<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>ký ức; tùy bút &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<atom:link href="https://t-van.net/tag/ky-uc-tuy-but/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://t-van.net</link>
	<description>Văn Học và Đời Sống</description>
	<lastBuildDate>Mon, 08 Jun 2026 16:36:22 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.7.5</generator>

<image>
	<url>https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/02/t-van-favicon.png?strip=all&#038;resize=32%2C32</url>
	<title>ký ức; tùy bút &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<link>https://t-van.net</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>SONG THAO: KÝ ỨC SÀI GÒN (3)</title>
		<link>https://t-van.net/song-thao-ky-uc-sai-gon-3/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Song Thao]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 10 Jun 2026 06:20:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[ký ức; tùy bút]]></category>
		<category><![CDATA[phiếm song thao]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=89755</guid>

					<description><![CDATA[Bùi Giáng trên đường phố Sài Gòn. KỲ 1 KỲ 2 (Tiếp theo KỲ 2) Dân Sài Gòn rất xởi lởi, có sao nói vậy người ơi. Nhớ, ngày mới di cư vào Sài Gòn, gia đình tôi mua tạm một căn nhà tường gỗ mái tôn ở Vĩnh Hội, ngay bên phía cầu Ông [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/06/image005.png?strip=all&fit=190%2C267&w=2560"><img fetchpriority="high" decoding="async" width="190" height="267" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/06/image005.png?strip=all&fit=190%2C267" alt="" class="wp-image-89757" style="width:322px;height:auto"/></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Bùi Giáng trên đường phố Sài Gòn.</em></p>



<div style="height:3px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><a href="https://t-van.net/song-thao-ky-uc-sai-gon-1/">KỲ 1</a> <a href="https://t-van.net/song-thao-ky-uc-sai-gon-2/">KỲ 2</a></p>



<p>(Tiếp theo KỲ 2)</p>



<p>Dân Sài Gòn rất xởi lởi, có sao nói vậy người ơi. Nhớ, ngày mới di cư vào Sài Gòn, gia đình tôi mua tạm một căn nhà tường gỗ mái tôn ở Vĩnh Hội, ngay bên phía cầu Ông Lãnh. Hàng xóm là dân lao động rất dễ mến. Chỉ vài ngày là anh Hai, chị Ba, dì Tư với nhau. Tên thiệt cất để dành trong khai sanh, không ai xài tới. Những anh Hai chị Ba mới chân ướt chân ráo tới ngụ cư bỗng thấy mình Sài Gòn hẳn ra. Cũng hồn&nbsp; nhiên xé đôi tờ giấy bạc một đồng làm hai mảnh 5 cắc. Nhưng cũng có những người hỏi móc sao ngoài Bắc đã hòa bình độc lập mà dzô Nam làm chi? Lũ trẻ vốn hồn nhiên, thấy mấy đứa Bắc kỳ nói giọng khác đã hè nhau trêu chọc. Tác giả Nguyễn Hữu Huấn kể lại chuyện trong lớp học: “Hai thằng Bắc kỳ con nhất định ngồi cạnh nhau tạo thế liên hoàn “dựa nhau mà sống“ trong cái lớp học 27 trự Nam kỳ con. Bọn chúng hè nhau trêu chọc, ăn hiếp hai đứa. Mỗi lần ra chơi hai thằng Bắc kỳ con luôn tìm chỗ ít người mà đứng để khỏi nghe bọn Nam kỳ đọc thơ chọc quê chửi bới. Thằng Vọng, đứa đầu xỏ và to con nhất đám (bây giờ đang ở Canada) leo lên cây vú sữa giữa sân, đọc thơ rang rảng: <em>&#8220;Bắc kỳ ăn cá rô cây / Ăn nhằm lựu đạn&#8230;chết cha Bắc kỳ”.</em> Một thằng khác sẵn giọng phụ họa <em>: &#8220;Có cái thằng nhỏ nó &#8220;đao“ làm sao / Lỗ đ. nó dính cái cọng “rao” / Người ta ai mà kỳ như “dzậy“ ?”. Thế là cả bọn đồng loạt chỉ ngay vào hai đứa rồi rống lên : &#8220;Thôi rồi ! Bắc kỳ, Bắc kỳ !”.</em> Bản nhạc “Khúc Nhạc Đồng Quê” của Thúc Đăng rất thịnh hành đã được chế lời: “Quê hương tui Bắc kỳ nhào dzô quá trời / Bên bờ sông bên bờ ao&#8230;trồng rau muống!”</p>



<p>Dân Sài Gòn không ăn rau muống. Đó là thứ rau dành cho heo. Dân Bắc thì lại rau muống làm chuẩn trong các bữa cơm. Vậy nên rau muống mới…phạm tội. Ông cha sở nhà thờ Vĩnh Hội trong bài giảng vào thánh lễ ngày Chủ Nhật đã căn dặn bà con trong Nam hãy coi những di dân như anh chị em cùng có một cha chung. Và ông mang chuyện rau muống ra…giảng. Đại khái ông cho biết rau muống rất bổ, người Bắc ăn rau muống là khôn ngoan. Dân Nam chê họ không nấu canh mà dùng nước rau muống làm canh, ông cha dễ thương biện hộ là tinh túy của rau khi luộc nằm trong nước rau, người Bắc dùng nước rau muống là biết tận dụng tất cả sự bổ béo của rau muống. Ông cha sở này mặt mũi khó đăm đăm nhưng là dân Sài Gòn chính hiệu bà lang trọc. Hầu như ai tới Sài Gòn cũng cảm thấy như được yêu mến như người nhà đi xa trở về.</p>



<p>Nhà văn Vương Hoài Uyên từ Quảng Ngãi vào học Văn Khoa Sài Gòn là một người được Sài Gòn đón tiếp như con dân của Sài Gòn hoa lệ: “<em>Ðầu thập niên 70, tôi bước chân vào giảng đường Đại Học. Từ miền Trung vào, Sàigòn đối với tôi như một miền đất hứa vừa hấp dẫn, vừa hứa hẹn những điều mới lạ. Vào đến thành phố được mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Đông, tôi thấy cái gì cũng lạ lẫm. Từ những tòa nhà cao tầng, đến những con đường xe cộ tấp nập, đến những cô gái Sàigòn ăn mặc theo mốt Hippy, rồi áo dài tay Raglan, mini jupe…Một lần vào ngày Chủ Nhật, tôi đi xe Velo – Solex lên nhà một người chị ruột ở đường Lê Đại Hành. Lúc đi ngang qua Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, do mất bình tĩnh khi tránh một người đi bộ ngang qua đường, tôi bị té xe ngã giữa đường, bị một vết thương rách da cằm. Mấy người dân sống ở gần đó chạy đến đưa dầu cho tôi thoa. Đau thì ít, sợ thì nhiều, tôi hoảng hốt chẳng biết phải làm gì. Hồi đó, đâu có điện thoại để gọi người thân như bây giờ. Lúc đó, một anh thanh niên đi xe Honda dừng xe đỡ tôi dậy. Anh bảo tôi gởi tạm chiếc xe Velo cho một thanh niên đang ngồi sửa xe đạp ven đường trước Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, để anh chở tôi đến bệnh viện may vết thương ở cằm. Tôi đã gởi xe cho anh thanh niên không hề quen biết này, mà không hề có chút nghi ngại để cho anh thanh niên kia chở đến bệnh viện. Vị bác sĩ vừa may vết thương ở cằm tôi, vừa nói: “Em mà không may chỗ vết thương này thì sẽ trở thành một cái sẹo to đấy.” May xong vết thương, anh thanh niên tốt bụng kia lại chở tôi về chỗ cũ. Từ xa, tôi đã thấy chiếc xe Velo – Solex của tôi vẫn dựng bên đường. Tôi cảm ơn hai người thanh niên không quen biết kia và nghĩ sao Sàigòn lại có nhiều người tốt như vậy. Nếu là người gian, anh thanh niên kia có thể thu dọn đồ nghề rồi mang luôn chiếc xe của tôi đi thì ai biết đâu mà tìm. Hình ảnh hai con người tốt bụng đó vẫn mãi mãi ở trong ký ức tôi với lòng cảm mến và biết ơn sâu sắc. Sau này, trải qua bao nhiêu năm, có dịp vào Sàigòn đi ngang qua con đường Trần Quốc Toản, ngang qua Học Viện Quốc Gia Hành Chánh năm xưa, tôi vẫn nhớ về chuyện xưa với một chút ngậm ngùi dâu bể. Hai người thanh niên tốt bụng ngày xưa bây giờ làm gì? Ở đâu? Còn sống hay đã chết? Nếu còn sống, họ đã là những ông già trên dưới 80 tuổi. Trong lòng tôi, họ mãi mãi vẫn là biểu tượng cho một Sàigòn nhân hậu năm xưa”.</em><em></em></p>



<p>Ngày 30/4/1975, ngày tang tóc của Sài Gòn. Thành phố đổi chủ, đổi tên, Sài Gòn vong thân không còn là Sài Gòn nhân hậu của những tháng ngày cũ. Nhà thơ / nhà văn / nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn đã xót xa: <em>“Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên / như giòng sông nước quẩn quanh buồn / như người đi cách mặt xa lòng / ta nhủ thầm em có biết không?&#8230; Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên / mất từng con phố đổi tên đường / khi hẹn nhau ta lạc lối tìm / ôi tình buồn như đã sống thêm”.</em> Ca khúc làm bâng khuâng người Sài Gòn này được sáng tác trong tù vào cuối thập niên 1970. Thường nỗi nhớ của người xa Sài Gòn mới là nỗi nhớ da diết nhưng dù sao đó cũng chỉ là&nbsp; nỗi nhớ hoài niệm từ xa. Ca khúc của Nguyễn Đình Toàn là nỗi nhớ thiết tha day dứt của người vẫn sống trong lòng Sài Gòn, còn trong cái mất. Vậy nên đây là ca khúc mang tính cách chứng từ của người mất Sài Gòn ngay trong lòng Sài Gòn. Ca khúc bị nhốt tại Sài Gòn cho tới khi Hồ Trường An được đi Pháp. Tại căn chung cư của Nguyễn Đình Toàn ở Cali, anh kể cho tôi nghe đường đi ra hải ngoại của ca khúc bất hủ này. Anh cho biết anh đã cùng Hồ Trường An ra bờ sông bên làng Báo Chí để hát cho An nghe và học thuộc lòng cả nhạc lẫn lời. Hồ Trường An không biết nhạc nên khi anh qua Pháp, hát cho nhạc sĩ ghi lại, ca khúc đã có vài điểm sai cả nhạc lẫn lời. Báo Quê Mẹ của Võ Văn Ái đã phổ biến bản này dưới cái tên “Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên”, ca sĩ Jeannie Mai là người đầu tiên trình bày bản nhạc này nhưng sức phổ biến chỉ hạn chế. Khi Khánh Ly hát, bản nhạc mới gây sóng gió tại hải ngoại. Thời gian đó, tôi còn kẹt ở Việt Nam nhưng đã được nghe qua đài VOA. Dân Việt còn ở trong nước đã khóc thầm mỗi khi nghe bản này. Nguyễn Đình Toàn kể là không biết tại sao công an lại nghi ngờ anh là tác giả và gọi anh lên làm việc khi anh còn ở trong tù. Anh chối, dĩ nhiên. Lý do anh đưa ra là một nhà văn nhà thơ như anh đâu có thiếu chữ mà phải đặt cái tên ngớ ngẩn “niềm nhớ không tên”. Anh thoát tội. Sau khi qua Mỹ vào năm 1998, anh mới nhờ Khánh Ly hát lại bản đúng cả nhạc lẫn lời và dùng cái tên nguyên thủy “Nước Mắt Cho Sài Gòn”!</p>



<p>Có nhiều nước mắt cho Sài Gòn tan nát trong đó có nhà văn Dương Thu Hương cùng đoàn quân chiến thắng có mặt tại Sài Gòn vào những ngày đầu đổi chủ. Trong bài viết ngắn: “Trong Đời Tôi Có Hai Lần Khóc”, bà viết: <em>“Lần thứ nhất khi đội quân chiến thắng vào Sài Gòn năm 1975, trong khi tất cả mọi người trong đội quân chúng tôi đều hớn hở cười thì tôi lại khóc. Vì tôi thấy tuổi xuân của tôi đã hy sinh một cách uổng phí. Tôi không choáng ngợp vì nhà cao cửa rộng của miền Nam, mà vì tác phẩm của tất cả các nhà văn miền Nam đều được xuất bản trong một chế độ tự do; tất cả các tác giả mà tôi chưa bao giờ biết đều có tác phẩm bày trong các hiệu sách, ngay trên vỉa hè; và đầy rẫy các phương tiện thông tin như TV, radio, cassette. Những phương tiện đó đối với người miền Bắc là những giấc mơ. Đừng quên rằng, ở miền Bắc, tất cả mọi báo đài, sách vở đều do nhà nước quản lý. Dân chúng chỉ được nghe đài Hà Nội mà thôi; và chỉ có những cán bộ được tin tưởng lắm mới được nghe đài Sơn Mao, tức là đài phát thanh Trung Quốc. Còn toàn bộ dân chúng chỉ được nghe loa phóng thanh tập thể; có nghĩa là chỉ được nghe một tiếng nói”.</em></p>



<p>Nhà văn, nhà báo Nguyễn Tường Thụy,&nbsp; một bộ đội tới Sài Gòn ngay những ngày đầu “giải phóng”, cũng đã trải tấm lòng thật thà của một người Việt Nam trong bài thơ “Sài Gòn Thương Mến” mà tôi trích ít câu sau:</p>



<p><em>Sài Gòn xưa Hòn Ngọc Viễn Đông.</em></p>



<p><em>Bây giờ Viễn Đông thành phố nào là hòn Ngọc?</em></p>



<p><em>Tôi nghĩ thế thấy thương yêu da diết.</em></p>



<p><em>Một Sài Gòn rực rỡ nét hào hoa.</em></p>



<p><em>&nbsp;</em><em>.</em></p>



<p><em>Tôi đến Sài Gòn vừa dứt can qua.</em></p>



<p><em>Thấy ngơ ngác trước đô thành lộng lẫy.</em></p>



<p><em>Tôi thương Sài Gòn bằng những gì tôi thấy.</em></p>



<p><em>Cố đô một thời tráng lệ kiêu sa.</em></p>



<p><em>…….</em></p>



<p><em>Sài Gòn bây giờ thành phố đã đổi tên.</em></p>



<p><em>Tôi vẫn muốn gọi bằng cái tên thương mến cũ.</em></p>



<p><em>Và ao ước Sài Gòn hoa lệ.</em></p>



<p><em>Sẽ đến lúc lại là &#8220;Hòn Ngọc Viễn Đông&#8221;.</em></p>



<p>Những người làm nên hồn vía Sài Gòn là những văn nghệ sĩ. Có những người đã ra đi nhưng cũng nhiều người còn kẹt lại. Một trong những người hồn nhiên nhất không ai khác hơn nhà thơ Bùi Giáng. Không biết ông điên thật hay điên giả nhưng cái tửng tửng của ông đã thành giai thoại mà người dân Sài Gòn ít ai không biết. Có hai giai thoại mà dân Sài Gòn rất khoái. Giai thoại thứ nhất: khi đi qua một khu chợ vỉa hè bán phụ tùng xe đạp ở cuối đường Trương Minh Ký, ông nhào vào lấy một cái ghi-đông và bỏ đi. Bà bán hàng chạy theo la thất thanh nhờ thiên hại bắt giùm “thằng ăn cắp”. Ông nhẩn nha quay lại, trả cái ghi-đông và từ tốn phân bua: “Bà con coi! Mất cả nước không ai la, mất có cái ghi-đông xe mà la um sùm!”. Giai thoại thứ hai: đang đi trên đường, Bùi Giáng thấy một phụ nữ Nga, vội quay lại bóp vú bà này. Bà la choi chói, ông lầm bầm với người chung quanh: “Tao chỉ muốn coi xem cặp vú của nó có thể nuôi&nbsp; hết con dân Việt Nam không?”. Nhà văn Ngô Thế Vinh, trong bài “Sài Gòn, Bi Kịch Những Ngày Sau Tháng Tư 1975”, kể lại: <em>“Trung niên thi sĩ lúc nào cũng gầy và già hơn tuổi, râu tóc sơ sác như từ bao giờ. Giữa một Sài Gòn thảng thốt, không biết anh đã lượm ở đâu trên đường mà có được bộ quân phục ngụy với quân hàm Đại tá, Bùi Giáng đem vận ngay vào người, chân thấp chân cao đi nghêu ngao như diễn binh trên hè phố. Có lẽ đây là hình ảnh tuyệt đẹp cuối cùng của cuộc chiến tranh Việt Nam, với một tân binh tình nguyện gia nhập đạo quân đã hoàn toàn rã ngũ. Rồi Bùi Giáng cũng tới được khu nhà thờ Ba Chuông, nơi có căn nhà Dương Nghiễm Mậu. Bùi Giáng hồn nhiên đi sâu vào con hẻm chật chội ấy đã thấp thoáng màu cờ đỏ. Anh vẫn tỉnh táo nhớ đúng nhà, tới đập cửa rầm rầm đòi vào thăm cho được cố tri. Trầm tĩnh và bản lãnh như Nghiễm, mà trước tình huống ấy cũng vẫn như gái ngồi phải cọc; được cái lúc ấy chòm xóm còn là thân quen, mạng lưới công an chưa đủ dầy đặc để gây nỗi phiền hà. Ra khỏi nhà Dương Nghiễm Mậu, không biết Bùi Giáng còn đi gõ cửa tới thăm những ai khác, hay anh lại ra nơi đầu cầu Trương Minh Giảng như một người tỉnh táo đứng làm cảnh sát công lộ chỉ đường “trên dòng luân lưu hỗn mang của lịch sử” và để rồi sau đó nếu anh không bị đám “cách mạng 30” hay bọn công an đánh tả tơi sưng mặt mũi thì rồi cuối cùng chắc anh cũng lại tìm về với “mẫu hậu” Kim Cương, ngồi trước cửa phóng bút làm thơ tặng nàng”.</em></p>



<p>Cũng kẹt lại là nhà văn Mai Thảo. Ông này lăng ba vi bộ với khinh công tuyệt diệu. Ông là nhà văn duy nhất thoát khỏi các vụ ruồng bắt trong suốt hai năm trốn chui trốn lủi trên lầu nhà Nhã Ca ở đường Tự Do. Một đoạn viết của Nhã Ca: “<em>Đêm. Đập cửa khẩn cấp.. Bật dậy. Chụm đầu. Nghe ngóng.</em><em> </em><em>Thì thầm. “Khoan. Đừng xuống vội. Bình tĩnh”. Anh Mai Thảo nói. Lầu giữa, phía sau phòng khách, có khoảng sân trống. Sớm Mai nhanh nhẹn mở cửa sổ cho bác leo lên mái nhà. “Gài kỹ chốt cửa lại. Cứ thong thả”. Cửa sắt cuốn dưới mặt tiền căn phố bị nện kêu rầm rầm. “ Bật đèn lên được rồi, con”. Tôi bảo Sớm Mai. Ngọn điện bật sáng. “Mở cửa. Kiểm tra hộ khẩu”. Tiếng quát giật giọng từ dưới đường vang lên. Đã tính toán sẵn, trừ bà ngoại và vài đứa lớn, tất cả đều trở về chỗ nằm, đâu đó vẫn phải như đang ngủ. “Hai chị em xuống mở cửa cho chúng. Không việc gì phải sợ”. Tôi bảo đứa cháu lớn trong nhà, rồi về phòng. Có nên thay áo không? Tôi đang khoác cái áo ngủ nhầu nát. Thây kệ. Chờ. Vậy là điều lo lắng, hồi hộp hai ngày nay đã tới. Đêm hôm kia, anh Mai Thảo về khuya. Cửa sau, mấy đứa cháu trong nhà quen việc mở chốt sẵn. Trong hẻm lại có người, cũng chỉ dân giang hồ đi tìm xó tối làm ăn thôi, nhưng cũng không thể kêu cửa ầm ĩ. Đành vòng ra phía Tự Do, thấy cửa trước còn đèn, đang tính vô thì đụng ngay tổ trưởng dân phố. “Thấy nó dắt đứa con đi tới, tôi làm bộ dạo phố, chỉ dùng lại châm thuốc. Ai dè nó lại nhận ra mình. Còn lên tiếng chào hỏi thăm anh khỏe không nữa chứ. Thế mới bố khỉ. Phải ờ ờ ậm ừ làm bộ băng qua đường, mới thoát. Nhã liệu coi chừng nghe. Có thể nguy đấy”. Khi vô được nhà rồi, anh Mai Thảo kể vậy. Tổ trưởng dân phố là Nguyễn Thanh Bình, một nhạc sĩ cũ, hình như là tác giả bài ca “Những Nẻo Đường Việt Nam” thường được hát trên Đài Phát Thanh Sài Gòn thời mới di cư 1954. Hai cha con ông ta sống tá túc vất vưởng ở một căn gác xép trên đường </em><em>T</em><em>ự Do”. </em>Sáng hôm sau nhạc sĩ Thanh Bình cho Nhã Ca biết đêm qua đã thấy Mai Thảo. Nhã Ca đánh lạc hướng bằng cách nói có thể đó là Anh Ngọc hay Hoài Bắc. Ba người thường đi chơi chung với nhau. Nhạc sĩ Nguyễn Thanh Bình nói nhỏ với Nhã Ca : “Chị Nhã Ca. Tôi chỉ kể với chị cho vui thôi. Bộ chị tưởng tôi làm tổ trưởng rồi thành giống chó à?”.</p>



<p>Mai Thảo vượt biển vào năm 1997. Cuộc vượt biển rất gian nan. Trên tàu có 81 thuyền nhân trong đó có Nhật Tiến, thầy Từ Mẫn, vợ chồng Dương Phục – Vũ Thanh Thủy. Tàu gặp hải tặc Thái Lan, bị đưa vào đảo Kra chịu thảm cảnh mà sau đó Nhật Tiến ghi lại khiến lương tâm thế giới rung động. Phong trào cứu người vượt biển ra đời sau thảm kịch này.</p>



<p><em>(Còn tiếp)</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;05/2026</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Website : </em><a href="http://www.songthao.com"><em>www.songthao.com</em></a><em></em></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/06/image003.png?strip=all&fit=200%2C253&w=2560"><img decoding="async" width="200" height="253" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/06/image003.png?strip=all&fit=200%2C253" alt="" class="wp-image-89756" style="width:394px;height:auto"/></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Bùi Giáng: Sài Gòn Chợ Lớn đã đời du côn!</em></p>



<p></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/06/image007.png?strip=all&w=2560"><img decoding="async" width="623" height="397" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/06/image007.png?strip=all" alt="" class="wp-image-89758" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/06/image007-300x191.png 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/06/image007.png?strip=all 623w" sizes="(max-width: 623px) 100vw, 623px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Nhà văn / nhà thơ / nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn.</em></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>SONG THAO: KÝ ỨC SÀI GÒN (2)</title>
		<link>https://t-van.net/song-thao-ky-uc-sai-gon-2/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Song Thao]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 01 Jun 2026 06:06:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[ký ức; tùy bút]]></category>
		<category><![CDATA[phiếm song thao]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=89554</guid>

					<description><![CDATA[Tiệm thực phẩm Lien Seng KỲ 1 (Tiếp theo KỲ 1) Ba nhà&#160; hàng La Pagode, Givral và Brodard nằm trên đường Tự Do. Sau 1975, đường phố Sài Gòn bị đổi tên. Hầu hết các tên cũ đều không còn tồn tại. Đường Tự Do biến thành Đồng Khởi. Hầu như ai trong chúng [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/KZ3i5YBO-image001.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="778" height="345" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/KZ3i5YBO-image001.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-89555" style="width:662px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/05/image001-300x133.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2026/05/image001-768x341.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/KZ3i5YBO-image001.jpg?strip=all 778w" sizes="(max-width: 778px) 100vw, 778px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Tiệm thực phẩm Lien Seng</em></p>



<p><a href="https://t-van.net/song-thao-ky-uc-sai-gon-1/">KỲ 1</a></p>



<p>(Tiếp theo KỲ 1)</p>



<p>Ba nhà&nbsp; hàng La Pagode, Givral và Brodard nằm trên đường Tự Do. Sau 1975, đường phố Sài Gòn bị đổi tên. Hầu hết các tên cũ đều không còn tồn tại. Đường Tự Do biến thành Đồng Khởi. Hầu như ai trong chúng ta cũng thuộc hai câu thơ bi hài sắc sảo của thi hào Vũ Hoàng Chương<em>: “Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý / Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do”. </em>May là ông Lê Lợi vẫn trụ lại được. Đường Lê Lợi thẳng góc với đường Tự Do cũng có vài nhà hàng mà giới văn nghệ và báo chí thường lui tới. Đó là nhà hàng Kim Sơn và Thanh Thế.</p>



<p>Nhà báo Nguyễn Đạt của báo Người Việt California, nhớ lại: <em>“</em><em>Không biết quán Kim Sơn lập nên ở Sài Gòn lúc nào, nhưng chúng tôi nhớ thuở nhỏ, sau khi di cư từ miền Bắc vào Sài Gòn được vài năm, đã thấy quán Kim Sơn tọa lạc ở góc đại lộ Bonard (tức đại lộ Lê Lợi sau đó) và đường Nguyễn Trung Trực. Lúc đó, đi theo những người anh tới quán Kim Sơn, chúng tôi đã được biết mặt biết tên các nhà thơ Quách Thoại, Kiêm Minh, Trụ Vũ (Quách Thoại, Kiêm Minh đã mất từ lâu năm) và nhiều văn nghệ sĩ khác, ngồi thường trực mỗi ngày tại quán Kim Sơn”.</em></p>



<p>Thú thật là tôi ít lai vãng tới quán Kim Sơn cũng như Thanh Thế. Thanh Thế “kiêu kỳ” hơn Kim Sơn nên cứ kính nhi viễn chi cho cái túi tiền bớt thương tổn. Dân sành ăn không thể quên được món bún suông nổi tiếng của Thanh Thế. Vẫn nhà báo Nguyễn Đạt hồi ức về Thanh Thế: <em>“Quán Thanh Thế tọa lạc ở góc đường Nguyễn Trung Trực-Tạ Thu Thâu, cách quán Kim Sơn vài chục mét. Quán Thanh Thế là ngôi nhà nhỏ hơn nhiều so với ngôi nhà làm quán Kim Sơn, nhưng sang trọng xinh đẹp, bàn ghế cũng sang trọng phù hợp với không gian của nó. Một nửa số bàn ghế bày ra hàng hiên, phía đường Nguyễn Trung Trực, vì phía đường Tạ Thu Thâu vừa hẹp, vừa có những sạp hàng vải vóc-mỹ phẩm cao cấp dài dọc con đường. Với vẻ sang trọng của quán Thanh Thế, lớp tuổi sinh viên chúng tôi rất ngại vào, như thường vào ngồi ở quán Kim Sơn cùng trên một con đường. Khách ngồi quán Thanh Thế (cũng là nhà hàng như Kim Sơn) thường chỉ uống cà phê hay một vài chai bia, để vừa từng ngụm nhâm nhi từng hơi thả khói, vừa ngắm nhìn người qua kẻ lại, đặc biệt là ngắm nhìn các giai nhân mỹ nữ Sài Gòn vào mua sắm tại chợ vải vóc mỹ phẩm cao cấp ở đường Tạ Thu Thâu. Ða số khách ở tuổi gần trung niên, thuộc giới trung lưu và các nhà văn nhà báo lúc đó, đa số không thiếu tiền tiêu như các nhà văn nhà thơ thời Trương Tửu, Nguyễn Vỹ nhà văn An Nam khổ như chó (Thơ Nguyễn Vỹ, Gửi Trương Tửu). Chúng tôi thường gặp các nhà văn viết truyện dài đăng hàng ngày trên các nhật báo (gọi là nhà văn feuilleton) như Ngọc Linh, Dương Hà… ngồi quán Thanh Thế”. </em>Ngày nay, Kim Sơn cũng như Thanh Thế đã mất dấu. Cả hai đã biến thành các cửa hàng trung tâm vàng bạc và đá quý!</p>



<p>Chuyện bể dâu nghe chỉ biết thở dài. Đường Lê Lợi không chỉ mất dấu những cửa tiệm, con đường này còn được coi như con đường văn hóa của Sài Gòn ngày xưa, nay cũng im ắng những trang sách. Ngoài nhà sách Khai Trí đã trở thành huyền thoại với ông chủ Nguyễn Hùng Trương nặng lòng với sách vở, còn san sát những nhà sách khác. Mấy ai còn nhớ tới nhà sách Sài Gòn số 28A Lê Lợi, tiệm sách Thanh Tuân số 56, nhà sách Văn Hữu số 28C, nhà sách Lê Phan tọa lạc tại ngã tư Lê Lợi – Pasteur. Rồi còn Vĩnh Bảo, Phúc Thành, Văn Hữu, Nguyễn Trung, Dân Trí, Việt Bằng thong dong bên nhau.</p>



<p>Nhiều nhà sách như vậy nhưng đường Lê Lợi vẫn có khu bán sách cũ nổi tiếng nằm bên bờ tường của Bộ Công Chánh và Giao Thông Vận Tải. Tác giả Lê văn Nghĩa hồi ức về khu này trong bài “Phố Sách Sài Gòn Xưa”: “<em>Theo tư liệu, khoảng thời gian ký Hiệp định Genève, các khu bán sách cũ tập trung ở đường Cao Thắng rồi tiến lên khu vực chợ Cũ, bày bán từng đống hỗn tạp tại lề đường Tôn Thất Đạm thông ra đường Nguyễn Huệ. Cũng trong thời gian này, các quầy sách cũ còn xuất hiện trên lề đường Phạm Ngũ Lão, trông sang bến xe buýt, kéo dài xuống tận ngã tư Ký Con. Sau này, nhờ sự tiếp tay của một số dân bán sách cũ kiểu hàng rong, các gian hàng dần dần ào ạt tràn về đường Lê Lợi, giới hạn từ bót cảnh sát Lê Văn Ken (Bệnh viện đa khoa Sài Gòn) đến đường Pasteur. Từ vài gian hàng nhỏ, thị trường sách báo cũ đã bành trướng mạnh mẽ, lấn ra lề đường cản trở lưu thông nên cảnh sát đến giải tán triệt để. Song những gian hàng sách “chạy” chỉ tản mác khi có bóng dáng cảnh sát rồi lại trở về vỉa hè khi cảnh sát rút đi như chơi cút bắt. Rất kiên nhẫn đối phó với cảnh sát nên một thời gian sau, khu bán sách này được Tòa Đô chánh chấp thuận cho tồn tại, có đóng thuế đất hằng năm vài ngàn đồng và vài chục đồng thuế chỗ ngồi mỗi ngày. Khu sách Lê Lợi đã vô sổ bộ từ ngày ấy. Bên khu bán sách cũ có những quyển sách rất hiếm, giá cao; nhưng cũng có những quyển sách của các tác giả Việt Nam vừa xuất bản chừng một hai tháng đã trở thành sách cũ và bán với giá rẻ chừng phân nửa giá bìa. Lý giải hiện tượng này, báo Đời cho biết: “Đáp các câu hỏi trong trường hợp nào các tác phẩm văn chương giá trị đã bị đày ải đến chốn tục lụy sỗ sàng này, các bạn hàng cho biết: các loại tiểu thuyết &#8211; kể cả của các tác giả tên tuổi, hiếm khi bán hết số ấn bản tiên liệu và các khu sách báo sôn chính là nơi tiêu thụ phần thặng dư, sau khi sách bị phá giá nặng nề”. Ngoài việc được mua sách Việt giá rẻ, sinh viên, học sinh, người mê sách có thể tìm được sách ngoại ngữ mới nhất được thải ra từ các công sở, nhà ở của người nước ngoài. Các loại tạp chí góp phần mời gọi các đấng mày râu từ trẻ đến sồn sồn ra khu sách cũ Lê Lợi là Playboy, Penthouse, Playmate&#8230; Nam thanh niên đến đó để xem ké, để dấm dúi mua vì không đâu ngoài chợ sách này có bán”.</em><em></em></p>



<p>Nói tới chuyện sách cũ không thể không nhắc tới một người bán sách đặc biệt trên đường Lê Lợi. Nhà văn Phạm Công Luận có lần thắc mắc: “<em>Có người kể vào những năm 1960 &#8211; 1970, một sạp sách ở đây với chủ nhân là một người trung niên, khét tiếng vì thuộc lòng các loại sách, tên sách, tên tác giả kể cả sách Pháp, nên rất tiện cho khách mua. Không biết thân phận của ông này ra sao sau năm 1975, ông ra chợ sách Đặng Thị Nhu, Trần Nhân Tôn, Nguyễn Thị Minh Khai để tiếp tục bán sách cũ hay là bỏ nghề?”.</em></p>



<p>Người bán sách đặc biệt này tên là Thực. Người thấp nhỏ, giọng nói ở tông cao, hai bắp chân lớn và bành ra vì ngày nào cũng cuốc bộ đi và về từ nhà ở Bến Vân Đồn, bên kia cầu Ông Lãnh, đến chỗ bán sách ở lề đường Lê Lợi. Ngày mới di cư vào Nam, tôi là hàng xóm của anh nên biết khá rõ. Anh không học cao nhưng rất thông minh và có trí nhớ tốt. Nơi anh bán chỉ có một giá sách dựa sát vào tường rất gọn nhẹ. Kho sách của anh là cái kẹt giữa hai bức tường của hai căn nhà. Anh có làm cái cửa có khóa để chứa sách. Sách của anh hầu hết là sách giáo khoa Anh và Pháp. Anh thuộc lầu tên sách tiếng Pháp và Anh không những của các lớp trung học mà còn của từng năm học các Đại học ngành Y, Dược, Kiến Trúc, Kỹ Thuật, Luật…Sinh viên hỏi sách anh biết ngay là sách anh có hay không. Bên cạnh giá sách có vài chiếc ghế đẩu để khách ngồi đọc sách. Đọc xong có mua hay không, anh vẫn tươi cười với khách. Anh mua sách của sinh viên học sinh đã học xong, không cần nữa và bán cho lớp kế tiếp. Tiền lời không bao nhiêu. Anh sống rất nghèo khổ nhưng tôi tin chắc đã có nhiều bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư, kiến trúc sư nên danh là nhờ mớ sách cũ của anh. Người nào không có tiền mua sách, anh cho ngồi ghế đọc và ghi chú thoải mái. Sau 1975, tôi không gặp lại anh nữa.&nbsp;</p>



<p>Sách ngoại ngữ thời đó bán tại nhà sách Albert Portail, sau đổi tên thành Xuân Thu, nằm trên đường Tự Do, phía ngoài hành lang Eden, đắt như vàng. Hàng lang Eden từ đường Tự Do thông qua đường Nguyễn Huệ là nơi có nhiều cửa hàng loại xịn mà dân Sài Gòn ít ai không biết. Vào hành lang từ phía đường Tự Do có tiệm bán vải Mai Khanh, nhà hàng Ramuntcho, tiệm tạp hóa Abdul Mohamed, tiệm thực phẩm đồ hộp nhập cảng Lien Seng…Cuối hàng lang, ngã ra đường Nguyễn Huệ có một tiệm sách ngoại ngữ nhỏ, nơi tôi thường mua sách, rẻ hơn ở Xuân Thu nhiều. Ngày đó tôi say mê những tập truyện ngắn của nhà&nbsp; văn Ý Alberto Romania và Ernest Hemingway. Sau này, khi viết truyện ngắn, tôi nghĩ mình có chịu ảnh hưởng của hai nhà văn này.</p>



<p>Ra khỏi hành lang Eden phía Nguyễn Huệ là đụng đầu tòa Đô Chánh trên đường Lê Thánh Tôn. Quẹo trái, đi dọc theo đường Lê Thánh Tôn là tới Đại học Văn Khoa, tọa lạc trên nền Khám Lớn cũ. Nhà văn nhà báo Nguyễn Thụy Long, dân di cư, đã chứng kiến di tích này: <em>“Tôi qua cầu Quay (vị trí cầu Khánh Hội hiện nay) về hướng Sài Gòn, vô tình qua đường Lê Thánh Tôn, qua Khám Lớn Sài Gòn cũ, nay bị phá sập, còn trơ gạch vụn cỏ đã mọc đầy. Mấy năm trước, sinh viên di cư đã cắm trại ở đây chờ sắp xếp về ký túc xá Minh Mạng. Tết năm di cư đầu tiên, trời lạnh như tết miền Bắc, các sinh viên di cư nhớ quê hương nổi lửa trại, liên hoan đón giao thừa, cùng nhau nhắc lại những cái tết quê hương…”.</em></p>



<p>Tôi đã có bốn năm dùi mài kinh sử tại nơi chốn này. Tuổi học trò ngơ ngác như nai tơ, tới tuổi sinh viên đã ra dáng thanh niên, các cụ bảo tuổi đó ở nhà quê đã có vợ có con rồi. Nhưng chúng tôi ở thị thành, tuổi đó là tuổi của yêu đương. Những mối tình sinh viên khi thành khi tan đã để lại những kỷ niệm ngọt ngào lẫn đắng cay nhưng đầy văn nghệ. Văn Khoa có số nữ sinh ngang ngửa với nam sinh. Đặc điểm của Văn Khoa là có nhiều bóng hồng xinh đẹp. Diệm My, hoa khôi từ Huế vào, Hồng Khắc Kim Mai rất hiện sinh và <em>“à la mode”,</em> những người đẹp chưa nổi tiếng Thanh Lan và Hoàng Oanh, Nghiêm thị Thúy, ái nữ của chính khách Nghiêm Xuân Thiện, và Ngô Đình Lệ Thủy luôn có vài anh cốt đột hộ vệ. Nhà văn Nguyễn văn Sâm nhớ khá đậm về cô sinh viên…cách trở này: “<em>Đó là một cô gái tương đối đẹp. Nhu mì, mềm mỏng. Lúc nào cô cũng có ba bốn người hộ vệ, họ không dữ dằn hay vô phép gì nhưng luôn luôn ngó chừng với cặp mắt nhà nghề lưu ý ai đến quá gần ái nữ của ông cố vấn họ Ngô Đình. Thường bọn nhà quê chúng tôi kháo nhau hôm nay có Lệ Thủy đi học và đến nhìn. Bao giờ cô ấy bị ai đó nhìn nhiều thì đều mỉm cười gật đầu chào thân thiện rất Tây phương để người đó biết ý mà tiến tới làm quen hay lãng xa. Tôi cũng có vài ba lần được chào vì tò mò, nhưng đến gần để làm quen thì không. Mình vốn nhát làm quen với bất kỳ ai, vả lại cũng sợ cô ấy xổ tiếng Tây mình ú ớ mặc dầu các bạn đều quả quyết rằng với người không quen cô ta đều nói tiếng Việt”.</em></p>



<p>Văn nghệ tại khu đất trống của trường, phía đường Lê Thánh Tôn là thời kỳ rực rỡ của không những giới sinh viên chúng tôi mà còn của giới văn nghệ sung mãn của Sài Gòn. Nơi đây có một khu nhà tiền chế được cất lên cho Hội Chợ Triển lãm chi đó bị bỏ lại. Chương Trình Phát Triển Sinh Hoạt Thanh Niên Học Đường CPS chiếm phần lớn làm trụ sở. CPS hồi đó có mặt Lê Đình Điểu, Trần Đại Lộc, Phạm Phú Minh, Đỗ Quý Toàn, Hà Tường Cát, Phan văn Phùng. Một căn nhỏ được nhóm Sử Địa của trường dùng làm nơi in <em>cours</em> cho sinh viên. Sau lưng trụ sở CPS là trụ sở Hội Nhu Đạo của Giáo sư Phạm Lợi và hội Kiếm Thuật của ông Hoàng Việt, thân phụ nhạc sĩ Nam Lộc. Ngoài ra, còn trụ sở của ca đoàn Nguồn Sống của Nghiêm Phú Phát mà Thanh Lan là một thành viên.</p>



<p>Nhưng văn nghệ hơn hết là những buổi văn nghệ chùa vào mỗi tối thứ sáu của quán Văn tại bãi cỏ nơi đây. Ông bạn Hoàng Xuân Sơn, một “cư dân” sinh sống tại khu đất này kể lại trong cuốn “Cũng Cần Có Nhau”: <em>“Đầu năm 1967, nhận thấy trụ sở CPS tọa lạc ở một địa điểm khá thơ mộng, mấy anh em nảy ra ý kiến dựng một quán cà phê văn nghệ làm nơi tụ họp thường xuyên cho giới trẻ. Mọi người nồng nhiệt hưởng ứng. Về tên quán, cả nhóm bàn luận sôi nổi, cuối cùng chọn tên thật vắn tắt nhưng mang đủ ý nghĩa: Văn”. </em>Thức uống của quán rất đơn giản: cà phê, nước ngọt hiệu Con Cọp của BGI, xá xị hiệu Con Nai của hãng Phương Toàn, nước cam Bireley’s, đá chanh đường và “chanh rum” có pha chút rượu rhum. Đặc biệt là mỗi tuần quán có tổ chức “Đêm Văn Nghệ Thứ Sáu” mời một tác giả hoặc một ban nhạc mới nổi đến trình diễn giới thiệu với các bạn trẻ. Khán giả ngồi la liệt trên sân thưởng thức nhạc và tiếng hát của Trịnh Công Sơn – Khánh Ly, Vũ Thành An – Thanh Lan, Từ Công Phụng – Từ Dung, Lê Uyên và Phương.</p>



<p>Mới đây, Khánh Ly đã tiết lộ chi tiết thú vị về lần đầu tiên hát tại quán Văn: &#8220;Tới ngày 19 tháng 11 năm 1967, tôi chính thức bước lên sân khấu hát với ông Trịnh Công Sơn ở Quán Văn. Đó cũng là lần đầu tiên tôi hát Diễm Xưa. Lúc đó, tôi đơn giản chỉ là hát, không có vấn đề gì được đặt ra cả. Quả thực, đó là một đêm nhạc đáng nhớ trong cuộc đời tôi. Tôi không có gì, phải đi mượn áo, mượn váy, mượn cả giày nữa để đến gặp các anh em trong đêm nhạc đó. Tôi không bao giờ nghĩ có đông đảo người tới xem đến vậy, cứ nghĩ là hát cho mấy anh em nghe thôi. Tôi quá sợ, dù bản tính của tôi cũng đàn ông. Tôi sợ đứng cạnh tác giả là ông Trịnh Công Sơn, sợ đứng hát trước một đám người quá đông như vậy. Cho nên, tôi bỏ luôn đôi giày ra. Chỗ đó chỉ là một khoảng đất trống lồi lõm, có gạch đá nên tôi sợ đứng không vững. Về chuyện &#8220;nữ hoàng chân đất&#8221;, thực ra đó là lần đầu tiên tôi đứng hát trước một đám đông không dưới 1000 người. Tôi không còn giữ nổi bình tĩnh vì tôi có rất ít kinh nghiệm về ca hát, giao lưu với đám đông. Ông Sơn rất khó tính, thấy tôi cứ vịn vai ông vì đứng không vững, ông liền la tôi: &#8220;Bỏ tay ra, đứng hát cho nghiêm chỉnh&#8221;. Đó là lí do tôi bỏ guốc cao ra để đứng chân đất. Tôi cứ nghĩ rằng điều này sẽ giúp tôi lấy lại bình tĩnh. Và quả thực, nhờ thế mà tôi trình bày được tất cả những bài hát của ông Trịnh Công Sơn trong suốt đêm đó, là khoảng 30 tới 40 bài hát trong một đêm”.</p>



<p>Ông Đỗ Việt Anh, một thành viên trong ban tổ chức “Đêm Văn Nghệ Thứ Sáu”,&nbsp; nhớ lại: “Đêm Văn Nghệ Thứ Sáu” diễn ra thuận lợi được khoảng 4, 5 tháng. Đến khoảng cuối năm 1967, vào chương trình thứ 15 hay 16 gì đó đã xảy ra vụ lộn xộn, có tiếng súng nổ, mọi người bỏ chạy tán loạn. Sau chuyện này, quán Văn không tổ chức sinh hoạt văn nghệ nữa”.</p>



<p><em>(Còn tiếp)</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; 05/2026</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Website: </em><a href="http://www.songthao.com"><em>www.songthao.com</em></a></p>



<p></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/LwuMRM2n-image003.png?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="624" height="425" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/LwuMRM2n-image003.png?strip=all" alt="" class="wp-image-89556" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/05/image003-300x204.png 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/LwuMRM2n-image003.png?strip=all 624w" sizes="(max-width: 624px) 100vw, 624px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Bản đồ dường Lê Lợi năm 1970 và vị trí các nhà sách, nhà hàng .</em></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/vGEOxyTk-image005.png?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="624" height="371" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/vGEOxyTk-image005.png?strip=all" alt="" class="wp-image-89557" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/05/image005-300x178.png 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/vGEOxyTk-image005.png?strip=all 624w" sizes="(max-width: 624px) 100vw, 624px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Trụ sở Hạ Viện và tượng đài Thủy Quân Lục Chiến (thập niên 1970)</em></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/t6ewLdou-image007.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="624" height="357" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/t6ewLdou-image007.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-89558" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/05/image007-300x172.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/t6ewLdou-image007.jpg?strip=all 624w" sizes="(max-width: 624px) 100vw, 624px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Cao ốc Eden (ngã tư Lê Lợi – Nguyễn Huệ)</em></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/image009.png?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="624" height="417" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/image009.png?strip=all" alt="" class="wp-image-89559" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/05/image009-300x200.png 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/image009.png?strip=all 624w" sizes="(max-width: 624px) 100vw, 624px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Tiệm kem Pole Nord và Thương Xá Tax.</em></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/UwdgOERr-image011.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="624" height="431" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/UwdgOERr-image011.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-89560" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/05/image011-300x207.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/UwdgOERr-image011.jpg?strip=all 624w" sizes="(max-width: 624px) 100vw, 624px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Thư viện Abraham Lincoln. (khoảng 1970)</em></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/image013.png?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="624" height="366" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/image013.png?strip=all" alt="" class="wp-image-89561" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/05/image013-300x176.png 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/image013.png?strip=all 624w" sizes="(max-width: 624px) 100vw, 624px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center">N<em>hà hàng Kim Sơn (tầng trệt) và nhà hàng Bồng Lai (sân thượng). Góc đường Lê Lợi- Nguyễn Trung Trực. (Khoảng 1950).</em></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/wOawIpBb-image015.png?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="624" height="432" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/wOawIpBb-image015.png?strip=all" alt="" class="wp-image-89562" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/05/image015-300x208.png 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/wOawIpBb-image015.png?strip=all 624w" sizes="(max-width: 624px) 100vw, 624px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Thiếu nữ Sài Gòn năm 1965.</em></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/rb6ThVX0-image017.png?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1025" height="692" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/rb6ThVX0-image017.png?strip=all" alt="" class="wp-image-89563" style="width:638px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/05/image017-300x203.png 300w, https://cdn.t-van.net/2026/05/image017-768x518.png 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/rb6ThVX0-image017.png?strip=all 1025w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Xe đám cưới cho thuê trên đường Lê Lợi.</em></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/image019.png?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="666" height="1024" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/image019-666x1024.png?strip=all" alt="" class="wp-image-89564" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/05/image019-195x300.png 195w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/image019-666x1024.png?strip=all 666w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/image019.png?strip=all 768w" sizes="(max-width: 666px) 100vw, 666px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Trịnh Công Sơn đàn cho Khánh Ly hát tại quán Văn năm 1967.</em></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/image021.png?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1000" height="692" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/image021.png?strip=all" alt="" class="wp-image-89565" style="width:662px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/05/image021-300x208.png 300w, https://cdn.t-van.net/2026/05/image021-768x531.png 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/image021.png?strip=all 1000w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Quán Văn và các thành viên sáng lập, năm 1967. Từ trái: Ngô Vương Toại, Hoàng Xuân Giang, Trần Đại Lộc, Hoàng Xuân Sơn. Hình: Đỗ Việt Anh.</em></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/image023.png?strip=all&fit=191%2C265&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="191" height="265" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/image023.png?strip=all&fit=191%2C265" alt="" class="wp-image-89566"/></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Cổng trường Đại Học Văn Khoa Saigon trên nền Khám Lớn cũ.</em></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>SONG THAO: KÝ ỨC SÀI GÒN (1)</title>
		<link>https://t-van.net/song-thao-ky-uc-sai-gon-1/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Song Thao]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 26 May 2026 06:38:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[ký ức; tùy bút]]></category>
		<category><![CDATA[phiếm song thao]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=89430</guid>

					<description><![CDATA[Đường Tự Do 1965 Tôi rời nơi chôn rau cắt rốn Hà Nội khi chỉ còn đúng 4 ngày nữa là bước qua tuổi 16, tuổi dậy thì. Nơi tới là Sài Gòn. Tôi bay bằng máy bay Cosara được Không Quân Pháp trưng dụng để chở nhân viên và gia đình vào Sài Gòn [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/9PfH03vL-image002.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="683" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/image002-1024x683.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-89432" style="width:642px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/05/image002-300x200.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/image002-1024x683.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2026/05/image002-768x512.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2026/05/image002-1536x1024.jpg 1536w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/9PfH03vL-image002.jpg?strip=all 1920w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Đường Tự Do 1965</em></p>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Tôi rời nơi chôn rau cắt rốn Hà Nội khi chỉ còn đúng 4 ngày nữa là bước qua tuổi 16, tuổi dậy thì. Nơi tới là Sài Gòn. Tôi bay bằng máy bay Cosara được Không Quân Pháp trưng dụng để chở nhân viên và gia đình vào Sài Gòn khi hiệp định Genève chia cắt đất nước vừa được ký kết một tuần trước. Khi đó chưa có phong trào di cư, cậu bé (hay chàng trai) sắp 16 tuổi lòng phơi phới lần đầu được đi máy bay tới một nơi xa tít, tuốt tận miền Nam đất nước. Sài Gòn, nơi tôi bắt đầu tuổi thanh niên. Cái tuổi đẹp nhất đời người của tôi tại Sài Gòn dài tới 41 năm, ăn đứt 16 năm tại Hà Nội, chốn thơ dại của tôi. Ký ức của tôi về thành phố thân thương này rất đậm đà. Đậm đà không kém người dân chính gốc Sài Gòn. Từ ngày thành phố mất tên, ký ức về Sài Gòn là ký ức chung của những người dân Sài Gòn, dân chính gốc cũng như dân ngụ cư.</p>



<p>Khi tôi tới Sài Gòn, tên đường phố chưa thay đổi. Vẫn là những tên Pháp. Ông Catinat hay ông Bonard là các ông cha căng chú kiết nào, không cần biết nhưng hai con đường mang tên hai ông thì tuổi trẻ Sài Gòn khi đó đều biết. Hồi đó, vào ngày Chủ Nhật hay ngày lễ, thanh niên thanh nữ dập dìu bát phố trên hai con đường trung tâm này. Hành động này được gọi là “Catinater” hay “Bonarder”. Dân bát phố chế thêm chữ “déxiquachté”, nghĩa là “hết xí quách”! Làm chi mà không hết xí quách khi cứ đi lên đi xuống giờ này qua giờ khác. Những anh chị có đôi có cặp đi rước đèn loanh quanh cho thiên hạ thèm chơi. Các anh cu ki dắt tay nhau đi nghễ gái. Ngày đó chuyện này là thường tình. Ngày nay mà hai anh đực rựa dắt tay trên đường sẽ bị nhìn bằng con mắt nghi ngờ. Những tà áo dài tha thướt, những <em>mini-jupe</em> hững hờ, dắt tay nhau tung tăng cho mấy anh mắt la mày liếc lếch mắt. Họa sĩ Hà Cẩm Tâm cảm tác: <em>“Buổi chiều. Từ chợ mới Sài Gòn đầu đường Lê Lợi hay từ nhà thờ Đức Bà đầu đường Tự Do trai thanh gái lịch kéo nhau từng cặp từng nhóm từng đoàn về bờ sông Sài Gòn. Gió hây hây từ sông Sài Gòn lùa vào mát rượi cả thành phố hoàng hôn. Những bước chân líu lo, những tâm hồn rộn rã, những hứng thú hàn huyên, những tiếng cười giòn tan&#8230; &nbsp;là những ấn dấu của một thời nhàn du thư thả không thể nào xóa mờ trong tâm trí. Những nhà sách đồ sộ. Những góc phố hằng hà sách bán xôn. Những nhà hàng sang trọng. Những bữa cơm vỉa hè. Những dancing lừng lẫy. Vài quán nhỏ nhâm nhi. Những ca sĩ áo dài má phấn môi son. Một hát dạo xàng xê vệ đường (…) Lưu lạc giang hồ trăm nơi ngàn chốn, tình cảnh đủ điều văn minh vật chất, siêu đẳng như lai thoát vùng hệ lụy, lạnh thấu tủy xương, nóng ran sa mạc, buồn hơn mẹ chết, sướng tợ tiên ông, tự do như gió, stress thường xuyên, chết lên sống xuống, muốn gì được nấy&#8230; mà chẳng thấy ở đâu sống “đã” bằng ở Sài Gòn ngày ấy&#8230;”.</em></p>



<p>Ký ức của Phạm Công Luận, nhà văn chuyên viết về Sài Gòn ngày cũ, người lục tung những mảnh quá khứ của Sài Gòn: <em>“Nhớ hoài những tháng năm đầu thập niên 1970, ở đâu chiến tranh xảy ra không biết nhưng trên đường này, dù ngoài trời đang nóng hay mát, người ta diện những bộ đồ đẹp để đi mua sắm, xem xi nê, vào tiệm chụp hình làm vài pô ảnh trước tấm phông vải vẽ cảnh biệt thự, lầu tạ. Dưới hàng cổ thụ dọc hai bên đường, hàng ngàn người di chuyển từ phía trụ sở Hạ viện lũ lượt đi về phía chợ Bến Thành. Áo dài bông, áo dài tay raglan, mini jupe của các bà các cô. Áo sơ mi bỏ vào quần hay để thong thả ra ngoài, vài ông thắt cravate… Mùi dầu thơm, mùi brillantine thoang thoảng trong nắng trong gió.</em><em> </em><em>Đoàn diễu hành mùa hè (lúc nào Sài Gòn cũng như đang trong mùa hè) đầy háo hức, từ những chàng trai trẻ non tơ bồn chồn vào nhà sách Lê Lợi săn tìm sách mới, tìm sách từ điển hay đi lấy báo&nbsp;Thế Giới Tự Do&nbsp;miễn phí ở thư viện Abraham Lincoln, hay như anh chàng thủy thủ tàu biển nước ngoài từ cảng mới đi lên, trố mắt nhìn mọi phía, xoay tứ phía ống kính máy ảnh”.</em>Thư viện Abraham Lincoln của Mỹ ngày đó nằm ngay ngã tư Tự Do – Lê Lợi là nơi máy lạnh chạy vù vù mát rượi. Đi bát phố giữa cái nóng mùa hè, muốn nghỉ ngơi không chi bằng vào thư viện này đọc sách. Những cuốn sách được bao bọc vừa đẹp vừa sang. Lại phải thú tội: ngày đó tôi có anh bạn làm tại đây thỉnh thoảng giúi cho tôi ít giấy nhựa trong suốt bọc sách rất Mỹ này.</p>



<p>Tôi có hai lần bát phố đáng nhớ. Khoảng cuối thập niên 1950, các trường trung học đệ nhị cấp có chương trình Quân Sự Học Đường. Đồng phục quần trắng áo trắng với mũ bê-rê màu xanh sậm. Cuối tuần, chúng tôi diện đồng phục bát phố, mặt cưng cưng hãnh diện, cái hãnh diện rất trẻ con, buồn cười. Giờ nghĩ lại thấy sao hồi đó mình sến đến vậy.</p>



<p>Lần thứ hai là tôi đang cu ki trên đường Lê Lợi, bên vỉa hè trước rạp xi-nê Mini Rex, thì gặp cô đào Thanh Nga. Vào cuối năm 1967, trên đường từ Mỹ về Việt Nam sau khi tham dự một khóa hội thảo, tôi phải đổi máy bay từ Pan-Am qua Air Vietnam tại Hồng Kông. Có mấy bà đi buôn thấy tôi không có hành lý nhiều đã mon men làm quen xin nhận giùm hàng. Tôi từ chối. Một cô gái ngồi cạnh nhìn tôi cười hỏi: “Anh có biết em không?”. Nhìn cô gái mặt hoa da phấn rất xinh xắn, tôi tưởng cô cũng nhờ gửi đồ. Tôi lắc đầu: “Rất tiếc tôi không biết”. Cô gái có vẻ thất vọng, nói vội: “Em là Thanh Nga đây!”. Hồi đó tôi có biết chi tới cải lương nên thật tình không biết.&nbsp; Sau một hồi trò chuyện, cô cho tôi số nhà và rủ tôi tới chơi. Về Sài Gòn, bộn bề công việc, tôi quên bẵng chuyện này. Giờ, khoảng hai năm sau, tình cờ gặp lại cô đi với một sĩ quan, cô vẫn còn nhớ, gọi và trách tôi sao không tới chơi. Nghĩ mình thiệt cù lần lửa!</p>



<p>Hồi đó chúng tôi ít có thứ giải trí. <em>Internet, YouTube, Facebook</em> là những thứ chưa được khai sanh. <em>Smartphone, tablette, computer</em> vẫn còn ở tận đâu đâu. Chỉ có đọc sách và đi bát phố. Cung Tiến khi đó còn là học sinh Chu Văn An, trên tôi một lớp, có làm một bản nhạc vui mang tên “Bát Học”. Tôi còn nhớ lõm bõm ít câu: <em>“Một là đi hai là bát, hai chuyện đó ta không nề chi. Bát! Bát! Bát! Nếu ta không thuộc bài. Nên chuồn và nên chuồn…”.</em> Bài hát kết bằng câu: <em>“Chủ Nhật sau đi công si. Đi công si. Công Si”. “Công si” </em>phiên âm từ tiếng Pháp <em>“consigne”</em> là bị phạt tới trường để thầy phụ trách bắt làm chi thì làm nấy. Không biết có bạn nào đồng trang lứa còn nhớ bài này không. Tôi vào hỏi ChatGPT, hắn mù tịt! Hỏi dồn thì hắn…tán: “<em>Thông tin về bản nhạc vui này khá hiếm vì nó gần như không được xuất bản chính thức, chủ yếu sống trong hồi ức của giới cựu học sinh Trường Trung học Chu Văn An và bạn bè của Cung Tiến. Điều thú vị là bài này cho thấy Cung Tiến hồi trẻ không hề “chỉ” là một nhạc sĩ u hoài, mà còn rất tinh quái và có khiếu châm biếm học trò. Sau này ông gần như không đi theo dòng nhạc vui nữa nên các bài kiểu này trở thành “hàng hiếm”.</em><em> </em><em>Mình chưa thấy bản chép lời đầy đủ hay bản thu âm chính thức nào còn lưu hành đáng tin cậy. Phần lớn chỉ được truyền miệng giữa những người cùng thế hệ”.</em><em> </em>Không biết chị Hữu, bà Cung Tiến, có lục tìm được trong di cảo của anh không?</p>



<p>Trên đường Tự Do có ba nhà hàng cà phê, nơi các văn nhân ký giả thường lui tới. Đó là La Pagode, Givral và Brodard. Tôi hay ngồi tại La Pagode mà dân ta gọi là quán Cái Chùa. Nhà văn Văn Quang, dân miền Bắc vào Sài Gòn từ năm 1953, cho ba nhà hàng này là cái “trục văn hóa không tên, phảng phất mà rất sâu đậm trong cái hồn của Sài Gòn”. Trong bài “Văn Hóa Không Tên Tạo Nên Linh Hồn Sài Gòn Xưa”, ông viết&nbsp;: <em>«&nbsp;</em><em>Hồi đó Pagode còn bày hàng ghế salon bọc da ra ngoài hành lang, theo lời ông Nguyên Sa thì nó giống hệt nhiều nhà hàng ở Paris. Ngồi ở đây thoáng đãng. Khách đến thường chỉ dùng một ly cà phê, ngồi từ chiều đến tối mịt. Phía trong có một bàn đánh “tin” dành cho khách giải trí chứ không có mục đích cờ bạc kiếm tiền. Ông Hoàng Hải, anh ruột của cố chuẩn tướng Lưu Kim Cương, có thể kể là một “nhà vô địch về môn giải trí này. Chúng tôi chỉ cần mua một chục cái jeton, như đồng xu, bỏ vào khe là chơi triền miên. Cứ sắp hết lại kêu ông Hoàng Hải “cứu giá”, bonus lại đổ xuống hàng đống jeton tha hồ chơi. Khách hàng của La Pagode hầu hết là nhà văn nhà thơ, nhạc sĩ, ca sĩ. Cứ vào buổi chiều, sau giờ tan sở là tụ tập lại đây. Tất nhiên cũng ngồi thành nhóm. Những ngày đầu tôi thường đi cùng Thanh Nam, Thái Thủy, Hoàng Thư và đến đây thường gặp các anh Nguyên Sa, Trần Thanh Hiệp, Mặc Thu, Cung Trầm Tưởng, Mai Thảo, Phạm Đình Chương, Tạ Quang Khôi, Viên Linh, Nguyễn Đạt Thịnh, Phạm Huấn, Anh Ngọc, Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Nguyễn Đình Toàn… Quá nhiều, tôi không thể nhớ hết”.</em></p>



<p>Quán Cái Chùa là nơi tôi thường ngồi đồng nhất. Hẹn bạn bè là tới đây. Ngày đó tôi chỉ quen hai ông Nguyễn Xuân Hoàng và Nguyễn Đình Toàn. Ở đây có món <em>Café Liegeois</em> rất ngon. Các bà các cô rất thích. Tôi không phải là dân ghiền cà phê nên không đen cũng chẳng đen đá nên cũng khoái món ngọt ngọt này. Ngoài văn nghệ sĩ, các thanh niên thời thượng, ăn diện, cũng thường tới ngồi lấy oai. Một lần, tôi cùng Khánh Giang và Nguyên Vũ, tới ngồi tại đây khi NguyênVũ vừa về phép sau một cuộc hành quân. Nguyên Vũ có vẻ không vui vì trận đánh vừa qua, lính của anh bị thương tổn khá nhiều. Nhìn thấy một công tử ăn mặc diêm dúa, áo quần thẳng thớm, đeo kính mát Rayban, miệng vắt vẻo cái ống điếu, trên bàn bày ra một gói thuốc ngoại quốc, ngồi sát cửa kính, ngắm các em đi qua trên đường Tự Do, Nguyên Vũ có vẻ sôi tiết. Hắn rút cây súng lục đặt lên bàn. Chuẩn Úy Khánh Giang thấy coi bộ không xong, nhè nhẹ bỏ cây súng vào túi. Bỗng Nguyên Vũ tiến tới chỗ anh công tử, mắng đại khái chúng tao hy sinh cho mày ngồi hưởng thụ như thế này sao? Anh giơ tay giật đôi kính mát, bóp nát vụn trong tay. Tay anh bê bết máu. Anh công tử mặt xanh như tàu lá, lẩn nhanh ra khỏi tiệm.</p>



<p>Tôi ít khi lai vãng tới Brodard vì nơi đây hoàn toàn thiếu vắng không khí văn nghệ. Lại phải nhờ tới thổ công Văn Quang miêu tả chốn này.<em>“Còn nhà hàng Brodard nằm ở góc Tự Do – Nguyễn Thiệp, nhìn sang bên kia là vũ trường Tự Do của ông Cường lùn và chị “tài pán” Nhựt, bà chị này hành nghề cai quản các em “ca nhe” từ vũ trường Ritz Hà Nội vào Nam. Ở đây lại đông vui vào những buổi sáng muộn và buổi tối khi “gà lên chuồng”. Nơi lui tới của những “dân đi chơi đêm” Sài Thành. Những anh hùng “hảo hớn” như Khê – Thăng Long Xích Thố, anh em ông Kim đầu bạc, Kính tennis, Chương Marine cũng lui tới ngồi tán chuyện giang hồ. Các “đại gia, tiểu gia” thời đó không nhiều, chỉ vỏn vẹn một số ông dược sĩ, tu bíp, doanh nhân có “xế bốn bánh” đủ để chở các em đi ăn đêm. Thỉnh thoảng một vài em vũ nữ, thường là loại có hạng như Lệ Hằng, Thủy Điên, Mỹ Khùng… ở mấy cái vũ trường gần đó như Tự Do, Mỹ Phụng, Olympia cũng la cà vào đây tán dóc”.</em></p>



<p>Như thế, thành phần khách đến Brodard có tính chất một đại chúng rất đời thường, nặng về bề ngoài vật chất. Dân đến đây không khỏi ít nhiều có thái độ khoe mẽ về sự giàu có, khả năng mua vui, hưởng thụ cuộc đời của mình. So với Givral và La Pagode &nbsp;– nhất là so với La Pagode, nơi ‘đóng đô’ thường xuyên của nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nghệ sĩ trình diễn… – Brodard có vẻ ít chất văn nghệ, chữ nghĩa hơn.</p>



<p>Nhà hàng Givral lại là chuyện khác. Đây có lẽ là chốn cà phê lâu đời nhất Sài Gòn. Nó có mặt từ thập niên 1950 ngay trước cửa trụ sở Hạ Viện. Chủ nhân là một người Pháp sống lâu năm ở Việt Nam, ông Alain Poitier. Sau 8 tháng chuẩn bị, Givral khai trương vào cuối năm 1950, biến tiệm thuốc tây đầu tiên của Sài Gòn thành một tiệm cà phê bánh ngọt hương vị Pháp – Việt. Givral đông khách nhất vào mỗi buổi sáng khi các phóng viên ngoại quốc và các dân biểu chuyện trò trước khi qua quốc hội họp. Từ đây tin tức được truyền tai nhau, có cái đúng, có cái trật lất. Hồi đó nơi này có xước hiệu là “Radio Catinat”! Giữa không khí chính trị cũng có văn nghệ. Văn Quang kể về “trụ sở” của nhà thơ Đinh Hùng tại đây. <em>“Có một nhà thơ hàng đầu Việt Nam thời đó là thi sĩ Đinh Hùng, bình thường ông hay ngồi ở La Pagode, nhưng khi “hữu sự” ông lại ngồi ở Givral. Dáng người “thanh thoát” nhỏ nhắn rất thư sinh. Lúc nào ông cũng chải chuốt, complet, cravate, đầu chải mượt gọn gàng, tay luôn xách chiếc cặp da, ông còn giữ nguyên vẻ đỏm dáng, lịch lãm của “công tử Hà Nội” những năm 50. Ông thường hẹn gặp những người ái mộ ở đây. Tôi để ý thấy hầu hết là những nữ độc giả rất trẻ, đẹp. Khi ông ngồi cùng ba bốn cô, khi ông lại rù rì với một người đẹp duy nhất. Đúng là ông có số đào hoa và dù đã ngoại ngũ tuần nhưng trái tim vẫn còn rất trẻ. Những lúc nhìn ông “say” như thế, tôi có cảm tưởng như ông cũng giống như những cậu trai 20 ngồi bên cô gái 18. Ông sống thật với rung cảm của mình. Có lẽ vì vậy thơ ông bao giờ cũng mang cái óng mượt, thần thoại rất đặc trưng. Có thể, Givral chính là nơi bắt ngưồn cho những cánh thơ thăng hoa của cảm xúc này”.</em><em>&nbsp;</em>Ông Văn Quang khen ông Đinh Hùng là khen mẽ. Ông cũng thuộc loại thượng thừa trong tình trường. Nhà văn Hoàng Hải Thủy, đã đặt cho ông biệt danh: “Thuyền trưởng 8 tầu”!</p>



<p>Givral là nơi tụ tập của đám phóng viên và ký giả ngoại quốc của UPI, AP, Paris Match…Tiểu thuyết gia lừng danh Graham Green, tác giả cuốn <em>“The Quiet American”</em> đãnhiều lần lui tới Givral và đã đưa nơi chốn nổi tiếng này vào truyện của ông. Năm 2002, đạo diễnPhilippe Noyce đã chuyển truyện thành phim. Ông thuê hẳn tiệm Givral để tái hiện quang cảnh tiệm vào thời gian thập niên 1950-1960.</p>



<p>Năm 2001, tôi có việc gia đình ở Sài Gòn nên quay lại chốn cũ và ngồi tại Givral với bạn bè còn ở Sài Gòn. Bữa đó chúng tôi gồm Văn Quang, Trịnh Cung, Hà Túc Đạo, Nguyễn Quốc Thái và một người từ Mỹ về, nhà báo Nguyễn Khắc Nhân, vẫn có được Givral xưa. Không hiểu vào năm nào, người ta đã phá toàn khu Eden trong đó có Givral. Ngày 10/10/ 2012, Givral đã mở cửa lại nhưng là một Givral mới. Một mảnh ký ức Sài Gòn của chúng ta đã vụn vỡ!</p>



<p><em>(Còn tiếp)</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; 05/2026</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Website: </em><a href="http://www.songthao.com"><em>www.songthao.com</em></a><em></em></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/L9Wzn7bw-image001.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="728" height="382" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/L9Wzn7bw-image001.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-89431" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/05/image001-300x157.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/L9Wzn7bw-image001.jpg?strip=all 728w" sizes="(max-width: 728px) 100vw, 728px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Đường Tự Do nhìn từ nhà hàng Givral.</em></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/9PfH03vL-image002.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="683" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/image002-1024x683.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-89432" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/05/image002-300x200.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/image002-1024x683.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2026/05/image002-768x512.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2026/05/image002-1536x1024.jpg 1536w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/9PfH03vL-image002.jpg?strip=all 1920w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Đường Tự Do 1965.<a></a></em></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/3RmGHGWh-image003.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="438" height="640" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/3RmGHGWh-image003.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-89433" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/05/image003-205x300.jpg 205w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/3RmGHGWh-image003.jpg?strip=all 438w" sizes="(max-width: 438px) 100vw, 438px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>“Lính” Quân Sự Học Đường bát phố.</em></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/fN4hYRqx-image004.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="561" height="370" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/fN4hYRqx-image004.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-89434" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/05/image004-300x198.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/fN4hYRqx-image004.jpg?strip=all 561w" sizes="(max-width: 561px) 100vw, 561px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Từ trái: Nhà báo Nguyễn Quốc Thái &#8211; hoạ sĩ Trịnh Cung &#8211; nhà văn Văn Quang &#8211; Song Thao &#8211; nhà báo Hà Túc Đạo &#8211; nhà báo Nguyễn Khắc Nhân (Nhà hàng Givral, Sàigòn, 2001).</em></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/TQuO1UPd-image005.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1000" height="668" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/TQuO1UPd-image005.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-89435" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/05/TQuO1UPd-image005-300x200.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2026/05/image005-768x513.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/TQuO1UPd-image005.jpg?strip=all 1000w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Nhà hàng Givral ngày nay (2026)</em></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/image006.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="638" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/image006-1024x638.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-89436" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/05/image006-300x187.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/image006-1024x638.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2026/05/image006-768x479.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/image006.jpg?strip=all 1200w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Nhà hàng Givral ngày xưa.</em></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/uFaqVc3u-image007.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="625" height="396" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/uFaqVc3u-image007.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-89437" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/05/image007-300x190.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/uFaqVc3u-image007.jpg?strip=all 625w" sizes="(max-width: 625px) 100vw, 625px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Nhà hàng Brodard.</em></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/image008.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="680" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/image008-1024x680.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-89438" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/05/image008-300x199.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/image008-1024x680.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2026/05/image008-768x510.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/image008.jpg?strip=all 1080w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Nhà hàng La Pagode.</em></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/YjVQd3Vi-image009.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="840" height="561" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/YjVQd3Vi-image009.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-89439" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/05/image009-300x200.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2026/05/image009-768x513.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/YjVQd3Vi-image009.jpg?strip=all 840w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p><a href="https://congdankhuyenhoc.qltns.mediacdn.vn/449484899827462144/2024/1/28/nguoi-my-tram-lang2-1706452425932534252382.jpg"></a><em></em></p>



<p class="has-text-align-center"><em>Một cảnh trong phim &#8220;Người Mỹ trầm lặng&#8221; quay tại nhà hàng Givral.</em></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>NGUYỄN AN BÌNH: ĐOM ĐÓM QUÊ NHÀ</title>
		<link>https://t-van.net/nguyen-an-binh-dom-dom-que-nha/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn An Bình]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 11 Oct 2025 06:15:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[ký ức; tùy bút]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=84132</guid>

					<description><![CDATA[Đom Đóm ở Vườn Quốc gia Great Smoky Mountains. Ảnh: Lonely Planet &#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160; XIN ĐỪNG ĐỂ NHỮNG CON CÔN TRÙNG ĐÁNG YÊU ẤY THÀNH NHỮNG NGÔI MỘ ĐOM ĐÓM TRÊN CÁNH ĐỒNG KÝ ỨC TRONG MỖI CON NGƯỜI CHÚNG TA ĐỂ THIÊN NHIÊN CÒN NGÂN LÊN NHỮNG NỐT NHẠC TUYỆT VỜI DƯỚI NHỮNG SẮC MÀU [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/6_diem_ngam_dom_dom_noi_tieng_the_gioi_08252321012025.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="840" height="480" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/6_diem_ngam_dom_dom_noi_tieng_the_gioi_08252321012025.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-84133" style="width:630px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/10/6_diem_ngam_dom_dom_noi_tieng_the_gioi_08252321012025-300x171.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2025/10/6_diem_ngam_dom_dom_noi_tieng_the_gioi_08252321012025-768x439.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/6_diem_ngam_dom_dom_noi_tieng_the_gioi_08252321012025.jpg?strip=all 840w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Đom Đóm ở Vườn Quốc gia Great Smoky Mountains. Ảnh: Lonely Planet</em></p>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><strong>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </strong><em>XIN ĐỪNG ĐỂ NHỮNG CON CÔN TRÙNG ĐÁNG YÊU ẤY THÀNH NHỮNG NGÔI MỘ ĐOM ĐÓM TRÊN CÁNH ĐỒNG KÝ ỨC TRONG MỖI CON NGƯỜI CHÚNG TA ĐỂ THIÊN NHIÊN CÒN NGÂN LÊN NHỮNG NỐT NHẠC TUYỆT VỜI DƯỚI NHỮNG SẮC MÀU HUYỀN ẢO.</em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Quê tôi có một câu ca dao mà hồi nhỏ tôi thường nghe mẹ ngâm nga khi ru em tôi ngủ những buổi trưa hè oi ả đến giờ tôi vẫn còn nhớ: “Bần de đom đóm lập lòe.Thấy em nhỏ xíu anh ve để dành”. Điều đó cho thấy con đom đóm xuất hiện từ nảo từ nao và trở thành một hình ảnh quen thuộc của cư dân vùng sông nước. Quê tôi là một vùng đất miền Tây bên dòng sông Hậu, nơi có nhiều cây trái, ruộng vườn quanh năm xanh tốt nhờ phù sa bao đời nay đắp bồi. Làm sao quên được những con đường làng râm mát mỗi ngày đến trường, những chiếc cầu tre quen thuộc mỗi ngày mẹ đi chợ sáng và những kỷ niệm ấu thơ một thời nhỏ dại. Mùa hè tuổi thơ của tôi và các bạn cùng trang lứa sống trong niềm vui bất tận của những trò chơi con nít: vui đùa trên sông nước, chạy tồng ngỗng tắm mưa, đánh đáo, chơi nhà chòi, chọi gà và nhất là đuổi bắt đom đóm là quà cho mấy cô bạn nhỏ tóc đuôi gà. Bọn con gái rất thích ngắm nghía xăm soi chúng nhưng lại sợ đụng tay vào nên tụi con trai đành ra tay…nghĩa hiệp vậy. Mùa hè là mùa đom đóm trưởng thành mà lị. Cơ man từng đàn đom đóm trong vườn, trên nhánh cây bần, cây ổi, những chạc dây leo mọc ve ra bờ sông mé nước.</p>



<p>&nbsp;&nbsp; &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Tuổi thơ chúng ta chắc ai cũng có một thời gắn liền với loài bọ mang tên đom đóm. Loài côn trùng nầy có một thứ ánh sáng lập lòe kỳ diệu phát ra trong đêm tối mà bất cứ đứa trẻ con nào cũng cảm thấy tò mò và thích thú. Có thể lần đầu tiên bọn trẻ con thấy đom đóm vừa bay vừa chớp sáng khi đi xem hát ở đình về khuya chắc hẳn thế nào nhiều đứa nhát gan tưởng là ma nhát sợ chạy vắt giò lên cổ nhưng khi đã biết rồi đứng trước cảnh dưới một bầu trời đêm có một thứ ánh sáng nhấp nháy di động liên hồi như thế người ta tưởng mình sống trong một thế giới mộng ảo nào đó, hay đang chiêm ngưỡng một bức tranh tuyệt mỹ được vẽ bằng một thứ bột lân tinh tạo thành một thứ ánh sáng vàng óng hay xanh lơ ma quái . Bọn đom đóm bay rượt đuổi nhau vẽ thành những đường ánh sáng kỳ lạ, lập lòe trên những cành cây, bụi cỏ tạo thành một thế giới vô cùng ảo diệu, thần tiên. Sự phát sáng ở loài đom đóm là một điều kỳ diệu của thiên nhiên mà không phải bất cứ ai có thể lý giải được nhất là với bọn trẻ con chúng tôi lúc bấy giờ. Sau nầy lớn lên một chút tôi mới biết cơ thể đom đóm phát sáng được là nhờ hợp chất có tên luciferin trong một quá trình phản ứng hóa học vô cùng phức tạp trong cơ thể con côn trùng nầy. Chính điều kỳ diệu nầy đã biến thế giới bình thường của ta thành một chốn thiên đường. Có người nói Chúa đã gởi đom đóm xuống trái đất cho con người và những sinh vật khác có thể chiêm ngưỡng. Tôi cũng nghĩ như thế.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; &nbsp;&nbsp;Bọn trẻ chúng tôi thường thích bắt đom đóm để chơi. Bắt chúng bỏ vào trong bất cứ vật dụng nào mình có sẵn: các hộp diêm, hộp nhựa hay lọ thủy tinh đựng thuốc mà các bệnh viện thải đi. Vòng đời của đom đóm hơi ngắn chỉ vỏn vẹn một hai tuần mà thôi. Đom đóm đẻ trứng ở trong đất, trứng nở thành sâu rồi hóa nhộng. Nhộng nở thành đom đóm bay lập lòe với làn ánh sáng mông lung huyền ảo. Mùa hè là thời kỳ mà đom đóm trưởng thành. Đom đóm phát sáng là đom đóm cái, đom đóm đực lại không phát sáng, nhờ đặc điểm nầy mà con đực dễ dàng nhận ra người bạn tình của mình để ve vãn. Trong mùa giao phối, sau cơn động tình con cái đã xơi tái con đực không thương tiếc, giống như loài ngựa trời, sau cơn say tình ái, nàng ngựa trời đã quơ càng lên như một lưỡi dao bén ngót phập một cái đầu anh bạn tình rơi xuống đất rồi ung dung chén một cách ngon lành.</p>



<p>&nbsp; &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Khi xa nhà lên thành phố học, hình ảnh đom đóm tưởng lùi dần vào ký ức thì nó lại sống dậy qua bài hát Đom Đóm của Phượng Linh qua tiếng hát của nữ hoàng sầu muộn Giao Linh:</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Ngày xa xưa chơi trò đi trốn nhau&nbsp;<br>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Cho em đi tìm gọi anh Đom Đóm ơi&nbsp;<br>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Anh khéo nên em thường hay giận hờn&nbsp;<br>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Một lần anh thua em trèo lên trên ngọn khế<br>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Nào ngờ mưu kế đem đom đóm anh cài lên tóc em&nbsp;<br>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Từ đêm đen lập lòe đom đóm bay&nbsp;<br>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Em anh đây rồi nên vẫn khen anh tài ghê…&nbsp;</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Ở đất nước mình sau mấy thập kỷ chiến tranh, bom đạn, chất độc hóa học đã hủy hoại môi trường sống rất nhiều, ngày nay tốc độ đô thị hóa như những bước chân phi mã càng làm thu hẹp mảnh ruộng thửa vườn, các dòng sông ô nhiễm từ những khu công nghiệp thải ra, những khu vườn đom đóm bị thu hẹp lại và có nguy cơ biến mất.Trong khi loài côn trùng nầy ở Nhật&nbsp; được người dân yêu mến. Hình ảnh đom đóm với ánh sáng huyền ảo trong đêm tối nhấp nháy như những đốm lửa lập lòe làm họ liên tưởng đến pháo hoa Senkou hanabi, cũng là biểu tượng của mùa hè Nhật Bản. Được ngắm nhìn đom đóm là một trong những kỷ niệm đẹp không thể quên trong quãng đời thơ ấu của bọn trẻ xứ sở hoa anh đào nầy. Vậy mà có thời kỳ bọn trẻ con không còn được ngắm những con côn trùng phát sáng kỳ lạ nầy. Nguyên nhân bắt nguồn từ nhiều thảm họa suốt một thời gian dài trong cuộc phát triển thần kỳ (1950-1970) của nền kinh tế Nhật Bản: ô nhiễm môi trường trầm trọng, môi trường sống Satoyama bị bỏ hoang cộng thêm thói quen sinh hoạt của con người đã làm cho số lượng đom đóm giảm đi đáng kể. Người Nhật đã nhận thức được điều nầy và bắt đầu khôi phục lại những vùng đom đóm sinh sống: khôi phục lại môi trường sống Satoyama, giữ gìn môi trường tự nhiên sạch. Bảo vệ nguồn nước, cải tạo sông ngòi, nuôi dưỡng ý thức bảo về đom đóm trong trẻ em, tố chức lễ hội ngắm đom đóm trên khắp cả nước ở những khu vực ven sông hay cánh đồng, khuôn viên công viên để người dân có thể dễ dàng ngắm đom đóm từ đó ý thức bảo vệ môi trường được nâng cao.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Nhắc đến đom đóm tôi liên tưởng đến một câu chuyện rất cảm động mà khi đọc xong vẫn ám ảnh tôi mãi: Đó là truyện ngắn có tên Hotaru no Haka (Mộ đom đóm) của nhà văn Nhật&nbsp; Akiyuki Nosaka (1930-2015). Truyện kể về gia đình cậu bé Seita và cô em gái Setsuko thời chiến tranh thế giới thứ hai. Lúc ấy cuộc chiến đang trong giai đoạn ác liệt. Cuộc sống của hai đứa trẻ và mẹ chúng trôi đi trong khắc khoải chờ đợi ngày trở về của người chồng người cha ngoài mặt trận. Nhưng điều bất hạnh đã ập xuống khi người mẹ đột ngột qua đời sau một trận không kích của quân đội Mỹ. Hai anh em phải sống nhờ vả vào những người họ hàng nghèo khổ và thường xuyên bị họ đánh mắng. Nỗi uất ức ngày một chất chồng khiến Seita quyết định mang em gái mình vào sâu trong hang núi sống. Đói khổ ngày một trầm trọng hơn. Trong hoàn cảnh thiếu thốn mọi bề thậm chí nỗi cô đơn bị bỏ lại giữa rừng khi Seita đi tìm thức ăn, Setsuko đã tạo cho riêng mình một thế giới tưởng tượng bằng những hình vẽ nghuệch ngoạc đám tang con đom đóm, những hình ảnh tưởng ngô nghê nhưng hóa ra lại dự báo về một tương lai đầy bi kịch. Một ngày kia khi Seita tìm kiếm thức ăn về thì Setsuko đã thiếp ngủ và không bao giờ tỉnh dậy nữa.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Xin đừng để những con côn trùng đáng yêu ấy thành những ngôi mộ đom đóm trên cánh đồng ký ức trong mỗi con người chúng ta như những bức vẽ ngô nghê đến tội nghiệp của cô bé Setsuko đáng thương trong lúc cô đơn nhất chỉ với một mơ ước giản dị sống trong vòng tay yêu thương của những người thân mà hãy để chúng được tự do cùng thiên nhiên ngân lên những nốt nhạc tuyệt vời với những sắc màu huyền ảo của bầu trời đêm lộng gió.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Xin đừng để hình ảnh những con đom đóm chỉ còn là những hoài niệm trong ký ức tuổi thơ của thế hệ chúng tôi, những người đã bước qua lứa tuổi heo may chỉ chờ những cơn gió mạnh mang ký ức ấy ra đi để rồi bọn trẻ khi nhắc tới loài côn trùng nầy ngơ ngác chỉ còn được nhìn thấy trong tranh ảnh coi đó là con vật trong truyện cổ tích thần tiên nào đó mà thôi.</p>



<p><strong>NGUYỄN AN BÌNH</strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Vũ Thị Ngọc Thư: HẠT MƯA KÝ ỨC</title>
		<link>https://t-van.net/vu-thi-ngoc-thu-hat-mua-ky-uc/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Vũ Thị Ngọc Thư]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 19 Jun 2023 11:00:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[ký ức; tùy bút]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=63241</guid>

					<description><![CDATA[Mưa Kỷ Niệm &#8211; Ảnh: HKL “&#8230; Nụ đã nghe rất nhiều câu chuyện mà người thân trong gia đình bồi hồi xao xuyến nhắc về mùa thu cây bàng lá đỏ có hương cốm thoảng theo gánh cô hàng đong đưa qua phố; Nỗi nhớ chiều hồ Gươm sương phủ bạc trắng bốn bờ, [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/06/4.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/06/4.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-63242" width="448" height="300" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/06/4-300x201.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2023/06/4-768x514.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/06/4.jpg?strip=all 896w" sizes="(max-width: 448px) 100vw, 448px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Mưa Kỷ Niệm &#8211; Ảnh: HKL</em></p>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><em>“&#8230;</em><em> Nụ đã nghe rất nhiều câu chuyện mà người thân trong gia đình bồi hồi xao xuyến nhắc về mùa thu cây bàng lá đỏ có hương cốm thoảng theo gánh cô hàng đong đưa qua phố; Nỗi nhớ chiều hồ Gươm sương phủ bạc trắng bốn bờ, hiu hắt tiếng sâm cầm ngơ ngác gọi bầy …”</em><strong><em></em></strong></p>



<p><strong>L</strong>úc thật bé, mọi người trong nhà và các cô bên nhà ông nội đều gọi nó là Nụ. Nụ chỉ còn nhớ ngày còn lẫm chẫm đi lại trên khoảng sân gạch nâu đỏ bên trong khung cửa sắt cao màu xanh ở cổng nhà, lúc nào cũng nghe văng vẳng tiếng u già gọi <em>cô Nụ ơi </em>hay<em> em Nụ đâu rồi. </em>Giọng u ấm áp, luôn thấp thoáng ẩn hiện nụ cười đen nhánh, và đôi mắt hiền hòa dưới chéo khăn mỏ quạ màu quả trám khô. Nụ thích lắm tiếng u già gọi nó như thế, nhất là những khi hai u cháu chơi ú òa phải trốn, tìm nhau. Âm vang tiếng gọi của u vừa yêu chiều, vừa dịu dàng, vừa quý mến như đặt Nụ vào một vị thứ nào đó quan trọng trong gia đình. Nghe là lạ, nhưng dễ chịu, khác với tiếng Nụ ngắn gọn, cụt ngủn, mọi người khác vẫn luôn dùng để gọi nó; Đôi khi tiếng gọi dứt khoát của họ làm Nụ hơi bất ngờ, giật mình, và sợ hãi nữa. Tiếng gọi từ tốn của u già nặng đầy ý quan tâm bảo bọc, tình quyến luyến và còn như thầm chuyển mọi an nhiên, từ ái đến che chở Nụ. Nhiều năm qua, Nụ vẫn bâng khuâng tự hỏi tại sao “<em>cô Nụ ơi” </em>hay<em> “em Nụ đâu rồi”</em> cứ còn mãi trong tâm tưởng, và mỗi lần vọng về đều đem lại nhiều ngọt ngào, dịu êm như thế?<br></p>



<p><strong>Phố Ngõ Trạm, Hà Nội</strong></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/06/image003.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="459" height="328" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/06/image003.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-63243" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/06/image003-300x214.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/06/image003.jpg?strip=all 459w" sizes="(max-width: 459px) 100vw, 459px" /></a></figure></div>


<p>Trong trí nhớ, Hà Nội của Nụ là ngôi nhà với khoảng sân trước khá rộng, có bờ tường gạch bao quanh và khung cổng cao luôn được đóng kín bằng hai cánh cửa sắt màu xanh lá sấu. Ký ức ấy có u già, quanh năm chít khăn mỏ quạ thâm đen, và bao giờ quần áo cũng chỉ một mầu tối bạc như bị ám khói. U già vừa là vú nuôi của Nụ và cũng là một người bà con rất xa trong họ. Thỉnh thoảng Nụ còn ngờ ngợ thấy bóng dáng u dùng cọng lá đu đủ thổi bóng xà bông cho Nụ đuổi bắt quanh gốc sung khá to ở góc sân. Những bọt bong bóng trong veo, to nhỏ nhiều cỡ, lóng lánh bay vòng theo những đốmnắngtrưa vàng mơ. Nụ nhớ thân cây sung có vài vết trầy, dấu khấc đã nám nâu, và hơi nứt nẻ phần gần gốc, nhưng luôn chi chít các chùm quả mọng tròn, lung linh khác mầu nhau, như khoe độ chín của từng quả trên các nhánh. Những khi chiều chuộng hay nựng nịu dỗ dành Nụ, u già bầy sung vào mấy chiếc giỏ mây nhỏ để Nụ chơi. Mỗi giỏ một mầu quả, xanh rêu non, đỏánh cam, vàng thanh trà, và tím bồ quân; Những quả sung no nắng hoàng hôn, rực rỡ mầu sắc của một cõi vàng xưa. Bao năm qua, hình ảnh hiền hòa ngộ nghĩnh ấy vẫn thỉnh thoảng trở lại, nhưng chỉ lãng đãng trong tiềm thức của Nụ thôi, mờ nhạt như không thật. Tất cả đều lơ lửng chơi vơi, nhưng quẩn quanh không rời, không phải từ tưởng tượng hay ảo giác, và cũng chưa bao giờ thay đổi hay tan mất hẳn. Hà Nội vẫn lặng lẽ trở về với Nụ như vậy. Đôi lần không gian ấy còn mơ hồ quyện hương bồ kết rất nhẹ hay phảng phất mùi vỏ trầu dịu quen từ vai chiếc áo bông của u già, nơi Nụ nhiều lần áp mặt gắt ngủ trong tiếng ru “<em>à à ơi, à à ời … cái cò, cái vạc, cái nông … sao mày giẫm lúa nhà ông hỡi cò?</em>” Tiếng à ơi mênh mang chấp chới chao liệng mãi trong giấc ngủ của Nụ.</p>



<p>Nhưng cũng có đôi lần Nụ đã ngờ ngợ nhớ lại một buổi sáng ảm đạm, mưa lấp lửng khắp nền gạch sân nhà. Cả gia đình dắt díu nhau vội vã lên xe. Bà ngoại bồng Nụ, bố một tay xách chiếc va li nhỏ, tay kia dắt anh Cường, mẹ địu em bé và đeo một giỏ nan đựng mấy cái bánh giò, chai nước lọc,yếm tã em bé, không biết đã được u già chuẩn bị sẵn từ bao giờ. Phố vắng không một bóng người, nhà nào cũng đóng cửa, đường sũng ướt, ít xe qua lại. Nụ nhớ mãi khi chỉ còn lại một mình trong sân, u già mếu máo sụt sùi giấu mặt trong chéo khăn trùm tóc. Cuối cùng, u chạy ra ngoài cổng, rũ rượi khuỵu xuống vừa khóc, vừa vẫy tay khi xe lăn bánh rời đi. Nụ váng vất, tức tưởi giãy giụa trong tay bà. Phố lui dần lại, mưa nặng hạt, mờ mịt, không còn nhìn thấy u già nữa.</p>



<p>Ký ức sau đó là hai chiếc máy bay rất to, ướt đầm đìa dưới màn mưa phủ tràn sân bay, nơi mà sau này Nụ nghe bà kể là phi trường Gia Lâm. Rồi hình ảnh la liệt người nằm, ngồi chen chúc nhau trên sàn máy bay quanh chiếc khăn nhỏ bà trải cho mấy anh em Nụ ngồi. Máy bay dằn xóc chòng chành, có khi như đột ngột vọt lên cao, rồi lại bất ngờ hạ thấp thật nhanh. Mọi người trên sàn mất thăng bằng, ngả nghiêng chúi đổ vào nhau nhiều lần, ồn ào tiếng trẻ em kêu khóc suốt chuyến bay. Tất cả những hình ảnh lộn xộn, thất thường, đảo điên này là Hà Nội còn lại trong ký ức của Nụ. Cũng có thể, khúc đoạn dĩ vãng nhỏ nhoi đó đã được phong phú thêm theo những mẩu chuyện bà ngoại kể mà Nụ còn nhớ được, hoặc từ những tấm ảnh úa vàng trong quyển album gia đình. Tâm trí Nụ toàn các đoạn phim mù mờ, hình ảnh nhập nhằng, gián đoạn, không đầu đuôi như vậy suốt những năm còn ở Sài Gòn.</p>



<p>Hà Nội đấy, bố kể, Nụ được sinh ra ở nhà hộ sinh trên phố Hàng Bún, một nhà thương khang trang có bên ngoài đẹp như biệt thự, tọa lạc giữa khu nhà yên tĩnh thuộc trung tâm thủ đô. Bấy giờ, đoạn đường với hai hàng cây bàng gần nhà thương đang giữa mùa lá đỏ, mây trời biêng biếc, lá khô lác đác quanh các gốc bàng rêu phong. Phố xôn xao sắc thu. Và Hà Nội còn có u già yêu dấu đã vò võ bón mớm chăm chút Nụ bao đêm ngày. Hà Nội vừa thân quen, gần gũi và cũng vừa rất xa lạ, khó hiểu. Hà Nội mờ nhạt, thầm lặng, thao thiết đợi mong, và bàng bạc thôi thúc nhớ nhung. Lần nào hồi tưởng lại, Nụ cũng rưng rưng <em>vẩn vơ sợ một lúc nào phần ký ức mong manh đó sẽ không trở về nữa.</em></p>



<p>Nụ rời Hà Nội khi được 3 tuổi, còn quá nhỏ để biết hay nhớ thời gia đình từng sống êm đềm, khá giả ở đấy. Theo lời kể của bà ngoại, bố mẹ đã có ba căn nhà gạch mái ngói, loanh quanh khu gần hồ Gươm. Khoảng sân có u già chít khăn mỏ quạ hay lẩn quẩn trong tâm trí Nụ là phần trước căn nhà mà gia đình cư ngụ trên phố Ngõ Trạm, gần chợ Hàng Da của Hà Nội ba mươi sáu phố thuở xa xưa. Hai căn nhà còn lại được dùng làm cơ sở của một trường tư dậy Pháp Văn do bố Nụ, chú Thụy và bác Liễn, hai người bạn của bố, cùng đảm nhiệm. Sau này được đọc một số tác phẩm nhắc đến Hà Nội của các nhà văn trong Tự Lực Văn Đoàn, Nụ đã nghĩ có thể nhà ở Ngõ Trạm thuộc khu trung lưu của Hà Nội ngày xưa vì có khoảng sân trưng bầy mấy chậu cây quý, có bụi hồng trà quanh năm dịu thơm, có cây phong thủy cành congdáng nghiêngđặc thù, và một hòn đá to có vân ẩn hình bóng núi,… đẹp êm đềm như một vườn cảnh nhỏ sau bờ tường rào. Trên vòm cổng còn thấp thoáng giàn dạ yến thảo quanh năm lác đác hoa tím rũ dịu dàng. Phong cách bài trí trong sân có nét ngưng đọng của thời gian, giống như một vườn non bộ nhỏ của những căn nhà khang trang trong phố, mà các truyện đã kể, và nhà Nụ cũng có cửa sắt mở ra bờ hè rộng, quanh năm rì rào bóng mát cây xanh. Cũng không ít lần, Nụ đã bâng khuâng tự hỏi không hiểu nhà Nụ ngày ấy có phảng phất sắc thái cổ phong, xa vắng như của nhiều ngôi nhà ở phố đã nhuốm mầu thời gian, trĩu nặng các hoài niệm? Hay là một nếp nhà mái xám hoặc ngói đỏ, hiu hắt trong khu phố ảm đạm màu sương mù, được diễn tả trong các tranh vẽ phố xưa sâu lắng của họa sĩ Bùi Xuân Phái[1]?Nhưng hẳn là phải thuộc khu thi vị, trữ tình vì Hoàng Anh Tuấn, người vô cùng yêu Hà Nội, đã không quên nhắc Ngõ Trạm, nơi đọng mãi ký ức về mối tình ngọt ngào thơ dại của nhà thơ:</p>



<p><em>Anh nắn nót một trường thi lãng mạn</em></p>



<p><em>Thơ thuở bé khắc ghi tình Ngõ Trạm&#8221;. </em><em></em></p>



<p>(Trích từ “Bài Thơ Hà Nội”, Hoàng Anh Tuấn)</p>



<p>Nụ cũng không thể hiểu tại sao đã luôn nghĩ ngợi, thương nhớ Hà Nội dù không thật sự biết gì về nơi chốn ấy ngoài vài địa danh, hình ảnh chắp nối hay tự tưởng tượng dựa theo các câu chuyện hồi tưởng lại tháng ngày bình yên hạnh phúc cũ của những người lớn trong gia đình.</p>



<p>Giã từ Hà Nội, cuộc sống của gia đình Nụ đã rất long đong, vất vả trong nhiều tháng đầu tiên ở Sài Gòn<em>.</em></p>



<p><strong>Trại Tạm Cư ở Trường Pétrus Ký, Sài Gòn</strong></p>



<p>Gần cuối tháng 8 năm 1954, gia đình Nụ đến trại tạm cư trong khuôn viên của Lycée Pétrus Ký, tên trường vừa lạ vừa khó phát âm nhưng bố đã trìu mến nhắc đến rất nhiều lần trong những năm cả gia đình còn ở Sài Gòn.</p>



<p>Những hình ảnh tiếp theo trong trí nhớ là một khoảng sân trung tâm rất rộng, nhiều thảm cỏ xanh, nắng trưa rực rỡ, bầu trời bông bênh những dải mây trắng, và hàng cây hoàng điệp xào xạc tiếng lá trong khuôn viên trường Pétrus Ký. Trên bốn vuông cỏ rộng giữa sân, hàng hànglều vải giống nhau được dựng san sát kín mọi chỗ trống. Gia đình Nụ được chia cho một cái lều ở góc ngoài gần sát lối đi tráng xi măng. Lều hơi thấp nên anh em Nụ thường chỉ được ngồi hay nằm mỗi khi về ăn cơm hay chia nhau chỗ ngủ trên chiếc chiếu choán gần kín diện tích mặt cỏ ở dưới lều. Gia đình ông bà nội cũng ở một nhà lều như vậy, khoảng gần giữa sân, nơi có tượng cụ Trương Vĩnh Ký[2]; Bà ngoại gọi là tượng cụ bác học và dậy Nụ phải khoanh tay cúi chào cụ mỗi khi đi đâu qua vùng trung tâm sân trường.&nbsp;</p>



<p>Từ đó, ngày ngày cô Hiên, tay dẫn Nụ tay cắp rổ, xếp hàng chờ gần cổng trường để nhận thực phẩm tương trợ của chính phủ hay các tổ chức nhân đạo. Nắng trưa ong ong, đông người, ngột ngạt nhưng mọi người đều kiên nhẫn chờ nhận gạo, muối, cá khô để có phần ăn qua ngày. Nhà ông nội đông các cô, chú nên ngoài cô Hiên, cả cô Loan cũng phải phụ xếp hàng như thế. Thỉnh thoảng, Nụ được các bác chia gạo dúi cho chiếc kẹo dừa thơm béo ngậy, ngậm vào là tan lịm thật nhanh trên lưỡi, nhưng vị bùi ngọt mê mẩn của dừa ngào đường thốt nốt cứ theo Nụ cả ngày. Bao buổi chiều, lũn cũn theo các cô đi hứng nước, Nụ chỉ bê được một lon guigoz nước vơi vơi, vậy mà về đến lều cũng luôn lướt thướt ướt. Nhiều hôm ở ngay chỗ vòi nước, nếu thấy Nụ quá nhem nhuốc, cô Hiên còn xối nước tắm rửa Nụ sạch sẽ trước khi dẫn về lều.</p>



<p>Thỉnh thoảng có hôm trời đổ mưa rào, anh em Nụ phải ở trong lều, nhưng luôn đùa chơi quanh quẩn ngay lối vào, cùng nhau đếm những hạt bong bóng nước rơi vỡ trên mặt cỏ; Và đôi lần còn từ từ thả từng chiếc thuyền, làm bằng các mảnh báo cũ gói đồ ăn, cho trôi theo 2, 3 rãnh nước đục mầu từ lều ra góc đường xi măng hơi dốc xuống một cái mương nhỏ. Những chiếc thuyền giấy lạc loài trôi như mấy cô cháu, anh em Nụ. Những lúc ấy, cô Út luôn ôm Nụ thì thầm <em>lậy trời xin mưa mau tạnh</em> để đến tối chiếc chiếu ngủ không bị ướt.</p>



<p><br>Khi trời chập choạng tối, các ánh lửa yếu ớt từ những ngọn nến nhỏ, đặt gần cửa các nhà lều, theo nhau nhập nhòa sáng lên. Riêng nhà Nụ, sau bữa cơm chiều, mấy cô cháu luôn tụ họp quanh ngọn nến leo lét, cười nói ríu rít. Anh Cường bắt chước cô Út uốn vặn hai bàn tay, rồi dang lên cao hay quơ múa gần ngọn nến để tạo bóng chim chao, hạc lượn trên bầu trời là vách lều đối diện chỗ đặt nến. Nhà ấm dần trong những tiếng cười nói trong trẻo, vui nhộn. Cô Hiên dậy Nụ đếm bóng của những con chim đang xoãi bay theo bầy. Nụ đã đếm được chim bà, chim bố, chim mẹ, chim con, nhưng còn thiếu chim u già. Nụ lại tủi thân, nước mắt rân rấn, nhưng không dám khóc.</p>



<p>Thấm thoát đã đến mùa Trung Thu. Nụ mang máng nhớ có lần đã được u già dẫn ra đầu ngã ba gần nhà, nơi có tiệm trưng hàng Tết đón trăng, xem đèn kéo quân lập lòe ánh nến, đèn chú thỏ xanh, đèn ông sao vàng, đèn cá chép đỏ, và những chiếc mặt nạ nhiều mầu bằng giấy bồi được sơn, ghép dầy cộm. Góc phố tưng bừng nhiều loại đèn căng giấy bóng kính trong suốt, lung linh ánh nến, rực rỡ mầu sắc trên các khung tre được vót uốn thành hình hoa quả hay muông thú ngộ nghĩnh. Phố đông người qua lại, tiếng chào hỏi nhau rộn ràng. Hương bánh đậu xanh nướng thơm lừng cả mấy đoạn đường lân cận. Rồi trên đường về, Nụ thiếp ngủ trên vai u già, mơ mơ màng màng trong tiếng u rủ rê vỗ về “<em>Em Nụ đánh đu với khướu để cùng lên thăm ông giăng nhé…”&nbsp; và </em>giọng ru ngọt ngào ngân nga:</p>



<p><em>Ông giẳng, ông giăng….</em></p>



<p><em>xuống chơi với tôi.</em></p>



<p><em>có bầu có bạn,</em></p>



<p><em>Có váng cơm sôi.</em></p>



<p><em>Có nồi cơm nếp,</em></p>



<p><em>Có nệp bánh chưng.</em></p>



<p><em>Có lưng hũ rượu,</em></p>



<p><em>Có khướu đánh đu.</em> …” [3]</p>



<p>Nụ lơ mơ, khướu cũng biết đánh đu<em>, </em>… mây trời lao chao theo nhịp đu quayvòng lênchao xuống, rồi hình như Nụ đã được đặt nằm trong chiếc giường nhỏ của nó trên gác nhà, nơi có khung cửa sổ gần sát một tán sung lớn, vài chiếc lá đang lòa xòa lấp loáng ánh trăng. Nụ thiếp vào giấc ngủ, bềnh bồng trong tiếng hát của trẻ con rước đèn ngoài phố.</p>



<p>Nụ đã ngẩng đầu hoang mang tìm trăng nhiều lần hôm Trung Thu ở trại, nhưng bầu trời chỉ luôn mờ bạc trong màn mưa. Từ lúc sáng, các lều có trẻ em đều được phát một, hai con tò he xanh đỏ. Nụ nhận được một em lợn mũm mĩm, mầu ngà, đầu có cài nơ đỏ tím, mũi to háu ăn, miệng em luôn cười thật tươi với mọi người. Anh Cường được cái trống bỏi có cán mầu đỏ. Suốt buổi anh quay lắc trống liên hồi. Tiếng trống tạch tạch đục trầm làm không gian trong lều gần gũi, quen thuộc hơn. Đôi khi tiếng ồn như có vang cả những âm thanh lộn xộn của các món đồ chơi mà anh em Nụ thường bầy hàng cả ngày khi còn ở nhà. Nụ vẫn nhớ anh Cường hay cột dây kéo chiếc xe gỗ nhỏ, loại chở hàng từ quê lên phố, chạy vòng gốc sung, miệng ồn ào giả tiếng còi xe ti toe vang động khắp sân. Có khi cũng vẫn kéo chiếc xe ấy, nhưng anh lại kêu leng keng như tiếng tầu điện qua phố bờ hồ. Nhưng lâu lắm rồi không còn nghe tiếng u già gọi hai anh em nữa. Nụ nhớ u lắm.</p>



<p>Đêm Trung Thu trời mưa rả rích. Ánh nến mờ sáng nhập nhòa khắp các lều trong trại. Văng vẳng tiếng kêu tạch tạch của trống bỏi xen trong tiếng hát hò hồn nhiên của trẻ con. Lều nhà Nụ ấm cúng, vui nhộn đặc biệt hơn mọi ngày vì các cô và anh em Nụ được xúm xít nghe bố giảng giải cách làm trống bỏi và kể chuyện về nơi đầu tiên làm những chiếc trống tí hon này. Bố kể ngày xưa người làng Báo Đáp[4] làm trống bỏi từ đất sét, nan tre, và giấy bồi tỉ mỉ như thế nào. Các công đoạn như nhào nặn đất sét, hong nắng, chẻ vót tre, căng bọc mặt trống, cột gắn dùi, tra cán đều đòi hỏi sự tẩn mẩn, khéo tay, kiên nhẫn, vì mọi bộ phận của trống đều nhỏ và rất mong manh dễ vỡ, dễ rách… nên làm một cái trống kiểu thủ công tốn khá nhiều công và thời giờ.Trẻ em lắc trống bỏi để chào mừng chị Hằng và chú Cuội nhập cuộc rong chơi rước đèn, nghêu ngao hát hòmùa lễ.&nbsp; Điều thú vị với cả nhóm là làng làm trống, Báo Đáp, thuộc vùng kề cận đoạn đê tả sông Đào của tỉnh Nam Định, khá gần bến Đò Quan, quê quán của u già. Bố còn nói âm thanh trống bỏi làm từ làng này luôn đặc trưng có điệu tạch tạch ròn, lộp cộp rã. Khi quay trống liên tục nhanh đều thì tiếng vang rền vui như của đàn ve hợp ca khoe giọng mùa hạ. Lúc quay chậm nhẹ từ từ thì trống kêu đanh, nghẹn như tiếng ếch nhái than thở trong những đêm mưa phải lây lất ngoài bờ ruộng. Không biết thỉnh thoảng những tiếng kêu lộp cộp nghẹn, đứt quãng trong đêm Trung Thu buồn bã ấy có hoàn toàn từ các chiếc trống bỏi trong trại, hay còn lẫn cả tiếng than vắn, thở dài của bọn ễnh ương, chão chuộc nhớ bờ, nhớ quê đang long đong lưu lạc trong màn mưa rỉ rả ngoài các mương chảy quanh khuôn viên trường.</p>



<p>Qua Trung Thu, Sài Gòn mưa nhiều hơn. Những trận mưa buổi chiều luôn bất chợt ào đổ nặng hạt rồi cũng quang tạnh thật nhanh, nhưng luôn đủ làm các nhà lều bị ẩm ướt nhớp nháp, và đời sống chui rúc chật chội trong trại thêm vất vả khó khăn. Nước uống thiếu thốn, nhà nào cũng phải xếp hàng chờ các xe camion đến phân phát nước đã được lóng phèn, mỗi ngày một lần. Các phương tiện vệ sinh vô cùng giới hạn. Và, vì cũng gần đến ngày khai giảng năm học mới nên người tạm trú trong trường được khuyến khích xuất trại nếu đã tìm được nơi định cư; hoặc phải ghi danh để chính phủ sắp xếp phân tán đưa đến các khu định cư lâu dài dành cho người di cư.</p>



<p>Thời gian này, các gia chủ hay người đại diện của mỗi nhà lều thường đuợc chở đi tham quan để có khái niệm thêm về sự sinh hoạt của cộng đồng xã hội bên ngoài trại. Một số người còn được phép ra ngoài tìm nơi tự túc định cư nếu bầy tỏ ý nguyện muốn xuất trại để xoay sở mưu sinh, không cần sự giúp đỡ hay hổ trợ thêm của chính phủ. Những chuyến đi này thường chỉ loanh quanh các nơi trong thành phố hay vùng ngoại ô lân cận Sài Gòn. Ông nội và bố Nụ ngày nào cũng bận rộn, ráo riết tìm nhà, nên chỉ sau hơn hai tháng ở trại, mỗi người đều mua được một căn phố trên đường Phan Đình Phùng ở quận 3 Sài Gòn. Nhà ông Nội cách nhà Nụ khoảng vài trăm mét, nhưng phải băng qua lối ngõ chính dẫn vào chợ Bàn Cờ và đường Nguyễn Thiện Thuật.</p>



<p><strong>Đường Phan Đình Phùng &#8211; Quận 3, Sài Gòn</strong></p>



<p>Giữa tháng 10 năm 1954 gia đình Nụ xuất trại tạm cư, dọn đến căn nhà mái ngói hai tầng ở gần cuối đường Phan Đình Phùng. Mặt sau nhà chênh vênh ngay đầu một ngã ba, nơi giao điểm của hai đường hẻm lớn; Cả hai đều đủ rộng để xe camion thỉnh thoảng chạy từ đường Nguyễn Thiện Thuật vào khu xưởng đúc kim loại tọa lạc ở góc ngã ba bên phải nhà Nụ. Con hẻm đối diện, trổ gần thẳng góc vào mặt sau nhà Nụ, khá sâu nhưng bề ngang hẹp dần khi đến chỗ tụ họp của các gian hàng bình dân bán đồ ăn điểm tâm, rải rác kín hai bên hẻm. Hàng ngày, từ rất sớm, tụ điểm này đã nhộn nhịp các gánh xôi, quầy bánh mì, thùng cháo huyết, nồi bánh canh, nhưng hoành tráng nhất là một sạp cơm tấm với 5, 6 cái đòn cho khách ngồi vừa ăn vừa chuyện trò rôm rả, vui nhộn. Khu hàng quà ở ngay đầu lối dẫn vào xóm nhà nhỏ lô nhô nhiều mái tôn, mái lá, chen chúc lộn xộn trong các ngõ chạy theo hình bàn cờ ngang dọc phức tạp. Con hẻm còn lại của ngã ba nằm song song với mặt sau nhà Nụ có lối bên trái chạy qua chùa Linh Chưởng; quãng duy nhất luôn tĩnh lặng, không xô bồ như khu có hàng bán, người mua trong xóm; Cổng sân trước chánh điện của chùa mở ra phần vỉa hè cuối đường Phan Đình Phùng, đoạn phố vắng gần giáp với đường Lý thái Tổ. Nhưng ngã bên phải của con hẻm này lại dẫn về khu tụ tập nhiều xe bán quà đêm như các loại chè: bông cau, sâm bửu lượng, hay các món đỉm sấm, xíu mại, bò vò viên, … nổi tiếng của đường Nguyễn Thiện Thuật; Khu này ban đêm luôn sáng choang ánh đèn manchon và dập dìu khách ăn hàng qua lại nên khá ồn ào, đông đúc. Loanh quanh ngoài mặt đường còn có một tiệm ăn Tàu, tiệm thuốc Bắc, xe phở lưu động, và tiệm tạp hóa Nam Hòa lớn nhất của khu chợ Bàn Cờ. Tất cả các tiệm đều rải rác gần lối đường thông từ Nguyễn Thiện Thuật vào chợ Bàn Cờ lên gần góc đường có chùa Kỳ Viên. Có lần Nụ nghe bố nói khu hàng ăn này từa tựa như một con đường trên Phố Khách, gần bến tầu chính của thành phố Nam Định, nơi cũng có các tửu điếm Tàu ồn ào và nhiều cửa tiệm nhộn nhịp của người Hoa buôn bán làm ăn tại phố biển, quê của bố ở ngoài Bắc.</p>



<p>Phần lớn hàng xóm quanh nhà Nụ ở ngoài mặt phố Phan Đình Phùng đều là người Sài Gòn. Họ đã định cư nhiều năm quanh khu chợ và thuộc đủ thành phần những người có công ăn việc làm trong xã hội. Bà hàng xóm sát vách nhà Nụ có sạp hàng buôn bán bát đĩa sứ ở ngoài chợ, gia đình ông giáo viên già ở bên kia đường số lẻ, ở gần chùa có chị em cô ký làm ở kho bạc, cạnh đó là gia đình ông thầu khoán, rồi đến chú cảnh sát giao thông, gần tới đường Nguyễn Thiện Thuật có ông nhà văn kiêm ký giả làm báo, cách nhà Nụ ba căn là chú Bảy chủ tiệm vẽ mẫu quảng cáo cho rạp hát&nbsp; … Mọi người đều chân chỉ làm ăn, cần mẫn như những con ong, cái kiến ngày đêm miệt mài chí thú vun đắp cho cuộc sống gia đình hiền hòa của họ. Ngay từ những ngày mới dọn đến, gia đình Nụ đã cảm nhận được sự xuề xòa, giản dị, thân thiện, tốt bụng, và thật lòng của bà con miền Nam trong xóm khi họ sốt sắng đón nhận, chào hỏi, hướng dẫn các gia đình di cư giúp mau chóng hội nhập thành người cùng tổ, cùng phường với họ. Quan hệ xã hội cởi mở, bản chất dễ thích nghi, phong cách hào hiệp, và tình thân gắn kết của hàng xóm miền Nam những năm đó rất chân thành.</p>



<p>Theo nhận định của nhiều gia đình di cư, họ hàng hay bạn bè của bố mẹ Nụ, thì đa số hàng xóm người miền Nam đều giàu lòng tương trợ, tận tâm giúp đỡ, và ấm áp hòa đồng. Những tố chất cao đẹp của người Sài Gòn tương đối hiếm khi hiển lộ ở đa số người thuộc các vùng miền khác của đất nước. Kết luận này không chỉ giới hạn ở thời điểm có cuộc di cư năm 1954 mà còn dựa trên những giao tiếp, quan hệ cá nhân mà nhiều người Bắc trung niên, như bố và các chú của Nụ, từng đã có với bạn đồng môn ở trường học, với các đồng nghiệp nơi sở làm, hay từ bạn đồng ngũ thời tổng động viên chống Pháp.</p>



<p>Suốt bao năm ở khu Bàn Cờ, gia đình Nụ chưa bao giờ chứng kiến chuyện xích mích, cãi cọ nào đáng kể của hàng xóm láng giềng. Thỉnh thoảng có vài người nóng nẩy hơi cao giọng to tiếng vài câu, nhưng cũng chỉ thoáng ồn ào một lúc, rồi lại tự giác giảng hòa bằng cách rủ nhau ăn nhậu, đùa giỡn, ca hò vọng cổ rất thân tình, vui vẻ. Phần đông người quanh xóm đều ân cần, tử tế, ít chấp nhất, câu nệ nên các gia đình nhập cư không có mặc cảm bị bỏ rơi hay phân biệt. Dần dà bố mẹ Nụ cũng hội nhập hòa đồng hơn, để ý quan tâm hỏi thăm bà con chung quanh mỗi khi gặp nhau đâu đó trong khu phố hay bất cứ nơi nào, và luôn tích cực quyên góp khi nhà ai trong xóm cần giúp đỡ việc ma chay giỗ chạp hay tặng quà các gia đình không may bị vướng vào tình cảnh khó khăn.</p>



<p>Nhà Nụ chỉ cách chùa Linh Chưởng mấy chục thước nên ngày nào cũng được nghe tiếng ngân vọng thanh thoát của các hồi chuông mai và chuông hôm gọi lễ hay khởi động giờ tụng niệm ở chùa. Các hồi chuông này được bà vải già đều đặn thỉnh rất đúng giờ. Chuông mai ngân vào lúc trời còn chập choạng chưa sáng hẳn và chuông hôm đổ khi trời nhá nhem gần tối. Tiếng chuông vang chậm rãi trong không gian bao giờ cũng như mang lời thỉnh cầu sự bình yên, tốt lành cho mọi sinh hoạt trong cuộc sống của tất cả cư dân trong xóm. Tác dụng tâm linh mơ hồ đó giúp mọi người gần gũi thân thiện với nhau, dần dà đã nảy nở, rồi phát triển tinh thần đoàn kết, che chở, đùm bọc thân tình của hàng xóm láng giềng. Tiếng chuông chùa cũng góp phần tích cực trong sinh hoạt cuộc sống của cư dân quanh vùng. Hồi chuông mai đầu ngày đánh thức trẻ em học lớp buổi sáng dậy chuẩn bị đi học nên hiếm trò nào bị trễ giờ đến trường. Và cả hai hồi chuông như đều đặn nhắc nhở người lao động buôn bán hay nhân viên công sở hành xử theo đúng các khung giờ thuận tiện cho công việc làm ăn hàng ngày của họ. Ở chùa, ngoài việc tu học, cầu nguyện hàng ngày, và cúng kiếng trong các dịp lễ hội, hai sư cô và bà vải còn cần cù chăm bón khu vườn cây nhỏ ở sân sau, nên quanh năm chùa có hoa tươi và trái cây vườn như mận, ổi, thị, chuối để dâng cúng Phật. Trái cây sau khi hạ từ bàn thờ luôn được sư cô xếp vào chiếc khay lớn đặt trên thềm gạch rộng cạnh lối vào chánh điện để làm lộc chùa cho trẻ con quanh xóm và khách vãng lai đến cúng viếng. Nhờ có ngôi chùa, khu xóm cũng bớt xô bồ, ồn ào liên tục ngày nọ qua ngày kia. Có vẻ cuộc sống của cư dân hơi chậm lại trong ngày rằm hay mùng một khi cả hai hồi chuông chùa đều như đã được thỉnh để tiếng ngân lâu hơn và vang xa hơn thường ngày. Vào hai ngày đặc biệt của tuần trăng, hẻm chợ bừng sắc vàng vạn thọ, dịu thơm hương huệ hương nhài, nhẹ nhàng thoảng bay các vòng khói trầm thanh thoát, không gian như yên bình hơn, và kẻ bán người mua cũng có vẻ xởi lởi, dễ dàng thỏa thuận giá cả với nhau hơn. Âm vang tiếng mõ sau buổi tụng cuối ngày cũng mênh mang lắng đọng hơn, giúp cư dân thoải mái ngơi nghỉ sau những ngày dài chạy vạy, bộn bề, vất vả bao lo toan.</p>



<p>Cuộc sống gia đình Nụ ổn định dần. Sinh hoạt trong nhà vẫn thuần nề nếp hay thói quen của người miền Bắc. Ông bà luôn mặc áo dài tươm tất mỗi khi ra khỏi nhà, dù đôi khi chỉ đi một đoạn ngắn trên đường đến thăm con cháu. Ông đội khăn đống đen, bà vấn đầu bằng khăn nhung mầu sẫm. Áo dài của bà được may bằng vải gấm hay lụa nội hóa nền nã, chỉ mầu nâu hoặc mầu đen, nhưng luôn điểm các hoa văn nổi mang chữ phước, lộc, thọ truyền thống. Ngay cả cô Út lúc đó chỉ độ 13, 14 tuổi cũng mặc áo dài, kẹp tóc gọn gàng mỗi khi ra chợ Bàn Cờ mua hàng lặt vặt cho bà nội. Gia đình thường xuyên sửa soạn những món ăn Bắc quen thuộc như cà pháo muối xổi, rau muống luộc chấm tương hay xào tỏi, canh đậu phụ thuôn cà chua, canh riêu cua đồng, hến kho tương với lá gừng tươi, cá thu hun khói kho riềng, ốc bươu nấu giả ba ba, thịt lợn khìa húng lìu, thịt bò kho gừng, gà kho thảo quả và các vị thuốc bắc. Khi giao tiếp với hàng xóm, bạn bè mới, đồng nghiệp thì cách nói chuyện, lối phát âm, từ ngữ dùng, giọng điệu, và cung cách cũng vẫn giữ nguyên nét thanh lịch, phép tắc đặc thù của thời còn sinh hoạt với người quen hay bạn bè ở Hà Nội.</p>



<p>Mơ hồ như mọi người đều lẳng lặng cố gắng tránh thay đổi bất cứ thứ gì từng thân quen, gắn bó với quê cũ vẫn còn đọng lại trong tâm tưởng. Có lẽ, họ day dứt bất an với ý nghĩ thay đổi là chối bỏ, ly khai quê quán và ruồng rẫy, đoạn tuyệt những người thân còn ở lại. Và sâu thẳm trong tâm hồn, họ luônvơ vẩn buồn bã chìm trong mặc cảm tội lỗi phản bội cha ông, tổ tiên khi đành đoạn dứt áo bỏ quê ra đi.</p>



<p><strong>Mênh Mang Nỗi Nhớ Niềm Đau</strong></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/06/Cau-The-Huc.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/06/Cau-The-Huc-768x1024.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-63244" width="384" height="512" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/06/Cau-The-Huc-225x300.jpg 225w, https://cdn.t-van.net/2023/06/8NbyhJWk-Cau-The-Huc-768x1024.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/06/Cau-The-Huc.jpg?strip=all 810w" sizes="(max-width: 384px) 100vw, 384px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Cầu Thê Húc (bây giờ) &#8211; Ảnh: TV&amp;BH</em></p>



<p>Tuy cuộc sống đã ổn định và luôn bận rộn, nhưng dường như tất cả người lớn đều trải qua những khoảnh khắc bâng khuâng nhớ nhung Hà Nội tha thiết. Nụ đã nghe rất nhiều câu chuyện mà gia đình bồi hồi xao xuyến nhắc về mùa thu cây bàng lá đỏ có hương cốm thoảng theo gánh cô hàng đong đưa qua phố; Nỗi nhớ chiều hồ Gươm sương phủ bạc trắng bốn bờ, hiu hắt tiếng sâm cầm ngơ ngác gọi bầy; Hình ảnh đền Ngọc Sơn thấp thoáng bên cội đa vài trăm tuổi lúc nào cũng như lặng lẽ chờ đợi hoàng hôn ngả chếch nhịp cầu Thê Húc; Chuyến tầu điện chỉ hai hay ba toa xe mầu đỏ kéo nhau leng keng vòng khu bờ hồ thả hay đón khách lên lên, xuống xuống; Con ngõ nhỏ ở phố Thụy Khuê thơm ngát hương ngâu, hương hoàng lan nơi cô Út, cô Loan, cô Hiên bầy hàng chơi; Những đoạn phố với hàng cây cơm nguội muôn thuở có tiếng lá reo như chào đón tà áo các cô của Nụ trên đường họ đi học; Bao hồi còi da diết nỗi bâng khuâng chia lìa khi đoàn tầu xe lửa rẽ vào ga Hàng Cỏ, đoạn gần Ngõ Trạm, vào lúc chập choạng tối hai, ba lần trong tuần; Và cả ngôi nhà có khoảng sân với cây sung trĩu bao nhánh quả hàm tiếu sắc mầu thu Hà Nội. Nụ cũng nhớ những biểu cảm thờ thẫn, buồn bã, đau đớn trên gương mặt của ông bà, bố mẹ khi hồi tưởng những đêm Hà Nội đẫm máu và nước mắt thời đạn bom chiến tranh chống Pháp và tiếng nghẹn nấc ai oán của họ khi nhắc tên những người thân đã mất thảm thương vì loạn lạc.  Những năm ấy, nhiều lần Nụ đã nhìn thấy những giọt nước mắt lặng lẽ rơi, rồi cũng lặng lẽ được tự lau khô, nhưng chừng như nỗi nhớ, niềm đau vẫn mênh mang day dứt dày vò, chưa bao giờ hoàn toàn nguôi ngoai lắng đọng hẳn.</p>



<p>Cuộc di cư vào Nam đã để lại nỗi đau phải chia lìa, dứt bỏ người thân, bạn bè; Sự hụt hẫng đoạn tuyệt quê cũ, vườn xưa; Và những mất mát đáng kể về tài sản cho gia đình ông nội và bố mẹ Nụ. Tuy đau buồn vì phải buông bỏ tất cả ruộng vườn, đất hương hỏa, nhà từ đường để đi nhưng gia đình Nụ còn may mắn vì đem được một phần nhỏ vốn liếng vào Sài Gòn; Và nhờ đó, mà cả gia đình cũng đỡ vất vả khó khăn khi bắt đầu cuộc sống mới. Nhưng những gia đình bất hạnh hơn đã phải chịu nhiều hậu quả thảm thương của việc chia cắt đất nước. Biến cố đau đớn này đã, trong một mức độ nào đó, tàn nhẫn gây ra thảm cảnh vợ chồng kẻ Bắc, người Nam dang dở bẽ bàng; làm xơ xác thêm bao gia đình chỉ sống nương tựa vào hoa mầu thu hoạch trên đất đai của họ, và làm đứt đoạn cuộc đời chân chỉ bình yên của một hay vài người xấu số trong các gia đình từng rất nề nếp, mẫu mực, danh giá trong xã hội.</p>



<p>Một số thân nhân của gia đình Nụ đã cay đắng hứng chịu những tàn hoại phũ phàng của cuộc phân ly trong bi thương thầm lặng. Thoạt đầu, cũng mang tâm trạng của phần đông người di cư, những nạn nhân này rất buồn khổ, hoảng loạn vì phải trải qua quá nhiều tổn thương, mất mát. Nhưng khác với đa số đã mạnh mẽ vượt qua khó khăn để vươn dậy, họ lại triền miên bị mắc cạn trong những vũng sầu, biển đau mênh mông vô tận, không còn khả năng ngoi lên làm lại cuộc đời ở vùng đất phương Nam nhiều khác biệt.</p>



<p>Trong sáu dòng bà con tộc họ gia đinh cùng di cư, đến hai dòng có người bị lâm vào tình cảnh thương tâm như vậy. Vào miền Nam được vài tháng, và đã xuất trại lên vùng định cư được phân đất để làm ăn, thì có vài bác, chỉ vừa vào tuổi trung niên, bỗng bị nghễnh ngãng, nhớ quên thất thường, ăn nói ngây ngô như trẻ con. Tình cảnh này là một bất ngờ chua xót vì tiền sử dòng họ chưa bao giờ có ai bị bất cứ vấn đề gì về tâm trí. Quá đau đớn, gia đình những thân nhân này đã không thể hoàn toàn tập trung gầy dựng việc làm ăn. Họ sợ hãi, mất tinh thần vì ngoài áp lực căng thẳng của cuộc sống mới, họ còn phải chịu đựng những bất an, đau buồn, lo nghĩ về bệnh tình của người thân. Càng ngày gia đình họ càng bị đẩy sâu vào tình cảnh khó khăn, sa sút, khốn đốn hơn. Điều thảm thương, bi đát nhất là gia đình còn cố gắng làm mọi cách để giữ người bệnh ở bên họ. Họ sợ mất mát, sợ chia lìa, và sợ cả tai tiếng, nên đã u mê mất sáng suốt, khư khư giấu diếm người bệnh ở nhà, khước bỏ mọi khuyên nhủ chữa trị hợp lý theo y học. Dần dà, người bệnh càng lúc càng bị nặng hơn, càng đòi hỏi nhiều sự quan tâm; và người thân phải bỏ bê việc làm ăn, lơi là luôn việc chăm sóc hướng dẫn bầy con, em dại cũng trạc tuổi các cô cháu Nụ. Có lẽ, điều an ủi duy nhất cho các gia đình bà con bất hạnh này là mấy người bệnh đều không dữ dằn hay bạo động khi ở trạng thái mất tự chủ, nên công việc chăm sóc, lo liệu cho họ ở nhà cũng phần nào đỡ phức tạp. Tuy nhiên, những biểu cảm ngây dại, hành động vô ý thức thường xuyên của người bệnh đã tạo nhiều đau đớn, sợ hãi, gây những tổn thương tâm lý sâu nặng cho con, em đáng thương của họ.</p>



<p>Nụ nhớ đã rất nhiều lần nghe bà ngoại và bố mẹ ngậm ngùi xót thương nhắc đến tình cảnh của những thân nhân bạc phước này. Hơn nửa kiếp đời ngắn ngủi, họ từng vô cùng cô đơn, u sầu trong cuộc sống héo hắt, câm nín, chịu đựng, đầy mặc cảm vì nỗi đau gia đình có người bị khủng hoảng tâm trí. Họ sống với nỗi đau như hình và bóng, không có đường thoát. Cay đắng, tủi hổ chất chồng đã đẩy họ dần vào tình trạng kiệt quệ tàn hoại, chìm sâu trong khổ đau. Có gia đình còn bị dập vùi thê thảm đến nỗi con cái hư hỏng, nhà mất, nợ nần, bệnh tật; không còn cơ hội trở lại cuộc sống từng phẳng lặng, hạnh phúc, khá giả, có danh phận tử tế, có người đã từng một thời mũ mão cân đai huy hoàng ở ngoài Bắc. Mấy ai hiểu được mức độ hủy hoại thê thảm của bản hiệp định Genève năm 1954 trên bao thân phận mong manh của những người dân tội nghiệp thời đó.</p>



<p>Cuộc sống gia đình Nụ được may mắn bình thản trôi, không phải đương đầu với biến cố lớn lao nào trong suốt những năm Nụ còn được ở Sài Gòn; nhưng cũng có những đổi thay chừng mực, và gia đình đã cùng nhau suôn sẻ vượt qua, thích nghi, hòa nhâp tốt vào cuộc sống cới mở, nhân bản, tự do ở Sài Gòn,Tuy thế, sâu thẳm trong tâm hồn ông, bà, bố, mẹ, các cô, các chú của Nụ, Hà Nội và quê nhà Nam Địnhvẫn luôn còn đó, dù chỉ là các hoài mong vô vọng … Mọi người vẫn&nbsp; nhắc đến Hà Nội, phố cũ, cảnh xưa, láng giềng ngày nào, vẫn da diết những tiếc nhớ, vẫn chăm chỉ gửi đi và mòn mỏi mong chờ những tờ bưu thiếp chỉ từ Bắc vào Nam, hay ngược lại, nhưng luôn phải chu du vòng qua Pháp và vài&nbsp; quốc gia trung gian xa lạ, vì thế trung bình khoảng nửa năm sau ngày gửi mới may mắn đến được tay người nhận. Những giọt nước mắt long lanh, thờ thẫn u buồn. Bao tờ bưu thiếp nhỏ hơn bàn tay người lớn, nhàu nát, cũ kỹ, nhòe chữ, lắm dấu bưu điện chồng chéo; Và nội dung chỉ vài ba dòng dè dặt báo hỷ, báo tang, thăm hỏi qua loa mà Nụ đã đọc cho bà ngoại nghe nhiều đến thuộc lòng cả ngày, tháng được viết từ quê cũ xa xôi. Có lẽ nào mỗi lần nghe Nụ đọc lại các tờ bưu thiếp cũ, bà ngoại đã ngộ ra, hình dung, hay cảm nhận thêm đôi ba chi tiết thầm kín ẩn sâu đằng sau dòng chữ sáo vu vơ câu xã giao thăm hỏi? Chừng như, đắm chìm trong suy tư, dằn vặt, và lặng lẽ tan nát chịu đựng những nỗi đau không có cách giải bầy là tâm trạng bi thảm,chán chường thường xuyên của những người mà Nụ vô cùng yêu thương.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/06/hang-bac.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/06/hang-bac-768x1024.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-63245" width="384" height="512" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/06/hang-bac-225x300.jpg 225w, https://cdn.t-van.net/2023/06/kJKkd4Ti-hang-bac-768x1024.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/06/hang-bac.jpg?strip=all 810w" sizes="(max-width: 384px) 100vw, 384px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Phố Hàng Bạc (Phố Cổ Hà Nội bây giờ) &#8211; Ảnh: TV&amp;BH</em></p>



<p>Dù ngày ngày phải chịu đựng bao khó khăn, mệt mỏi để bươn chải vượt qua mọi phức tạp, lo toan của cuộc sống tất bật ở Sài Gòn, nhưngcứ vào khoảng cuối năm thì những người lớn trong gia đình lại dành nhiều thời giờ buồn bã, ngậm ngùi, nôn nao nhắc về mùa Đông ở phương Bắc. Nhất là vào những ngày sát Tết thì tâm trạng của mọi người càng bồn chồn bất an hay thao thiết đợi mong như chờ một thứ gì đó hay một ai đó, mơ hồ, rất lạ. Cả nhà bầy biện gói bánh chưng, nấu cỗ Tết mà dường như tâm tư ai cũng ngơ ngẩn theo những ngọn gió không tên lang thang tìm không gian mùa đông đã vời vợi xa cách.</p>



<p><em>Chút nắng vàng thu se nhẹ,<br>Chiều nay, cũng bỏ ta rồi.</em></p>



<p><em>Làm sao về được mùa đông?<br>Chiều thu &#8211; cây cầu&#8230; đã gãy.</em></p>



<p><em>Lá vàng chìm bến thời gian,<br>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Đàn cá &#8211; im lìm &#8211; không quẫy.</em></p>



<p>(Trích từ “Không Đề Gửi Mùa Đông” của Thảo Phương) [5]</p>



<p>Có lẽ những lời tâm tình xót xa của nhà thơ đã diễn tả phần nào tâm trạngkhắc khoải, hoài niệm, lạc loài, nhớ quê của những người thân trong gia đình Nụ.</p>



<p><strong>VŨ THỊ NGỌC THƯ</strong></p>



<p>(Tháng 10, 2022)</p>



<p><strong>Chú Thích</strong></p>



<p>[1] Bùi Xuân Phái (01/09/1920 – 24/06/1988) là một họa sĩ nổi tiếng với những bức tranh vẽ về Phố Cổ Hà Nội. Tiểu sử của ông được đăng tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%B9i_Xu%C3%A2n_Ph%C3%A1">https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%B9i_Xu%C3%A2n_Ph%C3%A1</a></p>



<p>[2]Tượng bán thân của cụ bác học danh tiếng Pétrus Trương Vĩnh Ký, đúc vào thập niên 1930, được đặt ở trung tâm sân trường để vinh danh, tưởng nhớ cụ. Vào thời gian trường được dùng làm trại tạm cư cho những người di cư năm 1954, tượng cụ được một số cư dân trong trại tôn kính như một biểu tượng tâm linh.</p>



<p>Một số thông tin về vị học giả tài ba Trương Vĩnh Ký được đăng trên:</p>



<p><a href="http://vanviet.info/nghien-cuu-phe-binh/mot-cng-trnh-c-nghia-ve-truong-vinh-k-tap-ky-yeu-trien-lm-v-hoi-thao-ve-petrus-truong-vinh-k/">http://vanviet.info/nghien-cuu-phe-binh/mot-cng-trnh-c-nghia-ve-truong-vinh-k-tap-ky-yeu-trien-lm-v-hoi-thao-ve-petrus-truong-vinh-k/</a></p>



<p>[3] Bài đồng dao của trẻ em, thường được hát lúc đi rước đèn vào dịp Trung Thu ở các miền quê ngoài Bắc:</p>



<p><em>Ông trẳng, ông trăng</em><em><br>Xuống chơi với tôi,&nbsp;có bầu có bạn<br>Có oản cơm xôi, có nồi cơm nếp<br>Có nệp bánh chưng, có lưng hũ rượu<br>Có chiếu bám đu, thằng cù xí xoại<br>Bắt trai bỏ giỏ, cái đỏ ẵm em<br>Đi xem đánh cá, đem rá vo gạo<br>Có gáo múc nước, có lược chải đầu<br>Có trâu cầy ruộng, có muống thả ao<br>Ông sao trên trời</em></p>



<p>Nguồn:<a href="https://cadao.me/dong-dao/ong-trang-ong-trang-2/">https://cadao.me/dong-dao/ong-trang-ong-trang-2/</a></p>



<p>[4] Làng Báo Đáp thuộc xã Hồng Quan, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định là một làng chuyên làm đèn ngôi sao, đèn kéo quân, các đồ chơi mùa Trung Thu, và hoa bằng lụa nội hóa. Những năm gần đây nghề làm trống bỏi cũng đang mai một dần ở ngôi làng đầu tiên làm những chiếc trống ngộ nghĩnh này.</p>



<p>[5] Bài thơ “Không Đề Gửi Mùa Đông” của cố thi sĩ Thảo Phương hiện hữu trên Internet dưới hai phiên bản khá khác nhau:</p>



<p>Phiên bản thứ nhất:&nbsp;</p>



<p><em>Dường như ai đi ngang cửa,<br>Hay là ngọn gió mải chơi?</em></p>



<p><em>Chút nắng vàng thu se nhẹ,<br>Chiều nay, cũng bỏ ta rồi.</em></p>



<p>.</p>



<p><em>Làm sao về được mùa đông?<br>Chiều thu &#8211; cây cầu.. đã gãy.</em></p>



<p><em>Lá vàng chìm bến thời gian,<br>Đàn cá &#8211; im lìm &#8211; không quẫy.</em></p>



<p><em>.</em></p>



<p><em>Ừ, thôi&#8230; mình ra khép cửa,<br>Vờ như mùa đông đang về!</em></p>



<p>Phiên bản thứ hai, được nhac sĩ Phú Quang phổ thành ca khúc “Nỗi Nhớ Mùa Đông”:</p>



<p><em>Dường như ai đi ngang cửa</em></p>



<p><em>Gió mùa đông bắc se lòng</em></p>



<p><em>Chút lá thu vàng đã rụng</em></p>



<p><em>Chiều nay cũng bỏ ta đi</em></p>



<p><em>.</em></p>



<p><em>Nằm nghe xôn xao tiếng đời</em></p>



<p><em>Mà ngỡ ai đó nói cười</em></p>



<p><em>Bỗng nhớ cánh buồm xưa ấy</em></p>



<p><em>Giờ đây cũng bỏ ta đi</em></p>



<p><em>.</em></p>



<p><em>Làm sao về được mùa đông</em></p>



<p><em>Dòng sông đôi bờ cát trắng</em></p>



<p><em>Làm sao về được mùa đông</em></p>



<p><em>Để nghe chuông chiều xa vắng</em></p>



<p><em>Thôi đành ru lòng mình vậy</em></p>



<p><em>Vờ như mùa đông đã về.</em></p>



<div style="height:500px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>©T.Vấn 2023&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Hoàng Bích Yên: Cát Biển Ngậm Ngùi</title>
		<link>https://t-van.net/hoang-bich-yen-cat-bien-ngam-ngui/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Vương Trùng Dương]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 06 May 2023 11:45:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[ký ức; tùy bút]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=61374</guid>

					<description><![CDATA[“Dã tràng ngoài biển&#8230; cát Hồn mộng vẫn se&#8230; hoài” (Cát Biển &#8211; Lê Trọng Nguyễn &#38; Y Vân) * Tôi ngỡ ngàng và hụt hẫng khi đối diện với ngôi trường nhỏ nằm chơ vơ ven chân đồi, cỏ mọc xác xơ, không một bóng cây vào lúc chiều tà. Gọi là ngôi trường [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<div class="wp-block-image"><figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/05/image001-1.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/05/image001-1-1024x658.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-61375" width="512" height="329" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/05/image001-1-300x193.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/05/image001-1-1024x658.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2023/05/image001-1-768x494.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/05/image001-1.jpg?strip=all 1400w" sizes="(max-width: 512px) 100vw, 512px" /></a></figure></div>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><em>“Dã tràng ngoài biển&#8230; cát</em></p>



<p><em>Hồn mộng vẫn se&#8230; hoài”</em></p>



<p>(Cát Biển &#8211; Lê Trọng Nguyễn &amp; Y Vân)</p>



<p>*</p>



<p>Tôi ngỡ ngàng và hụt hẫng khi đối diện với ngôi trường nhỏ nằm chơ vơ ven chân đồi, cỏ mọc xác xơ, không một bóng cây vào lúc chiều tà. Gọi là ngôi trường nhưng chỉ là ngôi nhà ngói ba gian quá cũ, vách tường loang lổ, lỗ chỗ như tổ ong, trông thật thê thảm!</p>



<p>Sau hai năm ở Trường Sư Phạm Quy Nhơn, tôi được chọn nhiệm sở ở tỉnh Khánh Hòa, nơi chốn từ ngày di cư từ Hà Nội vào Nha Trang. Ty Tiểu Học Khánh Hòa cho biết, giáo viên mới ra trường phải về các vùng quê một thời gian và Sự Vụ Lệnh bổ nhiệm tôi làm Hiệu Trưởng liên trường (năm trường) ở Đông Hải (mũi Hòn Khói nằm tại nơi này), quận Ninh Hòa.</p>



<p>Bán đảo Hòn Khói nằm ở phía Đông của quận Ninh Hoà, cách quận lỵ khoảng 15 km đường bộ, nơi đây ngày xưa là cửa biển quan trọng, triều đình Huế đặt quan trấn phòng ngự, thời Pháp thuộc, người Pháp gọi là Hone-Coché với Sở Thương Chánh Hòn Khói (Douanes et Régies de Hone-Coché) nhưng bấy giờ chỉ có đơn vị của Hải Quân trấn giữ cửa biển nằm ở phía bắc bán đảo… Hòn Khói tọa lạc ở phía bắc dãy núi Phước Hà trên một doi đất có ngọn núi nhỏ không cao lắm nhưng cũng gọi núi Hòn Khói, phía đông có vịnh Yên Cang, thế kỷ 19 đổi thành Vân Phong. Trước khi đến nơi nầy, bố tôi phục vụ trong Ty Cảnh Sát Khánh Hòa có nói sơ qua về địa thế và tình trạng an ninh để tôi biết đôi chút nơi lạ lẫm…</p>



<div class="wp-block-image"><figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/05/image003-1.png?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/05/image003-1-1024x457.png?strip=all" alt="" class="wp-image-61376" width="512" height="229" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/05/image003-1-300x134.png 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/05/image003-1-1024x457.png?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2023/05/image003-1-768x343.png 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/05/image003-1.png?strip=all 1200w" sizes="(max-width: 512px) 100vw, 512px" /></a></figure></div>



<p>Trong năm trường tiểu học, chỉ có trường Phú Thọ, nằm phía nam Hòn Khói, khang trang, có nhiều lớp, nơi đây đông đúc dân cư, còn các trường khác chỉ có vài lớp, đến lớp Năm phải ra học ở Phú Thọ. Đúng ra với cương vị Hiệu Trưởng tôi phải đảm nhận ngôi trường ở Phú Thọ vì mỗi lần họp giáo viên đều quy tụ ở trường nầy nhưng… có lẽ bè phái, ma cũ lão làng ăn hiếp ma mới nên đành cam phận.</p>



<p>Tôi được may mắn ở trọ trong nhà ông bà tốt bụng, có cô Tuyết trạc tuổi em gái tôi, rất tử tế và dễ thương, hai chị em gần gũi bên nhau nên đỡ cô đơn. Ngôi nhà đối diện với trường học, đi bộ khoảng mười phút, tương đối an ninh, nhưng mỗi tối vẫn phập phồng lo sợ, còn các trường khác ở phái trong không được an ninh, nghe cô Tuyết cho biết, ban ngày Quốc Gia, ban đêm “mấy ổng” (VC) ở trên núi mò về. Hai ngày cuối tuần tôi về Nha Trang nên chưa có cơ hội nào đi sâu trong bán đảo.</p>



<p>Ba mặt của bán đảo Hòn Khói là biển, bãi biển cát trắng, đa số người dân làm ruộng muối nghề chài lưới, khi thủy triều xuống, nhiều người cào nghêu, ốc, sò… thời gian ở Nha Trang, mấy đứa em trai “chế biến” món ăn hợp khẩu vị, tôi cũng thích nên ở Hòn Khói có dịp làm thực khách với giá cả rất rẻ so với Nha Trang. Tuy mảnh đất nghèo nàn như vậy nhưng người dân nơi đây cũng tự hào có vài học sinh xuất thân trên mảnh đất nghèo nàn đã chịu khó học thành tài, trở thành bác sĩ, giáo sư, sĩ quan cao cấp trong Quân Đội VNCH… và đã hãnh diện về nơi chốn từ thuở xa xưa.</p>



<p>Sau một năm dạy ở Hòn Khói, tôi được thuyên chuyển về dạy ở Nha Trang, gần Bưu Điện, đầu đường Duy Tân (chạy dọc theo bờ biển) có quán số 1 Gió Khơi. (Nơi đây, trước năm 1975 với bao hình ảnh êm đềm, đẹp đẽ; sau năm 1975 chết lặng trong hồn tôi!).</p>



<p>Với bán đảo Hòn Khói lạ hoắc, khi bước chân đến với nỗi buồn vô vọng, xa lạ, chán chường nhưng không ngờ nơi đó gắn bó với cuộc tình kéo dài theo năm tháng dù trải qua bao biến thiên, thăng trầm của lịch sử.</p>



<p>*</p>



<p>Sắp tan buổi dạy, chàng sĩ quan Chiến Tranh Chính Trị dẫn đơn vị từ Nha Trang ra Hòn Khói gặp tôi để mượn ngôi trường cho buổi sinh hoạt Tâm Lý Chiến Dân Sự Vụ với người dân ở địa phương. Thật không ngờ, chốn đèo heo hút gió nầy lại tình cờ, ngẫu nhiên đến nỗi có sự gặp gỡ mà “duyên số” đưa đẩy… Giây phút gặp gỡ ngắn ngủi đó, anh xin địa chỉ và nói <em>“Xin phép cô giáo, tôi có thể ghé thăm được không?”</em>. Tôi chỉ mỉm cười. Có lẽ “im lặng là vàng”?</p>



<p>Hai ngày cuối tuần ở Nha Trang, anh và tôi cùng nhau bát phố, với những “con đường tình sử” Yersin, Bá Đa Lộc, Hoàng Hoa Thám, Trần Hưng Đạo, rợp bóng cây me cổ thụ, phượng vỹ che hai mái đầu. Con đường Duy Tân nằm dọc theo bờ biển và cũng là nơi với nhiều kỷ niệm. Tôi học Trường Nữ Trung Học Nha Trang đến năm Đệ Nhất chuyển sang ngôi trường cũng gần nhau, trường Trung Học Võ Tánh trên đường Bá Đa Lộc, khuôn viên rộng rãi tiếp giáp với các đường Hoàng Hoa Thám, Đinh Tiên Hoàng, Nguyễn Tri Phương, gần bờ biển.</p>



<p>Cho đến nay, cả hai chúng tôi cũng không hiểu “ông tơ bà nguyệt” lại se duyên giữa anh và tôi hoàn toàn xa lạ từ nơi chốn đến công việc. Anh thích giọng Hà Nội, tôi thích mẫu người dong dỏng cao, điểm nét phong trần của người lính, lịch sự, ít câu nệ trong cuộc sống. Trong những lần trò chuyện, có lẽ giữa anh và tôi có sự đồng điệu với nhau qua những điều chia sẻ.</p>



<p>Sau ngày cưới, anh đưa tôi về Đà Nẵng, gặp lại bạn học ở Quy Nhơn, khi tâm tình với nhau, các bạn ngạc nhiên giữa hai mẫu người, anh lãng tử, đào hoa còn tôi nhút nhát, khép kín, sống trầm lặng… lại tình cờ gặp nhau ở nơi chốn không thể nào ngờ, trở thành vợ chồng. Bạn bè hỏi lý do. Tôi không biết trả lời thế nào nhưng trong lần xem cuốn phim Gone With the Wind theo tác phẩm của bà Margaret Mitchell, ở rạp Tân Tân, Nha Trang, vừa lãng mạn lẫn bi kịch trong thời chiến nhưng cuối cùng tình yêu đã vượt qua khổ đau, có lẽ tôi bị <em>“cuốn theo chiều gió”</em> để rồi hình bóng đó lững thững bước vào đời.</p>



<p>Anh dừng bước giang hồ, hoán chuyển về phục vụ ở quân trường ngày xưa, tôi cũng hoán chuyển về dạy ở Đà Lạt, chỉ trong vài năm, có hai đứa con trai và đang mang thai đứa thứ ba, xét nghiệm là gái.</p>



<p>Ngày vui, hạnh phúc qua mau rồi tháng ngày nghiệt ngã, bi thảm, chia ly sau tháng Tư năm 1975… Cơn đại hồng thủy ập tới, vùi dập không biết bao nhiêu gia đình đã một thời chắt chiu để tạo dựng, đã một thời cùng che chở với nhau!</p>



<p>Anh ở trong lao tù, tôi sống trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, khổ cực với 3 đứa con thơ dại nơi xứ lạnh. Từ cô nữ sinh, cô giáo trói gà không chặt, yếu đuối phải bươn chải, vất vả trăm bề để nuôi con thơ sống qua ngày. Sống nơi xứ lạnh, trong cảnh bơ vơ, không bà con thân thuộc với bao nghịch cảnh trước mắt phải đối diện với thực tế quá phũ phàng! Đôi lúc tôi nghĩ vẩn vơ, nghĩ dại… nếu quỵ xuống, xác thân nầy không còn đã đành nhưng các con thơ sẽ ra sao, đi về đâu? Nằm ngủ bên các con, nước mắt lưng tròng, than vắn thở dài cho cuộc sống quá bất hạnh!</p>



<p>Chuyện chẳng đặng đừng phải “lưu dung” ở trường Nguyễn Du (Trung Học Bồ Đề cũ của chùa Linh Sơn) với cái nghề mạt rệp vào thời điểm đó để may ra con cái nương tựa học hành nhưng thành phần “ngụy quân ngụy quyền” đã nhiều lần bị đe dọa đi kinh tế mới. Tuy sức khỏe yếu kém, buổi tối bị bắt buộc phải dạy bổ túc, nếu không có những lần bị xỉu, phụ huynh phải khiêng về nhà thì có lẽ tôi đã bị đưa vào vùng kinh tế mới.</p>



<p>Muốn về Nha Trang nhưng bố tôi bị tù nên mẹ khuyên cố gắng ở lại, gia đình cũng lâm vào hoàn cảnh khó khăn, bị đưa đi vùng kinh tế mới không biết lúc nào. Và, trong bước đường cùng đó, không có lối thoát nên đành phó mặc cho số phận hẩm hiu! Gia đình các anh chị của chồng ở Pleiku và Hội An cũng lâm vào hoàn cảnh khó khăn như nhau sau ngày mất nước, mẹ già, đường sá xa xôi cách trở nên đành cùng chung số phận.</p>



<p>Ban ngày vừa đi dạy, họp hành rồi ban đêm phải đi dạy bổ túc văn hóa ở ấp Hà Đông, không thể nào chăm sóc 3 đứa con thơ nên đứa em gái mới 14 tuổi đành bỏ học giúp chị lên Đà Lạt trông cháu. Thêm một miệng ăn trong lúc khốn cùng “gạo châu củi quế” chỉ có bobo nấu cháo! Viết thư cho chồng không đươc than khổ nhưng anh cảm nhận và hiểu được hoàn cảnh khó khăn nên viết thư khuyên tôi đừng đi thăm nuôi, chỉ nhờ mấy người bạn gởi vài món cũng tốt rồi!&#8230; Nhưng thỉnh thoảng, tôi cố thu vén, cóp nhặt ít quà đi thăm nuôi để vợ chồng gặp nhau trong thời gian quá ngắn ngủi.</p>



<p>Căn nhà trong khu cư xá của quân trường vừa mới sang lại đã bị dân ở ấp lân cận chiếm dụng nên đành tá túc tạm thời căn nhà ở đầu cư xá đã bị mất cửa, mất nhiều mái tôn, cửa sổ, cửa ra vào bị đập phá để vào hôi của, căn phòng trống rỗng, không điện… thật thê thảm! Mùa Hè ở Đà Lạt tuy không nắng lắm nhưng cảm thấy hừng hực vì không còn plafond! Đêm đêm, giấc ngủ chập chờn, tay ôm con thơ, tay vỗ về con khóc vì thiếu sữa mẹ!</p>



<p>Từ đó, mỗi dịp Tết hay nghỉ hè, tôi đem các con về Nha Trang. Từ ngày di cư vào đây, quê hương thứ hai ở miền thùy dương cát trắng, nên thơ như những lời ca trong nhạc phẩm Nha Trang, Nhớ Nha Trang của Minh Kỳ <em>“Đây là đóa hoa muôn đời còn hương”</em>. Tôi yêu Nha Trang từ bản chất người dân hiền hòa, cởi mở đến khí hậu, vẻ đẹp của thiên nhiên. Và, anh cũng vậy, từ cao nguyên đổi về duyên hải vì từ khi còn đi học, những lần ghé lại nơi nầy đã quyến rũ bước chân phiêu bạt của đời trai.</p>



<p>Ngày đó ca khúc Nha Trang Ngày Về của Phạm Duy được yêu thích với hình ảnh, nỗi niềm <em>“Mình tôi trên bãi khuya… Đêm nay còn trăng soi, nhưng rồi chỉ còn tôi. Trên bãi đêm khóc người tình… Nha Trang ngày về, ngồi đây tôi lắng nghe. Ðê mê lòng tôi khóc, như oan hồn trách móc… Dã tràng ơi! Sao lấp cho vơi sầu này?”.</em> Ngày đó, có lần ngồi với nhau trong quán cà phê 108 trên đường Độc Lập, đây là quán của gia đình người bạn học cùng lớp, vừa lập gia đình với người bạn cùng khóa với anh. Khi nghe ca khúc nầy, tôi nghĩ đến người vợ lính thời chinh chiến, tôi hỏi anh có khi nào người ra đi, kẻ còn lại với hình ảnh nầy không anh? Anh khoát tay và bảo <em>“Đừng bao giờ nghe nữa để bị ám ảnh”.</em></p>



<p>Nhưng tháng ngày qua, Nha Trang đã chết trong tâm hồn tôi như lời ca khúc đó. Nó quyện vào người, quặn thắt!</p>



<p>Tết Kỷ Mùi (1979), đứa em trai đã 19 tuổi cùng các bạn trong đội bóng chuyền tổ chức vượt biên trên chiếc ghe nhỏ ở quán Gió Khơi trên đường Duy Tân. Trước khi đi, Thành chỉ nói riêng với tôi <em>“Em thấy chị và các cháu khổ cực, tội nghiệp quá, nếu được đến bến bờ tự do, người đầu tiên em sẽ lo là chị và các cháu”.</em> Khi Thành đi rồi, không thấy bị bắt nên tôi mới báo tin cho gia đình. Thật đau lòng và ân hận khi nói xấu đứa em ngoan hiền, thật thà trở thành ngổ ngáo, bất trị đã gây gổ với anh em trong gia đình rồi bỏ nhà ra đi để tránh sự truy xét của công an phường, khóm!</p>



<p>Trở lại Đà Lạt, tôi chỉ cầu mong đứa em được Trời, Phật phù hộ cho tai qua nạn khỏi. Sau 6 tháng bặt tin, mùa Hè trở về Nha Trang, nhận hung tin, chiếc ghe ra ngoài khơi, chân vịt bị vướng vào lưới đánh cá, tất cả đã chết, chỉ còn một người sống sót được dân chài cứu được nhưng khủng hoảng tinh thần! Gia đình chọn ngày Thành vượt biên làm ngày giỗ.</p>



<p>Từ đó, mỗi lần về Nha Trang, hai đứa con trai được các cậu dẫn đi tắm biển, tôi không dám ra nơi nầy, kỷ niệm êm đềm ngày xưa tan biến và hình ảnh đứa em vĩnh biệt làm cõi lòng tan nát, quặn đau! Tất cả những kỷ niệm ngày xưa trở thành mồ chôn trong tăm tối.</p>



<p>Sau mười năm, mãi đến năm 1990, trước khi được đi Mỹ theo diện H.O, trở lại Nha Trang thăm gia đình, tôi theo anh ra biển lần cuối cùng. Nỗi đau vẫn còn đó nhưng có anh nên phôi phai vết hằn năm tháng. Sau mười lăm năm, tôi mới cảm nhận chút hương xưa qua thời gian đánh mất, và anh cũng vậy. Chúng tôi lặng lẽ bước đi trên bãi cát. Anh nhắc lại ca khúc Cát Biển của Lê Trọng Nguyễn và Y Vân đã một thời anh yêu thích.</p>



<p>Những lần ngồi trên bãi cát, tôi lẳng lặng ngắm biển xanh và lắng nghe lời hát của anh như ước nguyện:</p>



<p><em>“Bàn chân trên cát&#8230; thủy triều dập vùi</em></p>



<p><em>Xin trời một lối&#8230; riêng có em và tôi”.</em></p>



<p>Kể từ ngày đầu ở Hòn Khói rồi trải qua tháng năm nghiệt ngã, bất hạnh, tưởng chừng <em>“Dã tràng ngoài biển&#8230; cát. Hồn mộng vẫn se&#8230; hoài”</em> với cát biển ngậm ngùi. Kể từ khi chúng tôi gặp nhau, hai thập niên qua, nơi nầy, giây phút hạnh phúc bên nhau, năm tháng chia ly, nhọc nhằn trong tăm tối, trước khi từ giã, anh nói với tôi <em>“Anh đã làm khổ cho em nhiều quá sau khi miền Nam sụp đổ, dù là thời thế không thể cưỡng lại nhưng anh vẫn ân hận. Đời lính thì đành cam phận nghiệt ngã nhưng vợ lính lại cùng chung phận”.</em></p>



<p>Chúng tôi vẫy chào Nha Trang, vẫy chào thời gian hạnh phúc và đau khổ, vẫy chào kỷ niệm êm đềm, vẫy chào quá khứ đau thương… Anh và tôi thả bộ đến nơi đứa em trai&nbsp; vượt biển mất tích năm xưa. Lời đứa em như văng vẳng bên tai, nếu không tựa vào anh, tôi gục ngã trên cát. <em>“Thành ơi! Chị đi rồi, từ biệt nơi nầy. Mãi mãi xa em nghìn trùng!</em> <em>Em bất hạnh vô cùng, mất trên Biển Đông, không một nấm mồ, không có người thân gần gũi bên hài cốt em để an ủi bên nhau!”.</em></p>



<p>Nơi góc quán Gió Khơi ngày trước, thời gian tôi dạy học, thường ra Bưu Điện để gửi thư, nhắn tin với bao kỷ niệm đẹp, mộng mơ với cát biển thế rồi <em>“vật đổi sao dời”,</em> gần mười năm sau (1970-1979), trở thành nơi tưởng niệm đứa em!</p>



<p>Nha Trang ơi! Nếu tôi còn kẹt lại trên mảnh đất thùy dương, cát trắng biển xanh thì không bao giờ là <em>“đóa hoa muôn đời còn hương”</em> mà cô nữ sinh ngày xưa hóa thành cát để rồi cát biển ngậm ngùi.</p>



<p><em>California, May 2023</em></p>



<p><strong>Hoàng Bích Yên</strong></p>



<div style="height:500px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>©T.Vấn 2023</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nguyễn Thiên Nga: NHỮNG CHIẾC LÁ BAY TRONG ĐỜI</title>
		<link>https://t-van.net/nguyen-thien-nga-nhung-chiec-la-bay-trong-doi/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Thiên Nga]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 14 Mar 2022 02:27:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[ký ức; tùy bút]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=54178</guid>

					<description><![CDATA[Chiều mùa đông… Sân trường vắng. Những chiếc lá me tây vừa khép mình ngủ đã vội bị cuốn xoay tròn, rơi nghiêng theo cơn gió lành lạnh vừa ghé ngang. Những chiếc lá còn lại trên cành vẫn xôn xao, nghiêng vành tai ngóng đợi một tin vui dù ngày sắp tắt. Mình bất [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<div class="wp-block-image"><figure class="aligncenter size-medium is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/03/MG_65031.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/03/MG_65031-200x300.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-54179" width="364" height="546" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/03/MG_65031-200x300.jpg?strip=all 200w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/03/MG_65031.jpg?strip=all 667w" sizes="(max-width: 364px) 100vw, 364px" /></a><figcaption><em>Hồn lá úa</em> &#8211; <em>Ảnh: Lưu Na</em></figcaption></figure></div>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p></p>



<p>Chiều mùa đông…</p>



<p>Sân trường vắng.</p>



<p>Những chiếc lá me tây vừa khép mình ngủ đã vội bị cuốn xoay tròn, rơi nghiêng theo cơn gió lành lạnh vừa ghé ngang. Những chiếc lá còn lại trên cành vẫn xôn xao, nghiêng vành tai ngóng đợi một tin vui dù ngày sắp tắt.</p>



<p>Mình bất chợt nghĩ về hồn của lá.</p>



<p>Không biết những chiếc lá mảnh mai vừa bị cuốn bay kia có đau đớn khi chia tay bạn bè?! Dứt khỏi cành khi vẫn còn xanh, có tiếng gọi nào thảng thốt hay xoe tròn mắt lá ngạc nhiên vì sự vô tình của gió?!</p>



<p>Có thể, rất nhiều người không bao giờ để ý đến thân phận những chiếc lá. Nhưng cũng sẽ không ít người thấy bâng khuâng như mình chiều nay khi những chiếc lá mảnh mai rơi bất chợt giữa nắng hoàng hôn quạnh quẽ.</p>



<p>Lá rụng không chờ mùa thu của thi nhân hay của đất trời. Lá rụng không chờ vàng úa. Một ngọn gió ngang qua vô tình ghé môi hôn, chiếc lá xanh vội rời bạn bè để phiêu du vào cuộc chơi trắc trở.</p>



<p>Và cũng chẳng chờ gió, bàn tay ai đã làm lá lìa cành…</p>



<p>Một ngày của tuổi học trò ngây ngô.</p>



<p>Mình hái lá ép vào vở để học bài mau thuộc. Cây Trắc bách diệp bên cạnh nhà thờ chánh tòa đã bị mình len lén ngắt lìa cành vài cánh lá (Hình như ta không biết như vậy cũng là có tội, có bao giờ mình xưng với linh mục là đã hái trộm lá đâu). Nhẹ nhàng, cẩn thận xếp lá vào trang sách; gấp lại và dùng nhiều cuốn khác đè lên. Sau một tuần chờ đợi, hồi hộp mở ra, chiếc lá đã khô đi, thoang thoảng mùi thơm tinh khiết và dịu dàng. Đúng là học bài mau thuộc thật, mình mỉm cười chờ ngày mai hân hoan với điểm mười đỏ chói hay lời khen của cô giáo làm mình phổng mũi. Ôi, tuổi thơ…</p>



<p>Một ngày mùa đông.</p>



<p>Mình cùng lũ bạn cùng xóm chơi trò bán hàng ở đồi thông nhỏ sau nhà. Tụi mình thích nhất là chơi bán đồ trang sức, Những chiếc lá thông hình kim xâu những cánh hoa ngũ sắc thành vòng đeo tay xinh xắn, khéo léo nối vào nhau sẽ trở thành vương miện cài đầu hay dây chuyền hoa rực rỡ. Nhoẻn nụ cười duyên rồi tấm tắc khen lẫn nhau: Sao tụi mình đẹp thế!&nbsp;</p>



<p>Mặt trời mùa đông đi ngủ sớm. Cả bọn lại xúm lại quơ lá thông khô. Ánh lửa bùng lên ấm áp, má đứa nào cũng ửng hồng, đôi môi đỏ tươi ríu rít bao nhiêu chuyện vui đem về từ lớp học hay cả chuyện con mèo nhà mình biết bắt chuột. Chỉ khi nào tiếng gọi của các bà mẹ cất lên, cả bọn mới bịn rịn chia tay nhau và tỏ ý tiếc nuối ngày sao chóng tàn đến vậy?!</p>



<p>Không chờ gió quyến rũ, lá lại được bàn tay các cô cậu học trò mới lớn ngắt vội, ghi tên hai đứa, ép vào trang vở trao nhau cùng lá thư màu mực tím. Tình yêu đầu đời trong veo như giọt sương sớm, lá bỗng trở thành nhân chứng cho tình vừa chớm nụ. Khung trời học đường trở thành thiên đường đầy ắp yêu thương và màu xanh, màu xanh của hy vọng, màu xanh của lá. Rồi một ngày, tình bay xa như lá bay xa. Tình không viên mãn, cũng như cuộc đời của lá. Sẽ có buồn bâng quơ, sẽ có những vần thơ hờn trách. Rồi cũng quên, tình yêu đầu cùng những chiếc lá ép nồng trang vở ngày ta trao nhau trở thành một kỷ niệm đẹp trong đời. Mình vu vơ hát trong chiều lành lạnh…</p>



<p><em>“Chi</em><em>ếc lá rơi không tiếng, hai người yêu hai nơi. Chẳng nghĩ về chiếc lá in dấu môi lên trời…”</em></p>



<p>Rồi lại một ngày, ngẩn ngơ ngắm nhìn những chiếc lá rơi đầy sân vắng, mình thấy mình thật lạ. Mình nghe lá cựa rồi lăn tròn trên cỏ, nghe lá hát, nghe lá khóc…</p>



<p>Đó là ngày trước khi mình rời xa thành phố, về dạy học ở một vùng dân tộc ít người xa xôi. Cả đồi thông lao xao ngập ngừng đưa những bàn tay vẫy. Mình vui vẻ chuẩn bị lên đường như một hướng đạo sinh thực thụ: ba lô, ba ta và lòng hoan ca… Hình như hôm ấy mình đã nghe lá hát.</p>



<p>Đó là ngày sau cơn sốt rét rừng hành hạ, mình thèm lắm một bát canh rau. Học sinh tìm và mang đến cho cô giáo mấy chiếc lá Pép, sản vật hiếm hoi của rừng vào những ngày cuối đông khô lạnh. Các anh chị đồng nghiệp nấu vội vàng với chút muối và bột ngọt, mình nghẹn ngào nuốt cùng những giọt nước mắt. Ngày hôm sau, các em lại đem đến một nắm lá chua và một con cá nhỏ vừa bắt được dưới suối. Và cứ thế, mỗi ngày một loại lá rừng, các em nuôi cô giáo của mình. Mình biết chứ, khó khăn lắm các em mới tìm được lá giữa vùng khô cháy Đam Rông này. Mình chỉ biết cố gắng mau khỏe và tiếp tục dạy cho các em những con chữ quen thuộc, những bài học làm người; kể cho các em nghe về những ánh đèn thành phố mà chúng cứ ngỡ ngàng tưởng như chuyện cổ tích.</p>



<p>Lại một ngày mình chia tay các em trở về thành phố. Lưu luyến tiễn chân cô giáo tới tận chân đỉnh Dốc Trời, những giọt nước mắt ướt đầm từng khuôn mặt đen nhẻm, các em ước cô sẽ quay trở lại vào một ngày nào đó. Mình không dám nói gì, hứa gì vì tự biết sẽ không còn đủ sức để quay lại. Tình yêu, sức khỏe, ước mơ…đã bị quật ngã vì những cơn sốt rét rừng kinh khủng, vì những bữa ăn đói cả rau rừng, vì cả lòng người thiếu cả sự bao dung khi cho rằng mình quá “tiểu thư” – mỉa mai và đắng ngắt như lá rau tàu bay rừng ta từng phải nuốt cùng học sinh của mình.</p>



<p>Hôm ấy, rừng tre cuối chân Dốc Trời ào ào đổ lá. Mình rã rời buông rơi từng bước chân vô hồn trên thảm lá dày, mình trôi niềm đau trên chiếc lá thời gian vô tình quá đỗi…</p>



<p>Vâng, lá đã khóc cùng mình, một cô giáo tuổi hai mươi chỉ quen nghe lá hát chiều phố núi. Lá chia sẻ cùng mình, lá cưu mang mình, lá cho mình hiểu về kiếp nhân sinh ở đời…</p>



<p>Khi chiếc lá vàng lìa cành, nó đã kết thúc một đời lá. Dù gió có cuốn lá rong chơi cuối nẻo vắng, chỉ một thời gian ngắn thôi nó sẽ hoà tan vào đất. Đất lại nuôi dưỡng cây, cành và những lá xanh lại vươn mình lớn dậy. Lá hồi sinh. Sự sống lại bắt đầu.</p>



<p>&nbsp; Con người cũng thế thôi. Một đời người, một đời lá; sinh ra, lớn lên rồi mất đi. Chỉ có tình yêu còn ở lại, chỉ có tình yêu là vĩnh hằng. Vậy tại sao khi còn khoẻ mạnh, còn căng tràn nhựa sống, mình không sống cho thật ý nghĩa, cho thật tươi vui…</p>



<p><br><em>“Cu</em><em>ộc đời đó có bao nhiêu mà hững hờ”</em></p>



<p>Nhạc Sĩ Trịnh Công Sơn đã nói thế. Lá cũng nói với mình như thế. Lá cũng đã tồn tại như thế.</p>



<p>Khi lá còn trẻ, lá cũng đã sống một cách có ích.</p>



<p>Mình nhớ những chiếc bánh phu thê là một trong những lễ vật nhà trai đem đến rước mình về nhà chồng dạo ấy. Lá dừa được xếp thành chiếc hộp vuông xinh xắn, nhiều chiếc hộp xếp cao thành hình tháp trông thật đẹp. Chỉ có người Huế mới khéo tay như vậy. Mình về học miệt mài cách xếp lá bánh phu thê, cho những cặp phu thê để rồi bỗng thấy mình xưa cũ…</p>



<p>Mình nhớ anh trai kể cho nghe về những câu kinh Phật in trên chiếc lá buông khi mình chới với bên vực buồn thăm thẳm. Chỉ vậy thôi, mình lại cặm cụi tìm hiểu cho bằng được về những trang kinh viết trên lá, những trang thư tịch cổ viết trên lá. Để rồi ngạc nhiên đến vô cùng về loài cây buông cho lá để viết này chỉ ra hoa duy nhất một lần trong đời rồi chết.</p>



<p>*</p>



<p>Lại xoay quanh những chiếc lá và cuộc đời vô thường!</p>



<p>Tuổi thơ của mình với những chiếc lá thuộc bài, chiếc lá thông làm kim xâu chuỗi hoa mộng ước…</p>



<p>Tuổi hồng của mình với chiếc lá mộng mơ có tên hai đứa cùng bức thư màu mực tím và đã bay xa vào miền miên viễn</p>



<p>Cả một thời thanh xuân của mình với những chiếc lá rừng thay rau cùng những cơn sốt rét rừng vật vã vẫn còn hoài trong ký ức. Điều ấy nhắc nhớ rằng, sự đủ đầy hôm nay luôn có bóng dáng của ngày hôm qua…</p>



<p>Chút sắc đỏ của lá trạng nguyên giúp cuộc sống sáng bừng một chút. Thoáng kinh cầu in trên lá buông cho mình niềm hy vọng và chợt mơ màng cùng chiếc lá tình yêu không có thực mà vẫn mãi theo tìm – lá Diêu Bông…</p>



<p>*</p>



<p>Lá!<br>Lá của sự hồn nhiên, trong trắng.</p>



<p>Lá của tình yêu đẹp và thánh thiện vô ngần.</p>



<p>Lá của những thử thách trong đời.</p>



<p>Lá của tâm linh, của niềm tin, của cuộc sống.</p>



<p>Vòng xoay của lá, vòng quay cuộc đời.</p>



<p><em>“N</em><em>ếu tôi làm chiếc lá, lá sẽ xanh không bao giờ héo khô…”</em>&nbsp;– Đó phải chăng là ước nguyện!?</p>



<p> <strong><em>Nguyễn Thiên Nga</em></strong></p>



<div style="height:500px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>©T.Vấn 2022</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Khải Triều: Về Quê Mùa Đông</title>
		<link>https://t-van.net/khai-trieu-ve-que-mua-dong/</link>
					<comments>https://t-van.net/khai-trieu-ve-que-mua-dong/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Khải Triều]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 02 Feb 2021 06:08:09 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[ký ức; tùy bút]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=47735</guid>

					<description><![CDATA[Bến cũ con đò &#8211; Tranh: Mai Tâm Tôi về quê vào trung tuần tháng 12 năm 2020. Đây là lần về thứ 20, kể từ lần đầu tiên năm 1980. Lần đó thân phụ tôi còn sống và còn phục vụ Thánh Thể, mặc dù tuổi đã trên 80 và sức khỏe đã sa [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2021/02/ben-cu-con-do.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-47736" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2021/02/ben-cu-con-do-300x225.jpg?strip=all" alt="" width="300" height="225" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2021/02/ben-cu-con-do-300x225.jpg?strip=all 300w, https://cdn.t-van.net/2021/02/ben-cu-con-do-768x576.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2021/02/ben-cu-con-do-1024x768.jpg 1024w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2021/02/ben-cu-con-do.jpg?strip=all 1920w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></a></strong></p>
<p style="text-align: center;"><em>Bến cũ con đò &#8211; Tranh: Mai Tâm</em></p>
<p>Tôi về quê vào trung tuần tháng 12 năm 2020. Đây là lần về thứ 20, kể từ lần đầu tiên năm 1980. Lần đó thân phụ tôi còn sống và còn phục vụ Thánh Thể, mặc dù tuổi đã trên 80 và sức khỏe đã sa sút, các anh chị còn đủ cả. Nhưng bây giờ thì tất cả đã không còn!</p>
<p>Nhưng còn con người làng An Mỹ ! Hơn 200 năm trước đã đón nhận Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô, đặc biệt ngay từ thuở đó người làng An Mỹ đã có một con người nghe theo tiếng gọi huyền nhiệm của Tình Yêu cao cả mà bước theo Đấng Cứu Thế, Đấng một lần duy nhất trong lịch sử nhân loại đã hạ sinh vào một đêm lạnh giá, không phải trong ngôi nhà mình ấm cúng có lò sưởi mà trong một hang đá, nơi trú qua đêm của những mục đồng chăn  đoàn vật sống tại Bê-lem, “thành của Đavít” tại một cánh đồng, ba bề trống trơn, bên ngoài gió ù ù thổi rợn người.</p>
<p><em>“Phần ngươi, hỡi Bê-lem, miền đất Giu-đa,</em></p>
<p><em>ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giu-đa</em></p>
<p><em>vì ngươi là nơi</em></p>
<p><em>vị lãnh tụ chăn dắt Israel dân Ta </em></p>
<p><em>sẽ ra đời”</em>(Mt 2,6)</p>
<p>Con người làng An Mỹ, xóm đạo Kẻ Lường kia, đã trở thành một Linh mục tiên khởi của quê hương tôi. Đó là Thầy cả Phaolô Điều. Nhưng rồi ngài đã bị bắt và chịu tử vì đạo năm 1860. Trong trang báo điện tử của Tổng Giáo phận Hà Nội ngày 09 tháng 09 năm 2016, đăng <em>Danh Sách Các Đấng Tử Vì Đạo Thuộc Tổng Giáo Phận Hà Nội đã được chuyển hồ sơ sang Tòa Thánh. </em>Danh sách có tất cả 385 vị thì linh mục Điều xếp ở hàng thứ 90, theo quê quán. Ngày xử án cha là 25-3-1860, tại Hà Nội.</p>
<p>Làng An Mỹ quê tôi, ngoài vấn đề <em>con người</em> mà linh mục Điều là tiêu biểu tiên khởi, còn có một ngôi nhà thờ toàn bằng loại gỗ quý, lợp ngói cất lên từ năm 1881. Kiến trúc này, cũng tiêu biểu một phần nào cho nền tảng văn hóa cổ truyền của dân tộc Lạc Việt. Do số giáo dân của làng tăng cao, nhà thờ gỗ không đủ chỗ giáo dân tham dự thánh lễ và cầu nguyện, nên một ngôi nhà thờ lớn bằng gạch, đá vững chãi được dựng lên từ năm 1914, hoàn thành năm 1918.Ngày 15 tháng 12 năm 2018 dân làng tôi đã mừng kỷ niệm 100 năm xây dựng nhà thờ này, Hồng y Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, Tổng Giám mục Tổng giáo phận Hà Nội về chủ tế thánh lễ và ngày 24 tháng 2 năm 2019, Tân Tổng Giám mục Hà Nội là Đức cha GiuseVũ Văn Thiên về cử hành nghi thức Cung hiến Nhà thờ và Bàn thờ đá mới, sau đó ngài chủ sự thánh lễ đồng tế với một số các linh mục thuộc Tổng giáo phận Hà Nội. Như vậy, nếu con số 1881 được chạm khắc ở một chỗ nào đó của ngôi nhà được tìm thấy trong lúc phá hủy, là năm ngôi nhà bằng gỗ lợp ngói được cất lên làm nhà thờ, là chính xác, thì khi xây dựng ngôi nhà thờ lớn bằng gạch đá năm 1914, Nhà thờ gỗ trở thành nhà ở của các linh mục được cử về mục vụ giáo hữu, đã là 33 năm. Còn nếu tính tới năm 1954 là năm tôi rời xa nơi đây để vào Sài Gòn, là <strong>73</strong> năm. 73 năm ngôi nhà thở gỗ vẫn còn tốt! Nhưng năm tôi về thăm nhà là 1980 thì ngôi nhà gỗ quý của làng trước kia đã không còn, cả khu nhà xứ cũng hoang tàn, cỏ dại mọc tùm lum, một đống rơm to tướng trên mảnh đất là nhà chúng tôi ở trước kia. Lòng tôi trùng xuống, xót xa. Tôi nghe nói, ngôi nhà gỗ quý đã bị phá hủy trong chiến dịch Cải cách ruộng đất năm 1956. Cây hồng to cao cả 10m cạnh cổng ra vào nhà xứ cũng không còn một dấu tích nào.</p>
<p>Bể dâu trong cõi lòng người hay thế sự đổi thay!?</p>
<p>Tôi không biết ở miền Bắc vào thời kỳ thế sự đổi thay ấy, có giáo xứ nào rơi vào hoàn cảnh như giáo xứ ở quê tôi: những di tích về kiến trúc văn hóa và tôn giáo cổ bị phá hủy hoàn toàn ? Tôi chỉ biết tại Sài Gòn, có một nhà nguyện bằng gỗ quý, trải qua hơn hai thế kỷ, dẫu thời gian đã làm hư hỏng, nhưng còn những <em>con người</em> <strong>biết</strong> nơi đó không phải chỉ thuần là vật chất vô tri, song còn ẩn sâu trong mọi cây cột, cái kèo, đòn tay, mái ngói v.v&#8230;một tinh thần, tiêu biểu cho một nền móng tôn giáo mặc khải, một giá trị nhân văn đã được truyền bá trên khắp địa cầu suốt hai thiên niên kỷ vừa qua. Đó là ngôi nhà nguyện nằm trong khuôn viên Tòa Tổng Giám Mục Sài Gòn – Tp.Hồ Chí Minh, tọa lạc tại 180 Nguyễn Đình Chiểu, Quận 3. Tại đây, khoảng hơn mười năm trước, theo chương trình họp mặt và sinh hoạt định kỳ hàng tháng của Hội những người cao tuổi thuộc Tòa Tổng giám mục Sài Gòn (trực thuộc Hội những người cao tuổi của LHQ), vì là một thành viên, tôi đã tham dự những buổi họp mặt và sinh hoạt này. Trước khi họp mặt và sinh hoạt ở tầng trên, chúng tôi đã có cuộc họp mặt để dự thánh lễ tại nhà nguyện bằng gỗ, lần nào cũng vậy. Sau này, buổi họp mặt và sinh hoạt của hội được chuyển về nhà thờ Tân Định. Lý do có lẽ là linh mục chính xứ Tân Định lúc ấy phụ trách về giáo dân nên ngài cho như thế là phải lẽ. Phần tôi, vì việc riêng, đã không sinh hoạt với hội trước đó một thời gian không lâu.</p>
<p>Về ngôi nhà nguyện bằng gỗ trong Tòa Tổng giám mục Sài Gòn, theo những dòng lịch sử ngắn gọn, thì 12 năm trước khi Nguyễn Ánh lên ngôi (tức vua Gia Long, năm 1802), ông cho cất lên một ngôi nhà bằng tre lợp tranh bên hữu ngạn rạch Thị Nghè, làm nhà trọ cho Giám mục Bá Đa Lộc (1774-1799), dạy học cho Hoàng Tử Cảnh. Năm 1799, Nguyễn Ánh cho làm lại dinh Giám mục bằng gỗ lợp ngói. Sau khi Giám mục Bá Đa Lộc (Pigneau de Behaine) từ trần (1799), ngôi nhà được làm nơi trọ cho linh mục thừa sai Liot từ 1799-1811. Năm 1864, sau Hòa ước Việt-Pháp 5-6-1862, vua Tự Đức giao ngôi nhà gỗ lợp ngói đó cho Giám mục tiên khởi Giáo phận Tây Đàng Trong là Đức cha Dominique Lefèbre (1844-1864) để làm Tòa Giám mục.</p>
<p>Năm 1864 là năm có quyết định xây dựng Thảo cầm viên. Vì thế ngôi nhà gỗ lợp ngói đó được dời về khu đất các thừa sai. Khu đất này, sau năm 1975 là Sở Ngoại vụ Tp. Hồ Chí Minh, ở đường Alexandre de Rhodes, phía bên phải nhìn vào Dinh Thống Nhất, song song với đường Lê Duẩn hiện nay.</p>
<p>Năm 1911, khi xây xong Tòa Giám mục hiện tại, Đức cha Mossard (1899-1920) đã dời ngôi nhà thờ gỗ lợp ngói về chỗ hiện tại làm nhà nguyện Tòa Giám mục.</p>
<p>Sau 212 năm, trong ngôi nhà nguyện cổ đó, lần lượt xuất hiện những chỗ mục nát, dấu hiệu của sự xuống cấp. Khi không còn có thể phục chế hay gia cố nữa, song cần phải làm mới toàn bộ theo kiến trúc cổ kính như xưa. Ban Văn hóa Công giáo của Giáo phận cùng với Ban quản lý Tòa Tổng giáo phận, được giao nghiên cứu và thực hiện công trình lịch sử này.</p>
<p>Tôi về quê lần này vào mùa  đông, tuổi lại cao. Khi máy bay chuẩn bị hạ cánh xuống sân bay Nội Bài, phi hành đoàn trên chuyến bay cho biết, lúc đó là 8:30 và thời tiết bên ngoài là 13°C, tôi biết là mình sẽ lạnh. Áo ấm, áo khoác và khăn len choàng cổ đã mang theo nhưng đều để trong valy hành lý gửi, tôi đi mình không lên máy bay. Như thế thật thanh thoát vì không ràng buộc vào một cái gì.Nhưng sẽ phải chịu rét suốt từ lúc xuống máy bay cho tới khi về đến nhà. Thời gian còn lại, tôi cũng muốn mình là thế này. Khi đó, tôi sẽ được mây trắng đưa về trời, như lời trong bài hát Chúa chăn nuôi tôi.</p>
<p>Khi máy bay dừng hẳn trên đường băng, tôi mở điện thoại di động liên lạc với người cháu sẽ đi đón tôi ngay tại sân bay Nội Bài. Đi đón tôi hôm đó là hai người cháu trai, con của người anh, ông mới mất hơn một năm trước. Vì lần về quê này, cùng đi với tôi là ông thông gia, người Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Ông kém tôi một tuổi. Các cháu tôi thuê một ô tô bảy chỗ ngồi, đi thẳng từ quê lên Nội Bài, quãng đường này dài khoảng trên 70 km. Trên đường về quê, chúng tôi  tới phố Phủ Doãn để đón đứa cháu gái ngoại của tôi, là cháu nội của ông thông gia cùng đi. Cháu này đã ra Hà Nội hai tuần lễ trước với các bạn cùng ngành học tại Đại học Khoa họcXã hội &amp; Nhân văn, để trao đổi việc học tập với các sinh viên cùng ngành tại Hà Nội. Khi mục đích của chuyến đi hoàn tất, các bạn trong đoàn trở về Tp. Hồ Chí Minh thì cháu xin ở lại Hà Nội, thuê kháchsạn ở để chờ chúng tôi ra đón về quê cùng một lúc. Nó đã về quê tôi hơn một lần cùng với gia đình, khi mới 5 tuổi. Lần về đó, chúng tôi đã lên Lạng Sơn thăm Tòa giám mục, dự thánh lễ chiều tại núi Đức Mẹ do Đức Tổng Giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt cử hành và đi Đồng Đăng, thăm một gia đình người cháu bên họ mẹ tôi. Buổi sáng trước khi đi Lạng Sơn, chúng tôi vào một nhà hàng ăn uống, trước mặt là sông Tô Lịch. Nhà hàng này của một người họ Trần, họ bên chồng người chị lớn của tôi.</p>
<p>Ngồi trên ô tô gần hai giờ đồng hồ không thấy lạnh, nhưng về tới nhà, tôi mở cửa xe, bước ra ngoài, mặc trên mình chiếc sơ mi mỏng manh từ ở nhà đi, tôi lạnh run lên. Cái rét ở quê lúc ấy hầu như muốn quật ngã tôi. Tôi chạy vội về phía nhà người chị, gần chỗ chiếc ô tô chở chúng tôi đậu. Bà chị tôi mất đã ba năm trước, nên mỗi lần về sau đó, tôi đều vào trong nhà thắp lên một nén hương nguyện cầu cho chị, rồi mới vào nhà tổ ở xóm trong. Lần này, vừa bước vàotrong sân nhà, tôi như có sức đẩy từ phía sau của chị. Tôi tin như vậy vì chị không muốn tôi chịu rét như thế. Và cũng bởi chị thương yêu tôi rất mực, chỉ sau mẹ tôi thôi, ngay từ lúc chị chưa đi lấy chồng. Tôi bước nhanh vào nhà, thì từ trong buồng, hai chị em gái, là cháu nội của chị tôi, chạy ùa ra, miệng cười tươi như hoa chào tôi, bốn bàn tay mở rộng như muốn ôm lấy toàn thân tôi đang rét run lên. Mặc dù đang trong trạng thái chưa ổn định tinh thần, tôi cũng cảm nhận được một chút hơi ấm từ những bàn tay ấy. Ngay lúc ấy, tôi nhìn lên bàn thờ của anh chị tôi đặt dưới di ảnh song thân chúng tôi. Một cháu vội thắp mấy cây nhang rồi trao cho tôi&#8230;</p>
<p>Ngày hôm sau, tôi dẫn ông thông gia vào tham quan khu vực chung quanh nhà thờ, nhóm giáo lý viên nữ đang tạo một hang đá, gần bờ ao. Rồi tôi đưa ông xuống nghĩa trang, thăm viếng các phần mộ các cụ tổ của dòng họ tôi. Nơi đây đang có mấy cuộc xây mới phần mộ của cả một dòng họ, có chỗ tập hợp được trên 30 ngôi mộ. Trong lúc đang thư thả tìm mộ người thân, thì tôi có cuộc gặp gỡ và trò chuyện ngắn ngủi ngay tại nghĩa trang. Một người anh em còn trẻ trong <em>Gia đình Hy Vọng</em>, gồm các linh mục, nữ tu và chủng sinh, đồng hương của tôi, anh từ Hà Nội về thăm nhà, nghe nói tôi mới về và đang ở nghĩa trang, anh đã chạy xe xuống trao đổi với tôi vài lời, chúc tôi Giáng Sinh sắp tới bình an và sức khỏe. Anh có mấy quả bưởi ngon, là quà Giáng Sinh, biếu tôi, gửi ở nhà chị tôi. Mặc dù tôi đã xa quê hương lâu rồi và cũng chẳng phải là một tu sĩ, nhưng tôi vẫn được coi là một thành viên tinh thần cũng như người anh em của tôi nói ở đây. Cả hai chúng tôi đã có thời ngồi học ở ngôi trường chủng viện, nhưng rồi, một biến cố của thời thế lịch sử hay một thay đổi khẩn thiết về nhận thứcđối với cuộc sống nhân sinh, xem ra đó mới <strong>là</strong> mình thật, mà chúng tôi đành rời xa ngôi trường thân thiết ấy, để bước vào ngôi trường rộng lớn mênh mông. Nơi đây, chiên thì ít mà sói dữ thì nhiều, người chân thật thì như lá mùa thu, còn kẻ gian dối thì bước ra ngõ là gặp, hiểm nguy luôn rình rập. Tuy vậy, chúng tôi tin rằng Đấng đã nhìn xem và dò thấu tâm can chúng tôi ở cái thời xa xôi ấy, cũng vẫn nhìn xem và đồng hành với chúng tôi trong cuộc lữ hành trên đường đời này.Chắc chắn là thế. Bởi vì, trong cõi sâu của lòng mình, chúng tôi vẫn còn nguyên vẹn hình ảnh ngôi trường chủng viện, với những con người trẻ trung, nhiệt thành, lý tưởng&#8230;chúng tôi vẫn duy trì cái <em>Tinh Thần Tu Sĩ Kitô giáo nguyên thủy, </em>nhưng cũng <strong>biết</strong> mình được đặt ở chỗ này, ở nơi này, ở quê hương này và ở thời đại này. Đặc biệt là ở trong gia đình này.</p>
<p><em> </em>Cũng đã gần giờ cơm, người con dâu duy nhất của chị thứ hai tôi, làm cơm mời tôi và ông thông gia. Chúng tôi rời nghĩa trang. Có một gia đình đi ô tô con, chắc là ở xa về đi viếng mộ người thân, cũng rời nghĩa trang lúc ấy. Nhưng toán thợ đang xây mới các phần mộ thì vẫn làm. Chúng tôi vừa đi qua một căn nhà gần đường lớn, thì nghe có tiếng gọi. Tôi quay lại. Người vừa gọi đã bước vào nhà trong, lúc trở ra, trên tay xách mấy quả bưởi, biếu tôi. Chị tự giới thiệu mình là người trong họ bên mẹ tôi. Tôi “À!” một tiếng rồi trao đổi với chị vài lời. Mẹ chị gọi tôi bằng cậu, chị có một em gái (út) là Nữ tu Dòng Mến Thánh Giá, Hà Nội.</p>
<p>Sang ngày thứ ba có mặt ở nhà, tôi dẫn ông thông gia tham quan  con đường 10m, chạy từ phía trên cách làng tôi khoảng 3 km xuống tới dưới, gần đường vào nghĩa trang. Phía ngoài con đường 10m là đồng ruộng, phía trong có hai ngôi trường học. Một là Trường Tiểu học. Hai là Trường Mầm Non. Hai trường học không xa nhau bao nhiêu. Cả hai đều là những ngôi trường vững chắc, 2, 3 tầng.</p>
<p>Khi trở về nhà, con gái tôi đã từ trong Sài Gòn ra, để hai ngày sau đưa chúng tôi về. Nó không an tâm khi để hai ông già và con gái của mình đi máy bay.</p>
<p>Trong lúc ngồi ăn cơm trưa, ông thông gia vui vẻ bảo hai anh em tôi đi tới đâu cũng có người chào hỏi, đứng lại nói chuyện vui vẻ. Đây là một làng đạo, vấn đề đạo đức còn tốt quá. Ông xui tôi đi tới đâu cũng gặp họ hàng, đang đi ở con đường lớn, từ phía sau lưng cũng có người quen dừng xe lại chào. Tôi thích lắm. Lần sau ông ấy về, tôi đi theo nữa, rồi ông nhìn mọi người cười. Các cháu tôi cũng cười. Ông nói tiếp, đây là lần thứ hai tôi và ông xui đi với nhau. Lần trước chúng tôi đi sang Campuchia.</p>
<p>Buổi tối sau giờ cơm, một cháu tôi chở ông thông gia đi vào sân nhà thờ, xem hang đá và đèn, ra tượng đài Đức Mẹ Hồn Xác lên trời ở bờ hồ và chung quanh hồ, lên khu chợ mới v.v&#8230;Ở đâu đèn cũng  được giăng mắc kín, ánh điện sáng lung linh, thỉnh thoảng lại điểm một ngôi sao 5 cánh. Đúng ra thì Giáng sinh năm nay, việc trang trí đèn và làm các hang đá không được rầm rộ như các năm trước, đặc biệt năm 2018, kỷ niệm mừng 100 năm xây dựng nhà thờ lớn. Năm đó tôi cũng về dự lễ. Có lẽ, một tuần trước Giáng Sinh năm nay, xứ đạo quê tôi có sự thuyên chuyển linh mục cũng như ở nhiều xứ khác trong địa phận. Vì thế, việc tổ chức lễ Giáng sinh không khởi sắc lắm. Cha xứ cũ vướng mắc vào tâm trạng bất an, ngài đang chuẩn bị cho việc nhận xứ mới, nên không còn tâm trí để  chỉ đạo việc tổ chức Giáng sinh như các năm trước. Còn cha mới thì có ít ngày chuẩn bị. Tuy nhiên, giáo xứ vẫn có một chương trình văn nghệ trước lễ nửa đêm. Mặc dù vậy, không khí trong mùa Giáng sinh hầu như ẩn giấu một nỗi u hoài, một nỗi phiền muộn trong lòng người. Khi tôi rời gót chân ra đi, tôi cũng mang theo một nỗi băn khoăn, lại không thể bày tỏ.</p>
<p>Về quê hương lần này, tôi nhận ra một nét mới khác trước, nó mang tính cách của một khu phố tại các thành thị. Điều này tôi đã thấy được thực hiện trước hết như một thử nghiệm tại xóm chúng tôi, lúc tôi về khi anh tôi ốm nặng vào tháng 5/2019. Ông đã qua đời sau khi tôi về được khoảng một tuần lễ. Lần đó,những thanh niên trong xóm đã dựng lên một cổng sắt, ngay đầu đường vào các ngõ trong, đặt bên cạnh cổng vào nhà người chị thứ hai của tôi. Phía trên hai trụ sắt là một vòng cung. Trên đó gắn một hàng chữ NGÕ XÓM GIỮA. Đây là xóm bao gồm hầu như tất cả các nhà trong họ nội của tôi. Bây giờ, tôi thấy có gắn thêm một cái bảng kẻ hàng chữ Đường Thanh Niên Tự Quản.</p>
<p>Bây giờ, các <em>xóm</em>, các<em> ngõ</em>, các<em> ngách</em> và <em>hẻm</em> trong làng được mang một con số, như các hẻm tại thành phố Sài Gòn.</p>
<p>Trong một Ngõ có nhiều <em>ngách, </em>nhiều<em> hẻm</em>. Mỗi tên gọi đều có số 1,2,3&#8230;Nhà cũng mang số theo ngách, hẻm.Thí dụ: Ngách 1, nhà số 1, số 2&#8230;Ngách 2, nhà số 1, số 2&#8230;Hẻm 1, nhà số 1, số 2&#8230; Hẻm 2, nhà số 1,2,3&#8230;</p>
<p>Con đường lớn của làng, bây giờ mang tên là ĐƯỜNG AN MỸ. Đường này có nhiều ngõ thì có số của ngõ, như Ngõ 1, Ngõ 2, Ngõ 3 v.v&#8230;Ngõ có tổ: Tổ 1, Tồ 2, Tổ 3&#8230;Số nhà theo ngõ và tổ. Làng tôi còn có chợ, là những ki-ốt hợp lại. Khoảng hơn mười năm trước, chợ này là một cái máng dẫn nước từ xa về cung cấp nước cho nông nghiệp. Khi sáp nhập vào thành phố Hà Nội, một khoảng dài máng này được lấp  bằng những tấm bê tông đặt trên miệng máng,bên dưới vẫn có nước chảy, bên trên cất thành những ki-ốt để lập thành chợ. Hai bên chợ có tên gọi là ĐƯỜNG MÁNG TRÊN (từ ngoài vào làng) / Tổ. Nhà số&#8230;Và ĐƯỜNG MÁNG DƯỚI/ Tổ. Nhà số&#8230; Ở bờ hồ, nơi có Tượng đài Đức Mẹ thì có NGÕ BỜ HỒ, phía trước tượng đài có đường vào nhà thờ, có tên là  NGÕ NHÀ THỜ.</p>
<p>Với con đường 10m chạy ở bên ngoài làng dài khoảng 4 hay 5 km và hai ngôi trường học, một là Tiểu học và một là Mầm non xây dựng cao tầng, tôi không muốn nghĩ về làng quê tôi sẽ còn thay đổi nhiều như thế nào, sau 10 hay 20 năm nữa. Bởi vì có một cái gì chua xót. Làng quê sẽ mất tính chất nông nghiệp, mất đi cái êm ả, thanh bình từ thuở nào!Đó là điều chắc chắn, vì hiện nay sự thay đổi về cách sống, cách ăn mặc đã khác xưa nhiều rồi. Một nhà máy công nghiệp sẽ mọc lên ở một cánh đồng nào đó, và chung quanh sẽ là những ngôi nhà mới?! Ngay bây giờ, nhiều người đã không muốn làm ruộng nữa, chỉ còn người già, các phụ nữ có tuổi. Một công cấy là 400.000đ. Cho người khác làm, cũng không ai muốn làm. Đồng ruộng bây giờ rẻ rúng đến thế sao! Thanh niên, thiếu nữ lên thành làm hoặc ngồi cả ngày trong nhà may màn.</p>
<p>Về quê lần này, tôi không có dự tính trước, một phần vì tuổi đã cao nên cũng ngại ngùng di chuyển. Nhưng không ngờ, về quê lần này, tôi lại có một vài dấu ấn như đã ghi trên đây, để nhớ và suy gẫm cho quãng thời gian xa cách còn lại của đời tôi.</p>
<p><strong>KHẢI TRIỀU</strong></p>
<p>Ngày 31-12-2020</p>
<p>(Sinh nhật thứ 85)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2021</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/khai-trieu-ve-que-mua-dong/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Khải Triều: CHA TÔI</title>
		<link>https://t-van.net/khai-trieu-cha-toi/</link>
					<comments>https://t-van.net/khai-trieu-cha-toi/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Khải Triều]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 Jan 2021 06:21:08 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[ký ức; tùy bút]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=47320</guid>

					<description><![CDATA[Người Về &#8211; Tranh: Thanh Châu Trong bài hồi ký về Mẹ tôi trước đây, tôi có nói đến việc tôi được gọi đi tu, cha mẹ tôi đồng ý hết. Tuy nhiên, về tâm tư thì cha tôi không muốn thế. Có hai lý do mà về sau tôi mới hiểu. Trước hết, gia [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2021/01/NGUOI-VE-1.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-47324" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2021/01/NGUOI-VE-1-300x176.jpg?strip=all" alt="" width="300" height="176" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2021/01/NGUOI-VE-1-300x176.jpg?strip=all 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2021/01/NGUOI-VE-1.jpg?strip=all 632w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><em>Người Về &#8211; Tranh: Thanh Châu</em></p>
<p>Trong bài hồi ký về Mẹ tôi trước đây, tôi có nói đến việc tôi được gọi đi tu, cha mẹ tôi đồng ý hết. Tuy nhiên, về tâm tư thì cha tôi không muốn thế. Có hai lý do mà về sau tôi mới hiểu. Trước hết, gia đình tôi có sáu anh em trai, và hai chị. Trong số sáu anh em trai thì hai anh lớn và đứa em dưới tôi là út đã chết, còn lại ba thì người anh kế trên tôi đã đi tu rồi, tôi coi như là út lại đi nữa thì&#8230;Lý do sau, cha tôi không nói ra, nhưng tôi cũng đã nói đến trong bài Mẹ Tôi. Đó là trong các công việc ngoài làng xã, họ hàng, danh dự của họ hàng&#8230;là một việc lớn đối với cha tôi, người lại thuộc về một dòng họ lớn nhất trong làng, có tài sản và ruộng nương, mặc dù đến đời tôi thì dòng họ đã sa sút nhiều lắm. Lại nữa khi Việt Minh nổi lên và cai trị độc đoán, thì những tục lệ, những sinh hoạt văn hóa cũ trong cộng đồng tại làng xã cũng bị hủy bỏ. Tuy vậy, cha tôi vẫn như có điều uẩn khúc mà không thể nói ra cho gia đình biết. Phải chăng lúc ấy, tôi tuy đã 17,18 tuổi, nếu sống ở quê thì có thể gia đình đã chuẩn bị cưới vợ cho rồi. Nhưng tôi lại đang còn đi học trên thành phố. Có nhiều người trong làng nói với mẹ tôi, “chú ấy đi học ở tỉnh về trông có khác&#8230;”Cuối cùng điều uẩn khúc của cha tôi cũng biểu lộ, là khi một số người trong làng đi Hà Nội để di cư, thì cha tôi lên Hà Nội để mang tôi về. Anh tôi hết sức nài nỉ là mong muốn của mẹ ở nhà từ bấy lâu nay là chỉ mong chú ấy được học hành đến nơi đến chốn, bây giờ chú ấy về quê thì cũng chẳng làm được gì cho làng cho gia đình mình đâu.</p>
<p>-Thầy muốn&#8230;</p>
<p>Cha tôi định nói gì đó song lại thôi và cuối cùng chấp thuận để tôi vào Sài Gòn với anh tôi. Ngày đó tôi rất ít suy nghĩ, nên không hiểu được tâm trạng của cha tôi lúc anh tôi xin người cho tôi đi,“để tiếp tục học như mẹ muốn”.Tuy nhiên, lúc này hồi tưởng về ngày ấy, thì tôi mơ hồ nhớ đến hình ảnh cha tôi lúc bấy giờ. Tôi chỉ có thể nói vài lời rằng, cha tôi hình như tỏ ra suy nghĩ trước khi chấp thuận lời yêu cầu của anh tôi. Ngày tôi về thăm nhà lần đầu, ở lại một tháng, tôi hiểu được uẩn khúc của người và ý định của người về tôi. Vì thế sau những lần trở về và trước lúc ra đi, chung quanh tôi là các cháu, tôi luôn đứng trước di ảnh cha mẹ tôi, cùng các cháu nguyện ít lời kinh. Thinh lặng vài giây, nghĩ đến những khổ lụy mà cha tôi phải chịu, tôi đã không ngăn được nước mắt.</p>
<p><strong>1.Tinh thần nhân bản và những con người tha hóa</strong></p>
<p>Từ bao đời nay, tiếng nói của dòng họ này từ làng đến xã, luôn luôn được lắng nghe và tôn trọng. Cha tôi đã có thời làm việc ở xã. Thời kỳ này, khoảng đầu thế kỷ 20, chữ Hán-Nôm tuy đã suy giảm song vẫn còn sử dụng. <em>Người công giáo tiếp tục viết, in và dùng sách chữ</em> <em>nôm cho đến giữa thế kỷ XX</em> (*). Còn khi tôi sinh ra thì chữ Quốc ngữ đã được truyền bá. Tôi không hiểu sao, cha tôi không có vẻ gì là hy vọng ở người anh còn lại đã có vợ. Sau này về thăm nhà nhiều lần, tôi mới biết là do người vợ của anh tôi, bà là người vợ không biết kiêng nể trong lời ăn tiếng nói với chồng từ trong nhà đến những nơi công cộng. Là người có đạo, nhưng trong thời bao cấp, ruộng nương trước kia thuộc quyền sở hữu của tư nhân thì nay bị tước đoạt, sung vào hợp tác xã nông nghiệp. Trong Hợp tác xã này, có một thư ký là con trai của một liệt sĩ, cậu ta yêu con gái của anh chị tôi, song bị nó cự tuyệt rất quyết liệt, nó trốn nhà, đến ẩn náu trong các nhà của họ hàng. Có một lần bà biết nó đang ở trong một nhà nọ, bà tìm đến. Đang còn ở ngoài ngõ mà tiếng của bà đã lồng lộng, con gái bà nghe được, nó chạy vào chuồng trâu, leo lên trên gác, nằm bẹp trên ấy. Bà mẹ làm mọi cách mà không tìm được con gái để gả cho cậu ta. Hai ông bà không biết rằng ép buộc con gái lấy người nó không yêu, là có lỗi với phép đạo. Cái quyền bính của cha mẹ trong gia đình ngày ấy còn rất nặng nề, tuy rằng làng đạo tôi đã có một lịch sử đón nhận Tin Mừng của Chúa Giêsu hơn 200 năm, làng tôi lại còn có một bản Hương ước cổ (viết bằng chữ Nôm) do các cụ trong làng soạn vào ngày 21 tháng 6 năm niên hiệu Duy Tân thứ 4 (1910), triều Nguyễn, vẫn còn lưu lại tại Thư viện Khoa Học Xã hội ở Hà Nội dưới ký hiệu H.Ư. 548, theo bản danh mục trong cuốn “Hương ước cổ Hà Tây” do Bảo tàng Tổng hợp Sở Văn hóa Thông tin Thể thao Hà Tây xuất bản năm 1993 ghi lại.</p>
<p><em>Về mặt đạo: Có dụ ngôn về người gieo giống</em>(x.Mt 13, 3-9)</p>
<p>Lòng con người được ví như những mảnh đất, trên đó Thiên Chúa gieo xuống những <em>hạt giống. </em>Đó là Lời, là Tin Mừng của Chúa Giêsu. Nhưng có đất bên <em>vệ đường</em>, đất có <em>sỏi đá</em>, đất trong <em>bụi gai</em>, và <em>đất tốt.</em></p>
<p><strong>Đất ở vệ đường, đất có sỏi đá, đất trong bụi gai, đất tốt</strong> là bốn loại người mà Thiên Chúa đã đối xử với họ một cách rất công bằng, nghĩa là Người đã gieo xuống Lời Chân lý. Nhưng, “có những hạt  rơi xuống vệ đường, chim chóc đến ăn mất. Có những hạt rơi trên sỏi đá, chỗ đất không có nhiều; nó mọc ngay, vì đất không sâu; nhưng khi nắng lên, nó liền bị cháy, và vì thiếu rễ nên bị chết khô. Có những hạt rơi vào bụi gai, gai mọc lên làm nó chết nghẹt. Có những hạt lại rơi nhằm đất tốt, nên sinh hoa kết quả: hạt được gấp trăm, hạt được sáu chục, hạt được ba chục&#8230;” (Mt 13, 3-9)</p>
<p>Chúa Giêsu đã giải nghĩa dụ ngôn này cho các môn đệ: “Hễ ai nghe lời rao giảng Nước Trời mà không hiểu thì quỷ dữ đến cướp đi điều đã gieo trong lòng người ấy: đó là kẻ đã được gieo bên vệ đường. Còn kẻ được gieo trên nơi sỏi đá, đó là kẻ nghe Lời và liền vui vẻ đón nhận. Nhưng nó không đâm rễ mà là kẻ nhất thời: khi gặp gian nan hay bị ngược đãi vì Lời, nó vấp ngã ngay. Còn kẻ được gieo vào bụi gai, đó là kẻ nghe Lời, nhưng nỗi lo lắng sự đời, và bả vinh hoa phú quý bóp nghẹt, khiến Lời không sinh hoa kết quả gì. Còn kẻ được gieo trên đất tốt, đó là kẻ nghe Lời và hiểu, thì tất nhiên sinh hoa kết quả và làm ra, kẻ được gấp trăm, kẻ được sáu chục, kẻ được ba chục.” (Mt 13, 19-23)</p>
<p><em>Về mặt văn hóa làng:</em></p>
<p>Nói đến hương ước hay quy ước là nói đến cơ cấu tổ chức việc hành chánh tại nông thôn Việt Nam, được nhiều nhà nghiên cứu cho rằng “dân Việt có nền “dân chủ xã thôn tự trị” lâu đời, từ nhiều nghìn năm trước, truyền lại cho tới đầu thế kỷ hai mươi còn tồn tại, chính xác là cho tới kháng chiến chống Pháp năm 1945. Việt Minh cầm quyền đã hủy bỏ hết nếp sống văn hóa cũ.</p>
<p>Bản Hương ước cổ của làng tôi có 28 điều, ở đây tôi chỉ nói tới 2 điều, là điều thứ 3 của mục “<em>Phong tục</em>”, nói đến việc lấy vợ lấy chồng, và điều cuối cùng là số 28 ở mục “<em>Các mục khác</em>” nói đến việc ly dị. Hai điều này đã nói lên cái tinh thần gọi được là rất mới trong một xã hội cổ.</p>
<p>Điều 3 Mục “<em>Phong tục</em>” chép:</p>
<ol start="3">
<li><em> Phàm là trai gái lấy vợ gả chồng thì không phân biệt giàu nghèo, cần đôi bên thuận tình sẽ làm thủ tục kết hôn, biện trầu cau đẹp mời đủ cho thôn mà thôi. Nếu như có làm cỗ rước dâu thì tùy tâm, có người không có lời báo thì cũng không trách cứ, ấy là lệ.</em></li>
</ol>
<p>5 chữ “<em>không phân biệt giàu nghèo</em>” đã phản ảnh tinh thần Tin Mừng của Chúa Giêsu, một tinh thần “cách mạng”, nó phá đổ ý tưởng “môn đăng hộ đối” hiện vẫn còn trong suy nghĩ của nhiều người.</p>
<p>Vấn đề vợ chồng ly dị trong Hương ước cổ của làng tôi cũng là một điều hết sức lạ lùng. Ở đây, cha mẹ, con cái của hai người cùng được quan tâm.</p>
<p>Điều 28 Mục  “<em>Các mục khác</em>” chép:</p>
<ol start="28">
<li><em> Trong thôn nếu có nhà nào ly dị thì kỳ dịch phải xét xem cả hai bên xem cha mẹ, con cái có thuận hết cả không rồi ghi vào sổ. Nếu không thuận phải trình báo đầy đủ, phí tổn cứ y theo đó mà chịu, ấy là lệ.</em></li>
</ol>
<p>Tôi không biết trong các vụ tòa án xử ly dị tại Việt Nam từ trước đến nay, 4 chữ “<em>cha mẹ, con cái</em>” có bao giờ được nói đến không, coi các thành phần này là một điều kiện quan trọng để tòa tuyên bố “thuận” hay “không thuận” cho vợ chồng ly dị.</p>
<p>Tôi đưa vấn đề Tin Mừng của Chúa Giêsu và hai điều khoản trong bản Hương ước cổ của làng tôi đã có từ trăm năm nay vào đây (xin nói thêm rằng theo bản hương ước này, thì làng tôi đã có bản cũ hơn nhưng hiện đã thất truyền) là để nói đến phạm trù về con người. Con người trong dụ ngôn <em>người gieo giống</em> trên đây, được ví như những mảnh đất. Những giá trị văn hóa và tinh thần Tin Mừng đã gieo vào thế gian này hơn 2000 năm rồi, thế mà nhân loại vẫn chưa có thời kỳ nào trong lịch sử có được một cuộc sống thái bình. Con người vẫn tiếp tục chém giết nhau, reo rắc thù hận. Nói riêng về quê hương tôi, nơi cũng đã đón nhận những giá trị văn hóa và tinh thần Tin Mừng từ bao đời, mà cho đến những thế hệ sau này, khi bước vào thời kỳ bao cấp, người nhà nông làm công chấm điểm, thì “<em>cỏ lùng</em>”, là hận thù, đấu tranh giai cấp, tôn giáo là thuốc phiện v.v&#8230; được khí hậu nhân tạo mặc sức vẫy vùng, mọc lên khắp mọi dẻo đất, phá hoại “<em>lúa tốt</em>”, là tinh thần nhân bản, yêu thương, đoàn kết, tương trợ nhau v.v&#8230; Tôi muốn nói đến trường hợp bà vợ anh tôi. Tuy rằng  ở cái thời bao cấp, quyền thu quyền phát nằm trong tay ông chủ Hợp tác xã đồng thời nền móng gia đình theo truyền thống đã bị bứng đi, nhưng với bà, cái quyền cha mẹ đặt đâu con cái ngồi đấy, phải được thực hiện bằng bất cứ giá nào, kể cả lỗi phép đạo, dùng bùa ngải để bắt con gái mình lấy cậu thanh niên con của liệt sĩ, cậu đang giữ chân thư ký của hợp tác xã, có quyền, có thế và tiền bạc, tha hồ ăn sung mặc sướng, hơn bao nhiêu đứa khác ở cái làng này. Làm như thế là bà đã lấy bùn đất trét vào mặt thân phụ chúng tôi, lúc đó người đang là một quản giáo, phụ trách Thánh Thể và rửa tội trẻ em. Những công việc này người đã đảm nhiệm hàng chục năm trong một hoàn cảnh không có linh mục, người trở thành một đối tượng bị theo dõi, làm khó v.v&#8230; Trước sự hung hãn của người con dâu, và trong tình cảnh gian nan như thế, cha tôi nhẫn nhịn tới cái mức phải đến nhà người con gái ẩn thân nhiều ngày. Còn về anh tôi,  nếu bỏ qua đi chuyện ép duyên con gái, bắt nó lấy người nó không yêu, thì như có người nói với tôi: “Ông ấy, “được đạo mà không được đời!” Vậy anh tôi đã xử sự ra sao trong chuyện này?</p>
<p>Một lần tôi về thăm nhà, nghe chuyện về đứa cháu gái, lúc ngồi ăn cơm với gia đình anh chị tôi, tôi nói với ông anh:</p>
<p>-“Anh bắt con bé lấy cậu đó là sai. Hiện chúng nó có hạnh phúc không? Chồng nó một mình chống lại cả một tập thể tham nhũng. Cuối cùng là phải bỏ làng mà đi.</p>
<p>-“Ai biết đâu. Tưởng rằng lấy được nó thì sung sướng”.</p>
<p>-“Năm đầu tiên em về thăm nhà, thầy còn sống. Buổi sáng sớm em đi nhà thờ với thầy, lúc đi ngang kho lẫm của hợp tác xã, đối diện với nhà chị Nhường, em đọc thấy trên tường, những chữ: “đả đảo những tên cán bộ hút máu mủ của chúng tao”. Sung sướng thì có lẽ là có. Nhưng anh không thấy sự sung sướng ấy bị người khác bảo là hút máu mủ của họ sao?”</p>
<p>-“Chú ấy trách ông đấy”, bà vợ anh tôi nói.</p>
<ol start="2">
<li><strong> Cha tôi nhận nhiệm vụ</strong></li>
</ol>
<p>Cùng lúc tôi vào Nhà chung của giáo xứ thì cha tôi cũng được cha xứ chọn làm quản giáo, phụ trách dạy kinh bổn cho trẻ em trong làng. Cứ tối đến là các trẻ tập trung đầy sân nhà  để nghe cha tôi dạy cho. Mẹ tôi rất mừng, nói với tôi rằng, bố con không được sốt sắng lắm, thế mà cha xứ lại chọn làm quản giáo, mẹ mừng lắm.</p>
<p>Theo tài liệu của giáo xứ quê tôi ghi lại, cha tôi có chân trong Ban hành giáo  của giáo xứ  ngay từ giai đoạn đầu, <em>từ 1951 trở về trước.</em>Năm1953, cha xứ Đỗ Đức Hanh đi Hà Nội chữa bệnh và do thời thế, ngài không trở về giáo xứ nữa. Từ đó, cha tôi được Tòa Giám mục Hà Nội giao cho công tác cao quý nhất đối với những giáo dân không có chức thánh [như Phó tế, Linh mục]. Đó là <em>Phụ trách ThánhThể</em> và <em>Rửa tội trẻ em</em>. Còn công tác <em>Quản giáo</em> thì cha xứ giao cho người trước đó. Ở giáo xứ nào có linh mục thì hai công tác <em>Phụ trách Thánh Thể</em> và <em>Rửa tội trẻ em,</em> thuộc quyền linh mục, giáo dân chỉ được cho tín hữu rước lễ trong các thánh lễ tại nhà thờ hay tại các đền và tại gia đình khi có bệnh nhân không thể đến nhà thờ được.</p>
<p>Như vậy là cha tôi nhận nhiệm vụ <em>Phụ trách Thánh Thể</em> và <em>Rửa tội trẻ em</em> từ năm 1953 khi giáo xứ không có linh mục cho tới năm 1984, là năm người qua đời, tổng cộng 31 năm. Tôi xin được nói về công việc của cha tôi, vì đây không phải là trường hợp riêng biệt mà là chung đối với những giáo dân hoạt động tôn giáo tại những giáo xứ nào không có linh mục thuộc giáo hội Công giáo tại miền Bắc sau khi Cộng sản Hà Nội kiểm soát, cai trị lãnh thổ này, có nơi từ năm 1953, trước biến cố chia cắt Nam-Bắc năm 1954, và những năm sau đó cho mãi đến năm 1975. Nhiều người trong số này đã bị bắt và bị cầm tù nhiều năm. Trong trại giam, các linh mục, tu sĩ và giáo dân đã rất dũng cảm, kiên vững về đức tin và thực hiện lòng bác ái với các tù nhân khác. Một nhà thơ cùng chung số phận với họ, đã trải qua những ngày tháng trong lao tù với những người này, khiến ông tìm đến với Thiên Chúa. Nhà thơ này là Nguyễn Chí Thiện, (1939-2012), tác giả tập thơ Hoa Địa Ngục. Ông đã ngồi tù cộng sản 27 năm, chỉ vì ông đã làm thơ để chống Cộng sản. Nguyễn Chí Thiện đã gặp cha Nguyễn Văn Vinh tại nhà tù Cổng Trời ở Hà Giang, mến mộ ngài, làm chứng về ngài khi ông được trả tự do, năm 1991 rồi đi Hoa Kỳ, 1995. Nguyễn Chí Thiện trở lại Công giáo, lãnh nhận bí tích rửa tội do cha Cao Phương Kỷ.</p>
<p>Năm 1980, vào dịp Mùa Chay, tháng 3, tôi về thăm nhà lần đầu tiên, sau 26 năm. Lần trở về này, tôi đi bằng xe lửa. Lúc tàu đi qua Ngã Ba Nguộn, từ đây đi Hà Nội còn 30 cây số nữa, thì trời đã xâm xẩm tối. Từ trên tàu tôi đã nhìn thấy chị tôi đang đứng cùng với đứa con gái lớn của chị mà tôi đã được xem hình gửi cho tôi từ trước. Tôi ngoái đầu ra gọi tên chị mấy lần nhưng hình như chị không nghe do tiếng máy tàu kêu xình xịch. Khi tàu đi qua Ngã Ba Nguộn, con tàu đã giảm tốc độ, trước khi nó vào ga Tía. Tôi nghe nói, giờ này tàu không dừng ở Tía, nó sẽ chậy chậm lại thôi, đủ tốc độ cho khách có thể nhảy tàu. Lúc con tàu vào đến trước cửa sân ga, tôi nhìn thấy bảng chữ Ga Tía, lập tức tôi nhảy xuống kèm theo một gói hàng khá cồng kềnh.Thật ra, tôi đã báo tin về nhà từ trước, là xuống ga Hàng Cỏ. Nhưng vì nhìn thấy chị và cháu mình đứng ở Ngã Ba Nguộn đón chờ mình, nên tôi quyết định nhảy tàu tại ga Tía. Đứa cháu đi Hà Nội đón tôi mãi đến khuya mới trở về nhà, sau khi mọi hành khách trên chuyến tàu đó đã rời khỏi sân ga mà không thấy tôi. Nghĩ rằng tôi đã thất hứa với gia đình, kể cả bố già. May cho tôi, khi con tàu vừa rời khỏi sân ga, từ đâu có một chiếc xe xích lô, duy nhất lúc ấy, chạy ngay đến chỗ tôi đứng. Tôi lên xe này ngay, nói với tài xế cho tôi về Ngã Ba Nguộn, cách ga Tía hơn một cây số. Gần tới nơi, tôi nhìn sang chỗ chị tôi và đứa cháu đứng lúc nãy, thì hai mẹ con vẫn còn đứng đấy, đang nhìn lên phía trên. Có lẽ chị hy vọng tàu sẽ dừng lại ở ga Tía, và nếu tôi có về thì tôi sẽ xuống tàu tại đó. Chỉ có nghĩ thế, nên hai mẹ con chị mới can đảm đứng đợi tôi trong lúc trời đã tối. Mà kể cũng lạ, tôi đã báo tin về là ngày đó tôi về, ngồi ở toa tàu số&#8230;Cậu con trai người chị lớn, đã đi Hà Nội đón tôi, nên cả nhà chắc phải biết điều này. Vậy mà người chị thứ hai (tên là Nhường) còn ra Ngã Ba Nguộn với con gái lớn đón tôi nữa. Thật mong manh quá. Điều này cho tôi biết chị nhớ tôi như thế nào. Sau khi trả tiền xe, tôi nhìn sang chỗ chị tôi đứng, gọi tên chị hai ba lần chị mới nghe, rồi cầm tay con gái chạy sang chỗ tôi đứng. Chị không nhận ra tôi sau gần 30 năm xa cách, nên hỏi: “<em>Ông hỏi ai?”</em> Tôi nói: “<em>Em là Tùy đây mà !”</em>Vừa nghe tên tôi, chị đã ôm chầm lấy tôi, nước mắt trào ra. Rồi vừa đi vừa kể lể niềm nhớ thương, đứa cháu gái thì xách gói quà. Ngày đó thân phụ chúng tôi còn, nên lúc về tới làng, đi qua nhà chị mà không dám vào. Chị nói: “<em>Phải vào nhà tổ trước, chào thầy đã. Chắc giờ này thầy cũng đang mong em lắm”.</em> Cô cháu gái cùng đi  đón tôi với mẹ đã chạy vào nhà tổ báo tin tôi về, nên lúc chị em tôi bước vào cổng nhà, tôi đã thấy cha tôi đang lần bước ra ngoài hiên, tay vịn cột. Tôi vuột khỏi tay chị tôi, chạy ngay lại với bố, ôm choàng lấy người, không thốt được một lời nào. Nhưng khi tôi ôm lấy người, tôi cảm nhận được cha tôi đang chuyền sang tôi sức sống cuối đời của người. Toàn thân người rung lên, tôi dìu người vào nhà mà cha tôi bước đi không vững. Phải chăng cha tôi xúc động quá mãnh liệt, giây phút đầu gặp lại tôi, đứa con trai út, đã tích tụ thương nhớ và mong chờ gần 30 năm trời trong phiền muộn và gian nan.</p>
<p>Mấy ngày sau, vào một buổi sáng, tôi đang ngồi nói chuyện với cha tôi, thì một người đàn ông ở độ tuổi trung niên từ ngoài sân bước thẳng vào nhà cách rất nhanh nhẹn, đứng trước mặt cha con tôi, nói vài câu ngắn gọn, không thừa một chữ, kể cả một lời chào thông thường khi bước vào nhà có mặt một cụ già hơn 80 tuổi:</p>
<p>“Chú Tùy cần gì chúng tôi giúp đỡ”.</p>
<p>Không đợi một giây để xem cha con tôi có nói gì hay không, hắn quay lưng bước ra ngay như khi vào nhà, không một lời chào.</p>
<p>Khi người đàn ông đi khỏi, cha tôi nói:</p>
<p>-“Tôi ghét những người này lắm. Họ làm khó khăn cho tôi.”</p>
<p>Sau hôm người đàn ông đến nhà, có cháu tôi nói rằng, có người bảo chú ra xã đăng ký, nhưng cháu đã trả lời, chú tôi không phải đi đâu hết, ai muốn nói gì, làm gì chú tôi thì cứ việc đến nhà, chú tôi không làm việc phạm pháp. Nhà ấy là nhà chú tôi đã sinh ra tại đấy, nó là nhà của chú tôi.</p>
<p>Tôi ở nhà đúng một tháng, các chị và cháu tôi đã kể rằng ông chịu khó lắm. Khi ở Chuôn chưa có cha (Chuôn cách làng tôi khoảng từ 3 đến 4 cây số), cụ đi bộ lên Bằng Sở, xuống Hoàng Nguyên, cách xa hàng mấy chục cây số, là những nơi có linh mục để lấy Mình Thánh Chúa, thay thế Mình Thánh Chúa cũ ở nhà thờ làng mình; đôi trai gái nào lấy nhau, muốn có phép hôn phối thì phải có chữ ký của cụ, mang giấy chứng của cụ đến nơi nào có cha thì cha xứ đó mới chấp thuận làm nghi thức hôn phối cho. Nhưng từ khi Chuôn Trung có cha Oánh về, “ngài bị quản chế với kỷ luật nghiêm ngặt : không được đi ra khỏi thôn. Không được nói chuyện với bất cứ người nào trong thôn. Khách muốn đến thăm phải có phép của công an. Không được làm lễ trước mặt giáo dân. (x. <em>Chân dung Linh mục Việt Nam, Trang Thông tin </em>Điện<em> tử Hội đồng Giám mục Việt Nam, Năm Linh Mục, 19.6.2009 – 11.6.2010, </em>trang 208). Linh mục Nguyễn Ngọc Oánh bị quản chế tại Chuôn Trung, từ năm 1965 đến năm 1985.</p>
<p>Nhưng ngày nào cha Oánh cũng làm lễ từ lúc 2giờ sáng. Còn cụ nhà mình thì thôi không phải đi xa nữa để lấy Mình Thánh Chúa. Cụ cứ xuống Chuôn để gặp cha Oánh và lấy Mình Thánh. Cán bộ đến nhà, bắt cụ không được xuống Chuôn, cụ phải đi Hà Nội, cụ bảo tôi già rồi không đi xa được. Họ nói, chúng tôi đưa tiền cho cụ đi xe, cụ trả lời tôi không cần tiền của các ông. Thế là họ bắt cụ lên xã, mấy ngày đêm gì đó.</p>
<p>Tôi về nhà vào Mùa Chay, cha tôi còn phục vụ Thánh Thể. Chiều Thứ Năm Tuần Thánh năm đó, trong chiếc áo Các phép, cha tôi mở cửa Nhà Tạm để giáo dân chầu Thánh Thể. Lúc người bước lên bàn thờ mở cửa Nhà Tạm cũng như lúc người bước xuống, quỳ gối trước Thánh Thể, tôi quỳ ở dưới mà hồi hộp quá chừng, vì lo sợ người ngã, nên có lúc tôi nhấp nhỏm muốn chạy lên đỡ người. Tôi hiểu rằng người sắp ra đi rồi.</p>
<p>Vào một chiều Chúa nhật, tôi vào nhà thờ tham dự giờ kinh với dân làng, chị tôi thấy thân phụ chúng tôi đi ra ngoài nhà thờ, không hiểu làm gì, chị đi ra hỏi người, thì người nói, “<em>tìm chú ấy, đi đâu mà không vào nhà thờ?” </em> Chị tôi nói tôi quỳ ở dưới, người “<em>thế a</em>”, rồi quay vào.</p>
<p>Một lần, tôi đang ngồi nói chuyện với cha tôi thì người chỉ tay lên ảnh thánh Giuse trên bàn thờ. Người nói, thầy đã cầu nguyện với Ngài cho thầy được gặp hai anh em con rồi hãy đưa thầy đi. Bây giờ chỉ còn anh con&#8230;Nói đến đó cha tôi dừng lại, hình như còn muốn nói điều gì. Năm đó, cha tôi đã 83 tuổi, anh tôi còn đang trong trại giam giữ những quân dân chính của chính quyền miền Nam sau ngày 30.4.1975. Năm 1982 anh tôi được tha về và năm 1983, anh dẫn vợ, (người Xâm Bồ, Kiến An, Hải Phòng) trở về thăm nhà. Lúc này nghe nói thân phụ chúng tôi đã yếu lắm, có lúc chẳng còn nhận ra được anh tôi nữa. Tuy nhiên, nghe nói đến tên anh thì người nhớ được.</p>
<p>Sau đó cha tôi cầu nguyện với thánh Giuse: “<em>Xin để con đi</em>”. Và người được nhậm lời.</p>
<p>Năm 1984, cha tôi qua đời.</p>
<p>Từ năm về thăm nhà lần đầu tiên, 1980 và lần sau này, năm 2019, tôi đã về tất cả 19 lần. Lần nào cũng thế, trước lúc giã từ người thân, tôi đều đứng trước di ảnh cha mẹ tôi để từ biệt các ngài, không lần nào mà tôi không khóc. Lần vừa rồi, trước khi ra đi, tôi đã cúi đầu hôn mảnh đất tôi đang đứng, con gái tôi cùng về và nó cũng quỳ xuông hôn, vì nơi đây, tôi đã sinh ra và tôi sẽ phải vĩnh biệt nó, có lẽ đây là lần cuối. Nước mắt tôi trào ra rơi xuống nền nhà này.</p>
<p>&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;</p>
<p>(*) Gs Trần Văn Toàn trong bài: “Chữ quốc ngữ và chữ nôm. Tự vị Taberd và di sản văn hóa Việt Nam”, ngày 03.06.2004.</p>
<p><strong>KHẢI TRIỀU</strong></p>
<p>(15.8.2020)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2021</p>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/khai-trieu-cha-toi/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Khải Triều: Ng&#224;y Xu&#226;n uống rượu với Nguyễn Văn Xưởng &#8211; Nhớ về Trường Trung Học Trần Lục S&#224;i G&#242;n</title>
		<link>https://t-van.net/khai-trieu-ngy-xun-uong-ruou-voi-nguyen-van-xuong-nho-ve-truong-trung-hoc-tran-luc-si-gn/</link>
					<comments>https://t-van.net/khai-trieu-ngy-xun-uong-ruou-voi-nguyen-van-xuong-nho-ve-truong-trung-hoc-tran-luc-si-gn/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Khải Triều]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 23 Mar 2019 11:49:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[khải triều]]></category>
		<category><![CDATA[ký ức; tùy bút]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=38871</guid>

					<description><![CDATA[(Tùy bút) Trước Tết Kỷ Dậu, Ngô Văn Được từ Mỹ về nước để trốn lạnh. Hai vợ chồng anh chỉ mới sang Mỹ ở được 7 tháng, con gái đầu lòng bảo lãnh bố mẹ. Cô làm việc tại Valley Silicon trong vị trí một kỹ sư giỏi. Sáng ngày Mồng 4 Tết (8-2-2019), [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/03/clip_image002.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="margin: 0px auto; float: none; display: block; background-image: none;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/03/clip_image002_thumb.jpg?strip=all&fit=190%2C291" alt="clip_image002" width="190" height="291" border="0" hspace="12" /></a></p>
<p><em>(Tùy bút)</em></p>
<p>Trước Tết Kỷ Dậu, Ngô Văn Được từ Mỹ về nước để trốn lạnh. Hai vợ chồng anh chỉ mới sang Mỹ ở được 7 tháng, con gái đầu lòng bảo lãnh bố mẹ. Cô làm việc tại Valley Silicon trong vị trí một kỹ sư giỏi.</p>
<p>Sáng ngày Mồng 4 Tết (8-2-2019), Được từ nhà ở Thủ Đức lên nhà rủ tôi đi thăm ông Nguyễn Văn Xưởng, bên giáo xứ Nghĩa Hòa. Qua Được, tôi quen ông có cả chục năm nay rồi, nên chúng tôi gặp nhau, ăn phở, uống cà phê đã nhiều lần. Gặp ai thân, ông cũng tự hạ xem tôi học trên ông mấy lớp ở Trường Trung Học Trần Lục thời kỳ mới di cư. Xem chừng ông rất quý những người đã học với ông ở Trần Lục. Ông bảo, mỗi năm mấy bạn ông vẫn gặp nhau tại nhà vào một ngày nào đó trong năm, cùng nhau ôn lại chuyện cũ. Uống cà phê hay một ly rượu nhạt, nhưng có một cái rất quý. Đó là tình bạn sau cả gần thế kỷ, bây giờ vẫn rất gần nhau. Cái gì làm nên sự này. Tôi nói, đó là văn hóa, là cái tình con người với con người.Ông bảo sẽ tặng tôi một kỷ niệm ở Trần Lục. Nhưng bây giờ mình uống tý rượu xuân đã. Rồi ông mở tủ lạnh lấy chai rượu vang, rót ra ba cái ly thủy tinh cũng để trong tủ lạnh, mời chúng tôi. Món tinh túy của ông đãi chúng tôi hôm đó là bì heo, trộn thính. Ông nói, món bì này ông chỉ cho một người trong lối xóm làm để bán, nuôi gia đình từ mấy chục năm nay. Nó hoàn toàn khác với thứ bì người bán bê thui, dê thui ngoài chợ. Phải biết cách chọn bì và cách luộc bì, làm sao cho nó giòn mà không dai quá. Còn thính, ông cũng tự làm, rang gạo giữ độ vàng cho màu đẹp, rồi xay sao cho không nhuyễn quá, giống như người bán bê, hay dê thui, thì chán lắm. Đấy, anh thấy không, chất thính tôi làm nó không nhuyễn lắm. Phải rồi, tôi thấy nó để lại mùi thơm, không mất đi ngay khi sợi bì đã tan. Nó như một chất dính. Thính còn đó tạo chất thơm. Ba chúng tôi uống hết một chai rượu vang. Tôi hơi chuếnh choáng. Đây là lần thứ hai trong đời, tôi uống tý rượu tại nhà bạn và say. Lần trước và cũng là lần đầu, tôi cũng uống tý rượu và say tại nhà cô học trò nhỏ, trước ngày tôi lên Ban Mê Thuột, khoảng năm 1956, 1957 gì đó. Rồi sau đó mấy năm, tôi nhận được bài thơ Ân Nghĩa, nét chữ thì giống chữ của cô học trò, ký tên Cung-nam-Thương.</p>
<p>Ông Nguyễn Văn Xưởng, quê ở Kim Sơn, Phát Diệm. sinh năm 1940. Năm 1963, học tại Trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ Sài Gòn, trực thuộc Nha Kỹ thuật và Học vụ, trải qua các thời kỳ: Giám đốc Nguyễn Phương, Đỗ Thế Phiệt, Nghiêm Phú Phi; học ba năm ở Đại học Minh Đức, Khoa Nhân Văn Nghệ Thuật.</p>
<p>Tôi hỏi:</p>
<p>-Anh có thể tự nói về mình sau những chặng dài anh sống cho nghệ thuật âm nhạc?</p>
<p>Sau một lát ngẫm nghĩ, anh mỉm cười nói:</p>
<p>&#8211; Nói về mình thì kỳ lắm anh ạ. Nhưng anh em mình bây giờ già cả rồi.Lại nữa, chúng ta còn có cái gì để tặng nhau&#8230;? Sau một buổi điều khiển dàn nhạc thuộc Nha Tuyên Úy Công Giáo, một linh mục nói với tôi: “Anh còn trẻ quá mà đã điều khiển cả một dàn nhạc lớn như thế này”. Anh có thể hiểu tôi qua câu nói của một linh mục tuyên úy thời trước đây. Tôi không sáng tác nhạc, chỉ chuyên về hợp xướng.</p>
<p>Tôi lại hỏi:</p>
<p>-Quá trình hoạt động của anh trong lãnh vực này?</p>
<p>Anh nói:</p>
<p>-Ca đoàn Hồn Quê,</p>
<p>-Ca đoàn Tinh Thần thuộc Nha Tuyên Úy Công giáo</p>
<p>-Công tác (Ca đoàn Vô tuyến) của Vũ Văn Tuynh, do Ngô Mạnh Thu (+) điều khiển</p>
<p>-Hợp tác với Tiếng Tơ Đồng của Hoàng Trọng,</p>
<p>-Chương trình Đống Đa của Nha Quân cụ của Đại tá Trần Văn Trọng.</p>
<p>-Dạy nhạc tại Trung Học La San Đức Minh</p>
<p>Ngoài ra, ông là soạn giả Bộ Nhạc lý căn bản phổ thông, trước năm 1975.</p>
<p>Sau đó ông đứng dậy đi vào trong, mang ra cho tôi một kỷ niệm của Trường Trần Lục mà ông đã nói.</p>
<p>Đó là cuốn:</p>
<p><em>Kỷ Yếu 56-62</em></p>
<p><em>Trường Trung Học Trần Lục Sài Gòn</em></p>
<p><em>Cựu Học Sinh Niên Khóa 1956-1962.</em></p>
<p><em>Tân Định &#8211; xuất bản 2011</em></p>
<p>Tập Kỷ yếu dày 200 trang, kể cả 2 phụ lục. Bạn hữu dành cho anh nguyên một trang (trang 100) với mấy dòng tiểu sử và hình ảnh của anh với các bạn cùng khóa họp mặt tai Sài Gòn những năm 1998, 2007, 2009.</p>
<p>Tập Kỷ yếu rất “nặng tay” không chỉ nặng kỷ, với 200 trang giấy khổ A4, mà “nặng ký” ở nội dung. Phải thú thật rằng vừa nhận tập sách anh Nguyễn Văn Xưởng trao trong tay, tôi đã ngạc nhiên. Nhìn vào trang Mục lục ở sau sách, tôi mở rộng hai mắt già nua của tôi để nhìn vào con số 115 người có hình trong sách, nhiều người có cả hình gia đình, vợ, con và một số không có hình, chỉ có tên, hoặc đã là người thiên cổ, (tử trận, chết bệnh, chết già&#8230;). Ngoài ra còn một trang ghi tên 62 người “chưa liên lạc được”. Điều này cho thấy những người soạn tập Kỷ yếu rất nhiệt thành với bạn hữu một thời học chung một trường ở một giai đoạn nghiệt ngã của thân phận mình đã đành mà còn quá nỗi đau thương của đất nước, chẳng phải chỉ nghĩ đến biến cố chia hai đất nước 20-7-1954 mà còn nỗi đau xé tâm can của biến cố 30-4-1975. Có lẽ những người làm ra tập Kỷ Yếu 56-62 Trường Trung Học Trần Lục, đã nghĩ như thế. Và chỉ nghĩ như thế nên họ mới làm nên một tác phẩm hàm chứa tính văn hóa, nhân bản, đoàn kết và cũng tình nghĩa thủy chung như vậy.</p>
<p>Tôi đã liệt kê và ghi vào giấy là có 23 bài thơ, 26 bài văn, có thể gọi là tùy bút và một bài văn tế, tưởng niệm các thầy cô và các bạn, do Trần Huy Ánh viết. Những bài thơ và bài văn này đều hướng về thầy cô và bạn học. Người thì đi xa, người đã khuất khi còn ở trong nước hoặc sau khi đã ra nước ngoài sau ngày 30-4-1975.</p>
<p>Ban biên tập Kỷ Yếu đã dành một số lớn trang (từ trang 27 đến trang 110) cho những hình ảnh sinh hoạt như họp mặt, thăm hỏi nhau, có cả tiểu sử của từng người. Người bạn tôi, anh Nguyễn Văn Xưởng cũng có hẳn một trang (trang 100), kèm theo một bản tiểu sử ngắn.</p>
<p>Nhớ về bạn học, Kỷ yếu cũng nhớ về các giáo sư, nhớ về vị Linh mục Anthony Trần Văn Kiệm, sáng lập Trung học Trần Lục và là vị Hiệu Trưởng Trần Lục tiên khởikhi còn ở Phát Diệm, năm 1947; linh mục Trần Phúc Long Hiệu Trưởng sau ngày vào Sài Gòn.</p>
<p>Có một việc chúng tôi thấy rất cảm động là các cựu học sinh Trường Trần Lục, trong nước và ngoài nước, đã đồng ý tổ chức 3 lễ Tưởng Niệm Các Thầy Cô và Bạn Hữu, cùng vào ngày 13/9/2009.</p>
<p>&#8211; Ở Việt Nam, lớp 56 tổ chức Lễ Cầu Siêu lúc 9g30 ngày 13/9/2009 tại Chùa Pháp Hoa. Lớp 57 tổ chức Lễ Cầu Siêu lúc 10g30 ngày 13/9/2009 tại Chùa Quảng Hưng.</p>
<p>&#8211; Ở Mỹ, lớp 57 tổ chức Lễ Cầu Siêu lúc 10 giờ ngày 13/9/2009 tại Thích Ca Thiền Viện.</p>
<p>&#8211; Với các Thầy cô và các bạn Công giáo, chị Hồng Duy Toàn, anh Nguyễn Thanh Tùng và anh Trần Đức Thịnh ở Mỹ xin lễ cầu nguyện cho người đã mất tại các nhà thờ.</p>
<p>Tại Chùa Pháp Hoa:</p>
<p>“Dưới bóng Phật Tổ từ bi và trong làn khói hương thoang thoảng, các bạn hiện diện, mái tóc bạc phơ, đã ngồi trầm lặng, lắng nghe tiếng kinh kệ đều đều vang lên từ chính điện của chư vị sư tăng, tất cả cùng thành tâm cầu nguyện cho các hương linh được siêu thoát về cõi Vĩnh Hằng.</p>
<p>“Có 25 thầy cô gồm 3 vị Hiệu Trưởng, một Tổng Giám Thị và 21 Giáo sư và 32 học sinh ba lớp B1-B2 và B3 được thông tin đã qua đời ở nhiều nơi trong nước và trên Thế Giới từ năm 1956 cho đến nay. Lắng nghe những cái tên quen thuộc được xướng lên từ vị Đại Đức Phó Trụ Trì Chùa Pháp Hoa trong tiếng kinh cầu, ai cũng thấy bùi ngùi trong dạ. Đã nửa thế kỷ qua đi và kẻ còn người mất không bao giờ gặp lại.”&#8230;(Bài của Vũ Quốc Anh, trang 131)</p>
<p>Tại Chùa Quảng Hưng:</p>
<p>“Ni Cô chủ trì buổi lễ cầu nguyện cho hương linh từng người. Các Thầy Cô có: thầy Vũ Văn Khôi, Hoàng Khôi, Phạm Văn Trạch, Vũ Đình Ngọc, Bùi Xuân Trang, Nguyễn Chí Dũng,Vũ Văn Giáp, Nguyễn Thị Oanh, Nguyễn Văn Ngọc, Nguyễn Văn Mốc Nguyễn Văn Tường, Bùi Văn Hiệp, Phạm Ngọc Long, Trần Quang Phụng (Thiên Phụng), Khiếu Hữu Kiều, Trần Đức Rật, Phạm Thị Côn, Phan Trọng Kiên, Lê Thành An, Nguyễn Viết An, Đinh Đình Hòe, Dương Lân, Trần Phúc Long, Nguyễn Thị Ngữ, Nguyễn Đình Thông. Cùng đầy đủ tên các bạn đã mất”.</p>
<p>“Hình ảnh cảm động nhất là nghi thức cúng cơm. Chị Toàn và 2 cháu là người theo đạo Công giáo, đã sốt sắng nhận dâng lễ cúng cơm, thành tâm và trang nghiêm, chị dâng cơm, nước mà tâm trí như hướng về người đã khuất&#8230;” (Bài của Nguyễn Văn Thủy, trang 130-131)</p>
<p>Tập Kỷ Yếu 56 – 62 Trường Trung Học Trần Lục, Sài Gòn còn là một Giai Phẩm về văn nghệ, gồm những bài thơ và văn, biểu hiện những tâm tư, những trăn trở, những hoài niệm về một quá khứ không thể quên với mái trường, những bộ óc của thầy, của bạn chở nặng một hoài bão, một mộng ước cho đất nước và cho chính mình. Và rồi chiến tranh tàn phá, thương đau quá đỗi đã như những con dã thú từ rừng sâu tràn về thành phố gây hận thù. Cuối cùng là một nền văn hóa nhân bản, tự do bị chìm xuống biển đông, cuốn theo biết bao người con ưu tú của đất nước, có người là bạn hữu của mình!</p>
<p>Cám ơn các bạn Trần Lục đã tạo nên một Kỷ Yếu chứa nhiều điều không thể quên. Tôi nhận thấy đây là một tác phẩm lịch sử của mỗi người trong chúng ta, những cựu học sinh Trường Trung Học Trần Lục Sài Gòn. Và đây cũng là một giai phẩm văn nghệ, được đóng góp bởi hơn 100 con người, cả nam cả nữ, cả những phu nhân của các thầy. Trên hết, như một điều hiển nhiên, là những người đã phối hợp với nhau để làm nên một Kỷ Yếu Trường Trung Học Trần Lục Sài Gòn, Niên khóa 56 – 62. Cho nên, tôi cũng xin được ghi lại đây một vài bài thơ tiểu biểu cho dòng tâm tư hướng về một thời của tuổi học trò, một thời của chiến tranh và những ngày lưu lạc trên đất người. Cuối cùng là hai bài văn, một là “Lật trang kỷ niệm” của Vũ Quốc Anh và bài “Nguyễn Công Hưng, con nuôi Ngô Tổng Thống” của Phạm Bá Hân. Một bài về chương trình giáo dục bậc Trung Học, một bài về tính nhân bản và nhân cách của một Tổng Thống thời Đệ Nhất Cộng Hòa.</p>
<p>HỌP BẠN</p>
<p><i>“Biển dâu khôn dứt nối tình đồng môn”</i></p>
<p>Chia tay bốn sáu năm trời</p>
<p>Về đây gặp lại giữa đời tươi vui</p>
<p>Nhìn nhau tay bắt, miệng cười</p>
<p>Hỏi thăm tên họ, nhận người khi xưa</p>
<p>Thuở nào say chữ, say thơ</p>
<p>Vai mang ảo vọng, nắng mưa một thời</p>
<p>Bụi trần giăng mắc nơi nơi</p>
<p>Lòng còn vang bóng mãi đời thư sinh</p>
<p>Lưng đeo mơ ước chưa thành</p>
<p>Tuổi xuân đã vỡ tan tành khói hương</p>
<p>Giòng đời in vết tang thương</p>
<p>Đứa nào tóc cũng điểm sương bây giờ</p>
<p>Trùng phùng như một giấc mơ</p>
<p>Chia tay hẹn gặp&#8230;bao giờ gặp đây?</p>
<p>Nguyễn Gia Tản</p>
<p>(Trang 16)</p>
<p>TÔI ĐÃ NGHĨ</p>
<p>Xem ảnh cũ lòng buồn vời vợi</p>
<p>Những cánh buồm lạc lõng bến xa</p>
<p>Dạt muôn phương đâu cũng là nhà</p>
<p>Như cánh Vạc tấm thân hiu quạnh</p>
<p>Danh có đó và tiền có đó</p>
<p>Nhìn lại mình vẫn thấy bơ vơ</p>
<p>Buồn tìm về dĩ vãng tuổi thơ</p>
<p>Với bạn cũ chửi, đùa, thương, giận</p>
<p>Trong tiếng cười còn gì sầu hận</p>
<p>Mới nhìn nhau nước mắt đã trào</p>
<p>Xem ảnh cũ thằng thân, thằng lạ</p>
<p>Thằng quên tên, thằng nhác quen quen</p>
<p>Trong đêm thâu soi ảnh dưới đèn</p>
<p>Tìm lại mình nhưng đâu chẳng thấy</p>
<p>Con thuyền nhỏ cuồng phong đưa đẩy</p>
<p>Hai trăm thằng mỗi phận mỗi nơi</p>
<p>Đứa sớm ra đi theo mệnh trời</p>
<p>Đi quá vội chưa người yêu nhỏ lệ</p>
<p>Hoặc con thơ còn nhoẻn miệng cười</p>
<p>Khi vĩnh biệt người cha yêu dấu</p>
<p>Dăm mười đứa học nơi xứ lạ</p>
<p>Một số thằng theo nghiệp đao binh</p>
<p>Một số thằng tạm sống thanh bình</p>
<p>Trên quê hương dạn dày bom đạn</p>
<p>&#8230;Ngày đại nạn</p>
<p>Lớp vào tù lớp nhớn nhác ra khơi</p>
<p>Sợ, lo, buồn, thương, nhớ đầy vơi</p>
<p>Phó thác dòng đời cho định mệnh</p>
<p>Nhìn ảnh cũ bao năm rồi nhỉ</p>
<p>Mái trường xưa tựa bóng mẹ hiền</p>
<p>Hàng me xanh ve sầu rên rỉ</p>
<p>Vỗ giấc trưa lũ trẻ không nhà</p>
<p>Năm mươi năm về thăm trường cũ</p>
<p>Ngói sụt nhiều, tường cũ rêu phong</p>
<p>Tiếng trống xưa giờ đã xa vắng</p>
<p>Thoáng đâu đây bóng dáng cô thầy</p>
<p>Thôi, kỷ niệm gởi lại nơi đây</p>
<p>Chậm quay gót tìm vài bạn cũ</p>
<p>Tôi đã khóc thật mà&#8230;tôi đã khóc</p>
<p>Khóc hương hồn Nghĩa, Sản, Tiền, Phi&#8230;</p>
<p>Đời chúng mình còn lại những gì</p>
<p>Giọt lệ muộn trào ra từ tim ấm.</p>
<p><strong>Nguyễn Đức Tường</strong></p>
<p>(Trang 104)</p>
<p>Về văn, trong số hơn 20 bài, chúng tôi thấy có hai bài rất đặc biệt, có lẽ hiếm có ở những kỷ yếu khác. Đó là bài: “Lật trang kỷ niệm” của Vũ Quốc Anh, bài thứ hai là: Nguyễn Công Hưng: “Con nuôi Ngô tổng thống”, bài của Phạm Bá Hân.</p>
<p>“Đầu niên khóa 56-57, Hưng cùng với hơn 160 học sinh mới “tốt nghiệp tiểu học” được trúng tuyển vào 3 lớp Đệ Thất B trường Trung Học Trần Lục. Mỗi lớp có 15 học sinh giỏi được cấp học bổng. Bạn Hưng bị lọt sổ nên quyết định làm một thư gửi lên Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa khiếu nại! Lá thư Hưng đánh máy cẩn thận, trình xin Tổng Thống cứu xét cấp học bổng cho Hưng vì Hưng di cư vào Nam một mình theo một tiểu chủng viện. Nay không còn ở chủng viện nhưng vẫn được Linh mục giám đốc nuôi nấng bảo trợ. Trong thư, Hưng xưng con với Tổng Thống và còn viết thêm “kính mời Tổng Thống đến nhà con chơi tại địa chỉ số nhà&#8230;dường. Thời gian từ&#8230;giờ đến&#8230;giờ, ngày&#8230;đến ngày&#8230;” Hưng tiếp “Cả tuần sau khi gửi thư đi, cứ theo giờ giấc ngày tháng hẹn trình trong thơ, tôi đều ra trước cửa nhà đứng đón chờ Tổng Thống, không dám đi đâu&#8230;Nhưng quá hẹn vẫn không thấy Ngài đến và dần dần tôi cũng quên đi. Bỗng 2 tháng sau, vào đầu giờ học, Thầy Kiên tổng giám thị gọi tôi lên văn phòng nhà trường. Với nét mặt nghiêm trang thầy hỏi tôi:</p>
<p>&#8211; Em biết em phạm tội gì không? Tại sao em dám viết thư lên Tổng Thống xin học bổng. Lại còn dám hẹn ngày giờ Tổng Thống đến nhà gặp em?</p>
<p>Thầy Kiên rút lá thư (Hưng viết gửi Tổng Thống) ra khỏi hồ sơ đưa cho Hưng xem và nói:</p>
<p>&#8211; Thầy cần một giấy xác nhận về hoàn cảnh của em, như em viết trong thư, do Linh mục đang bảo trợ cho em cấp.</p>
<p>Cầm trên tay lá thư viết cho Ngô Tổng Thống 2 tháng trước, tôi đọc từng chữ bút phê của Tổng Thống mà tôi nhớ mãi đến suốt đời: “Bộ Quốc Gia Giáo Dục Cứu Xét Thỏa Mãn.” Bên dưới là chữ ký của Tổng Thống”&#8230;</p>
<p>Tôi giữ kín câu chuyện trên, nhưng không hiểu sao có vài bạn biết được nên chọc tôi là “Con Nuôi Ngô Tổng Thống!” (Trang 182)</p>
<p>Ở bài “Lật trang kỷ niệm”, Vũ Quốc Anh đã nhắc đến hai giai đoạn trong tuổi học trò đáng nhớ nhất. Đó là Trung học Đệ nhất cấp và Trung học Đệ nhị cấp. Ông viết:</p>
<p>“Thời tiểu học ta không đủ sâu sắc để nghĩ suy. Thời đại học ta đã quá lớn để tâm hồn còn ngay thơ trong trắng. Chỉ có thời trung học ta mới thực sự sống trọn vẹn, trung thực &#8211; hăng say &#8211; trong sáng &#8211; mộng mơ &#8211; cuồng nhiệt &#8211; yêu đời&#8230;tất cả khởi đầu từ thời gian ấy.” (Trang 141)</p>
<p>Sau đó, Vũ Quốc Anh nói là ông lật lại trang kỷ niệm, để chia xẻ với bạn, bạn Trần Lục thân thương của những năm 56-62, để “tạm quên đi bóng xế cuộc đời&#8230;”. Rồi ông bắt đầu bằng cuốn “Thông Tín Bạ” ghi những năm học của ông, từ 1956-1957 : Đệ Thất B2, đến 1959-1960: Đệ Tứ B3. Sau đó là tên các giáo sư và môn dậy, chi tiết, cụ thể. Bước vào Bậc Trung Học Đệ nhị Cấp, Thông Tín Bạ được đổi thành Học Bạ. Một đặc biệt khác là tác giả của trang kỷ niệm này còn lưu giữ đến nay và đưa vào kỷ yếu những quyển Thông Tín Bạ, Học Bạ và một vài giấy tờ liên hệ khác, chữ còn rõ ràng, giấy vẫn giữ được mầu sắc ban đầu. Có lẽ đó là nét truyền thống của gia đình đối với các kỷ vật của Tổ Tiên và tiền nhân đã khuất bóng, để, theo tác giả: “Khi thì vài năm, khi thì mấy tháng tôi lại mở ra lau chùi, sắp xếp lại theo tâm trạng của mình lúc đó. Có nhiều thứ để trầm lặng nâng niu, cũng có nhiều thứ để vui buồn lặng lẽ.” (Trang 141)</p>
<p>Sài Gòn ngày 22<a name="_GoBack"></a>-3-2019</p>
<p><strong>KHẢI TRIỀU</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2019</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/khai-trieu-ngy-xun-uong-ruou-voi-nguyen-van-xuong-nho-ve-truong-trung-hoc-tran-luc-si-gn/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>

<!--
Performance optimized by W3 Total Cache. Learn more: https://www.boldgrid.com/w3-total-cache/?utm_source=w3tc&utm_medium=footer_comment&utm_campaign=free_plugin

Page Caching using Disk: Enhanced 

Served from: t-van.net @ 2026-06-14 07:19:53 by W3 Total Cache
-->