<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>ngọc tự &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<atom:link href="https://t-van.net/tag/ng%E1%BB%8Dc-t%E1%BB%B1/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://t-van.net</link>
	<description>Văn Học và Đời Sống</description>
	<lastBuildDate>Sat, 17 Jun 2023 18:53:27 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.7.5</generator>

<image>
	<url>https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/02/t-van-favicon.png?strip=all&#038;resize=32%2C32</url>
	<title>ngọc tự &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<link>https://t-van.net</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>ngọc tự: Alice đã về nơi chốn thần tiên.</title>
		<link>https://t-van.net/ngoc-tu-alice-da-ve-noi-chon-than-tien/</link>
					<comments>https://t-van.net/ngoc-tu-alice-da-ve-noi-chon-than-tien/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngọc Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 02 Jan 2019 07:57:21 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[ngọc tự]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=38178</guid>

					<description><![CDATA[        Bà Alice và nhà văn Hòang Hải Thủy    *Chúng tôi vừa được tin bà Alice Đỗ Thị Thủy, phu nhân nhà văn Hòang Hải Thủy vừa qua đời hôm 27-12-2018 tại Arlington, Virginia, Hoa Kỳ. Những độc giả của nhà văn Hòang Hải Thủy hẳn không xa lạ lắm với cái tên Alice, [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;">       <a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/01/hht_alice-001.jpg?strip=all"><img fetchpriority="high" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-38179" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/01/hht_alice-001-300x190.jpg?strip=all" alt="" width="300" height="190" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/01/hht_alice-001-300x190.jpg?strip=all 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/01/hht_alice-001.jpg?strip=all 450w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><em>Bà Alice và nhà văn Hòang Hải Thủy   </em></p>
<p><em>*Chúng tôi vừa được tin bà Alice Đỗ Thị Thủy, phu nhân nhà văn Hòang Hải Thủy vừa qua đời hôm 27-12-2018 tại Arlington, Virginia, Hoa Kỳ. Những độc giả của nhà văn Hòang Hải Thủy hẳn không xa lạ lắm với cái tên Alice, vì nhà văn luôn ưu ái nhắc đến (tên) bà trong các tác phẩm của mình mỗi khi có dịp. Theo Cáo Phó của gia đình, bà Alice hưởng thọ 87 tuổi. Tang lễ của bà Alice sẽ được cử hành ngày 2-1-2019 tại thành phố Falls Church, Virginia. Trước tin đau buồn này, TV&amp;BH xin hiệp lời cùng anh Trần Ngọc Tự (trong bài viết dưới đây) chia buồn cùng nhà văn Hòang Hải Thủy và tang quyến (T.Vấn).</em></p>
<p>(Bấm vào đây để xem<a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/01/1736-Cao-Pho-Ba-Do-Thi-Thuy.pdf" target="_blank" rel="noopener"> Cáo Phó của gia đình nhà văn HHT &#8211; Cáo Phó</a>)</p>
<p><strong>Alice đã về nơi chốn thần tiên.</strong></p>
<p><em>(chào vĩnh biệt chị Alice Đỗ Thị Thủy quý mến)</em></p>
<p>(Tạp văn)</p>
<p>Tôi thoáng một chút lặng người khi nghe Kiều Giang báo tin mẹ cháu đã ra đi thật an lành đêm thứ Năm 27.12.2018 vừa rồi.</p>
<p>Và tang sự, dù sẽ tổ chức đơn giản trong phạm vi gia đình, cũng vẫn phải chờ đến ngày mùng 2 tháng Giêng năm 2019 mới có thể cử hành, vì sau mấy ngày nghỉ lễ, chỉ hôm đó nhà quàn mở cửa hoạt động trở lại</p>
<p>Cũng không phải là một bất ngờ gì, vì từ mấy năm nay chị đau yếu nhiều, ra vào bệnh viện thường xuyên. Đã mấy lần, tưởng chừng như chị phải giã từ cuộc đời rồi. Kiều Giang nói thật may quá, cũng vào dịp mẹ con cháu sang thăm bố mẹ, ông bà nhân lễ Giáng Sinh và chưa quay về, chứ không thì một mình bố cháu chẳng biết sẽ phải xoay sở như thế nào nữa.</p>
<p>Nén xúc động khi nói qua điện thoại, anh Hoàng Hải Thủy điềm tĩnh kể lại với tôi câu chuyện thật dễ thương của một con người vốn vẫn dễ thương, không hề lo nghĩ đến việc chia biệt tử sinh.<em> Cậu biết không, mấy hôm trước lúc Kiều Giang nó xuống, bà ấy bắt đưa đi làm đầu vì muốn điệu đàng ngày Lễ Giáng Sinh. Rồi mẹ con bà cháu tíu tít chợ búa cơm nước. Thấy bà ấy tươi tỉnh vui khỏe, tôi cũng mừng, vậy mà đâu ngờ… Tối thứ Năm, cả nhà đang quây quần ngồi ăn cơm, tự nhiên tôi nhìn thấy bà ấy ngoẹo đầu sang một bên</em> <em>thành ghế. Vội vàng hô hoán mấy đứa lo bôi dầu rồi đỡ bà ấy vào giường nằm. Biết không ổn, gọi ngay xe cấp cứu đưa vào bệnh viện. Nhưng rồi chỉ khoảng hai tiếng sau, họ chính thức thông báo bà ấy đã vĩnh viễn bỏ tôi ở lại…</em></p>
<p>Thường thì trước biến cố nào đó của một người thân quen, dễ đưa người ta quay về lại với đủ thứ chuyện đẹp đẽ đâu đó gần xa, có liên quan gần gũi chung quanh với con người ấy. Tôi nhớ đến chị Hoàng Hải Thủy trong tâm khảm như thế.</p>
<p>Từ hồi đến Hoa Kỳ năm 1994, anh chị Hoàng Hải Thủy đã chọn sống ở vùng Fairfax, Virginia trong một Trung Tâm dành cho người cao niên. Gia đình mấy người con của anh chị, Hoàng Hoài Nguyên và Kiều Giang thì chuyển về Houston. Riêng gia đình cậu út Hoàng Hải Triều ở lại Việt Nam. Cuối năm 2006, khi gia đình tôi sang Houston đây thì cũng thật vui vì chỗ tôi ở chỉ cách khu vực mấy gia đình này cư ngụ không đến mười phút lái xe. Chú cháu lại có dịp gặp gỡ nhau thường luôn, cho đến khi Kiều Giang dọn đi Ohio.</p>
<p>Những thời gian ấy, mỗi khi các cháu lên thăm anh chị trở về, hay có dịp chị ghé xuống Houston chơi, vợ chồng tôi vẫn thường được nhận món quà đầy thương mến của chị. Khi thì hũ thịt chà bông, lúc thì mấy chục cuốn chả giò do chính tay chị làm lấy ở nhà. Anh Hoàng Hải Thủy khoe kể với tôi về món chả giò làm theo kiểu truyền thống đất Bắc của chị rất được các thân hữu tán thưởng và luôn ủng hộ. Chỉ tiếc là điều kiện sức khỏe và hoàn cảnh chỗ ở không cho phép để đáp ứng nhiều hơn cho mọi người.</p>
<p>Tôi nhớ lần sau cùng cách đây cũng vài năm, trước khi không còn có thể đi xa được nữa, chị xuống Houston thăm các cháu. Cùng với anh chị Duy Trác, chúng tôi đã có thêm một bữa cơm gia đình thân mật, hàn huyên chuyện trò nhắc kể dài lâu với chị đủ thứ linh tinh vui buồn cũ xưa.Tôi cũng không quên mỗi lần thăm hỏi hàng giờ đồng hồ qua điện thoại mà chừng như chị vẫn chưa muốn dừng dứt.</p>
<p>Bất cứ trong hoàn cảnh nào, chị vẫn luôn là một người vô cùng đôn hậu, thật tươi vui và dễ mến. Bên cạnh đó cũng còn là một người cũng thật nghiêm trang kỹ tính. Dẫu vậy, tình yêu thương chị dành cho anh và các con cháu bao giờ cũng luôn tràn đầy.</p>
<p>Rất thật lòng, từ trước đến nay, dù được anh chị dành cho nhiều thiện cảm và gần gũi, nhưng bao giờ tôi vẫn giữ một khoảng cách quý mến cần thiết, không dám cho phép mình lạm dụng vượt qua cái giới hạn, dù chỉ là danh xưng, cách thưa gọi trong giao thiệp.</p>
<p>Khi chuyện trò, tôi vẫn thân mật gọi chị lúc là bà dì, hay bà chị của tôi, nhưng hình như chị không hề bận tâm lắm về điều đó. Với tôi, chị thường nói <em>ông Tự này, ông Tự biết không</em>…</p>
<p>Trước tháng Tư năm 1975, trong sinh hoạt cuộc sống cũng như nhiều thứ sinh hoạt khác, đều có những khu vực cách biệt và xa lạ với nhau. Nhưng sau cái ngày tháng khốn nạn ấy, hình như hoàn cảnh đưa đẩy cho nhiều mối tương quan, gặp gỡ mới dễ dàng hơn.</p>
<p>Tôi bắt đầu biết và có sự thân quen lui tới với anh chị Hoàng Hải Thủy qua anh Dương Hùng Cường, chỉ từ khoảng giữa năm 1981, sau thời gian đi tù cải tạo về. Và cũng là trong việc mấy anh em cùng giao thiệp liên lạc bài vở, nhận quà cáp của anh Trần Tam Tiệp từ Văn Bút Việt Nam Hải ngoại bên Paris gửi cho.</p>
<p>Thế rồi mức độ thân gần giữa hai gia đìnhnhiều hơn nữa khi chúng tôi cùng bị bắt và có cái vụ án gọi là “Những tên biệt kích cầm bút”.</p>
<p>Ngay sau khi ra tù lần ấy được vài tháng, vẫn còn đang loay hoay với cuộc sống, khoảng đầu tháng 8/1988, Kiều Giang rủ tôi cùng tham gia vào một công việc hoàn toàn mới mẻ là đi bán <em>Căng tin </em>ở trường học. Cũng nhờ cô giáo Vũ Hoàng Oanh, bà xã anh Dương Hùng Cường, là người đi trước hướng dẫn mở đường, Kiều Giang đã bỏ thầu được <em>Căng tin </em>trường tiểu học Huỳnh Khương Ninh, ngay góc đường Nguyễn Bỉnh Khiêm và Hồng Thập Tự, gần Sở thú. Cùng lúc ấy, gia đình anh chị Duy Trác thì bên <em>Căng tin </em>trường Lê Quý Đôn.</p>
<p>Chú cháu chúng tôi bắt đầu cuộc sinh kế này, rồi tiếp theo ở một trường học khác vào niên khóa sau, cũng nhiều buồn vui đáng nhớ. Và cũng từ hoàn cảnh gần gũi hàng ngày như vậy, qua các cháu Kiều Giang, Hoàng Hoài Nguyên, Hoàng Hải Triều, tôi trở thành thân thiết hơn với gia đình anh chị Hoàng Hải Thủy cho mãi tới tận hôm nay.</p>
<p>Mọi thứ việc đều do một tay Kiều Giang tính toán lo liệu, ông chú là tôi chỉ cùng lo phụ đỡ loanh quanh tí chút hàng ngày, thế nhưng lúc nào chị Hoàng Hải Thủy cũng cho rằng tôi là trụ cột, chỗ dựa của mấy đứa.</p>
<p>Những ngày nghỉ, vợ chồng tôi vẫn thường hay ghé qua nhà anh chị chỗ cư xá Tự do để ngồi lại thật lâu nghe chị say sưa tự sự, kể lể đủ thứ chuyện vui buồn trong cuộc sống, nhất là về cuộc tình của anh chị. Lúc đó trông chị như trẻ lại, ánh mắt tươi vui và nét mặt rạng rỡ của người đang tràn ngập trong hương vị, sắc mầu của tình yêu.</p>
<p>Những lần đó hay thỉnh thoảng cứ mỗi khi có dịp gặp gỡ, chị luôn thích thú đọc lại cho tôi nghe mấy câu thơ đã thuộc nằm lòng, trong bài thơ tình mà anh làm tặng chị thuở nào, và thổ lộ rằng chị đã yêu anh chết mệt vì mấy câu thơ ấy:</p>
<p><em>                            </em><em>Mùa Thu mây trắng xây thành</em></p>
<p><em>                            Tình em mầu ấy có xanh da trời</em></p>
<p><em>                           Hoa lòng em có về tươi</em></p>
<p><em>                           Môi em có thắm suốt đời vì anh.</em></p>
<p>Tôi biết về tình yêu nồng cháy của anh chị từ tháng ngày tuổi trẻ. Tôi biết tình yêu chị dành cho anh lúc nào cũng thật mãnh liệt, chăm chút và tha thiết biết mấy,luôn như buổi ban đầu, bất chấp mọi sóng gió, thử thách nơi cuộc đời. Anh Hoàng Hải Thủy từng kể với tôi hồi ấy anh còn vụng về cù lần lắm, và chính chị là người đã chăm sóc việc ăn diện cho anh từ chọn áo quần, cho đến mầu cà vạt, đôi vớ, đôi giầy…</p>
<p>*</p>
<p>Trước sự ra đi của chị, tôi biết anh Hoàng Hải Thủy thật đau buồn và hụt hẫng lắm. Hẳn là thế vì suốt mấy mươi năm gắn bó bên nhau, anh đã quá thân thuộc với sự hiện diện của chị. Rồi đây bóng dáng chị hẳn chắc sẽ quấn quýt theo anh mãi mãi không thôi.</p>
<p>Và còn các cháu thân mến của cô chú nữa, Kiều Giang ơi, Hoàng Hoài Nguyên ơi, Hoàng Hải Triều ơi…</p>
<p>Mọi sự đã là như thế, đã an bài xong xuôi và hoàn tất hết thẩy.</p>
<p>Tôi không biết phải nói gì với anh Hoàng Hải Thủy và các cháu, cho dù rằng vợ chồng tôi đã như vô cùng thân thiết gần gũi, không còn xa lạ.</p>
<p>Tôi cũng có thể đoán hiểu được đôi chút và cảm nhận với chị về những suy tư nơi đời sống thiêng liêng, nhất là trong những ngày tháng nằm trên giường bệnh. Chúa luôn nhân từ và luôn sẵn sàng tha thứ mọi lỗi lầm của con cái Người vì Chúa thấu hiểu sự yếu đuối mỏng manh của thân phận kiếp người. Chỉ cần một lòng thành tín và cậy trông, mọi điều con cái Chúa nguyện xin sẽ được Chúa nhận lời.</p>
<p>Không phải là chị hằng luôn xin ơn thứ tha và hết lòng phó thác trao dâng mọi sự cho Chúa hay sao. Hãy thanh thản và yên lòng chị ạ. Nhất định rồi chị cũng sẽ được về nơi chốn thần tiên mong đợi mà thôi.</p>
<p>Kính xin vĩnh biệt, thưa chị, thưa bà dì Alice thân quý.</p>
<p><strong>ngọctự.</strong></p>
<p>(Houston 30.12.2018)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2019</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ngoc-tu-alice-da-ve-noi-chon-than-tien/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>ngọctự: KHẢI TRIỀU: người làm chứng cho đức tin của làng đạo</title>
		<link>https://t-van.net/ngoctu-khai-trieu-nguoi-lam-chung-cho-duc-tin-cua-lang-dao/</link>
					<comments>https://t-van.net/ngoctu-khai-trieu-nguoi-lam-chung-cho-duc-tin-cua-lang-dao/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngọc Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 17 Jan 2018 14:54:56 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[khải triều]]></category>
		<category><![CDATA[ngọc tự]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=34239</guid>

					<description><![CDATA[(nhân đọc Những Người Đồng Hương_truyện kể, tác giả Khải Triều) Ngoại trừ những người sinh trưởng ở thành thị, còn thường ra ai trong chúng ta cũng đều gắn bó ít nhiều với một làng quê nào đó. Đấy là nơi chôn nhau cắt rốn và khởi đầu hành trình đi vào đời của [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/01/Bìa-Trước-Nâu-2.jpg"><img decoding="async" class="aligncenter wp-image-34179" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/01/Bìa-Trước-Nâu-2-225x300.jpg" alt="Bìa Trước- Nâu 2" width="256" height="341" srcset="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/01/Bìa-Trước-Nâu-2-225x300.jpg 225w, https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/01/Bìa-Trước-Nâu-2.jpg 600w" sizes="(max-width: 256px) 100vw, 256px" /></a></p>
<p style="text-align: left;"><em>(nhân đọc Những Người Đồng Hương_truyện kể, tác giả Khải Triều)</em></p>
<p>Ngoại trừ những người sinh trưởng ở thành thị, còn thường ra ai trong chúng ta cũng đều gắn bó ít nhiều với một làng quê nào đó. Đấy là nơi chôn nhau cắt rốn và khởi đầu hành trình đi vào đời của mỗi người. Nơi này ghi dấu biết bao kỷ niệm êm đềm quên nhớ khôn nguôi.</p>
<p style="text-align: left;">Làng quê đã hiện diện trong tâm thức từng người, đã tràn ngập các câu ca dao, âm nhạc, thi ca, phim ảnh, văn chương…Cách riêng trong văn chương, có nhiều nhà văn và những tác phẩm viết về đời sống, sinh hoạt của làng quê, qua từng thời khoảng, địa phương.</p>
<p style="text-align: left;">Đặc biệt đề tài liên quan đến làng đạo, hiểu như là một làng đạo Công giáo, có thể thấy Hồi Chuông Tắt Lửa năm 1964, Sàigòn _tác giả Thế Nguyên (Trần Gia Thoại, 1942-1989). Tuy nhiên tác phẩm này chỉ thoáng qua chút góc tối của một làng đạo.</p>
<p style="text-align: left;">Hay trước đó trong xã hội Cộng sản miền Bắc, đã có những tác phẩm viết về làng đạo Công giáo, mà nội dung chỉ nhằm mục đích tuyên truyền cho chế độ và tấn công, báng bổ, đả kích đời sống đức tin của những người theo đạo; hầu mong có thể làm thui chột dần để đi đến chỗ triệt tiêu. Sớm nhất là Xung Đột năm 1961 của Nguyễn Khải (1930-2008). Tác phẩm này lấy bối cảnh làng đạo thôn Quỹ Nhất, Nghĩa Hòa, Nghĩa Hưng Bùi Chu. Rầm rộ và gây tiếng vang ồn ào hơn là Bão Biển năm 1969 của Chu Văn (Nguyễn Văn Chữ, 1922-1994), cũng được dựng thành phim Ngày lễ Thánh năm 1976. Nội dung Bão Biển gồm hai tập, gần chín trăm trang giấy, qua lăng kính đấu tranh giai cấp, nói về các chuyện xẩy ra tại làng Công giáo toàn tòng cũng tại vùng Bùi Chu ven biển, sau cuộc di cư ồ ạt vào Nam tìm tự do, tháng Bẩy năm 1954, khi hiệp định Genève đã ký kết.</p>
<p style="text-align: left;"><em>Những Người Đồng Hương</em> là truyện kể về làng đạo của tác giả Khải Triều: làng An Mỹ, Phú Xuyên Hà Đông, thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, gần với Hà Nội. Trong đó, không có nhiều lắm những bóng ma chính trị lẩn khuất, nhưng dù chỉ là các diễn biến tự nhiên của đời sống, vẫn đem đến nhiều thứ điều chuyện liên quan tới con người, gia đình và làng quê. Tác giả đã kể lại các điều chuyện bình thường ấy và nhân đó, bầy tỏ những suy tư thao thức của mình<br />
Mạch truyện diễn tiến qua chiều dài thời gian và các hoàn cảnh, nơi chỗ khác nhau. Có những lúc sau này và chen lẫn sự trở ngược về ngày xưa, với nhiều bắt gặp đầy xúc động. Đi theo nhân vật chính, thấp thoáng bóng dáng cùng hình ảnh của tác giả, từ ngày giã từ làng quê, rồi cuộc sống nơi phương Nam xa cách và những lần tìm về thăm lại cố hương. Bên cạnh đó, đan xen ngang qua cuộc đời của mấy người cùng làng, với những tương quan gần gũi, mà ở nơi xa xứ đã trở thành đồng hương của nhau.</p>
<p style="text-align: left;">Chung quanh cuộc sống những người đồng hương ấy, cũng như những người nơi làng cũ, dưới ánh mắt quan sát và ghi nhận được của nhân vật chính, trong vòng xoay tất yếu của thế gian, sự biến đổi bên ngoài đã tác động đến sự đổi thay của từng con người, của gia đình cũng như các mối giao hảo tốt đẹp một thời. Điều này cũng tạo thành nhiều điều tế nhị, phức tạp cả đạo lẫn đời.</p>
<p style="text-align: left;">Có những tan nát đổ vỡ đau xót vì sức công phá mãnh liệt của vật chất và người ta đã dễ dàng bị tha hóa, bỏ quên mất đức tin. Nhưng cũng có những kỷ niệm đậm đà thật đạo hạnh, được nhớ lại như một nhắc nhở thường xuyên cho người làm con cái Chúa.</p>
<p style="text-align: left;">Khi tuổi già mỏi mệt và những chứng kiến bao điều chuyện xa gần như thế nơi cuộc sống tha hương, tác giả đưa nhân vật chính quay về đối diện với làng cũ của mình, trong tâm tưởng thấm đượm tình quê hương dạt dào, tình gia đình yêu thương nồng ấm.</p>
<p style="text-align: left;">Dẫu biết rằng người ở quê nhà cũng như những người đồng hương chốn xa, không sao tránh khỏi những mối đe dọa, rình rập, những cách thức tấn công vào tâm hồn, luôn tiếp diễn đủ mọi mặt. Nhưng tin tưởng mãnh liệt bằng đời sống đức tin, luôn biết tín thác nơi Chúa và nếp sống đạo mẫu mực sẵn có từ lâu đời, bên ngôi giáo đường thân yêu quen thuộc. Cạnh đó còn thêm các giá trị truyền thống tốt đẹp của cha ông vẫn lưu giữ được; tác giả đoan chắc rằng làng đạo quê mình cùng với những người đồng hương đang sinh sống tại quê mới, sẽ vượt qua được mọi thử thách, mọi cám dỗ sa ngã để tiếp tục vững bước trên hành trình trần thế, dưới sự soi sáng của ơn Thánh Linh.</p>
<p style="text-align: left;">Qua <em>Những Người Đồng Hương</em>, biết đâu người đọc cũng có thể có một liên tưởng nào đó về những người đồng hương của mình, nơi một câu chuyện và một hoàn cảnh khác.</p>
<p style="text-align: left;"><strong>ngọctự.</strong></p>
<p style="text-align: left;">©T.Vấn 2018</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ngoctu-khai-trieu-nguoi-lam-chung-cho-duc-tin-cua-lang-dao/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>ngọctự: tháng 12, chút nhớ vụn vặt</title>
		<link>https://t-van.net/ngoctu-thang-12-chut-nho-vun-vat/</link>
					<comments>https://t-van.net/ngoctu-thang-12-chut-nho-vun-vat/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngọc Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 02 Jan 2018 13:53:26 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[ngọc tự]]></category>
		<category><![CDATA[tản văn]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=34067</guid>

					<description><![CDATA[Quãng Cuối Cuộc Đời &#8211; Tranh: Mai Tâm (tạp văn) Buổi tối ngồi lặng thinh trên ghế bành ở góc phòng khách, nghe những ca khúc Giáng Sinh tươi vui của ban nhạc Boney M, bỗng dưng tôi thấy mình buồn quá. Nhìn lốc lịch treo tường, tôi đọc mấy hàng chữ số ghi ngày [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/01/Quãng-cuối-cuộc-đời.jpg"><img decoding="async" class="aligncenter wp-image-34068" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/01/Quãng-cuối-cuộc-đời-300x203.jpg" alt="Quãng cuối cuộc đời" width="355" height="240" srcset="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/01/Quãng-cuối-cuộc-đời-300x203.jpg 300w, https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/01/Quãng-cuối-cuộc-đời-768x518.jpg 768w, https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/01/Quãng-cuối-cuộc-đời-1024x691.jpg 1024w, https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/01/Quãng-cuối-cuộc-đời.jpg 600w" sizes="(max-width: 355px) 100vw, 355px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Quãng Cuối Cuộc Đời &#8211; Tranh: Mai Tâm</strong></p>
<p><em>(tạp văn)</em></p>
<p>Buổi tối ngồi lặng thinh trên ghế bành ở góc phòng khách, nghe những ca khúc Giáng Sinh tươi vui của ban nhạc Boney M, bỗng dưng tôi thấy mình buồn quá. Nhìn lốc lịch treo tường, tôi đọc mấy hàng chữ số ghi ngày Thứ Năm 14 tháng 12 năm 2017. Một thoáng sững sờ, tôi nhớ ra đúng ngày đến Houston mười một năm về trước.</p>
<p>Không hiểu sao cho đến tận bây giờ, tôi cứ như vẫn còn mãi loay hoay về một điều gì đó thật bảng lảng, quanh việc có mặt tại đây, mà ngay từ khi chưa lên đường, tôi đã có ý nghĩ dường như sẽ không mấy thích hợp cho mình. Tôi vốn là một anh nhà quê rặt, ngại sợ lạc lõng nơi phồn hoa đô hội và rất dễ giao động khi đối diện ngoại cảnh xa lạ. Giờ đây lại đang lúc sang mùa, nao nao nhắc nhớ cho tôi những hình ảnh quen thuộc về tháng ngày bình yên của đoàn tụ sum vầy.</p>
<p>Tôi vẫn còn nguyên nỗi ngẩn ngơ thảng thốt của buổi đầu bỡ ngỡ, khi mới đặt chân tới đất khách quê người. Và mọi thứ điều chuyện của nơi chốn đã giã từ để ra đi ngày ấy, chừng như cũng luôn gần gũi cận kề thiết tha chung quanh.</p>
<p>Nguyên tuần rồi thời tiết Houston trở lạnh rét buốt, dù chỉ mới chớm đông. Vào chiều tối, thành phố vắng lặng đến ảm đạm và thật cô đơn buồn bã. Có một đêm tuyết đã rơi, phủ trắng xóa mái nhà và lớt phớt trên các lùm cây, bụi cỏ ngoài sân. Khung cảnh này càng dễ làm cho người ta cứ phải quanh quẩn với những bồi hồi quên nhớ không nguôi. Tôi cũng đang chìm đắm trong nỗi nhớ loanh quanh về những ngày lạnh giá xa xăm ngày xưa. Loáng thoáng rất nhiều nơi chỗ đã đi qua tháng năm đời mình và mờ nhạt từng mùa đông khuất hút.</p>
<p>Mông lung mơ màng, tôi mỉm cười nhớ lại buổi sáng cuối đông tuổi học trò mới lớn, có cơn bão rớt về qua thành phố,và chút ngỡ ngàng đến tội nghiệp, vì chẳng sao hiểu được ánh mắt giận hờn vu vơ của cô bạn cùng lớp lúc bấy giờ.</p>
<p>Tôi cũng nhớ về những buổi chiều cuối năm Đàlạt xa nhà, co ro chạy vội từ chỗ trọ lên phố, ghé vào cà phê Tùng tìm hơi ấm qua từng điếu thuốc, hoặc có hôm ngồi lại bên Mêkông uống ly Lipton chanh nóng.</p>
<p>Những khi trở trời cũng lành lạnh như thế này đây, nơi tháng ngày phiêu bạc cũ, bước chân tôi đã ghi dấu và giữ lại mãi hoài trong tận cùng tâm khảm, nhiều lắm những nơi chỗ, mà mỗi một là một lãng đãng khôn khuây. Nỗi nhớ cái se lạnh sớm mai nào Đà Nẵng, Nha Trang rồi Phù Cát… những ngày trong lính, vẫn thường luôn phải đi đây đó; hay chuyến công tác có buổi trưa chôn chân ở cà phê Dinh Điền ngoài phố núi Pleiku, vì cơn mưa dai dẳng bên ngoài mãi hoài không dứt. Cũng còn là những ngày mưa Huế dầm dề ướt sũng nỗi buồn tuổi trẻ, cứ mải miết đi lang thang qua các con đường, chẳng biết mình sẽ ghé lại đâu.</p>
<p>Hay những ngày lạnh giá rét cóng chẳng bao giờ quên được, nơi các trại tù đất Bắc suốt mấy năm trời đằng đẵng ấy, đã phải nhẫn nhục chịu đựng nhiều thứ, cho qua hết mọi cay đắng nhọc nhằn, mãi đến tận ngày về.</p>
<p>Tất cả đã chìm sâu vào phía sau lâu rồi, nhưng bất chợt cái khoảng cách thời gian tâm lý như xa như gần,bỗng dưng đang quay về quấn quyện, gần lại trong tôi một điều gì nhắc gọi mơ hồ bâng quơ thật chơi vơi.</p>
<p>Và thế rồi hoài niệm cho tôi được gặp những khuôn dáng ghi dấu rõ nét một đoạn đời, để bàng hoàng nhận ra thời gian qua nhanh và đã lặng lẽ bỏ lại nhiều thứ quá.</p>
<p>Mười một năm lầm lũi quê người xa thẳm, mà sao cũng thoắt vèo như thoáng chốc, và nỗi buồn thì cứ mơ hồ, chênh vênh từng tháng ngày.</p>
<p>Ánh mắt trẻ thơ của mấy đứa cháu nội ngoại ngày tôi đi vẫn hằn sâu trĩu nặng mãi những nhớ thương.Bầy cháu trẻ thơ nay đã lớn thêm và tôi thì đang già cỗi dần mòn trong sự buồn tênh quen thuộc.</p>
<p>*</p>
<p>Tôi cũng đang lặng người sống lại những ngày cuối ở Sàigòn, đầu tháng mười hai biết bao thương nhớ ấy. Sau buổi phỏng vấn ở lãnh sự quán Hoa Kỳ, thủ tục đi định cư hoàn tất nhanh chóng, nên từ lúc bắt đầu có tin tức chính thức về chuyến bay, tôi không còn nhiều thời gian cho lắm. Bên cạnh các thu xếp, chuẩn bị, tôi không quên việc chào giã từ các bạn hữu huynh đệ thân tình.</p>
<p>Trong men rượu và tiếng nói cười buồn vui buổi tiễn biệt giữa mỗi nhóm bạn khác nhau ngày đó, tôi cảm nhận được từng nỗi bùi ngùi của bạn hữu qua ánh mắt, hay những bài thơ vừa vội trao đưa; trước lúc sắp chia xa những tâm giao thương mến một thời. Giây phút giã từ chưa hết, chúng tôi đã hẹn ngày trùng phùng.</p>
<p>Cùng chung chiếu ngồi cạn chén ly bôi với nhau, bây giờ đã không còn anh Hồ Nam cùng Tô Duy Khiêm,Tôn Thất Hải, Hoàng Vũ Đông Sơn, Phổ Đức… của tháng năm dài huynh đệ, bằng hữu. Và nữa, các anh Nguyễn Văn Hảo, Võ Văn Thời, Nguyễn Văn Thuyết… những người anh em tôi một thuở buồn vui phi trường bên nhau.</p>
<p>Và cũng vẫn còn đâu đó nụ cười trẻ trung của anh Kha Thùy Châu, sự sôi nổi quen thuộc của anh Lữ Quốc Văn hay Bùi Đức Dung, Nguyễn Văn Chức, Nguyễn Văn Tòng, Nguyễn Văn Phát; bên cạnh nét trầm lặng thường thấy nơi Nguyễn Văn Thức, anh Khải Triều và anh Hồ Phong…</p>
<p>*</p>
<p>Buổi chiều muộn một ngày tháng 12 năm xưa ấy, cùng theo ra phi trường Tân Sơn Nhất tiễn tôi, vẻ mặt Tô Duy Khiêm buồn lắm. Bạn tôi nghẹn lời trong giọt nước mắt đọng nơi khóe, ngập ngừng nhắc dặn tôi sớm có một lần về thăm lại bạn hữu anh em, nếu lâu quá sợ rằng sẽ chẳng còn được nhìn thấy nhau. Điều linh cảm ấy đã đến chỉ sau ngày tôi đi vài năm. Người bạn thân yêu của hơn bốn mươi năm giao tình, từ thuở mới lớn tấp tểnh thơ văn, cùng với Phan Lạc Giang Đông, Nguyễn Mai…; đã ly trần giữa những ngày Tết Canh Dần 2010 sau cơn đột quỵ. Tôi đã thất hẹn và là thằng bạn tệ bạc mất rồi.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/01/Nhan-Gian-PTT.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-34071" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/01/Nhan-Gian-PTT-300x243.jpg?strip=all" alt="Nhan Gian PTT" width="366" height="297" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/01/Nhan-Gian-PTT-300x243.jpg?strip=all 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/01/Nhan-Gian-PTT.jpg?strip=all 451w" sizes="(max-width: 366px) 100vw, 366px" /></a></p>
<p>Tôi nhớ mãi cái xiết tay thật chặt của Phạm Thiên Thư, lúc anh đưa tặng tập thơ <em>Nhân Gian</em> vừa in xong, ở buổi chiều cà phê Hoa Vàng lần cuối, sau khi xong cuộc rượu ngoài khu Văn Thánh quay về đây. Đâu thể nào quên nụ cười tươi của anh khi nghe tôi gọi vui là <em>lão nông thi sĩ</em>, lúc nhắc lại hôm giới thiệu tập Hậu Kiều <em>Đoạn Trường Vô Thanh </em>lần tái bản, mới mấy năm trước. Chẳng còn cho tôi nữa rồi, những buổi hẹn gặp hàng tuần, chuyện trò thật vui và từng khuôn mặt bạn hữu nơi quán nhỏ Hoa Vàng thân quen này, phải vậy không ông thi sĩ quán chủ.</p>
<p>Hôm đãi riêng vợ chồng tôi bữa ăn ở quán Faifo của Huy Tưởng bên Tân Định, Lý Thụy Ý nói rồi ra không biết có ai tin cậy để giải bầy và dễ nhận được sự chia sẻ cảm thông trọn vẹn, mỗi khi gặp điều khó xử giữa những người thân tình. Tôi nhớ lại chuyện bị hiểu lầm, hơi tế nhị riêng tư, của cô bạn thi sĩ, qua trường hợp đã gặp với anh Nguyễn Thụy Long và chị Hoàng Hương Trang trước đây; mà thật ra cũng chỉ vì hoàn cảnh khó khăn của cuộc sống lúc ấy.</p>
<p>Cũng đã để lại cho tôi nhiều nỗi nhớ khó quên khác nữa, khi đến thăm chào các hiền huynh quý mến.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/01/Goi-giac.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-34069" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/01/Goi-giac-230x300.jpg?strip=all" alt="Goi giac" width="271" height="353" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/01/Goi-giac-230x300.jpg?strip=all 230w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/01/Goi-giac.jpg?strip=all 442w" sizes="(max-width: 271px) 100vw, 271px" /></a></p>
<p>Ghé nhà anh Lê Hoàng Long gần ngã tư Bẩy Hiền, anh lấy một bản sao chụp nhạc phẩm <em>Gợi giấc mơ xưa,</em> ghi mấy dòng chữ lưu niệm “…để xa xôi thỉnh thoảng gợi giấc mơ xưa”, nơi góc trang giấy món quà nhỏ tặng tôi. Ở Houston này cũng có nhiều quán cà phê bên đường, nhưng không thể nào có được không khí thân thuộc rất riêng, như cái quán nhỏ vùng Chí Hòa và ngã ba ông Tạ, mà anh em mình vẫn thường hay ngồi với nhau, thưa anh Lê Hoàng Long thân kính.</p>
<p>*</p>
<p>Tôi đã xao xuyến khi ngồi nhà sắp soạn mấy thứ món vật dụng, để như chút kỷ vật tình thân với một vài trong số những người ở lại. Đây là mấy thứ quà tặng mà tôi được các em và bạn hữu ở Hoa Kỳ gửi cho trước đây, chưa dùng đến.</p>
<p>Phần của Hoàng Vũ Đông Sơn, ngoài một bật lửa Zippo mới, có thêm cái <em>píp </em>nhỏ tôi vẫn hút và hộp thuốc 79 còn hơn nửa. Ông bạn tôi vẫn tỏ ra rất thích cái <em>píp</em> đã lên nước ấy ở cả phần cán bằng sừng lẫn nồi gỗ đen bóng.</p>
<p>Tôi cũng chọn một cái Zippo khác đựng trong hộp nhựa đen khá lạ mắt để tặng anh Nguyễn Thụy Long, cùng là dân hút thuốc loại ống khói tầu với nhau. Anh thở dài thật nhẹ, chân tình nói rằng sẽ giữ làm kỷ niệm một thời gian ngắn, rồi bán đi chứ không giữ lại để sử dụng, dù thật quý món quà.Tôi hiểu sự chân tình của anh và chia sẻ với hoàn cảnh khó khăn của gia đình anh sau này, các cháu còn đang tuổi đi học. Cũng như trước đó, tôi cảm nhận được sự phẫn nộ của anh khi nặng lời nhắc đến bài viết có nội dung xa gần gì đó của anh Hoàng Hải Thủy bên Hoa Kỳ, nhân dịp anh được tờ Khởi Hành (California) của nhà văn Viên Linh, người bạn từ thời trẻ với anh, trao tặng giải thưởng về sự nghiệp văn chương.Tôi biết hồi anh Hoàng Hải Thủy chưa xuất cảnh, anh Nguyễn Thụy Long cũng hay ghé nhà để hàn huyên tâm sự và hai anh đều là chỗ thân tình.</p>
<p>Thời gian ấy, vì điều kiện sức khỏe, anh Nguyễn Thụy Long chỉ ở nhà, không còn lui tới đây đó như trước. Những ngày tiện dịp đi qua vùng Bà Chiểu, tôi thường tạt vào nhà anh để ngồi lại chuyện trò và nghe anh khoe các bài viết mới. Bẵng lâu mới đến, anh trách và than buồn vì ít có bạn đến chơi nhà.</p>
<p>Biết việc tôi nộp hồ sơ đi định cư cho lãnh sự quán Hoa Kỳ, anh cũng rủ anh Hồ Nam cùng làm đơn. Anh Hồ Nam và tôi có nói rằng chương trình H.O. này được mở lại, cũng vẫn chỉ dành cho các cựu sĩ quan và công chức đã đi tù Cộng sản, không nhận thành phần tù chính trị, văn nghệ sĩ, anh vẫn gửi hồ sơ. Dĩ nhiên bị từ chối. Anh càu nhàu thất vọng vì không có cơ hội thoát khỏi cuộc sống vây bủa tù túng.</p>
<p>Hồi năm 2009, khi nghe tin anh từ trần, rồi đến Hoàng Vũ Đông Sơn năm 2014; tôi đã ngồi thừ ra, lặng buồn hồi lâu. Anh Nguyễn Thụy Long và Hoàng Vũ Đông Sơn qua đời khác năm nhưng cùng trong tháng 9, sau những ngày dài đau bệnh.</p>
<p>Trung tuần tháng 12 này đây, tôi nhớ có ngày giỗ Phổ Đức, một người bạn thân tình dễ mến khác; và cũng là thời gian anh Hồ Nam từ trần mới hai năm trước.</p>
<p>Với anh Hồ Nam, tôi luôn quý trọng và thật ngưỡng mộ tháng ngày tuổi trẻ vẫy vùng của anh.Anh thường cười bảo chỉ nên nhớ giữa anh và tôi là vong niên giao tình, không cần một điều gì khác.</p>
<p>Buổi chiều đem tặng anh cái đèn để bàn dùng loại bóng néon nhỏ, vẫn còn đựng trong hộp, anh rất vui vì tiện dụng cho việc ngồi gõ bài vở bằng computer. May cho tôi là chị đã về dưới Mỹ Tho hồi sáng. Hai anh em hể hả ngồi nhắc lại câu chuyện mới tháng trước đó, hôm trời đã về chiều, tôi chở anh bằng xe Honda sang thăm vợ chồng Lý Thụy Ý bên Tân Thuận. Dù bị tiểu đường khá nặng, nhưng quá vui và chủ khách thù tạc tận tình, quên cả việc kiêng giữ, anh đã uống đến say mèm, chẳng còn biết gì. Lúc tối khuya ra về, chưa tới ngoài con đường lớn, anh đã không còn có thể ngồi vững nơi yên sau, tôi phải đỡ anh lên tắc xi rồi chạy hụt hơi bám theo phía sau, kịp dìu anh vào nhà khi về đến nơi. Khật khừ hai ba hôm liền anh mới tỉnh hẳn, chưa kể tưởng đã phải đưa đi cấp cứu. Lần ấy chị thật giận và trách cứ tôi nhiều lắm. Từ hôm đó, tôi đâm ra ngại ngần, ít dám ghé anh thường như  trước.</p>
<p>Anh đưa tặng báo Viễn Tượng Việt Nam số mới vừa hoàn tất và hỏi tôi có dám mang đi làm kỷ niệm.Đây là tờ báo đóng tập mà anh thực hiện từng kỳ, chỉ phổ biến hạn chế trong vòng thân hữu. Một mình anh cặm cụi đảm nhận mọi thứ việc, từ viết bài, thu thập thêm bài vở của thân hữu hoặc lấy trên mạng; rồi sắp xếp, đánh máy và in bản, đóng thành tập. Anh âm thầm thực hiện như để thỏa mãn tính cách con người phản kháng luôn thôi thúc trong anh, dù khá nguy hiểm. Tôi và bạn hữu có góp phần ủng hộ chút ít giấy mực cho công việc của anh.</p>
<p>Sau ngày tôi đi được đâu hơn năm, anh lại bị chính quyền Cộng sản bắt giữ thêm một lần nữa, tuy ngắn hạn. Tôi biết điều này qua các bạn tôi bên nhà, và những ai có giao tiếp với anh đều bị công an tra hỏi hạch sách đủ điều. Mọi chuyện tạm êm xuôi, anh dùng một địa chỉ email khác kể lại với tôi, trước khi email của tôi gặp vấn đề rồi bị hỏng luôn, không còn sử dụng được và mất hết tất cả các chi tiết liên lạc.</p>
<p>Ngày gia đình tôi lên đường, anh cũng đã email báo tin cho mấy anh em ở bên Hoa Kỳ có thân quen anh và tôi, về việc tôi sẽ đến Houston, cùng với số điện thoại để liên lạc. Vì vậy, vừa tới nơi được khoảng hai tuần, anh Đào Vũ Anh Hùng từ Dallas đã ghé xuống tìm thăm, thật cảm động quá.</p>
<p>Đang nhớ tưởng thật nhiều về anh đây, anh Hồ Nam ơi. Cũng là nén tâm hương của đứa em xa, nhân ngày giỗ anh trong tháng 12 này.</p>
<p>*</p>
<p>Một buổi sáng khác, tôi sang Bình Thạnh chào anh Lữ Quốc Văn rồi ghé đến nhà cũ của anh Văn Quang trên tầng lầu khu chung cư Nguyễn Thiện Thuật. Anh đã về lại đây chứ không ở trên Lộc Ninh nữa.Trên ấy có ngôi nhà với vườn cây ao cá, nơi anh chọn để dự định vui thú điền viên lâu dài.Anh thật vui khi tôi đến chào từ giã. Ngồi trò chuyện, anh tỏ ý tiếc vì nhiều lần tôi đã lỡ hẹn, như vậy không còn có dịp lên Lộc Ninh, ở lại chơi với anh một đêm trăng vùng quê tĩnh mịch. Anh lấy đưa cho tôi một ít <em>cạc vi dít</em>, thân mật dặn rằng sang tới Hoa Kỳ, khi nào cần thiết cứ giới thiệu tôi là em anh. Từ lâu, anh vẫn thường nói với nhiều người, tôi là anh em trong gia đình. Có thể vì tôi thân thiết với người em con ông chú ruột của anh, từ ngày bọn tôi còn học đệ Ngũ, đệ Tứ những năm 1962,1963; và ngay dạo đó tôi đã bắt đầu biết ông anh nhà văn quân đội của bạn mình.</p>
<p>Anh cũng còn nói với tôi về việc cô Hồng Vân, con gái ông Quốc Phong, mà anh thân tình, đang sinh sống tại Houston và có căn nhà lầu rất rộng, tầng trệt luôn bỏ trống không ai ở, sẵn sàng cho chỗ thân quen trú ngụ; thêm nữa cô này cho biết cũng thường hay đi vắng luôn, nên chẳng có gì bất tiện hay phải ngại ngùng. Bởi thế sang tới nơi, nếu buổi đầu khó khăn trong việc đi tìm nhà, anh sẽ hẹn cho tôi gặp để giới thiệu. Cô Hồng Vân về Việt Nam chơi và vẫn còn ở Sàigòn.</p>
<p>Cả hai điều anh Văn Quang nói, tôi không cần đến, nhưng thật cảm kích và nhớ mãi sự thương mến của anh.</p>
<p>Trước khi về, anh rủ tôi xuống quán vỉa hè dưới khu tầng trệt, đãi tô hủ tíu mì và uống ly cà phê xóm nhỏ.</p>
<p>Sang bên này, tôi vẫn đọc bài anh viết được đăng tải trên mạng hay báo in. Gần đây, sức khỏe không còn cho phép, anh đã chào từ giã bạn đọc, chính thức gác bút sau mấy mươi năm chữ nghĩa.Chắc hẳn anh cũng buồn chứ, nhưng đâu thể nào tránh được việc đến lúc phải dừng lại công việc mình yêu thích, dù đã gắn bó gần như suốt cả cuộc đời.</p>
<p>Tôi ngẩn người trong nỗi u hoài man mác vì thời gian qua nhanh và xa hút đến vậy, từ hình ảnh anh Văn Quang nơi thời khoảng cũ. Tất cả như mới vừa đây, mà đã là bây giờ vào lúc nào không hay.</p>
<p>*</p>
<p>Cũng thế, tôi nhớ đến anh Thế Phong khi hồi tưởng về những đoạn đời mình, trải dài theo tháng năm xưa, như một dấu mốc nữa trên nẻo đường thời gian, khi tôi đang nhớ về Sàigòn sau mười một năm xa cách.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/01/Ha-noi-40.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-34070" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/01/Ha-noi-40-300x215.jpg?strip=all" alt="Ha noi 40" width="400" height="287" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/01/Ha-noi-40-300x215.jpg?strip=all 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/01/Ha-noi-40.jpg?strip=all 466w" sizes="(max-width: 400px) 100vw, 400px" /></a></p>
<p>Khoảng một tuần trước ngày lên đường, tôi đến nhà chào anh. Nhân có Hoàng Vũ Đông Sơn bạn tôi cùng đi và rủ mời, chúng tôi tới quán cà phê quen bên ngã tư Phú Nhuận, ngồi uống cà phê và chuyện trò. Rất thân tình, anh ký tặng tập thơ <em>Nếu anh có em là vợ</em> và bút ký<em> Hà Nội 40 năm xa, </em>vừa tái bản thêm lần nữa. Đây là hai trong số những tác phẩm của anh. Anh ghi mấy dòng chữ nhắc lại một thời Không Quân ở Tân Sơn Nhất, cùng lời chúc đi xa may mắn.</p>
<p>Tôi biết anh Thế Phong và tủ sách <em>Đại Nam Văn Hiến </em>từ những năm 1966, 1967 qua các anh Cao Thế Dung, Khải Triều, Chu Vương Miện.Và rồi sau dạo ấy, nơi nhiều hoàn cảnh khác nhau, đã có những lúc tôi được gặp lại anh như bất ngờ trong ngày tháng của cuộc sống.</p>
<p>Cuối năm 1969, tôi về phục vụ cùng phòng với anh tại văn phòng Chiến Tranh Chính Trị Bộ Tư lệnh Không Quân Tân Sơn Nhất. Anh đã được đồng hóa gia nhập Không Quân mấy năm trước và tôi thì bên trường Bộ Binh Thủ Đức chuyển sang sau khi mãn khóa. Tôi gặp anh hầu như thường ngày, mãi cho đến thời điểm 30 tháng 4 năm 1975 của những tan tác.</p>
<p>Vào một buổi sáng sau Tết Nguyên đán năm 1981 chừng hai ba tháng, tôi đang đạp xe dọc theo đường Phan Đình Phùng cũ, vừa ngang qua chỗ sân vận động thì hình như nghe mơ hồ có tiếng ai gọi tên mình từ đằng xa phía sau. Vừa mới trở về từ trại tù cải tạo ngoài Bắc, hãy còn lơ mơ chưa hoàn toàn định thần, tôi không ngừng xe lại chờ vì không chắc cho lắm. Anh Thế Phong chạy chiếc mobylette lên sát ngang tôi, cất tiếng gọi lần nữa, giọng mừng rỡ thật vui. Tôi cùng anh tạt vào quán cóc bên đường ngồi uống cà phê, chuyện trò thăm hỏi qua lại.</p>
<p>Thời gian ấy anh đang làm lơ xe buýt và rồi tôi cũng vất vả ngược xuôi sinh kế, thành thử sau lần đó, ít có dịp gặp nhau thêm.</p>
<p>Mãi khi ra tù lần nữa trở về hồi giữa 1988, cho đến hôm chào từ giã anh; tôi mới cónhiều cơ hội gặp lại anh, ở các buổi tụ họp nơi này chỗ nọ trong vòng thân hữu quen biết, như tại nhà anh Lữ Quốc Văn bên Bình Thạnh.</p>
<p>Cuộc sống đất khách quê người cô đơn mệt mỏi của gã ngụ cư già nua, che khuất mọi thứ trong tôi suốt thời gian dài thinh lặng, không duy trì liên lạc với bạn hữu đây đó, để rồi tưởng chừng hết thẩy chìm dần vào lãng quên.</p>
<p>Khi biết được trang mạng VIRGIL GHEORGHIU của anh Thế Phong trên internet, tôi đã theo dõi và đọc rất đều. Điều này gợi lại cho tôi bao chuyện quên nhớ một thời. Tôi như được trở về từng tháng năm ngày cũ, vì thỉnh thoảng qua các bài viết, anh nhắc đến những khuôn mặt bạn hữu huynh đệ của tôi. Bên cạnh đó là nhiều tác giả quen thuộc của sinh hoạt văn chương chữ nghĩa qua các giai đoạn, đưa người đọc như tôi, cũng được quay về sống với khung cảnh của riêng mình nơi không gian và thời gian ấy.</p>
<p>Đôi lần, anh cũng giới thiệu lại một vài sáng tác xoàng xĩnh nào đó của tôi đã đăng tải trên trang mạng bạn hữu, chỗ tìm vui đôi chút chữ nghĩa vặt vãnh, mà tôi tham dự cũng không đều đặn gì. Cũng là thêm niềm vui cho anh chàng thơ văn lẻ hạng bét. Xin cám ơn những thiện cảm thân tình mà anh đã luôn nhớ đến và dành cho, thưa anh Thế Phong.</p>
<p>Nhìn dấu vết thời gian hằn sâu trên khuôn mặt anh ở những hình chụp mới gần đây, tôi thật xúc động. Tôi thẫn thờ liên tưởng đến tháng năm đời mình. Lại thêm một lần thấy tuổi già đến nhanh, ngang qua biết bao dấu mốc nhớ quên, bỏ lùi về nơi xa khuất thăm thẳm sau lưng, từng bóng dáng xưa cũ chơi vơi chập chùng.</p>
<p>Tôi biết đâu thể nào níu giữ mãi những điều gì đã xa mà như vẫn gần, trong mênh mông cuộc đời. Sự có mặt rồi giã từ nơi chỗ này để đến một nơi chỗ khác, cũng chỉ là những khoảnh khắc tiếp nối nhau, trước lần dừng lại hẳn ở đâu đó.</p>
<p>Và còn quên nhớ được những gì vụn vặt như hôm nay, rồi phải tới lúc vơi bớt dần đi, và cuối cùng sẽ mất hút tất cả vào hư không. Thì thôi, thế là xong và cũng đành như vậy.</p>
<p><strong>ngọctự.</strong></p>
<p>Houston, tháng 12/2017</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2018</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ngoctu-thang-12-chut-nho-vun-vat/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>ngọctự: Có một người vừa khuất bóng</title>
		<link>https://t-van.net/ngoctu-co-mot-nguoi-vua-khuat-bong/</link>
					<comments>https://t-van.net/ngoctu-co-mot-nguoi-vua-khuat-bong/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngọc Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 15 Nov 2017 16:11:53 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[ngọc tự]]></category>
		<category><![CDATA[tưởng niệm]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=33423</guid>

					<description><![CDATA[GS Cao Thế Dung (1933-2017)  (tưởng nhớ anh Cao Thế Dung) Anh Cao Thế Dung từ trần ngày 31.10.2017, nhưng mãi mấy ngày sau tôi mới được biết tin, do anh Bùi Đức Uyên, một người anh em huynh đệ cũ cùng trong nhóm Tạp chí Quần Chúng ngày xưa, hiện đang ở bên Cali [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/11/GS-Cao-The-Dung-300x265.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-33424" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/11/GS-Cao-The-Dung-300x265-300x265.jpg?strip=all" alt="GS-Cao-The-Dung-300x265" width="300" height="265" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>GS Cao Thế Dung </strong><strong>(1933-2017)</strong></p>
<p> <em>(tưởng nhớ anh Cao Thế Dung)</em></p>
<p>Anh Cao Thế Dung từ trần ngày 31.10.2017, nhưng mãi mấy ngày sau tôi mới được biết tin, do anh Bùi Đức Uyên, một người anh em huynh đệ cũ cùng trong nhóm Tạp chí Quần Chúng ngày xưa, hiện đang ở bên Cali chuyển tiếp đến cho. Gia đình tang quyến đã đăng cáo phó và báo chí mạng cũng có những Phân ưu, nhưng vì ít theo dõi thường xuyên các trang mạng đó nên tôi không biết sớm hơn về sự ra đi của anh.</p>
<p>Có lẽ anh Cao Thế Dung là một tên tuổi không mấy xa lạ với cộng đồng người Việt tại hải ngoại, cách riêng tại Hoa Kỳ, đặc biệt vào thời điểm nhiều vấn đề liên quan đến những sinh hoạt của tổ chức quen gọi là Mặt trận Hoàng Cơ Minh,bùng nổ dữ dội và sôi nổi một thời, mà anh có mặt nơi vài diễn biến quan trọng. Thêm vào đó là những bài nhận định và bình luận thời sự của anh trên báo chí, những buổi anh thuyết trình ở nhiều nơi về thời sự chính trị; cùng những bộ sách Biên khảo đủ loại đầy giá trị mà anh là tác giả, xuất hiện trên văn đàn và được người đọc đón nhận</p>
<p>Riêng tôi, cũng có ít nhiều gần gũi thân tình với anh, cũng như một vài anh khác trước đây tại Sài gòn, khi may mắn được ở trong nhóm tạp chí Văn học Thời đàm Quần Chúng (1967-1971) mà anh là chủ biên; rồi cả thời gian dài lâu sau đó nữa, lúc báo đã đình bản.</p>
<p>Trong tôi bỗng dưng bùi ngùi xao xuyến quá khi khoảng thời gian tháng năm ấy bất chợt ùa về cùng bao buồn vui quên nhớ. Và hình ảnh anh Cao Thế Dung lẫn vào những kỷ niệm ngày nào, cứ chập chờn ẩn hiện vây quanh từng nơi chỗ, từng thời điểm…</p>
<p>*</p>
<p>Vào giữa năm 1966, khi tôi bắt đầu ghi danh học năm thứ Nhất trường Luật Khoa Sàigòn, thì cũng đã có thời gian tấp tểnh đôi chút chuyện thơ văn báo chí. Và rồi đến cuối năm ấy sang đầu năm 1967, qua trung gian giới thiệu của một ông anh trong Không Quân ở Căn cứ Tân Sơn Nhất; sau thời gian chuẩn bị, sắp xếp,một đám tuổi trẻ chúng tôi được giao phụ trách Bán nguyệt san Quần Chúng, tờ báo ra đời do sự bảo trợ của Trung tá Lưu Kim Cương, một ông quan lính tầu bay đầy chất nghệ sĩ, vô cùng yêu thích văn chương nghệ thuật, khi đó đương nhiệm Tư lệnh Không Đoàn 33. Mọi thứ đều sẵn sàng ngay thời gian đầu, từ việc đã có giấy phép xuất bản (đứng tên Chủ nhiệm là bà Nguyễn Thị Bảo Kim, người trong gia đình ông) để được Bộ Thông Tin cấp “bông”giấy, cùng việc có được những quảng cáo dài hạn của các cơ sở thương mại lớn trong phi trường Tân Sơn Nhất, đủ trang trải các chi phí điều hành.</p>
<p>Nhưng rồi chỉ được đâu vài ba tháng, do thiếu kinh nghiệm báo chí và còn non nớt quá nên thành phần đa dạng, đầy phức tạp lúc đầu của bọn tôi đã phải giải tán, nhường chỗ cho Ban Biên tập mới gọn nhẹ hơn, do anh Cao Thế Dung được mời làm chủ bút. Anh Khải Triều (hiện ở Sàigòn), Chu Vương Miện (hiện nay,Cali) và tôi trong nhóm cũ tiếp tục còn ở lại.Có thêm hai anh Đỗ Đức Thịnh (nay cũng ở Cali), Bùi Đức Uyên bên Đại học Văn Khoa cùng tham dự vào ban biên tập mới này.</p>
<p>Khi có sự hiện diện của anh Cao Thế Dung, với tiêu đề Văn học Thời đàm, tờ báo được cải tổ toàn diện từ hình thức đến nội dung.Ngay mấy số đầu tiên của bộ mới, Quần Chúng đã trở nên khởi sắc và được độc giả khắp nơi chú ý đón đọc nhiều hơn.Và rồi uy tín của báo ngày càng tăng, có một vị trí vững vàng trên văn đàn và báo giới. Nhờ thế, dù rằng Cố Chuẩn tướng Lưu Kim Cương đã hy sinh đền nợ nước vào thời điểm chiến trận tháng 5/1968, tờ báo vẫn vững mạnh,tiếp tục được duy trì mãi cho đến khoảng giữa năm 1971 mới phải đình bản, do tình hình khó khăn chung của làng báo khi đó.</p>
<p>Trong các số báo buổi đầu lần lượt được ấn hành, bên cạnh những bài tiểu luận trình bầy về các vấn đề thời sự chính tình khi ấy của anh và các tác giả thân hữu, như Trương Tử Phòng (bút danh của Giáo sư Phạm Kim Vinh, đồng nghiệp của anh ở Lasan Taberd), Lữ Tuấn (Nguyễn Công Luận)…; nơi nội dung Văn học, loạt bài nhận định về các Tác giả &amp; Tác phẩm đương thời do anh phụ trách, được bắt đầu với Văn của Nguyễn Thị Hoàng, rồi Thơ của Thanh Tâm Tuyền, là những tác giả tiêu biểu được yêu mến khi đó, đã có một sức hút đáng kể trong bạn đọc. Đây cũng là tiền đề để anh biên soạn bộ sách Văn học hiện đại mà quyển đầu về Thi ca và Thi nhân, được hoàn tất và xuất bản mấy năm sau.</p>
<p>Các vấn đề thời sự chung quanh chính tình, kinh tế và văn hóa xã hội, cuộc chiến tranh Việt Nam, rồi sự có mặt để trực tiếp tham chiến của lực lượng quân sự Hoa Kỳ tại Miền Nam, tạo ra những hệ lụy như thế nào… là những chủ điểm được trình bầy, trao đổi, đàm luận thường xuyên; xuất hiện đều đặn trong nội dung nhiều số báo qua năm tháng. Tờ Quần Chúng đã bị Bộ Thông Tin đặc biệt để ý và được xếp vào thành phần có tư tưởng “ngụy hòa, phản chiến”. Cơ quan Thông tin Văn hóa Hoa Kỳ JUSPAO cũngchú ý tìm hiểu về đường lối và chủ trương của báo.</p>
<p>*</p>
<p>Tôi không thể nào quên được ngày đầu tiên tìm đến nhà để gặp anh. Khi ấy, anh chị còn ở trên căn gác nhỏ khu xóm Bàn cờ. Buổi chiều mùa hạ Sài gòn oi nồng.Anh vui vẻ đón tôi ngay chân cầu thang, nụ cười rạng rỡ thật tươi và ánh mắt thì vô cùng ấn tượng, đã òa vỡ trong tôi một cảm xúc khó lòng mà diễn tả. Nụ cười và ánh mắt rất riêng lạ này đã theo tôi suốt buổi chiều chuyện trò với anh hôm đó cho đến tận hôm nay đây, khi tôi đang nghĩ nhớ lại về anh.</p>
<p>Ở bất cứ nơi chỗ nào và với bất cứ ai, hình như tôi cũng đều luôn thấy anh có nụ cười và ánh mắt như thế.</p>
<p>Anh tuy thấp người nhỏ nhắn, hơi gầy nhưng khuôn mặt to rộng, kiểu vuông chữ điền thật sáng, vành tai hai bên dài đều, vầng trán cao thông minh và đôi mắt anh khi nhìn người đối diện, như thể có một nhãn lực xoáy hút vô cùng mãnh liệt. Tướng cách gọi đây là “nhãn minh thủ khoái” của những con người có kiến thức thông thạo và sức làm việc thì thật bền bỉ.Cuộc đời anh với những thành công qua các lãnh vực đã chứng tỏ điều này.</p>
<p>Tôi đã cảm động biết mấy khi anh xuống bếp lấy thêm một cái ly, rồi tự tay sẻ đều ly cà phê đá còn đầy nguyên để hai anh em cùng uống. Chừng như đây là cách thức thân tình dễ thu phục người bậc dưới của các huynh trưởng.Tôi thấy thật thích giang sơn làm việc của anh,dù chỉ bao gọn nơi phần ban công phía trước sàn gác thấp lè tè, gần sát với mái tôn bên trên, chung quanh chất đầy các loại sách báo gọn gàng ngăn nắp, cái bàn viết nằm cạnh góc vách có để đống tập vở, hình như anh đang dở dang việc chấm bài cho học trò.</p>
<p>Thời gian này, công việc chính của anh là dậy học ở trường Taberd Sàigòn và tham gia tờ nội san của hệ thống Lasan Taberd.Vài sinh hoạt văn chương chữ nghĩa vẫn còn trầm lặng chứ chưa nổi trội như về sau trong lãnh vực báo chí. Mà chuyện văn chương chữ nghĩa của anh khởi đầu bằng tập thơ “Khúc ca nhược tiểu” dưới bút hiệu Cao Đan Hồ, do Đại Nam Văn Hiến của anh Thế Phong giới thiệu khoảng năm 1963 thì phải.</p>
<p>Thế rồi dần dà tôi có được thân tình với anh và có lẽ anh cũng dành cho đứa em nhỏ tuổi nhất trong nhóm mấy anh em những yêu mến đặc biệt.</p>
<p>Tôi học được ở anh sự chững chạc, khoan thai mà ung dung, luôn chỉnh tề tươm tất trong trang phục và chú ý chăm chút con người mình. Thỉnh thoảng có dịp đến anh để cùng đi công việc, tôi thường chứng kiến anh đứng đối diện gương soi rất lâu, vuốt cẩn thận từng lớp “bi ăng tin” lên mái tóc dầy, trước khi cầm lược chải gọn gàng xong xuôi vừa ý rồi mới thay quần áo, mà bao giờ cũng phẳng phiu nếp ủi.Gần anh, tôi được trang bị nhiều tự tin, dạn dĩ hơn khi gặp gỡ, giao tiếp với mọi người. Kinh nghiệm và vốn sống của tôi được tích lũy nhiều lên qua thời gian làm việc chung với anh trong những công việc của tờ báo.</p>
<p>Trải dài từ ngày tòa soạn còn đặt ở nhà in Hồng Lam của linh mục Cao Văn Luận trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, gần ngã tư Phan Đình Phùng chỗ đài phát thanh Sài gòn mà nằm chéo bên kia đường có căn nhà cũng là cái quán số 44, nơi ra vào gặp gỡ của nhiều thành phần văn nghệ sĩ mỗi ngày. Đôi lần trong tuần, tôi theo anh ghé vào đây.</p>
<p>Văn phòng nhà in Hồng Lam có quản đốc là anh Trần Tuấn Nhậm, một con người như thể kẻ sĩ bất phùng thời, luôn có bạn hữu nhiều giới ghé đến chuyện trò.Lại có thêm chị Phương Khanh, một nhà văn nữ làm quản lý. Đây cũng là chỗ các ông nhà báo, các ông viết văn làm thơ thường hay lui tới luôn.</p>
<p>Nhờ mấy nơi này, tôi biết thêm ít nhiều về sinh hoạt và những khuôn mặt trong thế giới văn chương chữ nghĩa cũng như nghệ thuật.</p>
<p>Rồi sau chiến cuộc Tết Mậu Thân 1968, khu vực chung quanh đài phát thanh bị phong tỏa lâu dài, mỗi lần ra vào thật khó khăn, anh Cao Thế Dung chuyển tòa soạn Quần Chúng về nhà in Xây Dựng của linh mục Nguyễn Quang Lãm, nằm trên đường Thánh Mẫu khu ngã ba ông Tạ. Chỗ này gần sát ngay bên cà phê Thăng Long, địa điểm quen thuộc của đủ loại người trong thành phố. Tôi cũng thường ghé đến đây nên được dịp biết thêm đôi chút nữa về sinh hoạt văn nghệ, báo chí và xã hội lúc bấy giờ.</p>
<p>Linh mục Nguyễn Quang Lãm cũng là chủ nhiệm tờ nhật báo cùng tên và nhà in Xây Dựng là nơi đã in ấn quyển “Làm thế nào để giết một Tổng Thống”của anh và mấy quyển sách của nhà xuất bản Quần Chúng.</p>
<p>Phải nhận rằng anh là người có thực tài dù bằng cấp không cao.Với các loại tài liệu nào thu thập được, anh nhận định rồi tổng hợp, phân tích đánh giá mọi vấn đề rất nhanh và khi trình bầy, dàn trải ra bài viết thật mạch lạc, dễ hiểu đầy thuyết phục. Ngoài khả năng nổi bật ấy, sức làm việc của anh cũng thật đáng nể. Anh không sử dụng máy đánh chữ để viết bài, mà những trang bản thảo đều được anh viết tay trên giấy vở học trò, bao giờ cũng rất rõ ràng nắn nót, thường dầy hàng vài chục trang vì nét chữ rất to.Quả là kỳ công, nhưng lại rất dễ dàng cho anh em thợ sắp chữ dưới nhà in.</p>
<p>Khởi đi từ tờ Quần Chúng, bằng nội lực và khả năng phong phú, đa dạng của một con người từng trải, anh bước mạnh mẽ dần vào làng báo Sàigòn, rồi nhanh chóng có một chỗ đứng vững chắc. Tôi nhớ hai tờ nhật báo lớn mà anh cộng tác chính thức; thường xuyên tham gia nhiều bài viết là Chính Luận của bác sĩ Đặng Văn Sung và Hòa Bình của linh mục Trần Du.</p>
<p>Bút lực chắc tay sung mãn của anh, một ngòi bút chân chính, luôn thể hiện tinh thần trách nhiệm, sự trung thực; lại tràn đầy nhiệt huyết lý tưởng quốc gia dân tộc, đã được nhiều người ghi nhận. Tôi đoan chắc từ đó mà anh, chứ không phải một người nào khác trong số những người viết văn viết báo cùng thời, đã được bác sĩ Trần Kim Tuyến hoàn toàn tin cậy giao phó những tài liệu quý hiếm và còn có thêm nhiều ý kiến trao đổi, các sự yểm trợ nhiệt tình khác nữa, để anh hoàn tất bộ sách “Làm thế nào để giết một Tổng Thống” năm 1969, gây tiếng vang, làm chấn động dư luận ngày ấy và cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị lịch sử.</p>
<p>Dù đã thành công và thành danh ở làng báo, không bao giờ anh bỏ quên anh em chúng tôi trong sinh hoạt chung nơi tờ báo nhà, cũng như trong mọi chuyện tình nghĩa huynh đệ, kể cả thời gian về sau này, khi báo đã đình bản rồi.</p>
<p>Anh luôn tìm phương cách để không ngừng phát triển uy tín của tờ Quần Chúng, cũng như thúc đẩy, khuyến khích anh em trong nhóm tăng tiến hơn lên.Anh luôn có mặt bên chúng tôi với nhiều kỷ niệm đáng nhớ.</p>
<p>Thời gian ấy, chỉ mình anh đã lập gia đình và đã có con cái, còn mấy anh em chúng tôi đều độc thân như nhau. Anh nói khi nào chúng tôi lập gia đình, anh sẽ đặt may tặng chú rể bộ veste mặc trong đám cưới để kỷ niệm. Tuy vậy phải chọn tìm được người vợ đừng có máu Hoạn Thư quá đáng.Tôi cứ nhớ mãi câu chuyện vui anh kể về sự ghen tương rất nổi tiếng của bà vợ một ông ký giả ở toàn soạn báo Hòa Bình.</p>
<p>Chỉ riêng Chu Vương Miện lấy vợ sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, khi anh em đã tan tác mỗi người mỗi ngả, còn chúng tôi từ anh quản lý Đỗ Đức Thịnh, thư ký tòa soạn Bùi Đức Uyên, anh Khải Triều rồi đến tôi, đã lần lượt lấy vợ với món quà tặng ấy của anh trong ngày cưới. Anh Khải Triều trở thành cột chèo với anh Nguyễn Tấn Khang, người bạn mới của anh (một ông Nghị viên Hội đồng Đô thành Sàigòn, trong gia đình BS Nguyễn Đan Quế, BS Nguyễn Quốc Quân)) cũng do anh mai mối và giúp đỡ rất nhiều trong việc cưới xin.</p>
<p>Phần tôi, một ngày đầu tháng 12 năm 1972 là ngày đám hỏi, trời bỗng dưng trở mưa gió bất thường từ sáng sớm. Dù rất bận rộn công việc nhưng anh đã đến để cùng bố mẹ tôi vàgia đình họ hàng nhà trai đi sang nhà gái. Quả là một bất ngờ và thật xúc động cho tôi biết mấy, vì từ ngày báo đình bản, anh em ít còn gặp nhau nhiều, và khi đưa thiệp mời, tôi vẫn nghĩ anh sẽ chỉ có thể dự tiệc ngày đám cưới mà thôi. Tôi nhớ trước khi về, anh còn ghé tai tôi nói nhỏ, hôm nào xong việc thì ghé đến ông quản lý Đỗ Văn Nguyện báo Chính Luận để lấy tí tiền còm anh tặng mừng trước, anh sẽ dặn ông ấy việc này.</p>
<p>Cùng với hoạt động của báo, theo dự tính và đề xướng của anh, chúng tôi cũng bắt đầu bước vào lãnh vực xuất bản sách. Ngoài hai tập thơ của tôi và tập tiểu luận “Bản Tự Thú” của anh Khải Triều viết chung với Trình Phổ (bút danh của Bùi Đức Uyên) chỉ phổ biến ở mức độ khiêm tốn trong vòng thân hữu, quyển “Văn học hiện đại_Thi ca và Thi nhân” của anh năm 1969 hay quyển “50 năm Triết lý và Khoa học Liên Xô” của giáo sư Lê Thành Trị thuộc Đại học Văn Khoa Sài gòn năm 1968 (do họa sĩ Cao Bá Minh trình bầy bìa), đã tạo tiếng vang tốt khi phát hành rộng rãi ngoài thị trường sách báo.</p>
<p>Sau lần định đưa nhóm anh em chúng tôi cùng về làm bên nhật báo Chính Luận (để phụ trách phần trang trong) không thành; năm 1971, anh giới thiệu anh Khải Triều, người anh em thân thiết thuở hàn vi của anh, về chung sức với ký giả lão thành Nhị Lang, đảm trách Thư ký tòa soạn tuần báo “Diễn đàn Chính đảng” của ông Trương Vĩnh Lễ, một nhân sĩ tiếng tăm, vốn đang có sẵn Sàigòn Ấn quán trên đường Nguyễn Đình Chiểu, Tân Định. Cùng với các anh em khác trong nhóm, tôi cũng có tham gia bài vở văn nghệ trong tờ báo này.</p>
<p>Hồi ấy, tôi còn nhớ thường ra cứ hàng tháng, anh Cao Thế Dung đưa tất cả anh em chúng tôi đi ăn ở một tiệm ăn nào đó. Có khi chỉ là bữa tiết canh vịt nơi quán hẻm nổi tiếng ở khu Hồng Thập Tự, hay buổi thịt chó trên sàn gác quán “Sống trên đời” đường Trần Quốc Toản phía bên kia Viện Hóa Đạo, hoặc thực đơn Tây, Tầu ở một nhà hàng nhỏ vùng ngã Bẩy.</p>
<p>Từ sau ngày anh nhận chức phụ tá Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục cho Sư huynh Mai Tâm và được cấp căn nhà rất rộng rãi trong khuôn viên của Viện ở khu Hùng Vương-Nguyễn Tri Phương, đã có được một xe hơi làm phương tiện di chuyển cho gia đình; ngày mùng bốn Tết mỗi năm, chúng tôi cùng đến nhà anh theo ước hẹn để được anh tự tay xuống bếp nấu nướng các món ăn, thết đãi bữa cơm họp mặt huynh đệ đầu năm. Cũng là chúc mừng cho anh chị đã qua những ngày khó khăn vất vả.</p>
<p>Mọi điều tốt đẹp của tình huynh đệ giữa anh em chúng tôi vẫn còn tiếp tục ngay cả sau khi tờ Quần Chúng đã đình bản năm1971.</p>
<p>Cùng thời gian ấy, dù anh Khải Triều đã đồng hóa vào phục vụ ngành Chiến Tranh Chính Trị tại Bộ Tư lệnh Không Quân Tân Sơn Nhất từ đầu năm 1967 (qua anh Trần Quốc Minh, bạn của anh), ngoài tờ Quần Chúng, vẫn còn tham gia điều hành “Nguyệt san Giáo dục “của hệ thống Lasan Taberd nên cũng được cấp căn phỏng nhỏ hơn, sát bên cạnh gia đình anh Cao Thế Dung. Nhờ thế mà sau này tôi thường tiện dịp ghé qua thăm anh luôn mỗi khi đến anh Khải Triều. Chẳng là sau khi động viên nhập ngũ vào Thủ Đức năm 1969, lúc mãn khóa, tôi được về cùng đơn vị với anh Khải Triều. Tôi nhớ, anh Cao Thế Dung cười rất vui và nói rằng chắc có lẽ ông Lưu Kim Cương đã run rủi để anh em chúng tôi về cùng một chỗ trong phi trường.</p>
<p>Những năm tháng tiếp theo, khi đã tỏa sáng, anh phát triển thêm rất nhiều những mối giao tiếp rộng rãi với đủ mọi giai tầng, thành phần trong xã hội. Ngoài văn giới và báo giới, anh còn có được cảm tình của nhiều sĩ quan cao cấp trong quân đội, các vị Dân biểu, Thượng nghị sĩ, các nhân sĩ chính khách…Nơi phòng khách nhà anh, tôi thấy bầy nhiều tặng vật kỷ niệm, đặc biệt là hai bình hoa bằng đồng sáng bóng, chế tác từ vỏ đạn đại bác 105 ly rất đẹp, với hàng chữ khắc tặng của một đại đơn vị quân đội thuộc Quân đoàn III.</p>
<p>Anh được ông Lê Phước Sang mời về làm Phó khoa trưởng Phân khoa Nông Nghiệp thuộc Viện Đại học Hòa Hảo dưới An Giang trong bối cảnh như thế. Và tại môi trườnggiáo dục mới này, anh đã nhanh chóng hoàn thành việc biên soạn “Lịch sử Văn minh Nông thôn”, đề tài rất đặc biệt và mới lạ, dùng trong giảng dậy và học tập cho sinh viên phân khoa của anh.</p>
<p>Dù sinh hoạt trong làng báo và cũng rất chuẩn mực, thêm dáng vẻ một nhà giáo, trông anh lúc nào cũng như đầy vẻ nghiêm nghị.Tuy thế anh Cao Thế Dunglà người xuề xòa dễ tính và độ lượng.Tôi chưa thấy anh tỏ ra trách giận ai một điều gì, dù điều đó có thể như là vô tình xúc phạm đến anh.Một lần tôi đưa Phan Lạc Giang Đông, người bạn thân cùng đơn vị (mất ngày 9.11.2001 ở Seattle) đến thăm anh. Do hào hứng trong câu chuyện và để bầy tỏ sự ngưỡng mộ, Phan Lạc Giang Đông đã liên tưởng anh với nhân vật Nguyễn Hữu Chỉnh. Tôi giật mình vì nhìn thấy anh hơi sững người một chút, nhưng rồi lại mỉm cười ngay. Ông bạn tôi vội luống cuống nói lại rằng chỉ muốn nhắc đến khía cạnh văn tài nổi bật của một Nguyễn Hửu Chỉnh nhân sĩ thời loạn, chứ không phải hình ảnh, thái độ ông quan Nguyễn Hữu Chỉnh đa mưu thời Tây Sơn- Hậu Lê. Anh xua tan sự ngượng nghịu cho Phan Lạc Giang Đông khi chuyểnsang kể câu chuyện ít người biết, liên quan đến người anh Phan Lạc Tuyên (từ trần tại Sàigòn ngày 10.11.2011) của Phan Lạc Giang Đông, nơi thời gian còn đang theo đơn vị hành quân ngoài miền Trung dạo 1955-1956, có bài thơ Tình Quê Hương, được nhạc sĩ Đan Thọ phổ nhạc rất nổi tiếng. Bất ngờ vừa nghe được tin người bạn văn chương là nữ sĩ Linh Bảo (chị của nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh) đang có mặt ở Sàigòn, chàng sĩ quan trẻ Phan Lạc Tuyên đã cùng với tài xế vội vã phóng xe Jepp vượt bao dặm trường đường xa, để chỉ vừa kịp tới phi trường tiễn bạn lên máy bay trở lại Hồng Kông là quay ngay về đơn vị. Anh tỏ ý vô cùng tiếc cho một con người lãng mạn đến thế, mà lại vướng vào sai lầm sau vụ binh biến 11.11.1960. Trong quyển “Văn học hiện đại_Thi ca và Thi nhân” anh đều dành cho thi sĩ Phan Lạc Tuyên và Phan Lạc Giang Đông những trang chữ thật đẹp.</p>
<p>Trong văn giới ai cũng biết anh Thế Phong là một nhà văn “cao bồi”, có tiếng “ngang tàng”.Rất nhiều người được anh nhắc tới qua các dòng chữ hay trang viết bằng thứ ngôn ngữ dễ “gây khó chịu”. Nhưng riêng với anh Cao Thế Dung, bao giờ anh Thế Phong cũng dành sự tương kính quý mến đầy thân tình trong những câu chữ, đoạn văn nói về giai đoạn quen biết, ân nghĩa giữa hai anh, lúc còn long đong cơ cực ở Sàigòn thuở nào. Đây là một trong những ngoại lệ hiếm hoi đối với anh Thế Phong mà tôi biết.</p>
<p>Trước ngày miền Nam thân yêu bị đổ vỡ tang thương đau xót, có một chi tiết để ghi thêm khúc quanh nữa trong sinh hoạt sôi nổi của anh, nhưng chưa được bao lâu, là việc anh bắt đầu có dính dáng tí chút đến chốn quan trường, khi đảm nhận chức vụ đầu não trong một tổ chức đoàn thể thuộc Bộ Canh Nông.</p>
<p>*</p>
<p>Phải mất nhiều năm dài sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, khi về lại Sàigòn từ những trại tù Cộng sản ngoài miền Bắc, tôi mới biết anh Cao Thế Dung và cả gia đình đã đi thoát trong những ngày dầu sôi lửa bỏng ấy và định cư yên ổn tại Hoa Kỳ. Ở Sàigòn, thỉnh thoảng tôi và anh Khải Triều gặp nhau, khi nhắc về chuyện cũ cùng những khuôn mặt thân quen với dăm ba tin tức nào đó vừa  mới nhận được, thường có những tin tức về anh Cao Thế Dung nơi xứ người.</p>
<p>Từ đấy, tôi biết anh Cao Thế Dung thường xuyên có những hoạt động hăng say sôi nổi không ngừng nghỉ đầy tâm huyết trong lãnh vực báo chí và đoàn thể, tổ chức đấu tranh chính trị tại hải ngoại.Tôi cũng hơi thảng thốt qua lần nghe tin anh bị mưu sát, nhưng may mắn không đến nỗi nào. Anh cũng là một trong những nhà biên khảo, nhà báo uy tín có tiếng tăm được yêu mến.</p>
<p>Cái lý tưởng và hoài bão của một con người Việt Nam Quốc Dân đảng trung kiên, tất cả cho đất nước và quốc gia dân tộc, được ôm ấp ngay từ thuở thanh niên mới lớn nơi những năm tháng ở Nam Định quê nhà trước ngày di cư 1954, như vẫn còn nguyên khí thế hừng hực,luôn nung nấu và cháy bỏng khát vọng trong con người anh đâu có bao giờ ngừng.</p>
<p>*</p>
<p>Tôi sang Hoa Kỳ vào những ngày cuối năm 2006; và ngay sau thời gian tạm ổn định cuộc sống, tôi cũng đã có ý tìm cách để có thể liên lạc với anh, nhưng rồi không hiểu sao cứ chần chừ lần lữa mãi. Từ Houston, tôi đã chuyện trò qua điện thoại, trao đổi email được với nhiều huynh đệ, bạn hữu cũ, kể cả mấy anh em trong nhóm Quần Chúng. Riêng với anh thì chưa một lần, dù vào khoảng đâu trong năm 2008 thì phải, qua thân hữu đây đó, tôi có biết về tin cháu Trang, con gái anh bị tử nạn trong một lần đi chơi biển. Lẽ ra tôi phải chia buồn với anh lúc đó mới đúng phép.</p>
<p>Tôi biết tờ báo Thế Giới Mới mà anh cộng tác thường xuyên từ rất lâu với bút danh Hà Nhân Văn ký dưới bài bình luận, và thỉnh thoảng vẫn đọc bài các bài anh viết được đăng tải lại đây đó, dẫu không được đều đặn cho lắm.Tôi cũng biết tin tức về sức khỏe của anh mấy tháng nay không còn tốt lắm và anh đã phải ngưng việc viết lách.</p>
<p>Rất thật lòng, trong tâm trạng có chút mệt mỏi vì những bầm dập khổ hạnh đã qua, phần khác sự chấp nhận sang Mỹ đối với tôi cũng là điều vạn bất đắc dĩ chẳng đặng đừng,cho nên hình như lúc nào tôi vẫn cứ luôn muốn thu nhỏ con người mình lại trong cái vỏ ốc cô đơn. Từ đó, tôi cho rằng bao năm tháng dâu bể dằng dặc như thế, với vô vàn những gặp gỡ, thân tình mới nơi những khung cảnh sinh hoạt mới ở đây, sôi nổi cuốn hút và tràn ngập trong đủ thứ công việc, hẳn rằng anh cũng đã quên lãng và cất hết các thứ ngày xưa cũ đi rồi, đáng kể gì cái thời đoạn tạp chí Quần Chúng ngắn ngủi có tôi bên cạnh anh. Điều ấy nếu đúng thì cũng là điều tất nhiên dễ hiểu thôi.</p>
<p>Nhưng đây là một sai lầm tệ bạc quá.Lúc biết tin anh mất, rồi qua chi tiết tìm đọc trên Cáo phó, tôi đã liên lạc được với tang quyến và chuyện trò cùng cháu Hương, cô con gái lớn của anh. Trong câu chuyện, cháu Hương bùi ngùi nói với tôi rằng, thỉnh thoảng anh Cao Thế Dungvẫn luôn nhắc kể cho các con cháu trong nhà về tháng năm anh làm báo ở Sàigòn, mà tờ Quần Chúng là một trong những kỷ niệm đẹp đẽ anh hằng luôn nhớ đến.</p>
<p>Thưa anh Cao Thế Dung quý mến, đứa em ngày xưa xin được tạ lỗi với anh, vì đã có những ý nghĩ thiển cận không đúng về anh như thế và đã không một lần có lời thưa chào thăm anh, từ ngày đặt chân đến đất ngụ cư này.</p>
<p>Tôi nhớ ngay đến nụ cười đôn hậu của anh và thấy lòng mình nhẹ nhàng thanh thản.</p>
<p>Có ai mà không phải đi đến cái chặng cuối cùng của cuộc sống.Ngày hôm nay tang sự của anh đã xong xuôi.Thế là thân xác anh đành đoạn gửi nhờ nơi đất khách quê người chứ không phải trong lòng đất quê hương Việt Nam. Người ta thường nói cái quan định luận. Cuộc đời anh, cũng chưa phải là có những điều gì to tát cho lắm, nhưng chắc chắn rằng với tất cả những gì anh đã thực hiện, anh đã đi trọn vẹn đến cuối cuộc đời của một kẻ sĩ đúng nghĩa.</p>
<p>Mấy ngày qua, biết bao nhiêu những vô vàn thương nhớ, yêu kính và quý mến được chân thành bầy tỏ, hướng vọng trao gửi đến anh, từ trong gia đình thân thuộc, con cháu; rồi bằng hữu huynh đệ, những người cùng chung chí hướng với anh, ở khắp nơi. Và chắc hẳn không thiếu những ngậm ngùi thầm lặng từ những độc giả thân quý của anh.</p>
<p>Có những bầy tỏ thống thiết vì thâm tình đồng nghiệp và chiến hữu với anh lúc sau này tại Hoa Kỳ. Có tâm cảm thành ý của người học trò cũ nhắc nhớ đến kỷ niệm với thầy Cao Thế Dung ở Ban Mê Thuột năm 1964. Và hẳn nhiên đâu thể nào thiếu những nặng lòng bồi hồi nhớ tưởng nhiều hơn nữa của các anh Nguyễn Công Luận, Trần Quốc Minh, hiền hữu chí thân cùng tâm hướng với anh từ thuở đi học xa xưa nơi quê nhà Nam Định, vẫn còn hiện diện tới hôm nay của các anh Khải Triều, hay Thế Phongvà những ngày tháng vất vả mưu sinh cơm áo nơi gác trọ trong xóm nhỏ lao động bờ tường ga xe lửa cuối đường Nguyễn Thông Saigòn buổi nào (sẽ phảng phất bóng dáng đã khuất của anh Đỗ Tất Phú). Thêm vào đấy, nhỏ nhoi thôi nhưng chan chứa tâm thành tưởng nhớ của những huynh đệ của anh: Khải Triều, Chu Vương Miện, Đỗ Đức Thịnh, Bùi Đức Uyên, Trần Nguyên Sơn, Trần Ngọc Tự và một thời Tạp chí Quần Chúng, Sàigòn 1967-1971.</p>
<p>Nơi chốn nghỉ yên nghỉ an bình ấy, anh được gặp lại những bằng hữu thân quen một thời đã ra đi trước anh, cũng như thật nhiều những con người khác nữa. Và hẳn rồi anh sẽ vẫn còn phải tiếp tục công việc trao đổi luận bàn về nhiều thứ vấn đề.Ai cũng biết anh đã nói về việc người ta làm thế nào để giết một Tổng Thống. Và mọi người cũng muốn nghe anh trình bầy, tố cáo và lên án cái thế lực nào, những con người nào đã giết chết và đang tiếp tục giết cả một đất nước, một dân tộc Việt Nam;mà chừng như anh chưa kịp nói hết, còn đang dở dang nửa chừng nơi cõi nhân gian dương thế.</p>
<p><strong>ngọctự.</strong></p>
<p><strong>(Houston 11.11.2017)</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2017</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Phụ Lục:</strong></p>
<p id="dltp_name"><strong>GS Cao Thế Dung Từ Trần Tại Maryland, Thọ 85 Tuổi</strong></p>
<p>(Nguồn: Việt Báo)</p>
<p>SILVER SPRING, Maryland (VB) &#8212; Giáo sư Cao Thế Dung &#8212; cũng là nhà biên khảo với các bút hiệu Cao Vị Hoàng, Cao Đan Hồ, Hà Nhân Văn &#8212; đã từ trần hôm 31 tháng  10 năm 2017 tại Silver Spring, Maryland, USA.</p>
<p>Ông nổi tiếng từ trước năm 1975 trong ngành giáo dục.</p>
<p>Theo Cáo Phó, GS Cao Thế Dung sinh ngày 28 tháng 11 năm 1933 tại huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Như thế, ông hưởng thọ 85 tuổi.</p>
<p>Cao Thế Dung là giáo chức lâu năm của hệ thống giáo dục Lasan Taberd Sài Gòn, từng giữ chức Phụ Tá Viện Trưởng Viện Khoa Học Giáo Dục Sài Gòn, nguyên Phó Khoa Trường Đại Học Bách Khoa Nông Nghiệp Viện Đại Học HH tại Sài Gòn.</p>
<p>Năm 1973, Giáo Sư Dung làm Tổng Quản Trị Hiệp Hội Nông Dân Trung Ương thuộc Bộ Canh Nông, một tổ hợp nông doanh lớn của Việt Nam Cộng Hòa.</p>
<p>Theo tiểu sử Giáo sư phổ biến nhiều năm trước, vào lúc ấn hành một số sách, GS Cao Thế Dung di tản qua Mỹ năm 1975.</p>
<p>Ông từng đuợc Cơ Quan Văn Hóa The Ford Foundation cấp cho học bổng toàn thì (Research Fellownship) để nghiên cứu thị trường lúa gạo (1975-1977), đồng thời trở lại trường theo học tại Đại Học Georgetown, Columbia. Sau khi tốt nghiệp văn bằng Tiến Sĩ (Ph.D), Giáo Sư Dung trở thành chuyên gia phân tích thị trường, chuyên biệt về phó sản và gạo lúa&#8230;</p>
<p>Về văn nghệ và báo chí: 1959 Giáo Sư Dung cùng với Nhà Văn Thế Phong thành lập nhóm Đại Nam Văn Hiến. Từ 1966, ông trở thành một trong mấy cây viết trụ cột của nhật báo Chính Luận. Cùng với Nhà Thơ Nguyên Sa, phụ trách mục ‘’Một Bông Hồng Cho Văn Nghệ’’ trên báo Sống của Nhà Văn Chu Tử. Chủ bút tạp chí tranh đấu Quần Chúng (SG 1968-1970), Thư Ký tòa soạn tạp chí Giáo Dục (Viện Khoa Học Giáo Dục Sài Gòn 1970-1972), Chủ Nhiệm, Chủ Bút tạp chí Hành Trình (Hoa Kỳ 1978-1979)</p>
<p>GS Cao Thế Dung có nhiều tác phẩm ấn hành trước và sau 1975.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ngoctu-co-mot-nguoi-vua-khuat-bong/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngọc Tự:  Khải Triều, người lữ khách thầm lặng đi cùng “Mệnh nước nổi trôi”.</title>
		<link>https://t-van.net/ngoc-tu-khai-trieu-nguoi-lu-khach-tham-lang-di-cung-menh-nuoc-noi-troi/</link>
					<comments>https://t-van.net/ngoc-tu-khai-trieu-nguoi-lu-khach-tham-lang-di-cung-menh-nuoc-noi-troi/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngọc Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 24 Aug 2017 13:44:03 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[khải triều]]></category>
		<category><![CDATA[mệnh nước nổi trôi]]></category>
		<category><![CDATA[ngọc tự]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=32541</guid>

					<description><![CDATA[Vào năm tháng này, Khải Triều đã bước qua độ tuổi 80. Ngay từ thuở thiếu thời, giữa cơn ly loạn rồi đất nước chia cắt, và trong hoàn cảnh gia đình tan tác, con người trẻ tuổi trong ông đã phải lìa xa những người thân yêu, giã từ cố hương để bắt đầu [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/08/Bia-truoc-2.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-32544" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/08/Bia-truoc-2-216x300.jpg?strip=all" alt="Bia truoc 2" width="216" height="300" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/08/Bia-truoc-2-216x300.jpg?strip=all 216w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/08/Bia-truoc-2.jpg?strip=all 576w" sizes="(max-width: 216px) 100vw, 216px" /></a></p>
<p>Vào năm tháng này, Khải Triều đã bước qua độ tuổi 80. Ngay từ thuở thiếu thời, giữa cơn ly loạn rồi đất nước chia cắt, và trong hoàn cảnh gia đình tan tác, con người trẻ tuổi trong ông đã phải lìa xa những người thân yêu, giã từ cố hương để bắt đầu cuộc ra đi về phía trước. Và người tuổi trẻ ấy đã có ngay những ghi nhớ, cảm nhận riêng cho mình, cùng với những suy tư tự vấn về hoàn cảnh lúc đó. Thế rồi xuôi theo dòng thời gian ngang qua tuổi thanh niên nghiệt ngã đầy khắc khổ trong xoay vần đổi thay của xã hội, của quê hương; tiếp theo cho đến tháng năm hoàng hôn cuộc đời mình, ông vẫn mãi luôn mang lấy nhiều nỗi suy tư dằn vặt về thân phận đất nước, con người trước vô vàn thử thách mọi bề thường trực bao quanh.</p>
<p>Khải Triều đã trải qua rất nhiều thứ công việc, sinh hoạt trong đời sống; từ dậy học rồi văn thơ, báo chí, hay một thời đoạn tham dự vào hoạt động chính trị. Những điều ấy, mà gặp lúc ông đã có thời gian dài gắn bó nơi từng môi trường, khung cảnh khác nhau, đã đem đến cho ông những trải nghiệm và cảm nhận về mọi vấn đề cũng như sự việc. Để rồi, những điều đó được ông đưa vào các trang viết về mỗi đoạn đời mình nơi này chỗ nọ.</p>
<p>Có thể kể một vài thể loại tác phẩm điển hình, ghi dấu những chặng đường đời của ông:</p>
<p>_ Người Ôm Mặt Khóc (thơ) do Đại Nam Văn Hiến của nhà văn Thế Phong xuất bản, 1963.</p>
<p>_ Tiếng Hát Khuẩn Trùng (thơ) cũng do Đại Nam Văn Hiến xuất bản, 1964.</p>
<p>_ Bản Tự Thú (tiểu luận) viết chung với Bùi Phổ (Bùi Đức Uyên), do Từ Thức in ấn và phổ biến</p>
<p>trong thân hữu, 1971.</p>
<p>_ Công giáo miền Nam Việt Nam sau 30-4-1975 (khảo luận, ký tên Nguyễn An Tôn) do Cơ sở</p>
<p>Dân Chúa xuất bản tại Hoa Kỳ năm 1988.</p>
<p>_ Mệnh Nước Nổi Trôi (tuyển tập văn) ấn bản điện tử do trang T. Vấn &amp; Bạn hữu thực hiện,</p>
<p>2016.</p>
<p>Riêng Mệnh Nước Nổi Trôi, là một tuyển tập những bài Tâm bút, Tùy bút và Bút ký, ghi lại những điều chuyện từ sâu thẳm đáy lòng tác giả đối với gia tộc, làng quê của mình, chất ngất và trĩu nặng tình hoài hương. Có những day dứt và trằn trọc về thân phận con người, đất nước giữa tình trạng luôn giao động qua những ngả nghiêng chao đảo. Chấm phá và đan xen là những kỷ niệm quên nhớ khôn nguôi nơi các mối kết giao trong đời sống hay với bạn hữu tình thâm. Mỗi một điều chuyện như từng vòng khoen riêng lẻ, nhưng xâu chuỗi nối kết lại với nhau, cho thấy được hành trình nơi cuộc sống của một con người luôn thao thức trong bối cảnh suốt khoảng chiều dài thời gian, giữa những biến chuyển, biến động chung quanh mình, như một thôi thúc tự nhiên.</p>
<p>Tập sách có những trang viết trải bầy tâm tư nặng lòng với biết bao suy tưởng dằn vặt, nhưng đầy tin yêu đằm thắm về nhiều vấn đề trong nội tâm cho đến những gì tác giả phải đối mặt hay đã bắt gặp và lên tiếng.Nhưng đáng chú ý nhất có lẽ ở phần tác giả nói về trường hợp đã đưa đẩy ông dấn thân và tham dự như thế nào trong thời khoảng chính tình đất nước trải qua các biến cố cực kỳ rối loạn những năm 1964-1965, với một vài nhân vật liên quan nổi bật, mà cho đến nay dường như vẫn còn là ẩn số. Bên cạnh đó là những khó khăn thử thách của bản thân ông giữa cơn nổi trôi của mệnh nước qua từng cảnh ngộ gặp phải, cách riêng nơi giai đoạn sau ngày 30 tháng Tư năm 1975.</p>
<p>Đi suốt chiều dài thời gian cuộc đời giữa những biến động khó khăn cùng biến chuyển của xã hội, của chính mình trong thực trạng đất nước nhiều bấp bênh ấy, luôn nổi bật chỗ dựa tinh thần vững chắc và sự hướng dẫn chỉ đường cho tác giả, chính là thâm tín một đức tin tôn giáo thuần khiết thật vững mạnh hướng lên Đức Giêsu Kitô, niềm phó thác, nguồn cậy trông cho ông.</p>
<p>Như thể đi theo Ngài, ông đã nhận lấy Thập giá phần mình và thầm lặng bước đi trong cuộc lữ hành trần gian như vậy đó. Theo dấu chân tác giả, người đọc tưởng chừng luôn nhìn thấy bóng dáng một quê hương Việt Nam khổ hạnh phủ lên những phận người.</p>
<p><strong>Tháng 8/2017</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2017</p>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ngoc-tu-khai-trieu-nguoi-lu-khach-tham-lang-di-cung-menh-nuoc-noi-troi/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngọc Tự: Chút suy nghĩ nhân ngày Quốc hận 20 tháng  7</title>
		<link>https://t-van.net/ngoc-tu-chut-suy-nghi-nhan-ngay-quoc-han-20-thang-7/</link>
					<comments>https://t-van.net/ngoc-tu-chut-suy-nghi-nhan-ngay-quoc-han-20-thang-7/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngọc Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 27 Jul 2017 01:59:09 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[ghi chép]]></category>
		<category><![CDATA[ngọc tự]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=32275</guid>

					<description><![CDATA[GỌI TÊN CUỘC CHIẾN TRANH TẠI VIỆT NAM 1954-1975 Về cuộc chiến tranh tại Việt Nam 1954-1975, đã có nhiều cách gọi tên của nhiều tác giả khác nhau như : . cuộc nội chiến Quốc Cộng. . cuộc chiến giữa hai miền Nam-Bắc. . cuộc chiến huynh đệ tương tàn. . cuộc chiến tranh [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/07/Ban-do-lich-su-viet-nam-nam-19541.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-32276" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/07/Ban-do-lich-su-viet-nam-nam-19541-183x300.jpg?strip=all" alt="Ban-do-lich-su-viet-nam-nam-19541" width="183" height="300" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/07/Ban-do-lich-su-viet-nam-nam-19541-183x300.jpg?strip=all 183w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/07/Ban-do-lich-su-viet-nam-nam-19541.jpg?strip=all 489w" sizes="(max-width: 183px) 100vw, 183px" /></a></p>
<p><strong>GỌI TÊN CUỘC CHIẾN TRANH TẠI VIỆT NAM 1954-1975</strong></p>
<p>Về cuộc chiến tranh tại Việt Nam 1954-1975, đã có nhiều cách gọi tên của nhiều tác giả khác nhau như :</p>
<p>. cuộc nội chiến Quốc Cộng.</p>
<p>. cuộc chiến giữa hai miền Nam-Bắc.</p>
<p>. cuộc chiến huynh đệ tương tàn.</p>
<p>. cuộc chiến tranh ý thức hệ.</p>
<p>Những cách gọi như thế không nêu rõ được bản chất, thực chất của cuộc chiến. Ngay từ thời đệ Nhất Cộng Hòa cho đến nền đệ Nhị Cộng Hòa, cách gọi duy nhất để nói lên lập trường chính nghĩa của quốc gia Việt Nam Cộng Hòa, đó là : cuộc chiến tự vệ chống lại sự xâm lăng của Cộng sản.</p>
<p>Trở lại với Hiệp định Genève 1954 (chính phủ quốc gia Việt Nam khi đó Thủ tướng là Ô. Ngô Đình Diệm vừa về chấp chánh và ngoại trưởng Trần Văn Đỗ, thay ngoại trưởng Nguyễn Quốc Định trong chính phủ Bửu Lộc, làm Trưởng đoàn tại Hội nghị, đã từ chối không ký vào Hiệp định này), cho dù trong nội dung có một điều khoản nói rằng Vĩ tuyến 17 chỉ là lằn ranh quân sự tạm thời chia đôi hai miền Nam Bắc, chờ ngày Tổng tuyển cử Hiệp thương thống nhất đất nước, nhưng trong thực tế đã hình thành hai quốc gia riêng biệt thực sự: Việt Nam Cộng Hòa và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa</p>
<p>Quốc tế Công pháp định nghĩa là một Quốc gia khi hội đủ 3 yếu tố: Lãnh thổ-Dân tộc- Chính quyền.</p>
<p>Như vậy, đã có một quốc gia Việt Nam Cộng Hòa, lãnh thổ từ vĩ tuyến 17 đến mũi Cà Mau, thủ đô là Sàigòn, có dân số hơn muời triệu người và có một bộ máy chính quyền điều hành mọi công việc của đất nước. Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa đã được nhiều quốc gia trên thế giới công nhận, tham gia nhiều Hiệp ước, Tổ chức quốc tế…</p>
<p>Tương tự như thế, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa có lãnh thổ từ Ải nam Quan đến Vĩ tuyến 17, thủ đô là Hànội, dân số cũng hơn mười triệu người (thống kê dân số Việt nam năm 1954 có vào khoảng 23,4 triệu người, ở cả hai miền), cũng có bộ máy chính quyền và cũng được những quốc gia trong khối Cộng sản cùng nhiều quốc gia khác thừa nhận, đồng thời tham gia các tổ chức, ký kết các hiệp ước với tư cách một quốc gia.</p>
<p>Không thể vì không có Tổng tuyển cử để Hiệp thương thống nhất đất nước mà Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa được quyền đem quân tấn công Việt nam Cộng Hòa nhằm mục đích thực hiện điều đó. Khi tiến hành cuộc chiến như vậy rõ ràng là sự xâm lược trắng trợn.</p>
<p>Đây cũng là lập luận như Luật sư Nghiêm Xuân Hồng có trình bầy trong tác phẩm “Việt Nam nơi chiến trường trắc nghiệmvũ khí và chiến lược, chiến thuật” xuất bản tại Sàigòn năm 1966.</p>
<p>Về phía Cộng sản,với lực lượng tại các địa phương không tập kết ra Bắc, còn ở lại trong Nam sau Hiệp định Genève 1954, và được che đậy dưới chiêu bài tiến hành cuộc chiến do người dân miền Nam tự đứng dậy, để lừa bịp dư luận quốc tế. Nhưng rồi từ các tổ chức trá hình tiếp theo là Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam năm 1960 cho đến Cộng Hòa miền Nam Việt Nam năm 1969, bộ mặt thật trong mưu đồ xăm lăng của Cộng sản Bắc Việt đã bị phơi bầy qua các chứng cớ rất hiển nhiên nơi từng thời gian như đã biết.</p>
<p>Ngay từ đầu, chính quyền Hà nội đã rêu rao rằng tiến hành” cuộc chiến tranh chống Mỹ-Diệm để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”. Nhưng nên nhớ, mãi đến cuối năm 1964 quân đội Hoa Kỳ mới chính thức tham chiến tại Việt Nam (trước đó chỉ nặng về viện trợ dân sự và cố vấn). Và rồi sau đó, không phải chỉ riêng Hoa Kỳ, mà còn có sự hiện diện của nhiều quốc gia khác nữa trong Khối Tự do như Đại Hàn Dân quốc, Thái Lan, Phi Luật Tân, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan…như là lực lượng Quốc tế Quân viện, giúp Việt Nam Cộng Hòa chống lại sự xăm lăng của Cộng sản.</p>
<p>Ngay từ thời đệ Nhất Cộng Hòa, Việt Nam Cộng Hòa đã được coi như là tiền đồn của Thế giới tự do tại Đông Nam Á, để ngăn chặn sự xâm lăng của hiểm họa Cộng sản.</p>
<p>Người Cựu Binh</p>
<p>Houston 20.7.2017</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>(c)T.Vấn 2017</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ngoc-tu-chut-suy-nghi-nhan-ngay-quoc-han-20-thang-7/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>ngọctự:  một sớm mai nào khác</title>
		<link>https://t-van.net/ngoctu-mot-som-mai-nao-khac/</link>
					<comments>https://t-van.net/ngoctu-mot-som-mai-nao-khac/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngọc Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 14 Apr 2017 12:38:37 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[ngọc tự]]></category>
		<category><![CDATA[truyện]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=31178</guid>

					<description><![CDATA[Tranh ( Trần Thanh Châu)                                    &#160; (truyện ngắn) Bất chợt ngửng nhìn ra khoảng không mịt mùng nơi dòng sông trước mặt, tôi mới biết trời đã tối đi từ lúc nào rồi. Đêm tối ở ngoài đó [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/04/hen-the-3.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-31188" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/04/hen-the-3-300x162.jpg?strip=all" alt="hen the (3)" width="406" height="219" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/04/hen-the-3-300x162.jpg?strip=all 300w, https://cdn.t-van.net/2017/04/hen-the-3-768x415.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/04/hen-the-3.jpg?strip=all 600w" sizes="(max-width: 406px) 100vw, 406px" /></a></strong></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Tranh ( Trần Thanh Châu)                                   </strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>(truyện ngắn)</p>
<p>Bất chợt ngửng nhìn ra khoảng không mịt mùng nơi dòng sông trước mặt, tôi mới biết trời đã tối đi từ lúc nào rồi. Đêm tối ở ngoài đó vắng lặng quá. Mấy chiếc thuyền câu hồi chiều cắm sào gần mé bờ bên kia khi tôi mới tới đây, bây giờ chỉ còn thấy thấp thoáng vài ánh đèn hiu hắt cô liêu. Có tiếng lạch phạch của động cơ, rồi bóng một chuyến ghe chở hàng lầm lũi chạy qua, thoáng hiện đốm sáng mờ ảo của ngọn đèn nhỏ treo lơ lửng đâu đó nơi bờ mui. Tôi nhìn theo cái đốm sáng leo lét đang di động ấy cứ nhỏ dần, cho đến khi mất hút hẳn trong bóng đêm.</p>
<p>Bữa ăn coi như đã xong và hóa đơn cũng thanh toán rồi, nhưng mấy đứa cháu chưa chịu về, vẫn còn mải mê nấn ná đâu đó trong dẫy phòng Karaoke phía góc cuối nhà hàng gần kia. Cũng chẳng có gì gấp gáp và tối mai vào giờ này, tôi đã lên máy bay về lại Hoa Kỳ. Đây là lần đầu tiên và chắc cũng là lần cuối cùng tôi trở lại Sàigòn, nơi chỗ đã từ bỏ để vượt biển ra đi hồi cuối 1979, sau lúc rời khỏi trại tù được ít lâu.Tôi nhẩm tính dễ chừng cũng gần hai mươi năm rồi thì phải. Hình như tôi chẳng còn gì buồn vui và vướng víu ở đây.</p>
<p>Mấy năm trước mẹ tôi mất đột ngột quá nên tôi không thể về kịp chịu tang. Nhân lần giỗ mãn tang này, tôi lấy <em>vacation </em>về Việt Nam để ra ngoài mộ thắp nhang và tạ lỗi bất hiếu với bà. Cũng là dịp thăm gia đình người chị còn ở lại, mà tôi đã chịu nhiều ân nợ trước đây.</p>
<p>Tôi châm điếu thuốc rồi lơ đãng đưa mắt nhìn khung cảnh chung quanh. Một vài nhóm thực khách đang ngồi ăn uống trong ồn ào vui nhộn. Bàn bên cạnh chắc cũng có người từ phương xa về được mời đi ăn như tôi. Tôi nghe họ nói loáng thoáng đến chuyện này chuyện kia ở ngoại quốc và so sánh bàn luận gì đó về các món ăn. Chỉ được mỗi một điều, nhà hàng nằm ngay cạnh bờ sông nên thoáng mát và khung cảnh yên tĩnh, chứ thật tình tôi không để ý gì mấy đến thực đơn cùng việc ăn uống. Tôi có mặt ở đây cũng vì chiều lòng vợ chồng cô cháu lớn, đã muốn dành phần đãi ông cậu bữa ăn chia tay tại nhà hàng đặc sản tôm cua, với lời giới thiệu rất nổi tiếng, mãi dưới Biên Hòa này.</p>
<p>Tôi không xa lạ với Biên Hòa, vì ngày trước có nhiều bạn bè là dân địa phương cố cư và tôi đã nhiều lần ghé xuống chơi vào những ngày cuối tuần. Lúc chiều, khi xe từ ngoài xa lộ vừa quẹo vào con đường chính của thành phố, tôi chỉ hơi ngờ ngợ và thấy thật dửng dưng, chẳng một xúc cảm nào.</p>
<p>Còn đang suy nghĩ vẩn vơ, lũ cháu đã ồn ào kéo nhau ùa lại vây quanh, nhắc tôi chuẩn bị về. Khi tôi vừa đẩy lùi ghế ra sau và xoay người đứng lên, một nhân viên nhà hàng bước đến bên cạnh, đưa mảnh giấy nhỏ gấp kín nói có người nhờ trao. Hơi ngạc nhiên, tôi đón lấy và mở ngay để liếc đọc thật nhanh.</p>
<p><em>Chút nữa em chờ anh</em></p>
<p><em> ngoài sân để xe. </em></p>
<p><em>       Đ.L.</em></p>
<p>Nét chữ dù viết ngoáy vội cùng cái tên ghi tắt ở dưới nhưng rất quen thuộc, khiến tôi giật mình thảng thốt vì đã biết là ai. Thoáng chút ngỡ ngàng và nỗi vui rộn ràng trong lòng chợt đến, tôi đảo mắt nhìn quanh khắp mọi nơi chỗ, nhưng không thể nhìn thấy người mình muốn tìm.</p>
<p>Đi theo mấy đứa cháu ra xe, tôi bồn chồn đứng ở cửa đợi cho tất cả lên đủ hết, rồi mới nói rằng có việc bất ngờ nên sẽ về vào sáng mai; xong bước xuống đưa tay kéo cửa xe đóng lại. Cô cháu lớn nhìn theo tôi cười cười đầy vẻ ranh mãnh.</p>
<p>Chiếc xe Toyota mười hai chỗ chưa ra khỏi cổng, đã nghe có tiếng khẽ gọi tên tôi vồn vã từ đằng sau:</p>
<p>_ Anh Tú!</p>
<p>Tôi quay người lại và bắt gặp một khuôn mặt vô cùng rạng rỡ, đôi mắt long lanh cùng nụ cười thật tươi, xuất hiện giữa quầng sáng của bóng đèn sân hắt xuống từ trên cành cây cao.</p>
<p>_ Đông Lan! ở đâu ra thế này vậy?</p>
<p>Dang rộng hai tay, tôi nói như reo lên trong niềm vui bất chợt, vì không thể nào ngờ lại gặp được người mà tôi đã nghĩ nhớ đến nhưng trong vô vọng, ngay hôm vừa về tới Sàigòn hồi đầu tuần trước.</p>
<p>Sững sờ nhìn nhau thoáng chốc, Đông Lan bước ập đến run run nắm chặt lấy tay tôi, rồi luống cuống vừa kéo đi vừa nói với vẻ bối rối:</p>
<p>_ Đi lối này anh, đi theo em.</p>
<p>Chợt nhìn thấy cái bảng mica nhỏ có khắc tên nhà hàng và chữ Quản lý đeo nơi miệng túi áo veste Đông Lan đang mặc, tôi bỗng hiểu được đôi chút nên hơi lúng túng:</p>
<p>_ Nhưng rồi còn…</p>
<p>Hiểu khác ý tôi, Đông Lan cười cắt ngang:</p>
<p>_ Em biết! tối mai anh mới ra phi trường phải không? Em đã hỏi cô cháu của</p>
<p>anh mọi chuyện rồi. Chẳng bắt cóc anh luôn đâu mà, đừng lo. Đi về chỗ em</p>
<p>ở gần đây thôi, gặp được anh… em mừng quá.</p>
<p>Tôi mỉm cười, thế rồi cứ để im cho Đông Lan tíu tít cầm tay dẫn đi qua khỏi mấy chiếc xe hơi và dẫy xe hai bánh dựng choán gần kín hết mé ngoài, đến cạnh một chiếc xe gắn máy dựng sát bờ tường mãi bên trong. Cúi người mở xong khóa cổ, Đông Lan đưa chìa khóa xe cho tôi và hỏi vui:</p>
<p>_ Anh còn nhớ cách đi Honda không nào?</p>
<p>Tôi vỗ nhẹ vào má Đông Lan rồi dẫn xe ra và ngồi lên yên, bắt đầu nổ máy. Ngồi ở đằng sau, Đông Lan thân mật nép sát người vào lưng tôi rất tự nhiên khi tôi vừa  sang số chạy đi.</p>
<p>Tôi giữ tốc độ chạy thật chậm giữa con phố đêm vắng vẻ dài hun hút. Bỗng nhiên tôi định nói rằng, lúc này nếu có ai nhìn thấy, chắc sẽ tưởng như thể tôi và Đông Lan là đôi tình nhân đang ngập tràn trong hạnh phúc, nhưng rồi chỉ khẽ cười bâng quơ một mình. Đông Lan có vẻ ngạc nhiên:</p>
<p>_ Gì thế anh?</p>
<p>_ Không…Không … đâu có gì, anh cười vậy thôi.</p>
<p>_ Em bắt đền anh đấy.</p>
<p>_ Sao vậy?</p>
<p>_ Anh biết không, hồi chiều đang ngồi sau quầy thu ngân, bất chợt vừa nhìn</p>
<p>thấy anh bước vào là em run rẩy đứng bật dậy, chết điếng cả người, thiếu điều</p>
<p>tim muốn nhẩy ra ngoài luôn vậy đó.</p>
<p>Tôi hỏi ngay:</p>
<p>_ Nhưng rồi tim Đông Lan có nhẩy ra ngoài không và đã nhẩy vô lại chưa ?</p>
<p>Có tiếng Đông Lan cười khúc khích.</p>
<p>_ Rồi anh, nhưng… vẫn còn đang đập loạn xạ đây này anh thấy không.</p>
<p>Tôi cũng cười theo rồi nói:</p>
<p>_ Vậy Đông Lan muốn đền gì nào.</p>
<p>Đông Lan dụi đầu thật mạnh vào lưng tôi và thì thào:</p>
<p>_ Ô mai mơ cam thảo và kẹo <em>nougat </em>&#8230;và đậu xanh bánh lọt nước dừa.</p>
<p>_ Tham lam quá, nhưng thôi được. Xong ngay!</p>
<p>Thật vui, tôi đáp nhanh và vòng tay trái ra sau khẽ nắm lấy bàn tay Đông Lan đang để hờ ngang cạnh hông mình, bóp nhè nhẹ. Đông Lan vừa nhắc đến một kỷ niệm thời đi học. Bỗng nhiên có cơn gió thổi ngược hơi lành lạnh, lùa hất mái tóc Đông Lan bay lõa xõa, rồi mơn man vướng vào nơi gáy và một bên má của tôi hồi lâu, tạo ra cảm giác thân thuộc gần gũi quá. Tôi ngửi được hương tóc quyện lẫn với mùi nước hoa thoang thoảng và cả mùi dầu mỡ của thức ăn nữa, thật là lạ đầy thú vị. Đông Lan thinh lặng không nói thêm gì, dường như đang bị xao động thì phải. Tôi cảm nhận được bờ vai mình cũng rung nhẹ theo thân người Đông Lan sau lưng.</p>
<p>Mỗi khi gần đến giao lộ, Đông Lan ngửng đầu, nhỏ nhẹ nhắc chừng hướng dẫn đường đi cho tôi.</p>
<p>Vừa qua khỏi bùng binh trung tâm thành phố, theo cánh tay Đông Lan đưa ra phía trước chỉ đường, tôi quẹo vào con hẻm cụt và dừng lại trước cổng rào căn nhà có vuông sân nhỏ nằm ở cuối cùng.</p>
<p>Đông Lan bước xuống mở khóa cổng rồi cửa nhà, đưa tay bật công tắc điện. Một căn nhà nhỏ gọn và ấm cúng. Dựng xe nơi góc ngoài xong, tôi chú ý ngay và bị thu hút để bước nhanh đến trước bức ảnh chân dung một thiếu nữ trẻ, kích thước khá to treo trên vách tường, đối diện bộ salon, bên cạnh mấy tấm hình khác nhỏ hơn. Tôi nhìn lên khuôn mặt thanh tú, có đôi mắt phảng phất nỗi u buồn và mái tóc đen nhánh xõa vai, tự nhiên thấy một nét gì rất quen. Đông Lan lên tiếng từ sau lưng tôi:</p>
<p>_ Xuân Lan đó anh, giống mẹ quá anh nhỉ? Dạo trước cháu ở đây với em, bây giờ lấy chồng mãi trên Long Khánh rồi. Đã có con đầu lòng năm ngoái để em được lên chức bà ngoại đấy. Cứ từ từ, em biết anh đang muốn hỏi cung em ngay bây giờ chứ gì? Anh đi rửa mặt cho khỏe đã nào. Chắc còn đói bụng lắm phải không? Em thấy anh chỉ ngồi uống bia chứ đâu có ăn. Nhưng mà…bây giờ ở nhà chỉ có mì gói thôi đó, không còn cơm nguội và nước mắm nghe anh.</p>
<p>Tôi cười, quay người lại chỉ ngón tay dứ dứ vào mặt Đông Lan. Đông Lan lại vừa nhắc thêm một kỷ niệm ngày xưa nữa.</p>
<p>Tôi theo Đông Lan bước ra WC phía sau nhà rửa mặt rồi trở lên ngồi nơi bộ salon bằng gỗ quét vẹc ni mầu gụ kê sát vách. Đông Lan cúi người đặt ly nước xuống mặt bàn, ngửng lên nhìn tôi tươi cười nói trước khi quay lưng bước đi:</p>
<p>_ Cho em đi thanh toán người ngợm một chút, chứ không anh sẽ bị chết ngộp vì ô nhiễm mất thôi.</p>
<p>Ngồi lại một mình giữa căn phòng xa lạ nhưng sao tôi bỗng cảm thấy như thân quen lắm. Ngước nhìn chăm chú khuôn mặt con gái Đông Lan trên bức ảnh treo nơi vách bên kia, tôi theo ký ức mơ màng hồi tưởng quãng thời gian dài đã chìm sâu trong quá vãng.</p>
<p>*</p>
<p>Những tháng năm ấy, chúng tôi ở trong nhóm bạn thân thiết cùng chung một lớp, vừa trai vừa gái, gần mười đứa với nhau, nơi mấy năm cuối trung học. Bắt đầu biết nhau từ hồi đệ Tam và rồi tình thân ngày càng gắn bó hơn lên. Giống như phần đông lứa tuổi học trò mới lớn mơ mộng viển vông, cũng đã có sự gán ghép kết đôi, đứa này đứa kia thành từng cặp. Đông Lan và Thái là một cặp như thế. Riêng tôi thì ngoại lệ vì an phận, chỉ tham gia phất phơ và luôn giữ khoảng cách, chẳng mấy bận tâm đến các cô nàng con nhà tiểu thư, lúc nào cũng sẵn sàng đỏng đảnh điệu bộ, nằm ngoài tay với của mình. Có chăng một chút ngẩn ngơ vương vấn người có đôi mắt ướt, nụ cười tươi với cái cằm chẻ và má lúm đồng tiền xinh xinh, được xem như một trong những hoa khôi ở trường. Nhưng người này dường như đã thuộc về Thái mất rồi.</p>
<p>Ban đầu tôi chỉ quen biết Thái, khởi đi từ những lần đánh <em>bi da</em> ở quán ngay trước cổng trường, sau rồi dần dần mới gặp dịp lui tới nhóm bạn có sẵn của Thái. Đường <em>cơ </em>chơi <em>bi da </em>của anh chàng dưới tôi nhiều, nên <em>độ</em> nào đánh cũng thua. Lại nữa, thỉnh thoảng lũ con trai bọn tôi về nhà Thái tụ tập ngồi<em> xì phé</em> với nhau, thường ra bao giờ Thái và cả đám cũng hay nộp tiền cho tôi đến nhẵn túi. Rồi không biết từ lúc nào, chẳng hiểu sao tự nhiên Thái kết tình thân với tôi, dù chúng tôi có nhiều khác biệt từ tính cách đến hoàn cảnh.</p>
<p>Thái con nhà giầu gốc người Hoa, gia đình kinh doanh xuất nhập cảng nên tiền bạc  bao giờ cũng rủng rỉnh nhất trong đám và là một tay đỏm dáng, biết đua đòi ăn chơi sớm. Năm vừa xong Tú tài I lên đệ Nhất, Thái đã đi học bằng Lambretta thay cho chiếc Honda 90cc và bắt đầu lui tới vũ trường, nhà hàng; ngoài việc tuần nào cũng đi ciné khi có phim mới. Trong điều kiện như thế, Thái luôn săn đón chiều chuộng Đông Lan hết mực, đủ mọi phương diện.</p>
<p>Còn tôi, anh chàng Bắc kỳ di cư, gia đình rất thanh đạm. Cả tuổi thơ rồi lớn lên đi học, quanh quẩn ở khu xóm lao động; chỉ có tí tài vặt bập bùng chút ít ngón đàn guitar, để thỉnh thoảng nghêu ngao một hai bản nhạc tiền chiến, mỗi khi cùng bạn bè họp mặt hay tất niên ở lớp. Thêm nữa, lâu lâu được cái truyện ngắn, dăm ba bài thơ học trò đăng báo nên cũng khá tự tin dưới mắt bạn bè. Đám con gái thường hay hỏi tôi về bài luận văn hay mượn tôi truyện hoặc tiểu thuyết để đọc khi phải làm trần thuyết.</p>
<p>Có lần mấy cô nàng kéo đến nhà tôi nhờ gà một bài trần thuyết văn xuôi. Rồi trong nỗi tò mò, bị thúc dục bằng sự bạo dạn số đông, nhất định cứ nằng nặc đòi lên xem cho bằng được giang sơn của tôi trên cái gác xép thấp lè tè. Tôi để mặc các cô nàng tự do lục lọi, tìm tòi và nhìn ngó. Cũng chẳng có gì đáng để ý, một vài bức tranh hội họa khổ nhỏ được chụp lại đã cắt ra từ tạp chí dán trên vách ván, tủ sách đặt trong góc, cây đàn guitar cũ kỹ nằm trên mặt chiếu bên cạnh mấy tờ tập san văn học vương vãi ngoài sàn. Tôi cũng không kịp dấu đi những trang bản thảo viết dở dang còn để trên bàn học của một ông học trò tập tễnh làm thơ viết văn.</p>
<p>Sau lần ấy, Đông Lan hay nhắc tới và nói rất thích cái xó xỉnh ấm cúng của tôi hơn căn phòng đầy đủ tiện nghi của mình ở nhà. Tôi biết đấy chỉ là chút lãng mạn vặt tuổi mới lớn mà thôi.</p>
<p>Tôi ít tham dự những cuộc vui ồn ào của nhóm bạn, thỉnh thoảng được tổ chức tại nhà riêng của một trong số họ hay các cuộc đi chơi xa. Bù lại, tôi biết xe bò bía, gỏi đu đủ, thịt bò viên, bánh bột chiên…ở đâu ngon hơn. Còn nữa, thạch chè, sâm bổ lượng, táo soạn, đậu xanh bánh lọt nước dừa chỗ nào hấp dẫn nhất. Cũng như ô mai mơ cam thảo, kẹo <em>nougat</em>, đậu phọng da cá chiên dòn…bán ở tiệm nào trên đường Nguyễn Phi Khanh hay dẫy sạp trong lồng chợ Tân Định. Đây là những thứ quen thuộc với tuổi học trò mà Đông Lan rất khoái khẩu và mê mệt, nhưng một tay công tử bột như Thái chẳng bao giờ cần biết đến. Riêng tôi, vẫn luôn sẵn lòng hướng dẫn nơi chỗ, hay đi cùng Đông Lan và đám con gái, mỗi khi các cô nàng mình cần đến.</p>
<p>Cuối năm đệ Nhất, chỉ mình tôi qua được kỳ thi tú tài II lên Đại học, còn cả nhóm đều phải học lại. Khúc quanh cuộc đời Đông Lan đã đến trong thời gian này. Vào một lần nhóm bạn học lại ấy cùng nhau đi Vũng Tầu chơi dịp nghỉ Tết, Đông Lan đã thất thân với Thái. Khi biết Đông Lan có thai với mình sau lần ấy, Thái lo lắng tìm tôi để báo tin.Tôi nói Thái nên thú nhận với gia đình, nhưng Thái cứ chần chừ không dám. Đến lúc bụng Đông Lan bắt đầu hơi to, không còn có thể che dấu được nữa, cả hai liều lĩnh quyết định bỏ gia đình đưa nhau đi trốn. Loanh quanh mất mấy buổi, tôi cũng dẫn Thái tìm thuê được căn gác nhỏ gần khu nhà tôi, để cả hai bắt đầu cuộc sống phiêu lưu vô định.</p>
<p>Mỗi ngày từ trường về, tôi thường tạt qua nơi đó để bạn mình và Đông Lan có người trò chuyện, vơi bớt những lo âu sợ hãi. Người anh lớn của Đông Lan đã tìm đến tận nhà tôi dò hỏi, đe dọa hầu mong biết được nơi chỗ Đông Lan ẩn trốn. Bị căng thẳng và suy sụp tinh thần, Đông Lan từng nẩy sinh ý định muốn uống thuốc ngủ tự tử, tôi phải hết sức trấn an can ngăn.</p>
<p>Thảng hoặc, tôi vẫn lén mẹ đem ra cho vợ chồng nhà chim sẻ này ít món thức ăn, vài gói mì hay chai nước mắm nhỏ và có lúc cùng ngồi ăn cơm nguội buổi tối với cả hai, nhiều khi chỉ một mình Đông Lan, vì Thái phải đảo qua về nhà.</p>
<p>Cũng nhiều buổi tối tôi ra chơi và Thái nhờ tôi ngủ lại, giúp trông chừng Đông Lan, để anh chàng có nhiều thời gian về quanh quẩn ở nhà xoay xở thêm tiền bạc.  Một đôi lần như thế, ngoài trời mưa đêm rả rích dai dẳng mãi không dứt, tôi nằm dưới sàn mở rộng tập cours mà chẳng đọc được chữ nào, vì tiếng khóc rấm rứt tủi thân của Đông Lan trên giường. Tôi rất muốn ngồi lên vỗ về một vài câu, nhưng rồi lại thôi, bởi cũng ngần ngại không biết phải bầy tỏ cử chỉ ra sao hay nói như thế nào.</p>
<p>Thế rồi bụng Đông Lan mỗi lúc càng to thêm và sắp đến ngày sanh tới nơi. Tình hình chiến sự sau mùa hè đỏ lửa năm ấy cũng vẫn vô cùng sôi động. Nghe lời tôi, khi đó Thái mới thu hết can đảm trình bầy với gia đình hai bên mọi chuyện, để kịp thời đưa Đông Lan về nhà chờ đón đứa con ra đời.</p>
<p>Khi con gái Xuân Lan của Thái và Đông Lan còn nằm nôi, rồi đến lúc biết bò biết lẫy, lẫm chẫm bước chân, tôi cũng thường hay ghé qua ẵm bế trên tay nựng nịu. Thái và Đông Lan muốn tôi làm bố đỡ đầu cho cô bé, tôi đã nhận lời ngay.</p>
<p>Sau ngày thôi nôi con gái được ít lâu, Thái hớt hải lên tìm tôi nói Đông Lan đã bỗng dưng bế con bỏ đi đâu mất tiêu, chẳng một dấu tích gì để lại. Mọi cố gắng dò la hỏi han đây đó đều vô vọng, im bặt tăm hơi. Tôi cũng không thể hiểu tại sao Đông Lan đã làm như vậy, nhưng thoáng nhớ lại nhiều lúc đến chơi trước đây, nhìn thấy ánh mắt bất chợt vương chút xa xăm của Đông Lan, tôi đoán chừng có một uẩn khúc nào chăng.</p>
<p>Kể từ dạo ấy, qua những thăng trầm đổi thay của cuộc sống, ở bất cứ nơi chỗ nào, tôi cũng luôn nhớ đến và canh cánh để ý xem, biết đâu chừng có thể bất ngờ gặp lại Đông Lan.</p>
<p>Tiếng cười và giọng nói Đông Lan đưa tôi về thực tại:</p>
<p>_ Ông Việt kiều ơi, đang mơ tưởng đến ai thế?</p>
<p>Tôi quay người nhìn sững khuôn mặt Đông Lan, đã đứng ngay bên cạnh ghế từ bao giờ. Lúc này đã tẩy bỏ hết trang điểm, trông Đông Lan tươi tắn và trẻ trung hơn nhiều trong bộ quần áo mặc nhà bằng vải lụa xanh mềm mại có điểm li ti hoa trắng. Hình như thời gian không ảnh hưởng gì mấy đến nhan sắc vẫn còn mặn mà  và vóc dáng thật thon thả của người thiếu phụ ngoài bốn mươi.</p>
<p>_ Anh đang lục tìm trong trí nhớ hình ảnh một cô bạn thân thiết ngày xưa.</p>
<p>Đặt nhẹ tay lên vai tôi, Đông Lan hỏi:</p>
<p>_ Thật không? ai mà có được diễm phúc vậy anh?</p>
<p>_ Hình như cái cô thích ô mai mơ cam thảo và kẹo <em>nougat</em> thì phải.</p>
<p>­<u>­_ Ứ ừ&#8230;</u></p>
<p>Đông Lan khẽ đẩy nhẹ người tôi chúi về trước, rồi bước đến ngồi nơi bàn phấn ở phía đối diện bên kia, mở quạt hong tóc; cùng lúc với tay qua ấn nút mở máy cassette đặt nơi kệ tủ kế bên. Những giai điệu dạo đầu nhẹ êm của bản nhạc, và một giọng hát da diết quen thuộc cất lên:</p>
<p>“<em>Nhắm mắt cho tôi tìm </em></p>
<p><em>                 một thoáng hương xưa</em></p>
<p><em>                Cho tôi về đường cũ nên thơ</em></p>
<p><em>                Cho tôi gặp người xưa ước mơ</em></p>
<p><em>                Hay chỉ là giấc mơ thôi</em></p>
<p><em>               Nghe tình đang chết trong tôi</em></p>
<p><em>                Cho lòng tiếc nuối xót thương suốt đời.</em></p>
<p><em>                Nhắm mắt ôi sao nửa hồn bỗng thương đau</em></p>
<p><em>                Ôi sao ngàn trùng mãi xa nhau</em></p>
<p><em>                Hay ta còn hẹn nhau kiếp nào</em></p>
<p><em>                Anh ở đâu?Em ở đâu?&#8230;”</em></p>
<p>(Nửa hồn thương đau_nhạc Phạm Đình Chương, thơ Thanh Tâm Tuyền)</p>
<p>Tôi ngồi lặng im nhìn bờ lưng đầy đặn của Đông Lan và khuôn mặt chập chờn tháng năm ngày cũ trong tấm gương soi, rồi bỗng bất giác bật cười. Đông Lan buông lược, bước sang ngồi cạnh tôi, ánh mắt nhìn thật đằm thắm:</p>
<p>_ Anh cười em gì vậy?</p>
<p>_ Anh thấy Đông Lan vẫn mở mắt chứ đâu có nhắm mắt.</p>
<p>Chợt hiểu ra, Đông Lan dựa đầu nhẹ vào vai tôi.</p>
<p>_ Em mở mắt để được nhìn thấy anh đang ngồi ở đây.</p>
<p>Tôi choàng tay lên bờ vai Đông Lan và để yên như vậy hồi lâu. Có lẽ Đông Lan đang bị xúc động. Được một lát, như đã trấn tĩnh, Đông Lan nhỏ nhẹ thổ lộ tâm sự:</p>
<p>_ Anh biết không, hồi ấy em đã lẳng lặng bế con bỏ đi biền biệt chỉ vì không thể nào còn chịu đựng nổi tình trạng như thế kéo dài quá lâu rồi. Thái vẫn phải sống dựa vào gia đình, lại ham chơi nên mẹ con em như thêm một gánh nặng. Cái gì chung quanh cũng gò bó quá, nặng nề và tẻ nhạt vô cùng. Ở nhà em được cưng chiều, sống thoải mái vô tư quen rồi. Em cứ bị day dứt và dằn vặt mãi hoài trong mặc cảm tội lỗi với bố mẹ em, thêm nỗi xấu hổ cùng bạn bè. Cứ dồn nén căng thẳng thường xuyên cho đến khi òa vỡ…</p>
<p>Tôi ngắt ngang:</p>
<p>_ Nhưng lúc đó Đông Lan đi đâu mà biệt tăm luôn vậy?</p>
<p>Đông Lan nói tiếp:</p>
<p>_ Anh nhớ Vân trong nhóm bọn mình hồi ấy không. Vân và bố mẹ đã liên lạc rồi giúp đưa mẹ con em ra Đà Nẵng ở với gia đình người bác của nó. Hai bác không có con gái nên rất thương em. Hàng ngày em phụ hai bác trông coi cửa tiệm nằm ngay tầng trệt dưới nhà, lại lo được cho con nên mọi thứ cũng ổn.</p>
<p>_ Thế rồi bây giờ sao lại ở đây?</p>
<p>_  Dạo chiến sự tháng ba năm bẩy mươi lăm, mẹ con em theo hai bác chạy vào Nha Trang rồi Vũng Tầu và chết gí ở đấy luôn vào cái ngày ba mươi tháng tư. Sau đấy em không quay về Đà Nẵng nữa, loanh quanh ở lại Vũng Tầu sinh sống được vài năm rồi trôi dạt về đây. Cái nhà hàng em đang trông coi bây giờ là của bố mẹ Vân đấy anh. Vợ chồng Vân nó cũng ở Biên Hòa này. Trước đó thì lôi thôi lếch thếch vất vả mãi, xoay sở đủ thứ nghề ngỗng chả đâu vào đâu. Rồi thì Xuân Lan học xong sư phạm, cháu ra trường đi dậy được vài năm và lấy chồng, có con. Bây giờ mọi thứ coi như tạm yên anh ạ.</p>
<p>Ngập ngừng tôi hỏi:</p>
<p>_ Thế còn đời sống….</p>
<p>Đông Lan tinh ý nhìn tôi gượng cười:</p>
<p>_ Anh định hỏi về chuyện gia đình của em chứ gì?</p>
<p>Khẽ thở dài, giọng Đông Lan như trầm xuống:</p>
<p>_ Hình như mọi thứ đều chẳng ra gì anh ơi. Cũng chỉ toàn lăng nhăng lít</p>
<p>nhít thôi, chả đâu vào đâu hết.</p>
<p>_ Chẳng lẽ không có được một bình yên nào sao, Đông Lan?</p>
<p>_ Em vẫn luôn khao khát một mái gia đình và mong có chỗ dựa cho mẹ con em. Em sợ cô đơn lẻ loi chứ. Cũng từng gá nghĩa đấy anh, nhưng rồi cuối cùng tấtcả vẫn là tan nát đổ vỡ. Người thì không chấp nhận được quá khứ của em, người thì thật nhỏ nhặt tầm thường.Thương con, thương mình, em nuốt nước mắt đành chia tay mà thôi.</p>
<p>Tôi buột miệng rất tự nhiên:</p>
<p>_ Đông Lan vẫn còn trẻ lắm.</p>
<p>Nở nụ cười buồn, Đông Lan khẽ nói:</p>
<p>_ Anh đừng an ủi làm gì, em bây giờ như gái sề mất rồi…với lại không biết từ khi nào, em đâm ra nguội lạnh và sợ đàn ông vô cùng.</p>
<p>Tôi hỏi thật tình:</p>
<p>_ Không có trường hợp miễn trừ nào sao Đông Lan?</p>
<p>Lảng tránh câu hỏi của tôi, Đông Lan vội đứng dậy nói :</p>
<p>_ Anh chờ em chút xíu.</p>
<p>Rồi bỏ đi vào bên trong, khoảng vài phút sau đem ra quyển album đặt lên bàn, mở cho tôi xem một tấm hình cũ ngay nơi trang đầu và hỏi:</p>
<p>_ Anh có nhận ra những ai ở trong này không?</p>
<p>Vô cùng ngạc nhiên thích thú, tôi nhớ ngay tấm hình này chụp cả bọn hôm rủ nhau đi lên vườn trái cây trên Lái Thiêu sau kỳ thi lục cá nguyệt năm đệ Nhị. Những khuôn mặt học trò trẻ trung yêu đời tràn đầy sức sống biết mấy, có cả tôi trong đó đây mà. Tôi ngẩn cả người, thấy bâng khuâng tiếc nhớ một điều gì đó thật gần mà cũng xa xăm quá.</p>
<p>Tiếng Đông Lan nhỏ nhẹ bên cạnh:</p>
<p>_ Sao mà hồi ấy anh lừng khừng như ông cụ non bất cần đời thế? Lũ con gái bọn em cứ hỏi nhau không biết anh có thèm để ý đến đứa nào? Ngọc nó bảo nếu phải về làm vợ ông này thì chán phèo. Còn Vân lại nói đứa nào lấy được anh chắc sẽ hạnh phúc lắm. Riêng Xuân Lan khi nhìn hình bảobác Tú hồi học trò trông nghệ sĩ quá.</p>
<p>_ Thế còn em thì sao?</p>
<p>Đông Lan ghé tai tôi thì thầm:</p>
<p>_ Em không nói đâu.</p>
<p>Rồi ngồi thẳng người, ánh mắt xa vời vợi:</p>
<p>_ Vẫn còn giận anh lắm đấy. Những đêm xưa ấy, lúc em tủi thân nằm khóc một mình trên giường mà sao anh cứ thản nhiên lạnh lùng, chẳng nói được với em lời nào cả. Chắc anh khinh bỉ em lắm phải không? Và rồi bao nhiêu bầm dập nhơ nhuốc sau này nữa.</p>
<p>Bỗng dưng tôi bối rối:</p>
<p>_ Đừng…, đừng bao giờ nghĩ về anh như thế, Đông Lan!</p>
<p>Nghẹn lời, Đông Lan dừng lại một chút rồi tiếp tục thủ thỉ trong hoài niệm, như muốn phơi trải cho đến hết mọi dồn nén ẩn chứa từ bấy lâu, bây giờ mới được tuôn trào:</p>
<p>_ Dẫu vậy không biết sao, mỗi khi tột cùng cô đơn trong ê chề nỗi đau và cơn muộn phiền nơi cuộc sống đây đó, người mà em nghĩ nhớ tới thật nhiều để vơi quên, để được cảm nhận chút gì vỗ về ủi an là anh chứ không phải Thái. Con thuyền có lúc em từng ngồi trên ấy bị đắm mất rồi, chỉ còn sót lại duy nhất mảnh ván nhỏ nhoi đang chập chờn đâu đó, nên cố đưa tay với để mà vịn vào. Những lúc như vậy em thèm có anh bên cạnh biết mấy. Nghe em kể về anh, Xuân Lan nói với em rằng dường như mẹ thương bác Tú chứ không yêu bố, vậy sao hồi đó mẹ lại bằng lòng lấy bố. Em không dám nói với con nỗi xấu hổ này. Làm sao giải thích cho nó hiểu được cái uẩn khúc nghịch lý anh nhỉ? Những mê mải rồi lỡ lầm của một thời trẻ dại nông nổi, đưa đến cái kết thúc bắt buộc cay đắng như vậy, chứ nào đâu đã kịp nhận biết hay suy nghĩ gì để có một chọn lựa khác đâu. Và thế là mọi thứ vuột mất hết tất cả khỏi tầm tay của em. Em không oán trách gì Thái, mà chỉ tự trách mình rồi thương lấy thân mà thôi…</p>
<p>Tôi quàng tay kéo Đông Lan sát gần lại bên mình và nhìn vào đôi mắt u uẩn đang ngân ngấn những giọt nước mắt lặng buồn còn đọng nơi khóe. Thương cảm và xót xa cho Đông Lan quá, tôi nói ngay điều như đã có sẵn trong đầu:</p>
<p>_ Đừng ngoảnh lại nhìn quá khứ nặng nề phía sau để dằn vặt mình mãi thế nữa, Đông Lan.</p>
<p>Giọng Đông Lan bùi ngùi:</p>
<p>_ Cám ơn anh. Anh biết không, sau ngày ba mươi tháng tư ít lâu, em có về lại Sàigòn, nhưng cả nhà em đã đi hết chẳng còn ai, bên gia đình Thái cũng vậy. Chắc hẳn mọi người vẫn còn buồn giận em nhiều lắm. Em cũng loanh quanh nhiều lần ở khu đường rầy xe lửa cổng số 6 ngoắt ngoéo ấy, mà chẳng sao tìm ra con ngõ nhà anh ngày trước. Từ đấy, em đã quên hết, cứ tưởng rằng không còn có được một nẻo nhớ nào nữa rồi, vậy mà bây giờ…</p>
<p>Đông Lan bỏ lửng câu nói, thẫn thờ ngồi im. Lát sau, cầm lấy tay tôi mân mê cái nhẫn bạc đeo nơi ngón áp út, giọng thỏ thẻ ân cần:</p>
<p>_ Anh không nói cho em nghe một chuyện nào sao?</p>
<p>Tôi nhìn cái nhẫn bạc đã mua đeo ngay sau lần nhận những đồng lương đầu tiên trên đất Mỹ. Cũng là ghi nhớ chút kỷ niệm và để cho bàn tay đỡ trơ trống. Nét chạm khắc đơn giản thôi và đã cũ kỹ, nhưng đi theo tôi đằng đẵng suốt từ ngày đó đến tận bây giờ. Chẳng cần phải hồi tưởng gì, tôi chậm rãi nói với Đông Lan về sự có mặt của cái nhẫn và quãng đời đơn giản đã qua như một tự sự nằm lòng.</p>
<p>Sau lúc Đông Lan bế con bỏ đi được ít lâu và không còn có được một tin tức nào, Thái nộp đơn tình nguyện vào Không Quân rồi đi học lái trực thăng bên Mỹ. Vài tháng sau, tôi cũng nhập ngũ vào Thủ Đức và khi ra trường về đơn vị mãi dưới Long Xuyên. Đến ngày ba mươi tháng tư, vẫn còn là chuẩn úy nên tôi không phải đi cải tạo, nhưng bị giam giữ mấy năm vì tham gia hoạt động phục quốc. Ra tù, vượt biển đến được Bidon rồi sang Mỹ, loanh quanh luẩn quẩn với đủ thứ công việc nhì nhằng cho qua năm tháng vậy thôi.</p>
<p>_ Thế nhưng…?</p>
<p>Tôi cười, hiểu ngay điều Đông Lan đang nôn nao chờ đợi muốn biết.</p>
<p>_ Anh chưa có thời gian để kịp làm rể Long Xuyên, mọi thứ đã sụp đổ hết. Lúc ở đảo cũng vừa quen được một cô, khi bắt đầu định nói chuyện tình yêu thì mỗi người đi định cư một nơi, thế là xong.</p>
<p>Đông Lan che miệng tủm tỉm cười:</p>
<p>_ Vậy rồi sang đến Mỹ thì sao anh?</p>
<p>_ Ừ, cũng hẹn hò được một cô bạn Mễ chung chỗ làm, nhưng sớm vội chia tay nhau khi chưa có được một kỷ niệm nào để mà nhớ.</p>
<p>_ Sao lại như vậy chứ?</p>
<p>_ Anh chịu, chẳng thể hiểu và cũng chẳng còn nhớ được tại sao nữa.</p>
<p>_ Thế không có một cô Việt Nam nào đi qua đời tôi sao anh?</p>
<p>_ Chắc họ sợ nếu phải về làm vợ anh thì chán phèo.</p>
<p>Đông Lan vừa cười vừa nắm tay đấm nhẹ vào vai tôi, ánh mắt lâng lâng xao xuyến. Thật ra, tôi đã không nói cho Đông Lan biết thời gian đầu, lúc vừa đặt chân đến Hoa Kỳ, tôi còn mải sống trong hoài vọng tuổi trẻ về một lý tưởng, để rồi háo hức biết mấy khi đem hết thời gian và nhiệt huyết lao vào các tổ chức đoàn thể, mặt trận… với mong ước sẽ có được ngày cùng tất cả mọi người vinh quang về lại quê nhà, vì còn biết bao điều, biết bao hình bóng vẫn đang đợi chờ. Đến khi mọi chuyện trở thành ảo vọng thì đời mình cũng đã dở dang nhiều thứ.</p>
<p>Tôi cũng không nói với Đông Lan về việc đã gặp lại Thái nhân một dịp đến Cali thăm bạn bè. Và suốt hai ba ngày đêm ở lại chơi với gia đình mới của Thái, không hiểu sao chưa một lần nghe Thái nhắc đến Đông Lan cùng đứa con lưu lạc từ tháng năm ấy. Ngay cả khi chỉ có hai chúng tôi ngồi tâm sự vụn riêng tư với nhau ở ngoài vườn cũng vậy.</p>
<p>Nhìn vào khuôn mặt đang còn thoáng vương buồn của Đông Lan, không ngại ngần hay dối lòng, tôi nói thêm rằng hình bóng Đông Lan thời học trò tươi trẻ đẹp đẽ ấy, đã vẫn luôn mãi theo tôi từ những tháng ngày xưa cũ, rồi nơi đất khách quê người xa lạ. Hình bóng ấy đã vỗ về ấp ủ tôi những đêm dài lạnh giá rét mướt mùa đông. Hình bóng ấy đã có mặt bên tôi và ly rượu nhỏ đằm thắm những buổi chiều cô quạnh. Hình bóng ấy như cái lô cốt đứng sừng sững giữa tim tôi để phòng thủ, ngăn chận không cho một bóng dáng nào khác có thể lại gần. Và dù biệt mù mất hút dấu tích đằng đẵng đến vậy, mà sao tôi cứ đoan chắc rằng rồi ra vẫn sẽ có ngày được gặp lại Đông Lan.</p>
<p>Đông Lan thở dài não nề:</p>
<p>_ Nhưng găp lại nhau để nhớ ra rằng đã lỡ làng từ bao giờ mất rồi phải không anh? Có còn được gì nữa đâu nào?</p>
<p>Tôi lắc đầu nhè nhẹ:</p>
<p>_ Vẫn còn chứ em. Với anh, bao giờ Đông Lan cũng vẫn mãi là cô học trò của ô mai mơ cam thảo và kẹo <em>nougat </em>mà thôi<em>.</em></p>
<p>_ Nhưng sự an bài nghiệt ngã đã cất dấu con người tội nghiệp đáng thương ấy lâu lắm rồi anh ạ.</p>
<p>_ Anh đã tìm lại được để có một bắt đầu khác.</p>
<p>_ Muộn màng quá, đâu thể nào còn kịp nữa hả anh?</p>
<p>_ Đông Lan em, không có gì muộn màng cho một bắt đầu cần thiết, dù khởi đi từ bất cứ một thời điểm nào. Chỉ ngay lúc mình nhận ra vừa có được điều hằng mong đợi và biết nâng niu giữ chặt lấy nó, mới chính là lúc để bắt đầu em ạ.</p>
<p>Đông Lan tựa đầu thật chặt vào vai tôi run run trong nỗi xúc động. Tôi đưa tay chùi giọt nước mắt vừa lăn trên gò má Đông Lan. Chúng tôi im lặng ngồi cạnh nhau như thế lâu lắm. Mãi một lúc sau, Đông Lan ngồi thẳng người lên nói:</p>
<p>_ Khuya rồi, đi ngủ thôi anh, mai anh còn lên máy bay nữa.</p>
<p>Tôi gật gật đầu ngó quanh rồi nhìn Đông Lan cười, định nói sẽ nằm ngủ tại ghế salon ngoài phòng khách này. Nhưng như đoán hiểu ra, Đông Lan cũng cười, ánh mắt thật trìu mến:</p>
<p>_ Anh vào trong ngủ cho thoải mái, đâu phải cái gác ở thuê ngày xưa hả anh.</p>
<p>Mà có sợ bị em ăn thịt không đấy?</p>
<p>Tôi trả lời:</p>
<p>_ Chẳng sợ đâu, da thịt anh giờ nhão nhoét rồi. Nhưng phải cho anh hỏi ngược lại mới đúng chứ.</p>
<p>Chúng tôi cùng cười vui bước đi bên nhau vào căn phòng phía trong.</p>
<p>Đông Lan mở đèn đêm nơi đầu tủ cạnh giường rồi giơ tay tắt đèn trần. Căn phòng chìm trong thứ ánh sáng dịu nhạt thật ấm cúng và dễ chịu. Tôi khoanh tay nằm nghiêng người trên giường nhìn sang Đông Lan, đôi mắt long lanh cũng đang nhìn tôi chan chứa tin yêu tha thiết. Tôi thấy mình như có một rạo rực thèm khát nào đó, thôi thúc thật mãnh liệt quá mà cũng vô cùng ngập ngừng bối rối. Khuôn mặt này, dáng vóc này quen thuộc gần gũi đến thế mà sao cũng như chập chờn mông lung ở mãi đâu xa. Thốt nhiên, Đông Lan vơ cái gối ôm sau lưng đặt vào giữa rồi cười hóm hỉnh:</p>
<p>_ Đây là ranh giới đó nghe, anh không được vượt qua đâu đấy.</p>
<p>Và nói như mơ màng:</p>
<p>_ Nhưng nếu nhỡ ra trong đêm mà nghe thấy có tiếng ai khóc thì sao hả anh?</p>
<p>Tôi đáp nhanh:</p>
<p>_ Tay anh đây, sẽ thật gần thôi để với qua mà dỗ dành ngay chứ.</p>
<p>Đông Lan nheo mắt cười, đuôi mắt lúng liếng. Nhìn cái má lúm đồng tiền vừa thoáng hiện, tôi cũng nhoẻn miệng cười theo. Đông Lan xòe bàn tay che mặt tôi lại, rồi hỏi:</p>
<p>_ Anh đang nghĩ đến điều gì vui lắm phải không?</p>
<p>_ Ừ! Một câu chuyện ngày xưa.</p>
<p>_ Cho em nghe với được không?</p>
<p>Đông Lan nằm im nghe tôi kể lan man về những năm tháng học trò và những ước mơ không thành khi vào đời. Sang đến câu chuyện anh chàng dân sông nước thương hồ lục tỉnh đất phương Nam, một chiều tối phiêu bạc từ đâu tới đậu ghe dưới bến sông, cất giọng hò vọng lên cho người con gái nhà ở trên bờ nghe câu ca rằng… <em>gió đưa cơn buồn ngủ lên bờ…mùng ai có rộng… cho tui ngủ nhờ một đêm…</em></p>
<p>_ Thế rồi sao anh?</p>
<p>_ Không chỉ đêm hôm đó, mà suốt những đêm còn lại của tháng năm cuộc đời, anh chàng đều được cho ngủ nhờ luôn. Và… anh đang ước gì cũng sẽ được như anh chàng ấy đây, Đông Lan ạ.</p>
<p>_ …Ừ!&#8230; Em cũng thế.</p>
<p>Đông Lan thì thào rất nhanh, rồi lặng nhìn tôi đăm đắm. Trong khoảnh khắc, đôi má thoáng ửng hồng như thẹn thùng, cuống quýt đẩy vội cái gối rơi xuống đất, nghẹn ngào òa vỡ nỗi xúc động, gục đầu vào ngực tôi mà thổn thức, nước mắt lưng tròng.</p>
<p>Thế là chúng tôi có những giây phút đắm đuối ngây ngất bên nhau và thuộc về nhau trong cuồng nhiệt yêu thương cháy bỏng như đã đợi chờ từ mãi bao giờ.</p>
<p>*</p>
<p>Tôi giật mình tỉnh giấc thật khoan khoái. Hình như trời đã sáng, tôi nghe được những tiếng xe chạy qua lại ngoài đường phố. Không có Đông Lan nằm cạnh bên, tôi nghĩ chắc đang đâu đó dưới nhà sau. Được một lát, trong nhà vẫn hoàn toàn im lặng. Tôi ngồi nhổm dậy nhìn quanh quất và thấy trên mặt tủ nhỏ đầu giường có để tờ thư, cầm lên đọc vội.</p>
<p><em>Anh,</em></p>
<p><em>              Em thấy anh ngủ ngon quá nên không đánh thức anh dậy.</em></p>
<p><em>              Đêm hôm qua em dấu không nói với anh việc thằng bé nhà</em></p>
<p><em>              Xuân Lan bị sốt cao, vừa phải đưa vào bệnh viện. Em lên</em></p>
<p><em>              với cháu xem sao. Chắc không kịp quay về để đi theo đưa </em></p>
<p><em>              anh ra phi trường tối nay rồi. Thật buồn quá, nhưng biết làm </em></p>
<p><em>             thế nào hơn được.</em></p>
<p><em>             Bao giờ mới gặp lại nhau lần nữa hả anh?  Cũng may, nếu chiều</em></p>
<p><em>             qua em đi Long Khánh sớm thì chúng mình đã chẳng nhìn thấy nhau </em></p>
<p><em>             rồi đấy. Em nói gặp bác Tú chắc Xuân Lan nó vui lắm. Em cũng sẽ kể</em></p>
<p><em>             chuyện anh với Vân nữa. </em></p>
<p><em>             Cám ơn anh đã cho em những giây phút hạnh phúc thật tuyệt vời</em></p>
<p><em>             quá. Em vô cùng sung sướng vì được ủi an vỗ về và vơi đi nỗi tủi</em></p>
<p><em>             buồn suốt bao ngày tháng cô đơn vây bủa chập chùng đã qua.</em></p>
<p><em>            Anh nhớ giữ gìn sức khỏe và đừng quên ô mai mơ cam thảo với kẹo</em></p>
<p><em>            nougat đó nghe. Đông Lan.</em></p>
<p><em> PS: Em để ít tiền Việt cho anh đi xe đò về Sàigòn. Cái quán phở đầu</em></p>
<p><em>       đường ăn cũng ngon lắm đấy anh. Anh khóa cửa, dấu chìa bên dưới</em></p>
<p><em>       thảm chùi chân cho em. Còn cổng rào cứ bóp ổ khóa lại là được rồi.</em></p>
<p>Buông tờ thư xuống, tôi ngả người trên giường, gối đầu lên hai tay nằm suy nghĩ miên man. Có những điều tưởng chừng đơn giản, nhưng rồi trở thành vấn đề. Bần thần quá, tôi không nghĩ Đông Lan muốn tránh tôi. Cũng chẳng phải điều gì khó hiểu, vì phần còn lại thuộc về tôi. Nếu tôi sống ở đây, có lẽ mọi chuyện không quá khó khăn.Tôi chưa nói được gì nhiều với Đông Lan. Không thể vội vàng và quá sớm để nói đến việc làm thủ tục đưa Đông Lan sang Hoa Kỳ. Điều đó đâu hẳn dễ dàng cho Đông Lan, mà tôi biết mọi thứ đã gắn chặt ở nơi này như một hệ lụy tất yếu.</p>
<p>Chắc không còn kịp cho việc đổi vé, dời lại ngày đi. Tôi cũng thoáng nghĩ đến chuyện hủy chuyến bay để nán lại thêm một ít lâu nữa, nhưng có lẽ hơi khó lòng. Kỳ nghỉ phép đã hết và tôi không thể bỏ ngang công việc nơi chỗ đang làm. Vả lại, tôi đã chi dụng cạn hết số tiền đem về, chỉ còn lại mấy chục lẻ đủ tiêu vặt dọc đường trên hành trình quay lại Mỹ.</p>
<p>Những đưa đẩy của thời thế xoay vần, đã tác động đến biết bao con người qua nhiều hoàn cảnh. Từ ngày tháng đó, đã có những từ giã để ra đi, đem theo chia ly tan tác, như một chọn lựa hay sự vội vã cũng đành. Bỗng rồi một lúc nào giật mình tự hỏi, hình ảnh cái đất khổ đã lặng lẽ bỏ đi ấy có còn đọng lại chút gì trong tâm cảm hay bị bật tung cội rễ, khô cằn và xóa mờ hết tất cả từ bao giờ.</p>
<p>Và bất chợt một nhắc nhớ dịu dàng nào đấy chạm khẽ vào khoảng lặng im lìm bấy lâu, làm thức tỉnh lại câu hỏi vẫn loay hoay chưa trả lời dứt khoát: nơi chỗ đất nước xa lạ đang ngụ cư, đã hẳn là đất hứa vĩnh viễn, hay luôn mỏi mòn mong ngóng ngày về lại quê cũ, với ước vọng sẽ một lúc có được bắt đầu cho sự hồi sinh.</p>
<p>Trước đây, đôi khi tôi vẫn thường ở vào trường hợp tâm trạng như thế và bây giờ  lại bị khơi gợi. Chưa bao giờ tôi cảm nhận rõ ràng được nước Mỹ là chọn lựa cuối cùng cho mình. Như lúc này đây, không biết tôi nên tiếp tục ở lại bên đó hay quay về với mong muốn một cuộc sống bình thường, có Đông Lan bên cạnh.</p>
<p>Nơi quê nhà, vẫn chốn cũ ngày xưa. Nhưng từ ngày đất nước đành phải chấp nhận sự thay đổi bi thảm cay nghiệt cho tới bây giờ, hiện diện đầy khắp những khuôn mặt xa lạ khó ưa và quá nhiều những thứ bủa vây nặng nề. Dễ dầu gì tôi có thể thích ứng hay chấp nhận hoàn cảnh chung quanh như thế cho cuộc sống của mình, dù chẳng một đòi hỏi gì ghê gớm.</p>
<p>Mọi chuyện còn nằm nơi phía trước. Hẳn nhiên, tôi sẽ thu xếp chuyến về nữa thật gần, để có thể nói với Đông Lan nhiều hơn. Cũng biết đâu, điều thay đổi lớn lao trong mệnh nước hằng mong đợi, sẽ đến sớm hơn để tất cả mọi thứ đều trở nên dễ dàng trọn vẹn.</p>
<p>Tôi còn nhiều thời gian. Thời gian sẽ soi rọi tất cả và dẫn đưa mọi việc phải có cũng như phải đến.</p>
<p>Thật nhẹ nhõm, tôi ngồi lên và bước xuống khỏi giường. Tìm tờ giấy, tôi ra ngoài bàn salon ngồi viết cho Đông Lan ít dòng. Vắn tắt, tôi nói không thể ở lại thêm được, nhưng sẽ về lần tới thật gần và có nhiều thời gian hơn cho mọi việc. Sẽ luôn nhớ chứ, những hình ảnh buổi trùng ngộ đâu thể nào quên. Tôi gửi lời thăm hỏi gia đình Xuân Lan và Vân, cô bạn ngày xưa cùng một hẹn gặp thân tình. Tôi cũng nhắc dặn Đông Lan cất giữ dùm tôi cái nhẫn kỷ vật tin yêu. Tôi ghi lại địa chỉ, số điện thoại của tôi, của đứa cháu ở Sàigòn và nói thêm rằng sẽ nhờ cháu tôi ghé xuống thăm Đông Lan để giữ liên lạc. Định viết thêm một vài chữ gì đó nói về yêu thương nhung nhớ, nhưng rồi lại thôi vì tôi nghĩ không cần thiết lắm.</p>
<p>Tháo chiếc nhẫn nơi ngón tay mà đêm qua Đông Lan đã mân mê đặt lên tờ thư, tôi gấp cất thư của Đông Lan rồi vào nhà trong sửa soạn và chuẩn bị lại quần áo đầu tóc.</p>
<p>Khóa xong cửa nhà và cổng rào như Đông Lan dặn, tôi đi dọc theo con hẻm bước ra ngoài đường phố chính. Nắng đang lên, buổi sớm mai thật tươi mới an lành quá. Có chút gió nhẹ và cụm mây trắng bay lững lờ ngang qua bầu trời xanh ngát.  Trong tôi lâng lâng một niềm vui khó tả và thanh thản lạ thường. Tôi mỉm cười, nghe như vang vọng đâu đây trong trí tưởng giai điệu của đoạn tình ca:</p>
<p>“<em>nếu anh còn trẻ như năm cũ</em></p>
<p><em>                             </em>     <em>quyết đón em về sống với anh</em></p>
<p><em>                                  những khi chiều vàng phơ phất đến</em></p>
<p><em>                                  anh đàn em hát níu xuân xanh…”</em></p>
<p><em>                   </em>(Tình cầm_ Phạm Duy phổ nhạc từ thơ Hoàng Cầm).</p>
<p>Tôi cũng chẳng còn trẻ gì, nhưng điều này chằc không can dự đến chuyện của tôi và Đông Lan.Tôi nhắm hướng đi thẳng về phía trước, dường như đường ra chỗ bến xe thì phải, và bước nhanh chân. Tôi đang nghĩ đến một sớm mai nào khác từ buổi sớm mai hôm nay.</p>
<p><strong>                                                                     ngọctự. </strong></p>
<p><strong>                                                          Houston, tháng 4/2017</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em>                </em>©T.Vấn 2017</p>
<p><em>                  </em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ngoctu-mot-som-mai-nao-khac/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngọc Tự: Những Đoạn Đời Qua (tạp văn)</title>
		<link>https://t-van.net/ngoc-tu-nhung-doan-doi-qua-tap-van/</link>
					<comments>https://t-van.net/ngoc-tu-nhung-doan-doi-qua-tap-van/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngọc Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 08 Mar 2017 15:16:35 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Tủ Sách T.Vấn & Bạn Hữu]]></category>
		<category><![CDATA[ngọc tự]]></category>
		<category><![CDATA[tủ sách TV & BH]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=30704</guid>

					<description><![CDATA[Xin bấm vào đây để mở hoặc tải về máy Ngọc Tự: Những Đoạn Đời Qua (tạp văn) &#8220;. . . Trước đây khi còn ở quê nhà, tôi vẫn thường hay đi qua ngôi trường Luật ngày xưa ấy rất nhiều lần mà sao vẫn thật dửng dưng xa lạ, chẳng thấy có được [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong>Xin bấm vào đây để mở hoặc tải về máy</strong></p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://cdn.t-van.net/2023/06/Ngoc-Tu-Nhung-doan-doi-qua.pdf"><strong>Ngọc Tự: Những Đoạn Đời Qua (tạp văn)</strong></a></p>
<p style="text-align: center;">
<p style="text-align: center;"><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2017/03/Ngoc-Tu-Nhung-doan-doi-qua.pdf" target="_blank" rel="noopener"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-30705" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/03/NDDQ-bia-truoc-1-5-222x300.jpg?strip=all" alt="NDDQ - bia truoc 1-5" width="279" height="377" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/03/NDDQ-bia-truoc-1-5-222x300.jpg?strip=all 222w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/03/NDDQ-bia-truoc-1-5.jpg?strip=all 591w" sizes="(max-width: 279px) 100vw, 279px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2017/03/Ngoc-Tu-Nhung-doan-doi-qua.pdf" target="_blank" rel="noopener"> <img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-30706" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/03/bia-sau-217x300.jpg?strip=all" alt="bia sau" width="278" height="384" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/03/bia-sau-217x300.jpg?strip=all 217w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/03/bia-sau.jpg?strip=all 578w" sizes="(max-width: 278px) 100vw, 278px" /> </a></p>
<p>&#8220;. . . Trước đây khi còn ở quê nhà, tôi vẫn thường hay đi qua ngôi trường Luật ngày xưa ấy rất nhiều lần mà sao vẫn thật dửng dưng xa lạ, chẳng thấy có được chút xao xuyến nào để mà gợi nhắc về một thời ở nơi này, dù ngắn ngủi dở dang nhưng cũng bao điều quên nhớ, những khuôn dáng nhạt nhòa ẩn hiện vẫn từng lẩn khuất nằm sâu đâu đó trong trí nhớ nhỏ nhoi nơi dòng ký ức tháng ngày. Có thể vì một đất nước đã bị đổi tên, những con đường thân thuộc và ngôi trường cũng đã bị đổi tên, trở thành một thứ dị ứng phản xạ, muốn đẩy xóa mọi thứ, làm cho xa cách tất cả, cho dù vẫn lả đấy, vẫn nơi chỗ này.</p>
<p>Và thế rồi bỗng bất chợt ở một khoảnh khắc nào đó nơi đất lạ quê người, như có tiếng gọi từ một cảm thức òa vỡ làm cho bao điều tưởng chừng đã ngủ vùi trong quên lãng của tận cùng ký ức lại ùa về thật hân hoan. Có phải vì cái lạnh giá rét buốt và từng cơn mưa bụi bay bay giữa mùa Đông tha hương vời vợi ở Houston này, lùa những bâng khuâng hoài nhớ vào từng ngóc ngách thời gian xưa cũ ấy, gọi về tất cả và ân cần bầy biện tất cả ra đây, hiển hiện rõ ràng đến thế, sao mà rưng rưng quá đỗi.</p>
<p>Trường Luật ngày tháng ấy của tôi ơi. Một thời tuổi trẻ của tôi ơi. Có còn không nơi chỗ nào nữa những quên nhớ nhớ quên. Diệu vợi biết mấy và xa xăm quá mất rồi…■</p>
<p><strong>ngọc tự</strong></p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://t-van.net/?cat=343" target="_blank" rel="noopener"><strong>Tủ Sách T.Vấn &amp; Bạn Hữu</strong></a></p>
<p><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/11/30-tac-pham-11-2017.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" class="size-medium wp-image-33418 aligncenter" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/11/30-tac-pham-11-2017-300x229.jpg?strip=all" alt="" width="300" height="229" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/11/30-tac-pham-11-2017-300x229.jpg?strip=all 300w, https://cdn.t-van.net/2017/11/30-tac-pham-11-2017-768x586.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2017/11/30-tac-pham-11-2017-1024x782.jpg 1024w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/11/30-tac-pham-11-2017.jpg?strip=all 600w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></a></p>
<p>©T.Vấn 2017</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ngoc-tu-nhung-doan-doi-qua-tap-van/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>ngọctự: những đốm lửa giữa đêm dài (3)</title>
		<link>https://t-van.net/ngoctu-nhung-dom-lua-giua-dem-dai-3/</link>
					<comments>https://t-van.net/ngoctu-nhung-dom-lua-giua-dem-dai-3/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngọc Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 30 Jan 2017 20:50:27 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[hồi ký]]></category>
		<category><![CDATA[ngọc tự]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=30211</guid>

					<description><![CDATA[(Tiếp theo kỳ 2) Ngày Tết Dương lịch năm 1981 được nghỉ ở nhà, không phải đi lao động, tôi quanh quẩn trò chuyện với người này người kia qua hết buổi sáng. Khi về chỗ của mình, tôi nằm thừ người và   nhẩm tính rồi chợt nhớ ra đã là cái Tết thứ sáu [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/01/tu-DeoBan-den-ThongGianh-crop.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter  wp-image-30218" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/01/tu-DeoBan-den-ThongGianh-crop-300x168.jpg?strip=all" alt="tu DeoBan den ThongGianh-crop" width="437" height="245" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/01/tu-DeoBan-den-ThongGianh-crop-300x168.jpg?strip=all 300w, https://cdn.t-van.net/2017/01/tu-DeoBan-den-ThongGianh-crop-768x430.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/01/tu-DeoBan-den-ThongGianh-crop.jpg?strip=all 600w" sizes="(max-width: 437px) 100vw, 437px" /></a></p>
<p>(Tiếp theo kỳ 2)</p>
<p>Ngày Tết Dương lịch năm 1981 được nghỉ ở nhà, không phải đi lao động, tôi quanh quẩn trò chuyện với người này người kia qua hết buổi sáng. Khi về chỗ của mình, tôi nằm thừ người và   nhẩm tính rồi chợt nhớ ra đã là cái Tết thứ sáu xa nhà, thời gian cũng gần sáu năm. Cũng chỉ còn gần tháng nữa lại đến Tết ta. Đội văn nghệ bên cạnh đã bắt đầu tập dượt các tiết mục của chương trình mừng Xuân cùng với những chuẩn bị cho hoạt động tranh tài thể thao. Tôi nghĩ đến việc sẽ ra khu hội chợ mấy ngày Tết như năm ngoái để thong thả ngồi hút thuốc và ung dung uống chai bia Trúc Bạch, một chuyện thoải mái chỉ có mỗi năm một lần vào dịp Tết Nguyên đán. Và giây phút đó mới cảm nhận đến tận cùng nỗi cô đơn khi nhớ về không khí gia đình, rồi miên man hồi tưởng những hình ảnh từng mùa Xuân cũ.</p>
<p>Thế nhưng khoảng mười ngày sau Tết Dương lịch, một biến cố bất ngờ đã đảo lộn tất cả mọi thứ. Tôi thật bàng hoàng xúc động nơi buổi sáng hôm ấy, khi rất đông người trong toàn trại được gọi tên ra tập trung ngoài sân để được thả về, riêng đội chúng tôi có hơn mười người. Mấy năm ở đây, chỉ thấy duy nhất một hai người lẻ tẻ được về và đến khi đó là lần đầu tiên có số lượng nhiều đến thế. Mừng cho người về mà người ở lại cũng vô cùng ngẩn ngơ xao xuyến, dù biết rằng đã đến lúc chính quyền cộng sản giải quyết tình trạng giam giữ chúng tôi. Bịn rịn chia tay nhau và những lời chào chúc giã từ nghẹn ngào vì cảm động. Hẹn gặp nhau ở Sàigòn và ai cũng  hứa sẽ đến thăm gia đình tôi thật sớm để báo tin.</p>
<p>Không khí trầm lặng bao trùm mọi sinh hoạt thường nhật suốt những ngày sau đó. Tôi như vừa bị mất đi một cái gì rất thân tình quen thuộc gần gũi. Vào buổi tối, khi ánh điện yếu ớt được mở lên, nhìn từng chỗ sàn xi măng bỏ trống đây đó không còn người nằm, tôi cảm thấy vô cùng hụt hẫng. Buồn tênh và trống vắng quá.</p>
<p>Vẫn chưa hết phân tâm và hoang mang xao xuyến thì ngay tuần lễ kế tiếp, lại có thêm một đợt về nữa và tôi ở trong số này cùng với cũng hơn mười người khác của đội. Lặng người trong nỗi òa vỡ rưng rưng, nơi giây phút ấy tôi run rẩy nắm chặt tay từ biệt từng người bạn vẫn còn phải ở lại, nước mắt ứa ra khi nhìn nhau mà không nói được lời nào.</p>
<p>Khi ngồi ngoài khu văn phòng trại làm thủ tục, tôi biết vì không có đủ vé xe lửa cùng một lúc cho tất cả mọi người, nên trại đã phải chia thành từng đợt, cũng thật nhẹ nhõm thở phào. Rồi sau này đoán biết thêm, có lẽ chính quyền cộng sản đã ấn định mức án tù cho những người tù cải tạo chúng tôi bằng những mốc thời gian từ ba đến sáu, chín năm hay nhiều hơn là tùy theo cấp bậc, chức vụ và đơn vị, ngành chuyên môn phục vụ trước đây. Cũng vì sự giảm bớt một vài tháng khi tính toán sắp xếp cho từng đợt thả về, nên nhiều người rơi vào tình trạng không đủ thời gian tối thiểu ba năm, để hội đủ điều kiện đi định cư tại Hoa Kỳ, theo như chương trình H. O. đòi hỏi.</p>
<p>Chúng tôi được trả lại các vật dụng cá nhân, đồng hồ đeo tay, nhẫn, dây chuyền, tiền bạc…và nhận thêm mỗi người một ít tiền trợ cấp đi đường cùng nắm cơm vắt.</p>
<p>Khi đoàn xe <em>Molotova</em> chở chúng tôi bắt đầu chuyển bánh, tôi bùi ngùi ngoảnh nhìn lại lần cuối nơi chỗ dẫu sao cũng đã ghi dấu biết bao vui buồn quên nhớ đầy cảm xúc trong hơn hai năm trời.</p>
<p>Trời nắng nhẹ và nhiều gió, mui xe mở toang hoàn toàn để trống, không phủ bạt kín mít như những lần chuyển trại. Tôi hân hoan hít thở căng lồng ngực đang phơi phới niềm vui giữa khung trời tự do lồng lộng. Khuôn mặt anh em chung quanh ai nấy đều rạng rỡ tươi cười sung sướng  trong nỗi hân hoan mừng vui.</p>
<p>Khi đoàn xe dừng để nghỉ tại quán nước nhỏ ven đường một khu dân cư, tôi vô cùng ngạc nhiên đến ngỡ ngàng vì vừa bước vào đã nghe thấy bài <em>Diễm xưa </em>qua tiếng hát Khánh Ly đang phát ra từ cái máy cassette cũ nơi góc nhà, chắc hẳn trong Sàigòn đem ra. Ông bạn Nguyễn Bá Thuận ở chung đội, vốn gốc Biệt Động Quân và xuất thân khóa 2 trường Đại học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt, như thể một trượng phu vừa được đánh thức khỏi cơn ngủ mê, đã cùng tôi hào hứng chia nhau uống hết <em>cút </em>rượu trắng địa phương, không biết chưng cất bằng thứ gì mà chua ngoét. Chút lát sau, chẳng hiểu do thấm men hay như để giải tỏa ẩn ức bị dồn nén từ bấy lâu, ông bạn tôi lên tiếng nói năng huyên thuyên đủ thứ chuyện, giọng điệu rất mạnh bạo, chẳng cần kiêng dè gì cả, tôi phải nhắc chừng kìm bớt lại.</p>
<p>(Khi sang Hoa Kỳ, Nguyễn Bá Thuận viết văn với bút hiệu Thảo Nguyên, là tác giả quyển truyện <em>Qua đồi trinh nữ </em>nói về đời lính Biệt Động Quân một thời chiến trận, rất được người đọc đón nhận).</p>
<p>Lúc qua bên kia bờ sông Hồng chỗ Chèm thì trời cũng về chiều, nắng nhạt dần và đoàn xe đi thêm một đoạn đường nữa rồi ngừng lại ở một bãi cỏ vùng ven đê Yên Phụ gần Nghi Tàm, ngoại thành Hànội. Viên cán bộ phụ trách hướng dẫn thành thật nói rằng cũng muốn đưa chúng tôi đi quanh một vòng thăm thành phố, nhưng ngồi trên xe <em>Molotova</em> trông không được đàng hoàng. Vả lại chúng tôi cũng nhếch nhác quá, cho nên đợi tối trời một chút mới vào nội ô rồi sẽ ra ga Hàng Cỏ.</p>
<p>Chúng tôi ngồi nghỉ ở đó khoảng gần một giờ đồng hồ và tôi cố ăn nốt miếng cơm vắt, phần cơm tù cuối cùng còn lại trên đường về với gia đình.</p>
<p>Nắng tắt hẳn, trời bắt đầu tối dần, đoàn xe ba chiếc nối đuôi nhau chầm chậm đi vào Hànội vừa lên đèn. Bầy ra trước mắt tôi dưới ánh điện vàng vọt là một khung cảnh cũ kỹ nghèo nàn và xô bồ. Chẳng thấy không khí rộn rã đón Tết dù đã qua rằm tháng Chạp, tuy đường phố cũng khá đông người qua lại. Xe chạy lướt qua những khu phố xa lạ, từng ngã tư đường, chợ Đồng Xuân, một công viên ven hồ nào đó. Thành phố đầy những bộ áo quần bộ đội và công nhân, lác đác một vài tà áo cánh vải hoa lẻ loi giữa thật nhiều mầu kaki Nam Định nâu xanh trên những chiếc xe đạp phóng nhanh vội vàng. Những căn nhà mặt phố với bờ tường gạch loang lổ, hàng hóa bầy biện lộn xộn trước cửa.Tôi như bị lẫn lộn trong ký ức, giữa hình ảnh một Hànội thanh lịch ngày tháng nào, còn chập chờn thoáng qua nơi những trang tiểu thuyết và từng đoạn phim tài liệu về một Hànội ngơ ngác tiêu điều sau 1954, khi người cộng sản đã tiếp thu thành phố. Trong trực cảm thoáng qua, tôi cũng không nhận ra một Hànội gần gũi nơi trí nhớ của cậu bé con lên bẩy là tôi, được người chị lớn dẫn đi chơi khắp đây đó, ở thời đoạn sau Hiệp định Geneve tháng 7/1954, khi cả nhà tôi từ Phát Diệm lên đây chầu chực chờ đợi hàng tháng trời để tới lượt lên máy bay di cư vào Nam.</p>
<p>Tại ga Hàng Cỏ, chúng tôi được phát vé lên tầu và những lờì dặn dò về chuyến đi. Gửi bạn trông chừng dùm đồ đạc, tôi cùng một hai người nữa thả bộ loanh quanh gần đó. Bụng thấy đói, rủ nhau vào một tiệm phở có lèo tèo dăm ba người khách, nhưng rồi phải nhai trệu trạo nuốt cho hết tô phở nhạt nhẽo không mấy ngon miệng.</p>
<p>Quay trở lại khu vực chờ đợi tại nhà ga, chúng tôi có cuộc gặp gỡ chẳng thể nào ngờ. Không biết từ đâu, sáu bẩy người xa lạ xúm lại vây quanh bọn tôi và ân cần hỏi han tíu tít đủ thứ chuyện như đã thân quen. Nghe giọng nói miền Bắc của tôi khi trả lời, họ rất sửng sốt vì dường như không biết gì về cuộc di cư năm 1954. Một người vồn vã nắm lấy cánh tay tôi mà lắc mạnh mừng rỡ.Tuy cũng cảnh giác nhưng tôi nhìn thấy cử chỉ, ánh mắt chân thành và cả sự tò mò nơi họ. Có lẽ thành phố đã rất xôn xao bàn tán ở từng đợt ra trại đông đảo và liên tiếp của anh em tù cải tạo chúng tôi trong những ngày này. Nhớ lại trước đây, lúc gặp mặt gia đình khi thăm nuôi, đã nghe kể về dư luận bên ngoài, cũng như một lần đi đắp đường ngoài xã Đạo Trù gần trại, được tiếp xúc ít nhiều với dân chúng địa phương, tôi tin chắc rằng theo thời gian, thái độ của người dân miền Bắc nhìn anh em chúng tôi thay đổi nhiều rồi, hiểu biết hơn và không còn thành kiến kiểu cực đoan quá khích vì bị tuyên truyền căm thù như hồi đầu chúng tôi mới ra đất Bắc.</p>
<p>Mấy tay con buôn tiến đến gạ chuyện hỏi mua các thứ món đồ dùng như chăn màn quần áo, <em>ga men, bi đông</em>…quân đội mà có người còn mang về theo, bất kể cũ mới. Tôi đâu biết họ sẽ tiêu thụ những thứ này như thế nào, nhưng riêng tôi, thanh toán được cái mùng cá nhân và tấm chăn dù mấy năm không giặt giũ, đã định vứt đi mà chưa biết phải làm sao, bỗng dưng có cách giải quyết lại thêm được tí tiền tiêu pha dọc đường thì quá tốt rồi. Hơi áy náy, tôi đưa cả bộ quần áo tương đối còn khá mới, nhưng nặng mùi ẩm mốc vì để trong túi đựng đồ đạc không mặc đến từ lâu. Cũng nhẹ hẳn cái túi đeo vai, chỉ còn lại vài thứ vặt vãnh đem về làm kỷ niệm.</p>
<p>Chuyến tầu kéo còi khởi hành lúc gần nửa đêm, qua khung cửa toa tầu, nhìn những khuôn mặt không quen biết còn đứng dưới sân ga đang tươi cười đang giơ tay vẫy chào, bất giác tôi mỉm cười vu vơ và thấy thật nhẹ nhõm như vừa trút bỏ được một điều nặng nề vô hình nào đó từng dai dẳng đeo bám.</p>
<p>Thôi chào nhé và chẳng hò hẹn gì ngày quay trở lại nơi này và những năm tháng đã qua. Tôi chập chờn trong giấc ngủ giữa âm thanh đều đặn của nhịp bánh xe nghiến xuống đường ray. Thoảng chốc có tiếng ai đó nhắc đến từng cái tên ga xép… Phủ Lý, Nam Định, Ninh Bình… mơ hồ quen thuộc lắm nhưng rồi cũng vụt qua rất nhanh theo tốc độ đoàn tầu.</p>
<p>Đến khoảng nửa đêm của ngày tiếp theo trên hành trình, còn đang mơ màng vật vờ, tôi đã tỉnh hẳn người khi nghe anh bạn ngồi bên cạnh nói rằng đang qua sông Bến Hải. Không ai bảo ai, tự nhiên chúng tôi cùng đứng lên nhìn ra ngoài, nghẹn ngào và xúc động quá. Sắp tới phần đất quê nhà thân yêu rồi đây và chúng tôi đang trên đường trở về thực sự. Từ bên trong ánh điện mờ nhạt của khoang tầu, nhìn qua ô cửa kính, dòng sông ngăn cách đôi bờ đất nước ngày nào lặng lẽ và im lìm ẩn hiện trong màn đêm rồi cũng khuất dần.</p>
<p>Lúc vào ga Huế, có lẽ cũng còn khuya lắm, được thông báo là tầu sẽ dừng chừng một tiếng đồng hồ, tôi khoan khoái xuống xe và tìm đến dẫy hàng cơm gánh phía trong ăn một đĩa cơm vô cùng ngon miệng. Ơi Huế thơ mộng bên ngoài kia của một thời tuổi trẻ giang hồ vặt, vẫn đang chìm trong giấc ngủ, sao thật gần mà cũng như trở thành xa cách lắm rồi. Bỗng dưng tôi thấy bùi ngùi xốn xang quá.</p>
<p>May nhờ có được ít tiền mà việc tiêu pha ăn uống dọc đường về của tôi khá thoải mái, không  đến nỗi phải bận tâm. Và cũng là dịp để biết thêm nhiều món ăn địa phương, từ cháo cá Lăng Cô khi tầu dừng để chuẩn bị lên đèo Hải Vân, kẹo mè xửng Đà nẵng…cho đến gà luộc nguyên con ở ga Quảng Ngãi.</p>
<p>Đến ga Diêu Trì, biết được tầu cũng còn ở lại cả tiếng đồng hồ nữa, tôi vào khu vực nhà vệ sinh, cởi nhanh quần áo ngoài rồi xối lên người những ca nước mát lạnh để cho trôi đi mọi nhọc mệt và nặng nề của thân xác cũng như tinh thần. Thật khỏe khoắn đầy sảng khoái, tôi quay về toa và khi tầu tiếp tục chạy được một lúc là tôi ngủ thiếp đi ngon lành.</p>
<p>Và rồi, khoảng cách lùi dần về phía sau để thật gần thêm nữa khi nhìn thấy những tên ga Long Khánh, Dầu Giây,Trảng Bom, Hố Nai, Biên Hòa, Dĩ An,Thủ Đức và… Bình Triệu.</p>
<p>Tôi bắt đầu nôn nao bồn chồn và như đang nghẹn đi trong nỗi vui lâng lâng khó tả. Hồi hộp làm sao khi tưởng tượng đến nét mặt của từng người thân yêu ở giây phút trùng phùng sắp đến. Vợ con đang tá túc bên nhà ngoại ở cư xá kiến thiết gần ngã ba Hàng Sanh ngay bên kia cầu, chỉ còn một đoạn đường ngắn ngủi nữa thôi.</p>
<p>Tôi xuống tại ga Bình Triệu và nhẩy lên ngồi sau lưng một ông xe ôm. Tai ù đi, tôi không còn nghe rõ được những lời thăm hỏi gì đó khi người lái xe bắt đầu rồ máy và sang số chạy đi. Xuống khỏi dốc cầu, con đường dài hút vắng lặng trong đêm thật tĩnh mịch và chừng như tôi cảm nhận được nhịp tim mình bắt đầu đập rộn ràng hơn lên.</p>
<p>Xe dừng ngoài mặt đường của con hẻm. Từng bước chân tôi run run sải vội dưới ánh điện vàng vọt giữa ngõ khuya không một bóng người. Căn nhà ngay đầu dẫy có cánh cổng tôn mầu xám và vuông sân nhỏ cùng giàn hoa giấy quen thuộc đây rồi. Tôi lặng người cố ngăn giọt nước mắt đang ứa ra làm nhòe đi mọi thứ chung quanh. Chốn cũ bình yên ngay trước mặt mà sao vẫn ngỡ như đang trong cơn mơ. Nơi góc sân sát bờ tường nhà phía trong, bố vợ tôi đang đứng tập <em>Dịch cân kinh.</em> Hai cánh tay ông khoan thai chậm rãi đưa lên đưa xuống đều đặn. Tôi cố trấn tĩnh lên tiếng khẽ gọi, ông dừng tay và nhìn ra rồi bỗng dưng quay người bước lên bậc thềm lẳng lặng mở cửa đi vào nhà. Chẳng lẽ ông không trông thấy tôi trong khoảng tối bên ngoài. Chừng như cả nhà đã đi ngủ. Tôi nhớ ra hôm nay là hai mươi ba tháng chạp, ngày ông Táo về Trời. Có một cơn gió nhẹ phảng phất thoảng qua đâu đó mùi nhang trầm ấm áp dễ chịu.</p>
<p>Tôi đi men theo bờ tường gạch vòng ra phía căn phòng nhỏ đằng sau, chỗ ở của vợ con và cất tiếng gọi nhỏ. Cũng vẫn im ắng. Tôi trở lại đằng trước gõ nhẹ vào cánh cổng và lên tiếng gọi tên một cậu em. Trong nhà nghe có tiếng người lao xao rồi cánh cửa sổ được mở hé ra và đèn sân bật sáng. Thế rồi tất cả òa vỡ trong nỗi vui mừng khôn xiết vì mấy đứa em đã nhận ra ông anh đang đứng bên ngoài cánh cổng.</p>
<p>Cả nhà thức dậy vây quanh lấy người về còn đang bàng hoàng ngơ ngác vẫn cứ đứng chết lặng giữa phòng khách. Mãi rồi mới lấy lại được tự nhiên để trò chuyện với mọi người.Tôi vòng tay ôm thật chặt bờ vai yêu dấu rồi quàng lấy cậu con trai và cô con gái, đang rụt rè khép nép đứng ngay bên cạnh mẹ. Ngày tôi đi đứa đầu còn thơ dại, đứa sau vẫn phải bế ngửa. Bố vợ tôi nói có nghe tiếng tôi gọi, nhưng trong một khoảnh khắc nhìn ra bóng đêm, tự dưng ông cảm thấy tiếng gọi sao thật mơ hồ như từ đâu vọng về chứ không phải ngay trước cổng nhà nên thất thần bỏ vội vào trong là vì thế.</p>
<p>Liên tiếp nhiều ngày liền ở tuần lễ trước đó, các bạn tôi về đợt trước đã tìm đến thăm hỏi và báo tin tôi bình an khỏe mạnh ngoài trại. Cả nhà bỗng đâm ra hoang mang lo lắng khi không thấy tôi được về như họ và bị ám ảnh ngay một điều thật xấu gì đó có thể đã xẩy ra cho tôi mà mọi người muốn dấu không nói. Sự trở về của tôi khi năm cùng tháng tận cận kề là cả một bất ngờ và chẳng một ai trong gia đình dám nghĩ tới.</p>
<p>Lại có một trắng đêm của thổn thức và hạnh phúc ngập tràn với gia đình nhỏ thương yêu của tôi ở buổi tương phùng.</p>
<p>Sáng hôm sau tôi đạp xe đưa vợ con đến sở làm, đến trường mẫu giáo rồi về bên nhà bố mẹ. Bố tôi đang ngồi uống trà và đọc báo ở nhà ngoài. Tôi bước vào và cất tiếng chào, ông sững sờ nhìn lên và buông rơi tờ báo. Xúc động mất một lúc, ông mới nở nụ cười tươi vui rồi hỏi han tôi về sức khỏe và những tháng năm lao tù khổ nhọc. Ông bảo lúc tôi bị đưa ra Bắc, lên tận Yên Bái rồi Lào Cai thì từ trong thâm tâm, ông đã thoáng nghĩ rằng tôi sẽ không có ngày về, hoặc nếu về, chắc cũng thân tàn ma dại mà thôi.</p>
<p>Mẹ tôi còn ở ngoài chợ, tôi nôn nóng vội đi tìm bà ngay sau đó. Một người hàng xóm tốt bụng  đã mau mắn cất công ra tìm mẹ tôi ngoài chợ để báo tin tôi về. Chưa qua hết khúc quanh gần nhà, đã thấy mẹ tôi đang tất tả bước chân như chạy từ đằng xa. Bà buông giỏ xách đựng mấy bó rau, gói thịt cá rơi xuống đất, nắm chặt lấy hai tay tôi mà òa lên khóc trong mừng vui nghẹn ngào. Rồi thật tự nhiên bà hỏi tôi sao mà đi biền biệt mãi bây giờ mới về.Tôi đứng lặng người, nước mắt ứa ra làm nhòe cả hai bên kính.</p>
<p>Đấy là lần đầu tiên tôi xa gia đình, xa những người thân yêu trong một thời gian dài lâu đến vậy, và để lại cho mọi người bao nhiêu thương nhớ lo âu. Tôi bỗng thấy mình như đã lỗi lầm tệ bạc quá, nhưng đâu biết làm thế nào giữa hoàn cảnh đau thương chung của đất nước, nào của riêng tôi và gia đình.</p>
<p>Bên cạnh nỗi nhọc nhằn, tháng ngày đằng đẵng ấy trôi qua với thật nhiều những yêu thương, buồn vui, những khuôn mặt thân quen_ từng kỷ niệm ghi nhớ ở mỗi một khung cảnh nơi chỗ, _ trải dài suốt những chặng đường lưu đầy thương khó. Tất cả như những đốm lửa nhỏ nhoi, đã gần gũi vỗ về và lặng thầm đồng hành, soi rọi dẫn đưa tôi đi qua hết đêm dài mỏi mệt tưởng chừng vô vọng, để trở về vây quanh chiếu ngồi thương yêu.</p>
<p>Và chân dung thời đoạn này cũng đã được cất giữ trong ký ức, bên cạnh bao điều nhớ quên khác, để sẽ còn mãi đi cùng năm tháng cho đến cuối đời tôi.</p>
<p><strong>Houston tháng 12/2016.</strong></p>
<p><strong>                                                                               ngọctự.<em>  </em></strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2017</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ngoctu-nhung-dom-lua-giua-dem-dai-3/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>ngọctự: những đốm lửa giữa đêm dài (2)</title>
		<link>https://t-van.net/ngoctu-nhung-dom-lua-giua-dem-dai-2/</link>
					<comments>https://t-van.net/ngoctu-nhung-dom-lua-giua-dem-dai-2/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngọc Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 24 Jan 2017 14:46:29 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[hồi ký]]></category>
		<category><![CDATA[ngọc tự]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=30210</guid>

					<description><![CDATA[(Tiếp theo Kỳ 1) Một lần nữa, tôi lại đến Tân Cảng và lặng lẽ đi theo mọi người bước xuống tầu. Đây là loại thương thuyền chở hàng chạy cận duyên và trong khoang sàn của tôi, có chừng một trăm anh em với nhau. Mấy ngày đêm lênh đênh vật vờ trên biển [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/01/tu-DeoBan-den-ThongGianh-crop.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-30218" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/01/tu-DeoBan-den-ThongGianh-crop-300x168.jpg?strip=all" alt="tu DeoBan den ThongGianh-crop" width="407" height="228" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/01/tu-DeoBan-den-ThongGianh-crop-300x168.jpg?strip=all 300w, https://cdn.t-van.net/2017/01/tu-DeoBan-den-ThongGianh-crop-768x430.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/01/tu-DeoBan-den-ThongGianh-crop.jpg?strip=all 600w" sizes="(max-width: 407px) 100vw, 407px" /></a></p>
<p>(Tiếp theo Kỳ 1)</p>
<p>Một lần nữa, tôi lại đến Tân Cảng và lặng lẽ đi theo mọi người bước xuống tầu. Đây là loại thương thuyền chở hàng chạy cận duyên và trong khoang sàn của tôi, có chừng một trăm anh em với nhau.</p>
<p>Mấy ngày đêm lênh đênh vật vờ trên biển mà chẳng hề nhìn thấy được bầu trời một khoảnh khắc nào, chúng tôi cập bến cảng Hải Phòng và lên bờ vào một đêm tối không trăng sao. Chắc đây thuộc khu vực quân sự với những lô cốt đây đó, hàng rào thép gai chạy dài và từng ánh đèn pha cực mạnh chiếu quét, đảo qua đảo lại không ngừng. Dọc theo đường đi, ngoài mấy chiếc xe bọc thép mà họng súng ló ra nơi pháo tháp đầy vẻ đe dọa đậu ở các khúc quanh, rải rác còn có   những tên công an sắc phục kaki vàng, khuôn mặt lầm lì, tay giữ chặt sợi dây da, cố ghì lại những chú chó quân khuyển đang hung dữ chồm lên cất tiếng sủa gầm gừ, dù đã bị rọ mõm. Chắc rằng họ muốn uy hiếp tinh thần anh em chúng tôi chăng. Đi bộ ra tới sát ngoài trục lộ có con đường sắt nằm ngay bên cạnh và những toa tầu hỏa trống không đậu sẵn đợi chờ. Sau khi nghe gọi tên, tôi nối đuôi mọi người trong danh sách, mỏi mệt leo lên toa tầu tối tăm vô cùng hôi hám, rồi buông người ngồi vật vạ trên mặt sàn.</p>
<p>Thật bơ phờ, người như bã ra và mụ mị đi, tôi không còn ước tính được thời gian, cũng chẳng biết đoàn tầu chở anh em chúng tôi khởi hành từ lúc nào và hành trình lắc lư chạy qua những đâu trong nửa đêm về sáng hôm ấy.</p>
<p>Vào khoảng trưa hôm sau, chuyến tầu dừng bánh thả chúng tôi xuống Yên Bái. Lại đi bộ tiếp một quãng đường nữa và tập trung ở bến Âu Lâu để chờ phà đưa từng đợt một sang bờ bên kia sông Hồng. Có đám đông người, phần nhiều là đàn bà, tụ tập gần đấy từ bao giờ, đang ra sức xỉa xói hướng về phía chúng tôi rồi hò hét chửi bới bằng những ngôn ngữ the thé vô cùng chói tai, một hai cánh tay dơ cao đòn gánh dứ dứ vào khoảng không, cùng một vài viên gạch đá ném với vô vọng. Tất cả có thể do tuyên truyền kích động, mà cũng có thể là sự thù hận thật sự vì những mất mát đau thương tất yếu nào đó trong chiến tranh.</p>
<p>Khi chiếc phà sắt cũ kỹ di chuyển chậm chạp cách khó nhọc ra đến được giữa dòng sông rộng bao la, tôi quên hết tất cả mọi điều chuyện vừa diễn ra trong lúc chờ đợi trên bờ. Trời thật trong xanh và bất chợt có đám mây nhỏ lững lờ trôi qua thanh thản. Làn gió nhẹ thoảng qua mơn man vỗ về. Nhìn dòng nước đục ngầu phù sa đang cuồn cuộn chảy về xuôi, nhấp nhô tung từng mảng bọt trắng xóa mỗi khi con sóng va vào sườn chiếc phà, phả hắt những hơi nước mát rượi lên mặt mũi và quần áo, như sự gột rửa dịu dàng quá. Tôi mê mẩn với khoảng không gian mây nước ấy trong cái cảm xúc lẫn lộn giữa sự an bình nhẹ nhõm và nỗi buồn man mác đầy cay đắng, khi âm hưởng của một bài hát như đang vang vọng đâu đây…<em>Hồng Hà mênh mông trôi cát tới chân làng quê&#8230; Hồng Hà chơi vơi dâng nước trên nguồn về khơi…</em>(Du kích sông Thao_Đỗ Nhuận).</p>
<p>Bước lên bờ qua khỏi đoạn dốc ngắn là đến con đường cái. Một cảnh tượng như mùa chiến dịch bi tráng òa vỡ, đập mạnh vào mắt tôi. Một dẫy xe <em>Molotova </em>đậu nối đuôi nhau, dài dằng dặc tới tận mãi đằng xa kia. Ngay bên cạnh đó, thật đông đảo các anh em tôi với đủ thứ trang phục quần áo và đồ đạc cá nhân lỉnh kỉnh. Nhóm đứng, nhóm ngồi, có người vai xách nách mang đang tươi cười di chuyển lui tới, đi tìm xe của mình. Những anh em này cùng vừa từ trong Nam ra và đã sang sông trước chúng tôi nơi các chuyến phà trước. Anh em hân hoan giơ tay vui mừng thăm chào hỏi han nhau như từng thân thiết và nay bỗng gặp lại sau những ngày xa cách. Rất nhiều những khuôn mặt của người lớn tuổi, hẳn là các sĩ quan cấp bậc cao hơn đám Trung úy chúng tôi. Tôi chợt liên tưởng đến những hình ảnh trầm hùng trong cuốn phim <em>Cầu sông Kwai </em>ngày nào.</p>
<p>Thế rồi đoàn xe lăn bánh và không lâu sau, quẹo ngang để tách rẽ dần nơi mỗi đoạn đường. Đến ven một bìa rừng, chiếc có tôi dừng lại cùng với hai ba xe khác. Vùng núi rừng nhiệt đới bờ bên này sông Hồng cũng thuộc về Yên Bái, tôi thoáng đọc được hàng chữ Yên Thành, Yên Bình viết bằng sơn đỏ đã bạc phếch trên cái bảng gỗ xiêu vẹo dựng ven bờ đường, có lẽ tên xã và huyện thì phải. Chúng tôi xuống xe và nhóm anh em chúng tôi chừng hơn một trăm người, lặng lẽ đi theo đám cán bộ hướng dẫn, bắt đầu tiến sâu vào khu rừng dầy đặc cây lá, xuyên qua lối mòn độc đạo rất ít dấu vết chân người đi lại. Qua vài đoạn dốc quanh co, một hai con suối cạn và khi đôi chân bắt đầu rã rời thì đến nơi. Trại mới là đây sao, tôi thoáng rùng mình trong một ý nghĩ lo sợ viển vông. Giữa núi rừng chập chùng, trên một khu đất khá bằng phẳng, có mấy căn nhà làm hoàn toàn bằng tre nứa, từ vách, mái lợp cho đến sàn nằm và hàng rào bao bọc chung quanh cũng thế, có vẻ được dựng lên mới gần đây thôi. Tôi nhớ ngay đến những căn nhà cũng dựng tạm bằng tre lá, dùng làm mục tiêu trong bài học chiến thuật tấn công vào mật khu cộng sản hồi ở quân trường. Tất cả khung cảnh nơi này như báo trước nhiều khổ nhọc và hiểm nguy đợi chờ.</p>
<p>Sau đó ít lâu, do gặp gỡ các anh em cùng cảnh ngộ khi đi lấy nứa chỗ này chỗ kia, tôi biết được rằng có rất nhiều khu trại như trại của tôi đây, rải rác trong vùng rừng núi chung quanh.</p>
<p>Có nhiều lúc, tôi nằm dài trên mặt sàn ọp ẹp ghép sơ sài bằng những mảnh nứa và bỗng thấy gai người vì luồng hơi lạnh của gió rừng luồn thốc từ dưới nền đất ẩm mốc lên lưng. Kiểu giường sàn này tôi cũng đã từng ngả lưng nơi những ngày đi trại dưới Trung tâm Huấn luyện Cán bộ Xây dựng Nông thôn Chí Linh Vũng Tầu, nhưng lúc đó là những háo hức tìm tòi khám phá của thời tuổi trẻ, còn bây giờ ở đây là bắt đầu cuộc lưu đầy biệt xứ mới.</p>
<p>Tôi nhớ lời cảnh báo của viên trưởng trại ngay buổi đầu gặp gỡ, về địa thế hiểm trở của khu vực chung quanh và các loại thú dữ, rắn rết có thể xuất hiện bất thình lình ở khắp mọi nơi chỗ, chắc để ngăn ngừa cũng như xóa tan ý tưởng muốn vượt ngục của anh em chúng tôi.</p>
<p>Cùng lứa tuổi sàn sàn và cùng cấp bậc như nhau nên rồi anh em chúng tôi dễ mau chóng hòa đồng trong thân tình. Rất nhiều người xuất thân Trường Đại học Chiến Tranh Chính trị Đà Lạt và họ có thời gian dài sống chung với nhau, qua mấy lần chuyển trại trước đây như Trương Văn Vấn, Trần Lê Việt.., cùng với số đông các anh em bên an ninh quân đội, tình báo, quân báo… cũng như các anh em ngành Chiến tranh Chính Trị các đơn vị. Riêng chỉ mỗi mình tôi và hai người nữa trong số gần một ngàn người ở trại T.5 Long Giao được gửi đi trong đợt này cùng với họ là khác biệt riêng lẻ. Tôi thầm suy nghĩ về trường hợp của mình.Từ hồi ở Hóc Môn, khi bắt đầu khai báo lý lịch, tôi đã không ghi chức vụ chính thức Trưởng ban Biên soạn Tài liệu &amp; Thuyết trình trong ngành Chiến tranh Chính trị, mà khai tránh đi bằng công việc phụ là Thư ký tòa soạn Tập san Lý Tưởng Không Quân vào giai đoạn cuối hơn một năm trước ngày 30.4.75. Có thể từ đấy họ đã phân loại đưa tôi đi Phú Quốc cùng thành phần với sĩ quan các ngành Quân nhu, Tiếp vận, Mãi dịch, Hành chánh Tài chánh và các sĩ quan biệt phái. Hình như tôi là người duy nhất thuộc ngành Chiến tranh Chính trị tại Hóc Môn đi ra đảo lần đó. Không lẽ khi về Long Giao, họ đã sưu tra lại lý lịch khi gạn lọc, sắp xếp các thành phần để đưa ra Bắc và cho tôi vào danh sách. Tôi mỉm cười khi nhớ lại điều các bạn tù đã nói về phần giới thiệu mấy bài hát của tôi trong chương trình văn nghệ tất niên cuối năm vừa rồi tại đấy và cả quẻ bói của anh Nguyễn Xuân Thiêm hồi còn ở Hóc Môn.</p>
<p>Mấy tháng ở trại Yên Bái, rừng núi bao quanh với những thân cây cao vút, những lưng đồi bạt ngàn cỏ lá dây leo chằng chịt, từng bờ suối mát trong, đã để lại trong tôi nhiều điều quên nhớ. Nếu không đang trong tình trạng tù đầy thì khung cảnh nơi đây thật tuyệt vời quá, hình như đã gợi nhắc và vô cùng kích thích máu phiêu lưu giang hồ vặt của tôi.</p>
<p>Anh em chúng tôi cũng vẫn còn thuộc về sự quản lý của một đơn vị bộ đội mà họ gọi là lực lượng đi làm kinh tế. Đương nhiên sức lực của chúng tôi được sử dụng như thứ nước sông công tù cho hoạt động này. Nhưng trong hoàn cảnh như vậy, theo cảm nhận riêng của tôi thì cũng tương đối còn chịu đựng được vì sức khỏe chưa đến nỗi nào và không gò bó, căng thẳng cho lắm.</p>
<p>Vào buổi sáng, chúng tôi mỗi người một con dao rựa, rời trại tự đi làm công việc của mình theo sự phân công. Chỉ khi nào một nhóm đông đi làm loại việc cần đến nhiều người thì mới có cán bộ và vệ binh vác súng đi theo. Hàng ngày, một vài người đảm nhận lấy măng cho nhà bếp, còn phần nhiều chúng tôi phải chặt nứa để cung cấp nguyên liệu cho nhà máy giấy hay đốn gỗ cho đội làm Mộc cưa xẻ thành ván tấm. Cả hai thứ việc này đều khá nguy hiểm. Khi chém phập nhát dao đầu tiên vào gốc nứa, nếu không cẩn thận, cây nứa sẽ xé toác ngược thân rồi bật tung lên rất nhanh như nhát kiếm, dễ dàng gây thương tích, mà vết thương trong trường hợp này cứa rất sâu vào da thịt, máu tuôn ra xối xả. Có nhiều người đã bị như thế. Mỗi khi nhớ lại cảnh tượng này, tôi không khỏi rùng mình sởn gai ốc. Việc đốn hạ những cây gỗ cao, đường kính từ sáu tấc cho đến gần một thước trên lưng chừng núi, rồi đẩy chuyển dần xuống con suối dưới chân núi để đưa về trại cũng suýt nhiều lần lấy đi mạng sống của chúng tôi, hoặc không chú ý để nhanh chân né tránh kịp thì cũng sẽ mang thương tật suốt đời.</p>
<p>Có lần tôi đi trong toán chặt vầu và giang, để rồi lần đầu tiên biết thêm được hai loại lâm sản này cùng với công dụng của vầu, giang trong đời sống nông thôn ngoài tre, nứa.</p>
<p>Và những tháng ngày trên đất Bắc khó nghèo khổ hạnh, chúng tôi bắt đầu biết thế nào là ăn độn. Rất hiếm khi có được một bữa cơm gạo trắng, thường ra bữa ăn hàng ngày chỉ là thứ bánh bột mì luộc hay hạt bo bo, thật khó tiêu hóa.</p>
<p>Tôi cũng bắt gặp cái cảm giác gai người khi bị lũ đỉa hay vắt, bám chặt vào chân tay, thậm chí cả bên dưới lớp áo, lúc vừa lội ngang con suối hay vượt qua một bụi cây rậm rạp không nhìn thấy ánh mặt trời.</p>
<p>Tôi đã cố gắng quên đi sự khổ cực và nghiệt ngã khi tự đưa mình vào sự mơ màng khung cảnh núi rừng huyền ảo và như thấy mình đang sống trong những trang tiểu thuyết đường rừng đầy phiêu lưu mạo hiểm.</p>
<p>Rừng núi Yên Bái quả thật đầy kỳ bí và hiểm trở quá. Bước chân vào vùng cỏ cây um tùm mỗi ngày, tôi vẫn thường rất để ý và luôn dùng dao phập khứa vào các thân cây để đánh dấu. Nhưng rồi lạc đường thì vẫn cứ lạc, vì rất dễ dàng mất ngay phương hướng bởi độ dầy đặc của những bụi dây leo chằng chịt chung quanh, khi chỉ vừa di chuyển năm ba bước chân sang chỗ khác và mất tập trung quay qua quay lại trong một khoảnh khắc ngắn. Chiều đến, từ trên lưng chừng núi  nhìn xuống thấy rõ làn khói tỏa lên nơi mái nhà bếp trong khu trại bên dưới, khoảng cách chỉ vài trăm thước đường chim bay, thế mà có khi phải vất vả loanh quanh cả tiếng đồng hồ mới tìm được lối về. Những lúc như vậy tôi thấy mình giống một nhà thám hiểm và khoan khoái lạ thường làm sao.</p>
<p>Tôi cũng nhớ mãi những lần đi lấy gạo hay thực phẩm trong đêm. Đoạn đường rừng từ trong trại ra đến chỗ xe tiếp tế đậu chờ giao hàng ngoài con đường cái, dài khoảng chừng ba bốn cây số, nhưng chúng tôi di chuyển khá vất vả khó nhọc, nhất là vào những lúc sau cơn mưa, đường rất trơn trượt, phải tháo đôi dép <em>lốp, </em>bấu chặt năm ngón chân xuống mặt đất nhão nhoét nơi mỗi bước chân để khỏi ngã chúi vào bụi rậm ven đường. Thế nhưng lại là một hình ảnh đầy vẻ giang hồ lãng mạn. Trên đường quay về, anh em chúng tôi phải nhìn bám theo nhau mà nối bước, một tay túm giữ miệng cái bao nặng đang đeo trên lưng, còn tay kia cầm chặt cây đuốc soi đường, chỉ là đoạn nứa khô đập dẹp đầu quấn mảnh vải vụn tẩm chút dầu cặn để giữ lửa. Trong đêm tối mịt mùng hơi lành lạnh giữa thâm sơn cùng cốc, từng ánh lửa bập bùng vì gió, rồi cách đoạn lập lòe nhấp nhô loãng xa dần tạo thành một hình ảnh lung linh thật kỳ ảo. Cảnh tượng này làm tôi nhớ đến những ánh đuốc của các khóa sinh cán bộ xây dựng nông thôn, từ các hướng nẻo doanh trại tiến về vũ đình trường Trung tâm huấn luyện Cán bộ Xây dựng nông thôn Chí Linh Vũng Tầu để chuẩn bị cho Đêm Suy Tư quanh ánh lửa trại, mà có lần tôi được tham dự trước đây. Bầu khí sinh hoạt này thật trang nghiêm mà cũng thôi thúc mãnh liệt, nhắc nhớ người khóa sinh về lịch sử đấu tranh của cha ông, để gọi mời nhiệt huyết phụng sự lý tưởng quốc gia dân tộc. Hồi tưởng đã làm cho bước chân tôi mạnh mẽ và trong lòng thì an nhiên thanh thản hơn..</p>
<p>Một hình ảnh khác hằn sâu trong ký ức tôi là ở lần cùng anh em đi đắp nền đình làng cho một thôn bản khá xa trại. Buổi chiều lúc trở về, khi bước qua cây cầu treo lơ lửng bắc qua hai bờ vách núi, chúng tôi dừng chân nghỉ ngơi bên vệ cỏ ven đường. Nhìn quanh xuống chân núi gần đó thấy cũng có một khu trại giống như trại chỗ tôi. Cách nơi đang ngồi chừng ba chục thước, thấy gian nhà trống hoác nằm trơ trọi chếch trên vạt đất phẳng lưng chừng đồi, tôi tò mò bước lên sát bậc thềm nhìn vào bên trong. Trên cái chõng tre tênh hênh giữa nhà, một thân người mặc bộ quần áo tù nằm bất động, phía dưới cuối đặt bát cơm đầy vun với quả trứng ở trên. Tôi rùng mình, lạnh toát người và bủn rủn cả chân tay. Có tiếng hắng giọng rồi một tên vệ binh, chắc có nhiệm vụ canh gác ở đấy, xuất hiện từ đằng sau nói rằng đây là một ông sĩ quan <em>ngụy</em> cải tạo vừa mới chết sáng nay vì ăn phải lá <em>ngón, </em>một thứ lá rừng rất độc. Tên này nói thêm, đang chờ đóng xong hòm thì sẽ đưa đi chôn. Thật cô đơn trong bi thảm và lạnh lẽo quá, tôi khẽ cúi đầu rồi lặng lẽ quay lui trở xuống.</p>
<p>Tôi thẫn thờ suốt trên đường về và trằn trọc mãi trong đêm hôm đó. Cảm thương cho người anh em xấu số chưa bao giờ gặp gỡ. Rồi ra những người thân yêu của anh có biết được cái chết này và nơi chỗ chôn vùi thân xác anh giữa núi rừng thăm thẳm mịt trùng ở đây.</p>
<p>Tôi cũng đã qua một lần bệnh thừa sống thiếu chết, tưởng rằng phải bỏ xác giống như anh rồi. Dạo ra đến Yên Bái mới được đâu chừng hơn hai tháng, trận kiết lỵ hành hạ và quật ngã tôi nằm bẹp ở trại cả hai tuần lễ, người phờ phạc hẳn, chỉ còn da bọc xương, giọng nói thều thào đi rồi. May sao hồi phục lại được nhờ còn ít thuốc trụ sinh mang theo từ trong Nam và thêm được mấy ống thuốc bổ, dành để phòng thân của anh Nguyễn Doãn Tân, người sĩ quan trợ y làm y tá trại, đã vì yêu mến nên mượn <em>xy ranh </em>trên trại để chích hết cho tôi không một chút ngần ngừ do dự.Tôi thật xúc động và không bao giờ quên được nghĩa cử này. Tôi cũng vẫn còn nhớ mãi vị ngọt lịm của mẩu đường phèn đã thấm lan vào khắp châu thân mình ở lần đau bệnh ấy, và tình nghĩa huynh đệ thương mến của người anh em dấu mặt nào đó, đã đến dúi mẩu đường phèn nhỏ này vào tay tôi trong đêm khuya.</p>
<p>Chắc rằng họ dự trù việc giữ anh em chúng tôi lâu dài tại đây nên vào mỗi sáng Chủ nhật, không được nghỉ ngơi sau một tuần lễ mệt nhọc, chúng tôi phải đi <em>lao động xã hội chủ nghĩa, </em>thay nhau cuốc bạt đất một bên vách đồi, rồi san nện cho bằng phẳng, nhằm thực hiện ý định mở con đường nối trại với trục lộ chính ngoài kia, để cho xe <em>molotova</em> có thể ra vào được gần trong này hơn.</p>
<p>Công việc tiến hành chưa được bao nhiêu, còn đang dở dang thì vào một buổi sáng, chúng tôi bất ngờ được lệnh chuẩn bị chuyển trại. Tính ra thời gian đến rồi đi chưa được sáu tháng. Đâu biết sẽ như thế nào nhưng tất cả đều thở phào nhẹ nhõm vì có sự thay đổi, chứ cứ ở mãi chỗ này sao thấy vô vọng quá.</p>
<p>Đoàn xe chở chúng tôi chạy suốt qua những cung đường dài, nhiều chỗ quanh co lên dốc và không khí càng lúc càng thêm lạnh, lan nhanh vào trong khoang xe phía sau để trống không phủ bạt che. Như thế là ngược lên vùng cao chứ không phải về dưới xuôi rồi.Thỉnh thoảng đọc được những địa danh lạ lẫm trên các cột mốc cây số, cho đến lúc nhìn thấy mũi tên chỉ hướng và chữ Lào Cai trên một tấm bảng nơi ngã ba đường vừa đi qua, anh em chúng tôi nhìn nhau ngao ngán.</p>
<p>Và rồi cũng đến nơi phải đến. Trong buổi chiều nhạt nắng hanh lạnh vùng núi rừng biên giới phía Bắc, cùng với những anh em từ các trại khác lần lượt chuyển đến, chúng tôi tập trung ngồi nơi sân cỏ đối diện cổng chính để chờ nhập trại mới.</p>
<p>Trại nằm trong vùng thung lũng khá rộng, bao quanh xa xa một chút cũng núi rừng trùng điệp ngút ngàn. Tôi nhìn bờ tường thành cũ xỉn xám ngoét rất cao và chạy dài, bên trên còn có thêm mấy lớp rào kẽm gai, trông thật kiên cố. Sát dưới chân tường là một đường hào ngăn cách, có cây cầu gỗ bắc ngang dẫn vào phía cái cổng vòm, bên trong có bóng dáng những tay công an mặc sắc phục vàng, khuôn mặt lầm lì, đang di chuyển qua lại. Tôi thoáng liên tưởng đến hình ảnh một trại quân trong <em>Thủy Hử </em>hay <em>Tam Quốc Chí. </em>Nhìn thấy có vẻ quy mô và đúng kiểu cách một trại giam rồi. Sau đó ít ngày mới biết nơi đây là trại giam Phong Quang nổi tiếng, nằm trong huyện Bảo Thắng của vùng đất Lào Cai, Hoàng Liên Sơn, rất gần với biên giới Trung Quốc.</p>
<p>Trại có nhiều căn nhà giam cách biệt nhau bằng những khoảng sân và những bờ tường cao quá đầu người. Nhóm khoảng hơn bẩy mươi anh em chúng tôi  được tách ra đưa vào một căn nhà  lớn, rất cũ kỹ tối tăm, có sàn gỗ hai tầng làm chỗ nằm chạy song song theo chiều dài và được giao nhiệm vụ phụ trách khu trồng rau rau của trại. Thế là bắt đầu giai đoạn mới nữa của bước đường lưu đầy biệt xứ.</p>
<p>Buổi sáng ngồi chờ ở sân để đợi ra cổng đi làm, tôi nhìn sang các đội bên cạnh thấy có rất nhiều khuôn mặt của người lớn tuổi là các sĩ quan cấp bậc cao trong quân đội.</p>
<p>Chúng tôi phải làm việc liên tục qua những công việc hàng ngày bên những luống rau củ các loại như rau cải, bầu bí, dưa leo, su hào, cải bắp…từ tưới nước, cuốc đất, làm cỏ, bón phân…và đối diện với nhiều thử thách mới vì sức khỏe suy giảm dần mà nhịp độ công việc đòi hỏi sức lực luôn phải dẻo dai mới đảm đương nổi. Vai oằn xuống trên từng đôi quang gánh vục xuống hố nước bốc mùi hôi thối tanh nồng, rồi đôi chân bơ phờ đi tưới cho hết diện tích các chỗ. Khi tay cuốc tay xẻng nơi mỗi vuông đất đầy cỏ dại thì cũng vô cùng uể oải mỏi mệt.</p>
<p>Những khi nghỉ giải lao, tôi ngồi tựa lưng vào gốc cây nhìn về phía rặng núi xa thẳm trước mặt,  mơ màng thả hồn đắm chìm vào từng trang tiểu thuyết của ông Hoàng Ly, có bối cảnh miền sơn cước với dẫy Thập vạn đại sơn, có nhân vật giang hồ hảo hán tung hoành trên yên ngựa, ngang dọc chiến đấu với các tay thổ phỉ thảo khấu, suốt dải đất vùng biên cương giữa những tiếng súng <em>Pạc hoạc </em>nổ vang náo động cả núi rừng, quên đi mọi thứ nhọc nhằn quanh mình.</p>
<p>Thời tiết chuyển mùa và anh em chúng tôi đón lấy mùa đông đầu tiên trên đất Bắc. Ai cũng co ro rét buốt vì thân hình bắt đầu hom hem tiều tụy. Dù đã khoác lên người tất cả các loại quần áo có được, vẫn không đủ sức chống chọi với từng cơn gió bấc giá lạnh căm căm. Những bước đi của chúng tôi khi di chuyển thật lừ đừ nặng nhọc, nhiều khi run rẩy trong cơn mưa phùn, đến nỗi như không còn muốn nhấc chân lên nữa. Vào buổi sớm, khi mặt trời chưa lên, sương núi lùa vào dầy đặc trong phòng, hai bên dẫy sàn nằm không nhìn thấy rõ được mặt nhau. Đêm về co quắp người trong tấm chăn mỏng, thêm cái đói hành hạ vì bữa ăn tối mỗi ngày, thường cũng chỉ có lưng bát ngô đá khô khốc, để rồi thèm nhớ biết mấy bữa cơm mái ấm gia đình và không khí sum vầy.</p>
<p>Một buổi tối mùa đông, sau những chuẩn bị công phu nơi mấy ngày trước, từ việc cắt một tay áo may ô khâu túm lại thành túi vợt thay cho <em>phin </em>lọc, góp nhặt mấy que phên cót làm củi đun, tôi và ông bạn Trần Liêm nằm cạnh đã trùm chăn kín mít để nấu được hơn nửa lon sữa bò nước sôi, rồi dìm túi vợt đựng cà phê vào. Khi mọi sự xong xuôi, vuông chăn dạ vừa mở ra, một hương thơm quen thuộc đã lâu lắm mới ngửi thấy, ngào ngạt lan tỏa khắp gian nhà trong tiếng hít hà, xuýt xoa đây đó. Có lẽ đây là lần uống cà phê nhớ đời nhất của tôi. Chỉ tiếc dúm bột cà phê cuối cùng còn sót lại được vét ra để pha chế trong đêm đông ấy chỉ đủ truyền tí hơi ấm, dù chả bõ bèn gì, cho một hai anh em gần quanh chỗ nằm, chứ không đủ san sẻ thêm cho nhiều người khác.</p>
<p>Tết Mậu Ngọ năm 1978 ở trại Phong Quang là cái Tết thứ ba xa nhà của chúng tôi và để lại một kỷ niệm nhớ đời, chung quanh việc ăn uống, giữa những tháng ngày khổ hạnh trong tù. Chuyện  từ bữa cơm tất niên và ngày mùng Một Tết, nấu bằng gạo trắng hoàn toàn không bị độn khoai sắn, thức ăn cũng đặc biệt hậu hĩnh với rau xào, canh cải và thịt trâu cùng lưng bát thịt heo kho váng mỡ, thêm hai ca dưa hành đầy tú hụ. Lại có nửa gói thuốc lá thơm <em>Thủ đô</em> và nguyên gói <em>Sông Cầu </em>để phì phèo mấy ngày xuân<em>.</em></p>
<p>Không biết có phải vì bao tử đã nhiều ngày dài cứ toàn đồ ăn độn thiếu thốn các chất, nên khi cùng lúc được tiếp nhận, rồi sự tương tác qua lại giữa mấy món thức ăn linh đình ngày Tết, có chất mỡ béo của thịt heo, chắc chắn hơn nữa là do hiệu ứng đặc biệt của dưa hành, đã làm cho anh em chúng tôi <em>sấm động Phong Quang </em>suốt, ngay sau bữa cơm tối hôm ấy và kéo dài hai ba ngày sau. Hết người này đến người kia, từ đầu nhà đến cuối dẫy, liên tu bất tận. Thoạt đầu tôi còn cố nín nhịn, kìm hãm bớt, nhưng sau rồi đành phải để tự nhiên cho nhẹ bụng. Tối mùng Một lên hội trường dự buổi văn nghệ mừng Xuân do đội văn nghệ cây nhà lá vườn của trại trình diễn, mới biết tình trạng này gần như xẩy ra với rất nhiều người ở các đội khác nữa. Nơi góc cuối hội trường chỗ chúng tôi ngồi, thỉnh thoảng có những âm thanh đặc biệt thay nhau phát ra cùng lúc từ đâu đó chung quanh, nghe rõ hơn cả tiếng đàn giọng hát trên sân khấu, cộng thêm cái mùi vị đặc trưng bốc tỏa nồng nặc, anh em chúng tôi nhìn nhau cười. Trước cảnh ngộ này, một ông bạn trong phòng đã trịnh trọng giải thích rằng khi áp suất của đường ruột lên cao, tác động vào thành hậu môn nên bật ra tiếng kêu gọi là rắ…và đấy là hệ quả đương nhiên của chu trình tiêu hóa thực phẩm về phương diện hóa lý. Cách giải thích như vậy không đúng với y học, nhưng dẫu sao  cũng ghi lại một kỷ niệm thú vị khó quên nơi ngày tháng đó.</p>
<p>Sau Tết, đội chúng tôi được tách giảm bớt chỉ còn bốn mươi người và chuyển sang căn nhà khác gần bên. Tôi vẫn nhớ cái tâm trạng ngạc nhiên khi bước vào nơi chỗ mới. Căn nhà hình như vừa mới xây cất xong, chưa có ai vào ở, vôi tường còn hơi ẩm, sơn cửa chưa khô hẳn và vụn dăm bào sót lại nằm vương vãi đây đó trên dẫy sạp gỗ dài làm chỗ nằm, cũng như hộc tủ để đựng đồ đạc bên dưới. Quan sát khắp nơi thấy cũng sáng sủa gọn ghẽ, khang trang. Phòng ăn riêng biệt sát ngay bên cạnh với tủ chạn và bàn ghế đàng hoàng, Ngoài sân có bể nước, bếp lò, chảo gang lớn để đun nước nóng dùng cho mùa đông. Chắc hẳn còn nhiều căn nữa chung quanh đây vì tôi nhìn thấy được những mái ngói đỏ nhô cao khỏi các bờ tường ngăn cách, cũng rất mới mẻ giống nhau. Chúng tôi bị cô lập hoàn toàn riêng rẽ trong từng căn nhà kiểu này.</p>
<p>Tôi nghĩ việc chuẩn bị nơi ăn chốn ở như vậy nằm trong tính toán cho việc giam giữ chúng tôi lâu dài tại đây. Những buổi chiều tối, cánh cửa ngoài sân và cửa phòng đều bị khóa lại sau khi điểm danh, chỉ được mở ra vào sáng hôm sau. Nhiều lúc tôi thẫn thờ nằm dài trên sàn rồi đâm ra lo nghĩ viển vông và thấy cũng hơi bi quan xao xuyến. Nhưng rồi nhớ tới gia đình ngày đêm đang ngóng chờ, nên tự trấn tĩnh mà nhủ lòng phải mạnh mẽ, đừng để gục ngã trong hoàn cảnh vô vọng chưa biết sẽ ra sao.</p>
<p>Tôi mỉm cười với cách gọi văn vẻ <em>dinh thự</em> <em>Đào Lê </em>mà anh em chúng tôi đảo ngược chữ đề lao để đặt tên cho căn nhà mới này. Tôi lại tìm quên khi hồi tưởng về những tháng ngày quân trường ở Thủ Đức hay khóa học Chiến tranh Chính trị trên Đà Lạt, có biết bao kỷ niệm êm đềm tươi vui bên đồng đội, bạn hữu và một thời hò hẹn yêu thương.</p>
<p>Mọi thứ cứ bình lặng qua đi đều đặn và tôi cũng chẳng còn nhớ gì đến ngày tháng. Thế rồi khi  thời tiết chớm lạnh để sắp bước vào một mùa đông nữa thì chúng tôi bất ngờ được lệnh chuyển trại. Thời gian ở Phong Quang này chưa quá một năm.</p>
<p>Trước đấy ít lâu, tôi có nghe loáng thoáng chuyện anh đội trưởng đội bên cạnh, trước là Thiếu tá Chi khu trưởng, cùng với một cựu đại úy khác trong đội, vốn gốc người sắc tộc họ Nông, đã biệt tích không quay về lúc có lệnh thu quân sớm, sau một buổi chiều vừa ra khỏi trại đi lao động chưa được bao lâu. Thường ra, mỗi khi bất chợt sương núi buổi chiều kéo về phủ dầy đặc khắp nơi, chúng tôi được lệnh trở về trại ngay dù chưa hết giờ làm việc. Cũng có thêm chi tiết từ đám tù hình sự đồn đại rằng, qua trung gian móc nối của một tù trọng án người Mường, hai anh đã từng gặp thám báo Trung Quốc bên kia biên giới cải trang tìm sang dò la tìm hiểu tình hình anh em trong trại, và hôm đó phải bỏ đi luôn vì lúc quay lại chỗ làm việc thì đội đã về trại mất rồi. Sau sự việc này, cán bộ trại giam cảnh giác và kiểm soát chúng tôi rất gắt gao, chặt chẽ hơn. Qua gần một tháng tiếp theo, có tin anh cựu đại úy bị bắt trở lại trong tình trạng trọng thương khắp người, còn anh đội trưởng, đám cán bộ nói đã trúng đạn chết trong hẻm núi.</p>
<p>Không hiểu chuyện của hai anh có liên quan gì đến việc chuyển trại của chúng tôi, nhưng dù thế nào cũng là một điều may vì được thay đổi, thoát khỏi cái nơi chỗ mà địa danh dễ gợi nhắc đến một vùng ma thiêng nước độc. Sau này về dưới Vĩnh Phú, qua tin tức báo chí khi trận chiến biên giới 17.02.1979 nổ ra, tôi đoán ra lý do quan trọng khác, đó là chính quyền Hà Nội biết phía Trung Quốc đã bắt đầu có những chuẩn bị về quân sự nơi mấy tỉnh sát biên giới với Việt Nam cùng vào thời điểm đó.</p>
<p>Trên đường chuyển trại lần ấy, chúng tôi bị còng tay cứ hai người một với nhau. Tôi cũng thấy hơi căng thẳng vì lần đầu tiên bị còng như thế. Nhưng lúc bắt đầu trông thấy những nương đồi, vườn cây, phố chợ có đông người đi lại, rồi từng mảnh ruộng và đàn chim bay lượn trên khoảng trời, rải rác xuất hiện hai bên đường qua khung cửa xe, lòng tôi thật nhẹ nhõm vì biết đã xuống đến vùng trung du ấm áp hơn. Và như vậy nơi chỗ mới hẳn sẽ không hiểm trở, lạnh cóng rét buốt như trại cũ Phong Quang Lào Cai.</p>
<p>Quả thế, hơn hai năm tiếp theo trên đất Bắc tại trại Vĩnh Quang A tỉnh Vĩnh Phú, là quãng thời gian khá yên lành với tôi. Nơi đây là trại thứ sáu mà tôi trải qua những bước chân lưu đầy và cũng để lại nhiều vui buồn trong tháng năm khổ ải. Tôi vui mừng được gặp lại rồi ở cùng đội với Nguyễn Văn Chúc, đã mấy năm trời xa cách mỗi đứa mỗi trại, từ sau dạo chung một nhà tại Hóc Môn. Tôi cũng có thêm nhiều giao tình huynh đệ thân thiết mới. Chúng tôi bắt đầu làm quen với công việc của nhà nông vì thuộc về một đội nông nghiệp.</p>
<p>Hôm đầu tiên tôi và Chúc vừa đặt chân xuống một mảnh ruộng bậc thang nhận lấy trâu, cầm sợi dây buộc mũi, chưa kịp tra vào cầy thì con trâu bỗng dưng trở chứng, lồng lên bỏ chạy băng qua mấy bờ ruộng khiến hai đứa tôi vất vả đuổi theo mãi mới ghì lại được. Khi viên cán bộ phụ trách đội nói tôi lấy cuốc đi mở các bờ tràn (khe hở để nước chảy qua), tôi đã đứng ngớ người ra, anh ta tưởng tôi muốn phản đối điều gì nên cau mặt, định lên giọng quát tháo. May có người tù hình sự vừa chuyện trò trao đổi với chúng tôi trước đó đang đứng bên cạnh ra vẻ hiểu biết, giải thích rằng chúng tôi chưa hề bao giờ biết đến cái cầy con trâu và công việc đồng áng ra sao, mọi việc mới êm xuôi. Người tù này được giao nhiệm vụ hướng dẫn công việc ruộng nương cho anh em chúng tôi. Ông ta chân tình dặn rằng cứ mặc kệ đám cán bộ nói gì thì nói, đừng nên làm nhiều quá, phải giữ gìn sức khỏe cho chính mình. Tuổi trạc ngoài bốn mươi, ông tự giới thiệu là trưởng phòng thương nghiệp ngoài Hà Nội, vướng vào một vụ tham ô nên bị án tù vài năm. Có lẽ vì thế thấy viên cán bộ quản giáo cũng hơi nể nang. Trong câu chuyện, ông ta hỏi tôi rằng dạo Noel năm bẩy hai, đang đánh ác liệt thế sao tự dưng lại ngưng ngang, cứ dội bom thêm ít ngày nữa là hàng ngay rồi, để bây giờ khỏi phải khốn khổ đưa nhau ra đây như thế này. Tôi đâu biết trả lời cho câu hỏi ấy như thế nào.</p>
<p>Một người tù hình sự khác tên Thái, cũng khá lớn tuổi, phụ trách trông giữ nhà <em>lô,</em> nơi chỗ để các dụng cụ, vật liệu tại khu vực sản xuất bên ngoài trại và cũng là người chỉ dẫn thêm mọi điều về  ruộng vườn cho tôi, được giao làm đội phó kế hoạch kiêm thư ký của đội. Đầy vẻ chân chất và bộc trực, ông cho biết bị đi tù vì bắn chết người trong thời gian làm xã đội trưởng ở Cát Dài Hải Phòng, nhưng cũng sắp sửa mãn hạn rồi. Rất thành thật, cứ tha thiết dặn tôi khi nào được thả ra, nhớ ghé qua chỗ quê ông chơi ít ngày rồi hãy về trong Nam. Thỉnh thoảng gặp lúc, vẫn hay dúi cho tôi củ khoai luộc và bát nước chè tươi lúc nghỉ giải lao. Ông còn lưu ý và dặn chừng tôi phải cẩn thận với đám tù hình sự hỗn độn, ngổ ngáo, chân tay mình mẩy xâm trổ đủ thứ cổ quái, ở cùng trại nhưng khác khu, thỉnh thoảng đến cuốc đất, làm cỏ quanh gần khu vực chúng tôi. Chỉ qua vài phơi bầy, quan sát thấy gần bên như thế, tôi biết được một bộ mặt khác của xã hội miền Bắc.</p>
<p>Mọi công việc rồi cũng quen dần với anh em chúng tôi và thành nề nếp sau một ít lâu.</p>
<p>Những tưởng sẽ lại có thay đổi nữa khi xẩy ra sự kiện quân sự chấn động tại biên giới Việt-Trung lúc chúng tôi về đây mới được vài tháng và đã sống trong thấp thỏm một thời gian dài qua những buổi thực tập di tản bất ngờ khỏi trại trước đó.</p>
<p>Rạng sáng ngày 17.2.1979 ấy, khi nghe tin Trung Quốc vừa xua quân đồng loạt tấn công sang mấy tỉnh vùng biên giới, tôi đã có tâm trạng phân vân giằng xé chưa biết phải quyết định chọn lựa thái độ như thế nào, lúc chợt nghĩ nếu chiến trận sẽ lan đến đây. Và ý nghĩ này chỉ thoáng qua rất nhanh trong đầu cũng như điều đó không xẩy ra thực sự.</p>
<p>Còn nhớ, chúng tôi đang trong giấc ngủ thì giật mình thức giấc vì hệ thống loa phóng thanh của trại đặt ngoài sân trước mở sớm bất thường và to hơn thường lệ. Bắt đầu phát ra nhạc hùng ca liên tục rồi giọng người xướng ngôn viên xúc động loan tin chiến tranh đã bùng nổ, giặc phương Bắc lại thêm một lần mưu toan xâm lăng tổ quốc và kêu gọi toàn thể quân dân cả nước sẵn sàng chiến đấu. Suốt ngày hôm đó và nhiều ngày sau, nghe những bản tin chiến sự dồn dập, trong tôi có một điều gì thật nao nao khó tả.</p>
<p>Nhưng rồi mọi chuyện cũng qua đi và sinh hoạt của anh em chúng tôi trong trại trở lại đều đặn bình thường với thứ công việc một ngày như mọi ngày.</p>
<p>Và thời gian sau, có vẻ tôi đã trở thành một ông nông dân thứ thật chứ chẳng phải chơi. Hầu như tôi rất thành thạo mọi công việc và kỹ thuật canh tác nhà nông, từ việc ủ thóc giống làm mạ <em>ba sôi hai lạnh, </em>đến giai đoạn chuẩn bị cầy ải, bừa xới đất, tháo bớt nước từ những bờ ruộng bậc thang bên trên xuống để điều tiết, rồi gieo cấy cùng tiếp theo nữa là làm cỏ sục bùn, bón phân các loại, nào <em>phân xanh, phân chuồng, </em>phân đạm…cuối cùng ở những ngày đi gặt đông vui.</p>
<p>Mấy đứa trẻ trong xóm Tân Tiến gần đó thường hay la cà ra khu Đồng Khế ngồi xem chúng tôi làm việc, thấy tôi đeo kính cận thị đứng dưới ruộng bên cạnh  trâu, chúng gọi là ông máy cầy hai đèn pha. Tôi nhớ mãi cái tên gọi ngộ nghĩnh này.</p>
<p>Giữa các vụ lúa, chúng tôi gieo trồng vài loại nông sản khác như ngô, khoai sắn, dưa leo, đậu phọng…Thành thật mà nói, trực tiếp trải qua những công việc như thế, đã cho tôi cảm nhận trọn vẹn với đời sống cầy sâu cuốc bẫm, cơ cực lam lũ, một nắng hai sương của người dân quê trên khắp miền đất nước.</p>
<p>Chúng tôi lại nhận được tiếp tế đều đặn của gia đình cứ vài tháng một lần nên thấy thật vui và như được gần với những người thân yêu hơn. Nhờ có việc tiếp tế này mà những ngày nghỉ thêm  thoải mái rất nhiều với chúng tôi. Mỗi nhóm trải chiếu chiếm lấy một góc hè phía sau nhà để bắt đầu một ngày nấu nướng món này thức kia, thay đổi hương vị những bữa cơm tù nhàm chán thiếu thốn ngày ngày. Bắt đầu vào buổi sáng bao giờ cũng cà phê và nước trà rồi phì phèo khói thuốc. Đây là thời gian mà thỉnh thoảng chúng tôi được đón tiếp mấy sĩ quan cao cấp ở dẫy nhà bên trên thuộc đội trông coi vườn rau, ghé xuống chỗ các đàn em ngồi chơi, thăm hỏi chuyện trò trong thân tình huynh đệ, dù chỉ được một thời gian ngắn ngủi, qua sự linh động mở cổng thông ra ngoài sân lớn, rồi làm ngơ cho việc đi lại, của Trật tự trại là ông cựu Trung tá nhẩy dù Lã Quý Trang.</p>
<p>Cựu Đại tá Huỳnh văn Tư, một thời làm Quân trấn trưởng Sàigòn-Gia Định, có lần cười cười nói cái tướng cách của tôi dám chắc ngày trước từng phải ra vào Quân vụ thị trấn chỗ ông. Tôi cũng  nhớ mãi khuôn mặt tươi vui thật ung dung của cựu Đại tá Trần Khắc Kính, có thời gian chỉ huy Biệt khu 44. Ông luôn động viên tinh thần đám trẻ chúng tôi và khi ra về bao giờ cũng mỉm cười nói <em>bon voyage</em> thay cho lời chào. Tôi vô cùng ngưỡng phục từ hôm nghe ông phát biểu trên hội trường. Trong buổi sinh hoạt lần ấy, một tên cán bộ trại xấc xược nhai lại lối nói năng ấu trĩ giẻ rách và cũ rích về cái điều gọi là cải tạo, giáo dục các thành phần xấu xa tội lỗi của chế độ cũ trở thành con người mới <em>xã hội chủ nghĩa. </em>Đến phần phát biểu, ông đứng lên nói rằng điều đó hơi ảo tưởng và thiếu thực tế. Cải tạo và giáo dục chỉ có thể áp dụng cho trẻ con, lứa tuổi còn thơ dại chưa hiểu biết gì, cũng giống như muốn uốn nắn một cây tre thì phải thực hiện từ lúc còn non, đến lúc tre đã già thì đâu làm gì được nữa, mà cứ cố ra sức để uốn theo ý mình thì coi chừng bị bật ngược lại trúng vào người rất nguy hiểm.</p>
<p>Tôi cũng học được thái độ an nhiên tự tại của Đại tá Lý Bá Phẩm, cựu Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Khánh Hòa (Nha Trang) khi bình thản trả lời cán bộ trại về một câu hỏi như muốn móc mỉa ông. Thường sau mỗi tối ra sân ngồi xem xi nê, ngày hôm sau chúng tôi phải lên hội trường để thảo luận, học tập về nội dung của phim đã xem và trình bầy cảm nhận của từng người khi được yêu cầu. Tôi nhớ ở lần xem <em>Tự thú trước bình minh,</em> cuốn phim tuyên truyền cho trận đánh của cộng sản vào Nha Trang hồi cuối tháng Ba và đầu tháng Tư năm 1975, có đoạn tài liệu chiếu cảnh Đại tá Lý Bá Phẩm lên trực thăng đi thị sát chiến trường, anh em chúng tôi nhận ra ông nên nhất loạt vỗ tay. Hôm sau, khi tên cán bộ gọi đích danh để bắt phát biểu cảm tưởng cũng như tâm trạng, ông đã thản nhiên nói rằng con người xuất hiện trong cuốn phim ấy đang làm nhiệm vụ của cấp chỉ huy, còn bây giờ người chỉ huy đó đã thất thế, là một trại viên trại cải tạo thì chẳng có gì để nói vì hai con người, hai hoàn cảnh khác hẳn nhau.</p>
<p>Tôi còn được nghe tâm sự não nùng đầy cay đắng ê chề trong ân hận tiếc nuối, do sự tính toán sai lầm, của những người trở về trên tầu Việt Nam Thương Tín, từ đảo Guam sau ngày 30 tháng 4 năm 1975. Tất cả cũng chỉ vì nỗi day dứt trong tình nghĩa gia đình, bỗng chốc chia phôi, người đi kẻ ở nơi thời điểm đầy sôi động, biết ngày nào gặp lại nên mới trở thành cơ sự. Riêng ông Thiếu úy Không quân cựu hoa tiêu vận tải Đặng Đình N. (gia đình có công ty Đặng Đình Đáng, đại lý nhập cảng xe Puch ba số ba đèn quen thuộc một thời) lại thật thanh thản chấp nhận dễ dàng. Quan lái tầu bay hào hoa ngày nào chuyển sang việc điều khiển củi lửa dưới nhà bếp và thỉnh thoảng gửi <em>trực buồng</em> cho tôi ca nước lạc tiên.</p>
<p>Tôi cũng chia sẻ và cảm thông với nỗi niềm riêng của nhiều anh em trong đội, mà từ lâu bặt tin tức gia đình, không thư từ, tiếp tế. Có trường hợp biết được tình nghĩa đã đổ vỡ xót xa, nhờ nhắn tìm từ những lần thăm nuôi gặp mặt của người này người kia.Trước những hoàn cảnh đau lòng chung quanh, tôi cảm thấy mình là một người may mắn.</p>
<p>Cuộc sống có những điều nhỏ nhặt, nhưng nếu nhận ra ý nghĩa, sẽ lại trở thành niềm vui giữa lúc khổ đau buồn sầu. Trong bẩy mươi hai con người của đội Nông nghiệp này, ngoài phần đông đám trung úy chúng tôi, còn thêm những ông Đại úy, Thiếu tá mà tôi có sự tái ngộ cũng khá lý thú và vui vui với một hai người.</p>
<p>Người thứ nhất là Thiếu tá Lê Lương Thủy, vẫn cặp kính trắng và khuôn mặt nghiêm trang đạo mạo như một ông giáo ngày nào. Tôi biết ông lần đầu trên trường Bộ Binh Thủ Đức vào giữa năm 1969 và nhớ mãi cái ánh mắt ông nhìn tôi có vẻ không mấy thiện cảm. Ông phục vụ tại Khối Chiến tranh Chính trị của trường và tôi là sinh viên sĩ quan trong ban Báo chí &amp; Phát thanh của khóa, thỉnh thoảng lên đấy để gặp Trung úy Trịnh Cung, người trực tiếp phụ trách chúng tôi. Mỗi khi thấy tôi đã xong việc, còn nán lại chuyện trò tí tỉnh với ông chuẩn úy Nguyễn Tường Thiết (gia đình nhà văn Nhất Linh) và Thiếu tá Nguyễn Tuyên Thùy (một huynh trưởng Hướng đạo) mà bàn làm việc gần bên, thỉnh thoảng ông cứ đưa mắt nhìn sang. Thế rồi sau khi mãn khóa đi đơn vị, tôi lên trường Đại học Chiến tranh Chính trị Đà Lạt để thụ huấn một khóa sĩ quan Căn bản Chiến tranh Chính trị, lại đụng đầu ông ở đây. Ông đã thuyên chuyển về trường làm Liên đoàn trưởng Khóa sinh và tôi là anh chàng sĩ quan khóa sinh được ông chiếu cố tận tình nhất, dù rằng ông chẳng nhớ ra gã sinh viên sĩ quan ở Thủ Đức năm trước. Không tuần nào mà tôi không bị ông nhắc nhở về sự thiếu gọn gàng ngăn nắp chỗ giường nằm, về tác phong lè phè và hay trốn giờ học trên giảng đường vù ra phố, không thì cũng lỉnh xuống câu lạc bộ ngồi uống cà phê. Bây giờ gặp nhau trong cảnh ngộ này, tôi làm đội phó thuộc ban tự quản của đội với nhiệm vụ theo dõi nhắc nhở mọi người, trong đó có ông, về vệ sinh <em>trật tự nội vụ</em>, tức là sự gọn gàng ngăn nắp đồ đạc, nơi chỗ chiếu nằm cũng như sinh hoạt hàng ngày. Tôi kể cho ông chuyện cũ và hai chúng tôi cười vui vì như được sống lại khoảnh khắc ngày nào. Sau này khi ra trại, thỉnh thoảng tôi gặp lại ông đôi lần bên khu Bà Chiểu và Hàng Sanh.</p>
<p>Còn ông kia là Thiếu tá Nguyễn Quang Hà, cũng một đội phó của đội như tôi, người em kế của anh Văn Quang mà tôi thoáng biết từ những năm đầu sáu mươi, nên chúng tôi dễ nhanh chóng thân mật gần gũi. Hồi đó mới học đệ ngũ đệ tứ, tôi có ông bạn rất thân thiết cùng lớp, là vai em con chú bác với anh Văn Quang. Thỉnh thoảng cùng đi với anh chàng ghé chỗ anh ấy vì việc nhà, hay mỗi khi gia đình bạn tôi có giỗ chạp đông đủ họ hàng, tôi cũng thường đến dự nên biết các anh và cũng được coi như em. Anh Văn Quang đi tù cải tạo ngoài Bắc và khi đó chuyển về cùng tỉnh Vĩnh Phú nhưng trại bên Phú Thọ. Gia đình trong Sài Gòn không ra thăm được nên thường nhờ mấy người cháu dưới quê nhà Quỳnh Phụ Thái Bình lo việc gửi thực phẩm tiếp tế cho hai anh. Không hiểu do đâu mà tin đồn ở ngoài nói anh Văn Quang đã chết trong tù và gia đình bên Hoa Kỳ đặt di ảnh trên bàn thờ rồi. Bà xã tôi biết được điều này vì cô bạn thân bên hàng xóm, cùng là độc giả tiểu thuyết của anh Văn Quang với nhau từ hồi đi học và gọi chị Văn Quang bằng dì. Trong một lần thăm nuôi, nghe kể chuyện như vậy, tôi có nói về cái tin không đúng ấy.</p>
<p>(Sau này gặp lại nhau ở Sàigòn, anh Văn Quang cười vui cám ơn tôi đã giúp đưa anh xuống khỏi bàn thờ để về lại đời thường. Anh ở lại Việt Nam từ sau ngày ra tù. Đã được phỏng vấn theo hồ sơ đoàn tụ, nhưng rồi sau đó anh quyết định không đi vì một lý do riêng hơi tế nhị. Anh cũng không làm hồ sơ chương trình H.O. Gia đình anh Nguyễn Quang Hà thì định cư bên Cali).</p>
<p>Nhiều buổi tối trong tâm trạng trống vắng buồn tênh, Nguyễn Văn Chúc đàn hát tình tang dăm ba bài tình ca Trịnh Công Sơn cho anh em quây quần ngồi nghe, vơi quên mọi điều chuyện. Thỉnh thoảng Lưu Anh Dũng cũng hát vài bản nhạc ngoại quốc. Những thời gian khác, bên ngoài mưa gió sụt sùi, chúng tôi tìm đến nằm khểnh từng nhóm bên nhau, chuyện trò vu vơ về cuộc đời, về kỷ niệm đời lính một thời.</p>
<p>Thường làm danh sách đội nên tôi vẫn nhớ mãi những cái tên, nhớ từng khuôn mặt thân quen gắn bó vui buồn bên nhau nơi năm tháng ấy. Từ Hồ Xèng đội trưởng là ông Thiếu úy già trong đoàn mô tô hộ tống thuộc Phủ Tổng Thống rồi đến những ông Trung úy , Đại úy, Thiếu tá thuộc dẫy ngoài như Trịnh Đình Tiến, Đặng Đình Tùng, Trần Văn Bẩy, Phạm Huy Dũng, Nguyễn Thành Lợi, Phan Minh Khánh, Nguyễn Duy Khiêm, Nguyễn Khoa Tiên, Vương Trọng Thiện, Nguyễn Văn Bông, Phạm Văn Cư, Nguyễn Văn Vang, Nguyễn Bá Thuận, Nguyễn Văn Kiên, Huỳnh Văn Quan, Trần Văn Lân, Diệp Văn Sa (cựu Thiếu tá Nha Nhân viên Bộ Quốc Phòng, ông từ trần dạo cuối năm 1979),Trần Văn Đạo…và dẫy đối diện, bắt đầu từ anh Nguyễn Quang Hà, rồi đến Lưu Anh Dũng, Trịnh Đình Thư, Trương Đình Khải, Lê Văn Hưng, Trình Tấn Viễn, Phạm Văn Phố, Trần Hữu Kim, Lê Bá Tòng, Hạ Vĩnh Tho, Trần Văn Dĩ, Trầm Hưng Đạo…</p>
<p>Bên căn phòng nhỏ sát cạnh cùng với tôi có bác Đinh Văn Vượng, Nguyễn Quang Tuyến, Lê Ngọc Khanh, Lý Văn Đèo, Nguyễn An Vượng, Trần Nam Dương, Nguyễn Văn Lễ, Nguyễn Văn Mai, Hồ Đăng Khoa, Nguyễn Văn Hội, Nguyễn Văn Lân, Nguyễn Văn Robert, Võ Thành Phương, Nguyễn Danh Hồng (anh chàng này đi Pháp theo sự bảo lãnh của gia đình)…</p>
<p>(Sang Hoa Kỳ theo chương trình H.O., phần đông các anh em cùng đội với tôi sống tập trung ở Bắc và Nam California. Lưu Anh Dũng đã thành lập Hội Thân hữu Yên Bái- Phong Quang-Vĩnh Quang, có một trang mạng riêng và là người vẫn thường đứng ra tổ chức các kỳ Hội ngộ để mọi người được dịp gặp gỡ hàn huyên. Ở Houston chỗ tôi hiện nay có bác Vượng, Kim, Phố và Tòng, anh chàng nhỏ người nhưng nhanh nhẹn ngày nào ngoài Vĩnh Quang, giờ đã phải ngồi xe lăn).</p>
<p>Cuộc sống cứ tiếp diễn đều đặn trong bình lặng. Chừng như tôi cũng như mọi người đã chai sạn và quá quen rồi nên cứ thây kệ, chẳng còn gì để bồn chồn xao xuyến thấp thỏm như những tháng năm trước đây nữa. Có lẽ nhờ nhận thư và sự tiếp tế của gia đình thường xuyên, cũng như được gặp mặt nên chẳng còn loanh quanh lo nghĩ đến ngày về. Phần khác, bầu không khí chung trong trại cũng như ở đội khá êm ả dễ chịu, không xẩy ra điều gì căng thẳng đến nỗi trở thành vấn đề để bận tâm.</p>
<p>Thành thật mà nói, viên Thượng sĩ Nguyễn Thanh Nhàn phụ trách đội chúng tôi hơi lè phè và xuê xoa, không có kiểu nói năng lèm bèm nhiều lời. Hàng ngày anh ta chỉ giao tổng quát công việc phải làm và để cho chúng tôi sắp xếp phân công với nhau. Trong các báo cáo định kỳ hoạt động và kết quả sản lượng mỗi mùa thu hoạch, tôi thường dùng câu chữ và con số thật giả lẫn lộn nên đội đều được xếp vào loại đạt thành tích cao, nhờ đó mọi việc luôn yên ổn thoải mái, không bị để ý dòm ngó gì nhiều.</p>
<p>Tôi cũng rất thích thái độ sòng phẳng và thẳng thắn của viên Thượng úy Phân trại trưởng Vũ Hữu Tánh. Ông ta không dấu diếm quanh co và đã công khai nói hẳn rằng chúng tôi là tù còn phía ông ta có nhiệm vụ coi tù. Rồi việc ngày nào chúng tôi được về là do ở cấp trên của ông ta cũng như phụ thuộc vào tình hình bên ngoài. Cho nên thời gian phải cùng sống với nhau tại trại, mong rằng có sự cảm thông hiểu biết giữa hai bên để mọi sự dễ dàng, đừng gây nên điều gì phức tạp mất vui. Ông ta cũng chân thành nói rằng đám thuộc hạ dưới quyền phần đông còn trẻ, chữ nghĩa học hành không bao nhiêu, thành ra thái độ hành xử nhiều khi cộc lốc hỗn hào, dù luôn được nhắc nhở. Nếu lỡ xẩy ra chuyện với đám này, chúng tôi nên nhín nhịn cho an toàn và báo lại để ông giải quyết sẽ hay hơn. Ông ta hứa tôn trọng sự thật cũng như không bao giờ bênh che cho lỗi lầm của cấp dưới. Có lẽ nhờ vậy mà đám vệ binh ngày ngày vác súng đi theo canh giữ chúng tôi ngoài chỗ lao động cũng luôn chừng mực trong ăn nói, không lấc cấc xấc xược gì.</p>
<p>Chẳng thà huỵch toẹt thế và nếu họ dám thẳng thắn thừa nhận điều đó ngay từ thời gian đầu như viên cán bộ phụ trách trại này, có lẽ đã đỡ bực mình và nhàm tai.</p>
<p>Tôi cũng nhớ những điều trình bầy của viên Cục phó Cục Quản lý trại giam trong một lần từ Hànội xuống trại nói chuyện với chúng tôi nhân đợt <em>Tổng thu hoạch,</em>là dịp họ muốn chúng tôi viết lại công việc và kinh nghiệm của từng người tại đơn vị trước đây. Ông này cho rằng do sự tuyên truyền quá đáng nên báo chí, văn nghệ, phim ảnh… nhà nước cộng sản cứ bôi nhọ mỗi khi tả các sĩ quan quân lực mình như những người không ra gì, khiếp nhược nơi chiến trận và ăn chơi phè phỡn trác táng trong cuộc sống.Và đánh giá kiểu đó đã vô tình hạ thấp chiến thắng của chính họ. Ông ta cũng hiểu chiến thắng của họ là một biến cố nằm ngoài sự tính toán thông thường nơi phía chúng ta. Sự phân tích và đánh giá này khác hẳn với sự tuyên truyền thường thấy. Ông ta nói đã biết hầu như toàn bộ thành phần sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa đều được đào tạo, huấn luyện thật căn bản vững chắc từ các quân trường. Thêm nữa rất nhiều người được trang bị thêm những kiến thức chuyên môn đa ngành giá trị và hiện đại từ các nguồn trong nước cũng như ngoại quốc nên trình độ càng nâng cao. Đây là điều hơn hẳn mà quân đội bên ông ta còn thiếu và chưa thể nào có nổi. Và như vậy, không được phép xem thường mà phải cố gắng tìm hiểu để học hỏi tiếp thu, nhằm cải tiến dần dần rồi mới có thể chính quy hóa, hiện đại hóa quân đội phía ông ta. Sự thật nhất định là thế và hẳn rằng đây không phải người duy nhất có suy nghĩ và nhận biết đúng đắn vấn đề trên.</p>
<p>Tôi tin ông ta có phần nào chân thành mà không phải là sự tâng bốc vuốt đuôi để mị phỉnh những người thua cuộc cay đắng. Cũng không loại trừ khả năng miệng lưỡi một thứ cáo già khôn lỏi trong cách đưa đẩy câu chuyện nhằm mong khai thác thêm được chút gì từ anh em chúng tôi, nhất là những người chỉ huy đơn vị có nhiều năm thâm niên quân vụ đầy kinh nghiệm. Tuy thế, trong hoàn cảnh đó, chắc hẳn các huynh trưởng của tôi thừa biết phải làm gì. Dẫu sao cũng cảm thấy được tự mãn và vui lòng đôi chút.</p>
<p>Tôi ám ảnh mãi cái cảm giác hụt hẫng ở lần mẹ tôi và bà chị cả cùng đi với vợ và hai đứa con lặn lội ra Vĩnh Quang thăm tôi lần đầu. Giây phút gia đình trùng phùng hàn huyên chưa được bao lâu, chỉ khoảng mười lăm phút, tôi bị tên <em>cán bộ giáo dục </em>phụ trách trực tại khu thăm nuôi hôm ấy bắt từ giã để vào trại. Hắn ta nói tôi thuộc thành phần chống đối, tư tưởng chấp hành nội quy chưa tốt nên không được gặp gia đình dài thời gian. Tôi sững người, đã định lên tiếng phản ứng về sự vô cớ này, nhưng nhìn ánh mắt lo ngại can ngăn của những người thân yêu, đành nhẫn nhịn quay bước đi vào.</p>
<p>Ít lâu sau khi có dịp, tôi trình bầy câu chuyện và khiếu nại với viên trại trưởng. Ông ta hứa sẽ dành mọi thuận lợi cho tôi khi gia đình ra thăm lần tới.</p>
<p>Chắc rằng tên cán bộ ấy hằn học để bụng từ lần nhắc nhở tôi về bộ râu mép không cạo. Tôi nêu lý do không có lưỡi lam, hơn nữa nơi <em>25 điều lệnh nếp sống văn hóa mới </em>của trại chỉ thấy ghi cấm không được để râu dài mà thôi. Nhưng sâu xa hơn, các bạn trong đội từng nhắc chừng tôi cái ánh mắt khó chịu của hắn khi nhìn thấy cô cán bộ kế toán trẻ hay tủm tỉm cười khi ngồi đối chiếu sổ sách với tôi.Thường thì anh em chúng tôi được nhận tiền của gia đình, nhưng phải gửi vào <em>lưu ký </em>của trại. Mỗi lần có đợt mua hàng hóa hay thực phẩm do trại bán ra, phải làm danh sách ghi lại phần chi tiêu của từng người, và tôi phụ trách công việc này. Rồi sau đấy cứ hai hoặc ba tháng, kế toán <em>tài vụ </em>của trại xuống đội để đối chiếu kiểm soát các con số. Ngồi làm việc cạnh nhau và đôi khi cũng chuyện trò vu vơ qua lại, chẳng biết sao cô cán bộ kế toán Hồng Đ. dân Hà Nam Ninh ấy cứ hay cười mỉm như e thẹn một điều gì đó. Thế mới sinh chuyện vì dường như tên cán bộ nhiễu sự với tôi ngấp nghé tán tỉnh cô nàng từ lâu thì phải. Cũng có thêm một chuyện nữa trong tù để nhớ mãi.</p>
<p>Nhưng thật khó phai nhòa và còn đọng lại mãi hoài trong tâm tưởng cùng ký ức là lần vợ chồng tôi được sum vầy đoàn tụ đầm ấm bên nhau suốt một ngày đêm, chỉ mấy tháng sau đó, nhân chuyến bà xã tôi đi một mình ra thăm nuôi lần nữa. Bù đắp cho sự hụt hẫng dở dang tiếc nuối lần trước, tôi đã trải qua những giờ phút dừng chân bình yên và thần tiên như một cơn mơ, nơi hành trình đi qua tháng năm vô định hoang mang dài xa thăm thẳm. Bữa cơm gia đình trong căn nhà tranh vách đất thôn dã buổi trưa và chiều tối ngày hôm đó của chúng tôi sao mà ngọt ngào hương vị và đằm thắm đến thế. Tôi đã háo hức như trẻ nhỏ và cũng lặng người trong nỗi xúc động khôn cùng.</p>
<p>Và rồi đêm ấy là một đêm tuyệt diệu của bồi hồi đón đợi bất ngờ. Ngoài trời mưa to gió lớn, sấm chớp liên hồi và phía chân núi đằng xa, tiếng nước từ trên cao đổ xuống như thác, vọng lại nghe ầm ì đều đặn, lùa vào căn phòng chút hơi lạnh vỗ về những nhớ nhung. Chúng tôi có một đêm vợ chồng đắm đuối yêu thương đầy rạo rực, bối rối quấn quít bên nhau quá đỗi nồng nàn tình tứ, như thể đêm tân hôn ngày nào. Những tháng năm tình yêu trải dài biết bao kỷ niệm rồi làm đám cưới và cuộc sống gia đình đầm ấm chỉ vừa vỏn vẹn được hơn hai năm là xa cách biền biệt thương nhớ, mãi cho đến lúc ấy mới được thật sự gần gũi tìm lại hơi thở và da thịt của nhau, để cho những giọt nước mắt mừng tủi ướt đẫm bờ vai, trôi quên mọi lo âu thấp thỏm đã trĩu nặng từng phút giây nơi cuộc sống cô đơn khổ nhọc của người vợ trẻ. Tôi lặng người trong hạnh phúc ngập tràn mà ngỡ như đang trở về với Đà Lạt ngày tháng cũ của tình yêu, có tiếng gió reo vui lùa từng nốt nhạc len qua hàng thông xanh trên đồi vắng, giữa cơn mưa bụi bay bay nơi những buổi chiều hò hẹn, và chúng tôi đan chặt vào nhau quyến luyến không rời.</p>
<p>Ngày vui qua đi, trở lại với sinh hoạt thường ngày, tôi ngẩn ngơ mãi rồi mới hết cái cảm giác lâng lâng vì một nỗi bâng khuâng dịu dàng. Dường như có nguồn lực vô hình nào đấy vừa tiếp truyền cho tôi được mạnh mẽ thêm lên.Tôi thật yên lòng vì biết gia đình nhỏ của tôi vẫn luôn được nội ngoại cưu mang đùm bọc và thấy mình thanh thản để bất chấp mọi điều gì sẽ còn nữa nơi phía trước.</p>
<p><strong>ngọctự</strong></p>
<p>(còn tiếp 1 kỳ)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2017</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ngoctu-nhung-dom-lua-giua-dem-dai-2/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>

<!--
Performance optimized by W3 Total Cache. Learn more: https://www.boldgrid.com/w3-total-cache/?utm_source=w3tc&utm_medium=footer_comment&utm_campaign=free_plugin

Page Caching using Disk: Enhanced 

Served from: t-van.net @ 2026-07-26 12:37:11 by W3 Total Cache
-->