<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>người mẹ &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<atom:link href="https://t-van.net/tag/ng%c6%b0%e1%bb%9di-m%e1%ba%b9/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://t-van.net</link>
	<description>Văn Học và Đời Sống</description>
	<lastBuildDate>Wed, 10 Jan 2024 00:16:22 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.7.5</generator>

<image>
	<url>https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/02/t-van-favicon.png?strip=all&#038;resize=32%2C32</url>
	<title>người mẹ &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<link>https://t-van.net</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Phan Tấn Hải: Mẹ đưa tay cao khẳng khiu</title>
		<link>https://t-van.net/phan-tan-hai-me-dua-tay-cao-khang-khiu/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phan Tấn Hải]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 07 Jun 2022 15:25:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[người mẹ]]></category>
		<category><![CDATA[thơ phan tấn Hải]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=56149</guid>

					<description><![CDATA[Mẹ đi cùng trời cuối đấthai tay đưa cao khẳng khiuđàn con chưa về tháng chạpnước mắt mẹ ngập thủy triều. . Mẹ thức khi gà chưa gáychờ con mấy lượt nắng hèKhổ đế là cái được thấyKhổ đế là cái được nghe. . Mẹ nghe lưng trời tiếng khócnhớ con bặt dấu chim baydặm [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<figure class="wp-block-image size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/06/Song-que-huong.jpg?strip=all"><img fetchpriority="high" decoding="async" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/06/Song-que-huong-1024x795.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-56150" width="419" height="326" srcset="https://cdn.t-van.net/2022/06/Song-que-huong-300x233.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/06/Song-que-huong-1024x795.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2022/06/Song-que-huong-768x596.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2022/06/Song-que-huong-1536x1193.jpg 1536w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/06/Song-que-huong.jpg?strip=all 1920w" sizes="(max-width: 419px) 100vw, 419px" /></a><figcaption><em>Sông quê hương &#8211; Tranh: Mai Tâm</em></figcaption></figure>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><br>Mẹ đi cùng trời cuối đất<br>hai tay đưa cao khẳng khiu<br>đàn con chưa về tháng chạp<br>nước mắt mẹ ngập thủy triều.</p>



<p>.<br><br>Mẹ thức khi gà chưa gáy<br>chờ con mấy lượt nắng hè<br>Khổ đế là cái được thấy<br>Khổ đế là cái được nghe.</p>



<p>.<br><br>Mẹ nghe lưng trời tiếng khóc<br>nhớ con bặt dấu chim bay<br>dặm trường thương con lao nhọc<br>biển xa nước mắt ngập đầy.</p>



<p>.<br><br>Mẹ chạy giữa trời nổi gió<br>ngỡ con gọi mẹ bến đò<br>Khổ đế là cái được nhớ<br>Khố đế là cái mong chờ.</p>



<p>.<br><br>Mẹ hát lời thơ đau đớn<br>nhìn con ly tán mười phương<br>gió lay theo chiều mưa sớm<br>ngỡ con bè kết qua sông.</p>



<p>.<br><br>Mẹ nghe tử thần sấm sét<br>cái này sinh thì cái kia sinh<br>cái này diệt thì cái kia diệt<br>mẹ khóc mẹ gọi thần linh.</p>



<p>.<br><br>Mẹ ngồi nhớ con, mẹ hát<br>đứng ngồi mẹ bước trong mơ<br>đàn con biến thành chim hạc<br>ngút ngàn lạc mẹ Âu Cơ.</p>



<p>.<br><br>Mẹ khóc cho trời mưa lũ<br>cho mau hẹn tới tháng giêng<br>Từ bi nguyện mưa tắt lửa<br>Yêu thương mở hội tông truyền.</p>



<p>.<br><br>Mẹ ra giữa làng mẹ múa<br>triệu thỉnh ngàn năm vua Hùng<br>trống đồng mười phương gầm rú<br>ngẩng đầu chia biệt trùng dương.</p>



<p>.<br><br>Mẹ trốn mùa xuân nước mắt<br>hai tay đưa cao khẳng khiu<br>con về chim Hồng chim Lạc<br>tóc mẹ đã phai nắng chiều</p>



<p>.<br><br>vọng lời mẹ hát thần chú<br>hóa thân con thành mưa lũ<br>hóa thân mẹ thành mây trời<br>bờ kia tịch lặng không lời.</p>



<p>.</p>



<p><strong>Phan Tấn Hải<br></strong><br><em>Tặng nhà thơ Nguyễn Quốc Thái, sau khi đọc bài thơ &#8220;Ngày Về Mừng Tuổi Mẹ&#8221; của Nguyễn Quốc Thái., California, 2022.</em></p>



<div style="height:500px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>©T.Vấn 2022</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Temple Bailey: Ngụ Ngôn Mẹ</title>
		<link>https://t-van.net/ng%e1%bb%a5-ngn-m%e1%ba%b9/</link>
					<comments>https://t-van.net/ng%e1%bb%a5-ngn-m%e1%ba%b9/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[T.Vấn]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 07 May 2022 14:43:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[ngày hiền mẫu]]></category>
		<category><![CDATA[người mẹ]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/testsite/wordpress/?p=826</guid>

					<description><![CDATA[Viết thêm của người dịch (5/2022): Mother&#8217;s Day tháng 5, 2022 sẽ là ngày Hiền Mẫu đầu tiên trong cuộc đời các con tôi không còn Mẹ nữa để chúng từ xa trở về nhà, mang theo trên tay đóa hoa tươi thắm của lòng hiếu thảo và ôm Mẹ nói những lời chân thật [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<div class="wp-block-image"><figure class="aligncenter size-medium is-resized"><img decoding="async" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/05/life-lessons-from-my-mom-300x150.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-55512" width="486" height="244" title="clip_image001" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/05/life-lessons-from-my-mom-300x150.jpg?strip=all 300w, https://cdn.t-van.net/2022/05/life-lessons-from-my-mom-1024x512.jpg 1024w, https://cdn.t-van.net/2022/05/life-lessons-from-my-mom-768x384.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/05/life-lessons-from-my-mom.jpg?strip=all 1200w" sizes="(max-width: 486px) 100vw, 486px" /><figcaption>Mẹ dạy con &#8211; Tranh (Nguồn: letterpile.com)</figcaption></figure></div>



<p><strong>Viết thêm của người dịch (5/2022):</strong></p>



<p>Mother&#8217;s Day tháng 5, 2022 sẽ là ngày Hiền Mẫu đầu tiên trong cuộc đời các con tôi không còn Mẹ nữa để chúng từ xa trở về nhà, mang theo trên tay đóa hoa tươi thắm của lòng hiếu thảo và ôm Mẹ nói những lời chân thật nhất từ đáy lòng. Mẹ của chúng nay &#8220;<em>đã khuất sau cánh cửa nước Trời&#8221;.</em></p>



<p>Chúng sẽ rơi nước mắt, đọc lại đoạn văn cuối cùng trong bài dụ ngôn về Mẹ của nhà văn người Mỹ Temple Bailey, mà bố của chúng đã nghĩ đến ngày này từ 15 năm trước khi cặm cụi ngồi chuyển ngữ đoản văn đẹp tuyệt vời của bà:</p>



<p>&#8220;. . .And they stood and watched her as she went on alone, and the gates closed after her.&nbsp; And they said, &#8220;We cannot see her, but she is with us still.&nbsp; A mother like ours is more than a memory.&nbsp; She is a Living Presence.&#8221; [<em>Các đứa con của bà mẹ, đứng bất động nhìn theo bóng dáng mẹ bước đi một mình về phía&nbsp; cánh cổng. Rồi khi cánh cửa đã khép lại, họ bảo nhau: &#8220;Chúng ta không còn nhìn thấy mẹ nữa, nhưng mẹ vẫn ở bên cạnh chúng ta. Một người mẹ, như mẹ của chúng ta, đẹp hơn một hồi ức dịu dàng. <strong>Bà là Sự Hằng Sống].</strong></em></p>



<p>15 năm trước, tôi đã nghĩ đến ngày này. Nhưng tôi đã không hề nghĩ rằng, tưởng rằng, tin rằng mình vẫn còn ở bên cạnh các con để nhìn thấy chúng &#8220;. . .<a href="https://t-van.net/tran-van-le-ma-ma-ma-ma-ma/">đau đớn hiểu được những mất mát mà bố của chúng đã chịu từ năm mới lên 10 tuổi.&#8221;</a></p>



<p><strong>T.Vấn</strong></p>



<p>(Tháng 5/2022)</p>



<div class="wp-block-image"><figure class="aligncenter size-medium is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/05/mommy-and-me-arianne-lequay.jpg?strip=all"><img decoding="async" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/05/mommy-and-me-arianne-lequay-300x225.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-55511" width="460" height="344" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/05/mommy-and-me-arianne-lequay-300x225.jpg?strip=all 300w, https://cdn.t-van.net/2022/05/mommy-and-me-arianne-lequay-768x576.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/05/mommy-and-me-arianne-lequay.jpg?strip=all 900w" sizes="(max-width: 460px) 100vw, 460px" /></a><figcaption>Mẹ con &#8211; Tranh: Arianne Lequay</figcaption></figure></div>



<p></p>



<p><em>Mẹ bỏ ta đi,</em></p>



<p><em>Mẹ về cõi Phật Vô Ưu</em></p>



<p><em>Những đứa con tuổi năm mươi</em></p>



<p><em>Khóc như ngày mới lớn</em></p>



<p><em>(Ngọc Phi)</em></p>



<p>Dịp tháng 5 năm 2007, tôi nhận được bức thư dưới đây từ một độc gỉa trẻ khi cô đọc bài &#8220;Mồ côi mẹ liếm lá đầu đường&#8221; trên Website <tt><a href="http://www.vnusps.org.Ki"><span style="font-family: Arial;">www.vnusps.org</span></a><span style="font-family: Arial;"> của Hội những nhân viên gốc Việt làm việc cho Bưu Điện Hoa Kỳ: </span></tt></p>



<p><tt>"</tt><em>Thưa chú T.Vấn, con tên Thơ Nguyễn. Tình cờ con có đọc bài &#8220;Mồ côi mẹ liếm lá đầu đường&#8221; của chú mà con không thể nào cầm được nước mắt. Trong cuộc sống của đời người, ta thường trải qua bao nhiêu mất mát, thăng trầm, khổ nhọc nhưng niềm đau khi ta mất Mẹ có cái gì lớn lao và không sao tả hết được. Con còn Mẹ và cảm thấy được hạnh phúc hơn khi đọc xong bài của chú và nỗi cảm thông với chú khi không còn Mẹ nữa. Trong một năm, đối với con, thì ngày Mẹ Hiền là ngày thiêng liêng nhất. Vì con không biết rõ ngày sinh nhật của Mẹ, nên con đã chọn ngày Mẹ Hiền để làm những điều có ý nghĩa nhất và cũng là ngày để trả ơn Mẹ đặc biệt hơn. Mỗi ngày đi qua, dường như sự hy sinh của Mẹ ngày càng lớn hơn, thông qua những chuỗi ngày khi con sinh ra đời, lớn lên rồi lập gia đình. Không những ngày nay Mẹ con thương các con vô bờ bến mà nay phải thương yêu và giúp đỡ những người cháu lần lượt ra đời của bà. Ôi thật cao cả quá . . . &#8220;.</em></p>



<p>Bức thư &#8220;ướt sũng&#8221; nước mắt của cô gái trẻ, gợi cho tôi nhớ đến chính mình, thằng bé 10 tuổi theo sau quan tài mẹ mình khóc hết những giọt nước mắt trong cuộc đời làm người, để rồi sau đó không còn nước mắt mà khóc, kể cả khi bố tôi nằm xuống vì tai biến mạch máu não 8 năm sau đó. Sáng nay, đứa con gái 14 tuổi của tôi xin phép được ở lại trường sau giờ học vì mẹ của bạn cháu vừa qua đời vì bệnh tim. Mấy đứa bạn cùng lớp với cô gái nhỏ bất hạnh muốn được cùng nhau vào nhà nguyện của trường đọc kinh và cầu nguyện cho linh hồn người mẹ trẻ, và cũng muốn được có cơ hội chia sẻ nỗi đau ấy với bạn mình. Con gái tôi còn tỏ vẻ &#8220;vui mừng&#8221; khi buột miệng nói với bố &#8220;may quá mẹ của mình chưa chết&#8221;. Tôi hiểu tâm trạng của con khi nhớ đến hòan cảnh của chính mình. Thấy nỗi bất hạnh của người khác mới sực nhớ rằng mình là kẻ may mắn.</p>



<p>Cũng tình cờ, tôi đọc được một câu truyện ngụ ngôn về người mẹ của nhà văn Mỹ nổi tiếng ở tiền bán thế kỷ 20 Irene Temple Bailey, xin được kể lại ở đây như một món quà gởi đến những kẻ may mắn và cả những những người bất hạnh, nhân ngày Hiền Mẫu. Và bởi vì cô gái trẻ tên Thơ Nguyễn hay con gái của tôi, rồi cũng sẽ đến một ngày làm kẻ bất hạnh khóc hết nước mắt tiễn mẹ mình về nơi an nghỉ cuối cùng, nên câu chuyện ngụ ngôn này sẽ đóng vai trò chiếc vai cho các người con mất mẹ dựa vào đó mà tìm sự an ủi trong lúc họ cần đến nhất .</p>



<p><em><strong>Ngụ Ngôn Mẹ</strong></em></p>



<p><em>Người mẹ trẻ đặt chân trên con đường đời. &#8220;Đường còn xa không?&#8221; Bà hỏi. Người dẫn đường trả lời: &#8220;Còn xa lắm, và đầy chông gai nữa. Bà sẽ già cỗi trước khi đi đến cuối con đường. Tuy vậy,&nbsp; cái cuối cùng bao giờ cũng tốt đẹp hơn lúc khởi đầu&#8221;. Nhưng người mẹ trẻ tỏ ra sung sướng. Bà không tin rằng lại có điều gì tốt đẹp hơn những năm tháng bà được làm người mẹ. Vì vậy, bà thản nhiên vui đùa với các con, bẻ cho chúng những bông hoa tươi thắm bên đường, tắm chúng trong những dòng suối trong mát. Nhìn những tia nắng mặt trời nhẩy múa xung quanh con mình, bà mẹ trẻ cảm thấy cuộc sống thật tuyệt vời, bà kêu lên: &#8220;Liệu còn có điều gì đáng yêu hơn cuộc sống này nữa không?&#8221;</em></p>



<p><em>&nbsp;</em><em>Rồi đêm đến. Bão tố, bóng tối phủ kín lối đi. Lũ trẻ run rẩy vì sợ hãi, vì lạnh. Người mẹ trẻ kéo các con lại gần, ôm ấp lấy chúng như gà mẹ ôm ấp đàn gà con. Các con của bà vui sướng &#8220;Mẹ ơi, chúng con không sợ hãi nữa. Có mẹ ở bên, không điều gì có thể làm hại chúng con được&#8221;. Bà mẹ trẻ đáp: &#8220;Các con đã làm mẹ vui hơn một ngày vui sướng nhất, vì mẹ đã dạy cho các con được sự can đảm&#8221;.</em></p>



<p><em>&nbsp;</em><em>Ngày rạng ánh bình minh. Trước mặt, là một ngọn đồi. Mấy mẹ con cứ leo, leo mãi, cho đến khi tất cả đều mệt lử, nhưng người mẹ trẻ luôn khuyến khích các con: &#8220;Hãy cố lên, chỉ cần một chút kiên nhẫn nữa thôi là chúng ta sẽ lên đến đỉnh đồi.&#8221; Lũ trẻ ngoan ngõan nghe lời mẹ, và khi tới nơi, chúng nói: &#8220;Mẹ ơi, chúng con đã không thể leo đến đích được nếu không có mẹ!&#8221;. Người mẹ trẻ, đêm đó khi bà đặt mình nằm xuống, bà ngước nhìn các vì sao và nói: &#8220;Ngày hôm nay còn tốt đẹp hơn cả ngày vừa qua. Các con của tôi đã học được sự kiên trì chịu đựng khi phải đối đầu với gian khổ. Ngày hôm qua, tôi đã ban cho chúng lòng can đảm, và ngày hôm nay chúng nhận được sức mạnh từ bài học kiên trì.&#8221;</em></p>



<p><em>&nbsp;</em><em>Ngày kế tiếp, trên trời xuất hiện những đám mây kỳ lạ làm âm u cả mặt đất. Đó là những đám mây của chiến tranh, của thù hằn, của tội ác. Trong bóng tối âm u, lũ trẻ mò mẫm, sờ sọang, rồi trượt chân vấp té. Người mẹ trẻ bảo các con: &#8220;Các con, hãy ngước mặt nhìn lên. Hãy đưa mắt về vùng ánh sáng!&#8221;. Lũ trẻ nhìn, thấy ở trên đỉnh những đám mây đen là thứ hào quang chói lọi vĩnh cửu, nó đã dẫn lũ trẻ vượt ra khỏi sự che phủ của bóng tối, của mây đen.&nbsp; Đêm hôm đó, người mẹ hài lòng, nói: &#8220;Ngày hôm nay là ngày tôi vui sướng nhất trong đời. Các con tôi đã học hỏi được tất cả những gì tôi có thể dậy dỗ chúng&#8221;.</em></p>



<p><em> </em><em>Thế rồi, những ngày, những tháng, những năm cứ lần lượt trôi qua. Cuộc hành trình vào đời của bà mẹ và các đứa con của mình vẫn tiếp tục. Nhưng bây giờ, người mẹ trẻ không còn trẻ nữa. Bà trở nên bé nhỏ đi vì tấm lưng còng. Trong khi đó, các con bà đã trưởng thành, thân thể cao to cường tráng, với những bước đi vững chãi can trường. Mỗi khi gặp đọan đường gập ghềnh hiểm trở, chúng bế bà lên dễ dàng, vì bây giờ hình hài bà đã nhẹ như một sợi lông chim. Và cuối cùng, họ đặt chân đến một ngọn đồi. Phía bên kia là những con đường sáng rực rỡ và những cánh cửa đời dát vàng mở rộng thênh thang. Bà mẹ bèn nói với các con: &#8220;Mẹ đã đi đến cuối cuộc hành trình của mình. Chỉ đến bây giờ, mẹ mới tin rằng cái cuối cùng đẹp hơn sự khởi đầu, vì các con của mẹ đã có thể bước đi một mình, cũng như rồi đây con cái của các con sẽ biết bước đi một mình không cần các con dẫn dắt&#8221;. Những đứa con liền nói với mẹ: &#8220;Mẹ ơi! Lúc nào mẹ cũng sẽ đi bên cạnh chúng con, kể cả khi mẹ đã khuất sau cánh cửa nước Trời&#8221;. </em></p>



<p><em>&nbsp;</em><em>Các đứa con của bà mẹ, đứng bất động nhìn theo bóng dáng mẹ bước đi một mình về phía&nbsp; cánh cổng. Rồi khi cánh cửa đã khép lại, họ bảo nhau: &#8220;Chúng ta không còn nhìn thấy mẹ nữa, nhưng mẹ vẫn ở bên cạnh chúng ta. Một người mẹ, như mẹ của chúng ta, đẹp hơn một hồi ức dịu dàng. <strong>Bà là Sự Hằng Sống&#8221;.</strong></em><strong><em>▄</em></strong></p>



<p><em>(Nguyên tác: Parable of Motherhood by Temple Bailey *)</em></p>



<p>&nbsp;</p>



<p><strong><span style="font-size: large;">Parable of Motherhood</span></strong></p>



<p><strong>By</strong><br><strong>Temple Bailey</strong></p>



<p>The young mother set her foot on the path of life.&nbsp; &#8220;Is the way long?&#8221; she asked.&nbsp; And her guide said, &#8220;Yes, and the way is hard.&nbsp; And you will be old before you reach the end of it.&nbsp; But the end will be better than the beginning.&#8221;&nbsp; But the young mother was happy and she would not believe that anything could be better than those years.&nbsp; So she played with her children and gathered flowers for them along the way and bathed them in the clear streams; and the sun shone on them and life was good, and the young mother cried, &#8220;Nothing will never be lovelier than this.&#8221;</p>



<p>Then night came, and storm, and the path was dark and the children shook with fear and cold, and the mother drew them close and covered them with her mantle and the children said, &#8220;Oh Mother, we are not afraid, for you are near, and no harm can come,&#8221; and the mother said, &#8220;This is better than the brightness of day, for I have taught my children courage.&#8221;</p>



<p>And the morning came, and there was a hill ahead and the children climbed and grew weary, and the mother was weary, but at all times she said to the children,&nbsp; &#8220;A little patience and we are there.&#8221;&nbsp; So the children climbed and when they reached the top, they said, &#8220;We could not have done it without you, Mother.&#8221;&nbsp; And the mother, when she lay down that night, looked up at the stars and said, &#8220;This is a better day than the last, for my children have learned fortitude in the face of hardness.&nbsp; Yesterday I gave them courage, today I have given then strength.&#8221;</p>



<p>And with the next day came strange clouds which darkened the earth, clouds of war and hate and evil&#8211;and the children groped and stumbled, and the mother said, &#8220;Look up.&nbsp; Lift your eyes to the light.&#8221;&nbsp; And the children looked and saw above the clouds an Everlasting Glory, and it guided them and brought them beyond the darkness.&nbsp; And that night the mother said,&nbsp; &#8220;This is the best day of all for I have shown my children God.&#8221;</p>



<p>And the days went on, and the weeks and the months and the years, and the mother grew old, and she was little and bent.&nbsp; And her children were tall and strong and walked with courage.&nbsp; And when the way was rough they lifted her, for she was as light as a feather; and at last they came to a hill, and beyond the hill they could see a shining road and golden gates flung wide.&nbsp; And the mother said, &#8220;I have reached the end of my journey.&nbsp; And now I know that the end is better than the beginning, for my children can walk alone and their children after them.&#8221;&nbsp; And the children said, &#8220;You will always walk with us, Mother, even when you have gone through the gates.&#8221;&nbsp;&nbsp;</p>



<p>And they stood and watched her as she went on alone, and the gates closed after her.&nbsp; And they said, &#8220;We cannot see her, but she is with us still.&nbsp; A mother like ours is more than a memory.&nbsp; She is a Living Presence.&#8221;</p>



<p><em>&nbsp;</em><em>_____________________________</em></p>



<p><em>&nbsp;</em><em>*Irene Temple Bailey (1865-1953), nhà văn người Mỹ nổi tiếng với nhiều tác phẩm truyện ngắn và truyện dài. Năm 1933 là nhà văn có trị gía tác quyền cao nhất thế giới. Đặc biệt, bà chưa bao giờ lập gia đình. Những tác phẩm được bà viết ra với tất cả sự trân trọng, chính là những đứa con yêu quý của bà. &#8211; T.Vấn .■</em></p>



<p><em>© T.Vấn 2008</em></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ng%e1%bb%a5-ngn-m%e1%ba%b9/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Khải Triều: Mẹ T&#244;i</title>
		<link>https://t-van.net/khai-trieu-me-ti/</link>
					<comments>https://t-van.net/khai-trieu-me-ti/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Khải Triều]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 15 Oct 2020 05:11:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[người mẹ]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=45269</guid>

					<description><![CDATA[Lặng Lẽ &#8211; Tranh: Hoàng Thanh Tâm &#160; Trong các trang sách và báo trước đây, tôi đã viết về mẹ tôi. Nhưng bây giờ tôi thấy vẫn còn thiếu một hai mảng kỷ niệm về người trong cuộc đời tôi, mặt khác những gì đã viết là những mảng văn rời rạc, trong bút [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a name="_GoBack"></a></p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2020/10/Lặng-Lẽ-2.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter  wp-image-45272" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2020/10/Lặng-Lẽ-2-300x224.jpg" alt="" width="362" height="270" srcset="https://t-van.net/wp-content/uploads/2020/10/Lặng-Lẽ-2-300x224.jpg 300w, https://t-van.net/wp-content/uploads/2020/10/Lặng-Lẽ-2-768x573.jpg 768w, https://t-van.net/wp-content/uploads/2020/10/Lặng-Lẽ-2-1024x765.jpg 1024w, https://t-van.net/wp-content/uploads/2020/10/Lặng-Lẽ-2.jpg 1275w" sizes="(max-width: 362px) 100vw, 362px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><em>Lặng Lẽ &#8211; Tranh: Hoàng Thanh Tâm</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Trong các trang sách và báo trước đây, tôi đã viết về mẹ tôi. Nhưng bây giờ tôi thấy vẫn còn thiếu một hai mảng kỷ niệm về người trong cuộc đời tôi, mặt khác những gì đã viết là những mảng văn rời rạc, trong bút ký một mảng, trong tâm bút hay trong tùy bút một mảng khác. Nếu cứ để vậy thì đây là một sự vụng về của tôi đối với mẫu thân của mình. Do đó, trong bài này tôi viết lại những gì đã viết về mẹ tôi, và những gì chưa viết, theo ký ức lúc này, tập trung cả vào đây. Mặt khác, lần này tôi bổ sung một vài chiến dịch bên phía Việt Minh, một vài tin về những người công giáo lập một tổ chức chính trị để đối phó với Việt Minh CS, như đó là một cách nói về bối cảnh của lịch sử dân tộc, bối cảnh của thời kỳ tôi bắt đầu rời xa lũy tre làng để đi học xa. Đồng thời lần này viết về mẹ tôi cũng là để tưởng nhớ ngày mẫu thân tôi đã lìa cõi dương gian, đến nay là 56 năm (từ 1964 – 2020). Còn chuyện đi học của tôi thì từ đó đến nay cũng đã 70 năm rồi. Tôi nhớ những sự việc xảy ra thời đó, nhưng đến bây giờ tôi mới hiểu được tính chất của nó. Chẳng hạn ngày mẹ tôi dẫn tôi đi học, trên đường làng buổi sáng hôm ấy, tôi đã nghe và nhớ mãi đến bây giờ những người tôi gặp trên đường đã nói với mẹ tôi rằng, chú ấy sung sướng quá. Ngày ấy tôi không hiểu gì hết, nhưng bây giờ thì tôi hiểu ra, được đi học ở Hoàng Nguyên là một hạnh phúc. Vì thời ấy, Hoàng Nguyên là một trường đào tạo các linh mục của địa phận Hà Nội. Nhiều linh mục, giám mục và cả Hồng y nữa gốc miền Bắc đều đã ngồi hàng chục năm trên ghế nhà trường Hoàng Nguyên. Các thành viên hay các linh mục trong Nhạc đoàn Lê Bảo Tịnh cũng đều xuất thân từ nhà trường Hoàng Nguyên. Còn tôi thì lại chứng kiến tận mắt ngày cha Bề trên Kiều Năng Lợi, các cha giáo và các thày, một số học sinh trong đó có cả tôi, phải khóc vì một biến cố phải đóng cửa Hoàng Nguyên mãi mãi. Hoàng Nguyên đã chấm dứt sứ mạng đào tạo các linh mục, tu sĩ và những con người Kitô hữu khác, chẳng riêng gì cho giáo hội mà còn cho cả xã hột Việt Nam suốt trăm năm.</p>
<p><i>Đi Học Hoàng Nguyên</i></p>
<p>Khoảng năm 1949 hay 1950, Trường Latinh Hoàng Nguyên chuyển các lớp lớn lên khu Quần Ngựa Hà Nội, địa chỉ là Nhà Lacordaire, trước đó là của một dòng nữ người Pháp quản lý giao lại. Đó là Tiểu chủng viện PIO XII, Hoàng Nguyên chỉ còn hai lớp 7 (7A, 7B). Cũng kể từ đây, cha xứ ở quê tôi đưa tôi và mấy người nữa xuống Hoàng Nguyên học. Ngoài hai lớp 7, nhà trường mở thêm các lớp bậc tiểu học, nhận học sinh nội trú có linh mục bảo trợ và học sinh của giáo xứ Hoàng Nguyên cũng như các giáo xứ trong vùng, như Bái Xuyên (Bái Vàng) Bái Đô. Vì chúng tôi có linh mục đỡ đầu nên ở tập trung trong một căn nhà tập thể có khoảng hơn 20 giường kê sát nhau, giống như các chú lớp trên. Nhà chúng tôi được gọi là “Gia đình Lê Bảo Tịnh”, kỷ cương như các chú hai lớp 7, có thầy giáo “giám sát” về kỷ luật, cuối mỗi tháng và cuối năm học, nhà trường có công bố bản tổng kết về hạnh kiểm của từng học sinh. Kết quả học tập và hạnh kiểm của từng người được ghi vào sổ học bạ, mang về trình cha đỡ đầu. Năm học đầu ở Hoàng Nguyên của tôi, về học vấn tôi chỉ ở hạng trung bình, còn về hạnh kiểm thì tôi được xếp đầu. Về điều này, cha nghĩa phụ của tôi là Phaolô Đỗ Đức Hanh (1888-1968) rất vui, vì tên của ngài được ghi trong sổ học bạ của tôi. Năm đó, tôi còn nhớ là sau khi xem xong học bạ, ngài gọi tôi bằng “anh”, một điều chưa bao giờ tôi nghe ngài nói, và cho về nhà chơi, mời bà cụ vào đây. Ở trong cha xứ trở về, tôi thấy nét mặt mẹ tôi rạng rỡ rồi nói như để cả nhà nghe. Người vừa cười vừa nói mà tôi nhớ đó là lần đầu trong những năm tháng tôi sống bên người, tôi được thấy mẹ vui như vậy. Người nói rằng, cha xứ mừng lắm vì thấy con trai nhà mình biết giữ kỷ luật nhà trường và hạnh kiểm tốt. Trước mắt cha xứ, có lẽ ngài mường tượng tương lai, tôi sẽ là một linh mục tốt. Có lẽ vì sự kiện này mà năm học sau, tại buổi lễ khai giảng, tôi được chọn thay mặt cho toàn thể học sinh của trường, đọc lời chào mừng cha Bề trên, các cha giáo, các thầy.</p>
<p>Hoàng Nguyên là mái trường thứ hai tôi học trong thời nhỏ. Mái trường đầu đời tôi là trường làng, do thầy giáo xứ thuộc bậc “thầy giảng” phụ trách, xuất thân từ Hoàng Nguyên trong các giai đoạn trước năm 1949,1950.</p>
<p>Theo Nguyễn Khắc Xuyên trong cuốn Lịch sử địa phận Hà Nội, 1626-1954, Paris 1994, có nói đến các thầy giảng năm 1637 như sau: “Theo bài điều trần về các thầy giảng, Amaral viết từ Kẻ Chợ ngày 25 tháng 3 năm 1637, thì tổ chức này gồm có bốn bậc hay bốn cấp: cấp một là các thầy giảng, cấp hai là các kẻ giảng, cấp ba là các tập sinh (các cậu, các chú bé)và cấp bốn là các trợ giảng hay các người bõ.” (trang 29). Vẫn theo Nguyễn Khắc Xuyên, ngành các thầy giảng còn tồn tại cho tới năm 1954 và sau đó, nhưng chỉ có một cấp bậc thầy giảng với trường đào tạo hẳn hoi (trang 30). Ở chỗ khác, Nguyễn Khắc Xuyên viết tiếp về việc này: “Tổ chức các thầy giảng đã bắt đầu được hình thành từ thời cha Đắc Lộ năm 1630 ở Đàng Ngoài và năm 1643 ở Đàng Trong. Nhưng từ cha Deydier vào khoảng từ 1666 thì hội các thầy giảng chia làm ba hạng, không kể các tập sinh là các cậu, các chú còn nhỏ.” (Trang 29).</p>
<p>Những ngày còn nhỏ ở nhà, tôi đã được học tập và giáo dục trong môi trường của tổ chức các thầy giảng này. Ông thầy dạy tôi thuở đó là một người được đào tạo để trở nên một “thầy giảng” suốt đời. Linh mục nghĩa phụ của ông đi đâu thì ông đi tới đó để làm các việc từ giảng dạy tới coi sóc nhà thờ…Ngoài ra ông còn phụ trách dạy giáo lý và chuẩn bị cho người ta chịu phép bí tích (Sđd, tr. 94, 95). Khi tôi nhìn lại cái thời học trò nhỏ của mình ở nhà, thì tôi rất tự hào vì được quê hương và giáo hội cưu mang bằng một tình yêu rộng lớn. Ngay ở đầu thế kỷ 20, làng tôi đã có tên trong danh sách các trường làng thuộc địa phận Hà Nội.Nguyễn Khắc Xuyên cho biết, Kẻ Lường (tên trong đạo làng tôi): “ có một trường học, 36 học sinh, 2 họ đạo và số giáo dân trong hai họ là 1233 người” (Sđd trang 261). Đấy cũng nhờ vào việc giáo hội đã sớm tổ chức các thầy giảng, trước khi có các linh mục bản xứ</p>
<p>Thầy giáo xứ dậy tôi là Trần Đình Yêm, sinh năm 1925 quê Đồng Yên, huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam, qua đời tại Sài Gòn năm 2017.</p>
<p>Có một điều là sau một thời gian ông Trần Đình Yêm về làng đạo tôi, lúc nào thì sổ sách làng tôi không thấy ghi, chỉ chép về cha Đỗ Đức Hanh là nghĩa phụ của ông và chúng tôi sau này, ngài về năm 1944, ông Yêm đã chọn tôi vào ca đoàn giáo xứ và không hiểu ông thấy tôi là một cậu bé như thế nào, mà một hôm ông ra nhà tôi, xin cho tôi đi tu, vào ở trong nhà xứ, làm con của cha, làm anh em linh tông với ông. Cha mẹ tôi phân vân, lưỡng lự một lúc, vì lúc đó người anh kế tôi cũng đã đi tu, là nghĩa tử của cha Gioan Baotixita Trần Trọng Cung, đã về giúp làng đạo tôi trước cha Đỗ Đức Hanh, đang ở Sở Kiện. Cha mẹ tôi đã bằng lòng cho tôi đi tu. Sau lúc ông thầy giáo xứ ra về, gia đình tôi trở nên yên lặng khác thường. Hình như thân phụ tôi không mấy hài lòng cho tôi rời xa nhà, xa dòng họ. Trong mắt người mà mãi sau này tôi mới biết, vị trí của họ hàng ngoài thôn xã là rất quan trọng. Nhưng vì người vốn tôn trọng ý kiến của mẹ tôi nên đã thuận theo quyết định của bà.Vì thế mà từ giây phút ấy cho tới mấy năm sau, mẹ tôi luôn đi sát bên tôi, từ việc học hành, tiền ăn uống, may sắm cho tới một việc hệ trọng là năm 1954 cho tôi di cư vào Sài Gòn, chỉ nhằm mục đích là để tôi có “chữ”, có “nghĩa” mà sống tử tế với đời, dù phải hy sinh, chấp nhận nỗi đau như xé lòng là sống xa cách đứa con trai út của mình. Nhưng Thiên Chúa không xếp tôi vào hàng những người khôn ngoan thông thái, mà để tôi vào số những người nhỏ bé, vụng về, ngu ngơ khờ dại, để Người hoàn toàn dẫn dắt tôi. Và tôi đã chứng nghiệm điều này được thực hiện trọn vẹn nơi tôi.</p>
<p>Người thứ hai dậy tôi tại trường làng một thời gian là người trong cùng dòng họ với tôi, ông là một chủng sinh Đại chủng viện Liễu Giai (Saint Sulpice), Hà Nội, tên là Phạm Đức Minh. Ở đây tên thật của ông được thay đổi. Ông Minh sinh năm 1921 tại An Mỹ, Phú Xuyên, Hà Đông (nay là Hà Nội), qua đời tại Hoa Kỳ năm 2002.</p>
<p>Năm Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương, 9-3-1945.Trong những cuộc biểu tình ngày 2-9-1945, và cuộc biểu tình lớn ngày 24-10-1945, chống Pháp chiếm Nam bộ Phủ do quân Đồng Minh trao cho Pháp. Bề trên là một linh mục người Pháp không cho các chủng sinh đi, nhưng có 1,2 chủng sinh quá khích nhất định đi. Cho nên, Chủng viện trở nên lộn xộn, bất đồng ý, mất tin tưởng giữa thầy và trò, mất đoàn kết giữa các Chủng sinh với nhau. Thêm vào đó, thỉnh thoảng một vài Chủng sinh bị gọi ra nhà khách và bị cảnh cáo, vì không chịu tham gia cuộc biểu tình. Nghe nói những người đến cảnh cáo là du kích làng Ngọc Hà, Liễu Giai. (theo ĐGM Lê Đắc Trọng trong:Những câu chuyện về một thời, tập 2, tr.59). Đức cha Trọng cho biết thêm: “Ý nghĩ “giải tán” đã ló rạng. Cha Bề trên cũng hỏi ý kiến một số anh em chúng tôi. Người đưa ra quyết định: Đi nghỉ!” (Sđd, tập 2, tr. 60). Trong cuốn Lịch sử Địa phận Hà Nội 1626 -1954, Nguyễn Khắc Xuyên viết về việc này như sau: “Đại Chủng viện Liễu Giai trong đêm 19 tháng 12 năm 1946 đã bị giải tán, 6 giáo sư người Pháp bị bắt và đưa đi miền Việt Bắc. Sau này có một cha, cha Buis chết trên rừng, còn 5 người nữa được thả 2 hay 3 năm sau.Tiểu chủng viện Hoàng Nguyên cũng gặp nhiều khó khăn thuộc nội bộ cũng như ngoại bộ và phải giải tán một thời gian, một hay hai năm.” (trang 252). Ông Phạm Đức Minh về nhà vào dịp này. Nghe nói năm đó ông đang học năm thứ tư Đại chủng viện Liễu Giai, giáo dân thường gọi là người đã có bốn chức. Khi tình thế đã lắng xuống, trường mở cửa trở lại, nghe nói bề trên gọi ông trở về học tiếp, nhưng ông Minh không về học nữa. Mãi sau này người ta mới biết ông đã tham gia một tổ chức chính trị bí mật và tổ chức này gồm phần lớn là những trí thức tu sĩ công giáo xuất thân từ các Đại chủng viện tại miền Bắc.</p>
<p>Trong lúc còn ở nhà, vào lúc phong trào Bình dân Học vụ mở ra, ông Phạm Đức Minh đã hạ cây đa cổ thụ xuống, lấy gỗ đóng bàn ghế mở rộng trường. Ban ngày các lớp nhỏ chúng tôi học, ban tối dành cho thanh niên thiếu nữ, cả những người đã có gia đình muốn theo học. Thực ra các lớp nhỏ vẫn có trường lớp trong khu vực nhà thờ, nhưng vì hơi chật nên một số được chuyển ra ngoài khi trường mới hoạt động.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><i>Những Bước Chân Của Mẹ</i></p>
<p>Từ khi cha Phaolô Đỗ Đức Hanh về giúp làng đạo tôi mặt tinh thần, tôi và mấy người nữa là lớp thứ hai được gửi đi Hoàng Nguyên, một trường thuộc địa phận Hà Nội, do các linh mục thừa sai thành lập đã trên 100 năm. Có năm tới ngày tựu trường, trời lại mưa lớn, cha xứ gọi mấy anh đi học lên phòng khách. Ngài giục các anh đi học, “trời mưa bão chết cò cũng phải đi”. Tôi nghe nói, nghĩa phụ chúng tôi nghiêm khắc và khó tính bậc nhất của địa phận Hà Nội thời ấy. Một người con của ngài, trước cả ông Yêm, sắp làm cha rồi đã bỏ tu về nhà vì một cái tát của ngài vào mặt trước một số giáo dân. Tôi cũng từng bị ngài tát thẳng vào mặt trên bàn thờ vì một vụng về nào đó. Có người hỏi mẹ tôi có buồn không? Mẹ tôi buồn nhưng nói là cho đi tu thì phải chấp nhận.</p>
<p>Ngày tôi đi, trời đẹp. Mẹ tôi ăn mặc chỉnh tề, vào nhà xứ xin phép cha xứ dẫn tôi đi. Ngài đưa cho mẹ tôi một phong bì, dặn là khi xuống tới nơi, vào phòng khách cha bề trên thì trao cho ngài.</p>
<p>Mẹ con tôi chào cha xứ rồi lui ra ngoài. Vừa bước chân ra tới cổng nhà xứ, mấy chú còn ở nhà, từ trong phòng thày giáo chạy ùa ra chào mẹ con tôi. Lần đầu tiên tôi biết thế nào là đi xa. Lại nhớ chiều hôm trước, tôi được về nhà chơi, gặp đầy đủ cha mẹ và các chị, còn các anh thì người anh lớn làm trên Hà Nội đã về quê từ hôm trước, ông tặng tôi chiếc bút máy, ống đựng mực bằng nhựa trong. Chỉ thiếu một người anh lúc đó đang ở Sở Kiện, không về. Nhưng khi tôi xuống tới Hoàng Nguyên và đang lúc nhận phòng, nhận giường chiếu, thì có một chú vào phòng, đứng trên ghế nói lớn: “Ở đây có ai là chú Tùy ?” Nghe có tiếng người gọi tên mình, tôi chạy lại bên người vừa gọi. Chú đưa cho tôi một phong bì nói là của anh tôi ở Sở Kiện, thì ra chú cũng ở cùng chỗ với anh tôi.Trong thư, anh tôi mừng tôi được đi học, kèm theo những lời khuyên bảo rất cặn kẽ của một người anh có lúc đã muốn vào Châu Sơn ở Nho Quan sống đời tu nhiệm nhặt.</p>
<p>Ở nhà xứ ra, hai mẹ con tôi đi qua dẫy nhà có hai ba phòng, có một phòng lớn làm lớp học cho chúng tôi. Có thể gọi dẫy nhà này là ngôi trường làng, được xây cất ở một góc trong sân nhà thờ.Từ nay tôi phải xa những nơi này, không còn được chạy nhảy, đá bóng trên sân này nữa vào những lúc ra chơi hoặc nhổ cỏ ấu mọc ở những khe gạch, chùi vào áo quần cho sạch bụi, đất cát rồi cho vào miệng nhai. Cỏ này có chút hơi cay. Những con đường làng buổi sáng hôm ấy tôi đi vẫn là những con đường cũ từ bao đời nay, cụ thể là từ ngày tôi biết đi bên cạnh mẹ tôi để đến nhà thờ. Nhưng sao hôm nay, tôi thấy như thể đây là lần đầu tôi bước đi trên những con đường làng này. Cái cảm giác đầu tiên tôi nhận ra với chính bản thân tôi lúc ấy là, tôi không còn bé nữa! Hôm nay tôi được đi học ở một trường rất xa, mà nghe nói đến thì ai cũng tỏ vẻ tôn kính. Điều sau nữa là những người làng tôi gặp lúc đi bên cạnh mẹ tôi, người nào cũng vui vẻ hỏi mẹ tôi là hôm nay bà (hay dì) đưa chú ấy đi học dưới Hoàng Nguyên à? Chú ấy sung sướng quá. Với những câu hỏi và những lời nói ấy, mẹ tôi đáp lại bằng nụ cười và nói rằng, cha xứ cho đi đấy.</p>
<p>Hai mẹ con tôi đã ra khỏi làng. Trời đã vào thu nên khí hậu dễ chịu, thỉnh thoảng những cây hai bên đường rụng lá, rơi trên mũ mầu trắng tôi đội, làm tôi giật mình, nhận ra mẹ đang nắm một tay tôi, còn tay kia tôi xách va ly quần áo. Khi ra tới đường cái, có một điểm gọi là Ngã Ba Nguộn, có đường hỏa xa chạy ngang, mẹ tôi dẫn tôi vào chợ Cống, mua cho tôi một vài món cần thiết, như khăn rửa mặt, bàn chải và kem đánh răng, một đôi dép. Mấy món này tôi đã có, nhưng mẹ tôi bảo, con vào trường thì mẹ muốn mua những cái mới cho con. Còn chậu rửa mặt, mẹ tôi mua loại tráng men mầu trắng.</p>
<p align="center"><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2020/10/clip_image002-4.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="margin: 0px 12px; display: inline; background-image: none;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2020/10/clip_image002_thumb-150x148.jpg?strip=all" alt="clip_image002" width="348" height="441" border="0" hspace="12" /></a></p>
<p align="center"><i>“</i><i>Cây đa giời ơi!”,và</i><i> </i>cái miếu bên bờ một con sông.</p>
<p align="center">Hình tác giả, chụp năm 1997.</p>
<p>Ngày đó xe đò hay xe khách gì đó còn ít, muốn xuống huyện lỵ Phú Xuyên, khách phải ngồi trên nóc xe, vì xe khởi hành từ Hà Nội nên chạy tới Nga Ba Nguộn hay chợ Cống thì đã đầy khách. Không muốn ngồi trên nóc xe vì sợ ngã, thì người ở vùng bên dưới ga xe lửa chợ Tía, như làng quê tôi, phải đi ngược lên ga này rồi lên tàu. Sau đó tới ga huyện thì xuống.Gần huyện lỵ có cái Cầu Guột, chỗ này có con đường bên tay trái đi vào trường Hoàng Nguyên.Từ đây vào trường, có hai địa điểm nổi tiếng khách bộ hành nào cũng biết. Một là chợ Bìm, nơi đã diễn ra một trận đánh lớn cấp trung đoàn, giữa quân địa phương của Việt Minh với lính Pháp vào năm 1951 hay 1952 gì đó. Phía Việt Minh đã thắng trận này. Nghe người nhà tôi nói, chỉ huy quân Việt Minh là một người thuộc dòng họ tôi. Về sau ông chuyển sang chính quy, làm chính ủy một đơn vị lớn. Nhưng do mâu thuẫn trong nội bộ đơn vị, ông xin giải ngũ, về quê vợ sống.Trường Hoàng Nguyên phải đóng cửa vĩnh viễn vào thời điểm này, sau một loạt bắn phá của lính Pháp đóng tại một đồn bót gần đấy. Nguyên nhân là, buổi sáng hôm bị bắn phá, có một toán bộ đội đến trường đề nghị đấu bóng chuyền giao hữu với đội bóng của trường. Trận đấu giao hữu chấm dứt cũng là tới giờ cơm trưa. Sau đó là giờ nghỉ trưa. Tới giờ học chiều, tất cả học sinh đang học, bỗng những quả đạn ầm ầm rơi xuống trường. Vì nhà trường đã đào hầm trong các lớp học và nhà ở từ trước, nên vừa thấy đạn pháo nổ, chúng tôi đều xuống các hầm hết, nên không có ai bị thương tích gì, chỉ hư hại vật chất một ít. Sáng ngày hôm sau, từ cha Bề trên, các cha, các thầy và học sinh chúng tôi chia tay nhau trong nước mắt (Tôi đã viết về sự việc này trong bút ký <i>Về thăm quê nhà</i>, in trong quyển <i><a href="https://t-van.net/?p=29801">Mệnh nước nổi trôi, 2016</a></i>). Địa điểm thứ hai trên đường vào Trường Hoàng Nguyên mà tôi được nghe nói đến là, bên ngoài chợ Bìm, tại bờ một con sông, có một cây đa gọi là “<i>Cây đa giời ơi!”, </i>mẹ nghe kể, ở bên kia sông thỉnh thoảng có kẻ cướp,vào những lúc tối trời thì sang bên này, thấy khách đi đường có tiền, nó bóp cổ chết cướp của rồi vứt xác xuống sông. Trước lúc chết, nạn nhân kêu lên tiếng “<i>giời ơi!”</i>Từ đó người ta mới gọi nơi này là thế. Bây giờ như con thấy kia, rồi người đưa tay chỉ, có một cái miếu tại gốc cây, để tưởng nhớ những nạn nhân đã chết. Nghe mẹ nói, tôi nắm lấy tay người&#8230;</p>
<p>Trên những con đường vào trường, trước mặt tôi là những ruộng mía tươi tốt, những cành lá dài ngả nghiêng theo chiều gió nhẹ, cọ vào nhau phát ra tiếng kêu khô khan. Bước chân tới cổng trường, tôi đã thấy cảnh người qua lại trong sân trường. Trước tiên là ở hồ nước ngay cổng vào bên tay mặt, có các chú nho nhỏ như tôi hoặc lớn hơn một chút, đang vùng vẫy, nô đùa trong làn nước. Đi thẳng vào trong sân, là tượng đài Trái Tim Chúa Giêsu dang tay. Bước lên mấy bậc thềm gạch là phòng Cha Bề trên. Mẹ tôi cầm tay tôi dẫn vào chào ngài rồi trao thư của cha xứ tôi gửi cha Bề trên. Xem thư xong, ngài mỉm cười nhận tôi vào học. Cha Bề trên ân cần hỏi mẹ tôi đi đường có mệt không, rồi nói là giữa ngài và cha xứ chúng tôi là chỗ thân tình, tính người nóng lắm, cha Bề trên nói thế, như một biểu lộ cảm thông và gần gũi với chúng tôi.</p>
<p>Sau đó cha Bề trên cho người dẫn mẹ tôi xuống nhà khách. Còn tôi thì về phòng dành cho những học sinh có cha đỡ đầu như đã nói trang trước. Lúc này đã quá trưa.</p>
<p>Khi viết đến đây, tôi chợt nhớ lại ngày ấy, lúc hai mẹ con tôi từ phòng cha Bề trên ra, tôi không nói với mẹ được một câu nào từ giã mẹ. Sau này lớn lên, tôi mới biết là, ngày mẹ tôi đưa tôi xuống Hoàng Nguyên học, ở phòng cha Bề trên ra, mẹ tôi đã về nhà luôn, chứ không nghỉ lại để sáng ngày hôm sau về. Vì từ trường ra tới huyện lỵ Phú Xuyên, đường dài khoảng từ 9 đến 10 cây số. Đólà một quãng đường dài, lại đi qua “cây đa giời ơi!”, rồi mới ra tới đường cái, gọi là quốc lộ số 1, từ đây mới có xe đi Hà Nội, tới Ngã Ba Nguộn thì xuống, sau đó mới về nhà, cũng 3,4 cây số nữa. Tôi còn khờ dại quá, vụng về quá, thờ ơ với mẹ. Đây là điều ăn năn mới, một trong những điều ăn năn khác của tôi trong quá khứ. Phải chăng là một dấu hiệu tôi sắp được gặp lại mẹ tôi ở một nơi nào đó thật huyền diệu!</p>
<p>Thời kỳ tôi bắt đầu đi học xa nhà cũng là thời kỳ Việt Minh đã cướp chính quyền (19.8.1945) trong tay quốc gia. Năm tôi đi Hoàng Nguyên (1950) thì năm trước đó (1949) Mao Trạch Đông (Cộng sản) ở Trung Quốc đã thắng Tưởng Giới Thạch (Quốc dân đảng), ông này phải chạy qua Đài Loan. Nhờ sự kiện này, quân Việt Minh có thêm sức mạnh về võ khí do Tàu cộng mang sang. Cho nên chiến sự giữa quân Việt Minh và Pháp có chiều ngả về bên Việt Minh.</p>
<p>Một vài ví dụ:</p>
<p>Năm 1950:</p>
<p>-“Trận tập kích sân bay Bạch Mai, ngay cửa ngõ Hà Nội, phá hủy mấy chục chiếc máy bay, chiến dịch biên giới mang tên Lê Hồng Phong II mở màn ngày 16-9-1950, giải phóng thị xã Cao Bằng và một giải biên giới tới Lạng Sơn, quân Pháp phải rút bỏ Lào Cai, Thái Nguyên, Sa Pa và Hòa Bình (10-10-1950)” (Trích từ: Thế kỷ 20: Theo bước đi thời gian của Quốc Anh trên tờ Tuổi Trẻ Chủ Nhật số 1-2000 / Ngày 2-1-2000 trang 15)</p>
<p>-“Trong năm 1951, các chiến dịch Long Châu Hà (10-2 đến 15-3), chiến dịch Hòa Bình (18-11-1951 đến 21-2-1952), mà theo tác giả Quốc Anh, “đã mở ra cục diện mới trên chiến trường”. Đồng thời ông đã ghi nhận lời tuyên bố của Hồ Chí Minh ngày 1-5-1951: “Chuẩn bị đầy đủ đặng chuyển mạnh sang tổng phản công”. (Theo Quốc Anh, chủ đề đã dẫn trên, TTCN số 2-2000 / Ngày 9-1-2000 trang 15)</p>
<p>-“Kết thúc năm 1952 là chiến dịch Tây Bắc được mở màn ngày 14-10, giải phóng một vùng rộng 28.000km2, buộc địch phải rút khỏi Sơn La (22-11). Tướng Salan thừa nhận thất bại âm mưu lập “xứ Thái tự trị” (1-12)” (Theo Quốc Anh, chủ đề đã dẫn trên, TTCN số 3-2000 / Ngấy16 -1-2000 trang 15)</p>
<p>Cũng trong năm 1952, lính Tây về làng tôi bắt đi tất cả thanh niên, đưa lên bót tỉnh lỵ Hà Đông nhốt lại. Vì có tin Việt Minh chuẩn bị mở mặt trận trong vùng. Lúc này tôi đang học ở Hà Đông, Trường Trung học Minh Tân, phía đầu nhà thờ, Hiệu trưởng là LM Matthêu Trần Trinh Khiết, Cử nhân Xã hội học, du học ở Pháp về chưa được bao lâu. Tôi nhớ các giáo sư: Cụ Mùi dạy Sử, Nguyễn Duy Diễn Việt Văn, Lăng Tuyền Anh văn, Trần Ngọc Hiệp, Toán&#8230;</p>
<p>Về phía người Công giáo, sau ngày Việt Minh cướp chính quyền đang trong tay người Quốc gia, thì vào ngày 29.10.1945, cha Lê Hữu Từ được tấn phong Giám Mục Phát Diệm. Cũng trong ngày này, một tổ chức của riêng người Công giáo đã được thành lập. Đó là “Hội Việt Nam Công giáo Cứu Quốc”, trụ sở chính đặt tại số 9 đường Lamblot (nay là đường Lý Quốc Sư) ở ngay trước cửa Nhà thờ lớn.</p>
<p>Theo ông Nguyễn Đình Đầu ghi lại từ một sử liệu của Đoàn Độc Thư và Xuân Huy, (NXB Sử liệu Hiện Đại, Sài Gòn, 1973), thì sau khi Hội Việt Nam Công giáo Cứu quốc thành lập, Tổng thư ký của tổ chức này là Nguyễn Văn Hiển, bị chính Chủ tịch của tổ chức là Trần Công Chính bày kế sát hại. Trần Công Chính là Phó đoàn Thanh Lao Công Thái Hà Ấp, do các cha Dòng Chúa Cứu Thế phụ trách, nhưng sau đó ông ta đã theo hẳn Cộng sản, trở tay giết chết người anh em của mình. Sau cái chế của Tổng thư ký Hiển, ba thành viên khác trong Ban Chấp hành chính thức Hội Việt Nam Công giáo Cứu quốc, bị công an Việt Minh bắt. Những người này được bàu lên trong cuộc Đại hội tại Nhà hát lớn Phát Diệm ngay 29.10.1945, có mặt của Phạm Văn Đồng, thay mặt Chính phủ”. (x. Tuần báo Công giáo và Dân tộc số 1551 Tuần lễ từ 31.3 đến 06.4.2006 trang 35)</p>
<p>Vẫn theo ông Nguyễn Đình Đầu, “Linh mục Hoàng Quỳnh liền di trụ sở Trung ương ở Hà Nội về Phát Diệm đổi tên là Tổng bộ Công giáo Cứu quốc và cũng từ ngày đó, phần vì giao thông liên lạc khó khăn, phần vì Việt Minh Cộng Sản cố ý chèn ép, loại trừ các cán bộ Công giáo Cứu quốc tại khắp nơi trên toàn quốc, nên các nơi đã có tổ chức Công giáo Cứu quốc đều phải rút vào bóng tối, chỉ duy có Tổng bộ Công giáo Cứu quốc Phát Diệm đứng vững và đương đầu với Việt Minh CS cho tới ngày quân đội Pháp hành quân chiếm Phát Diệm, 16-10-1949, Công giáo Cứu quốc Phát Diệm và Bùi Chu biến thành Phong trào Quốc gia Tự vệ, liên lạc trực tiếp với Quốc trưởng Bảo Đại” (Tuần báo CGvDT số 1552, Tuần lễ từ 07.4 đến 13.4.2006 trang 15).</p>
<p>Ngày ấy tôi bước ra khỏi lũy tre làng để đi học xa nhà, lại rơi vào tình cảnh đau thương bi đát của dân tộc và giáo hội. Đấy là số phận, hay đấy là Sinh mệnh của Dân tộc, của Giáo hội tôi. Ngày ấy cũng như bây giờ, tôi chỉ là một kẻ yếu đuối, một phận hèn bất cứ một thứ gì cũng làm tôi ngã gục. Nhưng tôi được bảo vệ mà ngày ấy tôi chưa biết Danh, chưa biết Tên, Đấng mà ngày nay tôi tuyên xưng và Tín thác, đã chở che và yêu thương tôi.</p>
<p>Bây giờ mở lại những trang lịch sử của thời ấy, ngay từ lúc tôi vào Trường Hoàng Nguyên cho tới ngày trường phải đóng cửa, tôi nhận ra rằng mẹ tôi đã nhọc công sức lo cho tôi đi học.Tôi đi đến đâu, ở đâu thì cũng đều có bước chân của người, từ Hoàng Nguyên, Phủ Lý, Hà Đông rồi Hà Nội. Kết cuộc tôi cũng không thể “trụ” được ở một nơi nào lâu đài, vì gia đình tôi không khá giả gì, nên cứ phải theo bước chân của anh tôi, ông ở đâu thì lại mang tôi theo. Như sau ngày cha đỡ đầu của anh tôi qua đời, thì ông rời Sở Kiện, gia nhập một dòng của cha Trần Trinh Khiết mới thành lập ở Hà Đông, mới có 4,5 người. Thế là ông lại kéo tôi đi, muốn tôi vào dòng đó. Nhưng tôi không phù hợp với môi trường này. Tôi trở thành một kẻ ở trọ, ăn uống bên ngoài. Mọi chi phí gia đình ở quê gánh chịu.</p>
<p><b>Mùa Hè Năm Ấy</b></p>
<p>Mùa hè năm 1954, như mọi mùa hè mấy năm trước đó, tôi từ Hoàng Nguyên, Hà Đông hoặc Hà Nội trở về quê nghỉ hè. Hồi đó, chưa có con đường từ Ngã Ba Nguộn về thẳng làng tôi như bây giờ, nên phải đi qua hai làng Văn Hội và Tạ Xá. Lần này, lúc đi qua một cổng nhà ở Văn Hội thì tôi nghe có tiếng người hỏi : “Chú Tùy đi học về đấy à ?” Tôi quay đầu lại nhìn thì người vừa hỏi là một người đàn ông còn trẻ, đang đứng trước cổng nhà, nhìn tôi cười. Tôi không nhận ra anh ta là ai, sao ở khác làng với tôi lại biết tôi. Mặc dù vậy, tôi vẫn mỉm cười chào lại anh.</p>
<p>Về tới nhà, người đầu tiên tôi gặp là mẹ tôi, lúc ấy đang phơi thóc ở ngoài sân, người không dùng bờ cào mà lấy chân đảo qua đảo lại nhiều lần cho đều.</p>
<p>Nghe tiếng tôi chào, người quay ra phía tôi, nói trong sự khác thường:</p>
<p>-Về làm gì, Cha xứ đã đi rồi!</p>
<p>Nghe mẹ nói thế, thật tình lúc ấy tôi chưa hiểu lời người nói. Tôi đi vào nhà, đặt cái va li nhỏ đựng mấy bộ quần áo xuống phản, rồi đi qua nhà người chị ở phía trước cổng, chồng chị đã chết trong kháng chiến, lúc chị mới 25 tuổi. Tôi vừa bước chân lên hiên nhà chị thì mẹ tôi cũng vừa vào tới sân, lúc đó chị đang ở dưới bếp. Thấy có mẹ sang và tôi về thì vội bỏ lên nhà. Mẹ tôi dịu giọng nói, như muốn nói cho cả chị tôi nghe:</p>
<p>-Lúc nẫy thấy con về, mẹ mừng nhưng đang ở ngoài nắng, có mắng con mấy câu, con đừng giận mẹ. Có nhớ mẹ thì ở nhà mấy hôm thôi rồi lên với anh con ngay. Trong nhà xứ không còn ai nữa đâu. Làng người ta cũng đi nhiều lắm rồi…</p>
<p>Thấy mẹ và chị nói chuyện như không muốn cho tôi biết, tôi xin phép mẹ và chị về bên nhà, rồi thay quần áo, lên phản nằm nghỉ. Tôi đang thiêm thiếp ngủ thì nghe tiếng mẹ nói:</p>
<p>&#8211; Bỏ lên bếp cho nó một bát cháo đậu xanh, lúc nào dậy nó ăn. Ở nhà này chỉ có mình cái chú này là biết nghe lời mẹ và thương mẹ. Phải để nó đi thôi!</p>
<p>Sau đó là yên lặng, cái yên lặng vốn vẫn thế ở trưa hè nhà quê. Nhưng như bây giờ tôi mới biết, đó là cái yên lặng trong gia đình tôi có lẽ chỉ có một lần duy nhất đó thôi, sau một quyết định về những ngày sắp tới của tôi. Tôi đã ngủ được một giấc thật ngon dưới mái nhà yêu dấu, nơi tôi sinh ra, được chăm nom và thương yêu của mọi người, nhất là qua tấm thân gầy yếu của mẹ. Tôi vẫn ví mình như thể một loài cây được trồng bên bờ suối.</p>
<p>Trở dậy sau giấc ngủ trưa ở một không gian êm đềm nơi thôn làng, tôi thấy thật dễ chịu. Rồi lấy nước rửa mặt. Nước trong bể (xây ở giữa sân với mui vòng cung bán nguyệt, từ thời ông bà tôi), là nước giếng trong làng. Tôi vục cả mặt vào thau nước mát lạnh, cái thau tráng men trắng mẹ tôi đã mua ở chợ Cống ngày tôi đi học Hoàng Nguyên, mấy năm trước. Nhìn cái thau, tôi chợt nhớ Hoàng Nguyên, ngôi trường thứ hai sau trường làng. Ở đó, tôi có những người thầy, người bạn, và các linh mục dậy dỗ chúng tôi, có một phong cách sống và thờ phượng, một giọng nói, ảnh hưởng rất sâu đến cuộc đời tôi sau này, giúp tôi đứng vững trong cuộc đời lênh đênh và giông bão.</p>
<p>Hoàng Nguyên và Nhà Chung An Mỹ quê tôi, là hai thực thể trong đời sống văn hóa và tôn giáo của tôi, nó tạo lập nhân cách, hướng đi, mục đích của cuộc đời tôi. Cho nên mặc dù nghe mẹ nói là Cha xứ đã đi rồi, lúc này tôi vẫn muốn vào nhà thờ và nhà xứ. Nghĩ thế, tôi liền mặc quần áo rồi đi ngay.</p>
<p>Khi đi tới trước cửa nhà thờ, tôi thấy có một người đàn ông, dáng không phải người trong làng, đang đi theo sau, cách xa tôi vài chục mét. Lúc tôi tới gần cửa nhà xứ, thì người đàn ông này cũng vào tới cổng nhà thờ và hình như cũng đi về phía nhà xứ như tôi. Tự dưng tôi bỏ ý định vào thăm nhà xứ, không phải vì trong đó, nơi tôi đã sống chung với một cộng đoàn tu trì ở giai đoạn đầu đời, nay đã vắng bóng cả rồi, nên lúc tới trước cổng nhà xứ, tôi chỉ dừng lại một lát, quay mặt vào phía trong. Chỉ một thoáng thôi, tôi thấy rất rõ mọi khuôn mặt, từ cha già Phaolô và mái nhà gỗ cổ kính, cha xứ ở, khu vườn trước cửa nhà, trồng mấy cây chanh, luống rau, kế đó là nhà kho, cái cối giã gạo, cũng có bàn chân chúng tôi trên đó những khi chúng tôi phụ giúp nhà bếp giã gạo; lùi xuống là nhà bếp, xuống sâu hơn là khu vườn và cuối cùng là cái ao, rặng tre và bên ngoài là ruộng đồng v.v…Cổng vào nhà xứ đóng, lặng lẽ, vắng người. Một vài chiếc lá rụng trước mặt, tôi thấy tê tái cả lòng, nhẹ đưa tay gạt nước mắt trên mi.Trên mấy bậc gạch ở cổng vào nhà xứ và một khoảng rộng trên sân nhà thờ trước mặt tôi, hoa hồng trắng rụng đầy. Tôi chưa được ăn quả của cây hồng này, thân nó lớn và cao.Cánh hoa nhỏ, có đượm vị ngọt. Tôi ngồi bệt xuống bậc gạch, nhặt lên mấy cánh, cầm mãi trong tay.Vì biết đâu, đây là lần cuối cùng tôi ngồi ở chỗ này với những dấu chân của tuổi học trò, chỉ cần đẩy nhẹ cánh cửa gỗ là tôi vào được bên trong, nơi thân yêu thứ hai sau mái nhà thừa tự của cha tôi. Chính ở căn nhà thừa tự này tôi được sinh ra về thể xác. Còn ngôi Nhà Chung của giáo xứ, tôi sinh ra trong tinh thần và đạo đức. Lúc tôi đưa lên miệng cánh hoa hồng để nếm chút vị ngọt của nó, tôi cũng có cảm xúc mạnh như thể đây là lần cuối cùng tôi hưởng được chính hương vị ngọt ngào của Nhà Chung xứ Kẻ Lường, tiền thân của giáo xứ Lường Xá hiện nay. Hương vị ngọt ngào của Nhà Chung này, tôi cũng coi như hương vị ngọt ngào của quê hương ban tặng cho, trước lúc tôi ra đi, như lời mẹ tôi nói: “Phải để nó đi thôi”, mặc dù tôi không biết mẹ tôi đưa tôi đi đâu!</p>
<p>Người đàn ông lúc nẫy tiếp tục đi về phía tôi. Khi đi qua chỗ tôi ngồi, ông ta đưa mắt dò xét nhìn tôi, không thiện cảm. Hồi đó tôi đã 18 tuổi rồi, nhưng tôi vẫn như một cậu học trò nhỏ, tính hay rụt rè, chẳng nghĩ suy gì về việc người đàn ông này sao lại theo tôi? Chắc chắn ông ta không phải người làng của tôi. Cho nên, tôi tự hỏi, người đàn ông đi qua mặt tôi vừa rồi là ai, ở đâu đến đây? Tôi chợt nhớ lời mẹ tôi nói lúc ở bên nhà người chị. Người nhỏ nhẹ nói: “Con có nhớ mẹ thì ở nhà chơi mấy ngày thôi, rồi lên với anh con. Ở làng có người phải trốn đi đấy…”</p>
<p>Ngày 02.08.1954, một chiếc xe tải lớn không có mui, xuất phát từ Thái Hà Ấp, nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế, chở chúng tôi ra sân bay Gia Lâm để lên máy bay vào Sài Gòn.</p>
<p><b>Tấm Thiệp Màu Trắng</b></p>
<p>Đúng mười năm sau ngày tôi rời xa đất Bắc, năm 1964 tôi nhận được tấm thiệp màu trắng từ quê nhà gửi vào qua đường bưu điện. Theo quy định của Hiệp Định Genève, Thụy Sỹ, 1954, giải quyết chiến tranh Việt-Pháp bằng cách chia cắt lãnh thổ Việt Nam làm hai phần, tính từ vỹ tuyến 17. Trên vỹ tuyến 17 là Miền Bắc thuộc chính quyền Cộng sản, từ vỹ tuyến 17 trở xuống là phần thuộc về chính quyền Quốc gia. Người dân hai miền Nam-Bắc Việt Nam được trao đổi với nhau bằng một tấm thiệp bỏ ngỏ, không có phong bì, miền Bắc màu trắng, miền Nam màu vàng.</p>
<p>Trên tấm thiệp này, người con trai của chị tôi viết rằng, ngày đưa bà, cháu vịn vào áo quan của bà, nhìn quanh nhìn quẩn cũng chẳng thấy hai cậu đâu. Mẹ con và dì Nhường vừa khóc bà vừa gọi tên hai cậu.</p>
<p>Nhận được tin mẹ mất, tôi như lịm đi nhiều ngày. Nhiều người trong họ đến chia buồn, bà vợ anh tôi không cho ai gặp tôi, cứ nói là chú ấy mới chợp mắt được một tí. Cả đêm chỉ thấy chú ấy trằn trọc không ngủ, rồi khóc mẹ.</p>
<p>Có một đêm tôi nằm chiêm bao thấy mình đi vào một nhà thờ, phía trên Cung thánh có đặt một cây Thánh Giá có ảnh Chúa Giêsu chịu đóng đinh, giống một buổi lễ trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, cây Thánh Giá này đặt ở trên Cung Thánh để giáo hữu lên “hôn chân Chúa”. Tôi quỳ xuống cúi đầu hôn vào dấu thương ở chân Chúa. Bỗng chốc Chúa ngồi dậy, hai tay ôm lấy tôi. Chúa hỏi: “<i>Con xin điều gì?”</i> Tôi thưa ngay: “<i>Xin cho mẹ con được về với Chúa</i>”.<i></i></p>
<p><b>43 Năm Sau: Tiếng Gọi Của Mẹ</b></p>
<p>Vào dịp quê tôi tổ chức tuần lễ tĩnh tâm,tuần thứ nhất tháng 11.1997 để mừng ngày khánh thành ngôi nhà thờ sau hai năm trùng tu (1995-1997). Tuần lễ tĩnh tâm này, là khởi đầu cho một cuộc đổi mới về đời sống tinh thần của hơn hai ngàn giáo dân thuộc làng đạo quê tôi. Mấy tháng trước, ban mục vụ và ban phụ lão ở quê đã cử một thành viên trong ban thư ký vào Sài Gòn, chuyển Thư Mời của Linh mục Chính xứ, và Hội đồng Mục vụ Giáo xứ gửi đến các gia đình đồng hương trong Sài Gòn trở về dự lễ khánh thành ngôi nhà thờ này. Mọi người đều coi đây là Những Ngày Hội Lớn của làng, trăm năm mới có.</p>
<p>Đồng hương chúng tôi trong Sài Gòn có một phái đoàn hơn mười người trở về bằng xe lửa, khởi hành ngày thứ ba 4.11.1997, vào tới ga Hàng Cỏ Hà Nội đúng 5 giờ sáng ngày 6.11.1997. Các gia đình có người nhà trở về dịp này đã thuê một chiếc xe tải nhỏ chở phái đoàn chúng tôi. Vì xe không đủ chỗ nên tôi ngồi xe máy của đứa cháu con người chị. Đây cũng là ý cúa cháu tôi, muốn tôi ngồi xe của nó để còn được nói chuyện.</p>
<p>Trời đất Bắc đã vào đông nên có khí lạnh. Tuy vậy, bên xe chúng tôi chạy nhanh hơn, nên về tới Ngã Ba Nguộn trước. Chúng tôi dừng xe đợi, khoảng 10 phút sau xe bên kia về tới.</p>
<p>Ngày lễ chính là Chúa nhật 09.11.1997, là ngày làng tôi tới phiên Chầu Lượt thay cho Giáo phận. Chúng tôi về tới quê trước ngày lễ này 3 ngày. Lúc tôi về tới nhà thì anh tôi còn ở trong nhà xứ, nghe tin tôi về, anh vội vã về nhà, nói với tôi được vài câu, anh giục: “Chú vào nhà xứ chào cha Hiền đi, giờ này còn ít khách, không có lát nữa họ đến đầy”. Cha Nguyễn Văn Hiền là người trong dòng họ tôi, ngài sinh tại Sài Gòn, đã về từ mấy ngày trước để mở tuần tĩnh tâm cho giáo dân. Trưa hôm đó, ngài đãi cơm phái đoàn trong Nam chúng tôi tại nhà khách giáo xứ.</p>
<p>Có mặt ở nhà cả tuần lễ rồi mà tôi vẫn chưa đi viếng mộ ông bà và cha mẹ tôi được. Các cháu lớn trong nhà, người nào cũng có việc cho ngày hội làng, có người này lại thiếu người kia. Anh tôi và các cháu lớn, đều ở trong ban mục vụ giáo xứ, đảm trách những nhiệm vụ trong các tổ như kiến thiết, nhân lực. Do đó tôi tính là sẽ viếng mộ các cụ sau ngày lễ Tạ Ơn, 10.11.1997. Nhưng ngày hôm sau 11.11, tôi cũng lại bận suốt ngày. Sáng đưa tiễn cha Hiền lên Hà Nội để ngài trở về Sài Gòn, sau đó tôi lại vào Hà Đông, đi giáo xứ Thạch Bích, mãi đến chiều mới về tới làng, vừa xong buổi kinh chiều. Thế là không đi viếng các cụ được nữa. Đến nửa đêm về sáng ngày hôm sau, 12.11, tôi còn đang ngủ trên giường với anh tôi thì một tiếng gọi phát ra từ phía buồng gần giường, đích danh tôi: “<i>Tùy ơi!</i>” Tôi ngồi bật ngay dậy, lên tiếng hỏi: “<i>Ai gọi tôi?”</i> Anh tôi nói: “<i>Không có ai gọi đâu, chú cứ ngủ đi.</i>” Nhưng tôi không thể nào nhắm mắt được nữa. Rõ ràng đó là tiếng gọi của mẹ tôi, phát ra từ trong cái buồng, nơi mà tôi không sao quên được ngày nhỏ tôi bị đau mắt, phải nằm trong buồng ấy nhiều ngày, để chiều đến là mẹ tôi vào đánh mắt cho tôi bằng lưỡi của người, sau khi đã nhai lá trầu không. Tôi đau không chịu nổi, mắt xót còn hơn lấy muối chà sát vào vết thương.</p>
<p>Từ lúc nghe tiếng gọi của Mẹ, tôi trằn trọc không ngủ được, mong cho chóng tới sáng để nói với anh tôi và các cháu đi viếng mộ các cụ. Tôi đã thưa chuyện với mẹ tôi trong tâm tưởng:</p>
<p><i>Ôi! Tình của Mẹ! Từ ngày bước chân ly hương của con còn yếu ớt rời xa quê nhà, con vẫn nhớ đến Mẹ, nhớ đến những năm tháng Mẹ ngược xuôi về việc học hành của con. Có khi nào con không nhớ về Mẹ đâu. Một tuần lễ nay về thăm nhà mà con chưa đi thăm viếng Mẹ-Cha được, vì như Mẹ biết đó, anh con này, các cháu này, đều rất bận công việc trong nhà thờ, nhà xứ. Chiều hôm nay chúng con sẽ đi kính viếng Cha Mẹ, Mẹ ạ!</i></p>
<p><i>Mẹ ơi! Từ ngày con rời xa Mẹ đến hôm nay lả 43 năm, con mới lại được nghe tiếng Mẹ gọi tên con! Trong nhà, chẳng có ai gọi tên con một cách rất thân yêu như cách Mẹ g</i><i>ọ</i><i>i!</i></p>
<p><strong>KHẢI TRIỀU</strong></p>
<p>(Ngày 22.7.2020)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2020</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/khai-trieu-me-ti/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Captovan: Bà Mẹ Quê</title>
		<link>https://t-van.net/b-m%e1%ba%b9-qu/</link>
					<comments>https://t-van.net/b-m%e1%ba%b9-qu/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Captovan]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 26 Jul 2011 15:27:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[người mẹ]]></category>
		<category><![CDATA[truyện ngắn]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/testsite/wordpress/?p=843</guid>

					<description><![CDATA[Phúc cho những ai còn biết trở về dòng sông tuổi thơ mà tìm lại chính mình. Phúc cho những ai còn biết rằng dẫu cho bao điều vĩ đại mình đã hòan thành, mình cũng chỉ là hạt bụi khiêm tốn khi đứng cúi đầu trước bà mẹ gìa nua còm cõi. . . [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><em><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image00239.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; margin: 0px 20px 10px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; float: left; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image0023" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image0023_thumb.jpg?strip=all&fit=175%2C153" alt="clip_image0023" width="175" height="153" align="left" border="0" /></a>Phúc cho những ai còn biết trở về dòng sông tuổi thơ mà tìm lại chính mình. Phúc cho những ai còn biết rằng dẫu cho bao điều vĩ đại mình đã hòan thành, mình cũng chỉ là hạt bụi khiêm tốn khi đứng cúi đầu trước bà mẹ gìa nua còm cõi. . .</em></p>
<p><em>Tôi tin rằng ông PhiLa Tô, tác giả bài viết &#8221; Bà Mẹ Quê &#8221; dưới đây , là một người có phúc. Dù rằng &#8221; Bu&#8221; của ông đã không còn trên thế gian này nữa, nhưng có bà mẹ nào sống mãi được với các con.</em></p>
<p><em>T.Vấn</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong><em><span style="font-size: large;">BÀ MẸ QUÊ.</span></em></strong></p>
<p><strong><em>Phila Tô </em></strong></p>
<p>Có nhiều cách gọi về song thân tùy theo địa phương, nhưng ở quê tôi, một vùng thuộc tỉnh Kiến An, Hải Phòng thì con gọi bố mẹ là thầy bu, vì thế tôi xin giữ hai danh từ này cho bài viết về mẹ tôi, một bà mẹ quê.</p>
<p>Thầy tôi qua đời ngày 15 tháng Giêng năm 1947, hưởng dương 41 tuổi! Ông cụ mất đi khoảng sau 2 tháng bị bệnh mà thuở ấy người vùng quê chỉ biết gọi là bệnh &#8220;thương hàn&#8221;(?). Những ngày thầy tôi lâm trọng bệnh và khi các con tiễn chân ông cụ ra cánh đồng thì nay tôi không còn nhớ gì nữa. Kỷ niệm duy nhất còn sót lại trong đầu tôi là khi ông cụ tháo vai cày ra khỏi cổ con trâu rồi đưa sợi dây thừng cho tôi dẫn nó đi ăn, đang gặm cỏ, khi đến bên bờ hồ trước cửa nhà thờ thì nó nhào xuống nước, ngước mũi lên thở phì phò, còn tôi, một thằng bé chăn trâu mới 6 tuổi, không thể kéo nó lên được nên tôi đành buông dây thừng, đứng trên bờ mà khóc vì sợ con trâu sẽ chết đuối.</p>
<p>Nhưng với bu tôi, một bà mẹ quê, thì tôi nhớ nhiều, nhưng chưa một lần nhắc lại những kỷ niệm này với anh chị em và con cháu. Khi thầy tôi mất thì bu tôi mới 43 tuổi với một nách bẩy đứa con, tất cả cùng sống trong căn nhà tranh vách đất ba gian hai trái, một mảnh vườn với dăm ba sào ruộng thuộc làng Cựu Viên, tỉnh Kiến An,thành phố Hải Phòng, và chỉ cách hai nơi này chừng hơn 3 cây số.</p>
<p>Một hình ảnh tuy đã hơn 60 năm rồi mà tôi vẫn còn như đang thấy trước mắt, đó là cảnh vào lúc hoàng hôn, bu tôi đứng ở góc vườn, hướng ra nghĩa trang mà kêu tên thầy tôi trong tiếng nấc sau khi đã chôn cất thầy tôi xong.</p>
<p>Bu tôi cả ngày phải chân lấm tay bùn với ruộng lúa vườn rau, mỗi buổi chiều về, sau khi thổi cơm cho con, nấu cám cho lợn (heo) xong thì mặt trời đã lặn, giữa lúc tranh tối tranh sáng, bà lẳng lặng ra góc vườn, lúc thì ngồi ngắt đọt khoai lang, khi thì đứng hái lá chè mà thút thít khóc trong khi các con không hay biết.</p>
<p>Một buổi chiều tối, khi chim đã về tổ, tôi leo lên cây cau góc vườn để bắt ổ chim sáo đen khi nghe chim con &#8220;chíp chíp&#8221; mà tôi đã rình từ lâu, tôi thất kinh suýt rơi xuống đất khi bất chợt thấy một bóng đen đứng khóc ở góc vườn. Nhưng tôi hoàn hồn ngay khi nhận ra giải khăn tang trắng vấn trên đầu, hai đuôi khăn chạy dọc sống lưng của bu tôi, tôi vội tụt xuống định chạy vào nhà, nhưng rồi khựng lại, ngồi thụp xuống bên gốc cây cau vì nghe tiếng bu tôi khóc:</p>
<p><strong><em>&#8220;Ối ông ơi! Trời đã tối rồi! Ông đi đâu mà sao không về ăn cơm uống nước với các con ông ơi!&#8221;</em></strong> .</p>
<p>Tuy tuổi lên 6, tuổi nghịch ngợm của trẻ nhà quê không biết sợ ma nhưng tôi rùng mình nổi gai ốc khi nghe bu tôi kêu lên như thế. Bà khóc trong nấc nghẹn, cố kềm trong họng không cho ra tiếng vì sợ các con nghe được, chắc bà cam chịu đau khổ thương nhớ một mình, không đành chia nỗi buồn với các con. Các anh chị em chúng tôi không ai hay biết việc này, vì sau một ngày quần quật với công việc ruộng lúa vồng khoai thì tất cả đã mệt nhoài, mọi người đi nghỉ sớm để sáng mai, khi gà vừa gáy và tiếng chuông nhà thờ &#8220;bính-boong&#8221; lúc 5 giờ sáng là đã phải dậy để chuẩn bị ra đồng.</p>
<p>Riêng mình tôi biết bu tôi khóc, tôi chẳng nói cho ai hay, nhưng tiếng khóc của mẹ xoáy vào đầu tuổi thơ khiến tôi cứ đứng sau hè nhìn bu tôi rũ xuống như tàu lá chuối héo, nghe bà nấc nghẹn mà ứa nước mắt theo. Nhiều khi tôi thấy bà vịn cành chè rồi sức nặng của khổ đau kéo cành chè gẫy xuống. Một chiều tối, tôi nghe tiếng nói bên kia vườn, cách bụi tre, vẳng sang:</p>
<p>_ <strong><em>Mẹ Quán sao cứ khóc mãi thế! Hãy để cho Quán nó yên nghỉ.</em></strong></p>
<p>Đó là tiếng của cụ Dưỡng, chú của thầy tôi, chắc cụ cũng sót ruột vì tiếng khóc mỗi chiều tối ngoài góc vườn. Bu tôi là cháu dâu nên phải vâng lời chú, từ đó bu tôi không đứng khóc ngoài góc vườn nữa. Nhưng nỗi sầu vì nấm mồ chôn chồng chưa xanh cỏ thì làm sao vơi nên nước mắt tiếp tục rơi cùng những tiếng nấc nghẹn trong góc bếp giữa đêm khuya.</p>
<p>Mùa Đông tháng giá, tiết trời khá lạnh ở vùng quê với căn nhà lá có nhiều khe hở để gió lùa vào, anh em tôi nằm ổ rơm, đắp chiếu, kín đầu thì hở đuôi và ngược lại kín chân thì thò đầu, cái lạnh đêm khuya lại thêm dạ dày trống đúng với câu châm ngôn &#8220;bụng đói cật rét&#8221; nên giấc ngủ chập chờn. Nửa đêm về sáng, khi gà vừa gáy, tôi thức giấc thấy ánh lửa từ nhà bếp hắt lên, tôi bò dậy và mon men tới để sưởi cho ấm thì thấy bu tôi ngồi nấu cám heo, một tay cầm que, tay kia nắm mớ rơm đẩy vào tiếp cho lửa cháy, bóng mẹ tôi in lên vách bếp, ngả nghiêng theo ánh lửa bập bùng. Đêm khuya, thấy con thức dậy bò xuống bếp thì bà mẹ biết con đang thiếu cái gì. Vừa trông thấy tôi, bà vội kéo vạt áo lau nước mắt, rồi nói:</p>
<p>_ Đói hả? Ngồi xuống đây sưởi cho ấm rồi bu nướng cho con củ khoai.</p>
<p>Bếp nhà quê đun bằng rơm rạ nên có tiếng nổ lép bép làm bắn ra những tia lửa tựa pháo bông và kéo theo tro bụi phủ lên người ngồi nấu. Bu tôi đứng dậy khẽ phủi tro trên tấm khăn tang trắng rồi lấy củ khoai lang ở cái thúng treo sau lưng vùi vào đám tro giữa ba &#8220;ông đầu rau&#8221;.</p>
<p>Có thể nhiều người không biết &#8220;khoai nướng vùi bếp tro&#8221; là gì, mùi vị nó ra sao, ngay cả con cháu nội ngoại của bu tôi hiện nay đang sinh sống trên đất Mỹ cũng không biết. Nhưng với tôi, củ khoai lang vùi bếp tro mà bu tôi &#8220;ban&#8221; cho tôi không có gì so sánh được. Người ta thường dùng chữ &#8220;ban&#8221; để nói về những &#8220;hồng ân&#8221; mà Thượng Đế, Chúa, Phật ban cho con chiên, phật tử, nhưng bu tôi đã &#8220;ban&#8221; cho tôi củ khoai nướng vùi bếp tro giữa đêm Đông giá lạnh mà xung quanh bếp chỉ có rơm rạ, tro bụi, bóng tối và tình mẹ con.</p>
<p>Bà mẹ khều củ khoai trong đám tro ra, vò nắm rơm chà lên vỏ ngoài cho sạch chỗ cháy đen rồi đưa cho con:</p>
<p>_ Khoai còn nóng lắm, con ăn từ từ.</p>
<p>Đúng rồi, khoai nướng thơm và ngon với trẻ em miền quê, nếu em đói mà vội ăn đến nỗi quên cả bóc vỏ thì sẽ bị nóng phải hả miệng ra, ngửa mặt lên mà thổi &#8220;phù phù&#8221;, ăn vụng mà nuốt vội miếng khoai lang dễ bị nghẹn. Bụng đói, cật rét mà hai tay nắm củ khoai nướng nóng thì thích lắm, nhưng không hiểu sao cái tật tham ăn của tôi biến đi đâu mất, tôi cũng chẳng hiểu chữ &#8220;hiếu&#8221; là gì, nhưng vẫn cứ bẻ cũ khoai ra làm hai, đưa bu tôi một nửa mà không nói một lời nào cả. Biết nói gì hơn, và dù biết văn hoa chữ tốt thì trong hoàn cảnh ấy, ngàn vạn lời nói cũng bằng thừa, là sáo ngữ. Tôi đưa nửa củ khoai cho bu tôi chỉ vì tôi thấy bu tôi kéo vạt áo lau nước mắt, chỉ vì trong ánh lửa rơm chập chờn giữa đêm khuya mà tôi thấy mắt bu tôi đỏ. Tôi đưa nửa củ khoai cho bu vì tôi biết bu tôi cũng đói nhưng nhường miếng ăn cho con như tất cả các bà mẹ khác.</p>
<p>Cầm miếng khoai trong tay, bu tôi nhìn tôi không nói gì cả nhưng lại choàng tay qua kéo tôi vào lòng. Tôi biết bu tôi đang thổn thức và rồi bà khẽ nói:</p>
<p>_ Con lên nhà đánh thức các anh chị dậy ăn cơm để còn kịp ra đồng.</p>
<p>Hai chữ &#8220;ra đồng&#8221; là chỉ công việc ngoài đồng ruộng như cuốc đất, nhổ mạ, cấy lúa, làm cỏ, trồng rau, trồng khoai, trồng bắp (ngô) v.v..những công việc của nhà nông để làm ra thực phẩm mà người thành phố, nhất là các bạn trẻ người Mỹ gốc Việt không bao giờ có thể hình dung ra được nó vất vả như thế nào.</p>
<p>Ngày qua ngày, bầy gà một mẹ bẩy con đùm bọc quây quần dưới mái tranh được bao quanh bởi lũy tre, rồi bị chạy loạn vì chiến tranh. Khi hồi cư về làng cũ thì chỉ còn hoang tàn đổ nát nên mẹ con lại chạy theo dòng người di tản. Thấy họ đi thì bà mẹ quê cũng dắt con đi, không biết đi về đâu và làm gì. Những lúc gian nan khốn khổ như thế chắc hẳn bu tôi lại kêu tên thầy tôi và mong chồng chỉ lối đưa đường cho vợ góa con côi được về nơi bình an.</p>
<p>Cuối cùng thì gia đình tôi làm dân di cư trôi dạt vào Nam, về làng Bến Xúc, quận Bến Cát, tỉnh Bình Dương năm 1954. Người nông dân thường có sức chịu đựng như &#8220;cỏ dại&#8221;, vất đâu cũng sống được với đất, nhưng mẹ con chúng tôi ra đi không mang theo ruộng vườn, chỉ có hai bàn tay nên phải xoay sở, các anh chị tôi lúc này đã trưởng thành nên phiêu lưu về thành phố và gia đình tôi lại di chuyển về 172/41 đường Đỗ Thành Nhân, Khánh Hội, quận Bốn, Saigon.</p>
<p>Bu tôi, một bà mẹ quê &#8220;lạc&#8221; về thành phố, bỏ lại sau lưng xa tít mù khơi mái tranh, lũy tre, ruộng vườn và nhất là mồ chồng mà sẽ không bao giờ được nhìn lại nên bu tôi như tàu lá úa và chỉ hồi sinh sau khi đã có tiếng bập bẹ &#8220;bà bà&#8221; của các cháu nội ngoại. Có lẽ đây là giây phút hạnh phúc nhất của bu tôi cũng như các bà mẹ khác, thương cháu chăm sóc cháu hơn thương con.</p>
<p>Vẫn tưởng bu tôi được vui hưởng thái bình với cháo rau đạm bạc bên con cháu cho tới lúc đầu bạc răng long thì chiến tranh lại tràn về, các con trai con rể của cụ lên đường tòng quân, thằng Cao Nguyên, đứa Đông Hà, con trai út ở núi Sơn Chà thì con trai áp út ở mãi tận mũi Cà Mâu, đâu đâu cũng nghe tiếng súng nổ. &#8220;Đại bác đêm đêm vọng về thành phố&#8221; thì bà mẹ quê khốn khổ thức giấc ngồi tựa lưng vào vách, mắt nhắm, tay cầm tràng hạt, miệng đọc thầm chuỗi Mân-Côi cầu xin Thượng Đế ban ơn lành cho đàn con nơi lửa đạn.</p>
<p>Nhưng hằng ngày bu tôi vẫn nhói tim khi nhìn những xe nhà binh GMC trên chở quan tài phủ cờ chạy qua cửa. Khi nghe mấy bà hàng xóm kháo nhau rằng áo quan phủ cờ vàng sọc đỏ là của lính chết trận đó thì bu tôi vịn tường ngồi xuống đất đọc kinh tiếp.</p>
<p>Rồi sáng ngày N tháng 6/1966, một xe GMC chạy vào xóm và từ từ dừng lại khiến bu tôi hốt hoảng khuỵu xuống, nhưng người lính TQLC tìm nhà bà Châu, bà hàng xóm và cũng là người cùng quê, để báo tin con trai bà là thằng Mão đã tử trận. Bà Châu xỉu, bu tôi hoảng hốt lo lắng muốn xỉu theo, vì Mão và tôi là bạn và cùng tình nguyện vàoTQLC. Mão Tiểu Đoàn 1, tôi Tiểu Đoàn 2, cả hai vừa đụng trận tại ngã ba sông Định, thuộc Bích La Thôn Quảng Trị, nó tử thương, tôi bị đạn xuyên khuỷu tay, thấy không sao nên tôi đã nói với hậu trạm là đừng báo tin về cho gia đình biết. Khốn thay, hậu cứ ở Thủ Đức cứ theo đúng thủ tục mà báo tin nên hai ngày sau lại một xe nhà binh đậu trước cửa hỏi nhà bà Tiệp, tên anh cả của chúng tôi, người báo tin chưa kịp nói gì thì bu tôi không còn biết gì nữa.</p>
<p>Vì bị thương nhẹ nên tôi xin xuất viện ngay để đi phép. Bu tôi đang nằm trên giường bệnh, thấy tôi về, cụ ngồi bật dậy ngơ ngác nhìn con, hai tay vuốt mặt con, nắn vai, nắm tay con lắc lắc như muốn biết đây là thực hay chiêm bao. Bu tôi không nói gì mà chỉ khóc, có lẽ cụ khóc vì lo âu, cụ khóc vì hạnh phúc còn cầm được tay con vừa từ mặt trận trở về, những bà mẹ của lính chiến thấy mặt con lúc nào thì hạnh phúc lúc đó. Tôi xin mượn ý bài thơ MTHS: &#8220;không chết người con lính chiến mà chết người mẹ ở hậu phương&#8221;, người lính chiến nếu có chết, chỉ chết một lần, nhưng bà mẹ hậu phương thì chết dần chết mòn, chết giấc vì con.</p>
<p>Bu tôi đã chết giấc nhiều lần như thế khi thấy mấy đứa con, đứa cháu trong họ hàng và cùng ở TQLC lần hồi tử trận như Tô Chiêu, Tô Sơn, Vũ Tuấn, Nguyễn Thanh v.v..Cuối cùng thì ngày 19/6/1969, trên con kinh Cán Gáo thuộc tỉnh Chương Thiện, những tiếng nổ đã loại tôi ra khỏi vòng chiến, nhưng may mắn hơn Chiêu, Sơn, Tuấn, Thanh v.v.., tôi còn nặng nợ, chưa đi được nên khi tỉnh dậy, thấy mình nằm trên giường bệnh bệnh viện, toàn thân những dây cùng nhợ! Mờ mờ nhìn qua lớp băng quấn đầu, tôi nhận ra bu tôi đang lấy tay cạy vết máu, vết sình đã khô trên mặt tôi, tôi mấp máy đôi môi, gọi qua hơi thở của bình dưỡng khí:</p>
<p>_ &#8220;Mẹ&#8221;.</p>
<p>Tiếng &#8220;Mẹ&#8221; dễ gọi dễ thương là thế nên tôi quen với chữ &#8220;Mẹ&#8221; từ đó.</p>
<p>Tôị bị trọng thương, bị loại khỏi vòng chiến thì cũng là lúc mẹ tôi bớt được một phần lo âu, thấy tôi lê lết với đôi nạng gỗ kẹp nách thì mẹ lại mỉm cười:</p>
<p>_ &#8220;Con cứ như thế này thì mẹ đỡ lo&#8221;.</p>
<p>Chưa trả hết nợ nước nên tôi được hạnh phúc quanh quẩn một thời gian bên bà mẹ già nhà quê, bà mẹ không biết viết, không biết đọc mà chỉ biết khóc vì con. Thế rồi đất bằng dậy sóng, các bà mẹ lại tiếp tục vất vả vì các con, lần sau cùng tôi nghe mẹ khóc là khi tôi cáu kỉnh nhìn mẹ rồi vất đôi dép làm bằng vỏ xe hơi mà cụ đã len lén để vào túi xách cho tôi lên đường &#8220;vinh quang&#8221;.</p>
<p>Sau ngày 30/4/75, ba anh em trai tôi cùng hai người anh rể đều lên đường để &#8220;được&#8221; cải tạo làm con người. Chẳng cần nói thêm thì ai cũng biết một bà mẹ già trong hoàn cảnh ấy thì &#8220;có vui bao giờ&#8221;. Nghe hàng xóm xì xào bán tán, mẹ tôi thật thà đi mua quần áo đen và dép râu cho các con để sớm được về đoàn tụ.</p>
<p>Quá khứ đời tôi lính chiến đã khiến mẹ lo âu sợ hãi nhưng chưa lần nào tôi hỗn với mẹ như lần này, tôi lôi đôi dép cao su ra khỏi túi xách và quăng nó vào góc nhà, mẹ tôi nhìn sững tôi và chắc bà tự hỏi tại sao con lại vất những thứ cần thiết ấy, nó sẽ giúp con để sớm được về với mẹ. Làm sao tôi hiểu được tình thương mênh mông của bà mẹ quê trong khi bà cũng không biết được con trai mẹ đang chín từng khúc ruột. Tôi lẳng lặng cầm túi xách với bộ quần áo lên đường, không lời chào từ giã mẹ già đang ngồi tựa lưng vào vách mà mắt nhìn theo gót chân con!</p>
<p>&#8220;Cải tạo&#8221; tới năm thứ chín thì tôi hay nằm mơ thấy mẹ, linh tính cho biết có điều chẳng lành, tôi hỏi người nhà mỗi khi đến thăm nuôi thì được biết mẹ tôi vẫn bình thường. Nhưng sao vẫn thấy mẹ trong giấc mơ, tôi đem chuyện hỏi lại thì lúc đó vợ tôi đành lôi trong túi xách ra một xấp hình đám tang mẹ tôi mà vợ tôi đem theo nhưng dấu kín. Tôi không còn nước mắt để khóc mẹ vì tôi đã không chào mẹ khi ra đi, không biết rằng đó là lúc chào lời vĩnh biệt, không biết ai vĩnh biệt ai. Mẹ tôi khóc vì các con phải đi xa khi đã thái bình khiến mẹ mù lòa. Mẹ tôi ra đi vĩnh viễn khi tôi chưa quay về.</p>
<p>&#8220;Lòng mẹ thương con như biển Thài Bình dạt dào&#8221;, lòng mẹ như bị dao chém mỗi khi nghe tin con &#8220;thắng trận&#8221; trở về, &#8220;trở về trên đôi nạng gỗ, trở về hòm gỗ cài hoa&#8221;! Lời nào nói cho đủ, viết cho hết trong vài trang giấy. Những bà mẹ dù quê hay thành phố, dù bên này hay bên kia đều là Mẹ Việt Nam. Mẹ VN thì lúc nào cũng vui và khổ đau theo đời sống thăng trầm của các con, không vui khi các con không vui với nhau. Khổ đau biết bao những bà mẹ của các anh lính chiến luôn canh cánh bên lòng, lo sợ phải rên rỉ câu:</p>
<p>_&#8221;Lá vàng đeo đẳng trên cây, lá xanh rụng xuống !!!&#8221;</p>
<p>Những ai còn mẹ, dù trong hoàn cảnh nào đi nữa thì xin chớ có cử chỉ đáng trách như tôi đã phạm đối với &#8220;bà Mẹ quê&#8221; để khỏi phải ân hận khôn nguôi./.</p>
<p>© T.Vấn 2011</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/b-m%e1%ba%b9-qu/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>T.Vấn: Những đứa con đi tìm mẹ</title>
		<link>https://t-van.net/nh%e1%bb%afng-d%e1%bb%a9a-con-di-tm-m%e1%ba%b9/</link>
					<comments>https://t-van.net/nh%e1%bb%afng-d%e1%bb%a9a-con-di-tm-m%e1%ba%b9/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[T.Vấn]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 07 May 2009 14:45:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[ngày hiền mẫu]]></category>
		<category><![CDATA[người mẹ]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/testsite/wordpress/?p=829</guid>

					<description><![CDATA[(Hình: Chiến dịch nhân đạo Babylift tháng 4 năm 1975) 1. Đối với những bà mẹ, chiến tranh là một con quái vật. Nó nuốt chửng con cái của họ. Cả những đứa đã trưởng thành lẫn những đứa còn đỏ hỏn phải bế trên tay. Ở bên này hay bên kia chiến tuyến, nỗi [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image00221.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; margin: 0px 20px 10px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; float: left; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image001[4]" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image00141.jpg?strip=all&fit=244%2C209" alt="clip_image001[4]" width="244" height="209" align="left" border="0" /></a></p>
<p><em>(Hình: Chiến dịch nhân đạo Babylift tháng 4 năm 1975)</em></p>
<p><b>1.</b></p>
<p>Đối với những bà mẹ, chiến tranh là một con quái vật. Nó nuốt chửng con cái của họ. Cả những đứa đã trưởng thành lẫn những đứa còn đỏ hỏn phải bế trên tay. Ở bên này hay bên kia chiến tuyến, nỗi đau mất con của những bà mẹ đều giống nhau. Nhưng mất con, vì chúng đã đủ lớn và đi theo tiếng gọi của lý tưởng, của tổ quốc, trái tim người mẹ tuy có vụn vỡ hàng ngàn mảnh nhưng vẫn có thể chịu đựng được. Sau cuộc chiến, hàng trăm ngàn bà mẹ có con chết trận ôm di ảnh con mình trong căn nhà quạnh quẽ. Với họ, thắng hay thua trong cuộc chiến vừa chấm dứt chẳng mang một ý nghĩa gì trọng đại. Họ chỉ biết một điều: <i>con của họ đã không trở về</i>.</p>
<p>Nhưng với những bà mẹ thất lạc con mình – trong lúc lọan lạc, trong lúc gồng gánh tản cư ra khỏi vùng bom đạn, hay đành phải đem con bỏ chợ, đem con đến cho những viện mồ côi, vì chiến tranh đã tàn phá nơi ăn chốn ở của bà, đã khiến không còn một phương tiện kiếm sống nào có thể giúp bà mỗi ngày đem thực phẩm về nhà, để lựa chọn cuối cùng không thể khác hơn là đưa chúng vào nơi ít nhất chúng được bữa ăn hàng ngày ,- thì nỗi đau tuy không xé lòng như những bà mẹ có con chết trong cuộc chiến, vì ít nhất bà còn có hy vọng có ngày nhìn lại mặt con, cái nỗi đau của cuộc sinh ly chứ không phải tử biệt, liệu có dễ dàng chịu đựng hơn không?</p>
<p>Nỗi đau mất con nào cũng giống nhau, dù sinh ly hay tử biệt. Tử biệt, ôm di ảnh con, khóc cho nhòe nhọet hết cái khuôn mặt quá đỗi quen thuộc, quá đỗi thương yêu ấy, rồi lặng lẽ tập cho quen với quãng đời còn lại không còn đứa con dứt ruột đẻ ra ấy nữa. Sinh ly, xa con khi nó còn đỏ hỏn, khi nó cần đến nhất bàn tay chăm sóc của người mẹ, khi thế giới của nó lúc ấy chỉ duy nhất là bóng hình người mẹ, và rồi sau đó trong suốt quãng đời còn lại của bà, mỗi đêm nằm xuống dỗ gíâc ngủ, liệu tiếng gào xé lòng gọi mẹ của đứa con bị bỏ lại trong viện mồ côi hay hình ảnh bọc tã nhem nhuốc gói thân hình còm cõi của hài nhi thiếu sữa nằm chơ vơ trên bực thềm bước vào bệnh viện phụ sản, có làm cho bà không thể nhắm mắt được trong suốt nhiều năm tháng, dù cho bà đã có thêm những đứa con và có khả năng chăm sóc chúng đầy đủ như bà mong ước.</p>
<p>Hơn ba mươi năm sau chiến tranh, những câu chuyện về mẹ và con vẫn còn được nhắc đến.</p>
<p>Những đứa con đã yên nghỉ trong lòng đất, chắc chắn vẫn còn được nhớ đến bởi người mẹ của mình. Bao lâu người mẹ còn sống, nấm mồ con sẽ không bao giờ hương tàn khói lạnh, hồn đứa con vẫn ấm áp nhờ tấm lòng không bao giờ nguội lạnh của người mẹ gìa.</p>
<p>Những đứa con năm xưa phải xa lìa vòng tay mẹ, may mắn sống sót sau bao nhiêu biến thiên của đất, của trời, của người, nay lưu lạc khắp nơi trên tòan thế giới, hẳn không thể quên cái nguồn cơn khiến mình là đứa con bị bứt khỏi rễ mẹ năm xưa. Và chắc chắn, người mẹ của chúng, nếu còn sống, cũng vẫn nhớ đến giọt máu tội nghiệp mình bỏ rơi những ngày ấy binh đao.</p>
<p>Và có hay không, những cuộc đòan tụ, cái mong ước và là sự an ủi của hơn ba mươi năm trước khi bà gạt nước mắt, cương quyết dứt khỏi bàn tay nắm chặt tuyệt vọng của con, rồi quày quả bỏ chạy vì sợ cái định mệnh còn tàn nhẫn hơn nữa đổ ụp xuống con mình nếu bà chần chừ rồi đổi ý.</p>
<p><i>Trên đời này, liệu còn có cuộc chia tay nào đứt ruột hơn nữa không?</i></p>
<p><b>2.</b></p>
<p>Những ngày đầu tháng 4 năm 1975, giữa một miền Nam xôn xao về những giải pháp chấm dứt cuộc chiến, hàng ngàn trẻ em mồ côi được chính phủ Hoa Kỳ tìm cách đưa chúng rời khỏi đất nước (chiến dịch nhân đạo mang tên Babylift) theo yêu cầu của các tổ chức từ thiện để tránh những thiệt hại có thể xẩy đến do chiến tranh đang tiến dần vào các thành phố lớn. Trong số đó, có đứa còn chưa biết nói, có đứa đã có chút trí khôn và trí nhớ để biết mình là ai và hiểu được thân phận lạc lòai của mình.</p>
<p>Giờ đây, những đứa trẻ năm xưa đã trưởng thành, đã mang một cái tên khác hẳn với cái tên do cha mẹ đẻ đặt cho. Hồi ức của 34 năm về trước vẫn cứ tươi rói như mới vừa xẩy ra với những đứa con lưu lạc ấy.</p>
<p>Lee Stefin, được biết dưới cái tên Việt là Đặng thị Hiệp khi còn ở Việt Nam, là con nuôi của một gia đình người Mỹ. Cô nguyên là con đẻ của một quân nhân Mỹ và người mẹ Việt Nam. Hiệp, lúc đó mới 9 tuổi, cùng với 2 đứa em trai ở trong số trẻ em được chiến dịch nhân đạo Babylift ngày ấy cứu vớt<i>. &#8220;Mẹ tôi nói rằng có lẽ chúng tôi sẽ không bao giờ được gặp lại mẹ nữa, rằng tôi có bổn phận phải cố gắng hết sức giữ cho 3 chị em chúng tôi luôn ở bên nhau. Và đó là lần cuối cùng tôi gặp mẹ. Rồi máy bay cất cánh. Tôi nhìn ra cửa sổ và tự hứa với mình rằng rồi sẽ có ngày tôi trở lại mảnh đất này để tìm người mẹ thân yêu&#8221;.</i></p>
<p>Trong bao năm trời, Lee, tức Hiệp, luôn nghĩ đến nguồn gốc của mình, và nhất là hình ảnh người mẹ khốn khổ trên một đất nước cũng khốn khổ không kém. <i>&#8220;Tôi không thể không nghĩ đến mình là người được sinh ra ở Việt nam. (Tôi vừa là người Mỹ lẫn người Việt.) Tôi là cả hai .&#8221;. </i>Mới đây, cùng với hai người bạn có cùng thân phận lạc lòai như mình, cùng rời đất nước trong chiến dịch Babylift tháng 4 năm 1975, Hiệp quay trở về Việt Nam để tìm lại người mẹ tội nghiệp năm xưa, để tìm lại gốc rễ của mình. Ở số tuổi trên 40 hiện nay, Hiệp nghĩ về quê hương Việt Nam như nghĩ về người mẹ của mình. Quê hương là mẹ. Tìm thấy mẹ là nhận lại được quê hương. Nhưng cô không gặp lại được mẹ mình. Hay đúng hơn, ở chuyến đi này, Hiệp chưa gặp lại được mẹ mình. Cô về lại đúng nơi chia tay mẹ năm xưa, với trí nhớ của một đứa trẻ 9 tuổi. <i>&#8220;Khi mà mình sống ở một nơi thật xa và không một ai có những kỷ niệm như mình có, đôi lúc, mình có cảm tưởng giống như đang ở trong một giấc mơ do chính mình tưởng tượng ra. Giờ đây, đứng trước khung cảnh bấy lâu nay chỉ ở trong trí tưởng, mình mới tin đó là có thật.&#8221;</i>. Nhưng người mẹ mà cô khao khát muốn gặp lại, vẫn chỉ ở đâu đó trong những giấc mơ.</p>
<p>Liz Sowles, người bạn đồng hành của Hiệp, rời đất nước khi còn đỏ hỏn, có lẽ khỏang 6 tháng tuổi. &#8220;<i>Hình như tôi được sinh ra vào tháng 10 (1974). Không có ai đoan chắc về điều này cả. Tôi bị bỏ nằm một mình trước cửa một bệnh viện phụ sản. Có người nhặt tôi lên rồi kể từ đó, mọi chuyện liên quan đến tôi chỉ là do phỏng đóan hoặc bịa đặt&#8221;. </i>Khi Liz, người không bao giờ được biết tên và họ Việt nam của mình, đặt chân lên bậc thềm bệnh viện phụ sản nơi cô bị bỏ rơi mấy mươi năm trước, đã bật khóc như một đứa trẻ. Có lẽ cũng là âm thanh tiếng khóc hài nhi Liz ngày nào. Cô có biết mẹ mình là ai đâu mà tìm, mà hỏi. Theo chân Hiệp trở về quê mẹ, để chỉ tin rằng mình cũng có một người mẹ. Chứ không phải từ đất chun lên, từ trời rơi xuống. Với Liz, hình ảnh bậc thềm một bệnh viện phụ sản ở Việt nam sẽ mãi mãi là hình ảnh quê hương của một người mẹ không bao giờ biết mặt. Dẫu sao, cô tự an ủi rằng mình cũng có một quê mẹ.</p>
<p>Nhưng vẫn có người may mắn hơn. Một cô gái được nhận làm con nuôi ở Úc , 28 năm sau đã tìm lại được người mẹ ruột của mình, nhờ vào bức thư đầy nước mắt của người mẹ trẻ nhét theo vào với mảnh tã quấn quanh người đứa con. Sau bao nhiêu những nỗ lực của đứa con, họ đã gặp lại nhau. Nhưng người mẹ không nói được tiếng Anh, đứa con gái không nói được tiếng Việt. Ngôn ngữ trao đổi giữa mẹ và con lại trở về như thuở nguyên sơ, khi con còn nằm trong vòng tay mẹ, khi con chưa biết nói và chưa hiểu tiếng người, nhưng người mẹ biết rất rõ con mình muốn gì và đứa con cũng biết rất rõ phải làm gì khi đói, khi khát, khi cần được mẹ âu yếm, bế bồng. Dù sao, cô gái người Úc gốc Việt ấy cũng quyết tâm học tiếng Việt, vì, như cô thố lộ, chỉ bằng cách ấy cô mới trọn vẹn tìm lại đuợc người mẹ ruột của mình.</p>
<p>Câu chuyện một cô gái khác tìm lại được mẹ của mình như một phép lạ. Năm 1968, cô mới 1 tháng tuổi, bị người vú nuôi đem cho một viện mồ côi ở Nha trang. Nơi đây, người ta đặt tên cô là Nguyễn thị Mỹ Liên. Năm 1972, Mỹ Liên được một gia đình người Mỹ nhận làm con nuôi và có tên mới là Joy My Lien Degenhardt. Năm 1993, Joy My Lien đến Việt nam để điều hành cơ sở viện trợ nhân đạo Degenhardt (Degenhardt Foundation) do chính cha mẹ nuôi của cô thành lập. Trong lúc vừa làm công việc chính của mình là phải di chuyển khắp nơi để thực hiện các công tác cứu trợ ở 12 thành phố và tỉnh thành, cô vẫn tìm thời giờ lùng kiếm người mẹ mà cô chưa từng biết mặt. Trong 15 năm làm việc ở Việt nam, tuy chưa tìm ra được tông tích của mẹ, nhưng nhờ nỗ lực tìm kiếm ấy, cô đã nhận được hàng trăm bức thư từ những người mẹ có con cái bị thất lạc vì nhiều nguyên nhân khác nhau, mà phần lớn đều vì chiến tranh , lọan lạc. Cũng từ những đầu mối đó, Joy My Lien cùng với những cộng sự viên Việt Nam, đã giúp 17 bà mẹ đòan tụ được với những đứa con của mình. Số còn lại, tuy không tìm thấy con, cô đã giúp đỡ họ có một cuộc sống thỏai mái hơn.</p>
<p>Nhiều lần, Joy My Lien đến Nha Trang làm việc, thành phố quê hương năm xưa cô được sinh ra. Mỗi lần ghé Nha trang, cô đều đến ăn cơm ở nhà hàng quen thuộc P.B. Theo lời cô, nơi ấy chưa hẳn đã có thức ăn vừa miệng cô, nhưng ngày từ lần đầu tiên bước vào, cô đã có một linh cảm khó tả. Đó là lý do cô chọn nhà hàng P.B. để ăn mỗi khi đến Nha Trang. Lần cuối cùng ghé Nha trang, Joy My Lien không ghé qua nhà hàng ấy nữa. Cùng thời gian đó, nhà hàng P.B. đổi chủ. Tháng 12 năm 2008, sau bao nỗ lực tìm kiến mẹ ruột của mình, Joy My Lien biết được tông tích của mẹ. Đó chính là bà Bùi thị Lai Ninh, người chủ cũ của nhà hàng P.B. Gặp lại con mình, bà mẹ Bùi thị Lai Ninh chỉ nói được hai tiếng &#8220;con ơi! &#8221; rồi ngất xỉu. Joy My Lien Degenhardt Nguyễn thị Mỹ Liên không cần đến bất cứ chứng cớ nào, kể cả thử nghiệm DNA, để tin rằng chính bà Bùi thị Lai Ninh là mẹ ruột của mình. Bởi vì, theo câu nói bị ngắt quãng vì phải ngưng lại để lau nước mắt của cô, không một ai ngòai mẹ ruột của cô biết được rằng cô có một cái bớt (birth-mark) màu nâu bên vai trái và 2 mụt ruồi bên vai phải. 41 năm, khỏang thời xa cách dài lê thê, vậy mà bà vẫn nhớ từng nét đặc biệt trên thân thể đứa con mất tích từ khi mới 1 tháng tuổi.</p>
<p>Chỉ có tấm lòng người mẹ mới chứng tỏ được điều khó tin ấy.</p>
<p><a href="https://t-van.net/wordpress/wp-content/uploads/2009/06/clip_image0048.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; margin: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image001" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image0015.jpg?strip=all&fit=244%2C185" alt="clip_image001" width="244" height="185" border="0" /></a></p>
<p><i>Bà Bùi thị Lai Ninh ngất xỉu khi gặp lại đứa con gái Mỹ Liên sau 41 năm xa cách</i></p>
<p><b>3.</b></p>
<p>Thuờng thì chỉ có những người mẹ đi tìm con. Vì nước mắt vốn chảy xuôi. Và vì tình mẹ thương con (cùng với người cha) là thứ tình cảm duy nhất trên đời không hề biết đến đổi thay, bất kể mọi thăng trầm của thế sự. Nhưng hòan cảnh những bà mẹ Việt Nam trong và sau cuộc chiến đã không cho phép các bà làm công việc mà các bà hằng ao ước ấy khi lìa bỏ con năm xưa. Cho nên, những đứa con Việt nam lạc lòai đã phải đi tìm kiếm người mẹ của mình. Đồng thời, làm cuộc hành trình trở về nguồn.</p>
<p>Không phải tất cả những đứa con lạc lòai năm xưa vẫn nhớ đến nguồn gốc của mình. Không phải tất cả những đứa con trở về lại nơi sinh ra đều đã hưởng được niềm vui đòan tụ. Nhưng, ít nhất, chảy trong huyết quản chúng, vẫn là dòng máu Việt và tình mẫu tử truyền thống.</p>
<p>Những câu chuyện được kể lại ở trên chỉ là vài mẩu chuyện trong hàng trăm mẩu chuyện con đi tìm mẹ xẩy ra sau cuộc chiến tranh tàn khốc. Dẫu sao, sinh ly vẫn còn hơn là tử biệt. Bởi vì, còn sống là còn có ngày gặp nhau.</p>
<p>Xin cầu nguyện cho những đứa con chưa được gặp mẹ và những người mẹ đang mòn mỏi mong được nhìn lại đứa con lạc lòai năm xưa trước khi nhắm mắt lìa đời.</p>
<p><strong>T.Vấn</strong></p>
<p><i>(Tháng 5 – 2009)</i></p>
<p><i><a href="https://t-van.net/">©</a> T.Vấn 2009</i></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/nh%e1%bb%afng-d%e1%bb%a9a-con-di-tm-m%e1%ba%b9/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>

<!--
Performance optimized by W3 Total Cache. Learn more: https://www.boldgrid.com/w3-total-cache/?utm_source=w3tc&utm_medium=footer_comment&utm_campaign=free_plugin

Page Caching using Disk: Enhanced 

Served from: t-van.net @ 2026-06-16 03:34:16 by W3 Total Cache
-->