<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Nền Dân Chủ Sẽ Chết Như Thế Nào &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<atom:link href="https://t-van.net/tag/nen-dan-chu-se-chet-nhu-the-nao/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://t-van.net</link>
	<description>Văn Học và Đời Sống</description>
	<lastBuildDate>Tue, 01 Jul 2025 15:54:13 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.7.5</generator>

<image>
	<url>https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/02/t-van-favicon.png?strip=all&#038;resize=32%2C32</url>
	<title>Nền Dân Chủ Sẽ Chết Như Thế Nào &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<link>https://t-van.net</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Steven Levitsky &#038; Daniel Ziblatt:  NỀN DÂN CHỦ SẼ CHẾT NHƯ THẾ NÀO – Chương 9: CỨU VÃN NỀN DÂN CHỦ</title>
		<link>https://t-van.net/steven-levitsky-daniel-ziblatt-nen-dan-chu-se-chet-nhu-the-nao-chuong-9-cuu-van-nen-dan-chu/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[ChatGPT]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 02 Jul 2025 09:26:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[ChatGPT DỊCH THUẬT - TỦ SÁCH THẾ GIỚI]]></category>
		<category><![CDATA[Nền Dân Chủ Sẽ Chết Như Thế Nào]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=81515</guid>

					<description><![CDATA[GIỚI THIỆU TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM Nguyên Tác: HOW DEMOCRACIES DIE (2018) của&#160;Steven Levitsky &#38; Daniel Ziblatt (Chuyển ngữ tiếng Việt: ChatGPT; Hiệu đính (và chịu trách nhiệm): T.Vấn) CHƯƠNG 9 CỨU VÃN NỀN DÂN CHỦ Việc viết cuốn sách này đã nhắc nhở chúng tôi rằng nền dân chủ Mỹ không đặc biệt [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/71nkYi9OL.jpg?strip=all&w=2560"><img fetchpriority="high" decoding="async" width="667" height="1024" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/71nkYi9OL-667x1024.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-80750" style="width:455px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/06/71nkYi9OL-195x300.jpg 195w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/71nkYi9OL-667x1024.jpg?strip=all 667w, https://cdn.t-van.net/2025/06/71nkYi9OL-768x1179.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2025/06/71nkYi9OL-1001x1536.jpg 1001w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/71nkYi9OL.jpg?strip=all 1251w" sizes="(max-width: 667px) 100vw, 667px" /></a></figure></div>


<p><strong><a href="https://t-van.net/steven-levitsky-daniel-ziblatt-nen-dan-chu-se-chet-nhu-the-nao/">GIỚI THIỆU TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM</a></strong></p>



<p><strong>Nguyên Tác: HOW DEMOCRACIES DIE (2018) của</strong>&nbsp;<strong>Steven Levitsky &amp; Daniel Ziblatt</strong></p>



<p><em>(Chuyển ngữ tiếng Việt: ChatGPT; Hiệu đính (và chịu trách nhiệm): T.Vấn)</em></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>CHƯƠNG </strong><strong>9</strong><strong></strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>CỨU </strong><strong>VÃN </strong><strong>NỀN DÂN CHỦ</strong></p>



<p>Việc viết cuốn sách này đã nhắc nhở chúng tôi rằng nền dân chủ Mỹ không đặc biệt như chúng ta vẫn thường nghĩ. Không có điều gì trong Hiến pháp hay văn hóa của chúng ta có thể miễn nhiễm với sự sụp đổ của dân chủ. Chúng ta đã từng trải qua thảm họa chính trị trước đây, khi những thù hận vùng miền và đảng phái chia rẽ đất nước đến mức dẫn đến nội chiến. Hệ thống hiến pháp của chúng ta đã phục hồi, và các nhà lãnh đạo Đảng Cộng hòa và Dân chủ đã thiết lập những chuẩn mực và thực hành mới, làm nền tảng cho hơn một thế kỷ ổn định chính trị. Nhưng sự ổn định đó đã phải trả giá bằng sự loại trừ chủng tộc và sự thống trị độc đảng mang tính chuyên chế ở miền Nam. Chỉ sau năm 1965, Hoa Kỳ mới thực sự trở thành một nền dân chủ toàn diện. Trớ trêu thay, chính quá trình dân chủ hóa đó lại khởi động một cuộc tái cấu trúc cơ bản trong cử tri Mỹ, và một lần nữa khiến các đảng trở nên chia rẽ sâu sắc. Sự phân cực này — sâu sắc hơn bất kỳ thời điểm nào kể từ sau thời kỳ Tái thiết — đã kích hoạt một làn sóng phá vỡ chuẩn mực đang đe dọa nền dân chủ của chúng ta ngày nay.</p>



<p>Ngày càng có nhiều nhận định cho rằng nền dân chủ đang thoái lui trên toàn thế giới: Venezuela. Thái Lan. Thổ Nhĩ Kỳ. Hungary. Ba Lan. Larry Diamond — có lẽ là học giả hàng đầu về dân chủ toàn cầu — cho rằng chúng ta đã bước vào một thời kỳ suy thoái dân chủ. Liệu cuộc khủng hoảng hiện nay của nước Mỹ có phải là một phần trong làn sóng tụt hậu toàn cầu? Chúng tôi giữ thái độ hoài nghi. Trước khi Donald Trump được bầu, những tuyên bố về một cuộc suy thoái dân chủ toàn cầu đã bị thổi phồng. Số lượng các nền dân chủ đã tăng mạnh trong thập niên 1980 và 1990, đạt đỉnh khoảng năm 2005, và kể từ đó vẫn duy trì ổn định. Những quốc gia tụt hậu thu hút tiêu đề báo chí và sự chú ý của công chúng, nhưng bên cạnh mỗi Hungary, Thổ Nhĩ Kỳ và Venezuela đều có những Colombia, Sri Lanka hay Tunisia — những quốc gia đã dân chủ hóa hơn trong thập niên qua. Phần lớn các nền dân chủ trên thế giới — từ Argentina, Brazil, Chile, Peru đến Hy Lạp, Tây Ban Nha, Cộng hòa Séc và Romania, đến Ghana, Ấn Độ, Hàn Quốc và Nam Phi — vẫn còn tồn tại. Và mặc dù các nền dân chủ châu Âu đang đối mặt với nhiều vấn đề — từ kinh tế yếu kém, hoài nghi Liên minh châu Âu, đến phản ứng chống nhập cư — nhưng vẫn có rất ít bằng chứng cho thấy sự xói mòn nghiêm trọng về chuẩn mực như những gì chúng ta chứng kiến tại Hoa Kỳ.</p>



<p>Tuy nhiên, chính sự trỗi dậy của Trump lại có thể là một thách thức đối với nền dân chủ toàn cầu. Từ sau sự sụp đổ của Bức tường Berlin cho đến thời kỳ Tổng thống Obama, các chính phủ Hoa Kỳ nhìn chung vẫn theo đuổi chính sách đối ngoại ủng hộ dân chủ. Dĩ nhiên có nhiều ngoại lệ: ở những nơi có lợi ích chiến lược như Trung Quốc, Nga và Trung Đông, dân chủ gần như biến mất khỏi nghị trình. Nhưng tại phần lớn châu Phi, châu Á, Đông Âu và Mỹ Latin, các chính phủ Hoa Kỳ đã sử dụng áp lực ngoại giao, viện trợ kinh tế và các công cụ chính sách đối ngoại khác để phản đối chế độ chuyên chế và thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa trong kỷ nguyên hậu Chiến tranh Lạnh. Giai đoạn 1990–2015 dễ dàng được xem là một phần tư thế kỷ dân chủ nhất trong lịch sử thế giới — một phần vì các cường quốc phương Tây đã ủng hộ dân chủ trên diện rộng. Nhưng điều đó giờ đây có thể đang thay đổi. Dưới thời Donald Trump, Hoa Kỳ dường như đang từ bỏ vai trò thúc đẩy dân chủ — lần đầu tiên kể từ thời Chiến tranh Lạnh. Chính quyền của Tổng thống Trump là chính quyền kém ủng hộ dân chủ nhất trong số các chính quyền Mỹ kể từ thời Nixon. Hơn thế nữa, nước Mỹ giờ đây không còn là hình mẫu dân chủ. Một quốc gia mà tổng thống công kích báo chí, đe dọa bỏ tù đối thủ chính trị, và tuyên bố có thể không chấp nhận kết quả bầu cử thì không thể có tư cách bảo vệ dân chủ một cách đáng tin. Cả những nhà lãnh đạo độc tài đương nhiệm lẫn các kẻ độc tài tiềm năng đều sẽ cảm thấy được khích lệ khi Trump ngồi trong Nhà Trắng. Vì vậy, cho dù ý tưởng về một cuộc suy thoái dân chủ toàn cầu từng chỉ là huyền thoại trước năm 2016, thì chính quyền Trump — cùng với khủng hoảng của EU, sự trỗi dậy của Trung Quốc và sự hiếu chiến ngày càng gia tăng của Nga — có thể sẽ khiến điều đó trở thành hiện thực.</p>



<p><strong>***</strong></p>



<p>Trở lại với đất nước mình, chúng tôi nhìn thấy ba viễn cảnh có thể xảy ra cho nước Mỹ hậu-Trump.</p>



<p>Viễn cảnh đầu tiên, cũng là lạc quan nhất, là một cuộc phục hồi dân chủ nhanh chóng. Trong kịch bản này, Tổng thống Trump thất bại về mặt chính trị: ông ta hoặc đánh mất sự ủng hộ của công chúng và không được tái cử, hoặc kịch tính hơn, bị luận tội hoặc buộc phải từ chức. Sự sụp đổ của nhiệm kỳ tổng thống Trump và chiến thắng của phong trào kháng cự chống Trump sẽ tiếp thêm sinh lực cho đảng Dân chủ, giúp họ giành lại quyền lực và đảo ngược những chính sách tồi tệ nhất của Trump. Nếu Trump thất bại đủ nặng nề, sự ghê tởm trong công chúng thậm chí có thể thúc đẩy các cải cách nhằm nâng cao chất lượng nền dân chủ của chúng ta — như đã từng xảy ra sau khi Richard Nixon từ chức năm 1974. Các lãnh đạo Đảng Cộng hòa, sau khi phải trả giá đắt cho việc đồng hành cùng Trump, có thể sẽ chấm dứt cuộc tán tỉnh chính trị cực đoan. Trong tương lai này, danh tiếng của nước Mỹ trên thế giới sẽ nhanh chóng được khôi phục. Giai đoạn Trump sẽ được dạy trong nhà trường, kể lại trong phim ảnh, và ghi lại trong các công trình lịch sử như một thời kỳ sai lầm bi kịch — nơi thảm họa đã được tránh khỏi và nền dân chủ Mỹ được cứu vớt.</p>



<p>Đó chắc chắn là viễn cảnh mà nhiều người trong chúng ta hy vọng. Nhưng điều này khó xảy ra. Hãy nhớ rằng cuộc tấn công vào các chuẩn mực dân chủ lâu đời — cùng với sự phân cực sâu sắc đã dẫn đến điều đó — đã bắt đầu từ trước khi Donald Trump bước chân vào Nhà Trắng. Những “hàng rào mềm” bảo vệ nền dân chủ Mỹ đã yếu đi trong nhiều thập kỷ; việc loại bỏ Tổng thống Trump sẽ không thể tự động phục hồi chúng một cách kỳ diệu. Dù nhiệm kỳ của Trump sau cùng có thể được xem như một sự lệch hướng nhất thời với tác động khiêm tốn lên các thể chế, thì việc chấm dứt nó cũng có thể không đủ để khôi phục một nền dân chủ lành mạnh.</p>



<p>Viễn cảnh thứ hai, u ám hơn nhiều, là việc Tổng thống Trump và đảng Cộng hòa tiếp tục chiến thắng nhờ sự lôi kéo của thông điệp dân tộc chủ nghĩa da trắng. Trong kịch bản này, một đảng Cộng hòa thân Trump sẽ giữ được chức tổng thống, kiểm soát cả hai viện Quốc hội và phần lớn các chính quyền bang, đồng thời dần giành được đa số vững chắc trong Tối cao Pháp viện. Họ sẽ sử dụng các chiến thuật “đấu pháp hiến pháp” để tái cấu trúc cử tri, tạo ra đa số bầu cử người da trắng lâu dài. Việc này có thể được thực hiện bằng cách kết hợp giữa trục xuất diện rộng, hạn chế nhập cư, thanh lọc danh sách cử tri và áp dụng các luật căn cước cử tri nghiêm ngặt. Những biện pháp nhằm tái thiết lập thành phần cử tri nhiều khả năng sẽ đi kèm với việc loại bỏ thủ tục “filibuster” (thủ tục tranh luận không giới hạn ở Thượng viện) và các quy tắc khác bảo vệ phe thiểu số, để đảng Cộng hòa có thể áp đặt chương trình nghị sự ngay cả khi chỉ có đa số mong manh. Những biện pháp này có vẻ cực đoan, nhưng tất cả đều đã từng được chính quyền Trump xem xét ít nhất một lần.</p>



<p>Những nỗ lực gia cố vị thế của đảng Cộng hòa bằng cách tái thiết một đa số người da trắng mới rõ ràng là phản dân chủ sâu sắc. Những biện pháp như vậy sẽ kích hoạt sự phản kháng từ nhiều lực lượng — bao gồm phe cấp tiến, các nhóm thiểu số, và phần lớn khu vực tư nhân. Sự phản kháng này có thể dẫn đến leo thang đối đầu và thậm chí xung đột bạo lực, điều mà rồi sẽ dẫn đến đàn áp cảnh sát gia tăng và các nhóm cảnh vệ dân sự tư nhân — tất cả dưới danh nghĩa “luật pháp và trật tự”. Để hình dung cách một chiến dịch đàn áp như vậy có thể được định hình, bạn chỉ cần xem các video tuyển dụng gần đây của Hiệp hội Súng trường Quốc gia (NRA), hoặc lắng nghe cách các chính trị gia Cộng hòa nói về phong trào Black Lives Matter.</p>



<p>Kịch bản ác mộng như vậy tuy không có khả năng cao, nhưng cũng không thể loại trừ hoàn toàn. Khó có thể tìm thấy ví dụ nào trong lịch sử cho thấy một nhóm sắc tộc đang suy giảm về mặt nhân khẩu học lại dễ dàng từ bỏ vị thế thống trị của mình. Ở Lebanon, sự suy giảm dân số của các nhóm Kitô giáo từng chiếm ưu thế đã góp phần gây ra cuộc nội chiến kéo dài mười lăm năm. Ở Israel, mối đe dọa nhân khẩu học do việc sáp nhập trên thực tế Bờ Tây đang đẩy đất nước đến gần một hệ thống chính trị mà hai cựu Thủ tướng Israel đã ví như chế độ apartheid. Và gần hơn, ở Mỹ, sau thời kỳ Tái thiết, các đảng viên Dân chủ miền Nam đã phản ứng trước mối đe dọa từ quyền bầu cử của người da đen bằng cách tước quyền bầu cử của họ gần một thế kỷ. Mặc dù chủ nghĩa dân tộc da trắng vẫn là thiểu số trong đảng Cộng hòa, nhưng làn sóng ngày càng mạnh mẽ đòi hỏi luật căn cước cử tri nghiêm ngặt và việc thanh lọc danh sách cử tri — được hậu thuẫn bởi các nhân vật có ảnh hưởng như Bộ trưởng Tư pháp Jeff Sessions và đồng chủ tịch Ủy ban Liêm chính Bầu cử Kris Kobach — cho thấy việc tái cấu trúc cử tri đang nằm trong chương trình nghị sự của đảng Cộng hòa.</p>



<p>Viễn cảnh thứ ba, và theo chúng tôi là khả dĩ nhất, là một nước Mỹ hậu-Trump vẫn trong tình trạng phân cực, tiếp tục rời xa các chuẩn mực chính trị bất thành văn, và chứng kiến sự đối đầu thể chế ngày càng tăng — nói cách khác, một nền dân chủ không còn hàng rào bảo vệ vững chắc. Trong kịch bản này, Tổng thống Trump và chủ nghĩa Trump có thể sẽ thất bại, nhưng thất bại đó sẽ không làm giảm khoảng cách giữa hai đảng hay đảo ngược tình trạng suy giảm lòng khoan dung và sự kiềm chế chính trị lẫn nhau.</p>



<p>Để hình dung nước Mỹ trong tình trạng chính trị không còn hàng rào bảo vệ, hãy nhìn vào bang North Carolina hiện nay. North Carolina là một bang “tím” điển hình — nơi có sự cân bằng tương đối giữa hai đảng. Với nền kinh tế đa dạng và hệ thống đại học có uy tín quốc tế, bang này giàu có, đô thị hóa cao và có trình độ giáo dục vượt trội so với hầu hết các bang miền Nam khác. Dân số cũng đa dạng, với người Mỹ gốc Phi, gốc Á và người Latinh chiếm khoảng một phần ba. Tất cả điều đó khiến North Carolina trở thành vùng đất thuận lợi hơn cho đảng Dân chủ so với các bang miền Nam sâu hơn. Cử tri của bang này phản ánh bức tranh quốc gia: Dân chủ chiếm ưu thế ở các trung tâm đô thị như Charlotte và Raleigh-Durham, còn Cộng hòa thống trị ở vùng nông thôn.</p>



<p>Bang này đã trở thành, theo lời của giáo sư luật Jedediah Purdy thuộc Đại học Duke, một “vi mô của nền chính trị siêu phân cực và sự mất lòng tin lẫn nhau ngày càng tăng của nước Mỹ.” Trong thập niên qua, hai đảng đã đối đầu về các vấn đề như luật hạn chế phá thai do Cộng hòa ban hành, việc Thống đốc Cộng hòa từ chối mở rộng Medicaid theo Đạo luật Chăm sóc Sức khỏe Giá cả Phải chăng (ACA), một tu chính hiến pháp nhằm cấm hôn nhân đồng giới, và nổi tiếng nhất là Đạo luật An toàn &amp; Riêng tư Cơ sở Công cộng năm 2016 (gọi là “Luật Phòng tắm”), cấm các chính quyền địa phương cho phép người chuyển giới sử dụng nhà vệ sinh công cộng theo giới tính mà họ tự nhận. Tất cả những sáng kiến này đã châm ngòi cho làn sóng phản đối dữ dội. Như một cựu đảng viên Cộng hòa kỳ cựu nói: chính trị bang này “phân cực và cay nghiệt hơn bất cứ lúc nào tôi từng chứng kiến… Mà tôi từng làm việc cho Jesse Helms.”</p>



<p>Theo nhiều nguồn, sự rơi vào tình trạng chiến tranh chính trị toàn diện của North Carolina bắt đầu sau khi đảng Cộng hòa giành quyền kiểm soát cơ quan lập pháp bang vào năm 2010. Năm sau đó, cơ quan lập pháp thông qua một kế hoạch phân chia lại khu vực bầu cử bị nhiều người coi là “phân chia chủng tộc” — các khu vực được vẽ lại sao cho dồn cử tri da đen vào một số khu vực nhỏ, làm giảm sức nặng của lá phiếu người da đen và tối đa hóa số ghế cho đảng Cộng hòa. Mục sư cấp tiến William Barber, người lãnh đạo phong trào Moral Mondays, gọi những khu vực mới này là “các khu vực bỏ phiếu kiểu apartheid.” Những thay đổi này đã giúp đảng Cộng hòa giành được 9 trong số 13 ghế quốc hội của bang vào năm 2012 — mặc dù đảng Dân chủ nhận được nhiều phiếu hơn trên toàn bang.</p>



<p>Sau chiến thắng của Thống đốc Pat McCrory (thuộc đảng Cộng hòa) vào năm 2012, giúp đảng Cộng hòa kiểm soát cả ba nhánh quyền lực bang, họ bắt đầu tìm cách củng cố quyền lực lâu dài. Với vị thế nắm giữ cơ quan hành pháp, lập pháp, và đa số trong Tòa án Tối cao bang, các lãnh đạo đảng Cộng hòa đã triển khai một loạt cải cách nhằm làm lệch cán cân chính trị. Họ bắt đầu bằng việc yêu cầu truy cập vào dữ liệu nền của cử tri trên toàn bang. Với thông tin đó trong tay, cơ quan lập pháp đã thông qua hàng loạt cải cách bầu cử nhằm khiến việc đi bầu trở nên khó khăn hơn: ban hành luật căn cước cử tri nghiêm ngặt, giảm số ngày bầu cử sớm, hủy bỏ việc đăng ký trước cho người 16 và 17 tuổi, xóa bỏ đăng ký trong ngày bầu cử, và cắt giảm số điểm bỏ phiếu tại nhiều hạt then chốt. Dữ liệu mới giúp đảng Cộng hòa thiết kế các cải cách này nhằm nhắm vào cử tri da đen, theo như một tòa phúc thẩm liên bang đã nhận định, với “mức độ chính xác gần như phẫu thuật.” Và khi tòa phúc thẩm đình chỉ việc thi hành luật mới, đảng Cộng hòa vẫn sử dụng quyền kiểm soát các ủy ban bầu cử bang để áp dụng một số quy định ấy bằng cách khác.</p>



<p><strong>***</strong></p>



<p>Cuộc chiến thể chế vẫn tiếp diễn sau khi Roy Cooper, ứng viên Đảng Dân chủ, đánh bại Pat McCrory với cách biệt sít sao trong cuộc bầu cử thống đốc năm 2016. McCrory đã từ chối thừa nhận thất bại trong gần một tháng, trong khi Đảng Cộng hòa đưa ra những cáo buộc vô căn cứ về gian lận bầu cử. Nhưng đó mới chỉ là khởi đầu. Sau khi cuối cùng McCrory chịu thua vào tháng 12 năm 2016, Đảng Cộng hòa triệu tập một “phiên họp đặc biệt bất ngờ” của cơ quan lập pháp bang. Trong bầu không khí chính trị suy thoái nghiêm trọng, có tin đồn về một cuộc “đảo chính lập pháp” sắp diễn ra, trong đó Đảng Cộng hòa sẽ sử dụng một điều luật cho phép các nhà lập pháp can thiệp khi kết quả bầu cử thống đốc bị tranh chấp để trao chiến thắng cho McCrory.</p>



<p>Không có cuộc đảo chính nào diễn ra, nhưng như tờ <em>New York Times</em> mô tả, phiên họp đặc biệt này là một “cuộc đoạt quyền trắng trợn”: cơ quan lập pháp đã thông qua một loạt biện pháp nhằm cắt giảm quyền lực của vị thống đốc sắp nhậm chức thuộc Đảng Dân chủ. Thượng viện tự trao cho mình quyền phê chuẩn các thành viên nội các thống đốc, đồng thời cho phép thống đốc Cộng hòa đương nhiệm bổ nhiệm các chức vụ chính trị tạm thời thành các vị trí thường trực. Ngay sau đó, McCrory đã nhanh chóng cấp biên chế vĩnh viễn cho gần một nghìn nhân sự do ông bổ nhiệm — trên thực tế là &#8220;nhồi người&#8221; vào ngành hành pháp. Đảng Cộng hòa tiếp đó đã thay đổi cơ cấu của các ủy ban bầu cử bang — cơ quan phụ trách các quy định bầu cử địa phương như chia khu vực bầu cử, đăng ký cử tri, yêu cầu ID cử tri, thời gian bỏ phiếu và phân phối điểm bỏ phiếu. Trước đây, các ủy ban này nằm dưới quyền kiểm soát của thống đốc đương nhiệm, người có thể đảm bảo phe mình chiếm đa số ghế; giờ đây, Đảng Cộng hòa lập ra một hệ thống đại diện đảng phái ngang bằng. Thêm một động thái nữa: quyền chủ tịch ủy ban bầu cử sẽ được luân phiên giữa hai đảng mỗi năm, trong đó đảng có số thành viên đứng thứ hai (tức Đảng Cộng hòa) sẽ nắm quyền chủ tịch vào các năm chẵn — là năm bầu cử. Vài tháng sau đó, cơ quan lập pháp bỏ phiếu cắt giảm ba ghế trong tòa phúc thẩm bang, trên thực tế đã tước đoạt quyền bổ nhiệm ba vị trí thẩm phán của Thống đốc Cooper.</p>



<p>Mặc dù các khu vực bầu cử bị phân chia theo sắc tộc, đạo luật bầu cử năm 2013, và việc cải tổ các ủy ban bầu cử sau đó đã bị tòa án hủy bỏ, việc chúng từng được thông qua cho thấy Đảng Cộng hòa sẵn sàng sử dụng toàn bộ quyền lực của mình để triệt tiêu đối thủ chính trị. Dân biểu David Price, một đảng viên Dân chủ từ Chapel Hill, nhận xét rằng cuộc khủng hoảng lập pháp này khiến ông nhận ra: “Nền dân chủ Mỹ có thể mong manh hơn chúng ta từng nghĩ.”</p>



<p>North Carolina là một cánh cửa hé mở cho ta thấy chính trị không còn hàng rào bảo vệ trông như thế nào — và là một cái nhìn thoáng qua về tương lai nước Mỹ. Khi đối thủ đảng phái bị coi là kẻ thù, cạnh tranh chính trị sẽ biến thành chiến tranh, và các định chế trở thành vũ khí. Hệ quả là một hệ thống luôn ở bên bờ vực khủng hoảng.</p>



<p>Viễn cảnh ảm đạm này làm nổi bật một bài học then chốt của cuốn sách: khi nền dân chủ Mỹ vận hành tốt, đó là nhờ hai chuẩn mực mà ta thường xem nhẹ — <strong>sự khoan dung lẫn nhau</strong> và <strong>sự tiết chế thể chế</strong>. Việc xem đối thủ là những ứng viên hợp pháp cho quyền lực, và việc không tận dụng tối đa đặc quyền thể chế vì tinh thần chơi đẹp — cả hai điều đó không được ghi trong Hiến pháp Mỹ. Nhưng nếu thiếu chúng, cơ chế kiểm soát và cân bằng trong hiến pháp sẽ không thể vận hành như chúng ta kỳ vọng.</p>



<p>Khi nhà tư tưởng Pháp Montesquieu lần đầu tiên hình thành khái niệm phân quyền trong tác phẩm <em>Tinh thần pháp luật</em> năm 1748, ông ít lo nghĩ về điều mà ngày nay ta gọi là “chuẩn mực.” Montesquieu tin rằng cấu trúc cứng của các định chế chính trị có thể đủ để kiểm soát quyền lực vượt giới hạn — rằng thiết kế hiến pháp chẳng khác gì một bài toán kỹ thuật: chỉ cần sắp đặt sao cho tham vọng này kiềm chế tham vọng kia, ngay cả khi các nhà lãnh đạo chính trị có nhiều khuyết điểm. Nhiều nhà lập quốc Hoa Kỳ cũng tin điều đó.</p>



<p>Nhưng lịch sử nhanh chóng cho thấy họ đã nhầm. Nếu không có các đổi mới như sự xuất hiện của đảng phái chính trị và các chuẩn mực đi kèm, bản hiến pháp mà họ dày công xây dựng tại Philadelphia có thể đã không tồn tại được lâu. Các định chế không chỉ là những quy tắc chính thức; chúng bao gồm cả những hiểu biết chung về hành vi phù hợp mà người ta áp dụng lên trên các quy tắc ấy. Tài năng của thế hệ lãnh đạo đầu tiên nước Mỹ không nằm ở việc họ tạo ra những thiết chế bất bại, mà ở chỗ — dù khó khăn và không hề nhanh chóng — họ đã thiết lập nên một hệ tập quán và niềm tin chung giúp các định chế đó hoạt động hiệu quả.</p>



<p>Sức mạnh của hệ thống chính trị Mỹ, người ta thường nói, dựa trên điều mà nhà kinh tế học đoạt giải Nobel người Thụy Điển, Gunnar Myrdal, gọi là “Tín điều Mỹ”: những nguyên tắc về tự do cá nhân và bình đẳng. Được viết trong các văn bản lập quốc và được nhắc đi nhắc lại trong lớp học, bài diễn văn, và các trang xã luận, tự do và bình đẳng là những giá trị tự thân. Nhưng chúng không tự thực thi được. <strong>Sự khoan dung lẫn nhau</strong> và <strong>sự tiết chế thể chế</strong> là các nguyên tắc về thủ tục — chúng hướng dẫn chính trị gia cách hành xử vượt ra ngoài khuôn khổ pháp luật, nhằm giúp hệ thống vận hành. Chúng ta nên xem những nguyên tắc thủ tục này cũng là cốt lõi của “Tín điều Mỹ” — bởi nếu thiếu chúng, nền dân chủ của chúng ta không thể hoạt động.</p>



<p>Điều này có những hệ quả quan trọng đối với cách mà công dân phản đối chính quyền Trump. Sau cuộc bầu cử năm 2016, nhiều người trong giới truyền thông cấp tiến cho rằng đảng Dân chủ cần “chiến đấu như Đảng Cộng hòa.” Lý lẽ là: nếu Đảng Cộng hòa phá luật, đảng Dân chủ không còn lựa chọn nào ngoài việc đáp trả tương tự. Hành xử kiềm chế và văn minh khi đối phương đã từ bỏ sự tiết chế chẳng khác gì một võ sĩ bước lên võ đài với một tay bị trói sau lưng. Khi phải đối mặt với một kẻ bắt nạt sẵn sàng làm mọi thứ để chiến thắng, những ai còn tuân thủ luật chơi sẽ dễ bị biến thành kẻ khờ. Việc Đảng Cộng hòa từ chối cho Tổng thống Obama bổ nhiệm ghế Tối cao Pháp viện đã khiến đảng Dân chủ thấy như bị đánh lén — đặc biệt là khi chiến thắng của Trump khiến phía Cộng hòa thoát trách nhiệm. Nhà khoa học chính trị kiêm nhà văn David Faris tiêu biểu cho làn sóng kêu gọi “chiến đấu bẩn”:</p>



<p>“Lập trường thương lượng của đảng Dân chủ trong mọi vấn đề… nên rất đơn giản: hoặc trao Merrick Garland cho chúng tôi, hoặc xin mời quý vị đi chết cháy…. Không chỉ vậy, họ còn nên làm điều lẽ ra đã phải làm ngay ngày Antonin Scalia qua đời: tuyên bố rõ ràng rằng lần tới nếu đảng Dân chủ kiểm soát Thượng viện trong khi Tổng thống là người của Đảng Cộng hòa… thì cái giá phải trả sẽ cực kỳ đắt cho những gì vừa xảy ra. Tổng thống Cộng hòa kế tiếp mà gặp Quốc hội chia rẽ sẽ chẳng được gì cả… Không một đề cử nào được thông qua. Không một thẩm phán nào, dù là ở tòa cấp quận thấp nhất nước. Không Bộ trưởng. Không luật pháp.”</p>



<p>Ngay sau khi Donald Trump đắc cử tổng thống, một số nhân vật cấp tiến đã kêu gọi hành động để ngăn ông nhậm chức. Trong một bài xã luận mang tựa đề <em>“Hãy mạnh mẽ lên, Đảng Dân chủ, và chiến đấu như Đảng Cộng hòa”</em>, đăng tải một tháng trước ngày nhậm chức của Trump, Dahlia Lithwick và David S. Cohen than phiền rằng Đảng Dân chủ đang “không làm gì để ngăn ông ta lại.” Mặc dù có “không thiếu các lý thuyết pháp lý có thể thách thức việc ông Trump được phong tặng,” họ viết, nhưng đảng Dân chủ không theo đuổi những con đường đó. Lithwick và Cohen lập luận rằng Đảng Dân chủ “nên chiến đấu đến cùng” để ngăn Trump bước vào Nhà Trắng — thúc đẩy kiểm phiếu lại và điều tra gian lận ở Michigan, Pennsylvania và Wisconsin, gây áp lực lên Cử tri đoàn, thậm chí tìm cách lật ngược kết quả bầu cử tại tòa án.</p>



<p>Vào ngày nhậm chức, một số nghị sĩ Dân chủ đã đặt nghi vấn về tính chính danh của Donald Trump với tư cách tổng thống. Dân biểu Jerry McNerney của California tẩy chay lễ nhậm chức, tuyên bố cuộc bầu cử “thiếu tính chính danh” do có sự can thiệp từ Nga; tương tự, Dân biểu John Lewis của Georgia khẳng định ông không xem Trump là một “tổng thống hợp pháp.” Gần 70 nghị sĩ Hạ viện từ chối tham dự lễ nhậm chức của Trump.</p>



<p>Sau khi Trump chính thức bước vào Nhà Trắng, một số nhân vật cấp tiến kêu gọi đảng Dân chủ “học theo chiến thuật của GOP và ngăn chặn mọi thứ.” Markos Moulitsas, người sáng lập trang web Daily Kos, tuyên bố: “Không có điều gì nên được thông qua Thượng viện mà đảng Cộng hòa không phải chiến đấu vì nó. Tôi chẳng quan tâm đó là lời cầu nguyện buổi sáng. Tất cả đều nên trở thành một cuộc chiến.”</p>



<p>Một số đảng viên Dân chủ thậm chí còn dấy lên viễn cảnh luận tội sớm. Chưa đầy hai tuần sau lễ nhậm chức, Dân biểu Maxine Waters đăng tweet: “Điều tôi mong muốn nhất là được dẫn dắt @realDonaldTrump tới tận cánh cửa luận tội.” Sau khi Giám đốc FBI James Comey bị sa thải, làn sóng kêu gọi luận tội càng tăng lên, được tiếp sức bởi mức tín nhiệm sụt giảm của Trump và niềm hy vọng đảng Dân chủ sẽ giành lại đa số tại Hạ viện để khởi động tiến trình này. Trong một cuộc phỏng vấn vào tháng 5 năm 2017, bà Waters tuyên bố: “Có người thậm chí không muốn nhắc đến từ đó. Như thể nó quá đỗi viển vông. Quá khó để thực hiện, quá nhiều thứ phải lo nghĩ. Tôi thì không nghĩ vậy.”</p>



<p>Theo quan điểm của chúng tôi, quan niệm rằng đảng Dân chủ nên “chiến đấu như đảng Cộng hòa” là sai lầm. Trước hết, bằng chứng từ các quốc gia khác cho thấy chiến lược như vậy thường mang lại lợi thế cho các nhà độc tài. Các chiến thuật “đốt sạch” thường làm xói mòn sự ủng hộ đối với phe đối lập vì khiến giới ôn hòa sợ hãi. Đồng thời, chúng giúp phe chính phủ đoàn kết lại, khi ngay cả những người bất đồng trong nội bộ đảng cầm quyền cũng tập hợp lại trước một đối lập không khoan nhượng. Và khi phe đối lập sử dụng thủ đoạn, chính phủ có thể dùng đó làm cái cớ để đàn áp.</p>



<p>Điều này đã xảy ra ở Venezuela dưới thời Hugo Chávez. Mặc dù những năm đầu của nhiệm kỳ Chávez diễn ra trong bối cảnh dân chủ, các đối thủ của ông lại hoảng sợ trước giọng điệu dân túy của ông. Lo ngại rằng Chávez sẽ đưa Venezuela theo mô hình xã hội chủ nghĩa kiểu Cuba, họ đã tìm cách loại bỏ ông sớm — bằng mọi phương tiện cần thiết. Vào tháng 4 năm 2002, các lãnh đạo phe đối lập hậu thuẫn cho một cuộc đảo chính quân sự, không chỉ thất bại mà còn hủy hoại hoàn toàn hình ảnh dân chủ của họ. Không bỏ cuộc, phe đối lập tiếp tục phát động một cuộc tổng đình công vô thời hạn vào tháng 12 cùng năm, với mục tiêu làm tê liệt đất nước cho đến khi Chávez từ chức. Cuộc đình công kéo dài hai tháng, gây thiệt hại ước tính 4,5 tỷ USD, nhưng cuối cùng vẫn thất bại. Sau đó, các lực lượng chống Chávez tẩy chay cuộc bầu cử lập pháp năm 2005, nhưng kết quả chỉ là nhường toàn quyền kiểm soát quốc hội cho phe chavista. Cả ba chiến lược đều phản tác dụng. Không chỉ thất bại trong việc lật đổ Chávez, phe đối lập còn mất đi sự ủng hộ từ công chúng, bị Chávez gán mác là phản dân chủ, và trao cho chính phủ cái cớ để thanh trừng quân đội, cảnh sát, và tòa án, bắt giữ hoặc trục xuất những người bất đồng chính kiến, và đóng cửa các cơ quan truyền thông độc lập. Bị suy yếu và mất uy tín, phe đối lập không thể ngăn chặn đà trượt dốc sang độc tài của chế độ.</p>



<p>Chiến lược của phe đối lập ở Colombia dưới thời Tổng thống Álvaro Uribe thì thành công hơn. Uribe, đắc cử năm 2002, đã tiến hành một cuộc thâu tóm quyền lực không khác Chávez là mấy: chính quyền của ông tấn công các nhà phê bình bằng cách gán họ là phản động hoặc khủng bố, theo dõi các đối thủ và nhà báo, tìm cách làm suy yếu hệ thống tư pháp, và hai lần tìm cách sửa đổi hiến pháp để có thể tranh cử nhiệm kỳ ba. Đáp lại, không giống như các đồng nghiệp Venezuela, phe đối lập Colombia không tìm cách lật đổ Uribe bằng các phương thức ngoài hiến pháp. Thay vào đó, như nhà khoa học chính trị Laura Gamboa cho thấy, họ tập trung nỗ lực vào quốc hội và tòa án. Việc này khiến Uribe khó có thể nghi ngờ tính chính danh dân chủ của đối thủ, hay biện minh cho các biện pháp đàn áp. Bất chấp những lạm quyền của Uribe, Colombia đã không rơi vào vòng xoáy đấu đá thể chế như Venezuela, và các định chế dân chủ vẫn đứng vững. Vào tháng 2 năm 2010, Tòa án Hiến pháp đã bác bỏ nỗ lực tái tranh cử lần ba của Uribe, buộc ông phải rời nhiệm sở sau hai nhiệm kỳ. Bài học là: nơi nào vẫn còn kênh thể chế, phe đối lập nên sử dụng chúng.</p>



<p>Ngay cả nếu đảng Dân chủ thành công trong việc làm suy yếu hoặc phế truất Tổng thống Trump bằng những chiến thuật cứng rắn, thì chiến thắng ấy cũng sẽ là một chiến thắng kiểu “Pyrrhus” — bởi họ sẽ thừa hưởng một nền dân chủ đã bị tước mất những hàng rào bảo vệ cuối cùng. Nếu chính quyền Trump bị khuất phục bởi sự cản trở toàn diện, hoặc nếu Trump bị luận tội mà không có sự đồng thuận lưỡng đảng vững chắc, hậu quả sẽ là làm sâu sắc thêm — và có thể đẩy nhanh — động lực của sự thù ghét đảng phái và sự xói mòn chuẩn mực đã đưa Trump lên nắm quyền ngay từ đầu. Có thể đến một phần ba quốc gia sẽ xem việc luận tội Trump như một âm mưu lớn của cánh tả — thậm chí là một cuộc đảo chính. Chính trường Mỹ sẽ trở nên cực kỳ bất ổn.</p>



<p>Kiểu leo thang như thế hiếm khi có kết cục tốt đẹp. Nếu đảng Dân chủ không cố gắng khôi phục các chuẩn mực về khoan dung lẫn nhau và tiết chế thể chế, thì vị tổng thống tiếp theo của họ sẽ phải đối mặt với một phe đối lập sẵn sàng làm mọi thứ để đánh bại họ. Và nếu sự chia rẽ đảng phái tiếp tục đào sâu, các quy tắc bất thành văn tiếp tục mục nát, người Mỹ hoàn toàn có thể bầu ra một tổng thống còn nguy hiểm hơn cả Trump.</p>



<p>Việc phản đối các hành vi mang tính độc tài của chính quyền Trump cần phải mạnh mẽ, nhưng mục tiêu nên là bảo vệ, chứ không phải vi phạm các quy tắc và chuẩn mực dân chủ. Nếu có thể, sự phản kháng nên tập trung vào Quốc hội, tòa án, và dĩ nhiên là các cuộc bầu cử. Nếu Trump bị đánh bại thông qua các định chế dân chủ, thì chính các định chế đó sẽ được củng cố.</p>



<p>Hoạt động biểu tình cũng nên được nhìn nhận theo hướng đó. Biểu tình công khai là một quyền cơ bản và là hoạt động thiết yếu trong bất kỳ nền dân chủ nào, nhưng mục tiêu nên là bảo vệ các quyền và định chế — chứ không phải làm gián đoạn chúng. Trong một nghiên cứu quan trọng về tác động của các cuộc biểu tình do người da đen lãnh đạo vào những năm 1960, nhà khoa học chính trị Omar Wasow phát hiện rằng các cuộc biểu tình bất bạo động giúp củng cố chương trình nghị sự về quyền công dân tại Washington và mở rộng sự ủng hộ của công chúng. Ngược lại, biểu tình bạo lực lại dẫn đến sự suy giảm ủng hộ từ người da trắng, và có thể đã góp phần khiến cuộc bầu cử năm 1968 nghiêng về phía Nixon thay vì Humphrey.</p>



<p><strong>***</strong></p>



<p>Chúng ta nên học hỏi từ chính lịch sử của mình. Các lực lượng chống Trump cần xây dựng một liên minh rộng lớn nhằm bảo vệ dân chủ. Ngày nay, việc hình thành liên minh thường chỉ là sự hợp tác giữa những nhóm có cùng chí hướng: Các hội đường Do Thái cấp tiến, nhà thờ Hồi giáo, giáo xứ Công giáo và nhà thờ Trưởng Lão có thể liên kết thành một liên minh liên tôn để chống đói nghèo hay sự kỳ thị chủng tộc; hoặc các nhóm người Latinh, các tổ chức tôn giáo và các nhóm bảo vệ quyền dân sự có thể hình thành liên minh để bảo vệ quyền lợi người nhập cư. Những liên minh cùng chí hướng như vậy là cần thiết, nhưng chưa đủ để bảo vệ nền dân chủ. Những liên minh hiệu quả nhất là những liên minh kết nối các nhóm khác biệt — thậm chí đối lập — trong nhiều vấn đề. Chúng không được xây dựng giữa những người bạn, mà giữa những người từng là đối thủ. Do đó, một liên minh hiệu quả nhằm bảo vệ nền dân chủ Mỹ có thể sẽ đòi hỏi phe cấp tiến phải xây dựng quan hệ hợp tác với các lãnh đạo doanh nghiệp, các lãnh đạo tôn giáo (đặc biệt là giới Tin Lành da trắng), và các đảng viên Cộng hòa ở các bang bảo thủ. Lãnh đạo doanh nghiệp có thể không phải là đồng minh tự nhiên của giới hoạt động Dân chủ, nhưng họ có lý do chính đáng để phản đối một chính quyền bất ổn và vi phạm luật lệ. Và họ có thể là những đối tác rất có sức mạnh. Hãy nghĩ đến các phong trào tẩy chay gần đây nhắm vào các chính quyền bang không công nhận ngày lễ Martin Luther King Jr., vẫn còn treo cờ Liên minh miền Nam cũ, hoặc vi phạm quyền của người đồng tính và người chuyển giới. Khi các tập đoàn lớn tham gia tẩy chay cùng với phe cấp tiến, các chiến dịch ấy thường giành được thành công.</p>



<p>Việc xây dựng những liên minh vượt ra ngoài phạm vi đồng minh tự nhiên là rất khó khăn. Nó đòi hỏi ta phải sẵn sàng gác lại, trong chốc lát, những vấn đề mà ta vô cùng quan tâm. Nếu phe cấp tiến đặt ra những điều kiện như ủng hộ quyền phá thai hay chăm sóc sức khỏe toàn dân như các “tiêu chuẩn sàng lọc” để tham gia liên minh, thì gần như không thể kết nạp được các lãnh đạo doanh nghiệp Cộng hòa hay người Tin Lành bảo thủ. Chúng ta cần mở rộng tầm nhìn dài hạn, chấp nhận sự nhượng bộ khó khăn. Điều này không có nghĩa là từ bỏ các lý tưởng quan trọng. Nó có nghĩa là tạm gác các bất đồng để tìm điểm tựa đạo đức chung.</p>



<p>Một liên minh đối lập rộng lớn sẽ mang lại nhiều lợi ích thiết thực. Trước hết, nó sẽ tăng cường sức mạnh cho những người bảo vệ dân chủ bằng cách mở rộng phạm vi ảnh hưởng ra một khu vực dân chúng rộng lớn hơn. Thay vì giới hạn phong trào chống Trump trong các cộng đồng cấp tiến ở các bang xanh, liên minh này sẽ mở rộng ra khắp nước Mỹ. Sự tham gia đa dạng này có ý nghĩa then chốt để cô lập và đánh bại các chế độ độc tài.</p>



<p>Hơn nữa, trong khi một liên minh chống Trump hẹp (chỉ gồm các thành phần đô thị, thế tục, cấp tiến) sẽ củng cố thêm các trục chia rẽ đảng phái hiện tại, thì một liên minh rộng hơn sẽ cắt ngang những trục đó và thậm chí có thể giúp làm dịu chúng. Một phong trào chính trị tập hợp được — dù chỉ tạm thời — những người ủng hộ Bernie Sanders và giới doanh nghiệp, người Tin Lành và nhà hoạt động nữ quyền thế tục, người Cộng hòa ở thị trấn nhỏ và người ủng hộ Black Lives Matter ở đô thị, sẽ mở ra các kênh giao tiếp xuyên qua hố sâu đảng phái đang chia cắt nước Mỹ. Và điều đó có thể góp phần tạo ra những sự gắn bó chéo nhau (crosscutting allegiances) trong một xã hội đang quá thiếu điều đó. Trong một xã hội mà các chia rẽ chính trị có tính chéo nhau, ta có thể đứng về các phe khác nhau trong từng vấn đề, cùng với những người khác nhau ở từng thời điểm. Ta có thể bất đồng với hàng xóm về quyền phá thai nhưng lại đồng thuận về chăm sóc sức khỏe; ta có thể không thích quan điểm nhập cư của người khác nhưng lại cùng họ ủng hộ việc tăng lương tối thiểu. Những liên minh như vậy giúp chúng ta hình thành và duy trì các chuẩn mực về sự khoan dung lẫn nhau. Khi chúng ta thỉnh thoảng vẫn đồng tình với đối thủ chính trị, ta sẽ ít có khuynh hướng xem họ như kẻ thù không đội trời chung.</p>



<p>Việc suy nghĩ cách chống lại những hành vi lạm quyền của chính quyền Trump rõ ràng là rất quan trọng. Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi mà nền dân chủ Mỹ đang đối mặt vẫn là sự chia rẽ đảng phái cực độ — một tình trạng không chỉ xuất phát từ khác biệt chính sách mà còn bắt nguồn từ các oán giận sâu sắc hơn, bao gồm khác biệt chủng tộc và tôn giáo. Cuộc phân cực dữ dội này đã bắt đầu trước khi Trump lên nắm quyền, và rất có thể sẽ còn tiếp diễn sau khi ông rời ghế tổng thống.</p>



<p>Trước sự phân cực cực độ, các nhà lãnh đạo chính trị có hai lựa chọn. Một là chấp nhận thực tế phân cực và tìm cách hóa giải nó bằng sự hợp tác và thỏa hiệp ở cấp lãnh đạo. Đó là điều các chính trị gia Chile đã làm. Như ta đã thấy trong Chương 5, sự xung đột gay gắt giữa đảng Xã hội và đảng Dân chủ Thiên Chúa giáo đã góp phần làm sụp đổ nền dân chủ Chile vào năm 1973. Sự ngờ vực sâu sắc giữa hai đảng này kéo dài trong nhiều năm sau đó, lấn át cả sự ghê tởm chung của họ với chế độ độc tài Pinochet. Ricardo Lagos, lãnh đạo đảng Xã hội sống lưu vong, từng giảng dạy tại Đại học North Carolina, nhớ lại rằng khi cựu tổng thống Eduardo Frei Montalva đến thăm trường năm 1975, ông cảm thấy không thể chịu nổi việc phải gặp mặt ông ta — nên đã viện lý do bị bệnh.</p>



<p>Nhưng rồi các chính trị gia bắt đầu trò chuyện. Năm 1978, Lagos trở lại Chile và được cựu thượng nghị sĩ Dân chủ Thiên Chúa giáo Tomás Reyes mời ăn tối. Họ bắt đầu gặp nhau thường xuyên. Cùng thời điểm, lãnh đạo Dân chủ Thiên Chúa giáo Patricio Aylwin cũng tham dự các cuộc gặp mặt giữa các luật sư và học giả từ nhiều khuynh hướng chính trị khác nhau, phần lớn là những người từng gặp nhau tại tòa án khi bảo vệ tù nhân chính trị. Những buổi gặp mặt của “Nhóm 24” chỉ là các bữa tối thân mật tại nhà riêng, nhưng theo lời Aylwin, chúng “xây dựng lòng tin giữa những người từng là đối thủ.” Cuối cùng, những cuộc trò chuyện ấy kết trái. Vào tháng 8 năm 1985, đảng Dân chủ Thiên Chúa giáo, đảng Xã hội và 19 đảng khác tập hợp tại Câu lạc bộ Tây Ban Nha sang trọng ở Santiago và ký kết <em>Hiệp ước Quốc gia về Chuyển tiếp sang Nền Dân chủ Toàn diện</em>. Bản hiệp ước này đặt nền móng cho liên minh <em>Concertación Dân chủ</em>. Liên minh này vận hành theo nguyên tắc “chính trị đồng thuận,” trong đó các quyết sách then chốt được thương lượng giữa lãnh đạo đảng Xã hội và Dân chủ Thiên Chúa giáo. Liên minh đã thành công. Không chỉ đánh bại Pinochet trong cuộc trưng cầu dân ý năm 1988, họ còn giành được chức tổng thống vào năm 1989 và nắm giữ vị trí này suốt hai thập kỷ.</p>



<p><em>Concertación</em> đã phát triển một phong cách điều hành rất khác với chính trị thập niên 1970. Lo sợ rằng xung đột tái phát có thể đe dọa nền dân chủ non trẻ của Chile, các lãnh đạo đã hình thành một thông lệ hợp tác phi chính thức — được gọi là “nền dân chủ của các thỏa thuận” — trong đó tổng thống tham vấn với lãnh đạo của mọi đảng trước khi trình dự luật ra quốc hội. Hiến pháp Pinochet năm 1980 đã tạo ra một nhánh hành pháp mạnh mẽ với quyền gần như tuyệt đối trong việc áp đặt ngân sách, nhưng Tổng thống Aylwin, thuộc đảng Dân chủ Thiên Chúa giáo, đã tham vấn rộng rãi với cả đảng Xã hội lẫn các đảng khác trước khi đưa ra đề xuất ngân sách. Và ông không chỉ tham vấn với đồng minh. Aylwin còn thương lượng lập pháp với các đảng cánh hữu từng ủng hộ chế độ độc tài và bênh vực Pinochet. Theo nhà khoa học chính trị Peter Siavelis, những chuẩn mực mới “đã giúp tránh được các xung đột tiềm tàng có thể làm bất ổn liên minh lẫn quan hệ giữa liên minh và phe đối lập.” Chile đã trở thành một trong những nền dân chủ ổn định và thành công nhất tại châu Mỹ Latinh suốt ba thập kỷ qua.</p>



<p>Khả năng đảng Dân chủ và đảng Cộng hòa noi theo con đường của Chile là điều đáng nghi ngờ. Chính trị gia rất dễ than phiền về sự thiếu hợp tác hay tiếc nuối về thời kỳ lưỡng đảng trong quá khứ. Nhưng việc tạo dựng chuẩn mực là một nỗ lực tập thể — điều đó chỉ xảy ra khi có một khối lượng đủ lớn các nhà lãnh đạo chấp nhận và tuân theo các quy tắc bất thành văn mới. Điều này thường chỉ diễn ra khi các chính trị gia từ khắp các phe phái đã nhìn thấy vực thẳm trước mắt — và nhận ra rằng nếu không tìm cách xử lý tình trạng phân cực, nền dân chủ sẽ chết. Thường thì chỉ khi họ trải qua cú sốc của một chế độ độc tài bạo lực, như ở Chile, hoặc thậm chí một cuộc nội chiến, như ở Tây Ban Nha, thì tầm quan trọng của vấn đề mới thật sự hiển hiện.</p>



<p>Lựa chọn thay thế cho việc học cách hợp tác dù có phân cực, là cố gắng vượt qua sự phân cực đó. Ở Mỹ, các nhà khoa học chính trị đã đề xuất một loạt cải cách bầu cử — chấm dứt nạn chia khu vực gian lận (<em>gerrymandering</em>), bầu cử sơ bộ mở, bắt buộc đi bầu, các quy tắc thay thế trong bầu cử quốc hội — tất cả nhằm giảm thù địch đảng phái. Tuy nhiên, bằng chứng về tính hiệu quả của chúng vẫn chưa rõ ràng. Chúng tôi cho rằng, sẽ hữu ích hơn nếu tập trung vào hai động lực cơ bản đang thúc đẩy sự phân cực ở Mỹ: tái cấu trúc chủng tộc – tôn giáo và bất bình đẳng kinh tế ngày càng gia tăng. Giải quyết được các nền tảng xã hội đó, theo chúng tôi, sẽ đòi hỏi một sự tái định hình vai trò và bản sắc của các chính đảng Mỹ.</p>



<p>Chính Đảng Cộng hòa mới là lực đẩy chính khiến hố sâu giữa hai đảng ngày càng rộng thêm. Kể từ năm 2008, GOP (Đảng Cộng hòa) đôi lúc đã hành xử như một đảng chống hệ thống, thông qua chiến lược cản phá triệt để, thái độ thù địch đảng phái, và những lập trường chính sách cực đoan. Cuộc hành trình kéo dài 25 năm đi về phía hữu của đảng này chỉ trở thành hiện thực khi phần cốt lõi tổ chức của họ bị xói mòn nghiêm trọng. Trong suốt quý thế kỷ qua, cơ cấu lãnh đạo của đảng đã bị bào mòn — trước hết là bởi sự trỗi dậy của các nhóm bên ngoài có nguồn tài trợ dồi dào (như Americans for Tax Freedom, Americans for Prosperity và nhiều nhóm khác), những nhóm có khả năng gây quỹ lớn đến mức có thể chi phối nghị trình chính sách của nhiều nghị sĩ GOP. Bên cạnh đó là ảnh hưởng ngày càng lớn của Fox News và các phương tiện truyền thông cánh hữu. Những nhà tài trợ lớn như anh em nhà Koch và các nhân vật truyền thông có ảnh hưởng đang chi phối các chính trị gia Cộng hòa nhiều hơn cả chính lãnh đạo đảng của họ. Đảng Cộng hòa vẫn chiến thắng ở nhiều nơi trên toàn quốc, nhưng cái gọi là “giới tinh hoa” trong nội bộ đảng giờ đây chỉ còn là cái bóng. Việc bị rút ruột như vậy khiến đảng dễ dàng bị chiếm quyền kiểm soát bởi các phần tử cực đoan.</p>



<p>Muốn giảm tình trạng phân cực, thì Đảng Cộng hòa phải được cải tổ — nếu không muốn nói là tái lập hoàn toàn. Trước hết, GOP cần xây dựng lại chính tầng lớp lãnh đạo của mình. Điều đó có nghĩa là phải giành lại quyền kiểm soát trong bốn lĩnh vực then chốt: tài chính, tổ chức cơ sở, truyền thông và chọn ứng viên. Chỉ khi giới lãnh đạo đảng tự giải thoát khỏi sự khống chế của các nhà tài trợ bên ngoài và truyền thông cánh hữu, họ mới có thể bắt đầu quá trình cải cách. Điều này đòi hỏi những thay đổi sâu rộng: GOP phải cô lập các phần tử cực đoan; phải xây dựng một thành phần cử tri đa dạng hơn để đảng không còn phụ thuộc quá nhiều vào khối cử tri da trắng theo đạo Cơ Đốc đang thu hẹp; và họ phải tìm cách chiến thắng bầu cử mà không dựa vào chủ nghĩa dân tộc da trắng — điều mà Thượng nghị sĩ Jeff Flake (bang Arizona) gọi là “cơn hưng phấn chóng vánh của chủ nghĩa dân túy, bài ngoại, và mị dân.”</p>



<p>Tái lập một chính đảng trung hữu lớn tại Mỹ là một thách thức lớn, nhưng trong lịch sử từng có những tiền lệ — thậm chí còn diễn ra trong hoàn cảnh khó khăn hơn. Và mỗi khi thành công, cải cách đảng bảo thủ đã mở đường cho sự tái sinh của nền dân chủ. Một ví dụ đặc biệt là quá trình dân chủ hóa Tây Đức sau Thế chiến II. Trung tâm của thành tựu đó là sự ra đời của Đảng Liên minh Dân chủ Cơ đốc (CDU) — được hình thành từ đống đổ nát của một truyền thống bảo thủ và cực hữu bị mất uy tín.</p>



<p>Trước thập niên 1940, Đức chưa từng có một chính đảng bảo thủ nào vừa có tổ chức tốt, vừa giành được nhiều phiếu bầu, lại vừa ôn hòa và dân chủ. Chủ nghĩa bảo thủ Đức luôn bị chia rẽ nội bộ và yếu kém về tổ chức. Đặc biệt, sự chia rẽ sâu sắc giữa người Tin Lành bảo thủ và người Công giáo đã tạo ra một khoảng trống chính trị ở phe trung hữu — nơi mà các lực lượng cực đoan và độc tài dễ dàng xâm nhập. Động lực ấy đã đạt đến cực điểm khi Hitler nắm được quyền lực.</p>



<p>Sau năm 1945, trung hữu Đức được tái lập theo một nền tảng khác. CDU tách khỏi các thế lực cực đoan và độc tài — đảng này do các nhân vật bảo thủ có “lý lịch chống phát xít không thể chối cãi” sáng lập, như Konrad Adenauer. Các tuyên bố lập đảng đã khẳng định rõ rằng CDU đối lập trực tiếp với chế độ trước và tất cả những gì nó đại diện. Lãnh đạo CDU Andreas Hermes từng nói vào năm 1945: <em>“Một thế giới cũ đã sụp đổ và chúng ta muốn xây dựng một thế giới mới…”</em> CDU đưa ra một viễn cảnh rõ ràng về một nước Đức dân chủ: một xã hội Cơ đốc giáo từ chối độc tài và tôn vinh tự do, khoan dung.</p>



<p>CDU cũng đã mở rộng và đa dạng hóa nền tảng cử tri của mình, bằng cách thu hút cả người Công giáo và Tin Lành — một điều từng là thách thức lớn. Nhưng chấn thương của chủ nghĩa Quốc xã và Thế chiến II đã khiến các lãnh đạo Công giáo và Tin Lành bảo thủ vượt qua những chia rẽ từng làm rạn nứt xã hội Đức. Một lãnh đạo CDU cấp vùng từng nói: <em>“Sự hợp tác chặt chẽ giữa người Công giáo và Tin Lành, vốn đã xảy ra trong các nhà tù, hầm ngục và trại tập trung, đã chấm dứt cuộc xung đột cũ và bắt đầu xây dựng những cây cầu mới.”</em> Khi các lãnh đạo CDU Công giáo và Tin Lành gõ cửa từng ngôi nhà trong thời kỳ 1945–46, họ đã khơi dậy một chính đảng trung hữu mới sẽ định hình lại xã hội Đức. CDU đã trở thành trụ cột của nền dân chủ Đức hậu chiến.</p>



<p>Hoa Kỳ từng đóng vai trò lớn trong việc khuyến khích hình thành CDU. Vì vậy, thật mỉa mai khi giờ đây, người Mỹ có thể học từ những nỗ lực mà chính họ từng giúp thực hiện để cứu nền dân chủ của chính mình. Xin nói rõ: chúng tôi không so sánh Donald Trump hay bất kỳ chính trị gia Cộng hòa nào với phát xít Đức. Nhưng quá trình tái thiết phe trung hữu tại Đức có thể gợi mở những bài học hữu ích cho GOP hiện nay. Cũng như CDU, Đảng Cộng hòa cần loại trừ các phần tử cực đoan, cắt đứt hoàn toàn với chủ nghĩa độc tài và chủ nghĩa dân tộc da trắng của chính quyền Trump, và tìm cách mở rộng nền tảng cử tri vượt ra ngoài khối da trắng theo đạo Cơ Đốc. CDU có thể là một hình mẫu: nếu GOP từ bỏ chủ nghĩa dân tộc da trắng và giảm bớt lập trường thị trường tự do cực đoan, thì một chiến lược dựa trên liên minh tôn giáo bảo thủ rộng hơn có thể giúp họ xây dựng một nền tảng ổn định hơn — chẳng hạn, thu hút cử tri Tin Lành và Công giáo, đồng thời có thể tiếp cận đáng kể các cộng đồng thiểu số.</p>



<p>Dĩ nhiên, quá trình tái lập chủ nghĩa bảo thủ Đức chỉ diễn ra sau một thảm họa lớn. CDU không có lựa chọn nào khác ngoài việc tái sinh. Câu hỏi đặt ra cho Đảng Cộng hòa ngày nay là: liệu họ có thể cải tổ trước khi nước Mỹ rơi vào một cuộc khủng hoảng sâu hơn? Liệu các nhà lãnh đạo của họ có đủ tầm nhìn và dũng khí chính trị để định hướng lại một đảng đang ngày càng mất kiểm soát, hay họ sẽ cần đến một thảm họa để thúc đẩy sự thay đổi?</p>



<p>Dù Đảng Dân chủ không phải là tác nhân chính gây nên sự phân cực ngày càng trầm trọng tại Mỹ, họ vẫn có thể đóng vai trò trong việc giảm bớt nó. Một số thành viên đảng Dân chủ đã đề xuất rằng đảng nên tập trung giành lại tầng lớp lao động da trắng — những cử tri không có bằng đại học. Đây từng là một chủ đề nổi bật sau thất bại cay đắng của Hillary Clinton năm 2016. Cả Bernie Sanders lẫn một số nhân vật ôn hòa đều khẳng định rằng đảng Dân chủ cần giành lại những cử tri lao động vốn từng ủng hộ họ nhưng đã quay lưng tại các vùng như Rust Belt, Appalachia và nhiều nơi khác. Để làm được điều đó, nhiều nhà bình luận cho rằng đảng Dân chủ nên rút lại sự ủng hộ đối với người nhập cư và cái gọi là “chính trị bản sắc” — một thuật ngữ mơ hồ thường bao gồm việc thúc đẩy sự đa dạng sắc tộc và, gần đây hơn, các phong trào chống bạo lực cảnh sát như Black Lives Matter. Trong một bài xã luận trên <em>New York Times</em>, Mark Penn và Andrew Stein đã kêu gọi đảng Dân chủ từ bỏ “chính trị bản sắc” và ôn hòa hóa lập trường về nhập cư để giành lại cử tri da trắng thuộc tầng lớp lao động. Dù hiếm khi được nói trắng ra, nhưng thông điệp cốt lõi là: đảng Dân chủ cần giảm vai trò của các nhóm thiểu số để giành lại cử tri da trắng.</p>



<p>Chiến lược này <em>có thể</em> giúp giảm phân cực đảng phái. Nếu đảng Dân chủ từ bỏ những yêu cầu của các nhóm thiểu số sắc tộc hoặc đẩy họ xuống cuối danh sách ưu tiên, họ gần như chắc chắn sẽ giành lại được một số cử tri da trắng thuộc tầng lớp trung lưu và lao động. Trên thực tế, đảng sẽ quay lại mô hình của những năm 1980 và 1990 — một đảng mà gương mặt công khai chủ yếu là người da trắng, còn các cộng đồng thiểu số chỉ đóng vai trò phụ. Đảng Dân chủ sẽ — một cách rất cụ thể — bắt đầu giống với đảng Cộng hòa. Và khi họ xích lại gần hơn với các lập trường của Trump về nhập cư và bình đẳng chủng tộc (tức là chấp nhận ít hơn cả hai), họ sẽ trở nên bớt đe dọa trong mắt khối cử tri nền tảng của đảng Cộng hòa.</p>



<p>Chúng tôi cho rằng đây là một ý tưởng tồi tệ. Việc tìm cách làm giảm ảnh hưởng của các nhóm thiểu số trong đảng — và chúng tôi không thể nhấn mạnh điều này đủ mạnh — là cách sai lầm để làm dịu tình trạng phân cực. Hướng đi đó sẽ lặp lại những sai lầm đáng xấu hổ nhất trong lịch sử nước Mỹ. Khi quốc gia này được thành lập, chế độ thống trị chủng tộc vẫn được duy trì, và cuối cùng đã dẫn đến Nội chiến. Khi đảng Dân chủ và Cộng hòa cuối cùng cũng hòa giải sau thời kỳ Tái thiết thất bại, sự hòa giải ấy lại một lần nữa dựa trên nền tảng của sự loại trừ chủng tộc. Các cuộc cải cách trong thập niên 1960 đã cho người Mỹ cơ hội lần thứ ba để xây dựng một nền dân chủ đa sắc tộc thực sự. Chúng ta bắt buộc phải thành công, dù nhiệm vụ này vô cùng gian nan. Như đồng nghiệp của chúng tôi, Danielle Allen, từng viết:</p>



<p><em>&#8220;Sự thật đơn giản là: thế giới chưa từng xây dựng được một nền dân chủ đa sắc tộc trong đó không có một nhóm sắc tộc nào chiếm đa số, và nơi đó đạt được bình đẳng chính trị, bình đẳng xã hội và một nền kinh tế trao quyền cho tất cả mọi người.&#8221;</em></p>



<p>Đó chính là thách thức lớn nhất của nước Mỹ. Chúng ta không thể lùi bước trước nó.</p>



<p>Tuy nhiên, vẫn còn những cách khác để đảng Dân chủ góp phần tái cấu trúc lại bối cảnh chính trị. Cường độ của sự thù ghét đảng phái ở Mỹ ngày nay là kết quả tổng hợp không chỉ từ sự đa dạng chủng tộc ngày càng tăng, mà còn từ tình trạng tăng trưởng kinh tế chậm lại, tiền lương trì trệ ở nửa dưới của thang thu nhập, và bất bình đẳng kinh tế ngày càng sâu sắc. Sự phân cực đảng phái mang màu sắc sắc tộc ngày nay phản ánh thực tế rằng sự gia tăng đa dạng chủng tộc diễn ra đồng thời với giai đoạn tăng trưởng kinh tế chững lại — đặc biệt là từ năm 1975 đến nay — vốn ảnh hưởng nặng nề đến tầng lớp thu nhập thấp. Đối với nhiều người Mỹ, những thay đổi kinh tế trong vài thập niên qua đã dẫn đến tình trạng công việc kém an toàn hơn, giờ làm việc dài hơn, ít cơ hội thăng tiến hơn, và hậu quả là sự bất mãn xã hội gia tăng. Chính sự bất mãn đó là nhiên liệu cho phân cực. Một cách để xử lý tình trạng phân cực đảng phái ngày càng sâu sắc, là thực sự giải quyết các mối quan tâm “cơm áo gạo tiền” của những tầng lớp dân chúng đã bị bỏ rơi — bất kể họ thuộc sắc tộc nào.</p>



<p>Tuy nhiên, các chính sách nhằm giảm bất bình đẳng kinh tế có thể gây chia rẽ hoặc hàn gắn, tùy thuộc vào cách tổ chức chúng. Khác với nhiều nền dân chủ tiên tiến khác, chính sách xã hội ở Mỹ phần lớn dựa vào cơ chế “kiểm tra thu nhập” — chỉ hỗ trợ những người có thu nhập dưới ngưỡng nhất định hoặc đủ điều kiện theo tiêu chí khác. Cách tiếp cận này thường khiến tầng lớp trung lưu có cảm giác rằng chỉ người nghèo mới được hưởng lợi từ chính sách xã hội. Và bởi vì lịch sử Hoa Kỳ gắn chặt nghèo đói với các nhóm thiểu số, nên các chương trình như vậy dễ bị gán nhãn phân biệt chủng tộc. Những người phản đối chính sách xã hội thường sử dụng ngôn ngữ ám chỉ chủng tộc để công kích các chương trình này — ví dụ điển hình là các phát ngôn của Ronald Reagan về những “nữ hoàng trợ cấp” (<em>welfare queens</em>) hay “mấy cậu trai trẻ mua thịt bò bằng tem phiếu thực phẩm.”</p>



<p>Ngược lại, một chương trình chính sách xã hội từ bỏ cơ chế kiểm tra ngặt nghèo về thu nhập, theo mô hình phổ quát như ở Bắc Âu, có thể mang lại hiệu ứng điều hòa trong chính trị. Những chính sách xã hội mang lại lợi ích cho tất cả mọi người — như An sinh xã hội và Medicare — đã giúp xoa dịu sự bất mãn, xây dựng cầu nối giữa các nhóm cử tri đa dạng của nước Mỹ, và tạo nền tảng vững chắc cho những chính sách bền vững nhằm giảm bất bình đẳng — mà không kích động phản ứng dữ dội mang động cơ chủng tộc.</p>



<p>Bảo hiểm y tế toàn diện là một ví dụ tiêu biểu. Các ví dụ khác bao gồm: tăng mức lương tối thiểu một cách quyết liệt hơn; thu nhập cơ bản phổ quát — một chính sách từng được cân nhắc nghiêm túc và thậm chí đã được chính quyền Nixon trình lên Quốc hội. Một ví dụ nữa là các chính sách “gia đình”, bao gồm nghỉ phép có lương cho cha mẹ, hỗ trợ chi phí chăm sóc trẻ cho các gia đình có cha mẹ đi làm, và giáo dục mầm non cho hầu như tất cả trẻ em. Chi tiêu của Mỹ cho các chính sách gia đình hiện nay chỉ bằng một phần ba mức trung bình của các quốc gia phát triển, khiến Mỹ gần như xếp ngang với Mexico và Thổ Nhĩ Kỳ. Cuối cùng, đảng Dân chủ có thể cân nhắc các chính sách toàn diện hơn cho thị trường lao động, chẳng hạn như các chương trình đào tạo nghề rộng khắp, trợ cấp tiền lương để doanh nghiệp giữ và đào tạo nhân công, chương trình học – làm cho học sinh trung học và sinh viên đại học cộng đồng, và trợ cấp di chuyển cho những lao động bị thất nghiệp. Những chính sách như vậy không chỉ có tiềm năng giảm bất bình đẳng kinh tế — yếu tố đang đốt nóng ngọn lửa phân cực và bất mãn — mà còn có thể giúp hình thành một liên minh bền vững và rộng lớn, qua đó tái cấu trúc lại chính trị Hoa Kỳ.</p>



<p>Tất nhiên, việc thông qua các chính sách nhằm giải quyết bất bình đẳng xã hội và kinh tế là điều rất khó về mặt chính trị — một phần là vì chính sự phân cực (và sự tê liệt thể chế kéo theo) mà những chính sách này đang cố gắng giải quyết. Và chúng tôi không ảo tưởng về những trở ngại trong việc xây dựng một liên minh đa chủng tộc — tức là liên minh giữa các nhóm thiểu số sắc tộc và người lao động da trắng. Chúng tôi không thể chắc chắn rằng những chính sách phổ quát sẽ tạo được nền tảng cho liên minh như vậy — chỉ là chúng có nhiều khả năng thành công hơn so với những chương trình bị kiểm tra thu nhập hiện tại.</p>



<p>Dù khó khăn đến mấy, đảng Dân chủ cũng phải giải quyết vấn đề bất bình đẳng. Bởi lẽ, đây không chỉ là vấn đề công lý xã hội. Mà chính là điều kiện sinh tồn của nền dân chủ của chúng ta.</p>



<p>Khi so sánh tình cảnh hiện tại của chúng ta với các cuộc khủng hoảng dân chủ ở những nơi khác trên thế giới và vào những thời điểm khác trong lịch sử, ta sẽ thấy rằng nước Mỹ không hề khác biệt so với các quốc gia khác. Hệ thống hiến pháp của chúng ta — tuy cổ xưa và vững chãi hơn bất kỳ hệ thống nào từng tồn tại — vẫn dễ tổn thương trước những căn bệnh từng hủy hoại các nền dân chủ khác. Cuối cùng thì, nền dân chủ Mỹ phụ thuộc vào chính chúng ta — những công dân Hoa Kỳ. Không một lãnh đạo chính trị nào có thể một mình làm sụp đổ một nền dân chủ; cũng không ai có thể một mình cứu được nó. Dân chủ là một công trình tập thể. Số phận của nó phụ thuộc vào tất cả chúng ta.</p>



<p>Trong những ngày đen tối nhất của Thế chiến II, khi chính tương lai nước Mỹ bị đe dọa, nhà văn E. B. White được Ban Văn chương Chiến tranh của Chính phủ Hoa Kỳ mời viết một phản hồi ngắn cho câu hỏi: <em>“Dân chủ là gì?”</em> Câu trả lời của ông mộc mạc nhưng truyền cảm. Ông viết:</p>



<p>“Chắc hẳn Ban Văn chương đã biết dân chủ là gì. Dân chủ là hàng người xếp ở bên phải. Là chữ ‘đừng’ trong câu ‘đừng xô đẩy’. Là lỗ hổng trên chiếc áo bông nhồi nơi mạt cưa rơi ra từ từ; là vết móp trên chiếc mũ cao sang. Dân chủ là nỗi nghi ngờ dai dẳng rằng hơn một nửa dân số có lẽ đã đúng quá nửa số lần. Là cảm giác riêng tư trong phòng phiếu, cảm giác hòa đồng trong thư viện, cảm giác sinh khí ở khắp mọi nơi. Dân chủ là một bức thư gửi ban biên tập. Là tỷ số đầu hiệp chín của trận bóng. Là một ý niệm chưa từng bị bác bỏ, một bài ca mà lời vẫn chưa hư hỏng. Là mù tạt trên chiếc xúc xích, là chút kem trong ly cà phê bị hạn chế khẩu phần. Dân chủ là một yêu cầu từ Ban Chiến tranh, vào giữa một buổi sáng, giữa thời chiến, hỏi rằng dân chủ là gì.”</p>



<p>Sự bình đẳng, sự nhã nhặn, tinh thần tự do và mục đích chung mà E. B. White mô tả chính là tinh túy của nền dân chủ Mỹ giữa thế kỷ XX. Ngày nay, viễn cảnh ấy đang bị tấn công. Để cứu lấy nền dân chủ của chúng ta, người Mỹ cần khôi phục các chuẩn mực cơ bản từng bảo vệ nó. Nhưng chúng ta còn phải làm hơn thế. Chúng ta phải mở rộng các chuẩn mực ấy ra toàn bộ một xã hội đa dạng. Chúng ta phải biến chúng thành chuẩn mực bao trùm và thực sự toàn diện.</p>



<p>Các chuẩn mực dân chủ của nước Mỹ, ở cốt lõi, từ lâu đã mang nền tảng vững chắc. Nhưng trong phần lớn lịch sử của chúng ta, chúng lại đi kèm — và trên thực tế được duy trì — bằng sự loại trừ chủng tộc. Giờ đây, những chuẩn mực ấy phải được vận hành trong một thời đại của bình đẳng chủng tộc và sự đa dạng sắc tộc chưa từng có. Rất ít xã hội trong lịch sử từng vừa đa chủng tộc vừa thật sự dân chủ. Đó là thách thức lớn nhất của chúng ta. Nhưng cũng là cơ hội lớn nhất của chúng ta.</p>



<p>Nếu ta chinh phục được nó, nước Mỹ sẽ thật sự trở thành quốc gia phi thường.</p>



<p>HẾT</p>



<p>__________________________________</p>



<p><strong>PHỤ LỤC CHÚ GIẢI – CHƯƠNG 9: “CỨU NỀN DÂN CHỦ”</strong></p>



<p><strong><img src="https://s.w.org/images/core/emoji/15.0.3/72x72/1f539.png" alt="🔹" class="wp-smiley" style="height: 1em; max-height: 1em;" /> Thuật ngữ chính trị và pháp lý</strong></p>



<ul class="wp-block-list">
<li><strong>Democratic breakdown</strong> (<em>sự sụp đổ dân chủ</em>): Quá trình một nền dân chủ mất đi các đặc điểm cốt lõi như bầu cử tự do, công bằng, pháp quyền và quyền tự do dân sự, dẫn đến chính quyền chuyên chế.</li>



<li><strong>Norm breaking</strong> (<em>phá vỡ chuẩn mực</em>): Hành vi của các chính trị gia hoặc đảng phái phá bỏ những quy ước bất thành văn vốn duy trì sự ổn định của hệ thống chính trị.</li>



<li><strong>Institutional forbearance</strong> (<em>sự tiết chế thể chế</em>): Khi các bên có quyền lực chính thức nhưng chọn không tận dụng tối đa nó, nhằm bảo vệ sự công bằng trong hệ thống dân chủ.</li>



<li><strong>Mutual toleration</strong> (<em>khoan dung lẫn nhau</em>): Thái độ chấp nhận rằng đối thủ chính trị là hợp pháp và có quyền tồn tại trong cùng một hệ thống dân chủ.</li>



<li><strong>Constitutional hardball</strong> (<em>đấu pháp hiến pháp</em>): Việc sử dụng các quyền lực hợp pháp một cách triệt để nhằm tối đa hóa lợi ích đảng phái, bất chấp các chuẩn mực dân chủ.</li>



<li><strong>Gerrymandering</strong> (<em>vẽ lại khu vực bầu cử một cách thiên lệch</em>): Hành vi cố tình phân chia ranh giới bầu cử để tối ưu hóa lợi thế cho một đảng.</li>
</ul>



<hr class="wp-block-separator has-alpha-channel-opacity"/>



<p><strong><img src="https://s.w.org/images/core/emoji/15.0.3/72x72/1f539.png" alt="🔹" class="wp-smiley" style="height: 1em; max-height: 1em;" /> Tên nhân vật</strong></p>



<ul class="wp-block-list">
<li><strong>Donald Trump</strong>: Tổng thống thứ 45 của Hoa Kỳ (2017–2021), đại diện cho xu hướng dân túy, bảo thủ, và nhiều lần vi phạm các chuẩn mực dân chủ.</li>



<li><strong>Maxine Waters</strong>: Dân biểu Đảng Dân chủ từ California, nổi tiếng với lập trường chỉ trích gay gắt chính quyền Trump.</li>



<li><strong>Jeff Flake</strong>: Cựu thượng nghị sĩ Cộng hòa từ Arizona, một trong số ít tiếng nói trong GOP công khai phê phán Trump.</li>



<li><strong>Konrad Adenauer</strong>: Thủ tướng đầu tiên của Tây Đức sau Thế chiến II, lãnh đạo CDU và kiến tạo nền dân chủ hậu chiến vững chắc.</li>



<li><strong>Andreas Hermes</strong>: Chính trị gia Công giáo Đức, đồng sáng lập CDU, phản đối chế độ Quốc xã.</li>



<li><strong>E. B. White</strong>: Nhà văn Mỹ nổi tiếng, tác giả của bài viết định nghĩa dân chủ trong thời kỳ Thế chiến II.</li>



<li><strong>Danielle Allen</strong>: Học giả chính trị học và triết học, nghiên cứu về dân chủ đa sắc tộc và bình đẳng.</li>



<li><strong>Ricardo Lagos, Patricio Aylwin</strong>: Các nhà lãnh đạo đối lập ở Chile, từng hợp tác để lật đổ chế độ độc tài Pinochet và xây dựng nền dân chủ mới.</li>
</ul>



<hr class="wp-block-separator has-alpha-channel-opacity"/>



<p><strong><img src="https://s.w.org/images/core/emoji/15.0.3/72x72/1f539.png" alt="🔹" class="wp-smiley" style="height: 1em; max-height: 1em;" /> Tên tổ chức và phong trào</strong></p>



<ul class="wp-block-list">
<li><strong>CDU (Christian Democratic Union)</strong>: Đảng trung hữu ở Đức, được thành lập sau Thế chiến II để thay thế truyền thống bảo thủ cực đoan, đóng vai trò chủ chốt trong quá trình dân chủ hóa Tây Đức.</li>



<li><strong>Fox News</strong>: Kênh truyền hình cánh hữu ở Mỹ, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến lập trường của Đảng Cộng hòa.</li>



<li><strong>Americans for Prosperity, Americans for Tax Freedom</strong>: Các tổ chức chính trị bảo thủ được tài trợ bởi giới siêu giàu như anh em nhà Koch, chuyên vận động cho giảm thuế và chính phủ nhỏ.</li>



<li><strong>Daily Kos</strong>: Trang blog và tin tức chính trị cấp tiến của Mỹ.</li>



<li><strong>Black Lives Matter</strong>: Phong trào xã hội đòi công lý cho người da đen, phản đối bạo lực cảnh sát và phân biệt chủng tộc có hệ thống.</li>



<li><strong>NRA (National Rifle Association)</strong>: Hiệp hội Súng trường Quốc gia Mỹ, ủng hộ quyền sử dụng súng và có ảnh hưởng chính trị lớn trong nội bộ GOP.</li>



<li><strong>War Writers’ Board</strong>: Cơ quan truyền thông thời chiến của chính phủ Hoa Kỳ trong Thế chiến II, từng mời các nhà văn như E. B. White tham gia tuyên truyền.</li>
</ul>



<hr class="wp-block-separator has-alpha-channel-opacity"/>



<p><strong><img src="https://s.w.org/images/core/emoji/15.0.3/72x72/1f539.png" alt="🔹" class="wp-smiley" style="height: 1em; max-height: 1em;" /> Khái niệm xã hội và chính sách</strong></p>



<ul class="wp-block-list">
<li><strong>Identity politics</strong> (<em>chính trị bản sắc</em>): Các hoạt động chính trị dựa trên bản sắc sắc tộc, giới tính, tôn giáo, v.v. Thường bị chỉ trích là chia rẽ nhưng cũng được coi là cách làm nổi bật các bất công hệ thống.</li>



<li><strong>Means-tested programs</strong> (<em>chương trình kiểm tra thu nhập</em>): Chính sách xã hội chỉ dành cho những người đáp ứng tiêu chuẩn thu nhập cụ thể, như Medicaid.</li>



<li><strong>Universal basic income (UBI)</strong> (<em>thu nhập cơ bản phổ quát</em>): Chính sách phân phối tiền mặt không điều kiện cho mọi công dân nhằm đảm bảo thu nhập tối thiểu.</li>



<li><strong>Family policy</strong> (<em>chính sách gia đình</em>): Các chương trình xã hội hỗ trợ cha mẹ đi làm, như nghỉ phép có lương, chăm sóc trẻ nhỏ, giáo dục mầm non.</li>



<li><strong>Concertación</strong>: Liên minh dân chủ tại Chile (1988–2010), gồm nhiều đảng đối lập Pinochet, đã lãnh đạo thành công quá trình chuyển đổi dân chủ.</li>
</ul>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Steven Levitsky &#038; Daniel Ziblatt:  NỀN DÂN CHỦ SẼ CHẾT NHƯ THẾ NÀO – Chương 8: Trump Chống Lại Các Hàng Rào Bảo Vệ</title>
		<link>https://t-van.net/steven-levitsky-daniel-ziblatt-nen-dan-chu-se-chet-nhu-the-nao-chuong-8-trump-chong-lai-cac-hang-rao-bao-ve/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[ChatGPT]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 28 Jun 2025 09:21:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[ChatGPT DỊCH THUẬT - TỦ SÁCH THẾ GIỚI]]></category>
		<category><![CDATA[Nền Dân Chủ Sẽ Chết Như Thế Nào]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=81512</guid>

					<description><![CDATA[GIỚI THIỆU TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM Nguyên Tác: HOW DEMOCRACIES DIE (2018) của&#160;Steven Levitsky &#38; Daniel Ziblatt (Chuyển ngữ tiếng Việt: ChatGPT; Hiệu đính (và chịu trách nhiệm): T.Vấn) CHƯƠNG 8 Trump Chống Lại Các Hàng Rào Bảo Vệ Năm đầu tiên của Tổng thống Donald Trump diễn ra theo một kịch bản quen [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/71nkYi9OL.jpg?strip=all&w=2560"><img decoding="async" width="667" height="1024" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/71nkYi9OL-667x1024.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-80750" style="width:443px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/06/71nkYi9OL-195x300.jpg 195w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/71nkYi9OL-667x1024.jpg?strip=all 667w, https://cdn.t-van.net/2025/06/71nkYi9OL-768x1179.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2025/06/71nkYi9OL-1001x1536.jpg 1001w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/71nkYi9OL.jpg?strip=all 1251w" sizes="(max-width: 667px) 100vw, 667px" /></a></figure></div>


<p><strong><a href="https://t-van.net/steven-levitsky-daniel-ziblatt-nen-dan-chu-se-chet-nhu-the-nao/">GIỚI THIỆU TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM</a></strong></p>



<p><strong>Nguyên Tác: HOW DEMOCRACIES DIE (2018) của</strong>&nbsp;<strong>Steven Levitsky &amp; Daniel Ziblatt</strong></p>



<p><em>(Chuyển ngữ tiếng Việt: ChatGPT; Hiệu đính (và chịu trách nhiệm): T.Vấn)</em></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>CHƯƠNG </strong><strong>8</strong><strong></strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>Trump Chống Lại Các Hàng Rào Bảo Vệ</strong></p>



<p>Năm đầu tiên của Tổng thống Donald Trump diễn ra theo một kịch bản quen thuộc. Giống như Alberto Fujimori, Hugo Chávez và Recep Tayyip Erdoğan, vị tổng thống mới của Hoa Kỳ đã bắt đầu nhiệm kỳ bằng những đợt công kích dữ dội bằng lời lẽ nhắm vào đối thủ. Ông gọi truyền thông là “kẻ thù của nhân dân Hoa Kỳ,” đặt câu hỏi về tính chính danh của các thẩm phán, và đe dọa cắt ngân sách liên bang cho các thành phố lớn. Không ngoài dự đoán, những đòn tấn công này đã gây ra sự lo lắng, phẫn nộ và sốc trên khắp phổ chính trị. Báo chí đứng ở tuyến đầu, vừa phơi bày vừa kích thích hành vi phá vỡ chuẩn mực của tổng thống. Một nghiên cứu của Trung tâm Shorenstein về Truyền thông, Chính trị và Chính sách Công cho thấy các hãng tin lớn “không khoan nhượng” trong việc đưa tin về 100 ngày đầu tiên của chính quyền Trump. Trong số các bản tin thể hiện rõ thái độ, 80% mang sắc thái tiêu cực — cao hơn nhiều so với Clinton (60%), George W. Bush (57%) và Obama (41%).</p>



<p>Chẳng bao lâu, các quan chức trong chính quyền Trump bắt đầu cảm thấy bị bao vây. Không có tuần nào mà tỷ lệ tin tức tiêu cực dưới 70%. Trong bối cảnh lan truyền tin đồn về mối liên hệ giữa chiến dịch Trump và Nga, một công tố viên đặc biệt nổi tiếng, Robert Mueller, được chỉ định giám sát các cuộc điều tra liên quan. Chỉ vài tháng sau khi nhậm chức, Tổng thống Trump đã phải đối mặt với những lời bàn tán về khả năng bị luận tội. Nhưng ông vẫn giữ được sự ủng hộ từ nền tảng cử tri trung thành, và giống như các nhà dân túy được bầu khác, ông càng phản ứng quyết liệt hơn. Ông tuyên bố chính quyền của mình đang bị các thế lực thuộc giới tinh hoa chống đối, và nói với các sinh viên tốt nghiệp Học viện Tuần duyên Hoa Kỳ rằng “chưa từng có chính trị gia nào trong lịch sử, tôi nói điều này rất chắc chắn, bị đối xử tệ hại hay bất công như tôi.” Câu hỏi đặt ra là: Trump sẽ phản ứng thế nào? Liệu một tổng thống ngoài cuộc – người xem mình bị tấn công vô cớ – có nổi xung và tấn công lại như những gì từng xảy ra ở Peru và Thổ Nhĩ Kỳ?</p>



<p>Tổng thống Trump đã thể hiện những khuynh hướng độc tài rõ ràng trong năm đầu tiên. Trong Chương 4, chúng ta đã đề cập đến ba chiến lược mà các nhà độc tài được bầu cử thường sử dụng để củng cố quyền lực: kiểm soát trọng tài, vô hiệu hóa các đối thủ chủ chốt, và viết lại luật chơi để nghiêng lợi thế về phía mình. Trump đã cố gắng thực hiện cả ba chiến lược này.</p>



<p>Tổng thống Trump thể hiện sự thù địch rõ rệt với các “trọng tài” — bao gồm cơ quan thực thi pháp luật, tình báo, đạo đức công vụ và hệ thống tư pháp. Ngay sau lễ nhậm chức, ông tìm cách bảo đảm rằng lãnh đạo các cơ quan tình báo Hoa Kỳ, như FBI, CIA và Cơ quan An ninh Quốc gia (NSA), sẽ trung thành cá nhân với ông — rõ ràng là nhằm sử dụng họ làm lá chắn trước cuộc điều tra liên quan đến mối quan hệ với Nga. Trong tuần đầu tiên, Trump đã mời Giám đốc FBI James Comey đến ăn tối riêng tại Nhà Trắng và, theo lời Comey, ông đã yêu cầu Comey cam kết trung thành. Sau đó, Trump được cho là đã gây áp lực để Comey hủy bỏ cuộc điều tra đối với Cố vấn An ninh Quốc gia vừa từ chức Michael Flynn; ông cũng ép Giám đốc Tình báo Quốc gia Daniel Coats và Giám đốc CIA Mike Pompeo can thiệp vào cuộc điều tra của Comey, đồng thời đích thân yêu cầu Coats và Giám đốc NSA Michael Rogers đưa ra tuyên bố phủ nhận việc có sự thông đồng với Nga (cả hai đều từ chối).</p>



<p>Tổng thống Trump cũng tìm cách trừng phạt hoặc thanh trừng các cơ quan hành xử độc lập. Nổi bật nhất là việc ông sa thải Comey sau khi rõ ràng Comey không chịu nhượng bộ trong việc bảo vệ chính quyền và còn mở rộng điều tra về Nga. Trong suốt 82 năm tồn tại của FBI, chỉ có một lần giám đốc bị tổng thống sa thải trước khi hết nhiệm kỳ 10 năm — và trong trường hợp đó là do vi phạm đạo đức rõ ràng, được cả hai đảng đồng thuận.</p>



<p>Việc sa thải Comey không phải là đòn tấn công duy nhất nhắm vào những “trọng tài” không đứng về phía tổng thống. Trump đã tìm cách xây dựng quan hệ cá nhân với công tố viên liên bang tại Manhattan, Preet Bharara — người mà các cuộc điều tra về rửa tiền được cho là có thể liên quan đến nội bộ thân cận của Trump; khi Bharara, một nhân vật nổi bật trong lĩnh vực chống tham nhũng, tiếp tục điều tra, Trump đã sa thải ông. Sau khi Bộ trưởng Tư pháp Jeff Sessions tự rút khỏi vụ điều tra về Nga và người phó của ông, Rod Rosenstein, bổ nhiệm cựu Giám đốc FBI Robert Mueller làm công tố viên đặc biệt, Trump đã công khai chỉ trích Sessions và được cho là tìm cách buộc ông từ chức. Các luật sư Nhà Trắng còn tìm cách bới móc các xung đột lợi ích của Mueller nhằm bôi nhọ và sa thải ông. Cuối năm 2017, nhiều đồng minh của Trump công khai kêu gọi ông cách chức Mueller, làm dấy lên lo ngại rằng điều đó sẽ xảy ra sớm.</p>



<p>Những nỗ lực của Trump nhằm phá hoại các cuộc điều tra độc lập gợi nhớ đến các đòn tấn công thường thấy trong các quốc gia kém dân chủ hơn — chẳng hạn như vụ Tổng Chưởng lý Venezuela Luisa Ortega, một người từng trung thành với chế độ chavista, bị sa thải vào tháng 8 năm 2017 sau khi thể hiện sự độc lập và bắt đầu điều tra các hành vi tham nhũng, lạm quyền trong chính quyền Maduro. Dù nhiệm kỳ của Ortega còn đến năm 2021 và chỉ Quốc hội mới có quyền bãi nhiệm bà (và Quốc hội lúc đó do phe đối lập kiểm soát), nhưng cơ quan Lập hiến Quốc gia — được bầu ra đầy nghi vấn — đã phế truất bà.</p>



<p>Tổng thống Trump cũng công kích các thẩm phán ra phán quyết bất lợi cho ông. Sau khi Thẩm phán James Robart của Tòa Phúc thẩm Liên bang Khu vực 9 đình chỉ lệnh cấm nhập cảnh đầu tiên của chính quyền, Trump đã tuyên bố về “phán quyết của cái gọi là thẩm phán này, vốn về bản chất đã tước đi năng lực cưỡng chế pháp luật của đất nước.” Hai tháng sau, khi cùng tòa án này tạm thời ngăn việc cắt ngân sách liên bang cho các thành phố “ẩn náu” (sanctuary cities), Nhà Trắng đã lên án quyết định đó là một cuộc tấn công vào pháp quyền bởi một “thẩm phán không do dân bầu.” Trump thậm chí còn đe dọa sẽ giải thể cả tòa án Khu vực 9.</p>



<p>Tháng 8 năm 2017, tổng thống đã gián tiếp công kích ngành tư pháp khi ân xá cho cựu cảnh sát trưởng Arizona gây tranh cãi Joe Arpaio, người đã bị kết án vì coi thường lệnh tòa cấm phân biệt chủng tộc. Arpaio là đồng minh chính trị và là anh hùng trong mắt nhiều người ủng hộ chính sách chống nhập cư của Trump. Như đã đề cập, quyền ân xá của tổng thống theo Hiến pháp là tuyệt đối, nhưng từ trước đến nay các tổng thống đều sử dụng nó rất thận trọng, thường tham khảo ý kiến Bộ Tư pháp và không bao giờ dùng để bảo vệ chính trị hoặc cá nhân. Trump đã công khai phá vỡ những chuẩn mực này. Ông không tham khảo Bộ Tư pháp, và ân xá này rõ ràng mang động cơ chính trị — nhằm làm hài lòng cử tri cốt lõi. Quyết định đó càng làm gia tăng nỗi lo rằng tổng thống sẽ tự ân xá cho mình và các cộng sự thân cận — điều mà các luật sư của ông được cho là đã cân nhắc. Hành động như vậy sẽ là một cuộc tấn công chưa từng có tiền lệ vào tính độc lập của tư pháp. Như học giả hiến pháp Martin Redish nhận định: “Nếu tổng thống có thể miễn trừ trách nhiệm cho các thuộc hạ theo cách này, thì tòa án sẽ mất đi bất kỳ thẩm quyền thực chất nào trong việc bảo vệ quyền hiến định trước sự xâm phạm của hành pháp.”</p>



<p>Chính quyền Trump cũng không ngần ngại chà đạp lên Văn phòng Đạo đức Chính phủ (OGE), một cơ quan giám sát độc lập tuy không có quyền cưỡng chế pháp lý nhưng trước đó luôn được các đời tổng thống tôn trọng. Đối mặt với nhiều xung đột lợi ích do hoạt động kinh doanh của Trump gây ra, giám đốc OGE Walter Shaub liên tục chỉ trích tổng thống đắc cử trong giai đoạn chuyển tiếp. Phản ứng của chính quyền là mở chiến dịch công kích OGE. Chủ tịch Ủy ban Giám sát Hạ viện Jason Chaffetz, một đồng minh của Trump, thậm chí còn ám chỉ sẽ điều tra Shaub. Vào tháng 5, các quan chức Nhà Trắng cố gắng buộc OGE ngừng điều tra việc bổ nhiệm các cựu vận động hành lang vào nội các. Bị quấy rối và phớt lờ, Shaub từ chức, để lại phía sau một OGE mà nhà báo Ryan Lizza gọi là đã “vỡ vụn.”</p>



<p>Cách hành xử của Trump với tòa án, cơ quan thực thi pháp luật, tình báo và các cơ quan độc lập khác mang đậm dấu hiệu của một chiến lược độc tài. Ông công khai tuyên bố muốn sử dụng Bộ Tư pháp và FBI để điều tra phe Dân chủ, bao gồm Hillary Clinton. Cuối năm 2017, Bộ Tư pháp đã xem xét việc chỉ định một công tố viên đặc biệt để điều tra Clinton. Dù đã tìm cách thanh trừng và đe dọa, nhưng chính quyền vẫn không thể kiểm soát được các “trọng tài.” Trump đã không thể thay thế Comey bằng một người trung thành, phần lớn là vì các thượng nghị sĩ Cộng hòa đã ngăn chặn điều đó. Tương tự, họ cũng phản đối ý định thay thế Bộ trưởng Tư pháp Sessions. Nhưng tổng thống vẫn còn nhiều trận chiến khác phải đối mặt.</p>



<p><strong>***</strong></p>



<p>Chính quyền Trump cũng nỗ lực gạt bỏ các nhân vật chủ chốt trong hệ thống chính trị. Những đòn tấn công bằng lời nói của Tổng thống Trump nhắm vào giới truyền thông phê phán ông là một ví dụ. Việc ông liên tục cáo buộc các hãng tin như <em>New York Times</em> và <em>CNN</em> phát tán “tin giả” và âm mưu chống lại ông là điều quen thuộc với bất kỳ ai từng nghiên cứu về chủ nghĩa độc tài. Trong một dòng tweet vào tháng 2 năm 2017, ông gọi truyền thông là “kẻ thù của nhân dân Hoa Kỳ” — một cụm từ mà các nhà phê bình chỉ ra là từng được Stalin và Mao sử dụng. Rhetoric của Trump thường mang tính đe dọa. Chỉ vài ngày sau dòng tweet đó, Trump phát biểu tại Hội nghị Hành động Chính trị Bảo thủ (CPAC):</p>



<p>“Tôi yêu Tu chính án thứ nhất, không ai yêu nó hơn tôi cả. Không ai cả… Nhưng như các bạn đã thấy suốt chiến dịch tranh cử và ngay cả bây giờ, tin giả không nói sự thật… Tôi nói rằng nó không đại diện cho nhân dân. Nó sẽ không bao giờ đại diện cho nhân dân, và chúng ta sẽ làm điều gì đó về chuyện đó.”</p>



<p>Nhưng làm điều gì, cụ thể là gì? Tháng sau đó, Trump quay lại với lời hứa trong chiến dịch tranh cử là “mở lại luật phỉ báng,” và đăng tweet rằng <em>New York Times</em> đã “làm ô nhục giới truyền thông. Đưa tin sai về tôi suốt hai năm trời. Thay đổi luật phỉ báng chăng?” Khi một phóng viên hỏi liệu chính quyền có thực sự xem xét điều này hay không, Chánh văn phòng Nhà Trắng Reince Priebus đáp: “Tôi nghĩ đó là điều chúng tôi đã cân nhắc.” Tổng thống Ecuador Rafael Correa từng áp dụng chiến thuật tương tự, sử dụng các vụ kiện phỉ báng trị giá hàng triệu đô la và bỏ tù nhà báo vì tội phỉ báng, gây ra hiệu ứng lạnh lẽo mạnh mẽ với truyền thông. Dù Trump đã từ bỏ vấn đề phỉ báng, ông vẫn tiếp tục đe dọa. Vào tháng 7, ông chia sẻ lại một đoạn video WWE đã được chỉnh sửa, trong đó ông lao vào đánh một người có gương mặt bị gắn logo CNN.</p>



<p>Tổng thống Trump cũng từng xem xét sử dụng các cơ quan quản lý liên bang để trừng phạt các công ty truyền thông không thân thiện. Trong chiến dịch tranh cử năm 2016, ông đe dọa Jeff Bezos — chủ sở hữu của <em>Washington Post</em> và Amazon — bằng các hành động chống độc quyền, tweet rằng: “Nếu tôi làm tổng thống, họ sẽ có vấn đề lớn.” Ông cũng đe dọa sẽ chặn việc sáp nhập giữa Time Warner (công ty mẹ của CNN) và AT&amp;T, và trong những tháng đầu nhiệm kỳ, đã có báo cáo rằng các cố vấn Nhà Trắng xem xét sử dụng quyền lực chống độc quyền để gây áp lực lên CNN. Cuối cùng, vào tháng 10 năm 2017, Trump tấn công NBC và các mạng truyền hình khác bằng lời đe dọa sẽ “thách thức giấy phép phát sóng của họ.”</p>



<p>Có một lĩnh vực mà chính quyền Trump đã đi xa hơn cả lời đe dọa: sử dụng chính quyền để trừng phạt những người bất đồng. Trong tuần đầu tiên tại nhiệm, Trump ký một sắc lệnh hành pháp cho phép các cơ quan liên bang cắt ngân sách đối với các “thành phố ẩn náu” không hợp tác với chiến dịch đàn áp người nhập cư không giấy tờ. “Nếu cần, chúng ta sẽ cắt ngân sách,” ông tuyên bố tháng 2 năm 2017. Kế hoạch này gợi nhớ đến chiến thuật của chính quyền Chávez tại Venezuela — nhiều lần tước quyền kiểm soát các bệnh viện, lực lượng cảnh sát, cảng và hạ tầng khỏi tay các chính quyền địa phương đối lập. Tuy nhiên, không giống như tổng thống Venezuela, Trump đã bị tòa án Hoa Kỳ ngăn chặn.</p>



<p>Dù Tổng thống Trump đã phát động một cuộc chiến bằng lời nói nhắm vào truyền thông và các nhà phê bình, những lời nói đó (cho đến nay) chưa dẫn đến hành động cụ thể. Không có nhà báo nào bị bắt giữ, và không hãng tin nào thay đổi cách đưa tin vì áp lực từ chính quyền. Những nỗ lực của Trump nhằm nghiêng luật chơi về phía mình mới là điều đáng lo ngại hơn. Tháng 5 năm 2017, ông kêu gọi thay đổi các quy định “lỗi thời” của Thượng viện, bao gồm loại bỏ quyền cản trở (filibuster) — điều này sẽ giúp phe đa số Cộng hòa dễ dàng thông qua luật, bất chấp thiểu số Dân chủ. Đảng Cộng hòa tại Thượng viện đã loại bỏ filibuster đối với các đề cử vào Tòa án Tối cao, qua đó mở đường cho Neil Gorsuch được bổ nhiệm, nhưng họ từ chối việc loại bỏ nó hoàn toàn.</p>



<p>Có lẽ sáng kiến phản dân chủ nhất mà chính quyền Trump từng thực hiện là việc thành lập Ủy ban Cố vấn Tổng thống về Tính Toàn vẹn của Bầu cử (<em>Presidential Advisory Commission on Election Integrity</em>), do Phó Tổng thống Mike Pence đứng tên chủ tịch, nhưng quyền điều hành thực tế thuộc về phó chủ tịch Kris Kobach. Để hiểu rõ tác động tiềm tàng của ủy ban này, cần nhớ rằng Đạo luật Dân quyền và Đạo luật Quyền Bầu cử đã tạo ra một sự chuyển dịch lớn trong bản sắc đảng phái: Đảng Dân chủ trở thành đại diện chính cho các cử tri thiểu số và người nhập cư thế hệ thứ nhất và thứ hai, còn cử tri đảng Cộng hòa vẫn chủ yếu là người da trắng. Vì tỷ lệ cử tri thiểu số ngày càng tăng, xu hướng này có lợi cho đảng Dân chủ — một điều được khẳng định qua chiến thắng của Barack Obama năm 2008, với tỷ lệ cử tri thiểu số đi bầu cao bất thường.</p>



<p>Cảm thấy bị đe dọa, một số lãnh đạo đảng Cộng hòa đã đưa ra phản ứng gợi nhớ đến thời kỳ phân biệt chủng tộc Jim Crow ở miền Nam: làm cho việc bỏ phiếu của các công dân nghèo và thiểu số trở nên khó khăn hơn. Vì cử tri thiểu số nghèo chủ yếu ủng hộ đảng Dân chủ, các biện pháp làm giảm tỷ lệ đi bầu trong nhóm này sẽ giúp đảng Cộng hòa có lợi thế. Cách làm là thông qua các luật yêu cầu cử tri xuất trình giấy tờ tùy thân có ảnh — ví dụ như bằng lái xe hoặc giấy tờ chính phủ cấp — khi đi bầu.</p>



<p>Những nỗ lực thông qua luật ID cử tri dựa trên một tuyên bố sai lệch: rằng gian lận bầu cử phổ biến ở Hoa Kỳ. Tất cả các nghiên cứu nghiêm túc đều kết luận mức độ gian lận như vậy là rất thấp. Tuy vậy, đảng Cộng hòa vẫn đẩy mạnh các biện pháp để xử lý vấn đề không tồn tại này. Hai bang đầu tiên thông qua luật ID cử tri là Georgia và Indiana vào năm 2005. Dân biểu Georgia John Lewis — nhà hoạt động dân quyền nổi tiếng — gọi luật của bang mình là “thuế đầu phiếu kiểu hiện đại.” Ước tính có khoảng 300.000 cử tri Georgia không có giấy tờ tùy thân theo yêu cầu, và người da đen có khả năng thiếu giấy tờ cao gấp năm lần người da trắng. Luật của Indiana, mà Thẩm phán Terence Evans của Tòa Phúc thẩm khu vực Bảy gọi là “một nỗ lực không che giấu nhằm ngăn người nghiêng về Dân chủ đi bầu,” đã được đưa lên Tối cao Pháp viện và được giữ nguyên vào năm 2008. Sau đó, các đạo luật ID cử tri bùng nổ. Giữa năm 2010 và 2012, có đến 37 bang đề xuất các dự luật tương tự, và đến năm 2016, đã có 15 bang thông qua luật này, dù chỉ 10 bang áp dụng chúng trong kỳ bầu cử.</p>



<p>Các luật này chỉ được thông qua ở các bang mà đảng Cộng hòa kiểm soát cả lưỡng viện lập pháp, và trừ Arkansas, thống đốc cũng là người Cộng hòa. Không nghi ngờ gì rằng cử tri thiểu số là đối tượng bị nhắm đến. Các luật ID cử tri gần như chắc chắn gây ảnh hưởng bất cân xứng đến cử tri nghèo và thiểu số. Theo một nghiên cứu, 37% người Mỹ gốc Phi và 27% người gốc Latinh cho biết họ không có bằng lái hợp lệ, so với 16% người da trắng. Một nghiên cứu của Trung tâm Tư pháp Brennan ước tính có khoảng 11% công dân Hoa Kỳ (tức 21 triệu người đủ điều kiện bỏ phiếu) không có giấy tờ tùy thân có ảnh do chính phủ cấp, và trong số người Mỹ gốc Phi, tỷ lệ này lên đến 25%.</p>



<p>Trong số 11 bang có tỷ lệ cử tri da đen đi bầu cao nhất năm 2008, thì 7 bang đã thông qua luật ID nghiêm ngặt hơn. Trong số 12 bang có tốc độ tăng dân số gốc Tây Ban Nha nhanh nhất từ năm 2000 đến 2010, có 9 bang đã thông qua luật siết chặt quyền bầu cử. Các học giả mới chỉ bắt đầu đánh giá tác động của các luật này, và hầu hết nghiên cứu cho thấy ảnh hưởng lên tỷ lệ đi bầu là ở mức vừa phải. Nhưng ngay cả ảnh hưởng khiêm tốn cũng có thể quyết định trong những cuộc bầu cử sát nút — đặc biệt nếu các luật này được phổ biến rộng rãi.</p>



<p>Và đó chính là điều mà Ủy ban về Tính Toàn vẹn của Bầu cử muốn đạt được. Người điều hành trên thực tế của ủy ban, Kris Kobach, được gọi là “người cổ vũ số một cho việc ngăn cản cử tri.” Là tổng thư ký tiểu bang Kansas, Kobach đã thúc đẩy thông qua một trong những luật ID cử tri nghiêm ngặt nhất nước Mỹ. Với Kobach, Trump là một đồng minh hữu dụng. Trong chiến dịch 2016, Trump tuyên bố rằng cuộc bầu cử đã bị “dàn xếp,” và sau đó còn tuyên bố gây sốc rằng ông “đã thắng phiếu phổ thông nếu trừ đi hàng triệu người bỏ phiếu bất hợp pháp.” Ông lặp lại tuyên bố này trong cuộc họp với lãnh đạo Quốc hội, nói rằng đã có từ 3 đến 5 triệu phiếu gian lận. Tuyên bố đó hoàn toàn vô căn cứ: Một dự án giám sát bầu cử quốc gia do tổ chức truyền thông ProPublica dẫn đầu không tìm thấy bằng chứng gian lận nào. Nhà báo Philip Bump của <em>Washington Post</em> đã tìm kiếm toàn bộ cơ sở dữ liệu Nexis và chỉ phát hiện được 4 trường hợp gian lận trong năm 2016.</p>



<p>Nhưng nỗi ám ảnh của Trump về việc mình “thắng” phiếu phổ thông lại trùng khớp với mục tiêu hạn chế cử tri của Kobach. Kobach ủng hộ tuyên bố của Trump, khẳng định rằng ông “hoàn toàn đúng” khi cho rằng số phiếu bất hợp pháp vượt quá chênh lệch giữa ông và Clinton. (Sau đó Kobach nói rằng “chúng ta có lẽ sẽ không bao giờ biết được” ai thắng phiếu phổ thông.) Kobach đã giành được sự chú ý của Trump, giúp thuyết phục ông thành lập ủy ban, và được bổ nhiệm làm người điều hành nó.</p>



<p>Các hoạt động ban đầu của Ủy ban cho thấy mục tiêu của họ là nhằm hạn chế quyền bầu cử. Thứ nhất, ủy ban đang thu thập các câu chuyện về gian lận bầu cử từ khắp nơi trong cả nước — điều này có thể cung cấp đạn dược chính trị cho các sáng kiến siết chặt quyền bầu cử ở cấp bang, hoặc thậm chí thúc đẩy nỗ lực bãi bỏ Đạo luật “Motor Voter” năm 1993. Về bản chất, ủy ban đang đứng trước khả năng trở thành một kênh phát ngôn quốc gia nổi bật cho nỗ lực của đảng Cộng hòa nhằm thông qua các luật ID cử tri nghiêm ngặt hơn. Thứ hai, ủy ban có mục tiêu thúc đẩy hoặc hỗ trợ việc thanh lọc danh sách cử tri ở cấp bang — một chiến thuật mà các nghiên cứu hiện có cho thấy sẽ dẫn đến việc loại bỏ cả nhiều cử tri hợp pháp. Ủy ban đã yêu cầu kiểm tra chéo hồ sơ cử tri địa phương để phát hiện các trường hợp đăng ký trùng lặp — tức là những người đăng ký ở hơn một bang. Có thông tin cho rằng ủy ban cũng dự định sử dụng cơ sở dữ liệu của Bộ An ninh Nội địa (Homeland Security) về người có thẻ xanh và thị thực để rà soát danh sách cử tri nhằm tìm kiếm người không phải công dân. Nguy cơ, như một nghiên cứu chỉ ra, là số lỗi sai — do trùng tên và ngày sinh — sẽ lớn hơn rất nhiều so với số trường hợp đăng ký bất hợp pháp được phát hiện.</p>



<p>Những nỗ lực nhằm cản trở việc đi bầu là về bản chất mang tính phản dân chủ, và trong lịch sử Hoa Kỳ, chúng có tiền sử đặc biệt tệ hại. Dù các biện pháp hạn chế hiện đại không thể so sánh với các hành động triệt để của đảng Dân chủ miền Nam vào cuối thế kỷ 19, chúng vẫn có ý nghĩa nghiêm trọng. Bởi vì các luật ID cử tri nghiêm ngặt ảnh hưởng không cân xứng đến cử tri nghèo và thiểu số — những người chủ yếu ủng hộ đảng Dân chủ — chúng làm lệch cán cân bầu cử về phía đảng Cộng hòa.</p>



<p>Ủy ban về Tính Toàn vẹn của Bầu cử của Trump đã không thực hiện bất kỳ cải cách cụ thể nào trong năm 2017, và yêu cầu lúng túng của họ đối với thông tin cử tri đã bị các tiểu bang từ chối rộng rãi. Nhưng nếu ủy ban này tiếp tục hoạt động mà không bị kiểm soát, nó có thể gây tổn hại nghiêm trọng đến tiến trình bầu cử của quốc gia.</p>



<p>Về nhiều mặt, Tổng thống Trump đã hành xử theo đúng kịch bản của một nhà lãnh đạo chuyên chế được bầu lên. Ông đã nỗ lực kiểm soát các “trọng tài,” gạt bỏ những người có thể cản đường ông, và tìm cách làm lệch luật chơi. Nhưng thực tế là Trump nói nhiều hơn làm, và những lời đe dọa tai tiếng nhất của ông vẫn chưa thành hiện thực. Các sáng kiến phản dân chủ đáng lo ngại — như đưa người trung thành vào FBI hay cản trở cuộc điều tra của Mueller — đã bị ngăn chặn bởi sự phản đối từ chính đảng Cộng hòa và cả sự vụng về của chính ông. Một sáng kiến quan trọng, Ủy ban Tư vấn về Tính Toàn vẹn của Bầu cử, vẫn còn trong giai đoạn khởi đầu, nên tác động thực tế vẫn chưa rõ ràng. Nhìn chung, Tổng thống Trump đã liên tục đụng chạm vào các hàng rào bảo vệ dân chủ — như một người lái xe ẩu — nhưng ông vẫn chưa vượt qua được chúng. Dù có nhiều lý do chính đáng để lo ngại, nhưng năm 2017 vẫn chưa chứng kiến một bước thụt lùi đáng kể nào. Chúng ta vẫn chưa vượt qua ranh giới sang chế độ độc tài.</p>



<p>Tuy nhiên, còn quá sớm để kết luận. Sự thụt lùi của dân chủ thường diễn ra một cách từ từ, với tác động dần dần hiển lộ theo thời gian. Nếu so sánh năm đầu tiên của Trump với các nhà lãnh đạo có xu hướng độc tài khác, bức tranh rất pha tạp. Bảng 3 đưa ra một danh sách minh họa gồm chín quốc gia nơi các nhà lãnh đạo có khả năng độc tài đã lên nắm quyền thông qua bầu cử. Ở một số quốc gia như Ecuador và Nga, dấu hiệu thụt lùi đã rõ ngay trong năm đầu tiên. Ngược lại, ở Peru dưới thời Fujimori và Thổ Nhĩ Kỳ dưới thời Erdoğan, không có dấu hiệu thụt lùi trong giai đoạn đầu. Fujimori từng tranh luận dữ dội bằng lời trong năm đầu nhiệm kỳ tổng thống, nhưng phải gần hai năm sau ông mới tấn công các định chế dân chủ. Tại Thổ Nhĩ Kỳ, sự suy sụp diễn ra còn chậm hơn nữa.</p>



<p>Tương lai của nền dân chủ trong phần còn lại của nhiệm kỳ tổng thống Trump sẽ phụ thuộc vào một số yếu tố. Yếu tố đầu tiên là cách hành xử của các lãnh đạo đảng Cộng hòa. Các định chế dân chủ phụ thuộc rất nhiều vào sự sẵn sàng của các đảng cầm quyền trong việc bảo vệ chúng — ngay cả khi điều đó đồng nghĩa với việc chống lại chính lãnh đạo của mình. Sự thất bại của kế hoạch mở rộng Tối cao Pháp viện dưới thời Roosevelt và sự sụp đổ của Nixon phần nào là kết quả của việc các thành viên chủ chốt trong chính đảng của họ — đảng Dân chủ trong trường hợp Roosevelt và đảng Cộng hòa trong trường hợp Nixon — đã đứng lên phản đối. Gần đây hơn, ở Ba Lan, nỗ lực của chính phủ đảng Luật pháp và Công lý nhằm tháo dỡ các cơ chế kiểm soát quyền lực đã gặp trở ngại khi Tổng thống Andrzej Duda — cũng thuộc đảng này — phủ quyết hai dự luật sẽ cho phép chính phủ thanh lọc và lấp đầy Tối cao Pháp viện bằng người thân tín. Ngược lại, tại Hungary, Thủ tướng Viktor Orbán gần như không gặp trở ngại nào từ đảng cầm quyền Fidesz trong việc thúc đẩy các biện pháp mang tính chuyên chế.</p>



<p>Mối quan hệ giữa Donald Trump và đảng của ông cũng quan trọng không kém, nhất là trong bối cảnh đảng Cộng hòa đang kiểm soát cả Thượng viện lẫn Hạ viện. Các lãnh đạo đảng Cộng hòa có thể chọn trung thành. Những người trung thành tích cực không chỉ ủng hộ tổng thống mà còn công khai bảo vệ ngay cả những hành vi gây tranh cãi nhất của ông. Người trung thành thụ động thì tránh xuất hiện trước công chúng khi scandal nổ ra nhưng vẫn bỏ phiếu ủng hộ tổng thống. Còn những người trung thành “phê phán” thì cố gắng đi dây: có thể công khai tách mình khỏi những hành vi tệ hại nhất của tổng thống, nhưng không làm gì thực chất (như bỏ phiếu) để làm suy yếu hay lật đổ ông. Trước các hành vi lạm quyền của tổng thống, tất cả những phản ứng này đều mở đường cho chủ nghĩa độc tài.</p>



<p>Một cách tiếp cận khác là kiềm chế. Các nghị sĩ Cộng hòa đi theo chiến lược này có thể vẫn ủng hộ tổng thống về nhiều vấn đề — từ bổ nhiệm tư pháp đến cải cách thuế và y tế — nhưng vạch ra lằn ranh đỏ khi thấy hành vi nguy hiểm. Đây là một lập trường khó giữ. Là người cùng đảng, họ có lợi nếu tổng thống thành công — nhưng họ cũng hiểu rằng tổng thống có thể gây tổn hại lâu dài cho các định chế. Vì vậy, họ làm việc với tổng thống khi có thể, nhưng đồng thời tìm cách giới hạn quyền lực của ông — cho phép tổng thống tiếp tục tại vị nhưng bị kiềm chế.</p>



<p>Cuối cùng, về nguyên tắc, lãnh đạo Quốc hội có thể tìm cách phế truất tổng thống. Đây là bước đi mang rủi ro chính trị lớn. Việc lật đổ tổng thống cùng đảng có thể bị xem là phản bội và bị chỉ trích gay gắt (hãy hình dung phản ứng của Sean Hannity hay Rush Limbaugh). Nó cũng có thể làm chệch hướng chương trình lập pháp của đảng, và gây tổn thất trong ngắn hạn về mặt bầu cử — như đã xảy ra sau khi Nixon từ chức. Nhưng nếu mối đe dọa từ tổng thống đủ nghiêm trọng (hoặc hành vi của ông bắt đầu kéo tụt tỷ lệ ủng hộ của chính các nghị sĩ), các lãnh đạo đảng có thể thấy cần thiết phải ra tay với người của mình.</p>



<p>Trong năm đầu của Trump, đảng Cộng hòa đã phản ứng với các hành vi lạm quyền của ông bằng sự pha trộn giữa trung thành và kiềm chế. Ban đầu, trung thành là chủ yếu. Nhưng sau khi ông sa thải James Comey vào tháng 5/2017, một số thượng nghị sĩ Cộng hòa đã nghiêng về phía kiềm chế, nói rõ rằng họ sẽ không phê chuẩn một người trung thành tuyệt đối kế nhiệm Comey. Họ cũng làm việc để bảo đảm cuộc điều tra độc lập về sự can thiệp của Nga vẫn tiếp tục. Một số người thầm thúc giục Bộ Tư pháp chỉ định công tố viên đặc biệt, và nhiều người ủng hộ việc bổ nhiệm Robert Mueller. Khi xuất hiện tin đồn rằng Nhà Trắng đang tìm cách sa thải Mueller, và một số người thân cận với Trump kêu gọi điều đó, các thượng nghị sĩ quan trọng như Susan Collins, Bob Corker, Lindsey Graham và John McCain đã lên tiếng phản đối. Khi Trump có ý định sa thải Bộ trưởng Tư pháp Jeff Sessions — người do đã tự rút lui, không thể sa thải Mueller — các thượng nghị sĩ Cộng hòa đã nhanh chóng bảo vệ Sessions. Chủ tịch Ủy ban Tư pháp Thượng viện Chuck Grassley tuyên bố ông sẽ không tổ chức điều trần cho bất kỳ người thay thế nào nếu Sessions bị cách chức.</p>



<p>Dù Graham, McCain và Corker không thực sự gia nhập phe đối lập (cả ba vẫn bỏ phiếu theo Trump ít nhất 85% thời gian), họ đã có những bước quan trọng để kiềm chế tổng thống. Không có lãnh đạo Cộng hòa nào tìm cách phế truất tổng thống trong năm 2017, nhưng như nhà báo Abigail Tracy nhận xét, một số người dường như đã “tìm thấy lằn ranh đỏ của riêng mình.”</p>



<p>Yếu tố khác ảnh hưởng đến số phận nền dân chủ là dư luận. Nếu các nhà lãnh đạo có xu hướng chuyên chế không thể dựa vào quân đội hay tổ chức bạo lực quy mô lớn, họ buộc phải tìm cách khác để thuyết phục đồng minh đi theo và khiến giới phê bình từ bỏ. Sự ủng hộ của công chúng là công cụ hữu hiệu. Khi một lãnh đạo được bầu có tỷ lệ ủng hộ cao, chẳng hạn 70%, các nhà phê bình sẽ dè chừng, truyền thông mềm mỏng hơn, thẩm phán do dự trong việc chống lại chính quyền, và cả chính trị gia đối lập cũng e ngại bị cô lập nên im lặng. Ngược lại, khi tỷ lệ ủng hộ thấp, truyền thông và đối lập mạnh bạo hơn, tòa án dám đứng lên, và các đồng minh bắt đầu bất đồng. Fujimori, Chávez và Erdoğan đều có tỷ lệ ủng hộ cao khi họ tấn công vào các định chế dân chủ.</p>



<p>Để hiểu ảnh hưởng của sự ủng hộ công chúng với Trump, hãy tự hỏi: điều gì sẽ xảy ra nếu cả nước Mỹ giống như West Virginia? West Virginia là bang ủng hộ Trump mạnh nhất. Theo Gallup, nửa đầu năm 2017, tỷ lệ ủng hộ ông tại đây trung bình là 60% — so với chỉ 40% toàn quốc. Trước sự ủng hộ áp đảo đó, sự phản kháng với Trump gần như biến mất — ngay cả trong nội bộ đảng Dân chủ. Thượng nghị sĩ Dân chủ Joe Manchin đã bỏ phiếu cùng Trump trong 54% thời gian đến tháng 8/2017, nhiều hơn bất kỳ đảng viên Dân chủ nào khác. <em>The Hill</em> xếp Manchin vào danh sách “10 đồng minh lớn nhất của Trump tại Quốc hội.” Thống đốc Dân chủ của bang, Jim Justice, còn đi xa hơn: ông chuyển sang đảng Cộng hòa. Tại một buổi vận động, ông ca ngợi Trump là “người tốt” với “ý tưởng thực tế” và gạt bỏ cuộc điều tra Nga: “Chúng ta chưa nghe đủ về chuyện người Nga sao?”</p>



<p>Nếu các đảng viên Dân chủ trên toàn quốc hành xử như tại West Virginia, Trump sẽ gần như không gặp kháng cự — ngay cả với chuyện nước ngoài can thiệp vào bầu cử.</p>



<p>Càng được ủng hộ, Trump càng nguy hiểm. Tỷ lệ ủng hộ ông sẽ phụ thuộc vào tình trạng kinh tế và các biến cố bất ngờ. Các sự kiện phơi bày sự yếu kém của chính phủ, như vụ Katrina dưới thời Bush năm 2005, có thể làm giảm tín nhiệm. Nhưng những diễn biến khác, như khủng hoảng an ninh, lại có thể làm tăng nó.</p>



<p>Điều đó đưa ta đến yếu tố cuối cùng định hình khả năng gây hại của Trump với nền dân chủ: khủng hoảng. Khủng hoảng an ninh lớn — chiến tranh hoặc tấn công khủng bố — là những bước ngoặt chính trị. Hầu như luôn luôn, chúng làm tăng sự ủng hộ với chính quyền. Người dân dễ chấp nhận, thậm chí ủng hộ các biện pháp chuyên quyền khi cảm thấy an ninh bị đe dọa. Và không chỉ người dân — các thẩm phán cũng thường né tránh việc ngăn cản tổng thống trong thời điểm như vậy. Nhà khoa học chính trị William Howell nhận xét rằng các rào cản thể chế với Tổng thống Bush đã gần như biến mất sau vụ khủng bố 11/9, cho phép ông “làm bất cứ điều gì mình muốn để định nghĩa và phản ứng với khủng hoảng.”</p>



<p>Khủng hoảng an ninh, vì vậy, là khoảnh khắc nguy hiểm với dân chủ. Những nhà lãnh đạo có thể “làm bất cứ điều gì mình muốn” có khả năng phá hủy các thiết chế dân chủ. Như ta đã thấy, đó chính là điều các lãnh đạo như Fujimori, Putin và Erdoğan đã làm. Với một nhà độc tài tiềm năng cảm thấy bị đối thủ bao vây và bị hệ thống dân chủ trói buộc, khủng hoảng là cơ hội vàng.</p>



<p>Ngay tại Hoa Kỳ, khủng hoảng an ninh cũng từng tạo điều kiện cho hành pháp mở rộng quyền lực — từ việc Lincoln đình chỉ quyền habeas corpus, đến lệnh giam người Mỹ gốc Nhật của Roosevelt, hay Đạo luật USA PATRIOT của Bush. Nhưng có một khác biệt quan trọng: Lincoln, Roosevelt và Bush đều là những người tin vào dân chủ. Và sau cùng, họ đã biết kiềm chế trong việc sử dụng quyền lực khẩn cấp.</p>



<p>Donald Trump thì khác — ông hiếm khi thể hiện sự kiềm chế trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Khả năng xảy ra xung đột dưới thời Trump cũng không nhỏ. Với bất kỳ tổng thống nào, nguy cơ này đều hiện hữu — nước Mỹ đã từng lâm chiến hoặc chịu tấn công khủng bố dưới thời 6 trong số 12 tổng thống dân cử gần nhất. Nhưng với sự thiếu năng lực về đối ngoại của Trump, rủi ro còn lớn hơn. Chúng tôi lo rằng nếu Trump phải đối mặt với chiến tranh hoặc khủng bố, ông sẽ tận dụng tối đa khủng hoảng đó — dùng nó để công kích đối thủ và siết chặt các quyền tự do mà người Mỹ vốn xem là hiển nhiên. Theo quan điểm của chúng tôi, đó là mối đe dọa lớn nhất với nền dân chủ Mỹ hiện nay.</p>



<p>Ngay cả khi Tổng thống Trump không trực tiếp tháo dỡ các định chế dân chủ, việc ông phá vỡ các chuẩn mực gần như chắc chắn sẽ làm xói mòn chúng. Như David Brooks đã viết, Trump “đã đạp đổ các tiêu chuẩn hành vi từng điều chỉnh đời sống công cộng.” Đảng của ông đã thưởng cho hành vi ấy bằng cách đề cử ông làm tổng thống. Khi tại nhiệm, việc ông tiếp tục vi phạm chuẩn mực đã mở rộng ranh giới của những hành vi có thể được chấp nhận ở cấp tổng thống, khiến những chiến thuật trước kia bị xem là bất thường và không thể dung thứ — như nói dối, gian lận, và bắt nạt — trở thành công cụ phổ biến trong bộ kỹ năng của giới chính trị.</p>



<p>Phá vỡ chuẩn mực không phải lúc nào cũng xấu. Nhiều hành vi vi phạm là vô hại. Tháng 1 năm 1977, Jimmy Carter đã khiến cảnh sát, báo chí, và 250.000 người có mặt để chứng kiến lễ nhậm chức của ông bất ngờ khi ông và phu nhân đi bộ từ Điện Capitol đến Nhà Trắng — quãng đường hơn 2 cây số. <em>New York Daily News</em> gọi quyết định từ bỏ chiếc “limousine bọc thép và kín đáo” này là một “hành vi chưa từng có, đi ngược với thông lệ.” Kể từ đó, theo <em>New York Times</em>, đây đã trở thành “một nghi thức không chính thức” cho các tổng thống đắc cử: ít nhất bước xuống khỏi xe để thể hiện rằng họ là “tổng thống của nhân dân.”</p>



<p>Việc phá vỡ chuẩn mực cũng có thể mang tính dân chủ hóa. Trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1840, William Henry Harrison đã phá lệ khi trực tiếp đi vận động cử tri. Trước đó, các ứng cử viên thường tránh vận động tranh cử, duy trì hình ảnh kiểu Cincinnatus — người không ham quyền lực — nhưng đồng thời cũng khiến cử tri khó hiểu rõ họ.</p>



<p>Một ví dụ khác: năm 1901, một bản tin thường lệ của Nhà Trắng thông báo rằng “Booker T. Washington, đến từ Tuskegee, Alabama, đã dùng bữa tối cùng Tổng thống tối qua.” Dù trước đó đã có các nhà lãnh đạo da đen nổi bật đến thăm Nhà Trắng, nhưng một bữa tối cùng một nhân vật chính trị người Mỹ gốc Phi là điều — theo một sử gia mô tả — vi phạm “quy tắc xã hội thống trị của người da trắng lúc bấy giờ.” Phản ứng là lập tức và dữ dội. Một tờ báo gọi đó là “sự sỉ nhục đáng ghê tởm nhất mà bất kỳ công dân Mỹ nào từng gây ra.” Thượng nghị sĩ William Jennings Bryan nhận xét: “Hy vọng cả hai ông [Roosevelt và Washington] sẽ suy nghĩ lại và hiểu được sự khôn ngoan trong việc từ bỏ ý định xóa bỏ ranh giới chủng tộc.” Trước làn sóng phẫn nộ, bộ phận báo chí của Nhà Trắng ban đầu phủ nhận sự kiện, sau nói rằng đó “chỉ là bữa trưa,” rồi sau cùng bảo vệ hành động này bằng cách nói rằng ít ra “không có phụ nữ hiện diện.”</p>



<p>Vì giá trị xã hội thay đổi theo thời gian, việc tổng thống phá vỡ một số chuẩn mực là điều không tránh khỏi — thậm chí đôi khi còn đáng mong đợi. Nhưng những hành vi vi phạm chuẩn mực của Trump trong năm đầu tiên tại chức khác biệt về bản chất so với những người tiền nhiệm. Trước hết, ông là người vi phạm hàng loạt. Chưa có vị tổng thống nào phớt lờ nhiều quy tắc bất thành văn một cách nhanh chóng đến vậy. Một số vi phạm có vẻ nhỏ — như việc Trump không nuôi thú cưng tại Nhà Trắng, phá vỡ truyền thống 150 năm. Nhưng nhiều vi phạm khác mang tính đe dọa. Bài diễn văn nhậm chức đầu tiên của Trump, chẳng hạn, có giọng điệu đen tối khác thường — ông nói về “tàn sát nước Mỹ” (<em>American carnage</em>) — khiến cựu Tổng thống George W. Bush thốt lên: “Đúng là chuyện quái quỷ gì thế này.”</p>



<p>Nhưng điểm thực sự khiến Trump khác biệt với các tổng thống trước là sự sẵn sàng thách thức những quy tắc bất thành văn hệ trọng — trong đó có những chuẩn mực cốt lõi cho sức khỏe của nền dân chủ. Trong số đó có truyền thống tách bạch giữa lợi ích tư nhân và công vụ, như quy định về việc bổ nhiệm người thân. Luật hiện hành cấm tổng thống bổ nhiệm người thân vào nội các hoặc các cơ quan chính phủ, nhưng không áp dụng cho nhân sự tại Văn phòng Nhà Trắng. Vì vậy, việc Trump bổ nhiệm con gái Ivanka và con rể Jared Kushner vào các vị trí cố vấn cấp cao là hợp pháp về mặt kỹ thuật — nhưng lại vi phạm tinh thần của pháp luật.</p>



<p>Cũng có những chuẩn mực điều chỉnh xung đột lợi ích của tổng thống. Vì tổng thống không được phép sử dụng công quyền để làm giàu cho bản thân, nên những người sở hữu doanh nghiệp thường tách mình khỏi hoạt động kinh doanh trước khi nhậm chức. Tuy vậy, luật pháp về điều này lại khá lỏng lẻo. Các quan chức không buộc phải thoái vốn, mà chỉ cần rút khỏi những quyết định liên quan trực tiếp đến lợi ích của mình. Dù thế, thực tiễn phổ biến là họ thường thoái vốn để tránh cả sự nghi ngờ. Trump thì không hề thể hiện sự kiềm chế nào, bất chấp mức độ xung đột lợi ích chưa từng có. Ông trao quyền kiểm soát doanh nghiệp cho các con trai mình — một động thái bị các chuyên gia đạo đức công vụ đánh giá là hoàn toàn không đủ. Văn phòng Đạo đức Chính phủ cho biết đã nhận được 39.105 khiếu nại của công chúng liên quan đến xung đột lợi ích trong chính quyền Trump từ ngày 1/10/2016 đến 31/3/2017 — con số khổng lồ so với cùng kỳ năm 2008–2009 dưới thời Obama, khi chỉ có 733 khiếu nại.</p>



<p>Trump cũng phá vỡ các chuẩn mực dân chủ cốt lõi khi công khai thách thức tính hợp pháp của bầu cử. Dù tuyên bố của ông về “hàng triệu” phiếu bầu bất hợp pháp đã bị kiểm chứng bác bỏ, bị chính trị gia hai đảng phủ nhận, và bị các nhà khoa học xã hội đánh giá là vô căn cứ, tổng thống mới đắc cử vẫn tiếp tục lặp lại nó cả công khai lẫn riêng tư. Trong hơn một thế kỷ, chưa có chính khách lớn nào nghi ngờ tính toàn vẹn của bầu cử Hoa Kỳ — ngay cả Al Gore, người thua một trong những cuộc bầu cử sát sao nhất lịch sử bởi phán quyết của Tối cao Pháp viện, cũng không làm điều đó.</p>



<p>Những cáo buộc gian lận bầu cử sai sự thật có thể làm xói mòn niềm tin của công chúng vào bầu cử — và khi người dân không còn tin vào tiến trình bầu cử, họ thường đánh mất niềm tin vào chính nền dân chủ. Tại Mexico, sau khi ứng viên thất cử Andrés Manuel López Obrador tuyên bố cuộc bầu cử năm 2006 bị đánh cắp, niềm tin vào hệ thống bầu cử giảm sút nghiêm trọng. Một cuộc thăm dò trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2012 cho thấy 71% người Mexico tin rằng có thể xảy ra gian lận. Ở Hoa Kỳ, con số còn đáng kinh ngạc hơn. Trong một khảo sát trước bầu cử năm 2016, có 84% cử tri Cộng hòa cho rằng “một lượng đáng kể” gian lận đã xảy ra trong các cuộc bầu cử Mỹ, và gần 60% tin rằng người nhập cư không hợp pháp sẽ “tham gia bỏ phiếu với số lượng đáng kể” vào tháng 11. Những nghi ngờ này vẫn tiếp tục sau bầu cử. Theo một cuộc khảo sát do <em>Morning Consult/Politico</em> thực hiện tháng 7/2017, có 47% cử tri Cộng hòa tin rằng Trump thắng phiếu phổ thông, so với 40% tin rằng Hillary Clinton thắng. Nói cách khác, gần một nửa cử tri Cộng hòa tin rằng bầu cử Mỹ bị gian lận trên diện rộng.</p>



<p>Niềm tin như vậy có thể gây hậu quả nghiêm trọng. Một cuộc khảo sát thực hiện vào tháng 6/2017 đã hỏi: “Nếu Donald Trump tuyên bố rằng cuộc bầu cử tổng thống năm 2020 nên hoãn lại cho đến khi nước Mỹ có thể bảo đảm rằng chỉ những công dân đủ điều kiện mới được bỏ phiếu, bạn sẽ ủng hộ hay phản đối việc hoãn bầu cử?” Kết quả: 52% cử tri Cộng hòa trả lời họ sẽ <strong>ủng hộ</strong> hoãn bầu cử.</p>



<p>Tổng thống Trump cũng đã từ bỏ những quy tắc cơ bản của sự lịch thiệp chính trị. Ông phá vỡ chuẩn mực hòa giải sau bầu cử bằng cách tiếp tục công kích Hillary Clinton. Ông còn vi phạm quy tắc bất thành văn rằng các tổng thống đương nhiệm không nên tấn công người tiền nhiệm. Vào lúc 6:35 sáng ngày 4 tháng 3 năm 2017, Trump viết trên Twitter: “Thật kinh khủng! Vừa phát hiện ra rằng Obama đã nghe lén điện thoại của tôi ở Trump Tower ngay trước chiến thắng. Không phát hiện được gì. Đây là chủ nghĩa McCarthy!” Nửa giờ sau, ông tiếp tục: “Obama đã sa đọa đến mức nào khi nghe lén điện thoại tôi trong quá trình bầu cử thiêng liêng. Đây là vụ Nixon/Watergate. Người xấu (hoặc bệnh hoạn)!”</p>



<p>Có lẽ hành vi phá vỡ chuẩn mực nổi tiếng nhất của Tổng thống Trump là nói dối. Ý tưởng rằng các tổng thống nên nói sự thật nơi công chúng vốn là điều không gây tranh cãi trong chính trị Hoa Kỳ. Như cố vấn Cộng hòa Whit Ayers thường khuyên các ứng cử viên: người muốn có uy tín thì “đừng bao giờ phủ nhận điều không thể phủ nhận” và “đừng bao giờ nói dối.” Vì vậy, các chính trị gia thường tránh nói dối bằng cách chuyển hướng chủ đề, diễn giải lại câu hỏi khó, hoặc trả lời một phần. Tuy nhiên, những lời bịa đặt trắng trợn và thường xuyên của Trump là điều chưa từng có tiền lệ.</p>



<p>Xu hướng này đã thể hiện rõ trong chiến dịch tranh cử năm 2016. Tổ chức PolitiFact phân loại 69% các phát biểu công khai của Trump là “hầu hết sai” (21%), “sai” (33%) hoặc “nói dối trắng trợn” (15%). Chỉ có 17% được đánh giá là “đúng” hoặc “hầu hết đúng.”</p>



<p>Trump tiếp tục nói dối khi làm tổng thống. Theo thống kê toàn bộ các phát ngôn công khai của ông từ khi nhậm chức, <em>New York Times</em> cho biết — ngay cả khi áp dụng chuẩn mực bảo thủ (chỉ tính những phát ngôn sai rõ ràng chứ không phải nghi vấn) — Trump đã “làm được điều đáng kinh ngạc”: ông đưa ra ít nhất một tuyên bố sai hoặc gây hiểu nhầm <strong>mỗi ngày</strong> trong <strong>40 ngày đầu tiên</strong> của nhiệm kỳ. Không lời nói dối nào là quá hiển nhiên để ông né tránh. Trump tuyên bố ông có chiến thắng Đại cử tri đoàn lớn nhất kể từ thời Ronald Reagan (thực tế, George H. W. Bush, Clinton, và Obama đều giành được số phiếu cao hơn). Ông cũng khẳng định mình đã ký nhiều dự luật hơn bất kỳ tổng thống nào trong 6 tháng đầu nhiệm kỳ (trong khi thực tế là ít hơn so với nhiều tổng thống trước, bao gồm cả Bush cha và Clinton). Tháng 7 năm 2017, Trump khoe rằng lãnh đạo tổ chức Hướng đạo sinh Hoa Kỳ nói với ông rằng ông “đã có bài phát biểu vĩ đại nhất từng được trình bày trước họ” — tuyên bố này ngay lập tức bị tổ chức này bác bỏ.</p>



<p>Bản thân Tổng thống Trump không phải trả giá nhiều cho những lời nói dối của mình. Trong một môi trường chính trị và truyền thông nơi cử tri ngày càng lọc thông tin qua lăng kính đảng phái, những người ủng hộ ông không xem ông là kẻ bất tín trong năm đầu tiên tại nhiệm. Tuy nhiên, đối với hệ thống chính trị, hậu quả là vô cùng nghiêm trọng. Trong một nền dân chủ, công dân có quyền căn bản được tiếp cận thông tin. Không có thông tin đáng tin cậy về hành động của các nhà lãnh đạo, người dân không thể thực hiện quyền bầu cử một cách hiệu quả. Khi tổng thống Hoa Kỳ nói dối người dân, khả năng tiếp cận thông tin xác thực bị đe dọa, và lòng tin vào chính phủ bị xói mòn (làm sao không bị ảnh hưởng?). Khi người dân không tin vào lãnh đạo được bầu của mình, nền móng của dân chủ đại diện trở nên yếu đi. Giá trị của bầu cử bị suy giảm khi người dân không còn tin tưởng những người họ bầu chọn.</p>



<p>Làm trầm trọng thêm sự mất niềm tin đó là việc Tổng thống Trump từ bỏ các chuẩn mực cơ bản về sự tôn trọng dành cho báo chí. Một nền báo chí độc lập là trụ cột của thể chế dân chủ — không có nền dân chủ nào tồn tại được nếu thiếu nó. Mọi tổng thống Mỹ từ thời George Washington đều từng xung đột với báo chí. Nhiều người trong số họ từng thầm ghét truyền thông. Nhưng ngoại trừ một vài trường hợp, các tổng thống Mỹ đều thừa nhận vai trò trung tâm của truyền thông như một định chế dân chủ và tôn trọng vị trí của nó trong hệ thống chính trị. Ngay cả những tổng thống coi thường báo chí trong riêng tư cũng vẫn thể hiện mức độ tôn trọng và lịch thiệp nhất định ở nơi công cộng. Chính chuẩn mực cơ bản này đã sản sinh ra hàng loạt quy tắc bất thành văn điều chỉnh mối quan hệ giữa tổng thống và báo chí. Một số quy tắc — như vẫy chào nhóm phóng viên khi lên máy bay Air Force One — chỉ mang tính hình thức, nhưng những quy tắc khác — như tổ chức họp báo cho toàn thể báo giới Nhà Trắng tham dự — thì quan trọng hơn nhiều.</p>



<p>Những lời lăng mạ công khai của Trump đối với các hãng tin và cá nhân nhà báo là điều chưa từng có trong lịch sử hiện đại nước Mỹ. Ông mô tả báo chí là “những con người không trung thực nhất trên Trái đất,” và liên tục cáo buộc các hãng tin phê phán ông như <em>New York Times</em>, <em>Washington Post</em> và <em>CNN</em> là nói dối hoặc đăng “tin giả.” Trump thậm chí không ngần ngại tấn công cá nhân. Tháng 6 năm 2017, ông công kích người dẫn chương trình truyền hình Mika Brzezinski và đồng dẫn Joe Scarborough trong một loạt tweet cay nghiệt:</p>



<p>Tôi nghe @Morning_Joe — chương trình có tỷ suất người xem tệ — nói xấu tôi (giờ tôi không xem nữa). Vậy sao cô Mika IQ thấp, điên khùng, cùng với Joe tâm thần, lại đến Mar-a-Lago ba đêm liên tiếp quanh giao thừa, năn nỉ được gặp tôi&#8230;<br>&#8230;Cô ta còn đang chảy máu rất nhiều sau khi căng da mặt. Tôi từ chối!</p>



<p>Ngay cả Richard Nixon, người từng xem truyền thông là “kẻ thù” trong riêng tư, cũng chưa bao giờ tấn công công khai như vậy. Để tìm hành vi tương tự, ta phải nhìn sang những lãnh đạo như Hugo Chávez và Nicolás Maduro ở Venezuela, hoặc Rafael Correa ở Ecuador.</p>



<p>Chính quyền Trump cũng phá vỡ chuẩn mực bằng cách chọn lọc loại trừ một số phóng viên khỏi các sự kiện báo chí. Ngày 24 tháng 2 năm 2017, Thư ký Báo chí Sean Spicer đã cấm các phóng viên từ <em>New York Times</em>, <em>CNN</em>, <em>Politico</em>, <em>BuzzFeed</em>, và <em>Los Angeles Times</em> tham dự một cuộc họp báo “gaggle” không truyền hình, đồng thời lựa chọn các nhà báo từ những hãng nhỏ nhưng thân thiện như <em>Washington Times</em> và <em>One America News Network</em> để tham dự. Tiền lệ hiện đại duy nhất cho hành động như vậy là việc Nixon cấm <em>Washington Post</em> vào Nhà Trắng sau khi tờ báo này phanh phui vụ Watergate.</p>



<p>Năm 1993, thượng nghị sĩ Dân chủ bang New York, Daniel Patrick Moynihan — một nhà xã hội học trước khi bước vào chính trường — đã đưa ra một nhận định sắc bén: Con người có khả năng giới hạn trong việc đối phó với những hành vi đi chệch khỏi các chuẩn mực chung. Khi các quy tắc bất thành văn bị vi phạm lặp đi lặp lại, theo Moynihan, xã hội có xu hướng “định nghĩa lại sự lệch chuẩn theo hướng hạ thấp” (<em>define deviancy down</em>) — tức là thay đổi tiêu chuẩn. Những gì trước đây bị xem là bất thường sẽ trở thành bình thường.</p>



<p>Moynihan áp dụng nhận định này — một cách gây tranh cãi — để lý giải sự gia tăng mức độ khoan dung của xã hội Mỹ đối với gia đình đơn thân, tỷ lệ giết người cao và các vấn đề về sức khỏe tâm thần. Ngày nay, nhận định đó có thể áp dụng cho nền dân chủ Mỹ. Dù hành vi lệch chuẩn trong chính trị — như vi phạm các quy tắc về sự lịch sự, sự tôn trọng đối với báo chí, và sự trung thực — không bắt đầu từ Donald Trump, nhiệm kỳ của ông đang làm tăng tốc quá trình đó. Dưới thời Tổng thống Trump, nước Mỹ đang định nghĩa lại sự lệch chuẩn chính trị theo chiều hướng hạ thấp. Việc ông thường xuyên sử dụng lời lẽ xúc phạm cá nhân, hành vi bắt nạt, dối trá và gian lận, tất yếu đã góp phần bình thường hóa những hành vi ấy. Những dòng tweet của Trump có thể khiến truyền thông, đảng Dân chủ và một số thành viên đảng Cộng hòa phẫn nộ, nhưng hiệu quả phản ứng của họ bị giới hạn bởi số lượng vi phạm quá lớn. Như Moynihan nhận xét, trước một loạt hành vi lệch chuẩn lan rộng, con người cảm thấy quá tải — rồi trở nên tê liệt. Chúng ta dần quen với những điều mà trước đây từng xem là bê bối.</p>



<p>Hơn nữa, sự lệch chuẩn của Trump đã được đảng Cộng hòa dung thứ, điều này khiến nó trở nên chấp nhận được đối với phần lớn cử tri Cộng hòa. Dĩ nhiên, nhiều người trong đảng đã lên án những hành vi tồi tệ nhất của Trump. Nhưng những tuyên bố đơn lẻ đó không mang tính răn đe. Trong bảy tháng đầu nhiệm kỳ tổng thống Trump, tất cả thượng nghị sĩ Cộng hòa — ngoại trừ một người — đều bỏ phiếu ủng hộ Trump ít nhất 85% thời gian. Ngay cả các thượng nghị sĩ Ben Sasse (Nebraska) và Jeff Flake (Arizona) — những người thường xuyên lên án các hành vi vi phạm chuẩn mực của Trump — cũng vẫn bỏ phiếu ủng hộ ông 94% thời gian. Không có chiến lược “kiềm chế” nào đủ hiệu quả để đối phó với một dòng tweet xúc phạm bất tận. Không sẵn sàng chịu cái giá chính trị vì chống lại tổng thống của chính mình, các thành viên đảng Cộng hòa rơi vào thế buộc phải liên tục định nghĩa lại điều gì là có thể chấp nhận được — và điều gì không.</p>



<p>Việc này sẽ mang lại hậu quả nghiêm trọng cho nền dân chủ. Cuộc tấn công của Trump vào các chuẩn mực cơ bản đã mở rộng biên độ cho hành vi chính trị có thể chấp nhận được. Chúng ta có thể đã bắt đầu thấy những hệ quả đó. Tháng 5 năm 2017, Greg Gianforte — ứng viên Cộng hòa trong cuộc bầu cử đặc biệt vào Hạ viện — đã vật ngã một phóng viên của <em>The Guardian</em> khi ông này hỏi về chính sách cải cách y tế. Gianforte bị truy tố về tội hành hung cấp nhẹ — nhưng ông vẫn giành chiến thắng trong cuộc bầu cử. Nói chung, một cuộc khảo sát do <em>YouGov</em> thực hiện cho <em>The Economist</em> vào giữa năm 2017 cho thấy mức độ bất khoan dung đáng kinh ngạc đối với truyền thông, đặc biệt trong giới cử tri Cộng hòa. Khi được hỏi liệu họ có ủng hộ việc cho phép tòa án đóng cửa các cơ quan báo chí đưa tin “thiên lệch hoặc sai sự thật” hay không, 45% cử tri Cộng hòa trả lời có, trong khi chỉ 20% phản đối. Hơn 50% cử tri Cộng hòa ủng hộ ý tưởng phạt tiền các hãng tin vì đưa tin thiên lệch hoặc sai. Nói cách khác, đa số cử tri Cộng hòa ủng hộ các biện pháp đàn áp báo chí từng thấy ở Ecuador, Thổ Nhĩ Kỳ và Venezuela trong những năm gần đây.</p>



<p>Trong mùa hè năm 2017, Hiệp hội Súng trường Quốc gia (NRA) phát hành hai video tuyển mộ. Trong video đầu tiên, phát ngôn viên Dana Loesch nói về đảng Dân chủ và việc sử dụng vũ lực:</p>



<p>“Họ dùng trường học để dạy trẻ rằng tổng thống là Hitler thứ hai. Họ dùng sao Hollywood, ca sĩ, chương trình hài và lễ trao giải để lặp lại thông điệp. Rồi họ dùng cựu tổng thống để ủng hộ ‘phong trào phản kháng.’ Tất cả nhằm khiến họ xuống đường, biểu tình, gào lên ‘phân biệt chủng tộc’, ‘phân biệt giới tính’, ‘bài ngoại’, ‘kỳ thị đồng tính’. Đập phá cửa sổ, đốt xe, chặn xa lộ, sân bay, bắt nạt và khủng bố người tuân thủ luật pháp — cho đến khi cảnh sát buộc phải ra tay chấm dứt sự điên loạn. Và khi điều đó xảy ra, họ lại dùng nó làm cớ để nổi giận. Cách duy nhất để chặn điều này, cách duy nhất để cứu nước Mỹ và tự do của chúng ta, là chống lại bạo lực của dối trá bằng nắm đấm sự thật.”</p>



<p>Trong video thứ hai, Loesch gửi một lời đe dọa không hề tinh tế nhắm vào <em>New York Times</em>:</p>



<p>“Chúng tôi đã quá mệt mỏi với cái kiểu tự phụ của các người… cứ khăng khăng rằng mình là báo chí trung thực, dựa trên sự thật. Hãy xem đây là phát súng cảnh báo bắn ngang mũi tàu các người&#8230; Tóm lại, chúng tôi sẽ đến với các người.”</p>



<p>NRA không phải là một tổ chức nhỏ hay cực đoan. Họ tuyên bố có năm triệu hội viên và có mối quan hệ chặt chẽ với đảng Cộng hòa — cả Donald Trump và Sarah Palin đều là hội viên trọn đời. Thế nhưng hiện nay, tổ chức này đang sử dụng thứ ngôn ngữ mà trước đây ta từng xem là lệch chuẩn chính trị nguy hiểm.</p>



<p>Các chuẩn mực chính là “hàng rào mềm” của nền dân chủ. Khi chúng bị phá vỡ, không gian cho hành vi chính trị có thể chấp nhận được sẽ mở rộng, tạo điều kiện cho những lời lẽ và hành vi đe dọa chính nền dân chủ. Những gì trước đây từng bị xem là không thể tưởng tượng nổi trong chính trị Hoa Kỳ, giờ đang dần trở thành có thể tưởng tượng được. Ngay cả khi Donald Trump không phá vỡ các “hàng rào cứng” trong hiến pháp dân chủ của chúng ta, ông đã làm gia tăng khả năng rằng <strong>một tổng thống trong tương lai sẽ làm điều đó.</strong></p>



<p><strong>I. THUẬT NGỮ VÀ KHÁI NIỆM CHÍNH</strong></p>



<ol start="1" class="wp-block-list">
<li><strong>Norm (Chuẩn mực)</strong><br>Quy tắc ứng xử bất thành văn nhưng được xã hội hoặc giới chính trị ngầm công nhận là chuẩn mực đạo đức và hành vi đúng đắn trong đời sống công hoặc trong các thể chế dân chủ. Ví dụ: tổng thống không nên tấn công báo chí, không bổ nhiệm người nhà, không nói dối trắng trợn.</li>



<li><strong>Guardrails of Democracy (Hàng rào dân chủ)</strong><br>Những ràng buộc (cả luật pháp và đạo đức) giúp duy trì trật tự dân chủ. Gồm “hàng rào cứng” (hiến pháp, luật pháp) và “hàng rào mềm” (các chuẩn mực chính trị như sự khoan dung lẫn nhau, kiềm chế quyền lực, trung thực, tôn trọng báo chí&#8230;).</li>



<li><strong>Define Deviancy Down (Hạ thấp chuẩn lệch)</strong><br>Khái niệm do Daniel Patrick Moynihan đưa ra: khi các hành vi lệch chuẩn xảy ra thường xuyên, xã hội có xu hướng chấp nhận chúng như bình thường, từ đó làm lệch lạc tiêu chuẩn đạo đức ban đầu.</li>



<li><strong>Electoral Authoritarianism (Chuyên chế bầu cử)</strong><br>Chế độ chính trị nơi các cuộc bầu cử vẫn được tổ chức nhưng không công bằng; người cầm quyền lạm dụng quyền lực để triệt tiêu đối thủ, kiểm soát truyền thông, thao túng tư pháp&#8230; Ví dụ: Hungary, Venezuela, Thổ Nhĩ Kỳ.</li>



<li><strong>Filibuster</strong><br>Một thủ tục tại Thượng viện Hoa Kỳ, cho phép thiểu số trì hoãn hoặc ngăn cản một cuộc bỏ phiếu nếu không đạt được đa số siêu tuyệt đối (60/100). Việc hủy bỏ filibuster được xem là làm suy yếu quyền lực của phe thiểu số.</li>



<li><strong>Presidential Advisory Commission on Election Integrity</strong><br>Ủy ban Cố vấn Tổng thống về Tính Toàn vẹn Bầu cử — do Trump lập ra năm 2017 để điều tra gian lận bầu cử, nhưng bị nghi ngờ là nhằm biện minh cho nỗ lực hạn chế cử tri thiểu số và củng cố quyền lực chính trị.</li>



<li><strong>Voter ID Laws (Luật yêu cầu giấy tờ tùy thân cử tri)</strong><br>Quy định bắt buộc cử tri xuất trình thẻ căn cước có ảnh khi đi bầu. Các luật này thường bị cáo buộc nhằm làm khó người nghèo, người da màu, người nhập cư — những nhóm hay bỏ phiếu cho đảng Dân chủ.</li>



<li><strong>Kris Kobach</strong><br>Cựu Tổng thư ký bang Kansas, người theo chủ nghĩa cứng rắn về bầu cử và nhập cư, đồng thời là Phó Chủ tịch Ủy ban về Tính Toàn vẹn Bầu cử của Trump. Ông được gọi là “người cổ vũ số một cho việc ngăn cản cử tri.”</li>



<li><strong>Robert Mueller</strong><br>Cựu Giám đốc FBI, được bổ nhiệm làm công tố viên đặc biệt để điều tra sự can thiệp của Nga vào bầu cử Mỹ 2016 và khả năng có sự thông đồng giữa chiến dịch Trump và chính phủ Nga.</li>



<li><strong>Sean Spicer</strong><br>Cựu Thư ký báo chí Nhà Trắng dưới thời Trump, nổi tiếng vì nhiều lần đưa thông tin sai lệch hoặc gây tranh cãi trong các buổi họp báo.</li>



<li><strong>Dana Loesch</strong><br>Phát ngôn viên của Hiệp hội Súng trường Quốc gia (NRA), người có các video kêu gọi chống lại truyền thông và “cánh tả” bằng giọng điệu bạo lực.</li>



<li><strong>NRA (National Rifle Association)</strong><br>Tổ chức vận động hành lang mạnh mẽ nhất cho quyền sở hữu súng tại Mỹ, có quan hệ sâu rộng với đảng Cộng hòa. Trong những năm gần đây, NRA chuyển dần sang ủng hộ lập trường chính trị cực hữu.</li>
</ol>



<hr class="wp-block-separator has-alpha-channel-opacity"/>



<p><strong>II. NHÂN VẬT CHÍNH TRONG CHƯƠNG</strong></p>



<figure class="wp-block-table"><table class="has-fixed-layout"><thead><tr><td><strong>Nhân vật</strong></td><td><strong>Vai trò</strong></td></tr></thead><tbody><tr><td><strong>Donald Trump</strong></td><td>Tổng thống thứ 45 của Hoa Kỳ, người liên tục phá vỡ các chuẩn mực dân chủ</td></tr><tr><td><strong>Robert Mueller</strong></td><td>Điều tra viên độc lập vụ Nga can thiệp bầu cử</td></tr><tr><td><strong>Jeff Sessions</strong></td><td>Bộ trưởng Tư pháp, rút khỏi điều tra Nga</td></tr><tr><td><strong>James Comey</strong></td><td>Giám đốc FBI bị Trump sa thải</td></tr><tr><td><strong>Ben Sasse / Jeff Flake</strong></td><td>Thượng nghị sĩ Cộng hòa lên án Trump bằng lời, nhưng vẫn bỏ phiếu ủng hộ</td></tr><tr><td><strong>Dana Loesch</strong></td><td>Gương mặt truyền thông của NRA, sử dụng ngôn ngữ đe dọa chống báo chí</td></tr><tr><td><strong>Daniel Patrick Moynihan</strong></td><td>Thượng nghị sĩ, người đưa ra khái niệm “define deviancy down”</td></tr></tbody></table></figure>



<hr class="wp-block-separator has-alpha-channel-opacity"/>



<p><strong>III. SỰ KIỆN TIÊU BIỂU ĐƯỢC NHẮC TRONG CHƯƠNG</strong></p>



<ul class="wp-block-list">
<li><strong>Trump tấn công Hillary Clinton và Obama sau bầu cử</strong><br>Phá vỡ chuẩn mực hòa giải hậu bầu cử và truyền thống không công kích người tiền nhiệm.</li>



<li><strong>Trump cáo buộc Obama nghe lén Trump Tower</strong><br>Một cáo buộc sai lệch, không có bằng chứng, nhưng được lặp lại để đánh vào lòng tin công chúng.</li>



<li><strong>Trump bổ nhiệm người thân (Ivanka và Jared Kushner)</strong><br>Tránh được ràng buộc pháp lý, nhưng phá vỡ tinh thần luật cấm bổ nhiệm thân nhân.</li>



<li><strong>Greg Gianforte hành hung nhà báo nhưng vẫn thắng cử</strong><br>Một chỉ dấu cho thấy bạo lực đối với truyền thông không còn là “điều không thể chấp nhận.”</li>



<li><strong>NRA tung video đe dọa truyền thông</strong><br>Ngôn ngữ “bạo lực chính trị” dần được bình thường hóa trong không gian công cộng.</li>
</ul>



<hr class="wp-block-separator has-alpha-channel-opacity"/>



<p><strong>IV. Ý NGHĨA TRỌNG TÂM CỦA CHƯƠNG</strong></p>



<p>Chương 8 chỉ ra rằng <strong>Trump không cần phải xóa bỏ các thiết chế dân chủ bằng pháp luật</strong> để gây hại cho nền dân chủ — <strong>ông làm điều đó bằng cách phá vỡ các chuẩn mực</strong>, lặp đi lặp lại đến mức khiến xã hội tê liệt và chấp nhận những hành vi từng bị xem là không tưởng. Hành động này không chỉ ảnh hưởng đến hiện tại, mà <strong>còn tạo tiền lệ nguy hiểm cho các tổng thống tương lai</strong>.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Steven Levitsky &#038; Daniel Ziblatt:  NỀN DÂN CHỦ SẼ CHẾT NHƯ THẾ NÀO – Chương 7: SỰ BUNG RÃ</title>
		<link>https://t-van.net/steven-levitsky-daniel-ziblatt-nen-dan-chu-se-chet-nhu-the-nao-chuong-7-su-bung-ra/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[ChatGPT]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 25 Jun 2025 09:30:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[ChatGPT DỊCH THUẬT - TỦ SÁCH THẾ GIỚI]]></category>
		<category><![CDATA[Nền Dân Chủ Sẽ Chết Như Thế Nào]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=81416</guid>

					<description><![CDATA[GIỚI THIỆU TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM Nguyên Tác: HOW DEMOCRACIES DIE (2018) của&#160;Steven Levitsky &#38; Daniel Ziblatt (Chuyển ngữ tiếng Việt: ChatGPT; Hiệu đính (và chịu trách nhiệm): T.Vấn) CHƯƠNG 7 SỰ BUNG RÃ Vào chiều thứ Bảy, ngày 13 tháng 2 năm 2016, một tờ báo ở San Antonio đưa tin Thẩm phán [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/71nkYi9OL.jpg?strip=all&w=2560"><img decoding="async" width="667" height="1024" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/71nkYi9OL-667x1024.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-80750" style="width:375px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/06/71nkYi9OL-195x300.jpg 195w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/71nkYi9OL-667x1024.jpg?strip=all 667w, https://cdn.t-van.net/2025/06/71nkYi9OL-768x1179.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2025/06/71nkYi9OL-1001x1536.jpg 1001w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/71nkYi9OL.jpg?strip=all 1251w" sizes="(max-width: 667px) 100vw, 667px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><strong><a href="https://t-van.net/steven-levitsky-daniel-ziblatt-nen-dan-chu-se-chet-nhu-the-nao/">GIỚI THIỆU TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM</a></strong></p>



<p><strong>Nguyên Tác: HOW DEMOCRACIES DIE (2018) của</strong>&nbsp;<strong>Steven Levitsky &amp; Daniel Ziblatt</strong></p>



<p><em>(Chuyển ngữ tiếng Việt: ChatGPT; Hiệu đính (và chịu trách nhiệm): T.Vấn)</em></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>CHƯƠNG 7</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>SỰ BUNG RÃ</strong></p>



<p>Vào chiều thứ Bảy, ngày 13 tháng 2 năm 2016, một tờ báo ở San Antonio đưa tin Thẩm phán Tối cao Pháp viện Antonin Scalia đã qua đời trong giấc ngủ khi đang đi săn ở Texas. Mạng xã hội lập tức bùng nổ. Chỉ trong vài phút, một cựu phụ tá đảng Cộng hòa và là người sáng lập tạp chí pháp lý bảo thủ The Federalist đã đăng tweet: “Nếu Scalia thật sự đã qua đời, Thượng viện phải từ chối phê chuẩn bất kỳ thẩm phán nào trong năm 2016 và để việc đề cử cho tổng thống kế tiếp.” Ngay sau đó, giám đốc truyền thông của Thượng nghị sĩ Cộng hòa Mike Lee tweet: “Có gì thấp hơn con số không? Chính là cơ hội để Obama bổ nhiệm thành công một Thẩm phán Tối cao thay thế Scalia.” Đến tối, Lãnh đạo khối đa số Thượng viện Mitch McConnell ra tuyên bố chia buồn với gia đình Scalia nhưng cũng khẳng định: “Chỗ trống này không nên được lấp đầy cho đến khi chúng ta có một vị tổng thống mới.”</p>



<p>Ngày 16 tháng 3 năm 2016, Tổng thống Barack Obama đề cử thẩm phán tòa phúc thẩm Merrick Garland vào chiếc ghế trống của Scalia. Không ai nghi ngờ gì về năng lực của Garland, và theo nhiều đánh giá, ông là một người ôn hòa về mặt tư tưởng. Nhưng lần đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ, Thượng viện từ chối thậm chí xem xét đề cử của một tổng thống đương nhiệm cho Tối cao Pháp viện. Như chúng ta đã thấy, Thượng viện xưa nay luôn sử dụng sự tiết chế khi thực thi quyền “tham vấn và đồng ý” đối với các vị trí trong Tối cao Pháp viện: kể từ năm 1866, mỗi lần tổng thống đưa ra đề cử vào Tối cao Pháp viện trước khi người kế nhiệm được bầu chọn, đều được Thượng viện cho phép thực hiện.</p>



<p>Nhưng thế giới đã thay đổi vào năm 2016. Giờ đây, trong một sự phá vỡ tiền lệ lịch sử, các Thượng nghị sĩ Cộng hòa phủ nhận thẩm quyền đề cử của tổng thống. Đó là một hành vi vi phạm nghiêm trọng các chuẩn mực dân chủ. Chưa đầy một năm sau, khi một người Cộng hòa vào Nhà Trắng, Thượng viện Cộng hòa đạt được điều mình muốn: phê chuẩn nhanh chóng một ứng viên bảo thủ, Neil Gorsuch. Đảng Cộng hòa đã chà đạp lên một chuẩn mực dân chủ căn bản — trên thực tế là cướp đoạt một ghế trong Tối cao Pháp viện — và thoát khỏi hậu quả.</p>



<p>Những truyền thống nâng đỡ các thiết chế dân chủ Mỹ đang dần bung rã, mở ra một khoảng cách đáng lo giữa cách hệ thống chính trị của chúng ta vận hành với những kỳ vọng lâu đời về việc nó <em>nên</em> vận hành ra sao. Khi những “lan can mềm” yếu đi, chúng ta trở nên dễ tổn thương hơn trước những nhà lãnh đạo chống dân chủ.</p>



<p>Donald Trump, một kẻ thường xuyên phá vỡ chuẩn mực, bị chỉ trích rộng rãi (và đúng đắn) vì tấn công các chuẩn mực dân chủ của nước Mỹ. Nhưng vấn đề không bắt đầu với Trump. Quá trình xói mòn chuẩn mực đã bắt đầu từ nhiều thập niên trước — từ lâu trước khi Trump bước xuống thang cuốn để tuyên bố tranh cử tổng thống.</p>



<p>***</p>



<p>Trong cuộc đua vào Quốc hội năm 1978 ở tây bắc Georgia, một chính trị gia trẻ tên Newt Gingrich lần thứ ba ra tranh cử ở một địa hạt ngoại ô Atlanta. Sau hai lần thất bại với tư cách một người Cộng hòa theo đường lối tự do, ông cuối cùng đã thắng — lần này với tư cách một người bảo thủ, giành được một địa hạt chưa từng thuộc về đảng Cộng hòa trong suốt 130 năm. Dáng vẻ học giả, với cặp kính, giọng nói lanh lảnh, mái tóc dày và bộ râu rậm của Gingrich che giấu sự cứng rắn đã góp phần làm thay đổi nền chính trị Hoa Kỳ.</p>



<p>Tháng 6 năm 1978, Gingrich gặp một nhóm Đảng viên Cộng hòa trẻ tại khách sạn Holiday Inn gần sân bay Atlanta, nơi ông quyến rũ họ bằng một tầm nhìn chính trị thẳng thừng, quyết liệt hơn những gì họ từng biết. Ông tìm thấy một khán giả khao khát điều đó. Gingrich cảnh báo các đảng viên trẻ rằng đừng dùng những lời lẽ kiểu “hướng đạo sinh, có thể hay ho quanh đống lửa trại, nhưng tệ hại trong chính trị.” Ông nói tiếp:</p>



<p>“Các bạn đang chiến đấu trong một cuộc chiến. Một cuộc chiến vì quyền lực….Đảng này không cần một thế hệ lãnh đạo dè dặt, thận trọng, nhạt nhẽo, mơ hồ, chẳng liên quan gì….Điều chúng ta thật sự cần là những người sẵn sàng bước vào cuộc ẩu đả….Lãnh đạo chính trị là gì?…Là xây dựng một đa số.”</p>



<p>Khi Gingrich đến Washington năm 1979, tầm nhìn “chính trị như chiến tranh” của ông mâu thuẫn với lãnh đạo đảng Cộng hòa. Lãnh đạo phe thiểu số Hạ viện Bob Michel — một nhân vật thân thiện, thường lái xe về quê Illinois nghỉ quốc hội cùng đồng nghiệp Dân chủ Dan Rostenkowski — cam kết duy trì các chuẩn mực lịch sự và hợp tác lưỡng đảng. Gingrich bác bỏ cách tiếp cận đó là quá “mềm yếu.” Theo ông, muốn giành đa số cho đảng Cộng hòa thì phải chơi một trò chính trị cứng rắn hơn.</p>



<p>Được hậu thuẫn bởi một nhóm trung thành ngày càng đông, Gingrich khởi động một cuộc nổi dậy nhằm truyền bá tinh thần chiến đấu vào trong đảng. Tận dụng công nghệ truyền thông mới là C-SPAN, Gingrich “ném ra những tính từ như ném đá,” cố tình dùng ngôn ngữ giật gân. Ông mô tả Quốc hội là “tham nhũng” và “bệnh hoạn.” Ông đặt nghi vấn về lòng yêu nước của đối thủ Dân chủ. Ông thậm chí so sánh họ với Mussolini và buộc tội họ tìm cách “phá hủy đất nước chúng ta.” Theo cựu lãnh đạo Đảng Dân chủ bang Georgia Steve Anthony, “những gì phát ra từ miệng Gingrich…chúng tôi chưa từng nghe từ bất kỳ bên nào. Gingrich đã đi quá xa đến mức đối thủ bị choáng váng trong vài năm.”</p>



<p>Thông qua một ủy ban hành động chính trị mới mang tên GOPAC, Gingrich và đồng minh tìm cách phổ biến chiến thuật này trên toàn đảng. GOPAC phát hành hơn hai ngàn băng ghi âm huấn luyện hàng tháng để bảo đảm các tân binh trong “Cuộc Cách mạng Cộng hòa” của Gingrich dùng chung một giọng điệu. Cựu thư ký báo chí của Gingrich, Tony Blankley, so sánh chiến thuật phát băng này với cách Ayatollah Khomeini sử dụng băng ghi âm trên đường lên nắm quyền ở Iran. Đầu những năm 1990, Gingrich và nhóm của ông còn phân phát các bản ghi nhớ hướng dẫn ứng viên Cộng hòa dùng các từ tiêu cực để mô tả đảng Dân chủ, như: đáng thương, bệnh hoạn, kỳ quái, phản bội, chống cờ, chống gia đình, phản quốc. Đó là khởi đầu cho một sự chuyển biến địa chấn trong nền chính trị Mỹ.</p>



<p>Ngay cả khi Gingrich thăng tiến trong hàng ngũ lãnh đạo đảng — trở thành phó lãnh đạo phe thiểu số năm 1989 và Chủ tịch Hạ viện năm 1995 — ông vẫn không từ bỏ giọng điệu cứng rắn. Và thay vì bị đảng quay lưng, ông kéo cả đảng về phía mình. Khi ông trở thành Chủ tịch, Gingrich đã trở thành hình mẫu cho một thế hệ mới các nhà lập pháp Cộng hòa — nhiều người được bầu trong cuộc bầu cử áp đảo năm 1994, lần đầu tiên đưa đảng Cộng hòa kiểm soát Hạ viện sau bốn thập niên. Thượng viện cũng bị biến đổi theo bởi sự xuất hiện của những “Thượng nghị sĩ Gingrich,” với tư tưởng cứng rắn, ác cảm với thỏa hiệp, và sẵn sàng ngăn chặn lập pháp — tất cả góp phần chấm dứt truyền thống “lề thói dân biểu” (folkways) của cơ quan này.</p>



<p>Dù ít người nhận ra lúc đó, Gingrich và các đồng minh ông đang đứng trên bờ một làn sóng phân cực mới, bắt nguồn từ sự bất mãn công chúng ngày càng tăng — đặc biệt trong cử tri Cộng hòa. Gingrich không tạo ra sự phân cực này, nhưng ông là một trong những người đầu tiên khai thác nó. Và vai trò lãnh đạo của ông giúp định hình chiến lược “chính trị như chiến tranh” như là phương châm chủ đạo của đảng Cộng hòa. Theo Dân biểu Dân chủ Barney Frank, Gingrich đã biến nền chính trị Mỹ từ chỗ người ta mặc định rằng đối thủ là người thiện chí — dù bất đồng — thành chỗ người ta coi những người bất đồng chính kiến là tồi tệ và vô đạo đức. Ông là một kiểu McCarthyite đã thành công.</p>



<p>Chiến lược cứng rắn mới của đảng Cộng hòa thể hiện rõ trong nhiệm kỳ tổng thống Bill Clinton. Tháng 4 năm 1993, chỉ bốn tháng sau khi Clinton nhậm chức, Lãnh đạo phe thiểu số Thượng viện Robert Dole cho rằng chiến thắng khiêm tốn của Clinton không đủ để có giai đoạn “trăng mật” truyền thống dành cho tổng thống mới, và vì thế tổ chức một cuộc filibuster nhằm chặn gói kích thích việc làm trị giá 16 tỉ USD của ông. Việc sử dụng filibuster — vốn đã tăng mạnh trong thập niên 1980 và đầu thập niên 1990 — đạt đến mức mà một cựu thượng nghị sĩ mô tả là “dịch bệnh” trong hai năm đầu nhiệm kỳ Clinton. Trước thập niên 1970, số đề nghị kết thúc tranh luận (cloture) — một chỉ dấu quan trọng của filibuster — chưa bao giờ vượt quá bảy mỗi năm; đến 1993–94, con số đó đã đạt tám mươi. Các Thượng nghị sĩ Cộng hòa cũng tích cực thúc đẩy điều tra các bê bối mờ ám, nổi bật nhất là vụ đầu tư đất của Clinton ở Arkansas trong thập niên 1980 (gọi là Whitewater). Những nỗ lực này dẫn đến việc bổ nhiệm Kenneth Starr làm công tố viên đặc biệt năm 1994. Một cái bóng lớn bắt đầu phủ lên suốt nhiệm kỳ tổng thống của Clinton.</p>



<p>Nhưng thời kỳ chính trị như chiến tranh thực sự bước vào giai đoạn cao trào sau cuộc bầu cử vang dội của Đảng Cộng hòa năm 1994. Khi Gingrich trở thành Chủ tịch Hạ viện, GOP áp dụng chiến lược &#8220;không thỏa hiệp&#8221; — một tín hiệu thể hiện sự thuần túy về mặt ý thức hệ gửi đến cử tri cốt lõi — công khai bác bỏ sự tiết chế nhằm theo đuổi chiến thắng bằng “mọi giá”. Ví dụ, các dân biểu Đảng Cộng hòa từ chối thỏa hiệp trong các cuộc đàm phán ngân sách, dẫn đến việc chính phủ phải đóng cửa trong năm ngày vào năm 1995 và hai mươi mốt ngày vào năm 1996. Đây là một bước ngoặt nguy hiểm. Khi thiếu tiết chế, hệ thống kiểm soát và cân bằng sẽ rơi vào bế tắc và rối loạn.</p>



<p>Đỉnh điểm của kiểu &#8220;chơi khó&#8221; hiến pháp trong thập niên 1990 là cuộc bỏ phiếu của Hạ viện vào tháng 12 năm 1998 nhằm luận tội Tổng thống Clinton. Đây mới chỉ là lần luận tội tổng thống thứ hai trong lịch sử nước Mỹ, và động thái này đã đi ngược lại các chuẩn mực lâu đời. Cuộc điều tra — bắt đầu từ vụ bê bối bất thành mang tên Whitewater và cuối cùng tập trung vào lời khai của Tổng thống Clinton về một mối quan hệ ngoài hôn nhân — không bao giờ hé lộ điều gì gần với tiêu chuẩn thông thường của &#8220;trọng tội và hành vi sai trái&#8221;. Theo lời nhà nghiên cứu hiến pháp Keith Whittington, các dân biểu Cộng hòa đã luận tội Clinton &#8220;vì một sơ suất kỹ thuật&#8221;. Họ cũng thúc đẩy tiến trình luận tội mà không có sự ủng hộ lưỡng đảng, điều đó có nghĩa là Tổng thống Clinton gần như chắc chắn sẽ không bị Thượng viện kết tội (và đúng là ông đã được tuyên trắng án vào tháng 2 năm 1999). Với hành động chưa từng có trong lịch sử nước Mỹ, các dân biểu Cộng hòa tại Hạ viện đã chính trị hóa tiến trình luận tội, biến nó, theo lời các chuyên gia quốc hội Thomas Mann và Norman Ornstein, thành &#8220;chỉ là một vũ khí khác trong cuộc chiến đảng phái&#8221;.</p>



<p>Dù Newt Gingrich có thể là người dẫn đầu cuộc tấn công đầu tiên vào sự khoan dung và tiết chế, thì quá trình trượt dốc vào chính trị như chiến tranh chỉ càng gia tốc sau khi ông rời quốc hội năm 1999. Mặc dù Gingrich được thay thế bởi Dennis Hastert trên cương vị Chủ tịch Hạ viện, quyền lực thực sự rơi vào tay Lãnh đạo phe đa số Hạ viện Tom DeLay. Có biệt danh là “Cái Búa” (the Hammer), DeLay mang trong mình sự tàn nhẫn đậm chất đảng phái giống như Gingrich. Ông thể hiện điều đó, một phần, thông qua Dự án K Street — một chiến dịch nhồi nhét các công ty vận động hành lang bằng những người thân Cộng hòa và áp đặt một hệ thống “trả tiền để được việc” trong đó các nhà vận động hành lang được tưởng thưởng bằng các điều khoản lập pháp dựa trên mức độ ủng hộ các chính trị gia GOP. Dân biểu Cộng hòa Chris Shays mô tả triết lý của DeLay một cách thẳng thừng: “Nếu điều đó không phạm pháp, thì cứ làm.” Kết quả là sự xói mòn chuẩn mực tiếp tục. “Hết lần này đến lần khác,” một nhà báo nhận xét, DeLay “phá vỡ hàng rào vô hình vốn giữ những người đảng phái khác trong khuôn khổ.” DeLay đã đưa việc vi phạm chuẩn mực thành thông lệ trong thế kỷ XXI.</p>



<p>***</p>



<p>Vào tối ngày 14 tháng 12 năm 2000, sau khi Al Gore chấp nhận thất bại trong cuộc đua vào Nhà Trắng sau một cuộc tranh chấp sau bầu cử đầy cay đắng, George W. Bush phát biểu trước cả nước từ Hạ viện bang Texas. Được giới thiệu bởi Chủ tịch Hạ viện bang — một thành viên Đảng Dân chủ — Bush tuyên bố rằng ông chọn phát biểu từ Hạ viện bang Texas</p>



<p>“bởi vì nơi đây là mái nhà của tinh thần hợp tác lưỡng đảng. Tại nơi mà Đảng Dân chủ nắm đa số, các đảng viên Cộng hòa và Dân chủ đã cùng làm việc để làm điều đúng đắn cho những người mà chúng tôi đại diện. Tinh thần hợp tác mà tôi chứng kiến tại nơi đây chính là điều mà chúng ta cần ở Washington.”</p>



<p>Nhưng tinh thần ấy không hề xuất hiện. Bush từng hứa sẽ là người &#8220;gắn kết chứ không chia rẽ&#8221;, nhưng chiến tranh đảng phái chỉ càng trở nên dữ dội hơn trong tám năm ông tại vị. Ngay trước lễ nhậm chức của Bush, DeLay đã dội một gáo nước lạnh vào hiện thực chính trị, được cho là nói với tổng thống tân cử: “Chúng ta không hợp tác với Đảng Dân chủ. Sẽ không có cái gì gọi là gắn kết — chia rẽ gì hết.”</p>



<p>Tổng thống Bush điều hành theo hướng cực hữu, từ bỏ mọi giả vờ về tinh thần lưỡng đảng theo lời khuyên của cố vấn chính trị Karl Rove — người đã kết luận rằng cử tri đã phân cực đến mức Đảng Cộng hòa có thể chiến thắng bằng cách huy động cử tri cốt lõi của mình, thay vì tìm kiếm sự ủng hộ từ các cử tri độc lập. Và ngoại trừ thời điểm sau các vụ khủng bố ngày 11 tháng 9 cùng với các chiến dịch quân sự ở Afghanistan và Iraq, các nghị sĩ Dân chủ tại quốc hội đã gạt bỏ sự hợp tác lưỡng đảng và chọn cách cản trở. Harry Reid và các lãnh đạo Thượng viện khác sử dụng quy tắc của Thượng viện để làm chậm hoặc ngăn chặn các đạo luật của Đảng Cộng hòa, và phá vỡ tiền lệ khi thường xuyên sử dụng thủ đoạn câu giờ (filibuster) đối với những đề xuất của Bush mà họ phản đối.</p>



<p>Các Thượng nghị sĩ Dân chủ cũng bắt đầu lơ là với quy ước tiết chế trong việc thực thi quyền “tham vấn và đồng thuận” liên quan đến các đề cử của Tổng thống, khi họ bác bỏ một số lượng chưa từng có các ứng viên tư pháp của Bush — hoặc là từ chối họ thẳng thừng, hoặc để hồ sơ của họ tồn đọng mà không tổ chức điều trần. Chuẩn mực về việc nhường quyền lựa chọn nhân sự cho tổng thống đang dần tan rã. Thật vậy, báo New York Times trích dẫn lời một chiến lược gia Dân chủ nói rằng Thượng viện cần &#8220;thay đổi luật chơi… không còn nghĩa vụ nào phải phê chuẩn ai đó chỉ vì họ học thức hay uyên bác&#8221;. Sau khi Đảng Cộng hòa giành lại Thượng viện năm 2002, Đảng Dân chủ quay sang sử dụng thủ đoạn câu giờ để chặn việc phê chuẩn một số ứng viên tòa phúc thẩm. Phản ứng từ Đảng Cộng hòa là vô cùng phẫn nộ. Nhà bình luận bảo thủ Charles Krauthammer viết rằng “một trong những truyền thống lớn lao, phong tục, và quy tắc bất thành văn của Thượng viện là không dùng thủ đoạn câu giờ để chặn ứng viên tư pháp.” Trong khóa họp quốc hội thứ 110 — nhiệm kỳ tổng thống cuối cùng của Bush — số lần sử dụng thủ thuật câu giờ đạt mức cao chưa từng có là 139 lần, gần gấp đôi so với thời Clinton.</p>



<p>Nếu Đảng Dân chủ bác bỏ tiết chế để cản trở tổng thống, thì Đảng Cộng hòa bác bỏ nó để bảo vệ ông. Tại Hạ viện, thực hành không chính thức gọi là “quy trình thường lệ” — đảm bảo phe thiểu số có cơ hội phát biểu và sửa đổi luật — hầu như bị bỏ qua. Tỷ lệ dự luật được đưa ra theo &#8220;quy tắc đóng&#8221; cấm sửa đổi tăng vọt. Các nhà quan sát quốc hội như Thomas Mann và Norman Ornstein nhận xét rằng “các chuẩn mực hành xử lâu đời tại Hạ viện… đã bị xé bỏ vì mục tiêu lớn hơn là thực hiện chương trình nghị sự của tổng thống.” GOP đã từ bỏ chức năng giám sát đối với một tổng thống cùng đảng, làm suy yếu khả năng kiềm chế hành pháp của quốc hội. Trong khi Hạ viện dành ra 140 giờ để lấy lời khai có tuyên thệ nhằm điều tra xem liệu Tổng thống Clinton có lạm dụng danh sách gửi thiệp Giáng Sinh của Nhà Trắng để tìm nhà tài trợ hay không, thì họ không một lần nào gửi trát đòi hầu tòa đến Nhà Trắng trong suốt sáu năm đầu nhiệm kỳ của George Bush. Quốc hội né tránh giám sát cuộc chiến Iraq, chỉ mở một vài cuộc điều tra hình thức về những vụ lạm dụng nghiêm trọng, bao gồm cả tra tấn tại nhà tù Abu Ghraib. Cơ quan giám sát của quốc hội đã trở thành con chó cảnh trung thành, từ bỏ trách nhiệm thể chế của mình.</p>



<p>Việc phá vỡ chuẩn mực cũng diễn ra ở cấp tiểu bang. Một trong những trường hợp khét tiếng nhất là kế hoạch phân chia lại khu vực bầu cử năm 2003 tại Texas. Theo Hiến pháp, các cơ quan lập pháp bang có quyền điều chỉnh ranh giới các khu vực bầu cử quốc hội để đảm bảo dân số các khu gần bằng nhau. Tuy nhiên, có một chuẩn mực lâu đời và được chấp nhận rộng rãi là việc phân chia lại khu vực nên chỉ diễn ra mỗi thập niên, ngay sau khi có kết quả điều tra dân số. Điều này là hợp lý: vì người dân liên tục di chuyển, nên việc vẽ lại ranh giới vào giai đoạn sau của thập kỷ sẽ dựa trên số liệu dân số kém chính xác hơn. Mặc dù không có rào cản pháp lý nào ngăn việc phân chia lại giữa thập niên, nhưng điều đó gần như chưa từng xảy ra.</p>



<p>Trong năm 2003, các đảng viên Cộng hòa ở Texas dưới sự lãnh đạo của Lãnh đạo khối Đa số tại Hạ viện Tom DeLay đã thực hiện một kế hoạch tái phân chia khu vực bầu cử đầy táo bạo ngoài chu kỳ điều tra dân số. Như chính họ thừa nhận, mục tiêu duy nhất là lợi thế đảng phái. Mặc dù cử tri Texas ngày càng nghiêng về phía Cộng hòa, mười bảy trong số ba mươi hai đại diện của bang tại Hạ viện liên bang là đảng viên Dân chủ, nhiều người trong số họ là những dân biểu kỳ cựu. Điều này khiến lãnh đạo đảng Cộng hòa cấp quốc gia đặc biệt quan tâm vì đảng này chỉ chiếm đa số mong manh (229–204) tại Hạ viện. Đảng Dân chủ chỉ cần giành lại mười ba ghế để kiểm soát Hạ viện, vì thế chỉ cần vài ghế thay đổi cũng có thể mang tính quyết định.</p>



<p>Dưới sự chỉ đạo của DeLay, các nhà lập pháp Cộng hòa tại Texas đã vẽ lại bản đồ bầu cử nhằm gom cử tri gốc Phi và gốc Latino vào một số khu vực thiên Dân chủ, đồng thời thêm cử tri Cộng hòa vào các khu vực của các dân biểu Dân chủ da trắng để đảm bảo họ sẽ thất cử. Bản đồ mới khiến sáu dân biểu Dân chủ đặc biệt dễ tổn thương. Kế hoạch này là trò chơi quyền lực thuần túy. Một nhà phân tích nhận định, nó “thiên vị đảng phái đến mức tối đa mà luật pháp cho phép.”</p>



<p>Để thông qua dự luật tái phân chia khu vực, cần thêm một bước táo bạo nữa. Hạ viện Texas yêu cầu có đủ túc số—hai phần ba thành viên—mới được bỏ phiếu thông qua luật. Đảng Dân chủ có đủ phiếu để ngăn đạt túc số. Vì vậy, khi dự luật được đưa ra bỏ phiếu vào tháng 5 năm 2003, các nhà lập pháp Dân chủ đã phản ứng bằng một chiến thuật bất thường: bốn mươi bảy dân biểu lên xe buýt đến Ardmore, Oklahoma. Họ ở đó suốt bốn ngày cho đến khi dự luật bị rút lại.</p>



<p>Đáp lại, Thống đốc Rick Perry triệu tập phiên họp đặc biệt của Hạ viện vào tháng 6. Vì các dân biểu Dân chủ quá kiệt sức để tổ chức thêm một lần đào thoát, dự luật được thông qua. Sau đó, dự luật được chuyển lên Thượng viện bang, nơi các thượng nghị sĩ Dân chủ lại dùng chiến thuật tương tự: lên máy bay bay đến Albuquerque, New Mexico. Họ trụ được hơn một tháng cho đến khi Thượng nghị sĩ John Whitmire (sau này bị mệnh danh là “Quitmire”) bỏ cuộc và quay về Austin. Khi dự luật cuối cùng được thông qua, DeLay bay từ Washington về để giám sát tiến trình đối chiếu văn bản, dẫn đến một kế hoạch phân chia còn cực đoan hơn. Một trợ lý của dân biểu Cộng hòa Joe Barton viết trong email rằng đây là “bản đồ mạnh tay nhất tôi từng thấy. Nó…sẽ đảm bảo rằng đảng Cộng hòa giữ được Hạ viện bất kể tâm lý toàn quốc.” Thực vậy, kế hoạch đã vận hành gần như hoàn hảo. Sáu ghế Hạ viện của Texas chuyển từ tay Dân chủ sang Cộng hòa trong cuộc bầu cử năm 2004, giúp đảng Cộng hòa giữ vững quyền kiểm soát.</p>



<p>Bên cạnh sự suy giảm của tinh thần tiết chế, nhiệm kỳ tổng thống của George W. Bush cũng chứng kiến những thách thức ban đầu đối với chuẩn mực khoan dung chính trị. Phải công nhận rằng Tổng thống Bush đã không công kích lòng yêu nước của các đối thủ Dân chủ, ngay cả khi làn sóng bài Hồi giáo sau vụ khủng bố 11/9 tạo cơ hội để làm vậy. Nhưng các bình luận viên của Fox News và các phát thanh viên bảo thủ đã lợi dụng khoảnh khắc đó để ám chỉ rằng đảng Dân chủ thiếu lòng yêu nước. Một số còn liên hệ đảng Dân chủ với Al Qaeda—như Rush Limbaugh làm năm 2006, khi cáo buộc Thượng nghị sĩ Patrick Leahy “tiếp tay cho Al Qaeda” chỉ vì ông chất vấn ứng viên Tối cao Pháp viện Samuel Alito về việc chính quyền Bush sử dụng tra tấn.</p>



<p>Một trong những tác nhân công khai nhất của thù địch đảng phái đầu những năm 2000 là Ann Coulter. Coulter viết một loạt sách bán chạy tấn công phe cấp tiến và đảng Dân chủ bằng giọng điệu kiểu McCarthy. Chỉ cần nhìn tiêu đề sách là đủ rõ: <em>Slander</em> (2002), <em>Treason</em> (2003), <em>Godless</em> (2006), <em>Guilty</em> (2009), <em>Demonic</em> (2011), <em>Adios, America!</em> (2015). <em>Treason</em>, xuất bản đúng vào thời điểm Mỹ xâm lược Iraq, bênh vực Joseph McCarthy và tán dương chiến thuật của ông ta. Cuốn sách cho rằng tinh thần chống Mỹ là “cốt lõi trong thế giới quan của phe cấp tiến,” và cáo buộc họ đã phản quốc suốt “năm mươi năm trong Chiến tranh Lạnh.” Khi quảng bá cho cuốn sách, Coulter tuyên bố: “Có hàng triệu nghi phạm ở đây… Tôi đang truy tố toàn bộ đảng Dân chủ.” Cuốn sách nằm trong danh sách bán chạy của New York Times suốt mười ba tuần.</p>



<p>Cuộc bầu cử tổng thống năm 2008 đánh dấu một bước ngoặt trong làn sóng bài đối thủ đảng phái. Qua hệ sinh thái truyền thông cánh hữu—trong đó có Fox News, kênh truyền hình cáp được xem nhiều nhất nước Mỹ—ứng viên Dân chủ Barack Obama bị mô tả là người theo chủ nghĩa Marx, chống Mỹ và bí mật theo đạo Hồi. Chiến dịch tranh cử năm đó còn cố tình gắn kết Obama với các “phần tử khủng bố” như Bill Ayers, một giáo sư từng hoạt động trong nhóm Weather Underground đầu thập niên 1970 (Ayers từng tổ chức một buổi gặp mặt cho Obama năm 1995 khi ông chuẩn bị tranh cử Thượng viện tiểu bang Illinois). Chương trình <em>Hannity &amp; Colmes</em> trên Fox News đề cập đến câu chuyện Ayers ít nhất sáu mươi mốt lần trong chiến dịch tranh cử năm 2008.</p>



<p>Điều đáng lo nhất trong chiến dịch 2008 là các nhà chính trị Cộng hòa đã bắt chước giọng điệu thù địch của truyền thông cánh hữu. Ví dụ, Tom DeLay tuyên bố: “Trừ khi Obama chứng minh điều ngược lại, ông ta là người theo chủ nghĩa Marx,” còn Steve King, dân biểu Cộng hòa từ Iowa, gọi Obama là “chống Mỹ” và cảnh báo ông sẽ dẫn nước Mỹ vào “chế độ độc tài toàn trị.” Mặc dù ứng viên tổng thống Cộng hòa John McCain không sử dụng giọng điệu như vậy, ông đã chọn một người đồng hành tranh cử, Sarah Palin, và chính bà đã làm vậy. Palin nhấn mạnh câu chuyện về Bill Ayers, tuyên bố rằng Obama đã “kết thân với khủng bố.” Trong các buổi vận động tranh cử, Palin nói với cử tri rằng Obama “khởi nghiệp chính trị trong phòng khách của một tên khủng bố nội địa!” rồi tiếp: “Đây không phải là người nhìn nước Mỹ như bạn và tôi nhìn. Tôi e rằng đây là người xem nước Mỹ đủ khiếm khuyết để hợp tác với một cựu khủng bố từng nhắm vào chính đất nước mình.” Những bài diễn văn mang hàm ý chủng tộc như thế khiến đám đông hô to: “Phản quốc!”, “Khủng bố!” và thậm chí “Giết hắn đi!”</p>



<p>***</p>



<p>Chiến thắng của Barack Obama trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2008 từng thắp lên hy vọng rằng chính trị Mỹ sẽ trở lại với một tinh thần dân sự hơn. Trong đêm bầu cử, khi ông cùng gia đình bước ra sân khấu ở Chicago, vị tổng thống đắc cử đã phát biểu một cách hào hiệp, gửi lời chúc mừng đến McCain vì sự nghiệp đóng góp vẻ vang cho nước Mỹ. Trước đó, tại Phoenix, Arizona, McCain đã có một bài phát biểu chấp nhận thua đầy bao dung, mô tả Obama là một người tốt yêu đất nước này, và chúc ông &#8220;được Chúa phù hộ.&#8221; Đó là một hình mẫu kinh điển của sự hòa giải hậu bầu cử. Nhưng có điều gì đó không ổn tại Phoenix. Khi McCain nhắc đến Obama, đám đông đã la ó dữ dội, buộc thượng nghị sĩ Arizona phải can thiệp trấn an. Nhiều người nhìn sang Sarah Palin, người đứng ở bên cạnh với vẻ mặt u ám. Mặc dù sân khấu tối đó là của McCain, nhưng lời kêu gọi hợp tác của ông dường như không hòa nhịp được với những người đã đến để lắng nghe ông phát biểu.</p>



<p>Thay vì mở ra một kỷ nguyên khoan dung và hợp tác, nhiệm kỳ của Obama lại gắn liền với sự cực đoan gia tăng và chiến tranh đảng phái. Những thách thức về tính chính danh của Tổng thống Obama—bắt đầu từ các tác giả bảo thủ ngoài rìa, các nhân vật phát thanh, các chương trình bình luận truyền hình và các blogger—nhanh chóng hội tụ thành một phong trào chính trị quần chúng: Phong trào Tea Party, được tổ chức chỉ vài tuần sau khi Tổng thống Obama nhậm chức. Mặc dù Tea Party khẳng định sứ mệnh của mình xoay quanh các lý tưởng bảo thủ truyền thống như chính phủ nhỏ, thuế thấp, và phản đối cải cách y tế, sự phản đối của họ đối với Obama lại mang tính độc hại hơn nhiều. Khác biệt ở đây là: Tea Party đặt nghi vấn về chính quyền của Obama ngay từ căn nguyên.</p>



<p>Hai luận điệu phá vỡ chuẩn mực hiện diện một cách nhất quán trong diễn ngôn của Tea Party. Một là Tổng thống Obama là mối đe dọa đối với nền dân chủ. Chỉ vài ngày sau khi Obama đắc cử, dân biểu Georgia Paul Broun đã cảnh báo về một nền độc tài sắp đến, tương tự như Đức Quốc xã hoặc Liên Xô. Ông sau đó còn viết trên Twitter: “Thưa Tổng thống, ông không tin vào Hiến pháp. Ông tin vào chủ nghĩa xã hội.” Một thành viên Tea Party đến từ Iowa, Joni Ernst—sau này trở thành thượng nghị sĩ—tuyên bố rằng Tổng thống Obama “đã trở thành một nhà độc tài.”</p>



<p>Luận điệu thứ hai là Barack Obama không phải là “người Mỹ thực thụ.” Trong chiến dịch tranh cử năm 2008, Sarah Palin đã sử dụng cụm từ “người Mỹ thực thụ” để chỉ những người ủng hộ bà—hầu hết là người da trắng theo đạo Thiên Chúa. Ý tưởng này trở thành trung tâm trong chiến dịch chống Obama của Tea Party, nhấn mạnh rằng ông không yêu nước Mỹ hoặc không chia sẻ những giá trị Mỹ. Theo phát thanh viên Laurie Roth, một nhà hoạt động Tea Party:</p>



<p>“Đây không chỉ là sự chuyển dịch sang cánh tả như Jimmy Carter hay Bill Clinton. Đây là một cuộc đụng độ giữa hai thế giới quan. Chúng ta đang chứng kiến một người theo Hồi giáo thế tục ẩn mình trong Nhà Trắng, nhưng ông ta vẫn là người Hồi giáo. Ông ta không phải là tín đồ Thiên Chúa. Chúng ta đang thấy một người theo chủ nghĩa xã hội cộng sản trong Nhà Trắng, giả vờ làm người Mỹ.”</p>



<p>Email đại trà lan truyền qua mạng lưới Tea Party chứa đầy tin đồn và suy diễn, như một email có hình Tổng thống Obama đang cầm quyển sách <em>The Post-American World</em> của người dẫn chương trình CNN Fareed Zakaria. Nội dung email viết: “ĐIỀU NÀY SẼ LÀM BẠN ĐÔNG CỨNG MÁU!!! Tựa cuốn sách Obama đang đọc là <em>Thế giới hậu nước Mỹ</em> và tác giả là một người Hồi giáo.”</p>



<p>Luận điệu ấy không chỉ giới hạn ở các nhà hoạt động Tea Party. Các chính trị gia Cộng hòa cũng đặt câu hỏi về chất Mỹ của Tổng thống Obama. Cựu dân biểu Colorado Tom Tancredo tuyên bố: “Tôi không tin Barack Obama yêu nước Mỹ giống như tôi yêu, nước Mỹ mà các nhà lập quốc đã xây dựng.” Newt Gingrich, người tìm cách tái xuất chính trường và tranh cử tổng thống năm 2012, gọi Obama là “tổng thống chống Mỹ đầu tiên.” Trong một buổi gây quỹ riêng cho thống đốc Wisconsin Scott Walker vào tháng 2 năm 2015, cựu thị trưởng thành phố New York Rudy Giuliani công khai nghi ngờ lòng yêu nước của vị tổng thống đương nhiệm, tuyên bố: “Tôi không tin, và tôi biết điều này nghe thật kinh khủng, nhưng tôi không tin tổng thống yêu nước Mỹ.”</p>



<p>Nếu Tea Party cáo buộc Obama không yêu nước Mỹ, thì phong trào “birther” còn đi xa hơn nữa: đặt câu hỏi liệu ông có thực sự sinh ra tại Hoa Kỳ hay không—tức là thách thức quyền hiến định để ông làm tổng thống. Ý tưởng rằng Obama không đến từ nước Mỹ bắt đầu lan truyền trên mạng trong chiến dịch tranh cử Thượng viện của ông năm 2004 và tái xuất hiện vào năm 2008. Các chính trị gia Cộng hòa phát hiện rằng nghi ngờ nơi sinh của Obama là cách dễ dàng để khơi dậy sự cổ vũ tại các buổi vận động. Vì vậy, họ bắt đầu lặp lại điều đó. Dân biểu Colorado Mike Coffman nói với người ủng hộ: “Tôi không biết liệu Barack Obama có sinh ra tại Hoa Kỳ hay không… Nhưng tôi biết điều này, trong trái tim ông ta, ông ta không phải là người Mỹ. Ông ta không phải là người Mỹ.” Ít nhất 18 nghị sĩ và dân biểu Cộng hòa bị xem là “người tiếp tay cho birther” vì từ chối bác bỏ huyền thoại đó. Các thượng nghị sĩ Roy Blunt, James Inhofe, Richard Shelby và David Vitter, cựu ứng viên phó tổng thống Sarah Palin, và ứng viên tổng thống năm 2012 Mike Huckabee đều có những phát biểu ủng hộ hoặc cổ súy cho chiến dịch birther.</p>



<p>Birther nổi tiếng nhất chính là Donald Trump. Mùa xuân năm 2011, khi cân nhắc tranh cử tổng thống năm 2012, Trump nói trên chương trình Today rằng ông “nghi ngờ” việc Tổng thống Obama là công dân Hoa Kỳ theo luật định. “Tôi có người thực sự đang nghiên cứu chuyện này,” Trump nói, “và họ không thể tin vào những gì họ đang phát hiện.” Trump trở thành birther nổi bật nhất nước, xuất hiện nhiều lần trên các chương trình thời sự để kêu gọi tổng thống công bố giấy khai sinh. Và khi Obama công bố giấy khai sinh vào năm 2011, Trump lại ám chỉ đó là tài liệu giả mạo. Dù cuối cùng không ra tranh cử năm 2012, việc Trump công khai nghi ngờ quốc tịch của Tổng thống Obama đã giúp ông thu hút sự chú ý của truyền thông và được lòng cử tri Tea Party. Sự bất khoan dung trở thành một chiến lược chính trị hữu hiệu.</p>



<p>Những cuộc tấn công như vậy không phải là điều mới mẻ trong lịch sử Hoa Kỳ. Henry Ford, cha xứ Coughlin, và tổ chức John Birch Society từng sử dụng loại ngôn ngữ đó. Nhưng các thách thức đối với tính chính danh của Obama khác ở hai điểm quan trọng. Thứ nhất, chúng không còn giới hạn ở vùng rìa, mà được đông đảo cử tri Cộng hòa chấp nhận. Theo một cuộc thăm dò của Fox News năm 2011, 37% cử tri Cộng hòa tin rằng Tổng thống Obama không sinh ra tại Hoa Kỳ, và 63% nói rằng họ có nghi ngờ. Một cuộc khảo sát của CNN/ORC cho thấy 43% cử tri Cộng hòa tin ông là người Hồi giáo, và theo một thăm dò của Newsweek, đa số cử tri Cộng hòa tin rằng Tổng thống Obama ưu ái người Hồi giáo hơn các tôn giáo khác.</p>



<p>Thứ hai, khác với các giai đoạn cực đoan trước đây, làn sóng này đã lan tới thượng tầng lãnh đạo Đảng Cộng hòa. Ngoại trừ thời kỳ McCarthy, hai đảng lớn của Mỹ thường giữ thái độ xa lánh với những biểu hiện bất khoan dung như thế trong suốt hơn một thế kỷ. Cha xứ Coughlin hay John Birch Society không bao giờ có ảnh hưởng đến lãnh đạo cao nhất của các đảng. Giờ đây, những cuộc tấn công công khai vào tính chính danh của Tổng thống Obama (và sau đó là Hillary Clinton) được thực hiện bởi những chính trị gia hàng đầu quốc gia. Năm 2010, Sarah Palin kêu gọi Đảng Cộng hòa “hấp thụ càng nhiều tinh thần Tea Party càng tốt.” Và họ đã làm vậy. Các thượng nghị sĩ, thống đốc, thậm chí cả ứng viên tổng thống của Đảng Cộng hòa đều lặp lại ngôn ngữ của vùng rìa, và được hậu thuẫn bởi các nhà tài trợ muốn đưa đảng sang hướng cứng rắn hơn trong việc chống lại chính quyền Obama. Các tổ chức như FreedomWorks và Americans for Prosperity, cùng các ủy ban hành động chính trị như Tea Party Express và Tea Party Patriots, đã tài trợ cho hàng chục ứng viên Cộng hòa. Năm 2010, hơn 100 ứng viên có liên hệ với Tea Party đã tranh cử vào Quốc hội, và hơn 40 người đã đắc cử. Đến năm 2011, Tea Party Caucus tại Hạ viện có 60 thành viên, và năm 2012, các ứng viên thân Tea Party trở thành những người dẫn đầu trong cuộc đua tranh đề cử tổng thống của Đảng Cộng hòa. Năm 2016, người giành được đề cử đó chính là một birther, tại một đại hội toàn quốc nơi các lãnh đạo Đảng Cộng hòa gọi đối thủ Dân chủ là tội phạm và cùng nhau hô vang: “Tống cổ bà ta vô tù!”</p>



<p>Lần đầu tiên sau nhiều thập kỷ, các nhân vật lãnh đạo hàng đầu của Đảng Cộng hòa—trong đó có một người sau này trở thành tổng thống—đã công khai từ bỏ những chuẩn mực của sự khoan dung lẫn nhau, bị kích động bởi một phong trào từng là thiểu số nay đã trở thành dòng chính. Vào cuối nhiệm kỳ của Obama, nhiều thành viên Đảng Cộng hòa đã chấp nhận quan điểm rằng các đối thủ Dân chủ là phản quốc hoặc là mối đe dọa với lối sống kiểu Mỹ. Đây là một vùng đất nguy hiểm. Sự cực đoan như vậy khuyến khích các chính trị gia từ bỏ sự kiềm chế. Nếu Barack Obama là một &#8220;mối đe dọa với pháp quyền,&#8221; như Thượng nghị sĩ Ted Cruz từng tuyên bố, thì việc ngăn chặn các đề cử tư pháp của ông bằng mọi giá là điều có thể hiểu được.</p>



<p>Tình trạng bất khoan dung đảng phái ngày càng tăng đã dẫn đến sự xói mòn của lòng kiềm chế trong thể chế trong suốt nhiệm kỳ của Obama. Ngay sau khi ông đắc cử, một nhóm dân biểu trẻ tuổi do Kevin McCarthy, Eric Cantor và Paul Ryan dẫn đầu đã tổ chức một loạt cuộc họp để xây dựng chiến lược đối đầu với chính quyền mới. Nhóm này tự gọi mình là &#8220;Ba Tay Súng Trẻ&#8221; (Young Guns) và quyết định biến Đảng Cộng hòa thành &#8220;Đảng của sự phủ quyết&#8221; (Party of No). Dù nước Mỹ đang chìm trong cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ nhất kể từ Đại suy thoái, các nhà lập pháp Cộng hòa vẫn lên kế hoạch không hợp tác với chính quyền mới. Lãnh đạo phe thiểu số Thượng viện Mitch McConnell cũng đồng tình khi tuyên bố rằng “mục tiêu quan trọng nhất của chúng tôi [ở Thượng viện] là khiến Tổng thống Obama chỉ làm một nhiệm kỳ.” McConnell cũng chấp nhận chủ nghĩa cản phá. Dự luật đầu tiên được đưa ra Thượng viện vào tháng 1 năm 2009 là Đạo luật Quản lý Đất Công—một biện pháp bảo tồn lưỡng đảng nhằm bảo vệ hai triệu mẫu đất hoang dã tại chín tiểu bang. Như để gửi đi một thông điệp, các nghị sĩ Cộng hòa đã dùng thủ tục filibuster để chặn dự luật này.</p>



<p>Kiểu hành xử này trở thành thông lệ. Chủ nghĩa cản phá ở Thượng viện gia tăng vọt sau năm 2008. &#8220;Giữ luật&#8221; (hold)—truyền thống cho phép trì hoãn phiên tranh luận để các thượng nghị sĩ có thêm thời gian chuẩn bị—đã biến thành quyền phủ quyết vô thời hạn. Có tới 385 vụ filibuster được tiến hành từ năm 2007 đến 2012—bằng tổng số filibuster diễn ra trong bảy thập kỷ từ Thế chiến thứ nhất đến cuối thời Reagan. Các thượng nghị sĩ Cộng hòa cũng tiếp tục sử dụng tiến trình xác nhận tư pháp như một công cụ đảng phái: Tỷ lệ phê chuẩn các đề cử thẩm phán phúc thẩm của tổng thống—trên 90% trong thập niên 1980—đã giảm xuống chỉ còn khoảng 50% dưới thời Obama.</p>



<p>Đảng Dân chủ cũng phản ứng bằng những hành vi phá vỡ chuẩn mực. Tháng 11 năm 2013, các thượng nghị sĩ Dân chủ bỏ phiếu bãi bỏ thủ tục filibuster đối với hầu hết các đề cử tổng thống, bao gồm cả đề cử thẩm phán liên bang (nhưng không áp dụng với Tối cao Pháp viện)—một động thái cực đoan đến mức được gọi là &#8220;lựa chọn hạt nhân&#8221; (nuclear option). Các thượng nghị sĩ Cộng hòa chỉ trích hành động này là &#8220;biểu hiện trần trụi của quyền lực chính trị,&#8221; nhưng Tổng thống Obama bảo vệ nó, khẳng định rằng filibuster đã bị biến thành một &#8220;công cụ cản phá liều lĩnh và dai dẳng&#8221; và nói thêm rằng &#8220;mô hình cản phá hiện nay… không phải là điều mà các nhà lập quốc hình dung.&#8221;</p>



<p>Tổng thống Obama cũng phá vỡ chuẩn mực theo cách riêng—bằng các hành động hành pháp đơn phương. Tháng 10 năm 2011, ông nêu khẩu hiệu hành động chính sách: “Chúng ta không thể chờ đợi một Quốc hội ngày càng rối loạn để làm việc của mình,” ông nói tại Nevada. “Bất cứ khi nào họ không hành động, tôi sẽ làm.” Obama bắt đầu sử dụng quyền hành pháp một cách mà trước khi nhậm chức ông có thể không dự đoán được. Năm 2010, khi Quốc hội không thông qua dự luật năng lượng mới, ông ban hành một &#8220;bản ghi nhớ hành pháp&#8221; chỉ thị các cơ quan chính phủ nâng tiêu chuẩn tiết kiệm nhiên liệu cho tất cả các loại xe. Năm 2012, trước việc Quốc hội không thông qua cải cách nhập cư, ông công bố một hành động hành pháp ngưng trục xuất những người nhập cư bất hợp pháp đến Mỹ trước năm 16 tuổi và hiện đang đi học, tốt nghiệp trung học hoặc là cựu chiến binh. Năm 2015, Obama phản ứng với việc Quốc hội không hành động về biến đổi khí hậu bằng cách ban hành sắc lệnh yêu cầu các cơ quan liên bang giảm khí thải nhà kính và sử dụng năng lượng tái tạo nhiều hơn. Không thể nhận được sự phê chuẩn của Thượng viện cho hiệp ước hạt nhân với Iran, chính quyền Obama đã đàm phán một &#8220;thỏa thuận hành pháp,&#8221; không phải là hiệp ước nên không cần Thượng viện phê chuẩn. Dù các hành động của tổng thống không vi hiến, nhưng việc ông hành động đơn phương để đạt được các mục tiêu bị Quốc hội chặn lại là một sự vi phạm chuẩn mực của kiềm chế.</p>



<p>Nỗ lực lách Quốc hội của Obama đã dẫn đến sự leo thang tiếp theo. Tháng 3 năm 2015, lãnh đạo Thượng viện của Đảng Cộng hòa công khai kêu gọi các tiểu bang chống lại thẩm quyền của tổng thống. Trong một bài viết trên báo <em>Lexington Herald Leader</em>, Mitch McConnell kêu gọi các tiểu bang phớt lờ sắc lệnh của Obama về hạn chế khí thải nhà kính. Đây là một hành động làm suy yếu chính quyền liên bang một cách choáng váng. Năm sau, các nhà lập pháp bang Arizona đã tranh luận và suýt thông qua một dự luật cấm tiểu bang sử dụng bất kỳ nhân sự hoặc tài nguyên nào để thực thi các sắc lệnh hành pháp chưa được Quốc hội biểu quyết. Báo <em>New York Times</em> bình luận: “Điều này nghe như bản tuyên ngôn đòi ly khai của John Calhoun năm 1828, bản <em>South Carolina Exposition and Protest</em>.”</p>



<p>Ba sự kiện kịch tính trong nhiệm kỳ Obama cho thấy chuẩn mực kiềm chế đã bị xói mòn nghiêm trọng như thế nào. Đầu tiên là cuộc khủng hoảng trần nợ công năm 2011. Vì nếu không nâng trần nợ, chính phủ Hoa Kỳ có thể vỡ nợ, làm mất xếp hạng tín dụng và đẩy nền kinh tế vào suy thoái, nên về lý thuyết, Quốc hội có thể dùng việc nâng trần nợ như một con tin, từ chối nâng trần trừ khi tổng thống chấp nhận những yêu cầu nhất định. Trò chơi mạo hiểm đặc biệt này trước đây chưa bao giờ được nghiêm túc cân nhắc—cho đến năm 2011. Việc nâng trần nợ vốn là một thông lệ lưỡng đảng lâu đời; từ 1960 đến 2011 nó đã được thực hiện 78 lần, 49 lần dưới các tổng thống Cộng hòa và 29 lần dưới các tổng thống Dân chủ. Dù quá trình này thường gây tranh cãi, các lãnh đạo hai đảng đều hiểu rằng đó chỉ là thủ tục tượng trưng.</p>



<p>Điều này đã thay đổi khi Đảng Cộng hòa, dưới sự thúc đẩy của một nhóm dân biểu mới do Tea Party hậu thuẫn, giành quyền kiểm soát Quốc hội năm 2011. Họ không chỉ sẵn sàng dùng trần nợ như con tin, mà còn sẵn sàng phá vỡ nó—&#8221;đánh sập toàn bộ hệ thống&#8221;—nếu yêu cầu cắt giảm chi tiêu không được đáp ứng. Các thượng nghị sĩ do Tea Party ủng hộ như Pat Toomey ở Pennsylvania và Mike Lee ở Utah công khai kêu gọi vỡ nợ nếu Obama không nhượng bộ. Dân biểu Jason Chaffetz sau đó nói: “Chúng tôi không nói đùa… Chúng tôi đã sẵn sàng đánh sập.” Dù một thỏa thuận phút chót đã tránh được vỡ nợ, thiệt hại đã xảy ra. Thị trường phản ứng tiêu cực, và hãng đánh giá tín nhiệm Standard &amp; Poor’s đã hạ mức xếp hạng tín dụng của Mỹ lần đầu tiên trong lịch sử.</p>



<p>Tháng 3 năm 2015 chứng kiến một sự kiện chưa từng có trước đây, khi Thượng nghị sĩ Arkansas Tom Cotton cùng 46 thượng nghị sĩ Cộng hòa khác gửi thư ngỏ cho các lãnh đạo Iran, khẳng định rằng Tổng thống Obama không có thẩm quyền đàm phán thỏa thuận hạt nhân. Phản đối thỏa thuận Iran và tức giận vì Obama dùng &#8220;thỏa thuận hành pháp&#8221; thay vì hiệp ước, các thượng nghị sĩ Cộng hòa đã can thiệp vào tiến trình đàm phán ngoại giao—vốn là lĩnh vực của nhánh hành pháp. Thượng nghị sĩ Dân chủ ôn hòa Bill Nelson của Florida mô tả bức thư là “gây choáng… Tôi không thể không nghĩ: liệu tôi có ký một bức thư như vậy dưới thời Tổng thống George W. Bush không? Tôi thậm chí còn không bao giờ tưởng tượng đến điều đó.” Cotton và các đồng minh của ông đã công khai tìm cách làm suy yếu thẩm quyền của một tổng thống đương nhiệm.</p>



<p>Một thời điểm phá vỡ chuẩn mực thứ ba là việc Thượng viện từ chối xem xét đề cử của Tổng thống Obama năm 2016 đối với ông Merrick Garland vào Tòa án Tối cao. Cần nhấn mạnh rằng kể từ thời Tái thiết (Reconstruction), chưa từng có tổng thống nào bị từ chối quyền bổ nhiệm thẩm phán vào Tòa án Tối cao nếu ông ta đưa ra đề cử trước khi người kế nhiệm được bầu. Nhưng mối đe dọa ngăn cản không dừng lại ở đó. Trước thềm cuộc bầu cử năm 2016, khi nhiều người tin rằng Hillary Clinton sẽ chiến thắng, một số thượng nghị sĩ Cộng hòa — bao gồm Ted Cruz, John McCain và Richard Burr — đã thề sẽ chặn toàn bộ các đề cử của Clinton vào Tối cao Pháp viện trong bốn năm tới, trên thực tế sẽ khiến Tòa chỉ còn tám ghế. Burr, thượng nghị sĩ từ bang North Carolina, nói trong một cuộc họp kín với các tình nguyện viên Cộng hòa rằng: “Nếu Hillary Clinton trở thành tổng thống, tôi sẽ làm mọi thứ có thể để bảo đảm rằng bốn năm sau, Tòa án Tối cao vẫn còn một ghế trống.” Dù Hiến pháp không quy định rõ số lượng thẩm phán trong Tòa án Tối cao, truyền thống chín thành viên đã được thiết lập từ lâu. Cả đảng Cộng hòa lẫn Dân chủ từng lên tiếng bảo vệ sự độc lập của Tòa trước nỗ lực mở rộng của Tổng thống Roosevelt vào năm 1937. Giờ đây điều đó trở nên không tưởng. Mặc dù Ted Cruz tuyên bố rằng có một “tiền lệ lịch sử” cho việc thay đổi quy mô Tòa án, nhưng tiền lệ đó đã chết ngay sau Nội chiến. Sáng kiến của Cruz sẽ phá vỡ một chuẩn mực kéo dài 147 năm.</p>



<p>Với những chiến thuật như vậy, đảng Cộng hòa bắt đầu hành xử như một đảng phái chống lại hệ thống. Đến cuối nhiệm kỳ của Obama, những hàng rào mềm của nền dân chủ đã trở nên lung lay một cách nguy hiểm.</p>



<p>***</p>



<p>Nếu hai mươi lăm năm trước, ai đó mô tả cho bạn một quốc gia nơi các ứng cử viên đe dọa sẽ bỏ tù đối thủ của mình, nơi các chính trị gia đối lập cáo buộc chính phủ đánh cắp cuộc bầu cử hoặc thiết lập chế độ độc tài, và nơi các đảng sử dụng thế đa số trong lập pháp để luận tội tổng thống và chiếm ghế trong Tòa án Tối cao — bạn có thể sẽ nghĩ đến Ecuador hoặc Romania. Chắc hẳn bạn sẽ không nghĩ đến Hoa Kỳ.</p>



<p>Đằng sau sự đổ vỡ của những chuẩn mực cơ bản về sự khoan dung và kiềm chế lẫn nhau là một hội chứng phân cực đảng phái sâu sắc. Dù hiện tượng này khởi phát từ sự cực đoan hóa của đảng Cộng hòa, hậu quả của nó đã lan rộng khắp hệ thống chính trị Mỹ. Việc chính phủ đóng cửa, lập pháp bị bắt làm con tin, tái phân chia khu vực bầu cử giữa nhiệm kỳ, và từ chối xem xét các đề cử vào Tối cao Pháp viện không còn là những hiện tượng dị biệt. Trong suốt một phần tư thế kỷ qua, đảng Dân chủ và Cộng hòa đã trở thành nhiều hơn là hai lực lượng cạnh tranh — họ đã được phân loại hoàn toàn vào hai phe tự do và bảo thủ. Cử tri của họ giờ đây bị chia rẽ sâu sắc bởi chủng tộc, tín ngưỡng tôn giáo, địa lý, và thậm chí là “lối sống”.</p>



<p>Hãy xem một kết quả điều tra đáng chú ý: Năm 1960, các nhà khoa học chính trị hỏi người Mỹ rằng họ sẽ cảm thấy thế nào nếu con mình kết hôn với người thuộc đảng phái đối lập. Chỉ 4% đảng viên Dân chủ và 5% đảng viên Cộng hòa cho biết họ sẽ “không hài lòng.” Nhưng đến năm 2010, 33% đảng viên Dân chủ và 49% đảng viên Cộng hòa cho biết họ cảm thấy “hơi hoặc rất không vui” trước viễn cảnh con cái kết hôn khác đảng. Là một người Dân chủ hay Cộng hòa giờ đây không còn chỉ là một lựa chọn chính trị mà đã trở thành bản sắc cá nhân. Một cuộc khảo sát năm 2016 do Pew Foundation thực hiện cho thấy 49% đảng viên Cộng hòa và 55% đảng viên Dân chủ nói rằng đảng đối lập khiến họ “sợ hãi.” Trong số những người có sự tham gia chính trị cao, con số còn cao hơn — 70% đảng viên Dân chủ và 62% đảng viên Cộng hòa nói rằng họ sống trong nỗi sợ đảng kia.</p>



<p>Những cuộc khảo sát này cho thấy sự trỗi dậy của một hiện tượng nguy hiểm trong chính trị Mỹ: sự thù ghét đảng phái mãnh liệt. Nguồn gốc của hiện tượng này nằm trong một quá trình tái cấu trúc đảng phái lâu dài bắt đầu hình thành từ những năm 1960. Trong phần lớn thế kỷ 20, các đảng phái ở Mỹ là những “lều lớn” về mặt ý thức hệ, bao gồm nhiều nhóm cử tri đa dạng với một loạt quan điểm chính trị khác nhau. Đảng Dân chủ đại diện cho liên minh Tân Chính sách (New Deal) gồm giới tự do, công đoàn, di dân Công giáo thế hệ thứ hai và ba, và người Mỹ gốc Phi — nhưng đồng thời cũng đại diện cho tầng lớp da trắng bảo thủ ở miền Nam. Về phần mình, đảng Cộng hòa bao gồm cả các thành phần tự do ở vùng Đông Bắc lẫn bảo thủ ở Trung Tây và miền Tây. Người theo đạo Tin Lành thuộc cả hai đảng, với một tỷ lệ hơi nhỉnh hơn nghiêng về Dân chủ — vì thế không có đảng nào bị coi là “vô thần.”</p>



<p>Vì hai đảng mang tính dị biệt nội bộ rất cao, nên mức độ phân cực giữa họ cũng thấp hơn nhiều so với hiện nay. Các nghị sĩ Dân chủ và Cộng hòa trong Quốc hội chia rẽ về các vấn đề như thuế khóa, chi tiêu, quy định của chính phủ và công đoàn, nhưng họ lại có sự đồng thuận phần nào trong vấn đề dễ gây nổ — chủng tộc. Mặc dù cả hai đảng đều có các phe ủng hộ quyền dân sự, nhưng sự phản đối của các đảng viên Dân chủ miền Nam cùng việc họ nắm chiến lược các ủy ban trong Quốc hội đã khiến vấn đề này không được đưa vào chương trình nghị sự. Chính sự đa dạng nội bộ này giúp giảm thiểu xung đột. Thay vì xem nhau là kẻ thù, Dân chủ và Cộng hòa thường tìm được tiếng nói chung. Trong khi các đảng viên Dân chủ tự do và Cộng hòa thường bỏ phiếu cùng nhau để thúc đẩy quyền dân sự, thì các đảng viên Dân chủ miền Nam và Cộng hòa cực hữu miền Bắc lại duy trì “liên minh bảo thủ” nhằm cản trở tiến trình đó.</p>



<p>Phong trào dân quyền, mà đỉnh cao là Đạo luật Quyền Dân sự năm 1964 và Đạo luật Quyền Bầu cử năm 1965, đã chấm dứt sự sắp xếp đảng phái này. Không chỉ dân chủ hóa miền Nam một cách thực chất — bằng cách trao quyền bầu cử cho người da đen và chấm dứt sự thống trị đơn đảng — các đạo luật này còn đẩy nhanh một sự tái cấu trúc hệ thống đảng phái dài hạn mà hậu quả vẫn còn tiếp diễn đến ngày nay. Chính Đạo luật Quyền Dân sự — được tổng thống Dân chủ Lyndon Johnson ủng hộ và ứng cử viên tổng thống Cộng hòa năm 1964 Barry Goldwater phản đối — đã xác định đảng Dân chủ là đảng của quyền dân sự, còn đảng Cộng hòa là đảng bảo vệ hiện trạng chủng tộc. Trong những thập niên sau đó, làn sóng người da trắng miền Nam chuyển sang ủng hộ đảng Cộng hòa tăng nhanh. Những thông điệp mang tính sắc tộc của “Chiến lược miền Nam” dưới thời Nixon, và sau này là những ám chỉ tinh vi của Ronald Reagan về chủng tộc, đã gửi đến cử tri một thông điệp rằng đảng Cộng hòa là nơi dành cho các nhà bảo thủ da trắng. Đến cuối thế kỷ, miền Nam — từng là pháo đài của Dân chủ — đã trở thành thành trì của Cộng hòa. Đồng thời, người da đen miền Nam — lần đầu tiên trong gần một thế kỷ được bỏ phiếu — đã chuyển sang ủng hộ đảng Dân chủ, cùng với nhiều người Cộng hòa tự do miền Bắc vốn ủng hộ quyền dân sự. Khi miền Nam chuyển đỏ, thì vùng Đông Bắc lại kiên định màu xanh.</p>



<p>Cuộc tái cấu trúc sau năm 1965 cũng khởi đầu cho một quá trình phân loại cử tri theo lập trường ý thức hệ. Lần đầu tiên trong gần một thế kỷ, xu hướng đảng phái và ý thức hệ trùng khớp: đảng Cộng hòa trở thành đảng bảo thủ chủ yếu, còn đảng Dân chủ chủ yếu theo khuynh hướng tự do. Đến những năm 2000, cả hai đảng không còn là những “lều lớn” về mặt ý thức hệ như trước. Khi các đảng viên Dân chủ bảo thủ và Cộng hòa tự do biến mất, những điểm giao thoa giữa hai đảng dần dần tan biến. Lúc này, phần lớn các thượng nghị sĩ và dân biểu có nhiều điểm chung với đồng đảng hơn là với thành viên của phe đối lập, khiến họ ít hợp tác hơn và thường xuyên bỏ phiếu theo đường lối đảng mình. Khi cả cử tri lẫn đại diện dân cử ngày càng tụ về những “phe nhóm” đồng nhất, khác biệt ý thức hệ giữa hai đảng càng trở nên sâu sắc.</p>



<p>Tuy nhiên, việc phân loại cử tri Mỹ thành đảng viên Dân chủ tự do và đảng viên Cộng hòa bảo thủ không đủ để giải thích mức độ thù địch đảng phái ngày càng gia tăng ở Hoa Kỳ. Nó cũng không lý giải được vì sao sự phân cực này lại bất đối xứng, khi đảng Cộng hòa lệch phải mạnh hơn nhiều so với mức lệch trái của đảng Dân chủ. Việc các đảng được phân loại theo ý thức hệ không nhất thiết sẽ dẫn đến sự “sợ hãi và căm ghét” làm xói mòn chuẩn mực khoan dung lẫn nhau, khiến các chính trị gia bắt đầu nghi ngờ tính chính danh của đối thủ. Cử tri ở Anh, Đức và Thụy Điển cũng được phân loại theo ý thức hệ, nhưng ở những quốc gia đó không hề xuất hiện sự thù ghét đảng phái như đang diễn ra ở Mỹ.</p>



<p>Sự tái cấu trúc đảng phái đã vượt xa khuôn khổ tự do – bảo thủ. Cơ sở xã hội, sắc tộc và văn hóa của xu hướng đảng phái cũng đã thay đổi sâu sắc, tạo nên các đảng không chỉ đại diện cho những chính sách khác biệt mà còn cho những cộng đồng, nền văn hóa và giá trị khác biệt. Một trong những yếu tố thúc đẩy lớn nhất là phong trào dân quyền. Tuy nhiên, sự đa dạng sắc tộc ở Mỹ không chỉ dừng lại ở quyền bầu cử cho người da đen. Bắt đầu từ những năm 1960, Hoa Kỳ chứng kiến làn sóng nhập cư lớn, đầu tiên là từ Mỹ Latinh và sau đó là từ châu Á, làm thay đổi đáng kể bản đồ nhân khẩu học của quốc gia. Năm 1950, người không da trắng chỉ chiếm chưa đến 10% dân số Hoa Kỳ. Đến năm 2014, con số này đã tăng lên 38%, và Cục Thống kê Dân số Mỹ dự đoán rằng đến năm 2044, phần lớn dân số sẽ là người không da trắng.</p>



<p>Cùng với quyền bầu cử của người da đen, làn sóng nhập cư đã biến đổi sâu sắc hai đảng chính trị của Hoa Kỳ. Những cử tri mới này phần lớn ủng hộ đảng Dân chủ. Tỷ lệ cử tri không da trắng trong đảng Dân chủ tăng từ 7% trong những năm 1950 lên 44% vào năm 2012. Ngược lại, cử tri Cộng hòa vẫn gần như 90% là người da trắng cho đến những năm 2000. Khi đảng Dân chủ ngày càng trở thành đảng của các sắc dân thiểu số, thì đảng Cộng hòa gần như vẫn là đảng của người da trắng.</p>



<p>Đảng Cộng hòa cũng trở thành đảng của những tín hữu Tin Lành bảo thủ (evangelicals). Những người Tin Lành bắt đầu tham gia chính trị ồ ạt vào cuối thập niên 1970, phần lớn vì phán quyết <em>Roe v. Wade</em> năm 1973 của Tòa án Tối cao hợp pháp hóa việc phá thai. Bắt đầu từ thời Ronald Reagan năm 1980, đảng Cộng hòa đã ôm lấy phe Kitô hữu bảo thủ và dần chấp nhận các quan điểm nghiêng hẳn về phái này như phản đối phá thai, ủng hộ cầu nguyện trong trường học, và sau đó là phản đối hôn nhân đồng giới. Những tín hữu Tin Lành da trắng — từng ngả về đảng Dân chủ vào thập niên 1960 — bắt đầu bỏ phiếu cho Cộng hòa. Đến năm 2016, có 76% tín hữu Tin Lành da trắng nhận mình là Cộng hòa. Trong khi đó, cử tri Dân chủ ngày càng trở nên thế tục. Tỷ lệ người Dân chủ da trắng thường xuyên đi nhà thờ giảm từ gần 50% vào những năm 1960 xuống dưới 30% vào những năm 2000.</p>



<p>Đây là một thay đổi phi thường. Như nhà khoa học chính trị Alan Abramowitz chỉ ra, vào những năm 1950, người da trắng theo đạo Kitô đã kết hôn chiếm phần lớn — gần 80% — cử tri Hoa Kỳ, và họ chia đều cho hai đảng. Nhưng đến những năm 2000, nhóm này chỉ còn chiếm khoảng 40% cử tri, và họ giờ đây tập trung chủ yếu trong đảng Cộng hòa. Nói cách khác, hai đảng giờ đây bị chia rẽ bởi sắc tộc và tôn giáo — hai vấn đề dễ gây chia rẽ và thù địch hơn nhiều so với các chính sách truyền thống như thuế khóa hay chi tiêu công.</p>



<p>***</p>



<p>Đến những năm 2000, cử tri và các chính trị gia của đảng Dân chủ và Cộng hòa đã chia rẽ sâu sắc hơn bất kỳ thời điểm nào trong thế kỷ trước. Nhưng vì sao phần lớn hành vi phá vỡ chuẩn mực lại đến từ đảng Cộng hòa?</p>



<p>Một lý do là truyền thông thay đổi đã tác động mạnh mẽ hơn đến đảng Cộng hòa. Cử tri Cộng hòa phụ thuộc nhiều hơn vào các kênh truyền thông đảng phái so với cử tri Dân chủ. Năm 2010, có đến 69% cử tri Cộng hòa xem Fox News. Các chương trình phát thanh bảo thủ như của Rush Limbaugh, Sean Hannity, Michael Savage, Mark Levin và Laura Ingraham — tất cả đều cổ vũ lối diễn ngôn công kích thô bạo — gần như không có đối trọng tương xứng trong phe tự do.</p>



<p>Sự trỗi dậy của truyền thông cánh hữu cũng ảnh hưởng đến các chính khách Cộng hòa. Trong thời Obama, các bình luận viên Fox News và những người dẫn chương trình phát thanh bảo thủ gần như nhất loạt ủng hộ đường lối “không thỏa hiệp,” công kích dữ dội bất kỳ chính trị gia nào phá vỡ lập trường đảng. Khi dân biểu Cộng hòa Darrell Issa (California) tuyên bố rằng đảng có thể đạt được nhiều hơn nếu đôi lúc hợp tác với Tổng thống Obama, Rush Limbaugh đã buộc ông phải công khai rút lại phát ngôn và cam kết trung thành với đường lối đối đầu. Như cựu Lãnh đạo Đa số Thượng viện Cộng hòa Trent Lott từng nói: “Nếu anh hơi lệch khỏi phe cực hữu, anh sẽ bị truyền thông bảo thủ đánh tơi bời.”</p>



<p>Các lập trường cứng rắn còn được củng cố bởi những nhóm lợi ích bảo thủ được tài trợ dồi dào. Cuối thập niên 1990, các tổ chức như Americans for Tax Reform của Grover Norquist và Club for Growth trở thành tiếng nói chính trong GOP, kéo đảng về các quan điểm bảo thủ cứng nhắc hơn. Norquist buộc các nghị sĩ Cộng hòa ký cam kết “không tăng thuế,” đẩy họ vào thế đối đầu triệt để. Nhờ sự nới lỏng luật tài chính tranh cử năm 2010, các nhóm như Americans for Prosperity và American Energy Alliance — nhiều nhóm thuộc mạng lưới tài phiệt Koch — có ảnh hưởng ngày càng lớn trong đảng Cộng hòa dưới thời Obama. Riêng năm 2012, gia đình Koch chi đến 400 triệu USD cho bầu cử. Cùng với phong trào Tea Party, mạng lưới Koch và các tổ chức tương tự đã giúp đưa vào Quốc hội một thế hệ Cộng hòa mới xem sự thỏa hiệp là điều cấm kỵ. Một đảng bị rút ruột bởi các nhà tài trợ và nhóm áp lực như vậy cũng dễ bị các thế lực cực đoan chi phối hơn.</p>



<p>Nhưng không chỉ truyền thông hay lợi ích bên ngoài đẩy đảng Cộng hòa về phía cực đoan. Những biến chuyển xã hội và văn hóa cũng đóng vai trò lớn. Khác với đảng Dân chủ ngày càng đa dạng, đảng Cộng hòa vẫn duy trì tính đồng nhất văn hóa. Điều này quan trọng vì cử tri nòng cốt của đảng — người da trắng theo đạo Tin Lành — không phải là một nhóm dân cư bình thường: trong gần hai thế kỷ, họ chiếm đa số cử tri và giữ thế thượng phong về chính trị, kinh tế và văn hóa ở Mỹ. Giờ đây, một lần nữa, người Tin Lành da trắng là nhóm thiểu số — và đang thu hẹp. Họ đang co cụm lại trong đảng Cộng hòa.</p>



<p>Trong bài tiểu luận năm 1964 “Phong cách hoang tưởng trong chính trị Mỹ,” sử gia Richard Hofstadter mô tả hiện tượng “bất an về địa vị” (status anxiety), ông cho rằng hiện tượng này dễ bùng phát khi một nhóm cảm thấy địa vị xã hội, bản sắc và cảm giác thuộc về của họ đang bị đe dọa. Hệ quả là một kiểu chính trị “quá khích, đa nghi, hiếu chiến, phô trương và tận thế.” Nửa thế kỷ sau khi ra đời, bài viết này của Hofstadter có lẽ còn hợp thời hơn bao giờ hết. Cuộc đấu tranh chống lại sự suy giảm địa vị của nhóm đa số chính là một phần cốt lõi nuôi dưỡng sự thù địch dữ dội đang định hình cánh hữu nước Mỹ. Nhiều cuộc khảo sát cho thấy đảng viên Tea Party tin rằng đất nước mà họ từng biết đang “trượt khỏi tầm tay, bị đe dọa bởi một nước Mỹ ‘thật’ đang thay đổi quá nhanh.” Như tiêu đề cuốn sách của nhà xã hội học Arlie Hochschild, họ cảm thấy mình là “người lạ trên chính quê hương mình.”</p>



<p>Cảm nhận này lý giải cho sự xuất hiện của diễn ngôn phân biệt “người Mỹ thật” với những ai liên hệ đến phe tự do và đảng Dân chủ. Nếu “người Mỹ thật” bị giới hạn trong nhóm sinh ra tại Mỹ, nói tiếng Anh, da trắng và theo Thiên Chúa giáo, thì không khó hiểu khi họ cảm thấy mình đang dần biến mất. Như Ann Coulter lạnh lùng tuyên bố: “Cử tri Mỹ không chuyển sang cánh tả — họ đang thu hẹp lại.” Cảm giác mất mát quê hương trong nhiều đảng viên Tea Party giúp lý giải sức hút của các khẩu hiệu như “Giành lại đất nước chúng ta” hay “Làm nước Mỹ vĩ đại trở lại.” Nguy cơ nằm ở chỗ: coi đảng Dân chủ là “không phải người Mỹ thật” chính là một đòn đánh trực diện vào chuẩn mực khoan dung chính trị.</p>



<p>Từ Newt Gingrich đến Donald Trump, các chính trị gia Cộng hòa đã học được rằng trong một xã hội phân cực, xem đối thủ là kẻ thù có thể đem lại lợi ích — và rằng theo đuổi chính trị như một cuộc chiến sẽ hấp dẫn những người đang sợ mất mát. Nhưng chiến tranh luôn có giá của nó. Cuộc tấn công leo thang vào các chuẩn mực khoan dung và kiềm chế — phần lớn, dù không hoàn toàn, là từ phía đảng Cộng hòa — đã làm xói mòn những “hàng rào mềm” từng giúp chúng ta tránh khỏi cuộc chiến đảng phái một mất một còn, kiểu đã từng phá hủy nền dân chủ ở các quốc gia khác. Khi Donald Trump nhậm chức tháng 1 năm 2017, những hàng rào ấy vẫn còn, nhưng đã yếu hơn bất kỳ lúc nào trong một thế kỷ — và mọi chuyện sắp trở nên tồi tệ hơn.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Steven Levitsky &#038; Daniel Ziblatt:  NỀN DÂN CHỦ SẼ CHẾT NHƯ THẾ NÀO – Chương 6: NHỮNG QUY TẮC BẤT THÀNH VĂN TRONG CHÍNH TRỊ MỸ</title>
		<link>https://t-van.net/steven-levitsky-daniel-ziblatt-nen-dan-chu-se-chet-nhu-the-nao-chuong-6-nhung-quy-tac-bat-thanh-van-trong-chinh-tri-my/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[ChatGPT]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 21 Jun 2025 16:10:25 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[ChatGPT DỊCH THUẬT - TỦ SÁCH THẾ GIỚI]]></category>
		<category><![CDATA[Nền Dân Chủ Sẽ Chết Như Thế Nào]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=81383</guid>

					<description><![CDATA[GIỚI THIỆU TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM Nguyên Tác: HOW DEMOCRACIES DIE (2018) của&#160;Steven Levitsky &#38; Daniel Ziblatt (Chuyển ngữ tiếng Việt: ChatGPT; Hiệu đính (và chịu trách nhiệm): T.Vấn) CHƯƠNG &#160;6 NHỮNG QUY TẮC BẤT THÀNH VĂN TRONG CHÍNH TRỊ MỸ Vào ngày 4 tháng 3 năm 1933, khi các gia đình Mỹ tụ [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/71nkYi9OL.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="667" height="1024" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/71nkYi9OL-667x1024.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-80750" style="width:387px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/06/71nkYi9OL-195x300.jpg 195w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/71nkYi9OL-667x1024.jpg?strip=all 667w, https://cdn.t-van.net/2025/06/71nkYi9OL-768x1179.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2025/06/71nkYi9OL-1001x1536.jpg 1001w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/71nkYi9OL.jpg?strip=all 1251w" sizes="(max-width: 667px) 100vw, 667px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><strong><a href="https://t-van.net/steven-levitsky-daniel-ziblatt-nen-dan-chu-se-chet-nhu-the-nao/">GIỚI THIỆU TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM</a></strong></p>



<p><strong>Nguyên Tác: HOW DEMOCRACIES DIE (2018) của</strong>&nbsp;<strong>Steven Levitsky &amp; Daniel Ziblatt</strong></p>



<p><em>(Chuyển ngữ tiếng Việt: ChatGPT; Hiệu đính (và chịu trách nhiệm): T.Vấn)</em></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>CHƯƠNG &nbsp;6</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>NHỮNG QUY TẮC BẤT THÀNH VĂN TRONG CHÍNH TRỊ MỸ</strong></p>



<p>Vào ngày 4 tháng 3 năm 1933, khi các gia đình Mỹ tụ họp quanh radio trong những ngày đen tối nhất của cuộc Đại Suy thoái để lắng nghe bài diễn văn nhậm chức đầu tiên của Franklin D. Roosevelt, họ nghe thấy giọng nói mạnh mẽ, đầy uy lực của ông tuyên bố: “Tôi sẽ yêu cầu Quốc hội trao cho tôi công cụ còn lại duy nhất để đối phó với cuộc khủng hoảng: quyền hành pháp rộng rãi để tiến hành một cuộc chiến chống lại tình trạng khẩn cấp này, lớn như quyền lực được trao cho tôi nếu chúng ta thực sự bị một kẻ thù ngoại bang xâm lược.” Roosevelt đang viện dẫn điều khoản trao quyền rộng rãi nhất mà Hiến pháp trao cho tổng thống—quyền thời chiến—để ứng phó với một cuộc khủng hoảng trong nước.</p>



<p>Roosevelt kết luận rằng ngay cả như thế vẫn chưa đủ. Tháng 11 năm 1936, ông tái đắc cử với 61% số phiếu phổ thông—mức ủng hộ lớn nhất trong lịch sử bầu cử tổng thống Mỹ. Nhưng ông phát hiện rằng chương trình chính sách đầy tham vọng của mình bị bó buộc bởi một nguồn lực không ngờ: Tối cao Pháp viện bảo thủ (và theo ông, là lỗi thời)—một cơ quan hoàn toàn do những người được đào tạo luật trong thế kỷ 19 đảm nhiệm. Chưa bao giờ Tối cao Pháp viện lại hoạt động mạnh mẽ trong việc ngăn chặn các đạo luật như vào năm 1935 và 1936. Tòa đã tuyên bố phần lớn chương trình New Deal là vi hiến, nhiều khi với những lý do đáng ngờ. Toàn bộ chương trình nghị sự của Roosevelt đang đứng bên bờ vực sụp đổ.</p>



<p>Vì vậy, vào tháng 2 năm 1937, hai tuần sau khi bắt đầu nhiệm kỳ thứ hai, Roosevelt công bố một đề xuất mở rộng quy mô Tối cao Pháp viện. “Âm mưu nhồi nhét tòa án”, như các đối thủ gọi nó, tận dụng một lỗ hổng trong Hiến pháp: Điều III không quy định số lượng thẩm phán trong Tối cao Pháp viện. Đề xuất của Roosevelt sẽ cho phép ông bổ nhiệm thêm một thẩm phán mới cho mỗi thành viên trên bảy mươi tuổi, với tổng số tối đa là mười lăm thẩm phán. Vì có sáu thẩm phán trên bảy mươi, Roosevelt sẽ có thể chỉ định sáu người ngay lập tức. Động cơ của tổng thống có thể là dễ hiểu—ông muốn có một cơ sở pháp lý vững chắc hơn để thực hiện các mục tiêu của New Deal. Nhưng nếu được thông qua, điều đó sẽ tạo ra một tiền lệ nguy hiểm. Tòa án sẽ trở nên bị chính trị hóa quá mức, với số lượng thành viên, quy tắc lựa chọn và cơ cấu luôn có thể bị thao túng—không khác gì Argentina dưới thời Perón hay Venezuela dưới thời Chávez. Nếu Roosevelt thông qua đạo luật tư pháp này, một chuẩn mực quan trọng—rằng tổng thống không nên phá hoại một nhánh quyền lực ngang hàng—sẽ bị phá vỡ.</p>



<p>Nhưng chuẩn mực đó đã được giữ vững. Kế hoạch tăng số lượng thẩm phán của Roosevelt vấp phải sự phản đối lớn hơn bất kỳ sáng kiến nào khác trong nhiệm kỳ tổng thống của ông. Không chỉ đảng Cộng hòa phản đối mà còn có báo chí, nhiều luật sư và thẩm phán nổi bật, cũng như một số lượng đáng kể các đồng minh Dân chủ. Trong vòng vài tháng, đề xuất này bị bác bỏ—bởi chính Quốc hội do đảng của Roosevelt kiểm soát. Ngay cả trong bối cảnh khủng hoảng sâu sắc như Đại Suy thoái, hệ thống kiểm soát và cân bằng quyền lực vẫn hoạt động.</p>



<p>—</p>



<p>Nền cộng hòa Mỹ không được sinh ra với những chuẩn mực dân chủ vững mạnh. Thực tế, những năm đầu của nước Mỹ là một ví dụ điển hình về chính trị không có đường ranh giới. Như chúng ta đã thấy, các chuẩn mực về sự khoan dung lẫn nhau hầu như chưa tồn tại vào thập niên 1780 và 1790: Thay vì chấp nhận nhau là đối thủ hợp pháp, những người theo phe Liên bang (Federalists) và Cộng hòa (Republicans) ban đầu nghi ngờ nhau là phản quốc.</p>



<p>Bầu không khí thù địch và nghi kỵ đảng phái này khuyến khích điều mà ngày nay ta gọi là &#8220;chiến thuật hiến pháp cứng rắn&#8221; (constitutional hardball). Năm 1798, phe Liên bang thông qua Đạo luật Chống Phỉ báng (Sedition Act), về danh nghĩa là để hình sự hóa các tuyên bố sai trái chống chính phủ, nhưng thực tế quá mơ hồ đến mức gần như hình sự hóa mọi chỉ trích chính quyền. Luật này được dùng để nhắm vào các tờ báo và nhà hoạt động của đảng Cộng hòa. Trong cuộc bầu cử năm 1800 giữa Tổng thống Adams, một người theo phe Liên bang, và Jefferson, lãnh đạo phe đối lập Cộng hòa, mỗi bên đều nhằm giành chiến thắng vĩnh viễn—để xóa sổ đảng đối phương. Lãnh đạo phe Liên bang Alexander Hamilton đã bàn đến việc tìm một “biện pháp hợp pháp và hợp hiến” để ngăn Jefferson lên làm tổng thống, trong khi Jefferson mô tả cuộc bầu cử là cơ hội cuối cùng để cứu nước Mỹ khỏi chế độ quân chủ. Chiến thắng của Jefferson không chấm dứt sự đối đầu gay gắt giữa hai đảng. Quốc hội do phe Liên bang kiểm soát đã giảm quy mô Tối cao Pháp viện từ sáu xuống năm để hạn chế ảnh hưởng của Jefferson đối với Tòa. Khi giành lại đa số, Quốc hội do đảng Cộng hòa kiểm soát đã bãi bỏ thay đổi này, và vài năm sau còn tăng số thẩm phán lên bảy để Jefferson có thêm một ghế bổ nhiệm.</p>



<p>Phải mất nhiều thập kỷ thì khát vọng chiến thắng tuyệt đối mới giảm dần. Những yêu cầu của chính trị hàng ngày và sự trỗi dậy của một thế hệ chính trị gia chuyên nghiệp mới đã giúp hạ thấp mức độ căng thẳng trong cạnh tranh. Thế hệ sau Cách mạng đã dần quen với ý tưởng rằng chính trị là cuộc chơi mà có lúc thắng, lúc thua—và đối thủ không nhất thiết là kẻ thù. Tiêu biểu cho cách nhìn mới này là Martin Van Buren, người sáng lập Đảng Dân chủ hiện đại và sau này là tổng thống Hoa Kỳ. Theo nhà sử học Richard Hofstadter, Van Buren là hiện thân cho tinh thần của một luật sư quận ôn hòa khi bước vào chính trường—một luật sư có thể suốt nhiều năm tranh tụng sôi nổi với một đối thủ, nhưng ngoài phòng xử án vẫn giữ sự tôn trọng lẫn nhau, thậm chí là tình bạn thân thiện giữa những người đồng nghiệp.</p>



<p>—</p>



<p>Mặc dù Van Buren có “nhiều đối thủ” trong suốt sự nghiệp của mình, một nhà viết tiểu sử cho biết, ông có “rất ít kẻ thù.” Trong khi những nhà lập quốc chỉ miễn cưỡng chấp nhận sự đối lập đảng phái, thế hệ của Van Buren lại xem điều đó là điều hiển nhiên. Chính trị đối đầu toàn diện đã chuyển thành chính trị khoan dung lẫn nhau.</p>



<p>Tuy nhiên, những chuẩn mực non trẻ của nước Mỹ nhanh chóng sụp đổ vì một vấn đề mà những nhà lập quốc đã cố gắng né tránh: chế độ nô lệ. Vào thập niên 1850, xung đột ngày càng công khai về tương lai của chế độ nô lệ đã làm phân cực đất nước, thổi vào chính trị một thứ mà một sử gia gọi là “cường độ cảm xúc mới.” Đối với các địa chủ miền Nam da trắng và các đồng minh Đảng Dân chủ của họ, phong trào bãi nô — một lý tưởng gắn liền với Đảng Cộng hòa non trẻ — là mối đe dọa sống còn. Thượng nghị sĩ John C. Calhoun của South Carolina, một trong những người bảo vệ chế độ nô lệ có ảnh hưởng nhất, đã mô tả một miền Nam sau giải phóng với những gam màu gần như tận thế, nơi mà những người nô lệ trước kia sẽ đứng trên người da trắng &#8220;về mặt chính trị và xã hội. Chúng ta, nói ngắn gọn, sẽ đổi chỗ với họ — một sự hạ cấp chưa từng xảy ra đối với một dân tộc tự do và khai sáng, và một tình cảnh mà ta không thể thoát khỏi… trừ khi rời bỏ quê hương của chính mình và tổ tiên, để lại đất nước cho những người nô lệ trước kia cai trị, trở thành nơi thường trực của hỗn loạn, vô chính phủ, nghèo đói, khốn khổ và tuyệt vọng.&#8221;</p>



<p>Sự phân cực quanh vấn đề nô lệ đã phá vỡ chuẩn mực khoan dung lẫn nhau còn mong manh của nước Mỹ. Dân biểu Henry Shaw của Đảng Dân chủ đã công kích Đảng Cộng hòa là “những kẻ phản bội Hiến pháp và Liên bang,” trong khi thượng nghị sĩ Robert Toombs của Georgia thề sẽ “không bao giờ cho phép chính quyền liên bang rơi vào tay phản quốc của Đảng Cộng hòa da đen.” Về phía mình, các chính trị gia chống chế độ nô lệ cũng cáo buộc các chính trị gia ủng hộ chế độ nô lệ là “phản quốc” và “xúi giục nổi loạn.”</p>



<p>Sự xói mòn các chuẩn mực cơ bản đã mở rộng giới hạn của các hành vi chính trị có thể chấp nhận. Nhiều năm trước khi súng nổ tại Fort Sumter, bạo lực đảng phái đã lan tràn trong Quốc hội. Sử gia Joanne Freeman của Yale ước tính có 125 vụ bạo lực — bao gồm các vụ đâm chém, đánh bằng gậy và rút súng — diễn ra ngay tại Hạ viện và Thượng viện Hoa Kỳ từ năm 1830 đến 1860. Chẳng bao lâu sau, người Mỹ đã giết lẫn nhau với quy mô hàng trăm ngàn người.</p>



<p>Nội chiến đã phá vỡ nền dân chủ Mỹ. Một phần ba các bang Hoa Kỳ không tham gia cuộc bầu cử năm 1864; 22 trong số 50 ghế Thượng viện và hơn một phần tư số ghế Hạ viện bị bỏ trống. Tổng thống Lincoln nổi tiếng vì đã đình chỉ quyền bảo hộ thân thể (habeas corpus) và ban hành các sắc lệnh hành pháp có tính chất vi hiến — mặc dù một trong những sắc lệnh đó đã giải phóng nô lệ. Và sau chiến thắng của Liên bang, phần lớn miền Nam Hoa Kỳ bị đặt dưới sự cai trị quân sự.</p>



<p>Chấn thương từ Nội chiến khiến người Mỹ day dứt với những câu hỏi về điều gì đã sai. Sự tàn phá quá lớn — với hơn 600.000 người chết — đã làm sụp đổ niềm tin của nhiều trí thức miền Bắc vào tính ưu việt của thể chế dân chủ mà họ tôn sùng. Liệu Hiến pháp Hoa Kỳ có thực sự là văn kiện được Thiên mệnh dẫn dắt như người ta từng tin tưởng? Làn sóng tự vấn này đã dẫn đến mối quan tâm mới về các quy tắc bất thành văn. Năm 1885, giáo sư khoa học chính trị Woodrow Wilson khi ấy — con trai một gia đình miền Nam ủng hộ phe Liên minh — đã xuất bản một cuốn sách về Quốc hội, trong đó ông phân tích sự khác biệt giữa các quy định hiến định và cách các thể chế thực sự vận hành. Theo ông, ngoài luật pháp tốt, nước Mỹ cần có các chuẩn mực hiệu quả.</p>



<p>Việc tái thiết các chuẩn mực dân chủ sau một cuộc nội chiến chưa bao giờ dễ dàng, và nước Mỹ cũng không phải là ngoại lệ. Những vết thương chiến tranh lành lại chậm chạp; Đảng Dân chủ và Cộng hòa chỉ miễn cưỡng chấp nhận nhau như những đối thủ hợp pháp. Tại một sự kiện vận động tranh cử năm 1876 cho ứng cử viên đảng Cộng hòa Rutherford B. Hayes, chính trị gia Robert Ingersoll đã phát biểu chống lại Đảng Dân chủ bằng những lời lẽ rùng rợn:</p>



<p>&#8220;Mỗi một người từng cố tiêu diệt quốc gia này đều là một đảng viên Dân chủ. Mỗi một kẻ thù mà nền Cộng hòa vĩ đại này từng có trong suốt hai mươi năm qua đều là một đảng viên Dân chủ… Mỗi một kẻ đã từ chối không cho tù binh Liên bang ngay cả miếng vỏ bánh mốc của cơn đói, và khi một người yêu nước Liên bang, vì đói khát mà hóa điên, mơ thấy khuôn mặt mẹ mình, bà gọi anh và anh theo, hy vọng được hôn lên má mẹ lần cuối… và khi anh bước một bước qua đường ranh giới tử thần, kẻ nổ súng xuyên qua trái tim anh chính là — và vẫn là — một đảng viên Dân chủ.&#8221;</p>



<p>Kiểu hùng biện như vậy — được biết đến với tên gọi “vẫy lá cờ đẫm máu” — đã kéo dài nhiều năm.</p>



<p>Cùng với sự thù hận đảng phái kéo dài là những hành vi lạm dụng hiến pháp. Năm 1866, Quốc hội do Đảng Cộng hòa kiểm soát đã giảm số ghế trong Tối cao Pháp viện từ mười xuống còn bảy để ngăn Tổng thống Andrew Johnson — một đảng viên Dân chủ bị Đảng Cộng hòa xem là đang phá hoại công cuộc Tái thiết — bổ nhiệm thẩm phán mới, và một năm sau đó, họ thông qua Đạo luật Nhiệm kỳ, cấm Johnson cách chức các thành viên nội các của Lincoln mà không được Thượng viện chấp thuận. Johnson, coi đạo luật này là vi phạm quyền hạn hiến định của mình, đã phớt lờ nó — một &#8220;trọng tội&#8221; khiến ông bị luận tội vào năm 1868.</p>



<p>Dần dần, khi thế hệ Nội chiến dần qua đi, các đảng viên Dân chủ và Cộng hòa học được cách chung sống với nhau. Họ lắng nghe lời cựu Chủ tịch Hạ viện James Blaine, người năm 1880 đã khuyên các đồng nghiệp Cộng hòa hãy “xếp lá cờ đẫm máu lại” và chuyển trọng tâm tranh luận sang các vấn đề kinh tế.</p>



<p>Tuy nhiên, không chỉ thời gian mới hàn gắn được những tổn thương đảng phái. Tinh thần khoan dung lẫn nhau chỉ được thiết lập sau khi vấn đề bình đẳng chủng tộc bị loại khỏi chương trình nghị sự chính trị. Hai sự kiện then chốt đã đóng vai trò quan trọng trong tiến trình đó. Đầu tiên là Thỏa hiệp khét tiếng năm 1877, chấm dứt tranh chấp bầu cử tổng thống năm 1876 và đưa ứng viên Đảng Cộng hòa Rutherford B. Hayes lên làm tổng thống, đổi lại là lời hứa sẽ rút quân Liên bang khỏi miền Nam. Thỏa thuận đó đã kết thúc thời kỳ Tái thiết, tước bỏ các bảo vệ liên bang đối với người Mỹ gốc Phi, cho phép các đảng viên Dân chủ miền Nam tháo gỡ các quyền dân chủ cơ bản và thiết lập chế độ độc đảng. Sự kiện thứ hai là thất bại của Dự luật Bầu cử Liên bang do Henry Cabot Lodge đề xuất năm 1890, vốn sẽ cho phép giám sát bầu cử quốc hội liên bang nhằm bảo đảm quyền bầu cử của người da đen. Việc dự luật thất bại đã chấm dứt nỗ lực liên bang trong việc bảo vệ quyền bầu cử của người Mỹ gốc Phi ở miền Nam, và do đó, bảo đảm sự diệt vong của quyền này.</p>



<p>Thật khó để nói hết mức độ bi thảm của những sự kiện đó. Bởi quyền dân sự và quyền bầu cử bị nhiều đảng viên Dân chủ miền Nam xem là mối đe dọa sống còn, nên sự đồng thuận của các đảng trong việc từ bỏ những vấn đề ấy đã tạo ra nền tảng để khôi phục tinh thần khoan dung lẫn nhau. Việc tước quyền của người Mỹ gốc Phi đã duy trì quyền lực tối cao của người da trắng và sự thống trị của Đảng Dân chủ ở miền Nam, giúp Đảng này tiếp tục tồn tại trên vũ đài quốc gia. Khi vấn đề bình đẳng chủng tộc bị gạt khỏi nghị trình, nỗi lo sợ của Đảng Dân chủ miền Nam cũng lắng xuống. Chỉ khi đó, sự thù hằn đảng phái mới bắt đầu dịu lại. Trớ trêu thay, những chuẩn mực sau này trở thành nền tảng cho nền dân chủ Mỹ lại ra đời từ một thỏa thuận đầy phi dân chủ: sự bài trừ chủng tộc và sự củng cố chế độ độc đảng ở miền Nam.</p>



<p>—</p>



<p>Sau khi Đảng Dân chủ và Cộng hòa chấp nhận nhau như những đối thủ chính đáng, mức độ phân cực chính trị dần suy giảm, tạo tiền đề cho kiểu chính trị sẽ đặc trưng cho nền dân chủ Hoa Kỳ trong nhiều thập kỷ tiếp theo. Sự hợp tác lưỡng đảng đã cho phép thực hiện một loạt cải cách quan trọng, bao gồm Tu chính án thứ Mười sáu (1913), cho phép thu thuế thu nhập liên bang; Tu chính án thứ Mười bảy (1913), thiết lập chế độ bầu trực tiếp các thượng nghị sĩ Hoa Kỳ; và Tu chính án thứ Mười chín (1919), trao quyền bầu cử cho phụ nữ.</p>



<p>Sự khoan dung lẫn nhau, đến lượt nó, đã khuyến khích sự tiết chế quyền lực. Đến cuối thế kỷ XIX, các quy ước không chính thức hoặc cách làm linh hoạt đã bắt đầu thấm nhuần vào mọi nhánh của chính quyền, giúp hệ thống kiểm soát và cân bằng quyền lực của Hoa Kỳ vận hành một cách tương đối hiệu quả. Tầm quan trọng của những chuẩn mực này không thoát khỏi con mắt của những nhà quan sát bên ngoài. Trong tác phẩm đồ sộ hai tập <em>The American Commonwealth</em> (1888), học giả người Anh James Bryce đã viết rằng chính các &#8220;thói quen sử dụng&#8221;—những quy tắc bất thành văn—chứ không phải bản Hiến pháp Hoa Kỳ, mới là yếu tố giúp hệ thống chính trị Mỹ vận hành hiệu quả.</p>



<p>—</p>



<p>Đến đầu thế kỷ XX, các chuẩn mực về sự khoan dung lẫn nhau và sự tiết chế quyền lực đã được thiết lập vững chắc. Thật vậy, chúng đã trở thành nền tảng cho hệ thống kiểm soát và cân bằng quyền lực được ngưỡng mộ của Hoa Kỳ. Để hệ thống hiến pháp này hoạt động như mong đợi, nhánh hành pháp, Quốc hội và tư pháp phải duy trì một sự cân bằng tinh tế. Một mặt, Quốc hội và tòa án phải giám sát và, khi cần thiết, kiểm soát quyền lực của tổng thống. Họ phải đóng vai trò là người gác cổng của nền dân chủ. Mặt khác, họ cũng phải cho phép chính phủ hoạt động. Đây là lúc sự tiết chế phát huy vai trò. Đối với một nền dân chủ tổng thống có thể thành công, các thể chế đủ mạnh để kiềm chế tổng thống phải thường xuyên kiềm chế việc sử dụng toàn bộ quyền lực của mình.</p>



<p>Trong trường hợp thiếu các chuẩn mực này, sự cân bằng đó trở nên khó duy trì hơn. Khi thù hận phe phái lấn át cam kết của các chính trị gia đối với tinh thần của Hiến pháp, hệ thống kiểm soát và cân bằng có nguy cơ bị phá vỡ theo hai cách. Trong chính phủ bị chia rẽ, nơi các thiết chế lập pháp hoặc tư pháp nằm trong tay phe đối lập, nguy cơ là tình trạng &#8220;cứng rắn hiến pháp&#8221;—trong đó phe đối lập sử dụng tối đa các đặc quyền thể chế của mình—ngăn chặn việc tài trợ cho chính phủ, bác bỏ mọi đề cử thẩm phán của tổng thống, thậm chí bỏ phiếu phế truất tổng thống. Trong kịch bản này, các cơ quan giám sát lập pháp và tư pháp trở thành công cụ tấn công phe phái.</p>



<p>Trong chính phủ thống nhất, nơi các thiết chế lập pháp và tư pháp nằm dưới quyền kiểm soát của đảng cầm quyền, nguy cơ không phải là đối đầu mà là buông lỏng trách nhiệm. Nếu lòng thù ghét đảng phái lấn át sự khoan dung lẫn nhau, những người kiểm soát Quốc hội có thể đặt ưu tiên bảo vệ tổng thống lên trên việc thực hiện các nghĩa vụ hiến định của mình. Họ có thể từ bỏ vai trò giám sát để ngăn chặn chiến thắng của phe đối lập, cho phép tổng thống vượt qua những hành vi lạm dụng, vi hiến, thậm chí độc tài. Sự biến chuyển từ &#8220;chó canh gác&#8221; thành &#8220;thú cưng trung thành&#8221; như Quốc hội dưới thời Perón ở Argentina hay Tòa án Tối cao chavista ở Venezuela có thể trở thành công cụ đắc lực cho chế độ độc tài.</p>



<p>Do đó, hệ thống kiểm soát và cân bằng quyền lực của Hoa Kỳ đòi hỏi các quan chức công quyền phải sử dụng đặc quyền thể chế một cách khôn ngoan. Tổng thống Hoa Kỳ, các lãnh đạo Quốc hội và các thẩm phán Tối cao có một loạt quyền lực mà nếu được sử dụng không kiềm chế, có thể làm suy yếu hệ thống. Hãy xét sáu quyền lực trong số đó. Ba quyền nằm trong tay tổng thống: sắc lệnh hành pháp, quyền ân xá tổng thống và việc mở rộng Tối cao Pháp viện. Ba quyền còn lại thuộc về Quốc hội: thủ tục filibuster, quyền &#8220;tham vấn và đồng thuận&#8221; của Thượng viện, và quyền luận tội. Dù được quy định trong Hiến pháp hay chỉ đơn giản được phép theo Hiến pháp, việc vũ khí hóa các quyền này có thể dễ dàng dẫn đến bế tắc, rối loạn và thậm chí sự sụp đổ của nền dân chủ. Tuy nhiên, trong phần lớn thế kỷ XX, các chính trị gia Mỹ đã sử dụng chúng với sự tiết chế đáng kể.</p>



<p>—</p>



<p>Chúng ta bắt đầu với quyền lực tổng thống. Chức vụ tổng thống Hoa Kỳ là một thiết chế hùng mạnh—và có khả năng thống trị—một phần do những khoảng trống trong Hiến pháp. Điều II của Hiến pháp, quy định các quyền lực chính thức của tổng thống, không xác định rõ ràng giới hạn quyền lực đó. Văn bản này hầu như không đề cập đến quyền hành động đơn phương của tổng thống, thông qua sắc lệnh hành pháp hoặc nghị định. Hơn nữa, quyền lực tổng thống đã gia tăng đáng kể trong thế kỷ qua. Bị thúc đẩy bởi những đòi hỏi của chiến tranh và khủng hoảng kinh tế, nhánh hành pháp đã xây dựng nên một bộ máy pháp lý, hành chính, ngân sách, tình báo và chiến tranh khổng lồ, biến nó thành thứ mà nhà sử học Arthur M. Schlesinger Jr. gọi là &#8220;Chế độ tổng thống đế vương&#8221;. Các tổng thống Mỹ thời hậu chiến kiểm soát lực lượng quân sự lớn nhất thế giới. Và những thách thức trong việc điều hành một siêu cường toàn cầu với nền kinh tế và xã hội công nghiệp phức tạp đã tạo ra nhu cầu ngày càng lớn đối với hành động tập trung từ nhánh hành pháp. Đến đầu thế kỷ XXI, các nguồn lực hành chính mà tổng thống có trong tay lớn đến mức học giả luật Bruce Ackerman mô tả chức vụ này như một &#8220;chiếc battering ram hiến pháp&#8221;.</p>



<p>Quyền lực khổng lồ của nhánh hành pháp tạo ra cám dỗ cho các tổng thống cai trị đơn phương—ở rìa ranh giới Quốc hội và tư pháp. Các tổng thống khi thấy chương trình nghị sự của mình bị đình trệ có thể vượt qua cơ quan lập pháp bằng cách ban hành sắc lệnh hành pháp, tuyên cáo, chỉ thị, thỏa thuận hành pháp hoặc bản ghi nhớ tổng thống, vốn có thể có hiệu lực pháp lý mà không cần Quốc hội phê chuẩn. Hiến pháp không cấm hành động như vậy.</p>



<p>Tương tự, tổng thống có thể vượt qua tư pháp, hoặc bằng cách từ chối tuân theo các phán quyết của tòa án—như Lincoln đã làm khi Tối cao Pháp viện bác bỏ việc ông đình chỉ quyền habeas corpus—hoặc bằng cách sử dụng quyền ân xá tổng thống. Alexander Hamilton từng lập luận trong Federalist số 74 rằng vì quyền ân xá có phạm vi quá lớn nên nó &#8220;tự nhiên truyền cảm hứng cho sự thận trọng và dè dặt.&#8221; Nhưng trong tay một tổng thống thiếu thận trọng và không có đạo đức, quyền ân xá có thể được dùng để hoàn toàn miễn trừ trách nhiệm trước tư pháp. Tổng thống thậm chí có thể tự ân xá cho chính mình. Mặc dù hợp hiến, hành động như vậy sẽ làm suy yếu tính độc lập của ngành tư pháp.</p>



<p>Với tiềm năng lớn để hành động đơn phương, gần như tất cả đều được quy định hoặc cho phép theo Hiến pháp, tầm quan trọng của sự tiết chế quyền lực từ phía tổng thống là điều không thể phóng đại. George Washington là người đặt ra tiền lệ quan trọng trong khía cạnh này. Washington hiểu rằng nhiệm kỳ tổng thống của ông sẽ giúp xác lập phạm vi quyền lực hành pháp trong tương lai; như ông từng nói, &#8220;Tôi đang bước trên vùng đất chưa ai đặt chân tới. Hầu như không có phần nào trong hành xử của tôi lại không thể bị xem như một tiền lệ sau này.&#8221; Là người nắm giữ một chức vụ mà nhiều người lo sợ sẽ trở thành một hình thức quân chủ mới, Washington đã cố gắng thiết lập các chuẩn mực và thực hành nhằm bổ sung—và củng cố—các quy định hiến pháp. Ông tích cực bảo vệ những lĩnh vực thuộc thẩm quyền của mình nhưng cẩn trọng không xâm phạm những gì thuộc về Quốc hội. Ông chỉ dùng quyền phủ quyết với những dự luật mà ông cho là vi hiến, chỉ phủ quyết hai lần trong tám năm và viết rằng ông &#8220;đã ký thông qua nhiều dự luật mà mình không đồng tình, vì động cơ tôn trọng cơ quan lập pháp.&#8221; Washington cũng miễn cưỡng ban hành những sắc lệnh có thể bị xem là xâm phạm quyền lập pháp. Trong tám năm, ông chỉ ban hành tám sắc lệnh hành pháp.</p>



<p>Suốt cuộc đời mình, Washington đã học được rằng ông &#8220;càng sẵn sàng từ bỏ quyền lực, thì lại càng được trao nhiều quyền lực.&#8221; Nhờ uy tín to lớn của mình, sự tiết chế đó đã truyền cảm hứng cho các thiết chế non trẻ khác của nền cộng hòa Mỹ. Như sử gia Gordon Wood đã viết, &#8220;Nếu có một cá nhân nào đóng vai trò quyết định trong việc đặt nền móng vững chắc cho nền Cộng hòa non trẻ, thì đó chính là Washington.&#8221;</p>



<p>—</p>



<p>Các chuẩn mực về sự tự kiềm chế của tổng thống đã ăn sâu vào nền chính trị Mỹ. Dù đôi khi bị thử thách, đặc biệt là trong thời chiến, chúng đủ vững chắc để kiềm chế ngay cả những tổng thống nhiều tham vọng nhất. Hãy xét trường hợp Theodore Roosevelt, người kế nhiệm tổng thống William McKinley sau khi ông này bị ám sát năm 1901. Roosevelt theo đuổi cái gọi là “thuyết quản nhiệm” về chức vụ tổng thống, tức là mọi hành động hành pháp đều được phép trừ khi bị luật pháp cấm. Quan điểm rộng mở này về quyền lực tổng thống, phong cách dân túy kêu gọi “quần chúng,” và “nguồn năng lượng cùng tham vọng vô bờ bến” của ông khiến nhiều người đương thời lo ngại, kể cả các lãnh đạo trong Đảng Cộng hòa của ông. Cố vấn quyền lực của tổng thống McKinley, Mark Hanna, từng cảnh báo đừng chọn Roosevelt làm phó tổng thống, được cho là đã nói: “Ông không thấy rằng giữa Nhà Trắng và thằng điên ấy chỉ còn một mạng sống thôi sao?” Nhưng khi nắm quyền, Roosevelt lại hành xử hết sức thận trọng. Ông rất cẩn trọng để tránh gây ấn tượng là đang gây áp lực với Quốc hội khi phát biểu trước công chúng hay công kích các nghị sĩ trong lúc họ đang tranh luận về các đạo luật quan trọng. Cuối cùng, Roosevelt hoạt động hoàn toàn trong khuôn khổ các ràng buộc của Hiến pháp.</p>



<p>Ngay cả khi quyền lực pháp lý, hành chính, quân sự và tình báo của nhánh hành pháp tăng vọt trong thế kỷ XX, các tổng thống vẫn tuân thủ các chuẩn mực tự giới hạn trong mối quan hệ với Quốc hội và Tòa án. Trừ thời chiến, họ rất thận trọng khi sử dụng sắc lệnh hành pháp. Họ không bao giờ dùng quyền ân xá để tự bảo vệ hoặc phục vụ lợi ích chính trị cá nhân, và phần lớn đều tham vấn Bộ Tư pháp trước khi ban hành ân xá. Quan trọng hơn, các tổng thống thế kỷ XX hiếm khi thách thức các cơ quan quyền lực khác như Lincoln hay Andrew Johnson đã làm ở thế kỷ XIX. Tổng thống Harry Truman chấp hành phán quyết của Tối cao Pháp viện khi tòa chặn sắc lệnh quốc hữu hóa ngành công nghiệp thép mà ông ban hành năm 1952 giữa lúc xảy ra đình công mà ông xem là tình trạng khẩn cấp quốc gia. Eisenhower thi hành phán quyết Brown v. Board of Education của Tối cao Pháp viện, dù ông không đồng tình. Ngay cả Nixon cũng chấp nhận yêu cầu của Quốc hội giao nộp băng ghi âm mật sau khi Tối cao Pháp viện phán quyết có lợi cho Quốc hội.</p>



<p>Vì thế, dù chức vụ tổng thống Mỹ ngày càng mạnh trong thế kỷ XX, các tổng thống Mỹ vẫn thể hiện sự kiềm chế đáng kể trong việc sử dụng quyền lực đó. Ngay cả khi không có rào cản hiến định, hành động hành pháp đơn phương vẫn phần lớn chỉ là ngoại lệ trong thời chiến, chứ không phải quy tắc.</p>



<p>Một câu chuyện tương tự cũng có thể kể về việc mở rộng Tối cao Pháp viện. Việc “mở rộng tòa” có thể mang hai hình thức: bãi nhiệm các thẩm phán không thân thiện và thay thế họ bằng đồng minh chính trị, hoặc thay đổi số lượng thẩm phán và bổ nhiệm người thân cận vào các vị trí mới. Cả hai cách làm này đều hợp pháp; Hiến pháp cho phép luận tội và không quy định cụ thể số lượng thẩm phán. Tổng thống có thể thanh lọc và mở rộng Tối cao Pháp viện mà không vi phạm chữ nghĩa của luật pháp. Tuy nhiên, điều đó đã không xảy ra trong suốt hơn một thế kỷ.</p>



<p>Trường hợp duy nhất Tối cao Pháp viện bị luận tội trong lịch sử Mỹ diễn ra vào năm 1804, khi Hạ viện do Đảng Cộng hòa kiểm soát bỏ phiếu luận tội thẩm phán Samuel Chase, một “người theo chủ nghĩa Liên bang cuồng nhiệt” đã vận động chống lại Jefferson và chỉ trích ông trong thời kỳ làm tổng thống. Coi hành vi của Chase là phản loạn, Jefferson thúc đẩy quá trình luận tội. Dù các thành viên Đảng Cộng hòa cố gắng biện minh bằng pháp lý, việc luận tội này, theo tất cả các ghi chép, là một “cuộc đàn áp chính trị từ đầu đến cuối.” Thượng viện tuyên trắng án cho Chase, qua đó thiết lập một tiền lệ mạnh mẽ chống lại việc luận tội vì lý do chính trị.</p>



<p>Việc thay đổi số lượng thẩm phán Tối cao Pháp viện từng là mục tiêu bị lạm dụng chính trị nhiều lần trong thế kỷ đầu của nước Mỹ. Bắt đầu từ động thái của phe Liên bang nhằm giảm số thẩm phán để ngăn Jefferson có cơ hội bổ nhiệm, Tối cao Pháp viện đã bị thay đổi quy mô bảy lần từ năm 1800 đến 1869 — mỗi lần đều vì lý do chính trị. Nhưng đến cuối thế kỷ XIX, việc mở rộng tòa bị coi là điều không thể chấp nhận. Trong một cuốn sách xuất bản năm 1893, tổng thống tương lai Woodrow Wilson gọi những hành động như vậy là “sự lạm dụng” và là “sự vi phạm tinh thần của Hiến pháp.” Cựu tổng thống Benjamin Harrison cũng viết vào khoảng thời gian đó rằng dù việc mở rộng tòa “rất hấp dẫn đối với các đảng phái,” thì nó sẽ “gây hủy diệt, thậm chí tiêu diệt hệ thống hiến pháp của chúng ta.” Đến thập niên 1920, nhà báo người Anh H. W. Horwill kết luận rằng tồn tại một quy tắc bất thành văn “đủ mạnh để ngăn cản ngay cả một tổng thống và quốc hội quyền lực nhất, bất kể lý do là gì, theo đuổi một kế hoạch biến Tối cao Pháp viện thành công cụ của chính trị đảng phái.”</p>



<p>Tổng thống Franklin Roosevelt, dĩ nhiên, đã vi phạm quy tắc này với kế hoạch mở rộng tòa án năm 1937. Theo các học giả luật hiến pháp Lee Epstein và Jeffrey Segal, đề xuất vi phạm chuẩn mực này của Roosevelt là “một sự kiêu ngạo bất thường.” Tuy nhiên, phản ứng mà nó vấp phải cũng bất thường không kém. Khi đó, Roosevelt rất được lòng dân — ông vừa tái đắc cử với cách biệt lớn trong một chiến thắng lịch sử, và các đồng minh Dân chủ của ông chiếm đa số vững chắc ở cả hai viện Quốc hội. Hiếm có tổng thống Mỹ nào có được sức mạnh chính trị như vậy. Nhưng kế hoạch mở rộng tòa đã vấp phải phản đối trên diện rộng. Truyền thông chỉ trích dữ dội — tờ <em>San Francisco Chronicle</em> mô tả kế hoạch này là một “lời tuyên chiến công khai với Tối cao Pháp viện.” Quốc hội phản đối ngay lập tức, không chỉ từ phe Cộng hòa mà cả nhiều nghị sĩ Dân chủ. Thượng nghị sĩ Missouri James A. Reed gọi kế hoạch của Roosevelt là “một bước tiến tới việc biến mình thành nhà độc tài thực sự.” Dân biểu Dân chủ Edward Cox từ Georgia cảnh báo rằng kế hoạch này sẽ “thay đổi ý nghĩa của các luật cơ bản và toàn bộ hệ thống chính phủ của chúng ta,” và do đó là “mối đe dọa khủng khiếp nhất đối với chính phủ hợp hiến trong toàn bộ lịch sử đất nước.” Ngay cả những người Dân chủ trung thành với Tân chính sách (New Deal) cũng quay lưng lại với Roosevelt. Thượng nghị sĩ Wyoming Joseph O’Mahoney, một đồng minh thân cận đến mức được xếp ngồi cạnh Eleanor Roosevelt tại bữa tiệc trước lễ nhậm chức chỉ hai tuần trước đó, cũng phản đối kế hoạch. Ông viết cho một người bạn: “Toàn bộ chuyện này nặng mùi Machiavelli và Machiavelli thì thối hoắc!”</p>



<p>Đáng lưu ý là chính Tối cao Pháp viện đã đóng vai trò lớn trong việc đánh bại kế hoạch của Roosevelt. Trong một động thái được mô tả là “một cuộc rút lui đầy khôn ngoan” để bảo vệ tính độc lập của tòa, Tối cao Pháp viện từng phản đối Tân chính sách đã nhanh chóng đảo ngược phán quyết của mình trong một loạt vụ kiện. Vào mùa xuân năm 1937, tòa lần lượt ra phán quyết ủng hộ nhiều đạo luật thuộc Tân chính sách, trong đó có Đạo luật Quan hệ Lao động Quốc gia và luật An sinh Xã hội của Roosevelt. Khi chương trình Tân chính sách đã có cơ sở hiến pháp vững chắc hơn, các nghị sĩ Dân chủ tự do trong Quốc hội có thể phản đối kế hoạch mở rộng tòa dễ dàng hơn. Đến tháng 7 năm 1937, kế hoạch này bị bác bỏ tại Thượng viện. Tổng thống, ở đỉnh cao của quyền lực và sự ủng hộ, đã thử vượt quá giới hạn của quyền lực hiến định và bị chặn lại. Không một tổng thống Mỹ nào kể từ đó tìm cách mở rộng Tối cao Pháp viện nữa.</p>



<p>—</p>



<p>Các chuẩn mực tiết chế (forbearance) cũng vận hành trong Quốc hội. Hãy xét Thượng viện Hoa Kỳ. Là một cơ quan được thiết kế ngay từ đầu để bảo vệ thiểu số khỏi quyền lực của đa số (mà các nhà lập quốc tin rằng sẽ được Hạ viện đại diện), Thượng viện được hình thành để cho phép việc thảo luận kỹ càng. Cơ quan này đã phát triển nhiều công cụ—phần lớn là bất thành văn—cho phép các phe thiểu số trong lập pháp, thậm chí chỉ một thượng nghị sĩ, có thể làm chậm lại hoặc ngăn chặn các dự luật do đa số đưa ra. Trước năm 1917, Thượng viện không có bất kỳ quy định nào giới hạn thời gian thảo luận, có nghĩa là bất kỳ thượng nghị sĩ nào cũng có thể ngăn một cuộc biểu quyết (hoặc “câu giờ” bằng filibuster) đối với bất kỳ dự luật nào bằng cách kéo dài phần tranh luận vô thời hạn.</p>



<p>Những đặc quyền phi chính thức như vậy là các yếu tố thiết yếu của cơ chế kiểm soát và cân bằng quyền lực, vừa bảo vệ phe thiểu số, vừa là rào chắn đối với các tổng thống có thể vượt quyền. Nhưng nếu thiếu sự tiết chế, chúng rất dễ dẫn đến bế tắc và xung đột. Nhà khoa học chính trị Donald Matthews viết:</p>



<p>[Mỗi thượng nghị sĩ] có quyền lực to lớn đối với các quy tắc của Thượng viện. Một người, ví dụ, có thể khiến Thượng viện gần như tê liệt bằng cách có hệ thống phản đối mọi yêu cầu đồng thuận. Một vài người, bằng cách sử dụng quyền filibuster, có thể ngăn chặn việc thông qua mọi dự luật.</p>



<p>Trong phần lớn lịch sử Hoa Kỳ, tình trạng tê liệt như vậy không xảy ra, một phần vì các chuẩn mực đang tồn tại đã ngăn thượng nghị sĩ lạm dụng quyền lực chính trị của mình. Như Matthews quan sát, mặc dù các công cụ như filibuster “tồn tại như một mối đe dọa tiềm ẩn, điều đáng kinh ngạc là chúng hiếm khi được sử dụng. Tinh thần tương hỗ khiến nhiều, nếu không nói là phần lớn, quyền lực thực tế của các thượng nghị sĩ không được thực thi.”</p>



<p>Nghiên cứu nổi bật của Matthews về Thượng viện trong cuối thập niên 1950 cho thấy cách các chuẩn mực phi chính thức—mà ông gọi là “tục lệ dân gian” (folkways)—giúp cơ quan này vận hành. Hai trong số những tục lệ đó liên hệ mật thiết đến sự tiết chế: phép lịch sự và tính tương hỗ. Phép lịch sự trước tiên có nghĩa là tránh các công kích cá nhân hoặc làm bẽ mặt đồng viện. Quy tắc hàng đầu, theo Matthews, là thượng nghị sĩ không được để “bất đồng chính trị ảnh hưởng đến cảm xúc cá nhân.” Đây là điều không dễ, vì như một người nói, “thật khó mà không gọi ai đó là kẻ nói dối khi bạn biết rõ anh ta là như vậy.” Nhưng các thượng nghị sĩ xem phép lịch sự là then chốt cho thành công của mình, vì như một người khác nói, “kẻ thù của bạn trong một vấn đề có thể là bạn của bạn trong vấn đề kế tiếp.” Như lời một thượng nghị sĩ khác, việc tự bảo vệ chính trị “đòi hỏi ít nhất một vẻ ngoài thân thiện. Và rồi trước khi bạn kịp nhận ra, bạn thực sự đã thành bạn.”</p>



<p>Chuẩn mực tương hỗ yêu cầu phải tiết chế việc sử dụng quyền lực để không khiến đồng viện quá khó chịu và đe dọa đến sự hợp tác trong tương lai. Matthews kết luận trong nghiên cứu của mình: “Nếu một thượng nghị sĩ đẩy quyền lực chính thức của mình đến giới hạn, ông ta đã phá vỡ cam kết ngầm và có thể chờ đợi không phải sự hợp tác từ đồng viện, mà là sự trả đũa tương xứng,” khiến công việc lập pháp trở nên khó khăn hơn rất nhiều. Như một người mô tả: “Không hẳn là vấn đề tình bạn; chỉ đơn giản là, ‘Tôi sẽ không là thằng khốn nếu anh cũng không là như vậy.’”</p>



<p>Không có công cụ thể chế nào minh họa rõ ràng hơn tầm quan trọng của các chuẩn mực này như filibuster. Trước năm 1917, như đã nói, bất kỳ thượng nghị sĩ nào cũng có thể cản trở lập pháp bằng cách dùng filibuster kéo dài thời gian tranh luận. Thế nhưng điều này hiếm khi xảy ra. Mặc dù luôn có sẵn cho mọi thượng nghị sĩ, vào bất kỳ thời điểm nào, phần lớn các thượng nghị sĩ coi filibuster là “vũ khí thủ tục cuối cùng.” Theo một thống kê, chỉ có hai mươi ba trường hợp filibuster rõ rệt trong toàn bộ thế kỷ XIX. Việc sử dụng filibuster tăng nhẹ vào đầu thế kỷ XX đã dẫn đến quy định cloture năm 1917, theo đó hai phần ba (nay là ba phần năm) Thượng viện có thể biểu quyết kết thúc tranh luận. Nhưng ngay cả vậy, từ 1880 đến 1917 chỉ có ba mươi trường hợp filibuster được ghi nhận. Việc sử dụng filibuster vẫn ở mức thấp đến cuối thập niên 1960—thực tế, từ 1917 đến 1959, trung bình mỗi nhiệm kỳ quốc hội chỉ có một vụ filibuster.</p>



<p>Một đặc quyền lập pháp khác giữ vai trò then chốt trong cơ chế kiểm soát quyền lực là quyền “tham vấn và chấp thuận” của Thượng viện đối với các bổ nhiệm của tổng thống vào Tối cao Pháp viện và các vị trí quan trọng khác. Dù đã được quy định trong Hiến pháp, phạm vi thực tế của quyền này vẫn mở cho sự diễn giải và tranh luận. Về lý thuyết, Thượng viện có thể cản trở tổng thống bổ nhiệm bất kỳ thành viên nội các hay thẩm phán nào theo ý muốn—một hành động tuy hợp hiến nhưng sẽ làm tê liệt chính phủ. Điều này chưa từng xảy ra, một phần vì đã hình thành chuẩn mực rằng Thượng viện thường tôn trọng quyền bổ nhiệm của tổng thống. Từ năm 1800 đến 2005, chỉ có chín đề cử nội các bị bác bỏ; khi Thượng viện từ chối lựa chọn bộ trưởng tư pháp của Tổng thống Calvin Coolidge năm 1925, ông đã tức giận cáo buộc Thượng viện phá vỡ “một thông lệ không gián đoạn kéo dài ba thế hệ cho phép tổng thống tự chọn nội các.”</p>



<p>Thượng viện luôn giữ quyền bác bỏ một số đề cử vào Tối cao Pháp viện. Ngay cả Tổng thống Washington cũng từng bị từ chối một đề cử vào năm 1795. Nhưng Thượng viện thường rất cẩn trọng trong việc sử dụng quyền này. Từ năm 1880 đến 1980, hơn 90 phần trăm đề cử vào Tối cao Pháp viện được phê chuẩn, và chỉ có ba tổng thống—Grover Cleveland, Herbert Hoover và Richard Nixon—bị bác bỏ đề cử. Những người được đề cử có trình độ cao gần như luôn được phê chuẩn ngay cả khi thượng nghị sĩ không đồng tình về mặt ý thức hệ. Antonin Scalia, một người bảo thủ cực đoan do Reagan đề cử, được thông qua năm 1986 với số phiếu 98–0, dù phe Dân chủ đủ phiếu (47) để filibuster.</p>



<p>Dù kết quả ra sao, Thượng viện từ lâu đã chấp nhận quyền cuối cùng của tổng thống trong việc bổ nhiệm thẩm phán. Trong 150 năm từ 1866 đến 2016, chưa một lần nào Thượng viện ngăn tổng thống lấp đầy chỗ trống trong Tối cao Pháp viện. Có bảy mươi bốn trường hợp trong giai đoạn này tổng thống cố gắng lấp chỗ trống trước khi người kế nhiệm được bầu, và trong cả bảy mươi bốn lần—dù không phải lúc nào cũng thành công ngay—họ đều được thực hiện.</p>



<p>Cuối cùng, một trong những đặc quyền tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất mà Hiến pháp trao cho Quốc hội là quyền truất phế một tổng thống đương nhiệm. Học giả người Anh James Bryce đã lưu ý hơn một thế kỷ trước rằng đây là “loại vũ khí nặng nhất trong kho vũ khí của Quốc hội.” Nhưng ông tiếp tục, “vì nó quá nặng, nên không phù hợp để sử dụng trong những tình huống thông thường.” Nếu bị sử dụng một cách cẩu thả, học giả hiến pháp Keith Whittington cảnh báo, luận tội có thể trở thành “công cụ phe phái để làm suy yếu các viên chức được bầu và lật ngược kết quả bầu cử.”</p>



<p>Đó chính là điều đã xảy ra, như chúng ta đã thấy, ở Paraguay năm 2012 với vụ luận tội chớp nhoáng tổng thống Fernando Lugo chỉ trong hai ngày, và ở Ecuador năm 1997 với việc bãi nhiệm Abdalá Bucaram dựa trên cáo buộc giả mạo về “mất năng lực tinh thần.” Trong các trường hợp này, luận tội đã bị vũ khí hóa—lãnh đạo quốc hội dùng nó để loại bỏ một tổng thống mà họ không ưa.</p>



<p>—</p>



<p>Về mặt lý thuyết, các tổng thống Hoa Kỳ có thể phải chịu số phận như Lugo hay Bucaram. Rào cản pháp lý để luận tội tại Hoa Kỳ thực ra khá thấp. Theo Hiến pháp, chỉ cần đa số đơn giản tại Hạ viện là đủ. Dù việc kết tội và phế truất tổng thống cần hai phần ba số phiếu tại Thượng viện, thì bản thân việc bị luận tội—kể cả không bị kết tội—vẫn là một sự kiện gây chấn động có thể khiến tổng thống mất khả năng điều hành thực tế, như trường hợp của Andrew Johnson sau năm 1868.</p>



<p>Tuy nhiên, không giống như ở Paraguay hay Ecuador, việc luận tội tại Hoa Kỳ từ lâu đã được điều tiết bởi các chuẩn mực tiết chế. Học giả Hiến pháp Mark Tushnet mô tả chuẩn mực như sau: &#8220;Hạ viện không nên tích cực xúc tiến việc luận tội trừ khi&#8230; có xác suất hợp lý rằng việc luận tội sẽ dẫn đến việc phế truất người bị nhắm đến.&#8221; Vì việc phế truất cần hai phần ba phiếu ở Thượng viện, điều đó có nghĩa là việc luận tội cần có ít nhất một phần nào đó sự ủng hộ lưỡng đảng. Sau cuộc luận tội Johnson năm 1868, không có nỗ lực nghiêm túc nào của quốc hội nhằm luận tội tổng thống cho đến vụ bê bối của Nixon hơn một thế kỷ sau.</p>



<p>—</p>



<p>Hệ thống kiểm soát và cân bằng của Hoa Kỳ vận hành hiệu quả trong thế kỷ XX là nhờ nó được neo giữ trong những chuẩn mực vững chắc về khoan dung lẫn nhau và tiết chế quyền lực. Điều này không có nghĩa rằng Hoa Kỳ từng trải qua một thời kỳ hoàng kim thuần khiết, nơi các quy tắc lịch thiệp kiểu quý ông chi phối hoàn toàn đời sống chính trị quốc gia. Vào nhiều thời điểm, các chuẩn mực dân chủ đã bị thử thách, thậm chí bị vi phạm. Có ba sự kiện đáng chú ý trong số đó.</p>



<p>Một là điều chúng ta đã đề cập: sự tập trung quyền lực hành pháp chưa từng có của Roosevelt trong thời kỳ Đại Khủng Hoảng và Thế chiến II. Ngoài kế hoạch cải tổ Tối cao Pháp viện, việc Roosevelt phụ thuộc vào hành pháp đơn phương đặt ra một thách thức nghiêm trọng với hệ thống kiểm soát và cân bằng truyền thống. Ông ban hành hơn 3.000 sắc lệnh trong nhiệm kỳ tổng thống của mình, trung bình hơn 300 sắc lệnh mỗi năm—một con số chưa từng bị vượt qua. Việc ông quyết định ra tranh cử nhiệm kỳ thứ ba (và sau đó là thứ tư) đã phá vỡ một chuẩn mực kéo dài gần 150 năm giới hạn tổng thống chỉ phục vụ hai nhiệm kỳ.</p>



<p>Tuy nhiên, chính quyền Roosevelt không trượt vào chủ nghĩa chuyên chế. Có nhiều lý do cho điều này, nhưng một trong số đó là việc nhiều hành động vượt giới hạn của Roosevelt đã vấp phải sự phản kháng từ cả hai đảng. Kế hoạch mở rộng Tối cao Pháp viện đã bị cả hai đảng bác bỏ, và mặc dù Roosevelt đã phá vỡ quy tắc bất thành văn về hai nhiệm kỳ, sự ủng hộ dành cho chuẩn mực cũ vẫn mạnh mẽ đến mức vào năm 1947, chưa đầy hai năm sau khi ông qua đời, một liên minh lưỡng đảng trong Quốc hội đã thông qua Tu chính án thứ Hai mươi hai, ghi quy định đó vào Hiến pháp. Những lan can bảo vệ dân chủ đã bị thử thách trong thời Roosevelt, nhưng cuối cùng vẫn đứng vững.</p>



<p>Chủ nghĩa McCarthy là thách thức lớn thứ hai đối với thể chế Hoa Kỳ, đe dọa chuẩn mực khoan dung lẫn nhau vào đầu những năm 1950. Sự trỗi dậy của chủ nghĩa cộng sản khiến nhiều người Mỹ lo sợ, đặc biệt là sau khi Liên Xô trở thành một siêu cường hạt nhân vào cuối những năm 1940. Cơn hoảng loạn chống cộng có thể bị khai thác cho mục đích chính trị đảng phái: các chính trị gia có thể dùng chiêu bài &#8220;tẩy đỏ&#8221; (red-baiting), tức là cáo buộc đối thủ là cộng sản hay thân cộng, để giành phiếu bầu.</p>



<p>Từ năm 1946 đến 1954, chủ nghĩa chống cộng đã len lỏi vào chính trị đảng phái. Chiến tranh Lạnh làm bùng lên sự cuồng loạn về an ninh quốc gia, và Đảng Cộng hòa, sau gần hai thập niên thất thế trên chính trường quốc gia, đang tuyệt vọng tìm kiếm một thông điệp vận động mới.</p>



<p>Thượng nghị sĩ bang Wisconsin Joseph McCarthy đã tìm thấy thông điệp đó. Lần đầu được bầu vào Thượng viện năm 1947, McCarthy đã bước lên vũ đài quốc gia vào ngày 9 tháng 2 năm 1950 với bài diễn văn nổi tiếng trước Câu lạc bộ Phụ nữ Cộng hòa Quận Ohio ở Wheeling, West Virginia. McCarthy tuôn ra những lời lẽ đả kích chủ nghĩa cộng sản và &#8220;bọn phản quốc&#8221; bên trong nước Mỹ, rồi bất ngờ nói ra một câu đã trở thành kinh điển: &#8220;Tôi có trong tay danh sách 205 người đã được Bộ trưởng Ngoại giao biết tên nhưng vẫn đang làm việc và định hình chính sách của Bộ Ngoại giao.&#8221; Phản ứng tức thì. Báo chí phát cuồng. McCarthy—một kẻ mị dân thích được chú ý—liên tục lặp lại bài diễn văn này, nhận ra mình đã vớ được mỏ vàng chính trị. Đảng Dân chủ phẫn nộ. Những người Cộng hòa ôn hoà thì lo lắng, nhưng phe bảo thủ trong Đảng Cộng hòa thấy rõ lợi ích chính trị và đứng về phía McCarthy. Thượng nghị sĩ Robert Taft gửi thông điệp: &#8220;Cứ nói tiếp đi.&#8221; Ba ngày sau, McCarthy gửi điện tín cho Tổng thống Truman, viết: &#8220;Gọi điện cho [Bộ trưởng Ngoại giao Dean] Acheson và hỏi ông ta đã bỏ sót bao nhiêu tên cộng sản&#8230; Nếu ông không làm, Đảng Dân chủ sẽ bị gán mác làm bạn đồng sàng với chủ nghĩa cộng sản quốc tế.&#8221;</p>



<p>Chiêu bài &#8220;tẩy đỏ&#8221; trở thành chiến thuật phổ biến trong các chiến dịch tranh cử của Đảng Cộng hòa đầu thập niên 1950. Richard Nixon dùng nó trong cuộc chạy đua vào Thượng viện năm 1950, bôi nhọ đối thủ đảng Dân chủ Helen Gahagan Douglas là &#8220;Quý cô Hồng&#8221; (Pink Lady), người &#8220;theo đường lối cộng sản.&#8221; Tại Florida, George Smathers tung chiến dịch bẩn nhằm đánh bại Thượng nghị sĩ đương nhiệm Claude Pepper, gọi ông là &#8220;Red Pepper.&#8221;</p>



<p>Đến cuộc bầu cử tổng thống năm 1952, rõ ràng chủ nghĩa chống cộng cực đoan của McCarthy là một vũ khí hiệu quả để tấn công phe Dân chủ. McCarthy được mời đi diễn thuyết khắp nơi. Ngay cả ứng cử viên tổng thống ôn hoà của Đảng Cộng hoà, Dwight Eisenhower, dù ái ngại với McCarthy, cũng phải dựa vào nguồn năng lượng chính trị mà ông này tạo ra. McCarthy liên tục gán nhãn ứng cử viên Dân chủ Adlai Stevenson là &#8220;kẻ phản bội&#8221;, cố tình đánh tráo tên ông với gián điệp Liên Xô bị cáo buộc Alger Hiss. Ban đầu Eisenhower phản đối xuất hiện chung với McCarthy, nhưng theo yêu cầu của Ủy ban Toàn quốc Đảng Cộng hòa, hai người đã cùng vận động tranh cử tại Wisconsin một tháng trước ngày bầu cử.</p>



<p>Cuộc tấn công kiểu McCarthy nhằm vào chuẩn mực khoan dung lẫn nhau lên đến đỉnh điểm vào năm 1952. Khi Eisenhower lên làm tổng thống, các lãnh đạo Đảng Cộng hòa nhận thấy các chiêu trò của McCarthy đã hết giá trị. Và khi McCarthy chuyển sang tấn công chính quyền Eisenhower và đặc biệt là quân đội Hoa Kỳ, ông đã bị mất uy tín. Bước ngoặt xảy ra trong các phiên điều trần trực tiếp trên truyền hình về vụ McCarthy–quân đội năm 1954, nơi McCarthy bị luật sư trưởng quân đội Joseph Welch vạch mặt, nói: &#8220;Ông không còn chút liêm sỉ nào sao, thưa ông? Đến cuối cùng, ông không còn chút liêm sỉ nào nữa sao?&#8221; Uy tín của McCarthy sụt giảm, và sáu tháng sau, Thượng viện bỏ phiếu khiển trách ông, chấm dứt sự nghiệp chính trị.</p>



<p>Sự sụp đổ của McCarthy đã khiến chiến thuật &#8220;tố cộng&#8221; trở nên mất uy tín, và dần được gán cho một nhãn hiệu mới mang tính miệt thị: &#8220;Chủ nghĩa McCarthy&#8221;. Sau năm 1954, rất ít chính trị gia Cộng hoà tiếp tục công khai sử dụng chiến thuật này, và những ai làm vậy đều bị chỉ trích. Ngay cả Nixon, vốn luôn thực dụng, cũng bắt đầu xem xét lại việc sử dụng giọng điệu kiểu McCarthy. Theo một tiểu sử gia, ngay cả phó tổng thống cũng &#8220;rất chú tâm trong việc ghi nhận lòng trung thành của Đảng Dân chủ&#8221; trong chiến dịch tái tranh cử năm 1956. Dù các nhóm cực đoan như John Birch Society vẫn &#8220;duy trì tinh thần McCarthy&#8221;, họ hoạt động bên lề đảng Cộng hoà. Các chuẩn tắc về sự khoan dung lẫn nhau vẫn được duy trì trong các phe phái chính của cả hai đảng cho đến cuối thế kỷ XX.</p>



<p>Thử thách lớn thứ ba đối với các định chế dân chủ Mỹ là hành vi mang tính độc đoán của chính quyền Nixon. Dù từng công khai ủng hộ nó trong thập niên 1950, Nixon chưa bao giờ thực sự chấp nhận các chuẩn tắc về sự khoan dung lẫn nhau. Ông xem công chúng phản đối và báo chí là kẻ thù, và ông cùng các cố vấn biện minh cho các hành vi bất hợp pháp bằng lập luận rằng những đối thủ trong nước — thường bị mô tả là vô chính phủ và cộng sản — là mối đe doạ đối với quốc gia hoặc trật tự hiến pháp. Khi ra lệnh cho H. R. Haldeman tổ chức một cuộc đột nhập vào Viện Brookings năm 1971 (một hành động không bao giờ được thực hiện), Nixon nói với trợ lý: &#8220;Chúng ta đang đối đầu với một kẻ thù, một âm mưu. Chúng ta sẽ dùng mọi phương tiện… Rõ chưa?&#8221;. Tương tự, G. Gordon Liddy, người tham gia vụ Watergate, đã biện hộ cho vụ đột nhập vào trụ sở Ủy ban Quốc gia Đảng Dân chủ năm 1972 bằng cách nói rằng Nhà Trắng đang &#8220;trong tình trạng chiến tranh, cả trong lẫn ngoài nước&#8221;.</p>



<p>Con đường rời xa chuẩn mực dân chủ của chính quyền Nixon bắt đầu bằng việc nghe lén rộng rãi và các hoạt động giám sát khác đối với các nhà báo, nhà hoạt động đối lập, Ủy ban Quốc gia Dân chủ, và các nhân vật nổi bật của Đảng Dân chủ như Thượng nghị sĩ Edward Kennedy. Vào tháng 11 năm 1970, Nixon gửi một bản ghi nhớ cho Haldeman, yêu cầu lập danh sách những người chống đối chính quyền để xây dựng một &#8220;chương trình tình báo… để đối phó với họ&#8221;. Hàng trăm cái tên, bao gồm &#8220;hàng chục đảng viên Dân chủ&#8221;, đã được đưa vào danh sách này. Chính quyền cũng sử dụng Sở Thuế vụ (IRS) làm công cụ chính trị, tiến hành kiểm toán các đối thủ quan trọng như Chủ tịch Ủy ban Quốc gia Dân chủ Larry O’Brien. Tuy nhiên, nổi bật nhất là chiến dịch của Nixon nhằm phá hoại các đối thủ Dân chủ trong cuộc bầu cử năm 1972, mà đỉnh điểm là vụ đột nhập thất bại tại Watergate.</p>



<p>Như đã biết, cuộc tấn công mang tính hình sự của Nixon vào các thiết chế dân chủ đã bị chặn lại. Vào tháng 2 năm 1973, Thượng viện thành lập một Ủy ban đặc biệt lưỡng đảng về các hoạt động tranh cử của tổng thống, do Thượng nghị sĩ Dân chủ Sam Ervin của North Carolina làm chủ tịch. Ủy ban Ervin mang tính lưỡng đảng: phó chủ tịch của nó, Thượng nghị sĩ Cộng hoà Tennessee Howard Baker, mô tả sứ mệnh của ủy ban là &#8220;một cuộc tìm kiếm lưỡng đảng cho sự thật không tô vẽ&#8221;. Khi ủy ban bắt đầu công việc, gần một chục Thượng nghị sĩ Cộng hoà đã cùng các đảng viên Dân chủ kêu gọi bổ nhiệm một công tố viên đặc biệt độc lập. Archibald Cox được bổ nhiệm vào tháng 5. Đến giữa năm 1973, các cuộc điều tra đã tiến sát Nixon. Các phiên điều trần tại Thượng viện tiết lộ sự tồn tại của các băng ghi âm bí mật tại Nhà Trắng có thể buộc tội tổng thống. Cox yêu cầu Nixon giao nộp các băng ghi âm — một yêu cầu được cả hai đảng nhắc lại. Nixon phản đối, từ chối giao nộp băng và cuối cùng sa thải Cox, nhưng không thành công.</p>



<p>Hành động đó đã dẫn đến làn sóng kêu gọi Nixon từ chức, và Ủy ban Tư pháp Hạ viện, do dân biểu Peter Rodino từ New Jersey làm chủ tịch, bắt đầu các bước đầu tiên để tiến hành luận tội. Vào ngày 24 tháng 7 năm 1974, Tối cao Pháp viện phán quyết rằng Nixon phải giao nộp các băng ghi âm. Lúc đó, Rodino đã có đủ sự ủng hộ từ các đảng viên Cộng hoà trong Ủy ban Tư pháp để tiến hành luận tội. Dù Nixon vẫn hy vọng có thể tập hợp đủ 34 phiếu Cộng hoà tại Thượng viện để tránh bị kết tội, các Thượng nghị sĩ Cộng hoà đã cử Barry Goldwater đến thông báo cho ông về tính tất yếu của việc luận tội. Khi Nixon hỏi Goldwater rằng ông có bao nhiêu phiếu, Goldwater được cho là đã trả lời: &#8220;Nhiều nhất là mười, có thể ít hơn&#8221;. Hai ngày sau, Nixon từ chức. Nhờ vào sự hợp tác lưỡng đảng, Quốc hội và các toà án đã kiểm soát được sự lạm quyền của tổng thống.</p>



<p>—</p>



<p>Các định chế dân chủ của Mỹ đã nhiều lần bị thách thức trong thế kỷ XX, nhưng mỗi lần thách thức đều được kiềm chế hiệu quả. Các lan can bảo vệ vẫn đứng vững, khi các chính trị gia từ cả hai đảng — và thường là toàn xã hội — đã phản ứng trước các vi phạm có thể đe doạ nền dân chủ. Kết quả là các tập tục bài trừ, công kích phe đối lập không bao giờ leo thang thành vòng xoáy chết chóc kiểu như những gì đã huỷ diệt các nền dân chủ ở châu Âu thập niên 1930 hay Mỹ Latinh thập niên 1960–1970.</p>



<p>Tuy nhiên, chúng ta phải kết thúc bằng một cảnh báo đáng lo ngại. Các chuẩn mực nâng đỡ hệ thống chính trị của chúng ta, trên thực tế, dựa vào một mức độ đáng kể sự loại trừ chủng tộc. Sự ổn định của giai đoạn từ sau Tái thiết cho đến thập niên 1980 bắt nguồn từ một tội lỗi nguyên thuỷ: Thỏa hiệp năm 1877 và hậu quả của nó, vốn cho phép quá trình phản dân chủ hoá miền Nam và củng cố chế độ Jim Crow. Sự loại trừ chủng tộc đã trực tiếp góp phần vào sự ôn hoà đảng phái và hợp tác lưỡng đảng từng đặc trưng cho chính trị Mỹ trong thế kỷ XX. &#8220;Miền Nam nhất thể&#8221; đã nổi lên như một lực lượng bảo thủ hùng mạnh trong nội bộ Đảng Dân chủ, vừa ngăn chặn dân quyền, vừa đóng vai trò cầu nối với Đảng Cộng hoà. Sự tương đồng ý thức hệ giữa các đảng viên Dân chủ miền Nam và các đảng viên Cộng hoà bảo thủ làm giảm phân cực và tạo điều kiện cho lưỡng đảng. Nhưng cái giá phải trả là giữ các vấn đề dân quyền — và việc dân chủ hoá hoàn toàn nước Mỹ — ngoài chương trình nghị sự chính trị.</p>



<p>Do đó, các chuẩn mực dân chủ của Mỹ được sinh ra trong một bối cảnh loại trừ. Khi cộng đồng chính trị chủ yếu chỉ bao gồm người da trắng, các đảng Dân chủ và Cộng hoà có nhiều điểm chung. Không đảng nào có khả năng coi đảng kia là mối đe doạ hiện sinh. Quá trình hội nhập chủng tộc bắt đầu sau Thế chiến II và đỉnh cao là Đạo luật Dân quyền năm 1964 cùng Đạo luật Quyền bầu cử năm 1965 cuối cùng đã dân chủ hoá Hoa Kỳ. Nhưng điều đó cũng tạo ra sự phân cực, và đặt ra thách thức lớn nhất đối với các hình thức khoan dung và kiềm chế đã được thiết lập kể từ sau thời kỳ Tái thiết.</p>



<p><strong>PHỤ LỤC CHÚ GIẢI — CHƯƠNG 6: NHỮNG LUẬT BẤT THÀNH VĂN TRONG CHÍNH TRỊ HOA KỲ</strong></p>



<p><strong>THUẬT NGỮ VÀ KHÁI NIỆM</strong></p>



<ol start="1" class="wp-block-list">
<li><strong>Norms / Chuẩn mực</strong>: Những quy tắc ứng xử bất thành văn trong chính trị, không được ghi trong hiến pháp nhưng được tuân thủ rộng rãi để duy trì nền dân chủ.</li>



<li><strong>Mutual toleration / Sự khoan dung lẫn nhau</strong>: Việc các đảng phái chính trị coi nhau là hợp pháp, không xem đối thủ là mối đe dọa tồn vong.</li>



<li><strong>Institutional forbearance / Sự kiềm chế thể chế</strong>: Việc các nhà lãnh đạo không khai thác triệt để quyền lực hợp pháp vì lợi ích cá nhân hoặc phe phái, để bảo vệ sự ổn định và tính chính danh của nền dân chủ.</li>



<li><strong>Court packing / Mở rộng Tối cao Pháp viện</strong>: Hành vi mở rộng số lượng thẩm phán tối cao để bổ nhiệm người trung thành về chính trị, làm suy yếu tính độc lập của ngành tư pháp.</li>



<li><strong>Filibuster / Thủ thuật câu giờ</strong>: Chiến thuật trì hoãn biểu quyết luật bằng cách kéo dài tranh luận vô thời hạn tại Thượng viện Hoa Kỳ.</li>



<li><strong>Advice and consent / Tham vấn và phê chuẩn</strong>: Quyền hiến định của Thượng viện để thông qua các đề cử của tổng thống, đặc biệt là thẩm phán Tối cao Pháp viện và thành viên nội các.</li>



<li><strong>Impeachment / Luận tội</strong>: Quy trình do Quốc hội tiến hành nhằm truy cứu trách nhiệm và có thể dẫn đến việc phế truất tổng thống hoặc quan chức cao cấp khác.</li>



<li><strong>Constitutional hardball / “Bóng cứng” hiến định</strong>: Chiến thuật chính trị sử dụng quyền lực hợp pháp theo cách cực đoan nhằm đạt được mục tiêu phe phái, bất chấp hậu quả cho nền dân chủ.</li>



<li><strong>Unwritten rules / Luật bất thành văn</strong>: Những quy ước chính trị được ngầm hiểu và tôn trọng nhưng không được quy định trong luật pháp.</li>



<li><strong>The “Imperial Presidency” / Chế độ tổng thống đế vương</strong>: Khái niệm chỉ sự gia tăng quyền lực quá mức của tổng thống Hoa Kỳ, nhất là trong các tình huống khẩn cấp hoặc chiến tranh.</li>
</ol>



<p><strong>NHÂN VẬT VÀ SỰ KIỆN LỊCH SỬ</strong></p>



<ol start="1" class="wp-block-list">
<li><strong>Franklin D. Roosevelt (FDR)</strong>: Tổng thống Hoa Kỳ thời kỳ Đại Khủng hoảng và Thế chiến II. Ông đề xuất kế hoạch “court-packing” để kiểm soát Tối cao Pháp viện, nhưng bị Quốc hội, kể cả đảng của ông, bác bỏ.</li>



<li><strong>George Washington</strong>: Tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ, người đặt nền móng cho nhiều chuẩn mực dân chủ như việc không tại vị quá hai nhiệm kỳ.</li>



<li><strong>Joseph McCarthy</strong>: Thượng nghị sĩ đã khơi mào làn sóng chống cộng cực đoan ở Mỹ thập niên 1950, làm suy yếu sự khoan dung chính trị. “McCarthyism” trở thành khái niệm chỉ những cáo buộc chính trị vô căn cứ.</li>



<li><strong>Richard Nixon</strong>: Tổng thống từ chức năm 1974 sau vụ bê bối Watergate. Ông dùng nhiều thủ đoạn vi hiến để tấn công đối thủ, nhưng cuối cùng bị cả lưỡng đảng phản đối và phải từ chức.</li>



<li><strong>Watergate</strong>: Vụ bê bối chính trị lớn trong đó chính quyền Nixon bị phát hiện tổ chức đột nhập trụ sở Đảng Dân chủ nhằm theo dõi và phá hoại đối thủ.</li>



<li><strong>Twenty-Second Amendment / Tu chính án thứ 22</strong>: Hiến định hóa giới hạn nhiệm kỳ tổng thống sau khi Roosevelt đắc cử 4 lần.</li>



<li><strong>Compromise of 1877 / Thỏa hiệp năm 1877</strong>: Dàn xếp chính trị giúp chấm dứt tái thiết miền Nam nhưng đổi lại là việc từ bỏ bảo vệ quyền bầu cử của người Mỹ gốc Phi, mở đường cho chế độ Jim Crow.</li>



<li><strong>Jim Crow</strong>: Hệ thống luật lệ phân biệt chủng tộc và tước quyền người da đen tại miền Nam Hoa Kỳ trong gần một thế kỷ sau Nội chiến.</li>



<li><strong>Solid South / “Miền Nam đồng nhất”</strong>: Hiện tượng chính trị trong đó các bang miền Nam nhất loạt ủng hộ Đảng Dân chủ, giúp duy trì sự ổn định nhưng dựa trên cơ sở phân biệt chủng tộc và tước quyền cử tri da đen.</li>



<li><strong>Voting Rights Act (1965)</strong>: Luật bầu cử chấm dứt các rào cản pháp lý cản trở người Mỹ gốc Phi tham gia bỏ phiếu, được xem là bước hoàn tất dân chủ hóa chính trị Mỹ.</li>
</ol>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Steven Levitsky &#038; Daniel Ziblatt:  NỀN DÂN CHỦ SẼ CHẾT NHƯ THẾ NÀO – Chương 5: HÀNG RÀO BẢO VỆ DÂN CHỦ</title>
		<link>https://t-van.net/steven-levitsky-daniel-ziblatt-nen-dan-chu-se-chet-nhu-the-nao-chuong-5-hang-rao-bao-ve-dan-chu/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[ChatGPT]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 18 Jun 2025 16:38:35 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[ChatGPT DỊCH THUẬT - TỦ SÁCH THẾ GIỚI]]></category>
		<category><![CDATA[Nền Dân Chủ Sẽ Chết Như Thế Nào]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=81323</guid>

					<description><![CDATA[GIỚI THIỆU TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM Nguyên Tác: HOW DEMOCRACIES DIE (2018) của&#160;Steven Levitsky &#38; Daniel Ziblatt (Chuyển ngữ tiếng Việt: ChatGPT; Hiệu đính (và chịu trách nhiệm): T.Vấn) Chương 5: HÀNG RÀO BẢO VỆ DÂN CHỦ Trong nhiều thế hệ, người Mỹ đã đặt niềm tin to lớn vào Hiến pháp của mình, [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/71nkYi9OL.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="667" height="1024" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/71nkYi9OL-667x1024.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-80750" style="width:379px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/06/71nkYi9OL-195x300.jpg 195w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/71nkYi9OL-667x1024.jpg?strip=all 667w, https://cdn.t-van.net/2025/06/71nkYi9OL-768x1179.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2025/06/71nkYi9OL-1001x1536.jpg 1001w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/71nkYi9OL.jpg?strip=all 1251w" sizes="(max-width: 667px) 100vw, 667px" /></a><figcaption class="wp-element-caption">Version 1.0.0</figcaption></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><strong><a href="https://t-van.net/steven-levitsky-daniel-ziblatt-nen-dan-chu-se-chet-nhu-the-nao/">GIỚI THIỆU TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM</a></strong></p>



<p><strong>Nguyên Tác: HOW DEMOCRACIES DIE (2018) của</strong>&nbsp;<strong>Steven Levitsky &amp; Daniel Ziblatt</strong></p>



<p><em>(Chuyển ngữ tiếng Việt: ChatGPT; Hiệu đính (và chịu trách nhiệm): T.Vấn)</em></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>Chương 5: HÀNG RÀO BẢO VỆ DÂN CHỦ</strong></p>



<p>Trong nhiều thế hệ, người Mỹ đã đặt niềm tin to lớn vào Hiến pháp của mình, xem đó là trung tâm của niềm tin rằng Hợp Chúng Quốc là một quốc gia được lựa chọn, được sự quan phòng dẫn dắt, là ngọn hải đăng của hy vọng và khả năng cho thế giới. Dù tầm nhìn rộng lớn đó có thể đang phai nhạt, niềm tin vào Hiến pháp vẫn còn mạnh mẽ. Một khảo sát năm 1999 cho thấy 85% người Mỹ tin rằng Hiến pháp là lý do chính khiến &#8220;nước Mỹ thành công trong thế kỷ vừa qua.&#8221; Thật vậy, hệ thống kiểm soát và cân bằng của chúng ta được thiết kế nhằm ngăn chặn các nhà lãnh đạo tích tụ và lạm dụng quyền lực, và trong phần lớn lịch sử Hoa Kỳ, điều này đã thành công. Việc Tổng thống Abraham Lincoln tập trung quyền lực trong Nội chiến đã bị Tòa án Tối cao đảo ngược sau khi chiến tranh kết thúc. Vụ nghe lén bất hợp pháp của Tổng thống Richard Nixon, bị phanh phui sau vụ đột nhập Watergate năm 1972, đã dẫn đến một cuộc điều tra quốc hội quy mô lớn và sức ép lưỡng đảng nhằm chỉ định một công tố viên đặc biệt, cuối cùng buộc ông phải từ chức để tránh bị luận tội chắc chắn xảy ra. Trong những trường hợp đó và các trường hợp khác, các thể chế chính trị của chúng ta đã đóng vai trò như những thành trì quan trọng chống lại xu hướng chuyên quyền.</p>



<p>Nhưng liệu các biện pháp bảo vệ hiến pháp, tự thân nó, có đủ để bảo đảm nền dân chủ? Chúng tôi tin rằng câu trả lời là không. Ngay cả những bản hiến pháp được thiết kế tốt đôi khi vẫn thất bại. Hiến pháp Weimar năm 1919 của Đức được soạn thảo bởi một số bộ óc pháp lý lỗi lạc nhất của đất nước. Truyền thống Rechtsstaat (&#8220;nhà nước pháp quyền&#8221;) lâu đời và được kính trọng của Đức từng được nhiều người xem là đủ để ngăn chặn lạm quyền. Nhưng cả hiến pháp lẫn Rechtsstaat đều sụp đổ nhanh chóng trước việc Adolf Hitler tiếm quyền vào năm 1933.</p>



<p>Hãy xem thêm kinh nghiệm của các quốc gia Mỹ Latinh hậu thuộc địa. Nhiều nước cộng hòa mới độc lập trong khu vực này đã mô phỏng trực tiếp theo Hoa Kỳ, áp dụng chế độ tổng thống kiểu Mỹ, cơ cấu lưỡng viện, tòa án tối cao, và trong một số trường hợp, cả đại cử tri đoàn và hệ thống liên bang. Một số quốc gia thậm chí còn soạn ra những bản hiến pháp gần như sao chép từ Hiến pháp Hoa Kỳ. Thế nhưng hầu hết các nước cộng hòa non trẻ đó đều rơi vào nội chiến và chế độ độc tài. Chẳng hạn, hiến pháp Argentina năm 1853 rất giống với của Mỹ: hai phần ba văn bản được lấy trực tiếp từ Hiến pháp Hoa Kỳ. Nhưng những sắp đặt hiến pháp đó chẳng giúp ngăn chặn được các cuộc bầu cử gian lận vào cuối thế kỷ XIX, các cuộc đảo chính quân sự vào năm 1930 và 1943, cũng như chế độ chuyên chế dân túy của Perón.</p>



<p>Tương tự, hiến pháp Philippines năm 1935 được mô tả là một &#8220;bản sao trung thành của Hiến pháp Hoa Kỳ.&#8221; Được soạn thảo dưới sự hướng dẫn thuộc địa của Mỹ và được Quốc hội Hoa Kỳ phê chuẩn, bản hiến chương này &#8220;là ví dụ mẫu mực về dân chủ tự do,&#8221; với tam quyền phân lập, tuyên ngôn quyền công dân, và giới hạn hai nhiệm kỳ tổng thống. Nhưng Tổng thống Ferdinand Marcos, người không muốn rời chức khi kết thúc nhiệm kỳ thứ hai, đã dễ dàng gạt bỏ nó sau khi tuyên bố thiết quân luật năm 1972.</p>



<p>Nếu chỉ cần luật lệ hiến pháp là đủ, thì các nhân vật như Perón, Marcos hay Getúlio Vargas ở Brazil — tất cả đều lên nắm quyền dưới các bản hiến pháp kiểu Mỹ với hệ thống kiểm soát và cân bằng đầy ấn tượng trên giấy tờ — đã chỉ làm tổng thống một hoặc hai nhiệm kỳ chứ không trở thành những nhà độc tài khét tiếng.</p>



<p>Ngay cả những hiến pháp được thiết kế tốt cũng không thể tự thân bảo đảm nền dân chủ. Thứ nhất, hiến pháp luôn không đầy đủ. Giống như bất kỳ bộ quy tắc nào, chúng có vô vàn lỗ hổng và điểm mơ hồ. Không một cuốn cẩm nang vận hành nào, dù chi tiết đến đâu, có thể dự liệu tất cả các tình huống có thể xảy ra hay quy định hành vi cho mọi hoàn cảnh.</p>



<p>Các quy định hiến pháp cũng luôn chịu sự diễn giải khác nhau. Chính xác thì &#8220;tham vấn và phê chuẩn&#8221; trong việc Thượng viện Hoa Kỳ bổ nhiệm thẩm phán Tối cao có nghĩa là gì? Cụm từ &#8220;trọng tội và hành vi sai trái&#8221; đặt ra ngưỡng luận tội như thế nào? Người Mỹ đã tranh luận về những câu hỏi như vậy hàng thế kỷ. Nếu quyền lực hiến định có thể được diễn giải theo nhiều cách, thì chúng có thể bị sử dụng theo những cách mà người lập hiến không hề lường trước.</p>



<p>Cuối cùng, lời văn trong hiến pháp có thể được tuân thủ một cách máy móc nhưng lại phá hoại tinh thần của pháp luật. Một trong những hình thức gây rối lao động hiệu quả nhất là chiến dịch &#8220;làm đúng hợp đồng,&#8221; trong đó công nhân chỉ làm đúng những gì được yêu cầu trong hợp đồng hoặc mô tả công việc và không hơn thế. Nói cách khác, họ tuân thủ đúng theo từng chữ của quy tắc. Gần như chắc chắn, hoạt động sẽ ngưng trệ.</p>



<p>Do bản chất không đầy đủ và nhiều mơ hồ vốn có của mọi hệ thống pháp lý, chúng ta không thể chỉ dựa vào hiến pháp để bảo vệ nền dân chủ trước những kẻ có xu hướng chuyên quyền. &#8220;Thượng Đế chưa bao giờ ban cho bất kỳ chính khách hay triết gia nào, hoặc một tập thể nào trong số họ,&#8221; cựu tổng thống Hoa Kỳ Benjamin Harrison từng viết, &#8220;sự khôn ngoan đủ để thiết kế nên một hệ thống chính quyền mà mọi người có thể bỏ mặc mà vẫn vận hành tốt.&#8221;</p>



<p>Điều đó đúng cả với hệ thống chính trị của chúng ta. Hiến pháp Hoa Kỳ, theo phần lớn các đánh giá, là một văn kiện tuyệt vời. Nhưng bản Hiến pháp gốc — chỉ dài bốn trang — có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Chúng ta, chẳng hạn, có rất ít biện pháp hiến định để ngăn chặn việc đưa người thân tín vào các cơ quan lẽ ra phải độc lập (như FBI). Theo các học giả luật hiến pháp Aziz Huq và Tom Ginsburg, chỉ có &#8220;lớp vỏ mỏng manh của thông lệ&#8221; mới ngăn được tổng thống Mỹ kiểm soát các trọng tài và sử dụng họ để trấn áp đối thủ. Tương tự, Hiến pháp gần như không nói gì về quyền lực đơn phương của tổng thống thông qua sắc lệnh hành pháp, cũng như không định nghĩa giới hạn quyền lực hành pháp trong thời kỳ khủng hoảng. Vì vậy, Huq và Ginsburg gần đây đã cảnh báo rằng &#8220;các biện pháp bảo vệ hiến pháp và pháp lý của nền dân chủ [Mỹ]&#8230; sẽ khá dễ bị thao túng nếu gặp phải một nhà lãnh đạo thực sự phản dân chủ.&#8221;</p>



<p>Nếu bản hiến pháp được viết tại Philadelphia năm 1787 không phải là yếu tố duy nhất giúp nền dân chủ Mỹ tồn tại bền vững suốt thời gian dài, thì điều gì đã làm được điều đó? Có nhiều yếu tố: sự giàu có của đất nước, tầng lớp trung lưu lớn mạnh, và một xã hội dân sự sôi động. Nhưng chúng tôi tin rằng một phần quan trọng của câu trả lời nằm ở sự phát triển của các chuẩn mực dân chủ mạnh mẽ. Tất cả các nền dân chủ thành công đều dựa vào các quy tắc phi chính thức, dù không được ghi trong hiến pháp hay bất kỳ văn bản luật nào, nhưng vẫn được xã hội công nhận và tôn trọng rộng rãi. Trong trường hợp nền dân chủ Hoa Kỳ, điều này đã giữ vai trò thiết yếu.</p>



<p>&#8212;</p>



<p>Cũng như trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội — từ đời sống gia đình đến hoạt động của doanh nghiệp và đại học — những quy tắc bất thành văn đóng vai trò vô cùng to lớn trong chính trị. Để hiểu cách thức chúng vận hành, hãy nghĩ đến ví dụ về một trận bóng rổ đường phố. Bóng rổ đường phố không được điều hành theo luật của NBA, NCAA, hay bất kỳ giải đấu nào khác. Cũng không có trọng tài để thi hành luật lệ. Chỉ có những hiểu biết chung về điều gì được chấp nhận, điều gì không — đó là thứ duy trì trật tự và ngăn trận đấu rơi vào hỗn loạn. Những ai từng chơi bóng rổ nửa sân đều quen thuộc với các quy tắc bất thành văn cơ bản:</p>



<p>• Tính điểm theo đơn vị 1 điểm, chứ không phải 2 điểm như trong bóng rổ chính thức, và đội thắng phải thắng cách biệt 2 điểm.</p>



<p>• Đội ghi bàn sẽ giữ quyền kiểm soát bóng (&#8220;ghi bàn, giữ bóng&#8221;). Sau khi ghi bàn, đội này đưa bóng ra đầu vòng cung và “kiểm bóng” bằng cách chuyền cho cầu thủ đối phương gần nhất để xác nhận sự sẵn sàng của hai bên.</p>



<p>• Cầu thủ bắt đầu với bóng không được ném rổ, mà phải chuyền bóng đi.</p>



<p>• Các cầu thủ tự gọi lỗi, nhưng phải tiết chế; chỉ những lỗi nghiêm trọng mới bị coi là hợp lệ (“không đổ máu thì không tính lỗi”). Nhưng khi đã có người gọi lỗi, thì phải tôn trọng quyết định đó.</p>



<p>Dĩ nhiên, dân chủ không phải là bóng rổ đường phố. Các nền dân chủ có luật thành văn (hiến pháp) và trọng tài (tòa án). Nhưng những điều này chỉ hoạt động hiệu quả và bền vững ở những quốc gia nơi hiến pháp thành văn được củng cố bởi chính các quy tắc bất thành văn riêng của nền dân chủ. Những quy tắc hay chuẩn mực này đóng vai trò như các “lan can mềm” bảo vệ nền dân chủ, ngăn cản sự cạnh tranh chính trị hàng ngày trượt thành xung đột vô giới hạn.</p>



<p>Chuẩn mực không chỉ là những thiên hướng cá nhân. Chúng không đơn thuần dựa vào tính cách tốt của các nhà lãnh đạo chính trị, mà là các quy tắc ứng xử được chia sẻ, trở thành tri thức chung trong một cộng đồng hay xã hội nào đó — được thừa nhận, tôn trọng và duy trì bởi các thành viên trong cộng đồng ấy. Vì là bất thành văn, chúng thường rất khó nhận thấy, đặc biệt là khi đang vận hành tốt. Điều này có thể đánh lừa chúng ta khiến nghĩ rằng chúng là thứ không cần thiết. Nhưng không gì sai lầm hơn thế. Cũng như oxy hay nước sạch, tầm quan trọng của một chuẩn mực chỉ thực sự lộ diện khi nó biến mất. Khi các chuẩn mực mạnh, sự vi phạm sẽ bị lên án, từ cái lắc đầu, chế giễu đến phê phán công khai và thậm chí bị cô lập. Và các chính trị gia vi phạm chuẩn mực có thể sẽ phải trả giá.</p>



<p>Những quy tắc bất thành văn tồn tại khắp nơi trong chính trị Hoa Kỳ, từ hoạt động của Thượng viện và Đại cử tri đoàn cho đến hình thức tổ chức họp báo của tổng thống. Nhưng có hai chuẩn mực nổi bật, đóng vai trò nền tảng cho một nền dân chủ vận hành tốt: sự khoan dung lẫn nhau và tiết chế thể chế.</p>



<p>—</p>



<p>Sự khoan dung lẫn nhau (mutual toleration) đề cập đến ý niệm rằng miễn là các đối thủ của ta tuân thủ hiến pháp, thì ta phải chấp nhận rằng họ có quyền tồn tại, cạnh tranh giành quyền lực và cầm quyền ngang bằng như ta. Ta có thể bất đồng, thậm chí rất ghét đối thủ, nhưng vẫn phải công nhận tính chính danh của họ. Điều này có nghĩa là thừa nhận rằng đối thủ chính trị của ta là những công dân lương thiện, yêu nước, tôn trọng hiến pháp — cũng như chính ta. Có thể ta cho rằng các ý tưởng của họ là ngớ ngẩn hay sai lầm, nhưng không vì thế mà xem họ như mối đe dọa tồn vong. Ta cũng không xem họ là những kẻ phản quốc, lật đổ, hay là những phần tử nằm ngoài giới hạn chấp nhận được. Có thể ta sẽ rơi nước mắt vào đêm bầu cử khi đối phương chiến thắng, nhưng ta không coi đó là ngày tận thế. Nói cách khác, sự khoan dung lẫn nhau là sự sẵn sàng của các chính trị gia trong việc đồng ý bất đồng.</p>



<p>Nghe thì có vẻ hợp lẽ thường, nhưng niềm tin rằng đối thủ chính trị không phải là kẻ thù thực sự là một phát minh phi thường và tinh tế. Trong phần lớn lịch sử, chống lại những người cầm quyền đồng nghĩa với phản quốc, và trên thực tế, ý niệm về sự tồn tại hợp pháp của đảng đối lập vẫn còn là điều dị giáo vào thời lập quốc của Hoa Kỳ. Cả hai phía trong cuộc chiến đảng phái đầu tiên của nước Mỹ — phe Liên bang của John Adams và phe Cộng hòa của Thomas Jefferson — đều coi bên kia là mối đe dọa cho nền cộng hòa. Phe Liên bang tự xem mình là hiện thân của Hiến pháp; theo họ, ai phản đối họ là phản đối toàn bộ dự án của nước Mỹ. Do đó, khi Jefferson và Madison tổ chức những gì sau này trở thành Đảng Cộng hòa, phe Liên bang xem họ là kẻ phản quốc, thậm chí nghi ngờ họ trung thành với nước Pháp cách mạng — quốc gia mà Hoa Kỳ gần như đã tuyên chiến. Về phần mình, phe Jefferson tố cáo phe Liên bang là bọn thân Anh và âm mưu khôi phục chế độ quân chủ. Cả hai phía đều mong tiêu diệt bên kia, và đã thực hiện những biện pháp như Đạo luật Ngoại kiều và Nổi loạn năm 1798 để trừng phạt sự phản đối chính trị thuần túy. Tranh chấp đảng phái khốc liệt đến mức nhiều người lo sợ nền cộng hòa non trẻ sẽ sụp đổ. Chỉ dần dần, qua nhiều thập kỷ, các đảng đối lập của nước Mỹ mới đạt đến nhận thức khó khăn rằng họ có thể là đối thủ chứ không phải kẻ thù, có thể thay nhau cầm quyền chứ không cần tiêu diệt lẫn nhau. Nhận thức đó chính là nền tảng quan trọng của nền dân chủ Mỹ.</p>



<p>Nhưng sự khoan dung lẫn nhau không phải là điều tự nhiên có ở mọi nền dân chủ. Khi Tây Ban Nha trải qua cuộc chuyển đổi dân chủ đầu tiên thực sự vào năm 1931, hy vọng từng rất lớn. Chính phủ Cộng hòa mới có khuynh hướng thiên tả, do Thủ tướng Manuel Azaña lãnh đạo, cam kết theo đuổi nền dân chủ nghị viện. Nhưng chính phủ phải đối mặt với một xã hội bị phân cực sâu sắc, từ các nhóm vô chính phủ và cộng sản ở cánh tả đến phe quân chủ và phát xít ở cánh hữu. Các phe đối lập không xem nhau như đối thủ chính trị mà như những kẻ thù sống còn. Một mặt, những người Công giáo bảo thủ và phe quân chủ — những người kinh hãi chứng kiến các đặc quyền của các thể chế xã hội mà họ quý trọng nhất (Giáo hội, quân đội và chế độ quân chủ) bị dỡ bỏ — đã không công nhận nền cộng hòa mới là hợp pháp. Họ xem bản thân, theo lời một sử gia, như đang tham gia vào một trận chiến chống lại &#8220;các đặc vụ ngoại bang theo kiểu Bolshevik.&#8221; Tình trạng bất ổn ở nông thôn và hàng trăm vụ đốt phá các nhà thờ, tu viện và cơ sở Công giáo khiến giới bảo thủ cảm thấy bị bao vây và rơi vào tâm trạng hoang mang âm mưu. Các lãnh đạo tôn giáo cảnh báo u ám rằng: &#8220;Giờ đây chúng ta đã bước vào vòng xoáy&#8230; chúng ta phải sẵn sàng cho mọi thứ.&#8221;</p>



<p>Mặt khác, nhiều người thuộc phe Xã hội chủ nghĩa và các đảng Cộng hòa thiên tả khác coi các nhân vật cánh hữu như José María Gil-Robles — lãnh đạo của Liên đoàn Cánh hữu Tự trị Tây Ban Nha (CEDA), một liên minh Công giáo bảo thủ — là những kẻ quân chủ hay phát xít phản cách mạng. Ít nhất thì nhiều người trong phe tả xem CEDA như bình phong cho những người quân chủ cực đoan đang âm mưu lật đổ cộng hòa bằng vũ lực. Dù CEDA có vẻ sẵn sàng chơi theo luật dân chủ qua việc tham gia bầu cử, các lãnh đạo của họ lại từ chối cam kết rõ ràng và vô điều kiện với chế độ mới. Vì vậy, họ tiếp tục là mục tiêu bị nghi kỵ nặng nề. Tóm lại, cả phe Cộng hòa thiên tả lẫn những người Công giáo và quân chủ cánh hữu đều không thực sự công nhận nhau là đối thủ hợp pháp.</p>



<p>Khi các chuẩn mực về sự khoan dung lẫn nhau yếu kém, dân chủ rất khó duy trì. Nếu chúng ta coi đối thủ là mối đe dọa nghiêm trọng, chúng ta sẽ rất lo sợ khi họ được bầu lên. Khi ấy, ta có thể quyết định sử dụng mọi biện pháp cần thiết để đánh bại họ — và từ đó có cớ để áp dụng các biện pháp độc tài. Những chính trị gia bị gán là tội phạm hay phản động có thể bị bỏ tù; những chính phủ bị cho là đe dọa đất nước có thể bị lật đổ.</p>



<p>Khi không có những chuẩn mực mạnh mẽ về sự khoan dung lẫn nhau, nền Cộng hòa Tây Ban Nha nhanh chóng sụp đổ. Cộng hòa mới rơi vào khủng hoảng sau khi CEDA cánh hữu thắng cử năm 1933 và trở thành khối lớn nhất trong quốc hội. Liên minh cầm quyền trung tả tan rã và được thay bằng một chính phủ trung dung thiểu số loại trừ phe Xã hội chủ nghĩa. Vì nhiều người Xã hội chủ nghĩa và Cộng hòa thiên tả coi chính phủ trung tả ban đầu (1931–1933) là hiện thân của nền cộng hòa, họ xem những nỗ lực bãi bỏ hoặc thay đổi chính sách của chính phủ đó là hành vi &#8220;phản bội&#8221; cộng hòa. Và khi CEDA — với một lực lượng thanh niên có khuynh hướng phát xít trong hàng ngũ — gia nhập chính phủ năm sau, nhiều người Cộng hòa xem đó là mối đe dọa nghiêm trọng. Đảng Cộng hòa thiên tả tuyên bố rằng:</p>



<p>“Việc trao quyền chính phủ của Cộng hòa cho kẻ thù của nó là một hành động phản bội. [Chúng tôi] đoạn tuyệt mọi liên đới với các thiết chế hiện hành của chế độ và khẳng định quyết định dùng mọi phương tiện để bảo vệ nền Cộng hòa.”</p>



<p>Đối mặt với điều mà họ xem là sự trượt dài vào chủ nghĩa phát xít, các lực lượng cánh tả và vô chính phủ nổi dậy ở Catalonia và Asturias, phát động tổng đình công và thành lập chính quyền song song. Chính phủ cánh hữu đàn áp cuộc nổi dậy bằng bạo lực. Sau đó, họ tìm cách gắn toàn bộ phe đối lập Cộng hòa với cuộc nổi dậy này, thậm chí bắt giữ cựu Thủ tướng Azaña (người không tham gia cuộc nổi dậy). Đất nước rơi vào tình trạng xung đột ngày càng bạo lực, nơi các cuộc đấu tranh đường phố, đánh bom, đốt nhà thờ, ám sát chính trị và các âm mưu đảo chính thay thế cho cạnh tranh chính trị. Đến năm 1936, nền dân chủ non trẻ của Tây Ban Nha đã suy thoái thành một cuộc nội chiến.</p>



<p>Gần như trong mọi trường hợp dân chủ sụp đổ mà chúng tôi nghiên cứu, những kẻ độc tài tiềm tàng — từ Franco, Hitler và Mussolini ở châu Âu giữa hai cuộc chiến tranh thế giới đến Marcos, Castro và Pinochet trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, và gần đây hơn là Putin, Chávez và Erdoğan — đều biện minh cho việc củng cố quyền lực của họ bằng cách gán cho đối thủ là mối đe dọa sống còn.</p>



<p>Chuẩn mực thứ hai có vai trò sống còn đối với sự tồn tại của dân chủ là điều chúng tôi gọi là &#8220;kiềm chế thể chế&#8221; (institutional forbearance). Kiềm chế, theo nghĩa thông thường, là “sự tự chủ kiên nhẫn; sự tiết chế và khoan dung,” hay “việc kiềm chế không sử dụng một quyền hợp pháp.” Trong bối cảnh này, kiềm chế thể chế có thể hiểu là tránh các hành động mà tuy hợp pháp về mặt hình thức nhưng rõ ràng đi ngược lại tinh thần của luật pháp. Khi chuẩn mực kiềm chế được duy trì mạnh mẽ, các chính trị gia không tận dụng đến cùng các đặc quyền thể chế của họ, ngay cả khi về mặt kỹ thuật họ có thể làm như vậy, vì những hành động đó có thể đe dọa hệ thống hiện hữu.</p>



<p>Kiềm chế thể chế bắt nguồn từ một truyền thống còn lâu đời hơn cả dân chủ. Khi các vị vua tuyên bố quyền lực thiêng liêng từ trời ban — nơi tính chính danh của vương quyền xuất phát từ sự thánh hóa tôn giáo — thì quyền lực của họ không bị giới hạn bởi bất kỳ ràng buộc pháp lý trần tục nào. Tuy nhiên, nhiều quốc vương trước thời dân chủ ở châu Âu vẫn hành xử với sự kiềm chế. Để được xem là một vị vua “mộ đạo,” người ta phải thể hiện sự khôn ngoan và tiết độ. Khi một nhân vật như Vua Richard II — được Shakespeare khắc họa như một bạo chúa trong một trong những vở kịch lịch sử nổi tiếng nhất của ông — lạm dụng đặc quyền vương quyền để chiếm đoạt và cướp bóc, thì những hành vi ấy không bất hợp pháp, nhưng chúng vi phạm thông lệ. Và hậu quả là nghiêm trọng: chúng dẫn đến một cuộc nội chiến đẫm máu. Như nhân vật Carlisle trong vở kịch của Shakespeare cảnh báo, việc từ bỏ sự kiềm chế sẽ khiến “máu của người Anh tưới đẫm mặt đất… Và các thế hệ mai sau sẽ than khóc vì hành vi ô nhục này.”</p>



<p>Cũng giống như các chế độ quân chủ thần quyền cần sự kiềm chế, các nền dân chủ cũng vậy. Hãy hình dung dân chủ như một trò chơi mà chúng ta muốn tiếp tục chơi mãi mãi. Để đảm bảo những ván chơi tiếp theo, các bên tham gia phải tránh làm tê liệt đối thủ hoặc khiêu khích họ đến mức khiến họ không muốn chơi tiếp. Nếu đối thủ bỏ cuộc, sẽ không còn trò chơi nào nữa. Điều này có nghĩa là dù mỗi người đều muốn thắng, họ cũng phải có một mức độ tiết chế nhất định. Trong một trận bóng rổ tự phát, ta có thể chơi quyết liệt, nhưng ai cũng biết không nên phạm lỗi quá mức — và chỉ nên gọi lỗi khi nó thực sự nghiêm trọng. Rốt cuộc, ta đến sân để chơi bóng, không phải để gây sự. Trong chính trị cũng vậy, điều đó có nghĩa là từ chối sử dụng thủ đoạn tiểu xảo hay lối chơi sát phạt vì tinh thần lịch thiệp và công bằng.</p>



<p>Kiềm chế thể chế trông như thế nào trong các nền dân chủ? Hãy xét đến cách thành lập chính phủ ở Anh. Như học giả hiến pháp Keith Whittington nhắc nhở, việc chọn Thủ tướng Anh “vẫn là đặc quyền hoàng gia. Về hình thức, Hoàng gia có thể chọn bất kỳ ai để đảm nhiệm vị trí này và thành lập chính phủ.” Nhưng trên thực tế, thủ tướng luôn là một thành viên Quốc hội có thể giành được đa số phiếu trong Hạ viện — thường là lãnh đạo của đảng lớn nhất. Ngày nay, chúng ta xem điều đó là hiển nhiên, nhưng trong suốt nhiều thế kỷ, Hoàng gia đã tuân thủ thông lệ này một cách tự nguyện. Đến nay vẫn chưa có quy định bằng văn bản nào.</p>



<p>Hoặc hãy nói về giới hạn nhiệm kỳ tổng thống. Trong phần lớn lịch sử nước Mỹ, giới hạn hai nhiệm kỳ không phải là luật mà là một chuẩn mực kiềm chế. Trước khi Tu chính án thứ hai mươi hai được phê chuẩn vào năm 1951, không có điều khoản nào trong Hiến pháp yêu cầu tổng thống phải rời nhiệm sở sau hai nhiệm kỳ. Nhưng việc George Washington tự nguyện nghỉ hưu sau hai nhiệm kỳ vào năm 1797 đã tạo ra một tiền lệ mạnh mẽ. Như Thomas Jefferson, vị tổng thống đầu tiên tuân theo chuẩn mực này, đã quan sát:</p>



<p>“Nếu Hiến pháp không quy định hoặc thông lệ không hình thành giới hạn nhiệm kỳ cho Tổng thống, thì chức vụ này, danh nghĩa là bốn năm, trên thực tế sẽ trở thành suốt đời… Tôi không muốn là người, vì phớt lờ tiền lệ sáng suốt của một bậc tiền bối vĩ đại, mà trở thành ví dụ đầu tiên về việc kéo dài nhiệm kỳ vượt quá hai nhiệm kỳ.”</p>



<p>Một khi được thiết lập, giới hạn hai nhiệm kỳ mang tính không chính thức này tỏ ra bền vững một cách đáng kinh ngạc. Ngay cả những tổng thống đầy tham vọng và được ủng hộ như Jefferson, Andrew Jackson hay Ulysses S. Grant cũng không thách thức chuẩn mực này. Khi bạn bè của Grant khuyến khích ông tranh cử nhiệm kỳ thứ ba, điều đó gây ra làn sóng phản đối, và Hạ viện đã thông qua một nghị quyết tuyên bố:</p>



<p>“Tiền lệ được thiết lập bởi Washington và các tổng thống khác… khi rời nhiệm sở sau nhiệm kỳ thứ hai đã trở thành… một phần của hệ thống cộng hòa của chúng ta… [B]ất kỳ sự sai lệch nào khỏi thông lệ lâu đời này sẽ là không khôn ngoan, không yêu nước, và đầy hiểm họa đối với các thể chế tự do của chúng ta.”</p>



<p>Tương tự, Đảng Dân chủ đã từ chối đề cử Grover Cleveland cho nhiệm kỳ thứ ba không liên tiếp vào năm 1892, cho rằng một ứng cử như vậy sẽ vi phạm một “luật bất thành văn.” Chỉ có việc tái đắc cử của FDR năm 1940 mới thực sự vi phạm chuẩn mực — và chính sự vi phạm đó đã dẫn đến việc thông qua Tu chính án thứ hai mươi hai.</p>



<p>Các chuẩn mực kiềm chế đặc biệt quan trọng trong các nền dân chủ tổng thống. Như Juan Linz đã lập luận, chính phủ chia rẽ có thể dễ dàng dẫn đến bế tắc, rối loạn chức năng và khủng hoảng hiến pháp. Một tổng thống không bị kiềm chế có thể thao túng Tối cao Pháp viện hoặc vượt mặt Quốc hội bằng các sắc lệnh hành pháp. Và một Quốc hội không bị kiểm soát có thể chặn đứng mọi hành động của tổng thống, đe dọa gây hỗn loạn bằng cách từ chối cấp ngân sách cho chính phủ hoặc bỏ phiếu phế truất tổng thống vì những lý do mơ hồ.</p>



<p>Đối lập với kiềm chế là việc khai thác các đặc quyền thể chế một cách không giới hạn. Học giả luật pháp Mark Tushnet gọi điều này là “trò chơi hiến pháp sát phạt” (constitutional hardball): chơi đúng luật nhưng đẩy các giới hạn đến cực điểm và “chơi để tiêu diệt.” Đây là hình thức đấu tranh thể chế nhằm đánh bại đối thủ phe phái một cách vĩnh viễn — mà không màng đến việc liệu trò chơi dân chủ có còn tiếp diễn.</p>



<p>Các tổng thống Argentina từ lâu đã là bậc thầy trong trò chơi sát phạt hiến pháp. Những năm 1940, Tổng thống Juan Perón đã dùng đa số ghế của mình trong quốc hội để luận tội ba trong số năm thẩm phán Tối cao Pháp viện, lợi dụng tối đa một điều khoản hiến pháp mơ hồ quy định “hành vi sai trái” là căn cứ để luận tội. Gần nửa thế kỷ sau, Tổng thống Carlos Menem cũng thể hiện sự táo bạo tương tự trong việc đẩy giới hạn. Hiến pháp Argentina năm 1853 không quy định rõ quyền của tổng thống trong việc ban hành sắc lệnh. Trước đây, các tổng thống được bầu chỉ sử dụng quyền này một cách dè dặt, ban hành tổng cộng 25 sắc lệnh từ năm 1853 đến 1989. Menem thì không dè dặt như vậy, ông ban hành tới 336 sắc lệnh chỉ trong chưa đầy một nhiệm kỳ tổng thống.</p>



<p>Tư pháp cũng có thể bị sử dụng như một công cụ của trò chơi sát phạt hiến pháp. Sau khi các đảng đối lập giành được quyền kiểm soát quốc hội Venezuela trong cuộc bầu cử vang dội tháng 12 năm 2015, họ hy vọng dùng cơ quan lập pháp để kiểm soát quyền lực của tổng thống độc tài Nicolás Maduro. Vì vậy, quốc hội mới đã thông qua một đạo luật ân xá cho 120 tù nhân chính trị và bỏ phiếu phản đối việc Maduro ban bố tình trạng khẩn cấp kinh tế (trao cho ông quyền cai trị bằng sắc lệnh). Để chống lại thách thức này, Maduro quay sang Tối cao Pháp viện, nơi đầy rẫy những người trung thành. Tòa án do phe chavista kiểm soát đã làm tê liệt cơ quan lập pháp bằng cách tuyên bố gần như tất cả các dự luật của quốc hội — bao gồm cả luật ân xá, các nỗ lực sửa đổi ngân sách quốc gia, và việc phản đối tình trạng khẩn cấp — là vi hiến. Theo báo El Tiempo của Colombia, tòa án đã ra phán quyết chống lại quốc hội tới hai mươi tư lần chỉ trong sáu tháng, bác bỏ “tất cả các đạo luật mà họ đã thông qua.”</p>



<p>***</p>



<p>Quốc hội cũng có thể lạm dụng đặc quyền hiến định của mình. Hãy xét trường hợp luận tội Tổng thống Fernando Lugo năm 2012 ở Paraguay. Lugo, một cựu linh mục cánh tả, được bầu làm tổng thống năm 2008, chấm dứt 61 năm cầm quyền của Đảng Colorado. Là người ngoài cuộc và không có nhiều bạn bè trong quốc hội, Lugo liên tục đối mặt với các nỗ lực luận tội trong suốt nhiệm kỳ của mình. Những nỗ lực đó cuối cùng đã thành công vào năm 2012, sau khi sự ủng hộ dành cho ông sụt giảm và các đồng minh Tự do trước đây quay lưng với ông. Ngòi nổ là một cuộc đụng độ bạo lực giữa cảnh sát và những người nông dân chiếm đất, khiến 17 người thiệt mạng. Dù những vụ bạo lực tương tự đã xảy ra dưới thời các chính phủ trước đó, phe đối lập vẫn dùng sự kiện này để lật đổ Lugo. Ngày 21 tháng 6, chỉ sáu ngày sau vụ đụng độ, hạ viện bỏ phiếu luận tội Lugo với lý do &#8220;thi hành nhiệm vụ kém hiệu quả.&#8221; Ngày hôm sau, sau một phiên xét xử vội vã trong đó tổng thống chỉ có hai giờ để tự bào chữa, Lugo bị thượng viện phế truất. Theo một nhà quan sát, phiên tòa là một &#8220;trò hề rõ ràng&#8230; Việc luận tội Lugo thậm chí còn chưa đạt đến mức một phiên tòa trình diễn.&#8221; Tuy nhiên, về mặt hình thức pháp lý, điều đó là hợp hiến.</p>



<p>Một điều tương tự đã xảy ra ở Ecuador vào những năm 1990. Tổng thống Abdalá Bucaram là một nhà dân túy, nổi lên bằng cách công kích giới tinh hoa chính trị của Ecuador. Có biệt danh El Loco (&#8220;Kẻ điên&#8221;), Bucaram sống bằng những vụ bê bối, điều này đã thử thách sự kiên nhẫn của các đối thủ. Trong vài tháng đầu tiên nắm quyền, ông bổ nhiệm người thân, gọi cựu tổng thống Rodrigo Borja là &#8220;con lừa&#8221; và cho phát miễn phí sữa hộp mang tên mình. Dù gây tranh cãi, những việc này chắc chắn không phải là lý do để bị luận tội. Tuy vậy, những nỗ lực phế truất Bucaram bắt đầu chỉ vài tuần sau khi ông nhậm chức. Khi phe đối lập nhận ra rằng họ không đủ hai phần ba số phiếu cần thiết để luận tội, họ đã tìm ra một giải pháp hợp hiến nhưng đầy nghi vấn: hiến pháp Ecuador năm 1979 cho phép đa số đơn giản trong quốc hội phế truất tổng thống với lý do &#8220;mất năng lực tâm thần.&#8221; Ngày 6 tháng 2 năm 1997, quốc hội đã làm điều đó. Không cần tranh luận liệu Bucaram có thực sự bị rối loạn tâm thần hay không, họ đã bỏ phiếu phế truất ông — rõ ràng là một hành vi vi phạm tinh thần của hiến pháp.</p>



<p>Hoa Kỳ cũng từng chứng kiến những trò chơi hiến định kiểu như vậy. Như đã đề cập, sau khi Tu chính án thứ 14 và 15 chính thức thiết lập quyền bầu cử cho nam giới, các cơ quan lập pháp do Đảng Dân chủ kiểm soát ở miền Nam đã tìm cách mới để tước quyền bầu cử của người Mỹ gốc Phi. Hầu hết các biện pháp như thuế bầu cử và bài kiểm tra trình độ đọc viết đều được xem là hợp hiến, nhưng rõ ràng chúng đi ngược lại tinh thần của hiến pháp. Như nhà lập pháp bang Alabama Anthony D. Sayre tuyên bố khi giới thiệu dự luật: luật của ông sẽ &#8220;loại người da đen khỏi chính trị, một cách hoàn toàn hợp pháp.&#8221;</p>



<p>***</p>



<p>Khoan dung lẫn nhau và tự kiềm chế thể chế có mối liên hệ mật thiết. Đôi khi, chúng củng cố lẫn nhau. Các chính trị gia sẽ có xu hướng tự kiềm chế nhiều hơn khi họ công nhận đối thủ là đối thủ hợp pháp, và khi không xem đối thủ là kẻ phá hoại, họ sẽ ít bị cám dỗ phá vỡ chuẩn mực để giữ họ ngoài vòng quyền lực. Những hành vi tự kiềm chế — chẳng hạn như một Thượng viện do Đảng Cộng hòa kiểm soát chấp thuận ứng viên Tối cao Pháp viện của một tổng thống Dân chủ — sẽ củng cố lòng tin rằng phe bên kia là có thể chấp nhận được, tạo ra một vòng tròn tích cực.</p>



<p>Nhưng điều ngược lại cũng có thể xảy ra. Sự xói mòn lòng khoan dung lẫn nhau có thể thúc đẩy các chính trị gia tận dụng tối đa quyền lực hiến định của mình. Khi các đảng phái xem nhau là kẻ thù sinh tử, mức độ căng thẳng của cạnh tranh chính trị sẽ gia tăng mạnh. Thua cuộc không còn là một phần bình thường và được chấp nhận của quá trình chính trị, mà trở thành một thảm họa toàn diện. Khi cái giá phải trả cho thất bại được cảm nhận là quá lớn, các chính trị gia sẽ bị cám dỗ từ bỏ kiềm chế. Những hành vi chính trị hiến định mang tính đối kháng cực đoan sẽ tiếp tục làm xói mòn lòng khoan dung lẫn nhau, củng cố niềm tin rằng đối thủ là một mối đe dọa nguy hiểm.</p>



<p>Kết quả là chính trị không còn rào chắn — điều mà nhà lý luận chính trị Eric Nelson mô tả là &#8220;chuỗi leo thang bế tắc hiến định.&#8221; Vậy nền chính trị như vậy trông ra sao? Nelson đưa ra một ví dụ: sự sụp đổ của chế độ quân chủ của Charles I ở Anh trong những năm 1640. Một cuộc xung đột tôn giáo giữa Hoàng gia, Giáo hội Anh và các tín đồ Thanh giáo trong Quốc hội dẫn đến những cáo buộc qua lại về dị giáo và phản quốc, làm đổ vỡ những chuẩn mực từng nâng đỡ chế độ quân chủ Anh. Truyền thống hiến pháp của Anh trao cho Quốc hội độc quyền thu thuế để điều hành chính phủ. Nhưng Quốc hội, vì xem Charles là kẻ quá gần gũi với giáo hoàng, đã từ chối cung cấp ngân sách trừ khi ông chấp thuận một loạt yêu sách sâu rộng, trong đó có việc gần như giải thể Giáo hội Anh. Quốc hội vẫn giữ lập trường đó ngay cả khi Anh bị người Scotland xâm lược và cần ngân sách gấp để phòng vệ quốc gia. Charles đáp lại hành vi phá vỡ chuẩn mực đó bằng những hành vi phá vỡ chuẩn mực khác: ông giải tán Quốc hội và cai trị suốt 11 năm không cần nó. Như Nelson nhận xét, &#8220;Tại không thời điểm nào… Charles tuyên bố có quyền làm luật mà không cần quốc hội.&#8221; Thay vào đó, ông &#8220;chỉ cố gắng cai trị mà không cần thông qua luật mới nào.&#8221; Cuối cùng, nhu cầu về ngân sách khiến Charles phải vượt mặt quyền đánh thuế của Quốc hội, điều này càng làm phe đối lập giận dữ và trở nên không khoan nhượng khi Quốc hội được triệu tập lại năm 1640. Nelson kết luận: &#8220;Chuỗi leo thang đối đầu giữa lập pháp và hoàng gia tiếp tục cho đến khi chỉ có thể được giải quyết bằng chiến tranh.&#8221; Cuộc nội chiến sau đó đã chấm dứt chế độ quân chủ Anh và cướp đi mạng sống của Charles.</p>



<p>Một trong những ví dụ bi thảm nhất về sự sụp đổ dân chủ trong lịch sử là ở Chile. Trước cuộc đảo chính năm 1973, Chile là nền dân chủ lâu đời và thành công nhất ở Mỹ Latinh, được duy trì nhờ các chuẩn mực dân chủ mạnh mẽ. Mặc dù các đảng phái chính trị ở Chile trải dài từ cánh tả Marxist đến cánh hữu phản động, một &#8220;văn hóa thỏa hiệp&#8221; đã chiếm ưu thế trong phần lớn thế kỷ XX. Như phóng viên Pamela Constable và nhà khoa học chính trị Arturo Valenzuela của Chile nhận xét:</p>



<p>&#8220;Truyền thống pháp quyền mạnh mẽ của Chile đã giữ cho sự cạnh tranh nằm trong khuôn khổ quy tắc và nghi thức nhất định, làm dịu đi sự thù hằn giai cấp và xung đột ý thức hệ. Không có cuộc tranh luận nào, người ta nói, mà không thể giải quyết bằng một chai rượu vang cabernet của Chile.&#8221;</p>



<p>Bắt đầu từ thập niên 1960, văn hóa thỏa hiệp của Chile bị căng thẳng bởi sự phân cực trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh. Một số người cánh tả, được truyền cảm hứng từ Cách mạng Cuba, bắt đầu coi truyền thống chính trị dung hòa của đất nước là lỗi thời và mang tính tư sản. Trong khi đó, nhiều người cánh hữu bắt đầu lo sợ rằng nếu liên minh cánh tả Unidad Popular lên nắm quyền, Chile sẽ trở thành một Cuba thứ hai. Đến cuộc bầu cử tổng thống năm 1970, những căng thẳng này đã lên đến đỉnh điểm. Ứng cử viên của Unidad Popular, Salvador Allende, phải đối mặt với điều mà đối thủ của ông từ Đảng Dân chủ Thiên chúa giáo, Radomiro Tomic, mô tả là một &#8220;chiến dịch thù hận khổng lồ&#8221; trên truyền thông, thứ đã &#8220;có hệ thống thổi bùng nỗi sợ hãi&#8221; trong giới cánh hữu.</p>



<p>Allende giành chiến thắng, và mặc dù ông cam kết bảo vệ dân chủ, viễn cảnh ông làm tổng thống đã khiến giới bảo thủ hoảng loạn. Đảng Cộng hòa Tổ quốc và Tự do cực hữu yêu cầu ngăn chặn Allende lên nắm quyền bằng bất cứ giá nào, và Đảng Quốc gia cánh hữu, được CIA tài trợ, đã sử dụng chiến thuật mạnh tay ngay cả trước khi ông nhậm chức. Hiến pháp Chile quy định rằng nếu không có ứng viên tổng thống nào giành được ít nhất 50% số phiếu, quốc hội sẽ là bên quyết định kết quả; Allende chỉ giành được 36%. Mặc dù chuẩn mực truyền thống quy định quốc hội sẽ chọn ứng viên dẫn đầu, không có quy định luật pháp nào bắt buộc như vậy. Từ bỏ sự kiềm chế, Đảng Quốc gia đã cố thuyết phục Đảng Dân chủ Thiên chúa giáo trung dung bỏ phiếu cho ứng viên của họ là Jorge Alessandri, người về nhì sát sao. Đảng Dân chủ Thiên chúa giáo từ chối, nhưng để đổi lấy sự ủng hộ của họ, họ buộc Allende phải ký một Đạo luật Bảo đảm Hiến pháp, yêu cầu tổng thống tôn trọng bầu cử tự do và các quyền tự do dân sự như tự do báo chí. Yêu cầu này xét ra là hợp lý, nhưng như nhà khoa học chính trị Arturo Valenzuela nhận xét, nó đã &#8220;đánh dấu sự đổ vỡ trong sự thấu hiểu lẫn nhau&#8221; giữa các nhà lãnh đạo &#8220;vốn trước đó tôn trọng các quy tắc ngầm của cuộc chơi&#8221;.</p>



<p>Nhiệm kỳ tổng thống của Allende chứng kiến sự tiếp diễn của sự xói mòn các chuẩn mực dân chủ. Vì không có đa số trong cơ quan lập pháp, chính phủ của ông không thể triển khai đầy đủ chương trình xã hội chủ nghĩa của mình. Do đó, Allende đã khai thác quyền lực hành pháp của mình, đe dọa thông qua luật bằng trưng cầu dân ý quốc gia nếu quốc hội chặn lại, và sử dụng các &#8220;lỗ hổng pháp lý&#8221; để thúc đẩy chương trình của mình bên lề quốc hội. Phe đối lập đã đáp trả tương xứng. Trong một bài phát biểu tại một buổi gặp mặt xã hội chỉ hai tháng sau khi Allende nhậm chức, thượng nghị sĩ cánh hữu Raúl Morales đã phác họa cái mà ông gọi là chiến lược &#8220;chiếu bí thể chế&#8221;. Mặc dù phe đối lập không có đủ hai phần ba số phiếu tại thượng viện để luận tội Allende, họ có thể bãi nhiệm các bộ trưởng thông qua biểu quyết bất tín nhiệm. Quy định này đã có từ năm 1833 và chỉ được dùng trong những trường hợp đặc biệt, và rất hiếm khi được sử dụng trước năm 1970. Giờ đây, nó trở thành một vũ khí. Vào tháng 1 năm 1972, thượng viện đã bãi nhiệm Bộ trưởng Nội vụ José Tohá, một đồng minh thân cận của Allende. Allende đáp trả bằng cách bổ nhiệm lại Tohá vào nội các với vai trò Bộ trưởng Quốc phòng.</p>



<p>Thù địch đảng phái ngày càng gia tăng trong suốt nhiệm kỳ của Allende. Các đồng minh cánh tả của ông gọi đối thủ là phát xít và &#8220;kẻ thù của nhân dân&#8221;, trong khi phe cánh hữu gọi chính phủ là toàn trị. Sự thù địch ngày càng tăng đã phá hoại nỗ lực của Allende và Đảng Dân chủ Thiên chúa giáo nhằm đàm phán một lối thoát: trong khi các đồng minh cấp tiến của Allende coi đàm phán là &#8220;mở đường cho phát xít&#8221;, các nhóm cánh hữu lại chỉ trích Đảng Dân chủ Thiên chúa giáo vì không chống lại mối đe dọa cộng sản. Để thông qua luật, chính phủ cần sự ủng hộ từ Đảng Dân chủ Thiên chúa giáo, nhưng đến đầu năm 1973, đảng này đã quyết định, theo lời của lãnh đạo đảng Patricio Aylwin, là &#8220;không để Allende ghi được một bàn thắng nào&#8221;.</p>



<p>Sự phân cực có thể hủy diệt các chuẩn mực dân chủ. Khi những khác biệt về kinh tế, xã hội, chủng tộc hay tôn giáo dẫn đến chia rẽ chính trị cực đoan, khiến các đảng phái hình thành các phe nhóm có thế giới quan không chỉ khác biệt mà còn mâu thuẫn trực tiếp với nhau, sự khoan dung trở nên khó duy trì. Một mức độ phân cực nhất định là lành mạnh — thậm chí cần thiết — cho nền dân chủ. Và thực tế là kinh nghiệm lịch sử của các nền dân chủ Tây Âu cho thấy các chuẩn mực có thể được duy trì ngay cả khi các đảng tồn tại trên các chiến tuyến ý thức hệ khác nhau. Nhưng khi xã hội bị chia rẽ quá sâu sắc đến mức các đảng phái không thể cùng chung sống trong một trật tự chính trị, và đặc biệt khi các thành viên của họ tách biệt đến mức hiếm khi tương tác với nhau, các đối thủ ổn định sẽ dần bị nhìn nhận như những mối đe dọa hiện hữu. Khi sự khoan dung lẫn nhau biến mất, các chính trị gia dễ bị cám dỗ từ bỏ sự kiềm chế và tìm cách chiến thắng bằng mọi giá. Điều đó có thể khuyến khích sự trỗi dậy của các nhóm chống hệ thống, vốn từ chối tuân theo các quy tắc dân chủ. Khi điều đó xảy ra, nền dân chủ gặp nguy hiểm.</p>



<p>Chính trị không có lan can đã giết chết nền dân chủ Chile. Cả chính phủ và phe đối lập đều coi cuộc bầu cử quốc hội giữa nhiệm kỳ tháng 3 năm 1973 là cơ hội để giành chiến thắng dứt điểm. Trong khi Allende tìm kiếm đa số quốc hội để hợp pháp hóa chương trình xã hội chủ nghĩa của mình, phe đối lập thì theo đuổi mục tiêu đạt được hai phần ba số phiếu cần thiết để &#8220;lật đổ hiến pháp&#8221; ông thông qua luận tội. Nhưng không bên nào đạt được mục tiêu đó. Không thể đánh bại nhau một cách dứt khoát và cũng không chịu thỏa hiệp, các đảng phái Chile đã đẩy nền dân chủ của họ vào vòng xoáy tử thần. Các phần tử cực đoan chiếm quyền kiểm soát Đảng Dân chủ Thiên chúa giáo và thề sẽ dùng mọi phương tiện để ngăn chặn điều mà cựu tổng thống Eduardo Frei mô tả là &#8220;nỗ lực thực thi chủ nghĩa toàn trị của Allende tại Chile&#8221;. Và những nỗ lực tuyệt vọng của Allende nhằm tái lập đối thoại với phe đối lập đã bị chính các đồng minh của ông phá hoại, khi họ kêu gọi ông từ chối &#8220;mọi đối thoại với các đảng phản động…&#8221; và thay vào đó giải tán quốc hội. Allende từ chối, nhưng để xoa dịu các đồng minh, ông đã đẩy mạnh các biện pháp chống lại đối thủ. Khi cơ quan tư pháp ngăn chặn việc quốc hữu hóa 40 công ty bị công nhân đình công chiếm giữ, Allende đáp trả bằng một &#8220;sắc lệnh khăng khăng&#8221; gây tranh cãi về mặt hiến pháp, điều này lại làm dấy lên lời kêu gọi luận tội từ phe đối lập. Một thượng nghị sĩ cánh hữu đã tuyên bố trên truyền hình quốc gia rằng Allende lúc này là &#8220;một nguyên thủ quốc gia bất hợp pháp&#8221;, và vào tháng 8 năm 1973, Hạ viện đã thông qua nghị quyết tuyên bố chính phủ là vi hiến.</p>



<p>Chưa đầy một tháng sau, quân đội lên nắm quyền. Người dân Chile, từng tự hào là nền dân chủ ổn định nhất Nam Mỹ, đã khuất phục trước chế độ độc tài. Giới tướng lĩnh cai trị Chile trong suốt mười bảy năm sau đó.</p>



<p><strong><img src="https://s.w.org/images/core/emoji/15.0.3/72x72/1f4d8.png" alt="📘" class="wp-smiley" style="height: 1em; max-height: 1em;" /></strong><strong> THUẬT NGỮ &amp; KHÁI NIỆM CHÍNH</strong></p>



<ul class="wp-block-list">
<li><strong>Mutual toleration (Khoan dung lẫn nhau)</strong>: Nguyên tắc dân chủ nền tảng, theo đó các bên đối lập trong chính trị chấp nhận nhau là hợp pháp và chính đáng, miễn là các bên tuân thủ luật lệ hiến pháp. Vi phạm nguyên tắc này có thể dẫn đến việc xem đối phương như &#8220;kẻ thù&#8221; không thể chung sống, mở đường cho các hành động phản dân chủ.</li>



<li><strong>Institutional forbearance (Kiềm chế thể chế)</strong>: Việc các chính trị gia cố tình không sử dụng đến mức tối đa quyền lực hợp pháp của mình, nhằm tránh làm xói mòn hệ thống chính trị hay gây khủng hoảng hiến pháp. Đây là một hình thức tự giới hạn vì lợi ích lâu dài của nền dân chủ.</li>



<li><strong>Constitutional hardball (Chiêu bài hiến pháp)</strong>: Việc sử dụng các quyền lực hợp pháp theo cách cực đoan, nhằm loại bỏ đối thủ chính trị, bất chấp tinh thần dân chủ. Đó là cách “chơi để thắng bằng mọi giá” thay vì cùng nhau giữ gìn luật chơi.</li>



<li><strong>Presidentialism (Chế độ tổng thống)</strong>: Một hình thức chính phủ trong đó tổng thống là người đứng đầu nhà nước và chính phủ, với quyền lực hành pháp tập trung vào một cá nhân. Ở Mỹ và nhiều nước Mỹ Latinh, điều này đòi hỏi sự kiềm chế để tránh rơi vào chuyên chế.</li>



<li><strong>Twenty-Second Amendment (Tu chính án thứ 22)</strong>: Sửa đổi Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1951, quy định tổng thống chỉ được phục vụ tối đa hai nhiệm kỳ. Trước đó, việc giới hạn hai nhiệm kỳ là một chuẩn mực đạo đức chính trị bắt đầu từ thời George Washington.</li>



<li><strong>Partisan polarization (Phân cực đảng phái)</strong>: Hiện tượng mà các đảng chính trị trở nên ngày càng đối lập gay gắt về tư tưởng và giá trị, khiến việc hợp tác trở nên khó khăn và làm suy yếu nền dân chủ.</li>
</ul>



<hr class="wp-block-separator has-alpha-channel-opacity"/>



<p><strong><img src="https://s.w.org/images/core/emoji/15.0.3/72x72/1f570.png" alt="🕰" class="wp-smiley" style="height: 1em; max-height: 1em;" /> NHÂN VẬT &amp; SỰ KIỆN LỊCH SỬ</strong></p>



<ul class="wp-block-list">
<li><strong>Salvador Allende</strong>: Tổng thống Chile (1970–1973), lãnh đạo liên minh cánh tả Unidad Popular. Dù được bầu cử dân chủ, ông bị lật đổ bởi cuộc đảo chính quân sự do Tướng Pinochet lãnh đạo.</li>



<li><strong>Patricio Aylwin</strong>: Lãnh đạo đảng Dân chủ Cơ đốc giáo Chile, sau trở thành tổng thống sau thời kỳ độc tài. Trong giai đoạn 1973, ông phản đối chính sách của Allende nhưng không ủng hộ đảo chính quân sự.</li>



<li><strong>Juan Perón</strong>: Tổng thống Argentina, nổi tiếng với chính sách dân túy và kiểm soát quyền lực, từng phá vỡ các chuẩn mực thể chế để củng cố vị trí.</li>



<li><strong>Carlos Menem</strong>: Tổng thống Argentina (1989–1999), sử dụng các sắc lệnh hành pháp ở mức cao chưa từng có, đẩy mạnh “constitutional hardball”.</li>



<li><strong>Fernando Lugo</strong>: Tổng thống Paraguay, bị luận tội và bãi nhiệm năm 2012 trong một quy trình hợp pháp nhưng bị chỉ trích là gian trá về tinh thần dân chủ.</li>



<li><strong>Abdalá Bucaram</strong>: Tổng thống Ecuador, bị quốc hội phế truất năm 1997 với lý do “mất năng lực tinh thần”, trong khi đó là cách lách luật để loại bỏ ông.</li>



<li><strong>Charles I (Anh)</strong>: Vua Anh bị xử tử sau cuộc nội chiến với Quốc hội Anh vào thế kỷ 17; là ví dụ kinh điển cho sự đổ vỡ của các chuẩn mực chính trị dẫn đến xung đột vũ trang.</li>



<li><strong>Christian Democratic Party (Chile)</strong>: Đảng trung dung quan trọng trong nền dân chủ Chile thế kỷ 20, đóng vai trò then chốt trong việc bảo vệ hoặc làm suy yếu nền dân chủ vào thời Allende.</li>



<li><strong>Fatherland and Freedom Party (Chile)</strong>: Đảng cực hữu chống cộng sản, có vai trò kích động lật đổ chính quyền Allende.</li>
</ul>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Steven Levitsky &#038; Daniel Ziblatt:  NỀN DÂN CHỦ SẼ CHẾT NHƯ THẾ NÀO – Chương 4: Làm Suy Yếu Nền Dân Chủ</title>
		<link>https://t-van.net/steven-levitsky-daniel-ziblatt-nen-dan-chu-se-chet-nhu-the-nao-chuong-4-lam-suy-yeu-nen-dan-chu/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[ChatGPT]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 14 Jun 2025 09:50:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[ChatGPT DỊCH THUẬT - TỦ SÁCH THẾ GIỚI]]></category>
		<category><![CDATA[Nền Dân Chủ Sẽ Chết Như Thế Nào]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=81108</guid>

					<description><![CDATA[GIỚI THIỆU TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM Nguyên Tác: HOW DEMOCRACIES DIE (2018) của&#160;Steven Levitsky &#38; Daniel Ziblatt (Chuyển ngữ tiếng Việt: ChatGPT; Hiệu đính (và chịu trách nhiệm): T.Vấn) Chương 4: Làm Suy Yếu Nền Dân Chủ Alberto Fujimori của Peru không lên kế hoạch trở thành nhà độc tài. Ông thậm chí cũng [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/71nkYi9OL.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="667" height="1024" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/71nkYi9OL-667x1024.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-80750" style="width:477px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/06/71nkYi9OL-195x300.jpg 195w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/71nkYi9OL-667x1024.jpg?strip=all 667w, https://cdn.t-van.net/2025/06/71nkYi9OL-768x1179.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2025/06/71nkYi9OL-1001x1536.jpg 1001w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/71nkYi9OL.jpg?strip=all 1251w" sizes="(max-width: 667px) 100vw, 667px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><strong><a href="https://t-van.net/steven-levitsky-daniel-ziblatt-nen-dan-chu-se-chet-nhu-the-nao/">GIỚI THIỆU TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM</a></strong></p>



<p><strong>Nguyên Tác: HOW DEMOCRACIES DIE (2018) của</strong>&nbsp;<strong>Steven Levitsky &amp; Daniel Ziblatt</strong></p>



<p><em>(Chuyển ngữ tiếng Việt: ChatGPT; Hiệu đính (và chịu trách nhiệm): T.Vấn)</em></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>Chương 4: Làm Suy Yếu Nền Dân Chủ</strong></p>



<p>Alberto Fujimori của Peru không lên kế hoạch trở thành nhà độc tài. Ông thậm chí cũng không dự định tranh cử tổng thống. Là hiệu trưởng một trường đại học ít tên tuổi, người gốc Nhật, Fujimori ban đầu chỉ muốn tranh cử một ghế thượng nghị sĩ vào năm 1990. Khi không đảng nào chịu đề cử ông, ông tự thành lập một đảng riêng và tự đề cử mình. Vì thiếu kinh phí, ông tham gia cuộc đua tổng thống chủ yếu để thu hút sự chú ý cho chiến dịch thượng viện. Nhưng năm 1990 là một năm khủng hoảng nghiêm trọng. Kinh tế Peru sụp đổ vào siêu lạm phát, và một nhóm du kích Maoist có tên Con đường Ánh sáng (<em>Shining Path</em>), với cuộc nổi dậy tàn bạo đã giết chết hàng chục nghìn người từ năm 1980, đang tiến gần đến thủ đô Lima. Người dân Peru chán ghét các đảng chính trị truyền thống. Như một hành động phản kháng, nhiều người quay sang ủng hộ “kẻ vô danh”, người vận động bằng khẩu hiệu “Một Tổng thống giống như bạn.” Fujimori bất ngờ vọt lên trong các cuộc thăm dò. Ông gây sốc cho giới chính trị khi vượt qua vòng đầu, vào vòng hai đối đầu với Mario Vargas Llosa, tiểu thuyết gia nổi tiếng nhất của đất nước.</p>



<p>Người dân Peru ngưỡng mộ Vargas Llosa, người sau đó sẽ đoạt Giải Nobel Văn học. Hầu như toàn bộ giới tinh hoa — chính khách, truyền thông, doanh nghiệp — đứng sau Vargas Llosa, nhưng người dân thường lại thấy ông quá thân cận với tầng lớp ưu tú, những người dường như không lắng nghe các mối lo ngại thực sự của họ. Trong khi đó, Fujimori, với lối diễn thuyết mang tính dân túy, đã khai thác hiệu quả sự phẫn nộ này và được nhiều người xem là lựa chọn duy nhất thực sự để thay đổi. Ông đã thắng cử.</p>



<p>Trong bài phát biểu nhậm chức, Fujimori cảnh báo rằng Peru đang đối mặt với “cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nhất trong lịch sử cộng hòa” của mình. Ông nói rằng nền kinh tế đang “trên bờ vực sụp đổ”, và xã hội Peru đã bị “phá vỡ bởi bạo lực, tham nhũng, khủng bố và buôn bán ma túy.” Fujimori cam kết sẽ “kéo đất nước thoát khỏi tình trạng hiện tại và dẫn đến một vận mệnh tốt đẹp hơn.” Ông tin rằng Peru cần những cải cách kinh tế mạnh mẽ, và phải đẩy mạnh cuộc chiến chống khủng bố. Nhưng ông chỉ có ý niệm mơ hồ về cách thực hiện các điều đó.</p>



<p>Ông cũng phải đối mặt với nhiều trở ngại đáng gờm. Là một người ngoài cuộc chính trị, Fujimori gần như không có đồng minh trong giới quyền lực truyền thống. Các đảng đối lập kiểm soát quốc hội, và những người được họ bổ nhiệm giữ ghế trong tòa án tối cao. Phần lớn truyền thông, vốn đã ủng hộ Vargas Llosa, không tin tưởng ông. Trong chiến dịch tranh cử, Fujimori đã không nương tay trong việc công kích giới tinh hoa chính trị, mô tả họ là “tầng lớp đầu sỏ tham nhũng đang hủy hoại đất nước.” Và giờ đây, ông nhận ra rằng những người mà ông từng công kích và đánh bại vẫn kiểm soát nhiều đòn bẩy quyền lực quan trọng.</p>



<p>Fujimori khởi đầu không suôn sẻ. Trong những tháng đầu nhiệm kỳ, quốc hội không thông qua bất kỳ đạo luật nào, và các tòa án dường như không đủ khả năng để đối phó với mối đe dọa khủng bố ngày càng tăng. Fujimori không chỉ thiếu kinh nghiệm trong chính trị lập pháp, ông còn thiếu kiên nhẫn với nó. Một trợ lý của ông nói rằng Fujimori “không thể chịu được việc phải mời Chủ tịch Thượng viện đến phủ tổng thống mỗi lần muốn quốc hội thông qua luật.” Ông thích điều hành đất nước một mình — từ chiếc laptop của mình, như ông từng khoe khoang.</p>



<p>Thay vì đàm phán với lãnh đạo quốc hội, Fujimori bắt đầu công kích họ, gọi họ là “những tên lừa bịp vô dụng.” Ông tấn công các thẩm phán không hợp tác, gọi họ là “lũ linh cẩu” và “đồ khốn.” Nguy hiểm hơn, ông bắt đầu né tránh quốc hội, thay vào đó ban hành các sắc lệnh hành pháp. Các quan chức chính phủ bắt đầu phàn nàn rằng hiến pháp Peru quá “cứng nhắc” và “hạn chế,” làm dấy lên lo ngại rằng cam kết của Fujimori với thể chế dân chủ là yếu ớt. Trong một bài phát biểu trước giới doanh nghiệp, ông đặt câu hỏi: “Chúng ta thực sự là một nền dân chủ sao?… Tôi thật khó để trả lời là có. Chúng ta là một quốc gia mà thực chất luôn bị cai trị bởi các nhóm thiểu số quyền lực, đầu sỏ, bè phái, nhóm lợi ích&#8230;”</p>



<p>Giới tinh hoa Peru, lo lắng, bắt đầu phản ứng. Khi Fujimori vượt mặt tòa án để thả hàng ngàn tù nhân phạm tội vặt nhằm dành chỗ cho tội phạm khủng bố, Hiệp hội Thẩm phán Quốc gia cáo buộc ông là “kẻ độc đoán phản dân chủ không thể chấp nhận được.” Các tòa án sau đó tuyên bố nhiều sắc lệnh của Fujimori là vi hiến. Phe đối lập chỉ trích liên tục gọi ông là “nhà độc tài”, và truyền thông bắt đầu vẽ ông như một vị hoàng đế Nhật Bản. Đầu năm 1991, có tin đồn luận tội. Tháng 3, tạp chí <em>Caretas</em> đăng bìa ảnh Fujimori trong tâm ngắm súng với dòng chữ: “Fujimori có thể bị phế truất không? Một số người đã bắt đầu nghiên cứu hiến pháp.”</p>



<p>Cảm thấy bị bao vây, Fujimori càng phản ứng quyết liệt hơn. Trong một bài phát biểu khác, ông tuyên bố: “Tôi sẽ không dừng lại cho đến khi phá vỡ tất cả các điều cấm kỵ còn lại, từng bức tường cũ kỹ ngăn cản sự phát triển của đất nước sẽ sụp đổ.” Tháng 11 năm 1991, ông gửi tới quốc hội gói 126 sắc lệnh, trong đó có nhiều biện pháp chống khủng bố đe dọa quyền tự do dân sự. Quốc hội phản ứng bằng cách hủy bỏ hoặc làm loãng nhiều sắc lệnh quan trọng, và thông qua luật nhằm hạn chế quyền lực của tổng thống. Căng thẳng leo thang. Fujimori cáo buộc quốc hội bị kiểm soát bởi các trùm ma túy, và để đáp trả, thượng viện thông qua kiến nghị “bỏ trống ghế tổng thống” vì “mất năng lực đạo đức.” Dù kiến nghị không qua được hạ viện, mâu thuẫn đã lên đến đỉnh điểm. Một quan chức chính phủ lo ngại rằng:</p>



<p>“Hoặc quốc hội giết tổng thống, hoặc tổng thống giết quốc hội.”</p>



<p>Và rồi tổng thống đã giết quốc hội.</p>



<p>Ngày 5 tháng 4 năm 1992, Fujimori xuất hiện trên truyền hình và tuyên bố giải tán quốc hội cùng hiến pháp. Chưa đầy hai năm sau ngày đắc cử, kẻ ngoài cuộc bất ngờ đã trở thành nhà độc tài.</p>



<p>—</p>



<p>Mặc dù một số nhà mị dân được bầu lên với kế hoạch sẵn cho chế độ độc tài, nhiều người — như Fujimori — thì không. Sự sụp đổ dân chủ không nhất thiết cần bản thiết kế. Như kinh nghiệm Peru cho thấy, nó có thể bắt đầu bằng một chuỗi sự kiện ngoài dự tính — sự leo thang trả đũa giữa lãnh đạo mị dân phá vỡ chuẩn mực và giới chính trị dòng chính cảm thấy bị đe dọa.</p>



<p>Tiến trình này thường bắt đầu bằng ngôn từ. Kẻ mị dân công kích giới chỉ trích bằng những lời lẽ gay gắt, mô tả họ là kẻ thù, kẻ lật đổ, thậm chí là khủng bố. Khi mới tranh cử, Hugo Chávez gọi đối thủ là “lũ heo ô uế” và “đầu sỏ mục nát”; sau khi lên cầm quyền, ông gọi họ là “<strong>kẻ thù</strong>” và “phản quốc”. Fujimori gán cho đối thủ nhãn hiệu khủng bố và buôn lậu ma túy; Thủ tướng Ý Silvio Berlusconi thì gọi các thẩm phán chống đối là cộng sản. Giới báo chí cũng trở thành mục tiêu: Tổng thống Ecuador Rafael Correa gọi báo chí là “kẻ thù chính trị nghiêm trọng” cần phải bị đánh bại; Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdoğan cáo buộc nhà báo là tuyên truyền viên của “khủng bố.”</p>



<p>Những đòn tấn công này không dừng lại ở lời nói. Dù nhiều người tin rằng kẻ mị dân chỉ giỏi nói chứ không dám làm, thực tế từ các quốc gia khác cho thấy rất nhiều người trong số họ sớm hay muộn đều hành động. Vì quá trình họ vươn lên thường làm phân cực xã hội, tạo ra bầu không khí hoảng loạn, thù địch và mất lòng tin lẫn nhau. Lời lẽ đe dọa của họ còn có hiệu ứng ngược: truyền thông phản ứng bằng cách từ bỏ chuẩn mực nghề nghiệp, cố gắng tấn công chính quyền bằng mọi giá, trong khi phe đối lập có thể cho rằng chính quyền cần phải bị lật đổ vì lợi ích đất nước — thông qua luận tội, biểu tình quy mô lớn, thậm chí đảo chính.</p>



<p>Khi Juan Perón lần đầu được bầu làm tổng thống Argentina năm 1946, nhiều đối thủ cho rằng ông là một kẻ phát xít. Thành viên của Liên minh Công dân Cấp tiến (<em>Radical Civic Union</em>) tin rằng họ đang trong một “cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa Quốc xã”, nên đã tẩy chay lễ nhậm chức của Perón. Ngay từ ngày đầu nhiệm kỳ, phe đối lập tại quốc hội đã theo đuổi chiến lược “phản đối, phá hoại và khiêu khích”, thậm chí kêu gọi Tòa án Tối cao nắm quyền kiểm soát chính phủ. Tương tự, phe đối lập Venezuela từng yêu cầu tòa án tối cao triệu tập đội ngũ bác sĩ tâm thần để xem liệu Hugo Chávez có thể bị bãi nhiệm vì “mất năng lực tâm thần” hay không. Nhiều tờ báo và đài truyền hình lớn đã công khai ủng hộ các nỗ lực ngoài hiến pháp nhằm lật đổ ông. Tất nhiên, những kẻ có xu hướng độc tài sẽ coi các đòn tấn công này là mối đe dọa nghiêm trọng, và từ đó trở nên thù địch hơn nữa.</p>



<p>Họ còn hành động vì một lý do khác: Dân chủ là một công việc mệt mỏi. Nếu như doanh nghiệp gia đình hay đơn vị quân đội có thể điều hành bằng mệnh lệnh, thì dân chủ đòi hỏi đàm phán, thỏa hiệp và nhượng bộ. Những thất bại là điều tất yếu, và chiến thắng cũng thường chỉ mang tính một phần. Sáng kiến tổng thống có thể chết yểu ở quốc hội, hoặc bị tòa án bác bỏ. Tất cả chính trị gia đều cảm thấy ức chế với những ràng buộc này, nhưng những người có tinh thần dân chủ thì chấp nhận chúng. Họ chịu đựng được các đợt chỉ trích liên tiếp. Nhưng đối với những người ngoài cuộc, đặc biệt là kiểu lãnh đạo mị dân, thì chính trị dân chủ là một thứ không thể chịu đựng nổi. Với họ, hệ thống “kiểm soát và cân bằng” giống như chiếc áo bó chặt. Giống như Tổng thống Fujimori, người “không nuốt nổi chuyện phải ăn trưa với lãnh đạo Thượng viện mỗi lần muốn thông qua một đạo luật,” những kẻ có xu hướng độc tài không đủ kiên nhẫn cho chính trị dân chủ hàng ngày. Và giống như Fujimori, họ muốn thoát ra khỏi ràng buộc ấy.</p>



<p>—</p>



<p>Vậy làm thế nào các nhà độc tài được bầu lên lại phá hủy những thiết chế dân chủ vốn được thiết kế để kìm hãm họ? Một số làm điều đó chỉ trong một đòn dứt điểm. Nhưng phổ biến hơn, cuộc tấn công vào nền dân chủ thường bắt đầu chậm rãi. Với nhiều công dân, quá trình này ban đầu gần như không thể nhận biết. Dù sao thì bầu cử vẫn diễn ra, các chính trị gia đối lập vẫn có ghế trong quốc hội, báo chí độc lập vẫn lưu hành. Sự xói mòn dân chủ diễn ra từng mảnh, thường là bằng những bước nhỏ. Mỗi bước riêng lẻ có vẻ không đáng kể — không cái nào thực sự đe dọa nền dân chủ cả. Thật vậy, các hành vi chính phủ thực hiện để làm suy yếu dân chủ thường được ngụy trang bằng tính hợp pháp: được quốc hội thông qua hoặc tòa án tối cao xác nhận hợp hiến. Nhiều chính sách trong số đó được thực hiện dưới danh nghĩa phục vụ các mục tiêu công cộnghợp lý, thậm chí đáng hoan nghênh, như chống tham nhũng, “làm sạch” bầu cử, cải thiện chất lượng dân chủ, hoặc tăng cường an ninh quốc gia.</p>



<p>Để hiểu rõ hơn cách mà các nhà độc tài dân cử phá hoại thiết chế, ta có thể tưởng tượng một trận bóng đá. Để củng cố quyền lực, họ phải kiểm soát trọng tài, gạt bỏ một số “cầu thủ ngôi sao” của bên kia, và viết lại luật chơi để nghiêng cán cân có lợi cho mình, khiến cuộc chơi trở nên bất công đối với đối thủ.</p>



<p>—</p>



<p>Có được trọng tài đứng về phía mình luôn là lợi thế. Nhà nước hiện đại sở hữu nhiều cơ quan có quyền điều tra và trừng phạt hành vi sai trái của cả quan chức lẫn công dân — bao gồm hệ thống tư pháp, các cơ quan hành pháp, tình báo, thuế và cơ quan thanh tra. Trong nền dân chủ, các thiết chế này được thiết kế để đóng vai trò trọng tài trung lập. Với các nhà độc tài tương lai, tòa án và cơ quan thực thi pháp luật vừa là thách thức vừa là cơ hội. Nếu còn độc lập, chúng có thể vạch trần và trừng phạt hành vi lạm quyền của chính phủ. Đó là vai trò của trọng tài — ngăn chặn gian lận. Nhưng nếu các cơ quan này được kiểm soát bởi phe trung thành, thì chúng sẽ trở thành công cụ giúp chính quyền tránh bị điều tra hay truy tố hình sự, từ đó bảo vệ nhà lãnh đạo khỏi bị mất quyền lực. Tổng thống có thể vi phạm pháp luật, đe dọa quyền công dân, thậm chí phá vỡ hiến pháp, mà không lo bị trừng phạt. Khi tòa án bị kiểm soát và cơ quan thực thi pháp luật bị thuần hóa, chính phủ có thể hành động với sự miễn trừ hoàn toàn.</p>



<p>Nắm quyền kiểm soát trọng tài không chỉ là lá chắn. Đó còn là vũ khí mạnh mẽ, cho phép chính phủ áp dụng luật một cách có chọn lọc, trừng phạt đối thủ và bảo vệ phe mình. Cơ quan thuế có thể bị sử dụng để đánh vào chính trị gia đối lập, doanh nghiệp hoặc truyền thông không thân chính quyền. Cảnh sát có thể trấn áp biểu tình đối lập nhưng lại làm ngơ với hành vi bạo lực của đám đông thân chính phủ. Cơ quan tình báo có thể được sử dụng để do thám phe phản đối, đào bới thông tin để tống tiền hoặc làm mất uy tín.</p>



<p>Thông thường, việc “bắt” trọng tài được thực hiện bằng cách lặng lẽ sa thải các công chức hoặc quan chức phi đảng phái, rồi thay bằng người trung thành. Ví dụ, ở Hungary, sau khi trở lại cầm quyền năm 2010, Thủ tướng Viktor Orbán đã nhồi nhét người thân tín vào hàng loạt cơ quan lẽ ra độc lập, như Viện Kiểm sát, Văn phòng Kiểm toán Nhà nước, Văn phòng Thanh tra Nhân quyền, Cơ quan Thống kê Trung ương, và cả Tòa án Hiến pháp.</p>



<p>Những thiết chế không dễ dàng thanh lọc thì có thể bị chiếm đoạt một cách tinh vi bằng những phương thức khác. Ít ai làm điều này hiệu quả hơn “cố vấn tình báo” của Alberto Fujimori — Vladimiro Montesinos. Dưới sự chỉ đạo của Montesinos, Cơ quan Tình báo Quốc gia Peru đã quay phim hàng trăm chính trị gia đối lập, thẩm phán, nghị sĩ, doanh nhân, nhà báo, và biên tập viên trong các cảnh chi tiền hối lộ, ra vào nhà chứa, hoặc tham gia các hoạt động phi pháp khác — rồi dùng các đoạn băng này để tống tiền họ. Ông ta còn trả lương hàng tháng bằng tiền mặt cho ba thẩm phán Tòa Tối cao, hai thành viên của Tòa Hiến pháp, và một số lượng “kinh ngạc” các thẩm phán và công tố viên, giao tận nhà. Tất cả đều diễn ra trong bóng tối; bề ngoài, hệ thống tư pháp Peru vận hành như bình thường, nhưng trong hậu trường, Montesinos giúp Fujimori củng cố quyền lực.</p>



<p>Những thẩm phán không thể mua chuộc thì bị nhắm đến bằng các cuộc luận tội. Khi Perón lên làm tổng thống Argentina năm 1946, 4 trong 5 thẩm phán Tòa Tối cao là đối thủ bảo thủ, một người từng gọi ông là phát xít. Lo ngại về lịch sử của tòa trong việc bác bỏ các đạo luật ủng hộ người lao động, đồng minh của Perón tại quốc hội luận tội 3 trong số các thẩm phán, với lý do là sai phạm chức vụ (người thứ tư từ chức trước khi bị luận tội). Sau đó, Perón bổ nhiệm 4 người trung thành, và kể từ đó tòa không bao giờ phản đối ông nữa.</p>



<p>Tương tự, khi Tòa Hiến pháp Peru đe dọa bác bỏ nỗ lực tái tranh cử nhiệm kỳ ba của Fujimori vào năm 1997, đồng minh của ông tại quốc hội luận tội 3 trong số 7 thẩm phán, với lý do rằng việc họ tuyên bố kế hoạch của Fujimori là vi hiến đã tự bản thân vi phạm hiến pháp.</p>



<p>Khi chính phủ không thể loại bỏ thẩm phán độc lập, họ có thể vượt mặt bằng cách “nhồi người” vào tòa án. Tại Hungary, chính phủ Orbán đã mở rộng Tòa Hiến pháp từ 8 lên 15 người, sửa đổi quy tắc đề cử để đảng cầm quyền Fidesz có thể tự mình bổ nhiệm thẩm phán, rồi lấp đầy các ghế mới bằng người trung thành.</p>



<p>Tại Ba Lan, đảng cầm quyền Luật pháp và Công lý (PiS) từng gặp trở ngại khi nhiều sáng kiến bị Tòa Hiến pháp chặn lại trong giai đoạn 2005–2007. Khi trở lại nắm quyền năm 2015, đảng này quyết tâm tránh lặp lại thất bại. Lúc đó, có hai ghế trống trong số 15 thành viên Tòa Hiến pháp, và ba thẩm phán đã được quốc hội tiền nhiệm phê chuẩn nhưng chưa tuyên thệ. Chính phủ mới của PiS từ chối tuyên thệ ba người này, và thay vào đó bổ nhiệm năm người của mình. Chưa dừng lại, họ còn thông qua đạo luật yêu cầu mọi phán quyết của Tòa phải đạt đa số hai phần ba, qua đó trao cho các đồng minh chính phủ quyền phủ quyết, làm tê liệt vai trò độc lập của tòa.</p>



<p>Cách cực đoan nhất để “bắt trọng tài” là phá bỏ tòa án cũ và lập ra tòa mới. Năm 1999, chính quyền Chávez ở Venezuela tổ chức bầu cử quốc hội lập hiến, vốn vi phạm phán quyết trước đó của Tòa Tối cao, và trao cho chính nó quyền giải thể mọi thiết chế nhà nước, bao gồm cả tòa án. Vì lo sợ bị tiêu diệt, Tòa Tối cao đã chấp nhận và tuyên bố hành động này là hợp hiến. Chủ tịch tòa lúc ấy, Cecilia Sosa, từ chức và tuyên bố rằng “Tòa đã tự sát để khỏi bị ám sát. Nhưng kết quả vẫn như nhau: nó đã chết.” Hai tháng sau, Tòa Tối cao bị giải thể và thay bằng Tòa Tối cao Công lý mới. Chưa hài lòng, năm 2004, chính quyền Chávez tiếp tục tăng số lượng thẩm phán từ 20 lên 32 người và lấp đầy ghế mới bằng các đồng minh “cách mạng.” Điều đó đã đủ: suốt 9 năm sau đó, không một phán quyết nào của tòa đi ngược lại chính quyền.</p>



<p>Trong tất cả các trường hợp trên, những trọng tài của trò chơi dân chủ đã bị đưa về phe chính quyền, mang lại cho người đương nhiệm cả một tấm khiên chống lại thách thức hiến pháp, lẫn một vũ khí hợp pháp để tấn công đối thủ.</p>



<p>—</p>



<p>Khi trọng tài đã về phe mình, các nhà độc tài dân cử chuyển mục tiêu sang đối thủ chính trị. Hầu hết các chế độ độc tài hiện đại không xóa sạch tiếng nói bất đồng như Mussolini ở Ý hay Castro ở Cuba, nhưng nhiều chính phủ nỗ lực gạt bỏ những người có khả năng gây nguy hiểm thực sự cho họ, bằng cách làm tê liệt, gạt sang bên, hoặc mua chuộc họ.</p>



<p>Những “người có thể gây tổn thương thực sự” có thể là:<br>– các chính trị gia đối lập,<br>– doanh nhân tài trợ cho đối lập,<br>– các cơ quan truyền thông lớn,<br>– hoặc các nhân vật tôn giáo hay văn hóa có uy tín đạo đức công cộng.</p>



<p>Cách dễ nhất để xử lý là… mua chuộc. Hầu hết các nhà độc tài dân cử mở đầu bằng việc đề nghị chức vụ, đặc quyền, ưu đãi hoặc tiền hối lộ cho các nhân vật chính trị, doanh nghiệp hoặc truyền thông, đổi lại sự ủng hộ — hoặc ít nhất là thái độ im lặng. Truyền thông thân chính phủ có thể được ưu tiên phỏng vấn hoặc tiếp cận thông tin, còn doanh nhân thân thiện có thể được cấp hợp đồng béo bở hoặc ưu đãi thuế khóa.</p>



<p>Chính quyền Fujimori là bậc thầy trong việc mua chuộc giới truyền thông. Đến cuối thập niên 1990, mọi đài truyền hình lớn, một số nhật báo, và báo lá cải nổi tiếng đều đã nhận tiền từ chính phủ. Vladimiro Montesinos đã trả khoảng 12 triệu USD cho chủ sở hữu kênh Channel 4, đổi lấy một “hợp đồng” trao quyền kiểm soát nội dung tin tức cho ông ta. Cổ đông chính của Channel 5 nhận 9 triệu USD, còn Channel 9 được 50.000 USD để sa thải hai nhà báo điều tra. Trong một đoạn băng quay cuối năm 1999, Montesinos tuyên bố:</p>



<p>“Giờ thì toàn bộ giới truyền hình đã đứng thành hàng cả rồi&#8230; Chúng tôi bắt họ ký giấy tờ đàng hoàng&#8230; Ngày nào cũng họp lúc 12:30 để lên kế hoạch cho bản tin tối.”</p>



<p>Ngoài giới truyền thông, Montesinos còn mua chuộc chính trị gia. Năm 1998, khi phe đối lập thu thập đủ chữ ký để tổ chức trưng cầu dân ý về việc Fujimori có được tái tranh cử năm 2000 không, vấn đề được chuyển lên quốc hội, nơi luật yêu cầu ít nhất 40% ủng hộ. Lý thuyết là phe đối lập có 48 phiếu cần thiết. Nhưng Montesinos đã hối lộ ba nghị sĩ để họ vắng mặt trong cuộc bỏ phiếu:<br>– Luis Chu nhận 130.000 USD trả góp cho căn hộ từ quỹ đen của cơ quan tình báo,<br>– Miguel Ciccia được giúp đỡ trong một vụ kiện liên quan đến doanh nghiệp,<br>– Susy Díaz đồng ý ở nhà vì “lý do cá nhân”.</p>



<p>Cuộc bỏ phiếu thất bại sát nút, và Fujimori được phép ra tranh cử nhiệm kỳ ba — bất hợp pháp — năm 2000. Khi cử tri không trao đa số quốc hội cho Fujimori, Montesinos hối lộ 18 nghị sĩ đối lập để họ đổi phe.</p>



<p>Những nhân vật không thể mua chuộc thì phải bị làm suy yếu bằng cách khác. Trong khi các nhà độc tài kiểu cũ thường bỏ tù, trục xuất hoặc ám sát đối thủ, thì nhà độc tài hiện đại thường che giấu đàn áp dưới lớp vỏ pháp lý. Vì vậy, việc “nắm trọng tài” trở nên cực kỳ quan trọng. Dưới thời Perón, lãnh đạo đối lập Ricardo Balbín bị bỏ tù vì “xúc phạm” tổng thống trong chiến dịch tranh cử. Balbín kháng cáo lên Tòa Tối cao, nhưng vì tòa đã bị Perón nhồi người trung thành, ông không có cơ hội chiến thắng. Tại Malaysia, Thủ tướng Mahathir Mohamad sử dụng cảnh sát trung thành về mặt chính trị và hệ thống tư pháp đã bị thao túng để bắt giữ và bỏ tù đối thủ chính — Anwar Ibrahim — với cáo buộc “quan hệ đồng giới” vào cuối thập niên 1990. Ở Venezuela, lãnh đạo đối lập Leopoldo López bị bắt và truy tố vì “kích động bạo lực” trong đợt biểu tình phản đối chính phủ năm 2014. Giới chức không đưa ra bằng chứng cụ thể nào, thậm chí từng tuyên bố hành vi đó là “tiềm ẩn trong tiềm thức”.</p>



<p>Chính phủ cũng có thể lợi dụng quyền kiểm soát tòa án để “hạ gục hợp pháp” truyền thông đối lập, thường là bằng các vụ kiện phỉ báng hoặc vu khống. Tổng thống Rafael Correa của Ecuador là bậc thầy trong việc này. Năm 2011, ông thắng vụ kiện phỉ báng trị giá 40 triệu USD chống lại chủ sở hữu và tổng biên tập của tờ nhật báo lớn <em>El Universo</em>, vì đã đăng bài xã luận gọi ông là “kẻ độc tài.” Correa gọi vụ kiện là “bước tiến lớn cho sự giải phóng châu Mỹ Latinh khỏi quyền lực lớn nhất và vô pháp nhất: truyền thông tham nhũng.” Sau đó ông ân xá cho các bị đơn, nhưng vụ kiện đã tạo hiệu ứng răn đe mạnh mẽ lên báo chí.</p>



<p>Chính quyền Erdoğan và Putin cũng sử dụng pháp luật như vũ khí vô cùng hiệu quả. Tại Thổ Nhĩ Kỳ, nạn nhân lớn nhất là tập đoàn truyền thông Doğan Yayin, vốn kiểm soát gần 50% thị trường truyền thông Thổ Nhĩ Kỳ, bao gồm nhật báo <em>Hurriyat</em> và nhiều đài truyền hình. Nhiều kênh thuộc Doğan mang tư tưởng thế tục và tự do, đối lập với chính quyền AKP. Năm 2009, chính phủ đáp trả bằng án phạt gần 2,5 tỷ USD vì trốn thuế, gần bằng toàn bộ giá trị ròng của công ty. Doğan buộc phải bán tháo phần lớn đế chế, trong đó có hai tờ báo lớn và một đài truyền hình, tất cả được mua lại bởi các doanh nhân thân chính phủ.</p>



<p>Tại Nga, khi kênh truyền hình độc lập NTV của Vladimir Gusinsky bị xem là “cái gai trong mắt”, chính quyền Putin đã cho cơ quan thuế truy lùng Gusinsky, bắt ông vì “biển thủ tài chính”. Gusinsky nhận được “một thỏa thuận như trong phim Mafia hạng xoàng: giao NTV để được tự do.” Ông đồng ý, chuyển giao NTV cho tập đoàn năng lượng nhà nước Gazprom, rồi lưu vong. Tại Venezuela, chính quyền Chávez điều tra tài chính của chủ sở hữu kênh Globovisión — Guillermo Zuloaga, khiến ông phải rời đất nước để tránh bị bắt. Dưới áp lực tài chính nghiêm trọng, Zuloaga cuối cùng bán Globovisión cho một doanh nhân thân chính phủ.</p>



<p>Khi các cơ quan truyền thông lớn bị tấn công, những nơi khác bắt đầu tự kiểm duyệt. Khi chính quyền Chávez gia tăng đàn áp giữa thập niên 2000, Venevisión, một trong các đài truyền hình lớn nhất Venezuela, quyết định không đưa tin chính trị nữa. Các chương trình trò chuyện buổi sáng được thay bằng chiêm tinh học, còn phim truyền hình chiếm sóng khung giờ tối thay vì bản tin thời sự. Từng là đài thân đối lập, Venevisión hầu như không đưa tin về phe đối lập trong kỳ bầu cử 2006, và dành cho Tổng thống Chávez lượng phát sóng nhiều gấp năm lần các đối thủ.</p>



<p>Nhà độc tài dân cử cũng tìm cách làm suy yếu các doanh nhân có tiềm lực tài chính để ủng hộ đối lập. Đây là chiến lược then chốt trong việc củng cố quyền lực của Putin ở Nga. Tháng 7 năm 2000, chưa đầy ba tháng sau khi nhậm chức tổng thống, Putin triệu tập 21 doanh nhân giàu nhất nước Nga đến điện Kremlin, nơi ông nói rõ rằng họ được tự do kiếm tiền, nhưng phải đứng ngoài chính trị. Phần lớn “đại tài phiệt” chấp hành. Nhưng Boris Berezovsky, cổ đông kiểm soát đài truyền hình ORT, thì không. Khi ORT có dấu hiệu chỉ trích, chính phủ khởi động lại một vụ án gian lận bị bỏ quên, và ra lệnh bắt giữ Berezovsky. Ông phải lưu vong, để lại toàn bộ tài sản truyền thông cho đối tác cấp dưới, người sau đó chuyển giao quyền kiểm soát cho Putin.</p>



<p>Một người khác không tuân theo là Mikhail Khodorkovsky, giám đốc điều hành tập đoàn dầu khí Yukos. Là người giàu nhất Nga (ước tính 15 tỷ USD), Khodorkovsky là người theo tư tưởng tự do, rất không ưa Putin, và tài trợ hào phóng cho các đảng đối lập, trong đó có Yabloko. Có thời điểm, khoảng 100 thành viên quốc hội Duma bị cho là chịu ảnh hưởng của ông. Thậm chí có tin đồn ông muốn tranh cử tổng thống. Cảm thấy bị đe dọa, Putin cho bắt giữ Khodorkovsky năm 2003 với cáo buộc trốn thuế, biển thủ và lừa đảo, và ông bị bỏ tù gần một thập niên. Thông điệp gửi tới giới tài phiệt rất rõ ràng: đừng dính vào chính trị. Gần như tất cả họ đều rút lui. Khi không còn tài trợ, các đảng đối lập suy yếu, nhiều đảng gần như biến mất.</p>



<p>Chính quyền Erdoğan cũng loại các doanh nhân khỏi đời sống chính trị. Khi đảng Thanh Niên (GP) do tỷ phú Cem Uzan thành lập trở thành mối đe dọa nghiêm trọng năm 2004, giới chức tài chính tịch thu toàn bộ đế chế kinh doanh của ông và cáo buộc ông tội phạm có tổ chức. Uzan bỏ trốn sang Pháp, và GP nhanh chóng sụp đổ. Vài năm sau, tập đoàn Koç, công ty công nghiệp lớn nhất Thổ Nhĩ Kỳ, bị cáo buộc hỗ trợ cuộc biểu tình Gezi Park năm 2013 (một khách sạn của Koç gần công viên được dùng làm nơi trú ẩn và trạm y tế dã chiến). Năm đó, cơ quan thuế thanh tra nhiều công ty Koç, đồng thời hủy hợp đồng quốc phòng trị giá lớn với một công ty con. Gia tộc Koç đã rút lui khỏi chính trị sau vụ việc.</p>



<p>Cuối cùng, các nhà độc tài dân cử thường tìm cách làm im tiếng các nhân vật văn hóa có uy tín, như nghệ sĩ, trí thức, ngôi sao nhạc pop hay vận động viên, những người mà sự nổi tiếng hay tư thế đạo đức công chúng có thể trở thành mối đe dọa.</p>



<p>Khi nhà văn Jorge Luis Borges trở thành người chỉ trích Perón, chính quyền chuyển ông khỏi vị trí quản thủ thư viện thành phố, thay vào đó là một chức vụ mà Borges mô tả là “thanh tra gà và thỏ.” Borges từ chức và mất việc nhiều tháng.</p>



<p>Tuy nhiên, chính phủ thường ưu tiên mua chuộc hoặc thỏa hiệp với các nhân vật văn hóa nổi tiếng, cho phép họ tiếp tục hoạt động nếu giữ thái độ chính trị trung lập. Nhạc trưởng Gustavo Dudamel của Venezuela là ví dụ. Dudamel là đại diện của chương trình giáo dục âm nhạc <em>El Sistema</em>, giúp hàng trăm ngàn thanh thiếu niên nghèo tiếp cận âm nhạc. Do phụ thuộc ngân sách nhà nước, các nhà sáng lập <em>El Sistema</em> giữ thái độ trung lập chính trị tuyệt đối. Dudamel duy trì sự trung lập, kể cả khi chính quyền Chávez ngày càng độc đoán. Ông chỉ huy dàn nhạc tại lễ tang Chávez năm 2012, và năm 2015, khi nhiều lãnh đạo đối lập bị bỏ tù, ông viết bài trên <em>Los Angeles Times</em> bảo vệ sự trung lập và bày tỏ “sự tôn trọng” với chính phủ Maduro.</p>



<p><em>El Sistema</em> sau đó được tăng tài trợ, giúp số lượng trẻ em tham gia tăng từ 500.000 lên 700.000 chỉ trong ba năm. Nhưng mọi chuyện thay đổi tháng 5 năm 2017, khi lực lượng an ninh giết chết một nghệ sĩ violon trẻ — cựu học viên El Sistema — trong biểu tình. Dudamel phá vỡ im lặng, viết bài trên <em>New York Times</em> lên án đàn áp và tố cáo Venezuela trượt dốc thành độc tài. Ông phải trả giá: chuyến lưu diễn của Dàn nhạc Trẻ Quốc gia Mỹ Latinh tại Hoa Kỳ bị hủy.</p>



<p>Việc làm câm lặng các tiếng nói ảnh hưởng — dù bằng mua chuộc hay đe dọa — có thể gây hậu quả mạnh mẽ cho phong trào đối lập. Khi doanh nhân bị bỏ tù hoặc phá sản như Khodorkovsky, người khác rút khỏi chính trị. Khi chính trị gia đối lập bị bắt hoặc lưu vong như ở Venezuela, nhiều người bỏ cuộc. Một số từ chối tham gia chính trường, người ở lại thì mất tinh thần. Đó chính là mục tiêu của chính quyền. Khi truyền thông, doanh nghiệp và chính trị gia đối lập bị bịt miệng hoặc vô hiệu hóa, phe đối lập xẹp xuống. Và chính phủ “chiến thắng” mà không cần phá vỡ luật pháp.</p>



<p>Để củng cố quyền lực, chính phủ độc tài không chỉ dừng lại ở việc vô hiệu hóa đối thủ—họ còn phải thay đổi luật chơi. Những kẻ chuyên quyền đang tìm cách bám rễ thường cải tổ hiến pháp, hệ thống bầu cử và các thiết chế khác theo cách gây bất lợi hoặc làm suy yếu phe đối lập, thực chất là làm nghiêng bàn cờ về phía mình. Những cải cách này thường được tiến hành dưới danh nghĩa phục vụ lợi ích công cộng, nhưng thực chất là tích lũy lợi thế cho đảng cầm quyền. Và vì chúng liên quan đến thay đổi luật pháp hoặc hiến pháp, nên các nhà độc tài có thể khoá chặt ưu thế của mình trong nhiều năm, thậm chí hàng thập kỷ.</p>



<p>Xét trường hợp Malaysia, nơi hệ thống bầu cử từ lâu đã được điều chỉnh để có lợi cho đảng cầm quyền UMNO, một đảng chủ yếu đại diện cho người Mã Lai. Dù người Mã Lai chỉ chiếm hơn một nửa dân số, các khu vực bầu cử quốc hội đã được vẽ lại (gerrymander) sao cho 70% là khu vực có đa số cử tri Mã Lai, cho phép UMNO và các đồng minh giành được đa số áp đảo trong quốc hội. Tuy nhiên, tình hình thay đổi khi Đảng Hồi giáo Malaysia (PAS) — cũng là một đảng chủ yếu đại diện người Mã Lai — trỗi dậy thành lực lượng đối lập chính trong cuối thập niên 1990. Vì vậy, vào năm 2002, giới chức bầu cử do UMNO kiểm soát đã tiến hành vẽ lại khu vực bầu cử, lần này giảm số ghế quốc hội ở các vùng nông thôn vốn là thành trì của PAS, đi ngược lại xu hướng nhân khẩu học. Kết quả, liên minh do UMNO lãnh đạo giành được tới 91% số ghế quốc hội trong cuộc bầu cử năm 2004.</p>



<p>Chính phủ Orbán ở Hungary cũng thực hiện điều tương tự. Sau khi giành được hai phần ba số ghế quốc hội năm 2010, đảng cầm quyền Fidesz đã sử dụng siêu đa số để viết lại hiến pháp và luật bầu cử, nhằm khóa chặt lợi thế cho mình. Họ đưa ra các quy tắc bầu cử mới theo hướng đa số tuyệt đối, có lợi cho đảng lớn nhất (Fidesz), và vẽ lại khu vực bầu cử để tối đa hóa số ghế. Cuối cùng, họ cấm quảng cáo tranh cử trên truyền thông tư nhân, chỉ cho phép quảng bá trên đài truyền hình quốc gia vốn do người của Fidesz điều hành. Tác động của những thay đổi này thể hiện rõ trong cuộc bầu cử quốc hội năm 2014: dù tỷ lệ phiếu của Fidesz giảm mạnh, từ 53% năm 2010 xuống còn 44,5% năm 2014, đảng này vẫn duy trì được đa số hai phần ba trong quốc hội.</p>



<p>Có lẽ ví dụ nổi bật nhất về việc viết lại luật chơi để củng cố độc tài là trường hợp nước Mỹ. Sau khi Thời kỳ Tái thiết (Reconstruction) kết thúc vào những năm 1870, các chế độ độc đảng chuyên quyền đã nổi lên ở tất cả các bang từng thuộc Liên minh miền Nam (Confederate States). Chế độ độc đảng không phải ngẫu nhiên, mà là sản phẩm của kỹ thuật hiến pháp và luật bầu cử phản dân chủ trắng trợn.</p>



<p>Trong thời Tái thiết, việc trao quyền bầu cử cho người Mỹ gốc Phi đã đe dọa nghiêm trọng quyền lực của giới cầm quyền da trắng ở miền Nam, đồng thời đe dọa vị thế của Đảng Dân chủ. Theo Đạo luật Tái thiết 1867 và Tu chính án thứ 15, cấm hạn chế quyền bầu cử vì lý do chủng tộc, người Mỹ gốc Phi đột ngột trở thành đa số cử tri ở Mississippi, South Carolina, Louisiana, và gần đạt đa số ở Alabama, Florida, Georgia và North Carolina. Quân đội Liên bang giám sát đăng ký cử tri người da đen trên toàn miền Nam. Tỷ lệ nam giới da đen đủ điều kiện bầu cử tăng từ 0,5% năm 1866 lên 80,5% hai năm sau. Ở nhiều bang miền Nam, tỷ lệ đăng ký của người da đen vượt quá 90%. Và họ đi bỏ phiếu. Trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1880, tỷ lệ đi bầu của người da đen được ước tính là 65% trở lên ở North và South Carolina, Tennessee, Texas và Virginia.</p>



<p>Việc được đi bầu trao cho người da đen sức mạnh chính trị thực sự: hơn 2.000 người từng là nô lệ đã đắc cử trong thập niên 1870, bao gồm 14 nghị sĩ quốc hội và 2 thượng nghị sĩ liên bang. Ở một thời điểm, hơn 40% đại biểu hạ viện bang South Carolina và Louisiana là người da đen. Vì họ ủng hộ mạnh mẽ Đảng Cộng hòa, việc họ đi bầu giúp các đảng đối lập như Cộng hòa tháchthức sự thống trị của Đảng Dân chủ. Đảng Dân chủ mất quyền lực ở North Carolina, Tennessee và Virginia trong thập niên 1880–1890, và suýt mất ở Alabama, Arkansas, Florida, Georgia, Mississippi và Texas. Nếu bầu cử dân chủ tiếp tục, nhà khoa học chính trị V. O. Key viết, “nó sẽ là bản án tử hình đối với giới da trắng miền Nam.”</p>



<p>Vì vậy, họ đã thay đổi luật chơi và thủ tiêu nền dân chủ. “Hãy cho chúng tôi một đại hội hiến pháp, và tôi sẽ bảo đảm rằng… người da đen sẽ không bao giờ còn tiếng nói,” cựu thượng nghị sĩ Georgia Robert Toombs tuyên bố. Từ 1885 đến 1908, cả 11 bang từng thuộc Liên minh miền Nam đã sửa hiến pháp và luật bầu cử để tước quyền bầu cử của người Mỹ gốc Phi. Để tránh vi phạm Tu chính án thứ 15, các biện pháp hạn chế quyền bầu không được viện dẫn lý do chủng tộc. Thay vào đó, họ đưa ra các yêu cầu “trung lập” như thuế đầu phiếu, điều kiện sở hữu tài sản, kiểm tra trình độ chữ nghĩa và phiếu bầu viết phức tạp. Mục tiêu chính, như sử gia Alex Keyssar chỉ ra, là “loại người da đen nghèo và mù chữ khỏi phòng phiếu.” Và vì họ đa số ủng hộ Cộng hòa, việc tước quyền của họ cũng đồng nghĩa khôi phục vị thế áp đảo cho Đảng Dân chủ. Một thượng nghị sĩ bang North Carolina thẳng thắn tuyên bố: “Viết ra một luật bầu cử thật công bằng, thật trung thực, và luôn đảm bảo Đảng Dân chủ thắng đa số.”</p>



<p>South Carolina, nơi người da đen chiếm đa số, là nơi tiên phong trong hạn chế bỏ phiếu. “Đạo luật Tám Hộp” năm 1882 đưa ra phiếu bầu phức tạp khiến người mù chữ gần như không thể thực hiện quyền bầu cử—và vì phần lớn người da đen ở bang này mù chữ, tỷ lệ đi bầu của họ sụt giảm nghiêm trọng. Nhưng điều đó vẫn chưa đủ. Năm 1888, Thống đốc John Richardson tuyên bố: “Chúng ta đang có thiểu số 400.000 người da trắng cai trị đa số 600.000 người da đen…. Cái duy nhất giữ quyền lực khỏi tay họ là một đạo luật mỏng manh—Đạo luật Tám Hộp.” Bảy năm sau, bang ban hành thuế bầu cử và kiểm tra trình độ đọc viết. Tỷ lệ đi bầu của người da đen, từng đạt 96% năm 1876, rớt xuống chỉ còn 11% năm 1898. Việc tước quyền người da đen đã “đập tan Đảng Cộng hòa”, khiến đảng này mất ghế tại cơ quan lập pháp tiểu bang gần như suốt một thế kỷ.</p>



<p>Tại Tennessee, quyền bầu cử của người da đen giúp Đảng Cộng hòa cạnh tranh ngang ngửa đến mức tờ <em>Avalanche</em> (thân Dân chủ) cảnh báo về “chiến thắng áp đảo của Cộng hòa” nếu không có biện pháp can thiệp. Năm 1889, Đảng Dân chủ đưa ra các yêu cầu đăng ký nghiêm ngặt, thuế bầu cử, và Đạo luật Dortch, đòi hỏi cử tri phải biết chữ. Trong phiên tranh luận, tờ <em>Avalanche</em> giật tít: “Hãy cho chúng tôi Đạo luật Dortch nếu không chúng tôi tiêu mất.” Sau đó, <em>Memphis Daily Appeal</em> đăng tít: “Cuối cùng đã an toàn—Tạm biệt Cộng hòa, tạm biệt.” Dân chủ đại thắng năm 1890, còn Cộng hòa thì “sụp đổ.” Tờ báo này bình luận rằng hệ quả của Đạo luật Dortch “thật tuyệt vời. Tổng số cử tri giảm đi rõ rệt, nhưng tỷ lệ thắng của Dân chủ tăng gấp bốn lần.” Đến năm 1896, tỷ lệ người da đen đi bầu gần như bằng không.</p>



<p>Tại Alabama, khi Dân chủ suýt mất chức thống đốc vào tay đảng dân túy năm 1892, họ quay sang giới hạn quyền bầu cử để thoát hiểm. Khi quốc hội bang thông qua dự luật hạn chế phiếu của người da đen, Thống đốc Thomas Jones được cho là đã nói: “Ký vào luật này càng nhanh càng tốt, kẻo tay tôi bị tê liệt, vì nó xóa sổ đám dân túy… và toàn bộ lũ mọi đen.” Câu chuyện lặp lại ở Arkansas, Florida, Georgia, Louisiana, Mississippi, North Carolina, Texas và Virginia.</p>



<p>Những cải cách được gọi là “đổi mới” này đã giết chết nền dân chủ ở miền Nam nước Mỹ. Dù người Mỹ gốc Phi chiếm đa số hoặc gần đa số dân số ở nhiều bang, và dù quyền bầu cử của họđã được hiến pháp bảo đảm, các biện pháp “hợp pháp” hoặc nghe có vẻ trung lập đã được sử dụng để “đảm bảo rằng cử tri miền Nam gần như toàn bộ là người da trắng.” Tỷ lệ đi bầu của người da đen ở miền Nam giảm từ 61% năm 1880 xuống chỉ còn 2% năm 1912. Việc tước quyền người da đen đã làm sụp đổ Đảng Cộng hòa, củng cố chế độ độc đảng da trắng trong gần một thế kỷ. Một người da đen miền Nam từng nói: “Cả miền Nam—mọi bang miền Nam—đã rơi vào tay chính những kẻ từng bắt chúng tôi làm nô lệ.”</p>



<p>—</p>



<p>Bằng cách kiểm soát các &#8220;trọng tài&#8221;, mua chuộc hoặc làm suy yếu phe đối lập, và thay đổi luật chơi, các chính phủ được bầu ra có thể thiết lập một lợi thế mang tính quyết định — và lâu dài — so với các đối thủ của họ. Bởi những biện pháp này được thực hiện từ từ và dưới vỏ bọc hợp pháp, nên xu hướng trượt vào chủ nghĩa chuyên chế không phải lúc nào cũng gây báo động. Người dân thường chậm nhận ra rằng nền dân chủ của họ đang bị tháo dỡ — ngay cả khi điều đó đang xảy ra ngay trước mắt.</p>



<p>Một trong những nghịch lý lớn nhất về cách các nền dân chủ chết đi là chính việc bảo vệ dân chủ lại thường được sử dụng làm cái cớ để phá hoại nó. Những kẻ có xu hướng độc tài thường tận dụng khủng hoảng kinh tế, thiên tai, và đặc biệt là các mối đe dọa an ninh — chiến tranh, nổi dậy có vũ trang, hay khủng bố — để biện minh cho các biện pháp phản dân chủ. Năm 1969, sau khi tái đắc cử nhiệm kỳ tổng thống thứ hai và cuối cùng, Tổng thống Ferdinand Marcos của Philippines bắt đầu xem xét khả năng lợi dụng một tình huống khẩn cấp để kéo dài quyền lực. Marcos không muốn từ chức khi nhiệm kỳ của ông kết thúc vào năm 1973, như hiến pháp quy định, nên ông vạch ra kế hoạch ban bố thiết quân luật và viết lại hiến pháp. Nhưng ông cần một lý do. Cơ hội đến vào tháng 7 năm 1972, khi một loạt vụ đánh bom bí ẩn làm rung chuyển Manila. Sau một vụ ám sát được cho là nhằm vào Bộ trưởng Quốc phòng Juan Ponce Enrile, Marcos — đổ lỗi cho các phần tử khủng bố cộng sản — đã thực hiện kế hoạch. Ông tuyên bố thiết quân luật trên truyền hình quốc gia và trang nghiêm khẳng định: “Đồng bào của tôi… [đây] không phải là một cuộc đảo chính quân sự.” Ông lập luận rằng “một chính quyền dân chủ không phải là một chính quyền bất lực” và rằng hiến pháp — chính cái mà ông đang đình chỉ — “đã khôn ngoan khi dự liệu các phương tiện để bảo vệ nó” khi đối mặt với mối đe dọa như nổi loạn. Với bước đi đó, Marcos giữ chặt quyền lực suốt mười bốn năm tiếp theo.</p>



<p>Khủng hoảng rất khó lường, nhưng hệ quả chính trị của chúng thì không. Chúng tạo điều kiện cho việc tập trung quyền lực — và rất thường là cho sự lạm dụng quyền lực. Chiến tranh và các cuộc tấn công khủng bố tạo ra hiệu ứng “tập hợp quanh lá cờ,” khiến công chúng ủng hộ chính phủ tăng lên — thường là một cách đột biến; sau sự kiện 11/9, tỷ lệ tín nhiệm của Tổng thống Bush tăng vọt từ 53% lên 90% — mức cao nhất từng được Gallup ghi nhận. (Kỷ lục trước đó — 89% — thuộc về cha ông, George H. W. Bush, sau cuộc Chiến tranh Vùng Vịnh năm 1991.) Bởi rất ít chính trị gia dám chống lại một tổng thống được 90% dân chúng ủng hộ giữa một cuộc khủng hoảng an ninh quốc gia, các tổng thống gần như không bị kiềm chế. Đạo luật USA PATRIOT, được Tổng thống George W. Bush ký thành luật vào tháng 10 năm 2001, chắc chắn sẽ không bao giờ được thông qua nếu các vụ tấn công 11/9 không xảy ra vào tháng trước đó.</p>



<p>Người dân cũng có xu hướng dễ chấp nhận — thậm chí ủng hộ — các biện pháp chuyên quyền hơn trong khủng hoảng an ninh, đặc biệt khi họ lo sợ cho sự an toàn của chính mình. Sau sự kiện 11/9, 55% người Mỹ được khảo sát cho biết họ tin rằng cần từ bỏ một số quyền tự do dân sự để chống khủng bố, so với chỉ 29% vào năm 1997. Tương tự, việc Roosevelt giam giữ người Mỹ gốc Nhật sẽ là điều không tưởng nếu không có nỗi sợ hãi lan rộng sau vụ tấn công Trân Châu Cảng. Sau sự kiện đó, hơn 60% người Mỹ được hỏi ủng hộ việc trục xuất người Mỹ gốc Nhật khỏi đất nước, và một năm sau, việc giam giữ họ vẫn nhận được sự ủng hộ đáng kể từ công chúng.</p>



<p>Hầu hết các bản hiến pháp đều cho phép mở rộng quyền lực hành pháp trong thời kỳ khủng hoảng. Do đó, ngay cả các tổng thống được bầu một cách dân chủ cũng có thể dễ dàng tập trung quyền lực và đe dọa các quyền dân sự trong chiến tranh. Nhưng trong tay một kẻ có xu hướng độc tài, quyền lực tập trung này còn nguy hiểm hơn nhiều. Đối với một kẻ dân túy cảm thấy bị giới phê bình vây hãm và bị các định chế dân chủ trói buộc, khủng hoảng mở ra cơ hội để bịt miệng đối thủ và làm suy yếu phe chống đối. Thật vậy, các nhà độc tài được bầu thường cần đến khủng hoảng — các mối đe dọa bên ngoài tạo cho họ cơ hội để thoát ra, một cách nhanh chóng và rất thường là dưới danh nghĩa “hợp pháp”.</p>



<p>Sự kết hợp giữa một kẻ có xu hướng độc tài và một cuộc khủng hoảng lớn có thể gây chết người cho nền dân chủ. Một số nhà lãnh đạo lên nắm quyền trong bối cảnh khủng hoảng. Chẳng hạn, Fujimori nhậm chức giữa lúc lạm phát phi mã và phong trào nổi dậy vũ trang gia tăng, nên khi ông biện minh cho cuộc đảo chính tổng thống năm 1992 như một điều ác cần thiết, phần lớn người Peru đồng tình với ông. Tỷ lệ ủng hộ Fujimori tăng vọt lên 81% sau cuộc đảo chính.</p>



<p>Một số nhà lãnh đạo khác lại tự tạo ra khủng hoảng. Đằng sau tuyên bố thiết quân luật của Ferdinand Marcos vào năm 1972 là cả một kịch bản được dàn dựng: “cuộc khủng hoảng” phần lớn là do ông ta tạo ra. Nhận thức rõ rằng mình cần biện minh cho kế hoạch lách quy định giới hạn hai nhiệm kỳ tổng thống trong hiến pháp, Marcos quyết định dựng nên mối đe dọa từ “nguy cơ cộng sản”. Trước thực tế chỉ có vài chục phần tử nổi dậy, Tổng thống Marcos đã thổi bùng sự hoảng loạn trong công chúng để biện minh cho hành động khẩn cấp. Marcos đã muốn tuyên bố thiết quân luật từ năm 1971, nhưng để thuyết phục được dư luận, ông cần một hành động bạo lực — một vụ tấn công khủng bố — đủ để tạo ra nỗi sợ hãi rộng khắp. Điều đó xảy ra vào năm sau, với các vụ đánh bom ở Manila mà giới tình báo Hoa Kỳ tin là do chính lực lượng chính phủ thực hiện, và vụ ám sát nhằm vào Bộ trưởng Quốc phòng Enrile — mà sau này chính Enrile thừa nhận là “giả vờ.” Thực ra, ông nói rằng ông “không hề có mặt ở hiện trường” vụ tấn công được báo cáo.</p>



<p>Dù khủng hoảng là thực hay không, những kẻ có xu hướng độc tài luôn sẵn sàng khai thác nó để biện minh cho việc thâu tóm quyền lực. Trường hợp nổi tiếng nhất có lẽ là cách Adolf Hitler phản ứng sau vụ cháy tòa nhà Quốc hội Đức (Reichstag) vào ngày 27 tháng 2 năm 1933, chỉ một tháng sau khi ông nhậm chức thủ tướng. Câu hỏi về việc liệu một người Hà Lan trẻ có cảm tình với chủ nghĩa cộng sản đã thực sự gây ra vụ cháy hay đây là hành động dàn dựng của giới lãnh đạo Đức Quốc xã vẫn còn gây tranh cãi giữa các sử gia. Dù thế nào, Hitler, Hermann Göring, và Joseph Goebbels đã nhanh chóng dùng vụ cháy này làm cái cớ để ban hành các sắc lệnh khẩn cấp nhằm dẹp bỏ các quyền tự do dân sự. Cùng với Đạo luật Trao quyền được thông qua một tháng sau đó, các sắc lệnh này đã phá hủy mọi lực lượng đối lập và củng cố quyền lực tuyệt đối cho chế độ Quốc xã cho đến khi Thế chiến II kết thúc.</p>



<p>Một cuộc khủng hoảng an ninh cũng tạo điều kiện cho bước ngoặt độc đoán của Vladimir Putin. Vào tháng 9 năm 1999, không lâu sau khi được bổ nhiệm làm thủ tướng, một loạt vụ đánh bom xảy ra tại Moscow và các thành phố khác — được cho là do phiến quân Chechnya thực hiện — đã khiến gần ba trăm người thiệt mạng. Putin đáp trả bằng cách phát động một cuộc chiến tại Chechnya và tiến hành đàn áp quy mô lớn. Tương tự như trường hợp Đức Quốc xã, có một số tranh cãi về việc các vụ đánh bom này do phiến quân Chechnya thực hiện hay là sản phẩm của cơ quan tình báo Nga. Tuy nhiên, điều rõ ràng là sự kiện này đã giúp tăng mạnh mức độ ủng hộ chính trị của Putin. Công chúng Nga rally phía sau Putin và sẵn sàng chấp nhận, thậm chí ủng hộ, các cuộc tấn công nhắm vào phe đối lập trong những tháng và năm sau đó.</p>



<p>Gần đây nhất, chính quyền Erdoğan tại Thổ Nhĩ Kỳ đã tận dụng khủng hoảng an ninh để thắt chặt quyền kiểm soát. Sau khi đảng AKP của ông mất thế đa số trong quốc hội vào tháng 6 năm 2015, một loạt vụ khủng bố do ISIS gây ra đã tạo điều kiện để Erdoğan kêu gọi bầu cử lại và giành lại quyền kiểm soát quốc hội chỉ năm tháng sau đó. Tuy nhiên, bước ngoặt mang tính quyết định là cuộc đảo chính bất thành vào tháng 7 năm 2016, sự kiện mà chính quyền Erdoğan đã dùng để biện minh cho một chiến dịch trấn áp quy mô lớn. Ông tuyên bố tình trạng khẩn cấp và mở cuộc thanh trừng hàng loạt, bao gồm việc sa thải khoảng 100.000 công chức, đóng cửa nhiều tờ báo, và bắt giữ hơn 50.000 người — trong đó có hàng trăm thẩm phán và công tố viên, 144 nhà báo, và thậm chí hai thành viên của Tòa án Hiến pháp. Erdoğan cũng tận dụng cuộc đảo chính này để thúc đẩy kế hoạch mở rộng quyền lực hành pháp. Kế hoạch đó đạt được đỉnh điểm vào tháng 4 năm 2017, khi một bản sửa đổi hiến pháp được thông qua, gần như loại bỏ mọi cơ chế kiểm soát quyền lực tổng thống.</p>



<p>Đối với những nhà dân túy bị trói buộc bởi giới hạn hiến định, khủng hoảng là cơ hội để bắt đầu tháo dỡ những cơ chế kiểm soát phiền toái và đôi khi đe dọa đi kèm với thể chế dân chủ. Khủng hoảng giúp các nhà độc tài mở rộng quyền hành và tự bảo vệ mình khỏi các đối thủ bị xem là nguy hiểm. Nhưng câu hỏi vẫn còn đó: Liệu các thể chế dân chủ có thực sự dễ dàng bị cuốn trôi như vậy không?</p>



<p><strong>Phụ lục Chú Giải Chương 4 – <em>Phá hoại Dân chủ</em></strong></p>



<p>(<em>Do ChatGPT và T.Vấn thực hiện)</em><em></em></p>



<p><strong>1. Alberto Fujimori</strong></p>



<p>Tổng thống Peru (1990–2000), ban đầu được bầu với tư cách là một chính trị gia ngoài hệ thống, nhưng sau đó đã giải tán quốc hội và thay đổi hiến pháp để củng cố quyền lực, trở thành ví dụ điển hình về một nhà lãnh đạo được bầu dân chủ nhưng phá hoại thể chế dân chủ từ bên trong.</p>



<p><strong>2. Vladimiro Montesinos</strong></p>



<p>Cố vấn an ninh thân cận của Fujimori, được biết đến như “kiến trúc sư trong bóng tối” của bộ máy kiểm soát quyền lực, đã sử dụng hối lộ, tống tiền và giám sát để thao túng tòa án, báo chí, và quốc hội Peru.</p>



<p><strong>3. Capturing the referees (Chiếm quyền trọng tài)</strong></p>



<p>Một khái niệm ẩn dụ, mô tả cách các nhà lãnh đạo chuyên quyền kiểm soát các cơ quan độc lập như tòa án, cảnh sát, cơ quan thuế để tránh bị kiểm tra, đồng thời sử dụng chúng như công cụ đàn áp đối thủ.</p>



<p><strong>4. Court packing (Mở rộng và kiểm soát tòa án)</strong></p>



<p>Chiến lược tăng số lượng thẩm phán hoặc thay đổi cách bổ nhiệm để đưa người trung thành vào tòa án tối cao, làm suy yếu vai trò độc lập của ngành tư pháp (đã xảy ra ở Hungary, Venezuela, Ba Lan).</p>



<p><strong>5. Gerrymandering (Vẽ lại khu vực bầu cử có lợi cho phe cầm quyền)</strong></p>



<p>Hành vi thao túng bản đồ bầu cử để tối đa hóa số ghế cho đảng cầm quyền dù tỷ lệ phiếu bầu không tăng—thể hiện rõ ở Malaysia và Hungary.</p>



<p><strong>6. El Sistema và Gustavo Dudamel</strong></p>



<p>El Sistema là chương trình giáo dục âm nhạc quốc gia nổi tiếng của Venezuela; Dudamel là nhạc trưởng nổi tiếng quốc tế và là biểu tượng văn hóa từng giữ lập trường trung lập về chính trị trước khi lên tiếng phản đối chính quyền Maduro sau cái chết của một học viên El Sistema.</p>



<p><strong>7. Crisis exploitation (Lợi dụng khủng hoảng)</strong></p>



<p>Các nhà lãnh đạo chuyên quyền hoặc bán chuyên quyền thường tận dụng khủng hoảng (nội chiến, khủng bố, đảo chính, thiên tai) để thắt chặt quyền lực—như Marcos ở Philippines (1972), Erdoğan ở Thổ Nhĩ Kỳ (2016), Putin ở Nga (1999), và Hitler ở Đức (1933).</p>



<p><strong>8. Enabling Act (Đạo luật Trao quyền, 1933)</strong></p>



<p>Đạo luật được Quốc hội Đức thông qua cho phép Adolf Hitler và nội các ban hành luật mà không cần sự đồng ý của quốc hội, dẫn đến việc hủy bỏ nền dân chủ Weimar.</p>



<p><strong>9. Reconstruction và Black disenfranchisement (Tái thiết và tước quyền bầu cử của người da đen)</strong></p>



<p>Giai đoạn sau Nội chiến Mỹ khi người da đen được trao quyền bầu cử (qua Tu chính án thứ 15), nhưng sau đó các bang miền Nam ban hành loạt luật “trung lập” (thuế bầu cử, bài kiểm tra biết chữ) để loại bỏ quyền bầu cử của họ và duy trì quyền lực của người da trắng thuộc Đảng Dân chủ miền Nam.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Steven Levitsky &#038; Daniel Ziblatt:  NỀN DÂN CHỦ SẼ CHẾT NHƯ THẾ NÀO – Chương 3: Sự Từ Bỏ Vĩ Đại Của Đảng Cộng Hòa</title>
		<link>https://t-van.net/steven-levitsky-daniel-ziblatt-nen-dan-chu-se-chet-nhu-the-nao-chuong-3-su-tu-bo-vi-dai-cua-dang-cong-hoa/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[ChatGPT]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 11 Jun 2025 15:51:07 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[ChatGPT DỊCH THUẬT - TỦ SÁCH THẾ GIỚI]]></category>
		<category><![CDATA[Nền Dân Chủ Sẽ Chết Như Thế Nào]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=81058</guid>

					<description><![CDATA[GIỚI THIỆU TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM Nguyên Tác: HOW DEMOCRACIES DIE (2018) của&#160;Steven Levitsky &#38; Daniel Ziblatt (Chuyển ngữ tiếng Việt: ChatGPT; Hiệu đính (và chịu trách nhiệm): T.Vấn) Chương 3 Sự Từ Bỏ Vĩ Đại Của Đảng Cộng Hòa Ngày 15 tháng 6 năm 2015, ông trùm bất động sản và ngôi sao [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/71nkYi9OL.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="667" height="1024" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/71nkYi9OL-667x1024.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-80750" style="width:421px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/06/71nkYi9OL-195x300.jpg 195w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/71nkYi9OL-667x1024.jpg?strip=all 667w, https://cdn.t-van.net/2025/06/71nkYi9OL-768x1179.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2025/06/71nkYi9OL-1001x1536.jpg 1001w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/71nkYi9OL.jpg?strip=all 1251w" sizes="(max-width: 667px) 100vw, 667px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><strong><a href="https://t-van.net/steven-levitsky-daniel-ziblatt-nen-dan-chu-se-chet-nhu-the-nao/">GIỚI THIỆU TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM</a></strong></p>



<p><strong>Nguyên Tác: HOW DEMOCRACIES DIE (2018) của</strong>&nbsp;<strong>Steven Levitsky &amp; Daniel Ziblatt</strong></p>



<p><em>(Chuyển ngữ tiếng Việt: ChatGPT; Hiệu đính (và chịu trách nhiệm): T.Vấn)</em></p>



<p><strong>Chương 3</strong></p>



<p><strong>Sự Từ Bỏ Vĩ Đại Của Đảng Cộng Hòa</strong><strong></strong></p>



<p>Ngày 15 tháng 6 năm 2015, ông trùm bất động sản và ngôi sao truyền hình thực tế Donald Trump bước xuống thang cuốn dẫn đến sảnh của tòa nhà mang tên mình — Trump Tower — để đưa ra một thông báo: ông sẽ tranh cử tổng thống. Vào thời điểm đó, ông chỉ là một ứng viên kém triển vọng trong một danh sách dài những người cho rằng tài sản và danh tiếng của mình có thể mang lại cơ hội — hoặc ít nhất là giúp ông được tận hưởng ánh đèn sân khấu trong vài tháng. Giống như doanh nhân Henry Ford cách đó một thế kỷ, Trump mang trong mình một số quan điểm cực đoan — trải nghiệm gần nhất của ông với chính trị là với tư cách một “birther”, người đặt nghi vấn liệu Tổng thống Barack Obama có thực sự sinh ra tại Hoa Kỳ hay không. Trong chừng mực mà các nhân vật truyền thông và chính trị hàng đầu chú ý đến ông ta, thì đó là để lên án ông ta.</p>



<p>Tuy nhiên, hệ thống bầu cử sơ bộ đã mở rộng quá trình đề cử tổng thống hơn bao giờ hết trong lịch sử Hoa Kỳ. Và sự “mở” ấy luôn là con dao hai lưỡi. Trong môi trường mới này, một loạt các chính khách đa dạng hơn — từ George McGovern đến Barack Obama — giờ đây có thể cạnh tranh một cách nghiêm túc cho chức tổng thống. Nhưng cánh cửa cũng đã mở ra cho những người ngoài cuộc thực sự — những cá nhân chưa từng giữ bất kỳ chức vụ dân cử nào. Trong suốt 23 năm từ 1945 đến 1968, dưới hệ thống đại hội cũ, chỉ có một người ngoài cuộc duy nhất (Dwight Eisenhower) công khai tìm kiếm đề cử từ một trong hai đảng lớn. Trái lại, trong 20 năm đầu của kỷ nguyên sơ bộ (1972–1992), đã có tám người ngoài cuộc ra tranh cử (năm người thuộc đảng Dân chủ, ba người thuộc đảng Cộng hòa) — trung bình 1,25 ứng viên mỗi kỳ bầu cử. Từ 1996 đến 2016, con số ấy đã tăng lên 18 ứng viên ngoài cuộc, trung bình 3 người mỗi kỳ — trong đó có 13 người thuộc đảng Cộng hòa.</p>



<p>Hệ thống sơ bộ hậu 1972 đặc biệt dễ bị tổn thương trước một loại người ngoài cuộc đặc biệt: những cá nhân có đủ danh tiếng hoặc tiền bạc để bỏ qua “cuộc sơ bộ vô hình” (invisible primary). Nói cách khác: các nhân vật nổi tiếng. Dù các ứng viên bảo thủ ngoài cuộc như Pat Robertson, Pat Buchanan và Steve Forbes không thể vượt qua ảnh hưởng của sơ bộ vô hình trong những năm 1980–1990, thì mức độ thành công tương đối của họ đã hé lộ manh mối cho cách làm điều đó. Forbes, một doanh nhân cực kỳ giàu có, có thể mua lấy sự nhận diện tên tuổi; trong khi Robertson — một mục sư truyền hình và người sáng lập Mạng Truyền hình Cơ đốc giáo — cùng với Buchanan — một bình luận viên truyền hình và người ủng hộ sớm cho chủ nghĩa dân tộc da trắng trong đảng Cộng hòa — đều là những nhân vật nổi bật có kênh truyền thông riêng biệt. Dù không ai trong số họ giành được đề cử, họ đã dùng sự giàu có và danh tiếng để trở thành những ứng viên đáng gờm.</p>



<p>Nhưng rốt cuộc, các ứng viên nổi tiếng ngoài cuộc luôn thất bại. Và vì thế, vào buổi chiều đầu hè ấy trong sảnh dát vàng của Trump Tower, chẳng có lý do gì để nghĩ rằng mọi thứ sẽ khác. Để giành được đề cử, Trump sẽ phải cạnh tranh trong một mạng lưới phức tạp các cuộc họp kín và sơ bộ với 16 ứng viên khác. Nhiều đối thủ của ông có hồ sơ chính trị từng được xem là điều kiện tiên quyết để thành công. Dẫn đầu là Thống đốc Florida Jeb Bush, con trai và em trai của hai tổng thống tiền nhiệm. Ngoài ra còn có các thống đốc khác: Scott Walker (Wisconsin), Bobby Jindal (Louisiana), Chris Christie (New Jersey), và John Kasich (Ohio); cùng một loạt ngôi sao đang lên trong đảng Cộng hòa — trẻ trung, thành thạo truyền thông — như các Thượng nghị sĩ Marco Rubio và Rand Paul, những người hy vọng lặp lại con đường thành công nhanh chóng của Obama. Bang Texas — quê hương của ba trong tám tổng thống được bầu gần nhất — góp thêm hai ứng viên: Thượng nghị sĩ Ted Cruz và cựu Thống đốc Rick Perry. Ngoài Trump, còn có hai người ngoài cuộc khác tham gia cuộc đua: nữ doanh nhân Carly Fiorina và bác sĩ giải phẫu thần kinh Ben Carson.</p>



<p>Trump không thể hy vọng có được sự ủng hộ từ giới lãnh đạo đảng. Ông ta không chỉ thiếu kinh nghiệm chính trị, mà còn không phải là một đảng viên Cộng hòa lâu năm. Trong khi Bush, Rubio, Cruz, Christie, Walker và Kasich đều có gốc gác sâu trong đảng Cộng hòa, thì Trump đã nhiều lần đổi đảng và thậm chí từng tài trợ cho chiến dịch tranh cử Thượng viện của Hillary Clinton.</p>



<p>Ngay cả sau khi Trump bắt đầu vượt lên trong các cuộc thăm dò, rất ít người xem chiến dịch của ông ta là nghiêm túc. Tháng 8 năm 2015, hai tháng sau khi Trump tuyên bố tranh cử, các nhà cái ở Las Vegas đưa ra tỷ lệ cược 100 ăn 1 cho khả năng ông ta vào được Nhà Trắng. Và đến tháng 11 năm 2015, khi Trump đang dẫn đầu trong các cuộc thăm dò của đảng Cộng hòa, Nate Silver — người sáng lập blog <em>FiveThirtyEight</em>, nổi tiếng nhờ những dự đoán chính xác phi thường trong các cuộc bầu cử 2008 và 2012 — đã viết một bài có tựa đề “Gửi giới truyền thông: Đừng hoảng loạn vì các con số thăm dò của Donald Trump”. Trong bài viết, Silver dự đoán rằng điểm yếu của Trump trong nội bộ đảng sẽ khiến ông thất bại. Dù Trump đang dẫn trước rõ rệt, Silver trấn an công chúng rằng cơ hội giành đề cử của ông “chắc chắn dưới 20%.”</p>



<p>Nhưng thế giới đã thay đổi. Các cơ chế giữ cửa của đảng giờ chỉ còn là cái vỏ so với trước kia, vì hai lý do chính. Thứ nhất là sự gia tăng đột biến của nguồn tiền bên ngoài, tăng tốc sau — dù không hoàn toàn do — phán quyết Citizens United của Tòa án Tối cao năm 2010. Giờ đây, ngay cả những ứng viên kém tên tuổi như Michele Bachmann, Herman Cain, Howard Dean, Bernie Sanders cũng có thể gây quỹ khổng lồ, thông qua các tỷ phú bảo trợ hoặc các khoản đóng góp nhỏ qua Internet. Việc xuất hiện hàng loạt ứng viên có quỹ tranh cử dồi dào cho thấy một môi trường chính trị mở hơn và linh hoạt hơn nhiều.</p>



<p>Yếu tố lớn thứ hai làm suy yếu quyền lực của các cơ chế giữ cửa truyền thống chính là sự bùng nổ của truyền thông thay thế, đặc biệt là truyền hình cáp và mạng xã hội. Trước đây, con đường dẫn đến việc được công nhận trên toàn quốc thường phải đi qua một số kênh truyền thông chính thống, vốn có xu hướng ủng hộ các chính khách dòng chính thay vì những kẻ cực đoan. Nhưng trong môi trường truyền thông mới, các nhân vật nổi tiếng có thể nhanh chóng đạt được danh tiếng rộng rãi — và sự ủng hộ của công chúng — gần như chỉ sau một đêm. Điều này đặc biệt đúng với đảng Cộng hòa, nơi sự xuất hiện của Fox News và các nhân vật có ảnh hưởng trên các chương trình phát thanh — điều mà nhà bình luận chính trị David Frum gọi là “tổ hợp giải trí bảo thủ” (<em>conservative entertainment complex</em>) — đã cực đoan hóa cử tri bảo thủ, tạo điều kiện cho các ứng viên mang tư tưởng cực đoan nổi lên. Điều này từng dẫn đến hiện tượng như Herman Cain, cựu CEO của Godfather’s Pizza và người dẫn chương trình phát thanh, người đã bất ngờ vươn lên dẫn đầu các cuộc thăm dò đảng Cộng hòa cuối năm 2011 trước khi sụp đổ vì bê bối.</p>



<p>Quá trình đề cử giờ đây hoàn toàn mở rộng. Mặc dù các quy tắc bầu cử không đảm bảo sự trỗi dậy của một nhân vật như Trump, nhưng chúng cũng không còn khả năng ngăn chặn nó. Đó giống như một ván Russian roulette: xác suất để một kẻ ngoài cuộc cực đoan giành được đề cử tổng thống chưa bao giờ cao đến thế trong lịch sử.</p>



<p>—</p>



<p>Dù có nhiều yếu tố góp phần tạo nên thành công bất ngờ của Donald Trump trên chính trường, thì câu chuyện ông ta bước lên ghế tổng thống phần lớn là một thất bại của cơ chế giữ cửa. Các nhân vật giữ cửa trong đảng đã thất bại ở ba thời điểm then chốt: trong cuộc “sơ bộ vô hình,” trong các vòng bầu cử sơ bộ chính thức, và trong cuộc tổng tuyển cử.</p>



<p>Trump xếp cuối cùng trong “cuộc sơ bộ vô hình.” Khi mùa sơ bộ chính thức bắt đầu vào ngày 1 tháng 2 năm 2016 với cuộc họp kín tại Iowa, ông ta không có một sự ủng hộ nào từ giới quyền lực trong đảng Cộng hòa. Tính theo số ủng hộ từ các thống đốc, thượng nghị sĩ và dân biểu Cộng hòa tại thời điểm Iowa, Jeb Bush dẫn đầu cuộc sơ bộ vô hình với 31 lời ủng hộ; kế đó là Marco Rubio (27), Ted Cruz (18), Rand Paul (11). Ngay cả Chris Christie, John Kasich, Mike Huckabee, Scott Walker, Rick Perry, và Carly Fiorina cũng có nhiều lời ủng hộ hơn Trump. Theo mọi tiêu chí truyền thống, chiến dịch của Trump không có khởi đầu. Nếu lịch sử là một hướng dẫn, thì lợi thế trong các cuộc thăm dò của ông ta sẽ sớm tan biến.</p>



<p>Kết quả của Trump trong cuộc bầu cử đầu tiên ở Iowa — 24%, xếp thứ hai — không làm thay đổi kỳ vọng. Trước đó, những người ngoài cuộc như Pat Robertson (25% năm 1988), Pat Buchanan (23% năm 1996), và Steve Forbes (31% năm 2000) cũng từng đứng thứ hai ở Iowa nhưng sau đó đều nhanh chóng biến mất.</p>



<p>Nhưng Trump đã làm điều mà chưa người ngoài cuộc nào từng làm được: ông ta dễ dàng giành chiến thắng trong các vòng sơ bộ tiếp theo tại New Hampshire và South Carolina. Thế nhưng, ông ta vẫn bị giới lãnh đạo đảng xa lánh. Vào ngày diễn ra bầu cử ở South Carolina, Trump vẫn chưa có một lời ủng hộ nào từ thống đốc, thượng nghị sĩ hay dân biểu Cộng hòa đương nhiệm. Chỉ sau khi thắng South Carolina, Trump mới có những người ủng hộ đầu tiên: hai dân biểu ít tên tuổi là Duncan Hunter (California) và Chris Collins (New York). Ngay cả khi ông ta đánh bại hàng loạt đối thủ trong các cuộc bỏ phiếu, Trump vẫn không thu được số lượng ủng hộ đáng kể. Khi mùa sơ bộ kết thúc, ông ta chỉ có 46 lời ủng hộ — chưa bằng một phần ba của Marco Rubio, và chỉ ngang với chiến dịch Bush đã tan rã từ lâu.</p>



<p>Đến khi Trump đại thắng trong loạt sơ bộ Super Tuesday ngày 1 tháng 3, rõ ràng là ông ta đã đập tan sơ bộ vô hình, khiến nó hoàn toàn vô dụng. Không nghi ngờ gì, danh tiếng người nổi tiếng của Trump đóng vai trò quan trọng. Nhưng cũng không thể bỏ qua bối cảnh truyền thông đã thay đổi. Ngay từ đầu chiến dịch, Trump đã có được sự cảm thông hoặc ủng hộ từ các nhân vật truyền thông cực hữu như Sean Hannity, Ann Coulter, Mark Levin và Michael Savage, cùng với trang tin ngày càng có ảnh hưởng Breitbart News. Dù ban đầu có mối quan hệ căng thẳng với Fox News, Trump vẫn hưởng lợi từ bối cảnh truyền thông phân cực.</p>



<p>Trump cũng tìm được cách tận dụng truyền thông cũ theo kiểu mới, thay cho lời ủng hộ của đảng và chi phí vận động truyền thống. Là một “ứng viên có phẩm chất phù hợp đặc biệt với kỷ nguyên kỹ thuật số,” Trump tạo ra tranh cãi để thu hút sự đưa tin miễn phí từ truyền thông chính thống. Theo một ước tính, các tài khoản Twitter của MSNBC, CNN, CBS và NBC — những hãng không thể bị coi là thân Trump — nhắc đến Trump gấp đôi so với Hillary Clinton. Một nghiên cứu khác cho thấy Trump đã được hưởng tới 2 tỷ USD truyền thông miễn phí trong mùa sơ bộ. Là ứng viên đứng đầu tuyệt đối về độ phủ truyền thông và là “con cưng” của mạng lưới truyền thông cực hữu thay thế, Trump không cần đến giới quyền lực truyền thống trong đảng Cộng hòa. Những người giữ cửa của sơ bộ vô hình không chỉ vô hình — mà đến năm 2016, họ đã hoàn toàn biến mất.</p>



<p>Sau chiến thắng của Trump trong Super Tuesday, giới lãnh đạo đảng Cộng hòa bắt đầu hoảng loạn. Các nhân vật có thế lực và các cây bút bảo thủ bắt đầu công khai phản đối Trump. Tháng 3 năm 2016, cựu ứng viên tổng thống Mitt Romney có bài phát biểu đình đám tại Học viện Chính trị Hinckley, mô tả Trump là mối đe dọa đối với cả đảng Cộng hòa lẫn đất nước. Phỏng theo bài “A Time for Choosing” của Ronald Reagan năm 1964, Romney tuyên bố Trump là một “kẻ lừa đảo” không có “tính khí cũng như năng lực phán đoán cần thiết để làm tổng thống.” Các lãnh đạo kỳ cựu khác như John McCain (ứng viên tổng thống 2008) và Thượng nghị sĩ Lindsey Graham cũng cảnh báo về Trump. Các tạp chí bảo thủ như <em>National Review</em> và <em>Weekly Standard</em> công kích Trump bằng những lời lẽ gay gắt. Nhưng phong trào #NeverTrump chỉ là lời nói, chứ không thành hành động. Trên thực tế, hệ thống sơ bộ đã làm giới lãnh đạo đảng gần như không còn công cụ nào để ngăn chặn Trump. Làn sóng công kích ấy gần như không có hiệu quả, thậm chí còn phản tác dụng tại các phòng phiếu.</p>



<p>Sự bất lực của các lãnh đạo Cộng hòa thể hiện rõ tại đại hội toàn quốc của đảng ở Cleveland tháng 7 năm 2016. Trước đại hội, có nhiều lời đồn đoán về khả năng bầu cử bế tắc, hay việc thuyết phục các đại biểu rút lại sự ủng hộ dành cho Trump. Cuối tháng 6, một nhóm có tên Delegates Unbound bắt đầu phát quảng cáo trên truyền hình quốc gia kêu gọi các đại biểu hãy từ chối Trump — vì trên lý thuyết, họ không bị ràng buộc pháp lý. Các nhóm như Free the Delegates, Courageous Conservatives và Save Our Party vận động Ủy ban Quy tắc của đảng Cộng hòa (112 thành viên) thay đổi quy định để trả lại quyền tự do bỏ phiếu cho đại biểu như thời trước cải cách năm 1972. Tất cả các nỗ lực đó đều thất bại — và thực chất, chúng chưa bao giờ có cơ hội.</p>



<p>Ý tưởng rằng có thể tước đề cử khỏi tay Trump tại đại hội chỉ là ảo tưởng. Trong hệ thống đề cử hiện tại dựa trên sơ bộ, phiếu bầu mang tính chính danh mà không ai có thể dễ dàng né tránh. Và Trump đã giành được phiếu bầu ấy — gần 14 triệu phiếu. Như thành viên Ủy ban Quốc gia Đảng Cộng hòa Cindy Costa từ South Carolina nói: Trump “đã thắng một cách đường đường chính chính.” Nếu đề cử rơi vào tay người khác, điều đó sẽ tạo nên một “cơn hỗn loạn lộng lẫy.” Giới lãnh đạo đảng Cộng hòa buộc phải đối mặt với thực tế: họ không còn giữ chìa khóa của đảng nữa.</p>



<p>—</p>



<p>Khi chiến trường chuyển sang cuộc tổng tuyển cử, người ta nhanh chóng nhận ra rằng đây không phải là một cuộc đua thông thường. Nói đơn giản, Donald Trump không phải là một ứng viên bình thường. Không chỉ là người thiếu kinh nghiệm một cách hiếm có — chưa từng có tổng thống Hoa Kỳ nào, ngoại trừ những vị tướng thành công trong chiến tranh, lại được bầu mà chưa từng giữ bất kỳ chức vụ dân cử hoặc nội các nào — Trump còn mang tư tưởng mị dân, có quan điểm cực đoan về người nhập cư và người Hồi giáo, sẵn sàng phá vỡ các chuẩn mực ứng xử cơ bản, và từng công khai ca ngợi Vladimir Putin cùng các nhà độc tài khác. Điều này đã gây lo ngại trong giới truyền thông cũng như giới chính trị dòng chính. Liệu đảng Cộng hòa có vừa đề cử một nhà độc tài tương lai? Điều đó không thể được xác quyết ngay. Nhiều đảng viên Cộng hòa tự an ủi bằng một câu nói cửa miệng: giới chỉ trích Trump thì “nghiêm túc với lời nói nhưng không coi trọng ông ta,” còn người ủng hộ ông ta thì “coi trọng ông ta nhưng không nghiêm túc với lời nói của ông ta.” Theo quan điểm này, lời lẽ trong chiến dịch của ông ta chỉ là lời nói suông.</p>



<p>Tuy nhiên, luôn có một mức độ bất định về cách một chính trị gia không có tiền lệ hành xử khi nắm quyền, nhưng như đã đề cập ở chương trước, các lãnh đạo phản dân chủ thường để lộ dấu hiệu từ trước khi họ lên cầm quyền. Và Trump, ngay cả trước khi tuyên thệ nhậm chức, đã thỏa mãn đầy đủ cả bốn dấu hiệu trong “bài kiểm tra phát hiện nhà độc tài” của chúng tôi.</p>



<p>Dấu hiệu đầu tiên là thiếu cam kết với các quy tắc dân chủ cơ bản. Trump đã thể hiện rõ điều này khi đặt nghi vấn về tính chính danh của tiến trình bầu cử, và thậm chí gợi ý chưa từng có rằng ông ta có thể sẽ không chấp nhận kết quả bầu cử năm 2016 nếu thua. Tại Hoa Kỳ, mức độ gian lận bầu cử là cực kỳ thấp, và vì bầu cử do chính quyền bang và địa phương điều hành, gần như không thể có một âm mưu gian lận cấp quốc gia. Thế nhưng trong suốt chiến dịch 2016, Trump khăng khăng rằng hàng triệu người nhập cư bất hợp pháp và người chết vẫn có tên trên danh sách cử tri sẽ được huy động để bỏ phiếu cho Clinton. Trong nhiều tháng, trang web chiến dịch của ông ta tuyên bố: “Hãy giúp tôi ngăn chặn Hillary gian lận cuộc bầu cử này!” Tháng 8, Trump nói với Sean Hannity: “Chúng ta phải cẩn thận, vì cuộc bầu cử này sẽ bị gian lận&#8230; Tôi hy vọng đảng Cộng hòa đang giám sát chặt chẽ, nếu không nó sẽ bị cướp khỏi tay chúng ta.” Tháng 10, ông ta đăng lên Twitter: “Tất nhiên có gian lận bầu cử quy mô lớn đang xảy ra, cả trước và trong ngày bầu cử.” Trong cuộc tranh luận tổng thống cuối cùng, Trump từ chối cam kết sẽ chấp nhận kết quả nếu thua cuộc.</p>



<p>Theo nhà sử học Douglas Brinkley, chưa có ứng viên tổng thống lớn nào từng gây nghi ngờ về hệ thống dân chủ như vậy kể từ năm 1860. Chỉ trong giai đoạn tiền nội chiến, mới có các chính trị gia “tước đi tính chính danh của chính quyền liên bang” theo kiểu này. Như Brinkley nói: “Đó là giọng điệu ly khai, cách mạng. Đó là người muốn lật đổ cả hệ thống.” Và lời nói của Trump thật sự có ảnh hưởng. Theo một cuộc thăm dò của Politico/Morning Consult giữa tháng 10, 41% người Mỹ và 73% đảng viên Cộng hòa tin rằng cuộc bầu cử có thể bị đánh cắp khỏi tay Trump. Nói cách khác, ba trong bốn cử tri Cộng hòa không còn tin chắc rằng họ đang sống trong một nền dân chủ với bầu cử tự do.</p>



<p>Dấu hiệu thứ hai là phủ nhận tính chính danh của đối thủ. Các chính trị gia độc tài thường mô tả đối thủ như tội phạm, phản động, không yêu nước hoặc là mối đe dọa đối với an ninh quốc gia. Trump đáp ứng tiêu chí này. Trước hết, ông ta từng là người dẫn đầu phong trào “birther”, đặt nghi vấn về tính hợp pháp của nhiệm kỳ Tổng thống Barack Obama bằng cách tuyên bố ông này sinh ra ở Kenya và là người Hồi giáo — điều mà nhiều người ủng hộ Trump đồng nghĩa với “không phải người Mỹ.” Trong chiến dịch 2016, Trump không công nhận Hillary Clinton như một đối thủ chính đáng, liên tục gọi bà là “tội phạm” và tuyên bố rằng bà “phải vào tù.” Tại các cuộc vận động, ông vỗ tay cổ vũ những người hô to “Tống bà ta vào tù!”</p>



<p>Dấu hiệu thứ ba là dung túng hoặc cổ vũ bạo lực. Bạo lực phe phái thường là dấu hiệu báo trước của sự sụp đổ dân chủ. Ví dụ tiêu biểu gồm Blackshirts ở Ý, Brownshirts ở Đức, các nhóm du kích cánh tả ở Uruguay, và các nhóm bán vũ trang cánh hữu và cánh tả ở Brazil đầu thập niên 1960. Trong thế kỷ qua, chưa từng có ứng viên tổng thống nào của đảng lớn công khai ủng hộ bạo lực (ngoại trừ George Wallace năm 1968, nhưng ông này thuộc đảng thứ ba). Trump phá vỡ hoàn toàn tiền lệ này. Trong chiến dịch, ông ta không chỉ dung túng cho bạo lực từ người ủng hộ, mà đôi khi còn tỏ ra khoái trá. Trong một sự rạn nứt cực độ với chuẩn mực ứng xử truyền thống, Trump tán dương — thậm chí khuyến khích — các hành vi bạo lực chống người biểu tình. Ông từng đề nghị trả phí pháp lý cho một người ủng hộ đấm vào mặt và dọa giết người phản đối tại cuộc vận động ở Fayetteville, North Carolina. Ở những lần khác, ông kích động đám đông chống lại người biểu tình. Dưới đây là một số ví dụ được trang Vox tổng hợp:</p>



<ul class="wp-block-list">
<li>“Nếu thấy ai đó chuẩn bị ném cà chua, hãy đánh cho nó tơi bời đi, được chứ? Nghiêm túc đấy. Cứ đánh cho ra trò. Tôi hứa sẽ trả phí pháp lý.” <em>(1/2/2016, Iowa)</em></li>



<li>“Tôi yêu thời xưa. Mấy tay như vậy sẽ bị khiêng ra trên cáng. Tôi nói thật&#8230; Tôi muốn đấm thằng đó vào mặt.” <em>(22/2/2016, Nevada)</em></li>



<li>“Ngày xưa họ kéo thằng đó khỏi ghế nhanh như chớp. Còn giờ thì chính trị đúng đắn. Nước Mỹ đang xuống dốc vì chính trị đúng đắn.” <em>(26/2/2016, Oklahoma)</em></li>



<li>“Cút khỏi đây. Biến đi. Ra ngoài! Thật tuyệt vời. Vui quá. Tôi thích nó. USA! USA! Được rồi, đuổi hắn ra. Đừng làm hắn bị thương. Mà nếu có, tôi sẽ bảo vệ các bạn ở tòa. Đừng lo… Chúng tôi có 4 người nhảy vào, đấm lia lịa. Báo chí hôm sau nói chúng tôi quá thô bạo. Thôi nào! Chúng ta không muốn chính trị đúng đắn nữa. Phải không các bạn?” <em>(4/3/2016, Michigan)</em></li>



<li>“Chúng tôi có mấy người mạnh mẽ, họ bắt đầu đấm trả. Thật đẹp. Ngày xưa, chuyện đó không xảy ra vì họ bị xử lý rất, rất mạnh tay. Một khi đã bị phản đối, họ không dám quay lại lần nữa.” <em>(9/3/2016, North Carolina)</em></li>
</ul>



<p>Tháng 8 năm 2016, Trump còn đưa ra lời ám chỉ kích động bạo lực đối với Hillary Clinton, nói rằng nếu bà thắng và bổ nhiệm thẩm phán Tối cao pháp viện, quyền sở hữu súng có thể bị xóa bỏ. Ông nói tiếp: “Nếu bà ấy chọn được thẩm phán, thì không còn gì để làm nữa&#8230; trừ khi những người Tu chính án thứ hai ra tay — tôi không biết nữa.”</p>



<p>Dấu hiệu thứ tư là sẵn sàng hạn chế quyền tự do dân sự của đối thủ và giới chỉ trích. Một trong những điểm phân biệt rõ nhất giữa lãnh đạo dân chủ và nhà độc tài hiện đại là sự không khoan dung với chỉ trích — và sử dụng quyền lực để trừng phạt những ai chỉ trích mình, dù là từ phe đối lập, truyền thông hay xã hội dân sự. Năm 2016, Trump đã thể hiện rõ xu hướng này. Ông ta tuyên bố sẽ bổ nhiệm công tố viên đặc biệt để điều tra Hillary Clinton sau bầu cử, và tuyên bố bà này nên bị bỏ tù. Trump cũng nhiều lần đe dọa trừng phạt truyền thông gây bất lợi cho mình. Tại một cuộc vận động ở Fort Worth, Texas, ông ta tấn công Jeff Bezos, chủ sở hữu <em>Washington Post</em>, nói: “Nếu tôi làm tổng thống, ôi, họ sẽ gặp rắc rối. Họ sẽ gặp rất nhiều rắc rối.” Mô tả giới truyền thông là “một trong những nhóm người bất lương nhất mà tôi từng biết,” Trump tuyên bố:</p>



<p>“Tôi sẽ nới lỏng luật phỉ báng để khi họ viết bài sai sự thật, tiêu cực và khủng khiếp có chủ đích, chúng ta có thể kiện họ và thắng thật nhiều tiền… Để khi <em>New York Times</em> viết bài tấn công — điều đáng xấu hổ hoàn toàn — hoặc <em>Washington Post</em> viết bài tấn công, chúng ta có thể kiện họ&#8230;”</p>



<p>Ngoại trừ Richard Nixon, không một ứng viên tổng thống nào của đảng lớn trong suốt thế kỷ qua hội đủ bốn tiêu chí nói trên. Như Bảng 2 cho thấy, Donald Trump đáp ứng tất cả. Không một ứng viên lớn nào trong lịch sử Hoa Kỳ hiện đại — kể cả Nixon — lại thể hiện sự cam kết yếu ớt như vậy với quyền hiến định và chuẩn mực dân chủ. Trump chính là kiểu nhân vật mà Hamilton và các nhà lập quốc từng khiếp sợ khi thiết kế chức vụ tổng thống Hoa Kỳ.</p>



<p><strong>Bảng 2: Donald Trump và Bốn Dấu Hiệu Chính của Hành Vi Độc Tài</strong></p>



<p>1. Phủ nhận (hoặc thiếu cam kết với) các quy tắc dân chủ của cuộc chơi</p>



<ul class="wp-block-list">
<li>Họ có bác bỏ Hiến pháp hoặc thể hiện ý định vi phạm nó không?</li>



<li>Họ có đề xuất các biện pháp phản dân chủ như hủy bầu cử, đình chỉ hoặc vi phạm Hiến pháp, cấm một số tổ chức, hoặc hạn chế các quyền dân sự hay chính trị cơ bản không?</li>



<li>Họ có tìm cách sử dụng (hoặc ủng hộ việc sử dụng) các biện pháp ngoài hiến pháp để thay đổi chính quyền, như đảo chính quân sự, bạo loạn, hoặc các cuộc biểu tình quy mô lớn nhằm ép buộc thay đổi chính phủ không?</li>



<li>Họ có tìm cách làm suy yếu tính chính danh của bầu cử, chẳng hạn bằng cách từ chối chấp nhận kết quả bầu cử hợp pháp không?</li>
</ul>



<p>2. Phủ nhận tính chính danh của các đối thủ chính trị</p>



<ul class="wp-block-list">
<li>Họ có mô tả đối thủ là phản động, hoặc chống lại trật tự hiến pháp hiện hành không?</li>



<li>Họ có cho rằng đối thủ là mối đe dọa sống còn đối với an ninh quốc gia hoặc lối sống hiện hành không?</li>



<li>Họ có vô căn cứ gọi đối thủ là tội phạm, rằng hành vi vi phạm luật pháp (hoặc khả năng vi phạm) khiến đối thủ mất quyền tham gia đầy đủ vào đời sống chính trị không?</li>



<li>Họ có vô căn cứ ám chỉ rằng đối thủ là đặc vụ nước ngoài, đang ngầm làm việc với (hoặc dưới sự chỉ đạo của) một chính phủ thù địch không?</li>
</ul>



<p>3. Dung túng hoặc khuyến khích bạo lực</p>



<ul class="wp-block-list">
<li>Họ có liên hệ với các băng nhóm vũ trang, lực lượng bán quân sự, dân quân, du kích, hoặc các tổ chức sử dụng bạo lực bất hợp pháp không?</li>



<li>Họ hoặc các đồng minh đảng phái của họ có tài trợ hoặc khuyến khích các cuộc tấn công đám đông vào đối thủ không?</li>



<li>Họ có ngầm ủng hộ bạo lực bằng cách không lên án dứt khoát và trừng phạt hành vi đó không?</li>



<li>Họ có ca ngợi (hoặc từ chối lên án) các hành vi bạo lực chính trị nghiêm trọng khác — dù trong quá khứ hay ở nơi khác trên thế giới không?</li>
</ul>



<p>4. Sẵn sàng hạn chế quyền tự do dân sự của đối thủ, bao gồm truyền thông</p>



<ul class="wp-block-list">
<li>Họ có ủng hộ các luật hoặc chính sách hạn chế quyền tự do dân sự, như mở rộng luật phỉ báng, hoặc luật giới hạn biểu tình, chỉ trích chính phủ, hay cấm một số tổ chức dân sự/chính trị không?</li>



<li>Họ có đe dọa sử dụng pháp luật hoặc các biện pháp trừng phạt khác đối với những người chỉ trích trong phe đối lập, xã hội dân sự hoặc truyền thông không?</li>



<li>Họ có ca ngợi các biện pháp đàn áp của các chính phủ khác — trong quá khứ hoặc hiện tại — không?</li>
</ul>



<p>Tất cả những điều trên lẽ ra phải là hồi chuông cảnh báo.</p>



<p>Tiến trình sơ bộ đã thất bại trong vai trò giữ cửa, và cho phép một người không đủ tư cách trở thành ứng viên của một đảng chính trị dòng chính.</p>



<p>Nhưng lúc này, đảng Cộng hòa có thể phản ứng ra sao?</p>



<p>Hãy nhớ lại những bài học từ các nền dân chủ sụp đổ ở châu Âu thập niên 1930 và Nam Mỹ trong các thập niên 1960–1970:</p>



<p>Khi các thiết chế giữ cửa thất bại, các chính trị gia dòng chính phải làm mọi cách để ngăn chặn những nhân vật nguy hiểm tiếp cận trung tâm quyền lực.</p>



<p>—</p>



<p>Sự từ bỏ tập thể — tức là chuyển giao quyền lực cho một lãnh đạo đe dọa nền dân chủ — thường bắt nguồn từ một trong hai nguyên nhân. Thứ nhất là niềm tin sai lầm rằng có thể kiểm soát hoặc thuần hóa kẻ độc tài. Thứ hai là điều mà nhà xã hội học Ivan Ermakoff gọi là “thỏa hiệp ý thức hệ”, tức là chương trình hành động của kẻ độc tài có đủ điểm tương đồng với các chính trị gia dòng chính khiến việc chấp nhận hắn trở nên mong muốn — hoặc ít nhất tốt hơn các lựa chọn thay thế. Nhưng khi đối mặt với một kẻ có xu hướng độc tài, các chính trị gia dòng chính phải dứt khoát bác bỏ, và làm mọi cách để bảo vệ thể chế dân chủ — kể cả khi điều đó có nghĩa là tạm thời liên minh với đối thủ cay đắng nhất.</p>



<p>Đối với các đảng viên Cộng hòa bước vào kỳ tổng tuyển cử năm 2016, hệ quả rất rõ ràng. Nếu Trump đe dọa những nguyên tắc dân chủ cơ bản, họ phải ngăn chặn ông ta. Làm bất cứ điều gì khác tức là đặt nền dân chủ vào rủi ro, và mất dân chủ thì tồi tệ hơn nhiều so với mất một cuộc bầu cử. Điều này đồng nghĩa với việc phải làm điều mà với nhiều người là không tưởng: ủng hộ Hillary Clinton. Hoa Kỳ là quốc gia có hệ thống hai đảng; chỉ có hai ứng viên thực sự có cơ hội thắng năm 2016, và một trong số đó là kẻ mị dân. Với đảng Cộng hòa, đây là bài kiểm tra về lòng can đảm chính trị. Họ có sẵn sàng hy sinh lợi ích ngắn hạn vì lợi ích quốc gia?</p>



<p>Như chúng ta đã thấy, lịch sử có tiền lệ cho hành động đó. Năm 2016, các chính trị gia bảo thủ Áo đã ủng hộ ứng viên đảng Xanh Alexander Van der Bellen để ngăn không cho kẻ cực hữu Norbert Hofer lên làm tổng thống. Năm 2017, ứng viên cánh hữu bị loại của Pháp François Fillon đã kêu gọi cử tri của mình bỏ phiếu cho ứng viên trung tả Emmanuel Macron để chặn đứng sự trỗi dậy của Marine Le Pen. Trong cả hai trường hợp, các chính trị gia cánh hữu đã ủng hộ đối thủ ý thức hệ, khiến nhiều người ủng hộ giận dữ — nhưng vẫn thành công trong việc chuyển hướng một lượng đáng kể phiếu bầu để ngăn chặn kẻ cực đoan.</p>



<p>Một số đảng viên Cộng hòa cũng đã tuyên bố ủng hộ Hillary Clinton, với lập luận rằng Donald Trump là mối nguy hiểm nghiêm trọng đối với nền cộng hòa. Cũng như những người bảo thủ ở Pháp và Áo, họ cho rằng việc gác lại lợi ích đảng phái là điều cần thiết để bảo vệ nền dân chủ. Dưới đây là phát biểu của ba người trong số họ:</p>



<ul class="wp-block-list">
<li>Đảng viên Cộng hòa 1: “Lựa chọn của chúng ta trong kỳ bầu cử này không thể rõ ràng hơn — Hillary Clinton là người ủng hộ mạnh mẽ và rõ ràng cho các lợi ích dân chủ của nước Mỹ… Donald Trump là một mối nguy cho nền dân chủ của chúng ta.”</li>



<li>Đảng viên Cộng hòa 2: “Đã đến lúc… đặt lợi ích quốc gia lên trên đảng phái và bỏ phiếu cho bà Clinton. Trump quá nguy hiểm và không đủ tư cách để giữ chức vụ cao nhất nước.”</li>



<li>Đảng viên Cộng hòa 3: “Đây là chuyện nghiêm trọng, và tôi sẽ không phí lá phiếu của mình cho một ứng viên phản đối mang tính biểu tượng. Vì tương lai của đất nước có thể phụ thuộc vào việc ngăn Donald Trump trở thành tổng thống, tôi sẽ ủng hộ bà ấy [Clinton] trong tháng Mười Một này, và tôi kêu gọi các đảng viên Cộng hòa cùng làm điều đó.”</li>
</ul>



<p>Nếu những tuyên bố trên được đưa ra bởi Chủ tịch Hạ viện Paul Ryan, Lãnh đạo phe đa số Thượng viện Mitch McConnell, hoặc cựu Tổng thống George W. Bush — hay có thể là bộ ba thượng nghị sĩ nổi tiếng John McCain, Marco Rubio, và Ted Cruz — thì diễn biến của cuộc bầu cử 2016 đã có thể rất khác. Tiếc thay, những lời phát biểu ấy đến từ William Pierce, cựu thư ký báo chí của Thượng nghị sĩ Maine đã nghỉ hưu Olympia Snowe (Cộng hòa 1); Jack McGregor, cựu thượng nghị sĩ bang Pennsylvania (Cộng hòa 2); và Rick Stoddard, một nhân viên ngân hàng Cộng hòa ở Denver (Cộng hòa 3).</p>



<p>Các chính trị gia Cộng hòa hàng đầu như Ryan, McConnell, Rubio và Cruz lại chọn ủng hộ Trump. Những người Cộng hòa có vị thế công khai từng tuyên bố ủng hộ Hillary Clinton phần lớn là cựu chính trị gia hoặc cựu quan chức — những người không còn tranh cử nữa, không còn gì để mất về chính trị. Trước ngày bầu cử, <em>Washington Post</em> công bố danh sách 78 đảng viên Cộng hòa công khai ủng hộ Clinton. Chỉ có một người trong số đó là đương kim dân biểu — Richard Hanna (New York) — và ông cũng sắp nghỉ hưu. Không có thống đốc Cộng hòa nào, không có thượng nghị sĩ nào, và chỉ duy nhất một người đương nhiệm trong Quốc hội — đang nghỉ hưu.</p>



<p>Một vài lãnh đạo Cộng hòa còn tại chức như John McCain, Mark Kirk, Susan Collins, Kelly Ayotte, Mike Lee, Lisa Murkowski, Ben Sasse, các thống đốc John Kasich, Charlie Baker, và cựu thống đốc Jeb Bush, Mitt Romney đã từ chối ủng hộ Trump. Cựu tổng thống George W. Bush thì giữ im lặng. Nhưng không ai trong số họ công khai ủng hộ Hillary Clinton.</p>



<p>Tóm lại, phần lớn các lãnh đạo Cộng hòa đã chọn đứng về phía đảng. Nếu họ dứt khoát quay lưng lại với Trump, nói với người dân Mỹ một cách công khai và rõ ràng rằng ông ta là mối đe dọa với các thể chế quý báu của đất nước, và trên cơ sở đó ủng hộ Hillary Clinton, thì Donald Trump có thể đã không bao giờ trở thành tổng thống. Ở Pháp, ước tính có một nửa cử tri của Fillon (ứng viên bảo thủ) đã nghe theo lời ông và bỏ phiếu cho Macron, khoảng một phần ba chọn không bỏ phiếu, và chỉ còn một phần sáu quay sang ủng hộ Le Pen — đủ để tạo nên khác biệt then chốt. Ở Hoa Kỳ, chúng ta không có cách nào biết chắc cử tri Cộng hòa sẽ chia rẽ thế nào. Một số — thậm chí là đa số — có thể vẫn sẽ bầu cho Trump. Nhưng chỉ cần một phần nhỏ chuyển hướng, dưới hình ảnh cả hai đảng cùng đoàn kết ngăn chặn Trump, có lẽ cũng đã là đủ.</p>



<p>Nhưng bi kịch là: điều đó đã không xảy ra. Dù vòng vo, lưỡng lự, phần lớn các lãnh đạo đảng Cộng hòa vẫn tập hợp lại sau Trump, tạo ra hình ảnh một đảng đoàn kết. Điều đó dẫn đến sự “bình thường hóa” cuộc bầu cử. Thay vì là một thời khắc khủng hoảng, nó trở thành một cuộc đua hai đảng như bao lần khác, với Cộng hòa ủng hộ ứng viên Cộng hòa, và Dân chủ ủng hộ ứng viên Dân chủ.</p>



<p>Sự chuyển đổi này có hậu quả rất lớn. Khi cuộc bầu cử trở nên “bình thường,” nó trở thành một cuộc đua ngang ngửa, vì hai lý do:</p>



<p>Thứ nhất, sự phân cực đảng phái ngày càng tăng đã khiến cử tri trở nên “cứng” hơn. Không chỉ vì quốc gia bị phân chia rõ rệt thành Cộng hòa và Dân chủ, mà cử tri còn trở nên trung thành hơn với đảng của mình — và thù địch hơn với đảng kia. Người cử tri khó lay chuyển hơn, khiến những chiến thắng chênh lệch như năm 1964 hay 1972 trở nên rất khó lặp lại. Từ đầu những năm 2000, bầu cử tổng thống hầu như luôn sát nút.</p>



<p>Thứ hai, với nền kinh tế đang chao đảo và tỷ lệ ủng hộ trung bình của Tổng thống Obama, hầu hết các mô hình chính trị đều dự báo một cuộc bầu cử sít sao. Một số mô hình dự báo Clinton thắng sát nút, số khác Trump thắng sát nút. Dù thế nào, tất cả đều thống nhất rằng đây sẽ là cuộc đua ngang ngửa. Và các cuộc đua sát sao thì rất dễ bị ảnh hưởng bởi những biến cố bất ngờ. Trong bối cảnh đó, một “bất ngờ tháng Mười” — như một video bôi xấu ứng viên hoặc thư của giám đốc FBI làm dấy lên nghi ngờ — có thể quyết định cục diện.</p>



<p>Nếu các lãnh đạo đảng Cộng hòa công khai chống lại Trump, cục diện “đỏ-đối-xanh” của bốn kỳ bầu cử gần đó đã bị phá vỡ. Cử tri Cộng hòa có thể đã chia rẽ — một phần nghe theo lời cảnh báo của lãnh đạo, một phần vẫn ủng hộ Trump. Nhưng để Trump thất bại, chỉ cần một bộ phận nhỏ cử tri Cộng hòa chuyển hướng là đủ.</p>



<p>Thay vào đó, cuộc bầu cử được bình thường hóa. Cuộc đua trở nên sít sao.</p>



<p>Và Donald Trump đã thắng.</p>



<p><strong>PHỤ LỤC CHÚ GIẢI – CHƯƠNG 3: SỰ TỪ BỎ VĨ ĐẠI CỦA ĐẢNG CỘNG HÒA</strong></p>



<p><em>(Do ChatGPT và T.Vấn thực hiện)</em></p>



<p><strong>I. Khái niệm trung tâm</strong></p>



<p>1. Gatekeeping (Giữ cửa):<br>Chức năng của đảng phái nhằm ngăn chặn các ứng viên không phù hợp với dân chủ trước khi họ có thể giành được đề cử.</p>



<p>2. Invisible primary (Sơ bộ vô hình):<br>Giai đoạn trước bầu cử sơ bộ chính thức, trong đó các ứng viên tranh thủ sự ủng hộ của giới tài trợ, truyền thông, và lãnh đạo đảng — một loại “bầu chọn nội bộ” phi hình thức nhưng ảnh hưởng lớn.</p>



<p>3. Abdication (Từ bỏ):<br>Trong ngữ cảnh của chương, đây là việc các chính trị gia đảng dòng chính trao quyền hoặc chấp nhận quyền lực rơi vào tay một nhân vật phản dân chủ.</p>



<p>4. Ideological collusion (Thông đồng ý thức hệ):<br>Khái niệm của nhà xã hội học Ivan Ermakoff, nói về trường hợp giới chính trị dòng chính ngầm ủng hộ hoặc chấp nhận kẻ độc tài vì họ có chung một phần chương trình nghị sự.</p>



<p><strong>II. Nhân vật và tổ chức nổi bật</strong></p>



<p>5. Donald Trump:<br>Doanh nhân và ngôi sao truyền hình thực tế, trở thành ứng viên đảng Cộng hòa năm 2016. Được mô tả là một “kẻ mị dân” (<em>demagogue</em>) thỏa mãn 4 tiêu chí hành vi độc tài.</p>



<p>6. Hillary Clinton:<br>Ứng viên tổng thống của đảng Dân chủ năm 2016, cựu Ngoại trưởng Mỹ. Là đối thủ chính của Donald Trump trong kỳ bầu cử.</p>



<p>7. Paul Ryan, Mitch McConnell, John McCain, Marco Rubio, Ted Cruz:<br>Các chính trị gia cấp cao đảng Cộng hòa. Dù bày tỏ lo ngại, họ không công khai phản đối Trump bằng cách ủng hộ Clinton.</p>



<p>8. William Pierce, Jack McGregor, Rick Stoddard:<br>Ba đảng viên Cộng hòa ít tên tuổi công khai ủng hộ Hillary Clinton năm 2016, đại diện cho thiểu số dám đặt dân chủ trên đảng phái.</p>



<p>9. #NeverTrump movement:<br>Phong trào của một số thành viên đảng Cộng hòa phản đối Trump, nhưng chủ yếu dừng lại ở tuyên bố, thiếu hành động chính trị quyết liệt.</p>



<p><strong>III. Sự kiện và ví dụ quốc tế</strong></p>



<p>10. Cuộc bầu cử Tổng thống Áo năm 2016:<br>Các chính trị gia cánh hữu ủng hộ ứng viên đảng Xanh Alexander Van der Bellen để ngăn chặn ứng viên cực hữu Norbert Hofer.</p>



<p>11. Cuộc bầu cử Pháp năm 2017:<br>Cựu thủ tướng cánh hữu François Fillon kêu gọi cử tri của mình bầu cho Emmanuel Macron để ngăn Marine Le Pen, lãnh đạo Mặt trận Quốc gia cực hữu, thắng cử.</p>



<p><strong>IV. Truyền thông và ảnh hưởng</strong></p>



<p>12. Breitbart News, Fox News, Sean Hannity, Ann Coulter, Mark Levin, Michael Savage:<br>Các cá nhân và tổ chức truyền thông bảo thủ có vai trò lớn trong việc ủng hộ và khuếch đại thông điệp của Trump, nhất là trong giai đoạn đầu chiến dịch.</p>



<p>13. “October Surprise” (Bất ngờ tháng Mười):<br>Thuật ngữ chỉ những biến cố chính trị xảy ra ngay trước ngày bầu cử có thể làm thay đổi cục diện (ví dụ: video bôi nhọ, thư của FBI về Hillary Clinton năm 2016).</p>



<p><strong>V. Khái niệm và cảnh báo học thuật</strong></p>



<p>14. Litmus test for autocrats (Bài kiểm tra phát hiện nhà độc tài):<br>Bộ bốn câu hỏi chẩn đoán các hành vi phản dân chủ, bao gồm:<br>(1) Phủ nhận luật chơi dân chủ,<br>(2) Phủ nhận tính chính danh của đối thủ,<br>(3) Dung túng hoặc khuyến khích bạo lực,<br>(4) Sẵn sàng hạn chế tự do dân sự và báo chí.</p>



<p>15. Trích dẫn lịch sử – Alexander Hamilton:<br>Một trong các nhà lập quốc Mỹ, từng cảnh báo về việc “những kẻ mị dân giành được quyền lực bằng cách chiều lòng dân chúng, rồi trở thành bạo chúa.”</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Sự suy tàn văn hóa ở Hoa Kỳ: Mối đe dọa đối với nền dân chủ</title>
		<link>https://t-van.net/su-suy-tan-van-hoa-o-hoa-ky-moi-de-doa-doi-voi-nen-dan-chu/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[ChatGPT]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 10 Jun 2025 08:29:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[ChatGPT]]></category>
		<category><![CDATA[Nền Dân Chủ Sẽ Chết Như Thế Nào]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=80976</guid>

					<description><![CDATA[Ảnh: Laura Weiler GIỚI THIỆU:&#160;TV&#38;BH: CHUYÊN MỤC: ChatGPT DỊCH THUẬT The NYT: Why Cultural Decline in the U.S. Is a Threat to Democracy (Chuyển ngữ tiếng Việt: Gemini; Hiệu đính (và chịu trách nhiệm): T.Vấn) Sự suy tàn văn hóa ở Hoa Kỳ: Mối đe dọa đối với nền dân chủ Tác Giả: Jonathan Sumption [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/25sumption-superJumbobis.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="1024" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/25sumption-superJumbobis-1024x1024.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-80977" style="width:524px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/06/25sumption-superJumbobis-300x300.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/25sumption-superJumbobis-1024x1024.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2025/06/25sumption-superJumbobis-150x150.jpg 150w, https://cdn.t-van.net/2025/06/25sumption-superJumbobis-768x768.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2025/06/25sumption-superJumbobis-1536x1536.jpg 1536w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/25sumption-superJumbobis.jpg?strip=all 1920w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Ảnh: Laura Weiler</em></p>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><a href="https://t-van.net/tvbh-chuyen-muc-chatgpt-dich-thuat/"><strong>GIỚI THIỆU:</strong>&nbsp;TV&amp;BH: CHUYÊN MỤC: ChatGPT DỊCH THUẬT</a></p>



<p><strong><a href="https://www.nytimes.com/2025/06/02/opinion/united-states-democracy-culture.html?smid=nytcore-ios-share&amp;referringSource=articleShare">The NYT: Why Cultural Decline in the U.S. Is a Threat to Democracy</a></strong></p>



<p><em>(Chuyển ngữ tiếng Việt: Gemini; Hiệu đính (và chịu trách nhiệm): T.Vấn)</em></p>



<p><strong>Sự suy tàn văn hóa ở Hoa Kỳ: Mối đe dọa đối với nền dân chủ</strong><br><br><em>Tác Giả: Jonathan Sumption</em> (cựu thẩm phán Tối cao Pháp viện Anh, là tác giả cuốn sách <em>“Những thách thức của nền dân chủ và pháp quyền”)</em></p>



<p>Là một người quan sát các nền dân chủ và một luật gia hiến pháp tại Anh, tôi theo dõi với mối quan ngại ngày càng lớn khi nhiều quốc gia phương Tây đang có nguy cơ trở thành những nền dân chủ thất bại.</p>



<p>Họ có thể chưa rơi vào tình trạng như Venezuela, Peru, Hungary, Thổ Nhĩ Kỳ hay Nga. Nhưng những quốc gia ấy cho thấy điều gì có thể xảy ra khi một nền dân chủ chết đi chỉ với một tiếng rên yếu ớt, chứ không phải một tiếng kêu ầm ĩ vang trời. &nbsp;Không có xe tăng tràn ra bãi cỏ, cũng không có đám đông tràn xuống đường phố, nhưng các thể chế dần bị rút cạn mọi phẩm chất từng làm nên một thể chế dân chủ, và thường là với sự ủng hộ đáng kể từ công chúng.</p>



<p>Các quốc gia đó vẫn có bầu cử, nghị viện, tòa án và nhiều thứ tương tự. Cấu trúc thể chế vẫn hiện diện. Nhưng chúng không còn là những nền dân chủ thực sự, bởi nền văn hóa chính trị &#8211; yếu tố cốt lõi mà nền dân chủ cần có để tồn tại – đã sụp đổ.</p>



<p>Giờ đây, Hoa Kỳ đang đứng trước nguy cơ bị liệt vào danh sách ấy. Các thể chế ở Mỹ tuy vẫn phần nào vận hành, nhưng những rạn nứt đang lộ rõ. Tuy nhiên, điều đáng lo nhất chính là sự xuống cấp nghiêm trọng của văn hóa chính trị – điều làm nước Mỹ trở nên đặc biệt giống với nhiều nền dân chủ phương Tây khác đang khuỵu gối trước sức ép của những kỳ vọng ngày càng phi thực tế mà cử tri đặt lên vai nhà nước.</p>



<p>Nền dân chủ là một cơ chế hiến định để thực hiện quyền tự trị tập thể và là phương thức trao quyền quyết định cho những người được đa số chấp nhận – những người mà quyền lực của họ được xác định, bị giới hạn, và có thể bị thu hồi. Đó là khung thể chế.</p>



<p>Nhưng văn hóa dân chủ đòi hỏi nhiều hơn thế. Nó phụ thuộc vào bản năng của cả giới chính trị lẫn công dân. Nó kêu gọi sự sẵn sàng chọn những giải pháp mà phần đông người dân có thể chấp nhận được. Nó đòi hỏi sự tuân thủ những quy ước về việc sử dụng quyền lực, ngay cả khi hợp pháp, sao cho không trở nên tùy tiện, thù địch hay áp bức. Trên hết, nó yêu cầu con người phải đối xử với đối thủ chính trị như những công dân cùng chung một xã hội – chứ không phải như những kẻ thù cần bị tiêu diệt.</p>



<p>Chính vì thế mà Tổng thống Trump trở nên đáng chú ý – ông ta thể hiện đầy đủ ba dấu hiệu kinh điển của một chế độ toàn trị: một nhà lãnh đạo lôi cuốn với sự sùng bái cá nhân, sự đồng nhất hóa bản thân với nhà nước, và sự từ chối thừa nhận tính chính danh của đối lập hay bất đồng. Hệ quả là một chế độ cai trị tùy tiện thay thế cho nhà nước pháp quyền – điều mà các nhà lập quốc từng coi là tường thành chống lại chuyên quyền.</p>



<p>Tổng thống Trump đã sử dụng quyền lực công để theo đuổi mối thù cá nhân: nhắm vào các hãng luật đại diện cho đối thủ chính trị của ông ta; tước bỏ bảo vệ an ninh cho các nhân vật công chúng; hay trừng phạt các thiết chế văn hóa như Harvard hay Trung tâm Kennedy chỉ vì họ không chia sẻ chương trình nghị sự cá nhân của ông ta.</p>



<p>Điều 2 của Hiến pháp Hoa Kỳ yêu cầu tổng thống phải “bảo đảm rằng các luật được thi hành một cách trung thực.” Tuy nhiên, điều này cũng đã trở nên phụ thuộc vào sự tùy tiện cá nhân của tổng thống. Ông Trump đã chỉ đạo Bộ Tư pháp không thực thi các đạo luật do Quốc hội thông qua, chẳng hạn như Đạo luật về Thực hành Tham nhũng Nước ngoài; đã cắt giảm hoặc chấm dứt các chương trình mà Quốc hội đã phân bổ ngân sách; và đã đe dọa các thống đốc cùng các cơ quan chức năng khác bằng cách cắt giảm ngân sách liên bang nếu họ không tuân theo ý muốn của ông.</p>



<p>Là một người quan sát từ xa, tôi có thể theo dõi những diễn biến này với một khoảng cách an toàn, nhưng chúng ta cần nhìn nhận sự mong manh của các nền dân chủ của chính mình. Những gì đang xảy ra tại Hoa Kỳ thực chất là một cuộc khủng hoảng về kỳ vọng – điều cũng phổ biến ở các nền dân chủ tiên tiến khác. Một cuộc khảo sát có uy tín tại Anh vào năm 2019 cho thấy đa số người dân (54%) đồng ý với tuyên bố rằng “Nước Anh cần một nhà lãnh đạo mạnh mẽ sẵn sàng phá vỡ các quy tắc.”</p>



<p>Châu Âu lục địa đã chứng kiến sự ủng hộ cao đối với các nhân vật công khai độc đoán, như Marine Le Pen ở Pháp, Jörg Haider ở Áo, Viktor Orbán ở Hungary và các lãnh đạo chủ chốt của đảng Alternative for Germany.</p>



<p>Lý do thì phức tạp, nhưng nguyên nhân chính là kỳ vọng ngày càng phi thực tế của người dân đối với nhà nước, và sự sợ rủi ro ngày càng lớn trong cử tri<strong>. </strong>Có những điều mà cử tri mong đợi nằm ngoài khả năng của nhà nước. Một số điều khác chỉ có thể đạt được bằng cách hy sinh những giá trị quan trọng không kém. Điều này đặc biệt đúng với kỳ vọng mạnh mẽ nhất: rằng nhà nước sẽ bảo vệ họ khỏi những rủi ro kinh tế bất lợi.</p>



<p>Chúng ta khao khát nhà nước bảo vệ mình khỏi vô vàn rủi ro vốn là một phần của cuộc sống: mất việc, thất bại tài chính, hạn hán, cháy rừng và lũ lụt, bệnh tật và tai nạn. Ở một khía cạnh nào đó, đây là phản ứng tự nhiên đối với sự gia tăng vượt bậc của năng lực kỹ thuật nhân loại từ giữa thế kỷ 19. Trước mọi hiểm họa, chúng ta đều yêu cầu nhà nước đưa ra giải pháp. Nếu không có giải pháp, ta cho đó là vì chính quyền bất tài.</p>



<p>Khi những kỳ vọng này không được đáp ứng — điều xảy ra rất thường xuyên — người dân đổ lỗi cho hệ thống hay cái gọi là “nhà nước ngầm”. Họ quay lưng với toàn bộ giới chính trị vì đã không đáp ứng được mong đợi về việc cải thiện đời sống theo chiều hướng tiến bộ. Khi thiếu một văn hóa dân chủ, người ta theo bản năng quay sang tìm đến các nhà lãnh đạo mạnh tay, và tự huyễn hoặc rằng những nhà lãnh đạo đó mới thực sự làm được việc.</p>



<p><strong>Hoa Kỳ là một ví dụ đặc biệt đáng chú ý.</strong> Quốc gia này đã trải qua hơn 150 năm hưng thịnh gần như liên tục. Giờ đây, thời kỳ ấy có thể đang chấm dứt, khi họ phải cạnh tranh với những quốc gia như Ấn Độ và Trung Quốc. Các kỹ năng truyền thống dần trở nên lỗi thời trong nền kinh tế có mức lương cao, khi thịnh vượng quốc gia chuyển dịch sang các ngành công nghệ cao, ảnh hưởng đến thu nhập trước đây vốn đến từ sản xuất, nông nghiệp và khai thác tài nguyên. Ngay cả trong lĩnh vực công nghệ cao — nơi Mỹ từng giữ vị thế vượt trội — lợi thế đó giờ đây đang bị thu hẹp, thậm chí trong vài trường hợp, đã biến mất.</p>



<p>Tình trạng này không chỉ riêng nước Mỹ. Châu Âu thậm chí còn gặp khó khăn hơn, trong khi người dân nơi đây lại có kỳ vọng cao hơn về vai trò của nhà nước. Sự vỡ mộng về tương lai tươi sáng là một thời khắc nguy hiểm trong đời sống của bất kỳ nền dân chủ nào. Chính sự thất vọng với lời hứa về tiến bộ từng là yếu tố lớn dẫn đến khủng hoảng tại châu Âu, bắt đầu từ năm 1914 và kết thúc vào năm 1945.</p>



<p><strong>Bi kịch là ở chỗ lịch sử cho thấy các nhà lãnh đạo độc đoán không làm nên thành tựu gì.</strong> Cùng lắm, họ chỉ thỏa mãn được một số ảo tưởng của công chúng – nhưng với cái giá nào? Những nhà lãnh đạo mạnh tay thường bị ám ảnh bởi một vài ý tưởng đơn giản mà họ đưa ra như thể đó là lời giải cho các vấn đề phức tạp. Việc tập trung quyền lực vào một nhóm nhỏ, thiếu thảo luận và giám sát rộng rãi, cho phép họ đưa ra các quyết định lớn một cách bốc đồng, không suy tính thấu đáo, thiếu kế hoạch, nghiên cứu hay tham khảo ý kiến. Trong nội bộ chính phủ, nhà lãnh đạo độc đoán đề cao sự trung thành thay vì trí tuệ, tâng bốc thay vì lời khuyên khách quan, và tư lợi thay vì lợi ích công cộng. Tất cả những điều đó thường dẫn đến hỗn loạn, khủng hoảng chính trị, suy thoái kinh tế và chia rẽ xã hội.</p>



<p>Nếu đủ số cử tri Hoa Kỳ tiếp tục bỏ phiếu cho các nhân vật độc đoán và đưa các cộng sự của họ vào Quốc hội, nền dân chủ sẽ không thể tồn tại. Nhưng điều đó vẫn chưa phải là tất yếu.</p>



<p>Những nhà lập quốc của Hoa Kỳ hiểu rõ rằng nền dân chủ phụ thuộc vào văn hóa chính trị, và cũng ý thức sâu sắc về sự mong manh của nó. Tổng thống thứ hai của Hoa Kỳ, John Adams, đã tóm lược nỗi lo ấy trong một bức thư vào cuối đời. Ông viết rằng nền dân chủ cũng dễ bị tổn thương bởi phù phiếm, kiêu hãnh, lòng tham và tham vọng – giống như bất kỳ hình thức chính quyền nào khác – và thậm chí còn kém ổn định hơn. “Chưa từng có nền dân chủ nào mà không tự sát,” ông viết.</p>



<p>Câu trả lời của các nhà lập quốc trước xu hướng tự hủy của nền dân chủ là thiết kế một &#8220;chính quyền của pháp luật, chứ không phải của con người&#8221;. Một chính quyền của pháp luật dựa trên các nguyên tắc lý tính, được áp dụng nhất quán. Một chính quyền của con người thì khác: đó là lời mời gọi cho sự cai trị bằng tùy tiện, dưới sự điều khiển của một nhóm nhỏ ở trung tâm quyền lực, bị dẫn dắt bởi những thói xấu mà Adams cho rằng sẽ sớm muộn phá hủy bất kỳ nền dân chủ nào – phù phiếm, kiêu hãnh, lòng tham và tham vọng.</p>



<p><strong>Trong lịch sử Hoa Kỳ từng có những kẻ mị dân. Cho đến nay, họ đều thất bại.</strong> Các đảng phái chính trị trước đây từng đủ tôn trọng thể chế dân chủ để gạt họ ra ngoài cuộc chơi.</p>



<p>Những người bạn của Hoa Kỳ trên khắp thế giới chỉ có thể hy vọng rằng trải nghiệm dưới một chính quyền độc đoán sẽ khiến cử tri nước này thức tỉnh và phục hồi truyền thống dân chủ của mình — và qua đó, thực sự khiến nước Mỹ vĩ đại trở lại.</p>



<p><em><strong>Jonathan Sumption </strong></em></p>



<p>_______________________________</p>



<p><strong>PHỤ LỤC CHÚ GIẢI</strong></p>



<p>(Do ChatGPT và T.Vấn thực hiện)</p>



<p><strong>1. Jonathan Sumption</strong>: Một cựu thẩm phán của Tối cao Pháp viện Vương quốc Anh, đồng thời là nhà sử học và tác giả có tiếng. Ông nổi tiếng với những quan điểm phản biện mạnh mẽ về dân chủ, pháp quyền, và văn hóa chính trị phương Tây.</p>



<p><strong>2. Venezuela, Peru, Hungary, Turkey, Russia</strong>: Các quốc gia từng có nền dân chủ hoặc từng tổ chức bầu cử, nhưng đã bị suy thoái nghiêm trọng về thể chế, chuyển hóa thành các chính quyền chuyên quyền hoặc phi tự do:</p>



<ul class="wp-block-list">
<li><em>Venezuela</em> dưới thời Hugo Chávez và Nicolás Maduro.</li>



<li><em>Hungary</em> dưới thời Viktor Orbán, thường bị chỉ trích vì phá hoại tự do báo chí và tư pháp.</li>



<li><em>Turkey</em> dưới thời Recep Tayyip Erdoğan, ngày càng tập trung quyền lực.</li>



<li><em>Russia</em> dưới thời Vladimir Putin, thường bị xem là nhà nước độc tài chuyên chế.</li>
</ul>



<p><strong>3. “Government of laws and not of men”</strong>: Cụm từ nổi tiếng từ John Adams (Tổng thống thứ hai của Hoa Kỳ), khẳng định lý tưởng rằng quốc gia phải được cai trị bởi pháp luật, chứ không phải bởi ý chí tùy tiện của cá nhân.</p>



<p><strong>4. “There never was a democracy yet that did not commit suicide”</strong>: Một câu nói nổi tiếng khác của John Adams, chỉ ra rằng sự suy sụp của các nền dân chủ thường đến từ bên trong — do chính những thất bại về văn hóa chính trị, hơn là từ xâm lược hay đảo chính.</p>



<p><strong>5. Article 2 of the Constitution</strong>: Điều 2 của Hiến pháp Hoa Kỳ quy định quyền hạn và trách nhiệm của Tổng thống, trong đó có điều khoản bắt buộc người đứng đầu hành pháp phải “thi hành luật pháp một cách trung thực” (“take care that the laws be faithfully executed”).</p>



<p><strong>6. Deep state (Nhà nước ngầm)</strong>: Một thuật ngữ thường được sử dụng bởi các nhà dân túy hay cánh hữu cực đoan để chỉ một hệ thống quyền lực bí mật, phi chính thức, được cho là thao túng chính sách và các cơ quan nhà nước độc lập với lãnh đạo dân cử.</p>



<p><strong>7. Strongmen (Nhà lãnh đạo độc đoán / chuyên quyền)</strong>: Các nhà lãnh đạo tập trung quyền lực cá nhân, thường qua việc phá hoại thể chế dân chủ, lạm dụng quyền lực và loại bỏ đối thủ. Ví dụ: Donald Trump (Mỹ), Vladimir Putin (Nga), Viktor Orbán (Hungary), Jair Bolsonaro (Brazil – giai đoạn cầm quyền), v.v.</p>



<p><strong>8. Marine Le Pen, Jörg Haider, Viktor Orbán, Alternative for Germany (AfD)</strong>:</p>



<ul class="wp-block-list">
<li><em>Marine Le Pen</em>: Lãnh đạo phe cực hữu ở Pháp, nổi tiếng với quan điểm dân túy và chống nhập cư.</li>



<li><em>Jörg Haider</em>: Chính trị gia cực hữu người Áo, từng gây tranh cãi vì tư tưởng dân tộc chủ nghĩa.</li>



<li><em>Viktor Orbán</em>: Thủ tướng Hungary, bị cáo buộc làm xói mòn các thể chế dân chủ.</li>



<li><em>Alternative for Germany (AfD)</em>: Đảng chính trị cực hữu tại Đức, nổi lên nhờ các lập luận bài ngoại và dân túy.</li>
</ul>



<p><strong>9. Foreign Corrupt Practices Act (FCPA)</strong>: Luật liên bang Hoa Kỳ được thông qua năm 1977, cấm các công ty Mỹ hối lộ quan chức nước ngoài để đạt được lợi ích kinh doanh. Là một trong những công cụ quan trọng để bảo vệ minh bạch trong kinh tế toàn cầu.</p>



<p><strong>10. Kennedy Center và Harvard</strong>: Hai trong nhiều tổ chức văn hóa – giáo dục hàng đầu ở Mỹ bị Donald Trump công khai tấn công hoặc rút tài trợ trong nhiệm kỳ, thể hiện sự trả đũa với các tổ chức không tuân theo lập trường chính trị của ông.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Steven Levitsky &#038; Daniel Ziblatt:  NỀN DÂN CHỦ SẼ CHẾT NHƯ THẾ NÀO – Chương 2: Cơ Chế Gác Cửa Của Chính Trị Nước Mỹ</title>
		<link>https://t-van.net/steven-levitsky-daniel-ziblatt-nen-dan-chu-se-chet-nhu-the-nao-chuong-2-co-che-gac-cua-cua-chinh-tri-nuoc-my/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[ChatGPT]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 09 Jun 2025 15:41:17 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[ChatGPT DỊCH THUẬT - TỦ SÁCH THẾ GIỚI]]></category>
		<category><![CDATA[Nền Dân Chủ Sẽ Chết Như Thế Nào]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=81003</guid>

					<description><![CDATA[GIỚI THIỆU TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM Nguyên Tác: HOW DEMOCRACIES DIE (2018) của&#160;Steven Levitsky &#38; Daniel Ziblatt (Chuyển ngữ tiếng Việt: ChatGPT; Hiệu đính (và chịu trách nhiệm): T.Vấn) Chương 2: Cơ Chế Gác Cửa Của Chính Trị Nước Mỹ Trong tiểu thuyết The Plot Against America (Âm mưu chống lại nước Mỹ), nhà [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/71nkYi9OL.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="667" height="1024" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/71nkYi9OL-667x1024.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-80750" style="width:395px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/06/71nkYi9OL-195x300.jpg 195w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/71nkYi9OL-667x1024.jpg?strip=all 667w, https://cdn.t-van.net/2025/06/71nkYi9OL-768x1179.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2025/06/71nkYi9OL-1001x1536.jpg 1001w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/71nkYi9OL.jpg?strip=all 1251w" sizes="(max-width: 667px) 100vw, 667px" /></a><figcaption class="wp-element-caption">Version 1.0.0</figcaption></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><strong><a href="https://t-van.net/steven-levitsky-daniel-ziblatt-nen-dan-chu-se-chet-nhu-the-nao/">GIỚI THIỆU TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM</a></strong></p>



<p><strong>Nguyên Tác: HOW DEMOCRACIES DIE (2018) của</strong>&nbsp;<strong>Steven Levitsky &amp; Daniel Ziblatt</strong></p>



<p><em>(Chuyển ngữ tiếng Việt: ChatGPT; Hiệu đính (và chịu trách nhiệm): T.Vấn)</em></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>Chương 2: </strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>Cơ Chế Gác Cửa Của Chính Trị Nước Mỹ</strong></p>



<p>Trong tiểu thuyết <em>The Plot Against America</em> (<em>Âm mưu chống lại nước Mỹ</em>), nhà văn người Mỹ Philip Roth phát triển từ các sự kiện lịch sử có thật để tưởng tượng chủ nghĩa phát xít sẽ trông như thế nào nếu xuất hiện tại nước Mỹ trước Thế chiến thứ Hai.</p>



<p>Nhân vật trung tâm là Charles Lindbergh, người hùng truyền thông đại chúng đầu tiên của Mỹ: ông trở nên nổi tiếng rực rỡ nhờ chuyến bay đơn độc vượt Đại Tây Dương vào năm 1927 và sau này trở thành một nhà hoạt động chủ nghĩa biệt lập (isolationist) và người đồng cảm với phát xít Đức. Nhưng từ đây, lịch sử rẽ theo hướng giả tưởng trong tay Roth: thay vì lui vào hậu trường, Lindbergh xuất hiện bằng máy bay tại đại hội Đảng Cộng hòa năm 1940 ở Philadelphia lúc 3 giờ 14 sáng, đúng vào lúc hội trường đang bế tắc ở vòng bỏ phiếu thứ hai mươi. Những tiếng hô “Lindy! Lindy! Lindy!” vang dội trong suốt ba mươi phút trên sàn đại hội. Trong cơn sốt tập thể, tên ông được đề cử, có người thứ hai tán thành, và lập tức được thông qua bằng hình thức đồng thanh nhất trí đề cử ông ta làm ứng viên tổng thống của đảng. Lindbergh — một người không hề có kinh nghiệm chính trị nhưng cực kỳ thành thạo truyền thông đại chúng — bỏ ngoài tai lời khuyên của cố vấn, tự lái chiếc máy bay biểu tượng Spirit of St. Louis bay từ tiểu bang này sang tiểu bang khác để vận động tranh cử, trong bộ đồ bay, đeo kính phi công và đi bốt cao cổ.</p>



<p>Trong thế giới đảo lộn ấy, Lindbergh đánh bại tổng thống đương nhiệm Franklin Delano Roosevelt để trở thành người đứng đầu nước Mỹ. Chiến dịch của ông, sau đó được tiết lộ là có liên hệ với Hitler, dẫn đến việc ký các hiệp ước hòa bình với kẻ thù của nước Mỹ. Một làn sóng bài Do Thái và bạo lực quét khắp đất nước.</p>



<p>Nhiều người Mỹ thấy có sự tương đồng giữa cuộc bầu cử tổng thống năm 2016 và tiểu thuyết hư cấu của Roth. Giả định trung tâm — một kẻ ngoài lề có hồ sơ dân chủ đáng ngờ lên nắm quyền với sự hỗ trợ của một thế lực ngoại bang — khiến người đọc không thể không liên tưởng. Nhưng sự so sánh này cũng đặt ra một câu hỏi khác đáng suy ngẫm: Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng ở Mỹ những năm 1930, tại sao điều này đã không xảy ra?</p>



<p>Lý do vì sao không có một gã mị dân cực đoan nào đắc cử tổng thống Mỹ trước năm 2016 không phải vì thiếu những kẻ như thế. Cũng không phải vì không có sự ủng hộ từ công chúng dành cho họ. Trái lại, các nhân vật cực đoan từ lâu đã rải rác khắp chính trường Mỹ. Riêng trong thập niên 1930, có đến khoảng 800 tổ chức cực hữu tồn tại tại Hoa Kỳ.</p>



<p>Một trong những nhân vật nổi bật nhất trong thời kỳ đó là Cha Charles Coughlin, một linh mục Công giáo bài Do Thái, người điều hành một chương trình phát thanh quốc gia mang tư tưởng dân tộc chủ nghĩa cực đoan với lượng khán thính giả lên đến 40 triệu người mỗi tuần. Cha Coughlin công khai chống lại dân chủ, kêu gọi xóa bỏ các đảng phái chính trị và hoài nghi giá trị của bầu cử. Tờ báo do ông sáng lập, <em>Công Lý Xã Hội</em> (<em>Social Justice</em>), thể hiện lập trường thân phát xít trong những năm 1930, tôn vinh Mussolini là “Nhân vật trong tuần” và thường xuyên lên tiếng bênh vực chế độ Đức Quốc xã. Dù có lập trường cực đoan, Cha Coughlin vẫn rất được yêu mến. Tạp chí <em>Fortune</em> từng gọi ông là “có lẽ là hiện tượng lớn nhất trong lịch sử phát thanh.” Ông diễn thuyết trước các sân vận động và khán phòng chật kín người trên khắp đất nước; mỗi khi ông đến thành phố nào, người hâm mộ xếp hàng dài chỉ để được nhìn thấy ông đi qua. Một số nhà quan sát thời đó gọi ông là nhân vật có ảnh hưởng nhất nước Mỹ chỉ sau Roosevelt.</p>



<p>Thời kỳ Đại Suy Thoái cũng chứng kiến sự trỗi dậy của Huey Long, thống đốc và thượng nghị sĩ bang Louisiana, người tự gọi mình là “Kingfish.” Sử gia Arthur M. Schlesinger Jr. mô tả ông là “tên mị dân vĩ đại nhất của thời đại, một người giống như các nhà độc tài Nam Mỹ, kiểu như Vargas hay Perón.” Kingfish là một diễn giả đầy cuốn hút và thường ngang nhiên chà đạp luật pháp. Với vai trò thống đốc, Long đã xây dựng nên điều mà Schlesinger mô tả là “hình thái gần nhất với một nhà nước toàn trị mà Cộng hòa Hoa Kỳ từng chứng kiến,” bằng cách dùng hối lộ và đe dọa để kiểm soát toàn bộ quốc hội bang, tòa án, và báo chí. Khi một nghị sĩ đối lập hỏi ông đã từng đọc hiến pháp bang chưa, Long đáp: “Hiện giờ tôi chính là hiến pháp.” Biên tập viên báo chí Hodding Carter gọi Long là “nhà độc tài thực thụ đầu tiên mọc lên từ chính đất Mỹ.” Khi James A. Farley, trưởng ban vận động tranh cử của Roosevelt, gặp Mussolini tại Rome năm 1933, ông đã viết rằng nhà độc tài Ý này “làm tôi nhớ đến Huey Long.”</p>



<p>Long tập hợp được một lực lượng đông đảo nhờ khẩu hiệu phân phối lại tài sản. Năm 1934, ông được cho là nhận được “nhiều thư hơn tất cả các thượng nghị sĩ khác cộng lại — thậm chí còn nhiều hơn cả tổng thống.” Phong trào “Chia sẻ Tài sản” (<em>Share Our Wealth</em>) của ông khi đó có hơn 27.000 chi nhánh trên khắp cả nước và danh sách gửi thư lên tới gần 8 triệu người. Long dự định tranh cử tổng thống, từng nói với một phóng viên <em>New York Times</em>: “Tôi có thể đánh bại Roosevelt&#8230; Tôi hứa hẹn nhiều hơn ông ta. Và ông ta biết điều đó.” Roosevelt coi Long là mối đe dọa nghiêm trọng nhưng được giải nguy khi Long bị ám sát vào tháng 9 năm 1935.</p>



<p>Xu hướng độc tài của nước Mỹ không chấm dứt sau Thế chiến II. Thượng nghị sĩ Joseph McCarthy, người tận dụng nỗi sợ cộng sản thời kỳ Chiến tranh Lạnh để thúc đẩy phong trào cấm sách, kiểm duyệt và danh sách đen, từng được đông đảo công chúng ủng hộ. Vào thời kỳ quyền lực đỉnh cao, các cuộc thăm dò cho thấy gần một nửa người dân Mỹ ủng hộ ông. Ngay cả sau khi Thượng viện ra nghị quyết khiển trách ông năm 1954, McCarthy vẫn giữ được 40% sự ủng hộ trong các khảo sát của Gallup.</p>



<p>Một thập kỷ sau, thống đốc bang Alabama George Wallace, với lập trường bảo vệ phân biệt chủng tộc cứng rắn, đã nổi lên trên toàn quốc và tham gia tranh cử tổng thống một cách đáng gờm vào năm 1968 và 1972. Wallace thực hiện điều mà nhà báo Arthur Hadley gọi là “truyền thống lâu đời và đáng kính của nước Mỹ: ghét kẻ có quyền lực.” Hadley viết rằng Wallace là bậc thầy trong việc khai thác “nỗi phẫn nộ thuần túy kiểu Mỹ.” Wallace thường khuyến khích bạo lực và xem thường hiến pháp, từng tuyên bố:</p>



<p>“Có một thứ còn mạnh hơn cả Hiến pháp… Đó là ý chí của nhân dân. Hiến pháp là gì chứ? Đó là sản phẩm của người dân. Người dân là nguồn quyền lực tối cao, và nếu họ muốn, họ hoàn toàn có thể bãi bỏ Hiến pháp.”</p>



<p>Thông điệp của Wallace, kết hợp giữa chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và lời kêu gọi dân túy đánh vào tâm lý nạn nhân và phẫn nộ kinh tế của tầng lớp lao động da trắng, đã giúp ông thâm nhập vào nền tảng cử tri lao động truyền thống của Đảng Dân chủ. Các cuộc khảo sát cho thấy khoảng 40% người dân Mỹ ủng hộ Wallace trong chiến dịch tranh cử dưới danh nghĩa đảng thứ ba năm 1968, và đến năm 1972 ông khiến giới chính trị choáng váng khi trở thành một đối thủ nghiêm túc trong các vòng bầu cử sơ bộ của Đảng Dân chủ. Khi chiến dịch của Wallace bị gián đoạn bởi một vụ ám sát hụt vào tháng 5 năm 1972, ông đang dẫn trước George McGovern hơn một triệu phiếu trong các vòng bầu cử sơ bộ.</p>



<p>Tóm lại, người Mỹ từ lâu đã mang trong mình một mạch ngầm độc tài. Việc các nhân vật như Coughlin, Long, McCarthy và Wallace nhận được sự ủng hộ từ một bộ phận dân chúng không phải là điều hiếm gặp — con số đó thường lên đến 30%, thậm chí 40%. Chúng ta thường tự trấn an rằng văn hóa chính trị quốc gia của Mỹ có khả năng miễn nhiễm với những loại luận điệu đó, nhưng đó là cái nhìn tô hồng lịch sử. Sự bảo vệ thực sự trước các phần tử độc tài tiềm tàng không đến từ cam kết vững chắc với dân chủ của người dân Mỹ, mà đến từ các người giữ cửa — các đảng phái chính trị của chúng ta.</p>



<p>—</p>



<p>Ngày 8 tháng 6 năm 1920, khi nhiệm kỳ tổng thống của Woodrow Wilson đang dần kết thúc, các đại biểu Đảng Cộng hòa tập trung để chọn ứng viên của mình trong khán phòng Coliseum tại Chicago — được trang hoàng bằng cờ nhưng thông gió kém — nơi nhiệt độ gay gắt lên đến hơn 100 độ F (khoảng 38°C). Sau chín vòng bỏ phiếu kéo dài bốn ngày, đại hội vẫn chưa ngã ngũ. Tối thứ Sáu, tại phòng Suite 404 trên tầng 13 của khách sạn Blackstone gần đó, Chủ tịch Ủy ban Quốc gia Đảng Cộng hòa Will Hays và nhà xuất bản quyền lực George Harvey (người sáng lập <em>Harvey’s Weekly</em>) tổ chức một cuộc họp luân phiên với các thượng nghị sĩ và lãnh đạo đảng trong căn phòng hậu trường nổi tiếng đầy khói thuốc đầu tiên — nơi được báo chí gọi là &#8220;phòng đầy khói&#8221; (<em>smoke-filled room</em>). Giới bảo thủ kỳ cựu (Old Guard), như cách các nhà báo gọi họ, rót rượu, hút xì gà và thảo luận suốt đêm về cách tháo gỡ thế bế tắc để chọn ra một ứng viên đạt đủ 493 phiếu đại biểu cần thiết.</p>



<p>Người dẫn đầu trên sàn đại hội là Thiếu tướng Leonard Wood, một đồng minh lâu năm của Theodore Roosevelt, người đã gây được sự hào hứng lớn trong vòng bầu cử sơ bộ và chiếm thế thượng phong trong các vòng bỏ phiếu đầu tiên, với 287 đại biểu. Đứng sau ông là Thống đốc Illinois Frank Lowden, Thượng nghị sĩ California Hiram Johnson, và Thượng nghị sĩ Ohio Warren G. Harding, người đang ở vị trí xa nhất với chỉ 65 phiếu rưỡi. Từ sàn đại hội, phóng viên tường thuật: “Không ai nhắc đến Harding… [Ông ấy] thậm chí không được xem là một ‘ngựa ô’ tiềm năng.” Nhưng khi tin đồn lan ra về các cuộc thương lượng đang diễn ra tại khách sạn Blackstone, một số phóng viên đầy quyết tâm đã tìm đường lên tầng 13 và lặng lẽ tụ tập ngoài hành lang Suite 404 để theo dõi các thượng nghị sĩ quyền lực như Henry Cabot Lodge của Massachusetts, McCormick của Illinois, Phipps của Colorado, Calder của New York, cựu thượng nghị sĩ Crane của Massachusetts và nhiều người khác ra vào phòng họp.</p>



<p>Bên trong Suite 404, các ưu và nhược điểm của từng ứng viên được xem xét và tranh luận kỹ lưỡng (Knox thì quá già; Lodge thì không thích Coolidge). Lúc 1 giờ sáng, bảy thành viên của nhóm bảo thủ kỳ cựu vẫn còn ở lại trong phòng và đã tiến hành một “cuộc bỏ phiếu đứng.” Đến 2:11 sáng, George Harvey gọi Harding vào và thông báo rằng ông đã được chọn. Tin này nhanh chóng lan rộng. Tối hôm sau, trong vòng bỏ phiếu thứ mười, giữa tiếng reo hò sôi nổi của các đại biểu mệt mỏi vì nóng bức, Warren G. Harding giành được 692 phiếu rưỡi, vượt xa mức cần thiết để giành đề cử của Đảng Cộng hòa năm 1920 — dù trước đó ông chỉ giành được hơn 4% phiếu trong các cuộc bầu cử sơ bộ.</p>



<p>Ngày nay, không ai còn thích những “phòng đầy khói” — và điều đó là hoàn toàn dễ hiểu. Đó không phải là quy trình dân chủ. Ứng viên được chọn bởi một nhóm nhỏ các nhà môi giới quyền lực, những người không chịu trách nhiệm trước đảng viên thường hay công chúng. Và những căn phòng đầy khói cũng không phải lúc nào cũng cho ra những tổng thống tốt — nhiệm kỳ của Harding, suy cho cùng, bị đánh dấu bởi nhiều tai tiếng. Nhưng việc lựa chọn ứng viên trong hậu trường cũng có một giá trị mà ngày nay thường bị quên lãng: nó đóng vai trò như một cơ chế giữ cửa, ngăn không cho những nhân vật rõ ràng không đủ tư cách xuất hiện trên lá phiếu và bước vào chính quyền. Dĩ nhiên, động cơ cho việc này không xuất phát từ lý tưởng cao cả của các lãnh đạo đảng. Các ông trùm chính trị (<em>party bosses</em>), như đối thủ của họ thường gọi, đơn giản là muốn chọn những ứng viên an toàn, có khả năng thắng cử. Chính sự thận trọng với rủi ro ấy khiến họ né tránh những phần tử cực đoan.</p>



<p>Các cơ chế giữ cửa đã xuất hiện từ thời lập quốc của nền cộng hòa Hoa Kỳ. Hiến pháp năm 1787 đã tạo ra hệ thống tổng thống đầu tiên trên thế giới. Chế độ tổng thống đặt ra những thách thức đặc thù đối với việc giữ cửa. Trong các nền dân chủ nghị viện, thủ tướng là một thành viên quốc hội và được chọn bởi các đảng dẫn đầu trong quốc hội, điều này gần như đảm bảo rằng họ sẽ là người được giới chính trị chấp nhận. Bản thân quá trình thành lập chính phủ đã là một bộ lọc. Trong khi đó, tổng thống không phải là thành viên quốc hội, cũng không được quốc hội bầu ra. Ít nhất về lý thuyết, họ được bầu trực tiếp bởi nhân dân, và bất kỳ ai cũng có thể ra tranh cử tổng thống — và nếu nhận đủ sự ủng hộ, thì có thể thắng.</p>



<p>Các nhà lập quốc của Hoa Kỳ đặc biệt quan tâm đến việc giữ cửa. Trong quá trình thiết kế Hiến pháp và hệ thống bầu cử, họ đã vật lộn với một nan đề vẫn còn tồn tại đến tận ngày nay. Một mặt, họ không mong muốn một quân vương mà là một vị tổng thống được bầu — người phù hợp với ý tưởng của họ về một nền cộng hòa dân cử, phản ánh ý chí của nhân dân. Nhưng mặt khác, các nhà lập quốc lại không hoàn toàn tin tưởng vào khả năng của người dân trong việc đánh giá năng lực của các ứng viên. Alexander Hamilton lo ngại rằng một tổng thống được bầu trực tiếp bởi quần chúng có thể bị lợi dụng quá dễ dàng bởi những kẻ đánh vào nỗi sợ và sự ngu muội để giành chiến thắng, rồi sau đó cai trị như bạo chúa. “Lịch sử sẽ dạy ta,” Hamilton viết trong <em>The Federalist Papers</em>, rằng “trong số những người từng làm tiêu tan tự do của các nền cộng hòa, phần lớn bắt đầu bằng cách tỏ ra khúm núm lấy lòng quần chúng — khởi đầu là kẻ mị dân, và kết thúc là bạo chúa.” Với Hamilton và các đồng sự, bầu cử cần một cơ chế sàng lọc có sẵn.</p>



<p>Cơ chế mà các nhà lập quốc nghĩ ra chính là Cử tri đoàn (Electoral College). Điều II của Hiến pháp đã thiết lập một hệ thống bầu cử gián tiếp phản ánh suy nghĩ của Hamilton trong bài <em>Federalist số 68</em>:</p>



<p>Việc bầu cử trực tiếp nên được trao cho những người có khả năng nhất trong việc phân tích phẩm chất phù hợp với cương vị, và hành động trong hoàn cảnh thuận lợi cho việc cân nhắc, với sự kết hợp cẩn trọng mọi lý do và động cơ thích đáng.</p>



<p>Cử tri đoàn, bao gồm những người nổi bật tại từng bang, sẽ chịu trách nhiệm chọn tổng thống. Theo mô hình này, Hamilton lý luận rằng “chức vụ tổng thống hiếm khi rơi vào tay một người không có phẩm chất cần thiết ở mức độ nổi bật.” Những kẻ có “tài xoay sở vặt vãnh và mánh lới lấy lòng quần chúng” sẽ bị loại khỏi vòng tranh cử. Do đó, Cử tri đoàn đã trở thành cơ chế giữ cửa ban đầu của nền dân chủ Hoa Kỳ.</p>



<p>Tuy nhiên, hệ thống này sớm trở nên không hiệu quả do hai khiếm khuyết trong thiết kế ban đầu của các nhà lập quốc. Thứ nhất, Hiến pháp không nói rõ cách thức chọn ứng viên tổng thống. Cử tri đoàn chỉ được kích hoạt sau khi người dân đi bầu, và không đóng vai trò gì trong việc quyết định ai là người ra tranh cử. Thứ hai, Hiến pháp không đề cập đến các đảng phái chính trị. Mặc dù Thomas Jefferson và James Madison sau này đã đặt nền móng cho hệ thống hai đảng, các nhà lập quốc không lường trước được sự tồn tại và vai trò trung tâm của đảng phái.</p>



<p>Sự trỗi dậy của các đảng chính trị vào đầu thế kỷ XIX đã thay đổi cách vận hành của hệ thống bầu cử. Thay vì bầu các nhân sĩ địa phương vào Cử tri đoàn như các nhà lập quốc hình dung, từng bang bắt đầu bầu các đảng viên trung thành. Các đại cử tri trở thành người đại diện cho đảng, đồng nghĩa với việc Cử tri đoàn đánh mất vai trò giữ cửa vào tay các đảng phái — và kể từ đó đến nay, vai trò này vẫn thuộc về họ.</p>



<p>Các đảng chính trị, vì vậy, trở thành người trông coi nền dân chủ Mỹ. Vì họ là bên lựa chọn ứng viên tổng thống, họ có khả năng — và, theo tác giả, có trách nhiệm — ngăn chặn các nhân vật nguy hiểm bước vào Nhà Trắng. Do đó, các đảng phải cân bằng giữa hai vai trò: một mặt là vai trò dân chủ — chọn ứng viên đại diện tốt nhất cho cử tri của đảng; mặt khác là vai trò mà nhà khoa học chính trị James Ceaser gọi là “lọc chọn” — loại bỏ những người đe dọa nền dân chủ hoặc không đủ tư cách lãnh đạo.</p>



<p>Hai mệnh lệnh này — chọn người được lòng dân và loại bỏ kẻ mị dân — đôi khi mâu thuẫn với nhau. Điều gì sẽ xảy ra nếu người dân chọn một kẻ mị dân? Đây là căng thẳng lặp đi lặp lại trong quy trình đề cử tổng thống, từ thời lập quốc đến hiện nay. Dựa quá nhiều vào cơ chế giữ cửa có thể dẫn đến thiếu dân chủ — một thế giới nơi các ông trùm đảng phái bỏ qua nguyện vọng của đảng viên và không đại diện cho quần chúng. Nhưng dựa quá nhiều vào “ý chí nhân dân” cũng có thể nguy hiểm, bởi điều đó có thể dẫn đến việc một kẻ mị dân lên nắm quyền và đe dọa chính nền dân chủ. Không có lối thoát hoàn toàn khỏi căng thẳng này. Luôn luôn phải chấp nhận đánh đổi.</p>



<p>—</p>



<p>Trong phần lớn lịch sử Hoa Kỳ, các đảng chính trị ưu tiên giữ cửa hơn là mở rộng dân chủ. Lúc nào cũng có những “phòng đầy khói.” Vào đầu thế kỷ XIX, ứng viên tổng thống được chọn bởi các nhóm nghị sĩ tại Washington, theo hệ thống gọi là Caucus Quốc hội (Congressional Caucuses). Hệ thống này sớm bị chỉ trích là quá khép kín, và kể từ thập niên 1830, các ứng viên bắt đầu được đề cử tại các đại hội toàn quốc của đảng, gồm các đại biểu từ mỗi bang. Tuy nhiên, đại biểu không được bầu trực tiếp bởi người dân; họ được chọn bởi các ủy ban đảng tại cấp bang và địa phương, và không bị ràng buộc phải ủng hộ ứng viên cụ thể nào. Họ thường tuân theo chỉ đạo của các lãnh đạo đảng bang — những người đã cử họ đi dự đại hội. Hệ thống này vì thế có lợi cho các người trong cuộc, hoặc những ứng viên được hậu thuẫn bởi các lãnh đạo đảng kiểm soát đại biểu. Những người không được mạng lưới chính trị địa phương ủng hộ thì không có cơ hội nào giành được đề cử.</p>



<p>Hệ thống đại hội này cũng bị chỉ trích là khép kín và thiếu dân chủ, và không thiếu những nỗ lực cải cách. Bầu cử sơ bộ (primary elections) được đưa vào trong thời kỳ Cải cách Tiến bộ; cuộc bầu cử sơ bộ đầu tiên được tổ chức tại Wisconsin năm 1901, và đến năm 1916, đã có hai chục bang áp dụng. Nhưng tác động của chúng rất hạn chế — một phần vì nhiều bang không dùng hệ thống sơ bộ, nhưng chủ yếu là vì các đại biểu được bầu không bị bắt buộc phải ủng hộ người thắng sơ bộ. Họ vẫn “tự do,” có thể thương lượng lá phiếu của mình tại đại hội đảng. Các lãnh đạo đảng — với quyền kiểm soát các công việc trong chính phủ, đặc quyền và lợi ích khác — vẫn ở vị thế thuận lợi để “dàn xếp,” và tiếp tục giữ vai trò người giữ cửa của chức tổng thống. Vì các cuộc sơ bộ không có tác động ràng buộc đến việc đề cử tổng thống, chúng chẳng khác gì cuộc thi sắc đẹp chính trị. Quyền lực thực sự vẫn nằm trong tay các ông trùm đảng phái, hay như cách gọi thời đó là “người của bộ máy tổ chức” (<em>organization men</em>). Với các ứng viên, muốn được đề cử tổng thống thì không còn con đường nào khác ngoài việc giành được sự hậu thuẫn của những người này.</p>



<p>Hệ thống đại hội cũ cho thấy những đánh đổi cố hữu trong cơ chế giữ cửa. Một mặt, hệ thống này không mang tính dân chủ. Những người của bộ máy tổ chức hoàn toàn không đại diện cho toàn xã hội Mỹ. Trên thực tế, họ chính là định nghĩa thuần túy của “hội những ông bạn già” (<em>old boys’ network</em>). Hầu hết các đảng viên thường, đặc biệt là người nghèo, không có liên kết chính trị, phụ nữ và các nhóm thiểu số, đều không hiện diện trong các “phòng đầy khói,” và vì vậy bị loại khỏi quá trình đề cử tổng thống.</p>



<p>Nhưng mặt khác, hệ thống đại hội là một cơ chế giữ cửa hiệu quả, vì nó có khả năng loại trừ có hệ thống những ứng viên nguy hiểm. Người trong nội bộ đảng cung cấp điều mà các nhà khoa học chính trị gọi là “đánh giá ngang hàng” (<em>peer review</em>). Các thị trưởng, thượng nghị sĩ, dân biểu — những người từng làm việc trực tiếp với các ứng viên trong nhiều năm — có khả năng đánh giá tính cách, năng lực, và phản ứng của họ trong áp lực. Vì vậy, những “phòng đầy khói” đã hoạt động như một bộ lọc sàng, giúp loại bỏ các kẻ mị dân và cực đoan — những người đã phá hoại nền dân chủ ở các nước khác. Cơ chế giữ cửa của đảng tại Mỹ hiệu quả đến mức những kẻ ngoài cuộc gần như không thể thắng. Và vì thế, hầu hết thậm chí không buồn thử.</p>



<p>Hãy xem trường hợp Henry Ford, nhà sáng lập hãng xe Ford Motor Company. Một trong những người giàu nhất thế giới vào đầu thế kỷ XX, Ford là hiện thân hiện đại của kiểu kẻ mị dân cực đoan mà Hamilton từng cảnh báo. Ông dùng tờ báo <em>Dearborn Independent</em> làm diễn đàn tuyên truyền, công kích ngân hàng, người Do Thái và cộng sản, đăng các bài viết cáo buộc giới ngân hàng Do Thái đang âm mưu chống lại nước Mỹ. Quan điểm của ông được các phần tử phân biệt chủng tộc trên toàn thế giới ca ngợi. Ông được nhắc đến với sự ngưỡng mộ trong cuốn <em>Mein Kampf</em> của Adolf Hitler, và được lãnh đạo phát xít tương lai Heinrich Himmler mô tả là “một trong những chiến binh xuất sắc, quan trọng và sắc sảo nhất của chúng ta.” Năm 1938, chính phủ Đức Quốc xã đã trao cho ông Huân chương Đại Thập tự của Đại bàng Đức — một trong những huân chương cao quý nhất của chế độ.</p>



<p>Tuy vậy, Henry Ford vẫn là một nhân vật được ngưỡng mộ rộng rãi, thậm chí là được yêu mến tại Hoa Kỳ, đặc biệt là ở vùng Trung Tây. Là một “cậu bé nông dân nghèo vươn lên thành công,” doanh nhân nói năng mộc mạc này được nhiều người dân vùng quê tôn sùng như một anh hùng dân gian, đứng ngang hàng với những vị tổng thống như Washington và Lincoln.</p>



<p>Tính khí bồn chồn, đầy uy quyền của Ford cuối cùng cũng lôi kéo ông vào con đường chính trị. Ông khởi đầu bằng việc phản đối Thế chiến I, tổ chức một “sứ mệnh hòa bình” mang tính nghiệp dư nhưng gây chú ý lớn sang châu Âu. Sau Chiến tranh Thế giới, ông thỉnh thoảng lại dấn thân vào chính trường, suýt thắng ghế Thượng viện năm 1918 và sau đó úp mở về ý định ra tranh cử tổng thống (với tư cách ứng viên Dân chủ) năm 1924. Ý tưởng này nhanh chóng gây phấn khích, đặc biệt ở vùng nông thôn nước Mỹ. Các câu lạc bộ Ford for President mọc lên vào năm 1923, và báo chí bắt đầu nói đến “Cơn sốt Ford.”</p>



<p>Mùa hè năm đó, tạp chí nổi tiếng Collier’s bắt đầu một cuộc thăm dò toàn quốc hàng tuần với độc giả, cho thấy danh tiếng của Ford, uy tín về năng lực kinh doanh và sự quan tâm không ngơi nghỉ của truyền thông có thể chuyển hóa thành một chiến dịch tranh cử tổng thống được đông đảo quần chúng ủng hộ. Các kết quả được công bố hằng tuần đi kèm với những dòng tít ngày càng tôn sùng: “Chính trường hỗn loạn khi số phiếu cho Ford tăng cao” và “Ford dẫn đầu cuộc đua tổng thống tự do.” Kết thúc cuộc thăm dò kéo dài hai tháng với hơn 250.000 độc giả, Henry Ford bỏ xa tất cả đối thủ, kể cả đương kim Tổng thống Warren Harding và Tổng thống tương lai Herbert Hoover. Trước những kết quả này, ban biên tập của <em>Collier’s</em> kết luận: “Henry Ford đã trở thành vấn đề trung tâm trong chính trị Mỹ.”</p>



<p>Nhưng nếu Ford thực sự có tham vọng trở thành tổng thống, thì ông đã sinh ra quá sớm một thế kỷ. Điều quan trọng không phải là dư luận công chúng, mà là ý kiến của giới lãnh đạo đảng, và các lãnh đạo đảng đã kiên quyết bác bỏ ông. Một tuần sau khi công bố kết quả thăm dò bạn đọc, <em>Collier’s</em> thực hiện một loạt bài báo — trong đó có bài mang tên “Các chính trị gia chọn tổng thống” — công bố kết quả khảo sát nội bộ: 116 lãnh đạo của cả hai đảng, gồm toàn bộ thành viên các Ủy ban Quốc gia Đảng Cộng hòa và Dân chủ, 14 thống đốc có ảnh hưởng, cùng một số thượng nghị sĩ và dân biểu. Trong mắt những “người nắm vận mệnh,” Ford xếp ở vị trí thứ năm, rất xa các vị trí dẫn đầu. Mùa thu năm đó, ban biên tập <em>Collier’s</em> viết:</p>



<p>Khi hỏi các lãnh đạo của Đảng Dân chủ: “Còn Ford thì sao?”, họ đều nhún vai. Gần như không có ngoại lệ, tất cả những người được xem là ‘bộ máy tổ chức’ tại mỗi tiểu bang đều phản đối Ford. Ở tất cả các tiểu bang không có bầu cử sơ bộ tổng thống, chính những người này hầu như tự tay lựa chọn đại biểu cho đại hội toàn quốc&#8230; Không ai phủ nhận tình cảm mà quần chúng dành cho Ford — từ cả hai đảng. Các lãnh đạo Dân chủ đều biết rằng cử tri trong bang mình thích Ford — và họ sợ điều đó. Nhưng họ tin rằng, nhờ cơ chế chọn đại biểu, khả năng Ford tạo ra đột phá là rất thấp.</p>



<p>Dù có sự cuồng nhiệt từ công chúng, Ford vẫn bị loại khỏi cuộc đua một cách hiệu quả. Thượng nghị sĩ James Couzens gọi ý tưởng Ford tranh cử là “nực cười.” Ông nói: “Làm sao một người trên 60 tuổi, không có huấn luyện, không có kinh nghiệm, lại dám mơ đến chức vụ như vậy?” Ông kết luận: “Thật là điều nực cười nhất.”</p>



<p>Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi Ford được <em>Collier’s</em> phỏng vấn vào cuối mùa hè năm đó, ông đã giảm nhiệt với tham vọng tổng thống:</p>



<p>“Hiện tại tôi không thể hình dung bản thân mình chấp nhận đề cử nào cả. Tất nhiên, tôi không thể nói trước… tôi sẽ làm gì vào ngày mai. Có thể sẽ có một cuộc chiến hoặc một cuộc khủng hoảng nào đó, khi mà các quy tắc pháp lý và hiến pháp không còn quan trọng, và đất nước cần một người có thể hành động nhanh chóng và hiệu quả.”</p>



<p>Những gì Ford thực sự nói, là ông chỉ cân nhắc tranh cử nếu hệ thống giữ cửa ngăn cản ông bị dỡ bỏ. Do đó, thực chất, ông chưa bao giờ có cơ hội thực sự.</p>



<p>Huey Long đã không sống đủ lâu để thử sức trong cuộc đua tổng thống, nhưng dù sở hữu tài năng chính trị phi thường, sự ủng hộ rộng rãi và khát vọng mạnh mẽ, vẫn có lý do để tin rằng ông cũng sẽ bị các “người giữ cửa đảng phái” ngăn chặn. Khi đắc cử Thượng viện năm 1932, hành vi phá vỡ chuẩn mực của Long nhanh chóng khiến ông bị cô lập khỏi các đồng viện. Thiếu sự hậu thuẫn từ giới lãnh đạo Đảng Dân chủ, Long không có cơ hội đánh bại Roosevelt tại đại hội năm 1936. Nếu muốn tranh cử, ông phải ra tranh cử độc lập, điều vốn cực kỳ khó khăn. Các cuộc thăm dò cho thấy nếu Long ra tranh cử, ông có thể chia rẽ phiếu bầu của phe Dân chủ, qua đó trao chiến thắng cho đảng Cộng hòa — nhưng bản thân Long thì gần như không có cơ hội thắng cử.</p>



<p>Cơ chế giữ cửa của đảng cũng góp phần giữ George Wallace bên lề chính trường. Vị thống đốc phân biệt chủng tộc này tham gia một vài vòng sơ bộ của Đảng Dân chủ năm 1964 và đạt kết quả đáng kinh ngạc. Vận động chống lại phong trào dân quyền dưới khẩu hiệu “Đứng lên vì nước Mỹ” (<em>Stand Up for America</em>), Wallace khiến giới quan sát sửng sốt khi giành gần một phần ba số phiếu tại Wisconsin và Indiana, và thậm chí đạt 43% tại Maryland. Nhưng vào năm 1964, các cuộc sơ bộ vẫn chưa đóng vai trò quyết định, và Wallace sớm phải rút lui trước một chiến dịch gần như không thể ngăn cản của Lyndon Johnson.</p>



<p>Trong bốn năm tiếp theo, Wallace tiếp tục vận động khắp đất nước để chuẩn bị cho cuộc bầu cử tổng thống năm 1968. Sự kết hợp giữa chủ nghĩa dân túy và chủ nghĩa dân tộc da trắng của ông nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ một bộ phận cử tri da trắng lao động. Đến năm 1968, khoảng 40% người Mỹ ủng hộ ông. Nói cách khác, Wallace đã thể hiện một thông điệp tương tự như Donald Trump năm 2016, và cũng đạt mức độ ủng hộ công chúng tương đương.</p>



<p>Tuy nhiên, George Wallace hoạt động trong một thế giới chính trị rất khác. Biết rằng giới lãnh đạo Đảng Dân chủ sẽ không bao giờ ủng hộ mình, ông ra tranh cử với tư cách ứng viên của Đảng Độc lập Hoa Kỳ (American Independence Party) — điều này cũng đồng nghĩa với thất bại. Mặc dù đạt 13,5% số phiếu toàn quốc, một con số đáng kể đối với một ứng viên đảng thứ ba, nhưng con đường vào Nhà Trắng của ông vẫn hoàn toàn bế tắc.</p>



<p>Giờ đây, ta có thể hiểu hết tầm vóc bước nhảy tưởng tượng táo bạo của Philip Roth trong tiểu thuyết <em>The Plot Against America</em>. Hiện tượng Lindbergh không hoàn toàn là sản phẩm tưởng tượng thuần túy. Charles Lindbergh — người cổ súy cho “thuần chủng chủng tộc”, từng công du nước Đức Quốc xã vào năm 1936 và được Hermann Göring trao huân chương danh dự — đã trở thành một trong những nhà hoạt động chủ nghĩa biệt lập (isolationist) nổi bật nhất nước Mỹ vào các năm 1939–1940, khi ông phát biểu khắp cả nước thay mặt Ủy ban America First. Ông rất nổi tiếng. Các bài phát biểu của ông thu hút đám đông lớn, và theo biên tập viên Paul Palmer của <em>Reader’s Digest</em>, vào năm 1939, các bài phát thanh của Lindbergh đã tạo ra lượng thư từ công chúng nhiều hơn bất kỳ ai khác ở Mỹ. Một nhà sử học từng nhận xét: “Lẽ thường khi ấy là Lindbergh rồi sẽ ra tranh cử chức vụ công,” và năm 1939, Thượng nghị sĩ bang Idaho William Borah thậm chí còn gợi ý rằng ông sẽ là một ứng viên tổng thống tốt. Nhưng đây là lúc chúng ta trở lại với thực tại. Đại hội Đảng Cộng hòa năm 1940 hoàn toàn không giống như trong tiểu thuyết Roth miêu tả. Lindbergh không chỉ không xuất hiện, mà tên ông cũng chưa từng được đề cập. Cơ chế giữ cửa đã vận hành hiệu quả.</p>



<p>Kết luận trong cuốn <em>The Politics of Unreason</em> — một nghiên cứu về chính trị cánh hữu cực đoan tại Hoa Kỳ — các học giả Seymour Martin Lipset và Earl Raab mô tả các đảng chính trị Mỹ là “thành lũy thực tế quan trọng nhất chống lại các phần tử cực đoan.” Họ đã đúng. Nhưng cuốn sách được xuất bản năm 1970, ngay khi các đảng phái đang bắt đầu thực hiện cuộc cải tổ hệ thống đề cử lớn nhất trong hơn một thế kỷ. Mọi thứ sắp thay đổi — và hậu quả vượt xa mọi tưởng tượng.</p>



<p>—</p>



<p>Bước ngoặt đến vào năm 1968. Đó là một năm tang thương đối với người Mỹ. Tổng thống Lyndon Johnson đã leo thang cuộc chiến ở Việt Nam, và cuộc chiến giờ đã vượt khỏi tầm kiểm soát — chỉ riêng trong năm 1968, đã có 16.592 binh sĩ Mỹ thiệt mạng, nhiều hơn bất kỳ năm nào trước đó. Các gia đình Mỹ ngồi trước TV mỗi tối, chứng kiến những cảnh chiến đấu ngày càng khốc liệt. Tháng 4 năm 1968, Martin Luther King Jr. bị ám sát. Rồi vào tháng 6, chỉ vài giờ sau khi thắng cuộc bầu cử sơ bộ tại California, chiến dịch tranh cử tổng thống của Robert F. Kennedy — xoay quanh việc phản đối chiến tranh — đột ngột kết thúc bởi một viên đạn ám sát thứ hai. Tiếng khóc tuyệt vọng tại khách sạn Ambassador ở Los Angeles đêm ấy được nhà văn John Updike diễn đạt bằng câu: dường như “Chúa đã rút lại lời chúc phúc của Ngài dành cho nước Mỹ.”</p>



<p>Trong khi đó, Đảng Dân chủ chia rẽ sâu sắc giữa phe ủng hộ chính sách đối ngoại của Johnson và phe phản chiến theo Kennedy. Sự chia rẽ này bộc lộ gay gắt tại đại hội Đảng Dân chủ ở Chicago. Khi Kennedy ra đi trong bi kịch, bộ máy đảng truyền thống bước vào lấp khoảng trống. Các nhân vật nội bộ nắm quyền kiểm soát đại hội đều ủng hộ Phó Tổng thống Hubert Humphrey, nhưng ông lại rất không được lòng các đại biểu phản chiến vì liên hệ chặt chẽ với chính sách chiến tranh của Johnson. Hơn nữa, Humphrey chưa từng tham gia một cuộc bầu cử sơ bộ nào. Chiến dịch tranh cử của ông, như một số nhà phân tích nhận định, chỉ dựa vào “các lãnh đạo đảng, lãnh đạo công đoàn và những người trong cuộc.” Tuy nhiên, nhờ sự hậu thuẫn của giới chức đảng, đặc biệt là bộ máy của Thị trưởng Chicago Richard Daley, ông đã giành được đề cử ngay trong vòng bỏ phiếu đầu tiên.</p>



<p>Humphrey không phải là người đầu tiên giành được đề cử mà không tham gia sơ bộ — nhưng ông sẽ là người cuối cùng. Những gì xảy ra tại Chicago, được phát trực tiếp trên truyền hình toàn quốc, đã giáng một đòn chí tử vào hệ thống chọn ứng viên bằng người trong đảng. Ngay trước đại hội, vụ ám sát Kennedy, xung đột ngày càng leo thang về chiến tranh Việt Nam, và năng lượng của phong trào phản chiến tại Công viên Grant ở Chicago đã khiến công chúng mất niềm tin vào hệ thống cũ. Ngày 28 tháng 8, người biểu tình kéo đến đại hội: cảnh sát đội mũ bảo hiểm xanh đánh đập cả người biểu tình lẫn người qua đường, máu của đàn ông, phụ nữ và trẻ em đổ trên phố, họ phải chạy trốn vào các khách sạn gần đó. “Trận chiến trên đại lộ Michigan” sau đó tràn vào sảnh đại hội. Thượng nghị sĩ Abraham Ribicoff của Connecticut, khi đề cử ứng viên phản chiến George McGovern, đã lên án “chiến thuật Gestapo” của cảnh sát Chicago — và nhìn thẳng vào mặt Thị trưởng Daley, ngay trên sóng truyền hình trực tiếp. Khi những cuộc đụng độ nổ ra trong đại hội, cảnh sát mặc đồng phục đã lôi một số đại biểu ra khỏi hội trường. Phát thanh viên NBC Chet Huntley bàng hoàng nói: “Đây hẳn là lần đầu tiên cảnh sát bước vào sàn đại hội,” và người bạn dẫn David Brinkley thêm vào, “Tại Hoa Kỳ.”</p>



<p>Thảm kịch Chicago đã thúc đẩy cải tổ sâu rộng. Sau thất bại của Humphrey trong cuộc tổng tuyển cử năm 1968, Đảng Dân chủ lập ra Ủy ban McGovern–Fraser để xem xét lại hệ thống đề cử. Báo cáo cuối cùng, công bố năm 1971, trích dẫn câu châm ngôn: “Liều thuốc cho những căn bệnh của dân chủ chính là nhiều dân chủ hơn.” Khi tính chính danh của hệ thống chính trị bị đe dọa, các lãnh đạo đảng cảm thấy bị thúc ép phải mở rộng quá trình chọn ứng viên tổng thống. Như George McGovern nói: “Nếu không thay đổi, kỳ đại hội tới sẽ khiến kỳ trước giống như một buổi dã ngoại Chủ nhật.” Báo cáo McGovern–Fraser cảnh báo rằng nếu người dân không được tham gia thực chất, họ sẽ quay sang “chính trị đường phố chống hệ thống.”</p>



<p>Ủy ban McGovern–Fraser đã đưa ra một loạt khuyến nghị, được cả hai đảng thông qua trước cuộc bầu cử năm 1972. Một hệ thống bầu cử sơ bộ ràng buộc ra đời. Từ năm 1972, phần lớn đại biểu tại đại hội đảng của cả Dân chủ và Cộng hòa sẽ được bầu qua các cuộc bầu cử sơ bộ và họp kín cấp tiểu bang. Các đại biểu sẽ được ứng viên lựa chọn trước để đảm bảo trung thành. Điều này có nghĩa là, lần đầu tiên, người chọn ứng viên tổng thống không còn bị chi phối bởi lãnh đạo đảng, cũng không được quyền “mặc cả hậu trường,” mà sẽ phản ánh trung thực ý chí của cử tri sơ bộ tại bang mình. Dù hai đảng có khác biệt — như Đảng Dân chủ áp dụng quy tắc tỷ lệ, và tăng đại diện cho phụ nữ và nhóm thiểu số — nhưng cả hai đều nới lỏng đáng kể quyền kiểm soát của lãnh đạo đảng đối với quá trình đề cử. Chủ tịch Ủy ban Quốc gia Đảng Dân chủ Larry O’Brien gọi các cải cách là “thay đổi chết tiệt lớn nhất kể từ khi có hệ thống đảng.” McGovern, người bất ngờ giành được đề cử năm 1972, gọi hệ thống mới là “tiến trình chính trị mở nhất trong lịch sử nước Mỹ.”</p>



<p>McGovern đã đúng. Đường đến đề cử tổng thống không còn phải đi qua hệ thống đảng. Lần đầu tiên, cơ chế giữ cửa của đảng có thể bị vượt qua — và bị đánh bại.</p>



<p>Đảng Dân chủ, sau những cuộc bầu cử sơ bộ nhiều biến động đầu thập niên 1970, đã rút lui phần nào trong thập niên 1980: họ quy định rằng một phần đại biểu toàn quốc sẽ là các quan chức được bầu như thống đốc, thị trưởng thành phố lớn, thượng nghị sĩ, dân biểu — do đảng bang bổ nhiệm chứ không qua bầu cử sơ bộ. Những “siêu đại biểu” (superdelegates) này, chiếm từ 15% đến 20% tổng số đại biểu, có vai trò cân bằng với cử tri sơ bộ, và giúp lãnh đạo đảng có công cụ ngăn chặn ứng viên không mong muốn. Trong khi đó, Đảng Cộng hòa lúc ấy đang hưng thịnh dưới thời Ronald Reagan, không thấy cần đến siêu đại biểu và quyết định giữ hệ thống đề cử mở hơn — một quyết định mang tính định mệnh.</p>



<p>Một số nhà khoa học chính trị bắt đầu lo lắng. Các cuộc bầu cử sơ bộ ràng buộc chắc chắn mang tính dân chủ hơn. Nhưng liệu chúng có quá dân chủ? Khi giao quyền đề cử tổng thống cho cử tri, hệ thống sơ bộ làm suy yếu vai trò giữ cửa của đảng, có nguy cơ loại bỏ quy trình đánh giá nội bộ và mở đường cho người ngoài cuộc. Ngay trước khi Ủy ban McGovern–Fraser bắt đầu làm việc, hai nhà khoa học chính trị hàng đầu đã cảnh báo rằng các cuộc sơ bộ có thể “dẫn đến sự xuất hiện của các ứng viên cực đoan và mị dân,” những người, không bị ràng buộc bởi lòng trung thành đảng phái, “không ngại khuấy động thù hận quần chúng hay đưa ra những hứa hẹn vô lý.”</p>



<p>Ban đầu, những lo ngại này có vẻ cường điệu. Một số người ngoài cuộc xuất hiện: Jesse Jackson tranh đề cử của Đảng Dân chủ năm 1984 và 1988; trong khi Pat Robertson (1988), Pat Buchanan (1992, 1996, 2000), và Steve Forbes (1996) tranh đề cử Đảng Cộng hòa. Nhưng tất cả đều thất bại.</p>



<p>Hóa ra, vượt qua giới lãnh đạo đảng thì dễ nói hơn làm. Để giành đa số đại biểu, ứng viên phải thắng tại nhiều bang, đòi hỏi tiền bạc, truyền thông tích cực, và — quan trọng nhất — mạng lưới tổ chức trên toàn quốc. Bất kỳ ứng viên nào muốn vượt qua “chướng ngại vật” sơ bộ đều cần đồng minh: nhà tài trợ, tổng biên tập, các nhóm lợi ích, các nhóm hoạt động, và các chính trị gia cấp bang như thống đốc, thị trưởng, thượng nghị sĩ, dân biểu. Năm 1976, Arthur Hadley gọi quá trình gian nan này là “cuộc sơ bộ vô hình” (invisible primary). Ông cho rằng đây là giai đoạn ứng viên chiến thắng thật sự được chọn, ngay cả trước khi cuộc bầu cử sơ bộ chính thức bắt đầu. Như vậy, giới lãnh đạo đảng và các nhóm đồng minh không hề bị loại khỏi cuộc chơi. Không có họ, Hadley lập luận, gần như không thể giành được đề cử của bất kỳ đảng nào.</p>



<p>Và trong suốt một phần tư thế kỷ, Hadley đã đúng.</p>



<p><strong><img src="https://s.w.org/images/core/emoji/15.0.3/72x72/1f4d8.png" alt="📘" class="wp-smiley" style="height: 1em; max-height: 1em;" /></strong><strong> PHỤ LỤC CHÚ GIẢI – CHƯƠNG 2: GIỮ CỬA TẠI NƯỚC MỸ</strong></p>



<hr class="wp-block-separator has-alpha-channel-opacity"/>



<p><strong>I. Khái niệm trung tâm</strong></p>



<p><strong>1. Gatekeeping (Giữ cửa):</strong><br>Chức năng của các đảng chính trị nhằm ngăn chặn những ứng viên không phù hợp hoặc phản dân chủ không lọt vào quá trình đề cử tổng thống. Đây là tuyến phòng thủ đầu tiên và quan trọng của một nền dân chủ.</p>



<p><strong>2. Invisible primary (Sơ bộ vô hình):</strong><br>Giai đoạn trước khi mùa bầu cử sơ bộ bắt đầu, trong đó các ứng viên tranh thủ sự ủng hộ từ giới tài trợ, lãnh đạo đảng, truyền thông và các nhóm lợi ích — một quá trình không chính thức nhưng quyết định kết quả thật sự.</p>



<hr class="wp-block-separator has-alpha-channel-opacity"/>



<p><strong>II. Nhân vật và tổ chức nổi bật</strong></p>



<p><strong>3. Philip Roth &amp; <em>The Plot Against America</em>:</strong><br>Tiểu thuyết hư cấu (2004) của Roth tưởng tượng một nước Mỹ dưới sự cai trị của Charles Lindbergh – người có xu hướng phát xít và thân Đức Quốc xã. Cuốn sách phản ánh nỗi lo về sự trỗi dậy của chủ nghĩa độc tài ở Mỹ.</p>



<p><strong>4. Charles Lindbergh:</strong><br>Phi công nổi tiếng với chuyến bay đơn độc vượt Đại Tây Dương (1927). Sau này là người cổ súy cho “thuần chủng chủng tộc” và chủ nghĩa biệt lập, từng nhận huân chương từ Đức Quốc xã.</p>



<p><strong>5. Henry Ford:</strong><br>Nhà sáng lập hãng xe Ford. Dù nổi tiếng và được tôn sùng như anh hùng dân gian, ông từng xuất bản báo với nội dung bài Do Thái, và được Đức Quốc xã ca ngợi. Dù có ý định tranh cử tổng thống, ông bị giới lãnh đạo đảng ngăn chặn hiệu quả.</p>



<p><strong>6. Huey Long:</strong><br>Thống đốc và Thượng nghị sĩ Louisiana, lãnh đạo phong trào “Chia sẻ tài sản.” Có quan điểm mị dân và tập quyền, từng bị Roosevelt coi là đối thủ nghiêm trọng. Bị ám sát năm 1935 trước khi kịp tranh cử tổng thống.</p>



<p><strong>7. George Wallace:</strong><br>Thống đốc bang Alabama, nổi bật với thông điệp bài dân quyền và phân biệt chủng tộc. Là ứng viên bên lề của Đảng Dân chủ và sau đó là ứng viên đảng thứ ba năm 1968, đạt 13,5% phiếu phổ thông.</p>



<p><strong>8. Jesse Jackson, Pat Robertson, Pat Buchanan, Steve Forbes:</strong><br>Các nhân vật “ngoài cuộc” từng tranh cử tổng thống từ thập niên 1980–2000. Tuy có công chúng riêng nhưng đều không thể vượt qua cơ chế vận hành của đảng.</p>



<hr class="wp-block-separator has-alpha-channel-opacity"/>



<p><strong>III. Sự kiện và cải cách lịch sử</strong></p>



<p><strong>9. Đại hội Đảng Dân chủ năm 1968 (Chicago):</strong><br>Một bước ngoặt lịch sử. Đụng độ giữa người biểu tình phản chiến và cảnh sát Chicago bị phát sóng toàn quốc, tạo cú sốc và làm mất niềm tin vào hệ thống đề cử do giới nội bộ kiểm soát.</p>



<p><strong>10. McGovern–Fraser Commission (1969–1971):</strong><br>Ủy ban cải tổ hệ thống đề cử của Đảng Dân chủ, đề xuất áp dụng các cuộc bầu cử sơ bộ ràng buộc, mở rộng quyền tham gia của cử tri. Là nền tảng cho hệ thống sơ bộ hiện đại ngày nay.</p>



<p><strong>11. Superdelegates (Siêu đại biểu):</strong><br>Được giới thiệu từ đầu thập niên 1980 bởi Đảng Dân chủ để tái thiết vai trò kiểm soát của đảng. Là những lãnh đạo đảng không phải do bầu cử sơ bộ chọn ra, có quyền ảnh hưởng đến kết quả đề cử.</p>



<hr class="wp-block-separator has-alpha-channel-opacity"/>



<p><strong>IV. Tư tưởng và cảnh báo</strong></p>



<p><strong>12. Alexander Hamilton &amp; <em>Federalist Papers</em>:</strong><br>Nhà lập quốc Mỹ, lo ngại “những kẻ mị dân sẽ biến thành bạo chúa” nếu dân chúng bị thao túng. Ủng hộ thiết kế Cử tri đoàn như cơ chế sàng lọc.</p>



<p><strong>13. “Smoke-filled rooms” (Phòng đầy khói):</strong><br>Ẩn dụ chỉ các cuộc thương lượng hậu trường của lãnh đạo đảng, nơi ứng viên tổng thống được lựa chọn bởi “giới trong cuộc,” thay vì bởi cử tri phổ thông.</p>



<p><strong>14. Seymour Martin Lipset &amp; Earl Raab – <em>The Politics of Unreason</em> (1970):</strong><br>Công trình học thuật mô tả các đảng Mỹ là hàng rào quan trọng chống lại chủ nghĩa cực đoan. Nhưng được xuất bản đúng thời điểm cơ chế giữ cửa truyền thống bắt đầu suy yếu.</p>



<p><strong>15. Cảnh báo học thuật trước cải cách McGovern–Fraser:</strong><br>Các nhà khoa học chính trị cảnh báo rằng cải cách mở cửa quá mức có thể dẫn đến sự trỗi dậy của “các ứng viên cực đoan và mị dân,” vì không còn rào cản của đảng phái truyền thống.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Steven Levitsky &#038; Daniel Ziblatt:  NỀN DÂN CHỦ SẼ CHẾT NHƯ THẾ NÀO &#8211; NHỮNG LIÊN MINH ĐỊNH MỆNH</title>
		<link>https://t-van.net/steven-levitsky-daniel-ziblatt-nen-dan-chu-se-chet-nhu-the-nao-nhung-lien-minh-dinh-menh/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[ChatGPT]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 06 Jun 2025 09:19:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[ChatGPT DỊCH THUẬT - TỦ SÁCH THẾ GIỚI]]></category>
		<category><![CDATA[Nền Dân Chủ Sẽ Chết Như Thế Nào]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=80760</guid>

					<description><![CDATA[GIỚI THIỆU TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM Nguyên Tác: HOW DEMOCRACIES DIE (2018) của Steven Levitsky &#38; Daniel Ziblatt (Chuyển ngữ tiếng Việt: ChatGPT; Hiệu đính (và chịu trách nhiệm): T.Vấn) CHƯƠNG 1 NHỮNG LIÊN MINH ĐỊNH MỆNH Một cuộc cãi vã nổ ra giữa Ngựa và Nai. Ngựa đến tìm Thợ săn, nhờ giúp [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/71nkYi9OL.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="667" height="1024" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/71nkYi9OL-667x1024.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-80750" style="width:405px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/06/71nkYi9OL-195x300.jpg 195w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/71nkYi9OL-667x1024.jpg?strip=all 667w, https://cdn.t-van.net/2025/06/71nkYi9OL-768x1179.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2025/06/71nkYi9OL-1001x1536.jpg 1001w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/06/71nkYi9OL.jpg?strip=all 1251w" sizes="(max-width: 667px) 100vw, 667px" /></a><figcaption class="wp-element-caption">Version 1.0.0</figcaption></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p></p>



<p><strong><a href="https://t-van.net/steven-levitsky-daniel-ziblatt-nen-dan-chu-se-chet-nhu-the-nao/">GIỚI THIỆU TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM</a></strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>Nguyên Tác: HOW DEMOCRACIES DIE (2018) của</strong> <strong>Steven Levitsky &amp; Daniel Ziblatt</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><em>(Chuyển ngữ tiếng Việt: ChatGPT; Hiệu đính (và chịu trách nhiệm): T.Vấn)</em></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>CHƯƠNG 1<br><br>NHỮNG LIÊN MINH ĐỊNH MỆNH</strong></p>



<p><em>Một cuộc cãi vã nổ ra giữa Ngựa và Nai. Ngựa đến tìm Thợ săn, nhờ giúp mình trả thù Nai. Thợ săn đồng ý nhưng nói: “Nếu anh muốn đánh bại Nai, thì phải để tôi đặt miếng sắt này vào miệng anh, để tôi có thể điều khiển anh bằng dây cương, và đặt cái yên này lên lưng anh để tôi ngồi vững khi cùng anh đuổi theo kẻ thù.” Ngựa đồng ý với điều kiện đó, và Thợ săn liền thắng yên và buộc dây cương cho nó. Với sự giúp đỡ của Thợ săn, Ngựa nhanh chóng đánh bại Nai và nói: “Bây giờ xuống đi, và tháo những thứ này khỏi miệng và lưng tôi.” “Không vội thế đâu, bạn của tôi,” Thợ săn nói. “Giờ tôi đã thắng cương và điều khiển được anh rồi, thì tôi muốn giữ anh như thế này luôn.”</em></p>



<p><em>—“Ngựa, Nai và Thợ săn,” Truyện ngụ ngôn Aesop</em></p>



<p>Ngày 30 tháng 10 năm 1922, Benito Mussolini đến Rome lúc 10 giờ 55 sáng bằng chuyến tàu ngủ đêm từ Milan. Ông được nhà vua mời đến thủ đô để nhận chức Thủ tướng và thành lập nội các mới. Đi cùng một nhóm vệ sĩ nhỏ, Mussolini dừng chân đầu tiên tại khách sạn Savoia, sau đó, mặc áo khoác đen, sơ mi đen và đội mũ quả dưa đen đồng bộ, ông tiến bước đầy đắc thắng đến điện Quirinal của nhà vua. Thành phố Rome lúc bấy giờ đầy rẫy tin đồn về bất ổn. Những toán Phát xít—nhiều người mặc đồng phục lộn xộn—lang thang trên các con phố. Nhận thức rõ sức mạnh của sự phô diễn, Mussolini bước vào tòa lâu đài lát đá cẩm thạch của nhà vua và chào: “Thưa Bệ hạ, xin tha thứ cho y phục của tôi. Tôi đến từ chiến trường.”</p>



<p>Đây là khởi đầu cho cái gọi là “Cuộc hành quân về Rome” huyền thoại của Mussolini. Hình ảnh những đội quân Áo đen vượt sông Rubicon để chiếm quyền từ nhà nước Tự do Ý đã trở thành kinh điển phát xít, được lặp lại trong các ngày lễ quốc gia và sách giáo khoa thiếu nhi suốt những năm 1920 và 1930. Mussolini cũng góp phần củng cố huyền thoại ấy. Tại ga dừng cuối cùng trước khi vào Rome ngày hôm đó, ông từng cân nhắc xuống tàu để cưỡi ngựa tiến vào thành phố giữa vòng vây cận vệ. Dù kế hoạch bị hủy bỏ, sau đó ông vẫn làm mọi cách để tô vẽ thêm huyền thoại về sự trỗi dậy của mình như là một cuộc “cách mạng” và “hành động nổi dậy” mở ra một kỷ nguyên phát xít mới, theo lời chính ông.</p>



<p>Sự thật thì tầm thường hơn nhiều. Phần lớn các đội quân Áo đen của Mussolini, thường đói ăn và không có vũ khí, chỉ đến sau khi ông đã được mời làm thủ tướng. Những toán Phát xít khắp nước quả thực là mối đe dọa, nhưng âm mưu giành quyền lực của Mussolini không phải là một cuộc cách mạng. Ông sử dụng 35 phiếu của đảng mình trong quốc hội (trên tổng số 535), cùng với sự chia rẽ giữa các chính trị gia trong giới tinh hoa, nỗi sợ chủ nghĩa xã hội, và đe dọa bạo lực từ 30.000 Áo đen để thu hút sự chú ý của vị vua nhút nhát Victor Emmanuel III, người xem Mussolini như một ngôi sao chính trị đang lên và là phương tiện để dập tắt bất ổn.</p>



<p>Khi trật tự chính trị được tái lập nhờ việc bổ nhiệm Mussolini và chủ nghĩa xã hội bị đẩy lùi, thị trường chứng khoán Ý bùng nổ. Các chính khách lão thành của phe Tự do như Giovanni Giolitti và Antonio Salandra bắt đầu hoan nghênh diễn biến tình hình. Họ xem Mussolini như một đồng minh hữu ích. Nhưng không khác gì con ngựa trong ngụ ngôn của Aesop, nước Ý chẳng bao lâu sau thấy mình bị đặt dưới “dây cương và đinh thúc ngựa.”</p>



<p>Một biến thể của câu chuyện này đã lặp lại ở nhiều nơi trên thế giới trong thế kỷ qua. Một loạt những kẻ ngoại đạo chính trị—bao gồm Adolf Hitler, Getúlio Vargas ở Brazil, Alberto Fujimori ở Peru, và Hugo Chávez ở Venezuela—đã lên nắm quyền theo cùng một con đường: từ bên trong, thông qua bầu cử hoặc liên minh với các nhân vật chính trị có thế lực. Trong mỗi trường hợp, giới tinh hoa tin rằng lời mời nắm quyền sẽ kiểm soát được kẻ ngoài cuộc, giúp khôi phục quyền lực về tay các chính khách dòng chính. Nhưng kế hoạch của họ phản tác dụng. Một hỗn hợp chết người của tham vọng, nỗi sợ và sai lầm tính toán đã dẫn họ đến cùng một sai lầm định mệnh: sẵn sàng trao chìa khóa quyền lực cho một kẻ độc tài đang thành hình.</p>



<p>Tại sao các chính khách lão luyện lại thường mắc sai lầm này? Không có minh họa nào gây chấn động hơn việc Adolf Hitler lên nắm quyền vào tháng Giêng năm 1933. Khả năng tổ chức nổi dậy bằng bạo lực của ông ta đã bộc lộ rõ từ sớm, trong cuộc Đảo chính Nhà bia ở Munich năm 1923—một cuộc tấn công bất ngờ vào buổi tối, khi nhóm trung thành mang súng lục của ông chiếm giữ một số tòa nhà chính phủ và một nhà bia ở Munich, nơi các quan chức bang Bavaria đang họp mặt. Cuộc tấn công kém suy tính này đã bị chính quyền chặn đứng, và Hitler phải ngồi tù chín tháng, nơi ông viết bản di cảo nổi tiếng <em>Mein Kampf</em>. Sau đó, Hitler công khai cam kết giành quyền lực thông qua bầu cử. Ban đầu, phong trào Quốc xã do ông lãnh đạo gần như không thu hút được cử tri. Hệ thống chính trị Weimar được thành lập vào năm 1919 bởi một liên minh ủng hộ dân chủ gồm những người Công giáo, Tự do và Dân chủ Xã hội. Nhưng từ năm 1930, khi nền kinh tế Đức lao đao, phe trung hữu rơi vào tình trạng phân hóa nội bộ, còn phe Cộng sản và Quốc xã thì ngày càng lớn mạnh.</p>



<p>Chính phủ dân cử sụp đổ vào tháng 3 năm 1930 trong bối cảnh khủng hoảng do Đại Suy thoái gây ra. Với sự bế tắc chính trị khiến chính phủ không thể hành động, tổng thống danh nghĩa, anh hùng Thế chiến I Paul von Hindenburg, đã tận dụng một điều khoản trong hiến pháp cho phép nguyên thủ quốc gia chỉ định thủ tướng trong trường hợp ngoại lệ khi quốc hội không thể hình thành được đa số cầm quyền. Mục tiêu của các thủ tướng không do bầu cử này—và của tổng thống—không chỉ là điều hành đất nước, mà còn là cô lập các phần tử cực đoan cánh tả và cánh hữu. Đầu tiên là nhà kinh tế thuộc Đảng Trung tâm Heinrich Brüning (sau này ông chạy sang Mỹ và trở thành giáo sư tại Harvard), nhưng ông không thành công trong việc khôi phục tăng trưởng kinh tế; nhiệm kỳ thủ tướng của ông rất ngắn ngủi. Tổng thống von Hindenburg sau đó quay sang quý tộc Franz von Papen, rồi trong sự tuyệt vọng ngày càng tăng, là người bạn thân kiêm đối thủ của Papen: cựu bộ trưởng quốc phòng, tướng Kurt von Schleicher. Tuy nhiên, khi không có đa số trong Reichstag, tình trạng bế tắc vẫn tiếp diễn. Các nhà lãnh đạo, vì lý do chính đáng, đều e ngại cuộc bầu cử tiếp theo.</p>



<p>Tin rằng “phải có điều gì đó thay đổi,” một nhóm các chính khách bảo thủ đối lập tụ họp vào cuối tháng Giêng năm 1933 và thống nhất một giải pháp: một kẻ ngoài cuộc đang được quần chúng ủng hộ sẽ được đưa lên làm người đứng đầu chính phủ. Họ khinh ghét ông ta, nhưng biết rằng ít nhất ông ta có được sự hậu thuẫn của đám đông. Và trên hết, họ nghĩ rằng họ có thể kiểm soát được ông ta.</p>



<p>Vào ngày 30 tháng 1 năm 1933, von Papen, một trong những kiến trúc sư chính của kế hoạch này, đã xua tan những lo ngại về canh bạc sẽ đưa Adolf Hitler lên làm thủ tướng nước Đức trong cơn khủng hoảng bằng lời trấn an: “Chúng tôi đã thuê hắn cho mục đích của mình&#8230; Trong vòng hai tháng, chúng tôi sẽ dồn hắn vào chân tường đến mức hắn phải kêu la lên.” Khó có thể tưởng tượng một tính toán sai lầm nào nghiêm trọng hơn thế.</p>



<p>Những trải nghiệm ở Ý và Đức đã phơi bày loại “liên minh định mệnh” thường nâng bước cho những kẻ độc tài lên nắm quyền. Trong bất kỳ nền dân chủ nào, chính trị gia đôi khi phải đối mặt với những thử thách nghiêm trọng. Khủng hoảng kinh tế, sự bất mãn ngày càng tăng trong dân chúng, và sự suy yếu trong bầu cử của các đảng phái truyền thống có thể làm lung lay sự phán đoán của cả những người lão luyện nhất. Nếu một nhân vật ngoài cuộc có sức lôi cuốn xuất hiện và thu hút được sự ủng hộ khi thách thức trật tự cũ, các chính trị gia thuộc giới tinh hoa—khi cảm thấy quyền kiểm soát của mình đang tuột khỏi tay—rất dễ sa vào cám dỗ “thu phục” kẻ ấy. Nếu một người trong cuộc hành động trước để bắt tay với kẻ nổi loạn, anh ta có thể tận dụng năng lượng và cơ sở ủng hộ của đối phương để vượt qua đồng nghiệp. Và rồi, các chính trị gia trong cuộc hy vọng sẽ có thể hướng kẻ nổi loạn đó đi theo chương trình nghị sự của mình.</p>



<p>Thế nhưng, kiểu thỏa hiệp với quỷ như vậy thường biến tướng theo hướng có lợi cho kẻ nổi loạn, vì các liên minh này đã trao cho người ngoài đủ tính chính danh để trở thành ứng viên nghiêm túc cho quyền lực. Ở nước Ý những năm 1920, trật tự Tự do cũ đang sụp đổ giữa làn sóng đình công và bất ổn xã hội ngày một tăng. Việc các đảng truyền thống không thể thiết lập được đa số vững chắc trong quốc hội khiến thủ tướng già yếu Giovanni Giolitti phải tuyệt vọng, và ông đã sớm tổ chức bầu cử vào tháng 5 năm 1921, bất chấp sự phản đối của cố vấn. Nhằm khai thác sự ủng hộ đại chúng của phe Phát xít, Giolitti quyết định cho phép phong trào non trẻ của Mussolini tham gia liên minh bầu cử “khối tư sản” gồm những người Quốc gia, Phát xít và Tự do. Chiến lược này thất bại—khối tư sản chỉ giành được chưa đầy 20% phiếu bầu, dẫn đến việc Giolitti từ chức. Nhưng việc Mussolini có tên trong danh sách tranh cử đã mang lại cho nhóm người hỗn tạp của ông ta tính chính danh cần thiết để tiếp tục vươn lên.</p>



<p>Những liên minh định mệnh như vậy không chỉ giới hạn trong châu Âu thời giữa hai cuộc chiến. Chúng cũng giúp lý giải sự trỗi dậy của Hugo Chávez. Venezuela từng tự hào là nền dân chủ lâu đời nhất Nam Mỹ, được thiết lập từ năm 1958. Chávez, một sĩ quan quân đội cấp thấp và là thủ lĩnh một cuộc đảo chính thất bại, chưa từng giữ chức vụ dân cử, là một người ngoài cuộc về mặt chính trị. Nhưng con đường tiến thân của ông ta đã được thúc đẩy mạnh mẽ nhờ một nhân vật trong cuộc: cựu tổng thống Rafael Caldera, một trong những người sáng lập nền dân chủ Venezuela.</p>



<p>Chính trị Venezuela từ lâu bị chi phối bởi hai đảng, đảng Dân chủ Hành động thiên tả và đảng Xã hội Thiên Chúa giáo thiên hữu của Caldera (gọi tắt là COPEI). Hai đảng này thay phiên nhau nắm quyền một cách hòa bình trong hơn ba thập kỷ, và đến thập niên 1970, Venezuela được xem là hình mẫu dân chủ trong một khu vực đầy rẫy đảo chính và độc tài. Tuy nhiên, trong thập niên 1980, nền kinh tế phụ thuộc dầu mỏ của nước này rơi vào khủng hoảng kéo dài, làm tỷ lệ nghèo đói gần như tăng gấp đôi. Không có gì ngạc nhiên khi người dân Venezuela ngày càng bất mãn. Cuộc bạo loạn quy mô lớn vào tháng 2 năm 1989 cho thấy các đảng truyền thống đang gặp rắc rối. Ba năm sau, vào tháng 2 năm 1992, một nhóm sĩ quan cấp thấp trong quân đội nổi dậy chống lại tổng thống Carlos Andrés Pérez. Dẫn đầu cuộc nổi dậy là Hugo Chávez, các phiến quân tự xưng là “người Bolivar,” lấy cảm hứng từ vị anh hùng giải phóng dân tộc Simón Bolívar. Cuộc đảo chính thất bại. Nhưng khi Chávez—nay bị bắt giam—xuất hiện trên truyền hình trực tiếp kêu gọi những người ủng hộ buông vũ khí (tuyên bố bằng câu nói đã đi vào huyền thoại rằng nhiệm vụ của họ đã thất bại “cho đến nay”), ông trở thành anh hùng trong mắt nhiều người Venezuela, đặc biệt là tầng lớp nghèo. Sau một cuộc đảo chính thứ hai cũng thất bại vào tháng 11 năm 1992, Chávez bị giam giữ đã thay đổi chiến lược, chọn con đường giành quyền lực thông qua bầu cử. Nhưng ông sẽ cần sự giúp đỡ.</p>



<p>_______________</p>



<p>Mặc dù cựu Tổng thống Caldera là một chính khách kỳ cựu được kính trọng, sự nghiệp chính trị của ông đã suy tàn vào năm 1992. Bốn năm trước đó, ông không giành được đề cử tổng thống của đảng mình, và giờ đây ông bị xem là một di tích chính trị lỗi thời. Tuy nhiên, vị thượng nghị sĩ 76 tuổi vẫn nuôi giấc mơ trở lại ghế tổng thống, và sự xuất hiện của Chávez đã trao cho ông một chiếc phao cứu sinh. Vào đêm diễn ra cuộc đảo chính đầu tiên của Chávez, cựu tổng thống đã đứng lên phát biểu trong một phiên họp khẩn cấp của quốc hội và bày tỏ sự ủng hộ với nghĩa quân, tuyên bố:</p>



<p>“Thật khó để yêu cầu người dân hy sinh vì tự do và dân chủ khi họ cho rằng tự do và dân chủ không thể cho họ cái ăn, không thể ngăn chặn giá cả sinh hoạt tăng phi mã, hay không thể chấm dứt tận gốc tai họa khủng khiếp của nạn tham nhũng mà, trong con mắt của cả thế giới, đang từng ngày ăn mòn các thể chế của Venezuela.”</p>



<p>Bài phát biểu gây choáng váng đó đã hồi sinh sự nghiệp chính trị của Caldera. Khi chạm đến tầng lớp cử tri phản kháng hệ thống mà Chávez đại diện, sự ủng hộ dành cho vị cựu tổng thống tăng mạnh, cho phép ông giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1993.</p>



<p>Việc Caldera công khai lấp lửng với Chávez không chỉ giúp ông cải thiện vị thế trên chính trường, mà còn mang lại uy tín mới cho Chávez. Chávez và các đồng đội từng mưu toan lật đổ nền dân chủ 34 năm tuổi của đất nước. Nhưng thay vì lên án họ như một mối đe dọa cực đoan, vị cựu tổng thống lại thể hiện sự cảm thông công khai với họ—và qua đó, mở cho họ một cánh cửa tiến vào chính trường dòng chính.</p>



<p>Caldera còn giúp mở đường vào dinh tổng thống cho Chávez bằng cách giáng một đòn chí mạng vào các đảng phái truyền thống của Venezuela. Trong một bước ngoặt kinh ngạc, ông từ bỏ COPEI, chính đảng mà ông đã sáng lập gần nửa thế kỷ trước, và ra tranh cử tổng thống như một ứng viên độc lập. Dĩ nhiên, hệ thống đảng phái đã lâm nguy từ trước đó. Nhưng việc Caldera rời đảng và vận động tranh cử chống lại giới tinh hoa chính trị đã giúp chôn vùi các đảng truyền thống. Hệ thống đảng phái sụp đổ sau khi Caldera đắc cử tổng thống năm 1993 như một ứng viên phi đảng phái chống giới cầm quyền, mở đường cho những kẻ ngoài luồng. Năm năm sau, đến lượt Chávez bước vào.</p>



<p>Nhưng quay trở lại năm 1993, Chávez vẫn gặp một vấn đề lớn: ông đang bị giam giữ, chờ xét xử vì tội phản quốc. Tuy nhiên, vào năm 1994, Tổng thống Caldera khi đó đã xóa bỏ mọi cáo buộc đối với ông. Hành động cuối cùng của Caldera trong việc trao quyền lực cho Chávez là mở cửa—thật sự là mở cửa nhà tù—cho ông ta. Ngay sau khi được thả, một phóng viên hỏi Chávez định đi đâu. “Tới quyền lực,” ông đáp. Việc trả tự do cho Chávez rất được lòng dân, và Caldera đã hứa thực hiện điều đó trong chiến dịch tranh cử. Cũng như nhiều nhân vật ưu tú ở Venezuela, ông cho rằng Chávez chỉ là một hiện tượng nhất thời—một người sẽ sớm thất sủng trước cuộc bầu cử tiếp theo. Nhưng khi xóa bỏ hoàn toàn cáo trạng thay vì để Chávez bị xét xử rồi mới ân xá, Caldera đã nâng tầm ông, biến kẻ đảo chính thất bại thành một ứng viên tổng thống khả thi chỉ sau một đêm. Ngày 6 tháng 12 năm 1998, Chávez đắc cử tổng thống, dễ dàng đánh bại một ứng viên được giới tinh hoa hậu thuẫn. Trong ngày nhậm chức, Caldera, vị tổng thống mãn nhiệm, không thể tự mình trao lời tuyên thệ cho Chávez như truyền thống vẫn làm. Thay vào đó, ông đứng lặng lẽ ở một bên, gương mặt ủ rũ.</p>



<p>Bất chấp những khác biệt sâu sắc, Hitler, Mussolini và Chávez đều đi trên những con đường giành lấy quyền lực có những điểm giống nhau kỳ lạ. Không chỉ là những kẻ ngoài luồng với khả năng thu hút công chúng, cả ba đều lên nắm quyền vì giới chính trị truyền thống đã phớt lờ những dấu hiệu cảnh báo và hoặc trực tiếp giao quyền cho họ (Hitler và Mussolini), hoặc mở đường cho họ (Chávez).</p>



<p>Sự thoái thác trách nhiệm chính trị của những nhà lãnh đạo đương nhiệm thường đánh dấu bước khởi đầu cho con đường dẫn đến chuyên chế. Nhiều năm sau chiến thắng của Chávez, Rafael Caldera đã lý giải sai lầm của mình một cách đơn giản: “Không ai nghĩ rằng ông Chávez lại có chút cơ hội nào, dù là nhỏ nhất, để trở thành tổng thống.” Và chỉ một ngày sau khi Hitler trở thành thủ tướng, một nhân vật bảo thủ từng giúp ông ta lên nắm quyền thừa nhận: “Tôi vừa phạm sai lầm ngu xuẩn nhất đời mình; tôi đã liên minh với kẻ mị dân vĩ đại nhất trong lịch sử thế giới.”</p>



<p>_________</p>



<p>Không phải nền dân chủ nào cũng rơi vào cái bẫy ấy. Một số quốc gia—bao gồm Bỉ, Anh, Costa Rica và Phần Lan—từng đối mặt với những thách thức từ các nhà dân túy mị dân nhưng vẫn thành công trong việc ngăn họ nắm quyền. Làm sao họ làm được điều đó? Người ta dễ cho rằng việc sống sót qua thử thách như vậy bắt nguồn từ sự khôn ngoan tập thể của cử tri. Có thể người dân Bỉ hay Costa Rica đơn giản là dân chủ hơn so với người dân ở Đức hay Ý. Dù sao đi nữa, chúng ta cũng thường tin rằng vận mệnh của một chính phủ nằm trong tay người dân. Nếu người dân coi trọng các giá trị dân chủ, thì nền dân chủ sẽ được an toàn. Nếu công dân dễ bị hấp dẫn bởi các thông điệp độc tài, thì sớm hay muộn, nền dân chủ cũng sẽ gặp nguy.</p>



<p>Cách nhìn này là sai. Nó đặt quá nhiều kỳ vọng vào dân chủ—rằng “người dân” có thể tự do quyết định thể chế họ muốn. Rất khó tìm ra bằng chứng nào cho thấy có sự ủng hộ đa số đối với chế độ độc tài ở Đức và Ý trong thập niên 1920. Trước khi đảng Quốc xã và đảng Phát xít lên nắm quyền, chưa đến 2% dân số là đảng viên của họ, và trong các cuộc bầu cử tự do và công bằng, không đảng nào giành được kết quả tiệm cận đa số phiếu bầu. Ngược lại, đa số cử tri đã bỏ phiếu chống lại Hitler và Mussolini—trước khi cả hai đạt được quyền lực nhờ vào sự hậu thuẫn của các chính trị gia nội bộ mù quáng trước hiểm họa mà lòng tham quyền lực của chính họ gây ra.</p>



<p>Hugo Chávez được bầu chọn bởi đa số cử tri, nhưng hầu như không có bằng chứng nào cho thấy người dân Venezuela lúc đó thực sự tìm kiếm một nhà lãnh đạo độc đoán. Thời điểm đó, mức độ ủng hộ dân chủ ở Venezuela còn cao hơn cả ở Chile—một quốc gia vốn ổn định về dân chủ cả trong quá khứ lẫn hiện tại. Theo khảo sát Latinobarómetro năm 1998, 60% người Venezuela đồng ý với tuyên bố “Dân chủ luôn là hình thức chính quyền tốt nhất,” trong khi chỉ 25% đồng ý rằng “trong một số hoàn cảnh, chính quyền độc đoán có thể tốt hơn chính quyền dân chủ.” Ngược lại, chỉ 53% người được hỏi ở Chile đồng ý rằng “dân chủ luôn là hình thức chính quyền tốt nhất.”</p>



<p>Những kẻ dân túy mị dân tiềm năng tồn tại trong mọi nền dân chủ, và đôi khi một hoặc vài người trong số họ gõ đúng vào tâm lý công chúng. Nhưng ở một số nền dân chủ, các lãnh đạo chính trị nhận thấy dấu hiệu cảnh báo và có hành động để bảo đảm những kẻ độc đoán bị giữ bên lề, tránh xa trung tâm quyền lực. Khi phải đối mặt với sự trỗi dậy của các phần tử cực đoan hoặc dân túy, họ nỗ lực có chủ đích nhằm cô lập và đánh bại những người này. Dù phản ứng của quần chúng trước những lời kêu gọi cực đoan có vai trò quan trọng, điều còn quan trọng hơn là việc các tinh hoa chính trị, đặc biệt là các đảng phái, có làm tròn vai trò như một bộ lọc hay không. Nói một cách đơn giản: các đảng phái chính trị chính là người gác cổng cho nền dân chủ.</p>



<p>Nếu muốn ngăn chặn các nhà lãnh đạo độc tài, trước tiên ta phải nhận diện được họ. Thật không may, không có một hệ thống cảnh báo sớm nào hoàn toàn đáng tin cậy. Nhiều nhà độc tài có thể được nhận ra dễ dàng trước khi họ lên nắm quyền. Họ có một hồ sơ rõ ràng: Hitler từng lãnh đạo một cuộc đảo chính thất bại; Chávez cầm đầu một cuộc nổi dậy quân sự thất bại; lực lượng Áo Đen của Mussolini từng tham gia vào các hoạt động bạo lực bán quân sự; và ở Argentina vào giữa thế kỷ 20, Juan Perón từng góp phần tiến hành một cuộc đảo chính thành công hai năm rưỡi trước khi tranh cử tổng thống.</p>



<p>Nhưng không phải chính trị gia nào cũng bộc lộ hết bản chất độc tài của mình trước khi giành được quyền lực. Một số người tuân thủ các quy tắc dân chủ vào giai đoạn đầu sự nghiệp, chỉ để rồi quay lưng với chúng sau này. Hãy xét trường hợp của Thủ tướng Hungary Viktor Orbán. Orbán và đảng Fidesz của ông khởi đầu như những người dân chủ tự do vào cuối thập niên 1980, và trong nhiệm kỳ thủ tướng đầu tiên từ 1998 đến 2002, ông từng cầm quyền một cách dân chủ. Sự chuyển hướng sang chế độ độc tài sau khi ông trở lại nắm quyền vào năm 2010 thực sự là một cú sốc.</p>



<p>Vậy làm sao để nhận diện chủ nghĩa độc tài ở những chính trị gia không có tiền sử chống dân chủ rõ ràng? Ở đây, ta quay lại với học giả chính trị xuất sắc Juan Linz. Sinh ra ở Đức thời Weimar và lớn lên giữa cuộc nội chiến Tây Ban Nha, Linz hiểu rất rõ hiểm họa của việc đánh mất một nền dân chủ. Là giáo sư tại Đại học Yale, ông đã dành phần lớn sự nghiệp của mình để tìm hiểu cách thức và lý do tại sao các nền dân chủ sụp đổ. Nhiều kết luận của Linz được tìm thấy trong một cuốn sách ngắn nhưng có ảnh hưởng lớn mang tên <em>The Breakdown of Democratic Regimes</em> (Sự sụp đổ của các chế độ dân chủ), xuất bản năm 1978. Cuốn sách nhấn mạnh vai trò của các chính trị gia, cho thấy hành vi của họ có thể củng cố nền dân chủ hoặc khiến nó rơi vào nguy hiểm. Ông cũng đề xuất, nhưng chưa phát triển đầy đủ, một “bài thử giấy quỳ” để nhận diện các chính trị gia chống dân chủ.</p>



<p>Dựa trên công trình của Linz, chúng tôi đã xây dựng một tập hợp bốn dấu hiệu cảnh báo về hành vi giúp nhận diện một nhà độc tài khi chúng ta đối diện với họ. Chúng ta cần lo ngại nếu một chính trị gia <strong>(1)</strong> từ chối, trong lời nói hoặc hành động, các quy tắc dân chủ của cuộc chơi; <strong>(2)</strong> phủ nhận tính chính danh của các đối thủ; <strong>(3)</strong> dung túng hoặc khuyến khích bạo lực; hoặc <strong>(4)</strong> bày tỏ sẵn sàng hạn chế các quyền tự do dân sự của đối thủ, kể cả giới truyền thông. Bảng 1 cho thấy cách đánh giá các chính trị gia dựa trên bốn tiêu chí này.</p>



<p>Một chính trị gia thỏa mãn <strong>chỉ một trong bốn tiêu chí</strong> trên cũng đã là điều đáng lo ngại. Vậy những kiểu ứng viên nào thường dương tính với bài thử chủ nghĩa độc tài này? Rất thường xuyên, đó là <strong>những kẻ dân túy ngoài cuộc</strong>. Các nhà dân túy là những chính trị gia chống lại hệ thống—những người, với tuyên bố rằng mình đại diện cho “ý chí của nhân dân,” phát động một cuộc chiến chống lại những gì họ mô tả là giới tinh hoa tham nhũng và âm mưu.</p>



<p>Các nhà dân túy thường phủ nhận tính chính danh của các đảng phái hiện hữu, cáo buộc họ là phi dân chủ, thậm chí là phản quốc. Họ nói với cử tri rằng hệ thống hiện tại thực chất không phải là một nền dân chủ mà là một cơ chế đã bị giới tinh hoa cướp đoạt, làm bại hoại hoặc gian lận. Và họ hứa sẽ chôn vùi tầng lớp tinh hoa đó, trả lại quyền lực cho “nhân dân.” Những lời hứa này cần được nhìn nhận một cách nghiêm túc. Khi các nhà dân túy thắng cử, họ thường tấn công các thể chế dân chủ.</p>



<p>Ở châu Mỹ Latinh, chẳng hạn, trong số 15 tổng thống được bầu ở Bolivia, Ecuador, Peru và Venezuela từ năm 1990 đến 2012, có 5 người là các nhà dân túy ngoài hệ thống: Alberto Fujimori, Hugo Chávez, Evo Morales, Lucio Gutiérrez và Rafael Correa. Cả 5 người này đều đã làm suy yếu các thiết chế dân chủ.</p>



<p><strong>BẢNG 1: BỐN CHỈ DẤU THEN CHỐT CỦA HÀNH VI ĐỘC TÀI</strong></p>



<p><strong>1. Bác bỏ (hoặc cam kết yếu ớt đối với) các quy tắc dân chủ hiện hành</strong></p>



<ul class="wp-block-list">
<li>Họ có bác bỏ Hiến pháp hoặc thể hiện sự sẵn sàng vi phạm nó không?</li>



<li>Họ có đề xuất cần có những biện pháp phản dân chủ như hủy bỏ bầu cử, vi phạm hoặc đình chỉ Hiến pháp, cấm một số tổ chức, hay hạn chế các quyền tự do dân sự hoặc chính trị cơ bản không?</li>



<li>Họ có tìm cách sử dụng (hoặc ủng hộ việc sử dụng) các phương tiện ngoài hiến pháp để thay đổi chính quyền, chẳng hạn như đảo chính quân sự, nổi dậy bạo lực, hay các cuộc biểu tình quy mô lớn nhằm ép buộc thay đổi chính phủ không?</li>



<li>Họ có tìm cách làm suy giảm tính chính danh của bầu cử, ví dụ như từ chối chấp nhận kết quả bầu cử hợp lệ không?</li>
</ul>



<p><strong>2. Phủ nhận tính chính đáng của các đối thủ chính trị</strong></p>



<ul class="wp-block-list">
<li>Họ có mô tả các đối thủ của mình là những kẻ phá hoại, hoặc chống lại trật tự hiến pháp hiện hành không?</li>



<li>Họ có cho rằng các đối thủ của mình là mối đe dọa sống còn đối với an ninh quốc gia hoặc lối sống hiện tại không?</li>



<li>Họ có vô căn cứ cáo buộc các đối thủ chính trị là tội phạm, với hành vi vi phạm pháp luật (hoặc khả năng sẽ vi phạm), qua đó tước quyền tham gia đầy đủ vào đời sống chính trị của họ không?</li>



<li>Họ có vô căn cứ ám chỉ rằng các đối thủ là tay sai của nước ngoài, đang âm thầm cộng tác (hoặc làm việc) cho một chính phủ nước ngoài—thường là kẻ thù—hay không?</li>
</ul>



<p><strong>3. Dung túng hoặc khuyến khích bạo lực</strong></p>



<ul class="wp-block-list">
<li>Họ có mối liên hệ nào với các băng nhóm vũ trang, lực lượng bán quân sự, dân quân, du kích hoặc các tổ chức sử dụng bạo lực phi pháp không?</li>



<li>Họ hoặc đồng minh chính trị của họ có từng tài trợ hoặc khuyến khích các cuộc tấn công bạo lực nhắm vào đối thủ không?</li>



<li>Họ có ngầm ủng hộ bạo lực do người ủng hộ mình gây ra bằng cách từ chối lên án rõ ràng và trừng phạt các hành vi ấy không?</li>



<li>Họ có từng ca ngợi (hoặc từ chối lên án) các hành vi bạo lực chính trị nghiêm trọng khác, dù trong quá khứ hay tại nơi khác trên thế giới không?</li>
</ul>



<p><strong>4. Sẵn sàng hạn chế quyền tự do dân sự của đối thủ, bao gồm cả báo chí</strong></p>



<ul class="wp-block-list">
<li>Họ có từng ủng hộ các luật hoặc chính sách hạn chế quyền tự do dân sự, như mở rộng luật phỉ báng hoặc vu khống, hoặc luật hạn chế biểu tình, chỉ trích chính quyền, hay giới hạn hoạt động của một số tổ chức dân sự hoặc chính trị không?</li>



<li>Họ có đe dọa sử dụng các biện pháp pháp lý hoặc trừng phạt khác đối với các nhà phê bình thuộc phe đối lập, xã hội dân sự, hoặc giới truyền thông không?</li>



<li>Họ có ca ngợi các biện pháp đàn áp do chính phủ khác thực hiện, dù là trong quá khứ hay ở quốc gia khác, không?</li>
</ul>



<p>Giữ những chính trị gia độc tài ngoài vòng quyền lực là việc nói dễ hơn làm<strong>.</strong> Dân chủ, rốt cuộc, không phải là chế độ được thiết kế để cấm đoán đảng phái hay ngăn cản ứng cử viên tranh cử — và chúng tôi cũng không ủng hộ những biện pháp như vậy. Trách nhiệm sàng lọc các phần tử độc tài thuộc về các đảng phái chính trị và các lãnh đạo đảng: chính họ là “người giữ cửa” của nền dân chủ.</p>



<p>Việc giữ cửa hiệu quả đòi hỏi các đảng phái chính thống phải cô lập và đánh bại các lực lượng cực đoan, một hành vi mà nhà khoa học chính trị Nancy Bermeo gọi là “tạo khoảng cách” (<em>distancing</em>). Các đảng dân chủ có thể thực hiện việc này theo nhiều cách. Trước hết, họ có thể loại bỏ những kẻ có xu hướng độc tài khỏi danh sách ứng cử của đảng trong các kỳ bầu cử. Điều này đòi hỏi họ phải cưỡng lại sự cám dỗ đề cử những kẻ cực đoan vào các chức vụ cao, ngay cả khi những người đó có thể mang lại số phiếu.</p>



<p>Thứ hai, các đảng có thể loại trừ các phần tử cực đoan ngay từ cơ sở. Hãy xem ví dụ về Đảng Bảo thủ Thụy Điển (AVF) trong giai đoạn nguy hiểm giữa hai cuộc chiến tranh thế giới. Tổ chức thanh niên của AVF — một tổ chức gồm các nhà hoạt động đủ tuổi bầu cử — có tên là Tổ chức Thanh niên Quốc gia Thụy Điển, đã trở nên ngày càng cực đoan vào đầu thập niên 1930, chỉ trích nền dân chủ nghị viện, công khai ủng hộ Hitler, thậm chí thành lập một đội quân mặc đồng phục kiểu quân phát xít. Năm 1933, AVF đã trục xuất tổ chức này. Việc mất 25.000 thành viên có thể khiến AVF tổn thất phiếu bầu trong kỳ bầu cử thành phố năm 1934, nhưng chiến lược “tạo khoảng cách” của họ đã làm giảm ảnh hưởng của các lực lượng phản dân chủ trong đảng trung hữu lớn nhất Thụy Điển.</p>



<p>Thứ ba, các đảng dân chủ có thể tránh xa mọi liên minh với các đảng và ứng cử viên phản dân chủ. Như chúng ta đã thấy ở Ý và Đức, các đảng dân chủ đôi khi bị cám dỗ bắt tay với các phần tử cực đoan nằm cùng phía trên quang phổ ý thức hệ, nhằm giành phiếu bầu hoặc lập chính phủ trong các hệ thống nghị viện. Nhưng những liên minh như vậy có thể dẫn đến hậu quả tai hại về lâu dài. Như Linz đã viết, sự sụp đổ của nhiều nền dân chủ bắt nguồn từ việc một đảng “có cảm tình sâu sắc hơn với những kẻ cực đoan cùng phe hơn là với các đảng chính thống ở phía đối lập.”</p>



<p>Thứ tư, các đảng dân chủ có thể hành động có hệ thống để cô lập — thay vì hợp pháp hóa — những kẻ cực đoan. Điều này đòi hỏi các chính trị gia phải tránh những hành động như việc các nhà Bảo thủ Đức cùng tổ chức mít-tinh với Hitler vào đầu những năm 1930, hay bài phát biểu của Rafael Caldera bày tỏ sự cảm thông với Hugo Chávez — những hành động đã góp phần “bình thường hóa” và tạo sự chính danh cho các nhân vật độc tài.</p>



<p>Cuối cùng, bất cứ khi nào các phần tử cực đoan nổi lên như những ứng cử viên có khả năng đắc cử thực sự, các đảng chính thống phải hợp lực tạo nên một mặt trận thống nhất để đánh bại họ. Như Linz từng nói, họ phải sẵn sàng “hợp tác với những đối thủ có ý thức hệ rất xa nhưng cùng cam kết bảo vệ trật tự dân chủ.” Trong hoàn cảnh bình thường, điều này gần như không thể tưởng tượng. Hãy hình dung Thượng nghị sĩ Edward Kennedy và các đảng viên Dân chủ cấp tiến khác vận động cho Ronald Reagan, hoặc Công đảng Anh cùng các liên đoàn lao động ủng hộ Margaret Thatcher. Cử tri của mỗi bên chắc chắn sẽ giận dữ vì hành động mà họ xem là phản bội nguyên tắc. Nhưng trong những thời điểm bất thường, sự lãnh đạo can đảm của đảng nghĩa là đặt dân chủ và đất nước lên trên đảng phái, và nói rõ với cử tri những gì đang bị đe dọa. Khi một đảng hay chính trị gia vượt ngưỡng thử nghiệm về nguy cơ độc tài và trở thành mối đe dọa nghiêm trọng về mặt bầu cử, gần như không còn lựa chọn nào khác. Mặt trận dân chủ thống nhất có thể ngăn chặn các phần tử cực đoan giành quyền lực — nghĩa là cứu lấy một nền dân chủ.</p>



<p>Dù những thất bại thường được nhớ đến nhiều hơn, nhưng một số nền dân chủ châu Âu đã thực hiện việc giữ cửa thành công trong giai đoạn giữa hai cuộc chiến. Những bài học lớn đôi khi lại đến từ các quốc gia nhỏ. Hãy xem trường hợp Bỉ và Phần Lan. Trong những năm khủng hoảng chính trị và kinh tế ở châu Âu những năm 1920 và 1930, cả hai nước đều đối mặt với dấu hiệu báo trước của sự suy thoái dân chủ — sự trỗi dậy của các phần tử cực đoan chống hệ thống — nhưng, không giống như Ý và Đức, họ đã được cứu bởi tầng lớp tinh hoa chính trị biết bảo vệ các thể chế dân chủ (ít nhất là cho đến khi bị phát xít Đức xâm lược vài năm sau đó).</p>



<p>Trong cuộc tổng tuyển cử năm 1936 tại Bỉ, khi làn sóng phát xít lan rộng từ Ý và Đức ra khắp châu Âu, cử tri đã đưa ra một kết quả gây sốc. Hai đảng cực hữu theo khuynh hướng độc tài — Đảng Rex và Đảng Dân tộc Vlaams (VNV) — vọt lên mạnh mẽ trong các cuộc thăm dò, giành gần 20% số phiếu phổ thông và thách thức quyền lực truyền thống của ba đảng chính: Đảng Công giáo trung hữu, Đảng Xã hội và Đảng Tự do. Mối đe dọa lớn nhất đến từ lãnh đạo Đảng Rex, Léon Degrelle, một nhà báo Công giáo sau này cộng tác với phát xít. Degrelle, người chỉ trích kịch liệt chế độ dân chủ nghị viện, đã rời khỏi cánh hữu của Đảng Công giáo và công khai lên án các lãnh đạo đảng là tham nhũng. Ông nhận được cả sự khích lệ lẫn hỗ trợ tài chính từ Hitler và Mussolini.</p>



<p>Kết quả bầu cử năm 1936 khiến các đảng trung dung bị tổn thất trên diện rộng. Nhận thức được nguy cơ từ các phong trào phản dân chủ ở Ý và Đức, họ phải đối mặt với một quyết định then chốt: hoặc là hợp tác với các đối thủ lâu năm — các đảng Xã hội và Tự do — hoặc là liên minh với phe hữu cực đoan, bao gồm Đảng Rex, một đảng có cùng hệ tư tưởng nhưng phủ nhận giá trị của dân chủ.</p>



<p>Trái với các chính trị gia chính thống ở Ý và Đức — những người đã rút lui — ban lãnh đạo Đảng Công giáo Bỉ tuyên bố rằng bất kỳ sự hợp tác nào với Đảng Rex đều không phù hợp với tư cách thành viên đảng. Sau đó, họ thực hiện chiến lược hai hướng để đối phó với phong trào này. Nội bộ, các lãnh đạo đảng tăng cường kỷ luật bằng cách sàng lọc ứng cử viên có khuynh hướng thân Rex và khai trừ những người thể hiện quan điểm cực đoan. Ngoại bộ, đảng đối đầu với Rex ngay tại địa bàn cốt lõi: Họ triển khai chiến thuật tuyên truyền và vận động mới nhắm vào giới trẻ Công giáo — những người từng là cơ sở ủng hộ của Rex. Đảng Công giáo thành lập Mặt trận Thanh niên Công giáo vào tháng 12 năm 1935 và đưa các đồng minh cũ ra tranh cử đối đầu trực tiếp với Degrelle.</p>



<p>Cuộc đối đầu cuối cùng giữa Rex và Đảng Công giáo — nơi Rex bị đẩy ra ngoài lề (cho đến khi Đức Quốc xã chiếm đóng) — xoay quanh việc thành lập chính phủ mới sau cuộc bầu cử năm 1936. Đảng Công giáo ủng hộ thủ tướng đương nhiệm Paul van Zeeland. Sau khi van Zeeland trở lại cương vị, có hai phương án để lập chính phủ: một là liên minh với Đảng Xã hội — tương tự như Mặt trận Bình dân ở Pháp — mà ban đầu van Zeeland và một số lãnh đạo Công giáo muốn tránh; hai là liên minh cánh hữu chống Xã hội chủ nghĩa, bao gồm cả Rex và VNV. Lựa chọn này không dễ dàng, vì phe truyền thống trong Đảng Công giáo đã lên kế hoạch lật đổ nội các mong manh của van Zeeland bằng cách huy động tầng lớp cơ sở, tổ chức “Cuộc hành quân tới Brussels” và ép tổ chức một cuộc bầu cử phụ, trong đó Degrelle sẽ tranh cử trực tiếp với van Zeeland. Tuy nhiên, kế hoạch này đã bị phá vỡ vào năm 1937 khi Degrelle thua cuộc, phần lớn là nhờ các nghị sĩ Công giáo đã đứng lên phản đối: họ từ chối ủng hộ phe truyền thống và thay vào đó liên minh với Đảng Tự do và Xã hội phía sau van Zeeland. Đây là hành động giữ cửa quan trọng nhất của Đảng Công giáo Bỉ.</p>



<p>Lập trường của Đảng Công giáo còn được củng cố bởi vai trò của Quốc vương Leopold III và Đảng Xã hội. Kết quả bầu cử năm 1936 đã đưa Đảng Xã hội trở thành lực lượng lớn nhất trong nghị viện, về nguyên tắc có quyền lập chính phủ. Tuy nhiên, khi rõ ràng rằng Đảng Xã hội không thể đạt đủ đa số, thay vì tổ chức tổng tuyển cử mới — điều có thể trao thêm ghế cho các đảng cực đoan — nhà vua đã triệu tập các lãnh đạo đảng lớn và thuyết phục họ thành lập một nội các liên minh chia sẻ quyền lực, do van Zeeland dẫn dắt, bao gồm cả Đảng Công giáo bảo thủ lẫn Đảng Xã hội, nhưng loại trừ các đảng chống hệ thống ở cả hai phía. Dù nghi ngờ van Zeeland (vốn là người của Đảng Công giáo), Đảng Xã hội vẫn đặt dân chủ lên trên lợi ích đảng phái và ủng hộ liên minh đại đoàn kết.</p>



<p>Một diễn biến tương tự đã xảy ra ở Phần Lan, nơi phong trào cực hữu mang tên <strong>Lapua</strong> bùng nổ trên chính trường vào năm 1929, đe dọa nền dân chủ còn non yếu của quốc gia này. Phong trào Lapua chủ trương tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản bằng mọi giá. Họ đe dọa sử dụng bạo lực nếu yêu cầu không được đáp ứng, và tấn công các chính trị gia chính thống mà họ xem là kẻ đồng lõa với phe Xã hội. Ban đầu, các chính trị gia thuộc Liên minh Nông dân — đảng trung hữu cầm quyền — đã có lúc ve vãn phong trào Lapua, xem lập trường chống cộng sản của họ là hữu ích về mặt chính trị; họ nhượng bộ yêu sách của Lapua trong việc tước quyền chính trị của những người cộng sản và dung túng bạo lực từ phe cực hữu. Năm 1930, P. E. Svinhufvud, một chính trị gia bảo thủ được Lapua xem là “người của họ,” trở thành Thủ tướng và đã đề nghị dành cho phong trào này hai ghế trong nội các. Một năm sau, Svinhufvud trở thành Tổng thống. Tuy nhiên, Lapua vẫn tiếp tục các hành vi cực đoan; sau khi đã thành công trong việc cấm đảng Cộng sản, họ chuyển sang nhắm vào Đảng Dân chủ Xã hội ôn hòa hơn. Các tay chân của Lapua đã bắt cóc hơn một nghìn thành viên Đảng Dân chủ Xã hội, trong đó có cả lãnh đạo công đoàn và các nghị sĩ. Phong trào Lapua cũng tổ chức một cuộc hành quân 12.000 người tới Helsinki (mô phỏng theo cuộc “Hành quân tới Rome” huyền thoại), và đến năm 1932, họ ủng hộ một cuộc đảo chính bất thành nhằm thay thế chính phủ bằng một chế độ “phi chính trị” và “yêu nước”.</p>



<p>Tuy nhiên, khi phong trào Lapua ngày càng trở nên cực đoan hơn, các đảng bảo thủ truyền thống của Phần Lan đã dứt khoát đoạn tuyệt với họ. Cuối năm 1930, phần lớn Liên minh Nông dân, Đảng Tiến bộ tự do, và phần lớn Đảng Nhân dân Thụy Điển đã liên minh với đối thủ ý thức hệ chính của mình — Đảng Dân chủ Xã hội — để thành lập mặt trận mang tên Mặt trận Pháp quyền nhằm bảo vệ nền dân chủ khỏi các phần tử cực đoan bạo lực. Ngay cả Tổng thống bảo thủ Svinhufvud cũng đã mạnh mẽ bác bỏ — và cuối cùng ra lệnh cấm — các đồng minh cũ của mình. Phong trào Lapua bị cô lập, và làn sóng phát xít ngắn ngủi tại Phần Lan đã bị dập tắt.</p>



<p>Việc giữ cửa hiệu quả không chỉ xuất hiện trong các trường hợp lịch sử xa xưa. Tại Áo năm 2016, Đảng Nhân dân Áo (ÖVP) — đảng trung hữu chính — đã thành công trong việc ngăn chặn đảng cực hữu Tự do Áo (FPÖ) giành chức tổng thống. Áo có lịch sử lâu dài gắn với chủ nghĩa cực hữu, và FPÖ là một trong những đảng cực hữu mạnh nhất châu Âu. Hệ thống chính trị của Áo lúc đó đang trở nên mong manh, bởi hai đảng lớn — Dân chủ Xã hội (SPÖ) và Dân chủ Thiên chúa giáo (ÖVP) — vốn thay phiên nhau nắm quyền tổng thống kể từ sau Thế chiến thứ hai, đang suy yếu. Trong cuộc bầu cử năm 2016, quyền lực của họ bị thách thức bởi hai nhân vật mới nổi: Alexander Van der Bellen, cựu chủ tịch Đảng Xanh, và Norbert Hofer, lãnh đạo cực hữu của FPÖ.</p>



<p>Điều bất ngờ là vòng một bầu cử đã để lại hai ứng viên tranh vòng chung kết là Van der Bellen và Hofer. Sau một sai sót thủ tục khiến phải tổ chức lại, vòng hai được tổ chức vào tháng 12 năm 2016. Lúc này, nhiều chính trị gia, bao gồm cả một số lãnh đạo từ ÖVP, đã công khai tuyên bố rằng Hofer và đảng FPÖ cần bị đánh bại. Hofer từng đưa ra các phát ngôn kích động bạo lực chống người nhập cư, và nhiều người lo ngại rằng nếu đắc cử, ông sẽ sử dụng chức tổng thống để ưu ái đảng mình, vi phạm quy tắc trung lập truyền thống của tổng thống. Trước nguy cơ đó, nhiều lãnh đạo quan trọng của ÖVP đã làm điều chưa từng có: họ ủng hộ ứng cử viên Đảng Xanh, đối thủ ý thức hệ, để ngăn chặn Hofer. Ứng viên tổng thống của ÖVP là Andreas Khol ủng hộ Van der Bellen, cùng với Chủ tịch Reinhold Mitterlehner, Bộ trưởng Sophie Karmasin, và hàng chục thị trưởng ÖVP tại nông thôn. Trong một bức thư, cựu Chủ tịch Erhard Busek viết rằng ông ủng hộ Van der Bellen “không phải vì đam mê mà vì suy xét thận trọng,” và rằng ông không muốn Áo phải nhận “lời chúc mừng từ Le Pen, Jobbik, Wilders và AfD [và các phần tử cực đoan khác] sau cuộc bầu cử tổng thống.”</p>



<p>Van der Bellen đã thắng với cách biệt chỉ khoảng 300.000 phiếu.</p>



<p>Lập trường này đòi hỏi lòng can đảm chính trị đáng kể. Stefan Schmuckenschlager, một thị trưởng Công giáo ở ngoại ô Vienna thuộc ÖVP — người đã ủng hộ ứng viên Đảng Xanh — cho biết quyết định này đã gây chia rẽ trong cả gia đình ông. Người anh sinh đôi của ông, cũng là một lãnh đạo đảng, lại ủng hộ Hofer. Schmuckenschlager nói rằng đôi khi chính trị quyền lực cần được gác lại để làm điều đúng đắn.</p>



<p>Việc các lãnh đạo ÖVP công khai ủng hộ Van der Bellen có tác dụng không? Có bằng chứng cho thấy là có. Theo các cuộc khảo sát sau bầu cử, 55% cử tri tự nhận là người ủng hộ ÖVP đã bỏ phiếu cho Van der Bellen, và 48% cử tri của ông cho biết họ làm vậy để ngăn Hofer đắc cử. Ngoài ra, sự phân hóa truyền thống giữa khu vực thành thị thiên tả và nông thôn thiên hữu — vốn là đặc điểm của chính trị Áo — đã giảm đáng kể trong vòng hai, với nhiều bang bảo thủ nông thôn bất ngờ chuyển sang ủng hộ Van der Bellen.</p>



<p>Tóm lại, vào năm 2016, các lãnh đạo có trách nhiệm trong ÖVP đã cưỡng lại sự cám dỗ liên minh với một đảng cực đoan cùng phe, và kết quả là đảng cực đoan đó đã bị đánh bại. Thành tích mạnh mẽ của FPÖ trong cuộc bầu cử Quốc hội năm 2017 — nơi họ trở thành đối tác liên minh trong một chính phủ cánh hữu mới — cho thấy tình thế nan giải của các chính trị gia bảo thủ Áo vẫn còn tồn tại. Dù vậy, nỗ lực ngăn cản một kẻ cực đoan bước vào chức vụ tổng thống của họ là một hình mẫu giữ cửa dân chủ rất đáng tham khảo trong thời hiện đại.</p>



<p>Về phần mình, Hoa Kỳ từng có thành tích giữ cửa ấn tượng. Cả hai đảng Dân chủ và Cộng hòa đều từng đối đầu với những nhân vật cực đoan trong nội bộ, trong đó có những người có lượng ủng hộ công chúng khá cao. Trong nhiều thập kỷ, cả hai đảng đều thành công trong việc giữ cho những khuôn mặt này không lọt vào dòng chính. Cho đến, tất nhiên, năm 2016.</p>



<p><strong>PHẦN PHỤ LỤC</strong></p>



<p><strong>Chú thích – Chương 1: Những liên minh định mệnh</strong></p>



<ol start="1" class="wp-block-list">
<li><strong>“Ngựa, Nai và Thợ săn”</strong> là một truyện ngụ ngôn của Aesop, nhà kể chuyện nổi tiếng của Hy Lạp cổ đại. Truyện nhấn mạnh hệ quả của việc đánh đổi tự do để đạt được một mục tiêu nhất thời: kẻ chấp nhận “bit và yên cương” có thể vĩnh viễn mất tự do.</li>



<li><strong>Benito Mussolini (1883–1945)</strong> là người sáng lập và lãnh đạo chế độ Phát xít Ý, nắm quyền từ năm 1922 đến 1943. Ông là một trong những nhân vật đầu tiên thiết lập chế độ độc tài hiện đại dựa trên chủ nghĩa dân tộc cực đoan.</li>



<li><strong>Cuộc hành quân về Rome (March on Rome)</strong> vào tháng 10 năm 1922 là một chiến dịch chính trị do Mussolini tổ chức, được tuyên truyền như một cuộc cách mạng nhưng thực chất là một màn gây áp lực để giành quyền lực từ nhà vua và giới chính trị Ý.</li>



<li><strong>Điện Quirinal (Quirinal Palace)</strong> là nơi cư trú của quốc vương Ý vào thời điểm đó, hiện là dinh tổng thống. Hành động Mussolini đến đây tiếp kiến nhà vua mang ý nghĩa biểu tượng cho sự chuyển giao quyền lực sang tay một chế độ chuyên chế.</li>



<li><strong>Áo đen (Blackshirts)</strong> là lực lượng bán quân sự trung thành với Mussolini, được tổ chức như các đội “Squadristi”, chuyên thực hiện các hành vi bạo lực nhằm đàn áp đối thủ chính trị, đặc biệt là phe cánh tả.</li>



<li><strong>Vua Victor Emmanuel III (1869–1947)</strong> là quốc vương Ý từ năm 1900 đến 1946. Quyết định trao quyền cho Mussolini của ông được xem là một bước ngoặt bi kịch, mở đường cho chế độ phát xít.</li>



<li><strong>Giovanni Giolitti</strong> và <strong>Antonio Salandra</strong> là các chính khách thuộc tầng lớp tinh hoa chính trị tự do Ý đầu thế kỷ XX. Họ tưởng rằng có thể “kiểm soát” Mussolini để ổn định đất nước, nhưng thực tế lại trao quyền vào tay một nhà độc tài.</li>



<li><strong>Rubicon</strong> là một con sông nhỏ ở miền bắc nước Ý. Hành động Julius Caesar vượt sông này năm 49 TCN được coi là khai mào nội chiến La Mã. Mussolini mượn hình ảnh lịch sử này để tạo hào quang cách mạng cho hành trình giành quyền lực của mình.</li>



<li><strong>Các lãnh đạo từng đi vào quyền lực qua bầu cử hoặc liên minh chính trị, rồi phá vỡ dân chủ</strong>:
<ul class="wp-block-list">
<li><strong>Adolf Hitler</strong> (Đức): Được bổ nhiệm làm thủ tướng hợp pháp năm 1933, sau đó nhanh chóng thiết lập chế độ độc tài toàn trị.</li>



<li><strong>Getúlio Vargas</strong> (Brazil): Lên nắm quyền sau đảo chính năm 1930, thiết lập chế độ độc đoán kéo dài nhiều năm.</li>



<li><strong>Alberto Fujimori</strong> (Peru): Được bầu cử năm 1990, sau đó giải tán quốc hội và kiểm soát tư pháp.</li>



<li><strong>Hugo Chávez</strong> (Venezuela): Thắng cử năm 1998, thay đổi hiến pháp và thiết lập một hệ thống quyền lực tập trung.</li>
</ul>
</li>



<li><strong>“Autocrat-in-the-making”</strong> là thuật ngữ chỉ những chính trị gia bước vào quyền lực thông qua con đường dân chủ nhưng có ý định – hoặc dần dần thực hiện các bước – phá vỡ nền tảng dân chủ để củng cố quyền lực cá nhân.</li>
</ol>



<p><strong>Phụ lục: Ghi chú lịch sử và chính trị</strong></p>



<p><strong>1. Đảo chính Nhà bia (Beer Hall Putsch, 1923):</strong><br>Một cuộc nổi dậy thất bại do Adolf Hitler và Đảng Quốc xã tổ chức ở Munich nhằm lật đổ chính quyền bang Bavaria. Mặc dù thất bại và bị kết án tù, Hitler lợi dụng thời gian này để viết <em>Mein Kampf</em>, trình bày hệ tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, bài Do Thái và chống cộng sản.</p>



<p><strong>2. <em>Mein Kampf</em> (1925):</strong><br>Tác phẩm mang tính tự truyện và cương lĩnh chính trị của Adolf Hitler, trong đó ông đề xuất “giải pháp” cho nước Đức sau Thế chiến I, đòi hỏi không gian sinh tồn (<em>Lebensraum</em>) và bày tỏ thù ghét sâu sắc với người Do Thái và chủ nghĩa Mác.</p>



<p><strong>3. Cộng hòa Weimar (1919–1933):</strong><br>Nền cộng hòa dân chủ đầu tiên của Đức, thành lập sau khi Đế chế Đức sụp đổ. Mặc dù dân chủ về hình thức, Weimar phải đối mặt với bất ổn chính trị, khủng hoảng kinh tế và áp lực từ cả phe cực hữu lẫn cực tả.</p>



<p><strong>4. Paul von Hindenburg (1847–1934):</strong><br>Thống chế Đức trong Thế chiến I, sau đó làm Tổng thống Cộng hòa Weimar. Ông đã bổ nhiệm Hitler làm Thủ tướng vào năm 1933 theo đề xuất của một nhóm chính khách bảo thủ, trong nỗ lực duy trì trật tự nhưng cuối cùng tạo điều kiện cho Hitler nắm toàn quyền.</p>



<p><strong>5. Heinrich Brüning (1885–1970):</strong><br>Thủ tướng Đức từ 1930–1932, thuộc Đảng Trung tâm Công giáo. Ông thực hiện các chính sách thắt lưng buộc bụng trong khủng hoảng kinh tế nhưng thất bại trong việc cứu nền kinh tế và bị mất lòng dân.</p>



<p><strong>6. Franz von Papen (1879–1969):</strong><br>Chính trị gia bảo thủ, giữ chức Thủ tướng một thời gian ngắn năm 1932. Là người chủ trương đưa Hitler vào chính phủ với hy vọng kiểm soát ông ta, một tính toán sai lầm nghiêm trọng.</p>



<p><strong>7. Kurt von Schleicher (1882–1934):</strong><br>Tướng quân đội và Bộ trưởng Quốc phòng, sau làm Thủ tướng cuối cùng của Cộng hòa Weimar. Bị thất bại trong việc xây dựng liên minh chính trị đủ mạnh, ông bị loại bỏ và sau này bị giết trong cuộc “Đêm của dao dài” năm 1934.</p>



<p><strong>8. Giovanni Giolitti (1842–1928):</strong><br>Một chính khách kỳ cựu của Ý, từng giữ chức Thủ tướng năm lần. Trong nỗ lực duy trì kiểm soát, ông liên minh với phe Phát xít trong cuộc bầu cử năm 1921, điều này giúp Benito Mussolini có được uy tín chính trị chính thống.</p>



<p><strong>9. Benito Mussolini (1883–1945):</strong><br>Người sáng lập chủ nghĩa Phát xít, nắm quyền tại Ý từ 1922 đến 1943. Ban đầu là nhà báo cánh tả, sau chuyển sang cánh hữu cực đoan và được sự hậu thuẫn của các thế lực bảo thủ trong quá trình lên nắm quyền.</p>



<p><strong>10. Hugo Chávez (1954–2013):</strong><br>Sĩ quan quân đội Venezuela, cầm đầu cuộc đảo chính thất bại năm 1992 nhưng nhanh chóng nổi lên như một anh hùng bình dân. Sau khi ra tù, ông chuyển sang đấu tranh chính trị, đắc cử Tổng thống năm 1998 và thành lập chế độ “chủ nghĩa xã hội thế kỷ 21”.</p>



<p><strong>11. Rafael Caldera (1916–2009):</strong><br>Tổng thống Venezuela hai nhiệm kỳ, là một trong những nhân vật sáng lập nền dân chủ nước này sau năm 1958. Sau khi thất bại với các chính sách kinh tế và rút khỏi đảng COPEI, ông hỗ trợ ngầm Chávez trên đường tranh cử, góp phần vào chiến thắng của ông này.</p>



<p><strong>12. COPEI (Đảng Xã hội Thiên Chúa giáo):</strong><br>Đảng trung hữu tại Venezuela, cùng với Đảng Dân chủ Hành động luân phiên cầm quyền trong suốt thời kỳ dân chủ từ năm 1958 đến thập niên 1990. Bị suy yếu nghiêm trọng do khủng hoảng kinh tế và bất mãn xã hội.</p>



<p><strong>13. “Caracazo” (1989):</strong><br>Cuộc nổi dậy bạo lực diễn ra tại Caracas và các thành phố khác, bùng phát sau các biện pháp thắt lưng buộc bụng do Tổng thống Carlos Andrés Pérez áp đặt. Gây ra hàng trăm cái chết và làm lung lay niềm tin vào hệ thống chính trị truyền thống.</p>



<p><strong>14. Simón Bolívar (1783–1830):</strong><br>Anh hùng giải phóng Nam Mỹ khỏi ách thống trị của Tây Ban Nha. Tư tưởng và hình ảnh của ông được Hugo Chávez sử dụng để chính danh hóa phong trào cách mạng của mình, đặt tên là “Bolivarian”.</p>



<p><strong>[15] Cuộc đảo chính tháng 2 năm 1992</strong>: Hugo Chávez, khi đó là một trung úy quân đội trẻ, lãnh đạo một cuộc đảo chính bất thành nhằm lật đổ Tổng thống Carlos Andrés Pérez. Mặc dù thất bại, Chávez lại được đông đảo người dân ủng hộ vì hình ảnh dám đứng lên chống tham nhũng và bất công xã hội.</p>



<p><strong>[16] Phát biểu của Caldera năm 1992</strong>: Bài phát biểu tại Quốc hội sau cuộc đảo chính là bước ngoặt giúp Caldera tái sinh sự nghiệp chính trị. Thay vì lên án đảo chính, ông chỉ trích chính phủ đương nhiệm, từ đó kết nối với tâm lý bất mãn phổ biến trong xã hội lúc bấy giờ.</p>



<p><strong>[17] COPEI</strong>: Viết tắt của <em>Comité de Organización Política Electoral Independiente</em>, Đảng Dân chủ Cơ Đốc giáo Venezuela, do Caldera sáng lập năm 1946. Cùng với Đảng Hành động Dân chủ (AD), COPEI là một trong hai đảng thống trị nền chính trị Venezuela sau 1958.</p>



<p><strong>[18] Khủng hoảng hệ thống chính đảng Venezuela (1989–1993)</strong>: Sự sụp đổ về tín nhiệm đối với các đảng truyền thống bắt đầu sau cuộc bạo loạn &#8220;Caracazo&#8221; năm 1989 và kéo dài đến giữa thập niên 1990, khi cả hai đảng lớn đều bị suy yếu vì tham nhũng, lạm phát, và bất lực trong việc giải quyết bất công xã hội.</p>



<p><strong>[19] Caldera ân xá Chávez (1994)</strong>: Sau khi đắc cử tổng thống với tư cách ứng viên độc lập, Caldera thực hiện lời hứa tranh cử là thả tự do cho Chávez và các sĩ quan đảo chính. Thay vì xét xử và sau đó khoan hồng, ông chọn cách hủy toàn bộ cáo buộc, điều này tạo điều kiện để Chávez tranh cử tổng thống vào năm 1998.</p>



<p><strong>[20] Chávez đắc cử tổng thống (1998)</strong>: Trong một chiến thắng áp đảo, Hugo Chávez đánh bại các ứng viên được giới tinh hoa hậu thuẫn, khởi đầu cho một kỷ nguyên mới trong chính trị Venezuela, được gọi là <em>Cách mạng Bolivar</em>, với đặc trưng là chủ nghĩa dân túy, tập trung quyền lực và chống Mỹ.</p>



<p><strong>[9] So sánh với Hitler và Mussolini</strong>: Tác giả đoạn văn nhấn mạnh điểm tương đồng giữa các con đường lên nắm quyền của ba nhà lãnh đạo: đều là những nhân vật ngoài luồng, tận dụng bất mãn xã hội và được các chính khách đương thời hậu thuẫn vì tính toán sai lầm, cho rằng họ có thể kiểm soát được những kẻ mị dân.</p>



<p><strong>[10] “Greatest stupidity of my life”</strong>: Câu trích từ lời thú nhận của Franz von Papen, chính khách Đức đã giúp Hitler trở thành Thủ tướng năm 1933, là một lời cảnh báo lịch sử về sự khinh suất khi hợp tác với những kẻ chống hệ thống vì lợi ích chính trị ngắn hạn.</p>



<p><strong>Phụ lục Lịch sử – Chính trị</strong></p>



<ol start="1" class="wp-block-list">
<li><strong>Bỉ, Anh, Costa Rica, và Phần Lan</strong><br>Các quốc gia này được nêu như ví dụ về những nền dân chủ đã <strong>duy trì được tính ổn định</strong> trước làn sóng dân túy, trái ngược với các trường hợp thất bại như Đức hay Venezuela.
<ul class="wp-block-list">
<li><strong>Bỉ</strong>: Một chế độ quân chủ lập hiến với nền dân chủ nghị viện bền vững.</li>



<li><strong>Anh (Vương quốc Anh)</strong>: Một trong những nền dân chủ lâu đời nhất thế giới, có truyền thống pháp quyền và đảng phái mạnh mẽ.</li>



<li><strong>Costa Rica</strong>: Sau cuộc nội chiến năm 1948, Costa Rica bãi bỏ quân đội và xây dựng nền dân chủ ổn định, được xem là điển hình ở Trung Mỹ.</li>



<li><strong>Phần Lan</strong>: Duy trì nền dân chủ vững chắc ngay cả sau Thế chiến và trong Chiến tranh Lạnh, nhờ sự đồng thuận xã hội cao và đảng phái hiệu quả.</li>
</ul>
</li>



<li><strong>Đức và Ý thập niên 1920–30</strong>
<ul class="wp-block-list">
<li><strong>Đức (Cộng hòa Weimar)</strong>: Sau Thế chiến I, Đức trở thành một nền dân chủ lập hiến. Tuy nhiên, thể chế này bị suy yếu bởi khủng hoảng kinh tế, bạo lực chính trị, và sự chia rẽ trong giới lãnh đạo, mở đường cho Adolf Hitler và đảng Quốc xã lên nắm quyền năm 1933.</li>



<li><strong>Ý</strong>: Trong bối cảnh bất ổn sau Thế chiến I, Benito Mussolini lợi dụng nỗi lo sợ về cộng sản và sự yếu kém của chính phủ để đưa đảng Phát xít lên nắm quyền năm 1922.</li>
</ul>
</li>



<li><strong>Latinobarómetro 1998</strong><br>Latinobarómetro là một khảo sát xã hội hàng năm trên toàn khu vực Mỹ Latinh nhằm đo lường thái độ của người dân về dân chủ, kinh tế và các giá trị xã hội.
<ul class="wp-block-list">
<li>Năm 1998, khảo sát cho thấy <strong>60% người dân Venezuela</strong> tin rằng “dân chủ là hình thức chính phủ tốt nhất,” một con số cao hơn cả ở <strong>Chile</strong>—quốc gia được xem là hình mẫu dân chủ sau thời kỳ độc tài Pinochet (1973–1990).</li>
</ul>
</li>



<li><strong>Vai trò của các đảng phái chính trị</strong><br>Trong lịch sử các nền dân chủ, các <strong>đảng phái chính trị truyền thống</strong> đóng vai trò như <strong>bộ lọc và người gác cổng</strong>, nhằm loại trừ các ứng viên cực đoan ra khỏi dòng chính trị chính thống.
<ul class="wp-block-list">
<li>Khi các đảng này <strong>tan rã, mất niềm tin</strong>, hoặc <strong>hợp tác với những phần tử cực đoan vì lợi ích ngắn hạn</strong>, họ có thể vô tình trao quyền cho những kẻ phá hoại dân chủ.</li>
</ul>
</li>



<li><strong>Khái niệm “dân túy” (populism)</strong><br>Dân túy là xu hướng chính trị trong đó một cá nhân hoặc nhóm tự xưng là đại diện “chân chính” cho “người dân,” thường trong thế đối lập với “giới tinh hoa.”
<ul class="wp-block-list">
<li>Các nhà dân túy thường <strong>tấn công vào các thiết chế dân chủ</strong>, <strong>chối bỏ các nguyên tắc pháp quyền</strong>, và <strong>đưa ra lời hứa đơn giản cho các vấn đề phức tạp</strong>—một chiến thuật từng được Hitler, Mussolini, Chávez và các nhân vật khác sử dụng.</li>
</ul>
</li>
</ol>



<p><strong>PHỤ LỤC CHÚ GIẢI NỘI DUNG</strong></p>



<hr class="wp-block-separator has-alpha-channel-opacity"/>



<p><strong>I. Bốn chỉ dấu của hành vi độc tài</strong></p>



<p><strong>1. “Gatekeeping” (giữ cửa)</strong>:<br>Thuật ngữ chỉ trách nhiệm của các đảng phái chính trị chính thống trong việc <strong>ngăn chặn các phần tử độc tài hoặc phản dân chủ</strong> xâm nhập vào hệ thống quyền lực. Gatekeeping là cơ chế bảo vệ nền dân chủ từ bên trong.</p>



<p><strong>2. “Distancing” (tạo khoảng cách)</strong>:<br>Khái niệm do nhà khoa học chính trị <strong>Nancy Bermeo</strong> đưa ra, mô tả hành động của các đảng dân chủ trong việc <strong>tránh xa hoặc loại trừ các phần tử cực đoan</strong>, dù có thể cùng chia sẻ hệ tư tưởng.</p>



<p><strong>3. Thí dụ tiêu biểu về phá vỡ chuẩn mực dân chủ</strong>:</p>



<ul class="wp-block-list">
<li>Đề xuất hủy bầu cử, đình chỉ hiến pháp.</li>



<li>Từ chối công nhận kết quả bầu cử hợp pháp.</li>



<li>Sử dụng ngôn ngữ miệt thị, gán ghép đối thủ là “tay sai nước ngoài,” “kẻ phản quốc,” v.v.</li>
</ul>



<hr class="wp-block-separator has-alpha-channel-opacity"/>



<p><strong>II. Trường hợp điển hình trong lịch sử châu Âu</strong></p>



<p><strong>A. Bỉ (Belgium) – Cuộc đối đầu với Đảng Rex (1930s)</strong></p>



<p><strong>1. Léon Degrelle</strong>:<br>Nhà báo Công giáo, lãnh đạo <strong>Đảng Rex</strong> – một đảng phát xít thân Đức Quốc xã, kêu gọi xóa bỏ dân chủ nghị viện, nhận tài trợ từ <strong>Hitler</strong> và <strong>Mussolini</strong>.</p>



<p><strong>2. Đảng Rex</strong>:<br>Phong trào cực hữu ở Bỉ, bài dân chủ, chống lại các đảng truyền thống. Bị loại khỏi chính quyền nhờ liên minh giữa <strong>Đảng Công giáo</strong>, <strong>Đảng Xã hội</strong>, và <strong>Đảng Tự do</strong>.</p>



<p><strong>3. Paul van Zeeland</strong>:<br>Thủ tướng Bỉ giai đoạn 1935–1937, trung gian của liên minh đại đoàn kết (Catholic–Socialist–Liberal), giúp cô lập Đảng Rex.</p>



<p><strong>4. “March on Brussels”</strong>:<br>Âm mưu do phe cực hữu tổ chức, mô phỏng theo <strong>Hành quân tới Rome</strong> của Mussolini (1922), nhằm gây sức ép chính trị buộc tổ chức bầu cử lại.</p>



<hr class="wp-block-separator has-alpha-channel-opacity"/>



<p><strong>B. Phần Lan (Finland) – Phong trào Lapua</strong></p>



<p><strong>1. Phong trào Lapua</strong>:<br>Phong trào cực hữu chống cộng ở Phần Lan (1929–1932), chủ trương sử dụng bạo lực, từng bắt cóc hàng loạt chính khách dân chủ và tổ chức <strong>đảo chính bất thành năm 1932</strong>.</p>



<p><strong>2. P. E. Svinhufvud</strong>:<br>Chính trị gia bảo thủ, ban đầu có cảm tình với Lapua, sau đó quay lưng và <strong>ra lệnh cấm</strong> phong trào này khi họ trở nên cực đoan.</p>



<p><strong>3. Mặt trận Pháp quyền (Lawfulness Front)</strong>:<br>Liên minh giữa các đảng bảo thủ, tự do và xã hội ở Phần Lan để bảo vệ dân chủ và đối đầu phong trào Lapua.</p>



<hr class="wp-block-separator has-alpha-channel-opacity"/>



<p><strong>III. Ví dụ hiện đại – Áo (Austria), 2016</strong></p>



<p><strong>1. Norbert Hofer</strong>:<br>Ứng viên tổng thống của <strong>Đảng Tự do Áo (FPÖ)</strong> – đảng cực hữu, từng phát ngôn bài nhập cư, nghi ngờ cam kết dân chủ.</p>



<p><strong>2. Alexander Van der Bellen</strong>:<br>Cựu lãnh đạo <strong>Đảng Xanh</strong>, ứng viên tổng thống trung tả, được nhiều chính trị gia bảo thủ ủng hộ để chặn Hofer.</p>



<p><strong>3. Đảng Nhân dân Áo (ÖVP)</strong>:<br>Đảng trung hữu lâu đời, từng luân phiên cầm quyền cùng Đảng Xã hội. Một số lãnh đạo đảng đã <strong>phá vỡ rào cản ý thức hệ</strong> để ủng hộ Van der Bellen vì lo ngại mối đe dọa từ cực hữu.</p>



<p><strong>4. Erhard Busek</strong>:<br>Cựu chủ tịch ÖVP, phát biểu phản đối việc để các chính khách cực hữu châu Âu (như <strong>Le Pen</strong>, <strong>Wilders</strong>, <strong>AfD</strong>) “gửi lời chúc mừng” nếu Hofer thắng cử.</p>



<p><strong>5. FPÖ (Freedom Party of Austria)</strong>:<br>Một trong những đảng cực hữu mạnh nhất châu Âu, thường có lập trường bài ngoại, chống nhập cư, thân dân túy.</p>



<hr class="wp-block-separator has-alpha-channel-opacity"/>



<p><strong>IV. Bối cảnh Hoa Kỳ (gợi mở)</strong></p>



<p><strong>“Cho đến năm 2016”</strong> là ám chỉ sự kiện <strong>Donald Trump</strong> – một ứng viên được xem là <strong>vi phạm các chuẩn mực dân chủ</strong> – đã phá vỡ cơ chế “giữ cửa” vốn từng được duy trì lâu dài trong chính trị Mỹ.</p>



<p></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>

<!--
Performance optimized by W3 Total Cache. Learn more: https://www.boldgrid.com/w3-total-cache/?utm_source=w3tc&utm_medium=footer_comment&utm_campaign=free_plugin

Page Caching using Disk: Enhanced 

Served from: t-van.net @ 2026-06-12 04:40:28 by W3 Total Cache
-->