<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>ngộ không; tạp ghi sau 40 năm &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<atom:link href="https://t-van.net/tag/ngo-khong-tap-ghi-sau-40-nam/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://t-van.net</link>
	<description>Văn Học và Đời Sống</description>
	<lastBuildDate>Tue, 07 Jun 2016 20:41:36 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.7.5</generator>

<image>
	<url>https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/02/t-van-favicon.png?strip=all&#038;resize=32%2C32</url>
	<title>ngộ không; tạp ghi sau 40 năm &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<link>https://t-van.net</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Ngộ Kh&#244;ng :Tạp Ghi Sau 40 Năm &#8211; Kỳ 17 (Hết)</title>
		<link>https://t-van.net/ngo-khng-tap-ghi-sau-40-nam-ky-17/</link>
					<comments>https://t-van.net/ngo-khng-tap-ghi-sau-40-nam-ky-17/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 12 May 2016 20:16:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Ngộ Không: tạp ghi sau 40 năm]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không; tạp ghi sau 40 năm]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=27118</guid>

					<description><![CDATA[30-4-1975, ký ức một người Hà Nội Đường sắt vẫn chưa sửa xong, chúng tôi 18 người ngồi ngồi chung với hành lý trong chiếc xe tải molotova cũ kỹ của đoàn xe vào miền Nam. Trên xe tuy mệt nhưng có cái thú ngồi ngắm cảnh hai bên dọc đường. Chúng tôi qua nhiều [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><strong>30-4-1975, ký ức một người Hà Nội </strong></p>
<p>Đường sắt vẫn chưa sửa xong, chúng tôi 18 người ngồi ngồi chung với hành lý trong chiếc xe tải molotova cũ kỹ của đoàn xe vào miền Nam. Trên xe tuy mệt nhưng có cái thú ngồi ngắm cảnh hai bên dọc đường. Chúng tôi qua nhiều vùng, địa danh trước giờ chỉ nghe tên trên báo. Hố bom, cầu sập, đường bị bóc từng tảng nhựa, các khu dân cư, chợ&#8230; xuất hiện đây đó dọc theo các đoạn đường xe qua. Ở các vùng xa thủ đô, người dân lam lũ, nghèo khổ, thiếu thốn lộ rõ trên ánh mắt, quần áo và khung cảnh sống. Miền Bắc quê hương xã hội chủ nghĩa còn như vậy thì miền Nam chắc chắn phải nghèo, thiếu thốn ghê gớm lắm. Tất cả cũng do chiến tranh, do đế quốc Mỹ reo rắc mà ra&#8230;,Một người đi chung trên xe nói vậy.<br />
Xe vừa vào địa giới miền Nam, chúng tôi đã bấm tay nhau nhìn khung cảnh mới. Nhà cửa của người dân cùng các công trình đô thị như cầu, đường gần các trục lộ giao thông trông đẹp và văn minh hơn hẳn miền Bắc nhiều. Ngay từ lúc còn ngồi trên xe nhìn cảnh vật dọc theo đường và khu phố dẫn vào Sài Gòn, tôi đã thấy vượt trội nhiều lần so với thủ đô Hà Nội. Một vẻ bề ngoài sáng sủa, văn minh lộ ra từ cách phục sức, sinh hoạt của người dân miền Nam.</p>
<p>Giờ đây đi bộ trên các con đường trong khu trung tâm thành phố mới thấy bản thân tôi, một người dân miền Bắc quá sức lạc hậu, nghèo nàn&#8230; từ bộ cánh (quần áo) trên người. Bên vệ đường và trong các cửa hiệu sang trọng, đầy ắp hàng hoá thật đẹp và mới lạ lần đầu chúng tôi được thấy. khác hẳn với cảnh chen chúc để chờ được tới lượt mua số hàng ít ỏi, như cảnh thường thấy ở các khu phố ngoài miền Bắc trong thời bao cấp. Phố xá thì thôi, những tòa nhà to đẹp thấp thoáng sau dòng xe gắn máy chạy hối hả trên đường. Khung cảnh y như ở nước ngoài, một người trong đoàn chúng tôi nói nhỏ cho nhau cùng nghe.</p>
<p>Tôi bối rối ngắm nhìn các cô gái miền Nam, nói chính xác là cô gái Sài Gòn đang dạo bước trên đường. Họ đẹp quá sức, như tiên&#8230; từ dáng điệu, mái tóc, y phục mặc trên người và nhất là khuôn mặt của họ lộ rõ vẻ sung túc đài các so với những nữ cán bộ trẻ trong đoàn chúng tôi.</p>
<p>(…)</p>
<p><b>Bên bờ tử sinh</b></p>
<p>Có tiếng súng nổ nghe chát chúa. Tôi đưa tay xem đồng hồ: 8 giờ 45 tối ngày 30-4-1975. Ngày kết liễu cuộc đời của nhà tôi. Chú Giêng chạy vào phụ chú Nghĩa (sĩ quan tuỳ viên) đỡ lưng và chân, máu đỏ nhuộm thắm áo trận. Tôi đỡ đầu nhà tôi. Tôi đưa tay vuốt mắt cho nhà tôi.</p>
<p>(…) 9 giờ 30, chuông điện thoại reo vang. Tôi áp chặt ống điện thoại. Mím môi, nhìn xác nhà tôi rồi nhìn sang Nghĩa, tôi hỏi: <i>Đại Tá Cẩn đòi gặp thiếu tướng, làm sao bây giờ Nghĩa</i>?.<i> </i></p>
<p>Nghĩa lúng túng: <i>Cô nói thiếu tướng tự sát rồi &#8211; Không thể nói như vậy được. Đại tá Cẩn đang cự chiến với Việt cộng.</i> (…). Tôi buông máy gục xuống bên xác Hưng. Nước mắt trào ra,</p>
<p>(…) 11 giờ đêm ngày 30-4-1975. Điện thoại lại reo. Lần này, chính giọng của Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam: <i>Alô, chị Hưng!</i>. Giọng tướng Nam buồn bã:<i> Tôi biết rồi, chị Hưng, tôi chia buồn với chị, nghe chị Hưng.</i></p>
<p>(Phạm Thị Kim Hoàng)</p>
<p>*Bà Phạm Thị Kim Hoàng là quả phụ của cố Thiếu tướng Lê Văn Hưng.</p>
<p><strong>30-4-1975, ký ức một người Hà Nội </strong></p>
<p>Một ngày, tôi đi rảo qua nhiều con phố Sài Gòn rồi thấy mỏi chân, tôi lấy hết sức can đảm bước vào một hàng nước thật đẹp gần một giao lộ lớn, có tên là Cafe Minirex. Chọn một bàn sát khung cửa kính trong suốt có thể nhìn rõ người đi bên ngoài, tôi quan sát chung quanh. Bàn ghế, các bình hoa, quầy thu ngân, khách cùng vách tường trang trí cảnh một rừng cây thật đẹp&#8230; thật không khác một tiệm ở nước ngoài trong phim ảnh. Chợt một người hầu bàn bước đến, gật đầu chào tôi rồi hỏi: Thưa ông, ông dùng chi?</p>
<p>Người hầu bàn này quá lịch sự khi tiếp xúc với khách hàng thật khác hẳn với cung cách của mậu dịch viên các tiệm ăn miền Bắc. Tôi lại nghĩ, hay ông ta biết tôi là cán bộ chế độ mới qua quần áo mặc trên người nên xưng hô như vậy? Tôi gọi nước uống và ngầm để ý xem sao. Nhưng không, bất cứ có khách nào vào quán, người hầu bàn này cũng một cách tiếp đón như vậy. Rất tự nhiên, lịch sự mà không khúm núm hoặc hách dịch như ở Hà Nội.</p>
<p>Một thay đổi đã đến trong lòng tôi mà tôi biết điều này cũng sẽ đến với bất kỳ người nào từ miền Bắc xã hội chủ nghĩa khi đặt chân vào miền Nam ở thời kỳ đó. Sài Gòn hay nói rộng ra cả miền Nam không lạc hậu, nghèo nàn, đói khổ, đầy rẫy cảnh người bóc lột người như bao lâu nay người dân miền Bắc được (hay bị) báo chí, đài phát thanh Hà Nội&#8230;mô tả về chế độ Ngụy quyền tay sai đế quốc Mỹ. Đây là mô hình của một xã hội văn minh và người nào được sống trong xã hội này quả thật may mắn hơn sống ở xã hội chủ nghĩa tại miền Bắc.</p>
<p>Tiếc thay! Một xã hội như vậy lại vừa bị cướp mất đi.<br />
(<em>Viết để nhớ lại ngày 30-4-1975 &#8211; Phạm Thắng Vũ)</em><i></i></p>
<p><b>Bên bờ tử sinh</b></p>
<p>Không kể những người đã tháo chạy, không kể những người còn kẹt lại trong gọng kìm lịch sử oan nghiệt. Còn có những người cất lên tiếng nói cuối cùng: Đó là những cái chết.</p>
<p>Người chết cuối cùng vẫn là người có lý lẽ của họ. Tự sát bao giờ cũng cần được hiểu là một sự hy sinh cuối cùng (Ultimate sacrifice) đáng được trân trọng. Không có cái chết vô ích mà chỉ có những cái sống vô ích. Đó là số phận những người đã tự chọn cái chết: <i>Tự sát</i>.</p>
<p>Những cái chết đó giá trị bằng bằng vạn tiếng nói.</p>
<p>(Nguyễn Văn Lục)</p>
<p><b>30 tháng 4 ngồi trên đỉnh đèo Trường Sơn</b></p>
<p>Talawas: <i>Anh tình nguyện đi B? Cầm súng? </i></p>
<p>Nhật Tuấn: Năm 1973 vào B. Cơ quan cử đi thôi. Hồi đó anh em gọi đùa lính miền Nam là &#8220;lính bà Định&#8221;, lính miền Bắc là &#8220;lính xã hội&#8221;, còn những người làm công tác kĩ thuật như tôi được biệt phái sang Tiểu đoàn 976, trinh sát công binh được gọi là &#8220;lính gia công&#8221;, hoạt động chủ yếu trên các tuyến vận chuyển thuộc tỉnh Quảng Đà (cũ). Từ 8-1964, sau khi Mĩ ném bom miền Bắc, công việc chính của tôi là khảo sát thiết kế giao thông các tuyến đường khu 4 cũ, đường tràn, đường tránh, đường giả, đường nghi trang…đại loại thế. cũng được nhận quân trang quân dụng nhưng không có quân hàm nên không phải là sĩ quan quân đội.</p>
<p>Tôi có cầm súng nhưng chỉ để bắn…heo rừng.<br />
(Phạm Thị Hoài phỏng vấn Nhật Tuấn)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Bên bờ tử sinh</b></p>
<p>Lúc này khoảng 11 giờ đêm 30-4-1975, cứ khoảng 15 phút tôi vào trailer một lần, thấy tư lệnh nằm nghỉ nhưng giày trận vẫn còn mang. Lần khác, tư lệnh ngồi dậy đi về hướng tôi và hỏi:</p>
<p>&#8211; Sao em không đi ngủ đi! khuya rồi.<br />
&#8211; Trình thiếu tướng, nếu họ vào dinh tụi em đánh không thiếu tướng? Tôi hỏi.<br />
&#8211; Thôi đừng đánh nhau, họ vào để tôi ra nói chuyện.</p>
<p>Khoảng sau 1 giờ sáng, anh lính hơ hải chạy vào gặp tôi:<br />
&#8211; Tụi nó tự động mở cửa vào dinh.<br />
Tôi vội vã vào trailer để gặp tư lệnh, tôi thấy tư lệnh nằm nghỉ. Tôi trình:<br />
&#8211; Trình thiếu tướng, bọn họ đang vào dinh.<br />
&#8211; Bảo họ chờ tôi ra nói chuyện.</p>
<p>Trong suốt đêm 30-4, tư lệnh và tôi hầu như không ngủ, khoảng 3 giờ sáng, tôi vào phòng lần nữa, thấy tư lệnh đang nằm yên không biết ngủ hay thức. Tôi cũng quá mệt ra phòng làm việc ngả lưng trên sofa một chút. Trong lúc nửa tỉnh nửa mê bổng nghe tiếng chuông “boong, boong, boong”, tôi bật mình ngồi dậy, nhìn đồng hồ thấy hơn 6 giờ. Qua đến bàn Phật, tôi thấy 3 cây nhang đã đốt và cắm sẵn trên lư hương khói bay nghi ngút. Tư lệnh đang nghiêng mình xá Phật. Tôi ra ngoài một lát, trở lại từ ngoài nhìn, tư lệnh ngồi trên ghế sofa, mắt đăm chiêu nhìn lên bàn thờ. Tư lệnh đứng dậy đến bàn thờ lấy ba cây nhang đốt, xá ba xá cắm vào lư hương, gõ ba tiếng chuông “boong, boong, boong” xong xá 3 xá tiếp, xong tư lệnh về ngồi nơi cũ, hai tay để trên thành gỗ sofa nhịp nhịp như không có chuyện gì sắp xảy ra.</p>
<p>Tôi đẩy nhẹ cánh cửa bước ra sân hướng về phòng trung úy Việt. Vừa đi khỏi cột cờ một chút nghe tiếng nổ “đùng” phát ra từ hướng bàn thờ Phật. Tôi chạy nhanh vào thấy cảnh tượng hãi hùng chưa bao giờ gặp. Tư lệnh ngả ngửa hơi lệch về phía sau sofa, đầu hơi nghiêng về bên trái, khẩu Colt45 vẫn còn trong tay, đầu đạn xuyên qua màng tang phải qua trái, ngước mắt nhìn lên trần nhà. Tư lệnh chưa chết, nhưng nói không được, giật run rẩy người, miệng há hốc, từ trong cổ họng nấc lên tiếng “khọc, khọc, khọc” từng chập và từ từ nhỏ dần.</p>
<p>Trong lúc bối rối tôi đâu có tâm trí đi xem đồng hồ, khoảng 7 giờ 30 ngày 1-5-1975.</p>
<p><strong>(Lê Ngọc Danh)</strong></p>
<p><em>Lê Ngọc Danh, sĩ quan tùy viên của </em>Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam.</p>
<p><b>30 tháng 4 ngồi trên đỉnh đèo Trường Sơn</b></p>
<p>Talawas: <i>Sau chiến tranh, anh người gốc Hà Nội vào Sài Gòn và ở lại đó cho đến nay. Là người của phía chiến thắng giữa những người chiến bại. Sống với cảm giác ấy có dễ không? </i></p>
<p>Nhật Tuấn: Tháng 6-1975, trên đường phố Đà Nẵng tôi thấy một cô gái nhìn theo một xe tải chở đầy ti vi, tủ lạnh chạy ra Bắc với ánh mắt ác cảm, tôi nghĩ cũng còn may cô ta không được thấy những đoàn xe bịt vải bạt chạy trên đường Trường Sơn cũng ra Bắc.</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2016/05/clip_image002-17.jpg"><img decoding="async" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/05/clip_image002_thumb-150x150.jpg?strip=all" alt="clip_image002" width="187" height="237" border="0" /></a></p>
<p>Nhưng đó là chuyện buồn khó tránh khỏi sau chiến tranh, còn nhiều chuyện vui khác, những cuộc trùng phùng chẳng hạn. Tháng 10-1975 tôi vào Sài Gòn gặp ông anh ruột là nhà văn Nhật Tiến, đang là giáo viên trường trung học Hưng Đạo. Ông ấy kể, công đoàn trường vừa chia mỗi người được 10 điếu thuốc Tam Đảo, ông không nhận và hỏi sao không để nguyên bao, sao lại xé ra? Rồi ông ấy khóc vì sự &#8220;xúc phạm con người&#8221;.</p>
<p>Tôi bảo: Thôi ông ra nước ngoài đi, người như ông không sống ở đây được đâu!</p>
<p>Tôi không có cảm giác mình là &#8220;phe chiến thắng&#8221; mà chỉ là dân &#8220;ngụ cư&#8221;, dân &#8220;Bắc Kì 75&#8221;. &#8220;Những người chiến thắng&#8221; chính là những những nhà văn tập kết như Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng …và cả những người Cách mạng 30 tháng Tư như các nhà văn nhà thơ Nguyễn Thị Minh Ngọc, Đỗ Trung Quân, mà tác phẩm của họ chiếm lĩnh đầy các trang báo ở Sài Gòn.</p>
<p>(…)</p>
<p><b>A Farewell to Arms</b></p>
<p>Trong chiến tranh, anh thắng hay thua, sống hay chết &#8211; và sự khác biệt chỉ là một chớp mắt.</p>
<p><i>In war, you win or lose, live or die &#8211; and the difference is just an eyelash.</i></p>
<p>(Douglas MacArthur)</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2016/05/clip_image004-9.jpg"><img decoding="async" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image004" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/05/clip_image004_thumb-150x148.jpg?strip=all" alt="clip_image004" width="196" height="136" border="0" hspace="12" /></a><b></b></p>
<p>The abandoned soldier of Viet Nam</p>
<p>(Trận địa Xuân Lộc</p>
<p>Uwe Siemon-Netto)</p>
<p><b>&#8211; :</b><b> </b>Tựa đề A Farewell to Arms (Giã từ vũ khí) của Ernest Hemingway.</p>
<p><b>30 tháng 4 ngồi trên đỉnh đèo Trường Sơn</b></p>
<p>Talawas: <i>Anh tìm thấy bài học gì còn lại sau chiến tranh, dù chiến thắng hay chiến bại,<br />
</i><br />
Nhật Tuấn: Đó chính là những cái mỗi người được trải qua để chứng kiến. Tôi nhớ tết năm 1974, tại một đỉnh đèo trên Trường Sơn, tôi thấy một anh lính lái xe trong đơn vị, quăng xuống</p>
<p>cái bi đông nước rồi nhảy xuống đường, chửi đổng:</p>
<p>&#8211; &#8220;Mẹ kiếp, thằng miền Bắc cứ ở ngoài Bắc, thằng miền Nam cứ ở trong Nam, đánh nhau làm chó gì cho bố mày khổ thế này?&#8221;.</p>
<p>Lúc đó chúng tôi cười ồ cả lên, vậy nhưng sau đó tất cả lại ai về việc nấy và tôi thấy ở đơn vị tôi tuyệt đối không ai muốn làm &#8220;B quay&#8221; cả. Đó là một sự thật &#8220;trong mắt tôi&#8221;, và tất nhiên còn những sự thực khác về ý thức trách nhiệm, tinh thần hy sinh rất sẵn ở những người lính cả hai bên chiến tuyến. Đó là sự cảm thông, bởi lẽ chiến tranh là cả một quá trình lịch sử.</p>
<p>Cha ông chúng ta đã từng &#8220;mang gươm đi mở nước&#8221; (1), bởi vậy với tôi, chiến tranh là một cái gì đó giống như là &#8220;thiên mệnh&#8221; trong &#8220;gọng kìm của lịch sử&#8221; (chữ này tôi mượn), mỗi con người bình thường hình như đều trở nên bé nhỏ trước bàn tế của thần chết.</p>
<p>(…)</p>
<p>(1)</p>
<p>Từ độ mang gươm đi mở cõi<br />
Trời nam thương nhớ đất Thăng Long</p>
<p>(Huỳnh Văn Nghệ)</p>
<p>&amp;&amp;&amp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Từ</b></p>
<p>Đại tá Hồ Ngọc Cẩn, tỉnh trưởng tỉnh <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C6%B0%C6%A1ng_Thi%E1%BB%87n">Chương Thiện</a>. Ngày <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/30_th%C3%A1ng_4">30-4</a>-1975, mặc dù ông <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/D%C6%B0%C6%A1ng_V%C4%83n_Minh">Dương Văn Minh</a> kêu gọi buông súng, ông vẫn tiếp tục chiến đấu với lực lượng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%C3%A2n_Gi%E1%BA%A3i_ph%C3%B3ng_mi%E1%BB%81n_Nam_Vi%E1%BB%87t_Nam">địch</a> quân vào tiếp quản. Ông cuối cùng cũng bị bắt và bị xử bắn tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/S%C3%A2n_v%E1%BA%ADn_%C4%91%E1%BB%99ng_C%E1%BA%A7n_Th%C6%A1">sân vận động Cần Thơ</a> ngày 14-8-1975.</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2016/05/clip_image006-6.jpg"><img decoding="async" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image006" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/05/clip_image006_thumb.jpg?strip=all" alt="clip_image006" width="93" height="135" border="0" hspace="12" /></a><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2016/05/clip_image008-2.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image008" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/05/clip_image008_thumb.jpg?strip=all" alt="clip_image008" width="208" height="135" border="0" hspace="12" /></a></p>
<p>Xem báo Paris Match của đầu thập niên 80 sẽ thấy hình ảnh ngày xử bắn và bài viết có viết:</p>
<p>(…) Người dân Cần Thơ lén đưa thi thể Đại tá Hồ Ngọc Cẩn về và phủ lá cờ Việt Nam Cộng Hòa lên thi hài ông. (…)</p>
<p><b>30 tháng 4 ngồi trên đỉnh đèo Trường Sơn</b></p>
<p>Talawas: <i>Hiện tại của chúng ta hôm nay có xứng đáng với lí tưởng của những người đã cống hiến một phần của đời mình cho cuộc chiến tranh ấy không? </i></p>
<p>Nhật Tuấn: Tôi chỉ xin nói về những người gần gũi, những đồng đội của tôi, họ chẳng lí tưởng gì hết. Tôi còn nhớ một tối giữa Trường Sơn, chúng tôi ngồi lại hỏi nhau: Mai mốt được về nhà, việc đầu tiên chúng mày sẽ làm cái gì?. Thằng thì &#8220;lôi ngay vợ vào buồng trong, khỏi rửa ráy&#8221;, thằng thì &#8220;mang ngay khăn voan, ví nháy, đã gom được chật ba lô để phân phát cho mọi người&#8221;&#8230;, còn tôi: Tao sẽ chạy ngay ra phố Lí Quốc Sư ăn một bát phở chín dừ.</p>
<p>Bây giờ, hầu hết họ đã nằm xuống, người bị bom bi ở cầu Cà Tang (Quảng Bình), người chết sốt rét ở sông A Vương, tôi có làm gì đi chăng nữa cũng chẳng có ý nghĩa gì với họ&#8230;</p>
<p>(…)</p>
<p><b>Tạm biệt </b></p>
<p>Khi tôi tuyên thệ trên vũ đình trường West Point. Tôi vẫn còn nhớ một bài hát quen thuộc trong doanh trại của thời ấy:</p>
<p>“Người lính già không bao giờ chết, họ chỉ tàn phai với năm tháng”.</p>
<p>Chào tạm biệt.</p>
<p>Since I took the oath on the plain at West Point, I still remember the refrain of one of the most popular barrack ballads of that day: ”Old soldiers never die, they just fade aways“.</p>
<p>Goodbye!.</p>
<p>(Douglas MacArthur)</p>
<p><b>30 tháng 4 ngồi trên đỉnh đèo Trường Sơn</b></p>
<p>Talawas: <i>Thưa anh Nhật Tuấn, ngày 30-4-1975 anh đang ở đâu</i>?</p>
<p>Nhật Tuấn: Tôi đang ở cuối đường 14 cũ và đầu đường Trường Sơn mới, tức sông A Vương, tỉnh Quảng Đà (cũ).</p>
<p>Lúc đó tôi nghe BBC kể về một bức tranh vẽ đăng trên báo Mĩ, vẽ ngôi mộ có bia khắc dòng chữ &#8220;<i>VNCH&#8221;</i> (Việt Nam Cộng Hoà) và: <i>Nơi đây yên nghỉ một quốc gia vừa chết trong tức tưởi. </i></p>
<p>Khi nghe đài Sài Gòn đọc tuyên bố buông súng, giao lại chính quyền của ông Dương Văn Minh, rồi có tiếng người đọc: Đây là tiếng nói của Quân giải phóng khu vực Sài Gòn-Chợ Lớn.</p>
<p>Và tôi nghĩ: <i>Chiến tranh đã kết thúc</i>.</p>
<p>(Phạm Thị Hoài phỏng vấn Nhật Tuấn)</p>
<p><b>Kết</b></p>
<p>Vì là bài văn sử đi tìm thời gian đã mất với cảm tính, cầm bút loay hoay với chữ nghĩa, người viết đứng bên lề cuộc chiến không thể tránh khỏi những cảm hoài với những người cầm súng của một thời một thuở đã giã từ vũ khí hiện đang nằm ở đâu đó…đằng sau những trận chiến.</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2016/05/clip_image010-2.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image010" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/05/clip_image010_thumb.jpg?strip=all" alt="clip_image010" width="204" height="236" border="0" hspace="15" vspace="5" /></a></p>
<p>Lính Cộng Hoà Trần Văn Nam</p>
<p>Sinh: 22-9-1942</p>
<p>Tử: 30-4-1975</p>
<p><strong>Ngộ Không</strong></p>
<p><em><strong>ghi chép 15-6-2015</strong></em></p>
<p><em><strong>hoàn tất 21-1-2016</strong></em></p>
<p><em>(Xin xem tiếp “Bạt” ở  phía dưới)</em></p>
<p><strong>tạp ghi sau 40 năm</strong></p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2016/05/clip_image012-1.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image012" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/05/clip_image012_thumb-50x50.jpg?strip=all" alt="clip_image012" width="136" height="136" border="0" hspace="12" /></a></p>
<p><em>nếu bạn bắn súng lục vào quá khứ</em></p>
<p><em>tương lai sẽ bắn đại bác vào bạn</em></p>
<p><em>rasul gamzatov</em></p>
<p><em>bạn có thể từ bỏ được mọi</em></p>
<p><em>thứ nhưng bạn không thể</em></p>
<p><em>từ bỏ được quá khứ</em></p>
<p><em>abraham lincoln</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<h2><strong>Bạt </strong></h2>
<p><em>(với…thì, mà, là)</em></p>
<p>Như lời “Tựa” đã bộc bạch ở trang đầu mà các cụ ta xưa đã dạy là ngôn bất tuyệt ý bất tuyệt thì ngộ chữ tôi hiểu chữ tác đánh chữ tộ, chữ ngộ đánh chữ quá là không có gì…quá đáng với sai hay đúng hoặc thừa với thiếu trong <i>Tạp ghi sau 40 năm</i> này. Vì cái sai, cái thừa của hôm nay, với nhân sinh bách tuế vi kỳ có thể là cái đúng, cái thiếu của…100 năm sau.</p>
<p>Chợt nhớ ra năm thỉnh mười thoảng sách của thiên hạ sự có phần lời “Bạt” ở trang cuối. Thấy người ta ăn khoai cũng vác mai đi đào nhưng rất ngay tình thưa với bạn đọc, ngộ chữ tôi chả hiểu <i>bạt</i> là lý sự gì. Bèn tra tự điển: “Phần chưa viết rõ ở lời tựa. Bạt là phần viết ở cuối sách để giải bày thêm một số ý tưởng có liên quan đến nội dung của tác phẩm mà chưa viết”.</p>
<p>Qua nội dung của tác phẩm…, tâm viên ý mã ngộ chữ tôi với tâm trạng của một kẻ táo bón kinh niên chữ nghĩa cũng muốn giải bày những điều chưa viết là:</p>
<p>Là ngộ chữ tôi mới trích ra có một phần rất nhỏ. Cho nên chữ nghĩa chỉ phản ảnh được cái nền của một câu chuyện. Và chuyện là lăn theo vòng xích sắt của chiếc xe tăng đã hoen rỉ, lăn theo bánh xe lịch sử với những chữ “Nếu”. Nếu công binh lập xong cầu sông Ba trong một, hai ngày thì…Nếu hải quân hoàn tất những cầu phao nổi ponto hay kế hoạch Alfa gì đó ở biển Thụy An thì…Nếu ta biết tại Xuân Lộc, Quân đoàn 4 Bắc quân mà pháo chỉ còn hai trái, tăng đã hết xăng thì…Nếu ta đã biết Bắc Việt chỉ còn vỏn vẹn một sư đoàn tổng trừ bị (Sư đoàn 308) ở Hà Nội…</p>
<p>(thì…mới có “Thất thủ Ninh Bình: 33 năm nhìn lại…” và “Lịch sử nhìn từ âm bản” ở trên).</p>
<p>Trở lại cụ tướng hải quân đã viết dùm ngộ chữ tôi qua <i>Can trường trong chiến bại</i> với ai đó:</p>
<p>(…) Ông tường thuật ngắn gọn, mạch lạc, loại bỏ được cảm tính của chính ông đối với các sự kiện, theo lối ghi nhận của ông. Ông <i>để cho người đọc tự tìm lấy kết luận của họ</i>. (…)</p>
<p>Nhẽ này có nhà phê bình chữ nghiã đã lực đực rồi. Nhà phê bình thở ra chữ để…giải thích:</p>
<p>(…) Rất tiếc, không ít người đem thói quen diễn giảng vào bài viết. Trong bài viết của họ, mỗi câu văn phải cõng trên lưng nó năm bảy câu giải thích. Chuyện mới, giải thích đã đành. Ngay cả những chuyện xưa như trái đất cũng vẫn giải thích. Lặp lại những kiến thức sơ đẳng và cũ rích, cách viết như thế là một sự xúc phạm đến sự hiểu biết của người đọc. Theo tôi, nhà văn phải viết trong giả thiết là người đọc của mình là những người cực kỳ thông minh và uyên bác: Hắn không cần phải viết những gì độc giả có thể đã biết rồi. Với những người đọc thông minh và uyên bác ấy, hắn phải viết những điều thông minh và uyên bác tương xứng, nghĩa là, ít nhất phải thông minh và uyên bác hơn chính bản thân hắn. Thay vì giải thích làm nhàm và lảm nhảm, cách viết như thế là một sự coi thường bạn đọc (…).</p>
<p>Quay quả lại với “cụ tướng” già Old soldiers never die, they just fade aways cảm khái:</p>
<p>“Dù thắng hay bại, trong cuộc một cuộc chiến, tất cả những người cầm súng hai bên đều làm nhiệm vụ của mình theo lý tưởng khác nhau. Sau cuộc chiến, những chiến binh dù hy sinh cho một lý tưởng nào đó, khi chết trong bộ quân phục đều là những người hùng thì khi đã nằm xuống phải được sự kính nể của những thế hệ sau. Hai trăm năm nữa, con cháu chúng ta khi học lịch sử sẽ không khen người thắng, không chê kẻ bại, nhưng sẽ ghi nhận sự can trường hay hèn mạt của những người tham chiến. Vì thế, những thế hệ mai sau sẽ không quên những những người cầm súng trên chiến trường của cả hai bên”.</p>
<p>Với cả hai bên, kẻ thắng, kẻ bại nói gì nằm ở khúc sau. Bởi bại binh chi tướng bất khả ngôn dũng, vong quốc chi đại phu bất khả ngôn trí, hay nói chữ theo người xưa thì:</p>
<p><em>Sau một ván cờ </em><br />
<em>Tất cả các con cờ, </em><br />
<em>Vua, tướng, sĩ, tốt, </em><br />
<em>Đều vào nằm trong hộp</em></p>
<p>Tiếp nữa với chữ là nghĩa qua cuộc Nội chiến Nam-Bắc Hoa Kỳ chấm dứt ngày 2-4-1865 và trước khi bị ám sát hai ngày, Tổng thống Abraham Lincoln đã nói: “Người ta có thể từ bỏ mọi thứ, nhưng không ai từ bỏ được lịch sử. Trước sau gì, lịch sử của những bậc anh hùng của cả hai bên sẽ phải được dựng lại ở chính nơi mà những người anh hùng đã ngã xuống”.</p>
<p>150 năm sau…với ngày 30-4-1975 để có thêm bài học chiến tranh với hành xử của người chiến thắng<i> phải biết tôn trọng kẻ chiến bại</i>.</p>
<p>***</p>
<p>Rằng vậy là co cỏm xong, ngộ chữ tôi về lại sông Ba với <i>Where The Domino Fell</i>:</p>
<p>(…) Đại pháo của Bắc quân đã cắt đoàn người và xe di tản thành nhiều khúc…và hơn 100 nghìn dân và 15 nghìn quân miền Nam trong cuộc rút lui này (…). Những nhà báo ngoại quốc từ trên UH1 nhìn xuống cho hay: (…) Đoàn xe di tản (quân xa, xe dân sự, xe gắn máy) giống như một giòng sông, và mỗi khi khi có đạn đại bác rơi xuống “giòng sông” thì họ thấy, nước văng lên (giống như khi ta ném đá xuống nước) &#8211; (đó là xác người tung lên theo đất bay bay). Những nhà báo này đã gọi liên tỉnh lộ 7 là con đường của máu và nước mắt. Vì chưa bao giờ có một cuộc lui binh mà tổn thất về quân và dân lại khủng khiếp như vậy. (…)</p>
<p>Cái đầu đất ngộ chữ tôi được thể tha mộ địa tới ông bạn hiện đang ở thành phố mà cả hai đang…tạm dung. Ông bạn là thiếu tá thủy quân lục chiến thuộc thể loại hồ trường dục phá thành sầu dụng tửu binh. Năm 74, ông được lệnh dẫn binh lính tới trấn ở cửa rừng. Ông đợi bại quân của Công truờng 7 rút về biên giới Việt-Miên để ngắm từ lỗ chiếu môn qua đỉnh đầu ruồi bắn mấy anh nón cối như…bắn bia ở xạ trường quân trường Thủ Đức. Cứ theo ông bạn thì:</p>
<p>(…) Qua ống nhòm, dưới những lùm cây, một đám bại quân đông như ruồi, quần áo lếch thếch, máu me đầy người, đứa chống gậy, đứa đi cà nhắc, thằng này dìu thằng kia, rên la khóc lóc. Áng chừng gần năm chục thước, sát hơn một chút nữa, lố nhố những người là người. Tụi nó trẻ măng, thằng băng đầu, thằng băng tay, vừa cõng vừa cáng…Ngay lúc ấy, không hiểu tại sao tao liên tưởng đến cảnh rút quân của Hồng Quân trong phim <i>Chiến tranh và hòa bình</i> rõ mồn một từng nét, ngay trước mắt tao. Đám Bắc quân, hàng một lê lết qua mặt tao…Tao nghe được cả những tiếng chân dẫm trên lá xào xạc…như con nai vàng đạp trên lá vàng khô…(…)</p>
<p>Mồi điếu thuốc, thở ra khói, mắt lãng đãng nhìn…mặt ngộ chữ tôi.</p>
<p>(…) Ấy đấy, thế là từ cái đầu ruồi tao nhắm y chóc ngay giữa trán thằng nón cối. Bây giờ chỉ cần nín thở, nhè nhẹ bóp một cái tách thật ngọt là rồi. Là…tử sĩ. Thế nhưng giữa cái lúc chết người này, đầu tao dở chứng bật ra câu thơ của thằng lính địa phương quân ở xứ nước mắm Phan Thiết: <i>Mang trong đầu những ý nghĩ trong veo</i><i> &#8211; Xem cuộc chiến như tai trời ách nước &#8211; Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước &#8211; Vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi…</i> (…)</p>
<p>Thế là ông bạn hồ trường tha tào đám nón cối từ Trường Sơn vác xác tới đây. Chuyện có hậu là…hậu sự thằng hồ trường gặp thằng…tử sĩ ở quán nhậu tại Sài Gòn và kết bạn đời với nhau.</p>
<p>Để rồi móc nối như cái móc xích của chiếc xe tăng với ông nón cối khác chỉ bắn…heo rừng:</p>
<p>(…) Tôi nhớ tết năm 1974, molotova chạy trên Trường Sơn vừa ngừng, tôi thấy một anh lính lái xe trong đơn vị, quăng xuống cái bi đông nước rồi nhảy xuống đường, vừa đái vừa chửi đổng:</p>
<p>&#8211; <i>Mẹ kiếp, thằng miền Bắc cứ ở ngoài Bắc, thằng miền Nam cứ ở trong Nam, đánh nhau làm chó gì cho bố mày khổ thế này</i>?.</p>
<p>Tôi còn nhớ một tối giữa Trường Sơn, chúng tôi ngồi lại hỏi nhau: &#8220;Mai mốt được về nhà, việc đầu tiên chúng mày sẽ làm cái gì?&#8221;. Thằng thì &#8220;lôi ngay vợ vào buồng trong, khỏi rửa ráy&#8221;, còn tôi, &#8220;tao sẽ chạy ngay ra phố Lí Quốc Sư ăn một bát phở chín dừ&#8221;.</p>
<p>Bây giờ, hầu hết họ đã nằm xuống, người bị bom bi ở cầu Cà Tang (Quảng Bình), người chết  sốt rét ở sông A Vương, tôi có làm gì đi chăng nữa cũng chẳng có ý nghĩa gì với họ. (…)</p>
<p>Tum húm với kẻ thắng nói gì? Ông “chỉ bắn heo rừng” nói rằng:</p>
<p>(…) Đó là một sự thật &#8220;trong mắt tôi&#8221;, và tất nhiên còn những sự thực khác về ý thức rất sẵn ở những người lính cả hai bên chiến tuyến. Đó là sự cảm thông, bởi lẽ chiến tranh là cả một quá trình lịch sử. Cha ông chúng ta đã từng &#8220;mang gươm đi mở nước&#8221;, bởi vậy với tôi, chiến tranh là một cái gì đó giống như là &#8220;thiên mệnh&#8221; trong &#8220;gọng kìm của lịch sử&#8221; (chữ này tôi mượn), mỗi con người bình thường hình như đều trở nên bé nhỏ trước bàn tế của thần chết. (…)</p>
<p>Với bên bờ chiến sử, kẻ bại nói năng như thể như thế này đây:</p>
<p>(…) Có thể nói những ai đã từng trực tiếp tham dự vào chiến tranh sẽ không bao giờ thoát khỏi cuộc chiến tranh ấy. Những người lính từng “giã từ vũ khí” gần bốn mươi năm về trước vẫn tiếp tục sống trong tâm thế lính tráng cho đến tận bây giờ. Người ta tiếp tục đánh nhau trong ký ức. Ðiều này phần nào giải thích tại sao người ta cứ viết về chiến tranh mãi. Kẻ thắng viết, đã đành. Kẻ thua cũng viết, thậm chí, còn viết nhiều và viết hăng hơn những kẻ chiến thắng nữa. (…)</p>
<p>Đang hung hăng vậy lại ngại ngùng bạn đọc nào đấy khó tính như ngự sử văn đàn kheo khảy ngộ chữ tôi chỉ ngôn giả bất tri. Nói cho ngay ngộ chữ tôi có…”nói” gì đâu với chữ nghĩa dày đặc như ruồi bu qua những trang giấy trên, trăm sự ở cụ Bùi Giáng mà ra. Cụ đã ngã hữu thốn tâm vô dữ ngữ, tạm hiểu là <i>ta có một tấc lòng không biết ngỏ cùng ai</i> nên cụ đã búi bấn…</p>
<p><em>sử lịch sai trang</em></p>
<p><em>chạy quàng</em></p>
<p><em>là lịch sử…</em></p>
<p>Là thế đấy, thưa bạn đọc! Nay xin thưa.</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2016/05/clip_image014-1.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image014" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/05/clip_image014_thumb-50x50.jpg?strip=all" alt="clip_image014" width="100" height="74" border="0" hspace="12" /></a></p>
<p><strong>Thạch trúc gia trang</strong></p>
<p><strong>Lập đông, Bính Thân 2016</strong></p>
<p><strong>Ngộ Không Phi Ngọc Hùng</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2016</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ngo-khng-tap-ghi-sau-40-nam-ky-17/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Kh&#244;ng : Tạp Ghi Sau 40 Năm &#8211; Kỳ 16</title>
		<link>https://t-van.net/ngo-khng-tap-ghi-sau-40-nam-ky-16/</link>
					<comments>https://t-van.net/ngo-khng-tap-ghi-sau-40-nam-ky-16/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 11 May 2016 13:03:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Ngộ Không: tạp ghi sau 40 năm]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không; tạp ghi sau 40 năm]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=27086</guid>

					<description><![CDATA[Nhật ký Sài Gòn ngày dài nhất &#8220;Lính văn nghệ đang chơi nhau dữ dội ở cầu Thị Nghè&#8221;. Tôi biết rõ những người lính ấy. Lính văn nghệ cơ hữu của cục tâm lý chiến chỉ có bổn phận canh gác giữ an ninh cho cục ngày và đêm. Họ đã học 9 tuần [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><b>Nhật ký Sài Gòn ngày dài nhất</b></p>
<p>&#8220;Lính văn nghệ đang chơi nhau dữ dội ở cầu Thị Nghè&#8221;. Tôi biết rõ những người lính ấy. Lính văn nghệ cơ hữu của cục tâm lý chiến chỉ có bổn phận canh gác giữ an ninh cho cục ngày và đêm. Họ đã học 9 tuần quân sự ở Trung tâm huấn luyện Quang Trung. Vòng đai an ninh của cục bé nhỏ. Đã có lực lượng bảo vệ an ninh của cục an ninh quân đội lo giùm. Vậy bên đây cầu Thị Nghè, kế sát “cục”, là nơi lính văn nghệ canh gác ban đêm để bảo vệ tòa soạn nhật báo Tiền Tuyến, văn phòng của các quan văn nghệ&#8230; Nói ra hơi buồn, lính văn nghệ gác cầu, chỉ nhằm bảo vệ cho các quan tâm lý chiến chơi xì-phé, mạt chược những đêm trực.</p>
<p>Truyện kể về những người lính văn nghệ gác cầu Thị Nghè sáng 30-4-1975 như sau:</p>
<p>Xe tăng lính bộ đội ông Hồ vào thành phố Sài Gòn để vào dinh Độc Lập bằng hai ngả. Ngả thứ nhất: Từ ngã tư xa lộ Hàng Xanh, T54 của của chúng chia đôi. Có 10 chiếc thôi. 5 chiếc rẽ phải vào Hàng Xanh, qua đường Bạch Đằng, qua đường Chi Lăng, Võ Tánh, Phú Nhuận, bọc lên đường Công Lý. 5 chiếc rẽ trái vào Thị Nghè, qua cầu, qua đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, qua đường Thống Nhất. Chiếc thứ nhất bị lính văn nghệ chặn đánh ở bên kia cầu.</p>
<p>Với súng M16, những người lính văn nghệ nhắm T54 mà khạc đạn. Đạn chạm vỏ sắt xe tăng văng ra. Lúc ấy, 10 giờ 45 phút, sau lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh 15 phút. Mỗi người lính có một băng đạn, lính văn nghệ bắn vào 5 chiếc xe tăng không quá một phút là hết đạn. Lính văn nghệ đã gây cảm hứng cho đám thanh niên Thị Nghè. Họ chạy vào ngõ mang ra một can xăng và cả chục cái chai không với một mớ giẻ rách. Nhiệt tình nổi lửa, nhiệt tình của tuổi trẻ Thị Nghè bốc phừng phừng. Bất chấp cái chết, thanh niên Thi Nghè phụ sức với lính văn nghệ bằng những chai xăng châm lửa ném tới tấp vào T54 của kẻ thù. Lửa cháy xích T-54. Lửa cháy trên pháo tháp T-54. Lửa Thị Nghè của Sài Gòn. đánh như chơi, đánh như nghịch đùa của tuổi trẻ và lính văn nghệ già. Chiếc T54 dẫn đầu ngừng lại. Lính bộ đội ông Hồ trong pháo tháp nghe vỏ chai đụng vào thành sắt nghe lộp cộp bèn mở nắt thò đầu ra xem. Một thanh niên Thị Nghè nhẩy lên xe tăng thảy vào pháo tháp một “chai bom xăng”. Lửa bùng lên. Chiếc T54 bốc cháy. Bốn chiếc sau dừng lại, ngơ ngác. Kẻ thù hung hãn khạc đạn.</p>
<p>Bị trúng đạn, anh thanh niên Thị Nghè trên pháo tháp bung người lên…</p>
<p>Anh bung người lên rơi xuống đường…nằm chết như mơ.</p>
<p>(…)</p>
<p><b>Cuộc chiến đấu bi hùng của Thiếu sinh quân Vũng Tàu</b></p>
<p>Trong đêm 29 và gần trọn ngày 30-4-75, bọn bộ đội xâm nhập thị xã. Vũng Tàu coi như bỏ ngỏ. Ngoại trừ một cứ điểm duy nhất còn chống cự do các em thiếu sinh quân tuổi 12 đến 17 tự lập phòng tuyến tử thủ. Cứ điểm đó là trường Thiếu sinh quân Vũng Tàu.</p>
<p>Chiều tối bọn bộ đội tung hai tiểu đoàn xung kích bao vây cứ điểm cuối cùng này. Chúng bắt loa kêu gọi các em đầu hàng. Tiếng loa vừa dứt, bọn bộ đội nhận ngay một tràng đại liên thay cho câu trả lời, gọn gàng và cương quyết của gần 700 tay súng. Chúng lui ra xa tránh đạn, bắc loa ra lệnh các em phải đầu hàng đúng 9 giờ 30 sáng hôm sau, ngày 30 tháng Tư. Mặc địch kêu gọi và đe doạ, Các em vẫn kiên trì tử thủ, khiêng chướng ngại vật làm tuyến phòng ngự, tiếp tế đạn dược, nước uống và lương khô, cứu thương. Anh lớn chỉ các em nhỏ những bài học quân sự và kỹ thuật tác chiến trong thành phố đã được giảng dậy ở quân trường.</p>
<p>Đúng 9 giờ 30 sáng ngày 30-4. Bọn bộ đội ra lệnh gọi đầu hàng lần chót. Nhưng các em thiếu sinh quân vẫn kiên quyết kháng cự, trả lời chúng bằng những loạt đạn dữ dội hơn. Chúng khai hoả, mở cuộc tấn công ào ạt mong giải quyết chiến trường nhanh chóng. Nhưng chúng phải lập tức dội ngược lại, vì hoả lực từ bên trong bắn ra vô cùng mãnh liệt. Các em chưa bao giờ được bắn, nay đã bắn với tất cả những gì đang có trong tay. Các em có đầy đủ vũ khí cá nhân và vũ khí cộng đồng. Ngoài ra còn có lợi điểm là các công sự trong trường, vừa đánh vừa di chuyển, ẩn núp. Lại có những quân nhân giã ngũ bên ngoài kích động, tìm cách lẻn vào tăng cường tay súng, nhập cuộc cùng các thiếu sinh quân chiến đấu ngay trong sân trường.</p>
<p>Đây là trận đánh thực sự đầu tiên và cũng là trận đánh cuối cùng của các em thiếu sinh quân đã chiến đấu không nao núng dù có nhiều em ngã gục. Những em đã chết trong giờ phút cuối cùng của miền Nam, khi tóc còn xanh, mộng đời chưa trọn. Đồng bào chứng kiến cảnh bi thương này đã oà lên khóc. Có những bà mẹ kêu gào, lăn xả vào cản ngăn họng súng bọn bộ đội để che chở cho các ở bên trong. Tiếng nổ, tiếng hò hét, tiếng kêu khóc, tiếng loa uy hiếp của bọn bộ đội đã tạo nên một không khí chiến trường lạ lùng chưa từng thấy. Các em thiếu sinh quân chiến đấu với tất cả nhiệt tình và sinh lực của tuổi trẻ hăng say….</p>
<p>(Đào Vũ Anh Hùng)</p>
<p><b>Nhật ký Sài Gòn ngày dài nhất</b></p>
<p>Tôi nhớ lại xe tăng Hồng quân Xô Viết kéo vào thủ đô Budapest của Hungary. Người dân thành phố Hungary đã dùng “chai bom xăng” ném vào xe tăng Hồng quân. Hồng quân Xô Viết cũng hung hãn khạc đạn. Từ đó “chai bom xăng” trong chiến sử có tên: “bom Cocktail”. Tôi cũng nhớ đã xem một phim, hình như tên phim là El Alamein do Frederick Stafford thủ vai đại úy quân đội Ý, diễn tả một trận đánh tuyệt vọng giữa đám quân đồn trú ở sa mạc Phi Châu với đạo quân xe tăng của tướng Montgomery lừng danh Anh Quốc. Tăng của tướng Montgomery đã phơi xác lớp lớp. Và rồi, kẻ chiến thắng đã nghiêng mình kính cẩn chào tinh thần chiến đấu quả cảm tới phút chót của kẻ chiến bại là quân đội Ý. Người cộng sản, chắc chắn, thiếu sự hào sảng đó.</p>
<p>Và, tôi còn thấy thiếu cả những trang sách viết về những thanh niên Thị Nghè, những người lính văn nghệ đã chết hay vẫn sống đã hạ 1 chiếc T54 bên kia cầu Thị Nghè buổi trưa ngày 30-4-1975. Tôi cố tìm ở hồi ký dầy cộm của các quan văn nghệ báo Tiền Tuyến. Chẳng thấy gì.</p>
<p>(…)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>TQLC…ra khơi</b></p>
<p>Ngày 4-4-1975, về đến Vũng Tàu SĐ/TQLC đang trong tình trạng tái bổ sung quân số, sau cuộc lui binh từ Đà Nẵng về đây. Lạng Sơn tư lệnh kiêm nhiệm thêm chức quân trấn trưởng thị xã Vũng Tàu nên ông rất bận rộn vì dân số tăng gấp bốn lần vì dân từ miền Trung chạy vào lánh nạn, khi tư lệnh bận bịu một thì chúng tôi phải tất bật gấp đôi cho đến ngày…</p>
<p>Ngày 28-4-75, 7 giờ sáng, Đại Dương (Đại úy Nguyển Quang Đan K21/VB) tập họp anh em chúng tôi lại nói sơ qua tình hình rất bi đát hiện tại và anh có nói nếu tụi cán búa chiếm được miền Nam thì tư lệnh nhất quyết không đầu hàng, có hai trường hợp xử trí:<br />
1. Là tử thủ (nếu có thể)<br />
2. Là ra khơi (vì…biển ngay trước mặt)<br />
Chưa biết phải đi đâu? Tất cả anh em chúng tôi đứng im lặng, mỗi người có ý nghĩ riêng tư trong đầu, Đại Dương tiếp:<br />
&#8211; Nếu tư lệnh…ra khơi, ai muốn đi theo tư lệnh đứng sang một bên, ai chọn ở lại về với gia đình tư lệnh sẽ cho trực thăng chở về căn cứ Sóng Thần. Trong số đi theo tư lệnh có Tiểu Cần tôi (vì tư lệnh…”cần” tôi?), đến bây giờ sau 35 năm tôi vẩn chưa có câu trả lời tại sao đi theo tư lệnh mà bỏ mẹ già đơn chiếc ở quê nhà để có dịp…”xa quê hương nhớ mẹ hiền&#8230;”.</p>
<p>Cuộc họp bỏ túi xong tôi được lệnh mang máy PRC25 theo trực thăng đưa những anh em chọn ở lại bay về căn cứ Sóng Thần. Nhìn những gương mặt thân thương với nhiều năm tháng chiến đấu bên nhau lòng dạ tôi cảm thấy nao nao buồn…Những Tr/sĩ Nam, phụ trách ẩm thực cho tư lệnh, H/sĩ Guông người gốc Miên, Tr/sĩ Trương cao 1,90 m, Tr/sĩ Hoài tây lai đẹp trai, Tr/sĩ Mến gốc người Hoa hiền như cục đất thó…</p>
<p>Lần chia tay mãi đến bây giờ…40 năm sau chưa một lần gặp lại.</p>
<p>(Tháng 3 buồn thiu, tháng 4 gãy súng &#8211; MX Tiểu Cần)</p>
<p><b>Nhật ký Sài Gòn ngày dài nhất</b></p>
<p>11 giờ 40 phút…</p>
<p>Tôi rủ Côn ra đường. Vỉa hè nhà tôi, vỉa hè bên kia phố đã ngổn ngang mũ sắt, mũ vải, giầy vớ, ba lô, súng đạn. Vợ tôi và ba đứa con cũng mở cổng ra đường. Khi nhìn quân trang, quân dụng, võ khí của quân đội ta xép lớp trên vỉa hè, vợ tôi òa lên khóc, con tôi khóc theo. Những tiếng khóc, những giọt nước mắt muộn màng. Tại sao người ta chỉ biết khóc vào hoàng hôn?</p>
<p>Cảnh tượng bây giờ đã thay đổi chút chút. Tôi thấy có nhiều người đeo băng vải đỏ ở cánh tay phải. A, những người này tôi đều biết. Họ ở dưới chợ xóm Lách. Họ đã là nhân dân tự vệ chọc chó, hái trộm khế nhà tôi. Họ là ông thợ may hiền lành, bà chạp phô dễ tính. Họ đeo băng đỏ chờ đợi hoan hô cách mạng, hoan hô quân giải phóng. Họ thuộc “Sư đoàn 304 tân lập*.</p>
<p>11 giờ 45 phút,..</p>
<p>Nó ngang qua nhà tôi. Năm chiếc. T54 treo hoa ny-lông phía trước. Nóc xe đầy nhóc lính “Sư đoàn 304 tân lập* phất lia lịa cờ đỏ sao vàng và cờ trên đỏ, dưới xanh, giữa sao vàng. Bên hông xe đeo tòng teng lồng gà, lồng vịt. Hẳn là tăng đã dừng lại để nhận quà của &#8220;nhân dân&#8221; và để lính 304 leo lên&#8230; giải phóng Sài Gòn. Gà và vịt cũng hãnh diện tham dự chiến dịch Hồ Chí Minh! Xe tăng đi qua một lát thì mô-lô-tô-va và GMC Trung quốc tiến vào. Lính bộ đội ông Hồ đội nón cối. Quân giải phóng đội mũ tai bèo. Tất cả đứng trên xe vẫy tay rối rít. Tuyệt nhiên, &#8220;nhân dân&#8221; không hoan hô. Không còn cách mạng &#8220;diễu binh&#8221; nữa, &#8220;nhân dân&#8221; tản mạn về nhà mình. Tôi bảo vợ con vào nhà, đóng cổng, khóa kỹ rồi rủ Đặng Xuân Côn đi bộ lên Sài Gòn.</p>
<p>Đi bộ lên Sài Gòn, tôi lại nhớ đến phim The Longest Day, xe tăng Mỹ vào Bá Linh. Anh Mỹ GI tài xế xe tăng tới nhà một người vợ lính Đức vừa tử trận mà anh tìm thấy địa chỉ trong túi quần của xác chết. Anh để những thỏi kẹo “sô-cô-la” lên bàn. Vợ người lính Đức lặng lẽ nhìn ra ngoài cửa sổ. Ngoài kia là những đống gạch vụn của nhà cửa đổ nát vì bom đạn. Cạnh một đống rác có con chó đang lè lưỡi đi tìm thức ăn. Ngày hôm sau anh GI cũng lái xe tăng, trên pháo tháp buộc cái chuồng đầy nhóc những gà là gà. Anh GI xách cái chuồng gà bước ba bậc tam cấp lên cửa. Cửa mở. Hai người ôm hôn nhau…</p>
<p>(…)</p>
<p><b>Vượt biên kể chuyện súng đạn</b></p>
<p>Là lính đi tù cải tạo. Hắn đi đạp xích lô, hắn không biết hắn là ai. Hắn chỉ thực là lính sau khi hắn vượt biên. Ở đất tạm dung, cuối tuần nào cũng thế, ngồi trong phòng ăn, với ly bia trên tay, giữa đám bạn bè mới, hắn say sưa kể về cuộc đời lính chiến của hắn. Hắn kể say sưa và đầy tự tin: hắn biết chắc chắn trong những trận đánh ấy hắn không bao giờ thua trận.</p>
<p>Bạn bè hắn cũng thích thú. Họ nâng ly, cổ võ: “Dzô… Dzô…”.</p>
<p>(Website Tiền Vệ &#8211; <i>Truyện cực</i> ngắn hay <i>Truyện chớp</i>)</p>
<p><b>Cuộc chiến đấu bi hùng của Thiếu sinh quân Vũng Tàu</b></p>
<p>Cuộc chống cự kéo dài đến 3 giờ chiều. Cho đến khi kho đạn dược đã cạn và kho lương thực bị bốc cháy, các em thiếu sinh quân mới bằng lòng cho bọn bộ đội thương thảo. Các em chấp</p>
<p>nhận một giờ ngưng bắn, sau đó sẽ buông súng và mở cổng&#8230;Và các em đã dùng một giờ ngưng bắn để thu dọn chiến trường, săn sóc đồng đội bị thương, gói liệm thi hài những đồng đội đã gục ngã, và chuẩn bị làm lễ hạ kỳ.</p>
<p>Có chừng hơn một trung đội em thiếu sinh quân đã tập họp trước sân cờ, đứng trang nghiêm và nhìn lên lá quốc kỳ bay phất phới trên nền mây âm u. Hai thiếu sinh quân lớp 12 là Nguyễn Văn Minh và Nguyễn Văn Chung bước tới, đứng nghiêm trước kỳ đài theo lễ nghi quân cách, dơ tay chào. Họ từ từ nắm từng nấc giây, cho lá cờ hạ xuống thật chậm như cố kéo dài giây phút thiêng liêng này, nước mắt đầm đìa.</p>
<p>Tất cả các em thiếu sinh quân từ trong các tầng lầu, từ các hố cá nhân, các giao thông hào, sau những gốc cây, bờ tường, sau những mái nhà&#8230;, không ai bảo ai, đồng loạt đứng dậy đồng thanh cất tiếng hát bài quốc ca. Gần 700 giọng hát hùng tráng cát lên, vang khắp sân trường. Bọn bộ đội nghe, ngơ ngác không phản ứng. Tiếng hát phủ tràn trên tuyến địch vang ra tận cổng sân trường, ra ngoài đường phố. Người dân Vũng Tàu đã đều nghe và xúc động. Tiếng hát bay ra biển khơi, bay lên trời cao, âm thanh lồng lộng theo gió chiều, đất trời cùng ngẩn ngơ rớm lệ theo tiếng hát. Đồng bào cùng thổn thức thương tủi và thổn thức hát theo.</p>
<p>Thời gian như ngưng đọng lại trong giờ khắc bi thảm, xúc động cùng lẫm liệt đó. Cho đến bây giờ, 22 năm sau, nhiều người dân Vũng Tàu vẫn nghe văng vẳng trong sâu kín tiếng hát bi thương hùng tráng của các em thiếu sinh quân hát bài quốc ca trong ngày cuối cùng của tháng</p>
<p>tư đen, ngày oan khiên định mệnh cho dân tộc Việt.</p>
<p>(Đào Vũ Anh Hùng)</p>
<p>Tác giả tên thật: Đào Bá Hùng, với bút hiệu Đào Vũ Anh Hùng, cộng tác với báo Sóng Thần, Sống, Đời. Tác giả là thiếu tá Không quân, viết báo Tiền Tuyến, Lý Tưởng Không quân, v…v&#8230;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Nhật ký Sài Gòn ngày dài nhất </b></p>
<p>2 giờ 30…</p>
<p>Chúng tôi vào trung tâm thành phố. Dân chúng đang bu kín công viên dựng hai thủy quân lục chiến họng súng chĩa vào Hạ viện. Chúng tôi lách đám đông. Dưới chân tượng đài, xác một người cảnh sát nằm đó. Máu ở đầu ông ta chẩy ra còn đỏ tươi. Người sĩ quan cảnh sát đeo lon trung tá. Nắp túi ngực in chữ Long. Phóng viên truyền hình Pháp quay rất lâu cảnh này.</p>
<p>Lúc tôi đến là 2 giờ 30. Dân chúng đứng mặc niệm trung tá Long, nước mắt đầm đìa. Những người không khóc thì mắt đỏ hoe, chớp nhanh. Tất cả im lặng.</p>
<p>&#8211; Tôi chứng kiến từ phút đầu.</p>
<p>&#8211; Ông nói sao?</p>
<p>&#8211; Tôi nhìn rõ ông ta rút súng bắn vào thái dương mình.</p>
<p>&#8211; Thật chứ?</p>
<p>&#8211; Phải.</p>
<p>Tôi nghe hai người Sài Gòn nói chuyện. Và tôi được nghe &#8220;Huyền sử một người mang tên Long&#8221; do một trong hai người kể. Truyện như vầy:</p>
<p>10 giờ 30, Dương Văn Minh đọc lệnh đầu hàng. Trung tá Long từ nơi nào đến, chẳng ai rõ. Ông xuất hiện ở công viên trước Hạ viện hồi 12 giờ. Ngồi trên ghế đá, ông trầm ngâm hút thuốc. Rồi ông ta đưa tay ôm lấy đầu, cúi thấp. Bất chợt, ông đứng dậy, chậm rãi bước gần chân tượng đài. Trung tá Long đứng thẳng. ngẩng mặt. Thản nhiên, ông rút khẩu súng lục, kê họng súng vào thái dương mình bóp cò.</p>
<p>&#8211; Đó, diễn tiến cái chết của ông ta như vậy đó.</p>
<p>&#8211; Ông có mặt ở đây trước lúc ông ấy xuất hiện?</p>
<p>&#8211; Phải.</p>
<p>Tôi đã nhìn kỹ. Lịch sử của chúng ta đã có những vị anh hùng chỉ có tên mà không có họ. Như Đô đốc Tuyết, Đô đốc Long&#8230; Hôm nay, chúng ta có thêm Trung tá Long.</p>
<p>Dòng chữ nào đã viết về Trung tá Long? Người bên kia Bên Hải đã viết cả pho sách dày cộm để nguyền rủa một xác chết. Người bên kia cũng đã viết cả pho sách dầy cộm để suy tôn một xác sống! Người ta ồn ào. Người ta vo ve. Lịch sử đã hóa thành huyền sử.</p>
<p>(…)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>LĐ81 Biệt cách nhảy dù</b></p>
<p>12 giờ trưa ngày 28-4-1975, Đại tá Phan Văn Huấn Liên đoàn 81 BCND được lệnh Trung tướng Nguyễn Văn Toàn gọi về bộ tư lệnh QĐ3 họp khẩn. Trong phòng họp trung tướng Toàn nói: Ngày mai chúng ta rút khỏi Biên Hòa về phòng thủ Thủ Đức, Liên Đoàn 81 BCND là lực lượng đi sau cùng có nhiệm vụ phá hủy chiếc cầu trên xa lộ Đại Hàn gần phi trường Biên Hòa.</p>
<p>Sáng 29-4, đơn vị di chuyển qua cầu xa lộ Đại Hàn, rút khỏi thành phố Biên Hòa đúng theo lệnh tướng Toàn đã nói. Đúng 8 giờ sáng Liên đoàn 81 BCND qua khỏi cầu Mới và Biệt đội 812 cùng toán công binh của đại úy Hoàng tăng phái cho Liên đoàn 81 là đơn vị sau cùng qua cầu và đã hoàn tất nhiệm vụ dùng chất nổ phá chiếc cầu đó. Đơn vị vừa qua khỏi cầu thì nghe lệnh ông Vũ Văn Mẫu, yêu cầu người Mỹ rút ra khỏi Việt Nam trong vòng 24 tiếng đồng hồ.</p>
<p>Sài Gòn chỉ còn 2 điểm kháng cự ở ngã tư Bảy Hiền và lăng Cha Cả. Chẳng bao lâu sau đó, tiếng súng cả hai nơi không còn nổ nữa, anh em rời vũ khí và chia tay nhau mỗi người mỗi ngả!</p>
<p>Sáng 30-4, Liên đoàn 81 BCND từ rừng Cò Mi men theo đường rừng di chuyển dần về hướng Thủ Đức để hy vọng gặp được đơn vị bạn nhưng hoàn toàn tuyệt vọng. Trên đường di chuyển LĐ81 BCND chỉ thỉnh thoảng bắt gặp các quân trang quân dụng của các đơn vị bạn bỏ lại! Khi đến gần núi Châu Thới, đơn vị dừng quân và tung các toán thám sát ra các xa lộ Lái Thiêu-Đại Hàn quan sát tình hình. Các toán thám sát báo về bộ chỉ huy LĐ81 BCND quân xa của Bắc quân đang chạy công khai trên các trục lộ mà không gặp một sự kháng cự nào của đơn vị trách nhiệm trong vùng. Tất cả các nơi như là đều đã rã ngũ hết rồi!</p>
<p>(…)</p>
<p><b>Nhật ký Sài Gòn ngày dài nhất</b></p>
<p>4 giờ thiếu 10 phút…</p>
<p>Một nhánh cỏ đuôi chồn, tên lính “Sư đoàn 304 tân lập”, leo lên tượng đài thủy quân lục chiến. Nó buộc hai sợi giây cáp vào cổ pho tượng. Nó siết chặt, kỹ lưỡng. Rồi khoá lại bằng ống khoá. Nó dùng cái búa bổ mạnh trên đầu pho tượng cao nhất. Ống kính điện ảnh của cộng sản thu kỹ cảnh này, cảnh mà họ đã dàn cảnh. Phóng viên truyền hình Pháp, Mỹ, Đức, Nhật&#8230; quay không tiếc phim. Phía dưới, những cỏ đuôi chồn, búa to búa nhỏ, búa dài, búa ngắn đã chuẩn bị từ trước để đập phá tượng đài. Xác Trung tá Long đã được kéo lết ra xa. Vũng máu của ông chưa kịp khô. Khi tên cỏ đuôi chồn ở trên tụt xuống, đám cỏ đuôi chồn ở dưới xúm nhau lại đập nát chân hai pho tượng. Cộng sản thuyết minh là &#8220;nhân dân Sài Gòn đã biểu lộ lòng căm thù Mỹ-Ngụy cao độ&#8221;. Rồi tất cả cỏ đuôi chồn kéo hai sợi giây cáp, Pho tượng thủy quân lục chiến từ từ ngã xuống. Truyền hình Pháp diễn giải: &#8220;Biểu tượng của miền Nam sụp đổ.&#8221;</p>
<p>Vỗ vai tôi, Côn nói:</p>
<p>&#8211; Đi chỗ khác, Long.</p>
<p>Tôi hỏi:</p>
<p>&#8211; Đi đâu?</p>
<p>Tôi không biết có người lính thủy quân lục chiến nào chứng kiến cảnh tượng này. Tôi cũng không biết ông tướng Lê Nguyên Khang, ông tướng Bùi Thế Lân đã xem những thước phim giật đổ tượng đài thủy quân lục chiến này chưa? Lúc này, đứng ngắm pho tượng ngã gục, tôi cứ tưởng những nhát búa bổ xuống đầu pho tượng là những nhát búa bổ xuống đầu mình.</p>
<p>Lảng chuyện, Côn hỏi tôi:</p>
<p>&#8211; Trong dinh Độc Lập có gì lạ?</p>
<p>Tôi dịu giọng:</p>
<p>&#8211; Có gì lạ?&#8230;</p>
<p>(…)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>LĐ81 Biệt cách nhảy dù</b></p>
<p>Đại tá Phan Văn Huấn yêu cầu các cấp chỉ huy tập họp anh em xung quanh một ngôi mộ có gò mả khá cao. Đứng trên gò mả đại tá Huấn bùi ngùi nói trước hàng quân: Chúng ta sinh trưởng ở miền Nam, chúng ta có bổn phận phải bảo vệ miền Nam, bây giờ chúng ta thua rồi, chúng ta phải cay đắng tuân lệnh Tổng thống Dương Văn Minh, giao nạp vũ khí cho họ. Thưa anh em, chúng ta là một đơn vị ưu tú của Quân lực VNCH, qua bao nhiêu năm chiến đấu bên nhau, trong giờ phút lịch sử này, chúng ta phải chứng tỏ là một đơn vị có kỷ luật, vậy yêu cầu anh em theo tôi tiến ra xa lộ Đại Hàn, các biệt đội sắp hàng tư và di chuyển về hướng Sài Gòn để tiếp xúc với đơn vị họ mà bàn giao vũ khí rồi anh em chúng ta giải tán và chia tay nhau. Xin anh em nhớ rằng, anh em không có tội gì cả, vì anh em phải tuân hành theo lệnh của tôi, tôi sẵn sàng nhận tội và tôi sẽ đi đầu, nếu họ có bắn thì họ sẽ bắn tôi trước.</p>
<p>Trên xa lộ Đại Hàn gần lăng Chú Hỏa, quân nhân của Liên đoàn 81 BCND sắp hàng tiến về hướng Sài Gòn. Hai bộ chỉ huy chiến thuật và bộ chỉ huy Liên Đoàn 81 quân số gần 2.000, đội hình hàng tư dài hơn cây số. Đoàn quân yên lặng di chuyển trên xa lộ, không khí thật ngột ngạt khó thở, những người lính súng đạn còn trên tay nhưng cái lệnh đầu hàng đã làm cay lòng cay mắt. Những hình ảnh nhạt nhoà của những người dân đứng trước mái nhà tranh nhìn đoàn quân não nề tiến bước. Khi LĐ81/BCND đang di chuyển trên xa lộ Đại Hàn, xe lính chính quy Bắc Việt cũng di chuyển ngược xuôi bên đội hình Liên đoàn 81 BCND, cán binh Bắc quân trên xe nhìn Liên đoàn 81 BCND với nét mặt tò mò và ngạc nhiên khi thấy lính của LĐ81/BCND trên tay vẫn còn mang vũ khí. Liên Đoàn 81 BCND di chuyển khá xa thì có 2 xe từ hướng Sài Gòn chạy đến, trên xe có đặt máy quay phim. Họ quay phim từ đầu đội hình cho đến cuối và ngược lại từ cuối lên đầu đội hình, Khi Liên Đoàn 81 BCND dừng lại cho anh em nghỉ ngơi thì đơn vị cán binh Bắc quân đến tiếp xúc, lính Liên đoàn 81 BCND để vũ khí tại chỗ và giải tán..</p>
<p>(Đặc san GĐ81/BCND)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Nhật ký Sài Gòn ngày dài nhất</b></p>
<p>6 giờ 30…</p>
<p>Chúng tôi có mặt ở ngã tư Hiền Vương-Công Lý. Quân trang, quân dụng, xếp đống ngổn ngang trên vỉa hè. Súng đạn sẵn sàng, thừa mứa. Nhiều thanh niên biết xử dụng M16 lượm súng bắn chỉ thiên vung vít. Thành phố rền vang tiếng đạn nổ chỉ thiên&#8230;Chúng tôi thản nhiên đi. Lúc này, vẫn còn nhiều người lính trên đường về nhà mình. Tôi nhận ra những kẻ chiến bại bất đắc dĩ, họ mình trần, chân đất. Làm sao tôi biết chia xẻ những uất nghẹn của người lính đường chiều 30-4? Những trang sách nào soi tỏ uất nghẹn này? Bầy hạc gỗ của vua Vệ, bọn ý gẫy bút cùn của những “danh sĩ” thì làm nổi trò trống gì? Cho nên, chúng ta có cả trăm trang <i>Khi đồng Minh tháo chạy</i>, gần một nghìn trang <i>Hồ sơ dinh Độc Lập</i>. Nhưng vẫn còn thiếu một trang viết về người lính buông súng, lột bỏ quân phục chạy về nhà mình tức tưởi, phẫn nộ và lo âu.</p>
<p>7 giờ…</p>
<p>Bóng tối trùm thành phố. Đèn đường chưa lên. Đạn vẫn nhằm ông trời mà bắn. Tôi đi trong cái âm u của Sài Gòn lịm chết. Hình tưởng một nghĩa địa hoang vắng? Sài Gòn ở đó.</p>
<p>Bộ đội miền Bắc và quân giải phóng miền Nam xuất hiện trên các vỉa hè. Mạnh phe nào phe ấy nhặt nhạnh &#8220;chiến lợi phẩm&#8221;. Bộ đội miền Bắc chọn quân trang hơn võ khí. Họ liệng &#8220;chiến lợi phẩm&#8221; lên xe mô-lô-tô-va. Quân giải phóng chọn vũ khí. Họ thu lượm vội vàng chất lên xe ba bánh. Tôi thấy dọc phố Công Lý, cờ mới treo nhiều. Quả thực, tôi không nhận ra mầu cờ nữa.</p>
<p>Vì mắt tôi mờ. Vì bóng tối.</p>
<p>12 giờ đêm…</p>
<p>24 giờ rồi. Tôi đã qua một ngày dài nhất trong đời tôi, một ngày mà nhiều đời người không có. Văn hào Walter Scott viết: &#8220;Không ai đủ giầu để mua lại dĩ vãng đích thực của mình&#8221; ở đâu đó,. Và đó, bất hạnh trong hạnh phúc. Tôi đầy đủ ngày dài nhất ở Sài Gòn.</p>
<p>Và, cũng đó, hạnh phúc trong bất hạnh.</p>
<p>(Duyên Anh Vũ Mộng Long)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Thất thủ Ninh Bình: 33 năm nhìn lại&#8230;(1)</b></p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2016/05/clip_image002-16.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" class="" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/05/clip_image002_thumb-150x150.jpg?strip=all" alt="clip_image002" width="308" height="204" border="0" hspace="12" /></a></p>
<p>Tăng T54 bị bắn hạ tại Ninh Bình bởi</p>
<p>Sư đoàn 18 BB miền Nam trên đường</p>
<p>tiến đến Hà Nội vào ngày 11-4-1975</p>
<p>Ngày 20-4-1975 thành phố Ninh Bình bị bỏ ngỏ. Sau tám ngày chống cự mãnh liệt với bốn sư đoàn miền Nam của Đại tướng Ngô Quang Trưởng, Sư đoàn 320 (1) Bắc Việt đã phải triệt thoái về để bảo vệ Hà Nội. Nam Định đã bị các lực luợng Mặt trận (Giải phóng miền Bắc) từ “Bùi Chu đất thép” và “Phát Diệm quê hương đồng khởi” cô lập trong khi Hải Dương bị sư đoàn thuỷ quân lục chiến đe doạ dồn dập tại ngoại vi sau khi làm chủ Hải Phòng. Tình thế không còn lật ngược được nữa, Trung Quốc quyết định hé cửa khẩu Đồng Đăng và Lạng Sơn cho dân chúng và các đơn vị quân đội nhân dân đang đổ xô về phía biên giới, trong khi Tổng bí thư Lê Duẩn đã an toạ tại Bình Nhưỡng cùng với lãnh tụ Khmer láng giềng, ông Pol Pot.</p>
<p>(Đỗ Kh)</p>
<p>(1) Chính xác hơn là…Sư đoàn 308.</p>
<p>&#8211; : Sau khi Bộ chính trị và Quân ủy nhất trí giải phóng miền Nam năm 75, tướng Giáp đi Ninh Bình, ông quyết định đưa vào Nam Quân đoàn 1, <i>quân đoàn cuối cùng</i> của miền Bắc.</p>
<p>Khi ấy Quân đoàn 1 đang giúp dân đắp đê ở Ninh Bình theo kế hoạch nghi binh, nhận lệnh báo động, nhanh chóng theo trục Quốc lộ 1 hành quân vào Nam. <i>Chỉ để lại Sư đoàn 308 ở khu vực Hà Tây làm nhiệm vụ dự bị và bảo vệ Hà Nội</i>. (Huy Đức &#8211; Quyền bính) (…trích lục lại)</p>
<p><b>Lịch sử nhìn từ âm bản (1)</b></p>
<p>Hàng năm cứ vào tháng Tư, lúc cơn gió Hạ Lào khắc nghiệt xoáy về thành phố, những đám mây màu da cam lại bắt đầu phát sáng trên không, ký ức của tôi lại bừng sống dậy với những hình ảnh của một cuộc chiến không thể nào tàn.</p>
<p><i> </i>”<em>30-4-1975 là ngày miền</em> <em>Nam</em> <em>tiếp thu miền Bắc. Xe tăng Việt</em> <em>Nam</em> <em>Cộng Hòa đi từ năm cửa ô tiến vào đường Thanh Niên. Dân chúng đứng hai bên đường cầm cờ vàng ba sọc đỏ vẫy chào. Gió lùa lên từ hai phía hồ Tây và hồ Trúc Bạch phe phẩy những giải khăn tang trắng cột trước nòng đại bác. Những người lính thuộc nhiều binh chủng mặc dù đang bị thương, nhưng họ vẫn đứng nghiêm trong tư thế trình diện nhân dân Hà Nội. Xe tăng đi ngang Văn Miếu, vòng quanh chùa Một Cột rồi chuyển hướng tiến về phía quảng trường Ba Đình. Buổi trưa, tiếng xích sắt chiến xa nghiến rát bỏng trên mặt đường tráng nhựa.</em></p>
<p><em>Cả thế giới bàng hoàng chứng kiến lịch sử trên những màn ảnh TV đen trắng. Ngày tàn của cuộc chiến. cộng sản đã quy hàng. Nước Mỹ ngạc nhiên đến câm lặng và Kissinger buột mồm chửi “Fuck!”. Tiếng chửi đã được đài BBC thu lại, được cả tỷ lỗ tai loài người thu lại. Sau này ông ta đã viết khá nhiều cuốn sách để bôi xóa nó đi”.</em></p>
<p>(Đặng Thơ Thơ)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Hai ngày cuối với Không quân </b></p>
<p>Sáng ngày 29-4-1975, vẫn còn vài chiếc Tinh Long AC119K, cùng với hai khu trục A1 Skyraider, đã không ngừng lên xuống, nã đạn pháo, thả hỏa châu, soi sáng giúp quân bạn đang chiến đấu dưới đất suốt đêm qua cho đến khi chíếc Tinh Long của Trung úy Trang Văn Thành bị hỏa tiễn tầm nhiệt SA7 chém đứt cánh máy bay và bốc cháy trên bầu trời.</p>
<p>KQ Thái Ngùng ghi lại sự kiện như sau (*** Quân sử KQ trang 320-321):</p>
<p>Khoảng 7 giờ sáng, trên không phận phi trường Tân Sơn Nhất, có một chiếc phi cơ bay lượn rất thấp, tôi ươc lượng không quá 5 ngàn bộ. Đứng ở tầng trên của dãy nhà cư xá độc thân nhìn về hương phi đạo, không bị một vật gì cao cản trở tầm mắt, tôi đã nhận dạng được đó là chiếc AC119K của phi đoàn tôi.</p>
<p>Chiếc phi cơ từ hướng Hóc Môn bay dọc theo phi đạo hướng về phia Tổng y viện Cộng Hòa rồi lại vòng lại. Từ trên phi cơ những khẩu đại liên 6 nòng và cây đại bác 20 ly khạc những làn đạn đỏ rực, liên tục băn vào đầu địch quân đang tấn công vào vòng đai phi trường Tân Sơn Nhất&#8230;Máy bay bay vẩn vòng đi vòng lại trên không. Đạn từ trong phi cơ bắn ra, được trả lại bằng hỏa tiễn tầm nhiệt địa không SA7 từ dưới đất bắn lên…Phi cơ trúng hỏa tiễn:</p>
<p>Con tàu phát hỏa, chao đảo cố gắng gượng lấy lại thăng bằng nhưng rổi nổ tung và gãy làm đôi. Tôi thấy có một người nhảy dù ra, nhưng không biết vì lý do gì lại rơi thật nhanh. Đầu thân và một phần đuôi (C119 có hai đuôi) cùng rơi nhanh, riêng một phần đuôi còn lại vì nhẹ hơn nên lơ lửng, lượn qua lượn lại rơi xuống như một chiếc lá cuối mùa…</p>
<p><em><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2016/05/clip_image004-8.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" class="" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image004" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/05/clip_image004_thumb-150x148.jpg?strip=all" alt="clip_image004" width="321" height="121" border="0" /></a></em></p>
<p>Phi hành đoàn Tinh Long 7 gồm Trung úy Trang Văn Thành và điều hành viên 8 người hy sinh, Riêng xạ thủ khẩu đại liên 6 nòng nhảy dù được, tuy sông sót nhưng bị thương nặng. Phi cơ bị rơi trong vòng rào của phi trường Tân Sơn Nhất. Hài cốt của phi hành đoàn đã được bốc và cải táng năm 2010 do sự tìm kiếm và yểm trợ tài chánh của các thân hữu KQVN.</p>
<p>(Trần Lý)</p>
<p><b>&#8211; :</b> Sau trận Mùa hè đỏ lửa 1972, ta phát hiện Bắc quân được trang bị hỏa tiễn tầm nhiệt SA7.  Không quân VNCH chỉ dẫn đối phó bằng cách mỗi khi phát hiện bị hỏa tiễn rượt thì trên máy bay thả ra một trái chiếu sáng với nhiệt độ 2.500 độ C, hỏa tiễn bị đánh lừa bởi nhiệt độ của trái sáng. Tuy nhiên vấn đề là phi công luôn luôn phát hiện hỏa tiễn chậm và thả trái sáng muộn cho nên cũng như không. Vì vậy mới có chuyện phi cơ bay tít trên trời cao rồi bất thần nhào xuống thả đại với xác xuất một trúng hai trật, chấm dứt thời đại phi cơ làm chủ chiến trường.</p>
<p><b>Thất thủ Ninh Bình: 33 năm nhìn lại&#8230;(2)</b></p>
<p>Sáng 30-4, tân Chủ tịch nước mới vừa nhậm chức được hai ngày, Đại tướng Võ Nguyên Giáp ngồi trong dinh Chủ tịch đợi các chiến xa M48 của địch tiến vào thủ đô. Lời “thầm hẹn” của nhạc sĩ Phạm Đình Chương trở thành sự thật:</p>
<p>Hôm nao chiều mưa phơn phớt lạnh<br />
Hiến cả đời trai với sa trường<br />
Bao nhiêu chàng trai tay siết mạnh<br />
Thầm hẹn ngày về quê Bắc ơi!<br />
(Anh đi chiến dịch)</p>
<p>(…)</p>
<p><b>Lịch sử nhìn từ âm bản (2)</b></p>
<p>Ký ức của một người bị bắn vào đầu sẽ có nhiều sai lệch. Những gì tôi nhớ được đến ngày hôm nay, là do tôi cất giữ ở trong đầu. Nếu họ đập đầu tôi lúc đó, họ sẽ nhìn thấy…</p>
<p><i> </i>”<em>Xe tăng tiến từ từ đến quảng trường Ba Đình trong tiếng hô hào vang dội, rồi quay về phía lăng Hồ Chí Minh. Nhưng xe tăng </em><em>không ủi xập tường, không phá hủy lăng</em> <em>ông Hồ</em><em> như người ta tưởng. Quân đội miền Nam giữ đúng tư cách, họ giải giới vũ khí trong tinh thần nhân bản. Xe tăng ngừng giữa những hàng cây. Gió tháng tư hiu hiu ngọt mùi hoa sữa. Những ủy viên trung ương đảng cộng sản đang đứng dưới cột cờ. Họ đã bỏ quần áo đại cán thay trang phục thường dân. Họ gỡ lá cờ đỏ sao vàng xuống. Những người lính miền Nam đứng theo đội hình, lặng lẽ làm nhân chứng: Như quân đội miền Bắc chiến thắng đứng ở thế nghiêm chào kẻ bái trận là quân đội miên Nam trong cuộc Nội chiến Nam-Bắc Hoa Kỳ. Cuộc hạ kỳ nào cũng làm chúng ta bùi ngùi, dù lá cờ thuộc về phe nghịch. Đây là lúc gấp lại quá khứ để mở ra tương lai, như thể quá khứ chỉ là một mảnh vải hình chữ nhật, một mảnh vải che vừa vặn chiếc quan tài.</em></p>
<p><em>Đầu những người lính miền Nam vẫn còn quấn băng che lỗ đạn bắn vào màng tang hôm trước. Dáng họ lảo đảo. Có thể thấy máu vẫn còn chảy dưới mớ tóc bệt trán, bên dưới thái dương…”</em></p>
<p>(…)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Hai ngày cuối với Hải quân </b><b></b></p>
<p>Căn cứ Hải quân Tuyên Nhơn, nằm ở bờ nam kinh Đồng Tiến. Trước mặt là bờ kinh, làm bãi ủi cho các chiến đĩnh. Ngoài hàng rào là la liệt những ổ mìn do đội tác chiến diện tử thiết trí. Ở từ hàng rào này chạy suốt về hướng bắc là một rừng cây đước âm u, nơi xuất phát của các cánh quân Bắc Việt từ biên giới Miên tiến về, với chằng chịt những con lạch nhỏ. Sát ngang hàng rào, phía tay trái là sân đáp trực thăng. Nơi đồn trú của Liên đoàn đặc nhiệm 214-1, gồm Giang đoàn 43 ngăn chận và Giang đoàn 64 tuần thám. Đây là cái gai khó nuốt của địch, là trở ngại chết người trên con đường huyết mạch của địch.</p>
<p>Lúc ấy, Sài Gòn đang ở vào giai đoạn chót của cuộc chiến. Nhưng cả Vùng 4 vẫn còn yên. Căn cứ Tuyên Nhơn vẫn bình thản đợi chờ một cuộc thư hùng khác. Nhưng không, tất cả vẫn thật là êm ả dù áp lực của địch mỗi lúc mỗi khép lại dần, mỗi lúc mỗi thấy khốc liệt. Ánh mắt của dân trên các con đường qua lại, như có điều gì lo âu, e ngại. Các mặt trận khác mỗi lúc mỗi ác. Tới tối ngày 29-4-1975, tư lệnh phó lực lượng trung ương, Hải quân Đại tá Vũ Xuân An gọi cho Hải quân Thiếu tá Lê Anh Tuấn: Bằng mọi cách phải đưa đơn vị rời Tuyên Nhơn. Cùng lúc này, đại tá An cho Tuấn hay là &#8220;quân đội mình đã rã ngũ&#8221;. Tuấn liên lạc lại với Hải quân Thiếu tá Phạm Văn Tạo, chỉ huy phó liên đoàn đặc nhiệm có mặt tại Bộ tư lệnh Sư đoàn 9 BB, để được xác nhận: Bộ tư lệnh hải quân Sài Gòn và hạm đội đã ra đi.</p>
<p>Trước hoàn cảnh này, Tuấn, với tư cách sĩ quan thâm niên hiện diện tại căn cứ chiến lược Tuyên Nhơn đã họp các sĩ quan và các thuyền trưởng lại, tại hầm chỉ huy, và tuyên bố: Nhân danh tư lệnh hải quân, tôi tuyên bố giải nhiệm các đơn vị trong vùng trách nhiệm&#8230; mình phải ra khỏi đây, về Bến Lức (1), hoặc xuôi ra biển. Để có thời giờ thu xếp cuộc lui quân, đơn vị vẫn sinh hoạt điều hòa, các vọng canh vẫn cẩn mật.</p>
<p>(Hải quân Thiếu tá Lê Anh Tuấn &#8211; Phan Lạc Tiếp)</p>
<p>(1) Bến Lức thuộc Tuyên Nhơn cách Tân An thuộc tỉnh Long An 15 km. Bến Lức nằm trên sông Vàm Cỏ đổ vào sông Soài Rạp ra biển Đông.</p>
<p><b>Thất thủ Ninh Bình: 33 năm nhìn lại&#8230;(3)</b></p>
<p>Trên cầu Chương Dương vào lúc trưa, Đại uý Cao Xuân Huy tác giả về sau của cuốn hồi ký <i>Tháng Tư không gãy súng </i>thuật lại cuộc đổ bộ Vinh của sư đoàn thuỷ quân lục chiến ngồi trên thiết vận xa M113 đi đầu, thấy một chiếc xích lô thong thả từ thành phố đi ra. Trước cảnh lạ lùng này, anh nhảy xuống hỏi thanh niên ngồi trên xích lô: “Anh đi đâu?” &#8211; “Đi đâu, đi đâu bây giờ? Xong rồi… Xong hết rồi…&#8221;. Hành khách này trả lời. Nhưng anh không biết, người thanh niên trên xích lô trưa hôm đó sau lại là nhà thơ Đồng Đức Bốn, có hai câu cảm thán:</p>
<p>Xong rồi chẳng biết đi đâu<br />
Xích lô Bà Triệu qua cầu Chương Dương</p>
<p>11 giờ 30 ngày 30-4-1975, Lữ đoàn 3 Kỵ binh, lực lượng xung kích Quân đoàn 3 miền Nam đã ủi sập hàng rào sắt ngoài cổng dinh Chủ tịch và treo cờ vàng ba sọc đỏ trên nóc dinh. Chạy ngang Cột Cờ (vì đi lạc mất một lúc trong khi tìm Bắc bộ phủ), Đại uý Cao Xuân Huy thấy xác một thượng tá công an tự sát nằm ngay ngắn với khẩu Makarov bên cạnh, ông ta nằm ngay ngắn<em> dưới chân tượng Lê-nin đứng vẩn vơ, lạc lõng trước công viên </em>Bắc bộ phủ.</p>
<p>(…)</p>
<p><b>Lịch sử nhìn từ âm bản (3)</b></p>
<p>Ký ức tôi rất nhạy với mùi máu. Máu vẫn còn rỉ trong đất dù những xác chết đã ngưng thở. Chín cái xác người vẫn còn nằm đó, Đại tá Đặng Sĩ Vinh và vợ con, mỗi người một viên đạn ghim giữa sọ. Những lá cờ vàng ba sọc đỏ đang che phủ thi thể và họ trở thành biểu tượng bình lặng nhất của cuộc chiến. Nhưng mùi máu vẫn đi xuyên qua vải, xộc lên mũi, lạnh óc. Mà máu đâu chỉ là máu thôi? Máu còn là nước rửa tội. Có những tội lỗi chỉ rửa sạch được bằng máu. Sự phản bội chẳng hạn. Cho nên cần nhiều máu để lau chùi sự phản bội của một tập thể, của những hiệp ước, của trước và sau chiến tranh, của một vị tướng ngang tàng đến đứa con cầu tự. Sự phản bội không thuộc riêng ai, nó như thuộc tính của con người.</p>
<p>“<i>V</i><em>ậy là cuộc giải giới đã hoàn thành trong tình huynh đệ. Họ đã bắt tay nhau. Người chiến thắng đã đưa tay ra trước. Tấm hình người bộ đội và lính biệt động </em><a href="http://vanhocvietnam.org/magazine/mambots/editors/fckeditor/editor/fckblank.html#_ftn2">(1)</a> <em>đứng cạnh nhau đã xuất hiện trên trang nhất của các nhật báo toàn cầu. Báo Times còn tiết lộ họ chính là anh em ruột”</em><em> (nguồn tin lấy từ tờ Chính Luận – Sài Gòn). </em><i></i></p>
<p><b>Bên bờ chiến sử </b></p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2016/05/clip_image006-5.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" class="" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image006" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/05/clip_image006_thumb.jpg?strip=all" alt="clip_image006" width="305" height="209" border="0" /></a></p>
<p>Phóng viên Chu Chí Thành (TTXVN) tháng 4-1973 chụp tại cổ thành Quảng Trị 2 người lính hai bên chiến tuyến khoác tay nhau (trong dịp ngưng bắn?). Nhưng ông quên ghi tên tuổi và đơn vị. 40 mươi năm sau, từ tấm ảnh chụp người lính miền Nam vô danh được “huyền thoại” là thuộc Tiểu đoàn 5, Lữ đoàn 258 TQLC <a href="http://vanhocvietnam.org/magazine/mambots/editors/fckeditor/editor/fckblank.html#_ftn2">(1)</a>. Còn người lính miền Bắc đã…”sinh Bắc tử Nam” sau 75. Thêm một “huyền thoại” khác nữa: 2 người lính hai bên chiến tuyến là…hai anh em ruột.</p>
<p>(…)</p>
<p><b>Thất thủ Ninh Bình: 33 năm nhìn lại&#8230;(4)</b></p>
<p>Ở ngõ Hàng Hành, người ta thấy một người đàn ông trung niên mang quân phục miền Nam đứng vơ vẩn một lúc lâu (cạnh căn nhà giờ là càfé Nhân) rồi ngồi sụp xuống vỉa hè ôm mặt khóc. Vài người đánh bạo rụt rè ra hỏi chuyện “giặc nguỵ” này thì ông nức nở thật sự chứ không phải chỉ vì bị hành làm cay mắt.</p>
<p>Đó là nhạc sĩ Anh Bằng và thay vì trả lời ông run run cất giọng:<br />
Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết yêu<br />
Bao nhiêu mộng đẹp yêu thương thành khói tan trong mây chiều<i> </i><br />
(Nỗi lòng người đi)</p>
<p>Cố nhân của nhạc sĩ “Ai đứng trông ai ven Hồ, khua nước trong như ngày xưa”, hàng xóm cho biết là <i>giờ nay là</i> <i>nữ cứu thương trên chiến trường </i>và đã mịt mờ tăm tích nhưng nội chiến tương tàn Nam Bắc vừa mới kết thúc và Việt Nam hoà bình, thống nhất và độc lập sau 20 năm.</p>
<p>(…)</p>
<p><b>Lịch sử nhìn từ âm bản (4)</b></p>
<p><i> </i><em>Trong buổi lễ bàn giao ở trụ sở Trung ương đảng Hà Nội, người chiến thắng đã nói:</em></p>
<p><em>“Trong chiến tranh, chúng ta dù theo đuổi những lý tưởng khác nhau, đều đã hành xử như những người lính can trường. Nỗ lực này cần phải được ghi nhận từ mọi phía. Con cháu chúng ta khi học lịch sử Việt Nam sẽ không khen người thắng không chê kẻ bại, nhưng sẽ ghi nhận</em></p>
<p><em>sự can trường hay hèn nhát của những người tham chiến</em><i> </i>(1)<i>.<br />
</i><em>Các anh yên tâm. Chúng tôi sẽ không bắt giam những người cách mạng.</em><em> Bộ đội không phải đi học tập cải tạo, </em><em>không phải lao động khổ sai. Ngay cả đảng viên cũng vậy. Chúng tôi sẽ không đấu tố tổng bí thư, không chôn sống bộ chính trị. Những nhà tù sẽ phải phá đi. Ba mươi năm qua chúng ta đã chơi một trò chơi điên rồ, và cám ơn trời Phật, trò chơi đã chấm dứt.”</em></p>
<p>(…)</p>
<p>(1)<i> </i>Phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại trong hồi ký <i>Can trường trong chiến bại</i>.</p>
<p><b>Hai ngày cuối với Hải quân </b><b></b></p>
<p>Sáng hôm sau 30-4-1975 căn cứ Tuyên Nhơn vẫn như thường. Quốc kỳ VNCH vẫn phất phới trên cột cờ giữa sân đơn vị. Tất cả quân nhân các cấp toàn căn cứ và thân nhân kể cả đàn bà và trẻ nhỏ độ 250 người, các chiến đỉnh còn hoạt động được của cả 2 Giang đoàn 64 Tuần thám và Giang đoàn 43 ngăn chận là 23 chiếc. Mọi sửa soạn để ra đi rất bình tĩnh, chu đáo.</p>
<p>Vì thế, lúc gần trưa 30-4, khi Đại tướng Dương Văn Minh tuyên bố: Tôi yêu cầu anh em chiến sĩ VNCH hãy bình tĩnh ngưng nổ súng và ở đâu ở đó thì Tuấn theo chỉ thị nói trên, cho tất cả các</p>
<p>chiến đĩnh của căn cứ đều cắm một mảnh vải trắng trên cần ăng ten. Mọi người xuống tàu vào lúc 5 giờ chiều. Đoàn tàu đi rất chậm. Chiếc HQ 7773 do trung sĩ vận chuyển Nguyễn Văn Lực đi sau cùng. Chỉ độ nửa giờ đoàn tàu đã ra tới ngă ba kinh Đồng Tiến và sông Vàm Cỏ Tây.</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2016/05/clip_image008-1.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" class="" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image008" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/05/clip_image008_thumb-50x50.jpg?strip=all" alt="clip_image008" width="332" height="136" border="0" hspace="5" vspace="5" /></a></p>
<p>Theo anh Lực nói lại: &#8220;Tàu tiến thận trọng, lệnh ra là không được khai hỏa, nhưng phải sẵn sàng. Mà, lạ lùng, trước đây ở miệt này, khi đi tuần chỉ thấy bờ sông tối om. Sao mà hôm nay ở hai bên bờ, căn cứ Tuyên Nhơn, đèn đóm ở đâu mà trùng điệp như sao xa”. Vẫn theo lời anh Lực kể: Ông Tuấn dặn rất kỹ cố rời căn cứ, nếu không đến Bến Lức được thì ra biển. Trên các chiến đĩnh đồ ăn đem đủ cho 2 đến 3 tuần.<br />
Bỗng trên hệ thống âm thoại chỉ huy, có tiếng nói của Bắc quân xen vào rất rành rẽ: Các anh hãy buông súng xuống, lần lượt từng chiếc một ủi bãi vào bờ bên trái. Đoàn tàu khựng lại một chút và được lệnh cứ tiến. Tiếng nói của địch rạ hạn: Các anh hãy nghe lệnh của quân đội giải phóng, buông súng và ủi bãi, từng chiếc một. Đoàn tàu cứ đi. Rồi một trái đạn bùng lên, xanh lè ở phía trước đoàn tàu, và tôi nghe trên máy, (lời anh Lực), số 1 của 43 đã chết. Đoàn tàu như không còn linh hồn nữa, chùng lại. Tiếng lệnh của địch lại vang lên.</p>
<p>Tàu tôi, chiếc 7773, đi sau chót, sát bờ bên phải, thấy xe tăng Băc quân đen ngòm lội ở phía sau tàu, đang hướng đại bác vào tàu mình. Thế là đoàn tàu lần lượt ghé mũi vào bờ bên trái con sông Vàm Cỏ Tây, dưới ánh đèn pin ra lệnh của địch.</p>
<p>Lúc ấy, lúc ông Tuấn tự tử chết bằng súng Colt, vào khoảng 12 giờ đêm ngày 30-4-1975. Ông Tuấn tự tử ý ông không muốn đầu hàng địch, mà dù có hàng địch dễ gì chúng tha mạng cho ông. Xác ông Tuấn, theo anh em kể lại, vẫn lời anh Lực, được cuốn trong cuốn drap trắng, và tẩm liệm đêm hôm ấy, vào khoảng 3, 4 giờ sáng. Người ở gần ông Tuấn, lo lắng cho ông là anh Uy, trung sĩ vận chuyển Uy.</p>
<p>(Hải quân Thiếu tá Lê Anh Tuấn &#8211; Phan Lạc Tiếp)</p>
<p><b>&#8211; :</b> Hải quân Thiếu tá Lê Anh Tuấn là em của Thiếu tướng tư lệnh TQLC Lê Nguyên Khang.</p>
<p><b>Một cơn gió bụi</b></p>
<p>Sau này, gia đình Hải quân Thiếu tá Lê Anh Tuấn đã từ Mỹ về đến bờ sông Vàm Cỏ Tây tìm mộ thiếu tá Tuấn, thấy ngôi mộ đã được dân chúng tự động xây cất rất to, đẹp. Đào lên giấy tờ bọc plastic vẫn còn nguyên. Hài cốt thiếu tá Tuấn đã được hỏa thiêu và đem qua Mỹ. Gia đình hải quân đã làm lễ tiếp đón và truy điệu rất trang nghiêm. Nhiều bạn bè, đại diện các đoàn thể đến nghiêng mình trước di hài và di ảnh của một kẻ anh hùng đã chết không hàng giặc.</p>
<p><b>Thất thủ Ninh Bình: 33 năm nhìn lại&#8230;(5)</b></p>
<p>Nếu đây là chuyện xảy ra hơn 30 năm về trước và cho là như vậy, thì để tiếp tục chuyện này cho đến 2007, cần có một số câu hỏi phải trả lời.<br />
Việt Nam Cộng Hoà trong những năm sau đó (và đến giờ này) có áp dụng chính sách lý lịch và phân biệt hay không, chẳng những đối với những người trách nhiệm và ít nhiều hệ luỵ với chế</p>
<p>độ miền Bắc hay đảng cộng sản, mà đối với cả con cả cháu của họ?<br />
Đối với những người trách nhiệm nói trên, chậm chân không sang Trung Quốc, Bắc Triều Tiên kịp (hay tị nạn Cuba), <i>có lùa 30.000 từ cấp chuẩn uý trở lên vào các trại học tập</i> dân chủ tư</p>
<p>sản và gắng cải tạo họ thành doanh gia mẫu mực của kinh tế thị trường?<br />
Ngoài hơn 100.000 người vào những ngày cuối sang lánh nạn ở các nước xã hội chủ nghĩa, có hơn triệu người phải chôn dầu, đóng thuyền từ Bãi Cháy, Quảng Ninh <i>vượt biên tìm đường sống ở Liên Xô, Hung, Ba Lan, Tiệp hay không</i>?</p>
<p>(…)</p>
<p><b>Lịch sử nhìn từ âm bản (5)</b></p>
<p>Ký ức tôi vẫn chơi trò nhìn từ âm bản, nhìn bóng tối thành ánh sáng, nhìn trắng thành đen, nhìn cỏ xanh thấy ra máu đỏ. Tôi đang xoay chiều lịch sử trong thế giới của riêng mình, lịch sử của những người đã chết.</p>
<p>Dưới chân tượng người lính thủy quân lục chiến, những giọt máu cuối cùng của Nguyễn Văn Long đang trút xuống để viết lên lịch sử. Máu tuôn ồng ộc trên những bậc thang. Máu rút qua khe cỏ thấm giữa lòng đá, máu trở về đất và nằm mãi nơi đó. Pho tượng lính đã bị kéo xập. Gạch vụn đổ lên xác người trung tá. Mỗi người có cách viết lịch sử riêng của họ. Người ta đã bôi xóa nhiều thứ khỏi thực tại nhưng vẫn còn ký ức là vùng bất khả xâm phạm.</p>
<p>Bạn tôi Hồ Ngọc Cẩn đang đứng giữa phiên tòa công cộng. Anh đã dùng đến viên đạn cuối cùng. Đến phiên những người công an chỉa súng và bạn tôi trở thành tên phản động, thành tay sai đế quốc, thành kẻ phản bội nhân dân. Bản án của họ vội vã, lấp liếm, trá ngụy. Họ xử tử ngay giữa chợ. Hồ Ngọc Cẩn nói: Cho tôi mặc quân phục miền Nam, cho tôi chào lá quốc kỳ lần chót, rồi hãy <i>bắn tôi</i>.</p>
<p>Trong ba điều ước, người cộng sản chỉ cho anh điều cuối.</p>
<p><em>“Những anh hùng liệt sĩ hai miền đang gượng dậy từ cuộc mất máu. Lê Anh Tuấn </em><i><a href="http://vanhocvietnam.org/magazine/mambots/editors/fckeditor/editor/fckblank.html#_ftn5"><em>(1)</em></a></i><em> không nhặt khẩu Colt45 văng giữa lòng thuyền. Lê Văn Hưng nhét súng lục dưới nệm và bỏ quên ở đó. Lê Nguyên Vỹ bước tới tương lai, khẩu súng để lại dưới cột cờ của tổng hành dinh doanh trại<a name="_ftnref5_1168"></a>. Vũ khí không còn hữu dụng nữa. Họ cùng Phạm Văn Phú, Trần Văn Hai đang chỉ huy đoàn xe tăng đi ngược đường Trường Sơn, theo Quốc lộ 1 băng qua những vùng chiến thuật. Khắp nơi mặt đất nở hoa huệ trắng. Chỉ có mùi huệ tinh khiết mới át nổi mùi tử khí còn tươi roi rói.”</em></p>
<p>(…)</p>
<p>(1) Thiếu tá Lê Anh Tuấn sau lệnh bỏ súng của ông Dương Văn Minh vẫn hiên ngang chỉ huy đoàn chiến đỉnh về Bến Lức. Khi bị chận đêm 30-4-1975, không còn lối thoát, thiếu tá Tuấn tự sát bằng Colt45 không chịu đầu hàng (theo Hồ Văn Kỳ Thoại). Tướng Lê Văn Hưng trước khi tự vẫn đã dấu súng dưới nệm, vì sợ vợ ông tìm thấy súng sẽ tự vận theo (theo lời kể của bà Phạm Thị Kim Hoàng, vợ tướng Hưng). Tướng Lê Nguyên Vỹ đi về phía trailer (phòng ngủ riêng của ông) và đã tử sát ở đấy trong sân bộ tư lệnh tại Lai Khê. (Nguồn: Đặng Thơ Thơ)</p>
<p>(…)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Chuyện thời hậu chiến</b></p>
<p>Nhà có hai chị em. Năm 1954, chị ở lại với gia đình ngoài Bắc, em theo chồng vào Nam.</p>
<p>Chiến tranh. Thằng con người chị trúng nghĩa vụ quân sự đi bộ đội. Và đi B vào Nam chiến đấu. Thằng con người em dù trốn chui, trốn lủi, cuối cùng số phận cũng bắt phải cầm lấy khẩu súng, và là người lính của phía bên kia. Cả hai đều tử trận vào ngày 30-4-1975!</p>
<p>Đất nước thống nhất. Hai chị em (lúc này đã là hai bà lão) đều sống trong cảnh cô đơn. Em đón chị vào Nam ở, để chị em sớm tối có nhau.</p>
<p>Từ đó, hàng năm, cứ đến ngày 30 tháng Tư, người em lại vắng nhà&#8230;</p>
<p>(Website Tiền Vệ &#8211; <i>Truyện cực</i> ngắn hay <i>Truyện chớp</i>)</p>
<p><b>Thất thủ Ninh Bình: 33 năm nhìn lại&#8230;(6)</b></p>
<p><i>Hà Nội có phải đổi tên hay không</i>? Và đổi tên gì, tên ai?</p>
<p>(…)</p>
<p><b>Lịch sử nhìn từ âm bản (6)</b></p>
<p><i> ” </i><em>Ra đến Bắc, đoàn xe tăng biến thành xe tải đi khắp thành phố làng mạc. Những chiếc xe tải mang gạo, mang nhu yếu phẩm, mang thuốc men, </em><em>mang sách vở từ trong Nam ra phân phát cho dân miền Bắc</em><em>.</em> <em>Dân chúng ùa ra đường ăn mừng hòa bình. </em></p>
<p><em>Những người con bộ đội đã trở về. Lưu Quang Vũ ngồi viết những bài thơ khác, trên sân khấu của anh là những vở kịch khác và một định mệnh khác ngoài đời. Dương Thu Hương </em><em>(1)</em><em> nếu có khóc cũng sẽ là những giọt nước mắt khác, trên những vỉa hè khác, cho những thân phận khác. Truyền hình trên thế giới nhận định: “Đây mới là đổi đời thật sự. Người miền Bắc ăn mừng sự phá sản của chế độ tem phiếu và hộ khẩu. Họ ăn mừng ngày tàn của chế độ cộng sản. Từ nay trở đi, chuyện đấu tranh giai cấp chỉ là một khái niệm gớm ghiếc. Những từ ngữ ghê rợn như tịch thu nhà, đánh tư sản, kiểm kê, kinh tế mới… chỉ là những giải nghĩa lỗi thời trong tự điển. Cơn ác mộng của miền Bắc ba mươi năm kháng chiến chống Mỹ đã qua đi.”</em></p>
<p>(…)</p>
<p><em>(1) </em>&#8211; Việt Tide: Bà từng viết rằng, ngày 30-4-1975, khi các phụ nữ khác trong đoàn quân của bà trầm trồ trước sự phát triển vật chất của miền Nam thì bà ngồi khóc trên lề đường Sài Gòn.</p>
<p>Bà có thể nhắc lại tâm trạng của bà lúc đó?</p>
<p>&#8211; Dương Thu Hương: (thở dài) Khi đội quân chiến thắng vào Sài Gòn năm 1975, trong khi tất cà mọi người trong đội quân chúng tôi đều hớn hở cười thì tôi lại khóc. Vì tôi thấy tuổi xuân của tôi đã hy sinh một cách uổng phí.</p>
<p>Tôi không choáng ngợp vì nhà cao cửa rộng của miền Nam, mà vì tác phẩm của tất cả các nhà văn miền Nam đều được xuất bản trong một chế độ tự do, tất cả các tác giả mà tôi chưa bao giờ biết đều có tác phẩm bầy trong các hiệu sách, ngay trên vỉa hè.</p>
<p>Vào Nam tôi mới hiểu rằng, chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ vì nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người. Trong khi đó ở miền Nam mới là chế độ của nền văn minh. Và thật chua chát khi nền văn minh đã thua chế độ man rợ. Đó là sự hàm hồ và lầm lẫn của lịch sử.</p>
<p>(Đinh Quang Anh Thái phỏng vấn bà Dương Thu Hương tại Paris)</p>
<p><strong>30-4-1975, ký ức một người Hà Nội </strong></p>
<p>Trưa ngày 30-4-1975, tôi đang ngồi trong căng-tin của nhà máy Việt Trì thì tai nghe những tiếng la hét ầm ĩ từ phòng thông tin của nhà máy: &#8220;Thắng rồi&#8230;Ta thắng rồi&#8230;Dương Văn Minh đầu hàng rồi&#8221;. Tôi bỏ dở cốc nước chè chạy vội ra xem chuyện gì. Một công nhân cho biết tin vừa nhận được qua đài Tiếng nói Việt Nam là quân ta đã chiếm được dinh Độc Lập, bắt Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng. Những ngày trước đây, kể từ sau trận đánh vào Buôn Mê Thuột, nhà máy đã làm một áp phích lớn vẽ bản đồ của 44 tỉnh miền Nam và dựng nó gần cổng ra vào. Trên tấm áp phích đó, cứ mỗi khi được tin quân ta giải phóng thêm tỉnh nào thì lập tức tỉnh đó được vẽ một lá cờ đỏ sao vàng ngay. Tôi đã thấy càng lúc càng nhiều lá cờ đỏ xuất hiện trên tấm áp phích chỉ trong một thời gian ngắn đến nỗi phải hoài nghi, dù không nói ra mặt. Bây giờ, điều nghi ngờ đó đã thật rồi. Thôi từ nay là hết chiến tranh và những thanh niên miền Bắc sẽ không còn phải xuôi Nam chiến đấu trong chiến trường B nữa. Và điều quan trọng tôi sẽ gặp lại người cha ruột đã xa cách gia đình tới 21 năm rồi. Tôi phóng nhanh xe đạp về nhà báo tin cho mẹ tôi biết ngay tin vui này.</p>
<p>Về đến nhà, dắt xe vào trong, chưa kịp khoe tin thì mẹ tôi đã nói: Sao nay con về sớm vậy? Bộ đội vào tới Sài Gòn rồi con biết chưa?. Mẹ tôi ngồi ở bàn sát cửa sổ như đang suy nghĩ điều gì. Tôi cởi áo đi ra giếng nước sau nhà múc nước tắm sau đó quay trở vào mà vẫn thấy mẹ tôi ngồi yên tại chỗ. Tôi bước lại bên bà, hỏi: U sao vậy? Và tôi tiếp: U cảm hay sao nói cho con biết với. Nhưng bà nhìn tôi, miệng cười mỉm, trả lời: Không con. Mẹ khoẻ mà&#8230; có điều mẹ đang nghĩ về thầy con thôi. Không biết thầy con bây giờ trong đó đang như thể nào?</p>
<p>Nghe thế, tôi đi mở cái tủ gỗ gụ cũ, lục lọi rồi lấy ra tấm ảnh đen trắng chụp chân dung cha tôi đã cũ, ố vàng. Trong ảnh, một người đàn ông mặc bộ đồ trận rằn ri, ánh mắt nghiêm nghị, đứng cạnh lề đường một khu nào đó trong thành phố Sài Gòn của miền Nam. Tấm ảnh này là tấm duy nhất, gia đình nhận được từ cha tôi, khi hai miền Nam-Bắc còn liên lạc được bằng thư từ.</p>
<p>(<em>Viết để nhớ lại ngày 30-4-1975 &#8211; Phạm Thắng Vũ)</em><i></i></p>
<p><b>Thất thủ Ninh Bình: 33 năm nhìn lại&#8230;(7)</b></p>
<p>Chuyện đổi tiền bắt buộc phải xảy ra, nhưng sẽ xảy ra như thế nào? Có chiến dịch kiểm kê tài sản, <i>tịch thu văn hoá phẩm, đốt sách</i> không? Lực lượng Xung kích Quân đoàn 3 miền Nam ngày nay có làm chủ toàn thể khu vực Gia Lâm, <i>tịch thu nhà cửa của quân nhân chế độ cũ</i> ở Phố Lính để rầm rộ kinh doanh? <i>Vợ con của thành phần chế độ cũ này có phải đẩy đi kinh tế mới, đào đắp thuỷ lợi </i>không?<i></i></p>
<p>Nói chung và nói rộng, vào ngày hôm nay, 2007, thì về mặt dân chủ chính trị, tự do xã hội, quyền lợi lao động, về mặt giáo dục, y tế công cộng, về mặt công bằng, về cách biệt giàu nghèo, về mặt tội ác, tiêu cực xã hội…đất nước đang ở vị trí nào?</p>
<p>(…)</p>
<p><b>Lịch sử nhìn từ âm bản (7)</b></p>
<p>Buổi chiều trên dốc Thiên Thu, những vong linh ở nghĩa trang Quân Đội bay chập chờn trên đỉnh núi Châu Thới, những vong linh nhìn về trời và hát vu vơ: <i>Chiều lên trên đồi cao, hát trên những xác người, tôi đã thấy…tôi đã thấy…</i>trên cuộc đời, những hiện thực này không phủ nhận nhau. Những hiện thực của âm và dương không triệt tiêu nhau. Chúng cùng tồn tại.</p>
<p><i> </i>”<em>Ủy ban quân quản miền Nam quyết định </em><em>lưu giữ tất cả những di tích văn hóa lịch sử </em><em>dựng lên từ thời cộng sản. Họ cũng quyết định </em><em>không đốt sách</em><em>, dù là sách tuyên truyền, dù là nghệ thuật minh họa. Tượng Lê-nin đứng gác ở công viên Hà Nội cũng để nguyên. Những bài ca từ thời hồng và chuyên cũng vậy. Âm nhạc sẽ đi qua cánh đồng thời gian không biên giới. Tiến quân ca vẫn cứ là niềm tự hào của nhiều thế hệ từng tham gia kháng chiến”.</em></p>
<p>(…)</p>
<p><strong>30-4-1975, ký ức một người Hà Nội </strong></p>
<p>Cha tôi, một chiến binh trong lực lượng Dù thuộc quân đội Liên Hiệp Pháp. Những ngày cuối cuộc chiến năm 1954, đơn vị ông được máy bay thả xuống tiếp sức cho căn cứ Điện Biên Phủ đang bị vây hãm để không lâu sau đó, căn cứ này lọt vào tay bộ đội Việt Minh. May mắn thoát chết, bị bắt làm tù binh rồi ông được trả tự do và theo đơn vị quay về Hà Nội. Những ngày cuối của Hiệp định Geneva, ông đã cho người về quê Sơn Tây đón mẹ con tôi lên để cùng ông vào miền Nam nhưng chuyện không thành, ông phải theo đơn vị vào Sài Gòn trước. Thực ra thì chuyến đi ra Hà Nội khi đó, đoàn người làng có hai mẹ con tôi đã bị cán bộ Việt Minh lừa đưa vào tạm trú trong khu rừng vắng. Khi đoàn người được phép ra khỏi rừng thì thời hạn di cư đã qua, gia đình bị chia cắt từ đó lúc tôi mới được gần một tuổi.</p>
<p>Lúc đó, tôi cũng không hiểu tại sao? Có khi về hỏi mẹ thì bà chỉ nói: Thôi con, họ không cho thì về nhà với mẹ. Rồi những năm chiến tranh lan ra miền Bắc. Máy bay Mỹ ném bom nhiều nơi và ngay ở cả Hà Nội nữa. Những đợt bom chùm tuốt từ trên mây rải xuống đã phá huỷ nhiều khu phố lớn. Cảnh người chết mất xác trong các đống gạch vụn cùng lửa khói cháy nghi ngút khiến ai cũng sợ. Đành phải kéo nhau đi sơ tán về quê nội ở tỉnh Sơn Tây cũ. Trong làng có nhiều đứa thiếu niên trạc tuổi tôi và tôi rất muốn làm bạn chơi với chúng nhưng chúng không thích tôi ra mặt. Trẻ em đã vậy mà người lớn cũng nói xấu, dèm sau lưng mẹ tôi mỗi khi họ gặp mặt nhau trên đường hoặc trong phiên chợ. Tôi đành kết bạn với mẹ thôi, không ai khác.</p>
<p>(…)</p>
<p><b>Thất thủ Ninh Bình: 33 năm nhìn lại&#8230;(8)</b></p>
<p>Việt Nam Cộng Hoà (thống nhất), sau nhiều lần bầu cử tự do và đa nguyên, tưởng đã được quân đội để yên, lại vừa có mấy cha nội nào đó đảo chánh. Thủ tướng là người giàu nhất nước vừa mới phải ra đi sau khi bán công ty viễn thông do ông thành lập (FPT) với giá 1,2 tỉ USD cho Singapore. Đĩ thì đầy đường, rất là vui mắt, nhưng về mặt phát triển kinh tế, chẳng ai lo hay phải ngồi bàn ra cãi vào là chẳng bao giờ hay bao nhiêu năm nữa mới đuổi kịp một quốc gia bên cạnh như là Thái Lan.</p>
<p>(Đỗ Kh)</p>
<p><b>Lịch sử nhìn từ âm bản (8)</b></p>
<p>Ký ức tôi rất dễ bị tổn thương với những bài ca. Những lời ca vẫn làm tôi phải khóc như một đứa bé thơ: <em>Này công dân ơi đứng lên đáp lời sông núi, đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống…</em>Bài ca này anh em chúng tôi sẽ hát trước giờ cố thủ, trước khi kề súng sát màng tang.</p>
<p><i>“</i><em>Hai tướng Nguyễn Khoa Nam và Lê Văn Hưng đã thành công trong việc cố thủ Cần Thơ, đã giữ được quân khu 4 và bảo toàn tỉnh Chương Thiện. Đoàn xe khởi hành đúng ngày 30 tháng Tư. Theo hoạch định, họ sẽ đến Hà Nội kịp thời để dự đám tang tập thể trên phố Khâm Thiên vì bom đạn. Cả trăm cỗ quan tài đặt tạm trên nền hố bom, gạch vỡ. Nến chảy leo lét giữa những căn hộ không mái không tường.</em> <em>Sáu giờ chiều là lúc cửa âm mở, là lúc những vong linh nhập vào làn khói đang bốc lên uể oải để hiện nguyên hình dạng. Khói hương lẩn khuất đọng giữa lối đi trên phố, không tan.</em></p>
<p><em>Đám tang xong, hai tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng và tướng Ngô Quang Trưởng cùng những người lính miền Nam quay về Huế thăm nấm mồ tập thể từ sau cuộc thảm sát Mậu Thân 1968. Đoàn xe của họ sẽ lại băng ngang vĩ tuyến 17, nhiều lần như vậy…</em></p>
<p><em>Ranh giới ấy bây giờ chỉ còn là một đường nứt đã phai mờ.</em></p>
<p>(Đặng Thơ Thơ)</p>
<p>Tác giả sinh năm 1962, sang Hoa Kỳ năm 1992, là<b> </b>cháu ngoại của nhà văn Hoàng Đạo trong nhóm Tự lực văn đoàn. Hiện đang chủ trương tạp chí Da Màu.</p>
<p><b>Góp nhặt…ghi chép…</b></p>
<p>Về con số tử vong của hai miền Nam Bắc có quá nhiều sai biệt qua những nguồn khác nhau. Năm 2015, một nhà báo người Đức tên Uwe Siemon Netto với 53 năm kinh nghiệm phóng viên. Ông viết một quyển sách có tựa đê: <i>A reporter’s love for the abandoned soldier of Viet Nam</i>.</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2016/05/clip_image010-1.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" class="" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image010" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/05/clip_image010_thumb-50x50.jpg?strip=all" alt="clip_image010" width="177" height="264" border="0" /></a></p>
<p>Phần dẫn nhập ông viết: Hơn 40 năm đã trôi qua kể từ khi tôi giã biệt Việt Nam. Vào năm 2015, mọi người sẽ chứng kiến kỷ niệm lần thứ 40 ngày “30-4-1975”. Với cương vị một người công dân Đức, tôi không can dự gì đến cuộc chiến này. Nhưng, nhằm chú giải cho cuốn sách kinh điển của nhà báo, tương tự như các phóng viên kỳ cựu có lương tâm, lòng tôi đã từng và vẫn còn đứng về phía dân tộc Việt Nam quá nhiều đau thương….</p>
<p>(…) Sau trận Xuân Lộc, tôi về nước nên không có mặt lúc Sài Gòn thất thủ, sau khi toàn bộ các đơn vị quân lực VNCH đã chiến đấu một cách mãnh liệt và quả cảm, mặc dù <i>họ biết rằng họ không thể thắng</i> hay <i>sống sót sau trận đánh cuối cùng</i> này. (…)</p>
<p>(…) Về con số tử vong, ông đưa ra rất nhiều tác giả mọi giới, nhưng theo nhà học giả chính trị Rudolf Joseph Rummel của trường Đại học Hawaii. Ngũ Giác Ðài ước tính khoảng <i>950.000 lính Bắc Việt</i> và hơn <i>200.000 lính VNCH</i> đã ngã xuống ngoài trận mạc…(…)</p>
<p>(…) Tôi đang ở Paris, lòng sầu thảm khi tất cả những chuyện này xẩy ra và tôi ước gì có dịp tỏ lòng kính trọng năm vị tướng lãnh VNCH trước khi họ quyên sinh lúc mọi chuyện chấm dứt, một cuộc chiến mà họ đáng lý họ phải thắng: Lê Văn Hưng (sinh năm 1933), Lê Nguyên Vỹ (sinh năm 1933), Nguyễn Khoa Nam (sinh năm 1927), Trần Văn Hai (sinh năm 1927) và Phạm Văn Phú (sinh năm 1927). (…)</p>
<p>(Uwe Siemon-Netto)</p>
<p>Uwe Siemon-Netto sinh năm 1936 tại Leipzig, Germany. M.A. thần học hệ Lutheran tại Chicago. Ph.D. thần học và xã hội học về tôn giáo tại đại học Boston.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>30-4-1975, ký ức một người Hà Nội </strong></p>
<p>Hai tháng sau cái ngày chiến thắng, mẹ tôi về lại Hà Nội để dò hỏi tung tích cha tôi. Trong họ hàng bên nội, có người vào miền Nam công tác và qua đó đã tìm được các thân nhân theo các địa chỉ cũ năm xưa. Khi quay trở lại miền Bắc, người bà con này gặp bà và cho biết các tin tức về cha tôi. Theo đó, ông là một sĩ quan quân đội cao cấp của chính quyền miền Nam và đã phải bị học tập cải tạo. Quay về nhà mẹ tôi cho biết tin và khi kể chuyện, không hiểu vì nghĩ đến việc học tập cải tạo rồi liên tưởng những cảnh tù tội của cha tôi năm xưa lúc bị bắt làm tù binh hay vì cám cảnh thân phận mà mẹ tôi khóc nhiều. Tôi dỗ mẹ đừng khóc rồi tôi cũng khóc theo mẹ.</p>
<p>Mẹ tôi rất muốn đi vào miền Nam ngay để biết thêm các tin tức về thầy tôi nhưng khi đó giao thông hai miền còn khó khăn lắm, vẫn còn hạn chế chỉ ưu tiên cho những cán bộ đi công tác. Đường xuyên Việt nhiều nơi phải sửa chữa và đường sắt nhiều vùng đã mất hẳn từ lâu. Chiến tranh bao năm trời đâu phải một sớm một chiều thông đường ngay được. Tôi vẫn tiếp tục đi làm, cũng không hề nghĩ là có ngày mình đặt chân vào miền Nam và thành phố Sài Gòn.</p>
<p>Tin về miền Nam đói nghèo, lạc hậu do chính miệng những bộ đội miền Bắc từ chiến trường miền Nam trở về kể lại trong các tháng trước đã làm con số người xung phong chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Ai cũng sợ khổ, sợ phải xa gia đình để đến công tác trong vùng đất đói nghèo đến nỗi cả bát ăn cơm cũng không có mà ăn. Kết quả, nhà máy phải họp và xét hoàn cảnh từng người một để chỉ định bắt buộc. Tên tôi đã được họ chọn, đành phải chuẩn bị hành</p>
<p>lý để theo đoàn vào Nam dù tôi không muốn.</p>
<p>(…)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Giã từ vũ khí </b></p>
<p>&#8211; Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ (1933-1975), tư lệnh Sư đoàn 5 BB. Sau khi nghe kêu gọi buông súng của ông Minh. Vào lúc 12 giờ 30 trưa ngày 30-4, ông dùng khẩu Beretta 6.35 bắn từ phía dưới cằm lên đầu <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%B1_s%C3%A1t">tự sát</a> tại trailer (phòng lưu động của quân đội) dùng làm phòng ngủ riêng cho tư lệnh tại bộ tư lệnh ở Lai Khê (Bến Cát, Bình Dương).</p>
<p>Thi thể ông được an táng trong rừng cao su gần doanh trại bộ tư lệnh. Ngày 2-5-1975 được thân nhân bốc đem về cải táng ở Hạnh Thông Tây, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/G%C3%B2_V%E1%BA%A5p">Gò Vấp</a>. Năm 1987, nghĩa trang Hạnh Thông Tây có lệnh giải toả. Hài cốt ông được thân mẫu (đã ngoài 80 tuổi) cùng với người em là Lê Nguyên Quốc từ miền Bắc vào, đến nghĩa trang Hạnh Thông Tây bốc mộ và hỏa thiêu, đem về thờ ở nhà từ đường họ Lê Nguyên tại nguyên quán số nhà 151 đường Lê Lợi, thị xã <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/S%C6%A1n_T%C3%A2y">Sơn Tây</a>. Sau đó, tái cải táng xây lăng mộ tại nghĩa trang của gia tộc ở đây.</p>
<p>&#8211; Chuẩn tướng Trần Văn Hai (1927-1975), tư lệnh Sư đoàn 7 BB. Trước sự kiện 30-4 khoảng hơn mười ngày, ông Thiệu cho máy bay riêng xuống rước chuẩn tướng Hai di tản nhưng ông từ chối. Chiều ngày 30-4 sau khi cho binh sĩ rời quân ngũ theo lệnh của ông Minh, nửa đêm về sáng ngày 1-5-1975, ông đã dùng thuốc Optalidon (uống nguyên ống 20 viên) tự vẫn trong phòng làm việc tại căn cứ Đồng Tâm, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/M%E1%BB%B9_Tho">Mỹ Tho</a>. Thi thể ông được thân mẫu và bào đệ đem về mai táng tại nghĩa trang chùa Vĩnh Nghiêm, Sài Gòn ngày 2-5-975.</p>
<p>Buổi chiều trong ngày, trước khi uống thuốc tự vẫn, ông trao cho sĩ quan tuỳ viên số tiền 70.000 đồng nhờ đưa cho người mẹ già của mình. Đây cũng là tháng lương cuối cùng của một người lính suốt đời liêm chính.</p>
<p>&#8211; Chuẩn tướng Lê Văn Hưng (1933-1975), tư lệnh phó Quân đoàn IV tự sát tại tư dinh ở trại Lê Lợi, Cần Thơ 8 giơ 45 tối ngày 30-4.</p>
<p>&#8211; Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam (1927-1975), tư lệnh Quân đoàn IV tự sát bằng súng Colt trong trailer ở bộ chỉ huy quân đoàn, trước bàn thờ Phật khoảng 7 giờ 30 sáng ngày 1-5.</p>
<p><b>&#8211; :</b> Trước đó, Thiếu tướng Phạm Văn Phú tự sát tại Sài Gòn trưa ngày 29-4.</p>
<p><b>Tàn cuộc binh đao</b></p>
<p>&#8211; Thiếu tướng Đoàn Văn Quảng, tư lệnh lực lượng đặc biêt, chỉ huy trưởng trung tâm huấn luyện Quang Trung chết trong tù ở trại khổ sai Nam Hà ngày 6-3-1984.</p>
<p>9 ngày sau…</p>
<p>&#8211; Chuẩn tướng Bùi Văn Nhu, tư lệnh phó tổng nha cảnh sát quốc gia bị đưa đi tập trung khổ sai và chết tại trại tù Nam Hà, ngày 15-3-1984.</p>
<p><b>Ngộ Không</b></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2016</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ngo-khng-tap-ghi-sau-40-nam-ky-16/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Không :Tạp Ghi Sau 40 Năm – Kỳ 15</title>
		<link>https://t-van.net/ngo-khong-tap-ghi-sau-40-nam-ky-15/</link>
					<comments>https://t-van.net/ngo-khong-tap-ghi-sau-40-nam-ky-15/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 10 May 2016 13:11:38 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Ngộ Không: tạp ghi sau 40 năm]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không; tạp ghi sau 40 năm]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=27054</guid>

					<description><![CDATA[Pháo gãy nòng tháng Tư Sau trận Khánh Dương, Ban Mê Thuột, Tiểu đoàn 2 Pháo binh dù về hậu cứ Nguyễn Huệ, Long Bình để tái bổ xung, và được tái trang bị 18 khẩu đại bác 105 ly kiểu cũ M2A1 từ thời Đệ nhị thế chiến, tôi được chỉ định thành lập [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><strong>Pháo gãy nòng tháng Tư </strong></p>
<p>Sau trận Khánh Dương, Ban Mê Thuột, Tiểu đoàn 2 Pháo binh dù về hậu cứ Nguyễn Huệ, Long Bình để tái bổ xung, và được tái trang bị 18 khẩu đại bác 105 ly kiểu cũ M2A1 từ thời Đệ nhị thế chiến, tôi được chỉ định thành lập lại pháo đội B2 với quân số gần 100 người trong đó khoảng 20 người từ pháo đội chỉ huy đưa sang. Tất cả còn lại bổ xung toàn là lao công đào binh và quân phạm đủ gốc lính từ quân lao Gò Vấp.<br />
Một tuần sau, ngày 29-4-1975, lệnh hành quân đưa ra, về Saigon bảo vệ thủ đô.</p>
<p>Thông thường một pháo đội dù đóng quân thì có một đại đội dù tác chiến bảo vệ, lần này thì không, lệnh trên cho biết phải tự bảo vệ. Như vậy cho thấy tình hình quân số trừ bị của dù coi như cạn. Từ Long Bình theo xa lộ Đại Hàn, pháo đội tôi chiếm đóng sân vận động Cộng Hòa ở đường Nguyễn Kim vào xế trưa, người quản nhiệm sân vận động ngơ ngác khi thấy pháo đội tôi kéo vào sân. Sau khi hướng bắn đã sẳn sàng một vòng cung về phía sư đoàn nhảy dù, Bộ tổng tham mưu, và dinh Độc Lập, tôi cho lệnh đóng cửa sân lại. Thượng sĩ Thọ, thường vụ pháo đội nói đùa với tôi: Trung úy định tử thủ.</p>
<p>Tôi trả lời không vào câu hỏi: Tình thế lộn xộn, coi chừng địch trà trộn xin vào sân, nên phải đóng cửa, anh cho con cái lên hết trên khán đài, dàn súng cá nhân và lựu đạn sẳn sàng, còn các các khẩu thì trực tại chổ, sẳn sàng tác xạ. Hơn 2.000 quả đạn pháo tôi cho tháo ra khỏi thùng và gắn đầu nổ. Lúc này tôi cũng hơi lo, phát pháo đầu tiên của pháo đội để bảo vệ thủ đô sẽ do những pháo thủ trời gầm đất lở mới vào nghề như thế này bắn thật đã. Ngoài các khẩu trưởng và ngắm viên là có kinh nghiệm. Tất cả còn lại toàn tay mơ, pháo đội tôi toàn là thứ dữ từ quân lao xá vào giờ chót đưa về, tôi cũng không có thì giờ để mà hỏi han.</p>
<p>Đến trưa thì có một pháo đội Biệt động quân biên phòng do một vị thiếu tá chỉ huy kéo vào xin đóng quân. Tôi gọi tiểu đoàn tôi báo cho biết rồi mời vào. Tôi cũng xin lỗi vị chỉ huy rồi nói thẳng, nếu có gì lộn xộn xin đừng chạy về hướng pháo đội tôi vì tôi sẻ trực xạ nếu tụi nó đánh vào. Để tránh bị tụi nó trà trộn, coi như hai vị trí pháo biệt lập, cũng không liên lạc.</p>
<p>Vị thiếu tá lại hỏi tôi như thượng sĩ thường vụ pháo đội: Trung úy định tử thủ.</p>
<p>(Nguyễn Văn Lập)</p>
<p><strong>Sài Gòn 30-4-1975</strong></p>
<p>Buổi tối, tôi leo lên sân thượng. Trời tối đen, có một sự im lặng sâu thẳm. Nhưng trong bóng đêm, tôi đả nghe rõ được tiếng của im lặng. Cái im lặng của cõi đêm, của một trống rỗng, của một hố thẳm, của một mảnh đời đang sống đã khép lại. Chỉ mới hôm qua, những chiếc trực thăng còn lập lòe trên các mái nhà và biệt tăm ngay sau đó vào đêm tối. Rồi chốc lát đã mất hút. Niềm hy vọng như cạn mòn.</p>
<p>Một triệu, một trăm mười ngàn (1.110.000) binh sĩ VNCH đâu rồi? Mà Neil Sheenan trong Innocence perdu đã từng nói: Cette guerre que nous n’aurons jamais gagné (Trận chiến mà chúng ta đã chưa hề bao giờ thắng). Mà nay chúng ta chuẩn bị một cuộc hành trình qua sa mạc với khô héo cạn kiệt hy vọng, một hành trình gian khổ với đầy bất trắc đe dọa, hiểm nguy.</p>
<p>Trưa 30-4-1975, ngồi một mình thấy tương lai vô định. Lòng buồn vô tả. Nước mắt tuôn trào không ngăn được. Bụng tự nhiên nhói lên từng lời. Vui chưa thấy, lo thì như ứa tràn. Chẳng hiểu chính quyền mới đối xử ra sao? Đó cũng là mối lo của tất cả mọi nguời. Chiến tranh đã chấm dứt. Đáng nhẽ phải vui mà hóa buồn. Hết rồi cảnh chạy đôn chạy đáo tìm đường thoát thân. Có sự im lặng nặng nề như một con vật chờ chết trong nỗi tuyệt vọng. Ván bài chơi đã xong. Ngoài đường, 8 chiến xa T54 đã vào thành phố trên đại lộ Thống Nhất. Nhiều nhà đóng cửa rồi ngó ra xem động tĩnh. Chỉ có một thiểu số người dám ra đường đứng thản nhiên nhìn đoàn xe cộ đi qua. Bộ đội tỏ ra ngơ ngác và kỷ luật. Họ dơ tay vẫy chào ngượng ngập.</p>
<p>Mãi vào lúc 4 chiều ngày 30-4, ba vị thuyết khách của ông Dương Văn Minh, thuộc thành phần thứ ba là Luật sư Trần Ngọc Liễng, Giáo sư Châu Tâm Luân và Linh mục Chân Tín mới từ trại David Tân Sơn Nhất ra về. Các ông là những người được tướng Dương Văn Minh cử làm đại diện vào trại David chiều ngày 29-4-1975 để thuyết phục những người của mặt trận với lời yêu cầu họ đừng đánh phá Sàigòn. Các tướng Nguyễn Anh Tuấn và Đại tá Võ Đông Giang đã hứa chỉ pháo chút ít để làm áp lực với tướng Dương Văn Minh mà thôi. Quân Bắc Việt đã tiến quân vào Tân Sơn Nhất nên các ông bị kẹt lại cho đến chiều 30-4 mới ra về được.</p>
<p>(Nguyễn Văn Lục)</p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong>LĐ81 Biệt cách nhảy dù</strong></p>
<p>Mặc dù đã có lệnh đầu hàng của Tổng thống Dương Văn Minh nhưng sự chiến đấu của nhiều đơn vị thuộc quân lực VNCH vẫn tiếp tục. Diễn tiến của Bộ chỉ huy 3 chiến thuật thuộc LĐ81/BCND được đúc kết như sau: Ngày 30-4-1975 lúc 2 giờ sáng, trận chiến tại cổng phi trường Tân Sơn Nhất, Bộ tổng tham mưu vẫn tiếp tục giữa địch quân và các đơn vị của LĐ81/BCND. Các chốt của LĐ81/BCND phía sau cổng Bộ tổng tham mưu đã dùng lựu đạn mini để ngăn chặn các toán đặc công của địch quân đang tìm cách đột nhập. Lựu đạn và chất nổ được xử dụng tối đa, sau 1 giờ rưỡi giao tranh địch quân không tiến được đành rút lui khỏi cổng sau của Bộ tổng tham mưu.</p>
<p>Đến 6 giờ sáng, 5 chiến xa T54 và quân tùng thiết của địch quân trên đường tiến vào Sài Gòn đã bị lực lượng của sư đoàn nhẩy dù và Liên đoàn 81/BCND chận đánh trước cổng phi trường Tân Sơn Nhất, 4 chiến xa của địch quân bị phá huỷ, chiếc sau cùng quay trở lại chạy thoát.</p>
<p>7 giờ sáng một đoàn chiến xa khác của địch hướng vào cổng chính Bộ tổng tham mưu. Một toán của LĐ81/BCND phòng thủ trên cao ốc đã dùng M72 bắn cháy chiếc đầu tiên, chiếc thứ 2 đã dùng súng đại pháo trên pháo tháp bắn vào cao ốc làm tê liệt phòng tuyến thủ đó, nhưng chiến xa này cũng bị bắn cháy trước cổng Bộ tổng tham mưu do Biệt đội 817.</p>
<p>10 giờ 30 sáng Đại úy Nguyễn Hữu Hưng chỉ huy phó Bộ chỉ huy 3 chiến thuật của LĐ81/BCND quyết định rút đơn vị khỏi Bộ tổng tham mưu, trở về Biên Hoà để tái hợp với bộ chỉ huy hành quân của LĐ81/BCND. Trên đoàn quân xa gồm những quân nhân của tất cả các đơn vị còn muốn chiến đấu, trong đoàn quân xa này được tăng cường thêm 8 chiếc thiết giáp M41 và M113 từ phi trường Tân Sơn Nhất về phối hợp. Nhưng khi đoàn xe đang di chuyển trên đường Võ Di Nguy, Phú Nhuận thì bị phục kích, chiếc quân xa đầu tiên bị bắn cháy, đoàn xe bị nghẹt lại, đại úy Hưng cho lệnh anh em bỏ đoàn quân xa và tìm đường thoát thân.</p>
<p>(Đặc san GĐ81/BCND)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Giã từ vũ khí</strong></p>
<p>An Lộc địa sử ghi chiến tích</p>
<p>Biệt cách dù vị quốc vong thân</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Pháo gãy nòng tháng Tư</strong><br />
Đến lúc này thì sân Cộng Hòa đã trở thành một điạ điểm tìm đơn vị bị thất lạc. Hàng trăm nếu không nói là hàng ngàn binh lính, sĩ quan của nhiều quân binh chủng mà nhiều nhất là lính Biệt khu thủ đô (1) bị lạc đơn vị nghe tin nhảy dù về sân Cộng Hòa nên họ tự động tìm đến. Họ đến tìm đơn vị không thấy rồi lại đi, không hiểu sao họ biết có chúng tôi ở đây mà tìm đến, có người còn súng có người không, đa số là tay không lặng lẽ đi ngang pháo đội tôi nhìn vào, các pháo thủ của tôi thì súng cá nhân đã lên đạn đề phòng.<br />
Đến tối tôi cho đóng cửa sân lại rồi leo lên khán đài chính nhìn về phía Sài Gòn lòng buồn vô hạn. Tôi sinh ra và lớn lên giữa lòng thủ đô, cuộc đời tôi gắn liền với Sài Gòn, từng hàng cây góc phố, từng con đường nhỏ thân quen tiếng gọi mì ban đêm, con đường Lê Thánh Tôn ngập lá me bay buổi sáng vẫn còn đây, dòng sông tuổi thơ của tôi thật êm đềm trôi trên hè phố sau giờ tan học. Gần hơn chút nữa là ngôi trường trung học Chu Văn An thân yêu, nơi tuổi trẻ tôi ươm biết bao nhiêu mộng mơ, rốt cuộc cũng chìm vào cơn lốc chiến tranh. Sài Gòn máu thịt quê hương tôi đang hấp hối. Sài Gòn của tôi đang bị bức tử. Giờ này tôi không còn nghe tiếng đại bác ru đêm, tất cả các ngõ vào Sài Gòn đã bị phong kín, cơn hấp hối này sẽ có tôi tham dự như một chứng nhân nếu còn sống sau chinh chiến, hay sẻ nằm xuống tức tưởi nghẹn ngào.<br />
Sáng ngày 30-4, nhiều tiếng nổ lớn như là hoả tiển 122 ly về hướng phi trường Tân Sơn Nhất, bầu trời bổng nhiên thấp xuống thật u ám như sắp để tang cho một chế độ. Những người lính lạc đơn vị lại kéo về sân Cộng Hòa rồi lại lủi thủi ra đi, những giờ phút cuối đời lính, họ như những con chim bị thương, đang cố gắng vỗ đôi cánh gẩy lần chót tìm về cái tổ ấm quân đội đầy mùi thuốc súng, vì quân đội là ngôi nhà thứ hai của họ. Họ cũng chính là tôi, là lính.</p>
<p>Gần 10 giờ sáng, những tràng đại bác đầu tiên của Pháo đội A và C ở trường đua Phú Thọ bắt đầu bắn, điện văn xin tác xạ từ các nơi gọi về tiểu đoàn tới tấp. Các đơn vị của Lữ đoàn 4 Dù, của biệt động quân đang đụng địch. Pháo đội biệt động quân cũng đã tác xạ khói bay ngược về phía chúng tôi. Tôi cho cả pháo đội quay nòng về hướng bắn sẳn sàng tác xạ và khẩu chuẩn nạp đạn khói, một lúc sau thiếu tá Việt, Trưởng ban 3 cho điểm tác xạ bắn theo yêu cầu.</p>
<p>(…)</p>
<p>(1) Một đơn vị của Đoàn 232 đánh Biệt khu thủ đô.</p>
<p><strong>Sài Gòn 30-4-1975</strong></p>
<p>Ngoài phố, chỉ còn nghe tiếng xích sắt khô khan của bánh xe nghiến trên mặt đường nhựa. Mặt đất như rung lên bần bật. Sài Gòn như oặn mình dưới làn xích sắt đi qua. Tiếng xích sắt như nhắc nhở gợi về tiếng xích sắt của mùa xuân Praha năm nào. Cái mùa xuân nát úa. Cái mùa xuân hy vọng của tuổi trẻ Prague chưa kịp nhú lên thì đã bị xích sắt xe tăng của Hồng quân Liên Xô đè dập nát khi tiến vào Prague, trên những đường phố lát đá gồ ghề, thẫm màu đen thuở nào. Praha, Sài Gòn, ngạo nghễ và tủi nhục.</p>
<p>Những chiến xa trên có cắm cờ của Mặt trận giải phóng miền Nam chạy trên đường Tự Do, Catinat cho nguời ta có cảm tưởng đường Tự Do của miền Nam là đại lộ Champs-Élysées của Paris…Nhưng Champs-Élysées của Paris vào tháng 8-1944 là cả một biển người đón tiếp De Gaulle. Biển người đó là nỗi vui mừng giải thoát, chỉ có tiếng cười và nước mắt hoan lạc.</p>
<p>Nhưng Champs-Élysées thì không phải đưởng Tự Do ở Sài Gòn. Đường Tự Do không có nỗi vui hoan lạc mà chỉ có những ánh mắt lo âu và sợ sệt. Ở một góc phố cạnh hotel Majestic, người ta thấy <em>125</em> (?!) <em>nhà báo ngoại quốc đứng ở đâu đó</em>. Họ còn ở lại để chứng kiến cảnh tháo chạy, cái cảnh mà Bảo Ninh đã mô tả trong truyện ngắn <em>Ba lẻ một</em>: Chen chúc, xô lấn, giày đạp, chà xéo, đánh nhau, giết nhau, cưỡng hiếp và cướp bóc và cảnh tiến tới ồ ạt của những T54 và K63, như một cơn lốc bẳng thép xé mặt lộ lướt tới với thần tốc kinh hồn…</p>
<p>Đài phát thanh Sàigòn mở đầu bằng tiếng hát Trịnh Công Sơn: Nối vòng tay lớn bên cạnh đám bạn bè anh, trong đó có Nguyễn Hữu Thái, một sinh viên tranh đấu. Dân Sài Gòn đã đón tiếp giải phóng như thế. Một nhúm người dân ngơ ngác, 125 nhà báo và Trịnh Công Sơn với Nối vòng tay lớn với 8 chiến xa có trang bị kính nhắm hồng ngoại tuyến dùng cho những cuộc đánh nhau ban đêm? Chả còn gì để dấu diếm nữa. Những chiến xa Liên Xô từ ngoài Bắc chạy thẳng vào chứ đâu phải của Mặt trận giải phóng miền Nam? Trên chiến xa có cắm cờ MTGPMN. Nhưng cắm một lá cờ thì không lẽ đủ để thay đổi nguồn gốc một lịch sử.</p>
<p>(…)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Nhẩy dù và LĐ81 Biệt cách nhảy dù</strong></p>
<p>Ngày 30-4-75, địch quân từ hướng ngã ba Ông Tạ tiến về ngã tư Bảy Hiền (1) bị chận đánh bởi hậu cứ sư đoàn dù. Từ lăng Cha Cả đến cổng Bộ tổng tham mưu gặp sự chống trả của LĐ81 Biệt cách nhảy dù. Lực lượng địch gồm có bộ binh và chiến xa được pháo binh yểm trợ, tuy địch đông và mạnh như thế nhưng địch vẫn không dập tắt được sức kháng cự của dù, biệt cách dù. Mặc dù lệnh Tổng thống Dương Văn Minh đã phát đi từ sáng sớm, kêu gọi quân lực VNCH ngưng chiến và giao nạp vũ khí cho Mặt trận giải phóng miền Nam.</p>
<p>Cuộc điện đàm giữa Thiếu tá Phạm Châu Tài với Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh và Tổng thống Dương Văn Minh sau này đã được Thiếu tá Phạm Châu Tài vắn tắt lại như sau:</p>
<p>9:00 giờ sáng ngày 30-4-75, Bộ chỉ huy 3 chiến thuật của LĐ81/BCND đang quần thảo với địch trước cổng Bộ tổng tham mưu ở lăng Cha Cả thì sau đó có lệnh đầu hàng. Tôi chạy vào văn phòng trong bộ TTM mà đêm hôm trước tôi đã họp với tướng Vĩnh Lộc, nhưng những người lính cơ hữu gác ở đó cho biết tướng Vĩnh Lộc đã rời Bộ tổng tham mưu từ 6 giờ sáng. Tất cả các sĩ quan đã họp trong phòng này với tôi vào đêm 29-4 đều vắng mặt.</p>
<p>Tôi bốc điện thoại lên quay số của văn phòng phủ tổng thống, tôi hết sức ngạc nhiên khi người trả lời xưng danh là Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh. Tôi nói muốn được nói chuyện với Tổng thống Dương Văn Minh, tướng Hạnh hỏi lại tôi là ai? Tôi trả lời: Tôi là Th/tá Phạm Châu Tài, chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy vùng 3 chiến thuật của Liên đoàn 81/Biệt cách nhảy dù. Vài giây đồng hồ sau tướng Hạnh đưa điện thoại cho Tổng thống Dương Văn Minh. Tổng thống nói:</p>
<p>&#8211; Đại tướng Dương Văn Minh tôi nghe đây, có chuyện gì đó?</p>
<p>Tôi trình bày với tổng thống Minh: Tôi là chỉ huy trưởng cánh quân đang tử chiến với địch ở bộ TTM, tôi đang cố liên lạc với bộ TTM thì lệnh ngưng chiến đã ban ra. Tôi vào trong bộ TTM thì họ đã bỏ chạy hết do đó tôi muốn nói chuyện với tổng thống để xin quyết định.</p>
<p>Tổng thống Minh trả lời rằng:</p>
<p>&#8211; Các em chuẩn bị bàn giao đi.</p>
<p>&#8211; Có phải là đầu hàng không? Tôi hỏi lại.</p>
<p>&#8211; Đúng vậy, ngay bây giờ xe tăng của họ đang tiến vào dinh Độc Lập.</p>
<p>(Đặc san GĐ81/BCND)</p>
<p>(1) Một đơn vị của Sư đoàn 10 thuộc Quân đoàn 3 đánh ngã tư Bảy Hiền.</p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong>Pháo gãy nòng tháng Tư </strong></p>
<p>Lúc này đạn lớn đạn nhỏ nổ ran về phía sư đoàn, hướng Bà Điểm và nhiều nhất là khu ngả ba Hàng Xanh, những chiếc trực thăng Mỹ từ Đệ thất hạm đội vẫn còn tiếp tục bay về hướng toà đại sứ cùng với những chiếc Cobra bay bảo vệ nhưng không nghe tiếng bắn từ phi cơ. Mặc dầu tôi chưa bắn, nhưng tiểu đoàn bỗng ra lệnh “check fire” (ngưng bắn). Một lúc sau, tôi gọi về tiểu đoàn nói hướng bắn của tôi đâu có gần mấy con chuồn chuồn, tôi thấy rõ bằng mắt thường, bảo đảm bắn không rớt tụi nó đâu, đích thân cho tác xạ đi. Thiếu tá Việt bảo đợi. Đợi một lúc nữa, tôi bước ra đài tác xạ tiến về pháo đội, các khẩu trưởng hỏi nạp đạn lâu quá sao chưa bắn vậy, tôi chỉ tay lên trời chỉ mấy con chuồn chuồn và nói tại tụi nó đó.<br />
Vừa lúc đó hạ sĩ truyền tin chạy ra gọi tôi: Trung úy, ông Minh đầu hàng rồi. Tôi vội chạy vào đài tác xạ, qua radio, tiếng tổng thống 2 ngày Dương Văn Minh kêu gọi buông súng như một nhát dao đâm vào tim mọi người. Tôi gọi máy về tiểu đoàn hỏi có bắn tiếp không, hay tan hàng, hoặc…bàn giao? Chừng nào có lệnh trực tiếp từ tiểu đoàn tôi mới thi hành chứ không hạ nòng đâu. Thiếu tá Việt bảo…đợi. 5 phút sau, tôi bước ra cửa đài tác xạ nhìn ra ngoài, toàn thể các đơn vị bạn trong sân Cộng Hòa tự động tan hàng, sáu khẩu đại bác của biệt động quân vẫn còn cất cao nòng, họ đi ngang chúng tôi hết sức buồn bả. Lúc này, tại đây, chỉ còn pháo đội của tôi, những người lính của giờ thứ 25 của cuộc chiến vẫn không chịu rời đơn vị, họ chỉ cần bước ra khỏi sân vận động là về với gia đình, tại sao lại còn đứng đây? Cũng như tôi, họ đang đợi. Ngay lúc đó, thiếu tá Hóa, Tiểu đoàn phó chạy xe jeep đến ra lệnh cho tôi tan hàng. Tôi trở vào đài tác xạ, chấm điểm cho pháo đội nhắm về trại Hoàng Hoa Thám rồi gọi Liêng vào ra lệnh: Anh cho tất cả pháo đội, quần áo chĩnh tề, ba lô xếp thẳng hàng như ở quân trường, khi tôi ra bồng súng chào trình diện quân số.</p>
<p>(…)</p>
<p><strong>Sài Gòn 30-4-1975</strong></p>
<p>Trong khi đó, ông Minh và toàn bộ chính phủ ông đã chờ sẵn tại dinh Độc Lập để trao quyền hành lại cho những người chủ mới. Sài Gòn lúc đó như một bãi rác với đủ thứ rác: rác Mỹ, rác quân đội với súng ống, quân trang, quân dụng vứt bừa bãi, rác chính quyền tham nhũng. Cùng lắm, ông Minh chỉ là người không thức thời cúi mình xuống nhặt cái danh chính quyền bị người ta vứt lại từ đống rác đó.</p>
<p>Lại còn vấn đề trao cái chính quyền đó vào tay ai? Chẳng biết nữa, người nói ông Bùi Tín, người nói chính ủy Tùng. Theo Stanley Karnov, trong Viet Nam viết: Ngồi trên một chiến xa vào dinh Độc Lập, Ông Bùi Tin chuẩn bị đóng hai vai trò một lúc: Là nhà báo, ông muốn là nhân chứng cho cuộc đầu hàng. Nhưng là sĩ quan cao cấp trong đơn vị của ông, ông muốn chính ông tiếp nhận sự đầu hàng này. Tôi chờ các ông từ sáng nay để trao quyền hành lại cho các ông, đại tướng Minh đã nói như thế khi ông Bùi Tín vào đến đại sảnh. Bùi Tín đáp lại, không có vấn đề trao quyền hành. Quyền hành của các ông còn đâu để mà giao. Ông không thể giao một cái mà ông không có. Nhưng có lẽ câu nói quan trọng nhất của Bùi Tín vẫn là câu sau đây: Cùng là người Việt Nam cả, sẽ không có kẻ thắng người bại. Chỉ có người Mỹ là kẻ bại trận. Nếu ông là người yêu nước, đây là lúc để vui mừng, vì chiến tranh đã không còn nữa trên quê hương của chúng ta. Từ đó đến nay, đã hơn 30 năm, người ta vẫn chờ đợi câu nói của Bùi Tín được thực hiện và nó sẽ không bao giờ được thực hiện.</p>
<p>Cũng khoảng 2 giờ rưỡi trưa hôm ấy, những chiến xa đã từ trong dinh Độc Lập chạy dọc theo đại lộ Catinat-Tự Do, từ nhà thờ Đức Bà ra hướng bờ sông. Có tới mười người dụt dè dơ cánh tay vẫy chào. Nhiệm vụ của người chiến thắng không phải là dễ. Chiếm được Sài Gòn rồi, thay vì chỉ có 10 cánh tay dụt dè dơ lên, phải nhân lên bao nhiêu triệu lần? Phải chờ xem vậy thôi.</p>
<p>Chiến thắng thì đã xong, nhưng chinh phục (1a) (2b) thì chưa tới và sẽ không bao giờ tới!</p>
<p>(Nguyễn Văn Lục)</p>
<p>Tác giả là giáo sư triết trường trung học Võ Tánh, là nhà biên khảo với những tác phẩm: Sách cũ miền Nam 1954-1975, Văn học miền Nam những năm 1964-1975, v…v…Và những bài viết: 30 tháng 4, đi tìm thời gian đánh mất, Cuộc sống ở một nơi nào khác, v…v…</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Nhảy dù</strong></p>
<p>Jean Larteguy được chứng kiến tận mắt trận đánh cuối cùng của các đơn vị quân lực VNCH tại Sài Gòn, và ghi lại như sau:</p>
<p>Gần lăng Cha Cả, quân dù đánh trận chót. Họ chiến đấu tới 11 giờ 30 trưa, cho tới khi cấp chỉ huy của họ từ dinh tổng thống trở về sau cuộc gặp gỡ bi thảm với tướng Minh. Các sĩ quan nầy khuyên họ nên ngưng chiến đấụ. Họ vừa hạ được 5 xe tăng T54. Những xe ấy còn đang cháy ngùn ngụt. Một chiếc nổ tung vì đạn trong xe. Quân dù không để lại trên trận địa một thứ gì, dầu là vũ khí, đồ trang bị, người bị thương hoặc người chết. Ngoại trừ những chiếc xe tăng T54.</p>
<p>(Đặc san GĐ81/BCND)</p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong>Lạc đạn </strong> (1a)</p>
<p>Một nhân vật hàng đầu của Mặt trận giải phóng miền Nam, ông Trần Bạch Đằng, thì thẳng thắn hơn. Năm 1990 được một người bạn đưa tôi tới nhà ông ở thành phố Sài Gòn, tôi ngạc nhiên khi thấy mình trở lại đúng cái biệt thự kiểu Pháp mà ngày xưa của người Mỹ cư ngụ. Tôi có lúc ở đó một thời gian và cảm thấy dường như mình quay lại một căn nhà ma.</p>
<p>Trong lúc ngồi uống trà ngoài vườn, tôi lại ngạc nhiên vì sự thẳng thắn của ông Đằng. Ông nói: Niềm tin của chúng tôi vào chủ nghĩa cộng sản không tưởng, không liên quan gì đến thực tại cả. Chúng tôi đã cố gắng xây dựng một xã hội mới dựa trên những lý thuyết và những ước mơ như xây lâu đài trên cát. Hãy tưởng tượng xem! Chúng tôi thậm chí tập thể hóa cả người thợ cắt tóc. Thật là lố bịch và ngớ ngẩn.</p>
<p>Lẽ ra chúng tôi nên lưu ý một câu ngạn ngữ Trung Quốc:</p>
<p>“Ngươi có thể chinh phục một đất nước từ trên yên ngựa.</p>
<p>Nhưng ngươi không thể cai trị một đất nước từ yên ngựa”.</p>
<p>(“Vietnam – A History” &#8211; Stanley Karnow)<br />
<strong>Bên lề trận chiến với bên thua cuộc </strong>(2b)</p>
<p>Thôi, thế là xong. Tôi nhìn những chiếc xe jeep với những thanh niên hò hét, phất cờ giải phóng và giơ cao vũ khí, tay mang băng đỏ, những nhà sư ba mươi đi phát cờ giải phóng và tửng tửng hô: &#8220;Phe ta thắng! Phe ta thắng!&#8221;. Họ là ai vậy? Những kẻ theo thời? Cách mạng giờ thứ 25? Tôi vẫn lặng lẽ đi và tính về nhà sẽ tìm cách trút bỏ quân phục và vứt bỏ khẩu súng Colt.</p>
<p>Quạ từ đâu bay về nhiều quá, đen cả bầu trời. Lại có cả tơ trời nữa, đó là điềm lạ hay điềm gở của miền Nam. Mùa nầy bông cây dầu nồng nàn thơm mùi nam tử. Bây giờ trộn lẫn với hương đêm và mùi khói súng bắn chỉ thiên, loạn xạ. Tin tự tử tập thể ở trại nhảy dù Hoàng Hoa Thám và vài đơn vị lẻ tẻ. Tất cả những cái đó giờ đây đâu còn mang một ý nghĩa nào dù nhỏ nhất. Tại sao chỉ qua vài phút ngắn ngủi mà tôi thấy quang cảnh ngoại vật đột nhiên mất hết các ý nghĩa quen thuộc, nhà cửa, con người và ngay cả đến lời nói từ ngữ với nhau, liên hệ cố hữu giữa người và người. Tôi vốn là một người viết văn quá nửa đời người nên từ ngữ vốn mang nặng những ý nghĩa xâu xa với cái ma lực riêng của nó. Tôi bây giờ là ai? Một kẻ thất trận? Một tù binh chiến tranh? Chắc tôi chỉ còn cái danh hiệu là nhà văn với những tác phẩm đóng góp cho văn chương? Thực sự đọc nhiều về chính sách của kẻ địch, tôi hiểu trước sau họ sẽ tự bỏ luôn cái danh hiệu cuối cùng đó của tôi. Tôi tin dù họ bỏ tù được thân xác tôi, nhưng họ khó có thể tha hoá được tôi, biến đổi tôi thành một bộ máy vô hồn. Tôi nghĩ tôi đang mỉm cười, hơi một chút chua chát, hơi một chút ngạo nghễ.</p>
<p>Cuối cùng ai sẽ thắng? Điều đó thời phải 60 năm nữa, tôi mới có câu trả lời chính xác, đúng theo phương pháp luận của sử học.</p>
<p>(Những ngày cuối cùng của Vùng 1 và miền Nam &#8211; Duy Lam)</p>
<p>Tác giả tên thật Nguyễn Kim Tuấn (trung tá trong quân lực VNCH, phục vụ tai Vùng 1 chiến thuật), là con bà Nguyễn Thị Thế, em gái nhà văn Nhất Linh. Là nhà văn với những tác phẩm: Cái lưới, Gia đình tôi, v…v… và với những truyện ngắn: Nỗi chết không rời, Lột xác, v…v…</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Bên lề trận chiến với bên thắng cuộc</strong></p>
<p>30-4-1975 là ngày kết thúc chiến tranh Việt Nam. Ngày mà những người anh em miền Nam buông súng đầu hàng miền Bắc. Ngày chấm dứt hơn hai mươi năm “da thịt tàn nhau, vạ trong tường vách”. Nhưng, không phải cứ súng ống vứt đi là sẽ có hòa bình.</p>
<p>(Bên thắng cuộc &#8211; Huy Đức)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Pháo gãy nòng tháng Tư </strong></p>
<p>Khi tôi ra trước hàng quân, pháo đội đã sẳn sàng tư thế chào kính, sáu khẩu đại bác giương cao nòng, những người lính bồng súng chào, nét mặt họ không điểm một chút hốt hoảng hay lo sợ, họ tuân lệnh cấp chỉ huy một cách tuyệt đối. Tôi cắn chặt đôi hàm răng để khỏi bật ra tiếng khóc vì trong lòng hết sức thương cảm, những người lính của tôi, có người mới về đơn vị chưa đầy hai tuần, vẫn tuân lệnh cấp chỉ huy dầu cho đứng trước hoàn cảnh tuyệt vọng như thế này. Tôi cho anh em nghỉ và nói: Tôi thi hành lệnh cấp trên cho pháo đội tan hàng, tôi biết việc này sẽ làm cho anh em rất đau lòng, nhưng là quân đội chúng ta phải thi hành lệnh, sau này chắc chắn là anh em sẻ gặp rất nhiều khó khăn, hãy cố gắng mà sống.</p>
<p>Sau đó tôi cho pháo đội hạ nòng đại bác xuống và tháo đạn ra, súng cá nhân xếp thẳng hàng trên ba lô như thể đang giờ nghỉ ngơi. Trong khoảng khắc, sân Cộng Hòa không còn một bóng người, tôi trở vào nhà viên quản thủ sân xin một bộ đồ civil, vào đài tác xạ thay đồ trận. Xong, tôi trở ra vị trí đứng nghiêm chào. Những khẩu đại bác gióng thẳng hàng bên cạnh súng cá nhân M16 và quân trang của đơn vị tôi còn đó. Tôi buồn bã quay gót trở về nhà không dám quay lại nhìn pháo đội một lần chót, vì nhìn nữa tôi sẻ khóc, nay đành bó tay, nhưng là lính không thể khóc vào lúc này…</p>
<p>Vì trong bộ đồ dân sự, tôi vẫn còn là một người lính.</p>
<p>(Nguyễn Văn Lập)</p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong>Nhảy dù </strong></p>
<p>Các xe tăng đầu tiên của Bắc quân vào Sài Gòn từ phía đông, qua tỉnh lộ Thủ Đức và Biên Hòa. Từ ngày hôm trước, các đơn vị này đã bị chặn tại gần Hóc Môn, gần nơi có Trung tâm huấn luyện nhảy dù do Lữ đoàn 4 sư đoàn dù trấn giữ, dưới sự chỉ huy của đại tá Vinh, sĩ quan to con, mặt phong trần, nhất định bất chấp lệnh ngưng bắn. Các đơn vị Bắc quân bị thiệt hại nhiềụ. Sau đó, chúng còn phải giao tranh 2 lần trên đường phố Sài Gòn: Một lần trước Tổng nha cảnh sát (1), trước khi bị xe tăng Bắc quân đè bẹp. Lần thứ hai ở ngã tư Hồng Thập Tự và Lê Văn Duyệt, là nơi chỉ có 4 người lính dù võ trang đại liên và bazooka mà chiến đấu được trong 50 phút. Đến khi hết đạn, họ đi ra ngoài, nắm vai nhau, lập thành vòng tròn rồi cho nổ lựu đạn tự sát. Đến chiều tốị 400 chiến sĩ dù được gom từ trận Hóc Môn và từ phi trường, tụ lại quanh đại tá Vinh, và còn chiến đấu gần chợ chính của Chợ Lớn. 10 giờ đêm, đại tá Vinh cho lệnh các binh sĩ chia thành toán nhỏ, lợi dụng bóng đêm để rút về đồng bằng.</p>
<p>(…)</p>
<p>(1) Một đơn vị của Đoàn 232 đánh Tổng nha cảnh sát.</p>
<p><strong>&#8211; : </strong>2 nhà báo Pháp Jean Larteguy, Jean Lacouture là 2 trong 3 nhà báo (và <em>Pierre Darcourt</em>) đã có mặt tại miền Nam Việt Nam trong cơn hấp hối của Sài Gòn, có lẽ chờ đợi đón mừng &#8220;bộ đội giải phóng&#8221; để chứng kiến cái chết ô nhục của quân đội miền Nam. Vì những nhà báo phản chiến họ đã phỉ báng quân đội miền Nam trong suốt bao nhiêu năm. Nhưng sau khi chiến tranh chấm dứt, họ trở về Pháp, và đã làm cho cả thế giới ngạc nhiên với những gì họ viết ra.</p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong>Một cơn gió bụi</strong><br />
Pierre Darcourt cho biết sau đó đại tá Vinh đã ở lại vị trí và tự sát.</p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong>Nhật ký Sài Gòn ngày dài nhất </strong></p>
<p>Tín hiệu của ngày dài nhất trên quê hương Việt Nam khốn khổ đã phóng lên vùng trời Ban Mê Thuột hôm 12-3-1975. Nhưng Sài Gòn không treo cờ rũ như đã treo để tang Phước Long thất thủ hồi đầu tháng 1-1975. Thành phố ấy vẫn ăn chơi trong mọi khắc khoải, vẫn nhẩy nhót trên mọi ưu phiền. Những xác chết của quân dân chất đống, những dòng máu của quân dân chẩy dài, ở Darlac, còn tươi rói, chẳng làm lay động nổi cái bóng…tối phủ kín lương tri mê sảng của những con người thành phố.</p>
<p>Không một hồi chuông cáo phó nào rung lên cho Ban Mê Thuột, ở nhà thờ, ở nhà chùa và ở cả lòng những con người thành phố, đáng lẽ, cần phải rung lên. Cuộc chiến hai mươi năm, chưa lần nào lãnh thổ VNCH bị cộng sản ngoạm một miếng to thế, mầu mỡ thế. Ban Mê Thuột là vùng trù mật của Cao nguyên. Nhưng Ban Mê Thuột đã thất thủ. Và Sài Gòn không treo cờ rũ. Và Sài Gòn đã quên cả Phước Long, đã chẳng cần đặt câu hỏi: Trước thời gian Phước Long mất, có một căn cứ, một đồn bót nào bị mất? Không, mất sáng thì ta chiếm lại chiều, mất đêm thì ta chiếm lại ngày. Ngay Quảng Trị khó tái chiếm mà vẫn tái chiếm.</p>
<p>Tại sao bỏ rơi Phước Long? Niềm u uẩn Phước Long tại sao không bày tỏ? Rồi Ban Mê Thuột? Tiếng nói của lương tri nào kịp thời an ủi những cái chết tội nghiệp của dân, những cái chết bi phẫn của lính? Im lặng và lạnh lùng. Sài Gòn vẫn nhẩy đầm, vẫn rượu gái&#8230; Phải đợi đến ngày 17-3-1975, ngày khởi sự &#8220;250 cây số đường máu&#8221; dọc liên tỉnh lộ số 7 về đất hứa Tuy Hòa, nghĩa là ngày vĩnh biệt Cao nguyên, Sài Gòn mới hơi hơi xao xuyến!</p>
<p>(Duyên Anh Vũ Mộng Long)</p>
<p>&nbsp;</p>
<h3>Ngày cuối cùng của trường Bộ Binh Thủ Đức</h3>
<p>Sau thời gian phục vụ tại Sư đoàn 5 BB, tôi được thuyên chuyển về trường Bộ Binh Thủ Đức. Trường bộ binh là một quân trường đào tạo các sĩ quan trừ bị cho quân lực VNCH. Lúc trứớc trường tọa lạc ở Thủ Đức. Năm 1974 thì dời ra Long Thành, một cơ sở mới nằm bên cạnh Quốc lộ 15, đường Sài Gòn-Vũng Tàu và cách quận lỵ Long Thành 5 cây số. Tại đây trường bộ binh kết hợp với trường thiết giáp và Trung tâm huấn luyện Yên Thế, lập thành Huấn khu Long Thành. Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi là chỉ huy trưởng trường Bộ binh kiêm chỉ huy trưởng Huấn khu Long Thành.</p>
<p>Đến đầu tháng 4-1975, Quân đoàn I và Quân đoàn II di tản, Bắc quân vào đến Nha Trang, Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi được chỉ định ra làm tư lệnh tiền phương Quân đoàn III, trấn đóng ở phi trường thị xã Phan Rang. Sau khi Trung tướng Nguyễn Vinh Nghi ra làm tư lệnh Tiền phương thì Đại tá Trần Đức Minh đang là chỉ huy phó truờng bộ binh được chỉ định lên thay thế làm chỉ huy trưởng trường bộ binh, kiêm chỉ huy trưởng Huấn khu Long Thành.</p>
<p>Đầu tháng 4-1975, trường Võ Bị Quốc Gia là trường sĩ quan hiện dịch, di tản từ Đà Lạt về Long Thành và tạm trú ở trường bộ binh. Hai tuần sau trường võ bị cho làm lễ mản khóa hai khóa 28 và 29 ra trường cùng một lúc, còn lại hai khóa 30 và 31.</p>
<p>(Nguyễn Ngọc Thạch K20)</p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong>Nhật ký Sài Gòn ngày dài nhất </strong></p>
<p>0 giờ 15 phút. Trực thăng Mỹ vẫn vần vũ một góc trời Sài Gòn. Nó tiếp tục hạ cánh, cất cánh chở những người Việt Nam leo lên được nóc tòa đại sứ Hoa Kỳ. Cùng với tiếng trực thăng vần vũ, tôi còn nghe cả tiếng súng nổ ở phía phi trường Tân Sơn Nhất. Lính bộ đội ông Hồ đã pháo kích vào phi trường quân sự từ mấy hôm nay. Họ chưa ngừng pháo kích. Họ muốn chiếm yếu khu Tân Sơn Nhất. Lính ta vẫn chống cự. Không còn ngôn ngữ nào đề vinh danh những người lính VNCH biết ý nghĩa sống, và ý nghĩa chết. Hơn cả hào hùng, lính của ta lãng mạn nhất loài người, chấp nhận chiến đấu cô đơn và gục ngã âm thầm.</p>
<p>Súng nổ ròn, nổ đẹp ở phía phi trường Tân Sơn Nhất. Và ở những nơi nào nữa trên quê hương tôi vào lúc bi thảm của lịch sử, vào lúc mà người lính có quyền đứng thẳng, ngẩng mặt, vất vũ khí, giã từ trận mạc? Họ đứng thẳng, ngẩng mặt niềm kiêu hãnh của họ về hướng kẻ thù. Cuộc chiến đấu của dân tộc Việt Nam chỉ khởi sự từ những ngày cuối tháng 4-1975. Từ những ngày này, trước đó, chính nghĩa của chiến đấu bị lu mờ, bị ngộ nhận bởi Mỹ.</p>
<p>Nghe súng nổ, tôi liên tưởng người lính, nhân vật bất hủ của nhà văn James Jones trong tác phẩm From here to eternity. Anh ta tạm bỏ đơn vị vì lý do giết gã cai ngục quân lao trả thù cho bạn. Anh ta bị thương, tá túc tại nhà một vũ nữ. Biết tin quân thù xuất hiện và đồng đội anh hăng say chiến đấu, anh ta trở về đơn vị.</p>
<p>&#8211; Quân đội bạc đãi anh, anh trình diện làm gì?</p>
<p>&#8211; Vì tôi là lính.</p>
<p>Vì tôi là lính. Câu nói đầy cảm xúc và cảm khái. Lính của chúng ta đã nói thế, nếu có ai hỏi tại sao các anh còn chiến đấu. Tôi lại nhớ chập tối hôm qua&#8230;</p>
<p>(…)</p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong>Sinh viên sĩ quan trường Võ Bị Đà Lạt</strong></p>
<p>Jean Larteguy được thấy tận mắt các sinh viên sĩ quan trường Võ Bị Đà Lạt, lực lượng trừ bị cuối cùng của quân lực VNCH, tiến ra trận địạ.<br />
&#8220;Và trong những bộ đồng phục mới, giày chùi xi bóng láng, các sinh viên anh dũng của trường Võ Bị Đà Lạt đã đi vào chỗ chết. Chỉ còn thiếu có cái mũ diễn hành và đôi bao tay trắng&#8221;.</p>
<p>Một đồng nghiệp của Jean Lartéguy là Raoul Coutard đã thu được cảnh xuất quân bi tráng ngay vào máy quay phim và cố nén xúc động khi nhìn thấng những đôi bao tay trắng không khác gì các sinh viên sĩ quan trường Võ Bị Saint-Cyr.<br />
<strong><br />
</strong></p>
<p><strong>Nhật ký Sài Gòn ngày dài nhất </strong></p>
<p>Tôi lại nhớ chập tối hôm qua&#8230;Lúc ấy, trên màn ảnh nhỏ của đài truyền hình băng tần số 9, ông tướng Vĩnh Lộc, mà có thời chúng tôi gọi là ông &#8220;vua xứ mọi&#8221; đang chắp tay sau lưng đi đi lại lại. Vào phút giây &#8220;sauve qui peut&#8221; này, thấy tướng Vĩnh Lộc chưa chạy, tưởng rằng ông ta xứng đáng con nhà tướng. Tôi không có kiến thức quân sự như Phạm Huấn đề thẩm định giá trị trận mạc và tài năng chỉ huy của tướng lãnh. Bây giờ, ông xuất hiện trên ti vi, nắm quyền tổng tham mưu trưởng vào giờ thứ 25. ông ta có vẻ bối rối trong nhật lệnh đọc từng câu rời rã. Sự thung dung cần thiết lúc này để gây lại phấn khởi, để lấy lại niềm tin đã thiếu hẳn ở người hùng Pleiku. Cái vẻ phẫn nộ pha lẫn chán nản của tướng Vĩnh Lộc đã làm tôi buồn bã thêm.</p>
<p>Tôi bỏ ra sân. Nghe tiếng xích xe tăng nghiến trên mặt đường, tôi mở cổng ra xem. Một đoàn xe tăng của ta từ hướng Tân Sơn Nhất chạy vào Sài Gòn. Bất chợt, một chiếc dừng ngay trước cổng nhà tôi. Những chiếc tăng phía trước và phía sau dừng lại. Ngã tư Công Lý-Yên Đổ đủ một chỗ trống cho xe hơi qua lọt. Người lính xe tăng mở nắp, cầm cái búa lớn nhẩy xuống đường. Chiếc tăng bị trục trặc. Bình tĩnh, người lính giáng những nhát búa. Chắc chắn, anh ta không nghe tướng Vĩnh Lộc kêu gọi tiếp tục chiến đấu. Người lính ấy, biểu tượng đích thực của quân đội, còn nguyên vẹn danh dự và trách nhiệm. Người lính im lặng làm công việc của anh ta. Hẳn nhiên, anh ta không hò hét. Nên, anh ta vẫn còn đây, trước cổng nhà tôi số 225 Bis đường Công Lý, sửa xích xe tăng một cách thản nhiên. Sự thản nhiên của người lính tôi đã không tìm thấy ở tướng Vĩnh Lộc trên vô tuyến truyền hình.</p>
<p>Nếu &#8220;cái dũng của thánh nhân&#8221; đã biểu hiện rõ nét ở các ông tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Phạm Văn Phú, chắc chắn, những cái chết của các ông ấy đã phục sinh một ý nghĩa chiến đấu tuyệt vời. Chỉ tiếc các ông ấy tự sát quá vội vàng, tự sát chưa đúng lúc. Cần một tướng Nguyễn Khoa Nam có đủ cái thung dung tự tại phút nguy cơ, Vùng 4 đã là những chiến khu lý tưởng dẫu thất thế sau 30-4. Tuy nhiên, các ông tướng tự sát vẫn xứng đáng con nhà tướng “sinh vi tướng, tử vi thần”, vẫn để lại những dấu ấn khó phai nhòa trong quân sử và trong lịch sử. Ông tướng Vĩnh Lộc quên cái dũng, vì ông pha trộn sự phẫn nộ Nguyễn Văn Thiệu, Cao Văn Viên và các ông tướng đào ngũ.</p>
<p>(…)</p>
<p><strong>Cuộc di tản của trường VBQGVN</strong></p>
<p>Sau khi mãn mùa quân sự năm thứ 2 và bước vào mùa văn hóa, khóa 30 cũng như các khóa khác khi đi học văn hóa vẫn phải trang bị vũ khí đầy đủ để sẵn sàng tác chiến, vì tình hình chiến sự bên ngoài càng ngày càng trở nên khốc liệt. Ngày 29-4-1975, lúc 3 giờ chiều, trung đòan SVSQ được lệnh trở về doanh trại để chuẩn bị cuộc di hành xa với đầy đủ hỏa lực tác chiến. Khỏang hơn 4 giờ chiều, liên đội G, H rời khỏi trường Mẹ bằng cổng Nam Quan trên 4 chiếc GMC. Ra đi lần nầy chúng tôi không ngờ đây là lần vĩnh biệt ngôi trường thân yêu mà chúng tôi đã sống 1 năm 4 tháng 4 ngày 15 giờ.</p>
<p>Liên đội G, H chúng tôi được đưa xuống bảo vệ Cầu Đất, còn các liên đội khác thì trải dài cho đến đập thủy điện Đa Nhim. Đến 7 giờ tối chúng tôi được lệnh của trung đoàn di chuyển theo hai bên lề đường để bảo vệ cho dân Đà Lạt di tản, chúng tôi đi bộ suốt đêm mãi đến 5 giờ sáng hôm sau chúng tôi mới qua khỏi đèo Sông Pha thuộc quân Đơn Dương và dừng quân tại đây chờ các liên đôi khác tập hợp đầy đủ.</p>
<p>Vì liên đội G, H đi đầu nên chúng tôi có thời giờ nghỉ chân chờ cho cả trung đòan tập hợp đầy đủ dưới chân đèo Sông Pha. Tôi nằm đại bên lề đường, đầu gác lên ba lô đưa mắt nhìn chung quanh, bạn bè trong đại đội nằm rải rác khắp nơi….Nhìn đồng hồ tay tôi thấy kim chỉ 7 giờ 30 sáng, cả trung đoàn SVSQ được lệnh tập hợp và lần lượt lên xe GMC để tiếp tục cuộc hành trình hướng về Bình Tuy. Lần nầy cuộc hành trình của trung đòan SVSQ không lẻ loi vì có thêm vị chỉ huy trưởng của chúng tôi là Thiếu tướng Lâm Quang Thơ dẫn đầu mặc dù ông có sẵn trực thăng dành riêng cho ông.</p>
<p>Sau này tôi không bao giờ quên được ngày 30-4, lúc 10 giờ 15 sáng, tôi chết lặng người khi nghe trên đài phát thanh tiếng của Tổng thống Dương Văn Minh ra lệnh cho quân nhân các cấp buông súng đầu hàng!!!</p>
<p>(Phan Văn Lộc K30)</p>
<p><strong>Ngày cuối cùng của trường Bộ Binh Thủ Đức</strong></p>
<p>Ngày 22-4-1975, trường bộ binh và truờng võ bị (Đà Lạt) được lệnh di tản về Thủ Đức. Trường bộ binh chỉ di tản một nửa quân số về Thủ Đức, còn một nửa quân số ở lại Long Thành. Khi về đến Thủ Đức, trường bộ binh nhận trách nhiệm phòng thủ với các tiểu đoàn SVSQ. Đêm 26-4, Bắc quân mở cuộc tấn công trường bộ binh ở Long Thành. Trường thiết giáp thất thủ, quận Long Thành bị tràn ngập, trường Bộ Binh Long Thành trở thành tiền đồn ngăn chặn địch mà địch quân quyết phải thanh toán cho bằng được để tiến thẳng về Sài Gòn.</p>
<p>Sáng ngày 30-4, vào lúc 8 giờ 30, đang chỉ huy phòng tuyến chính mặt xa lộ nghe báo cáo thấy đoàn xe thiết giáp và xe motolova của Bắc quân đang di chuyển trên xa lộ Biên Hòa tiến về Sài Gòn. Tôi gọi các pháo đội pháo binh 105 ly, 155 ly và 175 ly (1) chuẩn bị sẳn sàng. Đây là các loại pháo binh để yểm trợ tầm xa, mà Quân đoàn III gửi tạm ở đây. Nhưng trong giờ phút quyết liệt này, tôi dự trù sẽ sử dụng để bắn trực xạ. Súng 175 ly được đặt trên thiết giáp nên dễ dàng di chuyển, điều động. Bị sức kháng cự mạnh mẽ của trường bộ binh, nên Bắc quân liền đổi hướng tấn công xông thẳng vào trường bộ binh. Một chiếc thiết giáp T54 ủi sập chướng ngại vật ở cổng chính và chạy thẳng vào trong, vừa chạy vừa bắn loạn xạ. Lúc đó súng nhỏ bên ta bắn trả dử dội tóe lửa vào chiếc chiến xa. Tôi thấy rõ chiếc chiến xa khi nó tới gần, súng trên pháo tháp quay qua bắn sập Trung tâm hành quân, vì trên nóc TTHQ có nhiều cần ăng ten nên dễ thấy. Khi chiếc chiến xa này chạy xuống tới cổng số 9 thì gặp phải sức kháng cự mạnh mẽ của các SVSQ giữ mặt hậu nên liền quay đầu chạy ngược lại. SVSQ thấy người lái chiến xa đứng lên dường như có ý định đầu hàng nhưng rồi lại ngồi xuống và lại tiếp tục bắn làm chết và bị thương một số SVSQ.</p>
<p>Mặc dù chưa từng ra chiến trận nhưng tinh thần chiến đấu của các SVSQ rất hào hùng. Khi nó chạy tới khu tiếp tân gần miếu Tiên Sư thì bị ĐĐ663/ĐPQ bắn đứt xích nằm tại chỗ, nhưng súng trên pháo tháp vẫn còn quay bắn lung tung. Liền đó có một SVSQ thuộc Tiểu đoàn 1 SVSQ, đang ở phòng tuyến gần đó, nhanh nhẹn bò ra leo lên pháo tháp và liệng một quả lựu đạn vào bên trong xe tiêu diệt hẳn. Lục soát trong xe thấy chân xạ thủ bị khóa xích trong xe.</p>
<p>(…)</p>
<p>(1) Pháo binh địch trụ lại tại căn cứ Thủ Đức dùng hỏa lực súng cối và súng chống tăng M72 chặn đánh và chia cắt đội hình Tiểu đoàn xe tăng 5 (Lữ đoàn 203). Một phân đội của Lữ đoàn 203 liền kéo vào tiêu diệt nhóm pháo binh này. Tại đây xe tăng 707 của lữ đoàn đã phải chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và người cuối cùng. Đến 9 giờ sáng 30-4, sau khi dồn bộ phận còn lại của đối phương vào trong căn cứ Thủ Đức, Tiểu đoàn 5 để lại cụm quân này cho Trung đoàn 18 của Sư đoàn 325 xử lý và đuổi theo các đơn vị đi đầu lúc này đã đến cầu Sài Gòn.</p>
<p>Sau khi đánh tan sức kháng cự của 8 xe tăng có sự phối hợp của 6 tàu chiến hải quân địch đậu tại Tân Cảng, cụm đột kích sâu nhanh chóng vượt qua cầu Sài Gòn tiến vào đường Hồng Thập Tự tìm đường vào dinh Độc Lập. (Nhật ký chiến trường &#8211; Nguyễn Hữu An)</p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong>Nhật ký Sài Gòn ngày dài nhất</strong></p>
<p>Người lính đã sửa xong xích tăng. Anh ta leo lên xe, chui xuống, đậy nắp. Đoàn xe tiếp tục chạy. Về đâu? Tôi không biết. Trở vô nhà, ông tướng Vĩnh Lộc đã đọc xong nhật lệnh. Màn ảnh vô tuyến truyền hình, bây giờ, chỉ còn cái dấu chỉnh hình tưởng chừng cái hình bát quái và giọng hát buồn nôn của mấy cậu sinh viên tranh đấu nhai đi, gặm lại ca khúc Nối vòng tay lớn, thỉnh thoảng bị đứt khúc bởi tiếng nói đắc thời của Lý Quý Chung, tổng trưởng thông tin nội các Vũ Văn Mẫu? Tôi vội tắt ti vi.</p>
<p>Tôi cảm giác thời gian ngừng lại. Khi tôi mong trời vỡ sáng thì trời không muốn vỡ sáng.</p>
<p>4 giờ sáng…</p>
<p>Tiếng súng từ phi trường Tân Sơn Nhất vọng vào đã thưa thớt, nhưng tiếng phi cơ trực thăng vẫn ầm ĩ một góc trời thành phố. Tôi bật ti-vi. Màn ảnh nhỏ trắng xóa. Không có cái bất ngờ như tôi tưởng tượng. Tôi đâm ra tương tư người lính sửa xe tăng trước cửa nhà mình tối qua và ông tướng Vĩnh Lộc. Tôi mở radio. Giới nghiêm 24 trên 24 kể tử 0 giờ ngày 30-4-1975.</p>
<p>Lệnh giới nghiêm không thay đổi. Tôi tắt ngay radio để khỏi bị nghe Nối vòng tay lớn và giọng tanh tưởi của Lý Quý Chung luận về tình nghĩa Trung Nam Bắc. Có vẻ như thằng ở giữa đần độn này muốn mở đường chào đón &#8220;người anh em bên kia&#8221; của đám hàng thần lơ láo của cái chính trường vỏ tôm Sài Gòn những ngày tháng tư.</p>
<p>(…)</p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong>Ngày cuối cùng của trường Bộ Binh Thủ Đức</strong></p>
<p>Và liền sau đó không lâu vào khoảng 10 giờ 15 phút thì nghe lệnh của Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố ngưng bắn chờ lệnh bàn giao. Sau đó đại tá Minh ra lệnh cho tôi gọi cho các đơn vị ngưng chiến đấu. Tôi bỏ về phòng thay đồ dân sự và lập tức lấy xe gắn máy phóng nhanh ra cổng, vừa lúc địch quân cũng vừa vào tới.</p>
<p>Những giờ phút cuối cùng của trường bộ binh, tôi xin trích đoạn trả lời của Đại tá Trần Đức Minh, vị chỉ huy trưởng cuối cùng của trường bộ binh. Ông kể lại:</p>
<p>“Khoảng hơn một giờ sau khi im tiếng súng, đại diện của một đơn vị Bắc Việt đến, họ yêu cầu tôi thi hành lệnh của tổng thống và chuẩn tướng Hạnh để bảo đảm không nổ súng nữa. Trong khi nói chuyện, đại diện quân Bắc Việt yêu cầu tôi triệu tập các chỉ huy trưởng trong Huấn khu Thủ Đức đến gặp họ. Sự việc diễn ra rất ngắn ngủi, chỉ có khoảng vài trăm người mặt mày ngơ ngác, bần thần. Rồi loáng một cái, chẳng còn ai mặc quân phục nữa. Sinh viên si quan mặc đồ dân sự lủi thủi lê chân ra phía cổng chính. Chiều hôm đó đến lượt tôi trút bỏ quân phục…”</p>
<p>Viết để nhớ lại ngày 30-4-1975.</p>
<p>(Nguyễn Ngọc Thạch K20)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Chuyện thời hậu chiến</strong></p>
<p>Vượt biên, hắn không quên mang theo cái lon ngày xưa đính trên ve áo của hắn. Hai mươi năm sau, hắn bị buộc phải lựa chọn: hoặc hắn phải tìm một cái lon khác với cấp bậc cao hơn cho xứng với tuổi tác của hắn. Hoặc hắn phải trẻ lại, cứ mãi mãi ở lứa tuổi hai mươi, khi hắn mới ra trường Bộ binh Thủ Đức. Lương thiện, hắn chọn giải pháp thứ hai. Từ đó, hắn không lớn nữa.</p>
<p>(Website Tiền Vệ &#8211; <em>Truyện cực</em> ngắn hay <em>Truyện chớp</em>)</p>
<p><strong>Nhật ký Sài Gòn ngày dài nhất </strong></p>
<p>4 giờ 30 rồi…</p>
<p>Tôi mở cổng ra vỉa hè, nhìn xuống cầu Công Lý, nhìn lên dinh Độc Lập. Đường phố vắng hoe. Trời lất phất mưa. Không phải sương rây. Sẽ xảy ra chuyện gì những giờ sắp tới? Tôi trở vào nhà, rất mong những người lính Sài Gòn làm Sài Gòn thành một Stalingrad. Chúng ta đã có những ngày Hà Nội dân chúng đốt cháy phố phường, đục tường nhà này xuyên qua tường nhà nọ, sống với thủ đô, chết với thủ đô. Tôi mong được chết bởi đạn quân thù khi đang chiến đấu.</p>
<p>Trong những phút giây mà mạng sống như sợi chỉ treo mành, rất hiếm những con người còn dám ngẩng mặt. Những người này chung thân im lặng, đôi khi còn xấu hổ nếu có ai nhắc đến thái độ sống của mình, dẫu để vinh tôn. Vì khan hiếm những con người dám ngẩng mặt nên chúng ta thừa những con người mê muội thèm khát quyền bính đến quên cả thế lẫn thời. Lời thóa mạ nào dành cho những kẻ trí thức bám quanh Vũ Văn Mẫu bon chen danh vọng giờ thứ 25? Những tổng trưởng của Vũ Văn Mẫu rồi cũng vào tù. Và cũng muối mặt nhận mình là tù nhân tư tưởng! Tôi muốn quên hết, quên hết, quên cả những thảm cảnh đồng bào tôi di tản về đất hứa Phú Yên và bị ở lại với cộng sản. Đồng bào tôi xuống tàu từ Đà Nẵng tới Phan Thiết. Quên để mường tượng một Sài Gòn sắp biến thành Stalingrad vài giờ nữa.</p>
<p>5 giờ…</p>
<p>Tôi đã trải qua 300 phút của ngày dài nhất. Ngẫu nhiên, tôi trở thành chứng nhân của thời đại tôi, một chứng nhân không thích rườm rà chi tiết, một chứng nhân chỉ khoái vắn tắt từng sự kiện và suy diễn những sự kiện theo kiến thức hữu hạn của mình. Nhưng luôn luôn sáng tạo, cố gắng sáng tạo. Rất nhiều khi chứng-nhân-tôi quên hẳn những sự kiện quan trọng mà chỉ nhớ những sự kiện vớ vẩn. Người viết tiểu thuyết khác người viết lịch sử ở chỗ đó. Người viết tiểu thuyết thường khám phá ra ở sự kiện vớ vẩn cái vóc dáng đẫy đà và quan trọng hơn cả sự kiện quan trọng dưới mắt sử gia. Tôi mê huyền sử, dã sử nặng gấp bội chính sử, ngoại sử. Giản dị lắm, huyền sử và dã sử không thèm quan tâm tới niên biểu. Thế mà tôi lại quan tâm tới niên biểu của một ngày dài nhất đầu tiên trong đời tôi đã trôi mút mít 20 năm.</p>
<p>(…)</p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong>Quân sử ngoại truyện</strong></p>
<p>Trận đánh Nước Trong…</p>
<p>Ngày 26-4, Quân đoàn 2 tấn công căn cứ huấn luyện thiết giáp Nước Trong, đánh chi khu Long Thành. Ngày sau đó ta đánh chiếm thị xã Bà Rịa và Vũng Tàu.</p>
<p>Quân đoàn 2 sử dụng Sư đoàn 304 mở màn cuộc tấn công vào cụm Long Thành-Nước Trong, đánh bật được lính thủy quân lục chiến địch. Đến đêm 26-4, Sư đoàn 304 chỉ chiếm được trường thiết giáp, chưa giải quyết được khu vực trường Bộ Binh Long Thành.</p>
<p>Chiều ngày 27-4, với mũi thứ yếu, Sư đoàn 3 Sao Vàng, Trung đoàn 141 của sư đoàn này và Đại đội xe tăng 4 có pháo binh yểm hộ đã đánh chiếm được thị xã Bà Rịa.</p>
<p>Ở Vũng Tàu, Sư đoàn 3 Sao Vàng phải rút lui. 16 giờ ngày 29-4, Sư đoàn 3 trở lại và cũng chiếm được thị xã Vũng Tàu.</p>
<p>(Nhật ký chiến trường &#8211; Nguyễn Hữu An)</p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong>Nhật ký Sài Gòn ngày dài nhất </strong></p>
<p>Thường lệ, vào giờ này, sinh hoạt chợ Xóm Lách đã ồn ào. Hôm nay im vắng. Tôi lại mở cổng ra đường. Bước sát cột đèn lưu thông, tôi đứng ở ngã tư Công Lý-Yên Đổ. Lần đầu tiên, từ hai mươi năm khôn lớn tại Sài Gòn, tôi được nhìn Sài Gòn buồn bã. Như thể Sài Gòn choàng khăn tang và hồi chuông cáo phó đã đọng trên đầu cỏ, ngọn lá. Con phố Công Lý, con đường của VIP, nườm nượp xe cộ từ tan giới nghiêm đến bắt đầu giới nghiêm, hôm nay, vắng ngắt. Tôi mơ hồ thấy, trong hiu quạnh khôn cùng của ban mai Sài Gòn 30-4, những lời giối giăng đứt khúc. Chắc chắn không có sóng ngầm. Chắc chắn không có Stalingrad ở Sài Gòn. Không có một dấu hiệu nào chứng tỏ thành phố chuẩn bị nghênh giặc. Tôi đã thất vọng. Tôi đã tuyệt vọng. Não nề hơn, tôi đã thất tình với cuộc chiên đấu mơ ước. Với Dương Văn Minh và đám cỏ đuôi chồn, không bao giờ có chiến đấu, dù chiến đấu để chết đẹp, chết xứng đáng làm người. Tôi tự trách tôi ngu xuẩn đã không chịu suy diễn sự dọn đường quỳ mọp của Lý Quý Chung, phát ngôn viên chính thức của Dương Văn Minh. Tôi ngu xuẩn hay tôi giống người sắp chết đuối với được cái phao giới nghiêm 24 trên 24.</p>
<p>Chúng tôi đậu xe sát lề đại lộ Thống Nhất, ngay cửa tư thất của ông đại sứ Pháp tại Sài Gòn, thả bộ lên tòa đại sứ Hoa Kỳ. Trực thăng lên xuống đều đặn. Thủy quân lục chiến Mỹ mặc áo giáp, tay trần, kè kè M16. Chúng tôi lái xe ra bến Bạch Đằng. Những con tàu nghiêng lệch về một bên đã đi cả rồi. Cái phà qua Thủ Thiêm còn sang ngang. Và trên sông, những chiếc ghe chèo, ghe máy đuôi tôm vẫn thản nhiên xuôi ngược.</p>
<p>Chúng tôi trở lại Sài Gòn. Các cửa hiệu khu phố Lê Lợi, Tự Do, Nguyễn Huệ đóng cửa. Ở những căn nhà lầu, cửa sổ mở tung và những khuôn mặt ngó xuống nhìn Sài Gòn dáo dác. Khác với Sài Gòn ngày 11-11-1960, khác với Sài Gòn buổi chiều trước 1-11-1963, Sài Gòn sáng 30-4-1975 là ngày hân hoan dấu kỹ, là ngày ngơ ngác phô ra, là ngày sợ hãi hiện rõ. Trời u ám. Người ủ ê. Hơn 8 giờ mà mặt trời còn ẩn kỹ. Không một sợi nắng. Có ba ngày lạ lùng trong tháng 4. Hôm tên phi công phản phúc oanh tạc dinh Độc Lập, trời lất phất mưa. Hôm Dương Văn Minh &#8220;lên ngôi&#8221; tổng thống, trời lất phất mưa. Và hôm nay, trời u ám lạ thường. &#8220;Khí trời u uất hận chia ly&#8221;.</p>
<p>Câu thơ này đã diễn tả chính xác Sài Gòn buổi sáng 30-4-1975.</p>
<p>(…)</p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong>Giờ phút cuối của một đơn vị dù </strong></p>
<p>Đúng 10 giờ sáng ngày 30-4-1975, tôi nhận được lệnh rút lui, lúc đó đại đội của tôi là tuyến đầu của tiểu đoàn tại Hóc Môn. Đang di chuyển tôi được lệnh: Về Sài Gòn chờ lệnh. Không thu chiến lợi phẩm, bảo toàn lực lượng. Tôi trả lời: Hiểu và thi hành<em>.</em> Chúng tôi rút về tới ngã ba Bà Quẹo, một giờ vất vả và vô sự. Đơn vị chúng tôi tiếp tục di chuyển về ngã tư Bảy Hiền.</p>
<p>Một số phóng viên ngoại quốc bu lấy tôi hỏi đủ chuyện. Lúc đầu tôi trả lời bằng tiếng Anh: Tôi không biết. Nhưng sau đó một phóng viên ngoại quốc hỏi tôi bằng tiếng Việt:</p>
<p>&#8211; Anh thuộc đơn vị nào?<br />
&#8211; Nhảy dù.<br />
&#8211; Tôi muốn hỏi anh thuộc tiểu đoàn nào?<br />
&#8211; Anh cứ biết một tiểu đoàn nhảy dù đủ rồi.</p>
<p>Thấy tôi không muốn trả lời họ không hỏi nữa. Họ thi nhau chụp hình đơn vị đang rút của tôi rồi bỏ đi về hướng tiền quân. Nhảy dù! Không hiểu ai đặt ra cái luật khắt khe: ”Không được tự ý trả lời phóng viên dù là tên của mình“. Quý vị thấy những đơn vị bạn có những tên thật đẹp như Cọp Vằn, Hắc Báo, Kình Ngư, Đại Dương, v…v…Nhưng nhảy dù có những tên quái dị như: Con Gà tử mị, Sư Tử mắc nước, Con Cù lần, v…v…Còn tên các tiểu đoàn trưởng như: Trưởng ấp, Xã trưởng, Bồi bàn, Cao bồi, v…v…Đại đội trưởng: T…sốt rét, N. lai, H… ghẻ, v…v…</p>
<p>(Nguồn: tác giả ghi tên tắt là H.)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Nhật ký Sài Gòn ngày dài nhất </strong></p>
<p>8 giờ 15 phút…</p>
<p>Chúng tôi trở lại tòa đại sứ Mỹ…Lính Mỹ vẫn lạnh lùng canh gác. Con nít ngủ la liệt trên vỉa hè. Cụ già dựa lưng vào tường, nửa thức nửa ngủ và nửa mơ màng thiên đường Mỹ. Chúng ta tìm về đất hứa không có Moise hướng dẫn, không có Moise đầy phép tích nên chúng ta bệ rạc nằm, ngồi ngổn ngang trước toà đại sứ Mỹ, chúng ta ăn báng súng, ăn xô, ăn đạp.</p>
<p>8 giờ 17 phút…</p>
<p>Bất thần, thủy quân lục chiến Mỹ rút hết một lượt vào bên trong tòa đại sứ. Dân di tản nhất loạt đứng dậy. Cụ già tỉnh táo. Con nít thức giấc. Mọi người chờ đợi một &#8220;biến cố&#8230;</p>
<p>8 giờ 25 phút…</p>
<p>Không thể chờ đợi lâu hơn, nóng ruột lắm rồi. Dân di tản leo tường vào, xô cổng vào. Chiếc trực thăng bay lên đúng 8 giờ 30 phút. Dân di tản đã ùa vô đầy sân tòa đại sứ, không có chiếc trực thăng nào xuống, không còn chiếc trực thăng nào xuống nữa. Năm phút, mười phút, rồi ba mươi phút. Trực thăng hết vần vũ trên một góc trời Sài Gòn. Chiếc trực thăng cuối cùng rời Sài Gòn hồi 8 giờ 30 phút. Có thể, chuyến đó mang ông đại sứ Martin, các nhân vật của tòa đại sứ, và lính thủy quân lục chiến Mỹ ra khơi.</p>
<p>Dĩ nhiên, ông đại sứ Martin đã không quên gấp lá cờ sao xọc vuông vắn, bê theo, bước lên tàu bay. Thế giới có thể mường tượng cảnh cuốn cờ bỏ chạy của đại sứ Martin qua hình ảnh đại sứ John Dean cuốn cờ bỏ chạy khỏi Nam Vang đã đăng trên báo chí.</p>
<p>9 giờ…</p>
<p>Tôi bảo Đặng Xuân Côn thả tôi xuống trước rạp Kinh Thành. Côn chạy về Phú Nhuận. Mình tôi đứng bên dãy phố Hai Bà Trưng nhìn sang vỉa hè bên kia, buổi sáng Tân Định. Chỗ đó, vài hôm trước, tôi vừa gặp anh Trần Kim Tuyến, sơ-mi bỏ ngoài, giép Nhật Bản, thất thểu đi.</p>
<p>&#8211; Anh đi đâu đấy, anh Tuyến?</p>
<p>&#8211; Đi đâu?</p>
<p>Ông giám đốc sở nghiên cứu chính trị, &#8220;tên trùm mật vụ ác ôn thời Diệm&#8221; thở dài.</p>
<p>&#8211; Chúng ta đã chống cộng. Riêng tôi thì cứ ngoác miệng đòi &#8220;chống cộng đến chiều&#8221;. Và rồi chúng ta hỏi nhau đi đâu. Anh sẽ đi đâu, anh Tuyến?</p>
<p>&#8211; Chẳng hiểu.</p>
<p>&#8211; Mỹ nó không đón anh à?</p>
<p>&#8211; Không. Còn cậu? Cậu định đi đâu?</p>
<p>&#8211; Chẳng hiểu, anh ạ!</p>
<p>10 giờ 20 phút…</p>
<p>Chuông điện thoại reo:</p>
<p>&#8211; Long hả?</p>
<p>&#8211; Ừ!</p>
<p>&#8211; Chúng nó đã lảng vảng khu nhà tao rồi. Tao lên mày nhé?</p>
<p>&#8211; Hỏi chi nữa!</p>
<p>Tôi cúp điện thoại. Và, thật sự, kể từ phút này, tôi đã té nhào khỏi lãng du lênh đênh trên ước mơ, tôi hết dám thèm &#8220;thoát chết, bung ra&#8221;. Tôi sợ hãi. Tôi trở về với sự sợ hãi.</p>
<p>(…)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Giờ phút cuối của một đơn vị dù </strong></p>
<p>Tôi cúi mặt tránh những ánh mắt ái ngại của đồng bào, lầm lũi bước đi trên đường Lê Văn Duyệt quen thuộc, trước cổng trại Thạch Văn Thịnh (TĐ2 Nhảy dù) con đường rộng thênh thang, không còn bóng người, chỉ còn lại chúng tôi và một số phóng viên ngoại quốc. Tới cổng Hoàng Hoa Thám tự nhiên chân tôi chồn lại, tưởng như một khối chì nặng nề níu chân lại.</p>
<p>Đứng lại trong thế nghiêm tự nhiên, cay đắng nhìn cổng trại thân yêu, cách đây 10 năm tôi bước qua để chính thức trở thành lính Mũ Đỏ, chiếc cổng vô tri này nhưng ma lực của nó đã có sức hút vô cùng mạnh mẽ đối với chúng tôi ở lứa tuổi đôi mươi. Hình ảnh chiếc cổng hoang tàn với hàng rào concertina ngổn ngang như hoang phế lâu ngày, nhìn sâu vào trong trại, tôi thấy thấp thoáng những bạn bè, chiến hữu chúng tôi đang vội vã đi lại trong đó. Tôi không hiểu tôi đang là một thứ người gì, nhưng tôi đang đứng sững nghiêm chỉnh trước chiếc cổng như hình tượng cho một đơn vị, như thánh thần trong tâm khảm những ngày tung hoành ngang dọc.<br />
Tôi đưa tay chào chiếc cổng thân yêu, các phóng viên muốn thu hình này nhưng quá muộn, tôi lững thững bước đi như xác không hồn. Nước mắt tôi dàn dụa xen lẫn mồ hôi cay đắng, cơn nấc nghẹn ngào làm tôi nghẹt thở. Giã từ Hoàng Hoa Thám, giã từ đơn vị thân yêu, đơn vị đã được chúng tôi dâng trọn cuộc đời cho Hoàng Hoa Thám, dâng trọn cho đoàn quân Mũ Đỏ.</p>
<p>Tôi nhắm mắt bước đi theo đoàn quân chậm chạp rút lui như tử tội nặng nề bước chân lên bực thang máy chém. Tôi cố gắng im lặng để thanh thản bước đi nhưng hình ảnh anh em bạn bè cứ soi mói nhìn tôi như oán trách.</p>
<p>&#8211; Thưa Đích Thân “Ba” vừa đánh cháy thêm hai chiến xa nữa. Tiếng của Hòa người mang máy cho tôi. (hiện nay Hòa đang ở Úc Châu).<br />
&#8211; Ở đâu? Tôi hỏi vắn tắt.<br />
&#8211; Ngã ba Bà Quẹo.</p>
<p>(…)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Nhật ký Sài Gòn ngày dài nhất </strong></p>
<p>10 giờ 30….</p>
<p>Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Đặng Xuân Côn mở radio thật lớn. Tôi lặng người trong giọng nói cơm nguội của Big Minh. Tôi mất miền Nam từ giây phút này.</p>
<p>&#8211; Tắt radio đi, Côn?</p>
<p>&#8211; Để nghe xem còn tin tức gì nữa.</p>
<p>&#8211; Hết rồi.</p>
<p>&#8211; Chưa.</p>
<p>&#8211; Tôi bảo hết rồi. Tắt đi?</p>
<p>Mỗi biến cổ lịch sử xảy ra thường kèm theo những chuyện ngoài lề. Và những chuyện ngoài lề được truyền kể, được thêu dệt thành huyền thoại. Một trong những chuyện ngoài lề dưới đây không phải là huyền thoại. Mà là chuyện ở quán cà phê vỉa hè sau ngày 30-4-1975. Người ta thuật cho nhau nghe, luận bàn và người ta không thèm quan tâm đến cái vô lý của câu chuyện.</p>
<p>10 giờ, phủ tổng thống gọi đài phát thanh Sài Gòn, yêu cầu gửi gấp sang một chuyên viên ghi âm. Anh chuyên viên đem máy móc đến trình diện. Giám đốc báo chí dẫn anh tới phòng họp của tổng thống. Dương Văn Minh đọc lệnh đầu hàng tại đây. Kẻ viết lệnh đầu hàng là Lý Quý Chung (1), Tổng trưởng thông tin của nội các Vũ Văn Mẫu, &#8220;danh sĩ&#8221; của môn phái hoa lan. Dương Văn Minh đọc lệnh đầu hàng xong, anh đem băng về đài. Anh lái chiếc Honda 50…</p>
<p>Anh lái chiếc Honda 50… về đài phát thanh Sài Gòn. Nếu anh chuyên viên ghi âm bị đụng xe chết giữa đường Thống Nhất. Tôi tin chắc rằng lịch sử khác đi một chút. Nó cũng sẽ bị sang trang nhưng không đến nỗi sang trong buồn tủi. Sẽ có máu, nhiều máu của Sài Gòn 30-4-1975.</p>
<p>(…)</p>
<p>(1) Tình hình càng ngày càng nguy ngập. Khoảng 8 giờ sáng 30-4, ba ông Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Huyền và Vũ Văn Mẫu không còn lựa chọn nào hơn là đơn phương tuyên bố “bàn giao chính quyền cho Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam”. Ông Mẫu soạn lời tuyên bố mất khoảng một tiếng đồng hồ. (Hồi ký không tên &#8211; Lý Quý Chung)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Giờ phút cuối của một đơn vị dù </strong></p>
<p>Tôi vừa băng qua Đại đội 1 của đơn vị, được lệnh trực chỉ theo đường Trương Minh Giảng về hướng Sài Gòn đến ngã ba Trương Tấn Bửu chờ lệnh. Dọc theo bên đường dân chúng ái ngại nhìn chúng tôi, người chạy theo lên hướng Sài Gòn, người ngơ ngác đứng nhìn. Tôi vừa dừng chân tại Trương Tấn Bửu, trước bót cảnh sát.</p>
<p>&#8211; “Hai” đánh cháy 1 chiến xa và 3 xe vận tải tại ngã tư Bảy Hiền, “Ba” đã qua lăng Cha Cả, cùng bộ chỉ huy tiểu đoàn. “Một” còn nằm tại chỗ.<br />
Tôi im lặmg nghe Hoà báo cáo.<br />
&#8211; Thưa Đích Thân, “Hai” đã qua lăng Cha Cả.</p>
<p>Cùng lúc đó tôi nhận được lệnh kiếm chỗ trống trải để tập họp cả tiểu đoàn. Cùng lúc đó Hòa báo cáo: “1 vừa đánh cháy một chiến xa tại lăng Cha Cả và 2 xe vận tải“.</p>
<p>Vào khu Đại học Vạn Hạnh, tôi cho lệnh đứa con thứ tư của tôi đóng chốt giữ an ninh chung quanh khu đại học và từng đơn vị vào sân Đại học Vạn Hạnh tập họp chờ lệnh. Tôi thấy bọn băng đỏ lố nhố trong khuôn viên ĐHVH, chúng có vũ khí nhưng không một tên nào dám nhố nhăng, vì sau chúng có anh em của tôi kềm súng sẵn sàng hỏi tội chúng. Nhưng vị anh cả của chúng tôi im lặng, lầm lì quan sát, tôi thấy môi anh mím chặt, cặp mắt giận dữ nhìn chúng nhưng chưa một phản ứng, thì một tên mặc áo tu hành tay cầm loa đưa ngang miệng dõng dạc: Đất nước đã thống nhất, yêu cầu các anh em nhảy dù hãy buông súng trở về với cách mạng, cách mạng sẽ khoan hồng cho anh em.</p>
<p>Phản ứng tự nhiên, tôi rút súng chĩa về phía hắn, hắn thụt lùi vào trong hành lang, và hàng trăm cây súng sẵn sàng nhả đạn. Nhìn lên những anh em trên cao ốc, tôi thấy anh em đều chĩa súng sẵn sàng chờ lệnh. Tôi biết rằng nếu tôi siết cò súng là súng nổ rền trời ngay lập tức. Anh cả của chúng tôi im lặng, đứng sững như trời trồng, sau đó anh cho lệnh Đại đội 1 tìm bãi đất trống trải để tập họp tiểu đoàn, và cả đơn vị rút ra khỏi khu ĐHVH. Đại đội tôi đi sau cùng, tôi rút ra khỏi khu mà phải đi giật lùi như trong vùng địch, cẩn tắc biết đâu bị bắn lén.</p>
<p>(…)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Nhật ký Sài Gòn ngày dài nhất </strong></p>
<p>10 giờ 40…</p>
<p>Sau lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh, Đặng Xuân Côn và tôi ra vỉa hè trước cửa nhìn Sài Gòn chờ đợi lính ông Hồ từ Bắc vào. Trời hết âm u, nhưng vẫn chưa có nắng. Vẫn thiếu nắng vàng rực rỡ. Dân xóm Lách kéo lên. Lề đường Công Lý, gần nhà tôi đông nghẹt.</p>
<p>Một toán quân xuất hiện. Quân ta. Tôi đếm: 19 người. Mười chín người lính mặt cúi gầm, lầm lũi bước. Tối hôm qua, tôi đã thấy quân ta ngang qua đây. Quân ta và xe tăng. Hình ảnh người lính sửa xích tăng đã in vào tiềm thức tôi.</p>
<p>11 giờ…</p>
<p>Một bà mẹ hớt hơ hớt hái, từ dốc chợ xóm Lách, chạy lên đuổi theo toán quân. Bà mẹ già ôm chặt lấy một người lính:</p>
<p>&#8211; Hết chiến tranh rồi. Về thôi, con?</p>
<p>Người lính cố gỡ nhẹ tay mẹ mình ra:</p>
<p>&#8211; Con không về được.</p>
<p>Bà mẹ khóc. Bà mẹ khóc tức tưởi:</p>
<p>&#8211; Sao vậy? Có lệnh hàng rồi mà.</p>
<p>Người lính lắc đầu.</p>
<p>&#8211; Con không thể về được.</p>
<p>Bà mẹ rên rỉ:</p>
<p>-Bỏ hết đi con, về với má.</p>
<p>Người lính gỡ mạnh tay mẹ mình ra:</p>
<p>&#8211; Má về đi, con phải theo các bạn con.</p>
<p>Người lính chạy nhanh để bắt kịp các chiến hữu.</p>
<p>Bà mẹ đứng bên đường mắt đẫm lệ, nhìn theo con mình&#8230;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>***</strong></p>
<p>&#8211; Rồi người lính có về không?</p>
<p>Đó là câu hỏi của ký giả Patrick Sabatier của nhật báo La Libération đã đến tận nhà tôi ở Ivry sur Seine phỏng vấn tôi để làm số báo đặc biệt cho ngày 30-4-1985.</p>
<p>&#8211; Tôi không biết, ông Patrick ạ! Sau 6 năm tù đầy trở về, tôi hỏi thăm người xóm Lách, được rõ là bà mẹ còn sống, và người con vẫn biệt tăm&#8230;</p>
<p>&#8211; Anh ta đi đâu?</p>
<p>Số báo đặc biệt của La libération, một tờ báo khuynh tả đã đăng bài báo có tựa đề: “Rồi người lính có về không?” vào ngày 30-4-1985.</p>
<p>(…)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Giờ phút cuối của một đơn vị dù </strong></p>
<p>Vùng tập họp mới của chúng tôi ngay tại ngã tư Yên Đổ và Trương Minh Giảng. Chúng tôi vừa vào hàng ngũ, đơn vị nghiêm chỉnh trình diện anh cả của đơn vị.</p>
<p>Anh cả của đơn vị gương mặt thiểu não nói trong nghẹn ngào. Tôi có cảm tưởng như tiếng nói của anh bị đứt đoạn nhiều lần: Tôi xin chào tạm biệt các anh em. Xin báo cho các anh em biết chúng ta đã nhận được lệnh buông súng đầu hàng. Tôi điều động anh em đến đây để bảo với anh em một lệnh cuối cùng: “Chúng ta chào tạm biệt nhau tại đây ai về nhà nấy, tất cả quân</p>
<p>trang, quân dụng tuỳ anh em định liệu, quyền chỉ huy của tôi đến đây đã chấm dứt.<br />
Cả đơn vị im lặng không một tiếng xì xào bàn tán.</p>
<p>Chúng tôi lặng người trong ngỡ ngàng tột độ, những lời lẽ thiếu mạch lạc của anh cả phát ra từ xúc động. Tiếng nói của anh chấm dứt sau vài phút đơn vị vẫn đứng im. Cả hàng quân đang im lặng, anh cả vẫn còn đứng đó, anh đang cúi mặt. Cái im lặng xa vắng, cái im lặng khủng khiếp. Tôi cũng đã biết giờ phút này phải đến, nhưng không ngờ nó đến trong bẽ bàng thế này!!! Nhìn hàng quân súng đạn còn đủ dùng, mặt mũi âu sầu. Cơn đau đớn ê chề xâm chiếm dần dần như làn hơi thổi vào chiếc bong bóng tới độ không chịu được phải phát nổ.</p>
<p>Thình lình T., một trung đội trưởng của tôi, nước mắt dàn dụa nhảy ra ngoài hàng quân, T. dơ cao trái lựu đạn và nói to: “Các anh em của tôi hãy tan hàng, để một mình tôi ở lại thôi”, T. vừa nói xong khoảng 10 anh em vừa bước tới chỗ T. vừa nói: Để tụi em chơi chung với.</p>
<p>Bất chợt hai tiếng lựu đạn nổ chát chúa&#8230;</p>
<p>Tổng cộng 11 anh em đã ôm nhau từ giã, Trong số 11 anh em cấp bậc lớn nhất là thiếu úy trung đội trưởng, người cấp bậc nhỏ nhất là binh nhì khinh binh.<strong> </strong></p>
<p>(Nguồn: Tác giả ghi tên tắt là H.)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Ngộ Không</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2016</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ngo-khong-tap-ghi-sau-40-nam-ky-15/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Kh&#244;ng : Tạp Ghi Sau 40 Năm &#8211; Kỳ 14</title>
		<link>https://t-van.net/ngo-khng-tap-ghi-sau-40-nam-ky-14/</link>
					<comments>https://t-van.net/ngo-khng-tap-ghi-sau-40-nam-ky-14/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 09 May 2016 13:33:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Ngộ Không: tạp ghi sau 40 năm]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không; tạp ghi sau 40 năm]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=27025</guid>

					<description><![CDATA[Nội chiến Nam Bắc Tháng Tư của 150 năm trước… Tháng Tư của Hoa Kỳ là một ngày của lịch sử. Sau chiến tranh giành độc lập, 13 thuộc địa Bắc Mỹ thắng Anh quốc trở thành Hoa Kỳ với tổng thống George Washington thì tiếp theo đến trận nội chiến chia đôi Nam Bắc. [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><b>Nội chiến Nam Bắc</b></p>
<p>Tháng Tư của 150 năm trước…</p>
<p>Tháng Tư của Hoa Kỳ là một ngày của lịch sử. Sau chiến tranh giành độc lập, 13 thuộc địa Bắc Mỹ thắng Anh quốc trở thành Hoa Kỳ với tổng thống George Washington thì tiếp theo đến trận nội chiến chia đôi Nam Bắc. Vào thời kỳ đó, nước Mỹ gồm các tiểu bang đông-bắc chủ trương giải phóng nô lệ. Các tiểu bang miền Nam quyết đòi giữ lại chế độ nô lệ cho nông nghiệp. Tổng thống miền Nam là Jefferson Davis. Thủ đô là Richmond tại Virginia.</p>
<p>Nội chiến xảy ra thời Tổng thống Abraham Lincoln với hai vị tướng Ulysses S. Grant của miền Bắc và tướng Robert E. Lee của miền Nam. Khi cuộc chiến Nam Bắc bùng nổ, nước Mỹ chia đôi, 11 tiểu bang miền Nam ly khai. Hoa Kỳ còn lại 21 tiểu bang miền Bắc. Trận đánh cuối cùng, quân miền Bắc chiếm được Richmond vào ngày 2-4-1865. Hai ngày sau tổng thống Lincoln thị sát Richmond, bước vào <i>dinh tổng thống miền Nam đã bỏ chạy</i>. Ngày 15-4-1865, tổng thống Lincoln bị ám sát.</p>
<p>Cuộc chiến tranh với hàng trăm trận đánh tại miền đông Hoa Kỳ trong 4 năm đã làm cho quân hai bên chết 620 ngàn và hàng triệu người bị thương tích..Cuộc chiến tranh tương làm tan nát các đô thị miền đông và vùng Virginia, nhưng không thiếu những cuộc tình bất hủ của thời chiến, tất cả đã thể hiện trong tác phẩm và cuốn phim bất hủ <i>Cuốn theo chiều gió</i>.</p>
<p>(Nguyễn Hòa Bình)</p>
<p><b>Thâm u bí sử</b></p>
<p>Năm 1982, nhà xuất bản văn nghệ Sài Gòn phát hành một quyển sách có tên là <i>Những chặng đường lịch sử của B2 thành đồng: Kết thúc cuộc chiến 30 năm</i> của Thượng tướng Trần Văn Trà. Sách ra được một tháng thì bị tịch thu và gây ra sôi động trong giới tướng lãnh Hà Nội. Trong sách, tướng Trà chỉ trích giới tướng lãnh Hà Nội nhát và đánh giặc kiểu nhà giàu.</p>
<p>Theo ông, công chiến thắng ở miền Nam đến từ mặt trận B2, mà ông là một trong những tư lệnh của chiến trường đó. Theo ông Trần Văn Trà, ông là người đề nghị đánh thẳng vào Ban Mê Thuột thay vì tấn công lẻ tẻ các quận nhỏ.</p>
<p>Kinh nghiệm quân sự của tướng Trà làm nhiều tướng lãnh Hà Nội ghen ghét. Đó cũng là lý do tại sao sách của ông ta bị thâu hồi khi vừa được xuất bản. Về quyển <i>Chiến tranh hay hòa bình</i>. Một vài chi tiết quan trọng của cuốn này nói về các lực lượng tập kết ra Bắc, và có một thời gian lực lượng này (Sư Ðoàn 335) nổi loạn chống lại cộng sản Việt Nam nhưng bị đè bẹp.</p>
<p>(Binh đoàn, binh Trạm, và đường đi B – Nguyễn Kỳ Phong)</p>
<p><b>Nội chiến Nam Bắc</b></p>
<p>Câu chuyện đầu hàng…</p>
<p>Lịch sử ghi lại rằng cách đây 150 năm, kỵ binh của miền Bắc cùng với 3 quân đoàn bộ binh vây hãm quân miền Nam hết đường tháo lui. Bộ tham mưu của tướng Lee đề nghị phân tán để đánh du kích, nhưng tướng Lee quyết định đầu hàng. <i>Vị tiếp vận bị giới hạn nên đành chấp nhận thua cuộc</i>.</p>
<p>Với lá thư riêng gửi cho tướng Grant yêu cầu thu xếp buổi họp mặt. Vị tư lệnh miền Bắc <i>ra lệnh nghiêm cấm các sĩ quan và binh sĩ trực thuộc không được tỏ ra bất cứ hành động nào vô lễ với ông tướng tư lệnh và quân lính miền Nam bại trận</i>.</p>
<p>Ngày lịch sử 9-4-1865, tướng Lee và đại tá tùy viên cưỡi ngựa đến nơi hẹn ước. Hình ảnh ghi lại hai người đi qua <i>đoàn quân nhạc của lính miền Bắc thổi kèn chào đón</i>.</p>
<p>Theo quy luật chiến tranh thời đó, quân miền Nam phải giải giới, tước bỏ khí giới và quân dụng. Tướng Lee đồng ý nhưng chỉ đòi hỏi một điều là yêu cầu cho binh sĩ của ông được giữ lại lừa ngựa để canh tác, vì lính miền Nam đem ngựa từ các nông trại của họ đi chiến đấu. Tướng Grant thỏa hiệp là sẽ không sửa chữa chính thức trên văn bản nhưng thực tế sẽ cho lệnh để lính miền Nam đem lừa ngựa về nhà mà xây dựng lại nông trại.</p>
<p>Ngay sau khi <i>chiến tranh chấm dứt, hoàn toàn không có tù binh</i>.</p>
<p>(…)</p>
<p><b>Thâm u bí sử</b></p>
<p>Trong <i>Những chặng đường lịch sử của B2 thành đồng: Kết thúc cuộc chiến 30 năm,</i> của thượng tướng Trần Văn Trà tiết lộ:</p>
<p>Tướng Hoàng Cầm dùng Quân đoàn 4 đánh chiếm Phước Long (ngày 6-1-1975). Mất Phước Long, con đường huyết mạch từ Sài Gòn lên Kontum bị tê liệt. Lúc đó Bộ tư lệnh B3 của tướng Hoàng Minh Thảo sẵn sàng chuẩn bị đánh Kontum. Cho đến khi tướng Trà phản đối (có ý kiến thì đúng hơn) với Văn Tiến Dũng và Võ Nguyên Giáp khi họ cho phép tướng Hoàng Minh Thảo (tư lệnh mặt trận B3 Tây Nguyên) mượn một sư đoàn của B2 để đánh Kontum.</p>
<p>Ông đề nghị:</p>
<p><i>Nếu đánh thì đánh Ban Mê Thuột, vì đó là điểm đối phương không chú ý</i>.</p>
<p>Trong khi quân ủy cãi tới cãi lui về mục tiêu của họ ở Tây Nguyên, Lê Duẫn và Lê Đức Thọ nghe theo đề nghị của tướng Trà: <i>Ban Mê Thuột là mục tiêu chính</i>.</p>
<p>***</p>
<p>Trong hồi ký của Văn Tiến Dũng (Đại thắng mùa xuân), ông kể lại trong một buổi họp Quân ủy trung uơng để quyết định đánh vùng nào ở Tây Nguyên, thì Lê Đức Thọ bất thình lình bước vào phòng họp và &#8220;chỉ đạo&#8221; các tướng tư lệnh quân sự đang họp:</p>
<p>‘’Lệnh là phải đánh Ban Mê Thuột, không được bàn cãi. Thọ nhấn mạnh thêm một câu : Chúng ta có năm sư đoàn ở Tây Nguyên mà đánh Buôn Mê Thuột không được là như thế nào?</p>
<p>(Binh đoàn, binh Trạm, và đường đi B – Nguyễn Kỳ Phong)</p>
<p><b>&#8211; : </b><em>Những chặng đường lịch sử của B2 thành đồng</em>, và <em>Hòa hay chiến tranh</em> bị Lê Đức Thọ chỉ trích sách ấy…<i>sai từ đầu đến cuối</i>.</p>
<p><b>Nội chiến Nam Bắc</b></p>
<p>Nghĩa trang của phe chiến bại…</p>
<p>Năm 1861 khởi chiến Nam Bắc, năm 1901 tức <i>40 năm sau cuộc chiến</i>, mở đầu cho giai đoạn hòa giải dân tộc, các tử sĩ miền Nam được cải táng đưa vào nghĩa trang Arlington của bên thắng cuộc ở Hoa Thịnh Ðốn gọi là Confederate Memoria. Ở đấy người ta dựng lại lịch sử các trận chiến. Những cái chết hào hùng của cả hai bên, các tướng lãnh, sĩ quan, binh sĩ quân phục màu xanh của Nam quân, quân phục màu xám của Bắc quân. Nhưng đặc biệt là hình ảnh của bên thua cuộc lại được lưu ý hơn cả bên thắng cuộc. Lá cờ rách gạch chéo với 13 ngôi sao của miền Nam một thời tung hoành trên chiến trường được treo tại thủ đô cũ Richmond bây giờ lại là bảo vật hào hùng của bảo tàng viện “Đầu hàng”.</p>
<p>Trước khi bị ám sát, Tổng thống Abraham Lincoln đã nói: “<i>Người ta có thể từ bỏ mọi thứ, nhưng không ai từ bỏ được lịch sử. Trước sau gì, lịch sử của bậc anh hùng sẽ phải được dựng lại ở chính nơi mà những người anh hùng đã ngã xuống</i>.”</p>
<p>Ðó là bài học chiến tranh, và sau đó là hành xử của người chiến thắng biết tôn trọng kẻ thù&#8230;</p>
<p>(Nguyễn Hòa Bình)</p>
<p><b>Bên lề trận chiến</b><b></b></p>
<p>Chuyện “Dinh Độc Lập 11 giờ 15 phút” như chuyện Lã Sinh Môn (Rashomon-Nhật) vì mỗi người kể mỗi khác. Chuyện 2 chiếc xe tăng húc đổ dinh Độc Lập cũng vậy, vì “lịch sử được làm bằng báo chí” và được “phục dựng”<i> </i>lại…(Lê Văn Phượng, người húc đổ cổng dinh ĐL)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Chuyện hai chiếc xe tăng húc đổ dinh Độc Lập</b></p>
<p>Ngày 1-5-1975, khi rút về căn cứ Long Bình, anh Lê Văn Phượng đã viết tường trình những gì đã xảy ra: Tank 390 của anh húc đổ cổng bên trái và vào dinh Độc Lập trước. Tank 843<i> </i>của Bùi Quang Thận bị kẹt ở cổn bên phải không vào đươc.</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2016/05/clip_image002-14.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/05/clip_image002_thumb-150x150.jpg?strip=all" alt="clip_image002" width="208" height="156" border="0" hspace="12" /></a></p>
<p>Tanh 390 Tank 843 (bị kẹt lại)</p>
<p>Anh không biết cấp trên báo cáo ra sao để “lịch sử thành văn” chỉ nhắc đến chiếc xe của Bùi Quang Thận. Về sau, do vụ “cắm cờ” đã khá bầm dập nên nhiều anh nghĩ, cải chính làm chi cho phức tạp, phiền toái thêm.</p>
<p>Khi coi phim tài liệu, thấy Bùi Quang Thận cầm <i>một lá cờ rất to, loại cờ không chứa trong chiếc xe tăng tiến vào dinh trong ngày 30-4</i>, Lê Văn Phượng tặc lưỡi nghĩ: “Lịch sử đôi khi được làm bằng báo chí”. Những thước phim, những bức ảnh “húc đổ cổng dinh Độc Lập” được “phục dựng đã thế chỗ sự thật”. Sau đó, Việt Nam lại xung đột với Trung Quốc mà <i>chiếc tank 390 của anh là T59, viện trợ của Trung Quốc</i>, trong khi <i>chiếc tank 843 của Bùi Quang Thận là T54, viện trợ của Liên Xô</i>. Vì vậy anh lại càng không nghĩ tới việc làm rõ sự kiện này.</p>
<p>(Francoise de Mulder)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Thời khắc lịch sử: Đầu hàng</b></p>
<p>Chiều tối, Trung tướng Vĩnh Lộc, Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh vào dinh Hoa Lan thuyết trình tình hình quân sự quanh khu vực Sài Gòn. Cuộc thuyết trình khẳng định tình thế hoàn toàn tuyệt vọng với quân lực VNCH. Sau khi hai tướng lĩnh về, tôi đề xuất với ông Minh nên vào dinh Độc Lập ngủ đêm nay. Ở đó có tầng hầm chống lại pháo kích bom. Sau một phút suy nghĩ, ông Minh đồng ý vào dinh Độc Lập. Lúc đó khoảng 9 giờ tối.</p>
<p>Xe từ dinh Hoa Lan ra cổng trước, đi theo đường Hồng Thập Tự, đến đường Công Lý rẽ trái là đến cổng chính vào dinh Độc Lập. Đường đi chưa đến một ngàn mét. Vì có khá đông người, trong đó có cả gia đình của một số dân biểu, nghị sĩ. Khi sĩ quan trong dinh hướng dẫn ông bà Dương Văn Minh đến phòng ngủ của ông bà Thiệu trước đây ở tầng hai. Ông bà Minh mời vợ chồng tôi và vợ chồng dân biểu Nguyễn Hữu Chung vào ở chung phòng. Sự nhớ hồi chiều chưa dùng cơm, tôi hỏi viên sĩ quan trong dinh có gì để ăn không. Viên sĩ quan này bối rối trả lời rằng <i>không còn gì cả dù chỉ là một miếng bánh mì và thịt nguội! </i></p>
<p>Trong phòng ngủ của ông Thiệu chỉ có một cái giường dành cho ông bà Minh. Tôi không biết ông bà có chợp mắt được hay không. Vợ chồng tôi và vợ chồng Nguyễn Hữu Chung ngả lưng trên sàn có trải thảm cạnh đó. Vợ tôi và vợ Chung (Nguyễn) rì rầm nói chuyện với nhau cả đêm. Chỗ Chung (Nguyễn) và tôi nằm, nhìn thẳng ra đại lộ Thống Nhất. Trước mắt chúng tôi là quang cảnh máy bay trực thăng liên tục đáp xuống sân thượng tòa đại sứ Mỹ bốc người đưa ra Đệ thất hạm đội, tạo nên một vầng sáng kỳ lạ, nhìn từ xa như một đám cháy lớn. Thật khó tả</p>
<p>tâm trạng của tôi trước quang cảnh này.</p>
<p>Đúng lúc đó tôi bỗng nghe Chung (Nguyễn) nói nhỏ vào tai tôi: “Mai tao đi. Con tao còn nhỏ quá, bên vợ không ai chịu ở lại&#8230;”. Gia đình bên vợ Chung (Nguyễn) là người Bắc di cư nên thật khó ở lại. Biết được quyết định của người bạn đã gắn bó với mình trong suốt những năm tháng hoạt động chung ở quốc hội tôi sững sờ nằm lặng yên. Bởi tôi biết lời khuyên của tôi trong trường hợp này là vô ích. Chung (Nguyễn) là người bạn thân nhất của tôi dù đôi khi chúng tôi có quan điểm khác nhau. Tôi không nhớ đêm đó mình có chợp mắt lúc nào hay không. Vầng sáng trước mặt như một đám cháy, kéo dài suốt đêm, đến hừng sáng hôm sau&#8230;</p>
<p>(Hồi ký không tên – Lý Quý Chung &#8211; Chương: “Thời khắc lịch sử: Đầu hàng”)</p>
<p><b>&#8211; :</b> Chú thích của tác giả: Ở Sài Gòn lúc đó người ta gọi phân biệt hai Chung và hai Trung.</p>
<p>Chung Nguyễn (Nguyễn Hữu Chung) và Chung Lý (Lý Quý Chung) trong quốc hội và báo chí.</p>
<p>Trung Lý (Lý Chánh Trung) và Trung Nguyễn (Nguyễn Văn Trung) dạy đại học.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Chuyện hai chiếc xe tăng húc đổ dinh Độc Lập </b></p>
<p>Chiến tranh chấm dứt, Trung úy Bùi Quang Thận được điều về bộ chỉ huy. Còn Thiếu uý Lê Văn Phượng và tank 390 được điều lên biên giới Tây Ninh, chuẩn bị cho cuộc chiến ở Campuchia, rồi tháng 3-1979 lại được điều ra tham gia cuộc chiến tranh phía Bắc.</p>
<p>Thiếu úy Lê Văn Phượng ra quân, về quê, năm 1992 anh học hớt tóc, rồi dựng lều hành nghề ở bờ hào bên thành nhà Mạc, bị công an đuổi chạy lên, chạy xuống. Sau, người lính đã cho chiếc tank nghiến lên cổng dinh Độc Lập ấy đã phải chạy về mở lán cắt tóc gần cổng trường Sĩ quan lục quân ở Sơn Tây. Tuy không tranh dành quyền lợi ở chốn quan trường, nhưng trong thẳm sâu, người lính ấy cũng tự hào về những gì mà mình đã làm cho đất nước.</p>
<p>Anh đem chuyện “húc đổ cổng dinh Độc Lập” kể với con. Nhưng ở trường, <i>lịch sử dạy không giống như những gì đã xảy ra</i>. Đứa con về khóc: Bố nói bố chỉ huy xe 390 vào dinh Độc Lập trước tiên, con khoe với bạn học và cô, nhưng bài học dạy, bác Bùi Quang Thận lái xe vào trước và cắm cờ trên dinh. Chúng bạn trêu con nói phét. Con xin nghỉ học.</p>
<p>(…)</p>
<p><b>Góp nhặt…ghi chép…</b><b></b></p>
<p>Theo ông Lý Chánh Trung, ông Minh đã lặng lẽ ra đi mà không hề để lại một dòng hồi ký. Ông Minh có lẽ đã <i>khôn ngoan cứ để cho người đời bàn cãi về việc ai đã ra lệnh giết hai anh em nhà Ngô Đình Diệm, về việc vì sao lại chọn cách đi vào lịch sử như một kẻ đầu hàng</i>.</p>
<p>Ông Lý Chánh Trung là người đọc điếu văn trong tang lễ khi ông Minh mất tại Mỹ ngày 6-8-2001. Sau bài điếu văn, ông thổ lộ: Ông Dương Văn Minh khi nhận trách nhiệm thì sẵn sàng chịu số phận như Thủ tướng Cao Miên Sirik Matak bị Khờ me đỏ giết ở Nam Vang.</p>
<p>Trong nhà quàn ở Rose Hill, nam California có mặt ông bà cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu,</p>
<p>ông bà cựu Phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ, tướng lãnh và một số sĩ quan thân cận ông Minh. Nhưng các khách đến viếng không một ai mặc quân phục. Trong tang lễ, không hình ảnh nào liên quan đến đời quân ngũ của cựu (1) Đại tướng Dương Văn Minh, như: Gươm lệnh, gậy chỉ huy, huy chương, mũ “kết-pi”, v…v…Tuy nhiên lĩnh cữu ông Minh có phủ quốc kỳ VNCH.</p>
<p>***</p>
<p>(1) Năm 1964 khi bị “chỉnh lý” bởi tướng Nguyễn Khánh, “Quốc trưởng” Nguyễn Khánh phong cho ông Minh chức “đại tướng”. Nhưng ông Minh không nhận.</p>
<p>Vì vậy sau có người gọi ông là…“đại tướng”, có người gọi ông là trung tướng.</p>
<p><b>Chuyện hai chiếc xe tăng húc đổ dinh Độc Lập </b></p>
<p>Lê Văn Phượng xuất ngũ năm 1992. Sau 1995, chiếc tank 390 được đem về Bảo tàng tăng thiết giáp, Hà Nội. Nhưng tank 390 của Trung Quốc được thay thế với…tăng T54 của Liên Xô.</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2016/05/clip_image004-5.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image004" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/05/clip_image004_thumb-150x148.jpg?strip=all" alt="clip_image004" width="249" height="186" border="0" /></a></p>
<p>Tank 390 tại Hà Nội</p>
<p>(Francoise de Mulder)<b></b></p>
<p><b>Thời khắc lịch sử: Đầu hàng</b></p>
<p>8 giờ sáng ngày 30-4, các nhân vật dự kiến trong tân nội các tập trung tại phủ thủ tướng nằm ở cuối đại lộ Thống Nhất. Khi Tổng thống Dương Văn Minh đến, cuộc họp diễn ra với một số người rất hạn chế, gồm Phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền, Thủ tướng Vũ Văn Mẫu&#8230;Trong khi những thành viên còn lại của chính phủ ngồi đợi ở phòng ngoài.</p>
<p>Ông Minh mở đầu buổi họp bằng việc trình bày tình hình quân sự nói chung và Sài Gòn nói riêng là không còn cứu gỡ. Cũng không nên nghĩ tới một cuộc thương thuyết chính trị với chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam và Hà Nội, qua trung gian chính phủ Pháp. Trong khi đó tình hình an ninh của thành phố Sài Gòn nguy ngập, chính phủ hoàn toàn không có khả năng kiểm soát. Ông Dương Văn Minh kết luận: Để tránh cho Sài Gòn những tai hoạ đã xảy ra như tại Đà Nẵng, mà có thể còn tồi tệ hơn, tôi quyết định trao quyền cho Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam. Phòng họp im lặng, không có ai phản đối.</p>
<p>Được sự đồng ý của những thành viên chính yếu của chính phủ, ông Minh ra lệnh cho tôi với tư cách tổng trưởng thông tin cho gọi nhân viên kỹ thuật của đài truyền hình và đài phát thanh đến để thu âm bài tuyên bố. Khoảng 15 phút sau, anh em kỹ thuật viên đến, cuộc thu âm bài tuyên bố giao quyền của Tổng thống Dương Văn Minh hoàn chỉnh. Đích thân chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh cầm cuộn băng và nhật lệnh đi đến đài.</p>
<p>(…)</p>
<p><b>Góp nhặt…ghi chép…</b></p>
<p>Theo kế hoạch thì chính phủ của Thủ tướng Vũ Văn Mẫu sẽ “ra mắt” vào lúc 10 giờ sáng 30-4-1975, nhưng khi các nhân vật của chính phủ cũ và mới cùng đến số 7 Thống Nhất, họ nghe được tuyên bố bàn giao chính quyền của Tổng thống Dương Văn Minh. Nhiều người trong số họ đã di chuyển sang dinh Độc Lập không phải để tuyên thệ mà để chờ đợi.</p>
<p>Trong thời gian ấy, tướng Nguyễn Hữu Hạnh sang đài phát thanh Sài Gòn tiếp nhận đài để trao cho phía “cách mạng”. Khi tướng Hạnh trở lại phủ thủ tướng, nơi đây đã hoàn toàn vắng lặng. Ông Hạnh chạy đến nhà ông Dương Văn Minh ở đường Hồng Thập Tự thì được biết ông Minh và gia đình đã vào dinh Độc Lập.</p>
<p><b>Thời khắc lịch sử: Đầu hàng</b></p>
<p>Cũng đúng lúc này có điện thoại từ chùa Ấn Quang của sinh viên đấu tranh Nguyễn Hữu Thái. Anh cho biết Thượng tọa Thích Trí Quang muốn nói chuyện trực tiếp với ông Minh. Cuộc nói chuyện kéo dài khoảng hai phút. Sau đó thượng tọa Trí Quang nói chuyện với Giáo sư Vũ Văn Mẫu. Tôi được biết nội dung hai cuộc điện đàm này của <i>Thượng tọa Thích Trí Quang nhằm thuyết phục Tổng thống Dương Văn Minh đầu hàng</i>. Trong khi ấy tôi thấy ông Minh ngồi thừ ra như có gì suy nghĩ lâu lắm. Riêng tôi lại e ngại, nếu đầu hàng chính thức đơn phương thì sẽ ra sao? Vì nhiều đơn vị quân đội VNCH vẫn còn đó, có khả năng họ sẽ phản ứng chống lại.</p>
<p>Chiếc xe của tổng thống Minh và đoàn mô tô bảo vệ đến dinh Độc Lập khoảng 9 giờ 30 sáng. Ông Nguyễn Văn Hảo, phó thủ tướng của nội các Nguyễn Bá Cẩn, nội các cuối cùng của chính phủ Thiệu, có mặt ở phòng họp chính. Theo chương trình định trước thì phó thủ tướng Hảo đại diện cho nội các cũ sẽ bàn giao cho nội các mới của ông Dương Văn Minh. Nhưng cuộc bàn giao giữa hai nội các cũ và mới đã không xảy ra. Vì luật sư, nghị sĩ Nguyễn Văn Huyền được ông Minh chọn làm phó tổng thống, lúc đầu có mặt tại dinh Độc Lập nhưng sau lại về nhà riêng.<br />
Thời gian chờ đợi căng thẳng tôi chợt nghĩ: Cũng nên có mặt nhà báo vào lúc quân giải phóng vào dinh Độc Lập. Lúc này tôi nhớ đến nhà báo nữ tên Mai làm cho hãng thông tấn AFP. Tôi gọi điện cho Mai. Và Mai đến ngay với trưởng văn phòng AFP tại Sài Gòn Jean Louis Arnaud (1). Lúc nào Arnaud cũng ăn mặc trịnh trọng. Một bộ complet màu trắng khói, trên cổ thắt một chiếc nơ và trên tay có sẵn một cuốn sổ nhỏ.</p>
<p>Bỗng có người vào báo có một người Pháp muốn gặp Tổng thống Dương Văn Minh. Đó là cựu tướng Pháp Vanuxem, ông đề nghị để cứu vãn tình hình tuyệt vọng của chế độ Sài Gòn: Hãy rút về Cần Thơ, cố thủ Vùng 4 chiến thuật, chỉ vài ngày nữa thôi Trung Quốc sẽ áp đặt giải pháp trung lập hóa miền Nam. Tướng Minh than: Hết Tây đến Mỹ, chẳng lẽ bây giờ còn đi làm tay sai cho Tàu nữa sao!. Đứng xớ rớ một lúc, Vanuxem biến lúc nào tôi không nhớ.</p>
<p>(…)</p>
<p>(1) Jean Louis Arnaud là nhà báo thiên tả.</p>
<p><b>Góp nhặt…ghi chép… </b></p>
<p>Sau khi Nguyễn Văn Thiệu đã từ chức, nhường lại ghế tổng thống VNCH cho Trần Văn Hương, người Pháp vẫn tin rằng họ có thể dàn xếp được một giải pháp chính trị. Tại <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Paris">Paris</a>, ông <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Jean_Sauvagnargues&amp;action=edit&amp;redlink=1">Jean Sauvagnargues</a>, bộ trưởng ngoại giao cộng hòa Pháp đã nhiều lần triệu kiến đại sứ <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam_D%C3%A2n_ch%E1%BB%A7_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a">Việt Nam dân chủ cộng hòa</a> Phạm Văn Ba và trưởng đoàn đại diện Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa Nam Việt Nam Võ Văn Sung đến trụ sở bộ ngoại giao đưa ra các đề nghị về một giải pháp chính trị như chính phủ liên hiệp.</p>
<p>Trong lúc tìm kiếm giải pháp thương lượng lập chính phủ liên hiệp ba thành phần. Ngày 28-4, ông Dương Văn Minh đã bổ nhiệm <i>người trung gian là ông Triệu Quốc Mạnh</i>. Ông Mạnh là người được phía Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam cài vào <i>chức vụ giám đốc cảnh sát đô thành</i>. Lấy cớ thực hiện ý định của tổng thống, ông Mạnh đã giải tán các phòng cảnh sát đặc biệt, các bộ chỉ huy cảnh sát các quận. Những hoạt động của ông Triệu Quốc Mạnh đã <i>vô hiệu hóa gần như toàn bộ lực lượng cảnh sát tại Sài Gòn</i>.</p>
<p>Ngày 28-4, ngay sau khi tân Tổng thống Dương Văn Minh vừa thu âm xong bản tuyên bố của mình với yêu cầu cả hai bên ngưng bắn, thì ông Vanussème, tùy viên quân sự của đại sứ quán Pháp xuất hiện. Ông này yêu cầu ngưng phát cuộn băng và đưa ra một đề nghị khiến ông Dương Văn Minh cũng phải kinh ngạc vì sợ mình nghe nhầm. Đề nghị đó là: Chính quyền ông Minh hãy ra tuyên bố chống <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Li%C3%AAn_X%C3%B4">Liên Xô</a> và kêu gọi Trung Quốc can thiệp, ngăn chặn đại quân Bắc Việt tiến vào Sài Gòn. Ông ta nói có những nguồn tin ở <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Washington">Washington</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Paris">Paris</a> và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BA%AFc_Kinh">Bắc Kinh</a> cho biết <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_Qu%E1%BB%91c">Trung Quốc</a> không ủng hộ một thắng lợi hoàn toàn của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/M%E1%BA%B7t_tr%E1%BA%ADn_D%C3%A2n_t%E1%BB%99c_Gi%E1%BA%A3i_ph%C3%B3ng_mi%E1%BB%81n_Nam_Vi%E1%BB%87t_Nam">Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam</a>”. Vanusseme còn nói cứng: <i>Trung Quốc sẽ vào và các ông sẽ đứng vững</i>.</p>
<p>Tuy nhiên, do không biết thực hư ra sao nên ông Dương Văn Minh đã lấy cớ không còn thời gian và Sài Gòn không có liên lạc trực tiếp với Bắc Kinh để từ chối đề nghị của Vanussème.</p>
<p>(Perfect Spy &#8211; Larry Berman)</p>
<p><b>Góp nhặt…ghi chép… </b></p>
<p>Sau hai lần từ chối không đi Mỹ, một lần với ông Scott và một lần với Trung tướng Ngô Quang Trưởng, vào tuần lể cuối cùng của tháng tư, tôi ghé thăm anh Nguyễn Ngọc Huy tại công thự khiêm nhường của anh ở đầu đường Cao Thắng, chúng tôi bàn thảo về các biến cố chính trị đang diễn tiến và thái độ thích hợp phải có của chính chúng tôi, về chuyện đi hay ở. Anh có nhắc tôi giải pháp do Pháp trung gian của Mereillon, và theo tôi anh có vẻ đặt hy vọng nào đó vào giải pháp nầy sẽ cứu được miền Nam.</p>
<p>Tôi đã nói thẳng với anh, theo tôi tôi không tin Mỹ sau khi bỏ Việt Nam lại chịu để Pháp và Trung Quốc tạo được ảnh hưởng với Việt Nam chung cả hai miền Nam Bắc theo như <i>thỏa thuận Mao Trạch Đông-Nixon năm 1972</i>. Tôi cũng cho anh biết thuần túy trên lãnh vực quân sự, họ sẽ tiến thẳng vào Sài Gòn chiếm gọn miền Nam và tạo một sự đã rồi, fait accompli, cả về quân sự lẫn chính trị. Tôi hỏi anh <i>những nhà lãnh đạo miền Bắc đang đà thắng thế quân sự có chịu ngừng lại để điều đình hay không</i>?</p>
<p>(Những ngày cuối cùng của Vùng 1 và miền Nam &#8211; Duy Lam)</p>
<p><b>Góp nhặt sỏi đá</b><b></b></p>
<p>Các tài liệu, sách báo nói về cuộc chiến Việt Nam của cả hai bên, từ nhà nghiên cứ quân sự, ký giả chiến trường và những lời thuật lại của các nhân chứng nói chung dồi dào…</p>
<p>Nhưng <i>không hoàn toàn giống nhau</i> có khi còn…<i>trái ngược nhau là khác</i>. (Trọng Đạt)</p>
<p><b>Thời khắc lịch sử: Đầu hàng</b></p>
<p>Khoảng 11 giờ 30 sáng, chiếc tăng đầu tiên T54 của quân giải phóng xuất hiện ở từ đầu đại lộ Thống Nhất, phía Thảo cầm viên. Tổng thống Minh và các thành viên chính phủ ra đứng tại tiền đình của dinh Độc Lập để chuẩn bị cuộc đón tiếp. Chiếc tăng to lớn tiến gần, đến khoảng ngang nhà thờ Đức Bà thì đột ngột nổ liền hai phát nhưng không nhắm vào dinh Độc Lập. Nhưng tiếng nổ chát chúa của hai phát đại bác đã gây hoảng hốt cho tất cả những người đang đứng chờ ở tiền đình. Thế là tất cả lui vào phòng làm việc của ông Thiệu và…lo lắng chờ.</p>
<p>Chỉ ít phút sau, tiếng chân người vang dội trong sảnh, có cả tiếng khua vũ khí và tiếng đạn lên nòng. Rồi tiếng hô to từ phía đại sảnh: Mọi người đi ra khỏi phòng ngay!. Người bước ra khỏi phòng trước tiên là Tổng thống Dương Văn Minh. Tiếp theo là Thủ tướng Vũ Văn Mẫu. Ông Minh và ông Mẫu đều rất bình tĩnh, sự bình tĩnh của hai ông cũng truyền sang tôi. Chúng tôi vừa bước ra hành lang để đi đến đại sảnh thì ở đầu kia thấy có nhiều bộ đội cầm súng và hô to: Mọi người giơ tay lên!. Ông Minh, ông Mẫu và tôi cùng mọi người đi phía sau đều nhất loạt giơ tay. Ra đến đại sảnh, tôi thấy có nhiều người mặc thường phục cũng có mặt lẫn với bộ đội.</p>
<p>Tôi nhận ra một số gương mặt quen thuộc, đã từng hoạt động báo chí hoặc trong các phong trào đấu tranh sinh viên. Tôi nhớ hình như có các anh Nguyễn Vạn Hồng (tức Cung Văn), Nguyễn Hữu Thái, Huỳnh Bá Thành (hoạ sĩ Ớt), Huỳnh Văn Tòng, v…v&#8230; Ai đó, tôi không nhớ rõ, chạy đến ôm tôi nâng lên khỏi mặt đất và nói to trong sự mừng rỡ tột cùng: “Mình thắng rồi!”, trong lúc hai tay tôi vẫn giơ cao trong tư thế của người đầu hàng. Trong tôi có nhưng xót xa: Mình từng chống Mỹ, chống Thiệu để khi kết thúc, mình lại thay Mỹ thay Thiệu đầu hàng!</p>
<p>Một người bộ đội (tôi không rõ quân hàm) nói với tổng thống Minh: Anh chỉ cho tôi đường đi lên để hạ cờ Ngụy quyền. Ông Minh quay sang tôi đang đứng bên cạnh: Chung, toa hướng dẫn cho người này lên sân thượng. Sau này tôi biết đó là người chỉ huy chiếc tăng ký hiệu 843 tên là Bùi Quang Thận lúc đó mang hàm đại úy. Nói về sự kiện 30-4 tại dinh Độc Lập, có một hai bài viết kể tên ai đó (?) đã đưa bộ đội lên hạ cờ.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>(…)</p>
<p><b>Bên lề trận chiến</b></p>
<p>(,,,) Cùng lúc với thành viên MTGPMN hợp tác trong chính phủ trung lập, Ðại tướng <em>Dương Văn Minh</em> tuyên bố sẵn sàng bang giao với Trung Quốc. <em>Trung Quốc sẽ chụp lấy cơ hội này để cử đại sứ đến Sài Gòn ngay sau 24 giờ đồng hồ (…). Kế họach </em><em>(1)</em><em> này đánh phủ đầu Hà Nội bằng cách đưa đứa con nuôi của họ là MTGPMN lên nắm chính quyền…</em>(…). <em>Tôi (</em>đại sứ Mérillon<em>) cũng thông báo cho ông Dương Văn Minh hay tôi đã liên lạc với thành viên MTGPMN. Hầu hết đều tán thành giải pháp giúp họ thoát khỏi vòng quỹ đạo của Bắc Việt.</em></p>
<p><em>Ngày 27-4, tôi nhận được tin: Tướng Trần Văn Trà bắn tin nhờ tôi thành lập chính phủ trung lập và ông gửi gấp hai nhân vật thân tín của ông vào chính phủ là bà Nguyễn Thị Bình </em><em>(1)</em><em> và ông Trương Như Tảng…Tùy viên quân sự của chúng tôi cũng xác nhận 3 sư đoàn tập kết của Trần Văn Trà sẽ vào tiếp thu Sài Gòn, phỗng tay trên của đạo quân Văn Tiến Dũng.</em></p>
<p>Ngày 28-4, 8:00 giờ tối, sau khi nhận chức tổng thống do Trần Văn Hương bàn giao lại, ông Minh điện thoại xin lỗi tôi, bày tỏ sự hối tiếc đã không hợp tác được với chính phủ Pháp. (,,,)</p>
<p>(Saigon et moi &#8211; Jean M. Mérillon)</p>
<p><b>Góp nhặt sỏi đá</b><b></b></p>
<p>Những nhà nghiên cứu quân sự, ký giả chiến trường, nhà báo và những lời thuật lại của các nhân chứng nói chung dồi dào…Nhưng <i>không hoàn toàn giống nhau</i> <i>có khi còn</i> <i>khác nhau nữa</i>.</p>
<p>Trái ngược nhau như trong dinh Độc Lập với cả chục người có mặt, chỉ từ 11 giờ 30 sáng đến 2 giờ trưa ngày 30-4 vậy mà không ai viết giống ai.</p>
<p>Ngay cả với những bài viết của các tác giả ngoại quốc như <i>SaiGon</i><i> Has Fallen</i> với Peter Arnett. Hay <i>Ho-Tschi-Minh Stadt</i> với Borries Gallasch, v…v…</p>
<p><b>Thời khắc lịch sử: Đầu hàng</b></p>
<p>Sau khi nhận chỉ thị của ông Minh, tôi đưa người bộ đội trẻ tuổi đến thang máy để lên sân thượng. Đến trước thang máy, tôi bấm nút cho cửa mở. Khi cửa mở rồi người bộ đội trẻ vẫn chưa chịu bước vào. Tôi đoán trong đời anh chưa bao giờ đặt chân vào một thang máy. Tôi nói với người bộ đội trẻ: Anh vào đi. Không có gì lo. Tôi cùng vào với anh. Nói xong, tôi vào trước. Sau ít giây do dự, anh bước vào, trên tay là khẩu súng và lá cờ giải phóng. Tôi không thể tưởng tượng được có một ngày như hôm nay: Đi thang máy chung với một người bộ đội.</p>
<p>Tôi bấm nút lên tầng cuối cùng. Cách thang máy không xa, ở trước sân thượng, sát bên ngoài là chỗ cắm cờ. Người bộ đội đi thẳng ra đó hạ lá cờ vàng ba sọc đỏ xuống. Tôi không bước ra theo. Tôi đứng phía trong một lúc, <i>rồi quay trở lại thang máy đi xuống trước một mình</i> (1).</p>
<p>Trong một bài báo kỷ niệm ngày 30-4-1975 của một tác giả đã đăng vào dịp tháng 4-2003, có ghi lại lời kể của ông Thận khi gặp ông Minh: Ông yêu cầu ông Minh chỉ đường lên hạ cờ Ngụy quyền thì ông Minh liền nói với người đứng kế bên thực hiện lời yêu cầu này. Người đứng kế bên ông Minh chính là tôi. Xem lại các bức ảnh ghi lại giây phút lịch sử này, tôi thấy ngoài lá cờ được đại uý Bùi Quang Thận treo cao trên nóc dinh Độc Lập, còn thấy xuất hiện một chiến sĩ bộ đội treo cờ tại bao lơn (balcon) ở tầng một. Có lẽ chính vì thế mà có sự ngộ nhận đại uý Thận không phải là người duy nhất treo cờ trên nóc dinh Độc Lập và cũng có lý khi <i>có người khác tự nhận là mình </i>(2) <i>đã hướng dẫn bộ đội lên treo cờ</i>.</p>
<p>Khi từ sân thượng tôi trở xuống đại sảnh thì mọi người đã vào trong phòng họp có cái bàn to hình ô van nằm bên cánh phải dinh Độc Lập. Tôi nghe một người bộ đội cấp chỉ huy nói với ông Minh: Anh hãy viết ngay một bản tuyên bố đầu hàng. Ông Minh trả lời rằng sáng nay ông đã có một tuyên bố trao quyền rồi. Viên chỉ huy nói: Anh chẳng có gì để trao. Anh chỉ có thể tuyên bố đầu hàng!. Ông Minh vẫn đứng yên lặng. Viên chỉ huy đề nghị ông Minh đi đến đài phát thanh để thảo và đọc bản tuyên bố đầu hàng. Viên chỉ huy yêu cầu những thành viên của chính phủ đang có mặt gồm tổng thống Minh, thủ tướng Mẫu và tổng trưởng thông tin là tôi cùng đến đài phát thanh. Trước khi rời dinh Độc Lập, ông Minh nói với vị chỉ huy: Vợ tôi đang ở đây. Xin các anh bảo đảm an ninh giùm. Viên chỉ huy đáp: Anh hãy an tâm.</p>
<p>(…)</p>
<p>(1) Làm sao người bộ đội…bấm nút thang máy xuống lầu được?</p>
<p>(2) Ám chỉ Nguyễn Hữu Thái?</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Bên lề trận chiến</b></p>
<p><em>Đây là đề nghị của Thủ tướng Chu Ân Lai </em>điện cho Bộ ngoại giao Pháp là sẵn sàng hợp tác với Pháp để xây dựng một chính thể trung lập tại miền Nam nếu có thành phần MTGPMNVN tham dự trong chinh phủ liên hiệp gồm 3 thành phần: Quốc gia, Trung lập, và MTGPMN.</p>
<p>Chu Ân Lai đưa ra một danh sách: Trương Như Tảng, Nguyễn Thị Bình, Đinh Bá Thi, Trung tướng Trần Văn Trà, Thiếu tướng Lê Quảng Ba ngỏ hầu làm lực lượng nồng cốt thân Trung Cộng trong chinh phủ hòa hợp hòa giải dân tộc Việt Nam. (Saigon et moi &#8211; Jean M. Mérillon)</p>
<p><b>&#8211; :</b> Chính phủ trung lập bao gồm các nhân vật của “lực lượng thứ ba”, là nhóm nhỏ của phe đối lập yếu ớt có khuynh hướng đứng giữa quốc gia chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Cho tới lúc đó họ bị coi thường cả một thời gian dài ở Sài Gòn không được phép vào trong dinh tổng thống mới của năm 1964. <em>(</em>Những ngày cuối cùng của Sài Gòn &#8211;<em> Winfried Scharlau</em>)</p>
<p><b>&#8211; :</b> Bản dịch cuốn hồi ký <i>Saigon et moi</i> của Jean M. Mérillon, cựu đại sứ Pháp tại Việt Nam trước 30-4-1975: Dịch giả là Vũ Hải Hồ tức ký giả Trần Trung Quân ở Paris. Nhưng sau đó cuốn sách này bị Bộ ngoại giao Pháp thu hồi, nay chỉ có một bản duy nhất do tôi tình cờ có được cuốn đó và dịch với tựa đề “Saigon và tôi”. (Vũ Hải Hồ)</p>
<p>Giáo sư Hòang Ngọc Thành, nhà nghiên cứu sử học đã đích viết thư hỏi ông Mérillon đang là đại sứ Pháp tại Liên Xô có viết cuốn Hồi ký <em>Saigon</em><em> et moi</em> không? Ông Mérillon đã trả lời cho giáo sư Thành bằng văn thư gửi từ Moscou có câu:<i> </i><em>Tôi không hề viết một cuốn Hồi ký như thế.</em></p>
<p><b>&#8211; :</b> Nguyễn Thị Bình, bộ trưởng bộ ngoại giao chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam: 17 ngày sau khi Sài Gòn mất, bà Bình tuyên bố trước Liên Hiệp Quốc dụng ý tống khứ đạo quân Bắc Việt về bên kia Bến Hải: <i>Miền Nam Việt Nam sẽ sinh hoạt trong điều kiện trung lập 5 năm trước khi thống nhất hai miền Nam Bắc</i>. <em>(Wikipedia)</em></p>
<p><b>&#8211; :</b> <em>Trương Như Tảng, bộ trưởng bộ tư pháp, là một trong những người thành lập MTGPMN đã “thoát ly” qua Pháp (Paris) tháng 11-1979. (Wikipedia)</em></p>
<p><b>Thời khắc lịch sử: Đầu hàng</b></p>
<p>Ông Minh, ông Mẫu được đưa đến đài phát thanh Sài Gòn trên chiếc xe jeep của bộ đội. Còn tôi đi theo trên một chiếc xe jeep khác của nhà báo Đức (1). Khi tôi đến đài phát thanh thì tất cả đã vào bên trong. Tôi vừa bước vào sân thì anh Nguyễn Hữu Thái và một hai thanh niên khác đứng ở cổng nói với tôi: Anh về đi, khi nào có bộ phận chính trị vào sẽ liên lạc lại.</p>
<p>Nghe thế tôi lại đi trở ra. Sau này được biết, khi hai ông Minh và ông Mẫu vào bên trong đài phát thanh thì không còn nhân viên kỹ thuật nào ở đó để làm công việc thu băng. Sinh viên Nguyễn Hữu Thái phải mất hai tiếng mới tìm ra nhân viên kỹ thuật. Bản tuyên bố đầu hàng do chính trị viên Bùi Văn Tùng thảo. Ông Minh đọc và đài phát vào lúc 1 giờ 30 trưa. Sau đó hai ông Minh và ông Mẫu được đưa trở lại dinh Độc Lập. Vào lúc 5 giờ 30 chiều, luật sư Nguyễn Văn Huyền, Phó tổng thống Sài Gòn trở vào dinh Độc Lập</p>
<p>Từ 30-4 cho đến 2-5-1975, các ông Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Huyền, Vũ Văn Mẫu và một số dân biểu, nghị sĩ vẫn còn ở trong dinh Độc Lập. Dự kiến sau khi đại diện Ủy ban quân quản gặp họ, tất cả sẽ được tự do ra về. Trong hai ngày ông bà Minh còn ở lại trong dinh Độc Lập, vợ tôi đã mang các bữa ăn sáng trưa và chiều vào dinh cho hai ông bà. Ngày 2-5-1975, chủ tịch Ủy ban quân quản Trần Văn Trà đến dinh Độc Lập…trả tự do cho ông Minh.</p>
<p>(Hồi ký không tên – Lý Quý Chung &#8211; Chương: “Thời khắc lịch sử: Đầu hàng”)</p>
<p>(1) Qua <i>Ho-Tschi-Minh Stadt</i> (TP. Hồ Chí Minh giờ khắc số 0). Nhà báo Borries Gallasch viết: <i>Tôi đứng cạnh chiếc xe jeep nói chuyện với ông chính ủy Bùi Văn Tùng bằng tiếng Pháp, cố gắng xin để được lên xe của ông. Ông gật đầu đồng ý</i>…</p>
<p><b>Chữ nghĩa của một thời chinh chiến</b></p>
<p><b>trong quán nhậu </b></p>
<p>Trước 75, miền Nam có những câu “thành ngữ”</p>
<p>về thuốc lá xuất xứ từ quán nhậu, như:</p>
<p><i>Salem</i> : Mà em làm anh sướng</p>
<p>(đọc ngược lại)</p>
<p><b>Cuối đường tháng Tư 75 ở dinh Độc Lập</b></p>
<p>Trước đó không lâu, trong một cánh rừng cao su ở Xuân Lộc (1), Tướng Lê Trọng Tấn giao nhiêm vụ cho <i>Quân đòan 4 đánh chiếm mục tiêu quan trọng nhât</i>. Tướng Nguyễn Hữu An hỏi: “Nếu Quân đoàn 2 vào Sài Gòn trước có được đánh mục tiêu quan trọng nhất không?”.</p>
<p>Tướng Lê Trọng Tấn gật đầu.</p>
<p>Ngày 24-4, tại vườn cao su Long Thành (2), tướng Nguyễn Hữu An đặt vấn đề với Lữ đoàn 203 và 202: Cậu Tài (Lữ trưởng Lữ đoàn 203) tốt nghiệp Liên Xô. Cậu Tùng (Lữ trưởng Lữ đoàn 202) tốt nghiệp Học viện thiết giáp Trung Quốc. Các cậu có biết khi Liên Xô chấm dứt Thế chiến thứ hai đã dùng một lữ đoàn tăng để dứt điểm. <i>Tại sao mình có lữ đoàn tăng, mình </i>(3) <i>không vào dinh Độc Lập</i>.</p>
<p>Đêm 29-4, tướng Nguyễn Hữu An gửi công điện cho Lữ đoàn 203 (3): “Cố gắng đưa toàn bộ đội hình của các anh qua bên kia cầu đêm nay và độ ba, bốn giờ sáng 30-4. Chiếm xong cầu Rạch Chiếc, cầu Tân Cảng, cầu Sài Gòn. Các anh thi hành lệnh khẩn trương và liên lạc với tôi thường xuyên: Mục tiêu vào Sài Gòn là dinh tổng thống/An”.</p>
<p>(Bên thắng cuộc &#8211; Huy Đức)</p>
<p>(1) Quân đòan 4 lúc này dưới quyền chỉ huy của tướng Trần Văn Trà.</p>
<p>(2) Khi này Quân đòan 4 còn dưới quyền chỉ huy của tướng Hoàng Cầm.</p>
<p>(3) Tướng Nguyễn Hừu An tốt nghiệp Học viện quân sự Liên Xô.</p>
<p><b>Quân sử ngoại truyện</b></p>
<p>Khi vào dinh Độc Lập, tăng 843 do đại đội trưởng Bùi Quang Thận (1) chỉ huy là xe đi đầu.</p>
<p>Đi sau là tăng 390 do chính trị viên đại đội Vũ Đăng Toàn chỉ huy (2). Thấy xe 843 bị kẹt, Vũ Đăng Toàn liền cho xe 390 vòng sau xe 843 và húc vào cổng chính, phá tung cánh cửa sắt, vào trong sân dinh Độc Lập.</p>
<p>Đội trưởng Bùi Quang Thận vì đã biết lệnh của quân đoàn, ai vào trước thì cắm cờ lên dinh Độc Lập nên đã xuống xe, cầm cờ giải phóng chạy lên tầng thượng dinh Độc Lập.</p>
<p>(Đời chiến đấu – Nguyễn Công Trang)</p>
<p>(1) Tăng 843 của Liên Xô.</p>
<p>(2) Tăng 390 của Trung Cộng.</p>
<p><b>Góp nhặt sỏi đá</b><b></b></p>
<p>Qua những hồi ký, bút ký của nhân chứng có mặt trong trận chiến, có những khúc, những đoạn mà sau này các sử gia có thể dùng làm sử kiện. Nhưng người đọc lại nhìn những sự kiện này qua một góc cạnh khác như sử gia Fustel de Coulanges đã nhận định: “Sự thật của lịch sử là gì? Sự thật của lịch sử là một quả cầu tròn, mỗi người chỉ nhìn được một phiá…”.</p>
<p><b>Cuối đường tháng Tư 75 ở dinh Độc Lập</b></p>
<p>10 giờ sáng ngày 29-4-1975, tôi nhận được mệnh lệnh tiến công số 03/ML của Trung tướng Lê Trọng Tấn, phó tư lệnh bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh. Nhiệm vụ của Quân đoàn 4 là đánh chiếm Hố Nai, Tam Hiệp, Biên Hoà, đánh đầu cầu ở hữu ngạn sông Đồng Nai, đột kích vào nội đô tiêu diệt địch, đánh chiếm Quận 1, nhằm vào mục tiêu chủ yếu là dinh Độc Lập.</p>
<p>Lúc 4 giờ sáng ngày 30-4-1975, tôi đã cùng bộ tư lệnh Quân đoàn 4 đang ở tại Biên Hoà. Nhưng đường số 1 làm từ thời Pháp, lòng đường hẹp, cầu yếu. Quân địch ở khu căn cứ Biên Hoà, khu vực phòng thủ mạnh nhất của địch trước cửa ngõ Sài Gòn vẫn tiếp tục chống trả. Trước tình hình rất khẩn trương như vậy, tôi và bộ tư lệnh quân đoàn lệnh cho Sư đoàn 6 tiếp tục truy quét tàn binh địch, diệt các mục tiêu còn lại. Sư đoàn 7 không tiến theo đường số 1 nữa mà quay ra đường xa lộ để vào Quận 1.</p>
<p>12 giờ 30 ngày 30-4-1975, Đại đội 7, Sư đoàn 7 (Quân đoàn 4) tiến theo đường Hồng Thập Tự, quẹo qua đại lộ Thống Nhất, tới thẳng dinh Độc Lập. <i>Một giờ trước đó, Lữ đoàn xe tăng 203 và Trung đoàn bộ binh 66 thuộc Quân đoàn 2 đã tiến vào dinh Độc Lập</i>.</p>
<p>Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 vào dinh Độc Lập lúc đó có tư lệnh Nguyễn Hữu An. Ngay sau đó, tư lệnh đã chỉ thị ngay: <em>Tôi nhắc cán bộ cơ quan đi cùng phải duy trì nghiêm kỷ luật, vì theo quy định của bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh, Quân đoàn 2 phải bàn giao dinh Độc Lập cho Quân đoàn 4 quản lý.</em></p>
<p>(Trò chuyện với <em>VnExpress &#8211; </em>Hoàng Cầm)</p>
<p><b>Chữ nghĩa của một thời chinh chiến </b></p>
<p><b>trong quán nhậu </b></p>
<p>Trước 75, miền Nam có những câu “thành ngữ”</p>
<p>về thuốc lá xuất xứ từ quán nhậu, như:</p>
<p><i>Capstan </i>: chiếc áo phong sương tình anh nặng.</p>
<p><b>Cuối đường tháng Tư 75 ở dinh Độc Lập</b></p>
<p>Vào tới dinh Độc Lập, chuẩn bị tiếp quản, những người lính mệt phờ vì lửa đạn nghỉ ngơi. Trong khi nghỉ ngơi nằm dài ở ngoài sân cỏ, có anh bộ đội viết thư về cho gia đình. Sau này mới biết lần đầu tiên thư viết gửi về Bắc chỉ mất có 4 ngày.</p>
<p>Tiếp đó là bữa cơm chiều. Bữa cơm đó chúng tôi nấu ngay tại sân dinh Độc Lập bằng thực phẩm mang theo xe là từng xe nấu riêng trong ống “coóng” (ăng gô) treo ở gốc cây, vẫn là cá khô, thịt hộp, rau khô. Xong, chúng tôi mời ông Dương Văn Minh, tổng thống cuối cùng của VNCH. Tôi có nói với ông Minh ăn cơm bữa ni với cộng sản cho vui nhưng ông từ chối.</p>
<p>(Đời chiến đấu &#8211; Nguyễn Công Trang)<b></b></p>
<p>Nguyễn Công Trang là phó chính ủy Sư đoàn F325 thuộc Quân đoàn 2, người trực tiếp có mặt trong buổi trưa ngày 30-4-1975 tại dinh Độc Lập.</p>
<p><b>Góp nhặt sỏi đá</b><b></b></p>
<p>Nói theo Victor Hugo: Lịch sử là gì? Lịch sử là dư âm của quá khứ trong tương lai, là sự phản chiếu tương lai vào quá khứ. Cũng như nhà sử học tiên khởi Halikamasseus tập trung vào lịch sử văn hoá mà ông ghi lại những việc diễn ra trong quá khứ: Con người muốn nắm bắt quá khứ, diễn đạt theo sự kiện, theo “từ ngữ” mang tính chất tương đối của người ghi lại bằng những câu chuyện kể thuộc về quá khứ và gắn liền với xã hội nhân văn thời ấy.</p>
<p>Từ cái nhìn và ghi lại chuyện kể của quá khứ gắn liền với xã hội nhân văn thời ấy của Halikamasseus, kẻ chiến bại nhìn kẻ chiến thắng qua một lăng kính nhân bản khác…</p>
<p><b>Bữa cơm cuối cùng của cuộc chiến ở dinh Độc Lập</b></p>
<p>Đại tá Phạm Ngọc Sơn nhớ lại: Khoảng hơn 11 giờ ngày 30-4-1975, Sở chỉ huy tiền phương Quân đoàn 2 tiến vào Sài Gòn, khi đến ngã tư Hàng Xanh, chưa biết đường nào đến dinh Độc Lập, ông (Phạm Ngọc Sơn) đã xuống xe hỏi đồng bào đứng ở hai bên đường và được mọi người cùng giơ tay chỉ hướng rẽ trái. Tiến qua cầu Thị Nghè, ông quan sát và thấy nơi đây vừa diễn ra sự chống trả quyết liệt của địch, xác lính Ngụy còn nằm quanh đó. Đoàn xe chúng tôi đi đến thảo cầm viên rồi rẽ phải và chạy được một đoạn thì nhìn thấy dinh Độc Lập. Tiến thẳng vào dinh, chúng tôi thấy xe tăng và bộ binh của ta đã triển khai xung quanh dinh Độc Lập.</p>
<p>Tôi xem đồng hồ, đã hơn 12 giờ trưa, mọi người nhanh chóng xuống xe. Các đồng chí bộ chỉ huy quân đoàn: Tư lệnh Nguyễn Hữu An, Phó tư lệnh Hoàng Đan, Phó chính ủy Nguyễn Công Trang, Thiếu tướng Nam Long vào đứng ở giữa dinh Độc Lập trao đổi gì đó, hầu như mọi người chưa ai biết nội các Sài Gòn ở đâu <em>(?!).</em> Vốn con nhà tác chiến nhạy bén, tôi chạy lên tầng 2 tìm kiếm thì gặp một người mặc thường phục từ trong phòng đi ra. Tôi chặn lại hỏi: Ông đi đâu?. Ông ta trả lời: Tôi xuống xe ô tô, lấy đồ dùng. Tôi không cho đi và hỏi: Ông Dương Văn Minh đâu? Người đó nói: Mấy ông giải phóng đưa đi đâu tôi không rõ. Tôi lại hỏi: Thế chính quyền các ông đâu cả…Người đó đưa tôi vào phòng họp tầng 2: Họ ngồi cả đây.</p>
<p>Khoảng gần 1 giờ, đồng chí Bùi Văn Tùng đưa Dương Văn Minh từ đài phát thanh Sài Gòn về. Sau đó, tư lệnh An chỉ thị cho tôi (Phạm Ngọc Sơn) đưa Dương Văn Minh gặp gia đình <em>(?!)</em>, vợ con. Tôi đến trước mặt ông Minh nói: Ông Dương Văn Minh, Quân giải phóng cho phép ông được gặp vợ con và gia đình 15 phút. Ông nói rõ với vợ con và gia đình yên tâm không lo sợ gì cả, Quân giải phóng bảo đảm an toàn cho gia đình ông. Đến căn phòng bên cùng tầng 2, tôi gõ cửa, một bà chừng trên dưới 50 tuổi ra mở cửa, Dương Văn Minh bước vào. Đúng 15 phút sau, Dương Văn Minh mở cửa đi ra. Tôi đưa Dương Văn Minh trở về phòng.</p>
<p>***</p>
<p>Hơn 16 giờ, tư lệnh Nguyễn Hữu An gọi tôi xuống xuống chỉ thị cho triển khai cơm nước bữa chiều, kể cả nấu cơm cho nội các Sài Gòn. Thực ra việc này là của cơ quan hậu cần, nhưng “các cụ” thường nói: Mấy thằng tác chiến nó nhanh nhạy hơn. Tôi triển khai cho nuôi quân nấu cơm, nhưng không còn thứ thức ăn gì. Tôi nói với nội các Sài Gòn: Đã gần tối đáng lẽ quân giải phóng bảo đảm cơm nước cho các ông, nhưng chưa có điều kiện, các ông cứ cho vài người nấu cơm ăn? Nghe tôi nói một người khoảng 47-50 tuổi đi đến và nói: Tôi là Đại tá Vũ Xuân Chiêm, tổng trưởng hành dinh, để tôi tổ chức nấu ăn cho. Tôi hỏi có gạo, thực phẩm không, ông ta giơ chùm chìa khóa ra. Thấy tôi đồng ý, ông Chiêm gọi mấy cô gái đi nấu ăn và đưa tôi đến kho thực phẩm. Mở cửa kho của phủ tổng thống,….</p>
<p>…mở cửa kho của phủ tổng thống, có khá đầy đủ gạo thơm, chim, gà đã làm thịt, cá thu và gia vị để cả trong tủ lạnh, các loại bát đũa loại xịn…Tôi cho họ lấy gạo và cá để nấu ăn, còn gà, chim tôi gọi anh em bộ đội vào phân chia cho mỗi bộ phận một ít.<b></b></p>
<p>Đại tá Phạm Ngọc Sơn kể lại bữa cơm chiều 30-4-1975 tại dinh Độc Lập có bia, nước ngọt, chim quay, gà luộc, cá kho và cơm gạo tám thơm thật ngon. <em>(?!)</em></p>
<p>(Trần Văn Định)</p>
<p><em>(?!) </em>Sực nhớ hồi chiều chưa dùng cơm, tôi hỏi viên sĩ quan trong dinh có gì để ăn không. Viên sĩ quan này bối rối trả lời rằng <i>không còn gì cả dù chỉ là một miếng bánh mì và thịt nguội! </i></p>
<p>(Hồi ký không tên &#8211; Lý Quý Chung)</p>
<p><b>Chữ nghĩa của một thời chinh chiến </b></p>
<p><b>trong quán nhậu </b></p>
<p>Trước 75, miền Nam có những câu “thành ngữ”</p>
<p>về thuốc lá xuất xứ từ quán nhậu, như:</p>
<p><i>Bastos </i>: Bọn anh suốt tháng ôm sầu.</p>
<p><strong>Ký ức 30-4-1975 </strong><b>ở sân dinh Độc Lập</b></p>
<p>Năm 1974, chàng hạ sĩ 20 tuổi Nguyễn Xuân Thành học hết lớp ba, rồi trúng tuyển nghĩa vụ quân sự, được điều động sang đoàn tiền phương của tổng cục kỹ thuật, bộ quốc phòng, vừa mới thành lập. Ước nguyện ra trận tiền của anh đã thành hiện thực. Đoàn tiền phương này <a href="http://www.doisongphapluat.com/tag/b%C3%A1o.html">bao</a> gồm các cán bộ gốc miền Nam. Ngồi trên xe tải chở đoàn tiền phương, trong tay hạ sĩ Thành lúc nào cũng có một khẩu AK47, 4 băng đạn giắt vào lưng, trên xe còn nhiều hòm đạn, lựu đạn. Xe cắm cờ nửa xanh nửa đỏ của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam.</p>
<p>Sáng ngày 30-4, đoàn tiền phương hướng về Sài Gòn. hạ sĩ Thành kể: Suốt dọc đường từ Biên Hòa về tới cầu Sài Gòn, hai bên đường, giầy cao cổ, quần áo, mũ sắt và quân trang, quân dụng do binh lính chế độ Sài Gòn bỏ lại nhiều vô số. Dấu vết của các cuộc đụng độ, giao tranh vẫn còn…Lúc đoàn tiền phương đến cầu Sài Gòn, thì tình hình giao thông tại đây bị tắc nghẽn nghiêm trọng. Một số xe tăng của quân giải phóng bị bắn cháy chắn ngang cầu&#8230; <b></b></p>
<p>Hạ sĩ Thành kể tiếp: Khi vào tới trước dinh Độc Lập đoàn tiền phương thấy tràn ngập các đơn vị, xe tăng, xe tải, xe thiết giáp. Mọi người đang tập trung cười nói tại đó, không biết sẽ đi đâu nữa, vì đây là điểm cuối cùng. Một lúc sau, mọi người ra chỗ bãi cỏ gần cổng ngồi. Hạ sĩ Thành khi ấy thấy <i>một nửa đầu rồng </i><em>(?!) </em><i>gắn ở cánh cửa dinh bị văng ra đang nằm trên đất</i>, rồi một cô phóng viên nước ngoài đang quay <a href="http://www.doisongphapluat.com/giai-tri/phim/">phim</a> chụp ảnh <i>nhặt nửa chiếc đầu rồng ấy đút vào túi rết</i>.</p>
<p>Hạ sĩ Thành đi tìm thông <a href="http://www.doisongphapluat.com/tag/b%C3%A1o.html">báo</a> cho ông phó phòng bảo vệ đoàn kỹ thuật tiền phương. Nhưng vị này bảo: Thôi, kệ cô ấy!</p>
<p>***</p>
<p>Khoảng 4 giờ chiều, các đơn vị triển khai nấu cơm. Hạ sĩ Thành vẫn nhớ, khi đó, dân Sài Gòn kéo ra rất đông để xem Việt Cộng. Họ muốn xem mặt mũi Việt Cộng ác ôn ra <a href="http://www.doisongphapluat.com/giai-tri/ngoi-sao/">sao</a>, nấu ăn như thế nào và ăn cái gì. Cơm nấu xong, bộ đội dọn ra ăn. Dân Sài Gòn có người còn xin cơm ăn thử. Có người thấy bộ đội đeo nhiều thứ đàng sau thì hỏi xem có lương khô không, xin một mẩu để ăn cho biết. Bộ đội lại vui vẻ lấy lương khô cho dân.</p>
<p>Có một chi tiết rất sống động mà đến bây giờ hạ sĩ Thành vẫn không thể nào quên được.</p>
<p>Đó là hình ảnh những xe thiết giáp có nhiệm vụ bảo đảm mang theo những sọt lợn <em>(?!)</em>, sọt gà để khi dừng chân hành quân thì thịt cho bộ đội ăn. Lúc ăn xong bữa cơm chiều ở công viên trước dinh Độc Lập, bộ đội thả lợn ra, đem cơm thừa đổ vào một cái phướn to, rồi dùng thìa gõ vào những chiếc phướn, gọi lợn đến ăn cơm. Dân Sài Gòn thấy rất lạ và rất phấn khích. Những con lợn này đã quen với việc hành quân, nên khi được thả ra chúng cứ quanh quẩn ở đó với bộ đội, không đi đâu cả.</p>
<p>Đến sẩm tối, mọi người tìm chỗ để mắc võng la liệt. Tuy nhiên, chẳng ai ngủ được, phần vì đây là đêm đầu tiên ở Sài Gòn, phần vì cả ngày đã hành quân căng thẳng.</p>
<p>Đêm 30-4, vẫn theo lời hạ sĩ Thành, cả đoàn tiền phương không dám ngủ vì sợ hầm ngầm của địch đào dưới lòng đất…Đoàn tiền phương phải đóng quân ra những chỗ trống, kéo điện ra ngoài để quan sát. Đêm đó, không ai ngủ được, vì đó là đêm mới giải phóng. Nhờ có đèn điện việc đầu tiên hạ sĩ Thành làm là viết thư về cho bố mẹ..</p>
<p>Sài Gòn ngày 30-4-1975.</p>
<p>Bố mẹ kính yêu, các em xa nhớ! Con đã vào đến Sài Gòn rồi và con vẫn còn sống!</p>
<p>(Nguyễn Xuân Thành)</p>
<p><strong>&#8211; </strong>: Hạ sĩ Nguyễn Xuân Thành nay là…thiếu tướng, thuộc Học viện quốc phòng.</p>
<p><b>Tận cùng của trận chiến</b></p>
<p>30-4-1975, vào khoảng 7 giờ sáng, tôi dừng quân trên một tọa độ cách thủ đô Sài Gòn hơn hai chục cây số đường dài. Nơi đây là đoạn cuối của Quốc lộ 1. Chỉ còn một quãng đường ngắn ngủi nữa thôi, Quốc lộ 1 sẽ chấm dứt. Tối qua, 29-4 chúng tôi rút về tới Long Bình thì bộ chỉ huy Liên đoàn 24 Biệt động quân đã di chuyển đi đâu mất.</p>
<p>Tiểu Đoàn 82 Biệt động quân của tôi như con gà con lạc đàn. Tôi vào máy gọi Liên đoàn 24 BĐQ, gọi Tiểu Đoàn 81 BĐQ, gọi Tiểu đoàn 63 BĐQ, và gọi cả Sư đoàn 18 BB/HQ (1) trên tần số riêng. Tần số nào cũng rối loạn. Tôi không bắt liên lạc được với ai. Nửa đêm, thình lình máy vô tuyến đưa lệnh, chẳng hiểu của giới chức nào, chỉ vắn tắt một câu:</p>
<p><strong>– </strong><em>Các đơn vị cấp tốc rút về phòng thủ Sài-Gòn!</em><i></i></p>
<p>Chúng tôi bỏ Long Bình, rồi từng bước, rút về hướng thủ đô, để “<em>phòng thủ thủ đ</em><em>ô”.</em> Cuối cùng, lết bộ tới Cầu Hang (Biên Hòa) thì mỏi mệt quá, tôi cho quân dừng lại nghỉ. Trên Quốc lộ 1, cách Cầu Hang chừng hai trăm mét, hơn sáu chục người lính sống sót cuối cùng của Tiểu đoàn 82 BĐQ bơ vơ. Vào giờ này, quân số Tiểu đoàn 82 BĐQ của Quân khu 2 còn lại chừng hơn sáu mươi binh sĩ, với bốn sĩ quan là tôi, trung úy Trâm, thiếu úy Thủy, chuẩn úy Thiều.</p>
<p>Từ nửa khuya, những đơn vị đồn trú ở Long Bình đã bắt đầu theo cơ giới rút đi. Lúc tôi tới Cầu Hang thì những vị tu hành áo vàng của ngôi chùa Theravada bên kia lộ đang lên xe chạy về hướng Sài Gòn. Giờ này họ đã quay trở lại. Họ trở lại chùa, khóa chặt cổng ngoài. Có một điều lạ lùng, khác với những lần rút lui từ Quảng Đức và từ Long Khánh, đó là, trong lần rút bỏ Biên Hoà này, tôi không thấy dân chúng bồng bế nhau chạy theo quân đội. Chiếc xe nhà binh sau cùng di chuyển qua Cầu Hang đã khuất bóng từ lâu. Khoảng tám giờ sáng thì không còn ai đi sau chúng tôi nữa. Sau lưng chúng tôi, thành phố Biên Hòa có lẽ…lặng lẽ đã rơi vào tay Bắc quân. Trước mắt chúng tôi là Quốc lộ 1, dài mút mắt, hướng Sài Gòn. Cuối trời hướng tây có từng cột khói đen cuồn cuộn bốc lên. Trong vài túp lá, quán cóc bên đường xe lửa, xác những người bạn nhảy dù chết cách đó một vài ngày còn nằm trên sạp tre. Họ đã hy sinh khi nhổ chốt địch để lấy lại đoạn đường quanh Cầu Hang. Tôi không còn tâm trí đâu mà lo chôn cất cho những người bạn đã kiêu dũng nằm xuống này.</p>
<p>Chính tôi cũng không rõ số phận chúng tôi sẽ như thế nào trong vài giờ sắp tới.</p>
<p>10 giờ sáng 30-4-1975. Tôi thẫn thờ rời cái quán cóc bên đường. Chiếc xe jeep của Thiếu tướng Lê Minh Đảo, tư lệnh Sư đoàn 18 BB đã khuất dạng nơi khúc quanh có vườn cây xanh, về hướng Thủ Đức. Tư lệnh đã quay lại tìm tôi, nhưng giây phút cuối cùng, chúng tôi không kịp gặp nhau. Vào giờ phút này, trên máy thu thanh, ông Dương Văn Minh đang oang oang ra lệnh cho chúng tôi buông súng. Ông Dương Văn Minh gọi kẻ thù của chúng tôi là <em>“những người anh em”</em><i>.</i> Chỉ trong vòng mấy tiếng đồng hồ, buổi sáng 30-4-1975, cuộc chiến tranh Việt Nam hai mươi năm đi vào trang chót. Đùng một cái, sáng nay, ông ta ra lệnh cho chúng tôi buông súng. Đầu hàng? Đầu hàng cách nào? Đầu hàng ở đâu? Đầu hàng với ai? Giữa đồng không mông quạnh, tôi đứng chết trân. Mặt trời lên, thày trò lặng lẽ nhìn nhau. Những bàn tay đen đủi đưa lên quẹt nước mắt.</p>
<p>Hướng Tân Uyên có tiếng trống múa lân thùng! thùng!…thùng… thùng… nghe lớn dần… lớn dần. Tới Cầu Hang, đoàn múa lân quẹo phải. Tôi thấy một cán binh Bắc quân trên vai quàng AK, vác lá cờ Mặt trận giải phóng miền Nam đi đầu, tiếp đó là cái đầu lân nhảy múa, rồi một đoàn người điên cuồng, la hét, hoan hô, đả đảo, nối theo sau. Tiếng loa vang vang,</p>
<p><strong><i>–</i></strong><em> Hoan hô Mặt trận giải phóng miền Nam!</em><i></i></p>
<p><strong><i>–</i></strong><em> Đù má tụi mi! Tụi mi chọc giận ông phải không?</em><i></i></p>
<p>Chửi thề xong, ông hạ sĩ Phi xả hết một dây đạn M60 về hướng đoàn múa lân. Chỉ là bắn dọa! Đạn bay cao. Đoàn múa lân như ong vỡ tổ, chạy tán loạn.</p>
<p>–<em> Thôi! Ta đi! </em>Tôi ra lệnh cho những người lính cuối cùng của đơn vị.</p>
<p><em>&#8211; Mình đi đâu bây giờ, Thiếu tá? </em>Thiếu úy Thủy băn khoăn hỏi.</p>
<p><em>&#8211; Thì cứ đi về hướng Sài Gòn, tìm xem có ai ở đâu đó, mình nhập vào với họ.</em></p>
<p>Chúng tôi tiếp tục lê gót theo đường, về hướng Sài Gòn. Cứ đi được vài trăm mét, lại dừng chân nghỉ mệt. Có mục tiêu nào cho chúng tôi tìm tới đâu mà phải vội vàng? Khi đi ngang khu núi đá vôi Bửu Long thì thằng Don đưa ống nghe cho tôi,</p>
<p><em>&#8211; Có Hai Lẻ Bảy (207) gọi Thái Sơn!</em></p>
<p>Tôi nghe tiếng Trung tá Hoàng Kim Thanh, Liên đoàn trưởng LĐ24/BĐQ<em>,</em></p>
<p><em>&#8211; Thái Sơn! Đây Hai Lẻ Bảy! Anh cho hai chiếc xe tới đón chú và con cái về Đường Sơn quán</em> (2)<em>. Các đơn vị đang tập trung ở đây chờ lệnh!</em></p>
<p>Giọng anh Thanh vẫn bình tĩnh, từ tốn, không có vẻ gì là lo lắng.</p>
<p>Tôi đành cho anh em ngừng lại bên đường, chờ đợi. Chừng nửa giờ sau, hai chiếc xe be từ hướng Thủ Đức chạy lên. Xe ngừng, ông tài xế ló đầu ra lớn tiếng hỏi,</p>
<p><em>&#8211; Có phải Tiểu đoàn 82 Biệt động quân đó không?</em></p>
<p><em>&#8211; Phải rồi! 82 đây!</em></p>
<p><em>&#8211; Lên xe đi! Tôi chở các ông về Đường Sơn quán!</em></p>
<p><em>&#8211; Có ai ở đó không?</em></p>
<p><em>&#8211; Đông lắm! Có lẽ các ông là những người tới sau cùng.</em></p>
<p>Xe trở đầu, chúng tôi lên xe. Tôi, trung úy Trâm và thằng Don ngồi trên cabin chiếc xe đi đầu. Chú Thủy và chú Thiều đi xe sau. Thành xe be thấp hơn thành xe GMC, không có thế để đứng, những người lính đành phải ngồi chồm hổm. Ông tài xế xe be, cười rất tươi<em>,</em></p>
<p><em>&#8211; Hòa bình rồi! Hòa bình rồi! Hết đánh nhau rồi các anh ơi!</em></p>
<p>Tôi là một người lính nhà nghề, nên dù cho <em>“hòa bình”</em> có ở ngay trước mắt, hiệu lệnh phản phục kích xe vẫn được tôi ân cần nhắc nhở cho thuộc cấp. Hai khẩu M60, một của hạ sĩ Phi, một của trung sĩ Tài, được đặt trên nóc buồng lái của hai chiếc xe be.</p>
<p>Xe đang bon bon trên con lộ vắng thì khựng lại, bò từ từ. Trên mặt lộ, đàng xa, có người dang tay phất phất lá cờ nửa xanh, nửa đỏ, ra hiệu cho xe chạy chậm lại. Tới gần, tôi nhận ra một du kích Việt cộng, quân phục xanh, mũ tai bèo, dép râu. Tên du kích cột lá cờ trên cánh tay phải, cờ phất lia, phất lịa. Tay trái nó dương họng khẩu AK47 hướng vào đầu xe của tôi. Xe vừa ngừng thì hai bên đường có tiếng la,</p>
<p>&#8211; <em>Bắn! Bắn!…Không cho đứa nào chạy thoát!</em></p>
<p>Rồi thì tiếng súng đủ loại rộ lên. Những người lính VNCH trên hai chiếc xe be vừa ngừng trên mặt quốc lộ trở thành những cái bia sống. “<em>Hòa bình”</em> rồi, tại sao người ta nỡ đang tay giết chúng tôi, khi chúng tôi đang trên đường về điểm tập trung để buông súng?</p>
<p><em>&#8211; Choác! Choác! ….Choác!</em></p>
<p>Tôi tối tăm mặt mũi vì loạt đạn bất ngờ. Tấm kiếng che gió của chiếc xe tôi đang ngồi lãnh cả chục viên AK của loạt đạn đầu tiên. Mảnh thủy tinh văng rào rào trên đầu, cổ, mặt mũi tôi. Ông tài xế gục trên vô lăng. Thùng nước xe bể, hơi nước phun <em>“phì…phì…”</em> che kín đầu xe. Tôi phóng nhanh xuống đường. Sau một cái lạng mình, tôi đã ở đàng sau thành xe. Tôi rút khẩu Colt45, vẩy một viên về hướng thằng du kích. Viên đạn trật mục tiêu. Một BĐQ vừa nhảy khỏi xe, té trên mặt đường. Hình như anh ta bị trúng đạn, không ngồi dậy được.</p>
<p>Tôi giựt khẩu M16 trên tay anh,</p>
<p><em>&#8211; Đưa tao!</em><i></i></p>
<p>Tôi kéo cơ bẩm. Đạn tuôn ra khỏi nòng. Tên du kích giãy giụa trên vũng máu. Lá cờ mặt trận phủ trên mình thằng du kích. Tôi ghếch mũi súng về lề phải con đường, nơi hàng chục họng AK và B40 đang đua nhau nã đạn vào hai chiếc xe be. <em>“Oành!”</em> một trái B40 nổ ngay trước mặt tôi. Tôi cảm nhận rõ ràng nhiều mảnh B40 và đá, sỏi đã ghim vào cẳng mình. Chủ nhân khẩu M16 mà tôi đang xử dụng bị bay mất cái đầu; máu từ cổ anh xịt thành vòi; phần thân thể còn lại của anh giựt giựt trên mặt lộ. Khẩu B40 cách tôi chỉ vài sải tay, ngay bên kia đường. Tôi nhắm đầu thằng xạ thủ B40 quạt một tràng M16. Ngón tay tôi tiếp tục siết cò. Địch đông lắm. Chúng đứng lố nhố trong vườn có những luống đậu, dây leo. Một băng đạn ria đại vào đây cũng có thể hạ gục cả chục tên. Chúng tôi không dự trù sẽ vướng vào một cuộc giao tranh vừa bất ngờ vừa điên cuồng này. Chúng tôi ở vào cái thế không biết xoay trở cách nào để phản công. Thôi, đành liều mạng! Ai đang ở đâu nằm tại đó, chống trả. Cũng may, đêm qua, ở Long Bình, chúng tôi có cả kho đạn lận lưng cho ngày hôm nay.</p>
<p>Đạn địch từ hai bên đường trước mặt tôi tưới như mưa vào những người lính còn đứng trên xe. Những thân hình rằn ri rơi rụng xuống mặt lộ. Có người chân vừa chạm đất, đã lăn ra chết. Có đôi người vừa nhảy ra khỏi sàn xe, còn lơ lửng trên không, tay đã bóp cò, nã đạn về hướng địch. Hầu như ai cũng lo bóp cò. Không ai để ý đến thân thể mình đã trúng thương nơi đâu. Hạ sĩ Đinh Lít nằm nghiêng dưới gầm xe, tay trái anh đã trúng đạn, xuội lơ, tay phải ôm cứng khẩu M16. Anh nằm trên vũng máu, mặt anh tỉnh như không. Mặc cho đạn địch cài dày dặc xung quanh. Với một tay còn lại, anh liên tục bắn hết băng đạn này, tới băng đạn khác. Lựu đạn miểng, lựu đạn nổ, lựu đạn cay, B40, M72, chớp nhoá, “C<em>ành! Cành!…” -“Choác! Choác!…” – “Xoẹt! Xoẹt!…” &#8211; “Oành! Oành!…” </em> Hai bên đường, địch vẫn tiếp tục ào ra. Xác bộ đội Bắc Việt đè lên nhau từng lớp, ngổn ngang.<em> “Cành! Cành! Cành!…”</em> Trên xe, hạ sĩ Phi vừa rải từng tràng M60 về phía quân thù, vừa la rú như người mất trí,</p>
<p>–<em> Đù má tụi mi! Chết cùng chết! Ông chết! Tụi mi cũng chết!</em></p>
<p>***</p>
<p>30-4-1975 sau buổi trưa, trên đoạn cuối của Quốc lộ 1, một cuộc hỗn chiến. Dân chúng tràn ra đường, xem hai bên đánh nhau. Có đôi ba người dân thường, liều mạng chạy vào khu giao tranh, mang vác những biệt động quân bị thương đem đi cứu cấp. Khẩu đại liên của trung sĩ Tài trên xe thứ nhì đã được di chuyển xuống lề đường. Đạn nổ rền trời. Đạn bay qua. Đạn bay lại. Địch chết. Biệt động quân chết. Dân chúng cũng chết! Những người lính biệt động cuối cùng  ruột đổ lòng thòng vẫn ôm súng bắn như khùng, như điên. Hết đạn, những con cọp giãy chết đành dùng tất cả những gì cha mẹ ban cho để tự vệ: Nắm đấm, gót chân, đầu gối, khuỷu tay và cả…răng. Trong phút giây tuyệt vọng, những chiến sĩ VNCH lăn xả vào địch, la hét, vật lộn, đấm đá, cào cấu, cắn xé. Binh nhấtt Liêu Chí Cường (gốc Chợ Lớn) trước khi chết, còn cố ôm cứng một thằng địch để cắn vào mặt nó. Tôi biết chắc người đó là chú Cường, vì cái khăn len xanh cố hữu, bốn mùa quấn trên cổ chú (cái khăn của người tình phụ).</p>
<p>Tôi đã bắn hết số đạn mang theo trên lưng người lính nằm chết dưới chân tôi. Tôi vừa rướn người, quơ quào được một băng M16 trên sàn xe thì đạn 12,7 ly của địch từ xa ào ào bắn tới. Có tiếng Trung Úy Trâm thét lên, bên hông trái xe,</p>
<p>–<em> Thái Sơn ơi! Hình như tank tới!</em></p>
<p><em>&#8211; Làm gì có tank! Chỉ có 12,7 ly thôi!</em></p>
<p>Đạn phòng không của địch quét sát mặt đường nhựa, toé lửa khi nổ lần thứ hai. Những viên 12,7 ly nổ “đúp” (hai lần), chui qua thân người bị đạn, hất thân mình người đó lên khỏi mặt đất, đục những lỗ to như bàn tay trên thân thể nạn nhân. Trên mặt lộ là cả chục xác biệt động quân không toàn thây. Khẩu M60 của hạ sĩ Phi đã gãy nát. Hạ sĩ Phi vỡ óc. Hạ sĩ Đinh Lít cũng vỡ óc. Sáu bánh xe be xẹp lép. Chiếc xe nằm bẹp xuống mặt đường. Trên sàn xe, trên mặt lộ, chỗ nào cũng ngập máu. Máu đọng thành vũng, máu chảy tràn xuống ruộng. Bên tôi, không còn khẩu M16 nào hoạt động. Những biệt động quân đi trên xe thứ nhất có lẽ đã chết gần hết. Những người đi trên xe thứ nhì đang là mục tiêu cho khẩu 12,7 ly. Tôi thấy họ rút chạy vào ruộng mía bên phải quốc lộ. Đám dân đứng xem đánh nhau, bị trúng đạn cũng nhiều.</p>
<p>Súng của tôi lại hết đạn rồi. Tôi trườn ra giữa đường để nhặt khẩu AK và giây đạn của tên du kích. Khẩu đại liên của trung sĩ Tài đã gãy làm đôi. Hai em bé tải đạn cho Tài đều chết vì trúng đạn 12,7 ly. Trung Sĩ Tài đang lăn lộn trên vũng máu. Tôi lăn mình vài vòng, tới bên Tài. Tài nhìn tôi, thều thào<em>,</em></p>
<p><em>&#8211; Chạy đi!…Ông thày…chạy đi!…</em></p>
<p>Tôi định xốc Tài lên để dìu anh vào lề đường thì hai mắt anh đã lạc. Đạn bay xém bên mình tôi, nổ <em>“toang toác!”</em> trên mặt lộ. Chợt ai đó nắm sợi dây ba chạc sau lưng tôi, lôi tôi chạy về bờ ruộng bên trái quốc lộ.</p>
<p>–<em> Anh em chết hết rồi. Chạy đi, thày ơi! Đ</em>ó là tiếng trung úy Trâm.</p>
<p><em>“Toác!Toác!”- “Chíu! Chíu!”</em> đạn địch đuổi theo. Tôi cắm đầu chạy. Chạy được một đỗi thì tôi đuối sức, lảo đảo. Trâm bèn ghé vai, vác tôi lên lưng. Trâm khỏe như một đô vật. Trâm cõng tôi, nhanh chân lẩn vào rặng dừa bên trái lộ. Hết vạt dừa, Trâm đặt tôi xuống đất.</p>
<p>Chúng tôi lội trên mảnh ruộng vừa gặt xong. Chân tôi vướng gốc rạ. Tôi ngã bổ nhào trên mặt ruộng. Trên mặt ruộng có những đồ chơi của trẻ con vương vãi đó đây. Một con búp bê bằng nhựa, một cái xe hơi bằng nhựa, những chén bát nhỏ tí, cũng bằng nhựa, màu mè xanh đỏ. Tôi chợt nhớ tới vợ con tôi ngoài Ban Mê Thuột. Chắc vợ con tôi đã chết hết.</p>
<p>Tôi nghĩ tới đất nước tôi. Đất nước tôi đã mất. Đơn vị tôi đã tan tác. Một phút bất thần, phẫn uất. Tôi rút khẩu súng Colt ra, kê nòng súng vào mang tai mình, bóp cò. Bàn tay như sắt nguội của trung úy Trâm phạt ngang một cú Karaté. Viên đạn bay lên trời. Khẩu Colt văng trên mặt ruộng. Chẳng nói chẳng rằng, Trung úy Trâm lầm lì, xốc vai tôi bước đi. Ngoài lộ vẫn còn lác đác tiếng đạn bắn qua, bắn lại và tiếng lựu đạn nổ. Trâm lột sợi dây ba chạc của tôi, của anh, mũ sắt của tôi, của anh, vứt trên một gò mả. Trâm từng bước dìu tôi về hướng xóm làng gần đó. Giờ đó tôi như con sên yếu đuối, mặc cho chú Trâm tha lôi đi đâu thì đi. Chúng tôi vừa đụng đầu một con lộ đất thì một người dân đạp xe tới chặn đường,</p>
<p>–<em> Ông thiếu tá bị thương hả?</em></p>
<p>Thói quen, ngược đời, đi trận tôi thường đeo lon trắng. Về nhà tôi lại đeo lon đen. Người dân đã nhìn thấy cặp lon trắng của tôi. Ông cụ có vẻ động lòng,</p>
<p>–<em> Ông trung úy lấy xe này đưa thiếu tá chạy đi! Luẩn quẩn ở đây lâu không tốt đâu!</em></p>
<p><em>&#8211; Cám ơn cụ!</em></p>
<p>Trâm lanh tay nhận chiếc xe đạp thồ từ tay người dân tốt bụng.</p>
<p>Con lộ đất dẫn tới một văn phòng hội đồng xã, cửa đóng, khóa ngoài. Rồi con lộ đất dẫn vào một ngôi nhà thờ xứ đạo. Trong sân nhà thờ, lố nhố nhiều người đang tập trung. Một xe GMC chất đầy súng ống nằm ngay giữa sân. Đó đây, từng đống quân trang, quân phục VNCH vừa bị cởi bỏ. Trâm dựng cái xe đạp ngay giữa sân. Chú đứng quan sát một phút, rồi thở dài,</p>
<p>– <em>Cởi quân phục vứt đi chỉ còn cái may-ô với cái quần xà-lỏn. Mình làm sao đây, Thái Sơn?</em><i></i></p>
<p>Tôi rờ rẫm những khẩu M16 trên xe, <em>“Lên đạn. Dựng khẩu súng thẳng đứng. Đưa nòng súng vào dưới cằm. Lách ngón chân vào cò súng. Nhấn ngón chân xuống. Thế là xong!”</em></p>
<p>Tôi đang suy nghĩ, sắp thử một cú nữa, thì chú Trâm van lơn,</p>
<p>–<em> Thày ơi! Thôi đi thày ơi! Đừng bỏ em, thày ơi! </em></p>
<p>Trung úy Trâm ôm chặt vai tôi. Thày trò tôi ôm nhau…</p>
<p>Những người đứng gần đó nhìn nhau…Như đám ma giữa sân nhà thờ. Một đám ma không có người chết. Những người đang đứng đây cầm tay nhau cũng ôm nhau,.Một thanh niên cưỡi chiếc Honda 90 từ hướng Quốc lộ 1 phóng tới. Anh kè sát bên tôi, nói nhỏ,</p>
<p>–<em> Thiếu tá lên xe, em chở đi trốn.</em></p>
<p>Trâm đẩy tôi lên yên sau xe, chú leo lên theo.</p>
<p><i>–</i><em> Chúng nó chết nhiều lắm! Chúng nó bắt được mấy anh lính bị thương, tra khảo họ xem cấp chỉ huy của họ là ai, đâu rồi? Họ khai thiếu tá chắc chết rồi. Chúng kiểm xác chết. Không có xác. Chúng đang túa đi lùng.  Em sẽ đưa thiếu tá đi dấu. Không để chúng nó bắt.</em><i></i></p>
<p>Xe chạy trong đường làng quanh co một đỗi thì ngừng.</p>
<p>Anh thanh niên dựng xe, đập cửa một căn nhà gỗ, mái dừa,</p>
<p>–<em> Mẹ ơi! Con đây! Hải đây!</em> <em>Mẹ mở cửa cho con!</em></p>
<p>Cánh cửa hé mở, một bà già, tiếng Bắc di cư,</p>
<p>–<em> Đánh nhau, súng nổ ầm ầm mà mày cứ nhơn nhơn ra đường. Đóng cửa lại cho tao đỡ lo!</em></p>
<p><em>&#8211; Vâng con về ngay. Mẹ cho con gửi hai anh này. Có ai hỏi, mẹ cứ nhận là hai con của mẹ. Anh Cả, anh Hai đi lính vắng nhà lâu rồi, chòm xóm không nhớ mặt đâu! Mẹ làm ơn, làm phúc. Con đi một chút nữa con về ngay. Mẹ đừng lo!</em></p>
<p>Bà mẹ nhìn tôi và Trâm, bà biết ngay hai đứa chúng tôi là lính VNCH đang bị truy đuổi. Bà cụ không dài dòng hỏi han. Cụ đưa tay chỉ cho tôi cái tủ đứng góc nhà,</p>
<p>–<em> Hai đứa lấy quần áo “si-vin” của thằng Hải mà mặc vào ngay đi! Đưa quần áo nhà binh cho tao đi dấu!</em></p>
<p>Thoáng chốc, tôi và Trâm thành hai anh dân sự. Bà cụ Bắc kỳ đã chôn hai bộ rằn ri dưới bùn ruộng muống sau nhà.</p>
<p>Trước sân, anh Hải con bà cụ đang bơm lốp xe. Tôi và Trâm ngồi uống nước vối nóng, nghe ngóng động tĩnh. Chợt, ngoài đường có tiếng đối đáp.</p>
<p>–<em> Anh có thấy hai thằng lính rằn ri chạy qua đây không?</em> Một giọng Nghệ-Tĩnh gặng hỏi.</p>
<p>–<em> Có! Chúng nó chạy thẳng sang hướng Thủ Đức. Đấy! Chổ cây dừa nghiêng…</em></p>
<p>Tên chỉ huy liếc mắt vào trong nhà. Thấy tôi và Trâm, nó hỏi trống không<em>,</em></p>
<p><em>&#8211; Chứ hai anh kia làm chi rứa? </em></p>
<p><em>&#8211; Anh Cả và anh Hai của tôi đó!</em>  Hải nhanh miệng.</p>
<p>Tên chỉ huy hết nghi, quay sang đồng bọn, nó ra lệnh:</p>
<p><em>&#8211; Nhanh lên! Đuổi theo chúng nó nhanh lên! Hướng cây dừa nghiêng. Đừng cho chúng nó chạy thoát! Các đồng chí cẩn thận đấy! Tụi nó có súng!</em></p>
<p>Rồi tiếng chân người huỳnh huỵch chạy đi, xa dần. Bà già lấy khoai lang luộc đưa cho chúng tôi ăn đỡ lòng. Anh Hải rồ máy xe. Nửa giờ sau anh trở về.</p>
<p>–<em> Thiếu tá đi được rồi! Quân của chúng nó đi hết rồi.</em></p>
<p><em>&#8211; Hai con có còn tiền để đi xe về quê không? Nếu không mẹ cho! B</em>à cụ ân cần.</p>
<p><em>&#8211; Cám ơn bác. Chúng cháu còn tiền đây.</em></p>
<p>Bà cụ nhìn chúng tôi&#8230;Tôi và chú Trâm bước ra vườn sau, theo bờ ruộng rau muống, leo lên con lộ đá đi về hướng Thủ Đức. Quay lại. Bà cụ vẫn còn nhìn theo chúng tôi…</p>
<p>***</p>
<p>Hai đứa tôi nhanh chân nhập vào dòng người hướng về Thủ Đức. Chợt sau lưng tôi có tiếng gọi: <em>“Thái Sơn ơi! Trâm ơi!”</em><i>.</i> Thì ra người gọi chúng tôi là Thiếu úy Trần Văn Thủy. Ba thày trò tôi không dám lớn tiếng hỏi han nhau về những gì đã trải qua. Chúng tôi đi như những người dân chạy loạn đang tìm đường về nhà. Chúng tôi vào Thủ Đức. Nhà cửa đóng kín mít. Vài chiếc xe cháy dở dang.  Vài tiệm buôn bị đốt phá. Nhiều người tay mang băng đỏ chở nhau trên Honda. Xe chạy nhanh như bay, qua lại nhiều lần trên đường phố.</p>
<p>Tới chợ Thủ Đức, chúng tôi may mắn đón được chiếc xe lam chạy đường Thủ Đức, Thị Nghè, giá sáu trăm đồng một người. Chiếc xe bò ì ạch vì quá tải. Xe qua mặt từng đoàn người bận quần đùi, áo thun, chân đất, đang chen vai nhau, đi về hướng Sài Gòn. Tôi nhận ra, trong đoàn người áo thun, quần xà lỏn đang đi dưới đường, có Thiếu Tá Nguyễn Hữu Tài, tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 81 Biệt động quân. Có lẽ anh ta cởi bỏ quân phục nơi Đường Sơn quán.</p>
<p><strong>Chữ nghĩa của một thời chinh chiến </strong></p>
<p><strong>ở…Đường Sơn quán</strong></p>
<p>Trước 75, miền Nam có những câu “thành ngữ”</p>
<p>về thuốc lá xuất xứ từ quán nhậu, như:</p>
<p><i>Bastos </i>: Biết anh sướng, tôi ôm sát.</p>
<p>Còn cách ngã ba xa lộ Đại Hàn chừng hơn trăm mét, chúng tôi phải xuống xe đi bộ vòng qua một khu ao cá và ruộng nước bên trái quốc lộ, vì giữa đường có một chiếc T54 đang cháy. Có vài cán binh Bắc Việt ôm AK chặn không cho bộ hành và xe cộ qua lại đoạn đường này. Lội hết vạt ruộng thì thày trò tôi tới xa lộ Đại Hàn. Lúc này, trên xa lộ, tank T54 và xe chuyển quân của lính chính quy Bắc Việt đang nối đuôi nhau hướng về Sài Gòn. Sau khi cuốc bộ một đỗi, chúng tôi tới cây cầu đúc. Qua cầu, chúng tôi lẫn trong biển người xuôi ngược.</p>
<p>Chúng tôi về tới Thị Nghè thì mặt trời xế bóng. Giữa cầu Thị Nghè là một chiếc M41 đứt xích vì B40. Chiếc chiến xa nằm bẹp, bụng xe đè sát mặt cầu. Trên pháo tháp, có vết máu đã khô, nhưng không thấy xác người chết. Bên cạnh đó, vương vãi vài bộ quân phục VNCH, dây đạn, nón sắt, ba lô…Tôi không dám về nhà mẹ tôi, sợ trong lúc tình hình lộn xộn, chòm xóm biết mình là sĩ quan QLVNCH, sinh chuyện không hay.</p>
<p>Qua cầu, chúng tôi tiếp tục đi. Bây giờ, trong phố, người qua lại nườm nượp. Bên lề đường, sát tường rào sở thú, những người đi hôi của đang bày bán đủ thứ, chăn màn, quần áo, chén bát, sách truyện, tranh ảnh, rượu bia…Quên đời? Chỉ còn cách uống rượu. Năm trăm đồng một chai Hennessy. Ba thày trò tôi kẹp nách mỗi người một chai. Tôi vẫy tay chận một chiếc xích lô máy để vào Chợ Lớn, về nhà Trung úy Trần Văn Phước, vừa có nơi lạ để nghỉ qua đêm, xóm giềng không biết mình là ai, vừa tìm xem chú Phước còn hay mất.</p>
<p>Xe ngừng, tôi vừa bước xuống đất thì Phước từ trong nhà ào ra ôm chầm lấy tôi,</p>
<p><em>&#8211; Anh Hai! Anh Hai! Mừng quá! Anh Hai ơi!</em><i></i></p>
<p>Thì ra trong cuộc lui binh dưới mưa pháo ngày 29-4, Phước bị tụt lại đàng sau, mất liên lạc với tiểu đoàn không biết tôi vào Long Bình. Phước đi thẳng một lèo, theo xa lộ về tới Sài Gòn.</p>
<p>Đêm 30-4, bốn anh em tôi ngồi bên nhau, cạn ba chai Hennessy.</p>
<p><strong>Chuyện một thời chinh chiến</strong></p>
<p><strong>bên chai Hennessy </strong></p>
<p>Trông lên thì chẳng bẳng ai,</p>
<p>Trông xuống chẳng ai hơn mình</p>
<p>(nho táo là: <i>Tỉ thượng bất túc, tỉ hạ hữu dư</i>)</p>
<p>Chú Thủy cho tôi biết ngay đợt tấn công đầu của địch, chiếc xe thứ nhì đã bị thương và chết khá nhiều. Nhiều BĐQ bị thương đã được dân chúng di tản đi cứu cấp. Thiếu úy Thủy đã cố gắng mở một mũi bọc hông phải để giải tỏa áp lực địch nhưng không thành công, vì địch quá đông. Đến lúc khẩu phòng không 12.7 ly của địch tham chiến thì Thủy cho anh em phân tán chạy vào nhà dân. Sau đó Thủy được dân chúng cưu mang, cho quần áo cải trang rút chạy. Chú Thủy nói, hình như chú Thiều bị thương ngay từ phút đầu, không rõ số mệnh ra sao. Sáng 1-5-1975, tôi đưa Thủy và Trâm một số tiền để làm lộ phí về quê.</p>
<p>Từ dạo ấy, anh em chúng tôi không còn dịp gặp lại nhau nữa.</p>
<p>(Vương Mộng Long)</p>
<p>Vương Mộng Long, K20 VB, thiếu tá BĐQ.</p>
<p>(1) Sư đoàn 18 đối đầu với Quân đoàn 4 trên đường tiến vào Sài Gòn. Tướng Hoàng Cầm sử dụng Trung đoàn 14 của Sư đoàn 341 và trung đoàn pháo binh 55 để đánh Long Bình.</p>
<p>(2) Đường Sơn quán nằm trong rừng cao su trên xa lộ Đại Hàn của tướng Mai Hữu Xuân.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Ngộ Không</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2016</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ngo-khng-tap-ghi-sau-40-nam-ky-14/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Kh&#244;ng :Tạp Ghi Sau 40 Năm &#8211; Kỳ 13</title>
		<link>https://t-van.net/ngo-khng-tap-ghi-sau-40-nam-ky-13/</link>
					<comments>https://t-van.net/ngo-khng-tap-ghi-sau-40-nam-ky-13/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 07 May 2016 13:53:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Ngộ Không: tạp ghi sau 40 năm]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không; tạp ghi sau 40 năm]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=26992</guid>

					<description><![CDATA[Góp nhặt sỏi đá Theo Winfried Scharlau trong Những ngày cuối cùng của Sài Gòn: Bắc Việt thông qua tiếp xúc với người Pháp đã đưa ra “Giải pháp Lào” để tạo cơ hội cho một hội nghị bốn bên bàn thảo một trật tự chính trị mới ở Nam Việt Nam (được Trung cộng [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><b>Góp nhặt sỏi đá</b></p>
<p><em>Theo Winfried Scharlau trong </em><i>Những ngày cuối cùng của Sài Gòn</i>:</p>
<p>Bắc Việt thông qua tiếp xúc với người Pháp đã đưa ra “Giải pháp Lào” để tạo cơ hội cho một hội nghị bốn bên bàn thảo một trật tự chính trị mới ở Nam Việt Nam (được Trung cộng hậu thuẫn). Jean-Marie Merillon vào gặp đại diện Bắc Việt để tự mình thăm dò cơ hội của một “chính phủ hòa bình Big Minh” qua sếp của phái đoàn MTGPMN là Đại tá Võ Đông Giang.</p>
<p>Với đại sứ Mỹ Graham Martin, trong ngày 28-4, tuy không có xác nhận từ phía bên kia, đại sứ Martin vẫn còn hy vọng vào thoả hiệp đình chiến trong ba ngày, và <i>30 ngày để thành lập chính phủ ba thành phần</i>, sau đó, Mỹ và những người thân Mỹ sẽ ra đi trong trật tự.</p>
<p><b>Lạc đạn</b></p>
<p>Dựa vào nguồn ông Trần Văn Đôn và ông Trần Văn Lắm: Ông Minh là người tin bói toán.</p>
<p>Thay vì lễ nhậm chức tổng thống vào 9 giờ sáng ngày 28-4. Ông Minh nói “9 giờ sáng không được tốt, bàn giao lúc 5 giờ rưỡi chiều”. <i></i></p>
<p>Theo Tiziano Terzani tác giả cuốn <i>Giải phóng!</i>: Dương Văn Minh chọn hoa mai là Quốc huy VNCH…<i>đó là hình hoa mai năm cánh nằm trong dấu hiệu âm dương của người Trung Hoa, tượng trưng cho hai yếu tố đối nghịch tạo thành sự đồng nhất trong vũ trụ. </i></p>
<p>Tiziano Terzani kể lại: Sau khi cựu Tổng Thống Trần Văn Hương trở về chỗ ngồi. Dương Văn Minh vẫn ngồi yên không hề nhúc nhích.</p>
<p>Ông Dương Văn Minh ngồi yên không nhúc nhích vì ông tin bói toán: Ông là tổng thống “Đệ tam Cộng hoà” lâu dài chứ không phải làm tổng thống để đầu hàng.</p>
<p>Dữ kiện với Quốc huy VNCH với <i>(…) âm dương tượng trưng cho hai yếu tố đối nghịch tạo thành sự đồng nhất (…). </i>Thì ông có thể hoà hợp hoà giải với MTGPMN trong chính phủ liên hiệp ba thành phần gồm MTGPMN, phe trung lập và “Chính phủ hòa bình Big Minh”.</p>
<p><b>Bên lề trận chiến</b></p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2016/05/clip_image002-10.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/05/clip_image002_thumb-150x150.jpg?strip=all" alt="clip_image002" width="232" height="157" border="0" hspace="12" vspace="15" /></a></p>
<p>Báo Quân đội nhân dân ngày 2-5-<i>1975</i> đăng bài</p>
<p>“Sài Gòn trong những giờ phút lịch sử” của Bùi Tín</p>
<p>Trong các hồi ký và bài viết của mình kể từ khi tỵ nạn tại Pháp, Đại tá Bùi Tín là sĩ quan cao cấp của Quân đội nhân dân Việt Nam có mặt sớm nhất tại dinh Độc Lập, là <i>người đi cùng đơn vị xe tăng đầu tiên đâm đổ cổng dinh Độc Lập</i>, và là <i>người trực tiếp chấp nhận tuyên bố đầu hàng của ông <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/D%C6%B0%C6%A1ng_V%C4%83n_Minh">Dương Văn Minh</a></i> vào ngày <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/S%E1%BB%B1_ki%E1%BB%87n_30_th%C3%A1ng_4_n%C4%83m_1975">30-4-1975</a>. Điều này lâu nay đã được ghi nhận trong sách của các tác giả ngoại quốc như <i>Điệp viên hoàn hảo</i> của <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Larry_Berman&amp;action=edit&amp;redlink=1">Larry Berman</a> và <i>VietNam: A History</i> của <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Stanley_Karnow">Stanley Karnow</a>, nhưng mâu thuẫn với lời kể của các nhân chứng của sự kiện ngày 30-4-1975,<i> </i>trong đó có lời kể<i> do chính Bùi Tín viết ở trong nước năm 1975.</i></p>
<p>(Nguồn: BBC)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Sài Gòn trong những giờ phút lịch sử</b></p>
<p>Gần đây Bộ tổng tham mưu quân đội nhân dân ở Hà Nội đã mở hội nghị để viết lại “Tài liệu lịch sử về ngày 30-4-1975”, với ý định được tuyên bố là “thuật lại thật chính xác những gì đã xảy ra trong ngày hôm ấy tại dinh Độc Lập giữa Sài Gòn”.</p>
<p>Thật đáng tiếc là tài liệu được tạo nên có một số điều sai sự thật.</p>
<p>Là một người chứng kiến tại chỗ, tôi buộc lòng phải lên tiếng. Tôi giữ thái độ trung thực, tôn trọng sự thật đúng như nó có, không để ai khác nhận vơ những điều chính tôi đã phát biểu. Trong tài liệu nói trên của Bộ tổng tham mưu, <i>không hề nói gì đến chuyện tôi, Bùi Tín</i>, lúc ấy là <i>thượng tá</i> QĐND, là cán bộ cao cấp duy nhất chứng kiến sự đầu hàng của nội các Dương Văn Minh vào buổi trưa và xế chiều ngày 30-4-1975 tại dinh Độc Lập.</p>
<p>Tôi không hề có ý tranh dành tiếng tăm trong thời điểm lịch sử này. Việc tranh dành công trạng là điều tôi coi là đáng sỉ nhục. Nhưng lịch sử là lịch sử. Sự thật lịch sử cần tôn trọng tuyệt đối. Nói sai lịch sử về <i>một số chi tiết có thể gây nghi ngờ về nhiều điều lớn hơn</i>.</p>
<p>Do có những nhận định mang tính chất vu cáo là tôi đã tự nhận là người nhận đầu hàng của tướng Dương Văn Minh, thậm chí cho là tôi <i>không hề có mặt ngày 30-4 ở dinh Độc Lập</i>, nên tôi thấy cần nói rõ sự thật chân thực là như sau:</p>
<p>&#8211; Tôi đến dinh Độc Lập cùng Trung tá Nguyễn Trần Thiết (1), phóng viên ban biên tập quân sự của báo QĐND lúc 12 giờ rưỡi (3 &amp; 4) trưa ngày 30-4-1975, sau khi đoàn cơ giới của Lữ đoàn xe tăng 202 của Quân đoàn 2 đột nhập vào trong sân.</p>
<p>Tôi và trung tá Thiết ra ngoài cổng dinh tìm chỗ ngồi viết bài tường thuật để gửi gấp về Hà Nội, vì biết rằng ngoài tòa soạn đang mong chờ cho số báo in ngay tối nay. Tôi đang viết bài thì Trung tá Bùi Văn Tùng, chính ủy Lữ đoàn 202 và Trung tá Nguyễn Văn Hân, trưởng ban bảo vệ của Quân đoàn 2 đến yêu cầu tôi vào gặp nội các Dương Văn Minh. Tôi từ chối vì tôi không được giao trách nhiệm, lại đang lo viết bài báo. Tôi trả lời: “Các anh nên đưa 1, 2 người ra đài phát thanh để công bố tin toàn thắng để cả nước và thế giới biết”. Sau này gặp lại anh Tùng, tôi mới biết 2 anh trung tá ấy cùng nghĩ rằng cấp trung tá chỉ là cán bộ trung cấp, nên việc làm không đủ giá trị theo quân phong quân kỷ. Họ cần ý kiến một cán bộ cao cấp, mà lúc ấy không có một ai khác là tôi, họ biết <i>tôi là cấp thượng tá</i>, phó tổng biên tập báo QĐND.</p>
<p>(Bùi Tín viết riêng cho VOA để “hiệu đính” nhân ngày 30-4-2010)</p>
<p>(1) Sau này …<strong>Viện lịch sử quân sự viết lại những dữ kiện lịch sử về ngày 30-4 trong dinh Độc Lập. T</strong>heo bài viết năm 1985 của nhà báo Nguyễn Trần Thiết, đồng nghiệp của ông Bùi Tín cũng đã…viết lại: Khi ông Dương Văn Minh đọc tuyên bố đầu hàng trên đài phát thanh thì <i>…nhà báo Bùi Tín còn đang ở Sở chỉ huy Quân đoàn 3 đóng tại Củ Chi</i>.</p>
<p>(2) Trong hồi ký của mình, Thiếu tướng Nguyễn Công Trang khẳng định <i>Bùi Tín chỉ tới dinh Độc Lập lúc 2 giờ 15, sau khi ông Dương Văn Minh từ đài phát thanh trở về</i>.</p>
<p>(3) Lữ đoàn xe tăng 202 của Quân đoàn 2 vào dinh Độc lập 11 giờ 30.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Giây phút hấp hối của VNCH </strong></p>
<p>Cuộc di tản của Mỹ chấm dứt vào lúc tôi đang ngủ. Vũ Thành An bước vào CLB đã vội loan báo: Xong hồ sơ rồi ông ơi. An không hút thuốc lá, nhưng hôm ấy anh phì phèo điếu thuốc.</p>
<p>Tôi nói đùa với anh: Chẳng qua cũng là bài không tên cuối cùng thôi.</p>
<p>Chúng tôi uống cà phê, ăn mì gói, và hút thuốc…</p>
<p><b>Chữ nghĩa của một thời chinh chiến </b></p>
<p><b>trong quán cà phê</b></p>
<p>Trước 75, miền Nam có những câu “thành ngữ”</p>
<p>về thuốc lá xuất xứ từ quán cà phê, như:</p>
<p><i>Capstan </i>: Chiếc áo phong sương tự áo nàng</p>
<p>Đến khoảng 9 giờ 30 vừa định vào phòng tin tức thì thư ký trực hốt hoảng chạy từ trên lầu xuống: Ông ơi, văn phòng tổng thống điện thoại xin cử người sang thâu băng hiệu triệu. Tôi chỉ định Lê Phú Bổn và một kỹ thuật viên là anh Hồ Ổn sang phủ thủ tướng, số 7 đường Thống Nhất, Tổng thống Dương Văn Minh và nội các chờ họ ở đó. Anh Bổn thu thanh mang vào đài vài phút trước 10 giờ sáng và chuyển lệnh của tổng thống: Ðầu hàng rồi. Anh cho phát ngay, không cần hoàn chỉnh. Tôi đưa cuốn băng cho Vũ Thành An. Nội dung cuốn băng chỉ dài chưa đầy 5 phút, trong đó Tổng thống Dương Văn Minh kêu gọi quân nhân, cảnh sát và các lực lượng bán quân sự “giữ vị trí, buông súng để bàn giao chính quyền trong vòng trật tự”.</p>
<p>(Vũ Ánh)</p>
<p><b>Sài Gòn trong những giờ phút lịch sử</b></p>
<p>Ngay sau đó, Trung tá Bùi Văn Tùng đưa ông Minh ra đài phát thanh Sài Gòn để loan tin đầu hàng trong vòng nửa tiếng. Trong khi ấy tôi cũng đã viết gần xong bài báo. Tôi còn nhớ trung tá Thiết mở hộc bàn giấy của tổng thống lấy ra tờ giấy cứng <i>in thực đơn cho tổng thống vào trưa 30-4-1975</i> (1), trên đó có 2 món chính là: “gân bò hầm sâm” và “cá thu kho mía”, đưa cho tôi xem để ghi thêm trong bài báo cho sinh động.</p>
<p>Hai trung tá Tùng và Hân lại khẩn khoản nói với tôi: Họ đang ngồi chờ trong kia, chừng 30 người, các ông tướng chưa ai vô, anh vào gặp họ đi, để họ chờ lâu không tiện.</p>
<p>Anh Thiết bàn với tôi: Anh vào gặp họ đi, ta cùng vào rồi sẽ viết thêm vài chi tiết, sau ta sẽ vào trại Davis-Tân Sơn Nhất, nhờ tổ thông tin đánh bài báo ra Tổng cục chính trị. Trung tá Hân dẫn 2 chúng tôi vào phòng họp lớn. Anh Hân, trên cương vị trưởng ban bảo vệ quân đoàn hiện là người sắp xếp trật tự của dinh Độc Lập. Anh vào trước, báo tin: Tất cả đứng dậy! Sắp có một cán bộ cao cấp QĐND vào gặp các ông. Tôi và anh Thiết bước vào. Phòng khách rộng lớn, ghế ngồi lót dạ đỏ, trên bàn có những cốc nước và mấy hộp hạt đào lộn hột. Anh Thiết ghi tên cả 28 người có mặt, từ các ông Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu, Nguyễn Văn Huyền (?) đến các ông Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Hữu Có, Bùi Tường Chiểu, Nguyễn Hữu Hạnh (?), v&#8230;v&#8230;</p>
<p>Vừa lúc ấy, trung tá Hân đón tổ quay phim quân giải phóng vào. Ông Minh bước tới trước, nói chậm rải: Thưa quý ông! Chúng tôi chờ quý ông từ buổi sáng đặng chuyển giao chính quyền.</p>
<p>Tôi đáp: Các ông còn có gì mà bàn giao, không thể bàn giao khi trong tay không còn có gì!</p>
<p>Tôi không nói gì đến chuyện đầu hàng vì 2 trung tá Tùng và Hân đã cho tôi biết ông Minh vừa tuyên bố đầu hàng ở đài phát thanh. Ý tôi muốn nói là không thể có chuyện bàn giao chính quyền, vì tình hình đã ngả ngũ xong xuôi.</p>
<p>(…)</p>
<p>(1) Ông Nguyễn Văn Thiệu đã đi Đài Bắc từ ngày…25-5-1975.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Lạc đạn</b></p>
<p>1975 tháng 4, <i>Đại thắng mùa xuân</i>. Như tên hồi ký Văn Tiến Dũng viết. Và cho tướng Giáp ra rìa đại tiệc. Báo Nhân Dân dành hai trang đăng bài Bùi Tín tường thuật “giải phóng Sài Gòn.”</p>
<p>Xem đến đoạn Bùi Tín vào dinh Độc Lập mở tủ lạnh xem “chúng nó” ăn những gì, tôi không đọc nữa. Kiểm kê sự ăn uống của tư sản, địa chủ vốn nằm quen thuộc trong cẩm nang phát động quần chúng căm thù bọn bóc lột. Tức là bấm vào cái huyệt ghen ăn tức ở. Mở trí khôn cho quần chúng ở cái điểm này mới quý đây!</p>
<p>Bỏ báo xuống là một phản ứng buồn. Chính chúng tôi thua. Với thân phận kẻ bị đàn áp, rất bản năng tôi đứng ngay vào phía bà con đại bại trong Nam.</p>
<p>(Đèn cù &#8211; Trần Đỉnh)</p>
<h5>30-4-1975, Dương Văn Minh và tôi</h5>
<p>Anh em sinh viên đã cùng bộ đội chiếm giữ đài rồi nhưng không vận hành được cũng như không biết phát đi nội dung gì. Chúng tôi tìm được anh Trần Văn Bảng kỹ thuật viên phát thanh vận hành lại đài, còn nhà báo Đức thì cho mượn chiếc cát xết thu lời đầu hàng của tướng Minh và lời chấp nhận đầu hàng của chính ủy Bùi văn Tùng, do chính ông Tùng soạn thảo.</p>
<p><i>Tướng Minh nhìn thấy tôi trong đám người này có vẻ cũng yên lòng</i> (!). Trông ông mệt mõi và không mấy vui. Thân hình ông vẫn to lớn nhưng mặt ông hơi hốc hác. Sau này tôi mới biết là ông và bộ tham mưu từ mấy ngày qua đã quyết định đầu hàng dẫu có bị đối xử không tương xứng của phía đối nghịch. Có lẽ ông chưa bao giờ thành công trong hoạt động chính trị. Ông <i>chỉ là nhân vật cần thiết của tình thế</i> nhưng không nắm được quyền lâu dài.</p>
<p>Tôi nhìn sang Giáo sư Vũ Văn Mẫu, ông có vẻ bình thản trong bộ complê màu xanh nhạt luôn chỉnh tề của một nhà giáo đại học. Tuy xuất thân trong gia đình quan lại miền Bắc và di cư vào Nam năm 1954, khi nổ ra vụ tranh đấu Phật giáo năm 1963, đang giữ chức vụ Bộ trưởng ngoại giao VNCH, ông từ nhiệm và cạo trọc đầu phản kháng Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo. Nay ra lãnh chức vụ thủ tướng tôi nghĩ ông sẽ đem lại hòa bình, hòa hợp hòa giải thật sự cho dân tộc.</p>
<p>Loay hoay đến gần hai giờ chiều chúng tôi mới phát đi được tiếng nói cách mạng đầu tiên trên đài phát thanh Sài Gòn. Nguyên văn tiếng nói mở đầu của tôi…</p>
<p>(…)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Giây phút hấp hối của VNCH </strong></p>
<p>Nhưng cuốn băng chỉ phát được một lần vào lúc 10 giờ 15 phút sáng 30-4-1975. Lê Phú Bổn vừa ra khỏi đài thì tướng Nguyễn Hữu Hạnh, tổng tham mưu trưởng quân đội, vị tổng tham mưu trưởng thứ ba trong vòng hơn 1 ngày rưỡi. Ông từ phủ thủ tướng sang đài phát thanh sau khi đã ghé qua đài truyền hình. Tôi đón ông ở cổng. Tướng Hạnh nói ông sang tiếp nhận đài để trao cho phía “cách mạng”. Còn đang nói chuyện với tướng Hạnh thì một đoàn xe trờ tới.</p>
<p>Khi chiếc Mercedes đen ngừng lại ở cổng ngoài, tôi thấy một người mặc quân phục tác chiến mầu cỏ úa của bộ đội Bắc Việt, súng lục cầm trong tay, tiếp theo là Tổng thống Dương Văn Minh, và một người khác cũng mặc quân phục mầu cỏ úa, cũng súng lục cầm tay. Tổng thống Dương Văn Minh đi giữa hai người này, phía sau có nhiều cán binh mang AK47.</p>
<p>Rồi đến những chiếc xe jeep lùn khác của quân đội VNCH cũng đến đậu trước đài phát thanh. Từ trên xe bước xuống là một đám thanh niên, thiếu nữ, trang phục dân sự nhưng trên tay phải của mỗi người đều có đeo băng đỏ. Tôi nhận ra ngay Lê Văn Nuôi, Huỳnh Tấn Mẫm, Cao Thị Quế Hương, Nguyễn Hữu Thái, Tôn Thất Lập&#8230; Tôi cũng thấy vài phóng viên nước ngoài, trong đó có George Asper, trưởng văn phòng AP tại Sài Gòn, và hai thu hình viên của phía Bắc Việt.</p>
<p>Ông Hạnh yêu cầu tôi lên phòng phát thanh trước, tướng Hạnh yêu cầu mở cửa phòng vi âm lúc đó đang đóng vì không phải là giờ đọc tin. Viên sĩ quan đi bên cạnh ông Minh lớn tiếng yêu cầu mọi người bình tĩnh, không được kháng cự vì kháng cự cũng vô ích. Ông ta nói…</p>
<p>(…)</p>
<h5>30-4-1975, Dương Văn Minh và tôi</h5>
<p>Nguyên văn tiếng nói mở đầu của tôi:</p>
<p><i>Chúng tôi là những người đại diện cho Ủy ban nhân dân cách mạng Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định. Chúng tôi là những người đầu tiên tới dinh Độc Lập trước 12 giờ và đã cùng anh em quân đội giải phóng cắm cờ trên dinh Độc Lập. Chúng tôi là giáo sư Huỳnh Văn Tòng và cựu chủ tịch Tổng hội sinh viên Sài Gòn Nguyễn Hữu Thái… Đời sống bình thường đã trở lại Sài Gòn &#8211; Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố mà bác Hồ đã mong đợi, nay đã được giải phóng… Xin giới thiệu lời kêu gọi của ông Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu của chính quyền Sài Gòn về vấn đề đầu hàng ở thành phố này…</i></p>
<p>Đại tướng Dương Văn Minh đọc lời đầu hàng theo bản văn do Bùi Văn Tùng soạn thảo:</p>
<p><i>Tôi, Đại tướng Dương Văn Minh, Tổng thống chính quyền Sài Gòn, kêu gọi Quân lực Việt Nam Cộng hòa hạ vũ khí đầu hàng không điều kiện quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố chính quyền Sài Gòn từ trung ương đến địa phương phải giải tán hoàn toàn. Từ trung ương đến địa phương trao lại cho Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam.</i></p>
<p>Giáo sư Vũ Văn Mẫu phát biểu trực tiếp:</p>
<p><i>“Trong tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, tôi, Giáo sư Vũ Văn Mẫu, thủ tướng, kêu gọi tất cả các tầng lớp đồng bào hãy vui vẻ chào mừng ngày hòa bình của dân tộc, và trở lại sinh hoạt bình thường. Chuyên viên của các cơ quan hành chính quay trở về vị trí cũ dưới sự hướng dẫn của chính quyền cách mạng.</i></p>
<p>Tiếp đó là lời chính ủy Bùi Văn Tùng:</p>
<p><i>Chúng tôi đại diện lực lượng quân Giải phóng miền Nam Việt Nam long trọng tuyên bố thành phố Sài Gòn đã được giải phóng hoàn toàn, chấp nhận sự đầu hàng không điều kiện của ông Dương Văn Minh, tổng thống chính quyền Sài Gòn.</i></p>
<p>(Nguyễn Hữu Thái)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Giây phút hấp hối của VNCH </strong></p>
<p>Ông ta nói: Tổng Thống của các ông đã bị bắt.</p>
<p>Và quay lại đẩy Big Minh vào phòng vi âm và nói tiếp: Các anh thua rồi, phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện chứ còn gì nữa mà bàn giao.</p>
<p>Cuốn băng thứ hai mà dân chúng miền Nam được nghe từ 1 giờ ngày 30-4-1975 trở đi chỉ khác cuốn băng đâu tiên ở điểm “đầu hàng vô điều kiện&#8221; thay vì &#8220;bàn giao chính quyền trong vòng trật tự”. Sau đó tôi hỏi tướng Hạnh: Tôi có thể ra khỏi đài được chứ?.</p>
<p>Ông Hạnh nói: Anh hãy về nhà ngồi đợi lệnh của Ủy ban quân quản.</p>
<p>Tôi bước xuống cầu thang thì phóng viên Yến Tuyết từ phòng làm việc chạy ra. Vừa ra đến cổng thì thấy xe của Thiếu tá Nguyễn Văn Thăng do tài xế Ðường lái chạy vào. Trên xe có cả vợ ông Thăng, chắc họ không kiếm được chỗ đi. Ông Thăng còn mặc bộ đồ bốn túi bằng vải ka-khi vàng. Tôi nói: Họ đầy ra ở trên đó, thiếu tá còn vào đây làm gì, quay xe ra ngay đi. Ðường thấy vậy mở cửa xe và đẩy vội tôi và Yến Tuyết lên, vọt nhanh ra khỏi cổng.</p>
<p>Ra đến đường Hồng Thập Tự, Ðường quay lại hỏi: Ði đâu ông?.</p>
<p>Tôi lắc đầu và không nói gì nữa. Vì “phim” đã cháy thực sự.</p>
<p>(Vũ Ánh)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Góp nhặt…ghi chép…</b><b></b></p>
<p><strong>Nam</strong><strong> Nguyên:</strong> <em>Thưa ông làn sóng phát thanh quốc gia duy trì cho đến lúc nào?</em></p>
<p><strong>Vũ Ánh:</strong> Điều chắc chắn, ở đây còn rất nhiều nhân chứng. Tôi thấy quyển <i>Đại thắng mùa xuân</i> của ông Văn Tiến Dũng viết hết sức cẩu thả và dựng đứng nhiều chi tiết, có những chi tiết sai không thể chấp nhận được. Chẳng hạn ông ta viết bộ đội của ông vào đài phát thanh Sài Gòn, lúc đó đài bỏ hoang không còn ai. Điều này hoàn toàn sai. Nên nhớ rằng người ta không thể chế ra lịch sử được, lịch sử có giá trị của nó bởi vì quan trọng nhất là sự thật, bởi vì tôi tin tưởng là lịch sử có tiếng nói riêng của nó. Và không ai có thể bóp méo tiếng nói của lịch sử.<b> </b>Lịch sử ngày 30-4 đã bị xuyên tạc.</p>
<p>&#8211; : Cuốn băng đầu phát đi lời đầu hàng của tổng thống Dương Văn Minh được một lần vào lúc 10 giờ 15 phút sáng 30-4-1975. 11 giờ kém 15, Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh sang nhận đài để giao cho phía bên kia. 11 giờ, tôi rời đài phát thanh Sài Gòn. Nhưng tiếng nói quốc gia VNCH vẫn còn, Vì sau đó khi phát lệnh đầu hàng văn bản lần thứ hai của tổng thống Dương Văn Minh thu tại đài phát thanh Sài Gòn. Cuốn băng thứ hai mà dân chúng miền Nam được nghe từ 1 giờ trưa ngày 30-4-1975 chỉ khác cuốn băng trước là “đầu hàng vô điều kiện”. Thì lúc đó mới chấm dứt tiếng nói của quốc gia VNCH. (Vũ Ánh)</p>
<p><b>&#8211; :</b> Loay hoay đến gần 2 giờ (?) chúng tôi mới phát đi được tiếng nói cách mạng đầu tiên trên đài phát thanh Sài Gòn (…)<b> </b>cho <i>đến 4 giờ chiều thì giao lại cho nhóm anh em sinh viên đại học Khoa học Sài Gòn</i>. (Nguyễn Hữu Thái)</p>
<p><b>Góp nhặt sỏi đá</b></p>
<p>Trở lại với nhà sử học người Hy Lạp Halikamasseus sống ở thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên. Trong tác phẩm Historical, ông đi đến nhiều nơi để ghi nhận những chuyện được gọi là trung thực của vùng Địa Trung Hải mà nhiều sử gia thời ấy đề cao vì cho rằng sự kiện lịch sử mang tính chất khách quan nhất và trung thực nhất. Đúc kết lại ông tìm thấy những sử gia đều…”ngu xuẩn” và là những…“ông tổ nói láo”. Qua tác phẩm Historical, ông viết chữ nghĩa sử học hơn: “Lịch sử là gì? lịch sử là chuyện kể của kẻ chiến thắng!”.</p>
<p><b>&#8211; : </b>Tiếng Hy Lạp tiên khởi “Historical” có nghĩa là <i>phát hiện và thu thập</i>….</p>
<p><b>Quân sử ngoại truyện</b></p>
<p>Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 diễn ra trong 55 ngày đêm với tốc độ thần kỳ “một ngày bằng 20 năm”. Ngày 30-4, nhìn lên bản đồ tác chiến, năm cánh quân ta như năm bông sen tung ra từ 5 mục tiêu tiến công:</p>
<p>&#8211; Quân đoàn 1 đánh thẳng vào cổng chính Bộ tổng tham mưu (1) địch nhưng không gặp kháng cự nào đáng kể. Vì cổng chính đã mở và sĩ quan, binh lính địch nhảy qua mọi vật chướng ngại, <i>kể cả dây thép gai và bãi mìn để chạy.</i></p>
<p>&#8211; Quân đoàn 2 tiến công vào “Dinh Độc Lập” nơi bọn đầu sỏ tay sai Mỹ bán “độc lập”, buôn máu người và buôn lậu. Bộ đội ta xông lên gác bắt tại chỗ toàn bộ “nội các” kể cả “tổng thống” ngụỵ Bộ đội ta linh hoạt treo cờ cách mạng tung bay trên “Dinh Độc Lập”. Lúc ấy là 11 giờ 30 phút ngày 30-4. Tại Sở chỉ huy mặt trận, tôi mở máy thu thanh để nghe. Tiếng của “tổng thống” ngụy quyền nói xin hạ vũ khí đầu hàng quân ta không điều kiện.</p>
<p>&#8211; Quân đoàn 3 đánh sân bay Tân Sơn Nhất (2) từ 8 giờ đến 8 giờ 30 phút. Pháo ta bắn cấp thấp vào sân bay, lửa khói bốc ngút trời. Tiếng pháo vừa dứt, xe tăng nhanh chóng xông lên chiếm ngã tư Bảy Hiền, thừa thắng phát triển vào cổng số 5 của sân bay. Chuyện kỳ thú là gặp Phái đoàn quân sự của ta ở trại Davis tại đây. Một cảnh gặp nhau lý thú và xúc động.</p>
<p>&#8211; Quân đoàn 4 dùng xe tăng, xe bọc thép <i>đánh thẳng vào đài phát thanh </i>(3) <i>Sài Gòn lúc 2 giờ trưa.</i> Đơn vị ta nhất trí nếu chỗ nào địch chống cự thì lập tức tiêu diệt ngay. Nhưng ta không gặp kháng cự nào<i> vì đài phát thanh bỏ trống, không có ai.</i></p>
<p>(Đại thắng mùa xuân &#8211; Chương 17: Chương cuối cùng)</p>
<p><b>Phát hiện và thu thập</b></p>
<p>(1) Trung đoàn 28 thuộc <i>Quân đoàn 3</i> tấn công Bộ tổng tham mưu.</p>
<p>(2) Trung đoàn 24 Bộ binh, Trung đoàn 273 Thiết giáp, Trung đoàn 234 Cao xạ thuộc Quân đoàn 3 đánh <i>cổng cửa số 4 và số 5</i>, Tân Sơn Nhất. Tiểu đoàn 6 đã kéo được lá cờ Quyết thắng của sư đoàn lên đỉnh lầu chỉ huy không lưu.</p>
<p>(Nguồn: Ngày 29 và 30 tháng Tư của 34 năm về trước – Bảo Ninh)</p>
<p>(3) 12 giờ 30 ngày 30-4-1975, Đại đội 7, Sư đoàn 7 thuộc Quân đoàn 4 tiến theo đường Hồng Thập Tự, quẹo qua đại lộ Thống Nhất, tới thẳng dinh Độc Lập.</p>
<p>(Trò chuyện với <em>VnExpress &#8211; </em>Hoàng Cầm)</p>
<p>&#8211; : Không thấy Hoàng Cầm nói gì đến Quân đoàn 4 đánh đài phát thanh?</p>
<p><b>Quân sử ngoại truyện</b></p>
<p>Vào dịp kỷ niệm 25 năm ngày “Giải phóng miền Nam” (1975-2000), Nhà xuất bản chính trị quốc gia cho ra mắt cuốn hồi ức: <i>Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng</i> của tướng Võ Nguyên Giáp. Trong chương IX mang tên “Chiến dịch Hồ Chí Minh” viết:</p>
<p>Trước tấm bản đồ thành phố Sài Gòn-Gia Định, mọi người đứng dậy, chăm chú nhìn theo hướng tay tôi chỉ. Mọi người vây quanh tấm bản đồ chiến sự.</p>
<p>Năm cánh quân của ta hợp điểm giữa Sài Gòn. Quân đoàn 2 sẽ chiếm dinh tổng thống. Quân đoàn 4 sẽ chiêm đài phát thanh. Quân đoàn 1 sẽ chiếm Bộ tổng tham mưu. Quân đoàn 3 sẽ chiếm sân bay Tân Sơn Nhất. Đoàn 232 sẽ chiếm Biệt khu thủ đô và Tổng nha cảnh sát.</p>
<p><strong>: &#8211;</strong> Võ Nguyên Giáp cho <i>Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng </i>ra mắt năm 2000. Khi ấy Văn Tiến Dũng đang nằm chờ chết trong bệnh viện Bạch Mai (Văn Tiến Dũng chết năm 2002)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Phát hiện và thu thập</b></p>
<p>Hồi mới giải phóng tôi rất ngạc nhiên khi đọc sách <i>Đại thắng mùa Xuân</i> của tướng Văn Tiến Dũng (…). Năm 2000, đọc sách <i>Đại thắng mùa xuân ở Tổng hành dinh</i> của Đại tướng Võ Nguyễn Giáp, tôi mới hay tướng Giáp là người tổng chỉ huy toàn bộ cuộc tổng tiến công mùa xuân năm 1975. Đại tướng đã đề xuất Bộ chính trị quyết định mở Chiến dịch Hồ Chí Minh và cử Đại tướng Văn Tiến Dũng làm tư lệnh, các tướng Lê Trọng Tấn, Lê Đức Anh, Trần Văn Trà làm phó tư lệnh, chỉ huy 5 cánh quân gồm 20 sư đoàn giải phóng Sài Gòn. (…)</p>
<p>(…) Cỏ làm sao che được mặt trời ”. Cứ đọc sách <i>Bên thắng cuộc</i> của nhà báo Huy Đức ( Phần 2: Quyền bính, chương 15) thì sẽ rõ hơn những điều tôi đã viết. (…)</p>
<p>(Vì sao tôi viết “Tướng Giáp trong tôi?” – Ngô Minh)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Sài Gòn trong những giờ phút lịch sử</b></p>
<p>Trong tài liệu chính thức của Bộ tổng tham mưu, <i>các câu nói của tôi trên đây được đặt trong miệng Trung tá Bùi Văn Tùng</i>. Tôi khá thân với anh Tùng, từng ghé thăm 2 vợ chồng anh. Tôi tin là anh Tùng sẽ có thể đến lúc không ngại gì nói rõ sự thật đầy đủ. Có những nhân chứng còn sống, về những lời nói của tôi trưa hôm ấy, như các ông Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Hữu Có, Nguyễn Hữu Hạnh (?)…Sự thật là hoàn cảnh ngẫu nhiên đưa đẩy để tôi là cán bộ cấp cao duy nhất của QĐND có mặt tại dinh Độc Lập trong khoảng thời gian<i> từ</i> <i>12 giờ đến 16 giờ</i> chiều 30-4-1975 để chứng kiến và chút ít tham gia sự kiện lịch sử này.</p>
<p>(…)</p>
<p>Sở dĩ một số báo nước ngoài cứ nói phóng lên là tôi là người nhận đầu hàng của tướng Minh là vì tướng Trần Văn Trà, chủ tịch Ủy ban quân quản Sài Gòn hồi tháng 9-1975 có lần giới thiệu tôi với các nhà báo Nhật, Pháp…: Đây là nhà báo, sỹ quan cao cấp nhất chứng kiến sự đầu hàng của chính quyền Sài Gòn.</p>
<p>Rõ ràng “chứng kiến” và “nhận” là 2 điều khác nhau.</p>
<p>Từ đó, có thể có người hiểu lầm cho rằng tôi là người nhận đầu hàng. Cũng có thể có người hiểu sai, cho rằng khi tôi nói “không còn gì để bàn giao” thì cũng có nghĩa là tôi đòi họ phải đầu hàng tôi! Tôi không bao giờ nhận một điều gì không phải của mình, không do mình làm.</p>
<p>(Bùi Tín viết riêng cho VOA để “hiệu đính” nhân ngày 30-4-2010)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Quân sử ngoại truyện</b></p>
<p>Qua “Sài Gòn trong những giờ phút lịch sử&#8221; ngày 2-5-1975 trên báo Quân đội nhân dân. Ông Bùi Tín với quân hàm “đại tá”. Trong bài viết lại cho đài VOA nhân ngày 30-4-2010, ông Bùi Tín với quân hàm mới là…“thượng tá”. Vì theo ông Nguyễn Công Trang:</p>
<p>Về &#8220;quân hàm đại tá&#8221; tại thời điểm 30-4-1975, Thiếu tướng Nguyễn Công Trang của quân đội nhân dân khẳng định vào thời điểm đó Bùi Tín chỉ mang quân hàm…<i>Thượng tá</i>.</p>
<p>Qua bài viết riêng để “hiệu đính” cho VOA, ông Bùi Tín tự chú thích để…hiệu đính:</p>
<p>(…) Cần nói rõ thêm để các bạn ở ngoài quân đội biết là giữa trung tá và thượng tá là khác không chỉ một cấp, mà khác hẳn một bậc. Cán bộ sơ cấp từ thiếu uý lên đại úy là bậc sơ cấp, từ thiếu tá và trung tá là bậc trung cấp, từ thượng tá lên cấp tướng là bậc cao cấp.</p>
<p>Phân biệt 3 cấp ấy rất rõ, khác hẳn nhau, từ bếp ăn, phòng ngủ, nhà ở, quân phục, tiền lương, sổ mua hàng, lớp học, trường học, hội nghị, tài liệu đều phân biệt rõ. (…)</p>
<p><b>&#8211; :</b> Theo truyền thống Hồng quân Trung Quốc, quân hàm và cấp bậc theo “tứ chế”:</p>
<p>Thiếu – Trung – Thượng – Đại.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Góp nhặt sỏi đá</b></p>
<p>Cho đến nay có nhiều nguồn về sự kiện Bắc Việt tiếp nhận sự đầu hàng của chính quyền Sài Gòn. Các tài liệu của Việt Nam trong nhiều năm và các sách nước ngoài ghi rằng người tiếp nhận sự bàn giao từ tay Đại tướng Dương Văn Minh là Đại tá Bùi Tín.</p>
<p>Sau này có nguồn từ sách trong nước nhấn mạnh đến vai trò của Trung tá Bùi Văn Tùng trong những giờ lịch sử tại dinh Độc Lập. Theo bản tin của AFP đánh đi từ Sài Gòn ngày 29-4-2000 thì ông Tùng cho AFP biết chính ông mới là người tiếp quản chính quyền Sài Gòn tại dinh Độc Lập ngày 30-4-1975 từ tay Dương Văn Minh chứ không phải…ông Bùi Tín. Ông Tùng (1) còn lên án việc ông Tín trở thành người phê phán đảng cộng sản Việt Nam ở Paris.</p>
<p>AFP có vẻ như không tin câu chuyện của ông Bùi Văn Tùng, khi ấy đã là đại tá, nên chạy tựa cho bản tin là “Việt Nam viết lại lịch sử để bác bỏ vai trò của một nhân vật bất đồng chính kiến”. (nguyên văn tiếng Pháp: Le Vietnam réécrit son histoire pour nier le rôle d&#8217;un dissident).</p>
<p>Còn bài trên tờ VietNam Net ở trong nước vào năm 2000 thì người gặp tướng Minh để tiếp quản sự đầu hàng lại là…ông Phạm Xuân Thệ. (Nguồn: BBC)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Dinh Độc Lập 11 giờ 15 phút </b></p>
<p>Trung uý trung đoàn phó trung đoàn Bộ binh 66 <i>Phạm Xuân Thệ</i> là viên chỉ huy đầu tiên “làm việc” với Tổng thống Dương Văn Minh. Giống như Bùi Quang Thận trong khoảnh khắc đầu tiên, Phạm Xuân Thệ cũng hơi ngỡ ngàng và chưa biết phải làm gì: Tôi chỉ được giao nhiệm vụ chiếm dinh Độc Lập. Việc của tôi là kiểm soát tòa nhà và cho anh em lên cắm cờ. Làm việc gì và làm như thế nào với tổng thống và nội các này đây? Ông Thệ nhớ lại.</p>
<p>Tổng thống Dương Văn Minh thông báo đã tuyên bố ngừng bắn và đang chuẩn bị tiến hành bàn giao chính quyền cho Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Phạm Xuân Thệ không chấp nhận chuyện “bàn giao” mà tuyên bố: Phải đầu hàng! Trung úy Phùng Bá Đam cùng các sĩ quan bộ binh đã bàn với Phạm Xuân Thệ là cho tuyên bố đầu hàng ngay tại dinh. Nhưng đường dây từ dinh Độc Lập ra đài phát thanh không hoạt động được nữa do nhân viên đài lúc ấy đã “biến” hết. Phải ra đài phát thanh!</p>
<p>Ngay lúc đó, Trung tá chính ủy lữ đoàn xe tăng 203 <i>Bùi Văn Tùng</i> xuất hiện. Các sĩ quan biệt động đặc công đưa ông vào gặp Tổng thống Dương Văn Minh. Trung tá Bùi Văn Tùng cũng bác bỏ lời đề nghị bàn giao chính quyền và tuyên bố giải pháp duy nhất là phải đầu hàng.</p>
<p>(Nguồn: TT)</p>
<p><b>Góp nhặt…ghi chép…</b></p>
<p>Ngày 19-10-2005, tại thành phố Sài Gòn, Viện lịch sử quân sự đã tổ chức: “Tọa đàm khoa học xung quanh sự kiện đánh chiếm dinh Độc Lập ngày 30-4- 1975″ nhưng không mời các nhân chứng có mặt trong dinh và đài phát thanh tại thời điểm trưa 30-4-1975, không mời các cán bộ, chiến sỹ của Lữ đoàn tăng 203.</p>
<p>Ngày 17-1-2006, Viện lịch sử quân sự đã đưa ra kết luận: “Tại đài phát thanh đồng chí Trung úy (1) Phạm Xuân Thệ cùng các cán bộ, chiến sỹ Trung đoàn 66 tổ chức soạn thảo lời tuyên bố đầu hàng cho Dương Văn Minh. Văn bản đang được soạn thảo thì Trung tá (2) Bùi Văn Tùng, chính ủy Lữ đoàn tăng 203 xuất hiện. Từ đó, bộ phận cán bộ <i>đồng chí Phạm Xuân Thệ, chiến sĩ Trung đoàn 66 </i>dưới sự chỉ đạo của đồng chí Bùi Văn Tùng, <i>đồng chí Phạm Xuân Thệ tiếp tục soạn thảo và hoàn chỉnh lời tuyên bố đầu hàng</i>”.</p>
<p>(1) Giữa năm 1985, Trung úy Phạm Xuân Thệ mang quân hàm thiếu tướng.</p>
<p>(2) Trung tá Bùi Văn Tùng nay là…”đại tá”.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Dinh Độc Lập 11 giờ 15 phút</b></p>
<p>Bùi Quang Thận kể: (…) Tiêu diệt xong căn cứ Nước Trong, 9 giờ sáng ngày 30-4, Đại đội 4 xe tăng chúng tôi quyết định vượt cầu tiến vào thành phố. Khi đến dinh Độc Lập thấy cổng đóng, tôi ra lệnh cho pháo thủ nhắm giữa cổng dinh Độc Lập khai hỏa. Không hiểu sao đạn không nổ? Hai lần như vậy, tôi ra lệnh quay nòng pháo ra sau để cho xe húc đổ cổng. Trong 10 phút phải húc 3 lần thì cánh cổng trái mới bung ra. Ngay lúc đó xe tăng 390 do anh Vũ Đăng Toàn, chính trị viên chỉ huy lao vào húc đổ cổng chính. Thế là cả hai xe đều tiến vào bên trong.</p>
<p>Từ chiếc xe tăng 390, chính trị viên đại đội Vũ Đăng Toàn nhảy xuống. Tôi và anh Toàn chạy lên thềm dinh trong tư thế được mô tả là sẵng sàng chiến đấu. Trung úy Toàn tay lăm lăm khẩu AK hỏi: Tổng thống ở đâu?<i>.</i> Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh đáp: Để tôi đưa tổng thống ra gặp các ông. Lúc này Tổng thống Dương Văn Minh đang ngồi sau phòng khánh tiết. Có hai người bước ra. Tôi thấy một người dáng cao to, nước da ngăm đen, tóc hoa râm, mặc áo cộc tay bước ra. Đó là Tổng thống Dương Văn Minh. Người còn lại là Thủ tướng Vũ Văn Mẫu.</p>
<p>Lập tức, trung úy Vũ Đăng Toàn có nhiệm vụ trấn áp nội các, pháo thủ số 1 xe 390 canh chừng ngoài phòng. Còn tôi có nhiệm vụ lên nóc dinh để cắm cờ”. (…) (Dương Tùng &amp; Huy Đức)</p>
<p><b>Góp nhặt…ghi chép…</b></p>
<p>Ngay sau khi công bố: Kết luận của Viện lịch sử quân sử đã bị ông Bùi Văn Tùng, các sỹ quan, chiến sỹ trên xe tăng 390 và Kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thái phản đối trên 2 số báo Xưa &amp; Nay.</p>
<p><b>Dinh Độc Lập 11 giờ 15 phút</b></p>
<p>Bùi Quang Thận nhớ anh cũng hơi lo lo khi nhìn thấy bên trong có người mặc quân phục…như mình. Có thể vì quá căng thẳng và có thể vì là “một người lính nông dân” lần đầu đứng trước một tấm kính khổng lồ, Bùi Quang Thận lao vào…tấm kính như tấm gương soi mạnh đến nỗi anh…ngã bật ra đằng sau ngồi bệt xuống đất. Tay vẫn cầm lá cờ, anh lồm cồm đứng đậy để làm nốt “vai trò lịch sử” là cắm cờ trên dinh Độc Lập. Người dẫn đường cho Bùi Quang Thận lên cắm cờ<i> là Đại tá Vũ Chiêm</i> (Quân lực VNCH). Cùng hỗ trợ việc cắm cờ cùng Bùi Quang Thận còn có anh thanh niên Nguyễn Hữu Thái (cựu chủ tịch Tổng hội sinh viên Sài Gòn) và nhà báo Huỳnh Văn Tòng. Theo lời kể của Trung úy Bùi Quang Thận: Đại tá Vũ Chiêm dẫn cả ba người tới thang máy, loại phương tiện mà đối với tôi còn lạ hơn tấm kính khổng lồ nhiều. Bùi Quang Thận nhất quyết kiên cường không vào. Mãi về sau anh kể lại: Lúc đó tôi nhìn thấy nó như cái hòm. Vào đó nó nhốt mình vào như tù bình thì biết bao giờ mới ra được. Sau khi nghe đại tá Chiêm giải thích, Bùi Quang Thận mới chịu dùng thang máy nhưng bắt vị này bước vào trước thì mình mới vào sau.</p>
<p>Bùi Quang Thận xúc động, anh dừng một lúc rồi nói tiếp:</p>
<p>Trước hai cánh cửa sắt, người dẫn đường ấn vào nút, hai cánh cửa dẹp về hai phía, bên trong hiện ra một khoang giống như cái thùng sắt đựng lúa của ta. Bởi từ thuở cha sinh mẹ đẻ đến nay tôi đã biết thang máy là thế nào đâu. Nói đến đây, anh phá lên cười rồi nói: Khi lên đến nơi, tôi hạ cờ Ngụy xuống. Nhưng do cờ được buộc chắc chắn nên phải <i>cắn bằng răng</i> (!?), sau đó treo cờ giải phóng vào. Kéo cờ mình lên, tôi lại hạ xuống, đưa tay xem đồng hồ…(3a)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2016/05/clip_image004-3.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image004" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/05/clip_image004_thumb-150x148.jpg?strip=all" alt="clip_image004" width="220" height="149" border="0" hspace="12" /></a><b></b></p>
<p>Phạm Xuân Thệ (phải) tay cầm súng</p>
<h3> (ảnh Borries Gallasch)</h3>
<p>Bùi Quang Thận (trái) <i>tay không </i></p>
<p><i>đeo…đồng hồ</i>. (3a)</p>
<p>Sau khi hạ lá cờ xuống, Bùi Quang Thận đưa tay xem đồng hồ và cẩn thận ghi vào góc lá cờ: &#8220;11 giờ 30 phút 30-04-1975. Ký tên: Thận&#8221;. Lá cờ chiến thắng tung bay trên nóc dinh Độc Lập dưới sự chứng kiến với niềm tự hào thiêng liêng của ba người, ba miền đất nước lúc đó. Một trung úy dũng cảm Bùi Quang Thận đến từ hậu phương vững chắc miền Bắc. Một thanh niên yêu nước Nguyễn Hữu Thái quê miền Trung ruột thịt. Một nhà báo ái quốc Huỳnh Văn Tòng sinh trưởng tại chính miền Nam khói lửa.</p>
<p>(Tổng hợp Dương Tùng &amp; Huy Đức)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Từ R, căn cứ trung uơng cục ở Lộc Ninh đến Sài Gòn</strong></p>
<p>Sáng sớm ngày 27-4-1975…</p>
<p>“Cánh” của ông Võ Văn Kiệt từ R, căn cứ trung uơng cục ở Lộc Ninh, ông Kiệt cùng một bộ phận phục vụ gọn, khoảng hai trung đội, chạy xe Honda 67 bọc qua phía Campuchia, tới cửa biên giới Mỏ Vẹt, Long An thì bỏ xe lại, đi bộ. Đoàn vượt qua sông Vàm Cỏ Đông thuộc Đức Hoà gặp cánh Mai Chí Thọ đang đi lơ ngơ. Hai đoàn nhập làm một. Ít ai nghĩ ba, bốn ngày nữa rồi những người mặc bà ba đen, đi dép râu, mặt mày khắc khổ đang xắn quắn lội ruộng đó lại sẽ là “chủ nhân ông” của thành phố Sài Gòn.</p>
<p>Sáng hôm sau 28-4,..</p>
<p>Khi sương sớm còn phủ trắng, từ nơi tạm dừng nhìn qua phía bên kia cánh đồng, ông Kiệt bất ngờ nhìn thấy lố nhố xe pháo. Lúc đàu cả hai ngỡ xe tăng “địch”. Tới khi sương mù bớt đi, mới nhận ra: “Cơ man tăng. Tăng mình!”. Ông Kiệt viết thư, niêm kín, ra lệnh cho thư ký riêng là Ba Hùng, <i>đi kiếm</i> Trung tướng Lê Đức Anh <i>hỏi cho ra lẽ.</i></p>
<p>Tướng Lê Đức Anh được giao chỉ huy Đoàn 232 (1), một lực lượng tương đương quân đoàn, tiến về Sài Gòn hướng tây-nam. Dọc đường Ba Hùng đi, đạn pháo nằm la liệt trên các bờ ruộng, bờ kênh, dân công rầm rập, bộ đội, xe tăng lớp lớp. Tướng Lê Đức Anh viết thư trả lời “Anh Sáu Dân” (bí danh của ông Kiệt), rồi cũng niêm kín, đưa Ba Hùng cầm về.</p>
<p>Sau này Ba Hùng mới biết trước đó <i>ông Võ Văn Kiệt không hề biết</i> đó là thông tin về giờ G. ngày N, tức 00 giờ 00 phút <i>ngày 29-4-1975</i>, là giờ quy định cho tất cả <i>năm cánh quân của quân Giải phóng</i> đồng loạt nổ súng tấn công vào Sài Gòn.</p>
<p>(Giải phóng – Huy Đức)</p>
<p><strong>(1) </strong>Đoàn 232 gồm Sư đoàn 5, Sư đoàn 9 do Thiếu tướng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Minh_Ch%C3%A2u_(th%C6%B0%E1%BB%A3ng_t%C6%B0%E1%BB%9Bng)">Nguyễn Minh Châu</a> làm tư lệnh. Tướng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_%C4%90%E1%BB%A9c_Anh">Lê Đức Anh</a> chỉ là tư lệnh cánh quân phía tây-nam có nhiệm vụ cắt đường số 4 ở <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BA%BFn_L%E1%BB%A9c">Bến Lức</a> &#8211; <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ng%C3%A3_ba_Trung_L%C6%B0%C6%A1ng&amp;action=edit&amp;redlink=1">ngã ba Trung Lương</a>.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Tang thương ngẫu lục</b></p>
<p>Năm 74, tướng Lê Đức Anh là phó tư lệnh quân giải phóng miền Nam. Năm 75, là phó tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, sau bị thay thế bởi tướng Lê Trọng Tấn.</p>
<p>Sau trận Xuân Lộc, Quân đoàn 4 (mới thành lập) và Quân đoàn 2 kéo xuống bao vây Sài Gòn. Lúc này người điều binh là Lê Trọng Tấn, tướng thân cận với tướng Võ Nguyên Giáp. Người quyết định chiến trường là tướng Nguyễn Hữu An, cùng Quân đoàn 2 với Lê Trọng Tấn. Có thể vì vậy, Lê Đức Anh không viếng Võ Nguyên Giáp ở…nhà quàn.</p>
<p><strong>&#8211;</strong> : Tướng Lê Đức Anh (người Huế), tướng Trần Văn Trà (người Quảng Ngải) trước là tư lệnh Khu 7 (1949-1950), sau là tư lệnh quân giải phóng (1973-1974). Cả hai tướng Trà và tướng Anh đều từ miền Bắc được điều động vào miền Nam thập niên 50.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Từ R, căn cứ trung uơng cục ở Lộc Ninh đến Sài Gòn</strong></p>
<p>Trưa 29-4…</p>
<p>Đoàn lội bưng băng vô vườn thơm Bình Chánh, hạ trại nấu cơm. Bếp rơm có khói, một chiếc trực thăng trờ tới lia vài băng vu vơ. Cả hai đoàn “sơ tán” mỏng, người lủi xuống ruộng, người chui vào bụi cây. Đêm ấy, Ba Hùng măc võng bên cạnh ông Kiệt, nằm nghe tiếng pháo…</p>
<p>Ba Hùng và ông Kiệt không hay biết đấy là tiếng pháo…“ta pháo kích vào Tân Sơn Nhất”.</p>
<p>Sáng 30-4…</p>
<p>Ông Kiệt trao đổi tình hình với ông Mai Chí Thọ. Nhưng ông Thọ cũng không biết gì hơn nên ông Kiệt phân công người theo dõi đài phát thanh Sài Gòn và cho phép anh em nấu ăn. Từ đêm trước, chưa ai có hột cơm nào vô bụng.</p>
<p>Khoảng 9 giờ sáng 30-4…</p>
<p>Ông Kiệt không lúc nào rời chiếc radio ba làn sóng hiệu JVC của Nhật. Tới 9 giờ 30 phút đài Sài Gòn có tiếng của phát thanh viên: “Mời đồng bào nghe tuyên bố của tổng thống”.</p>
<p>Mọi người xúm lại chiếc radio theo dõi phát biểu của Tổng thống Dương Văn Minh.</p>
<p>(…) Đường lối, chủ trương của chúng tôi là hoà giải và hoà hợp dân tộc để cứu sinh mạng đồng bào. Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hoà giải giữa người Việt Nam để khỏi phí phạm xương máu người Việt Nam. Vì lẽ đó, tôi yêu cầu tất cả các anh em chiến sỹ Cộng hoà hãy bình tĩnh, ngưng nổ súng, và ở đâu ở đó. Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sỹ Chánh phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam ngưng nổ súng. Chúng tôi ở đây chờ gặp Chánh phủ lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam để cùng nhau thảo luận về lễ bàn giao chánh quyền trong vòng trật tự, tránh đổ máu vô ích của đồng bào. (…)</p>
<p>Lời tướng Minh vừa dứt, Võ Văn Kiệt ra lệnh: Giản chính đồ đạc. Đi. Ông Thọ hỏi đi đâu vì không ai biết đường vào Sài Gòn. Đoàn người lúc đó chẳng kịp ăn uống, băng đồng ra lộ. Ông Kiệt gọi hai cận vệ là Tư và Chín vốn là dân thành phố, đến, ra lệnh: Hai đồng chí nhanh chóng tìm xe đưa Đại quân vô Sài Gòn. Hai đồng chí Tư và Chín đưa Đại quân về hướng…Phú Lâm.</p>
<p>Rồi cả hai thấy một chiếc GMC mới cáu cạnh bỏ không bên đường. Cạnh xe có anh công nhân. Đồng chí Chín nói: Tụi tôi là Giải phóng. Nhờ anh đưa tụi tôi vô giải phóng Sài Gòn.</p>
<p>May mà anh nhân công biết lái xe GMC.</p>
<p>(Giải phóng – Huy Đức)</p>
<p><strong> Chuyện một thời tao loạn</strong></p>
<p>Lần đầu tiên đụng trận, giữa khói lửa mù mịt và tiếng đạn bay veo véo, hắn tự nhiên xuất tinh. Với hắn, lần đầu tiên nã súng vào quân địch cũng giống như lần đầu tiên hắn chơi gái:</p>
<p>Những thứ vọt ra từ hắn đều khiến hắn ngây ngất.</p>
<p>(Website Tiền Vệ &#8211; <i>Truyện cực</i> ngắn hay <i>Truyện chớp</i>)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Thâm u bí sử</b></p>
<p>Trên thực tế chiến trường, cuộc tổng công kích và khởi nghĩa đã bị nghiền nát. Trong chiến dịch Mậu Thân, ông Võ Văn Kiệt đã vào sâu tận nội thành Sài Gòn. Chiều mùng một Tết, ông đã có mặt ở xóm nhỏ gần đình Bình Đông, quận 8. Những người trực tiếp ở chiến trường như ông đã phải chứng kiến sự hy sinh quá lớn. Ông nói: “Lúc đó tôi đau đến mức nhiều lần bật khóc”. Hơn 11 vạn quân giải phóng đã phải hy sinh trên toàn chiến trường, còn thương vong của dân chúng thì không thể nào tính được. Phần lớn căn cứ địa của quân giải phóng ở nông thôn trở thành “đất trắng”. Chưa bao giờ quân giải phóng ở trong tình trạng như vậy, có những sĩ quan chỉ huy cấp sư đoàn cũng chịu không nổi, ra đầu hàng chính quyền Sài Gòn.</p>
<p>Trong khi đó, ở Hà Nội, tướng Võ Nguyên Giáp cũng biết tin và nói: Có đồng chí chỉ huy gửi điện cho tôi nói rõ tình hình bộ đội tan tác, ẩn nấp trong rừng mặn ngập nước không chỉ huy được nữa và xin rút. Tôi đồng ý và viết điện trả lời.</p>
<p>Sáng hôm sau giao ban thấy bức điện vẫn còn để nguyên bàn. Tôi hỏi tại sao chưa gửi thì anh Văn Tiến Dũng trả lời tôi: <i>Mình anh quyết định sao được.</i></p>
<p>(Quyền bính – Huy Đức)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Góp nhặt…ghi chép… </b></p>
<p>Ba giờ chiều ngày 29-4-1975, tình hình quân sự được báo cáo về Bộ tổng tham mưu: Hướng Củ Chi, Sư đoàn 25 (1) của Chuẩn tướng Lý Tòng Bá thất thủ. Ở Biên Hòa, họ đánh chiếm chi khu Long Thành. Bà Rịa bị mất. Thiếu tướng Lê Minh Đảo nói với tướng Nguyễn Hữu Hạnh xin rút về bên này sông Đồng Nai để cố thủ. Tướng Hạnh trình bày tình hình quân sự với Trung tướng Vĩnh Lộc và Trung tướng Nguyễn Hữu Có. Theo ông Hạnh: Nghe xong, tướng Vĩnh Lộc biến đổi sắc mặt, vội cầm lấy điện thoại báo cáo với ông Minh. Ông Hạnh nhớ lại: Tôi và tướng Có đến nhà ông Minh lúc 6 giờ sáng (30-4-1975). Gặp ông Minh, tướng Có trình bày lại toàn bộ tình hình quân sự như tôi đã nói. Ông Minh trầm ngâm: Thôi để moa đi bàn với ông Huyền và ông Mẫu, các toa ngồi đây đợi. Tôi đề nghị được đi theo, ông Minh đồng ý.</p>
<p>Trên đường đi đến số 7 Thống Nhất, chúng tôi chứng kiến sự hốt hoảng của dân chúng tại tòa đại sứ. Đại sứ Martin vừa rời khỏi Sài Gòn vào lúc 4 giờ 58 phút sáng nay. Trên xe <i>ông Huyền nói với ông Minh một câu bằng tiếng Pháp “Il faut se rendre”</i> (phải đầu hàng).</p>
<p>Tình hình càng ngày càng nguy ngập. Lúc 8 giờ sáng 30-4, ba ông Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Huyền và Vũ Văn Mẫu không còn lựa chọn nào hơn là đơn phương tuyên bố “bàn giao chính quyền cho Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam”. Ông Mẫu soạn lời tuyên bố mất khoảng một tiếng đồng hồ. Ông Minh cho <i>đọc vào máy ghi âm vào lúc 9 giờ 30</i>. Lời tuyên bố này được <i>phát đi trên đài phát thanh Sài Gòn đúng 10 giờ 15 sáng</i>.</p>
<p>(Hồi ký không tên &#8211; Lý Quý Chung)</p>
<p><strong>(</strong>1) Sư đoàn 25 ( Chuẩn tướng Lý Tòng Bá) đối đầu với</p>
<p>Quân đoàn 3 (Thượng tướng Hoàng Minh Thảo).</p>
<p>&#8211; : Sau khi điện thoại báo cáo với ông Minh. Ông Vĩnh Lộc bắt tay tôi, đó là cái bắt tay cuối cùng”. 8 giờ sáng 30-4-1975, viên tướng dòng dõi hoàng tộc này đã cùng gia đình “di tản” bằng đường thủy. (Nguồn<strong>: </strong>Nguyễn Hữu Hạnh)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Thâm u bí sử</b></p>
<p>Nhưng, Mậu Thân ở Huế bị nặng nề hơn: 14.000 thường dân chết, 24.000 dân bị thương, 627.000 dân bị mất nhà cửa. Có nhiều người Huế đã bị bắt đi thủ tiêu.</p>
<p>Ở miền Tây, theo Trần Văn Trà: Ngày xuất quân, tiểu đoàn chúng tôi đầy đủ số quân xấp xỉ một nghìn tay súng chỉ còn một trăm chiến sĩ. Có tiểu đoàn khi đánh vào Cần Thơ, bộ đội ngồi chật cả trăm xuồng, khi ra chỉ còn chục chiếc, mỗi chiếc chở vài ba anh em. Đành rằng, trong chiến tranh, không phải lúc nào cũng lấy việc “đếm xác” của hai bên chiến trường để kết luận sự thắng bại. Nhưng để tổn thất lớn là điều phải trăn trở, suy nghĩ: “Lỗi tại ai?”, đặc biệt với chúng tôi là những người cầm súng trên chiến trường. (Hồi ký đời chiến sĩ &#8211; Trần Văn Trà)</p>
<p>Tôi nhớ trong khi đó anh em trong đơn vị đã truyền nhau câu lục bát:</p>
<p>Vòng Cung (1) đi dễ khó về</p>
<p>Đạn chen đầu đạn, bom kề hố bom</p>
<p>Hay là:</p>
<p>Tưởng là lên lộ đi xe</p>
<p>Ai ngờ trở lại không ghe, không xuồng</p>
<p>(Quyền bính – Huy Đức)</p>
<p>(1) Vòng Cung: con lộ để xâm nhập Cần Thơ-Cái Răng.</p>
<p><b>&#8211; :</b> Trần Văn Trà 1982 in <i>Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm</i> phê bình giới lãnh đạo miền Bắc chủ quan trong trận Mậu Thân. Sách mới in tập 5 thì bị thu hồi vì bị coi là…không chính thống.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Góp nhặt…ghi chép… </b></p>
<p>Sư đoàn 5 (Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ) đối đầu với Quân đoàn 3 (Thiếu tướng Vũ Lăng).</p>
<p>Nhiệm vụ của Quân đoàn 3 là bao vây Sư đoàn 5 QLVNCH ở <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BA%BFn_C%C3%A1t">Bến Cát</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%ACnh_D%C6%B0%C6%A1ng">Bình Dương</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Lai_Kh%C3%AA&amp;action=edit&amp;redlink=1">Lai Khê</a>, ngăn chặn Sư đoàn 5 rút về vòng đai Sài Gòn và vô hiệu hóa đơn vị này. Phát hiện Sư đoàn 312 đang bao vây căn cứ Lai Khê, Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ, tư lệnh Sư đoàn 5 sử dụng Chiến đoàn 7, có xe tăng yểm hộ cố giải tỏa đường 13 và 14. Nhưng khi đoàn xe di chuyển đến khu vực Tam Giáo thì rơi đúng vào mũi tấn công của Sư đoàn 312, có Lữ đoàn xe tăng 202 (thiếu) yểm hộ. Sau khi bị bắn cháy ba chiếc xe đi đầu, Chiến đoàn 7 đã bị tách khỏi chủ lực Sư đoàn 5 ở Lai Khê và toàn bộ Sư đoàn 5 của Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ cũng bị cô lập ở phía bắc Thủ Dầu Một.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Thâm u bí sử</b></p>
<p>Sau thất bại trận Mậu Thân, là cán bộ chiến trường, ông Võ Văn Kiệt (và Lê Đức Anh) ra Hà Nội để báo cáo. Đó là lần đầu tiên ông Kiệt ra Hà Nội, lần đầu làm việc với Bộ quốc phòng, gặp tướng Lê Hai, tướng Văn Tiến Dũng, tướng Võ Nguyên Giáp. Và gặp cả Tố Hữu nữa.</p>
<p>Theo ông Kiệt, ông Tố Hữu nhiều lần gặp ông vỗ về: Khắc phục Khu IV (1) thi hành nghị quyết “gò cương vỗ béo”. Tướng Lê Hai, tướng Dũng kín đáo, không bộc lộ chính kiến rõ ràng.</p>
<p>Tướng Võ Nguyên Giáp chỉ vào “lõm Tây Nam Bộ” hỏi: Giữ được không?. Ông Kiệt trả lời: Nếu cả chiến trường tiếp tục tiến công, T3 (2) sẽ giữ được. Nếu rút, T3 sẽ mất.</p>
<p>Sau đó từ giữa tháng 4-1973, ông Giáp cho lập “Tổ trung tâm” để xây dựng “Đề cương chiến lược tiến công” mang bí số “305 TG1”, Tổ trung tâm được điền nghiên từ tướng tâm phúc của ông là Lê Trọng Tấn.</p>
<p>Mùa hè năm 1973, Lê Duẩn cho gọi tướng Lê Hữu Đức (3) hỏi: Bộ tổng tham mưu đang làm gì? Tướng Đức: Dạ đang thảo kế hoạch giải phóng miền Nam. Lê Duẩn: Thế tôi nghe được không? Buổi chiều hôm đó, tướng Lê Trọng Tấn, tướng Vũ Lăng cùng tướng Lê Hữu Đức quay lại trình bày chi tiết. Lê Duẩn nói: Tôi cũng đang suy nghĩ như vậy. Tổ trung tâm củng cố suy nghĩ đó của tôi. Việc báo ra Bộ chính trị một “vấn đề tuyệt mật” đó làm cho các sĩ quan tác chiến ở Bộ quốc phòng lo lắng. Trong đó có Văn Tiến Dũng.</p>
<p>Ông Võ Văn Kiệt nhớ lại Hội nghị trung ương 21 khai mạc tháng 6-1973 thông qua và xác định: Con đường giải phóng miền Nam là con đường vũ lực. Tướng Trần Văn Trà cho rằng: Từ đề cương “305 TG1” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp mới có “Chiến dịch Hồ Chí Minh”, trận đánh cuối cùng của quân giải phóng.</p>
<p>(Quyền bính – Huy Đức)</p>
<p>(1) Khu IV là miền Nam, Khu V là miền Trung.</p>
<p>(2) T3 là mật danh của Khu IV.</p>
<p>(3) Quân hàm thượng tướng, sau là thứ trưởng bộ quốc phòng.</p>
<p><b>&#8211; :</b><b> </b>Khoảng một tháng sau Lê Đức Anh từ Hà Nội về lại Bộ tư lệnh Miền. Hà Nội quyêt định phong quân hàm từ “đại tá” lên…”trung tướng” cho Lê Đức Anh.</p>
<p><b>Góp nhặt…ghi chép… </b></p>
<p>Sư đoàn 7 (Chuẩn tướng Trần Văn Hai) đối đầu với Đoàn 232 (Thiếu tướng Nguyễn Minh Châu).</p>
<p>Nhiệm vụ của <strong>Đoàn 232</strong> là cắt đường số 4 (<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BA%BFn_L%E1%BB%A9c">Bến Lức</a>&#8211;<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ng%C3%A3_ba_Trung_L%C6%B0%C6%A1ng&amp;action=edit&amp;redlink=1">ngã ba Trung Lương</a>), chiếm <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A2n_An">Tân An</a>, <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/M%E1%BB%B9_Tho">Mỹ Tho</a>, chia cắt Sài Gòn và <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%93ng_b%E1%BA%B1ng_s%C3%B4ng_C%E1%BB%ADu_Long">miền Tây Nam bộ</a>. Ngoài ra, Đoàn 232 còn có nhiệm vụ đánh chiếm các tỉnh lỵ Long An, Kiến Tường, <i>đóng chốt chặn đường số 4 không cho QLVNCH ở Sài Gòn rút về đồng bằng sông Cửu Long</i>.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Tang thương ngẫu lục</b></p>
<p>Trận Xuân Lộc, tướng Hoàng Cầm bị thay thế. Tướng Văn Tiến Dũng (và Lê Đức Thọ) đưa tướng Trần Văn Trà làm Tư lệnh quân giải phóng Miền để chỉ đạo trực tiếp chiến dịch. Tại mặt trận Sài Gòn, tướng Võ Nguyên Giáp (và Lê Duẩn) đưa tướng Hoàng Cầm trở lại cầm quân nắm Quân đoàn 4.</p>
<p>Từ đấy, Trần Văn Trà ít xuất hiện…Ngày 15-5-1975 duyệt binh mừng ngày giải phóng miền Nam (1). Trần Văn Trà mới có mặt với chức vụ chủ tịch Ủy ban quân quản.</p>
<p>Lê Đức Anh cũng vậy, được đề cử làm<strong> phó bí thư </strong>Ủy ban quân quản.</p>
<p>(Wikipedia)</p>
<p>(1) Ngày 15-11-1975, chỉ 7 tháng sau ngày chiến thắng 30-4 (Trần Văn Trà nhận chức vụ chủ tịch Ủy ban quân quản). Tại dinh Độc Lập cũ, người miền Bắc tuyên bố: <i>Thống nhất đất nước, nước Việt Nam là một</i>. Mặt trận giải phóng miền Nam đã bị các “đồng chí lãnh đạo miền Bắc” khai tử như VNCH đã bị khai tử với <i>Cái chết của Sài Gòn</i> 7 tháng trước.</p>
<p>Tướng Trần Văn Trà, chủ tịch Ủy ban quân quản Sài Gòn ngày nào bị về hưu sớm dưới hình thức quản thúc tại gia. (The Fall Of Sai Gon trích trong “Cruel April” &#8211; Ouvier Todd)</p>
<p><b>Góp nhặt sỏi đá</b></p>
<p>Lê Trọng Tấn và Hoàng Cầm là hai tướng gắn bó với nhau qua trận Điện Biên Phủ vì cùng một đơn vị Sư đoàn 312. Cuối năm 1954, Hoàng Cầm thay thế <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_Tr%E1%BB%8Dng_T%E1%BA%A5n">Lê Trọng Tấn</a>, đại tá Hoàng Cầm trở thành sư trưởng <i>Sư đoàn 312</i>. Sau đó, trên chiến trường B2 Hoàng Cầm được cử giữ chức phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng quân giải phóng, dưới quyền <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_t%C6%B0%E1%BB%9Bng">trung tướng</a> tư lệnh <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_V%C4%83n_Tr%C3%A0">Trần Văn Trà</a>. Ngày 20-7-<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/1974">1974</a>, <i>Quân đoàn 4 được thành lập</i> trên cơ sở của <i>Sư đoàn 312</i>, Hoàng Cầm được cử làm tư lệnh. Ông là người chỉ huy quân đoàn này đánh vào Xuân Lộc, khai thông con đường phía đông cho Quân đoàn 2 của Lê Trọng Tấn tiến vào.</p>
<p>Ngày 30-4, Quân đoàn 4 đội quân chủ lực do Hoàng Cầm chỉ huy cùng cánh quân của Quân đoàn 2 hội tụ tại dinh Độc Lập. Hai ngày sau, Trần Văn Trà mới xuất hiện ở dinh Độc Lập.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Quân sử ngoại truyện</b></p>
<p><strong> Ngày 2-5-1975, tướng Trần Văn Trà mới về đến dinh Độc Lập gặp tướng Minh và </strong>“cam kết” sau khi đầu hàng sẽ không trả thù hay bắt bỏ tù các quân cán chính VNCH.</p>
<p>Ngày 5-5-1975, “Mệnh lệnh số 1” về việc trình diện được đưa ra. Người ký tên: Thay mặt Ủy</p>
<p>ban quân quản thành phố Sàigòn Gia Định &#8211; Chủ tịch, Thượng tướng Trần Văn Trà.</p>
<p>Ngày 13-6-1975, <strong>Lê Đức Thọ </strong>buộc tướng Trà phải “thất hứa” với tướng Minh bằng cách đưa các quân cán chính VNCH vào các trại tù tập trung cải tạo!</p>
<p>Lịch trình trình diện:</p>
<p>Ngày 13-6 đến 15-6-1975: Cấp tướng và cấp tá.</p>
<p>“Sĩ quan cấp tướng, tá” được hướng dẫn mang theo</p>
<p>“thực phẩm, lương thực đủ dùng trong một tháng”.</p>
<p>Ngày 23-6 đến 24-6-1975: Đại uý.</p>
<p>Ngày 25-6 đến 26-6-1975: Trung uý, thiếu uý.</p>
<p>“Thiếu uý đến đại uý” được hướng dẫn: “Phải mang giấy bút, quần áo,</p>
<p>mùng màn, các vật dụng cá nhân, lương thực, thực phẩm (bằng tiền</p>
<p>hoặc hiện vật) đủ dùng trong mười ngày kể từ ngày đến tập trung”.</p>
<p><b>&#8211; : </b>Người ra lệnh trực tiếp bắt giam cải tạo tất cả quân nhân công chức miền Nam sau năm 1975 là Đại tá Cao Đăng Chiếm.</p>
<p><b>Góp nhặt…ghi chép…</b><b></b></p>
<p>Tướng Nguyễn Công Trang viết: Ngày 30-4-1975, sau khi giải phóng Đà Nẵng, Quân đoàn tiến thẳng về Sài Gòn. Trên đường đi, Quân đoàn nhận được lệnh của Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh là phát triển tiến công thật nhanh vào các mục tiêu, kêu gọi địch đầu hàng, nộp toàn bộ vũ khí, bắt giữ và tập trung các sĩ quan địch <i>từ cấp tá trở lên</i>.<b> </b></p>
<p>(Hồi ký Đời chiến đấu)</p>
<p>Tướng Văn Tiến Dũng, lúc đó đang nghe lời kêu gọi của Dương Văn Minh trên đài phát thanh Sài Gòn. Ngay sau đó, ông Văn Tiến Dũng đã ra lệnh: <i>Bắt giữ sĩ quan từ cấp thiếu tá trở lên.</i></p>
<p>(Đại thắng mùa xuân)</p>
<p><b>Góp nhặt…ghi chép…</b><b></b></p>
<p>Kế hoạch được gọi là Chiến dịch X-1. Ông Võ Văn Kiệt thừa nhận:</p>
<p>&#8220;Việc công bố ba mức thời gian học tập cho hạ sĩ quan binh lính, ba ngày, cấp úy, mười ngày; tướng, tá, một tháng là có ý để cho các đội tượng ngầm hiểu rằng, thời gian học tập tối đa của</p>
<p>các sĩ quan chỉ là một tháng.<br />
Không chỉ có “Cách mạng 30-4”, ông Võ Văn Kiệt thừa nhận, không ai trong số những người tiếp quản Sài Gòn năm 1975 có kiến thức về quản lý nhà nước”.</p>
<p>(Bên thắng cuộc &#8211; Huy Đức)</p>
<p><b>Góp nhặt sỏi đá</b></p>
<p>“Tù cải tạo” đã có từ năm 1961 qua Nghị quyết hội đồng bộ trưởng “49-NQTVQH” của Thủ tướng Phạm Văn Đồng với chích sách “Tù cải tạo”. (nhắm vào nhóm Nhân Văn Giai Phẩm)</p>
<p>Ông Trần Văn Trà là người thi hành lệnh của Lê Duẩn. Vì ông Trà đồng quan điểm với tướng Giáp là không nên <i>bắt</i> <i>chính quyền Sài Gòn và quân đội Sài Gòn đi cải tạo…</i></p>
<p><b>&#8211; :</b> Huỳnh Tấn Phát đưa ra “chánh sách khoan hồng” 3 năm làm mốc.</p>
<p>Cứ hết 3 năm này thì đến 3 năm khác nếu cần thiết!</p>
<p>(Bên thắng cuộc &#8211; Huy Đức)</p>
<p><b>Bên lề trận chiến</b></p>
<p>Năm 1977, ở Mỹ, bà Khúc Minh Thơ lập “Hội gia đình tù nhân chính trị Việt Nam”. Hội của bà Thơ (1) và ông Robert Funseth (2) đã vận động giới lập pháp, hành pháp, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc và cả Đức Giáo Hoàng, gây sức ép để thả chồng con của họ cùng với gia đình sang Mỹ định cư (2). Qua chương trình “Ra đi trật tự” (ODP) để đoàn tụ gia đình hay con lai. “Chương trình tái định cư nhân đạo” (HO) dành cho người cải tạo chưa có cơ hội nộp đơn qua ODP. Nhiều người biết đến bà Khúc Minh Thơ và ông Robert Funseth qua chương trình HO.</p>
<p>(Nguồn tổng hợp Nguyễn Hữu Của (HO1) &amp; Huy Đức)</p>
<p>(1) Bà Khúc Minh Thơ (quả phụ của Đại uý Nguyễn Đình Phúc). Trước 75, bà phục vụ trong toà đại sứ Việt Nam ở Manila, Philippine.</p>
<p>(2) Ông Robert Funseth (và bà Khúc Minh Thơ) đã nỗ lực liên tục 7 năm, kể từ năm 1982 (thời Tổng thống Reagan). Chính phủ Mỹ và Việt Nam đã ký kết bản thoả hiệp ngày 30-7-1989 đồng ý để 300.000 tù nhân chính trị, những cựu quân nhân cùng gia đình họ định cư tại Mỹ.</p>
<p>&#8211; : Năm 1982, tổng thống Reagan là người giải quyết các chiến binh mất tích trong chiến tranh (MIA) và tù nhân Mỹ. Tổng thống Reagan bổ nhiệm ông Robert Funseth, phụ tá thứ trưởng ngoại giao đặc trách tỵ nạn và tù nhân Việt Nam.</p>
<p>&#8211; : HO đầu tiên qua Mỹ năm 1990 (HO1).</p>
<p><b>Lạc đạn</b></p>
<p>Tạ Chí Đại Trường, năm ấy là một sĩ quan biệt phái với cấp bậc đại úy, thuộc diện “học tập mười ngày” viết: Hầu hết đều bình thản đến cổng, xin vào. Có người thuộc diện “ba ngày” tiễn đưa bạn, ngồi quán nhậu ngà ngà cũng theo bạn vào cổng cho vui. Rồi cũng bị đi cải tạo luôn…</p>
<p>(Bên thắng cuộc &#8211; Huy Đức)</p>
<p><b>Chữ nghĩa của một thời chinh chiến</b></p>
<p><b>trong quán nhậu </b></p>
<p>Trước 75, miền Nam có những câu “thành ngữ”</p>
<p>về thuốc lá xuất xứ từ quán nhậu, như:</p>
<p><i>Salem</i><i> </i>: Sao anh làm em mệt</p>
<p><b>Góp nhặt…ghi chép…</b></p>
<p>Những con số với sĩ quan bị đi tù cải tạo</p>
<p>Cấp tướng : 32<br />
Đại tá : 366<br />
Trung tá : 1.700<br />
Thiếu tá : 5,500<br />
Cấp úy : 72,000</p>
<p>Không kể thành phần bị bắt trước năm 1975, nhưng không được trao trả tù binh sau 1973, thì thời gian tù “cải tạo” kéo dài từ 1 năm đến 17 năm (từ 1975-1992).</p>
<p>Năm 1988, gần như là năm cuối cùng, hầu hết tù được trả tự do.</p>
<p>4 năm tiếp theo chỉ còn lại 120 tù bị giam tại Z30D, gọi là trại Thủ Đức ở Hàm Tân. Trong này có 9 vị tướng lãnh. 4 thiếu tướng: Lê Minh Đảo, Đỗ Kế Giai, Trần Bá Di, Nguyễn Ngọc Sang và 5 chuẩn tướng: Lê văn Thân, Hoàng Lạc, Mạch văn Trường, Trần Quang Khôi, Phạm Duy Tất.</p>
<p>(Nguyễn Văn Khậy &#8211; K25/TĐ)</p>
<p><b>Bên lề trận chiến</b></p>
<p>Năm 1982, Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch nói Việt Nam sẽ thả hết tù cải tạo nếu chính phủ Mỹ đồng ý tiếp nhận họ. Thủ tướng Phạm Văn Đồng trả lời phỏng vấn tạp chí Newsweek cũng xác nhận Việt Nam sẵn sàng để tất cả những người còn lại tới Mỹ.</p>
<p>Tháng 7-1988, phái đoàn Mỹ do ông Robert Funseth, phụ tá thứ trưởng ngoại giao dẫn đầu tới Hà Nội họp với Thứ trưởng ngoại giao Trần Quang Cơ để bàn về việc trả tự do và đưa đi Mỹ các “tù nhân chính trị”.</p>
<p>(Bên thắng cuộc &#8211; Huy Đức)</p>
<p><b>Tang thương ngẫu lục</b></p>
<p>Sau năm 1975 không bao lâu, ngày 7-2-1980, tướng Võ Nguyên Giáp thôi giữ chức Bộ trưởng bộ quốc phòng nhưng vẫn tiếp tục là Ủy viên bộ chính trị (đến năm 1982) và Phó thủ tướng phụ trách khoa học-kỹ thuật. Người thay thế ông ở bộ quốc phòng là tướng Văn Tiến Dũng, một trong những cộng sự lâu năm của ông.</p>
<p>***</p>
<p>Một hôm, trong một bữa cơm thân mật tại nhà Thượng tướng Trần Văn Trà. Tướng Trà nêu câu hỏi vì sao năm 1980 tướng Giáp thôi làm Bộ trưởng bộ quốc phòng và năm 1982 cũng thôi Uỷ viên bộ chính Trị. Thượng tướng Trà được đại tướng Giáp cho hay chủ yếu là do mâu thuẫn với anh Ba (Lê Duẩn) nhiều việc: Từ những năm 1950 anh Văn đã không đồng tình đánh Nhân văn Giai phẩm và ngay thời gian đó vẫn thường thăm hỏi, sẻ chia chân tình với một số nhà văn có tài. Anh Tư (tên thường gọi của Thượng tướng Trần Văn Trà) kể tiếp: Khi đánh xét lại anh Văn bị coi như trùm trưởng dấu mặt. Đối với cải cách ruộng đất và cải tạo công thương tư doanh cả ở miền Bắc và sau này ở miền Nam, anh Văn cũng không tán thành.</p>
<p>Mâu thuẫn với anh Ba càng sâu sắc hơn khi sau ngày 30-4-1975, anh Ba chủ trương bắt <i>chính quyền Sài Gòn và quân đội Sài Gòn đi cải tạo</i>. Trong khi mình (tướng Trà) thì nhất trí với anh Văn là nên phân biệt hàng binh và tù binh, <i>nên đối xử với những người bại trận như nước Mỹ thế kỷ 18 trong chiến tranh nội chiến Nam Bắc</i>. Phía Bắc thắng, phía Nam đầu hàng mà không bị xử lý gì. Cha ông ta xưa cũng từng đối xử với giặc Tàu bại trận như vậy.</p>
<p>(Văn bia Vĩnh Lăng kể về chiến công Lê Lợi- Nguyễn Trãi đánh thắng quân Minh còn ghi rõ: “<i>Những quân giặc bị bắt và những quân đầu hàng có đến mười vạn người, đều tha cho về cả. Đường thủy thì cấp cho hơn 500 thuyền, đường bộ thì cấp cho lương ăn và ngựa, răn cấm quân sỹ (</i>của ta<i>) không được xâm phạm mảy may</i> (đến quân giặc”).</p>
<p>Một hôm, tôi đến hỏi đại tướng để xác minh lời kể của thượng tướng Trà. Đại tướng Giáp dẫn tôi ra ngoài vườn vì sợ trong nhà bị đặt máy ghi âm. Đi hết mấy vòng sân vườn, đại tướng xác nhận: Các điều anh Tư nói đều đúng hết. Nhưng thôi đừng quan tâm. Lịch sử rồi sẽ minh xét như vụ án Lệ Chi Viên, cụ Nguyễn Trãi bị chu di tam tộc nhưng lịch sử đã minh oan lâu rồi.</p>
<p>(Tạp chí Lịch sử quân sự &#8211; Tô Vĩnh Diện)</p>
<p><b>Lạc đạn</b></p>
<p>Em gái ruột tướng Giáp lấy Trung tướng “ngụy” Nguyễn Ngọc Lễ. Ngày 30-4-1975, em gái bỏ Sài Gòn theo chồng “chạy” qua Mỹ. Không hiểu bà ta đã nghĩ gì về ông anh cộng sản đang thần tốc tung quân truy kích lính quốc gia?!</p>
<p>(Đèn cù &#8211; Trần Đỉnh)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Ngộ Không</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2016</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ngo-khng-tap-ghi-sau-40-nam-ky-13/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Kh&#244;ng : Tạp Ghi Sau 40 Năm &#8211; Kỳ 12</title>
		<link>https://t-van.net/ngo-khng-tap-ghi-sau-40-nam-ky-12/</link>
					<comments>https://t-van.net/ngo-khng-tap-ghi-sau-40-nam-ky-12/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 06 May 2016 12:45:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Ngộ Không: tạp ghi sau 40 năm]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không; tạp ghi sau 40 năm]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=26984</guid>

					<description><![CDATA[Không quân di tản Bài viết chinh thức về cuộc di tản của các phi cơ VNCH đến Utapao trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến VN. Chỉ huy trưởng phái bộ quân viện HK tại Thái Lan gửi Đại úy Roger L Young Blood bay đến phi trường Trat, nằm sát biên giới [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><b>Không quân di tản</b></p>
<p>Bài viết chinh thức về cuộc di tản của các phi cơ VNCH đến Utapao trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến VN. Chỉ huy trưởng phái bộ quân viện HK tại Thái Lan gửi Đại úy Roger L Young Blood bay đến phi trường Trat, nằm sát biên giới Thái-Miên. Bay trên một chiếc phi cơ AU23 của Không lực Thái (AU23 là một phi cơ cải biến từ loại Pilatus PC6, có khả năng đáp được xuống những phi đạo ngắn) Young Blood bay vòng vòng trên không phận Thái cùng một phi công phụ VNCH giữ tần số vô tuyến và hướng dẫn các phi cơ VN bay tới Utapao…”.</p>
<p>Số lượng phi cơ của KQVN bay thoát được sang Utapao, theo Robert Miskesh trong Flying Dragons: the South Vietnamese Air Force thì tổng cộng vào khoảng 132 chiếc, gồm khoảng 25 F5, 27 A37, 11 A1, 13 C47, 6 C130, 3 AC 119, 5 C7 và 45 UH1. Trong khi đó Wayne Muntza, trong The A1 Skyraider in Viet Nam: The Spad&#8217;s Last War, và Ralph Wetterhahn trong Escape to Itupao thì con số máy bay được cho là 165 chiếc. thêm vào đo là các U17 và O1,</p>
<p>Cũng vào ngày cuối cùng, một số trực thăng đã bay ra đáp xuống các chiến hạm của HQ/HK, con số này được ước lượng là khoảng 100 chiếc, đa số là UH1 và CH47. Cũng có những chiếc tuy bay được ra biển nhưng do trục trặc kỹ thuật, hoặc hết nhiên liệu đã rớt xuống biển. Con số này được ước lượng là khoảng 18 chiếc.</p>
<p>(Trần Lý)</p>
<p><b>Chiến dịch di tản</b><b></b></p>
<p>Ngày 28-4, tuy không có xác nhận từ phía bên kia, đại sứ Martin vẫn còn hy vọng vào thoả hiệp đình chiến trong ba ngày, và <i>30 ngày để thành lập chính phủ ba thành phần</i>, sau đó, Mỹ và những người thân Mỹ sẽ ra đi trong trật tự. Bà đại sứ vẫn còn ở lại Sài Gòn, cây me (1) trước toà đại sứ vẫn không bị chặt, để dư luận khỏi hoang mang.</p>
<p>Trong khi đại sứ Martin muốn giữ đồ trang bị quân đội để Sài Gòn “làm vốn” thương thuyết với Bắc Việt, ông Erich Von Marbod (1a), phụ tá bộ trưởng quốc phòng Mỹ có chủ trương khác.</p>
<p>Ngày 28-4, ông ra lệnh cho người phụ tá là Richard Armitage tới phi trường Biên Hoà, cho một số phi cơ bay đi Cần Thơ và Thái Lan, và mang đi những quân dụng giá trị, rồi định bỏ bom phá huỷ những gì còn lại ở đây. Nhưng không kịp, tin tình báo cho biết Bắc quân đã vây Biên Hoà, Armitage bị gọi trở lại Sài Gòn để tránh nguy hiểm. Không hoàn thành được kế hoạch đối với không quân tại Biên Hoà, Armitage được lệnh tìm cách đưa cả hạm đội hải quân rời Việt Nam.</p>
<p>(Đinh Từ Thức)</p>
<p><b>Lạc đạn</b></p>
<p>(…) Còn về câu chuyện cây me (1), thật là một câu chuyện vô nghĩa. Hạ cái cây xuống cũng là chuyện hoàn toàn vô lý. Cây me này chẳng mang môt biểu tượng gì. Về chuyện này, mục đích là tôi (đại sứ Martin) cố giữ cho Sài Gòn một bộ mặt yên tĩnh, phải tránh mấy chuyện rối loạn đã từng xảy ra ở Đà Nẵng, Nha Trang. Ngoài ra, quỷ thần ạ, cần gì phải chặt cái cây ấy để lấy chồ cho trực thăng? Nên tôi bảo: Để cái cây ấy yên đi. Đơn giản thế thôi. Khi cần phải chặt, chỉ mười phút là xong. Mọi sự cũng đã xảy ra y như vậy. Chúng tôi không muốn có một hành vi bộc lộ rằng chúng tôi đang thua chạy, để Sài Gòn phải nháo nhào lên. (…)</p>
<p>(Đại sứ Martin nói về những ngày cuối tại Việt Nam &#8211; Nguyễn Bá Trạc)<b> </b></p>
<p><b>Góp nhặt…ghi chép…</b><b> </b></p>
<p>(…) Một ông đã gây rối cho tôi (đại sứ Martin) lại chính là một bạn tốt, mà đến nay tôi vẫn thích, đó là Erich Von Marbod. Ông ta cho không quân Việt Nam bay đi vài chiếc F5 của họ sang Thái. Việc này trái lệnh tôi. Erich Von Marbod thuyết phục tướng Trần Văn Minh cho phi cơ bay sang Thái là một lỗi lầm rất lớn. Nó làm người Thái e ngại. Rồi những người đưa phi cơ sang bên ấy lại bị dấu diếm, họ không được báo trước rằng sau đó họ sẽ không được phép trở về với gia đình. Và chính những người này đã gây rối khi đến Guam. Lỗi của tôi, đáng lẽ tôi phải tống cổ Von Marbod từ hai ngày trước.</p>
<p>Tôi đã không có gì để ân hận nhiều ngoài việc đã không tống cổ cả Polgar lẫn Von Marbod từ sớm. Họ đi hay ở cũng chẳng có gì khác biệt. Chỉ có khác biệt trầm trọng mà sau đó tôi khám phá ra khi đọc tấm điện văn của các tướng Bắc Việt. Họ nghĩ việc đưa mấy chiếc phi cơ sang Thái là chúng tôi đã nuốt lời hứa với họ. Chúng tôi đã nói sẽ không mang các chiến cụ đi. Chúng tôi chỉ muốn họ để chúng tôi yên ổn ra đi trong trật tự. Vì họ nghĩ chúng tôi nuốt lời, hôm sau họ pháo kích phi trường, giết vài thủy quân lục chiến của chúng tôi. Vì vậy, đến lúc tôi phải hạ lệnh trực thăng vận. Đây là lúc mọi sự bắt đầu bung ra. (…)</p>
<p>(Đại sứ Martin nói về những ngày cuối tại Việt Nam &#8211; Nguyễn Bá Trạc)<b> </b></p>
<p><b>&#8211; :</b> Larry Engelmann phỏng vấn đại sứ Martin trong tác phẩm <i>Tear of The Rain.</i></p>
<p><b>Ngồi ở quán nhậu kể chuyện di tản</b></p>
<p>Trong toà đại sứ, có một trung úy thủy quân lục chiến phụ trách máy truyền tin đứng trên sân thượng gọi chuồn chuồn vào. Cha này trượt chân khỏi bãi đáp trực thăng, rơi lộn cổ từ sân thượng toà đại sứ xuống mái nhà cách khoảng 15 bộ Anh, cắm đầu xuống, phải gọi riêng một chiếc trực thăng chở hắn ra ngoài hạm đội chữa trị.</p>
<p>(Nguồn: Đại úy Stuart Herrington thuộc Ủy ban liên hợp quân sự, phái bộ Hoa Kỳ)</p>
<p><b>Hải quân di tản</b></p>
<p>Ngày 24-4-1975, theo yêu cầu của Phụ tá bộ trưởng quốc phòng Mỹ Erich Von Marbod, Richard Armitage đã đáp chuyến bay cuối cùng của PanAm để đến Sài Gòn với nhiệm vụ “tối mật” là tìm cách đưa ra khỏi VN các chiến cụ “càng nhiều càng tốt”.</p>
<p>Von Marbod lo phần không quân, và Armitage lo phần hải quân.</p>
<p>Armitage đã tìm gặp HQ Đại tá Đỗ Kiểm để hoạch định một kế hoạch di tản tổng quát. Armitage cũng bàn một số công việc với Phó đô đốc Chung Tấn Cang, tư lệnh hải quân, duyệt xét sơ khởi cho thấy khoảng trên 30 chiến hạm trong tổng số 45 chiếc cở lớn của HQ VN có thể ra đi được.<b> </b>Tướng Cang quyết định HQ sẽ chính thức ra đi vào lúc 6 giờ chiều ngày 29-4 và cuộc di tản dự trù sẽ hoàn tất vào lúc 22 giờ đêm. Điểm hẹn là Côn Sơn.</p>
<p>Ngày 7-5, khi đoàn tàu gần đến hải phận Phi, cuộc tranh chấp vể chủ quyền giữa HK và Bắc Việt vẫn chưa được giải quyết. Ngoại trưởng Phi dọa sẽ “bắt giữ” đoàn chiến hạm nhưng khi đại sứ Hoa Kỳ tại Phi bàn đến số phận của gần 30 ngàn người tỵ nạn trên các tàu sẽ là một “gánh nặng” mà Phi chưa bao giờ nghĩ tới thì ngoại trưởng Romulo đành chấp nhận giải pháp trườc khi vào lãnh hải Phi, đoàn tàu sẽ phài xóa bỏ tên và số hiệu của từng chiến hạm, thay thế cờ VNCH bằng cờ HK.</p>
<p>(Trần Lý)</p>
<p><b>Góp nhặt…ghi chép…</b><b> </b></p>
<p>(…) Được hỏi ai là người thảo kế hoạch (Phan Lạc Tiếp – Thiếu tá HQ).</p>
<p>Đô đốc Chung Tấn Cang đáp: Người giúp tôi soạn thảo kế hoạch là ông Chí (Phó đề đốc Nguyễn Hữu Chí), tư lệnh hành quân biển, ông Sơn (Nguyễn Xuân Sơn, đại tá tư lệnh hạm đội) ông Kiểm (Ðỗ Kiểm, tham mưu phó hành quân) ông Luân (đại tá chi huy trưởng tiếp vận).</p>
<p>Cũng theo Phan Lạc Tiếp:<b> </b>Còn ở ngoài biển, ai là người đắc lực nhất? Ðô đốc Cang lại cười và nói: Nhiều người kể lắm. Sai cả. Người giúp tôi nhiều nhất, đắc lực nhất, ngày đêm lo cho đoàn tàu là ông Hùng (Phó đề đốc Ðinh Mạnh Hùng). (…)</p>
<p>(Một ngày với Đô đốc Chung Tấn Cang &#8211; Phan Lạc Tiếp)</p>
<p><b>Lạc đạn</b></p>
<p>3 giờ 58 phút sáng 29-4, Bắc quân tấn công Tân Sơn Nhất bằng hoả tiễn. Một trong hai trái loạt đầu trúng trạm canh ở cổng DAO, hai hạ sĩ quan TQLC Charles McMahon và Darwin Judge thiệt mạng. Xác của Charles McMahon và Darwin Judge bị bỏ quên tại bệnh viện Seventh Day Adventis gần Tân Sơn Nhứt. Một năm sau, Nghị sĩ Ted Kennedy can thiệp mang về.</p>
<p><b>Góp nhặt…ghi chép…</b><b> </b></p>
<p>(…) Ông lại cười: Mới đây có người nói là ông Richard Armitage lo cho đoàn tàu. Sai. Ông ta chi là một vị sĩ quan liên lạc giữa hải quân Mỹ và hải quân VN. Khi đoàn tàu vào hải phận Phi, Chính phủ Phi không cho vào, vì đoàn tàu treo cơ VNCH. Chính tôi đề nghị trả lại cho Mỹ theo tinh thần viện trợ MAP (Military Aid Program) là khi không sử dụng nữa phải trao lại cho Mỹ, và đoàn tàu vào Subic, là căn cứ của Mỹ. Vẫn cười và tiếp: Ông Armitage yêu cầu đoàn tàu đi thẳng đến Guam. Tôi bảo, không được. Gần 30 ngàn người trên tàu, bao nhiêu vấn đề. Mà dù có đi Guam cũng phải vào Subic để tiêp tế. Thế là đoàn tàu vào Subic. Trước đó mình đã tổ chức làm lễ hạ quốc kỳ VNCH rất long trọng và cảm động.</p>
<p>Lại hỏi tiếp (Phan Lạc Tiếp):</p>
<p>Sự ra đi cuả đoàn tầu có tính cách chiến lược, vậy trước khi có quyết định này, đô đốc có được chỉ thị cuả tổng thống không? Ðô đốc Cang đáp: Giữa lúc mà tình hình rối loạn như thế, ông Dương Văn Minh không có một quyết định gì. Tôi có hỏi, ông chỉ đáp: Tuỳ các anh&#8230; Ðô đốc Cang tiếp: Trước khi đoàn tầu ra đi, tôi có cho Ðô đốc Diệp Quang Thuỷ, tham mưu trưởng lên gặp ông Minh. Ông vẫn không có quyết định nào khác, chỉ nói: Thôi các anh đi đi. (…)</p>
<p>(Một ngày với Đô đốc Chung Tấn Cang &#8211; Phan Lạc Tiếp)</p>
<p><b>&#8211; : </b>Với những vị chỉ huy HQ cao cấp, sau ngày 30-4,<b> </b>Đô đốc Trần Văn Chơn bị 13 năm cải tạo.</p>
<p><strong>Giây phút hấp hối của VNCH </strong></p>
<p>2 giờ trưa 29-4, văn phòng Thủ tướng Vũ Văn Mẫu điện thoại cho biết Hoa Kỳ đã bắt đầu chiến dịch di tản những TQLC và nhân viên cuối cùng của Mỹ ra khỏi Việt Nam và yêu cầu tôi phối kiểm trên các bản tin viễn ấn. Vừa buông điện thoại, quay ra ngoài hành lang để xuống phòng viễn ấn tự thì trên không phận Sài Gòn bốn chiếc Phantom F4, loại chiến đấu cơ tối tân nhất của hải quân Hoa Kỳ đã gầm thét và bay khá thấp với tốc độc nhanh. Một vài chiếc còn vượt bức tường âm thanh gây ra những tiếng nổ lớn làm rung chuyển cửa kính trong các phòng của đài. Rồi các trực thăng CH53, Chinook, UH1B xuất hiện như những con chuồn chuồn khổng lồ. Ðầu tiên họ hạ thấp cao độ từ phía cầu xa lộ để đậu xuống sân trực thăng trên nóc sứ quán Hoa Kỳ. Nhưng không hiểu sao đó, họ đổi hướng hạ thấp cao độ từ phía dinh Ðộc Lập để vào sứ quán và từ từ nâng cao độ ngay ở trên mái nhà của đài phát thanh Sài Gòn.</p>
<p>Tôi gọi điện thoại cho ông Chung để báo là các bản tin của bốn hãng thông tấn mà đài mua đã xác nhận cuộc di tản bắt đầu. Ông ra lệnh cho tôi là bỏ tất cả những hiệu triệu nào “có tính chất súng đạn” đi, kể cả lời kêu gọi của Thủ tướng Vũ Văn Mẫu. Bộ trưởng thông tin Lý Quý Chung còn yêu cầu viết một bản phân tích “hàm ý cho thấy Mỹ đã bỏ rơi VNCH, khuyến cáo dân chúng không nên hoảng loạn, chính phủ sẽ dàn xếp để Sài Gòn tránh khỏi biển máu”. Ðây là một bản phân tích khó khăn nhất trong lịch sử của đài phát thanh dựa trên lời hiệu triệu của Phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền, người đã đại diện cho Tổng thống Dương Văn Minh chống gậy vào căn cứ David để thương lượng với trưởng đoàn Ban liên hợp quân sự 2 bên lúc đó là Hoàng Anh Tuấn từ chiều 28-4. Khó khăn vì chưa ai viết phân tích mà chỉ để trấn an chứ không đưa ra được một luận điểm nào khác.</p>
<p>(…)</p>
<p><b>DAO và toà đại sứ Mỹ di tản</b><b></b></p>
<p>Chiến dịch Operation Frequent Wind bắt đầu. Ngoài 13 địa điểm bốc bằng trực thăng trên nóc nhà, còn 3 tuyến đường xe buýt bốc người tại các địa điểm tập trung chở vào trụ sở DAO, rồi chở bằng trực thẳng ra Đệ thất hạm đội. Tới khoảng nửa đêm 29-4, tất cả những người tới TSN đều được chở đi hết. Nửa giờ bước sang ngày 30-4, chất nổ gắn sẵn tại trụ sở DAO được kích động, cả cơ sở sụm xuống, chấm dứt vai trò “Lầu 5 góc miền Đông” (Pentagon East).</p>
<p>Tại toà đại sứ, khi các chuyến bay chở người tị nạn chấm dứt vào khoảng 4 giờ sáng ngày 30-4, còn khoảng trên dưới 400 người kẹt lại trong sân, và hàng ngàn người vẫn chờ đợi bên ngoài. Đại sứ Martin, sau khi cố trì hoãn để mang đi càng nhiều người càng tốt, đã hạ cờ Mỹ, gấp lại mang theo, ra đi lức 4 giờ 58 phút. Chuyến bay cuối cùng từ nóc toà đại sứ chở 10 TQLC cất cánh lúc 7 giờ 58 sáng 30-4-1975.</p>
<p>(Đinh Từ Thức)</p>
<p><b>Sài Gòn thất thủ</b></p>
<p><i>&#8220;Sài Gòn thất thủ! George, gọi New York đi&#8221;, Peter Arnett, tim đập thình thịch, thét lên với trưởng văn phòng hãng thông tấn AP tại Sài Gòn, lúc 11 giờ 43 ngày 30-4-1975.</i></p>
<p>***</p>
<p>Đồng nghiệp của Arnett, Matt Franjola, vừa đi thám thính một vòng quanh thành phố trở về và kể rằng anh suýt đụng phải chiếc xe jeep. &#8220;Trên xe có một thanh niên trẻ tuổi mặc bộ đồ đen, mang súng trường của Nga&#8221;, Franjola cho biết. &#8220;Đồ đen ư? súng Nga ư?&#8221; vừa nghĩ Arnett vừa lao xuống đường Tự Do. Ông nghe thấy tiếng gầm rú của các chiến xa hạng nặng hướng về phía nhà thờ cổ của Pháp. Trên mỗi chiếc xe đều có các binh sĩ miền Bắc mặc quân phục. Chiếc mũ xanh trên đầu họ ngả ra phía sau mỗi khi họ chăm chú nhìn những tòa nhà cao ngất bên đường. &#8220;Có thể đó là lần đầu tiên họ trông thấy các tòa nhà như thế&#8221;, Arnett nghĩ.</p>
<p>Một vài người dân Việt Nam đứng gần Arnett, chăm chú dõi theo đoàn xe, không thốt nên lời. Arnett trông thấy một lá cờ lớn của quân giải phóng được kéo lên từ một căn phòng ở khách sạn Caravelle gần đó. Ông cũng để ý một nhóm lính cộng hòa chạy xuống một phố nhỏ, vứt bỏ quân phục, quăng cả vũ khí vào ô cửa các cửa hiệu. Tôi chạy về văn phòng, tim như nhảy theo mỗi bước leo lên cầu thang.</p>
<p>Tôi lao vào văn phòng hét lên: George! Sài Gòn thất thủ, gọi trụ sở New York đi. Khi ấy đồng hồ chỉ 11 giờ 43 ngày 30-4-1975. Sau khi hét lên với George, Arnett vội vàng viết một bản tin về những gì mình chứng kiến, chuyển cho người phụ trách điện tín người Việt tên là Tammy. Anh ta thực hiện xong thì lao vọt khỏi văn phòng và Arnett không bao giờ gặp lại anh ta nữa.</p>
<p>Trước đó không lâu, George Esper, trưởng văn phòng <em>AP</em> tại Sài Gòn, nghe đài phát thanh cùng người phiên dịch, người này la lên: Đầu hàng, đó là đầu hàng. Tổng thống Dương Văn Minh khi đó tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, miền Nam Việt Nam chính thức được chuyển giao cho quân miền Bắc. Esper chạy nhanh vào phòng điện tín và gửi cho trụ sở New York. &#8220;Tin về đầu hàng của<i> </i>AP nhanh hơn UPI 5 phút. Trong chiến trận hay thời bình, các dịch vụ chuyển tín hiệu đóng một vai trò cạnh tranh đặc biệt&#8221;, Arnett kể.</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2016/05/clip_image002-9.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" class="" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/05/clip_image002_thumb-150x150.jpg?strip=all" alt="clip_image002" width="327" height="222" border="0" hspace="12" /></a></p>
<p>Người mặc quần trắng là Peter Arnett</p>
<p>Esper trông hốc hác, ánh mắt lộ rõ vẻ xanh xao. Ông đã không rời khỏi văn phòng trong nhiều ngày. Chỉ ít phút sau khi ra ngoài, Esper trở về với vẻ bối rối. Anh kể khi đang đi qua khu vực gần công trường Lam Sơn, một sĩ quan cảnh sát VNCH mặc nguyên quân phục, nói với Esper: &#8220;Thế là hết&#8221;. Viên sĩ quan đó bước đi được khoảng 3 m thì  giơ tay chào bức tượng tưởng niệm lính thủy quân lục chiến (1) rồi giơ khẩu súng lục lên bắn thẳng vào đầu mình.</p>
<p>Trong giây lát Esper tưởng rằng mình là mục tiêu của phát đạn đó. Ông chạy về văn phòng viết bài mà đôi tay run lên cầm cập. Sau khi gửi tin về Mỹ, Arnett cùng Franjola lại đi thăm dò các phố. Arnet gặp Neil Davis, một phóng viên quay phim người Australia, đang đi ra từ dinh tổng thống. Anh ta nói tổng thống Minh đã bị dẫn giải đi. Trở lại với ký ức về ngày 30-4, Arnett vẫn còn nguyên cảm giác sững sờ khi đó: Trong 13 năm đưa tin về chiến tranh Việt Nam, tôi không mường tượng nó sẽ kết thúc như buổi trưa ngày 30-4. Tôi đã nghĩ các kịch bản, nó phải chấm dứt với một thỏa thuận chính trị như ở Lào, hay thậm chí theo kiểu ngày tận thế với một thành phố bị phá nát hoang tàn. Arnett viết: Với tôi, cuộc chiến đã kết thúc như thế đấy.</p>
<p>(SaiGon Has Fallen &#8211; Peter Arnett)<b></b></p>
<p>Peter Arnett từng có 13 năm lăn lộn khắp các chiến trường miền Nam Việt Nam để săn tin. Ông giành được giải thưởng Pulitzer nhờ hơn 3.000 bài báo phản ảnh cuộc chiến suốt những năm đầu thập niên 60. Sau 30-4, ông là một trong ba phóng viên AP còn lại ở Sài Gòn.</p>
<p>Hiện ông sống với vợ con người Việt ở Fountain Valley, gần Westminster, California.</p>
<p>Ông vừa hoàn thành cuốn sách mới mang tên <i>Sài Gòn thất thủ</i> (SaiGon Has Fallen).</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2016/05/clip_image004-2.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" class="" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image004" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/05/clip_image004_thumb-150x148.jpg?strip=all" alt="clip_image004" width="208" height="296" border="0" /></a></p>
<p><em>SaiGon has fallen</em> là những hồi ức của Peter Arnett khi công tác tại Việt Nam từ năm 1962 đến 30-4-1975, khoảng thời gian quân đội miền Bắc tiến vào giải Sài Gòn. Đó là khoảng thời gian đáng nhớ trong quãng đời phóng viên của Arnett.</p>
<p>“Chúng tôi, những người làm báo bị đẩy vào giữa một tảng đá khô cứng. Chúng tôi chịu sự chi phối của nhân viên chính phủ nhằm bày tỏ sự lạc quan của họ về cuộc chiến. Trong khi giám đốc hãng tin tức của chúng tôi lại yêu cầu quay trở về với sự thật, không một chút sai sót”. Arnett nói. “Chúng tôi chọn sự thật, chúng tôi chia sẻ với độc giả <i>những hiện thực cay đắng của cuộc chiến, một cuộc chiến không thể thắng</i>, cái mà cả người Mỹ và Việt Nam đều không thể chịu nổi nữa thì <i>cái kết cấu của 40 năm về trước chính là sự mất mát</i>”. (Nguồn: AP)</p>
<p><b>Bên lề trận chiến </b>(1)<b></b></p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2016/05/clip_image006-2.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" class="" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image006" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/05/clip_image006_thumb.jpg?strip=all" alt="clip_image006" width="267" height="200" border="0" hspace="12" /></a><b></b></p>
<p>Tác phẩm “Thủy quân lục chiến” trước Hạ viện.</p>
<p>Tác phẩm do Thiếu úy Đinh Văn Thuộc (BTL/TQLC) thực hiện với sự góp ý của hoạ sĩ Lê Chánh (BTL/TQLC) mặc dù Thiếu úy Đinh Văn Thuộc không phải là điêu khắc gia. (Nguyễn Ngọc Chính)</p>
<p>***</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2016/05/clip_image008.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" class="" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image008" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/05/clip_image008_thumb.jpg?strip=all&fit=190%2C266" alt="clip_image008" width="190" height="266" border="0" hspace="12" /></a></p>
<p>Tác phẩm điêu khắc “Thương tiếc” của điêu khắc gia Đại úy Nguyễn Thanh Thu thực hiện tại nghĩa trang Quân đội Biên Hoà. Thời gian đi học tập cải tạo của Đại úy Nguyễn Thanh Thu. Ông tâm sự cuộc đời của mình dính liền với tác phẩm “Thương Tiếc”, từ “danh vọng” đến “thê thảm”. Tại trại cải tạo trong thời gian bị biệt giam 22 tháng trong “thùng conex” với lời buộc tội: Sĩ quan xong giặc rồi là hết, còn anh vẫn lưu lại tư tưởng phản động qua tác phẩm…</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2016/05/clip_image010.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" class="" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image010" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/05/clip_image010_thumb.jpg?strip=all&fit=218%2C167" alt="clip_image010" width="218" height="167" border="0" hspace="12" /></a></p>
<p>Khuôn mặt người lính trong tác phẩm “Tiếc thương” được điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu tái tạo lại sau 75.</p>
<p><b>Nhà báo nước ngoài duy nhất </b></p>
<p><b>tại dinh Độc Lập ngày 30-4-1975</b></p>
<p>Cuộc chiến tranh đang tiến gần kề cận thành phố. Tôi đi trên con đường tối tăm đến đài điện tín, qua những đường phố vắng tanh. Tiếng rền vang của những khẩu pháo 130 mm đồng hành cùng cánh nhà báo chúng tôi. &#8220;Cuộc tấn công vào Sài Gòn đã bắt đầu&#8221;, Thiếu tá Achim Weste,</p>
<p>tùy viên quân sự đại sứ liên bang Đức đã nói. Sài Gòn đã trở nên thành phố chiến trận.<br />
7 giờ sáng, những chiếc máy bay trực thăng cuối cùng của không lực Hoa Kỳ rời khỏi Sài Gòn.</p>
<p>Đến 12 giờ trưa, những lá cờ của mặt trận giải phóng tung bay trên nóc dinh Độc Lập. Dietrich Mummendey cùng tôi đã trụ lại qua đêm tại hội chữ thập đỏ nằm trên đường Hồng Thập Tự. Vào khoảng 8 giờ sáng, chúng tôi đi đến khách sạn Caravelle nơi tập trung hầu hết phóng viên thông tấn nước ngoài còn ở lại. Đầu tiên là người Pháp, người Nhật, một vài người Anh, Ý và cả chúng tôi. Mummendey và tôi không thể nán lại lâu hơn nên đã đi đến văn phòng của hãng Reuters, nằm cách khách sạn khoảng 2 km. Mặc dù sợ đến run cả hai đầu gối, nhưng sau đó</p>
<p>tôi vẫn đi bộ đến dinh Độc Lập vào lúc 11 giờ sáng hôm ấy.</p>
<p>1 &#8211; Dinh Độc Lập 11 giờ 15 ngày 30-4-1975</p>
<p>Những người lính VNCH trước dinh tổng thống Sài Gòn đã rời bỏ những vị trí phòng thủ của họ. Tiếng đạn pháo tương đối gần, bom nổ, đường phố vắng hoe. Tôi đứng một mình trước dinh mà giờ đây yên lặng như một viện bảo tàng và ngổn ngang những mũ sắt, quân phục, súng ống, thậm chí cả lựu đạn và một khẩu súng chống tăng, súng máy ngay tại bãi cỏ.<br />
Không có một bóng người nào ở đó. Những tiếng nổ từ phía kho đạn của sân bay Tân Sơn Nhất vẫn còn vọng lại. Tôi bước qua cánh cổng sắt mở hé, băng ngang qua bãi cỏ và nghĩ rằng có thể bị ai đó bắn bất cứ lúc nào. Phó tổng thống Nguyễn Văn Hương (?!) bước vào chiếc xe của ông ở trước cầu thang. Ông nói tổng thống Minh đang ở trong dinh và chờ đại diện của mặt trận giải phóng. Rồi <i>ông đi khỏi trong chiếc xe limousine màu đen</i>. Ông nói với tôi: Chúng tôi đang chờ phái đoàn của mặt trận giải phóng vào dinh, anh có thể đợi nếu anh muốn.</p>
<p>Tôi bước tiếp lên những bậc tam cấp đi vào cửa chính qua tiền sảnh rồi đi lên lầu một. Tại đây tôi gặp Hà Huy Đỉnh, một luật sư Sài Gòn, là học trò của Thủ tướng Vũ Văn Mẫu. Đỉnh, có cùng ý nghĩ như tôi: Hãy đi đến một chỗ mà nếu có chuyện gì quan trọng xảy ra thì sẽ xảy ra ở đấy. Trong khoảnh khắc ấy, khi chúng tôi còn đang đứng ở giữa tiền sảnh thì cửa thang máy bật mở, bước ra là Tổng thống Dương Văn Minh, Thủ tướng Vũ Văn Mẫu và một vài người thân cận từ dưới hầm trú ẩn đi lên. Ông Minh &#8220;lớn&#8221; (Big Minh) nói: Thật là tốt khi anh có mặt ở đây, anh sẽ chứng kiến sự chuyển đổi vận mệnh của đất nước tôi. Trong lúc những nhân viên của ông Minh đi đi lại lại đầy lo âu, thì ông vẫn đứng im lặng giữa tiền sảnh và phóng tia mắt nhìn qua cửa sổ phía trước của dinh về hướng nhà thờ Đức Bà. Bỗng nhiên những tiếng nổ inh tai của súng máy vang lên. Tôi nằm rạp xuống sàn tìm kiếm sự che chắn đằng sau cột ximăng. Phút cuối cùng của sự nổi dậy, một cuộc đánh chiếm dinh?! Không có tấm kính nào bị vỡ, chúng tôi rời khỏi chỗ nấp. Minh &#8220;lớn&#8221; vẫn đứng nguyên chỗ cũ, to lớn như một bức tượng bên cạnh ông thủ tướng thấp bé.</p>
<p>Rồi trước mắt chúng tôi xuất hiện cảnh tượng không thể tin được: 3 (?!) chiếc xe tăng treo cờ của Mặt trận giải phóng tiến qua cổng. Chiếc tăng đầu tiên húc đổ cánh cổng, lăn xích thẳng trên bãi cỏ nhằm hướng dinh lao tới.</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2016/05/clip_image012.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" class="" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image012" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/05/clip_image012_thumb.jpg?strip=all&fit=291%2C193" alt="clip_image012" width="291" height="193" border="0" hspace="12" /></a></p>
<p>2 chiếc xe tăng vào dinh Độc Lập.</p>
<p>Hai chiếc tăng còn lại vòng sang hai bên và rồi tất cả đều dừng lại trước mặt tiền của dinh. Khoảng 20 phát súng được bắn lên. Tôi chạy ra ban công chụp ảnh. Một người lính giải phóng với khẩu súng bên tay trái và một lá cờ bên tay phải xông lên cầu thang suýt xô ngã tôi. Hai chiến sĩ giải phóng khác chiếm lấy vị trí bên phải và bên trái của cầu thang. Đầu tiên không ai nhận thấy Minh &#8220;lớn&#8221; và những người khác đang chờ họ ở phía bên kia của phòng tiếp khách. <i>Một người lính đứng ngay trước mặt tô</i>i. Anh ta hét vào tôi, hét đi hét lại điều gì đó mà tôi không hiểu. Hà Huy Đỉnh hét giải thích cho tôi là <i>mở cửa ra ban công. Tôi mở cánh cửa kính ra vào. Anh ta lướt qua tôi, kéo cờ lên và vẫy đi vẫy lại</i>. Bất thình lình, sự im lặng bị phá tan bởi lựu đạn và đạn pháo, bởi những loạt đạn của súng máy và những phát đạn súng lục, ngay lập tức, tất cả chúng tôi đều chạy tìm chỗ ẩn nấp. Tôi ngồi ở phía sau một cái cột bằng bê tông và sợ rằng có thể có một nhà báo người Đức chết cuối cùng trong cuộc chiến này.</p>
<p>2 &#8211; Dinh Độc Lập trưa ngày 30-4-1975</p>
<p>Ngày càng có nhiều xe đến. Cuối cùng, một đoàn khoảng chừng 20 chiếc xe tăng lăn qua bãi cỏ hướng tới dinh và tất cả đều bắn lên không trung. <i>Là một người Châu Âu duy nhất, là một nhà báo duy nhất</i>, ở bên trái của tiền sảnh, tôi chứng kiến đại tướng Minh &#8220;lớn&#8221;, tổng thống VNCH, đã bị bắt bởi Phạm Xuân Thệ, chỉ huy của đoàn Đông Sơn thuộc quân đội giải phóng. Tay cầm súng ngắn đã lên đạn, một khẩu K54 của Nga, trung úy Thệ rất phấn khích la lớn: Ông Minh, chúng tôi muốn ông đi cùng chúng tôi ngay lập tức tới đài phát thanh và tuyên bố</p>
<p>đầu hàng vô điều kiện, để đừng đổ máu thêm nữa. Tướng Minh, mặt đầy nét buồn rầu, không muốn rời dinh trong khoảnh khắc khó khăn này. Ông ta đề nghị rằng bài nói chuyện của ông phải được thu âm vào máy thu ở trong dinh. Họ tranh luận việc đó. Rồi họ bắt đầu tìm máy thu nhưng không có kết quả. Không có một cái máy ghi âm nào trong dinh cả. Sự hoang mang chấm dứt khi người chỉ huy của quân giải phóng, chính ủy Bùi Văn Tùng xuất hiện. <i>Sau một vài phút, </i>ông Dương Văn Minh, ông Vũ Văn Mẫu và ông Bùi Văn Tùng rời khỏi phòng, theo sau là những người đã có mặt tại đây để sang đài phát thanh.</p>
<p>Chúng tôi bước xuống cầu thang ra bãi cỏ, đến ngang chỗ vòi phun nước, Tổng thống Dương Văn Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu leo lên một chiếc xe jeep được bảo vệ bởi hai cán binh bộ đội, Trung úy Phạm Xuân Thệ đi xe này. Chính ủy Bùi Văn Tùng và một người lính khác lên chiếc xe thứ hai. Tôi đang đứng ngay cạnh chiếc xe jeep nói chuyện với ông chính ủy bằng tiếng Pháp, cố gắng xin ông ta để được lên xe. Ông gật đầu đồng ý. Luật sư Đỉnh với bộ râu dài cũng leo lên chiếc xe jeep này và chúng tôi lái đi. <i>Chỉ có hai chiếc xe này của chúng tôi</i> chạy giữa thành phố lúc ấy qua tòa đại sứ Mỹ trống hoác, đến đài phát thanh nằm trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm.</p>
<p>3 – Đài phát thanh Sài Gòn ngày 30-4-1975</p>
<p>Chúng tôi đi vào phòng thu nhỏ trên lầu một. Dường như không ai biết bây giờ phải tiếp tục làm gì. Thủ tướng Mẫu tháo mồ hôi thấy rõ và quạt mát cho mình, nhưng trông vui vẻ hơn ông Minh rất nhiều. Ông Minh và viên chính ủy ngồi trên hai cái ghế duy nhất, tôi ở giữa họ trên một cái bàn trà nhỏ. Trong lúc ấy mọi người dường như đang thư giãn hơn so với một giờ trước. Đặc biệt Trung úy Phạm Xuân Thệ, người đã bắt ông Minh trong dinh, vẫn còn lăm lăm khẩu súng trong tay. Ông ta nhắc đi nhắc lại với ông Minh: Anh Minh, đừng sợ! Chúng tôi chiến đấu cho nhân dân, vì chúng tôi phải chiến thắng những kẻ thù. Nhưng bây giờ thì chúng tôi ở đây, không có ai đã làm hại anh, và cũng sẽ không có ai làm hại anh.</p>
<p>Chúng tôi ngồi bất động một lát. Ông Tùng thảo văn kiện đầu hàng trên một mảnh giấy màu xanh. Chính ủy Tùng đã rất khó viết. Ông ngồi bất động trong khi thảo ra được một vài từ rồi đến từ nữa, rồi lại thay thế bằng những từ khác. Sau 30 năm chiến đấu, thật là khó để biết phải viết như thế nào. Đại tướng Dương Văn Minh im lặng. Dưới chiếc mũ cối, những người lính bộ đội nhìn ông Minh với vẻ tò mò. Họ vây quanh ông ta trong lúc phía bên ngoài vẫn còn nghe những tiếng nổ. Những người lính giải phóng đã thể hiện sự vui mừng không kìm nén được. Cuối cùng ông Minh đã lên tiếng, hỏi một người lính: Em trai của tôi hiện nay ra sao? Khi nào tôi có thể gặp chú ấy?. Đó là số mệnh của những người dân VN: Người em của tổng thống là một tướng lãnh (1) trong quân đội miền Bắc và trong 20 năm anh em ruột thịt ở hai bên chiến tuyến. Tất cả mọi người bỗng nhiên im lặng. Rồi một vài người lính giải phóng nói chuyện với tôi bằng tiếng&#8230;Nga. Họ trông thấy phù hiệu &#8220;Báo chí Đức&#8221; trên áo sơmi của tôi và tưởng tôi là nhà báo Đông Đức. Họ đã nói chuyện với tôi về Các Mác. Bạn tôi là Hà Huy Đỉnh đã giải thích</p>
<p>cho họ rằng tôi là nhà báo Tây Đức. Mặt họ sầm xuống, tỏ ra nghi ngờ và e dè hơn.</p>
<p>Cuối cùng mọi người đã sẵn sàng, nhưng không ai trong số người này biết sử dụng máy ghi âm. Chính ủy Tùng hướng dẫn rất rõ ràng cho tôi những việc tôi phải làm: Ông Minh cần phải đọc lại bản tuyên bố vào máy ghi âm của tôi, việc này được lặp đi lặp lại ba lần. Lần đầu tiên ông Minh chần chừ vì được yêu cầu phải đọc là: Tôi, Dương Văn Minh, tổng thống chính quyền Sài Gòn&#8221;, nhưng ông ấy chỉ muốn nói: <i>Tôi, Đại tướng Dương Văn Minh.</i>.. Họ tranh luận qua lại và cuối cùng đi đến thỏa thuận không nhượng bộ ông Minh. Ông Minh phải nói: <i>Tôi, Đại tướng Dương Văn Minh, tổng thống của chính quyền Sài Gòn&#8230;</i> Nhưng rồi tất cả lại phải làm lại thêm một lần nữa, vì tướng Minh không đọc được lưu loát chữ viết của viên chính ủy. Cuối cùng cũng xong. Chúng tôi vào phòng âm thanh, ở trong một ngôi nhà khác. Tôi ngồi trước micro và bật máy, tướng Minh ngồi ở bên trái, phía sau, những người khác đứng ở cạnh tường<b>. </b></p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2016/05/clip_image014.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" class="" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image014" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/05/clip_image014_thumb.jpg?strip=all&fit=322%2C196" alt="clip_image014" width="322" height="196" border="0" hspace="12" /></a></p>
<p>Nguyễn Hữu Thái (mặc áo trắng, tay cầm xấp giấy) Borries Gallasch (đeo kính) ngồi cạnh ông Dương Văn Minh.</p>
<p>Ông Dương Văn Minh chuẩn bị tuyên bố đầu hàng tại đài phát thanh Sài Gòn</p>
<p>Tôi cũng ghi âm lời phát biểu của ông Mẫu và ông Tùng rồi chúng tôi đi vào phòng thu thanh. Tôi ngồi ngay trước micro và bật băng của ba bài phát biểu. Ông Minh ngồi bên tay trái tôi. Chính ủy Tùng, ông Mẫu đứng đằng sau chúng tôi. Kỹ thuật viên ngồi phía bên kia của kính ngăn yêu cầu bật máy lại, lần này để máy lại gần micro hơn và không quá to.</p>
<p>Mọi sự đều tốt đẹp, ông Bùi Văn Tùng nói gì với tôi mà tôi không hiểu. Hà Huy Đỉnh dịch lại. Tôi đã được ông cảm ơn về sự giúp đỡ của tôi và <i>cho phép tôi chở ông về lại dinh Độc Lập trên chiếc xe jeep</i> (?) . Chúng tôi rời khỏi tòa nhà. Tôi ngồi sau tay lái và ông chính ủy ngồi ghế bên. Tôi không thể nổ máy chiếc xe. Lúc ấy ông chính ủy trở nên sốt ruột và chúng tôi đã đi sang một chiếc xe khác, nơi tôi lại ngồi băng ghế sau. Chúng tôi lại đi qua những con đường của VN.</p>
<p>Tại dinh Độc Lập, tôi nhảy ra khỏi xe. Trên khuôn mặt bình thản của ông Bùi Văn Tùng giấu một nụ cười. Rồi ông nói với tôi bằng một câu tiếng Đức mà ông biết: &#8220;Danke&#8221; (cảm ơn).</p>
<p>Khi chúng tôi trở về dinh Độc Lập, lúc đó đã là 2 giờ chiều.</p>
<p>Hai ngày sau, ông Minh được tự do trở về nhà với vườn hoa phong lan của mình.</p>
<p>(“Ho-Tschi-Minh Stadt” &#8211; Borries Gallasch)</p>
<p>Borries Gallasch là phóng viên người Đức. Bài tường thuật ông viết cách đây 32 năm có tựa đề “Ho-Tschi-Minh Stadt” Dương Đình Bá dịch với nhan đề “TP. Hồ Chí Minh giờ khắc số 0”<i>.</i></p>
<p>(1) Dương Thanh Nhựt, em tướng Dương Văn Minh, quân hàm đại tá.</p>
<p><b>Góp nhặt…ghi chép…</b><b></b></p>
<p>Người em kế ông Minh tên Dương Thanh Nhựt, “tập kết” ra Bắc năm 1954. Năm 1960, xứ ủy Nam bộ yêu cầu cục trưởng cục địch vận giao nhiệm vụ cho Dương Thanh Nhựt về Nam để tiếp cận với Dương Văn Minh. Tháng 3-1961, Dương Thanh Nhựt, bấy giờ mang bí danh Mười Ty, về đến miền Nam, và tới tháng 8-1962 thì móc nối được với ông Minh.</p>
<p>Sau khi ông Dương Văn Minh rời Việt Nam, Mười Ty đã có những báo cáo với tư cách là <i>Đại tá </i></p>
<p>Dương Thanh Nhựt, nói rằng anh mình đã biến chuyển rất nhiều bởi “binh vận”. <b><br />
</b></p>
<p>(Bên thắng cuộc &#8211; Huy Đức)</p>
<p><strong>Giây phút hấp hối của VNCH</strong></p>
<p>Quá mệt mỏi, nên tôi ăn qua loa chút đỉnh ở dưới CLB rồi lên phòng dọn dẹp những hình cảnh cá nhân cho vào một cái túi. Tôi đứng ngắm bức hình chụp đứng cùng với tướng Vũ Văn Giai tại một đồi cát thuộc quận Hải Lăng, Quảng Trị vào năm 1969. Tôi không còn nhớ một sĩ quan nào đó trong phòng tâm lý chiến của Sư đoàn 3 chụp và phóng lớn tặng tôi vào dịp kỷ niệm ngày thành lập sư đoàn. Gần 36 năm qua rồi, ký ức đã mờ phai nhiều chuyện, nhưng tôi vẫn nhớ đến giây phút cuối cùng của tôi tại phòng làm việc mang đầy kỷ niệm ấy. Tôi thích bức hình, và ngắm nó mãi bởi vì chiếc nón sắt mà tôi đội bị thủng một lỗ ngang thái dương, chiếc quần trận bị rách toạc ngay đầu gối chân trái. Chiếc nón sắt ấy là của một người lính đã tử trận, văng ra trên bờ một giao thong hào ở Ðông Hà. Mưa nắng đã làm chiếc nón hơi bị sét.</p>
<p>Ðầu năm ấy, khi di chuyển cùng với một đơn vị của Sư đoàn 3 trong cuộc hành quân ở Ðông Hà, tôi đã nhặt được chiếc nón sắt ấy và dùng nó cho đến năm 1972 là năm mà tôi đã không còn rong ruổi để tường thuật từ mặt trận nữa. Hình chụp đẹp và đầy tính nghệ thuật.</p>
<p>Tháo bức hình ra khỏi khung và cuốn lại, tôi sẽ nhờ tài xế Ðường đưa về nhà sang hôm sau, rồi góp mấy bản thảo phóng sự chiến trường mà tôi thích nhất, các bức hình tôi chụp tại San Clemente và Hoa Thịnh Ðốn cùng với các phóng viên Nguyễn Mạnh Tiến và Lê Thái Tuế trong chuyến tháp tùng Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đi xin viện trợ lần cuối cùng tháng 4-1973&#8230; cho tất cả vào trong một chiếc ba lô mà tôi đã mang theo đi các mặt trận suốt 5 năm.</p>
<p>Sau đó, ngả lưng trên chiếc ghế bố trong góc phòng làm việc, tôi chìm dần vào giấc ngủ mặc dù tiếng động cơ trực thăng vẫn ầm ầm suốt đêm trên đầu.</p>
<p>(Vũ Ánh)</p>
<p><b>Bên lề trận chiến</b></p>
<p>Thiếu Tướng John E. Murray, giữ chức tùy viên quân sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn năm 1973-1974 đã viết về nguyên nhân tại sao Bắc Việt đã chiến thắng tại Việt Nam vào năm 1975:</p>
<p>“Nếu bạn muốn biết về Việt Nam bạn phải hiểu về chiến tranh, nếu bạn muốn biết về chiến tranh bạn phải có một ít hiểu biết về số học (aritthmetic).</p>
<p>Trong thời gian cao điểm của cuộc chiến tranh, có tổng cộng tất cả là 433 tiểu đoàn chiến đấu của Hoa Kỳ, của các quốc gia đồng minh và VNCH trong khi đó Bắc quân chỉ có 240 tiểu đoàn.</p>
<p>Vào năm 1974, khi quân đội Hoa Kỳ và đồng minh đã triệt thoái khỏi Việt Nam thì <i>VNCH chỉ còn có 180 tiểu đoàn tác chiến </i>trong khi đó thì<i> Bắc Việt gia tăng lên đến 440 tiểu đoàn.</i></p>
<p>Sau khi Hoa Kỳ triệt thoái, hơn 40 phần trăm hỏa lực trên bộ quân đội Mỹ và đồng minh bị giảm. Lại mất thêm hỏa lực pháo đài bay B52, phi cơ oanh tạc F4 và hỏa lực yểm trợ từ ngoài khơi của hải pháo, tất cả những hỏa lực yểm trợ đó đều không còn nữa. Rồi Hoa Kỳ bắt đầu viện trợ cho miền Nam Việt Nam một số ngân khoản chỉ bằng 2 phần trăm tổng số ngân khoản mà năm 1972 người Mỹ đã dùng để đối phó với một lực lượng Bắc Việt ít ỏi hơn nhiều.</p>
<p>Chúng ta biết Napoléon đã từng nói rằng: <i>Thượng đế đứng về phe của cái tiểu đoàn lớn nhất</i>.</p>
<p>Đúng như vậy, thượng đế đã đứng về phe của những người Hà Nội vì họ lớn hơn. Đó là lý do tại sao chúng ta đã thua trong cuộc chiến tranh nầy”.</p>
<p>(VietNam As History &#8211; John E. Murray)</p>
<p><b>&#8211; :</b> Lý do miền Nam Việt Nam thất trận.</p>
<p>&#8211; Hoa Kỳ đã chuyển chiến trường từ Á Châu sang Trung Đông.</p>
<p>&#8211; Tại Trung Đông, vì nhu cầu dầu lửa trở nên cấp thiết trên thế giới. Khủng hoảng dầu hỏa vào thập niên 1970 buộc chính phủ Mỹ phải thay đổi chiến lược.</p>
<p>&#8211; Tại Á Châu, vì Hoa Kỳ bắt tay được với Trung Cộng, làm rạn nứt khối cộng sản đưa đến sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu sau này.</p>
<p>(“VietNam – A History” &#8211; Stanley Karnow)</p>
<p><b>Thâm u bí sử</b></p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2016/05/clip_image016.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image016" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/05/clip_image016_thumb.jpg?strip=all&fit=244%2C153" alt="clip_image016" width="244" height="153" border="0" hspace="12" /></a></p>
<p><em>Quân ủy trung ương đang theo dõi diễn biến </em></p>
<p><em>Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975. </em></p>
<p><em>Từ trái sang phải: </em></p>
<p>Thượng tướng Lê Hữu Đức (Cục trưởng cục tác chiến)</p>
<p><em>Thượng tướng Hoàng Văn Thái (Phó tổng tham mưu)</em></p>
<p><em>Thượng tướng Song Hào (Chủ nhiệm tổng cục chính trị)</em></p>
<p><em>Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Tổng tư lệnh, Bộ trưởng quốc phòng) </em></p>
<p>Thiếu tướng Cao Văn Khánh (Phó tổng tham mưu trưởng<em>)</em></p>
<p>***</p>
<p>Sớm hơn thường lệ, tôi ngồi vào bàn làm việc ở Sở chỉ huy. Trên tấm bản đồ ở mặt bàn, các mũi tên đỏ đã tiến vào trung tâm thành phố Sài Gòn-Gia Định. Tôi phác hoạ trong đầu một chương trình cho ngày hôm ấy, với bao nhiêu công việc phái làm: Hội ý Bộ chính trị, nắm thêm phản ứng của Mỹ, dự kiến các hoạt động quân sự, trong trường hợp chưa dứt điểm được ngay, chỉ đạo tác chiến, v…v&#8230;</p>
<p>Anh Ba (Lê Duẩn), anh Trường Chinh, anh Đồng đến đây sớm hơn thường lệ theo dõi tình hình chiến trường Sài Gòn-Gia Định. Anh Cao Văn Khánh, trực ban ngày hôm ấy tại phòng tác chiến, chốc chốc lại sang báo cáo tình hình mới nhất qua đài VOA hay BBC. Trước tấm bản đồ thành phố Sài Gòn-Gia Định, mọi người đứng dậy, chăm chú nhìn theo hướng tay tôi chỉ. Mọi người vây quanh tấm bản đồ chiến sự. Tin từ các hướng tới tấp điện về. Năm cánh quân của ta hợp điểm giữa Sài Gòn…</p>
<p><strong>(Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng &#8211; Võ Nguyên Giáp)</strong></p>
<p><b>Góp nhặt…ghi chép…</b><b></b></p>
<p>Bắc Việt đã sử dụng toàn bộ lực lượng 5 quân đoàn (1) tấn công Sài Gòn. Tổng cộng 20 sư đoàn hơn 100 ngàn bộ đội miền Bắc và những người Việt cộng (2) dẫn đường.</p>
<p>Còn lực lượng bảo vệ Sài Gòn (và Biên Hòa) thì thực tế có độ 1 sư đoàn.</p>
<h5>(Black April: The Fall of South Viet Nam &#8211; Alan Dawson)</h5>
<p>(1) Một quân đoàn có 3 sư đoàn, một sư đoàn quân số khoảng từ 3.000 đến 4.500 người.</p>
<p>(2) “Những người Việt cộng dẫn đường” thuộc Công trường 7 (MTGPMN).</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Quân sử ngoại truyện </b></p>
<p>10 giờ sáng, anh Cao Văn Khánh vào báo cáo tin vừa nhận được:</p>
<p>Theo đài phát thanh Nhật Bản, Quân giải phóng miền Nam có xe tăng dẫn đầu đang tiến vào Sài Gòn. Mấy phút sau, có tin thêm: Dương Văn Minh đề nghị ngừng bắn để thương lượng. Tin đến thường cắt ngang cuộc họp, đang phát biểu phải dừng lại giữa chừng. Mọi người cùng nói: Chỉ có đầu hàng vô điều kiện. Còn gì đâu mà thương lượng?!. Hy vọng của ông Dương Văn Minh thoả hiệp với “Việt cộng” tan vỡ như bọt xà phòng.</p>
<p>Lát sau anh Khánh cho hay qua đài BBC, Quân đoàn 2 của anh Lê Trọng Tấn đang vượt cầu xa lộ trên sông Đồng Nai, diệt ổ đề kháng của địch ở Thủ Đức phía bắc cầu Rạch Chiếc. 10 giờ 50 phút. Cục 2 báo cáo quân ta đã vào dinh tổng thống Nguỵ. Ngay sau đó, các đài phát thanh phương Tây cũng đưa tin này. 11 giờ 30 phút (1). Đồng chí Nguyễn Duy Phê, cục phó cục cơ yếu mang vào phòng họp một bức điện của anh Lê Trọng Tấn báo cáo: Một đơn vị thuộc cánh quân phía đông đã cắm cờ lên dinh Độc Lập.</p>
<p>Các đồng chí lãnh đạo ra cả ngoài hành lang. Tiếng cười nói rộn ràng, vui vẻ. 12 giờ 50 phút. Tôi điện gửi anh Văn Tiến Dũng và các đồng chí trong Bộ tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, thay mặt Quân ủy trung ương, tôi tuyên dương công trạng các lực lượng vũ trang ta đã cùng đồng bào tổng tiến công và nổi dậy, giải phóng Sài Gòn-Gia Định, giành thắng lợi vang dội, làm nức lòng quân và dân cả nước và bè bạn năm châu.</p>
<p>Mặt trời đã khuất bóng sau rặng cây xà cừ trên đường Hoàng Diệu. Hà Nội đã lên đèn.</p>
<p>Còn lại một mình trong phòng làm việc với niềm vui náo nức, Một khuôn mặt trìu mến, thân quen chợt hiện lên trong tôi: <i>Trung tướng Lê Trọng Tấn, người chỉ huy cánh quân đầu tiên tiến vào dinh tổng thống nguỵ quyền</i>. Tôi viết ngay một bức điện vượt ra ngoài khuôn phép thông thường về quân sự:</p>
<p>10 giờ 30 phút. Anh Tấn ơi! Làm ăn tốt quá! Phấn khởi quá! Chúc các anh rất khoẻ và chuyển lời mừng chiến thắng của mình cho các tướng trong đó. Ký tên: Văn.</p>
<p>Tôi lên xe đi một vòng quanh Hà Nội. Cả một rừng cờ hoa dậy lên tự lúc nào. Người đi chật phố, chật đường, vui như trảy hội. Đêm nay, thủ đô đốt pháo hoa mừng toàn thắng. Đêm nay, Hà Nội, vui với Sài Gòn, vui với miền Nam. Trở lại cửa tây, tôi vào Sở chỉ huy tiếp tục làm việc.</p>
<p>(Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng &#8211; Võ Nguyên Giáp)</p>
<p>(1) Giờ Hà Nội khác Sài Gòn 1 (một) giờ.</p>
<h5> <b>Ngày 29 và 30 tháng Tư của 34 năm về trước</b></h5>
<p>Người thân, bạn bè, đồng nghiệp non nửa sống trong đây. Nhưng, thú thực là chưa khi nào tôi có thể hoà mình, có thể nhập thân được vào với không gian, với nhịp sống đương thời hàng ngày của thành phố vĩ đại này. Không phải chỉ vì đã không sinh ra lớn lên ở đây, mà còn vì chưa bao giờ tầm nhìn của tôi vượt ra được khỏi những ký ức, những ấn tượng về Sài Gòn trong hai ngày 29 và 30 tháng Tư của 34 năm về trước.</p>
<p>Hầu như lần nào vào Nam tôi cũng tìm về quận lỵ Củ Chi, điểm khởi đầu cuộc tấn công vào nội đô của trung đoàn. Tất nhiên là ngày đó bây giờ khác nào kiếp này kiếp trước. Thật khó mà nhìn thấy lại một dấu mờ nào của dĩ vãng. Đâu rồi cầu Bông? Đâu thành Quan Năm, trại Quang Trung, cầu Tham Lương, nhà máy dệt Vinatexco, Bà Quẹo, đường Lê Văn Duyệt, ngã tư Bảy Hiền, nhà thương Vì Dân? Từ quận lỵ Củ Chi về tới Bảy Hiền, chặng đường chẳng bao xa, nhưng cái ngày 29, 30 tư năm trước ấy thì thật là dài, có thể nói là ngày dài nhất trong cuộc đời của mỗi chiến sĩ Trung đoàn 24 Bộ binh, Trung đoàn 273 Thiết giáp và Trung đoàn 234 Cao xạ thê đội quân binh chủng hợp thành đột kích thọc sâu hướng tây bắc Sài Gòn. Mức độ ác liệt của những trận chiến ngày 29 chẳng thua kém gì so với các trận trong Chiến dịch Buôn Ma Thuột, thậm chí cả so với những ngày cao đỉnh của Mùa khô 1972&#8230;</p>
<p>Ngày 30, bốn giờ sáng, pháo lớn Quân đoàn 3 bắt đầu lên tiếng, càng lúc càng dữ dội, cấp tập bắn phá phi trường. Bảy giờ, tiểu đoàn 5 mà mũi nhọn là Đại đội 7 cùng gần chục xe tăng T54 tấn công ngã tư Bảy Hiền.</p>
<p>(Bảo Ninh)</p>
<p><b>Sử lịch với ngày tháng</b></p>
<p>Năm 1954, 16 nghìn lính Pháp, Lê Dương và Việt Nam đã cầm cự với quân đội Bắc Việt Nam 55 ngày đêm ở Điện Biên Phủ rồi thì đầu hàng. 21 năm sau, Bắc Việt Nam đã tràn ngập toàn cõi Nam Việt Nam, đánh bại một đội quân Sài Gòn tất cả là 1 triệu người.</p>
<p>Cũng như Điện Biên Phủ, trận đánh này cũng mất 55 (1) ngày đêm cả thảy.</p>
<p>(Black April: The Fall of South Viet Nam &#8211; Alan Dawson)</p>
<p><b>&#8211; :</b><b> </b>Hồi Điện Biên Phủ giữa Pháp và Việt Minh phải mất 56 (1)<b> </b>ngày đêm. Mất Sài Gòn nhanh hơn, chỉ có 55 ngày. Ít hơn một ngày. Hồi Điện Biên Phủ, chỉ mất một nữa. Lần này mất tất cả.</p>
<p>(Sài Gòn 30-4-1975 &#8211; Nguyễn Văn Lục)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Ngày 29 và 30 tháng Tư của 34 năm về trước</b></p>
<p>Sau non một tiếng đồng hồ cận chiến qua từng ngôi nhà, C7 mở thông được ngã tư. Trước mắt đã là những thời khắc cuối cùng, những thước đất cuối cùng của cuộc chiến tranh đằng đẵng cả đời người. Và cũng là thử thách cuối cùng, thương vong cuối cùng.</p>
<p>Từ ngã tư Bảy Hiền, K5 của 24 đánh cắt ngang qua Tân Sơn Hoà tấn công cửa số 5, K4 và K6 tấn công cửa sổ 4 phi trường. Trung đoàn 28 theo đường Võ Tánh qua lăng Cha Cả tấn công Bộ tổng tham mưu. Trung đoàn 66 xuôi đường Lê Văn Duyệt tiến vào trung tâm thành phố. Đến đúng 10 giờ 30 quân dù trấn giữ cửa số 5 vỡ trận, lối vào phi trường mở toang. Các đại đội của Trung đoàn 24 cùng các phân đội xe tăng Trung đoàn 273 đánh địch liên tục qua các khu vực phòng thủ của Sư bộ sư đoàn 5 Không quân, bộ tư lệnh dù, khu ra đa, khu cố vấn. Trung đoàn trưởng Vũ Tài trực tiếp chỉ huy K6 phát triển nhanh đến trại Đavít để hội quân với Phái đoàn quân sự của tướng Hoàng Anh Tuấn. Đến đúng 11 giờ 30 thì anh em Tiểu đoàn 6 đã kéo được lá cờ Quyết Thắng của sư đoàn lên đỉnh lầu chỉ huy không lưu. Song, qua trưa đến chiều tiếng súng chống trả của quân dù vẫn lúc thưa lúc rộ lên. Mãi tới 14 giờ 30 quân ta mới dứt điểm được ổ đề kháng cuối cùng ở góc tây phi trường.</p>
<p>Chiều Sài Gòn vội vã rào xuống một cơn mưa để làm nguội đi không gian nóng bỏng của trận quyết chiến vừa kết thúc.</p>
<h5> (…)</h5>
<p><b>Góp nhặt sỏi đá</b></p>
<p>(…trích lục lại)</p>
<p>Theo Jean Lartéguy trong cuốn <i>L’Adieu à Saigon</i> thì sau ngày 30-4, một sĩ quan Bắc Việt đã tiết lộ với ông Vũ Văn Mẫu rằng các đơn vị họ được lệnh bắt đầu pháo kích vào Sài Gòn bắt đầu vào lúc 11 giờ tối 30-4 nếu Sài Gòn tiếp tục chống cự và họ dự tính rằng họ sẽ chiếm Sài Gòn vào <i>ngày 7-5</i> tức là ngày kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ của họ 21 năm về trước.</p>
<p><b>&#8211; :</b><b> </b>Theo Erwan Bergot: Trận Điện Biên Phủ từ ngày 28-3 đến 7-5 là 56 (1)<b> </b>ngày.</p>
<p><b>Ngày 29 và 30 tháng Tư của 34 năm về trước</b></p>
<p>Chúng tôi rời sân bay hư­ớng về thành phố mới giải phóng. Thành phố vĩ đại, mênh mông, sâu thẳm, chằng chéo muôn ngả. Tay tài xế tiếng là lính dù nh­ưng lại lớ ngớ, lại là dân miệt v­ườn Mỹ Tho chẳng rành gì đư­ờng xá Sài Gòn nên cứ chạy loanh quanh phập phù. Vòng vo, chậm rề mà cứ lạc mãi. Quân ta tuy đông, những năm quân đoàn, như­ng vì Sài Gòn quá rộng lớn nên tới khuya ngày 30 còn rất nhiều đư­ờng phố chư­a xuất hiện bóng dáng bộ đội. Mà tiếng súng, không rõ ràng là chỉ thiên hay bắn thẳng thì càng lúc càng rộ lên loạn trời.</p>
<p>Ba đứa tôi ngồi trên xe súng vẫn lăm lăm trong tay, đạn vẫn lên nòng, dò dẫm qua từng ngã t­ư, ngã năm, ngã bảy, chỗ đông nghịt ngư­ời xe ùn tắc, chỗ vắng tanh vằng ngắt. Gần 9 giờ đêm chiếc xe đã hết xăng nên chúng tôi trả tự do cho tay tài xế, rồi đi bộ tìm lối trở về Tân Sơn Nhất. Ba đứa, một hàng dọc, dãn cách th­ưa, lặng lẽ bước, y nh­ư là mấy chàng Vệ Quốc “một lần vào thành phố” của Trần Đăng. Đã quá mệt, quá buồn ngủ, lại chắc chắn là đã hoà bình rồi, không cần phải quá khẩn cấp nữa, chúng tôi chọn một chỗ để qua đêm. Chỗ ấy có vẻ như­ là một công viên. Không nhà cửa, nhiều cây cối (có lẽ là khu nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi?). Tôi gác phiên đầu, tới nửa đêm. Quang rồi Nghi phiên nửa đêm về sáng. Nghi gác phiên cuối, khi trời rạng sáng đã không lay mọi người dậy mà lại ngả ngư­ời ra võng chủ quan đánh tiếp một giấc ngủ nướng&#8230;Những tiếng động lạ khiến tôi choàng tỉnh.</p>
<p>Theo bản năng tôi chực vồ lấy AK, như­ng rồi lại nằm im.</p>
<p>(…)</p>
<p><b>4 quân đoàn bao vây Sài Gòn</b></p>
<p>(tổng hợp…)</p>
<p>Quân đoàn 1 (Binh đoàn Quyết Thắng) tham gia giai đoạn cuối chiến dịch gồm:</p>
<p>Các Sư đoàn bộ binh 312, 390, Lữ đoàn 202 tăng thiết giáp (44 xe tăng), Trung đoàn pháo binh 45 (36 khẩu pháo), Sư đoàn phòng không 367, v…v…</p>
<p>Tổng quân số 31.200 người. (Tư lệnh: Thiếu tướng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_H%C3%B2a">Nguyễn Hòa</a>)</p>
<p><b>&#8211; :</b> Sư đoàn 308 ở lại Hà Đông-Sơn Tây để bảo vê Hà Nội.</p>
<p>Quân đoàn 2 (Binh đoàn Hương Giang) tham gia từ đầu chiến dịch gồm:</p>
<p>Các Sư đoàn bộ binh 304, 325, 324, Lữ đoàn xe tăng 203 (54 xe tăng, 35 xe thiết giáp), Lữ đoàn pháo binh 164 (223 xe kéo pháo, 87 khẩu pháo), Sư đoàn phòng không 673, Trung đoàn đặc công 116, trung đoàn thông tin, v…v&#8230;</p>
<p>Tổng quân số 32.500 người. (Tư lệnh: Thiếu tướng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_H%E1%BB%AFu_An">Nguyễn Hữu An</a>)</p>
<p>Quân đoàn 3 (Binh đoàn Tây Nguyên) tham gia từ đầu chiến dịch gồm:</p>
<p>Các Sư đoàn bộ binh 3, 10, 316, 320A, Trung đoàn xe tăng 273 (54 xe tăng, 64 xe bọc thép), các Trung đoàn pháo binh 40 và 575 (gần 100 khẩu pháo), Trung đoàn đặc công 198, các Trung đoàn phòng không 232, 234 và 593, các Trung đoàn công binh 7 và 576,…v…v….</p>
<p>Tổng quân số 47.400 người. (Tư lệnh: Thiếu tướng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C5%A9_L%C4%83ng">Vũ Lăng</a>)</p>
<p>Quân đoàn 4 (Binh đoàn Cửu Long) tham gia từ đầu chiến dịch gồm:</p>
<p>Các Sư đoàn bộ binh 6, 7, 341, Trung đoàn 26 tăng thiết giáp, Trung đoàn pháo binh 24, Trung đoàn đặc công 429, Trung đoàn phòng không 71, Trung đoàn công binh 25, v…v.,.</p>
<p>Tổng quân số 35.000 người. (Tư lệnh: Thiếu tướng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ho%C3%A0ng_C%E1%BA%A7m_(t%C6%B0%E1%BB%9Bng)">Hoàng Cầm</a>)</p>
<p><b>Ngày 29 và 30 tháng Tư của 34 năm về trước</b></p>
<p>Trời đã sáng bạch. Một đám khá đông dân tình hiếu kỳ quây thành một vòng rộng bao quanh “bãi khách” của ba anh bộ đội Giải phóng. Qua khe bọc võng, tôi nhìn lên tán cây, lên cao nữa, lên bầu trời tháng năm cao xanh vời vợi. Hoà bình, phải, đã hoà bình rồi, tôi chợt nhớ ra, và đến lúc ấy tôi mới thực sự cảm thấu vẫn tận tim mình rằng mình đang giữa lòng Sài Gòn, trung tâm của giấc mơ lớn lao, đoạn tr­ường của bao nhiêu thế hệ, bao nhiêu con ng­ười còn sống hay đã chết trong cuộc tr­ường chinh này.</p>
<p>N­gước mặt ngày thắng lợi nóng rực đau nhói. Sắp sửa 40 năm trời rồi, như­ng tôi nghĩ rằng đến nay đêm trong lòng thành phố vẫn còn biết bao nhiêu con ngư­ời mất ngủ vì ký ức chiến tranh. Nỗi buồn th­ương vẫn khiến cặp mắt của bao ng­ười phải âm thầm nhoà lệ. Hàng bao nhiêu người cha ngư­ời mẹ mất một, mất hai, mất ba, thậm chí mất tất cả những ng­ười con của mình trong chiến tranh. Những ng­ười vợ mất chồng. Những cặp tình nhân bị chiến tranh chia lìa, mãi mãi không bao giờ còn gặp lại nhau.</p>
<p>Ngày 30 tháng Tư­. Niềm vui chiến thắng, hạnh phúc hoà bình và nỗi đau mất mát. H­ương hoa và khói hư­ơng. Những nỗi niềm ấy trong lòng người dân luôn luôn là một chứ không tách bạch ra nh­ư là nhiều ngư­ời vẫn tưởng.</p>
<p>(Bảo Ninh)</p>
<p>Tác giả tên thật là Hoàng Ấu Phương, trong thời chiến chiến đấu ở mặt trận B3 <a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A2y_Nguy%C3%AAn">Tây Nguyên</a>, tại tiểu đoàn 5, trung đoàn 24, <a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=S%C6%B0_%C4%91o%C3%A0n_10&amp;action=edit&amp;redlink=1">sư đoàn 10</a>. Năm <a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/1975">1975</a>, giải ngũ và học khoá 2 <a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_vi%E1%BA%BFt_v%C4%83n_Nguy%E1%BB%85n_Du&amp;action=edit&amp;redlink=1">trường viết văn Nguyễn Du</a>, tác giả trở thành nhà văn với tác phẩm <i>Nỗi buồn chiến tranh</i>.</p>
<p><b>Quân sử ngoại truyện</b></p>
<p>Theo kế hoạch, ngày 27-4 cả năm cánh quân các hướng sẽ bắt đầu tiến đánh để đồng loạt vào Sài Gòn ngày 29-4-1975 (1). Tuy nhiên, tối 24-4, tư lệnh Cánh quân duyên hải (2), tướng Lê Trọng Tấn điện ra xin cho Quân đoàn 2 và Quân đoàn 4 tiến công vào lúc 17 giờ ngày 26-4. Vì nếu ngày 27-4 mới bắt đầu đánh như các cánh quân khác thì sẽ không kịp “cùng nổ súng”. Vì cánh quân duyên hải lúc đó đang sửa soạn vượt qua 2 sông lớn là sông Đồng Nai và Sài Gòn.</p>
<p>Tướng Võ Nguyên Giáp xem xong bức điện và đồng ý ngay với tướng Tấn. Tuy nhiên, rât cẩn thận, ông đã cùng với Cục trưởng tác chiến Lê Hữu Đức mang bản đồ đến nhà Bí thư thứ nhất Lê Duẩn vào lúc nửa đêm. Sau khi tướng Đức đọc xong bức điện của tướng Tấn, Võ Nguyên Giáp nói: Đề nghị anh Ba cho đánh theo báo cáo của Tấn. Theo ông Lê Hữu Đức, Lê Duẩn nói ngay với tướng Giáp: Đánh, đánh, cứ đánh ngay anh ạ. Bây giờ không chờ nhau được nữa. Cũng theo ông Lê Hữu Đức thuật lạị chưa bao giờ ông thấy Lê Duẩn thân mật với tướng Võ Nguyên Giáp như thế. Anh Văn còn hỏi thêm anh Ba: Điện trả lời ký tên anh chứ. Anh Ba nói: Không, anh là tổng tư lệnh, cứ ký tên anh thôi.</p>
<p>Cũng trong ngày 24-4, tướng Tấn cử trưởng phòng tác chiến Cánh quân phía đông Nguyễn Phi Lòng trực tiếp đến sở chỉ huy chiến dịch báo cáo cho tướng Văn Tiến Dũng hay.</p>
<p>Ngày 30-4-1975, 11 giờ 30, tổng hành dinh ở Hà Nội nhận được điện của tướng Tấn: Một đơn vị Cánh quân phía đông đã cắm cờ trên dinh Độc Lập.</p>
<p>(Quyền bính &#8211; Huy Đức)</p>
<p>(1) Theo tướng Lê Đức Anh: giờ G. ngày N, tức 00 giờ 00 phút ngày 29-4-1975, là giờ quy định cho tất cả <i>năm cánh quân của quân giải phóng</i> <i>đồng loạt nổ súng tấn công vào Sài Gòn</i>.</p>
<p>(2) Quân đoàn 2 của tướng Lê Trọng Tấn từ Đà Nẵng đi dọc theo bờ biển tới Sài Gòn. Khoảng thời gian này có tên là “Cánh quân duyên hải”. Đạo quân gần 40.000 người, cùng với 2.500 xe pháo các loại trong đó có gần 100 xe tăng thiết giáp, 250 xe kéo pháo vào Sài Gòn.</p>
<p><b>Ngày thứ 52 : 30-4-1975</b><b></b></p>
<p><b>Sài Gòn ngày dài nhất</b></p>
<p>Ngày 30-4, Bắc quân tiến vào Sài Gòn đang bỏ ngỏ làm 4 ngả:</p>
<p>Cánh thứ nhất từ Long Khánh theo xa lộ Biên Hoà.</p>
<p>(QĐ4/Thiếu tướng Hoàng Cầm)</p>
<p>(QĐ2/Thiếu tướng Nguyễn An)</p>
<p>Cánh thứ hai từ Củ Chi qua ngã tư Bẩy Hiền.</p>
<p>(QĐ3/Thiếu tướng Vũ Lằng)</p>
<p>Cánh thứ ba từ Long An kéo lên qua ngả Phú Lâm-Chợ Lớn.</p>
<p>(QĐ1/Thiếu tướng Nguyễn Hoà)</p>
<p>(Đoàn 232/ Thiếu tướng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Minh_Ch%C3%A2u_(th%C6%B0%E1%BB%A3ng_t%C6%B0%E1%BB%9Bng)">Nguyễn Minh Châu</a>)</p>
<p>Cánh thứ tư Bình Dương theo xa lộ Ðại Hàn vào Hàng Xanh.</p>
<p>(QĐ1/Thiếu tướng Nguyễn Hoà)</p>
<p>***</p>
<p>Một trung đoàn Bắc quân giao tranh ác liệt với quân dù tại ngã tư Bẩy Hiền và lăng Cha Cả, địch bị thiệt hại nặng tới 50% quân số, trong vòng 15 phút có 6 chiến xa bị Liên đoàn 81 Biệt cách dù bắn hạ, địch bị chận đánh tơi bời phải rút khỏi ngã tư Bảy Hiền. Ðịch tấn công trại Hoàng Hoa Thám, BTL Không quân,</p>
<p>1 giờ trưa ngày 30-4-!975 ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.</p>
<p>(Tổng hợp)</p>
<p><b>10 ngày cuối cùng của VNCH </b></p>
<p><b>Thứ tư 30 tháng 4 1975</b></p>
<p>Cuộc di tản vẫn tiếp tục cho đến rạng ngày 30-4, tuy nhiên con số người Mỹ còn lại ở Sài Gòn vẫn còn nhiều. Vào lúc 1 giờ 30 sáng, ngoại trưởng Kissinger ra lệnh cho tòa đại sứ Mỹ phải kết thúc việc di tản vào lúc 3 giờ 45 sáng, giờ Sài Gòn, và đại sứ Martin phải ra đi trên chuyến trực thăng trước chuyến bay cuối cùng.</p>
<p>Tuy nhiên đến 3 giờ 45 sáng, vẫn còn có trên 400 người tại tòa đại sứ Mỹ trong đó có cả đại sứ Martin. Vào lúc 4 giờ 20 sáng, đô đốc Gayler đã quyết định kết thúc cuộc di tản và ra lệnh:</p>
<p><i>Đây là lệnh của tổng thống Hoa Kỳ và lệnh này phải được chuyển lại bởi bất cứ phi công trực thăng nào liên lạc được với Đại sứ Graham Martin. Chỉ có người Mỹ mới được phép di tản và đại sứ Martin phải đáp chuyến trực thăng đầu tiên. Phi cơ chở đại sứ Martin phát đi ám hiệu “Tiger, Tiger, Tiger” để báo cho biết rằng ông Martin đã được di tản.</i></p>
<p>Vào lúc 4 giờ 58 sáng ngày 30-4, đại sứ Martin “bị hộ tống” lên trực thăng mang tên là Lady Ace 09. Một phân đội thủy quân lục chiến đã được lệnh “bắt giữ” ông đại sứ để “áp tải” lên phi cơ nếu ông ta còn chống lại lệnh di tản. Đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin đã cố tình cưỡng lại lệnh của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ nhưng ông lại là ân nhân của một số người Việt Nam. Vì nếu không có ông thì họ không có may mắn được di tản ra khỏi Sài Gòn trong những ngày cuối cùng của tháng 4-1975. Cuộc di tản vẫn tiếp tục cho đến 7 giờ 53 phút sáng ngày 30-4, chiếc trực thăng CH46 cuối cùng mới rời khỏi sân thượng của tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn mang theo Trung sĩ Juan Valdez, là người Mỹ sau cùng rời khỏi tòa đại sứ Mỹ.</p>
<p>Chuyến phi cơ trực thăng cất cánh khỏi sân thượng của tòa đại sứ Mỹ đánh dấu sự kết thúc của chính sách ủng hộ miền Nam Việt Nam của Hoa Kỳ qua 5 đời tổng thống: Eisenhower, Kennedy, Johnson, Nixon và Ford trong hơn 20 năm. Đối với người Mỹ, cuộc chiến tranh đã chấm dứt nhưng đối với một số người Việt Nam thì cuộc chiến vẫn chưa tàn.</p>
<p><i>Ngày 30- 4, một số chiến sĩ VNCH vẫn còn tiếp tục chiến đấu dù rằng trong vô vọng.</i></p>
<p>(Trần Đông Phong)</p>
<p><b>Dinh Độc Lập 11 giờ 15 phút</b><b> </b></p>
<p>Nhớ lại thời khắc lịch sử tại dinh Độc Lập, ông Nguyễn Hữu Thái kể:</p>
<p>(…) Khoảng 10 giờ 30, chúng tôi thấy một đoàn xe tăng ầm ầm tiến về phía dinh. <i>Tôi</i>, anh Tòng <i>đưa anh bộ đội (Bùi Quang Thận) vào thang máy, lên cắm cờ mặt trận trên nóc dinh Độc Lập</i>.</p>
<p>Sau đó, chúng tôi trở xuống tầng hai rồi cùng bộ đội đưa Tổng thống Dương Văn Minh, Thủ tướng Vũ Văn Mẫu và Tổng trưởng thông tin Lý Quý Chung ra đài phát thanh để tuyên bố đầu hàng. Về nội dung bản tuyên bố đầu hàng, tôi chứng kiến giữa ông Dương Văn Minh và ông Bùi Văn Tùng có lời qua tiếng lại. Ông Minh không muốn nêu chữ tổng thống, mà chỉ muốn dùng chữ đại tướng, vốn quen thuộc hơn. Ông Tùng cương quyết không chịu vì cho rằng, dẫu sao thì tướng Minh cũng đã là tổng thống chính quyền Sài Gòn và phải tuyên bố với tư cách đó mới ra lệnh được cho cả bên dân sự lẫn quân sự. (…)</p>
<p>Người dẫn chương trình phát thanh cách mạng đầu tiên trong ngày lịch sử đó chính là ông Nguyễn Hữu Thái. Dường như, tố chất của một cựu chủ tịch Tổng hội sinh viên Sài Gòn trải qua bao năm lăn lộn đấu tranh công khai đã được dồn nén và phát lộ đúng lúc.</p>
<p>Qua ông Thái: <i>Lần đầu tiên Sài Gòn được gọi là thành phố Hồ Chí Minh</i>.</p>
<p>(Trần Duy Hiển)</p>
<p><b>10 ngày cuối cùng của VNCH</b></p>
<p><b>Thứ tư 30 tháng 4 1975</b></p>
<p>Vào lúc 10 giờ 15 sáng ngày 30-4, Tổng thống Dương Văn Minh đã đọc nhật lệnh trên đài phát thanh Sài Gòn ra lệnh cho quân lực VNCH phải buông súng đầu hàng.</p>
<p>Thượng tướng Bắc Việt Văn Tiến Dũng, lúc đó đang nghe lời kêu gọi của Dương Văn Minh trên đài phát thanh Sài Gòn. Ngay sau đó, thay vì tiến về Sài Gòn để “bàn giao” như lời kêu gọi của Dương Văn Minh, ông Văn Tiến Dũng đã ra lệnh cho: Tất cả các quân đoàn, các vùng quân sự và mọi đơn vị các cấp phải tiến càng nhanh càng tốt đến các mục tiêu đã được chỉ định ở sâu trong các đô thị cũng như các tỉnh, kêu gọi địch quân đầu hàng, giao nạp vũ khí và<i> bắt giữ tất cả các sĩ quan từ cấp thiếu tá trở lên, </i>đập tan ngay tức khắc mọi mưu toan kháng cự<i>.</i></p>
<p>Ông Minh không thể nào biết được rằng trưa ngày hôm đó, Bộ chính trị đã gửi điện văn số 516/TV ra lệnh cho các cán bộ Chiến dịch Hồ Chí Minh phải “<i>Bắt địch đầu hàng vô điều kiện”</i>:</p>
<p><i>(,,,)Vấn đề hiện nay là bắt địch</i><b><i> </i></b><i>đầu hàng chứ không phải cử người</i><b><i> </i></b><i>thương lương với địch để ngưng bắn</i><b><i> </i></b><i>tại chỗ như có nơi đã làm (&#8230;) </i><i></i>(*** Đại thắng mùa xuân, trang 329-331).<i></i></p>
<p>Ngoài bức điện văn nói trên, chính Võ Nguyên Giáp cũng đã gửi bức điện văn số 151 ngày 30-4-1975 gửi cho “anh Sáu” tức là Lê Đức Thọ, “anh Bảy” tức là Phạm Hùng, “anh Tuấn” tức là Văn Tiến Dũng, “anh Tư” tức là Trần Văn Trà nội dung như sau:</p>
<p><i>(…) Có thể dùng Dương Văn Minh để kêu gọi các đơn vị của địch hạ vũ khí, nhưng không phải với tư cách tổng thống mà chỉ với tư cách một ngươi đã sang hàng ngũ nhân dân (…)</i></p>
<p><i>(…) Mười một giờ đã nhận được tin ta cắm cờ trên dinh Độc Lập (…)</i></p>
<p><i>Gửi các anh lời chúc đại thắng lợi.</i><i> </i>(*** Văn kiện đảng, trang 332-333)</p>
<p>Ngay buổi chiều ngày 30-4, đài phát thanh giải phóng loan báo kể từ nay, thành phố Sài Gòn được cải danh là “thành Phố Hồ Chí Minh”. Kể từ ngày hôm đó, Sài Gòn đã mất tên.</p>
<p>Kể từ ngày hôm đó, Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa không còn nữa.</p>
<p>(…)</p>
<p><strong>30-4-1975, Dương Văn Minh và tôi</strong></p>
<p>Sáng tinh mơ ngày 30-4, từ cơ sở chuẩn bị nổi dậy của sinh viên ở Đại học Vạn Hạnh, tôi chạy vội lên chùa Ấn Quang gặp vị sư lãnh đạo Phật giáo có ảnh hưởng lớn với nhóm Dương Văn Minh. Lâu nay tôi vẫn giữ mối quan hệ tốt đẹp với ông, tuy ông biết rõ tôi đến từ phía nào rồi. Tôi báo ngay: Tình hình cấp bách quá rồi, xin thầy làm sao tác động gấp nhóm ông Minh tìm cách <i>chấm dứt ngay cuộc chiến</i> <i>tàn phá Sài Gòn</i>. Các đường giây liên lạc với bên kia nay đã đứt hết rồi, không còn thì giờ đưa giải pháp này nọ nữa đâu…. Thượng tọa Trí Quang gọi điện thoại. Tôi nghe vị thượng tọa nói chuyện qua lại một hồi, rồi cho biết:</p>
<p>&#8211; Thái cứ yên tâm, Thầy không gặp được ông Minh, nhưng đã nói chuyện với ông Mẫu, có lẽ họ cũng nhanh chóng hành động theo hướng đó…</p>
<p>Tôi quay về Đại học Vạn Hạnh và khoảng hơn 9 giờ thì nghe tướng Dương Văn Minh tuyên bố trên đài phát thanh Sài Gòn: <em>(,,,). Tôi yêu cầu tất cả anh em chiến sĩ VNCH hãy bình tĩnh, không nổ súng và ở đâu ở đó (,,,). Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sĩ Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa Miền Nam ngưng nổ súng (,,,)</em></p>
<p>Tôi cùng nhà báo Nguyễn Vạn Hồng và giáo sư Huỳnh Văn Tòng vào dinh Độc Lập nhắm thuyết phục (!) những người quen biết trong chính quyền tướng Minh bàn giao chính quyền VNCH cho phía mặt trận dân tộc giải phóng một cách êm thắm nhất. Khoảng 10 giờ, chúng tôi lên chiếc xe Renault 8 màu xanh của Hồng. Nhà báo có giấy phép đặc biệt vào ra phủ tổng thống nên không có gì trở ngại. Tôi vội vàng đi tìm Lý Quý Chung, lúc đó là tổng trưởng thông tin duy nhất được chỉ định chính thức trong nội các mới. Chung đồng ý ra đài phát thanh ngay.</p>
<p>Chúng tôi đang loay hoay thì bỗng mọi người cùng hướng nhìn về đại lộ Thống Nhất. Một đoàn xe tăng rầm rộ tiến về hướng dinh. Cổng dinh bị húc đổ, đoàn tăng tiến thẳng đến thềm dinh. Tôi và anh Huỳnh Văn Tòng <i>giúp người bộ đội xe tăng cầm cờ giải phóng cắm lên nóc dinh</i>.</p>
<p>Tôi tháp tùng xe của chính ủy Bùi Văn Tùng cùng các nhà báo Tây Đức Von Boric Gallasch và Hà Huy Đĩnh đưa Tổng thống Dương Văn Minh, Thủ tướng Vũ Văn Mẫu và Tổng trưởng thông tin Lý Quý Chung ra đài phát thanh.</p>
<h5>(Nguyễn Hữu Thái)</h5>
<p><b>Thâm u bí sử</b></p>
<p>Không ai biết chính xác về thân phận của Thượng toạ Thích Trí Quang. Nhưng căn cứ tài liệu tiết lộ từ trong nước, sau ngày 30-4-1975 oan nghiệt, cuộc đời của Thượng toạ Thích Trí Quang đã bị các đồng chí của ông ta đem chôn vùi âm thầm vào trong bóng tối (1).</p>
<p>Theo bài báo “Con đường khúc khỉu” của Đỗ Trung Hiếu, một cán bộ cao cấp đặc trách ban Tôn giáo vận đặc khu Sài Gòn-Chợ Lớn, kể lại thì khi được lệnh vận động để thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam<i>. Ô</i>ng đã trình bày vai trò quan trọng không thể thiếu của thích trí Quang với các thượng cấp chỉ huy trực tiếp là Trần Bạch Đằng và Nguyễn Văn Linh. Nhưng Trần Bạch Đằng đã gạt phắt đi không đồng ý cho thích trí Quang tham dự vào tổ chức này. Vì theo nhận xét của Trần Bạch Đằng thì thích trí Quang thuộc loại “CIA Chiến lược” nên không dùng được. Nguyễn Văn Linh cũng đồng ý với Trần Bạch Đằng, cho rằng Trí Quang người đã dùng rồi nên không thể nào dùng lại được nữa.</p>
<p>(1) Trong đó có Nguyễn Hữu Thái.</p>
<p>Như Nguyễn Hữu Thái thổ lộ với đài BBC: Chính bản thân tôi một thời gian dài sau 30-4-1975 cũng từng bị gán cho là “cướp công cách mạng”, (…) dám có mặt tại dinh Độc Lập (…).</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Góp nhặt…ghi chép…</b></p>
<p>Đầu tháng 4-1975, người Mỹ quan tâm đến “Phương án Big Ming”. Tài liệu CIA cho biết ngày 2-4 trùm CIA Polgat tại Sài Gòn gửi một bức điện về tổng hành dinh CIA tại Washington đề xuất lật ông Thiệu để đưa ông Minh lên với chủ trương của ông ta là thành lập “chính phủ liên hiệp” với Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam.</p>
<p>Người trung gian giữa chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam và ông Minh là Dương Thanh Nhật, em ông Minh. Ông Mười Cúc Nguyễn Văn Linh giao nhiệm vụ cho cục trưởng cục địch vận Võ Văn Thời đưa Dương Thanh Nhật (tập kết) vào Nam để tiếp cận với Dương Văn Minh. Hiện tại nhóm ông Minh bắt đầu thảo luân về khả năng chấp chính để thành lập <i>chính phủ liên hiệp.</i> (…trích lục lại)</p>
<p>(Perfect Spy &#8211; Larry Berman)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Ngộ Không</b></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2016</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ngo-khng-tap-ghi-sau-40-nam-ky-12/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Kh&#244;ng :Tạp Ghi Sau 40 Năm &#8211; Kỳ 11</title>
		<link>https://t-van.net/ngo-khng-tap-ghi-sau-40-nam-ky-11/</link>
					<comments>https://t-van.net/ngo-khng-tap-ghi-sau-40-nam-ky-11/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 05 May 2016 13:02:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Ngộ Không: tạp ghi sau 40 năm]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không; tạp ghi sau 40 năm]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=26907</guid>

					<description><![CDATA[Bốn mươi năm Sài Gòn thất thủ: Chứng kiến chiến tranh Việt Nam kết thúc (Bài của Martin Woollacott trên báo The Guardian) Ngày tiếp theo sau khi Bắc Việt lấy được Sài Gòn, người ta đã nghe thấy từ lúc tinh mơ bài hát mừng chiến thắng. Trong đêm các “kỹ sư” của đội [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><strong>Bốn mươi năm Sài Gòn thất thủ: </strong><span style="font-weight: bold;">Chứng kiến chiến tranh Việt Nam kết thúc</span></p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2016/05/clip_image002-4.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/05/clip_image002_thumb-150x150.jpg?strip=all" alt="clip_image002" width="464" height="309" border="0" hspace="12" /></a></p>
<p><em>(Bài của Martin Woollacott</em></p>
<p><em>trên báo The Guardian)</em></p>
<p>Ngày tiếp theo sau khi Bắc Việt lấy được Sài Gòn, người ta đã nghe thấy từ lúc tinh mơ bài hát mừng chiến thắng. Trong đêm các “kỹ sư” của đội quân chiến thắng đã dựng loa phóng thanh lên và từ khoảng 5 giờ sáng phát không ngừng điệu nhạc giải phóng khô khốc. Đó là ngày 1-5- 1975, khi ánh mặt trời chiếu xuống phố phường gần như trống rỗng của Sài Gòn mà thời khắc đó trước kia đã bắt đầu xe cộ rộn rịp và đường phố huyên náo dần lên. Nhưng nay hầu như chẳng ai biết phải làm gì, đi làm hay không, còn chợ búa cò bày bán không, hay có khi một cuộc đọ súng khác sẽ vẫn có thể bùng nổ ra nữa. Qua bao năm tháng chiến tranh, chiến cuộc chẳng mấy khi dính tới Sài Gòn, ngoài thỉnh thoảng có vài cuộc pháo kích bằng hỏa tiễn, một số vụ đánh bom nhà hàng, hay vụ xâm nhập nhỏ gây sửng sốt vào thành phố, thậm chí vào ngay khuôn viên tòa đại sứ Hoa Kỳ trong trận tấn công vào dịp Tết 1968. Trong cơn khiếp hãi qua đi Saigon cảm thấy như đã thoát khỏi điều tồi tệ nhất. Thực tế với điệu nhạc giải phóng vang vọng đường phố, một lần nữa Sài Gòn đã thoát dẫu ít người biết rằng Bắc Việt đã chuẩn bị sẵn sàng bắn nát thành phố với pháo binh hạng nặng và chiến đấu theo cách vốn dĩ của họ “theo từng khối” nếu gặp phải hàng phòng thủ và sức đối kháng mạnh hơn. Nếu tổng thống cuối cùng của Nam Việt Nam, tướng Dương Văn Minh không ban lệnh cho quân đội hạ vũ khí, Sài Gòn có thể lâm vào tình trạng xấu thực sự. Người Việt đã nói tếu rằng Hà Nội lấy Sài Gòn &#8220;mà không chạm tới một cái bóng đèn&#8221; hay nói sái đi: Thương vong nặng nề cho cả đôi bên, nhưng giao tranh vừa đến thành phố thì dừng.</p>
<p>Ở trong thành phố, mọi người lo lắng tình trạng vô luật pháp và nạn cướp bóc. Stewart Dalby của tờ Financial Times và tôi đang đi bộ dọc đường Tự Do, một trong những con phố chính của Sài Gòn, thì một người đàn ông mặc áo bỏ ngoài quần đứng chắn lối chúng tôi. Anh ta đưa tay vào dây thắt lưng để lộ ra một khẩu súng, và liền đó thản nhiên nhấc chiếc máy ảnh đắt tiền ra khỏi cổ Dalby. Sự thể như thế đủ để thuyết phục mọi người rằng thà để họ nắm quyền kiểm soát càng sớm bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Với một số khác như chúng tôi chẳng hạn, chẳng có lý gì phải lo như vậy, những lo âu vốn bắt nhịp với những xung động của thời thế đó. &#8220;Nỗi sợ Cộng sản đã làm Sài Gòn mất hết vẻ thông thái vốn có&#8221;, một phóng viên đã viết thế. Nhiều người tìm cách ra đi trên những chuyến không vận đầu tiên bằng máy bay trực thăng, mọi người sẽ được đưa đi hết vào phút cuối cùng. Đây là một lời hứa mà họ đã không giữ được. &#8220;Tiếng hét hoảng loạn của người di tản trên sóng vô tuyến CIA vào ngày cuối cùng giờ đây vẫn còn lay động lương tâm tôi&#8221;. Frank Snepp, một nhân viên của chi nhánh CIA tại Sài Gòn, đã viết</p>
<p>kể lại vài năm sau đó. Trước phút cuối một ngày, từ một chỗ ngồi thuận lợi dưới mái vòm của Caravelle, một trong hai khách sạn sang trọng của thành phố, tôi và các phóng viên khác chứng kiến cảnh hàng người ngày càng dài thêm, đang chờ đợi trong tuyệt vọng tại một điểm rước đi trên nóc của một tòa nhà gần đó. Như một vở bi kịch câm không lời, trong vòng quay đập nhòe đi của cánh quạt máy bay, chúng tôi chợt dần hiểu rõ ra rằng không thể nào có được nhiều máy bay trực thăng Mỹ hơn nữa. Tại tòa đại sứ Mỹ, sự tuyệt vọng như thể chết lặng đi. Đám đông khóc lóc bao vây nơi này, trong lúc thủy quân lục chiến cố kéo vào một người có quyền thế,</p>
<p>một khuôn mặt trắng bệch cầu cứu và đẩy ra khỏi những người không được chọn.</p>
<p>Ngày hôm sau, đoàn xe tăng tiến vào trước, chiếc nào chiếc nấy nòng súng chĩa dài ra như cái mũi của Pinocchio, hướng đến trung tâm của thành phố và dinh tổng thống. Chiến tranh thì có cái gì là quy củ và có một số chiếc tăng bị lạc đường. Chúng tôi đã nhìn thấy một chiếc tăng quay đầu lui lại, bánh xích của nó rít lên ghê tai, sau đó tiến vào một bệnh viện Việt Pháp cũ (Grall), một nơi khó có vẻ gì là một mục tiêu quân sự được. Nhưng rồi đoàn tăng cũng tập hợp đủ tại cổng dinh và sau đó băng qua cổng, chiếc đi đầu mang theo <i>James Fenton</i> vừa có vẻ hân hoan vừa bồn chồn, ông ta là một thi sĩ cũng là một ký giả, <i>người có thể được xem như là thông tín viên cuối cùng của tờ Washington Post còn ở lại Sài Gòn</i>. Khi đoàn quân mới tiến vào thì những người lính cũ của quân đội VNCH tản mác đi dần, có khi họ phất tay với vẻ thất vọng cay đắng lần chót. Chúng tôi thấy có một đơn vị binh lính cố tình bắn ra tất cả các trái hỏa châu</p>
<p>đỏ, trắng lên trời, trước khi giải tán.</p>
<p>Những người lính mới, mà người ta đã sớm nhận ra cách gọi họ bằng chữ “bo doi” (người lính đi bộ), mặc một thứ đồng phục màu xanh lá cây trơn hơi mềm và đội mũ giống như mũ Tây thuộc địa cũ. Họ trông có vẻ nhẹ nhõm, chiến tranh đã kết thúc, họ đã không chết, và đã góp một phần làm nên chiến thắng này. Vài ngày sau có một cuộc diễn binh để rồi sau đó nhiều người trong số họ rời bỏ Sài Gòn. Những người ở lại có vẻ nhã nhặn và gần như có cái gì đó ngập ngừng do dự. Họ cho rằng hễ cứ người ngoại quốc da trắng thì là người Nga. Một số có vẻ như được mở mắt trước sự thịnh vượng của Sài Gòn, họ bị cuốn hút bởi đồng hồ vốn chỉ các cấp tá quân đội Bắc Việt mới có được và thích nhất là các đồng hồ có ngày tháng.</p>
<p>Họ gọi chúng là những &#8220;đồng hồ có cửa sổ&#8221;.</p>
<p>Nhưng họ cũng đã chứng tỏ đã được huấn luyện kỹ. Khi một vài tay súng còn kháng cự bắn vào một đơn vị quân đội Bắc Việt gần công viên giữa dinh tổng thống và nhà thờ gạch đỏ của Sài Gòn (nhà thờ Đức Bà), các phóng viên đã nhìn thấy sự sắp xếp đội ngũ gần như tức thì. Những người lính một phút trước đó còn cười nói, hút thuốc liền nằm sấp xuống vừa thận trọng bắn lại vừa tổ chức đội ngũ tiến gần đến những kẻ tấn công. Điều đó nhắc ta nhớ tới một thời chiến tranh dài ngày. Bắc Việt đổ vào Sài Gòn mọi thứ mà một quân đội hiện đại muốn có. Họ có dồi dào lượng xe bọc thép và pháo binh tất cả mọi thứ ngoại trừ không lực. Trong khi đó</p>
<p>Nam Việt Nam đã hầu như đã chẳng để lại tí nào.</p>
<p>Việt Nam là một đấu trường quân sự trong nhiều năm qua. Cuộc chiến đã choán quá nhiều trong tâm khảm của mọi người đến nỗi đôi khi ta có thể nói tất cả những gì không đúng ở nơi khác thì lại thành đúng ở đây. Thực tế rõ ràng là cuộc chiến của Mỹ ở Việt Nam là một sai lầm vì nó có tính cách hời hợt, <i>theo đuổi một cách hung hăng và rồi bỏ rơi một cách phũ phàng</i>. Đó</p>
<p>là những nét hiện rõ của cuộc chiến này. Chuyện miền Nam Việt Nam sụp đổ đã là một “Biên niên sử” của một thất bại được báo trước.</p>
<p>Richard Nixon và Henry Kissinger biết cuộc chiến đã hết đường nên đồng tình rút quân theo Hiệp định hòa bình Paris năm 1973. Họ biết điều đó có nghĩa là miền Bắc sẽ giành chiến thắng, nhưng họ muốn thế, theo như lời của Kissinger: Đó là một &#8220;khoảng lặng vừa đủ&#8221; (nguyên văn: “decent interval”) độn vào giữa đủ cho họ rút lui rồi miền Nam Việt Nam mới thua trận.</p>
<p>Các phóng viên báo chí quyết định ở lại Sài Gòn là người Pháp và Nhật Bản, cộng với một vài người Anh và ước chừng một hoặc hai người Mỹ giả vờ làm người Canada. Dù không chắc gì không gặp nguy hiểm, nhưng trong vai trò nhà báo chúng tôi mới tường trình cuộc chiến được dễ dàng hơn. Trước kia chúng tôi dễ được ưu tiên chở đi khắp nơi bằng máy bay Mỹ và máy bay trực thăng, được lo chỗ ăn, chỗ ở và được lính Mỹ cũng như được binh sĩ Nam Việt Nam bảo vệ. Bạn có thể tới mép rìa của cuộc chiến ở phía bắc, gần một nơi có tên mỉa mai là Khu phi quân sự rồi trở lại Sài Gòn cùng ngày tắm mát dưới vòi sen và uống trà vào buổi chiều…<br />
Bây giờ đột nhiên chúng tôi thấy mình trong một tình trạng lửng lơ. Nguyên một hệ thống hỗ trợ sống còn cho chúng tôi với những phi công, những người giúp đỡ, các nhân viên phân tích tin người Mỹ. Tùy viên quân sự sứ quán Úc bỗng biến đâu mất. Nhiều mối liên hệ người Việt đã bỏ đi hoặc ẩn mặt. Các tài xế và người thông dịch cũng thế (có một số người nằm vùng, hay là</p>
<p>đặc công thì họ vẫn còn đó, bây giờ họ lộ diện ra, nghĩ cũng phải thôi)</p>
<p>Bắc Việt cũng có một ít nhân viên nói thạo tiếng Anh và Pháp lắm lúc thật cần nhưng rất hiếm. Có một tình thế cần thiết như vậy, ngay sau khi thành phố thất thủ, đó là lúc một đơn vị làm phim của quân đội Bắc Việt xông vào văn phòng của CBS và yêu cầu thực hiện cho họ một cảnh quay trận đánh cuối cùng tại cầu Tân Cảng ngay bên ngoài thành phố. Họ vã mồ hôi và giận dữ, dường như họ đã đến cây cầu quá muộn để có được những thước phim riêng cho họ, vì vậy họ muốn thu đoạt hết những gì đoàn làm phim truyền hình Mỹ đã quay. Tôi đã chứng kiến cuộc đối đầu đó và bước ra gặp một đại tá Bắc Việt ôn hòa hơn mà chúng tôi đã có gặp trước rồi. Ông ta làm dịu tình hình và ra lệnh cho đồng đội ông bỏ đi. Trưởng văn phòng nhẹ nhõm và mời ông uống chút gì. Ông nhã nhặn từ chối một cách duyên dáng và nói thêm, với nụ cười gượng: Để sau, chúng ta sẽ còn nhiều thời gian vui vẻ. Có lẽ chẳng ngạc nhiên gì là chúng tôi chẳng còn gặp ông ta để mà vui vẻ, và vội cuốn đi bỏ lại đó các vật dụng chả đáng gì.</p>
<p>Như một sự an bài không hiểu nổi, về phía Nam Việt Nam, cấp số đạn dược, lượng các phi vụ và các phụ tùng cũng như quân trang quân dụng cứ bị cắt giảm từng tháng. Vào cuối tháng 8 năm 1974, Thiếu tướng John E Murray người có trọng trách giữ nguồn cung cấp cần thiết cho quân đội Nam Việt Nam duy trì chiến đấu, đã viết thẳng ra rằng: <i>Nếu không còn nguồn hỗ trợ đích thực, QLVNCH sẽ thua, nếu không tuần tới, tháng tới, thì sẽ là vào năm tới</i>.</p>
<p>Nhưng nếu Nam Việt ở trong một tình trạng bấp bênh, thì Bắc Việt cũng có những âu lo sâu xa của riêng họ. Dù đảng và chính phủ lúc nào cũng đóng một vai diễn sặc mùi tuyên truyền rằng họ tin chắc chiến thắng sẽ đến và thống nhất được đất nước, nhưng trong thâm tâm họ lại không chắc như vậy. Họ cũng gặp vấn đề về nguồn viện trợ vũ khí khi Nga và Trung Quốc cũng đã cắt giảm nguồn cung cấp sau Hiệp định hòa bình Paris. Và, giống hệt như Nam Việt Nam, <i>họ rất lo về độ tin cậy của các đồng minh của họ</i>. Như George J Veith đã viết trong một cuốn sách lịch sử quân sự của ông về những năm cuối cùng của cuộc chiến: <i><a href="http://pham-v-thanh.blogspot.com.tr/2014/04/thang-tu-en.html">Tháng Tư đen</a></i>, rằng Hà Nội đã cảm thấy rằng <i>họ chỉ có một cơ hội quá mong manh để giành chiến thắng.</i></p>
<p>Một kế hoạch của miền Bắc đã hình thành cho một chiến-dịch-hai-năm dự trù sẽ mang lại chiến thắng vào năm 1976. Tuy nhiên, những cuộc triệt thoái bỏ trống trận địa ở Tây Nguyên đã quá thuận lợi khiến họ đã dẹp bỏ ý định ban đầu, vào năm 1975. Mọi việc đã đi đến kết thúc trong vòng có hai tháng. Chiến thuật sai lầm của ông Thiệu đã gây ra bao điều tồi tệ, nhưng miền Nam bại trận quá sớm sự thực vẫn do thiếu nguồn dự trữ và bị cắt giảm hỏa lực. Rồi quân Bắc Việt tiến gần về Sài Gòn. Ở cao nguyên, Huế, Đà Nẵng và những nơi khác nữa đã xảy ra những cảnh hoảng loạn và rối loạn khủng khiếp, dù nhiều trường hợp bất tuân thượng lệnh và đào ngũ, nhưng vẫn có nhiều đội quân còn chiến đấu dũng cảm và nhiều gương anh hùng. Nhưng Nam Việt Nam, hoặc là một con thực thể bù nhìn, hoặc là bất cứ điều gì đi nữa, đã biến mất trong làn khói tan của chiến trận. Cả thế giới vô cùng kinh ngạc.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Trên đường đi, chúng tôi có đi ngang qua sứ quán Anh, và tôi nhận thấy một đội lính canh gác đã hạ lá quốc kỳ Anh xuống và dùng nó làm một tấm bạt để che nắng. Nghẹn ngào và ngạc nhiên, một cơn giận dữ đột ngột thôi thúc, tôi bước ra khỏi xe, sải bước qua họ, và nhấn mạnh rằng họ nên trả nó trở lại vào cột cờ. Giả như tôi là người Nga hoặc Đông Đức và tưởng tượng tôi có tí quyền, ít nhất tôi cũng gấp lại nó lại. &#8220;Cái gì vậy?&#8221;, tôi chợt tự hỏi. Nói cho cùng, nó chỉ là một mảnh vải. Nhưng sự thật là tất cả chúng ta, trong một mức độ nào đó hay vì một cái gì khác đi nữa, vẫn còn đọng lại trong tâm khảm cuộc chiến vừa qua nên sự kiện này đã biểu hiện trái ngược tinh thần đó và gây cảm xúc quá mạnh.</p>
<p>Quả là như vậy, mặc dù một vài trong chúng tôi đã từng ủng hộ mạnh mẽ chiến tranh. Trước khi Saigon thất thủ, Philip Caputo, một nhà báo Mỹ, người đã từng là một sĩ quan thủy quân lục chiến tại Việt Nam và đã viết một cuốn sách rất hay về những kinh nghiệm của mình, đã mạnh miệng tự hỏi liệu những gì đang xảy ra có na ná như việc đoàn quân Lê dương rút ra khỏi vòng ngoài của đế chế La Mã hay không. Mà Mỹ là một hiện thân cuối cùng, có phải sắp kết thúc? Một cái gì đó đã bị hạ bệ và cái khác không phải thuộc về &#8220;chúng ta&#8221; sẽ điền thế?</p>
<p>Phác họa ra 2 hình ảnh song song như thế thì sáo mòn, một thứ tự huyễn lãng mạn có vẻ khó chịu khi ngoái nhìn lại quá khứ. Người Việt, Bắc và Nam, đang trong khoảnh khắc lịch sử đặc biệt của họ, còn chúng tôi thì ngồi vòng ngoài và trưng dẫn Edward Gibbon. (1)</p>
<h5>(Martin Woollacott)</h5>
<p>&nbsp;</p>
<p>(1) Edward Gibbon là một sử gia người Anh với tác phẩm: <i>The History of the Decline and Fall of the Roman Empire</i> (&#8220;Lịch sử suy tàn và sụp đổ của đế chế La Mã&#8221;).</p>
<p><b>Ngày thứ 51 : 29-4-1975</b><b></b></p>
<p><b>Sài Gòn di tản</b></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Sáng ngày 29-4, Bắc quân pháo 130 ly và hỏa tiễn 122 ly vào phi trường Tân Sơn Nhất.</p>
<p>Chiều 29-4, toà đại sứ Mỹ bắt đầu di tản bằng trực thăng, sau 19 giờ bay liên tục 80 trực thăng đã chở đi được hơn 1.000 người Mỹ và khoảng 6.000 người Việt Nam ra ngoài hạm đội.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>(Phạm Bá Hoa)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Những ngày cuối VNCH</b></p>
<p>Ngày 29-4-1975 Bắc quân điều động 2 sư đoàn thuộc Quân đoàn 1 để chiếm Bến Sắn, từ đó chọc thủng mặt đông của tỉnh Bình Dương và mặt tây của tỉnh Biên Hòa.</p>
<p>Lực lượng phòng thủ vòng đai xa của Sài Gòn, có 3 sư đoàn: Sư đoàn 18 BB do tướng Lê Minh Đảo chỉ huy, trấn giữ phía bắc Biên Hoà và Sài Gòn. Sư đoàn 25 BB do tướng Lý Tòng Bá chỉ huy, tại phòng tuyến, Hậu Nghĩa, Long An. Sư đoàn 5 BB do tướng Lê Nguyên Vỹ chỉ huy, phụ trách phòng tuyến Bình Dương. Quanh vòng đai Sài Gòn, chiến trận khốc liệt đã diễn ra tại Long An, Hậu Nghĩa, Bình Dương, Biên Hòa. Tại Long An, các đơn vị Sư đoàn 22 BB đã giao chiến quyết liệt với hai trung đoàn Bắc quân muốn chọc thủng phòng tuyến thị xã Tân An.</p>
<p><em>(Vương Hồng Anh)</em></p>
<p><b>&#8211; :</b> 29-4, 10 giờ sáng, Quân đoàn III báo cáo Bộ tham mưu tiểu khu Hậu Nghĩa thất thủ.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>10 ngày cuối cùng của VNCH </b></p>
<p><b>Thứ Ba 29-04-1975</b></p>
<p>11 giờ 30 phút trưa <i>ngày 29-4-1975</i>, ông Vũ Văn Mẫu chính thức nhận chức thủ tướng. Ngay sau đó ông lên đài phát thanh tuyên bố, yêu cầu Mỹ rút khỏi Nam Việt Nam trong vòng 24 tiếng đồng hồ kể từ…5 giờ sáng ngày 29-4-1975.</p>
<p>Sáng ngày 29-4, trong khi bản thông cáo của chính phủ Dương Văn Minh đòi người Mỹ phải triệt thoái nhân viên của DAO được Thủ tướng Vũ Văn Mẫu đọc đi đọc lại nhiều lần trên đài phát thanh thì trên đài phát thanh của quân lực Hoa Kỳ tại Việt Nam được gọi tắt là AFRS, vào buổi trưa một ngày cuối tháng 4 nóng bức, người xướng ngôn viên đọc đi đọc lại nhiều lần lời nhắn: “Mother wants you to call home”<i> </i>(Mẹ muốn con gọi về nhà) và người dân Sài Gòn được nghe bản nhạc I’m Dreaming of a White Christmas<i> </i>(Tôi mơ một Giáng Sinh đầy tuyết trắng) phát đi phát lại liên tục trong ngày hôm đó.</p>
<p>Lời nhắn và bản nhạc này là mật hiệu báo cho tất cả mọi người Mỹ và các phóng viên ngoại quốc tại Sài Gòn biết rằng Chiến dịch Frequent Operation IV đã khởi đầu và tất cả mọi người phải đến những điểm hẹn đã ấn định sẵn từ trước để được di tản ra khỏi Việt Nam.</p>
<p>(Trần Đông Phong)</p>
<p><b>Những ngày cuối VNCH</b></p>
<p>Tại phòng tuyến Củ Chi cách Sài Gòn 60 km, Bắc quân tung 1 sư đoàn chính quy có 1 trung đoàn chiến xa yểm trợ tấn công ồ ạt vào các vị trí của quân trú phòng thuộc Sư đoàn 25 BB. Từ hầm chỉ huy, Chuẩn tướng Lý Tòng Bá trực tiếp điều động các tuyến chống trả các đợt xung phong biển người của địch quân.</p>
<p>Đêm 29-4, bộ tư lệnh Sư đoàn 25 phải bỏ phòng tuyến Củ Chi rút về Hóc Môn. Chuẩn tướng Lý Tòng Bá, và một thượng sĩ cận vệ đã phải thay nhau làm khinh binh với chiến thuật cá nhân để thoát khỏi vòng vây của Bắc quân. Cuối cùng vị tư lệnh Sư đoàn 25 bị lọt vào tay địch (1) khi ông và người cận về gần đến Hóc Môn.</p>
<p>(1) Người bắt tướng Lý Tòng Bá là tướng Hoàng Minh Thảo, tư lệnh mặt trận Ban Mê Thuột. Tướng Thảo là người mang Sư đoàn 316 bí mật xuất phát từ Nghệ An vào Vùng 2 chiến thuật để tăng cường cho Quân đoàn 3 đánh Ban Mê Thuột.</p>
<p><em>(…)</em></p>
<p><b>Ngồi ở quán nhậu kể chuyện súng đạn</b></p>
<p>Anh đi chiến dịch Ban Mê<br />
Thuột xong vài bữa rồi về với em</p>
<p><b>Quân sử ngoại truyện</b></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em>&#8211; Tấm hình quen thuộc chụp hàng người leo thang lên chiếc trực thăng mà theo nguồn ở ngoài nước ghi chú là ở…trường đua Phú Thọ. </em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&#8211; Sách <i>Đại thắng mùa xuân </i>1975<i> </i>trang 153 in ảnh chú thích:</p>
<p>Cuộc tháo chạy trên nóc tòa đại sứ quán Mỹ tại Sài Gòn.</p>
<p>&#8211; Theo Don Southerland, ảnh được chính ông chụp vào buổi chiều ngày 29-4 tại <em>một trạm CIA ở sô 22 đường Gia Long. </em>Đài RFA phỏng vấn nhà báo Mỹ Don Southerland trong đó ông lý giải chuyện Phạm Xuân Ẩn cứu bác sỹ Trần Kim Tuyến.</p>
<h6>Dan Southerland là người chứng kiến phút giây đó:</h6>
<h6>Đêm 29-4 trước khi các trực thăng chuẩn bị rời Việt Nam, tôi đang liên lạc với các trụ sở truyền thông nước ngoài thì Ẩn nói có một vấn đề hệ trọng là cần tìm cách cho bác sỹ Tuyến ra đi. Tôi sau khi liên lạc với một giới chức cao cấp của tòa đại sứ Mỹ và được bảo là hãy nói cho ông Tuyến hay rằng có thể đến 22 Gia Long để được bốc đi khỏi Sài Gòn.</h6>
<p><b>Những ngày cuối VNCH</b></p>
<p>Tại tuyến phòng thủ Trảng Bom do một đơn vị thuộc Sư đoàn 18 phụ trách, vào 7 giờ 30 sáng ngày 29-4, nhiều vị trí bị Bắc quân chọc thủng và đến 10 giờ phòng tuyến này hoàn toàn bị tràn ngập. Một số đơn vị của Sư đoàn 18 rút về phía nam căn cứ Long Bình.</p>
<p>Lữ đoàn 257 Thủy quân lục chiến án ngữ mặt bắc Long Bình cũng bị tấn công. 11 giờ sáng Bắc quân tấn công vào phòng tuyến nam Long Bình, Sư đoàn 18 đã đẩy lùi được nhiều đợt xung phong của các trung đoàn Bắc quân.</p>
<p><em>(…)</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em><b>Trạm CIA ở sô 28 đường Gia Long</b></em></p>
<p>Theo một nguồn khác bức ảnh trên của Hubert van Es, người Hoà Lan, phóng viên thông tấn UPI với chi tiết: Ảnh được chụp tại building <i>số 28 đường Gia Long</i> chiều ngày 29-4-1975.</p>
<p>(Nhà số 28 đường Gia Long là 1 trong 13 bãi đáp tại nhiều nơi ở Sài Gòn-Chợ Lớn).</p>
<p>Theo Bob Caron, một trong hai phi công cho biết trong số 12 người trong trực thăng có 3 người đi đầu <em>bước lên trực thăng</em> là người Việt Nam: Trung tướng Trần Văn Đôn (1), Bác sĩ Trần Kim Tuyến (2) và Bác sĩ quân y Huỳnh Minh Tòng.</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2016/05/clip_image004-1.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image004" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/05/clip_image004_thumb-50x50.jpg?strip=all" alt="clip_image004" width="208" height="137" border="0" hspace="12" /></a></p>
<p>Nhà số 28 đường Gia Long</p>
<p>(ảnh Hubert van Es)</p>
<p>Vào năm 1992 khi tôi bắt đầu viết cuốn <a href="http://www.viet-studies.info/PXAn_NguyenThiNgocHai.htm"><i>Phạm Xuân Ẩn:</i> <i>Tên người như cuộc đời</i></a>, tôi đã phỏng vấn ông về ngày 30-4 ở Sài Gòn<b> </b>vì sao ông lại rơi vào cảnh đó, khi mà ông ta là người đứng đầu bảng danh sách số người mà Mỹ phải đưa đi?</p>
<p>Phạm Xuân Ẩn tả lại: Người cháu ông Tuyến, một viên thiếu tá, chở ông Tuyến đến nhà tôi bằng xe Honda. Ông Ẩn liên lạc được với một nhà báo (Hubert van Es). Nhờ thế ông biết còn chuyến di tản cuối cùng của CIA tại ngôi nhà số <i>28 của CIA ở đường Gia Long.</i></p>
<h6>Khi xe Renault của ông tới nơi, cánh cửa tòa nhà đã đóng lại. “Đề nghị cho gọi ông Polgar” (3). Ẩn yêu cầu được gặp người sếp của ông. Nếu gặp được Polgar chắc chắn ông ta biết được chuyện của ông Tuyến, sẽ giải quyết ngay. Vừa may lúc người lính gác mua đồ ăn về, cánh cửa hé ra. Thế là ông Ẩn một tay giữ chặt cửa, tay kia đẩy thật mạnh bạn mình vào lọt.</h6>
<h6>Sự thể diễn ra đúng như báo chí đã nói rồi. Chi tiết này sau tôi biết thêm được do đọc báo trong bài người ta phỏng vấn tướng Đôn. Tấm hình minh chứng phút cuối cùng đó của phóng viên hãng UPI Hubert van Es được sử dụng 20 năm, gần đây tác giả mới lấy bản quyền.</h6>
<p>(Nguyễn Thị Ngọc Hải)</p>
<p>(1) Ông Trần Văn Đôn không sao đi được mấy chuyến trước. May nhờ cô bí thư của Polgar tên Hà Hiếu Lang nhường chỗ cho gông Đôn.</p>
<h6>(2) Tối 1-4, Bác sỹ Trương Khuê Quang, giám đốc trường quốc gia nghĩa tử, người trung gian của ông Tuyến đưa ông Tuyến đến gặp Thượng tọa Thích Trí Quang. Đêm mùng 3 rạng mùng 4, ông Thiệu bắt nhốt hết những phần tử “âm mưu đảo chính”, trong đó có ông Tuyến&#8230; Ông Tuyến nghĩ rằng Thiệu bỏ chạy sớm, những người thân cận ông Thiệu sẽ thả ông ra. Nhưng mãi khi ông Hương lên rồi, ngày 26 mới thả. Ông Tuyến yên trí CIA phải đưa mình đi.</h6>
<p>(3)<b> </b>Thomas Polgar, chỉ huy cơ quan tình báo trung ương Mỹ (CIA) cuối cùng còn ở Sài Gòn trong những ngày cuối của chiến tranh Việt Nam năm 1975. Polgar đã chỉ huy việc đưa công dân Mỹ và nhân sự của chính quyền VNCH lên máy bay để đi Mỹ. Chỉ ít phút trước khi Polgar hủy chiếc máy điện tín mà CIA sử dụng để liên lạc với Washington, trước khi lên trực thăng rời Sài Gòn, Polgar dừng lại một chút để làm nhiệm vụ cuối, đánh bức điện với nội dung:</p>
<p>Đây là thông điệp cuối cùng từ văn phòng Sài Gòn.</p>
<p><b>&#8211; : </b>Ngày 30-4-1975, từ nóc sân tòa đại sứ Hoa Kỳ:</p>
<p>Lúc 4 giờ sáng, Đại sứ Graham Martin rời Sài gòn sau khi đã di tản 1.373 nhân viên Hoa Kỳ, 5.595 người Việt Nam và 815 người các nước khác ra hạm đội đậu ngoài khơi.</p>
<p><b>&#8211; : </b>Có giả thuyết cho rằng sở dĩ ông đại sứ G. Martin nhiệt tâm trong vấn đề di tản này vì ông có một người con trai là binh sĩ thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đã tử trận tại Khe Sanh vào năm 1968 trong cuộc đụng độ với quân Bắc Việt. (The Fall Of Sai Gon &#8211; Komori Yoshihisa)</p>
<p><strong>Tái chiếm trường Bộ Binh Long Thành</strong></p>
<p><strong>Sáng 29-4-1975 tôi nhìn về hướng căn cứ Long Bình, có vài cột khói đen bốc lên. Tôi lấy cái PRC25 rà những tần số quen. Tôi bắt được giọng nói của đại tá Hiếu, Sư đoàn 18 đang lún càng tại Trảng Bom! Đại tá Hiếu hẹn gặp nhau tại cổng số 10 căn cứ Long Bình.</strong></p>
<p><strong>Muốn về Long Bình tôi phải tạt qua ngã Hố Nai. Pháo hai bên đều tập trung trên vùng này.</strong> <strong>Vậy là, đội pháo ta đi! Chúng tôi đi như những cái thân robot, đạn nổ đằng trước, đạn nổ đàng sau, đạn nổ bên hông, đạn nổ chụp trên đầu. Chúng tôi không nghe gì cả, cứ thế mà đi, hướng Long Bình, Tôi vào tới vòng rào căn cứ Long Bình vào lúc buổi chiều. Tôi là dân vùng 2 không biết cái căn cứ này có bao nhiêu cổng, đi tìm cái cổng số 10 thì biết nó ở đâu? Tôi thấy một doanh trại có cái bảng Bộ chỉ huy liên đoàn 32 Biệt động quân bỏ trống, vậy là thày trò tôi nhào vào đấy hạ trại. Cơm nước xong thì trời đã tối. Chúng tôi ngủ như chết. </strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Đến ba giờ sáng 30-4-1975, truyền tin dựng tôi dậy…</strong></p>
<p><strong>– Có tin từ liên đoàn ra lệnh cho chúng ta rút về Sài-Gòn!</strong></p>
<p><strong>Tôi uể oải ngồi dậy,</strong></p>
<p><strong>– Mẹ kiếp! Về Sài Gòn! Về Sài Gòn làm cái con mẹ gì đây!</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Xa cuối trời, hỏa châu le lói hướng Sài Gòn.</strong> <strong>Tôi ra lệnh cho tiểu đoàn chuẩn bị lên đường.</strong> <strong>Cầu xa lộ đã bị xe tank chận đường, chúng tôi rẽ vào thành phố Biên Hòa.</strong> <strong>Thành phố vắng lạnh buồn thiu. Tôi cho đơn vị đi dọc theo đường xe lửa, ngang qua những căn nhà tôle ổ chuột, một vài khuôn mặt buôn phấn bán hương thò ra, ánh đèn vàng hiu hắt..</strong></p>
<p><strong>Chúng tôi cúi đầu lầm lũi mà đi. Chúng tôi đi qua cầu Đôi rồi đến cầu Hang, tôi cho đơn vị dừng lại tấp vào những cái quán bỏ trống bên đường. Từng đoàn quân xa, chiến xa có biệt động quân và lính dù tùng thiết đi qua mặt chúng tôi, hướng về Sài Gòn. </strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Tôi cho quân tiếp tục lên đường. Khi còn cách Thủ Đức chừng vài cây số, người lính có radio loan tin Tổng thống Dương Văn Minh đang kêu gọi đầu hàng! </strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>(Vương Mộng Long)</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Gia Kiệm &#8211; Hố Nai</b></p>
<p>Xe tăng lính bộ đôi ông Hồ từ Long Khánh qua Gia Kiệm, Hố Nai định ra xa lộ Biên Hòa đã bị chặn đánh tại Tam Hiệp trước khi có lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh. &#8220;Chiến lũy Tam Hiệp&#8221;, phải coi như thế, bởi những người Bắc di cư đã chạy một lần rồi, bây giờ họ không còn nơi nào để chạy nữa, bởi một số lính nhẩy dù mà đơn vị đã tan hàng từ đêm 29-4 và họ cũng chạy lạc về đây. Họ phối hợp cùng nhân dân tự vệ và dân chúng Tam Hiệp, dùng máy cầy ủi đất đắp mô ụ nghênh địch vì tất cả đang ở cuối đường.</p>
<p>Mẩu chuyện này, được xem những thước phim của đài truyền hình Pháp ghi lại..</p>
<p>Trận chiến thật ngắn ngủi nhưng rất anh dũng. Đài truyền hình Pháp công bình ghi nhận rằng, chỉ còn quân dân miền Nam chiến đấu với lính bộ đôi ông Hồ từ Bắc kéo vào. Xe tăng chúng phải dừng lại. Chúng bắn thẳng vào chiến lũy. Đạn T54 khạc tới tấp, khạc không thương xót.</p>
<p>Quân dân ta chống trả kịch liệt. Những em nhỏ cỡ 10 tuổi bám sát các anh lính dù để được sai bảo. Một em trúng đạn. Hai anh lính dìu em vào chỗ an toàn, băng bó cho em. Em bé khóc. Khuôn mặt hai anh lính ưu tư. Một hình ảnh đẹp nhất, nhân bản nhất của người lính quốc gia. Cuộc chiến vẫn tiếp tục. Những người lính dù phóng lên phía trước. Đạn thù bắn như mưa. Lính dù của ta gục ngã trên những vũng máu. Trận chiến kết thúc mau lẹ. Họ chết hết.</p>
<p>Xe tăng chúng nghiến lên xác lính của ta, san bằng mô ụ. Chúng ngạo nghễ bò ra xa lộ và tiến vào Sài Gòn. Bất ngờ, đến cây cầu nhỏ gần nhà máy xi măng Hà Tiên, xe tăng bị lính chi khu Thủ Đức chặn đánh. Súng phóng lựu bắn cháy một T54. Chiến trận cũng không thể kéo dài. Bộ đôi ông Hồ làm chủ tình hình và kết thúc lẹ. Chúng khẩn trương chạy vào thành phố.</p>
<p>Những người lính nhẩy dù và chi khu Thủ Đức đã hy sinh vào buổi sáng 30-4. Họ không cần ai mạc mặt, gọi hồn cả&#8230;</p>
<p>(Duyên Anh)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Những ngày cuối VNCH</b></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Trong khi căn cứ Long Bình đã bị pháo kích liên tục. Tại căn cứ kho đạn Thành Tuy Hạ, nhiều vựa chứa đạn trong kho đã bị pháo kích và vòng đai phòng thủ kho đạn đã bị khoảng 2 tiểu đoàn Bắc (1) quân bao vây.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em>(…)</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>(1) Sư đoàn 304 thuộc Quân đoàn 2 từ Vùng 1 chiến thuật (VNCH) kéo về đánh Long Bình.<b></b></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Cầu Đồng Nai xa lộ Biên Hòa</b></p>
<p>Những người lính thủy được giao cho sứ mạng đánh sập cầu Đồng Nai trên xa lộ Biên Hòa để ngăn chặn xe tăng lính bộ đội ông Hồ tiến vào Sài Gòn. Những người lính thủy đã hoàn tất nhiệm vụ lúc 9 giờ ngày 30-4-1975. Cả tấn TNT gài kín gầm cầu, bọc kín chân cầu. Xe tăng bộ đội ông Hồ từ Long Khánh bò vào, đã bị quân dân Tam Hiệp đón đánh. Trận chiến hào hùng và lãng mạn này kết thúc mau lẹ nhưng đã làm chậm bước tiến của địch. Xa lộ lúc ấy, hai bên cầu Đồng Nai, nườm nượp dân chúng chạy giặc và đông đầy binh sĩ tan hàng. Dân chúng Sài Gòn chạy xuôi. Dân chúng Biên Hòa chạy ngược. Cầu Đồng Nai nghẹt người và xe cộ. Cùng với ông già, bà lão, phụ nữ, nhi đồng. Những anh lính thủy giữ trọng trách đánh sập cầu còn nhìn rõ xe tăng bộ đội miền Bắc. Sức công phá của TNT gài dưới cầu sẽ làm tung bay cốt sắt xi-măng, phạm vi cả mấy trăm thước. Nếu thế dân sẽ bị chết, bị thương vô kể.</p>
<p>Những người lính thủy quay giang đỉnh về lại căn cứ. Cầu Đồng Nai không bị đánh sập. Nếu là Mỹ, cây cầu sẽ bị đánh sập. Nếu là bộ đội ông Hồ, cây cầu sẽ bị đánh sập. Cứu cánh biện minh cho phương tiện. Nhưng với người lính miền Nam, cây cầu không bị đánh sập. Hình như ít ai biết chuyện này. Chúng ta thua trận, còn vì tình thương và lòng nhân đạo nữa.</p>
<p>(Duyên Anh)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Lạc đạn</b></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>4 giờ sáng ngày 29-4, Bắc quân pháo kích nhiều trái đạn đại bác 130 ly và hỏa tiễn 122 ly vào khu vực phi trường Tân Sơn Nhứt. Cuộc pháo kích này đã gây tử thương 2 Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ, Hạ sĩ Darwin Judge và Hạ sĩ Charles <i>McMahon</i>, vừa mới được đưa đến Sài Gòn cách đó 10 ngày để phụ trách về an ninh cho chiến dịch di tản. Hai binh sĩ này là 2 người Mỹ cuối cùng bị thiệt mạng trong lịch sử Hoa Kỳ tham chiến tại Việt Nam.</p>
<p>Một điều đáng chú ý là dường như “McMahon” là một cái tên định mệnh:</p>
<p>Người Mỹ đầu tiên bị chết tại Việt Nam là Trung tá Peter Dewey, nhân viên của cơ quan tình báo OSS, ông ta đã nhiều lần lên tiếng phản đối người Pháp và tiếp xúc trực tiếp với các đại diện của Việt Minh, do đó đã bị người Pháp yêu cầu phải rời khỏi Sài Gòn. Vào ngày 26-9-1945, Trung tá Dewey phải trở về Ấn Độ, tuy nhiên vì máy bay bị trục trặc, ông từ phi trường Tân Sơn Nhất lái xe trở về Sài Gòn ăn trưa và đã bị tự vệ của Việt Minh tưởng lầm là người Pháp cho nên bắn chết tại cầu McMahon, (sau này là cầu “Mạc-má-Hồng” hay câu Công Lý).</p>
<p>Đúng 30 năm sau, người Mỹ cuối cùng bị chết tại phi trường Tân Sơn Nhất vì pháo kích của Bắc Việt vào sáng ngày 29-4-1975 là một hạ sĩ quan Mỹ cũng mang tên là…McMahon.</p>
<p>(Trần Đông Phong)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Cuộc vượt thoát trước ngày 30-4-1975 (1)</b></p>
<p>Mặc áo lính ăn cơm chính phủ, không giữ được bờ cõi, phải bỏ nước mà chạy thì thật chẳng có gì hay ho để kể lại, cho nên, đã nhiều lần, tôi tính viết lại chuyện bỏ chạy của tôi, nhưng nghĩ</p>
<p>lại, đành bỏ luôn. Bây giờ, tuổi đã gần 60, tôi đành viết lại một lần cho…bõ ghét.</p>
<p>Trước đó một tháng, Phi đoàn 114 tôi từ Nha Trang được lệnh bỏ thành phố bay về Phan Rang. Thành thật mà nói, Thành phố Nha Trang lúc ấy chưa hề có một thằng nón cối dép râu, chưa hề bị một trái pháo của giặc. Nhưng kinh nghiệm những ngày máu lửa vừa qua cho tôi biết là cái thành phố thân yêu của mình đang giẫy chết. Chết như thế nào thì tôi không biết, vấn đề chỉ còn là thời gian. Lúc ấy, dân quân di tản từ Tuy Hòa, Quy Nhơn, Pleiku đã tràn ngập thành phố. Lính không còn cấp chỉ huy, lại có súng ống trong người cho nên Nha Trang chẳng bao lâu biến thành một thành phố vô trật tự, coi như bỏ ngỏ và gần như hỗn loạn. Hàng quán đóng cửa, trường học biến thành chỗ tạm trú cho dân tị nạn, dân chúng ít có ai dám ra đường.</p>
<p>Quân cảnh ngày thường thì đầy dẫy khắp nơi, nhưng những lúc ấy không hiểu bận chuyện gì lại thấy mất biệt (chuyện này dễ hiểu). Ngay cả anh em lính tráng chúng tôi đi đâu cũng phải đi thành nhóm để đề phòng bất trắc&#8230;</p>
<p>Một vài ngày sau, một sáng cuối tháng 3, chúng tôi vừa vào phi trường thì không trở ra được nữa. Một đơn vị biệt động quân (không rõ số quân) từ Vùng 2 rút về đòi vào phi trường Nha Trang nhưng bị ngăn lại bên ngoài cổng. Thế là hai bên gườm nhau. 8 giờ sáng, chúng tôi được lệnh quyền phi đoàn trưởng là thiếu tá Oanh cho cất cánh đem tàu về Phan Rang.</p>
<p>Chúng tôi vừa taxi ra phi đạo thì trực thăng cũng cất cánh ào ào. Lên trời, không hiểu sao tôi có cảm giác đây là lần cuối cùng mình còn thấy thành phố Nha Trang thân yêu, nên tôi bay thấp, lượn nhiều vòng trên thành phố&#8230;Ở dưới, thiên hạ hốt hoảng chạy tới chạy lui trong thành phố bằng đủ thứ phương tiện, từ xe gắn máy đến xe Lambretta, đến xe nhà binh lớn nhỏ đủ cỡ. Tôi không biết thiên hạ chạy đi đâu và để làm gì nhưng tôi thông cảm. Nếu tôi là họ, tôi cũng chỉ biết làm như thế thôi.</p>
<p>Trưa đó, chúng tôi đáp Phan Rang, ai nấy lo để chuẩn bị tử thủ căn cứ này. Nhưng không hiểu sao, Sư đoàn 2 Không quân lại được lệnh di tản, đem tàu về Sài Gòn, Sư đoàn 6 Không Quân sẽ chịu trách nhiệm phòng thủ căn cứ.</p>
<p>(Trường Sơn Lê Xuân Nhị)<b> </b></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Tôi…đào ngũ (1)</b><b><i></i></b></p>
<p>Hùng mỗi ngày hỏi tôi mấy bận: Chừng nào mình tái chiếm lại Nha Trang? mà tôi đâu phải là Ban 3 Bộ tổng tham mưu. Mỗi sáng Hùng lên Tân Sơn Nhất trình diện, mặc xi-vin ra đường ôm theo cái túi đựng quân phục, vào đến căn cứ an toàn rồi mới chịu thay vào. Những ngày chót ở Nha Trang, lính không quân ưa bị lính các đơn vị khác gây. Tôi đeo ba lô chạy bộ còn Hùng không những chạy lén trước mà còn gầm thét ồn ào mấy trăm cây số giờ ở phía trên đầu. Tôi nói: Ở Sài Gòn, máy bay lên chưa có ai bắn với theo đâu. Hùng nói: Thì cũng phải. Tụi nó ác thật, đi không chở người, tôi thấy nguyên một tàu tụi nó chở toàn những gì đâu!<i> </i>Cái đêm Hùng vào trại ngủ, đã định ôm theo đứa con trai nhỏ nhưng sợ cô vợ mè nheo bèn vào có một mình. Sáng ra, đơn vị chạy, Hùng lên tàu theo, nhặt được một khẩu P38 si kền nhưng bỏ lại cả vợ lẫn con. Được mấy bữa, đài vẫn nói Nha Trang Việt cộng chưa vào đến, đang còn bỏ ngỏ, Hùng ngẩn ngơ đòi tình nguyện,…<i>trong đoàn hùng binh có tôi đi hàng đầu</i> để trở về.</p>
<p>***<b><i></i></b></p>
<p>Về đến Sài Gòn, ông dượng trao cho tôi một cái radio và nhiệm vụ phải nghe đài tiếng Anh của quân lực Mỹ 16/24. Khi nào đài phát Bing Crosby hát bài <i>I&#8217;m dreaming of a white Christmas</i>, sau đó có dự báo thời tiết, câu: &#8220;Nhiệt độ Sài Gòn đang 105 Fahrenheit và vẫn còn tiếp tục gia tăng&#8221; thì phải gọi cả nhà. Tôi bị ông dượng tôi làm khó, đã không đi đâu xa được mà còn lúc nào cũng phải ôm một cái đài. Sài Gòn vào tháng 4 thì lúc nào nhiệt độ cũng quanh quẩn 100 Fahrenheit, không 104 thì 106 cho nên lại cũng phiền. Ngồi quán nước thì nhạc ầm ĩ, ra xe hủ tíu thì xe cộ lại ồn ào. Nhưng trong khi chờ đợi chiến dịch Frequent Wind mở màn để di tản những người có sẵn trên danh sách Mỹ thì vỡ tuyến Phan Rang, tướng Nghi bị bắt sống.</p>
<p>Tôi mới nói với bố: Con có đường ra nước ngoài. Trúng ngay ý. Ông bảo bố đã lo rồi, đợi có chuyến chở người Hoa trốn lính (!) từ Vũng Tàu ra biển gặp tàu lớn chở thẳng đến Hồng Kông.</p>
<p>Thì tôi cũng đang…đào ngũ hay trốn lính đây.</p>
<p>(Đỗ Kh)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Cuộc vượt thoát trước ngày 30-4-1975 (2)</b></p>
<p>Về Sài-Gòn, sáng chúng tôi vào trình diện rồi nhận tờ giấy phép 24 tiếng về nhà, hôm sau lại trở lại, bổn cũ soạn tiếp&#8230;Cứ như bình thường thì đây là một dịp cho tôi được ăn nhậu thả dàn nhưng hoàn cảnh đất nước lúc ấy, tôi chẳng còn lòng dạ nào. Hàng ngày đi vào phi trường, thấy người di tản ở đầy khắp mọi nơi, phi trường, toà đại sứ v…v&#8230; Gặp nhau ai cũng nói đến chuyện đi Mỹ, chẳng ai nói đến chuyện gì khác.</p>
<p>Một buổi trưa, sau khi đi trình diện ở phi trường Tân Sơn Nhất, vừa về đến nhà thì tôi nghe nhiều tiếng nổ to lớn lạ thường và rất gần, đến từ hướng phi trường Tân Sơn Nhất. Tôi đang ở trọ một người quen ở Gia Định, cũng gần phi trường Tân Sơn Nhất nên hoảng hốt leo lên sân thượng quan sát. Lúc ấy tôi cũng chưa biết việc tụi nón cối dép râu lái A37 của ta tấn công dinh Độc Lập nên thấy mấy chiếc A37 bay thấp gần đó, tôi nghĩ là phi cơ ta lên tìm pháo. Lại nghe tiếng đại liên phòng không bắn khắp nơi, tôi hốt hoảng đưa mắt tìm. Nhìn về phía bến Bạch Đằng, tôi giật mình kinh hãi khi nhận ra đại liên phòng không tứ hướng bến Bạch Đằng đang bắn lên cả máy bay C130 Mỹ đang chở người di tản. May mà chiếc máy bay không hề hấn gì nhưng tôi biết anh phi công chắc phải teo chim cả tháng sau mới trở lại bình thường được.</p>
<p>Mò chiếc Honda, xe bị xì lốp. Phóng ra ngoài đường, nhìn thấy thiên hạ ào ạt chạy lên chạy xuống càng làm tôi rối ren thêm. Tôi cảm thấy yên tâm khi còn nhìn thấy hình bóng lính mình và cảnh sát ở nhiều chỗ. Mẹ, như thế là tốt rồi, nón cối dép râu có thể về bến Bạch Đằng nhưng ở đây còn yên. Tôi đứng ở một góc đường và bắt đầu thò tay đón xe Lam và gặp ngay được, nhưng một điều ngạc nhiên khác mà tôi không hề nghĩ tới. Không hiểu vì một lý do&#8230; kỳ thị nào đó, tất cả những chiếc xe Lam chạy qua đều làm ngơ, không chịu dừng lại để đón tôi. Có thể họ sợ bộ đồ lính tôi đang mặc, cũng có thể vì giờ phút ấy không còn ai muốn đón khách nữa.</p>
<p>Tôi đứng chưng hửng chừng một phút đồng hồ rồi quyết định rằng, bằng mọi giá, tôi phải vào phi trường Tân Sơn Nhất. Tôi muốn đón xe để đi nhưng không ai chịu ngừng thì tôi đành phải&#8230; cướp xe vậy. Thành thật mà nói, từ thuở sinh ra và lớn lên, tôi chưa hề làm một việc phạm pháp, chưa hề ăn cướp ăn giật của ai một đồng bạc, nhưng trong hoàn cảnh này, tôi không còn một sự lựa chọn nào khác hơn. Tôi sẽ làm bất cứ chuyện gì để thoát khỏi Sài Gòn. Quyết định đến với tôi thật dễ dàng, dễ dàng như hút thuốc ăn cơm.</p>
<p>(…)</p>
<p><b>Tôi…đào ngũ (2)</b><b><i></i></b></p>
<p>Ông cậu, trước giờ trong họ nổi tiếng là sát cộng, công tác với tình báo Mỹ trong chương trình Phượng Hoàng, gọi tôi ra một chỗ và trao thêm cho một trọng trách khác. Ông đưa tôi khẩu súng ngắn, bảo: Khi mình đã lên tàu rồi, thì chỉ có đi, không đi là bắn. Lần này là tàu biển, đang đổ dầu ở cảng Sài Gòn. Tôi cũng &#8220;OK&#8221; (sau mấy ngày liền phải nghe đài Mỹ 16/24) tuy không biết là phải bắn ai. Khẩu súng này lại bảnh, của Tây Đức, là loại tôi chưa từng thấy, hàng hiếm CIA 9mm chứ không phải hàng thông dụng của cảnh sát Smith &amp;Wesson38, quân đội Colt45. Tôi mang về phòng tháo gỡ ra và lau chùi, cây súng lạ như đã nói nên đỏ cả mặt mãi tôi mới ráp lại được, may mà không có ai chứng kiến. Giờ thì tôi đã có đài, lại có súng.</p>
<p>Ông cậu đi ngã DAO bằng máy bay chẳng ai hay và chẳng phải ra lệnh ra hiệu cho tôi bắn ai hết. Bố con tôi sang nhà một người bạn ông ở Đa Kao. Bố tôi thì thận trọng, nhà của ông bạn này chính là điểm hẹn của chương trình di tản và có đường dây điện thoại riêng đến thẳng sứ quán, ở ngay đó thì khỏi phải đi đâu và không sợ bị mất liên lạc với… Hoa Kỳ. <b><i></i></b></p>
<p>Giới nghiêm được ban hành vào 8 giờ tối. Sài Gòn khoá cửa lại, lính tan hàng không còn vào được. Tôi ăn cơm xong thì súng nổ đì đoẹt cạnh ngay nhà. Tôi leo lên sân thượng xem, có người cháu của gia chủ vội vã vác cây Garand lên nạp đạn. Anh này sinh viên Võ Bị, mấy hôm trước về cùng với quân trường từ Đà Lạt, còn mang theo cả khẩu súng. Giờ anh ở phía bên trong &#8220;tuyến&#8221;, còn ngoài kia họ đang bắn với quân cảnh đang gác chốt, họ là những người đi lạc, không còn đơn vị và chạy hụt hơi về Sài Gòn lại bị ngăn. Tôi đứng ở tầng 4, xem màn ciné dưới đường này thích thú, bắn qua bắn lại chẳng biết phải trái phía bên nào.</p>
<p>Tôi chịu khó dậy sớm, đang ăn sáng ở quán trước nhà và mơ màng Photomic chứ không phải</p>
<p>mơ màng nhà thổ thì Khang xuống tới.<br />
&#8211; Ông già mới gọi điện thoại về. Mình đi.<i> </i><br />
Tôi nhìn cái đài vẫn còn chịu khó mang theo và đặt ở trên bàn. Chẳng lẽ tôi lỡ mất dịp chính tai tôi được nghe bài hát và câu mật hiệu.<br />
&#8211; Không phải đi với Mỹ mà mình đi đường khác. Bố nói bố về đến là đi.</p>
<p>(…)</p>
<p><b>Những chuyến “bay đen” </b></p>
<p>(black airlift)</p>
<p>Ngày 16-4, Đại sứ Graham Martin ra lệnh cho một nhân viên thân tín của mình là John Hogan bí mật dàn xếp với CBS những chuyến “bay đen” (black airlift) bằng máy bay của Air America, trong mấy ngày kế tiếp để di tản những phóng viên ngoại quốc trong trường hợp khẩn cấp.</p>
<p>(Đinh Từ Thức)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Cuộc vượt thoát trước ngày 30-4-1975 (3)</b></p>
<p>Thế là tôi mở quai đeo súng, thò tay nắm chặt cán cây P38. Một chiếc xe Lam khác chạy tới, tôi bất ngờ phóng ra chận trước đầu chiếc xe, tay kia rút súng chỉa thẳng vào mặt người tài xế. Cha tài xế xe Lam hốt hoảng thắng gấp chiếc xe. Tôi vòng sang phía bên hông, phóng lên ngồi bên cạnh tài xế. Tôi chỉa họng cây súng P.38 còn mới toanh vào mặt người tài xế, gằn giọng :<br />
&#8211; Ông chở tôi vào phi trường Tân Sơn Nhất, giá bao nhiêu tôi cũng trả. Ông không chở, tôi bắn chết ông liền tại chỗ rồi lấy xe này đi vào&#8230;</p>
<p>Cha tài xế bị một vố bất ngờ, miệng ú ớ không nói lên lời, tay run cầm cập, không có được một phản ứng. Cho rằng thằng này muốn làm khó, tôi gõ mũi cây súng vào thái dương thằng chả nghe đến đốp một phát, đổi liền cách xưng hô:</p>
<p>&#8211; Đm mày không chở tao nổ một phát mày chết liền tại chỗ rồi lấy xe mày đi cũng vậy thôi.</p>
<p>Tôi nói thế và tôi sẽ làm thật, và làm mà không hề do dự. Trong hoàn cảnh tôi lúc ấy, tôi không có thì giờ để đi hù dọa ai cả. Lần này thì cha tài xế gật đầu lia lịa, rồ ga sang số. Tay thằng chả run quá làm chiếc xe Lam nhào lên ụp xuống, xém ủi cả vào lề. Tôi ngồi xích ra ngoài một chút, một tay giữ vững thành xe, tay kia vẫn hườm hườm cây súng, để ngay trên vai cha tài xế&#8230;<br />
Chạy được một lúc, tôi ôn tồn cắt nghĩa cho cha hiểu tại sao tôi phải có những hành động như thế. Chả cũng nói chuyện với tôi và lần lần, 2 người trở nên thông cảm. Tôi xin lỗi cha tài xế và bảo tôi sẽ “bồi thường” cho chả 2 ngàn đồng. Cha tài xế chở tôi vào ngay trước phi trường Tân Sơn Nhất. Tôi đưa tiền, vỗ vai chả cười cười&#8230;</p>
<p>Khi tôi tới phi trường thì mọi nơi trở lại yên tĩnh. Lúc ấy tôi mới được biết là chẳng có nón cối dép râu nào chiếm thành phố cả và những tiếng nổ vừa rồi là kết quả của một cuộc dội bom của tụi nó dùng A37 của mình. Vào trong phi trường, tôi đi lang thang, ngồi nhậu vớ vẩn…</p>
<p>(…)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Chữ nghĩa của một thời chinh chiến </b></p>
<p><b>ở quán nhậu</b></p>
<p>Trước 75, miền Nam có những câu “thành ngữ”</p>
<p>về thuốc lá xuất xứ từ quán nhậu, như:</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><i>Bastos </i>: Bộ anh sợ tôi ói sao.</p>
<p>(…) với đám bạn bè trong câu lạc bộ chừng vài tiếng đồng hồ thì pháo lại ào ào rớt xuống phi trường. Lần này cường độ nghe kinh khiếp hơn cả những lần trước. Kinh nghiệm cho tôi biết tối nay Tân Sơn Nhất sẽ ăn pháo nặng. Thế là tôi lại dọt về nhà. Việc đầu tiên tôi làm là giắt cái xe Honda đi vá vì để lâu nên bị xẹp lốp. Tối hôm đó, quả đúng như tôi nghĩ, phi trường bị ăn pháo nặng. Tôi ngồi trên sân thượng nhà mình nhìn từng quả đạn bay về phi trường mà lòng đau như cắt. Đó là buổi tối cuối cùng của tôi nơi thành phố thân yêu.</p>
<p>(…)</p>
<p><b>Tôi…đào ngũ (3)</b><b><i></i></b></p>
<p>Sứ quán Đại Hàn đã có vài ba trăm người đợi sẵn, dân sự và đàn bà con nít cả Hàn lẫn Việt. Bố tôi dẫn anh em tôi vào bàn giấy ông đại sứ, ông khép cửa lại, chính tay ông lấy ảnh dán vào giấy thông hành của sứ quán, tự tay đóng mộc và ký tên. Tôi thấy ông liều thật, làm giấy không phải giả nhưng mà bất hợp pháp tuy ông chỉ mới biết bố tôi qua loa, sau mới có vài tháng nhậm chức. Ông gia ân này vì sự gửi gấm của ông đại sứ tiền nhiệm, một vị mà bố tôi đã có giao du khá thân tình. Hạm đội Đại Hàn đang có mặt ở Tân Cảng, mang muối gạo viện trợ gì sang và di tản Hàn kiều về nước, anh em tôi cầm giấy trên tay là giả thuộc dạng này. Nhưng trước tiên, họ phải chở dân từ miền Trung tị nạn đến Phú Quốc định cư và bố tôi quyết định: Chưa rõ ra sao, cứ lên tàu trước đã, đến Phú Quốc hãy hay.<b><i></i></b></p>
<p>Đoàn năm bảy cái xe buýt Mỹ được toà đại sứ Đại Hàn mượn. Đây là cổng vào Tân Cảng, cửa xe buýt mở, một anh quân cảnh trang phục tề chỉnh leo vào. Bằng ấy người trên xe đứng ngồi, anh nhìn ngay vào tôi mà hỏi giấy. Tôi đẫn người ra không có phản ứng. Tưởng là xe sứ quán bảng quân đội Mỹ đã an toàn, tôi còn đang ú ớ chưa ra một chữ tiếng Anh thì ông nhân viên sứ quán đi kèm đã nhanh trí…ngoại giao. Ông lôi từ đâu ra một nắm tiền, giấy 500 Trần Hưng Đạo dúi vào tay anh quân cảnh. Anh này một tay còn cầm súng, một tay không đủ để cầm tiền, cả tập rơi ra sàn vương vãi, anh lom khom nhặt nhét vào túi trên, túi dưới, túi quần ngang. Cả đời anh có lẽ chưa bao giờ thấy nhiều tiền như vậy, nghệch cả mặt mày. Anh lùi ra khỏi cửa phất</p>
<p>súng ra hiệu với các bạn gác ở bên dưới.</p>
<p>Đoàn xe vào cảng có tiền mở đường máu qua khỏi trạm 2, trạm 3, đỗ trước bến, anh quân cảnh còn đứng đó nhìn trước nhìn sau bảo vệ cho mọi người xuống. Ở cầu tàu, cặp sẵn chiếc dương vận hạm, cả một trung đội thuỷ quân lục chiến Triều Tiên chắn hàng ngang. Mấy anh này dang chân đứng tấn, súng gác trên hông, mắt nhìn thẳng, dây quai nón sắt ở dưới cầm như là duyệt binh lên truyền hình vào ngày Quốc khánh.</p>
<p>Suốt mấy tháng trời…đào ngũ không có giấy tờ hợp pháp, tôi đã len lén đi qua bao nhiêu là trạm kiểm soát ngày đêm. Nay qua trạm gác có quân cảnh hướng dẫn nên sướng tê&#8230;</p>
<p><b>Kế hoạch di tản </b><b></b></p>
<p>Kế hoạch di tản được dự trù: đầu tiên bằng máy bay thương mại, tiếp là máy bay quân sự, kế tiếp là tầu thuỷ, cuối cùng là trực thăng bốc người ra Hạm đội 7.</p>
<p>Kế hoạch (Operation Frequent Wind) đầu không thực hiện được. Kế hoạch thứ nhì, chuyên chở bằng phi cơ vận tải quân sự C130, bắt đầu từ ngày 21-4, người di tản được đưa tới tập trung tại trụ sở DAO ở Tân Sơn Nhất, rồi lên máy bay ra đi, cứ nửa tiếng một chuyến. Chỉ có thể hoạt động ban ngày, ban đêm giới nghiêm. Để có sẵn người đi cho những chuyến bay sớm, mỗi tối có khoảng từ 200 đến 600 người dự trù cho hôm sau, ngủ tại các văn phòng ở DAO.</p>
<p>Về kế hoạch ba, có mấy tầu vận tải và xà lan đậu sẵn ở bến Tân Cảng, gần cầu xa lộ Sài Gòn-Biên Hoà. Kế hoạch này chỉ thi hành được một nửa. Cho đến 26-4, có hai chiếc chở nhân viên toà đại sứ cùng với thân nhân và những người quen thuộc, ra đi suông sẻ. Phần còn lại không thực hiện được trọn vẹn, vì ngày 29-4, khu Tân Cảng không còn đủ an ninh.</p>
<p>Kế hoạch cuối cùng, trực thăng vận, bắt đầu chuẩn bị vào lúc tổng thống Thiệu tuyên bố từ chức, tối 21-4: Xếp đặt 13 bãi đáp trên nóc nhà tại nhiều nơi ở Sài Gòn-Chợ Lớn.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Cuộc vượt thoát trước ngày 30-4-1975 (4)</b></p>
<p>Sáng hôm sau, tôi thức giấc sớm, phóng Honda vào lại phi trường.</p>
<p>Vào trong phi trường thì pháo địch bắt đầu rớt ào ạt, càng lúc càng mãnh liệt. Pháo rớt khắp nơi và quan trọng hơn cả là rớt rất là chính xác. Tôi biết tiền sát viên của giặc nhất định phải nằm đâu đó trong phi trường cho nên chúng nó mới bắn như để như thế. Cứ trong một tình trạng bình thường thì kiếm thằng chó đẻ này không khó, nhưng trong hoàn cảnh này thì tiền sát viên giặc có thể là bất cứ ai, từ anh lính mang cái băng đen với hai chữ “QC” đang đứng gác ngay cổng, cho đến ông thiếu tá không quân đang lái xe jeep chạy vòng vòng trong phi trường.</p>
<p>Và thiên hạ bắt đầu tháo chạy. Tôi dùng chữ thiên hạ đây nghĩa là từ lính cho đến quan, từ dân bay cho đến dân không phi hành, chẳng còn ai làm việc nữa mà chỉ lo chạy. Tôi vào phi đoàn, phòng làm việc bỏ ngỏ, không còn một cảnh tượng nào đau lòng hơn. Đi lang thang, tôi tình cờ đụng đầu đại úy Hưởng. Hai anh em gặp nhau mừng quýnh. Chúng tôi bàn nhau một lúc rồi quyết định ra phi đạo tìm một chiếc tàu bay cất cánh. Cất cánh đi đâu thì chưa biết nhưng phải</p>
<p>thoát ra khỏi cái phi trường Tân Sơn Nhất này cái đã.</p>
<p>Tôi phóng lên chiếc xe Honda rồ máy, Đại úy Hưởng ngồi sau. Tôi phóng Honda chạy giữa những trái pháo rớt, giữa giòng xe cộ, giòng người chạy tới chạy lui khắp nơi. Đang chạy, tôi nhìn thấy một người mặc áo bay, tướng lùn lùn mập mập đang vừa chạy vừa thở, vai ôm một cái túi nhà binh lớn. Tôi tới gần và nhận ra đó là Thiếu tá Lý Bửng, trưởng phòng hành quân</p>
<p>của phi đoàn tôi. Thế là tôi rà tới, thắng xe sát bên ông thầy, la lớn:<br />
&#8211; Thầy chạy đi đâu, lên xe đi với tôi.</p>
<p>Nhìn thấy chúng tôi, thiếu tá Bửng mừng quýnh người, liền phóng lên xe. Nhưng vì ông thầy phóng quá nhanh làm chiếc xe Honda bị đổ nghiêng sang một bên. Tôi dựng xe lên đạp máy nhưng không sang số được vì cần đạp chân bị quẹo cong. Chuyện nhỏ. Tôi bảo mọi người ngồi yên trên xe rồi bước xuống, móc cây P38 ra, trở ngược, giộng báng súng xuống cái cần để chân. Chuyện này tôi làm hoài mỗi khi đi nhậu bị té xe nên chỉ sau chừng vài cú đập, cái cần để chân lại thẳng xuống như cũ. Tôi lại lên xe, đạp máy, lần này sang số ngon lành.</p>
<p>(…)</p>
<p><b>Tôi…đào ngũ (4)</b><b><i></i></b></p>
<p>Vào lúc 5 giờ, khi đi ngang bến Sài Gòn vào thứ bảy vẫn ngàn hoa trên đường, một người lính trẻ đào ngũ rời xa quê hương. Người lính chiến…đào ngũ ấy là tôi! Lần đi khi nắng lưng đôi, chiều 26 tháng 4, chúng tôi là những người ra đi đầu tiên.</p>
<p>Hạm đội Hàn quốc gồm chiếc LST 810 chở tị nạn miền Trung đi trước, tàu tôi LST 815 cũng là soái hạm đi nhì. Chiếc thứ ba, tàu yểm trợ kỹ thuật, còn đang ở Tân Cảng thì bị pháo. Đạn trúng tàu sơ sài, không chết anh Đại Hàn nào. Dấu hiệu pháo địch đã về đến vòng đai, đã cách mấy giờ tàu, tôi không được chứng kiến, chỉ thấy trên tàu tôi nhốn nháo, đại đội thuỷ quân lục chiến từ trong khoang chui lên vào vị trí tác chiến, thuỷ thủ đoàn lăm lăm quay Bofor và 12 ly7 hướng bờ. Đêm như mực thì thầm nhưng hành lang ra Vũng Tàu vô sự.</p>
<p>2 ngày hôm sau khi Nguyễn Thành Trung dắt A37 vào ném bom Tân Sơn Nhất thì chúng tôi đã bập bềnh ngoài khơi ngang Côn Sơn. Biển lặng lờ nên mọi người ngủ ngay ở trên boong đón gió là ngay đêm đầu tiên căng thẳng trên sông, ông đại đức với bà ni cô vẫn trùm mền thực thi bài tập của bí quyết phòng the bất kể các thí chủ nằm bên. Cặp này đã lớn nhưng nhìn nhau mặn nồng như trai gái dậy thì, bà vãi thì mỗi lần di chuyển hai tay phải ôm đầu chỉ sợ mái tóc giả bị gió cuốn. Có lẽ trên đất liền họ chưa từng có cơ hội gần gũi, lên đến tàu họ là 2 người nếu không được cách mạng giải phóng, thì cũng đã được hoàn cảnh giải phóng.</p>
<p>***</p>
<p>Tối ngày 29, vào lúc phần lớn những lời đồn này đã có căn cứ hẳn hòi thì tàu tôi đến Phú Quốc. Tôi ngủ say dậy trễ, nên cái giờ trọng đại của lịch sử tôi chỉ mở được có một mắt. Mọi người lao xao tụ tập quanh mấy cái đài mở to khọt khẹt. &#8220;Ông Minh tuyên bố đầu hàng rồi!&#8221;<i> </i><br />
Người ta nhắc nhau, nhắc đi nhắc lại. Tưởng ông tuyên bố tử thủ Sài Gòn, tái chiếm…Quảng Trị, di tản xuống Quân khu 4 lập phòng tuyến mới, dời chính phủ kháng chiến về Phú Quốc&#8230; thì mới lạ chứ đầu hàng thì ai cũng đã chờ đợi. Mấy nhà quân sự nghiệp dư ở trên tàu tính kế hộ tướng Nam, đánh Kampuchia hướng tây và giữ phà Mỹ Thuận ở miệt bắc. Tôi chấp hành nghiêm chỉnh quân lệnh cuối cùng của tổng tư lịnh quân lực là giữ nguyên vị trí&#8230; đang nằm.</p>
<p>(…)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Những ngày cuối VNCH</b></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Tại Vũng Tàu, ngay từ đêm 28-4, bộ chỉ huy hành quân của Thiếu tướng Nguyễn Duy Hinh, tư lệnh Sư đoàn 3 BB kiêm tư lệnh mặt trận Vũng Tàu (?!), đã phải làm việc tại Duyên đoàn 33 Hải quân để điều động các cánh quân.</p>
<p>4 giờ sáng ngày 29-4, tướng Hinh được biết đại tướng Viên và chuẩn tướng Thọ, trưởng phòng 3 BTTM, đã ra đi từ chiều ngày 28-4.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em>(Vương Hồng Anh)</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>(?!) Thiếu tướng Bùi Thế Lân mới là Tư lệnh mặt trận Vũng Tàu.</p>
<p><b>Cuộc vượt thoát trước ngày 30-4-1975 (5)</b></p>
<p>Vào tới khu bãi đậu máy bay của phi đoàn, tôi mới biết là trong thiên hạ không phải chỉ có mình ba người chúng tôi tìm đường đi. Tôi nhìn thấy một lô phi công đang leo lên cánh máy bay để kiểm soát bình xăng những chiếc phi cơ. Dựng xe sang một bên, chúng tôi liền chia ba đi coi cánh tàu bay. Nghĩ rằng tất cả những máy bay tốt và bánh căng đầy đều đã có người kiếm, tôi chỉ chọn những chiếc máy bay cũ, lại có bánh hơi xẹp là những chiếc mà theo tôi là đã bị thiên hạ chê. Quả nhiên, chỉ không lâu, tôi tìm thấy một chiếc L19 với 2 cánh còn đầy xăng. Tôi leo lên vặn cọc bình vào rồi nhấn thử công tác, tạ ơn trời đất, chong chóng quay mấy vòng thật nhanh, đầy hứa hẹn.</p>
<p>Đáng lẽ tôi là người lái chiếc đó vì tôi là người tìm ra máy bay, nhưng nể tình thầy trò, tôi nhường tay lái cho Lý Bửng, tôi và anh Hưởng ra ngồi phía sau. Ông Bửng cất cánh tại taxiway. Không hiểu lúng túng lạng quạng thế nào không biết, khi tống ga, tàu bay quay sang một bên, xém tí nữa thì lật mẹ nó con tàu. Nhưng số chúng tôi còn may nên chúng tôi bay lên được. Tôi ngồi sau không đội nón bay nên không biết ông Bửng liên lạc với ai. Sau chừng hơn một tiếng hay hai tiếng đồng hồ gì đó, tôi nhìn thấy hòn đảo Côn Sơn&#8230;</p>
<p>Lúc ấy là vào khoảng 11 giờ sáng ngày 29-4-1975&#8230;</p>
<p>Một tháng sau, tôi chính thức đặt chân lên đất Hoa kỳ, trại tị nạn Fort Chaffee, Arkansas.</p>
<p>(Trường Sơn Lê Xuân Nhị)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Trường Sơn Lê Xuân Nhị tên thật là Lê Xuân Nhị. Tác giả là phi công lái máy bay thám sát L-19</p>
<p>thuộc Phi đoàn 114, Không đoàn 62 Chiến thuật, Sư đoàn 2 KQ tại Nha Trang.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Tôi…đào ngũ (5)</b><b><i></i></b></p>
<p>Cho tới lúc này thì nhốn nháo, tiếng chân thình thịch, thuỷ thủ đoàn nai nịt áo phao, gỡ vỏ khỏi đại liên, đại bác, hạ nòng. Đại tá chỉ huy hạm đội xuất hiện, áo giáp súng ngắn đường đường. Ông cho biết những người một giờ trước còn là quân đội đồng minh của ông, các đơn vị VNCH Phú Quốc, và giờ là tàn quân ô hợp, đang đòi lên tàu này. Tôi nhìn ra mé tàu, bên dưới vài cái tiểu đỉnh chập chờn trên sóng, phần lớn là lính tráng đang ngóng cổ nhìn lên tràn trề hy vọng. Tôi cứ tưởng thả thang cho họ rồi lên tàu tước vũ khí, đại đội thuỷ quân lục chiến trên tàu thừa sức giữ an ninh cho việc nhân đạo này. Nhưng ông đại tá tuyên bố, quý vị an tâm, giờ nào tôi còn sống, không có quân quan lính lạ nào leo được lên. Có lẽ kinh nghiệm di tản người tị nạn từ miền Trung vào khiến ông quyết liệt như vậy mặc dù hoàn cảnh lần này có khác. Tàu đã hết chỗ chứa, họ chỉ việc chịu khó chạy ra vài mươi hải lý nữa, đã có hạm đội Mỹ, đến 4 chiếc hàng không mẫu hạm và cả trăm tàu đủ loại đợi sẵn, hộ tống họ về đến Subic Bay. Biển Nam Hải đang nườm nượp như là ngã tư Bảy Hiền vào giấc sáng, việc gì mà sợ lạc.</p>
<p>Ở trên bờ, phi trường Dương Đông tấp nập không kém, trực thăng là đà bốc thẳng, phi cơ quân sự hết chiếc này đến chiếc khác ra đường băng. Tôi thấy rõ nhiều xe máy nhỏ, chở cả gia đình đuổi ra đến tận nơi, vất xe cái bẹt để bồng bế nhau lên tàu. Từ vị trí đã an toàn trên biển tôi điềm nhiên theo dõi, nhưng nếu tôi đang ở trên bờ và không có phương tiện ra đi thì tôi cũng vẫn hai tay thọc túi mà nhìn. Ở lại thì ở, chết thì chết tại chỗ cho đỡ… tốn sức chứ tôi không chen lấn. Tôi chẳng có nghĩ ngợi, tôi nhìn, nom những hàng cây xanh lơi lả mát bên trong mà bỗng dưng thèm một cốc dừa.<i></i></p>
<p>Tàu lầm lì từ từ quay ra hướng biển, mấy cái tiểu đỉnh vây quanh dãn ra nhường kiểu ngập ngừng vẫn còn tiếc nuối, theo như ông đại tá nói, hạm đội 2.300 hải lý nữa sẽ đến cảng Busan, Nam Triều Tiên.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>(Đỗ Kh)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Tác giả tên thật là Đỗ Khiêm, sinh năm 1954. Trước 75, đi lính Liên đoàn 81 Biệt cách dù, 6 tháng sau…đào ngũ tới Đại Hàn. Qua Pháp học trường Cao đẳng Sư phạm Ulm tại Paris. Nay là nhà văn thành danh. Bài viết trên có tên nguyên thủy: “Ngày 30 tháng Tư của tôi”.<b></b></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Ngồi ở quán nhậu kể chuyện di tản</b></p>
<p>Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên</p>
<p>Giang phong ngư hỏa đối sầu miên</p>
<p>Canh khuya thao thức mạn thuyền</p>
<p>Biết người quân tử vượt biên chốn nào?</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Camp Orote Point</b></p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2016/05/clip_image006-1.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image006" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/05/clip_image006_thumb-50x50.jpg?strip=all" alt="clip_image006" width="184" height="126" border="0" hspace="12" /></a></p>
<p>Camp Orote Point &#8211; Guam</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Ngày 17-4, Lữ đoàn 9 Thuỷ quân lục chiến Hoa Kỳ, căn cứ ở đảo Okinawa (Nhật) được lệnh thành lập Lực lượng thuỷ bộ an ninh di tản. Lực lượng này được lệnh lên đường ngay, tới vịnh Subic (Phi), tập hợp nhân sự cùng phương tiện cần thiết. Nhân sự gồm 720 TQLC, chia thành 14 toán, mỗi toán 54 người, phân chia đi các tầu vớt người tị nạn. Họ được huấn luyện rất kỹ, từ bí quyết nấu cơm cho hàng ngàn người ăn trong chốc lát bằng cách cho gạo vào những bồn chứa lớn, rồi xịt hơi cực nóng từ hệ thống ống dẫn hơi nóng trên tầu để có cơm ngay trong mấy giây đồng hồ đến những câu chào hỏi bằng tiếng Việt, cùng những điều nên và không nên trong cách giao tiếp với người tị nạn và thông dịch viên được chú trọng hàng đầu.</p>
<p><strong>Giây phút hấp hối của VNCH</strong></p>
<p>4 giờ sáng ngày 29-4 vừa mới chợp mắt một chút. Người thư ký trực với tôi, anh Bào báo cho biết có điện thoại của Tổng thống Dương Văn Minh. Bên đầu dây bên kia tiếng Big Minh:</p>
<p>&#8211; Qua là Minh đây. Trong đài ai là người cao cấp nhất vào lúc này?<br />
&#8211; Thưa tổng thống, không có ai ngoại trừ tôi, một số phóng viên, và nhân viên kỹ thuật.<br />
&#8211; Qua hỏi để là hỏi thôi, giờ này họ bỏ đi hết rồi. Có tin tức gì mới liên quan đến tòa đại sứ Hoa</p>
<p>Kỳ không trên những bản tin viễn ấn?</p>
<p>Tôi đáp không, ngoại trừ một bản tin rất ngắn của hãng thông tấn UPI cho biết mọi liên lạc giữa tòa đại sứ Mỹ và chính phủ Vũ Văn Mẫu bị cắt đứt. Hãng thông tấn AFP nói đến vai trò trung gian cuối cùng của đại sứ Pháp Merillon và cựu tướng Vanuxem để tránh cho Saigon một cuộc đổ máu. Bắc quân đã kéo hỏa tiễn SAM vào tới Tân Uyên và sẵn sang mở cuộc tấn công. Tôi đặt một vài câu hỏi liên quan đến khả năng tử thủ của những tướng lãnh dưới vùng đồng bằng sông Cửu Long. Tổng Thống Minh chỉ nói:</p>
<p>&#8211; Khả năng thì có đấy, nhưng giữ được trong bao lâu và sẽ chết bao nhiêu người.</p>
<p>Sau đó ông nhờ tôi chuyển lời cám ơn đến tất cả anh em trong đài đã cố gắng làm việc với ông</p>
<p>trong giờ phút nghiêm trọng này.<br />
Sáng 29-4, tôi vào phòng hệ thống trưởng để tắm vì phòng vệ sinh cho nhân viên dưới lầu bị nghẹt. Nước lạnh làm giúp tôi tỉnh táo. Bước ra lan can, hút một điều thuốc lá.</p>
<p><b>Chữ nghĩa của một thời chinh chiến </b></p>
<p><b>ở quán cà phê</b></p>
<p>Trước 75, miền Nam có những câu “thành ngữ”</p>
<p>về thuốc lá xuất xứ từ quán cà phê, như:</p>
<p><i>Pallmall </i>: Phòng anh lạnh lẽo, mình anh lạnh lùng.</p>
<p>Hoài An thò đầu ra cửa cười toe toét:</p>
<p>&#8211; Ê sao không về thăm nhà, tôi thấy ông ở đây hoài.</p>
<p>&#8211; Còn ông, sao không về?</p>
<p>Hoài An hỏi:</p>
<p>&#8211; Ê, ngoài cái tớ biết rồi, còn tin gì cậu biết mà tớ đếch biết không. Nghe nói bọn nó pháo kích vào Tân Sơn Nhất dữ dằn lắm, mẹ kiếp, coi chừng đây cũng dám lãnh quả lắm ạ.</p>
<p>Khoảng 11 giờ, một phóng viên chót của đài phải rút chạy theo Sư đoàn 18 về đến đài. Anh cho biết bộ chỉ huy của sư đoàn này đã về đến nhà máy xi măng Hà Tiên và đang củng cố các tuyến phòng thủ mới. Hải trước là quản đốc đài Ban Mê Thuột. Sau khi Ban Mê Thuột mất, anh trốn được theo dân di tản. Tháng ba, Hải đã về trình diện và tôi tạm sắp xếp cho anh công việc</p>
<p>của một phóng viên. Trung tuần tháng tư, Hải xin vào mặt trận Long Khánh của Sư đoàn 18.</p>
<p>(Vũ Ánh)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Ngộ Không</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2016</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ngo-khng-tap-ghi-sau-40-nam-ky-11/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Kh&#244;ng : Tạp Ghi Sau 40 Năm &#8211; Kỳ 10</title>
		<link>https://t-van.net/ngo-khng-tap-ghi-sau-40-nam-ky-10/</link>
					<comments>https://t-van.net/ngo-khng-tap-ghi-sau-40-nam-ky-10/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 04 May 2016 15:01:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Ngộ Không: tạp ghi sau 40 năm]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không; tạp ghi sau 40 năm]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=26897</guid>

					<description><![CDATA[Ngày thứ 50 : 28-4-1975 Sài Gòn thay đổi nhân sự Ngày 28-4, Tổng thống Trần Văn Hương từ chức, trao quyền cho ông Dương Văn Minh, cựu đại tướng. Lễ bàn giao diễn ra vào chiều ngày 28-4. Trong buổi lễ này, quân lực VNCH cử Trung tướng Trần Văn Minh, tư lệnh không [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><b>Ngày thứ 50 : 28-4-1975</b><b> </b></p>
<p><b>Sài Gòn thay đổi nhân sự</b></p>
<p>Ngày 28-4, Tổng thống Trần Văn Hương từ chức, trao quyền cho ông Dương Văn Minh, cựu đại tướng. Lễ bàn giao diễn ra vào chiều ngày 28-4.</p>
<p>Trong buổi lễ này, quân lực VNCH cử Trung tướng Trần Văn Minh, tư lệnh không quân và Trung tướng Đồng Văn Khuyên. tham mưu trưởng liên quân thay mặt Đại tướng Cao Văn Viên đến dự lễ. Trước khi bước xuống bục để nhường cho ông Dương Văn Minh đọc diễn văn nhận chức, Tổng thống Trần Văn Hương đã công bố sắc lệnh giải nhiệm Đại tướng Cao Văn Viên khỏi chức vụ tổng tham mưu trưởng (theo nguyện vọng của đại tướng Viên).</p>
<p>Cũng trong ngày 28-4, căn cứ không quân Biên Hòa bị pháo kích dữ dội. Tất cả các phi cơ được dời qua phi trường Tân Sơn Nhất hay xuống phi trường Trà Nóc ở miền Tây. Sư đoàn 3 Không quân bắt đầu phá hủy những phương tiện còn lại trong căn cứ Biên Hòa.</p>
<p>Ngay sau lễ trao quyền, khoảng 6 giờ chiều, 5 (?) máy bay phản lực chiến đấu A37 Bắc quân lấy được từ VNCH khi chiếm miền Trung, oanh tạc phi trường Tân Sơn Nhứt.</p>
<p>(SQTB K10B/72 &#8211; Đinh Từ Thức)</p>
<p><b>“Chúng mày giỏi. Lính tao chuyển lái xe ô-tô cũng phải mất 5 ngày…”</b></p>
<p>Cuộc oanh kích phi trường Tân Sơn Nhất chiều 28-4-75 của năm chiếc phi cơ A37, đã được Hà Nội tuyên dương như một chiến tích anh hùng.</p>
<p>Bài tường thuật đăng trên tờ Lao Động ở Hà Nội xuất bản ngày 2-5-96 cho biết “Phi đội quyết thắng” do Nguyễn Thành Trung bay ở vị trí số một, vừa là chỉ huy “biên đội” (phi đội), vừa là người dẫn đường. Bay số hai là Từ Đễ. Bay số ba là Nguyễn Văn Lục. Bay số bốn là Hán Văn Quảng. Máy bay số năm có hai người: Mai Vượng và Trung úy phi công “Ngụy” Trần Văn On. (On và Xanh là hai phi công VNCH, tù binh bị bắt ở Đà Nẵng, ép buộc phải thi hành công tác huấn luyện cấp tốc cho giặc lái MIG).</p>
<p>Bọn giặc lái Vi-Xi (Lục, Đễ, Quảng, Vượng) từ trước chỉ quen với máy bay MIG17 của Nga, chưa từng biết tới A37 của Mỹ bao giờ. Giặc lái Vi-Xi vào Đà Nẵng từ ngày 22-4-75 để học lái A37 cấp tốc trong vòng năm ngày. “Nhân viên lái” Nguyễn Văn Lục cho biết y chỉ bay tập được <i>ba chuyến</i> trong năm ngày đó, ngày đầu tập ở buồng máy nhìn không ra những đồng hồ bay to nhỏ với tiếng Mỳ viết tắt nên có người định bỏ cuộc. Lục nói: Các bộ phận điều khiển của máy bay A37 toàn là tiếng Anh, anh em chúng tôi nhờ người dịch ra tiếng Việt, rồi cắt giấy dán đè lên tiếng Anh để biết mà xử dụng… Y khoe, sau chiến thắng trở về, đồng chí Đinh Đức Thiện gặp chúng tôi, nói rất vui: <i>Chúng mày rất giỏi.  Lính tao chuyển loại xe ô-tô cũng phải mất năm ngày</i>, huống gì là máy bay của chúng mày&#8230;Giỏi, giỏi lắm!</p>
<p>Cái “giỏi lắm” của bọn giặc lái là cái giỏi… “nói phét!”. Cái này phải hỏi cậu Trác “Thuốc lào”, tự nhà văn KQ Trác Vũ. Theo lời cậu Trác “Thuốc lào” phi công C130 kẹt lại, cậu đã từng bay chở cán bộ, bộ đội từ Bắc vào Nam công tác. Sau cậu còn được trưng dụng dạy bay và dạy Địa huấn cho bọn giặc lái trước khi “thầy” bị cho đi tù cải tạo. Hồi vượt biển qua Mỹ, cậu một lần chịu không nổi những quả…ngu của lũ giặc lái con cháu lão Hồ, đã buột miệng chửi thề, xém bị mất cái chỗ đội mũ vì lỡ “hỗn”, lỡ coi thường các đấng đỉnh cao trí tuệ. Cậu Trác kể…</p>
<p>(Chuyến bay cuối cùng &#8211; Đào Vũ Anh Hùng)</p>
<p><b>&#8211; :</b> Cậu Trác “Thuốc lào” tên thật Bùi Văn Trác SVSQKQ 64D (Phạm Hy Oánh)<b></b></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Góp nhặt…ghi chép…</b></p>
<p>Dương Văn Minh vừa đọc xong bản diễn văn nhậm chức, thì giông bão khủng khiếp ập đến Sàigòn. Mưa rơi xối xả. Những cơn mưa đến sớm, lúc ấy chưa đến mùa mưa. Rồi xảy ra vụ chiếc phi cơ dội bom Tân Sơn Nhất. Lúc ấy chúng tôi còn ở tại văn phòng. Mặc dầu đã khoảng bảy giờ tối, chúng tôi vẫn còn ở đấy vì lúc này Sài Gòn ban đêm chẳng có gì khác để làm.</p>
<p>Khi nghe tiếng nổ, chúng tôi đâm bổ xuống núp dưới gầm bàn. Bấy giờ, tôi nhớ tôi đang ở trong phòng truyền tin. Nhân viên truyền tin là những người lo phụ trách các báo cáo tình báo để gửi đi bằng điện đài. Không bao lâu, chúng tôi xác định được chuyện ấy. Chúng tôi chắc chắn đây là câu trả lời của quân đội Bắc Việt phản ứng lại bài diễn văn nhậm chức của ông Minh.</p>
<p>Trong bài diễn văn này,<i> ông ta nói ông sẽ tiếp tục chiến đấu.</i></p>
<p>Ông nói đủ thứ lảm nhảm mà một tháng trước đấy ông ta không hề nói. Tôi nghĩ hình ảnh chính xác để mô tả ông là hình ảnh một người không đủ tài cán được đặt vào một chức vụ quá khả năng, làm mọi người phải mệt với sự bất lực của ông ta.</p>
<p>(Tears Before The Rain &#8211; Larry Engelmann)</p>
<p><b>“Chúng mày giỏi. Lính tao chuyển lái xe ô-tô cũng phải mất 5 ngày…”</b></p>
<p>Cậu Trác kể: Phi công Vi-Xi, chúng nó từng qua Nga học bay MIG. Nhiều đứa ở Nga đến 6, 7 năm mà khi về nước vưỡn đếch biết nói tiếng Nga La Tư mới tếu! Bọn chúng nó đi học, có thông dịch viên đi kèm theo để theo dõi, kiểm soát. Trong lớp thầy dạy gì, kệ bố thầy, vì khi về phòng có thằng thông dịch lại. Tớ bỏ công dịch tất cả sách kỹ thuật tiếng Anh ra tiếng Việt, dạy chúng nó hoàn toàn bằng tiếng Việt. Thế mà mình đọc, chúng không hiểu. Đánh vần đi, đánh vần lại từng chữ như dạy trẻ con i-tờ-rít, chúng nó vẫn không biết viết ra làm sao. Tớ lập đi lập lại, bọn chúng vẫn ngớ ra như chúa tàu nghe kèn, mặt đần độn trông phát giận. Một lần, nhịn không được, tớ buột miệng chửi thề: ĐM, sao các anh ăn gì mà ngu quá vậy?.  Mình quen mồm như trước đây đùa rỡn với bạn bè…Chúng nó sừng sộ hỏi tội làm tớ xanh mặt.</p>
<p>Cậu Trác “Thuốc lào” tiếp: Mẹ kiếp! Mà học chỉ vài ngày thì bay thế chó nào được A37. Ngụy chúng nó trước khi học lái, phải tới Lackland trụ trì ít nhất vài tháng học Anh ngữ chứ đâu có đùa. “Nhân viên lái” Nguyễn Văn Lục sau đó kể rằng y và đồng bọn được hai “nhân viên lái” mới được lựa chọn từ trại tập trung về kèm cho các cậu học Anh văn và học bay. Cả hai đều gầy nhom. Người cao để râu tên là Xanh, người Quảng Bình, theo gia đình di cư vào Nam năm 1954. Người thấp nhỏ là On, quê ở Gò Công. Cả hai người đều ngạc nhiên khi thấy chúng tôi không hỏi đến vấn đề cơ bản, không hỏi về cách xử trí trong trường hợp máy móc có sự cố, mà hỏi ngay vào công-tắc điều khiển những đồng hồ bay… Mẹ kiếp! Chỉ cần từ ba tới năm ngày, nghe phát rét. Huống hồ bọn giặc lái tiếng Anh tiếng u không biết một mẩu, ngoài ba tiếng “oẳn tù tì” thì làm thế nào hiểu chó được hết những tiếng Anh trong buồng lái để khỏi phải nhớ các công-tắc, vị trí các đồng hồ? Cái này phải xét lại ạ! “Những vấn đề cơ bản” nghĩa là cần điều khiển phi cơ, là những nút bấm, nút bật để mở máy, để chỉnh động cơ, để điều khiển bánh đáp, góc dựng cánh lái đuôi, v…v…Các con không cần hỏi tới thì bay cái củ gì?</p>
<p>“Người lái” kiêm nhà văn Hữu Mai, hôm đầu tiên khi từ Gia Lâm vào Đà Nẵng đêm đó lo cóc ngủ nghê gì được. Phần vì cấp trên giao phó cho nhiệm vụ học bay A37 chỉ trong vài ngày. Tuy nhiên Hữu Mai dẹp tự ái “đỉnh cao trí tuệ”, ao ước: Giá có mấy anh nhân viên lái cũ của Ngụy ở gần đây để yêu cầu họ ghi lại cho những hàng chữ Anh ở trong buồng lái thì hay quá…</p>
<p>(…)</p>
<p><b>Góp nhặt…ghi chép…</b></p>
<p>Ngày 28-4, Dương Văn Minh nhậm chức tổng thống, việc đầu tiên là gửi điện văn cho đại sứ Martin vào sáng sớm 29-4, yêu cầu các nhân viên của cơ quan tùy viên quốc phòng DAO rời khỏi Việt Nam trong 24 giờ đồng hồ kể từ ngày 29-4-1975.</p>
<p>Thời điểm yêu cầu của Dương Văn Minh<i> trùng hợp với lịch trình rút lui đã được định trước của Hoa Kỳ.</i> Theo Kissinger, lời yêu cầu này của ông Dương Văn Minh đã<i> </i>tránh tiếng dùm cho Hoa Kỳ là đã<i> bỏ rơi miền Nam Việt Nam</i>. (Tears Before The Rain &#8211; Larry Engelmann)</p>
<p><b>“Chúng mày giỏi. Lính tao chuyển lái xe ô-tô cũng phải mất 5 ngày…”</b></p>
<p>Để biết rõ cái “giỏi lắm” của những chiến sĩ “người lái anh hùng” Vi-Xi thế nào, mời bạn đọc hãy cùng chúng tôi đọc truyện ngắn “Trận đánh cuối cùng” của văn hữu…Hữu Mai viết ca tụng “anh hùng” Nguyễn Thành Trung và các đồng chí giặc lái Vi-Xi một cách vô duyên trong Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 25, năm 82, để thấy trình độ nói phét của Vi-Xi nó “siêu” đến chừng nào mà cười đau khóc hận cho vận số hẩm hiu đất nước…</p>
<p>Cứ như trong xi-nê-ma! Cảnh 5 chiếc A37 đánh phá Tân Sơn Nhất được mô tả y hệt trong phim “Bla Bla Black Ship” vừa bay bỏ bom, bắn cà nông, vừa cười vui vẻ. Nguyễn Thành Trung đánh trước, bom không ra, làm vòng tiếp. Đại đội phó Từ Đễ theo sau Trung, nhắm hangar A37 nhưng bom rơi mẹ nó sát chiếc C130 vừa hạ cánh ở tuốt luốt bên này bãi đậu Whiskey Five (W-5). Rồi đại đội trưởng Lục thả bốn trái nhưng lóng ngóng chỉ rơi có hai. Sau đó là Vượng và On, theo tớ Vượng chỉ là… “thợ vịn”! Ngoài Bắc chúng gọi bằng danh từ rất kêu, là “tháp tùng tử” nhắm vào hangar A37 nhưng đều trật lất! Đến lúc đó mới nghe thấy tên trực ở sân bay bắt đầu kêu lên:</p>
<p>&#8211; Tân Sơn Nhất bị pháo kích…!<br />
Một giọng nói khác bằng tiếng Anh, chắc là của một tên Mỹ:<br />
&#8211; A37 của phi đoàn nào?</p>
<p>Giọng hách dịch của tên Mỹ làm cho đại đội phó Từ Đễ nổi nóng. Anh quát to:<br />
&#8211; Phi đoàn A-Mê-Ri-Ca đây!</p>
<p>Mẹ kiếp, thối không ngửi được. Đang bay trên trời, trong phòng lái kín mít, lo bỏ bom, nhắm bắn mục tiêu mà có “thiên lý nhĩ”, nghe được cả “tiếng tên trực ở sân bay bắt đầu kêu lên…” thì quả là Tề thiên đại thánh! Rồi đang từ một thằng “người lái” mới vài hôm trước không biết tiếng Anh và “làm thế nào hiểu được hết những tiếng Anh trong buồng lái…” vậy mà hôm sau đã nghe rành rọt “giọng một tên Mỹ” mới ly kỳ!</p>
<p>Bây giờ từ sân bay mới vang lên những tiếng hoảng hốt:<br />
&#8211; Bốn A37 ném bom Tân Sơn Nhất…Đề nghị các máy bay hãy tránh xa!</p>
<p>Cái vụ “nghe thấy tên trực sân bay” ở đoạn trên có thể tạm hiểu là đương sự nghe trên tần số hành quân của bọn Ngụy cũng được đi. Nhưng việc “từ sân bay bấy giờ mới vang lên những tiếng hoảng hốt” thì đúng là…“bu-siệt”!  Không quân miền Nam đâu có lối nói lịch sự kiểu Vi-Xi “đề nghị”? Người miền Nam nói “yêu cầu tránh xa” chứ trong trường hợp bấn xúc xích đó, làm quái gì có mục…“đề nghị tránh xa”?</p>
<p>Văn hữu Hữu Mai vớt vát thể diện cho biên đội trưởng Nguyễn Thành Trung và bọn thợ gắn bom mà bom không nhả (có thể lính của ta bị ép buộc trang bị bom đạn cho Vi-Xi đã cố tình chơi đểu (?)&#8230; Chiếc máy bay của biên đội trưởng đã giận dữ lao xuống lần thứ ba. Lần này, bốn trái bom của anh cùng rơi một lúc.  Một đám cháy mới bùng lên tại khu vực tập trung máy bay tiêm kích F5…</p>
<p>Xạo ke!  Tân Sơn Nhất làm chó gì có khu vực nào tập trung F5?</p>
<p>(Chuyến bay cuối cùng &#8211; Đào Vũ Anh Hùng)</p>
<p><b>&#8211; :</b> Tất cả đài kiểm soát hạ và cất cánh phi trường cũng như đài không lưu đều là người Việt, không có cố vấn Mỹ làm việc trên vô tuyến. (Phạm Hy Oánh)</p>
<p><b>&#8211; :</b> Nguyễn Thành Trung hay Ðinh Thành Trung, con rớt của một cán bộ tập kết ở Bến Tre, nằm vùng trong Không quân VNCH.</p>
<p><b>Góp nhặt…ghi chép…</b></p>
<p>Tướng Trần Văn Đôn kể lại những biến cố, sự kiện trong ngày 28-4-1975:</p>
<p>Vào 6 giờ chiều, cuộc lễ xong, ông Minh tiễn cụ Trần Văn Hương ra cổng. Nhà của cựu Trung tướng Trần Văn Đôn ở gần dinh Độc Lập nên chỉ vài phút sau ông đã về đến nhà, lại nghe tiếng nổ ầm ầm, súng bắn lung tung, phi cơ bay. Nưả giờ sau, tiếng súng ngưng nổ, tiếng động cơ máy bay nhỏ dần rồi im lặng. Tướng Đôn điện thoại cho Bộ tổng tham mưu và Bộ tư lệnh không quân thì được báo cáo có 3 phi cơ của Không quân VNCH bị bỏ lại ở Đà Nẵng và họ đã sử dụng để bay vào Sài Gòn dội bom. Hai phản lực cơ F5 của Không quân từ Biên Hoà đã bay lên nghinh chiến đuổi 3 phi cơ này.</p>
<p><b>&#8211; :</b> Tài liệu của Đại tướng Cao Văn Viên cũng cho biết chỉ có 3 phi cơ trong cuộc dội bom.</p>
<p><b>&#8211; : </b>Trong <i>Những ngày cuối cùng của Sài Gòn</i>, <em>Winfried Scharlau viết: 4 chiếc máy bay.</em></p>
<p><b>&#8211; : </b>Hãng thông tấn Reuter đánh đi một bản tin về Nguyễn Thành Trung, phi công A37 của không lực VNCH đã lấy máy bay xạ kích dinh Độc Lập. Và hướng dẫn 3 chiếc A37 khác đánh phá phi trường Tân Sơn Nhất chiều ngày 28-4-75, ngày hấp hối của miền Nam Việt Nam.</p>
<p><b>10 ngày cuối cùng của VNCH </b></p>
<p><b>Thứ Hai 28-04-1975<br />
</b></p>
<p>Ông Trần Văn Đôn kể lại trong <i>Việt Nam nhân chứng</i> rằng tối hôm trước ông nói với ông Dương Văn Minh là nên “nhận liền nhiệm vụ để bắt tay vào việc” thì ông Minh nói rằng:<i> </i><i>5 giờ chiều mai</i>. Ông Đôn nhận xét rằng sở dĩ ông Minh muốn đợi đến 5 giờ chiều hôm sau là vì “ông coi ngày giờ tốt trước khi nhận việc”<i>. </i>Ông Trần Văn Lắm kể lại tối 27-4, ông Lắm đến gặp ông Minh và đề nghị nên làm lễ bàn giao vào 9 giờ sáng ngày hôm sau 28-4. <i>Ông Minh đi qua phòng bên cạnh để bàn luận với Trung tướng Mai Hữu Xuân là người rất tin bói toán, </i>sau đó ông Minh ra nói rằng<i>: 9 giờ sáng không được tốt, bàn giao lúc 5 giờ rưỡi’ chiều đi</i>. <i></i></p>
<p>Theo Tiziano Terzani tác giả cuốn sách <i>Giải phóng! </i>(The Fall and Liberation of Saigon)<i>, </i>người ký giả Ý bị trực xuất ra khỏi Việt Nam trước đó ít lâu và vừa mới trở lại Sài Gòn sau khi ông Thiệu từ chức. Tiziano Terzani, một trong hơn 100 ký giả đã chứng kiến buổi lễ giao quyền 5 giờ chiều 28-4 tại dinh Độc Lập, đã tả lại như sau:</p>
<p>Sau khi cựu Tổng Thống Trần Văn Hương trở về chỗ ngồi, bục diễn đàn vẫn trống trơn. Dương Văn Minh vẫn ngồi yên không hề nhúc nhích. Một người lính tiến vào tháo gỡ lá Quốc kỳ sau bục diễn đàn rồi gỡ quốc huy của Việt Nam Cộng Hòa và thay thế bằng huy hiệu mới của Dương Van Minh<i>, đó là hình hoa mai năm cánh nằm trong dấu hiệu âm dương của người Trung Hoa, tượng trưng cho hai yếu tố đối nghịch tạo thành sự đồng nhất trong vũ trụ”. </i>(*** Tiziano Terzani, Sđd, trang 40-41).<i></i></p>
<p>Nhiều nhân chứng dự buổi lễ trao quyền hôm đó đã xác nhận rằng ông<b> </b>Dương Văn Minh chỉ đọc diễn văn mà không hề tuyên thệ “trung thành với Hiến pháp VNCH”, điều đó có nghĩa là tân Tổng thống Dương Văn Minh không còn công nhận bản Hiến Pháp l967 của nền đệ nhị cộng hòa. Như vậy, cho tháo gỡ lá quốc kỳ trước khi đọc diễn văn và không tuyên thệ khi nhậm chức tổng thống VNCH, phải chăng ông Dương Văn Minh muốn gián tiếp nói với phe bên kia rằng không còn liên hệ gì đến đệ nhất và đệ nhị cộng hòa mà tượng trưng là lá cờ vàng ba sọc đỏ vừa được ông cho gỡ xuống cất đi?</p>
<p>(Trần Đông Phong)</p>
<p><b>Góp nhặt sỏi đá</b></p>
<p>Tướng Cao Văn Viên làm đơn từ chức tổng tham mưu trưởng, trong khi chờ đợi Tổng Thống Trần Văn Hương ký sắc lệnh. Tướng Cao Văn Viên chỉ định Trung tướng Đổng Văn Khuyên, tổng cục trưởng tiếp vận, xử lý thường vụ tham mưu trưởng.</p>
<p>Rồi tướng Cao Văn Viên di tản ra Hạm đội 7 vào trưa thứ hai ngày 28-4-1975.</p>
<p><b>Quân sử ngoại truyện</b></p>
<p>Mấy ngày sau tôi (sau buổi duyệt binh ngày 2-9-1975) và anh Ba (Lê Duẩn) vào Nam, tôi đã đến quan sát Bộ tổng tham mưu quân đội Nguỵ. Tại phòng làm việc của tổng tham mưu trưởng, tôi chú ý đến tờ lịch <i>ngày 28 tháng 4</i> còn bóc dở.</p>
<p>Trong phòng trang trí vũ khí, nhiều loại vũ khí hiện đại đều được trưng bày. Trên một tấm bản đồ Đông Dương chi chít những dấu chấm xanh, đỏ, đánh dấu những nơi mà vũ khí mà trang bị điện tử phát hiện các căn cứ của ta, nhất là trên đường vận chuyển chiến lược Trường Sơn. Cảm tưởng sâu sắc nhất của tôi là: Vũ khí kỹ thuật Mĩ dù hiện đại vậy đấy mà vẫn thất bại.</p>
<p>(Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng &#8211; Võ Nguyên Giáp)</p>
<p><strong>Tái chiếm trường Bộ Binh Long Thành</strong></p>
<p>Sáng hôm sau chúng tôi rút về Long Bình. Ngày 28-4-1975, Tiểu Đoàn 82 Biệt động quân có nhiệm vụ hỗ trợ cho một đơn vị bạn tái chiếm trường Bộ Binh Long Thành.</p>
<p>Tối hôm đó, từng đoàn xe vận tải của Bắc quân đã đổ hàng trăm bộ đội xuống khu rừng hướng bắc ngọn đồi trọc mà chúng tôi trấn giữ. Khoảng tám giờ tối, đoàn xe bật đèn rọi đường cho bộ binh theo sau T54, dàn hàng ngang xung phong biển người vào tuyến phòng ngự của Tiểu Đoàn 82 Biệt động quân. Ngay loạt đạn 100 ly mở màn, đại úy Hoàn TĐP/TĐ82 BĐQ là người chết đầu tiên. Tôi bò sang hố của ông, quấn tấm thân đầy máu của ông bằng tấm poncho. Khi tôi di chuyển sang kiểm soát vị trí phòng ngự thì bộ binh địch bắt đầu hô “Xung phong”. Chúng tôi phải dùng lựu đạn M26 để chặn bước tiến của địch. Những trái M72 bắn xéo qua xéo lại từ đỉnh đồi đã khiến cho chiến xa địch thoái lui.</p>
<p>Chợt đèn xe vụt tắt, tiếng động cơ chiến xa rú lên. Khoảng năm sáu chiếc T54 tắt đèn và mở hết tốc lực chạy lên đồi, xe đè nát thân thể những người không kịp tránh né rồi chạy đi. Chúng tôi chưa kịp phản ứng thì chiến xa địch đã chạy khuất xuống chân đồi. Ông Thượng sĩ Phạm Hoa, thường vụ tiểu đoàn bị xích xe tank nghiến nát ngực chết cùng với anh B1 Bích, người nấu cơm cho tôi. Tôi chưa kịp chấn chỉnh lại đội hình thì đạn 100 ly lại ầm ầm dội trên đỉnh đồi, rồi đèn xe lại bật sáng soi đường bộ binh địch mở đợt biển người tiếp theo. Lần này chúng tôi ngăn chúng từ xa bằng những quả lựu đạn M67 nổ chậm. Chúng tôi ném hết sức thẳng tay những quả M67 xuống chân đồi. Đèn xe soi rõ những thân hình cán binh địch loạng choạng ngã chúi xuống đất vì trúng mảnh lựu đạn. Hai khẩu M60 vẫn đan cánh sẻ. Những xác người chết đè lên nhau, những tiếng thét đau đớn vang lên man rợ trong đêm đen.</p>
<p>Đèn xe lại tắt, tiếng chiến xa lại hú. Những nòng M72 đã sẵn sàng phóng đạn. Hai khẩu M60 được nâng cao lên nhằm vào những xạ thủ phòng không trên tank. Vài chiếc tank bị trúng đạn, nằm lại giữa triền đồi, xạ thủ 12.8 ly trên xe đã chết, cái dây xích còn móc vào chân xạ thủ, treo tòn ten cái xác xạ thủ đung đưa bên hông chiến xa.</p>
<p>(Vương Mộng Long)</p>
<p><b>Góp nhặt…ghi chép…</b></p>
<p>Sau khi Trung tướng Đồng Văn Khuyên, rời bộ tổng tham mưu trưa ngày 29-4. Tiếp đến là Trung tướng Nguyễn Văn Minh. quân lực VNCH coi như không còn cấp chỉ huy.</p>
<p>3 giờ chiều 29-4, tân Tổng thống Dương Văn Minh cử một số cựu tướng lãnh đã về hưu giữ các chức vụ trọng yếu: Trung tướng Vĩnh Lộc, tổng tham mưu trưởng, phụ tá là Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh. Chiều 30-4, tướng Vĩnh Lộc triệu tập cuộc họp với các tướng lãnh tại bộ tổng tham mưu yêu cầu &#8220;mọi người đừng bỏ đi, hãy ở lại để làm việc với tất cả trách nhiệm&#8221;.</p>
<p>Sáng 30-4, Trung tướng Vĩnh Lộc và Trung tướng Trần Văn Trung, tổng cục trưởng tổng cục chiến tranh chính trị<i> </i>đến bộ tư lệnh hải quân tìm phương tiện di tản. Chuẩn tướng Hạnh “đương nhiên” là tổng tham mưu trưởng của tân Tổng thống Dương Văn Minh.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Giây phút hấp hối của VNCH</strong></p>
<p>Big Minh nhận chức vụ vào trưa ngày 28-4 với phó tổng thống là Thương nghị sĩ Nguyễn Văn Huyền, Giáo sư Vũ Văn Mẫu, cựu khoa trưởng luật khoa giữ chức vụ thủ tướng. Khoảng 2 giờ trưa ngày 28-4, Lý Quý Chung điện thoại yêu cầu hệ thống trưởng hệ thống truyền thanh sang họp. Tôi điện thoại về nhà thiếu tá Thăng, không có ai bốc điện thoại. Buộc lòng tôi phải đại diện ông sang họp. Buổi họp kéo dài khoảng 15 phút. Chỉ thị duy nhất của ông Chung vắn tắt có bấy nhiêu lời: Tình hình nghiệm trọng, có nhiều phần trăm chúng ta phải đầu hàng, nhưng nhiệm vụ của truyền thanh và truyền hình là phải túc trực để nhận chỉ thị. Còn nước còn tát.</p>
<p>Sau đó ông Chung ra lệnh phải bỏ tất cả nhạc quân hành của cục chính huấn. Có thể nói tình thế tuyệt vọng được phản ảnh qua hiện tình của “Tiếng nói nước Việt Nam Cộng Hòa, phát thanh từ thủ đô Saigon” vào lúc đó. Chúng tôi còn khá đủ biên tập viên, phóng viên, kiểm thính viên và kỹ thuật viên teletype cần thiết để làm việc. Bộ phận quan trọng nhất về kỹ thuật và đài dự phòng tại trung tâm phát tuyến Quán Tre ở Quang Trung. Nhưng các phóng viên tại hai mặt trận Long Khánh và Long An thì không còn phương tiện gởi bản tường trình nào nữa kể từ 5 giờ chiều ngày 28-4. Trước đó, Tổng thống Dương Văn Minh đích thân gọi điện thoại vào đài phát thanh. Vẫn giọng hiền lành và dùng chữ “qua” làm ngôi thứ nhất, ông cho biết đã cử tướng Lâm Văn Phát làm tổng tham mưu trưởng quân đội và yêu cầu tôi loan báo trước khi văn thư chính thức đến đài được gởi tới đài vào sáng hôm sau.</p>
<p>Xong, Big Minh hỏi tên và tuổi: Em còn trẻ, sao không tìm cách đi đi?</p>
<p>Tôi trả lời vắn tắt: Thưa tổng thống chẳng còn đường, tôi lại quen biết ít.</p>
<p>Ông lại hỏi tiếp: Qua thấy tình hình không hy vọng gì. Cụ Huyền đang ở Tân Sơn Nhất để thương lượng với họ (Cộng sản), mặt trận Long Khánh tan rồi, họ đưa xe tăng và hỏa tiễn vào sát Sài Gòn. Em liệu giữ được tiếng nói quốc gia trong bao lâu nữa.</p>
<p>Tôi đáp: Chừng nào tôi còn được bảo vệ, chừng đó làn sóng phát thanh vẫn còn duy trì được tiếng nói quốc gia, thưa tổng thống.</p>
<p>(Vũ Ánh)</p>
<p><strong>Tái chiếm trường Bộ Binh Long Thành</strong></p>
<p>Khoảng nửa đêm, đèn xe lại rọi sáng, đạn 100 ly lại cày xới ngọn đồi không tên. Dưới ánh đèn xe, những cán binh Bắc quân trong đợt xung phong này hình như không còn hăng hái như hai đợt trước, họ bắt đầu bò lên, nương theo những mô đá nhấp nhô. Khi những quả lựu đạn vừa bật mỏ vịt nổ “Ùm!” thì những anh bộ đội cũng quay lưng chạy thục mạng ngược về hướng rừng. Chừng mười phút sau đoàn xe tank lại ào ạt tiến lên đồi lần thứ ba. Lần này chúng theo đội hình hai hàng dọc, đâm thẳng lên đỉnh đồi rồi đồng loạt pha đèn, chia hai ngả, trái, phải giày xéo vị trí trú quân của chúng tôi. Chúng tôi giờ này như những con thú bị thương, miệng la, <em>“Biệt Động!…Sát!”</em>  tay bóp cò M16 nhắm những cái đầu địch nhấp nhô trên pháo tháp. Bây giờ chúng tôi đã mất trí, không còn biết sợ chết nữa! Chúng tôi trở thành những tay giác đấu, gắng sức leo lên lưng những con quái vật T54 để đánh quả lựu đạn sau cùng.</p>
<p>Tôi đã leo lên đến cái pháo tháp, tôi lần tay tìm trên sợi dây ba chạc, còn một quả mini và một quả lân tinh! Tay tôi chưa kịp mở chốt quả mini thì một cái đầu địch nhô lên, nó đập một trái thủ pháo trên mũ sắt của tôi rồi ra sức xô tôi xuống xe. Hai con vật giằng co, quả mini tụt tay tôi rơi mất! Tôi gỡ cái nón sắt ra, thẳng tay choảng vào đầu thằng giặc, đầu nó ngúc ngoắc, rồi nó thụp vào lòng xe. Tôi đang cố gỡ trái lân tinh móc trên dây ba chạc thì cái pháo tháp xoay tròn, tôi bị gạt rơi xuống xe. Tôi lăn sang sau một ụ đá, chiếc xe đảo một vòng, xích sắt cày sâu trên đất, cát bụi tưới rát mặt, tôi thoát chết trong đường tơ kẽ tóc!</p>
<p><b>Chuyện thời hậu chiến</b></p>
<p>Thường, sau khi chết, linh hồn người ta còn lại nhưng thân xác thì mục rữa. Riêng hắn, sau khi tử trận vào ngày 30-4-75, linh hồn đã tan mất nhưng thân xác thì vẫn còn. Hiện hắn đang ở Mỹ, trông rất hồng hào. Mỗi lần hắn đi khám bệnh, các bác sĩ đều bảo: “OK”.</p>
<p>(Website Tiền Vệ &#8211; <i>Truyện cực</i> ngắn hay <i>Truyện chớp</i>)</p>
<p>Chúng tôi giờ này như những con cọp bị thương, bị dồn vào đường cùng! Chúng tôi chạy bộ đuổi theo đoàn chiến xa đang rút đi. Trong đám bụi mù, một biệt động quân đã bỏ được một trái M26 vào trong lòng chiếc T54 hướng ĐĐ4/TĐ82 khiến nó quýnh quáng đâm vào hông một chiếc khác rồi lật nhào xuống triền đồi bốc cháy. Chiếc xe bị đâm trúng thì đứt xích, từ trên xe, bốn tên nhảy xuống, chúng chưa đứng vững thì năm sáu họng M16 đã nhả hàng trăm viên đạn trên người chúng, bọn xâm lăng chết không kịp than tiếng nào. Có vài biệt động quân còn bám trên pháo tháp những chiếc tank đang đổ dốc, họ cố chúi mũi M16 vào miệng pháo tháp bóp cò vô vọng. Pháo tháp xoay tròn, họ rơi xuống đất. Chiếc xe chạy sau đè lên thân họ.</p>
<p>Đoàn xe biến dạng trong đêm.</p>
<p>(…)</p>
<p><b>10 ngày cuối cùng của VNCH </b></p>
<p><b>Thứ Hai 28-04-1975<br />
</b></p>
<p>Trong <i>Decent Interval</i>, Frank Snepp cho biết cuốn <i>Đại thắng mùa xuân</i>, Văn Tiến Dũng nói: Chiều 28-4, bộ tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh phân tích tình hình toàn bộ ở Sài Gòn và thấy rằng phe địch rất hoang mang, bộ chỉ huy mất trật tự trong hai ngay đầu của chiến dịch, <i>các mũi tiến quân của ta vẫn hoạt động theo đúng kế hoạch</i>. Do đó <i>Văn Tiến Dũng ra lệnh cho cuộc tổng tấn công phải được khởi sự vào sáng ngày 29-4</i> <i>để tiến về Sài Gòn</i>. Lệnh này đã được gởi đến mọi đơn vị cũng như thông báo cho Hà Nội. Tối hôm đó Lữ đoàn chiến xa 203 của Bắc Việt với nhiệm vụ tiến thẳng vào Sài Gòn đã được lệnh xuất từ Biên Hòa, tắt đèn tiến theo Quốc lộ 1 hướng về Sài Gòn”. (*** Frank Snepp, sđd, trang 470)</p>
<p>Trong khi Dương Văn Minh đang chuẩn bị tổ chức lễ trao quyền tại dinh Độc Lập thì Bắc Việt đã lấy phi cơ A37 của VNCH vào hồi đầu tháng 4 từ Nha Trang bay vào oanh tạc dinh Độc Lập. Việc này có nghĩa là tuy đã được biết Dương Văn Minh nhận chức tổng thống để thương thuyết theo sự đòi hỏi của họ như ông ta đã rêu rao, những “người anh em bên kia” của ông vẫn ra lệnh cho phi cơ bay vào oanh tạc Sài Gòn. Trong cuốn<i> </i><i>Đại thắng mùa xuân,</i> Văn Tiến Dũng đã nói rằng: Đó là một cuộc phối hợp một cách tuyệt vời.</p>
<p>(…)</p>
<p><strong>Giây phút hấp hối của VNCH</strong></p>
<p>Buổi chiều 28 là buổi chiều có khá nhiều biến chuyển. Khoảng 6 giờ 30 chiều, Thủ tướng Vũ Văn Mẫu yêu cầu chúng tôi có mặt tại đài truyền hình THVN9 ở ngã tư Hồng Thập Tự-Cường Ðể để thu hình và thu thanh lời yêu cầu của ông đòi chính phủ Hoa Kỳ rút hết lực lượng bảo vệ sứ quán Mỹ, các nhân viên và chuyên viên Hoa Kỳ ra khỏi Việt Nam trong vòng 24 giờ đồng hồ.</p>
<p>Ðó là lần cuối cùng tôi gặp Thủ tướng Vũ Văn Mẫu. Từ phòng thu hình ra, ông Mẫu không nói năng gì thêm ngoại trừ trả lời một câu hỏi của tôi về hiện tình. Ông nói thẳng:</p>
<p>Tình hình tuyệt vọng. Họ (những nhà lãnh đạo trước) đã làm nát bấy đất nước trước khi quá muộn để phía bên kia thương lượng với chúng ta. Việc yêu cầu Mỹ rút hết những người Mỹ</p>
<p>cuối cùng ra khỏi Việt Nam chỉ để thành phố này không thành biển máu vô ích mà thôi.<br />
Tôi không nhớ hết những điểm giải thích của thủ tướng Mẫu nhưng những điểm chính trong lời lẽ của ông thì không thể nào quên được. Vì đài truyền hình và đài phát thanh chỉ cách nhau sân vận động Hoa Lư nên chúng tôi lội bộ về đài. Gặp Vũ Thành An vào tăng cường, tôi giao cuốn băng ghi âm cho anh yêu cầu hoàn chỉnh với nhạc hiệu và cho phát thanh cứ 15 phút một lần.</p>
<p>Sau khi tắm rửa xong, tôi ghé qua phòng tin tức. Ðủ tám biên tập viên và chủ bút cho ca chiều. Ông H.C đưa tôi một bản tin của AP nói đến việc di chuyển của hàng không mẫu hạm chở trực thăng Midway ra khỏi Vịnh Thái Lan hướng về Việt Nam. Ông HC là một chủ bút rất giỏi và nhạy bén với tình hình. Lúc tôi còn học lớp huấn luyện phóng viên vô tuyến truyền thanh, ông là một người thầy tận tụy chỉ dẫn cho chúng tôi cách viết một bản tin, cách chuyển một bản tin từ tiếng Anh qua Việt ngữ, cách phỏng vấn và làm sao khi dự một cuộc họp báo xong chỉ 10 phút sau có một bản tin ngắn. Ông nói: Muốn được như vậy cần có kiến thức thời sự và nắm bắt được điểm chính trong những lời tuyên bố tràng giang đại hải của người chủ trì họp báo.</p>
<p>Khi tôi vừa xem xong bản tin AP, ông HC nói: Chắc mất rồi bạn ơi. Nhưng thôi kệ mẹ nó. Hút một điếu thuốc lào không. Tao có trà nóng ngon lắm. Hồi chiều trước khi đi làm, vợ mới mua cho một ít bánh bía nhân hạt sen mới sang chứ.</p>
<p>(…)</p>
<p><strong>Tái chiếm trường Bộ Binh Long Thành</strong></p>
<p>Đêm ấy tôi đã sống sót sau một trận chiến đấu đẫm máu và dã man nhất trong cuộc đời mười năm trận mạc. Cái lều của tôi bẹp dí. Chiếc máy PRC25 của tôi cũng bẹp dí. Chiến xa địch đã rút xa, tôi còn đứng sững trên đỉnh đồi nhìn theo chúng. Tay tôi còn cầm chắc quả lựu đạn lân tinh cuối cùng, tiếc rẻ.</p>
<p>Tôi bước rảo quanh ngọn đồi trọc đã xác xơ. Thuộc cấp của tôi chết phơi thây trên miệng hố, la liệt đó đây. Không còn khẩu M72 nào, lựu đạn cũng cạn, pháo yểm không có, không yểm cũng không có. Tôi quyết định cho đơn vị rút lui. Một trái mìn cóc nổ dưới chân chuẩn úy Trung, người sĩ quan trẻ theo sau lưng tôi đi kiểm tra trận chiến, bàn chân trái của Trung toe ra như miếng bã trầu đẫm máu. Tôi dìu Trung vào cái lều sập của đại úy Hoàn, xác đại úy tiểu đoàn phó đã bị pháo 100 ly xẻ thành từng mảnh, đầu văng một nơi, tay chân văng một ngả. Chúng tôi xuống đồi tuần tự, các đại đội 3,4,2,1 rút lui qua con suối dưới chân đồi, tất cả đã ra đi êm ả, tất cả đã ra đi kiêu hùng. Đêm 28-4-1975 máu chúng tôi, máu những người biệt động còn tưới ướt đẫm một ngọn đồi không tên của quê hương.</p>
<p>Khi chúng tôi xuống tới vườn cam dưới chân đồi thì xe tank địch ào ạt lên đồi lần thứ tư. Những trái đạn 100 ly bắn dài, vượt qua đỉnh đồi, bay trên đầu chúng tôi rồi rơi bên bờ suối. Đất đá bụi mù sau lưng chúng tôi. Trong đêm tối, tôi cho quân lội nhanh qua bờ bên kia.</p>
<p>Đêm 28-4, chợ chiều rồi! Không ai đáp ứng lời xin tác xạ yểm trợ. Không ai đáp ứng lời tôi xin một trái hỏa châu! Qua suối, tôi cho đơn vị dấu đội hình trong bãi mía. Từ đây, sáng hôm sau tôi nhìn lại bên kia bờ, ngọn đồi trọc đẫm máu không một bóng người, những chiếc xe tank bị phá hủy đêm qua đã được kéo đi. Không thấy bóng dáng quân thù, không nghe tiếng động cơ chiến xa. Ngọn đồi nằm phơi dưới nắng mai im ắng. Vào lúc này, bên trái cái lô cốt hướng bắc, cạnh một gốc bằng lăng, đại úy Hoàn TĐP/TĐ82 BĐQ thoải mái nằm ngủ yên trên đó, đầu một nơi, thân một ngả. Có cả chục người lính can trường yên nghỉ trên ngọn đồi này cùng ông.</p>
<p>Gió ngàn lồng lộng, hoa mía bay lồng lộng…</p>
<p>(Vũ Mộng Long)</p>
<p><strong>&#8211; :</strong> Sư đoàn 325 (F325) <strong>đánh chi khu Long Thành, ngoài</strong> đụng độ với biệt động quân ở trên còn đụng trận với thủy quân lục chiến ở khu vực này. Sư đoàn 325, tổng trừ bị quân đội miền Bắc, đơn vị chủ lực trong trận tấn công Nha Trang, Phan Rang ngày đầu tháng 3-1075.</p>
<p><strong>Giây phút hấp hối của VNCH </strong></p>
<p>Tôi áp dụng phương thức khẩn cấp: Loại bỏ tất cả những tin nào có thể gây hoang mang trong dân chúng khiến họ đổ vào sứ quán Mỹ trên đường Thống Nhất vì những vụ đạp lên nhau và những vụ người di tản cố gắng trèo lên tường sứ quán bị TQLC Hoa Kỳ đánh trọng thương đã xảy ra. Trong những ngày cuối cùng, phải nói rằng các hãng thông tấn AP, UPI. Reuters làm việc rất hữu hiệu. Những bản tin họ phát đi giúp tôi nhận ra ngay chiều hướng của tình thế:</p>
<p>“Kế hoạch dùng TQLC bảo vệ hành lang Saigon-Vũng Tầu để di tản những nhân viên cao cấp của chính phủ VNCH mà tính mạng sẽ nguy hiểm nếu lọt vào tay Bắc Việt không thể nào thực hiện được sau khi có lời tuyên bố của Thủ tướng Vũ Văn Mẫu đòi Hoa Thịnh Ðốn rút toàn bộ nhân viên Mỹ ra khỏi Việt Nam.<br />
Khoảng chín giờ tối 28, chủ bút H.C đưa tôi bản phân tích của hãng thông tấn AP và nói:</p>
<p>Bọn Mỹ có thể sẽ phải áp dụng kế hoạch di tản khẩn cấp nhân viên Mỹ bằng trực thăng vào ngày mai ra tầu Midway lúc đó đậu cách Vũng Tầu có 40 hải lý và hai hàng không mẫu hạm và các khu trục hạm của Ðệ thất hạm đội cũng đang tiến sát Vũng Tầu.</p>
<p>Ông còn cho tôi xem một bản tin khác nói đến việc mất tuyến Long Khánh và bộ chỉ huy của tướng Lê Minh Ðảo rút về tới Biên Hòa. Bản tin cũng còn nói Sư đoàn 18 là sư đoàn duy nhất của VNCH còn chống trả khá mãnh liệt trên đường rút. Văn phòng trưởng của hãng thông tấn AP lúc đó là George Esper cũng gởi trên máy một bản tin rất dài về việc rút lui có trật tự của Liên đoàn 81 Biệt kích dù và các sinh viên sĩ quan các khóa cuối cùng của trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt.</p>
<p>Ông hỏi tôi: Loan chứ?. Tôi nói: Có gì mà không loan nhưng sẽ phải viết rất khéo, tránh gây xúc động cho gia đình những đơn vị nào chưa biết số phận chồng con họ ra sao. Vị chủ bút đầy kinh nghiệm này cười và nói: Ðược cậu khỏi lo, đó là nghề của tao.</p>
<p>Sở dĩ tôi nhắc lại chi tiết này để cho thấy rằng cho tới giờ phút hấp hối của chế độ đài phát thanh Saigon vẫn là tiếng nói VNCH, tuy có người bỏ chạy nhưng không phải là tất cả. Những người được giao phó làm công việc của mình vẫn làm việc với một thái độ bình tĩnh…</p>
<p>Chứ không đã <i>tan hoang như Văn Tiến Dũng</i> viết trong cuốn <i>Ðại thắng mùa xuân</i>, một cuốn sách viết <i>hết sức cẩu thả và dựng đứng nhiều chi tiết</i>.</p>
<p>(…)</p>
<p><b>Tháng Tư đen</b><b> </b><b>&#8211; A</b><b></b></p>
<p>Vào đúng dịp kỷ niệm 37 năm kết thúc cuộc chiến Việt Nam, một cuốn sách về những ngày cuối của xung đột kéo dài hai thập niên với sự thiệt mạng của hàng triệu người đã ra mắt mang tên <i>Tháng Tư đen</i>, sách dày gần 600 trang của tác giả George J. Veith vẽ lại bức tranh hãi hùng của những trận chiến cuối cùng với sự thiệt mạng của 100.000 lính Nam Việt Nam.</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2016/05/clip_image002-3.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/05/clip_image002_thumb-150x150.jpg?strip=all" alt="clip_image002" width="109" height="163" border="0" /></a></p>
<p>Bản thân Hà Nội ước tính họ mất 6.000 bộ đội chỉ trong vài ngày cuối tháng Tư năm 1975, theo điểm sách <i>Tháng Tư đen</i> trên báo Wall Street Journal của chuyên gia tư vấn quốc phòng Mark</p>
<p>Moyar, người cũng là tác giả cuốn <i>Thắng lợi bỏ lỡ: Cuộc chiến Việt Nam, 1954-1965</i>.</p>
<p>Moyar đánh giá <i>Tháng Tư đen</i> đã &#8220;điền vào khoảng trống lịch sử&#8221; của giai đoạn 1973-1975 khi Hoa Kỳ đã rút quân và cuộc chiến Việt Nam không còn là mối quan tâm hàng đầu của các phóng viên Hoa Kỳ, khiến các tài liệu tham chiếu bằng tiếng Anh để viết về giai đoạn này không có nhiều. Ông Veith nhận xét thất bại trong tháng 4-1975 không phải do sự lúng túng của chính quyền miền Nam và càng không phải do sự yếu kém trên chiến trường của lực lượng VNCH. Theo ông, lực lượng Nam Việt Nam bao gồm nhiều chỉ huy từng đẩy lùi cuộc tấn công của miền Bắc hồi năm 1972 và đã có những trận đánh thành công nhưng ít được biết tới trong giai đoạn 1973-1975. Theo bài điểm sách của chuyên gia Moyar nói: Ông Veith đã minh chứng rằng lý do gốc rễ của sự thất bại ở miền Nam là việc cắt giảm trợ giúp của quốc hội Hoa Kỳ trong năm 1974. Ngoài ra nguyên nhân khiến VNCH bị sụp đổ để rộng đường dư luân. Đồng thời qua tuyên bố của tướng Westmoreland (tại Nam Cali vào tháng 9, 1995), vì mục tiêu chiến lược của Mỹ, nên ông ta <i>không được tiến quân ra Bắc, không được phá đường mòn HCM</i>(!).</p>
<p>Ông Veith nói sự thiếu hụt không quân cũng làm cho miền Nam không thể cho máy bay ném bom lực lượng miền Bắc ngay cả khi họ biết những nơi đối thủ tập trung đông quân (1). Theo các con số từ sách <i>Tháng Tư đen</i> được cây viết Moyar trích dẫn, Nam Việt Nam có tới hơn 760.000 binh sĩ nhưng chỉ tập hợp được 110.000 ở Sài Gòn trong trận đánh cuối cùng.</p>
<p>Thêm nữa việc dân thường di tản với số lượng lớn cũng ảnh hưởng đến khả năng triển khai và di chuyển quân của Nam Việt Nam. Ông Veith nói việc Bắc Việt Nam giết hại những người không cầm súng ở Huế năm 1968 và dọc Quốc lộ 1 năm 1972 khiến người dân phát hoảng và họ đã tràn ra các ngả đường khi quân miền Nam rút đi. Việc tắc nghẽn đường và cầu khi dân thường di tản làm cho một số đơn vị chiến đấu của VNCH không rút kịp và bị lực lượng miền Bắc tiêu diệt. Một trong những ví dụ ông Veith đưa ra và được chuyên gia Moyar dẫn lại là đợt rút quân của Nam Việt Nam để cố thủ ở Đà Nẵng.</p>
<p>Phần kết thúc bài điểm sách cuốn <i>Tháng Tư đen</i>, chuyên gia quốc phòng Moyar nói cuốn sách là lời nhắc nhở Hoa Kỳ về cái giá phải trả bằng nhân mạng khi rời bỏ một đồng minh. Ông nói 100.000 lính Nam Việt Nam, những người từng sát cánh với Hoa Kỳ trong các trận đánh cuối cùng, đã bỏ mạng, bị hành quyết tức thì hay chết vì bị hành hạ trong các trại &#8220;cải tạo&#8221;. Hơn nửa triệu người Nam Việt Nam cũng đã bỏ mạng trên biển khi bỏ trốn chế độ Cộng sản.</p>
<h5>(Alan Dawson)</h5>
<p>(1)<b> </b>Xem<b> “</b>Rules Of Engagement” của Mark Berent ở trang dưới.</p>
<p><b>&#8211; :</b> George J. Veith là nhà văn đồng thời cũng là sử gia.</p>
<p><b>&#8211; :</b> <i>Tháng Tư đen</i>, dịch giả Nguyễn Ngọc Anh.</p>
<p>Nguyên tác <i>Black April: The Fall of South Viet Nam</i>, tác giả George J. Veith.</p>
<p><b>&#8211; : </b>Khác với cùng tựa đề <i>Tháng Tư đen</i> của dịch giả Nguyễn Kim Vinh.</p>
<p>Nguyên tác <i>Cruel April</i> (The Fall Of Sai Gon), tác giả Ouvier Todd).</p>
<p><b>Tháng Tư đen </b><b>&#8211; B</b><b></b></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2016/05/clip_image004.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image004" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/05/clip_image004_thumb.jpg?strip=all&fit=196%2C148" alt="clip_image004" width="196" height="148" border="0" /></a></p>
<p>Cú lừa đảo lớn nhất thế kỷ 20 do Cộng sản Việt Nam thực hiện, đã hoàn toàn thành công bằng “Cái chết của Sài Gòn” ngày 30-4-1975, khi quân đội chính quy Bắc Việt dưới là cờ ngụy trang hai màu xanh đỏ với ngôi sao vàng của Mặt trận giải phóng miền Nam, tiến vào thủ đô Sài Gòn. Hàng triệu người miền Nam, và hàng triệu người miền Bắc cùng rơi lệ trong ngày đó.</p>
<p>Người ta không chỉ khóc vì đau khổ mà còn khóc vì sung sướng nữa. Không chỉ ở các nước thuộc khối xã hội chủ nghiã, ngay ở các nước phương Tây, và ngay chính ở Mỹ người ta cũng ăn mừng ngày 30-4-1975. Để thoả mãn cái mặc cảm tự ti thua kém chăng? Ngày 30-4-1975, ở Paris, London, Washington, những người phản chiến và thiên tả mở champagne ăn mừng, rồi tràn ra đường reo hò cho chiến thắng của người cộng sản miền Bắc với những đoá hoa cẩm chướng màu đỏ đeo trên áo hay cài trên tóc. Nhưng cuộc vui đã không kéo dài.</p>
<p>Phải mất<i> </i>“20 năm đánh giết”<i> </i>mới có được “một ngày” vui toàn thắng, thế mà niềm vui chiến thắng lại vội sớm ra đi. Nhất là đối với những người cộng sản miền Nam trong Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam (1973), tiền thân là Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam được thành lập ngày 20-12-1960 ở Tân Lập, một xã trong vùng “giải phóng” Tây Ninh theo nghị quyết của miền Bắc năm 1959, với nhiệm vụ kết hợp các lực lượng võ trang ở miền Nam.</p>
<p>Mặc dù là con đẻ của người miền Bắc, nhưng mặt trận giải phóng luôn tuyên truyền và xuất hiện trong mắt của thế giới, như một phong trào võ trang của nhân dân miền Nam tự đứng lên để giải phóng miền Nam. Và họ đã được 70 quốc gia (1) trên thế giới công nhận sau đó.</p>
<p>Cuộc vui không kéo dài cho những người cộng sản miền Nam, vì ngày 15-11-1975, chỉ 7 tháng sau ngày chiến thắng 30-4. Tại dinh Độc Lập cũ, và người miền Bắc tuyên bố: ”Thống nhất đất nước, nước Việt Nam là một”. Mặt trận giải phóng miền Nam đã bị các “đồng chí lãnh đạo miền Bắc” khai tử như VNCH đã bị khai tử với “Cái chết của Sài Gòn” 7 tháng trước.</p>
<p>Những người miền Nam ngỡ ngàng nhớ lại lời Phạm Văn Đồng tuyên bố năm 1968 tại Hà Nội: Miền Nam sẽ có chính phủ và chế độ theo sự chọn lựa riêng. Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, bộ trưởng y tế chính phủ cách mạng lâm thời là người đầu tiên trả lại thẻ đảng cùng với…”niềm tin cách mạng”. Phạm Văn Đồng chấp thuận đơn xin ra khỏi đảng của bà với điều kiện <i>chỉ được công bố 10 năm sau đó</i>. Bộ trưởng tư pháp chính phủ cách mạng lâm thời Trương Như Tảng sau đó đã xuống thuyền vượt biên qua Pháp. Và ngay cả tướng Trần Văn Trà, chủ tịch ủy ban quân quản Sài Gòn ngày nào <i>cũng được về hưu non dưới hình thức quản thúc tại gia</i>.</p>
<p>Thật ra mặt trận giải phóng đã không còn lực lượng võ trang của mình từ năm 1968. Trong cuộc Tổng tấn công Tết Mâu Thân năm 1968, những nhà lãnh đạo miền Bắc sau khi vi phạm “Thoả thuận ngưng bắn đón Tết Mâu Thân” giữa hai chính phủ, đã <i>mượn tay người Mỹ và quân đội VNCH giết chết gần 80% lực lượng võ trang của mặt trận giải phóng</i> (2), khi đưa những “người đồng chí miền Nam” ra làm lực lượng xung kích, dẫn đường cho quân chính quy Bắc Việt đi sau, trong cuộc tấn công vào các thành phố miền Nam <i>để ngăn trừ hậu hoạn sau này</i>.</p>
<p>Thế giới bắt đầu hoài nghi với những cái nhìn quan ngại về Việt Nam, nhưng 70 quốc gia đã từng công nhận Mặt trận giải phóng miền Nam vẫn không lên tiếng sau ngày Chính phủ cách mạng lâm thời bị khai tử. Trong thế giới ngày càng có mấy ai đủ can đảm để thú nhận những lỗi lầm của mình? Phải mất 40 năm người ta mới hiểu rõ điều gì đang xẩy ra ở Liên Xô. Phải mất 30 năm người ta mới hiểu rõ điều gì đang xẩy ra ở Trung Quốc. Nhưng chỉ cần 3 năm người ta hiểu ngay điều gì đang xẩy ra ở Việt Nam. Lương tâm của thế giới bắt đầu rúng động trước thảm cảnh thuyền nhân Việt Nam, với những con người liều chết bỏ nước ra đi ngày càng đông. Người Mỹ đã rút quân từ năm 1973, chính quyền Sài Gòn đã chết từ năm 1975. ”Mỹ đã cút, Ngụy đã nhào” rồi, vậy điều gì đã khiến người dân Việt Nam liều chết rời bỏ đất nước ra đi, trên những chiếc thuyền đánh cá nhỏ bé được chế tạo không phải để vượt biển.</p>
<p>Những trí thức thiên tả, những người phản chiến đã từng ủng hộ nhà cầm quyền Hà Nội và Mặt trận giải phóng, những người đã đeo những bông hoa cẩm chướng màu đỏ trên áo và cài bên tai, những người đã thức suốt đêm uống champagne ờ Paris, London, Washington ăn mừng ngày 30-4-1975 năm xưa bỗng thấy lương tâm mình chao đảo. Lại những cuộc xuống đường ở Washington do Joan Baez chủ xướng, nhưng lần này không phải để ủng hộ nhà cầm quyền Hà Nội, mà là để lên án chính phủ miền Bắc. Và với những giọt nước mắt muộn màng, những trí thức thiên tả phương Tây đã thú tội với người Việt Nam bằng cách quyên góp tiền mua tàu cứu vớt người Việt Nam vượt biển.</p>
<p>Nhưng lịch sử đã sang trang rồi.</p>
<p>Những giọt nước mắt hối hận muộn màng của thế giới, và cả của những người chiến binh miền Bắc tiến vào Sài Gòn ngày 30-4 năm xưa, không thể làm sống lại VNCH.</p>
<p>VNCH đã chết 40 năm rồi. Nhưng cái chết của VNCH đã không trở thành vô ích. VNCH đã đóng góp phần mình vào công cuộc chống lại sự phát triển của chủ nghiã cộng sản cho nhân loại, đã giúp thế giới phá vỡ huyền thoại “cách mạng và giải phóng” để nhận diện rõ ràng chân tướng của người cộng sản. Nhưng bất hạnh thay, VNCH đã hy sinh mà không giúp được chính mình trước cú lừa đảo lớn nhất trong thế kỷ 20, hay còn có thể là cú lừa đảo lớn nhất trong lịch sử nhân loại, mà đảng Cộng sản Việt Nam đã biên kịch, đạo diễn và thủ vai chính.</p>
<p>Bằng cái chết của Sài Gòn ngày 30-4-1975, Việt Nam là đất nước bất hạnh cuối cùng trên thế giới, rơi vào tay người cộng sản sau cái chết của Nam Vang 18 ngày trước đó.</p>
<p>(The Fall Of Sai Gon &#8211; Olivier Todd)</p>
<p>Olivier Todd là nhà văn, nhà báo thiên tả Pháp. Thiên tả và là chuyên gia về chiến tranh VN đã viết nhiều bài báo gây bất lợi cho VNCH. Đến năm 1973, sau Hiệp định Paris mới có cơ hội nhìn thấy sự thật nên đã nhận sai lầm và viết tác phẩm nổi tiếng <i>Cái chết của Sài Gòn</i>.</p>
<p>(1) Chỉ có 23 nước công nhận Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam, trong đó có 21 nước đã đặt quan hệ ngoại giao. Những nước này là các nước thuộc khối Xã hội chủ nghĩa và một số nước thuộc Thế giới thứ ba.</p>
<p>(2) Trận Mậu Thân, xem Thâm u bí sử 1 với Võ Văn Kiệt, Thâm u bí sử 2 với Trần Văn Trà, nằm ở tiết mục Ngày thứ 52 – Sài Gòn ngày dài nhất: 30-4-1975.</p>
<p><b>Quân sử ngoại truyện </b></p>
<p>Tháng 9 năm 1975, tại Hà Nội, Hội nghị trung ương lần thứ 24 của Đảng lao động Việt Nam xác định mục tiêu thống nhất đất nước về mọi mặt. Đại diện đoàn chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, do ông Trường Chinh đứng đầu, và đoàn Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam, do ông Phạm Hùng đứng đầu. Thống nhất đất nước về mọi mặt:</p>
<p>Xóa bỏ khu phi quân sự theo vĩ tuyến 17.<br />
Quốc kỳ, quốc huy là cờ đỏ sao vàng.<br />
Lấy tên nước là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.<br />
Quốc ca là bài Tiến quân ca.<br />
Thủ đô là Hà Nội.<br />
Đổi tên thành phố Sài Gòn &#8211; Gia Định thành…thành phố Hồ Chí Minh.<br />
<b></b></p>
<p><b>Những quy tắc giao chiến </b></p>
<p>Thiếu tá phi công Mark Berent cho rằng Mỹ và đồng minh Việt Nam có thể đã chiến thắng tại chiến trường vào những năm 67, 68. Nhưng qua những vụ ngưng ném bom trên đường mòn Hồ Chí Minh và miền Bắc Việt Nam, đã giúp cho Bắc Việt mang quân và vũ khí vào miền Nam để đi đến chiến thắng cuối cùng vào tháng 4-1975. Hãy nghe Mark Berent tâm sự:</p>
<p>Lần đầu tiên tôi tham chiến tại Việt Nam là vào năm 1965. Ðơn vị của tôi cất cánh từ căn cứ Ubon, Thái Lan. Tôi thuộc phi đoàn Cú Ðêm (Night Owls), có nhiệm vụ bay trên đường mòn Hồ Chí Minh trong vòng 7 tháng. Cuối cùng, 5 tháng chót tôi được chỉ định chỉ huy Woff FAC (Lực lượng không kiểm tiền phương (Forward Air Control)). Lực lượng này bao vùng đường mòn Hồ Chí Minh từ Lào đến suốt Bắc Việt Nam. Ðó là thời điểm mà tổng thống Johnson ra lệnh ngưng ném bom. Do đó, có lúc  các phi vụ được chấp thuận ném bom, có lúc phi vụ không được chấp thuận. Chẳng cần dấu diếm, nhiều lần một số anh em phi công chúng tôi <i>tự thi hành nhiệm vụ thả bom đường mòn, mà không cho ai biết</i>.</p>
<p>Trong giai đoạn đó chúng tôi bay trên lãnh thổ Bắc Việt. nhưng vì “Những quy tắc giao chiến” (Rules Of Engagement): <i>Chúng tôi đã chiến đấu một cuộc chiến mà tay chúng tôi đã bị trói chặt, mắt chúng đã bị chọc thủng mù lòa và một nửa đạn dược trang bi đã bị cắt giảm. </i>Trước kia tôi vẫn nghĩ rằng với sự giúp đỡ của Mỹ, chính phủ Sài Gòn biết phải làm gì để chiến thắng. Nhưng một thời gian sau đó, tôi nhận thức được rằng: <i>Hình như người ta (Mỹ) không muốn và không cho phép để thắng cuộc chiến tranh này!</i> chỉ vì Hoa Thịnh Ðốn đã áp đặt cái nguyên tắc giao chiến oái oăm này!?. Chúng tôi cũng không thể thả bom đường xe lửa tiếp tế từ Trung Cộng vào Bắc Việt. Mỹ cũng không thể phong tỏa hải cảng Hải Phòng…Tất cả những gì Nixon làm năm 1972 là để Bắc Việt có cơ hội mang tiếp tế vào miền Nam. Ðáng lẽ chúng ta phải chặn đứng việc Bắc Việt tiếp tế vũ khí cho chiến trường miền Nam mới phải?<i></i></p>
<p>Thật là đau lòng cho một cuộc chiến mà chúng ta không muốn thắng!</p>
<p>(To Bear Any Burden &#8211; Al Santoli)</p>
<p><b>&#8211; : </b>Trần Văn Trà, tư lệnh khu 7 báo cáo về tình hình quân sự. Phạm Hùng hỏi về tiếp liệu đạn dược, viên cán bộ phụ trách hậu cần trả lời: “Báo cáo đồng chí, ta có đủ đạn để bắn (bọn Ngụy) sợ đến ba đời …”. <em>(…trích lục lại)</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Lạc đạn</b></p>
<p>Lịch sử xuất phát đường Hồ Chí Minh, hay đúng ra là một hệ thống đường dùng để tiếp viện cho các phong trào võ trang của cộng sản ở miền Nam, bắt đầu sau khi Nghị quyết 15 ra đời vào tháng 5-1959. Trong quyết nghị này, nói một cách tổng quát, bí thư thứ nhất Lê Duẩn biểu quyết là phải dùng bạo lực võ trang để chiếm miền Nam và thống nhất đất nước. Muốn thực hiện mục đích đó, miền Bắc phải tìm cách du nhập vũ khí, cán bộ khung (cán bộ nồng cốt) vào Nam để chuẩn bị cho một cuộc chiến trường kỳ.</p>
<p>Từ nghị quyết đó, cộng cản Việt Nam cho thành lập một tổ chức có tên là “Đoàn 559” để tìm và thành lập một con đường tiếp vận vào Nam. Về giai đoạn thành hình đường Hồ Chí Minh, tác phẩm cho một cái nhìn tổng quát và khá chi tiết là Mở đường Trường Sơn &#8211; đường mang tên bác, của Thiếu tướng Võ Bẩm, lúc đó mang quân hàm thượng tá.</p>
<p><strong>(Binh đoàn, binh Trạm, và đường đi B – Nguyễn Kỳ Phong)</strong></p>
<p><b>Những quy tắc giao chiến</b></p>
<p>Các phi công của không quân Hoa kỳ khẳng định rằng, tăng cường ném bom Bắc Việt ngay từ đầu chứ không phải leo thang dần dần theo kiểu Johnson hẳn đã có thể nghiền nát Bắc Việt trước khi Liên Xô, Trung Quốc kịp giúp họ xây dựng các đơn vị phòng không hết sức hữu hiệu.</p>
<p>Đại tá Harry G. Summers Jr., một nhà phân tích xuất sắc, tỏ ra ít cay cú với báo chí và chính trị gia hơn là nhiều sĩ quan đồng sự của ông. Nhưng ông phê phán các nhà kế hoạch quân sự Mỹ về việc truy lùng quân du kích, những người được bố trí để quấy rối quân Mỹ cho đến khi các sư đoàn Bắc Việt có thể tiến hành những cuộc tấn công quy mô lớn. Nói tóm lại, người Mỹ đã tự làm cho mình kiệt sức vì những nỗ lực vô ích để chống nổi dậy: <i>Giống như một con bò mộng chỉ tấn công tấm choàng màu đỏ của người giác đấu hơn là tấn công chính người giác đấu.</i></p>
<p>(“Vietnam – A History” &#8211; Stanley Karnow)</p>
<p>Stanley Karnow là phóng viên có mặt ở Việt Nam từ đầu đến cuối cuộc chiến tranh. Tác phẩm <i>Vietnam – A History</i> của ông là một cuốn sử về nước Việt Nam hiện đại từ khi tiếp xúc với phương Tây, trọng tâm là cuộc chiến tranh giữa hai miền Nam-Bắc.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Lạc đạn</b></p>
<p>Để sửa soạn cho đường Hồ Chí Minh, tướng Trà đã đích thân đến nhà của bí thư Lê Duẫn, để xin cho một số cán bộ nồng cốt, đa số là các cán bộ tập kết ra bắc năm 1955 như Trà xâm nhập trở lại miền Nam. Tướng Trà nói ông xin 100 người nhưng Lê Duẫn chỉ cấp cho trước 25 người như một thử nghiệm đầu tiên. Sách của tướng Trà chỉ nói sơ qua đường Hồ Chí Minh, và những chi tiết tổng quát đều giống như những gì tướng Võ Bẩm viết. Nhưng qua sách của tướng Trà chúng ta biết được thêm cộng cản Việt Nam có hai kế hoạch song song: nhiệm vụ dọn đường, tuyển mộ cán bộ cấp dưới là nhiệm vụ của tướng Bẩm, tuyển chọn một số cán bộ “khung,” cán bộ có kinh nghiệm quân sự gởi vào B để thành lập và chỉ huy các đơn vị chủ lực Miền (các trung đoàn cơ hữu của Trung ương cục miền Nam), là nhiệm vụ của tướng Trà. Theo hai sách này, toán phụ trách chuyển vận đầu tiên được gọi là Tiểu đoàn 301. Cấp số quân khoảng 470 người, được tuyển chọn từ Sư đoàn 305, một đơn vị được thành lập từ các đoàn quân từ miền trung (Liên khu 5, trong thời chiến tranh Việt-Pháp) tập kết ra Bắc.</p>
<p>Trên đường di chuyển bị oanh tạc, bị dội bom phá hủy, tổng số thiệt hại về nhân mạnh trên đường Hồ Chí Minh là 12.487 người chết và 21.802 bị thương.</p>
<p>(Binh đoàn, binh Trạm, và đường đi B – Nguyễn Kỳ Phong)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Góp nhặt…ghi chép…</b></p>
<p>Alan Dawson nói 100.000 lính miền Nam, những người từng sát cánh với Hoa Kỳ trong các trận đánh cuối cùng, đã bỏ mạng, bị hành quyết tức thì hay chết vì bị hành hạ trong các trại cải tạo. Hơn nửa triệu người miền Nam cũng đã bỏ mạng trên biển khi bỏ trốn chế độ Cộng sản.</p>
<p>Melvin R. Laird cũng nói vào thời điểm này, miền Bắc đã tổn thất 1,1 triệu binh sĩ và thường dân. Ông thêm: Bắc Viêt chiếm đoạt được miền Nam bằng võ lực nhưng đã không chiếm được lòng dân. Chính sách xã hội hoá miền Nam và củng cố xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc đã thất bại hoàn toàn. Cộng sản Việt Nam đã theo đuổi một cuộc chiến mà <i>không có kẻ chiến thắng</i>. Chỉ có <i>nhân dân ở cả hai miền Bắc và Nam là những kẻ thua cuộc</i> vì phải trả một giá rất đắt bằng hàng triệu sinh mạng và đổ vỡ thê thảm về vật chất và tinh thần. Biết bao gia đình bị ly tán và đạo đức suy đồi, mà ảnh hưởng tai hại sẽ còn kéo dài qua nhiều thế hệ.</p>
<p><b>&#8211; :</b> Con số lính miền Nam tử trận 220.350 người được dẫn từ tài liệu lưu trữ của Bộ quốc phòng Mỹ, tính từ năm 1965 đến năm 1974. Cộng thêm con số tử trận trong giai đoạn 1974-1975 và trước đó cho ra ước tính khoảng hơn 250.000 tử trận. Nhà sử học R.J. Rummel đưa ra con số ước tính cao nhất có thể lên tới 315.000.</p>
<p><b>&#8211; :</b> Theo tài liệu Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975):</p>
<p>1,1 triệu quân nhân chết; trong số đó có 300.000 quân nhân mất tích (chết trận mất xác).</p>
<p><b>Cuộc chiến tranh không có người chiến thắng</b></p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2016/05/clip_image006.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image006" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/05/clip_image006_thumb.jpg?strip=all&fit=93%2C144" alt="clip_image006" width="93" height="144" border="0" hspace="12" /></a></p>
<p>Tác phẩm <i>VietNam – A History</i> của Stanley Karnow,</p>
<p>trích đoạn ở dưới có tựa đề: “The War Nobody Won”.</p>
<p><i>Cuộc chiến Việt Nam là một cuộc chiến tranh không có người chiến thắng, ít ra là theo ngôn ngữ nhân văn</i>, đó là cuộc chiến tranh giữa các nạn nhân. Nguồn gốc của nó cực kỳ phức tạp, những bài học của nó luôn được tranh cãi và hậu quả của nó các thế hệ mai sau nhận định. <i>Nhưng cho dù đó là một cuộc dấn thân hợp lý hay một nỗ lực sai lầm, nó cũng là một bi kịch mang tầm vóc sử thi và văn học sử. </i></p>
<p>Tháng giêng năm 1989, tại thành phố Hồ Chí Minh, tên trước kia là Sài Gòn, một cựu thương binh du kích Việt Cộng tên là Trần Văn Lê đã đưa cho người phóng viên truyền hình Mỹ Morley</p>
<p>Safer một bài thơ mà ông ta viết để vinh danh sự trở lại của những “lính Mỹ”.</p>
<p>Bao nhiêu lính Mỹ<br />
Chết ở đất này?<br />
Bao nhiêu người Việt<br />
Vùi dưới cỏ cây?<br />
Hòa bình gặp lại,<br />
Bên ly rượu đầy<br />
Nào cùng nâng chén<br />
Nước mắt tràn xuống tay.</p>
<p>(…)</p>
<p>Hơn bốn triệu binh lính và thường dân VN ở cả hai bên, tức là khoảng 10 phần trăm dân số bị chết hoặc bị thương. Đa số những người Nam Việt Nam chết được chôn cất trong những nghĩa trang gia đình hoặc dòng tộc. Đi thăm miền Bắc đất nước sau cuộc chiến, tôi đã thấy hàng hàng lớp lớp những bia mộ trắng trong mỗi nghĩa trang làng xã, mỗi tấm bia mang dòng chữ liệt sĩ. Nhưng những ngôi mộ ấy đều là mộ gió, thi hài của những người đã khuất đã bị xe ủi đẩy xuống những hố chôn chung trong những nấm mồ tập thể ở miền Nam, nơi họ ngã xuống.</p>
<p>(The War Nobody Won &#8211; Stanley Karnow)</p>
<p>(1) Mộ gió là ngôi mộ không có tử thi, hài cốt, mộ người chết đuối, chết trận không tìm được xác. Thân nhân làm hình nhân bằng rơm rạ và làm lễ an táng như lễ an táng thông thường.</p>
<p><b>Chuyện kể thời hậu chiến</b></p>
<p>Khi chiến tranh chấm dứt, gia đình hắn định mang hài cốt của hắn từ nghĩa trang liệt sĩ về quê. Nhưng đào mãi, đào mãi, <i>cái huyệt vẫn trống trơn</i>, không hề có vết tích gì cả. Có người nói: Anh ấy hiển thánh rồi! Lại có người đề nghị: Thôi thì mang tấm bia có tên tuổi của anh ấy về quê cũng được. Nhưng tấm bia bằng đá ấy lại quá nặng.</p>
<p>Cuối cùng, bố mẹ hắn quyết định chỉ đục tấm bia, lấy hai chữ “liệt sĩ” mang về nhà.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Biên Hoà không bị thất thủ</strong></p>
<p>Theo Chuẩn tướng Trần Quang Khôi: Có không ít bài viết lờ mờ hoặc viết sai về một số sự kiện trong cuộc chiến. Đặc biệt khi viết về Biên Hòa không có bên nào nói đúng. Ai cũng biết Biên Hòa là vị trí chiến lược của miền Nam, phi trường Biên Hòa còn là bản doanh BTL/Quân đoàn III. Để mất Biên Hòa là mất Sài Gòn, mất miền Nam VN. <a href="http://4phuong.net/ebook/13041362/20150552/chuong-20.html">Theo hồi ký Hoàng Cầm</a>:</p>
<p>(,,) Đã sang ngày <strong>28-4</strong>, như bộ chỉ huy chiến dịch thông báo, hầu hết các hướng phát triển thuận lợi, các binh đoàn chủ lực đã tới trước cửa ngõ Sài Gòn, địch lập tại đây một tuyến phòng thủ và cũng tại đây “lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh Đông Dương”, địch cấu trúc các tuyến hào chống tăng để chặn đối phương. Ngoài hầm hào, rào kẽm gai bãi mìn chống bộ binh ở các căn cứ, đồn bót sẵn có từ trước, địch đã thiết kế những trận địa mới, đào hào, rải mìn chống tăng, đưa các xe tăng M41, M48 nằm sâu dưới các ụ đất, các hầm hào có bao cát bao quanh, chĩa nòng pháo về các con đường tiến của xe tăng ta. Ngoài ra địch còn biến các dãy phố thành trận địa. Chúng chất lên đó những bao cát thành lô cốt, hoả điểm, thành những ổ đề kháng lợi hại. Chúng đặt súng M72 hoả tiễn chống tăng, súng máy 12.7 ly, ĐKZ 57 trên những tháp chuông, cửa sổ nhà tầng, sẵn sàng nhả đạn, chặn đường tiến của ta (…).</p>
<p>Vì vậy sáng ngày 30-4-1975, quân đội Bắc Việt đi đường vòng qua Biên Hòa để đánh vào Sài Gòn. <strong>Đ</strong>ến khi Chuẩn tướng <a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_Quang_Kh%C3%B4i">Trần Quang Khôi</a> được tỵ nạn chính trị tại Hoa Kỳ sau 17 năm tù đày trong trại cải tạo, có một số người mới biết sự thật rằng Biên Hòa không hề thất thủ.</p>
<p><b>Quân sử ngoại truyện </b></p>
<p>Sư đoàn 341 thuộc Quân đoàn 4) của Thượng tướng Hoàng Cầm bỏ Biên Hòa, đi đường vòng hợp quân với Quân đoàn 2 tấn công Sài Gòn vì địch ở căn cứ Biên Hoà, khu vực phòng thủ mạnh nhất của địch trước cửa ngõ Sài Gòn vẫn tiếp tục chống trả. Các đơn vị quân đoàn chưa vượt được sang sông Đồng Nai. Bốn giờ sáng, phân đội đi đầu của Sư đoàn 7 <strong>(Quân đoàn 4)</strong> tiến đến cầu sắt xe lửa Biên Hoà nhưng tăng không qua được vì cầu này yếu, trọng tải chỉ cho xe 12 tấn. Cầu Mới bị địch phá. <em>(Chiến tranh Việt Nam toàn tập &#8211; Nguyễn Đức Phương)</em></p>
<p><strong>Ngộ Không</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2016</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ngo-khng-tap-ghi-sau-40-nam-ky-10/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Kh&#244;ng : Tạp Ghi Sau 40 Năm &#8211; Kỳ 9</title>
		<link>https://t-van.net/ngo-khng-tap-ghi-sau-40-nam-ky-9/</link>
					<comments>https://t-van.net/ngo-khng-tap-ghi-sau-40-nam-ky-9/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 03 May 2016 14:11:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Ngộ Không: tạp ghi sau 40 năm]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không; tạp ghi sau 40 năm]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=26886</guid>

					<description><![CDATA[10 ngày cuối cùng của VNCH Thứ Sáu 25-04-1975 Khi đoàn xe chạy qua khỏi văn phòng của hãng hàng không Air America, người lái xe trước tắt đèn, Frank Snepp chở ông Thiệu trên xe sau cũng phải vội vã tắt đèn theo. Bên ngoài trời quá tối, bỗng Frank Snepp chợt nhìn thấy [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><b>10 ngày cuối cùng của VNCH </b></p>
<p><b>Thứ Sáu 25-04-1975</b></p>
<p>Khi đoàn xe chạy qua khỏi văn phòng của hãng hàng không Air America, người lái xe trước tắt đèn, Frank Snepp chở ông Thiệu trên xe sau cũng phải vội vã tắt đèn theo. Bên ngoài trời quá tối, bỗng Frank Snepp chợt nhìn thấy trùm Polgar chạy ra cách xe chỉ chừng mấy thước, anh ta đạp thắng thật gấp và những người ngồi băng sau kể cả ông Thiệu đều bị dội vào băng ghế trước, tuy nhiên chẳng có ai bị thương tích gì. Polgar mở cửa xe và dẫn ông Thiệu đến phi cơ đậu cách đấy không xa. Ông Thiệu quay lại vỗ vai và cám ơn Frank Snepp, mắt ông ta long lanh và nắm tay người tài xế Mỹ khá lâu, nói mấy lời cám ơn rồi bước vội đến phi cơ.</p>
<p>Đại tướng Trần Thiện Khiêm và đoàn tuỳ tùng cũng theo chân ông Thiệu. Đại sứ Graham Martin và đoàn vệ sĩ của ông đang đứng dưới một chiếc phi cơ vận tải C118 bốn động cơ của không lực Hoa Kỳ, ông đại sứ cùng Polgar tiễn đưa ông Thiệu và phái đoàn lên phi cơ rồi sau đó phi cơ cất cánh rời phi trường Tân Sơn Nhất bay đi Đài Bắc.</p>
<p>(…)</p>
<p><b>Bên lề trận chiến</b></p>
<p>Một thời gian sau đó, bà Anna Chennault tuân hành lệnh của Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford từ Hoa Thịnh Đốn qua Đài Bắc để gặp tổng thống Thiệu và đại tướng Khiêm.<br />
Bà Anna Chennault là vợ của vị tướng anh hùng thời Đệ nhị thế chiến, Trung tướng Claire Lee Chennault, tư lệnh Không đoàn 14 của không lực Hoa Kỳ hoạt đông ở Trung Hoa lục địa.</p>
<p>Bà Anna Chennault sau nầy là một nhân vật quan trọng trong bộ tham mưu tranh cử của ông Richard Nixon, bà là người trung gian trong sự liên hệ mật thiết giữa tổng thống Nixon và tổng thống Thiệu trong thời gian đó.</p>
<p>Nhiệm vụ trong chuyến đi này của bà Anna Chennault là chuyển lời tổng thống Hoa Kỳ yêu cầu</p>
<p>cựu tổng thốngThiệu và cựu thủ tướng Khiêm đừng vào nước Mỹ.</p>
<h4>(Những ngày cuối của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ở Sài Gòn &#8211; Nguyễn Tấn Phận)</h4>
<p>&#8211; : Về sau, ông Nguyễn Văn Thiệu từ Anh sang Mỹ, ông sống lưu vong lặng lẽ suốt phần đời còn lại cho đến<i> ngày 29</i>-9-2001, và mất tại Boston.<b></b></p>
<p><b>Góp nhặt…ghi chép… </b></p>
<p>(..trích lục lại)</p>
<p>Ngày 29 là ngày có nhiều góp nhặt…để ghi chép…như <strong>ngày 29-9-2001, ông Thiệu nằm xuống.</strong> Ngày 29-3-1975, ngoài Chuẩn tướng Nguyễn Văn Điềm tử trận, còn chuyện<b> </b>Đà Nẵng di tản với tướng Trưởng, tướng Khánh, tướng Thoại, tướng Lân, và tướng Hình…</p>
<p><b>Tháng Ba buồn … hiu!</b><b></b></p>
<p>(…tiếp ở bãi biển dưới chân núi Sơn Trà)</p>
<p>Mặt trời khuất bóng về hướng tây, cái váng vàng úa của buổi chiều tàn phản chiếu lại lên bầu trời một mầu ảm đạm thê lương! Hay tại tôi “lòng buồn cảnh có vui đâu bao giờ”!</p>
<p>Màn đêm bắt đầu bao phủ cũng là lúc tư lệnh TQLC đến rồi lần lượt các vị tư lệnh quân binh chủng khác đáp trực thăng về đây mở cuộc họp ngay tại TOC/HQ (Trung tâm hành quân hải quân). Ngồi ở cửa hầm TOC với Tr/úy Tạ Hạnh, chúng tôi nhận diện được quý tướng lãnh vào họp trong TOC là Trung tướng tư lệnh QĐ1 Ngô Quang Trưởng, Trung tướng tư lệnh tiền phương QĐ1 Lâm Quang Thi, Thiếu tướng tư lệnh TQLC Bùi Thế Lân, Thiếu tướng Nguyễn Duy Hinh <a href="http://tl.xn--s-lia.3.bb/">tư lệnh SĐ3 BB</a>, tướng tư lệnh.HQ Hồ Văn Kỳ Thoại, tôi không biết rõ cấp bậc hải quân nên cứ gọi là…ông tướng cho chắc ăn</p>
<p>Cũng cần nói thêm là trong các vị tướng tư lệnh đến họp, tôi không thấy 2 vị tư lệnh “không quân”, (nói lại cho rõ là tôi không thấy chứ chưa hẳn là nhị vị này vắng mặt), Đó là tướng “không quân” <a href="http://tl.xn--s-lia.1.bb/">tư lệnh SĐ1 BB</a> (1), đại đơn vị của ông đã bị cái “cầu phao” lừa, còn tướng Khánh, tư lệnh không quân Vùng 1 chả nhẽ cũng…“không quân” nên không cần đến dự? Có cũng như không chăng? Vì mấy ngày này chẳng thấy phản lực bỏ bom đâu cả mà bỏ đi đâu! Chằng thấy chuồn chuồn chuyển quân, tiếp tế, tải thương đâu cả! Chẳng lẽ “mắng mí phí táy, thiểm zường tú lọoc tài zi?”, có nghĩa là chuồn chuồn bay mất thì mưa ngập bờ ao!</p>
<p>Trong khi các vị tướng lãnh đang họp trong TOC thì bộ đội nón cối bắt đầu pháo kích vào BTL/HQ, cường độ tăng dần, lúc đầu có những trái rớt ngoài vòng đai nhưng rồi tiền sát viên của chúng nằm gần đâu đây để điều chỉnh dần vào mục tiêu, nhiều trái nổ gần chỗ chúng tôi. Tài xế Ngọc báo cho biết xe jeep của tư lệnh bị pháo không còn sử dụng được nữa.<br />
Cuộc họp chấm dứt, Trung tướng Ngô Quang Trưởng đi ra trực thăng trước, thiếu tướng tư lệnh TQLC ngoắc tôi và bảo mang máy theo trung tướng TL/QĐ1. A-lê-hấp, tôi quảy máy PRC25 lên lưng và tức tốc chạy theo, ra đến nơi trực thăng đậu, còn đang chờ một vị thiếu tá lên trước rồi tôi mới lên. Ngồi trên trực thăng ngó xuống, thấy tôi trung tướng hỏi:</p>
<p>– Chú đi đâu đây?<br />
– Thưa trung tướng, thiếu tướng tư lệnh tôi bảo tôi mang máy theo trung tướng.<br />
Suy nghĩ trong giây lát rồi ông tướng khoác tay bảo:<br />
– Thôi, không cần, chú trở lại với tư lệnh đi, cho tôi gửi lời cám ơn ông.</p>
<p>Rồi tất cả mọi người trong phòng họp lần lượt bước ra và rời BTL/HQ, lúc đó vào khoảng gần 10 giờ đêm, bộ đội nón cối vẫn còn pháo lai rai vào sân cờ.<br />
Thiếu tướng tư lệnh bước tới chỗ tôi và Tr/úy Hạnh, gương mặt tư lệnh đăm chiêu, suy nghĩ, Tr/úy Hạnh vội trình với tư lệnh:<br />
– Thưa thiếu tướng, mình phải bám theo tư lệnh HQ thôi, vì tất cả phương tiện không còn nữa, xe trúng pháo hư rồi, trực thăng cũng hư…<br />
Tư lệnh suy nghĩ đôi phút rồi gật đầu, Tr/úy Hạnh quay sang tôi:<br />
– Tiểu Cần, chạy sang gọi tất cả anh em lên đường.</p>
<p>Đi vòng dưới chân núi Sơn Trà chừng 2 tiếng thì chúng tôi ngồi nghỉ, tư lệnh HQ làm tín hiệu bằng đèn pin cho tàu vào rước, có lẽ đến hơn 30 phút sau mà cá lớn cá nhỏ vẫn lặn mất tiêu, không có tàu nào vào đón cả nên tư lệnh HQ Hồ Văn Kỳ Thoại nhờ tôi liên lạc bằng hệ thống TT. Trời đất! Một giới chức đứng đầu Vùng 1 duyên hải mà không có một ATV hay hệ thống LL/TT đi theo? Cũng may là trưa nay, trong lúc rỗi rảnh chờ lệnh mới, và qua nhiều năm tháng trong nghề đã dạy cho tôi những kinh nghiệm và lanh lợi nên tôi đã xin được tần số nội bộ của HQ nên bây giờ tôi vô tình lại kiêm nhiệm thêm vai trò một ATV của tư lệnh HQ nữa, một ATV, hai tư lệnh! Chuyện hi hữu như các tướng lãnh họp hành quân mà không có (2) tướng KQ, như tư lệnh HQ mà phải hành quân bộ trong đêm bên bờ biển!</p>
<p>Sau khi liên lạc được với HQ, họ gửi vào 2 tàu chiến, không phải để chở quân, hình như là giang tốc đỉnh. Vì có nhiều đá ngầm và sóng biển nên tàu chỉ đậu cách xa bờ chừng 10 m nên chúng tôi phải bơi ra. Muốn giữ cho máy PRC25 khỏi ướt, tôi phải đội máy lên đầu, vì vậy chuyện bơi ra tàu khá vất vả và mệt nhọc, và tư lệnh cũng gặp nhiều khó khăn, nhưng cuối cùng thì chúng tôi cũng an vị trên boong tàu. Thiếu tướng tư lệnh, Tr/úy Hạnh và tôi ngồi trên boong, cuối đuôi tàu, bộ quân phục ướt sũng, gió thổi mạnh, hơi nước biển, sương đêm phủ trùm càng làm tăng thêm cái lạnh suốt một đêm dài, ba thầy trò bó gối nhìn nhau. Người ta thường nói “bụng đói cật rét” nhưng chúng tôi bụng đói thì có, nhưng không phải cật rét, rét bên ngoài mà là rét từ trong, tự đáy lòng. Hai hàm răng lập cập vào nhau, cố mím môi cắn lợi để kềm lại mà không được, vậy mà tư lệnh luôn nhắc tôi phải cố giữ liên lạc với hải quân, với HQ 802, tư lệnh nói:</p>
<p>– Chú cố gắng giữ liên lạc với HQ 802, không có tôi họ không vào bốc anh em mình đâu.</p>
<p>Nhắc lại điều này chắc hẳn một số bạn lính biển không vui, nhưng sự thật nó là vậy mà. Điển hình là khi phó đề đốc TL/HQ phải nói rõ tên thì “tàu trưởng” mới tin và cho tàu vào đón. Điển hình là sau khi họp xong, tại sao phó đề đốc không đi ra hướng cầu tầu ngay trong BTL/HQ mà lại phải đi bộ, mò mẫm trong đêm dưới chân núi Sơn Trà? Vì cầu thì có mà tàu thì không!</p>
<p>Theo lời yêu cầu của TL/TQLC, chiếc tàu chở tư lệnh và anh em chúng tôi cứ ngược xuôi ngoài khơi trước cửa bãi biển Non Nước. Mãi tới 8 giờ sáng ngày 29-3-75, sau khi được biết đã có 2 tàu vào đón TQLC tại bãi biển Non Nước thì giang tốc đỉnh mới chuyển chúng tôi sang tàu lớn HQ 802, đậu ở ngoài khơi để đón các TQLC chuyển đến. Tới xế chiều không còn thấy tàu thuyền nào từ trong bờ chuyển quân ra nữa thì HQ 802 nhổ neo, trực chỉ hướng nam, nối đuôi nhau vượt trùng dương! Vĩnh biệt vùng đất địa đầu giới tuyến! Vĩnh biệt anh em LĐ147/TQLC nằm lại hay bị bắt trên bãi cát Thuận An!</p>
<p>Để chấm dứt ở đây những gì tôi chứng kiến, tôi xin được mượn lời của Đại tướng Cao Văn Viên khi được báo chí phỏng vấn:<br />
– Mỗi người giải thích sự thật theo lối riêng, 100 chứng nhân có 100 sự thật (hoặc sai sự thật). Định kiến làm cho lịch sử sai lệch.</p>
<p>Vì thế tôi đã hết sức cố gắng loại bớt những chi tiết không cần thiết để tránh suy diễn bàn cãi mất thì giờ, nhưng cũng sẽ không thể tránh được một số sự kiện khác với cái nhìn của người khác. Nhưng cái chính xác không thể phản bác được mà ai cũng phải công nhận là S<a href="http://xn--fea.1.bb/">Đ1/BB</a> đã bị tan hàng bất dắc dĩ một cách đau khổ. LĐ147 TQLC với hơn 3.000 quân đã bị lùa vào bước đường cùng, đã bị bỏ rơi một cách tàn nhẫn. Và cuộc lui binh này nếu dựa theo trục chính là QL1 thì hẳn sẽ tránh được những thảm họa và không có thảm họa tiếp theo ở Đà Nẵng.</p>
<p>Tiểu Cần tôi ước mong được đọc những sự thật về “Hell on Thuận An Beach” của Lâm tướng quân (3) trước khi (tôi) nhắm mắt…!</p>
<p>(MX Tiểu Cần)</p>
<p>MX Tiểu Cần tên thật: Nguyễn Thế Thủy. Tác giả là hạ sĩ quan truyền tin cho Thiếu tướng tư lệnh TQLC Bùi Thế Lân. (…trích lục lại)</p>
<p>(1) Chuẩn tướng Nguyễn Văn Điềm bay đi Quảng Ngãi, một ngày sau đó tử nạn máy bay.</p>
<p>(2) Chuẩn tướng tư lệnh Sư đoàn 1 KQ Nguyễn Đức Khánh, vì trực thăng hết xăng phải đáp xuống bãi cát ở Sơn Trà rồi lội ra tàu HQ 404 cùng trung tướng Trưởng về Sài Gòn.</p>
<p>(3) Trung tướng tư lệnh tiền phương QĐ1 Lâm Quang Thi.</p>
<p><b>Góp nhặt sỏi đá</b></p>
<p>Tướng Kỳ cho đáp trực thăng xuống Bộ tổng tham mưu, không thấy tướng lãnh nào ngoài tướng Trưởng đang…trầm ngâm nhìn bản đồ và…hút thuốc lá. Tướng Trưởng nhờ tướng Kỳ chở xuống Vùng 4 gặp Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam. Tướng Kỳ bay một vòng chung quanh thành phố Sài Gòn rồi bay thẳng ra mẫu hạm Midway sau buổi trưa ngày 29-4.</p>
<p>Theo bà Nguyễn Tường Nhung, phu nhân cố Trung tướng Ngô Quang Trưởng:</p>
<p>&#8211; Nhờ tướng Kỳ nhà tôi mới đi được.</p>
<p>(Nguyễn Tường Tâm)</p>
<p><b>Quân sử ngoại truyện</b></p>
<p>26-4-1975, Quân đoàn 2 có mặt trước cửa ngõ Sài Gòn ở một địa danh có tên là Rừng Lá.</p>
<p>5 giờ chiều 26-4, quân đoàn xin được nổ súng (sớm 1 ngày so với toàn mặt trận) trên hướng đông-nam của Sài Gòn. Từ các hướng F304 đánh Nước Trong, Long Bình, Thủ Đức… F325 tiến công Long Thành, Nhân Trạch… F3 nổ súng ở Bà Rịa, Vũng Tàu.</p>
<p>Vị tướng già tóc bạc hơi nghiêm nét mặt nói:</p>
<p>“Hiện nay có ý kiến sai trái cho rằng lúc này địch đã như trái sung chín rụng, không cần đánh cũng phải đầu hàng. Hoàn toàn sai. Sáng 30-4, chúng còn cố thủ quyết liệt tại cầu Sài Gòn và bắn cháy của chúng tôi 2 chiếc xe tăng… Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt đến phút chót”.</p>
<p>(Hồi ký “Đời chiến đấu” – Nguyễn Công Trang)</p>
<p><b>&#8211; :</b> Ký hiệu phân cấp của quân đội Bắc Việt:</p>
<p>A: tiểu đội. B: trung đội. C: đại đội.</p>
<p>D: tiểu đoàn. E: trung đoàn. <i>F: sư đoàn.</i></p>
<p><b>Góp nhặt…ghi chép…</b></p>
<p>Sư đoàn 3 Sao Vàng thuộc Quân đoàn 3 từ Pleiku bôn tập xuống phối hợp với 2 trung đoàn của Sư đoàn 325 thuộc Quân đoàn 2 từ Đà Nẵng kéo xuống dọc ven biển và hợp lực đánh Phan Rang. Xong, hợp quân này theo Quốc lộ 1 xuyên qua Phan Thiết qua ngả Bình Tuy ngang Xuyên Mộc để đánh Biên Hòa và Sài Gòn. Vì họ không thể đi ngõ Xuân Lộc nên họ phải đi đường vòng về hướng đông của Sài Gòn bọc qua Vũng Tàu và Bà Rịa.</p>
<p><b>Ngày thứ 48 : 26-4-1975</b><b> </b><b></b></p>
<p><b>Bà Rịa</b><b></b></p>
<p>Ngày 26-4, khoảng 6 giờ Bắc quân pháo kích kéo dài 3 tiếng vào thị xã Bà Rịa, bộ chỉ huy tiểu khu Phước Tuy, tư dinh tỉnh trưởng, Trung tâm huấn luyện Vạn Kiếp.</p>
<p>Khoảng 10 giờ đêm, Bắc quân (1) tấn công theo 3 mũi vào tỉnh lỵ, 2 mũi do bộ binh và thiết giáp phối hợp đánh vào trung tâm tiếp vận tiểu khu và tư dinh tỉnh trưởng, 1 mũi vào khu vực dọc</p>
<p>theo xa lộ mới ở phía nam thị xã Bà Rịa.</p>
<p>Thiếu tướng Nguyễn Duy Hinh, điều động 1 tiểu đoàn dù và đặt đơn vị này thuộc quyền chỉ huy của tiểu khu trưởng Phước Tuy để tổ chức các cuộc phản công đánh đuổi Băc quân ra khỏi</p>
<p>trung tâm thị xã. Tiểu đoàn dù đã bắn cháy 5 chiến xa Bắc quân ngay trong đêm 26-4.</p>
<p><b>&#8211; :</b> Tại Bà Rịa, Thiếu tướng Nguyễn Duy Hinh, tư lệnh SĐ3/BB từ Quảng Ngải vào đụng trận với Sư đoàn 3 Sao Vàng (1) thuộc Quân đoàn 2 của Thượng tướng Hoàng Minh Thảo. Trung đoàn 141 của sư đoàn này và Đại đội xe tăng 4 có pháo binh yểm hộ đã đánh chiếm thị xã Bà Rịa chiều ngày 27-4-1975.</p>
<p><b>10 ngày cuối cùng của VNCH</b></p>
<p><b>Thứ Bảy 26-04-1975</b></p>
<p>Ngày 22-4-1975, Bộ chính trị của đảng cộng sản đã quyết định chấp thuận kế hoạch cuối cùng của cuộc tổng tấn công, và ngày 14-4-1975, “Chiến dịch 275” được chính thức cải danh là “Chiến dịch Hồ Chí Minh”, tức là <i>chiến dịch đánh chiếm thủ đô Sài Gòn</i>.</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2016/05/clip_image002-2.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" class="" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/05/clip_image002_thumb-300x169.jpg?strip=all" alt="clip_image002" width="366" height="270" border="0" hspace="12" /></a></p>
<p><em>Bộ chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh đặt ở</em></p>
<p><em>Lộc Ninh soạn thảo kế hoạch đánh chiếm</em></p>
<p><em>Sài Gòn: Khởi sự tấn công vào ngày 27-4.</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Văn Tiến Dũng và bộ tham mưu sau đó đã soạn thảo kế hoạch (1) hành quân chớp nhoáng sử dụng các đơn vị chiến xa và cơ giới tiến chiếm 5 mục tiêu trong thành phố Sài Gòn:</p>
<p>Dinh Độc Lập, Bộ tổng tham mưu, Bộ tư lệnh biệt khu thủ đô, Bộ tư lệnh cảnh sát quốc gia và phi trường Tân Sơn Nhất.</p>
<p>Tướng Văn Tiến Dũng trình kế hoạch hành quân này cho 2 uỷ viên Bộ chính trị là Lê Đức Thọ và Phạm Hùng, nhân vật số 2 và số 4 trong bộ chính trị của đảng cộng sản. Cả hai nhân vật này chấp thuận kế hoạch và ra lệnh các cuộc tấn công vào vùng ven biên sẽ khởi sự vào ngày 27-4 và giai đoạn cuối cùng tấn công vào Sài Gòn sẽ khởi sự vào ngày 29-4-1975. Trong các kế hoạch của Bắc Việt cũng như chỉ thị của Bộ chính trị, không hề có một điều nào, một câu nào nói đến việc <i>“</i>có thể thương thuyết với chính quyền mới của Dương Văn Minh (2)<i>”.</i></p>
<p>(Trần Đông Phong)</p>
<p>(1) Kế hoạch hành quân trên đã có từ trước ở Hà Nội do tướng Võ Nguyên Giáp soạn thảo.</p>
<p>Xem Thâm u bí sử ở tiết mục Ngày thứ 52 – Sài Gòn ngày dài nhất: 30-4-1975.</p>
<p>(2) Cựu Đại tướng Cao Văn Viên sau này cho biết:</p>
<p><i></i>Tồng Thống Dương Văn Minh thú nhận ông bị Cộng sản lừa. Ông khuyên những cố vấn thân cận và con rể là Đại tá Nguyễn Hồng Đài nên rời Việt Nam. (*** Cao Văn Viên, trang 225).</p>
<p><b>&#8211;</b> : Sau này ông Dương Văn Minh cũng qua Mỹ, ông sống chung với vợ chồng con rể Nguyễn Hồng Đài ở miên nam California và mất tại Rose Hill.<b></b></p>
<p><b>Góp nhặt…ghi chép…</b></p>
<p>Ngày 26-4, Bắc quân bao vây Sài Gòn bằng 5 cánh quân do 4 quân đoàn và Đoàn 232.</p>
<p>Đoàn 232 quân số tương đương với một quân đoàn gồm: 3 sư đoàn bộ binh 3, 5, 9 và Sư đoàn đặc công 27. Tổng cộng 16 sư đoàn. Ngoài ra Bắc quân còn có vào khoảng 15 trung đoàn độc lập tương đương với 4, hoặc 5 sư đoàn, toàn bộ chủ lực quân chính qui của Bắc quân vào khoảng 20 hoặc 21 sư đoàn bộ binh với trên 100 nghìn người chưa kể 20 trung đoàn pháo binh, thiết giáp và phòng không, v…v&#8230;</p>
<p><b>10 ngày cuối cùng của VNCH </b></p>
<p><b>Thứ Bảy 26-04-1975</b></p>
<p>Sáng ngày 26-4-1975, Văn Tiến Dũng cùng đoàn tùy tùng của ông rời Lộc Ninh di chuyển bằng quân xa về Bến Cát khoảng gần 50 cây số ở phía tây-bắc Sài Gòn, tại đó ông ta thảo luận với tướng MTGPMN Trần Văn Trà về những chuẩn bị cuối cùng cho chiến dịch Hồ Chí Minh. Cấp chỉ huy trực tiếp của Văn Tiến Dũng là Lê Đức Thọ và Phạm Hùng, hai ủy viên Bộ chính trị không đi theo bộ tư lệnh tiền phương của Văn Tiến Dũng mà ở lại Lộc Ninh để phối hợp mọi hoạt động cả chính trị lẫn quân sự trong giai đoạn cuối của chiến dịch.</p>
<p>Tại trại Davis trong phi trường Tân Sơn Nhất, tối 25-4, phái đoàn MTGPMN trong Ủy ban liên hợp bốn bên đã nhận được mật điện của Văn Tiến Dũng cho biết quân đội Bắc Việt sẽ khởi sự tấn công Sài Gòn, do đó Đại tá MTGPMN Võ Đông Giang đã ra lệnh cho tất cả các nhân viên trong phái đoàn Việt cộng phải đào hầm để tránh pháo kích. Bức mật điện của Văn Tiến Dũng kết thúc bằng câu <i>“</i>chúc các đồng chí may mắn. Hẹn gặp các đồng chí tại Sài Gòn<i>“.</i></p>
<p>Đúng 5 giờ chiều ngày 26-4, được lệnh của Lê Đức Thọ (1) qua Văn Tiến Dũng (1), tướng Bắc Việt Lê Trọng Tấn ra lệnh cho 6 sư đoàn dưới quyền chỉ huy của ông ta tấn công vào quận Nhơn Trạch thuộc tỉnh Biên Hoà cùng các vùng nằm về phía đông Sài Gòn.</p>
<p>(…)</p>
<p><b>Xuân Lộc tháng Tư</b></p>
<p>(…tiếp tục với TĐ82 BĐQ từ Long Khánh về Bà Rịa)</p>
<p>Nhiệm vụ được phân chia rõ ràng: Tướng tư lệnh chỉ huy toàn thể trận điạ. Đại tá Hiếu chỉ huy, cánh quân của TĐ82 BĐQ chịu trách nhiệm bảo vệ chuẩn tướng tư lệnh trên đường di chuyển.</p>
<p>Tôi cho đơn vị đi sâu vào hướng làng xã rồi dừng quân dưới một bụi tre làng. Tôi cho các đại đội bố quân, cắt người canh gác. Đầu dựa ba lô, mắt tôi nhíp lại rất nhanh. Mặt trời lên cao khỏi ngọn cây, tôi thức dậy bởi tiếng động cơ của trực thăng chỉ huy đáp bên căn cứ hỏa lực của dù. Ba người cao lớn nhảy xuống, chiếc tàu bay bay đi. Không rõ những người vừa xuống máy bay là ai, chỉ thấy sau khi trao đổi vài lời gì đó với những pháo thủ dù, họ quay sang tiến về phía TĐ82 BĐQ. Khi họ đến gần thì tôi nhận ra Trung tướng Nguyễn Văn Toàn, tư lệnh Quân đoàn III. Tôi ra lệnh cho tiểu đoàn tập họp năm đại đội dàn chào. Sau khi bắt tay tôi, tướng Toàn đi một vòng, bắt tay từng người lính trong hàng. Rồi ông quay qua tôi nhỏ giọng,</p>
<p>&#8211; Thôi cho anh em giải tán đi Long, ở đây sát căn cứ Mây Tào, tụi nó pháo bất cứ lúc nào.</p>
<p>Trưa hôm đó tôi vào gặp chuẩn tướng Đảo trong hội đồng xã Bình Ba, ông cho biết Lữ đoàn 1 Dù đã thành công diệt xong những con chốt chặn và đang trên đường tập trung vùng bắc xã Bình Ba. Tôi mượn xe và tài xế của chuẩn tướng Đảo để ra Bà Rịa, vào trung tâm tiếp cư, dò tên gia đình vợ con tôi trên danh sách nạn nhân chiến cuộc, nhưng không thấy tin tức gì cả.</p>
<p>Khi tôi về lại hội đồng xã Bình Ba thì đại tá Hiếu cho tôi biết địch đã bôn tập truy kích đúng như dự đoán của tôi. Chúng chặn đánh quân bạn ngay tại ngã ba Xà Bang, Đại tá BĐQ Phạm Văn Phúc (K10 VB) tỉnh trưởng Long Khánh bị địch bắt ở địa điểm này.</p>
<p>Ngày hôm đó Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức trao quyền lại cho cụ Trần Văn Hương. Tiểu đoàn tôi rút vào nhà dân ngủ qua đêm. Đó là ngày 21-4-1975.</p>
<p>(Vương Mộng Long)</p>
<p><b>Góp nhặt sỏi đá</b></p>
<p>Chuẩn tướng Lê Minh Đảo được giao nhiệm vụ trấn giữ Xuân Lộc, với hy vọng có thể chặn được đà tiến quân như vũ bão của quân đội Bắc Việt. Ở Xuân Lộc, tướng Đảo có 12.000 quân chọi lại 40.000 quân của tướng Hoàng Cầm. Cũng may cho tướng Đảo, tướng Hoàng Cầm của Hà Nội là <i>một vị tướng xoàng</i>, nên ông Đảo có thể đối phó không khó lắm.</p>
<p>Dựa theo nhận xét của Hà Nội về tướng Hoàng Cầm:</p>
<p>(…) Nếu Hà Nội cứ tiếp tục để ông tướng xoàng Hoàng Cầm chỉ huy trận Xuân Lộc, thì có lẽ toàn bộ Quân đoàn 4 của ta bị cầm chân ở Xuân Lộc, thì có lẽ cục diện chiến tranh cũng sẽ có sự thay đổi lớn. (…) &#8211; (…trích lục lại: <em>Chiến tranh Việt Nam toàn tập)</em>.</p>
<p><b>Lạc đạn</b></p>
<p><em>Nhưng “bếp Hoàng Cầm” thì không…xòang! Năm 1951-1952 khi trận Điện Biên Phủ đang tiếp diễn, có anh “bộ đội” ở Sư đoàn 308 sáng tạo ra bếp không có khói. Chuyện là bộ đội phải đào hầm trú ẩn, công sự chiến đấu, trong hầm phải nấu nướng nếu có khói thì lộ mục tiêu. Vì vậy trên bếp, anh bộ đội phủ cành cây trải một lớp đất mỏng rồi tưới nước để giảm độ khói của bếp nấu nướng. Khói len lỏi qua các rãnh cây ẩm ướt chỉ là một dải nước tan nhanh khi rời mặt đất. Vì bộ đội là “anh nuôi” tên Hoàng Cầm nên được gọi là…</em><em>bếp Hoàng Cầm</em><em>. </em></p>
<p><em>Còn “anh nuôi Hoàng Cầm” 1951-1952 có phải là tướng Hòang Cầm 1975 chăng thì không thấy….</em>quân sử ngoại truyện nói tới?! Nhưng chỉ biết rằng với chuyện bếp núc, “bộ đội” học theo Hồng quân Trung Hoa thì tiểu táo: 1 hay 2 người ăn và đại táo: ăn tập thể.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Xuân Lộc tháng Tư</b></p>
<p>Tháng 3-1979 tôi được đưa từ trại cải tạo Phú Sơn 4, Thái Nguyên về trại Nam Hà A, Phủ Lý. Tôi là thành phần của toán bốn mươi người có tiền tích trốn trại, nên bị giải về đây với cái còng trên tay. Khi chúng tôi nhập trại, anh em tù cải tạo chào đón những kẻ mang còng, bằng những đợt vỗ tay hoan hô tưng bừng.</p>
<p>Hôm sau có người nhắn với tôi rằng chủ nhật tới Thiếu tướng Lê Minh Đảo chờ mời tôi ăn cơm ở buồng số 1. Trưa chủ nhật đó tôi tới buồng 1 gặp người chỉ huy cũ, ông ở đội lao động cùng tướng Sang, tư lệnh Sư đoàn 6 KQ, và đại tá Phúc, tỉnh trưởng Long Khánh.</p>
<p>Thời gian qua đã mấy năm không gặp, tôi rất vui khi bắt tay tư lệnh.</p>
<p>(…)</p>
<p><b>Tàn cuộc binh đao</b><b> </b><b></b></p>
<p>Đa số các tướng lãnh VNCH bị giam giữ ở trại Hà Tây (Hà Nội-Sơn Tây), cách Hà Nội 25 km về phía tây, Sau các tướng Nguyễn Hữu Có, Lê Minh Đảo, Lý Tòng Bá và Phạm Ngọc Sang được chuyển về trại Nam Hà (Nam Định-Hà Nam) nằm về phía tây Phủ Lý 30 km.</p>
<p>&amp;&amp;&amp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>30 tháng 4! Ký ức của một người chưa cầm súng </b></p>
<p>Từ ngày mấy ngày nay, lính nhảy dù đã có mặt nhiều trên các tuyến đường vùng Hố Nai, Biên Hòa. Vùng đất mấy tháng trước chỉ có mặt các đơn vị biệt động quân và Sư đoàn 18. Hai ngôi làng quê tôi vốn là hai giáo xứ Công giáo. Giáo xứ Lộ Ðức, qui tụ đa số là dân công giáo di cư gốc gác từ tỉnh Hòa Bình, Bắc Phần. Giáo xứ Ðông Hải, tên làng từ thủa xa xưa còn giữ lại vốn là một ngôi làng từ tình Bắc Ninh, Kiến An, Hải Phòng và Kẻ Sặt, Hải Dương.</p>
<p>Chiến cuộc đã ập đến sát với chúng tôi. Ngoài Quốc lộ 1, đoạn cây số 9 tính từ thị xã Biên Hòa ra hướng bắc, từ chiến khu D đã có đạn pháo cối ùng ục dội vào phi trường Biên Hòa, đường đạn bay qua làng tôi những buổi mờ sáng khét lẹt. Loại đạn cối này cho chúng tôi hiểu là thế thượng phong của lính chính qui miền Bắc đã hiện lên rõ rệt. Vì thông thường từ mấy năm nay, pháo kích từ chiến khu D rót vào phi trường Biên Hòa bằng hỏa tiễn, loại pháo giàn, phóng hàng loạt vài chục quả hỏa tiễn trong chỉ phút đồng hồ. Sau đó là trực thăng từ phi trường Biên Hòa lên quần thảo nhưng đương nhiên là không còn dấu tích gì nơi vách rừng chiến khu D, cách làng tôi chừng 4, 5 km. Nghe tiếng pháo cối dội vào làng, nhìn hàng đoàn lính rằn ri màu xanh đóng các chốt quanh làng, Thầy tôi nói với cả nhà:</p>
<p>– Thu gom gọn nhẹ những thứ cần thiết để chạy loạn.</p>
<p>U tôi hỏi lại.</p>
<p>– Giờ chạy đi đâu bây giờ? Ðây chỉ cách Sài Gòn có hai giờ xe máy. Sau Sài Gòn là bể rồi, đi làm sao được?</p>
<p>– Cứ thu xếp để đi. Ðến đâu biết đến đấy. Ra bể cũng đi …</p>
<p>Thầy tôi vừa nói vừa lẩm nhẩm đọc kinh. Tôi dáo dác nhìn mẹ. U tôi lật đật thu gom mớ quần áo. Bà lọng cọng nhấc cái này bỏ cái kia, cuối cùng cũng xong ba cái bao vải lính của quân đội Pháp mà thầy tôi còn giữ lại từ 1954.</p>
<p>Có tin lính chính quy Bắc Việt làm chủ tính từ bên này sông Sài Gòn, tức cầu Sài Gòn sẽ là điểm phân ranh. Thầy tôi bảo chị tôi thuê một xe tải để chở hết thóc gạo chạy loạn. Thuê xe tải lúc này là điều vạn nan nhưng chị tôi có quen biết một gia đình có xe tải và cũng cần chạy loạn vào Sài Gòn nên ý định của thầy tôi đã được thực hiện ngay. Chiều 27, các dàn pháo hỏa tiễn và pháo cối của lính chính qui Bắc Việt nã đạn vào phi trường Biên Hòa cực kỳ ác liệt. Làng tôi mịt mù khói pháo của hai phía bắn qua bắn lại. Trực thăng đã có vẻ rất e dè, bay thường là hai ba chiếc cặp kè nhưng không còn chúi sát xuống rừng nữa. Mẹ tôi cùng xe thóc lúa đã ra ngoài quốc lộ, đậu gần nhà thờ Kẻ Sặt đoạn cây số 7 Quốc lộ 1. Hàng xóm đã di tản hết. Thầy tôi quyết định ở lại cố thủ sau khi linh mục Nhật đi một vòng làng tới nhà tôi.</p>
<p>– Ði đâu bây giờ! Phải giữ làng chứ. Còn đi đâu được nữa mà đi.</p>
<p>– Thế thì con cũng ở lại.</p>
<p>– Ừ, cha cũng ở lại đây. Ðào xong “tăng-xê” rồi.</p>
<p>Thế là thầy tôi quyết định không đi. Tôi vơ nhanh cái xẻng chạy ra hiên nhà đào cái hố cá nhân hình chữ L, ba con chó lăng xăng cào cào bơí bới khi thấy tôi đào cật lực. Thầy tôi đào một hầm phía sau nhà, có chận nắp bằng những bao cát và gỗ vuông chắc chắn. Hố đào sắp xong thì một ông lính đến bên cạnh sân nhà tôi, hỏi vọng vào.</p>
<p>– Bộ muốn tử thủ hả?</p>
<p>Tôi đáp “Dạ”, vừa đáp vừa lúi húi đào. Người hạ sĩ quan này thường ngồi trước sân nhà tôi mỗi tối vừa đàn vừa hát. Ông hỏi thêm khi thấy thái độ của tôi là thái độ muốn “chơi tớí cùng”.</p>
<p>– Súng ống gì không thằng em?</p>
<p>– Dạ, “Cặc–bin”.</p>
<p>Ông ta phá ra cười ngặt nghẽo rồi hỏi.</p>
<p>– Biết chơi M16 không?</p>
<p>– Dạ biết.</p>
<p>– Vậy để lát tụi anh đưa cho, còn ba cây,…cặc bin chơi sao nổi.</p>
<p>Ðúng lúc ấy, trên đường có bốn năm người lính nhảy dù thúc súng đẩy một bóng người đàn ông bước sâm sấp trên đường cái dẫn về phía cuối làng. Tôi chợt dưng sởn tóc gáy. Năm Trình! Ông Năm Trình tay bị trói giật khuỷu, chiếc áo đen đẫm máu. Chắc chắn kiểu này là ông Năm sẽ bị bắn! Tôi bỏ xẻng bỏ cuốc, lặng lẽ bước theo sau bốn năm người lính và ông Năm Trình. Ông bước thấp bước cao đi theo hướng mũi súng của mấy người quân nhân mặc đồ rằn ri. Khoảng chừng 500 mét tính từ cổng cuối làng, những người lính nhảy dù nơí dây trói rồi bảo ông Năm Trình tự bắn mình sau khi đưa cho ông khẩu súng M16 chỉ có một viên đạn. Ông lắc đầu, quỳ hai gối xuống bờ ruộng. Hoàn toàn không thấy ông nói một lời nào, mắt nhìn về hướng ngọn núi Chùa phía gần bờ sông Trị An. Mấy ngưới lính lùi lại cách ông chừng 5 mét. Hai ngươì cầm súng cúi gập mình như chào ông Năm Trình. Khi hai cái đầu hất thẳng lên là đồng thời với một tiếng nổ chát chúa. Thân thể ông Năm giật lên rồi té sấp. Hai người lính cúi mình một lần nữa rồi quay lui, không xem xét xem ông Năm đã chết hẳn hay chưa.</p>
<p>Thấy tôi còn đứng lần khân gần đó, một ngườì bảo.</p>
<p>– Về thôi thằng em. Nó pháo bá thở bây giờ!</p>
<p>Tôi tần ngần, rất muốn đến xem ông Năm đã chết thật chưa. Cái dáng té sấp mặt của ông xuống mặt ruộng làm tôi xao xuyến lạ lùng. Bỗng tiếng quát sau như dựng cả hồn vía tôi dậy.</p>
<p>– Nằm xuống! Thằng nhóc!</p>
<p>Tôi còn đang quờ quạng thì một bóng người nhào đến tôi, một tay ôm ngang lưng vật tôi xuống bờ ruộng, đúng lúc hàng ngàn tiếng rít đinh tai nhức óc xẹt ngang qua đầu. Chưa bao giờ tôi ngửi thấy mùi thuốc đạn gần và nhiều đến như vậy! Một dàn pháo hỏa tiễn vừa bắn đi sát ngay phía đồi chuối bên bìa làng, tầm đạn bay qua đầu chúng tôi nhắm lên đồi Pháo Binh. Ðường đạn đi vun vút muốn rách màng tang. Người lính vật tôi xuống chính là người hạ sĩ quan ban nãy bảo đưa cho tôi cây M16. Dưới làn khói pháo mù đặc, ông túm áo tôi kéo chạy về đầu làng, vừa chạy vừa gào bên tai tôi.</p>
<p>– Coi chi ba chuyện giết người vậy thằng em!</p>
<p>– Em biết ông ấy!</p>
<p>– Quên đi! Chiến tranh là vậy! Sống nay chết mai. Ta không giết người thì người giết ta!</p>
<p>– Mà sao bắn ông ấy. Sao không nhốt lại?</p>
<p>– Giờ này, đến tụi mình còn không biết sống hay chết đêm nay, nói chi đến ổng. Số chả phải chết trước thôi …</p>
<p>Tôi và người lính dù về đến nhà, ông bỏ đi về phía nhà thờ, nơi đặt bộ chỉ huy tiền phương của lính dù. Trên gờ hố cá nhân một cây M16 bốn băng đạn, ba trái lựu đạn mini móc ở một dây ba chạc. Tôi ráp đạn kéo chốt cho bật ra ba bốn viên rồi lại tháo băng xếp lại đạn, cài chốt an toàn, ngồi vật ra, đầu đầy ắp hình ảnh ông Năm Trình với khuôn mặt úp sấp lên mặt ruộng. Mặt ruộng tháng tư khô nứt nẻ!</p>
<p>Ông bị bắt đâu hồi 11 giờ trưa. Hai cái làng này, ai cũng biết là ông hoạt động cho Mặt trận giải phóng miền Nam, nôm na gọi là Việt Cộng nằm vùng. Ông không tỏ ra ác ôn bao giờ. Ông dữ hay ông hiền, chẳng ai biết được vì ông không sống trong làng. Ông cất một cái chòi sát chân núi, nơi được coi là cửa ngõ để giao liên với trong bưng, lâu lâu đi vào làng mua dăm thứ lặt vặt hoặc đi qua làng ra vùng Hố Nai. Trưa nay, từ vọng canh rất cao, những người lính địa phương quân đã nghi ngờ khi ông từ lối núi Chùa đi thẳng vào đường làng. Những bước đi mang nhiều sự tần ngần. Từ rừng đi vào làng rồi đi qua khu trung tâm bộ chỉ huy tiểu đoàn tiền phương của sư đoàn dù, hướng ra Quốc lộ 1. Có lẽ người ta sẽ để cho ông đi ra phía quốc lộ nếu như ông giữ con đường bình thường ấy. Ðàng này ông lại quay trở lại bằng một ngõ xóm khác, sau khi đi qua bộ chỉ huy tiểu đoàn chừng 300 mét. Ông bị bắt. Bộ chỉ huy tiểu đoàn dù gọi trưởng ấp tên là Thái. Ngoài việc hỏi ông Thái, bên bộ chỉ huy tiểu đoàn còn hỏi bốn năm người khác. Ai cũng nói là ông Năm Trình từng được biết là một cán binh Vệt Cộng nằm vùng. Với kinh nghiệm trận mạc, bên bộ chỉ huy kết luận dứt khoát ông Năm Trình là một “đề–lô” chấm tọa độ cho đơn vị pháo! Thời cuộc đang nóng lên từng phút! Mặt trận Xuân Lộc thất thủ, Biên Hòa Sài Gòn nghìn cân treo sợi tóc! Số ông Năm Trình rơi vào tuyệt lộ ngay khi ngày chiến thắng của những người bên phía ông chỉ còn hơn 48 giờ đồng hồ!!!</p>
<p>***</p>
<p>Tiếng xe Honda cua rất gấp từ mặt đường quặt vào trong sân xi măng. Mùi khét của cao su từ lốp xe bốc lên hòa với khói pháo thật khó chịu. Ðó là xe của anh tôi. Tôi chưa thấy ông chạy như thế này bao giờ. Vừa chống càng xe anh tôi quát ngay.</p>
<p>– Thầy đâu?</p>
<p>– Thầy ở sau nhà – Tôi luống cuống.</p>
<p>– Sau nhà làm gì?</p>
<p>– Ðào hầm!</p>
<p>– Ðào cái con khỉ gì mà đào!</p>
<p>Quay nhìn tôi, nhìn mớ súng đạn lỉnh kỉnh. Ông gắt.</p>
<p>– Ðồ dở hơi! Mặc ngay quần áo vào. Ði!</p>
<p>Bố tôi rất nể anh tôi, nên đang lấm lem, anh tôi nói tắm rửa để chạy là bố tôi kéo nước giếng tắm ngay. Chừng chưa đến 5 phút, ba cha con tôi đã trên chiếc xe Honda 67. Anh tôi mặc đồ bay, mũ ca-nô nghiêm chỉnh, cũng là lần đầu tiên ông đeo súng tòn ten bên hông.</p>
<p>Chiếc Honda nhấc đầu phóng đi với ba con chó chạy theo sau.</p>
<p>Bàu trời kĩu kịt khói pháo. Ðàng sau là những những người lính dù đang tất bật với những hố công sự chiến đấu. Ðâu đó, những bàn tay giơ lên đầu, có lẽ để chào anh tôi, người phi công lạc lõng nơi chiến địa trong những giờ phút dầu sôi lửa bỏng gần như cuối cùng của một trận chiến đang ở những phút khởi đầu tràn ngập sát khí.</p>
<p>***</p>
<p>Quốc lộ 1 cơ man nào là người! Ðủ mọi thứ xe. Từ máy cày máy kéo bám đầy bụi đất đỏ của vùng Gia Kiệm, Long Khánh đến xe lam xa ba gác! Từ người đi bộ đến người thồ xe đạp. Từ những khuôn mặt cháy nắng đến những đôi môi nứt nẻ. Tất cả đều xốc xếch! Tất cả đều thảm thương! Tất cả như một đoàn người ma đi tìm thiên đường nơi xa lắc! Tuyệt không một tiếng cười trong đoàn người mênh mông ấy.</p>
<p>Anh tôi lạng lách, lúc đâm ngang, lúc xiên dọc, lúc leo bờ lúc thúc xe. Tôi nhìn đoàn người chung quanh, chỉ sợ những con chó của tôi bị thất lạc. Nhưng không. Có lẽ chúng cũng đã bị cộng hưởng với hoàn cảnh hoang mang cực độ của hàng trăm con người đang trong giờ cùng quẫn bi thảm. Chúng bám sát bên hông xe, miệng thè lưỡi nhọc mệt vừa chạy vừa nhìn bố con tôi. Ánh mắt chúng như nói lên sự van xin đừng bỏ chúng, lại như khuyến khích bố con tôi đừng sợ hãi. Thấy tôi có vẻ nhì nhằng với mấy con chó, anh tôi bắt đầu bực.</p>
<p>– Mày làm ơn ngồi cho ngay ngắn. Chó nó tự biết theo.</p>
<p>Tôi ngồi trên bình xăng vì Thầy tôi ôm nguyên một cái túi lính Tây chứa toàn những ảnh tượng chúa. Tôi biết anh tôi rất khó lái vì tôi 15 tuổi nhưng là dạng cao lớn hơn bình thường, ngồi lại quay trước quay sau vơi mấy con chó nên ông quạu cũng là phải. Dù bị ông quát nhưng lòng tôi rất biết ơn ông, vì ông biết tôi rất thương chó nên lúc bắt đầu rời nhà, tôi gọi chó theo mà ông không nói gì. Ông biết tôi rất khó thể xa chúng …</p>
<p>Chỉ có 2 km quốc lộ từ nhà thờ giáo xứ Hòa Bình đến nhà thờ giáo xứ Hà Nội mà bố con tôi vật lộn hơn tiếng đồng hồ với rất nhiều lần phải đâm vào những đường ngang ngõ tắt. Ðến nhà thờ Ðại Lộ là leo lên xe tải đã thuê khởi hành nhằm vượt cầu Sài Gòn ngay.</p>
<p>Trên xe, ba con chó và tôi nằm gọn ngay góc cửa đóng phía cuối xe.</p>
<p>Anh tôi rồ máy chiếc Honda 67 phóng ngược về phía phi trường Biên Hòa. Dáng áo bay nổi bật lên trong dòng người hỗn độn. Nhìn theo anh, tôi không cầm được nước mắt. Ra là anh đã rời phi trường cấp tốc, áo bay, súng ống còn vắt cả trên người khi nghe bảo rằng bố con tôi tử thủ nơi căn nhà đầy kỷ niệm. Anh tôi vượt ngược dòng người đang như thác lũ, phóng xe vào vùng đất đã báo động chiến sự sắp xảy ra trong gang tấc giữa bầu trời mịt mù khói pháo ven rừng chiến khu D. Giờ này anh lại phóng đi với những chuyến bay bất định, chơi vơi lời ca của đời phi công ra đi không tìm xác rơi.</p>
<p>Cực kỳ vất vả chiếc xe tải mới bò đến được cầu Sài Gòn. Xe nhích từng bước một. Lính trên cầu đủ mọi thứ binh chủng. Không khí sắt máu sát rạt. Anh rể tôi mặc quân phục với giấy chứng thực đặc biệt của Căn cứ Long Bình, xin đường để qua cầu. Một người lính mặc đồ đen đeo khẩu súng rất lạ yêu cầu mở cửa xe tải. Cửa mở, tôi và ba con chó ôm nhau sát ngay cửa, bên cạnh là u tôi và chị tôi. Người lính nhìn vào khoang xe rồi nhìn tôi, cuối cùng là nhìn ba con chó. Ông lấy tay cầm lấy tai của con chó bé nhất. Con chó không hề sợ cũng không hề làm dữ, ngẩng mặt lên liếm láp bàn tay xương xẩu đen đủi đầy mồ hôi của người lính đặc biệt này. Tôi im lặng không nói gì, phó mặc số phận đưa đẩy theo gia đình. Bỗng một loạt đạn bắn chiu chíu từ phía mặt sông thốc lên vọt qua sát mí nóc xe. Người lính lạ nhảy xuống hô kéo bửng cửa rồi chạy trước xe nhà tôi, tay vẫy vẫy cho xe vượt lên trước hàng trăm xe khác.</p>
<p>Xe nhà tôi qua cầu Sài Gòn. Cầu Sài Gòn như một nút thắt cổ chai kinh khủng, chỉ cần qua hết cầu là có thể dễ dàng đi lại. Xe chúng tôi nhắm về phía Hóc Môn, Trung Lương.</p>
<p>Sáng 28-4 (1975) gia đình tôi vào tới sát căn cứ Trung tâm huấn luyện Quang Trung, tá túc tại một xứ đạo qui tụ rất nhiều người cộng giáo gốc Kiến An, Hải Phòng. Xứ đạo có tên Chợ Cầu. Tôi sống quen với không gian rộng từ ngày bé tí nên không thể nào chợp mắt được trong hoàn cảnh này. Ba con chó từng bước không rời cậu chủ nhỏ. Ðời sống tỵ nạn chiến tranh đây là lần đầu tôi phải chịu đựng. Tuổi 15 nội tâm sớm, vơí tôi, đây là cú sốc rất nặng. Ngay đêm đầu tiên, tôi khóc thầm và trách sao mình đã bỏ nhà, bỏ làng mà đi.</p>
<p>Ðêm 29. Các đơn vị tăng của lính chính qui Bắc Việt tiến vào Sài Gòn ngang qua căn cứ huấn luyện. Cơ man nào là các lằn đạn bắn ra từ trung tâm huấn luyện, đặc biệt là M72, một lọai hỏa tiễn cầm tay chống tăng. Rất nhiều phát đạn bắn hụt xe tăng và bay sát các nóc nhà ở xứ đạo này. Tôi vốn đã quen với pháo kích từ ngày nhỏ nên không cảm thấy nao núng, nhưng những người chung quanh thì mặt cắt không còn giọt máu.</p>
<p>30. 4. Ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Người hàng xóm mở radio khá lớn và ra bờ giếng sau nhà ngồi một mình. Tôi từ trong khoảng tối của căn buồng hẹp chăm chú quan sát ông. Mấy hôm nay tôi không thấy ông này, tuổi khoảng 60 mặt rắn rỏi tóc húi cua. Ông ngồi bên gờ bờ giếng, mặt cúi xuống, hai vai gồ cao. Tôi thấy vai ông rung lên. Tôi thật sự cô độc.</p>
<p>Chiều 30-4. Tôi đi một mình ra doanh trại Trung tâm huấn luyện Quang Trung. Trên đường vài ba chiếc tăng T54 cháy rụi nằm bổ ngửa. La liệt quần áo lính vứt ngổn ngang. Tôi đến sát cổng quân trường, mấy người bộ đội áo quần xanh lụng thụng dép râu, mình còn cài lá ngụy trang, răng mặt vàng lườm… bắt tôi đứng lại, không được đến sát cổng vì đoàn phim đang quay. Tôi nhìn theo hướng tay chỉ và thấy một đoàn khóa sinh tân binh từ trong trung tâm đi ra. Tất cả đều phải đứng lại trước các máy quay phim, khi được lệnh từ phía sau máy thì từng người cúi xuống lột hết giày và quần áo lính, chỉ mặc độc mỗi quần lót. Những đoàn lính bộ đội đứng cười cợt khoái chí, một số ít thay vì cười cợt sảng khoái thì quay sang nói chuyện với những người dân hai bên đường. Có những câu hỏi và trả lời khắc mãi trong lòng tôi mà sau này nhiều người lấy đó làm giai thoại.</p>
<p>Với tôi, ngay lúc bấy giờ, tôi không thể cười được. Có cô hỏi:</p>
<p>– Sao anh trẻ thế?</p>
<p>– Trẻ gì nữa. Mười sáu mà còn trẻ.</p>
<p>Cô đang cầm que kem, hỏi anh bộ đội:</p>
<p>– Anh thích ăn cà-rem không?</p>
<p>– Không?</p>
<p>– Thế Hà Nội có cà-rem không?</p>
<p>– Có. Khối gì. Còn phơi để dành nữa.</p>
<p>– Hà Nội có Ti-vi không?</p>
<p>– Khối gì. Tivi chạy đầy đường.</p>
<p>(Phạm Văn Thành)</p>
<p><b>&#8211; : </b>Tác giả Phạm Văn Thành không ở Hố Nai nữa mà đang ở…Paris.</p>
<p><b>Một cơn gió bụi</b><b> </b><b></b></p>
<p>Thiếu tướng Đoàn Văn Quảng, chỉ huy trưởng trung tâm huấn luyện Quang Trung chết trong tù ở trại khổ sai Nam Hà ngày 6-3-1984.</p>
<p><b>Ngày thứ 49 : 27-4-1975</b></p>
<p><b>Tân Cảng – Sài Gòn</b></p>
<p>Ngày 27-4, Sài Gòn sôi động khi Bắc quân bắt đầu pháo kích vào vòng đai phi trường Tân Sơn Nhất, tiếp đó một đơn vị đặc công tấn công cầu xa lộ Tân Cảng và cầu xa lộ Biên Hòa. Lực lượng Biệt khu thủ đô đã được điều động khẩn cấp để giải tỏa áp lực địch.</p>
<p>Đến chiều ngày 27-4, Bắc quân phải rút lui sau khi bị tổn thất nặng.</p>
<p>(SQTB K10B/72)</p>
<p><b>&#8211; :</b> <i>Ngày 27-4</i> là ngày Bắc quân dự định 5 quân đoàn tấn công cùng một lúc và dự trù đánh chiếm Sài Gòn <i>ngày 29-4-1975.<br />
</i><br />
<b>10 ngày cuối cùng của VNCH</b></p>
<p><b>Chủ Nhật 27-04-1975</b></p>
<p>Rạng sáng ngày chủ nhật 27-4, vào lúc 3 giờ rưỡi, Bắc Việt pháo kích 5 trái hỏa tiễn vào Sài Gòn gây cho 6 người chết và 22 người bị thương, tuy nhiên tình hình vẫn yên tĩnh, không có vẻ gì là rối loạn. Theo ông Trần Văn Đôn thì vào lúc 3 giờ chiều, đại sứ Mérillon đã gọi điện thoại cho ông và báo tin cho biết rằng nếu đến 6 giờ chiều hôm đó mà chưa có gì thay đổi thì quân cộng sản sẽ pháo kích vào Sài Gòn bằng đại bác 130 ly.</p>
<p>Theo Jean Lartéguy trong cuốn <i>L’Adieu à Saigon</i> thì sau ngày 30-4, một sĩ quan Bắc Việt đã tiết lộ với ông Vũ Văn Mẫu rằng các đơn vị họ được lệnh bắt đầu pháo kích vào Sài Gòn bắt đầu vào lúc 11 giờ tối 30-4 nếu Sài Gòn tiếp tục chống cự và họ dự tính rằng họ sẽ chiếm Sài Gòn vào ngày 7-5 tức là ngày kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ của họ 21 năm về trước.</p>
<p>Theo Frank Snepp vào ngày hôm đó, có nhiều phe nhóm đã chống lại việc Tổng thống Trần Văn Hương không chịu giao quyền cho Dương Văn Minh. Người đầu tiên là Thương tọa Thích Trí Quang, kế tiếp là cựu Phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ, Linh mục Trần Hữu Thanh. Cựu phó tổng thống Kỳ lên án những kẻ hèn nhát đã bỏ nước di tản theo người Mỹ và hô hào tử thủ bảo vệ Sài Gòn. Ông nói rằng<i> </i>ông cũng sẽ ở lại để chiến đấu chứ không đi đâu cả, không di tản ra ngoại quốc<i> vì ở bên đó làm gì có rau muống, mắm tôm mà ăn?</i></p>
<p>8 giờ 45 tối ngày 27-4, dân biểu và nghị sĩ bỏ phiếu thuận Tổng thống Trần Văn Hương trao quyền cho ông Minh để ông ta có thể tìm kiếm một con đuờng vãn hồi hòa bình cho Việt Nam?</p>
<p>(Trần Đông Phong)</p>
<p><b>&#8211; :</b><b> </b>Theo Frank Snepp, đại sứ Martin chỉ thị cho Polgar, trùm CIA Sài Gòn, đi đón những nhân vật thân cận và trung thành với ông Thiệu đưa lên phi trường Tân Sơn Nhất rồi họ được một chuyến bay đặc biệt đưa sang căn cứ không quân Clark tại Phi Luật Tân. Trong số những hành khách trên chuyến bay này có cựu Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn, cựu Tổng trưởng Hoàng Đức Nhã và cựu Thiếu tướng tư lệnh cảnh sát Nguyễn Khắc Bình. (*** Frank Snepp, Sđd, trang 448)</p>
<p><b>Những ngày cuối cùng của Sài Gòn</b></p>
<p>Ngày 21-4, Xuân Lộc thất thủ, pháo đài cuối cùng chận đường tiến quân vào thủ đô của các sư đoàn Bắc Việt từ phía đông. Tiếng “womp-womp-womp” của pháo binh, như Michael Herr sau này sẽ chuyển tải lại tiếng động đặc biệt đó một cách thơ mộng-to tiếng trong <i>Dispatches</i>, đã có thể nghe được suốt ngày đêm. Nhưng tiếng “dit-dit-dit” của súng cá nhân, ngoại trừ vài ngày trong lần tấn công vào dịp Tết (Mậu Thân) 1968, đã dung tha cho người dân của Sài Gòn. Cho tới bây giờ, người Sài Gòn đã sống qua được chiến tranh, cái mà bây giờ có nguy cơ bị cuộc chiến phá hủy. Về quân sự thì cuộc chiến đã ngã ngũ. Sau khi chiến dịch tấn công mùa xuân bắt đầu trên vùng núi, sau khi mất Ban Mê Thuột và Kontum, tổng thống Thiệu và bộ tham mưu của ông đã hạ lệnh rút lui, điều đã dẫn tới bỏ chạy và hỗn loạn.</p>
<p>Chỉ còn những phần nhỏ của một quân đội được trang bị hiện đại gồm hơn nửa triệu người là còn muốn đứng ra chiến đấu. Lần di tản hỗn loạn ra khỏi vùng đồi núi chỉ thể hiện rõ cuộc khủng hoảng trong nội bộ của quân đội Sài Gòn. Tinh thần chiến đấu của quân lính đã gãy gục trong những tháng trước đó. Người Mỹ vẫn còn chưa tỏ dấu hiệu, rằng họ đã sẵn sàng cho một cuộc di tản đông người. Phần lớn người dân trong phần còn lại của miền Nam Việt Nam, cái bây giờ chỉ còn bao gồm những vùng đất hẹp quanh Sài Gòn và các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, hy vọng vào một điều kỳ diệu: Hy vọng vào một tín hiệu đầy bí mật, cái có thể sẽ làm câm lặng pháo binh Bắc Viêt đã vào vị trí có thể bắn tới Sài Gòn từ lâu, và dừng xe tăng lại, để trao tiếng nói cuối cùng cho các chính trị gia và nhà ngoại giao. Rằng Phnom Penh đã bị Khmer đỏ chiếm trước đây vài ngày, rằng chiến tranh đã tới gần cho tới mức có thể cảm nhận được, những việc đó đã không thể bóp nghẹt niềm hy vọng đang nhú mầm. Nỗi lo sợ trước trận đánh cuối cùng đã để cho ảo tưởng nở hoa.</p>
<p>Kết cuộc của Sài Gòn là một chiến thắng của ảo tưởng.</p>
<p>Đội ngũ các nhà báo, những người bây giờ có thể thực hiện các chuyến đi ra chiến trường thật thuận tiện vào ban ngày, vì chiến tranh đã tiến gần tới mức có thể nghe được, được người Mỹ mời tới dự một cuộc họp trên quán rượu ở sân thượng của khách sạn cao tầng Caravelle. Thay cho các thông tin về chính trị và diễn tiến cuộc chiến là những chỉ thị “mật” cho trường hợp khẩn cấp, cho lần di tản bằng trực thăng. Có một chỗ tập trung được quy định trước cho các nhà báo, ở gần văn phòng UPI, gần cảng sông, có thể nhanh chóng tới đó được từ các khách sạn lớn Caravelle, Continental và Majestic. Tín hiệu, các nhà báo được thông báo, sẽ được phát qua radio vào ngày X. Trong trường hợp khẩn cấp, đài phát thanh của quân đội Mỹ, phát tin tức “every hour on the hour”, sẽ thêm vào câu: “The temperature is 105 degrees and rising”, tiếp theo sau đó là bài “I am dreaming of a white Christmas” của Bing Crosby. Người ta sẽ chờ nhà báo tại địa điểm tập trung với nhiều nhất là một món hành lý.</p>
<p>Chính sếp CIA ở Sài Gòn đã tự mình bắt liên lạc với các sĩ quan Hungary. Thomas Polgar xuất thân từ một gia đình Hungary đã di cư sang Mỹ. Từ người đồng hương, người ta tin cậy thông báo rằng Hà Nội quan tâm tới một “Giải pháp Lào”, để tránh một trận chiến trên đường phố ở Sài Gòn. “Giải pháp Lào”, đó là: <i>Một chính phủ trung lập, bao gồm các nhân vật của “lực lượng thứ ba”,</i> phe đối lập yếu ớt và bị coi thường cả một thời gian dài ở Sài Gòn, và tất nhiên là với sự hỗ trợ về ngoại giao của Liên bang Xô viết, Pháp và Liên hiệp Anh.</p>
<p>Nguồn thứ hai, dường như xác nhận các thông tin của CIA, bắt nguồn từ sứ quán Pháp mà trong đó Jean-Marie Merillon, trong tinh thần của de Gaulle, đã tự mình tin rằng “Grande Nation” thêm lần nữa sẽ nhận được một vai trò lịch sử trong khoảnh khắc chiến bại của Mỹ. Merillon thông báo cho đại sứ quán Mỹ và một nhóm nhỏ các nhà báo, mà tiêu chuẩn của họ là có khả năng sử dụng tiếng Pháp một cách thanh lịch, rằng <i>Bắc Việt thông qua tiếp xúc với người Pháp đã đưa ra “Giải pháp Lào”</i>: tước quyền “bè lũ Thiệu”, <i>thành lập một chính quyền trung lập</i>, muốn hòa bình, dưới quyền “Big Minh” và ngưng chiến trước cửa ngõ Sài Gòn, để tạo cơ hội cho một hội nghị bốn bên bàn thảo một trật tự chính trị mới ở Nam Việt Nam.</p>
<p>Vòng vây bao quanh Sài Gòn càng siết chặt lại bao nhiêu thì các cố gắng đàm phán ngừng bắn của các chính trị gia và nhà ngoại giao càng tuyệt vọng bấy nhiêu. Vào ngày 26-4, buổi chiều lúc ba giờ, Thiệu rời Sài Gòn tới Đài Loan. Đài phát thanh của Mặt trận giải phóng từ chối lời đề nghị ngừng bắn của Phó Tổng thống Trần Văn Hương. Hương đại diện cho một “chế độ Thiệu không có Thiệu”. Vào ngày 26-4, thứ bảy, vào cái ngày mà Thiệu rời bỏ đất nước, quốc hội đã họp biểu quyết yêu cầu Tổng thống Trần Văn Hương nhượng quyền lại cho tướng Dương Văn Minh. Đại sứ Pháp và Mỹ tin là đã <i>giật dây để cho “Big Minh” bước ra hoạt động</i>.</p>
<p>Vào tối ngày chủ nhật, Graham Martin thuyết phục thành công người tổng thống được bổ nhiệm, <i>không cương quyết yêu cầu giới quân đội Mỹ rút quân ngay lập tức</i>. Khoảng cùng thời gian đó, Jean-Marie Merillon vào gặp đại diện Bắc Việt, sau hiệp định ngừng bắn 1973 đang ở trong khu vực an ninh của phi trường Tân Sơn Nhứt, để tự mình thăm dò cơ hội của một “chính phủ hòa bình Big Minh” qua sếp của phái đoàn, Đại tá Võ Đông Giang, một con người khó tính, giống như một cái máy nói không có xúc cảm. Tuy vậy, viên đại tá bất thân thiện đó không trả lời cho câu hỏi mang tính quyết định: Liệu một chính phủ do Big Minh đứng đầu có được chấp nhận như là đối tác để đàm phán một giải pháp chính trị hay không.</p>
<p>Mặc dù không có được sự chắc chắn cuối cùng này, Martin, Merillon và những người đi theo “Big Minh” vẫn bắt đầu làm việc để cứu thoát Sài Gòn ra khỏi một cuộc chiến và cứu thoát phương Tây khỏi nỗi nhục nhã của một lần đầu hàng vô điều kiện.</p>
<p>Xe tăng Bắc Việt đã đứng trước cửa ngõ Sài Gòn, lúc này phần lớn các quốc gia phương Tây đã di tản các sứ quán của họ và quẳng các dự trữ rượu mạnh ra thị trường với giá vứt đi. Người Mỹ, dẫn đầu bởi Graham Martin và Thomas Polgar, vẫn còn tin có thể trì hoãn được chiến dịch di tản đường hàng không quy mô lớn đã được lập kế hoạch, vì một giải pháp chính trị bắt đầu hiện hình, cứu Sài Gòn thoát khỏi sự hoảng loạn của một cuộc chạy trốn.</p>
<p>Sáng chủ nhật, 2 giờ trước khi mặt trời mọc, Bắc quân bắn vài hỏa tiển vào thành phố, rơi xuống gần đại sứ quán Đức ở vùng ranh giới giữa Sài Gòn và Chợ Lớn, khu phố người Hoa, và gây ra một vụ cháy lớn kinh hoàng. Từ hơn ba năm nay, Sài Gòn không còn bị bắn phá trực tiếp nữa. Các hỏa tiển này, đi kèm theo đó là một tiếng nổ thật lớn, đã để cho người dân nhận thức được rằng màn cuối cùng của cuộc bao vây, đánh chiếm thủ đô, đã bắt đầu.</p>
<p>Chỉ các nhà ngoại giao có nhiều quyền lực và ảnh hưởng trong đại sứ quán Mỹ và Pháp là vẫn không muốn đọc những dấu hiệu đó. Các tín hiệu của phía bên kia cũng có thể được hiểu, rằng Hà Nội chỉ muốn thúc giục tăng tốc quá trình chính trị. Bắc Việt, Graham và Merillon cam đoan lẫn nhau như vậy, sẽ “mất thể diện”, nếu như họ cố tiến quân đánh chiếm thành phố Sài Gòn ba triệu dân trước con mắt của thế giới. Qua nhượng bộ chính trị, cả hai người đều có ý như vậy, có thể giành được một thỏa hiệp hợp lý từ Bắc Việt.</p>
<p>Sài Gòn, 21-4-1975. Lần bắn hỏa tiển đầu tiên là vào lúc 4 giờ 30 sáng, đánh vào trung tâm Sài Gòn và đốt cháy 150 căn nhà bằng gỗ. 14 người chết và hơn 40 người bị thương.</p>
<p>Các chính trị gia tiến hành sự việc với vận tốc của con ốc sên, trong khi tướng lãnh Bắc Việt, ở Sài Gòn ai cũng nhận thấy, rõ ràng là thúc giục một quyết định. Cả ngày lẫn đêm đều nghe được tiếng “womp-womp-womp” của đạn pháo. Bây giờ tiếng súng nổ lớn nhất là từ hướng phi trường, nơi những chiếc máy bay di tản của cái cầu hàng không nhỏ bé vẫn còn có thể hạ cánh mà không bị bắn phá. Người dân Sài Gòn dao động giữa hy vọng và tuyệt vọng. Cuối cùng thì người Mỹ có chở hết tất cả những người Việt nào muốn đi hay không? Có lẽ cuộc chiến sẽ chấm dứt với một thỏa hiệp chính trị.</p>
<p>Khi một phóng viên nổi tiếng từ giã bạn bè vào buổi tối, vì “Giải pháp Lào” cho phép ông bay về quê hương để hoàn thành một phim tài liệu rồi sau đó quay trở lại Việt Nam, thì một người bạn nói với ông ấy rằng hãy quên cái tên Sài Gòn trong lúc đó đi, vì cho tới chừng đó thì người cộng sản đã chiếm được thành phố, và đổi tên nó thành Thành phố Hồ Chí Minh rồi (?). Đó là “tuyên truyền của CIA”, người này rít lên vì giận dữ. Ý thức lịch sử của người Việt sẽ để cho một lần đổi tên như vậy trở nên vô lý. Cuộc thảo luận dường như tình cờ đã trở nên dữ dội cho tới mức buổi tiệc từ giã kết thúc sớm hơn dự định.</p>
<p>Công việc bàn giao chức vụ được tiến hành vào ngày thứ hai, 28-4, buổi chiều 17 giờ, trong dinh tổng thống, nằm trong một tam giác với sứ quán Mỹ và nhà thờ công giáo. Mây mưa nặng nề kéo đến trên thành phố. Trời đã tối. Đèn trong dinh được bật lên khi những người của “lực lượng thứ ba”, nhóm nhỏ những người trung lập, quốc gia chủ nghĩa và phật tử chiến đấu, những người cho tới lúc đó không được phép vào trong dinh tổng thống mới của năm 1964, bước qua cánh cửa mở rộng vào trong gian sảnh tiếp đón và tạm thời ngồi xuống ở hàng ghế thứ hai. Hàng ghế đầu dành cho phó tổng thống Hương và các bộ trưởng cho tới thời điểm đó. Có lẽ khoảng 100 người, cho tới 17 giờ hầu như chỉ làm đầy được một nửa gian sảnh. Tiếp theo ở phía sau đó là giới báo chí quốc tế. Trên các lối đi, cách bục diễn thuyết không xa, là máy quay của các đài truyền hình.</p>
<p>Chống gậy khập khiễng, phó tổng thống Hương bước vào gian sảnh, có “Big Minh” đi kèm, người mà người ta có thể nhận ra một vẻ hãnh diện nhất định cho vai trò mới này. Minh nhìn những người bạn và những người theo ông ở hàng ghế thứ nhì, những người dưới thời Thiệu đã bị gièm pha và bị các cơ quan nhà nước hành hạ nhiều năm trời; cuối cùng thì cũng đứng trước ngưỡng cửa của ảnh hưởng và sự công nhận của giới công khai: Nguyễn Văn Huyền, một luật sư mà sự hiểu biết về chuyên môn có nhiệm vụ bổ sung cho Big Minh, thượng nghị sĩ  Vũ Văn Mẫu, một con người nhanh nhẹn, hiền lành, luôn mỉm cười lịch sự, một Phật tử sùng đạo và là người cầm cờ của các nhà sư xã hội chủ nghĩa ở chùa Ấn Quang.</p>
<p>Cuối cùng rồi Trần Văn Hương bước lên bục diễn thuyết có treo huy hiệu tổng thống ở mặt trước, một cơn mưa bắt đầu trút xuống, lớn tới mức trong Sài Gòn nhiệt đới cũng được xem là bất thường. Cơn mưa đầu tiên sau mùa khô kéo dài nhiều tháng trời rơi xuống như một trận ngập lụt từ trên trời. Mây đen phủ tối bầu trời; giống như màn đêm đã buông xuống Sài Gòn. Bài diễn văn của Hương được nhiều tia sét đi kèm, rồi tiếng sấm tiếp theo sau đó. Nhiều câu trong bài diễn văn ngắn của Trần Văn Hương bị cơn mưa đầy sấm sét này che phủ mất. Gió bão thổi màn che của những chiếc cửa sổ cao bay tung lên, đánh lạc hướng mối quan tâm của thính giả ra khỏi con người nói chuyện mờ nhạt này. Hương khiến cho khán giả phải chán ngán với tính bướng bỉnh của một người muốn giữ đúng một hình thức đã mất ý nghĩa của nó từ lâu. Người thị trưởng từng được mến chuộng của Sài Gòn trước đây đã đánh mất phần còn lại của sự tin tưởng trong lần hợp tác với Thiệu, người đã lợi dụng tiếng tốt của ông mà không giao quyền lực thật sự cho ông. Còn lại là một sự cứng đầu cứng cổ giả làm tính nguyên tắc. Người đàn ông già ốm đau này, cần dùng một cây gậy để đi lại, thật sự là một biểu tượng của trật tự đang sụp đổ.</p>
<p>Ông diễn thuyết độ mười phút. Các nhà báo không quan tâm và cũng bị trận mưa đánh lạc hướng cho tới mức hầu như không ai để cho phiên dịch bài diễn văn. Tất cả mọi người đều chờ “Big Minh”, chờ một chính phủ mới, một kế hoạch lập hòa bình mà người cộng sản muốn chấp nhận. Hương khập khiển trở về chỗ của mình. Cả gian sảnh im lặng. Mọi ánh mắt đều hướng tới “Big Minh”. Nhưng ông vẫn ngồi trên ghế của mình. Lần ngưng giữa chừng trong nghi thức mà không nhận ra được ý nghĩa của nó làm tăng sự căng thẳng.</p>
<p>Rồi cuối cùng người ta nhìn thấy một người lính, đeo thắt lưng trắng và dây đeo, đứng ở phía trước bên trái, cạnh cửa cánh, bước vào giữa gian sảnh tới bục diễn thuyết. Ông dùng hai tay cầm huy hiệu của tổng thống, giật nó ra khỏi móc treo, quay người với những cử động giật nhanh, tạo một vẻ buồn cười cho những người lính đang đi duyệt binh, bước ra hướng cửa và mang biểu tượng của tổng thống VNCH ra khỏi gian phòng với những bước chân khoan thai.</p>
<p>Giới chính khách và nhà báo giữ im lặng, một sự im lặng mà người ta có thể xem như phút mặc niệm cho một trật tự được mang một cách tượng trưng từ sân khấu chính trị sang đống rác của lịch sử. Khán giả chăm chú theo dõi những cử động long trọng của người lính vệ binh bây giờ <i>đang tiến gần tới lá cờ Nam Việt Nam ở bức tường phía trước, nhấc nó lên khỏi giá cắm và mang nó một cách chậm chạp, lúc nào cũng đi thẳng, ra khỏi gian phòng</i>. Ông đã tạo khoảng cách với một hệ thống đã được xóa bỏ một cách tượng trưng qua lần <i>mang lá cờ đi ra ngoài</i>.</p>
<p>Đối với tôi, lá cờ ít có ý nghĩa. Nhưng từ chuyến đi tường thuật đầu tiên của tôi trong cuộc chiến này, tôi đã trải nghiệm nó như là <i>biểu tượng của một quốc gia mà nhiều trăm ngàn người Việt đã hy sinh cho nó</i>. Hơn 500.000 lính Mỹ đã được gởi tới đây để củng cố cho Nam Việt Nam mà 50.000 người trong số đó đã tử trận. Lá cờ vàng đỏ này đã trang trí cho các quan tài khi trên nghĩa trang quân đội lớn ở ngoài Sài Gòn, trên đường đi Biên Hòa, khi mỗi năm một lần người ta tiến hành tưởng niệm những người đã hy sinh trong một buổi lễ quốc gia long trọng.</p>
<p>Hàng triệu người đã chết một cái chết vô nghĩa. Đối với tôi, đó dường như là <i>một hành động cay độc, để cho lá cờ biến mất và qua đó mà trốn tránh một trách nhiệm lịch sử</i>.</p>
<p>Người lính quay lại gian sảnh, cầm một dấu hiệu tổng thống mới trên hai tay. Với một cú đánh mạnh, ông gắn chặt biểu tượng của tổng thống “Big Minh” vào bục diễn thuyết. Hoa sen xanh nổi bật trên nền trắng. Chắc là một người nghiệp dư đã phải hấp tấp tạo ra kiểu mẫu này. Hẳn là không còn có thể tìm được một bản nào tốt hơn trong Sài Gòn. Chỉ những kẻ mơ mộng mới tìm được hy vọng trong lần thay đổi biểu tượng vào giờ chót này.</p>
<p>Chỉ sau khi người lính trở về chỗ ban đầu của ông, giống như qua đó mà quá <i>khứ đã được xóa bỏ và con đường đi tới một tương lai tốt hơn được mở ra</i>, “Big Minh” đứng dậy từ ghế ngồi của ông, khoan thai đi tới bục diễn thuyết và bắt đầu đọc một tuyên bố của chính phủ mà trong đó lời đề nghị ngưng bắn ngay tức khắc được đưa ra. Như <i>đã thỏa thuận với đại sứ Mỹ Graham Martin, Minh không nhắc tới lời yêu cầu di tản ngay tức khắc tất cả các quân nhân Mỹ</i>. Nhưng ông cũng không còn nói về “những người cộng sản” nữa, mà là về “những người bạn của chúng ta ở phía bên kia…Chúng tôi thật sự <i>mong muốn hòa giải</i>. Những ngày sắp tới sẽ hết sức khó khăn…Tôi không hứa hẹn nhiều.”</p>
<p>Lúc đó, tôi không nghe bài diễn văn của “Big Minh” cho tới khi kết thúc. Đối với tôi, nội dung lời tuyên bố của ông là hoàn toàn không có ý nghĩa gì trong sự so sánh với những cảnh tượng trưng cho một lần tự xóa bỏ nhà nước mà chúng tôi vừa quay xong. Nhà nước Sài Gòn thật sự đã hy sinh cái lớn nhất, để thúc đẩy Bắc Việt đi tới thỏa hiệp chính trị vào phút cuối cùng: <i>Nó đã tự tan rã, từ bỏ những biểu tượng cho sự tồn tại của chính mình, tự sát vì sợ chết.</i></p>
<p>Để đưa cuốn phim lên chiếc máy bay chuyến tối sang Bangkok càng nhanh càng tốt, tôi đã cùng đội quay phim rời gian sảnh trước. Ở trước cửa, tôi trình bày một “dự thảo văn bản” cho ban biên tập. Vài phút sau đó, người quay phim và cộng tác viên người Việt lâu năm của chúng tôi đi xe ra phi trường. Đó là vào khoảng 6 giờ chiều, mưa đã giảm bớt đi rất nhiều. Tới khách sạn Continental có nhiều nhà báo sống ở trong đó chỉ tốn mười phút đi bộ. Hàng hiên, vào buổi chiều là điểm gặp gỡ cho giới báo chí, quân nhân Mỹ, giới ngoại giao và dân kinh doanh đủ các loại, bây giờ trông như bị bỏ hoang. Các nhà báo vẫn còn quan sát lần thay đổi quyền lực trong dinh tổng thống. Phần khách còn lại đã hiểu được những dấu hiệu của cuộc chiến và chuẩn bị cho tình huống khẩn cấp. Cũng có không ít người đang theo dõi trực tiếp lần nhậm chức của “Big Minh” trước các màn hình. Những chiếc taxi màu xanh-nâu sáng đỗ trước Continental như thường lệ. Để giết thời gian, tôi thuê một chiếc cho một chuyến đi vào Chợ Lớn.</p>
<p>Sau hai kilômét, chúng tôi tới nhà ga. Bất chợt có những chiếc A37 bay ở phía trên chúng tôi, bổ nhào xuống tấn công. Người ta nghe được tiếng bom nổ ở hướng phi trường. Vài giây sau đó, hỗn loạn xảy ra trong thành phố. Ai có súng đều bắt đầu bắn lên trời. Người dân chạy, nằm xuống đất, tiếp tục chạy đi. Tiếng ồn của vũ khí tăng lên thành một nền âm thanh, càng làm cho người ta hoảng sợ, và hầu như không ai nhận biết được nguyên do nổ súng. Sài Gòn bắn lên trời vì sợ. Bốn chiếc máy bay chiến đấu hạng nhẹ kiểu A37 bị Bắc Việt tịch thu đã cất cánh từ Phan Rang Air Base, khoảng 200 kilômét đông bắc Sài Gòn, và được gởi tới phi trường Tân Sơn Nhứt dưới sự lãnh đạo của một phi công Nam Việt đào ngũ.</p>
<p>Hiệu ứng tâm lý của lần bỏ bom thủ đô Nam Việt vượt quá mọi sự mong đợi. Sau khi những quả bom đó rơi xuống và Sài Gòn đạt tới một trạng thái hoảng loạn, cái khiến cho người ta nhớ tới những cảnh đông người trên các bậc thang Odessa của (nhà đạo diễn) Sergei Eisenstein, thì ai cũng biết rõ rằng giờ của trận đánh đã bắt đầu. Lần bắn súng vô nghĩa mà dân cư vũ trang của Sài Gòn đã dùng nó để kết thúc lần tự phá hủy trật tự cho tới nay kéo dài cho tới khi trời tối, hơn một giờ đồng hồ. Giới nghiêm bắt đầu sau đó. VNCH đã <i>chấm dứt tồn tại trước khi bị xâm chiếm</i>. <i>Tháo gỡ các biểu tượng nhà nước</i> và phản ứng hoảng loạn của người dân Sài Gòn trước lần ném bom phi trường cho tới nay đã không được nhắc tới hay <i>chỉ được đề cập sơ qua trong các tường thuật của nhân chứng và trong các diễn tả lịch sử</i>.</p>
<p>Các cơ chế phòng vệ tâm lý đã đẩy cuộc di tản bằng máy bay đầy kịch tính, bắt đầu vào trưa ngày hôm sau đó, 29-4, vào trong trung tâm điểm. Những dịch chuyển trọng tâm như vậy cũng được quan sát thấy tại các chiến bại lịch sử khác của “người da trắng” ở châu Á. Trong văn học và trong điện ảnh, lần quân đội Mỹ đầu hàng ở Corregidor, tháng Tư 1942 trong vịnh Manila, đã bị che phủ bởi những sự tàn bạo của người Nhật trong “chuyến bộ hành tử thần Bataan” để đi tới các trại tù binh; và “Cầu sông Kwai” đã quan tâm tới sự tưởng tượng của phương Tây nhiều hơn là kết cuộc của doanh trại Anh tại Malaya và Singapore.</p>
<p>Thật sự là hoạt động chính trị-ngoại giao cuối cùng mà “Big Minh” đã đứng tại tâm điểm của nó, được khuyến khích và cố vấn bởi Graham Martin và Jean-Marie Merillon đã trì hoãn cuộc di tản Sài Gòn và qua đó đã gây hại nghiêm trọng về tâm lý và chính trị. Ngay sau bài diễn văn của “Big Minh”, đài phát thanh Hà Nội đã phát đi một tuyên bố với lời lẽ cứng rắn hết sức bất thường và với một yêu cầu dứt khoát, vượt quá tất cả các phát ngôn trong những ngày vừa qua. Đài phát thanh kêu gọi người dân Sài Gòn hãy “nổi dậy”.</p>
<p>Qua đó, Bắc Việt đã phá hủy ảo tưởng cuối cùng. “Giải pháp Lào” giống như một canh bạc. Mỹ và các đại diện của Sài Gòn đã đi nước cờ cuối cùng của họ. Họ đã đi tới kết cuộc. Lần ném bom phi trường vào lúc 6 giờ chiều ngày thứ hai thật sự đã là tín hiệu cho cuộc tấn công. Suốt cả đêm đó, Sài Gòn bị bắn phá bởi đạn pháo và hỏa tiển. Cuộc di tản bằng máy bay bắt đầu vào chiều ngày thứ ba: lúc đầu là từ một điểm tập trung trong khu vực phi trường, sau đó từ nóc nhà của tòa đại sứ quán Mỹ. Bốn giờ sáng ngày thứ tư, 30 tháng Tư, đại sứ Mỹ Graham Martin rời khỏi nước. Những người lính Mỹ cuối cùng, mười một lính thủy quân lục chiến, bay vào lúc 7 giờ 53 phút từ Sài Gòn ra hạm đội trước bờ biển. Vào lúc 11 giờ trưa, 30 tháng Tư, xe tăng Bắc Việt tới dinh tổng thống ở nội thành. Một người lính với lá cờ của “chính phủ cách mạng lâm thời” lao lên cầu thang, để gắn nó lên ban công như là dấu hiệu của chiến thắng.</p>
<p><i>Lá cờ cũ đã được lấy ra từ lâu rồi.</i><i></i></p>
<p><em>(</em>Những ngày cuối cùng của Sài Gòn &#8211;<em> Winfried Scharlau</em>)</p>
<p><b>&#8211; :</b><b> </b>Winfried Scharlau là một nhà báo, sử gia người Đức. Ông là phóng viên chiến trường đã từng bị thương ở gần vĩ tuyến 17 vì chiếc trực thăng chở ông đáp trúng mìn.</p>
<p><strong>Ngộ Không</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2016</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ngo-khng-tap-ghi-sau-40-nam-ky-9/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Không : Tạp Ghi Sau 40 Năm &#8211; Kỳ 8</title>
		<link>https://t-van.net/tap-ghi-sau-40-nam-ky-8/</link>
					<comments>https://t-van.net/tap-ghi-sau-40-nam-ky-8/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 02 May 2016 12:31:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Ngộ Không: tạp ghi sau 40 năm]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không; tạp ghi sau 40 năm]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=26850</guid>

					<description><![CDATA[&#160; Ngày thứ 36 : 14-4-1975 Trận chiến Long Khánh (CBU 55) Ngày 14-4, Chiến đoàn 52 và địa phương quân đã bị thiệt hại và mệt mỏi vì giao tranh liên tục với quân số đông đảo của Bắc quân. Tại ngã ba Dầu Giây trận chiến diễn ra vô cùng ác liệt, Bắc [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>&nbsp;</p>
<p><b>Ngày thứ 36 : 14-4-1975</b><b> </b></p>
<p><b>Trận chiến Long Khánh (</b><b>CBU 55</b><b>)</b></p>
<p>Ngày 14-4, Chiến đoàn 52 và địa phương quân đã bị thiệt hại và mệt mỏi vì giao tranh liên tục với quân số đông đảo của Bắc quân. Tại ngã ba Dầu Giây trận chiến diễn ra vô cùng ác liệt, Bắc quân tung thêm nhiều sư đoàn có xe tăng yểm trợ cùng với pháo binh để chọc thủng phòng tuyến của ta tại ngã ba Dầu Giây do Chiến đoàn 52 bảo vệ. Trong trận đánh cuối cùng này các chiến sĩ ta phải đương đầu với một lực lượng địch đông gấp mười lần.</p>
<p>(Trọng Đạt)</p>
<p><b>Ngày thứ 37 : 15-4-1975</b><b> </b></p>
<p><b>Trận chiến Long Khánh </b><b>(BLU 82)</b><b></b></p>
<p>Ngày 15-4, trận chiến rất ác liệt tàn khốc ngay từ lúc mới giao tranh, Những đợt xung phong biển người của Bắc quân đã tràn ngập các vị trí chiến đấu của VNCH, địch chọc thủng phòng tuyến và chia cắt các lực lượng ta, 4 xe tăng M48 của ta bị trúng pháo kích, trời tối nên máy bay cũng không yểm trợ được. Chiến đoàn 52 gồm một trung đoàn thuộc Sư đoàn 18 và các lực lượng tăng phái đã bị địch quân đánh tan đêm 15-4, chỉ có hai đại đội thoát được.</p>
<p>Phòng tuyến của Chiến đoàn 52 tại ngã ba Dầu Giây bị vỡ đêm 15-4-1975,</p>
<p>(Trọng Đạt)</p>
<p><b>Đài Á châu tự do phỏng vấn Thiếu tướng Lê Minh Đảo.</b></p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2016/04/clip_image002-32.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/04/clip_image002_thumb-150x150.jpg?strip=all" alt="clip_image002" width="172" height="99" border="0" hspace="12" /></a></p>
<p>BLU 82 CBU 55</p>
<p>Mặc Lâm:<b><i> </i></b>Vâng thưa thiếu tướng cho tới nay vẫn còn một câu hỏi đặt ra trước việc nhiều người cho là có hai trái bom CBU 55 đã thả trong trận Xuân Lộc. Nhưng cũng có người nói là chuyện này không có. Xin thiếu tướng cho biết vấn đề này như thế nào trong ngày 16-4-1975.</p>
<p>Thiếu tướng Lê Minh Đảo:<b> </b>CBU 55 thì nó hút hết tất cả không khí oxygen làm người ta chết chứ còn <i>hai trái bom mà đánh ở đó là BLU 82</i> đó nặng 14 ngàn pound nói theo kilogram thì nó chừng 7 tấn. Trái bom đó Hoa Kỳ họ đem qua Việt Nam họ dùng trong khi họ còn ở đây. Quả bom đó để tại Việt Nam nhưng không có ngòi nổ vì họ đã đem ngòi nổ về Mỹ.</p>
<p>Và khi có phái bộ của ông đại tướng Frederick Weyand, ông qua duyệt xét tình hình, mang hai chiếc tank M48 trên phi cơ Galaxy để làm quà viện trợ cho quân lực VNCH đồng thời chở các em mồ côi về Mỹ. Chiếc phi cơ này bị rớt ở Tân Sơn Nhất. Phái bộ này họ đem mấy cái ngòi nổ cho mấy quả bom BLU 82 qua bởi họ thấy cộng sản nó đi lẹ quá họ cho VNCH cái đó (BLU 82) để cản bước tiến của cộng sản. Trong mặt trận Xuân Lộc của tôi được họ cho 2 trái.</p>
<p><b>Xuân Lộc tháng Tư</b></p>
<p>(…tiếp với BĐQ ở Xuân Lộc)</p>
<p>Từ trưa tới chiều chạng vạng, mặt trận yên tĩnh lạ lùng. Khi mặt trời vừa lặn, pháo địch từ nhiều hướng khác nhau tập trung trên thành phố Xuân Lộc, đủ loại súng nặng, bắn thẳng, cầu vồng, <i>có điều khác lạ là tất cả đều là pháo tầm xa</i> (?), pháo địch kéo dài cỡ một giờ đồng hồ rồi im hơi. Màn đêm buông xuống, tôi nghe tiếng động cơ chiến xa nổ rộ, rồi nghe tiếng bánh sắt chạm đường đất đá, âm vang kéo dài từ gần <i>rồi xa dần</i>. Toán tiền thám BĐQ ngoài vòng đai báo cáo, chiếc T54 bị đứt xích đã được kéo đi và cả đoàn chiến xa dàn hàng ngang ngoài vòng đai phòng thủ cũng đang rút đi (?). Tôi báo cáo sự việc này cho đại tá Hiếu, ông cũng ngạc nhiên không hiểu vì lý do gì, địch đang chuẩn bị một cuộc sống mái thì <i>đột nhiên đổi hướng</i>.</p>
<p>Những ngày sau đó tình hình im ắng như tờ, những con ve sầu trên ngọn điều lộn hột cất tiếng hòa ca điệu cuối xuân trong khung cảnh thật là tĩnh mịch êm ả đồng quê. Những cây chuối trên đồi rủ lá. Những sợi khói lam từ mái rạ bay cao. Khoảng ba giờ chiều ngày 20-4-1975, đại tá Hiếu cho xe ra sân bay đón tôi vào họp hành quân. Ông rầu rầu,</p>
<p>– Ông Toàn ra lệnh cho chúng ta bỏ Long Khánh rút về Bà Rịa, ông Đảo vừa được lệnh và cho tôi biết. Tôi đón chú vào cho chú hay để mà chuẩn bị, chút nữa ông Đảo họp với ông Toàn xong trở về sẽ có lệnh chi tiết sau.</p>
<p>Tôi ngồi với đại tá Hiếu một lúc thì có điện thoại của tư lệnh, đại khái ông cho biết, lệnh bỏ Long Khánh là từ tổng thống Thiệu. Địch không vây Long Khánh nữa mà đi bọc về đánh Biên Hòa và thủ đô Sài Gòn nên quân ta phải bỏ Xuân Lộc, về bảo vệ Sài Gòn. Tướng Đảo cực lực phản đối vụ triệt thoái này nhưng tổng thống và tướng Toàn đã quyết định cắt tiếp ứng, tiếp tế, yểm trợ cho SĐ 18 để ép sư đoàn này thi hành lệnh lui binh. Tôi được lệnh rút TĐ82 BĐQ về ngã ba Tân Phong trước tám giờ đêm chờ lệnh.</p>
<p>Tiểu đoàn 82 Biệt động quân cuốn lều, lấp hầm hố phòng thủ khi đêm rơi.</p>
<p>Đơn vị tôi vừa di chuyển ngang cổng tòa hành chánh tỉnh Long Khánh thì Đại tá Phạm Văn Phúc, tỉnh trưởng đã chờ ở đó, đại tá yêu cầu tôi cho Tiểu Đoàn 82 Biệt động quân đi với đoàn quân của tiểu khu Long Khánh, và ông xin được tháp tùng tôi trong cuộc rút lui.</p>
<p>Tôi từ chối với lý do<i>: </i><em>Đại Tá có cả một tiểu khu, đại tá phải chỉ huy họ, là cấp chỉ huy của họ, đại tá không thể đi theo tôi mà để họ không người chỉ huy</em><em>, </em>Đại tá Hiểu ra, cám ơn tôi đã có lời nhắc nhở nhiệm vụ của ông. Chúng tôi bắt tay từ biệt. Mãi tới năm 1979 tôi mới gặp lại đại tá Phúc trong trại cải tạo Nam Hà A ngoài Bắc.</p>
<p>Trong cuộc rút binh, đại tá Phúc đã bị bắt khi đi được nửa đường Xuân Lộc, Bà Rịa và bị giữ trong trại tù từ ngày đó.</p>
<p>(Vương Mộng Long)</p>
<p>(?!) Xem <i>Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm</i> của Trần Văn Trà ở tiết mục Ngày thứ 42: 20-4-1975 &#8211; Xuân Lộc triệt thoái.</p>
<p><strong>Ngày thứ 38 : 16-4-1975 </strong></p>
<p><strong>Trận Dầu Giây</strong></p>
<p>Trung tướng Nguyễn Văn Toàn xin lệnh Bộ tổng tham mưu cho ném bom Daisy Cutter, hồi đó còn gọi là bom CBU để ngăn sức tiến của Bắc quân.</p>
<p>Hôm sau 16-4 vào lúc 11 giờ sáng hai trái bom khổng lồ CBU đã được thả xuống vị trí đóng quân của Bắc quân cùng với một đoàn xe dài đầy những xe tăng đại bác trên Quốc lộ 20 từ Định Quán trở xuống.</p>
<p>(Trọng Đạt)</p>
<p><b>Bên lề trận chiến </b></p>
<p>Ngày 17-4-1975 đang kịch chiến tại khu vườn của cố Thống tướng Lê Văn Tỵ. Thì đồng thời trong hai ngày 17 và 18-4 Quốc hội Hoa Kỳ chuẩn thuận dự chi 327 triệu cho phép Tổng thống Gerald Ford được quyền sử dụng  quân lực di tản người Mỹ ra khỏi Việt Nam.</p>
<p><i>Ngày 19-4, </i>tại Xuân Lộc, tình hình thế trận như dầu sôi lửa bỏng, Sư đoàn 7 và Sư đoàn 341 liên tục quần nhau với Sư đoàn 18. Thì cũng cùng ngày 19-4, Đô đốc Noel A. Gayler, tư lệnh quân lực Hoa Kỳ vùng Thái Bình Dương đến Sài Gòn, trực tiếp thẩm định tình hình và <i>lượng giá</i><i> </i><i>các khả năng di tản</i>. Tại Washington, <i>ủy ban đặc nhiệm di tản</i> WSAG (Washington Special Assignment Group) <i>được thiết lập</i> do Dean Brown thuộc bộ ngoại giao cầm đầu.</p>
<p><b>Ngày thứ 39 : 17-4-1975</b><b> </b></p>
<p><b>12 ngày trận chiến Xuân Lộc</b></p>
<p>Ngày 17-4, các đơn vị thuộc 3 sư đoàn 341, 6 và 7 Bắc quân tiếp tục mở các đợt tấn công vào phòng tuyến phía nam thị xã Xuân Lộc do 2 tiểu đoàn thuộc Lữ đoàn 1 Dù án ngữ.</p>
<p>Những pha cận chiến giữa nhảy dù và Bắc quân đã diễn ra quanh các vườn cây rộng mênh mông của khu vườn của cố Thống tướng Lê Văn Tỵ, nằm sát đường rầy xe lửa. Không quân đã thực hiện nhiều phi tuần F5 và A37 oanh kích vào vị trí đóng quân của một trung đoàn Bắc quân trong khu vườn này.</p>
<p><b>Góp nhặt…ghi chép…</b></p>
<p>Ngày 17-4, ông Martin đề nghị với Kissinger trong một công điện tối mật để đồng ý cho ông thuyết phục ông Thiệu từ chức:</p>
<p>Nếu quốc hội bỏ phiếu chống viện trợ cho VNCH thì địa vị ông Thiệu hết rồi. Vì vậy tôi sẽ thuyết phục ông Thiệu từ chức với tính cách là người bạn. Nếu ông ta không chịu, tôi sẽ đi đến một kết luận vô tư là các tướng lãnh dưới quyền ông sẽ bắt buộc ông làm chuyện này.</p>
<p>Kissinger đồng ý và cho hay: <i>Tôi và tổng thống Ford đã chấp thuận từ trước rồi</i>.</p>
<p>(Nguyễn Tiến Hưng)</p>
<p><b>&#8211; : </b>10 giờ sáng, Đại sứ Graham Martin vào gặp tổng thống Thiệu và cuộc gặp kéo dài trong tiếng rưỡi đồng hồ về nhận định của tòa đại sứ Hoa Kỳ đối với tình hình quân sự hiện tại.</p>
<p><b>Xuân Lộc tháng Tư</b></p>
<p>Ra tới QL1 tôi phải cho quân đi hàng một và cách lề trái đường vài chục mét. Khi đến ngã ba Tân Phong tôi được lệnh ngừng lại chờ lệnh. Trên QL1 những chiếc xe cam nhông chở đầy ắp lính ngồi hai hàng, xe chạy như bay, chiếc này bám đuôi chiếc khác. Xe mở đèn pha sáng choang. Có những người lính bộ binh lưng mang nặng ba lô, súng đeo vai đi sát hai bên đường. Một anh lính bộ binh chạy từ bên phải sang bên trái đường, bị trượt chân té, văng nón sắt. Chiếc xe cam nhông chạy qua, đè ngang hai chân anh. Anh lính la hét đau đớn được một câu thì chiếc xe cam nhông thứ hai đã đè đủ năm chiếc bánh bên trái qua người anh ta. Tôi nghe rõ tiếng “rốp!” khi bánh xe lăn qua đầu anh. Cái xác dẹp lép của người lính cách chân tôi khoảng hai mét. Tôi kéo xác anh vào lề đường. Cái căn cước quân nhân cho tôi biết tên người xấu số là Nguyễn Thành Long, sinh quán Long An.</p>
<p>Hai bên đường, người đi như chảy hội, giữa đường, xe cứ nối đuôi nhau.</p>
<p>Tôi chờ khoảng mười phút thì đại tá Hiếu cho tôi biết, Chuẩn tướng Lê Minh Đảo chọn TĐ82 BĐQ làm lực lượng bảo vệ bộ tư lệnh di chuyển. Không lâu sau đó, một chiếc jeep trờ tới, chuẩn tướng Đảo cùng bốn quân cảnh nhảy xuống, chiếc xe chạy đi ngay.</p>
<p>Chúng tôi xác định nhiệm vụ, trao đổi tần số rồi lên đường.</p>
<p>(…)</p>
<p><b>Góp nhặt…ghi chép…</b></p>
<p>Thực ra thì bản nhận định này đã được Frank Nepp, một chuyên viên phân tích tình báo (intelligence analyst) của CIA soạn thảo. Trong cuốn <i>Decent Interval</i>, Frank Nepp tiết lộ rằng ông đã được Polga, giám đốc CIA tại Sài Gòn ra chỉ thị phải:</p>
<p><i>Soạn thảo bản nhận định càng đen tối càng tốt chừng đó</i>.</p>
<p>Vì đại sứ Martin sẽ dùng bản nhận định này để thuyết phục ông Thiệu rằng đã đến lúc ông ta phải ra đi. (Frank Snepp)</p>
<p><b>Ngày thứ 40: 18-4-1975</b><b></b></p>
<p><b>12 ngày trận chiến Xuân Lộc</b></p>
<p>Sáng 18-4, tổng kết tình hình 3 phần 4 quân số của Trung đoàn 52 BB bị thương. Về thiết giáp, 9 chiến xa và M113 bị tiêu hủy, hơn một phần tư quân số bị loại ra khỏi vòng chiến đấu.</p>
<p>Chiều 18-4, pháo 130 đã bắt đầu bắn phá căn cứ không quân Biên Hòa không cho không quân của ta yểm trợ Xuân Lộc.</p>
<p>(Trần Hiếu Đức)</p>
<p><b>Góp nhặt…ghi chép…</b></p>
<p>Ngày 18-4, bộ tư lệnh Quân đòan III chuẩn bị di chuyển từ Biên Hòa về Gò Vấp. Trong khi đó các hoạt động phối hợp yểm trợ chiến thuật của Sư đoàn 3 KQ cũng bắt đầu suy giảm mạnh. Những kho dự trử bom đạn tại Biên Hòa, Long Bình, Gò Vấp và thành Tuy Hạ đều cạn kiệt những loại bom 500, 750, 1.000 lbs, chỉ còn loại bom nhỏ MK81 cở 250 lbs.</p>
<p>Các phi đoàn máy bay của Sư đoàn 3 KQ phân tán về Tân Sơn Nhất và Cần Thơ.</p>
<p>(Trần Hiếu Đức)</p>
<p><b>Long Khánh triệt thoái </b></p>
<p>Đài Á châu tự do phỏng vấn Thiếu tướng Lê Minh Đảo.</p>
<p>Mặc Lâm: Thưa thiếu tướng với tình hình mà thiếu tướng vừa diễn tả khiến ông phải rút quân ồ ạt vào ngày 20-4. Có những chi tiết gì quan trọng trong cuộc rút quân thưa thiếu tướng?</p>
<p>Thiếu tướng Lê Minh Đảo: Mặt trận Xuân Lộc nó ác liệt đẫm máu ngay vào ngày đầu tiên 8-4-1975 và kéo dài cho tới ngày Sư đoàn 18 rút ra khỏi trận địa vào ngày 21-4. Tình hình bắt đầu thay đổi khi ngày 16-3 thì mặt trận Phan Rang bắt đầu bể, một quân đoàn gọi là Quân đoàn 2 Hương Giang của họ đi ở Quốc lộ 1 xuyên qua Phan Rang xuống Phan Thiết để về Sài Gòn. Họ đi vô Bình Tuy ngang Xuyên Mộc về Bà Rịa để tấn công Biên Hòa, vì họ không thể đi ngõ Xuân Lộc nên họ đi ngõ đó. Đồng thời Trần Văn Trà thay đổi kế hoạch đánh phá rất mạnh vào phi trường Biên Hòa vì họ biết phi trường còn thì sẽ yễm trợ cho chúng tôi. Mỗi ngày chúng tôi có chừng 50 phi xuất của Biên Hòa yễm trợ cho chúng tôi, anh em đó đánh rất là ngoạn mục, đánh rất hay, rót bom lên địch thành ra họ bị thiệt hại rất nhiều vì phi pháo của chúng tôi.</p>
<p>Chiến đoàn 52 của tôi ở tại ngã ba Dầu Giây họ đánh nhiều ngày hết đạn dược rồi nên phải xuyên rừng đi thẳng vào rừng, đi xuyên rừng Bình Sơn để về Biên Hòa. Trước sự uy hiếp trên quân đoàn sợ rằng mặt trận của tôi nằm ở phía trên mà nó đã lọt được vào bên dưới do Quân đoàn Hương Giang đi từ bên kia nó vòng ngõ tắt về Biên Hòa cho nên ông trung tướng Toàn ra lệnh phải thay đổi chiến thuật, xin tổng thống Thiệu và tổng thống chấp nhận là đưa Sư đoàn 18 về giữ Trảng Bom, giữ Quốc lộ 1 về Biên Hòa. Mặt trận này hồi nào đến giờ do chuẩn tướng Khôi, tư lệnh Lữ đoàn 3 Thiết giáp, đem chiến đoàn lên giữ mặt trận đó mà không lên tiếp cứu được cho Sư đoàn 18 vì tụi nó chận ông và ông phải cầm cự ở đó. Thật ra thì ông Toàn cũng muốn giữ lực lượng này để bảo vệ cho Quân đoàn III nếu cái đoạn này mà Lữ đoàn 3 dính vào mà nó đánh vô thì ông không có đường mà đỡ, ông ra lệnh cho tôi rút càng sớm càng tốt.</p>
<p><b>Góp nhặt…ghi chép…</b></p>
<p>Trước khi cuộc lui binh khỏi Xuân Lộc bắt đầu, ngày 18-4, Uỷ ban quốc phòng thượng viện Hoa Kỳ biểu quyết <i>bác bỏ đề nghị viện trợ khẩn cấp</i> cho VNCH của tổng thống Mỹ, họ <i>chỉ cho tiền cứu trợ di tản</i>.</p>
<p>Hai hôm sau cuộc lui binh <i>(ngày 21-4)</i>, ngày 23-4 tại đại học Tulane, New Orléans, Tổng thống Ford tuyên bố: <i>Đối với Hoa Kỳ chiến tranh VN đã kết thúc</i>…</p>
<p>(Trần Hiếu Đức)</p>
<p><b>Ngày thứ 41 : 19-4-1975</b></p>
<p><b>12 ngày trận chiến Xuân Lộc</b></p>
<p>Ngày 19-4, tại Xuân Lộc, tình hình thế trận như dầu sôi lửa bỏng, Sư đoàn 7 và Sư đoàn 341 liên tục quần nhau với quân ta. Mất Dầu Giây và Quốc lộ 20, Biên Hòa trở thành mục tiêu và Xuân Lộc bị cô lập.</p>
<p>Tư lệnh Quân đoàn III bay trực thăng xuống Long Khánh, và tất cả nhận được lệnh rút khỏi Xuân Lộc 12 giờ đêm 19-4 theo con đường mòn qua Long Giao-Bình Giả về Phước Tuy để trở về phòng thủ Biên Hoà. Đội hình lui quân được dự trù như sau:</p>
<p>BTL/SĐ18 BB và BCH/TK/LK đi trên đường mòn qua Long Giao. Hai bên sườn được bảo vệ bởi  lữ đoàn Dù, liên đoàn BĐQ, và liên đoàn ĐPQ.  Đến Bình Gỉa, BCK/TK bị phục kích. Đại Tá Phạm Văn Phúc, TKT Long Khánh bị bắt.</p>
<p>(Trần Hiếu Đức)</p>
<p><b>Long Khánh triệt thoái </b></p>
<p>Muốn rút trên con đường này tôi lại ra lệnh lần nữa là không rút ban ngày, rút ban ngày địch nó biết nên tôi rút ban đêm. Bắt đầu 8 giờ tối, tôi cho rút quân vì tôi biết họ không bao giờ có thể nghĩ rằng một đại đơn vị của quân lực VNCH mà rút quân vào ban đêm như thế này hết, họ không bao giờ ngờ! Sáng hôm ông Toàn ra lệnh tìm cách rút quân thì tôi đã cho lệnh tất cả lữ đoàn dù và một tiểu đoàn của tôi ở trên núi Thị nã pháo vào các vị trí của họ và mở cuộc tấn công để làm cho họ thấy rằng chúng tôi bắt đầu phản công để tiêu diệt họ thì họ lo chống đỡ và nghĩ rằng chúng tôi đánh họ chứ họ không biết khi đó tôi chuẩn bị rút đi.</p>
<p>Rút quân trong cuộc hành quân này thì rất táo bạo nhưng phải bình tĩnh tối đa, rút từng đơn vị. Trước hết tôi cho trung đoàn của tôi đi đầu, trung đoàn đó được một đơn vị pháo lớn tại căn cứ Long Giao của Trung đoàn 48 nằm đó nó yễm trợ. Khi họ rút được êm rồi thì đơn vị pháo đó rút sâu dưới kia họ bắn ngược lên. Sau đó là lực lượng cơ giới do ông đại tá tham mưu trưởng hành quân Hứa Yến Lến của tôi ổng dẫn đi, đem hết tất cả cơ giới nặng, cả xe xác chết của binh sĩ mình trong ngày hôm đó không đi được bỏ lên xe chở về hết tất cả.</p>
<p>Tôi chỉ biết là mỗi một ngày tôi chấm tọa độ. Tối tôi chấm tọa độ nơi nào họ đóng quân, chẳng hạn chỗ này sư đoàn đóng chỗ này trung đoàn đóng, chỗ này là điểm tập trung quân của quân đoàn còn chỗ này là điểm của một đơn vị sắp sửa xuất phát. Tại sao tôi biết? Bởi vì trong cuộc chiến thì tới giờ này tôi nói luôn cho biết về vấn đề gọi là mật mã. Tháo ra hết tất cả mật mã của họ thì chúng tôi có phòng 7 họ gửi bao nhiêu chúng ta mở ra hết tất cả. Buổi chiều khi họ truyền tin thì chúng tôi bắt được hết. Họ báo tất cả bức điện của họ bằng chữ, ví dụ một lô chữ azkd&#8230;nhưng trong số chữ đó chúng tôi biết đọc ra mật mã, chính chỗ đó nên tôi đánh trúng họ và họ thiệt hại rất nhiều. Trung tâm phối hợp hỏa lực của tôi chiều nào cũng kiểm tra cái này hết. Những mục tiêu xa tập trung những đơn vị của họ ở gần trên Định Quán thì tôi xin quân đoàn cho tôi đánh mục tiêu này.</p>
<p>Tôi xin đánh vào mục tiêu đó nhưng tôi không biết rõ là quân đoàn đánh bằng quả bom BLU 82. Sự thiệt hại của địch quân rất cao. Còn một quả nữa thì tôi thấy nó không ép-phê gì trong trận địa của tôi, trái thứ hai không kết quả bao nhiêu. (Mặc Lâm-Lê Minh Đảo)</p>
<p><b>Ngày thứ 42: 20-4-1975</b></p>
<p><b>Xuân Lộc triệt thoái</b></p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2016/04/clip_image004-6.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image004" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/04/clip_image004_thumb-150x150.jpg?strip=all" alt="clip_image004" width="196" height="139" border="0" hspace="12" /></a></p>
<p>Tù binh VNCH tại Xuân Lộc</p>
<p>Những trận đánh cuối cùng tại chiến trường Long Khánh.<br />
Rạng sáng ngày 20-4, hai trung đoàn Bắc quân từ hướng đông-nam Xuân Lộc tiến đánh thẳng vào bộ tư lệnh Sư đoàn 18 và bộ chỉ huy tiểu khu Long Khánh. Bắc quân tập trung lực lượng tại đồn điền Xuân Lộc cách bộ tư lệnh hành quân Sư đoàn 18 khoảng 3 km.<br />
10 giờ sáng cùng ngày 20-4, theo lệnh của bộ tư lệnh Quân đoàn III, bộ tư lệnh Sư đoàn 18 đã có cuộc họp khẩn với các chỉ huy trưởng các đơn vị tăng phái và tiểu khu trưởng Long Khánh. Trong vòng 1 giờ, bộ tư lệnh Sư đoàn 18 phổ biến lệnh mới của bộ tư lệnh Quân đoàn III là toàn bộ lực lượng VNCH triệt thoái khỏi Xuân Lộc.</p>
<p>(SQTB K10B/72)</p>
<p><b>Giã từ vũ khí</b> …</p>
<p>Trong cuộc rút quân khỏi Xuân Lộc, lộ trình rút quân của lữ đoàn dù dài hơn 40 cây số đường rừng ven theo liên tỉnh lộ 2 từ Tân Phong đến Long Lễ về Bà Rịa…</p>
<p>Nhưng có một điều đã làm xót xa các cấp chỉ huy và binh sĩ dù, đó là những chiến sĩ dù bị thương nặng trong những trận giao tranh trước khi có lệnh rút quân đang chờ đợi tải thương. Trong một tình thế bất khả kháng, tất cả những người lính dù đều khóc khi phải cố nén đau thương từ biệt những đồng đội của mình đang bị trọng thương ở các chiến hào.</p>
<p>Trước phút lên đường, nhiều người lính dù đã òa lên khóc, ôm lấy đồng đội, máu từ áo bạn thấm sang áo mình, lần đầu tiên và cũng lần cuối cùng họ phải để bạn bè bị thương vĩnh viễn ở lại với chiến trường…Họ sửa lại ngay ngắn thế nằm của đồng đội, vuốt từng đôi mắt sau khi các quân y sĩ, y tá quân y chích cho thương binh những mủi thuốc an thần. Nón sắt của thương binh được lấy ra, đầu của họ được gối trên ba lô, súng cá nhân để bên cạnh.</p>
<p>Như một thước phim bi tráng trong điện ảnh về đề tài chiến tranh, những người lính dù đứng nghiêm, chào vĩnh biệt đồng đội. Rồi, đoàn quân lên đường.<b> </b><em>(Vương Hồng Anh) </em><b></b></p>
<p><b>Bên lề trận chiến </b></p>
<p>Henry Kissinger qua trung gian  của Anatoly Dobrynin, đại sứ Liên Xô tại Washington, gửi một công điện tối khẩn cho tổng bí thư đảng cộng sản Liên Xô Leonid Brezhnev. Theo Kissinger, vì quyền lợi lâu dài Xô–Mỹ, vì nguyên tắc tự chế (principle of restraint), đồng thời để tránh hậu quả rất tai hại có thể xảy ra cho miền Bắc Việt Nam, Moscow nên hợp tác, giúp sắp xếp với Hà Nội một thỏa thuận ngầm về ngừng bắn ngắn hạn cho công tác di tản công dân Hoa Kỳ, cùng một số người Việt Nam có liên hệ đặc biệt với Hoa Kỳ. Đề nghị được Liên Xô chấp nhận mau lẹ và Hà Nội cũng bắn tiếng không có ý định ngăn cản việc di tản, hay muốn làm tổn thương thêm danh dự của Hoa Kỳ (Biên  bản cuộc họp ngày 24-4 của Hội đồng an ninh quốc gia Hoa Kỳ, Thư viện Tổng thống Gerald Ford giải mật năm 2004).</p>
<p>Tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn cử Đại tá Harry Summer làm thông tín viên con thoi thường trực với Hà Nội. Chỉ có Đại sứ Graham Martin và Phó đại sứ Wolf Lehmann biết mối liên hệ tay ba Hà Nội, Moscow và Washington. Điều thỏa thuận căn bản đã đạt được là Hà Nội <i>đồng ý sẽ chờ bên ngoài Sài Gòn </i>cho Hoa Kỳ rút đi trong yên ổn, chỉ với điều kiện mọi<i> chiến cụ và phương tiện chiến tranh đều phải được để lại toàn bộ nguyên vẹn</i>.</p>
<p>Tuy nhiên trong một bức thư trao tay trực tiếp cho Hà Nội, Hoa Kỳ nhấn mạnh đến các pháo đài bay B52 ở Thái Lan và lực lượng không quân của Hạm đội 7, đã và đang được đặt trong tình trạng báo động. Bất kỳ một sự khinh suất nhỏ nào của Hà Nội cũng đều <i>có thể đưa đến một hành động</i><i> trả đủa khốc liệt</i> (1). (Larry Engelmann, sđd, Hoàng  Đức Nhã, cố vấn Tổng thống VNCH, dẩn theo Pièrre Darcourt, Vietnam: Qu’as – tu fait de tes fils, 1977).</p>
<p>(1)<b> </b>Để cụ thể hóa áp lực, ngày 21-4, Hoa Kỳ giúp Sư đoàn 5 KQ thả tiếp hai quả hai bom CBU 55, xuống vùng Bảo Vinh, Bình Lộc, (Nguyễn Hiệp)</p>
<p><b>10 ngày cuối cùng của VNCH </b></p>
<p><b>Chủ Nhật 20-4-1975</b></p>
<p>Đại sứ Martin đã đưa cho ông Thiệu <i>bản nhận định</i> do Frank Nepp viết nguyên văn như sau:</p>
<p>(…) Với cuộc sụp đổ của các cuộc phòng thủ của quân đội của chính phủ quanh tỉnh lỵ Xuân Lộc và sự tiếp tục gia tăng tập trung quân đội của Bắc quân trong Vùng 3 chiến thuật cán cân lực lượng trong vùng chung quanh Sài Gòn hiện nay đã nghiêng về phía Bắc Việt. Mặc dù chính phủ vẫn còn có thể tăng viện cho một trong những mục tiêu có thể sẽ bị tấn công như Biên Hòa, Long Bình ở về phía đông Sài Gòn, các tỉnh Long An, Hậu Nghĩa ở về phía tây hay tỉnh Bình Dương ở về phía bắc, tuy nhiên lực lượng của chính phủ sẽ không đủ sức mạnh để phòng thủ tất cả các mục tiêu nầy một cách hữu hiệu. Mặt khác về phía Bắc Việt chỉ trong vòng ba hay bốn ngày nữa, họ lại có đủ khả năng phóng ra những cuộc hành quân mức nhiều sư đoàn vào tất cả những mục tiêu này. Như vậy thì chính phủ VNCH sẽ phải đối phó tình trạng Sài Gòn sẽ bị cô lập và sẽ không còn liên lạc được với bên ngoài chỉ trong vòng vài tuần lễ và có thể rơi vào tay của các lực lượng Bắc Việt <i>trong vòng 3 hay 4 tuần lễ</i>. (…)</p>
<p>***</p>
<p>Frank Nepp nói rằng ông muốn viết “chỉ vài tuần lễ” thế nhưng Polgar không muốn như vậy. Frank Nepp cho biết thêm rằng sau khi ra đi, ông Thiệu vẫn còn để bản nhận định nầy trên bàn giấy của ông trong dinh Độc Lập. Khi Bắc quân chiếm Sài Gòn, tướng Văn Tiến Dũng đã lấy được <i>bản nhận định</i> này và đã cho đăng nguyên văn không sót một chữ trong cuốn sách <i>Đại thắng mùa xuân</i> của ông ta (*** Frank Nepp<i>: </i>sđd, trang 382).</p>
<p>(Trần Đông Phong)</p>
<p><b>Quân sử ngoại truyện</b></p>
<p>(qua “Xuân Lộc tháng Tư” của VMLong với…<i>Họ án binh chờ lệnh</i>? có thể vì lý do dưới đây).</p>
<p>Theo Thượng tướng Trần Văn Trà, tình hình lúc đó khiến cho đồng chí Văn Tiến Dũng và cả anh Lê Đức Thọ hết sức lo lắng. Vì Quân đoàn 1 đang được điều động từ miền Bắc vào. Quân đoàn 2 (Lê Trọng Tấn) vừa hành quân vừa tác chiến dọc theo bờ biển. Tướng Trà viết:</p>
<p>“Có đơn vị vào tới, nhưng đạn dược chưa tới, <i>pháo chỉ còn hai viên</i>. Có xe tăng đến nơi nhưng <i>xăng dầu hết</i>, hậu cần vùi đầu vơi công việc. (*** Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm – trang 258)</p>
<p>Ngày 18-4-1075, trong Điện sô 07, ông Lê Duẩn viết: <i>Tôi đã bàn với anh Văn</i> (Võ Nguyên Giáp), nhận thấy <i>cần chuẩn bị mấy ngày nữa</i>, đến khi phần lớn lực lượng của Quân đoàn 3 và Quân đoàn 1 đến nơi sẽ bắt đầu cuộc tấn công lớn. Chưa nên làm ngay bây giờ. (*** Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm – trang 261)</p>
<p>Thế nhưng rạng sáng <i>ngày 21-4 </i>(1a). các tuyến phòng thủ của Sài Gòn tại Xuân Lộc sụp đổ. Vì tướng tư lệnh Lê Minh Đảo …”triệt thoái” khỏi thành phố.</p>
<p>(Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm &#8211; Trần Văn Trà)</p>
<p><b>Ngày thứ 43 : 21-4-1975 </b></p>
<p><b>Sài Gòn thay đổi nhân sự (2)</b><b></b></p>
<p>Sáng ngày 21-4, trong khi cuộc rút quân của lực lượng VNCH đang triệt thoái khỏi Xuân Lộc trên Quốc lộ 2, thì tại Sài Gòn, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã triệu tập Hội đồng an ninh quốc gia với sự tham dự của Phó tổng thống Trần Văn Hương, v…v…</p>
<p>Theo hồi ký của Đại tướng Cao Văn Viên, trong cuộc họp này, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã thông báo quyết định từ chức và trao quyền lại cho Phó tổng thống Trần Văn Hương.</p>
<p>7 giờ 30 <i>ngày 21-4</i> (1a), lễ bàn giao chức vụ tổng thống đã diễn ra tại dinh Độc Lập.</p>
<p>(SQTB K10B/72)</p>
<p><b>Góp nhặt…ghi chép…</b></p>
<p>Ngày 29-4-1975, mặc dù rất bận rộn trong việc di tản, đại sứ Hoa Kỳ, ông Martin cũng đến tư dinh đường Công Lý với một tham vụ sứ quán nói tiếng Pháp. Đại khái đại sứ nói:</p>
<p>Thưa tổng thống, tình trạng hiện nay rất nguy hiểm. Nhân danh chính phủ Hoa Kỳ, chúng tôi đến mời tổng thống rời khỏi nước, đi đến bất cứ xứ nào, ngày giờ nào với phương tiện nào mà tổng thống muốn. Chính phủ chúng tôi cam kết bảo đảm cho ngài một đời sống xứng đáng với cương vị tổng thống cho đến ngày trăm tuổi già.</p>
<p>Cụ Trần Văn Hương mỉm cười trả lời :</p>
<p>Thưa ngài đại sứ, tôi biết tình trạng hiện nay rất là nguy hiểm. Đã đến nỗi như vậy, Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó. Nay ông đại sứ đến mời tôi ly hương, tôi rất cám ơn ông đại sứ. Nhưng tôi đã suy nghĩ dứt khoát ở lại nước tôi. Tôi cũng dư biết cộng sản vào được Sài Gòn, bao nhiêu đau khổ nhục nhã sẽ trút xuống đầu dân chúng miền Nam. Tôi là người lãnh đạo đứng hàng đầu của họ, tôi tình nguyện ở lại để chia xẻ với họ một phần nào niềm đau đớn tủi nhục, nổi thống khổ của người dân mất nước. Cám ơn ông đại sứ đã đến viếng thăm tôi.</p>
<p>Khi nghe câu “Les États-Unis ont aussi leur part de responsabilités” (Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó), đại sứ Martin giật mình nhìn trân trân cụ Trần Văn Hương.</p>
<p>(Trần Đông Phong)</p>
<p><b>&#8211; : </b>Trước đó vào tháng 4-1975 khi Nam Vang sụp đổ, Thủ tướng Sirik Matak cũng được Đại sứ Hoa Kỳ John Gunther Dean mời di tản nhưng ông Sirik Matak đã từ chối qua một lá thư trách Hoa Kỳ đã nhẫn tâm bỏ rơi dân tộc Cao Miên. Ông viết: Tôi chỉ ân hận một điều vì quá tin vào người Hoa Kỳ… Thủ tướng Sirik Matak chọn ở lại vì ông quan niệm đã sinh ra thì sẽ chết một ngày nào đó. Ngày 17-4-1975, ông đã chết vì vì bàn tay đẫm máu của Khờ Me đỏ.</p>
<p><b>&#8211; : </b>Thủ tướng Sirik Matak bị Khờ Me đỏ chặt đầu tại vận động trường Nam Vang ngay ngày đầu tiên Cao Miên bị sụp đổ. Tuy nhiên theo Henry Kissinger thì ông bị bắn vào bụng. Sau đó ông bị bỏ mặc cho máu chảy, bị bỏ mặc đến chết ròng rã trong 3 ngày.</p>
<p><b>&#8211; :</b> Cụ Trần Văn Hương mất ngày 27-1-1982 tại Sài Gòn.</p>
<p>(Wikipedia)</p>
<p><b>10 ngày cuối cùng của VNCH</b></p>
<p><b>Thứ Hai 21-04.1975<br />
</b></p>
<p>Sau đêm suy nghĩ, trưa ngày hôm sau, thứ hai 21-4-1975, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu mời Phó tổng thống Trần Văn Hương và Đại tướng Trần Thiện Khiêm, cựu thủ tướng, đến dinh Độc Lập và thông báo với họ rằng ông sẽ từ chức. Tổng thống Thiệu kể lại cho hai nhân vật này cuộc hội kiến với đại sứ Pháp và đại sứ Hoa Kỳ ngày hôm trước và nhấn mạnh rằng cả hai ông đại sứ đều <i>không chính thức khuyến cáo ông từ chức</i>, tuy nhiên vì tình hình quân sự đã trở nên vô vọng và ông cảm thấy rằng ông không còn có thể phục vụ đất nước hữu hiệu được nữa nên ông phải từ chức. tổng thống Thiệu nói với cụ Trần Văn Hương và ông Trần Thiện Khiêm rằng ông muốn bảo tồn tính hợp pháp của chế độ VNCH và do đó ông yêu cầu Phó tổng thống Trần Văn Hương nhận lãnh chức vụ Tổng thống VNCH để cứu vãn tình thế.</p>
<p>(…)</p>
<p><b>Di tản </b></p>
<p>Ngày 21-4, trong khi lực lượng VNCH đang triệt thoái khỏi Xuân Lộc thì từ ngày 21 đến 28-4-1975, Mỹ đã bốc ra khỏi Sài Gòn qua 170 chuyến bay bằng phi cơ vận tải C130, C134 và C141 đưa tới căn cứ không quân Clark ở Phi Luật Tân, một số nhỏ được đưa thẳng tới Guam. Nhân viên của các đài phát thanh bí mật, được chở ra đảo Phú Quốc, rồi ít ngày sau được bốc đi.</p>
<p>Trong Chiến dịch Frequent Wind ngày 29-4 trực thăng vận, từ toà đại sứ bốc 978 người Mỹ, 1.120 người Việt cùng công dân các nước khác. Từ DAO bốc 395 người Mỹ và 4.475 người tị nạn. Ngoài những chuyến trực thăng do Mỹ bốc, còn rất nhiều phi công đã đi một mình hoặc chở người thân bay thẳng ra Đệ thất hạm đội.</p>
<p>Trong 4 ngày cuối tháng 4, Mỹ đã xử dụng 45 tầu hải quân, từ mẫu hạm, chiến hạm, tầu vận tải vớt tổng cộng 40.000 người. Tổng cộng cả tháng 4, Đệ thất hạm đội vớt khoảng 130.000 người. Lúc đầu, họ được cho tạm trú tại đảo Grande Island ở Subic Bay.</p>
<p>Ngày 28-4, quốc hội Mỹ chính thức cho phép người tị nạn vào Mỹ tại 3 nơi:</p>
<p>Camp Pendleton, CA; Eglin Air Force Base, FL; Fort Chaffee, Arkansas. Sau mở thêm Camp Indiantown Gap, PA. vào đầu tháng 6.</p>
<p>(Đinh Từ Thức)</p>
<p><b>10 ngày cuối cùng của VNCH </b></p>
<p>Frank Snepp, tiết lộ rằng khi ông Thiệu nói chuyện với Phó tổng thống Trần Văn Hương và Đại tướng Trần Thiện Khiêm (hay Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn) tại dinh Độc Lập thì bộ phận nghe lén của CIA ở tòa đại sứ Mỹ nghe hết không sót một lời nào.</p>
<p>Trùm CIA tại Sài Gòn là Thomas Polga sau đó đã ra lệnh cho phụ tá của ông là Thiếu tướng Charles Timmes đến gặp Đại tướng Dương Văn Minh ngay chiều hôm đó và hỏi thẳng ông Dương Văn Minh rằng <i>nếu người Mỹ có cách loại ông Hương ra khỏi ghế tổng thống thì ông Minh có sẵn lòng đảm nhận chức vụ này để điều đình với Việt cộng hay không</i>? Đại Tướng Minh nhận lời, và tin tưởng rằng ông có thể thuyết phục “phe bên kia”. Ông nói với tướng Timmes ông cần gởi ngay một đại diện của ông sang Paris để thương thuyết với phe bên kia.</p>
<p>Nghe ông Minh nói như vậy, tướng Timmes liến mở cặp lấy ngay một ngàn đô la (1) tiền mặt trao cho ông Minh để mua vé máy bay cho người đại diện này.</p>
<p>(…)</p>
<p>(1) Frank Snepp chú thích là ông Minh không hề gửi người nào sang Paris, không dùng đến số tiền này và cũng không trả lại cho người Mỹ. Frank Snepp cũng cho biết thêm là đại sứ Martin không hề hay biết gì về việc CIA cho người tiếp xúc với Dương Văn Minh trước khi ông Thiệu từ chức. (*** Frank Snepp: sđd, trang 395)</p>
<p><b>Những ngày cuối VNCH</b></p>
<p>Theo hồi ký của ông Trần Văn Đôn, tòa đại sứ Pháp đã nhẩy vào chính trường Việt Nam. Cố vấn chính trị của sứ quán Pháp là ông Brochand đã gặp ông Đôn cho biết sứ quán Pháp có liên lạc với Hà Nội và nhấn mạnh: Nếu có thương thuyết thì Hà Nội chỉ thương thuyết với ông Dương Văn Minh mà thôi. 10 giờ tối ngày 22-4, ông Đôn gặp ông Minh cho hay Hà Nội đang chờ ông nắm quyền rồi sẽ thương thuyết.</p>
<p>Ông Minh chưa tiếp xúc với ông Trần Văn Hương vì vị tân tổng thống không thích ông Minh.</p>
<p>Ông Minh đề nghị ông Đôn đi gặp đại sứ Mỹ Martin để thuyết phục ông Hương. Rời nhà ông Minh, ngay trong đêm 22-4, ông Đôn đã đến tư gia đại sứ Martin dù đã gần 12 giờ khuya. Sau đó, ông Đôn trao đổi với ông Marin về ý kiến của ông Minh và yêu cầu đại sứ Martin đề nghị ông Hương giao quyền cho ông Minh đứng ra thương thuyết với Hà Nội.<b></b></p>
<p><em>(Vương Hồng Anh)</em></p>
<p><b>10 ngày cuối cùng của VNCH </b></p>
<p><b>Thứ Hai 21-04-1975<br />
</b></p>
<p>Lễ bàn giao đang diễn ra tại dinh Độc Lập, các đơn vị còn lại của Sư đoàn 18 bắt đầu di tản ra khỏi thị trấn Xuân Lộc sau khi đã chiến đấu vô cùng anh dũng chống lại một lực lượng chính quy Bắc Việt đông gấp năm lần trong hơn hai tuần lễ. Khi cụ Trần Văn Hương nhậm chức tổng thống thì Bắc quân đã tiến về tới gần Biên Hòa và bộ máy của cơ quan tình báo Mỹ CIA cùng tình báo của Pháp, cũng như đại sứ là ông Jean-Marie Mérillon đã bắt đầu hoạt động ráo riết để đưa ông Dương Văn Minh lên thay thế ông Trần Văn Hương nhằm thương thuyết với Hà Nội.</p>
<p>Trong khi đó thì từ Hà Nội, ban bí thư đảng đã gửi điện văn số 316-TT/TW ngày 21-4-1975 cho tất cả các chi bộ đảng chỉ thị về việc chọn lựa cán bộ để tiếp thu Sài Gòn và các tỉnh miền Nam. Chỉ thị nầy nói rằng ưu tiên dành cho các cán bộ quê ở miến Nam, nếu trường hợp thiếu thì mới dùng cán bộ miền Bắc. Chỉ thị nầy do Lê Văn Lương, ủy viên bộ chính trị, trưởng ban tổ chức đảng ký tên. (*** Văn kiện đảng: trang 291-293)</p>
<p>(…)</p>
<p><b>Ngày thứ 44 : 22-4-1975</b></p>
<p><b>Long Khánh hoàn tất cuộc triệt thoái</b></p>
<p><strong>Ngày 22-4, lực lượng VNCH tại Long Khánh đã triệt thoái về Phước Tuy</strong>:</p>
<p>Theo kế hoạch, Lữ đoàn 1 Dù vẫn tiếp tục giao chiến và đánh bật Bắc quân ra khỏi các vị trí trọng điểm trong thị xã và là lực lượng đoạn hậu sẽ rút đi sau cùng. Cánh quân của Sư đoàn 18 rút đi tương đối an toàn. Còn cánh quân do Đại tá Phạm Văn Phúc, tỉnh trưởng Long Khánh chỉ</p>
<p>huy đã bị Bắc quân chận đánh ở liên tỉnh lộ 2.</p>
<p>(Phạm Huấn)</p>
<p><b>&#8211; : </b>Trong hồi ký: <i>Cuộc hành trình 10 ngàn ngày</i> của Hoàng Cầm, tướng chỉ huy trận tấn công Xuân Lộc viết: “…sau 3 ngày chiến đấu, Sư 341 thương vong 1.200 chiến sĩ, Sư 7 thương vong 300 chiến sĩ…”</p>
<p>Nhân ngày 30-4-2010, BBC phỏng vấn Nguyễn Văn Thái, trung tướng, nguyên phó chính ủy Sư đoàn 7. Về trận Xuân Lộc, ông ta đưa ra con số lính Bắc Việt tử thương là 4.000 người. Sau 35 năm thì tay tướng này có vẻ thành thật hơn trong những con số.</p>
<p>Và, “… trận Xuân Lộc diễn ra 12 ngày đêm ta đã tiêu diệt 2.056 tên địch” (Chiến thắng Xuân Lộc- Long Khánh). Đó là con số tử vong của binh sĩ thuộc VNCH.</p>
<p>(Nhớ lại trận chiến Xuân Lộc<b> &#8211; </b><a href="http://hopluu.net/author/post/432/1/hoang-dinh-nam">Hoàng Định Nam</a>)</p>
<p><b>&#8211; : </b>Xuân Lộc thất thủ sau 2 tuần lễ chống trọi với Bắc quân, chiến trận này đã làm trì hoãn Chiến dịch Hồ Chí Minh của quân Bắc Việt ít nhất 2 tuần.</p>
<p><b>10 ngày cuối cùng của VNCH </b></p>
<p><b>Thứ Ba 22-04-1975</b></p>
<p>Tổng thống Trần Văn Hương cho phép thả bom CBU ở Xuân Lộc.</p>
<p>Ngay sau khi cụ Trần Văn Hương nhận chức tổng thống VNCH, trong ngày 22-4, Trung tướng Nguyễn Văn Toàn, tư lệnh Quân đoàn III đã yêu cầu Đại tướng Cao Văn Viên xin Hoa Kỳ yểm trợ một phi vụ B52 dội bom xuống khu vực chung quanh Xuân Lộc, nhưng tướng Viên biết rõ người Mỹ không thể nào đáp ứng được điều đó cho nên ông từ chối.</p>
<p>Tuy nhiên trước đó mấy tuần, Đại tướng Federick Weyand và phụ tá bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ Von Marbod đã xoay xở đưa sang Việt Nam mấy trái bom CBU. Bộ Tổng tham mưu đề nghị lên Tổng thống Trần Văn Hương xin xử dụng loại bom nầy ở Xuân Lộc để ngăn chận sức tiến quân của Bắc Việt và <i>chính Tổng thống Trần Văn Hương đã chấp thuận cho phép Không quân VNCH thả những trái bom này.</i></p>
<p>12 ngày sau khi đã anh dũng chống lại nhiều đợt tấn công của Bắc Việt, Sư đoàn 18 rút khỏi Xuân Lộc. Các nhà báo ngoại quốc đã khen ngợi cuộc rút quân nầy là đã “được hoạch định và thi hành rất hay” và các đơn vị nầy về đến Biên Hòa chỉ bị thiệt hại chừng 30% quân số.</p>
<p>(Trần Đông Phong)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Góp nhặt…ghi chép…</b></p>
<p>Cuộc họp tại Bộ tổng tham mưu 6 giờ chiều ngày 22-4-1975, với chức danh là tổng trưởng quốc phòng, cựu Trung tướng Trần Văn Đôn đã họp các tướng lĩnh tại văn phòng tổng tham mưu trưởng. Tại buổi họp này, tướng Đôn nói: Dù có thương thuyết để đình chiến, chúng ta cũng cố giữ những gì chúng ta có. Vị tổng trưởng quốc phòng yêu cầu đại tướng Viên, trung tướng Toàn sắp xếp lại tuyến phòng thủ để bảo vệ Sài Gòn. Cũng tại cuộc họp này, đại tướng Viên đã báo cáo tình hình chiến sự và khả năng phòng ngự của quân lực VNCH tại khu vực vòng đai thủ đô và khu vực các tỉnh lân cận.</p>
<p>(Mường Giang)</p>
<p><b>10 ngày cuối cùng của VNCH </b></p>
<p><b>Thứ Ba 22-04-1975</b></p>
<p>Trái bom CBU được thả xuống ngay trên đầu bộ tư lệnh Sư đoàn 341 của quân Bắc Việt lúc đó đang trú đóng ở 6 cây số về phía tây-bắc thành phố Xuân Lộc khiến cho cả ba bốn trăm bộ đội bị tử thương. Đài phát thanh Hà Nội ngay sau đó đã la lối tố cáo rằng Hoa Kỳ và VNCH đã xử dụng loại vũ khí hóa vi quang</p>
<p>Theo Frank Snepp thì dù có sự phản đối mạnh mẽ nói trên, không quân Hoa Kỳ cũng còn trợ giúp bằng cách dùng phi cơ thả xuống vùng do Bắc quân kiểm soát quanh thị trấn Xuân Lộc bom Daisy Cutters, gây ra nhiều thiệt hại nặng nề cho Bắc quân. (Sau 1975, họ tìm được 3 trái bom BLU 82 chưa xử dụng và cho triển lãm tại Sài Gòn).</p>
<p>Mặc dù có bom CBU nhưng một sư đoàn không thể nào chống cự được với một lực lượng địch đông gấp bội, các đơn vị cuối cùng của Sư đoàn 18 đã rút khỏi Xuân Lộc.</p>
<p>(…)</p>
<p><b>Sài Gòn thất thủ</b></p>
<p>Sau khi rút quân từ miền Trung, quân đội VNCH sẽ tập trung để tạo thành tuyến phòng thủ Sài Gòn. Trước đó, Hà Nội đã dốc hết toàn lực để sớm đánh chiếm Sài Gòn bằng cách đưa thêm quân số của Quân đoàn 2 vượt qua vĩ tuyến 17 để đột nhập Quảng Trị và Huế. Nói chung là Hà Nội đã rót hết lực lượng chiến đấu vào miền Nam với tổng cộng 20 sư đoàn lúc đó đang trên đường Nam tiến. Kết quả là phía miền Nam đã từ từ mất Ban Mê Thuột, Đà Nẵng và các khu vực chung quanh Sài Gòn cũng lần lượt bị rơi vào vòng kiểm soát của quân Bắc Việt.</p>
<p>Lúc này, tổng tham mưu chỉ huy quân Bắc Việt là tướng Văn Tiến Dũng đã huy động tất cả 5 quân đoàn gồm 15 sư đoàn với quân số khoảng gần 200 ngàn để chọc thủng những tuyến phòng thủ vòng đai cuối cùng hầu tiến chiếm Sài Gòn.</p>
<p>Dọc theo Quốc lộ 13, cách Sài Gòn khoảng 50 km về hướng bắc là căn cứ Lai Khê do Sư đoàn 5 VNCH trấn giữ. Đây là một trong năm sư đoàn được phối trí theo thế chiến lược bảo vệ vòng đai thủ đô Sài Gòn. Sư đoàn 5 tan vỡ và vị tư lệnh sư đoàn là tướng Lê Nguyên Vỹ đã tự kết liễu vận mạng bằng cái chết hiên ngang, bất khuất. Mặt khác, tại cứ địa Củ Chi cách Sài Gòn khoảng 30 km về hướng tây bắc, Sư đoàn 25 của VNCH cũng bị tấn công dữ dội và ngã gục trước Quân đoàn 3 Bắc Việt. tư lệnh sư đoàn là tướng Lý Tòng Bá vì muốn bảo vệ sinh mạng binh sĩ nên đã chịu hàng và bị bắt làm tù binh.</p>
<p>Ngày 30-4-1975, Sài Gòn đã phải hứng chịu những áp lực nặng nề trước sức tấn công mãnh liệt của 4 quân đoàn Bắc quân, lực lượng lại quá ít so với quân số hùng hậu của quân Bắc Việt,</p>
<p>(The Fall Of Sai Gon &#8211; Komori Yoshihisa)</p>
<p><b>Quân đoàn 1 và 4 tại Vùng 3 chiến thuật</b></p>
<p>Sài Gòn lập tuyến phòng thủ vì:</p>
<p>Quân đoàn 1 (Binh đoàn Quyết Thắng) đang trên đường kéo tới Sài Gòn:</p>
<p>Các Sư đoàn bộ binh 312, 390, Sư đoàn phòng không 367, Lữ đoàn 202 tăng thiết giáp, Trung đoàn pháo binh 45, Lữ đoàn công binh 299, trung đoàn thông tin.</p>
<p>Quân đoàn 4 (Binh đoàn Cửu Long) đang từ Xuân Lộc kéo xuống:</p>
<p>Các Sư đoàn bộ binh 5, 7, 9, các Trung đoàn pháo binh 24, Trung đoàn đặc công 429, Trung đoàn phòng không 71, Trung đoàn công binh 25, Trung đoàn 26 tăng thiết giáp.</p>
<p><b>&#8211; :</b><b> </b>Quân đoàn này trước khi đánh Xuân Lộc có tổng quân số 35.112 người, trong đó, quân số trực tiếp chiến đấu 29.034 người.</p>
<p><b>&#8211; :</b><b> </b>Tổng số lực lương chính qui Bắc Việt bao vây Sai Gòn gồm 4 quân đoàn và Đoàn 232 (tương đương một quân đoàn).</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2016/04/clip_image006-4.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image006" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/04/clip_image006_thumb-122x150.jpg?strip=all" alt="clip_image006" width="133" height="100" border="0" hspace="12" /></a><b> <a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2016/04/clip_image008-3.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image008" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2016/04/clip_image008_thumb.jpg?strip=all" alt="clip_image008" width="151" height="100" border="0" /></a> </b></p>
<p>Phòng không nòng dài<b> </b>Hoả tiễn Sam<b></b></p>
<p><b>&#8211; :</b><b> </b>Với 5 quân đoàn, số đại pháo 130 ly khoảng 400 khẩu. Không kể xe kéo pháo, cối từ 61 đến 120 ly, pháo cao xạ nòng dài, nòng ngắn từ 37 đến 57 ly, hỏa tiễn H12, hoả tiễn Sam.</p>
<p><b>Ngày thứ 45 : 23-4-1975</b></p>
<p><b>Sài Gòn lập tuyến phòng thủ</b></p>
<p>Ngày 23-4, Sư đoàn 18 sau khi rút về được bộ tư lệnh Quân đoàn III cho nghỉ dưỡng quân hai ngày tại Long Bình, sau đó các đơn vị được điều động tăng cường phòng thủ khu vực đông-nam Biên Hòa và mặt đông Sài Gòn, kéo dài từ kho đạn Long Bình đến kho đạn thành Tuy Hạ.</p>
<p>Lữ đoàn 1 Dù được bố trí giữ Phước Tuy, bảo vệ Quốc lộ 15 từ Long Thành về Bà Rịa, là lực lượng tiếp ứng Vũng Tàu khi thành phố này bị tấn công. Với kế hoạch phối trí của bộ tư lệnh Quân đoàn III để bảo vệ Sài Gòn, kể từ sáng 22-4, phòng tuyến án ngữ phía bắc và phía đông được thành hình với tuyến Long Thành-Phước Tuy. Lực lượng chính tại phòng tuyến này có Sư đoàn 18 Bộ binh, Lữ đoàn 1 Dù, Lữ đoàn 3 Thiết kỵ và Lữ đoàn 468, 147 và 258 Thủy quân lục chiến là lực lượng bảo vệ phía bắc của phi trường Biên Hòa.</p>
<p>(Phạm Bá Hoa)</p>
<p><b>10 ngày cuối cùng của VNCH </b></p>
<p><b>Thứ Tư 23-04-1975</b></p>
<p>Tổng thống Trần Văn Hương cử Chuẩn tướng Phan Hòa Hiệp đi Hà Nội.</p>
<p>Trong <i>Decent Interval</i>, Frank Snepp kể lại….</p>
<p>Trong khi quân đội Bắc Việt đang chuẩn bị tấn công Sài Gòn thì ông tổng thống già Trần Văn Hương cũng tìm cách tiếp xúc kín với phái đoàn Bắc Việt tại Tân Sơn Nhất và ông đề nghị gửi một người trung gian đi Hà Nội để thảo luận ngưng bắn. Đề nghị của ông Hương bị Hà Nội thẳng tay bác bỏ.<i> </i>(<i>*** </i>141<i>: </i>Frank Snepp: sách trang 433<i>)</i></p>
<p>Tác giả của bộ <i>The Vietnam Experience</i> cũng có đề cập đến chuyện này như sau:</p>
<p>Ông Hương không tin việc Hà Nội sẵn sàng chịu thương thuyết với Dương Văn Minh. Ông nói rằng tôi chỉ tin vào việc đó sau khi tôi có đủ bằng chứng. Ông Huơng đưa ra một đề nghị hoà bình của ông, đó là đề nghị một cuộc ngưng bắn tức khắc và thiết lập một Hội đồng quốc gia hoà giải, loan báo việc giải nhiệm chính phủ của ông Nguyễn Bá Cẩn mới được thành lập trong 9 ngày và đề nghị gửi Chuẩn tướng Phan Hòa Hiệp, tổng trưởng thông tin trong nội các Nguyễn Bá Cẩn làm đặc sứ đại diện cho miền Nam đi Hà Nội. Bắc Việt bác bỏ ngay cả ba đề nghị này một cách phách lối (contemlptuously), nhất là đề nghị về ngưng bắn.<i> </i>(<i>*** </i>143<i>: </i>Thevietnam Experence. sđd, trang 142<i>)</i></p>
<p>Trong một cuộc tiếp xúc với Chuẩn tướng Phan Hòa Hiệp (cũng là cựu trưởng phái đoàn VNCH trong Uỷ ban liên hợp bốn bên năm 1973), tướng Hiệp đã cho người viết biết một vài chi tiết khá lý thú về chuyện này. Tướng Hiệp nói rằng vào khoảng hai ngày sau khi tổng thống Hương nhậm chức (23-4), ông trở về nhà vào lúc đã khuya và được bà Hiệp cho biết văn phòng tổng thống gọi điện thoại nhiều lần vì tổng thống muốn nói chuyện với ông. Tướng Hiệp vội vàng gọi điện thoại đến phủ tổng thống nói chuyện với Tổng thống Trần Văn Hương…</p>
<p>(Trần Đông Phong)</p>
<p><b>Góp nhặt…ghi chép…</b></p>
<p>Chiếc HQ 802 nhổ neo lúc 6 giờ chiều 30-3-75, nhưng vì sóng và gió ngược nên mãi đến 8 giờ tối mới rời quân cảng Cam Ranh để xuôi nam về Vũng Tàu, trên tàu chở khoảng 4.000 tàn binh của SĐ/TQLC, như vậy chỉ có 1/3 quân số của sư đoàn thoát được về Cam Ranh, gần 8.000</p>
<p>TQLC còn lại thì hoặc chết hay mất tích tại Thuận An và Đà Nẵng.<br />
LĐ468 khi lui binh tại bãi biển Nam Ô, may mắn được tàu hải quân vào sát bờ đón nên quân số và vũ khí cá nhân còn đầy đủ. Cuộc lui binh của LĐ258 và LĐ147 TQLC tại căn cứ Non Nước đã xẩy ra trong hỗn loạn và đẫm máu, chỉ có những TQLC may mắn và biết bơi mới lên được</p>
<p>tàu. HQ 802 về đến Vũng Tàu lúc 4 giờ 20 chiều 31-3-75.<br />
<b></b></p>
<p>(Phạm Vũ Bằng)</p>
<p><b>10 ngày cuối cùng của VNCH</b></p>
<p><b>Thứ Tư 23-04-1975</b></p>
<p>Tổng thống Trần Văn Hương nói với tướng Hiệp cụ muốn tìm một đường dây đề nghị thẳng với Bắc Việt về chuyện thương thuyết với Hà Nội. Chuyện thương thuyết này cần phải được xúc tiến sớm chừng nào tốt chừng đó và đường dây qua phái đoàn Bắc Việt trong Ủy ban liên hợp bốn bên, do đó cụ chỉ thị cho tướng Hiệp liên lạc với phái đoàn Bắc Việt nếu họ chấp thuận thì tướng Hiệp có thể ra Hà Nội mở đầu cho sự thương thuyết.</p>
<p>Tướng Hiệp nói rằng ông liên lạc với phái đoàn Hoa Kỳ và được biết rằng vào ngày hôm sau, 24-4-1975, sẽ có một chuyến phi cơ C130 đặc biệt từ Bangkok bay sang Sài Gòn để đưa một số nhân viên trong phái đoàn Bắc Việt ra Hà Nội rồi lại trở về Sài Gòn vào buổi tối hôm đó.</p>
<p>Tướng Hiệp vào phi trường Tân Sơn Nhất nói chuyện với đại diện của Bắc Việt. Đại diện của Bắc Việt vô cùng ngạc nhiên&#8230;Tướng Hiệp nói ông yêu cầu người đại diện của Bắc Việt bay ra Hà Nội ngày hôm sau và khi trở về Tân Sơn Nhất vào buổi tối thì cho ông biết kết quả.</p>
<p>Chiều hôm sau, người đại diện của Bắc Việt trở về cho ông biết Hà Nội bác bỏ đề nghị thương thuyết của Tổng thống Trần Văn Hương. Đại diện của Hà Nội còn nói thêm rằng Hà Nội đòi chính quyền miền Nam phải đầu hàng vô điều kiện. (Mạn đàm với cựu Chuẩn Tướng Phan Hòa Hiệp tại Anaheim, Califomia, ngày 4 tháng 1 năm 2003)</p>
<p>Đó là nổ lực duy nhất mà chính phủ VNCH cố gắng tìm cách gửi đại diện ra Hà Nội để thăm dò nhằm tiến đến một cuộc thương thuyết và người chủ trương đường lối này là tân Tổng Thống Trần Văn Hương. Cả hai ông đại sứ Hoa Kỳ và đại sứ Pháp cũng cùng quan điểm như vậy và họ nghĩ rằng vẫn còn có thể giàn xếp để cho hai phe Sài Gòn và Hà Nội nói chuyện với nhau nhằm đạt được một giải pháp chính trị nào đó.</p>
<p>Tuy nhiên, cả người Việt Nam, người Pháp và kể cả người Mỹ là đại sứ Martin cũng không thể hiểu được rằng cho đến giờ chót, người làm chính sách (policy maker) cao cấp nhất của nước Mỹ là Ngoại trưởng Henry Kissinger không hề bao giờ có ý định để cho hai phe người Việt Nam đối nghịch có thể trực tiếp ngồi lại nói chuyện với nhau, dù lúc đó đã là những ngày cuối cùng của trận chiến tranh.</p>
<p>(…)</p>
<p><b>Ngày thứ 46 : 24-4-1975</b><b> </b><b></b></p>
<p><b>Bà Rịa</b></p>
<p>Ngày 24-4, Thiếu tướng Nguyễn Duy Hinh, tư lệnh SĐ3/BB (Vùng 1 CT) nhận trách nhiệm tư lệnh Mặt trận Bà Rịa bảo vệ thị xã này.</p>
<p>Thiếu tướng Bùi Thế Lân, tư lệnh Sư đoàn thủy quân lục chiến, được cử làm Tổng trấn thị xã Vũng Tàu, tái phối trí lực lượng tại các phòng tuyến quanh Sài Gòn.</p>
<p>(SQTB K10B/72)</p>
<p><b>10 ngày cuối cùng của VNCH </b></p>
<p><b>Thứ Năm 24-04-1975</b></p>
<p>Theo các tác giả Trần Văn Đôn trong <i>Việt Nam nhân chứng</i>, Frank Snepp trong<i> </i><i>Decent Interval</i> và Oliver Tood trong <i>Cruel Avril </i>thì hồi 10 giờ sáng ngày 24-4-75, qua sự trung gian của cựu Đại tướng Trần Thiện Khiêm, Tổng thống Trần Văn Hương đã đến gặp cựu Đại tướng Dương Văn Minh tại tư gia của đại tướng Khiêm trong cư xá sĩ quan tại Bộ tổng tham mưu gần phi trường Tân Sơn Nhất. Đại úy Nguyễn Văn Nhựt, tùy viên của Tổng thống Trân Văn Hương thuật lại cho người viết biết rằng cụ Hương không muốn gặp ông Minh ở dinh Độc Lập cũng như tại phủ phó tổng thống ở đường Công Lý, Cụ cũng không muốn gặp ông Minh tại tư gia ở đường Hồng Thập Tự như ông Minh muốn, do đó cụ nhờ ông Khiêm sắp đặt cuộc gặp gỡ này.</p>
<p>Trong cuộc tiếp xúc, Tổng thống Trần Văn Hương đã yêu cầu tướng Minh nhận chức thủ tướng toàn quyền để thương thuyết với phe bên kia theo đề nghị của đại sứ Pháp. Tổng thống Trần Văn Hương đã nói với lưỡng viện quốc hội về việc gặp gỡ tướng Dương Văn Minh rằng:</p>
<p>Người ta bảo rằng Anh có đủ điều kiện để thương thuyết, vậy thì xin Anh vì nước nhà, mọi tỵ hiềm đã qua, mọi sự không tốt đẹp đã xảy ra, xin Anh vui lòng xóa bỏ để cùng nhau chung lưng dựng nước. Xin Anh chấp nhận cái ghế thủ tướng để đứng ra thương thuyết với phe bên kia.</p>
<p>Tuy nhiên tướng Minh đã cương quyết từ chối và ngược lại ông đã yêu cầu tổng thống Hương từ chức, nhường chức vụ tổng thống VNCH lại cho ông Minh để được toàn quyền nói chuyện với phe bên kia. (Phỏng vấn Đại úy Nguyễn Văn Nhựt)</p>
<p>(Trần Đông Phong)</p>
<p><b>Xuân Lộc tháng Tư</b></p>
<p>(…tiếp <i>Xuân Lộc tháng tư</i> của Vương Mộng Long</p>
<p>di tản từ mặt trận Long Khánh về đến Bà Rịa)</p>
<p>Đường liên tỉnh lộ Long Khánh, Bà Rịa nhỏ và hẹp. Ra khỏi ngã ba Tân Phong một đỗi, thỉnh thoảng chân tôi đá phải những xác người nằm chết rải rác đó đây, những người dân chạy giặc, trúng đạn pháo chết oan, những cái xác còn mềm, có cái còn toàn thân, có cái chỉ còn một phần hình hài con người. Tôi đi ngang qua đồn điền Michelin vào lúc vợ chồng con cái hối hả lên đường. Có những bé thơ chừng năm, bảy tuổi, chân bó áo bó quần từng cục vải to. Tội nghiệp cho bé, chân non đường dài!</p>
<p>Tôi chạnh nhớ đến ba đứa con tôi ở Ban Mê Thuột, đứa lớn nhất mới bốn tuổi, vợ tôi lại đang mang bầu. Ban Mê Thuột đã rơi vào tay giặc từ đầu tháng 3-1975. Gia đình tôi đã rơi vào tay giặc khi tôi gắng sức bảo vệ gia đình những người khác ở Quảng Đức.</p>
<p>Đoạn đường vài chục cây số từ Tân Phong đi Bình Ba, Bà Rịa thực ra không có gì là đáng ngại đối với những người lính TĐ82 BĐQ. Nhưng cái nhiệm vụ nặng nề bảo vệ tư lệnh hành quân đã làm tốc độ tiến quân của chúng tôi giảm đi nhiều so với khả năng. Đi chừng nửa giờ tôi lại phải cho đơn vị dừng quân bố trí chờ đơn vị theo sau. Quân nhân của những đơn vị khác đi hàng một trên đường, vậy mà vẫn chậm hơn nhiều so với đội hình tác chiến một hàng dọc của TĐ82 BĐQ đi sâu gần bìa rừng trái trục lộ. Có lúc hỏa châu soi khi ngừng quân, tư lệnh (Chuẩn tướng Lê Minh Đảo) quan sát bên đường một lúc rồi hỏi tôi,</p>
<p>– Quân của Long đâu sao qua không thấy?</p>
<p>Tôi phải giải thích với ông rằng đơn vị tôi đã được tập luyện thành thói quen, bất cứ lúc nào dừng quân, mỗi người lính tự động núp vào bụi cây, gò đất, nếu không có gì ẩn nấp, họ phải ngồi thủ thế, súng trên tay sẵn sàng tác xạ. Hỏa châu không đủ soi sáng đội hình, nên tư lệnh không thấy rõ họ. Nghe tôi giải thích có lý, tướng tư lệnh gật đầu,</p>
<p><strong>Ngồi ở quán nhậu kể chuyện súng đạn</strong></p>
<p>Ði lính hơn ba năm, hắn khoe hắn đã bắn chết đúng tám tên địch. Sang Mỹ, mỗi lần nhậu ngà ngà, hắn lại khoe khoang thành tích ấy. Bạn bè hắn không tin. Hắn cởi áo và xắn quần lên khoe: Trên lưng và dưới chân hắn còn thấy rõ tám vết sẹo. Bạn bè hắn cười: Ông bị tám vết thương đâu có nghĩa là ông giết được tám tên địch.</p>
<p>Hắn vẫn khăng khăng: Thì có gì khác nhau đâu?.</p>
<p>(Website Tiền Vệ &#8211; <i>Truyện cực</i> ngắn hay <i>Truyện chớp</i>)</p>
<p>Tới một cái cầu nơi con suối sâu, nước chảy ào ào, đoàn quân qua cầu hàng dọc, rồi chuyển sang hàng ngang tiến sâu về hướng bìa rừng, khi an ninh đã sẵn sàng, tôi mới mời tư lệnh và đại tá Hiếu rời vị trí ẩn nấp tiếp tục lên đường.</p>
<p>(Vương Mộng Long)</p>
<p><b>Ngày thứ 47 : 25-4-1975</b></p>
<p><b>Bình Dương, Long An</b><b></b></p>
<p>Giao tranh ở phòng tuyến Bình Dương.<br />
Ngày 25-4, Bắc quân điều động sư đoàn có bí số CT-7 (1) và 2 trung đoàn cơ động áp sát tại tuyến phòng thủ của Sư đoàn 5 BB. Bắc quân muốn chọc thủng mặt đông của tỉnh Bình Dương và mặt tây của tỉnh Biên Hòa để tiến về Sài Gòn.<br />
Tuyến phòng thủ Long An<br />
Tại mặt trận Long An, Sư đoàn 22 BB được giao nhiệm vụ phòng thủ vòng đai thị xã Long An và khu vực từ Tân An về Sài Gòn. Các đơn vị của Sư đoàn 22 được đặt thuộc quyền điều động của Biệt khu Thủ đô do Trung tướng Nguyễn Văn Minh làm tư lệnh.</p>
<p>(SQTB K10B/72)</p>
<p>(1) CT là tên gọi một sư đoàn. CT-7 là Công trường 7.</p>
<p><b>10 ngày cuối cùng của VNCH </b></p>
<p><b>Thứ Sáu 25-04-1975<br />
</b></p>
<p>Cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức vào tối 21-4, tuy nhiên ông vẫn còn trú ngụ trong dinh Độc Lập cho đến ngày 25-4. Trong cuốn <i>Decent Interval</i>, Frank Snepp kể lại vào hồi 5 giờ 30 chiều ngày 25-4-75, trùm CIA Thomas Polgar gọi tướng Charles Timmes và Frank Snepp vào văn phòng của ông ta và ra lệnh cho họ phải giúp cho ông ta đưa ông Thiệu và ông Khiêm đi Đài Loan vào tối hôm đó.</p>
<p>Khoảng 8 giờ rưỡi tối, tướng Timmes, Frank Snepp cùng 2 nhân viên CIA khác lái ba chiếc xe đến tư gia của Đại tướng Trần Thiện Khiêm trong Bộ tổng tham m­ưu và khoảng 9 giờ tối thì trùm Polgar cũng đến nơi. Ít lâu sau thì một chiếc xe Mercedes (1a) chạy đến đậu ngay trước nhà ông Khiêm và ông Thiệu vội vã bước vào nhà.</p>
<p>Frank Snepp kể rằng ông Thiệu có mái tóc bạc chải bóng loáng, quần áo ủi thẳng nếp và trong lúc trời còn tranh tối tranh sáng: Ông ta có vẻ giống như là “Một người mẫu trong tạp chí Gentleman’s Quartery” hơn là một vị cựu tổng thống đi tỵ nạn.</p>
<p><b>Ngồi ở quán nhậu kể chuyện di tản</b></p>
<p>Mồ cha thằng Thiệu rời dinh</p>
<p>Để tao ở lại đào kinh mỗi ngày</p>
<p>Đoàn tuỳ tùng của ông Thiệu người nào người nấy đều to con vạm vỡ tay xách những chiếc va-li quá khổ đến những chiếc xe của toà đại sứ Mỹ và họ đòi phải để cho họ đích thân đặt những chiếc va-li đó vào thùng sau xe. Frank Snepp nói ông ta không biết trong những va-li đó đựng gì, tuy nhiên có vẻ rất nặng vì khi những hành lý đó được đặt xuống xe thì nghe như có tiếng kim loại chạm vào kim loại.</p>
<p>Theo Frank Snepp thì sau khi đưa hành lý vào thùng xe, Polgar, tướng Timmes cùng nhiều nhân viên người Việt ra khỏi nhà và bước lên xe. Ông Thiệu lên ngồi đằng sau xe của Frank Snepp, ông ta ngồi giữa tướng Timmes và một nhân viên người Việt. Trên xe, tướng Timmes nói với ông Thiệu: Xin Tổng thống cúi đầu xuống. Khi xe đi vào cổng phi trường Tân Sơn Nhất, ông ta lại vội vã nhắc ông Thiệu cúi đầu xuống nữa vì lính gác có thể nhìn mặt người trong xe, nhất là lúc đó đã sau giờ giới nghiêm. May thay, khi thấy xe mang bảng số ngoại giao đoàn, lính gác vẫy tay cho đoàn xe chạy thẳng.</p>
<p>(…)</p>
<p><b>Góp nhặt sỏi đá</b></p>
<p>Chúng tôi lần lượt ra xe và yêu cầu họ mở cốp sau. Tôi bỏ cái samsonite vào, (lúc ông Polgar đang viết gì đó, tôi bỏ thêm cây K54 vào samsonite) hai khẩu súng chạm nhau khua lộp cộp. Trong sách của Frank Snepp có nhắc tới chuyện này. Ông có nghe tiếng kim loại khua khi chúng tôi xếp sắc tay vào cốp xe, và có thể nghĩ đó là tiếng va chạm của vàng bạc, châu báu!</p>
<h4>(Những ngày cuối của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ở Sài Gòn &#8211; Nguyễn Tấn Phận)</h4>
<p>Nguyễn Tấn Phận, thiếu tá tuỳ viên đi theo tổng thống Thiệu qua Đài Bắc.</p>
<p><b>Lạc đạn</b></p>
<p>Vào khoảng 7 giờ 30 tối, tổng thống Thiệu thay bộ đồ bốn túi trong phòng ngủ rồi qua phòng nhỏ bên cạnh nghiêng đầu qua cửa sổ nhìn xuống. Dưới sân, bên cạnh thềm tam cấp một xe Mercedes mầu xanh đen đã đậu sẵn. Thấy mọi việc đã sẵn sàng, tổng thống Thiệu rút trong hộc tủ cây Browning đã lắp đạn, ông khóa chốt an toàn rồi cho vào túi áo. Ông vừa bước xuống bậc tam cấp thì vào lúc có hai binh sĩ (tên là Sanh và Khình) xuất hiện làm ông giật mình thò tay vào túi áo. Thực ra là họ chỉ đến để đổi gác.</p>
<p>Ông Thiệu và ông Điền vội vã bước vào xe. Đại tá Điền ngồi bên phải của tổng thống Thiệu ở băng sau. Như vậy là ông Điền đã ngồi vào chỗ chính thức của tổng thống và chịu làm Lê Lai cứu chúa! Vừa ngồi vào xe, ông Thiệu hỏi:</p>
<p>&#8211; Có mấy cây súng?</p>
<p>Đại tá Điền đáp:</p>
<p>&#8211; Có hai cây, một cây dài, một cây ngắn.</p>
<h4> (Những ngày cuối của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ở Sài Gòn &#8211; Nguyễn Tấn Phận)</h4>
<p><b>Lạc đạn</b></p>
<p>Ngày 2-9-1975, chiếc xe Mercedes được sử dụng để chở Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại lễ duyệt binh ở Ba Đình, Hà Nội nhân dịp quốc khánh ngày Việt Nam thống nhất. Trong khi tiếp quản dinh Độc Lập, một đơn vị bộ đội phát hiện một chiếc xe nhãn hiệu Mercedes 4 chỗ, biển số 72 M-0217 màu xanh đen, số khung 100248, số máy 027150.</p>
<p>Chiếc xe này có kính chống đạn, sườn sắt chống mìn đã được cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đặt mua năm 1970.</p>
<p>(Wikipedia)</p>
<p><strong>Ngộ Không</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2016</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/tap-ghi-sau-40-nam-ky-8/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>

<!--
Performance optimized by W3 Total Cache. Learn more: https://www.boldgrid.com/w3-total-cache/?utm_source=w3tc&utm_medium=footer_comment&utm_campaign=free_plugin

Page Caching using Disk: Enhanced 

Served from: t-van.net @ 2026-05-23 14:23:59 by W3 Total Cache
-->