. Việc này không khó, bởi vì trong thời gian viết những truyện thuộc thể loại “pulp fiction” cho các tạp chí đàn ông,</p>
<p>Mario Puzzo đã được nghe các đồng nghiệp kể vô số chuyện ly kỳ rùng rợn về hoạt động của các băng đảng mafia ở Mỹ.</p>
<p>Mario Puzzo nghe thấy cũng có lý nhưng để cho chắc ăn, ông muốn tìm một nhà xuất bản có tầm vóc ứng trước một số “vốn” để ông yên tâm bắt tay vào việc. Kết quả, G. P. Putnam&#8217;s Sons, một nhà xuất bản ở Nữu Ước đã đồng ý ứng tiền trước.</p>
<p>Đầu tháng 3/1969, cuốn tiểu thuyết tội phạm hư cấu The Godfather – viết về gia đình mafia Corleone do “Bố Già” Vito Corleone lãnh đạo – được phát hành, và được độc giả trên toàn quốc nồng nhiệt đón nhận, nằm trong danh sách bestseller của tờ Nữu Ước Thời Báo suốt 67 tuần lễ liên tiếp, và chỉ trong thời gian hai năm đã bán ra trên chín triệu ấn bản.</p>
<p>Yếu tố thu hút chính của The Godfather là cuộc sống của xã hội đen, hay chính xác hơn là của mafia – anh chị Ý tại Hoa Kỳ.</p>
<p>Lẽ dĩ nhiên, Hồ-ly-vọng đã không bỏ qua một cuốn truyện ăn khách như The Godfather. Trên thực tế, ngay từ lúc cuốn truyện vừa được phát hành, hãng phim Paramount Pictures đã tiên liệu đây là cơ hội nghìn năm một thuở, thương lượng mua bản quyền để thực hiện thành phim với giá chỉ có 80,000 Mỹ kim! Dĩ nhiên, Mario Puzzo được mướn để chuyển thể thành kịch bản phim.</p>
<p>Nhưng nhân vật quan trọng nhất, nhiều công lao nhất trong việc  biến cuốn tiểu thuyết hư cấu The Godfather thành một kiệt tác điện ảnh phải là <strong>Francis Ford Coppola</strong>.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/08/Francis-Ford-Coppola.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-40325" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/08/Francis-Ford-Coppola-300x169.jpg?strip=all" alt="" width="401" height="226" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/08/Francis-Ford-Coppola-300x169.jpg?strip=all 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/08/Francis-Ford-Coppola.jpg?strip=all 700w" sizes="(max-width: 401px) 100vw, 401px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Francis Ford Coppola</strong></p>
<p>Hiện nay, người yêu chuộng bộ môn điện ảnh đều biết Francis Ford Coppola (1939 &#8211; ) là một trong những tên tuổi lớn nhất của điện ảnh Hoa Kỳ, với những tác phẩm nổi tiếng như The Godfather (1972), The Godfather Part II, The Great Gatsby (1974), The Conversation (1974), Apocalypse Now (1979), The Outsiders (1983), Rumble Fish (1983), The Cotton Club (1984), Peggy Sue Got Married (1986), Bram Stoker&#8217;s Dracula (1992)&#8230;, nhưng ngày ấy, đầu thập niên 1970, ông còn là một đạo diễn trẻ trong nhóm “New Hollywood”, quy tụ những nhà làm phim chủ trương “đổi mới”, trong số đó có Steven Spielberg, Martin Scorsese, Robert Altman, Woody Allen, George Lucas&#8230;</p>
<p>Trước đó Francis Ford Coppola chỉ được biết tới qua cương vị một nhà viết kịch bản, vừa tạo được chút tên tuổi qua việc đoạt giải Oscar kịch bản cho cuốn phim chiến tranh Patton (1970), viết chung với Edmund H. North.</p>
<p>Sau khi được trao phó công việc đạo diễn cuốn phim The Godfather, Francis Ford Coppola đã cùng với tác giả Mario Puzo chuyển thể cuốn tiểu thuyết thành một kịch bản phim lột tả trắng trợn, bắn giết tàn bạo nhưng có chiều sâu.</p>
<p>Bối cảnh thời gian là từ năm 1945 tới 1955, đồng thời có những đoạn đưa khán giả về buổi thiếu thời của nhân vật chính Vito Corleone.</p>
<p>Bối cảnh không gian là thành phố Nữu Ước, nơi “thế giới ngầm” bị thao túng bởi những gia đình mafia, trong số đó, gia đình Corleone do Don Vito (Ngài Vito) lãnh đạo được xếp vào hàng năm gia đình quyền lực nhất.</p>
<p>Don Vito có ba người con trai và cô con gái út Connie. Cậu cả Sonny mạnh mẽ nhưng nóng tính, cậu kế Fredo thì ốm yếu và nhút nhát; cậu út Michael tỏ ra xuất chúng hơn cả lại không muốn thừa kế cái đế chế tội ác mà cha anh đã mất cả một đời để gầy dựng.</p>
<p>Khi Đệ nhị Thế chiến kết thúc, Đại úy Michael Corleone giải ngũ với mộng bình thường là xây dựng gia đình với người tình Kay Adams, nhưng đúng vào thời gian này Don Vito bị một gia đình đối địch cho tay chân mai phục ám sát. Don Vito không mất mạng nhưng bị tàn phế, gia đình Corleone bị suy yếu vì không ai đủ sức đứng ra thay thế vị trí “Bố già” của Don Vito. Vì thế Michael Corleone không còn lựa chọn nào khác hơn là đứng ra lãnh đạo gia đình trước sự bành trướng, lấn lướt của những gia đình mafia khác.</p>
<p>Theo thời gian, với sự trợ giúp của “Cố vấn” Tom Hagen cùng các tay chân thân tín, Michael Corleone đã trở thành một “Bố Già” mới, thống trị xã hội đen của Nữu Ước.</p>
<p>Phân loại một cách chung chung, The Godfather thuộc thể loại “phim hành động”, chi tiết hơn, đây là một cuốn phim “gangster Mỹ”, và muốn chính xác hơn, phải gọi đây là một kiệt tác trong thể loại  “gangster Mỹ”.</p>
<p>Francis Ford Coppola không chỉ có công hợp tác với với tác giả Mario Puzo trong việc chuyển thể cuốn tiểu thuyết thành kịch bản phim mà còn phải “tranh đấu” với hãng phim để được quyền sắm vai theo ý mình.</p>
<p>Lúc đầu, hai diễn viên thủ hai vai quan trọng nhất &#8211; <strong>Marlon Brando</strong> vai Vito Corleone (Don Vito) và <strong>Al Pacino</strong> vai Michael Corleone – do Francis Ford Coppola đề nghị đều bị hãng phim Paramount bác bỏ. Marlon Brando nổi tiếng là một con người khó chịu, còn Al Pacino thì vừa thiếu chiều cao (1m70) vừa chưa có tên tuổi!</p>
<p>Cuối cùng, hãng Paramount chỉ đồng ý Marlon Brando trong vai Don Vito, còn vai Michael Corleone, họ nói Francis Ford Coppola phải chọn một trong những nam diễn viên đã có tên tuổi gồm Jack Nicholson, Robert Redford, Warren Beatty, và cả anh chàng Ryan O’Neal vừa vụt nổi qua phim Love Story; thậm chí họ còn đề nghị cả chàng  Robert De Niro vô danh chỉ vì Robert trông cao ráo hơn.</p>
<p>Nhưng Francis Ford Coppola đã quyết chí chọn Al Pacino, và vì không bên nào chịu thua trong khi mọi việc đã sẵn sàng, Francis Ford Coppola đã phải cho thực hiện những cảnh không có nhân vật Michael Corleone xuất hiện!</p>
<p>Cuối cùng hãng phim đành phải chịu thua nhà đạo diễn: vai Michael Corleone được trao cho Al Pacino.</p>
<p>Những gì xảy ra sau đó cho thấy Francis Ford Coppola quả có mắt nhận xét: nhân vật Michael Corleone do Al Pacino thủ diễn đã được giới phê bình cũng như người ái mộ (trong đó có chúng tôi) xem là “nhân vật số 1 trên màn bạc” từ xưa tới nay!</p>
<p><em>The Godfather</em> ra mắt khán giả Mỹ vào giữa tháng 3/1972, trở thành  cuốn phim ăn khách nhất mọi thời đại; kỷ lục này chỉ bị phim <em>Jaws</em><em> </em> phá vào ba năm sau đó. Hiện nay, <em>The Godfather</em> đang đứng hạng 23 trong danh sách những cuốn phim ăn khách nhất trong lịch sử điện ảnh.</p>
<p><em>The Godfather</em> được các trang mạng phê bình và thăm dò dư luận chấm điểm gần như tối đa: IMDb 9.2/10, Rotten Tomatoes 98% (các nhà phê bình), 9.27/10 (khán giả), còn Metacritic (tổng hợp phê bình quôc tế) cho tới 100%.</p>
<p>Riêng nhà bình phim nổi tiếng Roger Elbert (1942 – 2013) của tờ Chicago Sun-Times cho 4/4 sao, với lời bình “đây là tác phẩm điện ảnh hiện thực nhất của nền nghệ thuật thứ bảy.”</p>
<p>Tại giải Oscar năm 1973, <em>The Godfather</em> dẫn đầu danh sách được đề cử với 11 hạng mục, và đoạt ba giải, cho Phim hay nhất, nam diễn viên vai chính xuất sắc nhất (Marlon Brando), và kịch bản phóng tác (Mario Puzzo &amp; Francis Ford Coppola).</p>
<p>Năm 1990, <em>The Godfather</em> đã được đưa vào danh sách phim được bảo tồn của Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ, và được xếp hạng nhì (chỉ sau phim Citizen Kane) trong danh sách của Viện Phim Ảnh Hoa Kỳ (AFI: American Film Institute).</p>
<p>Tới đây viết về nhạc phim của The Godfather do <strong>Nino Rota</strong> soạn.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/08/nino-rota.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-40321" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/08/nino-rota-203x300.jpg?strip=all" alt="" width="203" height="300" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/08/nino-rota-203x300.jpg?strip=all 203w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/08/nino-rota.jpg?strip=all 214w" sizes="(max-width: 203px) 100vw, 203px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Nino Rota</strong></p>
<p>Như chúng tôi đã giới thiệu trong bài 87 &#8211; <em>A Time For Us</em> (Tình sử Romeo &amp; Juliet), Nino Rota (1911 – 1979) là nhà soạn nhạc, nhạc sĩ dương cầm, nhạc trưởng, và giáo sư âm nhạc nổi tiếng của Ý. Với người yêu chuộng bộ môn nghệ thuật thứ bảy, Nino Rota được biết tới qua nhạc phim của những cuốn phim bất hủ như La Strada (1954), Romeo and Juliet (1969), The Godfather (1972)&#8230;</p>
<p><strong> </strong>Mặc dù The Godfather là một cuốn phim Mỹ, đối tượng khán giả chủ yếu là người Mỹ, nhưng vì nội dung phim nói về mafia Ý, Francis Ford Coppola quyết định nhờ Nino Rota soạn nhạc phim để cuốn phim có thêm “chất Ý”.</p>
<p>Nhạc phim The Godfather gồm 11 nhạc khúc và một ca khúc (I Have But One Heart), trong đó có 10 nhạc khúc là sáng tác của Nino Rota. Nhạc khúc còn lại (Connie’s Wedding) là sáng tác của Carmine Coppola, thân phụ của Francis Ford, với giai điệu dân gian đảo Sicily nơi diễn ra đám cưới. Còn ca <em>khúc I Have But One Heart</em> là một sáng tác cũ của Johnny Farrow &amp; Marty Symes viết năm 1945, nay được nam ca sĩ Al Martino (thủ vai Johnny Fontane) hát trong đám cưới của Connie Corleone.</p>
<p>Trong 10 nhạc khúc do Nino Rota sáng tác có nhạc khúc chủ đề tình yêu (Love Theme from The Godfather) vốn là một nhạc khúc đã được sử dụng trong cuốn phim Fortunella (1958), cũng do Nino Rota soạn nhạc phim.</p>
<p>Trong giải Oscar năm 1973, nhạc phim The Godfather được đề cử giải cho nhạc phim nhưng vào phút chót đã bị loại khỏi danh sách dự tranh vì nguyên nhân nói trên.</p>
<p>Thế nhưng hai năm sau, khi nhạc khúc chủ đề tình yêu này được tái sử dụng trong cuốn phim tiếp theo (The Godfather part II) thì cuốn phim này lại&#8230; đoạt giải nhạc phim cho Nino Rota; có nghĩa là hai năm trước đó, Hàn lâm viện Điện ảnh đã quyết định sai?!</p>
<p>Nhưng riêng giới thưởng ngoạn thì không cần phải đợi tới hai năm sau, mà ngay khi xem cuốn phim The Godfather thứ nhất họ đã rung động theo dòng nhạc êm đềm, trữ tình, lãng mạn trong một cuốn phim bắn giết tàn bạo.</p>
<p>Theo các nhà phê bình, sự tài tình của Nino Rota là các khúc nhạc của ông đã đi sát với từng phân cảnh và nhân vật trong phim. Album nhạc phim The Godfather (Original Soundtrack) phát hành vào giữa năm 1972 đã được trang mạng Allmusic cho 4/4 sao.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<h3><em><u><a href="https://www.youtube.com/watch?v=2SdrbyCrTXg">The Godfather (ORIGINAL SOUNDTRACK) </a></u></em></h3>
<p>Hai tuần sau khi phim The Godfather được trình chiếu vào ngày 15/3/1972, nhạc sĩ dương cầm Roger Williams của Mỹ là người đầu tiên tung ra đĩa đơn <em>Love Theme from The Godfather, nằm </em>trong danh sách Billboard Hot 100 trong năm tuần liên tiếp.</p>
<p>Từ đó tới nay, con số nhạc sĩ và dàn nhạc nổi tiếng thu âm <em>Love Theme from The Godfather đã lên tới con số hàng trăm. Theo YouTube, được tìm nghe nhiều nhất là phiên bản của nhạc trư</em>ởng Ý  <strong>Riccardo Muti </strong>(sinh năm 1941), người từng giữ chức Giám đốc hai dàn nhạc giao hưởng Chicago Symphony Orchestra của Mỹ và Orchestra Giovanile Luigi Cherubini của Ý.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<h3><em><u><a href="https://www.youtube.com/watch?v=F9vA7L8H4nc">The Godfather Original Theme Song </a></u></em></h3>
<p>Một phiên bản khác cũng rất được yêu chuộng là của dàn nhạc nổi tiếng 101 Strings Orchestra.</p>
<p>Đây là một dàn nhạc thuộc loại “dễ nghe” (easy listening), tức là không được những người “khó tính” trân trọng cho lắm, nhưng lại là dàn hòa tấu thành công nhất xưa nay, ít ra cũng là về mặt thương mại. 101 Strings Orchestra (gồm 124 cây đàn dây) được thành lập vào năm 1957 do sự đề xướng, vận động của ông Dave L. Miller  (1925 – 1985), chủ nhân một hãng đĩa nhỏ ở Mỹ không thể cạnh tranh với các hãng đĩa lớn.</p>
<p>Với sự hơp tác của nhạc trưởng Đức Wilhelm Stephan (1906-1994) cùng nhiều nhạc công gốc Âu châu, trong 30 năm hiện hữu, 101 Strings Orchestra đã thu âm 150 album và bán ra trên 50 triệu ấn bản, một con số mà không một dàn nhạc nào, từ giao hưởng tới thính phòng, “easy listening”&#8230; có thể đạt được!</p>
<p><strong>Phụ lục 2: <em>Love </em></strong><strong><em>Theme From The Godfather</em></strong><strong>, 101 Strings Orchestra</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-40319-19" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/08/02-TheGodfather-101StringsOrchestra_3w3gu.mp3?_=19" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/08/02-TheGodfather-101StringsOrchestra_3w3gu.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/08/02-TheGodfather-101StringsOrchestra_3w3gu.mp3</a></audio>
<p><strong>Phụ lục 3: <em>Love</em></strong> <strong><em>Theme From The Godfather</em></strong><strong>, violin</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-40319-20" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/08/03-Godfather-violin.mp3?_=20" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/08/03-Godfather-violin.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/08/03-Godfather-violin.mp3</a></audio>
<p>Một tuần sau khi đĩa đơn <em>Love Theme from The Godfather của </em>nhạc sĩ dương cầm Roger Williams được phát hành, tới ngày 8 tháng 4, 1972, ca khúc <em>Speak Softly, Love, </em>tức <em>Love Theme from The Godfather do Larry Kusik</em> đặt lời hát, <strong>Andy Williams</strong> thu âm, đã được tung ra, đứng hạng 7 trong danh sách Easy Listening trong thời gian 12 tuần lễ.</p>
<p>Trong loạt bài này, chúng tôi nhiều lần giới thiệu tiếng hát Andy Williams, sau đây xin có đôi dòng về người nam danh ca mà giọng hát đã đi liền với nhiều ca khúc trích từ nhạc phim, từ <em>Moon River </em>(phim Breakfast at Tiffany),<em> The Shadow of Your Smile </em>(phim The Sandpiper) tới<em> Where Do I Begin </em>(phim Love Story), từ<em> A Time for Us </em>(phim Romeo &amp; Juliet) tới<em> Speak Softly, Love</em> (phim The Godfather), v.v&#8230;</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/08/480x270.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-40324" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/08/480x270-300x169.jpg?strip=all" alt="" width="375" height="211" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/08/480x270-300x169.jpg?strip=all 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/08/480x270.jpg?strip=all 480w" sizes="(max-width: 375px) 100vw, 375px" /></a></p>
<p>Andy Williams (1927 &#8211; 2012) ra chào đời tại tiểu bang Iowa, là con trai út trong một gia đình có bốn anh em. Ngay từ nhỏ, Andy đã được hát trong ca đoàn nhà thờ.</p>
<p>Năm 1938, bốn anh em thành lập ban tứ ca Williams Brothers, trình diễn trên các đài phát thanh ở Des Moines, Iowa, Chicago, và Cincinnati.</p>
<p>Năm 1943, Williams Brothers tới Los Angeles, qua năm sau thu đĩa chung với danh ca Bing Crosby bản <em>Swinging on a Star</em>, đồng thời lần lượt xuất hiện trong bốn cuốn phim.</p>
<p>Sự nghiệp ca hát solo của Andy Williams bắt đầu vào năm 1953, tuy nhiên vì ký hợp đồng với một hãng đĩa nhỏ, chàng trẻ tuổi đã không có cơ hội tiến thân. Mãi tới năm 1957, nhờ thu âm lại ca khúc <em>Butterfly</em> của nam ca sĩ Charlie Gracie, Andy Williams mới vụt nổi: <em>Butterfly</em> đứng No.1 ở cả Hoa Kỳ (Billboard Hot 100) lẫn Anh quốc (UK Singles Chart).</p>
<p>Năm 1961, Andy Williams được hãng đĩa Columbia Records ký hợp đồng; qua năm 1962, chàng được mời trình diễn ca khúc <em>Moon River</em> tại giải Oscar.</p>
<p><em>Moon River</em>, chúng tôi đã giới thiệu trong bài 84, là ca khúc đoạt giải Oscar năm 1962, do nữ minh tinh Audrey Hepburn hát trong cuốn phim Breakfast at Tiffany&#8217;s, nhưng sau khi được Andy Williams thu đĩa năm 1961 rồi trình diễn trong giải Oscar 1962, đã trở thành “ca khúc cầu chứng” của chàng ca sĩ.</p>
<p>Đây là ca khúc mở đầu mỗi episode của show truyền hình <em>The Andy Williams Show</em> (1962 &#8211; 1971), được sử dụng làm tựa đề album tập hợp những tình khúc hay nhất cũng như cuốn hồi ký “<em>Moon River&#8221; and Me</em> của Andy Williams, và được lấy đặt tên cho công ty sản xuất đĩa nhạc, tên hí viện do ông làm chủ ở Branson, Missouri.</p>
<p>Năm 1964, Andy Williams thu đĩa lại ca khúc <em>The Anniversary Song</em> vốn đã được nhiều người hát trước đó, và đạt thành công đáng kể.</p>
<p>Như chúng tôi đã viết trong một bài trước đây, <em>The Anniversary Song</em> là phiên bản lời Anh của bản luân vũ bất hủ <em>Waves of the Danube</em> (Les Flots du Danube – Sóng nước biếc) của nhà soạn nhạc người Romania <strong>Josef Ivanovich </strong>(1845 – 1902). Tới năm 1946 nhạc khúc này đã được nhà soạn nhạc Saul Chaplin của Mỹ cải biên (dài hơn 7 phút còn chưa tới 3 phút) và nam ca sĩ kiêm diễn viên Mỹ Al Jolson đặt lời hát và thu đĩa, lên tới No.2 trong bảng xếp hạng của Billboard.</p>
<p>Từ đó, <em>The Anniversary Song</em> đã được nhiều ca sĩ thu âm, trong số đó được yêu chuộng nhất phải là phiên bản của Andy Williams, được ông hát theo một phong cách riêng.</p>
<p><strong><em>LƯU Ý</em></strong><em>: “The Anniversary Song” thường bị không ít người Mỹ gọi sai là “The Anniversary Waltz”. The Anniversary Waltz là một sáng tác của Dave Franklin &amp; Al Dubin, được Bing Crosby thu đĩa năm 1941; về sau còn được Vera Lynn, Connie Francis, và dàn nhạc Mantovani thu đĩa. Sỡ dĩ có sự lẫn lộn giữa The Anniversary Song và The Anniversary Waltz là vì cả hai ca khúc đều được soạn theo thể điệu valse (waltz).</em></p>
<p><strong>Phụ lục 4: <em>The Anniversary Song</em>, Andy Williams </strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-40319-21" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/08/04-Aniverary-song-Andy-W.mp3?_=21" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/08/04-Aniverary-song-Andy-W.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/08/04-Aniverary-song-Andy-W.mp3</a></audio>
<p>Trong sự nghiệp của mình, Andy Williams còn thu âm tổng cộng tám album Giáng Sinh, và mỗi năm đều có một chương trình đặc biệt về Giáng Sinh trên truyền hình, cho nên ông được người Mỹ tặng biệt hiệu &#8220;Mr. Christmas&#8221;.</p>
<p>Trong sự nghiệp trải dài 74 năm, Andy Williams đã thu 43 album, trong đó có 14 album “vàng” và ba album “platinum”, với tổng số đĩa bán ra trên 100 triệu, (vào thời đó) chỉ đứng sau Frank Sinatra, Johnny Mathis, và Elvis Presley.</p>
<p>Tháng 11/2011, trong một buổi trình diễn tại hí viện Moon River của ông ở Branson, Missouri, Andy Williams đã bất ngờ bất ngờ thông báo cho khán giả biết ông bị ung thư bàng quang.</p>
<p>Sau một thời gian hóa trị ở Houston, Texas, ông và vợ mướn một căn nhà ở vùng biển Malibu, California để được gần các chuyên gia ung thư trong vùng Los Angeles. Tới mùa thu năm 2002, Andy Williams được đưa về nhà riêng ở Branson, Missouri, nơi ông qua đời vào ngày 25/9/2012, thọ 84 tuổi.</p>
<p>Theo di chúc để lại, Andy Williams được thiêu và tro cốt được rải xuống dòng sông nhân tạo trong khuôn viên hí viện Moon River.</p>
<p>* * *</p>
<p>Trở lại với ca khúc <em>Speak Softly Love, </em>tức <em>Love Theme from The Godfather </em>do Andy Williams thu đĩa, mặc dù chỉ lên tới hạng 7 trong danh sách Easy Listening ở Hoa Kỳ, nhưng với người yêu nhạc và yêu phim khắp nơi trên thế giới, nếu chỉ tính những ca khúc trong phim hoặc trích từ nhạc phim do ông trình bày, ca khúc này có lẽ chỉ đứng sau <em>Moon River</em>.</p>
<p><strong><em>Speak Softly Love</em></strong></p>
<p><em>Speak softly love and hold me warm against your heart<br />
I feel your words the trembling moments (that I) start<br />
We&#8217;re in a world of<br />
our very own<br />
Sharing a love that only few have ever known&#8230;<br />
Wine colored days&#8230;<br />
warmed by the sun<br />
Deep velvet nights&#8230;<br />
when we are one&#8230;<br />
Speak softly love so no-one hears us but the sky<br />
The vows of love we make will live until we die<br />
My life is yours&#8230;<br />
and all because<br />
You came into my world with love&#8230;<br />
so softly love&#8230;<br />
</em><br />
<em>Wine colored days&#8230;<br />
warmed by the sun<br />
Deep velvet nights&#8230;<br />
when we are one&#8230;<br />
Speak softly love so no-one hears us but the sky<br />
The vows of love we make will live until we die<br />
My life is yours&#8230;<br />
and all because<br />
You came into my world with love&#8230;<br />
so softly love&#8230;</em></p>
<p><strong>Phụ lục 5: <em>Speak Softly, Love</em>, Andy Williams</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-40319-22" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/08/05-Andy-Williams-Speak-softly-love-Andy-Williams.mp3?_=22" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/08/05-Andy-Williams-Speak-softly-love-Andy-Williams.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/08/05-Andy-Williams-Speak-softly-love-Andy-Williams.mp3</a></audio>
<p>Cùng khoảng thời gian nói trên, <em>Speak Softly, Love</em> được đặt lời hát bằng nhiều ngôn ngữ khác, trước hết là tiếng Ý với tựa đề <em>Parla più piano </em>(Nói khẽ thôi) do đệ nhất danh ca Ý Gianni Morandi thu đĩa.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<h3><em><u><a href="https://www.youtube.com/watch?v=E1SOYC13Hb4">Gianni Morandi Parla più piano with lyrics </a></u></em></h3>
<p>Về phiên bản lời Pháp, tựa đề <em>Parle Plus Bas</em> (Hãy nói nhỏ hơn) ngày ấy do nữ danh ca Dalida thu đĩa; gần đây đã được Soeurs Puppini (The Puppini Sisters) trình diễn rất thành công trong một chương trình tưởng niệm Dalida.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong><em>Parle Plus Bas</em></strong></p>
<p><em>Parle plus bas car on pourrait bien nous entendre<br />
Le monde n&#8217;est pas prêt pour tes paroles tendres<br />
Le monde n&#8217;est pas prêt pour nous<br />
Il dirait tout simplement que nous sommes fous</em></p>
<p><em>Parle plus bas mais parle encore<br />
De l&#8217;amour fou de l&#8217;amour fort</em></p>
<p><em>Parle plus bas car on pourrait bien nous surprendre<br />
Tu sais très bien qu&#8217;il ne voudrait jamais comprendre<br />
Que dans nos cœurs moi, j&#8217;ai trouvé<br />
Ce que le monde refusait de nous donner</em></p>
<p><em>Parle plus bas mais parle encore<br />
De l&#8217;amour…</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<h3><em><u><a href="https://www.google.com.au/url?sa=t&amp;rct=j&amp;q=&amp;esrc=s&amp;source=web&amp;cd=1&amp;ved=2ahUKEwjG-4XGg6XkAhXVfH0KHQHVAnEQyCkwAHoECA0QBQ&amp;url=https%3A%2F%2Fwww.youtube.com%2Fwatch%3Fv%3DoROX4Uhc5IA&amp;usg=AOvVaw2PafAaikkBdQM95E2hJeoU">Parle Plus Bas &#8220;Speak Softly Love (Love Theme From The Godfather &#8230;</a></u></em></h3>
<p>Đặc biệt <em>Speak Softly, Love</em> còn được đặt lời hát bằng thổ ngữ đảo Sicily, cội nguồn của mafia. Phiên bản này đã được nhân vật Anthony Corleone (nam ca sĩ <a href="https://en.wikipedia.org/wiki/Franc_D%27Ambrosio">F</a>ranc D&#8217;Ambrosio thủ vai), con trai của Michael Corleone, hát trong cuốn phim <em>The Godfather Part III</em>.</p>
<p>Từ đó tới nay, <em>Speak Softly, Love</em> đã được đặt lời hát bằng trên 100 ngôn ngữ khác nhau, trong đó có cả tiếng Miên, và lẽ dĩ nhiên không thể thiếu phiên bản tiếng Việt, do Trường Kỳ soạn ca từ với tựa đề <em>Thú Đau Thương</em>.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong><em>Thú Đau Thương </em></strong></p>
<p><em>Tình như thoáng mây tình đến cùng ta âm thầm không ngờ<br />
Tình như cánh hoa tình chiếm hồn ta đâu ngờ là tình<br />
Tình như mưa gió thoảng vào trong tim<br />
Tình như cánh chim bay đến trong ta sao nghe bồi hồi&#8230;</em></p>
<p>Có biết đau thương&#8230; mới hay là tình<br />
Say đắm trong đời&#8230; thì mới là yêu&#8230;</p>
<p>Tình như đớn đau tình xé lòng nhau muôn đời không lành<br />
Tình như ngất ngây tình đến cùng nhau mang nhiều tuyệt vời<br />
Tình như giông bão dập vùi yêu thương<br />
Tình như tiếng ca theo gió phương xa cho nhau lời chào&#8230;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em>Có biết đau thương&#8230; mới hay là tình<br />
Say đắm trong đời&#8230; thì mới là yêu&#8230; </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Đời không thiết tha vì thiếu tình yêu không còn là đời<br />
Người không xót xa vì mất tình yêu không còn là người<br />
Đời ta muôn kiếp đã trôi theo tháng ngày<br />
Tình như khói sương bay thoáng trong mơ ngàn đời vu vơ&#8230;</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Trước năm 1975,<em> Thú Đau Thương</em> đã được Elvis Phương thu âm trong băng Nhạc Trẻ 3; sau này tại hải ngoại, được Don Ho thu vào CD.</p>
<p><strong>Phụ lục 6: <em>Thú Đau Thương</em>, Don Ho </strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-40319-23" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/08/06-Th¦-Éau-Thuong-Don-H-I-Nh-c-tr-t¼nh.mp3?_=23" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/08/06-Th¦-Éau-Thuong-Don-H-I-Nh-c-tr-t¼nh.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/08/06-Th¦-Éau-Thuong-Don-H-I-Nh-c-tr-t¼nh.mp3</a></audio>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<h3><em><a href="https://www.youtube.com/watch?v=muvlv7plSvY">VIDEO Thú đau thương (Kenny Thái) </a></em></h3>
<p>Ngoài phiên bản <em>Thú Đau Thương</em> của Trường Kỳ, hiện nay trên Internet chúng tôi còn tìm thấy một phiên bản lời Việt khác, tuy nhiên không ghi tên tác giả cũng như ca sĩ trình bày.</p>
<p><strong>Phụ lục 7: <em>Speak Softly Love – (lời Việt: ?) </em></strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-40319-24" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/08/07-Speak-softly-lời-Việt.mp3?_=24" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/08/07-Speak-softly-lời-Việt.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/08/07-Speak-softly-lời-Việt.mp3</a></audio>
<p><strong>HOÀI NAM</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2019</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong> </strong></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/hoai-nam-nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet-90-nhac-phim-speak-softly-love-thu-dau-thuong-nino-rota-larry-kusik/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/08/01-Ben-Michael-Jackson.mp3" length="6700696" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/08/02-TheGodfather-101StringsOrchestra_3w3gu.mp3" length="2546705" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/08/03-Godfather-violin.mp3" length="6698608" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/08/04-Aniverary-song-Andy-W.mp3" length="5754952" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/08/05-Andy-Williams-Speak-softly-love-Andy-Williams.mp3" length="4311293" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/08/06-Th¦-Éau-Thuong-Don-H-I-Nh-c-tr-t¼nh.mp3" length="7408784" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/08/07-Speak-softly-lời-Việt.mp3" length="9396304" type="audio/mpeg" />

			</item>
		<item>
		<title>Hoài Nam: NHỮNG CA KHÚC NHẠC NGOẠI QUỐC LỜI VIỆT (89) &#8211; NHẠC PHIM &#8211; The Summer Knows (Hè 42, Mùa Hè Năm Ấy), Michel Legrand, Alan &#038; Marilyn Bergman</title>
		<link>https://t-van.net/hoai-nam-nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet-89-nhac-phim-the-summer-knows-he-42-mua-he-nam-ay-michel-legrand-alan-marilyn-bergman/</link>
					<comments>https://t-van.net/hoai-nam-nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet-89-nhac-phim-the-summer-knows-he-42-mua-he-nam-ay-michel-legrand-alan-marilyn-bergman/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Hòai-Nam]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 31 Jul 2019 05:53:25 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[hòai nam]]></category>
		<category><![CDATA[nhạc nq lời việt]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=40079</guid>

					<description><![CDATA[Tiếp tục phần Nhạc Phim, bài này chúng tôi viết về bản The Summer Knows, nguyên là nhạc khúc chủ đề trong phim Summer of &#8217;42, do Michel Legrand soạn, được Alan &#38; Marilyn Bergman đặt lời hát. Trước năm 1975, The Summer Knows được Phạm Duy đặt lời Việt với tựa Hè 42, và [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/07/large.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-40081" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/07/large-300x300.jpg?strip=all" alt="" width="397" height="397" srcset="https://cdn.t-van.net/2019/07/large-150x150.jpg 150w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/07/large-300x300.jpg?strip=all 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/07/large.jpg?strip=all 500w" sizes="(max-width: 397px) 100vw, 397px" /></a></p>
<p>Tiếp tục phần Nhạc Phim, bài này chúng tôi viết về bản <em>The Summer Knows</em>, nguyên là nhạc khúc chủ đề trong phim Summer of &#8217;42, do Michel Legrand soạn, được Alan &amp; Marilyn Bergman đặt lời hát. Trước năm 1975, <em>The Summer Knows</em> được Phạm Duy đặt lời Việt với tựa <em>Hè 42, </em>và Nguyễn Ánh 9 với tựa<em> Mùa Hè Năm Ấy</em>.</p>
<p>Nếu trong năm 1970, Love Story (chúng tôi đã giới thiệu trong bài kỳ trước) đã trở thành một hiện tượng văn hóa như thế nào thì qua năm sau, 1971, Summer of &#8217;42 cũng lập lại y như thế. Điều trùng hợp thú vị là hai “hiện tượng” này có rất nhiều diễn tiến, chi tiết giống nhau: cả hai đều là kịch bản viết cho phim sau đó được chuyển thể thành tiểu thuyết, cả hai cuốn tiểu thuyết đều trở thành best seller, cả hai cuốn phim đều trở thành những cuốn phim ăn khách bậc nhất, và cốt truyện của cả hai đều dựa trên những gì đã xảy ra ở cuộc sống thực, có khác chăng chỉ là “chuyện tình” trong Summer of &#8217;42 là của chính tác giả <strong>Herman Raucher</strong> chứ không phải của “tha nhân” như trong Love Story.</p>
<p>Herman Raucher là một nhà văn kiêm nhà viết kịch bản Mỹ, sinh năm 1928 tại Brooklyn, New York.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/07/Herman-Raucher.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-40080" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/07/Herman-Raucher-300x258.jpg?strip=all" alt="" width="383" height="329" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/07/Herman-Raucher-300x258.jpg?strip=all 300w, https://cdn.t-van.net/2019/07/Herman-Raucher-768x660.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/07/Herman-Raucher.jpg?strip=all 1000w" sizes="(max-width: 383px) 100vw, 383px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Herman Raucher</strong></p>
<p>Sau bậc trung học, Herman Raucher vừa theo học ngành quảng cáo tại New York University vừa vẽ truyện bằng tranh giả tưởng với thù lao 38 Mỹ kim một tuần. Sau khi tốt nghiệp đại học, Herman Raucher trở thành một tay chạy giấy (office boy) tại hãng phim 20<sup>th</sup> Century Fox, rồi dần dần được phụ trách công việc quảng cáo.</p>
<p>Thú giải trí của Herman Raucher trong những lúc rảnh rỗi là viết các vở kịch. Năm 1955, Herman Raucher trở thành một trong những người được Walt Disney mướn thiết lập kế hoạch và thực hiện chiến dịch quảng cáo cho công viên giải trí Disneyland, sẽ được khai trương vào tháng 7 năm đó.</p>
<p>Tiếp theo, nhiều vở kịch của Herman Raucher đã được diễn trên sân khấu Broadway và đạt thành công đáng kể.</p>
<p>Song song, Herman Raucher còn viết những vở kịch ngắn cho các chương trình truyền hình tạp lục (TV variety shows).</p>
<p>Năm 1967, Herman Raucher đang viết kịch bản cho vở bi hài kịch tình cảm Sweet November thì một nhà sản xuất phim đọc được bản nháp, và đã làm trung gian cho hãng phim Universal Pictures mua lại kịch bản này để thực hiện thành phim điện ảnh.</p>
<p>Cuốn phim Sweet November do Anthony Newley (1931 &#8211; 1999) và Sandy Dennis (1937 &#8211; 1992) thủ vai chính, phát hành đầu năm 1968, đã đạt thành công rực rỡ.</p>
<p>Tiếp theo, Herman Raucher viết thêm một số kịch bản phim và tiểu thuyết khác, nhưng ông vẫn không thể tìm được người mua kịch bản phim Summer of &#8217;42 mà ông đặt bút viết từ giữa thập niên 1950.</p>
<p>* * *</p>
<p>Trở lại với những năm cuối thập niên 1930 đầu thập niên 1940, vào tuổi thiếu thời của Herman Raucher, gia đình làm ăn phát đạt, năm nào cũng đi nghỉ mát tại đảo Nantucket, ngoài khơi Cape Cod, Massachusetts.</p>
<p>Chính tại đảo Nantucket, vào năm 1942, Herman Raucher, khi ấy 14 tuổi, đã quan hệ tình cảm với “Dorothy”, một thiếu phụ có chồng chiến binh đang chiến đấu ở Âu châu.</p>
<p>Hơn một phần tư thế kỷ sau, chuyện tình này đã trở thành nền tảng cho kịch bản phim và cuốn tiểu thuyết mang tựa đề Summer of &#8217;42.</p>
<p>Thực ra vào lúc đầu, nhân vật chính trong tự truyện về tuổi dậy thì của Herman Raucher là anh bạn thân Oscar &#8220;<strong>Oscy</strong>&#8221; Seltzer, về sau trở thành một bác sĩ quân y trong Lục Quân Hoa Kỳ, hy sinh tại chiến trường Triều Tiên đúng vào ngày sinh nhật của Herman Raucher; vì thế ông không bao giờ có thể quên bạn.</p>
<p>Tuy nhiên, càng về sau nữ nhân vật “Dorothy” càng được Herman Raucher chú trọng để rồi cuối cùng trở thành nhân vật chính!</p>
<p>* * *</p>
<p>Theo kịch bản của phim, vào mùa hè năm 1942, Hermie (Herman Raucher) khi ấy 15 tuổi, và hai người bạn cùng trang lứa là Oscy và Benjie, đang chơi ngoài bãi biển thì thấy một quân nhân từ đất liền đưa người vợ trẻ tới một căn nhà trên đảo, sát bờ biển. Cả ba cậu con trai đều mê mẩn trước nhan sắc và sức thu hút của người vợ, nhất là Hermie.</p>
<p>Sau đó cả ba lại tiếp tục chơi đùa trên bãi biển, tới khi có các cô gái mới lớn ăn mặc hấp dẫn xuất hiện thì câu chuyện của ba cậu con trai chuyển sang đề tài tình dục, mặc dù cả ba đều còn “đồng trinh”. Oscy tỏ ra say mê đề tài này nhất, trong khi anh chàng “cả quỷnh” Benjie thì cứ ngớ ra, riêng Hermie thì đầu óc chỉ tơ tưởng tới người vợ trẻ của chàng quân nhân.</p>
<p>Mấy ngày sau, Hermie nhìn thấy chàng quân nhân rời đảo trở về đất liền; tới buổi chiều, thấy người vợ khệ nệ xách những túi hàng hóa mua sắm từ cửa tiệm về, Hermie tình nguyện giúp một tay. Vào trong nhà, qua câu chuyện trao đổi, người vợ trẻ và Hermie nảy sinh tình bạn; cậu hứa sẽ trở lại để phụ giúp những công việc lặt vặt cần tới bàn tay đàn ông con trai.</p>
<p>Tới chiều, chẳng biết cu cậu Benjie kiếm ở đâu ra một tập hướng dẫn tình dục, và sau khi cùng nhau “nghiên cứu”, Oscy cho rằng bằng đó kiến thức đã đủ để ba cậu tìm cách “biết mùi đời”.</p>
<p>Theo kế hoạch của Oscy, ba cậu sẽ rủ ba cô bạn học vào rạp xi-nê để tiến hành “giai đoạn tìm hiểu”, qua ngày hôm sau sẽ đưa nhau ra bờ biển.</p>
<p>Lẽ dĩ nhiên, Oscy lựa cô gái hấp dẫn nhất – Miriam, và gán Aggie, cô bạn kém hấp dẫn hơn, cho Hermie. Về phần Benjie thì được cho “sánh đôi” với Gloria, một cô gái cao lớn vạm vỡ như con trai. Tuy nhiên, vì kinh hãi khi nghĩ tới việc “having sex”, tối hôm đó Benjie trốn biệt, không tới rạp xi-nê.</p>
<p>Trong rạp, Oscy tỏ ra dạn dĩ và thành công trong việc “tìm hiểu” cô bạn Miriam “chịu chơi”, về phần Hermie thì chỉ dám vòng tay sau vai Aggie đặt bàn tay lên cánh tay cô!</p>
<p>Sáng hôm sau, Hermie tới nhà người vợ trẻ của chàng quân nhân, giúp đưa những thùng cạc-tông lên gác xép, và được nàng cám ơn bằng một nụ hôn lên trán. Sau đó, cậu đi ra tiệm thuốc tây, lấy hết can đảm vào hỏi mua một lố bao cao-su (condom), dự trù sẽ sử dụng khi cậu và Oscy rủ hai cô gái ra bờ biển ăn kẹo nướng (roasted marshmallows).</p>
<p>Đêm xuống, trong lúc Hermie và Aggie vừa nói chuyện vừa nướng kẹo bên đống lửa thì Oscy đưa Miriam tới một vị trí kín đáo sau những đụn cát. Chẳng bao lâu sau, Oscy, trên người chỉ có mỗi chiếc quần xà-lỏn, bò trở lại gần đống lửa ra dấu cho Hermie biết mình đã “thành công” và xin thêm một cái condom khác.</p>
<p>Aggie tò mò, lén tìm tới nơi, thấy Oscy và Miriam đang làm tình, tức giận bỏ chạy về nhà, chỉ còn một mình Hermie ngồi bên đống lửa!</p>
<p>Ngày hôm sau, Hermie thấy người vợ trẻ của chàng quân nhân ngồi phía trước nhà viết thư cho chồng, liền tiến tới trò truyện và ngỏ ý muốn tới nhà thăm nàng đêm nay cho có bạn. Nàng đồng ý, nói mình sẽ chờ, đồng thời cho Hermie biết tên mình là “Dorothy”.</p>
<p>Tối hôm đó, Hermie diện cái áo sơ-mi lịch sự nhất, khoác lên người cái vét-tông, rồi rảo bước tới nhà Dorothy.</p>
<p>Tới trước nhà, Hermie cảm thấy một sự yên lặng khác thường. Mở cửa vào, Hermie thấy một chai whisky trên bàn, bên cạnh là cái gạt tàn thuốc đầy ắp, và một bức điện tín của chính phủ Hoa Kỳ, báo tin người chồng phi công của Dorothy đã tử trận khi chiếc phi cơ của anh bị bắn hạ trên bầu trời Pháp quốc&#8230;</p>
<p>Dorothy từ phòng ngủ bước ra, đầm đìa nước mắt, Hermie nói “I’m sorry”. Dorothy cảm như mình có thể chia sẻ nỗi cô đơn với Hermie, nàng mở một đĩa nhạc êm dịu rồi hai người dìu nhau theo tiếng nhạc. Họ hôn nhau, nước mắt chảy dài xuống hai khuôn mặt&#8230; Bản nhạc chấm dứt, chỉ còn tiếng sóng biển rì rào, không nói với nhau một lời, Dorothy dìu Hermie vào phòng ngủ, rồi trút bỏ xiêm y, dắt Hermie tới giường&#8230;</p>
<p>Sau đó, Dorothy trở lại với thế giới đau thương của riêng mình, bước ra ban-công để Hermie một mình trong phòng ngủ. Hermie định tiến ra thì đã nghe nàng nói khe khẽ “Good night, Hermie. Good night”</p>
<p>Hermie ra về, Dorothy đứng tựa lan can vừa hút thuốc vừa ngước mắt nhìn màn trời đêm. Đó là hình ảnh cuối cùng của nàng trong đầu Hermie. Bởi sáng hôm sau, khi cậu quyết định quay trở lại thì Dorothy đã bỏ đi trong đêm, để lại một phong thư gắn ở cửa trước, đề tên Hermie.</p>
<p>Trong thư, Dorothy mong Hermie hiểu rằng nàng phải trở về nhà vì có nhiều việc cần làm. Nàng chắc chắn mình sẽ không bao giờ quên Hermie, và tin rằng cậu cũng sẽ nhớ những gì đã xảy ra trong đêm qua theo cách suy nghĩ của cậu. Cuối cùng, Dorothy hy vọng Hermie sẽ không bị vương vào những thảm kịch vô nghĩa trên đường đời&#8230;</p>
<p>Kể từ ngày ấy, Hermie không bao giờ gặp lại Dorothy, hoặc nghe nói về những gì đã xảy ra cho nàng.</p>
<p>“Truyện phim” tới đây chấm dứt, nhưng trên thực tế Dorothy đã “tái xuất hiện”, mặc dù hai người không gặp lại nhau.</p>
<p>Nguyên sau khi Summer of ’42 được trình chiếu vào năm 1971, đã có trên một tá phụ nữ viết thư cho Herman Raucher để nhận mình chính là nàng “Dorothy” ngày trước, và “Hermie” đã nhận ra trong số đó có  “Dorothy thật” của mình qua nét chữ của nàng.</p>
<p>Trong lá thư ấy – một lá thư ghi địa chỉ người gửi &#8211; “Dorothy” không cho “Hermie” biết gì về đường đời của nàng kể từ ngày rời bỏ Nantucket, mà chỉ cho biết nàng đã sống trong mặc cảm tội lỗi nhiều năm trời vì nghĩ rằng rất có thể Hermie sẽ bị “khủng hoảng” vì chuyện xảy ra giữa hai người vào mùa hè năm ấy; nay được biết mọi sự tốt đẹp đã đến với Hermie trên đường đời, Dorothy cảm thấy vui và thoải mái. Cuối thư, Dorothy cho rằng tốt hơn hết là cả hai không nên tìm lại quá khứ.</p>
<p>Cũng nên biết, ngoài cuộc sống thật, năm 32 tuổi (1960), Herman Raucher kết hôn với nữ nghệ sĩ vũ Mary Katherine Martinet của sân khấu kịch nghệ Broadway; hai người được hai con gái, chung sống cho tới khi Mary qua đời vì ung thư vào năm 2002.</p>
<p>* * *</p>
<p>Năm 1970, tức hơn 10 năm sau ngày đặt bút viết Summer of &#8217;42, Herman Raucher mới có cơ hội cho đạo diễn Robert Mulligan đọc kịch bản này.</p>
<p><strong>Robert Mulligan</strong> (1925 &#8211; 2008) là một đạo diễn điện ảnh và truyền hình nổi tiếng với những bi kịch mang đầy tính nhân bản, trong đó được ca tụng nhiều nhất phải là phim To Kill a Mockingbird (1962), ược đề nghị tranh tám giải Oscar và đoạt ba giải, trong đó có giải nam diễn viên xuất sắc cho Gregory Peck. To Kill a Mockingbird hiện đang đứng hạng 25 trong danh sách 100 cuốn phim hay nhất của Viện Phim Ảnh Hoa Kỳ (AFI).</p>
<p>Bị cuốn hút bởi cốt truyện của Summer of &#8217;42, Robert Mulligan đề nghị các big boss của hãng phim Warner Bros mua kịch bản này để thực hiện thành phim, nhưng bị họ từ chối. Không bỏ cuộc, nhà đạo diễn cố thuyết phục hãng phim rằng ông có thể thực hiện Summer of &#8217;42 với phí tổn chỉ 1 triệu Mỹ kim. Cuối cùng hãng Warner Bros đồng ý, tuy nhiên vì không mấy tin tưởng vào sự thành công của cuốn phim, họ không trả tiền tác quyền cho Herman Raucher, và thay vào đó ông sẽ được hưởng 10% tiền bán vé.</p>
<p>Tới đầu năm 1971, khi cuốn phim đã hoàn tất, hãng Warner Bros vẫn không cho trình chiếu ngay mà yêu cầu Herman Raucher cấp tốc chuyển thể kịch bản phim thành một cuốn tiểu thuyết với mục đích tạo sự quan tâm của dư luận trước khi trình chiếu cuốn phim.</p>
<p>Lúc đầu Herman Raucher chỉ miễn cưỡng nhưng sau đó lại cảm thấy hứng thú. Nguyên nhân: ông có cơ hội viết thêm về người bạn thân Oscar &#8220;<strong>Oscy</strong>&#8221; Seltzer.</p>
<p>Như chúng tôi đã trình bày ở phần trên, theo ý định ban đầu của Herman Raucher, nhân vật chính trong tự truyện về tuổi dậy thì của ông là người bạn thân Oscar &#8220;Oscy&#8221; Seltzer, về sau trở thành một bác sĩ quân y, và đã hy sinh tại chiến trường Triều Tiên đúng vào ngày sinh nhật của ông.</p>
<p>Nhưng rồi càng ngày nữ nhân vật “Dorothy” càng được Herman Raucher chú trọng, cuối cùng đã trở thành nhân vật chính, còn Oscar &#8220;Oscy&#8221; Seltzer trở thành nhân vật thứ yếu, thậm chí khán giả xem phim cũng không được biết những gì xảy ra cho Oscy sau này.</p>
<p>Vì thế, nay được hãng Warner Bros yêu cầu chuyển thể kịch bản phim thành tiểu thuyết, Herman Raucher đã đưa nhân vật Oscar &#8220;Oscy&#8221; Seltzer trở lại vị trí dự trù lúc ban đầu, chú trọng tới tình bạn thời niên thiếu và những diễn biến trong tuổi dậy thì của hai cậu con trai.</p>
<p>Thành thử khi Herman Raucher đề tặng ở đầu cuốn sách “To those I love, past and present” thì độc giả sẽ nghĩ tới Oscy nhiều hơn là Dorothy.</p>
<p>Cuốn tiểu thuyết Summer of &#8217;42 được Herman Raucher hoàn tất trong thời gian chưa đầy ba tuần lễ, không chỉ tạo được sự quan tâm của dư luận theo mong muốn của hãng phim mà còn trở thành một trong những cuốn tiểu thuyết bán chạy nhất, một hiện tượng văn hóa trong những năm đầu của thập niên 1970. Chỉ tính từ năm 1971 tới năm 1974, Summer of &#8217;42 đã được tái bản 23 lần để thỏa mãn nhu cầu của độc giả.</p>
<p>Yếu tố ăn khách của Summer of &#8217;42 chính là tinh thần “lãng mạn hippy” của cuối thập niên 1960 đầu thập niên 1970.</p>
<p>Tới khi phong trào hippy tàn lụi thì Summer of &#8217;42 cũng chìm vào quên lãng; nhưng không chết: năm 2001, khi Summer of &#8217;42 được hồi sinh qua hình thức một vở nhạc kịch trên sân khấu Broadway, nhà phát hành Barnes &amp; Noble (lớn nhất Hoa Kỳ) đã mua lại tác quyền của cuốn tiểu thuyết này để khai thác.</p>
<p>* * *</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/07/f8888f721aefed8db5c41ae9ae5469cc.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-40086" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/07/f8888f721aefed8db5c41ae9ae5469cc-181x300.jpg?strip=all" alt="" width="237" height="393" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/07/f8888f721aefed8db5c41ae9ae5469cc-181x300.jpg?strip=all 181w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/07/f8888f721aefed8db5c41ae9ae5469cc.jpg?strip=all 362w" sizes="(max-width: 237px) 100vw, 237px" /></a></p>
<p>Trở lại với việc thực hiện phim Summer of &#8217;42, với số vốn vỏn vẹn một triệu Mỹ kim của hãng Warner Bros, đạo diễn Robert Mulligan không có nhiều lựa chọn (nên biết, “một triệu Mỹ kim” là thù lao của nữ minh tinh Liz Taylor khi đóng cuốn phim Cleopatra trước đó 8 năm).</p>
<p>Trước hết về địa điểm thực hiện phim, vì Nantucket Island ở quá xa và cũng vì hòn đảo này đã phát triển thành một vùng nghỉ mát hiện đại, cảnh trí đã khác xa với những năm 1940, cho nên đạo diễn Robert Mulligan quyết định thực hiện Summer of &#8217;42 ngay tại Mendocino, California, ở bờ biển phía tây Hoa Kỳ.</p>
<p>Về diễn viên, Robert Mulligan cho rằng chỉ cần người thủ vai nữ nhân vật chính “Dorothy” là diễn viên thực thụ, các vai còn lại sẽ mướn các diễn viên tập sự hoặc chưa từng đóng phim bao giờ.</p>
<p>Khi Robert Mulligan tuyển người thủ vai Dorothy, hãng phim đã ra điều kiện “không dưới 30 tuổi” để làm nổi bật sự cách biệt tuổi tác giữa hai nhân vật chính Dorothy và Hermie, nhưng cuối cùng vai này đã được trao cho <strong>Jennifer O’Neils</strong>, khi ấy mới 22 tuổi.</p>
<p>Jennifer O&#8217;Neill là một người mẫu, diễn viên, tác giả viết sách, diễn giả nổi tiếng của Mỹ, mẹ gốc Anh, cha gốc Tây-ban-nha. Ra chào đời tại Rio de Janeiro, Ba-tây, năm 1948, và lớn lên tại Mỹ, năm 14 tuổi Jennifer đã được một tay săn mầm non của công ty người mẫu Ford Models khám phá.</p>
<p>Tới tuổi 15 (1962), Jennifer O&#8217;Neill đã được xuất hiện trên bìa những tạp chí thời trang nổi tiếng, như <a href="https://en.wikipedia.org/wiki/Vogue_(magazine)"><em>V</em></a><em>ogue</em>, <em>Cosmopolitan</em>, <em>Seventeen</em>&#8230;, với thu nhập tổng cộng (trong năm 1962) lên tới 80,000 Mỹ kim -tương đương 663,000 ngày nay.</p>
<p>Bên cạnh nghề làm người mẫu, Jennifer O&#8217;Neill còn là một kỵ mã biểu diễn (horseback riding) nhà nghề, từng đoạt trên 200 giải thưởng.</p>
<p>Năm 1967, vào tuổi 17, đang theo bậc trung học tại trường Professional Children&#8217;s School ở Nữu Ước, Jennifer O&#8217;Neill bỏ học để kết hôn với triệu phú Dean Rossiter, Giám đốc hãng máy điện toán IBM.</p>
<p>Năm 1968, Jennifer O&#8217;Neill được xuất hiện lần đầu tiên trên màn bạc qua một vai rất phụ (không được ghi tên) trong cuốn phim hài kịch <a href="https://en.wikipedia.org/wiki/For_Love_of_Ivy">F</a>or Love of Ivy, và tới năm 1970 được thủ vai nữ nhân vật chính trong cuốn phim cao-bồi Rio Lobo của John Wayne. Cuốn phim khá ăn khách nhưng riêng Jennifer O&#8217;Neill lại bị các nhà phê bình chê không tiếc lời!</p>
<p>Tới năm 1971, khi đạo diễn Robert Mulligan tuyển người thủ vai “Dorothy” trong phim Summer of &#8217;42, mặc dù hãng phim đã ra điều kiện “không dưới 30 tuổi”, người đại diện (agent) của Jennifer O’Neill đã thuyết phục được nhà đạo diễn cho Jennifer đóng thử. Kết quả, Robert Mulligan vô cùng hài lòng; nhưng tới khi biết trong phim có cảnh một khỏa thân lộ liễu, Jennifer O&#8217;Neill, lúc đó đã có chồng con, xin&#8230; rút lui. Đạo diễn Robert Mulligan đành phải hủy bỏ cảnh “ăn tiền” này để giữ Jennifer O&#8217;Neill (sau đó trong phim, khán giả chỉ được thấy một chút lưng trần của nàng).</p>
<p>Ba vai quan trọng còn lại – Hermie, Oscy, Miriam – đều được Robert Mulligan trao cho các diễn viên trẻ từ 15 tới 17 tuổi, chưa nổi tiếng.</p>
<p>Thêm một chi tiết liên quan tới “tay nghề” của đạo diễn Robert Mulligan là trong suốt tám tuần lễ thực hiện <a href="https://en.wikipedia.org/wiki/Summer_of_%2742">S</a>ummer of &#8217;42<em>,</em> ông đã cách ly Jennifer O&#8217;Neill với ba cậu con trai thủ vai “Ba thằng quỷ con” (The Terrible Trio), mục đích để các cậu không có cơ hội gần gũi thân thiết, có như thế trước ống kính các cậu mới thực sự mê mẩn trước nhan sắc và sức hấp dẫn của người thiếu phụ.</p>
<p>* * *</p>
<p>Được trình chiếu giữa tháng Tư 1971, Summer of &#8217;42 đã làm mưa gió trên màn bạc, trở thành một trong những cuốn phim ăn khách nhất năm 1971, và một trong những cuốn phim có tỷ lệ chi &#8211; thu (expense-to-profit ratio) cách xa nhất trong lịch sử điện ảnh: chi 1 triệu Mỹ kim, thu trên 32 triệu, chưa kể 20.5 triệu tiền cho mướn video sau này.</p>
<p>Người được lợi nhiều nhất chính là tác giả Herman Raucher, bỏ túi 10% tiền bán vé theo hợp đồng với hãng phim Warner Bros. Trong một cuộc phỏng vấn vào năm 2002, ông nói đùa rằng số tiền ấy dư sức trả tất cả mọi “bill” từ ngày ấy (1971) cho tới nay!</p>
<p>Bên cạnh thành công về mặt tài chính, Summer of &#8217;42 còn được ca tụng về mặt nghệ thuật.</p>
<p>Tại giải Trái Cầu Vàng (Golden Globe Awards) năm 1972, Summer of &#8217;42 đã được đề cử tranh hai giải Phim bi kịch và Đạo diễn xuất sắc. Tại giải Oscar cùng năm, Summer of &#8217;42 được đề cử năm giải, gồm Hình ảnh, Phân cảnh, Cốt truyện, Kịch bản, Nhạc phim, và đoạt giải cho Nhạc phim. Tại giải BAFTA (Điện ảnh Anh quốc), Summer of &#8217;42  cũng đoạt giải cho Nhạc phim.</p>
<p>Nhạc phim của Summer of &#8217;42 do Michel Legrand soạn.</p>
<p><strong>Michel Legrand</strong> (1932 – 2019) là một nhà soạn nhạc, nhạc trưởng, nhà hòa âm phối phí, nhạc sĩ dương cầm (kiêm ca sĩ ngẫu hứng) Pháp nổi tiếng quốc tế, đã sáng tác ca khúc, soạn nhạc cho trên 200 cuốn phim, show truyền hình, nhạc kịch.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/07/Michel-Legrand.png?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-40082" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/07/Michel-Legrand-300x169.png?strip=all" alt="" width="424" height="239" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/07/Michel-Legrand-300x169.png?strip=all 300w, https://cdn.t-van.net/2019/07/Michel-Legrand-768x432.png 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/07/Michel-Legrand.png?strip=all 1000w" sizes="(max-width: 424px) 100vw, 424px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Michel Legrand</strong> (1932 – 2019)</p>
<p>Ông là con trai nhà soạn nhạc kiêm nhạc trưởng Raymond Legrand (1908 – 1974), một người Pháp gốc Armenia (cùng quê hương với nam ca sĩ kiêm diễn viên Pháp Charles Aznavour). Người cậu Jacques Hélian của Michel Legrand cũng là một tay kèn saxo kiêm trưởng ban nhạc.</p>
<p>Vì Raymond Legrand bỏ vợ con từ khi Michel lên ba, bà mẹ đã phải vất vả nuôi dạy hai con nhưng vẫn cố gắng cho theo đuổi âm nhạc. Michel và cô chị Christiane đều học dương cầm cổ điển, tuy nhiên Christiane đã sớm bỏ cuộc để trở thành một ca sĩ nhạc jazz.</p>
<p>Riêng Michel Legrand, vốn tôn sùng Franz Schubert, vẫn tiếp tục theo nhạc cổ điển, trong số những người thầy của cậu có cả nữ danh sư kiêm nhà soạn nhạc <strong>Nadia Boulanger</strong> (1887 – 1979), người đã khuyến khích, giúp đỡ cậu vào Nhạc viện Ba-lê (Conservatoire de Paris) năm 11 tuổi.</p>
<p>Thế nhưng 5 năm sau, khi tay kèn trumpet Dizzy Gillespie và ban nhạc jazz của ông từ Hoa Kỳ sang Paris trình diễn, Michel Legrand đã bị mê mẩn trước sức cuốn hút của thể loại nhạc này. Hai năm sau (1949), Michel Legrand tốt nghiệp Nhạc viện Ba-lê hạng tối ưu về cả soạn nhạc lẫn dương cầm.</p>
<p>Với kiến thức nhạc lý sâu rộng và sự am hiểu về nhiều nhạc cụ khác nhau, Michel Legrand đã mau chóng tạo được tên tuổi với tư cách một nhạc sĩ dương cầm nhạc jazz lẫn nhà soạn nhạc, nhà viết ca khúc.</p>
<p>Năm 1954, mới 22 tuổi, Michel Legrand đã nổi tiếng tại Hoa Kỳ qua việc hợp tác với hai tay kèn nhạc jazz hàng đầu Miles Davis (trumpet) và Stan Getz (saxophone); cùng thời gian, Michel Legrand bắt đầu soạn ca khúc cho những “ca sĩ lột tả”, trong số đó có Juliette Gréco, Zizi Jeanmaire, và tên tuổi của ông đã theo những tiếng hát ấy đi khắp bốn phương trời.</p>
<p>Bước sang thập niên 1960, Michel Legrand kết thân với đạo diễn Jacques Demy và bắt đầu soạn nhạc phim.</p>
<p><strong>Jacques Demy</strong> (1931 &#8211; 1990) là đạo diễn, nhà viết kịch bản, nhà đặt lời hát, được ghi nhận là một tên tuổi hàng đầu của điện ảnh Pháp thời “Nouvelle Vague” (New Wave – Đợt Sóng Mới), cùng với những Jean-Luc Godard, François Truffaut&#8230;</p>
<p>Cuốn phim thứ ba của Jacques Demy, một cuốn phim ca nhạc có tựa đề The Umbrellas of Cherbourg (tiếng Pháp: Les Parapluies de Cherbourg) do Catherine Deneuve và Nino Castelnuovo thủ vai chính, Michel Legrand soạn nhạc phim, đã đạt thành công rực rỡ ở Pháp lẫn trên trường quốc tế.</p>
<p>Sau khi đoạt giải Cành Cọ Vàng (Palme d’Or) tại Đại Hội Điện Ảnh Quốc Tế Cannes (Pháp) năm 1964, The Umbrellas of Cherbourg đã được đề cử giải Oscar cho Phim nói tiếng ngoại quốc năm 1965, và qua năm 1966 được đề cử thêm bốn giải Oscar, trong đó có Kịch bản, Nhạc phim, và Ca khúc trong phim.</p>
<p>Ca khúc này có tựa đề <em>Je ne pourrai jamais vivre sans toi</em>, do Michel Legrand soạn nhạc, Jacques Demy đặt lời, sau khi được Norman Gimbel đặt lời Anh với tựa <em>I Will Wait For You</em>, đã trở thành một trong những ca khúc Pháp lời Anh được nhiều nghệ sĩ thu đĩa nhất từ xưa tới nay; chỉ xin kể sơ: Eddie Fisher, Frank Sinatra, Astrud Gilberto, Trini Lopez, Bobby Darin, Cher, Andy Williams, Petula Clark, Tony Bennett, Vikki Carr, Liza Minnelli, Connie Francis, Engelbert Humperdinck, Jack Jones, Matt Monro&#8230;</p>
<p>Riêng nữ danh ca gốc Hy-lạp Nana Mouskouri đã thu đĩa bằng bảy ngôn ngữ Anh, Hy-lạp, Pháp, Đức, Tây-ban-nha, Ý và Nhật.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=e4mDMBZU0J8" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>Matt Monro &#8211; I Will Wait For You</em></strong></a></p>
<p><em>I Will Wait For You</em> cũng rất được các dàn nhạc, nhạc sĩ, ca sĩ nhạc jazz ưa chuộng, trong đó có <strong>Nicki Parrott</strong> (sinh năm 1970), một nữ danh ca kiêm tay đàn bass gốc Úc rất nổi tiếng, hành nghề tại Hoa Kỳ.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=iBNm5FlyJvc" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>Nicki Parrott &#8211; I Will Wait For You </em></strong><strong><em>–</em></strong><strong><em> Jazz</em></strong></a></p>
<p>Ba năm sau The Umbrellas of Cherbourg, cặp Jacques Demy &amp; Michel Legrand đạt thêm một thành công khác với cuốn phim ca nhạc The Young Girls of Rochefort (tiếng Pháp: Les Demoiselles de Rochefort), do nam diễn viên Mỹ nổi tiếng Gene Kelly và hai chị em ruột Catherine Deneuve, Françoise Dorléac thủ vai chính, cùng sự góp mặt của nhiều diễn viên tên tuổi, như Jacques Perrin, Michel Piccoli, Danielle Darrieux, George Chakiris&#8230;</p>
<p>The Young Girls of Rochefort được đề cử giải Oscar Nhạc phim năm 1967.</p>
<p>Qua năm 1968, Michel Legrand đoạt giải Oscar đầu tiên trong sự nghiệp với ca khúc <em>The Windmills of Your Mind</em>  (do Alan &amp; Marilyn Bergman đặt lời hát) trong cuốn phim “siêu đạo chích” The Thomas Crown Affair do Steve McQueen và Faye Dunaway thủ vai chính.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/07/41dwTeJYIHL.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter  wp-image-40084" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/07/41dwTeJYIHL-225x300.jpg?strip=all" alt="" width="312" height="416" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/07/41dwTeJYIHL-225x300.jpg?strip=all 225w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/07/41dwTeJYIHL.jpg?strip=all 375w" sizes="(max-width: 312px) 100vw, 312px" /></a></p>
<p>Năm 1972, ông đoạt Oscar thứ hai với nhạc phim Summer of &#8217;42 , và tới năm 1983, đoạt Oscar thứ ba với nhạc phim Yentl.</p>
<p>Những ai yêu thích tiếng hát của Barbra Streisand chắc hẳn đều đã xem cuốn phim ca nhạc Yentl, trong đó cô thủ vai gái giả trai để đi học đại học.</p>
<p>Ngoài giải Oscar cho nhạc phim Yentl, Michel Legrand còn được đề cử giải Ca khúc viết cho phim là bản <em>Papa, Can You Hear Me</em> do  Barbra Streisand hát trong cuốn phim này.</p>
<p>Trong sự nghiệp trải dài hơn 60 năm của mình, Michel Legrand đã đoạt ba giải điện ảnh Oscar qua 13 lần đề cử, và năm giải âm nhạc Grammy qua 14 lần đề cử.</p>
<p>Mới đây, năm 2018, tiểu hành tinh số 31201 đã được đặt tên “Michellegrand” để vinh danh ông.</p>
<p>* * *</p>
<p>Tới đây chúng tôi viết về nhạc phim Summer of &#8217;42, đoạt giải điện ảnh Oscar năm 1972 và giải âm nhạc Grammy cùng năm.</p>
<p>Nhạc phim (sountrack) của Summer of &#8217;42 do Michel Legrand soạn gồm 13 nhạc khúc, trong đó có <em>The Summer Knows</em>, nhạc khúc chủ đề của cuốn phim.</p>
<p>Không cần phải là một người thưởng ngoạn trình độ cao, chúng ta cũng có thể cảm nhận được giai điệu cổ điển êm đềm tuyệt vời pha lẫn chất jazz quyến rũ trong nhạc khúc này.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=SzaSVAw5lQQ" target="_blank" rel="noopener"><strong>Michel Legrand &#8211; The Summer Knows (End Title Theme From &#8220;Summer Of &#8217;42&#8221;)</strong></a></p>
<p>Sau khi cuốn phim Summer of 42 được trình chiếu, <em>The Summer Knows </em>được hai nhạc sĩ dương cầm nổi tiếng Peter Nero và Roger Williams thu đĩa, trong đó phiên bản của Peter Nero đã lên tới hạng 6 trong bảng Easy Listening của Billboard.</p>
<p><em>The Summer Knows</em> cũng được nhiều dàn nhạc nổi tiếng thu đĩa, như 101 Strings, Henry Mancini, James Last, Paul Mauriat&#8230;</p>
<p><strong>Phụ lục 1: </strong><strong><em>The Summer Knows, </em></strong><strong>Paul Mauriat &amp; Orchestra</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-40079-25" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/07/01-The-Summer-Knows.mp3?_=25" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/07/01-The-Summer-Knows.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/07/01-The-Summer-Knows.mp3</a></audio>
<p>Hiện nay, phiên bản dương cầm của Victor Puig (sinh năm 1957) do hãng đĩa online bandcamp phát hành cách đây khoảng 10 năm, được nhiều người yêu chuộng nhất.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><strong> <a href="https://www.youtube.com/watch?v=kWMxX5MGuHI" target="_blank" rel="noopener">Summer of 42 &#8211; Jennifer O&#8217;Neill / Music by Michel Legrand</a></strong></p>
<p><em>The  Summer Knows</em> được cặp vợ chồng nghệ sĩ <strong>Alan &amp;</strong> <strong>M</strong><strong>arilyn</strong> <strong>Bergman</strong> đặt lời hát.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/07/Alan-Marilyn-Bergman.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-40085" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/07/Alan-Marilyn-Bergman-300x191.jpg?strip=all" alt="" width="437" height="278" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/07/Alan-Marilyn-Bergman-300x191.jpg?strip=all 300w, https://cdn.t-van.net/2019/07/Alan-Marilyn-Bergman-768x489.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/07/Alan-Marilyn-Bergman.jpg?strip=all 915w" sizes="(max-width: 437px) 100vw, 437px" /></a></p>
<p style="text-align: center;">Cặp vợ chồng nghệ sĩ <strong>Alan &amp;</strong> <strong>M</strong><strong>arilyn</strong> <strong>Bergman</strong></p>
<p>Alan Bergman, sinh năm 1925, và Marilyn (Keith) Bergman sinh năm 1929, là cặp vợ chồng nổi tiếng bậc nhất trong làng nhạc Hoa Kỳ chuyên đặt lời hát. Cả hai đều sinh ra (tại cùng một bệnh viện) và lớn lên tại Nữu Ước nhưng chỉ sau khi gặp gỡ, kết hôn tại Los Angeles năm 1958, mới bắt đầu hợp soạn lời hát cho các nhà soạn nhạc uy tín dưới bút hiệu Alan &amp; Marilyn Bergman.</p>
<p>Trong sự nghiệp của mình, Alan &amp; Marilyn Bergman đã được trao tặng vô số giải thưởng trong đó có hai giải Oscars; ông bà cũng là thành viên của Tiểu ban Âm nhạc trong Hàn lâm viện Điện ảnh Hoa Kỳ.</p>
<p>Một trong những “thành tích” có một không hai của Alan &amp; Marilyn Bergman là trong giải Oscar năm 1983, trong tổng số năm ca khúc được đề cử giải Ca khúc trong phim có tới ba ca khúc do ông bà đặt lời hát.</p>
<p>Sau đây chúng tôi xin liệt kê một số ca khúc điển hình nhất do Alan &amp; Marilyn Bergman đặt lời hát mà có lẽ ai trong chúng ta cũng đã một lần nghe qua:</p>
<p><em>&#8211; The Way We Were</em>, Barbra Streisand hát trong phim The Way We Were, 1973</p>
<p><em> </em><em>&#8211; Summer Wishes, Winter Dreams</em>, trong phim Summer Wishes, Winter Dreams (1973)</p>
<p><em> </em><em>&#8211; Yellow Bird</em>, chúng tôi đã giới thiệu trong bài 27 (Chỉ là giấc mơ qua)</p>
<p><em> </em><em>&#8211; You Don&#8217;t Bring Me Flowers</em>, Neil Diamond, Barbra Streisand hát</p>
<p><em> </em><em>&#8211; </em><em>Never Say Never Again</em>, trong phim 007 James Bond Never Say Never Again (1983)</p>
<p>Và lẽ dĩ nhiên, không thể không nhắc tới <em>The  Summer Knows</em>.</p>
<p><strong><em>The  Summer Knows</em></strong></p>
<p><em>The summer smiles, the summer knows<br />
And unashamed, she sheds her clothes<br />
The summer smooths the restless sky<br />
And lovingly she warms the sand on which you lie</em></p>
<p><em>The summer knows, the summer&#8217;s wise<br />
She sees the doubts within your eyes<br />
And so she takes her summer time<br />
Tells the moon to wait and the sun to linger<br />
Twists the world &#8217;round her summer finger<br />
Lets you see the wonder of her arm?</em></p>
<p><em>And if you&#8217;ve learned your lesson well<br />
There&#8217;s little more for her to tell<br />
One last caress, it&#8217;s time to dress for fall</em></p>
<p><em>The summer knows, the summer&#8217;s wise<br />
She sees the doubts within your eyes<br />
And so…</em></p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=V5KLOu9V7Y4" target="_blank" rel="noopener"><strong> </strong><strong>(Barbra Streisand) &#8211; &#8221; The Summer Knows &#8220;</strong></a></p>
<p>Về sau, đã có ít nhất ba ca khúc dựa theo nội dung <em>The Summer Knows</em> là các bản <em>Summer (The First Time)</em> của Bobby Goldsboro năm 1973, <em>Summer of &#8217;69</em> của Bryan Adams năm 1985, và <em>That Summer </em>của Garth Brooks năm 1993; trong số này chỉ có bản <em>Summer of &#8217;69</em> ghi chú dựa theo nội dung của <em>The Summer Knows</em><em>. </em></p>
<p>Tại miền Nam VN trước năm 1975, <em>The Summer Knows</em> đã được nhạc sĩ Phạm Duy đặt lời Việt với tựa <em>Hè 42</em> dựa theo nội dung của nguyên tác.</p>
<p><strong><em>Hè 42</em></strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em>Hè đã tới rồi, mùa hè cười vui cởi vang áo đời<br />
Hè đi phơi phới, hè ru sóng nguôi nhẹ nhàng ra khơi<br />
Hè hâm nóng đời, nằm trên cát trời hè ân ái ơi<br />
Hè yêu mến người, hè còn vui chơi hè trong mắt người</em></p>
<p><em>Đừng nên bối rối, hè xin đất trời hè lên tiếng nói</em><br />
<em>Nói với trăng ngời, phải cùng nắng cao vời bằng nắm tay</em><br />
<em>Phải cùng giữ trái đất này, hết quay hết quay</em><br />
<em>Phải hết xoay quanh đêm này</em></p>
<p><em>Người yêu mến hè, người còn say mê</em><br />
<em>Hè xin vuốt ve, một lần thôi nhé</em><br />
<em>Rồi xin nghe, mùa thu bước về lê thê</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Phụ Lục 2:</strong><strong><em> Hè 42, </em></strong><strong>Duy Quang </strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-40079-26" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/07/02-He-42-Ete-42_-Duy-Quang.mp3?_=26" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/07/02-He-42-Ete-42_-Duy-Quang.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/07/02-He-42-Ete-42_-Duy-Quang.mp3</a></audio>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/07/sau-on-ao-nhac-si-nguyen-anh-9-tuyen-bo-roi-san-khau.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter  wp-image-40083" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/07/sau-on-ao-nhac-si-nguyen-anh-9-tuyen-bo-roi-san-khau-252x300.jpg?strip=all" alt="" width="344" height="410" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/07/sau-on-ao-nhac-si-nguyen-anh-9-tuyen-bo-roi-san-khau-252x300.jpg?strip=all 252w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/07/sau-on-ao-nhac-si-nguyen-anh-9-tuyen-bo-roi-san-khau.jpg?strip=all 600w" sizes="(max-width: 344px) 100vw, 344px" /></a></p>
<p>Cùng khoảng thời gian, nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 cũng đặt lời Việt cho <em>The Summer Knows </em>với tựa <em>Mùa Hè Năm Ấy</em>, nhưng không theo nội dung lời hát trong nguyên tác.</p>
<p><strong><em>LƯU Ý:</em></strong><em> Hiện nay khá nhiều trang mạng, tác giả khi viết về phiên bản lời Việt của </em><em>The Summer Knows đã sai, hoặc lẫn lộn giữa hai tựa đề “Hè 42” và “Mùa Hè Năm Ấy” của hai tác giả. Các phóng ảnh kèm theo bài “</em><em>Phạm Duy &amp; Nguyễn Ánh 9: Hè 42 / Mùa Hè Năm Ấy” trong chuyên mục Dòng Nhạc Kỷ Niệm của TV&amp;BH đã khẳng định: tựa của </em><strong><em>Phạm Duy </em></strong><em>là </em><strong><em>Hè 42</em></strong><em>, còn tựa của </em><strong><em>Nguyễn Ánh 9 </em></strong><em>là</em><strong><em> Mùa Hè Năm Ấy.</em></strong></p>
<p><em> </em></p>
<h4>Mùa Hè Năm Ấy</h4>
<p><em>Tình trong phút giây. Tình yêu thơ ngây<br />
Tình yêu đắm say. Mùa hè năm ấy<br />
Tình yêu thiết tha. Chìm trong bao la<br />
Người yêu đã xa. Lòng ai xót xa<br />
Tình yêu đã qua</em></p>
<p><em>Niềm vui ái ân. Nhạt màu hương phấn</em><br />
<em>Lòng ai giá băng. Người yêu xa vắng</em><br />
<em>Người ơi nhớ chăng. Chiều rơi mái vắng</em><br />
<em>Nhớ nhung nhiều. Người ơi nhớ nhung nhiều</em><br />
<em>Hẹn ước hôm nào. Lời tình cuối hôm nào</em><br />
<em>Mình đã trao nhau. Đã phai tàn mau</em><br />
<em>Khóc duyên ban đầu</em></p>
<p><em>Tình trong phút giây. Rồi thành thiên thu</em><br />
<em>Người ơi có hay. Lòng yêu mãi mãi</em><br />
<em>Người yêu đã xa. Tình yêu đã qua</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Trước năm 1975, <em>Mùa Hè Năm Ấy</em> đã được Thanh Lan thu vào băng nhựa.</p>
<p><strong>Phụ lục 3: </strong><strong><em>Mùa Hè Năm Ấy</em></strong><strong>, Thanh Lan (pre 75)</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-40079-27" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/07/03-MuaHeNamAy-ThanhLan.mp3?_=27" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/07/03-MuaHeNamAy-ThanhLan.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/07/03-MuaHeNamAy-ThanhLan.mp3</a></audio>
<p>Sau năm 1975, <em>Mùa Hè Năm Ấy</em> đã được Nguyễn Hồng Nhung trình bày trong Video Asia 59.</p>
<p><strong>Phụ lục 4: </strong><strong><em>Mùa Hè Năm Ấy</em></strong><strong>, Nguyễn Hồng Nhung</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-40079-28" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/07/04-Track-17.mp3?_=28" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/07/04-Track-17.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/07/04-Track-17.mp3</a></audio>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>HOÀI NAM</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2019</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/hoai-nam-nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet-89-nhac-phim-the-summer-knows-he-42-mua-he-nam-ay-michel-legrand-alan-marilyn-bergman/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/07/01-The-Summer-Knows.mp3" length="6033580" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/07/02-He-42-Ete-42_-Duy-Quang.mp3" length="12659681" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/07/03-MuaHeNamAy-ThanhLan.mp3" length="5472385" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/07/04-Track-17.mp3" length="11697280" type="audio/mpeg" />

			</item>
		<item>
		<title>Hoài Nam: NHỮNG CA KHÚC NHẠC NGOẠI QUỐC LỜI VIỆT(88) &#8211; NHẠC PHIM – (Where Do I Begin?) Love Story, Francis Lai &#038; Carl Sigman (Chuyện Tình)</title>
		<link>https://t-van.net/hoai-nam-nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet88-nhac-phim-where-do-i-begin-love-story-francis-lai-carl-sigman-chuyen-tinh/</link>
					<comments>https://t-van.net/hoai-nam-nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet88-nhac-phim-where-do-i-begin-love-story-francis-lai-carl-sigman-chuyen-tinh/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Hòai-Nam]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 27 Jun 2019 05:52:32 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[hòai nam]]></category>
		<category><![CDATA[nhạc nq]]></category>
		<category><![CDATA[nhạc nq lời việt]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=39776</guid>

					<description><![CDATA[Tiếp tục phần Nhạc Phim, bài này chúng tôi viết về ca khúc (Where Do I Begin?) Love Story, nguyên là nhạc khúc chủ đề trong phim Love Story (1970) của Francis Lai, được Carl Sigman đặt lời hát; trước năm 1975, ca khúc này đã được Phạm Duy đặt lời Việt với tựa Chuyện [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/06/where-do-i-begin-love-story-profile.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-39779" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/06/where-do-i-begin-love-story-profile-213x300.jpg?strip=all" alt="" width="213" height="300" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/06/where-do-i-begin-love-story-profile-213x300.jpg?strip=all 213w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/06/where-do-i-begin-love-story-profile.jpg?strip=all 300w" sizes="(max-width: 213px) 100vw, 213px" /></a></p>
<p>Tiếp tục phần Nhạc Phim, bài này chúng tôi viết về ca khúc <em>(Where Do I Begin?) Love Story</em>, nguyên là nhạc khúc chủ đề trong phim Love Story (1970) của Francis Lai, được Carl Sigman đặt lời hát; trước năm 1975, ca khúc này đã được Phạm Duy đặt lời Việt với tựa Chuyện Tình.</p>
<p>Có thể viết trong một, hai năm đầu của thập niên 1970, Love Story đã trở thành một hiện tượng trong cả ba lĩnh vực văn học, điện ảnh và ca nhạc, đã làm rung động hàng triệu con tim, cách riêng giới trí thức trẻ, qua một đề tài xưa như trái đất: Tình Yêu.</p>
<p>Trước khi viết về ca khúc <em>(Where Do I Begin?) Love Story</em>, xin có đôi dòng về cuốn tiểu thuyết và cuốn phim Love Story.</p>
<p>Thông thường, sau khi một cuốn tiểu thuyết ra mắt độc giả và được đông đảo quần chúng yêu chuộng, người ta sẽ phóng tác hoặc chuyển thể cốt truyện thành kịch bản (film script) để thực hiện cuốn phim. Thí dụ: War and Peace (Chiến tranh và Hòa bình), Gone With the Wind (Cuốn theo chiều gió), Farewell to Arms (Giã từ vũ khí), Dr Zhivago, v.v&#8230; Tuy nhiên, riêng trong trường hợp của Love Story thì ngược lại, kịch bản của một cuốn phim đang thực hiện đã được chuyển thể thành một cuốn tiểu thuyết, không ngoài mục đích quảng cáo cho cuốn phim. Kết quả, “cuốn tiểu thuyết bất đắc dĩ” ấy lại trở thành một best seller!</p>
<p>Tác giả của Love Story là văn sĩ Mỹ <strong>Erich Segal</strong> (1937 – 2010). Một cách đầy đủ, phải gọi ông là một văn sĩ, nhà viết kịch bản, nhà giáo dục, học giả nghiên cứu văn minh, ngôn ngữ, văn học cổ La-Hy (Ancient Greek and Classical Latin).</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/06/Erich_Segal.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-39782" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/06/Erich_Segal-212x300.jpg?strip=all" alt="" width="212" height="300" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/06/Erich_Segal-212x300.jpg?strip=all 212w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/06/Erich_Segal.jpg?strip=all 220w" sizes="(max-width: 212px) 100vw, 212px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Erich Segal</strong> (1937 – 2010)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Là con trai của một giáo sĩ Do-thái giáo, Erich Segal học trung học  tại Midwood High School ở Brooklyn, Nữu Ước; tốt nghiệp trường nghệ thuật Harvard College (Harvard University) về thơ và cổ ngữ La-tinh năm 1958, và lấy bằng Tiến sĩ Văn học Thế giới vào năm 1965.</p>
<p>Sau đó ông trở thành giáo sư văn học Hy-lạp và La-tinh tại các trường Đại học Harvard, Yale, và giáo sư thỉnh giảng tại Princeton University, Dartmouth College ở Hoa Kỳ, Oxford University, Anh quốc, University of Munich, Đức quốc.</p>
<p>Ông là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu về nền hài kịch thời La-mã, và tới năm 1967 bắt đầu viết kịch bản cho phim ảnh với việc chuyển thể cuốn truyện Yellow Submarine thành cuốn phim ca nhạc có cùng tựa của ban The Beatles.</p>
<p>Cuối thập niên 1960, Erich Segal viết kịch bản cho cuốn phim Love Story, rồi chuyển thể thành cuốn tiểu thuyết có cùng tựa, đạt thành công rực rỡ.</p>
<p>Từ đó, Erich Segal viết thêm nhiều cuốn tiểu thuyết và truyện phim  khác, trong số này có hai cuốn The Class (1985) và Doctors (1988) cũng lấy bối cảnh đại học, đã lọt vào danh sách best seller của tờ Nữu Ước Thời Báo. Nhưng riêng cuốn Oliver’s Story (1977), tức “hậu Love Story” thì lại thất bại.</p>
<p>Ngoài công việc giảng dạy và viết sách, Erich Segal còn được biết tới như một tay chạy việt dã nhà nghề, bắt đầu từ thời trung học, và về sau trở thành nhà bình luận chuyên nghiệp về môn thể thao này, từng bình luận trực tiếp tại các Thế vận hội 1972, 1976 cho hệ thống truyền hình ABC.</p>
<p>Rất tiếc, trong mấy chục năm cuối đời, Erich Segal đã phải chống trả với hội chứng Parkinson, và qua đời sau một cơn đau tim vào năm 72 tuổi.</p>
<p>* * *</p>
<p>Tới đây chúng tôi viết về cuốn phim, cuốn truyện, và nhạc khúc mang tựa đề Love Story.</p>
<p>Trong năm 1969, Erich Segal viết một kịch bản cho phim mang tựa đề Love Story và bán cho hãng phim Paramount Pictures. Vì nội dung là một chuyện tình đẹp, và bi thảm, diễn ra trong khuôn viên đại học, hãng Paramount đã đề nghị Erich Segal khai triển kịch bản này thành một cuốn tiểu thuyết để ra mắt độc giả trước khi cuốn phim được trình chiếu, với mục đích thu hút sự chú ý nơi thành phần trí thức trẻ.</p>
<p>Kết quả, cuốn tiểu thuyết có tựa đề Love Story ra mắt độc giả đúng vào Ngày Tình Nhân (<em>Valentine&#8217;s Day</em>) &#8211; 14 tháng 2 năm 1970, lúc đầu được đăng từng phần trên <em>The Ladies&#8217; Home Journal</em>, tạp chí phụ nữ uy tín và đông độc giả nhất nước Mỹ, sau đó được nhà xuất bản Harper &amp; Row phát hành tại Hoa Kỳ và nhà xuất bản Hoddern &amp; Stoghton ấn hành tại Anh quốc.</p>
<p>Chỉ trong một sớm một chiều, cuốn tiểu thuyết mỏng chưa từng thấy (131 trang) đã trở thành một best seller, đứng trong danh sách này của Nữu Ước Thời Báo trong suốt 41 tuần lễ và lên tới No.1, trở thành cuốn tiểu thuyết hư cấu bán chạy nhất trong năm 1970.</p>
<p>Cũng trong năm 1970, Love Story đã được dịch sang 20 ngôn ngữ.</p>
<p>Nội dung Love Story là một chuyện tình lãng mạn pha lẫn khôi hài với một kết cục bi thảm.</p>
<p><strong>Oliver Barrett</strong> <strong>IV</strong>, một sinh viên luật Đại học Harvard, người thừa kế của dòng họ Barrett danh giá và giàu có, gặp gỡ <strong>Jennifer Cavilleri</strong> tại thư viện của trường Radcliffe College, một đại học trực thuộc Harvard, dành riêng cho nữ sinh viên. Jenny (Jennifer) là một sinh viên ngành âm nhạc cổ điển, con gái của một người thợ làm bánh ở Rhode Island, còn Ollie (Oliver) đang chờ ngày đảm trách đế quốc kinh doanh của dòng họ Barrett.</p>
<p>Mặc dù xuất thân hoàn toàn khác biệt, Ollie và Jenny đã thu hút nhau trong lần đầu gặp gỡ.</p>
<p>Khi hai người tốt nghiệp đại học, Jenny cho biết nàng sẽ sang Paris để học hỏi thêm về nhạc cổ điển, và cũng để được sống ở Kinh thành Ánh sáng như nàng hằng mơ ước. Để giữ Jenny ở lại, Ollie đã ngỏ lời cầu hôn rồi đưa nàng về biệt thự của dòng họ ở Massachusetts để ra mắt cha mẹ, nhưng tới khi biết thân thế của Jenny, gia đình đã tỏ thái độ lạnh nhạt. Sau đó Ollie đã bị ông bố cảnh cáo: nếu nhất quyết lấy Jenny, mọi nguồn trợ cấp tài chánh cho chàng sẽ chấm dứt.</p>
<p>Nhưng Olie và Jenny vẫn kết hôn. Không có trợ cấp tài chính của gia đình, đôi vợ chồng trẻ đã phải vất vả kiếm sống để trang trải học phí cho Ollie học tiếp Cao học tại trường Luật Harvard. Jenny đi dạy trẻ tại một trường tư, hai vợ chồng thuê một phòng trọ trên tầng cao nhất của một ngôi nhà cũ kỹ gần trường Harvard.</p>
<p>Sau khi tốt nghiệp hạng 3, Ollie được thu nhận vào một công ty Luật danh tiếng tại thành phố Nữu Ước. Không còn phải bù đầu với sinh kế và học hành, Ollie và Jenny quyết định có con. Sau một thời gian cố gắng mà Jenny không thể có thai, họ tìm tới chuyên gia để xét nghiệm. Kết quả, bác sĩ đã cho Ollie biết Jenny bị bệnh hoại huyết (leukemia, bệnh bạch cầu) và không sống được bao lâu nữa.</p>
<p>Theo lời khuyên của bác sĩ, Ollie không cho Jenny biết về tình trạng của nàng và cố gắng sống bình thường như không hề có chuyện gì xảy ra. Nhưng Jenny có linh cảm về một chuyện gì đó không bình thường, và đã mặt đối mặt với vị bác sĩ để được biết sự thật.</p>
<p>Sau đó, Ollie mua hai vé đi Paris với mục đích để Jenny được thấy Kinh thành Ánh sáng như hằng mơ ước, nhưng nàng đã từ chối, nói rằng chỉ cần được sống những ngày cuối đời bên nhau là đủ.</p>
<p>Để kéo dài những ngày cuối đời ấy, Jenny phải trải qua một cuộc điều trị tốn kém. Không còn đủ khả năng trang trải phí tổn, cuối cùng Ollie đã phải quay trở lại với cha mình, xin ông giúp đỡ tiền bạc nhưng không cho ông biết sự thật.</p>
<p>Ông hỏi con trai “Tặng bầu cho cô nào phải không?” Ollie đáp “Đúng vậy”, và ông bố ký cho con trai một tấm chèque.</p>
<p>Nhưng cũng chẳng kéo dài được bao lâu; Jenny yếu dần, nàng bàn bạc với cha mình về việc tổ chức tang lễ, rồi đòi gặp Ollie. Nàng khuyên chồng đừng tự trách bản thân, chỉ cần ôm nàng thật chặt khi nàng trút hơi thở cuối cùng&#8230;</p>
<p>Khi ông bố của Ollie biết được bệnh tình của Jenny và việc con trai xin tiền ông là để lo chữa trị cho vợ, ông đã tức tốc bay tới Nữu Ước mang theo một số tiền lớn. Nhưng đã quá muộn.</p>
<p>Khi Ollie rời bệnh viện, cõi lòng tan nát, thì gặp cha mình đang tiến vào. Chàng nói “Jenny chết rồi”. Ông đáp “Ba rất ân hận”. Ollie bất giác lập lại câu nói của Jenny trước đây khi chàng xin lỗi vì đã nổi giận với nàng: <em>Love means never having to say you&#8217;re sorry</em> (Yêu là không bao giờ nói lời hối tiếc), rồi bật khóc&#8230;</p>
<p>* * *</p>
<p>Vừa được tung ra, Love Story đã làm mưa gió trên thị trường sách. Mặc dù bị giới phê bình nghệ thuật chê không tiếc lời, nó đã đã trở thành một best seller và là cuốn tiểu thuyết hư cấu bán chạy nhất trong năm 1970.</p>
<p>Love Story được đề cử tranh giải National Book Award năm 1970 nhưng sau đó đã xin rút tên, vì các vị giám khảo hăm dọa sẽ từ chức để phản đối. Nhà văn nổi tiếng <strong>William Clark Styron Jr.</strong> (1925 – 2006), Trưởng ban Giám khảo của giải thưởng này, gọi Love Story là “một cuốn sách tầm thường tới mức không thể gọi là văn chương” và nói rằng chỉ nội việc nó được việc đề cử mà thôi cũng đã xúc phạm tới những tác phẩm khác cùng được đề cử!</p>
<p>Nhưng mặc cho ai chê cứ chê, Love Story đã trở thành một hiện tượng văn hóa, không chỉ ở Hoa Kỳ mà còn nhiều nơi trên thế giới; sinh viên học sinh mà chưa từng đọc cuốn sách nhỏ này sẽ bị xem như người mới từ cung trăng rơi xuống!</p>
<p>Riêng với thành phần trí thức trẻ ở Hoa Kỳ, Love Story với bối cảnh Đại học Harvard và Radcliffe College, chính là “khuôn viên đại học” có thực ở đời thường, nơi họ đã, đang, hoặc sẽ bước chân vào.</p>
<p>Trên thực tế, như sau này Erich Segal đã tiết lộ, một phần tính cách của nhân vật Oliver Barrett IV đã được ông dựa trên con người của <strong>Tommy Lee Jones</strong>, một một sinh viên Đại học Harvard về sau trở thành diễn viên điện ảnh nổi tiếng, mà ông mô tả là “một con ngựa nhạy cảm, một cầu thủ (footballer) đầy nam tính với tâm hồn của một thi sĩ.”</p>
<p>Trong khi đó, cuộc gặp gỡ giữa Ollie và Jenny lại được Erich Segal dựa trên chuyện tình của người bạn cùng phòng nội trú với Tommy Lee Jones là <strong>Al Gore</strong>, vị Phó tổng thống tương lai của Hoa Kỳ. Có khác chăng là trong truyện, Jenny là sinh viên trường Radcliffe College, còn ngoài đời Mary Elizabeth Aitcheson, vợ tương lai của Al Gore, thì học trường St. Agnes School ở gần đó; đồng thời hai người không gặp nhau tại thư viện của Radcliffe College mà tại buổi dạ vũ năm cuối trung học của Al Gore tại St. Albans High School, West Virginia năm 1965 (và dĩ nhiên, Mary Elizabeth Aitcheson không mệnh yểu như Jenny mà sống thọ; bà và Al Gore ly thân năm 2010 sau 40 chung sống).</p>
<p>Một số người đã liên hệ Love Story với cuốn Trà hoa nữ (La dame aux Camélias) và đi tới kết luận Erich Segal đặt nền tảng cuốn tiểu thuyết của mình trên tác phẩm nổi tiếng của Alexandre Dumas (Con) ra mắt hơn một thế kỷ trước. Chúng tôi xin dành quyền phê phán cho độc giả, chỉ xin lưu ý: ai nấy đều biết vở opera La Traviata của Verdi cũng đặt nền tảng trên cuốn Trà hoa nữ, vậy mà ngày nay La Traviata vẫn đứng hạng ba trong số những vở opera được trình diễn nhiều lần nhất, chỉ sau Madam Butterfly (Hồ điệp Phu nhân) và La Bohème của Puccini!</p>
<p>Trở lại với Tommy Lee Jones, sau khi tốt nghiệp Cử nhân Nghệ thuật và Anh ngữ năm 1969, chàng trẻ tuổi tới Nữu Ước theo đuổi sự nghiệp diễn xuất, bắt đầu với những vai trò trên sân khấu Broadway. Như một sự trùng hợp thú vị, vai trò đầu tiên của Tommy Lee Jones trên màn bạc là vai chàng sinh viên Harvard Hank Simpson, một nhân vật trong cuốn truyện (và phim) Love Story.</p>
<p>* * *</p>
<p>Tới đây viết về cuốn phim.</p>
<p>Khi mua kịch bản Love Story của Erich Segal, hãng phim Paramount Pictures đã có dự định mời đạo diễn Larry Peerce và cô đào trẻ Ali MacGraw của cuốn phim Goodbye, Columbus (1969) lúc đó đang làm mưa gió ở Mỹ. Truyện phim Goodbye, Columbus kể về một “mối tình mùa hè” ngắn ngủi giữa một chàng quản thủ thư viện với một nữ sinh viên con nhà giàu. Trong phim, cô sinh viên này (do Ali MacGraw thủ diễn) cũng theo học Radcliffe College.</p>
<p><strong>Ali MacGraw</strong>, sinh năm 1939, sau khi tốt nghiệp Wellesley College ở Wellesley, Massachusetts, đã làm việc cho tạp chí <em>Harper&#8217;s Bazaar</em>, phụ tá đặc trách về hình ảnh và thời trang; sáu năm sau, Ali trở thành tư vấn (stylist) cho tạp chí thời trang thượng lưu <em>Vogue</em> đồng thời trở thành người mẫu nhiếp ảnh.</p>
<p>Giữa thập niên 1960, Ali bắt đầu đóng các màn quảng cáo trên truyền hình, và mãi tới năm 1968, khi đã 27 tuổi, mới được xuất  hiện làm kiểng (walk-on) trong cuốn phim tội phạm A Lovely Way to Die (do Kirk Douglas và Sylva Koscina thủ hai vai chính).</p>
<p>Chính nhờ màn xuất hiện ngắn ngủi ấy, Ali MacGraw đã được chú ý tới, và qua năm 1969 được đạo diễn Larry Peerce trao vai nữ nhân vật chính trong phim Goodbye, Columbus.</p>
<p>Tuy đây mới chỉ là lần thứ hai được xuất hiện trên màn bạc, và lần đầu tiên được thủ một vai có diễn xuất, Ali MacGraw đã tỏ ra rất xuất sắc, với kết quả là giải Trái Cầu Vàng dành cho diễn viên mới nhiều triển vọng, và sau đó được trao vai nữ nhân vật chính <strong>Jennifer Cavilleri</strong> trong phim Love Story.</p>
<p>Về nam nhân vật chính, chàng sinh viên luật <strong>Oliver Barrett</strong> của Đại học Harvard, hãng Paramount Pictures đã lần lượt mời ba nam diễn viên trẻ đã nổi tiếng hoặc đang lên là Beau Bridges (sinh năm 1941), Michael York (1942) và Jon Voight (1938) nhưng cả ba đều từ chối.</p>
<p>Sau đó Erich Segal đã giới thiệu <strong>Ryan O&#8217;Neal</strong>, nam diễn viên truyền hình mới xuất hiện một lần trên màn bạc qua cuốn phim The Games (1969).</p>
<p>Ryan O&#8217;Neal, sinh năm 1941 trong một gia đình văn nghệ sĩ, cha là văn sĩ kiêm nhà viết kịch bản truyền hình Charles O’Neal (1904–1996), mẹ là nữ diễn viên Patricia O’Neal (1907-2003), tuy nhiên ngay từ nhỏ, Ryan chỉ ôm mộng trở thành võ sĩ quyền Anh.</p>
<p>Trong thời gian ở University High School, Los Angeles, Ryan O&#8217;Neal đã được huấn luyện để trở thành một võ sĩ quyền Anh của National Golden Gloves (Hiệp hội quyền Anh tài tử Hoa Kỳ), và tỏ ra rất có triển vọng.</p>
<p>Nhưng bà mẹ Patricia là người có đầu óc thực tế, thấy Ryan O&#8217;Neal học hành không mấy tấn tới, vào năm 1960, bà đã vận động cho con trai được đóng những vai xuất hiện làm kiểng trước ống kính (walk-on), hoặc đóng thế (diễn viên chính) những màn khó khăn, nguy hiểm (stunt).</p>
<p>Nghề dạy nghề, Ryan O&#8217;Neal trở thành diễn viên lúc nào không hay. Sau một số vai trò rất phụ, năm 1964 nhờ bảnh trai, tướng tá ngon lành, Ryan O&#8217;Neal được trao một vai trong phim tập truyền hình Peyton Place của hãng ABC, vốn được xem là phim tập “tình, tiền, tội ác, sex (và loạn luân)” đầu tiên trên màn ảnh nhỏ xứ Cờ Huê.</p>
<p>Peyton Place đã trở thành bàn đạp tiến thân của nhiều nam nữ diễn viên trẻ, trong số đó ngoài Ryan O&#8217;Neal còn có Mia Farrow, Barbara Parkins, Christopher Connelly, David Canary, Mariette Hartley, Lana Wood (chị của Natalie Wood)&#8230;</p>
<p>Năm 1969, Ryan O&#8217;Neal được thủ diễn một trong bốn vai chính của cuốn phim Anh The Games nói về một chạy đua marathon giả tưởng giữa đại diện bốn quốc gia Anh, Mỹ, Úc và Tiệp Khắc, do Erich Segal viết kịch bản, và các diễn viên Michael Crawford (Anh), Ryan O&#8217;Neal (Mỹ), Charles Aznavour (Pháp gốc Armenia)) và Athol Compton (thổ dân Úc) thủ vai chính.</p>
<p>Vì đây là lần đầu tiên đóng phim điện ảnh, Ryan O&#8217;Neal được trả một thù lao khiêm nhượng là 25,000 Mỹ kim.</p>
<p>Cuốn phim được đánh giá “khá hay” (6.7 điểm của IMDb và 74% của Rotten Tomatoes) nhưng thất bại thê thảm về mặt tài chính, và chìm vào quên lãng. Chỉ tới khi kịch bản Love Story của Erich Segal được hãng Paramount thực hiện thành phim và ba chàng Beau Bridges, Michael York, Jon Voight từ chối vai trò Oliver Barrett, Erich Segal mới nhớ tới Ryan O&#8217;Neal và đề nghị hãng phim trao vai này cho chàng.</p>
<p>Tuy nhiên, Ryan O&#8217;Neal cũng phải trải qua một màn đóng thử cùng với 13 nam diễn viên trẻ khác, và cuối cùng nhà sản xuất Robert Evans của hãng Paramount đã quyết định chọn Ryan O&#8217;Neal. Sau này Robert Evans hồi tưởng “Trong số những người đóng thử, không một ai có thể so sánh với Ryan – một Cary Grant cho vai trò này: bảnh trai và đầy cảm xúc”.</p>
<p>Nhưng khi đã tìm được nam nữ diễn viên thủ vai hai nhân vật chính, hãng Paramount Pictures lại bị “kẹt” đạo diễn: đạo diễn <strong>Larry Peerce</strong> (của cuốn phim Goodbye, Columbus) đã từ chối lời mời đạo diễn Love Story, mà nhiều người cho rằng vì ông ta không mấy tin tưởng vào thành công của kịch bản của Erich Segal, và nếu ông thất bại, uy tín vừa mới tạo dựng được qua cuốn phim Goodbye, Columbus cũng sẽ tiêu tan.</p>
<p>Sau khi Larry Peerce từ chối, hãng Paramount Pictures đã mời <strong>Anthony Harvey</strong>, nhưng nhà đạo diễn trẻ gốc Anh này cũng từ chối!</p>
<p>Anthony Harvey nguyên là một nhà phân cảnh (editing, còn gọi là “ráp nối”) nổi tiếng, từng đoạt nhiều giải thưởng, lúc đó đã sang Los Angeles hợp tác với đạo diễn <strong>Stanley Kubrick</strong> lừng danh của Hoa Kỳ với mục đích học hỏi công việc đạo diễn.</p>
<p>Năm 1968, chỉ ít lâu sau khi bước vào nghề (đạo diễn), Anthony Harvey đã đạt thành công rực rỡ với cuốn phim bi kịch lịch sử Anh – Pháp The Lion in Winter, với hai diễn viên hàng đầu Peter O&#8217;Toole, Katharine Hepburn thủ vai hai nhân vật chính.</p>
<p>Tại giải Oscar năm 1969, The Lion in Winter được đề cử bảy giải thưởng (trong đó có đạo diễn) và đoạt ba giải, cho nữ diễn viên vai chính, kịch bản, và nhạc đệm.</p>
<p>Cuốn phim cũng được được đề cử bảy giải Trái Cầu Vàng và đoạt hai giải, bảy giải BAFTA (điện ảnh Anh quốc) và cũng đoạt hai giải.</p>
<p>Về sau, Anthony Harvey giải thích tại sao ngày ấy mình từ chối đạo diễn Love Story:</p>
<p>“Cho dù đạt thành công rực rỡ với The Lion in Winter, tôi cũng chỉ là một đạo diễn mới vào nghề, không hiểu biết nhiều. Tôi từ chối Love Story một cách vô ý thức. Quả thật đó là sai lầm khủng khiếp nhất trong đời!”</p>
<p>Sau khi Larry Peerce và Anthony Harvey từ chối, hãng phim Paramount đã mời đạo diễn Mỹ gốc Gia-nã-đại <strong>Arthur Hiller</strong>.</p>
<p>Arthur Hiller thuộc thế hệ đàn anh của Larry Peerce, Anthony Harvey, và đã sẵn nổi tiếng khi nhận lời đạo diễn Love Story.</p>
<p>Arthur Hiller sinh năm 1923 tại Edmonton, Alberta. Khi Đệ nhị Thế chiến xảy ra, ông gia nhập Không lực Hoàng gia Gia-nã-đại, trở thành hoa tiêu (navigator) trên oanh tạc cơ hạng nặng Halifax, đồn trú tại Âu châu, đã tham gia nhiều phi vụ oanh tạc đêm trên các vùng lãnh thổ do quân Đức chiếm đóng.</p>
<p>Sau khi thế chiến dứt, Arthur Hiller trở lại trường học, lấy Cử nhân Nghệ thuật tại University College, Toronto năm 1947, và Cao học Nghệ thuật &amp; Tâm lý học năm 1950.</p>
<p>Công việc đầu tiên của Arthur Hiller sau khi rời đại học là làm đạo diễn cho đài truyền hình Canadian Broadcasting Corporation của Gia-nã-đại, qua đó ông được hãng truyền NBC của Mỹ chú ý và mời hợp tác.</p>
<p>Tới cuối thập niên 1950, Arthur Hiller bắt đầu đạo diễn phim điện ảnh, phần lớn là hài kịch, trong đó nổi tiếng nhất phải là The Americanization of Emily (1964), một cuốn phim khôi hài đen có nội dung phản chiến; hiện nay, The Americanization of Emily là một trong những cuốn phim hiếm hoi được điểm 100% của trang mạng phê bình Rotten Tomatoes.</p>
<p>Cũng trong năm 1964, Arthur Hiller đạo diễn bộ phim tập truyền hình hài kịch kinh dị The Addams Family (mà trước năm 1975 khán giả ở Sài Gòn đã được thưởng thức trên đài truyền hình quân đội Mỹ); sau đó ông trở lại với thể loại phim hài kịch trên màn bạc, đạt thành công đáng kể qua các cuốn phim Promise Her Anything (1965) với Warren Beatty và Leslie Caron, Penelope (1966) với Natalie Wood; và tới năm 1967 bước sang cả lĩnh vực phim hoạt động với Tobruk, một cuốn phim lấy bối cảnh Đệ nhị Thế chiến ở Bắc Phi, với Rock Hudson và George Peppard trong hai vai chính.</p>
<p>Thế nhưng thành công lớn nhất trong sự nghiệp của Arthur Hiller lại là một cuốn phim bi kịch: Love Story.</p>
<p>Như chúng tôi đã viết ở một đoạn đầu, mặc dù trở thành một best seller và là cuốn tiểu thuyết hư cấu bán chạy nhất trong năm 1970, Love Story của Erich Seagal đã không được giới phê bình nghệ thuật trân trọng, nếu không muốn nói là chê thậm tệ. Nguyên nhân chính là vì Love Story có cốt truyện khá bình thường, thậm chí tầm thường, và có diễn tiến nặng phần “cải lương, cường điệu” (cái chết trẻ của nữ nhân vật chính)!</p>
<p>Suy ra, thực hiện một cuốn phim với kịch bản có nội dung như thế không có nhiều triển vọng đạt thành công; vì thế hai đạo diễn Larry Peerce và Anthony Harvey mới từ chối lời mời của hãng phim Paramount.</p>
<p>Nhưng Arthur Hiller không phải một đạo diễn tầm thường. <strong>Roger Ebert </strong>(1942 – 2013), nhà bình phim kiêm sử gia điện ảnh uy tín bậc nhất nước Mỹ, người đầu tiên đoạt giải Pulitzer về Phê bình (1975), đã nhận định:</p>
<p>“Tại sao chúng ta không thể rơi lệ trước chuyện một đôi uyên ương trẻ bị thần chết phân ly? Arthur Hiller đã khiến chúng ta xúc động vì cung cách ông đạo diễn cuốn phim&#8230; Tuy nhiên, phần lớn nội dung cuốn phim nói về cuộc sống chứ không phải cái chết. Và vì Arthur Hiller đã trình bày đôi tình nhân như hai cá thể, kết cuộc đã khiến chúng ta phải xúc động. Tại sao lại không nhỉ?”</p>
<p>Roger Ebert đã không ca tụng Arthur Hiller quá lời. Về sau, nhà đạo diễn đã được bầu làm chủ tịch Hiệp hội Đạo diễn Hoa Kỳ (Directors Guild of America) từ năm 1989 tới năm 1993, và chủ tịch Hàn lâm viện Điện ảnh Hoa Kỳ từ năm 1993 tới năm 1997.</p>
<p>Love Story được trình chiếu vào ngày 16/12/1970 và lập tức tạo kỷ lục về số thu. Với số vốn thực hiện chỉ có 2.2 triệu Mỹ kim nhưng số thu lên tới 136.4 triệu, Love Story đã trở thành cuốn phim của năm 1970 có số thu cao nhất, và đứng hạng 6 tính từ xưa cho tới lúc đó.</p>
<p>Love Story được Viện phim ảnh Hoa Kỳ xếp hạng 9 trong danh sách “100 Years&#8230; 100 Passions” dành cho những cuốn phim về tình yêu hay nhất.</p>
<p>Tại giải Trái Cầu Vàng 1971, Love Story được đề cử 7 giải (phim hay nhất, đạo diễn, kịch bản, nam nữ diễn viên vai chính, nam diễn viên vai phụ, nhạc phim) và đoạt 5 giải (phim hay nhất, đạo diễn, kịch bản, nữ diễn viên vai chính, và nhạc phim).</p>
<p>Tại giải Oscar 1971, Love Story cũng được đề cử 7 giải tương tự nhưng chỉ đoạt được 1 cho nhạc phim.</p>
<p>Tuy không đoạt giải Oscar nữ diễn viên vai chính, sau đó Ali MacGraw cũng được tạp chí <em>Time</em> đưa lên bìa, về sau (1991) được nằm trong danh sách “50 Most Beautiful People in the World” của tạp chí <em>People</em>, và tới năm 2008 được tạp chí đàn ông <em>Maxim</em> đưa vào danh sách “Sexiest 25 Women in Film Ever”.</p>
<p>Về phần Ryan O’Neal, phải nhìn nhận việc ba chàng diễn viên trẻ Beau Bridges, Michael York, Jon Voight từ chối vai Oliver Barrett trong Love Story đã giúp Ryan cơ hội “đổi đời&#8221;: không bao giờ phải trở lại với những vai trò trên truyền hình mà chàng không muốn một chút nào.</p>
<p>Sau thành công của Love Story, Ryan O’Neal nghiễm nhiên trở thành một diễn viên hạng A, với những cuốn phim ăn khách như What&#8217;s Up, Doc? (1972, đóng chung với Barbra Streisand).</p>
<p>Năm 1973, Ryan O’Neal cùng với cô con gái <strong>Tatum O’Neal</strong> đóng chung phim Paper Moon, qua đó cô bé 10 tuổi đã trở thành diễn viên nhỏ tuổi nhất tính cho tới nay đoạt giải Oscar diễn xuất.</p>
<p><em>[Tatum O’Neal đoạt giải Oscar vai phụ; trước đó, cô chưa bao giờ xuất hiện trước ống kính; sau này Tatum kết hôn với danh thủ quần vợt John McEnroe, được 3 con, và ly dị sau 8 năm chung sống] </em></p>
<p>Cũng trong năm 1973, Ryan O&#8217;Neal đã được khán giả điện ảnh ở Hoa Kỳ bầu là nam diễn viên được ái mộ hạng nhì, chỉ đứng sau Clint Eastwood của cuốn phim cớm Dirty Harry (1971).</p>
<p>Trước thành công vượt bực của phim Love Story, tám năm sau (1978), hãng Paramount Pictures đã bổn cũ soạn lại, thực hiện cuốn phim tiếp theo (sequel) có tựa đề Oliver’s Story, nói về những tháng năm sau khi Jenny chết, Ollie cố gắng xây dựng một hạnh phúc mới với một vị tiểu thư môn đăng hộ đối, nhưng thất bại vì không thể quên được Jenny.</p>
<p>Oliver’s Story cũng do Erich Segal viết kịch bản và Ryan O&#8217;Neal thủ vai chính, vai vị tiểu thơ do Candice Bergen thủ diễn.</p>
<p>Lúc đầu, Ryan O&#8217;Neal đã từ chối trở lại với vai trò Oliver Barrett vì nhận thấy kịch bản chẳng có gì thu hút, nhưng sau đó vì hãng phim đã tăng thù lao lên tới 3 triệu Mỹ kim, Ryan O&#8217;Neal không thể chống cưỡng.</p>
<p>Kết quả, Oliver’s Story đã trở thành cuốn phim đáng quên nhất trong sự nghiệp của Ryan O&#8217;Neal với số điểm 20% của trang mạng bình phim Rotten Tomatoes.</p>
<p>Tới đây chúng tôi viết về nhạc phim của Love Story, do nhà soạn nhạc <strong>Francis Lai</strong> đảm trách.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/06/francis-lai-photo_38482_31578.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-39777" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/06/francis-lai-photo_38482_31578-273x300.jpg?strip=all" alt="" width="273" height="300" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/06/francis-lai-photo_38482_31578-273x300.jpg?strip=all 273w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/06/francis-lai-photo_38482_31578.jpg?strip=all 400w" sizes="(max-width: 273px) 100vw, 273px" /></a></p>
<p>Francis Lai sinh năm 1932 tại Nice, miền nam nước Pháp, cha mẹ là di dân Ý, làm nghề trồng rau để bán ở chợ. Say mê âm nhạc từ nhỏ, Francis Lai học accordéon và dương cầm, chơi cho các bạn nhạc địa phương một thời gian rồi tới cảng Marseilles, thành phố lớn thứ nhì của Pháp (chỉ sau Paris) và cũng là một “ngã tư quốc tế”. Tại đây, chàng trẻ tuổi mới biết trên đời này có một thể loại gọi là “nhạc jazz” và chuyên tâm học hỏi.</p>
<p>Sau khi gặp gỡ Claude Goaty, một nữ ca sĩ Pháp nổi tiếng trong thập niên 1950, Francis Lai theo bà lên Paris và trở thành một thành viên của khu nghệ sĩ Montmartre, chơi đàn thường xuyên ở quán rượu Taverne d&#8217;Attilio. Sau một thời gian ngắn chơi cho dàn nhạc Michel Magne, Francis Lai trở thành người đệm accordéon cho nữ danh ca Édith Piaf, và sau này soạn nhạc cho một số ca khúc do bà đặt lời hát.</p>
<p>Năm 1965, Francis Lai gặp gỡ đạo diễn trẻ Pháp gốc Algeria <strong>Claude Lelouch</strong> (sinh năm 1937), cũng là một diễn viên kiêm nhà sản xuất phim và nhà văn, và được ông nhờ soạn nhạc phim cho Un homme et une femme (A Man and a Woman), cuốn phim thứ hai do Claude Lelouch đạo diễn, với Jean-Louis Trintignant và Anouk Aimée trong hai vai chính.</p>
<p>Trình chiếu năm 1966, Un homme et une femme (A Man and a Woman) không chỉ trở thành một trong những cuốn phim ăn khách nhất ở Pháp mà còn ở cả Hoa Kỳ, đoạt nhiều giải thưởng quốc tế trong đó có Cành Cọ Vàng tại Đại hội Điện Ảnh Cannes, Trái Cầu Vàng cho Phim nói tiếng ngoại quốc và cho Nữ diễn viên vai chính, Oscar cho Phim nói tiếng ngoại quốc và cho Kịch bản.</p>
<p><em> </em>Phần nhạc phim do Francis Lai soạn (trong đó có ca khúc Un homme et une femme do Claude Lelouch viết lời hát), cũng gây tiếng vang lớn cho chàng nhạc sĩ trẻ lần đầu soạn nhạc phim, được đề cử Trái Cầu Vàng cho nhạc phim và ca khúc trong phim.</p>
<p><strong><em> </em></strong><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><strong><em> </em></strong><a href="https://www.youtube.com/watch?v=e-fdlvam8hc" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>Paul Mauriat &#8211; Un homme et une femme (1966)</em></strong></a></p>
<p>Sau khi đạt thành công ngay trong lần đầu soạn nhạc phim, Francis Lai tiếp tục hợp tác với Claude Lelouch trong hàng chục cuốn phim khác, trong đó có Vivre pour vivre (1967), Un homme qui me plaît (1969), Le voyou (1970), và La bonne année (1973), rất được yêu chuộng tại Pháp cũng như Anh quốc, Hoa Kỳ.</p>
<p>Nhưng thành công lớn nhất trong sự nghiệp của Francis Lai chính là nhạc phim Love Story, đoạt giải Oscar cho nhạc phim năm 1971.</p>
<p>Nhạc phim Love Story (Love Story soundtrack) được phát hành dưới dạng album và lên tới No.2 trên bảng xếp hạng album của Billboard, gồm 11 nhạc khúc, trong đó có 2 nhạc khúc cổ điển <em>&#8211; <a href="https://en.wikipedia.org/wiki/Piano_Sonata_in_F_major,_K._547a">S</a>onata in F Major (Allegro)</em> của Wolfgang Amadeus Mozart, <em>Concerto No. 3 in D Major (Allegro)</em> của Johann Sebastian Bach – và 9 nhạc khúc do Francis Lai soạn, trong đó có nhạc khúc chủ đề của cuốn phim (<em>Theme from Love Story</em>), được sử dụng trong phần mở đầu và kết thúc của cuốn phim.</p>
<p>Tuy nhiên, một tuần lễ trước khi phim Love Story được trình chiếu vào ngày Lễ Giáng Sinh năm 1970, hãng phim Paramount Pictures đã “sắp xếp” để dàn nhạc Henry Mancini tung ra đĩa đơn hòa tấu nhạc khúc chủ đề của cuốn phim, với mục đích tạo sự chú ý của công chúng, tương tự việc trước đây họ đã cho phát hành cuốn tiểu thuyết Love Story trước khi trình chiếu cuốn phim.</p>
<p>Kết quả, đĩa đơn <em>Theme from Love Story</em> của dàn nhạc Henri Mancini đã lên tới No.2 và nằm trong Top 10 Easy Listening của Billboard suốt 16 tuần lễ, và ở trong danh sách Billboard Hot 100 suốt 11 tuần lễ, lên tới hạng 12.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><strong> </strong><a href="https://www.youtube.com/watch?v=Mik4cFOvhzo" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>Henry Mancini &#8211; Theme from &#8221;Love Story&#8221;</em></strong><strong> </strong></a></p>
<p>Chỉ tới khi cuốn phim được phát hành, khán thính giả mới được thưởng thức <em>Theme from Love Story</em> của nhạc phim do Francis Lai phối khí và điều khiển dàn nhạc.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=jaakRkSTzrs" target="_blank" rel="noopener"><strong> </strong><strong><em>Francis Lai &#8211; Love Story Soundtrack &#8211; Theme From Love Story (1970) </em></strong></a></p>
<p>Về phần ca khúc <em>(Where Do I Begin?) Love Story</em> do <a href="https://en.wikipedia.org/wiki/Carl_Sigman">Carl Sigman</a> đặt lời hát thì phải đợi hơn hai tháng sau ngày phim Love Story ra mắt khán giả, mới được gửi tới thính giả qua tiếng hát của Andy Williams.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/06/Carl-Sigman.jpg?strip=all&fit=256%2C358"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-39780" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/06/Carl-Sigman.jpg?strip=all&fit=256%2C358" alt="" width="256" height="358" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Carl Sigman</strong> (1909 – 2000)</p>
<p><strong>Carl Sigman</strong> (1909 – 2000) là một nhà đặt lời hát hàng đầu của Mỹ. Một trong những ca khúc rất phổ biến do ông đặt lời hát là bản <em>A Day in The Life of a Fool</em>, nguyên là ca khúc<em> Manhã de Carnaval</em> (Carnival Morning) của hai tác giả Luiz Bonfa và Antonio Araujo De Moraes, được hát trong cuốn phim Orfeu Negro (Black Orpheus, 1959) của Ba-tây. Phiên bản lời Pháp của ca khúc này, tựa đề <em>La Chanson d&#8217;Orphée</em>, cũng rất được ưa chuộng.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><strong> </strong><a href="https://www.youtube.com/watch?v=UF2t1Dq608U" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>JACK JONES &#8211; A DAY IN THE LIFE OF A FOOL (MANHA DE CARNAVAL)</em></strong></a></p>
<p>Trở lại với ca khúc <em>(Where Do I Begin?) Love Story</em> do Carl Sigman đặt lời hát.</p>
<p>Theo lời kể của một số người, lúc đầu, sau khi nghe qua phần nhạc phim của Love Story do Francis Lai soạn, hãng đĩa đảm trách việc phát hành nhạc phim (soundtrack) cho rằng nếu đặt lời hát cho nhạc khúc chủ đề <em>Theme from Love Story</em> thì sẽ có sức thu hút khán giả hơn, vì thế nhà sản xuất Robert Evans (của hãng phim Paramount) đã nhờ Carl Sigman đặt lời hát cho nhạc khúc này.</p>
<p>Carl Sigman nhận lời, dựa theo diễn tiến của chuyện tình buồn trong cuốn phim Love Story để viết lời hát. Nhưng, cứ theo lời thuật lại của Michael Sigman, con trai của Carl Sigman, sau khi Carl Sigman hoàn tất thì bị Robert Evans chê là quá sầu thảm, sẽ khiến khán giả&#8230; xuống tinh thần, và yêu cầu ông viết lời hát khác bớt bi lụy hơn.</p>
<p>Tự ái của một nhà viết lời hát tên tuổi đã khiến Carl Sigman nổi giận; ông từ chối viết lại. Vì thế khi cuốn phim chiếu ra mắt, nhạc khúc chủ đề trong phim (<em>Theme from Love Story</em>) vẫn được trình bày dưới hình thức hòa tấu.</p>
<p>Tuy nhiên sau đó, Carl Sigman đã nghĩ lại và nhận ra rằng lời hát có thể buồn nhưng không nên quá bi lụy. Nhưng nếu không dựa theo cốt truyện bi lụy ấy <em>&#8211; Jenny xuất hiện, hai người yêu nhau, Jenny chết &#8211; </em> thì mình sẽ bắt đầu từ đâu &#8211; Where do I begin?</p>
<p>Carl Sigman vừa đi tới đi lui trong phòng vừa nói với bà vợ: Where do I begin? Where do I begin?&#8230; và thế là ca khúc <em>(Where Do I Begin?) Love Story</em>  ra đời.</p>
<p><em>[LƯU Ý: Ca khúc do Carl Sigman đặt lời có tựa đề chính xác là <strong>(Where Do I Begin?) Love Story</strong>. Rất tiếc, không phải ai cũng hiểu được ngụ ý của tác giả khi cho những chữ trong ngoặc đơn (Where Do I Begin?) đứng trước hai chữ không nằm trong ngoặc đơn Love Story, cho nên khá nhiều người, kể người Anh, người Mỹ, đã tự tiện sửa đổi thứ tự, viết thành Love Story (Where Do I Begin?); sai thì không sai nhưng không đúng ý của tác giả] </em></p>
<p><strong><em>(Where do I begin?) Love Story</em></strong></p>
<p><em><br />
Where do I begin </em></p>
<p><em>To tell the story of how great a love can be<br />
The sweet love story that is older than the sea<br />
The simple truth about the love she brings to me<br />
Where do I start</em></p>
<p><em>With her first hello<br />
She gave new meaning to this empty world of mine<br />
There&#8217;ll never be another love, another time<br />
She came into my life and made the living fine<br />
She fills my heart</em></p>
<p><em>She fills my heart with very special things<br />
With angels&#8217; songs, with wild imaginings<br />
She fills my soul with so much love<br />
That anywhere I go I&#8217;m never lonely<br />
With her around, who could be lonely<br />
I reach for her hand, it&#8217;s always there</em></p>
<p><em>How long does it last?<br />
Can love be measured by the hours in a day?<br />
I have…</em></p>
<p>Tuy nhiên, theo đa số tác giả, và chúng tôi cũng tin như thế, hãng phim Paramount đã có chủ ý từ trước trong việc để dàn nhạc Henry Mancini tung ra đĩa đơn trước khi cuốn phim được trình chiếu, và sau khi mọi người đã xem phim và thưởng thức nhạc khúc chủ đề trong phim (<em>Theme from Love Story</em>), mới tung ra ca khúc <em>(Where Do I Begin?) Love Story.</em></p>
<p>Gần ba tuần lễ sau khi phim Love Story được trình chiếu, ngày 15/1/1971, hai đĩa đơn <em>(Where Do I Begin?) Love Story</em>, một của Andy Williams, một của Tony Bennett, được phát hành.</p>
<p><strong>Phụ lục 1: <em>(Where Do I Begin?) Love Story</em>, Andy Williams </strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-39776-29" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/06/01-Andy_Williams_Where_Do_I_Begin_Love_Story_mp3co.biz-Copy.mp3?_=29" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/06/01-Andy_Williams_Where_Do_I_Begin_Love_Story_mp3co.biz-Copy.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/06/01-Andy_Williams_Where_Do_I_Begin_Love_Story_mp3co.biz-Copy.mp3</a></audio>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><strong><em> </em></strong><a href="https://www.youtube.com/watch?v=kUrxm4z9I-c" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>Andy Williams &#8211; (Where Do I Begin) LOVE STORY 1970 (High Quality) </em></strong></a></p>
<p><em>(Where Do I Begin?) Love Story</em> do Andy Williams thu đĩa đã lên tới No.1 trên bảng xếp hạng thể loại Easy Listening (ngày nay gọi là Adult Contemporary) của Billboard và đứng hạng 9 trong Billboard Hot 100 (tính mọi thể loại), đồng thời đứng hạng tư tại Anh Quốc (UK Singles Chart).</p>
<p>Về sau, để làm hài lòng thế hệ thính giả trẻ, Andy Williams đã thu âm thêm một phiên bản <em>(Where Do I Begin?) Love Story</em> dài hơn, với phần phối khí có sử dụng hiệu ứng âm thanh (sound effects).</p>
<p><strong>Phụ lục 2: <em>(Where Do I Begin?) Love Story</em>, Andy Williams (extended version)</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-39776-30" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/06/02-Andy-Williams-Love-Story-Andy-Williams-Nh-c-h¦a-t-u222.mp3?_=30" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/06/02-Andy-Williams-Love-Story-Andy-Williams-Nh-c-h¦a-t-u222.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/06/02-Andy-Williams-Love-Story-Andy-Williams-Nh-c-h¦a-t-u222.mp3</a></audio>
<p>Sau Andy Williams và Tony Bennett, <em>(Where Do I Begin?) Love Story</em> đã được nhiều nam ca sĩ khác của Mỹ thu đĩa, trong số đó phiên bản của Johnny Mathis có lẽ được ưa chuộng nhất.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<h3><a href="https://www.youtube.com/watch?v=EeNAvb01dIo" target="_blank" rel="noopener"><em><u>Love Story ~ Johnny Mathis ~ (HD) &#8211; YouTube</u></em></a></h3>
<p>Về phiên bản do các ca sĩ ở ngoài Hoa Kỳ thu đĩa, chúng tôi giới thiệu ba thể loại điển hình, do nữ danh ca Anh Shirley Bassey (Bossa Nova), nữ danh ca Pháp Patricia Kaas (jazz), và nam danh ca tenor Tây-ban-nha Placido Domingo (classical).</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<h3><em><a href="https://www.google.com.au/url?sa=t&amp;rct=j&amp;q=&amp;esrc=s&amp;source=video&amp;cd=2&amp;cad=rja&amp;uact=8&amp;ved=0ahUKEwi4kYSe-f_iAhUHXn0KHQuiCb8QtwIIMDAB&amp;url=https%3A%2F%2Fwww.youtube.com%2Fwatch%3Fv%3DmgMoq3vL-Wc&amp;usg=AOvVaw3oMQaL8QIrVwGnFu8IX7Fw">Shirley Bassey &#8211; (Where Do I Begin) Love Story &#8211; YouTube</a></em></h3>
<h3><em><a href="https://www.youtube.com/watch?v=1vNfkSzv284">Patricia Kaas &#8211; Where Do I Begin (Love Story) &#8211; YouTube</a></em></h3>
<h3><em><a href="https://www.youtube.com/watch?v=3qZrA-fcyHY">Plácido Domingo &#8211; Love Story (Where Do I Begin) &#8211; YouTube</a></em></h3>
<p><em>(Where Do I Begin?) Love Story </em>phiên bản lời Pháp với tựa đề<em> Une histoire d’amour</em> được Mireille Matthieu thu đĩa, ngày ấy cũng rất được thính giả yêu nhạc Pháp ở miền Nam VN ưa chuộng.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/06/chuyentinh01-1.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-39781" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/06/chuyentinh01-1-300x283.jpg?strip=all" alt="" width="413" height="390" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/06/chuyentinh01-1-300x283.jpg?strip=all 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/06/chuyentinh01-1.jpg?strip=all 400w" sizes="(max-width: 413px) 100vw, 413px" /></a></p>
<p>Về phiên bản lời Việt, trước năm 1975, <em>(Where Do I Begin?) Love Story </em>đã được nhạc sĩ Phạm Duy chuyển ngữ với tựa đề <em>Chuyện Tình</em>. Có thể nói nghệ thuật chuyển ngữ của Phạm Duy qua ca khúc này đã lên tới đỉnh cao nhất.</p>
<p><strong><em>Chuyện Tình</em></strong><strong> (Love Story, LV: Phạm Duy)</strong></p>
<p><em>Biết dùng lời rất khó, để mà nói rõ<br />
Ôi biết nói gì, cuộc tình lớn quá<br />
Chuyện tình đáng nhớ, tuy cũ như là biển già trắng xoá<br />
Cuộc tình quý giá như những ngọc ngà nàng dành cho ta<br />
Ôi biết nói gì ?<br />
Với một lời quý mến, mà nàng nói đến<br />
Khi bước chân vào cuộc đời vắng ngắt<br />
Cuộc tình thứ nhất, muôn kiếp muôn đời là tình vĩnh viễn<br />
Vì nàng đã hiến đôi cánh tay mềm nghìn đời quyến luyến<br />
Lòng ta đầy kín, lòng ta đầy kín<br />
Là muôn nghìn chuyện yêu đương, câu hát thần tiên<br />
Và những mộng huyền mênh mang, đầy kín hồn hoang<br />
Man mác tình duyên<br />
Thôi hết cuộc đời im tiếng<br />
Ðời lẻ loi đã tan, ta đã được nàng<br />
Làm gì còn tiếng than, nắm đôi tay thiên thần<br />
Ði suốt mùa Xuân&#8230;<br />
Sẽ còn được biết mấy ? Một đời luyến ái<br />
Yêu sẽ lâu dài hoặc là quá ngắn ? Thật là khó đoán<br />
Nhưng vẫn cho rằng cuộc đời có hết, loài người có chết<br />
Sao sáng trên trời ngày nào sẽ tắt<br />
Em vẫn gần ta!</em></p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><strong><em><a href="https://www.youtube.com/watch?v=g9QPVBcpDVw">Chuyện Tình &#8211; Duy Quang &#8211; YouTube</a></em></strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=kcVKSNKvyNU" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>Chuyện tình (Love Story) &#8211; Quang Dũng</em></strong></a></p>
<p><strong>Phụ lục 3: <em>Chuyện Tình</em>, Ngọc Anh</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-39776-31" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/06/03-ChuyenTinhLoveStory-NgocAnh-2561400.mp3?_=31" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/06/03-ChuyenTinhLoveStory-NgocAnh-2561400.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/06/03-ChuyenTinhLoveStory-NgocAnh-2561400.mp3</a></audio>
<p>Ngoài ra, còn một phiên bản lời Việt khác có tựa đề <em>Tình Sử</em> của Ngọc Chánh, trước năm 1975 đã được Thanh Lan trình bày trong băng Phạm Mạnh Cương 25: “Tiếng hát Thanh Lan – Hát cho Tình Yêu và Tuổi Trẻ”.</p>
<p><strong>Phụ lục 4: <em>Tình sử</em>, Thanh Lan (pre 75)</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-39776-32" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/06/04-TinhSuLoveStory-ThanhLan_dyfy.mp3?_=32" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/06/04-TinhSuLoveStory-ThanhLan_dyfy.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/06/04-TinhSuLoveStory-ThanhLan_dyfy.mp3</a></audio>
<p>Sau này tại hải ngoại, phiên bản lời Việt <em>Tình Sử</em> đã được Ngọc Lan hát chung với phiên bản lời Pháp <em>Une histoire d’amour</em> trong CD The Gold Collection 32 của MÂY PRODUCTIONS, tuy nhiên tựa đề tiếng Việt <em>Tình Sử</em> đã bị đổi thành <em>Chuyện Tình</em>.</p>
<p>Hiện nay, hầu như tất cả mọi trang mạng tiếng Việt trong nước cũng như hải ngoại đều sử dụng tựa đề <em>Chuyện Tình</em> cho cả phiên bản của Phạm Duy lẫn Ngọc Chánh.</p>
<p>Sau cùng, qua tìm tòi trên Internet, chúng tôi cũng bắt gặp một phiên bản lời Việt được ghi là <em>Chuyện Tình</em> (Phạm Duy) nhưng với lời hát khác hoàn toàn, cho nên chúng tôi tạm thời ghi tác giả “khuyết danh”.</p>
<p><strong>Phụ lục 5: <em>Chuyện Tình </em>(LV: khuyết danh)  </strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-39776-33" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/06/05-Track-1.mp3?_=33" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/06/05-Track-1.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/06/05-Track-1.mp3</a></audio>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>HOÀI NAM</strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p>©T.Vấn 2019</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/hoai-nam-nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet88-nhac-phim-where-do-i-begin-love-story-francis-lai-carl-sigman-chuyen-tinh/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/06/01-Andy_Williams_Where_Do_I_Begin_Love_Story_mp3co.biz-Copy.mp3" length="7676127" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/06/02-Andy-Williams-Love-Story-Andy-Williams-Nh-c-h¦a-t-u222.mp3" length="7918072" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/06/03-ChuyenTinhLoveStory-NgocAnh-2561400.mp3" length="4170000" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/06/04-TinhSuLoveStory-ThanhLan_dyfy.mp3" length="5113802" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/06/05-Track-1.mp3" length="11646506" type="audio/mpeg" />

			</item>
		<item>
		<title>Hoài Nam: NHỮNG CA KHÚC NHẠC NGOẠI QUỐC LỜI VIỆT (87) &#8211; NHẠC PHIM – A Time For Us (Tình sử Romeo &#038; Juliet), Nino Rota, Lawrence Kusik &#038; Edward Snyder</title>
		<link>https://t-van.net/hoai-nam-nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet-87-nhac-phim-a-time-for-us-tinh-su-romeo-juliet-nino-rota-lawrence-kusik-edward-snyder/</link>
					<comments>https://t-van.net/hoai-nam-nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet-87-nhac-phim-a-time-for-us-tinh-su-romeo-juliet-nino-rota-lawrence-kusik-edward-snyder/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Hòai-Nam]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 22 May 2019 05:05:46 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[hòai nam]]></category>
		<category><![CDATA[nhac ngoai quoc loi viet]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=39499</guid>

					<description><![CDATA[Tiếp tục phần Nhạc Phim, bài này chúng tôi viết về bản A Time For Us, nguyên là ca khúc &#8220;What Is a Youth&#8221; trong cuốn phim Romeo and Juliet (1968) được hai tác giả Lawrence Kusik và Edward Snyder đặt lời hát mới.  Như đã viết trong bài Dẫn Nhập, những ca khúc chúng [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/05/a-time-for-us.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-39507" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/05/a-time-for-us-300x223.jpg?strip=all" alt="" width="391" height="291" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/05/a-time-for-us-300x223.jpg?strip=all 300w, https://cdn.t-van.net/2019/05/a-time-for-us-768x571.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/05/a-time-for-us.jpg?strip=all 961w" sizes="(max-width: 391px) 100vw, 391px" /></a></p>
<p>Tiếp tục phần Nhạc Phim, bài này chúng tôi viết về bản <em>A Time For Us</em>, nguyên là ca khúc &#8220;What Is a Youth&#8221; trong cuốn phim <em>Romeo and Juliet</em> (1968) được hai tác giả Lawrence Kusik và Edward Snyder đặt lời hát mới<em>.</em></p>
<p><em> </em>Như đã viết trong bài Dẫn Nhập, những ca khúc chúng tôi giới thiệu trong phần này hoặc là ca khúc trong phim, như <em>Que Sera Sera, Never on Sunday, The Shadow of Your Smile</em>, hoặc là một nhạc khúc trong phim được đặt lời hát, chẳng hạn bản <em>Somewhere, My Love</em>.</p>
<p>Tuy nhiên riêng trường hợp của bản <em>A Time For Us</em> chúng tôi giới thiệu trong bài này thì hơi khác, bởi đây nguyên là một ca khúc trong phim nhưng sau đó được đặt lời hát mới. Càng “khác” hơn nữa, khi ca khúc trong phim ấy được thu âm dưới hình thức hòa tấu và đứng No.1 ở Hoa Kỳ, nó được mang tựa đề “Love Theme from Romeo and Juliet” (Nhạc khúc chủ đề Tình yêu trong phim Romeo &amp; Juliet) trong khi trên thực tế, trong soundtrack album của cuốn phim này, gồm 9 ca khúc, nhạc khúc, không có bản nào được ghi là “Love Theme” cả!</p>
<p>Những chi tiết “nhức đầu” này, chúng tôi sẽ trình bày ở phần cuối bài; và sau đây xin điểm qua một số ca khúc trong phim khác, đã đoạt giải Oscar hoặc được lên “top” trong khoảng thời gian nói trên – những năm cuối của thập niên 1960.</p>
<p>Đầu tiên là ca khúc <strong><em>Born Free</em></strong> trong cuốn phim có cùng tựa của Anh quốc, kể về một câu chuyện có thật: Elsa the Lioness, một con sư tử “mồ côi” ở Kenya được một cặp vợ chồng nuôi dưỡng cho tới khi khôn lớn, rồi thả vào rừng.</p>
<p>Tại giải Oscar năm 1967, phim Born Free được đề cử hai giải, cho nhạc phim và ca khúc trong phim, và đoạt cả hai giải.</p>
<p><em>Born Free</em> do nam ca sĩ Anh Matt Monro hát trong phim, sau đó đã được nhiều nam ca sĩ khác, như Frank Sinatra, Andy Williams, Roger Williams&#8230; thu đĩa và đều đạt thành công đáng kể.</p>
<p><strong>Phụ lục 1: <em>Born Free</em>, Matt Monro</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-39499-34" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/05/01-Born-free.mp3?_=34" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/05/01-Born-free.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/05/01-Born-free.mp3</a></audio>
<p>Sau <em>Born Free </em>là <strong><em>This is My Song</em></strong>, một ca khúc của Charlie Chaplin viết cho cuốn phim A Countess from Hong Kong do ông thực hiện.</p>
<p>A Countess from Hong Kong là một cuốn phim tình cảm hài kịch do Marlon Brando và Sophia Loren thủ vai chính, trong đó Charlie Chaplin đóng một vai rất phụ. Đây là cuốn phim màu duy nhất của Charlie Chaplin, và cũng là cuốn phim sau cùng do ông sản xuất, viết kịch bản, đạo diễn, và soạn nhạc phim, trong đó có ca khúc <em>This is My Song</em>.</p>
<p>Chủ đích của Charlie Chaplin khi viết ca khúc này là để Al Jolson trình bày.</p>
<p><strong>Al Jolson</strong> (1886 – 1950) là một nghệ sĩ Mỹ gốc Nga đa tài, nổi tiếng   cùng thời và là bạn thân của Charlie Chaplin. Khi thực hiện cuốn phim A Countess from Hong Kong, Charlie Chaplin đã 78 tuổi và&#8230; quên rằng người bạn ca sĩ của ông đã qua đời cách đó hơn 16 năm; chỉ tới khi có người cho ông xem tấm hình chụp mộ bia của Al Jolson, ông mới nhớ ra!</p>
<p>Vì không có Al Jolson hát, Charlie Chaplin quyết định chỉ sử dụng phần nhạc của <em>This is My Song</em> trong cuốn phim, còn ca khúc thì ông tặng cho nữ danh ca <strong>Petula Clark</strong>, một nghệ sĩ gốc Anh lúc đó là “láng giềng” của ông ở Thụy-sĩ.</p>
<p>(Dame) <strong>Petula Clark </strong>(1932 &#8211; ) là một nữ danh ca có khả năng hát bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau, trước đây chúng tôi đã từng nhắc tới qua ca khúc Pháp <em>Chariot</em> (tựa tiếng Anh: I Will Follow Him).</p>
<p>Thế nhưng khi được Petula Clark cho xem lời hát, ai cũng chê <em>This is My Song</em> quá&#8230; lạc hậu, không ăn tiền với thính giả nhạc phổ thông hiện đại. Vì thế Petula Clark phải cầu cứu nhà đặt lời hát Pierre Delanoë của Pháp, nhờ ông đặt lời hát khác bằng tiếng Pháp.</p>
<p><strong>Pierre Delanoë</strong> (1918–2006) là nhà đặt lời hát hàng đầu của Pháp, tác giả của khoảng 5000 ca khúc trong đó có <em>La Maritza</em> (Dòng sông tuổi nhỏ), Sylvie Vartan thu đĩa, <em>Il est mort le soleil</em> (Nắng đã tắt), Nicoletta thu đĩa&#8230;</p>
<p><em>This is My Song</em> được Pierre Delanoë đặt lời Pháp với tựa <em>C&#8217;est Ma Chanson</em> do Petula Clark thu đĩa đã đứng No.1 tại Pháp, No.3 tại Vương quốc Bỉ (vùng nói tiếng Pháp); tiếp theo, phiên bản tiếng Đức, tiếng Ý cũng đứng hạng 16 và 23 tại hai quốc gia này.</p>
<p>Trước những thành công nói trên, Claude Wolff, người chồng kiêm ông bầu của Petula Clark đã thuyết phục vợ thu đĩa nguyên tác lời Anh <em>This is My Song</em>, và đạt thành công ngoài sức tưởng tượng của mọi người: đứng No.1 tại Anh Quốc (2 tuần), Ái-nhĩ-lan (3 tuần), Úc (6 tuần), Nam Phi, Hòa-lan, Bỉ (vùng nói tiếng Hòa-lan), Mã-lai, Tân-gia-ba, đứng No.3 tại Hoa Kỳ, No.4 tại Gia-nã-đại&#8230;</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><strong> </strong><a href="https://www.youtube.com/watch?v=GgkDxMQfsSA" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>PETULA CLARK &#8211; THIS IS MY SONG</em></strong></a></p>
<p>Qua năm 1967, The Graduate, một cuốn phim bi hài kịch đã chinh phục cả khán giả yêu phim lẫn thính giả yêu nhạc.</p>
<p>The Graduate, dựa theo cuốn tiểu thuyết có cùng tựa của Charles Webb, kể về một chàng sinh viên 21 tuổi vừa tốt nghiệp đại học (Dustin Hoffman thủ vai), bị Mrs. Robinson (Anne Bancroft) quyến rũ, nhưng sau đó lại yêu cô con gái của bà (Katharine Ross).</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/05/The-Graduate.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-39506" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/05/The-Graduate-300x300.jpg?strip=all" alt="" width="397" height="397" srcset="https://cdn.t-van.net/2019/05/The-Graduate-150x150.jpg 150w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/05/The-Graduate-300x300.jpg?strip=all 300w, https://cdn.t-van.net/2019/05/The-Graduate-768x768.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/05/The-Graduate.jpg?strip=all 800w" sizes="(max-width: 397px) 100vw, 397px" /></a></p>
<p>The Graduate, với số thu kỷ lục 104.9 triệu Mỹ kim (tương đương 789 triệu ngày nay) tại Hoa Kỳ và Gia-nã-đại, không chỉ có công lăng-xê nam diễn viên trẻ Dustin Hoffman mà còn giới thiệu đôi song ca <strong>Simon &amp; Garfunkel</strong> tới người yêu nhạc.</p>
<p>Thực ra, lúc đó Simon &amp; Garfunkel đã được không ít người yêu nhạc ở Âu Mỹ biết tới qua những ca khúc độc đáo của họ, như <em>The Sound of Silence, Scarborough Fair</em> (Giàn thiên lý đã xa), tuy nhiên sau khi The Graduate được phát hành, con số ấy đã gia tăng gấp bội, vì trong cuốn phim này, ngoài những ca khúc đã sẵn được yêu chuộng của Simon &amp; Garfunkel, còn có bản <em>Mrs. Robinson</em> do Paul Simon mới sáng tác.</p>
<p>Theo lời kể lại của Art Garfunkel, năm 1966 là năm bận rộn nhất của Simon &amp; Garfunkel, vì phải đi trình diễn liên tục cho nên hai anh đã không thể thỏa mãn đơn đặt hàng 3 ca khúc cho cuốn phim The Graduate của đạo diễn Mike Nichols, cuối cùng bị ông “làm dữ”, Paul Simon đã phải lấy bản <em>Mrs.</em> <em>Roosevelt</em>, một ca khúc mới sáng tác, sửa lời đổi tựa thành <em>Mrs. Robinson</em>.</p>
<p>Vì trước khi cuốn phim The Graduate được phát hành, ca khúc <em>Mrs. Robinson</em> do Simon &amp; Garfunkel thu âm đã được một số đài phát thanh cho phát đi, cho nên trong giải Oscar 1968, <em>Mrs. Robinson</em> không hội đủ điều kiện (ca khúc mới tinh, viết độc quyền cho một cuốn phim) dự tranh giải Oscar cho ca khúc trong phim.</p>
<p>Bù lại, <em>Mrs. Robinson</em> đã đứng No.1 trong danh sách Billboard Hot 100 tại Hoa Kỳ; qua năm 1969 trở thành ca khúc “rock” đầu tiên đoạt giải Grammy cho Đĩa nhạc trong năm; và tới năm 2004, được đứng hạng 6 trong danh sách 100 ca khúc trong phim hay nhất do Viện phim ảnh Hoa Kỳ (AFI) bình chọn.</p>
<p><strong>Phụ lục 2: <em>Mrs. Robinson</em>, Simon &amp; Garfunkel</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-39499-35" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/05/02-Mrs.-Robinson.mp3?_=35" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/05/02-Mrs.-Robinson.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/05/02-Mrs.-Robinson.mp3</a></audio>
<p>Cũng trong khoảng thời gian 1968-1969, thính giả yêu nhạc ngoại quốc ở Sài Gòn đã được thưởng thức một ca khúc độc đáo: <em>The Ballad of the Green Berets</em> (Hành khúc của lính mũ xanh).</p>
<p>Độc đáo bởi vì, thứ nhất, đây là “ca khúc quân đội” duy nhất trong lịch sử âm nhạc Hoa Kỳ lên tới vị trí No.1, và thứ hai, đây là tác phẩm nghệ thuật hiếm hoi có nội dung đề cao chính nghĩa của Hoa Kỳ trong cuộc chiến chống lại chủ nghĩa cộng sản tại Việt Nam, tức là đi ngược lại trào lưu phản chiến trong xã hội, trên chính trường Hoa Kỳ lúc bấy giờ.</p>
<p>Tác giả của <em>The Ballad of the Green Berets</em> là Trung sĩ Nhất Lực lượng Đặc biệt (Special Forces) <strong>Barry Sadler</strong>, đồng thời cũng là một ca nhạc sĩ quân đội, sáng tác vào năm 1966. Ca khúc này được ông viết để tưởng nhớ Hạ sĩ LLĐB James Gabriel, Jr., là quân nhân Mỹ gốc bản địa Hạ-uy-di đầu tiên hy sinh tại Việt Nam vào năm 1962.</p>
<p>Lời hát của <em>The Ballad of the Green Berets</em> có sự đóng góp của văn sĩ Robin Moore, tác giả cuốn sách The Green Berets (sau này được John Wayne thực hiện thành phim). Robin Moore cũng là người giúp Barry Sadler ký một hợp đồng thu đĩa với hãng RCA.</p>
<p>Đầu năm 1966, album The Ballad of the Green Berets – gồm bản <em>The Ballad of the Green Berets</em> và 11 ca khúc khác – được phát hành.</p>
<p>Lập tức ca khúc <em>The Ballad of the Green Berets</em> đã trở thành một “hiện tượng ái quốc”, đứng No.1 năm tuần liên tiếp trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 và bốn tuần liền trong bảng xếp hạng của tạp chí Cashbox.</p>
<p>Tới cuối năm 1966, <em>The Ballad of the Green Berets</em> đứng No.1 cho cả năm trên Billboard, và No.1 đồng hạng trên tạp chí Cashbox (cùng với bản <em>California Dreamin&#8217;</em> của ban The Mamas and the Papas).</p>
<p>Năm 1968, khi thực hiện phim The Green Berets, John Wayne đã đưa ca khúc <em>The Ballad of the Green Berets</em> vào phần nhạc phim. Và chỉ tới khi phim The Green Berets được chiếu tại Việt Nam, người yêu nhạc ở Sài Gòn mới biết tới ca khúc này.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=Ysnd0bsrb8Q" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>The Ballad of the Green Berets</em></strong></a></p>
<p>Cũng trong khoảng thời gian nói trên, người yêu nhạc Âu Mỹ tại miền Nam VN được thưởng thức một ca khúc trong phim đoạt giải Oscar là bản <em>Raindrops Keep Fallin&#8217; on My Head</em>, được viết riêng cho cuốn phim anh chị cao-bồi Butch Cassidy and the Sundance Kid (1969), do Paul Newman, Robert Redford, và Katherine Ross thủ vai chính.</p>
<p><em>Raindrops Keep Fallin&#8217; on My Head</em> do Burt Bacharach soạn nhạc và Hal David viết lời hát.</p>
<p><strong>Burt Bacharach</strong>, sinh năm 1928, là một nhà soạn nhạc, viết ca khúc, sản xuất đĩa hát, ca sĩ và nhạc sĩ dương cầm nổi tiếng của Hoa Kỳ. Riêng trong lĩnh vực soạn nhạc, ông được xem là một trong những tên tuổi quan trọng nhất của nền nhạc phổ thông trong thế kỷ thứ 20.</p>
<p>Ông đã đoạt sáu giải âm nhạc Grammy và ba giải Oscar. Trong số các ca khúc do ông soạn, hoặc hợp soạn, đứng No.1 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 có những bản quen thuộc sau đây: <em>This Guy&#8217;s in Love with You </em>(1968),<em> Raindrops Keep Fallin&#8217; on My Head </em>(1969),<em> Close to You </em>(1970),<em> Arthur&#8217;s Theme </em>(1981), và<em> That&#8217;s What Friends Are For</em> (1986).</p>
<p>Chỉ với cuốn phim Butch Cassidy and the Sundance Kid, Burt Bacharach đã đoạt hai giải Oscar, một cho ca khúc trong phim (<em>Raindrops Keep Fallin&#8217; on My Head</em>) và nhạc phim.</p>
<p><em>Raindrops Keep Fallin&#8217; on My Head</em> do B. J. Thomas hát đã đứng No. 1 trên các bảng xếp hạng ở Hoa Kỳ, Gia-nã-đại, Na-uy; và hiện nay đang đứng hạng 23 trong danh sách 100 ca khúc trong phim hay nhất do Viện phim ảnh Hoa Kỳ (AFI) tuyển chọn.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><strong> </strong><a href="https://www.youtube.com/watch?v=hziG9Nr6KHU" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>B.J.Thomas &#8211; Raindrops Keep Fallin&#8217; On My Head</em></strong></a></p>
<p>Tới đây chúng tôi viết về ca khúc chủ đề của bài này, <em>A Time For Us</em>, nguyên là ca khúc <em>What Is a Youth</em> trong nhạc phim của cuốn phim Romeo and Juliet, thực hiện năm 1968, được hai tác giả Lawrence Kusik và Edward Snyder đặt lời hát mới<em>.</em></p>
<p><em> </em>Tình sử Romeo &amp; Juliet là tác phẩm nổi tiếng nhất, phổ biến nhất của đại thi hào Anh <strong>William Shakespeare</strong> (1564 – 1616), mà có lẽ không ai trong chúng ta không biết tới. Romeo &amp; Juliet cũng được ghi nhận là truyện tình được thực hiện thành phim nhiều lần nhất: 44 lần – xưa nhất là cuốn phim câm của Mỹ thực hiện năm 1908, và mới nhất là cuốn phim quay từ vở kịch trên sân khấu West End của Anh quốc năm 2016.</p>
<p>Trong số nói trên, bốn cuốn phim được nói tới nhiều nhất, theo thứ tự thời gian, gồm:</p>
<p>&#8211; <strong><em>Romeo and Juliet</em></strong>  <strong>(1936)</strong>, do hãng phim MGM thực hiện với bốn tên tuổi hàng đầu: nhà sản xuất Irving Thalberg, đạo diễn George Cukor, nam diễn viên Anh Leslie Howard (Romeo), nữ diễn viên Mỹ gốc Gia-nã-đại Norma Shearer (Juliet).</p>
<p>Tại giải Oscar năm 1937, cuốn phim <em>Romeo and Juliet</em> này được đề cử bốn giải, cho Phim hay nhất, Nữ diễn viên chính, Nam diễn viên phụ, và Dựng cảnh, nhưng không đoạt giải nào.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/05/romeo-juliet-1936.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-39505" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/05/romeo-juliet-1936-239x300.jpg?strip=all" alt="" width="318" height="399" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/05/romeo-juliet-1936-239x300.jpg?strip=all 239w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/05/romeo-juliet-1936.jpg?strip=all 510w" sizes="(max-width: 318px) 100vw, 318px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Leslie Howard, 43, và Norma Shearer, 34.</strong></p>
<p>Mặc dù được tờ Nữu Ước Thời Báo liệt vào danh sách 1000 cuốn phim hay nhất xưa nay, <em>Romeo and Juliet</em>  (1936) đã không được cả giới bình phim lẫn khán giả nồng nhiệt đón nhận. Các nhà bình phim chê cuốn phim quá nặng phần nghệ thuật (too arty), còn khán giả thì thất vọng trước việc cặp tình nhân chưa đủ tuổi làm người lớn &#8211;  <em>Romeo &amp; Juliet</em>  &#8211; lại được thể hiện qua một cặp diễn viên&#8230; sắp bước vào tuổi trung niên: Leslie Howard, 43, và Norma Shearer, 34.</p>
<p>Với số vốn thực hiện 3 triệu Mỹ kim và số thu trên 2 triệu, hãng MGM đã bị lỗ 922.000 Mỹ kim – tương đương 17 triệu hiện nay.</p>
<p><em> </em><em>&#8211;</em> <strong><em>Romeo and Juliet</em></strong> <strong>(1954)</strong>, một sản phẩm hỗn hợp Anh – Ý do đạo diễn Renato Castellani thực hiện, nam diễn viên Anh Laurence Harvey thủ vai Romeo, còn vai Juliet được trao cho Susan Shentall, một nữ diễn viên vừa bước vào nghề (nhưng rất xuất sắc).</p>
<p>Cuốn phim đoạt đại giải Sư tử vàng tại Đại Hội Điện Ảnh Venice nhưng không ăn khách.</p>
<p>Nguyên nhân: từ đối thoại cho tới dàn cảnh, <em>Romeo and Juliet </em>(1954) đã đi quá xa nguyên tác của Shakespeare.</p>
<p>&#8211;<strong> <em>Romeo and Juliet</em> (1968)</strong>, một cuốn phim Anh – Ý do đạo diễn Franco Zeffirelli thực hiện, chúng tôi sẽ đề cập tới ở phần cuối.</p>
<p>&#8211;<strong> <em>Romeo and Juliet</em> (1996)</strong>, một cuốn phim Mỹ do đạo diễn Úc Baz Luhrmann thực hiện. Một cách chính xác, cuốn phim này có tựa đề<em>William Shakespeare&#8217;s Romeo and Juliet</em> , viết tắt là <em>Romeo + Juliet</em>.</p>
<p>Truyện phim là Romeo &amp; Juliet của William Shakespeare được hiện đại hóa. Hai dòng họ quý tộc đối nghịch trong nguyên tác trở thành hai đế quốc Mafia hoạt động ở Hoa Kỳ, gươm giáo cung tên được thay bằng súng đạn.</p>
<p>Vai Romeo do <strong>Leonardo DiCaprio</strong> (khi ấy 22 tuổi) thủ diễn, còn vai Juliet được trao cho <strong>Claire Danes</strong> (16 tuổi).</p>
<p>Với đối tượng chính là thành phần khán giả trẻ của thời đại MTV (music television), Romeo + Juliet đã đạt thành công rực rỡ về tài chính: phí tổn sản xuất 14.5 triệu Mỹ kim, thu vào $147.5 triệu.</p>
<p>Tại Đại Hội Điện Ánh Bá-linh 1997, Romeo + Juliet đã đoạt giải cho đạo diễn và nam diễn viên. Cuốn phim này cũng được đề cử nhiều lần ở các giải thưởng khác. Theo trang mạng Rotten Tomatoes, Romeo + Juliet được 72% điểm của các nhà bình phim và 77% của khán giả.</p>
<p>* * *</p>
<p>Tuy nhiên nếu không tính số thu, cuốn phim Romeo and Juliet được nói tới, được ca tụng nhiều nhất phải là cuốn phim Anh – Ý do đạo diễn Franco Zeffirelli thực hiện năm 1968.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/05/Romeo-and-Juliet-6.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-39504" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/05/Romeo-and-Juliet-6-222x300.jpg?strip=all" alt="" width="309" height="418" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/05/Romeo-and-Juliet-6-222x300.jpg?strip=all 222w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/05/Romeo-and-Juliet-6.jpg?strip=all 738w" sizes="(max-width: 309px) 100vw, 309px" /></a></p>
<p><strong>Franco Zeffirelli</strong>, sinh năm 1923, được xem là đạo diễn, nhà sản xuất phim ảnh, truyền hình, ca kịch opera nổi tiếng bậc nhất của Ý. Cùng với cuốn phim Romeo and Juliet (1968), phim tập ngắn kỳ (mini-series) <strong>Jesus of Nazareth</strong> (1977) của ông đã được xem là một tác phẩm bất hủ, hầu như năm nào cũng được chiếu lại trên truyền hình vào các dịp lễ Phục sinh và Giáng Sinh.</p>
<p>Trong lĩnh vực nghề nghiệp, Franco Zeffirelli là một người cầu toàn, vì thế ông đã mất mấy năm trời mới hoàn tất Jesus of Nazareth với 19 diễn viên vai chính và gần 100 diễn viên vai phụ, tất cả đều là diễn viên tên tuổi.</p>
<p>Thế nhưng trước đó 9 năm, khi thực hiện phim Romeo and Juliet, Franco Zeffirelli lại chọn hai diễn viên chưa có tên tuổi để thủ vai chính. Ông không chọn các diễn viên đã sẵn nổi tiếng vì sợ khán giả bị “phân tâm” về những vai trò nổi tiếng của họ trước đó.</p>
<p>Nhưng “chưa có tên tuổi” chỉ là một trong ba điều kiện; hai điều kiện còn lại là phải cùng lứa tuổi với nhân vật trong phim, và có khả năng diễn xuất.</p>
<p>Vì ba điều kiện nói trên, cả hai người được Franco Zeffirelli chọn để thủ vai Romeo, Juliet đều là các mầm non trên sân khấu kịch nghệ: <strong>Leonard Whiting</strong>, 17 tuổi, và <strong>Olivia Hussey</strong>, 15.</p>
<p>Franco Zeffirelli đã mất hơn ba tháng trời để phỏng vấn (audition) 300 ứng viên mới chấm được Leonard Whiting, người mà ông mô tả “có khuôn mặt tuyệt vời, đáng yêu với những nét u uẩn, lý tưởng để thể hiện nhân vật Romeo”.</p>
<p>Số ứng viên cho vai Juliet thì lên tới 500 người, với kết quả Olivia Hussey, với nét đẹp độc đáo của một cô gái mang hai dòng máu Anh – Á-căn-đình, được chọn. Trước đó, Olivia Hussey mới chỉ xuất hiện một vài lần trên khấu kịch nghệ qua các vai phụ.</p>
<p><em>[Cũng với nét đẹp Anh lai Mỹ la-tinh đó, về sau Olivia Hussey đã được Franco Zeffirelli chọn thủ vai <strong>Đức mẹ Maria</strong> trong phim tập truyền hình </em><em>Jesus of Nazareth]</em></p>
<p>Vì Leonard Whiting và Olivia Hussey đều là diễn viên trẻ thiếu kinh nghiệm, đạo diễn Franco Zeffirelli đã phóng tác kịch bản sao cho thích hợp, chẳng hạn rút ngắn các câu đối thoại trong khi ống kính chú trọng khai thác sự lột tả trên nét mặt.</p>
<p>Kết quả, dưới sự hướng dẫn đạo diễn Franco Zeffirelli, Leonard Whiting và Olivia Hussey đã không chỉ khiến ông hài lòng mà còn được cả giới phê bình lẫn khán giả ca tụng. Tại giải Trái Cầu Vàng, cặp diễn viên trẻ này đã đoạt giải Diễn viên mới xuất sắc nhất (New Star of the Year).</p>
<p>Về cảnh trí, vốn là một người cầu toàn, đạo diễn Franco Zeffirelli đã phải sử dụng tới bảy lâu đài, dinh thự, nhà thờ xây từ thời Phục Hưng để quay các ngoại cảnh, trong đó dinh thự Palazzo Borghese của dòng họ Borghese, nơi có cái ban-công giống hệt sự mô tả trong nguyên tác của Shakespeare, để quay cảnh tỏ tình của Romeo và Juliet.</p>
<p>Đặc biệt cảnh đấu kiếm giữa các nhân vật thuộc hai dòng họ Montague và Capulet đã được mô tả là ly kỳ rùng rợn ngoài sức tưởng tượng!</p>
<p>Chỉ có một cảnh gây tranh luận, nhưng cũng là cảnh hấp dẫn nhất trong phim, là cảnh động phòng của Romeo và Juliet trong đêm tân hôn: Olivia Hussey khỏa thân khi cô mới 15 tuổi!</p>
<p>Tại giải Oscar năm 1969, Romeo &amp; Juliet được đề cử bốn giải và đoạt hai (quay phim và trang phục). Tại giải Trái Cầu Vàng, cuốn phim được đề cử năm giải và đoạt ba (phim nói tiếng Anh, nam nữ diễn viên mới).</p>
<p>Hiện nay, trên trang mạng Rotten Tomatoes, Romeo and Juliet được các nhà bình phim cho 94%, và IMDb cho điểm 7.9/10.</p>
<p>Nhà phê bình Roger Ebert (1942-2013) đã viết trên tờ <em>Chicago Sun-Times</em>: Theo tôi, Romeo and Juliet của Franco Zeffirelli là cuốn phim có sức thu hút mạnh mẽ nhất trong số các tác phẩm của Shakespeare được đưa lên màn bạc!</p>
<p>* * *</p>
<p>Nhạc phim Romeo and Juliet  (1968) do Nino Rota soạn.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/05/Nino-Rota.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-39509" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/05/Nino-Rota-300x300.jpg?strip=all" alt="" width="300" height="300" srcset="https://cdn.t-van.net/2019/05/Nino-Rota-150x150.jpg 150w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/05/Nino-Rota-300x300.jpg?strip=all 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/05/Nino-Rota.jpg?strip=all 400w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Nino Rota</strong> (1911 – 1979)</p>
<p><strong>Nino Rota</strong> (1911 – 1979) là nhà soạn nhạc, nhạc sĩ dương cầm, nhạc trưởng, và giáo sư âm nhạc nổi tiếng của Ý. Với người yêu chuộng bộ môn nghệ thuật thứ bảy, Nino Rota được biết tới qua nhạc phim của những cuốn phim bất hủ như <em>Romeo and Juliet, The Godfather part II </em>(đoạt giải Oscar nhạc phim)&#8230;</p>
<p>Tính số lượng, Nino Rota là một trong những nhà soạn nhạc phim lớn nhất thế giới, với trên 150 cuốn phim Ý cũng như quốc tế, trung bình mỗi năm ba cuốn phim trong sự nghiệp trải dài 46 năm.</p>
<p>Bên cạnh nhạc phim, Nino Rota còn soạn 10 vở opera, năm vở ballet, và hàng chục tác phẩm cho dàn đại hòa tấu, hợp xướng, nhạc thính phòng&#8230;, đồng thời giảng dạy tại nhạc viện Liceo Musicale ở Bari, Ý, trong suốt 30 năm.</p>
<p>Nhạc phim Romeo and Juliet do Nino Rota soạn gồm chín ca khúc, nhạc khúc, đã đoạt giải Silver Ribbon của Hiệp hội Ký giả Điện ảnh Ý, được đề cử giải BAFTA (Điện ảnh Anh quốc) và giải Trái Cầu Vàng cho nhạc phim.</p>
<p>Trong số chín ca khúc, nhạc khúc nói trên, được đánh giá cao nhất là</p>
<p>bản số 2, tức ca khúc <em>What Is a Youth</em>, soạn theo theo cung điệu và ca từ của thời Nữ hoàng Elizabeth đệ Nhất (Elizabethan), do thi sĩ Mỹ Eugene Walter đặt lời hát, được một nghệ nhân (lồng giọng của Glen Weston) trình diễn trong buổi dạ vũ hóa trang ở lâu đài của dòng họ Capulet, nơi Romeo và Juliet gặp nhau lần đầu tiên (và bị tiếng sét ái tình).</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=0nYG_wQMheg" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>Romeo and Juliet &#8211; What Is A Youth</em></strong></a></p>
<p>Tuy nhiên, mặc dù mang giá trị nghệ thuật cao, <em>What Is a Youth</em> chỉ có ý nghĩa và sức thu hút với khán giả xem phim, còn với người nghe nhạc nói chung, ca khúc này không gây ấn tượng mạnh.</p>
<p>Vì thế, sau khi cuốn phim Romeo and Juliet được phát hành (tháng 4/1968), nhạc trưởng Henry Mancini đã rút ngắn, cải biên <em>What Is a Youth</em> để có một nhạc khúc dài 2 phút 40 giây mà ông đặt tựa là <em>Love Theme from Romeo &amp; Juliet</em>.</p>
<p style="text-align: center;"><strong><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/05/henri-mancini-1.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-39508" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/05/henri-mancini-1-300x200.jpg?strip=all" alt="" width="411" height="274" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/05/henri-mancini-1-300x200.jpg?strip=all 300w, https://cdn.t-van.net/2019/05/henri-mancini-1-768x511.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/05/henri-mancini-1.jpg?strip=all 1006w" sizes="(max-width: 411px) 100vw, 411px" /></a></strong></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Henry Mancini (1924-1994)</strong></p>
<p><strong>Henry Mancini</strong> (1924-1994) mà chúng tôi đã nhắc tới <a href="https://t-van.net/?p=38538">trong bài 84</a> khi viết về ca khúc <em>Moon River</em>, là một nhà soạn nhạc, nhạc trưởng, kiêm nhà soạn hòa âm phối khí nổi tiếng bậc nhất của Mỹ, từng được trao tặng bốn giải Oscar và một giải Trái Cầu Vàng cho nhạc phim và ca khúc trong phim; ông giữ kỷ lục với 72 lần được xướng danh giải âm nhạc Grammy (và đoạt 20 giải).</p>
<p><em>Love Theme from Romeo &amp; Juliet </em>do dàn nhạc Henry Mancini thu đĩa được tung ra tháng 5/1969. Thay vì cho trình làng tại các đài phát thanh chuyên phát nhạc êm dịu, Henry Mancini quyết định trao cho các đài phát thanh nhạc pop, có nghĩa là sẽ phải đương đầu với những ca khúc pop, rock đang làm mưa gió trên làn sóng điện của các ban The Beatles, Rolling Stones&#8230;</p>
<p>Vì thế hầu hết các đài phát thanh này đã từ chối phát bản <em>Love Theme from Romeo &amp; Juliet</em>, trừ một đài ở Orlando, Florida.</p>
<p>Vậy mà chưa đầy một tháng sau, nhạc khúc này đã “đá” ca khúc <em>Get Back</em> của The Beatles khỏi vị trí No.1 trên bảng xếp hạng Billboard Hit 100, đồng thời đứng No.1 trên bảng xếp hạng nhạc nhẹ (easy listening) suốt tám tuần lễ.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><strong> </strong><a href="https://www.youtube.com/watch?v=z66YxLygpro" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>LOVE Theme From &#8220;ROMEO &amp; JULIET&#8221; (A Time For Us) ♫ Henry MANCINI &amp; His Orchestra</em></strong></a></p>
<p>Về sau, phiên bản <em>Love Theme from Romeo &amp; Juliet </em>do Henry Mancini cải biên cũng đem lại thành công đáng kể cho nhiều nghệ sĩ khác, như nhạc sĩ dương cầm Pháp Richard Clayderman, nhạc sĩ vĩ cầm Hòa-lan André Rieu&#8230;</p>
<p><strong>Phụ lục 3: <em>Romeo &amp; Juliet</em> (violin), André Rieu </strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-39499-36" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/05/03-Romeojuliet-violin.mp3?_=36" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/05/03-Romeojuliet-violin.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/05/03-Romeojuliet-violin.mp3</a></audio>
<p>Trước thành công của đĩa hòa tấu <em>Love Theme from Romeo &amp; Juliet</em>, hai nhà đặt lời hát Eddie Snyder và Larry Kusik của Mỹ đã viết lời hát mới cho nhạc khúc này, với tựa <em>A Time For Us</em>.</p>
<p><strong><em>A Time For Us</em></strong></p>
<p><em>A time for us, someday there&#8217;ll be<br />
When chains are torn by courage born of a love that&#8217;s free</em></p>
<p><em>A time when dreams, so long denied<br />
Can flourish as we unveil the love we now must hide</em></p>
<p><em>A time for us at last to see<br />
A life worthwhile for you and me<br />
And with our love through tears and thorns<br />
We will endure as we pass surely through every storm</em></p>
<p><em>A time for us, someday there&#8217;ll be<br />
A new world, a world of shining hope for you and me</em></p>
<p><em>A time for us at last to see<br />
A life…</em></p>
<p><em>A Time For Us</em> được nhiều nam danh ca thu đĩa, trong số đó có<br />
Andy Williams, phát hành tháng 7/1969, và Johnny Mathis, phát hành sau đó hai tháng.</p>
<p><strong>Phụ lục 4: <em>A Time For Us</em>, Andy Williams</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-39499-37" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/05/04-A-time-for-us.mp3?_=37" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/05/04-A-time-for-us.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/05/04-A-time-for-us.mp3</a></audio>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=Ds_vwsTFoLk" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>JOHNNY MATHIS &#8211; A TIME FOR US</em></strong></a></p>
<p>Tới những năm cuối thế kỷ thứ 20, đã có thêm một phiên bản độc đáo qua giọng countertenor của nam ca sĩ Anh <strong>Barratt Waugh</strong>.</p>
<p>Barratt Waugh, sinh năm 1979, là một trong những nam ca sĩ hiếm hoi có một giọng “countertenor” (tức contra-tenor), được định nghĩa là “một loại giọng nam, có tính chất cao và thanh, hát nốt cao như một giọng nữ trầm (contralto) hoặc nữ trung (mezzo-soprano).</p>
<p>Xưa kia, việc sử dụng giọng countertenor rất phổ biến trong thời kỳ Phục hưng và Baroque, khi phụ nữ chưa được phép hát trong các ca đoàn ở nhà thờ. Giọng countertenor cũng thường được sử dụng trong các vở opera.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><strong> </strong><a href="https://www.youtube.com/watch?v=4FHpmn-KYec" target="_blank" rel="noopener"><strong>A time for us Romeo and Juliet 1968</strong><strong> Barratt Waugh</strong></a><strong> </strong></p>
<p>Về phiên bản tiếng ngoại quốc của<em> What Is a Youth</em>, bản tiếng Ý <em>Ai Giochi Addio</em> (Goodbye to the Games) với lời hát của nữ văn sĩ nổi tiếng Elsa Morante (1912 –1985) là phiên bản rất được giới ca sĩ opera, nhạc cổ điển ưa chuộng.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=69Jei8L5YVY" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>(Luciano Pavarotti) &#8211; &#8220;Ai Giochi Addio&#8221;</em></strong></a></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=EyPIdcVnOuM" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>Natasha Marsh &#8211; Ai Giochi Addio</em></strong></a><u></u></p>
<p>Theo thông tin trên các trang mạng, ca khúc <em>A Time For Us</em> đã được ít nhất ba tác giả đặt lời Việt, với cùng một tựa đề “Tình Sử Romeo &amp; Juliet”, là Phạm Duy, Xuân Vinh, và Quốc Bảo.</p>
<p><strong><em>Tình Sử Romeo &amp; Juliet</em></strong><strong><em> (LV: Phạm Duy)</em></strong></p>
<p><em>Giây phút êm đềm </em></p>
<p><em>Tình yêu nở hoa </em></p>
<p><em>Lắng nghe cùng ta </em></p>
<p><em>Trái tim muôn đời </em></p>
<p><em>Với mối tình say đắm </em></p>
<p><em>Ngây ngất cao vời </em></p>
<p><em>Nụ hôn thần tiên </em></p>
<p><em>Tình sáng ngợi </em></p>
<p><em>Người hãy mau ta cùng hát </em></p>
<p><em>Khúc ca tình yêu </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Tình hỡi ! Về đây ! Ta sẽ có nhau </em></p>
<p><em>Nghìn thu nào phai </em></p>
<p><em>Ta mãi còn nhau </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Giây phút êm đềm </em></p>
<p><em>Lệ giăng bờ mi </em></p>
<p><em>Đắng cay còn không ? </em></p>
<p><em>Xót xa tâm hồn </em></p>
<p><em>Đã qua rồi giông tố </em></p>
<p><em>Ta giữ lâu dài </em></p>
<p><em>Đừng cho nhạt phai </em></p>
<p><em>Một mối tình </em></p>
<p><em>Người hỡi trăm năm còn nhớ </em></p>
<p><em>Giấc mơ nào phai&#8230;</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Phụ lục 5: <em>Tình sử Romeo &amp; Juliet</em> (Phạm Duy), Ngọc Lan</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-39499-38" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/05/05-Tinh-su-R-and-J-ngoc-lan.mp3?_=38" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/05/05-Tinh-su-R-and-J-ngoc-lan.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/05/05-Tinh-su-R-and-J-ngoc-lan.mp3</a></audio>
<p><strong>Phụ lục 6: <em>Tình sử Romeo &amp; Juliet</em>, Khánh Hà<br />
</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-39499-39" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/05/TinhSuRomeoJuliette-KhanhHa.mp3.mp3?_=39" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/05/TinhSuRomeoJuliette-KhanhHa.mp3.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/05/TinhSuRomeoJuliette-KhanhHa.mp3.mp3</a></audio>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong><em>Tình Sử Romeo &amp; Juliet</em></strong><strong><em> (LV: Xuân Vinh)</em></strong></p>
<p><em>Tình ấy cao vời nghìn thu nào phai<br />
Mắt môi người yêu những đêm trăng thềm<br />
Ngát hương tình âu yếm</em></p>
<p><em>Tình đã đong đầy, cầu xin từ đây</em><br />
<em>Đừng lỡ làng, đừng úa phai như ngàn lá</em><br />
<em>Rơi trong chiều thu</em></p>
<p><em>Ngờ đâu tình kia tan nát hồn đau</em><br />
<em>Chìm sâu vì đâu ôi vì đâu</em><br />
<em>Thôi đã hết rồi tình yêu thần tiên</em><br />
<em>kiếp sau </em><em>ch</em><em>ờ nhau<br />
</em><br />
<em>Mối tơ duyên đầu vẫn yêu hoài một bóng<br />
Đôi đứa đã dìu về trong mộ sầu để kiép nào<br />
Tình đó thiên thu đời nhắc cho ta hoài mơ</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=BTDtbrcNfP0" target="_blank" rel="noopener"><strong>Tình Sử Romeo And Juliet &#8211; Ngọc Lan || Tình Khúc Hải Ngoại</strong></a></p>
<p><strong><em>Tình Sử Romeo &amp; Juliet (LV: Quốc Bảo)</em></strong></p>
<p><em> </em><em>Giây phút ban đầu ngày ta gặp nhau,<br />
Mắt yêu thầm trao những câu ân tình<br />
biết bao là âu yếm.</em></p>
<p><em>Những mối duyên đầu thường gây khổ đau,</em><br />
<em>Lòng khóc thầm vì phút chia ly chợt đến</em><br />
<em>như mưa trời ngâu.</em></p>
<p><em>Nhìn lá vàng rơi xao xuyến hồn tôi,</em><br />
<em>từ đây người ơi thôi hết từ đây</em></p>
<p><em>Thôi đã hết rồi, tình yêu đầu tiên</em><br />
<em>giống như hạt mưa mát cho tâm hồn</em></p>
<p><em>phút giây rồi chợt đến</em></p>
<p><em>Theo áng mây sầu ngàn năm buồn trôi,</em><br />
<em>người hỡi người, người hỡi</em></p>
<p><em>đang say hạnh </em><em>phúc thấu cho tình ta. </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><strong>HOÀI NAM</strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p>©T.Vấn 2019</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/hoai-nam-nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet-87-nhac-phim-a-time-for-us-tinh-su-romeo-juliet-nino-rota-lawrence-kusik-edward-snyder/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/05/01-Born-free.mp3" length="6773776" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/05/02-Mrs.-Robinson.mp3" length="3759565" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/05/03-Romeojuliet-violin.mp3" length="8824192" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/05/04-A-time-for-us.mp3" length="5839396" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/05/05-Tinh-su-R-and-J-ngoc-lan.mp3" length="8873260" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/05/TinhSuRomeoJuliette-KhanhHa.mp3.mp3" length="9448547" type="audio/mpeg" />

			</item>
		<item>
		<title>Hòai Nam: NHỮNG CA KHÚC NHẠC NGOẠI QUỐC LỜI VIỆT &#8211; (86) &#8211; NHẠC PHIM – Somewhere, My Love (Hỡi người tình Lara/Người yêu tôi đâu), Maurice Jarre &#038; Paul Francis Webster</title>
		<link>https://t-van.net/hoai-nam-nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet-86-nhac-phim-somewhere-my-love-hoi-nguoi-tinh-lara-nguoi-yeu-toi-dau-maurice-jarre-paul-francis-webster/</link>
					<comments>https://t-van.net/hoai-nam-nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet-86-nhac-phim-somewhere-my-love-hoi-nguoi-tinh-lara-nguoi-yeu-toi-dau-maurice-jarre-paul-francis-webster/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Hòai-Nam]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 24 Apr 2019 05:02:37 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[hòai nam]]></category>
		<category><![CDATA[nhac ngoai quoc loi viet]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=39201</guid>

					<description><![CDATA[Bài này chúng tôi viết về bản Somewhere, My Love, nguyên là nhạc khúc Lara’s Theme trích trong nhạc phim Doctor Zhivago (1965) của Maurice Jarre, do Paul Francis Webster đặt lời hát, được Phạm Duy và Trường Hải đặt lời Việt với tựa Hỡi người tình Lara và Người yêu tôi đâu.  Có thể [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/04/7517633_l.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-39206" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/04/7517633_l-300x205.jpg?strip=all" alt="" width="361" height="247" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/04/7517633_l-300x205.jpg?strip=all 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/04/7517633_l.jpg?strip=all 745w" sizes="(max-width: 361px) 100vw, 361px" /></a></p>
<p>Bài này chúng tôi viết về bản <em>Somewhere, My Love</em>, nguyên là nhạc khúc <em>Lara’s Theme</em> trích trong nhạc phim Doctor Zhivago (1965) của Maurice Jarre, do Paul Francis Webster đặt lời hát, được Phạm Duy và Trường Hải đặt lời Việt với tựa <em>Hỡi người tình Lara </em>và <em>Người yêu tôi đâu.</em></p>
<p><em> </em>Có thể viết, năm 1965 là một trong những năm “được mùa” nhất của nền nhạc phim. Trước hết, ca khúc <em>The Shadow of Your Smile</em> (phim The Sandpiper) đoạt giải Oscar cho ca khúc trong phim mà chúng tôi đã <a href="https://t-van.net/?p=38833">giới thiệu trong bài kỳ trước</a>. Kế tới, cả hai cuốn phim ăn khách nhất, The Sound of Music và Doctor Zhivago, đều đoạt giải Oscar cho nhạc phim: The Sound of Music đoạt giải Nhạc phim phóng tác (Scoring of Music – Adaptation or Treatment), và Doctor Zhivago đoạt giải Nhạc phim nguyên tác (Original Score).</p>
<p>Trước hết viết về The Sound of Music, cuốn phim phóng tác từ vở ca nhạc kịch có cùng tựa đề, do Richard Rodgers soạn nhạc và Oscar Hammerstein II viết lời hát. Kịch bản của The Sound of Music dựa theo cuốn hồi ký <em>The Story of the Trapp Family Singers</em>  của <strong>Maria von Trapp</strong>, cũng là nhân vật chính trong truyện.</p>
<p>Maria nguyên là một tập sinh với tính tình hồn nhiên và thích ca hát trong một nữ tu viện Công giáo ở Salzburg, Áo quốc, vào năm 1938 được gửi tới làm gia sư tại biệt thự của Georg von Trapp, một vị sĩ quan hải quân về hưu khó tính, góa vợ với 7 đứa con.</p>
<p>Với sự kiên nhẫn, tận tụy và tình thương, Maria mau chóng thu phục được tình cảm của những đứa trẻ. Sau khi trình bày với Mẹ bề trên về tình cảm giữa cô và von Trapp, Maria và vị thuyền trưởng kết hôn.</p>
<p>Cuối cùng, nhờ sự giúp đỡ của Mẹ bề trên và các xơ ở tu viện cũ của Maria, gia đình von Trapp đã vượt thoát khỏi vùng Đức quốc xã chiếm đóng tới vùng núi Alps ở Thụy-sĩ, từ đó thành lập một ban hợp ca “gia đình” để trình diễn.</p>
<p>Năm 1956, hãng phim Mỹ Paramount Pictures mua bản quyền cuốn hồi ký <em>The Story of the Trapp Family Singers</em> rồi mướn Richard Rodgers và Oscar Hammerstein II viết các ca khúc cho vở ca nhạc kịch có tựa đề The Sound of Music.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/04/81xRnNIkRL__SX355_.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-39205" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/04/81xRnNIkRL__SX355_-300x265.jpg?strip=all" alt="" width="334" height="295" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/04/81xRnNIkRL__SX355_-300x265.jpg?strip=all 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/04/81xRnNIkRL__SX355_.jpg?strip=all 355w" sizes="(max-width: 334px) 100vw, 334px" /></a></p>
<p><strong>Richard Rodgers</strong> (1902 – 1979) không chỉ được xem là một trong những nhà soạn nhạc quan trọng nhất của nền âm nhạc Hoa Kỳ trong thế kỷ thứ     20, mà còn tạo ảnh hưởng sâu đậm trong nền nhạc phổ thông.</p>
<p>Qua sự nghiệp gồm trên 900 ca khúc, 43 vở ca nhạc kịch và phim ảnh, chương trình truyền hình&#8230;, Richard Rodgers đã trở thành người đầu tiên (trong tổng số 15 người, tính tới nay) đã đoạt cả bốn đại  giải của Hoa Kỳ, gồm Emmy (truyền hình), Grammy (Âm nhạc), Oscar (Điện ảnh), và Tony (Sân khấu kịch nghệ), viết tắt là EGOT.</p>
<p>Bên cạnh đó, Richard Rodgers còn được trao tặng giải thưởng cao quý Pulitzer Prize dành cho âm nhạc; tính cho tới nay mới chỉ có thêm một người khác được trao tặng cả năm giải thưởng nói trên là nhà soạn nhạc kiêm nhạc trưởng Marvin Hamlisch (1944 – 2012).</p>
<p>Trong việc soạn ca khúc, Richard Rodgers thường hợp tác với hai nhà viết lời hát Lorenz Hart và Oscar Hammerstein II.</p>
<p><strong>Oscar Hammerstein II</strong> (1895 – 1960), chúng tôi đã nhắc tới trong <a href="https://t-van.net/?p=10812">bài viết về ca khúc <em>One Day When We Were Young</em></a> (Khúc hát thanh xuân), là nhà viết lời hát, nhà sản xuất, đạo diễn sân khấu kịch nghệ nổi tiếng của Hoa Kỳ. Riêng trong lĩnh vực viết lời hát, ông chuyên về ca từ nhạc kịch cổ điển (opera, operetta) và jazz tiêu chuẩn.</p>
<p>Trong sự nghiệp của mình, Oscar Hammerstein II đã được trao tặng tám giải kịch nghệ Tony và hai giải Osar cho ca khúc trong phim. Ông đã viết lời hát cho trên 850 ca khúc, thành công nhất là những bản hợp soạn với nhà soạn nhạc Richard Rodgers; cho nên hai ông được xem là một cặp bài trùng với bút hiệu cầu chứng “Rodgers and Hammerstein”.</p>
<p>Vở ca nhạc kịch The Sound of Music do Richard Rodgers và Oscar Hammerstein II hợp soạn ra mắt tại Nữu Ước ngày 16/12/1959, diễn liên tục 1,443 buổi trong khoảng thời gian 3 năm, đoạt 6 giải Tony trong đó có giải Ca nhạc kịch hay nhất. Tại West End, thủ đô kịch nghệ Anh quốc, The Sound of Music diễn 2,385 buổi.</p>
<p>Từ đó tới nay, hầu như trong mỗi thập niên, The Sound of Music lại được dựng lại trên các sân khấu Broadway, West End, và nhiều quốc gia Âu Mỹ khác&#8230;</p>
<p>Năm 1960, hãng phim Mỹ 20<sup>th</sup> Century Fox mua tác quyền của The Sound of Music với giá 1.25 triệu Mỹ kim (tương đương 10,600,000 vào năm 2018) để thực hiện thành phim điện ảnh.</p>
<p>Vai Maria được trao cho nữ diễn viên Anh Julie Andrews, vai Hải quân Đại úy Georg von Trapp được trao nam diễn viên Gia-nã-đại Christopher Plummer.</p>
<p>Phần nhạc đệm và các ca khúc nguyên tác của “Rodgers and Hammerstein” trong vở ca nhạc kịch được nhạc trưởng Irwin Kostal (1911 – 1994) soạn lại hòa âm phối khí cho phù hợp với một cuốn phim điện ảnh.</p>
<p>The Sound of Music được quay dưới dạng DeLuxe Color 70 ly (tương tự phim Ben Hur trước đó mấy năm), âm thanh nổi 6 track ( six-track stereo sound).</p>
<p>Phát hành tại Hoa Kỳ ngày 2/3/1965, sau bốn tuần lễ, The Sound of Music đã lên tới hạng No.1 và trở thành phim có số thu cao nhất trong năm 1965; qua năm 1966, The Sound of Music đã qua mặt phim Gone With the Wind (Cuốn theo chiều gió) để trở thành cuốn phim có số thu cao nhất xưa nay tại Hoa Kỳ và ở vị trí này trong suốt 5 năm liên tục, đồng thời phá kỷ lục tại 29 quốc gia khác.</p>
<p>Tại giải điện ảnh Oscar năm 1966, The Sound of Music nhận được 10 đề cử và đoạt năm giải – Phim hay nhất, Đạo diễn, Phân cảnh (Editing), Nhạc phim phóng tác, và Âm thanh.</p>
<p>Năm 1998, The Sound of Music được Viện Phim ảnh Hoa Kỳ (American Film Institute) xếp hạng 55 trong danh sách 100 cuốn phim hay nhất của mọi thời đại, và hạng 4 trong số những cuốn phim ca nhạc hay nhất.</p>
<p>Năm 2001, The Sound of Music được đưa vào danh sách phim được bảo tồn của Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=pLm07s8fnzM" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>The Sound of Music (4/5) Movie CLIP &#8211; Do-Re-Mi (1965) HD</em></strong></a></p>
<p>Trong giải Oscar năm 1966, Doctor Zhivago, cuốn phim “đối thủ” của The Sound of Music<em>, </em>cũng nhận được 10 đề cử và đoạt năm giải –  Kịch bản phóng tác, Nhạc phim nguyên tác (Best Original Score), Hình ảnh (Cinematography, Quay phim), Dựng cảnh (Best Art Direction), và Y phục.</p>
<p>Cả hai đều nằm trong Top 10 những cuốn ăn khách nhất xưa nay, cùng được Viện Phim ảnh Hoa Kỳ đưa vào danh sách 100 cuốn phim hay nhất của mọi thời đại &#8211; Doctor Zhivago hạng 39, The Sound of Music hạng 55 &#8211; cùng được trang mạng tổng kết phê bình IMDb xếp hạng “phim hay nhất”.</p>
<p>Việc Doctor Zhivago  phải nhường giải Oscar phim hay nhất cho The Sound of Music được một số người giải thích như sau:</p>
<p>(1) The Sound of Music là một cuốn phim Mỹ, được hãng 20<sup>th</sup> Century Fox tận dụng mọi phương tiện truyền thông để quảng cáo; nữ diễn viên Julie Andrews trở thành khuôn mặt được xuất hiện nhiều nhất trong suốt mấy tháng trời, trong khi Doctor Zhivago, một sản phẫm hỗn hợp Anh – Ý, lẽ tất nhiên không được truyền thông Mỹ dành cho những sự “ưu ái” như The Sound of Music<em>.</em></p>
<p>(2) The Sound of Music<em>  </em>là một cuốn phim giải trí thuần túy, đối tượng khán giả gồm đủ “nam phụ lão ấu”, trong khi Doctor Zhivago, ít nhiều chuyển tải những tư tưởng chính trị và thân phận con người, đối tượng khán giả vì thế bị hạn chế.</p>
<p>* * *</p>
<p>Phim Doctor Zhivago lấy cốt truyện từ cuốn tiểu thuyết có cùng tựa của Boris Pasternak.</p>
<p><strong>Boris </strong><strong>Pasternak</strong> (1890 – <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1960">1960</a>) là một nhà thơ, nhà văn <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nga">Nga</a> từng đoạt Giải Nobel Văn học năm 1958. Tại Nga nói riêng, ông nổi tiếng và được yêu chuộng chủ yếu qua những tập thơ của mình, nhưng với thế giới nói chung, nhắc tới tên tuổi Boris Pasternak mọi người sẽ nhớ ngay tới cuốn tiểu thuyết Doctor Zhivago.</p>
<p><em> </em>Boris Pasternak sinh trưởng trong một gia đình gốc Do-thái, cha là   một họa sĩ kiêm viện sĩ Hàn lâm viện Nghệ thuật Saint Petersburg, mẹ là một nhạc sĩ dương cầm.</p>
<p>Từ nhỏ, Boris Pasternak đã sống trong một bầu không khí của văn chương, âm nhạc với vị khách họa sĩ, nhạc sĩ, thi văn sĩ nổi tiếng thường xuyên lui tới nhà, như nhà soạn nhạc Sergey Rahmaninov, văn hào Leo Tolstoy&#8230;</p>
<p>Năm 13 tuổi (1903), Boris Pasternak bắt đầu học nhạc, nhưng sáu năm sau ông bỏ dở để chuyển sang thơ văn. Tới đầu thập niên 1930, Boris Pasternak đã được xem nhà thơ hàng đầu của Liên Xô.</p>
<p>Boris Pasternak còn là một dịch giả có tài. Ông chuyên dịch thơ cổ điển của Anh, Pháp, Đức&#8230;, đặc biệt các bản dịch các tác phẩm bi kịch của William Shakespeare của ông đã được đánh giá hay nhất trong số những bản dịch sang Nga ngữ.</p>
<p>Khi Cách mạng tháng Mười (1917) của phe cộng sản xảy ra, trong khi hầu hết bạn bè và người thân bỏ nước ra đi, Boris Pasternak đã tự nguyện ở lại với “cách mạng”. Nhưng tới đầu thập niên 1930, ông bị thất sủng vì “tư tưởng và phong cách cá nhân” không thích hợp với chế độ cộng sản.</p>
<p>Trong khoảng thời gian 10 năm từ 1945 đến 1955, Boris Pasternak viết cuốn tiểu thuyết quan trọng nhất trong sự nghiệp của ông – Doctor Zhivago (Bác sĩ Zhivago), mà nhiều học giả đã so sánh với Gone With the Wind (Cuốn theo chiều gió) của Margaret Mitchell (Hoa Kỳ) – một chuyện tình bất tử lồng trong bối cảnh lịch sử đổi đời.</p>
<p>Boris Pasternak đã dựa vào những gì xảy ra cho bản thân ông và mối tình gian khổ với <strong>Olga Ivinskaya</strong> để xây dựng hai nhân vật chính là Bác sĩ Zhivago và nguời tình Lara Antipova.</p>
<p>Bối cảnh của cuốn Doctor Zhivago là cuộc Cách mạng Nga năm 1917, từ thời Đệ Nhất Thế Chiến cho tới khi Cách mạng tháng 10 xảy ra, tiếp theo là cuộc nội chiến giữa Hồng Quân và Bạch Vệ.</p>
<p>Sống trong giai đoạn bất an, trong bầu không khí khủng bố và nghi kỵ của thời đại Stalin, Bác sĩ Zhivago tự tìm lối thoát trong cuộc sống và đi tìm hạnh phúc trong tình yêu để xoa dịu bản thân.</p>
<p>Cuốn truyện mở đầu với phần giới thiệu cậu bé Yuri Zhivago 10 tuổi trong đám tang của bà mẹ. Lớn lên Yuri theo học y khoa, làm thơ, và cưới cô vợ <strong>Tonya Gromeko.</strong> Đệ Nhất Thế Chiến nổ ra, Yuri Zhivago tòng quân trở thành bác sĩ quân y.</p>
<p><strong>Lara Antipova</strong> là một cô gái trẻ từng bị luật sư Komarovsky, tình nhân của mẹ cô, cưỡng hiếp. Sau đó, Lara kết hôn với Pasha, người tình đầu, có một con gái trước khi Pasha phải tòng quân và được ghi nhận mất tích. Lara tình nguyện trở thành y tá với hy vọng tìm kiếm tông tích chồng. Yuri Zhivago vào bệnh viện thăm vợ khi nàng sanh đứa con trai đầu lòng và gặp cô y tá Lara. Ngay từ những giây phút đầu ấy, hai người đã thầm yêu nhau.</p>
<p>Rồi cuộc Cách mạng Nga nổ ra, tiếp theo là cuộc nội chiến đưa tới xung đột, đói khổ, bệnh tật, chết chóc. Cuộc đời của các nhân vật trong truyện bị lôi cuốn vào dòng lịch sử bi thảm ấy, và cũng chính những tình cờ của lịch sử đã tạo cơ hội cho mối tình thơ đẹp nhưng không kém phần cuồng nhiệt giữa Yuri và Lara nảy nở&#8230;</p>
<p>Trong những phần cuối của cuốn truyện, vợ con của Yuri bị thất lạc, Pasha, chồng của Lara trở về trong cương vị một tay trùm Đỏ khét tiếng với cái tên mới Strelnikov, lão luật sư Komarovsky (kẻ đã cưỡng hiếp Lara) tái xuất hiện, Yuri đồng ý để Lara theo lão vượt thoát ra ngoại quốc, còn chàng ở lại một mình, vùi đầu trong men rượu&#8230;</p>
<p>Cuối cùng, Yuri trở lại Mạc-tư-khoa, lấy một người vợ khác, có hai con. Với sức khỏe ngày càng suy yếu, Yuri bỏ đi sống một mình với mục đích hoàn tất những tác phẩm dở dang của mình. Đúng vào thời gian này, tướng Yevgraf Zhivago, anh em cùng cha khác mẹ với Yuri, phục vụ trong cơ quan mật vụ KGB, tìm gặp được Yuri, kiếm cho em trai một chân bác sĩ trong bệnh viện và mua cho một bộ đồ mới. Nhưng ngày hôm sau, trên đường đi làm Yuri lên cơn đau tim, gục chết trên hè phố.</p>
<p>Cùng thời gian, Lara trở lại Nga, được tin chồng (cựu trùm đỏ Strelnikov) đã bị thanh trừng. Sau khi dự đám tang của Yuri, Lara nhờ tướng Yevgraf Zhivago giúp nàng tìm đứa con gái, kết quả của cuộc tình với Yuri, bị thất lạc trong chiến tranh.</p>
<p>Việc chưa thành, Lara bị bắt trong cuộc Đại thanh trừng của Stalin, và có lẽ chết trong trại lao động khổ sai (gulag).</p>
<p>Mười mấy năm sau, trong thời gian Đệ Nhị Thế chiến, hai người bạn thân của Bác sĩ Zhivago gặp lại nhau; và cả hai đều tin rằng cô thợ giặt <strong>Tanya Komarova</strong>, một cô gái mồ côi mang rất nhiều nét giống Yuri Zhivago và Lara Antipova, chính là con gái của cặp tình nhân bạc mệnh.</p>
<p>* * *</p>
<p>Boris Pasternak hoàn tất cuốn truyện Doctor Zhivago vào năm 1956, tức là 3 năm sau ngày bạo chúa Joseph Stalin qua đời, và Nikita Khrushchev đã lên làm Bí thư thứ nhất Đảng Cộng Sản Liên Xô kiêm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Về sau, Khrushchev được mọi người nhớ tới như một nhà cải cách (chủ nghĩa xét lại) nhưng vào những năm giữa thập niên 1950, cao điểm của cuộc Chiến Tranh Lạnh, một cuốn tiểu thuyết có nội dung như Doctor Zhivago dứt khoát không thể chấp nhận.</p>
<p>Thực ra, cũng như bản thân tác giả (Boris Pasternak), nhân vật Yuri Zhivago không chống lại “Cách mạng” nếu không muốn nói là ủng hộ. Nhưng Yuri Zhivago cảm nhận được những bất hạnh của những nạn nhân trong cuộc chiến do cách mạng gây ra, và bất mãn trước tư tưởng cực đoan, hành động vô nhân tính của những người đi theo cách mạng.</p>
<p>Vì thế, cuốn Doctor Zhivago đã bị chế độ CS Liên Xô lên án là “đưa ra một cái nhìn lệch lạc về cuộc Cách mạng tháng 10, và xuyên tạc những cố gắng xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân Liên Xô.”</p>
<p>Trước việc Doctor Zhivago bị cấm xuất bản tại Liên Xô, cuối năm 1956, một bản sao được lén lút chuyển ra ngoài và được nhà xuất bản Feltrinelli của Ý xuất bản vào năm 1957 bằng nguyên tác tiếng Nga, bất chấp sự can thiệp của cộng sản Liên Xô.</p>
<p><em>[Nhà xuất bản Feltrinelli do ông <strong>Giangiacomo Feltrinelli</strong> (1926 – 1972), một doanh gia kiêm đảng viên Đảng Cộng sản Ý, sáng lập, là cơ sở ấn loát, phát hành sách báo, tài liệu của các lực lượng thiên tả. Năm 1957, trước việc bị Đảng CS Liên Xô và không ít thành viên Đảng Cộng sản Ý lên án về việc xuất bản</em><em> cuốn truyện Doctor Zhivago, </em><em>ông Giangiacomo Feltrinelli xin ra khỏi Đảng. Năm 1972, ông chết tan xác vì chất nổ, và các thành viên của Lữ Đoàn Đỏ (Brigate Rosse = Red Brigade), tổ chức khủng bố của cộng sản Ý, bị nghi ngờ là thủ phạm]</em></p>
<p>Đầu năm 1958, Doctor Zhivago được xuất bản bằng tiếng Ý, tiếng Anh, và tới cuối năm cuốn sách đã được dịch sang 18 ngôn ngữ, trong số này, phiên bản tiếng Anh của Max Hayward và Manya Harari đã đứng đầu bảng best-seller của tờ Nữu Ước Thời Báo trong 26 tuần lễ liên tục.</p>
<p>Cũng trong năm 1958, Boris Pasternak được Hàn lâm viện Hoàng gia Thụy-điển trao tặng giải Nobel Văn học “vì những thành tựu đạt được trong nền thơ trữ tình hiện đại, và công lao tiếp nối truyền thống của nền tiểu thuyết sử thi Nga” &#8211; mà mọi người hiểu ngầm là cuốn Doctor Zhivago.</p>
<p>Boris Pasternak trở thành công dân Nga thứ hai đoạt giải Nobel Văn học; người trước đó là văn thi sĩ Ivan Bunin (1870 – 1953), một khuôn mặt chống cộng nổi tiếng, sống lưu vong và qua đời tại Paris.</p>
<p>Tuy nhiên, vì áp lực của chế độ CS Liên Xô, trong đó có việc hăm dọa sẽ đưa Olga Ivinskaya, người tình của Boris Pasternak, trở lại trại lao động khổ sai (gulag) nơi bà đã sống nhiều năm dưới thời Stalin, đồng thời bản thân ông một khi ra đi (lãnh giải) sẽ không bao giờ được trở lại quê hương, ông đã phải gửi điện tín cho Hàn lâm viện Hoàng gia Thụy-điển để từ chối giải thưởng!</p>
<p>Hai năm sau (1960), Boris Pasternak qua đời vào tuổi 70 vì ung thư phổi. Và phải đợi thêm 28 năm nữa (1988), sau khi cuốn Doctor Zhivago đã được phép xuất bản tại Liên Xô dưới thời Gorbachev, nhà văn Evguenii Pasternak, con trai của tác giả, mới được phép tới Thụy-điển để nhận giải Nobel Văn học của cha mình.</p>
<p>Sau khi chế độ cộng sản Liên Xô sụp đổ, tới năm 2003, cuốn Doctor Zhivago đã được đưa vào giáo trình lớp 11 của bậc trung học tại Cộng Hòa Liên Bang Nga.</p>
<p>* * *</p>
<p>Từ năm 1959 tới nay, Doctor Zhivago đã được dựng thành phim điện ảnh, phim tập truyền hình, và đưa lên sân khấu kịch nghệ nhiều lần, trong số này, cuốn phim Doctor Zhivago, một sản phẩm Anh – Ý thực hiện năm 1965 phải được xem là một trong những tác phẩm bất hủ của nền nghệ thuật thứ bảy, và cũng là cuốn phim được yêu chuộng nhất của đạo diễn Anh <strong>David Lean</strong>.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/04/David-Lean.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-39202" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/04/David-Lean-233x300.jpg?strip=all" alt="" width="233" height="300" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/04/David-Lean-233x300.jpg?strip=all 233w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/04/David-Lean.jpg?strip=all 750w" sizes="(max-width: 233px) 100vw, 233px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>David Lean, </strong><strong>CBE</strong><strong> (1908 – 1991)</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>(Sir) David Lean, CBE (1908 – 1991) là đạo diễn, nhà sản xuất, nhà viết kịch bản nổi tiếng nhất của Anh quốc mà chúng tôi đã có lần nhắc tới tên tuổi khi giới thiệu <em>Hành khúc Cầu sông Kwai</em>.</p>
<p>Trong danh sách the Top 100 British films của Viện Phim ảnh Anh quốc, có tới bảy cuốn phim của David Lean, và trong danh sách của Viện Phim ảnh Hoa Kỳ cũng có ba cuốn:The Bridge on the River Kwai (1957) hạng 36, Lawrence of Arabia (1962) hạng 7, và Doctor Zhivago (1965) hạng 39.</p>
<p>Sau khi cuốn truyện Doctor Zhivago được xuất bản và làm mưa gió khắp nơi, nhà sản xuất Carlo Ponti của Ý quyết định thực hiện thành phim. Ông mướn nhà viết kịch bản Robert Bolt của Anh quốc (hai lần đoạt giải Oscar cho kịch bản phóng tác) chuyển thể cuốn tiểu thuyết để cô vợ trẻ của ông, nữ diễn viên <strong>Sophia Loren</strong>, thủ vai Lara.</p>
<p>Năm 1995, đánh dấu 30 năm ngày trình chiếu Doctor Zhivago, ký giả kiêm sử gia Roger Ebert, nhà bình phim uy tín bậc nhất nước Mỹ từng đoạt giải Pulitzer Prize về phê bình, đã viết yếu tố thành công chính của Doctor Zhivago là kịch bản của Robert Ebert và cách thể hiện của David Lean, đã khiến chính trị chỉ còn là hậu cảnh cho chuyện tình, như những gì người ta đã làm trước đó với cuốn phim Gone With the Wind (Cuốn theo chiều gió).</p>
<p>Tới phần sắm vai (casting), trước hết đạo diễn David Lean đã ra sức thuyết phục nhà sản xuất Carlo Ponti rằng cô vợ trẻ Sophia Loren (đời vợ thứ hai) của ông ta không thích hợp một chút nào với vai Lara, vì vừa quá cao, vừa quá sexy để thủ vai nàng “trinh nữ” Lara trong phần đầu phim!</p>
<p>Sau đó David Lean đã nhắm tới một trong ba nữ diễn viên Yvette Mimieux (Pháp), Sarah Miles (Anh) và Jane Fonda (Mỹ), tuy nhiên đạo diễn Mỹ John Ford đã đề nghị ông chọn <strong>Julie Christie</strong>, nữ diễn viên trẻ của Anh quốc vừa đóng xong cuốn phim Young Cassidy của ông. Sau khi xem lại cuốn phim Billy Liar (1963) mà Julie Christie đóng khi mới bước vào nghề, David Lean đã nghe lời John Ford.</p>
<p>Về vai Bác sĩ Zhivago, David Lean đã lưỡng lự trước bốn nam diễn viên Max von Sydow (Pháp gốc Thụy-điển), Paul Newman (Mỹ), Michael Caine (Anh), và Omar Sharif (gốc Ai-cập), người thủ vai Sherif Ali trong cuốn phim Lawrence of Arabia của ông vào năm 1962. Cuối cùng David Lean đã chọn <strong>Omar Sharif</strong> mà ông tin là xứng đôi với Julie Christie nhất; sau đó, Omar Sharif đã xin cho cậu con trai Tarek của mình thủ Yuri Zhivago lúc còn nhỏ, và chính ông đã đạo diễn những cảnh này.</p>
<p>Về vai cô vợ <strong>Tonya</strong> của Bác sĩ Zhivago, lúc đầu David Lean dự tính trao cho Audrey Hepburn, nhưng sau khi gặp cô con gái Geraldine của Charlie Chaplin, lúc đó đang hành nghề người mẫu tại Paris, ông đã bị thu hút, và thuyết phục cô đổi nghề!</p>
<p>Kết quả sau đó cho thấy David Lean đã không chọn lầm người: lần đầu tiên xuất hiện trên màn bạc, <strong>Geraldine Chaplin</strong> đã đoạt giải Trái Cầu Vàng cho diễn viên mới xuất sắc nhất.</p>
<p>* * *</p>
<p>Vì không thể thực hiện Doctor Zhivago &#8211; một cuốn phim chống Liên Xô &#8211; tại Liên Xô, đạo diễn David Lean đã chọn Tây-ban-nha để quay cuốn phim này, vì ông đã quen thuộc với cảnh trí ở đây trong thời gian thực hiện cuốn phim Lawrence of Arabia. Một “thành phố Mạc-tư-khoa giả” được dựng lên ở ngoại ô Madrid.</p>
<p>Không may cho David Lean, các nhà tiên đoán thời tiết đã sai bét: năm đó Tây-ban-nha được “hưởng” một mùa đông “ấm” nhất trong nửa thế kỷ qua! Vì thế, ngoài việc sử dụng tối đa kỹ thuật làm tuyết giả, ông đã phải sang Gia-nã-đại và Phần-lan để quay một số ngoại cảnh mùa đông.</p>
<p>Bù lại, chính những ngoại cảnh tuyệt vời này đã góp phần không nhỏ vào việc đem lại giải Oscar hình ảnh đẹp (cinematography, tức quay phim).</p>
<p>* * *</p>
<p>Trong khi tốn quá nhiều thì giờ, công sức và đắn đo trong việc sắm vai và tìm kiếm ngoại cảnh, David Lean lại không phải lo nghĩ gì về phần nhạc phim, bởi ông đã có sẵn <strong>Maurice Jarre</strong>, nhà soạn nhạc tài ba người Pháp trước đó 3 năm đã soạn nhạc phim cho cuốn phim Lawrence of Arabia của ông, và đoạt giải Oscar.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/04/maurice-jarre.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-39203" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/04/maurice-jarre-300x300.jpg?strip=all" alt="" width="300" height="300" srcset="https://cdn.t-van.net/2019/04/maurice-jarre-150x150.jpg 150w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/04/maurice-jarre-300x300.jpg?strip=all 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/04/maurice-jarre.jpg?strip=all 400w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Maurice Jarre (1924 – 2009)</strong></p>
<p>Maurice Jarre (1924 – 2009) là nhà soạn nhạc kiêm nhạc trưởng nổi tiếng bậc nhất của Pháp. Mặc dù có khá nhiều sáng tác soạn cho dàn đại hòa tấu, với đa số người yêu nhạc, tên tuổi Maurice Jarre thường được nhắc tới cùng với những cuốn phim bất hủ do ông soạn nhạc phim.</p>
<p>Khi Maurice Jarre qua đời, tờ Nữu Ước Thời Báo đã xưng tụng ông là  “một trong những cây đại thụ trong nền nhạc phim của thế kỷ thứ 20”, “một trong những nhà soạn nhạc phim được mời mọc săn đón nhất”, “nhà sáng tạo của cả những khúc nhạc đơn giản nhẹ nhàng đi vào lòng người lẫn những chủ khúc (theme) hoành tráng, không chỉ viết cho dàn nhạc cổ điển truyền thống mà về sau còn cho cả âm thanh điện tử”.</p>
<p>Maurice Jarre ra chào đời tại Lyon, con trai của một vị giám đốc kỹ thuật đài phát thanh. Sau bậc trung học, Maurice Jarre theo ngành kỹ sư trên Đại học Sorbonne nổi tiếng, nhưng chẳng bao lâu sau đã bỏ dở để vào Nhạc viện Paris (Conservatoire de Paris) bất chấp sự phản đối của thân phụ.</p>
<p>Năm 1951, sau khi tốt nghiệp, vào tuổi 27, Maurice Jarre được trao chức giám đốc âm nhạc của nhà hát Théâtre National Populaire, đồng thời soạn nhạc phim đầu tiên trong sự nghiệp.</p>
<p>Mười một năm sau (1962), Maurice Jarre được nhà sản xuất Darryl F. Zanuck của Mỹ mời soạn nhạc phim cho cuốn phim lịch sử The Longest Day, và cùng lúc được người Anh mời soạn nhạc phim cho Lawrence of Arabia của David Lean, và đoạt giải Oscar nhạc phim thứ nhất trong sự nghiệp của mình.</p>
<p>Từ đó, David Lean đã mời Maurice Jarre soạn nhạc phim cho tất cả mọi cuốn phim của ông trong tương lai, đem lại cho nhà soạn nhạc thêm hai giải Oscar nữa: Doctor Zhivago (1965) và A Passage to India (1984).</p>
<p>Ngoài ba cuốn phim đoạt Oscar nói trên, Maurice Jarre còn soạn nhạc phim cho trên 90 cuốn phim thuộc đủ mọi thể loại, từ dã sử tới hoạt động, từ tình cảm tới khoa học giả tưởng, trong số đó có The Train (1964), Grand Prix (1966), Ryan&#8217;s Daughter (1970),  Mohammad, Messenger of God  (1976), Lion of the Desert (1981), Firefox và The Year of Living Dangerously (1982), Dreamscape (1984), Witness (1985), Mad Max Beyond Thunderdome (1985), Fatal Attraction và No Way Out (1987), Gorillas in the Mist (1988), Dead Poets Society, Ghost (1990), v.v&#8230;</p>
<p>Ngoài ra, Maurice Jarre còn soạn nhạc phim cho hai phim tập ngắn kỳ trên truyền hình (miniseries) rất nổi tiếng là Jesus of Nazareth (1977), và Shogun (1980).</p>
<p>Trong sự nghiệp của mình, Maurice Jarre đã được đề cử giải Oscar 9 lần và đoạt 3 giải, cùng với 4 giải Trái Cầu Vàng, 2 giải BAFTA (điện ảnh Anh Quốc) và 1 giải âm nhạc Grammy của Hoa Kỳ, nơi tên tuổi của ông đã được khắc trên một ngôi sao trên Walk of Fame ở Sunset Boulevard, Hồ-ly-vọng.</p>
<p>* * *</p>
<p>Tới đây chúng tôi viết về <strong>Nhạc khúc Lara</strong> (Lara’s Theme) trong nhạc phim của Doctor Zhivago.</p>
<p>David Lean không chỉ được xem là một đạo diễn tài ba mà còn nổi tiếng là một người cầu toàn, khó tính. Chính vì thế, thời gian thực hiện một số phim nổi tiếng của ông đã bị kéo dài, có khi mất tới 2 năm, chẳng hạn The Bridge on the River Kwai (1957), Lawrence of Arabia (1962).</p>
<p>Riêng về nhạc phim, trong một số trường hợp đặc biệt, ông đã gợi ý cho Maurice Jarre soạn theo giai điệu truyền thống của địa phương được sử dụng làm bối cảnh truyện phim. Thí dụ điển hình và rõ rệt nhất là cuốn phim Ryan&#8217;s Daughter (1970), phóng tác từ cuốn “dâm thư” <em>Madame Bovary</em> của văn sĩ Pháp Gustave Flaubert, lấy bối cảnh Ái-nhĩ-lan cuối Đệ Nhất Thế Chiến, đã tràn ngập âm hưởng nền nhạc dân gian của hòn đảo này.</p>
<p>Với Doctor Zhivago, một cuốn phim nói về mối tình thiên thu trong bối cảnh lịch sử bi tráng trải dài một phần tư thế kỷ trên đất nước Nga, phần nhạc phim lại càng được David Lean quan tâm hơn.</p>
<p>Sau khi Maurice Jarre đã soạn xong phần nhạc phim với trên 40 khúc nhạc chủ đề (theme) cho từng đoạn phim, phần lớn soạn cho dàn nhạc đại hòa tấu, mặc dù được xem là tốn nhiều công sức nhất trong sự nghiệp của ông, David Lean vẫn muốn Maurice Jarre phải soạn thêm một khúc nhạc riêng cho nhân vật Lara, và phải mang âm hưởng dân gian Nga!</p>
<p>Mà “âm hưởng dân gian Nga” thì bắt buộc phải có tiếng đàn <strong>balalaika</strong>.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/04/balalaika.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-39207" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/04/balalaika-158x300.jpg?strip=all" alt="" width="158" height="300" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/04/balalaika-158x300.jpg?strip=all 158w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/04/balalaika.jpg?strip=all 163w" sizes="(max-width: 158px) 100vw, 158px" /></a></p>
<p>Như chúng tôi đã nhắc tới trong các bài viết về hai ca khúc <em>Those Were The Days</em> (Tình ca du mục) và <em>Moscow Nights</em> (Chiều Mạc-tư-khoa), balalaika là nhạc cụ chính trong nền nhạc dân gian Nga, cùng họ với đàn mandoline nhưng có cấu tạo khác thường: thùng đàn hình tam giác và chỉ có 3 dây. Tiếng đàn balalaika tương tự mandoline, nhưng nghe rất buồn.</p>
<p>Vì thế, David Lean đã phải tìm nhiều đĩa nhạc có tiếng đàn balalaika trao cho Maurice Jarre để nghe cho “nhập tâm”.</p>
<p>Theo lời thuật lại của Maurice Jarre sau này, “bản nháp” nào của ông cũng bị David Lean chê là không có hồn; cuối cùng nhà đạo diễn đã khuyên ông (lúc đó sắp làm đám cưới với nữ diễn viên Pháp Dany Saval, kém ông 18 tuổi):</p>
<p>“Cuối tuần này bạn hãy đưa Dany về miền núi, tạm quên Lara đi để vui hưởng hạnh phúc bên người yêu, và&#8230; viết cho nàng một tình khúc”.</p>
<p>Kết quả là khúc nhạc để đời được hậu thế biết tới qua tựa đề <strong><em>Lara’s Theme</em></strong> (Khúc nhạc chủ đề Lara).</p>
<p>Đạo diễn David Lean vô cùng hài lòng, ông yêu thích Lara’s Theme tới mức đã sử dụng nhiều lần trong nhạc phim của Doctor Zhivago.</p>
<p>Hiện nay, nếu ta mua một đĩa nhạc phim (soundtrack) của Doctor Zhivago thì sẽ thấy trong danh sách 42 nhạc khúc chủ đề không hề có tên “Lara’s Theme”, bởi vì theo yêu cầu của David Lean, Maurice Jarre đã đưa nhạc khúc này (toàn bộ hoặc một phần) vào năm chủ đề sau đây:</p>
<p>2-<em> Main Title</em>: sau một khúc mở đầu ngắn (Overture), trong dạo khúc (Prelude) dài gần 6 phút trong phần giới thiệu các tên tuổi, Lara’s Theme được đưa vào dưới hình thức đại hòa tấu mà vĩ cầm là nhạc cụ chính, có điểm một khúc balalaika.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=issQMeNinIQ" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>Dr. Zhivago: Lara&#8217;s theme (ORIGINAL) Maurice Jarre / Hermosa melodía &#8211; música para meditar.</em></strong></a></p>
<p>14-<em> Lara Says Goodbye To Yuri</em>: trong cảnh này, Lara&#8217;s Theme được trình tấu toàn phần với nhạc cụ chính là đàn balalaika, với sự phụ họa của vĩ cầm.</p>
<p><strong><em>LƯU Ý:</em></strong><em> Hình ảnh được đưa vào hai video clips sau đây không nhất thiết nằm trong chủ đề liên quan, mà đã được người post thu thập từ nhiều cảnh khác trong cuốn phim.</em></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=4Yd2PzoF1y8" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>Doctor Zhivago &#8211; Lara&#8217;s Theme</em></strong></a></p>
<p>27-<em> Yuri and the Daffodils:</em> trong cảnh hoa thủy tiên vàng nở rộ sau mùa đông, Lara&#8217;s Theme được trình tấu toàn phần bởi dàn đại hòa tấu:</p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=WiWWa-T0EIY" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>Doctor Zhivago &#8211; Lara&#8217;s Theme (Stereo / HD) daffodils</em></strong></a></p>
<p>33-<em> Yuri Is Escaping</em>: một đoạn trong Lara&#8217;s Theme được chen vào một khúc quân hành ảm đạm để đạt tới đỉnh cao của sầu thảm.</p>
<p>42-<em> Then It&#8217;s A Gift (End Title)</em>: trong đoạn kết của cuốn phim, Lara&#8217;s Theme đã được trình tấu toàn phần với giai điệu hùng tráng, phấn khởi.</p>
<p>Cũng xin được viết về cảnh kết trong phim (kịch bản phim khác với cốt truyện nguyên tác):</p>
<p>Cuối thập niên 1940 đầu thập niên 1950, tức là nhiều năm sau khi Yuri Zhivago chết và Lara Antipova biệt tích, Trung tướng Yevgraf Zhivago gặp Tanya Komarova, một cô gái mồ côi mang rất nhiều nét giống Yuri và Lara; sau khi tìm hiểu mà không được biết chút gì về lý lịch của Tanya, ông vẫn tin cô chính là con gái của cặp tình nhân bạc mệnh. Tới khi Tanya rời bước cùng vị hôn phu, nhìn cây đàn balalaika trên lưng cô, ông liên tưởng tới cây đàn xưa kia bà mẹ của Yuri (một người sử dụng balalaika nhuần nhuyễn) để lại cho Yuri, rồi được Yuri trao cho Lara khi giã biệt, và ông càng có thêm linh cảm Tanya chính là cháu gái của mình.</p>
<p>Đúng lúc đó, Lara’s Theme trổi lên qua tiếng đàn balalaika réo rắt&#8230;</p>
<p><em>[Tiếng đàn balalaika trong nhạc phim Doctor Zhivago là của các tay đàn tuyển từ ban nhạc của các nhà thờ Chính thống giáo Nga trong vùng Los Angeles]  </em></p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><strong><em> </em></strong><a href="https://www.youtube.com/watch?v=Nn1eDT93H1Y" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>Then It&#8217;s A Gift (End Title)</em></strong></a></p>
<p>Trong giải Oscar năm 1966, phim Doctor Zhivago nhận được 10 đề cử và đoạt năm giải, trong đó có giải Nhạc phim nguyên tác (Best Original Score) cho Maurice Jarre.</p>
<p>Ngay sau đó, nữ danh ca Mỹ <strong>Connie Francis</strong> đã yêu cầu <strong>Paul Francis Webster</strong> đặt lời hát cho nhạc khúc Lara’s Theme để cô thu đĩa.</p>
<p><em>[Paul Francis Webster, như chúng tôi đã nhiều lần nhắc tới, là nhà soạn lời hát nổi tiếng nhất của Hoa Kỳ, từng ba lần đoạt giải Oscar với các ca khúc Secret Love, </em><em>Love is a Many-Splendored Thing, và The Shadow of Your Smile]</em></p>
<p>Kết quả là một tình khúc với tựa đề <em>Somewhere, My Love</em>, nhưng Connie Francis lại chê lời hát là quá trần trụi, tầm thường và bỏ ý định thu đĩa. Vài  tuần lễ sau, khi Connie Francis nghĩ lại thì đã bị ban hợp xướng và dàn nhạc Ray Conniff chớp mất dịp may.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/04/somewhere-my-love-ray-conniff.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-39204" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/04/somewhere-my-love-ray-conniff-300x300.jpg?strip=all" alt="" width="300" height="300" srcset="https://cdn.t-van.net/2019/04/somewhere-my-love-ray-conniff-150x150.jpg 150w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/04/somewhere-my-love-ray-conniff-300x300.jpg?strip=all 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/04/somewhere-my-love-ray-conniff.jpg?strip=all 527w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></a></p>
<p><em>Somewhere, My Love</em> do Ray Conniff thu đĩa đã đứng No.1 trên bảng xếp hạng nhạc nhẹ (Easy Listening) trong bốn tuần lễ, và lên tới hạng 9 trong danh sách Billboard Hot 100 (tính tất cả mọi thể loại).</p>
<p>Qua năm 1967, <em>Somewhere, My Love</em> do Ray Conniff thu đĩa đã đoạt giải âm nhạc Grammy cho Ban hợp xướng hay nhất. Somewhere, My Love cũng được đề cử Grammy cho ca khúc hay nhất trong năm, tuy nhiên đã phải nhường giải này cho bản <em>Michelle</em> của John Lennon và Paul McCartney (ban The Beatles).</p>
<p><strong><em>Somewhere, My Love</em></strong></p>
<p><em> </em><em>Somewhere, my love there will be songs to sing</em></p>
<p><em>Although the snow covers the hope of spring</em></p>
<p><em>Somewhere a hill blossoms in green and gold</em></p>
<p><em>And there are dreams all that your heart can hold</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Someday we&#8217;ll meet again my love</em></p>
<p><em>Someday whenever the spring breaks through</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>You&#8217;ll come to me out of the long ago</em></p>
<p><em>Warm as the wind, soft as the kiss of snow</em></p>
<p><em>Lara my own, think of me now and then</em></p>
<p><em>God speed my love till you are mine again</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>You&#8217;ll come to me out of the long ago</em></p>
<p><em>Warm as the wind soft as the kiss of snow</em></p>
<p><em>Till then my sweet think of me now and then</em></p>
<p><em>God speed my love &#8217;til you are mine again.</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=6iV_MEy91tQ" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>Ray Conniff &#8211; Somewhere, My Love (Lara&#8217;s Theme From &#8220;Dr. Zhivago&#8221;)</em></strong></a></p>
<p>Trước thành công của Ray Conniff, <a href="https://en.wikipedia.org/wiki/Connie_Francis">C</a>onnie Francis vẫn quyết định thu đĩa <em>Somewhere, My Love</em>, và tuy không lọt vào bất cứ bảng xếp hạng nào tại Hoa Kỳ, đã trở thành một trong những ca khúc được yêu chuộng nhất của cô trên trường quốc tế, đứng trong Top 5 tại vùng Scandivania và Á châu. Riêng tại Ý, nơi xuất thân của dòng họ <em>Franconero</em> (được “Mỹ hóa” thành Francis), <em>Somewhere, My Love</em> do Connie Francis thu đĩa bằng tiếng Ý với tựa <em>Dove non so</em> đã đứng No.1.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><strong><em><a href="https://www.youtube.com/watch?v=7GtpugluWFw">Connie Francis &#8211; Somewhere My Love &#8211; YouTube</a></em></strong></p>
<p><strong> </strong><em>Somewhere, My Love</em> cũng đem lại thành công cho nhiều danh ca Mỹ khác, như Frank Sinatra, Tony Bennett, Al Martino, và nhất là <strong>Andy Williams</strong>, người được mệnh danh là “ông vua nhạc tình trong phim”.</p>
<p><strong>Phụ lục 1: </strong><strong><em>Somewhere, My Love</em></strong><strong>, Andy Williams</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-39201-40" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/04/01-laras-theme2.mp3?_=40" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/04/01-laras-theme2.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/04/01-laras-theme2.mp3</a></audio>
<p>Thế nhưng ngày ấy, những năm giữa thập niên 1960 tại miền Nam VN, người yêu tiểu thuyết tây phương lại biết tới Bác sĩ Zhivago qua tên gọi bằng tiếng Pháp: Le Docteur Zivago. Nguyên nhân là vì hầu hết các tác phẩm bằng tiếng Anh khi ấy đều được dịch sang tiếng Việt từ phiên bản tiếng Pháp.</p>
<p>Rồi tới khi cuốn phim Doctor Zhivago được chiếu tại rạp REX ở Sài Gòn vào năm 1972 thì cũng là ấn bản nói tiếng Pháp với tựa đề Le Docteur Zivago, và nhạc khúc <em>Lara’s Theme</em> cũng mang một cái tựa tiếng Pháp: <em>La chanson de Lara</em> (Bài hát của Lara).</p>
<p><em>La chanson de Lara</em> cũng chính là tựa đề phiên bản Pháp ngữ của ca khúc <em>Somewhere, My Love</em> do tác giả Hubert Ithier đặt lời, được phổ biến tại miền Nam VN qua sự trình bày của nam ca sĩ John William (không phải nhà soạn nhạc phim John Williams) và ban hợp ca Les Compagnons de la chanson.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=vdqcKXF265s" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>La chanson de Lara (Docteur Jivago) &#8211; John William (Lyric)</em></strong></a></p>
<p><em>La chanson de Lara</em> được nhạc sĩ <strong>Phạm Duy</strong> đặt lời Việt với tựa <em>Hỡi người tình Lara</em>.</p>
<p><strong> </strong><strong><em>Hỡi người tình Lara</em></strong></p>
<p><em>Người tình thương nhớ<br />
Hãy lắng nghe lời mặn mà<br />
Dù mùa Xuân đã chôn vùi bởi làn tuyết kia<br />
Ngọn đồi trắng xoá sẽ có hoa mọc đầu mùa<br />
Mộng đẹp như cũ, ân tình còn về với ta<br />
Người yêu ! Chúng ta còn yêu nhau nhiều<br />
Còn theo mùa Xuân vào tình yêu, tình yêu.<br />
. . . . . .<br />
Người tình sẽ đến<br />
Người đến quên cả lạnh lùng.<br />
Và nụ hôn ấm như là từng làn tuyết hôn<br />
Chờ ngày sẽ tới tìm đến bên người bạn đi<br />
Người em yêu hỡi<br />
Nhớ thương đi đi chớ phai.</em></p>
<p>Trước năm 1975, <em>Hỡi người tình Lara </em>được thu vào băng nhựa với tiếng hát Thanh Lan, và sau này tại hải ngoại, được Ngọc Lan thu vào CD.</p>
<p><strong>Phụ lục 2: <em>Hỡi người tình Lara, </em>Thanh Lan</strong></p>
<p><strong><em> </em></strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-39201-41" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/04/02-HoiNguoiTinhLara-ThanhLan_f69p.mp3?_=41" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/04/02-HoiNguoiTinhLara-ThanhLan_f69p.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/04/02-HoiNguoiTinhLara-ThanhLan_f69p.mp3</a></audio>
<p><strong>Phụ lục 3: <em>Hỡi người tình Lara, </em>Ngọc Lan</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-39201-42" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/04/03-Hoi-Nguoi-Tinh.mp3?_=42" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/04/03-Hoi-Nguoi-Tinh.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/04/03-Hoi-Nguoi-Tinh.mp3</a></audio>
<p>Về sau, có thêm một phiên bản lời Việt của nhạc sĩ <strong>Trường Hải</strong> với tựa <em>Người yêu tôi đâu</em>, có lẽ được ông soạn sau khi ca khúc nguyên tác (<em>Somewhere, My Love</em>) đã trở nên phổ biến tại Việt Nam. Ngày ấy, <em>Người yêu tôi đâu</em> đã được Mỹ Hòa (ban tam ca Ba Con Mèo) thu vào băng nhựa.</p>
<p><em><strong>Người Yêu Tôi Đâu</strong></em></p>
<p><em><br />
Nhìn dòng sông sâu<br />
Lờ lững uốn quanh nhịp cầu<br />
Lòng nghe bâng khuâng<br />
Mơ những ngày xưa ái ân&#8230;</em></p>
<p>Thuyền tình rong chơi<br />
Lạc lối trôi theo dòng đời<br />
Hồn nghe chơi vơi<br />
Nhớ đến người yêu xa xôi&#8230;</p>
<p>Ngày xưa&#8230;<br />
Lúc ta gặp nhau trong vườn.. mộng&#8230;<br />
Ngập ngừng&#8230;<br />
Hồn anh tỏ đôi câu thương nhớ&#8230;</p>
<p>Rừng cây xôn xao<br />
Lạnh lẽo gió heo may về<br />
Hồ gương gợn sóng<br />
Nhớ ai lệ dâng.. mắt trong&#8230;</p>
<p>Người yêu tôi đâu<br />
Để đến chia xẻ nỗi sầu<br />
Người tôi yêu dấu<br />
Nỡ để hồn tôi quạnh hiu&#8230;</p>
<p>Người tôi yêu dấu<br />
Nỡ để hồn tôi quạnh hiu&#8230;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong><em>VIDEO:</em></strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=_UJ16aSlmYk" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>Ca Sĩ M</em></strong><strong><em>ỹ</em></strong><strong><em> Hòa hát Ngư</em></strong><strong><em>ờ</em></strong><strong><em>i Yêu Tôi Đâu (Dr Zhivago)</em></strong></a></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>HOÀI NAM</strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p>©T.Vấn 2019</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/hoai-nam-nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet-86-nhac-phim-somewhere-my-love-hoi-nguoi-tinh-lara-nguoi-yeu-toi-dau-maurice-jarre-paul-francis-webster/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/04/01-laras-theme2.mp3" length="2472064" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/04/02-HoiNguoiTinhLara-ThanhLan_f69p.mp3" length="3064838" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/04/03-Hoi-Nguoi-Tinh.mp3" length="11015548" type="audio/mpeg" />

			</item>
		<item>
		<title>Hòai Nam: NHỮNG CA KHÚC NHẠC NGOẠI QUỐC LỜI VIỆT (85) &#8211; NHẠC PHIM – The Shadow of Your Smile, Johnny Mandel &#038; Paul Francis Webster (Bóng Tối Nụ Cười, Bóng Dáng Nụ Cười, Nụ Cười Trong Bóng Mờ)</title>
		<link>https://t-van.net/nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet-85-nhac-phim-the-shadow-of-your-smile-johnny-mandel-paul-francis-webster-bong-toi-nu-cuoi-bong-dang-nu-cuoi-nu-cuoi-trong-bong-mo/</link>
					<comments>https://t-van.net/nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet-85-nhac-phim-the-shadow-of-your-smile-johnny-mandel-paul-francis-webster-bong-toi-nu-cuoi-bong-dang-nu-cuoi-nu-cuoi-trong-bong-mo/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Hòai-Nam]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 20 Mar 2019 18:01:09 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[hòai nam]]></category>
		<category><![CDATA[nhạc ngọai quốc]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=38833</guid>

					<description><![CDATA[Tiếp tục giới thiệu những ca khúc trong phim, hoặc từ nhạc phim được đặt lời Việt, bài này chúng tôi viết về bản The Shadow of Your Smile của hai tác giả Johnny Mandel &#38; Paul Francis Webster, soạn cho cuốn phim The Sandpiper (1965), đoạt giải Oscar cho ca khúc trong phim, được [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/03/the-shadow-of-your-smile.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-38837" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/03/the-shadow-of-your-smile-218x300.jpg?strip=all" alt="" width="218" height="300" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/03/the-shadow-of-your-smile-218x300.jpg?strip=all 218w, https://cdn.t-van.net/2019/03/the-shadow-of-your-smile-768x1057.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2019/03/the-shadow-of-your-smile-744x1024.jpg 744w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/03/the-shadow-of-your-smile.jpg?strip=all 816w" sizes="(max-width: 218px) 100vw, 218px" /></a></p>
<p>Tiếp tục giới thiệu những ca khúc trong phim, hoặc từ nhạc phim được đặt lời Việt, bài này chúng tôi viết về bản <em>The Shadow of Your Smile</em> của hai tác giả Johnny Mandel &amp; Paul Francis Webster, soạn cho cuốn phim The Sandpiper (1965), đoạt giải Oscar cho ca khúc trong phim, được Nhật Ngân, Phú Quang, và Anh Bằng đặt lời Việt với tựa <em>Bóng</em> <em>Tối Nụ Cười, Bóng Dáng Nụ Cười, </em>và <em>Nụ Cười Trong Bóng Mờ.</em></p>
<p>Trước khi viết về <em>The Shadow of Your Smile</em>, chúng tôi cũng xin nhắc tới hai ca khúc trong phim khác trong những năm đầu thập niên 1960 đã được người yêu nhạc, yêu phim ảnh tại miền Nam VN ngày ấy yêu chuộng.</p>
<p>Bản thứ nhất là <em>The Longest Day</em>, ca khúc chủ đề của cuốn phim</p>
<p>The Longest Day (1962) kể về D-Day, tức cuộc đổ bộ của quân Đồng Minh lên vùng Normandy trong Đệ Nhị Thế Chiến.</p>
<p>The Longest Day là cuốn phim vĩ đại nhất, có sự góp mặt của nhiều diễn viên nhất trong lịch sử điện ảnh. Trong số hàng trăm diễn viên tên tuổi của Mỹ, Anh, Pháp, Đức có Henry Fonda, John Wayne, Robert Mitchum, Mel Ferrer, Robert Wagner, Robert Ryan, Kenneth More, Richard Todd, Richard Burton, Sean Connery, Peter Lawford, Jeffrey Hunter, Stuart Whitman, Rod Steiger, Christian Marquand, Curt Jürgens, George Segal, Robert Wagner, Paul Anka, v.v&#8230;</p>
<p>Phần phạc phim do nhà soạn nhạc Maurice Jarre của Pháp đảm trách, riêng ca khúc có cùng tựa <em>The Longest Day</em> thì do <strong>Paul Anka</strong> – nam ca sĩ kiêm diễn viên Mỹ gốc Gia-nã-đại mà chúng tôi đã nhắc tới trong bài viết về bản <em><a href="https://t-van.net/?p=23206">My Way (Đường Tôi Đi)</a></em> – viết và hát trong phim, với phần hòa âm phối khí và sự phụ họa của dàn nhạc Mitch Miller (nổi tiếng trước đó với hành khúc <em>Cầu sông Kwai</em>).</p>
<p><strong>VIDEO: </strong></p>
<p><strong> <a href="https://www.youtube.com/watch?v=hpaTwpWt8BQ" target="_blank" rel="noopener"><em>The Longest Day by Paul Anka</em></a></strong></p>
<p>Ngay trong năm 1962, The Longest Day đã được <strong>Eddy Marnay </strong>(1920 – 2003), nhà viết lời hát nổi tiếng hàng đầu của Pháp, đặt lời Pháp với tựa <em>Le jour le plus long</em>, được nữ danh ca Dalida thu đĩa, đạt thành công đáng kể.</p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=-pg9-kZkjPQ" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>DALIDA. Le jour le plus long</em></strong></a></p>
<p>Cũng trong năm 1962, Dr. No, cuốn phim điệp viên 007 James Bond đầu tiên, ra mắt khán giả, mở đầu cho một “kỷ nguyên mới của phim điệp viên”, trong đó phần nhạc phim đóng một vai trò rất quan trọng trong việc thu hút khán giả.</p>
<p>Trước hết, (Sir) <strong>John Barry</strong> (1933-2011), nhà soạn nhạc phim nổi tiếng của Anh quốc, được mời soạn đoạn nhạc giới thiệu cho phim Dr. No (cũng là của mọi cuốn phim tiếp theo) và từ đó cho tới năm 1987, ông đã soạn nhạc phim cho tổng cộng 11 cuốn phim 007 James Bond.</p>
<p><em>[Về sau, John Barry đã hai lần đoạt giải Oscar cho nhạc phim (không phải phim James Bond): Out of Africa (1985) và Dances with Wolves (1990)]</em></p>
<p>Bắt đầu từ cuốn phim thứ hai, From Russia with Love (1963), mỗi cuốn phim James Bond đều có một khúc nhạc chủ đề riêng, và qua cuốn thứ ba, Goldfinger (1964), có một ca khúc trong phim.</p>
<p>Ca khúc này, có cùng tựa phim <em>Goldfinger</em>, do John Barry soạn nhạc, Leslie Bricusse và Anthony Newley đặt lời, đã giúp nữ ca sĩ Anh <strong>Shirley Bassey</strong> nổi tiếng quốc tế.</p>
<p>(Dame) Shirley Basse<a href="https://en.wikipedia.org/wiki/Shirley_Bassey">y</a> mang hai dòng máu Nigeria và Anh, sinh năm 1937, là một nữ ca sĩ có một giọng hát rất mạnh và lối trình diễn độc đáo, tuy nổi tiếng từ giữa thập niên 1950 nhưng bên ngoài hòn đảo Anh-cát-lợi hầu như không ai biết tới.</p>
<p>Phải đợi tới khi cuốn phim Goldfinger chinh phục màn ảnh khắp năm châu, mọi người mới giật mình trước tài nghệ của Shirley Bassey.</p>
<p>Ca khúc <em>Goldfinger</em> đã đứng No.2 trong bảng xếp hạng thể loại Adult Contemporary (trước kia gọi là Easy Listening) của Billboard ở Hoa Kỳ, và hạng 8 trong Billboard Hot 100, tính chung mọi thể loại.</p>
<p>Mặc dù không được đề cử tranh giải Oscar cho ca khúc trong phim, hiện nay <em>Goldfinger</em> cũng được xếp hạng 53 trong danh sách 100 ca khúc trong phim hay nhất, do Viện phim ảnh Hoa Kỳ (AFI: American Film Institute) bình chọn.</p>
<p>Sau này, Shirley Bassey còn hát thêm hai ca khúc khác trong phim 007 James Bond: <em>Diamonds Are Forever</em> (1971), và <em>Moonraker</em> (1979).</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><strong> </strong><a href="https://www.youtube.com/watch?v=Fy_PJODH3p0" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>1964 &#8211; James Bond &#8211; Goldfinger: </em></strong></a></p>
<p>Tới năm 1965, ca khúc <em>The Shadow of Your Smile</em> của hai tác giả Johnny Mandel &amp; Paul Francis Webster, soạn cho cuốn phim The Sandpiper, đã đoạt giải Oscar ca khúc trong phim.</p>
<p>The Sandpiper là cuốn phim thứ ba trong tổng số 11 cuốn phim do cặp nam nữ diễn viên <strong>Richard Burton </strong>&amp;<strong> Liz Taylor</strong> đóng chung. Trong khi đa số các nhà phê bình cho đây là một trong những cuốn phim dở nhất của “cặp vợ chồng diễn viên hai lần cưới” thì vẫn có một số người khen, cho nằm trong Top 5 của 11 cuốn phim ấy.</p>
<p>Bản thân chúng tôi không phải nhà phê bình phim cho nên không đủ tư cách đánh giá về mặt nghệ thuật, chỉ có điều cảm thấy không thoải mái khi xem cuốn phim The Sandpiper, cho dù trước đó đã rất yêu thích ca khúc <em>The Shadow of Your Smile</em> (ca khúc này được phổ biến tại Sài Gòn trước khi cuốn phim được chiếu).</p>
<p>Để những độc giả chưa xem cuốn phim The Sandpiper có thể hiểu được tại sao ngày ấy chúng tôi, và hàng triệu khán giả khác, cảm thấy không thoải mái khi xem cuốn phim này, thiết tưởng phải kể sơ cốt truyện rồi liên hệ với cuộc tình đầy tai tiếng của Richard Burton &amp; Liz Taylor ngày ấy.</p>
<p>* * *</p>
<p>The Sandpiper là một bi kịch tình cảm nói về cuộc tình trái cấm say đắm, lấy bối cảnh vùng bờ biển núi đá Big Sur thơ mộng yên tĩnh ở miền Trung California, nơi đa số dân chúng là người da trắng bảo thủ theo Tân giáo</p>
<p><em>[TÂN GIÁO: The Episcopal Church, viết tắt TEC, nguyên là Giáo hội Anh giáo tại Hoa Kỳ. Tới khi cuộc Cách mạng giành độc lập xảy ra, Giáo hội này đã tách rời khỏi Giáo hội Anh giáo ở Anh quốc, bởi vì Giáo hội ở Anh quốc có điều luật “Thề trung thành với vị Vương Quân – người đứng đầu Giáo hội Anh giáo”. Hiện nay, trang mạng Wikipedia (tiếng Việt) dịch The Episcopal Church là “Giáo hội Giám nhiệm”] </em></p>
<p>Laura Reynolds (Liz Taylor), một nữ họa sĩ không chồng, chỉ cặp kè, sống phóng khoáng, có cá tính mạnh, sống với cậu con trai nhỏ Danny trong một căn nhà cạnh bờ biển. Danny là một đứa trẻ tính khí bất thường, vì thế Laura tự dạy học ở nhà chứ không cho tới trường, e con trai không thể thích ứng với khuôn khổ và môi trường nơi đó.</p>
<p>Sau vài lần gây “rắc rối”, Danny bị một vị quan tòa bắt vào sống trong một trường nội trú của Giáo hội Tân giáo địa phương, nơi Tiến sĩ Edward Hewitt (Richard Burton), một chức sắc Tân giáo, một nhà mô phạm đáng kính, làm hiệu trưởng. Claire (Eva Marie Saint), người vợ của Edward, cũng giảng dạy tại trường. Hai người có hai con trai – một gia đình đạo đức, gương mẫu, hạnh phúc trước mắt mọi người.</p>
<p>Theo thủ tục, Edward mời Laura tới trường để phỏng vấn. Vừa chạm mặt nhau, cả hai đều cảm thấy bị đối tượng thu hút, tuy nhiên ngay sau đó họ đã trở nên xung khắc vì quan niệm khác biệt về đạo đức, tôn giáo&#8230;</p>
<p>Vì Danny không thể hòa nhập vào môi trường nội trú, Claire đã khuyên chồng tới nhà tìm gặp Laura để tìm hiểu thêm về cậu bé, và cách thức dạy dỗ con của Laura. Mặc dù xung khắc tư tưởng, quan niệm, sau mấy lần gặp nhau, hai người đã không thể chống cưỡng đam mê, dục vọng.</p>
<p>Lúc đầu, Laura cứ ngỡ quan hệ thân mật của mình với Edward cũng giống như với những người đàn ông đã đến và đi qua đời mình trước đó &#8211; trao đổi ái tình sòng phẳng, không phải bận tâm quyến luyến &#8211;  nhưng sau đó nàng đã phải tự nhìn nhận trong tim mình Edward có một chỗ đứng. Thế nhưng Laura không chỉ yêu Edward mà còn bắt chàng phải nhìn nhận cũng yêu mình – một việc mà Edward chưa bao giờ tỏ lộ.</p>
<p>Cho tới một ngày nọ, một gã tình nhân trẻ của Laura (Charles Bronson), vì ghen tức đã báo cho Claire biết việc Edward ngoại tình với Laura. Claire hỏi thẳng chồng, và Edward thú nhận; nhưng thay vì ghen tuông lồng lộn, Claire thông cảm bởi nhận ra rằng bấy lâu nay hai vợ chồng chỉ biết tận tụy với công việc giảng dạy, vận động gây quỹ cho trường, mà quên rằng họ còn là vợ và chồng của nhau.</p>
<p>Edward nói rằng mình vẫn yêu vợ, và hứa sẽ chấm dứt quan hệ với Laura. Nhưng Claire quyết định hai người tạm thời ly thân để xét lại lòng mình và tìm một câu trả lời cho tương lai&#8230;</p>
<p>Khi được Edward cho biết đã thú nhận với vợ, Laura giận dữ chấm dứt quan hệ. Edward quyết định xin nghỉ việc để làm một chuyến du lịch phương xa. Trước khi đi, Edward vận động xin cho câu bé Danny một học bổng cho tới khi hoàn tất việc học, xem như một sự đền trả món “nợ tình” để lương tâm được thanh thản.</p>
<p>Trong cảnh cuối cùng, trước khi ra đi Edward tìm tới nhà Laura. Hai mẹ con đang ở dưới bãi biển, chàng nhìn xuống, nàng trông lên &#8211; một cuộc chia tay không lời từ biệt&#8230;</p>
<p>Tựa đề phim “The Sandpiper” (Le Chevalier des sables &#8211; Chim Dẽ Cát) được lấy theo chi tiết sau đây: trong thời gian quan hệ với Edward, Laura chăm sóc một con chim dẽ cát bị gẫy cánh cho tới khi bình phục, nó bay đi. Hình ảnh này được xem là biểu tượng chủ đề cuốn phim: sự trưởng thành và tự do.</p>
<p>* * *</p>
<p>Như đã viết ở một đoạn trên, không chỉ có bản thân chúng tôi cảm thấy không thoải mái khi xem cuốn The Sandpiper, mà còn có hàng triệu người khác, những người đã theo dõi cuộc tình tai tiếng của cặp nam nữ diễn viên chính từ ngày hai người bỏ vợ bỏ chồng để cặp với nhau trong thời gian đóng chung cuốn phim Cleopatra .</p>
<p>Riêng Liz Taylor, như những vị độc giả cao niên mê phim ảnh còn nhớ, trước đó mấy năm còn “cướp chồng” của cô bạn thân nhất: Debbie Reynolds.</p>
<p style="text-align: center;"><strong> </strong></p>
<p><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/03/liz-eddie-debbie.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="wp-image-38834 aligncenter" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/03/liz-eddie-debbie-300x157.jpg?strip=all" alt="" width="376" height="197" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/03/liz-eddie-debbie-300x157.jpg?strip=all 300w, https://cdn.t-van.net/2019/03/liz-eddie-debbie-768x402.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2019/03/liz-eddie-debbie-1024x536.jpg 1024w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/03/liz-eddie-debbie.jpg?strip=all 1910w" sizes="(max-width: 376px) 100vw, 376px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><em>Liz Taylor, Eddie Fisher và Debbie Reynolds</em></p>
<p><strong> </strong><strong>Debbie Reynolds</strong> (1932 – 2016) là một nữ diễn viên điện ảnh, kịch nghệ, kiêm ca sĩ trình diễn (cabaret) được yêu chuộng bậc nhất của Mỹ quốc; cuốn phim ca nhạc nổi tiếng nhất của bà là <em>Singin&#8217; in the Rain</em> (1952).</p>
<p>Năm 1955, vào tuổi 23, Debbie Reynolds kết hôn với <strong>Eddie Fisher</strong> (1928 – 2010), nam ca sĩ kiêm diễn viên ăn khách nhất trong nửa đầu thập niên 1950, có show truyền hình riêng (The Eddie Fisher Show).</p>
<p>Debbie Reynolds có với Eddie Fisher hai người con đều là diễn viên: <strong>Carrie Fisher</strong> (1956-2016) và Todd Fisher (1958- ).</p>
<p><em>[Vai trò nổi tiếng nhất của Carrie Fisher trên màn bạc là vai Công chúa Leia trong bộ phim Star Wars; bên cạnh đó Carrie Fisher còn là một nghệ sĩ hài kịch và tác giả viết sách. Carrie Fisher cặp với ca nhạc sĩ Paul Simon (ban Simon &amp; Garfunkel) từ năm 1977, kết hôn năm 1983 và chia tay năm 1984; cô qua đời trước bà mẹ Debbie Reynolds một ngày, 27/12/12016]</em></p>
<p>Trong khi Debbie Reynolds là bạn thân của Liz Taylor thì Eddie Fisher cũng là bạn thân của nhà sản xuất phim Mike Todd, đời chồng thứ ba của Liz Taylor – cuộc hôn nhân hạnh phúc nhất của Liz Taylor trong 8 lần lên xe hoa, và cũng là cuộc hôn nhân duy nhất của người “nữ minh tinh mắt tím” không kết thúc bằng ly dị.</p>
<p><em>[<strong>Mike Todd</strong> (1909 – 1958) nổi tiếng với cuốn phim Around the World in 80 Days (Vòng quanh thế giới trong 80 ngày), đoạt giải Oscar phim hay nhất năm 1956]</em></p>
<p>Mike Todd, khi ấy đã 47 tuổi, và Liz Taylor, 24, kết hôn tháng 2/1957 tại Acapulco, Mễ-tây-cơ, do đích thân ông Thị trưởng Acapulco cử hành hôn lễ. Tháng 8, bé gái Liza Tood ra chào đời. Năm tháng sau, ngày 22/3/1958, Mike Todd tử nạn ở New Mexico trên chiếc phi cơ riêng mà ông đặt tên là “Liz”.</p>
<p>Liz Taylor vô cùng đau khổ tuyệt vọng trước cái chết của Mike Todd và được Eddie Fisher hết lòng ủi an nâng đỡ, dẫn đưa tới việc hai người  quan hệ thân mật một cách công khai, và vô cùng say đắm. Trước sự tấn công, lên án của dư luận, Liz Taylor đã phản ứng bằng cách buộc Eddie Fisher phải bỏ vợ con để làm đám cưới với mình; hai người kết hôn tại Las Vegas ngày 12/5/1959.</p>
<p>* * *</p>
<p>Trở lại với chuyện tình Liz Taylor &amp; Richard Burton và cuốn phim Cleopatra.</p>
<p>Nguyên từ 1958, hãng phim 20<sup>th</sup> Century Fox đã có kế hoạch thực hiện một cuốn phim vĩ đại nhất xưa này về Cleopatra, vị Nữ hoàng Ai-cập  đầy huyền thoại, và qua năm 1959 đã mời được Liz Taylor thủ vai Cleopatra (khi mãn hợp đồng với hãng phim MGM) với thù lao kỷ lục là 1 triệu Mỹ kim!</p>
<p>Đầu năm 1961, khi cuốn phim bắt đầu quay tại Anh quốc với Peter Finch trong vai Julius Caesar, Stephen Boyd trong vai tướng Mark Anthony, thì Liz Taylor bị đau nặng (viêm phổi mãn tính), công việc bị đình trệ nhiều tháng trời, đưa tới việc Peter Finch và Stephen Boyd hủy hợp đồng vì phải đóng phim cho các hãng khác.</p>
<p>Bên cạnh đó, phí tổn xây dựng thành quách đền đài sử dụng cho cuốn phim tốn kém gấp nhiều lần dự tính ban đầu, cho nên sau đó hãng phim 20<sup>th</sup> Century Fox đã quyết định dẹp bỏ tất cả để đưa đoàn làm phim sang Ý, sử dụng Cinecittà Studios (Cinema City Studios). Lần này, vai Julius Caesar và Mark Anthony được trao cho hai diễn viên khác: Rex Harrison và <strong>Richard Burton</strong>.</p>
<p>Đầu năm 1962, Cleopatra bắt đầu quay; Liz Taylor và Richard Burton bị tiếng sét ái tình ngay trong lần đầu gặp gỡ. Chuyện cặp kè thân mật  giữa hai người (bị phóng viên chụp hình trên “thuyền tình”) đã được truyền thông khai thác triệt để và dư luận kịch liệt lên án, bởi vì lúc đó Liz Taylor đang là vợ của Eddie Fisher còn Richard Burton đang sống hạnh phúc với cô vợ diễn viên Sybil Williams từ 13 năm qua, với hai con gái 5 tuổi và 3 tuổi.</p>
<p>Trước sự việc này, tờ Vatican Newspaper trong bài bình luận của mình đã sử dụng hai chữ mà cho tới nay vẫn được ghi nhận là “sự sỉ nhục nặng nề nhất”, đó là “erotic vagrancy” (<em>descending into <strong>erotic vagrancy</strong></em>).</p>
<p><em>[Chúng tôi diễn nghĩa “erotic vagrancy” thành “b</em><em>ộc thương tang gian” (</em><em>trên bộc trong dâu) không biết có chỉnh không?] </em></p>
<p>Riêng tại Hoa Kỳ, nhiều tổ chức gia đình và tôn giáo đã lên tiếng yêu cầu Quốc Hội Mỹ cấm Liz Taylor và Richard Burton đặt chân trở lại quốc gia này.</p>
<p>Thế nhưng càng bị lên án, “Liz and Dick” (biệt hiệu truyền thông dành cho cặp này) càng nổi tiếng và thêm thế lực. Theo dự trù, ngay sau khi Cleopatra thu hình xong vào mùa thu 1962, Richard Burton sẽ đóng cuốn phim V.I.P. với <strong>Sophia Loren</strong>, nhưng vì Liz Taylor nhất định “đòi” vai trò này, hãng phim đã phải điều đình với nàng đệ nhất minh tinh Ý nhường lại cho cho nàng đệ nhất minh tinh Mỹ!</p>
<p>Cùng thời gian, Richard Burton và Liz Taylor đệ đơn ly dị người phối ngẫu. Lúc đầu, cô vợ Sybil Williams nhất định không chịu ly dị và được dư luận Anh quốc hậu thuẫn, tuy nhiên sau khi tự tử và được cứu sống, khi Richard Burton về thăm, Sybil Williams đã chấp nhận sự thật phũ phàng và đồng ý ly dị vào cuối năm 1963.</p>
<p>Về phần Liz Taylor vì đơn phương bỏ chồng, đã phải nhờ luật sư lo thủ tục ly dị ở Mễ-tây-cơ, tới ngày 6/3/1964 mới hoàn tất. Chín ngày sau, Liz Taylor và Richard Burton làm thủ tục kết hôn tại khách sạn Ritz-Carlton Montreal ở Gia-nã-đại.</p>
<p>Sau đó ít lâu, hai vợ chồng đóng cặp trong cuốn phim The Sandpiper.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/03/Sandpiper-Poster.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-38836" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/03/Sandpiper-Poster-300x244.jpg?strip=all" alt="" width="359" height="292" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/03/Sandpiper-Poster-300x244.jpg?strip=all 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/03/Sandpiper-Poster.jpg?strip=all 555w" sizes="(max-width: 359px) 100vw, 359px" /></a></p>
<p>Như chúng tôi đã trình bày ở phần đầu, trong The Sandpiper, nữ nhân vật Laura Reynolds (Liz Taylor) không chỉ quan hệ thân mật với một người đã có vợ con mà còn đòi hỏi ông ta phải thú nhận có “yêu” mình.</p>
<p>Chi tiết này khiến mọi người liên tưởng tới “lập trường” của Liz Taylor ở đời thường: không chấp nhận chỉ cặp kè hoặc san sẻ ái tình, một khi yêu nhau là phải lấy nhau.</p>
<p>Cũng cần viết thêm, lúc đầu kịch bản của The Sandpiper được viết cho nữ diễn viên Kim Novak (nổi tiếng với cuốn phim nghẹt thở Vertigo năm 1958 của đạo diễn Alfred Hitchcock) khi ấy đang ở trên đỉnh cao sự nghiệp, nhưng vì sau đó Kim Novak tuyên bố giải nghệ, hãng phim mới mời Liz Taylor.</p>
<p>Về phần nhân vật Edward Hewitt trong phim tuy không bỏ vợ để theo nhân tình nhưng dù muốn hay không, việc ông ta ngoại tình với Laura Reynolds cũng nhắc nhớ tới việc Richard Burton bỏ vợ con để lấy Liz Taylor.</p>
<p>Chính vì thế, cuốn phim The Sandpiper đã không được công chúng nồng nhiệt đón nhận; và rất có thể đã ít nhiều tạo ác cảm nơi các nhà nhà phê bình. Hiện nay, trên trang mạng phê bình uy tín Rotten Tomatoes, tổng hợp số điểm của các nhà phê bình vẫn chỉ có 10%, tức là vào hàng tệ hại nhất, trong khi số điểm của khán giả là 43%. Riêng trang mạng IMDb cho tới 6.3/10.</p>
<p>Nhưng dù khen hay chê, thích hay không thích cuốn phim, người yêu nhạc không thể phủ nhận giá trị nghệ thuật và sức thu hút của ca khúc <em>The Shadow of Your Smile </em>trong cuốn phim này.</p>
<p><em>The Shadow of Your Smile</em> là một ca khúc do Johnny Mandel soạn nhạc, Paul Francis Webster đặt lời.</p>
<p style="text-align: center;"><em><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/03/Johnny-Mandel.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-38839" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/03/Johnny-Mandel-300x224.jpg?strip=all" alt="" width="346" height="258" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/03/Johnny-Mandel-300x224.jpg?strip=all 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/03/Johnny-Mandel.jpg?strip=all 400w" sizes="(max-width: 346px) 100vw, 346px" /></a></em></p>
<p style="text-align: center;"><em>Johnny Mandel</em></p>
<p><strong> </strong><strong>Johnny Mandel</strong> là một nhà soạn nhạc jazz, nhạc phổ thông, nhạc phim, hòa âm phối khí nổi tiếng bậc nhất của thời hậu chiến.</p>
<p>Ra chào đời tại Nữu Ước năm 1925, cha là chủ xưởng may, mẹ là ca sĩ opera, Johnny Mandel được theo học tại hai trường nhạc nổi tiếng là Manhattan School of Music và Juilliard School.</p>
<p>Nguyên vào năm Johnny Mandel lên 5, nhận thấy giọng con trai có một âm vực lý tưởng, bà mẹ cho cậu học hát, nhưng chẳng bao lâu sau cậu chuyển sang dương cầm, rồi kèn trumpet, sau cùng là trombone.</p>
<p>Năm 18 tuổi (1943) Johnny Mandel bắt đầu chơi trumpet và trombone trong các bạn nhạc jazz, và qua năm 1944 bắt đầu soạn nhạc. Sau đó,</p>
<p>Johnny Mandel tới Los Angeles bắt đầu cho một sự nghiệp rực rỡ trong cả ba lĩnh vực soạn nhạc, soạn hòa âm phối khí, nhạc phim, và đôi khi trình diễn (dương cầm).</p>
<p>Trong lĩnh vực hòa âm phối khí, Johnny Mandel rất được các danh ca nhạc jazz ưa chuộng, trong số đó Count Basie, Frank Sinatra, Peggy Lee, Anita O&#8217;Day, Barbra Streisand, Tony Bennett, Diane Schuur, Shirley Horn&#8230;</p>
<p>Ông đã đoạt ba giải âm nhạc Grammy cho công việc này, qua album <em>Velas</em> của Quincy Jones năm 1981, ca khúc <em>Unforgettale</em> của Natalie Cole (ghép tiếng hát của ông bố Nat King Cole) năm 1991, và album <em>Here&#8217;s to Life</em> của Shirley Horn năm 1992.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><strong> </strong><a href="https://www.youtube.com/watch?v=MKCyUe4syc4" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>Natalie Cole LIVE – Unforgettable</em></strong></a></p>
<p>Về nhạc phim, từ năm 1958 tới năm 1989, Johnny Mandel đã soạn nhạc cho 35 cuốn phim, và hai lần đoạt giải âm nhạc Grammy. Riêng về giải Oscar, ông đã được đề cử ngay với cuốn phim đầu tiên (I Want to Live, 1958), và tới năm 1965, đã đoạt cả Oscar lẫn giải Grammy với ca khúc <em>The Shadow of Your Smile</em> trong phim The Sandpiper.</p>
<p><em>The Shadow of Your Smile</em> do <strong>Paul </strong><strong>Francis</strong><strong> Webster</strong> viết lời hát.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/03/Paul_Francis_Webster.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-38835" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/03/Paul_Francis_Webster-224x300.jpg?strip=all" alt="" width="275" height="368" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/03/Paul_Francis_Webster-224x300.jpg?strip=all 224w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/03/Paul_Francis_Webster.jpg?strip=all 614w" sizes="(max-width: 275px) 100vw, 275px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><em>Paul </em><em>Francis</em><em> Webster (1907 – 1984)</em></p>
<p>Có thể nói Paul Francis Webster (1907 – 1984) là nhà viết lời hát nổi tiếng nhất, được yêu thích nhất xưa nay của Hoa Kỳ trong lĩnh vực nhạc phim.</p>
<p>Xét về số lần được đề cử giải Oscar cho ca khúc trong phim, Paul Francis Webster với 16 lần chỉ đứng hàng thứ ba, sau Sammy Cahn (1913 – 1993) với 26 lần, và Johnny Mercer (1909 – 1976) với 18 lần, nhưng xét về mức độ phổ biến và được yêu chuộng, các ca khúc của ông vượt trội, trong đó có ba bản đoạt giải Oscar là <em>Secret Love </em>(1953),<em> Love is a Many-Splendored Thing </em>(1955),<em> The Shadow of Your Smile</em> (1965) và <em>T</em><em>he Green Leaves of Summer </em>(1961) chỉ được đề cử mà chúng tôi đã giới thiệu trong những bài trước, hoặc <em>April Love </em>và<em> <a href="https://en.wikipedia.org/wiki/Rio_Bravo_(film)">Rio B</a>r<a href="https://en.wikipedia.org/wiki/Rio_Bravo_(film)">avo</a></em> trong các cuốn phim có cùng tựa vào các năm 1957, 1959&#8230;</p>
<p>Đặc biệt những khán giả ái mộ người hùng giả tưởng “Spider-Man” hẳn còn nhớ ca khúc ngắn Spider-Man do J. Robert Harris (1925 –  2000) soạn nhạc, Paul Francis Webster đặt lời cho cuốn phim Spider-Man năm 1967.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<h3><a href="https://www.youtube.com/watch?v=y0Ko-_PYDpI" target="_blank" rel="noopener"><em>Spider-Man Theme (Orchestral) &#8211; YouTube</em></a></h3>
<p>Trở lại với ca khúc <em>The Shadow of Your Smile</em>, năm 1965 đã đoạt giải Oscar cho ca khúc trong phim, và qua năm 1966, đoạt giải âm nhạc Grammy ca khúc viết cho phim. Hiện nay, <em>The Shadow of Your Smile</em> đang đứng hạng 77 trong danh sách Top 100 Songs in 100 Years of Movies do Viện Phim Ảnh Hoa Kỳ bình chọn. Mặc dù thứ hạng không cao, nhưng theo nhận xét của chúng tôi, với những người yêu thích thể loại nhạc jazz, đây là một trong những ca khúc trong phim được yêu chuộng nhất từ trước tới nay.</p>
<p>Thêm một yếu tố khiến nhiều người yêu thích <em>The Shadow of Your Smile</em> là tùy theo cách hòa âm phối khí, tùy ca nhạc sĩ trình diễn mà ca khúc, nhạc khúc jazz này còn được xem là nhạc pop.</p>
<p><strong><em>The Shadow of Your Smile</em></strong></p>
<p><em> </em><em>One day we walked along the sand<br />
One day in early spring<br />
You held a piper in your hand<br />
To mend its broken wing<br />
Now I&#8217;ll remember many a day<br />
And many a lonely mile<br />
The echo of a piper&#8217;s song<br />
The shadow of a smile</em></p>
<p><em>The shadow of your smile<br />
When you are gone<br />
Will color all my dreams<br />
And light the dawn<br />
Look into my eyes<br />
My love and see<br />
All the lovely things<br />
You are to me</em></p>
<p><em>Our wistful… </em></p>
<p><em>Our wistful little star<br />
Was far too high<br />
A teardrop kissed your lips<br />
And so did I<br />
Now when I remember spring<br />
All the joy that love can bring<br />
I will be remembering<br />
The shadow of your smile</em></p>
<p>Trong phim The Sandpiper, <em>The Shadow of Your Smile</em> được by Jack Sheldon độc tấu kèm trumpet và trình bày hợp xướng.</p>
<p>Cùng thời gian, danh ca Tony Bennett đã thu đĩa <em>The Shadow Of Your Smile</em> với phần hòa âm phối khí của chính Johnny Mandel.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=OwZhWhkA8V0" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>The Shadow Of Your Smile (Stereo / HD / Lyrics)</em></strong></a></p>
<p>Sau Tony Bennett, <em>The Shadow of Your Smile</em> đã đem lại thành công cho nhiều nam danh ca khác, như Frank Sinatra, Vic Damone, Andy Williams, Wes Montgomery, Johnny Mathis, Oscar Peterson, Bobby Darin&#8230;, tuy nhiên vì lời hát trong ca khúc này là tâm trạng của nữ nhân vật, cho nên chúng tôi cho rằng phiên bản của các nữ danh ca có sức lôi cuốn hơn, nhất là khi được thể hiện qua hình thức “light jazz”.</p>
<p><strong>Phụ lục 1:</strong><strong> <em>The Shadow of Your Smile</em>, Barbra Streisand</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-38833-43" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/03/01-The-shadow-of-your-smile-Barbra-Streisand.mp3?_=43" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/03/01-The-shadow-of-your-smile-Barbra-Streisand.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/03/01-The-shadow-of-your-smile-Barbra-Streisand.mp3</a></audio>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=eHar9ni7z2I" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>Ella Fitzgerald &#8211; The Shadow Of Your Smile (High Quality Remastered)</em></strong></a></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=IcEwsoR8J0Y" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>Astrud Gilberto &#8211; The shadow of your smile</em></strong></a></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=LmnejiLlR-M" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>Manhattan Jazz Orchestra &#8211; THE SHADOW OF YOUR SMILE</em></strong></a></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=dAuHAdsMZnQ" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>The Shadow of Your Smile &#8211; Kenny G</em></strong></a></p>
<p>Tại miền Nam VN trước năm 1975, <em>The Shadow of Your Smile</em> đã được nhạc sĩ Nhật Ngân đặt lời Việt với tựa <em>Bóng tối nụ cười</em>, được Vy Vân trình bày song ngữ trong Băng Vàng Nhạc Trẻ 4.</p>
<p>Có thể nói đây là một trong những ca khúc được yêu chuộng nhất của Vy Vân ngày ấy, giọng hát và cách diễn tả độc đáo của cô bé mới lớn có sức thu hút lạ thường. Rất tiếc chúng tôi thể không tìm ra băng nhạc cũ này, và thay vào đó xin gửi tới độc giả <em>The Shadow of Your Smile/Bóng tối nụ cười</em> qua tiếng hát Thái Hiền trong CD ASIA 40 &#8211; Chuyện Tình Buồn.</p>
<p><strong><em>Bóng tối nụ cười</em></strong><em> (LV: Nhật Ngân)</em></p>
<p><em> </em><em>Nụ cười anh như bóng mờ, đã xa xăm rồi<br />
Tình đầu tựa như giấc mộng, chói chan, nồng ấm<br />
Thấy chăng anh tình yêu dâng tràn mắt ta?<br />
Hãy cho nhau tình yêu dịu dàng, ngất ngây</em></p>
<p><em>Ngàn sao mang bao nỗi buồn đã xa vời vợi</em><br />
<em>Nụ hôn tình yêu chúng mình, nét môi còn ướt</em><br />
<em>Nhớ chăng anh mùa xuân ngày xưa</em><br />
<em>Những đam mê đầu tiên còn đâu?</em><br />
<em>Sẽ không quên dù xa mù khơi</em></p>
<p><em>Hình bóng trên môi cười anh thiết tha, thiết tha</em></p>
<p><strong>Phụ lục 2: <em>The Shadow of Your Smile/Bóng tối nụ cười</em>, Thái Hiền</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-38833-44" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/03/02-bong-toi-nu-cuoi.mp3?_=44" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/03/02-bong-toi-nu-cuoi.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/03/02-bong-toi-nu-cuoi.mp3</a></audio>
<p>Cũng tại hải ngoại, <em>The Shadow of Your Smile</em> được nhạc sĩ Anh Bằng đặt lời Việt với tựa <em>Nụ cười trong bóng mờ</em>.</p>
<p><strong> </strong><strong><em>Nụ Cười Trong Bóng Mờ  </em></strong>(LV: Anh Bằng)</p>
<p><em>Nụ cười anh trong bóng mờ, đã xa mịt mùng<br />
Chợt bừng lên trong giấc mộng, lúc đêm&#8230; vừa sáng<br />
Thấy chốn đây tình em, tình người&#8230; mắt xanh<br />
Ðắm say trong đời em, một vùng&#8230; bóng anh</em></p>
<p><em>Kìa ngôi sao kia ngút ngàn, giống như&#8230; tình mình</em><br />
<em>Lệ rơi trên đôi mắt này, cuốn theo&#8230; thời gian</em><br />
<em>Nhớ chốn xưa tình anh nồng cháy</em><br />
<em>Những say mê mà ta thường thấy</em><br />
<em>Sẽ không bao giờ quên&#8230; được đâu</em><br />
<em>Hình bóng anh trong hồn em !</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Phụ lục 3: </strong><strong><em>Nụ Cười Trong Bóng Mờ, </em></strong><strong>Thiên Kim</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-38833-45" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/03/03-NuCuoiTrongBongMo-ThienKim.mp3?_=45" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/03/03-NuCuoiTrongBongMo-ThienKim.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/03/03-NuCuoiTrongBongMo-ThienKim.mp3</a></audio>
<p>Sau năm 1975, <em>The Shadow of Your Smile</em> cũng được một số tác giả trong nước đặt lời Việt trong số đó có Phú Quang với tựa <em>Bóng Dáng Nụ Cười</em>.</p>
<p><strong><em>Bóng Dáng Nụ Cười</em></strong></p>
<p><em> </em><em>Dù cho tình yêu ấy giờ đã xa xôi rồi, </em></p>
<p><em>Nụ cười yêu thương vẫn còn bên đời lặng lẽ. </em></p>
<p><em>Lúc đôi ta gặp nhau trong chiều tuyết rơi, </em></p>
<p><em>Mãi in trong lòng em nụ cười khó quên. </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Và từng đêm em nhớ hoài bóng ai xa vời, </em></p>
<p><em>Dù tình yêu đã tắt rồi vẫn như còn đó. </em></p>
<p><em>Ánh mắt trong chiều nắng nhẹ rơi, </em></p>
<p><em>phút trao nhau tình say người ơi, </em></p>
<p><em>Ngỡ như môi cười anh chẳng quên và vẫn ru em từng đêm. </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Nụ cười giờ anh đã gửi đã trao ai rồi, </em></p>
<p><em>Chỉ còn mình em nhớ người, âm thầm một bóng. </em></p>
<p><em>Ánh mắt trong chiều nắng nhẹ rơi, </em></p>
<p><em>phút trao nhau tình say người ơi, </em></p>
<p><em>Ngỡ như môi cười anh chẳng quên, </em><em>và vẫn ru em từng đêm&#8230;</em></p>
<p>Xét chung mọi mặt &#8211; ca từ, hòa âm phối khí, ca sĩ thể hiện &#8211; chúng tôi cho rằng phiên bản <em>Bóng Dáng Nụ Cười</em> sau đây qua tiếng hát <strong>Thu Hà</strong> mang nhiều sắc thái độc đáo nhất, nếu không muốn nói là hay nhất.</p>
<p style="text-align: center;"><strong> <a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/03/91656.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-38838" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/03/91656-300x300.jpg?strip=all" alt="" width="300" height="300" srcset="https://cdn.t-van.net/2019/03/91656-150x150.jpg 150w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/03/91656-300x300.jpg?strip=all 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/03/91656.jpg?strip=all 500w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></a></strong></p>
<p><strong>Phụ lục 4: </strong><strong><em>Bóng Dáng Nụ Cười</em></strong><strong><em> , </em></strong><strong>Thu Hà</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-38833-46" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/03/04-Bng_Dng_Nu-cuoi.mp3?_=46" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/03/04-Bng_Dng_Nu-cuoi.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/03/04-Bng_Dng_Nu-cuoi.mp3</a></audio>
<p><strong><em>HOÀI NAM<br />
</em></strong><strong><em> </em></strong></p>
<p><strong><em> </em></strong></p>
<p><strong><em> </em></strong></p>
<p><strong><em> </em></strong></p>
<p><strong><em> </em></strong></p>
<p><strong><em> </em></strong></p>
<p>©T.Vấn 2019</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet-85-nhac-phim-the-shadow-of-your-smile-johnny-mandel-paul-francis-webster-bong-toi-nu-cuoi-bong-dang-nu-cuoi-nu-cuoi-trong-bong-mo/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/03/01-The-shadow-of-your-smile-Barbra-Streisand.mp3" length="2709480" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/03/02-bong-toi-nu-cuoi.mp3" length="10689525" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/03/03-NuCuoiTrongBongMo-ThienKim.mp3" length="4146593" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/03/04-Bng_Dng_Nu-cuoi.mp3" length="4782944" type="audio/mpeg" />

			</item>
		<item>
		<title>Hòai Nam: NHỮNG CA KHÚC NHẠC NGOẠI QUỐC LỜI VIỆT (84) &#8211; NHẠC PHIM – Moon River, Henri Mancini &#038; Johnny Mercer (Dưới Trăng, Sông Trăng)</title>
		<link>https://t-van.net/hoai-nam-nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet-84-nhac-phim-moon-river-henri-mancini-johnny-mercer-duoi-trang-song-trang/</link>
					<comments>https://t-van.net/hoai-nam-nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet-84-nhac-phim-moon-river-henri-mancini-johnny-mercer-duoi-trang-song-trang/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Hòai-Nam]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 18 Feb 2019 07:58:04 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[hòai nam]]></category>
		<category><![CDATA[nhạc nq]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=38538</guid>

					<description><![CDATA[Bài này chúng tôi viết về bản Moon River do nữ minh tinh Audrey Hepburn hát trong cuốn phim Breakfast at Tiffany&#8217;s &#8211; ca khúc đã đoạt giải Oscar năm 1962, và được ít nhất ba tác giả đặt lời Việt với tựa Dưới Trăng, Sông Trăng. Hiện nay, Moon River do Audrey Hepburn thu [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/02/38684_lg.jpeg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-38539" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/02/38684_lg-300x297.jpeg?strip=all" alt="" width="300" height="297" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/02/38684_lg-300x297.jpeg?strip=all 300w, https://cdn.t-van.net/2019/02/38684_lg-768x761.jpeg 768w, https://cdn.t-van.net/2019/02/38684_lg-1024x1015.jpeg 1024w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/02/38684_lg.jpeg?strip=all 1388w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></a></p>
<p>Bài này chúng tôi viết về bản <em>Moon River</em> do nữ minh tinh Audrey Hepburn hát trong cuốn phim <em>Breakfast at Tiffany&#8217;s</em> &#8211; ca khúc đã đoạt giải Oscar năm 1962, và được ít nhất ba tác giả đặt lời Việt với tựa <em>Dưới Trăng, Sông Trăng</em>.</p>
<p>Hiện nay, <em>Moon River</em> do Audrey Hepburn thu âm đang đứng hạng tư trong danh sách 100 ca khúc trong phim hay nhất xưa nay do Viện Phim Ảnh Hoa Kỳ (AFI: American Film Institute) bình chọn. Tuy nhiên trước năm 1975, so với những ca khúc Âu Mỹ khác được yêu chuộng tại miền Nam VN, <em>Moon River</em> không mấy phổ biến. Nguyên nhân: về giai điệu, <em>Moon River</em> được soạn thể loại nhạc jazz lúc đó đang bị rock-and-roll lấn lướt; về lời hát, ca từ của <em>Moon River</em> quá “thơ mộng” và tư tưởng tương đối “cao”, giới trẻ nghe nhạc ngoại quốc (vốn chiếm đa số) không phải ai cũng hợp cảm quan, cũng đủ trình độ để thưởng thức.</p>
<p>Quan trọng không kém, mặc dù ngày ấy không ít người trẻ yêu phim ảnh Âu Mỹ ở Sài Gòn đã tôn Audrey Hepburn làm thần tượng, không phải cuốn phim nào của Audrey Hepburn cũng được nhập vào Sài Gòn cho nên đa số đã không biết tới cảnh để đời trong cuốn phim <em>Breakfast at Tiffany&#8217;s</em>: Audrey Hepburn ôm đàn ghi-ta ngồi trên thành cửa sổ cạnh cầu thang hát bản <em>Moon River</em>.</p>
<p><em>Breakfast at Tiffany&#8217;s</em> là một cuốn phim hài kịch lãng mạn của Mỹ, phỏng theo cuốn tiểu thuyết có cùng tựa đề của nhà văn <a href="https://en.wikipedia.org/wiki/Truman_Capote">Truman Capote</a> xuất bản năm <a href="https://en.wikipedia.org/wiki/Breakfast_at_Tiffany%27s_(novella)">1958, do </a><a href="https://en.wikipedia.org/wiki/Audrey_Hepburn">Audrey Hepburn</a> và <a href="https://en.wikipedia.org/wiki/George_Peppard">George Peppard</a> thủ vai chính, trình chiếu tháng 10/1961.</p>
<p>Cốt truyện <em>Breakfast at Tiffany&#8217;s</em> kể về <strong>Holly Golighly</strong> (Audrey Hepburn), một cô gái Texas với những nét đẹp độc đáo và duyên dáng, từ bé đã khao khát một cuộc đổi đời. Năm 13 tuổi, Holly trốn nhà ra đi với cậu em trai, sau đó lấy một người đàn ông thất học bằng tuổi cha mình.</p>
<p>Cuối cùng Holly bỏ trốn lên Nữu Ước với mong ước kiếm được một ông chồng giàu có để gia nhập vào xã hội thượng lưu chốn phồn hoa đô hội. Niềm vui duy nhất của cô trong ngày là vừa ăn sáng vừa “window shopping”: cứ vào lúc 6 giờ sáng, cô diện thật sang, đi tắc-xi mang theo cái bao giấy đựng thức ăn sáng tới trước cửa tiệm kim hoàn nổi tiếng Tiffany, vừa ăn bánh uống ca-phê vừa ngắm nghía những món trang sức lộng lẫy được trưng bày trong tiệm. Thói quen này được tác giả cuốn truyện gọi một cách khôi hài là “<em>Bữa ăn sáng </em><em>ở tiệm Tiffany&#8217;s</em>  (Breakfast at Tiffany&#8217;s).</p>
<p>Holly kiếm tiền bằng cách làm “bồ câu đưa thư” cho Sally Tomato, một “bố già” đang bóc lịch trong nhà đá. Có tiền, cô tổ chức những party thâu đêm trong apartment của mình để mong được hòa nhập vào xã hội thượng lưu.</p>
<p>Cho đến một ngày nọ, <strong>Paul Varjak</strong> (George Peppard), một văn sĩ trẻ, tới mướn căn apartment ở tầng trên. Paul mê viết văn, nhưng không thể kiếm sống bằng ngòi bút cho nên phải làm &#8220;trai bao&#8221; cho một bà nạ dòng&#8230; Đồng cảnh ngộ, Holly và Paul tìm được một sự đồng điệu, rồi tình cảm nảy sinh&#8230;</p>
<p>Trước tình yêu chân thật của Paul, Holly, cô gái từng cặp kè và ao ước lấy bất cứ một người đàn ông giàu có nào, đã hiểu ra rằng cuộc đời còn nhiều thứ đáng quý hơn bạc tiền. Cuối cùng, sau bao sóng gió và hiểu lầm là một “happy ending”&#8230;</p>
<p>* * *</p>
<p>Audrey Hepburn không phải nữ diễn viên đầu tiên được mời thủ diễn vai trò Holly Golighly. Khi bán tác quyền cuốn truyện cho hãng phim Paramount Studios, văn sĩ <a href="https://en.wikipedia.org/wiki/Truman_Capote">Truman Capote</a> cho biết ưu tiên lựa chọn của ông để thủ vai Holly Golighly là <strong>Marilyn Monroe</strong>; vì thế hãng Paramount đã yêu cầu nhà viết kịch bản George Axelrod chuyển thể tiểu thuyết thành phim sao cho phù hợp với nữ minh tinh này. Tuy nhiên, vị thầy diễn xuất của Marilyn Monroe là đạo diễn Lee Strasberg đã khuyên can, vì ông cho rằng việc thủ vai một cô gái thiếu đứng đắn sẽ phương hại tới sự nghiệp (một cách chính xác, Lee Strasberg đã gọi vai Holly Golighly là “lady of the evening”, đồng nghĩa với “lady of the night”: gái điếm).</p>
<p>Sau khi Marilyn Monroe từ chối, hãng phim đã mời <strong>Shirley McLaine</strong>, lúc đó vừa đoạt giải Oscar qua cuốn phim hài kịch lãng mạn<em>The Apartment</em> (1960), tuy nhiên vào cùng thời gian, Shirley McLaine cũng nhận được lời mời đóng cuốn phim <em>Two Loves</em> của hãng MGM, và Shirley đã chọn đóng cuốn phim này &#8211; cuốn phim mà về sau bà mô tả là “Cuốn phim tệ hại khủng khiếp mà hầu như không có ai nghe nói tới!”</p>
<p>Sau đó, hãng phim Paramount mời Audrey Hepburn. Hay tin này, văn sĩ Truman Capote than trời: ”Họ đã hoàn toàn đi ngược lại với mong muốn của tôi”.</p>
<p>Ngày ấy, không ít người đã đồng ý với Truman Capote: Audrey Hepburn vốn là một nữ diễn viên khả ái chuyên thủ diễn những vai “nhà lành”, thì không thích hợp với vai trò cô gái “chịu chơi” Holly Golightly!</p>
<p>* * *</p>
<p style="text-align: center;"><strong><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/02/519pjOPJqTL.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-38540" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/02/519pjOPJqTL-214x300.jpg?strip=all" alt="" width="214" height="300" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/02/519pjOPJqTL-214x300.jpg?strip=all 214w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/02/519pjOPJqTL.jpg?strip=all 357w" sizes="(max-width: 214px) 100vw, 214px" /></a> </strong></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Audrey Hepburn (1929 – 1993)</strong></p>
<p><strong>Audrey Hepburn</strong> (1929 – 1993) tên thật là Audrey Hepburn-Ruston, là một nữ diễn viên Anh kiêm người mẫu, vũ công ballet.</p>
<p>Sinh thời, Audrey Hepburn không chỉ được xem là một nữ diễn viên hàng đầu của Thời vàng son của Hồ-ly-vọng (Hollywood&#8217;s Golden Age) mà còn là một thần tượng thời trang, được đưa vào Danh dự sảnh Ăn diện đẹp quốc tế (International Best-Dressed Hall of Fame).</p>
<p>Hiện nay, tên tuổi của Audrey Hepburn đang đứng hạng ba trong danh sách 100 nữ minh tinh của Thời vàng son do Viện Phim Ảnh Hoa Kỳ bình chọn, chỉ sau hai đàn chị Katharine Hepburn (1907 – 2003) và Bette Davis (1908 – 1989).</p>
<p>Audrey Hepburn-Ruston ra chào đời tại Brussels, thủ đô Vương quốc Bỉ, trong một gia đình thượng lưu; ông bố Joseph Victor Anthony Hepburn-Ruston, một công dân Anh từng giữ chức Tổng lãnh sự tại Semarang, một thuộc địa của Hòa-lan ở Nam Dương (Dutch East Indies); bà mẹ là nữ Nam tước Ella van Heemstra, ái nữ của Nam tước Asrnoud van Heemstra (của Đế quốc Áo trước kia), người từng giữ chức Thị trưởng Arnhem và Thống đốc Suriname, một thuộc địa của Hòa-lan ở Nam Mỹ. Trước khi lấy nhau, cha mẹ của Audrey Hepburn đều đã trải qua một cuộc hôn nhân.</p>
<p>Audrey Hepburn-Ruston sống buổi thiếu thời ở Bỉ, Anh quốc, Hòa-lan. Sau khi cha mẹ ly dị năm 1938, Audrey sống với mẹ; cô tỏ ra có năng khiếu đặc biệt về vũ ngay từ bậc tiểu học. Sau khi Anh quốc tuyên chiến với Đức quốc xã tháng 9/1939, bà Ella van Heemstra đưa con gái về Arnhem, Hòa-lan, vì hy vọng quốc gia này vốn giữ trung lập trong cuộc Đệ Nhất Thế Chiến nay sẽ không bị phát-xít Đức xâm lược.</p>
<p>Tuy nhiên chỉ mấy tháng sau, quốc gia này cũng bị xâm lược, toàn bộ tài sản của dòng họ van Heemstra ở Arnhem bị tịch thu. Một người dượng của Audrey bị quân Đức hành hình để dằn mặt “kháng chiến Hòa-lan” (Dutch Resistance), mặc dù ông không hề tham gia; hai người anh cùng mẹ khác cha của Audrey thì một người bị đưa vào trại tập trung lao động khổ sai, một người phải trốn chui trốn nhủi&#8230;</p>
<p>Audrey cùng bà mẹ Ella phải về miền quê tá túc ông ngoại (Nam tước Asrnoud van Heemstra), và từ đó bí mật tham gia các hoạt động yểm trợ kháng chiến chống phát-xít, thường là các buổi trình diễn vũ không có nhạc đệm (silence dance) để gây quỹ cho kháng chiến.</p>
<p>Sau cuộc đổ bộ của Đồng Minh lên Normandy tháng 6/1944, Hòa-lan đã gián tiếp hỗ trợ bằng các cuộc đình công của ngành hỏa xa. Để trả thù, phát-xít Đức đã phong tỏa tất cả mọi nguồn tiếp tế lương thực cũng như xăng dầu cho Hòa-lan, đưa tới nạn đói khủng khiếp “Dutch famine” vào mùa đông năm 1944. Trong nạn đói này, người dân của xứ sở hoa uất kim hương (tulip) trong đó có cả gia đình Nam tước Asrnoud van Heemstra đã phải “ăn hoa thay bột mì” (making flour out of tulip bulbs to bake cakes and biscuits).</p>
<p>Hậu quả, cô bé Audrey Hepburn-Ruston bị suy dinh dưỡng trầm trọng, đưa tới ba chứng bệnh sau đây: thiếu hồng huyết cầu, rối loạn hô hấp, và phù thũng. Về sau, cơ thể của Audrey không bao giờ hồi phục, vào lúc cân “nặng” nhất trong đời, cũng chỉ được 88 lbs (39.9 kg).</p>
<p>Thế Chiến kết thúc, Audrey được mẹ đưa lên thủ đô Amsterdam, thủ đô Hòa-lan. Vì tài sản đã bị mất hết trong chiến tranh, để kiếm sống “nữ Nam tước” Ella van Heemstra đã phải làm đầu bếp kiêm quản gia cho một gia đình giàu có.</p>
<p>Audrey được cho học vũ ballet với bà Sonia Gaskell (1904 – 1974), vị thầy ballet nổi tiếng, người có công sáng lập Học viện vũ ballet Hòa-lan và giữ chức Giám đốc nghệ thuật Đoàn vũ ballet quốc gia.</p>
<p>Năm 1948, Audrey xuất hiện lầu đầu tiên trên màn bạc qua vai một nữ tiếp viên hàng không trong cuốn phim giáo dục <em>Dutch in Seven Lessons</em>.</p>
<p>Cuối năm đó, Audrey được mẹ đưa về Anh quốc, tiếp tục theo học vũ ballet với Dame Marie Ramber (1888 – 1982), người sáng lập đoàn vũ Ballet Ramber nổi tiếng. Tại Luân-đôn, bà Ella van Heemstra phải làm đủ thứ công việc lặt vặt để kiếm sống, và Audrey đã phụ mẹ bằng cách làm người mẫu bán thời với cái tên đã được rút gọn: Audrey Hepburn.</p>
<p>Mặc dù Audrey tỏ ra có năng khiếu đặc biệt, Dame Marie Ramber cũng cho cô biết với thể lực yếu kém (hậu quả của suy dinh dưỡng trong Thế Chiến), cô không bao giờ có thể trở thành một nữ vũ công ballet hàng đầu (prima ballerina) được. Nghe lời khuyên của Dame Marie Ramber, Audrey bỏ ballet để theo đuổi kịch nghệ, khởi đầu với những vai ca viên (chorus girl) trên sân khấu West End, thủ đô kịch nghệ của Anh quốc. Trong thời gian này, Audrey Hepburn còn theo học hát với một vị thầy.</p>
<p>Năm 1950, Audrey Hepburn bắt đầu được thủ một số vai làm kiểng (cameo) trên màn bạc và truyền hình; qua năm 1951 được trao một vai phụ trong cuốn phim Anh &#8211; Pháp <em>Monte Carlo Baby</em> (<em>Nous Irons à Monte Carlo</em>), quay tại khách sạn Hôtel de Paris ở Monte Carlo, thủ phủ tiểu vương quốc Monaco.</p>
<p>Đúng vào thời gian này, nữ văn sĩ Pháp nổi tiếng <strong>Colette</strong> (1873 –  1954) đang ngụ tại khách sạn này và bà đã chấm Audrey Hepburn để thủ vai chính trong vở <em>Gigi</em> của mình trên sân khấu Broadway, Nữu Ước.</p>
<p><em>[Gigi là cuốn tiểu thuyết nổi tiếng nhất của Colette, trước đó đã được thực hiện thành phim năm 1948 với nữ diễn Leslie Caron trong vai chính. Tên “Colette” cũng được lấy để đặt cho một trường Pháp ở Sà</em><em>i</em><em> Gòn]</em></p>
<p>Ngay trong buổi diễn ra mắt tại rạp Fulton trong đêm 24/11/1952,</p>
<p>Audrey Hepburn đã được khán giả Mỹ hoan hô nhiệt liệt, được tạp chí Life và tờ Nữu Ước Thời Báo hết lời ca tụng. Vở diễn này được diễn ở Broadway 219 xuất trước khi lưu diễn tại Pittsburgh, Cleveland, Chicago, Detroit, Washington D.C., Los Angeles và San Francisco.</p>
<p>Qua vai chính trong <em>Gigi</em>, Audrey Hepburn đã được trao giải Theatre World Award dành cho diễn viên thủ vai chính lần đầu tiên trên sân khấu xuất sắc nhất, đồng thời được đạo diễn William Wyler lừng danh của Mỹ chọn để thủ vai chính trong cuốn phim hài kịch lãng mạn <em>Roman Holiday</em> (1953).</p>
<p><em>Roman Holiday</em>, ngày ấy chiếu tại miền Nam VN dưới tựa tiếng Pháp <em>Vacances Romaines</em>, kể chuyện nàng Công chúa Ann (hiểu ngầm là của Vương quốc Anh) trong chuyến công du Ý, chán ngán với những buổi lễ boring và sự ràng buộc, đã lén bỏ trốn khỏi sứ quán, gặp Joe, một chàng phóng viên Mỹ sống ở Ý (Gregory Peck thủ vai), và trải qua những cuộc phiêu lưu kỳ thú, để rồi trái tim rung động&#8230; Nhưng cuối cùng, Công chúa bắt buộc phải trở về với lầu son gác tía&#8230;</p>
<p>Thực ra lúc ban đầu, đạo diễn William Wyler muốn mời <strong>Elizabeth Taylor</strong> hoặc <strong>Jean Simmons</strong> (vai nữ chính trong phim <em>Spartacus</em>, chúng tôi đã nhắc tới trong bài viết về bản <em>Sad Movies</em>), nhưng vì cả đều bận đóng phim khác cho nên William Wyler mới phải tuyển một nữ diễn viên khác.</p>
<p>Không ngờ lựa chọn “second best” của William Wyler lại đem tới thành công ngoài sức tưởng tượng. Tại giải Oscar 1954, <em>Roman Holiday</em> đã đoạt ba giải: nữ diễn viên chính, kịch bản, và trang phục.</p>
<p>Đây là lần đầu tiên một nữ diễn viên đoạt Oscar vai chính trong cuốn phim đầu tiên (thủ vai chính) của mình; ngoài ra, qua cuốn phim này Audrey Hepburn còn đoạt giải nữ diễn viên vai chính xuất sắc tại các giải BAFTA (Điện ảnh Anh quốc), Trái Cầu Vàng, và giải của Các nhà bình phim Nữu Ước.</p>
<p>Năm 1999, <em>Roman Holiday</em> đã được đưa vào danh sách phim được bảo tồn của Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ.</p>
<p>Cũng trong năm 1954, Audrey Hepburn đã đoạt giải Tony (kịch nghệ) qua vai chính trong vở <em>Ondine</em> trên sân khấu Broadway. Tiếp theo là những cuốn phim nổi tiếng khác, trong số đó có <em>Sabrina </em>(1954), <em>The Nun Story</em> (1959)&#8230;</p>
<p>Hiện nay, Audrey Hepburn được ghi nhận là một trong 15 diễn viên đã đoạt cả bốn đại giải của Hoa Kỳ: Oscar, Emmy (truyền hình) Tony và Trái Cầu Vàng.</p>
<p>* * *</p>
<p>Trở lại với Audrey Hepburn và cuốn phim <em>Breakfast at Tiffany&#8217;s</em>. Trước sự bất mãn của văn sĩ Truman Capote, tác giả cuốn truyện nguyên tác, và sự hoài nghi của những người cho rằng Audrey Hepburn là một nữ diễn viên sở trường về những vai “nhà lành” thì không thích hợp với vai trò cô gái “chịu chơi” Holly Golightly, người nữ diễn viên tài ba ấy đã cố gắng lột xác để chứng minh hãng phim biết chọn mặt gửi vàng!</p>
<p><em> </em>Mặc dù Audrey Hepburn chỉ được đề cử chứ không đoạt giải Oscar diễn xuất qua vai Holly Golightly, đa số nhà phê bình đã cho đây là vai trò khó khăn nhất trong cả sự nghiệp của cô. Nhưng Audrey Hepburn không chỉ thủ diễn một cách tuyệt vời mà còn có khả năng biến Holly Golightly trong phim trở thành một vật nhân vật khác hẳn Holly Golightly trong cuốn truyện nguyên tác!</p>
<p>Tuy chỉ được để cử năm giải Oscar &#8211; nữ diễn viên chính, kịch bản phóng tác, dàn dựng, nhạc đệm, ca khúc trong phim &#8211; và đoạt hai giải nhạc đệm, ca khúc trong phim &#8211; <em>Breakfast at Tiffany&#8217;s</em>  đã được đa số các nhà bình phim hết lời ca tụng (88% điểm Rotten Tomatoes), đặc biệt là tài nghệ của Audrey Hepburn, mà một nhà phê bình viết là “có sức khiến màn ảnh rực sáng”.</p>
<p>Năm 2002, <em>Breakfast at Tiffany&#8217;s</em>  đã được Viện Phim Ảnh Hoa Kỳ (AFI: American Film Institute) xếp hạng 61 trong danh sách 100 cuốn phim tình cảm hay nhất xưa nay; và tới năm 2012, được đưa vào danh sách phim ảnh được bảo tồn của Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>* * *</p>
<p>Tới đây chúng tôi viết về nhạc phim của <em>Breakfast at Tiffany&#8217;s</em>  và bản <em>Moon River</em>.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/02/henry-mancini-2.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-38541" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/02/henry-mancini-2-300x250.jpg?strip=all" alt="" width="300" height="250" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/02/henry-mancini-2-300x250.jpg?strip=all 300w, https://cdn.t-van.net/2019/02/henry-mancini-2-768x640.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/02/henry-mancini-2.jpg?strip=all 900w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Henry Mancini</strong> (1924-1994)</p>
<p>Nhạc phim của <em>Breakfast at Tiffany&#8217;s</em>  do<strong> Henry Mancini</strong> (1924-1994) soạn. Ông là một nhà soạn nhạc, nhạc trưởng, kiêm nhà soạn hòa âm phối khí nổi tiếng bậc nhất của Mỹ, đặc biệt trong lĩnh vực nhạc phim.</p>
<p>Trong sự nghiệp của mình, Henry Mancini đã soạn nhạc cho khoảng 150 cuốn phim và show truyền hình, phát hành trên 35 album, có trên 50 đĩa đơn (single) được lên Top.</p>
<p>Ông từng được trao tặng bốn giải Oscar và một giải Trái Cầu Vàng cho nhạc phim và ca khúc trong phim; ông giữ kỷ lục với 72 lần được xướng danh giải âm nhạc Grammy (và đoạt 20 giải).</p>
<p>Henry Mancini tên thật là Enrico Nicola Mancini, ra chào đời tại Little Italy, một khu của di dân Ý ở Cleveland, và lớn lên tại West Aliquippa, Pennsylvania, nơi cha ông là một công nhân trong nhà máy thép. Henry Mancini được cha dạy sáo (piccolo) từ năm lên 8, rồi hai cha con cùng chơi sáo trong ban nhạc Sons of Italy của di dân Ý ở Aliquippa. Năm 12 tuổi, Henry Mancini được học dương cầm. Sau khi tốt nghiệp trung học năm 1942, Henry Mancini được lên Nữu Ước theo học tại trường âm nhạc nổi tiếng Juilliard School of Music.</p>
<p>Nhưng chưa đầy một năm sau, Henry Mancini được lệnh gọi nhập ngũ, phục vụ trong Lục Quân Hoa Kỳ, tham chiến ở Âu châu.</p>
<p>Sau khi giải ngũ, qua đầu năm 1946 chàng nhạc sĩ 22 tuổi được chơi dương cầm và soạn hòa âm cho dàn nhạc nổi tiếng Glenn Miller Orchestra, lúc đó vừa được thành lập. Thời gian này, Henry Mancini may mắn được thọ giáo về hòa âm, đối điểm nơi hai vị danh sư từ Âu châu sang Hoa Kỳ tỵ nạn phát-xít là <strong>Ernst Krenek</strong> (Áo gốc Tiệp) và <strong>Mario Castelnuovo-Tedesco</strong> (Ý).</p>
<p>Năm 1952, Henri Mancini được hãng phim Universal Pictures ký hợp đồng soạn nhạc phim. Trong thời gian 6 năm kế tiếp, Henri Mancini đã soạn nhạc cho trên 100 cuốn phim, và được đề cử giải Oscar lần đầu tiên.</p>
<p>Năm 1958, Henri Mancini rời hãng bỏ Universal Pictures để trở thành một nhà soạn nhạc &amp; soạn hòa âm phối khí độc lập. Công việc đầu tiên của Henri Mancini là soạn nhạc cho loạt phim truyền hình <em>Peter Gunn</em> của đạo diễn kiêm nhà sản xuất phim <strong>Blake Edwards</strong>, bắt đầu cho một cuộc hợp tác tốt đẹp kéo dài 35 năm với 30 cuốn phim.</p>
<p>Năm 1959, nhạc phim của loạt phim truyền hình <em>Peter Gunn </em>đoạt giải âm nhạc Grammy lần đầu tiên dành cho cho thể loại nhạc phim. Rồi tới thành công của <em>Breakfast at Tiffany&#8217;s </em>và ca khúc<em> Moon River</em> năm 1961.</p>
<p>Cũng trong năm 1961, Henri Mancini còn soạn nhạc phim cho <em>Hatari!</em> (Danger), cuốn phim hài kịch phiêu lưu mạo hiểm lấy bối cảnh Phi Châu của đạo diễn <a href="https://en.wikipedia.org/wiki/Howard_Hawks">Howard Hawk</a>s do John Wayne thủ vai chính. Nhạc khúc <em>Baby Elephant Walk</em> trong cuốn phim này đã đoạt giải Grammy về Hòa âm phối khí (Best Instrumental Arrangement) năm 1962.</p>
<p>Theo các nhà phê bình, nhạc phim <em>Hatari!</em> là một thành công điển hình của Henry Mancini trong việc sử dụng chất liệu “jazz” để đưa vào nhạc phim, công việc mà ông là một trong những người đi tiên phong.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><strong> </strong><a href="https://www.youtube.com/watch?v=kRQ7Aej7PQk" target="_blank" rel="noopener"><strong>The Baby Elephant Walk from &#8220;Hatari&#8221; by Henry Mancini</strong></a></p>
<p>Qua năm 1962, Henri Mancini soạn nhạc phim cho cuốn phim được đánh giá cao nhất trong sự nghiệp của đạo diễn Blake Edwards: <em>Days of Wine and Roses</em>.</p>
<p><em>Days of Wine And Roses</em> nguyên là một vở kịch có cùng tựa (1958) của kịch tác gia JP Miller được chính ông viết thành kịch bản cho cuốn phim.</p>
<p>Đây là một cuốn phim tình cảm u ám, nói về  ảnh hưởng tai hại do rượu gây ra cho một hôn nhân hạnh phúc. Ca khúc trong phim có cùng tựa đề<em> Days of Wine And Roses</em>  do Johnny Mercer đặt lời hát.</p>
<p>Tựa đề<em> Days of Wine And Roses</em> được kịch tác gia JP Miller lấy từ một bài thơ của thi sĩ Anh Ernest Dowson (1867–1900), cũng là gợi ý cho lời hát của Johnny Mercer.</p>
<p><strong><em>Days of Wine And Roses</em></strong></p>
<p><em>The days of wine and roses laugh and run away like a child at play<br />
Through the meadow land toward a closing door<br />
A door marked &#8220;nevermore&#8221; that wasn&#8217;t there before</em></p>
<p><em>The lone-ly night discloses just a passing breeze filled with memories<br />
Of the golden smile that introduced me to<br />
The days of wine and roses and you</em></p>
<p><em>The days of wine and roses<br />
</em>[more instrumental-rest of the first verse]</p>
<p><em>The lonely &#8211; the night discloses just a passing breeze filled with memories</em><br />
<em>Of the golden smile that introduced me to</em><br />
<em>The days of wine and roses and you&#8230;</em></p>
<p><strong><em>VIDEO</em></strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=xE3Y4-hB-9g" target="_blank" rel="noopener"><strong><em> </em></strong><strong><em><u>[andy williams] days of wine and roses (lyrics) – YouTube</u></em></strong></a></p>
<p>Qua năm 1963, Henri Mancini soạn nhạc phim cho một tác phẩm để đời khác của Blake Edwards: <em>T</em><em>he Pink Panther</em>.</p>
<p><em>T</em><em>he Pink Panther</em> là một cuốn phim hài kịch giả tưởng kể về cuộc phiêu lưu của viên kim cương lớn nhất thế giới có tên là “The Pink Panther” và chủ nhân của nó là Dala, một nàng công chúa Ấn-độ lưu vong&#8230;, với sự góp mặt của một dàn diễn viên quốc tế: David Niven, Peter Sellers, Robert Wagner, Capucine, Claudia Cardinale&#8230; và nhân vật hoạt họa “The Pink Panther”. Sự thành công của <em>The </em><em>Pink Panther</em> đã được tiếp nối bằng 11 cuốn phim khác, và loạt phim hoạt họa ngắn với nhân vật chính là “The Pink Panther”.</p>
<p>Năm 2010, <em>T</em><em>he Pink Panther</em> (1963) đã được đưa vào danh sách phim ảnh bảo tồn của Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ.</p>
<p>Mặc dù trong giải Oscar năm 1963, <em>T</em><em>he Pink Panther</em> đã phải nhường giải nhạc phim cho <em>Mary Poppins</em>, cuốn phim hài kịch ca nhạc bất hủ, nhưng nếu chỉ kể nhạc khúc chủ đề (movie theme) thì <em>T</em><em>he Pink Panther</em> được yêu chuộng, phổ biến hơn.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=Jpmrd_GdddI" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>The Pink Panther (1963) &#8211; Main Title [720p]</em></strong></a></p>
<p>Tới đây, chúng tôi trở lại với <em>Moon River</em>, ca khúc Audrey Hepburn hát trong cuốn phim <em>Breakfast at Tiffany&#8217;s</em> và đã đoạt giải Oscar cho ca khúc trong phim năm 1962.</p>
<p>Nhạc phim của <em>Breakfast at Tiffany&#8217;s</em> do Henri Mancini soạn gồm 38 tiểu khúc (hoặc đoạn nhạc) và 11 ca khúc, trong đó có một ca khúc do nữ nhân vật chính Holly Golightly (Audrey Hepburn thủ vai) hát.</p>
<p>Lúc đầu, để khỏi phải bận tâm, hãng phim đề nghị để một nữ ca sĩ hát thế, Audrey Hepburn chỉ việc nhép miệng.</p>
<p><strong>VIẾT THÊM:</strong> Việc lồng tiếng hát của một nữ ca sĩ chuyên nghiệp thay cho nữ diễn viên trong phim rất phổ biến trong hai thập niên 1950, 1960. Công việc này nghe qua thì đơn giản nhưng với những nhà làm phim cầu toàn, tôn trọng khán giả lại khá phức tạp. Yếu tố quan trọng nhất là sự giống nhau, dù chỉ tương đối, giữa giọng của nữ ca sĩ hát thế và giọng của nữ diễn viên trong phim.</p>
<p>Chúng tôi còn nhớ trước năm 1975 tại miền Nam VN, trong cuốn phim <em>Chân Trời Tím</em>, khi Kim Vui hát hai bản <em>Nửa Hồn Thương Đau </em>và<em> Người Đi Qua Đời Tôi </em>của nhạc sĩ Phạm Đình Chương, thì khán giả lại được nghe tiếng hát của&#8230; Thái Thanh! Hai giọng hát, cách hát khác nhau một trời một vực, ai xem phim cũng phải bực mình, khó chịu.</p>
<p>Ngay tại Hoa Kỳ ngày ấy (1950-60), cũng chỉ có một vài nữ ca sĩ có khả năng sửa giọng và thay đổi cách hát cho phù hợp với giọng và cách hát của nữ diễn viên.</p>
<p>Trong số này, <strong>Mani Nixon</strong> (1930 &#8211; 2016), một nữ ca sĩ nhạc giao hưởng và opera, ca nhạc kịch với giọng soprano cao vút, được xem là người hát thế tài ba, hoàn hảo nhất.</p>
<p>Từ năm 1950 tới giữa thập niên 1960, Mani Nixon đã hát thế cho hàng chục nữ diễn viên, như Marilyn Monroe (phim <em>Gentlemen Prefer Blondes</em>), Deborah Kerr (<em>The King and I</em>, và <em>An Affair to Remember</em>), Janet Leigh (<em>Pepe), </em>Natalie Wood và Rita Moreno (<em>West Side Story</em>), Audrey Hepburn (<em>My Fair Lady</em>), Sophia Loren (<em>Boy on a Dolphin</em>), v.v&#8230;</p>
<p>Để giữ bí mật với khán giả, tên tuổi của người hát thế không được ghi ra trên màn ảnh, cho nên những ca sĩ này được gọi là “ghost  singer”.</p>
<p>* * *</p>
<p>Trước đề nghị của hãng phim lồng tiếng hát của một nữ ca sĩ thay cho Audrey Hepburn, Henri Mancini đã phản đối kịch liệt, bởi ông cho rằng nếu để Audrey Hepburn hát nhép, cảnh này sẽ không có “hồn”.</p>
<p>Nhưng Audrey Hepburn lại không phải một ca sĩ thực thụ, những gì thu thập được qua những buổi học hát hồi trẻ chỉ giúp cô hát đúng tông đúng nhịp, còn giọng hát với một âm vực giới hạn của cô trước sau vẫn thế; nói cách khác, cô không thể lên cao quá mà cũng không thể xuống thấp quá!</p>
<p>Vì thế, Henri Mancini đã phải xem lại cuốn phim <em>Funny Face</em> (1957) trong đó Audrey Hepburn thủ vai chính và hát bản <em>How Long Has This Been Going On</em> trước khi soạn một ca khúc với cung bậc nằm trong âm vực của cô. Theo lời kể lại của vợ ông, Henri Mancini đã mất tới sáu tuần lễ để viết ba nốt đầu; và khi đã tìm được ba nốt ấy, ông hoàn tất phần còn lại chỉ trong vòng 30 phút!</p>
<p>Phần nhạc không lời này cũng sẽ là nhạc khúc chủ đề (main theme) của cuốn phim, được sử dụng trong cảnh mở đầu, do dàn nhạc hòa tấu với tiếng khẩu cầm (harmonica) là chính.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=1JfS90u-1g8" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>Breakfast at Tiffany&#8217;s Opening Scene – HQ</em></strong></a></p>
<p>Soạn phần nhạc xong, Henri Mancini trao Johnny Mercer, một nhà đặt lời hát vào hàng tiền bối rất nổi tiếng nhưng nay đã bớt ăn khách vì bị xem là “người của quá khứ”!</p>
<p style="text-align: center;"><strong> <a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/02/johnny-mercer.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-38542" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/02/johnny-mercer-300x300.jpg?strip=all" alt="" width="300" height="300" srcset="https://cdn.t-van.net/2019/02/johnny-mercer-150x150.jpg 150w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/02/johnny-mercer-300x300.jpg?strip=all 300w, https://cdn.t-van.net/2019/02/johnny-mercer-768x768.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2019/02/johnny-mercer-1024x1024.jpg 1024w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/02/johnny-mercer.jpg?strip=all 1200w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></a></strong></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Johnny Mercer</strong> (1909 – 1976)</p>
<p><strong> </strong><strong>Johnny Mercer</strong> (1909 – 1976) là một nhà soạn nhạc, đặt lời hát kiêm ca sĩ quê quán ở Savannah, tiểu bang Georgia, hành nghề tại Hồ-ly-vọng. Ông nổi tiếng nhất với việc đặt lời hát, được xem là một trong những người cuối cùng còn sót lại của thời “<strong>Tin Pan Alley”.</strong></p>
<p><em>[“Tin Pan Alley”, như chúng tôi đã viết trong bài Dẫn Nhập của Nhạc Phổ Thông, là nơi quy tụ của các nhà soạn nhạc và xuất bản nhạc tiên phong trong nền nhạc phổ thông Hoa Kỳ, nằm ở một vị trí ngày nay là West 28th Street, giữa Fifth và Sixth Avenue, Nữu Ước]</em></p>
<p>Từ năm 1933 tới đầu thập niên 1950, Johnny Mercer đã đặt lời hát cho rất nhiều ca khúc trong phim nổi tiếng và trong hai vở ca nhạc kịch trên sân khấu Broadway. Ông được đề cử giải Oscar cho ca khúc trong phim 18 lần, và đoạt giải bốn lần vào các năm 1947, 1952, 1962, và 1963.</p>
<p>Tổng cộng, trong sự nghiệp của mình Johnny Mercer đã đặt lời hát cho trên 1,500 ca khúc!</p>
<p>Năm 1956, một lần hiếm hoi trong đời, Johnny Mercer đã soạn cả nhạc lẫn lời hát cho hai ca khúc trong cuốn phim ca nhạc <em>Bernardine</em> do nam ca sĩ kiêm diễn viên <strong>Pat Boone</strong> thủ vai chính. Mặc dù không được đề cử trong giải Oscar hay bất cứ giải ca nhạc quan trọng nào, ca khúc chủ đề <em>Bernardine</em> do Pat Boone thu đĩa đã đứng No.1 trong danh sách đĩa bán chạy nhất do tạp chí Billboard thiết lập.</p>
<p>Chúng tôi còn nhớ sau khi cuốn phim <em>Bernardine</em> được chiếu tại Việt Nam vào khoảng năm 1961, 1962, bản <em>Bernardine</em> đã được đông đảo người yêu nhạc ngoại quốc ở Sài Gòn ưa chuộng, và Pat Boone đã trở thành “thần tượng nhà lành” của không ít cô gái ở Hòn Ngọc Viễn Đông.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=Mgmo9KSb1kE" target="_blank" rel="noopener"><strong>BERNARDINE &#8211; PAT BOONE</strong></a></p>
<p>Như chúng tôi đã viết ở một đoạn trên, Henry Mancini là một trong những người đi tiên phong trong việc sử dụng chất liệu “jazz” để đưa vào nhạc phim, vì thế ông đã mời đàn anh Johnny Mercer hợp tác trong việc viết lời hát cho ca khúc chủ đề của cuốn phim mà ông vừa soạn nhạc.</p>
<p>Henry Mancini chỉ cho Johnny Mercer biết ca khúc này sẽ được sử dụng trong cảnh Audrey Hepburn ôm đàn ghi-ta ngồi hát trên thành cửa sổ cạnh cầu thang, còn nội dung ca từ, ông để Johnny Mercer toàn quyền.</p>
<p>Sau đó, Johnny Mercer đã viết ba lời hát khác nhau, và cuối cùng chọn lời hát mà ông lấy cảm hứng qua hoài niệm một buổi đi dạo chơi trên sông gần ngôi nhà thời thơ ấu của ông ở Savannah, tiểu bang Georgia trong một đêm trăng. Bởi ông cho rằng đây cũng là tâm trạng của nhân vật Holly Golightly (Audrey Hepburn), một cô gái gốc Texas sống ở Nữu Ước, ngồi ôm đàn hồi tưởng những ngày ấu thơ&#8230;</p>
<p>Lời hát chỉ có 10 câu ngắn ngủi, không cầu kỳ nhưng kết hợp với dòng nhạc một cách tuyệt vời:</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/02/Moon-River.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-38543" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/02/Moon-River-300x200.jpg?strip=all" alt="" width="300" height="200" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/02/Moon-River-300x200.jpg?strip=all 300w, https://cdn.t-van.net/2019/02/Moon-River-768x511.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/02/Moon-River.jpg?strip=all 1015w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></a></p>
<p><em><strong>Moon River</strong></em></p>
<p><em> </em><em>Moon river, wider than a mile</em></p>
<p><em>I’m crossing you in style someday</em></p>
<p><em>Oh dream maker, you heart breaker</em></p>
<p><em>Wherever you’re going</em></p>
<p><em>I’m going your way</em></p>
<p><em>Two drifters off to see the world</em></p>
<p><em>There’s such a lot of world to see</em></p>
<p><em>We’re after the same rainbow’s end</em></p>
<p><em>Waiting round the bend</em></p>
<p><em>My huckleberry friend</em></p>
<p><em>Moon river, and me</em></p>
<p><strong><em>VIDEO:</em></strong></p>
<p><strong><em> </em></strong><a href="https://www.youtube.com/watch?v=zHxN2ZDp4vo" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>Breakfast at Tiffany&#8217;s &#8211; Audrey Hepburn Sings Moon River &#8211; BEST QUALITY</em></strong></a></p>
<p>Trong giải Oscar năm 1962, <em>Moon River</em> đã đem lại giải Oscar đầu tiên cho Henri Mancini và thứ ba cho Johnny Mercer. Tại giải âm nhạc Grammy cùng năm, <em>Moon River</em> đã đoạt hai giải quan trọng nhất: Ca khúc trong năm (Song of the Year) và Đĩa hát trong năm (Record of the Year).</p>
<p>Riêng với Johnny Mercer, <em>Moon River</em> đã đưa tên tuổi của ông trở lại vị trí hàng đầu. Về sau, để vinh danh “người con yêu của Savannah” người ta đã đặt tên cho một cái vịnh nhỏ ở Savannah, Georgia là “Moon River”, để rồi cả vùng này được gọi là “Moon River District”, nơi có nhà hàng “Moon River Restaurant”, hãng bia  “Moon River  Brewing Company” với một “beer garden” cho du khách (kiêm tửu khách) thập phương&#8230;</p>
<p>Tính tới nay, <em>Moon River</em> đã được trên 500 ca sĩ nổi tiếng thu đĩa. Từ Andy Williams, Louis Armstrong, Frank Sinatra tới Elton John, Rod Stewart&#8230;, từ Judy Garland, Barbra Streisand&#8230; tới Sarah Vaughan, Sarah Brightman, Amy Winehouse&#8230;</p>
<p>Trong số này, phiên bản của <strong>Andy Williams</strong>, thu âm năm 1961, và được ông hát trong giải Oscar 1962, được nhiều người yêu chuộng nhất.</p>
<p>Riêng Andy Williams, ông đã xem <em>Moon River</em> như ca khúc “cầu chứng” của mình. Đây là ca khúc mở đầu mỗi tập của show truyền hình <em>The Andy Williams Show</em> (1962 &#8211; 1971) của ông, và được sử dụng làm tựa đề album tập hợp những tình khúc hay nhất của ông, cũng như cuốn hồi ký “<em>Moon River&#8221; and Me</em>, và tên của công ty sản xuất âm nhạc, tên nhà hát do ông làm chủ ở Branson, Missouri.</p>
<p><strong>Phụ lục 1: <em>Moon River</em>, </strong><strong>Andy Williams</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-38538-47" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/02/Moon-River-Andy-Williams-Nh-c-Anh-222.mp3?_=47" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/02/Moon-River-Andy-Williams-Nh-c-Anh-222.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/02/Moon-River-Andy-Williams-Nh-c-Anh-222.mp3</a></audio>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=LK4pmJQ6zgM" target="_blank" rel="noopener"><u><strong>Moon River (From The Andy Williams Show) &#8211; Amazon.com</strong></u></a></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=kK2v6gNnmu8" target="_blank" rel="noopener"><strong><u>Sarah Brightman &#8211; Moon River &#8211; YouTube</u></strong></a></p>
<p>Trước năm 1975 tại Sài Gòn, <em>Moon River</em> được Phạm Duy đặt lời Việt với tựa <em>Dưới trăng</em>, được Tuấn Ngọc trình bày trong băng <em>Nhạc trẻ 3.</em></p>
<p><em> </em><em><strong>Dưới Trăng</strong></em></p>
<p><em>Ngồi dưới trăng, lắng im nghe lòng ta</em></p>
<p><em>Thổn thức bao chuyện ngày qua sầu đau</em></p>
<p><em>Hỡi người dấu yêu, sao đành lỡ quên</em></p>
<p><em>Sao đành vỡ tan như cánh chim lìa bay</em></p>
<p><em>Lòng đắm say những khi ta gần nhau</em></p>
<p><em>Ngồi dưới ánh trăng dịu êm cùng mơ</em></p>
<p><em>Con thuyền trôi về đâu dưới trăng vàng</em></p>
<p><em>Cớ sao một mình ta</em></p>
<p><em>Ngồi dưới ánh trăng lẻ loi</em></p>
<p><em>Buồn vấn vương, chán chường</em></p>
<p><strong>Phụ lục 2: <em>Dưới Trăng</em>, Tuấn Ngọc</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-38538-48" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/02/Duoi-Trang-Tuan-Ngoc_3j6jb.mp3?_=48" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/02/Duoi-Trang-Tuan-Ngoc_3j6jb.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/02/Duoi-Trang-Tuan-Ngoc_3j6jb.mp3</a></audio>
<p>Ngoài ra, theo tạp chí Trẻ (Trẻ Magazine) xuất bản tại Texas, Hoa Kỳ, trước năm 1975 Nguyễn Ðình Toàn cũng đặt lời Việt cho <em>Moon River </em>với tựa<em> Sông Trăng</em>, tuy nhiên tác giả bài báo cho biết không tìm ra bản gốc và cũng không biết đã có ca sĩ nào thu âm hay chưa. Lời hát của Nguyễn Ðình Toàn được tạp chí Trẻ ghi lại như sau:</p>
<p><em><strong>Sông Trăng</strong></em></p>
<p><em>Dòng nước trôi, cuốn theo muôn vạt trăng</em></p>
<p><em>Thầm nhắc ta hãy vượt sông một ngày</em></p>
<p><em>Ði tìm bóng xưa êm đềm</em></p>
<p><em>Ngẩn ngơ, hỡi dòng sông</em></p>
<p><em>Trôi tới đâu ta cũng theo mà đi</em></p>
<p><em>Còn nhớ chăng, hỡi em muôn trùng xa</em></p>
<p><em>Ngày chúng ta đôi trẻ thơ nhìn đời</em></p>
<p><em>Ôi đời vui trăm lối, có ai ngờ</em></p>
<p><em>Dưới chân cầu vồng kia</em></p>
<p><em>Còn chốn nào cho người xa</em></p>
<p><em>Tìm thấy nhau một lần…</em></p>
<p>Cuối cùng, trên YouTube, chúng tôi cũng thấy phổ biến một video clip lời Việt của tác giả Nguyễn Hoàng Đô, do “Quỳnh Dao Paris” trình bày.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://youtu.be/1PBWBcl9mvM" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>Sông Trăng (Moon River)</em></strong></a></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>HOÀI NAM</strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p>©T.Vấn 2019</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/hoai-nam-nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet-84-nhac-phim-moon-river-henri-mancini-johnny-mercer-duoi-trang-song-trang/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/02/Moon-River-Andy-Williams-Nh-c-Anh-222.mp3" length="2690847" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/02/Duoi-Trang-Tuan-Ngoc_3j6jb.mp3" length="3846932" type="audio/mpeg" />

			</item>
	</channel>
</rss>

<!--
Performance optimized by W3 Total Cache. Learn more: https://www.boldgrid.com/w3-total-cache/?utm_source=w3tc&utm_medium=footer_comment&utm_campaign=free_plugin

Page Caching using Disk: Enhanced 

Served from: t-van.net @ 2026-04-24 06:35:55 by W3 Total Cache
-->