<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>nguyễn lệ uyên trang sách &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<atom:link href="https://t-van.net/tag/nguy%e1%bb%85n-l%e1%bb%87-uyen-trang-sach/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://t-van.net</link>
	<description>Văn Học và Đời Sống</description>
	<lastBuildDate>Tue, 12 May 2026 01:46:37 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.7.5</generator>

<image>
	<url>https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/02/t-van-favicon.png?strip=all&#038;resize=32%2C32</url>
	<title>nguyễn lệ uyên trang sách &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<link>https://t-van.net</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Nguyễn Lệ Uyên: Thơ Nhã Ca, một vài tư liệu nhỏ</title>
		<link>https://t-van.net/nguyen-le-uyen-tho-nha-ca-mot-vai-tu-lieu-nho/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Lệ Uyên]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 15 Jan 2024 19:02:09 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[nguyễn lệ uyên trang sách]]></category>
		<category><![CDATA[Thơ Nhã Ca]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=68882</guid>

					<description><![CDATA[(Nhã Ca, tên thật là Trần Thị Thu Vân (1939-), sinh trưởng tại Huế đến năm 1960 thì vào Sài Gòn nơi bà bắt đầu viết văn. Trong thời gian 1960-1975, 36 tác phẩm của bà được xuất bản gồm nhiều thể loại như thơ, bút ký và tiểu thuyết. Một số tiểu thuyết Nhã [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/nhaca.jpg?strip=all&fit=200%2C280&w=2560"><img fetchpriority="high" decoding="async" width="200" height="280" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/nhaca.jpg?strip=all&fit=200%2C280" alt="" class="wp-image-68883"/></a></figure></div>


<p><em>(Nhã Ca, tên thật là Trần Thị Thu Vân (1939-), sinh trưởng tại Huế đến năm 1960 thì vào Sài Gòn nơi bà bắt đầu viết văn. Trong thời gian 1960-1975, 36 tác phẩm của bà được xuất bản gồm nhiều thể loại như thơ, bút ký và tiểu thuyết.</em></p>



<p><em>Một số tiểu thuyết Nhã Ca đã được đưa lên màn ảnh. Hãng phim Việt của Đạo diễn Hà Thúc Cần đã dựng một phần &#8220;<a href="https://vietmessenger.com/books/?title=giaikhansochohue"><strong>Giải Khăn Sô cho Huế</strong></a>&#8221; thành phim Đất Khổ. Hãng Lidac, với đạo diễn Lê Dân, đã đưa cuốn tiểu thuyết Cô Híp Py lạc loài lên thành phim Hoa mới nở. Hai cuốn tiểu thuyết khác của Nhã Ca, Đoàn nữ binh mùa thu và Tình ca trong khói lửa đỏ, cũng đã được hãng Phim Việt mua bản quyền.</em></p>



<p><em>Cũng vì nội dung trong những tác phẩm của bà, sau năm 1975, Nhã Ca bị chính quyền giam hai năm vì tội &#8220;biệt kích văn hóa&#8221;. Chồng bà, nhà văn Trần Dạ Từ, thì bị giam 12 năm. Do sự can thiệp của hội Văn Bút Quốc tế phối hợp với hội Ân xá Quốc tế và thủ tướng Thuỵ Điển Ingvar Carlsson, bà được sang Thuỵ Điển tỵ nạn. Năm 1992 bà cùng gia đình sang California định cư và lập hệ thống &#8220;Việt Báo Daily News&#8221; tại Quận Cam.) (Nguồn: VIETMESSENGER.COM)</em></p>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Nửa cuối thập niên 1950s đến đầu 1960s, diễn đàn văn học miền Nam là sự nối dài của Tự Lực Văn Đoàn, hiển hiện rất rõ trên Tân Phong, Văn Hóa Ngày Nay, Nhân Loại, Văn Hữu… Chỉ đến khi nhóm Sáng Tạo ra mắt số đầu tiên tháng 10/1956 với tuyên ngôn “làm mới nền VHNT Việt Nam”, thì liền sau đó xuất hiện nhiều cây bút, chẳng những làm nên tên tuổi sau này mà còn tạo cho dòng văn chương miền Nam tràn đầy tính sáng tạo, tự do, nhân bản.</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Đọc lại tạp chí Sáng Tạo số ra mắt, Mai Thảo đã vung bút đến 5 trang dưới tựa “Sài Gòn thủ đô văn hóa” để vẽ ra một viễn cảnh xán lạn của nền văn hóa văn nghệ trên miền đất tự do: “ <em>Ánh sáng của Văn Hóa cháy lên hôm nay từ giữa lòng đời sống lớn rộng của dân tộc là một giòng máu bừng bừng mãnh liệt luân lưu trong một cơ thể chứa đựng cái vô hạn của những năng lực sáng tạo trẻ mạnh phong phú.Giòng máu bắt nguồn từ trái tim. Sài Gòn xuất hiện trên những kinh rạch tăm tối ngày nào, đã đổi thay để có thêm một hình thể tinh thần nữa: hình thể của một trái tim đập mạnh, với những đường máu, những lối ánh sáng đan chen nhau, tỏa đi trên toàn thể, toàn diện”</em>. (Mai Thảo – Sài gòn thủ đô văn hóa, Sáng Tạo bộ cũ, số 1 tháng 10/1956)</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/Lunrk4cM-image001.png?strip=all&w=2560"><img decoding="async" width="362" height="577" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/Lunrk4cM-image001.png?strip=all" alt="" class="wp-image-68884" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/01/image001-188x300.png 188w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/Lunrk4cM-image001.png?strip=all 362w" sizes="(max-width: 362px) 100vw, 362px" /></a></figure></div>

<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/M6yauWoK-image003.jpg?strip=all&w=2560"><img decoding="async" width="581" height="621" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/M6yauWoK-image003.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-68885" style="width:447px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/01/image003-281x300.jpg 281w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/M6yauWoK-image003.jpg?strip=all 581w" sizes="(max-width: 581px) 100vw, 581px" /></a></figure></div>


<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Sau Sáng Tạo, nhiều tạp chí văn nghệ ra đời tại Sài Gòn, những người viết trẻ lần lượt xuất hiện và lấn át cả những cây đa cây đề trước đó: Đỗ Tốn, Vi Huyền Đắc, Mặc Đỗ, Tương Phố… Và, trong sinh hoạt văn nghệ khởi đầu cho tự do sáng tạo với nhiều khuynh hướng (kể từ thập niên 1960s), đã xuất hiện nhiều cây bút nữ khiến cho văn đàn miền Nam sôi động hẳn lên. Nhã Ca trong trường hợp đó!</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Những trang viết đầu tay của bà khi còn là nữ sinh Trung học Đồng Khánh (Huế) đang trong thời kỳ tuổi mới lớn, giàu mộng mơ, tưởng tượng, cảm xúc chắt lọc, sâu lắng…</p>



<p>Khởi đầu, từ năm 1957 trở đi, thơ truyện của bà gửi đăng đều đặn trên các tuần báo tạp chí văn nghệ Sài Gòn với tên thật Trần Thị Thu Vân, nhưng tên tuổi cũng chỉ thàng thàng, không có gì nổi trội, chưa gây được sự chú ý, có lẽ do vốn sống chưa nhiều, chưa đụng chạm với thực tế bập bềnh nhiều lớp màu sáng tối lẫn lộn!</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Phải đến năm 1960s, tên tuổi Nhã Ca mới được biết đến như một bông hoa đẹp giữa rừng thơ muôn màu sắc! Đó là khoảng thời gian Nguyên Sa đứng ra chủ trương nguyệt san Hiện Đại, một tập san văn học nghệ thuật, một diễn đàn độc lập, không nhận tài trợ từ các cơ quan nhà nước và nước ngoài như Chỉ Đạo, Sáng Tạo….</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Ngay trên Hiện Đại số 1 ra tháng 4 năm 1960 với chuyên đề Truy niệm những nhà văn, thơ đã từ trần với các bài viết về Hoàng Đạo, Albert Camus, Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam, Thâm Tâm, Phan Huy Vịnh còn có những sáng tác mới của Mặc Đỗ, Duy thanh, Nguyên Sa, Mai Thảo, Thái Thủy… Đáng chú ý: ngay số Hiện Đại ra mắt độc giả, <strong>Nguyên Sa</strong> đã đăng cùng một lúc 3 bài thơ của <strong>Trần Thy Nhã Ca</strong> với lời giới thiệu hết sức trang trọng<strong>“<em>đây là một thi tài đặc biệt</em>”</strong>: <strong>Bài Nhã ca thứ nhất – Thanh Xuân – Ngày tháng trôi đi</strong>, gây chú ý với, không chỉ các “nhà văn trẻ” cùng thời mà còn với độc giả cả nước! Lập tức câu hỏi: Trần Thy Nhã Ca là ai luôn được đặt ra và không có câu trả lời. Mãi cho đến những tháng sau đó, thơ truyện của bà liên tục xuất hiện trên các tạp chí văn nghệ Sài Gòn thì mọi người mới vỡ lẽ; đặc biệt, thi tài của bà được khẳng định khi tập thơ đầu được giải văn chương toàn quốc năm 1965 với tập <strong>Nhã ca mới</strong>!</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/image005.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="526" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/image005-1024x526.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-68886" style="width:578px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/01/image005-300x154.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/image005-1024x526.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2024/01/image005-768x394.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/image005.jpg?strip=all 1075w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; So với các văn bản in sau này, thì bài <strong>Nhã Ca thứ nhất</strong>, trên Hiện Đại số 1 chỉ có 4 khổ, thiếu đi khổ thứ 3:</p>



<p><em>Tôi làm con gái<br>Đời như heo may<br>Tình bằng cỏ dại<br>Giận hờn không khuây</em></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/image007.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="842" height="771" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/image007.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-68887" style="width:456px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/01/image007-300x275.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2024/01/image007-768x703.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/image007.jpg?strip=all 842w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Không rõ khi chọn đăng, Nguyên Sa có cắt đi khổ thứ 3 hay sau này Nhã Ca viết thêm khổ thơ này khi in thành sách?&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Trong bài viết <strong>Nữ tính trong ngôn ngữ Nhã Ca</strong> trên Văn số 35, ngay ở những dòng đầu, nhà phê bình <strong>Đặng Tiến</strong> đã dẫn 4 câu thơ cuối cùng trong bài Thanh xuân:</p>



<p><em>Đời sống ôi buồn như cỏ khô<br>Này anh, em cũng tợ sương mù<br>Khi về tay nhỏ che trời rét<br>Nghe giá băng mòn hết tuổi thơ, </em>&nbsp;</p>



<p>để nhắc đến “Người đàn bà trong thơ là một huyền thoại: thơ trong người đàn bà là một huyền thoại khác. Thơ của người đàn bà là huyền thoại của huyền thoại, là thơ của thơ. Cách đây đúng năm năm, cũng vào mùa này, Nhã Ca đến với người đọc một cách bất ngờ, nhẹ nhàng như người đẹp trong tranh. Người ta nghe không gian xôn xao trong cái chớp mắt trầm buồn đến mênh mông của người con gái Huế” (Văn số 35 ngày 1/6/1965).</p>



<p>            Còn <strong>Du Tử Lê</strong>, khi nhớ lại 3 bài thơ của bà xuất hiện trên Hiện Đại và những bài thơ khác, đã vung bút, ca ngợi hết lời trong bài viết: <em>“ </em><em>Nhã Ca, bật sáng những ngọn đèn tâm thức soi thấu đáy tầng vô thức</em>” (<a href="https://tusachtre.com/nha-ca-mot-xuat-hien-ruc-ro-cua-van-hoc-mien-nam/">https://tusachtre.com/nha-ca-mot-xuat-hien-ruc-ro-cua-van-hoc-mien-nam/</a>) và ví von: “<em><u>Thơ bà xuất hiện, như tiếng nổ lớn của một khối thuốc nổ TNT”.</u></em></p>



<p>Nhận định này của Du Tử Lê không phải là không có căn cứ: Ta hãy nhớ lại khoảng thời gian trước thập niên 1960, ngoại trừ nhóm sáng Tạo, Thế Kỷ Hai Mươi… còn lại, thơ ca vẫn mang hồn cốt của Bà Huyện Thanh Quan, Tản Đà, Huy Cận, Hồ Dzếnh, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương…; vẫn mang dáng dấp của những mối tình tan vỡ, đau thương; vẫn là những đạo lý của người phụ nữ phương Đông trong “khung cửa hẹp”. Những Tương Phố, Mộng Tuyết lớp trước và Tôn Nữ Hỷ Khương, Lệ Khánh lớp sau luôn dẫn dắt người đọc bằng những vần thơ thất ngôn, lục bát từ những tình cảm riêng tư: lúc thì lên đồi, xuống dốc, quanh co những đêm trăng sáng; khi thì hoàng hôn tím, mưa rơi sầu muộn… với những tiếng than thầm chen lẫn niềm hân hoan tột cùng tình yêu thăng hoa. Ngay như Cung Trầm Tưởng khi xuất hiện trên văn đàn miền Nam, đã mang hơi hớm phương Tây bằng những dòng lục bát&nbsp; với ngôn ngữ, hình ảnh, cảm xúc mới mẻ hơn, gần gũi với thời hiện đại hơn, nhưng Mai Thảo dạo ấy vẫn gọi đùa lục bát của Cung Trầm Tưởng là “<em>Bà Huyện Thanh Quan mới</em>!”.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/image009.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="359" height="567" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/image009.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-68888" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/01/image009-190x300.jpg 190w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/image009.jpg?strip=all 359w" sizes="(max-width: 359px) 100vw, 359px" /></a></figure></div>


<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Với Nhã Ca, khi đột phá vào thế giới thi ca miền Nam nửa cuối thế kỷ XX, vẫn sử dụng hình thức hoặc 4, hoặc, 6, 7 chữ nhưng khác với các nhà thơ nữ lớp trước ở chỗ: hình ảnh mới lạ, cấu trúc ngôn ngữ tròn chặt, tứ trong từng câu từng chữ lung linh, huyễn hoặc hơn dòng thơ niêm luật, nên mới thành ra “<em>một khối thuốc nổ TNT</em>” giữa làng văn nghệ Thủ đô !</p>



<p>Khối thuốc ấy, ban đầu là sự lựa chọn cách sống cho riêng mình, phá bỏ tất cả mọi lễ nghi phương Đông, khi bà bỏ nhà ra đi từ năm 19 tuổi để tìm cho riêng mình một đời sống lăn tròn vào xã hội bắt đầu có sự thay đổi dữ dội về mọi mặt của đời sống cá nhân lẫn quần thể rộng lớn, hướng đến tự do dân chủ, giải phóng mọi ràng buộc từ những nghi thức Nho giáo lạc hậu. Sự việc diễn ra tại thời điểm này là một điều rất cấm kỵ với phái nữ và hiếm khi xảy ra đối với các thiếu nữ đất thần kinh. Bà đã gửi gấm nỗi lòng, cùng những hành động của mình một cách trọn vẹn trong bài thơ <strong>Tiếng chuông Thiên Mụ</strong> như một lời tạm biệt Huế. Một tiếng nấc nghẹn với những tự thú mình là <em>đứa con hư</em>, chỉ vì phải: <em>Đổi họ thay tên viết văn làm báo/Cơm áo dậy mồm ăn lơ nói láo</em>:</p>



<p><em>“Tôi bỏ nhà ra đi năm mười chín tuổi</em><em><br>Đêm trước ngày đi nằm đợi tiếng chuông<br>Cuối cơn điên đầu giấc ngủ đau buồn<br><br>Tiếng chuông đến dịu dàng lay tôi dậy<br>Tiếng chuông đến và đi chỉ mình tôi thấy<br>Chỉ mình tôi nhìn thấy tiếng chuông tan<br>Tiếng chuông tan đều như hơi thở anh em<br>Tiếng chuông tan rời như lệ mẹ hiền<br>Tiếng chuông tan lâu như mưa ngoài phố<br>Tiếng chuông tan dài như đêm không ngủ<br>Tiếng chuông tan tành như tiếng vỡ trong tôi”</em></p>



<p><strong>Võ Phiến</strong> nhận xét về Nhã Ca: “Cực đoan, táo tợn, đột ngột là đặc điểm của bà…</p>



<p>Sống giữa một thời không còn cấm kỵ, mà sôi nổi, mà cực đoan, Nhã Ca mạnh dạn tự mình chọn lựa tình yêu của mình, con đường hạnh phúc của mình, con đường đời của mình. Bà không ngần ngại bỏ nhà ra đi, đổi họ thay tên, phiêu lưu trong cái nghề viết văn làm báo. Tự do, bà thích nói đến tiếng ấy: tự do trong thể xác, trong đời mình&#8230;&#8221;</p>



<p>Nhã Ca là một nhà văn độc lập và bất khuất, bà cũng là một tiêu biểu rõ rệt nhất cho nền văn chương nhân bản của miền Nam trong thời kỳ 1954-1975”. (Võ Phiến, Văn Học Miền Nam – Thơ Miền Nam, NXB Văn Nghệ 1999)</p>



<p>Và <strong>Đặng Tiến</strong> thì: “Thơ Nhã Ca đày ải trần gian vào biên giới hư ảo của đê mê, thơ Nhã Ca là trầm luân trên từng sợi lông tơ, là thiên thu xóa nhòa trongchớp mắt. Đọc Nhã Ca là linh cảm cả hư không, trong từng thớ thịt, lẫn thể xác trong từng ý niệm vu vơ. Thơ Nhã Ca vừa mời gọi, vừa ôm ấp vừa quyến luyến. Thơ Nhã Ca là lối làm quen ở phút giã từ, là lúc vụt quên khi vừa sực nhớ. Vẻ đẹp Nhã Ca thật như một giấc chiêm bao, và giả như con sông Hoàng Hà từ trời xanh đổ về biển cả:</p>



<p><em>Ai về đó mà thơm hồn lụa bạch<br>Cổ chim xanh còn quấn quít tơ vàng</em></p>



<p>(Đặng Tiến, Nữ tính trong ngôn ngữ Nhã Ca, Văn số 35 ngày 1/6/1965)</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/image011.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="356" height="501" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/image011.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-68889" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/01/image011-213x300.jpg 213w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/image011.jpg?strip=all 356w" sizes="(max-width: 356px) 100vw, 356px" /></a></figure></div>

<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/image013.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="327" height="501" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/image013.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-68890" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/01/image013-196x300.jpg 196w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/01/image013.jpg?strip=all 327w" sizes="(max-width: 327px) 100vw, 327px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Bìa trước và trong Văn số 35, ngày 1/6/1965</em></p>



<p>Điều mà các nhà biên khảo, nhà thơ gọi thế giới thi ca của Nhã Ca là hư ảo, huyễn mộng, huyền thoại, khối thuốc nổ TNT hay cực đoan, táo tợn… có thể thu gọn trong bài thơ <strong>Đ</strong><strong>àn bà là mặt trời.</strong>sau đây:</p>



<p><em>Vườn hoa nào cũng ở trước mặt chúng ta<br>Mùa xuân nào cũng nở cho ta những bông hồng<br>Hỡi các chị, chúng ta đều đẹp như mặt trời<br>Tinh khiết như bình minh<br>Vì chúng ta làm ra ái tình<br>Ra hoa lá và sự sống trên trái đất<br>.<br>Những người nam đã tán tỉnh chúng ta<br>Và chúng ta đã chọn cho lòng mình<br>Một ông vua<br>Trong những người nam đã gặp<br>Hỡi các chị đến gần tôi coi<br>Đến gần tôi và cùng rực rỡ<br>.<br>Chúng ta đã tạo một thiên đường<br>Đã tạo nên nhiều vị vua<br>Bởi chúng ta đẹp đẽ và xinh tươi<br>Vì những ham muốn đã tắm rửa cho chúng ta<br>Xui chúng ta nóng bỏng như lửa<br>Và lửa từ mặt trời<br>Mặt trời xinh đẹp<br>Chị có đôi mắt sâu như giếng nước phương Nam<br>Chị có tóc mun đen như dòng sông đêm Ai Cập<br>Chị có lòng nồng nàn, dữ dội như biển đông<br>Chị có ái tình ngọt như mật ong<br>Tôi sẽ tới van xin các chị<br>Nài nỉ các chị cho tôi mượn tất cả<br>Để tôi khoe với chàng<br>Đem tới cho chàng<br>Để chàng nâng niu<br>Coi tôi như công chúa<br>.<br>Chúng ta, mỗi người phải là một công chúa<br>.<br>Người đàn bà nào cũng đẹp<br>Mùa xuân và hoa hồng đều nở vì chúng ta<br>Chúng ta ban phát ái tình<br>Cho thiên đàng của chúng ta tươi tốt mãi<br>.<br>Chúng ta mua từ núi cao<br>những màu xanh rất non<br>mua từ rừng<br>những lá cây rất vàng<br>mua từ đất<br>những giếng nước rất ngọt<br>và từ biển<br>trân châu cùng ngọc bích<br>để trang điểm cho chúng ta đẹp đẽ<br>Chúng ta góp sông, núi, đồi trên thân thể<br>và rừng trong tóc<br>.<br>Tôi sẽ hỏi mượn các chị<br>mọi thứ xinh đẹp và nóng bỏng<br>tôi sẽ gõ các cánh cửa im lặng thật nhẹ<br>để chàng kinh hoàng nhận ra tôi<br>.<br>Tôi sẽ làm rụng hết những giọt sương<br>đang lóng lánh trong hồn chàng<br>những giọt sương sẽ rụng và làm nên hài nhi<br>cùng sự sống<br>cho thiên đàng chúng ta<br>đông đúc và vui tươi<br>Tôi sẽ là mặt trời trong lòng chàng<br>Buổi mai nào cũng lộng lẫy rực rỡ<br>.<br>Tôi sẽ mát như trăng nhưng cũng nóng hơn lửa<br>hơn cát ở sa mạc<br>hơn cả cơn giận<br>của trận hồng thủy trong thánh kinh<br>Bởi tôi là đàn bà<br>người đàn bà nào cũng xinh đẹp<br>cũng làm ra sự sống<br>.<br>Hỡi các chị chúng ta sẽ nối tiếp nhau đẹp mãi<br>Để những bông hoa của mùa xuân<br>Phải quanh quẩn chiêm ngưỡng<br>.<br>Hỡi các chị hãy đến đây và làm điên đảo<br>Sự quay cuồng vui thú của trái đất<br>Chúng ta luôn luôn xinh đẹp và ở trên cao<br>Các chị có đôi vú ngọc bích<br>Có da sữa, tóc dài<br>Có má hiền, môi mật<br>Đừng để những kẻ đi săn lạc đường<br>Hãy dẫn dắt và tội nghiệp họ<br>Hãy hung dữ với họ như sư tử<br>Hãy dịu dàng với họ như nai<br>Để họ quay như trái đất quanh mặt trời<br>Là chúng ta mãi mãi<br>Để chúng ta cho họ ngày đêm và bóng tối<br>.<br>Tôi sẽ lùa bóng tối thật dầy vào đêm của chàng<br>những ánh sáng nóng bỏng cho ngày của chàng<br>.<br>Chúng ta là những người nữ xinh đẹp<br>Xinh đẹp hơn mọi loài trên trái đất<br>Chúng ta có lòng ghen mạnh như bão<br>Chúng ta có sự tinh khiết trong như trăng<br>Chúng ta có thịt da, có núi, có rừng<br>Chúng ta đỏ như mặt trời<br>Đen như đêm<br>Và vàng như lửa<br>.<br>Tôi cũng có một ông vua cho ái tình tôi<br>Tôi cũng đã chọn chàng<br>Để sự sống tràn trên trái đất<br>Tôi sẽ đi góp nhặt từ mặt trời<br>Từ phương đông, phương tây, từ những buổi sớm mai<br>Những sữa, kem và mật để làm nên rượu ngọt<br>Để pha hương thơm trên thân thể mãi mãi<br>Trên thịt da tôi mà chàng yêu dấu<br>.<br>Cám ơn Thượng Đế đã cho tôi đôi vú<br>cho tôi da mịn và tóc dài<br>cho tôi rực rỡ như mặt trời<br>để tôi làm ra ái tình và rượu ngọt<br>tràn trên trái đất<br>.<br>Hỡi các chị hãy đến nhìn tôi coi<br>Hỡi các chị vô cùng khả ái và xinh tươi<br>Hãy đến nhìn tôi coi<br>Tôi đang đỏ đang đen<br>Đang làm ra nước làm ra lửa</em></p>



<p><em><br></em>(Thơ Nhã Ca, NXB Thương yêu, 1972)</p>



<p>Những tư liệu nhỏ này trước hết để tỏ lòng mến mộ một tài năng, nhân cách… và để có thêm tư liệu cho các SV khoa Văn rộng đường nghiên cứu 20 năm văn học Miền Nam./</p>



<p><strong>Nguyễn Lệ Uyên</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>PHỤ BẢN</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>Tập THƠ NHÃ CA &#8211; NXB THƯƠNG YÊU &#8211; SÀI GÒN &#8211; 1972 (Nguồn: VIETMESSENGER.COM)</strong></p>



<div data-wp-interactive="core/file" class="wp-block-file"><object data-wp-bind--hidden="!state.hasPdfPreview" hidden class="wp-block-file__embed" data="https://cdn.t-van.net/2024/01/thonhaca.pdf" type="application/pdf" style="width:100%;height:600px" aria-label="Embed of thonhaca."></object><a id="wp-block-file--media-3d14a2a1-0ccf-447d-9954-e176ef10f108" href="https://cdn.t-van.net/2024/01/thonhaca.pdf" class="mcloud-attachment-68891">thonhaca</a><a href="https://cdn.t-van.net/2024/01/thonhaca.pdf" class="wp-block-file__button wp-element-button mcloud-attachment-68891" download aria-describedby="wp-block-file--media-3d14a2a1-0ccf-447d-9954-e176ef10f108">Download</a></div>



<p></p>



<div style="height:500px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><strong>©T.Vấn 2024</strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>NGUYỄN LỆ UYÊN: TRANG SÁCH VÀ NHỮNG GIẤC MƠ BAY (Tập Ba)</title>
		<link>https://t-van.net/nguyen-le-uyen-trang-sach-va-nhung-giac-mo-bay-tap-ba/</link>
					<comments>https://t-van.net/nguyen-le-uyen-trang-sach-va-nhung-giac-mo-bay-tap-ba/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Lệ Uyên]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 01 Jul 2020 02:33:49 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Tủ Sách T.Vấn & Bạn Hữu]]></category>
		<category><![CDATA[nguyễn lệ uyên trang sách]]></category>
		<category><![CDATA[tủ sách TV & BH]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=43562</guid>

					<description><![CDATA[Xin Bấm Vào Đây Để Mở Hoặc Tải Về Máy NGUYỄN LỆ UYÊN: TRANG SÁCH VÀ NHỮNG GIẤC MƠ BAY (Tập Ba) Giới Thiệu    (Tủ Sách T.Vấn &#38; Bạn Hữu)  Nhằm mục đích lưu giữ và phổ biến rộng rãi các tác phẩm văn học giá trị đến mọi tầng lớp độc giả, nhất [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong>Xin Bấm Vào Đây Để Mở Hoặc Tải Về Máy</strong></p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://cdn.t-van.net/2023/06/Trang-Sach-Tap-3-final.pdf"><strong>NGUYỄN LỆ UYÊN: TRANG SÁCH VÀ NHỮNG GIẤC MƠ BAY (Tập Ba)</strong></a></p>
<p style="text-align: center;">
<p style="text-align: center;"><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2020/06/Trang-Sach-Tap-3-final.pdf" target="_blank" rel="noopener"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter  wp-image-43563" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2020/06/Bia-va-gay-trang-sach-tap-3-final-300x183.jpg?strip=all" alt="" width="507" height="309" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2020/06/Bia-va-gay-trang-sach-tap-3-final-300x183.jpg?strip=all 300w, https://cdn.t-van.net/2020/06/Bia-va-gay-trang-sach-tap-3-final-768x468.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2020/06/Bia-va-gay-trang-sach-tap-3-final-1024x625.jpg 1024w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2020/06/Bia-va-gay-trang-sach-tap-3-final.jpg?strip=all 1318w" sizes="(max-width: 507px) 100vw, 507px" /></a></p>
<p><strong>Giới Thiệu  </strong></p>
<p><strong> </strong><strong>(Tủ Sách T.Vấn &amp; Bạn Hữu)</strong></p>
<p><strong> </strong>Nhằm mục đích lưu giữ và phổ biến rộng rãi các tác phẩm văn học giá trị đến mọi tầng lớp độc giả, nhất là độc giả thuộc các thế hệ trẻ ở trong nước, với sự cộng tác của nhà văn Nguyễn Lệ Uyên, Tủ Sách Điện Tử TV&amp;BH sẽ lần lượt giới thiệu tòan bộ nội dung <em>“Trang Sách &amp; Những Giấc Mơ Bay”</em> gồm 3 tập, viết về những cây bút đã từng làm nên diện mạo một nền văn học miền Nam mà mãi cho đến nay vẫn còn được nhắc đến bởi các nhà nghiên cứu văn học cả trong lẫn ngòai nước.</p>
<p>Đây là  một công trình đầy tâm huyết của nhà văn Nguyễn Lệ Uyên, người được các bạn văn cùng thời đặt tên là “con sói già cô đơn”. Bất chấp mọi khó khăn trong cuộc sống thường ngày (nhà văn NLU hiện đang sinh sống ở Việt Nam), bất chấp tuổi tác (các bạn văn cùng thời với ông, nếu còn sống, phần lớn đều đã gác bút an dưỡng tuổi già), bất chấp bệnh tật (ở tuổi của ông, ai mà không bệnh này hay tật kia, chưa chết đã là một điều ngạc nhiên), bất chấp những khó khăn trong việc sưu tập tài liệu (như nhà văn Trần Hòai Thư đã nêu rõ trong lời tựa, ngay đến những người được NLU nhắc đến cũng không lưu giữ được tác phẩm của mình huống chi người làm công việc nhận định, phê bình), bất chấp nhiều trở ngại khác lẽ ra không thể, không đáng xẩy ra với một người làm văn học, ông đã hòan tất công việc như tâm nguyện của ông với tư cách của một trong số ít người còn sống sót của thế hệ các nhà văn miền Nam.</p>
<p>Tủ Sách Điện Tử T.Vấn &amp; Bạn Hữu xin được tiếp tay cùng nhà văn gởi tới độc giả Việt Nam ở khắp nơi, trong cũng như ngòai nước, công trình tâm huyết này. Đồng thời, ngòai chức năng phổ biến, tủ sách sẽ cố gắng làm công việc lưu trữ tác phẩm để các thế hệ tương lai có cơ hội tìm hiểu về một nền văn học, tuy bị bức tử, nhưng đã không chịu nằm đó chờ chết như những <em>kẻ sát nhân</em> mong muốn.</p>
<p><strong> </strong><strong>Tủ Sách T.Vấn &amp; Bạn Hữu</strong></p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://t-van.net/?cat=343" target="_blank" rel="noopener"><strong>Tủ Sách T.Vấn &amp; Bạn Hữu</strong></a></p>
<p><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/11/30-tac-pham-11-2017.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" class="size-medium wp-image-33418 aligncenter" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/11/30-tac-pham-11-2017-300x229.jpg?strip=all" alt="" width="300" height="229" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/11/30-tac-pham-11-2017-300x229.jpg?strip=all 300w, https://cdn.t-van.net/2017/11/30-tac-pham-11-2017-768x586.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2017/11/30-tac-pham-11-2017-1024x782.jpg 1024w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/11/30-tac-pham-11-2017.jpg?strip=all 600w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></a></p>
<p>©T.Vấn 2020</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/nguyen-le-uyen-trang-sach-va-nhung-giac-mo-bay-tap-ba/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>NGUYỄN LỆ UYÊN: TRANG SÁCH VÀ NHỮNG  GIẤC MƠ BAY (Tập Hai)</title>
		<link>https://t-van.net/nguyen-le-uyen-trang-sach-va-nhung-giac-mo-bay-tap-hai/</link>
					<comments>https://t-van.net/nguyen-le-uyen-trang-sach-va-nhung-giac-mo-bay-tap-hai/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Lệ Uyên]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 28 May 2020 03:08:23 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Tủ Sách T.Vấn & Bạn Hữu]]></category>
		<category><![CDATA[nguyễn lệ uyên trang sách]]></category>
		<category><![CDATA[tủ sách TV & BH]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=43078</guid>

					<description><![CDATA[Xin Bấm Vào Đây Để Mở Hoặc Tải Về Máy NGUYỄN LỆ UYÊN: TRANG SÁCH VÀ NHỮNG GIẤC MƠ BAY (Tập Hai) Giới Thiệu             (Tủ Sách T.Vấn &#38; Bạn Hữu) Nhằm mục đích lưu giữ và phổ biến rộng rãi các tác phẩm văn học giá trị đến mọi tầng lớp độc giả, nhất [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong>Xin Bấm Vào Đây Để Mở Hoặc Tải Về Máy</strong></p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://cdn.t-van.net/2023/06/Trang-Sach-Tap-2-final.pdf"><strong>NGUYỄN LỆ UYÊN: TRANG SÁCH VÀ NHỮNG GIẤC MƠ BAY (Tập Hai)<br />
</strong></a></p>
<p style="text-align: center;">
<p style="text-align: center;"><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2020/05/Trang-Sach-Tap-2-final.pdf" target="_blank" rel="noopener"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-43079" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2020/05/Bia-truoc-TS1-GreyBlack-233x300.jpg?strip=all" alt="" width="233" height="300" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2020/05/Bia-truoc-TS1-GreyBlack-233x300.jpg?strip=all 233w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2020/05/Bia-truoc-TS1-GreyBlack.jpg?strip=all 622w" sizes="(max-width: 233px) 100vw, 233px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2020/05/Trang-Sach-Tap-2-final.pdf" target="_blank" rel="noopener"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-43080" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2020/05/Bia-sau-TS1-grey-black-227x300.jpg?strip=all" alt="" width="227" height="300" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2020/05/Bia-sau-TS1-grey-black-227x300.jpg?strip=all 227w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2020/05/Bia-sau-TS1-grey-black.jpg?strip=all 600w" sizes="(max-width: 227px) 100vw, 227px" /></a></p>
<p><strong>Giới Thiệu</strong><strong>             </strong></p>
<p>(Tủ Sách T.Vấn &amp; Bạn Hữu)</p>
<p>Nhằm mục đích lưu giữ và phổ biến rộng rãi các tác phẩm văn học giá trị đến mọi tầng lớp độc giả, nhất là độc giả thuộc các thế hệ trẻ ở trong nước, với sự cộng tác của nhà văn Nguyễn Lệ Uyên, Tủ Sách Điện Tử TV&amp;BH sẽ lần lượt giới thiệu tòan bộ nội dung <em>“Trang Sách &amp; Những Giấc Mơ Bay”</em> gồm 3 tập, viết về những cây bút đã từng làm nên diện mạo một nền văn học miền Nam mà mãi cho đến nay vẫn còn được nhắc đến bởi các nhà nghiên cứu văn học cả trong lẫn ngòai nước.</p>
<p>Đây là  một công trình đầy tâm huyết của nhà văn Nguyễn Lệ Uyên, người được các bạn văn cùng thời đặt tên là “con sói già cô đơn”. Bất chấp mọi khó khăn trong cuộc sống thường ngày (nhà văn NLU hiện đang sinh sống ở Việt Nam), bất chấp tuổi tác (các bạn văn cùng thời với ông, nếu còn sống, phần lớn đều đã gác bút an dưỡng tuổi già), bất chấp bệnh tật (ở tuổi của ông, ai mà không bệnh này hay tật kia, chưa chết đã là một điều ngạc nhiên), bất chấp những khó khăn trong việc sưu tập tài liệu (như nhà văn Trần Hòai Thư đã nêu rõ trong lời tựa, ngay đến những người được NLU nhắc đến cũng không lưu giữ được tác phẩm của mình huống chi người làm công việc nhận định, phê bình), bất chấp nhiều trở ngại khác lẽ ra không thể, không đáng xẩy ra với một người làm văn học, ông đã hòan tất công việc như tâm nguyện của ông với tư cách của một trong số ít người còn sống sót của thế hệ các nhà văn miền Nam.</p>
<p>Tủ Sách Điện Tử T.Vấn &amp; Bạn Hữu xin được tiếp tay cùng nhà văn gởi tới độc giả Việt Nam ở khắp nơi, trong cũng như ngòai nước, công trình tâm huyết này. Đồng thời, ngòai chức năng phổ biến, tủ sách sẽ cố gắng làm công việc lưu trữ tác phẩm để các thế hệ tương lai có cơ hội tìm hiểu về một nền văn học, tuy bị bức tử, nhưng đã không chịu nằm đó chờ chết như những <em>kẻ sát nhân</em> mong muốn.</p>
<p><strong>Tủ Sách T.Vấn &amp; Bạn Hữu</strong></p>
<p><strong>Mục Lục</strong></p>
<p><strong> </strong><em>Lời Mở</em></p>
<p><strong> </strong><em>1/ Chiến tranh dưới ngòi bút Thảo Trường  /</em><em>005</em></p>
<p><em>2/ Đỗ Hồng Ngọc, khói trời phương Đông  /</em><em>026</em></p>
<p><em>3/ Chinh Ba, Đi tìm tự do qua chiếc xương cụt  /</em><em>050</em></p>
<p><em>4/ Lâm Hảo Dũng, quê nhà khuất cuối chân mây  </em><em>/069</em></p>
<p><em>5/ Tuổi trẻ, nước mắt, máu và nụ cười trong truyện Trần Hoài Thư  </em><em>/086</em></p>
<p><em>6/ Chân dung Lão tiền bối của Khuất Đẩu  </em><em>/122</em></p>
<p><em>7/ Bùi Đăng, người tù chết không nhắm mắt  </em><em>/138</em></p>
<p><em>8/ Phạm Văn Nhàn, những hiển lộ từ miền ký ức  </em><em>/157</em></p>
<p><em>9/ Luân Hoán trong bóng chữ  </em><em>/169</em></p>
<p><em>10/ Hạc Thành Hoa, những ám ảnh trăng vàng nguyệt  </em><em>/185</em></p>
<p><em>11/ Phạm Chu Sa, mênh mông cõi tình  </em><em>/198</em></p>
<p><em>12/ Khắc khoải Âu Thị Phục An  </em><em>/212</em></p>
<p><em>13/ Khoảng cách xa gần giữa truyện ngắn và thơ Đặng Kim Côn  </em><em>/231</em></p>
<p><em> </em><em><strong>Phụ lục:</strong></em></p>
<p><em>1/ Văn và ông Tr</em>ần Phong Giao  <em>/255</em></p>
<p>2/ Thời gian, Ý Thức và Cỏ May  <em>/272</em></p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://t-van.net/?cat=343" target="_blank" rel="noopener"><strong>Tủ Sách T.Vấn &amp; Bạn Hữu</strong></a></p>
<p><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/11/30-tac-pham-11-2017.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" class="size-medium wp-image-33418 aligncenter" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/11/30-tac-pham-11-2017-300x229.jpg?strip=all" alt="" width="300" height="229" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/11/30-tac-pham-11-2017-300x229.jpg?strip=all 300w, https://cdn.t-van.net/2017/11/30-tac-pham-11-2017-768x586.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2017/11/30-tac-pham-11-2017-1024x782.jpg 1024w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/11/30-tac-pham-11-2017.jpg?strip=all 600w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></a></p>
<p>©T.Vấn 2020</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/nguyen-le-uyen-trang-sach-va-nhung-giac-mo-bay-tap-hai/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Hoàng Kim Oanh: NGUYỄN LỆ UYÊN VỚI TRANG SÁCH &#038; NHỮNG GIẤC MƠ BAY&#8230;</title>
		<link>https://t-van.net/hoang-kim-oanh-nguyen-le-uyen-voi-trang-sach-nhung-giac-mo-bay/</link>
					<comments>https://t-van.net/hoang-kim-oanh-nguyen-le-uyen-voi-trang-sach-nhung-giac-mo-bay/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Lệ Uyên]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 05 Jan 2019 11:52:46 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[nguyễn lệ uyên trang sách]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=38216</guid>

					<description><![CDATA[Cuộc gặp gỡ đầu năm 2019, cũng là lần đâu tiên tôi gặp nhà văn Nguyễn Lệ Uyên, tác giả gần 50 truyện ngắn ấn tượng cũng như nhiều bài nghiên cứu phê bình sâu sắc về các cây bút miền Nam mà tôi thường xuyên tham khảo từ gần 10 năm nay trên trang [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/01/NhungGiacMoBay-tap3.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-38217" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/01/NhungGiacMoBay-tap3-194x300.jpg?strip=all" alt="" width="230" height="356" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/01/NhungGiacMoBay-tap3-194x300.jpg?strip=all 194w, https://cdn.t-van.net/2019/01/NhungGiacMoBay-tap3-768x1189.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/01/NhungGiacMoBay-tap3.jpg?strip=all 1240w" sizes="(max-width: 230px) 100vw, 230px" /></a></p>
<p>Cuộc gặp gỡ đầu năm 2019, cũng là lần đâu tiên tôi gặp nhà văn Nguyễn Lệ Uyên, tác giả gần 50 truyện ngắn ấn tượng cũng như nhiều bài nghiên cứu phê bình sâu sắc về các cây bút miền Nam mà tôi thường xuyên tham khảo từ gần 10 năm nay trên trang vanchuongviet và tìm được nhiều thông tin, nhận định vô cùng đúng đắn, giá trị trong cái thời buổi “văn chương đồng phục”, “văn chương khẩu hiệu”, “văn chương phải đạo” này. Một số bài viết của tôi cũng từng trích dẫn tài liệu tham khảo/ý kiến nhà phê bình Nguyễn Lệ Uyên&#8230;<br />
Sau này, đều đặn&#8230; mỗi tháng 2 kỳ, một đàn anh ở nửa vòng trái đất bên kia TBD, phụ trách trang T.Vấn và bạn hữu, gửi vào inbox cho tôi&#8230; tác phẩm Nguyễn Lệ Uyên gần như đầy đủ&#8230;</p>
<p>Biết anh là một cây bút trong nhóm Ý Thức, là bằng hữu tri âm tri kỷ của các đàn anh ấy, đọc văn rồi, tôi mong có dịp được gặp người&#8230; Thôi thúc hơn nữa khi biết anh là người “Hiệp sĩ” mà lần Quán Văn tự nhiên bị một quan bút địa phương “chụp mũ” đã “kiến nghĩa bất vi vô dõng dã” từ tận Phú Yên múa bút viết ngay một bài lập luận thẳng thắn công tâm tình lý rạch ròi&#8230; Phản ứng hiệu quả&#8230;<br />
Song, tiếc là hai lần Quán Văn đi ngang Phú Yên, tưởng đã có thể ghé thăm anh nhưng rồi lại không thực hiện được&#8230;</p>
<p>Tôi vẫn ghi nhớ còn một cây bút Ý Thức đang sống và viết ở Phú Yên&#8230;</p>
<p>Đọc nghiên cứu phê bình, tiểu luận và cả tạp văn của anh tôi gặp lại những tác giả miền Nam một thời yêu mến của tôi&#8230; Nguyễn Nho Sa Mạc, Hoài Khanh, Nguyễn Bắc Sơn, Vũ Hữu Định, Võ Hồng&#8230;và xúc động nhất là những trang viết về Phạm Ngọc Lư&#8230; văn thì “sáng tạo không ngừng trong những câu chữ lấp lánh”, còn thơ thì “như một vết cứa vào tim người”&#8230; (Nhớ Phạm Ngọc Lư). Rồi những bài tiểu luận chân dung hết sức chân tình dựa trên nền tảng vững vàng những kiến thức văn chương miền Nam mà anh vừa là nhân vật vừa là người sáng tạo, vừa là người trong cuộc kiêm luôn cả chứng nhân&#8230; soi chiếu về những người bạn một thời của anh, những người anh xa xôi mà thân thiết một lòng đau đáu với văn chương của tôi: Luân Hoán, Trần Hoài Thư, Lữ Quỳnh, những “soái ca” gần gũi và quý mến Lữ Kiều, Đỗ Hồng Ngọc, Nguyên Minh, Khuất Đẩu, Trương Văn Dân, chị Âu Thị Phục An&#8230;hay mới gặp đôi lần như anh Hạc Thành Hoa&#8230;</p>
<p>Đọc truyện ngắn của anh, tôi lại quặn lòng nhức nhối về những tháng ngày dài trên quê hương sau chinh chiến và ngạc nhiên vì một người góc cạnh như anh lại có những trang mượt mà lắng đọng&#8230; Truyện ngắn của anh đầy ắp yêu thương trăn trở và cũng bừng bừng căm giận. Tính chất rạch ròi ấy cảm tưởng như toả ra từ cá tính mạnh mẽ của chính người viết, từ chính mảnh đất xuơng rồng gai góc nắng gió của anh&#8230; Những trạng thái đối lập ấy cứ quyện vào nhau trang này trang khác, mẫu nhân vật này mẫu nhân vật khác&#8230; đa thanh, đa chiều kích, xô người đọc tới một cái tận cùng của xót thương hay khinh bỉ, phẫn nộ&#8230;</p>
<p>Ôi, cái thế hệ ”không có tuổi trẻ và được gọi với cái tên rất mực mỹ miều nức nở: Thế-hệ-chiến-tranh” &#8211; theo cách nói của anh- không biết đến bao giờ những cơn ác mộng ấy thôi giày vò&#8230;</p>
<p>Tôi nhớ đã có lần đọc trong bài viết của anh đoạn này:</p>
<p>“Lòng chùng. Chân mỏi. Chẳng còn những ham muốn bay nhảy như thuở nào, rất xa qua những tờ lịch mà lại gần như một cơn mơ. Cuối cùng thì đành lui về căn nhà cổ xưa, nấp sau vườn cây rậm rạp như thể quy ẩn, đến nỗi ông bạn văn Trần Hoài Thư tận xứ người giá buốt, hạ bút vẽ nguyệch ngoạc chân dung tôi: “con sói già cô đơn giữa bãi xương rồng” (Nguyễn Lệ Uyên, Bên ly cà phê, rượu,thấp thoáng bóng LỮ QUỲNH)</p>
<p>Không đâu các anh ơi, làm sao có thể cô đơn khi những trang viết của thế hệ các anh đã và đang lặng lẽ gieo lại niềm tin ngay trong hoang tàn đổ nát này, trong cái “thế gian đang lung lay, nghiêng ngửa này” (NLU, Phía sau những mảnh vỡ cuộc sống trong truyện Trương Văn Dân)<br />
Chân có thể mỏi. Lòng không thể chùng và chùn &#8230; để tất cả những gì tốt đẹp, lần nữa, chìm trong tăm tối&#8230; phải không anh <a href="https://www.facebook.com/quynh.lu.7?__tn__=%2CdK-R-R&amp;eid=ARCQZt9zF9-pDeBoe-n7LshDWd2yyhI1gGX6nWzFM9eqv2NQqJkBtGHBQkWHivqNpHVVbXy4K7ZXS4SW&amp;fref=mentions">Quynh Lu</a>, Ng lu&#8230;?</p>
<p>Cảm ơn vanchuongviet, T.Vấn &amp; Bạn hữu đã kết nối và chia sẻ khá nhiều tác phẩm của Nguyễn Lệ Uyên.<br />
Đọc lang thang trên net thì đọc vậy, nhưng hạnh phúc được cầm trên tay một văn bản in, cảm nhận từ mùi giấy mới đến từng con chữ nhảy múa trước mặt, hiện hữu&#8230; vẫn là đam mê từ ngày bắt đầu biết đọc sách đến bây giờ&#8230;<br />
Thật xin lỗi anh vì cái lỡ hẹn ngày cuối năm&#8230; Đành chờ “Trang sách và những giấc mơ bay” tập III vậy&#8230;</p>
<p>Ôi tối về mở fb mới hay tình cờ sao hôm nay là Sinh nhật của anh Nguyễn Lệ Uyên.<br />
Lan man vài dòng về cuộc gặp gỡ đầu năm, đầu tiên này, cùng lời chúc mừng sinh nhật bình an, mạnh khỏe, mọi điều tốt đẹp nhất luôn ở bên anh và những trang sách, những giấc mơ bay của anh, của mọi người sẽ không bao giờ ngừng lộng gió giữa cuộc đời&#8230;<br />
Tôi nhớ có lần cũng nói về anh Nguyên Minh như vậy.<br />
<em>Cho những giấc mơ bay lên&#8230;<br />
Ngày mới.<br />
Tuổi mới.<br />
Trang sách mới.<br />
Những giấc mơ mới&#8230;</em></p>
<p><em>để gió cuốn đi&#8230;</em></p>
<p>HAPPY NEW YEAR!<br />
HAPPY BIRTHDAY anh <a href="https://www.facebook.com/ng.lu.10?__tn__=%2CdK-R-R&amp;eid=ARCn-wVxToRDhB_NefmFmfJ32-vsBmwW77VJjO9JRCq5lWlkUV_JQHFAbr68Kez7TuQ9nZ-lMMN1dr4F&amp;fref=mentions">Ng Lu</a>!<br />
1.1.2019</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/01/DSC_0510.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-38218" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/01/DSC_0510-300x199.jpg?strip=all" alt="" width="372" height="247" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/01/DSC_0510-300x199.jpg?strip=all 300w, https://cdn.t-van.net/2019/01/DSC_0510-768x510.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2019/01/DSC_0510-1024x680.jpg 1024w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/01/DSC_0510.jpg?strip=all 1920w" sizes="(max-width: 372px) 100vw, 372px" /></a></p>
<p><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/01/DSC_0527.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-38219" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/01/DSC_0527-300x199.jpg?strip=all" alt="" width="380" height="252" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/01/DSC_0527-300x199.jpg?strip=all 300w, https://cdn.t-van.net/2019/01/DSC_0527-768x510.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2019/01/DSC_0527-1024x680.jpg 1024w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/01/DSC_0527.jpg?strip=all 1920w" sizes="(max-width: 380px) 100vw, 380px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><em>Quang cảnh buổi RMS của nhà văn Nguyễn Lệ Uyên (tác giả là người thứ hai -áo trắng- tính từ bên phải)</em></p>
<p>(Nguồn: https://www.facebook.com/hoang.k.oanh/posts/10215533185460004)</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/hoang-kim-oanh-nguyen-le-uyen-voi-trang-sach-nhung-giac-mo-bay/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Trần Doãn Nho: Đọc bút ký văn học của Nguyễn Lệ Uyên</title>
		<link>https://t-van.net/tran-doan-nho-doc-but-ky-van-hoc-cua-nguyen-le-uyen/</link>
					<comments>https://t-van.net/tran-doan-nho-doc-but-ky-van-hoc-cua-nguyen-le-uyen/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Lệ Uyên]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 20 Dec 2018 12:33:36 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[nguyễn lệ uyên trang sách]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=38019</guid>

					<description><![CDATA[“Trang Sách và Những Giấc Mơ Bay,” cái tên nghe như tựa đề một truyện ngắn hay một bài tùy bút, thật ra là một tập sách viết về một số các tác giả và tác phẩm miền Nam. Theo tác giả, qua lời tâm sự với Trần Hoài Thư trong lời tựa, đây “không [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: left;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/12/nguyenleuyen_trangsachvanhunggiacmobay-1_pic.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="size-medium wp-image-38020 aligncenter" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/12/nguyenleuyen_trangsachvanhunggiacmobay-1_pic-193x300.jpg?strip=all" alt="" width="193" height="300" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/12/nguyenleuyen_trangsachvanhunggiacmobay-1_pic-193x300.jpg?strip=all 193w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/12/nguyenleuyen_trangsachvanhunggiacmobay-1_pic.jpg?strip=all 198w" sizes="(max-width: 193px) 100vw, 193px" /></a></p>
<p style="text-align: left;">“Trang Sách và Những Giấc Mơ Bay,” cái tên nghe như tựa đề một truyện ngắn hay một bài tùy bút, thật ra là một tập sách viết về một số các tác giả và tác phẩm miền Nam.</p>
<p>Theo tác giả, qua lời tâm sự với Trần Hoài Thư trong lời tựa, đây “không phải là tập sách phê bình hay nhận định văn học” mà chỉ là “cái nhìn hoàn toàn chủ quan của người viết về các tác phẩm của những bạn văn, một thời đã góp công xây dựng một nền văn học miền Nam.”</p>
<p>Mà quả thật như thế! Nguyễn Lệ Uyên không sử dụng các lý thuyết văn học như một kính hiển vi để soi rọi các hình thức sáng tác, kết cấu câu chuyện hay các nhân vật, mà dùng tấm lòng để chia sẻ với tấm lòng, dùng tấm lòng để chia sẻ thân phận của các nhân vật và chia sẻ tâm cảm của những nhà văn, nhà thơ trong suốt một giai đoạn lịch sử cực kỳ nhiễu nhương.</p>
<p>Chính vì thế, thay vì đụng phải những thuật ngữ văn học khô khan và mang nặng tính hàn lâm, người đọc lại được thưởng thức những dòng văn thấm đẫm tâm tình. Lúc khoan, lúc nhặt, lúc phẫn nộ, lúc cảm khái, lúc trìu mến, lúc nghiêm túc, lúc mỉa mai, lúc hài hước.</p>
<p>Qua hơn 200 trang sách, Nguyễn Lệ Uyên dẫn độc giả “bay” vào từng ngóc ngách cuộc đời của từng tác giả và từng chi tiết văn chương của tác phẩm. Tác giả viết về Võ Hồng, Y Uyên, Hoài Khanh, Từ Thế Mộng, Nguyễn Bắc Sơn, Phạm Ngọc Lư, Khuất Đẩu, Vũ Hữu Định, Lê Văn Trung, Kiều Mỹ Duyên, Trần Hoài Thư, Linh Phương, Lâm Anh, Lê Văn Thiện, Lữ Quỳnh, Nguyên Minh, Lữ Kiều.</p>
<p>Hầu hết đều là những tác giả đã nổi tiếng hay ít nhất cũng khá quen thuộc đối với những ai quan tâm hay say mê văn học miền Nam thời trước. Có lẽ chỉ trừ Khuất Đẩu. Dù chỉ mới xuất hiện trong vòng một thập niên vừa qua, nhưng Khuất Đẩu lại là một cây bút già dặn, cả ở tuổi đời lẫn tuổi văn chương; bây giờ ông đã thành danh, nhất là khi đoạt giải Văn Việt lần thứ ba năm 2018.</p>
<p>Tôi gọi tập sách của Nguyễn Lệ Uyên là bút ký văn học. Anh viết về tác giả, về sự kiện, về quan hệ bạn bè, về những biến cố của đất nước lồng trong những biến cố cá nhân. Anh phân tích những nhân vật đồng thời lồng chúng trong bối cảnh của thời cuộc và chia sẻ “tâm tình” của những nhân vật y như họ hiện diện trong cuộc đời thường.</p>
<p>Trong thực tế, có thể nói, “Trang Sách và Những Giấc Mơ Bay” là một tổng hợp vừa tùy bút, vừa ký, vừa nhận định, phê bình, phân tích, biên khảo và đôi khi cả… truyện ngắn, trong đó, ngoài nhân vật “tôi” ra, còn có hai nhân vật chính nữa là “tác giả” và “tác phẩm.”</p>
<p>Về nhà văn Võ Hồng, Nguyễn Lệ Uyên viết: <em>“Và ông tiếp tục viết. Viết vì những cảm xúc không thể dằn lòng, viết vì trách nhiệm trước ngòi bút như ông đã từng viết và người đọc đã từng khóc với những trang sách của ông. (…) Những lần được hầu chuyện ông trên căn gác nhỏ bừa bộn sách báo, mền gối, bút mực, chén đũa, bàn ủi, lược gương, kim chỉ… bày la liệt, tứ tung như gánh hàng xén trong phiên chợ quê cuối ngày (ông ngồi trên chiếc ghế đẩu long chân, khách tự tìm lấy chỗ ngồi) bình thản nhắc lại ‘khu Xóm Mới hồi đó toàn cát, gai bàn chải, lộn xộn mà êm,’ hỏi thăm Lò Gốm quê ông còn hay mất. Và rồi ông nhắm mắt lại: ‘Suốt cuộc đời tôi, chỉ có một tâm niệm duy nhất là trả được Hiếu cho quê hương qua từng trang sách. Tôi còn nợ khá nhiều, tôi sẽ cố gắng.’ Ông nhẫn nại làm công việc đó bằng thứ ngôn ngữ đặc sệt nhà quê của quê hương ông. Lấy bối cảnh cho một cốt truyện, ông cũng đưa vào tên làng tên xóm nơi ông từng sinh ra và lớn lên và rời xa nó; chọn tên một nhân vật, ông cũng tìm những cái tên chơn chất cha mẹ đặt cho bạn bè ông thời thơ ấu.”</em> (Về nhà văn Võ Hồng)</p>
<p>Anh dựng lên chân dung một Võ Hồng đơn giản, mộc mạc nhưng đầy tâm huyết. Nhưng khi viết về Phạm Ngọc Lư, hơi văn nghe khác hẳn, đau xót và chua chát: <em>“Ngay đêm ấy, tôi lẩm nhẩm những câu gãy khúc, nghe chừng ‘Biên cương hành’ (một bài thơ nổi tiếng của Phạm Ngọc Lư), như một dự báo về định mệnh oan nghiệt bắt đầu phủ trùm lên cuộc đời anh và đời thơ: lang thang đến sơn cùng thủy tận để mưu sinh, chân tay tóe máu qua những tầng đất đá sâu hoắm cuốc đào để nuôi ba miệng ăn trong thời buổi nhiễu nhương. Có lẽ vì thế, nên ngôn ngữ thơ Phạm Ngọc Lư có phong cách rất riêng, ‘không giống ai,’ không bị ảnh hưởng thiền, không hoàng phái quý tộc, cũng không viễn mơ, ảo ảnh vu vơ, gào rống ba hoa.”</em></p>
<p><em> </em>Trong lúc đó, với Lê Văn Thiện, giọng văn trở nên bình tĩnh, nghiêm túc: <em>“Suốt tuổi thanh xuân, Thiện sống trong đạn bom, cái chết đủ kiểu cho nên anh không thể viết theo phong cách Mai Thảo, Nguyễn Thị Hoàng và những nhà văn ‘máy lạnh’ khác. Cõi văn chương của Thiện là lằn ranh giữa sống và chết, là tiếng súng bắn tỉa, những đợt hành quân, những trận tấn công, giải vây, tháo chạy, cảnh lộn xộn, nhếch nhác nơi miền quê nghèo… Cho nên mỗi khi đọc truyện Thiện, điều đập vào mắt, trí não tôi, trước tiên không phải là nội dung mà là những dấu phẩy, dấu chấm, chấm phẩy, ba chấm, hai chấm…”</em></p>
<p>Viết về Nguyễn Bắc Sơn, anh nhấn mạnh đến một phong cách làm thơ chẳng hề giống bất cứ một nhà thơ nào của Sơn: <em>“Người thọc chân vào làng thơ như một kẻ ‘du côn chữ nghĩa,’ một hành giả rong chơi dọc ngang trong trận đồ bát quái giữa thánh thịện và tội lỗi, giữa hạnh phúc và khổ đau, giữa đạo và phi đạo, giữa tốt và xấu, để cuối cùng nghêu ngao một câu hát rong: kẻ làm thơ đôi khi biến thành du đãng/hoặc nhà tu theo khí hậu từng mùa. Sự thọc chân bất ngờ của Nguyễn Bắc Sơn cũng tỉ như bứt sợi lông gà ngoáy vào lỗ tai kẻ khác, gây cảm giác nhột nhạt vừa khó chịu vừa thích thú.”</em></p>
<p>Viết về Vũ Hữu Định thì lại là một bút ký, một bút ký đậm chất tùy bút: <em>“Năm kia, Phạm Chu Sa bất ngờ ghé nhà, rủ đi Pleiku. (…) Tôi lang thang dưới cơn mưa khuya heo hắt và tưởng tượng những bước chân lang thang cùng trời cuối đất của anh (Vũ Hữu Định) ngày nào. Chớ chi mà giờ này còn một quán rượu nghèo. Chớ chi mà đêm trở giấc là ngày, là buổi chiều lấm thấm mưa bay là buổi tối mưa bay lấm thấm để ngồi uống một ly rượu nhạt nói với anh câu hư vô trong cõi tịnh yên. Và bỗng nhiên tôi nhớ đến bài thơ ‘thiếu rượu’ của Định viết hồi năm 1973.”</em></p>
<p>Phân tích về một nhân vật trong truyện của Khuất Đẩu, Nguyễn Lệ Uyên đứng dạng chân giữa tác giả và tác phẩm: “<em>Nhân thân của nhân vật ‘tôi’ được Khuất Đẩu chăm chút trong cách miêu tả rất bình thản, rất xuất thần giống như đầu ngọn bút lông thả xuống nét ngang chữ nhẫn, như một nốt nhạc xoáy cuộn cuối một trường canh hay mấy sợi lông đuôi bầy ngựa sải vó trong tranh ‘Mã đáo thành công.’ Chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ để (nhân vật) ‘tôi’ chứng kiến một cách trọn vẹn những năm tháng đi qua cuộc đời mình. Và khác với một Chí Phèo trôi sông lạc chợ của Nam Cao (…) còn (nhân vật) của Khuất Đẩu cũng trôi sông lạc chợ đấy, nhưng may mắn hơn nhờ sự nuôi dưỡng của con chó cái và bà cô Sáu không chồng (…) Những buổi đấu tố, bắt bớ, giết người, phá tan cơ ngơi sản nghiệp của những người dân lương thiện như những bữa ăn, nước uống thường ngày. Cái giọng văn nhẩn nha thản nhiên lướt qua của Khuất Đẩu khi miêu tả những cảnh tượng này khiến người đọc cứ nổi lên cảm giác gờn gợn phần thịt da sau ót</em>…”</p>
<p>Tóm lại, đọc “Trang Sách và Những Giấc Mơ Bay,” ta tìm thấy không chỉ những tác giả và những tác phẩm, mà tìm thấy những con người quấn quýt với những con người qua văn chương, ở đó, tưởng như thực cũng là ảo mà ảo cũng là thực. Nó chứa đựng ngay trong cái tựa đề: Trang Sách/Giấc Mơ. Bay!</p>
<p>Nguyễn Lệ Uyên sinh trưởng ở Tuy Hòa, Phú Yên, tốt nghiệp Ðại Học Sư Phạm Cần Thơ, nhập ngũ Khóa 6/70 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức. Trước năm 1975, viết trên các tạp chí văn nghệ Sài Gòn như Văn, Bách Khoa, Khởi Hành, Thời Tập, Nhà Văn, Chính Văn, Ý Thức, Tuổi Ngọc.</p>
<p>Đã xuất bản: Ba tập biên khảo (Trò Chơi Dân Gian, Truyền Thuyết Và Huyền Thoại, Bài Chòi); hai tập nhận định văn học (Trang Sách và Những Giấc Mơ Bay tập I (2010), và tập II (2012); bốn tập truyện (Mưa Trên Sông ĐăkBla, Mùa Hè Sang Trọng, Sông Chảy Về Núi, Chân Dung Tự Vẽ); một truyện dài (Nhật Ký Thằng Điên). (Trần Doãn Nho)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/tran-doan-nho-doc-but-ky-van-hoc-cua-nguyen-le-uyen/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nguyễn Lệ Uy&#234;n: HO&#192;NG LỘC, NGẮN&#8230; D&#192;I T&#204;NH SI</title>
		<link>https://t-van.net/nguyen-le-uyn-hong-loc-ngan-di-tnh-si/</link>
					<comments>https://t-van.net/nguyen-le-uyn-hong-loc-ngan-di-tnh-si/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Lệ Uyên]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 14 Nov 2018 05:00:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[nguyễn lệ uyên trang sách]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=37567</guid>

					<description><![CDATA[“Ta mãi lơ mơ suốt một đời tình Mãi lưu lạc những hiên nhà gái đẹp“ (Hoàng Lộc) Sau khi nhóm Sáng Tạo “hoàn thành sứ mệnh” làm mới nền văn học nghệ thuật Việt Nam bằng những tuyên ngôn, thảo luận bàn tròn, tung hê đầy dẫy trên tạp chí Sáng Tạo bộ cũ [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/11/clip_image002-1.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="margin-right: auto; margin-left: auto; float: none; display: block; background-image: none;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/11/clip_image002_thumb-50x50.jpg?strip=all" alt="clip_image002" width="259" height="278" border="0" /></a></p>
<p align="right"><i>“Ta mãi lơ mơ suốt một đời tình</i></p>
<p align="right"><i>Mãi lưu lạc những hiên nhà gái đẹp</i><i>“</i></p>
<p align="right">(Hoàng Lộc)</p>
<p>Sau khi nhóm Sáng Tạo “hoàn thành sứ mệnh” làm mới nền văn học nghệ thuật Việt Nam bằng những tuyên ngôn, thảo luận bàn tròn, tung hê đầy dẫy trên tạp chí Sáng Tạo bộ cũ và mới với những tên tuổi “lớn”: Mai Thảo, Trần Thanh Hiệp, Thanh Tâm Tuyền, Ngọc Dũng, NguyễnSỹ Tế… thì có một khoảng trống lộ ra, nhưng không lâu.</p>
<p>Lấp vào khoảng trống của Sáng Tạo, giữa thập niên 1960, là các tạp chí Văn, Khởi Hành, Văn Học… nơi tụ hội của các cây bút trẻ, lần đầu thử sức với văn chương. Và họ đã thành công, với những tên tuổi như Y Uyên, Trần Hoài Thư, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trần Thị NgH. Cao Huy Khanh, Luân Hoán, Huy Tưởng, Lâm Chương, Nguyễn Tất Nhiên,Nguyễn Bắc Sơn, Ngụy Ngữ, Phạm Ngọc Lư, Lê Văn Thiện… trải dài từ bờ nam sông Bến Hải tới tận Cà Mau. Nhưng công tâm mà nói, thì dải đất miền Trung xương xẩu, ôm gọn núi rừng, đồng bằng, duyên hải đã phải giang tay đỡ lấy máu, xương trắng, khăn tang…là chốn xuất hiện nhiều nhà văn nhà thơ trẻ.Số đông vẫn là Huế và Quảng Nam.</p>
<p>Thế hệ giữa thập niên 1960 trở đi như những chồi xanh vươn thẳng trên “phiến đá chưa mòn” (1)và cho dẫu có nhiều khuynh hướng dị biệt trong sáng tạo, song gia tài họ để lại như “một miền trái chín” cho văn học nghệ thuật Miền Nam, không thể phủ nhận.</p>
<p>Riêng với thơ, phong cách của mỗi người một khác, nhưng có một điểm chung là họ không chạy theo cái mới, cách tân, tự do của Sáng Tạo; cũng không ôm giữ vẻ cổ kính của Văn Hóa Ngày Nay cố gắng níu kéo thời hoàng kim Tự Lực Văn Đoàn. Trong thơ của họ, hơi thở của những Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Xuân Diệu hay Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp chỉ phảng phất bên lề trang giấy. Họ có cái riêng, một phong cách không cổ điển, cũng không quá mới theo các trường phái Tây phương (mà Sáng Tạo khởi xướng).</p>
<p>Thơ ca trong thời kỳ này như một vườn hoa muôn màu vạn sắc: Viễn mơ, lãng mạn, tình tự dân tộc, phản kháng lẫn phản chiến… cùng nhau xuất hiện trên các tạp chí văn nghệ Miền Nam, mỗi người mỗi vẻ, mỗi phong cách riêng, như nhận xét của Huy Tưởng:“<i>nó vui nhộn, đa dạng, lôi cuốn, hấp dẫn và nhất là, tự do ngất trời!…từ đó tung ra nhiều trường phái, giọng điệu và sắc màu phong phú…đúng là trăm hoa đua nở thực sự mà không phải kiêng dè sợ sệt điều gì, để sau rốt nổi trội lên những tên tuổi ngời sáng, mỗi người đứng riêng một cõi, một tiếng thơ biệt lập nguy nga</i>” (<a href="https://damau.org/archives/44584">https://damau.org/archives/44584</a>).</p>
<p>Trong số <i>những tên tuổi ngời sáng</i>đó, tôi chú ý đến Hoàng Lộc, không phải vì ông được giải thi ca của Trung Tâm Văn Bút Việt Nam năm 1970, khi còn rất trẻ, (2) để khẳng định tên tuổi nơi trường văn trận bút, mà hơn hết là những bài thơ tình của ông, mượt mà như cô thôn nữ vừa tắm suối bước lên bãi cỏ non xanh, long lanh như giọt sương đọng trên nụ hoa hàm tiếu, như hương thơm thiếu nữ xuân thì. Tôi đọc và nhìn thấy như vậy từ giữa thập niên 1960 lúc còn là học sinh trung học, với những cơn tình mộng thuở đầu đời… cho tới tận hôm nay, đang bắt đầu chạm mốc bảy mươi, nhìn thấy thơ ông vẫn nồng nàn hơi thở tình yêu với những tình dài, tình ngắn, tình già, tình si, tình ngẩn ngơ ngơ ngẩn, tan bay theo một cơn gió, một nụ hoa, nơi chân cầu, một góc phố buồn…đến nỗi đã làm rung động biết bao trái tim giai nhân, như một cô nữ sinh Tường Vy đã chép những câu thơ của ông vào tập vở của mình:</p>
<p><i>Ta khổ quá chừng cô bé hỡi</i></p>
<p><i>Em như hoa cúc nở trong vườn</i></p>
<p><i>Mùa thu bay qua đời rất vội</i></p>
<p><i>Mà dấu tình chưa kịp lãng quên &#8230;</i></p>
<p>(<a href="http://saigonline.com/tho/interview/hoangloc.htm"><i>http://saigonline.com/tho/interview/hoangloc.htm</i></a><i>)</i></p>
<p>Những gì mắt ông vừa chạm vào bóng giai nhân, tức thì len vào tâm hồn ông, đánh thức trái tim ông để ngơ ngác ngẩn ngơ.Rồi với những cuộc tình đã qua, đang có và sắp tới cứ đầy ắp trong thơ ông, như thểđó là những tình của tâm tưởng và tâm bệnh.Bệnh tình.</p>
<p>Và như vậy, có thể nói rằng, Hoàng Lộc là thi sĩ duy nhất “sống chết” với thơ tình trong suốt cuộc đời cầm bút của ông.</p>
<p>Từ tập đầu tiên, Thơ Học Trò, xuất bản năm 1965 cho đến những bài thơ gần đây nhất, tình yêu luôn quấn chặt lấy ông. Nó là hơi thở, là máu thịt, là trái tim luôn làm ông rung động và tan chảy với những mối tình thấp thoáng trong ánh mắt và trí não. Vì vậy “xếp” ông vào ngăn nhà thơ tình ái cũng không mấy sai lạc? Bởi trên một trang mạng, ông đã khẳng định trong cuộc phỏng vấn ngắn: ““ <i>Tôi làm thơ tình từ thuở tưởng đã biết yêu. Sau vài ba cuộc tình, tôi nghĩ tôi biết yêu thật. Tôi tiếp tục làm thơ tình. Tuy vậy, đời sống vẫn có nhiều chuyện làm cho mình điêu đứng như chữ tình &#8211; nên lắm lúc, tôi có những xúc động khác…Có thể nói, như bạn tôi, cố thi sĩ Vũ Hữu Ðịnh : &#8221; tôi chỉ làm thơ khi tôi xúc động &#8220;. Với riêng tôì, hình như chữ tình dễ quyến rũ thơ tôi hơn !”</i><i> (</i><a href="http://saigonline.com/tho/interview/hoangloc.htm"><i>http://saigonline.com/tho/interview/hoangloc.htm</i></a><i>).</i></p>
<p><i></i>Và trên FB của ông, tôi đọc được mấy câu này, như một khẳng định một đời thơ.</p>
<p><i>Thơ cứu đời anh những lần hụt hẫng</i></p>
<p><i>Để giữ trái tim nguyên vẹn tới giờ</i><i></i></p>
<p>Nếu như Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương…thơ tình của họ là những man mácmây khói, những rung động còn dồn nén e ấp, lãng mạn từ nền văn hóa phương Đông vừa bước ra ngõ sáng phương Tây, đủ để người đọc có cảm giác êm đềm, vỗ về với một chút hụt hẫng, thẫn thờ, nhớ thương; hay Tình trong thơ Du Tử Lê, Nguyễn Tất Nhiên là những mất mát không thể tìm lại, với những đau đớn tột cùng; thì đến Hoàng Lộc, thơ tình là những bùng vỡ thăng hoa, là những ngậm ngùi tiếc nuối, là ca tụng nhan sắc như một hệ lụy kiếp người. Tình với ông khônglà thiên sứ trần truồng nhan sắc “<i>khách ngồi lại cùng em trong chốc nữa/Vội vàng chi, trăng sáng quá, khách ơi</i>”.Hay như tình khởi phát từ thị giác xa gần của Từ Thế Mộng như nét đẹp của trời ban tặng trần gian:</p>
<p><i>Ban mai</i></p>
<p><i>cõng áo lụa hồng</i></p>
<p><i>ngó em anh gửi cả lòng anh theo</i>”.</p>
<p>Và:</p>
<p><i>Áo trắng ngây thơ đôi vú nhỏ</i></p>
<p><i>Áo xanh mơn mởm mông non</i></p>
<p><i>Áo hồng chúm chím môi vừa nụ</i></p>
<p><i>Ôi gái tơ nào hoa chẳng thơm </i></p>
<p><i></i>(Từ ThếMộng &#8211; Gái tơ)</p>
<p>Đọc Hoàng Lộc, cũng không thấy tình kiểu “ba trợn” mà thiết tha của Nguyễn Bắc Sơn:</p>
<p><i>Ta vốn ghét đàn bà như ghét cứt</i></p>
<p><i>Nhưng vì sao ta lại yêu em?</i></p>
<p><i>Ôi mắt em nhìn như là bẩy chuột</i></p>
<p><i>Ta quàng xiên nên đã sa chân </i></p>
<p>(Nguyễn Bắc Sơn – Trên đường đến nhà Xuân Hồng)</p>
<p>Cũng không trần trụi để khơi gợi và chạm nhẹ vào sex như Linh Phương:</p>
<p><i>Đêm qua/ rớt xuống vai ngà/ Câu thơ tình/ đọng giữa tà áo em/ Cỏ hoa/ và bướm ngoan hiền/ Nương nhờ ngực/ chỗ xốp mềm/ nằm mơ/ Áo em/ cài cúc hững hờ/ Để cho gió/ nhẹ/ xoa bờ vú căng/ Môi em đỏ/ lúc anh hôn/ Ngã nghiêng/ trời đất Sài Gòn<br />
đêm qua/ Đêm qua/ trăng xế nguyệt tà/ Có hai người nói:“ Mình là của nhau”</i></p>
<p><i></i>(Linh Phương – Đêm qua rớt xuống vai ngà).</p>
<p>Ngược lại, tình của Hoàng Lộc đằm thắm, nhẹ nhàng, chân tình, sâu lắng với những gì đã qua đi hay sắp tới hay đang là. Cả quá khứ, hiện tại và tương lai đều hiển lộ sự ngưỡng vọng nồng nàn, không điểm dừng về phái đẹp.Sự nồng cháy là điểm tựa cho tình si nhưng chưa đến dại khờ. Trong một bài thơ, ông thú nhận biết yêu từ “thuở mới lớn” khi còn là cậu học sinh có trái tim bắt đầu va đập lộn xộn không thành nhịp. Nó khởi đi bằng tận cùng cảm xúc, từ nhìn thấy để rung động sau đó:</p>
<p><i>Thuở mới lớn anh rình cô bạn học</i></p>
<p><i>Tháng ngày ai thơm áo trắng không ngờ</i></p>
<p><i>Khi cô thả tóc thề ngang cửa lớp</i></p>
<p><i>Là khi lòng cậu bé rối như tơ. </i></p>
<p>(Chuyện người đi theo thơ)</p>
<p>Bài thơ không thấy ghi ngày tháng, nên không biết ông làm từ lúc nào, nhưng chắc chắn cách đây không dưới 50 năm?</p>
<p>Chínhmái “<i>tóc thề ngang cửa lớp</i>” là tác nhân chính để thơ tình của ông chiếm riêng một cõi, xuyên thấu đời thơ của ông:</p>
<p><i>Không thể theo nhau, thôi đừng ngó lại</i></p>
<p><i>Cô đi theo chồng &#8211; anh đi theo thơ</i>”.</p>
<p>Sự khẳng định của ông là hệ lụy của một cuộc chơi dằng dặc. Và, ông chấp nhận làm một cuộc hành trình miên viễn nơi cõi mộng mị ba đào với những bóng hình bay ngang qua đời ông. Sự với cầm không nắm bắt được (ở trên) như tiếng chim họa mi đang hót rộn ràng, bỗng dưng nín bặt, như nụ hoa còn ngậm sương, bỗng tan chảy đâu đó quanh ông không nhìn thấy nữa. Cái còn lại cho ông là những mùi hương bay theo những bước đi. “<i>Đi theo thơ</i>”!</p>
<p>“<i>Rình</i>” cô bạn học đi ngang cửa lớp chưa hẳn là yêu hay yêu thầm, bởi chưa cầm tay bày tỏ, chưa đón nhận được nụ hôn đầu đời. Đó là những rung-động-xao-xuyến-cuộc-yêu một chiều, cuộc yêu bằng mắt bị đứt khúc như kiểu đứng bên này sông ngó bóng nàng bên kia khi chiều tắt nắng với chút bồi hồi, xúc động, man mác! Đó chỉ là một thị chứng của tình; thuộc nhóm <i>tình si</i>.</p>
<p>Trái tim Hoàng Lộc hình không có vách ngăn, bởi mỗi khi thần xác ngoại giới xuất hiện, thì liền ngay đó, giẫm nát phần hồn của ông, rồi nẩy bật ra tiếng thơ từ những ẩn ức nội tại trong tâm hồn ông? Điều này cho ta thấy, thế giới thi ca của Hoàng Lộc không hề là những ẩn ngôn. Thơ đến với ông và thoát ra là cả một phơi bày nội tâm luôn hướng đến cái đẹp. Cái mà cả thế giới mãi đổ xô kiếm tìm và chưa bao giờ định hình, thỏa mãn. Nó ở thật gần và cũng xa hun hút khiến thi sĩ luôn hụt hơi, luôn bị ám thị.</p>
<p><i>Đã biết rằng yêu nữ sinh rất khổ</i></p>
<p><i>Nào hay yêu cô giáo lại khổ hơn</i></p>
<p><i>…Ai áo trắng của ngày xưa biền biệt</i></p>
<p><i>Vang trong hồn nỗi nhớ cuối tà bay</i></p>
<p><i>Để thơ dại tưởng sắc màu chỉ một</i></p>
<p><i>Trắng không màu là màu trắng không phai</i></p>
<p>(Gửi cô giáo)</p>
<p>Câu cuối cùng đẹp và trong suốt tựa khí trời, tinh khiết như giọt sương mai mà không hề vẩn bụi “thiên khổ lụy, vạn cổ sầu” vì tình, như mấy câu thơ Bùi Giáng khóc Marylin Monroe, dẫu là “khóc giỡn”:</p>
<p><i>Giữa hư vô nếu em còn</i></p>
<p><i>Nhớ ta em gửi cái hồn cho ta</i></p>
<p><i>Úp môi ôm mặt khóc òa</i></p>
<p><i>Cồn lê lên miệng là ba bốn lần</i></p>
<p><i></i>(Bùi Giáng – Bốn lần)</p>
<p>Ở nơi ông, <i>trắng không màu là màu trắng không phai</i>, phải chăng là cuộc lữ thi ca tình tang tình tứ không mệt mỏi cả đời ông?</p>
<p>Hơn một ngàn năm trước, hoàng thành thi ca phương Đông lấp lánh một Lý Hạ khởi cuộc ngao du thi thơ một thuở nơi <i>Đài Thành một thuở Thi Thơ/ Xe Vàng còn mộng quanh tà áo Thu/ Tóc Mai về, sương Ngô điểm mái/ Thân tàn như cỏ dại bờ đê</i>…(Lý Hạ, bản dịch Tuệ Sỹ) với những mộng mị quỷ thi, hướng đến một thế giới cực kỳ quỷ dị, mãi vật vờ trong chốn u minh âm âm những bi lụy… thì hơn một ngàn năm sau khởi cuộc của Hoàng Lộc là những bay bổng trắng phau một trời mê mệt với tình một cách diễm lệ, chưa bao giờ nhòa phai; bởi tình từ thiếu thời đến thanh xuân, qua một thời bi thảm trại tù… và tới nay nơi xứ người, tình vẫn luôn sóng đôi với ông bước qua trời đông tuyết giá, qua những con đường mùa thu lá phong vàng, mùa xuân bướm hoa. Tình và ông cùng khoác vai nhau lúc ấm áp, khi lạnh buốt… như hai bóng hình trên con đường vạn dặm với những nhan sắc trần gian mà cả hai được “diễm phúc” diện kiến.</p>
<p>Không rõ tới khi nào thì trái tim ông giảm nhịp độ rạo rực để tình ông có những phút thanh lặng bên thơ và nhìn lại như ông tự hỏi rồi tự trả lời bằng những ngôn ngữ cười cợt, bông đùa, dù rằng, những cuộc tình bằng mắt ấy, nhiều khi cũng làm cho trái tim ông rơm rớm những run rẩy?</p>
<p><i>Ta đã ớn rồi cái nạn văn chương<br />
bốn mươi mấy năm đi hoài không tới<br />
bên quán trần gian ai người đứng đợi<br />
có phải là em, cô vợ trần thân<br />
có phải là em, thường gọi tình nhân?<br />
ta mãi lơ mơ suốt một đời tình<br />
mãi lưu lạc những hiên nhà gái đẹp<br />
bởi thứ giả vẫn nhiều hơn thứ thiệt<br />
ngó trăm lần không rõ nổi vàng thau<br />
nếu em hỏi ta ai là tình đầu<br />
ta sẽ trả lời không ai tình cuối<br />
như chú ngựa hoang mấy trời dong ruổi<br />
gặm miếng cỏ nào cũng thấy thơm ngon<br />
(bởi muôn năm ta thiếu đói trong hồn!) </i></p>
<p>(Thơ viết dở cho vợ và tình nhân)</p>
<p>Ở một bài thơ khác, hồi tưởng lại mối tình cũ (không rõ thứ bao nhiêu) tan vỡ, Hoàng Lộc</p>
<p>không sử dụng ngôn ngữ bi lụy mà “cà rỡn” đến tận cùng cà rỡn, dốc bầu tâm sự với thế hệ thứ ba là cháu nội:</p>
<p><i>Tụi bây đâu cần biết ta là ai?</i><i><br />
ta, như ông nội (mà hơn ông nội<br />
chẳng quan trọng gì tiếng xưng tiếng gọi<br />
ta là ai thì cũng chẳng ăn nhằm)</i></p>
<p><i>chỉ biết bà tụi bây thời thanh xuân</i><i><br />
như trang kinh thi lắm thằng chụp giật<br />
ta cũng có lần qua nhà đọc được<br />
để đến nằm lòng từng chữ từng câu</i></p>
<p><i>chỉ biết bà tụi bây thời khuynh quốc</i><i><br />
lòng hoa thơm học một tỏa mười<br />
để hằng đêm ta chịu trời thức suốt<br />
làm ngọn đèn chong cho bà bây vui</i></p>
<p><i>ta hồn nhiên yêu, hồn nhiên khóc</i><i><br />
khi bà tụi bây yêu để lấy chồng<br />
ông nội tụi bây ranh ma hết biết<br />
bưng bà nội bây về bên kia sông</i></p>
<p><i>ấy thế mà nên giang hồ đại loạn</i><i><br />
dẫu chút tình kia mơ hồ như mây<br />
cả đời thơ ta là đời ân oán<br />
(sinh du côn hơn ông nội tụi mày)</i></p>
<p><i>hãy nhận giùm ta một lời tạ lỗi</i><i><br />
chuyện đời trước là chuyện chẳng may<br />
tụi mày lớn lên chắc nhiều điều muốn hỏi<br />
xin ngó lên trời mà hỏi mây bay… </i></p>
<p><i>(</i>Gửi lũ cháu một phu nhân)</p>
<p>Bàn về thơ tình và đời tình của Hoàng Lộc, có thể từ sáng tới chiều, từ tuần này sang tháng khác vẫn không thể nào luận cho tới hồi kết được. Và vì vậy, có lẽ mượn những nhận xét sau của bạn văn, đã viết về thơ và đời thơ của ông trên trang <a href="https://thotinhhoangloc.wordpress.com/"><i>https://thotinhhoangloc.wordpress.com/</i></a>để ngã mũ bái phục tình thơ và thơ tình của ông:</p>
<p>-Du Tử Lê: “<i>Không gian lãng mạn với ngôi ngữ mới và diễn tả trung thực, khiến những trang thơ tình của ông là những trang thơ tình rất đẹp. Tính đẹp của thơ tình Hoàng Lộc, đến nay không còn là một nghi vấn cho bất cứ ai từng đọc thơ ông”.</i></p>
<p><i>&#8211;</i>Phan Xuân Sinh: “<i>Viết về Hoàng Lộc thì phải nói đến thơ tình. Mấy chục năm nay Hoàng Lộc vẫn mangmãi cái nòi tình nầy trong thơ. Anh đã trau chuốt nó, đã nắn nót nó, nên nó thành lão luyện, thượng thừa như một người luyện kiếm đến hồi không cần kiếm trong tay, chỉ cầm một cành cây vẫn chém đá ngọt như róc mía. Dù rằng cố tìm trong thơ anh một sự ẩn hiện khác, chứa một nội dung khác thì thơ tình của anh vẫn là số một</i>”.</p>
<p>-Trần Doãn Nho: “<i>“…tứ thơ, không khí thơ và trái tim nhà thơ thì dường như vẫn thế: yêu. Chan chứa yêu, đằm thắm yêu, say sưa yêu. Yêu không biết mệt mỏi. Ta có thể nói, anh bày ra &#8220;cuộc yêu&#8221; trong đời của anh và trong thơ của anh. Ở hoàn cảnh nào, Hoàng Lộc cũng có thể làm thơ tình một cách hồn nhiên, một cách bình thường, y như thể thế giới này không có gì khác hơn ngoài tình yêu trai gái, bởi vì suốt đời anh là một “đời tình”: Ta mãi lơ mơ suốt một đời tình/ Mãi lưu lạc những hiên nhà gái đẹp”.</i></p>
<p>Bài thơ Mệnh Phụ là một minh chứng cho những nhận xét trên:</p>
<p><i>Em tóc gió trần gian kia quạnh quẽ<br />
</i><i>xưa tiểu thơ &#8211; nay mệnh phụ bên trời<br />
khi diện kiến, ta run lòng ngưỡng mộ<br />
nỗi bồng bềnh đau sắc áo hoa khôi<br />
ta, có lẽ, bút nghiên chừng đã hỏng<br />
tưởng không còn riêng ánh mắt tình si<br />
sao vướng vất tiếng cười em sóng cuộn<br />
mà oan khiên xanh ngắt buổi xa lìa<br />
kể từ đó dấu đời ta mộng ước<br />
quá chừng em áo mỏng thuở về ai<br />
ta muốn chết một lần cho sắc nước<br />
để em còn nguyên vẹn giữa tàn phai.</i></p>
<p>_______________________</p>
<p>(1) Số chủ đề của tạp chí Văn về các nhà văn trẻ.</p>
<p>(2) Giải thưởng của TT Văn Bút Việt Nam tặng Hoàng Lộc với tác phẩm “Trái tim còn lại”</p>
<p><b>Tiểu sử:</b></p>
<p>Tuổi Quý Mùi (1943) Quê Hội An, Quảng Nam</p>
<p>Làm thơ, làm lính trước 1975. Sau 75 ở tù cải tạo và đang lưu lạc xứ người. Định cư tại Memphis Tennessee từ 1993.</p>
<p>Khởi viết năm 1958 trên Văn Nghệ Tiền Phong, Thời Nay. Sau đó có thơ trên Bách Khoa, Văn, Văn Học, Khởi Hành  tại Sài Gòn&#8230;Một số thơ trên các tạp chí văn học hải ngoại như Hợp Lưu, Văn Học, Văn, Thế Kỷ 21… và các trang mạng văn chương.</p>
<p><b>Tác phẩm đã in:</b></p>
<p>&#8211; Trái tim Còn Lại (giải thi ca Trung Tâm Văn Bút Việt Nam 1970)</p>
<p>&#8211; Qua Mấy Trời Sương Mưa, Văn Mới xuất bản 1999 ở Mỹ</p>
<p>&#8211; Cho Dẫu Phù Vân, nhà xuất bản Hội Nhà Văn Việt Nam 2012</p>
<p>&#8211; Ngắn ngắn Tình Si, nhà xuất Bản Hội Nhà Văn Việt Nam 2016</p>
<p><b>Tác phẩm sẽ in:</b></p>
<p>&#8211; Thơ Tình Ở Hội An</p>
<p>&#8211; Thơ Viết Bên Trời,</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2018</p>
<p><i></i><a name="_GoBack"></a></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/nguyen-le-uyn-hong-loc-ngan-di-tnh-si/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nguyễn Lệ Uyên: Trang Sách và Những Giấc Mơ Bay (Tập I)</title>
		<link>https://t-van.net/37583/</link>
					<comments>https://t-van.net/37583/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Lệ Uyên]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 12 Nov 2018 12:10:57 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Tủ Sách T.Vấn & Bạn Hữu]]></category>
		<category><![CDATA[nguyễn lệ uyên trang sách]]></category>
		<category><![CDATA[tủ sách tv&bh]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=37583</guid>

					<description><![CDATA[Xin Bấm Vào Đây Để Mở Hoặc Tải Về Máy Nguyễn Lệ Uyên: Trang Sách và Những Giấc Mơ Bay -Tập Một (Viết Về 17 tác giả của văn học miền Nam)  Giới Thiệu: (Tủ Sách T.Vấn &#38; Bạn Hữu)  Nhằm mục đích lưu giữ và phổ biến rộng rãi các tác phẩm văn học [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong>Xin Bấm Vào Đây Để Mở Hoặc Tải Về Máy</strong></p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://cdn.t-van.net/2023/06/NLU-Trang-Sach-I-final.pdf"><strong>Nguyễn Lệ Uyên: Trang Sách và Những Giấc Mơ Bay -Tập Một</strong></a></p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://cdn.t-van.net/2023/06/NLU-Trang-Sach-I-final.pdf"><strong>(Viết Về 17 tác giả của văn học miền Nam)</strong></a></p>
<p style="text-align: center;">
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/06/Trang-Sach-1-bia-truoc-final.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" class="alignnone size-medium wp-image-63078" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/06/Trang-Sach-1-bia-truoc-final-249x300.jpg?strip=all" alt="" width="249" height="300" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/06/Trang-Sach-1-bia-truoc-final-249x300.jpg?strip=all 249w, https://cdn.t-van.net/2023/06/Trang-Sach-1-bia-truoc-final-851x1024.jpg 851w, https://cdn.t-van.net/2023/06/Trang-Sach-1-bia-truoc-final-768x924.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2023/06/Trang-Sach-1-bia-truoc-final-1276x1536.jpg 1276w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/06/Trang-Sach-1-bia-truoc-final.jpg?strip=all 1595w" sizes="(max-width: 249px) 100vw, 249px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/06/Trang-Sach-1-bia-sau-final.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" class="alignnone size-medium wp-image-63079" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/06/Trang-Sach-1-bia-sau-final-249x300.jpg?strip=all" alt="" width="249" height="300" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/06/Trang-Sach-1-bia-sau-final-249x300.jpg?strip=all 249w, https://cdn.t-van.net/2023/06/Trang-Sach-1-bia-sau-final-851x1024.jpg 851w, https://cdn.t-van.net/2023/06/Trang-Sach-1-bia-sau-final-768x924.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2023/06/Trang-Sach-1-bia-sau-final-1276x1536.jpg 1276w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/06/Trang-Sach-1-bia-sau-final.jpg?strip=all 1595w" sizes="(max-width: 249px) 100vw, 249px" /></a></p>
<p><strong> Giới Thiệu:<br />
</strong></p>
<p><strong>(Tủ Sách T.Vấn &amp; Bạn Hữu)</strong></p>
<p><strong> </strong>Nhằm mục đích lưu giữ và phổ biến rộng rãi các tác phẩm văn học giá trị đến mọi tầng lớp độc giả, nhất là độc giả thuộc các thế hệ trẻ ở trong nước, với sự cộng tác của nhà văn Nguyễn Lệ Uyên, Tủ Sách Điện Tử TV&amp;BH sẽ lần lượt giới thiệu tòan bộ nội dung <em>“Trang Sách &amp; Những Giấc Mơ Bay”</em> gồm 3 tập, viết về những cây bút đã từng làm nên diện mạo một nền văn học miền Nam mà mãi cho đến nay vẫn còn được nhắc đến bởi các nhà nghiên cứu văn học cả trong lẫn ngòai nước.</p>
<p>Đây là  một công trình đầy tâm huyết của nhà văn Nguyễn Lệ Uyên, người được các bạn văn cùng thời đặt tên là “con sói già cô đơn”. Bất chấp mọi khó khăn trong cuộc sống thường ngày (nhà văn NLU hiện đang sinh sống ở Việt Nam), bất chấp tuổi tác (các bạn văn cùng thời với ông, nếu còn sống, phần lớn đều đã gác bút an dưỡng tuổi già), bất chấp bệnh tật (ở tuổi của ông, ai mà không bệnh này hay tật kia, chưa chết đã là một điều ngạc nhiên), bất chấp những khó khăn trong việc sưu tập tài liệu (như nhà văn Trần Hòai Thư đã nêu rõ trong lời tựa, ngay đến những người được NLU nhắc đến cũng không lưu giữ được tác phẩm của mình huống chi người làm công việc nhận định, phê bình), bất chấp nhiều trở ngại khác lẽ ra không thể, không đáng xẩy ra với một người làm văn học, ông đã hòan tất công việc như tâm nguyện của ông với tư cách của một trong số ít người còn sống sót của thế hệ các nhà văn miền Nam.</p>
<p>Tủ Sách Điện Tử T.Vấn &amp; Bạn Hữu xin được tiếp tay cùng nhà văn gởi tới độc giả Việt Nam ở khắp nơi, trong cũng như ngòai nước, công trình tâm huyết này. Đồng thời, ngòai chức năng phổ biến, tủ sách sẽ cố gắng làm công việc lưu trữ tác phẩm để các thế hệ tương lai có cơ hội tìm hiểu về một nền văn học, tuy bị bức tử, nhưng đã không chịu nằm đó chờ chết như những <em>kẻ sát nhân</em> mong muốn.</p>
<p><strong> </strong><strong>Tủ Sách T.Vấn &amp; Bạn Hữu</strong></p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://t-van.net/?cat=343" target="_blank" rel="noopener"><strong>Tủ Sách T.Vấn &amp; Bạn Hữu</strong></a></p>
<p><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/11/30-tac-pham-11-2017.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" class="size-medium wp-image-33418 aligncenter" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/11/30-tac-pham-11-2017-300x229.jpg?strip=all" alt="" width="300" height="229" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/11/30-tac-pham-11-2017-300x229.jpg?strip=all 300w, https://cdn.t-van.net/2017/11/30-tac-pham-11-2017-768x586.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2017/11/30-tac-pham-11-2017-1024x782.jpg 1024w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/11/30-tac-pham-11-2017.jpg?strip=all 600w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></a></p>
<p>©T.Vấn 2018</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/37583/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nguyễn Lệ Uy&#234;n: TRẦN DO&#195;N NHO NGƯỜI DẪN NẮNG ĐI CHƠI</title>
		<link>https://t-van.net/nguyen-le-uyn-tran-don-nho-nguoi-dan-nang-di-choi/</link>
					<comments>https://t-van.net/nguyen-le-uyn-tran-don-nho-nguoi-dan-nang-di-choi/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Lệ Uyên]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 02 Nov 2018 11:35:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[nguyễn lệ uyên trang sách]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=37473</guid>

					<description><![CDATA[Photo: Nguyễn Huệ Chi “Chạy: biết bao thảm cảnh, nhất là thảm cảnh thuyền nhân rúng động thế giới. Chạy: một cuộc “bỏ phiếu bằng chân” vô tiền khoáng hậu.” (Trần Doãn Nho) Trần Doãn Nho, tôi không biết gì nhiều về anh, ngoại trừ những truyện ngắn trên Văn đọc được trước năm 75. [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/11/clip_image002.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="margin-right: auto; margin-left: auto; float: none; display: block; background-image: none;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/11/clip_image002_thumb.jpg?strip=all&fit=193%2C262" alt="clip_image002" width="193" height="262" border="0" /></a></p>
<p align="center">Photo: Nguyễn Huệ Chi</p>
<p><i>“Chạy: biết bao thảm cảnh, nhất là thảm cảnh thuyền nhân rúng động thế giới. </i></p>
<p><i>Chạy: một cuộc “bỏ phiếu bằng chân” vô tiền khoáng hậu.</i>”</p>
<p>(Trần Doãn Nho)</p>
<p>Trần Doãn Nho, tôi không biết gì nhiều về anh, ngoại trừ những truyện ngắn trên Văn đọc được trước năm 75. Và chỉ biết mang máng anh đã từng là nhà giáo như chúng tôi.</p>
<p>Nhưng có lẽ, ấn tượng nhất phải kể đến bài viết của anh, có tựa <i>Khuôn mặt chiến tranh trong tác phẩm Y Uyên</i> ký tên Trần Hữu Thục (Văn số đặc biệt <i>Thương nhớ Y Uyên</i>, số 129 ra ngày 1.5.1969). Nói ấn tượng, bởi trước cái chết của một nhà văn trẻ đã để lại niềm thương tiếc cho nhiều người nhất là những người cầm súng viết văn.</p>
<p>Cùng với những “tên tuổi lớn” như Nguyễn Mạnh Côn, Thanh Tâm Tuyền, Châu Hải Kỳ, Trùng Dương…trong số báo này; khi phân tích các tác phẩm của Y Uyên, anh có cách nhìn khác hơn, gần và thật hơn khi phơi bóc bối cảnh và các nhân vật trong truyện (YU) theo độ sáng tối rõ ràng và chân thật như người trong cuộc, so với cách nhìn “phán xét” của các cây bút đàn anh; bởi anh cũng đang nhìn thấy rõ ràng khuôn mặt ấy, tay chân cũng sắp rờ chạm vào cây súng và đôi giày bot.</p>
<p>Chính vì anh đã sống với nên có phần hiểu rất rõ những nhân vật trong các tác phẩm của người vừa ngã xuống khi đặt bút lên trang giấy, như anh đã thú nhận: “<i>…Trước mặt Y Uyên có lửa, sau lưng anh cũng có lửa, chung quanh đầy máu, chúng ta ở giữa ngây ngất, tê dại. Tôi viết để tưởng niệm Y Uyên trong khung cảnh hừng hực đó. Tôi không viết những lời phê bình anh. Tôi chỉ viết lên những xúc động về chính tôi, một người như bao người khác, đang chấp chới giữa thực trạng chiến tranh”</i> (Văn số 129, trg 39).</p>
<p>Trần Doãn Nho cuốn hút tôi từ đó, chỉ vì anh viết phê bình văn học mà như đang làm thơ, mỗi câu chữ đều xoáy động tâm can người đọc (là tôi): một chút thê thiết, một chút hờn tủi về thân phận con người trong cõi nhân gian khi anh khẳng định “<i>Y Uyên chắc không buồn, nhưng dòng suối, những đám cỏ lơ thơ, xơ xác ở đó buồn</i>” ở đoạn mở đầu bài viết về tác phẩm của một nhà văn cùng thế hệ! Anh không đẩy niềm uất hận đau thương lên cao như Lê Văn Chính, sướt mướt như Mang Viên Long, Trần Huiền Ân hay Cao Thoại Châu… (Văn cùng số); anh cũng không đổ lỗi cho ai và đặt những câu hỏi tại sao; chỉ vừa đủ, chừng mực. Thoạt đọc tưởng anh đứng ngoài những rung cảm đau thương, nhưng kỳ thực len xoáy đến cả những vật vô tri là ngọn cỏ dòng suối. Thời đó, còn là sinh viên bậc cao học, tôi nghĩ anh có cách phê bình lạ, mới mẻ, có vẻ dửng dưng lạnh lùng khi chỉ mới lướt qua, nhưng kỳ thực mang tính “ẩn dụ” rất cao trong cách diễn đạt. Xin dẫn lại phần mở đầu bài viết của anh: “<i>Lúc bây giờ, cái chết nào cũng đột ngột như đốm lửa tàn thuốc chợt tắt ngúm khi vứt vào vũng nước trong bóng đêm. Vừa sáng lóe lên đó và hết. Bốn viên đạn, và Y Uyên đã chết như thế. Chết bên một dòng suối. Y Uyên chắc không buồn, nhưng dòng suối, những đám cỏ lơ thơ, xơ xác ở đó buồn. Những người quen anh buồn. Những người không quen anh cũng buồn…</i>” (Văn, 129, trg 30).</p>
<p>Chỉ chừng đó thôi về một Trần Doãn Nho trong tôi, không có gì để nhớ đến sau những biến cố đau thương, dồn dập đổ ập xuống xứ sở này.</p>
<p>Mãi cho đến khi tạp chí Thư Quán Bản Thảo thực hiện số chủ đề <i>20 năm Văn Học Miền Nam</i> (số 63), ông chủ bút Trần Hoài Thư giao cho tôi điều hợp <i>Những Ý Kiến Chung Quanh 20 Năm VHMN </i>với sự tham dự của Luân Hoán, Trần Văn Nam (đã bước qua Bờ Bên Kia), Trần Doãn Nho, Trần Hoài Thư, NguyễnVy Khanh, Lữ Quỳnh, Phạm Văn Nhàn, Trần Thị Nguyệt Mai… tôi mới có dịp liên lạc với anh và trò chuyện qua email.</p>
<p>Đến lúc này tôi mới “tá hỏa” khi anh tiết lộ rằng “tôi bị động viên khóa 6/70 Thủ Đức”! Đó là khóa dài nhất (hơn 10 tháng) tại quân trường Thủ Đức. Trong khóa có rất nhiều các “cây bút trẻ” thụ huấn: Tôi cùng Cao Huy Khanh, Viêm Tịnh, Nguyễn Chí Kham, Nguyễn Thanh Trịnh (tức Đoàn Thạch Biền), Vũ Đức Sao Biển và nhiều anh em khác… Chúng tôi hay gặp nhau ở bãi tập, khu Dân sinh… Nhưng tuyệt nhiên chẳng ai biết có một Trần Hữu Thục cùng khóa?</p>
<p>Trong thư mới nhất, Trần Doãn Nho cho tôi biết thêm vài chi tiết: “ <i>Tôi vào Sài Gòn ghi danh Cao Học đầu niên học 1968-1969. Viết lăng nhăng ở vài báo hàng ngày (Chính Luận, Điện Tín, Công Luận) kiếm tiền ăn. Đầu năm 1969, được tuyển vào VOF(Voice of Freedom) qua một kỳ thi do Dương Nghiễm Mậu giới thiệu; trong ban biên tập, có Nhã Ca, Dương Nghiễm Mậu, chị Tâm (vợ VĐSB)&#8230;Cuối năm 1969, được Đại Học Văn Khoa Huế gọi về làm Phụ Khảo Triết một thời gian. Khi hết hạn hoãn dịch, thay vì chọn gia hạn, tôi chọn nhập ngũ để rồi biệt phái. Vì thế mà đi khóa 6/70. Ra trường, vì trục trặc giấy tờ, họ chuyển về Hành Chánh Quân Y một thời gian (3 tháng), sau đó biệt phái về Đại Học Văn Khoa Huế dạy học cho đến tháng 4/75</i><i>.</i><i> Tóm lại, đời quân ngũ ngắn.</i></p>
<p><i>Tuy nhiên, nhờ qua trường Bộ Binh và trở thành sĩ quan, mùa hè đỏ lửa năm 1972, tôi tự nguyện ở lại Huế, đóng góp một phần với chính quyền Huế trong công tác dân vận và sinh viên trong khi cả thành phố di tản vào Đà Nẵng.</i>(thư ngày 22/9/2018).</p>
<p>Cuộc đời lắm “gian truân”của Trần Doãn Nho lôi kéo theo một Trần Hữu Thục xơ xác sau ngày 30/4 bi thảm, như bao triệu con người khác ở miền Nam. Không còn hơi sức với chữ nghĩa. Cho đến khi anh an cư trên đất khách (năm 1993), không còn bị theo dõi, dòm ngó canh chừng của đám công an mật; có công ăn việc làm, Trần Doãn Nho mới kéo Trần Hữu Thục ra trên các trang mạng, trên báo giấy…</p>
<p>Anh cầm bút trở lại. Viết đều và khỏe. Đủ các thể loại, từ tản văn, truyện ngắn, truyện dài, tùy bút chí đến biên khảo, phê bình văn học. Và thể loại nào cũng đậm vẻ tài hoa; đặc biệt là phê bình, sắc nét và bén như <i>thanh quất</i> trong tay Bát Lê ở truyện Chém Treo Ngành của Nguyễn Tuân.</p>
<p>Sau khi Trung Niên Thi Sĩ Bùi Giáng Giúi <i>rong chơi</i> ở xứ sở Đười Ươi (<i>Sài Gòn Chợ Lớn rong chơi/ Đi lên đi xuống đã đời du côn</i>), ông Đoàn Tử Huyến mới gom nhặt tất cả các bài viết của các ông nhà văn nhà báo phe ta lẫn phe địch, nhét vào tập Bùi Giáng Trong Cõi Người Ta <b>(1)</b> dày gần 700 trang giấy, phần đầu trích thơ Bùi Giáng , phần sau là nhận định, phê bình của 44 vị cầm bút có tên tuổi hẳn hoi; và thảy đều vận dụng tất cả các mỹ từ có và không có trong tiếng Việt, hết lời ca ngợi cõi thơ của riêng Bùi Giáng “<i>làm thơ chỉ là một cách dìu ba đào về chân trời khác</i>” thì duy chỉ có Thụy Khuê và Trần Hữu Thục là có đủ tỉnh táo để đánh giá cõi thơ Bùi Giáng một cách đúng đắn của một nhà phê bình văn học.</p>
<p>Trần Hữu Thục vẽ chân dung Bùi Giáng qua các nhân vật Kim Dung: “<i>Bùi Giáng thân xác đã tiêu tán, nhưng Bùi-Giáng-như-một-hiện-sinh vẫn còn đâu đó, nghêu ngao ca hát, làm thơ và sống hồn nhiên trên các đường phố Sài Gòn. Một Sài Gòn có Bùi Giáng và một Bùi Giáng có Sài Gòn… Ngẫm mà xem, ta có thể tìm thấy ở Bùi Giáng khi thì một chút cuồng ngạo nghịch thường <u>hoàngdượcsư</u>, khi thì lém lỉnh hoàngdung, khi thì ngờ nghệch <u>quáchtỉnh</u>, khi thì đầy cả trào lộng <u>lãongoanđồng</u>, khi thì chân chính, hào sảng, trượng phu <u>hồngthấtcông</u>, khi thì quái đản kiểu mấy quái nhân luyện võ trong hang động, khi thì điên tàn, thống hận<u>tạtốn</u>&#8230;Ngẫm mà xem, ông sống đó cũng như ông mất đi. Ông như có đó mà như không hề có đó. Kẻ sĩ hay người điên. Nhà thơ hay triết nhân. Ông sống giữa thế kỷ này hay một ngàn, hai ngàn năm trước….</i>” (Bùi Giáng giữa chúng ta &#8211; http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=344&amp;rb=0103).</p>
<p>Anh cũng không ngần ngại chỉ ra: “<i>Nói cho rõ ràng ra, thơ của Bùi Giáng dở. Trừ một số câu thơ hay &#8211; chưa hẳn là rất hay -, còn lại hầu hết thơ ông đều dở. Tôi có cảm tưởng rất nhiều câu thơ ông làm chẳng khác gì những câu thơ ngây ngô của mình khi mới bắt đầu tập tễnh làm thơ hồi còn học trò. Thậm chí có nhiều câu hệt như các em &#8220;ma-ri-sến&#8221; làm thơ tặng tình nhân. Vần điệu ráp nối tùy tiện, ý tứ lại tầm thường. Chúng ta thử đọc lại một vài câu:</i></p>
<p><i><u>ngô nghê</u></i><i>:</i></p>
<p><i>Giật mình lúc chợt nghĩ ra</i></p>
<p><i>Rằng toàn thân thuộc đã qua đời rồi.</i><i></i></p>
<p><i><u>gượng ép chữ cho có vần</u></i><i>:</i></p>
<p><i>Thưa em ngôn ngữ quặt què</i></p>
<p><i>Làm sao nói được <u>nghiệp nghề</u> người điên</i><i></i></p>
<p><i><u>lập lại (vần)</u></i><i>:</i></p>
<p><i>Non nửa thế kỷ xa <u>quê</u></i><i></i></p>
<p><i>Mà chưa có dịp về <u>quê</u> một lần</i><i></i></p>
<p><i><u>nói nhăng nói cuội</u></i><i>:</i></p>
<p><i>Một hôm gầu guốc gầm ghì</i></p>
<p><i>hai hôm gần gũi cũng vì ba hôm</i></p>
<p><i>Nhưng Bùi Giáng có cái dở riêng, phải nói là rất riêng, của Bùi Giáng. Và ông không che dấu cái dở của mình. Không bao giờ. Chẳng những thế, ông lại còn cố ý phô bày nó ra, phô bày một cách chân tình, hồn nhiên, toàn diện</i>” (đường dẫn trên). Điều này Trần Doãn Nho có lý, nếu như chúng ta thử đưa ra so sánh giữa 2 câu thơ của Bùi Giáng và Thu Bồn đều viết về Huế; nhưng rung cảm với Huế, mỗi người mỗi vẻ khác nhau:</p>
<p><i>Dạ thưa xứ Huế bây giờ</i></p>
<p><i>Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương</i></p>
<p>(Bùi Giáng)</p>
<p><i>Con sông dùng dằng con sông không chảy</i></p>
<p><i>Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu</i></p>
<p>(Thu Bồn – Tạm Biệt)</p>
<p>Trên trang Diễn Đàn Thế Kỷ, số 29/9/2018 kỷ niệm 3 năm ngày mất của Võ Phiến, anh có những nhận xét khá chính xác về văn phong của “nhà văn lớn” này, mà trước đây nhiều người đều nói Võ Phiến ngồi “chẻ văn thành sợi tóc làm tư”. Dĩ nhiên, có người không đồng ý về lối nhìn nhận như trên, nhưng đa phần, từ truyện, đến viết ngắn, dài của Võ Phiến cứ nha nhẩn không đầu đuôi, như cuộn rơm ngồi tháo ra từng sợi, thấy đầu này còn hột lúa, chỗ kia cái gié bị dập, chỗ nọ dính chút bùn… Ông dắt người đọc lơn tơn đi trong sáng sớm dày sương, qua giữa trưa bốc khói đến tận chiều tối… có khi chưa thấy đường ngõ!</p>
<p>Và Trần Hữu Thục đã chỉ ra: “<i>Thế giới trong tác phẩm của Võ Phiến là thế giới bề bộn chi tiết: việc có, sự việc có, vật có, sự vật có, rồi những ý nghĩ thoáng qua, những nhớ, những tiếc, những trạng thái tâm lý tủn mủn tỉ mỉ, chợt buồn chợt vui, chợt băn khoăn, chợt xao xuyến. Đọc văn ông, chúng ta sốt ruột đợi một chuyện gì đó đáng đồng tiền bát gạo xảy ra: một cuộc tình, một tấn thảm kịch hay ít nhất cũng là một biến cố có ý nghĩa nào đó. Nhưng không. Ông nhẩn nha, nhẩn nha kể chuyện “trong nhà ngoài phố” y như thế giới này cứ thế, chẳng có gì quan trọng lắm, ghê gớm lắm. Võ Phiến bắt ta nhìn vào vật này, rồi nghe thứ âm thanh gì ở một xó xỉnh nọ. Ông bắt ta rờ cái này, thoắt cái, nhớ đến chuyện khác. Chuyện con kiến, tiếng thở, cái hắt hơi, tờ báo nằm trên đỉnh mùng, bàn tay đè trên sống mũi, mấy cái hủ mắm, vân vân…</i>” (<a href="https://www.diendantheky.net/2018/09/tran-huu-thuc-vo-phien-tam-va-canh.html">https://www.diendantheky.net/2018/09/tran-huu-thuc-vo-phien-tam-va-canh.html</a>).</p>
<p>Rồi thì, để chứng minh có cái gọi là “bề bộn, nhẩn nha”, chuyện nọ xọ chuyện kia là có thật, anh bắt đầu dẫn một số đoạn trong các văn bản của Võ Phiến để chứng minh. Đó là cách làm việc cẩn thận của anh, chứ thật ra, những ai đã từng đọc Võ Phiến đều dễ dàng nhận ra sự “con cà, con kê” của ông, vì ông cũng tự nhận “<i>tiếc là không chẻ được làm tám</i>”. Mới chỉ làm tư thôi mà đã làm mệt nhoài ngòi bút phê bình của Trần Hữu Thục rồi, huống chi là tám hay mười?</p>
<p>Đọc những bài phê bình của anh, tôi mường tượng anh cần mẫn, làm việc rất khoa học: đọc, ghi chép, đánh số vào thẻ, xếp loại… cẩn trọng, để khi cần, chỉ thò tay vào ngăn là có ngay.</p>
<p>Tôi cũng có dịp đọc loạt bài phỏng vấn Phạm Phú Minh và Trần Hoài Thư về văn học miền Nam và hải ngoại. Các câu hỏi anh đặt ra cho hai nhà văn trên, tôi cứ tưởng tượng như tôi đang được cùng ông nội dẫn đi gát cu hồi nhỏ. Con cu mồi là anh, đứng trên cầu nó cứ túc, gáy lúc khoan lúc nhặt; khi thách đố khi như khuất phục, làm như vấn đề đó anh hoàn toàn mù tịt, hỏi lại cho rõ nhưng kỳ thực anh muốn biết rõ hơn về thái độ của hai ông nhà văn kia trước những vấn đề có liên quan, buộc họ phải nói ra trên giấy trắng mực đen. Tôi gọi cách phỏng vấn của anh thuộc loại “tra khảo văn học”, hỏi cho đến nơi đến chốn, cho ra chuyện mới thôi!</p>
<p>Rồi, trong những thư từ qua lại, Trần Doãn Nho cho hay, trong những năm ngăn sông cấm chợ bo bo sắn mì… anh buộc phải đi buôn chuyến từ Huế vào Sài Gòn để nuôi vợ con (Nói tới buôn chuyến trên tàu hỏa thời bao cấp khiến tôi rùng mình: mua được tấm vé, mồ hôi như tắm, áo quần tả tơi, và thê thảm hơn là cảnh chen chúc trên tàu, chỉ có chỗ để đứng một chân, chân kia co lại như con cò già giữa muôn vàn mùi xú uế; lúc xuống được ga mình biến thành kẻ khác, như tên tù biệt giam, rách bơm, hôi hám). Anh nói, lượt ra, tàu ngừng rất lâu ở ga Tuy Hòa, anh thường xuống tàu giãn chân tay, ăn cơm dĩa ở ga này, cơm trắng thơm ngon, thịt gà vàng ruộm và nói “<i>đâu có biết anh cũng ở Tuy Hòa!</i>”.</p>
<p>Điều anh nói khiến tôi nhớ, lại có một sự trùng hợp: Một người có thật là anh, nhà văn Trần Hữu Thục nhiều lần ăn cơm ở ga xép Tuy Hòa trong thời kỳ gạo châu củi quế, và nhân vật nữ xưng tôi trong truyện ngắn Thư Từ Tuy Hòa của Cảnh Cửu giữa thời chiến tranh (1964), cũng có đoạn: “<i>Anh có nói hồi đi ngang đó</i> (ga Tuy Hòa – ghi chú của người viết)<i> thấy người ta bán cục cơm vắt và cái đùi gà to tướng mười đồng. Sự thật cũng có như vậy anh à. Nếu anh muốn tôi ra ga mua gửi cho anh. Cục cơm đó không biết có ích dụng chi cho anh không, chứ ít ra nó cũng tố giác với anh vài điều về quê hương tôi…Sự nghèo khó đến gõ cửa thường xuyên, cơm thì gạo ít mà ngô khoai nhiều. Đậu mè, đậu phụng trộn với muối ran là món ăn đắt giá… Chắc khi đọc thư này anh có ăn cục cơm và miếng thịt gà tôi gửi theo thì dù cho cơm đã thiu thiu, thịt gà đã dai nhách cắn không bể nhưng chắc cũng đỡ hơn cái sống ở đây nhiều. Nó là cái tinh hoa của xứ sở tôi đãi du khách đấy</i>” (Văn số 45)<i>.</i></p>
<p>Có lẽ, chính những năm tháng khốn khó, phải bấm bụng nhét bút giấy vào một xó để “chạy chợ” nuôi vợ con nên anh có thừa chất liệu để viết Dặm Trường <b>(2)</b>. Chỉ mới chương đầu, đọc cảnh nhân vật Hạnh phải chịu để cho thằng tài xế đè ngửa trên cabin cũng đủ nhìn thấy cảnh đời ngang trái và tàn nhẫn, về thái độ của nhà văn trước thực tế xã hội đương thời mà nước mắt đắng cay nhiều như sông suối: “<i>Trong bóng tối nhờ nhờ của buồng lái, nàng thấy bàn tay anh tài xế đặt lên bụng nàng. Bàn tay kia luồn vào ngực. Nàng lấy tay đè lên tay anh ta, giữ lại. Nhưng anh ta dùng một tay giữ chặt tay nàng, còn tay kia tiếp tục sờ soạn. Tay chân anh tài xế bây giờ như những gọng kềm siết lấy nàng. Hàng nút áo bung ra. Sức nàng yếu dần, ý chí chống cự tan biến. Nàng lơi tay, người mềm đi, phó mặc…Nàng đột ngột cắn vào vai anh tài xế. Nụ cắn sâu, sâu thẳm…Trong ái ân, Lục điệu nghệ, nhẹ nhàng, tỉ mỉ. Như một bài học thuộc lòng, bao giờ anh cũng đi từng bước một, cẩn thận, cố gắng không bỏ sót một chi tiết nào. Dù có nhậu nhẹt, quá chén hoặc có xa vắng nhau lâu ngày, anh vẫn thế, từ đầu chí cuối. Người đàn ông này khác hẳn. Hắn hấp tấp, cuồng bạo. Nàng khẽ thở dài, than thầm, mình hư quá, hư thật rồi. Trong thoáng chốc, mọi chuyện lật qua một trang khác</i>…”. (Dặm Trường, trg 22).</p>
<p>Đọc lướt Dặm Trường của Trần Doãn Nho, tôi mãi ám ảnh về đoạn này. Anh không nói về sex, về dục tính như Nguyễn Mạnh Côn đã viết trong Tình Cao Thượng: “<i>Vì, như em đã nói với anh, Tư Giỏn làm cho em hoàn toàn thỏa mãn. Cũng in hệt như đối với anh, lúc rung động của y lên đến tột độ thì rung động của em cũng lên đến tột độ&#8230; trong mọi cuộc giao hoan, chính người đàn ông mới là phương tiện!</i>” (Tình Cao Thượng, trg 88 và 104) mà mặt nào đó, anh muốn dựng lại thực trạng xã hội thời đốn mạt và bi thương nhất của con người (VN). Những người dân vốn lương thiện đã bị “lịch sử” biến thành những tên lưu manh về phẩm giá, đạo đức, cách sống…mọi mặt. Không viết trực tiếp, nhưng qua các nhân vật, những cảnh đời một thời đã bị phủ bóng đen u ám, anh đã vẽ nên một phần “đổ vỡ” dưới chế độ hoang dã và hoang tưởng. Và, chữ nghĩa buộc phải “mửa” lên mặt chúng, là theo cách tôi nghĩ, cảm!</p>
<p>Sau khi phát hành Thư Quán Bản Thảo số 63, Trần Doãn Nho có thư hỏi tôi có còn Văn số 129, nếu còn giữ được sao cho anh 1 tập. Tôi hứa sẽ cố gắng, vì trong tủ sách không còn số này. Tôi chạy xuống thị xã, hỏi vài người bạn, ai cũng lắc đầu. Nhưng rồi cuối cùng cũng tìm ra được nơi người bạn vong niên. Tôi vội vã mang đi photo rồi tìm cách gửi qua cho anh. Khi nhận được anh viết thư cảm ơn rối rít, vì theo anh, bài viết về Y Uyên là bài đầu tiên anh viết về phê bình văn học, nó là kỷ niệm khó quên, bởi sau khi đăng bài viết này, ông Thư ký tòa soạn Văn Trần Phong Giao có nhã ý mời anh cộng tác thường xuyên về phê bình, biên khảo… cho Văn và Tân Văn. Cách đây mấy tháng, tình cờ tôi đọc ở đâu đó trên một trang mạng, có đoạn anh viết về tờ Văn photo này, đại ý nhờ NgLu photo gửi qua, nó còn đẹp hơn bản gốc.</p>
<p>Nửa năm 2015, Trần Doãn Nho về thăm quê nhà, từ Huế, anh gửi nhờ Viêm Tịnh tặng tôi quyển biên khảo <i>Ẩn Dụ, Cuộc Phiêu Lưu Của Chữ</i> do Người Việt ấn hành. Thú thật, tôi phải mất đến 5 ngày vừa căng mắt vừa căng đầu mà đọc nhưng không “thấm” nổi. Sau Văn Việt post lại từng kỳ, tôi nhẩn nha đọc mới rõ được đôi phần, mở ra lắm điều thú vị mà bấy lâu cứ ù lì trong đống sách giáo khoa của các thầy bên Văn Khoa thời xa xưa.</p>
<p>Tôi và Trần Doãn Nho, Trần Hữu Thục chỉ chừng ấy, không hơn.</p>
<p>Những năm gần đây, sức khỏe giảm. Hai ông bạn đốc tờ khuyên phải thuốc thang đều đặn, nghỉ ngơi, chớ suy nghĩ, chớ viết, đọc vừa vừa… tóm lại là phải tĩnh dưỡng, phải an nhiên, tự tại, tốt nữa là thiền định, quán niệm hơi thở… phải và phải… đủ thứ. Nghe thì nghe vậy, nhưng không bỏ được, vẫn cứ dòm ngó với chữ nghĩa, vẫn cứ mở máy và đọc. Và, tôi đọc văn chương của bạn quen, bạn dưng theo cách đó.</p>
<p>Với Trần Doãn Nho, Trần Hữu Thục cũng “nhẹ” như vậy. Mà kiểu đọc này, lại có nhiều cái hay khi ta từ từ không vội, để có thể nhận ra lắm điều bất ngờ. Ví như trong tùy bút <i>Nắng</i> trên trang mạng Da Màu. Chỉ có nắng thôi, một hiện tượng tự nhiên của thời tiết; vậy mà anh khéo léo và duyên dáng dẫn cái nắng ấy rong chơi khắp chốn: từ chỗ nhà quê qua thị thành phồn hoa, ngoài ngõ nhà anh phú nông đến sân nương nương quý tộc, từ âm nhạc qua thơ, qua cầu, qua sông suối, ruộng đồng, sa mạc… dẫn từ các ông nhà thơ, nhạc sĩ tên tuổi để tổng kết lại thành một thứ <i>Nắng</i> đa màu sắc, hương vị, biết đi đứng, biết hỉ nộ ái ố, có hình dạng mập ốm nghiêng thẳng điệu đà, là người yêu, kẻ thù, biết đi biết nằm, biết hờn dỗi …nghĩa là trên cõi đời này có bao nhiêu nguồn cơn cớ sự thì <i>Nắng</i> của anh đều có mặt, khi dịu dàng lúc hung tợn. Thích chí và đồng cảm, tôi gọi bà vợ nằm toòng teeng trên chiếc võng gai đang đọc Già Sao Cho Sướng của ông đốc tờ Đỗ Hồng Ngọc. Dừng lại, nghe cái này. Tôi đọc hết tùy bút <i>Nắng</i>, cả hai vợ chồng già đều bật cười như được gãi ngứa: “<i>Vẫn còn đủ thời gian để nhà văn nhà thơ sáng tạo ra thêm hàng triệu thứ nắng khác nhau nữa để làm vui cuộc đời. Này nhé: nắng trào, nắng tưới, nắng xanh, bẻ nắng, chôm nắng, bửa nắng, bắt nắng, trồng nắng, gặt nắng, hái nắng, gọt nắng và thậm chí…liếm nắng. Đã có sân nắng, vườn nắng, rừng nắng thì chắc cũng phải có: ao nắng, hồ nắng, phố nắng và vũng nắng, hố nắng. Đã có “nắng xiên vào nỗi nhớ” thì cũng sẽ có: nắng đâm, nắng chọc, nắng cắt hay nắng cứa….vào nỗi buồn. Đã có hạt nắng, vệt nắng sao lại không: viên nắng, hòn nắng, miếng nắng và …cục nắng</i>” (<a href="https://damau.org/archives/44610">https://damau.org/archives/44610</a>).</p>
<p>Với truyện ngắn, tính ẩn dụ cao hơn; thường gây cho người đọc những ảo giác trên bề mặt văn bản, nghĩa là điều anh muốn nói đến không phải là những hàng chữ sắp hàng ngay ngắn trên trang giấy như hàng quân mà, phải tự lật ra phía sau, nó ẩn sâu bên dưới mới tìm ra “nhân dạng”.</p>
<p>Hầu hết những truyện tôi đọc được của anh luôn là những bất toàn, xung đột, mâu thuẫn, mất mát… xoáy sâu vào những “niềm đau nhức” về thân phận, quê hương phải đành đoạn bỏ lại phía sau cùng những giọt nước mắt chảy thầm (truyện nào cũng thấp thoáng, dẫu không có hình hài rõ ràng).</p>
<p>Một Chút Việt Nam như một điển hình cho cách phơi bày tâm trạng u uẩn của những con người “bị biệt xứ”. Từ đầu tới gần cuối truyện là cuộc gặp gỡ, trò chuyện qua lại giữa chàng thanh niên tên Hưng và cô gái tên Miên Tâm trên đất khách. Cô vượt biên theo dạng gửi kèm khi mới lên tám. Sống trên đất Mỹ cho tới lúc có chồng, cô không có một khái niệm nào rõ rệt về quê nhà. Cô bị những người thân, những bạn học đối xử khá tệ. Miên Tâm cô đơn và lạc lõng giữa những người không cùng màu da, ngôn ngữ, văn hóa…để cuối cùng anh chàng người Honduras trở thành bạn rồi thành chồng cô. Cuộc hôn nhân với Garcia chỉ là cách trả ơn, cô giải thích: “<i>Em biết anh giận. Nhưng em nói thật, anh có quyền tin hay không tin. Em muốn yêu một người Việt Nam, nhưng em lại chẳng quen một người Việt Nam nào cả</i>…<i> Em đã trải qua tuổi thơ, mà người ta cho là đẹp nhất đời, không cha, không mẹ, không bà con, không bạn trai, không bạn gái. Em không biết yêu. Có ai đâu để em yêu!</i>”.</p>
<p>Gặp Hưng, cô như người chấp chới dưới làn nước lạnh ngắt, với được khúc gỗ mục. Cô thoát hiện thoắt biến trước Hưng như một cái cớ để có thể ngửi được chút mùi, <i>mùi Việt Nam</i>!</p>
<p>Đỉnh điểm của “chút mùi” ấy là cái đêm trước khi vợ chồng cô chuyển đi nơi khác. Cô đến phòng Hưng với những tâm trạng rối bời, những khao khát cháy bỏng “muốn yêu một người Việt Nam nhưng không quen ai là người Việt Nam cả”. Đích thị là cô chơi vơi với tuổi thơ đã mất như cô đã mất quê hương, gia đình, người thân yêu từ tuổi ấu thơ. Và Hưng là hiện thân của sự mất mát-đang-được-nhìn-thấy. Hành động của cô là muốn kiếm tìm cái đã mất, <i><u>một chút, một chút</u></i> thôi : “<i>Anh chưa kịp phản ứng gì thì nàng đã vật anh xuống giường, hôn tới tấp. Nàng cắn. Nàng liếm. Nàng rờ rẫm. Hơi thở nàng nóng hổi. Anh nghe mùi tóc, mùi nước hoa, mùi da thịt nàng tràn trề trên người. Những nụ hôn và những ngón tay. Nàng thành thạo. Dữ dội. Cuồng nhiệt. Đắm đuối. Anh đờ đẫn, run rẩy, bàng hoàng, không biết phải làm gì. Tóc nàng rối tung. Cái áo ngủ gần như tuột hẳn xuống…Hưng, em muốn một kỷ niệm Việt Nam. Đừng trách em, tội nghiệp. Em muốn &#8230; em muốn &#8230; một chút mùi &#8230; mùi Việt Nam. Em muốn &#8230; enjoy a little taste of Vietnamese &#8230; Một chút hương &#8230; Việt Nam, một chút &#8230; một chút &#8230;Anh chồm lên người nàng. Như một con thú hoang. Không còn là một Hưng e dè, thận trọng nữa. Không còn Miên Tâm. Không còn Garcia. Không còn trời. Không còn đất. Hai sức trẻ quấn vào nhau như chưa từng. Một lần. Chỉ một lần thôi. Căn phòng rung rinh. Chao đảo. Từng hồi.</i></p>
<p><i>Và rồi tất cả lắng xuống. Hai người nằm lặng lẽ nghe hơi thở của nhau</i>”.(<a href="http://www.hocxa.com/Truyen/MotChutVietNam_TranDoanNho.html"><i>http://www.hocxa.com/Truyen/MotChutVietNam_TranDoanNho.html</i></a>).</p>
<p>Truyện khép lại ở đây. Có thể người đọc sẽ lầm tưởng dục tính là có thật ở truyện này, vì trước đó ít phút, Miên Tâm đã tâm sự với Hưng: “<i>cái kiểu make love của Garcia &#8230; ghê quá!&#8230; Ghê quá là dữ dội &#8230; là &#8230; Garcia đêm nào, ngày nào cũng bắt em xem phim sex, rồi thì là &#8230; dày vò em, bắt em chiều &#8230; đủ kiểu. Em sợ</i> &#8230;”. Nhưng tôi nghĩ rằng, Trần Doãn Nho không hề viết về dục tính. Giây phút “hai sức trẻ quấn vào nhau như chưa từng” chỉ là cái cớ. Bởi truyện này anh viết năm 1995, chỉ hơn hai năm, sau khi anh phải rời bỏ Việt Nam, mang theo quê nhà trong nỗi nhớ ngắt ngoải. Vậy thì anh nhắm tới điều gì? Phải chăng những hoan lạc và rung động mà họ tìm thấy của nhau, chính xác là với Miên Tâm nhiều hơn, là những cảm xúc thông qua thân xác để chụp nắm về một quê hương đã mất? Cô đã nắm giữ được hình ảnh quê hương trong thoáng chốc với người bạn trai trên giường…Quanh không gian hẹp đó là cánh cửa mở rộng để có thể nhìn thấy những gốc rạ vừa gặt, là mùi khói đốt đồng, mùi cá lóc nướng trui, là hương vị ngọt chát của trái bần quẹt mắm tép rong, cá tràu kho nằm cong trong om đất…? “<i>Nghe hơi thở của nhau</i>” có lẽ là nghe lại hương vị quê hương đã mất sau cuộc “<i>bỏ phiếu bằng chân</i>” của hơn 2 triệu dân miền Nam!</p>
<p>Trong Vết Xước Đầu Đời trên Da Màu và Diễn Đàn Thế Kỷ số tháng 7/2017 được Văn Việt đăng lại trong chuyên mục Văn Hải Ngoại sau 1975 (kỳ 68), với nội dung khá đơn giản: Tâm bị tù cải tạo được thả về, đến ở nhà mẹ con Ánh trên dưới 1 tháng, bởi trước khi là “lính ngụy” hai người đã yêu nhau, nhưng không lấy được nhau. Ánh lấy chồng để trả thù Tâm, chồng chết do tai nạn máy bay. Bữa nọ hai chú cháu đi chơi, về trễ (tối), Ánh “tra hỏi” với con gái và với Tâm, người yêu cũ. Cú “tra gạn” kia hình như làm tổn thương khá nhiều đến người gạn hỏi là Ánh.</p>
<p>Motif truyện không mới, chủ đề không lạ. Trước năm 1975, chuyện chú cháu, rung động đầu đời yêu thương, nhớ nhung sương khói… đã được các nhà văn khai thác đến tối đa, nơi đón nhận và tập trung là tuần báo Tuổi Ngọc của Duyên Anh. Và tiêu biểu cho loại truyện này là Hoàng Ngọc Tuấn với Ở Một Nơi Ai Cũng Quen Nhau, Cô Bé Treo Mùng, Buổi Chiều Hạ Lan, Hình Như Là Tình Yêu… trở thành loại sách luôn nằm trong cặp sách vở của các cô cậu lứa tuổi “Ô Mai”.</p>
<p>Nếu như Vết Xước Đầu Đời bị “rơi” vào tay các nhà văn theo trường phái lãng mạn hay feuilleton trước 75, chắc chắn sẽ mùi mẫn như Bên Dòng Sông Trẹm của Dương Hà, Chú Tư Cầu của Lê Xuyên hay hàng loạt tiểu thuyết của bà Tùng Long…Nhưng với Trần Doãn Nho thì khác hẳn, bởi tầm vóc của truyện “to lớn” hơn theo cấu trúc ngôn ngữ bình dị với những ẩn dụ vừa đủ đểngười đọc không dụng công suy nghĩ, mò đoán nhiều; cũng không đưa đẩy đến sướt mướt, éo le… nhưng có cái gì đó nhột nhạt, ngưa ngứa tận chân tóc như khi ta nhai phải trái ớt hiểm cay xè; không chảy nước mắt, nhưng mọi chân tóc đều tưng tưng dựng lên!</p>
<p>Ngay ở đoạn hai chú cháu quay về, nhà văn đã khéo léo phối một gam màu hoàn hảo lúc hoàng hôn, tạo thành vẻ hư hư thực thực trong thứ ánh sáng nhập nhoạng, để độc giả có thể hiểu được cái “nhập nhoạng” ấy ở cô bé và mẹ cô. Trước hết là vật thể có thật: bóng tối vừa đủ, ánh sáng vừa đủ để có thể nhìn ra “<i>dáng cao lớn, chênh vênh như muốn ngã về phía trước</i>” của chú Tâm và cảm giác “<i>cả một khoảng trời chao đảo theo bước chân chú</i>” của Lan. Bức tranh này là của cô bé vẽ nên bằng những cảm nhận từ đáy lòng qua bàn tay nhào nặn của nhà văn. Toàn cảnh trong bức tranh là sự so sánh có cảm giác của Lan tưởng có thể cầm nắm được trong tay: “<i>Nắng tắt. Cả vùng ngoại ô lặng xuống. Cây cối như kết vào nhau thành từng chòm, rải rác. Hai người im lặng bước đi. Lan cố đi chậm lại đàng sau. Tự nhiên, cô cảm thấy bối rối. Chú Tâm bước, dáng cao lớn, chênh vênh như muốn ngã về phía trước. Lan có cảm giác như cả một khoảng trời chao đảo theo bước chân chú. Chú, đàn ông trông vững, lớn và đáng tin cậy. Khác với mẹ. Mẹ bao dung, chu đáo, nhưng có cái gì không ổn. Bao giờ mẹ cũng thu vén, tém tủm, tránh trút. Mẹ ngăn, mẹ chặn. Trước và sau. Mẹ sợ mọi thứ. Mẹ đúng, dĩ nhiên. Nhưng Lan buồn</i>”.</p>
<p><a href="http://vanviet.info/van/van-hai-ngoai-sau-1975-ky-65-tran-don-nho-vet-xuoc-dau-doi/">http://vanviet.info/van/van-hai-ngoai-sau-1975-ky-65-tran-don-nho-vet-xuoc-dau-doi/</a></p>
<p>Sự “giam cầm” tình cảm của mẹ lúc dạy dỗ con gái về người đàn ông, tất cả những người đàn ông khiến cô cảm thấy chơi vơi lúc bên chú Tâm: “<i>Lan cắn môi. Cô muốn khóc. Trời sẫm. Đường vắng. Cô bỗng muốn ngã vào lòng chú Tâm. Nhưng cô giật mình, nhẹ gỡ bàn tay thô nhám của chú Tâm vừa đặt lên bàn tay nhỏ nhắn của cô. Mùi áo quần từ nơi chú Tâm tỏa ra khiến cô ngây ngấy. Cái mùi lạ hoắc! Thơm không thơm, hôi không hôi, lại nồng nồng. Cô bồn chồn, lạc dạ, quay mặt đi chỗ khác</i>”.</p>
<p>Suốt dọc câu chuyện, cứ nghĩ nhà văn tạo ra cô bé và Tâm là hai nhân vật chính. Nhưng thật ra, nhân vật dẫn đến mọi cớ sự lại là Ánh, mẹ cô bé. Đó mới là nhân vật trung tâm, xuất hiện gần cuối để đưa câu chuyện thành cao trào, có kịch tính: “<i>Đời mẹ đã khổ vì đàn ông, con biết không. Đàn ông không có gì đáng tin hết. Họ luôn luôn phỉnh phờ, luờng gạt. Họ không hề biết yêu như đàn bà. Có họ mình cũng khổ, mất họ mình cũng khổ. Mẹ không muốn con gần đàn ông vì không muốn con khổ, con hiểu chưa?</i>”</p>
<p>Tất nhiên cô bé đã hiểu qua lời mẹ: <i>“Một chút gì tái tê, một chút gì đăng đắng, nghèn nghẹn của mùi vị cuộc đời lan vào trong cô. Chỉ là một vết xước. Vết xước đầu đời, nhẹ nhưng buốt. Cô chợt nhận ra một mẹ khác, một mẹ lạ hẳn, một mẹ cô chưa hề biết, chưa hề thấy. Và cô, cô cũng khác. Cô trở thành một người khác”.</i></p>
<p>Thành một người khác bổng trở nên đậm hơn lúc nhìn thấy cái áo của chú Tâm bỏ quên<i>, </i>“<i>Lan chợt nhớ đến mùi đàn ông phảng phất đâu đây</i>”.</p>
<p>Tâm chỉ là cái cớ cho Ánh nhớ lại 20 năm về trước và cũng là cái cớ cho cô bé Lan ngập ngừng với cái <i>mùi đàn ông phảng phất đâu đây</i>. Người đàn ông xuất hiện đúng lúc và ra đi đúng lúc để lại cho hai mẹ con, mỗi người một tâm trạng khác nhau.</p>
<p>Gấp lại truyện, tôi có thêm cảm giác nhồn nhột, cồn cào gai gai trong đầu giống như cảm giác cánh tay vung ra, đụng phải dề gai bàn chải non!</p>
<p>Nhưng đến Bữa Ăn (<a href="http://vanviet.info/van/bua-an/">http://vanviet.info/van/bua-an/</a>) thì không còn cảm giác bàn tay chạm phải “dề gai bàn chải non” như các truyện khác mà, tựa như có hàng trăm ngàn mũi kim nhọn xoáy vào tận tim gan. Hơn 10 trang viết hiển hiện tràn đầy nỗi thống khổ, đau đớn, quặn thắt… đến tận cùng của một kiếp người trong một xã hội đốn mạt nhất. Sự đốn mạt ở Làm Đĩ, Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng thời Pháp thuộc, không thấm vào đâu so với thời mạt pháp trong xã hội cùn mạt ở truyện này. Cảnh người cha (từng là ông giáo làng, dẫu là ông giáo Ấp Tân Sinh thời Việt Nam Cộng Hòa) phải ngồi nhìn những đứa con bán trôn nuôi sống cả gia đình với nỗi-hân-hoan-đau xé, với những tê-điếng-cam-chịu diễn ra hàng ngày trước mắt ông và vợ như những ngọn roi vô hình đập nát những ai còn lại chút lương tri: “<i>Ông nhắp một hơi rượu, rùng mình. Ông nhìn quanh. Ôi, những rượu, những trà, những đồ ăn, thức uống, những cột kèo, cửa sổ, cửa lớn, bàn ghế, áo quần, và chính cả thân xác ông, tâm hồn ông bây giờ đều xuất phát từ thân xác mấy đứa con gái. Ông cảm thấy lợm giọng, buồn mửa. Hai mắt mờ đi. Trong thoáng chốc, ông bỗng nhìn thấy đồ đạc trong nhà, hết thảy đều uốn éo, quằn quại, lăn lộn. Bộ xa lông biến thành con Loan, cái tủ lạnh biến thành con Dục, tủ áo quần biến thành con Lài. Chúng trần truồng, hoang hóa, chịu đựng và thảm thương vô cùng tận. Chúng giương mắt nhìn ông ngơ ngác, bất lực</i>”.</p>
<p>Cả truyện, từ đầu đến cuối, Trần Doãn Nho không hề có một từ nào đổ lỗi, anh chỉ dựng lên một sân khấu nhỏ (nhưng lại là biểu tượng vô cùng to lớn cho xã hội hiện tại) là vợ chồng cha con ông Tám. Cả 6 người đều nhập vai và vai nào cũng tròn trịa làm “rúng liệt” mọi chân tơ kẽ tóc người đọc! Truyện không kể lể, chỉ thủng thẳng mô tả những sự việc và sự vật từ từ diễn ra trước mắt có lớp lang, thỉnh thoảng chen ngang những suy nghĩ, dằn vặt nội tâm nhân vật. Chừng đó thôi, nhưng từng con chữ làm nhói đau tận xương tủy người đọc. Gia đình gồm 6 con người khốn khổ và khốn nạn đó là bộ mặt xã hội hiện tại được Trần Doãn Nho thu nhỏ lại. Tất cả họ đều phải chịu đựng và chấp nhận, xem như là chuyện bình thường hàng ngày, không có gì ghê gớm khiến phải “nôn mửa”.</p>
<p>Anh phác họa các nhân vật của mình qua vài nét ký họa nghuệchngoạc và những nhân vật đó y như mẫu đất sét bọn trẻ con nặn con trâu, con vịt, chiếc xe… là những chiếc mặt nạ biết đi đứng, nói năng:</p>
<p>Thằng Vụ: “… <i>tảng sáng là thức dậy đi. Với đôi dép nhựa cáu bẩn, đứt quai, bộ đồ lính bạc màu, chiếc mũ lưỡi trai, hắn lang thang đâu đó suốt ngày trong mấy cái chợ, khu bến xe, trên đường phố, khi thì giả què, khi thì giả bệnh để xin xỏ, và tìm mọi sơ hở của người ta để chụp giựt, chôm chỉa”.</i></p>
<p>Còn ba cô con gái: <i>“suốt ngày chỉ lo chuyện phấn son, lụa là. Các cô tỉa lông mày, nhổ lông nách, hoặc chăm chút hết bộ áo quần này này sang bộ khác. Khi áo dài, khi áo đầm, khi đồ bộ. Ðủ dạng, đủ loại. Khách vào, khách ra. Những õng ẹo, gạ gẫm, trả giá, vỗ mông, sờ ngực, cười cợt”.</i></p>
<p>Ông Tám, người chủ gia đình như một khán giả (bà vợ chỉ là cái bóng, thui thủi, cam phận “<i>ẩn nhẫn, nhịn nhục</i>”), hàng ngày phải nhìn các hoạt cảnh trên bằng những tâm trạng khác nhau: “<i>Người cựu giáo viên ấp tân sinh cứ thế, nhìn mọi sự diễn ra trong nhà mình hàng ngày như xem những màn biểu diễn trên sân khấu</i>”. Đôi lúc ông lại cay đắng, chua chát: &#8220;<i>Biết thế này, đẻ thêm chục đứa nữa để đáp ứng nhu cầu..</i>. <i>Những cắng đắng, đau khổ lúc đầu, chịu riết rồi cũng nguôingoai. Dẫu vậy, không có khách thì thôi, hễ có khách mang đi một cô, lòng ông lại nhói lên một chút. Ông cảm thấy đau tê tê ở một nơi nào đó trong người, khi ở bụng, khi ở ngực, khi ở trong đầu</i>”.</p>
<p>Để cho màn kịch có thêm mùi vị đắng cay, Trần Doãn Nho thêm vào hai vai phụ, không lờ mờ mà sáng lóa thời đại ma quỷ, ngay ở tầng-sâu-địa-ngục-dương-gian: Một anh công an khu vực đến “<i>thu hụi chết</i>” và một ông cán bộ tập kết đương chức trưởng phòng thương nghiệp huyện tuổi bằng cha ba cô gái. Một người thì hàng tháng <i><u>thu giá</u></i> bán thân của ba cô, người kia thì gạ tình.</p>
<p>Bữa Ăn chính là những tan nát của bộ mặt xã hội hôm nay. Bộ mặt ấy không như chapeau của Văn Việt: “ <i>Khi người chủ gia đình/người cha, đã không thể bảo vệ và che chở con cái, phải để chúng lao ra đường kiếm tiền theo cách đó mà không còn thấy đau khổ, nó bộc lộ một sự thật: khi gia đình rã tan, xã hội cũng sẽ rã tan…</i>”, bởi <i>gia đình rã tan</i> chỉ là hiện tượng phơi trần bản chất xã hội đã mục ruỗng, rã tan!</p>
<p>*</p>
<p>Trong bài Tạp Ghi Tháng Tư: Vết Thương, Trần Doãn Nho viết: “<i>Trong đời tôi, tính ra, tôi trải qua …bốn lần chạy. Mỗi lần chạy là một kinh nghiệm rất riêng</i>”. Rồi anh kể lại kinh nghiệm bốn lần chạy đó, lần lượt từ thời bé con khi Việt Minh nổi lên tổng khởi nghĩa năm 45-46, chạy Mậu Thân, chạy Mùa Hè Đỏ Lửa và chạy dài… theo chiều dài trên phần đất bên này vĩ tuyến 17, lần cuối cùng, 30/4. Bốn lần chạy là chạy trốn cộng sản, những con quái vật hình người!</p>
<p>Cảnh chạy lần đầu khi còn là bé con: “<i>Thay vì chạy và đi, thì tôi được gánh. Tôi một đầu, ngồi trong thúng. Đầu kia là một ít gạo và đồ đạc. Cứ thế, mẹ, chị và anh tôi thay nhau gánh, theo đoàn người, tản cư về một nơi vô định</i>”<i>.</i></p>
<p>Cảnh chạy tết Mậu Thân: “<i>Cả gia đình tôi dắt díu nhau, không chỉ chạy, mà là chui, rúc, lăn, trốn từ vùng bộ đội Cộng Sản chiếm đóng về vùng quốc gia. Đoạn đường không dài, chỉ 5,7 cây số nhưng là một biên giới sinh tử</i>”.</p>
<p>Rồi đến Mùa hè đỏ lửa: “<i>Kinh nghiệm Mậu Thân đã mang cả Huế ra đi. Ngay lập tức. Không chần chừ. Không đắn đo. Không tiếc nuối. Khi nghe tin bộ đội Cộng Sản vượt sông Bến Hải, là Huế đã bắt đầu chạy. Hối hả chạy, bằng mọi cách, mọi giá. Mang được gì thì mang, không mang được thì bỏ lại</i>”.</p>
<p>Và 3 năm sau, khi miền Nam bị xoá sổ: “<i>Chạy. Hễ còn chạy được là chạy. Đi bộ, đi xe, đi thuyền, đi tàu, đi máy bay, đi, đi, đi, đi đâu, miễn là thoát khỏi Cộng Sản. Chạy: biết bao thảm cảnh, nhất là thảm cảnh thuyền nhân rúng động thế giới. Chạy: một cuộc “bỏ phiếu bằng chân” vô tiền khoáng hậu</i>”.</p>
<p>Lần chạy nào cũng có nước mắt thậm chí cả máu… của những người dân vô tội. Anh lơn tơn kể, độc giả vừa đọc vừa ngẫm lại bản thân và cả thế hệ của mình phải gánh chịu quá nhiều đau thương tang tóc qua những biến cố trên. Ở lần chạy “<i>bỏ phiếu bằng chân</i>” cuối cùng: “<i>Lần này, ra đi, trong thâm tâm, ai cũng đau đớn nghĩ rằng: Huế sẽ mất vào tay Cộng Sản. Thành thử, chạy là chạy…luôn, không bao giờ trở lại. Là bỏ Huế. Bỏ Huế! Chao ôi, hai chữ “bỏ Huế” nghe như nhát dao đâm ngay giữa trái tim. Nhưng làm sao được. Đành thôi, Huế ơi</i>”. (<a href="https://damau.org/archives/49337">https://damau.org/archives/49337</a>)</p>
<p>Anh ghi lại từng chi tiết nhỏ của những lần “chạy” nó trung thực đến độ tàn khốc, đến nỗi người đọc cảm thấy tim như bị bóp nghẹt, băm nát: “<i>Chao ôi, những người lính! Trong lúc cả nước miền Nam chạy thục mạng, chạy hớt hãi, chạy trối chết…thì nơi đây, vào những giây phút cuối cùng của cuộc chiến, những người lính nhảy dù này vẫn cứ làm nhiệm vụ, sẵn sàng chiến đấu, như …bình thường. Cũng như tôi, nhất định họ biết rằng Sài Gòn sắp mất. Nhưng họ vẫn ở đó, cầm súng canh gác. Tôi bước tới, muốn làm một cử chỉ biết ơn, nhưng anh bạn tôi cản lại. Tôi vẫy tay. Một người lính vẫy tay lại. Trong nhá nhem tối, nhìn nhau ngậm ngùi. Đọc lịch sử, những tưởng chuyện phế hưng chỉ là của ai đó, thế mà bây giờ, mình ở trong cuộc!</i>”.</p>
<p>Những ngày cuối cùng này, anh đang ở trong cuộc… Tất cả mọi người dân miền Nam đều ở trong cuộc. Và thảy đều đều nát tan sau cái ngày khốn nạn nhất của lịch sử! Dân tộc Việt Nam tiếp tục chạy kể từ buổi bình minh lịch sử; chạy từ bờ nam sông Dương Tử dạt mãi xuống phương Nam… mà chưa hết! Sẽ còn những “Thủy Mộ Quan” cho dân tộc này sao? Đọc đoạn cuối anh viết về cái vẫy tay của mình với người lính nhảy dù đang trong tư thế chiến đấu ở giờ phút cuối cùng trên đường phố Sài Gòn, tôi bật khóc thầm, bởi những ngày cuối cùng đó tôi cũng dáo dát trên các ngả đường Sài Gòn hy vọng tìm thấy cha mẹ và hai đứa em bắt đầu lưu tán từ Tuy Hòa trước đó! Còn gì bi thảm hơn không? Và có lúc nào đó, những người dân chạy giặc kia tự hỏi: Tại sao khi chỉ mới nhắc đến hai chữ cộng sản thôi là mọi người đều phải bỏ chạy, chạy bán sống bán chết; biết chạy là chết mà vẫn cứ chạy. Ôi, họ mỉn cười chọn cái chết thay vì chọn cộng sản! Anh gọi cuộc chạy cuối cùng của dân miền Nam là cuộc “<i>bỏ phiếu bằng chân</i>”, một cụm từ đã lột tả đầy đủ và chính xácmà từ trước tới giờ tôi mới thấy, tuy có nhiều nhà văn nhà báo cũng viết về cuộc tháo chạy này, nhưng chưa có từ nào nói lên tính chất bi thảm của dân tộc Việt Nam như<i> một cuộc bỏ phiếu bằng chân</i> của anh!</p>
<p>Từ những gì đọc được, tôi trở thành “bạn” trên từng trang viết của anh lúc nào không hay, chẳng qua vì cách viết của anh rất đời thường, gần gũi mùi khoai sắn trên từng góc phố, ngọn gió, giữa đẹp và xấu, giữa những giằng xé nội tâm, giữa những xô đẩy té nhào và đứng lên. Cách viết ấy, với nhiều thể loại khác nhau, tôi ví anh như người dẫn nắng đi chơi khiến ai cũng ngắm nhìn cái sự lạ lùng này: hân hoan và đắng cay, hạnh phúc và đau khổ, thiên đường và địa ngục, lấp ló những thống hận. Vậy đó, như Nguyễn Mộng Giác từng viết về anh: “<i>anh thích đặt nhân vật vào những cảnh ngộ thử thách, và cách nhân vật ứng xử với những thử thách ấy rất &#8220;người&#8221;, nghĩa là chênh vênh giữa tốt và xấu, yếu đuối mâu thuẫn nhưng vẫn có đủ nghị lực để chấp nhận bất hạnh và thích nghi với đời sống</i>”. (<a href="https://nguyenmonggiac.com/phe-binh/508-vet-xuoc-dau-doi-cua-tran-doan-nho.html">https://nguyenmonggiac.com/phe-binh/508-vet-xuoc-dau-doi-cua-tran-doan-nho.html</a>)</p>
<p>(Quê nhà tháng 9/2018)</p>
<p>*Ghi chú: bài viết theo yêu cầu của tạp chí Thư Quán Bản Thảo số 82 chủ đề nhà văn Trần Doãn Nho, đã được nhuận sắc tháng 10/2018.</p>
<p>__________________</p>
<p>(1) NXB Lao Động &amp; TT VH Ngôn Ngữ Đông Tây, HN, 2012)</p>
<p>(2) Dặm trường, TÂQ, HK, 2018</p>
<p><strong>Nguyễn Lệ Uyên</strong></p>
<p>©T.Vấn 2018</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/nguyen-le-uyn-tran-don-nho-nguoi-dan-nang-di-choi/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nguyễn Lệ Uy&#234;n: Lữ Kiều, ch&#224;ng nho sinh&#8230;</title>
		<link>https://t-van.net/nguyen-le-uyn-lu-kieu-chng-nho-sinh/</link>
					<comments>https://t-van.net/nguyen-le-uyn-lu-kieu-chng-nho-sinh/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Lệ Uyên]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 13 Sep 2018 12:02:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[nguyễn lệ uyên trang sách]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=36859</guid>

					<description><![CDATA[Lữ Kiều qua nét vẽ Đinh Cường Viết về Lữ Kiều. Khó quá. Khó không phải trong tay tôi hiện giờ chỉ có hai tập sách anh đề tặng, mà bởi văn xuôi của anh như thơ, truyện của anh không là truyện. Những dòng chữ đẩy đưa như câu hò mái nhì, mái đẩy [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/09/clip_image002-2.gif"><img loading="lazy" decoding="async" style="border: 0px currentcolor; margin-right: auto; margin-left: auto; float: none; display: block; background-image: none;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/09/clip_image002_thumb-50x50.gif?strip=all" alt="clip_image002" width="229" height="263" border="0" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><em>Lữ Kiều qua nét vẽ Đinh Cường</em></p>
<p><b></b><b>V</b>iết về Lữ Kiều. Khó quá. Khó không phải trong tay tôi hiện giờ chỉ có hai tập sách anh đề tặng, mà bởi văn xuôi của anh như thơ, truyện của anh không là truyện. Những dòng chữ đẩy đưa như câu hò mái nhì, mái đẩy trôi trên sông Hương, như một họa khúc nhỏ nối tiếp những gam màu bất tận. Lữ Kiều có cái cốt cách bay bổng, lãng mạn bởi anh vừa là nhà thơ, nhà văn, lại vừa viết kịch, vẽ tranh. Và ở lãnh vực nào anh cũng đem đến cho người đọc chút ngạc nhiên từ sự khám phá của anh về sự vật, hình thể và ngay cả tâm trạng nữa!</p>
<p>Văn của Lữ Kiều là loại văn chương quý phái của các công tằng tôn nữ trong cung đình hoàng triều, của những tà áo dài màu tím bay bay trên vai cầu Tràng Tiền, như dòng nước biếc xanh, lặng lờ trên dòng sông ngan ngát mùi hương trong tâm thức mọi người. Lại nữa, có khi đọc hết một đoạn văn, tôi lại có cảm tưởng như đang lắng nghe từng giọt nước rơi từ mái tranh, như đang nhìn ngắm những giọt sương đọng trên lá lấp lánh trong ánh nắng sớm.</p>
<p>Vâng. Khó. Thật khó. Tôi loay hoay đọc đi đọc lại hai tập <b>Trên đồi là lô cốt</b> và <b>Chàng nho sinh dưới gốc tùng</b> nhiều lần, nhưng không sao đặt bút viết cho xuôi từ hai tác phẩm trên, với lối hành văn tự sự nhuốm chút lãng mạn riêng tư của tùy bút.</p>
<p>Anh sinh trưởng ở Huế rồi xa Huế. Xa chốn thân yêu để luôn nhớ về. Đó là những kỷ niệm đầu đời của chàng trai trẻ. Những kỷ niệm ấy là những dấu ấn không dễ gì phai mờ trong tâm trí của họ, những người gốc Huế “lang thang”.</p>
<p>Đó là một thành phố đẹp, êm đềm, là nơi còn giữ được cốt cách quý phái, khác với sự xô bồ của Đà Nẵng, khô khốc của Quảng Trị. Và có phải chính miền đất đẹp đã tạo ra những con người đẹp đến thế không?</p>
<p>Dưới mắt Lữ Kiều, đến những cái nhỏ nhất, ít được nhiều người chú ý nhất lại là nơi đẹp nhất đối với riêng anh. Chỉ một ngọn đồi nhỏ, không cao, chỉ có vài viên đá lởm chởm, nhưng từ đó nhìn xuôi, anh như ôm cả thành phố thơ mộng vào lòng: “<i>Góc phố đó, cửa hàng đó, vẻ bày biện đó và những khuôn mặt đó. Huế có một bề ngoài nhàn nhã</i>” (Trên Đồi Là Lô Cốt, trg 10). Cái lô cốt nhỏ kia có gì để đáng lưu tâm, nếu Tôi không gặp O trong một khoảnh khắc tình cờ, nếu Tôi và O không sóng đôi lên ngọn đồi “không cao lắm” kia, nếu Tôi và O không dừng trên vai cầu Bạch Hổ để Tôi đón nhận câu nói cuối cùng của O trước khi Tôi xa Huế: “<i>Cầu bấy giờ vắng. Tự nhiên O quay sang nhìn tôi và khẽ nói với tôi rằng tôi đi, O sẽ buồn và nhớ. Nói xong O cười e thẹn và giục tôi đạp xe về</i>” (SĐD, trg 14).</p>
<p>Trên đời, sống là biết nhận và biết cho. Lữ Kiều đã đón nhận những khói sương một thuở nhưng chưa kịp trao lại, thì “<i>Một khoảng trống trước mặt. Và thành phố cũng bắt đầu tuột khỏi vòng tay. Lần đầu</i> <i>, tôi mang cảm tưởng hai dãy phố đứng dậy đuổi tôi ra khỏi ngõ</i>” (sđd, trg 16). Cái khoảng trống ấy được anh giải thích, không đến nỗi quá bất ngờ: “<i>Phải, đáng lẽ tôi phải kể cho O nghe, chuyện về cái lô cốt trên ngọn đồi phía tây thành phố. Cũng như đáng lẽ tôi phải hiểu là tôi yêu O, yêu O từ lâu rồi</i>” (sđd, trg 18).</p>
<p>Những mối tình khói sương thuở đầu đời, chừng như chàng trai nào cũng có chút lãng đãng, vu vơ nhưng hiếm khi bày tỏ, dười hình thức này hay hình thức khác. Còn Lữ Kiều cứ thoải mái trải lòng, nâng những cảm xúc bay thật xa thật cao như tiếng sáo vi vu trên những cánh diều buổi chiều hôm nắng quái. Một tôi bâng khuâng với bản Berceuse “<i>thật là buồn. Âm thanh rời rạc, nhẹn ngào, se sắt. Bàn tay thím chầm chậm trên phím đàn. Những ngón tay thon dài&#8230;</i>” (trg 24). Và một tôi khác thì có những hờn giận về người chị bắt đầu thay đổi tâm tính từ ngày bước về nhà chồng, đến làm Tôi ngạc nhiên!</p>
<p>Những truyện như thế anh viết lúc còn là cậu học sinh trung học, hay khi xa nhà, bước chân vào đại học. Nghĩa là những truyện ngắn của những quả mận xanh, trái cam còn lẫn với màu lá.</p>
<p>Sau này, trong những va đập của cuộc sống, như bao chàng “văn sĩ thư sinh” khác, Lữ Kiều đã “lớn” hẳn lên. Sự lớn của một thanh niên bắt đầu đặt những dấu hỏi về thân phận con người trước hoàn cảnh xã hội.</p>
<p>Một buổi mai thức dậy, chàng tuổi trẻ đã nhìn thấy “&#8230;<i>ngọn lửa đã ngút lên, bùng cháy sáng trong lòng một buổi sáng thức dậy. Có phải đó là phút sự thật của ý thức, là lúc nghiệm ra mình vô thủy vô chung, dềnh dàng bập bềnh như những bè lục bình trôi trôi lờ đờ trên dòng sông mù mờ khói sóng</i>” (sđd, trg 94).</p>
<p>Số phận của mỗi người không ai giống ai, nhưng vào thời điểm đó, lúc mà chiến tranh cuốn hút tất cả vào cơn lốc, những chàng trai gặp nhau trên căn gác nhỏ với những tâm trạng nặng nề cùng sự nhập cuộc, lên đường bắt buộc. Họ không suy nghĩ viễn vông, họ chỉ đặt câu hỏi về thân phận làm người và rồi tất cả xoay qua hồi tưởng về một người thầy khả kính, đại diện cho một thế hệ gánh vác trách nhiệm trước lịch sử, dân tộc không chu toàn. Trước mắt họ, đó là một sự thất bại nhục nhã, đó là những đau đớn ê chề dẫn đến những hệ lụy cho các thế hệ sau. Họ kính trọng thầy, nhưng đồng thời cũng “tức tưởi” bởi những thất bại không đáng có của cha ông do những sai lầm trong cách hành sử, chụp bắt lịch sử trong tư thế hụt hẫng: “<i>Nửa đời lận đận với lòng ái quốc, ông ta nhìn chúng tôi như những kẻ nối tiếp. Sự thành tâm của ông làm tôi cảm động. Và chúng tôi không nỡ dồn ông vào chân tường&#8230; Ông nói giọng chắc nịch: Nếu thêm một lần tuyệt vọng, tôi sẽ đâm chết vợ con tôi rồi tôi treo cổ tự tử</i>” (sđd, trg 99). Nguyên nhân dẫn đến những thất bại ê chề trong sự tập họp của số đông tự nhận trách nhiệm trước lịch sử để hành động là: “<i>Ông đã không lớn theo dòng lịch sử. Ông là tên trẻ con bên cạnh gã đàn ông là những biến động lịch sử</i>” (sđd, trg 108).</p>
<p>Hẳn nhiên là không hề có chuyện bàn giao việc gánh vác trách nhiệm lịch sử từ một thế hệ này cho một thế hệ khác. Lịch sử là sự chọn lựa của mỗi thế hệ. Và những người trẻ tuổi ấy lại gặp nhau, họ tâm sự, chia xẻ qua men rượu mượn từ cõi tạm nhiễu nhương. Họ say khước. Họ khóc. Họ cười. Và, họ cảm thấy cô đơn, bơ vơ trước cuộc chiến tranh bắt đầu leo thang đến hồi khốc liệt nhất. Thế hệ trẻ ấy vừa xấu hỗ bởi cuộc chiến tương tàn, phi nghĩa, vừa tuyệt vọng trước những đớn đau khổ lụy cả dân tộc phải hứng chịu. Họ không có lối thoát và tự chọn cái chết một cách “hèn nhát” như chính đất nước họ bị bội phản một cách “đớn hèn” từ phía những tên cầm đầu: “<i>Gã rút trong túi ra một khẩu súng thật đẹp, khẩu súng lục đen láng&#8230;Gã hững hờ mở khóa an toàn&#8230; Mắt bình thản nhìn đứa trẻ la hét, gã đàn ông đưa súng kề màng tang. Bóp cò</i>” (sđd, trg 131).</p>
<p>Rồi như một chiếc lá trên dòng nước cuốn xiết, những người trẻ tuổi một lần nữa lại lên đường sau chiến tranh. Lên đường không có sự chọn lựa của riêng mình. Họ không còn có quyền chọn lựa. Trong trại cải tạo chỉ có lao động và “&#8230;<i>ông đã té từ trên ngọn cao xuống. Anh em phải khiêng ông về.</i> Q<i>uần áo tả tơi, da thịt rách nát, khi tỉnh dậy ông không nói một lời nào”</i> (sđd, trg 165) cùng những buổi tối phải thốt lên hai tiếng “có mặt” trong những lần điểm danh đột xuất. Họ đúng là những con chim bị nhốt trong lồng của người Thượng ốm o đang bẫy chim. Đấy là phần số của cuộc đời họ: “<i>Văn hóa là con người. Sự cám dỗ là của qu</i><i>ỷ</i><i>&#8230; Thật ra tôi không lưu tâm đến số phận con chim hay cái lồng lừa đảo. Với tôi, đôi phổi rách nát của người Thượng già là bi kịch của chúng ta. Sự bi thảm cùng cực/ Anh muốn nói đến sự phi lý của kiếp người? Của muôn loài? Của trần gian?</i>” (sđd, trg 171) .</p>
<p>Câu hỏi đã được đặt ra. Nhiều câu hỏi đã đặt ra, nhưng đó chỉ là những tra vấn cô đơn, là hành trình tìm kiếm sự toàn bích không bao giờ nhìn thấy ánh sáng bởi lịch sử luôn im lặng, không trả lời tại sao. Bi kịch và phi lý chính ở chỗ đó!</p>
<p>Nhưng đến tác phẩm <b>Chàng nho sinh dưới gốc tùng</b> thì lại khác xa. Đó là những trang viết ngắn về bạn bè, những cảm xúc bất chợt hiện đến, hay một tâm sự cần được xẻ chia&#8230; của một Lữ Kiều đã qua tuổi 60. Và tác phẩm này anh gọi là <i>thử bút &amp; xuôi dòng</i>. Đó chỉ là cách gọi của anh. Chẳng có thử bút mà là ngọn bút thật, thật đến rỡ ràng như cơn gió mát mùa hè, như cái lạnh se sắt mùa đông cùng những cơn mưa dầm dề.</p>
<p>Viết về tác phẩm này, thì Đỗ Hồng Ngọc trong bài tựa đầu sách đã nói đủ cả, nói hết trơn, không còn gì để xoáy vào ngõ ngách tâm hồn Lữ Kiều trên từng trang viết nữa: “<i>Chàng nắn nót, nâng niu, đưa ngọn bút lông lên ngang tầm mắt, ngắm nghía từng sợi nhỏ, xoay tới xoay lui đôi ba bận một cách thuần thục mà còn ngập ngừng, rồi thè lưỡi liếm nhanh mấy cái như vót cho các sợi lông bút quấn quít vào nhau, cho nhọn hoắc lại như gom nội lực vào nhất điểm:rồi thận trọng, nhẹ nhàng chàng nhấn bút sâu vào nghiêng mực đã mài sẵn, ngập đến tận cán rút nhanh ra rồi chắt vào vào thành nghiêng, ấn ấn xoay xoay lúc nặng lúc nhẹ cho mực túa ra nức nở, ào ạt rồi thưa dần, đến lúc sắc nhọn vừa ý, chàng phết nhẹ một nét lên tờ giấy đợi chờ, như để đo độ đậm nhạt, hít một luồng chân khí, định thần, lim dim rồi phóng bút&#8230;</i>” (Đỗ Hồng Ngọc, Bài tựa đầu sách).</p>
<p>Vâng, Lữ Kiều đã trải lòng ra cho từng nét chữ trên đầu ngọn bút lông, để vẽ chân dung chính mình, để tìm đến cái đẹp trong đời sống, người tình và bằng hữu. Cây cọ dưới bàn tay tài hoa của chàng nho sinh chỉ cần cái phết nhẹ của những gam màu mông lung, mờ ảo: “<i>Sáng nay, tôi chợt thấy một chiếc lá điệp màu vàng thật kỳ lạ. Cái màu vàng não nùng buồn bã, khiến không thể tìm trong đó chút ánh sáng nào&#8230; chiếc lá độc nhất, giữa vùng nắng rực rỡ dọi vào</i>” (sđd, trg 14).</p>
<p>Trên đời này, ngoài thực tế, chưa có một họa sĩ nào vẽ được âm thanh cao thấp, đục trong&#8230; réo rắt như sáo diều trên không, ì ồ như tiếng suối đổ xuống lòng vực. Vậy mà chàng nho sinh của chúng ta chỉ cần vung ngọn bút, phẩy nhẹ một nét sổ, nét ngang là đã tạo được bức tranh tuyệt mỹ: “<i>Em đã ở đó, đã quỳ gối bên cạnh tôi, khuôn mặt thánh thiện. Nhưng làm sao em hiểu lòng tôi lênh đênh, cũng như làm sao chúng ta hiểu được bao nhiêu điều mơ hồ không thật vây quanh và áp bức đời mình…</i>” (trg 35), và: “<i>Như con bướm đã chết. Chiếc cầu đã gãy. Có gì đâu – kể cả giọt nước mắt một lần nào khóc cho mình, cho người – cũng đã khô. Biết đâu chẳng biến thành mây</i>” (trg 37).</p>
<p>Những trang viết như vậy cứ trôi dần về cuối như một thiên khúc, như một áng mây trôi bềnh bồng trên bầu trời thăm thẳm xanh…</p>
<p>“<i>Tình yêu như cái chết, chỉ một lần, không thể lập lại… quả thật tình yêu là điều huyền nhiệm không thể lặp lại, nhưng tình yêu là sự chết được phục sinh</i>” (trg 53).</p>
<p>Và rồi Lữ Kiều đâu chỉ có những bài thơ ngọt ngào, phóng bút, thử bút, xuôi dòng…, đâu chỉ cầm cọ trước khung vải để nhìn thấu suốt cuộc đời anh trải qua. Anh còn là một nhà viết kịch hiếm hoi của thế hệ chúng tôi, sau những Vi Huyền Đắc, Vũ Khắc Khoan, Dương Kiền… Tôi không rõ những vở kịch anh viết trước đây đã đưa lên sân khấu kịch nghệ Sài Gòn chưa? Nhưng với <b>Kẻ phá cầu</b>, chỉ còn đọng lại trong tôi vở kịch: “<i>Con sâu trong mắt”</i>.</p>
<p>Bối cảnh là trại tù Phú Quốc với 500 tù binh đang tuyệt thực làm reo đòi trao trả xác của đồng đội, nhưng thực chất là để che giấu âm mưu đào thoát. Nhân vật chính là Quyết, kỹ sư, người đã vẽ bàn đồ tuyệt mật và tuyệt hảo cách đào một đường hầm từ sân trại tù binh ra ngoài vòng rào, và là người sẽ chịu trách nhiệm trước anh em về những hành vi “phản bội” của mình. Đường hầm đã đào xong. Những tù binh lần lượt chui ra khỏi “địa ngục trần gian”. Nhưng khốn thay, ba khẩu đại liên trên chòi canh đã quét sạch 99 con người luôn có niềm tin chiến thắng. Máu đã đổ. Tấm thảm kịch không phải là biển máu, mà là những người còn sống sót phải tìm cho ra kẻ phản bội. Tòa án được thiết lập. Lần lượt từng con người chung số phận với họ bị mang ra xét xử. Quyết ngồi vào phiên tòa đó hằng đêm và bi kịch đã xảy ra ngay tại thời điểm này:</p>
<p>“<i>MỘT GIỌNG KHÁC</i></p>
<p><i> Anh em bắt gặp quả tang chú đứng nói chuyện riêng với tên giám thị trong lần đi tạp dịch tuần rồi.</i></p>
<p><i>NẠN NHÂN (khóc)</i></p>
<p><i>Trời ơi. Xin các anh xét lại cho em nhờ. Quả em có nhận điếu thuốc của tên lính canh, bị em thèm quá&#8230;(khóc) mà hắn mời: Em không nhớ mình có làm rơi khăn tay hay không. Nhưng thật sự em không phản bội anh em, oan em lắm&#8230;</i></p>
<p><i>MỘT GIỌNG NÓI (lạnh lùng)</i></p>
<p><i>Chú nói xong rồi?</i></p>
<p><i>NẠN NHÂN (hấp tấp)</i></p>
<p><i>Dạ con điều này nữa. Hôm rằm, chính em ngồi gần anh Năm. Anh Năm biểu anh Quyết trốn đi. Vậy mà anh Quyết không chịu đi, nói rằng anh Năm phải trốn với anh em. (khích động) Sao anh Quyết không đi ? Nếu anh Năm ở lại anh đâu có chết. Vậy sao không ai nghi ngờ anh Quyết. Còn em có làm gì đâu mà các anh nỡ nghi ngờ (khóc).</i></p>
<p><i>Vòng tròn im lặng. Những con mắt nhìn nhau. Một lát. Không khí nặng nề.</i></p>
<p><i>MỘT GIỌNG NÓI</i></p>
<p><i>Biểu quyết. Có bốn bàn tay giơ lên. Rồi một bàn tay hạ xuống. Chỉ còn ba bàn tay giơ lên, nhưng không được vững vàng như trước</i>”.</p>
<p>Vậy là cuộc săn lùng kẻ phản bội diễn ra gay gắt. Kẻ phản bội ấy là ai? Hãy nghe Lữ Kiều dựng lên:</p>
<p>“<i>NGƯỜI ĐÀN ÔNG (khích động, cầu khẩn): Này các đồng chí, các đồng chí nghi ngờ tôi sao? Tôi: kẻ chuyên môn đào hầm. Những đường hầm đã giải thoát bao nhiêu anh em khỏi địa ngục trần gian này? Tôi: kẻ ở lại, ở lại để tiếp tục đào hầm, để cùng chịu chung số phận của anh em. Các đồng chí nghi ngờ tôi thật tình sao? (hét lớn) Hãy nhìn tôi! Hãy nhìn thẳng tôi. Tôi có thể là kẻ phản bội không? Sao mọi người im lặng. Các đồng chí chết cả rồi sao?</i>”.</p>
<p>Bi kịch không phải ở chỗ người trẻ tuổi ấn con dao vào ngực Quyết, mà chính ở chỗ sự bỉ ổi và hèn nhát từ một niềm tin mù quáng: Phải tìm cho ra kẻ thù, phải nhấn chết kẻ thù nhân dân. Bởi bất kỳ nơi đâu, chỗ nào cũng có kẻ thù của nhân dân. Viết đến đây làm tôi nhớ lại trên Giai Phẩm Nhân Văn số ra ngày 11.11.1956 có một bức tranh biếm họa vẽ một ông cán bộ mặc áo đại cán, đội mũ Mao đứng trước gương soi, đập tay vào kính kêu lên: <i>Địch! Địch đây rồi!</i>.</p>
<p>“<i>Vậy là xong. Kỹ sư Trần Văn Quyết đã chết. (một lát). Tôi biết anh vô tội, nhưng tôi phải giết anh. Người ta cần kẻ phản bội, và họ chọn anh. Lỗi tại anh đó, lỗi tại trái tim anh. Anh Năm và anh đều cá mè một lứa. Trái tim. Trái tim. Trái tim là cái thứ gì? Đúng là giọng lưỡi của bọn lãng mạn</i>”.</p>
<p>Một trái tim gần với cửa Phật còn nhuốm bụi trần là chú tiểu. Một trái tim khác đúng nghĩa trái tim, là người đàn ông, là Quyết, mang gửi cửa Phật với cả lòng thành, trái tim còn lại cũng đến cửa Phật, nhưng hành sử theo trái tim sói, là người trẻ tuổi. Đó là bi kịch trong cuộc sống và là thảm cảnh của sự cuồng tín và là sự hèn mạt của những mưu đồ!</p>
<p>Khép lại vở kịch, giá như Lữ Kiều cho nhân vật trẻ tuổi tự dằn vặt mình bằng chút lương tri man trá hơn là nói ra sự thật với nhân vật chú tiểu, có lẽ kịch sẽ hoàn hảo hơn nhiều, sẽ khiến người xem, người đọc luôn băn khoăn tự tra vấn, tìm kiếm kẻ phản bội như cảnh anh dựng ở tòa án nhân dân trong trại giam.</p>
<p>Những tác phẩm của Lữ Kiều từ văn xuôi, thơ đến kịch, hội họa không nhiều, nhưng ở mỗi miền đều có nét riêng, là những vòng xoáy cuộn tròn trong dòng nước lũ, là những vực thẳm, là chiếc lá chao nghiêng lặng lẽ rơi xuống, im lìm, bất động. Những gam màu và những dòng chữ của Lữ Kiều luôn là những tra vấn, tra vấn để đẩy con người tới cái đẹp. Tiếc thay, điều mà chàng nho sinh mong mỏi, và cả chúng ta nữa, những mong mỏi vẫn là những điều không đến, chúng ta và cả nhân gian này chưa bao giờ với tới. Chàng nho sinh ơi, anh có buồn chăng khi mộng ước không thành? Và vì vậy anh đã lôi tôi cùng bạn bè anh, người đọc anh về với hình ảnh một <i>Chàng Kinh Kha buồn: Vẫn bước đi, cuộc hành trình cô độc. Đêm như mê ngủ mà ráo hoảnh ý thức, bất động mà vẫn bùng bùng xao xuyến. Viết như một ăn năn</i>. (sđd, trag 65).</p>
<p>Vâng, viết như một ăn năn để trả nợ đời, bởi chúng ta đã vay ở cõi tạm này quá nhiều, trước khi tiếng <i>om</i> khải thị, phải không?</p>
<p><b>Nguyễn Lệ Uyên</b></p>
<p>(Tháng 6/2010)</p>
<p>________</p>
<p>●<i>Tiểu sử</i></p>
<p>Tên thật: Thân Trọng Minh</p>
<p>Các bút danh khác: Nàng Lai, Cung Nghị, Trầm Tư</p>
<p>Sinh năm 1943 tại Huế. Làm thơ viết văn từ 1958, viết kịch 1964, vẽ 1983.</p>
<p>Trong nhóm chủ trương tạp chí Ý Thức, Sài Gòn 1970-1975</p>
<p>Tác phẩm đã in:</p>
<p>-Mưa qua thành phố (tập truyện)</p>
<p>-Kẻ phá cầu (kịch)</p>
<p>-Trên đồi là lô cốt</p>
<p>-Chàng nho sinh dưới gốc tùng</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2018</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/nguyen-le-uyn-lu-kieu-chng-nho-sinh/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nguyễn Lệ Uy&#234;n: L&#195;M TH&#218;Y, TỪ THUỞ TRĂNG ĐI</title>
		<link>https://t-van.net/nguyen-le-uyn-lm-thy-tu-thuo-trang-di/</link>
					<comments>https://t-van.net/nguyen-le-uyn-lm-thy-tu-thuo-trang-di/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Lệ Uyên]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 05 Sep 2018 12:32:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[nguyễn lệ uyên trang sách]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=36751</guid>

					<description><![CDATA[&#160; Thuở đi trăng vẫn chưa tròn Đến nay trăng úa, vẫn còn xa xôi Sầu trông nhau, bặt tiếng cười Chiều hôm gió tạt, bóng đời tịch liêu Người ơi, ly biệt đã nhiều Còn xa chi nữa cho hiu quạnh đời Về thôi, trăng úa lâu rồi Về thôi, mòn mỏi lắm, người [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p align="center"><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/09/clip_image004.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="display: inline; background-image: none;" title="clip_image004" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/09/clip_image004_thumb.jpg?strip=all&fit=445%2C145" alt="clip_image004" width="445" height="145" border="0" /></a></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><i>Thuở đi trăng vẫn chưa tròn</i></p>
<p><i>Đến nay trăng úa, vẫn còn xa xôi</i></p>
<p><i>Sầu trông nhau, bặt tiếng cười</i></p>
<p><i>Chiều hôm gió tạt, bóng đời tịch liêu</i></p>
<p><i>Người ơi, ly biệt đã nhiều</i></p>
<p><i>Còn xa chi nữa cho hiu quạnh đời</i></p>
<p><i>Về thôi, trăng úa lâu rồi</i></p>
<p><i>Về thôi, mòn mỏi lắm, người chờ mong</i></p>
<p><i>Về thôi, sầu đã thành dòng</i></p>
<p><i>Về thôi, gió đã lạnh lùng từ lâu</i></p>
<p>Mười tám năm trước, tôi đọc được bài thơ này từ một người bạn ở Seattle gửi về, lồng trong một bức điện thư “than vãn” về thân phận của anh ấy ở xứ người. Cả bài thơ là tâm trạng kẻ cô đơn đến tận cùng; một sự chia ly mất mát không lấp nổi. Bài thơ không thấy ghi xuất xứ, chẳng đề tên tác giả nên tôi cứ ngỡ đó là những cảm hoài của bạn bật lên thành tiếng thở nao lòng. Nghĩ vậy và để bụng.</p>
<p>Bảy năm sau, anh PVN gửi về gói sách, trong đó có tập <i>Còn Nguyên Nỗi Ngậm Ngùi</i> do chính tác giả đề tặng. Đọc hết tập thơ và nhớ lại những câu thơ đã đọc, hóa ra bài thơ trên là của Lãm Thúy!</p>
<p>Phải mất cả tuần thư từ qua lại, mới biết tác giả tập thơ hiện cũng định cư ở Mỹ, bạn thân của Nhàn.</p>
<p>Lãm Thúy. Một bút danh nghe rất miệt vườn Nam bộ như tên của một trong các cô gái của nhà văn Bình Nguyên Lộc trongcuốn tiểu thuyết Đò Dọc.</p>
<p>Thực ra cái tên chẳng nói lên điều gì, nhưng những câu chữ trong thơ của Lãm Thúy thì đậm đặc màu đỏ phù sa, vàng bông điên điển, khói đốt đồng trắng trời cho đến trái bần xanh, mắm tép rong, trái cóc, cá lóc nướng trui… và đờn ca tài tử. Nhưng chúng không gần bên chị, chỉ hiện hữu trong tâm thức của kẻ biệt lưu thấp thoáng hình bóng quê nhà trong tâm tưởngđể sau đóbật nức những câu chữ và rồi thành hình hài thơ ca mà giới phê bình văn học gọi là thi giới!</p>
<p>Và quê nhàluôn là nỗi ám ảnh,đeo bám bên chị!</p>
<p>Cứ tưởng tượng, một người buộc phải tách khỏi một vùng văn hóa đã thành hơi thở, máu thịt từ một nửa cuộc đời một cách đột ngột, để đến với một vùng văn hóa xa lạ thì chắc chắn, đời sống tinh thần và vật chất sẽ đụng chạm nhau một cách dữ dội trước khi thích nghi. Nó là mẫu số chung cho tất cả những người xa xứ, sống trong tâm thức của kẻ lưu vong, của những người con bị đẩy ra khỏi mùi bùn non, hương cau, hương lúa trổ đòng; và cuối cùng bị khép vào vòng tuyệt lộ.</p>
<p>Thơ ca đối với những trường hợp này là sự giải bày tâm trạng, là những tiếng kêu thảng thốt trong những cơn mê vàng đục những ưu uất.Vậy nênđọc thơ của chị là đọc những tiếng kêu thầm hiển lộ hình hài. Đó cũng là những hồi ức về tuổi thơ đầy ắp những âm thanh của con nước lên xuống, tiếng bìm bịp đâu đó bất chợt vang lên từ trong lùm đước, lùm mắm; trong bụi ô rô cóc kèn… ở một nơi tuyết phủ trắng trời.</p>
<p>Quá khứ được chị lấp đầy trong hiện tại đến dày đặc.</p>
<p>Nhưng những điều này, liệu có phần nào giải tỏa những muộn phiền, ẩn ức đối với những người làm thơ như chị hay không; riêng với độc giả cùng một cảm thức, có thể, một lúc nào đó, chữ nghĩa trong thơ ca sẽ xô đẩy nhau, len vào tận cùng những ngóc ngách cô đơn của kẻ lạ trên đất khách biệt lưu như một thổn thức bùng vỡ.</p>
<p><i>Ta – Một kẻ tha hương</i></p>
<p><i>Chiều nay đứng bên đường</i></p>
<p><i>Ngó quanh trời đất lạ</i></p>
<p><i>Bụi mù che cố hương</i></p>
<p>(Tha hương)</p>
<p>“Cố hương” trong nỗi nhớ nhung tận cùng của chị, giờ đây sẽ không còn phơi bày bằng những hình ảnh ẩn dụ mà, cụ thể là <i>con đường, trời đất, bụi mù</i>… tất cả được đẩy xa trong tâm tưởng ngắc ngoải, dày vò, đau khổ đến tận cùng của cảm xúc lúc <i>nhớ về</i>. Đó là nỗi nhớ nhung nghìn trùng xa cách; nhớ nhung đến thê thiết hơn nhiều trong những câu ở bài Đoản Khúc sau đây:</p>
<p><i>Quê hương ngàn dặm còn xa</i></p>
<p><i>Ngõ sau không thấy, nhớ nhà đứng đâu?</i></p>
<p><i>Đổ quyên khản giọng kêu sầu</i></p>
<p><i>Những hồn ứa máu còn thâu đêm chờ…</i></p>
<p><i>…Chín chiều đau khúc phân ly</i></p>
<p><i>Bờ sông, cố quận, trời chia nghìn trùng…</i></p>
<p><i>…Đành thôi xứ lạ quê người</i></p>
<p><i>Xót thân lưu lạc, lệ ngùi đêm thâu.</i></p>
<p>Đọc những câu thơ này, tự dưng tôi nhớ đến hình ảnhmột Tô Đông Pha áo đẫm bụi đường, giày vẹt gót,lầm lũi dặm dài gập ghềnh gió mưa qua những chặng biếm trích nhiêu khê; hay một Lý Bạch rày đây mai đó và Tứ Xuyên luôn hiện trong tâm tưởng thi sĩ như một quê nhà chính thức của ông, đến nỗi mỗi khi nhìn thấy trăng ông lại nhớ đến trăng trên núi Nga Mi thời niênthiếu khiến ông nhớ đến quay quắt khôn nguôi, và phóng bút viết nên bài Tĩnh Dạ Tứ bất hủ, đã trở thành thi hứng cho các thi sĩ đời sau:</p>
<p><i>Sàng tiền minh nguyệt quang,</i></p>
<p><i>Nghi thị địa thượng sương.</i></p>
<p><i>Cử đầu vọng minh nguyệt,</i></p>
<p><i>Đê đầu tư cố hương.</i></p>
<p>Vànữa, một Lamartine với bài Milly Ou La Terre Natale khiến người đọc cũng quặn thắt cõi lòng:<b></b></p>
<p>Pourquoi le prononcerce nom de la patrie ?<br />
Dans son brillantexil mon coeur en a frémi ;<br />
Il résonne de loin dans mon âmeattendrie,<br />
Comme les pas connusou la voix d&#8217;un ami.</p>
<p>(Tiếng cố hương vì đâu nhắc đến ?<br />
Lòng xa quê xao xuyến khôn nguôi,<br />
Vẳng nghe vọng lại hồn tôi,<br />
Bước chân quen thuộc, tiếng người bạn thân)<br />
Dẫn ra là để minh họa chứ không phải để so sánh với các bậc thầy trong văn chương. Bởi có cả ngàn bài thơ từ cổ chí kim viết về quê hương, nhưng không bài nào giống bài nào theo cách mượn ngoại giới hay tâm giới để tạo ra thi giới, như Đặng Tiến đã nhận định: “<i>Ý trong thơ, khác với ý trong văn xuôi, ở chỗ nó không có giới hạn, không có kích thước. Tạm nói là nó mông lung, bất định</i>” (Đặng Tiến, Thơ thi pháp &amp; chân dung, NXB Phụ Nữ, HN, 2009).</p>
<p>Cái “<i>không giới hạn, không kích thước, mông lung bất định</i>…” mà nhà phê bình Đặng Tiến đặt tên, dường như luôn thấp thoáng phía sau “nỗi nhớ” của chị. Chẳng hạn:</p>
<p><i>Vẫn tưởng như ta còn ở đó</i></p>
<p><i>Vàm sông ráng nhuộm, tím hoàng hôn</i></p>
<p><i>Mẹ nấu cơm chiều, đang nhuốm lửa</i></p>
<p><i>Mái nhà khói quyện, ấm cô thôn</i></p>
<p><i>Cuối vườn, có cội bằng lăng nở</i></p>
<p><i>Chiều nao rụng cánh, tím nương bèo</i></p>
<p><i>Nhà ai hoa giấy bay trong gió</i></p>
<p><i>Cánh mỏng manh buồn, nước cuốn theo…</i></p>
<p>(Cành hoa tím cũ vẫn chưa phai)</p>
<p><b><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/09/clip_image002.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="margin-right: auto; margin-left: auto; float: none; display: block; background-image: none;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/09/clip_image002_thumb.jpg?strip=all&fit=192%2C196" alt="clip_image002" width="192" height="196" border="0" /></a></b><b></b></p>
<p>Trong những phút xuất thần chị có những câu thơ rất đẹp,bên trong chứa cả hội họa và âm nhạc, rất gần gũi với trường phái thơ lãng mạn Việt Nam với những Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu… giữa cuối thế kỷ trước:</p>
<p><i>Chiều ấy quê nhà mây xuống vai</i></p>
<p><i>Bến sông hong tóc nắng thu cài</i></p>
<p><i>Trong gió chợt nồng hương dã thảo</i></p>
<p><i>Quyện vị cơm chiều khói bếp ai</i></p>
<p><i>…Ở đó vườn trăng lá dát vàng</i></p>
<p><i>Đêm nhòa sương khói trắng không gian</i></p>
<p><i>Mái chèo chạm vỡ dòng sông bạc</i></p>
<p><i>Con thuyền về muộn chở đầy trăng</i></p>
<p>(Một cõi bồng lai)</p>
<p>Có điều, trong thơ Lãm Thúy, chúng ta không hề nhận ra sự cố tình làm mới câu chữ, cũng chẳng hề sắp đặt ngôn ngữ theo trường phái Tân hình thức, Hậu hiện đại hay Hậu hiện sinh gì cả để người đọc phải dùng lý trí mà khám phá ra “thế giới mông lung” kia. Ngôn ngữ thơ của chị hồn nhiên, chơn chất như bản tính vốn có của người dân đồng bằng Nam bộ:</p>
<p><i>Nhà nghèo, rách mặc, thiếu ăn</i></p>
<p><i>Cha đi câu cá, phơi thân nắng hè</i></p>
<p><i>Rô mề mẹ nướng gắp tre</i></p>
<p><i>Giầm nước mắm hạnh còn mê tới giờ</i></p>
<p><i>Miếng ngon gắn với tuổi thơ…</i></p>
<p>(Cha và tuổi ấu thơ)</p>
<p>Nếu gọi đây là câu thơ theo đúng với cách nhìn của các nhà phê bình văn học cổ điển, hẳn họ không chịu công nhận đó là thơ. Vậy nhưng loại trừ tính chính thống chính danh của phê bình cổ điển, lật ngược ra phía sau, đọc một cách tự nhiên như đọc một câu văn nói và… để cho sự đọc đó thấm dần tựa như thịt con cua đồng nướng, tan chảy trên đầu lưỡi vừa khi cời cua ra khỏi lửa rơm, hẳn ta sẽ cảm nhận được mùi vị của khói, hương thơm của đất trời trộn lẫn với mùi mồ hôi quen thuộc từ thuở chập chững trên cầu ao, ngoi ngóp trong đìa nước mát. Những hình ảnh câu cá, nướng gắp tre, giầm nước mắm… có thể bắt gặp bất kỳ miền không gian nào, nhưng với tuổi ấu thơ, chúng gây những ấn tượng khó phai. Chúng ngủ yên trong miền ký ức; rồi một hôm bổng bật dậy sáng rỡ,. hiện về trong con người ở tuổi 40, 50 thành một cô bé, cậu bé bên đìa nước, bên vàm sông, bên bếp lửa rực rỡ tuổi thơ.</p>
<p>Câu thơ trần trụi tựa lời kể cho bạn nghe về tuổi ấu thơ khốn khó, nhưng vượt lên trên cái trần trụi của lời kể thông thường lại là những âm sắc gợn xoắn đến nao lòng.</p>
<p>Trong rất nhiều bài thơ của chị đều viết dưới dạng này, mà tôi tạm đặt tên là dòng thơ tự sự, mượn ngôn ngữ để chia sẻ những tâm cảm của nhân vật thơ trước cái nhìn, suy nghĩ, cảm nhận của nhà thơ.</p>
<p>Viết ra một bài thơ hay đã khó, nhưng viết một bài thơ không gọi là hay, mà khiến mọi người phải vật vã, bật lên những rung cảm như người đồng điệu trong những cảnh ngộ bất ngờ tìm thấy bóng dáng mình, người thân của mình, những cảnh vật quen thuộcở mỗi câu chữ, mỗi dòng… thật không dễ.</p>
<p>Viết về cha, về mẹ, về những người thân yêu thường được chị viết từ một khoảng cách xa, thời gian xa bằng những hồi tưởng ngậm ngùi gần gũi. Và ở đó, luôn mang âm hưởng của ca dao, của những câu hò điệu lý, điệu ru Nam bộ.</p>
<p><i>Lòng già như ngọn sầu riêng</i></p>
<p><i>Gió lay hiu hắt, muộn phiền, nhớ nhung</i></p>
<p><i>…</i></p>
<p><i>Chiều chiều ra đứng bờ sông</i></p>
<p><i>Ngó con đò dọc, nước ròng thêm xa</i></p>
<p><i>Chiều chiều, Cha vọng ngả ba</i></p>
<p><i>Nước đầy sông rộng, nhạt nhòa đò ngang</i></p>
<p>(Hoàng hôn trong mắt cha già)</p>
<p>Và viết về người mẹ:</p>
<p><i>Buổi sáng ra nhìn hoa bí nở</i></p>
<p><i>Ngùi thương quê cũ nắng vàng bông</i></p>
<p><i>…</i></p>
<p><i>Chiều nắng tắt sau vườn biếc</i></p>
<p><i>Mẹ thường ra quét lá bờ sông</i></p>
<p><i>Đò ngang, đò dọc người qua hết</i></p>
<p><i>Mẹ đứng buồn im, lệ ngập ngừng…</i></p>
<p>(Trồng rau nhớ mẹ)</p>
<p>Viết về con, với những mất mát đớn đau đến tận cùng của người mẹ, chị đã mượn ngôn ngữ, lời thơ để thay cho nước mắt; những dấu câu, ngắt dòng để thay cho trái tim lần hồi tan chảy;</p>
<p><i>Xe tang</i></p>
<p><i>dừng lại trước thềm</i></p>
<p><i>Đóa hoa cúc lạnh</i></p>
<p><i>im lìm dưới mưa</i></p>
<p>(Đưa con hỏa táng)</p>
<p>Chưa thấy ai, khi mất một đứa con yêu dấu lại bình thản như thể thịt da, xương cốt kia thuộc về kẻ lạ? Đến như Đỗ Hồng Ngọc, một nhà thơ, một bác sĩ vừa là “thiền giả” với hàng chục quyển sách viết về <i>Đạo về Người…</i> trước cái chết của con, ông cũng kêu lên tiếng thầm thì đau điếng:</p>
<p><i>Ba viết trăm lần lý lịch</i></p>
<p><i>Cứ mỗi lần viết đến tên con</i></p>
<p><i>Ba lại ngẩn ngơ</i></p>
<p><i>Như một kẻ mất hồn</i></p>
<p><i>Biết trả lời sao</i></p>
<p><i>Câu hỏi</i></p>
<p><i>Hiện con đang làm gì?</i></p>
<p><i>Ở đâu?</i></p>
<p>(Đỗ Hồng Ngọc – La Ngà 2)</p>
<p>Cả hai, Đỗ Hồng Ngọc và Lãm Thúy đều cùng chung một tâm trạng về sự mất mát đến tận cùng nỗi đau, nhưng một người thì tự hỏi “ở đâu?” còn người kia là “đóa hoa cúc… im lìm…”. Cách dùng từ ngữ, cách thể hiện tuy khác nhau nhưng khi câu thơ vẳng lên không khỏi khiến người đọc có cảm giác ngậm ngùi, đồng cảm với nỗi đau của người trong cuộc.</p>
<p>Nếu như thơ là tiếng nói riêng của thi sĩ, thì việc phác họa chân dung nhà thơ chỉ là sự phác họa mông lung tiếng lòng gắn liền giữa nội tâm và ngoại giới; là vẹt lá đan chéo nhau trong rừng sâu để tìm dẫn lối đi ra chốn phong quang. Và giữa chốn mông lung rậm rạp kia, ta có thể bất ngờ nhận ra mùi hương thoảng đâu đó, chút vạt nắng xiên khoai cùng sự im lặng đến khó lường của tận cùng ý thức. Vì vậy, mỗi câu thơ đều mang mùi hương khác nhau, màu sắc khác nhau và âm thanh khác nhau, phong vị khác nhau…để người đọc có thể khám phá điều mới lạ trong cái bình thường nhất.</p>
<p>Cả trăm bài thơ của Lãm Thúy đều có bóng dáng mới lạ trong cái bình thường đó. Nghĩa rằng, chị không cố công đào sâu ý thức của cái tôi để làm tình làm tội lời thơ và ý thơ. Những tâm cảm trong thơ chị gắn với ngoại giới theo phong cách dân gian mà tôi tạm gọi là thơ tự sự nêu trên: Bởi những hình ảnh, âm thanh, màu sắc trong từng câu thơ, bài thơ của chị rất gần gũi với đời thường. Chị sống trong, thở với, rờ chạm vào… với những cảnh vật quen thuộc, những sự kiện, tình cảnhdung dị ở vùng sông nước… nằm sâu trong tiềm thức, rồi lúc nào đó bổng bật ra tiếng thở… Tiếng thở của thi ca.</p>
<p>Những câu sau là một sự chia sẻ rung bật từ ngoại giới đã ngủ yên lâu nay trong tiềm thức:</p>
<p><i>Thương những “hàng thần lơ láo” ấy</i></p>
<p><i>Áo trận thay ra, mặc áo tù</i></p>
<p><i>Đêm tàn mộng gửi ngoài biên ải</i></p>
<p><i>Núi rừng Tây Bắc lạnh thâm u</i></p>
<p>(Đọc thơ Trần Hoài Thư)</p>
<p>Giữa trào lưuvăn học Hậu hiện đại, Hậu hiện sinh, Tân hình thứcvới nhan nhản những cái Tôi dung nạp đầy ắp lý trí trong câu chữ, thậm chí mang cả tính dục vào nỗi cô đơn, như một ý thức phản kháng (và làm dáng), thì Lãm Thúy vẫn chọn con đường riêng, một lối đi đầy hoa cỏ, rộn tiếng chim hót, vang nhẹ tiếng mái dằm khua nước… thênh thang một cõi xưa nay và bước tới. Rất nhẹ nhàng, thanh thoát:</p>
<p><i>Ta về tịch mịch đường xa </i><i><br />
Có trăng khuya dõi theo và cô đơn<br />
Dường như đêm lạnh lùng hơn<br />
Hỏi mùa đi gió có còn xuân không ?</i></p>
<p>(Thì thôi giã biệt)</p>
<p>Tôi nghĩ, mùa xuân vẫn còn trong thi giới Lãm Thúy (và của tất cả chúng ta, những con người luôn hướng về cái đẹp) như ánh nắng ấp áp đầu đông. Đó là kích thước của nhà thơ không ngừng nghỉ khắc họa những cảm xúc chân thật từ tận cõi sâu thẳm của tâm thức trước mọi vật, mọi việc.</p>
<p><strong>Nguyễn Lệ Uyên</strong></p>
<p>(xứ Xương Rồng,Tháng 8.2018)</p>
<p>_________</p>
<p>Lãm Thúy sinh tại làng Nhơn Ái, Phong Điền, Cần Thơ. Tốt nghiệp ĐHSP/CT khóa 6.</p>
<p>Dạy học tại Cần Thơ và Huế. Định cư tại Gaithersburg Maryland HK từ năm 1992.</p>
<p>Viết trên các báo: Làng Văn (Canada), Đẹp, Trầm Hương, Kỷ Nguyên Mới, Tiền Phong, Thư Quán Bản Thảo, Đa Hiệu…</p>
<p>Tác phẩm đã XB: Còn Nguyên Nỗi Ngậm Ngùi, Thâm Tình, Từ Mẫu, Từ Biệt.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2018</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/nguyen-le-uyn-lm-thy-tu-thuo-trang-di/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>

<!--
Performance optimized by W3 Total Cache. Learn more: https://www.boldgrid.com/w3-total-cache/?utm_source=w3tc&utm_medium=footer_comment&utm_campaign=free_plugin

Page Caching using Disk: Enhanced 

Served from: t-van.net @ 2026-07-11 15:34:29 by W3 Total Cache
-->