<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>ngộ không &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<atom:link href="https://t-van.net/tag/ng%e1%bb%99-khong/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://t-van.net</link>
	<description>Văn Học và Đời Sống</description>
	<lastBuildDate>Sun, 19 Oct 2025 20:47:13 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.7.5</generator>

<image>
	<url>https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/02/t-van-favicon.png?strip=all&#038;resize=32%2C32</url>
	<title>ngộ không &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<link>https://t-van.net</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Ngộ Không: Tác Giả Tác Phẩm – Dõan Quốc Sĩ</title>
		<link>https://t-van.net/ng%e1%bb%99-khng-tc-gi%e1%ba%a3-tc-ph%e1%ba%a9m-dan-qu%e1%bb%91c-si/</link>
					<comments>https://t-van.net/ng%e1%bb%99-khng-tc-gi%e1%ba%a3-tc-ph%e1%ba%a9m-dan-qu%e1%bb%91c-si/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 21 Oct 2025 06:41:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Tác Giả Tác Phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không]]></category>
		<category><![CDATA[tác giả tác phẩm]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=6527</guid>

					<description><![CDATA[Tiểu Sử Doãn Quốc Sỹ Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh vào giờ Mão (7:00 sáng), ngày mùng Hai Tết năm Quý Hợi tức là ngày 17 tháng hai năm 1923, tại làng Hạ Yên Quyết, tỉnh Hà Đông (nay thuộc vào ngoại thành Hà Nội). Thân Phụ ông là một nhà tân nho và [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2012/06/dqsi.jpg?strip=all&fit=202%2C250"><img fetchpriority="high" decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-12943" title="dqsi" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2012/06/dqsi.jpg?strip=all&fit=202%2C250" alt="" width="202" height="250" /></a></p>
<p><strong>Tiểu Sử Doãn Quốc Sỹ<br />
</strong><br />
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh vào giờ Mão (7:00 sáng), ngày mùng Hai Tết năm Quý Hợi tức là ngày 17 tháng hai năm 1923, tại làng Hạ Yên Quyết, tỉnh Hà Đông (nay thuộc vào ngoại thành Hà Nội). Thân Phụ ông là một nhà tân nho và thân mẫu thì chuyên về buôn bán.<br />
Ông thường tâm sự với bằng hữu rằng suốt cuộc đời ông đeo đẳng hai cái nghiệp: cầm phấn viết bảng và cầm bút viết văn. Cái nghiệp cầm phấn viết bảng của ông tuần tự từ các trường trung học công lập đến cao đẳng và đại học từ năm 1952 khi ông bắt đầu với trường Nguyễn Khuyến (Nam Định) 1952-1953, Chu Văn An (Hà Nội) 1953-1954, Trần Lục (Sài Gòn) sau đổi là trường Nguyễn Khuyến 1054-1960, năm 1960-1961 ông là Hiệu Trưởng trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, Hồ Ngọc Cẩn 1961-1962, Cao Đẳng Sư Phạm Sài-Gòn 1960-1975, Đại Học Văn Khoa Sài-Gòn 1962-1975, Đại Học Vạn Hạnh 1962-1975<br />
Trong khoảng thời gian từ 1962-1975, ông đã từng đi du học ở Hoa Kỳ. 1966-1967 tại FSU (Florida State University); 1967-1968 ông chuyển về Nashville (Tennessee) và theo học tại Peabody College (nay đã sát nhập vào Vanderbilt University). Tại đây ông tốt nghiệp Cao Học về Giáo Dục (Master in Educaton). Chỉ vài năm sau khi bắt đầu nghiệp cầm phấn, ông đã vương nghiệp cầm bút viết văn.</p>
<p><strong>Tác phẩm:</strong></p>
<p><strong></strong><br />
&#8211; Sợ Lửa (tập truyện cổ tích) 1956<br />
&#8211; U Hoài (tập truyện ngắn) 1957<br />
&#8211; Gánh Xiếc (tập truyện nngắn) 1958<br />
&#8211; Cúi Đầu (tân truyện và truyện ngắn) 1972<br />
&#8211; Cò Đùm (tập truyện ngắn và kịch) 1977<br />
&#8211; Đi (truyện dài) 1982 *<br />
&#8211; Dấu Chân Cát Xoá (tân truyện) 1995 **<br />
&#8211; Người Vái Tứ Phương (tân truyện) 1995<br />
&#8211; Mình Lại Soi Mình (truyện dài) 1995<br />
Ông lại còn ra công biên khảo cùng với biên khảo gia Việt Tử qua những tác phẩm như:<br />
&#8211; Khảo Luận Về Đoạn Trường Tân Thanh 1959<br />
&#8211; Khảo Luận Về Nguyễn Công Trứ 1959<br />
&#8211; Khảo Luận về Trần Tế Xương 1959</p>
<p>(Theo TVVN.ORG )</p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><strong>Chân dung Doãn Quốc Sĩ</strong></h3>
<h4><strong>Võ Phiến </strong><strong></strong></h4>
<p><em>Lời giới thiệu: </em><em></em></p>
<p><em>Trong lãnh vực nghiên cứu văn học ở hải ngoại từ sau năm 1975, bộ Văn Học Miền Nam gồm 7 tập của Võ Phiến, dù gây nên nhiều tranh cãi sôi nổi và dù mắc một số hạn chế nhất định, vẫn là một trong những thành tựu lớn nhất. Nó không những giúp người đọc nhận diện một khía cạnh khác trong tài năng của Võ Phiến mà còn cung cấp cho người đọc một khối tài liệu đồ sộ và đáng tin cậy về một nền văn học ngỡ đã bị quên lãng: văn học Miền Nam từ năm 1954 đến 1975. Với ý nghĩa như thế, bộ Văn Học Miền Nam của Võ Phiến, đặc biệt tập đầu, “Tổng quan”, đã được đón nhận nồng nhiệt. Cuốn sách đã được tái bản nhiều lần.</em><em></em></p>
<p>Văn học Miền Nam 54-75 không có phê bình, văn học Miền Nam đang bị tiêu hủy. Chưa hết. Chung quanh nó còn diễn ra lắm trò lố bịch: tôi muốn nói đến câu chuyện “văn học giải phóng Miền Nam”. Nhà nước cộng sản dựng lên một nền văn học, cho cán bộ nghí ngố om sòm về nền văn học ấy, cố gây ra cái cảm tưởng đây mới là nền văn học chân chính của Miền Nam, là tiếng nói tự do của nhân dân Miền Nam; còn bao nhiêu sách báo xuất hiện trên khắp lãnh thổ Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào trong vòng 20 năm qua không phải là văn hóa phẩm đâu, đó là những món sản xuất theo lệnh của CIA cả đấy. CIA sai khiến ngụy quyền, ngụy quyền sai khiến bồi bút viết cái nọ cái kia, cái thì gieo rắc chủ nghĩa hiện sinh, cái thì mô tả cảnh dâm ô đồi bại, cái thì xúi giục chống cộng v.v&#8230;, tất cả cùng nhằm một mục đích đầu độc quần chúng làm hại nhân dân cả.</p>
<p>“Văn học giải phóng” mới là văn học chân chính của Miền Nam, (Văn học giải phóng Miền Nam, nhà xuất bản Đại Học Và Trung Học Chuyên Nghiệp, Hà Nội, 1975.) ông Phạm Văn Sĩ viết một cuốn sách về nền văn học ấy,<a name="3R"></a><a href="http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&amp;artworkId=3056#3#3">[3]</a> trong sách ông cẩn thận dành ra một phần phụ lục để thóa mạ “văn nghệ vùng tạm chiếm”. Đáng tiếc là không có phần nào dành nói về việc tạo thành văn nghệ giải phóng. Bởi vì việc đánh tráo một nền văn học tất nhiên ngộ nghĩnh, mà sự chế tạo nên một nền văn học cũng ly kỳ, đáng nói lắm chứ, không sao?</p>
<p>Xem nào, văn học giải phóng là do những ai? Ông Phạm Văn Sĩ kể ra những tên như: Nguyễn Đức Thuận, Thanh Hải, Giang Nam, Lê Anh Xuân, Nguyễn Thi, Huỳnh Minh Siêng, Trần Bạch Đằng, Anh Đức, Trần Hiếu Minh, Nguyễn Trung Thành, Phan Tứ, Nguyễn Vũ v.v&#8230; Ông không chịu nói ra cái điều lý thú này: là tất cả những kẻ vừa kể trên đều được phái từ ngoài Bắc vào. Những kẻ mới lớn lên thì được đảng dạy dỗ cẩn thận, cũng có người được cho đi rèn luyện tận bên Tàu bên Nga, có người là con ông cháu cha, xuất thân từ gia đình đảng viên cao cấp, bố là yếu nhân trong chính phủ. Hạng cao niên hơn thì lại là những văn nghệ sĩ đã có tên tuổi ngoài Bắc, đổi tên đổi họ, hóa thân làm người mới: Lưu Hữu Phước hóa làm Huỳnh Minh Siêng, Nguyễn Văn Bỗng hóa thành Trần Hiếu Minh, Nguyên Ngọc hóa ra Nguyễn Trung Thành, Bùi Đức Ái thành ra Anh Đức, Trần Bạch Đằng làm Hưởng Triều, làm Hiểu Trường, Lê Khâm hóa thành Phan Tứ, Nguyễn Ngọc Tấn thành Nguyễn Thi v.v&#8230;</p>
<p>Bảo rằng những văn nghệ sĩ ấy gốc từ Miền Nam nên những gì họ viết ra có thể cho vào văn học Miền Nam? &#8211; Nếu thế thì tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Mạnh Côn, Vũ Hoàng Chương v.v&#8230; phải trả về văn học Miền Bắc cả?</p>
<p>Lại bảo rằng những người gốc Nam kia đã trở về sáng tác ngay tại Miền Nam cho nên rất có thể cho vào văn học Miền Nam? &#8211; Những cán bộ kia chợt ra chợt vào chưa hẳn đã viết ở trong Nam. Mà giả sử họ có ở lại hẳn trong Nam một thời gian<a name="4R"></a><a href="http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&amp;artworkId=3056#4#4">[4]</a> thì lại vẫn là chuyện kỳ cục. Hãy tưởng tượng trường hợp chúng ta đưa nhạc sĩ Phạm Duy ra thả dù ở một vùng biên giới Hoa Việt nào đó, đổi tên làm ông Trần Doai, thi sĩ Tú Kếu đổi làm Tú Cối, các nhà văn Trần Dạ Từ, Doãn Quốc Sỹ v.v&#8230; thành những ông Phạm Nhật Nghiêm, Hồ Hải Dương v.v&#8230;, rồi trốn nấp trong khoảng núi rừng Bắc Việt, cứ cất lên đều đều tiếng nói của nhân dân cách mạng, nhân dân giải phóng Miền Bắc, được chăng? Lại thử tưởng tượng ngày trước chúa Nguyễn bỗng có ý kiến đưa Đào Duy Từ ra Đàng Ngoài? Vâng, bình thường thì Đào Duy Từ cứ ở Đàng Trong; lấy vợ sinh con đều đặn, ăn lộc chúa Nguyễn, lãnh quan tước Đàng Trong, đến một lúc nào đó chúa Nguyễn thấy “nhân dân” Đàng Ngoài cần lên tiếng bèn hạ lệnh cho Đào Duy Từ mang tay nải lẻn lút trở ra Bắc, đào cái hầm thật sâu nấp thật kín, rồi ngồi dưới đó cất lên tiếng nói giải phóng của toàn thể nhân dân Đàng Ngoài. Người của Đàng Ngoài sáng tác ngay trên lãnh thổ Đàng Ngoài đấy mà. Được chăng?</p>
<p>Nghe chuyện như thế chúng ta ở Miền Nam bò lê bò càng ra mà cười, rồi xúm nhau đàn ngang cung, xúm nhau làm thơ chua thơ đen thơ xám v.v&#8230; Thế là hỏng.</p>
<p>Người cộng sản không cười. Họ trịnh trọng trình bày vấn đề. Xong, họ trịnh trọng đưa hai tay lên ngang ngực vỗ lép bép; tất cả cùng vỗ tay theo. Mọi người nhất trí, họ tiến hành kế hoạch. Chuyện kỳ cục đến đâu họ cũng làm được. Họ làm ra mặt trận giải phóng Miền Nam bằng người của họ, họ làm ra chính phủ giải phóng Miền Nam bằng người của họ, họ làm ra quân đội giải phóng Miền Nam bằng người của họ, tại sao họ không làm ra được một đội ngũ văn nghệ sĩ, một nền văn học giải phóng Miền Nam bằng người của họ mang vào, sau khi đã dạy dỗ kỹ càng và tiếp tục “lãnh đạo”, kiểm soát chặt chẽ. Vả lại trong một xã hội mà người quốc trưởng có thể lần lượt đội hết tên này đến tên kia, ký hết “bút hiệu” này đến “bút hiệu” nọ, viết sách tự ca tụng mình inh ỏi, tự tâng bốc mình lên tới mây xanh, cho in đi in lại phổ biến tưng bừng khắp nước, như thế mà vẫn đẹp mặt như thường,<a name="5R"></a><a href="http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&amp;artworkId=3056#5#5">[5]</a> thì văn nghệ sĩ thay đổi vùng để kể xấu đối phương có gì là kỳ cục đâu? Làm được tất.</p>
<p>Họ làm một cách trịnh trọng, không cười, và thế giới Tây phương trịnh trọng ghi nhận những gì họ nói họ làm. Do chính sách tiêu diệt tàn tích văn hóa Mỹ ngụy, một ngày kia dần dần không ai tìm thấy sách của Chu Tử, Doãn Quốc Sĩ, Nguyễn Mạnh Côn, Vũ Hoàng Chương để đọc nữa, không ai nghe nói đến Nhã Ca, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Đình Toàn&#8230; nữa, những tên tuổi ấy mỗi lúc một phai mờ, trở nên mơ hồ, rồi tác phẩm của Phạm Văn Sĩ tái bản sẽ lặng lẽ bỏ đi phần phụ lục. Lúc bấy giờ khi cần biên khảo về văn học Việt Nam thời kỳ 1954-75, với tài liệu sách báo do nhà nước Việt Nam phổ biến rộng rãi, cung ứng đầy đủ, các học giả Tây phương tha hồ hăng hái nghiên cứu về cái văn học giải phóng như là nền văn học chân chính, nền văn học duy nhất của Miền Nam Việt Nam, với những tác phẩm sáng chói kể chuyện anh hùng Nguyễn Văn Trỗi, chuyện “tục ăn thịt người” ở Miền Nam<a name="6R"></a><a href="http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&amp;artworkId=3056#6#6">[6]</a> v.v&#8230; với những văn nghệ sĩ cách mạng Nguyễn Trung Thành, Trần Hiếu Minh, Huỳnh Minh Siêng v.v&#8230; thường thường nhất trí quan điểm với những nghệ sĩ cách mạng Miền Bắc Nguyên Ngọc, Nguyễn Văn Bỗng, Lưu Hữu Phước. Và đối với Tây phương sẽ chỉ còn có nền văn học ấy ở Miền Nam. Chúng ta thấy hài hước? Thật hài hước chết người.</p>
<p>Vì những chuyện như thế, rốt cuộc đành miễn cưỡng viết cuốn sách này trong những điều kiện rất không nên viết. Viết như là một sơ thảo, một bản nháp, một gợi ý, nhắc nhở, một cách nêu vấn đề, để sau này những người có đầy đủ tư cách và điều kiện sẽ viết lại một cuốn xứng đáng.</p>
<p>***</p>
<p>Tôi ngờ rằng không hẳn thế. Không hẳn có chuyện thế hệ sau hờ hững với lịch sử. Chỉ có chuyện mỗi thế hệ chú ý đến một thời kỳ lịch sử khác nhau. Hồi tiền chiến hầu hết các tác giả viết về lịch sử (hoặc tiểu thuyết hoặc truyện ký) đều xúm nhau khai thác giai đoạn Lê mạt Nguyễn sơ. Phải chăng vì đó là một thời tương đối gần gũi, còn gây nhiều xúc động trong lòng người? hay vì đó là một thời mà sử học cung cấp được nhiều tài liệu hơn cả? Thế nhưng sau Cách mạng Mùa Thu 45 họ Lê hay họ Mạc hay họ Nguyễn đều vụt trở nên quá xa xôi. Thế hệ này tha thiết đến một cái lịch sử gần hơn, sôi động hơn, mà chứng liệu lại khỏi phải tìm tòi trong sách vở: cái lịch sử dân tộc từ cuối thời Pháp thuộc về sau.</p>
<p>Có phải vì vậy mà vào thời kỳ văn học 1954-75 có bao nhiêu là tác giả muốn viết những bộ trường thiên tiểu thuyết về giai đoạn lịch sử này? Trường thiên tiểu thuyết hóa thành một cám dỗ. Đại khái bấy giờ có chừng sáu bộ nổi tiếng, có bộ đã hoàn tất, có bộ còn lở dở, trong đó bốn bộ liên quan đến đề tài vừa nói: Giòng sông Thanh Thủy (3 cuốn) của Nhất Linh đề cập tới những hoạt động tiền khởi nghĩa bên Tàu, Khu rừng lau (5 cuốn) của Doãn Quốc Sỹ, Vẻ buồn tỉnh lỵ (6 cuốn) của Duyên Anh, và bộ ba Hoa bươm bướm, Như cánh chim bay, Tiếng ca lặng lẽ (chưa in) của Võ Hồng là từ Cách mạng Mùa Thu về sau. Ngoài ra, Bình Nguyên Lộc cũng có một bộ trường thiên tiểu thuyết bắt đầu từ 1942, tức bộ Phù sa, chưa hoàn tất, nói về chuyện mở đất của miền quê ông, cũng là một thứ lịch sử. (Bộ thứ sáu, Xóm Cầu Mới của Nhất Linh là tâm lý tiểu thuyết, không liên quan đến các sự kiện lịch sử.) Khi người ta đã quá tha thiết, quá xem là quan trọng một thời kỳ nào đó, thì chắc chắn không còn mấy hứng thú mằn mò chuyện cũ các thời khác. Sau 1945 kẻ lên voi người xuống chó, kẻ chợt thấy ánh sáng chói lòa người nhìn ra địa ngục tối om om, kẻ hồ hởi người lợm giọng, tất cả đều để hết tâm hồn vào hiện tại. Thế hệ sau 1945 bị hiện tại thu hút đến mê mẩn tinh thần, họ say mê hiện tại, bám dính lấy hiện tại, không thiết dựng lại dĩ vãng: chuyện tẩn mẩn ấy bấy giờ không phải là lúc nghĩ đến . Có lẽ thế chăng? Tuy vậy, tôi không hề bảo rằng những pho truyện vừa kể trên đây cũng là một thứ lịch sử tiểu thuyết về thời hiện đại. Cùng viết về một đề tài, mỗi tác giả nhằm một chủ đích khác nhau.</p>
<p>Nhất Linh chẳng hạn. Trong Giòng sông Thanh Thủy ông theo dõi từng nhân vật, nhẩn nha với một mối tình, phân tích tâm lý, tìm hiểu động cơ tham gia và thái độ hoạt động của mỗi đảng viên cách mạng, động cơ nhiều lúc chẳng ăn nhằm gì với lòng yêu nước. Cái chính yếu ở đây là tâm lý. Nhất Linh hậu chiến trước hết là một tiểu thuyết gia thuộc khuynh hướng tâm lý, bất luận ông viết về đề tài gì.</p>
<p>Còn Doãn Quốc Sỹ, ông làm chúng ta nghĩ đến một nhân vật của ông: Khiết. Khiết “kiên trì theo con đường văn hóa”, nhưng “đã trót đi vào con đường chính trị, biết những ngõ ngách của nó, âu cũng thành nghiệp chướng của mình, khó bỏ lắm.”<a href="http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&amp;artworkId=3281#8#8">[8]</a> Khu rừng lau phơi bày cái hiểm ác của chế độ này, lột trần nền độc tài nọ. Thái độ chính trị của tác giả luôn luôn hiển lộ trong tác phẩm. Tuy vậy, ông Doãn cũng như Khiết, trước sau “kiên trì theo con đường văn hóa”: Ông chê cái này chống cái nọ vì nó xấu nó ác. Mà ông thì nhất tâm phục vụ cái thiện cái mỹ. Thiện tâm thiện ý của tác giả tỏa ra khắp tác phẩm: trong các truyện của ông, nhân vật nào cũng tốt, việc gì cũng có khía cạnh hay. Ông bất lực không tạo nổi người xấu, kể nổi việc xấu. Đọc sách ông, thơm tho cả tâm hồn. Truyện ông Doãn vừa có luận đề chính trị vừa có chủ tâm giáo dục.</p>
<p><strong>(Võ Phiến )</strong></p>
<h3><strong>Doãn Quốc Sỹ, kẻ sĩ thời đại chúng ta </strong></h3>
<h4><strong>Nguyễn Mạnh Trinh</strong><strong></strong></h4>
<p>Với nhiều người bản xứ , hình như dư âm của cuộc chiến tranh Việt Nam vẫn còn nên văn chương và văn hóa Việt nam được đặc biệt chú ý. Tôi có một người bạn cùng lớp Creating &amp; Writing học viết văn người Mỹ gốc Ý rất thích thú với văn chương Việt nam. Một bữa anh khoe với tôi tuyển tập “ Việt Nam: A traveler’s literary companion “ do John Balaban và Nguyễn Quý Đức chủ biên và rất đặc biệt chú ý tới nhà văn Doãn Quốc Sỹ với truyện ngắn “ The Stranded Fish” ( Con cá mắc cạn). Anh còn khoe đã được dự một cuộc seminar với hai giáo sư Doãn Quốc Sỹ và Lê Hữu Mục tháng 6 năm 1999 tại University St Thomas ở Houston với đề tài “ Living Two Cultures : A conference for Vietnamese – Americans”. Và anh hỏi tôi một câu : Bạn nghĩ thế nào về nhà văn Doãn Quốc SỸ . Nhà văn ? Nhà giáo ? một người hoạt động chính trị? Hay một người yêu nước bị chế độ đương thời đầy ải khi ở trong nước? Và một nhà văn luôn hướng về tương lai ở hải ngoại …<br />
Có một người đã làm thơ để dường như trả lời giùm cho cá nhân tôi. Những câu thơ gợi ý và lấy từ những nhan đề của tác phẩm mà nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã viết trong suốt hơn một nửa thế kỷ cầm bút :<br />
” Dòng sông định mệnh”, thiên thu<br />
“ Sầu mây” còn đỉnh mịt mù dương gian<br />
nước non mấy nẻo quan san<br />
lốc quay thời thế gian nan một đời<br />
Đến .Đi . Đi .Đến. ngược xuôi<br />
Quê hương. Đất lạ . chỗ ngồi bụi không.<br />
“ Khu rừng lau” lửa mênh mông<br />
“ U hoài “ đâu tiếng bên sông gọi buồn.<br />
Đường ranh lịch sử mỏi mòn<br />
“ Ba sinh “ còn tấc “ lửa hương” chập chờn<br />
ngã tư bước rẽ không hồn<br />
lưu lạc nào để mất còn hoang mang<br />
“ Đàm htoại, độc thoại “ từng trang<br />
“ Tình yêu thánh hóa” trường gian mấy nguồn<br />
biển khơi nào rã rêu rong<br />
ai trăng lụn tưởng nến chong dặm ngoài<br />
“ Giữ ngọc “ thôi cũng “ gìn vàng”<br />
sót thiên lương với ngỡ ngàng tâm tư<br />
“ Vào thiền “ giây phút hoại hư<br />
kiết già ngục tối mắt htù chăm chăm<br />
trong tâm linh thoảng hương trầm<br />
trong lênh đênh có lời thầm đinh ninh<br />
Thì thôi,” Mình lại soi mình”<br />
“ Dấu chân cát xóa bóng hình nổi trôi<br />
“ người vái tứ phương”, một đời<br />
hoa thơm ngát để một trời mông mơ<br />
kinh vạn quyển thiếu một tờ<br />
chữ vô tự nẻo mịt mờ muôn năm<br />
Tâm ai vằng vặc trăng rằm<br />
Lời ca dao vẫn tiếng ngâm triệu đời”<br />
Bài thơ đầy những Dòng sông định mệnh, Sầu mây, U hoài , Vào thiền , Khu rừng lau , Ba sinh hương lửa , Tình yêu thánh hóa , Đàm thoại độc thoại, Gìn vàng giữ ngọc , Mình lại soi mình , Dấu chân cát xóa, Người vái tứ phương , Đi,… và cũng nêu được tính chất riêng của một kẻ sĩ phương đông. Luôn luôn chân thành và tin tưởng vào cuộc đời ở những khía cạnh nhân bản tốt . …<br />
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ra và trưởng thành trong một giai đoạn lịch sử đặc biệt. Như một câu ví von của ông :“ Ba sinh hương lửa “ thành nhan đề của một tập trong trường thiên Khu Rừng Lau. Các nhân vật đã sống trong thời đại Pháp thuộc , Nhật thuộc, rồi việt minh , rồi đảng phái Quốc gia , rồi ở lại kháng chiến , rồi trở về thành phố mà thời ấy gọi là về Tề, bao nhiêu là biến chuyển , bao nhiêu là cảnh bể dâu. Rồi hiệp định Genève chia đôi đất nước , rồi chiến tranh tiếp diễn. .. Hình như , sống trong thời đại ấy , định mệnh đã đẩy con người đi vào những lối ngõ khác nhau và cho đến bây giờ , hàng triệu người lưu lạc xứ người và cuộc chiến vừa qua tới bây giờ vẫn còn hậu quả. Cuộc đời đầy những chuyến ra đi , rời quê Bắc vào Nam , rồi lại phải ra đi lần nữa. Lịch sử toàn là những chia ly tan tác .<br />
Thế mà , ông viết văn trong cái tâm thái ung dung , dù đang trong cảnh tù giam bức bối. Vẫn thái độ tin vào mình , tin vào người , tin ở những điều tốt đẹp của cuộc sống. Độc giả khó tìm thấy những lời hằn học , những tâm trạng phẫn nộ . Viết văn, với ông là một phương cách của “ văn dĩ tải đạo “ Viết , như một cách để làm đời sống đẹp tươi thêm …<br />
Những lúc thấy những cảnh tráo trở tàn nhẫn của người đời với nhau, tôi lại giở những “ Gìn vàng Giữ Ngọc “ hay “ Chiếc chiếu hoa cạp điều “ ra đọc. Những lúc buồn nhớ về quê hương, tưởng tượng ra những Hà Nội, những Saigon, tôi đọc “ Dòng sông định mệnh” để thấy mình tìm lại cái rung động thuở nào khi đọc những câu thơ tả lại cảnh đạp xe theo một tà áo trắng những câu dễ thương“.. Em nghèo ta có giầu đâu. Tịch liêu đổ xuống đôi đầu ngẩn ngơ. Hoe đôi mắt em vơ tà áo. Áo trắng bong ảo não hồn trinh. Lòng ta gợn gió ngây tình .Theo em nào biết chúng mình về đâu..” Và khi nào thấy đời sống có một chút gì sương khói, tôi đọc “ Sầu mây”, “ Vào thiền “…<br />
Có người nói rằng văn chương mà mang thời thế làm đề tài thường tuổi thọ không dài bằng những đề tài xoáy sâu vào chân dung con người muôn thuở. Viết về thời thế khó có tác phẩm lớn. Nhưng tôi lại có ý nghĩ khác. Không có đề tài nào giới hạn cho những tác phẩm lớn. Nếu có tài năng, nhà văn sẽ viết những tác phẩm bất tử bất kỳ đề tài nào. Huống chi, một thời đại đặc biệt của dân tộc Việt nam nếu mô tả những cơn lốc thời cuộc sẽ có biết bao nhiêu chân dung con người điển hình cho những nhân vật tiểu thuyết tuyệt diệu….<br />
Hình như, trong tiểu thuyết của Doãn Quốc Sỹ, thời thế đã đóng vai trò quan yếu và văn chương là những dấu hằn chẳng thể nào phai trong ký ức của dân tộc chúng ta.<br />
Với “Khu rừng Lau”, những ngày kháng chiến chống Pháp được ghi chép lại với tất cả những nỗi niềm của người yêu nước nhưng bị lừa gạt bởi những ý thức hệ ngoại lai. Một tiểu thuyết trường thiên vẽ lại cả một thời kỳ hoành tráng của lịch sử mà trong đó con người bị cuốn vào những cơn lốc dữ dội.<br />
Với những truyện ngắn như “Chiếc chiếu hoa cạp điều” , hay “ Gìn Vàng Giữ Ngọc”, chân dung những con người tốt đẹp vằng vặc như trăng đã khiến nhà văn Võ Phiến viết lên một nhận xét :” đọc sách ông, thơm tho cả tâm hồn…”.Trong bất cứ hoàn cảnh nào , dù khốn cùng đến đâu, cái chất nhân bản vẫn rõ nét.<br />
Quả thật, văn chương của ông bình dị không lên mặt dậy đời mà lại có sức thuyết phục . Thường thường , văn chương cũng như âm nhạc phải theo luật cân phương, có nghĩa là phải thể hiện được đời sống ở nhiều mặt tốt xấu và tất cả phải quân bình cân đối. Nhà văn thời danh Milan Kundura đã ví von công việc viết tiểu thuyết như soạn hòa âm,nhạc đề cũng cần phải có những dạo khúc hoặc những chuyển khúc và cân bằng nó là cả một vấn đề kỹ thuật tinh tế.<br />
Thế mà, ở Doãn Quốc Sỹ, hầu như những nhân vật dều ăm ắp chất thiện ở trong . Ngay những nhân vật ở tuyến ác, cũng có nét khiến độc giả có thể bao dung được và không thể ghét bỏ hoàn toàn. Văn của ông, chuyên chở một phần nào cuộc sống và ở đó , đời sống của người Việt Nam đã được phóng chiếu qua những cảnh ngộ đặc thù của một thời đại đặc biệt.<br />
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ là một khuôn mặt văn chương hàng đầu của hai mươi năm văn học miền Nam. Ông sinh năm 1923 tại ngoại ô Hà Nội lớn lên trong thời kỳ kháng chiến, dạy học ở HàNội và Nam Định, rồ di cư vào Nam năm 1954. Nghề chính của ông là dậy học và đã sang Hoa Kỳ tu nghiệp giáo chức trong hai năm. Trên bình diện văn chương, ông là một cây bút chủ lực trong nhóm chủ trương tạp chí Sáng Tạo và cũng là giám đốc nhà xuất bản cùng tên đã giới thiệu được nhiều tác phẩm có giá trị và nhiều cây bút tài hoa có khả năng.<br />
Tác phẩm của ông gồm bộ trường thiên “Khu Rừng Lau” có bốn cuốn :Ba sinh hương lửa, Người đàn bà bên kia vĩ tuyến, Tình yêu thánh hóa, Đàm thoại ,Độc thoại ; truyện dài Dòng sông định mệnh, Sầu mây, Đốt biên giới; truyện ngắn Gìn vàng giữ ngọc, Cánh tay nối dài, U hoài, Gánh xiếc; tùy bút Vào thiền; khảo luận Người Việt đáng yêu;…<br />
Sau năm 1975 , ông bị chính quyền Cộng Sản bắt giam hai lần và sau những cuộc can thiệp của công luận thế giới ông được trả tự do và định cư ở Hoa kỳ với người con trai lớn ở Houston, Texas.<br />
Trường thiên “ Khu Rừng Lau” vẽ lại cả một thời kỳ nhiễu nhương của lịch sử Việt Nam. Đời sống của một lớp thanh niên tiểu tư sản được dựng lại trong cái phong cảnh hoành tráng của một đất nước không may trở thành nơi chốn đọ sức của những ý thức hệ quốc tế. Những nhân vật như Miên, Kha , Tân, Hiển , Hãng , Lăng, Khiết… từ lúc trưởng thành, tham gia kháng chiến chống Pháp ,rồi trải qua những ngày cải cách ruộng đất, trở về thành rồi di cư vào Nam , tất cả những quặn mình của cả một thế hệ được nhà văn tạo thành tiêu biểu.</p>
<p>Tuổi tác họ chênh lệch nhau nhưng cùng có chung một mẫu số yêu đất nước như yêu tự do và cùng mong ước cho một ngày đất nước hùng cường .Hình như , họ có chung nỗi hoang mang của những người trí thức luôn đi kiếm tìm cho mình một con đường nhưng lại thấy bơ vơ khi chọn lựa. Ở với kháng chiến , thấy lòng yêu nước bị lợi dụng bởi những con người Bolcheviks tàn bạo vô nhân, về thành thì thấy giặc Pháp nghênh ngang, chính phủ quốc gia chỉ là cái bóng. Di cư vào Nam, thì chế độ độc tài và gây ra nhiều kỳ thị bất công.<br />
Dòng đời trôi, qua bao năm tháng, chiến tranh lại tiếp chiến tranh, hết độc tài Cộng sản đến độc tài gia đình trị, thế nước nghiêng ngửa như những cuộc đời ngả nghiêng theo. Bộ trường thiên này có lẽ là một phác họa lịch sử hoành tráng và tiêu biểu nhất của văn học Việt Nam…<br />
Nhưng đọc truyện ngắn của ông như “Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều “ hay “ Gìn Vàng Giữ Ngọc” mới thấy được cái Tâm vằng vặc của ông. Hoàn cảnh dù thế nào , con người dù ở trong cảnh ngộ nào, cái tình đối xử với nhau mới là quan trọng. Cái nghèo, cái khổ, cái đói không làm hạ giá trị được con người bằng sự tha hóa tâm hồn. Tình đời thường thay đổi cách ứng xử tùy theo giàu nghèo nhưng cũng có những trường hợp cá biệt như nhân vật xưng tôi trong “Gìn vàng giữ ngọc” hay “ Chiếc chiếu hoa cạp điều “ trời làm loạn lạc ,gây nhiều thảm cảnh nhưng con người với cái tâm hiền vẫn vòi vọi đứng không quỵ ngã. Văn phong đôn hậu, chữ nghĩa thật thà đã có tác dụng ảnh hưởng đến người đọc. Bao nhiêu năm trôi qua, tôi mỗi khi đọc lại những chuyện ngắn này thấy đời sống dù sao cũng còn nhiều người tốt và không phải chỉ toàn là lang sói và lừa lọc như những bi hài kịch thường diễn ra mỗi ngày của thực tế đời thường…<br />
Những năm 1984.1985, nhà xuất bản Lá Bối ở hải ngoại có in một tác phẩm “Đi” với tác gỉa Hồ Khanh . Cuốn sách đã tạo ra dư luận xôn xao một thời lúc đó . Được in ở hải ngoại và chính ông là tác giả mang tên Hồ Khanh để ngụy trang . Câu chuyện kể lại một chuyến vượt biên ở vào thời điểm mà cây cột đèn đường ở Sài Gòn cũng muốn xuống ghe tìm tự do như lời người dân ví von. Có những đại gia đình mấy chục người vùi thân nơi Biển Đông sóng dữ và cũng không biết bao nhiêu người bị bắt giam tù tội cũng như biết bao nhiêu gia đình bị tan nát sống lang thang vỉa hè vì vượt biên không thoát. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã mang chính cuộc đời những con cháu mình để tạo thành một tác phẩm vẽ lại một thời kỳ cực kỳ đen tối của đất nước. Người dân bị đẩy vào những cảnh ngộ không lối thoát và đã mang chính sinh mạng của mình và gia đình mình đánh bạc với rủi may. Chính vì chất bi thảm nên động tới lương tâm nhân loại và rốt cuộc mới có những đợt thuyền nhân và bộ nhân tới định cư ở các nước tự do.<br />
Riêng với tôi, tôi biết những chi tiết trong “Đi “ thực tới một trăm phần trăm và hình như rất ít hư cấu. Tôi vượt biên cùng chuyến tàu với gia đình con cháu của nhà văn Doãn Quốc Sỹ nên khi đọc lại những trang sách thấy mồn một rõ những nhân vật với cả những cá tính và cả hoàn cảnh nữa. Khi thường đi lại với người bạn cùng Không Quân là con rể của bác Doãn Quốc Sỹ ở căn nhà ở con hẻm đường Thành Thái tôi đã thấy được đời sống tuy thanh bạch mà rất nghệ sĩ. Sau khi bác Sỹ mới được thả về lần thứ nhất và công an để ý, nhưng ở nha các con vẫn tụ họp ca hát những ca khúc ngày xưa mỗi khi có bạn bè mặc kệ công an mặc kệ dò xét. Tôi nhớ có lần buổi tối ghé thăm thì thấy trước cửa con nít trong xóm bu đông lại xúm xít để nghe ca nhạc. Dù đời sống lúc đó khá thiếu thốn nhưng vẫn đầy tinh thần lạc quan. Trong hoàn cảnh căng thẳng như lúc ấy , không phải là dễ để có những phong cách như vậy.<br />
“ Đi “ đã mô tả rất thực hoàn cảnh gia đình nhà văn cũng như cuộc sửa soạn chuyến vượt biển và những ngày trên biển Đông nên có sự lôi cuốn từ người thực việc thực. Những lá thư của con cháu gửi về tả lại đời sống ở trại đảo cũng như ở xứ người biểu lộ tâm tư khá tiêu biểu của những người bị dồn vào thế phải bắt buộc xa quê hương. Ra đi mà vẫn ngoái nhìn về đất nước với những người thân còn ở lại. Riêng tôi , tôi có cảm nhận rằng tác phẩm được viết ra với một tấm lòng thương con thươbg cháu vô bờ. Người thường nếu có tâm tưởng như thế cũng có thể viết xuất sắc huống chi một nhà văn nổi tiếng là đôn hậu thì sự lôi cuốn độc giả sẽ lên đến mức nào!<br />
Nhà văn Nguyên Vũ chủ trương nhà xuất bản Văn Hóa hình như đang tiến hành việc in laị toàn bộ Doãn Quốc Sỹ Toàn Tập. Công việc này quả thực rất hay và cần thiết nữa. Một nhà văn tư cách đức độ có những tác phẩm tiêu biểu nói lên tâm tư của một thế hệ có phải xứng đáng để chúng ta trân trọng thành những di sản cho những thế hệ sau này…</p>
<p><strong>(Nguyễn Mạnh Trinh)</strong></p>
<h3>Doãn Quốc Sỹ một tâm hồn thanh thản, đôn hậu, cao thượng.</h3>
<p>&nbsp;</p>
<h4><strong>Nguyễn Văn Quảng Ngãi </strong></h4>
<p><strong><br />
</strong>Một thoáng hương xưa: Ôi, dòng sông, cánh đồng năm ngàn năm của chúng ta, mênh mông thanh thản dưới mắt nhân loại kẻ nào mà làm hoen ố nổi<br />
Thuở xưa, ngót bốn mươi năm rồi, trong Tiền Kiếp của Gìn Vàng Giữ Ngọc, Doãn Quốc Sỹ đã mạnh dạn, tự hào viết như vậy.<br />
Gìn Vàng Giữ Ngọc. Sao mà cái tên cuả tác phẩm đẹp đến vô cùng! Không ít người đã quên khuấy đi mất cái nguồn gốc từ truyện Kiều: Gìn vàng giữ ngọc cho haỵ Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời mà Kim Trọng đã ân cần dặn dò Thúy Kiều trước khi giã biệt về nhà hộ tang chú. Nhất định cụ Nguyễn Du chẳng những đã không trách họ Doãn mà còn vui mừng khi thấy hậu thế đã biết khéo léo dùng lại ngôn ngữ của mình để khuyên nhủ thế nhân.<br />
Còn nữa, Doãn Quốc Sỹ còn nhiều tác phẩm mà tên gọi vừa đẹp, vừa ý nghĩa như: Dòng Sông Định Mệnh, Ba Sinh Hương Lửa, Trái Cây Đau Khổ&#8230;<br />
Cùng với Lỡ Bước Sang Ngang của Nguyễn Bính, Ngàn Năm Một Thuở của Hồ Hữu Tường, Vang Bóng Một Thời của Nguyễn Tuân&#8230; đó là những tác phẩm có tên gọi hay nhất, đã trở thành những điển tích mà nhiều người hay mượn tiêu đề để trích dẫn nhiều hơn là nội dung của tác phẩm&#8230;<br />
Nhưng khi nói đến Doãn Quốc Sỹ là nhiều người nói đến Dòng Sông Định Mệnh, tác phẩm đã gây xúc động trong lòng rất nhiều người từ năm 1959.<br />
Tôi đã yêu Dòng Sông Định Mệnh từ đó, thuở mà tâm hồn còn xanh tươi, bầu nhiệt huyết còn đầy ắp. Mãi đến ngày nay, đôi khi nhắm mắt ôn lại một thoáng hương xưa thân yêu đó, tôi vẫn còn tìm lại được nguyên vẹn cái cảm giác đầy rung động, thích thú khi đọc Dòng Sông Định Mệnh: Ôi nắng vàng sao mà nhớ nhung Có ai đàn lẻ để tơ chùng Có ai tiễn biệt nơi xa ấy Xui bước chân đây cũng ngại ngùng.<br />
Dòng sông gợi cho chúng ta nhiều cảm giác, lắm suy tư: khi nỉ non tâm sự, lúc ôm ấp hiền hoà, khi giông tố ba đào, lúc trầm tư mặc tưởng. Dòng sông còn gợi cho chúng ta biết bao là kỷ niệm mà bụi thời gian đã phủ mờ theo năm tháng:<br />
Con nước ấy đã bao lần sóng vỗ Chút tàn phai đọng lại dưới chân cầu (Hà Nguyên Thạch)<br />
Ta ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng Nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu (Hoài Khanh)<br />
Nhưng có ai chận đứng được thời gian nên phương Đông đã tra vấn nước sông: Chảy mãi như thế này ư chẳng kể ngày đêm?<br />
Và có ai tìm lại được những ngày xưa thân ái nên phương Tây đã than thở: Người ta không thể tắm hai lần trên một dòng sông.<br />
&#8230;Với Doãn Quốc Sỹ thì khác!<br />
Dù thời gian có hững hờ trôi như nước chảy qua cầu, dù cuộc đời có gây nhiều đau thương, tang tóc cho nhân thế, dù cuộc thế có đầy rẫy lọc lừa phản trắc, dù cầu Hiền Lương qua sông Bến Hải thuở đó như là một vết thương còn rướm máu mà Định Mệnh vừa mới tàn nhẫn chia cắt đất nước thân yêu&#8230; Doãn Quốc Sỹ vẫn một lòng tự hào tin tưởng: &#8220;Cánh đồng và dòng sông năm ngàn năm của chúng ta kẻ nào mà làm hoen ố nỗỉ&#8221;.<br />
XUÔI DÒNG THỜI GIAN: Là độc giả thường xuyên của Bách Khoa, tờ báo có tuổi thọ cao nhất và thành công nhất ở miền Nam trước 1975, ngoài những bài vở giá trị về nhiều phương diện, có một dạo tôi rất thích thú với những bài phỏng vấn tài tình Sống Và Viết Với&#8230; của Nguyễn Ngu Í. Bài viết về Doãn Quốc Sỹ là bài xuất sắc nhất &#8211; theo tôi &#8211; trong loạt những bài phỏng vấn này và sau được Nguyễn Ngu Í cho in thành sách với tên gọi như trên (Ngày Xanh xuất bản 1966). Ngoài những chi tiết liên quan đến Sống Và Viết&#8230; của Doãn Quốc Sỹ, điều mà cho mãi tới ngày nay vẫn còn ghi đậm trong tôi là bức hình chớp toàn gia đình của ông. Bà Doãn Quốc Sỹ với nét dịu hiền thanh tú của một mệnh phụ Việt Nam (bà là con nhà thơ Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu) cùng ông và rất đông con (đông thật!) mà cô nào cậu nấy đều tươi cười, xinh xắn. Đặc biệt là những đôi mắt: tất cả đều tròn xoe, trong sáng!&#8230;</p>
<p>Đọc sách của ông, cảm được tấm lòng đôn hậu và nhân ái của ông, hiểu được tình yêu dân tộc Việt Nam tha thiết của ông, thấy được niềm tin bao la và sâu sắc của ông về chân-thiê.n-mỹ cho nhân thế, biết được cuộc sống của ông: dạy học (Trung và Đại Học), viết văn, chủ trương nhà xuất bản Sáng Tạo, xem hình cả gia đình ông&#8230; đã cho tôi đi đến kết luận: Đó là mẫu người lý tưởng cho một xã hội Việt Nam lý tưởng!</p>
<p>Trên đây là tất cả những điều tôi biết về Doãn Quốc Sỹ trước năm 1975.<br />
Trong 9 năm tù ngục có thời gian dài tôi ở nhà giam Kim Sơn và Nước Nhóc (K18) thuộc tỉnh Nghĩa Bình (Quảng Ngãi và Bình Định sát nhập) và cùng làm chung một bộ phận lao động với một nhà nho ẩn danh. Anh làm thơ rất hay, có kiến thức về Hán văn rất rộng và đặc biệt là biết rất nhiều về những nhà văn, nhà thơ ở miền Nam. Theo anh thì nhân loại đã và đang bị lún sâu vào cuộc chiến tranh lạnh tranh chấp giữa hai khối (dạo đó).<br />
Nếu những tác phẩm của ông Doãn được dịch ra Anh hoặc Pháp văn để loài người đọc và suy gẫm về cái tâm của ông cho tình yêu (gia đình, bằng hữu, quê hương, nhân loại), về tấm lòng cương quyết và tin tưởng hướng đến chân-thiê.n-mỹ của ông&#8230; thì những điều đó sẽ có ảnh hưởng sâu đậm và Doãn Quốc Sỹ xứng đáng nhận giải thưởng No bel về văn chương. Chúng tôi cũng bàn đến những tác phẩm và văn tài của Võ Phiến, nhà văn Bình Định chòm xóm gần gũi từ thuở Mùa Lúa Mới mà chúng tôi rất quý kính để có cùng chung một kết luận: Doãn Quốc Sỹ và Võ Phiến là hai nhà văn tiêu biểu ở miền Nam về văn tài, về lập trường Quốc Gia &#8211; Dân Tộc và về tư cách và đạo đức.</p>
<p>Sau vài chuyến vượt biển thất bại, bị bắt, vượt ngục, cuối cùng tôi đến được trại tị nạn Galang ở Nam Dương năm 1985. Một hôm tôi đang ngồi tại văn phòng Trung Tâm Thiếu Nhi Không Có Thân Nhân (Unaccom-panied Minors Center) thì anh bạn Chủ Tịch Ban Đại Diện Cộng Đồng đưa một thanh niên đến thăm và giới thiệu:<br />
&#8211; Đây là trưởng nam của nhà văn Doãn Quốc Sỹ đang dạy level C (trình độ cao nhất của ESL).<br />
&#8211; Có phải em đang cho đăng truyện của bố trên tờ Tự Do không? (Tự Do là tờ báo Việt Ngữ của trại).<br />
&#8211; Sao anh biết?<br />
&#8211; Trước <a href="http://dactrung.net/baiviet/noidung.aspx?BaiID=AbTC0UIrCexXc8LuWncy7w%3d%3d##">kia</a> ai đã đọc nhiều sách của bố thì, dù bố có ký dưới bút hiệu nào đi nữa, khi đọc truyện người ta sẽ nhận ngay ra văn phong của bố&#8230; Tôi cố nhớ lại tấm hình chớp toàn gia đình của Doãn Quốc Sỹ trên Bách Khoa thuở trước để đối chiếu với anh bạn thanh niên trắng trẻo, đẹp trai, ăn nói nhỏ nhẹ, lễ phép nàỵ<br />
Vài tháng sau đó, một buổi sáng, anh ăn mặc chỉnh tề, vai đeo chiếc xách nhỏ vội vàng ghé lại thăm tôi trước khi lên đường sang Úc định cự Việc này đã thực sự làm tôi cảm động vì ai đã từng ở trại tị nạn đều biết là ngày cuối cùng vô cùng bận rộn và vội vàng: nào phải lo hoàn tất những thủ tục cần thiết bắt buộc của Cao Ủy tị nạn, của cơ quan IOM, nào phải lo soát xét lại hành trang cá nhân, nào kẻ còn ở lại nhờ nhắn tin, gởi thư, nào bằng hữu đưa tiễn&#8230; nên nhín một chút thì giờ tạt lại thăm nhau quả thật là đặc biệt quý giá!<br />
Mãi đến năm 1996 tôi mới có duyên gặp tác giả Dòng Sông Định Mệnh khi cả hai chúng tôi được Cộng Đồng Việt Nam tại Wichita &#8211; Kansas mời nói chuyện trong dịp lễ kỷ niệm 30 tháng 4. Anh bạn Lê Hồng Long, Chủ nhiệm kiêm Chủ bút tạp chí Thế Giới Ngày Nay đã dành cho chúng tôi sự tiếp đãi ân cần, chu đáo khó kiếm. Chúng tôi mỗi người ở một phòng riêng với đầy đủ tiện nghi tại nhà anh. (Hoàn toàn trong tình văn nghệ chứ anh không có trách nhiệm gì trong cộng đồng hay trong ban tổ chức ngày lễ). Sau những phút xã giao ngắn ngủi chúng tôi dễ dàng trở nên tương đắc khi tâm sư..</p>
<p>Vâng, tôi đang đối diện với tác giả Dòng Sông Định Mê.nh. Dù đã qua tuổi cổ lai hy, với nhiều năm dài trong tù ngục nhưng anh vẫn còn mạnh khoẻ từ thể xác đến tinh thần. Dáng cao, gầy, nước da ngăm đen, khuôn mặt chữ điền. Đôi mắt sáng, vừa hiền hòa vừa cương quyết. Nụ cười cởi mở, bao dung. Nói chuyện với anh tôi có cảm tưởng như mình đang hầu chuyện với một bậc thiền sư vì anh lắng nghe từng chi tiết nhỏ, anh tâm tình chậm rãi, khoan dung trong tinh thần hồn nhiên, phá chấp&#8230;<br />
Đề tài anh nói chuyện với Cộng Đồng là: Đời Sống Văn Nghệ Sĩ Trong Lao Tù Cộng Sản. Anh nói nhỏ nhẹ như đang chia xẻ với bằng hữu thâm giaọ Anh kể một vài mẫu chuyện thoạt nghe tưởng như chẳng có gì đáng nói nhưng gẫm lại thì rất chí lý. Bởi vì anh nói bằng cả con tim của anh. Do đó phải nghe anh bằng cả tâm hồn mình mới tâm đắc được hết tâm sự anh muốn giải bàỵ Nhà văn Võ Đình đã rất chí lý khi viết về Doãn Quốc Sỹ trong ngục tù: &#8230;Ngày nay, dẫu có đắng cay khổ nhục mấy đi nữa, ông vẫn còn nhìn với đôi mắt thương hại những công tố viên đang xỉa xói ông, những cán bộ chấp pháp đang truy vấn ông, những cai tù đang kềm giữ ông. Và như vậy ông mới có &#8220;Tự Do&#8221;, cái tự do ông trả với tất cả đau đớn ê chề cả thể xác lẫn tinh thần. Trái tim ông vẫn không suy suyễn. Bạo lực có thể uy hiếp ông. Nhưng bạo lực không cách gì đập nát trái tim ông và đặt vào đó lò lửa căm thù. Ông chỉ căm thù bạo lực, ông không thể căm thù con người, dù đó là con người dùng bạo lực để hành hạ ông&#8230;<br />
Vâng, chìa khóa của kiếp nhân sinh là cái &#8220;Tâm&#8221;. Các vấn nạn trên thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng chỉ có thể giải quyết bằng cái &#8220;Tâm&#8221;&#8230;<br />
Ba ngày tại Wichita &#8211; với lòng hiếu khách đặc biệt của anh Lê Hồng Long và gia đình &#8211; chúng tôi đã tạo được sự cảm thông quý giá và tôi thật sự vinh hạnh được anh xem như bạn hiền. Từ đó, mỗi lần biên thư cho tôi anh thường nhắc đến nhà báo họ Lê và mong có ngày gặp lại nhau ở thành phố Wichita nhỏ bé xa xôi nhưng thắm tình đồng hương của tiểu bang Kansas.</p>
<p>Tháng 4 năm 1999 anh Doãn Quốc Sỹ và tôi lại có dịp gặp nhau tại thành phố Dallas, Texas khi chúng tôi cùng được mời sung vào ban Giám Khảo cuộc thi truyện ngắn năm 1998 do hai tờ tuần báo Viet nam Weekly News và Người Việt Dallas tổ chức. Một chi tiết nhỏ chứng tỏ tấm lòng luôn luôn vì văn hóa dân tộc của anh. Thoạt đầu quý anh Trần Lộc, Chủ nhiệm kiêm Chủ bút tuần báo Vietnam Weekly News và anh Thái Hóa Lộc, Chủ nhiệm kiêm Chủ bút tuần báo Người Việt Dallas mời hai người điạ phương là anh Đàm Trung Pháp, Giáo sư ngôn ngữ học tại Đại học ở Dallas và tôi sung vào ban Giám khảọ Tự biết mình chỉ viết lách một cách tài tử, nhưng, để khích lệ việc làm ý nghĩa này và tạo dễ dàng cho ban tổ chức, chúng tôi đã vui vẻ nhận lờị Khi thấy số người gởi bài tham dự cuộc thi khá đông (gần 100 người từ nhiều tiểu bang tại Hoa Kỳ và từ một vài nước khác), để tăng giá trị cho cuộc thi và vinh dự cho những người trúng giải, vào giờ chót, hai anh đã nhờ tôi mời anh Doãn Quốc Sỹ vào ban Giám khảo.</p>
<p>Dù biết mời khá muộn là chuyện không phải nhưng tôi vẫn viết thư trình bày chi tiết gởi đến anh kèm theo bản sao của 31 truyện dự thi đã được ban tổ chức chọn vào chung khảọ Anh đã chấm từng truyện cẩn thận, cho điểm, ghi chú và gởi trả lại ban tổ chức trước cả anh Đàm Trung Pháp và tôị Và anh đã về Dallas tham dự lễ phát giải thưởng. Anh Đàm Trung Pháp, dù rất bận rộn với Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương của Cộng Đồng, vẫn đưa chị Pháp đến thăm thầy (Giáo sư Pháp vốn là học sinh cũ của anh Doãn Quốc Sỹ). Hành động ấy, mấy lời thăm hỏi nhẹ nhàng, ngắn ngủi ấy đã nói lên cái &#8220;tình thầy trò&#8221; đậm đà cao quý cuả nền văn hóa Việt Nam đầy nhân nghĩa, thủy chung khó tìm được ở xứ này! Dạo đó tôi vừa nhận cuốn hồi ký Việt Nam, Một Thế Kỷ Qua do tác giả, Bác sĩ Nguyễn Tường Bách, gởi tă.ng. Trong sách có đoạn nói đến nhà thơ Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu&#8230; chất phát, hiền hậu, khiêm tốn, ít nói về mình và đặc biệt là luôn luôn đi xe đạp một cách chậm chạp, từ tốn như đi dạo mát&#8230;<br />
Anh Doãn Quốc Sỹ rất cảm động khi đọc đoạn này cùng một số nhận xét đặc biệt nữa về nhạc phụ mình và chép ngay tại chỗ tặng tôi bài thơ cuả cụ Hồ Trọng Hiếu &#8220;Tú Mỡ đi xe bình bịch&#8221;:<br />
Tú rững mỡ cưỡi xe bình bịch Máy nỗ vang sình sịch chạy như bay Bóp còi toe như quát tháo giương vây Khách đường cái vội rãn ngay tăm tắp Tú nhớ thuở còn đi xe đạp Một thứ xe chậm chạp hiền lành Trên đường dù chuông bấm liên thanh Khách đủng đỉnh làm thinh không chịu tránh &#8230;Ồ ngán nhỉ ở trên cõi tục.<br />
Con người ta bất độc bất anh hùng &#8211; Phần phát biểu trong buổi lễ phát giải anh nói về đề tài như một nhắn gởi tha thiết, nhẹ nhàng đến tất cả mọi người hãy cố gắng duy trì tiếng Việt ở miền đất mớị Anh đọc lại bài thơ Ông Đồ Già nổi tiếng của Vũ Đình Liên (thầy cũ của anh ở Hà Nội thuở xa xưa) và một nỗi buồn thấm thía gợn lên trong lòng mọi người về một viễn ảnh suy thoái, tàn lụi của tiếng Việt trong cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại:</p>
<p>&#8230; Nhưng mỗi năm mỗi vắng Người thuê viết nay đâủ Giấy đỏ buồn không thắm Mực đọng trong nhiên sầu<br />
Ông Đồ vẫn ngồi đấy Qua đường không ai hay Lá vàng rơ i trên giấy Ngoài trời mưa bụi bay<br />
Anh cũng đọc thơ của hai người bạn thân trong nhóm &#8220;Sáng Tạo&#8221;. Một đã ra đi là nhà văn Mai Thảo: Thế giới có triệu điều không hiểu Càng hiểu không ra lúc cuối đời Chẳng sao khi đã nằm trong đất Đọc ở sao Trời sẽ hiểu thôi</p>
<p>Bốn câu thơ này Mai Thảo làm như là một linh tính báo trước ngày ra đi của mình và đã được khắc trên bia mộ của Mai Thảo ở Nam Calị Một còn sống là nhà văn Nguyễn Sỹ Tế: Đỉnh Trời gió quét mây tan tát Trăng lưởi liềm ngơ ngác lạnh căm Trăng sao giọt lệ u trầm Trăng sao quá đổi âm thầm hỡi trăng?<br />
Bốn câu thơ này anh dịch từ một bài thơ trong tập thơ bằng tiếng Pháp của Nguyễn Sỹ Tế kể lại thời gian hai người cùng ở trại giam Gia Trung. (Hai anh Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút Trần Lộc và Thái Hóa Lộc cùng nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp rất đáng được tuyên dương vì đã tổ chức rất chu đáo và thành công cuộc thi truyện ngắn 1998!)<br />
PHỤ TRANG: Hòa trong nỗi đau khổ chung của cả dân tộc sau biến cố kinh hoàng 30-4-1975, anh Doãn Quốc Sỹ đã phải vào tù hai lần trước sau hơn 12 năm. Khổ đau từ thể xác đến tinh thần của các tù nhân do bạo quyền gây nên chữ nghĩa trần gian đâu đủ viết cho hết, tả cho tròn! Nhưng khổ đau không thay đổi được anh vì anh đã viết, từ 1965, trong Người Việt đáng yêu: &#8220;&#8230; Không có sự trưởng thành đáng kính nào bằng sự trưởng thành trong đau khổ&#8230; khổ đau là một sự thiêng liêng ở trên thế gian này&#8230; Dân tộc Việt Nam phải là một sự thiêng liêng đối với nhân loại&#8230;&#8221;<br />
Thuở xưa anh đã ân cần khuyên nhủ mọi người: &#8220;Hãy quay trở về với chính mình, vun xới tâm hồn mình là chuốc lọc danh dự cho dân tộc, là gieo hươ ng hạnh phúc cho nhân loại&#8221;. (Tiền kiếp)</p>
<p>Và anh tha thiết ước ao: &#8220;Niềm ao ước vĩnh cửu của tâm hồn nhân loại, và cũng là sự thực vĩnh cửu cuả vũ trụ là: bao giờ cuối cùng &#8220;thiện cũng thắng ác&#8221;.<br />
Khổ đau, bạo lực chẳng những không làm anh căm thù mà &#8211; như một sự thiêng liêng &#8211; đã làm tâm hồn anh dịu lạị Trong truyện ngắn Người vái tứ phương, một mặt anh diễn tả thật đầy đủ xã hội miền Nam sau bảy năm bị đọa đày bằng những từ ngữ nhẹ nhàng nhưng sâu sắc, mặt khác anh vẫn tiếp tục ân cần khuyên nhủ mọi người: &#8220;Cuộc sống đầy rẫy những khác biệt và đụng chạm. Hãy cảm thông và bao dung những vui buồn phải trái cuả nhau&#8230; Cuộc đời tự nó đã quá nhiều phức tạp, sầu khổ, còn gây thêm sầu khổ cho nhau mà làm gì!&#8221;.<br />
Noi gương người xưa đem đại nghĩa để thắng hung tàn. Lấy chí nhân mà thay cường bạo nên Giáo sư Hoàn, dù tốt nghiệp tiến sĩ sinh vật học tại Hoa Kỳ đã không được tiếp tục dạy lại tại Đại học Khoa học, vẫn đầy lòng từ tâm thánh thiện đã bình thản, không có một lời nói hay cử chỉ thất thố nào khi đối diện với viên trung tá công an hạ trác đòi mình đến trình diện: &#8220;Tôi rất mực điềm đạm thùy mị trả lời&#8230; Tôi trả lời như thể tự ngàn xưa vốn dĩ tôi như thế và cho tới ngàn sau tôi không thể khác hơn&#8230;&#8221;</p>
<p>Và giáo sư Hoàn đã chinh phục, cảm hóa được viên trung tá nàỵ Một ghi nhận nhỏ là thuở xưa có rất ít người xấu, việc xấu trong các tác phẩm của anh nên nhà văn Võ Phiến đã viết: &#8220;Hầu hết các nhân vật tiểu thuyết cuả Doãn Quốc Sỹ đều tốt &#8230; Hoạ hoằn lắm mới có một nhân vật xấu&#8230;&#8221; (Văn Học Miền Nam &#8211; Truyện I) và đã dí dỏm một cách khéo léo: &#8220;Đọc sách ông thơm tho cả tâm hồn&#8221;. (Văn Học Miền Nam Tổng Quan). Nhưng trong Người vái tứ phương, anh đã viết: Trong cõi tương đối này chúng ta há chẳng thấy thường khi cái đúng và cái sai chỉ là đường tơ kẻ tóc, hoặc giả chính vì cái sai này mà cái đúng kia hiển hiện. Thực ra trên dòng biến dịch không ngừng nghỉ của vạn hữu, cái sai cũng mầu nhiệm như cái đúng&#8230;<br />
Kiếp nhân sinh là như vậy đó: Cái tốt nương tựa cái xấu, nỗi buồn gắn bó với niềm vui, khổ đau quyện theo hạnh phúc.</p>
<p>Rồi anh tiếp tục ân cần khuyên nhủ mọi người:<br />
&#8220;&#8230;Thế giới này là nơi cộng đồng trách nhiệm. Khi cái đẹp, cái thiện đã được khơi nguồn, thắp sáng, người ta dễ bề mở rộng cái tôi cá biệt đi vào cái ta hoà đồng&#8230;<br />
&#8230;Bất kỳ hành động thiện, hành động đẹp nào của bất kỳ ai đều có khả năng mầu nhiệm bảo vệ giá trị sản nghiệp tinh thần của cả nhân loại&#8230;<br />
&#8230; Khi nhân tính vươn vai thức giấc, mọi chủ nghĩa, đảng phái không thành vấn đề&#8230;.&#8221;<br />
Cuối thu năm ngoái, ở tuổi 75, trong một lá thư gởi cho tôi anh đã viết: &#8220;&#8230;Nhà tôi ở hiện giờ còn giữ nguyên màu xanh ngút ngàn của thiên nhiên: đó là những rừng oak và thông đẹp tuyệt vờị Sáng sáng tôi cùng bà xã đi bộ độ nửa giờ, sau đó tôi đạp thêm 1 giờ bằng chiếc xe đạp được một anh học trò cũ tă.ng. Vì vậy sức khoẻ giữ đều không ốm đau vặt như thường thấy khi tới tuổi cổ lai hi của tôi&#8230;&#8221;.</p>
<p>Trong tất cả những tác phẩm cuả anh &#8211; từ tập trường thiên qui mô và quan trọng nhất là Khóm Rừng Lau đến những truyện cổ, truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài hoặc khảo luận, tuỳ bút &#8211; tình thươ ng bàng bạc khắp cùng: Anh đã gánh trọn cái trách nhiệm luân lý nặng nề. Ngày nay, ở tuổi hoàng hôn của cuộc đời, ước mong từ miền Houston sầm uất đó, anh hưởng được đầy đủ cái hương nhân loại lâng lâng tỏa ra từ bốn phương tám hướng mà anh đã ước mơ vào một chiều bên hồ Lạc Thiện vùng Ban Mê Thuộc thuở xa xưa trong Gìn Vàng Giữ Ngọc.<br />
Đã có rất nhiều người viết về Doãn Quốc Sỹ. Từ những vị có đầy đủ uy tín và tuổi tác trong văn giới đến những độc giả đã từng mến mộ anh và văn chương anh đã ảnh hưởng nhiều đến đời sống tinh thần của ho.. Những bài viết, nhận xét thật đầy đủ, thật chi tiết. Do đó xin được gọi những dòng tâm tình này là &#8220;Một Phụ Trang&#8221; để bày tỏ lòng quý kính của tôi đối với một nhà văn hàng đầu tôi được biết qua nhiều tác phẩm và, do một duyên lành, được quen thân qua những dịp tâm tình tương đắc. Đã gọi là phụ trang &#8211; mà là một phụ trang tâm tình &#8211; thì không thể viết dài (Mà nếu muốn viết nữa thì cũng vẫn không thể nói hết những điều mình muốn viết).</p>
<p>Để chấm dứt bài viết tôi xin chép lại đây cảm tưởng cuả nhà văn Đổ Thiên Như về lần đầu tiên cô được gặp gỡ tác giả mà cô đã ngưỡng mộ và xem như là thần tượng từ vài thập niên qua và còn giữ mãi cho tới ngày nay tại thành phố Seatt le tháng 6 năm 1995:</p>
<p>&#8220;&#8230; Doãn Quốc Sỹ ngồi đó, và ông đúng như hình ảnh tôi tưởng tượng buổi thiếu thờị Dáng người dong dỏng, gầy, khuôn mặt nhân hậu và trí thức. Hình như bao năm cơ cực tù đày cũng không xóa mất nụ cười khoan hòa và nhân ái, cái nhân ái bàng bạc trong văn chương ông. Những dòng văn chương diễn tả được cái đẹp vô cùng nhân bản và tình người&#8230; Ông hỏi tôi có học với ông không? Tôi thưa là tôi học ở Huế, không được học với thầy nhưng văn chương của thầy đã dạy con biết mơ mộng và tư duy từ thuở hoa niên cho mãi đến bây giờ&#8230; Chỉ trong mấy giây với Doãn Quốc Sỹ tôi tưởng như được trở về với ngày xưa có sắc hương thầm kín lụa là&#8230;<br />
Tôi sống thật đầy, thật đẹp với vầng trăng của Doãn Quốc Sỹ. Đã qua rồi những mùa trăng trầm thống nhưng hồn tôi vẫn giữ mãi vầng trăng mười sáu nguyên vẹn của ông&#8230; Hình như thời gian đang ngừng lại, tôi đang đi trên lối xưa đầy diễm ảo và tôi đã được gặp một nhà văn biểu tượng cho tình yêu, sĩ khí và bất khuất của nhiều thế hê.. Hạnh phúc thay!&#8221;.</p>
<p>(<strong>Nguyễn Văn Quảng Ngãi</strong><strong>)</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><strong>Thầm lặng</strong></h3>
<h4><strong>Kim Khánh</strong></h4>
<p><strong></strong>(con gái của nhà văn Doãn Quốc Sỹ kể lại…)</p>
<p>Một đời thầm lặng mẹ theo bố.<br />
Tháng 9 năm 1954 mẹ theo bố vào Nam. Trước đó bố hoạt động ngang dọc, sáng<br />
ngời lý tưởng rồi ê chề thất vọng. Quyết định vào Nam là của bố, mẹ chỉ bế<br />
hai con và dắt cô em chồng 17 tuổi theo. Trong Nam, bố tưng bừng thi thố<br />
tài năng, tay phấn tay bút. Mẹ thầm lặng ở nhà nuôi dạy con và chăm chút<br />
em. Dân số con từ hai tăng thành tám. Tám con tám tính, có lúc hư lúc<br />
ngoan; mẹ theo từng bước, khen chê mắng mỏ. Cô em chồng tốt nghiệp đại học,<br />
chuẩn bị lên xe hoa, mẹ lo toan chuyện cưới hỏi. Bố vất vả bên ngoài, về<br />
nhà chỉ cần đảo mắt nhìn là thấy mọi sự tươm tất. Ra đường, các con được<br />
gọi là “con bố”, em là “em anh”, không ai biết có một nhân vật thầm lặng đã<br />
làm nên những con người ấy.<br />
Vào những năm thăng tiến trong cả hai nghề dạy và viết, bố hay mời khách về<br />
nhà đãi đằng. Mẹ tiếp khách lịch thiệp, rồi rút về hậu trường trổ tài nấu<br />
nướng. Trước khi ra về các bác bao giờ cũng chào “bà chủ” trong tiếng cười<br />
hỉ hả “Cám ơn chị cho một bữa ngon quá.” Thỉnh thoảng có những vị khách nữ,<br />
khen thức ăn và khen cả ông chủ. Tôi còn nhớ có người còn nói rất chân tình<br />
với mẹ: “Chồng em mà được một phần của anh thì em chết cũng hả.” Hình như<br />
mẹ đón nhận lời nói ấy như một sự khen tặng cho chính mình.<br />
Rồi chính sự miền Nam nóng bỏng; ngòi bút bố cũng nóng theo. Các bạn bố đến<br />
chơi chỉ bàn chuyện cộng sản và quốc gia. Mẹ không mấy quan tâm đến “chuyện<br />
các ông”, nhưng khi bố đi Mỹ du học, mẹ ở nhà điều hành việc bán sách thật<br />
tháo vát. Khoảng hai tuần một lần, mẹ đi xích lô đến trung tâm Saigon, rảo<br />
một vòng các tiệm sách để xem họ cần thêm sách nào. Sau đó mẹ cột sách<br />
thành từng chồng và “đáp” một chuyến xích lô khác để giao sách. Tôi hay mân<br />
mê những sợi giây được cột chắc nịch, suýt xoa: “Sao mẹ cột chặt hay thế?”<br />
Thế rồi chính sự miền Nam đến hồi kết thúc. Con người không chính trị của<br />
bố lại một lần nữa ê chề. Ngày công an đến bắt bố đi, mẹ con bàng hoàng<br />
nhìn nhau. Các con chưa đứa nào đến tuổi kiếm tiền. Mẹ xưa nay thầm lặng<br />
trong vai “nội tướng”, giờ miễn cưỡng ra quân. Tiền dành dụm của gia đình<br />
không đáng kể. Có tám miệng để nuôi, có bố nhục nhằn trong lao tù đợi tiếp<br />
tế. Mẹ vụng về tìm kế sinh nhai. Thoạt tiên mẹ nấu khoai mì trộn với dừa và<br />
vừng, rồi để vào rổ cùng với một ít lá gói. Tôi băn khoăn hỏi:<br />
“ Mẹ nghĩ có bán được không?”<br />
“Mẹ không biết, cứ mang ra chỗ trường học xem sao.”<br />
Nhìn dáng mẹ lom khom ôm rổ, đầu đội xụp cái nón lá, tôi thương mẹ khôn tả.<br />
Chỉ nửa tiếng sau tôi đã thấy mẹ trở về. Rổ khoai mì vẫn còn nguyên, mẹ<br />
ngượng ngập giải thích:<br />
“Hình như hôm nay lễ gì đó, học trò nghỉ con ạ.”<br />
Rồi mẹ lại xoay sang nghề bán thuốc lá. Mẹ mua lại của ai đó một thùng đựng<br />
thuốc lá để bầy bán. Mẹ nghe ai mách bảo, chọn một địa điểm khá xa nhà rồi<br />
lụi hụi dọn hàng vô, dọn hàng ra mỗi ngày. Nghề này kéo dài được vài tháng.<br />
Mẹ kể cũng có một số khách quen, nhưng toàn mua thuốc lá lẻ. Hôm nào có<br />
khách “xộp” mua nguyên bao thì mẹ về khoe ngay. Cũng may thuốc lá không<br />
thiu nên khi “giải nghệ” mẹ chỉ lỗ cái thùng bầy hàng.<br />
Mẹ rút về “bản dinh” là căn nhà ở cuối hẻm, tiếp tục nhìn quanh, tìm một<br />
lối thoát. Hàng xóm chung quanh phần lớn là những người lao động. Họ như<br />
những đàn kiến chăm chỉ cần cù, 4 giờ sáng đã lục đục, người chuẩn bị hàng<br />
họ ra chợ, kẻ kéo xe ba bánh hoặc xích lô ra tìm khách. Suốt mười mấy năm<br />
qua họ nhìn gia đình chúng tôi, gia đình “ông giáo”, như từ một thế giới<br />
khác, kính trọng nhưng xa cách. Nay “ông giáo” đi tù, “bà giáo” hay xuất<br />
hiện ngoài ngõ, có lẽ họ cảm thấy gần gủi hơn. Một hôm, chị bán sương xâm ở<br />
đối diện nhà qua hỏi thăm “ông giáo”. Thấy cái máy giặt vẫn còn chạy được,<br />
chị trầm trồ: “Giặt máy tiện quá bác há!”, rồi nảy ý “Tụi con ngày nào cũng<br />
có cả núi quần áo dơ. Bác bỏ máy giặt dùm, tụi con trả tiền. Bác chịu<br />
không?” Lời đề nghị thẳng thừng, không rào đón. Mẹ xăng xái nhận lời. Kể từ<br />
đó, mổi tuần khoảng hai lần, mẹ nhận một thau quần áo cáu bẩn, bốc đủ loại<br />
mùi khai, tanh, nồng. Mẹ đích thân xả qua một nước, rồi múc nước từ hồ chứa<br />
vào máy giặt, bỏ xà bông và bắt đầu cho chạy máy. Cái máy cổ lỗ sĩ, chạy ì<br />
ạch nhưng nhờ nó mà mẹ kí cóp được chút tiền chợ.<br />
Ít lâu sau, cũng chị hàng xóm đó lại sáng thêm một ý nữa:<br />
“Con bé nhà con nay biết bò rồi, con không dám thả nữa. Bác nhận không, con<br />
gửi nó mỗi ngày từ sáng tới chiều. Con trả tiền bác.”<br />
Thế là sự nghiệp nhà trẻ của mẹ bắt đầu. Mẹ dọn căn gác gỗ cho quang, có<br />
chỗ treo võng, có cửa ngăn ở đầu cầu thang. Cả ngày mẹ loay hoay bận bịu<br />
pha sữa, đút ăn, lau chùi những bãi nước đái. Được ít lâu, chị bán trái cây<br />
ở cuối hẻm chạy qua nhà tôi, nói:<br />
“Bác coi thêm con Đào nhà con nha. Con mang cái võng qua mắc cạnh cái võng<br />
của của con Thủy.”<br />
Hai võng đong đưa một lúc, cháo sữa đút liền tay hơn, căn gác bừa bộn hơn.<br />
Sau đó lại thêm một thằng cu nữa. Mẹ tay năm tay mười, làm việc thoăn<br />
thoắt. Cũng công việc quen thuộc ấy, ngày xưa làm cho con, nay làm kế sinh<br />
nhai, nuôi đủ tám con với một chồng. Mẹ không còn thầm lặng nữa. Mẹ lớn<br />
tiếng điều khiển tám quân sĩ, cần roi có roi, cần lời ngọt có lời ngọt.<br />
Riêng chúng tôi vẫn nhớ ơn những người lao động đã giúp chúng tôi sinh sống<br />
những ngày khốn khó đó.<br />
Nhưng sau những giờ ban ngày ồn ào náo động là những đêm tối trầm ngâm lo<br />
lắng. Nỗi bận tâm không rời của mẹ là chuyện thăm nuôi bố. Mỗi ngày mẹ nghĩ<br />
ra một món, làm dần vào buổi tối, nay muối vừng, mai mắm ruốc, mốt bánh mì<br />
khô. Mẹ để sẵn một giỏ lớn trong góc bếp và chất dần đồ thăm nuôi trong đó.<br />
Khi giỏ đầy là ngày thăm nuôi sắp tới.<br />
Thuở ấy bố bị giam ở núi đồi Pleiku, muốn lên đến đó phải mất hai ngày<br />
đường và nhiều giờ chầu chực xe đò. Mỗi lần thăm nuôi, hoặc mẹ, hoặc một<br />
đứa con được chỉ định đi. Con trưởng nữ hay được đi nhất vì nó tháo vát và<br />
nhanh trí, thằng thứ nam cũng đươc nhiều lần “tín nhiệm”; mẹ nói nó nhỏ<br />
tuổi nhưng đạo mạo, đỡ đần mẹ được. Con thằng trưởng nam đúng tuổi đi “bộ<br />
đội”, mẹ ra lệnh ở nhà. Có lần mẹ đi về, mặt thất thần.<br />
Các con hỏi chuyện thì mẹ chỉ buông hai chữ “biệt giam”. Biệt giam thì bị<br />
trừng phạt không được thăm nuôi. Tôi thảng thốt hỏi:<br />
“Đồ thăm nuôi đâu hết rồi mẹ?”<br />
“Mẹ phải năn nỉ. Cuối cùng họ hứa chuyển đồ ăn cho bố.”<br />
“Mẹ nghĩ họ sẽ chuyển không?<br />
“Họ hẳn sẽ ăn bớt, nhưng nếu mẹ mang về thì phần bố đói còn chắc chắn hơn<br />
nữa.”<br />
Mẹ ngày nào thầm lặng, nay thực tế và quyết đoán như thế.<br />
Ngày bố được thả đợt 1, nhà trẻ của “bà giáo” vẫn còn hoạt động. Mẹ hướng<br />
dẫn bố đu võng khi các bé ngủ. Mẹ cũng dặn bố thường xuyên lau chùi gác và<br />
bỏ giặt tã dơ. Bố một mực nghe lời. Tưởng như cờ đã chuyền sang mẹ một cách<br />
êm thắm…<br />
Tuy nhiên, mẹ không thể ngăn được bố lân la cầm lại cây bút. Thời gian này<br />
là lúc họ hàng ngoài Bắc vào chơi nhiều. Bên ngoại có cậu tôi làm đến chức<br />
thứ trưởng; cậu kể rằng lúc còn sống, ông ngoại (một nhà thơ cách mạng)<br />
phiền lòng vì sự nghiệp văn chương của thằng con rể. Bên nội có chú tôi &#8211;<br />
một nhạc sĩ cách mạng- chú biết ngòi bút đang thôi thúc bố và đã từng rít<br />
lên giữa hai hàm răng:<br />
“Trời ạ! Đã chửi vào mặt người ta, không xin lỗi thì chớ lại cón nhổ thêm<br />
một bãi nước bọt! Lần này mà vào tù nữa thì mọt gông.” .<br />
Mấy mẹ con chết lặng trước viễn tượng “mọt gông”. Bố không màng đến điều<br />
này, vẫn miệt mài gõ máy đánh chữ. Đêm khuya thanh vắng tiếng gõ càng vang<br />
mồn một. Vài lần mẹ can ngăn, có lần mẹ giận dữ buộc tội:<br />
“Ông chỉ biết lý tưởng của mình, không biết thương vợ con.”<br />
Vài tuần sau, chị hàng xóm đối diện nhà chạy sang xì xào với mẹ:<br />
“Công an đặt người ở bên nhà con đó bác, họ theo dõi bác trai.”<br />
Mẹ lại thử can thiệp, nhưng đã quá trễ. Bố bị bắt lần thứ hai năm 1984.<br />
Lần thứ hai bị bắt, bố bình tĩnh đợi công an lục lọi tung nhà. Trước khi<br />
bắt đi, họ chụp hình bố với nhiều tang chứng chung quanh. Trong hình bố<br />
ngẩng cao đầu trông rất ngạo nghễ. Nhiều năm sau, bố vẫn còn được nhắc tới<br />
với hình ảnh này. Không ai biết đến người đàn bà thầm lặng bị bỏ lại đằng<br />
sau. Sau biến cố thứ hai này, mẹ phải đối phó thêm với nhiều khó khăn loại<br />
khác, điển hình là những giấy gọi gia đình ra dự phiền tòa xử bố. Gọi rồi<br />
hoãn, rồi lại gọi lại hoãn. Mỗi lần như vậy cả nhà lại bấn loại tâm trí, lo<br />
cho mạng sống của bố. Riêng mẹ thì vừa lo vừa soạn thêm một số thức ăn thăm<br />
nuôi. Mẹ thực tế là thế đó.<br />
Sau khi bố bị gọi án 10 năm tù, cuộc sống của mẹ không còn những bất ngờ<br />
khủng khiếp, chỉ còn những đen tối và tù túng đều đặn. Tưởng là dễ chịu<br />
hơn, nhưng thực ra nó gậm nhấm tâm thức, tích lũy buồn bực chỉ đợi cơ hội<br />
bùng nổ. Hết ngày này qua tháng nọ mẹ lầm lũi chuẩn bị đồ thăm nuôi, từng<br />
món ăn thức uống, từng vật dụng hằng ngày. Các con lần lượt trưởng thành,<br />
đứa nào cũng có bạn bè và những sinh hoạt riêng. Chuyện thăm nuôi bố và<br />
lòng thương bố quan trọng lắm, những cũng chỉ là một phần trong những cái<br />
quan trọng khác trong đời. Chỉ đối với mẹ, những thứ ấy mới là tất cả, độc<br />
tôn choán ngập tâm hồn mẹ. Mẹ hẳn có những lúc thấy tức tưởi và cô đơn mà<br />
các con nào hay biết. Có vài lần chúng tôi lỡ một lời nói hoặc cử chỉ không<br />
vừa ý mẹ, me òa khóc tu tu, lớn tiếng kể lể, tuôn trào như một giòng lũ<br />
không ngăn được. Lúc ấy chúng tôi mới choàng tỉnh.<br />
Ngày mãn hạn tù về, bố bình an như một thiền sư, để lại sau lưng hết cả<br />
những thăng trầm của quá khứ. Rồi bố mẹ sang Mỹ ở Houston sống cùng cậu<br />
trưởng nam. Mẹ bận bịu với cháu nội, nhưng không quên nhắc ông nội đi tắm<br />
và bao giờ cũng nặn kem đánh răng vào bàn chải cho ông mỗi tối. Thỉnh<br />
thoảng giao tiếp với họ hàng và bạn bè, mẹ lại phải đỡ lời cho bố, khi bố<br />
cứ mỉm cười mà không nói năng chi. Thư viết về cho con cháu ở Việt Nam, ai<br />
cũng nói mẹ viết hay hơn ông nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Lúc đó chắc mẹ nghĩ thầm<br />
rằng: “bởi vì mẹ là con của ông Tú Mỡ mà!”<br />
Như thế được mười năm thì mẹ ngã bệnh. Hôm nay, ở giai đoạn cuối của căn<br />
bệnh Alzheimer, mẹ nằm bất động một chỗ và không nói được nữa. Nhưng mẹ vẫn<br />
đưa mắt nhìn bố mỗi lần bố ra vào trong phòng. Hôm nào bố vắng nhà vài ngày<br />
thì mẹ nhìn con trai, mắt dò hỏi lo lắng. Khi bố về thì mẹ vẫn nhìn bố, ánh<br />
mắt yên tâm hơn.</p>
<p>Mẹ thầm lặng hơn bao giờ hết. Dưới mắt bố con chúng tôi, sự thầm lặng ấy càng</p>
<p>ngày càng tỏa sáng.<br />
<strong>(</strong><strong>Kim Khánh</strong> )</p>
<h3><strong>Về Doãn Quốc Sỹ</strong></h3>
<p><strong>(…trích Cát Bụi Chân Ai – </strong></p>
<h4><strong>Tô Hoài )</strong><strong></strong></h4>
<p>Đêm Nôen năm ấy, đi chơi với một người khách trẻ măng không biết tên và trong tối sáng nhấp nhem, cũng không hẳn tường mặt. Những ngọn đèn đường chỉ rình tắt, sắp báo động. Suốt chiều, chốc chốc tiếng loa: Máy bay địch cách Hà Nội sáu mươi ki lô mét&#8230; ba mươi ki lô mét&#8230; hai mươi ki lô mét&#8230; Khách trẻ trung, trắng trẻo vẻ búng ra sữa, giọng Hà Nội nhỏ nhẹ, áo va rơi dạ mặc ngoài, mũ bông có tai ấm. Cũng như chúng tôi, cái bóng bù xù đi trong đêm đông lạnh. Nhưng mà khác chúng tôi.<br />
Những bước thong thả trên đường khuya. Lúc này chỉ còn lại đám người vun quanh khu nhà thờ Hàng Trống và mấy cửa hàng Thuỷ Tạ, Phú Gia mở cửa trắng đêm đón người chơi Nôen. Đâu ai có thể tưởng cái anh chàng non tuổi ấy là một giặc lái bay cùng tốp với phi công Phạm Phú Quốc vượt vĩ tuyến ra đánh nông trường Tây Hiếu ở Nghệ An. Tin tức Sài Gòn tâng bốc rùm beng phi đội Việt Nam Cộng Hoà anh hùng đầu tiên ném bom miền Bắc. Nhưng câm miệng hến về chiếc máy bay rơi này.<br />
Chúng tôi thường viết bài cho mục phát thanh của quân đội nói với thính giả miền Nam. Đọc tài liệu, giấy tờ bắt được ở chiến trường, trò chuyện với phi công tù binh Mỹ. Có lần, tôi vào làng La Cả uống rượu ăn thịt chó với đại tá Phạm Văn Đính, đại tá Vĩnh Phong &#8211; người hoàng tộc đã ra hàng quân giải phóng ở điểm cao Cồn Tiên Dốc Miếu. Hai sĩ quan hàng binh này sơ tán ở một nếp nhà tranh của quân đội ẩn trong lùm cây ổi cây nhãn giữa làng. Thỉnh thoảng, kéo nhau ra thị xã Hà Đông sắp hàng mua bia hơi. Có người đến thăm, khói bếp thịt chó nghi ngút cả ngày<br />
Tôi cũng thường đọc trên đài một Thư Hà Nội gửi nhà văn Quan Sơn ở Sài Gòn. Chẳng mấy ai biết bút hiệu ấy của Doãn Quốc Sỹ ngày trước trên tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Năm. Doãn Quốc Sỹ người Cầu Giấy, gần làng tôi. Chúng tôi quen nhau khi mới cầm bút. Một trong những truyện ngắn đầu tiên của Doãn Quốc Sỹ, Đôi mắt của Hiền, cô Hiền ấy, con gái bác Tú Mỡ. Bức thư tình đăng báo mà rồi nên nhân duyên. Doãn Quốc Sỹ theo nhà vợ tản cư ra Bắc Giang ít lâu rồi vào Hà Nội, rồi di cư vào Nam. Báo chí và các nhà xuất bản ở Sài Gòn in sáng tác của Doãn Quốc Sỹ, lại biết Sỹ dạy học ở Hà Tiên, được tu nghiệp ở Mỹ mấy năm. Chẳng biết cách mạng có nợ tiền, nợ máu gì với cái gia đình công chức còm ở một làng làm nghề dệt nghề giấy ngoại ô này không, tôi tin là không, thế mà Doãn Quốc Sỹ viết chửi cộng sản hăng thế. Chắc chẳng khi nào Doãn Quốc Sỹ nghe bài của tôi để biết đến những tiếng nói cùng quê của anh.</p>
<p><strong>(Tô Hòai )</strong></p>
<h3><strong>Đọc văn Dõan Quốc Sĩ</strong></h3>
<h3><strong>Nhìn lại một thời</strong></h3>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2012/06/clip_image004.jpg"><img decoding="async" style="background-image: none; margin: 0px 20px 10px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; float: left; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image004" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2012/06/clip_image004_thumb.jpg" alt="clip_image004" width="250" height="496" align="left" border="0" /></a></p>
<p>Năm 1954 hai vợ chồng tôi cùng hai đứa con gái đầu lòng và cô em gái – năm người cả thảy – ra phi trường di cư vô Nam. Danh từ thời thượng mệnh danh là Bắc Cờ Năm Mươi Tư</p>
<p>Thuở đó tôi còn là sinh viên, gặp Trần Thanh Hiệp, sinh viên Luật Khoa, chúng tôi bèn thành lập đoàn thể Đoàn Sinh Viên Hà Nội Di Cư (ĐSVHNDC), Trần Thanh Hiệp đứng ra làm chủ tịch. Để giới thiệu ĐSVHNDC nhân dịp chào mừng mùa Xuân năm đó, chúng tôi cho in tập Xuân Chuyển Hướng. Tôi còn nhớ trước 1954 &#8211; thuở còn ở ngoài Bắc – tôi sớm có khuynh hướng viết văn, hoàn tất được một truyện ngắn đầu tay dưới dạng một truyện cổ tích mang tên là “Sợ Lửa”. Di cư vô Nam năm 1954, may sao tôi có mang theo bản thảo Sợ Lửa và cho đăng vào tập Xuân Chuyển Hướng này! Thế là như lửa gặp gió, tôi tiếp tục . . . tiếp tục sang tác để chính thức đi vào nghiệp cầm bút của nhà văn bên cạnh sự nghiệp cầm phấn của nhà giáo sau này. Sau tập Xuân Chuyển Hướng tôi đứng ra làm chủ nhiệm tờ tuần báo Người Việt nhưng cũng chỉ được vài số là đình bản. Sau đó gặp them Mai Thảo, Nguyễn Sỹ Tế, hai họa sĩ Duy Thanh và Ngọc Dũng nữa, thế là chúng tôi xúm lại chủ trương nguyệt san SÁNG TẠO – vào năm 1956 thì phải, nếu tôi nhớ không lầm! Toà soạn Sáng Tạo ở đường Ký Con. Truyện dài đầu tay Dòng Sông Định Mệnh của tôi đăng trên Sáng Tạo trước khi in thành sách. Sáng Tạo ra được tới số 30 hay 31 thì đình bản. Các văn hữu từ đó vẫn gọi nhóm chúng tôi – Mai Thảo &#8211; Nguyễn Sỹ Tế &#8211; Ngọc Dũng – Duy Thanh là nhóm Sáng Tạo – Tòa soạn ở đường Ký Con !</p>
<p>Thuở đó anh em chúng tôi ai muốn đem bài đến toà soạn, hay đến toà soạn để sửa bài thì ít nhất cũng phải đợi đến 9 giờ sáng hãy tới, vì tới giờ đó Mai Thảo mới ngủ dậy để ra ngồi trước bàn làm việc.</p>
<p>Từ tám chin giờ tối trở đi đó là giờ Mai Thảo có mặt ở vũ trường để khiêu vũ. Thuở đó đám sinh viên Hà Nội di cư chúng tôi đã có nơi cư trú đàng hoàng, đó là khu Đại Học Xá gần nhà thờ Ngã Sáu Chợ Lớn. Thỉnh thoảng khoảng 8 giờ tối Mai Thảo lái xe đến đón tôi cùng đi khiêu vũ, khoảng 12 giờ khuya thì về, bao giờ cũng rủ theo một em vũ nữ lên xe để cùng tới một tiệm ăn nào đó, vừa ăn uống vừa nói chuyện vui, rồi đưa em vũ nữ về nơi hẻm em ở.</p>
<p>Cùng là nhà giáo kiêm viết văn, chúng tôi có ba người : tôi, anh Nguyễn Sỹ Tế (hiệu trưởng trường Trường Sơn) và anh Nguyên Sa ( hiệu trưởng trường Văn Học).</p>
<p>Nhắc đến Nguyên Sa hầu hết chúng ta đều biết bài thơ nổi tiếng của anh “Áo lụa Hà Đông” :</p>
<p>&#8220;Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát</p>
<p>Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông</p>
<p>Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng</p>
<p>Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng</p>
<p>Anh vẫn nhớ em ngồi đây tóc ngắn</p>
<p>Mà mùa Thu dài lắm ở chung quanh</p>
<p>Linh hồn anh vội vã vẽ chân dung</p>
<p>Bay vội vã vào trong hồn mở cửa</p>
<p>Em chợt đến, chợt đi, anh vẫn biết</p>
<p>Trời chợt mưa, chợt nắng chẳng gì đâu</p>
<p>Nhưng sao đi mà không bảo gì nhau?</p>
<p>Để anh gọi tiếng thở buồn vọng lại&#8230;&#8221;</p>
<p>&#8220;Em ở đâu, hỡi mùa Thu tóc ngắn?</p>
<p>Giữ hộ anh màu áo lụa Hà Đông</p>
<p>Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng</p>
<p>Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng</p>
<p>&#8230; Anh vẫn yêu màu áo ấy em ơi&#8221;</p>
<p>Sau này khi sang tới xứ Cờ Hoa này chúng tôi ở cách mấy tiểu bang – tôi ở Houston, Texas, anh ở Quận Cam Cali &#8211; mỗi khi có dịp gặp nhau, tôi vẫn hỏi đùa anh:</p>
<p>Chị vẫn mặc áo lụa Hà Đông, phải không anh?</p>
<p>Nhớ lại kỷ niệm với anh Nguyễn Sỹ Tế, khi Cộng Sản chiếm nốt miền Nam, chúng tôi cùng bị đi tù chung và cùng bị đày lên tận miền Gia Trung thuộc núi rừng cao nguyên Pleiku, Kontum. Vùng này sở dĩ mang tên Gia Trung vì có dòng suối YA YUNG chảy qua. Tiếng địa phương là Ya Yung được chuyển sang tiếng Việt là Gia Trung !</p>
<p>Anh Nguyễn Sỹ Tế có 4 câu thơ bằng tiếng Pháp trong tập thơ Chant d’Ya (Tiếng Hát Gia Trung) của anh như sau:</p>
<p>Sur un fond de ciel balayé</p>
<p>Un engourdi crossant de lune</p>
<p>Parait las et comme épuisé</p>
<p>De sa lumineuse fortune …</p>
<p>Và tôi dịch thoát nghĩa thành 4 câu thơ Việt như sau:</p>
<p>Đỉnh trời gió quét mây tan tác</p>
<p>Trăng lưỡi liềm ngơ ngác lạnh căm</p>
<p>Trăng sao đượm vẻ u trầm</p>
<p>Trăng sao quá đỗi âm thầm hỡi trăng</p>
<p>Vào năm 1956 – cách đây đúng nửa thế kỷ &#8211; khi tập truyện cổ tích Sợ Lửa của tôi ấn hành lần đầu, ông bạn Nguyễn Sỹ Tế của tôi viết TỰA và Thanh Tâm Tuyền viết BẠT . Với tinh thần tri âm tri kỷ, ông bạn Thanh Tâm Tuyền qua bài thơ mang tên “NHỊP BA” đã nêu lên lòng ước muốn thường xuyên nóng bỏng trong tâm tư thầm kín của tôi: đó là ước muốn sao cho đất nước sớm được thống nhất tự do !</p>
<p>Xin quý vị hãy cùng tôi thưởng thức bài thơ “Nhịp ba” của Thanh Tâm Tuyền viết thay lời Bạt cho “Sợ Lửa”</p>
<p><strong>Nhịp ba </strong></p>
<p><strong>(Tặng Doãn Quốc Sỹ)</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Ngực anh thủng lỗ đạn tròn</p>
<p>Lưỡi lê thấu phổi</p>
<p>Tim còn nhảy đập</p>
<p>Nhịp ba nhịp ba nhịp ba</p>
<p>Tình yêu, tự do mãi mãi</p>
<p>Anh về ngồi dưới vườn nhà</p>
<p>Cây liền kết trái</p>
<p>Hoa rụng tơi tơi ủ xác</p>
<p>Anh chạy nhịp hai qua cách trở</p>
<p>Mắt bừng</p>
<p>Thống nhất, tự do</p>
<p>Ngoài xa thành phố</p>
<p>Bánh xe lăn nhịp ba</p>
<p>Áo màu xanh hớn hở</p>
<p>Nhát búa gõ</p>
<p>Long máy quay</p>
<p>Cửa nhà thi nhau lớn</p>
<p>Nhịp ba, nhịp ba, nhịp ba</p>
<p>Tình yêu, tự do, mãi mãi</p>
<p>Sóng bồi phù sa</p>
<p>Ruộng lúa trổ hoa</p>
<p>Núi cao uốn cây rừng</p>
<p>Nhịp ba, nhịp ba, nhip ba</p>
<p>Tình yêu tự do mãi mãi</p>
<p>Đất nước ào vỗ nhịp</p>
<p>Triều biển chập chùng</p>
<p>Hà Nội, Huế, Sàigòn</p>
<p>Ôm nhau nức nở</p>
<p>Có người cầm sung bắn váo đấu</p>
<p>Đạn nổ nhịp ba</p>
<p>Không chết</p>
<p>Anh ngồi nhỏm dậy</p>
<p>khoẻ mạnh lạ thường</p>
<p>Bước ai thánh thót</p>
<p>Nhịp ba<br />
Tình yêu<br />
Tự do</p>
<p>Mãi mãi</p>
<p>Tình yêu tự do mãi mãi</p>
<p>Tình yêu tư do mãi mãi anh ơi</p>
<p><strong>Thanh Tâm Tuyền</strong></p>
<p>* * *</p>
<p>Thấm thoát tính tới nay &#8211; Năm 2005 – đã vừa một nửa thê kỷ qua rồi. Anh em Sáng Tạo chúng tôi nay chỉ còn: Nguyễn Sỹ Tế, Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền và họa sĩ Duy Thanh.</p>
<p>Mai Thảo và họa sĩ Ngọc Dũng đã ra người thiên cổ!</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><strong>Gìn vàng giữ ngọc</strong></h3>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2012/06/clip_image005.jpg"><img decoding="async" style="background-image: none; margin: 0px 20px 10px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; float: left; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image005" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2012/06/clip_image005_thumb.jpg" alt="clip_image005" width="300" height="182" align="left" border="0" /></a></p>
<p>(&#8230;) Cuối tháng chạp năm 1945 gia đình tôi và gia đình Huân cùng tản cư một ngày nhưng về hai ngả khác nhau: Huân đưa vợ con về quê mẹ ở Ninh Bình, tôi theo thày mẹ tôi lên Bố Hạ (Bắc Giang). Tới ở Bố Hạ tôi vào công tác ngay ở sở Thông Tin Khu 12, sau sát nhập vào Liên khu I. Rồi thày mẹ tôi cùng toàn thể gia đình rời đi Vĩnh Yên chỉ còn một mình tôi ở lại Bắc Giang để tiếp tục công tác tại chỗ cũ.<br />
Bốn tháng sau tôi nhận được thơ nhà báo tin gia đình một lần nữa chuyển đến làng N.H. ngay bên <a href="http://www.gocnhin.net/##">kia</a> hữu ngạn sông Ðáy, gần chân dãy núi Tam Ðảo. Tôi biết, như vậy vốn liếng gia đình lại một phen hao hụt để sa sút thêm. Những cũng trong thơ đó tôi được cô em gái cho hay là gia đình Huân đã bỏ Ninh Bình chuyển đến một làng nào đó, gần một cái chợ nào đó, thuộc Phúc Yên.Tôi vừa nhẩm ôn đoạn thư vừa nghĩ thầm: &#8220;một làng nào đó, ở gần một cái chợ nào đó, thuộc Phúc Yên&#8221; địa chỉ tuy mơ hồ thật nhưng mình quyết tìm cho ra.<br />
Tôi viết thơ cho một ông cùng làng tản cư ở Phù Lỗ và thường buôn bán hàng ngoại hóa trên con đường Phúc Yên &#8211; Sơn Tây, để nhờ ông chú ý tìm giúp gia đình Huân. Ba tháng sau tôi nhận được hồi âm của ông bảo rõ cho hay thực may mắn chỗ ở Huân: đó là một thôn nhỏ ngay gần chợ Sặt và ở về phía tay phải con đường mòn từ chợ đi huyện Yên Lãng. Vừa đúng dịp tôi xin thôi tại sở những mong sẽ công tác ở ty Thông Tin Vĩnh Yên cho được gần gia đình. Tôi có xin về thẳng thăm nhà đã, rồi nửa tháng sau nếu thuận tiện sẽ đến nhận công tác tại cơ quan mới. Hành trình của tôi được phân chia rất hợp lý. Từ Ða Phúc tôi sẽ đi đến Phố Nỉ bên kia sông Cầu, đường dài mười hai cây số.</p>
<p>Từ Phố Nỉ tôi sẽ vượt qua Kẽm, Dõm để gặp con đường nhựa nối liền Phúc Yên &#8211; Vĩnh Yên, quãng đường này cũng khoảng mười hai cây số. Tôi sẽ theo đường nhựa mấy cây số rồi, rẽ vào con đường đất lớn đi đến chợ Sặt. Ðến chợ Sặt rồi, thì thôn nhỏ gia đình Huân ở, tôi đã &#8220;cầm lỏng&#8221; trong tay. Ðường đi tính ngót bốn mươi cây số; có bỡ ngỡ lắm trong việc hỏi thăm thì cũng chỉ vừa chập tối là cùng, tôi đã nằm trên giường của Huân đợi một mâm cơm nóng sốt, tươm tất. Sau khi đã kể cho nhau nghe hết mọi chuyện tản cư, tôi ngồi uống rượu với Huân. Tôi biết làm gì mà Huân chẳng mua được rượu ngang, chỉ cần một cút thôi. Tửu lượng của tôi và Huân cùng kém cả mà, nhưng chúng tôi sẽ khề khà uống thật lâu cho thực hệt tác phong các bậc tửu đồ ngày xưa.<br />
Chà! như vậy cho bõ một ngày bại cẳng vượt ngót bốn mươi cây số. Ngày hôm sau tôi có thể hoặc đi từ sớm, hoặc ở lại ăn Huân cũng nên, rồi mới lên đường vì quãng hành trình còn lại chỉ chừng ba mươi hay ba mươi mốt cây là cùng. Vừa đi vừa hình dung trước cảnh hội ngộ đó mà tôi thấy hởi dạ, tưởng có thể đi hết ngày mà không biết mỏi chân. Ấy tinh thần tuy có phấn khởi, thêm trí tưởng khéo thêm dệt, nhưng thực tế vẫn giữ được cái uy tín cuối cùng của thực tế. Kể từ sau lúc mặt trời đứng bóng tôi đã thấy hai đầu gối mỏi và hai bắp chân tưng tức. Tôi tìm một quán nước nghỉ chân, mua kẹo vừng và dở nắm cơm nếp ra ăn trưa. Cũng do việc toan tính trước, tôi thổi cơm nếp thật nát để nửa nắm còn lại có thể sang trưa ngày hôm sau ăn còn dẻo.<br />
Lúc mặt trời chếch bóng bước đi thêm lệt bệt, đầu gối đau, bắp chân và đùi tôi thấy nặng ngang nhau; tới lúc mặt trời xế bóng thì hai bên thái dương tôi bừng bừng, trước mắt tôi đổ những hoa cà hoa cải tựa hồ trong đầu có ai đốt một cây bông tí hon và những hoa ánh sáng tóe ra từ hai con mắt. Tôi có cảm tưởng phần thân thể từ háng trở xuống là mình mượn của ai lắp vào. Tôi bước lảo đảo, hình như đi được là nhờ sức gió thổi xuôi nhiều hơn là nhờ ý chí và sức lực của chính mình. Ðến năm cây số cuối cùng thì tôi phải lượm một cái gậy bên vệ đường để chống và cứ đi được một cây số lại ngồi phệt xuống bên lề cỏ để nắn, bóp, chà sát suốt từ đùi đến bắp chân. Mặt trời vừa khuất bóng thì tôi vào đến con đường hẻm do người trong thôn chỉ để tới nhà Huân tản cư. Và cũng đến lúc đó thực tế mới tạm lùi bước nhường sức mạnh của niềm vui tinh thần một chút: tôi ưỡn ngực nhìn thẳng, bước chững chạc.<br />
Cảnh vợ chồng Huân cùng đàn con khi nhận ra tôi thật đúng với câu Kiều &#8220;Nỗi mừng biết lấy chi cân&#8221; hay để cho vui nếu cân được thì cũng đến nặng bằng bộ giò của tôi lúc đó là cùng.<br />
Tôi thở phào sung sướng quẳng ba-lô vào tay Huân, ngồi bệt xuống cái chõng tre ở giữa sân rồi tức khắc nằm xuống ngửa mặt nhìn mấy con diều hâu đương lượn lờ mãi trên cao vút trông chỉ còn nhỏ như mấy con dơi. Lúc bấy giờ tôi mới ôn lại những hình ảnh vừa nhìn và xét rằng vợ chồng Huân cùng các cháu tôi đều gầy và đen đi nhiều. Có tiếng chõng kê ngay góc gần đấy rồi tiếng Nhàn, vợ Huân:<br />
&#8212; Anh Sơn ra nằm đây, chõng ấy để giả ông chủ.<br />
Tôi ngồi nhỏm dậy, mấy sợi tóc dài bị nan chõng cắt đứt mất. Kể ra cũng khá đau nhưng cái mệt lấn mất cái đau, hơn nữa tôi muốn đổi chõng thật nhanh để tiếp tục cho các bắp thịt nghỉ. Ông chủ ở trong nhà vừa ra tôi chỉ kịp cúi chào thật lễ phép và nói một câu xã giao thật ngắn rồi nằm ềnh ngay sang chõng bên. Khi lưng và đầu áp xuống rồi, xúc giác mới báo cho tôi biết là cái chõng này hẹp hơn, ngắn hơn và nan thưa hơn cái chõng kia.<br />
Tiếng Huân hỏi:<br />
&#8212; Anh Sơn mệt lắm hả?</p>
<p>Tôi chặc lưỡi:<br />
&#8212; Gọi là thôi!<br />
&#8212; Anh đi bao nhiêu cây số đến đây?<br />
Nhận thấy nói thật thì không tiện và nói dối thì không nỡ, tôi vờ như không nghe thấy. May sao Huân nói sang câu khác:<br />
&#8212; Tôi bảo thổi cơm thêm xuất anh đấy nhé.<br />
Tôi đáp gọn:<br />
&#8212; À, cố nhiên! Các cậu ăn cơm tối nhỉ, tưởng mình đến giờ này thì các cậu đã ăn xong tám hoánh và phải đi thổi riêng cho mình niêu khác.<br />
Rồi vui câu chuyện tôi nói tiếp:<br />
&#8212; Nếu có gà nhà thì cứ giả vờ thịt đi cho vui.<br />
Huân đáp ngay, nhưng giọng nghe ra hơi ngượng ngập:<br />
&#8212; Ồ, thịt gà&#8230; vâng có chứ!<br />
Nằm ruỗi đã được một phút hưởng gió mát buổi chiều phe phẩy, tôi lấy lại sức nhiều do đấy có sự &#8220;phản tỉnh&#8221; ngay để nghĩ thầm:<br />
&#8212; Bỏ sừ, nói vậy ngộ nhà Huân không nuôi gà, phải đi lùng quanh xóm thì mình cũng hơi khỉ.<br />
Tôi vừa toan hỏi lại Huân xem nhà có gà thực không thì Huân đã đứng dậy đi vào nhà. Không hiểu Huân nói gì, chỉ biết sau đó con cháu lớn Thu Hương tất tưởi đi ra ngõ. Khi Huân tới bên, tôi cũng vừa vỗ lên túi con áo sơ-mi để sực nhớ ra rằng mình có một điếu Cotab của bạn cho mà chưa hút. Vừa rút điếu thuốc ra khỏi túi, tiếng Huân <a href="http://www.gocnhin.net/##">reo</a> vui:<br />
&#8212; À thuốc lá!<br />
Tôi nhớ ngay Huân vốn nghiện nặng thuốc lá thơm nên lanh trí đáp liền:<br />
&#8212; Gặp một thằng bạn giữa đường cho đấy, tôi vốn dưng dửng thuốc lá nên để dành cho cậu.<br />
Tôi vẫn nằm ngửa trên chõng, ruỗi thẳng chân cho máu chảy đều và khẽ đưa mắt để khuôn mặt Huân lọt vào trong nhãn giới; vì lần này trông nghiêng nên khuôn mặt Huân có những nết gầy hốc hác, mà lúc nãy có lẽ vì trông thẳng, có lẽ cả vì chân mỏi mắt hoa nữa nên tôi không nhận thấy. Châm xong điếu thuốc lá, môi Huân dẩu ra để hít lấy khói thuốc, mấy sợi râu mép và râu cằm được dịp nổi bật lên trong ánh chiều bâng khuâng khiến khuôn mặt Huân càng đượm một vẻ xanh xao sầu thảm. Tôi đặt thầm nghi vấn: Hay là ngày nay Huân cũng hoàn toàn khánh tận, và gia đình Huân cũng hoàn toàn sống kiểu độ nhật như gia đình tôi hiện giờ bên bờ sông Ðáy, dưới chân Tam Ðảo?<br />
Huân không biết là đương bị tôi ngắm, vừa hút thuốc lá vừa tuần tự hỏi kỹ về mọi chi tiết tản cư của gia đình tôi. Tôi vẫn đáp lời và vẫn tiếp tục quan sát. Cách Huân hút thuốc quả là cách hút của một người nghèo đã lâu lắm nay mới được một điếu.<br />
Tôi hốt hoảng ôn lại một lần nữa lời vừa nói khi nãy: &#8220;nếu có gà nhà thì cứ giả vờ thịt đi cho vui&#8221; và tự thấy mình vô duyên biết mấy.<br />
Ðến lượt tôi hỏi lục vấn về cách chạy loạn của gia đình Huân. Tôi được biết hồi còn ở Ninh Bình vợ chồng Huân buôn bán khá. Sau vụ quân Pháp nhảy dù ở Ðồng Quan, vợ chồng Huân sợ chúng sẽ tấn công toàn thể Liên khu Tư bèn mang cả con cái theo đường Hòa Bình Vụ Bản đường số 6 rồi vượt sông Hồng sang Vĩnh Yên. Bị bom napalm thiêu chụi hết đồ đạc, một lần nữa Huân chuyển gia đình xuống Phúc Yên, ở đây.<br />
Hỏi về cách sinh sống hiện tại thì Huân cho biết Nhàn cùng đứa con gái lớn lên mười hai Thu Hương vẫn sớm gánh đôi bồ hàng sén ra chợ Sặt bán, chiều gánh về.Tôi hỏi thêm:<br />
&#8212; Thế hàng sén của Nhàn có những thứ gì?<br />
Huân trả lời hoàn toàn ngoài đề:<br />
&#8212; Ðường từ chợ Sặt về đây ngắn, nên việc sớm gánh đi tối gánh về không có gì là vất vả lắm.<br />
Thấy tôi ngồi dậy, Huân cười hỏi, tôi biết để lảng câu chuyện:<br />
&#8212; Anh khỏi mệt rồi chứ?<br />
Tôi gật đầu và đáp với giọng cố làm cho trong sáng để chứng tỏ tôi không có gì thắc mắc:<br />
&#8212; Khỏi mệt rồi! Cậu ở đây rộng và thoáng thật đấy.<br />
Sự thực tôi ngồi nhỏm dậy vì thấy Nhàn đương vo gạo ở đằng góc bể. Cứ trông cái giá vo và cách xóc gạo tôi cũng thấy rõ ràng nồi cơm sắp thổi không thể là nồi cơm đủ cho ba người lớn và ba đứa trẻ. Hai đứa cháu nhỏ của tôi một trai, một gái quãng tuổi lên năm và lên bảy, cùng gầy gò và xanh xao như nhau lúc đó vẫn quấn lấy bên Nhàn.<br />
Cũng cảnh đó, một năm trước đây, đã diễn ra trong gia đình tôi, hồi chúng tôi còn ở Bố Hạ, Bắc Giang. Tôi còn nhớ hôm đó ông bác tôi từ Bến Tuần Lục Liễu sang chơi. Nguyên nửa tháng trước đây, thầy tôi và tôi có tới Lục Liễu thăm người, được người thết cơm rượu thịt gà, trịnh trọng lắm. Lần này lẽ cố nhiên thầy tôi cũng phải nghĩ cách giả nợ, mặc dầu nhà đương rất nghèo túng. Dưới chuồng còn một con gà mái đẻ: phải làm thịt. Trong thúng còn hai đấu gạo định để thổi độn ngô, nay bỏ ngô để thổi cơm trắng. Bữa rượu thết hôm đó ngồi tiếp bác, có thày tôi, tôi và thằng em thứ hai.<br />
Ðể đáp câu nói của bác: &#8220;Thím Hai vào ăn một thể cho vui&#8221; mẹ tôi cười ròn và rất tự nhiên:<br />
&#8212; Mời bác sơi rượu với thày cháu, em phải trông cho mấy cháu bé ăn ở dưới này.<br />
Kỳ thực các em bé tôi có gì mà ăn!<br />
Khi bác tôi ra về, cơm thừa trong nồi còn chừng hai bát. Lẽ cố nhiên là thày tôi, tôi và thằng em thứ hai đã phải hết sức ăn cầm chừng mới được vậy. Mẹ tôi đơm một bát cho thằng em út và bát kia cho đứa em gái thứ tư của tôi, năm đó lên tám. Mẹ tôi ăn cháy. Ðứa em gái lên tám của tôi đỡ bát cơm rồi cúi mặt xuống khóc lặng lẽ. Nó biết là cảnh nhà bần bách quá rồi. Mẹ tôi thấy vậy thì vỗ vai nó rồi vừa cười vừa khóc, cả nụ cười với hai dòng nước mắt cùng chân thành như nhau, hẳn các bạn thừa hiểu vì sao. Tôi cũng vội quay đi để kịp dấu hai giọt nước mắt nóng hổi vừa tràn khỏi bờ mi.<br />
Ngồi nói chuyện hàn huyên với Huân, tôi giữ bề ngoài bình thản nhưng bên trong, lòng tràn ứ kỷ niệm chua chát.<br />
Lẽ nào ngày nay tôi để Nhàn và các cháu tôi tái diễn phần dưới tấn bi kịch năm xưa?<br />
Tôi thoáng thấy cháu Hương hai tay ấp vào ngực đi quanh tường đất thấp nhà hàng xóm để có thể vượt tường vào thẳng trong bếp. Nhưng khi cháu Hương vừa nhảy xuống thì tự hai bàn tay bé nhỏ của nó tuột ra cái mề gà sống có một quãng lòng ngắn dính ở đầu. Tôi vờ ngẩng nhìn ngọn tre lắc lư trong gió chiều như thể mình không biết gì.<br />
Huân bảo vợ:<br />
&#8212; Em làm thức nhắm trước rồi thổi cơm sau.<br />
Nhàn đáp &#8220;vâng&#8221; rồi cười giọng cười ròn tan y như tiếng cười của mẹ tôi ngày nào, hay nói cho đúng, đó là tiếng cười đặc biệt của bất cứ người đàn bà Việt Nam nào trong những cảnh nhường nhịn kín đáo. Tiếng cười tôi nghe mà xót xa, mà tự nhiên có ý nghĩ ngộ nghĩnh: giả sử sau này có quyền hành, nhất định ở mỗi công trường chính của mỗi thành phố tôi sẽ cho dựng tượng bán thân một người đàn bà Việt Nam để tượng trưng cho tình mẫu tử, đức hy sinh đáng được kính mến vào bậc nhất thế giới của dân tộc nhà.<br />
Vừa kịp có một ý định, tôi thấy cần phải hành động nhanh chóng, bèn đứng dậy đủng đỉnh ra ngõ. Huân hỏi:<br />
&#8212; Anh đi đâu đó?<br />
&#8212; À, tôi đáp, đi xem qua phong cảnh thôn này một chút.<br />
Rồi tiến ra đầu thôn trên con đường dẫn tới chợ.<br />
Ánh chiều vừa tắt, vừng trăng rằm tròn vành vạnh lên ngôi, óng ánh như tình cảm một người con gái đến tuổi vừa biết rằng mình đẹp. Nhìn trăng tôi càng thấy vững tâm trên quãng đường trường mà tôi sắp phải đi nốt.<br />
Ðợi mười lăm phút qua, tôi quay về làm giáng hốt hoảng bảo Huân:<br />
&#8212; Hỏng rồi cậu Huân ạ! Như lúc nãy tôi nói là sau nửa tháng nghỉ phép để sống với gia đình, rất có thể tôi sẽ trở lại làm việc trong ty Thông Tin Vĩnh Yên. Tôi vừa gặp ông trưởng ty ngoài chợ, ông ta nhất định kéo mình đi dự hội nghị thông tin liên ty Vĩnh Phúc (Vĩnh Yên &#8211; Phúc Yên) ngay bây giờ.<br />
Huân rẫy nẩy người, chỉ mâm thức ăn úp lồng bàn trên chõng:<br />
&#8212; Sao, ngay bây giờ là thế nào?<br />
Nhàn nghe rõ câu chuyện cũng nhô ra khỏi bếp, tay cầm đôi đũa xào nấu, rồi nói:<br />
&#8212; Ăn cơm đã anh ạ, em đương làm món cánh gà xào chua ngọt mà anh thích.<br />
Tôi tiếp tục buộc lại ba-lô và đáp:<br />
&#8212; Thôi được chẳng lần này thì lần khác, cô nên nhớ từ nay tôi công tác ngay tỉnh bên chứ có đâu xa xôi như trước.<br />
Huân mở lồng bàn cho tôi thấy đĩa miến xào mề gà còn bốc khói và đĩa thịt gà luộc tuy không được đầy đặn nhưng cũng khá tươm, rồi bảo tôi:<br />
&#8212; Ðã thế anh hãy ngồi đây, chúng ta nâng chén luôn, cơm mang lên sau là vừa.<br />
Tiếng Nhàn họa theo lập tức:<br />
&#8212; Phải đấy.<br />
Óc tôi thoáng nhớ lại một kỷ niệm ăn giỗ năm đói (&#8230;) và cương quyết khoác ba-lô lên vai:<br />
&#8212; Ô hay &#8212; (tôi vừa cười vừa nói, tiếng cười, lạ thế, cũng trong và ròn như tiếng cười của mẹ tôi năm xưa, và tiếng cười của Nhàn khi nãy) &#8212; các cậu làm như thể tôi là khách không bằng.<br />
Vừa lúc đó thằng bé cháu út ngã và khóc. Dịp may hiếm có, tôi bảo Huân:<br />
&#8212; Kìa cậu dỗ cháu ngay đi. Thôi tôi đi, cậu đừng phải tiễn.<br />
Nhàn nhô ra khỏi bếp:<br />
&#8212; Khổ, sao anh vội thế? Ðâu phải là khách, nhưng anh em đã lâu quá mới gặp nhau.<br />
Tôi giơ tay chào đùa kiểu quân sự:<br />
&#8212; Ối chà, chuyến này còn nhiều dịp gặp nhau lo gì. A-lê! me-xừ Huân ra dỗ cháu đi kìa. Thôi nhé chào cả nhà.<br />
Vợ chồng Huân buồn thiu không chào lại được tôi, trong khi tiếng hai con cháu lớn lanh lảnh:<br />
&#8212; Lạy bác ạ&#8230; Lạy bác ạ&#8230;<br />
Tôi mỉm cười nhìn chúng một lần nữa, đứa nào cũng gầy và đen. Chúng vẫn còn giữ được lối chào kiểu cách Hà Nội hồi chưa tác chiến.</p>
<p>Tôi vội vã ra khỏi xóm, sợ Huân theo tiễn.</p>
<p>Ra tới đầu làng, nhìn bóng mình in dưới chân, tôi mới biết là chiều đã thật hết, trăng bắt đầu tỏ (&#8230;)</p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><strong>Nguyễn Du và đạo Phật</strong><strong></strong></h3>
<p>Nói đến Nguyễn Du là nói đến Truyện Kiều trước hết và dĩ nhiên chúng ta cũng không quên bài Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh của ngườì nữạ. Vậy tốt hơn hết chúng ta hãy “Cảo thơm lần giở trước đèn” để xem đạo Phật đã thể hiện ra sao qua nội dung truyện Kiều.<br />
Chúng ta hãy ôn lại Truyện Kiều từ đầu tới cuối<br />
Vào dịp: &#8230;</p>
<p>Thanh minh trong tiết tháng ba<br />
Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh</p>
<p>Kiều đã cùng hai em là Vương Quan và Thúy Vân đi chơi xuân, gia nhập vào cảnh:</p>
<p>Dập dìu tài tử giai nhân<br />
Ngựa xe như nước áo quần như nêm<br />
Và Kiều đã chúng kiến cảnh nấm mồ hương khói vắng tanh của nàng Đạm Tiên, một ca nhi tài sắc một thời. Và nàng Kiều đã nói:</p>
<p>Đã không kẻ đoái người hoài<br />
Sẵn đây ta kiếm một vài nén hương</p>
<p>Rồi đối cảnh sinh tình:</p>
<p>Rút trâm sẵn giắt mái đầu<br />
Vạch da cây vịnh bốn câu ba vần</p>
<p>Và Đạm Tiên đã hiển linh để tạ lòng ngưới tri kỷ khiến Kiều càng xúc động:</p>
<p>Lòng thơ lai láng bồì hồi<br />
Gốc cây lại vạch một bài cổ thi.</p>
<p>Kế đó là cuộc gặp gỡ Kim Trọng (bạn của Vương Quan) lần đầu tiên:</p>
<p>Chàng Vương quen mặt ra chào<br />
Hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa</p>
<p>Tuy nhiên với Kiều thì tình ý có tế nhị hơn:</p>
<p>Người quốc sắc kẻ thiên tài<br />
Tình trong như đã mặt ngoaì còn e</p>
<p>Đêm đó Kiều mơ thấy Đạm Tiên tới báo cho Kiều hay là:</p>
<p>Một mình lưỡng lự canh chầy<br />
Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh</p>
<p>Vương bà chợt thức giấc hỏi Thúy Kiều vì sao trằn trọc khóc thầm trong lúc canh khuya như vậỵ, và Thúy Kiều đã thành thực thưa với mẹ về việc Đạm Tiên báo mộng cho biết số kiếp đoạn trường sau này của cuộc đời nàng. Và Vương Bà đã nói với con:</p>
<p>Dạy rằng “Mộng huyễn chắc đâu<br />
Bỗng không mua não chuốc sầu nghĩ nao!</p>
<p>Trở lại với chàng Kim thì lòng chàng cũng</p>
<p>Mành tương phân phất gió đàn<br />
Hương gây mùi nhớ trà khan giọng tình<br />
Bâng khuâng nhớ cảnh nhớ người<br />
Nhớ nơi kỳ ngộ vội dời chân đi.</p>
<p>Nhưng mấy lần tới trước cổng nhà Kiều thì:</p>
<p>Thâm nghiêm kín cổng cao tường<br />
Cạn dòng lá thắm dứt đường chim xanh</p>
<p>Kim Trọng bèn thuê căn nhà của một thương gia ngay sát bên nhà Kiều:</p>
<p>Lấy điều du học hỏi Thuê<br />
Túi đàn cặp sách đề huề dọn sang</p>
<p>Nhưng đã hai tuần trăng qua mà chàng Kim vẫn chưa có dịp đươc thấy mặt nàng Kiều.<br />
Cho đến một hôm:</p>
<p>Cách tường phải buổi êm trời<br />
Dưới đào dường có bóng ngườì thướt tha<br />
Buông cầm xóc áo vội ra<br />
Hương còn thơm nức người đà vắng tanh<br />
Lần theo tường gấm dạo quanh<br />
Trên đào nhác thấy một cành kim thoa</p>
<p>Kim Trọng đã vội lấy cành kim thoa chờ lúc Thúy Kiều từ trong nhà trở ra tìm mới lên tiếng:</p>
<p>Thoa này bắt được như không<br />
Biết đâu Hợp Phố mà mong châu về</p>
<p>Và vào dịp Thúy Kiều xin lại cành kim thoa, Kim Trọng mới có dịp bày tỏ nỗi lòng tương tư của chàng và xin được hứa hôn cùng nàng. Thúy Kiều đã đáp lời chàng:</p>
<p>Dù khi lá thắm chỉ hồng<br />
Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha</p>
<p>Tuy nhiên chàng Kim đã nhân dịp đó mà cùng nàng Kiều:</p>
<p>Sẵn tay khăn gấm quạt qùy<br />
Với cành thoa ấy tức thì đôi trao</p>
<p>Sau đó nhân ngày sinh nhật ngoại gia, cả nhà đi dự duy có nàng Kiều ở nhà một mình mới<br />
có dịp</p>
<p>Cánh hoa sẽ đặng tiếng vàng<br />
Dưới hoa đã thấy có chàng đứng trông</p>
<p>Và Thúy Kiều đã gặp Kim Trọng ngay tại căn phòng thuê của chàng, ngắm bức họa mới vẽ của chàng, và theo lời đề nghị của chàng, Kiều đã:</p>
<p>Tay tiên gió táp mưa xa<br />
Khoảng trên dừng bút thảo và bốn câu</p>
<p>Câu chuyện cứ tiếp diễn như vậy, Kiều đã có lần đánh đàn cho Kim Trọng nghe. Lần đó Kim Trọng đã:</p>
<p>Xem trong âu yếm có chiều lả lơi<br />
Và Kiều đã phải cảnh giác chàng:</p>
<p>Thưa rằng: Đừng lấy làm chơi<br />
Dễ cho thưa hết một lời đã nao<br />
..<br />
Ra tuồng trên Bộc trong dâu<br />
Thì con người ấy ai cầu làm chi</p>
<p>Rồi sau đó Kim Trọng phải về quê Liêu Dương thọ tang chú Vương Ngoại bị vu oan, Thúy Kiều lâm cảnh bán mình chuộc tội cho chạ Thế là bắt đầu 15 năm lưu lạc cuả nàng, bán mình cho Mã Giám Sinh tay sai cuả mụ Tú Bà. Đi một tháng tròn mới tới Lâm Truỵ Kiều đã dùng dao tử vẫn trước Tú Bà. Trong cơn ngất bằn bặt này, Kiều đã gặp lại Đạm Tiên và được nàng cho hay:</p>
<p>Rỉ Rằng:<br />
“Nhân quả dở dang<br />
Đã toan trả nợ đoạn trường được sao<br />
Số còn nặng nghiệp má đào<br />
Nàng dù muốn quyết trời nào đã cho<br />
Hãy xin hết kiếp liễu bồ<br />
Sông Tiền Đường sẽ hẹn hò về sau.”</p>
<p>Tới đây chúng ta mới thấy Nguyễn Du đề cập tới nhân quả của nhà Phật, nghiệp cuả Nhà Phật.<br />
Trước ý chí cương quyết cuả Kiều, Tú Bà nhượng bộ, và Kiều được ra ở lầu Ngưng Bích. Tại đây Sở Khanh xuất hiện nói là sẽ ra tay tế độ cưú nàng. Nhưng khi Kiều đã ưng theo lời Sở Khanh thì Sở Khanh lẩn trốn và Tú Bà đã bắt Kiều trở lại lầu xanh tại Lâm Truỵ. Nơi đây Kiều gặp được Thúc Sinh &#8211; đã có vợ Cả là Hoạn Thư &#8211; ra tay tế độ cứu nàng ra khỏi chốn lầu xanh. Cha mẹ Thúc Sinh nổi giận đòi trả lại Kiều về chốn lầu xanh. Nhưng qua lời thú thực cuả Thúc Sinh, phủ Quan được biết Thúy Kiều tài sắc vẹn toàn, có tài làm thơ. Phủ Quan ra lệnh Kiều đề thơ và khi xem bài thơ của Kiều phủ Quan đã phải thốt lên:</p>
<p>Khen rằng giá đáng thịnh đường<br />
Tài này sắc ấy nghìn vàng chưa cân</p>
<p>Và Thúc Ông cũng đổi thái độ mà:</p>
<p>Thương vì hạnh trọng vì tài<br />
Thúc ông thôi cũng dẹp lời phong ba</p>
<p>Suốt một năm ròng hương lửa, Kiều khuyên Thúc Sinh nên về thăm vợ cả Hoạn Thư:</p>
<p>Xin chàng kíp liệu lại nhà<br />
Trước người đẹp ý sau ta biết tình</p>
<p>Nhưng Thúc Sinh đã không làm theo lời khuyên của nàng. Vì nghĩ rằng</p>
<p>“Nào ai có khảo mà mình lại xưng”<br />
Sau khi đã xum họp vợ Chồng với Hoạn Thư, đã tới thời Thúc Sinh trở lại Lâm Truy gặp lại Kiềụ Thúc Sinh đi theo đường bộ, Hoạn Thư sai gia nhân đi đường biển gần hơn tới Lâm Truy trước đó để bắt Kiều về. Trong khi đó với Kiều thì:</p>
<p>Đêm thu gió lọt song đào<br />
Nửa vành trăng khuyết ba sao trên trời<br />
Nén hương đến trước Phật đài<br />
Nỗi lòng khấn chưả cạn lời vân vân<br />
Dưới hoa dậy lũ ác nhân<br />
Ầm ầm khốc quỷ Kinh thần mọc ra</p>
<p>Kiều bị tưới thuốc mê mang đi, và để khiến mọi người sau đây tưởng lầm là Kiều đã chết bèn bày bàn thờ:</p>
<p>Sẵn thây vô chủ bên sông<br />
Đem vào để đó lộn sòng ai hay</p>
<p>Quả Nhiên khi đám gia nhân cuả Thúc Ông tới dập tắt lưả cháy thì:</p>
<p>Chạy vào chốn cũ phòng hương<br />
Trong tro thấy một đống xương cháy tàn</p>
<p>Thì ngay tình tin là Kiều đã chết cháỵ Thúc Ông bèn cho thu lượm gom lại, khâm liệm làm tang lễ. Thúc Sinh cũng vừa về tới và dĩ nhiên cũng tin là Kiều đã chết cháỵ. Nhưng gần miếu có một Thầy “Cao tay thông huyền” Thúc Sinh bèn tìm đến hỏi thì được Thầy cho biết: Kiều “Còn nhiều nợ lắm sao đà thác cho”. Hãy đợi một năm nưã thì sẽ biết tin! Và chính vào dịp này Thúc Sinh sẽ lâm vào tình trạng trớ trêu:</p>
<p>Hai bên giáp mặt triền triền<br />
Muốn nhìn mà chẳng dám nhìn lạ thay</p>
<p>Thúc Sinh không tin lời ông Thầy và nghĩ rằng:</p>
<p>Chẳng qua đồng cốt quàng xiên<br />
Người đâu mà lại thấy trên cõi trần</p>
<p>Trong khi đó Khuyển Ưng đã khiêng Kiều xuống thuyền và:</p>
<p>Buồm cao lèo thẳng cánh suyền<br />
Dè chừng huyện tích băng mình vượt sang</p>
<p>Kiêu bị đánh đòn rồi bị chuyển thành thị tì với tên là Hoa Nô.<br />
Bà quản gia thương Kiềụ, Hoạn Thư vào dịp nghe Kiều đàn cũng cảm thương mà nới taỵ<br />
Thế là Kiều không được dip gặp Thúc Sinh ở Lâm Truỵ. Thúc Sinh đành rời Lâm Truy trở về gia hương. Hoạn Thư đón mừng sai Kiều ra chàọ Thúc Sinh biết mình đã mắc mưu ai rồị. Vị trí Kiều với Thúc Sinh nay đã biến đổi thành con ở và chủ nhà. Và khi Kiều bị Hoạn Thư bắt gãy đàn thì Hoạn Thư và Thúc Sinh ở hai tâm cảnh khác nhau:</p>
<p>Cũng trong một tiếng tơ đồng<br />
Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm.</p>
<p>Sau đó Hoạn Thư nguôi ngoai cơn ghen và theo lời Thúc Sinh cho Kiều tu tại Quan Âm Các ở ngay vườn nhà với pháp danh Trạc Tuyền:</p>
<p>Áo xanh đổi lấy Cà Sa<br />
Pháp danh lại đổi tên ra Trạc Tuyền</p>
<p>Nhân dịp Hoạn Thư về nhà vấn an cha mẹ, Thúc Sinh vội tìm gặp Kiều, khuyên Kiều hãy nên cao chạy xa bay:</p>
<p>Liệu mà cao chạy xa bay<br />
Ái ân ta có ngần này mà thôi<br />
Bây giờ kẻ ngược người xuôi<br />
Biết bao giờ lại nối lời nước non<br />
Dẫu rằng sông cạn đá mòn<br />
Con tằm đến thác cũng còn vương tơ</p>
<p>Vừa lúc đó Hoạn Thư xuất hiện, nói là:</p>
<p>Tìm hoa quá bước xem người viết kinh<br />
Nhưng sau đó hỏi hoa tì Kiều được hoa tì cho hay:</p>
<p>Hoa rằng bà đến đã lâu<br />
Nhón chân đứng nép độ đâu nửa giờ</p>
<p>Do đó Kiều hốt hoảng tự nhủ thầm:</p>
<p>Thân ta ta phải lo âu<br />
Miệng hùm nọc rắn ở đâu chốn này</p>
<p>Và Kiều đã trốn khỏi Quan Âm Các vào khoảng canh ba mang theo chuông vàng khánh bạc để phòng thân. Đi miệt vừa rạng sáng thì:</p>
<p>Chuà đâu trông thấy nẻo xa<br />
Rành rành Chiêu Ẩn Am ba chữ bài</p>
<p>Tại dây Kiều đã gặp Sư Trưởng Giác Duyên nói thác là:</p>
<p>Tiểu thiền quê ở Bắc Kinh<br />
Quy sư quy Phật tu hành bấy lâu<br />
Bản sư rồi cũng đến sau<br />
Dạy đưa pháp bảo sang hầu sư huynh<br />
Rày vâng diện hiến rành rành<br />
Chuông vàng khánh bạc bên mình giở ra</p>
<p>Trong thời gian được lưu trú lại chùa Kiều đã:</p>
<p>Kệ kinh câu cũ thuộc lòng<br />
Hương đèn việc trước trai phòng quen tay<br />
Sớm khuya lá bối phiến mây<br />
Ngọn đèn khuê nguyệt tiếng chày nện sương<br />
Thấy nàng thông tuệ khác thường<br />
Sư càng nể mặt nàng càng vững chân</p>
<p>Chẳng may có người tới thăm chùa nói với sư trưởng “chuông vàng khánh bạc sao giống loại chuông vàng khánh bạc đã mất cắp tại chùa nhà Hoạn Thư.<br />
Chờ đêm thanh vắng Giác Duyên hỏi Kiều, Kiều thực tình thưa lại sự tình. Giác Duyên khuyên Kiều hãy sang ở tạm nhà Bạc Bà một Phật tử thường hay lui tới chùa nàỵ<br />
“Ai ngờ Bạc Bà cùng với Tú Bà đồng môn”.</p>
<p>Bạc Bà khuyên Kiều hãy lấy cháu mình là Bạc Hạnh tính tình thực thà, có cửa hàng buôn bán ở Châu Thai, 2 người lấy nhau rồi sẽ trở về Châu Thaị<br />
Ngay phút đầu gặp mặt Kiều đã sinh nghi:</p>
<p>Thiếp như con én lạc đàn<br />
Phải cung rày đã sợ làm cây cong</p>
<p>Quả thực sau này vỡ lẽ: Bạc Hạnh cũng là người buôn người và y đã bán Kiều vào lầu xanh. May thay lần này Kiều gặp được Từ Hải và được Từ Hải chuộc ra khỏi lầu xanh để:</p>
<p>Trai anh hùng gặp gái thuyền quyên<br />
Phỉ Nguyền sánh phượng đẹp duyên cưỡi rồng</p>
<p>Nhưng:</p>
<p>Nửa năm hương lửa đương nồng<br />
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương</p>
<p>Thế là Từ Hải lại ra đi mong sớm thực hiện chí lớn. Ở lại một mình Kiều nhớ nhà, nhớ các em, nhớ chàng Kim.<br />
Từ Hải đã thành công. Binh tướng cuả Từ Hải tới đón Kiều để làm lễ vu quy. Đây là dịp để Kiều trả ân báo oán. Trước hết Kiều báo ân Thúc Sinh, Giác Duyên…sau đó báo oán: Bạc Hạnh , Bạc Bà, Sở Khanh, Khuyển, Ưng, Tú Bà, Mã Giám Sinh.<br />
Giác Duyên Vì trước đó đã được gặp sư Tam Hợp có tài tiên tri nên khi từ biệt Thúy Kiều đã khẳng định với Kiều là trong 5 năm nữa sẽ lại gặp nhaụ.<br />
Hồ Tôn Hiến thuyết Từ Hải hãy quy hàng triều đình để được hưởng công danh phú quý. Từ Hải không muốn hàng, nhưng Kiều nhẹ dạ cả tin cố thuyết phục Từ Hải. Vì nghe theo Kiều, Từ Hải đã mắc mưu Hồ Tôn Hiến. Từ Hải chết đứng vì uất ức. Kiều gắng xin Hồ Tôn Hiến một mảnh đất để chôn Từ Hải:</p>
<p>Xin cho tiện thổ một đời<br />
Gọi là đắp điếm lấy người tử sinh</p>
<p>Tối hôm đó vào lúc tiệc mừng chiến thắng Hồ Tôn Hiến đã ép Kiều phải vào đánh đàn:</p>
<p>Trong quân mở tiệc hạ công<br />
Xôn xao tơ trúc hội đồng quân quan<br />
Bắt nàng thị yến dưới màn<br />
Dở say lại ép cung đàn nhặt tâu<br />
Một cung gió thảm mưa sầu<br />
Bốn dây nhỏ Máu năm đầu ngón tay<br />
Ve ngâm vượn hót nào hay<br />
Lọt tai Hồ cũng nhăn mày rơi châu</p>
<p>Và Hồ hỏi Kiều có muốn làm lại cuộc đời kết duyên cầm sắc với ai không? Kiều đã trả lời:</p>
<p>Thưa rằng: chút phận lạc loài<br />
Trong mình nghĩ đã có người thác oan<br />
Còn chi nữa cánh hoa tàn<br />
Tơ lòng đã đứt dây đàn Tiểu Lâm<br />
Rộng thương còn mảnh hồng quần<br />
Hơi tàn đuốc thấy gốc phần là may</p>
<p>Đến lúc rạng ngày Hồ Công hối hận việc ép Kiều đánh đàn cho mình nghe hôm trước:</p>
<p>Nghĩ mình phương diện quốc gia<br />
Quan trên nhắm xuống người ta trông vào<br />
Bèn gán ép Kiều cho một người thổ quan:<br />
Kiệu hoa áp thẳng xuống thuyền</p>
<p>Và:</p>
<p>Triều đâu nổi tiếng đùng đùng<br />
Hỏi ra mới biết rằng sông Tiền Đường</p>
<p>Kiều sực nhớ lại lời Đạm Tiên xưa đã nói với mình trong mộng:<br />
Sông Tiền Đường sẽ hẹn hò về sau</p>
<p>Thế là Kiều quyết định ngay:<br />
Thôi thì 1 thác cho rồi<br />
Tấm lòng phó mặc trên trời dưới sông<br />
Trông vời non nước mênh mông<br />
Đem mình gieo xuống giữa dòng Trường Giang<br />
Thổ quan theo vớt vội vàng<br />
Thì đà đắm ngọc chìm hương mất rồi<br />
Trở lại với Giác Duyên, từ thuở giã biệt Kiều để tiếp tục trên đường vân du, Sư bà đã có dịp gặp Tam Hợp đạo cô bèn hỏi Đạo cô về trường hợp của Kiều:</p>
<p>Người sao hiếu nghĩa đủ đường<br />
Kiếp sao rặt những đoạn trường thế thôi</p>
<p>Sư bà được đạo cô cho hay là:</p>
<p>Thúy Kiều sắc sảo khôn ngoan<br />
Vô duyên là phận hồng nhan đã đành<br />
Lại mang lấy một chữ tình<br />
Khư khư mình buộc lấy mình vào trong</p>
<p>Khi thầy Giác Duyên nghe nói rụng rời đạo cô bèn trấn an ngay:</p>
<p>Sư rằng song chẳng hề chi<br />
Nghiệp duyên cân lại nhắc đi còn nhiều<br />
Xét trong tội nghiệp Thúy Kiều<br />
Mắc điều tình ái khỏi đường tà dâm<br />
Lấy tình thâm trả nghĩa thâm<br />
Bán mình đã động hiếu tâm đến trời<br />
Hại một người cứu muôn người<br />
Biết đường khinh trọng biết lời phải chăng<br />
Thửa công đức ấy ai bằng<br />
Túc khiên đã rửa lâng lâng sạch rồi</p>
<p>Như vậy là Kiều đã “đức năng thắng số”. Đạo cô khuyên:</p>
<p>Giác Duyên dù nhớ nghĩa nhau<br />
Tiền đường thả một bè lau rước người</p>
<p>Giác Duyên làm đúng theo lời chỉ dẫn của Tam Hợp đạo cô<br />
Vì vậy đã cứu được Thúy Kiều khi nàng gieo mình xuống sông Tiền Đường và mời Kiều về thảo lư ở với mình:</p>
<p>Một nhà chung chạ sớm trưa<br />
Gió trăng mát mặt muối dưa chay lòng<br />
Bốn bề bát ngát mênh mông<br />
Triều dâng hôm sớm mây lồng trước sau</p>
<p>Trở về chuyện chàng Kim. Chàng ở Liêu Dương nửa năm, khi chàng trở về chốn cũ mới hay Kiều đã bán mình chuộc tội cho cha Vương Quan với Thúy Vân sống nghèo túng, may thuê viết mướn kiếm ăn lần hồi. Ông bà Viên ngoại còn sống. Thấy chàng Kim thương nhớ Kiếu, Vương Ông quyết định vội vàng sắm sưả chọn ngày để:</p>
<p>Duyên Vân sớm đã se dây cho chàng</p>
<p>Sau đó Vương Quan, Kim Trọng thi đỗ. Kim Trọng đi nhậm chức tại Lâm Truy, gặp Thúc Sinh mới hay về chuyện Từ Hải chết đứng. Và Kim Trọng quyết định đi tìm Kiều:</p>
<p>Rắp mong treo ấn từ quan<br />
Mấy sông cũng lội mấy ngàn cũng pha<br />
Dấn mình trong áng can qua<br />
Vào sinh ra tử họa là có nhau<br />
Vừa lúc đó có chiếu vua cải nhận Kim Trọng tới Nam Bình, Vương Quan tới Phú Dương. Hai chàng cùng chuẩn bị lên đường thì vưà hay thế giặc đã tan:</p>
<p>Sóng êm Phúc Kiến lửa tàn Chiết Giang</p>
<p>Và:</p>
<p>Được tin Kim mới rủ Vương<br />
Tiện đường cùng lại tìm nàng sau xưa</p>
<p>Tới Hàng Châu tìm hỏi tin tức mới hay chuyện Từ Hải chết đứng, Thúy Kiều bị ép duyên cho thổ quan đã trầm mình xuông sông Tiền Đường. Thật tội nghiệp: cả nhà vinh hiển riêng oan một nàng! Hai chàng bèn làm lễ chiêu hồn giải oan ngay bên bờ sông Tiền Đường thì may sao:</p>
<p>Cơ duyên đâu bỗng lạ Sao<br />
Giác Duyên đâu bỗng tìm vào đến nơi</p>
<p>Vì gặp Giác Duyên mọi người mới biết Thúy Kiều còn sống. Kiều gặp đủ mặt người thân:</p>
<p>Tưởng bây giờ là bao giờ<br />
Rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao</p>
<p>Nhưng khi Vương Ông bảo Kiều hãy theo mọi người cùng về thì Kiều đã thưa lại:</p>
<p>Nàng rằng: Chút phận hoa rơi<br />
Nửa đời nếm trải mọi mùi đắng cay<br />
Tính rằng mặt nước chân mây<br />
Lòng nào còn tưởng có rày nữa không<br />
Được rày tái thế tương phùng<br />
Khát khao đã thỏa tấm lòng lâu nay<br />
Đã đem mình bỏ am mây<br />
Tuổi này gởi với cỏ cây cũng vừa</p>
<p>Mùi thiền đã bén muối dưa<br />
Màu thiền ăn mặc đã ưa nâu sồng<br />
Sự đời đã tắt lửa lòng<br />
Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi</p>
<p>Vương Ông vẫn khuyên Kiều hãy quay về xum họp, vì chấp kinh cũng phải tòng quyền rồi:</p>
<p>Độ Sinh nhờ đức cao dày<br />
Lập am rồi sẽ rước Thầy ở chung<br />
Và Kiều đã:</p>
<p>Nghe lời nàng phải chiều lòng<br />
Giã sư giã cảnh đều cùng bước ra</p>
<p>Về tới nhà trong bữa tiệc xum họp nàng Vân tuyên bố là xưa vì nạn nhà mà mối duyên của chị với chàng Kim nàng phải đứng ra thay chị nhưng:</p>
<p>Bây giờ gương vỡ lại lành<br />
Khuôn thiêng lừa lọc đã đành có nơi<br />
Còn duyên may lại còn người<br />
Còn vầng trăng bạc còn lời nguyền xưa</p>
<p>Kiều gạt phắt lời em, vì nghĩ thân mình dãi gió dầm mưa đã nhiều Chàng Kim khăng khăng góp ý với Kiều:</p>
<p>Một lời đã chót thâm giao<br />
Dưới dày có đất trên cao có trời<br />
Dẫu rằng vật đổi sao dời<br />
Tử Sinh cũng giữ lấy lời tử Sinh</p>
<p>Kiều vẫn cương quyết khước từ và thưa thẳng với chàng Kim:</p>
<p>Thiếp từ ngộ biến đến giờ<br />
Ong qua bướm lại đã thừa xấu xa<br />
Bấy chầy gió táp mưa sa<br />
Mấy trăng cũng khuyết mấy hoa cũng tàn</p>
<p>Và nàng đề nghị hãy từ tình duyên đổi sang tình bạn:</p>
<p>Chàng dù nghĩ đến tình xa<br />
Đem duyên cầm sắt ra duyên cầm kỳ</p>
<p>Chàng Kim vẫn cương quyết nói với nàng là chữ trinh kia cũng có ba bảy đường:</p>
<p>Như nàng lấy hiếu làm trinh<br />
Bụi nào cho đục được mình ấy vay<br />
Trời còn để có hôm nay<br />
Tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời<br />
Hoa tàn mà lại thêm tươi<br />
Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa</p>
<p>Cả Vương Ông, Vuơng Bà cùng chàng Kim dồn Thúy Kiều vào thế hết lời khôn lẽ chối lời</p>
<p>Cúi đầu nàng những ngắn dài thở than<br />
Và nàng chịu làm lễ đủ đôi với chàng.</p>
<p>Nhưng đêm hôm đó trong phòng chỉ còn riêng hai người nàng mới thỏ thẻ nói lại với chàng lý lẽ của mình. Em Vân đã thay nàng trả nợ tình xưa, còn mình thì:</p>
<p>Chữ trinh còn một chút này<br />
Chẳng cầm cho vững lại giày cho tan<br />
Còn nhiều ân ái chan chan<br />
Hay gì vẫy cánh hoa tàn mà chơi</p>
<p>Sau cùng Kim Trọng hoàn toàn đồng ý với nàng đem duyên cầm sắt ra duyên cầm kỳ. Chàng cũng khẳng định là</p>
<p>Bấy lâu đáy bể mò kim<br />
Là nhiều vàng đá phải tìm trăng hoa<br />
Ai ngờ lại họp một nhà<br />
Lọ là chăn gối mới ra sắt cầm</p>
<p>Và Kiều đã sửa áo cài trâm khấn đầu lạy tạ Chàng Kim:</p>
<p>Thân này gạn đục khơi trong<br />
Là nhờ quân tử khác lòng người ta</p>
<p>Sau đó Kim Trọng lại yêu cầu cho nghe lại tiếng đàn xưa của nàng. Nàng thuận tình chiều ý chàng nhưng lần này thì</p>
<p>Khúc đâu đầm ấm dương hòa<br />
Ấy là hồ điệp hay là Tráng sinh<br />
Khúc đâu êm ái xuân tình<br />
Ấy hồn Thục đế hay mình Đỗ Quyên<br />
Trông sao châu nhỏ duềnh quyên<br />
Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đông<br />
Thúy Kiều cũng không quên<br />
Nhớ lời lập một am mây<br />
Khiến người thân tín rước Thầy Giác Duyên</p>
<p>Nhưng:</p>
<p>Đến nơi đóng cửa cài then<br />
Rêu trùm kẽ ngạch cỏ lên mái nhà<br />
Sư đà hái thuốc phương xa<br />
Mây bay hạc lánh biết là tìm đâu<br />
Nặng vì chút nghĩa bấy lâu<br />
Trên am cứ giữ hương dầu hôm mai</p>
<p>Thúy Kiều tiếp tục cuộc sống thảnh thơi hạnh phúc của kẻ đã trả nợ xong nghiệp cũ:</p>
<p>Một nhà phúc lộc gồm hai<br />
Nghìn năm dằng dặc quan giai lần lần<br />
Thừa ai chẳng hết nàng Vân<br />
Một cây cù mộc một sân quế hòe</p>
<p>Và Nguyễn Du đã kết thúc Truyện Kiều với những lời thơ đề cập tới chữ tài, chữ mệnh , chữ tâm, thiện căn và nghiệp nơi con người:</p>
<p>Ngẫm hay muôn sự tại trời<br />
Trời kia đã bắt làm người có thân<br />
Bắt phong trần phải phong trần<br />
Cho thanh cao mới được phần thanh cao<br />
Có đâu thiên vị người nào<br />
Chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai<br />
Có tài mà cậy chi tài<br />
Chữ tài liền với chữ tai một vần<br />
Đã mang lấy nghiệp vào thân<br />
Cũng đừng trách lẫn trời gần xa<br />
Thiện tâm ở tại lòng ta<br />
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài<br />
Lời quê chắp nhặt dông dài<br />
Mua vui cũng được một vài trống canh</p>
<p>Như vậy là đọc lại từ đầu đến cuối Truyện Kiều, chúng ta thấy cụ Tiên Điền đã 6 lần đề cập đến đạo Phật hoặc qua nhân vật hoặc qua tình tiết truyện.<br />
Lần thứ nhất: Khi Kiều dùng dao tự vẫn trước Tú Bà, trong cơn ngất bằn bặt Kiều đã được Đạm Tiên báo cho hay:</p>
<p>Rỉ Rằng: Nhân quả dở dang<br />
Đã toan trốn nợ đoạn truờng được sao<br />
Số còn nặng nợ má đào<br />
Người dù muốn quyết trời nào đã cho<br />
Hãy xin hết kiếp liễu bồ<br />
Sông Tiền Đường sẽ hẹn hò về sau</p>
<p>Như vậy là lần thư nhất này qua lời báo mộng của Đạm Tiên , Nguyễn Du đã đề cập đến luật nhân quả và chữ nghiệp cuả nhà Phật<br />
Lần thứ hai: Khi biết Thúc Sinh “vườn mới thêm hoa” (gian díu với Thúy Kiều), Hoạn Thư đã:</p>
<p>Lửa tâm càng dập càng nồng<br />
Trách người đen bạc ra lòng trăng hoa</p>
<p>Hai chữ lửa tâm trên đây cũng đượm phần giáo lý cuả Nhà Phật<br />
Lần thứ ba: Khi Thúc Sinh trở lại Lâm Truy bằng đường bộ để gặp lại Thúy Kiều thì Hoạn Thư đã sai lũ gia nhân đi bằng đuờng biển gần hơn bắt Thúy Kiều<br />
Trong khi đó với Kiều khi chưa bị lũ gia nhân cuả Hoạn Thư tới bắt thì</p>
<p>Đêm thu gió lọt song đào<br />
Nửa vành trăng khuyết ba sao trên trời<br />
Nén hương đến trước Phật đài<br />
Nỗi lòng khấn chửa cạn lời vân vân</p>
<p>Theo lời bàn xưa thì hình ảnh “nửa vành trăng khuyết ba sao trên trời cũng là gián tiếp nhắc đến chữ Tâm của đạo Phật<br />
Lần thứ tư: Khi Kiều đã bị bán mình cho Mã Giám Sinh tay sai của Mụ Tú Bà, tới đây Nguyễn Du qua lời Đạm Tiên nói với Thúy Kiều đã đề cập tới Luật nhân quả và chữ Nghiệp trong đạo Phật:</p>
<p>Rỉ Rằng: Nhân quả dở dang<br />
Đã toan trả nợ đoạn trường được sao<br />
Số còn nặng nghiệp má đào<br />
Nàng đà muốn quyết trời nào đã cho</p>
<p>Lần thứ năm: Khi Kiều trầm mình xuống sông Tiền Đường nàng được sư bà Giác Duyên cứu sống và Kiều đã theo về thảo lư chung sống với sư bà.<br />
Lần thứ sáu: Với sáu câu sau cùng cuả Truyên Kiều cụ Nguyễn Du đã dùng đến chữ Nghiệp và chữ Tâm cuả Nhà Phật để hàm ý khuyên chúng ta một nếp sống tâm linh lành mạnh:</p>
<p>Đã mang lấy nghiệp vào thân<br />
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa<br />
Thiện căn ở tại lòng ta<br />
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài<br />
Lời quê chắp nhặt dông dài<br />
Mua vui cũng được một vài trống canh.</p>
<p>Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni,</p>
<p><strong><em>(Bài viết của Giáo sư Doãn Quốc Sỹ cho chương trình chuyên đề của</em></strong><em><br />
</em><strong><em>Phật Học Ðường Vạn Hạnh Online)</em></strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><strong>Chiếc chiếu hoa cạp điều</strong><strong></strong></h3>
<p>Quê tôi cách Hà Nội chừng 5 cây số. Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ thì gia đình tôi tản cư lên Nhã Nam thuộc huyện Yên Thế, Bắc Giang. Đến năm 1948 khi cậu tôi từ Vĩnh Yên lên thăm chúng tôi lần đầu thì toàn thể gia đình chúng tôi ai nấy đều có màu da nửa vàng nửa xám xịt vì sốt rét rừng.<br />
&#8211; Anh chị phải cho các cháu tản cư về mạn dưới như chúng tôi &#8211; lời cậu tôi nói với thầy mẹ tôi &#8211; chứ cứ như thế này thì không chết cũng chẳng còn ra hồn người nữa.<br />
Sau ngót hai năm tản cư gia đình tôi khánh tận rồi. Có lẽ vì nghĩ vậy nên thầy mẹ tôi tìm cách nói thác:<br />
&#8211; Ngày xưa vùng Yên Thế Thượng này độc nhưng nay vì có nhiều người lên khai phá nên khí hậu cũng không đáng ngại lắm.<br />
Cậu tôi không chịu:<br />
&#8211; Anh chị về Vĩnh Yên gần chúng tôi cho có anh có em, vừa tránh được nạn sốt rét rừng vừa có cơ buôn bán khá. (Dạo đó Vĩnh Yên còn là cửa ngõ của việc thông thương giữa Liên khu III với Bắc Việt).<br />
Rồi cậu tôi về Vĩnh Yên. Hai tháng sau người lại lên, nhất quyết đón gia đình tôi xuôi, nói là nơi ăn chốn ở đã thu xếp đâu vào đó cả.<br />
Thế là gia đình tôi xuôi Vĩnh Yên, còn một mình tôi ở lại Sở Thông Tin Liên khu I. Công tác của tôi là đi tuyên truyền mười điều kháng chiến trong toàn huyện Yên Thế. Vì lưu động như vậy nên tôi cũng quên đi nỗi buồn gia đình phân cách đôi nơi. Nỗi buồn đó chỉ đến thắc mắc lòng tôi mỗi khi trở về trụ sở kiểm điểm công tác. Trụ Sở Thông Tin ở một làng bên tả ngạn sông Thương, gần một bến đò đẹp vào bậc nhất Bắc Giang, bến đò Lục Liễu. Để tăng phần thơ mộng cho cái tên đó tôi vẫn thường dịch nôm là &#8220;Bến đò liễu xanh&#8221;.<br />
Thư của em tôi tới báo cho hay gia đình đã tới tản cư cùng làng với gia đình cậu mợ tôi. Làng đó ở ngay bến Rau, bên này là Vĩnh Yên, bên kia là Sơn Tây rất thuận tiện cho việc buôn bán.<br />
Rủi thay, thầy mẹ tôi vừa đến Vĩnh Yên thì quân Pháp mở chiến dịch càn quét khắp vùng Sơn Tây rồi thiết lập thêm đồn quân dọc theo hữu ngạn sông Hồng từ Sơn Tây ngược lên đến Việt Trì. Các ngả đường giao thông với Liên khu III đều bị quân Lê Dương phục kích ráo riết.<br />
Cậu tôi đã rơi vào ổ phục kích của chúng, dấn vốn khánh tận may thoát được người. Mẹ tôi phải ngừng chuyện buôn bán.<br />
Nghe nói làng N.H. bên hữu ngạn sông Đáy gần chân dãy núi Tam Đảo là một làng trù mật, chuyên bán đỗ, gia đình tôi bèn chuyển đến đây theo sáng kiến của mẹ tôi. khi tới nơi, mẹ tôi mới thấy rằng mình đã nhầm. Trước đấy một năm thì địa điểm này buôn bán được vì hầu như dân chúng toàn hạt Vĩnh Yên đổ xô về để tránh Pháp tấn công, nhưng nay, tình hình tạm yên ai nấy trở về chốn cũ, địa điểm N.H. trở lại chốn trầm mặt của chốn chuyển tiếp giữa vùng trung du bên dưới với vùng đèo heo hút gió bên trên.<br />
Vừa lúc đó tôi xin thôi ở sở Thông Tin về.<br />
Mẹ tôi mừng lắm vì người vẫn thường nói: &#8220;Thời loạn lạc gia đình nên gần nhau nhỡ có thế nào&#8230;&#8221;. Hình như trong óc người &#8211; có thể nói trong óc mỗi người trong gia đình tôi &#8211; đều luôn luôn lo sợ cảnh một người bị chết vì bom đạn rồi mất xác vì gia đình không kịp biết để nhìn nhận. Niềm vui đoàn tụ giúp chúng tôi bớt buồn nản khi thu xếp gồng gánh trở lại huyện Yên Lạc. Lần này gia đình tôi không dám ở gần bến đò Rau nữa vì sợ phi cơ oanh tạc, mà ở một làng cách huyện Yên Lạc chừng gần một cây số. Gia đình cậu tôi ở ngay làng bên. Lẽ cố nhiên cả hai gia đình chúng tôi cùng nghèo túng lắm, nghèo túng đến nỗi cậu mợ tôi, thày me tôi cũng không dám sang nhà thăm nhau, chỉ chiều chiều ra gặp nhau trên quãng đường đá nối huyện Yên Lạc với bến đò Rau.<br />
Tôi gặp lại người yêu cũ từ Phủ Lý (Khu III) chạy lên. Chúng tôi thành vợ chồng, tuy có ký giấy tờ tại Ủy Ban Kháng Chiến Hành Chính Huyện &#8211; cậu mợ tôi là những người làm chứng &#8211; nhưng đám cưới hoàn toàn êm ả, y như một đám cưới vụng trộm.<br />
Em gái lớn tôi xoay đi buôn gạo, ngày ngày kĩu kịt đi về 20 cây số kiếm chút lãi. Ở Yên Thế tuy bị sốt rét nhưng nhà ở giữa rừng ít lo bị địch tấn công bất ngờ; tuy cũng nghèo túng nhưng còn có đất rộng để tăng gia rau cỏ và nuôi được lợn gà.<br />
Về đây những buổi ăn cháo ngô trừ bữa, mẹ tôi thường có ý khép cửa giữa lại.<br />
Em gái tôi đã phải đi chợ thật xa để đong gạo rẻ mà rồi tính ra lời lãi cũng chẳng được là bao. Các cụ giải thích hiện tượng kinh tế này bằng câu: &#8220;Thóc gạo có tinh&#8221;, mẹ tôi làm tương gánh đi các chợ xa bán để kiếm thêm. Vợ tôi tạng người yếu nhưng khéo tay, không làm được việc nặng, nàng phụ trách những việc nhẹ như rang đỗ tương, ủ mốc, pha muối vào nước tương&#8230;<br />
Dạo đó trường Luật mở ở gần chợ Me (Vĩnh Yên), tôi có ghi tên theo học nốt năm thứ ba hy vọng ngày thành tài sẽ ra thẩm phán, đồng lương họa có cao để giúp gia đình. Vì hoàn cảnh kháng chiến các giáo sư thường từ nơi xa lại trường sở dạy liền trong mấy ngày, sau đó sinh viên tự tìm tài liệu nghiên cứu thêm. Có khi thời gian nghiên cứu lấy dài hơn một tháng mới có giáo sư mới. Tôi triệt để lợi dụng khoảng cách này để bon về giúp đỡ gia đình những công việc nặng.<br />
Mùa đông năm đó rét lạ lùng. Gió hun hút giật từng cơn buốt như dao cắt từng mảnh thịt hở, thế mà hôm nào mẹ và em gái tôi cũng phải dậy từ bốn giờ rưỡi sáng để sửa soạn gồng gánh ra đi. Quần áo và chăn chiếu của gia đình tôi thiếu mất nhiều. Thằng em thứ ba của tôi có được cái chiếu rách mướp vừa nằm vừa đắp, chân thò ra ngoài thì nó lấy rơm phủ lên.<br />
&#8211; &#8220;Ấy cứ thế mà ấm ra phết anh ạ&#8221; &#8211; Nó vừa cười khoái trí vừa nói với tôi như vậy.<br />
Các em trai em gái tôi đã lớn cả, chúng tôi hầu như thường thi đua trong việc nhường nhịn nhau. Mẹ tôi chỉ còn thắc mắc về thằng em út của tôi. Nó còn nhỏ tuổi quá chưa thể tìm nguồn vui ở tinh thần để quên đói rét. Tương đối với cả nhà nó được mặc lành nhất. Nó mặc cái áo đỏ chót có những vệt chữ nho đen và những đường kim tuyến (nguyên đó là chiếc câu đối người ta phúng bà tôi hồi chưa tác chiến). Câu đối đỏ thì may áo, còn nẹp sa teng vàng mẹ tôi cố gạn may thêm cho nó chiếc áo di-lê. Chúng tôi gọi đùa nó là &#8220;anh cờ đỏ sao vàng&#8221;. Đêm đến rét quá không đủ chăn ấm, nó thường khóc khậm khạch. Chỉ cần có thêm đôi chiếu nữa thì cả nhà đủ ấm.<br />
&#8211; &#8220;Chiếu cói kỵ gió&#8221;. &#8211; Mẹ tôi bảo thế.<br />
Nhưng đến ăn còn chẳng đủ làm sao chúng tôi mua được đôi chiếu bây giờ?<br />
Hôm đó suốt từ sáng sớm đến trưa phi cơ bay từng đoàn bắn phá và dội bom liên tiếp xuống các chợ lân cận: chợ Me, chợ Vàng, chợ An Lạc&#8230; Mọi ngày chỉ khoảng bốn giờ chiều mẹ tôi có mặt ở nhà. Ngày đó giời đã xế chiều mà người vẫn chưa về. Toàn thể gia đình tôi bắt đầu sốt ruột tuy không ai nói một câu.<br />
Chiều ngả màu xẫm. Gió bấc rít trong bụi tre già làm nền cho tiếng khàn khàn của lũ quạ lục đục trong ổ, gió bấc xoáy từng vòng cuồng loạn dứt từng vốc lá tre, lá bưởi vàng úa rồi lại nhào vút mất hút ra ngoài cánh đồng bát ngát hiu quạnh.<br />
Mẹ tôi vẫn chưa về.<br />
Trong óc tôi thoáng hiện những cảnh chợ bị phi cơ tàn phá, những hình người không kịp xuống hầm bị đạn chết gục bên cột lều tay còn quờ ôm những đồ hàng của mình, những hình người bị bom napalm thiêu rụi như những thân chuối cháy đen&#8230; Và tôi vùng ra cổng.<br />
Thày tôi biết ý hẹn với:<br />
&#8211; Con cứ thẳng đường ra bến Rau. Mẹ con thường về đường ấy.<br />
Ra tới cổng làng, tôi đi như bay theo đường đã định, cổ họng nghẹn ngào, dạ cồn lên như lửa đốt. Con đường như rộng thênh thang, cánh đồng ngập trong bóng chiều xẫm và trong gió bấc, càng trở thành mênh mông. Tôi vun vút nhảy qua các hố phá hoại mà đi như một bóng ma cô độc đương muốn biến theo luồng gió.<br />
Từ xa như có bóng người đi lại. Chắc người đó ở chợ Rau về. Để tôi phải hỏi tin tức về việc phi cơ oanh tạc hôm nay.<br />
Hình như trên đòn gánh người đó có vắt ngang một cái gì.<br />
Tôi lướt vội lên. Trời ơi, mẹ tôi!<br />
Hai mẹ con mừng mừng tủi tủi như gặp nhau ở cửa âm ti.<br />
Tôi hỏi: &#8220;Sao mẹ về muộn thế, cả nhà lo tưởng phát điên lên&#8221;. Mẹ tôi cho biết hàng hôm nay bán ở chợ không hết, người phải đi sâu vào một vài làng lân cận để bán nốt. Rồi khi xuống khỏi đê, qua cái lạch lớn, thấy có chiếc chiếu trôi, vội tìm cách vớt lên và giặt luôn bên lạch. Đó là chiếc chiếu còn khá tốt tuy chiều rộng bị xén đi mất một phần ba.<br />
Mẹ tôi chỉ vào chiếc chiếu phơi trên đòn gánh nói:<br />
&#8211; Về đến nhà thì chiếu vừa khô con ạ. Tối hôm nay thằng Tư &#8211; tên thằng em út tôi &#8211; có chiếu đắp ấm.<br />
&#8211; Mẹ ơi, &#8220;giàu con út, khó con út&#8221;, mẹ chẳng để ý gì đến chúng con, chỉ chăm chút cho chú Tư thôi.<br />
Mẹ tôi đi trước, gió ngược chiều nên tiếng tôi mất hút về phía sau. tuy nghe tiếng được tiếng không nhưng mẹ tôi vẫn hiểu câu nói đùa. Người vừa giữ cái chiếu vừa quay nhìn tôi mỉm cười.<br />
Tối hôm đó khi đi ngủ thằng chú Tư được mẹ tôi đắp cho chiếc chiếu vớt ở lạch. Chân nó thò ra một tí khiến tôi nhận thấy chiếc bí tất cũ vàng xỉn của tôi, chỗ đầu rách được buộc túm lại để các ngón chân xinh của nó khỏi &#8220;thoát ly&#8221; ra ngoài.<br />
Dạo đó chỉ còn một tháng nữa là tết. Tôi lại có dịp tạm rời trường Luật, đợi đến qua giêng mới có giáo sư. Tôi về vừa đúng lúc gia đình đương cần nhân công xay thóc giã gạo. Dấn vốn của gia đình tôi còn đong được năm nồi thóc. Dùng số tiền đó làm tiền đặt mẹ tôi có thể đong về được tám nồi. Theo như mẹ tôi phác tính mỗi nồi thóc làm, được lợi ít ra là hai ca gạo, vị chi với tám nồi thóc, chúng tôi sẽ lợi ít nhất là một nồi rưỡi gạo. Cứ như vậy mà đủ việc liền trong một tháng, nghĩa là vừa đến tết, thì chúng tôi có thừa tiền đong gạo nếp gói bánh chưng và mua thịt cá để đón một mùa xuân kháng chiến tương đối huy hoàng.<br />
Chúng tôi ngoại giao ổn thỏa với các nhà có cối xay cối giã rồi bắt đầu vào việc. Thầy tôi trông nom mấy đứa nhỏ sửa soạn cơm nước. Tôi và thằng em giai xay thóc trong khi mẹ tôi điều khiển vợ tôi và cô em gái sàng gạo. Xay hết thóc chúng tôi đã có gạo đem đi giã, giã đến đâu mẹ và em tôi sàng tấm sẩy cám đến đấy. Trong khi xay thóc tôi nhẩm ôn các đạo luật, các án lệ để sửa soạn kỳ thi cuối niên khóa. Khi giã gạo với vợ, tôi cùng nàng thủ thỉ xây mộng tương lai. Ngày kháng chiến thành công hẳn chúng tôi đã có những đứa con kháu khỉnh, đã trở về quê hương dựng lại căn nhà xinh, sống tự do bình dị trong tổ ấm gia đình.<br />
Ngày đầu chúng tôi làm được tám nồi thóc với số gạo dư là hai nồi. Một cụ già ở đấy gật gù nói: &#8220;Vạn sự xuất ư nho, đúng thật. Học trò thì cái gì cũng làm được. Cứ bảo người Hà nội không chịu được lam lũ!&#8221;. Ngày hôm sau có tin quân Pháp đánh lên Vĩnh yên. Những người có thóc giữ lại. mẹ tôi phải vất vả lắm mới mua được bằng giá khá cao sáu nồi thóc để chúng tôi có việc làm.<br />
Quân Pháp chiếm Vĩnh Yên. Tiền Hồ Chí Minh sụt giá vùn vụt. Vẫn số tiền cũ giờ đây chưa chắc mẹ tôi đã mua nổi bốn nồi thóc. Quân Pháp theo sông đào tiến lên chiếm chợ Me. Dân chúng xao xác chuẩn bị chạy. Số tiền trong tay mẹ tôi hầu trở thành giấy lộn. Chúng tôi ăn một bữa quà bánh đúc, lúc giả tiền thấy vợi hẳn túi. Viễn ảnh những ngày đầu xuân có gạo nếp, có thịt gà, thịt lợn bị giập vùi trong khói súng và biến thành một điểm mong manh chết đuối giữa cảnh tàn phá rùng rợn của bom đạn tơi bời cha lạc con vợ lạc chồng, anh em tán loạn mỗi người một phương.<br />
Dạo đó tuy đã có phong trào &#8220;rèn cán chỉnh cơ&#8221; nhưng chưa có cố vấn Tàu, chưa có chính sách &#8220;ba cùng&#8221;, học tập đấu tố nên mặc dầu kinh tế nguy ngập ai nấy vẫn tin tưởng ở ngày mai huy hoàng của dân tộc, tin tưởng ở thắng lợi cuối cùng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của già Hồ (như lời tuyên truyền phát thanh chiều chiều).<br />
Sang hạ tuần tháng chạp, suốt ngày mưa phùn gió bấc lạnh như cắt ruột. Không hiểu là vì rét nhiều hơn hay là vì chúng tôi đã bắt đầu giảm khẩu phần! Chiếc chiếu mẹ tôi vớt ở lạch đắp cho thằng em út đã rách xơ xác. Trong khi gia đình tôi giật gấu vá vai tìm cách nhường nhau miếng cơm manh chiếu thì xảy cuộc hỗn chiến giữa quân đội Pháp và quân đội Kháng Chiến ở chân núi Tam Đảo. Để giữ vững ưu thế quân sự về mình tại mặt trận Vĩnh Yên. Tướng Pháp De L. quyết định hy sinh đoàn quân hắn, và hạ lệnh cho thả bom tận diệt đôi bên.<br />
(Trong cái điên ba của một cuộc thế lọc lừa phản trắc, người ta dày xéo lên tình người, điềm nhiên hy sinh xương máu đồng bào đồng loại nơi này cho quyền lợi thực dân, nơi kia cho học thuyết giai cấp. Tôi không ghê tởm những bộ mặt lãnh tụ như chúng sao được?)<br />
Từ chân núi Tam Đảo quân Pháp đánh tỏa ra ba mặt, đồng thời từ hữu ngạn sông Hồng, một toán Lê Dương vượt sang càn quét bến Rau ở tả ngạn. Dân chúng từ bốn mặt chạy về huyện Yên Lạc, đổ xô vào các làng. Mẹ tôi bèn thổi cơm hàng gánh đến bán cho họ. Trong số rất đông các người ở làng Rau mang đồ đạc chạy đến làng Lũng Thượng, có gia đình ông Lý Cựu vốn là bà con với ông chủ nhà nơi tôi tản cư. Ông Lý nói chuyện với thầy tôi rất tương đắc nhất là khi ông biết tôi đương học trường luật thi ra thẩm phán.<br />
Ông nói:<br />
&#8211; Tôi có thằng cháu năm nay lên sáu; giời cho làm người, sau này kháng chiến thành công, tôi nhất định sẽ gởi cháu lên Hà Nội phiền ông bà và cậu Cả trông nom giúp cho thành thân người.<br />
Quân Pháp sau khi từ chợ Me vượt qua sông Đáy tiến sâu vào huyện Lập Thạch đốt phá một ngày rồi rút lui về tỉnh. Cánh quân tiến sang tả ngạn sông Hồng đốt phá bến đò Rau cũng rút lui về vị trí cũ bên hữu ngạn. Dân chúng chạy loạn lục tục đâu trở về đấy ngay để còn kịp sửa soạn tết.<br />
Làng Lũng Thượng trở lại yên tĩnh.<br />
Trưa hôm đó mẹ tôi ra phía bụi tre đầu nhà thấy cong queo dưới hầm trú ẩn một chiếc chiếu hoa cạp điều. Đúng là chiếc chiếu của một gia đình chạy loạn nào khi về mừng quá bỏ quên.<br />
Mẹ tôi nói: &#8220;Thôi thế cũng là giời thương mà cho nhà mình!&#8221;<br />
Đã lâu lắm, đêm đó tôi mới thấy thằng em út tôi có chiếc chiếu đắp kín chân không trông thấy đôi bí tất buộc túm chỗ rách. Sáng ra, mẹ tôi cẩn thận gấp chiếu rồi vắt lên chiếc giây thừng căng cao ngang mái nhà. Thế là từ đây đêm đêm nghe tiếng gió rít và những hạt mưa táp vào đầu hồi tôi cũng yên chí cho các em đã tạm đủ chiếu nằm, chiếu đắp. Hai ngày sau, tới buổi sớm ba mươi tết, khi sực tỉnh, tôi thấy không khí trong làng có vẻ tưng bừng hơn vì những tiếng bàn tán xôn xao xen với tiếng cười ròn rã ngoài đường xóm. Tôi vùng dậy ra thẳng ngõ. Trời tuy lạnh ngọt nhưng quang đãng và êm ả vô cùng. Tôi gặp mọi người mắt ai nấy sáng sáng ngời tin tưởng. Thì ra ở khắp các tường làng đều đã kẻ khẩu hiệu: &#8220;Chuẩn bị tổng phản công&#8221;.<br />
Đồng bào thủ đô bàn nhau ngày về nhận nhà nhận cửa, đồng bào địa phương hơi có vẻ ngậm ngùi tưởng như giờ phút chia tay đã điểm. Buổi trưa hôm đó ông Lý Cựu từ làng Rau mang theo vài thứ xa xỉ phẩm làm quà biếu ông chủ nhà vào dịp tết. Ông Lý Cựu có xuống căn nhà dưới thăm thầy tôi. Câu chuyện vừa xong phần xã giao thường lệ thì ông ngửng nhìn thấy chiếc chiếu hoa cạp điều vắt ở giây thừng, ông đứng nhỏm dậy chạy lại kéo tuột xuống nói gọn:<br />
&#8211; Chiếc chiếu này của tôi<br />
Mẹ tôi chợt có một cử chỉ phản ứng của một người mẹ gìn giữ con trong cơn nguy biến.<br />
Người nói:<br />
&#8211; &#8220;Ấy chiếc chiếu đó của nhà tôi&#8230;&#8221;<br />
Mẹ tôi vốn là một Phật tử trung thành. Người chỉ nói được đến đấy thì lương tâm Phật tử trở lại và người lúng túng quay nhìn ra ngõ.<br />
Ông Lý Cựu thản nhiên gấp chiếu lại, cắp gọn nách rồi thản nhiên nói:<br />
&#8211; Không, chiếc chiếu của tôi. Tôi mua đôi chiếu cặp điều từ năm mới tác chiến, một chiếc còn trên kia.<br />
Thì ra đôi chiếu đó, ông Lý mang đến gửi ông chủ nhà trong dịp vừa qua, rồi những người đến chạy loạn tự động mượn đem ra giải ở bụi tre nghỉ tạm, lúc về vì chiếu rơi xuống hầm trú ẩn nên họ quên không trả lại chỗ cũ.<br />
Tuy chỉ một thoáng qua nhận biết sự thể là vậy nhưng tôi vẫn chưa chịu và tiếp lời mẹ tôi:<br />
&#8211; Chiếc chiếu này mẹ mua của một người ở chợ Lầm. (Ý tôi muốn nói người đó lấy chiếc chiếu ở đây mang ra chợ Lầm bán).<br />
Ông Lý vẫn thản nhiên, thản nhiên một cách cương quyết:<br />
&#8211; Không, chiếc chiếu này của tôi.<br />
Rồi ông cắp chiếu đi thẳng lên nhà. Lúc đó tôi cũng vừa trở lại với tôi để nhớ ra rằng cuối năm nay tôi đã thi xong, có thể ra làm thẩm phán. Tôi thoáng nghe phía sau tiếng vợ tôi thở dài rồi quay vào buồng.<br />
Tối hôm đó khi thấy tôi lấy chiếc chiếu rách cũ vớt ở lạch đắp cho thằng em út, mẹ tôi chép miệng nói khẽ:<br />
&#8211; Thôi, sang giêng trời bắt đầu ấm, vả lại cũng sắp tổng phản công rồi!<br />
&#8220;Vả lại cũng sắp tổng phản công rồi!&#8221; &#8211; mẹ tôi nghĩ thật chí lý. Tổng phản công để bờ cõi được vinh quang độc lập, để mọi người được trở về dựng lại quê hương yên vui.<br />
Tôi hiểu khi đó hầu hết các gia đình khác cũng như chúng tôi, chịu đựng bao nhục nhằn với những phút sa ngã nhỏ như chuyện chiếc chiếu hoa cạp điều. Tất cả những hy sinh đó &#8211; kể cả hy sinh một chút danh dự cho sự yếu đuối thường tình của con người &#8211; tuy dằn vặt, ray rứt mà không tàn phá nổi niềm vui trong sáng, thanh thản của tâm hồn, vì ai nấy vẫn sống ngợp hy vọng một ngày mai vinh quang. Sớm mùng một năm đó mẹ tôi ra chùa lễ. Người quỳ rất lâu trước bàn thờ Phật. Giọng người thành kính thiết tha cầu đức Phật phù hộ cho chóng trở lại ỵên bình, gia đình được qua thì đói khỏi thì loạn. Tiếng người khấn đôi khi nức nở. Tôi nghe nước mắt như muốn trào ra.</p>
<p>Cộng sản dìm nhân loại trong thiếu thốn để chứng minh nguyên lý &#8220;Vật chất quyết định hết thảy&#8221;. Chúng lầm! Con người càng từng trải cảnh thiếu thốn vật chất, niềm tin và đạo đức càng được hun đúc và tình cảm thêm dạt dào. Sau này khi về vùng quốc gia, rồi di cư vào Nam tôi còn trải qua nhiều gian lao nghèo túng và nhiều lần bị khinh rẻ, nhưng dù nghèo túng đến đâu, dù bị khinh rẻ đến đâu, điều đau nhục nhất với tôi vẫn là chuyện chiếc chiếu hoa cạp điều, tuy thực tình câu chuyện chỉ giản dị có vậy. Cách đây ít lâu khi mua được đôi chiếu hoa Phát Diệm ở đường Hai mươi về giải lên phản cho con nằm, tôi thấy vợ tôi chợt úp mặt vào hai bàn tay trước bàn gương. Có lẽ nàng nghĩ đến câu chuyện chiếc chiếu hoa cạp điều khi xưa.</p>
<p>Chuyện đó như biến thành chiếc phao xẫm màu, bất chấp mọi giông tố vẫn nổi lềnh bềnh trên biển, biển thời gian của đời, biển kỷ niệm của hồn. Cũng kể từ sau ngày xảy chuyện đó, thái độ tôi đối với người đời khác xưa nhiều. Tôi thận trọng tránh mọi thái độ hẹp hòi, kiêu ngạo, ích kỷ, sắc cạnh. Lòng dễ xúc động, tôi thương người như thương chính thân mình vậy. Tôi thương những em nhỏ sớm phải lăn lưng vào cuộc đời để tự nuôi sống, tôi thương những người đói khát ham ăn ham uống, tôi thương những hình ảnh lam lũ một sương hai nắng, những hình ảnh giật gấu vá vai, tôi thương những kẻ thù dân tộc hôm qua, ngày nay thất thế ngơ ngác đi giữa kinh thành. Ở thế giới thực dân tư bản người ta tung vật chất ra để giam lỏng linh hồn, ở thế giới thực dân cộng sản, người ta phong tỏa vật chất để mua rẻ linh hồn. Cả hai cùng thất bại! Linh hồn nhân loại chỉ có thể mua được bằng tình thương yêu rộng rãi và chân thành.<br />
Thấy tôi hằng kiềm chế được nóng giận và nhất là vẫn mỉm cười, khi ứa nước mắt các bạn bè thân thường khen tôi có thái độ hồn nhiên của Trang Chu.<br />
Các bạn yêu quý của tôi! Các bạn có ngờ chăng thái độ hồn nhiên đó là kết quả của biết bao cảnh cơ hàn mà tôi và những người thân của tôi đã trải qua…</p>
<p>Trong đó có chuyện Chiếc chiếu hoa cạp điều!</p>
<h4>Dõan Quốc Sĩ</h4>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ng%e1%bb%99-khng-tc-gi%e1%ba%a3-tc-ph%e1%ba%a9m-dan-qu%e1%bb%91c-si/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Không Phí Ngọc Hùng: Vòng tử sinh</title>
		<link>https://t-van.net/ngo-khong-phi-ngoc-hung-vong-tu-sinh/</link>
					<comments>https://t-van.net/ngo-khong-phi-ngoc-hung-vong-tu-sinh/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 15 Apr 2019 05:19:48 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=38961</guid>

					<description><![CDATA[            Những Vòng Đời &#8211; Tranh: Mai Tâm Trời hết nắng thì mưa, mưa lâm thâm, ông anh vợ ghé nhà… Ông đồng canh, đồng tuế với người viết nên rất gần gũi những khi trà dư tửu hậu. Ông giống những bậc trưởng thượng của người viết vào thời buổi 54 mới di [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;">      <a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/04/Những-vòng-đời.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-38962" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/04/Những-vòng-đời-300x237.jpg" alt="" width="300" height="237" srcset="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/04/Những-vòng-đời-300x237.jpg 300w, https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/04/Những-vòng-đời-768x607.jpg 768w, https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/04/Những-vòng-đời-1024x809.jpg 1024w, https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/04/Những-vòng-đời.jpg 1760w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></a></p>
<p style="text-align: center;">      <em>Những Vòng Đời &#8211; Tranh: Mai Tâm</em></p>
<p>Trời hết nắng thì mưa, mưa lâm thâm, ông anh vợ ghé nhà…</p>
<p>Ông đồng canh, đồng tuế với người viết nên rất gần gũi những khi trà dư tửu hậu. Ông giống những bậc trưởng thượng của người viết vào thời buổi 54 mới di cư vào Nam. Trong những dịp giỗ chạp hoặc tết nhất, các cụ hay bù khú chuyện thế sự du du hề một thoáng bạch câu. Ông đây cũng vậy, gặp người viết là râm rả chuyện thế sự thăng trầm quân mạc vấn. Để rồi từ năm 54 đến nay, chuyện đâu vẫn còn đó …</p>
<p>Nhưng hôm nay gặp ngày không có mây sao có mưa, ông anh vợ cứ rị mọ giấc hương quan mơ luống canh dài từ cây đa bến cũ con đò xưa, qua chợ Viềng, đến đền bà Chúa Liễu mãi tận đẩu đầu đâu. Nhiễu sự thêm chuyện ông cậu từ Nam Định lên Hà Nội vào Sài Gòn khiến người viết trộm hiểu là có nhiều mục để kể lể. Và thế nào chả có mục mấy cậu cháu bát phố Hà Nội mà ông anh vợ thường kể như dước đây:</p>
<p>“…cả nhà chảy loạn từ Nam Định lên Hà Nội. Một ngày cuối tuần ba cậu cháu như ba chàng ngự lâm pháo thủ tay cầm kiếm gỗ, miệng lẩm nhẩm câu trong phim “ci-nê”: <em>Mình vì mọi người trừ gian tặc</em>…Đang đi bộ tới phố Tây bị con chó Tây to như con hổ. Ba cậu cháu chạy toé khói, may mà con “bẹc-dê” bị xích, không thì tiêu đời….”</p>
<p>Trời vẫn mưa lâm thâm…dưới “pa-ti-ô” có mái che, ông anh vợ móc điếu thuốc che tay mồi lửa và đảo qua ông cậu nay ở Nha Trang, hiện ngồi không chẳng làm ăn gì sất cả. Thế là xong, người viết biết ngay thế nào cũng có chuyện gom góp cho mục vợ ốm con đau chi đây. Vì vậy đành tặc lưỡi mở ra đọc cho xong…chuyện.</p>
<p>Bấu vào mắt người viết là cái thư giấy đã vàng ố vì viết từ năm 1976. Thư dài cả chục trang, chữ ông cậu viết ngoáy nên con chữ ngọ ngoạy trên giấy như con lăng quăng. Người viết bèn đọc thoáng qua cho…thoáng đãng. Nói cho ngay nhời nhẽ chả giống những thư…kể khổ nào. Mà rặt những chuyện làng nước cùng ruộng vườn qua kẻ Bắc người Nam với <em>quê ta xa mãi bên kia biển, chỉ thấy tơi bời mây trắng vương</em> dài lê thê như đoạn đường chiến binh đọc mờ cả người. Đọc lướt qua đến khúc ông cậu tả…con lợn chạy lăng quăng giữa trận chiến mù trời dậy đất mới sống động đôi chút. Vi người viết chả dây mơ rễ má đến ông cậu vợ, mà nghĩ dại chứ…Chứ ông ngồi không búng ghét đuổi ruồi, bộ hết chuyện chổi cùn rế rách hay sao mà ông mang con lợn vào thư nhà cho…chật nhà chật cửa. Thế mới rách chuyện…</p>
<p>Bèn ngước mặt lên định hỏi, bắt gặp khuôn mặt ông anh vợ đang trầm ngâm được mô tả là “rất tâm trạng”, nên cúi đầu tụng tiếp. Đến giữa thư, <em>sau năm 75</em>, ông cậu vào Nha Trang. Qua cái thư đề ngày tháng viết từ năm nảo năm nào…Người viết ngờ ngợ có gì không ổn, và thầm hỏi cớ sự gì đến bây giờ là <em>năm 2006</em>, sau 30 năm ông cậu mới gửi thư cho ông cháu. Lại nghệt mặt, mắt chấm dáu hỏi?</p>
<p>Cái đầu ông anh vợ gật gừ ra cái điều hãy đọc đi thì biết…Ừ thì đọc…</p>
<p>Tiễn đưa ông anh vợ về rồi, nhòm đất trời lung liêng, trời chiều cô tịch. Nhòm ra góc vườn, hàng cây nghiêng ngả u ẩn chiều tiễn biệt trong một cõi đi về…Chợt lòng dạ nao nao, nhấp một ngụm cà phê thấy đắng ở đầu lưỡi, rít một hơi thuốc lá thấy nhạt nhẽo ở đầu môi. Cùng những bồi hồi không đâu, người viết ngẫm nguội với cái thư này đây, nếu như chịu khó ăn mày chữ nghĩa của ai đó. Rồi lăn cù ra đánh vật với chữ nghĩa có thể dựng thành truyện được. Thế là người viết vào nhà, ngồi xuống bàn gõ. Tiện tay nhấn cái nút nhạc, tiếng hát Khánh Ly lềnh bềnh như cánh vạc bay: “…Từ quê nghèo lên phố lớn, bàn tay ta nắm &#8211; Biển xanh sông gấm, nối liền một vòng tử sinh…”</p>
<p>***</p>
<p><em>    </em>   Nha Trang ngày 17 tháng 11 năm 1976</p>
<p>Thân gửi cháu Phú,</p>
<p>Qua bác Cả, cậu biết được địa chỉ của cháu, thư này cậu cũng đã viết từ lâu lắm rồi và để đó, vì cứ đắn đo chần chừ mãi. Bao nhiêu năm giữ kín trong lòng để gậm nhắm với cậu cũng quá đủ, chả lẽ sống để bụng chết mang theo. Rồi cậu không biết làm sao hơn vì lúc này cậu cũng đã có tuổi, nay ốm mai đau, không biết ngày nào gặp lại tổ tiên, ông bà và họ hàng, nên mượn dịp này gò chép lại để gửi thư đến cháu. Cũng nhân dịp Tết Nguyên Đán cổ truyền Bính Tuất sắp tới, lời đầu tiên bao nhiêu năm xa cách, cậu thành tâm chúc thầy cháu và gia quyến cháu an khang, thành đạt trên mọi lĩnh vực.</p>
<p>Thế mà đã hơn năm mươi năm qua…Năm mươi năm thì ngắn nhưng nghĩ tới nửa thế kỷ thì lại quá dài. Vậy mà những hình ảnh của cái tuổi ấu thời như mới đâu đây, tất cả quây quần dưới căn nhà ngói cây mít năm gian hai chái ở một làng quê ven biển trù phú và êm ả với cái tên thật thân yêu là Ân Phú. Cũng vì vậy ông ngọai hai cháu lấy tên làng đặt cho hai anh em cháu, “Ân” là ơn trên ban cho, “Phú” là giầu có thịnh vượng.</p>
<p>Năm đó, thầy mẹ cháu dựng ngôi nhà gạch, ngói đều tăm tắp ở cuối ngõ, nằm núp bóng dưới cây nhãn, cây ổi im ắng. Và chỉ im ắng một nhát thôi với buổi trưa nắng oi oi. Đâu đây nghe có tiếng gà mẹ “cục cục” gọi con, ấy là thằng Ân mở cửa chuồng gà. Thế là lũ gà cuống quýt tranh nhau chạy ra. Hết con vện của cháu sủa ăng ẳng trêu chọc một con gà nào đó. Đến tiếng lịch kịch của anh gà trống đi đi lại lại, tuồng như anh ta đang chọn chỗ để gáy. Tiếng đập cánh phành phạch. Tiếng nó kêu cọc, cọc như đằng hắng. Hốt nhiên anh gà trống gáy dõng dạc: “ó, ó, ooo…o…o…“, ắng im một chốc, rồi lại tiếng gà mẹ gọi con “cục cục” rõ đến buồn ngủ. Vậy mà chả ai chịu ngủ nghê, cậu và cháu leo lên hái ổi, hái nhãn. Hoặc rủ nhau trốn ra bờ sông câu cáy, bắt rạm hay thẻo đất sét nặn gà, nặn chó suốt cho tới chiều. Khi tiếng những tiếng chuông của bõ già vang lên báo hiệu buổi chầu cuối ngày, mới kéo về cái sân gạch đã khuất nắng&#8230;</p>
<p>Riêng thằng Ân nó thích thui thủi chơi một mình, nó có những trò nghịch tinh riêng khác như khâu đít chuột cho chúng bí rị rồi nổi điên cắn nhau. Hoặc giả nó bắt cả chục con cóc cụ. Nhét vào mồm chúng ít thuốc lào, rồi khâu lại. Sẩm tối thả ra vườn, bọn cóc ngấm thuốc lào, lờ đờ, nhảy lung tung như say rượu, vừa nhẩy vừa ho inh lên khùng khục như người hen. Có cóc cụ tóp miệng vào thở ra nghe lịt xịt như thằng đánh rắm xịt. Hay đến giờ xua lợn về chuồng, chả hiểu nó học mót của ai, nó xoay đầu con lợn vào cửa chuồng lợn, nắm lấy đuôi làm như kéo về hướng bờ sông. Con lợn không biết mình bị lừa, vùng vằng cắm đầu chạy vội vào chuồng và ngơ ngác như quạ vào..chuồng lợn. Biết thế bà ngoại cháu hóng hớt: “Mẹ bố thằng Ân gà tồ này lạ nhẩy! Đúng là rồ, anh em trong nhà thì không chơi lại đi chơi với lợn”.</p>
<p>***</p>
<p>Trở về với làng quê ta, bên kia con sông là tổ đình, bên cạnh bãi đất trống gần đấy  là chợ Viềng xưa cũ. Tên Viềng có nghĩa một ngày trong một năm, cứ mùng Tám tháng Giêng chợ nhóm họp để mọi người cùng mua thịt bò, thịt trâu và bán chữ, mua câu đối. Ngày ấy mấy cậu cháu được theo bà ngọai và mẹ cháu dạo chơi phiên chợ. Nhưng vì cả hai cậu cháu mình bé út ít nhất trong nhà, nên mỗi đứa được mua một con tò he bằng đất nung. Tò he được tô phết với phẩm mầu, đuôi là một cái lông gà nhuộm mầu xanh đỏ, có gắn một cái còi lưỡi gà bằng ống sậy, khi thổi vang lên những tiếng “tò te…tò te…”. Nghĩ lại thời gian ấy, có lúc cậu nghĩ cũng có thể vì quen thói thổi tò he từ những ngày còn bé nên sau này cậu là văn công thổi kèn chăng? Nhưng cậu chẳng quên được cái thú nhỏ nhoi và đơn sơ của tuổi tò he bé tí hồi đó.</p>
<p>Nhắc đến câu cáy, bắt rạm, cậu muốn nhắc đến con sông ngay trước cổng nhà cháu. Những ngày nước lên, cậu là thằng đầu têu rủ rê cháu đi đặt lờ, chỉ mấy cái lờ không thôi, hai đứa bắt được gần yến rạm, rồi mang về đưa bà ngọai lấy thưởng. Vì con rạm nhỉnh hơn con cua đồng một tí, nhưng con nào con nấy to bằng một phần mười con cua đinh, bà gạn mấy con cái đem rang giòn, ăn rất bùi, rất ngậy. Những con đực bà xé ra làm chả, giã nhỏ nấu canh khế, canh me. Mấy ngày sau nước sông rút xuống, cháu lại mè nheo cậu xoay ra câu cáy. Như cháu biết đấy, cáy nhỏ hơn rạm, thân dầy, mu mầu nâu và hai cái càng đỏ chót như hai quả ớt chín. Cậu và cháu lấy cành tre, cột giây, đầu buộc mồi là cái kèn tằm hay con sâu khoai nước. Và thấy con cáy thập thò ngòai cửa hang là nhử nhử, cáy ham mồi dơ càng kẹp là không muốn nhả, thế được cả giỏ. Về bà ngọai giã ra, trộn muối, bột giã, thính và riềng, rồi hạ thổ lấy khí âm, khí dương, ít tuần sau có món mắm cáy thơm inh.</p>
<p>Đến như ông K trưởng của cậu, sau này mỗi lần về phép mang quà nhà quê trở ra đơn vị. Ông ta cứ tấm tắc khen: “Tớ chỉ khoái ăn mắm tép của bà ngoại cậu thôi”.</p>
<p>Và không thể không nhắc đến những ngày Tết, cậu nhớ đến cái năm cuối cùng ở quê. Khỏang 27, 28 thường thì bà ngọai và mẹ cháu cùng mấy nhà chung quanh xóm đánh đụng một chú lợn. Chú lợn ỉ, nặng hàng tạ, thịt chắc, ngọt và thơm để làm giò, gói bánh chưng, kho tầu và dùng làm món độn nấu cỗ cho ba ngày Tết.</p>
<p>Vậy mà năm ấy, lợn nhà có cả bầy, chả hiểu sao bà ngoại nhè con lợn của thằng Ân mà xẻ thịt làm nó “rên như lợn”. Cậu chẳng quên mỗi ngày đi học về, nó lăn vào bếp, cứ ngỡ nó mò củ khoai, củ sắn nướng. Hóa ra nó tìm mẹ cháu để phụ sắn rau, sắt bèo hay nấu cám cho mấy chị lợn của nó. Vì mấy chị lợn sắp cấn đòi ăn sớm, cứ húc máng cồng cộc, kêu ủn ỉn trong chuồng. Sống mỗi người một nết, chết mỗi người một tật, cái tật của nó là trời mưa, khi không tha lợn ra tắm táp. Cứ theo bà ngoại thì gà, lợn sợ nước, chúng chỉ thích dầm mình vào trấu, bùn cho bẩn thêm thôi. Vì vậy các cụ ta dậy cấm chả sai bao giờ, ấy là “bẩn như lợn” chẳng ngoa là mấy. Bà lẵng nhẵng: “Dào! Mẹ bố thằng Ân gà tồ này lạ nhẩy”. Rồi bà dóng dả chúng mà gặp nước thì gà bị dù, lợn bị chột. Được thể bà nói đay, thế nào có ngày cứ đói rã họng, đến gộc tre cũng chả có mà ăn. Chưa hết, bà nhiếc nó chả được tích sự gì sất, đúng là đồ cám hấp. Chẳng được như thằng em hay thằng cậu nó, đúng là cái thằng “ngu như lợn”. Ngu đâu chẳng hay, ấy vậy mà con lợn nó dành nuôi từ lúc còn là con lợn sữa, cũng đẻ dược dăm lứa thành con nái, con sề thì bị bà ngả ra xẻ thịt cho mấy ngày tết. Mà cậu có thấy nó ngu như lợn hồi nào đâu để bà ngoại cứ đe nẹt nó mãi. Mà ở bẩn thì có, nhất nó.</p>
<p>Chiều 30 đón gia tiên, ông ngọai nghiêm trang vái một vái, rồi từ từ hạ chiếc nậm sứ nhỏ men rạn, rót ra chiếc chén bạch định mắt trâu. Sau đó là ông ngọai lúy túy với bữa rượu lòng lợn tiết canh của thằng Ân, trong khi thằng Ân cứ khóc ủn ỉn như lợn ấy.</p>
<p>Tối 30, bà ngọai lúi húi với ngọn lửa lom rom, tí tách. Bà chưng món gì đó trong cái niêu đất tròn như trái bưởi đào, để làm thêm đồ nhắm cho ông tiếp bạn trong những ngày đầu xuân, còn lại cả nhà ngồi bên bếp lửa canh nồi bánh chưng đợi Giao Thừa. Sáng mùng một là mâm cỗ lớn, có đủ giò, chả, ninh, bóng, mọc. Nhưng nói gì thì nói, cậu chỉ mong đến mồng bốn, ngày đón ông Táo, rồi hóa vàng, để ngong ngóng món khóai củ tỉ của cậu là món măng lưỡi trâu hầm với móng lợn, xương ống lợn. Còn thằng anh cháu, đến ngày này là quên tuốt con lợn bị ngả thịt, bị mẹ cháu củng vào đầu, nhiếc là tướng tá như trâu lăn. Mà cháu người gầy nhằng như dánh khoai vì khó nuôi, ốm đau liên miên, khóc suốt ngày đêm, trong khi ấy nó ngáy nghe như lợn ngáy. Trở lại ngày hóa vàng, ngoài món măng lưỡi trâu hầm với móng lợn, hai cậu cháu còn chén lòng dồi thả phanh. Riêng với chuyện ăn uống, nó đang ở tuổi ăn rộ, ăn thùng bất như thình. Nó như dành ăn với cậu cháu mình, khoắng một cái là nhẵn hai bát, cái bụng phưỡn ra như ông thần đất ấy. Rồi tếch ra hiên nhà, ngồi bệt xuống đất loay hoay với cái xương ống lợn, hít hà chút tủy ở bên trong hay mảnh thịt còn sót lại.</p>
<p>***</p>
<p>Ấy thế rồi khói lửa chiến tranh ập tới làng quê bé nhỏ ta, cả nhà về Nam Định ở số nhà 70 Phố Khách. Riêng chú tá điền tên Tuất ở lại trông coi vườn tược ruộng nương. Thời gian ở tỉnh Nam với phố phường gì cũng lạ. Cuối tuần thầy mẹ cháu dẫn cả nhà đi ăn bánh cuốn ở phố Vải Màn, nghe đâu gốc gác ở làng Kênh, nổi tiếng về nghề làm bánh cuốn. Cậu nghe lỗm bỗm bánh cuốn làng Kênh ăn đứt bánh cuốn Thanh Trì về độ mỏng, mịn và trắng, vì vậy mới có câu “Chổi Vĩnh Trường, bánh cuốn Kênh, tương Tức Mặc, rau muống Thượng Lồi”<em>.</em> Hoặc như bún chả Nam Thành của bà Lý Tư trước cửa nhà thờ Khoái Đồng, thường mười một giờ mới có. Chỉ mười xu một gắp chả quạt ướp với trứng, cuốn trong lá chuối xanh, với đầy đủ bún, rau muống chẻ, húng dũi, lại có cả đu đủ xanh ngâm dấm. Ăn xong thầy mẹ cháu thả cả ba xuống rạp Văn Hoa đường Pôn-Be, phát tiền đưa cậu làm đầu tầu. Hết chầu ci-nê-ma, cậu dẫn đi ăn lục tầu xá ở gần chợ Rồng, ghé phố Hàng Mã gần phố Hàng Xũ xem mấy ông tiến sĩ giấy, con giống xanh đỏ. Trên đường về nhà qua nhà thờ Khoái Đồng, dấu tích của những nhà truyền giáo để lại, vì cháu vòi vĩnh nên phải ghé Bến Ngự sông Vị Hòang gần đền Triều Châu xem bơi thuyền và câu cá. Cháu lúc nào cũng thế, chỉ thích rạm, cáy, tôm, cá với cá mè, cá trôi. Cha mẹ sinh con trời sinh tính nên khác hẳn với thằng Ân anh cháu…</p>
<p>Thế mà nghĩ cũng hay: Như thằng Ân anh cháu thích lợn chả nói làm gì. Còn như cậu đây, cậu chúa ghét lợn vì nó ở bẩn. Vậy mà cậu cứ dính đến lợn. Ngay cả đi bộ đội cũng thế, đúng là ghét của nào trời cho của ấy, cậu sẽ kể chuyện cho cháu nghe sau…</p>
<p>Lúc này mặt trận ở vùng quê đã nặng, đêm đêm ở tỉnh nghe tiếng cà-nông ì ầm xa xa vọng về, đồng bào bắt đầu rậm rịch chạy loạn. Đến cuối 53, bác Cả trai dẫn cậu theo gia đình cháu chuyển lên Hà Nội để thăm thú tình hình. Còn ông bà ngọai và gia đình bác Cả ở lại Nam Đính trông coi cơ ngơi và đợi tình hình biến chuyển. Những ngày ở đây tuy ngắn nhưng thật thú vị, có những chiều cả nhà kéo lên Hồ Tây ăn bánh tôm trên đường Cổ Ngư, mà sao hồi đó cậu khóai tỉ với nước sô-đa sủi bọt lăn tăn của hãng con Hổ đến thế. Nhắc đến con hổ, cậu lại nhớ đến con chó bẹc dê ở phố Trần Hưng Đạo để ra ga Hàng Cỏ, may nhờ chàng ngự lâm Ân tụt hậu hoa hoa mấy đường kiếm gỗ không thì toi đời. Thêm chuyện nữa, cháu còn nhớ nhà thờ cổ Nam Đính mà cậu cháu mình gọi là nhà thờ Khoái Đồng không. Đến khi cậu lấy vợ Nam Định, to cái đầu rồi cậu được mợ cho hay ây là nhà thờ Khói Đồng. Thêm nữa, lúc này cậu mới hay biết phố Khách Nam Định chỉ bằng con ngõ Hà Nội, phố Hàng Xũ thì ở đây họ gọi là phố Hàng Sũ và cũng bán quan tài như ở Nam Định.</p>
<p>Hà Nội hồi đó vì có nhiều gia đình đang kháo nhau sửa sọan ri cư, họ láo nháo bán nhà bán cửa. Được ít lâu bác Cả bàn với thầy mẹ cháu hãy để bác về lại Nam Định đón cả nhà lên Hà Nội rồi vào Nam. Lúc này, quân đội Pháp đã rút khỏi thị xã, dọc đường và trên các hè phố, những chiếc tăng-xê trú ẩn hình tròn được đào vội vã để tránh bom tránh đạn. Hàng ngày tiếng è è của máy bay trinh sát bà già quần trên đầu, tiếng ào ào của những chiếc B26 quần đảo phía bên kia sông Đào và phía ngòai biển. Nhưng thành Nam vẫn sinh họat tấp nập, dọc đường, nhất là khúc nhà thờ, người ta mang quần áo, đồ đạc ra bán chợ trời như chợ phiên. Bác Cả và cả nhà họp hành, bàn bạc dưới ánh sáng đỏ kệch của đèn dầu Hoa Kỳ, rồi ông bà ngọai dứt khóat không đi vì cơ ngơi, vì mồ mả tổ tiên. Nghỉ ngơi ít lâu, bác Cả gửi cậu theo người quen lên Hà Nội thì gia đình cháu đã xuống Hải Phòng rồi. Cậu khóc sướt mướt cả ngày hôm ấy. Thực tình mà nói, cậu cũng chẳng biết Sài Gòn ở đâu, mà chỉ nhớ thằng Ân và cháu. Tan đàn xẻ nghé, cuối cùng cậu không biết làm sao hơn là lần mò một mình về lại Nam Định.</p>
<p>Sau 54, cả gia đình mình xuống dốc không “phanh”, kinh tế từ ông bà ngọai đến hai bác Cả thì dăm bữa cứ phải chạy qua xóm giềng láng tỏi vay mượn khi bị gạo, đấu cám lợn. Vì vậy để thêm thu hoạch, ông ngọai mầy mò làm đèn xếp, đèn quả, đưa cho cậu đi bỏ mối. Trăm dâu đổ đầu tằm, cậu tất bật sáng đi học, chiều về lo đi giao hàng, kín nước cho cả nhà, phải gánh lên tầng hai. Nhưng ngại nhất là phải xếp hàng chờ ở máy nước đầu phố Hàng Xũ, hay máy nước ở đình Hội Quản. Lúc này cậu mới thấy thấm câu giầu con út, khó con út. Hồi cải cách ruộng đất, những người nhiều ruộng, lắm đất đều bị quy vào địa chủ. Đến thời hợp tác xã, đều phải góp ruộng vào làm ăn tập thể. Nhưng may khéo là may, chú Tuất tá điền nhà ta hình như có chức phận gì đó, nên giữ được một ít đất đai vườn tược cho ông bà ngọai. Đầu năm 59, cá đuối đắm vì con nên ông bà ngọai quyết định bán phần đất hương hỏa ấy đi, dành dụm tiền để cậu lên Hà Nội học nghề. Cái khó nó bó cái khôn, đến giữa năm ông ngọai mất và ông được an táng ở nghĩa trang Cánh Phượng, ngoài thành Nam.</p>
<p>Năm 1964 cậu tốt nghiệp và được thi công về khu mỏ Hòn Gai. Được mấy năm, cậu xin đi học chuyên ngành than đá ở Vân Nam, nhưng bị đình lại vì Trung Quốc đang có đại cách mạng văn hóa, nên nghiên cứu sinh không quá cảnh được. Cậu đang đợi cơ may khác, cậu đành đợi cái gì đến sẽ đến, và chỉ cầu mong sau này cũng an phận ở đâu đó cùng những đổi thay của đất nước và con người. Đùng một cái, chiến sự cực kỳ ác liệt ở trong Nam, thế là tình hình đẩy đưa cậu vào bộ đội.</p>
<p>***</p>
<p>Sau mấy tháng quân trường học tập điều quân, cậu được nhập vào sư đòan 316 và lên đường vào chiến trường B dài, tuyến Bình Dương. Lúc đó cậu nhớ đến con anh Đòan Chuẩn với chiêu hồi, chiêu đãi gì gì đó, lòng dạ cậu lại rối như tơ vò, chả biết tính sao cho phải nhẽ. Thì trên đường di chuyển qua trung Lào bị B52 chà xát, sư đòan cậu bị tổn thất khá nặng nên rút về Nghệ An rèn cán chỉnh quân và cơ bản là phòng thủ vùng bên này sông Bến Hải. Nói cho ngay, ở đơn vị hậu cần, vì có văn hóa, cậu chỉ làm thơ suông, làm báo cùi, để có chút gạo, đường cải thiện nên cậu chả biết chuyện đánh đấm gì sốt cả. Nói dối phải tội chứ ngay cả lên cơ bẩm, kéo cái cần “quy-lát” của khẩu AK 47 nặng như cái búa tạ cậu còn thở bở hơi tai nữa là.</p>
<p>Đến khoảng cuối năm 74, một bộ phận sư đòan 316 cậu được lệnh điều động qua phía tây Thừa Thiên, giáp Huế giúp đỡ đồng bào trong vùng vừa được giải phóng. Nghe tin trong lòng cậu cũng phấn khởi vì yên chí như vậy thì chiến tranh có khả năng sắp chấm dứt, gia đình mình sẽ đòan tụ một ngày không xa.</p>
<p>Vừa đến nơi được lệnh vào cánh rừng Đồng Lâm ẩn nấp chờ lệnh mới, gặp mùa mưa dầm dề cả ngày cả đêm, ngập đường ngập đất, ngập cả hầm giao thông hào với hầm trú ẩn. Gạo và củi bị ẩm ướt, ẩm mốc không nấu nướng gì được sốt cả, phải nhai sống từng ôm rau môn, rau tai voi gần một tuần lễ nên ai nấy người cứ thủng ra. Lúc này cậu mới học được câu nói ở trong này là mưa thối trời thối đất chẳng ngoa tí nào. Thế nhưng không, đùng một cái, vào một bữa vào giấc trưa, trời đổ mưa rào, lúc đầu ào ào, sau lúc khoan lúc nhặt. Rồi bất thình lình tạnh mưa, vừa lúc nắng lên, nắng oai oải, thì có lệnh khẩn trương rút về bên kia Bến Hải.</p>
<p>Vừa kéo quân ra đến bìa rừng, đơn vị cậu phát hiện một đám lính trong này đi ngang qua, họ thả bộ không đội ngũ, súng vác vai. Gã chính trị viên và cậu dùng ống nhòm dòm kỹ toán quân này để điều nghiên trận địa. Và thấy họ vừa đi vừa nói chuyện inh ỏi, vừa ca hát vang trời, lại có người vác cả đài trên vai nghe nhạc vàng nữa. Ngộ nghĩnh hơn nữa có anh lính nắm giây thừng kéo cả con lợn theo. Sau này về lại Nghệ An dưỡng thương, học tập rút tỉa ưu khuyết điểm chiến trường, cậu mới biết họ ở trung đội 2 thuộc liên đội địa phương quân. Trước kia thời Tây ngoài Bắc mình gọi họ là lính “pạc-ti-dăng” nhưng cơ bản điều quân như bộ binh. Cũng nhờ đó cậu mới biết họ đang bỏ đồn bót rút về tỉnh vì thời cuộc lúc ấy không thuận lợi cho việc giữ cầu gác chợ nữa.</p>
<p>Trở lại lúc ấy gã chính trị viên vỗ vai cậu chỉ con lợn và gật đầu tắp lự.</p>
<p>Cũng trở lại khúc trên cậu đã ba điều bốn chuyện với cháu là cậu chúa ghét lợn vậy mà cứ dính đến lợn. Ngay cả đi bộ đội cũng thế. Chưa hết, hồi ở Nghệ An điều cán chỉnh quân, bên phía cậu sưu tra đội ngũ và thông suốt cả tên tuổi, khả năng cấp chỉ huy của liên đội địa phương quân trên nữa kìa. Riêng cậu còn xác minh con lợn kia không phải lợn nhà mà là lợn mọi, vì nó khôn ngoan hơn cả con vện, con mực nữa. Sau đấy cậu cứ tiếc hùi hụi không có cơ hội vác một con lợn rừng về quê nuôi làm cảnh.</p>
<p>Sau cái vỗ vai của gã chính trị viên, cậu hiểu ý đồ gã muốn xua quân quần thảo một trận mong bắt…con lợn làm thịt để bồi dưỡng. Cậu nói với gã là sắp về hậu phương bồi dưỡng, nay vì con lợn mà đánh nhau, thể nào cũng toi dăm mạng chẳng bõ nhét răng.</p>
<p>Không trả lời cậu, chẳng nói chẳng rằng gã gọi K trưởng và hai anh chiến sĩ nuôi quân nhỏ to gì ấy cậu chẳng hay. Bất thình lình K trưởng của cậu phất tay ra hiệu lệnh cho lính bung ra. Thế là lính bên cậu cứ như từ dưới đất chui lên, từ trên trời nhẩy xuống, bổ nhào vào đánh giáp la cà, la hét vang trời “Hàng sống chống chết… Hàng sống chống chết…” và bắn xối xả, cả bìa rừng náo lọan như bị nhồi vào giữa cơn lốc. Lúc đầu, lính bên cậu bị mất chủ động vì chưa phát huy đánh bộ, lính phần nhiều là lính mới 15, 16 tuổi, ngơ ngáo lần đầu ra trận như cậu vậy. Nhưng một lúc lâu sau lính bên cậu trấn áp phía bên họ thấy rõ vì đông quân số và súng đạn hơn. Mặc dầu họ bị bất ngờ nên nháo nhào, nhưng cũng phải công nhận họ phản ứng nhanh và khá thành thạo. Chẳng may mới nhập trận, K trưởng của cậu đã bị tử thương, nhưng đến quá trưa thì họ gần như bị tiêu diệt tòan bộ, số nhỏ còn lại buông súng đầu hàng.</p>
<p>Sau chiến thắng đến không ngờ, gã chính trị viên và cậu, người đầy bùn và đất vàng khé, đầu không mũ, chân tập tễnh kiểm tra trận địa đang sặc mùi thuốc súng. Thấy con lợn đang kêu eng éc bị chọc tiết. Hai anh nuôi bỏ cả súng, tượng gạo, bình tông, nhào tới nhanh như chớp dùng tay không để túm tó con lợn.</p>
<p>Đột dưng có anh thương binh nọ, áo đẫm máu, tay này cầm giây thừng buộc cổ lợn, tay kia cầm súng nhỏm dậy nhắm ngay hai anh nuôi lia một tràng ròn rã. Hai anh này vừa chộp được con lợn, đang ôm khít khìn khịt, bật ra như cây bị đốn ngã vật xuống chết tươi. Cậu vừa bàng hoàng những gì xảy ra nhanh như điện xẹt trước mắt. Thì gã chính trị viên, cậu biết gã này máu và khủng lắm, y như rằng…gã cáu tiết ra lệnh tiêu diệt hết những tù binh và thương binh còn lại. Tiếng súng nổ đì đạch rời rạc trong khoảng không, tiếng lưỡi lê, mã tấu đâm, chém từng nhát vào da thịt người, tiếng rên la thảm thiết, vang dội cả một góc rừng. Một lát sau, đất trời trở lại ắng lặng và đầy thê lương ảm đạm, chỉ có tiếng rì rào của những đám cỏ lau và cứ theo cậu đoán chừng thì không một ai sống sót. Tuyệt nhiên không còn một ai.</p>
<p>Chiến trường im tiếng súng…Vì tò mò cậu khập khiễng đến gần xác anh lính có con lợn. Anh ta chết nằm sấp, mặt úp xuống mớ lá rừng, hai tay vươn lên ôm mặt đất như bấu víu. Ánh nắng xế trưa xuyên qua tàng cây những tia nắng dài. Một vệt nắng ánh lên vết thương bị mã tấu chém dài loằng ngoằng, máu đông lại nổi cộm như con giun đất. Một vệt nắng khác chiếu vào mặt kính cái đồng hồ. Cậu như hoa mắt, đầu óc cậu rỗng rễnh thế nào ấy, chả hiểu nghĩ sao, cậu cúi xuống tháo nó ra kín đáo bỏ vào túi.</p>
<p>Chẳng nói cháu cũng hiểu dùm cậu là cái khó nó bó cái khôn, sống trong hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn mọi thứ ở miên Bắc nên cái gì của ngoại cũng thèm thuồng. Thêm nữa với đồng hồ chỉ cấp K trưởng trở lên mới có. Vì vậy trước khi nhét vào túi quần, cậu lén nhìn đồng hồ ghi thương hiệu Seiko và đập vào mắt cậu cái cửa sổ của đồng hồ…</p>
<p>Cậu nhớ rõ mồn hôm ấy là ngày 17.</p>
<p>Cậu lại khập khiễng tới gốc cây xem vết thương nhẹ ở chân. Chả dấu gì, đây là lần đầu tiên cậu dự kiến chiến trận mới biết thế nào là bắn giết nhau. Cậu không thể hình dung chiến tranh khốc liệt và tàn bạo đến như vậy. Ngồi thừ ra một mình, cậu đâm ra nghĩ quẩn và cứ ân hận mãi nếu mà…Nếu mà cậu nói với gã chính trị viên một vài tiếng thì anh lính ấy đã không chết. Dẫu gì cậu cũng ở một tổ với gã, cậu biết gã thích cậu vì cậu có văn hóa, làm thơ, làm báo. Và cậu tự anh ủi anh lính ấy chết vì vắn số. Vậy thôi. Đang nghĩ ngợi thế đấy, thế mà có anh bộ đội lớn tiếng hát nghêu ngao: <em>Anh ở miền Bắc, nơi con sông Hồng chẩy vào đất Việt….Anh vào đây…</em></p>
<p><em> </em>       ***</p>
<p>Sau tuần an dưỡng ở Nghệ An, cậu xuất viện được phục viên. Về quê ăn không ngồi rồi vì làm gì có việc dóng ra, dóng vào, đầu óc cứ mụ mị đi. Ngày ngày cậu đạp xe nhì nhằng, loanh quanh trong làng, nhắm khi cậu lễnh đễnh lên Nam Định vừa thăm cái Gái, vừa theo dõi tin tức chiến trường trong Nam. Sau trận Buôn Mê Thuột, lính cơ động phòng thủ làm một áp-phích lớn vẽ bản đồ những tỉnh miền Nam ngay cổng ra vào. Mỗi khi được tin giải phóng thêm tỉnh nào lập tức được ghim một lá cờ đỏ sao vàng. Cháu không hay đấy chứ, chứ trưa cái ngày ba mươi tháng bốn…cái Gái, con bác Cả hay leo cây hái ổi, hái nhãn với cậu cháu mình ấy mà. Nó kể đang phòng thủ ở khẩu đội phòng không bảo vệ Nam Định nghe tiếng loa qua đài: &#8220;Bộ đội ta vào tới Sài Gòn rồi…&#8221;.</p>
<p>Vậy là ngày ba mươi tháng bốn đất nước mình thống nhất. Cậu quýnh quáng vui mừng khôn tả vì sẽ gặp lại những người thân sau bao năm xa cách. Gân cuối năm bác Cả động viên cậu vào Nam tìm gia đình cháu càng sớm càng hay vì nghe nói bố mẹ cháu đang hoàn cảnh lắm. Chuyện này chẳng qua nghe đài phát sóng thông tin miền Nam đang đói kém. Bác Cả nghe sốt cả ruột gan, lúc này cũng phải nhúc nhắc thôi, chứ bố mẹ cháu sống bữa đói bữa no như thế bao giờ mới mọc mũi sủi tăm lên được. Bác Cả tính toán thế cũng phải. Thế là cậu và mợ săng sái đi thăm gia đình cháu xem kinh tế khó khăn thế nào. Vì cậu đã kinh qua ở miền Bắc nên vào giúp bố mẹ cháu ắt cũng khá hơn. Nói thì nói vậy nhưng trong túi cậu chẳng có xu-teng nào nên phải bán cái xe đạp cà tàng vẫn chưa đủ, vì vậy bác Cả đưa thêm ít tiền dằn túi. Còn cái Gái lo phần dấm dúi cho bố mẹ cháu một tay nải gạo, ký đường cát, chồng bát sành để làm quà.</p>
<p>Nhờ quan hệ với ông K trưởng cũ, người mà lúc trước kia thích món mắm cáy của bà ngoại ấy mà, cậu được ông ta gửi quá giang xe tải Molotova. Xe qua cầu Hiền Lương, đường sá bị bóc từng tảng, nhà cửa, chợ búa tan hoang, còn lại chỉ là vết tích của chiến tranh. Miền Trung như vậy thì miền Nam chắc chắn khốn khổ khốn nạn hơn nhiều vì chiến tranh do đế quốc Mỹ để lại. Trên đường cậu thấy nhiều cán binh đi B dài nay ngược về Bắc với nước da sốt rét bợt bạt, áo quần bèo nhèo. Trên ba lô, khung xe đạp vắt vẻo lỉnh kỉnh búp bê tóc vàng tóc nâu, tay còn tay mất. Tất cả chỉ có thế, những thứ quá nghèo nàn, trông vừa thương vừa tội. Nhưng ngay chính bản thân cậu, cậu cũng muốn có nhăm thứ như vậy, nhưng ước gì lành lặn hơn, để làm quà cho đám con của cháu, cho mấy đứa con của thằng Ân.</p>
<p>Vào đến Nha Trang, cậu nỏ mắt ra nhìn đường phố, xe cộ nhan nhãn như mắc cửi trong buổi tan tầm. Theo cậu hơn hẳn Hà Nội nhiều, nói gì đến Sài Gòn Hòn Ngọc Viễn Đông mà cậu chỉ biết qua sách vở khi còn đi học. Bấy giờ cậu mới mở mắt ra, cứ nghe họ tuyên truyền thì cứ đổ thóc giống ra mà ăn. Chỉ quấy quả một nhẽ là độ rày cậu không được khỏe cho mấy, lại bị thương thành tật ở chân nên đi đường cứ hốc ra, phải nằm lại đây, tính thư giãn nhăm bữa rồi xuôi Nam. Bất ngờ gặp đồng hương đồng khói là chú Tuất, chú tá điền nhà ta hồi trước, nay chú ấy là cán bộ công quản nhà nước cũng vừa từ Sài Gòn ra công tác. Vui đâu chưa thấy đã thấy chuyện buồn, số là nghe lỗm bỗm chú ấy thông tin gia cảnh của thằng Ân làm cậu buồn quá. Cái vui không cõng nổi cái buồn, nên lòng dạ chẳng thiết tha gì đến chuyện vào Sài Gòn nữa. Cậu và mợ nhất trí ở lại. Chồng bát đĩa với những xót xa đành vất xó, tâm trạng của cậu là cái tâm trạng đường đi không đến. Cậu dặn dò chú ấy đừng cho ai trong gia đình mình biết, xem như không gặp cậu ở đây. Không nói cháu cũng hay, chú Tuất là người thuần hậu ít thấy, trong thời buổi bao cấp, đại gia đình ta gượng dậy được là cũng nhờ tay chú ấy.</p>
<p>Năm 1988, chú Tuất điện cho hay mẹ cháu hấp hối, cậu một mình vào Sài Gòn. Cậu có nhiều chuyến đi vội vã, nhưng chưa lần nào với những nỗi canh cánh bên lòng như lần này. Y như có linh tính từ trước, cậu đến nơi không còn kịp nữa. Chả dấu gì cháu vì những ngổn ngang trăm bề chẳng dám thổ lộ với ai. Vì vậy cậu cứ chịu trận ngồi thì lì một chỗ ở cái quán nước trước cửa nhà bố mẹ cháu, với những canh cánh bên lòng bấy lâu nay từ ngày gặp chú Tuất ở Nha Trang năm nào với chuyện sống để bụng chết mang theo…Cứ vậy với dằng co níu kéo, nửa muốn nửa không, để rồi cậu không có can đảm, không dám vào nhà để bái tạ, để gặp chị mình lần cuối…Sau đó cậu nhờ chú Tuất chạy đi mua ít hoa quả nhang đèn và kín đáo thay mặt cậu viếng mẹ cháu.</p>
<p>Từ quán nước đối diện nhà cháu nhìn qua bên kia đường. Cậu cố gắng nhìn qua nhang đèn hương khói nhưng vẫn không thấy rõ khung hình mẹ cháu đặt trên cỗ áo quan ngay giữa nhà. Mà chỉ thấy thầy bố cháu và cháu đi đi lại lại tiếp khách. Và cậu cứ tư duy mãi với vật đổi sao rời, người mất người còn. Người mất như mẹ cháu như cái phúc cái phần, người còn lại cũng đã có nhiều thay đổi về hình hài, như với cháu thực tình cậu nhận không ra, ba mươi tư năm rồi chứ ít ỏi gì. Cậu bắt gặp mấy thằng con cháu đeo khăn vàng, mặt mày ngơ ngác, hình như cũng trạc tuổi với mấy cậu cháu mình ngày nào ở Ân Phú. Cậu lại bồi hồi đến sự tần tảo, thương yêu chăm sóc của mẹ cháu với cậu. Cậu cũng không quên chính sự dữ đòn của mẹ cháu với cậu hồi nhỏ, như lười học để bị ăn thước kẻ vào lòng bàn tay, mà nay cậu đã nên người. Với mẹ cháu, ngay cả cho đến lúc ấy, ngồi ở quán bên này đường, trong đục đầy vơi với âm dương cách trở, lúc nào cậu cũng là thằng em bé bỏng và nhút nhát của chị mình.</p>
<p>Đến quá chiều chú Tuất dẫn cậu đi ăn gần đấy. Cậu cắm cúi và cơm như trâu cày liếm mạ. Tự dưng, những ý nghĩ mơ hồ hiện về từ trong cậu…cậu chỉ mong qua <em>cơn mưa lúc khoan lúc nhặt</em>. Mà lúc này thì trời oi bức quá, cái quạt con cóc của quán xá kêu “còng cọc…còng cọc…”. Từ cơn mưa tưởng tượng trong cậu <em>lúc ào ào như trời đổ mưa rào</em> đẩy đưa qua một hình ảnh khác. Tất cả thẩy chồng chéo, lộn xộn trong cậu trộn lẫn với con lợn và sợi giây thừng. Tối về ngồi lại chỗ cũ. Bên kia đường, văng vẳng tiếng tụng kinh gõ mõ từ cái máy hát vọng qua bên này, lòng cậu chùng xuống, cậu muốn bước qua bên kia đường. Nhưng sau đó, tiếng phường bát âm đứt quãng như cản cậu lại, cậu nghe tiếng kèn như tiếng con tò he nghe rền rĩ mà mẹ cháu mua cho cậu ở chợ Viềng trong ngày giáp Tết. Khuya, cậu tới nhà chú Tuất ngủ qua đêm.</p>
<p>Mười giờ sáng hôm sau ngồi nấp sau xe Honda của chú ấy để đưa mẹ cháu ra nghĩa trang. Một mình tựa dưới gốc cây tự đằng xa, cậu vẩn vơ ước vọng một ngày nào đó, mặc dù cậu tự biết chẳng bao giờ thành tựu. Là cái lúc cả hai có tuổi, cậu cháu mình sẽ đưa mẹ cháu và thằng Ân về nghĩa trang Cánh Phượng để gần ông bà. Để cậu cháu mình có dịp sống lại một khoảng thời gian nào đấy những ngày tháng xưa cũ ở Ân Phú.</p>
<p>Cứ lẩn thẩn vậy mãi, cho đến quá trưa mọi người về hết. Cậu nhờ chú Tuất đi tìm mộ thằng Ân, thằng anh cháu đang nằm ở đâu đây. Trong khi đợi chú Tuất, cậu ngồi xuống gốc cây. Dáng dấp cây cỏ, <em>những tia nắng trưa xuyên qua tàng cây những vệt dài</em>. Tất cả như có gì quen thuộc của quá vãng đẩy đưa, đưa đẩy. Cậu bàng hoàng nhìn cái đồng hồ Seiko đeo ở cổ tay mà cậu đã lấy được từ anh lính dắt con lợn bằng cái giây thừng. Cậu chẳng nhìn cái cửa sổ xem ngày,<em> vệt nắng sế trưa</em> của ngày nào năm ấy như còn đọng trên mặt kính óng ánh…Nhắc cậu nhớ rõ mồn hôm ấy là ngày 17.</p>
<p>Cậu đã đến một nơi muốn đến, nhưng đường đi không đến. Đến đây cậu nghĩ cháu đã đóan chừng ra một phần nào câu chuyện qua cái thư này. Vì cậu đã gặp lại thằng Ân một lần. Một lần duy nhất và không bao giờ gặp lại nữa ở cánh rừng Đồng Lâm:</p>
<p>Ngày 17 tháng 11 năm 1974.</p>
<p>Cậu,</p>
<p>(ký tên)</p>
<p>***</p>
<p>Nắng đã tắt từ hồi nào, điếu thuốc đã tàn lụi từ lâu…Những Nam Định, những Hà Nội, những Sài Gòn đang theo ông anh vợ trên đường về nhà. Người viết cũng vào nhà quay quả cùng ngày trời tháng Bụt, ngồi xuống bàn gõ qua mõ sớm sương chiều, như một thói quen một ngày như mọi ngày là bật cái máy hát. Qua những giây phút bất chợt lắng đọng của cảm hoài, cảm tác trải dài qua chữ nghĩa, rồi bài viết cũng xong. Nhìn cái thư của ông cậu vợ vẫn còn đấy, dòng nhạc <em>Tôi sẽ đi thăm</em> của người làm nhạc họ Trịnh vẫn văng vẳng còn kia…Thêm một lần, người viết đành vay mượn âm hưởng một thời, một thưở để kết từ cho bài viết này…</p>
<p>“…Khi đất nước tôi không còn chiến tranh, tôi sẽ đi thăm, tôi sẽ đi thăm bạn bè dăm đứa còn xanh nấm mồ. Khi đất nước tôi không còn giết nhau, trẻ con đi hát đồng dao ngòai đường. Khi đất nước tôi thanh bình, tôi sẽ đi không ngừng, Sài Gòn ra Trung, Hà Nội vô Nam, tôi đi chung cuộc mừng và mong sẽ quên chuyện non nước mình…”.</p>
<p><strong>Trúc Gia Trang                                                                                                                                                                            </strong></p>
<p><strong> Phí Ngọc Hùng</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Nguồn: </strong></p>
<p><em>Người viết ăn mày chữ nghĩa đắp chỗ này một đoạn, chỗ kia một khúc từ mội, hai tác giả nhưng người viết vô tình đã không lưu lại danh tính…</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ngo-khong-phi-ngoc-hung-vong-tu-sinh/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Kh&#244;ng Ph&#237; Ngọc H&#249;ng: Khoả th&#226;n ngồi</title>
		<link>https://t-van.net/ngo-khng-ph-ngoc-hng-khoa-thn-ngoi/</link>
					<comments>https://t-van.net/ngo-khng-ph-ngoc-hng-khoa-thn-ngoi/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 02 Apr 2019 05:36:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=38972</guid>

					<description><![CDATA[Nu Assis &#8211; Tranh: Pablo Picasso (1905) Từ phòng triển lãm về, lẽo đẽo bám theo ông là những bức tranh trừu tượng đầy ”ấn tượng” ngập ngụa màu sắc chồng lên nhau, dầy như bức phù diêu nơi đình chùa. Nhiều tên của hoạ phẩm còn hình tượng hơn cả tác phẩm nữa, ấy [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/04/photo.jpeg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-38974" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/04/photo-211x300.jpeg?strip=all" alt="" width="211" height="300" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/04/photo-211x300.jpeg?strip=all 211w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/04/photo.jpeg?strip=all 550w" sizes="(max-width: 211px) 100vw, 211px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><em>Nu Assis &#8211; Tranh: Pablo Picasso (1905)</em></p>
<p>Từ phòng triển lãm về, lẽo đẽo bám theo ông là những bức tranh trừu tượng đầy ”ấn tượng” ngập ngụa màu sắc chồng lên nhau, dầy như bức phù diêu nơi đình chùa. Nhiều tên của hoạ phẩm còn hình tượng hơn cả tác phẩm nữa, ấy là chưa kể khung còn đẹp hơn tranh!</p>
<p>Ông, một người Hà Nội 54 còn rơi rớt lại nhằm vào thiên niên kỷ 21, Sài Gòn nóng như lò bễ, vậy mà về đến nhà, đầu vẫn đội mũ nồi, miệng ngậm tẩu thuốc. Ông thong thả ngắm những bức tranh thửa được trên hè phố đường Tự Do xưa cũ. Những họa phẩm ông có bấy lâu nay thường là tranh tĩnh vật và phải có tên tác giả. Bởi ông tậu những tác phẩm này với ý đồ khi nào tác giả về với thiên thu vạn cổ thì ông…”lạc bất khả ngôn”, trộm vía tác giả là <i>sướng không nói được</i>, để ông cơi lên căn gác xép làm xưởng vẽ.</p>
<p>Với ông những bức tranh này đây như tĩnh vật, với cảm nhận, “cảm giác” của ông tranh tĩnh lặng nhưng vật thì không. Trong trống không, ông ngẫn ngẫn ra tranh làm căn nhà ấm cúng hẳn lên nhưng lạnh lẽo sao ấy! Dường như thiếu vắng một nỗi gì?! Một nỗi niềm gì ư!</p>
<p>Bất giác ông âm ử bài cổ thi của một họa sĩ thời danh đã đi vào thiên cổ (1):</p>
<p>Khi ta vẽ trừu tượng</p>
<p>Cái đầu ta hiện thực</p>
<p>Khi ta vẽ hiện thực</p>
<p>Cái đầu ta trừu tượng</p>
<p>Khi ta vẽ em</p>
<p>Đầu ta bay đâu mất</p>
<p>Vừa lúc bước tới cái ghế, ngồi xuống, dàng dênh thế nào chả biết nữa với <i>cái đầu ta trừu tượng, khi ta vẽ em, </i>Ông buôn tình mở máy vi tính và vướng vào mắt ông bài viết…</p>
<p><b>Chuyện của người mẫu nude</b></p>
<p>(…) Chị Mai là người kiếm sống bằng nghề làm mẫu nude cho sinh viên mỹ thuật. Một nghề theo chị là dám cởi quần áo trước hàng chục cặp mắt và vượt qua được những dị nghị của người đời. Chị giải thích: &#8220;Mẫu chúng tôi hầu hết đều có gia đình, thường phải giấu chồng. Chẳng có ông chồng nào chịu để vợ khoe thân trước mặt người khác, dù biết là chúng tôi không làm gì bậy bạ. Nếu ai đó có chồng biết được, chắc cũng vì bất đắc dĩ mà “bị lộ’ thôi&#8221;.</p>
<p>Chị Quế cũng là mẫu nude rơi vào cảnh &#8220;giấu chồng không nổi&#8221;. Chị vốn làm nghề thu mua đồng nát. Chị ngạc nhiên khi thấy chị bạn thuê chung phòng chỉ tay không ra khỏi nhà. Sau chị này mới rủ chị Quế cùng làm mẫu nude như mình. Mới được ba tháng, chị bị chồng phát hiện sau khi một sinh viên cùng làng, học trường mỹ thuật nhìn thấy chị ngồi làm mẫu. Khi được hỏi: Chồng chị phản ứng thế nào khi biết chuyện? Chị gay gắt, bằng chất giọng đặc trưng của quê mình: Phản ứng cái gì? “Nàm” mẫu “luy” thì có gì là xấu? Nhưng rồi chị hạ giọng: Mỗi lần nhớ lại ngày đầu, khi đã “cởi tất”, “cởi toàn bộ”…là em lại nổi hết da gà. (…)</p>
<p>Ông thừ người ra với <i>không làm gì bậy bạ</i> đến <i>cởi toàn bộ…</i>Hốt nhiên cái đầu bật ra ý tưởng hết sức siêu thực: “Hay là…”. Thế là ông bốc điện thoại gọi vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Gia Định cũ mà nay gọi là trường Đại học Mỳ thuật thành phố Sài Gòn. Ông ngập ngừng:</p>
<p>&#8211; Tôi về hưu nên mới trở lại với hội họa, không phải là họa sĩ chuyên nghiệp hay học vẽ từ trường sở, nhưng tôi đến với hội họa vì đam mê. Bà ở trường dậy vẽ chắc bà hiểu.</p>
<p>Chả cần bà thư ký phòng nhân viên có hiểu cho hay chăng? Ông cứ ăn mặn nói ngay hơn ăn chay nói dối với bà rằng trong giới họa sĩ với nhau, để chê bai một người nào đó, dù người đó là một họa sĩ tài năng, một số người sẽ nói: &#8220;Hắn có học ở trường mỹ thuật nào đâu! Hắn là dân &#8220;ngoại”. Họ quên Van Gogh, Gauguin, Balthus cũng vậy, có điều cả ba danh hoạ đây đều am hiểu hội họa. Chưa một danh họa nào từ Monet, Manet đến Dali, Klee lại không tường tận tay nghề của họ. Ông óc ách thêm chỉ vẽ vài bức sẽ giúp ông làm quen lại với hình tượng, hình thể…Bỗng ông nghe tiếng mở cửa cái “cách”, bà ta nói vọng ra rõ to: “May quá, cô mới đến”.</p>
<p>Âm ỉ một hồi lâu, như “Ciné thùng”, trong ông hiện ra đoạn phim đen trắng 8mm : Số là nhà ông ở phố Chợ Đuổi, ông say mê truyện tranh <i>Cao bồi Hà Nội</i> của họa sĩ Mạnh Quỳnh ở tiệm sách Văn Chương cách nhà ông nhăm bước. Thế là ông đòi đi học vẽ. Ngồi trong “xưởng vẽ” của họa sĩ Mạnh Quỳnh, ông lóay nhóay với cục than bằng đầu đũa, với ngón tay cái làm thước ngắm…Ngắm người mẫu là bức tượng khỏa thân “nặn” bằng vôi bột. Đụng năm 54, ông bỏ lại bức tượng khỏa thân có hai cánh tay cụt ngủn như con “kiwi” cánh ngắn, đuôi cụt. Di cư vào Nam, nhè vào cái tuổi nhầng nhầng, ông cũng lớ ngớ mò tới xưởng vẽ của họa sĩ Thịnh Del nằm trên đuờng Phan Thanh Giản gần chợ Vườn Chuối để học vẽ tranh khỏa thân. Đang vẫn với cục than, với ngón tay cái làm thước ngắm…thì bị cảnh sát thời cụ Diệm ập tới vì tội vi phạm thuần phong mỹ tục, thế nên nghiệp dĩ của ông trở thành nghiệp dư!</p>
<p>Đang lêu bêu đến đây, có tiếng “A lô…A lô” bên kia đầu giây. Ông khẽ khọt chuyện cũ:</p>
<p>&#8211; Chẳng dấu gì bà, tôi muốn vẽ lại bức tranh <i>Khỏa thân ngồi</i> (2) của Picasso vẽ năm 1907, mà bạn ông là nhà thơ Max Jacob trông thấy bức tranh đầy mầu sắc và đã hỏi: “Anh vẽ cái của nợ gì thế? “ Họa sĩ Picasso trả lời ngắn gọn: “Nếu yêu thì anh sẽ hiểu”.</p>
<p>Tiếp, ông khoe mẽ nhà ông có mấy bức tranh tĩnh vật, ông bắt qua Cézanne thành danh với những tranh tĩnh vật trái táo. Chính bút pháp, phong cách ấy khởi nguồn trường phái lập thể ra đời bởi Braque và Picasso. Ông không quên phác họa với bà thời kỳ này, Picasso đang chịu ảnh hưởng hội họa thời kỳ Phục Hưng của Ý, thế nên ông cần một người mẫu ngực to, mông lớn như bức <i>Venus and Adonis</i>. Bà cho ông hay hiện có cô người mẫu mới vào văn phòng ngay đây, rồi ghi địa chỉ ông, bà sẽ gửi người mẫu đến nhà ông ngay bây giờ.</p>
<p>Vậy là xong, ông thở ra cái phào vì may quá không phải gánh bùn sang ao với bà ta, với định nghĩa hội hoạ là gì? Bởi theo bài bản: ”Một bức tranh là tập hợp của đường nét và màu sắc trên một mặt phẳng theo một trật tự hay hòa hợp nhất định”. Ấy là chưa nói đến những gì mà tranh chuyển tải, nó là tập hợp của đường nét và màu sắc mà họa sĩ dàn trải như thế nào?&#8221;. Thí dụ một họa sĩ cho thấy một chân dung bằng than chì do anh ta vẽ, với người thường thì đã là “xuất thần” lắm rồi. Nhưng với người đã từng xem những bản phác hoạ của Fragonard thì bức tranh vẽ chì kia đầy tính trường ốc và chẳng nói lên cái gì là tài hoa cả!</p>
<p>Nhưng vẫn chưa xong, vì ông đang lẫm đẫm rằng với nhà văn có văn phong, hoạ sĩ cần có phong cách từ những động tác ngúc ngắc cái đầu, ve ve con mắt, đi, đứng, v…v…Ông lậm với bài viết về bức tranh “Khỏa thân ngồi”<i> </i>của Picasso mà ông tụng gân như thuộc lòng, để mai này ông có dịp “thao tác” một phong cách như một họa sĩ nhà nghề. Ấy là trong bài viết…</p>
<p><b>Fernande Olivier, người đàn bà đi qua đời R.Ruiz</b></p>
<p>(…) Picasso sống vất vưởng tại xóm Montmartre với đói và rét. Vào năm 1907, một sự kiện đột biến đã làm thay đổi toàn bộ cuộc sống nội tâm của ông. Trong khi ông lom khom đưa bình hứng nước, nước bắn tung toé xuống đường, dội ngược lên, làm ướt gấu váy và đôi chân Fernande vừa đi qua. Nàng nhìn ông và mỉm cười. Ấp a ấp úng mãi ông mới cất tiếng được:</p>
<p>&#8211; Cô đến thăm xưởng vẽ của tôi được chứ?</p>
<p>&#8211; Vâng, tôi sẽ đến.</p>
<p>Ông vẽ nàng, ông lim dim đôi mắt, nghiêng đầu sang trái rồi qua phải, lùi lại ngắm thật kỹ dáng người thiếu nữ ngực trần đang ngồi xuôi tay, trông thảng thốt, bàng hoàng, đôi mắt nâu mở to sợ hãi, dáng vẻ làm như…bất ngờ bị một gã đàn ông xa lạ xô cửa, xông vào lúc mình không còn mảnh vải che thân. Thân hình cô gái đầy đặn với làn da trắng nhễ nhại toát ra vẻ mơ hồ kỳ lạ. Gò ngực cao đang phập phồng qua làn khói thuốc mờ mờ trước mặt ông. Ông nhìn vùng ngực cô gái đầy khích động và nhích từng bước chậm chạp, người ngả về phía trước như ôm cô gái, cánh tay phải run run đưa lên trong trạng thái vô thức rồi ngập ngừng. Ánh mắt cô gái trở nên kinh hoàng tột độ. Picasso không nhìn đôi mắt mở to hoảng sợ. Gò ngực mới nhú quyến rũ lạ thường. Từng bước, từng bức, Picasso đưa tay phải lên, qua bức tranh ông chấm vào bộ ngực non tơ màu hồng nhạt. Và cứ thế, cho đến chiều tối mịt, hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác đỏ rực. Picasso tiến tới, trở lui, đi qua, đi lại, ngắm nghía trước giá vẽ như không chán. Đồng hồ điểm một giờ sáng. Picasso ngã vật người ra chiếc ghế bố, thở hổn hển. Bức tranh hoàn tất, trác tuyệt trong không gian màu sác. Ánh đèn chiếu vào bốn góc của khung vải. Nơi đó, màu đỏ gạch âm ỉ sức nóng, lan nhẹ vào thân thể màu xanh lạnh lẽo.</p>
<p>Những người đàn bà đi qua đời ông, như Fernande Olivier, tên tuổi họ gắn liền với Pablo Picasso mãi mãi. Các tác phẩm bất hủ của ông đã đống góp những giá trị to lớn cho nền nghệ thuật của nhân loại… Và từ đó về sau ông bắt đầu ký tên của dòng họ mình là R.Ruiz.” (,,,).</p>
<p>Thoáng với Fernande trước là người mẫu, sau là người tình. Trong ông đang hình thành một bức tranh cho riêng ông. Nếu như lão ngộ chữ, Ngộ Không bạn ông rỗi hơi viết truyện ông với cô người mẫu giống Picasso với Fernande thì hay biết mấy. Lụi đụi qua R.Ruiz với Ruiz Blasco là tên của ông bố nhà danh hoạ. Khi hoàn tất xong bức hoạ, ông sẽ ký tên tác giả bức tranh với tên cúng cơm của bà cụ thân sinh ra ông. Họ ông thì đông như nêm cối. Thợ rèn có đe, ông nghè có bút, ông sẽ búi bấn lão ngộ chữ, Ngộ Không gọt chữ đẽo câu khúc kết của một chuyện tình có hậu. Về sau này nhà danh hoạ bắt đầu ký tên của dòng họ là: <i>Nguyễn</i>…</p>
<p>Chưa xong một tẩu thuốc thì người mẫu đến. Ông đoán chừng cô đã có chồng nhưng trông vẫn còn ngọt nước, với ông không có đàn bà xấu mà chỉ có đàn bà không đẹp thôi. Với đồng bái quê mùa thì cô đẹp như cái tép kho tương. Thế nhưng nét hay hớm nhất của cô là ở bờ ngực bật rật, trông cứ rối cả mắt lên. Cô người dầy dầy, mặc quần bò, áo bụi buộc chéo ngang bụng, với mắt như mắt thầy bói ông đoán chừng tính khí cô bật rật nên ông chắc mẩm dễ gần gũi. Lại nữa, cô có cái mông to bằng cái lồng bàn, tròn vo và chắc nịch, ắt hẳn cô ngồi làm mẫu khí hơi nhiều thì phải nên cái bàn toạ cô to chành bành như đít trâu dái mạn ngược.</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/04/clip_image002.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="margin: 0px auto; float: none; display: block; background-image: none;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/04/clip_image002_thumb.jpg?strip=all&fit=313%2C236" alt="clip_image002" width="313" height="236" border="0" hspace="12" /></a></p>
<p>Nào khác gì với ba nét vẽ không thôi qua bức <i>La Femme</i> của Picasso ở trường mỹ thuật Madrid, với thủ pháp cổ điển của các nhà danh họa Rivera, Velasquez và Goya, khi Picasso chưa tới Paris bắt sang trương phái lập thể. Nét vẽ thứ ba, Picasso cố tình vẽ cái hông hõm một chút, biểu tượng một người đàn bà đã có con. Và ông đợi lát nữa khi cô “cởi toàn bộ”, ông sẽ đi tìm cái “vết hõm” của Picasso nơi cô.</p>
<p>Rõ ra cô lất phất có nét cô Mai người mẫu đã có chồng con, chỉ sợ “bị lộ” mặc dù không làm gì bậy bạ&#8230;Ông cảm thấy hứng khởi sắp được trở về với cọ, màu qua cô, người đang có mặt trong nhà ông, với chỉ mình cô và ông. Vì vậy ông…ngứa ngáy vì thèm vẽ nên ông vồn vã: &#8220;Cô là…&#8221;. Cô xởi lởi: &#8220;Cô quéo gì! Gọi em cho gọn&#8221;. Ông nói dón: &#8220;Cô muốn ngồi hay…nằm&#8221;. Cô ngắt lời ông: “Anh giai muốn em thay đồ ở đâu?”. Ông nhủ thầm: “Khọn thật! Cởi quần áo ở đâu chả được”. Cô thản nhiên bước vào nhà làm như quen thuộc với nghề nghiệp bằng vào liếc xéo vào phòng trong thăm dò, và khong khảy: “Bà nhà đâu anh giai?”. Ông nói như lơ đễnh: “Nhà tôi đi chùa”. Nghe thủng xong, tự nhiên như người Hà Nội, cô cởi áo quần vất toẹt xuống sàn gạch. Và cô…ngồi ngay cái ghế cạnh cửa sổ, nhìn ra vườn, cô rọ rạy:</p>
<p>&#8211; Anh giai muốn em ngồi duỗi chân hay gác chân đây hở?</p>
<p>Hở hang gì nữa, ra cái điều dễ dãi, ông lần khân:</p>
<p>&#8211; Cô cứ ngồi sao cho thoải mái là được.</p>
<p>Quay lại cái bàn cạnh giá vẽ, ông hòa lẫn sơn màu với nhau. Vừa trộn màu, ông vừa ngẫm ngợi về cách cởi quần áo nhanh gọn của cô khiến ông quay quắt trở về những ngày tháng cũ, đánh dấu những ngày tập làm lớn bằng vào 3 đồng 1 điếu Ruby và bước vào mảnh đất Bệnh viện Công Hòa, qua Ngã Ba Chú Ía với một nhớ hai quên này kia, kia nọ. Đang phiêu lãng quên mình lãng du đến đây, ông không hay cô người mẫu cũng đang dòm ông pha màu. Cô ngạc nhiên vi gì mà ông pha mầu nhệu nhạo như quậy hồ vậy? Ông dùng bút chì phác họa cô. Cô làm như không biết đến sự có mặt của ông, qua cửa sổ, cô đang ngắm cây bồ đề trơ trụi sau vườn. Ông bâng quơ với cô là ông tu thiền, ông trồng cây bồ đê để ai đó hỏi thì ông cho hay cây như người, vì nay nó già cỗi và nó là Bụt như ông vậy. Ông cười hụt một cái ra điều ông lành như đất, hiền như lá ấy thôi. Cô không cười…Nhưng chui vào đầu ông là khuôn mặt cô có nét thao thiết của chiếc lá bồ đề xanh mát đầy nhựa sống, mặc dù đang là…mùa thu.</p>
<p>Từ lá bồ đề đầy sức sống, ông muốn vẽ chân dung cô. Chân dung ai cũng thích vẽ, nhưng thành công rất ít. Bởi văn có ý, thơ có khí, tranh chân dung phải có thần. Một hoạ sĩ nào đấy đã bương trải: “Có một khoảnh khắc thật ngắn mà cái thần của người lóe ra qua ánh mắt, bờ môi, v…v…Khoảnh khắc đó họa sĩ phải ghi lại trong tâm khảm và trang trải trên giấy. Học đòi thủ pháp tả chân của trường phái cổ điển với Rivera, Velasquez, Goya thì không có gì dễ hơn vẽ sao giống người mẫu. Nhưng cái khó trong hội họa là hoạ sĩ thể hiện thế nào để có thể gửi gấm bản ngã của mình qua khuôn mặt, hay bán thân qua người mẫu. Nhiễu sự này thuộc về chiều sâu của tâm niệm trong nghệ thuật. Ông ăn mày cửa Bụt qua bài viết của Milan Kundera có đoạn về tranh chân dung với <i>Chân dung tự hoạ</i>: “Vào ngày cuối cùng của đời người, cái gì sẽ rời bỏ chúng ta trước tiên? Đó chính là khuôn mặt. Khuôn mặt ẩn chứa trong góc tối nép mình cái vô hạn mong manh. Khuôn mặt ấy vô thường và phù du…”.</p>
<p>Với ngày cuối cùng của đời người…được thể ông bắt sang chuyện già đái tật với những nhà thơ, nhà văn cuối đời, với đất sinh cỏ già sinh tật nhẩy bổ sang sáng tác nhạc. Trong khi những nhà văn, nhạc gia về già lại đốc chứng…vẽ tranh. Khọn thật!</p>
<p>Nhúng cọ vào đĩa màu, vừa nhíu mắt ngắm nhìn thân thể trần truồng của cô và vừa vẽ. Ông nheo mắt, nghiêng đầu sang trái rồi qua phải, lùi lại ngắm thật lâu. Cô không có vẻ thảng thốt, đôi mắt đen mở to sợ hãi như cô người mẫu của Picasso. Vì nét mặt cô thật bình thản, cũng như ông đang có cái vẻ lơ đãng của một người họa sĩ đang lễnh đễnh nhắm vào cô người mẫu với nhân sinh vị nghệ thuật. Nhưng cũng có đôi lúc vì nghệ thuật vị nhân sinh, ông bạ mắt vào vùng ngực hỗn độn, to bậm mà ông phải đánh bóng cho nổi u lên. Được thể ông chan canh đổ mẻ với nghệ thuật hội hoạ khởi đầu ở Pháp từ thập niên 1860 qua Monet, Renoir gạt bỏ quá khứ hội họa hàn lâm mang tính chất kinh viện. Họ hướng về đương đại và thực tiễn. Không vẽ bóng bằng màu xám hay đen. Một trong những bức tranh của Monet biểu tượng cho trường phái này có tựa đề <i>Ấn tượng &#8211; Mặt trời mọc</i>. Từ đó có tên cho trường phái ấn tượng.</p>
<p>Bỗng không ông lây lất tới một tác giả nào đó đã bương bả: “Người làm hội họa như cốc nước đầy, tự nó tràn ra, muốn thành hình thể gì không cần biết. Công việc của người vẽ là nắm bắt những hình thể đó. Hội họa có sự tình cờ và có những “cái ngố” của đường nét, màu sắc. Nếu màu sắc, đường nét đều vừa vặn, hợp lý, bức tranh sẽ biến thành công trình của một người thợ khéo tay”. <em>Vì đó là sự khác biệt giữa </em><em>hội họa có hình thể</em><em> và </em><em>hội họa trừu tượng</em><i>, </i>tác giả<i> </i>chọn trừu tượng vì nó không bóng bẩy rườm rà, trừu tượng trực tiếp mạnh mẽ mà không phải vòng vo tiểu xảo. Với nó, tác giả có thể đưa ra những hình ảnh sâu xa từ vô thức chứ không phải hình ảnh bên ngoài. Được thể ông dựa dẫm theo Wassily Kandinoky là ông tổ của ngành hội họa trừu tượng thì truyền cảm nội cảm chỉ là một điểm để đắm chìm trong u mê. Tâm thái vượt thoát hình thể khơi dậy mối cảm xúc mà không ngôn ngữ hội hoạ nào diễn tả được.</p>
<p>Đang vật lộn từng nhát vẽ, từng mảng mầu, ông lụng bụng rằng vẽ khó nhai thật, vì vẽ xong rồi thì sao đây!? Bởi chuông có gõ mới kêu, đèn có khêu mới rạng, khổ môt nỗi cả đời một hoạ sĩ chỉ có cơ may triển lãm một hai lân là hết đất. Đến khi tìm ra bức tranh trừu tuợng ngập <i>những hình ảnh sâu xa từ vô thức</i> của mình ở trong nhà cả mấy năm. Ngừời hoạ sĩ đứng nghệt mặt không chịu nhớ ra…vô thức đã…<i>gửi gấm những truyền cảm nội cảm, những cảm xúc qua ngôn ngữ hội hoạ </i>gì gì nữa. Nghe thì huyễn hoặc đấy, nhưng bắt qua thơ, thiếu giống chuyện nhà thơ quên thơ mình. Mà thơ và hoạ là một tuồng, một giuộc, đại thể truyện viết là hư cấu, thơ là tình thật. Nhân vật trong truyện là tha nhân, nhân vật trong thơ là ta. Chính ta. Viết cho cái ta khó lắm, vì không viết cho mình hôm nay, mà viết cho mình ở đâu đó, có khi là ở mãi tận mai sau. Viết là dựng nên, hay vẽ ra. Vì vậy hội hoạ chính là thơ. Và ông lậu bậu như chó hóc xương rằng vẽ đâu có ngon ăn như ăn óc chó. Như…“mần” thơ. Ngoài ra họa sĩ nào cũng giả thiết rằng người thưởng ngoại am tường lịch sử hội họa, vì hội họa cũng có một số quy ước của nó, như văn chương giả thiết rằng người đọc phải biết…đọc. Một họa sĩ đích thực sẽ thừa hưởng di sản quá khứ và đẩy hội họa tiến thêm một bước nữa, dù chỉ một cm. Thừa hưởng di sản quá khứ này phải có tay nghề, chứ không phải cứ….ấn cái ghế vào tranh để gọi là tranh ấn tuợng. Hoặc quẹt mầu túi bụi vào tranh rồi trở thành họa sĩ trừu tượng! Thế mới phiền.</p>
<p>Quả tình phiền thật, ông như lên đồng thiếp, ông vừa để hồn via nhập vào mầu sắc đến mụ mẫm. Nào khác gì Wassily Kandinoky với trừu tượng là mối truyền cảm nội cảm đắm chìm trong u mê. Ông đang vật lộn với cơ thể quyến rũ của giống cái, cái nhễ nhại cùng những ước muốn đỏ rực. Ông quẹt lát mầu đỏ lên cái nõ nường. Nơi chốn truyền cảm của u mê ám chướng. Với nguyên lý hội họa, để thực hiện họa phẩm, ông vừa vẽ bằng mắt, vừa bằng tâm hồn qua đầu ngực như hai đầu nhang đang cháy. Vì ông học đòi được rằng: “Hoạ sĩ đã phổ hết tâm ý, cũng như tình cảm và những nỗi xúc động vào tác phẩm. Nếu người thưởng ngọan không nắm bắt được, không nhìn ra những dấu ẩn mật đó. Thì đó là chuyện của người thưởng ngoạn, chứ không phải của hoạ sĩ”.<i> </i>Ngoài ra<i> </i>với những mảng thịt dư thừa, ông chối bỏ trường phái cổ điển là vẽ như thật với cái mông bóng nhẫy, cái vú thây lảy trắng hếu. Hay nói chữ thì những nỗi bứt rứt của da thịt, của<i> </i>tuổi già cám cảnh đang cay cú đuổi theo sau lưng ông.</p>
<p>Cắm mắt vào bộ ngực ngập những bề bộn, làm như nóng nẩy như muốn rụng khỏi thân thể cô. Bởi bầu ngực cô như trái bòng, hiểu theo nghĩa là nhỏ hơn trái bưởi, nhưng lại lớn hơn trái cam sành. Với văn cảnh đã chấp chới như quạ đậu chuồng lợn rôi, huống chi vẽ vời, vì bức họa để cảm nhận, thay vì để ngắm. Vì hội họa là một nghệ thuật câm nín, người họa sĩ không có thói quen &#8220;phát biểu bằng lời&#8221;. Có đầu có đũa thì ông học mót qua Paul Cézanne, cha đẻ của hội họa hiện đại đã từng nói: &#8220;Người họa sĩ suy tưởng với cây cọ trong tay&#8221;<i>.</i> Mọi sự bắt nguồn từ quan niệm về sáng tạo nghệ thuật: “Tìm tòi và sáng tạo với tất cả linh tính. Không phải sáng tạo bằng mắt, bằng tay, mà gần như là anh xẩm mất gậy sờ soạng trong đêm giữa ban ngày để tìm cái đẹp”. Và ông nhích từng bước chậm chạp để …đi tìm cái đẹp. Bắt chước Picasso, tay vung vẩy cái bút lông còn dính tèm nhem màu, ông vừa tiến tới về phía trước như muốn ôm chầm cô, nhưng rồi ngập ngừng vì khoảng cách của nhân sinh. Ông lùi trở lại…</p>
<p>Bộ tịch ông lật đật như ma trật đám quẩy khơi dậy sự tọc mạch của cô vì những động tác đi tới đi lui, tay cầm bút múa may giống hệt như gã Sơn Đông mãi võ trong Chợ Lớn, tay cầm cái phèn la, tay cái dùi tung tẩy, miệng rao bán cao đơn hoàn tán, thuốc mộng tinh, di tinh, hượt tinh. Nói cho ngay ông không giống một họa sĩ nhà nghề cho mấy. Vì vậy cô đâu có hay hai mảng thịt dư thừa của cô ông vẽ bẹt ra như cái bánh dầy. Vì thế ông phải làm mới, phải nhiều màu sắc sáng. Không hẳn như trường phái cổ điển với đất màu nâu, lá màu xanh. Loay hoay với hội họa có sự tình cờ và có những cái ngố của đường nét, màu sắc. Ông trát lên hai đầu ngực cô kềnh kệch màu đỏ xỉn để…nóng mắt người xem tranh là thế. Vẫn chửa xong, hai bầu ngực, ông muốn vẽ vươn ra như…sừng trâu dái mạn ngược, như muốn xuyên thủng giấy vẽ, như muốn đâm lủng mắt người thưởng ngoạn…nên tốn màu và thì giờ không phải là ít.</p>
<p>Bức tranh hòm hõm xong, ông tâm đắc vì sự hoà hợp màu sắc là đặc thù trong hội họa. Vì không những nó đánh giá tài năng mà còn chỉ ra thời đại, phong cách và trường phái của tác giả. Vì thế mà có nhà nghệ sử đã hóm hỉnh về lịch sử hội họa Tây phương như sau: &#8220;Mới đầu ta không thấy nhát cọ. Sau ta thấy rõ nhát cọ. Bây giờ thì chỉ là nhát cọ&#8221;. Là người tu thiền có chân tu như lão Ngộ Không bạn ông, nên ông ngộ chứng ra nào có khác gì trước khi nấp bóng thiền môn, ông thấy núi là núi, nhìn sông là sông. Bước qua cửa thiền môn rôi, ông thấy núi không là núi, sông chẳng là sông. Khi đã đạt, đã ngộ, nhìn lại ông thấy…núi vẫn là núi, sông vẫn là sông. Bởi nhẽ ấy các họa sĩ cổ điển xoa mặt tranh mịn cho ta không thấy những nhát cọ. Thê nên có thể nói tranh chỉ là những nhát cọ mặc dù đã được…xoa mịn đi. Quẹt thêm nhăm nhát cọ nữa, buông tay, chứ chả phải là buông xuôi về với chín tầng mây, mười tầng trời, ông cảm thấy hai đầu gối lụm cụm thấy rõ vì phải…“lao động hội hoạ” quá sức. Và ông thở ra như trâu hạ địa vì vẽ nào có dễ ăn như ăn trứng luộc. Sau này, người xem tranh thưởng ngoạn tranh ông đến đâu, chuyện đâu vẫn còn đó. Vì chuyện bây giờ là cô dòm ông múa bút vung vít trêu ngươi cô nên hấp tấp đứng dậy đi về phía giá vẽ…Thấy bức tranh như bò thấy nhà táng, cô la toáng lên: “Đí gì tá? Gì thế này hở giời!”. Mặt xám như đít nhái, ông lập bập: “Có lẽ tôi…”</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/04/clip_image004.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="margin: 0px auto; float: none; display: block; background-image: none;" title="clip_image004" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/04/clip_image004_thumb.jpg?strip=all&fit=207%2C310" alt="clip_image004" width="207" height="310" border="0" hspace="12" /></a></p>
<p>Ý đồ ông là thảng như bức <i>Nhạc sĩ tây ban cầm già</i> (3) của Picasso với ông già chân tay khẳng khiu như ông đây. Thì người họa sĩ phải diễn đạt cái tay gẫy khúc, cái chân lạc quẻ và đầu ngoẻng xuống đất chứ không nhìn lên trời. Vì họa sĩ phải học tâm lý học, phân tâm học để phân thây…thân thể con người ta. Bởi nhẽ muốn vẽ một người nằm, ngồi, đứng phải biết xương xẩu của cơ thể học, vì xương thịt phải gắn bó với nhau. Thảng như có một bức họa nào đó phóng bút một cô gái khỏa thân, nằm thẳng băng như chết rồi, hai bầu ngực đùn lên lên như hai đụn rơm. Vậy là không xong với co dãn của bắp thịt. Vẽ ma dễ, vẽ người khó là thế.</p>
<p>Mặc ông bám víu vào những bòn mót của ông. Cô phay vào mặt ông một nhát:</p>
<p>&#8211; Ông chẳng biết quái gì về hội họa cả! Mắt ông quẹt trên thân thể tôi vì những lý do thầm kín của ông. Tôi không biết ông muốn cái gì, nhưng tôi chắc chắn những cái muốn ấy chẳng ăn nhằm gì với hội họa cả. Nói thẳng ra ông hiếp dâm bằng mắt trên thân thể tôi thì đúng hơn.</p>
<p>Thoáng nhìn thấy vết ẩm ướt thấm qua quần dưới phần hạ bộ của ông. Cô lộn tiết lên:</p>
<p>&#8211; Ông đúng là hoang tưởng dục tình để giải phẫu thân xác tôi hơn là vẽ khỏa thân. Cách vẽ của ông như cầm một thân người quẳng vào mặt giấy và ghim lên đó từng bộ phận của đàn bà.</p>
<p>Cô quơ quơ cái áo dưới sàn nhà và tiếp: “Tôi cũng là một họa sĩ ”. Cô nhìn ông chằm bằm rồi thở hắt ra: “Giả mạo như ông nhìn là tôi biết ngay”.</p>
<p>Đúng là bị giời đầy vì ông chả biết giải bày với cô như thể như thế nào với ngày xưa xông xáo ngược xuôi, ngày nay rờ rẫm đuổi ruồi không bay: Số là sống để bụng chết mang theo gần đây ông có hơi hục hặc chuyện gối chăn với vợ nhà, nói cho ngay tuổi tác ông dường như chỉ mới…chớm già nhưng ngẫm chuyện tối lửa tắt đèn ông vẫn còn sung sức chán. Nho nhe, nho táo với nhân lão tâm bất lão, tạm hiểu là <i>thân già tâm tính không già</i>. Hay nói văn vẻ văn sách theo các cụ ta xưa: Già thì già tóc già tai, già răng già lợi đồ chơi không già với trâu ta ăn cỏ đồng ta, đồng ta hết cỏ ăn ra đồng người thì ông hùng hục như trâu húc mả ấy. Nhưng khổ nỗi vì tình trạng lèo hèo ông &#8220;còn&#8221;, bà &#8220;hết&#8221; đâm rách chuyện. Ấy là từ khi lên chức “bà”, bà ngủ riêng để có kiêng có lành. Ông mon men sang để tòm tem thì bị nhiếc là: <i>“</i>Già rồi&#8230;”. Ông đành bỏ về phòng mình, cả tháng tâm hồn không động đậy, cái củ lẳng buồn thiu, mỗi ngày teo đi một ít giới tính. Theo năm tháng, ông lặng lẽ bị…tàn phế dục tình với khúc thịt thừa co rút lại quắt queo và hóa thân thành…”phế phẩm”. Xuân thu nhị kỳ được hôm hưởng cơm thừa canh cặn của vợ nhà nhưng trên bảo dưới không nghe, như con giun đất, nó cứ chun choe nhét chẳng vào nên cũng đành rằng ngày xưa qua núi vác cày, ngày nay nằm thở dang tay xin hòa<i>.</i> Nói dại chứ…chứ từ ngày ấy mảnh đời ông bèo nhèo như thịt trâu về chiều nên ông cám cảnh tuổi già đang tàn lụi thế thôi. Ngẫm ngợi, ngày xưa sức mạnh như trâu, ngày nay uể oải ngồi đâu ngáp ruồi, thế nên ông ngồi không tắm khô búng ghét đuổi ruồi, để thời gian buông trôi về một khỏanh quá khứ qua mau với những tiếc nuối. Mà cũng chả ai hay ông đây rơi rớt lại từ thời Tây thuộc địa, ông cảm khái nỗi mất mát to lớn ấy nên hay nhệu nhạo ba chữ tiếng Tây tiếng u hoài niệm quá vãng: ”Tôi chẳng còn gì nữa…giữa hai bắp đùi” (4).</p>
<p>Và ông buồn đời… Buồn sưng cả đít. Chán ngăn ngắt nhưng vẫn phải…buồn.</p>
<p>Thảng như mấy bữa rày vợ nhà cạo đầu trọc lóc như cái bình vôi để đi hành hương mấy tuần. Nay được gặp cô người mẫu, ông đùm đậu may ra có một chút hoa tình vướng víu trong những ngày trống vắng. Chả hẳn là cuộc tìm kiếm của anh già đang thiếu thốn những niềm vui thân xác, mà là ông muốn tìm lại những mảnh tình ảo nằm tít mù cả chục năm về trước. Từ tình ảo, ông lây lất qua Francois Sagan hiện thực viết truyện <i>Buồn ơi chào mi</i> lấy cảm hứng từ Marcel Prousr. Cả hai đều đi tìm thời gian đã mất&#8230; Như hôm nay ông đang đi tìm một khoảng thời gian không còn nữa với cô người mẫu. Học thói nhà văn, nhạc sĩ về chiều giở chứng…vẽ tranh, họ luận rằng: “Khi ngôn ngữ và âm thanh <i>bất lực</i> thì mầu sắc lên tiếng để họ bám víu. Hội họa là cõi vô ngôn của họ bên cạnh âm thanh và chữ nghĩa về những giấc mơ ảo trong cõi không”. Ông lên tiếng khào khào với cơm mắm thấm về lâu: “Tôi ngỡ khi cầm cọ vẽ sẽ đem lại một cái gì tươi mát hơn. Thật đáng tiếc tôi đã làm phiền cô”.</p>
<p>Như chưa hết nguôi ngoai, cô phang ngang bửa củi:</p>
<p>&#8211; Phiền, cái đó khỏi lo. Tôi được trả tiền cho sự phiền hà ấy. Nhưng cái mà ông không đem tiền đền bù được là ông hiếp dâm thân thể tôi bằng mắt.</p>
<p>Lõ mắt nhìn ông và cô “ông đùng bà đá”:</p>
<p>&#8211; Ông cởi quần áo ra.</p>
<p>Nghe thông xong, ông như gà mắc tóc…</p>
<p>&#8211; Tôi? Cởi…cởi…</p>
<p>Trong ông có một nhen nhúm với “ông đưa chân giò. bà thò chai rượu”:</p>
<p>&#8211; Cởi quần áo để…làm…làm gì?</p>
<p>Cô dĩu môi bấm búi:</p>
<p>&#8211; Đừng tưởng bở, ông già!</p>
<p>Tim gan phổi phèo đang rối beng vì phải phơi bày thân thể trần trụi trước mặt một người nữ mà tuổi tác chỉ bằng phần nửa đời ông. Vì cây dây quấn, ông nhớ lại cô người mẫu tên Quế phân bua: &#8220;Phản ứng cái gì? “Nàm” mẫu “luy” thì có gì là xấu? Nhớ lại ngày đầu, khi đã “cởi tất” là em lại nổi hết da gà…”. Và ông muốn nổi da gà thật vì mường tượng ra mình đâu có có khác con gà khỏa thân chết tiệt nằm trên bàn thờ, nấp sau nải chuối ngắm…bát nhang!. Đến trần ai khoa củ này, làm như đồng cảm với ông, cô hóng hớt: “Trông dơ bỏ bố đi ấy!”.</p>
<p>Cô vung tay múa bút những nét nhanh và gọn, được mấy nả bức họa hoàn tất. Ông co ro đứng dậy, hai tay che hạ bộ lụm cụm tới ngắm bức tranh khỏa thân chính ông. Đập chát vào mặt ông là màu da thịt rất người, màu vàng bợt bạt nổi bật lên những vết nhăn nhúm của thời gian. Ấn tượng sâu đậm nhất với ông là dáng ngồi chàng hảng của một anh già, hai mắt đang trố ra như mắt lợn luộc vì sống không biết hưởng mùi đời. Cô biểu hiện ông qua thế ngồi chẻ hẻ như ếch vồ hoa mướp, trong một sát na, ông hóa thân, hóa ngộ vì đức Lạt Ma đã dậy những kẻ không biết sống theo thói đời: Vì họ đã chết khi còn đang sống.</p>
<p>Ông xo ro tới giá vẽ ngắm bức tranh…ông rối rắm như sư đẻ vì nếu làm thơ, viết nhạc không hay, người thưởng ngoan không đọc, không nghe. Thế nhưng nếu như viết văn, vẽ tranh không đạt, người thưởng ngoan sẽ “phở mắng cháo chửi” ở Hà Nội thế này đây:</p>
<p>(…) Gã ấy một ngày xấu giời bỗng bị con ma màu ám. Thế là lao vào để vẽ. Say lắm, bốc lắm, có ngày vẽ mấy bức. Bạn bè đến xem chẳng hiểu gì. Vì có phải ai cũng hiểu tranh đâu, và có phải ai cũng hiểu thiên tài đâu. Chỉ cần gặp một chuyện là đã vỡ bố nó đầu rồi. Trong trường hợp này, là cả hai. Thế nên, có người hỏi những câu ngu ngơ như: “Đây là cái gì?”. Gã chỉ cười bí ẩn. Sau mệt nên gã chẳng buồn cười nữa, chỉ giữ bộ mặt bí ẩn rất nghệ sĩ.</p>
<p>Người thưởng ngoạn trầm trồ: “Ừ nhỉ, rõ quá rồi. Đây này, vươn lên đây này”. Hay: “Chỗ này chẳng là cái chỗ phình ra à. Còn đám màu rối tinh chẳng phải là…”, là: “Vẽ đến thế thì tuyệt. Vẽ mà như không thấy nhỉ?!”. Bỗng có một tiếng chửi đổng: “Cái bòi mà vẽ như bòi ấy!” (…)</p>
<p>Là người thưởng ngoạn nên ông xem tranh theo cái nhìn của riêng ông, là tác phẩm của cô đây thể hiện đường nét rất nghệ thuật của một họa sĩ rất…nghệ sĩ. Nhiều nhà phê bình hội họa chỉ viết theo cảm tính, không chuyên nghiệp để nhận ra nghệ sĩ dấn thân với những khám phá cái cách tân, cái lạ của tác giả. Như hình ảnh đậm nét trong bức tranh của cô là thủ pháp pha trộn các chất liệu để vẽ, cô dùng da thịt người để tạo hình, tạo tình, tạo vật: Cô biến dạng ông là một sinh vật như một tĩnh vật…động đậy. Ông cảm nhận được rằng hội họa cũng như thơ hay nhạc có thể đi thẳng vào cảm quan của người thưởng ngoạn. Như nghe một bản nhạc, đọc một bài thơ hoặc ngắm một bức tranh có thể cảm xúc được ngay cái…‘’bức xuc’’ của tác giả mà không cần sự lục lọi hay đào xới. Vì vậy ngắm bức họa…da thịt này, lòng dạ ông xốn xang bao hoài niệm, dường như ông đã gặp lại chính ông từng chặng đường. Ông đã già đi theo năm tháng trên con đường bước chân vào đời qua ngày tháng cũ, qua Ngã Ba Chú Ía tới Xóm Mới với một quên hai nhớ. Bức tranh này đây vẽ ông như một tác phẩm đích thực cho những ông già đang rong ruổi trong những ngày nắng quái chiều hôm đi tìm thời gian đánh mất!</p>
<p>Hốt nhiên cô đóng cửa cái rầm rồi xớn xác đi về mất tiêu. Cô quên cả ký tên bút hiệu dưới bức tranh để một ngày nào đó ông có “khả năng” cơi lên căn gác xép làm xưởng vẽ.<i></i></p>
<p>***</p>
<p>Cửa đóng cái rầm kéo ông trở về với thực tại, ông lụi đụi lồng bức tranh vào khung và treo giữa bức tường phòng khách. Ông tồng ngồng đứng và lặng ngắm…</p>
<p>Mượn lược thầy tu thì vay mượn từ bức tranh <i>Khỏa thân ngồi</i> của Picasso vẽ năm 1907, ông phác hoạ ra cô. Bữa rày, cô vẽ vời ông rất có hồn có cốt. Mỗi nét vẽ của cô tạo ra những nội tại của người cầm cọ, nó ẩn chứa những vết mờ của họa sĩ trước đó ẩn giấu những hình bóng, những “gợi mở”…từ nét vẽ của đối tác mà thiền học gọi là: <i>Đối hoạ</i>. Ấy là cách họa sĩ dùng cọ vẽ để giao thoa giữa hai cá thể, để khai phóng lẫn nhau, uyên sâu giác ngộ nhau. Đối họa giống như câu đối với “đối chữ”, hoặc giả như công án đối thoại của thiền sư để giác ngộ thiền sinh. Khi thiền sinh vẽ một bức tranh theo cảm hứng của mình, thiền sư tác động lên bức tranh ấy làm thay đổi hoàn toàn ý nghĩa, <i>vật thể</i>, <i>đường nét</i>, và <i>bố cục</i> của thiền sinh.</p>
<p>Thảng như hai bức tranh đối tác dưới đây&#8230;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/04/clip_image006.jpg"><em><img loading="lazy" decoding="async" style="margin-right: auto; margin-left: auto; float: none; display: block; background-image: none;" title="clip_image006" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/04/clip_image006_thumb.jpg?strip=all&fit=355%2C101" alt="clip_image006" width="355" height="101" border="0" hspace="12" /></em></a></p>
<p style="text-align: center;" align="center"><em><strong> </strong>Tranh thiền sinh đường nét thư pháp chữ  </em><em>tâm (bên trái). Tranh đối họa với chữ tâm </em><em>đen như mực tàu của thiền sư (bên mặt)</em></p>
<p> Với “nhĩ văn vi hư”, hiểu nôm na là chỉ <i>nghe không thì có thể không thật</i>…Vì để giao thoa giữa Đông và Tây với đối chữ, với hai bắp đùi đối nhau choèn hoẻn gợi mở ra…<i>chữ nhân</i>. Nhân là người, cô vẽ một người đàn ông trong không gian là không gian ảo, là không có gì hết, căn phòng trống trơn. Cô sử dụng kỹ thuật tối giản để gạn bỏ bố cục, loại bỏ những chi tiết không cần thiết như: Cái ghế<i> </i>chẳng hạn.</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/04/clip_image008.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="margin: 0px auto; float: none; display: block; background-image: none;" title="clip_image008" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/04/clip_image008_thumb.jpg?strip=all&fit=201%2C251" alt="clip_image008" width="201" height="251" border="0" hspace="12" /></a></p>
<p>Với văn học và học thuật hội họa, dù là hai phạm trù nghệ thuật khác nhau, một bên dùng chữ một bên dùng màu nhưng chúng chia sẻ cùng một dấu ấn: Gợi lên những gợi cảm. Như tạo hình cho một sự thiếu vắng. Như Magritte của trường phái trừu tượng đã làm việc này bằng cách hòa hợp các vật thể trong trạng thái mộng mị: Tạo hình cho những gì vô hình. Vì vậy, với bức tranh này đây: Cô đã gạt bỏ những dư thừa trong bố cục và màu sắc. Vì vậy dưới mắt người thưởng ngoạn viễn mơ, viễn tưởng như ông:</p>
<p>Cái ghế<i> </i>hiện hữu<i>.</i></p>
<p>Cứ theo ông thì cô dùng cọ, dao với màu mè nào đó, nhưng cái trở nên, cái làm thành, cái có mặt, người họa sĩ như cô biết để dành lời cho tác phẩm. Vì hội họa là một nghệ thuật câm nín. Là họa sĩ, cô không phát biểu bằng lời như cô đã học được ở Paul Cézanne. Với cách nhìn trong nghệ thuật hội họa là nhìn và nhìn thấy, chứ không là sao chép như thật. Vì là mô phỏng. Cô sử dụng kỹ thuật thị giác để tạo dựng cảm xúc, tạo hình cho…một vật thể có thật nhưng lại thiếu vắng. Như Victor Hugo đã viết khi về già: “Tôi chẳng còn gì nữa…giữa hai bắp đùi” (4).</p>
<p>Thế là ông buồn…buồn sưng cả đít. Chán ngăn ngắt nhưng vẫn phải buồn. Buồn cách mấy cũng phải lúi húi tìm tấm danh thiếp mặt không có tên ông. Ông ghim dưới hoạ phẩm.</p>
<p>Và hấm húi viết tên (5) tác phẩm: <i>Người đàn ông ngồi</i>.</p>
<p>Rồi bấm búi viết bút hiệu ông ở góc bức tranh: <i>Nguyễn Thuyên</i>.</p>
<p>Kiếm cái mũ nồi đội lên đầu. Nhét cái tẩu thuốc vào miệng. Trong ông đầy ứ hoạ sử đánh dấu thời đại của một thời một thưở. Ngoài ra còn biểu hiện trường phái, phong cách và tài năng của riêng ông. Trong trống không, với “nhãn kiến vi thật” là <i>nhìn thấy mới cho là thật</i>.</p>
<p>Ông đứng câm nín trước bức tranh để ngắm….một vật thể.</p>
<p><strong>Thạch trúc gia trang</strong></p>
<p><strong>Ngộ Không Phí Ngọc Hùng</strong></p>
<p><strong>Chú thích:</strong></p>
<p>(1) Họa sĩ Chóe, tức Nguyễn Hải Chí.</p>
<p>(2) Bức <i>Khỏa thân ngồi</i> nguyên tác <i>Nu Assis.</i><br />
(3) <i>Le Vieux Guitarist</i> (The Old Guitarist).</p>
<p>(4) “Moi, je n’ai rien entre mes deux cuisses”.</p>
<p>(5) “Minh họa” tranh của Đinh Ý Nhi.</p>
<p>Nguồn: <i>Người mẫu</i> của Bernard Malamud (Võ Đình), <i>Picasso cuộc đời &amp; tình yêu</i> (Vương Trung Hiếu}. <i>Xem tranh</i> (Lê Anh Hoài). <i>Công án thiền và hội họa</i> (Huệ Viên). Ngoài ra người viết còn vay mượn chữ nghĩa qua nhiếp ảnh gia Lê Văn Khoa, Kiêm Thêm, Viên Linh, họa sĩ Đinh Cường, Ngọc Dũng, Nguyễn Thái Tuấn, Nguyễn Trung, và Nguyễn Thuyên.</p>
<p>©T.Vấn 2019</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ngo-khng-ph-ngoc-hng-khoa-thn-ngoi/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Không: Ngồi ở quán nhậu…</title>
		<link>https://t-van.net/ngo-khong-ngoi-o-quan-nhau/</link>
					<comments>https://t-van.net/ngo-khong-ngoi-o-quan-nhau/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 01 Mar 2019 06:44:59 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=38633</guid>

					<description><![CDATA[         Quán Vô Ưu &#8211; Tranh: Thanh Châu     Lần này về thăm quê nhà, bụng dạ cứ bơ bải với ăn thịt trâu không tỏi, ăn gỏi không lá mơ…hiểu theo cụ Tản Đà là…ăn không ngon. Vừa lúc thằng bạn Nam kỳ biết tôi có căn tu, với tu chùa chẳng bằng [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;">      <a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/02/vô-ưu-1.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter  wp-image-38634" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/02/vô-ưu-1-300x236.jpg" alt="" width="361" height="284" srcset="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/02/vô-ưu-1-300x236.jpg 300w, https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/02/vô-ưu-1.jpg 642w" sizes="(max-width: 361px) 100vw, 361px" /></a></p>
<p style="text-align: center;">  <em> Quán Vô Ưu &#8211; Tranh: Thanh Châu</em></p>
<p>    Lần này về thăm quê nhà, bụng dạ cứ bơ bải với ăn thịt trâu không tỏi, ăn gỏi không lá mơ…hiểu theo cụ Tản Đà là…ăn không ngon. Vừa lúc thằng bạn Nam kỳ biết tôi có căn tu, với tu chùa chẳng bằng tu nhà. ăn ở thật thà mới thật là tu…bia nên gửi gấm gã bạn của nó thuộc diện hẻm nào cũng biết, ngõ nào cũng hay, bảo đảm chẳng ế độ. Cứ theo lời nó kể lể  khoản lỳ một lam, làm một ly thuộc dạng sáng say chiều sỉn, là nhậu tới bến. Ấy là chưa kể gã chữ nghĩa ngập răng nên chuyện…chó gì cũng biết. Như khuyển với cẩu khác nhau cái khổ nào, gã luận rằng: “Khuyển là chó, không phân biệt kẻ quen, người lạ, gặp là sủa, nên chữ Hán, chữ khuyển tượng hình là con chó đang ngồi lè lưỡi. Cẩu là chữ Nôm, cẩu sủa có bài bản câu cú rõ ràng, gọi là sủa có văn. Vì thế chữ Nôm về con cẩu, cạnh bộ khuyển, còn thêm chữ “cú”, ngụ ý sủa ra câu cú có vần, có vận”<em>.</em> Thế nên với tôi như vậy là quá đủ cho một chuyến đi. Bởi nếu như có túc duyên gặp anh nhiêu, anh khóa quá mù sa mưa ngộ chữ với có tức là…không, không tức là…có, thì đi nhẹ về nặng, biết đâu gánh về được một bồ chữ cũng là cái hay. Số ruồi, vớ phải ông hủ nho, hủ nút nát chữ như trấu chát với…vô chăng, hữu có, khuyển chó, dương dê như thêm đũa thêm bát vậy thôi. Nói cho ngay, tôi thuộc thể loại văn hoá mỏng nên chẳng nho nhe cho mấy, chỉ biết vài mặt chữ chi, hồ, giả, dã đủ để đọc dăm quân bài mạt chược.</p>
<p>Bạn đọc lần khân rằng cần người đối ẩm trong đám nhân sinh này ư? Đoạn tống nhất sinh duy hữu tửu, cứ rủ nhau <em>nón lá áo tơi ra quán chợ</em> là xong. Nhưng xong thế nào được vì tôi về đến phi trường mới chớ phở ra gã hành nghề…chạy taxi. Ngẫm ngợi cũng tốt thôi, vì Sài Gòn đầu đường cuối ngõ gã là thổ công. Vì vậy tim gan phồi phèo tôi được thể gọ gạy khôn tả với <em>sống được miếng dồi chó, chết được bó vàng tâm, sống không ăn miếng dồi chó, chết xuống âm phủ không có mà ăn</em> (ca dao). Nói vậy chứ chả ngon ăn như ăn óc chó, bởi lẽ mới sơ giao không nhẽ nói chuyện <em>Ỷ thiên đồ long kiếm</em> với câu nói để đời của Minh giáo chủ: “Đời chẳng có gì vui, chết chẳng có gì buồn”. Chết được bó vàng tâm, sống không ăn miếng dồi chó nên xe qua Lăng Cha Cả, vòng xuống Ngã Ba Ông Tạ, buồn tình dòm bên đường mấy quán nhậu ngày nào năm ấy đã đi vào tha ma mộ địa. Trong một cõi đi về, tôi nhập hồn nhập vía với gã bằng vào câu <em>trăm năm sông núi cũng mòn, nghìn năm bia rượu vẫn còn như xưa</em>. Gã chỉ ậm ừ “Dà!”.</p>
<p>Tôi bèn văn dĩ tải đạo, buông xả dăm khoẻn lơ mơ lỗ mỗ với gã thế này đây:</p>
<p><em>“…Hai thiền sư, một già một trẻ, thiền sư già Unsho phóng khoáng không bao giờ để ý đến giới luật. Thiền sư trẻ Tazan khắc kỷ, luôn luôn giữ giáo luật của nhà Phật. Một hôm Tazan từ Tokyo về nhằm lúc Unsho đang nhắm rượu với thịt chó.</em></p>
<p><em>Sư già chào đón sư trẻ: ”Thầy làm một miếng mồi đưa cay chăng?</em></p>
<p><em>Tazan nghiêm giọng đáp: “Tôi không bao giờ ăn thịt chó”.</em></p>
<p><em>Unsho cười đáp: ”Một người không ăn thịt chó, không uống rượu, không phải là người”.</em></p>
<p><em>Sư trẻ nổi sùng lên: “Thầy nói tôi không là người thì tôi là gì?”</em></p>
<p><em>Ông sư già cười dúm dó: “Một ông Phật…”.</em></p>
<p>Gã “Dà!” thêm một tiếng rõ to rồi cười như chó hóc xương rằng gã không phải…Phật. Và lái lụa tiếp, lát sau ngừng ở chân cầu Thị Nghè, nhìn bảng ““nhét dô răng” có tên <em>Quán Lá Mơ</em>. Tôi ung dung tự tại nhập thế tục một chiều trên bến nước…</p>
<p>***</p>
<p>Thò đầu vào quán tôi choáng ngay, bộp vào mặt là một dàn năm bình bự sự, bình nào cũng to đùng bằng cái nồi ba mươi có “thương hiệu” theo thứ tự với nhất xà, nhị xà, v..v.. Vừa để cái bàn tọa va vào ghế, mắt vướng víu vào cái tam xà, chôm chỉa chữ nghĩa báo chợ, báo chùa bấy lâu. Tôi lêu bêu với gã ắt hẳn là ba con mang bành, cạp nong, hổ trâu chi đây. Gã im thin thít. Chỉ cho gã cái ngũ xà, tôi khua môi múa mép chém chết là một mang bành, một cạp nong, một hổ trâu, một rắn ráo, một mai gầm…Gã lặng lờ châm điếu thuốc. Tôi lăng ba vi bộ với Kim Dung rằng Lam Phụng Hoàng cầm bát rượu <em>Ngủ bảo tửu</em> đưa Lệnh Hồ Xung. Rượu có ngâm năm con trùng độc là một con rắn đen, một con rít, một con nhện, một con bọ cạp và một con trăn nhỏ bằng đầu ngón tay.</p>
<p>Gã hủ nho, hủ nút làm như không nghe vì quán xá đang ầm ào, họ buông xả với thịt chó như một di sản văn hóa lâu đời. Gã vẫy tay ới người phục vụ lo chuyện hậu sự…Thấy gã không mặn mà mấy con rắn cho lắm. Chợt nhớ hồi này ở trong nước đổi mới tư duy với cao trào mang công án Thiền vào quán nhậu. Vì cần thuyết phục nhau, thì &#8220;dùng công án Thiền dễ hiểu hơn nhiều”. Như &#8220;Lấy đũa quơ trăng&#8221;, &#8220;Thiền sư qua sông&#8221;, &#8220;Quẳng dao giết lợn là thành Phật&#8221; cùng &#8220;vô minh&#8221;, &#8220;vô ngôn&#8221;, &#8220;vô thường&#8221;, &#8220;vô ngã&#8221;, &#8220;vô sở đắc&#8221;, &#8220;vô sở trụ&#8221; rất rõ ràng, sáng tỏ. Như hỏi một nhà văn rằng vì sao anh ta cứ mài óc ra mà viết bài cho báo lá cải. Đáp: <em>Phật cũng chỉ là que cứt khô thôi mà!</em> Hỏi tiếp: <em>Sao Phật lại là que cứt khô?</em> Đáp: <em>Anh không biết công án Thiền à?</em> Thế là người hỏi cứng họng. Là xong.</p>
<p>Không nói chuyện rắn thì “khảo luận” về…chó với &#8220;vô sở đắc&#8221;, &#8220;vô sở trụ&#8221;. Nhìn ra con sông Thị Nghè đang lặng lờ trôi…ý đồ tôi muốn trôi theo sông nước với con cún nhà tôi không ăn thịt mà chỉ ăn rau muống nên tôi chắc mẩm kiếp trước nó là Bắc kỳ. Sau nó nhai giá sống rau ráu, tôi chắc như bắp luộc nó là Nam kỳ. Với khoản đậu rán thì nó hỉ xả trông thấy, nên tiền kiếp nó là một ông Phật chăng. Gã lắc lắc cái đầu. Tôi nói: <em>Thế là ông không đọc công án Thiền rồi</em>. Được thể tôi khủng khỉnh cọ đít nhồi với gã qua một công án về một ông tăng hỏi sư Triệu Châu: <em>“</em>Con chó có Phật tính không<em>”.</em> Triệu Châu đáp: <em>“</em>Không<em>”.</em> Gã làm một hơi thuốc từ tốn thở ra…mây, và “Dà!” một tiếng rằng chuyện của tôi là chuyện cóc nọ đeo thang, voi kia đẻ trứng. Rồi lam như ăn khoai môn ngứa miệng hay sao ấy…</p>
<p>Ấy là chuyện quê gã ở Hóc Môn, Bà Điểm:</p>
<p>“…Tôi không nhớ ông già tôi nuôi con Đốm từ hồi nào. Chỉ mang máng ông xin nó về nuôi từ lúc mới đẻ, báu vật của một ông bạn già ở xa nhà tôi khoảng mươi cây số hương lộ. Vậy mà ông bạn cố tri ấy đành cắt khúc ruột của mình ra tặng cho ông già tôi. Thế đủ biết cái tình bạn nhậu giữa hai ông già thâm sâu, thắm thiết biết là dường nào.</p>
<p>Đúng là bợm nhậu theo kiểu giang hồ, ông già tôi quả là một dân nhậu khét tiếng từ Hóc Môn đến Bà Điểm với rượu đế Gò Đen. Nếu không nổi danh như vậy ông đã không đến nỗi bán vợ đợ con để về chui rúc dưới mái tranh vách đất xập xệ, trông chẳng khác nào cái chòi nhỏ. Mái tranh cũ rạt không che kín đủ bên trong, lúc nào cũng như chờ đợi những cơn mưa dột ướt cả người ngợm. Còn cái tình cảm giữa ông bà già tôi mới thật là éo le. Chính vì ông già tôi là bợm nhậu nên bà già tôi không thể nào chịu được cái cuộc tình giãy chết này nữa. Bà đành một mình cự tuyệt ông già và lặng lẽ dắt hai đứa con thơ kéo nhau về cắm dùi ở cái thôn Quảng Phước xa xôi hẻo lánh để làm lại cuộc đời…”.</p>
<p><em>        </em>Vừa lúc người phục vụ ló đầu ra, gã khong khảy nói cho cái bình da lươn và hai cái chén Tống. Tôi nghệt ra hỏi gã mình vào đây uống ruợu rắn chứ…lươn lẹo gì? Gã lươn khươn rằng ấy là cái bình đất nung…nung cho tới màu da lươn, để lâu lạc tinh thành mầu gan gà nên còn gọi là ché. Ché đựng <em>Thập nhị xà nhất điểu</em> gồm 12 con rắn là hổ mang, hổ lửa, rắn ráo, mai gầm, cạp nong, hổ hành, hổ hèo, rắn lục, liu điu, ri voi, ri cá, bông súng và nhất điểu là…con bìm bịp. Như trên đã thưa gửi, tôi không có tướng lại có tính, tính hay hóng hớt chuyện chữ nghĩa nên tôi hong hanh với chén Tống cứ theo cụ Vương Hồng Sển, trước dùng để uống rượu, đến đời Thanh vì…tửu lạc vong bần nên để uống trà.</p>
<p>Lại làm như điếc đặc, gã cứ lựng bựng chuyện con chó con với…cái cối xay:</p>
<p>“…Vậy mà ông cũng tìm ra được tông tích của ba mẹ con tôi rồi cũng rút binh về theo. Tuy nhiên cái tình mặn nồng ngày xưa không còn nữa. Cái nhà là của bà già tôi mua nên trên nguyên tắc ông già không có quyền ở chung. Túng quá ông phải tự làm lấy một cái chái nhỏ che đỡ mưa nắng, núp dưới bóng cây xoài to, sát bên bờ giếng làm chỗ trú ẩn, coi như tạm cắm dùi chung trên cùng mảnh đất, ở ngay sau cái chòi má con tôi ở.</p>
<p>Hai người như hai cái tai của cái cối xay, người ở đằng trước thì kẻ ra đằng sau, người ở trong nhà thì kẻ phải ở ngoài hoặc ngược lại. Cũng chính vì cái nỗi buồn đơn độc này mà ông già tôi phải tìm cách nuôi một con chó làm bạn. Thoạt đầu ai nấy đều lắc đầu bởi ông già tôi ngoài cái chuyện nhậu nhẹt, ông còn là một tay mần thịt cầy nổi tiếng nên không ai tin tưởng ông một khi con chó bắt đầu lớn. Ấy vậy mà mối tình thủy chung này lại kéo dài đến suốt cuộc đời của hai &#8220;người&#8221; còn hơn là mối tình lớn của ông với bà già tôi.</p>
<p>Con Đốm hiện diện trong nhà tôi từ ngày ấy ở Trung Chánh Bà Điểm quê tôi…”</p>
<p>Vừa lúc người phục vụ mang ra đầy đủ đồ nghề với “cái trước để uống rượu, sau cũng để…uống rượu”. Thôi thì thượng điền tích thủy, hạ điền khan, gã nhắm món chả chìa trước cái đã. Chỉ cái bình tam xà chẳng con rắn chết tiệt nào nằm trong, gã râm ran tam xà không như tôi…hoang tưởng mà gồm “hổ mang, hổ lửa, hay mai gầm hoặc cạp nong”. Còn ngũ xà gồm ba loại trên thêm hổ hành và hổ hèo. Ấy là rượu rắn <em>Phụng Hiệp</em> ở đất Phong Dinh. Rắn được mổ bụng, bỏ hết, chỉ giữ lại mỡ và mật vì đây là hai vị thuốc trị liệt dương, đau nhức, táo bón và…phong thấp như ông già gã.</p>
<p>Và gã rắn ráo về chuyện chuyện con chó mẹ với…cây xoài:</p>
<p>“…Từ hôm ông già tôi âu yếm ôm con Đốm về nuôi đã gây ra một bầu không khí chộn rộn trong gia đình không ít. Má tôi vốn có tính không ưa chó mèo nên khi thấy vậy bèn hứ cho một câu chí tử &#8220;Cơm không có mà ăn còn đem chi cái ngữ ấy về nuôi, giỏi lắm được năm ba bữa nửa tháng là vô bụng&#8221;. Bà thường nói trổng từ trong nhà vọng ra cốt cho ông già tôi nghe cho bõ tức. Riêng anh em tụi tôi thì đặt nhiều dấu hỏi to tổ chảng là không biết con Đốm con sẽ ăn uống thế nào khi con mắt còn nhắm rít.</p>
<p>Cơn lo lắng của ông già kéo dài mấy ngày trời thì đột nhiên bữa nọ, cả nhà bỗng thấy con chó mẹ không biết từ đâu lòi ra với bộ lông đen ngòm đang nằm xoải mình ra bên cạnh gốc xoài, thò mấy cái vú dài ra cho con Đốm con bú. Thế là vấn nạn trước mắt được giải quyết ngay tức khắc nhưng sau đó ai nấy đều cảm thấy có một cái gì không ổn!&#8230;”.</p>
<p>Nghe đến mỡ và mật vì đây là hai vị thuốc trị liệt dương. Quên khuấy gã là anh nhiêu, anh khóa khủng khẳng về rượu chữa bá bệnh, tôi như mắc bệnh từ ám Hán tự với chữ “y” là thuốc, trong chữ “y” có chữ “tửu” là rượu đứng trước. Tôi hú họa gã bài cao đơn hoàn tán về thuốc rắn: <em>Ai bị phong thấp, ngâm sẵn hổ mang. Ai bị da vàng, tìm rượu hổ lửa. Đàn bà không chửa, chuốc lấy mang bành. Đàn ông hoạt tinh, đừng quên rắn ráo</em>&#8230;.Tôi sơn đông mãi võ rằng con bìm bịp…có võ, nó xà xuống cắp rắn con bay lên cao thả xuống là rắn…chết tươi. Tôi hươu vượn là hai loại kỵ nhau như nước với lửa, lấy liệt hỏa mà khu trừ hàn tà để chữa bệnh…phong thấp. Tôi múa may thêm âm với dương là chân âm toàn thịnh, chân dương hữu khuy…là để chữa bệnh…hoạt tinh.</p>
<p>Gã nhìn tôi bằng nửa con mắt rùa và nhẹ nhàng lất phất rằng bìm bịp là chim rừng nhỏ hơn gà, lông nâu, đầu đen, đuôi dài, kêu…“bịp bịp”. Khi bị gẫy chân, nó tự chữa trị lấy bằng cách đi kiếm lá bìm bìm hình chân vịt hay lá bìm bìm…xẻ ngón về đắp chân.</p>
<p>Gã lắc đầu, ngỡ lắc đầu về con bìm bịp bị gãy chân. Hóa ra không, gã đùm đậu:</p>
<p>“…Không bất ổn sao được khi cả nhà tôi từ ông già cho đến má tôi đều tỏ vẻ ngạc nhiên là không biết tại sao với hơn mươi cây số hương lộ, không ai chỉ đường cho con chó mẹ mà nó tìm ra được căn nhà nơi đứa con của nó bị &#8220;bắt cóc&#8221;. Chẳng lẽ nó đánh hơi mũi tài tình đến như thế? Kế tiếp là nó phải vượt ruộng, vườn, khe rạch mỗi sáng cả đi lẫn về để cho con Đốm con bú, thử hỏi sức người cũng phải tiêu điều huống hồ là súc vật. Thế mới biết cái tình mẫu tử con vật cũng thật là thảm sầu thâm sâu! Sau đó nó chạy ngược về thôn trong. Được mấy ngày, một buổi sáng, anh em tôi ra gốc xoài nhưng không còn thấy bóng dáng con chó mẹ đâu nữa. Người chủ cũ cho hay là nó đã biệt vô âm tín! Chúng tôi biết nó đã thật sự gặp chuyện chẳng lành ở…quán thịt chó đâu đó…”.</p>
<p>Với quán thịt chó, bởi không thông hanh lắm về ông bạn mới này nên tôi mới lòi tói chuyện chó Bắc, chó Nam, rắn chữa bệnh…hoạt tinh. Qua những nao nuốt ấy tôi mới ngớ ra gã là Nam Kỳ miệt vườn, tạng người nhạt hoen hoét như nước lã ao tù. Nhưng cung cách uống rượu rất…nhất cổ nhì quái: gã bày hai cái chén Tống trước mặt. Cái cổ ché có hai cái tai là cái quai. Hai tay gã bưng…hai cái tai lên. Vô tửu bất thành lễ, gã rót cho tôi trước, cho gã sau. Cái chén Tống “ngồi” trước mặt gã. Gã khẽ cúi đầu xuống cái chén hít nhẹ, cung cach trang nghiêm, kính cẩn của một tửu đồ đi tìm vô ưu, vô thường của tửu đạo. Cũng hai tay, gã đưa cái chén ngang miệng, mặt mày tĩnh không, tĩnh lặng. Hốt nhiên gã ngửa cổ ực một cái nhẵn thín như nghi lễ uống trà của trà đạo, của thiền sư. Rồi…</p>
<p>Rồi khà một cái, vẫn khuôn mặt vô ưu, vô minh ngập u u minh minh:</p>
<p>“…Con Đốm con bây giờ lâm vào cảnh mồ côi. Nhà nghèo nên đụng gì ăn nấy, càng ngày càng đèo đẹt nhỏ thó, trong khi các con chó hàng xóm cùng bầy lớn lên phổng phao thấy rõ! Thiếu tình thương của mẹ, Đốm càng ngày càng bị ăn hiếp, càng quắt lại không sao lớn nổi. Không được mẹ liếm láp cho thường xuyên, lưng nó bị đốm ghẻ nhỏ biến thành lác. Tháng ngày qua đi, tụi chó con hàng xóm chúng bắt đầu ăn cháo thêm để bù vào khoản cai bú sữa mẹ. Nhưng  thảm thương cho Đốm chẳng bao giờ nó được bữa no, vì bị lũ đồng loại lớn con đẩy bắn ra ngoài khi Đốm len vào xin ăn. Những lúc ấy nó hận lắm, rít lên trong cổ những điều nguyền rủa, nó thề rằng nó sẽ trả thù…”</p>
<p><strong>       </strong>Nói cho cùng, tôi cũng là thằng mềm môi uống rượu mẻ bát thiên hạ, nhưng thú thực chưa được nếm cái thứ rượu quái quỷ này đây bao giờ. Gã hỏi tôi…đã không? Tôi gật gừ. Và gừ gật tiếp là gã nói chuyện rắn trong lỗ cũng phải bò ra. Gã im ỉm. Lặng im trong trời chiều cô tịch. Chơi vơi trong cảnh chiều, cái đầu tôi bồng bềnh trên sóng nước của con sông trước mặt với <em>trừu đao đoạn thủy, thủy cánh lưu, cử bôi tiêu sầu, sầu cánh sầu</em>…</p>
<p>Gã bê cái ché rót vào chén, vừa rót từ từ gã vừa liu điu tiếp:</p>
<p>“…Sau nhiều ngày, nằm gác mõ buồn hiu suy nghĩ, Đốm bèn &#8220;ngộ&#8221; ra rằng, muốn trả thù thì phải lớn con. Nhưng sữa mẹ không được bú, cháo chó cũng chẳng được ăn, thì ăn gì mà lớn!? Đốm lang thang trong sân, thấy cu Tí em tôi đang làm việc bài tiết, đói bụng quá, Đốm làm liều, làm tới xơi trọn chỗ cu Tí vừa thải ra. Đó là lần đầu tiên Đốm ăn bẩn, người ta bảo cái gì lần đầu cũng khó khăn, còn những lần sau thì quá dễ. Chẳng lẽ chó lại chê cứt, thế là từ đó, Đốm xục sạo khắp nơi, không hẳn là phân người, đến phân gà, phân heo Đốm cũng không từ. Vì ăn bẩn quá, bụng Đốm càng phưỡn ra với cả núi giun sán. Có nhiều ngày Đốm ói ra mật xanh nanh vàng, kinh khiếp không thể chịu nổi…”.</p>
<p><strong>       </strong>Kể đến đây, gã nâng chén rượu làm cái “chóc” như uống nước rau luộc. Rồi gã ”Dà!” một cái rằng <em>kiến </em>trong lỗ cũng phải bò ra vì…<em>rắn</em> không có tai. Mặt tôi như bát tiết canh sũng nước và vểnh tai ra nghe chuyện rắn rết bò vào, cóc nhái nhẩy ra…</p>
<p>Gã nói chuyện như cóc gặm như vày:</p>
<p>“…Thân thể Đốm hôi hám, lông sơ xác bờm xờm, lũ chó hàng xóm càng tránh xa. Mỗi khi Đốm đến bên bà già tôi, nó bị bả xua đuổi dữ dội. Đốm hận đời, hận cả loài người hận cả loài chó&#8230;những mặc cảm thua thiệt từ thuở thiếu thời đi sâu vào tiềm thức nó. Nó quẩn quanh với dự định báo thù, nhưng một mình sức yếu, Đốm chẳng làm gì được ai trong gia đình tôi cả. Mỗi khi ai trong gia tộc Đốm đi ngang qua ả, ả nhe răng trợn mắt ra gầm gừ đe doạ&#8230;ngày tháng trôi qua, mặc cảm cũng đi theo Đốm vào tuổi xuân thì, nó vẫn mơ về một anh chó đực đẹp trai để cùng nhau mơ mộng duyên đầu. Nhưng anh chó đực nào cũng xa lánh vì cái thân thể nhỏ thó gầy gò và hôi hám vô cùng tận của Đốm. Những khát khao xuân tình không được thoả mãn, Đốm càng hận đời đen bạc, hận kẻ bạc tình..”.</p>
<p>Vừa lúc đĩa chả chìa vàng ươm, thơm điếc mũi đưa ra. Chẳng thiếu lá mơ xanh tím, lát riềng thái mỏng trông thật bắt mắt, làm lục phủ ngũ tạng tôi cứ nhiễu nhương cả lên, vì là trông đĩa thịt thấy đẹp một cách…điêu đứng. Tôi thầm nhủ nào có ăn không thì bảo, nhưng nghĩ sao lại thôi, vì dẫu gì gã cũng là khách nhậu của tôi hôm nay thuộc diện chó đen quen ngõ. Cứ như thằng bạn đời tôi tiến cử thì trời nắng chó trắng, trời mưa chó vàng gã làm tuốt luốt. Thảo nào gã chả vội gì, nhón lá húng xanh thao thiết bỏ vào miệng nhóp nhép. Gã nheo mắt ra cái điều trước sau…chó nào chẳng ăn cứt, ốc nào chẳng ăn bùn.</p>
<p>Tôi đang định nói cái lá gã đang ăn ở ngoài Bắc gọi là lá húng chó thì gã đã rì rầm:</p>
<p>“…Ở đầu thôn có một con chó già, đã bị xà mâu lâu năm, nay nó đã yếu lắm, mắt luôn đổ ghèn và đi cà nhắc. Có lần Đốm ghé qua thấy vậy, bèn nhủ lòng là: &#8220;Có lẽ duyên phận mình buộc vào chỗ này đây!&#8221; Và quả như vậy thật, khi có những dấu hiệu của giống cái xuất hiện, Đốm đã đến nằm bên lão chó già kia gạ gẫm dâng hiến. Lão chó già lâu ngày bị bỏ rơi, cô đơn tận cùng, nay của &#8220;giời cho&#8221; nên rất vui mừng đón nhận cảnh giới ấy. Đốm tự dưng mượt mà hẳn ra, còn lão chó già thì dường như trẻ lại, lão thương Đốm vì Đốm đã đến cứu nguy đời sắp tàn phai của lão! Đốm lớn lên và trông &#8220;đẹp gái&#8221; ra trông thấy.</p>
<p>Ông già tôi cưng nó hơn cả tôi với thằng Tý vì khi ông say sưa chỉ có nó làm bầu bạn. Nó quấn quít bên ông như hai cha con, còn tụi tôi phải ngủ với má vì không chịu nổi cái mùi rượu nồng nặc đến chết người. Ác thay một năm ba trăm sáu mươi lăm ngày thì ông say đến hết một nửa, bữa say bữa tỉnh khiến ba mẹ con phải ra bờ rào trải chiếu ngủ mặc cho gió sương, mưa bão hoặc rắn rít, bò cạp đêm hôm có bò tới làm thịt nên cũng đành chịu!&#8230;”</p>
<p><strong>       </strong>Chòm chèm qua “rao” đầu. Gã rót cho cả hai. Bắt chước gã, tôi cũng hai tay thành khẩn bế cái chén Tống ọc một quả ra trò như cụ Phan Thanh Giản uống thuốc độc. Gã hỏi tôi sao cứ uống mà không nói chuyện gi cả. Như gãi đúng chỗ ngứa, tôi ực tiếp cữ thứ ba. Quả có khác, tôi thấy cái say lừ đừ từ chân tóc bò xuống tận gót chân. Xong, mượn dịp này tôi ư hử nho nhe: <em>tửu phùng tri kỷ thiên bôi tửu, thoại bất đầu cơ, bán cú đa </em>ra cái điều gặp bạn như gã rượu uống bao nhiêu cũng thiếu và nếu tôi có nói nửa câu cũng là nhiều. Sợ gã hiểu ra là <em>túy ông chi y bất tại tửu</em>, tôi nói chữa <em>tửu vô lượng, bất cập loạn.</em></p>
<p>Mà gã hiểu lầm thật, ngỡ tôi nhắc khéo là …hết rượu, gã ới thêm cái <em>Cửu xà nhất điểu</em>. Mắt tôi tròn dấu hỏi vì bộ rắn chùa hay sao mà nhiều quá thể, lại thêm chín con nữa. Gã bâng quơ rằng cứ bỏ ba con của thập nhị xà là xong ngay.</p>
<p>Tiếp, gã rắn rết như thế này đây:</p>
<p>“…Một năm, ruộng lúa bị mất mùa, chẳng ai gặt hái được gì nên cái nghề sửa xe đạp trong làng của ông già tôi cũng sa sút theo, ít ai còn muốn sửa xe đổi lúa nữa. Ông già tôi phải chịu đựng bữa đói bữa no, có lúc ăn cháo thay cơm, có lúc ăn rau thay cháo. Cuộc đời của con Đốm cũng thăng trầm theo cái vận mạt của chủ nhưng không bao giờ thấy nó thở than. Ngược lại ông già tôi dù đói cách mấy vẫn không có ý nghĩ làm thịt con Đốm mặc dù nó đã lên hai tuổi và dư đủ cho ông già tôi có một tuần xẻ thịt nhắm rượu. Đủ để biết cái tình thương ông là dường nào, có khi ông còn nhịn đói chừa cơm cho nó ăn nữa là khác!&#8230;”</p>
<p>Gã ngừng kể lể…Tôi thấp thỏm đợi vì cứ ngỡ khi gã kể lể đến khúc “dư đủ cho ông già tôi có một tuần xẻ thịt nhắm rượu“ thì thể nào gã cũng làm vài miếng chả chìa vàng ươm, đang ngậy thơm điếc mũi. Thế nhưng không, gã nhẹ nhàng nhấc chén cửu xà nhất điểu lên với một phong thái rất ư Lão Trang: Khoan thai xoay xoay cái chén, đưa lên từ từ và cúi đầu xuống nhẹ hít hà…Đợi hơi rượu lởn vởn, thảnh thơi chui tọt vào lục phủ ngũ tạng, tim gan tì phế rồi điềm đạm từng ngụm nhỏ. Mép khẽ nhếch mép câu nho phong: <em>tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu.</em> Gã thong thả đưa cái chén xuống. Cùng lúc mồi điếu thuốc, lờ đờ nhả khói và “Dà!” với tôi là “<em>thiên bôi thiểu</em>” chứ chẳng là “<em>thiên bôi tửu</em>”. Sau đấy, khoan thai đưa cái chén Tống lên ngang miệng và cũng từng động tác chậm chạp ấy, không thừa không thiếu. Gã uống lặng lờ như một cái bóng, càng uống càng tỉnh, mặt không hề đổi sắc. Gã vật vờ uống, càng về chiều, hình như càng đắm chìm trong khói thuốc lá dầy đặc…</p>
<p>Làm như gặp buổi mưa chiều gió sớm, gã mặn chuyện tiếp:</p>
<p>“…Nhưng với thời gian, tính Đốm càng ngày càng hung hãn, nhất là khi nó thai nghén và sắp sửa ở cữ, nó cắn răng nguyền rủa lão chó già vô cùng độc địa. Với tính khí thất thường của Đốm, lão cũng không chịu nổi, mấy lần lão tính bỏ đi, nhưng nghĩ tình xưa nghĩa cũ nên ráng cắn răng chịu đựng. Đốm dù bụng mang dạ chửa, song vẫn thúc lão chó già gây hấn củng bạn bè gần xa của Đốm. Con Khoang là kẻ đã từng bị vợ chồng Đốm bề hội đồng cắn gẫy chân, toạc cổ, may mà có cu Tý cứu kịp. Bầy chó hàng xóm kiềng mặt vợ chồng Đốm, không muốn nhận vào làng chó, vì chúng đi đến đâu là nơi đó có chiến tranh!…”</p>
<p>Nghe gã kể lể “ông già tôi dù đói cách mấy vẫn không có ý nghĩ làm thịt con Đốm”<em>,</em> chả là tôi là thằng ăn thịt chó lờn môi với mưa nắng làng nhàng chó nào cũng được. Vừa lúc nhà hàng bầy lên đĩa sườn nướng từng miếng bằng ngón tay, vừa nạc vừa mỡ, thịt như còn xèo xèo cháy chín vàng như nghệ, mỡ giỏ xuống bốc khói thơm điếc mũi. Ấy vậy mà gã cũng chưa chịu đụng bát đụng đũa cho. Gã thả rong chuyện chó cũng sân, si này kia. Tôi trộm  nghĩ quấn rằng gã chỉ là tên uống rượu bát nháo, rượu vào lời ra rồi bốc nhằng cho sướng miệng thế thôi và gã vén môi chuyện ghen tương của chó mới ngược đời…</p>
<p>Tôi đành bấm bụng ngồi đợi gã…nhai cho xong chuyện.</p>
<p>”…Một bạn gái của Khoang, Mực là một mụ chó nạ dòng thì nghĩ khác, mụ cũng đã từng bị Đốm đuổi theo cắn một lần vào mông nên mụ hận Đốm lắm, mụ rắp tâm triệt hạ Đốm cho bằng được. Chuyện trớ trêu là lão chó già kia có thời là…”người” tình của mụ Mực, mụ bèn dùng mưu &#8220;rút củi đáy nồi&#8221;, nên tìm cách đến gần lão chó già khi có thể được. Ngày kia, lão chó già cãi vã với Đốm bỏ ra ngoài xóm rong chơi, được thể Mực bèn làm quen và quyến rũ lão. Lão mừng rỡ theo Mực. Sau cơn giận, Đốm tức tưởi đi tìm chồng, thì than ôi &#8220;kim rơi đáy bể biết tìm nơi đâu?&#8221;, Đốm chạy lồng lộn đầu sân cuối xóm, bày chó làng nhìn Đốm như con chó biết ghen tương với cặp mắt long sòng sọc, rãi rớt chảy hai bên khóe miệng.</p>
<p>Cái cảnh đầm ấm giả tạo giữa vật như người này kéo dài hơn hai năm. Một bữa nọ sư cụ chùa làng cách nhà tôi dăm cây số quá bộ đến thăm, thấy con Đốm xơ xác bèn đem lòng trắc ẩn muốn xin về nuôi. Tôi nghĩ con Đốm được ở giữa cảnh chùa thanh tịch, nhưng đầy ắp tình thương của sư cụ, cũng như được chăm sóc cơm nước no đủ mỗi ngày, con Đốm thế nào cũng được hưởng một cuộc sống ngon lành, thế nhưng ông già tôi không chịu…”.</p>
<p>Tôi nhấp nhổm định gắp một miếng thịt nướng thơm nhẫy trước mặt, kèm theo lá mơ chấm với mắm tôm chanh đường vừa chua vừa mặn, thì giời đất ạ, thì ngon quên chết. Vậy mà gã vẫn nhịn như nhịn cơm sống, vẫn chưa chịu khua đũa khua chén cho, hay là vì lá mơ trong Nam gọi là lá thúi địt nên gã thấy…thối inh. Tôi đang bối rối như sư đẻ với tiếng Bắc, tiếng Nam thì gã nhấc chén lên và quắn quả rằng chuyện con chó nhà tôi…“ăn chay” nào có hay hớm bằng chuyện con chó ở chùa của ông già gã qua Tết Mậu Thân:</p>
<p>Úi chà gay đây! Thế là tôi căng tai ra mặc sức mà nghe:</p>
<p>“…Sau Tết Mậu Thân, giặc cộng tràn về làng và đánh nhau với quân đội quốc gia. Chòm xóm cho hay con Đốm bị đạn lạc nằm sau gốc cây xoài, khi cả nhà đi di tản xuống Sài Gòn. Cuối cùng nó lết ra bờ sông, hơi nước bốc lên khiến Đốm hồi tỉnh lại, nó nằm rên lên những tiếng bi ai, cuộc đời của nó như khúc phim quay qua đầu, nó oán hận loài người đã đẩy nó vào bước đường làm ma không chồng. Nhưng nó chỉ bị thương và cái thai bị hư được đẩy ra ngoài. Nó ứa nước mắt nhìn dòng sông, dòng đời lững lờ trôi qua mõm nó.</p>
<p>Chợt có tiếng bước chân rất nhẹ đi đến bên Đốm, nó thấy một người mặc áo nâu nhìn Đốm, và ẵm nó lên. Lần đầu tiên trong đời Đốm thấy có cảm giác không phải hận thù, mà là ấm áp trong lòng! Đốm không biết cảm giác gì! Vì cả đời nó chưa biết thương yêu bao giờ đâu? Người ẵm Đốm không ai ngoài sư cụ chùa làng, sư cụ mang Đốm về Tự Viện. Sư cụ tự tay mổ vết thương và gắp đạn ra cho Đốm và băng bó khâu lại vết thương cẩn thận…”.</p>
<p>Đảo mắt ra ngoài bờ sông, trời lắc rắc mưa, mưa lâm thâm…Tôi ung dung tang thương ngẫu lục với những lát thịt cháy vàng mỏng, cắt xéo như miếng chuối xanh, ngào ngạt thơm phức. Thấy cả nạc, mỡ, sụn, gắn bó với nhau như…cụ Nguyễn Du với “Hành lạc từ” <em>Tội gì ngàn năm lo &#8211; Có chó cứ làm thịt &#8211; Có rượu cứ nghiêng bầu &#8211; Được thua trên đời chưa dễ biết</em>. Thế là tôi ực thêm chén nữa, thấy ngất ngây trong khoảnh khắc của tang bồng hồ thỉ. Gã thì không, khuôn mặt trầm ngâm được mô tả là “rất tâm trạng”. Rồi gã làm một hớp hết nhẵn <em>ba vạn thế giới một đáy cốc, vạn kiếp luân hồi một sát na.</em></p>
<p><em> </em><em>    </em>  Xong, gã gọ gạy chuyện con Đốm nấp bóng thiền môn:</p>
<p>“…Mười ngày sau Đốm khỏi, nhờ tâm từ bi của sư cụ. Nó chẳng còn chỗ nào để về, nên ở lại chùa, hàng ngày sư cụ ăn gì nó ăn nấy…Kể từ khi con Đốm bị đổi chủ ông già tôi lại đâm ra mắc bệnh tương tư. Không phải ông tương tư người đẹp nào trong thôn để thay má tôi vì chẳng ai thèm để ý đến ông già say, mà thật ra là ông tương tư con chó. Ông không là một nhà tu nhưng y hệt một nhà tu, thường ngồi xếp bằng trông như…”thiền”. Có khi tụi tôi thấy ông khóc một mình, không biết vì ông nghĩ ngợi cái tình cảnh dở khóc dở cười của gia đình hay vì ông quá thương con chó. Một lần ông nói &#8220;Phải chi tao còn con Đốm, tao sẽ đỡ buồn hơn&#8221;. Từ đó ông sinh ra cái tật đi câu cá để giải sầu. Mỗi lần ông xách cái cần với cái giỏ đi câu là tự nhiên ông thơ thới hân hoan mặc dù có lúc về với cái giỏ không. Tụi tôi ban đầu lấy làm lạ nhưng sau đó hỏi ra mới biết ông đã gặp được…con Đốm…”.</p>
<p><em> </em>       Nghe đến câu…<em>ngồi xếp bằng trông như…”thiền”</em> , tôi rọ rạy rằng gã kế chuyện cứ như…vẽ rắn thêm chân ấy. Gã khựng lại và lơ đãng nhấp một ngụm nhỏ. Tôi cũng vừa định chấm miếng thịt nướng vào bát mắm tôm ngập ớt đỏ…Chưa cầm cái đũa lên nhét miếng thịt vào kẽ răng ba ngày vẫn còn thơm thì…</p>
<p>Thì gã eo óc chuyện con Đốm về chùa:</p>
<p>“…Số là con Đốm từ ngày về ở với sư cụ, nó quen với cảnh chùa nên không về lại nhà tôi nữa. Ông già tôi tìm cách đi câu bên dòng sông phía sau chùa để có cớ nhìn mặt được con Đốm. Con Đốm quyến luyến chủ cũ nên quấn quít bên ông gìa tôi, nó hôn, nó liếm, nó nhảy phóc vào lòng ông già như đứa bé con tìm vú mẹ. Thế là ông già tôi tự nhiên tìm lại được niềm vui. Ban đầu, mỗi lần đi câu ông thường về nhà sớm nhưng về sau ông ở lại câu khuya hơn, nhất là những đêm trăng thanh gió mát, với bầu rượu bên cạnh và con chó cưng, ông thấy đời không còn gì đẹp bằng. Ngồi thỉnh thoảng móc mồi câu, quăng cái tủm xuống nước, đàn cá đua nhau giựt giựt cái phao, lúc nổi lúc chìm, con Đốm phụ họa nhảy lởn vởn, sủa cá sủa trăng, trông cả hai chẳng khác nào đôi bạn thân tình nhất.</p>
<p>Lúc đầu con Đốm sợ sư cụ nên chỉ tìm cách trốn ra bờ sông mỗi chiều rồi lại trở về chùa. Sau đó nó bạo gan hơn, mon men theo ông già tôi về đến tận nhà, chơi qua loa với tụi tôi chừng nửa tiếng đồng hồ rồi quay về. Mấy ngày sau đó, nó bất kể sư cụ với cơm lành canh ngọt ở chùa, về nhà tôi ở luôn. Báo hại sư cụ mỏi mắt đi tìm mới gặp nó. Nhìn thấy sư cụ, nó có vẻ thẹn thùng cúi gầm mặt xuống, chẳng tỏ vẻ gì mừng rỡ cả. Về sau ông già tôi thấy áy náy nên đành phải mang con Đốm trả lại chùa. Sư cụ vui vẻ nhận, nhưng mấy chú tiểu muốn cho chắc ăn nên xích con Đốm lại để canh chừng ở một góc bếp, sát bên cây thị quanh năm nở hoa trái vàng óng thơm lừng…”.</p>
<p><em> </em>       Mưa chẳng qua ngọ, gió chẳng qua mùi, cũng đến lúc gã thò tay vào đĩa mồi, chép miệng “Dà!’ là… Tàu kêu nó hoạ xà thiêm túc là <em>vẽ rắn thêm chân</em>, còn Ta…vẽ rết thêm chân. Nhưng mắt còn bận bịu theo ngón tay gã nhúm…cái lá mơ và để đó…</p>
<p>Tay lất phất cái lá thúi địt như đuổi…ruồi, gã tung tẩy:</p>
<p>“…Con Đốm không được về thăm nhà nữa. Ông già tôi ngày càng già, không đi câu xa ở bờ sông nên không còn gặp nó. Có thể vì bị giam lỏng nơi cảnh chùa u tịch nên nó chẳng thể nào về, có thể nó biết thân phận nó là của chùa nên chẳng dám làm phiền ai. Cũng có thể nó đã già như ông già tôi và chết rồi không chừng. Riêng anh em tôi bây giờ tôi đi học ở Sài Gòn, em tôi đi lính, ít có dịp về lại quê xưa chỉ trừ khi Tết nhất đến, nên chẳng để ý gì chuyện con Đốm nữa. Một trang tình sử tưởng đến đây đã hết, nào ngờ&#8230;</p>
<p>Xuân năm ấy, đúng mồng một Tết, trong lúc anh em tôi đang quây quần trong nhà đón xuân lúc đất trời vừa ửng nắng mai, bỗng nhiên con Đốm già từ đâu tung cổng vườn khép kín đi vào ngoe nguẩy đuôi mừng rỡ. Vẫn bộ lông mềm mại nhưng không dấu nổi màu sắc tàn phai vì mưa nắng. Gương mặt con Đốm tuy vẫn còn khuất trong đám lông rậm rịt nhưng vẫn không che kín được lớp da nhăn, nhất là ánh mắt không còn tinh anh như ngày trước nữa. Ông già bà già tôi bảo nó xông cửa đầu năm chắc là may mắn. Cả nhà ngạc nhiên vì không ngờ nó chọn đúng ngày mồng một Tết mà về sau hơn mấy năm xa vắng…”.</p>
<p><em> </em>       Đêm khuya thoi thóp, khách lèo hèo vắng dần. Cạn lưng chén, đầu tôi như bốc khói. Khi bốc lên rồi tôi thường để hồn đi hoang phiêu phiêu một cõi. Quán vắng nên trống trải, nhìn xuống chén Tống chỉ còn một nửa, lắc lắc cái chén, rượu óng ánh như sương khói. Trống vắng đến se lòng, ai chẳng có những giây phút lướt khướt, liêu xiêu…, tôi cảm hoài, cảm khái với gã <em>viễn ly vô lượng kiếp, bất xích nhất sát na</em>, và ngứa mồm giảng cho ông đồ nát chữ là bằng hữu dù xa cách nhưng thật gần. Gã cũng đăm đăm với cái chén, tay xoay xoay. Làm như muốn tránh né cái cảnh <em>tương kiến thời nan biệt diệc nan</em>, là gặp nhau đã khó, giã biệt nhau còn khó hơn…</p>
<p>Tiếp đến gã dón chuyện…</p>
<p>“…Tôi ôm con Đốm già vào lòng vuốt ve, và qua nó, biết được cuộc đời đã đổi thay nhiều lắm. Nó ở nhà tôi chơi hết một ngày mùng một Tết rồi lại trở về chùa suốt năm ở đó. Xuân năm sau, anh em tôi bị kẹt không về thăm nhà được. Bà già tôi cho hay mồng một Tết, con Đốm lại xông cửa về thăm chủ cũ thêm một lần nữa. Tôi thấy lòng bâng quơ rung động, tự nghĩ như con Đốm có mối liên hệ tiền kiếp nào với gia đình tôi, sao không nó cứ đợi đến ngày mồng một Tết lại về? Ông già tôi ngày càng già, bệnh tật liên miên vì chứng xơ gan do rượu hoành hành nên lúc nào cũng tưởng nhớ đến con Đốm. Con thú già bí ẩn, mỗi năm chỉ gặp mặt nó có một lần vào ngày Tết.</p>
<p>Nghe nói hàng đêm con Đốm nằm nghe sư cụ tụng kinh Địa Tạng, Lăng Nghiêm, Pháp Hoa. Lời kinh như thấm vào trong não tuỷ của nó, những mặc cảm của nó từ xưa dường như tiêu tan hết. Đốm say tiếng kinh, mê ngửi mùi hương trầm thoảng nhẹ trong gió. Đốm thường nằm sấp trên đất, hai chân trước chấp lại đưa ra trước mõm như người ta lạy Phật. Khách lễ chùa đồn nhau về con chó nghe kinh, một đồn mười, mười đồn trăm, chẳng mấy chốc cả vùng Trung Chánh, Bà Điểm đều biết chuyện, biết tên Đốm!</p>
<p><em> </em>       Làm như con heo phải đèo khúc chuối nên tôi cứ há hốc mồm ra nghe. Trong khi gã bình thản đưa cọng lá mơ vào miệng nhay nhay. Gã hớp thêm ngụm rượu như cá riếc tớp bong bóng nước. Tôi trộm nghĩ phong cách gã uống rượu đúng là một thiền nhân, đưa nho ẩm như một cái thú tiêu daọ của trà đạo vào tửu đạo. Lúc trầm mặc khi hào sảng tửu trản với <em>bồ đoàn linh nhân dã</em>, hay tửu uyển với <em>tửu linh nhân viễn</em>.</p>
<p>Trong khi ấy mặt gã như nước ao tù và quá đọa:</p>
<p>“… Cho đến một đêm, Đốm nằm mơ thấy có tiềng nói với nó rằng: &#8220;Nghiệp làm chó của ngươi đã trả hết rồi, mai ngươi xả bỏ thân súc sanh để hoá kiếp làm con người. Khi làm người ngươi phải tiếp tục tu hành, đừng ăn càn nói bậy gây nên khẩu nghiệp. Vì kiếp trước ngươi gây nghiệp quá nhiều nên kiếp này quá nhiều khổ ải! Nhưng nhờ có được sư cụ trụ trì tụng kinh rồi hồi hướng cho ngươi, nên nay ngươi hết nghiệp chó rồi!&#8221;.</p>
<p>Sáng hôm sau, mọi người thấy con Đốm nằm chết ở trước bàn Phật thật thanh thản! Mộ của con Đốm được người làng đắp ngay tại vườn nhà chùa với hàng chữ trên bia: &#8220;Văn Kinh Đốm Khuyển Chi Mộ&#8221;, nghĩa là “Mộ con chó Đốm biết nghe kinh”.</p>
<p>Năm sau, ông già tôi cũng theo nó về suối vàng! Anh em tôi mồ côi cha kể từ dạo đó….”</p>
<p><em> </em>       Khi không bụng dạ tôi cứ lây dây thiếu vắng giấc hương quan luống mẫn canh dài với…sườn chó nướng hay chả chìa thì sướng mê tơi ngay. Chả nhẽ nhong nhóng ngồi ăn một mình, tôi đợi gã cầm đũa…Trong khi chờ đợi, tôi định ngâm nga <em>bằng hữu thôi thà như mưa bay, thì chuốc cho vơi chén rượu đầy</em>…Nhưng nghĩ lại chưa đủ thân nên quẳng hai câu thơ trong đầu ấy đi và định hỏi gã một câu hỏi thì…thì cũng vừa lúc gã cạn chén và cầm đũa lên gõ nhè nhẹ vào cái bát không và thở ra…</p>
<p>Gã thở ra “Dà!” như một tiếng dài: Kể từ ngày ấy, gã không…</p>
<p>***</p>
<p>Cũng đến lúc phải tương kiến thời nan biệt diệc nan. Ra đến cửa, trời lắc rắc mưa, cả hai chụm đầu vào nhau đốt thêm điếu thuốc. Que diêm lóe lên. Thôi thì cũng một lần nón lá áo tơi ra quán chợ, chén rượu men lành, lạnh ngón tay&#8230;Lửa tắt…ánh sáng tắt ngúm. Quán xá vắng tanh vắng ngắt, gió máy heo hút ngoài sông gây gây lạnh. Búng que diêm xuống mặt nước, mưa lâm thâm…Trong mưa bụi, đầu óc tôi cứ rỗng rễnh thế nào ấy!</p>
<p><strong> Thạch trúc gia trang                                                                                          </strong></p>
<p><strong>    Ngộ Không Phí Ngọc Hùng</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em><strong>Ghi chú</strong>: Bài viết vay mượn từ những tác giả</em></p>
<p><em>               Nguyễn Sĩ Nam, Nga Mi, Mường Giang,</em></p>
<p><em>               Vũ Khắc Khoan, và Phan Tấn Hải.</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>©T.Vấn 2019</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ngo-khong-ngoi-o-quan-nhau/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Không: Thổ ngơi ký sự    </title>
		<link>https://t-van.net/ngo-khong-tho-ngoi-ky-su/</link>
					<comments>https://t-van.net/ngo-khong-tho-ngoi-ky-su/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 07 Feb 2019 07:00:17 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=38482</guid>

					<description><![CDATA[           Ảnh (Lưu Na)  Tạp bút được vụng câu vụng chữ khươm mươi niên trước trong tâm thái vong gia thất thổ, tôi như xẩm tìm gậy tìm về đất quê với hương ước, thần phả này nọ. Một ngày, bạn cũ trường xưa tếu táo hãy mọt sách ăn giấy [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;">     <a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/02/15.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-38483" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/02/15-200x300.jpg?strip=all" alt="" width="200" height="300" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/02/15-200x300.jpg?strip=all 200w, https://cdn.t-van.net/2019/02/15-768x1152.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2019/02/15-683x1024.jpg 683w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/02/15.jpg?strip=all 800w" sizes="(max-width: 200px) 100vw, 200px" /></a></p>
<p style="text-align: center;">     <em>Ảnh (Lưu Na)</em></p>
<p> Tạp bút được vụng câu vụng chữ khươm mươi niên trước trong tâm thái vong gia thất thổ, tôi như xẩm tìm gậy tìm về đất quê với hương ước, thần <em>phả này nọ</em>. Một ngày, bạn cũ trường xưa tếu táo hãy mọt sách ăn giấy về làng Kẻ Noi của bạn.</p>
<p>Bởi lạ thung lạ thổ, tôi lang thang như thần hoàng làng khó trên mạng lưới vì chả hay biết Kẻ Noi ở đâu? Cuối cùng bòn gio đãi sạn được một đọan…</p>
<p>Ở Hà Đông có làng chữ Nôm là Kẻ Noi, chữ Nho là Cổ Nhuế tục truyền rằng:</p>
<p>Vào thời Lý, Đông Chinh Vương đi đánh giặc ghé qua làng được tiếp đón nồng hậu. Trước khi ra trận, già làng hỏi nếu Vương “bãi sa tràng thịt nát xương tan” hãy cho làng lập đền thờ. Vương không thuận, vì thấy đất đai làng ở vùng đầm lầy lội ngòi <em>noi </em>nước không canh tác được nên phải lấy phân về ủ cho hoai để bón ruộng vườn.</p>
<p>Từ đầm lầy “lội ngòi <em>noi </em>nước”, với “noi” là “lần theo” vì vậy có tên Kẻ <em>Noi</em>. Từ gánh phân, dân gian có câu  “Đào Nhật Tân, phân Cổ Nhuế” nói về nghề này.</p>
<p>Năm 1469, vua Lê Thánh Tông vi hành tới Hà Đông thăm miếu thần hoàng thờ quang gánh và đôi đũa cả gắp phân. Vua ta ban câu đối chữ Hán cho làng “Thân trụ nhất nhung y, năng đảm thế gian đa năng sự &#8211; Thủ trì tam xích kiếm, tận thu thiên hạ trí nhân tâm” với nghĩa Nôm ”Khóac tấm áo bào, giang tay gánh vác thiên hạ &#8211; Vung ba thước kiếm, tận thu lòng dạ thế gian”.</p>
<p>Ngày đó mới chân ướt chân ráo trong chốn làng văn xóm chữ nên ngộ chữ tôi vung tán tàn về thần hoàng bản thổ Kẻ Noi của bạn. Thảng như biểu tượng thần hòang là cặp xương trâu dài ngoằng để gắp phân ngự trong miếu thổ thần. Còn bản thổ Kẻ Noi nằm ở thế đất “hoàng xà thính cáp” tức rắn vàng rình con cóc.</p>
<p>Qua máy vi tính có đọan khác về nghề hót phân, vì “hàng” độc nên hặm hụi đưa vào bài viết..Làng đầm lầy, muỗi bay như rắc trấu nên đâu canh tác được. Lão làng quảy gánh, trong thúng có đồ nghề gắp phân bằng cật tre gộc. Thúng kia có con dao, cuộn giây gai, bình vôi để dịt vết thương, ấy bởi nghèo túng quá nên lão làng làm thêm <em>nghề hoạn lợn</em>. Cùng hót phân như Kẻ Noi, làng Phương Lưu, Hải Phòng có người làm <em>nghề đạo chích</em>. Tên đạo chích khoét vách vào nhà người ta khoắng một mẻ để ăn têt. Vì tháng củ mật, gia chủ hờm sẵn cái cày phập xuống ngọt lịm. Vì chết vào giờ linh nên được làng rước vào đình thờ là…thần hoàng ăn trộm.</p>
<p>Từ ông “đương cảnh thần hòang thượng đẳng thần”…ăn trộm, ngộ chữ tôi mót chữ són câu tục thờ “thành hoàng” có từ đời Tam Quốc. <em>Thành hoàng</em> với từ<em> </em><em>thành</em> chỉ thành quách, <em>hoàn</em><em>g</em> là cái hào bao quanh ghép lại là “thành hoàng” chỉ vị thần coi giữ cái thành. Vì vậy thành hoàng gốc gác ở bên Tàu. Ở bên Ta việc thờ “thần hoàng” được ghi chép khi vua Lý Thái Tổ dời đô, mộng thấy một cụ đầu bạc phảng phất trước bệ rồng&#8230;Sau khi hỏi rõ lai lịch là “thần” sông Tô Lịch, vua phong làm Quốc đô Thăng Long <em>thần hoàng</em>. Nay thần hòang…làng Hà Nội ở ngôi đền số 76 phố Hàng Buồm.</p>
<p>Vì Kẻ Noi nên mắc nợ với chữ “kẻ”, ngộ chữ tôi ăn mày chữ nghĩa thêm…</p>
<p>Người Việt cổ sống nhờ nghề nông rồi đưa nông phẩm đến mảnh đất trống để trao đổi, tiếng Hán “kỳ” là <em>mảnh đất</em>, ta đọc trại là “kẻ”, sau là <em>làng</em>. Có làng có <em>chợ</em>, cuối đời Trần, ngọai thành Thăng Long có nhiều làng bao quanh được gọi tên “Kẻ Chợ” để phân biệt Kẻ Sặt, Kẻ Lủ ở vùng quê…Đất quê chợ búa ở đầu làng, chợ hàm ý gần đó có chùa, <em>chợ búa</em> không có chùa, không phải đóng thuế chợ.</p>
<p>Xong, đưa bài viết “có trọng lượng” để bạn cưỡi ngựa xem hoa: Vừa thấy tựa đề (xem tr 8), cứ như đùa, bạn nhăn răng nói lộn, quê không phải Kẻ Noi mà là…<em>Kẻ Nứa. </em>Mặt tôi nhăn quéo lại không biết hết “kẻ” này đến “kẻ” kia, còn “kẻ” nào nữa chăng?</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>***</p>
<p>Ngày bạn về thiên cổ, ngộ chữ tôi cong lưng gò gẫm viết về bạn với thú chơi đồ cổ có câu: “Quái thật! Làng mình tên gì chả hay thì khỉ thật! Hay bạn nỡm mình cũng nên?”. Trong bài viết ngộ chữ tôi rối như canh hẹ hết Kẻ Noi ở Hà Đông đến <em>Kẻ Nứa ở Sơn Tây</em> xa tít mù. Nhưng hãy để đấy tính sau. Bài gửi đi ngỡ biến mất tiêu!</p>
<p>Bỗng nhận được điện thư của cô Chân Phương rách giời rơi xuống:</p>
<p>(…) Xin cảm ơn vì chú gửi bài viết về tình bạn qua bạn bè giữa chú và chú Thiệp qua bao nhiêu năm đã dành cho nhau. Cảm động lắm khi biết được các chú từng chia sẻ và nhường &#8220;đồ chơi (đồ cổ)&#8221; quý giá của mình cho nhau. Cháu đọc được sự gần gũi trong văn phong và bút pháp của chú và chú Thiệp như có nhiều điều hòa quyện lẫn nhau trong tính cách của các chú. Cháu không khỏi bật cười thành tiếng khi chú thuật lại câu chuyện chú Thiệp giả ngây, giả ngô: Ban đầu xưng tên làng mình là Kẻ Noi, nhưng sau đó lại chối phăng như không biết tên Nôm của làng mình vì giai thoại nổi tiếng không được thơm tho của làng Cổ Nhuế…(…)</p>
<p>Hoá ra cô Chân Phương là cô cháu của bạn…Trước kia tôi bụng bảo dạ “còn <em>kẻ </em>nào nữa không?”. Nay mặt tôi căng như mặt trống, bởi nhẽ…</p>
<p>(…) Cháu xin được trích lại một phần ghi chép của bố cháu (bố cháu lấy bút hiệu là Minh Văn) để lại về các làng Chi Quan (<em>Kẻ Săn</em>, bên nội của chú Thiệp), Đụn Dương (Kẻ Đụn, bên ngoại của chú Thiệp và bố cháu) (…)</p>
<p>Đến tao đoạn này, tôi ngớ ra: Một là làng của bạn ta là…”Kẻ Săn”. Hai là bố con cô đều một lò nhà văn, cô có bút hiệu Chân Phương, tên cúng cơm: Đỗ T. Tú.</p>
<p>(…) <em>Lịch sử chưa bao giờ Kẻ Noi được sát nhập như một phần của tỉnh Sơn Tây</em>. Vì thế, nhận làng mình là Kẻ Noi, ắt chú Thiệp đã đọc qua giai thoại Ba Giai Tú Xuất,&#8230;để mà phá chú đấy! Quê chú Thiệp ở Thạch Thất, Sơn Tây. (…)</p>
<p>Ngộ chữ tôi bèn lấy ngắn nuôi dài qua địa dư chí thời Lý…</p>
<p>Theo Lê Quý Đôn, năm 1172 đời Lý Anh Tông đã có quyển <em>Nam Bắc phiên giới địa đồ</em>. Như vậy sách địa lý đã xuất hiện ở nước ta từ đời nhà Lý. Vào thời này, <em>Kẻ Noi nằm trong đất Từ Liêm trấn Sơn Tâ</em>y. Thời Nguyễn, Hà Đông nguyên là <em>làng Cầu Đơ, thuộc huyện </em><em><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Thanh_Oai">Thanh Oai</a>, Sơn Tây</em>, Năm 1832, Minh Mạng sát nhập Từ Liêm vào Hà Đông (xem Sơn Tây, tr 3), vì vậy từ <em>thời Minh Mạng, Kẻ Noi thuộc Hà Đông</em></p>
<p>Qua các nhà biên khảo: Minh Mạng đặt tên Hà Đông dựa vào sách Mạnh Tử (Thiên Lương Huệ Vương) từ địa danh ở bên Tàu có Hà Nội, Hà Đông, Sơn Tây, Hà Nam, Hà Bắc&#8230; Theo tôi Lê Thánh Tông đặt tên địa danh theo đông, tây, nam, bắc nên Minh Mạng không có lý sự gì đặt tên làng Đơ ở phía <em>tây</em> Hà Nội với tên Hà <em>Đông</em>. Thêm nữa, tên <em>Hà Đông là tên một huyện thuộc tỉnh Quảng Na. </em>(nay là <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tam_K%E1%BB%B3">Tam Kỳ</a>).</p>
<p>Hà Đông nào khác gì chuyện đất đai <em>Hà Nội</em> rối rắm như vày:</p>
<p>“Tỉnh” Hà Nội được thành lập tháng 10 năm 1831 với cuộc cải cách hành chính theo nhà Thanh của Minh Mạng. Thời Pháp, <em>tỉnh Hà Nội</em> (tỉnh bảo hộ &#8211; để khác biệt với Nam Kỳ) là địa bàn của <em>thành phố Hà Nội</em> (đất nhượng địa – xem Đồng Khánh tr 3). Ngày 26-12-1896, người Pháp chuyển <em>tỉnh Hà Nội</em> về <em>làng Cầu Đơ</em>. Ngày 3-5-1902, họ tách <em>thành phố Hà Nôi</em> ra khỏi<em> tỉnh Hà Nội</em> và để tránh trùng tên, người Pháp đổi tên tỉnh Hà Nội thành <em>tỉnh Cầu Đơ</em>. Năm 1904, họ đổi tỉnh Cầu Đơ là <em>tỉnh Hà Đông</em>.</p>
<p>Ngộ chữ tôi đang rối tinh với Hà Nội là…Hà Đông, chợt nhớ cô nói quê chú cô ở Kẻ Sắn…Bèn bật ra ý nghĩ  “gà cỏ trở mỏ về rừng”, đưa cô về lại bản lai cố quận.</p>
<p>Tức thì một già, một trẻ bay về Hà Nội, hai chú cháu thuê chiếc “xe con”. Tôi nói với “lái xe” đi Sơn Tây. Lái xe…lái xe tới ngay chóc…phố Sơn Tây (tên Tây là phố Mehl). Chạy thêm khúc nữa Sơn Tây đổi tên thành phố Kim Mã. Ngừng lại ở ngã ba Sơn Tây &#8211; Kim Mã và Nguyễn Thái Học, lái xe chỉ trỏ: Bên này là <em>nhà hát cô đầu Kim Mã</em> (xem tr 6), bên kia là bến xe ca Kim Mã. Ngồi trong xe tôi búi bấn đi xe ca chăng vì chắc mẩm cứ đi ngược phố Sơn Tây là tới…Sơn Tây. Tôi vun chuyện với lái xe rằng anh em cải tao trong Nam ở Hàm Tân khi ra trại…”nghe nói” có người như Từ Thức về trần vị được đi “xe than”. Còn ở ngòai Bắc là nhất vì với 4000 năm văn hiến, anh em cải tao được ngồi xe trâu nhưng ít ai được cưỡi xe bò. Nghe tội quá, lái xe…lái xe thêm một đọan nữa có bến xe Chuồng Bò. Lái xe xắng xả bến xe Chuồng Bò có ba hãng xe ca Mỹ Lâm, Chí Thành, Cư Dương…chạy bằng than. Tôi chưa kịp ú ớ, cô cháu nhà văn lụng bụng rằng cả đời chưa bao giờ ngồi xe lửa đốt than hay là …là bây giờ hai chú cháu đi xe than để mai này viết <em>Thổ ngơi ký sự</em> cho…bốc khói.</p>
<p>Rất thật, cả đời tôi cũng chưa thấy xe than bao giờ nên gật đầu và lõ mắt dòm…</p>
<p>Bên phải sau xe gắn lò than cao hơn đầu người. Lò ống hình tru đường kính khỏang tám mươi phân. Ống dẫn “gas” bò lên mui xe tới đầu xe như ống dẫn dầu ở Mỹ. Sát bên lò than là chỗ ngồi của lơ xe. Chú bước xuống moi hết tro than hôm trước bỏ đi. Xong, chú khệ nệ lôi bao than khỏang trăm ký để sẵn trên mui, ngay trên đầu bác tài vác xuống đuôi xe. Đổ than vao lò, thọc kỹ cho chặt, mồi lửa bằng dầu hôi rồi bật quạt gió ngồi chờ. Tôi cũng ngồi chờ, hóng mắt chiếc xe bự sự và vặn óc nghĩ không ra sao hơi than đốt có thể đẩy xe lăn bánh đây? Đang tậm tịt với cái xe…kỳ cổ, lơ xe vẫy kêu: “nhõm rồi’”, ngỡ…“ngỏm rồi”. Mắt tròn dấu hỏi. Chú cười tũn…xong rồi. Bèn hỏi nữa quê chú ở đâu, chú cho hay ở Thạch Thất, Sơn Tây. Thế là mừng húm vì không…bị lạc. Hỏi tới nữa trước làm gì để…làm quen. Chú trả lời: “Thằng cốc”. Tôi mắt trơ như mắt ếch, chú ngay tình, ngay đơ <em>thằng cốc</em> là…“Thằng mõ”.</p>
<p>Xe lăn bánh rời Hà Nội, tôi thu vén với cô cháu bạn ắt sẽ gặp Quang Dũng đang ngồi ở cầu Đơ lợp ngói bắc qua sông Nhuệ đợi Dương Nghiễm Mậu vừa…”về quê”, vì Quang Dũng và Dương Nghiễm Mậu đều quê ở Đan Phượng, Hà Đông. Rời Hà Đông, vất vưởng với cử đầu vọng minh nguyệt, đê đầu tư cố hương, không thể không nhắc tới Nguyên Sa cỏ hoa lạc lối với chữ nghĩa theo Phan Lạc Tiếp về Kẻ Nứa. Cùng bách quế quy vu kỳ thất, là trăm năm bạn cũng về nhà. Trong một cõi đi về…bạn về lại mảnh đất cảnh cũ vì vậy đi tiếp nữa vào vùng núi Thách Thất, Sơn Tây có nhà báo Phan Lạc Phúc và bạn ta đều ở…Kẻ Nứa, như bạn nói với tôi năm nào.</p>
<p>Gặp Quang Dũng ở Phùng, ngộ chữ tôi lêu bêu ít ai hay ông người Hà Đông hay Sơn Tây, bèn bám như cua theo Phan Lạc Tiếp với <em>Bốn mươi năm trở lại</em>…</p>
<p>(…) Quang Dũng vẫn được biết đến là một nhà thơ Sơn Tây. Anh đã mang hình ảnh Sơn Tây vào đầy ắp những thi phẩm của mình. “Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn. Về núi Sài Sơn ngắm lúa vàng &#8230;”. Nhưng thực ra quê hương Quang Dũng ở <em>huyện Đan Phượng</em>, mặc dầu thuộc tỉnh Hà Đông, nhưng lại là nơi giáp ranh với Sơn Tâỵ (…)</p>
<p>Ăn ngay nói thật, tôi thật thà như đếm với cô cháu vốn liếng địa dư của tôi không ngòai…tây giáp địa dư, đông giáp địa chí thì: huyện Đan Phượng ở ngã ba sông Hồng, sông Nhuệ, sông Đáy. Huyện được lập lên từ thời Trần thuộc châu Từ Liêm. Sang <em>thời hậu Lê, huyện Đan Phượng lệ thuộc về phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây</em>. Năm 1888, Đồng Khánh cắt Hà Nội cho Pháp: <em>huyện Đan Phựợng được nhập vào phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông.</em> Quang Dũng được sinh ra tại <em>thôn Phượng Trì, nay thuộc thị trấn Phùng</em>. Nhưng nói cho cùng nhờ vua Lê Thánh Tông, năm 1469, cụ vua đang phất phơ ở mảnh đất đầm lầy, ruồi muỗi đông như tổ đỉa, dân làng lại gánh phân thối hoăng để tìm câu đối cho làng Cổ Nhuế. Khi không nghiệp ngão thế nào chả biết nữa, cụ vua lạc hoa lưu thủy bước qua cầu Phùng trên sông Đáy và nhòm mấy ngọn núi ở vùng đất nằm ở phía tây Thăng Long nên cụ vua đặt tên là thừa tuyên <em>Sơn Tây</em>. Năm 1832, Minh Mạng ngồi ở Huế nhẩy bổ vào vùng núi này đổi tên là…<em>tỉnh Sơn Tây</em>.</p>
<p>Xe than vừa ho khục khặc, vừa thở như kéo bễ trên Quốc lộ 21 tới huyện Thạch Thất. Bèn tỉ tê chữ nghĩa với cô cháu cụ vua Lê Thánh Tông tới phủ Quốc Oai thấy một vùng có núi đá, cụ vua tính đặt là Thạch…gì ấy. Bởi sơn là núi, cụ đã đặt tên cho <em>Sơn</em> Tây rồi. Nho táo mãi cụ tìm ra “thất” cũng là núi. Nên cụ chi ghi vào sổ bộ: Thạch <em>Thất</em>. Mặc dù chả nhìn thấy thành Sơn Tây (Minh Mạng xây năm 1823), dòm mảng khói lùng nhùng như mây của xe than, bởi cô là nhà văn, ngộ chữ tôi thở ra thơ “Em từ <em>thành Sơn</em> chạy giặc về &#8211; Tôi thấy xứ Đoài mây trắng lắm”. Được thể ngộ chữ tôi nhờn môi nói chữ: Trấn Sơn Nam đất nhà Trần khởi nghiệp, nhà Lê vì hục hặc với nhà Trần chia Trấn Sơn Nam làm hai trấn: <em>Trấn </em><em>Sơn Nam hạ</em> gồm Nam Định, Thái Bình và <em>Trấn</em><em> Sơn Nam thượng</em> có Hưng Yên, Hà Đông, Ninh Bình, Nam Định, Hà Nam. Năm 1890, Thành Thái ghép chữ <em>Hà</em> của Hà Nội, chữ <em>Nam</em> của Nam Định đặt tên là Hà Nam.</p>
<p>Từ huyện Thạch Thất, dọc theo tả ngạn bờ sông Tích Lịch, cả hai nom dòm…săn tìm làng Kẻ Săn nhưng cố lý thốn thổ vẫn biệt tăm. Dừng lại bên đường, lơ xe xuống hỏi bà bán quán và mang về một rổ khoai. Ngồi trên xe chỉ nghe óc bóc …“bủ” với…“khoai trứng”. Người Hạ Chí Trương đeo cứng sau lưng “Trẻ lãng du già về cố xứ &#8211; Giọng không thay pha tuyết mái đầu”. Bèn bất sĩ hạ vấn, nôm là <em>không mất sĩ diện gì mà không hỏi</em>. Lơ xe cho hay <em>bủ</em> là…bà, <em>khoai trứng</em> là…khoai sọ. Theo “bủ” bán quán làng Kẻ Săn bị cháy năm 1939 nên cả làng rời qua bên kia sông. Xe phải tiếp tục chạy tới nữa, tới phủ Quốc Oai để vòng lại. Nhờ đổ dốc nên xe chạy êm ru…“bủ” rù.</p>
<p>Tới phủ Quốc Oai, xe vòng lại chạy dọc theo hữu ngạn bờ sông Tích Lịch, dòm thấy cái cầu gỗ mái ngói bắc qua con rạch bên đường, ngộ chữ tôi leo heo ở phủ Quốc Oai có hai cây cầu mái ngói do Phùng Khắc Khoan dựng năm 1602, cái này là cầu ông Cống, còn cái kia là cầu ông Nghè ở chùa Thầy. Ngắm ruộng vườn, chả thấy “mía re” (thổ ngữ về mía) đâu chỉ thấy “rạch ngô” (ruộng ngô). Được thể ngộ chữ tôi gà gưỡng làng Mía (Kẻ Mía), tên nôm của làng Đường Lâm (1) là <em>một làng có</em> <em>hai vua</em>: là Phùng Hưng (761-802) và Ngô Quyền (898-944).</p>
<p>Từ <em>rạch ngô,</em> ngộ chữ tôi bắt qua Phùng Khắc Khoan ở Phùng Xá, tục gọi làng Bùng, huyện Thạch Thất. Cụ đi sứ qua đất Ngô thời Tam Quốc. Cụ nhét hạt gì đó vào…”cốc đạo” mang về, ta gọi là ngô cho…ra ngô ra khoai. Từ kỳ cổ này, các cụ ta cấm chỉ không mang ngô cúng trên bàn thờ. Theo ngộ chữ tôi, cụ trạng Bùng chả dại nhét hạt ngô vào <em>cốc đạo</em> cho…lùng bùng, lỡ rơi ở dọc đường thì sao. Thêm nữa, ngộ chữ tôi đồ là chuyện cụ trạng đi sứ mang ngô về nước để trồng trọt chỉ là giai thọai.</p>
<p>Thêm giai thọai trạng Bùng lần thứ nhất gặp công chúa con trời vịnh thơ với nhau bên quán rượu ở Tây Hồ. Lần thứ hai trở lại, công chúa…biến mất, để lại tên nàng là: Quỳnh Hoa. Trạng Bùng lập đền thờ ngay trên nền quán rượu cũ thờ bà. Những nơi thờ mẫu gọi là đền, nhưng những nơi có liên quan đến mẫu Liễu Hạnh (nơi sinh, nơi hiển thánh) gọi là phủ. Nay Phủ Tây Hồ được dựng lên sát ngay mép nước đầu làng Tây Hồ, trên doi đất ăn lạm ra hồ Tây như một bán đảo. (xem tr 7)</p>
<p>Ngộ chữ tôi bắt gặp cô cháu gái nhà văn đang ngộp chữ với các giai thoại dường như “giả”, là không thật của các nhà biên khảo. Nên nghe rồi cô nhòm con dốc và thở ra…Xe đang leo lên dốc cũng thở ra khói thì…tịt.  Chú lơ xe nhẩy xuống mang theo thanh gỗ đập thùng thùng vào bụng lò than. Tro than vung vãi rơi khắp mặt đường. Khói từ ống trên nóc xe xả mịt mù khói mây, sợ quá nên dẫu mồm hỏi. Chú cho hay than “đểu” không cháy nên khói mới mù mịt như vậy. Nói xong chú leo lên mui xe lấy thanh sắt dài thọc thọc vào lò than cho lửa cháy lại. Vừa tàn một điếu thuốc, bác tài nhấn “gas”, chiếc xe than nổ máy như con trâu già lừ đừ leo lên dốc, vừa lăn bánh vừa ho…“khục khặc”, leo hết con dốc. Bác tài cho xe ngừng một lát đợi máy nguội.</p>
<p>Qúa quan trời vắng chân mây địa đàng (TCSơn)…từ trên mỏm dốc nhìn xa xa trên ngọn núi có chùa Tây Phương, bởi lây dây từ cảnh núi rừng đến ruộng vườn, từ xe ca, xe đò, đến chùa Tây Phương, ngộ chữ tôi rị mọ khúc văn này đây…</p>
<p>(…) Sau cải tạo, nhớ dạo “nín thở qua sông”, tôi (Phan Lạc Phúc) sống như cỏ cây trong một khu vườn ở Lái Thiêu. Thỉnh thoảng có bạn đi xe đò lên thăm. Một hôm ông Cung Trầm Tưởng lên chơi. Chúng tôi ngồi dưới gốc chôm chôm, chuyện phiếm. Ông Cung Trầm Tưởng lai rai đọc thơ Quang Dũng, bài <em>Đôi mắt người Sơn Tây</em>: “Vừng trán em vương trời quê hương &#8211; Mắt em dìu dịu buồn Tây Phương”. Nhà thơ tác giả <em>Tiễn em</em> vốn ngày xưa học ở bên Tây, chợt nghiêng đầu hỏi: “Sao lại buồn Tây Phương, sao lại có beauté grecque (vẻ đẹp Hy Lạp) ở đây kìa”. Và tôi trả lời: “Tây Phương là chùa Tây Phương ở Sơn Tây quả có một vẻ đẹp đến từ Tây Phương thật” (…)</p>
<p>Nói dấu sau lưng hương linh cụ Phan Lạc Phúc chứ…chứ cụ dậy “chùa Tây Phương có vẻ đẹp đến từ Tây Phương” nghe không…“đã” nên ngộ chữ tôi mọ mẫm vào <em>Sơn Tây danh thắng tích bị khảo</em>, chùa tên Sùng Phúc Tự. Theo truyền tích chùa là nơi người Tàu dấu cổ vật. Cuối thời Tây Sơn, Phan Huy Ích cho người trùng tu chùa, để lại câu thơ: “Tục truyền Bắc quốc đan thanh cổ &#8211; Cảnh chiếm <em>Tây phương</em> thảo thụ u”. Vì vậy có thể tên chùa Tây Phương từ tích này?</p>
<p>Chiếc xe thổ tả từ từ khoai cũng nhừ tới thổ ngơi bản quán của chú cô…Thêm một lần cố lý thốn thổ Kẻ Săn vẫn biệt tăm. Mặt như bánh đa sũng nước, bỗng không cô hỏi: “Tại sao có tên Kẻ Săn”. Thôi thì tôi cũng đành ăn mày chữ nghĩa qua kỳ tích cụ vua Lê Thánh Tông sau khi bước qua cầu Phùng lạc chốn chân ai vào núi rừng thấy hoang dã, hoang thú ở Thăng Long thành mỏi mắt tìm không ra! Ấy là: dê núi và lợn rừng. Thế là cụ vua vác cung đi săn nên dân gian mới có tên: Kẻ Săn.</p>
<p>Rời Kẻ Săn, lơ xe nói ghé phủ Quốc Oai (tên cổ Quảng Oai, do vua Lê Thánh Tôn đặt năm 1469) xem cầu có mái là cầu ông Nghè (trạng Bùng dựng thời nhà Mạc) bắc qua chùa Thầy, thăm chùa Hạ, chùa Trung, chùa Thượng rồi từ đây về Hà Nội gần hơn. Trong đầu ngộ chữ tôi lẫn đẫn qua thư kinh: Chùa Thầy ở trên núi Sài Sơn, tên nôm là núi Thầy nên có tên “chùa Thầy”. Chùa dựng thời nhà Đinh, chùa là nơi tu hành của Thiền sư Từ Đạo Hạnh nên còn được gọi là chùa Phật Tích.</p>
<p>Lơ xe hặm hụi ở làng Thanh Mai, hay làng Mơ có “rượu Thanh Mai, cờ Mông Phụ” (Mông Phụ ở Phú Thọ) (2)  Lơ xe đắng đãi uống rượu mơ chỉ uống với mơ xanh, tươi, giòn. Ngộ chữ tôi mặt…xanh lè nghĩ từ chùa Hạ, chùa Trung, leo lên chùa Thượng trên đỉnh núi Sài Sơn cũng hốc người nên về quách cho rồi.</p>
<p>Trên đường về lại Hà Nội, từ chuyện leo lên chùa, ký ức như sương khói ngộ chữ tôi đong đảy một nhớ hai quên về…“xí sở” ở căn nhà số 26 phố Chợ Đuổi. Đẩy cửa vào <em>xí sở</em>, nỗi buồn chạm mặt là cái bệ gạch. Những ngày còn bé tẹo leo lên ba bốn bậc tam cấp, ngồi trên hai hòn gạch như ếch ộp, thả nợ đời xuống…cái thùng tôn.</p>
<p>Ký ức về…cái xí sở hay…cái “chuồng xí” những ngày còn bé chỉ bấy nhiêu. Sau này tôi góp nhóp sỏi đá thêm: <em>Chuồng xí</em> có cái bệ xây bằng xi măng cao khỏi mặt đất hơn một thước. Bước mấy bậc có hai moếng xi măng u lên hình hai bàn chân để ngồi xổm mà ị. Dưới bệ xi măng là cái thùng tôn đựng phân. Qua ký ức mù sương của tôi, thùng dầu hôi của hãng Shell in hình nổi con sò. Trong ngõ nhỏ thâm u của ký ức, những người đổ thùng mở cổng sau vào, họ dùng que sắt có móc kéo thùng tôn ra đổ vào cái thúng trám hắc ín rồi gánh đi. Những người đổ thùng ở Hà Nội bấy giờ thường đi thành hàng dài 5, 6 người. Mỗi người đều có đòn gánh trên vai, hai đầu hai cái thúng. Phân và nước tiểu sóng sánh, nhỏ giọt trên vỉa hè…36 phố phường Hà Nội.</p>
<p>Xe than theo quốc lộ 32 từ Sơn Tây về Hà Nội, đến Đan Phượng, Hà Đông, bỗng không cô hỏi ở đây có gì lạ không? Thêm một lần quang gánh chữ nghĩa quay qủa trở lại ở đây có cầu Đơ lợp ngói bắc qua sông Nhuệ. Nơi mà Quang Dũng, mỗi lần về Đan Phượng đều ghé “thượng gia hạ kiều” này uống bát chè xanh, làm cữ thuốc lào, và làm thơ “Tiền nước trả em rồi . nắng gắt &#8211; Đường xa xa mờ mờ núi và mây”.</p>
<p>Thế là tôi đùm đậu nếu đình làng là nơi chỗ quan viên họp việc làng, thì cầu mái ngói âm dương như mái đình là nơi dân làng nghỉ chân, tránh nắng những trưa hè gay gắt. Bởi thế trong cầu có quán nước chè xanh nên còn được gọi là <em>cầu quán</em>. Quán có chõng tre bày một dãy bát uống nước chè xanh, bánh dầy, bánh gai, vài quả bưởi, dăm nải chuối. Và vài gói thuốc lào nên chả thiếu cái điếu cầy gác bên thành cầu. Tối khuya, khách lỡ đường ghé qua khoèo một giấc, vì vậy mới có câu dân gian “bơ vơ điếm cỏ, cầu sương”, hay “nằm cầu gối đất” là cái cảnh này đây.</p>
<p>Làm như nương theo nhà văn Trần Dõan Nho, con chữ phải có âm thanh, hình ảnh và bốc mùi, như nhà thơ Nguyễn Đình Thi vung chữ với thổ địa nhân làng Cổ Nhuế: Anh bước đi đầu không ngoảnh lại &#8211; Sau lưng anh cứt đái văng đầy<em>.</em> Vì vậy cô dựa dẫm theo Tô Hoài kể lể phu phen Kẻ Noi đẩy xe bò, những chiếc thùng tôn rỗng kêu “lanh canh, lanh canh”. Đó là chiếc xe ba gác một người kéo, một người đẩy. Trong đêm khuya thanh vắng, tiếng bánh xe gỗ cót két lăn trên đường phố trong gió heo may. Tới cửa nhà, sau tiếng đập cửa thình thình vọng vào nhà là hai tiếng…“đổ thùng…đổ thùng”. Lát sau trong khuya khoắt, bánh xe gỗ rền rĩ như khóc, như hát…hát khúc nam ai nam oán lạc loài, lạc lõng vào bóng đêm.</p>
<p>Từ ngòai phố, cô ngụp lặn vào ngõ ngang ngõ dọc. Ngõ là nơi ẩn chứa những bất ngờ chưa có ai kể cho nghe trong con ngõ uốn lượn, quanh co, ngoằn ngoèo như con đường làng sẽ bắt gặp cái…cổng tam quan. Nếu hát cô đầu thường thì tới phố Bông Đỏ, Hà Đông (xem tr 7), phố có tên này vì những nhà hát cô đầu phải treo đèn lồng đỏ trước cửa. Nhưng để hoài niệm, để lắng nghe tiếng gọi của làng từ ngàn xưa, không có gi thú bằng đi hát cô đầu trong ngõ cống Đơ hay ngõ Noi.</p>
<p>Không có mây sao có mưa, tôi len chân vào chuyện <em>phố Khâm Thiên</em> là nơi chốn cụ núi Tản sông Đà thường lui tới để hát ả đào. Nhưng trước đó ở <em>phố</em> <em>Hàng Giấy</em> (từ phố Hàng Đường qua chợ Đồng Xuân) đã có xóm đào nương, còn gọi là xóm Bình Khang. Nhà hát ả đào phố Hàng Giấy theo sử gia Trần Quốc Vương có<em> từ thời Lê Cảnh Hưng (1740-1780)</em>. Thêm với Nguyễn Tuân, hồi còn nhỏ ông được cụ thân sinh dẫn tới phố Hàng Giấy để chầu rìa, sau này ông mới…“tom chát”,…“chát  tom”.</p>
<p>Nếu Sơn Tây có nhiều thắng tích, chùa cổ và…sư ông thì Hà Đông có nhà hát cô đầu với…tao nhân mặc khách chứ không phải Hà Nội. Ở Hà Đông, ngòai ngõ Noi, phố Bông Đỏ còn có phố Khâm Thiên. Dây mơ rễ má vì Khâm Thiên thời đó có động mãi dậm, vòm hút thuốc phiện nên người Pháp (1905-1914) sát nhập phố cô đầu vào <em>huyện Hoàn Long</em> <em>thuộc Hà Đông</em> (4). Vì vậy một số nhà hát cô đầu dọn về ngõ Vạn Thái, Chùa Mới, Văn Điển, Cầu Giấy, Kim Mã. Rất thật, tôi rửa óc nghĩ không ra ngõ Noi, ngpai nhà hát cô đầu mắc mớ gì nhiều nhà thơ trẻ…chui vào ngõ làm thơ, hết “Thuơng ai về ngõ vắng…” đến “Ngõ cũ chiều nay, em lại về…”. Đến như Hoàng Cầm ở sông Đuống cũng đưa ngõ Noi vào kịch thơ Kiều Loan thời Lê Trịnh: “Tôi đứng chờ thu trong biếc ngõ – Thấy ông ôm mặt khóc Tần phi”. Mặc dù tôi không biết “ông” ôm mặt khóc là ai? Tần phi là bà nào? Tôi chỉ biết ngõ Noi dài nhất Bắc kỳ nhì Đông Dương ngoằn ngoèo len lỏi qua ba làng cách quãng nhau cả mấy cây số: Làng Dậu, làng Nghĩa Đô từ Hà Đông tới  làng Bưởi làm giấy, Hà Nội và ngừng lại ở Hồ Tây.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>***</p>
<p>Nghe đến Hồ Tây như gợi nhớ, cô cháu nói muốn tới nền quán rượu xưa kia trạng Bùng lập đền thờ bà chúa Liễu Hạnh. Tôi bèn đưa cô tới doi đất ăn lạm ra hồ Tây, sát ngay mép nước đầu làng Tây Hồ. Ở đây không có rượu của trạng Bùng, tôi ới bia Trúc Bạch, bánh tôm Cổ Ngư. Tôi ngó quanh chẳng thấy phường Thụy Khê dệt lụa, phường Ngũ Xá làm đồng đâu mà chỉ thấy…Mai Thảo qua một thoáng Tây Hồ…</p>
<p>&#8220;…Trở về những mảnh tôi xưa. Trúc Bạch dưới trăng vàng. Thiếu thời ấy là một Nghi Tàm lồng lộng. Lưu thủy cộng trường thiên nhất sắc. Cổ Ngư đêm mùa hè. Làng Láng mầu cốm đậm và những hình ảnh muôn thuở của Hà Nội chưa tiều tụy. Ánh lửa khuya dưới vàm ô Quan Chưởng. Mầu đỏ khé cầu Thê Húc. Tiếng tỳ bà Ngã Tư Sở đìu hiu lau lách. Tiếng phách Khâm Thiên…&#8221;</p>
<p>Từ Mai Thảo, ngộ chữ tôi vắt qua Thạch Lam với <em>Hà Nội 36 phố phường</em>:…</p>
<p>“…Hà Nội đã thay đổi nhiều lắm, những phố cũ hẹp và khuất khúc, với những nhà ống thụt ra, thụt vào, mái nhà ngói âm dương…Chúng ta không biết được mấy về dĩ vãng, về phố sá kinh thành hồi cụ Lãn Ông, một túi thơ, một bồ thuốc, từ Bát Tràng đến <em>Thăng Long thành</em>, bốc thuốc ở Vạn Thảo Đường, và bây giờ ở <em>phố Hàng Đường</em> cũng có ba chữ Vạn Thảo Đường, nhưng những gì còn lại khác xưa nhiều “</p>
<p>Thăng Long xưa, phố Hàng Đường cũ như thế nào, tôi lễnh đễnh đưa cô cháu về lại thời Nguyễn với Phạm Đình Hổ (3), ông phóng bút <em>Nhà ta ở phường Hà Khẩu…</em>Hà Khẩu đây là phố Hàng Buồm. Qua ông, ngộ chữ tôi phóng bút theo: Đã bao nhiêu mùa gió thổi, cho đến một đêm mưa, mặc kệ cho gió mưa choàng lên phố thị, Qua “Vũ trung tùy bút”, ông để chữ nghĩa trào ra ngọn bút lông tùy hứng dẫn đi, nét ngang, nét sổ, nét móc thấp thoáng hồn người bên phố đông người qua. Hồn người đã đem những viên gạch lá nem lát lên phố cổ. Lá vàng rơi trên giấy: Phố đã đi vào văn học…</p>
<p>Phạm Đình Hổ cho hay: <em>Nhà ta ở phường Hà Khẩu…</em>Thì <em>Hà Khẩu đây là phố Hàng Buồm</em>, gần sông Nhị và sông Tô Lịch, ở đây người Tàu sống bằng nghề làm buồm. Mới sang nước ta, người Tàu ở phố Việt Đông, phường Đường Nhân (phố người Tàu &#8211; nay là Hàng Ngang) rồi họ ở lan sang mấy phố chung quanh rồi mới đến Hàng Buồm. Với phố Hàng Ngang, ngộ chữ tôi…ngộ chữ với: thời Lê-Trịnh người Quảng <em>Đông</em> đến làm ăn ở phố Việt <em>Đông</em>: Buổi tối vua Lê chúa Trịnh cho <em>kéo ngựa ngỗ chắn ngang hai đầu phố Việt Đông nên mới có tên là phố Hàng Ngang</em>..</p>
<p>Ngày là lá tháng là mây, ngộ chữ tôi góp nhặt thêm…</p>
<p>Thời Lê, hai phố (<em>phố</em> là tên sau này) đầu tiên trong phố cổ là phố Hàng Bừa, phố Hàng Cuốc (nay là phố Lò Rèn). Gọi là phố nhưng chỉ là con đường đất cát bụi, con đường chỉ độc một căn nhà mái rơm vách đất là gian hàng buôn bán cày bừa, cuốc xẻng sau thành phố. Từ đó có ba con phố dẫn vào phố cổ Hà Nội là phố Hàng Đào, phố Hàng Ngang và phố Hàng Đường. Theo Phạm Đình Hổ:  “…Phố Hàng Đào nhà mái lá, mái ngói nhô ra thụt vào, không có vỉa hè. Đường đất gồ ghề, rất hẹp, ngày nắng bụi mù, ngày mưa lầy lội, không có cống, nước tụ lại chảy thành rãnh hai bên vệ đường. Đêm khuya hàng đàn chuột chạy hai bên đường tìm nước uống. Phố Hàng Đường, là phố nằm trên con đê cũ có chiếc cầu xây bắc ngang qua gọi là Cầu Đông và một ngôi chợ họp ở cạnh cầu gọi là chợ Cầu Đông…“ (nay là chợ Đồng Xuân).</p>
<p>Người Pháp bỏ ra ba năm đập phá một phần Bắc Thành (nay còn dấu tích mảnh tường nhỏ của cổng Tường Phù ở số 38B phố Hàng Đường) và những con phố của Phạm Đình Hổ trong <em>Vũ trung tùy bút</em>. Tiếp, họ vừa lát nhựa đường, làm vỉa hè, ống cống cho những con phố này vừa xây dựng phố sá Hà Nội. 100 năm sau sĩ phu Bắc Hà gọi là…“phố cổ” và “Hà Nội 36 phố phường” (có nguồn cho là tên từ Thạch Lam). Về tên <em>36 phố phường</em>, dựa vào năm 1748, Lê Hiển Tông chia Thăng Long thành 36 <em>khu vực</em> gọi là <em>phường</em> (thời Lê chưa có tên <em>phố</em>). Hay theo <em>Đại Nam nhất thống chí</em>  đời Tự Đức chép tên 21 <em>phố</em> (không có <em>phường</em><em>). </em>Năm 1883, sau khi đánh chiếm thành Hà Nội, quân đội Pháp cử thiếu úy Lai Nay vẽ bản đồ Hà Nội và thêm một số tên phố mới. Khỏang năm 1910, có hai ba người trong đó có ông Nguyễn Văn Uẩn, họ nương theo 36 phường thời Lê và Trương Vĩnh Ký: <em>tên phố nào còn thiếu cho tên phường vào</em>. Thí dụ phố Hàng Muối chưa có, họ lấy phường Hàng Muối từ Trương Vĩnh Ký &#8211; 1876 để có con số tròn trịa: 29 <em>phố</em> và 7 <em>phường</em>. Vì vậy mới có: <em>Hà Nội 36 phố phường</em></p>
<p>Trở lại với phố cổ Hà Nội, một số nhà được người Pháp xây hai tầng theo kiểu “Tây”, nay vài nhà còn dấu tích năm xây cất 1886. Nhà cửa đều cùng một kiểu “hình ống” sâu hun hút, giữa là sân trống để lấy ánh sáng với bể nước mưa và…“chuồng xí”. Gió nồm rồi lại gió hanh, bể dâu rồi lại bể dâu, từ đó người Hà Nội ngàn năm văn vật mất đi cái thú thứ nhất quận công, thứ nhì…ị đồng. Từ văn hóa “Hà Nội chuồng xí” ngồi lúi húi như cóc nhẩy…nhẩy qua văn hóa “Hà Nội đổ thùng” chỉ trong mộr sát na.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>***</p>
<p>Xe rời Hồ Tây, về đến bến xe Chuồng Bò, lơ xe hô hoán “nhõm rồi”, tôi biết tỏng <em>nhõm</em> là đến nơi rồi, là…hết. Hết chuyện bèn leo lên máy bay ngồi ôm rổ “khoai trứng”, tỉnh giấc hoè đã có mặt ở Hiu-tân. Bèn hiu hắt xa gần Hà Đông, Sơn Tây, miếu mạo, cầu quán chỉ là giấc hương quan mơ luống mẫn canh dài qua giấc mơ hoang ấy thôi.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: left;">      <strong>Trúc gia trang</strong></p>
<p style="text-align: left;"><strong>  Ngộ Không Phí Ngọc Hùng</strong></p>
<p style="text-align: left;">  (viết xong 2003, tựa đề cũ: <em>Kẻ Noi </em></p>
<p style="text-align: left;"><em>    với Lê Thiệp,</em> viết lại 2016, 2019)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>(1) Nguồn khác cho là Đường Lâm ở Phú Thọ.</p>
<p>(2) Còn câu khác: “rượu Hòang Mai, cờ Mộ Trạch”</p>
<p>(Hòang Mai ở Hà Đông, Mộ Trạch ở Hải Dương)</p>
<p>(3) Phạm Đình Hổ (1768-1839).người Cẩm Giàng</p>
<p>tỉnh Hải Dương. Ông sống vào thời Minh Mạng..</p>
<p>(4) Phố Khâm Thiên nay thuộc quận Đống Đa, Hà Nội</p>
<p>Nguồn: Phạm Xuân Độ, Lê Minh Hà, Nguyễn Khắc Ngữ, Nguyễn Quốc Trụ, Hàn Sĩ, Nguyễn Bá Trạc, Trần Ngọc Thêm, Đan Nguyên, Bùi Xuân Đính, Ngự Thuyết, Nguyễn Ngọc Tiến, Nguyễn Hưng Quốc, Lý Khắc Cung, Phan Kế Bính, Bùi Thụy Đào Nguyên.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2019</p>
<p><em> </em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ngo-khong-tho-ngoi-ky-su/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Không: Thuyền Con Ngược Bến… Nước Chẩy Đôi Dòng (II)</title>
		<link>https://t-van.net/ngo-khong-thuyen-con-nguoc-ben-nuoc-chay-doi-dong-ii/</link>
					<comments>https://t-van.net/ngo-khong-thuyen-con-nguoc-ben-nuoc-chay-doi-dong-ii/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 28 Nov 2018 12:47:42 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=37742</guid>

					<description><![CDATA[Thuyền Câu – Tranh: Mai Tâm Sử quan thấy cụ Phan chuyện nào cũng hanh thông, lời truyền tụng bốn bể nghe danh, quả đà chẳng hề sai lạc. Buồn ngủ gặp chiếu manh, nay cửu trùng tri ngộ, sử quan cũng muốn cơ xướng náo nhiệt một phen nữa với cụ qua nhà Lê [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/11/Thuyền-câu.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter  wp-image-37661" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/11/Thuyền-câu-300x199.jpg" alt="" width="323" height="214" srcset="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/11/Thuyền-câu-300x199.jpg 300w, https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/11/Thuyền-câu-768x509.jpg 768w, https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/11/Thuyền-câu-1024x678.jpg 1024w, https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/11/Thuyền-câu.jpg 1920w" sizes="(max-width: 323px) 100vw, 323px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><em>Thuyền Câu – Tranh: Mai Tâm</em></p>
<p>Sử quan thấy cụ Phan chuyện nào cũng hanh thông, lời truyền tụng bốn bể nghe danh, quả đà chẳng hề sai lạc. Buồn ngủ gặp chiếu manh, nay cửu trùng tri ngộ, sử quan cũng muốn cơ xướng náo nhiệt một phen nữa với cụ qua nhà Lê với chuyện <em>&#8220;Lê Lai liều mình cứu chúa&#8221;,</em> ông năm nắm với có bột mới gột lên hồ nên líu ríu:</p>
<p><em>&#8220;…</em>Theo Lê Quý Đôn trong <em>Đại Việt thông sử</em>: <em>Quân Minh biết Chí Linh là chỗ Lê Lợi lui tới, bèn đem binh vây đánh. Vương hỏi các tướng rằng : Có ai làm được như người Kỷ A Tín chịu chết thay cho vua Hán Cao Tổ không? Bấy giờ có Lê Lai xin mặc thay áo ngự bào, ra trận đánh nhau với giặc. Quân Minh tưởng là thật, xúm nhau lại bắt sống Lê Lai dẫn về thành Đông Quan</em><em> giết chết</em><em>. </em></p>
<p>Trong <em>Lịch triều hiến chương loại chí</em> của Phan Huy Chú kể: <em>Lúc mới khởi binh, bị tướng Minh vây ngặt, vua hỏi các tướng, bàn xem [có ai] đổi áo đánh lừa giặc, như việc Kỷ Tín ngày xưa. Ông xin đi. Bèn mặc áo bào, đem quân xông vào hàng trận của giặc, đánh đến đuối sức, </em><em>bị bắt. </em></p>
<p><em> </em>Một điều đáng ngạc nhiên là các sử quan các đời về sau đều chép truyện Lê Lai liều mình cứu chúa, trong khi nhóm sử quan đời Lê không ghi chép truyện này. Sự thực ra sao? Quân Minh có giết Lê Lai không? Chắc chỉ có Nguyễn Trãi, một người trong đại cuộc, mới đem lại cho chúng ta câu trả lời đúng nhất.</p>
<p>Sách Lam Sơn thực lục của Nguyễn Trãi được chính Lê Lợi đề tựa, kể rằng :</p>
<p><em>&#8220;Bấy giờ  thế giặc lại đang lớn mạnh, vua liền vời các tướng lại nói:</em> <em>Ai có thể mặc áo bào thay ta đemquân đi đánh thành Tây Đô? </em>Các tướng đều không dám nhận, chỉ có Lê Lai. Nguyễn Trãi cho biết là Lê Lai bị quân Minh <em>bắt sống</em><em> và bị tra tấn dã man.</em></p>
<p>Riêng Đại Việt sử ký toàn thư chép : <em>&#8220;Giết Tư mã Lê Lai, tịch thu gia sản, vì Lai cậy có công đánh giặc, nói ra những lời ngạo mạn nên bị giết&#8221;.</em></p>
<p>Rõ ràng Lê Lợi hạ lệnh giết Lê Lai năm 1427. Chi tiết quan trọng này không thấy các sách khác chép lại. Hoàn cảnh của Nguyễn Trãi không cho phép ông viết lúc Lê Lợi còn sống. Ngô Sĩ Liên, một sử thần nhà Lê, chép lại cho hậu thế một sự kiện lịch sử. Ngô Sĩ Liên đã giữ đúng tác phong của một sử gia nghiêm túc. Không hiểu tại sao các sử quan đời sau lại quên chi tiết này?</p>
<p>Ngô Sĩ Liên nhận xét về Lê Lợi như sau :</p>
<p><em>“…Vua dấy nghĩa binh đánh dẹp giặc Minh, 10 năm mà thiên hạ đại định. Đến khi lên ngôi, định luật lệ, chế lễ nhạc, mở khoa thi, lập phủ huyện, mở học hiệu. Có thể gọi là có mưu lớn sáng nghiệp. Song đa nghi hay giết quần thần tôi trung, đó là chỗ kém…”</em></p>
<p>***</p>
<p>Nhôm nhoam xong, sử quan thấy cụ Phan tảng lờ như không hay. Cụ lúi húi thò tay vào cái ba lô, lôi ra hai cái ly có chân và chai rượu mầu đỏ tên Bordeaux. Cụ rót mỗi người một cối. Sử quan nhấp một ngụm thấy chua như nước đái mèo. Thầm nghĩ thảo nào cụ Phan âm khí chưa toàn nên có huyền thoại rằng cụ uống rượu như uống thuốc độc là phải nên rất khả tín.</p>
<p>Bông thấy cụ tặc lưỡi đến tách một cái, bày tỏ khí vị:</p>
<p>&#8211; Ấy đấy, bản chức thửa chai vang này trên đại lộ Lê Lợi ở Sài Gòn. Ở đây đại lộ Lê Lợi và đường Lê Lai cùng &#8220;nằm gai nếm mật&#8221;, suýt đụng đầu nhau tại bùng binh chợ Bến Thành. Ngoài Hà Nội, hai đường nằm hai bên Hồ Gươm như cùng tưởng nhớ tới thanh gươm thần cứu nước ngày nào. Thế đấy, thưa tiên sinh.</p>
<p>Rồi cụ dật dờ:</p>
<p>&#8211; Ấy đấy, dậu đổ bìm leo thì cứ như theo <em>An Nam truyện</em> của Vương Thế Trinh, một danh thần nhà Minh chép: <em>“Viên thổ quan Lê Lợi vốn là bề tôi của cố vương Trần Quý Khoát nhà Trần làm phản. Rồi bó thân xin hàng thiên triều, được ban chức Tuần kiếm. Nhưng vẫn ôm lòng phản trắc, nay tiếm xưng là Bình Định Vương…”.</em> Sử kiện Lê Lợi làm bề tôi nhà Minh trong Minh thực lục cũng có chép, nhưng sử thần Ngô Sĩ Liên muốn giấu việc này nên cố tình lược bỏ đi trong Đại Việt sử ký toàn thư.</p>
<p>Tiếp đến <em>Tang thương ngũ lục</em> kể rằng Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn đến tìm Lê Lợi để mưu đồ đại sự. Lần đầu gặp ngày giỗ, Nguyễn Trãi thấy Lê Lợi là hào trưởng miền núi, vừa cắt thịt vừa ăn ngồm ngoàm. Nguyễn Trãi thất vọng bỏ về. Lần thứ nhì trở lại, gặp Lê Lợi thức khuya nghiền ngẫm binh thư, ông mới vào ra mắt.</p>
<p>Ừ, trang sử còn đẹp hơn nữa nếu như Lê Lợi không giết Lê Lai,  Trần Nguyên Hãn và một số công thần khác. Thế nên có nhăm bài viết cho rằng Lê Lợi không phải là người nông dân áo vải, mà là người dân tộc, tức người miền núi…núi Lam Sơn.</p>
<p>Tiếp, cụ nhăn mặt với nhân kiếp phù sinh hề, một thóang bạch câu:</p>
<p>&#8211; Lê Lợi sáng nghiệp song đa nghi hay giết người theo giúp mình. Nào có khác gì ông Hồ gần đây, để sĩ phu Bắc Hà lạc đường vào lịch sử ẩn dụ qua những bài viết như <em>“Nguyễn Trãi ở Đông Quan”, “Con ngựa Già của chúa Trịnh”, “Phẩm Tiết”, “Kiều Loan”  </em>này nọ<em>.</em> Và cũng chẳng thiếu những bài bản như Nguyễn Bỉnh Khiêm theo Mạc, Nguyễn Trãi phò Lê này nọ&#8230;</p>
<p>Chính sử thường kể những chuỗi biến cố và nhân vật sắp xếp lại thế nào để củng cố quyền lực đương đại. Họ vẽ ra cái quá khứ với ý đồ biện hộ tính cách chính danh một thể chế. Tất nhiên, tốt đẹp phô ra, xấu xa ta đậy lại. Viết lịch sử  theo cái quá khứ đó, sử quan trở thành đồng lõa với quyền lực, làm công việc kẻ lông mày cho xác chết, tô son vẽ phấn lên mặt mũi đã nhợt nhạt sinh khí lâu ngày trong lăng mộ. Với những nhà văn, nhà thơ trên, lịch sử không là những xác chết và những sự cố biên niên ù lì. Để tái tạo lại lịch sử, họ nhìn ngược thời gian không với quan điểm duy vật, duy tâm, biện chứng này nọ…Từ đó những nhân vật có tên tuổi trong chính sử, những nhà văn, nhà thơ bắt họ đội mồ đứng dậy để nói lên một cái gì&#8230;</p>
<p>Xong, cụ Phan lại cau mày với thế sự du du hề một cuộc bể dâu:</p>
<p>&#8211; Xin thưa với tiên sinh tâm viên ý mã của bản chức là: Bất cứ nước nào cũng có một lịch sử của riêng mình, ghi lại những biến động của một thời đã qua. Nhưng đôi khi chính sử chỉ làm cái công việc tô điểm cho thể chế đương thời. Đó là loại sử chết. Sáu trăm năm sau Nguyễn Trãi, lịch sử gần như lặp lại: Đất nước giành lại độc lập từ người Pháp, từ mộng bành trướng Hán tộc. Nhưng giành được độc lập rồi lại cai trị muôn dân bằng guồng máy công an. Giống như lời trăn trối của Trần Nguyên Hãn là Lê Lợi cai trị muôn dân bằng <em>“Nội mật thám”,</em> biến đất nước thành trại giam khổng lồ, thưa tiên sinh.</p>
<p>***</p>
<p>Qua giao tình sâu đậm, cá nước vui duyên, giao long gặp nhau, sử quan như người rồ chữ, vội lật qua đời Trần thấy có ghi quyển <em>Đại Việt sử ký toàn thư</em> của Lê Văn Hưu, viết từ thời Triệu Đà đến Lý Chiêu Hoàng. Nhưng nay đã bị thất lạc.. Lật qua chương nhà Lý, tuyệt không có bộ sử nào? Thế mới lạ! Ngược bến sông, sử quan bắt qua <em>thời kỳ khởi đầu nền độc lập</em> với nhà Ngô, nhà Đinh, nhà Tiền Lê thì gặp khúc vua Lê Đại Hành và đưa cho cụ Phan duyệt bản dùm với cái thế lao dật đã rõ:</p>
<p>“…Theo Đại Việt sử ký toàn thư thì Lê Hoàn là tùy tướng của Đinh Tiên Hoàng. Khi vua Đinh bị sát hại được quần thần tôn lên làm vua tức vua<em>…”Lê Đại Hành”.</em> Các nhà sử học cứ đinh ninh cho rằng đó là đế hiệu của vua. Nhưng không phải vậy: Vì đó là miếu hiệu hay tên thụy của dân thường và còn được gọi là tên Bụt do thân nhân đặt cho để con cháu thờ cúng về sau.</p>
<p>Riêng với triều chính, một đời vua được biết đến hai tên “hiệu”, đó là niên hiệu và miếu hiệu. Niên hiệu do tự vua ban ra khi lên ngôi, dùng trong chiếu chỉ, văn biểu, công văn. Nhưng vua không đặt miếu hiệu mình. Khi nào vua mất, xác còn quàn trước khi đưa vào lăng thì được gọi là <em>“Đại Hành”.</em> Nghĩa là chuyến đi lớn sang bên kia thế giới. Sau khi đưa vào lăng yên ổn, vua kế vị và quần thần đặt miếu hiệu cho vua, như Thái Tổ, Thánh Tông, Nhân Tông.</p>
<p>Lê Văn Hưu viết: Sách Địa chí bản chép khi Lê Hoàn băng hà, lúc ấy con là Lê Long Đỉnh tức Lê Ngọa Triều xin mệnh nhà Tống ban cho vua cha miếu hiệu là Đại Hành Hoàng Đế và sau đó không đổi. Vì Ngọa Triều là con bất hiếu, lại không có bề tôi Nho học để giúp đỡ bàn về phép đặt cho miếu hiệu cho nên thế…</p>
<p>***</p>
<p>Đợi cụ đọc xong, sử quan hóng mắt đợi cụ cung tường chỉ thấy cụ miệng bập bập điếu thuốc, rồi buông một câu:</p>
<p>&#8211; Dào! Tiên sinh cứ bới bèo tìm bọ là chẳng ai bằng! Theo bản chức thì chết là hết chuyện.</p>
<p>Sử quan cung quăng giọng hờn mát:</p>
<p>&#8211; Xin các hạ xá cho, chữ nghĩa tại hạ chưa đong đầy lọ mực, lâu lâu lại nhai văn nhá chữ buồn ta, con giun nào biết đâu là cao sâu, ai mà so bì được với các hạ.</p>
<p>Cụ Phan háy mắt cười tủm:</p>
<p>&#8211; Lạ chửa kìa, tiên sinh già rồi cứ như trẻ con ấy. Thử hỏi rằng bản chức với tiên sinh âm dương cách trở gặp nhau, ngòai ba cái chuyện nhai văn nhá chữ nào khác gì <em>“Ngồi buồn đốt một nhúm rơm &#8211; Khói lên nghi ngút chẳng thơm tí nào”.</em></p>
<p>Được mở nhời như cởi tấm lòng, sử quan dơ sấp mực tầu giấy bản lên:</p>
<p>&#8211; Thì tại hạ đang đốt rơm đây…</p>
<p>Thay vì đốt rơm, sử quan…đốt điếu thuốc rồi phân bua:</p>
<p>&#8211; Chẳng dấu gì các hạ, ngược về <em>thời kỳ Bắc thuộc</em> với Hai Bà, với Bà Triệu mà trong dạ tại hạ mang trăm mối sầu u vương vấn hổ thẹn…Chuyện là:</p>
<p>“…Đời Tam Quốc loạn lạc, Giao Châu, Giao Chỉ thuộc về Tôn Quyền. Triệu Quốc Đạt từ huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hóa dấy binh chống lại Đông Ngô, chiếm được Giao Chỉ. Ít lâu Triệu Quốc Đạt bị bạo bệnh mất, em gái là Triệu thị Trinh lên thay. Bà thường cưỡi voi đánh thắng quân Đông Ngô nhiều trận. Lục Dận tướng nhà Ngô đem quân sang, biết Triệu thị Trinh là cô gái trẻ tuổi chưa có chồng, hay khóc lại có tính cả thẹn nên cho tướng sĩ trần chuồng ra trận. Bà xấu hổ chưa lâm trận đã lui binh, vì thế quân lính tan rã và bà Triệu thắt cổ tự vận khi mới hai mươi ba tuổi.</p>
<p>Sau khi bà mất, dân bản xã lập đền và lăng thờ bà ở núi Gai và núi Tùng, xã Phú Điền, tỉnh Thanh Hóa. Nhưng vì ảnh hưởng văn hóa Chàm, nên họ thờ bà cùng với sinh thực khí là tục thờ Linga của Ấn Độ. Mãi đến đời vua Lê Cảnh Hưng, chủ bạ bộ Lễ là Hồng Đô Chi Cát Thi, đã chỉ trích việc thờ “linh tinh tình phộc” ở miếu Triệu Nương là phạm thuần phong mỹ tục và sai quấy nên và buộc rời đi.</p>
<p>Ngoài ra sử người Trung Hoa còn gọi bà là “Con mụ Triệu” vú dài ba thước, quấn vắt vai. Hoặc gọi bà là Triệu Ẩu mà <em>“ẩu” </em>tiếng Hán là<em>…con đĩ</em>.</p>
<p>Sử ta cũng có nhiều sách gọi theo bà là….Bà Triệu Ẩu.</p>
<p>***</p>
<p>Nghiền ngẫm khúc tạp sử này rồi, cụ Phan chép miệng: “Các sử quan ta…ẩu thật”.</p>
<p>Rồi cụ gật gù như buồn ngủ thì phải. Sợ cụ ngủ thật thì lỡ một chuyến đò, sử quan vội dụi điếu thuốc, lật đật đẩy đưa cụ lội dòng nước ngược lên gần 200 năm trước với Hai Bà, nhất nhất giải bày rõ mong cụ thông sử cho:</p>
<p>“….Hai Bà Trưng quê ở huyện Mê Linh đất Phong Châu, con gái của Lạc tướng, chị là Trưng Trắc, em là Trưng Nhị, bấy giờ thái thú Tô Định mang quân sang đô hộ nước ta và <em>giết</em> chồng bà Trưng Trắc là Thi Sách. Hai Bà dấy binh chiếm lấy 65 thành trì ở <em>Lĩnh Nam</em> để trả thù chồng khiến Tô Định phải bỏ chạy. Hai Bà lên làm vua, đóng đô tại Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc. Hai năm sau, nhà Hán sai Mã Viện với binh hùng tướng mạnh, vây hãm Hai Bà tại hồ Lãng Bạc, Hai Bà chống không nổi, phải lui về Cẩm Khê sau cùng lên núi Thường Sơn rồi hóa…Một thuyết khác cho rằng, Hai Bà cùng nhẩy xuống sông Hát Giang tự vẫn.</p>
<p>Chuyện bà mất, qua <em>Hậu Hán Thư</em> viết: <em>”Minh niên, chính nguyệt, trảm Trưng Trắc, Trưng Nhị, truyền thủ Lạc Dương”.</em> Dịch nghiã như sau: “Năm sau, tháng giêng, chém Trưng Trắc, Trưng Nhị, gửi đầu về Lạc Dương”.</p>
<p>Sử <em>Khâm Định Việt sử thông giám cương mục</em> triều Nguyễn có ghi: <em>“Trưng Vương và em gái chống với quân Hán bị binh lính bỏ trốn, lại thế cô, cả hai thất trận chết”.</em> Hiểu theo nghiã là không phải Hai Bà trầm mình ở sông Hát Giang.</p>
<p>Ngô Thì Sĩ trong Việt Sử tiêu án chép: <em>“Trong đền thờ Hai Bà, những đồ thờ sự, tất cả đều sơn đen, tuyệt nhiên không có mầu đỏ. Dân địa phương khi đến tế lễ, không được mặc áo đỏ vì đó là cấm lệ, tục truyền rằng Hai Bà chết vì việc binh đao, nên kiêng sắc đỏ giống như máu”.</em></p>
<p>***</p>
<p>Sách <em>Thủy kinh chú</em> của người Trung Hoa viết về ông Thi thì ông chẳng hề bị Tô Định giết mà còn sát cánh với bà, sau khi bị Mã Viện tấn công. Ông bà chạy về Cẩm Khê, 3 năm sau cả hai vợ chồng bị bắt. Và 8 tháng sau bị hành hình.</p>
<p><em>Vậy thì tại sao sử quan nước nhà lại mượn tay Tô Định…khai tử ông Thi</em>.</p>
<p>Họ lập luận rằng vì người Việt cổ theo chế độ mẫu hệ. Các sử quan sau này là nhà Nho để ông Thi còn sống mà bà Trưng Trắc làm vua thì ngược lẽ với…thánh hiền Khổng Mạnh. Nhà Nho không làm như vậy…Vậy mà sau này có nhăm học thức giả, hành giả vị gán ghép: Chính bà là&#8230;vua Hùng Vương thứ nhất nữa.</p>
<p>Trở về chế độ mẫu hệ, 200 năm trước đã biểu hiện qua hình ảnh An Dương Vương mang Mỵ Châu bỏ chạy khỏi Cổ Loa. Hình ảnh cho thấy Mỵ Châu cần được bảo vệ như&#8230;một “thái tử”.</p>
<p>***</p>
<p>Riêng về cái tên Thi Sách thì Phạm Việp trong Hậu Hán thư viết theo dạng chữ Nho không có dấu: <em>“Châu diên lạc tướng tử danh thi sách mê linh lạc tướng nữ danh trưng trắc vi thê trắc vi nhân hữu đảm dũng tương thi khởi tặc mã viện tương binh thảo trắc thi tẩu nhập cấm khê”.</em></p>
<p>Chữ Nho không có dấu mà chỉ nhấn câu. Nếu nhấn ở chữ “Sách” (hoặc đánh dấu phẩy và viết hoa theo chữ Quốc Ngữ): <em>“Châu Diên Lạc tướng tử danh Thi </em><em>Sách</em><em>, Mê Linh Lạc tướng nữ danh Trưng Trắc vi thê…”.</em> Câu này diễn Nôm là: “Con trai Lạc tướng huyện Châu Diên tên <em>Thi Sách</em>, có vợ là con gái Lạc tướng huyện Mê Linh tên Trưng Trắc…”</p>
<p>Sau Thái Tử Hiền, con vua Cao Tông nhà Đường, ông đã chú thích để sửa lại như sau:</p>
<p>Vì <em>“sách”</em> ở đây nghiã là <em>“lấy”</em> và <em>“thê”</em> là <em>“vợ”. </em>Nên phải nhấn ở chữ “Thi<em>”:</em> <em>“Châu Diên Lạc tướng tử danh </em><em>Thi</em><em>, sách Mê Linh Lạc tướng nữ danh Trưng Trắc vi thê”</em>. Diễn nghiã là: “Con trai Lạc tướng huyện Châu Diên tên <em>Thi</em>, lấy vợ là con gái Lạc tướng huyện Mê Linh tên Trưng Trắc…”. Các sử gia Việt không để ý đến phần chú thích của Thái Tử Hiền ở phần cuối sách, cột 3, trang 747, quyển 54.</p>
<p>Cụ Phan ngắn dài:</p>
<p>&#8211; Hóa ra ông Thi mang tên Thi Sách đã được chết tròn trịa, ru ngủ người đời qua bao nhiêu thế hệ được ru vào giấc ngủ ngon cả ngàn năm. Năm tháng qua đi, sử sách nối nhau ra đời, bà Trưng Trắc vẫn là quả phụ bất đắc dĩ. Cua ốc mùi bùn là thế đấy, thưa tiên sinh.</p>
<p>***</p>
<p>Bỗng dưng khi không cụ nhắc đến…cua ốc, sử quan nhớ lại hình ảnh An Dương Vương mang Mỵ Châu bỏ chạy khỏi thành Cổ Loa hình chôn ốc. Thế là sử quan rong ruổi ngược về với <em>thời kỳ Bắc thuộc</em> thêm một lần nữa với An Dương Vương và Triệu Đà 500 trước. Với tình riêng nỗi cảnh, nỗi khách bâng khuâng, chẳng thể cầm lòng&#8230; Sử quan đâu đẩy với cụ Phan:</p>
<p>“….Theo Đại Việt sử ký toàn thư, An Dương Vương họ Thục tên húy là Phán, người Ba Thục đánh vua Hùng lúc vua <em>“đang say rượu”</em> nên thôn tính được nước Văn Lang, đổi quốc hiệu là <em>Âu Lạc</em>.  An Dương Vương đóng đô ở Phong Khê nay là thành Cổ Loa. Thành cuốn tròn như loa ốc nên được gọi là Loa Thành.</p>
<p>50 năm sau Triệu Đà mang quân sang xâm lấn nhưng bị nỏ thần bắn nên bỏ chạy.</p>
<p>Đà sai con là Trọng Thủy vào hầu làm túc vệ rồi câu hôn con gái vua là Mỵ Châu.</p>
<p>Trọng Thủy dụ dỗ Mỵ Châu bẻ gẫy nỏ thần, thế là Triệu Đà đánh thắng được Thục Phán…”</p>
<p>Cụ Phan ngừng lại, moi thêm một điếu thuốc lá và nhướng mắt nấu sử sôi kinh:</p>
<p>&#8211; Nhờ tiên sinh mang đoạn cương mục của Ngô Sĩ Liên vào văn bài dùm: <em>“Về điều ghi Thục Phán người Ba Thục thuộc Tứ Xuyên. Từ đất Thục tới Văn Lang phải qua Vân Nam cả hai ba nghàn dặm, việc ấy đáng ngờ lắm…”</em></p>
<p>Đáng ngờ hơn nữa là theo Tư Mã Thiên: Thục vương tử thôn tính Tây Giang phía tây <em>Nam Việt</em> dựng lên nước Tây Âu Lạc. Sau bị Triệu Đà thôn tính. <em>Nó không phải là vùng đất phía tây đồng bằng sông Hồng”.</em></p>
<p>Mồi điếu thuốc, cụ thong thả:</p>
<p>&#8211; Bản chức đồ rằng Loa thành là biểu hiện trí tuệ độc đáo tuyệt vời của người Việt về mặt khoa học quân sự mà không nơi nào trên thế giới có được! Nên trộm nghĩ như thế thành phải cao như cái tháp cho giống hình con ốc dựng đứng. Rồi tự hỏi khi thành bị đánh, phe địch quân mở cửa tràn vào cái hình xoắn ốc cứ thế mà leo lên thì phe ta chạy đi đâu?</p>
<p>Loay hoay trong cõi người ta, sử quan cũng với tay làm một hơi. Cả hai điếu động quan, điếu hạ thủy nên cả thư phòng đụn khói thuốc lá. Cụ Phan như người cưỡi khói theo mây:</p>
<p>&#8211; Gần đây bản chức <em>bay</em> về Đông Anh, Hà Nội xem tận mắt họ đào xới mới thấy nền móng còn lại của <em>3</em> vòng thành như bất cứ cổ thành nào khác. Không hề có việc các vòng thành cuộn hình xoắn ốc. Thành này nằm gần một vùng ao đầm lắm ốc, lại có một vùng có tên là Vọng Nhân nghĩa là “người ốc”. Nên dân gian gọi nôm là thành ốc chăng? Bản chức chỉ ăn ốc nói mò vậy thôi, thưa tiên sinh.</p>
<p>Nói cho cùng thì di tích Cổ Loa thành nào có khác chi tháp Chàm của người Chàm mà họ rách chuyện quá thể vậy. Ấy là chưa kể theo Ngô Sĩ Liên thì An Dương Vương chưa hẳn đã có mặt ở trên đất nước ta, thưa tiên sinh…</p>
<p>Sử quan như lạc đường vào lịch sử, cụ Phan từ tốn trích câu tầm cú:</p>
<p><em>&#8211; </em>Bản chức suy ngẫm từ Sử ký của Tư Mã Thiên, chương <em>“Nam Việt Úy Đà liệt truyện”</em> kể rằng nước Thục của An Dương Vương ở Quảng <em>Tây</em>. Rồi thành lập nước <em>Tây</em> Âu Lạc với thành Cổ Loa 9 vòng cao ráo và vững chãi ở đồng bằng <em>Tây</em> Giang. Sử ký khẳng định nhiều lần: Nước Tây Âu Lạc của người Âu Lạc.</p>
<p>Nay bản chức xin mạo muội diễn sử với tiên sinh: Khi Triệu Đà thôn tính Tây Âu Lạc…ở bền Tầu. Nhóm Tây Âu Lạc mất nước kéo xuống đồng bằng Bắc Việt. Dân Âu Lạc xây thành để phòng ngự. Thay vì họ xây 9 vòng xoắn ốc như ở bên Tầu thì họ chỉ xây 3 vòng riêng rẽ. Rồi họ truyền miệng với dân bản địa về chuyện Mỵ Châu với Trọng Thủy và thành Cổ Loa với nỏ thần để rách chuyện đấy thôi.</p>
<p>***</p>
<p>Sử quan nghe cụ diễn giải thế cũng lóng chóng quá thể, bèn cho thuyền quay mũi lại 50 năm sau thời Triệu Đà xem thế sự quân mạc vấn lẫm đẫm ra sao:</p>
<p>“…Cũng vẫn theo Ngô Sĩ Liên. Họ Triệu tên húy là Đà, người Nam Hải, đóng đô ở Phiên Ngung, Quảng Châu. Vua chiếm lấy <em>Tượng Quận</em>, lập lên nước <em>Nam Việt</em>.</p>
<p>Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên đều cho rằng Triệu Đà xâm lược nước Âu Lạc của dân tộc Việt rồi sát nhập vào nước Nam Việt. Trong sử, họ sếp vào <em>“kỷ nhà Triệu”</em> như một triều đại trong lịc sử Đại Việt.</p>
<p>Đây là một sự nhầm lẫn, đến thế kỷ 18, Ngô Thì Sĩ trong Việt sử tiêu án mới bác bỏ sai lầm này. Ông khẳng định Triệu Đà <em>“thực chưa làm vua nước ta</em>” vì <em>“nước Việt ở miền Nam Hải, Quận Tượng”</em> …không ở vị trí nước Việt ngày nay.</p>
<p>Thêm một sử liệu Nam Việt của Triệu Đà ở Quảng Tây với chỉ dụ của vua Gia Khánh nhà Thanh: <em>“Trẫm đã duyệt kỹ biểu văn thỉnh phong của Nguyễn Phúc Ánh việc xin phong tên nước là “Nam Việt” không thể chấp nhận được. Địa danh “Nam Việt” bao hàm rất lớn, khảo sử xưa hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây đều nằm trong đó. Nguyễn Phúc Ánh là tiểu di nơi biên giới, lãnh thổ bằng đất Giao Chỉ xưa là cùng, làm sao lại được xưng là Nam Việt cho được. Rõ ràng tự thị muốn đòi thêm đất, nên lệnh truyền cho các quan Quảng Đông, Quảng Tây lưu tâm phòng bị biên giới, quan ải không được trễ nải, lơ là…”</em></p>
<p>Như chẳng vừa ý, cụ Phan nhấm nhẳng với sử quan:</p>
<p>&#8211; Hết Nam Hải đến Quận Tượng, chữ nghĩa tiên sinh cứ rối rít cả lên ai mà thông suốt cho đặng. Hay là để bản chức mạn phép luận ngữ như dưới đây:</p>
<p>“…Thư tịch Trung Hoa chẳng thể giải mã những sử kiện từ thời Đường Ngu, tức 2600 năm trước TCN. Vì lúc ấy nước Trung Hoa còn quá nhỏ bé nên sự hiểu biết của sử gia Trung Hoa bị hạn chế. Sau này các sử gia, kể cả Tư Mã Thiên, phần nhiều mang dòng máu Hán tộc nên viết không chính xác những nước gọi man di chung quanh. Vì vậy nguồn thư tịch Trung Hoa chẳng thể là khuôn vàng thước ngọc cho các sử quan “man di” ta lây đó để viết sử “tiểu di” của mình. Ấy vậy mà cho đến nay, vẫn còn nhăm học giả, biên khảo chưa thoát được sự “cầm tù” của thư tịch Tầu…</p>
<p>Chẳng qua là từ thời sơ khai Nghiêu &#8211; Thuấn nước Trung Hoa nằm <em>trên </em><em>sông Dương Tử</em>, vì không có đồ chí, địa dư đồ nên ngay bây giờ, ngay lúc này đây với khảo cổ hiện đại họ cũng chưa xác định kinh đô Nghiêu &#8211; Thuấn ở đâu huống chi đất Giao Chỉ. Riêng Giao Chỉ chỉ là cái tên với khái niệm mơ hồ. Rất mơ hồ hiểu theo nghĩa là tên gọi nhưng chẳng thấy đất đai. Nam Giao đẻ ra Giao Chỉ. Vì <em>“Giao”</em> từ hai chữ Nam <em>“Giao”</em> với chữ “chỉ” có bộ phụ mang nghĩa là khu vực. Giao Chỉ là vùng đất ở về phía nam của địa danh Nam Giao. Đại thể là nằm dưới sông Dương Tử, có núi Ngũ Lĩnh, có sông Tương chẩy vào Động Đình Hồ.</p>
<p>Rõ ra tên Giao Chỉ đời Chu hàm nghĩa luôn tên nước Sở thời Xuân Thu chiến quốc. <em>Đời Tần Thủy Hoàng gọi Giao Chỉ là Tượng Quận.</em> Đời Hán thì Giao Chỉ mới thành địa danh cố định là bắc bộ Việt Nam, châu thổ sông Hồng.</p>
<p>Nay mạo muội xin vấn tôn ý chứ thành Tây Giai của nhà Hồ hay kinh đô Nam Kinh của nhà Mạc ở đâu? Bản chức chắc mẩm tiên sinh cũng quá mù sa mưa. Ấy đấy, chuyện đồ thư, đồ bản với sử Trung Hoa, sử Việt cứ lẫn lộn về địa đanh, nơi chốn là thế đó. Chuyện vua nhà Thanh đổi ngược tên nước ta là Việt Nam thì bản chức cũng đã tường. Lúc này bản chức mới có thêm sử liệu mới cho biết năm 1980 người ta đà vô tình tìm thấy ngôi mộ của Triệu Muội ở Quảng Châu. Triệu Muội là vua thứ hai nhà Triệu nước Nam Việt. Tức Triệu Văn Vương, con trai của Trọng Thủy, tức cháu nội Triệu Đà. Vì vậy theo ngu ý thì Âu Lạc ngay bên cạnh nước Nam Việt, nên An Dương Vương, Triệu Đà là người nước ngoài. Chẳng thể mang vào quốc sử được, thưa tiên sinh.</p>
<p>Ấy là chưa kể dựa theo Quốc sử quán triều Nguyễn thì An Dương Vương, Triệu Đà tới Ngô Quyền thuộc về ngoại sử. Chính sử chỉ tính từ đời Hùng Vương tới Đinh Tiên Hoàng.</p>
<p>***</p>
<p>Sử quan tự hỏi há lại có cái lý ấy sao? Vì đời Hùng Vương với Ngô Sĩ Liên chỉ được mang vào ngoại sử trong Đại Việt sử ký toàn thư. Thế nên ông chỉ cho cụ Phan phần <em>thời dựng nước Việt Nam</em> mà ông vừa sao bản xong chưa ráo mực…</p>
<p>“…Đại Việt sử ký toàn thư xuất hiện vào đời vua Lê Thánh Tôn, là bộ sử đầu tiên đưa truyền thuyết Âu Cơ &#8211; Lạc Long Quân rồi tới Hùng Vương vào sử sách nước Việt. Viết về họ Hồng Bàng, Ngô Sĩ Liên chép: “Xưa cháu ba đời vua Thần Nông là Đế Minh, có con cả là Đế Nghi, nhân tuần thú phương Nam, đến núi Ngũ Lĩnh, kết hôn với một nàng tiên sinh ra Lộc Tục. Thái tử Lộc Tục lên ngôi, lấy hiệu là Kinh Dương Vương, đặt tên nước là Xích Quỷ.</p>
<p>Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Hồ sinh ra Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ, sinh ra trăm con. Một hôm vua bảo: “Ta là giống rồng, nàng là giống tiên, thủy hỏa khác nhau, chung hợp thật khó”. Bèn từ biệt nhau, năm mươi con theo mẹ về núi, năm mươi con theo cha về biển. Lạc Long Quân phong cho con trưởng là Hùng Vương, đổi tên nước là Văn Lang, đóng đô ở Bạch Hạc đất Phong Châu. Cai trị nước Van Lang theo lối cha truyền con nối đến 18 đời.</p>
<p>Bắt đầu từ năm 2879 và kết thúc vào năm 258 TCN. Tổng cộng 2621 năm, trung bình một đời vua 146 năm. Một chuyện hết sức hoang đường…Vì đời sống trung bình chỉ kéo dài khoảng 50 năm. Đến đời vua thứ 18 thì bị Thục Phán từ phương Bắc đánh bại…”.</p>
<p>Chuyện tích vua Hùng cùng những truyền tích khác như <em>Phủ Đổng Thiên Vương</em>, <em>Sơn Tinh Thủy Tinh</em>…được Ngô Sĩ Liên mang vào sử nước nhà, từ những sách thuật u linh hoang đường như <em>Việt điện u linh tập</em> và <em>Lĩnh Nam chích quái</em>. Sách thuật lại những chuyện thần thoại ở bên Tầu, ở khu vực phía Nam rặng núi Ngũ Lĩnh được gọi là Lĩnh Nam, phía nam nước Sở thời Xuân Thu chiến quốc.</p>
<p>Tuy nhiên Ngô Sĩ Liên có chép lời bàn ở cuối chương về thời Hồng Bàng bày tỏ mối ngờ vực về truyền thuyết Âu Cơ: <em>“Cái thuyết nói 50 con theo mẹ về núi, biết đâu không phải là thế”.</em> Còn Phủ Đổng Thiên Vương, Sơn Tinh Thủy Tinh, ông cho là: <em>“Rất là quái đản, tin sách chẳng vằng không có sách. Hãy tạm thuật lại chuyện cũ để truyền lại sự nghi ngờ thôi</em>”.</p>
<p>Ngô Sĩ Liên đã tiên liệu rất đúng khi nhét các truyền tich vào cổ sử, ông đã gây nỗi hoài nghi với mọi người Việt từ lúc đó cho mãi đến ngày nay. Mặc dù đã dặn kỹ càng tín tận thư bất như vô thư với: <em>“Nước ta thiếu sử sách biên khảo, mà đều do truyền văn. Sao chép có phần quái đản, phiền tạp, chỉ làm lọan mắt”.</em></p>
<p><em> </em>Cũng vậy, với họ Hồng Bàng, sử nhà Nguyễn ta chép lại y như trong sử nhà Lê 300 năm trước với câu đính kèm “<em>Nhưng hẵng cứ chép lại để truyền nghi”</em>. Riêng chuyện bà Âu Cơ đẻ ra 100 con trai, vua Tự Đức phê trong “<em>Ngự chế vịnh sử tổng luân”</em> cuốn 5 trang 49<em>: </em><em>“Kinh thi có câu tắc bách tư nam, đó là lời chúc tụng cho nhiều con trai đấy thôi. Xét đến sự thực cũng chưa đến số ấy. Huống chi lại nói đến trăm trứng! Nếu quả vậy thì khác gì chim muông, sao khác gì lòai người được”.</em></p>
<p>Còn địa giới nước Văn Lang, vua Tự Đức cũng đã tỏ dấu nghi ngờ: <em>“Chẳng qua sử cũ chép quá phô trương đó thôi</em>. <em>Địa giới nước ta từ đời Trần về trước, phía đông giáp biển, phía tây giáp Vân Nam, phía bắc giáp Quảng Tây, phía nam giáp Chiêm Thành. Đại để nhiều sự việc trong Việt sử thất truyền đã lâu, không còn dựa vào đâu mà khảo đính được. Sử đời Lê lại chép quá xa, nào là hư truyền nước Văn Lang phía bắc giáp Động Đình Hồ của nước Sở thì còn xa lắm, Nào biết những ranh rới tới đâu! Chẳng cũng xa sự thực lắm ru”.</em></p>
<p><em> </em>Đọc đến đây cụ Phan ho khan và ậm ừ:</p>
<p>&#8211; Nếu bản chức không phải thì xin tiên sinh miễn thứ cho: Sau tới Việt Nam sử lược, Trần Trọng Kim cũng dùng thẳng tài liệu của Ngô Sĩ Liên nhưng đặt thêm dấu hỏi (?) với năm khởi đầu 2879 TCN? Mãi đến cuối thế kỷ 20, nhiều nhà nghiên cứu lịch sử đã điều chỉnh về niên đại để vua Hùng thứ nhất khởi đầu “sự nghiệp” vào khoảng năm 688 và kết thúc vào năm 208 TCN. Bình quân 26 năm cho mỗi một đời vua.</p>
<p>Thế nhưng có nhiều người “ấm ức” không đồng ý, trong đó có Trần Trọng Kim. Bởi lẽ làm như vậy số năm văn hiến của ông sẽ bị rút xuống còn 3000 năm, thay vì…4000 năm. Trăm dâu đổ đầu tằm cũng tại ông sử thần này: Chẳng là năm 1919, ông đưa đời Hồng Bàng và 4000 năm văn hiến vào sách giáo khoa khiến huyền sử trở thành chính sử, rồi thẩm nhập lâu ngày nên không đổi được nữa.</p>
<p>Sử thần Trần Trọng Kim nặng tình với văn hóa nước nhà, nên mang “văn hiến” vào sử sách. Nhưng khổ một nỗi, tiếng Nôm ta xưa không có chữ nào tương đồng với chữ “văn hiến” này cả. Khởi đầu từ thời vua Trần Dụ Tông, vua Minh tặng cho sứ thần Dõan Thuấn bốn chữ <em>“Văn hiến chi bang”,</em> để nâng địa vị sứ thần nước ta trên sứ thần Cao Ly ba cấp. Đến thế kỷ 15, trong phần đầu bài <em>Bình Ngô đại cáo</em>, cụ Nguyễn Trãi phụ bản thêm <em>“Duy ngã Đại Việt chi quốc, thực vi văn hiến chi bang”,</em> nghĩa là “Xét như nước Đại Việt ta, thực là một nước văn hiến…”.</p>
<p>Mà Đại Việt là quốc hiệu của nhà Trần, hiểu theo nghĩa là hai chữ “văn hiến” với hiền tài, nho phong sĩ khí chỉ có từ đời vua Trần Dụ Tông. Chứ chẳng phải là…4000 năm như sử thần Trần Trọng Kim đã rao giảng.</p>
<p>Với tay cầm bao thuốc lá, cụ chém to khoa mặn:</p>
<p>&#8211; Sử thần Ngô Sĩ Liên cũng như bất cứ ai, viết sử nhưng không có đầy đủ sử tài để mà viết, nhất là gần 13 thế kỷ sau thời vua Hùng. Vâng lệnh vua sọan bộ quốc sử, cụ có lời tâm huyết là cụ “<em>Không dám rong ruổi ngàn năm để làm chuyện chắp vá”</em>. Nhưng cụ đã chắp vá: 18 đời vua Hồng Bàng Việt Nam, rập y khuôn <em>18 đời vua nhà Hạ</em>, triều đại hồng bàng ở bên Tầu. Tất cả chỉ là sử liệu để diễn sử, dựng sử và cụ cẩn trọng đưa vào phần ngọai kỷ, không đưa vào phần chính sử là vậy. Vậy mà có nhăm bài viết trong vài thập kỷ qua liệt kê danh sách các đời vua Hùng. Khổ nỗi tất cả viết bằng…chữ Hán ròng. Như Hùng Huệ Vương, Hùng Tấn Vương…Họ vay mượn y trang tên mấy ông vua Hùng nói tiếng Tầu đời nhà Châu phía bắc sông Dương Tử thời Xuân Thu chiến quốc.</p>
<p>Bỏ bao thuốc vào túi, cụ thêm bát thêm đũa:</p>
<p>&#8211; Nhưng có tìm tòi, mới thấy cái khó khăn của người xưa, khi tài liệu duy nhất để tra cứu lại nằm ở…bên Tầu. 5000 năm trước, chưa có chữ, không có nước nào có tín sử. Địa bàn núi Ngũ Lĩnh mà ta gọi là Lĩnh Nam ở phía nam sông Dương Tử, 5000 năm trước chưa có tên. Địa bàn có thật đấy trong <em>Lĩnh Nam dật sử, Lĩnh Nam chích quái</em> là hai quyển sử đầu tiên của nước ta. Nhưng không có nghĩa là câu chuyện sẩy ra đúng in như vậy. Vô chi bất mộ, đã không xác nhận được địa bàn tộc Việt, lại tranh cãi, tỷ như ai là chủ nhân trống đồng, văn minh lúa nước, tiếng Việt, tiếng Tầu. Và chỉ loanh quanh giữa các thức giả người Việt với nhau, những tấm lòng son cô quạnh giữa hoang phế miếu đường.</p>
<p>Thật sự những người đọc sách quan tâm đến lịch sử không nhiều. Nhưng nhiều người trong số ấy cho là thời Hồng Bàng là chuyện khó tin. Vậy mà có một số bài viết công phu, dài hơi huyền thoại hóa thêm truyền thuyết đã sẵn mờ nhân ảnh. Những <em>“về nguồn”, “di sản văn hóa”, “gìn giữ bản sắc dân tộc”, “4000 năm văn hiến…”</em> được lập đi lập lại qua các tiểu phẩm, tác phẩm hiếm khi nêu rõ nguồn gì, di sản ấy là gì, bản sắc gì, văn hiến tính từ hồi nào…Cứ như thế nước chẩy qua cầu, huyền sử lặng lẽ trôi đi bên đôi bờ thời gian, thưa tiên sinh.</p>
<p>***</p>
<p>Nửa vách đèn tàn, luận cổ đàm kim, đối xử nhau sớm đào tối mận đã lâu…Lại thấy cụ có kỳ nhân dị tướng thật đấy nhưng thượng thông thiên văn, hạ thức địa lý, trung trí nhân sự quá đỗi. Chợt nhớ lại hồi chập tối cụ nói cụ ở trên thiên đàng, suốt ngày bay tới bay lui…Thế nên sử quan lớ ngớ hỏi: “Làm sao tại hạ lên thiên đàng được như các hạ để bay tới cả nghìn năm trước, trăm năm sau….”. Cụ cười vui: “Muốn lên thiền đàng phải…chết trước đã”. Ông nghe hãi quá thể và mất vui. Trong cái đầu sử quan lại lầu bầu: <em>“Ai chẳng phải chết”.</em></p>
<p>Cụ vừa lắc lắc ly rượu vang còn nửa đốt ngón tay, vừa nhìn chai rượu Bordeaux còn non nửa. Cụ lắng đọng với ông như một cơn gió thoảng:</p>
<p>&#8211; Bản chức trộm nghĩ rằng rằng với một nghìn năm trước, một trăm năm sau qua sử thi. Nào có khác gì uống vang cũ, vì sẽ làm ly rượu nhạt nhẽo thêm. Cũng như hãy để những gì thuộc về quá khứ lãng quên trong quá khứ. Đừng khơi lại, chỉ chuốc lây thêm dư vị không lấy gì làm ngọt ngào.</p>
<p>Hãy uống ly vang đang cầm trong tay, tức là hãy sống cho hiện tại. Đừng bận tâm ngoảnh mặt nhìn ngày hôm qua. Đừng cố kiễng chân nhìn về những ngày sắp tới, vì làm thế chỉ khiến ly rượu này đây nguội dần, mất ngon…</p>
<p>Luận xong, cụ ngửa cổ uống hết ly vang. Tiện tay, cụ bỏ chai rượu vào cái ba lô…</p>
<p>Nghĩ đến tử sinh với quan san cách trở, sử quan ngồi thừ ra ở án thư với sầu nhân thế cùng một cõi đi về. Ông lặng lờ nhìn ra ngoài song cửa, tiết trời êm dịu, hình bóng u nhã, móc đọng trên hoa, hương bay nhè nhẹ, trăng chiếu vào hiên, trúc thưa gió lọt…Chợt gió lọt qua khe nên đèn phụt tắt, sử quan lui cui châm thêm dầu. Thư phòng sáng trở lại, đẩy cụ Phan ra khỏi bóng tối của lịch sử và cụ…biến mất. Ai ai cũng biết cụ không còn đó nữa và chỉ còn cánh cửa he hé mở kêu kẽo kẹt…</p>
<p>***</p>
<p>Như cánh bèo dạt nổi trôi suôi dòng sử Việt, ngày tam tuần đại khánh của vua cũng đã tới. Ở cái tuổi tam thập nhi lập, sau những năm tháng tửu lạc vong bần cũng ốm o gầy mòn, thượng bất an hạ tắc lọan nên đâm lo lo.</p>
<p>Vua cho triệu sử quan tới phán:</p>
<p>&#8211; Đời Cô chỉ có một điều mong ước là đọc được bộ cổ sử và sử nhà Nguyễn trước khi nhắm mắt theo các tiên vương. Khanh thu gọn trong vòng mười quyển được chăng?</p>
<p>Sử quan nghĩ đến tập tạp sử 20 chục trang vừa mới hoàn tất vua còn chưa buồn ngó tới. Nói gì đến bộ sử <em>Đại Nam chính biên liệt truyện</em> nhà Nguyễn 87 quyển! Còn cổ sử, cứ theo <em>Đại Việt tòan thư</em> thì bà Khương Nguyên giẵm chân lên vết chân người khổng lồ đẻ ra&#8230;ông khỉ. Ông khỉ từ cây leo xuống dựng lên nhà Chu. Từ đấy Ngô Sĩ Liên mới đào xới cổ sử nước nhà từ Động Đình Hồ, từ cá bò lên bờ hóa rồng, vì vậy mới có con rồng cháu tiên.</p>
<p>Sử quan thấy vậy cũng tạm đủ, nên đáp:</p>
<p>&#8211; Dạ được, hạ thần xin bệ hạ một năm.</p>
<p>Vua gật đầu. Sử liệu mốc meo nằm yên bấy lâu trong tàng kinh các ở sử quán, bỗng chốc được tháo tung từng mảnh, từng chương, lục sọan, tra cứu, bụi xốc lên mù mịt. Sử quan làm việc bất kể ngày đêm để tóm lược trên giấy khô mực cạn. Nhưng rồi cũng xong, bộ sử mười quyển được khệ nệ khiêng vào triều.</p>
<p>Vua thấy vậy, lắc đầu lờ phờ, lào phào:</p>
<p>&#8211; Nay Cô đã sức yếu, khanh thu gọn lại một quyển được không?</p>
<p>Sử quan mệt mỏi tâu:</p>
<p>&#8211; Xin bệ hạ cho thần…mười năm.</p>
<p>Sau mười năm, sử quan nay đã là sử thần. Lão thần đã thành cổ kính, cũ kỹ rồi, mặt mày vàng võ, đi phải chống gậy, tay run lẩy bẩy mang quyển sử vào trình.</p>
<p>Cũng đúng lúc vua đang hấp hối, phều phào:</p>
<p>&#8211; Cô sắp chết…Cô rất ân hận…Vì không biết lịch sử nước nhà!</p>
<p>Vậy hiền khanh hãy tóm tắt bằng…một câu…Một câu thôi.</p>
<p>Với khuôn mặt nhầu nát, khổ sở, lão thần rệu rã bên tai vua…</p>
<p>Vua gật gật đầu, đôi môi khô héo, bỗng nở một nụ cười mãn nguyện rồi băng hà, mang theo câu nói của sử thần về với tiên đế: <em>“…Với lịch sử thì ai chẳng phải chết”.</em></p>
<p>***</p>
<p>Xuân tàn hạ tắt, sau mấy thu sương rơi lá rụng, sử thần trở về chốn cũ. Thấy tử cấm thành nhà Nguyễn hiệu kỳ nâu xẫm, cung cấm, đình đài, hồ sơn, phật điện, quân cơ, chỉ thiếu vắng tiếng chuông Thiên Mụ. Ngoài cửa Thượng Tứ vẫn còn trạm canh, bốn phương tám mặt, chim kêu hoa nở, gió thoảng hương chiều. Lộ trấn, quán xá, phạm điếm, bến chợ, sông thôn dâng khói nước, vẫn chẳng có gì thay đổi, nhất nhất vẫn như xưa…Việc đời biến cải, thời gian đổi dời, cảnh thu ly khiến cảm xúc khôn xiết, sử thần lại gặp non xưa, tựa vào đá, ngủ trước hoa và…đánh một giấc mơ màng trong mộng…</p>
<p>Giấc mộng sử thi một ngàn năm trước, một trăm năm sau vẫn chẳng hề đổi thay…</p>
<p><strong> </strong>        <strong>Thạch trúc gia trang                                                                              </strong></p>
<p><strong>        Ngộ Không Phi Ngọc Hùng</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Nguồn:</p>
<p>Thượng kinh ký sự &#8211; Hải Thượng Lãn Ông</p>
<p>Vui buồn của người chép sử &#8211; Ng. Ph. Vĩnh Quyền</p>
<p>Từ chính sử đến dã sử &#8211; Nguyễn Đức Cung</p>
<p>Trần Quốc Vượng: Tính trời nết đất – Viên Linh</p>
<p>Cần hiểu đúng Nguyễn Bỉnh Khiêm và vương triều Mạc – Trần Khuê</p>
<p>Nhìn lại Tây Sơn dưới góc cạnh tài liệu lịch sử ngoại quốc – Nguyễn Văn Lục</p>
<p>Đi tìm một mảnh khuyết sử qua Khâm Định Annam sử lược &#8211; Nguyễn Duy Chính</p>
<p>Một thời kỳ khuyết sử &#8211; Nguyễn Phan Quang</p>
<p>Ai giết Lê Lai ? – Nguyễn Dư</p>
<p>Tiểu sử Lê Lợi: Một vài chi tiết khác với Đại Việt sử ký toàn thư – Hồ Bạch Thảo</p>
<p>Từ Phan Liêu, Đặng Dung đến Nguyễn Trãi – Nguyễn Xuân Phước</p>
<p>Về tiểu thuyết lịch sử &#8211; Nam Dao</p>
<p>Đọc ‘’Đất Trơi’’ của Nam Dao – Trần Quang Vũ</p>
<p>Tại sao gọi là vua Lê Đại Hành – Huy Phan</p>
<p>Vua Lê Đại Hành – Trần Quốc Vượng</p>
<p>Một cách tiếp cận những vấn đề cổ sử Việt Nam – Trương Thái Du</p>
<p>Có đúng thành Cổ Loa hình xoắn ốc? – Hà Văn Thùy</p>
<p>Thành Cổ Loa có mấy vòng? – Đỗ Văn Ninh</p>
<p>Danh nhân đất Việt : Lê Văn Hưu – Nhiều tác giả</p>
<p>Những sử liệu liên quan đến việc đặt tên nước Việt Nam – Hồ Bạch Thảo</p>
<p>Lăng mộ Triệu Văn Đế ở Quảng Châu – Nguyễn Duy Chính</p>
<p>18 đời vua Hùng Vương : Một ý niệm liên tục – Nguyên Nguyên</p>
<p>Văn hóa cà phê – T.Vấn</p>
<p>Từ huyền sử đến sự thật – Trần Thị Vĩnh Tường</p>
<p>Việt Điện U Minh Tập – Lý Tế Xuyên</p>
<p>Lĩnh Nam Chích Quái &#8211; Trần Thế Pháp</p>
<p>Đại Việt Sử Ký TòanTthư – Ngô Sĩ Liên</p>
<p>Khâm Định Việt Sử Thông Giiám Cương Mục</p>
<p>Việt Nam Sử Luợc &#8211; Trần Trọng Kim</p>
<p>An Nam Chí Lược – Lê Trắc</p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong>              </strong></p>
<p><strong>              </strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2018</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ngo-khong-thuyen-con-nguoc-ben-nuoc-chay-doi-dong-ii/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Không: Thuyền Con Ngược Bến…  Nước Chẩy Đôi Dòng (I)</title>
		<link>https://t-van.net/ngo-khong-thuyen-con-nguoc-ben-nuoc-chay-doi-dong-i/</link>
					<comments>https://t-van.net/ngo-khong-thuyen-con-nguoc-ben-nuoc-chay-doi-dong-i/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 22 Nov 2018 13:26:23 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=37660</guid>

					<description><![CDATA[Thuyền Câu &#8211; Tranh: Mai Tâm Canh khuya đèn tàn, sử quan dường như tối qua thức suốt đêm, sáng nay trước sân vài ba cây trổ hoa kết quả, ngậm hương mang tuyết, mờ mờ sương phủ lùm cây xa xa. Vậy mà trông mặt mũi ông ủ dột như chiếc lá ướt gặp [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/11/Thuyền-câu.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-37661" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/11/Thuyền-câu-300x199.jpg" alt="" width="344" height="228" srcset="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/11/Thuyền-câu-300x199.jpg 300w, https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/11/Thuyền-câu-768x509.jpg 768w, https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/11/Thuyền-câu-1024x678.jpg 1024w, https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/11/Thuyền-câu.jpg 1920w" sizes="(max-width: 344px) 100vw, 344px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><em>Thuyền Câu &#8211; Tranh: Mai Tâm</em></p>
<p>Canh khuya đèn tàn, sử quan dường như tối qua thức suốt đêm, sáng nay trước sân vài ba cây trổ hoa kết quả, ngậm hương mang tuyết, mờ mờ sương phủ lùm cây xa xa. Vậy mà trông mặt mũi ông ủ dột như chiếc lá ướt gặp mưa. Bởi lẽ nhìn suông đất trời như thế này với việc đời biến cải, thời gian đổi dời, hạ qua thời thu tới, đông tàn ắt xuân sang, luật biến dịch tự nhiên là thế. Tất cả như vừa mới qua giấc mộng dài, nhưng chưa chín một nồi kê…</p>
<p>Chẳng là với giấc mộng đồ thư nửa gánh, gươm đàn một bao, ông mang cái hoài bão lấy sở học ra kinh bang tế thế…Vậy mà con đường hoạn lộ không ngoài tiến vi quan thoái vi sư. Ông chỉ là thái tử thiếu bảo tức thầy đồ bát nháo dậy dỗ con vua, cứ như quan thái giám trông coi cung nữ, phi tần không bằng. Thiên bất đáo địa bất chi như ông thế đấy. Ấy vậy mà đến cái tuổi tứ thập nhi bất hoặc, tưởng ông không còn gì huyễn hoặc nữa! Thì nhờ ơn vua lộc nước, ông được tiến cử có chút danh vị trong triều, đó là tước vị là sử quan. Nay ông đang ngồi ở sử quán rị mọ sao chép, thêm bớt bộ thông sử của những sử thần tiền nhiệm. Vả lại bộ thông sử cần hoàn tất trước lễ đại khánh, điều đó ắt hẳn sẽ làm vua ta vui lòng.</p>
<p>***<br />
Dùng xong bát cháo gà nóng, sử quan sai trà đồng bày bàn trà trước hàng hiên. Ông muốn được thảnh thơi đôi chút trước khi nhập triều. Ông đang vờn mây khuấy nước cùng chim kêu hoa nở, gió thoảng hương bay thì buổi sáng nồng nã của sử quan bỗng chấm dứt đột ngột vì có tiếng reo hò từ phía cửa Thượng Tứ vọng lại. Ông nghe rõ tiếng chân nhiều người rầm rập trên đường mỗi lúc một gần.</p>
<p>Đặt chén trà đang uống dở xuống, ông đứng lên trông cho rõ hơn. Qua mặt tường thành người ngựa đi được, phía ngoài là hàng rào gỗ dầy đặc, dưới hàng rào có hào sâu, trong hào thả chông, mười phần kiên cố. Ngoài tường thành là quán xá, bốn phương tám mặt, nơi nào cũng cây cối um tùm, qua hàng cây ông thấy loáng thoáng một nhóm người cầm gậy gộc đuổi theo một con chó. Họ vừa đánh vừa quát ầm ĩ: “Chó dại! Đánh chết nó đi!”. Chó và người vụt khuất sau mảng lá rậm của rặng cây ngô đồng. Tiếng kêu ăng ẳng của chó, tiếng gào la hét của người đập vào tai ông. Lát sau, đám đông tản mát ai về nhà nấy.<br />
Chuyện vặt ngoài kia chẳng đọng lại lâu trong tâm trí sử quan. Lòng dạ ông rối như tơ vò vi bộ thông sử ông đang hiệu đính đây còn nhiều khuyết sử cần phải cẩn án, hiệu đính này kia.</p>
<p>Chiều về, gặp buổi mây chiều gió sớm với bữa yến thưởng trăng tại Vọng nguyệt lâu, trong khi chờ vua giá lâm, các quan nói chuyện rôm rả về cái chết của con chó hồi hôm. Sử quan dửng dưng, nhưng các mẩu đối thoại cứ nhè chui tọt vào tai ông.</p>
<p>Thượng thư bộ lễ răng to như bàn cuốc, chép miệng: &#8220;Hình như là chó dại&#8230;&#8221;<br />
Đông các điện đại học sĩ không bằng lòng với đồng liêu: &#8220;Còn hình như gì nữa? Chính mắt tôi trông thấy lưỡi nó thè ra, nước bọt nhễu trắng mõm.&#8221;<br />
Tả thừa tướng cãi um lên: &#8220;Sao lại chó hoang, phải có chủ chứ?<br />
Hàn lâm viện học sĩ gật gù tiếp lời: &#8220;Kẻ nào là chủ con chó hè?&#8221;</p>
<p>Vọng nguyệt lâu ắng lặng chốc lát. Nghe thủng chuyện, sử quan trầm ngâm nhìn áng mây bay và tự hỏi sáng nay chính ông đã thấy nó chạy ngoài tường thành. Bây giờ ông không dám chắc một điều gì cả! Vua Khải Định vẫn còn đang mải mê coi hát bộ trong hậu cung. Câu chuyện lại tiếp tục với đông các điện đại học sĩ: &#8220;Nó đã cắn nhiều người, đánh chết thế là phải.&#8221;<br />
Thượng thư bộ binh: &#8220;Đánh là thế nào? Bọn lính giản bắn mấy phát tên mới giết được nó.&#8221;<br />
Tiền thị vệ giọng xởi lởi: &#8220;Bẩm phải.&#8221;<br />
Hữu thừa tướng gạt đi: &#8220;Không có cung tên nào hè. Chính mắt tôi thấy con chó bị đánh bằng gậy!&#8221;</p>
<p>Vừa lúc vãn tuồng cải lương, vua giá lâm. Sau khi miễn lễ cho các quan, vua vui vẻ báo tin: &#8220;Các khanh biết không? Sáng nay, một ngự lâm quân của trẫm đã bắn chết con chó bằng súng điểu thương!&#8221; Không ai bảo ai, các quan đại thần nhất loạt đứng lên, nâng chung rượu khai vị bằng hai tay, đồng thanh: &#8220;Lạy thánh mớ bái, thật không hổ danh ngự lâm quân!&#8221;</p>
<p>***<br />
Trên đường về sử quán, sử quan bã bười, tươi tớp về cái chết của con chó khiến ông bối rối. Như thị ngã văn, sự việc vừa xảy ra ngay trước mắt, ông còn chưa biết đâu là sự thật thì làm sao mà viết thành văn bản cho sử thi? Huống chi nhân vật lịch sử, sử tài cách ông cả chục năm mới đây thì mù mờ biết nhường nào? Ấy là chưa kể sử kiện sẩy ra trước ông cả ngàn, ngàn năm cùng gió thổi mây bay. Vì vậy những gì ông đang hiệu chỉnh trong bộ thông sử đây, với giác ngoại biệt truyền bất lập văn tự, nếu như có bậc thức giả nào đấy văn kiến súc tích, sở kiến cao minh để ông kiến văn sở thị thì hay biết mấy. Ông nghĩ thêm đêm nay ắt hẳn phải thay bấc đèn nhiều lần và quay lại thăm chừng đèn đóm…</p>
<p>Bất chợt ông ngước mắt nhìn lên bức truyền thần vẽ vị tiền bối của ông là cụ Phan Thanh Giản, cụ đồng thời cũng là Quốc sử viện giám tu ở đây, mà trước kia thời vua Tự Đức được gọi Quốc sử quán. Vị đại thần là người đã soạn thảo bộ <em>Đại Nam hội điển, Khâm Định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam nhất thống chí</em>. Cụ mặc áo đại triều mầu thiên thanh, đội mũ cánh chuồn, chân mang hia cánh phượng, hai tay đặt trước đầu gối thấy rõ đủ mười ngón tay. Cụ trông thật cương nghị và quắc thước với bộ râu trắng, dường như đang nhìn ông muốn…dò hỏi chuyện gì làm ông đang rối trí đây.</p>
<p>Chuyện là sử quan đang nổi trôi bồng bềnh như con thuyền gặp sóng với mấy cái tựa đề sử thi của cụ Phan gì mà lằng nhằng quá thể! Trong một giây phút yên sĩ phi lý thuần, ông bật ra ý đồ hay là hãy tránh dẵm lên những bước chân sói mòn của tiền nhân dựng sử theo “<em>kỷ truyện”</em> của Tư Mã Thiên với tiểu sử nhân vật. Hay như cụ Phan chẳng hạn với <em>“sử biên niên”,</em> sử liệu viết theo theo niên hiệu, niên đại mà Khổng Phu Tử là người tiên khởi. Hoặc giả như với <em>“sử cương mục”</em> của Chu Hy với tiểu đề ở đầu chương là đề mục rồi dàn trải dông dài hồi sau.</p>
<p>Vì vậy ông chẳng rỗi hơi lặp lại toàn bộ thông sử vì ai cũng biết rồi, nhiều khi chỉ làm rối ren thêm. Những gì ông đang lu bu đây, tất cả chỉ là những mảnh rời của những đoạn tạp bút, nói cho ngay là…tạp sử. Trong tập tạp sử này, ông không bản lai diện mục như với cái chết của con chó sáng nay để đi tìm đâu là sự thật. Ông chỉ đề mục một vài khúc ông chưa thấu đáo của triều Nguyễn mà ông đang là bề tôi. Rồi cứ thế mà ngược dòng lịch sử khoắng mái chèo dăm ba uẩn khúc của khuyết sử vẫn còn tồn nghi. Hay nói khác đi, ông muốn đối thoại với lịch sử một nghìn năm trước, một trăm năm sau…Ấy vậy mà nước sông ba trăm năm mới đổi dòng một lần, thế nên chẳng hẳn là suôi chèo thuận mái. Rõ ra sử quan như chiếc thuyền con ngược bến Văn Lâu về một một vùng hoang vu vạn lý…</p>
<p>***</p>
<p>Với tay lấy bộ tứ bảo&#8230; Gia dĩ ông là thái tử thiếu bảo, ông chấm cái bút lông vào nghiên mực và bắt đầu với con vua trước vốn là ấu đồ của ông…</p>
<p>“…Thái tử Bửu Đảo ăn ở với nhiều cung phi, cung tần mà vẫn chưa có người nối dõi, thì trong cung sẩy ra chuyện cô gái hầu của công chúa Ngọc Lâm, con vua Đồng Khánh, xuất thân từ gia đình dân giả, tên Hòang thị Cúc.</p>
<p>Một hôm trong cung khám phá ra cô hầu Cúc có thai.</p>
<p>Đức thái hậu, chánh phi của vua Đồng Khánh, nghi vua tằng tịu với con hầu, bèn cho đào một cái hố sâu, đổ nước, bắt cô Cúc đứng ở dưới đó, để cho lính tra khảo. Nhưng cô vẫn một mực không chịu khai, Bửu Đảo thấy vậy, thương hại nên nhận là “tác gỉa” của bào thai này.</p>
<p>Vua Đồng Khánh băng hà, Bửu Đảo vì không có con trai nối dõi nên bị hội đồng hòang tộc lọai ra ngòai. Nhưng bà Hòang thị Cúc, tuy xuất thân từ giới dân giã, nhưng rất khéo léo, vận động thẳng với Khâm Sứ Trung Kỳ và Tòan Quyền Đông Dương để Bửu Đảo lên nối ngôi tức vua Khải Định. Còn cái bào thai sau là thái tử và sẽ là người kế vị vua…”</p>
<p>Chuyện Hoằng Tôn Tuyên hoàng đế Khải Định chỉ có vậy, nếu vẽ rết thêm chân chăng nữa không ngoài là ông vua mê đào hát. Ngay chính ông múa bút tự trào với khẩu khí chẳng biển ngẫu chút nào: <em>“Xuân xanh tuổi ngoài đôi chục, chơi đục trần ai, khi bài khi bạc, khi tài bàn vác, khi tổ tôm quanh, khi năm canh ngồi nhà hát, khi gác cổ ả đào, khi ghẻ tầu con đĩ xác, khi nằm rạp thuốc phiện tiêm, hoang ra dáng, rạng ra rồng, ngông ra phết, cóc biết chi tồi, miệng én đưa qua mùi gió thoảng”.</em></p>
<p>Thế nên vua thường tuần du vào Sài Côn để xem hát bộ. Sài Côn ở đâu sử quan cũng chẳng tường. Huống chi Bắc thành ngoài Bắc bộ, hay Nam Kinh mãi ở bên Tầu, sách địa dư, địa chí không có nên viết sử nhiêu khê không phải là ít. Còn vua kế vị là ai, vương hiệu gì là chuyện của sử quan kế tiếp, như ông đang làm cái công việc của Quốc sử viện giám tu đây. Tiếp đến, ông mò mẫm theo lịch triều những <em>triều vua nhà Nguyễn thuộc Pháp</em> như Duy Tân, Thành Thái, Hàm Nghi, Kiến Phúc, Hiệp Hòa, <em>Dục Đức</em>…Va chạm tới những triều vua nhà Nguyễn thuộc Pháp, ông khựng lại với truyền kỳ bốn tháng ba vua. Thêm câu dân gian <em>“Một nhà sinh được ba vua – Vua còn, vua mất, vua thua chạy dài”</em> nên ông ngán ngẩm quá đỗi.</p>
<p>Ngán ngẩm hơn nữa là đụng tới những triều đại <em>nhà Nguyễn thời kỳ độc lập</em> là gặp ngay Dực Tông Anh hoàng đế Tự Đức. Vua Tự Đức không có con nên nhà nước Bảo Hộ Pháp chọn con nuôi Tự Đức đưa lên ngôi là với đế hiệu Dục Đức. Cứ theo ông: Nhà Nguyễn chính thống hay chính danh thì ngừng lại ở triều Tự Đức hay quá lắm là Khải Định. Mò mẫm ở thời Tự Đức, ông bắt gặp Bùi Viện, Phan Thanh Giản đã xuất dương nhiều nơi. Ông như chiếc đèn dầu đang muốn soi rọi những bước đi của hai vị tiền nhân này thì…</p>
<p>…Thì bỗng cái đèn hạt đậu đang leo lét bỗng lóe lên một cái như muốn phụt tắt. Ông chồm người khều cái tim dầu, và quay lại, ông thuỗn người ra vì vừa nhắc đến <em>“triều vua nhà Nguyễn thuộc Pháp”</em> thi ông thấy rõ mồn một…một ông Tây mặt như lá chuối hơ lửa, đang đứng trong thư phòng tự lúc nào. Ông dụi cái đóm lửa và thần ra nhìn ông khách lạ như gặp lại “người về tự trăm năm”. Người khách lạ ngó lơ như không có ông ở đấy, lẳng lạng kéo cái ghế trông ngồi xuống, bình thản săm soi bản trước tác mà ông đang rị mọ…</p>
<p>Đèn đóm đã sáng lại, sử quan ngắm ông Tây kỹ hơn rõ ra đại nhân này cao lớn như quan Khâm Sứ Trung Kỳ vẫn thường đến gặp bà Hòang thị Cúc: Ông liếc trộm thấy quan đội mũ chùm hụp như cái nồi. Lưng đeo cái hồ lô. Áo không có cánh tay, hai túi có nắp đậy như cái liếp cửa trái bếp, hai cầu vai có mảnh vải như con cá rô con nằm bẹp dí. Áo bỏ trong quần. Quần không có ống, chân quấn vải giống cái rọ bắt cua và mang giầy da bò. Người quan ngoại có nét mặt đồng nhan, nghiễm nhiên như tùng bách. Như có linh tính, sử quan quay lại nhìn bức truyền thần đằng sau lưng, và đập vào mắt là cái khung trống trơn…</p>
<p>Ông đang trơ mắt ếch thì nghe cười khủng khỉnh:</p>
<p>&#8211; Bản chức là Phan Thanh Giản đây.</p>
<p>Sử quan như Từ Hải chết đứng vì chẳng hiểu là người hay…ma. Vừa ngây người nhìn bộ áo quần cụt ngủn, ông vưa suy nghĩ ngôi có tôn ti, lễ có cấp bậc nên bối rối ra mặt và lắp bắp:</p>
<p>&#8211; Đại…đại nhân là…là cụ…cụ…</p>
<p>&#8211; Cụ cố gì. Tiên sinh cứ khách sáo bày vẽ.</p>
<p>Rồi “cụ” chỉ vào bộ đồ đang mặc:</p>
<p>&#8211; Hồi qua Tây nhờ nhìn cái đèn đường chổng ngược nên bản chức sắm được đấy.</p>
<p>Sử quan líu lưỡi:</p>
<p>&#8211; Cụ đi…đi…Tây.</p>
<p>Cụ Phan cười cười:</p>
<p>&#8211; Thì còn ai trồng khoai đất này, sử của tiên sinh chép rành rành như thế đấy.</p>
<p>Thủ lễ vấn danh xong nhưng trong cái đầu đất của sử quan như dầu tẩm bột gạo vì với cụ Phan, ông một lòng tác dạ ngưỡng mộ đã lâu. Nay nhân giải vong niên, thật là tam sinh hữu hạnh mới được hội kiến nên ông cứ đực ra như ngỗng đực. Vừa lúc cụ chỉ vào dòng chữ <em>“…Còn cái bào thai sau là thái tử và sẽ là người kế vị vua…”</em> ngay trước mắt ông và dậy:</p>
<p>&#8211; Hoàng tử Vĩnh Thụy vốn người ngoại tộc, được Khải Định nhận làm con nuôi. Khi Khải Định hoàng đế qua đời ở tuổi 41. Các quan phụ chính đại thần như Tôn Thất Hân , Nguyễn Hữu Bài vội vàng ra bản thông tri đưa lên nối ngôi, lấy hiệu là Bảo Đại, mới 13 tuổi.</p>
<p>Rồi ông tiếp:</p>
<p>&#8211; Năm 1949, Bảo Ðại đã chọn Sài Gòn làm kinh đô của Việt Nam.</p>
<p>Câu nói len lỏi chui vào tai sử quan, cụ nói giọng mũi lơ lớ…như quan Tòan Quyền Đông Dương và cho ông hay thái tử sau này là…vua. Nghe vậy, ông hân hoan ra mặt nhưng sẽ tham vấn sau. Nhân nghe đến địa danh Sài Côn mắc chứng gì lại là <em>kinh đô Sài Gòn</em>, trong khi ông đang ngồi bí rị ở sử quán kinh đô Huế<em>. </em>Một công đôi chuyện có cụ đây, ông định biện giải là bấy lâu nay ông lạc vào mê hồn trận với những nhà biên khảo, học giả cùng địa danh bắc giáp địa dư, tây giáp địa chí như lạc vào bát quái trận đồ. Chưa hết, những sử quan đi trước với mỗi người mỗi niên đại, niên hiệu khác nhau nên ông chả biết đâu mà lần với sử nước nhà. Thêm nỗi huyền hoặc, huyền sử nữa là sao cụ lại biết quá khứ vị lai ấm sinh Vĩnh Thụy của ông. Ấm sinh ông nay mới ba tuổi, mười năm nữa sẽ làm vua, chạy trời không khỏi nắng ông sẽ chẳng là…<em>quan phụ chính đại thần</em>.</p>
<p>Thế nên ông càng líu ríu tợn và đâm ra nói chữ:</p>
<p>&#8211; Sao các hạ hay mà tại hạ chẳng…hay.</p>
<p>Cụ nói giọng khàn khàn, tịt tịt:</p>
<p>&#8211; Hay ho gì đâu…Chẳng dấu gì tiên sinh, bản chức vốn là người thiên cổ, tức người cõi trên ở chốn thiên đàng. Bản chức giống thiên thần suốt ngày bay tới bay lui. Lắm khi bản chức bay tới cả nghìn năm trước, trăm năm sau mà chữ nghĩa sau này gọi là “lỗ hổng thời gian” ấy mà, thưa tiên sinh. Vì vậy có một số người vượt thời gian không gian, ngược lại quá khứ và tìm thấy tiền kiếp của mình ở một góc làng xa xôi hẻo lánh nào đó. Thỉnh thỏang họ lại mang về dăm cái nồi, cái chảo hoen rỉ, cũ kỹ cả trăm năm. Hoặc họ lạc đường tới hậu kiếp, mang về…cái máy nói cầm tay, cái máy vi tính. Như bản chức đây…</p>
<p>***</p>
<p>Nói xong, cụ lôi trong túi áo ra bao giấy bóng kính to bằng bàn tay có hàng chữ Tây Phillips Morris để lên bàn…Sử quan thần ra chẳng biết là cái của nợ gì? Giọng cụ khừng khực: “Thuốc lá của ông Hồ đấy”. Sử quan lại thêm lụi đụi vì chưa hết lạ lẫm với cái tên Bảo Đại, nay lại đến ông Hồ! Thêm nữa, ông thấy cụ xuất dương có khác, đúng là ý tại ngôn ngoại, học thuật tinh vi, hình mạo nham cổ, ắt có cái hiểu biết hơn người. Nhân khi nghe cụ dậy có thể quay về tới cả nghìn năm trước, sử quan đang có những khúc mắc về thời Hùng Vương dựng nước. Đang định thao tác thì cụ đã dông dài:</p>
<p>&#8211; Như trên đã thưa thốt, bản chức chẳng hay ho gì. Thế nên có chuyện mọn muốn bộc bạch rằng cái đám quan chức của ông Hồ vừa rồi là Trần Huy Liệu, Viện trưởng viện sử học Bắc bộ phủ đã quấy hôi bôi nhọ bản chức như thế này đây, tiên sinh nghe có nhi nhĩ thuận chăng: <em>“Tất nhiên khi chép về sử kiện vua quan nhà Nguyễn như Phan Thanh Giản cắt đất ba tỉnh miền Đông, rồi ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ và dâng cả đất nước Đại Nam cho xâm lược Pháp thì các sử gia miền Nam coi đó không phải là chuyện…phản quốc và vô liêm sỉ”.</em></p>
<p>Thêm một lần, sử quan lại nghe lẻng xẻng những cái tên kim tiền gì mà với <em>“vô liêm sỉ”,  “Bắc bộ phủ”, “sử gia miền Nam”, “Trần Huy Liệu”.</em> Nhưng lần này sử quan nhất định giựt gọng cụ cho ra nhẽ, thế như chưa kịp rọ rạy, cụ đã đỡ nhời:</p>
<p>&#8211; Nay tiên sinh đã biết hậu sự của Bảo Đại rồi. Nhưng nhiều sử gia miền Nam vẫn chưa hay nguồn gốc thế tục, bản quán thổ ngơi của người đứng đầu Bắc bộ phủ là Hồ Chí Minh.</p>
<p>Óc ách xong, cụ lụi cụi lấy hai hòn đá cuội trong túi áo thuộc địa xoẹt vào nhau cái xọet…làm ra lửa, rồi châm vào nhúm bùi nhùi để mồi điếu thuốc, cụ lặng lờ thở một đụn khói. Tiếp, cụ moi trong cái hồ lô đưa cho sử quan một tập thư kinh có cái tựa là “Vào Cõi”. Sử quan mừng quá đỗi nhưng có ý hồ nghi, vì có túc duyên mới được sách qúy. Ắt hẳn là “dâm thư” đây? Mà dâm thư chẳng hẳn là theo nghĩa dân gian, cứ theo Hán tộc thì ấy là sách quý, dậy khôn cho nhân tình thế thái điều hay lẽ phải hay chuyện quốc sự sẽ có lợi cho trăm họ…</p>
<p>Bỗng sử quan nghe cụ dậy: “Tư liệu này là của một trong tứ trụ sử gia miền Bắc có tên là Trần Quốc Vượng. Tiên sinh dở trang 252 đọc thử xem sao”. Cụ đằng hắng tiếp: “Trần quân hao tổn công sức về chuyện này mà mất hết công danh bổng lộc. Vậy mà may, may mà không thành thái giám như Tư Mã Thiên”.</p>
<p>Sử quan râm ran, được cụ biết đến lại cho đọc kỳ thư nên thực là thiên tải kỳ phùng nên bất giác mừng rỡ, vục mặt vào mấy trang sách bập vào truyện và nín thở đọc thẳng một hơi…</p>
<p>“…Trở lại câu chuyện một người tuy có tên tưổi nhưng không lấy gì làm nổi tiếng lắm, hay đúng hơn cả là đã trở nên có tên tuổi nhờ gắn bó máu thịt với một người có tên tuổi: Đó là câu chuyện về cụ thân sinh ra Hồ Chí Minh, cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc hay Nguyễn Sinh Huy.</p>
<p>Phó bảng là một học vị dưới tiến sĩ, chĩ mới xuất hiện ở Việt Nam từ đời vua Minh Mạng nhà Nguyễn. Trong một lá đơn bằng tiếng Pháp gởi Bộ Thuộc địa Pháp, Nguyễn Tất Thành (sau là Hồ Chí Minh) đã khéo dịch tên học vị của phụ thân mình là sous docteur như ngày nay ta gọi là phó tiến sĩ.<br />
Quê hương cụ, là làng Kim Liên, tên Nôm là làng Sen huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An. Nhưng đậu phó bảng rồi cụ đã làm Thừa biện Bộ Lễ ở Huế rồi Tri huyện Bình Khê, Bình Định. Rồi bỏ quan hay bị mất chức quan, cụ phiêu dạt vào Sài Gòn, ngồi bắt mạch kê đơn ở tiệm thuốc bắc Hoa kiều, để có chút cơm rượu&#8230; Lại phiêu lãng tới Cao Lãnh, Sa Đéc. Mộ cụ phó bảng được xây lại cuối năm 1954 sau sự kiện Genève tạm thời chia đôi đất nước Việt Nam.<br />
Người ta làm như thế vì ông Hồ. Cũng như mộ bà Hoàng Thị Loan vợ cụ phó bảng và là thân mẫu Hồ Chí Minh mới được xây lại vài năm nay ở Nam Đàn, Nghệ An. Người ta làm thế cũng vì ông Hồ. Hai ngôi mộ này, cũng như bản thân lăng Hồ Chí Minh giữa lòng Ba Đình, Hà Nội.</p>
<p>Cũng đã có dăm cuốn sách nói về gia thế ông Hồ Chí Minh, nhưng câu chuyện tôi sắp kể dưới đây thì <em>chưa từng ai viết</em>.<br />
Chỉ là lời <em>truyền miệng dân gian</em>, ở Kim Liên, Nam Đàn, ở một số người gốc Nghệ hiện sống tại Hà Nội và nhiều nơi khác trên mảnh đất Việt Nam. Nếu trong Folklore, có hiện tượng mà các nhà nghiên cứu gọi là lan truyền thì từ lâu câu chuyện này cũng đã lan truyền từ làng Kim Liên ra khắp huyện Nam Đàn rồi khắp tỉnh Nghệ Anh rồi rộng ra hơn nữa&#8230; Nhưng phạm vi lan truyền và số người biết câu chuyện này phải nói là hạn hẹp. Vì người ta <em>SỢ</em>.</p>
<p>Sợ động chạm đến ông Hồ. Một cái sợ vô nghĩa nhưng người ta cứ gán cho nó cái ý nghĩa chính trị giả tạo. Vì như bà Trịnh Khắc Niệm viết trong cuốn truyện bằng tiếng Anh <em>Life and Death in Shanghai</em>, đã được dịch ra tiếng Việt: <em>Ở xã hội xã hội chủ nghĩa, cuộc đời của các lãnh tụ cộng sản được coi là &#8220;bí mật quốc gia</em>&#8220;. Nhưng đây không phải là chuyện ông Hồ, tuy cũng có dính dáng đến ông Hồ. Mà vì đây là chuyện cụ thân sinh ra cụ Hồ, cụ Nguyễn Sinh Huy, mà cũng là chuyện truyền miệng thôi, nghĩa là thuộc phạm trù giai thoại, Folklore, chứ không thuộc phạm trù lịch sử.</p>
<p>Người dân Kim Liên đồn rằng Nguyễn Sinh Huy không phải là thuộc dòng máu mủ của dòng họ Nguyễn Sinh làng này. Mà là con của một người khác: ông đồ nho, cử nhân Hồ Sĩ Tạo.<br />
Cử nhân Hồ Sĩ Tạo thuộc dòng họ Hồ nổi tiếng ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, đây là quê gốc của Hồ Quý Ly, nhân vật lịch sử cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV. Đây cũng là quê gốc của anh em Tây Sơn thế kỷ XVIII, vốn họ Hồ ở xứ Nghệ. Khoảng đầu những năm 60 của thế kỷ XIX cử nhân Hồ Sĩ Tạo có thời gian ngồi dạy học ở một nhà họ Hà, người làng Sài, cùng một xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, với làng Sen, Kim Liên. Đó là một nhà nghệ nhân dân gian, trong nhà có &#8220;phường hát ả đào&#8221;.</p>
<p>Nhà họ Hà có cô con gái tên là Hà Thị Hy, tài hoa, nhan sắc, đàn ngọt, hát hay, múa khéo, đặc biệt là múa đèn (đội đèn trên đầu, để đèn trên hai cánh tay, vừa hát vừa múa mà dầu trong đĩa không sánh ra ngoài) nên người làng thường gọi là cô Đèn. Người ta thường bảo: má hồng thì mệnh bạc. Vì cô Đèn, Hà Thị Hy tài hoa nhan sắc là thế mà rồi ba mươi tuổi vẫn chưa lấy được chồng. Mà trong nhà thì lại luôn có bậc văn nhân: ông cử Hồ Sĩ Tạo. &#8220;<em>Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén</em>&#8221; là lẽ thường theo tâm lý dân gian, huống chi là giữa văn nhân &#8211; tài tử &#8211; giai nhân. &#8220;Trai tài gái sắc&#8221; mà! Và cô Hà Thị Hy bỗng dưng &#8220;không chồng mà chửa&#8221;. Mà ông cử Tạo thì đã có vợ, có con rồi! Lệ làng ngày trước phạt vạ rất nặng nề, sỉ nhục hạng gái &#8220;chửa hoang&#8221;, hạng &#8220;gian phu dâm phụ&#8221;. Để tránh nỗi nhục cho con gái mình và cho cả ông cử Tạo đang làm &#8220;thầy đồ&#8221; được hết sức kính trọng trong nhà mình, họ Hà phải bù đầu suy tính&#8230;</p>
<p>Lúc bấy giờ ở làng Sen cùng xã có ông Nguyễn Sinh Nhậm, dân cày, tuổi cao mà góa vợ. Nhà họ Hà bèn cho gọi ông Nguyễn Sinh Nhậm đến điều đình, &#8220;cho không&#8221; cô Hy làm vợ kế ông này, như một người con gái xướng ca, quá lứa, lỡ thì, lấy ông già góa vợ, mong ém nhém việc cô gái đã &#8220;to bụng&#8221;. Công việc rồi cũng xong. Cô Hy ôm bụng về nhà chồng, có cưới có cheo cẩn thận. Việc phạt vạ của làng không xảy ra. Nhưng cô gái tài hoa nhan sắc thì bao đêm khóc thầm vì bẽ bàng, hờn duyên tủi phận. Và ông lão nông dốt nát tuy được không cô gái đẹp nhưng cũng buồn vì đâu có đẹp đôi, lại cắn răng chịu đựng cái tiếng ăn &#8220;của thừa&#8221;, &#8220;người ăn ốc, kẻ đổ vỏ&#8221;. &#8220;Miệng tiếng thế gian xì xầm&#8221;, ai mà bịt miệng nổi dân làng.</p>
<p>Chỉ ít tháng sau, bà vợ kế này đã sinh nở một mụn con trai, được ông đặt tên là Nguyễn Sinh Sắc. Việc ấy xảy ra vào năm Quý Hợi, đời vua Tự Đức thứ 16 (1863).</p>
<p>Vì trọng tuổi, lại vì lo phiền, vài năm sau cụ Nhậm qua đời và cũng chỉ ít lâu sau đó, bà Hy cũng mất. Nguyễn Sinh Sắc trở thành đứa trẻ mồ côi. Lên bốn, về ở với người anh gọi là &#8220;cùng cha khác mẹ&#8221; mà thật ra là &#8220;khác cả cha lẫn mẹ&#8221;, cùng với bà chị dâu ngoa ngoắt, khó tính, lúc nào cũng chỉ muốn tống cổ cái thằng &#8220;em hờ&#8221; của chồng này đi cho &#8220;rảnh nợ&#8221;. Không cần nói, ta cũng hiểu Nguyễn Sinh Sắc khổ tâm về tinh thần, khổ cực về vật chất như thế nào .<br />
May có ông tú đồ nho Hoàng Xuân Đường, người làng Chùa, Hoàng Trù gần đó, xót thương đứa trẻ, dù sao cũng là hòn máu rơi của một nhà nho khác, lại có vẻ sáng dạ, nên đã đón về làm con nuôi, cho ăn học. Và đến khi Nguyễn Sinh Sắc 18 tuổi, ông bà đồ họ Hoàng lại gả cho cô con gái đầu lòng, Hoàng Thị Loan, mới 13 tuổi đầu, cho làm vợ, lại làm cho căn nhà tranh ba gian ở ngay làng Chùa, để vợ chồng Nguyễn Sinh Sắc ăn ở riêng.<br />
Ta dễ hiểu vì sao Nguyễn Sinh Sắc gắn bó với họ hàng làng quê bên vợ, làng Chùa, hơn là với làng Sơn &#8220;quê nội&#8221;, quê cha &#8220;hờ&#8221;. Con cái ông, từ người con gái đầu Nguyễn Thị Thanh, qua người con trai đầu Nguyễn Sinh Khiêm (tục gọi là ông cả Đạt) đến người con trai thứ Nguyễn Sinh Côn (hay Nguyễn Tất Thành, sau này là Nguyễn Ái Quốc rồi Hồ Chí Minh) đều được sinh ra và bước đầu lớn lên ở quê ngoại. Khi cụ Tú Hoàng mất, vợ chồng con cái Nguyễn Sinh Sắc lại về ăn ở chung với bà đồ Hoàng. Các cháu đều quấn quít quanh bà ngoại.</p>
<p>Qua giỗ đầu cụ Tú Hoàng, Nguyễn Sinh Sắc đi thi Hương khoa Giáp Ngọ và đậu cử nhân (1894). Ông được nhận ruộng &#8220;học điền&#8221;, ruộng công của làng Chùa chia cho nhằm khuyến khích để học thêm &#8211; chứ không phải nhận ruộng học của làng Sen. Khoa thi Hội Ất Mùi (1895), ông thi trượt. Nhờ sự gửi gấm của ông Hồ Sĩ Tạo, người cha thực của Nguyễn Sinh Sắc, với các quan lại đồng liêu quen biết ở triều đình Huế, Nguyễn Sinh Sắc được coi như ấm sinh, để được nhận vào học Quốc Tử Giám ở kinh đô. Nếu không có sự can thiệp của ông Hồ Sĩ Tạo là bậc khoa bảng cáo quan thì làm sao Nguyễn Sinh Sắc được nhận? Thế là dù sao Hồ Sĩ Tạo vẫn còn có một &#8220;cử chỉ đẹp&#8221; với đứa con mà mình không dám nhận.</p>
<p>Nguyễn Sinh Sắc, đổi tên là Nguyễn Sinh Huy, đem vợ và hai con trai vào Huế và đi học Quốc Tử Giám. Khoa thi Hội Mậu Tuất (1898), ông lại trượt. Ngày 22 tháng Chạp năm Canh Tý (10-2-1901) bà Hoàng Thị Loan ốm mất ở kinh đô Huế, sau khi sinh đứa con trai út (đứa con trai này ít ngày sau cũng chết). Nguyễn Sinh Côn (Nguyễn Tất Thành &#8211; Nguyễn Ái Quốc &#8211; Hồ Chí Minh ngày sau) trở thành con trai út….”</p>
<p>Đọc rối cả mắt, nhưng là sử quan phải hanh thông, nên cái lưỡi đá miệng:</p>
<p>&#8211; Thưa các hạ, vậy chứ ông Hồ Sĩ Tạo có họ với Hồ Quý Ly, Nguyễn Huệ?</p>
<p>Cụ Phan lắc đầu:</p>
<p>&#8211; Chẳng hẳn cùng quê, cùng họ là họ hàng với nhau. Tiên sinh thong thả, đâu sẽ vào đó.</p>
<p>Thế là sử quan đành lụi đụi tiếp…</p>
<p>”…Nguyễn Sinh Huy đem hai con trai về làng Chùa gửi mẹ vợ nuôi nấng rồi trở vào Kinh thi Hội. Khoa Tân Sửu (1901) này, ông đậu phó bảng và được &#8220;vinh quy bái tổ&#8221; về làng. Theo thể thức triều đình, lễ vinh quy này phải diễn ra ở quê nội, dù là quê nội danh nghĩa, tức là làng Sen &#8211; Kim Liên. Hội đồng hương lý và dân xã đã dựng nhà tranh năm gian trên một khoảnh đất vườn làng Sen, để đón quan phó bảng tân khoa Nguyễn Sinh Huy về làng. Thế là buộc lòng ông phải về &#8220;quê nội&#8221;. Ông cũng đón hai con trai về ở cùng ông. Lần đầu tiên Nguyễn Sinh Côn (Hồ Chí Minh ngày sau) về ở quê nội nhưng lòng ông vẫn hướng về quê ngoại là cái gì &#8220;đích thực&#8221; và gắn bó với tuổi thơ ông. Ông phó bảng có đến thăm cụ Hồ Sĩ Tạo.</p>
<p>Chưa đầy ba năm! Sau khi mẹ vợ mất, ông vào kinh đô nhận chức quan (1904) ở Bộ Lễ, đem theo hai con trai vô Huế học. Năm 1907, ông bị đổi đi Tri huyện Bình Khê &#8230; Rồi sau khi bỏ quan (hay mất quan), khoảng 1910, ông phiêu bạt vào Sài Gòn rồi Lục tỉnh Nam Kỳ. Không bao giờ ông về làng Sen trở lại nữa&#8230;<br />
Ở làng Sen sau này, chỉ có bà Thanh và ông Cả Đạt (Khiêm), cả hai đều không lập gia đình riêng. Người ta bảo lúc sau, khi cụ Hồ Sĩ Tạo đã qua đời, năm nào bà Thanh cũng qua Quỳnh Đôi góp giỗ cụ Hồ Sĩ Tạo. Thế nghĩa là cái &#8220;bí mật&#8221; về cội nguồn của cụ phó bảng Huy, trong số các con cụ, ít nhất có bà con gái đầu biết. Người ta bảo: ông Cả Đạt cũng biết, tuy không bao giờ ông sang Quỳnh Đôi nhận họ. Còn Nguyễn Sinh Côn &#8211; Nguyễn Tất Thành &#8211; có biết không? Từ khoảng 11 đến 14 tuổi, ông ở làng Sen, có nhẽ nào không ai nói cho ông? Hay là sau đó nữa chả lẽ cụ phó bảng Huy, bà Thanh, ông Cả Đạt lại không kể với ông về &#8220;bí mật&#8221; gốc tích thân phụ mình?<br />
Không có chứng cớ gì về việc ông Nguyễn Tất Thành &#8211; Nguyễn Ái Quốc &#8211; biết hay không biết chuyện này&#8230; Sau này, khi hoạt động cách mạng, ông còn mang nhiều tên khác nữa. Nhưng đến đầu thập kỷ 40 của thế kỷ này, thì người ta thấy ông mang tên Hồ Chí Minh.</p>
<p>Sau 1945, khi tên tuổi Hồ Chí Minh trở thành công khai thì cũng bắt đầu từ đó từ trí thức đến người dân quê, lại âm thầm bàn tán: vì sao Nguyễn Ái Quốc lại đổi tên là Hồ Chí Minh? Và tên này ông giữ mãi cho tới khi &#8220;về với Các Mác, Lê-nin&#8221; năm 1969. Cuộc đời thực của Nguyễn Ái Quốc &#8211; Hồ Chí Minh &#8211; còn quá nhiều dấu hỏi chứ phải đâu riêng gì một cái tên! Và biết làm sao được khi ông Hồ, tôi nói lại một lần nữa theo cảm thức của người dân, đã trở thành &#8220;huyền thoại&#8221;. Huyền thoại Hồ Chí Minh được hình thành trong <em>vô thức dân gian</em> mà Carl Gustav Jung gọi là <em>vô thức tập thể</em>. Nhưng nó cũng có phần được hình thành một cách hữu thức, bởi cán bộ gần gụi ông Hồ. Nghĩa là một phần cuộc đời ông Hồ đã được huyền thoại hóa.<br />
Ngay sau đó, người ta còn in cả cuốn sách (mỏng thôi) về sấm Trạng Trình có những câu vận vào ông Hồ và sự nghiệp Cách mạng tháng Tám. Và sấm Trạng Trình vẫn được vận vào công Hồ còn lâu về sau nữa, ở miền Nam Việt Nam và hiện nay ở một số người Việt lưu vong, dù là với hậu ý không ưa gì công Hồ&#8230; Nhưng đó lại không phải là chủ đề của bài viết này.</p>
<p>Trở lại với cái tên Hồ Chí Minh, lời truyền miệng dân gian bảo rằng: Nguyễn Ái Quốc sau cùng đã lấy lại họ Hồ vì ông biết ông nội đích thực của mình là…cụ Hồ Sĩ Tạo, chứ không phải cụ Nguyễn Sinh Nhậm.</p>
<p>Và dân làng Sen cũng bảo: Thì cứ xem, lần đầu tiên về thăm quê hương, sau mấy chục năm xa quê, từ thị xã Vinh, tỉnh lỵ Nghệ An, ông Hồ đã về làng Chùa trước, rồi sau mới sang làng Sen &#8220;quê nội&#8221;!  Riêng tôi nghĩ, thì cũng phải thôi. Vì như ở trên ta đã thấy, cả một thời thơ ấu của ông Hồ là gắn bó với quê ngoại làng Chùa, nơi ông sinh ra và bước đầu lớn lên. Chứ đâu phải làng Sen, là nơi ông chỉ ở có vài năm. Còn viết lách, thì bao giờ chẳng là chuyện: &#8220;<em>Thư bất tận ngôn, ngôn bất tận ý</em>&#8220;. (Viết không hết lời, lời nói không hết ý…)</p>
<p>***</p>
<p>Đến ngôn từ…<em>ngôn bất tận ý</em>, sử quan lấy đó làm tâm đắc vì cái thế tất phải như thế chẳng cưỡng lại được…Nhân bắt được câu <em>“Đây cũng là quê gốc của anh em Tây Sơn…”</em>, và đã hỏi cụ Phan. Cụ lại khiên cưỡng, bất bình tắc minh, ông chí cho cụ phần ông xập xòe về nhà Tây Sơn để biến cải càn khôn với cụ một phen:</p>
<p>“…Sử quan trở thành người viết sử cung đình. Nó thiếu tính cách khách quan và khá xa sự thật lịch sử. Dưới mắt sử quan chỉ còn có hai loại người: hoặc minh quân hoặc là ngụy quân. Minh quân là những kẻ ngồi trên ngai vàng. Phần còn lại là những phản thần. Họ chỉ là những “giống chó dê”, “thằng mọi đen ở đất Tây Sơn” giống “quân mọi rợ”, “giống cõng rắn cắn gà nhà”. Đó là trường hợp những Hồ Quý Ly, Mặc Đăng Dung, Lê Chiêu Thống, tuỳ theo cái nhìn của sử quan mỗi thời? Như thế thì viết sử trung thực được bao nhiêu? Phần người đời sau, tựa vào đâu mà kê cứu, trích lục? Cho nên, lịch sử vẫn còn đó, nhưng đâu là sự thật?</p>
<p>Người sau đọc sử riết rồi bị uốn nắn, thuần hóa vào quan điểm của sử quan. Nên sử khả tín hay không tuỳ thuộc vào sử quan của mỗi triều đại. Sử trở thành phong thần, thành dật sử? Viết về nhà Tây Sơn, mọi tình tiết, tài liệu xoay quanh thời kỳ này phần lớn căn cứ vào hai tài liệu: <em>Đại Nam chính biên liệt truyện</em> và cuốn <em>Hoàng Lê nhất thống chí</em>. Nhưng cả hai sách này đều được viết vào cuối thế 19, nghĩa là nửa thế kỷ sau mới được nhà Nguyễn sao chép. Về nhà Tây Sơn chỉ thực sự bắt đầu do quan ngự sử Bùi Đình Trí dâng sớ xin biền soạn để&#8230;’’răn đe’’ đời sau từ thời Tự Đức. Việc thuật lại về ba anh em Tây Sơn chỉ qua quýt cho xong chuyện với mục tiêu khinh miệt một thời kỳ coi là tiếm nghịch như nhà Hồ, nhà Mạc.</p>
<p>Thế nên cách dùng chữ cũng rất tiểu nhân nhỏ nhặt, như khi chép lại lời nói của Nguyễn Huệ khi tự xưng đã dùng chữ ‘’cô’’ với chữ nho là người đàn bà. Thay vì dùng chữ ‘’cô’’ là lời nói nhún nhường của bậc vương giả. Với hơn 2000 trang, chính yếu là họ ghi chép tiểu sử các danh thần, hoàng tử, công chúa, chính phi, hậu phi&#8230;Vì vậy chẳng giúp người sau suy ra thêm những việc khác.</p>
<p>Thêm nữa, sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi, có tha gì mà không đốt sạch, phá sạch dấu vết nhà Tây Sơn còn sót lại? Tất cả những gì được gọi là <em>“Nguỵ tây”</em> bị nhà Nguyễn đốt hết. Việc truy quét đó không phải chỉ một lần mà còn đuợc lập lại ở những vì vua kế tiếp cho đến khi không còn một dấu tích. Lúc ấy viết sử chỉ là ngồi “nhớ lại”&#8230;truyện hàng mấy chục năm về trước.</p>
<p>Cuốn Hoàng Lê nhất thống chí nằm trong trường hợp này. Sau mấy chục năm, sử liệu đào đâu ra mà viết cho đến nơi đến chốn? Mặc dầu khởi đi từ Ngô Thời Chí, đến những hồi sau thì lại do Ngô Thì Dụ, Ngô Thì Thiến tục biên. Những tác giả Hoàng Lê nhất thống chí thu tập được bao nhiêu? Ấy là chưa kể những điều trong sách ấy ghi chép đúng hay sai. Hoàng Lê nhất thống chí, hoặc <em>Annam nhất thống chí</em>, không phải là một sách địa chí, mà chính là một cuốn lịch sử tiểu thuyết viết theo lối truyện “Tam quốc diễn nghĩa” của Tàu. Hiếm có nhà biên khảo, học giả nào không trích một vài đọan để dẫn chứng, kể cả những câu truyện phòng the giữa Nguyễn Huệ và Ngọc Hân mà ngay cả kẻ thị thần chắc cũng không am tường được như thế.</p>
<p>Về tài liệu của các nhà truyền giáo qua những thư của các thừa sai, họ cũng có thể sai lầm vì họ chỉ được nghe kể lại, hoặc do giáo dân nói lại. Hoặc do có cảm tình với nhà Lê chính thống hơn nên thiếu vô tư. Cũng không trách họ được, vì ở đâu thì thì tôn kính vua chúa ở đó. Các thừa sai chỉ ghi nhận, nhiều chỗ chủ quan theo sự suy nghĩ của họ chẳng hạn số lượng quân của cả hai phe. Tuy nhiên chẳng phủ nhận có một tài liệu có giá trị về thời gian, như một bức thư viết sau 10 ngày trận Ất Dậu của vua Quang Trung. Những tài liệu này giúp đính chính một số chi tiết ngày tháng trong sử nước nhà.</p>
<p>Vơi số lượng quân của bên phía người Trung Hoa, theo sử liệu của triều đình nhà Thanh trong đó giữ lại tất cả những thư từ, chiếu biểu của vua Càn Long và quân cơ liên lạc với các nơi.. Họ luôn luôn nhắc lại con số trong Đại Thanh thực lục là một vạn quân mặt đông và 8 ngàn quân mặt tây đưa con số 18.000 cho cả hai mặt. Vì vậy số quân Trung Hoa được gửi sang thì thấy rằng không nhiều như những sử gia ta viết với con số 30 hay 50 chục vạn&#8230; ‘’</p>
<p>***</p>
<p>Cụ Phan nghĩ ngợi một chút rồi đắng đót luận cổ suy kim:</p>
<p>&#8211; Tiên sinh dậy thế cũng phải. Vậy thì bản chức xin vô phép vô tắc mạn phép thưa rằng: Tiên sinh viết sử quan trở thành người viết sử cung đình với minh quân, ngụy quân! Rò ra tiên sinh đâu có hay thời vua Gia Long nào có khác gì với thời ông Hồ. Sau này, cũng trở thành sử phong thần với Hồ Chí Minh vĩ đại, cũng với ngụy quyền, ngụy quyền. Họ cũng chẳng tha gì mà không đốt sạch, phá sạch sách vở miền Nam còn lại. Hay nói khác đi, hậu thân ông Hồ học thuộc sử học 9 đời chúa, 13 đời vua nhà Nguyễn. Chúa Nguyễn dành hai vùng đất cải tạo là Thủy Xá phía đông và Hỏa Xá phía tây núi Bà Nam thuộc tỉnh Phú Yên. Họ Nguyễn cải cách họ về cách ăn mặc, đổi họ thành họ Nguyễn. Tạo dựng nơi ăn chố ở ra xá, láng, ngay cả bếp núc với nồi đồng chảo sắt, nhất nhất như người Việt. Hai chữ ‘’cải tạo’’, theo bản chức tìm thấy trong sử sách khởi nguyên từ thời chúa Nguyễn Phúc Khoát đấy,  thưa tiên sinh.</p>
<p>Nhưng lịch sử là một chuỗi móc xích tiếp nối, để không khỏi không nhắc đến vua Minh Mạng. Năm 1835, thừa lúc Lê Văn Khôi là con nuôi của  Lê Văn Duyệt nổi loạn ở Gia Định, quân Xiêm La đem quân chiếm Thổ Chân Lạp. Vua Minh Mạng sai Trương Minh Giảng đem quân đánh dẹp,  bắt nữ vương Ang Mey đưa về Gia Định quản thúc, toàn thể bầu đoàn thê tử cận thần quan lại của triều chính Chân Lạp bị đưa ra Bắc tập trung ở Cao Bằng, Lạng Sơn. Lịch sử là một cuộc tái diễn không ngừng với 140 năm sau, một đoàn người thất trận đang đêm bị lôi dậy, nối đuôi nhau từ phương Nam ngược về phương Bắc, tận vùng sơn lam chướng khí bên dẫy núi Hoàng liên Sơn để bị giam giữ. Nơi mà thân bằng quyến thuộc của Nặc Ông anh, Nặc Ông em đã bị tập trung ở đấy từ thế kỷ trước.</p>
<p>Cụ nhíu mày như có gì suy nghĩ nung lắm rồi rạch ròi:</p>
<p>&#8211; Đào sâu chôn chặt với gần đây, khi việc đề cao triều đình nhà Tây Sơn được coi như là quốc sách, nhất là ẩn náu những động lực chính trị thì tài liệu và và sách vở viết về nhà Tây Sơn bỗng dưng thành dật sử. Năm 1988 đã có đến 1623 công trình viết về Tây Sơn. Số lượng này có lẽ nhiều hơn bất cứ danh nhân nào trong lịch sử các triều đại trên thế giới. Tất cả vì họ đánh lận con đen hết Hồ Chi Minh cùng gốc gác với Hồ Quý Ly, đến Nguyễn Huệ với họ Nguyễn đổi sang họ Hồ. Vì thế đã có tới 1623 công trình viết về Tây Sơn là như thế. Như tiên sinh vừa hỏi han gốc gác Hồ Qúy Ly, Nguyễn Huệ với bản chức hồi nãy.</p>
<p>Bản chức chẳng hiểu họ sưu tầm, sưu tra ở đâu nhiều đến như thế. Ngoài nhà Hồ với tiền giấy, súng thần công, mở mang bờ cõi. Không hiếm những sách vở miêu tả anh em nhà Tây Sơn và cận tướng võ công cao cường như các nhân vật võ hiệp. Ngay cả những nhà nho ẩn dật như Giáo Hiến, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Thiếp nay được đưa vào kịch bản để trở thành bản sao của Khổng Minh, Bàng Thống. Dần dà người viết cũng như người đọc coi như là sự thật, rồi đến ngàn năm sau sẽ trở thành những sự thật lịch sử. Chưa hết, ông giời có mắt xuống đây mà xem, họ còn nhập nhằng cuộc nổi dậy của anh hùng áo vải Nguyễn Huệ và người nông dân Lê Lợi với&#8230;cuộc cách mạng công nhân Mác-Lê tiên tiến đấy, thưa tiên sinh.</p>
<p>Sử quan lầu bầu bụng bảo dạ rằng với nhà Tây Sơn, mình chỉ hiềm sức mọn mới được dăm hàng. Còn họ tài cao học rộng, uẩn khúc kinh luân chữ nghĩa đâu mà đem Quang Trung Nguyễn Huệ ra mà ‘’tra tấn’’ nồng nã như vậy. Làm như không hay, cụ lấy hai hòn đá quẹt, nhúm bùi nhùi cầm tay, rồi tiếp:</p>
<p>&#8211; Gần đây, người  trong nước họ biện giải chuyện Hồ Quý Ly soán ngôi nhà Trần, Mạc Đăng Dung giành ngôi nhà Lê và nhà Mạc bị kết tội cắt đất nộp cho nhà Minh như thế này đây:</p>
<p>Họ dẫn giải theo sử thần Ngô Sĩ Liên nhà Lê <em>(Đại Việt sử ký toàn thư)</em> ghi là 6 động của châu Vĩnh An. Sử thần Trần Trọng Kim nhà Nguyễn <em>(Việt Nam sử lược)</em> chép là 5 động và thêm Châu Khâm, nhưng châu Khâm là đất thuộc Trung Hoa từ đời Tống cho đến nay. Ngự sử Lê Quý Đôn nhà hậu Lê <em>(Đại Việt thông sử)</em> chép trả lai 4 động đã xâm chiếm. Tại sao có những con số khác biệt vậy? Vậy thì việc cắt đất rõ ra chẳng&#8230;rõ ràng.</p>
<p>Họ thêm thắt là khảo đến sách <em>Phương Đình địa dư chí</em> của Nguyễn Văn Siêu thì chỉ có 3 xã, không có động. Họ lập luận thế thì 6 động nhà Mạc đem nộp ngờ là đất ở châu Khâm chỉ là tên gọi chứ không có đât. Thêm nữa, theo Minh sử thì nhà Minh chỉ đòi Mạc Đăng Dung trả lại 4 động đã xâm chiêm mà thôi.</p>
<p>Họ kết luận: ‘Nếu Mạc Đăng Dung có mắc tội thì không phải <em>‘’tội cắt đất dâng cho người’’</em> mà tội của Mạc Đăng Dung là <em>‘’đã xâm lấn đất của người rồi không giữ nổi nay phải đem trả lại’’</em>. Họ lập luận tiếp: Điều đáng buồn là những điều chép sai ngoa vừa kể trên trong sử sách phong kiến Việt Nam cứ thấm vào tim óc thế hệ này đến thế hệ khác. Chắc chắn rằng lịch sử được nhìn theo quan điểm thực tiễn của dân tộc kết hợp với quan điểm duy vật khoa học, nếu chưa kịp khen thì cũng không thể chê những hành động ngoại giao nhún nhường, khôn khéo hạ mình trước đối phương quá mạnh, cốt sao giữ yên bờ cõi và chủ quyền. Chẳng phải chính vua Quang Trung sau chiến thắng trận Đống Đa lừng lẫy vẫn phải vờ vịt thần phục thiên triều.</p>
<p>Cụ ngừng lại để thở, giọng ngao ngán:</p>
<p>&#8211; Làm có chúa, múa có trống, họ múa như công đĩnh đạc bước ra cửa như sau: Chẳng phải chính chủ tịch Hồ Chí Minh hạ mình đến thăm tướng Tiêu Văn để đưa dân tộc thoát cảnh hiểm nghèo. Chẳng lẽ lịch sử không công bằng, chính xác? Với Hồ Quý Ly hay Mạc Đăng Dung thì việc giành lấy ngôi vua từ tay một triều đại phong kiến, một dòng họ đã suy tàn là hợp quy luật, việc trá hàng nhẫn nhục để giữ yên bờ cõi, và bảo toàn chủ quyền là khôn khéo. Còn tội ‘’cắt đât’’ dâng cho kẻ thù thật ra không có chứng cớ chính xác&#8230;</p>
<p>Quẹt hai hòn đá quẹt để mồi thuốc, cụ vừa thở ra khói và…thở ra:</p>
<p>&#8211; Tất cả những kịc bản này được dàn dựng sau khi ông Hồ ép Bảo Đại thoái vị. Rồi cũng từ đấy trong sách vở họ hay dùng hai thuật ngữ ‘’sử gia phong kiến Việt Nam’’ với ‘’sử gia duy vật biện chứng tiến bộ Mác Lê’’. Hay nói khác đi họ dùng duy vật biện chứng Mác Xít để dựng sử nước nhà. Riêng nhà Mạc, nhà Hồ họ gọi là&#8230;phong kiến chính thống, có lẽ vì nhà Hồ hàng giặc, vì nhà Mạc bị lịch sử kết tội cắt đất cho Tầu. Giống với ông Hồ qụy lụy người phương Bắc, để sau này bị cái nạn với Bản Giốc, Trường Sa, Hoàng Sa chăng?</p>
<p>Làm mấy hơi xong, cụ dụi dụi điếu thuốc, lặng lờ nhìn ra ngoài song cửa&#8230;</p>
<p><strong>Thạch trúc gia trang</strong></p>
<p><strong>Ngộ Không Phi Ngọc Hùng</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2018</p>
<p><em> </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong>              </strong></p>
<p><strong>              </strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ngo-khong-thuyen-con-nguoc-ben-nuoc-chay-doi-dong-i/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Không: Theo bước chân phù lãng nhân…</title>
		<link>https://t-van.net/ngo-khong-theo-buoc-chan-phu-lang-nhan-2/</link>
					<comments>https://t-van.net/ngo-khong-theo-buoc-chan-phu-lang-nhan-2/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 07 Nov 2018 12:47:01 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=37494</guid>

					<description><![CDATA[&#160;&#160;&#160;&#160; &#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160; Ấm Trà Thiu &#8211; Tranh: Thanh Châu Năm hết Tết đến, thu vén nhà cửa để tống cựu nghinh tân, chợt nghĩ đến lũ mối mọt gậm nhấm giấy má, một tôi mầy mò vào…”tàng kinh các” để thăm chừng. Thấy con bươm bướm lụy chữ nghĩa nằm chết khô trong sách mà [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; <a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/11/Am-tra-thiu.png?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter  wp-image-37495" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/11/Am-tra-thiu-300x167.png?strip=all" alt="" width="363" height="202" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/11/Am-tra-thiu-300x167.png?strip=all 300w, https://cdn.t-van.net/2018/11/Am-tra-thiu-768x429.png 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/11/Am-tra-thiu.png?strip=all 799w" sizes="(max-width: 363px) 100vw, 363px" /></a></p>
<p style="text-align: center;">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;<em>&nbsp; Ấm Trà Thiu &#8211; Tranh: Thanh Châu</em></p>
<p>Năm hết Tết đến, thu vén nhà cửa để tống cựu nghinh tân, chợt nghĩ đến lũ mối mọt gậm nhấm giấy má, một tôi mầy mò vào…”tàng kinh các” để thăm chừng. Thấy con bươm bướm lụy chữ nghĩa nằm chết khô trong sách mà cụ Tiên Điền Nguyễn Du gọi là điệp tử thư trung. Khi không con chết tiệt này đưa đẩy một tôi mon men tới kiếp phù sinh hề một thoáng bạch câu với câu “bách niên cùng tử văn chương lý, lục xích phù thân thiên địa trung”. Đành vay mượn chữ nghĩa bạn già nho phong dẫn giải <em>trăm năm một đời, cùng một cõi văn chương, sáu thước tấm thân, lênh đênh giữa trời đất</em>. Hơ! Một cõi văn chương với bốn thước hai thước, nghe hãi quá thể! Thưa bạn đọc.</p>
<p>Ừ thì cũng nên náo động về bạn già của một tôi một phen. Gia dĩ bạn chữ nghĩa đây là ông đồ nát chữ viết thông thiên vạn quyển với sử sách. Gần đây bạn già viết truyện về một sứ thần ta đi sứ cả năm trời với bao gian nan vất vả khôn cùng, như phải đi bộ, nói năng phải bút đàm, v…v…. Rồi sứ thần bỏ xác ở bên ấy, xác được nhét thủy ngân bỏ vào áo quan mang về xứ. Vì vậy các quan ta sợ nhất chuyện đi sứ vì câu ám chướng: “Thứ nhất đi sư, thứ nhì di quan”. Chả dấu gì bạn đọc, bởi lập thân…<em>tối dạ</em> thị văn chương nên một tôi đang hặm hụi một bộ sử dài hơi dầy chữ. Vì một tôi học theo các nhà sử học hôm nay, cứ thuổng sử phấm của người này người kia rồi nhồi nhét là có ngay một bộ sử dầy cộm. Ngon ăn như ăn trứng luộc vì chỉ căt xén, chắp vá nhoáng nhoàng một…”thoáng bạch câu” là xong tuốt. Dễ ợt. Nghe một tôi to hó vậy với bạn đọc, bạn già phều phào mà rằng một tôi chỉ có ba mớ sách đã rối chuyện, &nbsp;“rối chữ”.</p>
<p>Tiếp, bạn già kể chuyện <em>Con lạc đà chui qua lỗ kim</em> rối rắm như thế này đây…</p>
<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em>Xưa thật là xưa có một vị vua, sau những năm vó câu dập dồn, sống trên mình ngựa, xông pha trên bãi chiến trường. Một hôm vua cho triệu vị sử quan già tới phán:</p>
<p>&#8211; Đời Cô chỉ mong ước đọc được bộ lịch sử lòai người trước khi nhắm mắt theo các tiên vương. Bộ sử lại quá nhiều, khanh thu gọn trong vòng 10 quyển được không?</p>
<p>&#8211; Dạ được, hạ thần xin bệ hạ 5 năm.<em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em></p>
<p>Vua gật đầu. Bộ sử nằm yên bấy lâu trong viện tàng cổ được chất lên<em> 3 xe sách…</em></p>
<p><em>&nbsp;</em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Làm như ăn khoai môn ngứa miệng sao ấy, “rối chữ tôi” buột miệng hỏi gì mà tới 3 xe sách? Bạn già cầm cây gậy chống trời gõ cách cách vào chân bàn gỗ và cách rách: Như bác biết đấy, xưa sử quan chưa có giấy, sử viết lên tre nên gọi là sử xanh. Sau đấy viết lên gỗ củi, da ngựa, da bò cả ngàn quyển chất lên xe chở đi. <em>Rối chữ tôi</em> chép miệng tách một cái: Dạ vâng, bác dậy sao em nghe vậy. Vâng dạ xong bị bạn già mắng vỗ mặt: Bác ăn vẹt ở mòn chữ nghĩa bấy lâu mà chả hanh thông…thông sử gì sất.</p>
<p>Thế là rối chữ tôi cạch không dám hỏi nữa, đành căng tai nghe…</p>
<p>Ba xe sách mang tới quốc sử quán, được tháo tung từng mảnh, từng chương, lục sọan, tra cứu, bụi xốc lên mù mịt như cát sa mạc trong cơn lốc. Trải qua năm tháng, sử quan làm việc bất kể ngày đêm, lưng còm mắt mờ, tóm lược khắc trên những thớ gỗ dầy cộm. Nhưng sau 5 năm rồi cũng xong, bộ sử 10 quyển được chất lên mấy thớt lạc đà, rồi khệ nệ khiêng vào triều. Vua thấy vậy, lắc đầu ngán ngẩm:</p>
<p>&#8211; Nay Cô đã tuổi già sức yếu, khanh tóm lược lại 1 quyển được chăng?</p>
<p>Vị sử quan mệt mỏi tâu:</p>
<p>&#8211; Xin bệ hạ cho thần…10 năm.</p>
<p><em>&nbsp;</em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Đến cớ sự này, ngu lâu đần dai cách mấy, rối chữ tôi ngộ ra là bạn già muốn răn đe đừng viết dài quá như tra tấn chữ nghĩa bạn đọc. Mà hãy viết ngăn ngắn một ti, cần nhất là loại bỏ những chi tiết thừa thãi, những câu tối nghĩa…</p>
<p>Tiếp, bạn già câu đọng chữ thừa…</p>
<p>Sau 10 năm, lão thần ốm gầy như cây khô, mặt mày vàng võ, đi phải chống gậy, tay run lẩy bẩy mang quyển sử vào trình. Cũng đúng lúc vua đang hấp hối, phều phào:</p>
<p>&#8211; Cô sắp đi…Hiền khanh hãy tóm tắt bộ sử bằng…một câu…Một câu thôi.</p>
<p>Lão thần lập bập, thì thào bên tai vua…Vua gật gật đầu, đôi môi khô héo, bỗng nở một nụ cười hiu hắt đầy mãn nguyện rồi băng hà. Lão sử quan lắc đầu, thở ra như thở dài rồi cũng từ từ trút hơi thở cuối cùng bên cạnh bộ sử dầy cộm.</p>
<p><em>&nbsp;</em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Đang lụi đụi vì chả biết lão sử quan sầm sì chi với cụ vua thì bạn già xách củi khô gỗ mục ra để luận sử: Như bác biết đấy, vì viết sử trên thẻ tre, thanh gỗ nên phải viết cô đọng. Nên người sau hiểu bung bét hết. Như:<em>Thượng thư đại truyện</em> chép đời Chu Thành Vương (cùng thời Hùng Vương), người Việt <em>Thường</em> từ phía nam Giao Chỉ (Thanh Hoá) cưỡi ba con voi mang chim bạch trĩ đến cống, phải qua 9 lần thông dịch mới hiểu. Lúc về, sợ sứ giả bị lạc đường, Chu Công cho xe <em>chỉ nam</em> để dẫn đường.</p>
<p>Mắt tròn dâu hỏi với…chim trĩ cưỡi voi như bà Trưng? Dòm thấy vậy bạn già vấn ngưu truy mã rối chữ tôi: “Vậy chứ bác nghĩ sao người Việt Thường xách con chim trĩ lêu bêu sang Tàu cả mấy năm trời, bộ con chim trĩ không ngỏm củ tỉ à?”.</p>
<p>Khi không bạn già nho táo “thi thị khả giải, bất khả giải chi gian”, và luận ngữ mà rối chữ tôi hiểu bừa phứa là “sử thi nằm trong khoảnh lơ mơ lỗ mỗ có thể giải thích được và cũng có thể không giải thích được”. Và bạn già lại…vấn nạn rối chữ tôi:</p>
<p>&#8211; Giả sử không có giấy tờ, bản đồ, thông dịch, bác có dám một mình tới Hồng Kông, qua Mỹ. Rồi đi bộ từ San Francisco đến Washington không?.</p>
<p>Bụng dạ rối chữ tôi trộm nghĩ ắt hẳn bạn già đẩy đưa theo bước chân phù lãng nhân Bùi Viện đây. Chuyện này cũng ngon cơm: Một là nhà rối chữ tôi ở ngay đường Bùi Viện. Hai là nếu như ở Tây phương có Columbus Christopher tìm ra châu Mỹ. Thì khoảng 300 năm sau, ở Đông phương, ngay tại Đại Việt ta có Bùi Viện cũng tìm ra…châu Mỹ. Và có một trùng hợp của lịch sử là cả hai đều tới Mỹ hai lần. Ngoài ra rối chữ tôi còn gặp Bùi Viện ở phố Tàu nữa. Bèn thưa với bạn già mọi ngẫu sự bằng vào một ngày bắt gặp sấp giấy vàng ố có mươi lỗ bằng hạt gạo vào năm nảo năm nào.</p>
<p>Để rồi bỗng không cả một chuỗi thời gian quá vãng đong đẩy đong đưa…</p>
<p>Bằng vào bốn chục năm trước, cái ngày rối chữ tôi chân ướt chân ráo qua đây. Quán xá chợ búa không ngoài ba tiệm “chạp phô” cũ mèm của người Tàu từ thời tổ tiên họ sang miền Viễn Tây làm đường xe lửa còn rơi rớt lại cũng nên. Một ngày cuối tuần xuống phố ghé tiệm chạp phô mà người Việt ta sang nhượng từ người Tàu, thấy trên quầy bầy dăm băng “cát-sét” nhạc thâu lại, mươi cuốn truyện cũ được “phô tô cóp pi”, bọc giấy dầu cho thuê. Hiểu theo nghĩa là chưa có báo chợ, báo chùa gì sất cả. Lóng nhóng thế nào mắt rối chữ tôi đậu trên sấp giấy kẹp bìa hơi cũ, có vài ba đốm chấm nâu đen li ti. Trong khi đợi nội tướng vất vưởng với chợ búa bèn mở ra “xem cọp”…</p>
<p>Ngay trang đầu sấp giấy mỏng đánh máy bằng máy chữ cổ lỗ sĩ với tựa đề <em>Liên hệ Hoa Kỳ-Việt Nam thời thế kỷ 19</em>. Đọc sơ qua có chuyện sứ thần Bùi Viện của tác giả Trần Đông Phong, và <em>Con đường thiên lý </em>của nhà biên khảo, học giả văn hóa cổ đại. Rối chữ tôi nhẩm chừng tác giả trích dẫn truyện Con đường thiên lý để viết tiểu luận lấy cao học từ bên nhà thì phải. Cũng có thể ông là chuyên gia về bang giao quốc tế của sứ quán hay sứ bộ nào đó và ông đã có mặt ở đây từ thập niên 60 hay 70 không chừng.</p>
<p>Riêng với tác nhân “Con đường thiên lý”, trước 75 rối chữ tôi hong hanh biết cụ là kẻ sĩ bách vi, chỉ lo mài dũa biên khảo, sưu khảo, chuyên công đẽo gọt sử xanh, sử thi. Nên rối chữ tôi gọi cụ là nhà biên khảo, học giả văn hóa cổ đại là vậy. Vậy mà “xem cọp” xong là quên tuốt. Bèn thưa gửi với bạn già nhẽ ấy.…Đất sinh cỏ già sinh tật hay sao đó, bỗng dưng bạn già cắt lưỡi rối chữ tôi thế này đây: “Nhân thoại hưu đề ngôn quy chính truyện”. Thấy rối chữ tôi ngơ ngác như quạ vào chuồng lợn, bạn già khai ngôn phá chữ là hãy…<em>gác những chuyện rườm rà để nói vào chuyện chính</em>.</p>
<p>Ừ thì vào chuyện, nhưng rối chữ tôi đèn lu dầu kiệt đến nằm 2005, nhờ đi tìm con đố ngư trong tàng kinh các mới lòi tói ra tạp chí <em>Văn Hóa Việt Nam</em> có bài khảo luận cũng của ông Trần Đông Phong. Vào tựa, ông bộc bạch ông là nhà giáo, làm báo và cũng là chuyên viên bang giao quốc tế. Vì Con đường thiên lý dầy cả mấy trăm trang nên ông chỉ tóm lược thôi. Thế là rối chữ tôi lui cui gõ mõ từng khúc, từng đoạn theo bài khảo luận, theo những bước chim di của nhà biên khảo, học giả cổ đại…</p>
<p>Trong bài khảo luận, ông Trần Đông Phong gọi tác giả Con đường thiên lý khi là cụ Lê, lúc ông Lê. Ngoài ra với phần <em>Chú thích </em>ở cuối trang mà ông gọi là “footnote’ có ghi những địa danh như “Pháp-Lan-Tây” với Pháp-Lan là phiên âm của Fran, giống như France là…nước Pháp. Và “Sanh-Phát-Lan-Xích-Cô” được giải thích Sanh là phiên âm của San, và Xích-Cồ là phiên âm của Cisco, như vậy thì Sanh-Phát-Lan-Xích-Cô tức là thành phố…San Francisco, sau này người Tàu gọi là Cựu Kim Sơn, thưa bạn đọc.</p>
<p>“…Vào khỏang đầu thập niên 1930, lúc học trường Bưởi tại Hà Nội, đồng môn với cụ Lê là Trần Văn Bảng, quê ở làng Xuân Lũng, phủ Lâm Thao, thuộc tỉnh Phú Thọ.</p>
<p>Trong một lúc vui bạn vui bè, Trần Văn Bảng nói với cụ Lê rằng:</p>
<p>&#8211; Anh bảo người Việt Nam đầu tiên qua Hoa Kỳ là Bùi Viện. Sai. Người đầu tiên là cụ nội tổ chúng tôi, là cụ <em>Trần Trọng Khiêm.</em></p>
<p>&#8211; Trần Trọng Khiêm là ai? Ở thời nào? Tôi không nghe tên đó.</p>
<p>&#8211; Cùng triều Tự Đức như Bùi Viện, nhưng sinh ở đầu đời Minh Mạng, hơn Bùi Viện khoảng hai chục tuổi, không rõ Bùi Viện qua Hoa Kỳ năm nào, nhưng tôi biết chắc là cụ Trần Trọng Khiêm đặt chân lên đât Hoa Kỳ năm 1849 và sống ở đấy 4 năm…”.</p>
<p>Theo ông Trần Đông Phong đọc Con đường thiên lý (trang 26) thi..</p>
<p>“…Ông Trần Trọng Khiêm sinh năm Tân Tỵ 1821, tức năm Minh Mạng thứ hai. Năm ông hai mươi hai tuổi, vợ của ông bị viên chánh tổng cưỡng hiếp rồi bức tử. Xong y nổi lửa đốt nhà, sau đó y đến điều tra rồi trình lên quan trên rằng bà bị cướp giết chết. Khi ông Khiêm về đến nhà, ông bình tĩnh chôn cất vợ, nhờ người làng lo việc hương khói cho bà vợ, sau đó ông rời làng và bặt tin. Đúng một năm sau viên chánh tổng bị giết chết và ông cũng rời làng biệt tích. Người làng cho rằng ông Khiêm về trả thù cho vợ.</p>
<p>Người bạn sau đó đưa cho cụ Lê xem bức thư viết bằng chữ Nôm gửi cho họ hàng, thư đề ngày rằm tháng Hai năm 1860. Trong đó ông Khiêm cho biết sau khi trả thù được cho vợ. Ông tới Phố Hiến-Hưng Yên, theo tàu buôn sang Hương Cảng, cư ngụ ở đấy một thời gian, rồi qua Anh Cát Lợi, Hòa Lan, “Pháp-Lan-Tây”. Cuối cùng sang tận Hoa Kỳ theo một đòan tìm vàng và ở thành phố “Sanh-Phát-Lan-Xích-Cô”. Chẳng bao lâu sau, vì nhớ quê hương, ông trở về Hương Cảng, nhập tịch Trung Hoa rồi về lại quê nhà, lập nghiệp ở làng Hòa An, phủ Tân Thành tỉnh Định Tường. Ông tục huyền với thiếu nữ họ Phan, sinh hai con đặt tên là Xuân Lãm và Xuân Lương. Bức thư ký tên Lê Kim, viết ở làng Hòa An, ngày rằm tháng Hai năm Canh Thân, tức là năm 1860.</p>
<p>Năm 1935, cụ Lê vào Nam Kỳ làm việc, nhớ đến chuyện cụ tổ phụ của bạn, nay có tên <em>Lê Kim</em>. Cụ Lê là người thích nghiên cứu, tìm tòi, lại quen biết giới hành chánh nhiều nên lần mò về Định Tường hỏi han, được biết trong sổ bạ của làng Hòa An, có người Minh Hương tên Lê Văn Kim, đến đây lập nghiệp từ năm 1855, đời vua Tự Đức…”.</p>
<p>Rối chữ tôi “điểm phim” với bạn già càng về sau chuyện càng lôi cuốn như phim <em>Miền viễn tây</em> nhằm vào thập niên 50, 60. Vì ông Lê Kim là người Việt Nam đầu tiên, quăng giây cưỡi ngựa rong ruổi về một thị trấn hoang vu. Ngoài ra ông còn góp tay tạo dựng lên thành phố San Francisco đầy gió cát này trong cái buổi hoang sơ…</p>
<p>“…Năm 1946, cụ Lê trở ra Bắc cũng vừa lúc cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, nên mất liên lạc với bạn. Cụ tình cờ đọc được cuốn sách bằng tiếng Pháp nhan đề <em>“</em>La Rúee Vers l’Or<em>”</em> của René Lefèbre, được nhà Dumas ở Lyon xuất bản năm 1937. Cụ đọc thấy cuốn sách này tên nhân vật chính là “Lee Kim” đều bị xóa và sửa thành “Lê Kim”. Ở trang đầu có đóng con mộc dấu đỏ đã phai mầu <em>“</em>Tủ sách gia đình<em> Lê Xuân Liêm,</em> làng Mỹ Quới, tỉnh Rạch Giá”. Những điều này khiến cụ liên tưởng đến ông Lê Kim, tổ phụ của người bạn Trần Văn Bảng và cụ đã đọc hết cuốc sách này.</p>
<p>La Rúee Vers l’Or là câu chuyện về một nhóm giang hồ tứ chiến gồm đủ mọi quốc tịch Gia Nà Đại, Anh, Pháp, Hòa Lan, Mề Tây Cơ, Thụy Điển, Do Thái và một người Trung Hoa tên Lee Kim. Họ gặp gỡ nhau rồi cùng đi về hướng tây để tìm vàng vào giữa thế kỷ 19. Câu chuyện khởi đầu từ năm 1849 tại thành phố New Orleans, qua thành phố St Louis, lúc bấy giờ được xem là cửa ngõ để đi về miền Viễn Tây. Chuyến săn vàng của nhóm giang hồ tứ chiến đầy đói khát, vượt qua bao nhiêu núi non, sa mạc. Những người tìm vàng đã vượt sông Nebraska, qua núi Rocky, đi về Laramie, Salt Lake City &nbsp;đầy hiểm nguy gian khổ, đánh nhau với mọi da đỏ, vượt thóat bọn cướp đường. Cuối cùng nhân vật chính là “Max”, là người Canada lập nên nhóm 80 người đi tìm vàng và cánh tay mặt của y là Lee Kim, cũng dẫn được hơn nửa nhóm người này tới California. Thời đó, &#8220;Wild West&#8221; tức miền Tây hoang dã là cụm từ người Mỹ dùng để chỉ bang California. Lee Kim là thông ngôn cho cả nhóm vì nói được nhiều thứ tiếng như Anh, Pháp, Hòa Lan, Trung Hoa và “một thứ tiếng khác nữa” nhưng không rõ tiếng nước nào. Lee Kim nói rằng anh ta không phải là người Tàu, nhưng khi được hỏi là người nước nào, anh trả lời là nước của anh ta cũng “gần gần nước Tàu”.</p>
<p>Cuối cùng họ cũng tìm được một ít vàng, sau đó về sống ở San Francisco. Đến thị trấn mới, Lee Kim được thuê làm cho tờ Daily Evening nhờ biết nhiều thứ tiếng. Còn “Max” nổi tiếng nhờ giết được tên cướp của giết người ở vùng này có biệt danh là “Jack ba ngón” để đi vào giai thoại ở miền Viễn Tây. Nhờ vậy Kim Lee và “Max” quen biết với Đại úy Sutter ở thành phố này, sau Sutter được Quốc hội Hoa Kỳ phong tướng. Ông chính là Johann August Sutter, một trong những người đã tạo dựng lên thành phố San Francisco, hiện một con đường lớn vẫn còn đang mang tên ông…”.</p>
<p>Theo ông Trần Đông Phong, quyển <em>Con đường tìm vàng</em> của René Lefèbre tờ còn tờ mất, nên nhà biên khảo, học giả văn hóa cổ đại.vẫn còn hòai nghi…Rối chữ tôi hình dung đến khuôn mặt bạn già cũng hồ nghi không kém với chuyện ông Kim Lee đến Châu Mỹ có…xa vời vợi chăng? Vì sang Cao Ly thì may ra. Vì vậy rối chữ tôi quay quả đến “người về một cõi muôn năm cũ” trong cổ thi cả ngàn năm trước: <em>“Thái sư Trần Thủ Độ âm mưu soán ngôi nhà Lý, hoàng tử Lý Long Tường, con thứ của vua Lý Anh Tông (1138-1175)…”.</em> Bỗng dưng bạn già cười hun hút rằng rối chữ tôi bị ông Cư sĩ Trần Đại Sỹ đan lồng nhốt kiến rồi. Nên rối chữ tôi đành thưa rõ ràng ông họ Trần gặp hậu duệ của Lý Long Tường kể cho ông và ông viết rất bài bản: <em>Hoàng tử Lý Long Tường cùng đòan tùy tùng 6000 người trên ba hạm đội từ bến Đinh Hải nhắm hướng bắc vượt biển đông tới Cao Ly….</em> Bạn già cười rang rức mà rằng chắc gì ông Trần Đại Sĩ gặp hậu duê nhà Lý. Và chuyện đi trốn với 6000 người với ba hạm đội có…”hư cấu” chăng?!</p>
<p>Ừ thì chuyện đâu hãy còn đó, nên rối chữ tôi trở lại thành phố “Sanh-Phát-Lan-Xích-Cô” với người cháu của nhà biên khảo, học giả văn hóa cổ đại…</p>
<p>“…Năm 1960, nhân có người cháu du học ở California, cụ Lê nhờ anh này đến thư viện San Francisco, lục tìm những tờ báo cũ khỏang năm 1850, xem có bài báo nào nói về hai nhân vật “Max” và Kim Lee hay không.</p>
<p>Đến năm 1962, ông có hai bài báo được người cháu gửi về:</p>
<p>&#8211; Bài báo đề ngày 19 tháng Hai năm 1850, có đăng bài với cái tựa đề “Jack ba ngón đã bị hạ” với đầy đủ chi tiết của “Mac”. Như vậy chính là “Max” trong La Rúee Vers l’Or.</p>
<p>&#8211; Bài báo đề ngày 8 tháng 11 năm 1853, tựa đề ”Kim Lee và tướng Sutter” viết: “Sáng nay, một người Trung Hoa tên Kim Lee, trước làm việc cho báo Daily Evening đã tặng hai trăm Mỳ kim vào quỹ gây dựng thành phố San Francisco của tướng Sutter…”</p>
<p>Nghe thủng xong, bạn già vào lỗ tai ra lỗ miệng hỏi về gốc gác ông Lê Văn Kim?</p>
<p>Thế là rối chữ tôi đưa bạn già với đường mưa ướt đất theo bước chân phù lãng nhân là nhà biên khảo, học giả cổ đại họ Lê, thì……</p>
<p>“…Sau khi nhận được hai bài báo này, cụ Lê tin tưởng rằng nhân vật Lee Kim hay Lê Kim chính là cụ Trần Trọng Khiêm, người đã gửi bức thư cho bạn mình. Như vậy ông Trần Trọng Khiêm vẫn sống ở San Francisco cho đến năm 1853. Ông trở về quê nhà năm 1854 và cải danh là người Minh Hương với tên mới là Lê Kim.</p>
<p>Sau đó ông Lê cố tìm cách liên lạc với hậu duệ cụ Lê Kịm, nhất là gia đình Lê Xuân Liêm, người chủ của cuốn sách La Rúee Vers l’Or mà cụ đã tình cờ đọc được năm 1946. Mãi cho đến khỏang năm 1970, một hôm ông nhận được một cái thư, dấu bưu điện từ tỉnh Rạch Giá của một độc giả tên <em>Lê Xuân Lưu</em>, hỏi cụ về một khúc mắc của sử nước nhà. Cụ Lê nhớ ngay đến <em>“</em>Tủ sách gia đình<em> Lê Xuân Liêm, làng Mỹ Quới, tỉnh Rạch Giá”.</em> Sau đó ông đến tận nơi thăm gia đình này và được biết anh Lê Xuân Lưu là con Lê Xuân Liêm nhưng thân phụ anh đã qua đời.</p>
<p>Anh Lê Xuân Lưu cho cụ Lê xem cuốn gia phả do ông nội anh là ông Lê Xuân Liêm con của ông Trần Trọng Khiêm chép từ năm 1928, trong đó có đọan như sau:</p>
<p>“Sự tích họ ta, nhớ mà ghi chép được, mới từ cụ tổ năm đời triều Tự Đức. Tương truyền cụ là người họ Trần, gốc gác làng Xuân Lũng, huyện Sơn Vi, tỉnh Phú Thọ ngòai Bắc. Họ Trần lập nghiệp ở Xuân Lũng từ đời nào, thì nay chưa thể biết được vậy.</p>
<p>Cụ là con trai thứ một thế gia vọng tộc. Văn võ tòan tài mà tinh thần bạt tục, không chịu theo con đường khoa cử, những mong thỏa chí tang bồng. Ngòai hai mươi tuổi, cụ cải danh họ Lê, húy Kim, khẳng khái rời quê cha đất tổ, xuống một tầu buôn ngọai nhân, lênh đênh mấy năm từ Á qua Âu, không đâu không lưu túc tích (dấu chân). Tới xứ nào cụ cũng tìm hiểu phong tục, cái hay cái dở, ý hẳn muốn thâu thái để sau này kinh bang tế thế. Cụ là người có nhãn quan thiên lý, nhìn suốt cổ kim, có chí kế vãng khai lai, đáng làm gương cho con cháu vậy. Mà họ Lê ta cũng đáng lấy làm vinh dự lắm thay.</p>
<p>Năm Giáp Dần triều Tự Đức, cụ về cố quốc. Cụ không dám về Bắc mà vào Nam lập lên làng Hòa An, thuộc tỉnh Định Tường (nay là Sa Đéc). Nơi đó còn hoang dã tòan lau sậy, tràm với lác, cụ quy tụ được một nhóm người khai phá thành ruộng nương tươi tốt. Cụ thành hôn với cụ bà họ Phan, tính tình hiền hậu, tư cách đoan trang và sanh được hai con tên Xuân Lãm, Xuân Lương<em>,</em> để đời đời đừng quên gốc gác làng Xuân Lũng. Tới nay đến thằng Xuân Liêm ta là sáu đời, họ ta vẫn theo mỹ tục đó. Con cháu phải giữ chớ không được bỏ, giữ được thanh bạch, chính là giữ được cái nề nếp vậy…”.</p>
<p>Phần bạt ở cuối sách, ông Trần Đông Phong viết:</p>
<p>Tôi vốn được cái may mắn quen biết với cụ Lê nên biết cụ là người cẩn trọng trong việc nghiên cứu lịch sử. Do đó khi cụ nói rằng: “Tôi mừng như bắt được vàng. Nhân vật Lee Kim quả là có thực, đúng là cụ Trần Trọng Khiêm ở làng Xuân Lũng ngoài Bắc. Chứng cớ chắc chắn rồi, không ai còn chối cãi được nữa.” (trang 27).</p>
<p>Theo tôi chuyện một người Việt lưu lạc sang miền Viễn Tây, biết cưỡi ngựa bắn súng như phim “cao-bồi” là một dữ kiện lịch sử. Tôi là nhà báo nên rất hãnh diện về ông Lê Kim: 125 năm trước, năm 1850, ông Lê Kim hay Lee Kim là người Việt Nam đầu tiên làm ký giả hai năm cho một nhật báo ở San Francisco.</p>
<p>***</p>
<p>Sau khi tác phẩm của nhà biên khảo, văn học cổ đại khởi đi từ thập niên 30, đến thập niên 70 đúng 40 năm thì kết thúc với chữ: “The End”. Rối chữ tôi lại “điểm phim” với bạn già chuyện Con đường thiên lý lôi cuốn như phim <em>Miền viễn tây. </em>Bạn già dòm rối chữ tôi như người cõi trên và mắng như vặt thịt vì đa thư loạn mục, là đọc nhiều quá đâm rối mắt nên chả nhìn ra ý từ người viết sử. Vì ngay khúc vào truyện, cụ Lê tức nhà biên khảo, văn học cổ đại đã dẫn dụ qua người bạn đồng môn Trần Văn Bảng …</p>
<p>&#8211; Anh bảo người Việt Nam đầu tiên qua Hoa Kỳ là Bùi Viện. Sai. Người đầu tiên là cụ nội tổ chúng tôi, là cụ <em>Trần Trọng Khiêm.</em></p>
<p>&#8211; Trần Trọng Khiêm là ai? Ở thời nào? Tôi không nghe tên đó.</p>
<p>&#8211; Cùng triều Tự Đức như Bùi Viện, nhưng sinh ở đầu đời Minh Mạng, hơn Bùi Viện khoảng hai chục tuổi, tôi không rõ Bùi Viện qua Hoa Kỳ năm nào, nhưng tôi biết chắc là cụ Trần Trọng Khiêm đặt chân lên đât Hoa Kỳ năm 1849 và sống ở đấy 4 năm…”.</p>
<p>Năm 1849? Bởi đi tìm con ba đuôi lòi tói ra nửa tập “Văn hóa Việt Nam” của ông họ Trần. Hỏi sư mượn lược, rối chữ tôi được thể quắn quả với Bùi Viện qua năm tháng:</p>
<p>Theo tộc phả, họ Bùi chính quán ở Thanh Hóa, di cư ra Bắc từ triều Lê đã 200 năm, định cư ở làng Trình Phố, tổng An Hồi, Trực Định, phủ Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Bùi Viện là đời thứ tám tính từ khi thiên di. Ông sinh năm 1839, đỗ tú tài năm 1864, đỗ cử nhân năm 1868. Cuối đời triều đình xét ông có tội tiêu lạm công quỹ 36 vạn, ra lệnh tịch biên gia sản, nhưng vô hiệu vì ông chỉ có một mái nhà tranh. Ngày 1-11-1878, Tự Đức 31, ông đột ngột từ trần. Có nguồn nói ông bị giam và chết trong ngục.</p>
<p>Trần ai khoai củ đến…một mái nhà tranh, hốt nhiên mù u ra bạn già dậy viết sử đừng viết những chi tiết thừa thãi, rối mù. Rối chữ tôi bèn hỏi khúc kết…u tối của chuyện<em> Con lạc đà chui qua lỗ kim</em>. Bạn già gật gừ: Sau mười lăm năm góp nhặt sử phẩm qua những mảng da trâu, những mảnh gỗ dầy, để rồi nước lã ra sông. Vị vua chết là hết chuyện. Bạn già gật đầu tắp lự: Sử sách cho lắm chỉ tổ cho mối mọt nó sơi.</p>
<p>Ba điều bốn chuyện xong, bạn già len chân vào chuyện…</p>
<p>Ừ thì thêm một lần hoắng huýt với bạn đọc về ông bạn già nặng nợ với sử Việt&nbsp; Như ở trên đã đảo qua, số là bạn già đây đã viết thông thiên vạn quyển về sử thi, gần đây bạn già viết <em>Bùi Viện (1839-1878) &amp; Cuộc cải cách hải quân</em>…Bây giờ bạn già len chân vào chuyện…thôi thì hãy…”thông sử” với huyền thoại Bùi Viện tới Hoa Kỳ. Cứ theo bạn già có nhiều “tư liệu” chép sự việc này với chi tiết khác nhau, với dật sử còn….dật dờ hơn nữa qua những nhà làm văn hóa, nhà biên khảo để rối như mớ bòng bong thêm…</p>
<p>Như với Lê Văn Ðức, Lê Ngọc Trụ thì Bùi Viện được phái sang Quảng Ðông để tìm cách mở mang việc buôn bán với ngoại quốc. Tại đây, ông được con lãnh sự Mỹ làm trung gian xin viện trợ Mỹ, sau đó chính phủ Mỹ đồng ý giúp. Bùi Viện về Huế xin phép Tự Ðức. Vua phái ông qua Hồng Kông hỏi cho chắc chắn rồi mới ban quốc thư. Sợ tốn thì giờ, Bùi Viện mạo quốc thư, tự chế áo mão tam phẩm qua Hồng Kông. Tự Ðức không bắt tội, ban cho ông danh nghĩa chính thức qua Mỹ xin viện trợ. Mỹ đòi phải ứng trước 2 triệu quan để làm quân phí đánh Pháp. Ông về tâu vua, vua cho phép kinh doanh để kiếm ra số tiền 2 triệu quan đó. Sau vì chuyện tham nhũng, đình thần hay được, khép ông tội khi quân, và <em>giam ông đến chết </em>(!?).</p>
<p>Tiếp đến là nhà biên khảo Thái Văn Kiểm viết bằng Pháp ngữ việc Bùi Viện đến Mỹ. Bùi Viện nhận lệnh Tự Ðức qua Hồng Kông tiếp xúc đại diện các cường quốc ở đây, hy vọng dùng áp lực quốc tế chống lại âm mưu thôn tính Ðại Nam của Pháp. Qua sự giới thiệu của lãnh sự Mỹ ở Hồng Kông, Bùi Viện sang Nhật, gặp lãnh sự Mỹ ở Hoành Tân [Yokohama]. Từ đây, Bùi Viện qua San Francisco, được Tổng thống &#8220;Simpson Grant&#8221; tiếp kiến. Nhưng vì không có quốc thư, nên Grant không hứa hẹn gì.</p>
<p>Robert Miller (1990) dịch nguyên văn từ nguồn của Thái Văn Kiểm và đoạn diễn văn của Tổng thống Lyndon B. Johnson ở Guam. Nhưng chỉ có một khác biệt Bùi Viện gặp lãnh sự Mỹ tại Yokohama trên đường từ Mỹ về quê hương.</p>
<p>Robert Miller vô tình dựa vào nhân viên ngoại giao của Ủy ban lãnh đạo Quốc gia thời Nguyễn Văn Thiệu viết dùm (1967) một đoạn diễn văn cho Tổng thống Lyndon B. Johnson về sử kiện Bùi Viện qua Mỹ để Johnson đọc tại Hội nghị thượng đỉnh ở Guam.</p>
<p>Bạn già lễnh đễnh rằng gần đây có ông Bảo Vân với chi tiết năm tháng hơn:</p>
<p>Tháng bảy năm 1873, Tự Đức thứ 26, Bùi Viện đến bái mạng vua để lên đường sang Nhật, sau đó vượt Thái Bình Dương đến Hoành Tân rồi sang Mỹ. Đến San Francisco, ông vượt <em>ba ngàn dặm</em> <em>đường bộ</em> tới Hoa Thịnh Đốn. Sau hơn một năm trời ở thủ đô nước Mỹ chờ đợi, cuối cùng Bùi Viện cũng gặp được Tổng thống Ulysses S. Grant để xin giúp đỡ chống người Pháp. Vì Bùi Viện không có quốc thư nên phải trở về. Năm 1875, Bùi Viện mang quốc thư sang Mỹ lần thứ hai, tuy nhiên chính phủ Mỹ đã thay đổi chính sách ngoại giao với Pháp nên không muốn giúp Việt Nam nữa.</p>
<p>Bạn già cho hay ông Trần Đông Phong sau tìm ra gốc gác của ông Bảo Vân…</p>
<p>Cứ theo bạn già thì ở hải ngoại, Bảo Vân là cháu Bùi Viện. Ông có ra quyển sách nhan đề <em>Bùi Viện–Một nhà nho sáng suốt-lỗi lạc-phi thường</em> nội dung không có gì mới lạ hơn tác phẩm của Phan Trần Chúc, chỉ thêm một số chi tiết trích trong gia phả họ Bùi ở Trình Phố, Thái Bình. Mặc dù tác giả tham khảo một số tài liệu của Đào Trinh Nhất, Lãng Nhân, Trần Xuân An, Thái Văn Kiểm. v…v…nhưng nhiều câu hỏi vẫn không có câu trả lời. Ngay cả tài liệu trong gia phả họ Bùi cũng chỉ có giới hạn.</p>
<p>Nghe ong cả tai với những nguồn trên, vì theo bạn già có thể nói Bùi Viện được nhiều người viết…nhiều nhất trong những nhân vật thời Nguyễn. Mặc dù rối chữ tôi rối loạn tiền đình với họ nhưng cũng huếch là nghe bạn già nói rắn trong hang cũng phải bò ra. Bạn già cười hích và thông thiên bác cổ rằng theo các cụ thì “kiến trong hang cũng phải bò ra” vì rắn không có…tai. Nhân chuyện rắn rết, bạn già bò qua “rắn đói lại chê nhái què” với người viết nữ Trần Giao Thủy. Bà hay cô Trần Giao Thủy viết rất gay gắt “chê” Thái Văn Kiểm sao không sao lục tài liệu thời Tự Đức để tìm xem chuyện Bùi Viện đi Mỹ có thật hay chăng? Bởi xưa nay nhiều người viết với thói quen lập lại và trích dẫn những chuyện lịch sử…theo theo thể loại <em>văn chương tự cổ…vô bằng cớ</em>. Như:</p>
<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em>Ông Phan Trần Chúc (1907-1946) là “người đầu tiên” viết truyện Bùi Viện sang Mỹ. Ông là nhà văn chuyên viết tiểu thuyết lịch sử, cuốn sách của ông được xuất bản năm 1945 tại Hà Nội (tiếp là cuốn Kho vàng của vua Ham Nghi). Ông đưa ra sự kiện Bùi Viện hai lần sang Mỹ. Lần đầu gặp…“Thống lĩnh” Abraham Lincoln. Nhưng theo lịch sử Bùi Viện lên đường vào năm 1873. Lúc đó Lincoln không còn nữa, vì đã bị ám sát năm 1865. <em>Lần sau, Bùi Viện mang quốc thư sang Mỹ, lại biết Ulysses S. Grant cũng đã chết</em>.</p>
<p>Bởi rối chuyện Bùi Viện qua Mỹ lần thứ nhất khi gặp Lincoln lúc gặp <em>Grant. Với địa danh lúc ở Washington khi tại </em>San Francisco<em>. </em>Thêm rối tinh với năm đi mỗi tác giả mỗi viết một khác. Bởi nhẽ ấy bà hay cô Trần Giao Thủy hoá thân thành phán quan…</p>
<p>Phan Trần Chúc mất từ năm 1946, nhà giáo Bảo Vân Bùi Văn Bảo qua đời năm 1998. Tuy nhiên, nhà biên khảo Thái Văn Kiểm, dù đã lớn tuổi nhưng vẫn còn sinh hoạt văn hoá tại Paris; hy vọng với tinh thần một người khảo cứu, khoa bảng (Docteur-es-Lettres Orientaliste, Paris), ông có thể làm sáng tỏ hơn chuyện Bùi Viện đi Mỹ với tài liệu khả tín hoặc sử liệu từ các văn khố Paris. Mặc dù ông Thái Văn Kiểm đã “hiệu đính” hai lần khi viết lại bài bằng tiếng Việt năm 1970 và 1978 nhưng vẫn không có gì mới lạ.</p>
<p>Hơ! Nghe người Trần Giao Thủy ngự sử văn đàn thế đấy nên hãi quá thể. Hãi hơn nữa nhớ lại bạn già nhắn nhe rối chữ tôi là viết biên khảo là làm sự việc rõ ràng hơn, chứ không phải làm rối rắm thêm. Bởi rối chữ tôi chỉ là người sưu khảo nên chả muốn rôi như gà mắc tóc nữa. Thế nên rối chữ tôi chả dám hó hé ngẫu sự trên với bạn già.</p>
<p>Cái đầu như cục vôi sống của rối chữ tôi đang rối tinh thì bạn già ăn vẹt ở mòn cho tới nay, chưa tài liệu nào chứng minh được Bùi Viện qua Mỹ. Vì qua văn khố bộ ngoại giao không có tài liệu về Bùi Viện gặp tổng thống Grant. Vì được một nguyên thủ quốc gia tiếp kiến chẳng phải là dễ dàng và không thể không có những dấu tích ngay từ hàng lãnh sự địa phương như Hồng Kông hay Yokohama. Vì theo các sử gia của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ: Từ 1862 đến 1950 Hoa Kỳ chỉ đặt lãnh sự quán ở Yokohama vào năm 1897 và chưa khi nào đặt tòa lãnh sự của mình tại Hồng Kông, thuộc địa của Anh Quốc.</p>
<p>Với sử nhà Nguyễn thì Bùi Viện chỉ là tác nhân của sử kiện.</p>
<p>Hai nguồn tư liệu chính là <em>Nguyễn triều châu bản </em>và <em>Đại Nam thực lục chính biên</em> đều đề cập đến Bùi Viện.với bút phê và ấn dấu của Tự Đức. Có tất cả 10 tài liệu về Bùi Viện nắm cơ quan đặc trách chuyên chở đường thủy, vì Bùi Viện là quản đốc Nha Tuần Tải. Như <em>Đại Nam thực lục chính biên</em> cho biết Bùi Viện được bổ làm quản đốc Nha Tuần tải năm 1877, chức Biên tu, <em>hàm bát phẩm sau lên thất phẩm</em>.</p>
<p>Thêm nữa với chuyện đi sứ thì…</p>
<p>Năm 1866, Tự Ðức gửi một sứ đoàn qua Pháp, do Giám mục J. D. Gauthier dẫn dắt, có Nguyễn Trường Tộ, Phạm Phú Thứ và Nguyễn Ðiều tháp tùng. Tiếp đến nhiều sứ đoàn Việt liên tục qua Hồng Kông, Ma Cao. Ðiểm đáng ghi nhận là không thấy tên Bùi Viện xuất hiện trong báo trình của các sứ đoàn này, hay bất cứ sứ đoàn nào đi Hồng Kông trước đó như sứ đoàn Nguyễn Tăng Doãn, Nguyễn Hữu Lập, v…v…</p>
<p>Giả sử chuyến đi sứ của Bùi Viện có thật! Theo thông lệ với chuyện đi sứ của nước ta cả ngàn năm trước, thì chánh sứ, phó sứ, đoàn sứ giả đó gồm bao nhiêu tuỳ tùng? Ai là thông sự (thông ngôn), y viên (y sĩ)? Kết quả chuyến đi có được Bùi Viện ghi chép như Phạm Phú Thứ từ 10 năm trước viết <em>Tây phù thi thảo</em> (Bản thảo tập thơ đi sứ phương Tây) và <em>Tây hành nhật ký</em> (Nhật ký đi sứ phương Tây).</p>
<p>Ngay cả với tập biên khảo công phu gần đây nhất là <em>Quan hệ bang giao giữa Việt Nam và phương Tây ở triều Nguyễn 1802-1945</em> của Chu Tuyết Lan cũng không đề cập đến “sứ thần” Bùi Viện. Với những người viết về “sử kiện Bùi Viện”, bạn già cân, đo, đong, đếm đàn ông, đàn bà, Tây, Ta có đủ cả rồi bắt qua các sử gia cận đại…</p>
<p>Về mặt chính sử với <em>Việt Nam sử lược</em> của cụ sử thần Trần Trọng Kim không thấy nói đến Bùi Viện đi Mỹ. Ngoài sử gia Phạm Văn Sơn qua cuốn <em>Quân dân Việt Nam chống tây xâm</em>, ông viết chung chung, không có chi tiết gì nhiều: Ông Bùi Viện người Thái Bình, đậu cử nhân được cử sang Tàu lo việc thương mại. Tại Hương Cảng, ông giao du với lãnh sự Hoa Kỳ và được giới thiệu gặp Tổng thống Hiệp Chủng Quốc. Sau một năm chờ đợi vì không có quốc thư. Khi trở lại thì chính tình ở đây đã thay đổi.</p>
<p>Đến tao đoạn này, bạn gia bóc ngắn cắn dài với cua ốc mùi bùn…</p>
<p>Thêm một huyền thoại nữa do một mục tiêu chính trị nào đó với chuyện người Việt có mặt trên đất Mỹ vào Thế chiến thứ nhất (1914-1918): Ấy là ông Hồ…Theo lời tự thuật của ông Hồ, khi làm việc trên Tàu Pháp, dưới bí danh “Paul Thành”, trong khoảng thời gian 1913-1919 ông đã tới New York, Boston, Philadelphia. Nhưng theo báo Yshi của hội truyền giáo Tin Lành Mỹ, <em>năm 1913-1919 ông Hồ ở Thiên Tân</em>. Pierre Brocheux viết <em>năm 2003 </em>trong <em>Du révoutionnaire à l’icône </em>không tìm thấy dấu tích ông Hồ ở Mỹ.</p>
<p>Rối chữ tôi há họng hỏi há có chuyện tào lao ấy sao? Bạn già bàu bạu là trong chốn ta bà có nhiều “huyễn sử” lắm! Đại thể như mới đây ở ngòai nước với “Hồi ký” của Đại sứ Pháp Jean-Marie Mérilion với <em>Những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa</em>. Hồi ký này của ông Vũ Hải Hồ tức ký giả Trần Trung Quân ở Paris bịa như thật . Bịa như ở trên với ông Yên tử Cư sĩ Trần Đại Sỹ với bài viết với tựa đề dài lê thê <em>Ði tìm con cháu thuyền nhân 849 năm trước:&nbsp;Nguyên tổ hai giòng họ Lý tại Ðại-Hàn. </em>Ông cư sĩ họ Trần này trước 75 là sĩ quan tình báo Cây Mai. Đột dưng bạn già cười lủng lẳng mà rằng với chuyện “tình báo” thì…Thì không thể không trở lại với chuyện ông Hồ bắt liên lạc với trung úy Kent, sĩ quan tình báo chiến lược OSS. Thế nhưng qua “bút sử” của đại úy Ray Grelecki viêt lại thì trung úy phi công Mỹ, Rudolph Shaw, đáp xuống vùng Việt Minh khi máy bay bị hỏng vào ngày 11/11/1944. Chứ chả phải trung úy Kent nhẩy dù xuống Cao Bằng cung cấp súng đạn, điện đài và y dược cho ông Hồ.</p>
<p>Năm hết Tết đến, bạn già khua cây gậy chống trời lên..trời rằng phải về cúng ông Táo. Trước khi nhất hữu ly biệt thiên lý tống tiễn, bạn già lụi đụi thêm chuyện ông Phan Trần Chúc viết ngày Bùi Viện lên đường được vua Tự Đức đích thân tiễn đưa. Là nhà văn, ông viết rất văn sách để “hành hạ” Bùi Viện trầm luân trong bể phù sinh như vầy…</p>
<p>“Từ biệt các liêu hữu, Bùi Viện cho giương buồm về phía Bắc, vào một buổi sáng quang đãng mà mặt trời mới mọc trồi lên mặt nước gợn sóng, không khác một cái đĩa ngọc lớn để nghiêng trên tấm thảm hồng. Sau mươi ngày đêm lênh đênh trên mặt bể, vật lộn với gió bão phải đè lên những ngọn sóng to tầy đình kế tiếp nhau, nhô lên đổ xuống như cố ý hành hạ chiếc thuyền mỏng mảnh mà tay ông chèo lái, ông trông xa đã thấy đất liền, khoảng đất rọi một tia sáng vui mừng trong khối óc đầy hy vọng của ông”.</p>
<p>Vì ông Phan Trần Chúc là…“người đầu tiên” vẽ chuyện “Bùi Viện người đầu tiên tới Mỹ” là chuyện hoang tưởng, hư cấu. V<em>ới “hư cấu”, ở đại học Western Connecticut State University, trong bài giới thiệu tác phẩm </em><em>Allegories of the Vietnamese Past: Unification and the Production of a Modern Historical Identity</em><em> của Wynn Gadkar-Wilcox. Tác giả đặt câu hỏi tại sao người Việt hư cấu chuyện Bùi Viện sang Mỹ gặp Tổng thống Ulysses Grant, dù rất khó tin, để rồi câu chuyện bang giao được phổ biến rộng rãi trong những bài viết về lịch sử của người Việt.</em></p>
<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Với bang giao sử Việt, bạn già thân già vác dùi nặng chuyện đi sứ của sứ thần…</em></p>
<p>&#8211; Bùi Viện không có phái đoàn sứ thần chính thức như một phái bộ quốc gia. Vì ông chỉ đỗ…”ân khoa” cử nhân trường Nam Ðịnh năm 1868. Sau ông bổ làm Chánh quản đốc Nha tuần tải và mang hàm bát phẩm, thất phẩm là chức quan nhỏ. Vì bát phẩm, thất phẩm chỉ hơn cửu phẩm văn giai là chức hàm dành cho dân để mua danh!.</p>
<p>&#8211; Bùi Viện không đủ danh vị để đại diện triều đình, vì đi sứ thời trước thường là trạng nguyên, đến thời Nguyễn là tiến sĩ như Nguyễn Trọng Hợp, Phạm Phú Thứ, Phan Thanh Giản. Có thể vì vậy ông phải giả mạo quốc thư và tự chế mũ áo tam phẩm.</p>
<p>Bỗng khi không, rối chữ tôi…rối như cuộn chỉ rối bởi tự mình buộc chỉ chân voi…</p>
<p>Rất ngày tình với bạn đọc, với sách vở tam sao thất bản, thêm các nhà làm văn học chỉ làm to chuyện như luộc con trâu cả con trong nồi làm rối chữ tôi rối loạn tiền đình không phải là ít.</p>
<p>Rối trí thêm nữa chuyện một ông bạn họ Bùi đang ở thành phố rối chữ tôi đang ngụ cư, ông bạn họ Bùi cho biết cụ Bùi Viện đi Mỹ là chuyện có thật vì ảnh chụp cụ Bùi Viện ở Mỹ hiện đang lưu giữ tại nhà từ đường họ Bùi tại làng Trình Phố, phủ Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.</p>
<p>Nhìn bức ảnh, rối chữ tôi cứ rối mắt với cái ghế, cái độc kỷ, bộ ấm trà, cái lộc bình cắm hoa với hoa văn Tàu tàu. Vì vậy rối chữ tôi trộm đồ rằng bức ảnh chụp ở…Hồng Kông.</p>
<p>Và để vẽ rắn thêm chân, rối chữ tôi rấm rẳn với bạn già rằng huyền thoại Bùi Viện người đầu tiên tới Mỹ chỉ là “hiện thực giả, hư cấu thật” và không hơn, thưa bạn đọc.</p>
<p>Nghe rối chữ tôi tu hú với bạn đọc thế…Thế là bạn già cười dín mà rằng theo các cụ ta xưa là “vẽ rết thêm chân”, vì…rắn không có chân. Chả cần vẽ vời, bạn già mọt sách ăn giấy với <em>chưa thấy quan tài chưa đổ lệ</em>, nho nhe là “bất kiến quan tài bất xuất nhân lệ”. Trước khi biệt hữu thiên địa phi nhân gian, bạn già khủng khẳng cọ đít nồi…</p>
<p>&#8211; Bác không hay ấy chứ…chứ như “theo bước chân phù lãng nhân&#8230;<em>trong cõi ngu lạc trường</em>” thì năm 1987, nhà xuất bản Văn Nghệ ở miền nắng ấm tình nồng ấn hành cuốn tiểu thuyết của học giả quá cố Nguyễn Hiến Lê nhan đề <em>Con đường thiên lý</em> kể chuyện một người Việt tên Lê Kim qua Mỹ trước Bùi Viện khoảng 20 năm.</p>
<p>Cầm cây gậy gõ cọc cọc xuống mặt bàn, giọng cứng đơ như con bửa củi …</p>
<p>&#8211; Con đường thiên lý cũng là…<em>hiện thực giả, hư cấu thật</em>. Vì nhà biên khảo, học giả văn hóa cổ đại Nguyễn Hiến Lê của bác đã bôc bạch trong <em>Đời viết văn của tôi</em>…</p>
<p>“Tôi dùng hồi ký của tôi và tài liệu về cuộc tìm vàng ở miền Tây nước Mỹ giữa thế kỷ trước để tạo ra nhân vật không có thật là Lê Kim. Để dựng lên chuyện không có thật về người Việt đầu tiên trôi nổi qua Mỹ, theo một đoàn tìm vàng. Khi tìm được rồi thì chán. Chán rồi thì trở về Nam Việt lập gia đình, khai hoang trong Đồng Tháp Mười.”.</p>
<p>Nghe cũng chán thật nên rối chữ tôi đành im như thóc ngâm. Bạn già bước ra cổng Thạch trúc gia trang, tay cầm cây gậy chống trời kéo lê như dắt trâu qua hàng rào mang theo bồ chữ <em>văn chương tự cổ…vô bằng cớ</em> với dật sử Bùi Viện, người đầu tiên tới Mỹ.</p>
<p>Với tương kiến diệc nan biệt diệc nan, bạn già không quên để lại rổ chữ <em>theo bước chân phù lãng nhân.</em>..<em>trong cõi ngu lạc trường </em>với tiểu thuyết lịch sử Con đường thiên lý làm rối chữ tôi…rối như canh hẹ vì chả hiểu…“trong cõi ngu lạc trường” là cổ sự gì?</p>
<p><strong> Thạch trúc gia trang</strong></p>
<p><strong>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Ngộ Không Phí Ngọc Hùng</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Nguồn: Nguyễn Duy Chính, Hoàng Hải Thủy,</p>
<p>Vũ Ngự Chiêu, Phạm Vũ, Nguyễn Thị Chân Quỳnh</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ngo-khong-theo-buoc-chan-phu-lang-nhan-2/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Không: Như  một  chuyện  tình</title>
		<link>https://t-van.net/ngo-khong-nhu-mot-chuyen-tinh-2/</link>
					<comments>https://t-van.net/ngo-khong-nhu-mot-chuyen-tinh-2/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 04 Oct 2018 12:29:47 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=37076</guid>

					<description><![CDATA[Người Tình &#8211; Tranh: Thanh Châu Qua tựa đề trên, ngay với người viết đã thấy không xong rồi. Nếu nói: “Thưa không! Ấy chỉ là chuyện của cô bạn tôi”. Lại càng cà riềng cà tỏi hơn nữa, vì đâu có chuyện bạn bè giữa đàn ông và đàn bà. Hoặc thảng như chợt [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/10/sister2.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter  wp-image-37077" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/10/sister2-300x249.jpg?strip=all" alt="" width="345" height="286" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/10/sister2-300x249.jpg?strip=all 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/10/sister2.jpg?strip=all 663w" sizes="(max-width: 345px) 100vw, 345px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><em>Người Tình &#8211; Tranh: Thanh Châu</em></p>
<p>Qua tựa đề trên, ngay với người viết đã thấy không xong rồi. Nếu nói: “Thưa không! Ấy chỉ là chuyện của cô bạn tôi”. Lại càng cà riềng cà tỏi hơn nữa, vì đâu có chuyện bạn bè giữa đàn ông và đàn bà. Hoặc thảng như chợt một ngày <em>em đến thăm anh một chiều mưa</em> thì cũng có hơi mưa không ướt đất, nắng không ấm đầu hay sao ấy. Sáu mươi tuổi chứ còn ít ỏi gì nữa, với đất sinh cỏ già sinh tật, lại đốc chứng mang chuyện lộn thừng lộn chão của mình trang trải lên giấy trắng mực đen thì có…ma nó đọc.</p>
<p>Ừ mà chuyện dường như là vậy. Hay là hãy giải bày thế này:</p>
<p>Ai đó chẳng một lần trong đời thả hồn đi hoang với tình cũ không hẹn mà đến. Bằng vào cái tuổi chập chờn này, chợt nghe lại một khúc nhạc cũ, hoặc bắt gặp đôi mắt người xưa ở đâu đó. Tận cùng thì mỗi ai mỗi cõng một quá khứ trên lưng, thì cứ tạm gọi là một hình bóng đi. Để rồi chẳng thể chạy trốn một chuỗi ký ức vơi đầy. Nay có thêm một giấc mơ phai cùng những âm điệu, những dáng dấp đang nằm ngủ quên trong tâm khảm, bỗng thức dậy lũ lượt rủ nhau về trong thoáng chốc qua một bóng dáng.</p>
<p>Trong chốc lát, gặp lại cái bóng hiu hắt bên đường, cái bóng hất bên này, hất bên kia khơi dậy ngày nào năm ấy. Và rồi đong đưa với cánh cửa của dĩ vãng hay nói khác đi, chỉ là cái bóng thời gian cùng ngày tháng qua mau, ai đấy cũng vậy,…tôi cũng thế.</p>
<p>Một ngày tôi có hẹn hò với quá khứ…</p>
<p>Để rồi một ngày có gió hiu hiu lạnh: “Người xưa” đã trở về. Thế nên bài viết mới có cái tựa đề…<em>như một chuyện tình</em> ở trên. Người ơi người ở đừng về, nhưng cứ đến rồi đi…rồi khuất bóng. Căn phòng vắng lặng, bấm cái nút của dàn máy, tiếng hát Lệ Thu qua một dòng nhạc nghe hoang dại, hoang vắng: <em>Ngày tuổi hoang đang ngủ yên, cơn mê tình len lỏi tới, con tim vàng nghe rộn tiếng, vội bay lên…</em></p>
<p><em> </em>       ***</p>
<p>Con tim vàng nghe rộn tiếng…Vội bay lên…</p>
<p>Đã từ lâu, cũng đến gần hai mươi năm thì phải, sau ngày lập gia đình, nhiều lúc nửa đêm về sáng, lại lẫn ngẫn tới <em>cố nhân xa rồi, có ai về lối xưa</em>…với những gợi nhớ để tự hỏi: Như vậy có phải là tình yêu chăng? Nói cho ngay tôi chẳng có gì để huyễn hoặc về cô: Cô là chị của bạn em gái tôi. Cô đến nhà đón em, hai đứa đụng đầu nhau ở cầu thang. Và sững người nhìn nhau. Hình ảnh tôi còn giữ được cho đến lúc này là đôi mắt. Tả chân thì có những đôi mắt nọ quá lớn, kia lại quá hẹp, hay quá lờ đờ. Có những đôi mắt đủ mầu, đủ cỡ, nói đủ thứ ngôn ngữ khác nhau. Đôi mắt va vào mắt là đôi mắt hờ hững hanh hao đầy sương khói. Mỗi khi mở to trông vừa ngơ ngác, vừa ẩn chứa một điều gì sâu thăm thẳm để bỗng dưng tôi như muốn…chết chìm trong đó.</p>
<p>Ngay lúc hai đứa đâm sầm vào nhau ở chân cầu thang hôm ấy, tôi tự hiểu rằng đôi mắt là cánh cửa mở ra hiện tại và tương lai. Và sau này sẽ là của ký ức. Ký ức để chẳng quên là tôi cũng có một đôi mắt đeo kính, và mắt tôi thao láo như mắt rắn ráo của con đực nhìn con cái, như ông Adam gặp bà Eva. Đúng vào cái lúc tôi vừa qua cái tuổi lông ben, và đã biết o bế đầu tóc và quần áo phải có ni có nếp.</p>
<p>Từ đó hai đứa đi chơi với nhau, không có chuyện anh với em, mà ngôn ngữ là mày tao chi tớ chí chát như người lớn. Vì ở cái tuổi này, cô đã có mông, có ngực. Cũng có thể cô hơn tôi hai, ba tuổi, thế nên mày với tao để giữ một khỏang cách chăng? Thực tình tôi không biết, nhưng lúc đó tôi cũng chẳng bận tâm đến cái khỏang cách thời gian cách nhau bằng…sợi tóc ấy. Chỉ biết rằng cô trước ở Phan Thiết, là người Bắc, theo bố mẹ di cư vào đây trước năm 54. Tả về cô, chẳng tốn kém giấy mực gì cho mấy, không ngòai cặp môi dầy đầy gợi cảm, hiểu theo cả hai nghĩa đen và nghĩa bóng. Cũng không có chuyện em tan trường về đường mưa nho nhỏ, mà là hai đứa hay rủ nhau trốn học. Cả hai đạp xe tà tà rong ruổi đó đây, thường thì ghé xe thịt bò khô, xì dầu với tương ớt đỏ cay xè của lão Tầu già ở đường Nguyễn Thiện Thuật. Hay đường Hồng Thập Tự có xe bò viên với nước dùng óng ánh, béo ngậy. Rồi cả hai ngồi bệt xuống vỉa hè, vừa mày tao, vừa xúyt xoa xé lưỡi, sịt sọat húp bát nước dùng nóng bỏng.</p>
<p>Và tôi cứ ngập lụt với cặp môi bóng mỡ của cô mãi.</p>
<p>***</p>
<p>Cái tuổi học trò là vậy, chẳng có gì vấn vương và xa vắng.</p>
<p>Xa đây…là rời thành phố để đến một nơi hẻo lánh nào đó. Hai đứa tôi đang ở cái tuổi nhấm nhẳng, thế nên chỉ biết mò tới Lái Thiêu là hết đất, để đi tìm mầu xanh tươi mát của vườn cây ăn trái, một khỏang không gian không có người lớn nhòm ngó. Cùng lắm là lân la qua suối Lồ Ồ, gặp cái vũng chỉ to bằng bốn năm cái chiếu, ngồi bệt xuống nước mới ngang bụng để rồi như người lớn và “ngó” nhau. Đúng ra tôi chỉ thóang bắt gặp bờ vai trần, ngấn ngực trắng ngần. Thấy tôi <em>mắt trừng gửi mộng qua biên giới</em> mãi, cô lừ một cái: “Thằng bốn mắt…Mày nhìn tao nữa mù mắt bây giờ”. Trên đường về người tôi nóng hừng hực như lên cơn sốt. Nhưng vẫn còn cảm nhận thấy hai bên đường, cỏ non mát dịu. Sau lưng tôi, tay cô ôm chặt ngang bụng và mùi lúa mới rào rạt như mùi tóc con gái. Âm hưởng của khúc nhạc cũ lại bồng bềnh: <em>Rồi hồn ta tắm trong mù khơi, chập chờn theo chín tầng mây trôi, lạc vào hương, hương lưng tóc người. Nên mãi ngày vui…</em></p>
<p>“Nên mãi ngày vui…” thì vào khỏang thời gian ấy, nếu có một chuyện nào đó không vui lắm, là giữa năm đệ tam Chu Văn An. Lớp tôi học nằm ở dẫy chuồng bò hay chuồng ngựa từ thời Tây để lại, tôi ngồi cái bàn ngay cửa ra vào nhìn ra ngòai vắng gió hiu hiu. Bỗng đâu có thằng của nợ nào đấy ném tờ giấy vo viên cho bạn nó vù qua mặt, theo phản ứng tự nhiên tôi chộp lấy. Thế là dính và sau đó có mục gọi phụ huynh tới trường để nói chuyện. Tôi phải cầu cứu đến cô, giả đóng vai bà chị vào trường năn nỉ ỉ ôi. Từ đó, hai đứa càng ngày càng khắng khít như bóng với hình, như duyên với nợ. Mà nợ nhiều hơn duyên, cô mang phiền tóai đến cho tôi từ mẩu thuốc lá đến ngày…vu quy. Cả hai cứ đi chơi lăng quăng, năm tháng cứ lặng lờ trôi, kết quả là tú tài kỳ đầu tôi rớt cái một. Phúc bất trùng lai họa vô đơn chí, đúng lúc hai đứa đang bát phố bị ông cụ tôi bắt gặp. Về nhà được hỏi thăm sức khỏe, tôi thưa gửi chỉ là… “bạn”. Nghe đến hai chữ trái khoáy này, ông cụ trợn mắt nhìn tôi như nhìn một thằng khùng và nhiếc cho một trận. Từ ông cụ, tôi học được bài học đầu đời là không có chuyện bạn bè giữa…con trai và con gái.</p>
<p>Lên đệ nhất, cô hay nói chuyện phi lý với buồn nôn, thực tình tôi chẳng biết cô túm tó đâu ra cái mớ hiện sinh hỗn độn này. Chỉ biết rằng mỗi lần cô nói, khuôn mặt như mê mẩn, đờ đẫn và tốn thuốc lá của tôi cũng khá bộn. Vì lúc này, tôi đã làm quen với một đồng ba điếu Ruby, vì học lóm được câu thơ <em>yêu em đốt cháy cuộc đời, vàng tay khói thuốc vẫn còn yêu em.</em> Để một nhớ hai quên lần đầu ngồi trên sân thượng, thấy tôi gõ gõ điếu thuốc, cô nói:  “Mày hút được. Tao hút được”. Thế là tôi châm cho cô điếu thuốc đầu đời, mắt cô cũng lim dim, cũng ngửa mặt lên trời nhả khói y hệt như…Francois Sagan.</p>
<p>***</p>
<p>Mấy năm sau vào một ngày cuối tuần…</p>
<p>Lang thang mãi cũng chán, tôi rủ cô đi ciné và chẳng cần biết phim quái gì. Thế là tay nắm tay, hai đứa lững thững chui vào rạp chiếu bóng như hai kẻ nhàn du cho lãng quên đời. Mới bước vào rạp tôi thấy ngay hai ghế trống. Khi ngồi xuống, cô ta kéo tay tôi ra: “Sao nắm tay tao hoài vậy”. Bèn cười khỏa lấp: “Sợ lạc”. Sau đấy tôi không biết làm gì hơn là…làm thinh, là chong mắt nhìn xuống cái cổ áo khoét sâu hun hút. Tôi cũng chỉ thóang bắt gặp bờ ngực trắng như cùi bưởi, như năm nào ở suối Lồ Ồ. Tôi đưa tay vuốt tóc cô, cô nhìn tôi trong bóng tối như lạ lẫm lắm rồi nhẹ ngã vào vai tôi làm như…như ra vẻ đầm ấm. Phim cứ chiếu trên màn ảnh nhưng tôi nào có xem. Chợt cô nói: “Chỗ này gần cửa ghê thấy mồ, tìm chỗ khác đi”. Tôi tìm thấy một dẫy ghế không ai trừ tôi và cô. Thế rồi vì bóng tối đồng lõa hoặc rạp vắng người hay sao ấy, khi không tôi chồm qua cô và…hôn. Chẳng hiểu phim chiếu người ta hôn nhau dễ dàng như thế nào nhưng lúc ấy với tôi sao lại quá khó khăn đến khốn khổ. Khốn khổ là trong bóng tối mù u, hai hàm răng&#8230;lao vào nhau bật ra một tiếng kêu đánh&#8230;cốp một cái đến ê&#8230;răng. Trong khi miệng tôi cứ như chẻ hoe trắng phớ với cái lưỡi cứng đơ, chả biết ngọ nguậy như thế nào cho phải phép. Mãi cho đến khi hai cái môi dính chặt vào nhau, tôi mới thấy tim mình đập loạn xạ và người ngợm tê rần.</p>
<p>Ra khỏi rạp, vẫn coi như không có chuyện gì xẩy ra trên cõi ta bà này và cô nói tỉnh queo với tôi: “Bộ hết chuyện rồi sao mà mày đưa tao coi cái phim bắn súng đùng đùng vậy”. Và nụ hôn thơm mùi ngô non ngây ngất ấy, như bám cứng với tôi không rời trong nhiều năm. Những ngày sau đó, giữa tôi và cô thì <em>Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh</em>. Nhưng có chút gợn sóng trong tách trà. Số là trong chuyến đi chơi ấy, bị thằng anh vợ tương lai bắt gặp. Chuyện đến tai hôn thê tôi để tôi bị vặn vẹo, trời sui đất khiến thế nào chẳng biết nữa, bỗng không đâu tôi nhả ra được một câu nhớ đời: “Trong đời người đàn ông luôn luôn có hai người đàn bà, một là người tình, một là người vợ”. Và tôi ngọng tiếp nếu tôi lấy vợ thì tôi lấy…người đây. Thế là tôi ăn tiền với hôn thê dễ tin của tôi ở câu lộng ngôn ấy, dù rằng lúc này tôi chưa là…đàn ông.</p>
<p>Gặp phải ngày lành tháng tốt là tôi lấy vợ để ông cụ tôi có con nối dõi tông đường. Trước ngày cưới một tuần, gần như sáng đêm chiều tối, cô có mặt ở nhà tôi, lo sắp xếp cái này, thu vén thứ kia như một người trong gia đình. Ngày đám cưới cũng đến, chỉ có tréo ngoe với vạn sự bất như ý là chưa tới giờ ra mắt quan viên hai họ, tôi đi tới đi lui để điểm mặt bạn bè. Vừa lúc cô từ cửa bước vào, tôi lặng người và đực mặt ra như ngỗng đực…Vì rằng với chuyện này, sau đấy họ hàng hang hốc có lời ong tiếng ve…</p>
<p>Vì quần áo của cô giống y hệt cô dâu, từ vải vóc đến mầu sắc cùng kiểu cách. Và chỉ thiếu…cái khăn hòang hậu.</p>
<p>Đi ngang qua mặt tôi, cô cử nhử:</p>
<p>&#8211; Tao là người tới trước.</p>
<p>Để chỉ mình tôi là người hiểu câu nói thắt thẻo ấy.</p>
<p>Đám cưới cứ tuần tự như tiến và cô bỏ về sớm. Nghe cô em nói lại hôm đó, cô hút thuốc lá và uống rượu hơi nhiều với bạn bè tôi…Cô em nói thêm: “Với anh, chị em tông tốc làm sao ấy”.</p>
<p>***</p>
<p>Từ đó tôi không gặp cô nữa cho đến ngày qua đây…</p>
<p>Nhà tôi đi vào cõi tĩnh mịch cũng sáu bẩy năm, để…<em>tôi vẫn chơi vơi riêng một góc trời.</em> Tiếp đến với cha già con cọc, trưa bánh Tây cầm, chiều mì ăn liền. Thêm nữa, đèo bòng cái tuổi về chiều nó đang rập rình bám ở sau lưng nên tha ma mộ địa không phải là ít. Thế nên tôi cũng có ý đi tìm cô, hỏi em gái tôi thì chỉ nhận được cái lắc đầu. Nhiều khi lủi thủi đi chợ, tôi cũng ngó tới ngó lui, như Tú Uyên đi tìm người nấu cơm rửa bát trong…sân chùa. Rồi lại lẫm đẫm nếu như gặp thì người muôn năm cũ có nhận ra chăng? Tiếp đến là nói năng gì về những buổi ban đầu lưu luyến ấy. Sau đó tôi lập gia đình, một ngày bạn bè cho biết: Có ai đó nhắn tôi trên đài phát thanh. Đúng ra bản tin là tìm em gái tôi, kèm theo cái tên họ của ông anh là…tôi. Bốc cái điện thọai lên, hóa ra vợ chồng con cái cô vừa ở D.C. mới dọn về đây.</p>
<p>Sau đấy gia đình tôi, gia đình cô lâu lâu thay phiên nhau làm cơm đãi đằng họp mặt. Cũng nhờ đó, tôi mới được biết chồng cô là lính thứ dữ, đã từng là cây si rễ mọc sần sùi trong những dịp về phép. Sau năm 75, một tối ông ta xuất hiện như một du kích, mũ tai bèo, chân đi dép lốp, lận sau lưng khẩu Colt 45. Như có sắp đặt từ trước, lôi trong túi ra bộ quần áo bà ba đen đưa cho cô, để cùng nhau xuống Rạch Giá tìm đường vượt biên. Chuyến vượt biên như theo lời cô kể cũng trần ai, len lỏi trong đêm qua thôn xóm. Rồi cũng thóat, vì chồng cô đã cày nát vùng này vào những ngày cuối cuộc chiến. Bộ quần áo du kích, bộ bà ba đen, vượt biển, lấy chồng, như những móc xích được ráp nối sẵn. Nên với cô, như đẩy đưa của duyên và nợ. Thế nên, mỗi lần nói về đức ông chồng hơn cả chục tuổi, cô để lộ một phần nào e dè, dẫu sao cũng là thiếu tá Cọp Ba Đầu Rằn. Nói cho đúng ra nhìn mặt chồng cô, trông ngầu thấy rõ. Nhưng ngược lại không ít thì nhiều, tôi cũng mến mộ hắn vì là một cao thủ mạt chược khó kiếm. Nhưng ít được mọi người ưa vì cái tính lầm lì của hắn.</p>
<p>Cớ sự gì tôi gọi chồng cô là… “hắn” thì hồi sau sẽ phân giải.</p>
<p>Như trên tôi đã kể lể, tụi tôi vẫn thường họp mặt đàn đúm, thỉnh thỏang cũng đi vũ trường. Nhưng có thể nói, gần như tôi chưa nhẩy với cô một bản nào. Chẳng dấu gì, tôi có một cái thú tính, như một cái thú đau thương là nếu ôm cô, một thân hình như con rắn, thêm mùi nước hoa ngây ngất. Trước sau thế nào tôi cũng sẽ chao đảo và chập chờn nhập vào cơn mê trần qua âm vọng bài hát mà tôi đã nghe mãi, nhưng vẫn chưa biết tên: <em>Sao bây giờ môi mặn đắng, tình qua sông. Ngày thần tiên đã theo người đi và buồn đau đã tìm lối về. Còn mình ta đi vào ước mộng, cho hết cơn mê….</em>Ít lâu sau, chồng cô hình như có gì phật ý nên hững hờ, ít qua lại nhưng tôi không biết chuyện gì xẩy ra. Ngay cả cách xưng hô, hai đứa tôi vẫn thưa gửi một điều chị, hai điều anh cho đúng phép tắc. Nhưng có những lúc lẻ loi, hai đứa thường gọi nhau bằng tên, mỗi lần như vậy, cái tên tôi qua giọng cô, nghe thật trầm và ấm. Riêng tôi thì như đánh mất một cái gì của mày tao chi tớ của cái thưở xa xưa. Trong những lúc vui bạn vui bè, bạn bè vẫn thường nói trông cô như…mệnh phụ, chữ nghe cũng lạ, ấy là ngôn ngữ của họ. Theo tôi thì có thể vì phấn son, vì lúc này cô làm cái nghề săn sóc sắc đẹp, khách của cô thuộc tầng lớp trung lưu và làm tại nhà riêng của họ. Nên tôi được biết thêm, cũng có nhiều khi cô tất bật đi trễ về khuya là vậy.</p>
<p>Đùng một cái, hai năm sau, khỏang hai, ba giờ sáng, chồng cô gọi điện thọai đánh thức tôi dậy và hỏi vợ “hắn” đâu. Khiến tôi mất ngủ đến sáng, vì bị bản mặt cô hồn và khẩu Colt 45, lại nơm nớp…nơm nớp lo sợ cho cái “bổn mạng” tôi, vì cái lối hỏi thăm dò có tính cách hằn học gần như hú họa. Mà tại sao hắn lại nhè tôi mà hỏi han, chịu không hiểu nổi. Ít lâu sau nghe phong phanh cô bỏ qua D.C. và lấy một bác sĩ người Việt có một đời vợ. Ngay lúc ấy tôi chỉ biết thầm trách cô tham tiền bỏ ngải, ai lại một nách ba con mà nỡ bỏ đi không kèn không trống. Mà nào có thiếu thốn gì, cô lúc nào cũng quần lượt áo là với cái nghề làm đẹp cho đời, làm đẹp cho người. Tôi nhớ lại đến lời cô em gái cô: “Chị em tông tốc làm sao ấy”. Nhưng tôi không nghĩ như vậy.</p>
<p>***</p>
<p>Bẵng đi một thời gian không nghe tin tức gì của cô. Như trên đã tỉ tê vào những đêm trằn trọc, thao thức, tôi vẫn thường hay âm ử <em>em xa xôi quá làm sao biết, tôi âm thầm trong cơn mê hoang</em>. Mê muội thì tôi cũng có đấy, thì cứ cho là như vậy đi, nghĩ cho cùng đèo bòng gì ở cái tuổi mây chiều gió sớm này, tạm hiểu là tôi mới…chớm già. Ấy thế mà người có tuổi hay nuôi những…giấc mơ hoang là một ngày nào đó tình cũ không hẹn mà đến để có những hò hẹn cuối đời với <em>nhớ thương biết bao giờ nguôi</em>. Và buổi hẹn hò không tưởng ấy nhè ngay ở nhà tôi.</p>
<p>Một buổi sáng, một ngày như mọi ngày, đang tính đứng trước cửa nhà để…nhớ nhà châm điếu thuốc. Bỗng nghe tiếng chuông giục giã, ra mở cửa thì thấy…“một đôi mắt”.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Mới sáng đầu ngày nhưng với cái nắng hong hanh của nắng hạ. Chưa hết, tính ra làm điếu thuốc nên tôi chẳng đeo kính, ánh sáng nhập nhòa vào mắt tôi đầy nhân ảo: Thế nên tôi bắt gặp…”một đôi mắt” đăm đăm nhìn tôi là vậy. Thoạt đầu, tôi hơi ngạc nhiên với đôi mắt không chớp ấy. Nói cho ngay, tôi chưa nhận ra thì đúng hơn vì nắng. Như trên đã lóng chóng, đã từ lâu tôi vẫn thường trông ngóng về cái cửa ra vào như cánh của quá khứ. Để có chuyện không tưởng rằng một ngày nào đó cũng sẽ gặp lại một hình dáng cũ, một khúc nhạc xưa. Nên sau đấy, tôi không lấy làm lạ vì đôi mắt như hóng theo tôi và ngầm ra ý rằng “người” của…quá vãng đã tới đây. Vậy mà vần không tin mắt mình, sau mấy giây sự ngỡ ngàng biến thành ngứa ngáy. Tôi dợm bước tới để hỏi han cho ra nhẽ thì dường như đôi mắt như muốn…đi giật lùi. Tôi chợt hiểu ra là ở cái tuổi này, tôi hay bất cứ ai đấy, đang tu hú với cái trò ngày nào là chạy theo cái bóng. Giả thử nếu như tôi đứng, đôi mắt cũng đứng và đau đáu nhìn tôi. Thảng như tôi giả bộ lùi lại nhanh hơn, đôi mắt bước tới cũng bước tới mau hơn. Cứ như thế, tôi rượt đuổi theo đôi mắt như đuổi theo…cái bóng ở cái tuổi mới biết yêu lần đầu cũ sì rỉ mốc.</p>
<p>Vừa để hồn đi hoang đến đây thì cái bóng với cặp mắt long lanh, đôi môi chúm chím, câu nói đầu tiên của cô với tôi là:</p>
<p>&#8211; Mày còn nhớ tao không?</p>
<p>Và<em> người xưa đã trở về…</em></p>
<p><em> </em>       ***</p>
<p>Vào nhà, cô chọn cái ghế hai chỗ ngồi, nói tôi đến cạnh cô để dễ nói chuyện, nhưng tôi lẳng lặng ngồi vào cái chỗ quen thuộc hàng ngày. Chẳng phải vì ngại ngùng này nọ mặc dù nhà chẳng có ai, mà chỉ vì tôi muốn ngồi xa cô một chút để nhìn rõ hơn. Tôi muốn ngắm người xưa trở về ở cái tuổi sáu mươi trễ tràng trong những ngày tàn xuân vừa qua mau. Giống như mua bức tranh ở tiệm, nhìn gần thấy nét vẽ chân phương, mang về nhà treo lên tường, mầu sắc như phôi phai. Ấy là chưa kể nhiều khi mua bức tranh bộn tiền vì…cái khung. Nhớ lại lời một thằng bạn dậy khôn: “Người cũ là một bức tranh cổ để hòai niệm, thay vì để ngắm” và nó còn dặn dò: “Chớ bao giờ dại dột gặp lại người cũ, thê thảm lắm”. Vì vậy tôi nhìn từ xa, ngắm cô như…cảm nhận một bức tranh. Nhưng tôi thấy bức tranh vẫn còn có nét, kể cả…cái khung.</p>
<p>Tôi thu lu ngồi một chỗ với cái mặc cảm tàn phai qua bóng ngả đường chiều. Như có hạt cát vướng mắc trong chiếc giầy, thỉnh thỏang tôi lại vuốt tóc để cố nhớ đã nhuộm hay chưa nên không thỏa mái lắm. Còn cái đầu thì lấn cấn với những gì tận đẩu tận đâu. Để rồi cô đốt lò hương cũ, chiêu hồn quá khứ về những ngày tháng qua mau: Ngày đó chúng mình hai đứa với nước mía Viễn Đông, bánh ướt chả lụa với bánh cống, chan hòa mắm ớt của miền Nam mưa nắng hai mùa. Như trút được những chộn rộn ban đầu, tôi hòa nhập và thong dong đeo đuổi theo cô. Tôi vất vưởng về con đường Nguyễn Thiện Thuật, Hồng Thập Tự trong những ngày ngập gió, tà áo tung bay. Cô đạp xe đạp, tôi đi xe gắn máy. Cô nắm tay tôi để cái xe gắn máy kéo đi. Như hai đường thẳng song song chẳng bao giờ gặp nhau, hồn nhiên vô tư lự để…gặp nhau ở bánh mì Hà Nội, hay bên vỉa hè của cà phê bí tất Năm Dưỡng. Và tôi cứ bồng bềnh theo năm tháng…</p>
<p>Rồi tôi bừng tỉnh trở về thực tại khi nghe chuyện thằng chồng cũ của cô, ngòai cái máu Biệt Động Quân: “Sát”, hắn còn ôm đồm với cái thói chồng chúa vợ tôi. Cô râm ran nào ai hay những lúc hắn thượng cẳng chân hạ cẳng tay với cô, mặt mũi sưng vù, cả tuần không ló mặt ra ngòai. Cái buổi tối cuối cùng đi làm khuya về, hắn ghen và đóng cửa không cho cô vào nhà, cô đứng ngòai cửa khóc lóc suốt đêm, lại gặp trời mùa đông cóng lạnh. Vì vậy hôm sau, cô ngược về D.C. với chuyến bay sớm nhất.</p>
<p>Nói về ông chồng hiện tại cô mới vui vui đôi chút. Chuyện là gặp trong một buổi họp mặt ở nhà bạn bè, cô để ý đến ông, không phải là bác sĩ như đồn đãi, không những thế lại “già”, vừa là tu xuất, lại vừa…bất lực nữa. Nghe đến đây, tôi muốn nhẩy nhổm lên…như gái ngồi phải cọc, nhưng vẫn hỏi đùa làm sao biết. Cô dĩu môi: “Có thử thì mới biết…Mày ngu như lợn”. Vui chuyện vui trò, tôi hỏi cô một khúc mắc mà bấy lâu nay tôi vẫn ấm ức mãi, là cái ngày cô bỏ đi, cớ sự gì thằng chồng cô điện thọai cho tôi hết trăm đắng nghìn cay, đến đùm đậu làm tôi sợ vãi đái ra quần!</p>
<p>Thì cô cười bằng mắt:</p>
<p>&#8211; Phải gió gì đâu. Một tối tao nằm mơ…</p>
<p>Và cô chúm miệng:</p>
<p>&#8211; Tao ú ớ gọi tên mày.</p>
<p>Nhìn cô dĩu môi…Hốt nhiên tôi bát nháo thấy mình ngu như lợn thật! Bỗng dưng thèm một hơi thuốc lá nhưng tôi không dám ra cửa làm một điếu để nhìn…mây bay gió thổi.</p>
<p>***</p>
<p>Tôi và cô cứ rù rì như vậy cho đến gần trưa, tôi chẳng buồn đong đưa với thời gian nữa. Thỉnh thỏang hai đứa nhìn nhau trong giây lát, tôi cũng chẳng ngẫn ngẫn đến độ, nhìn nhau mà chẳng nói, có nói cũng khôn cùng. Vì rằng lúc ấy tôi đang chìm trong mắt cô, như <em>đôi mắt người Sơn Tây, u ẩn chiều luân lạc,</em> để cỏ xót xa đưa, cỏ xót xa người. Và tôi nhìn cô không biết chán, để thấy cô vẫn còn dung dị, cái dung dị của một <em>Ngày Xưa Hòang Thị</em>. Tôi muốn nói đến những ngày tháng qua mau, cái tuổi hoa xuân học trò như ẩn hiện đâu đây. Ngày ấy gặp cô, tôi ngập ngụa với <em>nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát, bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông.</em> Vậy mà tôi vẫn lười biếng với <em>anh vẫn yêu mầu áo ấy vô cùng</em>. Bây giờ ngồi với cô đây, qua bóng dáng ấy, tôi tìm lại cô với cái duyên nói chuyện qua ánh mắt, rất dễ mềm lòng người. Nhất là những người hay yếu lòng như tôi, để tự hỏi <em>em có bao giờ, em thương nhớ thương.</em> Cũng có một đôi lúc, trong thoáng chốc ấy, tôi muốn gọi tên cô như gọi tên bốn mùa, <em>gọi tên em mãi trong cơn mê này mình nhớ thương nhau</em> nhưng nghĩ sao rồi lại thôi. Vì ai chẳng có lúc cưỡi gió rúc vào mây trong một ngày nhạt nắng…</p>
<p>***</p>
<p>Đến giờ về, tôi đưa cô ra xe với những <em>bước chân âm thầm nghe giọt nắng phai…</em></p>
<p>Bây giờ tôi mới biết đã gần trưa, tôi với cô đi song song như hai cái bóng bên đàng, mỗi người mỗi theo đuổi những ý nghĩ riêng tư. Chợt tôi lẩn đẩn nhìn thấy cái bóng…của mình vật ra trên đường đi và cứ dài ra và béo ra. Ông thiên chênh chếch trên đỉnh đầu, cái bóng càng lúc càng ngắn lại và gầy rạc trông thấy. Tôi nghĩ mình có già quá chăng với người xưa? Có lúc, cái bóng tạm thời vắng bóng. Tôi được thể vẩn vơ thêm, ai đấy chỉ thấy già khi gặp lại bạn cũ qua bao năm không gặp. Thêm nữa, có khi tôi bắt gặp cái bóng chui xuống chân tôi và ẩn nấp, nó tròn vo như một dấu chấm. Trên cái bóng là tôi. Tôi đốn ngộ ra: Tôi và cái bóng là…cái dấu chấm than đang nghiêng ngả, ngả nghiêng. Chạy trời không khỏi nắng là tôi khọm thật: Tôi mơ hồ rằng cái bóng của tôi không phải là tôi. Nhưng mà là của ai khác nhập vào. Để bồi hồi, chỉ một đoạn đường ngắn này thôi, tôi đang dặm trường mê mải <em>bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi, đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt, trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt, rọi suốt trăm năm một cõi đi về… </em>Ông thiên trốn vào mây, bỗng cái bóng biến mất. Tôi lần mò nhìn xuống mặt đường tìm kiếm, nhưng vô vọng, tôi chẳng hề thấy nó đâu cả. Đột nhiên tôi ngớ ra vì tìm được một chân lý bất biến: không có ánh sáng, không có bóng.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Vừa lúc cô lục túi xách tìm chìa khóa xe, nhưng lại để quên trong phòng khách. Tôi và cô trở ngược về căn nhà, vừa bước tôi vừa mông lung, như sau ngày lập gia đình, tối khuya thỉnh thỏang tôi chập chờn đến cố nhân ngày nào. Cho đến khi nhà tôi nằm xuống, hình bóng ấy mới biến mất trong tôi, để rồi cứ nghĩ ngợi mãi…Ông thiên lại chui ra nhòm ngó, tôi thấy ánh sáng hất bóng tôi xuống mặt đường đổ dài theo từng bước chân ngoằn ngoèo. Hai cái bóng hiu hắt bên đường, cái bóng hất bên này, hất bên kia. Rồi thì theo những bước chân ngu lạc trường để quên mình lãng du…Tôi bắt gặp cái bóng của mình âm thầm rướn mình chồm tới và bò lên ôm cái bóng kia quấn quýt. Như gặp nhau từ thưở hồng hoang với nghìn trùng xa cách, chúng ôm lấy nhau tha thiết ngỡ không có gì tách chúng ra khỏi nhau. Ông thiên khuất dạng sau đám mây, hai cái bóng giẫy dụa quằn quại từ từ buông nhau ra. Tôi chợt thấy người mình nhẹ tênh, đưa tay sờ soạng bỗng hốt hoảng thấy cái bóng kia không còn nữa. Nó đã bỏ tôi mà đi đâu mất. Cái bóng hoàn toàn hóa thân. Như một lần cô biến mất trong tôi cả một thời gian dài. Trời xanh, mây tím, nắng vàng và mây vẫn lặng lờ trôi. Ông thiên lại thò đầu ra. Hai cái bóng nhập làm một. Sắc tức thị không, không tức thị sắc, và tôi mường tượng đã đến lúc cúi xuống bế…cái bóng vào nhà.</p>
<p>Cô vào trong nhà nhưng lại để cái bóng ở ngoài…</p>
<p>Tôi chờ ở vòm cửa và để hồn bay bổng đến Văn Cao với <em>em đến thăm một lần</em> cùng căn nhà bên suối và chỉ một lần rồi thôi. Cùng một chút hòai cảm như cơn gió thỏang, bây giờ mùa xuân, con thuyền không bến đã có bến đậu, cũng chỉ một lần trong đời với thương hoài nghìn năm. Rồi lại bâng khuâng gửi gió cho mây ngàn bay với <em>cái hạc bay lên vút tận trời, trời đất từ nay xa cách mãi.</em> Mặc dù cô vẫn có đó, còn đó với… có đấy, không đấy.</p>
<p>Cô trở ra, cả hai đứng trong vòm cửa bé con con. Tôi với cô như sát nhau, nắng hắt qua song sắt, đổ những vệt dài trên áo, như xé cô ra làm hai, ba mảnh. Tôi thoáng bắt gặp một chút bụi trần vướng mắc trên áo cô, ẩn dấu dòng luân chuyển của thời gian, bánh xe quay vòng của đời thường với…ngày mai: Ngày mai hạ đến, thu sang, đông tàn…và xuân nữa chẳng trở về. Trong một khỏanh khắc, cô như bần thần và bịn rịn nắm tay tôi. Tôi tự hiểu, đó là cái nắm tay của quá khứ lâu ngày không gặp lại.</p>
<p>Để rồi cô nói với tôi một câu. Tôi nghĩ cô muốn gửi gấm một quan hoài nào đó.</p>
<p>Vì cô vẫn có lối nói chuyện bằng mắt và thóang buồn:</p>
<p>&#8211; Mày biết không. Tao lấy chồng vì…mày.</p>
<p>Rồi cô ngập ngừng:</p>
<p>&#8211; Tao lấy thằng chồng này chỉ vì cái tên…Hùng.</p>
<p>Và cô gượng cười. Như không có thật:</p>
<p>&#8211; Vì tao thù mày!</p>
<p>***</p>
<p>Người đã bỏ ta đi…Tôi lẳng lặng vào giường nằm, ôm lấy khúc nhạc, nghe đi nghe lại nhiều lần cho đến gần đây, tôi vẫn chưa biết tên tác giả là ai, âm hưởng lãng đãng: <em>Đừng gọi nhau, chỉ nghe vọng âm. Đừng tìm nhau đến sầu muôn chùng. Còn tình yêu chỉ là giấc mộng…trong cõi hư không.</em></p>
<p><em> </em>       Nhìn lên trần nhà, trong cõi hư không…</p>
<p>Tôi như hư vô: <em>Như một chuyện tình.</em></p>
<p><strong>Trúc gia trang</strong></p>
<p><strong>               Ngộ Không Phí Ngọc Hùng</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2018</p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong>                                                                                                                       </strong></p>
<p><strong>      </strong></p>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ngo-khong-nhu-mot-chuyen-tinh-2/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Không: Hà tất thành sầu đối cỏ cây…</title>
		<link>https://t-van.net/ngo-khong-ha-tat-thanh-sau-doi-co-cay/</link>
					<comments>https://t-van.net/ngo-khong-ha-tat-thanh-sau-doi-co-cay/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 20 Sep 2018 12:35:02 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=36910</guid>

					<description><![CDATA[   Ấm Trà Thiu &#8211; Tranh: Thanh Châu        Ngày ông cụ tôi rời làng quê… Thể theo chữ nghĩa thời ấy gọi là đi kháng chiến, tôi nhẩm chừng cụ còn trẻ lắm. Tôi không biết khoảng thời gian nào cụ trồng một cây bàng ngay ngã ba đầu làng. Ắt hẳn cụ vớ [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/09/Am-tra-thiu.png?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-36911" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/09/Am-tra-thiu-300x167.png?strip=all" alt="" width="359" height="200" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/09/Am-tra-thiu-300x167.png?strip=all 300w, https://cdn.t-van.net/2018/09/Am-tra-thiu-768x429.png 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/09/Am-tra-thiu.png?strip=all 799w" sizes="(max-width: 359px) 100vw, 359px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><em>   Ấm Trà Thiu &#8211; Tranh: Thanh Châu</em></p>
<p>       Ngày ông cụ tôi rời làng quê…</p>
<p>Thể theo chữ nghĩa thời ấy gọi là đi kháng chiến, tôi nhẩm chừng cụ còn trẻ lắm. Tôi không biết khoảng thời gian nào cụ trồng một cây bàng ngay ngã ba đầu làng. Ắt hẳn cụ vớ được hột bàng lăn lóc đâu đó và trồng chơi trong lúc đánh khăng, đánh đáo đấy thôi. Đầu trở xuống cuống chỏ lên, nghe họ hàng hang hốc kể lại cây bàng có tàn, có tán và dưới gốc cây có một quán nước của dân làng. Tôi mường tượng trên cái trõng tre có mấy lọ kẹo lạc, kẹo vừng, nải chuối, chiếc điếu cầy, ống đóm, ngọn đèn dầu và cái ủ tích lúc nào cũng sẵn sàng rót ra những cốc nước trà nụ vối đặc quánh mầu nâu đất, ngào ngạt hương thơm nồng ấm của đất quê…Ông bà ta đã dậy cơm mắm thấm về lâu, ấy vậy mà ông cụ tôi bỏ làng bỏ nước đi không hề ngoảnh mặt lại, chưa một lần trở về với ao sâu ruộng vườn với những cái giỏ cua, nơm ná, gầu sòng. Để rồi cái thằng tôi vào cái tuổi ngũ thập cổ lai hy, tôi phất phơ về thăm quê nhà, và nhởn nhơ nhìn ngắm cây bàng của ông cụ tôi năm xưa…</p>
<p>Cụ trôi dạt từ vùng suôi lên mạn ngược, thỉnh thoảng cụ nhắc đến những nơi chốn lạ hoắc như Lào Kai, Sa Pa, để rồi một ngày chẳng nghĩ sao cụ dinh tê và làm thông ngôn cho…Tây. Cụ theo mấy ông Tây “cà lồ” đi tứ phương tám hướng không phải để bắt Việt Minh mà…bắt thuốc phiện lậu, hay vào rừng đi săn con “petit…đen, petit…vàng”, để tôi hiểu đó là…con hổ.</p>
<p>Một ngày cụ ngừng chân ở một vùng quê…</p>
<p>Đất quê đây cũng có quán nước đầu làng và cụ gặp ngay một thôn nữ mà sau này là…bà cụ thân sinh ra tôi. Cái buổi ban đầu lưu luyến một nhớ hai quên ấy, cụ không quên trồng ở vườn nhà bà cụ tôi một cây xoài ngon ngọt từ trong Nam mà cụ thửa ở đâu chẳng biết nữa. Lớn lên cây xoài hóa thân thành…cây muỗm, trái bé choắt như trái cật heo và chua lè. Tôi cứ nhớ mãi cây muỗm cao hơn chục mét ở cái tuổi ấu thời dầy đặc lá hình thuôn mũi mác, hoa nở chùm ở ngọn đầu cành, rồi hoa đậu thành trái. Tôi không ham hố lắm với chùm cuống dài ngoằng mà có cả chục trái muỗm xanh lủng lẳng…. Cái tôi hăm hở muốn trèo lên cây cao chót vót vì ở đấy có cái…tổ chim chào mào đầu đỏ.</p>
<p>Tiếp đến tôi sinh ra đời, bốn năm tuổi tôi còn nhớ như in là ông cụ tôi mặc cái áo “ba–đờ-xuy” mầu cứt ngựa có cúc đồng, đội cái mũ “ca lô” hay mũ…“chào mào” như cái thuyền giấy gấp và kể từ đấy cụ không…trồng cây nữa. Hay nói khác đi cụ chỉ cười ngựa xem hoa hay có gặp hoa lạ chỉ là hoa rơi cửa Phật mà tôi hiểu ra là nhân quả. Vì rằng ngẫm cho cùng với cây bàng, cây xoài, ông cụ tôi chỉ trồng cây để…có cây mà trồng vậy thôi.</p>
<p>***</p>
<p>Tất cả về ông cụ, tôi chỉ biết có bấy nhiêu.</p>
<p>Nói cho ngay ông cụ tôi chỉ là ông bố bình thường của thời này thế đấy thời trước thế đó. Đến khi có mặt ở miền Nam với hai mùa mưa nắng, viết theo chữ nghĩa cho lao xao văn vẻ là vào cái lúc cả hai ông bà đang cặm cụi với “Cửa tiên công khi xây đắp đỉnh chung, mấy thu tròn tìm thú cỏ hoa, chăn thúy vũ những bèo trôi xốc nổi…”. Mà xốc nổi thật, vào một ngày sáng nắng chiều mưa, ông cụ tôi đang mải mê xem đá bóng ở đâu đó. Thêm một lần phiêu diêu với chữ nghĩa thì bà cụ tôi ỏ nhà đang “Một buổi chiều thanh thản, chợt nghĩ đến người bạn tri âm, lâu năm không gặp. Vừa lúc đó, nghe tiếng lạch cạch ngòai cổng, nhìn ra thì đúng là người mình nghĩ đến…”. Và có tiếng lạch cạch ngoài cổng thật mới hay,,,,hay ở chỗ bà cụ tôi đang nhàn nhã quét sân hốt lá vàng, lá xanh, chẳng đợi tri âm, tri kỷ nào, nên chẳng rỗi hơi nghĩ đến ai. Nghe tiếng động bà ra mở cửa thì…</p>
<p>Thì tôi cũng đang đứng lớ quớ ở đó, quét ngang mặt tôi là một cô thiếu nữ Hà Thành tức người Hà Nội nằm ở cái tuổi xuân thì. Cô mặc áo dài lụa nâu, môi son má hồng và có khuôn mặt buồn nhiều hơn vui. Và đó cũng là lần đâu tiên trong đời ở cái tuổi nhầng nhầng, tôi có “cảm giác” thế nào là…người đẹp Hà Thành. Mặc dù tối mới 10 tuổi và đang ở…Sài Gòn. Thế là bà cụ tôi kéo thốc cô vào nhà…Cả hai nước mắt ngắn dài châu đầu thủ thỉ kể chuyện không nắng thì mưa. Chuyện là năm 54, bà cụ tôi vào trong Nam trước mấy tháng. Vì là lính, ông cụ tôi ở lại Hà Nội lo chuyện “di tản chiến thuật”. Vì là lính có lon lá nên ông đi…nhẩy đầm để thành chuyện “phòng nhì”, phòng hai. Nói chung cũng tốt thôi, như trên đã giải bày, ông cụ tôi là một người bình thường, như bất cứ người đàn ông nào hiện diện ở đầu thế kỷ hai mươi với…chán cơm nguội thì ăn phở. Tất cả chỉ là cái nhẽ thường tình của đất trời. Nhưng ông là người nhanh chân…lẹ con mắt. Năm 54 ông cụ tôi “tiễn đưa” bà cụ tôi vào Nam trườc mấy tháng bằng máy bay Dakota hai cánh quạt quay vù vù. Tiếp đến, chẳng vượt biên cũng không vượt biển, trước 75 mươi ngày, bà cụ lại được “tống tiễn” qua đây bằng Hercule phản lực.</p>
<p>Ít lâu sau vì chỉ nghe chứ không thấy nên không tin: Chuyện là bà cụ tôi nghe tả trên thiên đường, thiên thần có cánh bay vi vùt suốt ngày nên vui lắm! Thế là bà cụ tôi bèn…vui vẻ được Chúa…gọi về. Ngay sau đó là cái “Cáo phó”: Thành thực báo tin buồn này kia kia nọ.</p>
<p>Đi tìm người xưa…</p>
<p>Đang đi nắng về mưa, cụ đang vắng gió đìu hiu bên bờ hiu quạnh…Và thân già vác dùi nặng, ông cụ tôi được thể cất công đi tìm cô áo nâu, người đẹp Hà Nội một thời, một thưở.</p>
<p>Chuyện là vào cái lúc chân ướt chân ráo sang đây, mặc dù cụ sáu mươi có lẻ nhưng vì cái nợ áo cơm…bắt phong trần phải phong trần, cụ bắt được cái “job” thơm như múi mít là cái chân phụ bếp trong một nhà hàng Tàu. Vừa đảo cái chảo cơm chiên khói bay mịt mùng, cụ nghe hơi nồi chõ người xưa vừa mới…”chèo thuyền” đến một tiểu bang xa cách nghìn trùng. Tình cũ không gọi mà đến, thế là cụ cuống cuồng chùi tay vào cái tạp dề phóng ra khỏi tiệm. Trong buổi tan tầm đông nghìn nghịt…cụ kể lại chuyện bôn ba suôi ngược nơi xứ người bằng cái xe Mustang thổ tả đời 1967, bản đồ nhằng nhịt nên cụ lơ mơ lỗ mỗ…Cụ cứ nhắm theo dòng xe như mắc cửi mà khai phá mảnh đất mới, bởi số cụ có sao thiên di nên cụ đi theo mệnh trời. Vì cứ theo cụ kể lại thì: Cụ lái cái Mustang đeo theo cái xe truck 18 bánh nào đấy, bởi cụ triết lý củ khoai là xe truck lớn thế nào cũng tới thành phố lớn nên chả sợ lạc…Cụ luân lạc về hướng đông, hai ngày một đêm thì cụ gặp lại người cũ.</p>
<p>***</p>
<p>Khúc sau cụ không…trồng cây nữa.</p>
<p>Khúc kế tiếp để rồi đến một ngày tóc bạc da mồi, ông cụ tôi cáo lão về hưu. Ông bà về thành phố tôi đang ngụ cư để tối lửa tắt đèn có nhau. Để tôi ghi nhận những chia ngọt sẻ bùi của bà với ông cụ tôi rồi một ngày nào đó, ông cụ tôi và bà đều phải đối đầu với nỗi buồn chạm mặt để bước qua ngưỡng cửa sinh, lão, tử, bệnh.</p>
<p>Ngày ấy cũng đã đến: Bà bị ung thư.</p>
<p>Với cái bệnh quái ác trên cần phải chữa trị dài lâu và bà ra vào bệnh viện như đi chợ. Trong buổi chợ chiều vắng khách, bà chẳng còn thì giờ nhiều để gần gũi chăm sóc ông cụ tôi nữa. Bệnh tình của bà lôi kéo sức khỏe của ông cụ tôi xuống theo như hòn đá lăn xuống dốc và nằm chơ vơ ở dưới chân đồi. Bất giác tôi lững lờ qua âm hưởng của dòng nhạc “Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau”. Hoang tưởng vậy thôi, nhưng tôi cũng điện thoại cho thằng em cùng cha khác mẹ….Chẳng là mấy tuần nay, thỉnh thoảng nghe tiếng điện thoại vu vơ nửa đêm choàng tỉnh dậy, thấp thỏm chẳng hiểu ông hay bà có mệnh hệ nào chăng. Nghe đầu giây bên kia nói xin lỗi lộn số thì lại…mừng húm nhưng lại lao xao…không ngủ được.</p>
<p>Thế là hôm sau, tôi cò cưa với thằng em một lần ông cụ ngã từ trên giường xuống…khổ nỗi ông cụ to con, khi ngã bị nằm kẹt cứng giữa thành giường cái tường với khoảng cách nhỏ hẹp. Cụ đang như ngọn đèn leo lét nên không xoay sở được. Bà vực ông dậy không nổi vì yếu sức. Một phần khác nữa người ông cụ tôi nhão như bao gạo bị thấm nước nên vừa nặng vừa vướng víu. Bà điện thoại cho tôi vì gần nhà. Tới nơi, đưa cụ lên giường rồi, nhưng cụ nằm ngay đơ, bất động, mắt trừng trừng nhìn lên trần nhà. Tôi vội gọi xe cấp cứu. Họ đến làm những việc cần phải làm. Xong, họ đề nghị đưa cụ vào viện dưỡng lão. Điều bất như ý đó chẳng một ai muốn. Tôi cứ cám cảnh cái tuổi vắng gió đìu hiu và cảm hòai cho cái hiu quạnh của tuổi già sống không có con cái ở gần bên. Thấy tôi láo nháo vây, thằng em lái xe tới nhà. Hai anh em đứng ở cái cửa tò vò hút thuốc lá vặt và tôi chỉ nó cái cây ngay trước cửa.</p>
<p>Và kể cho nó nghe chuyện…hà tất thành sầu đối cỏ cây.</p>
<p>Cây đây là cây phong lá xanh rộng bản từ miên bắc lạnh lẽo, thân to và cành cứng cáp. Chẳng hiểu người chủ trước trồng nó tự bao giờ, nó vẫn lừng lững đứng ở đấy dãi dầu với nắng mưa. Vậy mà năm nay, mỗi ngày tháng mỗi tàn lụi dần…Bỗng dưng không đâu tôi có linh cảm cây phong có chung một dòng sinh mệnh với ông cụ tôi. Tôi nói với thằng em, mới năm trước, cả thân cây rợp tàn rợp tán vậy mà qua một cơn bão biển, nó chỉ còn dăm cành, mỗi cành mươi chiếc lá phất phơ trước gió. Bấy lâu nay, cây chăm bón mãi mới lên được vài tàn lá khổ sở. Bèn đi xem bói, ông thầy dậy rằng trong họ sắp có tang nhưng không…quan trọng lắm. Nghe lạ, gì mà không quan trọng? Chợt nghĩ năm nay là năm Kỷ Sửu, ông cụ tôi 95, chỉ dăm năm nữa được bách tuế giai lão, lại vất vưởng đến câu chúc “trăm năm đầu bạc”. Với tôi chẳng có ý nghĩa gì trong lúc này. Ngẫm cho cùng người già như cây hết nhựa vậy.</p>
<p>Cuối cùng hai anh em cũng đành sầu qua ngọn cỏ với cỏ xót xa đưa cỏ xót xa người với mưa ngâu cách trở qua cầu ô thước: Tôi đưa ông cụ về nhà tôi. Nó đưa bà về nhà nó….Nhìn cành cây gần như trơ trụi lá, dòng nhạc thân quen lại lãng đãng trong tôi: “Em hỏi tôi đá biết thở dài xa xôi? Em hỏi tôi đá có ngậm ngùi chia phôi?”. Bâng khuâng hồi tưởng lại phim “The River of No Return” bất giác tôi thở dài với mưa bay gió thổi, mai này cũng phôi phai.</p>
<p>Bởi chưng tôi tin những chuyện huyễn hoặc của các cụ ta xưa qua những chiếc bình vôi có linh hồn nằm lăn lóc dưới cây đa, cây đề của một thời xưa cũ. Vì cách biệt tuổi tác nên tôi không kể cho thằng em nghe chuyện qua một bài viết về cây chuối ở gọc vườn, cứ nửa đêm về sáng, buồng chuối kêu “bụp…bụp…”. Các cụ dậy ấy là cây chuối đau đẻ. Vì vậy ở nhà quê, ai đó sinh khó, hai mẹ con đều chết. Các cụ trồng cây chuối ngay đầu mộ để mẹ tròn con vuông.</p>
<p>Riêng tôi…tôi tin chuyên “không tưởng” ở thế giới khác. Ừ thì tạm cho là tâm linh thì cây có một dòng sinh mệnh với người mà tôi đã trải qua. Nhưng ấy là chuyện sau.</p>
<p>***</p>
<p>Chuyện bây giờ là…</p>
<p>Là ông cụ tôi bị bệnh tiểu đường nên hay đi tiểu giắt…Mỗi tối khuya tôi đưa cụ vào phòng vệ sinh ba bốn lần. Mỗi lần vực cụ dậy, tôi luồn tay xuống gáy cụ, đỡ cụ hẳn lên, vất vả lắm mới chuyển cụ tới cái “walker” bằng nhôm bốn chân có hai bánh xe lăn. Hai tay cụ xuội bại, như khúc cây lỏng le dính vào bả vai, làm như máu không còn lưu thông được nữa hoặc lưu thông rất ít nên mầu da trắng nhợt nhạt tái mét. Hai chân cụ khẳng khiu, tóp lại như hai cây sậy. Tôi lại ngậm ngùi với đôi chân này đây, hồi còn trẻ cụ đã mòn gót từ Sơn La suôi tới núi Đèo và đã gặp bà cụ tôi để tôi có mặt trong cõi đời này. Chưa hết, vóc dáng cụ cao, to người, nay gầy thì có gầy đấy, nhưng vẫn còn nặng hơn tôi nên không dễ dàng gì bế cụ ngồi dậy vì lưng cụ bị còng như cành cây cong. Lại nữa, mỗi lần tắm rửa cho cụ…Da thịt cụ mềm nhão, tôi có cảm tưởng như cầm trong tay một cái áo bông cũ vừa nhầu, vừa nhẹ tênh. Tôi miên man đến luật đào thải, đến tuổi lão hóa: Hình hài có đấy, nhưng cũng không đấy.</p>
<p>Với luật đào thải, hay tuổi lão hóa, thì…</p>
<p>Thì tôi ăn mày chữ nghĩa qua câu “gái thương chồng đương đông buổi chợ, trai thương vợ nắng quái chiều hôm” khi còn trẻ, các cụ theo con trâu bán mặt cho đất, bán lưng cho trời nên không gần gũi nhau. Khi vào cái tuổi bóng xế chiều hôm các cụ mới có thời gian săn sóc cho nhau. Những tia nắng yếu ớt “nắng quái chiều hôm” chỉ tồn tại trong chốc lát mà thôi qua những ngày còn lại sống qua ngày chờ qua đời. Vì vậy cả chục năm trước, ông cụ tôi không chịu về ở với con cái vì ngại phiền hà các con…Nhất là khi các cụ ăn không vào, nuốt không vô, thêm tiểu tiện chẳng được, đại tiện cũng không xong. Với cái nợ đời đeo đẳng dai dẳng ấy, ít nhất hơn một lần ông cụ tôi lụm cụm với tiện nội tôi (người vợ sau này): “Cậu muốn chết cho rồi để khỏi làm khổ các con”. Chẳng phải bất hiếu gì, nói thẳng mực tầu đau lòng lòng gỗ, cái đầu củ chuối tôi mọc ra cái ý tưởng: Một ngày nào đó cụ nằm xuống, tôi sẽ thở ra cái phào. Tôi không thở ra cho tôi mà cho cụ: Thoát được cái tuổi già với những nặng nợ ốm đau, vật vã của thân xác. Đến tao đoạn này, lại quắn quả đến mấy bạn già của tôi ham chạy bộ, thở ra hít vào để mong sống lâu. Sống đến ngày thở khò khè…bò trên cái giường bé bằng mắt muỗi cũng không nổi. Lấy ngắn nuôi dài, tôi lại quay quắn đến hôm nảo hôm nào nhân viên cứu thương nói hãy đưa cụ vào viện dưỡng lão. Về nhà, tôi bàn với tiện nội tôi cho có chuyện để nói. Nằm dài trên ghế ‘sa-lông” hóng chuyện, con gái tôi khi ấy 11 tuổi, ngóc đầu lên hóng hớt: “Nếu bố già, con đưa bố vào “nursing home”, bố có chịu không?”.</p>
<p>***</p>
<p>Năm sau bà cụ mất.</p>
<p>Tôi được họ hàng dặn dò đừng cho cụ hay biết, vì không ít thì nhiều, qua lời ong tiếng ve “có tin có lành” cụ này mất thường rủ cụ kia đi theo. Hồi nhớ lại đám tang nhà tôi có lời ra tiếng vào chuyện phải đưa xe tang chạy qua nhà để nhà tôi nhìn lại căn nhà lần cuối. Là con mọt chữ, sau đó tôi viết về tập tục đám tang của các cụ ta xưa có đoạn:</p>
<p>(…) tới cổng vườn nhà ai đấy, trên cành cây ngoài vuờn buộc miếng vải hay tờ giấy bản trắng để cây cối cũng nhớ thương tiễn nguời đi. Vừa lúc nhà đám đi ra, vì ngõ trúc ao sâu nên không len chân vào được, tôi chỉ thấy người dẫn đầu tay cắp cái rổ, tay rải tiền âm phủ và những thỏi vàng trắng. Cụ cho hay ấy là tục rải vàng bạc trên đường đi để đánh dấu cho người chết biết lối mà trở về nhà. Ra khỏi ngõ, đô tuỳ nhà đám hạ quan tái vừa chạm đất là nhấc lên ngay, tất cả ba lần. Mỗi lần vậy, họ hàng tang gia mặc áo tang luơm nhươm, không may vá mà chỉ có mấy cái dải nứa buộc lại, đầu tóc để rối không chải. Họ quỳ đập đầu xuống đất vái ba lạy. Cụ giảng giải quan tài nhấc lên hạ xuống là người chết chào từ biệt gia đình về với ông bà tổ tiên. Ra đến cổng làng, linh cửu phải quay đầu lại để người chết được nhìn cái cổng làng lần cuối. (…)</p>
<p>Ngoài ra với quan hôn tang tế của các cụ ta xưa khác bây giờ với người con cả chống gậy tre hay gậy vông theo quan tài bố. Tôi ăn chữ mẻ bát thiên hạ với đám tang vợ, đám tang bố cũng khác nhau với tang phục tiểu ký, tang phụ đại ký qua vấn tang, phục vấn này kia:</p>
<p>(…) Vịn quan tài có một anh trai mặc “áo bực” tức tang phục hay áo tang. <em>Ao bực</em> là áo sô gai vải bố, thắt dây lưng lá chuối, đội khăn vành quấn rơm như cái rế đội nồi, chân trần, chống gậy là đốt cây tre. Cụ dậy bố anh trai mới chết, còn nếu như mẹ chết thì chống gậy vông. Bỗng có chị gái chùm “khăn mấn”, áo lộn sống sổ gấu, lăn đùng ra giữa đường, giãy đành đạch, khóc lóc thảm thiết và níu áo người ta không cho bước qua. Thấy lạ nên sắc mắc. Cụ cho biết ấy là con dâu hay con gái nằm cản người ta đem bố mình đi chôn. (…)</p>
<p>Trở lại với ông cụ tôi…</p>
<p>Nói chung vào cái tuổi tà tà bóng ngả về tây, các cụ ngại ngùng về gặp lại với ông bà tổ tiên, hay nói khác đi là càng đến tuổi chín tầng đất mười tầng trời thì các cụ lại càng sợ…<em>chết</em>. Vì vậy, có nhiều các cụ lo lắng mất đi một chỗ bám víu, thế nên các cụ dựa dẫm vào các con đi tìm một sinh lộ muộn màng. Với tuổi già cám cảnh này, riêng ông cụ tôi cất dấu trong ngăn kéo, dấu kín trong ngõ ngách tâm khảm để gậm nhấm trong những ngày nhạt nắng.</p>
<p>Mà nào thăng tôi có hơn gì bố mình…</p>
<p>Có một tối nửa đêm vè sáng, tôi tỉnh dậy và nhìn qua ông cụ đang nằm co quắp…Đã nhiều lần tôi cũng thấy tôi cũng nằm lưng uốn gù như con tôm nào có khác gì cụ. Vì mộy ngày nào đó tôi cũng như cụ thôi. Để rồi nhiều tối, nhiều đêm tôi tỉnh dậy giữa khuya và mường tượng ra phải chạm mặt với một sự thực chẳng thể chối bỏ là tỉnh dậy thì…Thì cụ đã đi rồi, hiểu là cụ chẳng còn nữa. Rồi sẽ phải làm gì đây? Để rồi cái sợ cứ gậm nhấm mãi và không ngủ được lại nữa. Sáng hôm sau thức dậy, tôi ngắm nhìn ông cụ có…còn không. Đôi khi thấy ông cụ nằm im như đã…đi rồi trong giấc ngủ. Thế là một là tôi vỗ vỗ cụ thăm chừng. Hai là lấy tay mình đưa huơ huơ qua mũi ông cụ xem cụ còn thở không.</p>
<p>Cũng những nghĩ quẩn trên, sáng nay tôi thao thức và chập chờn hết ngắm cụ đến nhìn đồng hồ thấy cái kim chỉ vào cái giờ giấc như thường lệ. Tôi ra bếp đun ấm nước pha cà phê cho tỉnh táo để viết bài vở. Trong khi chờ đợi nước sôi, tôi trở lại phòng ngủ, ngồi bên cạnh giường và ngắm cụ qua ánh sáng lờ mờ của cái đèn ngủ. Tôi bắt gặp cụ đang nhắm mắt, nửa tỉnh nửa thức. Ánh sáng yếu ớt hắt qua cái chụp đèn nhưng soi rõ những nếp nhăn trên trán, trên mặt cụ như những nếp gấp của thời gian. Những sợi tóc bạc lơ thơ, lạc lõng trước trán quấn rôi vào nhau. Ngắm cụ gần hơn một chút nữa, tôi nhìn rõ từng vết nhăn trên mặt, trên cổ, những lằn sếp ngang dọc, những chấm đồi mồi lớn nhỏ trên hai gò má. Tôi có thể nhìn thấy những thớ thịt mềm và nhão rung rung ở cổ cụ với hơi thở nặng nề đứt quãng, trông cụ như con búp bê bằng vải cũ được lôi ra trong cái rương quần áo ẩm mốc lâu ngày.</p>
<p>Em ơi…Mở cửa…</p>
<p>Bỗng cụ thò tay ra khỏi chăn, cầm tay tôi. Rất nhẹ nhàng tôi nắm tay cụ. Bàn tay gầy guộc và chun choắt lại của cụ nằm lọt thỏn trong tay tôi.</p>
<p>Cụ thì thào đứt quãng:</p>
<p>&#8211; Cậu…muốn…về…với cô.</p>
<p>Mặc dù chờ đợi chuyện này sẽ sẩy ra từ lâu nhưng tôi vẫn cảm thấy hụt hẫng…Đợi một ngày cụ khỏe hơn, tôi đưa cụ về nhà hai ông bà vẫn còn để trống. Trên xe, vì đã tính những gì phải thưa với cụ từ trước để…nói dối cụ. Tai cụ lãng, ghé sát tai cụ, rất chậm rãi tôi giải bày với cụ tế bào ung thư của bà đã lan lên não bộ. Bà nay gần như mất trí, vì mới đây, bà lái xe đi chợ, ra khỏi hàng quán bà không biết tìm xe mình ở đâu. Và tôi đành nói ra một sự thực: Chẳng còn bao lâu nữa, bà đang từng bước, từng bước một xa rời cuộc sống tạm bợ này…</p>
<p>Tôi bắt gặp đôi mắt buồn bã của cụ nhướng lên. Tôi nhìn mắt của cụ và thầm hiểu cụ đang nghĩ gì. Tôi hiểu rằng tuổi già lo cho nhau và cần nhau nhiều hơn. Khi người ta già, người ta cần nhau như thế nào. Bỗng không tôi bấm búi qua câu: “Gái thương chồng đương đông buổi chợ, trai thương vợ nắng quái chiều hôm”, vào tuổi bóng xế chiều hôm các cụ mới có thời gian gần gũi nhau. Những tia nắng yếu ớt “nắng quái chiều hôm” chỉ tồn tại trong chốc lát qua những ngày còn lại sống qua ngày chờ qua đời”. Rồi đôi mắt mệt mỏi của cụ mở ra như mất thần, thẫn thờ nhìn ra ngoài phố sá trong xa vắng. Đến trước cửa nhà bà, tôi đẩy cụ vào bằng cái xe lăn.</p>
<p>Từ cái xe lăn, tôi để cụ tự bấm chuông…</p>
<p>Chuông kêu ba hồi hai nhịp theo ngón tay cụ, tôi biết cụ không nghe được vi tai lãng. Nhưng tôi nghe được tiếng cụ nói vào cánh cửa đang im lìm, câm nin: “Em ơi…Mở cửa…” Tôi đốt điếu thuốc để đợi. Không phải tôi đợi mà cụ đợi. Thêm hai ba hồi chuông trong hoang vắng ắng lặng…Thêm câu nói của cụ qua hơi thở mệt nhọc như tiếng thở dài: “Em ơi…Mở cửa…”.</p>
<p>Dụi điếu thuốc đang cháy dở, tôi ghé tai cụ, để nói dối là có thể bà đang chạy thuốc trong nhà thương. Ra xe, tôi bâng quơ còn chạy thuốc còn hy vọng, nhìn trước mặt là con ngõ cũ mà cụ đã đi đi lại lại cả bao nhiêu năm, đầu cụ gật gật…Trong khi đầu tôi lay lắt với đoạn văn</p>
<p>“…Ra khỏi ngõ, đô tuỳ nhà đám hạ quan tái vừa chạm đất là nhấc lên, tất cả ba lần. (…) Cụ giảng giải quan tài nhấc lên hạ xuống là người chết chào từ biệt gia đình về với ông bà tổ tiên. Ra đến cổng làng, linh cửu quay đầu lại để người chết được nhìn cái cổng làng lần cuối….”</p>
<p>Lái xe về nhà, tôi không ngoái đầu nhìn căn town house của hai ông bà năm trong con ngõ nhỏ giữa thánh phố Houston. Trong đầu chờ vờ như cá trê gặp nước mặn tôi liên tưởng cách đây 21 năm, xe tang nhà tôi chạy trên đường Boon, qua đường Stroud để nhà tôi nhìn lại căn nhà nhỏ có một mảnh vườn. Ở đấy có cây mận lá màu nâu đỏ không còn nữa.</p>
<p>***</p>
<p>Bước qua năm thứ hai, vào tháng ba…</p>
<p>Một buổi sáng như mọi buổi sáng, thức dậy để viết bài. Bước từng bước thật chậm dọc theo hành lang, ngày là lá tháng là mây, tôi muốn giữ thời gian lại đừng qua mau. Ra tới phòng ngoài, ngước nhìn lên trần nhà mầu trắng nhạt thếch. Chợt nhớ lại chuyện một thằng bạn, ngày ông cụ nó mất, nó không cảm thấy gì. Phải đợi đến khi bà cụ đi theo ông cụ nó, nó mới có cái cảm nhận: Căn nhà của nó đã mất nóc.</p>
<p>Nhà tôi cũng sắp mất nóc, tôi chẳng còn chỗ nào để dọ dẫm qua một hình bóng. Tôi chợt cảm hoài mấy năm trước về quê nhà, con đường làng phủ đầy quá khứ của ông cụ tôi, rải rác những chiếc lá bàng, mỗi cái lá như một viên gạch, như những gịot thời gian. Đứng trước cây bàng mà tôi hình tượng là bóng hình của ông cụ tôi. Cây bàng hiu hắt giữa đất trời, và cái quán nước bên đường không còn nữa. Tôi thầm nhủ rằng tất cả đã thuộc về quá vãng…Tôi đi tìm thời gian đánh mất bằng vào với hà tất thành sầu đối cỏ cây, tôi mò mẫm nhặt nhạnh được dăm hột bàng già cỗi đem về. Sau lại quên ngay đấy vì quẳng xó đâu đó, nay nhìn ông cụ mới nhớ ra. Thế nào cũng phải tìm ra hột bàng, thể nào mùa xuân này cũng ươm đằng góc vườn.</p>
<p>Trở lại phòng ngủ, tôi giật thót người vì ông cụ đang lậu bậu nói chuyện với ai đấy. Ngôi bên cạnh giường, tôi vưa nắm tay cụ vừa lắng nghe. Và tôi choáng người vì ông cụ đang độc thoại với ai đó chuyện làng nước ở quê nhà cả mấy chục năm trước. Giọng ông cụ thật bình thản, chậm rãi hết hỏi thăm người này, nhắc người kia chuyện làng trên xóm dưới. Điều tôi ngạc nhiên là giọng cụ rõ mồn một, không có gì “dau ốm” cả, giống như cụ đang ở quê nhà với chuyện dây cà ra dây muống. Nhưng…Nhưng tôi lạnh người vì những tên tuổi mà ông cụ tôi đang nói chuyện, theo trí nhớ mù sương của tôi đều là những người đã khuất núi từ năm nảo năm nào. Hay nói khác đi ông cụ tôi đang nói chuyện với những người đã…chết.</p>
<p>Và tôi có linh tính, ngày cụ về với những người đã khuất không còn bao xa nữa…Khi không hình ảnh <em>tới cổng vườn nhà ai đấy, trên cành cây ngoài vuờn buộc miếng vải hay tờ giấy bản trắng để cây cối cũng nhớ thương tiễn nguời đi</em> như ẩn hiện quanh quất đâu đây.</p>
<p>Bỗng ấm nước ngoài bếp reo lên như tiếng gọi của xa cách. Tôi như tỉnh giấc hòe…bước ra ngoài bếp pha cà phê. Vừa đứng loay hoay với những thói quen mỗi sáng, bỗng không tôi điếng người vì tháng này là tháng ba, tháng mà bà cụ tôi và nhà tôi mất vào tháng này. Và tôi tự trách mình lơ đễnh, nhờ ông cụ nằm mớ nói chuyện với những người của ngày tháng cũ với đất quê, tôi mới chợt nhớ ra: Ngày mai là giỗ bà cụ tôi. Vì vậy lát nữa đợi tiện nội dậy, tôi sẽ nói ra trại gà mua con gà có đầu để cúng cụ. Cũng để tôi cầu xin bà cụ tôi phù hộ cụ ông. Ấy đấy, với con gà có đầu, các cụ ta bao giờ cũng trọn vẹn, đầy đặ như thế đấy</p>
<p>Gõ chữ một chặp, trời đất lấp lửng sáng, tôi lọ mọ ra cửa sổ, nhìn thấy cây phong già nua vật vờ trước sân cỏ. Tôi lại liên tưởng đến truyện ngắn <em>Chiếc lá cuối cùng</em>. Chuyện về một cô bé bị bệnh nan y chẳng thể qua khỏi. Cô tuyệt vọng nằm trong phòng bệnh viện nhìn qua cửa sổ. Cô bé đếm từng chiếc lá còn sót lại và thủ thỉ với người y tá: Cô đợi chiếc lá cuối cùng rời cành cũng là ngày cô bé sẽ từ giã cõi đời. Thế nhưng chiếc lá cuối cùng cứ gắn chặt với cành cây theo sáng, trưa, chiều, tối. Và như có phép mầu, cô bé qua khỏi căn bệnh ngặt nghèo…Vì để nuôi niềm hy vọng cho cô: Người y tá đã dùng keo gắn chiếc là dính vào cành cây.</p>
<p>“Lá rơi tường bắc lá bay sang – Vàng bay mấy lá năm già nửa”, như bị ám ảnh lời của ông bác sĩ gia đình cách rách tình trạng ông cụ tôi…không biết được, có thể ba bốn tháng, cũng có thể hai ba năm. Tôi ngắm cây phong trước cửa nhà và nhìn kỹ hơn. Nhập nhòa nửa tối nửa sáng qua đất trời một mầu xám chì ảm đạm đầy tang tóc, nhưng vẫn có một chút nắng nhợt nhạt bám vào thân cây sù sì như những cây tầm gửi èo uột. Sương sớm ban mai long lanh, lấm tấm trên lá cây lất phất theo gió. Vừa qua năm Canh Dần. Mỗi buổi sáng, buổi chiều, tôi đứng ở trước cửa nhà, lặng lờ theo khói thuốc đếm từng chiếc lá rơi rớt còn lại, lá chuyển mùa từ xanh qua tím, rôi tím đỏ, đổi qua vàng úa rôi đến nâu khô và chỉ một cơn gió thoảng là lá rơi rụng dần. Tôi đứng ngây ra lặng ngắm, mắt mờ đi vì một làn nước mỏng và đếm từng cái là vàng nâu úa khô. Nhưng chẳng còn cái lá nào nữa!</p>
<p>Vi đất trời đang cuối đông…</p>
<p>Nhớ lại hai năm trước, cùng thằng em đứng ở trong cửa tò vò nhìn cây phong, tôi quan hoài đến <em>The River of No Return</em> với <em>em hỏi tôi đá biết thở dài xa xôi, em hỏi tôi đá có ngậm ngùi chia phôi</em>. Nhưng chưa một lần tôi kể ai nghe vì tôi tin ở số: Cách đây hơn hai chục năm, sau nhà tôi trồng một cây mà tôi không biết tên. Cây không lớn, không hoa quả, vì cây có lá màu đỏ nâu sậm như trái mận nên tôi gọi là cây mận. Bỗng một hôm cây mận chết, ít lâu sau nhà tôi đi vào cõi tĩnh mịch. Bởi lẽ đó, tôi tin mỗi cây nào đó có mỗi dòng sinh mệnh với ai đấy.</p>
<p>Bởi thế thỉnh thoảng tôi nhìn những chiếc lá phong đổi màu trước cửa nhà là vậy.</p>
<p>Ở thành phố tôi đang ở, giữa tháng ba được xem như là cuối đông sang xuân. Nhưng cứ khoảng 10 năm, khi mọi người đang sửa soạn trồng cây thì đùng một cái, trời trở lạnh đông đá ba bốn ngày, cây chết hàng loạt. Năm nay cũng vậy, giữa tháng ba với cái lạnh đông đá, nhưng chỉ một hai ngày thôi và không lạnh băng giá lắm, vậy mà vườn nhà chết bảy tám cây. Riêng cây phong năm nay có một cành lớn, không có lá. Đúng ra là trơ trụi lá, đã chết theo mùa đông.</p>
<p>Một ngày như mọi ngày, tôi ra cửa trước, săm soi cây phong từng cành khẳng khiu còn lại, và đợi. Tôi đang đợi từng chiếc lá nhú từng trồi non…Và tôi đợi một buổi mai nào đó…</p>
<p><strong><em>Trúc gia trang</em></strong></p>
<p><strong><em>     Đông chí, Kỷ Sửu tận</em></strong></p>
<p><strong><em>      Phí Ngọc Hùng</em></strong></p>
<p><em>     </em></p>
<p><em>       </em><strong>Phụ đính:</strong></p>
<p>Ông cụ tôi mất ngày 25 tháng 7 năm 2010.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ngo-khong-ha-tat-thanh-sau-doi-co-cay/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>

<!--
Performance optimized by W3 Total Cache. Learn more: https://www.boldgrid.com/w3-total-cache/?utm_source=w3tc&utm_medium=footer_comment&utm_campaign=free_plugin

Page Caching using Disk: Enhanced 

Served from: t-van.net @ 2026-07-28 02:28:42 by W3 Total Cache
-->