<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>nguyễn lệ uyên &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<atom:link href="https://t-van.net/tag/nguy%e1%bb%85n-l%e1%bb%87-uyen/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://t-van.net</link>
	<description>Văn Học và Đời Sống</description>
	<lastBuildDate>Sun, 19 Apr 2026 22:24:38 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.7.7</generator>

<image>
	<url>https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/02/t-van-favicon.png?strip=all&#038;resize=32%2C32</url>
	<title>nguyễn lệ uyên &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<link>https://t-van.net</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>NGUYỄN LỆ UYÊN: Truyện Ngắn (Tuyển tập)</title>
		<link>https://t-van.net/nguyen-le-uyen-truyen-ngan-tuyen-tap-2/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Lệ Uyên]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 01 Aug 2020 15:39:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Tủ Sách T.Vấn & Bạn Hữu]]></category>
		<category><![CDATA[nguyễn lệ uyên]]></category>
		<category><![CDATA[tủ sách tv&bh]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=63022</guid>

					<description><![CDATA[Xin Bấm Vào Đây Để Mở Hoặc Tải Về Máy NGUYỄN LỆ UYÊN: Truyện Ngắn (Tuyển Tập) Nhà Văn Nguyễn Lệ Uyên qua người vợ, bà Nguyễn Thị Hoa Vuông Chiếu&#160;(VC): Trong cơ duyên nào bà đã đến với người bạn đời của mình ? Và trong chiều dài thăng trầm của cuộc sống, bà [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="has-text-align-center"><strong>Xin Bấm Vào Đây Để Mở Hoặc Tải Về Máy</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>NGUYỄN LỆ UYÊN: Truyện Ngắn (Tuyển Tập)</strong></p>



<div data-wp-interactive="core/file" class="wp-block-file aligncenter"><object data-wp-bind--hidden="!state.hasPdfPreview" hidden class="wp-block-file__embed" data="https://cdn.t-van.net/2023/06/Truyen-Ngan-final.pdf" type="application/pdf" style="width:100%;height:600px" aria-label="Embed of Truyen Ngan-final."></object><a id="wp-block-file--media-550318f2-e0f7-4eb6-813e-e211d825e192" href="https://cdn.t-van.net/2023/06/Truyen-Ngan-final.pdf" class="mcloud-attachment-63023">Truyen Ngan-final</a><a href="https://cdn.t-van.net/2023/06/Truyen-Ngan-final.pdf" class="wp-block-file__button wp-element-button mcloud-attachment-63023" download aria-describedby="wp-block-file--media-550318f2-e0f7-4eb6-813e-e211d825e192">Download</a></div>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/06/bia-truoc-truyen-ngan-final.jpg?strip=all&w=2560"><img fetchpriority="high" decoding="async" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/06/bia-truoc-truyen-ngan-final.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-63024" width="301" height="402" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/06/bia-truoc-truyen-ngan-final-225x300.jpg 225w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/06/bia-truoc-truyen-ngan-final.jpg?strip=all 602w" sizes="(max-width: 301px) 100vw, 301px" /></a></figure></div>

<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/06/bia-sau-truyen-ngan-final.jpg?strip=all&w=2560"><img decoding="async" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/06/bia-sau-truyen-ngan-final.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-63025" width="302" height="400" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/06/bia-sau-truyen-ngan-final-227x300.jpg 227w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/06/bia-sau-truyen-ngan-final.jpg?strip=all 604w" sizes="(max-width: 302px) 100vw, 302px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><strong>Nhà Văn Nguyễn Lệ Uyên qua người vợ, bà Nguyễn Thị Hoa</strong></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2020/07/anh-chi-NLU.jpg?strip=all&w=2560"><img decoding="async" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2020/07/anh-chi-NLU-1024x707.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-44012" width="352" height="243" srcset="https://cdn.t-van.net/2020/07/anh-chi-NLU-300x207.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2020/07/anh-chi-NLU-768x530.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2020/07/anh-chi-NLU-1024x707.jpg?strip=all 1024w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2020/07/anh-chi-NLU.jpg?strip=all 1029w" sizes="(max-width: 352px) 100vw, 352px" /></a></figure></div>


<p></p>



<p><strong>Vuông Chiếu</strong>&nbsp;<strong>(VC)</strong>: Trong cơ duyên nào bà đã đến với người bạn đời của mình ? Và trong chiều dài thăng trầm của cuộc sống, bà có thể giới thiệu một kỷ niệm buồn, vui ?</p>



<p><strong>&nbsp;Nguyễn Thị Hoa</strong><em>: Chúng tôi dạy chung trường trước 75, ảnh dạy Việt văn, tôi Sử địa. Thời đi học, tôi đọc Nguyễn Thị Hoàng, Vũ Khắc Khoan, Nguyễn Mạnh Côn, Vũ Bằng, Dương Nghiễm Mậu… Đọc nhưng không “mê đắm” văn chương cho lắm. Lần đầu tiên gặp ảnh, là lúc ảnh biệt phái về trường. Tướng mạo cứ như “anh lính râu ria” của Quang Dũng. Nhìn mà phát sợ. Đến bữa nọ, ông cai trường nhận thư của các giáo sư để trên bàn phòng giáo sư, tình cờ liếc nhìn thấy bì thư của báo Văn, có cái entiquette đỏ chót trên góc trái, gửi ảnh… Từ đó tôi mới biết ảnh có viết văn. Tôi bắt đầu tìm đọc. Thú thật, đọc cho có đọc, chớ tôi không mấy thích văn phong của ảnh (hồi đó), lại thêm bút danh như đàn bà con gái. Sau này hỏi ra, ảnh mới nói rõ: đó là tên làng ngoài quê ảnh. Một làng quê đẹp, nằm dốc ngược trên quả đồi sát biển: Lệ Uyên.</em></p>



<p><em>Chúng tôi đến với nhau, có lẽ từ cái duyên văn nghệ này. Mỗi người tìm thấy ở người kia có một chút của mình. Một chút đó gắn liền suốt bao năm tháng có vui có buồn, nhất là giai đoạn sau 75. Tôi vẫn đi dạy, còn ảnh nấu rượu lậu lấy bã hèm nuôi heo để có chút tiền cho các con ăn học. Nhọc nhằn, nhưng hạnh phúc vì nhờ đó mà các con lớn khôn…</em></p>



<p><em>&nbsp;</em><strong>VC</strong>: Nhiều người thường quan niệm rằng: các ông bà tác giả, dù sinh hoạt ở bộ môn nghệ thuật nào, cũng thường có tính lơ là đối với những công việc gia đình. Theo bà, nhận xét này đúng được bao nhiêu phần trăm ? Và riêng ông nhà thì sao ?</p>



<p><em>&nbsp;</em><strong>NTH</strong><em>: Ảnh thường nói rằng: “tôi cảm ơn quân trường đã dạy nhiều điều có thể áp dụng trong cuộc sống đầy dẫy những khốn khó này, đặc biệt là bài&nbsp;</em><strong><em>mưu sinh</em></strong><em>”. Những năm thất nghiệp, mất dạy… ảnh có thể chặt củi, nấu cơm, ra đồng, gieo mạ… những việc mà từ trước hình như ảnh chẳng hề biết đến cán cuốc, cây rựa là gì. Với lại, trong khoảng thời gian này, các ông bà nhà văn còn ở lại trong nước, hầu hết đều lo đến cái sống hàng ngày cho cả gia đình, nên chẳng mấy ai cầm nổi bút. Còn giờ này thì việc nhà vẫn chu tất, vẫn ưu tiên, thời gian còn lại thì viết, đọc. Có lúc hứng chí, bỏ việc đi chơi với bạn văn cả tuần. Đó cũng là lẽ thường tình của các ông văn nghệ mà? Đúng chỗ này thì sai chỗ kia mà, làm sao đưa ra nổi nhận xét với phần trăm?</em></p>



<p><strong>VC</strong>:&nbsp;<em>Ngoài những môn sở trường, xin cho biết ông nhà còn thích hoạt động giải trí thêm với những bộ môn nào khác ?</em></p>



<p><em>&nbsp;</em><strong>NTH:</strong><em>&nbsp;Ảnh mê bóng đá, từ ngoại hạng Anh đến, La Liga, Serie A, Pháp… mà lại không bao giờ đụng mắt đến bóng đá VN? Hỏi ra, ảnh kêu, đá như mấy thằng trẻ nít trong ấp đá banh thì coi làm gì cho tốn thì giờ?! Hằng ngày chăm sóc mấy gốc bonsai. Buồn thì kêu mấy ông bạn nông dân già trong xóm tới uống vài ly rượu, nói đông nói tây, chuyện nóng chuyện lạnh. Trong này làm gì có quỹ thời gian và vật chất để thực hiện những mơ ước? Cứ ủ mai trong lòng, riết rồi mục rã hết trơn!</em></p>



<p><em>&nbsp;</em><strong>VC</strong>: Xin cho biết một ít thói quen của ông nhà trong lúc sáng tác?</p>



<p><strong>NTH:</strong><em>&nbsp;Tôi thấy ảnh chẳng có thói quen nào khi ngồi vào bàn viết cả. Rảnh đâu thì viết đó, hứng chí thì viết, bỏ cả việc. Có lúc cả tháng không thấy đụng tới cái máy. Lại có khi viết tràng giang đại hải rồi xoá sạch. Không hiểu nổi?</em></p>



<p><em>&nbsp;</em><strong>VC:</strong>&nbsp;Bà&nbsp;đã từng có những đóng góp vào công việc sáng tác của ông&nbsp;nhà ?</p>



<p><strong>NTH:</strong><em>&nbsp;Đóng góp lớn nhất của tôi là sanh con cho ảnh, rồi cùng nhau nuôi con. May mà không có đứa nào theo nghiệp cha! Đôi lúc tôi cũng cằn nhằn, ảnh nhăn răng cười: “em không biết đâu, thằng cha bác sĩ chỉ cứu được người, chớ còn tụi anh thì cứu được đời kia đấy”. Ghê gớm thật. Đại ngôn, tôi nghĩ. Cứu sao mà xã hội cứ ngày càng đi xuống về mọi mặt: nhân bản biến mất, văn hoá biến mất, tính người biến mất… Cứu được gì. Đúng, mấy ông nhà văn hay đại ngôn vậy đó. Nói cho lấp đi những điều không thể làm nổi, khoả lấp sự bất lực của ngòi bút?</em></p>



<p><strong>VC</strong>: Bà có những nhận xét tổng quát nào về toàn bộ tác phẩm của ông nhà đã được giới thiệu rộng rãi trong quần chúng ?</p>



<p><em>&nbsp;</em><strong>NTH:&nbsp;</strong><em>Viết một tác phẩm thì thuộc về nhà văn. Đọc và đánh giá tác phầm thì thuộc về số đông độc giả. Nhưng khốn thay, tôi lại là độc giả rất thiểu số mà lại gần gũi nhất, là một nửa của anh ấy thì làm sao nhận xét được? Xét một hồi có khi nhận nước tác phẩm của ảnh đấy chớ, vì, tính chủ quan của mình, với lại “văn mình, vợ người mà?”. Thành ra tôi chỉ nhận xét “ăn theo”. Ấy là khi những khi tập truyện ngắn, biên khảo của ảnh được trao giải, có nghĩa là có “một chút số độc giả” công nhận. Không hẳn là lớn lao, chân thật… nhưng dẫu sao cũng có người để mắt tới, nghĩa là có đọc tác phẩm của chồng mình thì thấy vui. Chưa biết khen chê thế nào, nhưng cứ mỗi truyện có chừng trăm độc giả chịu đọc tác phẩm mình trong thời buổi nhiễu nhương này là đã thấy mừng. Rồi mỗi tác giả chỉ chừng vài truyện ngắn, bài thơ được số đông công nhận thì coi như đã thành công. Dưới mắt tôi, thời buổi này, ảnh còn can đảm ngồi viết văn thì cũng giống như chuyện đi làm công quả ở các ngôi chùa vậy thôi.</em></p>



<p><em>&nbsp;</em><strong>VC</strong>: Xuyên qua việc phát hành, phổ biến các tác phẩm nghệ thuật của ông nhà, bà có những nhận định gì về tình hình sinh hoạt văn học nghệ thuật Việt Nam hiện nay tại hải ngoại ?</p>



<p><em>&nbsp;</em><strong>NTH:</strong><em>&nbsp;Vắn tắt, thì dễ thở, đa dạng hơn trong này.</em></p>



<p><em>&nbsp;</em><strong>VC:</strong>&nbsp;Cá nhân bà đã và đang sinh hoạt trong lãnh vực nào ? Những sinh hoạt đó có gây trở ngại hoặc hổ tương trong việc sáng tác của ông nhà ?</p>



<p><em>&nbsp;</em><strong>NTH:</strong><em>&nbsp;Tôi là nhà giáo đã hưu rồi. Ở tuổi này, tôi chỉ còn mỗi một niềm vui là đọc kinh Phật, đến chùa. Nhân đây, xin cảm ơn anh Đỗ Hồng Ngọc, bạn của chồng tôi, người đã gửi tặng quyển Nghĩ về trái tim, Như thị… để tôi đến gần hơn với các tạng kinh Phật, hiểu thêm một chút về Tâm kinh Bát nhã ba la mật đa.</em></p>



<p><em>Đọc kinh và đến chùa thì ắt không gây trở ngại phiền phức gì đến chữ nghĩa anh ấy, nhưng hỗ tương thì chẳng thấy gì. Vì truyện ảnh viết nó cứ sần sùi như da cóc, như lá ô rô cóc kèn. Tôi có nói đùa, coi chừng người ta phun chất diệt cỏ dại thì mấy cái gai kia cũng nhũn ra.</em></p>



<p><em>Đem truyện ảnh vào chùa hay ngược lại hoá ra như sư Hổ Mang sao?</em></p>



<p><strong>VC:</strong>&nbsp;Nếu có thể được, xin bà vắn tắt cho đôi dòng tiểu sử của ông , những tác phẩm của ông ấy, và đôi dòng về cá nhân bà, đại khái quê quán, hoài bảo…</p>



<p><em>&nbsp;</em><strong>NTH:</strong><em>&nbsp;Ảnh sinh năm 1948 tại Tuy Hoà, học Đại Học Sư Phạm Cần Thơ, khoá 6/70 Thủ Đức, dạy học tại Gò Công.</em></p>



<p><strong><em>Tác phẩm đã in:</em></strong></p>



<p><em>Các tập truyện: Sông chảy về núi. Mưa trên sông ĐắkBla, Mùa hè sang trọng, Chân dung tự vẽ.</em></p>



<p><em>Biên khảo: Trò chơi dân gian, Truyền thuyết và huyền thoại Phú Yên và một tập viết về các nhà văn nhà thơ miền Nam trước 75 là Trang sách và Những giấc mơ bay, tập I. Tập II hình hư ảnh viết cũng gần xong nhưng không biết ai chịu in cho. Nhờ vả vợ chồng anh THT nhiều rồi, ảnh ngại.</em></p>



<p><em>Còn tôi sinh trưởng ở Gò Công, dạy học. Nay thì theo về quê chồng. Các con đã thành đạt. Mơ ước duy nhất là bớt đi sự ngột ngạt, hay tan mất càng tốt để các ông bà nhà văn nhà thơ viết nhiều hơn, hay hơn và, hơn hết, để tất cả mọi người đều nở cụ cười thật tươi, thật rạng rỡ.</em></p>



<p><em>&nbsp;</em><strong>Nguyễn Thị Hoa</strong></p>



<p><strong><em>&nbsp;</em></strong><strong>Nguyễn Lệ Uyên</strong></p>



<p><strong>&nbsp;</strong><em>Tên thật Đoàn Hùng, sinh năm 1948 tại Tuy Hòa. Tốt nghiệp đại học sư phạm Cần Thơ (khoá 3 ban Việt Hán).&nbsp;</em><em>Cựu sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa (khoá 6/70 SQ trừ bị Thủ Đức).</em></p>



<p><em>Hiện&nbsp;</em><em>sinh sống</em><em>&nbsp;ở Việt Nam.</em></p>



<p><strong><em>Tác phẩm đã xuất bản:</em></strong></p>



<p><em>Sông Chảy Về Núi (truyện)</em></p>



<p><em>Mưa Trên Sông ĐăkBla (truyện)</em></p>



<p><em>Mùa Hè Sang Trọng (truyện)</em></p>



<p><em>Chân Dung Tự Vẽ (truyện)</em></p>



<p><em>Trò Chơi Dân Gian (nghiên cứ</em><em>u&nbsp;</em><em>&nbsp;dân gian)</em></p>



<p><em>Bài Chòi (nghiên cứu dân gian)</em></p>



<p><em>Truyền Thuyết &amp; Huyền Thoại Phú Yên (nghiên cứu dân gian)</em></p>



<p><em>Trang Sách &amp; Những Giấc Mơ Bay,</em></p>



<p><em>tập 1</em><em>, 2, 3</em><em>&nbsp;(viết về các tác giả miền Nam)</em></p>



<p class="has-text-align-center"><a href="https://t-van.net/?cat=343" target="_blank" rel="noreferrer noopener"><strong>Tủ Sách T.Vấn &amp; Bạn Hữu</strong></a></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter"><a href="https://t-van.net/?cat=343" target="_blank" rel="noreferrer noopener"><img loading="lazy" decoding="async" width="300" height="124" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/11/30-tac-pham-11-2017-1-300x124.jpg?strip=all" alt="30 tac pham-11-2017" class="wp-image-33420" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/11/30-tac-pham-11-2017-1-300x124.jpg?strip=all 300w, https://cdn.t-van.net/2017/11/30-tac-pham-11-2017-1-768x318.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2017/11/30-tac-pham-11-2017-1-1024x424.jpg 1024w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/11/30-tac-pham-11-2017-1.jpg?strip=all 600w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></a></figure></div>]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nguyễn Lệ Uyên: Y UYÊN &#8211; NHÂN KỶ NIỆM 50 NĂM NGÀY MẤT (8.1.1969 &#8211; 8.1.2019)</title>
		<link>https://t-van.net/nguyen-le-uyen-y-uyen-nhan-50-nam-ngay-mat-8-1-1969-8-1-2019/</link>
					<comments>https://t-van.net/nguyen-le-uyen-y-uyen-nhan-50-nam-ngay-mat-8-1-1969-8-1-2019/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Lệ Uyên]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 08 Jan 2019 12:43:52 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[nguyễn lệ uyên]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=38245</guid>

					<description><![CDATA[Bài vị nhà văn Y Uyên (tại nhà) (Trích lại bài viết trên Thư Quán Bản Thảo số 18 tháng 2 năm 2005) Như vậy cuối cùng thì bức tượng đồng Y Uyên cũng được phục chế hoàn chỉnh. Bao nhiêu những lo lắng phập phồng của anh em đã được điêu khắc gia PVH [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/01/Noi_Tho_Y_Uyen_tai_nha.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-38246" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/01/Noi_Tho_Y_Uyen_tai_nha-300x204.jpg?strip=all" alt="" width="346" height="235" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/01/Noi_Tho_Y_Uyen_tai_nha-300x204.jpg?strip=all 300w, https://cdn.t-van.net/2019/01/Noi_Tho_Y_Uyen_tai_nha-768x522.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/01/Noi_Tho_Y_Uyen_tai_nha.jpg?strip=all 883w" sizes="(max-width: 346px) 100vw, 346px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><em>Bài vị nhà văn Y Uyên (tại nhà)</em></p>
<p><em>(Trích lại bài viết trên Thư Quán Bản Thảo số 18 tháng 2 năm 2005)<br />
</em></p>
<p>Như vậy cuối cùng thì bức tượng đồng Y Uyên cũng được phục chế hoàn chỉnh.<br />
Bao nhiêu những lo lắng phập phồng của anh em đã được điêu khắc gia PVH và các môn sinh của anh đêm ngày đúc khuôn. Đúc và xoá và đúc chỉ với hai lỗ tai thôi (đã bị kẻ trộm cưa mất cách đây hơn ba mươi năm ở nghĩa trang quân đội Hạnh Thông Tây) nhưng quả thực là khó tạo được vẻ thật của nó lúc ban đầu mà điêu khắc gia Đỗ Toàn cùng anh em văn nghệ ở Tuy Hoà đã bỏ khá nhiều công sức như một tấm lòng với người bạn văn quá cố.<br />
Hôm tôi đến nhà lần đầu, nhìn bức tượng bị mất hai lỗ tai, nhà văn Bùi Đăng (tác giả truyện dài Cúi Mặt đăng nhiều kỳ trên Bách Khoa, sau in thành sách) thầm thì: “may cho mày Uy ạ, mày mất hai lỗ tai để khỏi phải nghe những điều trái khoáy”. Và sau khi anh PVH nhận lời phục chế, cậu Vượng (em út Y.U) đưa bức tượng từ bàn thờ xuống, nói đùa như thật: “Anh ngồi nhà lâu quá, bữa nay anh L. anh H. và em đưa anh đi dạo phố chơi chút, sau đó “tút” lại cho anh đẹp trai như ngày nào”. Chúng tôi bật cười với một chút ngậm ngùi cay đắng.<br />
Giờ thì bức tượng đã hoàn chỉnh, đặt trang trọng trên bàn thờ anh. Nhưng tấm hình thì nhiều vết hoan ố thời gian. Tôi đề nghị gia đình cho tôi mang đi tiệm photostat lại. Vậy là Y Uyên cùng tôi lên xe máy rong chơi phố Sài Gòn giữa trưa nắng. Anh nhìn thấy gì và cảm nhận được điều gì trên những con phố anh em mình đi qua, qua từng ấy năm? Những thay đổi ồn ào, những nhốn nháo lợn cợn trong đầu mỗi người hụt hơi bởi những đòi hỏi vô tận vô cùng. Anh vào tiệm làm đẹp lại chút xíu nhân dạng mình trên tờ giấy ảnh. Còn tôi thì ngồi bên kia đường với vại bia đen ngó sang như ngày nào anh ngồi hớt tóc, tôi ngoài quán cà phê vỉa hè đợi anh vậy. Anh em mình vẫn gần nhau mà. Vẫn có những khoảnh khắc đợi chờ và tương ngộ và biệt ly. Không. Không thể là biệt ly mà là chia tay. Rồi chúng ta sẽ lại gặp nhau. Cuộc đời là một vòng xoay. Cuộc đời là sự chấm dứt trước và sau. Trở về với cát bụi, vô thường, có và không giữa những vòng xoáy của một hành trình thăm thẳm những hố đen ngòm. Nhân dạng anh khoảnh khắc lại trở về với chốn cũ ngày nào. Dẫu cho đó là một khoảnh khắc không thật. Nhưng dẫu sao khuôn mặt anh, nụ cười rất trẻ thơ của anh làm tôi bùi ngùi nhớ lại những ngày xa lăng lắc, rực rỡ những sắc màu của tuổi thanh xuân, của những ước mơ chưa toại lòng.<br />
Anh vĩnh viễn ra đi nhưng anh vẫn còn đó với anh em, trong lòng anh em quý mến, trân trọng anh. Chỉ tiếc là hơi quá sớm quá vội vã khiến anh em không thể đọc tiếp những tác phẩm tuyệt vời của anh về thân phận con người trong thời dâu biển. Giờ thì anh và tôi và hai người bạn văn trẻ từng ngưỡng mộ anh lại rong chơi với một chút quá khứ mịt mờ. Lại vào quán ngồi uống bia với anh. Tấm ảnh chân dung lồng kính đặt trên ghế đẩu như thể anh vẫn là Y Uyên của ngày nào. Anh em nâng cốc mời anh. Những vại bia lưng dần với chút bồi hồi se thắt. Anh mỉm cười nhìn chúng tôi như ngày nào anh thắng canh bạc xì phé, gọi chúng tôi vào quán Mỵ Châu Thành uống ly la ve nói chuyện làm báo văn chương. Cái quá khứ la đà kéo theo cơn say lúc nào chẳng hay để sáng nay đứng trước bàn thờ thắp anh nén hương tưởng nhớ. Anh em bạn bè gia đình anh đứng lặng trước bàn thờ nhìn sững vào bức tượng và tấm ảnh chân dung. Anh vẫn như xưa, nhưng có điều là không thốt lên lời nào với những người thân và bạn bè anh đang còn bơi lội trong chốn trầm luân. Tôi đặt tập TQBT số tưởng nhớ anh và tập truyện của anh dưới chân tượng. Tấm lòng của anh em đó anh. Sự thương nhớ của anh em trong ngoài nước gửi trọn lòng thành qua từng trang sách mà anh em góp lại trên các số tạp chí cũ gò lưng ra người đọc người đánh máy người layout người in đóng xén để gửi về anh. Hình như khoé miệng anh hơi dãn nở ra với sự hài lòng, tôi nghĩ vậy khi nhìn chăm chăm lên tổng thể của bàn thờ anh. Những đoá huệ trắng, tulip trắng trong lọ cũng rưng rưng cảm thông. Tôi lại nghĩ, nếu bây giờ anh còn cười nói với anh em thì không rõ tóc anh đã nhuốm màu bạc trắng như mái tóc chị Mỵ chưa? Mối tình đầu mấy chục năm qua chị vẫn trân trọng mang theo bên mình và hôm nay, lần đầu tôi nhìn thấy chị băng xương bằng thịt (chứ không phải nhân vật Mỵ trong truyện ngắn nào đó anh viết).<br />
Không, Không ai quên anh được, mãi mãi sau này. Tôi chỉ có mỗi một băn khoăn là có khi nào những kẻ thù đã từng chĩa súng bóp cò vào người anh cảm thấy hối tiếc đã huỷ diệt một tài văn không? Chắc là không vì đó là đạn bom giữa chiến trường.<br />
Không sao, anh em bạn bè và độc giả mến mộ anh vẫn luôn ở bên anh./<br />
(Thư Quán Bản Thảo số 22 tháng 1-2006)</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/01/bai-vi-y-uyen.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-38247" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/01/bai-vi-y-uyen-300x223.jpg?strip=all" alt="" width="391" height="291" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/01/bai-vi-y-uyen-300x223.jpg?strip=all 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/01/bai-vi-y-uyen.jpg?strip=all 683w" sizes="(max-width: 391px) 100vw, 391px" /></a></p>
<p style="text-align: center;">H<em>àng trước: Chị Mỵ (áo bà ba đen &#8211; nhân vật nữ trong nhiều tác phẩn của YU) &#8211; Chị Tẩu (chị cả YU mặc bà ba trắng) &#8211; Bạn của MVL &#8211; Vượng (bìa phải em út YU )/ </em></p>
<p style="text-align: center;"><em>Hàng sau Mang Viên Long &#8211; Nguyễn Lệ Uyên.</em></p>
<p><strong>TIỂU SỬ:</strong><br />
Tên thật Nguyễn Văn Uy<br />
Sinh năm 1943 tại làng Dục Nội, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên.<br />
Là con cả trong gia đình có 9 người em.<br />
Năm 1954 cùng gia đình di cư vào Nam, cư ngụ tại Hạnh Thông Tây, Gò Vấp.<br />
Học Trung học tại các trường Trung học Nguyễn Trãi, Chu Văn An (Sài Gòn)<br />
Tốt nghiệp trường Quốc gia Sư Phạm Sài Gòn năm 1964.<br />
Dạy học tại Tuy Hòa, Phú Yên từ 1964-1968.<br />
Nhập ngũ khóa 27 Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, mãn khóa chuyển về đóng quân tại đồn Nora Phan Thiết, không lâu sau bỏ mình trong trận phục kích, bên dòng suối, dưới chân núi Tà Lơn ngày 8-1-1969.</p>
<p>Khoảng 4 giờ chiều ngày 11-1-1969, Y Uyên trở về Sài Gòn trong quan tài kẽm phủ quốc kỳ.<br />
10g30 sáng Chủ Nhật 12-1-1969 lớp đất hửng đỏ ở Nghĩa trang Hạnh Thông Tây vĩnh viễn phủ kín anh.<br />
Sau năm 1975, nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi, nghĩa trang Quân đội Biên Hòa và Hạnh Thông Tây bị buộc phải di dời, nên hài cốt anh được hỏa thiêu và đặt tại Bảo Tháp cộng đồng chùa Vĩnh Nghiêm, Sài Gòn.<br />
Riêng bức tượng đồng của anh được đặt tại nhà riêng của cha mẹ, anh em tại Gò Vấp.<br />
(Bài trên TQBT ký Ng~)</p>
<p>Các tác phẩm đã xuất bản:</p>
<p>TƯỢNG ĐÁ SƯỜN NON, tập truyện (Thời Mới, 1966)<br />
BÃO KHÔ, tập truyện (Giao Điểm, 1966)<br />
QUÊ NHÀ, tập truyện (Trình Bày, 1967)<br />
NGỰA TÍA, truyện dài (Giao Điểm, 1967)<br />
CHIẾC XƯƠNG LÁ MỤC, tập truyện (Tân Văn, 1968)<br />
ĐUỐC SẬY, tập truyện (Văn Uyển, 1969)<br />
CÓ LOÀI CHIM LẠ, tập truyện (Tân Văn, 1971)</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/nguyen-le-uyen-y-uyen-nhan-50-nam-ngay-mat-8-1-1969-8-1-2019/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nguyễn Lệ Uyên: Đọc Lê Văn Thiện Trước 1975</title>
		<link>https://t-van.net/nguyen-le-uyen-doc-le-van-thien-truoc-1975/</link>
					<comments>https://t-van.net/nguyen-le-uyen-doc-le-van-thien-truoc-1975/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Lệ Uyên]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 07 Aug 2018 12:29:24 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[nguyễn lệ uyên]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=36462</guid>

					<description><![CDATA[Từ trái qua: Khuất Đẩu, Lê Văn Thiện và Nguyễn Lệ Uyên &#8211;Ảnh (nhà văn Nguyễn Lệ Uyên) Được tin buồn từ nhà văn Nguyễn Lệ Uyên, nhà văn Lê Văn Thiện vừa từ trần ngày 31 tháng 7 năm 2018 tại Khánh Hòa, Việt Nam. Để tưởng nhớ đến một nhà văn miền Nam [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/08/DU-XUAN-010.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-36466" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/08/DU-XUAN-010-300x225.jpg?strip=all" alt="DU XUAN 010" width="341" height="256" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/08/DU-XUAN-010-300x225.jpg?strip=all 300w, https://cdn.t-van.net/2018/08/DU-XUAN-010-768x576.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2018/08/DU-XUAN-010-1024x768.jpg 1024w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/08/DU-XUAN-010.jpg?strip=all 600w" sizes="(max-width: 341px) 100vw, 341px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><em>Từ trái qua: Khuất Đẩu, Lê Văn Thiện và Nguyễn Lệ Uyên &#8211;</em><em>Ảnh (nhà văn Nguyễn Lệ Uyên)</em></p>
<p><em>Được tin buồn từ nhà văn Nguyễn Lệ Uyên, nhà văn Lê Văn Thiện vừa từ trần ngày 31 tháng 7 năm 2018 tại Khánh Hòa, Việt Nam. Để tưởng nhớ đến một nhà văn miền Nam trưởng thành từ cuộc chiến tranh khốc liệt vừa qua, chúng tôi giới thiệu bài viết dưới đây của nhà văn Nguyễn Lệ Uyên, một người bạn văn và đời của Lê Văn Thiện.</em></p>
<p><em>Thay mặt các thân hữu của trang TV&amp;BH, chúng tôi xin gởi lời chia buồn đến gia đình nhà văn Lê Văn Thiện và cầu nguyện cho ông tìm thấy được cõi an bình sau một đời gian nan khốn khó từ trong và sau cuộc chiến.</em></p>
<p><strong><em>T.Vấn &amp; Bạn Hữu</em></strong></p>
<p>Lê Văn Thiện sinh ngày 10 tháng 5 năm 1947 tại thị trấn Vạn Giã, Khánh Hòa trong một gia đình nông dân nghèo. Sau khi cha chết vì làm lụng cực nhọc, Thiện phải bỏ học lúc mới xong chương trình trung học đệ nhất cấp tại trường Trung học Võ Tánh, Nha Trang, vào lính vì không biết một nghề nào để làm lụng đỡ đần mẹ già và em gái. Anh có thời gian 2 năm phục vụ tại Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 47, SĐ 22 Bộ binh, đóng tại Phú Yên. Sau khi tốt nghiệp trường SQ trừ bị Thủ Đức, Thiện được thuyên chuyển về Trung đoàn 14 Sư đoàn 9, tham gia các trận đánh lớn nhỏ ở chiến trường miền Tây Nam bộ và Campuchia.</p>
<p>Truyện ngắn đầu tay, <em>Ngoại lệ</em>, đăng trên Văn số 47 lúc mới 18 tuổi, ra ngày 1.12.1965 dưới tên Văn Lệ Thiên. Sau đó truyện của ông đăng đều đặn trên Văn, Bách Khoa, Trình Bày, Ý Thức&#8230;</p>
<p>Đến nay Lê Văn Thiện có 5 tác phẩm được phát hành, đều là truyện ngắn: <em>Một cách buồn phiền, Sao không như ngày xưa, Chuyện đời, Mưa lạ, Quế.</em></p>
<p><em> </em>Những năm đóng quân ở Phú Yên, qua giới thiệu của anh Trần Phong Giao, tôi đã tìm đến đơn vị Thiện hành quân giải tỏa thị xã Tuy Hòa sau tết Mậu Thân (đang đóng quân tại Liên Trì, Tx. Tuy Hòa). Chúng tôi nói chuyện gia đình, văn chương, chiến tranh bắt đầu “leo dốc”&#8230; Sau đó, thỉnh thoảng Thiện ghé nhà thăm tôi mỗi khi có dịp và rồi thân nhau lúc nào không hay, như anh em, kéo dài mãi tận ngày nay. Chỉ tiếc mối tình một bên của Thiện với cô em gái không thành, đã để lại mối bận tâm, khắc khoải không ít trong lòng, nên có lúc Thiện đã thầm trách tôi vô tâm, không đưa lời vun xới?!.</p>
<p>Ngoài đời, Thiện không nhiều lời, ba hoa. Trong chốn trường văn trận bút cũng thế, chữ nghĩa luôn chừng mực, chừng mực đến độ cô lại như nấu cao. Và như thế, cũng có thể gọi văn chương và cuộc đời Thiện là một?</p>
<p>Đời và văn của Thiện vẫn là những cảnh đời khốn khổ, bất trắc thường xuyên xảy ra trước mắt. Biết đấy, thấy đấy, nhưng không với tới được, không thoát ra khỏi. Nó cứ quấn lấy, ôm chặt từ lúc còn cắp sách tới trường cho đến những ngày hành quân liên miên, những cái chết, những trận đánh lớn nhỏ và, sau này khi mãn tù trở về, là những nhát cuốc trên rẫy sắn bạc màu, chỉ thấy toàn cát trắng và đá cuội, đến mức Thiện đã chống cuốc ngậm ngùi nhìn đất, nhìn trời, nhìn những củ sắn như bộ râu ông Quan Công mà không biết “kêu ai”(*)! Cuối cùng đánh liều “ngậm ngải tìm trầm” trên vùng núi Phú Yên, Khánh Hòa, Gia Lai&#8230; 2 năm đi “điệu” cùng với muỗi mòng, rắn rết, sốt rét rừng&#8230; cũng chẳng hề làm thay đổi cuộc sống của gia đình lên chút nào. Vẫn cứ nghèo “rớt mồng tơi”, đổi lại Thiện giàu vô cùng giàu chữ nghĩa, tích lũy thêm vốn sống, vốn dĩ đầy dẫy những nhọc nhằn, không phải chỉ riêng anh, mà còn cả những người dân sống quanh anh, một đời lam lũ&#8230;</p>
<p>Truyện ngắn Lê Văn Thiện có thể tạm chia hai thời kỳ rõ rệt: những truyện viết trong thời chiến tranh và truyện viết thời im tiếng súng.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/08/images5303094_M_T_C_CH_BU_N_PHI_N.JPG.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-36467" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/08/images5303094_M_T_C_CH_BU_N_PHI_N.JPG-300x192.jpg?strip=all" alt="images5303094_M_T_C_CH_BU_N_PHI_N.JPG" width="355" height="227" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/08/images5303094_M_T_C_CH_BU_N_PHI_N.JPG-300x192.jpg?strip=all 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/08/images5303094_M_T_C_CH_BU_N_PHI_N.JPG.jpg?strip=all 490w" sizes="(max-width: 355px) 100vw, 355px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><em>Bìa hai tập truyện ngắn của Lê Văn Thiện xuất bản trước 1975 &#8211; Ảnh (báo Khánh Hòa online)</em></p>
<p>Hai tập: <em>Một cách buồn phiền</em> và <em>Sao không như ngày xưa</em>, một do Văn và một do nxb Côi Sơn ấn hành đều trước năm 1975. Và những truyện ngắn ấy có thể nói đã khắc họa tiêu biểu cho bộ mặt chiến tranh VN cùng với những Ngô Thế Vinh, Y Uyên, Trang Châu, Thế Uyên, Phan Nhật Nam, Nguyễn Bắc Sơn&#8230; Tuy mỗi người mỗi vẻ, cách chọn đề tài và viết với phong cach khác nhau, nhưng có nét chung: Họ đều là thế hệ trẻ lên đường cầm súng để bảo vệ nền tự do cho phần đất còn lại luôn bị dòm ngó, xâu xé từ những cường quốc lắm súng đạn và thừa tiền bạc, như một trò chơi. Và những người trai trẻ bắt buộc phải lên đường, nhập cuộc trong cuộc chiến tương tàn, bẩn thỉu, đầy dẫy hệ lụy&#8230;</p>
<p>Mỗi nhà văn trong thời kỳ này, khắc họa chiến tranh theo cái nhìn khách quan nhất, đơn giản bởi họ là những người trong cuộc, trực tiếp sống chết với nó để nhìn thấy quá nhiều cảnh bi thương, hiểu đến tận cùng về thân phận con người, về đất nước nghèo khốn bị dày xéo tàn khốc: Anh chỉ có quyền bước tới mà không có quyền được bày tỏ ý kiến. Chỉ hành động theo lệnh mà không có quyền chọn lựa&#8230; Kết quả: tan nhà nát cửa, chết chóc, chia ly, hận thù chồng chất!</p>
<p>Chiến tranh thời đó (và thời nào cũng vậy), không do người dân nghèo dựng lên mà do lũ người “rửng mỡ” sắp đặt. Và Thiện phải cầm súng như bao thanh niên khác. Suốt tuổi thanh xuân, Thiện sống trong đạn bom, cái chết đủ kiểu cho nên anh không thể viết theo phong cách Mai Thảo, Nguyễn Thị Hoàng và những nhà văn “máy lạnh” khác. Cõi văn chương của Thiện là lằn ranh giữa sống và chết, là tiếng súng bắn tỉa, những đợt hành quân, những trận tấn công, giải vây, tháo chạy, cảnh lộn xộn, nhếch nhác nơi miền quê nghèo&#8230; Cho nên mỗi khi đọc truyện Thiện điều đập vào mắt, trí não tôi, trước tiên không phải là nội dung mà là những dấu phảy, dấu chấm, chấm phảy, ba chấm, hai chấm&#8230; Cứ một chữ có dấu phảy, hai chữ buông dấu chấm. Chỉ một đoạn văn ngắn thôi đã kín đặc các dấu câu, khiến tôi phải tự đặt câu hỏi: Phải chăng nhà văn bị ám ảnh bởi những loạt đạn dài ngắn, bởi cuộc đời “lên bờ xuống ruộng” của mình, của những người dân nghèo, bởi cảnh sống “chụp giựt” nơi phố phường và cảnh đời khốn khổ nơi miền quê Thiện sống, mà có lần vui miệng kêu : “&#8230;bằng lòng sống trong cái ao làng này” và thêm, rõ hơn trong một bài viết ngắn về Trần Hoài Thư: “<em>Ở đây, tôi làm nông, gắn bó với ruộng đồng, ổn định. Tôi không than van, oán trách (Oán trách ai đây, trời chăng?). Than thở vô ích, nó chỉ làm suy nhược con người. Điều quan trọng (và kỳ quặc): tôi luôn nghĩ mình may mắn. Còn sống sau 7 năm đi đánh nhau, 33 năm vật lộn với áo cơm là may mắn&#8230; Tôi nằm trong cái ao làng. Tôi ngao du, ca hát, bơi lội thỏa thích ở đó. Đúng hên</em>”.</p>
<p>Có lẽ “hên” do không chết thảm ngoài chiến trường, trong nhà tù và may mắn hơn là chưa chết khi phải vật lộn suốt từng ấy năm trời trên mảnh đất khô cằn, nghèo khó! Thiện không chết và chưa chết. Nhưng quanh anh, những người bạn, những chiến hữu của anh, bà con, đồng bào anh thì ngã vật ra chỉ sau một loạt đạn từ phía bên kia. Anh nhìn thấy tận mắt, chỉ cách mấy bước chân, nhưng bất lực nhìn bạn ngã gục một cách đau đớn, tủi nhục: “<em>Thới thả cây súng xuống đất. Người đứng sau lưng kêu “trời”. Anh ta quăng một trái khói. Khói tỏa xanh đặc một khoảng, che khuất Khắc, cái thùng rác và phần dưới cái cây bên đường. Chúng nó lại bắn vào đám khói. Khắc được lôi vào, chỉ còn là cái xác. Nhưng cái xác đã bị thêm hai viên đạn nữa. Trên lưng Khắc đóng rõ ba lỗ máu. Người can đảm trừng trừng nhìn xác bạn, rồi tự vuốt mặt mình” </em> (Trong lớp khói mầu).</p>
<p>Những cái chết như vậy, trong chiến tranh, là bình thường. Nhưng với với Thiện, thì sự bình thường kia lại vượt quá sức chịu đựng của con người nhạy cảm, như anh. Nội dung của truyện trên là cảnh Tiểu đoàn liên hoan sau trận thắng lớn. Thới được gắn huân chương như một anh hùng và được mời lên sân khấu đọc thơ, ca hát. Nhưng người anh hùng kia không đọc được, không hát được, bởi nỗi ám ảnh kinh hoàng về cái chết trước đó của đồng đội khi đơn vị về giải tỏa thành phố trong trận Mậu Thân: “<em>&#8230;Thới đấm trán, xốc lại quần. Mọi người lại cười rân. Thêm được hai câu nữa. Cảnh đường phố chập chờn, buổi chinh chiến&#8230; đạn xới sạt sạt, lúc nhanh, lúc như nước nhỏ giọt xuống mặt đường, bụi bay, một người ngã xuống mép đường, cây súng, cái mũ sắt&#8230; kìa nữa, khói xanh lan ra, chờn vờn. Không cố được nữa. Thới lắc đầu, nguy mất thật, hai chân thì vẫn đấy, nhưng cái đầu thì, coi kìa&#8230; sao lạ, mắt cứ thấy dâng lên, lan mãi ra một màn khói xanh”</em> (Trong lớp khói mầu).</p>
<p>Đọc đến đây, tôi bỗng nhớ đến đoạn văn sau: “<em>Qua máy truyền tin ông đại đội trưởng ra lệnh trung đội tôi bằng mọi giá phải chiếm ngôi lầu Ông Tề ở bên kia đường, sau trạm xăng (&#8230;). Rồi tôi hét: Chạy. Cả bọn cùng ào qua lộ. Đạn đuổi theo, sủi bọt trên đường nhựa. Vô sự. Chúng tôi đã băng qua đường vô sự. Tôi chạy đến phía dưới trụ xăng, ngồi núp đàng sau trụ. Người lính truyền tin chạy theo tôi ngồi bên cạnh. Những người lính của tôi cũng tìm chỗ núp chung quanh. Chỉ còn khoảng 15 thước là đến ngôi lầu. Địch lại bắn rát. Đạn địch sủi bọt trên đường, lỗ chỗ vào vỉa hè xi măng quanh mình. Đạn xuyên qua cây xăng, lửa tóe lên. Chưa kịp ra lệnh gì thêm cho những người lính xung quanh thì bỗng nhiên đầu óc tôi xây xẩm.</em></p>
<p><em> Một viên đạn nào đó dịu dàng quá đỗi, hôn lên da thịt tôi, như một cơn gió thoảng, như một nụ hôn của định mệnh, của tuổi trẻ, của chiến tranh, của ngăn chia, của con ngựa chứng..”.</em> (Trần Hoài Thư – Nhà văn trẻ ấy bị thương).</p>
<p>Khắc của Lê Văn Thiện thì “trên lưng đóng rõ ba lỗ máu”, còn tôi của Trần Hoài Thư là “một viên đạn nào đó dịu dàng quá đỗi, hôn lên da thịt tôi&#8230;”, cả hai đều làm nhiệm vụ tái chiếm thành phố trong tết Mậu Thân!?</p>
<p>Dẫn hai đoạn văn trên, không có ý so sánh, mà hơn hết để chúng ta có cái nhìn rõ ràng hơn với ngòi bút Lê Văn Thiện. Cả cuộc đời quân ngũ của mình, Thiện luôn có mặt ngoài chiến trường với những trận đánh lớn nhỏ, từ miền Trung vào Nam bộ qua tận xứ Chùa Tháp. Thiện lăn lộn và chứng kiến tận mắt những cảnh khủng khiếp của chiến tranh. Tuy nhiên viết như một số nhà văn quân đội thời bấy giờ, về những trận đánh có mình tham dự, Thiện lại viết rất ít, rất hiếm hoi mới đọc được vài đoạn, lồng vào những bối cảnh khác. Đây, có lẽ cũng là một đặc điểm của Lê Văn Thiện chăng? Chiến tranh trong truyện ngắn của Thiện chỉ lấp ló, đậm nhạt vài chỗ từ những ký ức xa gần, từ cảnh sống của bà con nông dân ở nông thôn. Trong truyện <em>Chúng mình ơi, đau buồn</em>, Thiện dẫn dắt người đọc từ một nhân vật đọc cho người khác nghe một đoạn về chàng tráng sĩ, đến cảnh rộn ràng, chộn rộn của bầy trẻ háo hức đi xem kịch: “<em>Một chiếc xe đạp chạy ngang qua cổng, bóp chuông. Tiếng trẻ con nói chuyện bỗng từ đâu trờ tới, xôn xao, rồi nhỏ ngay, mất hút. Có lẽ chúng nó đi mau, hay chậm lúp xúp. Chúng ra đình xem truyền hình.”</em> Nếu chỉ dừng lại ở đây, chúng ta dễ có suy nghĩ tưởng tượng cảnh làng quê yên bình dưới ngòi bút của Lê Văn Thiện. Nhưng không phải vậy, sang đoạn sau thì nhà văn lại lồng vào cảnh mấy anh nhân dân tự vệ đi gác đêm: “<em>Toán người gác đêm kéo đến, họ vào sân, nói chuyện xì xào. Nhà bác Tương có hai cái sân tốt, rộng, nằm không cần trải chiếu, nên toán gác này thường đến ngủ. Cũng có người bảo nhà này có một điểm khác quyến rũ, hơn hẳn cái sân làng, là con dâu bác Tương. Họ đàn ông con trai, khó trách họ được. Với lại họ cũng đàng hoàng, dễ thương (&#8230;). Ngủ chưa bác hai? Cô hai ơi, cho bọn này mượn chiếc chiếu. Cô hai ơi, sao cái sân&#8230;”</em>. Như vậy, trong cái làng quê yên ả kia, nguy cơ của chiến tranh đã lấp ló trong cảnh “chộn rộn, xôn xao” của lũ trẻ con đạp xe đi coi hát? Chiến tranh trong truyện của Thiện cứ nhẩn nha như vậy, đến với mọi người, với làng xóm một cách tự nhiên, thoải mái như thể tối phải ngủ, trưa chiều phải ăn uống, tóc dài phải cắt, rửa mặt, súc miệng&#8230; Nó (chiến tranh) có mặt như để tô điểm cho làng quê chút “sinh khí”, chút tiếng động ồn ào vốn dĩ đã ngủ yên bấy lâu, nay choàng thức dậy?: “<em>Ông già ngồi gác bên chậu bông bỏ súng nằm xuống chân, nhịp tay hát hay ngâm gì đó, chắc hẳn để khỏi buồn ngủ. Chiến tranh thật sự đã có từ lâu, nhưng mãi đến khi thấy những ông già lãnh súng, những đứa nhỏ ngày đi học đêm đến moi súng xách ra đình làng tập họp, người ta mới trợn mắt, và lại còn ngạc nhiên. Chuyện giặc giã đã tiến đến cái mức xa thế này rồi sao?”</em> (Chúng mình ơi, đau buồn).</p>
<p>Những cảnh huống như vậy, hẳn nhiên nhà văn đã từng sống với nó, chứng kiến tận mặt ở một cái xóm nhỏ heo hút nào đó không tìm thấy tên trên bản đồ cả nước, nhưng nó vẫn tiếp tục tồn tại với nhiều dạng thức khác nhau, và diễn ra ở từng mức độ cao thấp khác nhau mà thôi, bởi chiến tranh vẫn dồn dập, đạn bom vẫn thả xuống, vẫn tiếp tục nhắm vào nhau mà bắn&#8230; Cuối cùng là những hậu quả không thể tránh khỏi, cái hậu quả kia, lại chính những người dân vô tội phải gánh chịu: <em>“&#8230; anh lại nhớ đám mả những người dân chết vì đạn lạc trong trận đánh tháng trước, chôn như dập trên các bờ ruộng. Mấy gò đất mới đắp mọc lên hai ba bàn chân&#8230; Một chân mọc thẳng, lòng bàn chân ngửa lên trời, da vàng tái, móp khô, trông nhỏ và rất dơ&#8230;”</em> (Quán vắng).</p>
<p>Những truyện ngắn của Thiện viết về chiến tranh chỉ chừng đó không ồn ào, hối hả, không dồn dập, tưng bừng khói lửa, nhưng khi khép lại trang sách, nhắm mắt ta cảm thấy một chút đau nhoi nhói tim gan, bởi anh đã “thực chứng” những tình cảnh thảm thương, để khi lòng “tịnh” lại anh đưa nhân vật và câu chuyện một cách bình thản như chị nhà quê xách rổ ra chợ làng! Thản nhiên một cách bình dị mà đau!</p>
<p><strong>Nguyễn Lệ Uyên</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2018</p>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/nguyen-le-uyen-doc-le-van-thien-truoc-1975/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nguyễn Lệ Uyên: Chân Dung Tự Vẽ (tập truyện)</title>
		<link>https://t-van.net/35184/</link>
					<comments>https://t-van.net/35184/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Lệ Uyên]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 12 Apr 2018 13:00:41 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Tủ Sách T.Vấn & Bạn Hữu]]></category>
		<category><![CDATA[nguyễn lệ uyên]]></category>
		<category><![CDATA[tủ sách tv&bh]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=35184</guid>

					<description><![CDATA[Xin Bấm Vào Đây Để Mở Hoặc Tải Về Máy Nguyễn Lệ Uyên: Chân Dung Tự Vẽ (tập truyện) Giới Thiệu: Trong số các nhà văn xuất hiện trên văn đàn miền Nam trước biến cố tháng 4 năm 1975 và đến nay vẫn còn tiếp tục sáng tác, phải kể đến nhà văn Nguyễn [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong>Xin Bấm Vào Đây Để Mở Hoặc Tải Về Máy</strong></p>
<p style="text-align: center;"><strong><a href="https://cdn.t-van.net/2023/06/Chan-Dung-Tu-Ve.pdf">Nguyễn Lệ Uyên: Chân Dung Tự Vẽ (tập truyện</a>)</strong></p>
<p style="text-align: center;">
<p style="text-align: center;"><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/04/Chan-Dung-Tu-Ve-bia-nau.pdf" target="_blank" rel="noopener"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-35185" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/04/Chan-dung-tu-ve-bia-truoc-2-226x300.jpg?strip=all" alt="Chan dung tu ve - bia truoc 2" width="226" height="300" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/04/Chan-dung-tu-ve-bia-truoc-2-226x300.jpg?strip=all 226w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/04/Chan-dung-tu-ve-bia-truoc-2.jpg?strip=all 600w" sizes="(max-width: 226px) 100vw, 226px" /></a> <a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/04/Chan-Dung-Tu-Ve-bia-nau.pdf" target="_blank" rel="noopener"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-35186" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/04/Chan-dung-tu-ve-bia-sau-2-B-226x300.jpg?strip=all" alt="Chan dung tu ve - bia sau 2-B" width="226" height="300" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/04/Chan-dung-tu-ve-bia-sau-2-B-226x300.jpg?strip=all 226w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/04/Chan-dung-tu-ve-bia-sau-2-B.jpg?strip=all 600w" sizes="(max-width: 226px) 100vw, 226px" /></a></p>
<p><strong>Giới Thiệu:</strong></p>
<p>Trong số các nhà văn xuất hiện trên văn đàn miền Nam trước biến cố tháng 4 năm 1975 và đến nay vẫn còn tiếp tục sáng tác, phải kể đến nhà văn Nguyễn Lệ Uyên với bề dày đồ sộ những tác phẩm từ truyện ngắn đến phê bình văn học, mà phần lớn, đều được ông cho ra đời từ sau ngày chiến tranh chấm dứt.</p>
<p>Là người của chế độ cũ (tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Cần Thơ, xuất thân khóa 6/70 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức) nhưng ông vẫn sinh sống, viết lách ở trong nước, nơi miền đất sản sinh khá nhiều những nhà văn, nhà thơ nổi tiếng cho miền Nam (và cả bây giờ) và cũng là quê quán cha sinh mẹ đẻ của ông: Tuy Hòa (Phú Yên).</p>
<p>Không phải ngẫu nhiên mà một người bạn văn lâu đời của ông là nhà văn Trần Hoài Thư đã gọi Nguyễn Lệ Uyên là “<em>con sói già cô đơn giữa bãi xương rồng</em><em>” </em>như chính ông đã nói về mình:</p>
<p><em>“</em><em>Thế hệ chúng tôi không có tuổi trẻ và được gọi với cái tên rất mực mỹ miều nức nở: Thế-hệ-chiến-tranh. Thuật ngữ này vừa bi hùng lẫn bi hài. Và rồi chiến tranh cũng qua đi mà không có hòa bình, không cả đoàn tụ. Anh em bạn bè lưu tán tứ phương. Ngó tới ngó lui, cái thế hệ ấy cũng đã trên dưới bảy mươi! Nghĩa là đang ở lứa tuổi, nói theo ông bạn nhà thơ thiền giả Đỗ Hồng Ngọc, là bắt đầu tuổi hườm hườm, chuẩn bị chín rục. Thoắt nghe cũng gờn gợn thịt da, trong vài lần chợt nghe tiếng chim rớt giữa đêm khuya khoắt.</em></p>
<p>Lòng chùng. Chân mỏi. Chẳng còn những ham muốn bay nhảy như thuở nào, rất xa qua những tờ lịch mà lại gần như một cơn mơ. Cuối cùng thì đành lui về căn nhà cổ xưa, nấp sau vườn cây rậm rạp như thể quy ẩn, đến nỗi ông bạn văn Trần Hoài Thư tận xứ người giá buốt, hạ bút vẽ nguyệch ngoạc chân dung tôi: “<em>con sói già cô đơn giữa bãi xương rồng</em><em>”! Mà cũng phải thôi, sáng sáng tự pha ly cà phê ngồi ngó trời nhìn đất; quay vào phòng vi vút với chiếc máy tính, lôi những sách báo cũ đọc và sống với cái quá khứ heo hút để gặp lại tất cả bạn bè trong đó, trên trang giấy ố vàng, qua những dòng chữ chi chít trên màn hình, mừng vui, buồn tủi hỗn độn chen lấn nhau.</em><em>”(</em>Nguyễn Lệ Uyên – Bên Ly Cà Phê . . .).</p>
<p>Nay, con sói già ấy đã ngày một già thêm cùng với sức khỏe ngày một thêm sút kém. Cũng đã đến lúc cần phải thu xếp lại mọi chuyện, trong đó có kho tàng chữ nghĩa ông để lại cho đời.</p>
<p>Được sự tin cậy của nhà văn Nguyễn Lệ Uyên, tủ sách T.Vấn &amp; Bạn Hữu sẽ lần lượt làm công việc “điện tử hóa” kho tài sản quý báu của nhà văn, thu gom chúng về một mối, để giúp các thế hệ mai sau dễ dàng hơn trong việc giới thiệu và lưu giữ tác phẩm của một nhà văn rất tiêu biểu cho một thời đại nhiễu nhương có một không hai trong lịch sử nước nhà.</p>
<p>Xin trân trọng giới thiệu tập truyện ngắn Chân Dung Tự Vẽ của nhà văn Nguyễn Lệ Uyên với độc giả của T.Vấn &amp; Bạn Hữu.</p>
<p><strong>TV&amp;BH</strong></p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://t-van.net/?cat=343" target="_blank" rel="noopener"><strong>Tủ Sách T.Vấn &amp; Bạn Hữu</strong></a></p>
<p><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/11/30-tac-pham-11-2017.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" class="size-medium wp-image-33418 aligncenter" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/11/30-tac-pham-11-2017-300x229.jpg?strip=all" alt="" width="300" height="229" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/11/30-tac-pham-11-2017-300x229.jpg?strip=all 300w, https://cdn.t-van.net/2017/11/30-tac-pham-11-2017-768x586.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2017/11/30-tac-pham-11-2017-1024x782.jpg 1024w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/11/30-tac-pham-11-2017.jpg?strip=all 600w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></a></p>
<p>©T.Vấn 2018</p>
<p><em> </em></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/35184/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nguyễn Lệ Uyên: CƯỜI LÊN, HỠI NHỮNG THẰNG GIÀ</title>
		<link>https://t-van.net/nguyen-le-uyen-cuoi-len-hoi-nhung-thang-gia/</link>
					<comments>https://t-van.net/nguyen-le-uyen-cuoi-len-hoi-nhung-thang-gia/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Lệ Uyên]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 11 Feb 2018 00:46:47 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[nguyễn lệ uyên]]></category>
		<category><![CDATA[truyện ngắn]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=34534</guid>

					<description><![CDATA[Tranh (Mai Tâm) Ngôi nhà lá mái chữ đinh. Khu vườn um tùm cây trái. Hàng rào là những phiến đá chồng lên nhau. Tất cả đều có màu tối, nhuốm vẻ già nua, như ông bây giờ, đã 70! Tuổi xếp dãy như những phiến đá ngoài bờ rào. Sự sống sinh học, vẫn [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/12/Gio-1.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" class="alignnone  wp-image-59617" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/12/Gio-1-198x300.jpg?strip=all" alt="" width="323" height="489" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/12/Gio-1-198x300.jpg?strip=all 198w, https://cdn.t-van.net/2022/12/Gio-1-676x1024.jpg 676w, https://cdn.t-van.net/2022/12/Gio-1-768x1164.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2022/12/Gio-1-1014x1536.jpg 1014w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/12/Gio-1.jpg?strip=all 1267w" sizes="(max-width: 323px) 100vw, 323px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Tranh (Mai Tâm)</strong></p>
<p>Ngôi nhà lá mái chữ đinh. Khu vườn um tùm cây trái. Hàng rào là những phiến đá chồng lên nhau. Tất cả đều có màu tối, nhuốm vẻ già nua, như ông bây giờ, đã 70! Tuổi xếp dãy như những phiến đá ngoài bờ rào. Sự sống sinh học, vẫn tồn tại hàng ngày, dễ thấy: Bờ rào có những lớp tảo xanh bám lên, còn ông thì màu muối tiêu lốm đốm trên tóc. Có điều quanh quẩn ra vào, chỉ mình ông. Sự cô đơn của tuổi già cứ lục bục, trầm trầm trong cổ họng, khiến tách trà nóng buổi sáng cũng lạnh ngắt. Bữa trưa kéo qua bữa chiều. Chai rượu và chiếc ly như người bạn thiết của ông lúc này. Đôi lúc dòm vào đáy không, lại thảng thốt kêu nho nhỏ “buồn như ly rượu cạn”. Rồi bỗng dưng cười khan.</p>
<p>Không phải là ông không có bạn. Nhưng những người bạn đó hầu hết đã thay tâm đổi tính, đã lột xác để trở thành những con vật nửa cừu nửa dê hay con chó thích gặm xương, được xã hội mới thuần dưỡng. Hễ gặp nhau, đầu tiên là nói đến chuyện tiền bạc, giàu có; đến con cái thành đạt, chỗ đứng trong xã hội. Rồi thì khen nức nở đời sống người dân sung sướng hơn bốn mươi năm trước&#8230; Nghe một hồi, ông cười thật to và cảm thấy như mình lạc vào khu chợ uế tạp, đầy tiếng mặc cả, ó ré lồng trong tiếng ruồi nhặng bay vo ve.</p>
<p>Cực chẳng đã, ông cũng phải châm nước trà mời họ mà nhấp ngụm nhỏ nhưng sao nó lạt thếch. Những trận thăm viếng ấy, ông ngồi chịu trận, ừ hử cho qua buổi và cầu mong sao họ đứng dậy cáo từ sớm hơn. Nhìn những con tắc kè đó, ông nhếch mép cười ruồi!</p>
<p>Tuy mỏi mệt với những ông bạn láng giềng ngô khoai tự mãn với cuộc sống hiện tại, nhưng họ cũng là những con người tốt bụng, hay giúp nhau những việc lặt vặt: dựng giàn bầu, cột phên cửa, sắp lại những viên đá xô lệch, chỉ cách trồng cây cà dây bí sao cho nhiều trái&#8230;</p>
<p>Khi bọn họ đi rồi thì ông chùi người vào phòng, thừ người trước đống sách và nghĩ bọn họ chẳng qua cũng chỉ là những con người ngây thơ, những nạn nhân khốn khổ từ những tư tưởng rất “thổ tả” của người trước kẻ sau cách nhau cả ngàn năm, là di họa kéo dài cho cả một khu vực dân cư rộng lớn, chẳng khác nào bầy tù khổ sai về tinh thần và thể xác. Tận thâm tâm, ông khinh bỉ lũ đầu xỏ cai trị man rợ này, khéo uốn nắn những cây tre cây trúc thành những ngọn cỏ lau rợp trên mặt đất! May mà nỗi buồn tủi ấy được bàn tay cô chủ nhỏ xoa dịu, dẫn ông trở lại trạng thái bình thường bởi những săn sóc nho nhỏ nửa em nửa tình nửa vợ nửa người dưng, chẳng ra cái giống gì, nhưng cũng làm ông khuây khỏa, vui lên, nở nụ cười, lúc tươi lúc như mếu.</p>
<p>Một ông bạn xa xứ, quanh quẩn trong nhà ra sân, muốn tán gẫu với bất kỳ ai cũng không có người để tán bởi tất cả mọi người thi nhau chạy từ mờ đất cho đến tối mịt, khiến ông có lúc bị trầm cảm và rồi thốt lên được câu thơ “lẫy lừng”, làm ấm lòng híp mắt những thằng già như ông“<em>Thèm rượu mà ta không uống được/Bạn thì xa tri kỷ cũng đi rồi/Tay với trời cao không thấu nổi/Tuổi già mất bạn cũng mồ côi”. </em> Đọc được mấy câu này ông sướng rơn, sướng đến lịm người tê tái, như chìm trong tri âm tri kỷ và cõng bốn câu trên lưng chạy đi khoe với cô chủ nhỏ. Cô ngước mắt nhìn ông, ấp tay ông lên ngực, chia sẻ với tất cả nỗi niềm.</p>
<p>Sáng nay, vừa cầm cuốc vun luống đất trồng rau, có tiếng chuông leng reng. Ông vội trật lưng quần, lôi ra chiếc điện thoại cùi bắp, áp vào tai. Tiếng lào khào: Anh làm gì đó, chạy qua em uống ly rượu.</p>
<p>Hả, lại rượu,mới bảnh mắt mà bia rượu nỗi gì?</p>
<p>9 giờ rồi, thì súc miệng đánh răng chút anh. Của thằng bạn “khúc ruột ngàn dặm” gửi em uống tết. Tết sớm đi anh. Tới nghen.</p>
<p>Ừ.</p>
<p>Đó là ông bạn nhỏ hơn ông 4 tuổi, chủ quán ăn, trước cũng thầy giáo nhưng biết cách sống với cái đầu rất thực dụng và có tài điều hành, nấu nướng nên phất lên sau 10 năm khói lửa trong bếp. Phất nhưng buồn, buồn đến “thúi ruột”, nhiều lần thốt lên nghẹn ngào, khi nhìn lũ con cứ lần lượt vuột khỏi vòng lễ giáo. Cả hai đều có tâm trạng chung là sự vuột mất đạo đức của đám con cháu bây giờ như thể nhìn lên bàn thờ tổ tiên phủ đầy mạng nhện, bụi bặm, những chân nhang lỏng chỏng, những bài vị nghiêng ngã&#8230;</p>
<p>Cây cuốc móc chéo qua cành mận sà ngang. Đưa cần vọt kéo nước lên chà chân, vục nước rửa sơ sịa khuôn mặt cả tuần chưa cạo râu, nham nhám. Ông thả cần vọt đánh rầm, chút xíu nữa là chiếc gàu sắt tán vào mặt. Ông ngó xoáy vào chiếc gàu đung đưa, bỗng nhớ bạn, nhớ Triều Nghi, nhớ Sơn Đẩu rất nhiều lần kéo nước từ cái giếng sâu xối lên người, kêu “mát quá, mát quá, đã đời&#8230;”. Mới đó thôi, Triều Nghi đã bay qua bờ bên kia, Sơn Đẩu phải cột dây vào xương cổ, đi đứng khó khăn, thỉnh thoảng ném lên không vài bài ngắn nhưng bén hơn gai mắt ó! Nhớ bạn, ông tủm tỉm cười với thềm giếng rong rêu, với chiếc gàu sét, chiếc cần vọt chuẩn bị mục, rồi vào nhà xỏ chiếc quần bạc màu, lôi chiếc xe máy mà ông gán cho cái tên bọn trẻ không hiểu ra: “con ngựa già của chúa Trịnh” ra cổng.</p>
<p>Già thì cái gì cũng trục trặc, từ đồ vật chí đến con người. Đạp đến chục bận mà nó vẫn không chịu nổ, chỉ khàng khạc rên như người bị cảm cúm. Mồ hôi tứa ra. Ông nhìn chiếc xe rồi nhìn xuống đôi dép nhựa ngã màu, mòn vẹt. Mày rệu đến nước này sao? Đâu có được.Á à&#8230; là do tao không chăm sóc, vô dầu mỡ. Cứ lôi xài thí mạng sắt thép nào không mục? Tiếng cười phát ra từ cổ họng dính bợn đờm không trong. Mà có phải đây cũng là liệu pháp thể dục không nhỉ? Ông chống chế cho qua chuyện với bàn chân phải lăn tăn, mỏi nhừ.</p>
<p>Cuối cùng máy cũng nổ, nhưng không phải từ sức đạp của ông mà là thằng cháu hàng xóm nhìn thấy ông vật lộn với chiếc xe. Nó chạy lại, cong người nhấn bàn chân lên cần đạp thật mạnh như thể người ta đạp vào mặt kẻ thù. Tiếng nổ ọc ạch, khói xịt sau đít mù mịt, khét lẹt.</p>
<p>Nó nhăn răng cười: Ông để lâu quá. Cái gì mà để lâu không đụng tới dễ liệt lắm ông ơi! &#8211; Nói và nhăn nhở cười, nửa giễu nửa thật.</p>
<p>Mà nó nói cũng đúng, lâu lâu mới sử dụng nên bị liệt là phải. Cả con người và máy móc đều một giuộc mà!</p>
<p>Thôi, ổn rồi, ông chạy đi.</p>
<p>Ờ cảm ơn cháu nghen. Lo học hành tử tế còn ra làm quan, sướng! &#8211; Nói và ông bỏ chân qua yên. Con ngựa gục gặt chở ông một cách miễn cưỡng. Nó cũng đã trên 43 rồi còn gì?</p>
<p>Khi xe chạy gần tới rìa làng, ông lại nghĩ đến sự nhỏ lại ở tuổi già; văn hoa một chút thì là sự biến đổi của cơ thể từ các tế bào bắt đầu già cỗi. Lần đầu tiên ông khám phá ra sự thay đổi này khi ở trong phòng tắm. Trắng xóa từng nhúm. Cứ tưởng xà phòng chưa sạch, càng vặn nước xối ào ào, màu trắng càng rõ ràng hơn. Ông bật cười, nhủ thầm “thì có sao”. Cái sự thun nhỏ của các bộ phận trong cơ thể nó từ từ hiện ra, y như những cây nấm dại mọc trên thân cây mục! Có người đã hỏi: Chú có sợ tuổi già không, tôi thì thèm được trẻ lại. Ông cười, sợ gì chú. Mọi thứ như chiếc đồng hồ vậy thôi, nó chạy hết ngày rồi tới đêm, rồi có lúc hết pin. Hết thì sạc. Sạc không vô thì ném. Tuổi tác cũng vậy. Tôi chẳng sợ mà trái lại thấy yêu nó, yêu mấy sợi tóc bạc, yêu cái mục kỉnh trễ xuống sống mũi phải nhấc lên để đọc được sách, yêu cả tiếng trẻ thơ gọi tôi nội ơi, ngoại ơi, ông ơi. Sướng lắm!</p>
<p>Có bữa, từ xa, ông bạn bác sĩ “tuổi hườm hườm, chín rục” gọi tới hỏi thăm sức khỏe vì nghe loáng thoáng ai đó mách ông lâm trọng bệnh. Ông cười ha hả: Bệnh hoạn gì anh? Chuyện nhỏ, trục tặc tí xíu đó mà, tuổi này ai không bị này nọ? Nhưng nghe bạn bè nói&#8230;Không có gì nghiêm trọng, anh. Tôi“rua” và bắt tay cầu hòa rồi. Hai bên sống trong hòa bình hữu nghị. Mà này, anh viết còn thiếu nghen, lẽ ra tuổi 70 trở đi, không thể gọi là hườm hườm hay sắp tới chín rục mà là “dậy thì tuổi 70”. Tiếng cười ở đầu bên kia vang lên nghe sướng lịm tai&#8230;Thật tình, thốt lên câu này với bạn, lúc ông đang ngồi trước giàn mướp say sưa nhìn chéo qua hông tường rêu ám ngoằn ngoèo, chìm đắm với hình dạng cô gái khỏa thân rong rêu, nằm chéo chân, tóc phơi dài trên nền đen, bộ ngực nhô lên, khuôn mặt ngó mông phía trước, xa xăm và liên tưởng đến vợ mình mấy mươi năm trước, đến cô chủ nhỏ hiện giờ, đến tất cả một nửa của loài người. Rong rêu cũng tạo nên cái đẹp thuần khiết đến bất ngờ, huống chi con người, đôi khi xô cái đẹp trần gian đi quá xa?&#8230;</p>
<p>*</p>
<p>Đến quán đã thấy hai ông bạn trẻ ngồi đối ẩm, trong khi mấy đứa nhỏ phụ việc còn chổng cẳng ngủ trên gác. Chủ quán í ới gọi tên từng đứa. Chúng bước xuống thang với bộ dạng ngái ngủ, nặng nhọc. Chúng nó ngủ nướng là phải, trung bình mỗi đứa chạy đến 30 cây số từ xế trưa đến gần nửa đêm để hầu các quan ngài “lưu linh” ăn nhậu từ tiền thuế của dân, chớ dân dã ai dám bán lúa non để bia bọt? Ông bạn trẻ giáo sư nhìn chúng rồi nhìn chủ quán cười ngất. Không hiểu giáo sư cười gì.</p>
<p>Ông kéo ghế chưa kịp đặt mông lên mặt nhựa, giáo sư nghiến răng:</p>
<p>Giáo sư với tiến sĩ ở xứ này đông như trấu nên bây giờ lần lượt từng ông bị tâm thần rồi. Mẹ cứt!</p>
<p>Ai? Tâm thần giống gì &#8211; Chủ quán hỏi.</p>
<p>Thì cái thằng cha gs ts đòi cải cách chữ viết đó.</p>
<p>Tầm phào, để bụng làm gì ba thứ lăng nhăng đó. Chẳng qua cha này muốn nổi tiếng, bèn tung ra cái đề án quái gở để cộng đồng ném đá chơi. U đầu mẻ trán thây kệ, miễn được nhiều người nhắc đến tên là khoái tít cung mây rồi. Được chửi để nổi tiếng. Chả bắt chước lũ mad bên Mỹ ấy mà &#8211; Quán nói và khum người ho khọt khẹt.</p>
<p>Xứ này, không chuyện gì là không thể xảy ra &#8211; Ông thêm &#8211; Cứ tưởng tượng như người phụ nữ góa chồng giữa đám lý trưởng, chánh tổng, ông thủ, ông biện lại, thậm chí cả thằng mõ. Cô ta trẻ trung, tươi mát, hoang dã bởi vì là gái quê; nên mỗi người, nhân có cơ hội thì véo một chút, sờ một chút. Chánh tổng giữ từ vòng ba trở xuống, lý trưởng vòng một&#8230; còn mõ với biện lại thì mút ngón tay chân, đến khi no chán chê thì cô ta không còn cọng tóc, cọng lông. Tất cả đều lép xẹp, tan nát. Nói đụng chạm chú, chớ cả mấy ông đầy bồ chữ thánh hiền cũng lén lén, lút lút. Cuối cùng ai cũng phỡn ra, bụng căng phồng, mặt mũi nhẫy bóng.</p>
<p>Thì anh cứ nói mẹ nó ra đất nước này nát hơn tương bần vì lũ khốn nạn đó &#8211; Chủ quán nhăn nhó.</p>
<p>Thôi, sáng súc miệng, chớ nói thêm những điều khó nghe.</p>
<p>Mà sao lâu nay không thấy anh viết gì &#8211; chú giáo sư hỏi.</p>
<p>Viết gì nữa chú! Thứ nhất bệnh, bác sĩ cấm thức đêm, suy nghĩ. Thứ nữa, thời buổi này đụng vào không khéo bị mời lên hỏi xuống, có khi ăn cơm chảo bóc lịch nữa ấy chứ. Thằng cha bạn “Đĩ Thúi” của tôi bị hành xách đến độ tóc rụng sạch, còn vài cọng thì bạc trắng!</p>
<p>Viết rồi nhét vào đáy thùng carton cho mối nó đọc &#8211; Chủ quán đùa.</p>
<p>Có xứ sở nào mà khi viết phải lén lén lút lút, lại phân vân lằn ranh lề phải với lề trái! &#8211; Ông than &#8211; Thà về nhà ôm mông vợ để có bữa cơm, đỡ nhục hơn.</p>
<p>Nay còn đẻ ra đám 47!</p>
<p>Ông ngửa cổ uống hớp rượu. Nó không làm ông tỉnh ra mà gần như mụ mị hẳn đi. Nghe con số 47, đầu ông ong ong như tiếng chuông gõ chan chát. 47, bạn ông đã phục vụ ở Trung đoàn này sau khi thi rớt Tú Tài, bị vỡ xương chậu trong trận đánh ở ngôi làng ven thị xã, thành phế nhân. Càng buồn hơn khi nghe tin cô vợ một thời là hoa khôi của tỉnh ngày ngày thấy ông chồng Trung úy què chột như hiện thân của cái xấu vật chất, tương phản với nhan sắc trời cho, cuốn gói dông mất. Sự thay đổi mặn đắng đó khiến ông buồn cả tháng trời.</p>
<p>Ông quay qua ông giáo sư hỏi: Năm nay chú 40 tuổi đảng rồi. Như vậy chú đứng trong hàng ngũ từ hồi 14 tuổi, chú cảm thấy mỏi mệt chưa?</p>
<p>Ông giáo sư nhăn nhó: Anh truy xét cứ như đám hình sự, khiếp. Đó, cái ông M. Djilas, một tay lý luận gạo cội của Nam Tư, cuối đời không thốt lên đại loại 20 tuổi không theo CS là người không có trái tim, 40 tuổi vẫn còn ở trong đảng CS là con người không có cái đầu.</p>
<p>Chủ quán: Đúng chú có cái đầu lệch, chàng hảng hai chân.</p>
<p>Ông thêm: Xét cho cùng, nói chú đừng giận, trí thức thời nào cũng hèn. Bọn lưu manh chính trị nắm được cái thóp đó, ban phát chút bổng lộc thì trở thành trí nô, sử nô, văn nô&#8230; các loại. Chán.</p>
<p>Ông giáo sư chống chế: Thời buổi này biết làm sao đây?</p>
<p>Chủ quán: <em>Làm sao cũng chẳng làm sao. Dẫu có thế nào cũng chẳng làm chi. Làm chi thì chẳng làm chi. Dẫu có làm gì cũng chẳng làm sao</em>. Đọc mấy câu cũ rích của cụ Phan Khôi, quán cười khà khà, nâng ly một vòng &#8211; Nào, uống và cười lên đi hỡi quê hương tan nát!</p>
<p>Ông nhỏ giọng: Hỏi chú câu này, không phải chú bỏ qua, chớ để bụng; rằng, hồi chiến tranh, chính nghĩa của các chú cao hơn Thái Sơn, nhưng sao tôi thấy, hễ súng đạn hai bên nổ ầm ầm thì y như rằng tất cả mọi người dân già trẻ lớn bé, trai gái cũng đều gánh gồng, bồng bế chạy theo “thằng Mỹ-Thiệu” mà không chạy ngược trở lên, ở đó có tự do độc lập hạnh phúc? Rồi tới giữa 75, có người còn liều mạng đu càng máy bay để mong thoát cái tự do độc lập đó?</p>
<p>Ông giáo sư: Thì cái sự mọi người chạy xuôi đã nói lên mọi điều rồi còn gì? Cái ông nhà văn trên rừng (*) đã thổ lộ đại khái, “phải chi đừng có đại hội Tours diễn ra vào năm 1920&#8230;”</p>
<p>Chủ quán: Cứt, cứ nói toẹt ra là chạy ngược chẳng khác nào đi đến thiên đường chết&#8230; đem thân vào lò hỏa thiêu! Va&#8230;a&#8230;à&#8230;</p>
<p>Ông kêu lên: Hai chú thôi đi, đừng đi quá đà &#8211; Nói và ông tự mỉa rằng mình mới là người đi quá đà trước tiên.</p>
<p>Buổi sáng mới thật gớm. Tiếng cười trộn lẫn trong nỗi buồn uất. Tất cả đều tê điếng, nhoi nhói như cảm giác khi đạp phải dề gai xương rồng bàn chải trên bãi cát khô cháy. Con người ở xứ này cũng vậy, giống như đám xương rồng bàn chải, cố mà chịu những đụn cát rang nóng để sống.</p>
<p>Ông dòm vào chai Martell Cordon Bleu lưng đáy, cảm thấy gờn gợn sống lưng. Ở xứ sở, ở thế hệ bị ném vào lửa, bị bỏ rơi này hình như rượu là người yêu sau vợ con. Rượu để giấu nỗi buồn, để khơi gợi tiếng cười, để nhấn lút mọi cảm giác cay đắng lẫn những hạnh phúc hân hoan lóe lên như đốm lửa trong đêm tối. Rượu vui, rượu buồn, rượu đám đông và rượu một mình. Nó là liều thuốc an thần vừa kích thích, làm tiêu tan và tăng cường độ cảm xúc. Xem ra con người mới chính là những kẻ yếu đuối nhất trần gian chứ không phải cỏ lau như ông triết gia phương Tây từng nói.</p>
<p>Chủ quán bỗng hỏi: Cô chủ nhỏ của ông anh sao rồi?</p>
<p>Sao là sao?</p>
<p>Là gắn chặt hơn hay lỏng lẻo?</p>
<p>Lỏng &#8211; Ông trả lời gọn lỏn.</p>
<p>Uổng &#8211; Quán thêm &#8211; Cô em xinh đẹp, bao nhiêu người nhỏ dãi còn ông anh thì dứt tình đoạn nghĩa ngang xương!</p>
<p>Chú cứ tưởng tượng khi trái tim chứa quá đầy máu sẽ bị vỡ, là nói về bệnh lý. Tôi chẳng sợ vỡ, nhưng suy cho cùng chẳng tới đâu. Tình tang sương khói thì có vẻ trẻ con, còn nghiêm túc thì không thể. Sự ấm áp trong vòng tay nhau rồi sẽ lạnh ngắt khi mỗi người mỗi nơi, bởi biết là không thể đi xa hơn.</p>
<p>Ông anh nói cứ như trong thánh thi  &#8211; Giáo sư chêm.</p>
<p>Chú nhầm. Tôi cũng phàm phu trong vụ này.</p>
<p>Ha ha&#8230; Ông anh phỡn bụng rồi&#8230; &#8211; Chú quán cười rung cả bàn.</p>
<p>Rồi cả ba cùng cười to như thể vừa khám phá ra điều gì ghê gớm, đổi thay cả thế giới.</p>
<p>Già đó. Lung tung đủ chuyện chẳng đâu vào đâu. Rồi buồn chút xíu. Cười lên chút xíu. Ở ngoài nhìn vào thấy rất trẻ con, đâu có già, đâu có bệnh tật gì.</p>
<p><strong>Nguyễn Lệ Uyên</strong></p>
<p>(viết đầu năm 2018 trên giường&#8230;)</p>
<p>____________</p>
<p>(*) Nguyên Ngọc</p>
<p>©T.Vấn 2018</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/nguyen-le-uyen-cuoi-len-hoi-nhung-thang-gia/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Khuất Đẩu: NHÀ VĂN GAI GÓC CỦA XỨ XƯƠNG RỒNG</title>
		<link>https://t-van.net/khuat-dau-nha-van-gai-goc-cua-xu-xuong-rong/</link>
					<comments>https://t-van.net/khuat-dau-nha-van-gai-goc-cua-xu-xuong-rong/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Khuất Đẩu]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 15 Jan 2018 13:48:02 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[khuất đẩu]]></category>
		<category><![CDATA[nguyễn lệ uyên]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=34210</guid>

					<description><![CDATA[Nhà văn Nguyễn Lệ Uyên Nguyễn Lệ Uyên, bút danh nghe rất dễ bị nhầm. Cứ tưởng đó là một nữ sĩ, người mà các ông nhà văn cỡ nhớn tin rằng chỉ có mình mới có thể nâng đỡ dìu dắt cô em văn nghệ chập chững bước vào ngôi nhà văn học. Chỉ [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/01/nguyenleuyen.jpg?strip=all&fit=237%2C261"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-34211" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/01/nguyenleuyen.jpg?strip=all&fit=237%2C261" alt="nguyenleuyen" width="237" height="261" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Nhà văn Nguyễn Lệ Uyên</strong></p>
<p>Nguyễn Lệ Uyên, bút danh nghe rất dễ bị nhầm. Cứ tưởng đó là một nữ sĩ, người mà các ông nhà văn cỡ nhớn tin rằng chỉ có mình mới có thể nâng đỡ dìu dắt cô em văn nghệ chập chững bước vào ngôi nhà văn học. Chỉ văn kỳ thanh thôi các ông đã vẽ ra đủ trò mơ mộng, huống chi là kiến kỳ hình. Nên trong lễ trao giải, các ông trong ban giám khảo chắc mẩm thế nào cũng sẽ được trao tận tay, nhìn tận mặt một người nếu không chân dài thì ít ra cũng không phải là người bị trời bắt xấu.</p>
<p>Nhưng, bé cái nhầm!</p>
<p>Người lù lù bước lên nhận giải không õng ẹo thướt tha, mà là một ông gồ ghề, da nâu sậm, tay chân gân guốc còn hơn một nông dân chính gốc.</p>
<p>Lại càng nhầm đến méo mặt khi truy ra lý lịch, hắn là một tay ngụy, một kẻ cứng đầu không chịu làm con cừu đi theo lề phải mà cứ nghênh ngang đi sang lề trái.</p>
<p>Mà trong cái đám lề trái cũng có nhiều kẻ tin rằng anh ta lấy tên người yêu cũ hay tên vợ làm bút danh, như Võ Phiến nói lái tên vợ là Viễn Phố!</p>
<p>Thật ra, Lệ Uyên chỉ là tên một ngôi làng làm muối ở Sông Cầu*.</p>
<p>Xương rồng cũng là tên do anh cảm khái đặt ra, để gọi Tuy Hòa, thành phố của quê hương sau khi tiêu thổ kháng chiến chỉ còn là những đống gạch vụn với cây gai bàn chải. Đó là một loại cây trong họ xương rồng, gai của nó dài và nhọn, nhỡ giẫm phải là đau bỏ mẹ.</p>
<p>Văn anh cũng vậy.</p>
<p>Khi giữ mục Người và việc trên Thư quán bản thảo, anh ký Ng. (có thêm dấu ngã), hết châm chích các quan đầu tỉnh đến các quan văn học, đến nỗi vợ anh và chị Yến, vợ Trần Hoài Thư phát hoảng phải xin anh ngừng lại (vì sợ công an mời làm việc, sau đó dùng dây thun tự tử!).</p>
<p>Trước sau, anh là cái gai xương rồng rất khó chịu. Anh từng bảo, trâu già sợ gì dao phay, hết châm chích anh xoay ra chửi. Trong Nhật ký thằng điên, anh chửi tuốt, nhất là cái lý thuyết Mắc Le (Marx Lénin).</p>
<p>Nhưng với các bạn đi cùng một lề, anh viết về họ với tất cả dịu êm và sâu sắc của một người tri kỷ. Những trang viết về thơ của Đỗ Hồng Ngọc, về tranh của Thân Trọng Minh là những trang tùy bút tuyệt hay.</p>
<p>Anh là một nhà văn thẳng tính, không chịu được những cái nhập nhèm, lượn lẹo, nhất là những ai muốn kiếm cái hão danh bằng cách đi chàng hảng, một chân ở văn học hải ngoại, một chân ở hội nhà văn trong nước.</p>
<p>Chính vì vậy mà anh không thèm chơi với người một thời là bạn văn,  khi anh ta hãnh diện khoe hình đứng thắp hương trước đền thờ một tên đồ tể. Hay tuyệt giao hẳn với người đã thay đổi một nhân vật từ một sĩ quan ngụy thành một tay anh chị để tác phẩm được xuất bản.</p>
<p>Anh rất khoái Dương Nghiêm Mậu khi nói tôi đâu phải là con chó lúc nào cũng chạy theo một khúc xương.</p>
<p>Có thể anh chưa viết được gì nhiều và trong cái nền văn học tạp pí lù này anh cũng chẳng để lại gì, nhưng cách sống của anh, ngòi bút của anh chính là cái nhân cách cứng như thép, lóng lánh như vàng ròng không bao giờ bị rỉ sét cho dù sự tác động của quyền lực, tiền tài có khi còn mạnh hơn cả nước cường toan.</p>
<p>Điều đáng nói ở một cây gai xương rồng, ấy là khi giẫm phải, rút gai ra rồi mà vẫn âm ỉ đau. Cây gai ấy, nói như Nguyễn Đình Chiểu, đâm mấy thằng gian bút chẳng tà. Mà những thằng gian ấy trong thời buổi XHCN này nhiều vô thiên khủng.</p>
<p>Không tà, nhưng cũng mỏi mệt lắm rồi. Ai già mà không ốm đau mỏi mệt. Trong ngôi nhà cũ giờ đã sửa lại, anh đặt trước hiên hai chiếc ghế và một cái bàn để đối ẩm. Nhưng bạn cũ kẻ ở xa, người đã mất, nên vẫn chỉ một mình anh ngậm ngùi ngồi “uống chút nắng tàn trong chiếc ly không”*!</p>
<p>Ngày nào anh sửng sốt kêu lên khi đọc <em>Những tháng năm cuồng nộ</em>, bảo rằng Khuất Đẩu là một nhà văn mới toanh. Mới nhưng không phải trẻ, anh tin chắc như vậy dù chưa gặp mặt. Và rồi khi lần đầu tại sân ga Tuy Hòa kẻ đến là tôi, người đón là anh, không cần gọi tên cũng biết người trước mặt mình là ai, như thể đã quen biết nhau từ lâu lắm. Lần đó anh đưa tôi về nhà trên con đường trời mưa trơn trợt mà sau này mới biết đêm trước nhà dột anh bắc thang xem sao, bị té gãy tay.</p>
<p>Xiết bao là cảm động!</p>
<p>Anh là vậy đó, thương ai là thương tới bến.</p>
<p>Nhưng rồi, đã đến lúc phải gửi lời chào từ biệt. Chào chiếc ghế dưới bóng một cây mận già, chào cái giếng sâu nước trong và ngọt, chào đêm tối nằm trước hiên nhà nghe gió đồng vi vu, chào anh chào chị, “ngày sẽ hết, tôi sẽ đi dù không biết đi đâu”*</p>
<p><strong>Khuất Đẩu</strong></p>
<p><em>7/12/2017</em></p>
<p><em>*thơ Lữ Quỳnh và Bùi Giáng,</em></p>
<p><em>*</em><em>LU là tên 1 ngôi làng chuyên làm muối ở Sông Cầu. Năm Đệ Tứ, có dịp đi ngang qua giữa trưa, Nắng chang chang, đồng muối trắng đến lóa mắt. Những diêm dân cào, gánh muối&#8230; nhìn từ xa là những khối đen đúa, nhỏ bé giữa màu trắng tinh khiết&#8230; Tôi nhận ra: cái khốn khổ ẩn mình trong màu trắng đẹp đến nao lòng. Một bức tranh nhân thế hoàn hảo. Vậy bèn lấy tên này làm bút danh. (lời của NLU)</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2018</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/khuat-dau-nha-van-gai-goc-cua-xu-xuong-rong/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nguyễn Lệ Uy&#234;n: B&#202;N LY C&#192; PH&#202;, LY RƯỢU&#8230; THẤP THO&#193;NG B&#211;NG LỮ QUỲNH</title>
		<link>https://t-van.net/nguyen-le-uyn-bn-ly-c-phly-ruou-thap-thong-bng-lu-quynh/</link>
					<comments>https://t-van.net/nguyen-le-uyn-bn-ly-c-phly-ruou-thap-thong-bng-lu-quynh/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Lệ Uyên]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 06 Sep 2017 13:20:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[lữ quỳnh]]></category>
		<category><![CDATA[nguyễn lệ uyên]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=32658</guid>

					<description><![CDATA[Bửu Ý, Ng. Dg. Quang, Đinh Cường, Lữ Quỳnh và tác giả (ảnh chụp tại điền trang Thân Trọng Minh nhân triển lãm tranh ĐC tại Đà Lạt năm 2014) Thế hệ chúng tôi không có tuổi trẻ và được gọi với cái tên rất mực mỹ miều nức nở: Thế-hệ-chiến-tranh. Thuật ngữ này vừa [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p align="center"><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2017/09/clip_image002.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="display: inline; background-image: none;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/09/clip_image002_thumb.jpg?strip=all&fit=309%2C160" alt="clip_image002" width="309" height="160" border="0" /></a></p>
<p align="center">Bửu Ý, Ng. Dg. Quang, Đinh Cường, Lữ Quỳnh và tác giả</p>
<p align="center">(ảnh chụp tại điền trang Thân Trọng Minh</p>
<p align="center"><a name="_GoBack"></a>nhân triển lãm tranh ĐC tại Đà Lạt năm 2014)</p>
<p>Thế hệ chúng tôi không có tuổi trẻ và được gọi với cái tên rất mực mỹ miều nức nở: Thế-hệ-chiến-tranh. Thuật ngữ này vừa bi hùng lẫn bi hài. Và rồi chiến tranh cũng qua đi mà không có hòa bình, không cả đoàn tụ. Anh em bạn bè lưu tán tứ phương. Ngó tới ngó lui, cái thế hệ ấy cũng đã trên dưới 70! Nghĩa là đang ở lứa tuổi, nói theo ông bạn nhà thơ thiền giả Đỗ Hồng Ngọc, là bắt đầu hườm hườm, chuẩn bị chín rục. Thoắt nghe cũng gờn gợn thịt da trong vài lần chợt nghe tiếng chim rớt giữa đêm khuya khoắt.</p>
<p>Lòng chùng. Chân mỏi. Chẳng còn những ham muốn bay nhảy như thuở nào, rất xa qua những tờ lịch mà lại gần như một cơn mơ. Cuối cùng thì đành lui về căn nhà cổ xưa, nấp sau vườn cây rậm rạp như thể quy ẩn, đến nỗi ông bạn văn Trần Hoài Thư tận xứ người giá buốt, hạ bút vẽ nguyệch ngoạc chân dung tôi: “<i>con sói già cô đơn giữa bãi xương rồng</i>”! Mà cũng phải thôi, sáng sáng tự pha ly cà phê ngồi ngó trời nhìn đất; quay vào phòng vi vút với chiếc máy tính, lôi những sách báo cũ đọc và sống với cái quá khứ heo hút để gặp lại tất cả bạn bè trong đó, trên trang giấy ố vàng, qua những dòng chữ chi chít trên màn hình, mừng vui, buồn tủi hỗn độn chen lấn nhau.</p>
<p>Bạn bè chí cốt chí thân chẳng còn ai ở xứ xương rồng bàn chải này để chia sẻ. Nhưng cũng còn có chút may mắn, được hai người bạn trẻ năng lui tới, lúc ngồi cà phê, lúc trước ly rượu nhạt mà tình thì đẫm mặn như muối như gừng! Một bạn là giảngviên trường ĐH địa phương, một là chủ quán ăn, có phần hao hao giống với anh quán của cụ đồ Chiểu trong Lục Vân Tiên. Cả hai đều sính văn chương sách vở&#8230; Bữa nọ, trên bàn bia (loại bia tươi rẻ mạt), anh quán cảm khái chuyện nhân tình thế thái sao đó, cất giọng:</p>
<p>“<i>Tay với trời cao không thấu nổi/ Tuổi già thiếu bạn cũng mồ côi</i>”. Anh quán ngập ngừng, nhìn về phía xa như đón đợi cái tuổi già, nay mai sẽ đến với mình. Tôi tiếp lời đọc lại khổ thơ:</p>
<p>“&#8230;<i>Thèm rượu mà ta không uống được</i></p>
<p><i>Bạn thì xa tri kỷ cũng đi rồi</i></p>
<p><i>Tay với trời cao không thấu nổi</i></p>
<p><i>Tuổi già mất bạn cũng mồ côi</i>”. <i>Mất bạn</i> chớ không phải <i>thiếu bạn</i>! Thời buổi này, chúng ta đã mất khá nhiều bạn, đủ kiểu mất: Đổ vỡ, ly tán sau 30.4, chạy theo danh vọng hão, đè cổ bạn bè để leo lên chiếc ghế được ban phát, thậm chí bán cả bạn cho bọn quỷ dữ&#8230;Có nhớ thơ của ai không? Quán trả lời, ông Lữ gì đó, thằng bạn ở Sài Gòn đọc cho nghe hồi hôm. Nó tâm trạng, anh. Là vì nó vừa chia tay vợ sau 30 năm chăn chiếu&#8230; Bài dài nhưng chỉ nhớ hai câu. Tôi nghĩ, thời buổi văn chương chữ nghĩa bị chìm lấp đằng sau bức màn kim tiền mà còn có năm ba độc giả chịu khó đọc và đồng cảm với tác giả, âu cũng là niềm hạnh phúc! Tôi nói với giọng điệu vui hẳn lên:Ờ, thơ Lữ Quỳnh, một trong những người sáng lập Gió Mai ở Huế, tiền thân của Ý Thức sau này. Anh quán nhảy chồm lên, em có đọc Lữ Quỳnh một truyện ngắn không nhớ tên, hình như một ông già chuyên gói xác, một chuẩn úy làm ở ban chung sự, và một người mẹ, một thiếu phụ đi tìm con, tìm chồng trong nhà xác&#8230; truyện đọc nghe buồn buồn, lạnh như chính người đọc đứng trong trong nhà xác thật!</p>
<p>Tôi nói: Có thể nội dung và tựa truyện ngắn (Mùa Xuân Hư Vô) chú không nhớ tường tận, vì đã trên 40 năm rồi còn gì, nhưng nhận xét ban đầu thì khá chính xác, bởi style của Lữ Quỳnh, từ truyện dài đến truyện ngắn&#8230; và cả thơ vẫn cứ lành lạnh như lớp sương ban mai, như tuyết tan ngoài hiên thềm. Đôi lúc, vẫn có lửa nhưng không phải loại lửa bùng cháy, hừng hực mà, là ngọn lửa chợt lóe lên, sáng một góc và tan vào lớp bụi như<i>những cơn mưa mùa đông</i> xứ Huế.</p>
<p>Cao hứng, tôi dông dài tán phét:Nếu chịu khó ngồi đếm nỗi buồn của các nhân vật (trong truyện và thơ) Lữ Quỳnh tạo ra thì có đến hàng trăm cảnh buồn khác nhau, trong một không gian và thời gian không cố định: “<i>Nỗi u buồn như muốn thay hết ý nghĩa của cảnh vật. Làm sao để sống được phần đời còn lại của những kẻ đang nằm bất động trong các túi ni lông đó? Kiên quay trở vào đứng cạnh một chiếc quan tài. Hắn rút nắm hương thổ thổ trong lòng bàn tay, rồi châm vào ngọn nến</i>” (Mùa Xuân Hư Vô).</p>
<p>Nhìn hai bạn trẻ, họ thuộc thế hệ sau, không tham gia vào cuộc chiến bẩn thỉu, nhưng chắc chắn họ đã nghe, đã thấy, đã sống&#8230;với chiến tranh; đã nhìn thấy những cái chết phi lý ngoài đời thực và qua sách báo; họ cũng phân biệt được rạch ròi hạnh phúc và đau khổ, sống và chết, tuổi trẻ và già, chiến tranh và hòa bình?</p>
<p>Với thế hệ chúng tôi, trong chiến tranh, tuổi trẻ bị vãi ném và bị phung phí đến nỗi nhiều nhà văn đã phẫn nộ: “<i>Chiến tranh là cái cặc chó gì”, </i>ThảoTrường; còn Y Uyên: “<i>Chiến tranh cái con mẹ gì mà lâu quá vậy?</i>”; Phan Nhật Nam thì gọi bằng hai từ “<i>địa ngục</i>”. Phạm Ngọc Lư tổng kết cuộc chiến bi thảm và bẩn thỉu kia bằng: “<i>Trong cuộc chiến tàn khốc này, đứa nào sống sót là kẻ chiến thắng</i>”. Hai chú thấy đó, chỉ vài ba từ nhưng quá là bi thống! Cho nên, người đọc dễ nhận ra, trong hầu hết các tác phẩm của các nhà văn trẻ miền Nam, thân phận làm người luôn được đặt lên trang giấy với những câu hỏi ngắt ngoải, không lối thoát.</p>
<p>Với Lữ Quỳnh, thân phận làm người trong thời buổi ấy, thường đặt ở những tình huống, không gian và thời gian khác nhau như một ám ảnh nặng trĩu khi phải làm người: “<i>Là tuổi già nên phải chết, chết trận mạc, chết tự tử, chết vì chống tham nhũng&#8230; sau nầy hắn đã sợ mưa như sợ thần chết, vì mưa không làm hắn thấy đường, không thấy đường thì làm sao mà thấy địch? Không thấy địch thì địch thấy ta. Địch thấy ta, thì ta không bao giờ còn thấy bạn bè, cha mẹ, anh em nữa”</i> (Người Ngồi Đợi Mưa).</p>
<p>Trong hầu hết các tác phẩm của Lữ Quỳnh, chúng ta không tìm thấy sự phẫn nộ hiển lộ qua những câu từ, nhưng nỗi buồn thì dư thừa. Ông buồn vì mất bạn, buồn vì hoàn cảnh khắc nghiệt trên mảnh đất ngày càng lụn tàn bởi chiến tranh, buồn vì xa xứ&#8230; Có hàng chục kiểu buồn như thế. Cho nên đọc Lữ Quỳnh là soi tìm nội tâm qua câu từ. Đó là nội tâm bị băm vỡ, bị tổn thương do những tác động khách quan oan nghiệt, đè lên từng phận người trong dòng lịch sử biến động không ngừng:</p>
<p><i>Ngồi tưởng quê nhà đang có bạn</i></p>
<p><i>Đứa nằm hiu hắt chốn trăng sao</i></p>
<p><i>Đứa đang chiếc bóng đêm mờ tỏ</i></p>
<p><i>Thế cuộc sum vầy nay chốn nao?</i></p>
<p>Có sống trong trận “cuồng phong sử lịch” này mới cảm hết nỗi đau xót trong 4 câu thơ trên.</p>
<p>Một sáng nọ, sau những trận mưa dầm dề như cầm chĩnh mà trút liên tu bất tận nhiều ngày ròng, bất ngờ sáng sau, trời bật nắng, loại “nắng rượn” khó mô tả chính xác. Mưa đã gội rửa mọi bụi bặm, nắng phớt lên chút hồng hào, đủ để mấy con chim sẻ rung rung rỉa lông cánh. mọi thứ đều đẹp, thơm tho như “<i>em gái Mọi tắm truồng sớm mai</i>”. Cảnh vật đã vậy huống con người. Anh bạn giảng viên gọi qua điện thoại: Em với anh Năm quán ngồi cà phê, có cả nhân vật em gái văn nghệ. Anh chạy xuống ngồi nói dóc.</p>
<p>Mất 7 phút chạy xe máy. Cả ba đang ngồi nơi hiên hóng nắng. Những giọt cà phê đen nâu nhỏ chậm. Bắt tay. Ngồi xuống ghế. Ngó cô em thấy bữa nay xinh xinh, mặc dù đang níu tuổi 50, miệng tôi bật ra:</p>
<p><i>&#8230;Tôi không còn trẻ để cầm tay em nữa</i></p>
<p><i>Nhưng lòng luôn sẵn lửa cho em</i></p>
<p><i>Để sưởi em ngày đông tuyết giá</i></p>
<p><i>Tội nghiệp những con đường xe qua buồn bã</i></p>
<p><i>Không bóng người chỉ bong bóng mưa xao&#8230;</i></p>
<p>Tay tôi nắm chặt tay cô em, lòng gợn lên những con sóng lăn tăn. Tôi không biết cái gợn kia là từ bàn tay ấm áp của cô em hay từ những câu thơ của Lữ Quỳnh rung lên như một sợi dây đàn ngân nga&#8230;? Nhưng dẫu sao, giữa bàn tay người sương phụ và thơ như có một liên hệ cồn cào nơi tôi. Nói khác, mấy câu thơ dẫn trênđã làm đẹp cho buổi sáng trong vắt, tôi nghĩ vậy.</p>
<p>Cô em hỏi: Anh nói chưa bao giờ viết nổi một câu thơ, vậy lấy đâu ra mấy câu hay vậy để “tán” em? Hiểu lầm rồi cô em ơi, thơ bạn anh, Lữ Quỳnh. Cầm tay em và đọc thơ bạn như để chào buổi sáng vậy mà? Chiếc muỗng khuấy tròn trong ly, cô em cười cười: Các anh hay thật, trong ngoài trên dưới gì cũng nói được tất bằng thơ. Đó là sự lôi cuốn với người nghe, lắm lúc đưa thiên hạ vào mê cung. Anh quán: Nếu ông anh đưa được cô vào mê cung càng&#8230; Tôi gạt: Chớ có làm vẩn buổi sáng rất dịu dàng này!</p>
<p>Một buổi sáng tuyệt đẹp. Nắng rượn, hưng hửng, có bạn tri âm lại thêm người đẹp ngồi quanh nói chuyện văn chương,là điều tuyệt diệu ở tuổi 70 &#8211; cái tuổi tôi hay gọi đùa là tuổi “dậy thì 70” gờn gợn những ngọn gió heo may trong lòng, theo nhiều nghĩa khác nhau&#8230;</p>
<p>&#8230; Nhiều đêm không ngủ được, lôi trên kệ sách, bất kỳ của ai đọc “tứa lửa từa lưa” để dỗ giấc, từ mấy ông Tàu đời Đường chí đến ông Tây Nga La Tư, Pháp, Mỹ&#8230; nghĩa là vớ được quyển nào đọc quyển đó, đọc đến mệt nhừ con mắt.</p>
<p>Có trận, Lữ Quỳnh thức trắng với tôi. Tôi dằn vọc anh ta, làm tình làm tội anh ta, bỏ lên bộ não xẻ thịt thơ anh ta. Mà thật lạ, mỗi lần dàn vọc, xẻ mổ như vậy lại hiện ra một Lữ Quỳnh rất khác trong từng ấy ngôn ngữ, từng ấy bài thơ&#8230; cứ như một cánh chim lạc đàn, không hốt hoảng mà lại ung ung vỗ cánh trong bầu trời xanh thăm thẳm, thênh thang.</p>
<p>Ấy là những lúc anh nhớ bạn bè, viết những câu thơ về bạn, như có lần tôi đã viết: “Với những bài thơ viết về những người bạn, có lẽ tâm trạng nhất, não lòng nhất vẫn là bài <i>Người ngồi khâu di sản</i>. Ngôn ngữ không chắt lọc, không ẩn dụ; chúng tự do như ngôn ngữ chụp hình, nhưng ông đã chọn đúng góc sống cho bố cục, nên chỉ lia qua, người đọc đã cảm thấy ngay hình ảnh một “ông đồ già”, nhưng xót xa cay đắng gấp vạn lần ông đồ của Vũ Đình Liên năm xưa, bởi ông đồ Thư đã cố nén những giọt lệ tủi nhục, kiên nhẫn, miệt mài ngày đêm gom góp những đứa con tinh thần bị “chôn sống”, bị “hỏa thiêu” còn sót để tái hiện hình hài dòng văn học miền Nam bị bức tử một cách oan ức.</p>
<p><i>Tóc bạn trắng, trắng như mây</i></p>
<p><i>Tóc bạn trắng như tuyết New Jersey</i></p>
<p><i>…</i></p>
<p><i>Cặp kính lão dày trễ xuống</i></p>
<p><i>Kim đâm vào tay không biết đau</i></p>
<p><i>…</i></p>
<p><i>Hai mươi năm di sản mây trôi</i></p>
<p><i>Chỉ mình bạn ngồi khâu, khâu mãi.</i></p>
<p>(Người ngồi khâu di sản)</p>
<p>Hay về những giấc mơ của anh: “&#8230;luôn là lớp mây trắng trôi bềnh bồng vô định trong thơ ông. Giấc mơ gần như xuyên suốt nửa đời làm thơ của ông. Nó không hình thù nhân dạng, mờ mờ bay qua mắt ông, tâm hồn ông như một ảo giác và bay thẳng, trôi mất, không đọng lại, để sau đó, từ Samudaya, thơ ông như giọt nước đọng trên phiến lá, rớt xuống và tan biến đâu đó giữa đất trời, cây cỏ, như có như không.</p>
<p>Ông ghi lại những cảm giác trống rỗng, những hình ảnh trống rỗng đã chạm khẽ vào ông và bay đi không để lại dấu vết. Tất cả đều phẳng phiu như một thấu kính một chiều trong suốt, trong hơn khí trời, không thấy, không rờ chạm được.</p>
<p><i>Trong những giấc mơ</i></p>
<p><i>Ký ức trắng</i></p>
<p><i>Như tấm gương soi</i></p>
<p><i>Không giữ lại bóng  </i></p>
<p>Hay:</p>
<p><i>Những giấc mơ nồng nàn</i></p>
<p><i>Lạ lẫm…</i></p>
<p><i>Sáng ra không nhớ gì</i>.</p>
<p>(Mây trong những giấc mơ)</p>
<p>Ngồi nhớ anh, thích những bài thơ đầy tâm trạng với tôi, bèn lan man tản mạn đôi dòng; nhưng mà nói thế nào, phân tích thế nào thì những trang thơ lẫn văn xuôi của Lữ luôn là những thổn thức, khao khát&#8230; cứ như ngọn lửa cháy trong đêm đông giá buốt, như Du Tử Lê đã viết: “<i>Hôm nay, đọc lại những trang văn của Lữ Quỳnh, tôi vẫn còn nghe thoảng hương thơm của lòng nhân hậu. Hay, tính-lành của một con người không bị ô nhiễm bởi lầm than, nguy nàn, tổ quốc.</i></p>
<p><i>Hôm nay, đọc lại những trang văn của Lữ Quỳnh, tôi vẫn còn nghe được tiếng reo vui, hân hoan của những con chữ búng mình trên mặt sông máu / xương gập ghềnh nghiệt, oan vận nước.</i></p>
<p><i>Hôm nay, đọc lại những trang văn của Lữ Quỳnh, tôi vẫn còn nghe được những hồi chuông, khánh tình yêu thao thiết. Hay, những ngọn nến cháy bằng tim bấc trăm năm, giữa nghìn sao rung động, thứ nhất.</i></p>
<p><i>Hôm nay, đọc lại những trang văn của Lữ Quỳnh, tôi cũng còn nghe được tiếng gọi rộn rã thanh niên, đi ra từ trái tim sóng sánh nhiệt-hứng-trẻ-thơ tình bằng hữu</i>…”</p>
<p>Tuy Hòa tháng 7/2017</p>
<p><b>Nguyễn Lệ Uyên</b></p>
<p>©T.Vấn 2017</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/nguyen-le-uyn-bn-ly-c-phly-ruou-thap-thong-bng-lu-quynh/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nguyễn Lệ Uy&#234;n: NHỚ PHẠM NGỌC LƯ</title>
		<link>https://t-van.net/nguyen-le-uyn-nho-pham-ngoc-lu/</link>
					<comments>https://t-van.net/nguyen-le-uyn-nho-pham-ngoc-lu/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Lệ Uyên]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 20 Jun 2017 13:56:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[nguyễn lệ uyên]]></category>
		<category><![CDATA[phạm ngọc lư]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=31868</guid>

					<description><![CDATA[(từ trái: Phạm Ngọc Lư-Trần Hoài Thư-NgLu-Phạm Văn Nhàn ảnh chụp năm 1969)  “Trong cuộc chiến tàn khốc này, đứa nào sống sót là kẻ chiến thắng” (Phạm Ngọc Lư) Trong nửa thập niên 60, 70 (TK XX), bên cạnh những nhà văn nhà thơ mà tên tuổi của họ đã được khẳng định, còn [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p align="center"><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2017/06/clip_image002.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/06/clip_image002_thumb.jpg?strip=all&fit=356%2C203" alt="clip_image002" width="356" height="203" border="0" /></a></p>
<p align="center">(từ trái: Phạm Ngọc Lư-Trần Hoài Thư-NgLu-Phạm Văn Nhàn</p>
<p align="center">ảnh chụp năm 1969)</p>
<p> <i>“Trong cuộc chiến tàn khốc này, đứa nào</i></p>
<p><i>sống sót là kẻ chiến thắng”</i></p>
<p>(Phạm Ngọc Lư)</p>
<p>Trong nửa thập niên 60, 70 (TK XX), bên cạnh những nhà văn nhà thơ mà tên tuổi của họ đã được khẳng định, còn có đông đảo những người viết trẻ: Họ, đa phần là những người không có tuổi thanh xuân yên ấm, lần lượt bị vãi ném vào chiến trường; số ít còn lại là công chức, sinh viên… đã có những đóng góp không nhỏ cho dòng văn học miền Nam – dòng văn học được xem là tự do sáng tạo có giá trị về mặt thẩm mỹ và nhân văn trong mỗi tác phẩm – với nhiều khuynh hướng dị biệt (viễn mơ, dấn thân, hiện sinh, hiện thực đối kháng…)</p>
<p>Và, mặc dù dòng văn học này đã bị bức tử sau ngày 30.4.1975 bằng mọi cố gắng “tẩy xóa” của bên “thắng cuộc” dưới nhiều dạng thức khác nhau, nhưng nó, sau hơn 40 năm vẫn âm thầm và lặng lẽ chảy; vẫn đọng lại trong tâm thức độc giả những giá trị không thể đảo ngược. Nó luôn là cái mới của hôm nay, bởi đã tiếp cận với dòng văn học phương Tây qua các trào lưu nhưng vẫn giữ được hồn cốt văn hóa Việt qua biết bao biến động lịch sử.</p>
<p>Những người viết thuộc thế-hệ-chiến-tranh này, có những người bỏ cuộc, nhưng không ít người đã thành danh, đã được công chúng đón nhận như một hiện tượng mới, chững chạc tiếp bước các bậc đàn anh, làm rạng rỡ cho một miền văn chương luôn bị phía bên kia dán cho nhiều nhãn mác thô thiển: Đó là Trần Thị Ngh. Nguyễn Tất Nhiên, Nguyễn Bắc Sơn, Trần Hoài Thư, Vũ Hữu Định… Mỗi nhà văn trẻ đều mang một phong cách riêng, không lẫn lộn, không là cái bóng của các nhà văn đi trước, ít nhiều làm đa dạng, sáng đẹp cho thời kỳ này. Phạm Ngọc Lư trong số đó.</p>
<p>Anh xuất hiện lần đầu với những bài viết ngắn trong mục <i>đoản văn</i> trên tuần báo Nghệ Thuật (Mai Thảo chủ bút, Viên Linh thư ký toà soạn) vào cuối những năm 1966, ký tên Phạm Triều Nghi. Đến năm 1969, có thơ và truyện ngắn đăng tải đều đặn trên các tạp chí văn chương miền Nam: Văn, Vấn Đề, Bách Khoa, Trình Bày, Ý Thức… và ký tên thật.</p>
<p>Trong lời bạt tôi viết cho tập thơ Đan Tâm của Lư, có một đoạn trích từ tập tiểu luận Vũ Trụ Thơ (1) của nhà phê bình văn học Đặng Tiến: “<i>Yêu một tác phẩm nghệ thuật giống như yêu một người đàn bà ở điểm là mỗi lần yêu, chúng ta khám phá ở người tình một trinh tiết mới. Yêu một tác phẩm là sáng tạo một trinh tiết mới cho tác phẩm</i>”.</p>
<p>Tôi “yêu” những tác phẩm của Lư bởi sức sáng tạo không ngừng trong những câu chữ lấp lánh của anh! Riêng nhà văn Cung Tích Biền thì có cái nhìn sâu hơn, phân tích kỹ hơn: “<i>Phạm Ngọc Lư khá điềm tĩnh trong hành trình sáng tác của mình, tuy sâu trong tâm khảm, từ biển rộng tâm linh, Lư vẫn cháy bỏng với những khắc khoải, tư duy. Trong bao năm Lư không chạy theo những trào lưu, trường phái, những hào nhoáng ồn ào của thị hiếu. Không làm con thiêu thân để chết non, tàn mùa theo những cám dỗ tức thời. Thơ Lư hình thức là mẫu mực, cổ điển. Vì ta cứ đủng đỉnh cái Riêng mình. Cái bình cổ sống rất lâu. Chính ở điểm này Lư thành công. Nói được rất nhiều trong biểu hiện điều Muốn Nói. Không cầu kỳ. Không đánh bóng ồn ào mặt ngoài bởi ngôn ngữ rỗng…</i>” (2)</p>
<p>Điều đáng nói, mặc dù rất thành công với những bài hành, thất ngôn, lục bát cùng những truyện ngắn phản ảnh những góc khuất của bộ mặt xã hội đương thời, một xã hội đảo điên, chiến tranh bùng vỡ ở mức độ ác liệt, để đưa vào tác phẩm với những cảm thức được chắc lọc đến từng chi tiết nhỏ, hoặc dùng điển tích để chuyển tải &#8211; và đã thành công, được độc giả thời bấy giờ (cả sau này) đánh giá cao – nhưng không bao giờ tự mãn, khoa trương mà luôn tìm đến cái mới hơn, đẹp hơn.<b></b></p>
<p><b>* Thơ như một vết cứa vào tim người</b></p>
<p>Với thơ, anh có một phong cách rất riêng, không lẫn với những người cầm bút cùng thời. Cũng vết về chiến tranh, về thân phận con người, về tình yêu, nỗi cô đơn, khao khát, về mặc cảm đọa đày, khốn cùng…nhưng không sử dụng loại ngôn ngữ sáo rỗng, thời thượng, mà vận dụng các điển điển tích, tiếng Việt-Hán để chuyển tải nội dung. Vì vậy, sau khi khép lại một bài thơ, người đọc có cảm giác đang chìm đắm trong những câu từ cổ kính, lấp lánh như những chiếc bình cổ. Nói khác, với một thủ thuật tài hoa, anh đã làm mới dòng thơ cổ điển mà không dẫm chân lên khuôn thước thơ cổ điển. Điều này cũng dễ hiểu, bởi từ nhỏ, anh đã học chữ Hán với ông nội và cha; lớn lên theo học ban Hán-Nôm Đại học Văn Khoa Huế, nên câu từ luôn được nâng niu, trau chuốt cẩn trọng.<b></b></p>
<p>Nhà văn Đỗ Trường đã đưa ra nhận xét: “<i>Thơ Phạm Ngọc Lư</i> <i>mang đậm chất cổ thi và sử dụng nhiều điển tích cũng như từ ngữ Hán Việt. Do vậy, thơ ông cổ kính sang trọng, nhưng khi đọc lên tưởng chừng rất dễ vỡ” </i>(3).</p>
<p><i>&#8220;Em từ tình sử bước ra</i></p>
<p><i>Y trang yểu điệu đôi tà mộng bay…</i></p>
<p><i>Chờ nhau gác gió lầu mây</i></p>
<p><i>Nghìn đêm giọt nến rơi đầy trang thơ</i></p>
<p><i>Nghìn đêm sông lạnh trăng mờ</i></p>
<p><i>Trương Chi bạc tóc bên bờ Tương Giang</i></p>
<p><i>Chiều nao nhất kiến hồng nhan</i></p>
<p><i>Chiều nay xác bướm rơi vàng mộ hoa</i></p>
<p><i>Áo xưa mộng mị đôi tà</i></p>
<p><i>Đành thôi xếp lại Nam Kha gối đầu” </i>(Thuyền Quyên).</p>
<p>Cách đây 15 năm, từ Đà Nẵng Lư gửi thư cho tôi, có đoạn: “<i>Theo tôi, nhà thơ=lãng mạn+cô đơn+bi thương+kiêu hãnh, trong đó “cô đơn” là thuộc tính bi thảm nhất. Chính trong cái cô đơn cùng cực, tôi thấy mình chết, ra đi và đã viết:</i></p>
<p><i>Tâm hồn bật một tiếng kêu</i></p>
<p><i>Vỡ ra lênh láng giữa chiều tang thương</i></p>
<p><i>Âm ba đồng vọng mười phương</i></p>
<p><i>Có ai thiên cổ đoạn trường hồi âm?</i></p>
<p><i>Tay</i><i> ai nâng nhẹ phù thân?</i></p>
<p><i>Dìu tôi đi giữa phù trầm khổ đau</i></p>
<p><i>Tôi và nước mắt dìu nhau</i></p>
<p><i>Bơi qua bể khổ muôn màu nhấp nhô</i></p>
<p><i>Tôi và cát bụi ngu ngơ</i></p>
<p><i>Bay quanh trời đất đợi giờ tương sinh” </i>(thư riêng đề ngày 27.10.2002).</p>
<p>(Nếu nói rằng: Mỗi tác phẩm của nhà văn là những dự báo cho tương lai thì những câu thơ trên như một ám thị cho cái ngày định mệnh cuộc đời anh: <i>Tôi và cát bụi ngu ngơ/Bay quanh trời đất đợi giờ tương sinh</i>. Đó là ngày 26.5.2017 lúc 18h45 tại Đà Nẵng, gây bao thương tiếc cho bạn bè và độc giả hằng mến mộ anh, như lời anh Cung Tích Biền ghi trong thư: “Vắng bóng đời này, lại vĩnh cửu Chốn Kia. Mong Lư đời đời an nghỉ. CTB” (thư ngày 4/6).</p>
<p>Cả cuộc tồn sinh của Lư, lúc nào anh cũng cảm thấy bất toàn, cô đơn, đau khổ… Chúng luôn đeo ám vào những trang thơ văn của anh. Anh loay hoay với bốn bức tường lạnh trong nhà trọ khi dạy học tại Tuy Hòa, loay hoay với đời sống vợ con sau 75. Lư than thở với tôi: “<i>Mình bất tài, bất lực, hèn… sao?</i>” . Đó là khoảng năm 1983 (hay 1984?), anh không chịu nổi ngày ngày phải đi bộ non 2 cây số, gánh từng gánh nước tưới những vồng khoai lang giữa bãi cát cao ngất nghểu ở HTX NN quê anh với chỉ 200grs nửa lúa nửa khoai sắn cho một ngày công (?!) sao đủ nuôi 4 miệng ăn, đành phải gạt nước mắt gửi vợ con về quê ngoại (Qui Nhơn) vào Long Khánh (Đồng Nai) đào đãi vàng, đốt than; xuống tận Hồng Ngự (Đồng Tháp) nấu rượu lậu, bán trái cây độ nhật… và “nghề” nào cũng thất bại, khiến anh đau đớn, quặn thắt hơn trong cuộc mưu sinh ở thời buổi ngăn sông cấm chợ! Thất chí chồng lên thất chí.</p>
<p><i>Tuổi tác chừng này vẫn ngây thơ</i></p>
<p><i>Ma xui quỷ khiến ra ngồi chợ</i></p>
<p><i>Bán gió rao trăng… một núi dừa</i></p>
<p><i>…</i></p>
<p><i>Lúc chán, rửa môi dăm chén rượu</i></p>
<p><i>Lau chân mắc võng nằm lơ mơ</i></p>
<p><i>Mây cuốn nắng thiu lòng u uẩn</i></p>
<p><i>Tuồng đời như cảnh chợ ngày mưa</i></p>
<p><i>…</i></p>
<p><i>Thôi để ta yên bên chén rượu</i></p>
<p><i>Uống say… thành bại cũng bằng thừa</i></p>
<p><i>Uống say… ném áo lên nóc quán</i></p>
<p><i>Hết nợ hết duyên… vĩnh biệt dừa!</i> (Ngồi Chợ)</p>
<p>Cuộc mưu sinh đối với Lư trong giai đoạn này không dễ dàng chút nào. Từ biệt những ê chề miền Đông, Lư xuôi về vùng đất phương Nam. Nhưng đất phương Nam mênh mông sông nước, bạt ngàn màu xanh vờn phủ tính phóng khoáng ấy cũng chẳng dung nạp được anh trong đời thường, nói chi đến tình đồng điệu? Trong cảnh mênh mông, bạt ngàn kia, dường như khiến Lư cô đơn hơn, quặn thắt tâm can hơn khi đưa mắt trông vời phương Bắc, chốn quê nhà xa xôi:</p>
<p><i>Chân trời giang rộng mênh mông</i></p>
<p><i>Cố hương thăm thẳm tịnh không lối về</i></p>
<p><i>Giang hà im bặt thuyền ghe</i></p>
<p><i>Tha phương nhật mộ… não nề bèo mây </i>(Chiều Qua Châu Thổ)</p>
<p>Đó là bài thơ anh viết khoảng giữa năm 1986 lúc xuôi xuống Hồng Ngự. Ở đó cũng có vài người bạn, nhưng không phải bạn thơ mà là những bạn rượu tầm cỡ Tây Môn Khánh – theo lời anh kể lại! Những bữa rượu ấy không giúp anh nguôi ngoai nỗi cô đơn như một ám ảnh phải đeo mang. Hình ảnh những nơi anh ngụ cư ám vào tâm trí như những ám thị “bệnh hoạn” liên tưởng qua hàng cây, con sông, bến nước, đất đỏ ngấm vào tâm trí rồi đặt bút “tổng kết” trên mười năm lang bạt mưu sinh trong bài Bụi Đỏ viết năm 1994 và chú thích “<i>sau chín năm ly tán</i>”:</p>
<p><i>Quê người nương náu kiếp lưu dân</i></p>
<p><i>Bụi ba dan có phải hồng trần?</i></p>
<p><i>Đỏ quạch mồ hôi chua cơm áo</i></p>
<p><i>Cơm áo bạc tình… bán hết thanh xuân</i></p>
<p><i>…</i></p>
<p><i>Đi giữa rừng cao su trùng điệp</i></p>
<p><i>Lòng đau như vết cạo còn tươi</i></p>
<p><i>Mủ cứ chảy bám dày tâm sự</i></p>
<p><i>Tâm sự đùn cao như gò mối chôn người.</i></p>
<p><i>…Đi lơ ngơ vừa tròn một giáp</i></p>
<p><i>Mười hai năm lệ tủi đời câm</i></p>
<p><i>Rượu Nam phương uống cùng tứ xứ</i></p>
<p><i>Tứ xứ ly gia dễ mủi lòng</i></p>
<p><i>Cũng dễ quên nhau khi hết rượu</i></p>
<p><i>Cái ân tình có có không không</i></p>
<p>Chốn đất khách lắm hào sảng nhưng không thiếu những “phàm phu”. Bên cạnh những “hào sĩ” những kẻ “nhân từ” là những tay “ích kỷ, lếu láo, say sưa…” khiến anh cảm thấy mệt nhoài với <i>bến nước mười hai đục ngầu bụi đỏ</i>; để sau đó tự hỏi và tự trả lời:</p>
<p><i>Sao không quay về bến thứ mười ba:</i></p>
<p><i>Bến nước trong xanh… soi bóng quê nhà!</i></p>
<p>Mười hai năm lao thân lao trí đã đủ để anh vật vã những đau đớn, buồn tủi trong “hành trình” xuôi Nam, lang thang nơi đất khách kiếm tìm sự sống kể từ lúc xã hội bị đảo lộn, đạo đức, phẩm hạnh con người bị vãi tung ra lề đường; miếng cơm manh áo ẩn nấp trong những tráo trở. Cái bầy người được mệnh danh là quần chúng nhân dân, là nền móng cho một đất nước được chăn dắt bằng những tấm tem phiếu. Cái ăn cái mặc trở thành thước đo giá trị làm người. Cuộc tìm kiếm áo cơm cũng bình thường như bao con người khác cùng thời, nhưng đến phút cuối thì: <i>Đỏ quạch mồ hôi chua cơm áo/ Cơm áo bạc tình bán hết thanh xuân</i>. Hai câu thơ như hai vết cứa sâu hoắm lên thịt da, phơi lộ hết những bần hàn cơ cực trong một giai đoạn đau khổ tột cùng của bản thân anh trong giai đoạn cùng khổ của đất nước này. Ngoảnh lại, cả một đời làm người của Lư là hình ảnh con ngựa già đã chấm hết những hào quang một thuở!</p>
<p><i>Ngồi thất thế như con ngựa ốm</i></p>
<p><i>Nhớ đường trường thè lưỡi liếm chân </i>(Tuy Hòa Năm Năm)</p>
<p>Lời thơ ẩn lời than đến nao lòng, <i>con ngựa ốm </i>kia cũng là thân phận của người trí thức đã cùng đường, tuyệt lộ trong một xã hội bị đảo lộn mọi trật tự sau biến cố 30.4. Nhiều bài thơ trong hai tập Đan Tâm và Mây Nổi (đều do Thư Ấn Quán, HK ấn hành) của Lư, luôn thấp thoáng bóng dáng của kẻ sĩ thất thế nhưng vẫn giữ lòng tự trọng, liêm sỉ chối từ mọi danh vọng, tiền tài… lui về quê chịu cảnh sống thanh bần chứ không chịu khuất phục, quỳ gối khom lưng.</p>
<p>Trong đời, khi tiếp cận với văn chương, tôi rất ngưỡng mộ và kính phục nhà thơ Hữu Loan sau Nhân văn giai phẩm, một nhân cách lớn trong hành xử với đời; đến cả cái giải thưởng “danh giá” của nhà cầm quyền, ông cũng phẩy tay, bịt mũi, nhắm mắt.</p>
<p>Với Phạm Ngọc Lư thì khác, anh thuộc thế hệ con cháu của Phùng Cung, Hữu Loan, Lê Đạt… sống trong hoàn cảnh xã hội khác xa với “Nhóm Nhân Văn”, được thụ hưởng một nền giáo dục tử tế “nhân bản, dân tộc, khai phóng” nên khó dung hợp với xã hội mới, trong đó có thừa những lọc lừa, dối trá… phi đạo đức, phi nhân bản. Một xã hội như vậy hoàn toàn xa lạ với những con người cũ (SG) ! Nhưng xem chừng xã hội thời cải cách ruộng đất và xã hội đánh vào tư sản mại bản, cải tạo công thương nghiệp… không khác xa nhau trong cách “xử sự” với người dân!</p>
<p>Cuối năm 2005 là thời gian anh quay về cố hương không lâu, nhìn cảnh đời <i>nhí-nhố-xum-xoe-lừa-lọc</i> (chữ của Lư), anh thấy thất vọng, cay đắng hơn và đặt bút viết liền một mạch bài thơ Đề Thơ Trước Mộ Thanh Xuân (khi mà mọi bưng bít thông tin về nhà thơ Hữu Loan được công khai trên mạng). Bài thơ khá dài, bộc lộ khí chất và bóng dáng của một kẻ sĩ thời hiện đại “<i>không thèm ăn thóc nhà Chu</i>”:</p>
<p><i>“…Trèo lên xe trâu/ Lui về quê kiểng/ Mài răng gặm nhắm cái thanh bần!/ Lượm lặt nứa tre che căn lều nhỏ/ Phên cửa phong phanh suốt ngày no gió/ Người quen tâng bộc gọi mao lư/ Kẻ nôm na kêu đích danh nhà cỏ/ Chẳng hay ho gì cỏ với mao/ Thời bất lợi voi đành làm chó/ Phong tống thời lại giun dế hóa rồng/ … Tìm trong gia phong mấy lời răn dạy/ Hiểu đâu nhất thời/ Đâu là vạn đại/ Than ôi!/ Cái khôn mới hôm qua/ Hôm nay bổng trở thành cái dại/ Quay lưng với đời ư?/ Dòng đời cuồn cuộn/ Biển đời lợn cợn/ Bảy đục ba trong/ Quay mặt với người ư?/ Mặt người sắc nhọn/ Biển người sao mà ghê rợn/ Đua chen hôi lợi bòn danh/ Đâu dám ví mình với Đào Uyên Minh/ Tụng <u>Quy khứ lai từ</u>…”</i> (4).</p>
<p>Có thể xem Đề Thơ Trước Mộ Thanh Xuân là những lời tự sự, bày tỏ thái độ của nhà thơ trước xã hội hiện tại, sau khi phải nếm trải mọi cay đắng mà anh đã dầm cả thân mình, lặn hụp vào lớp nát nhão sự đời đen trắng, vàng thau lẫn lộn.</p>
<p>…<i>Phải ngươi ba chìm bảy nổi/ Bắt ta mười kiếp long đong/ Mây có – gió không/ tình câm – thơ điếc/ Giai nhân còn mà anh hùng hết/ Chưa mùa đông sao tóc xanh bạch tuyết/ Ngũ thập rồi, tay trắng xóa bạch vân/ Ô hô! / Thiên địa vô cùng/ Uống say mà khóc Đặng Dung – Thuật hoài/ Khóc rồi đập nát cơn say</i>… (Túy Hoài)</p>
<p>Trong gần 100 bài thơ ở hai tập Đan Tâm và Mây Nổi, thì Biên Cương Hành là bài thơ gây ấn tượng mạnh cho độc giả từ ngày trước tới tận bây giờ.</p>
<p>Biên Cương Hành được Lư thai nghén từ khi anh đổi về dạy học tại Củng Sơn, một quận lỵ nhỏ xíu (của Phú Yên) giáp ranh Cheo Reo, bị rừng núi bao phủ bốn bề, trước mặt là sông Ba sâu hoắm; mọi liên lạc với bên ngoài đều bị đóng kín bởi những họng súng của hai bên. Anh thường gọi nơi đây là “biên khu”, vì mỗi khi muốn về thành phố phải đi nhờ trực thăng quân đội, hoặc theo đoàn xe mở đường. Với một khoảng không gian chật hẹp heo hút, chập chùng đồi núi nhấp nhô, lính đông hơn dân và ngày đêm phải nghe tiếng bom đạn gầm réo khiến anh tưởng như rằng chính mình đang có mặt ngoài trận mạc!</p>
<p>Tưởng cũng cần nhắc lại, một số bài viết về thơ Phạm Ngọc Lư, khi đề cập tới Biên Cương Hành, cho rằng Lư viết bài này khi anh tham gia hành quân trong chiến dịch Lam Sơn 719 vào mùa xuân 1971 của quân đội VNCH trên đất Hạ Lào và bị thất bại nặng nề. Hay như nhà thơ Viên Linh, trong bài viết “Thể hành trong thơ Việt Nam từ bài Tống biệt hành của Thâm Tâm”, đăng trên <a href="http://www.nguoiviet.com/">www.nguoiviet.com</a> số August 21, 2013 cho rằng: “Nơi Phạm Ngọc Lư một nhà thơ trẻ thuộc lớp sau cùng của Miền Nam trước 1975, anh chiến đấu trên mặt trận Cao Nguyên miền Trung, nơi gió Lào tanh tưởi, mùa khô xào xạc, giặc nước rình mò , rừng xanh thắm máu. Người đi ở đây là lính ra trận, người theo dõi nơi quê nhà là thiếu phụ chờ mong: <em>“Em đâu, quê nhà chong mắt đợi /Hồn theo mây trắng ra biên cương / Thôi em, yêu chi ta thêm tội / Vô duyên xui rơi lược vỡ gương / Ngày về không hẹn ngày hôn lễ / Hoặc ngày ta nhắm mắt tay buông.” </em><em>(</em><a href="http://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/The-hanh-trong-tho-Viet-Nam-tu-bai-Tong-Biet-Hanh-cua-Tham-Tam-2849/">http://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/The-hanh-trong-tho-Viet-Nam-tu-bai-Tong-Biet-Hanh-cua-Tham-Tam-2849/</a>)</p>
<p>Điều này không đúng. Lư chỉ học quân sự 9 tuần ở quân trường Quang Trung và sau đó được biệt phái về trường cũ, chưa từng cầm súng ngoài chiến trường bao giờ.</p>
<p>Lư khởi viết bài thơ này từ cuối năm 1971, sau đổi sang thể “hành” và hoàn thành vào tháng 5.1972. Sau vài lần nhuận sắc, Lư gửi bản thảo cho tạp chí Văn. Ông thư ký tòa soạn Trần Phong Giao đọc bài lai cảo và không tiếc lời khen, cho đăng ngay vào Văn số (?) tháng 10.1972. Có thể nói đây là bài thơ hay nhất trong cuộc đời làm thơ của Lư, đến độ khi đọc xong bài thơ này, nhà thơ Du Tử Lê phải thốt lên: “<i>Biên Cương Hành của ông, đã như một trận động đất lớn: Bất ngờ. Sửng sốt. Thốn buốt tâm can thế hệ</i>”. (5)</p>
<p>Thế hệ đi trong chiến tranh “giải phóng và bảo vệ tự do” là bi kịch của dân tộc. Cuộc chiến tương tàn ấy đã gieo biết bao tang tóc cho triệu triệu người người dân hai miền. Lư đã sống trong những thời khắc kinh hoàng đó, nên anh không thể dửng dưng đứng bên lề. Không cầm súng bắn nhau, cũng không có mặt trên bất kỳ chiến trường ác liệt nào, nhưng hàng ngày, anh có thể “nhìn thấy” cảnh đầu rơi, máu đổ, thịt xương nát tan, lương dân gồng gánh chạy giặc, bỏ lại làng quê mịt mù khói lửa ngút cao và; hàng ngày anh còn chứng kiến những chiếc quan tài kẽm, những người vợ trẻ bồng con trong màu trắng khăn tang… Tất cả những hình ảnh có thật đó đã xoáy động tâm can anh để, cuối cùng phải bật ra những đớn đau trên trang giấy:</p>
<p><i>Biên cương biên cương chào biên cương</i></p>
<p><i>Chào núi cao rừng thẳm nhiễu nhương</i></p>
<p><i>Máu đã nuôi rừng xanh xanh ngắt</i></p>
<p><i>Núi chập chùng như dãy mồ chôn</i></p>
<p><i>Gớm, gió Lào tanh mùi đất chết</i></p>
<p><i>Thổi lấp rừng già bạt núi non</i></p>
<p><i>Mùa khô tới theo chân thù địch</i></p>
<p><i>Ta về theo cho rậm chiến trường</i></p>
<p><i>Chiến trường ném binh như vãi đậu</i></p>
<p><i>Đoàn quân ma bay khắp bốn phương</i></p>
<p><i>Lớp lớp chồm lên đè bẹp núi</i></p>
<p><i>Núi mang cao điểm ngút oan hờn</i></p>
<p><i>Đá mang dáng dấp hình chinh phụ</i></p>
<p><i>Trơ vơ chóp núi đứng bồng con</i></p>
<p><i>Khu chiến ngày tràn lan lửa dậy</i></p>
<p><i>Đá Vọng Phu mọc khắp biên cương</i></p>
<p><i>Biên cương biên cương đi biền biệt</i></p>
<p><i>Chưa hết thanh xuân đã cùng đường</i></p>
<p>(Vào đường dẫn này để đọc trọn bài thơ Biên cương hành:</p>
<p><a href="http://vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&amp;action=detail&amp;id=8689">http://vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&amp;action=detail&amp;id=8689</a> )</p>
<p>Biên cương hành mang tính khái quát cao cho cả một giai đoạn oan khốc của dân tộc. Những hình ảnh Lư mang vào thơ, từ núi, rừng, gió Lào, đá, người chinh phụ, núi vọng phu… đã khắc họa “một thời địa ngục của đất nước” (chữ của Du Tử Lê), không riêng cho bên này hay bên kia. Đó là xương cốt, là máu thịt của những người lính Quốc gia và Cộng sản bị hoài phí một cách oan uổng, dửng dưng máu lạnh.</p>
<p>Đầu năm 1972, khi viết xong Biên cương Hành, Lư đã đọc cho chúng tôi nghe bên chiếu rượu trong đêm gió Lào cuồng dại trên mái nhà, nghe đến sởn gai ốc, rờn rợn da gà, khắp người tựa hồ có hàng ngàn mũi kim nhức buốt thịt xương. Gần nửa thế kỷ, mỗi khi nhớ bài hành này lập tức nhớ nguyên giọng đọc uất nghẹn của Lư, người đã hóa thân chữ nghĩa cho định mệnh của dân tộc trong chất giọng hiu hắt nghẹn ngào, như thể đó là lời than oán của những chinh phụ, những tiếng kêu la đau đớn của những người dân vô tội, của các chiến binh hấp hối ngoài trận mạc!</p>
<p>Về mặt nào đó, Du Tử Lê đã chính xác khi đưa ra nhận định về bài thơ Biên cương hành của Lư: “<i>Tôi gọi đó là “đoạn trường” bất thường của một bài thơ được sinh nở với định mệnh của một thứ cột tháp thảm họa khốc liệt. Mỗi con chữ không chỉ dính gân cốt, thịt, xương trăm ngàn đọa kiếp mà, còn cõng trên lưng cả những hồn ma oan khuất một thời địa ngục đất nước, quê hương nữa! Cho tới khi bài thơ, hội đủ những yếu tố để “đá vỡ, ngọc lộ,” ngời ngợi khí chất tư riêng, khắc họa Những hoắm, sâu thương tích phận người</i>…” (link đã dẫn 5).</p>
<p>Sau Biên cương hành, Lư viết bài Trên Đèo Bình Đê vào năm 1973, lúc hiệp định Paris vừa ký kết, nhưng hòa bình đã không đến, hai bên lại tiếp tục gây ra thảm cảnh “<i>chiến trường ném binh như vãi đậu</i>” để giành nhau từng thước đất cắm cờ (sic). Trên đường về Huế, qua đèo Bình Đê, Lư nhìn thấy cảnh xóm làng, ruộng vườn, với Tam Quan, Bồng Sơn (Bình Định) phía nam và Sa Huỳnh (Quảng Ngãi) phía bắc đã tan nát vì binh lửa trong các trận đánh mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972!</p>
<p><i>…Tháng tư/ Lửa bùng lên đâu chợ/ Lửa cháy quanh sông/ Lửa vây Hoài Đức/ Lửa đốt Bồng Sơn/ Người người tan xác giữa đồng/ Người người ngã gục bên dòng Lại giang/ Người người bỏ thân trên đường chạy loạn/ Đôi mắt trừng lên nỗi kinh hoàng/ Đôi mắt ngó về đâu chòng chọc/ Bốn bề khói lửa mù giăng/ Bốn bề binh đao cuồng nộ/ Bốn bề đổ nát tan hoang/ Chạy mau chạy mau người mẹ Hoài Ân/ Quang gánh trên vai chất đầy thống hận/ Máu bầm vướng víu bàn chân/ Chạy đi chạy đi người chị Hoài Nhơn/ Sao cứ nằm ôm con thơ đùm trong tay nải/ Máu khô đen khuôn mặt lạc thần/ Pháo tràn lan xối xả/ Lửa rần rật trên lưng/ Chạy về đâu </i>?</p>
<p>Lư đã đồng ý với nhận xét của tôi cách đây hơn 40 năm, trong một buổi trà dư tửu hậu rằng: Trên đèo Bình Đê, là những cảm xúc thật, về những cảnh tượng có thật đang xảy ra trước mắt. Những nát tan khói lửa ấy đã khơi dậy những cảm xúc chân thật để bật ra thơ, nhưng dẫu sao, khi đọc xong, tôi vẫn thấy nó (TĐBĐ) là cái bóng của Biên Cương Hành.</p>
<p>Để khép lại phần viết về thơ Phạm Ngọc Lư, xin mượn nhận định sau đây của nhà văn Đỗ Trường: “<i>Có thể nói, Biên Cương Hành là một trong những bài thơ hay nhất viết về chiến tranh, không chỉ của thi ca miền Nam, mà cho cả nền thi ca đất Việt. Đa số những bài viết về đề tài chiến tranh, hay cổ động chiến tranh thường có giá trị nhất thời. Nhưng Biên Cương Hành lại có sức sống dẻo dai và sự lan tỏa mạnh mẽ, bởi ngoài sự thật tàn khốc của chiến tranh, nó còn chứa đựng giá trị nghệ thuật cao</i>” (link đã dẫn 3).</p>
<p><b>Truyện là nỗi niềm thế hệ chiến tranh.</b></p>
<p>Phạm Ngọc Lư viết truyện không nhiều, khoảng gần 20 truyện, đăng trên Văn, Bách Khoa, Vấn Đề, Ý Thức, Tuổi Ngọc… Sau năm 75, anh không còn giữ được truyện nào trong tay (do sách báo bị tịch thu). Giữa năm 2016, khi Lư lâm trọng bệnh, anh em nhóm Thư Ấn Quán đã dày công sao lục trong các thư viện HK, hoặc còn lưu giữ được những số báo có đăng truyện Lư, chia nhau đánh máy và cuối cùng nhà văn Trần Hoài Thư đã ngồi “vá” lại những truyện thất lạc này thành tập truyện Sợi Khói Bay Vòng gửi về VN như một tấm lòng của anh em đối với Lư. Trong lời mở cho tập truyện, Trần Hoài Thư viết: “<i>Lấy tựa đề truyện ngắn Sợi Khói Bay Vòng không phải nó là truyện ngắn đặc sắc hay tiêu biểu. Những truyện của Phạm Ngọc Lư đều hay, đều đẹp, đều buồn. Có truyện tình. Có truyện chiến tranh. Có truyện nói về thân phận lưu đày nơi đất trích. Nhưng Sợi Khói Bay Vòng là truyện có thể chuyên chở hết tất cả cái định mệnh của tuổi trẻ, dù nam hay dù nữ</i>…”.</p>
<p>15 truyện trong Sợi Khói Bay Vòng, viết về nhiều đền tài khác nhau: tình yêu, thân phận làm người, nỗi cô đơn khắc khoải… nhưng tất cả đều lồng ghép trên tấm phông chiến tranh với nhiều gam màu ưu uất, có lúc như không tìm thấy lối thoát cho một tương lai tươi sáng với những chàng trai, cô gái thuộc thế-hệ-chiến-tranh này. Những thanh niên trên dưới 20 tưởng chừng như đang được thụ hưởng những chuỗi ngày tươi đẹp; nhưng thật ra đó chỉ là lớp vỏ che chắn bên ngoài khi những lời sấm truyền ngày càng lan rộng khắp làng quê, thành thị…: “<i>Cả xóm người ta đồn rân: tháng Năm đổ máu, tháng Sáu hòa bình. Tháng Sáu âm lịch rồi đó cậu</i>” . Hòa bình đâu không thấy, chỉ thấy máu tiếp tục đổ, nhà cửa ruộng vườn vẫn liên tục bị xới nát bởi bom đạn, lớp lớp thanh niên vẫn phải lao ra chiến trường: “<i>Có thằng con chớ. Hắn bị bắt quân dịch hồi tết, nghe nói đang đánh giặc tận Cao Miên</i>” (Cái Đuôi Sao Chổi, tạp chí Ý Thức, số 7). Và, hệ quả của nó là: “<i>Cô gái bước lại mở hé cửa và bối rối xô Chấn lui. Nhưng anh cũng vừa kịp thấy cảnh tượng trước mắt: người đàn ông đang gục đầu trên cái rương gỗ khóc tức tưởi, bên cạnh bó nhang đang tỏa khói và mấy ngọn đèn cầy cháy leo lét, buồn thảm. Cô gái chảy dài nước mắt, nói mếu máo: Tội nghiệp anh tui phải nằm lại dọc đường đêm nay… Cái rương gỗ ấy đựng hài cốt anh tui!” </i>(Cuối Ngày Cuối Đường, Văn số 223, 1973).</p>
<p>Lư là nhà giáo, hàng ngày anh phải chứng kiến hoặc nghe kể lại lắm chuyện thương tâm, tang tóc. Trong truyện Một Dòng Sông Trong Miệng Ngậm, đăng trên Văn số 148, ngày 15.2.1970, mô tả những thanh niên tuổi từ 16 đến 19 ở một làng quê tranh tối tranh sáng, có người cày ruộng, có người tham gia du kích địa phương. Họ từng chăn bò tắm sông thuở nhỏ, nhưng kể từ khi trái tim biết rung động, chủ nghĩa vu vơ chen vào, lòng thù hận được trao tay thì tình làng nghĩa xóm vụt tắt nhanh chóng. Đó là nhân vật Mộc, một du kích địa phương đã hành xử với Tương, bạn mình như một kẻ thù đúng nghĩa: “<i>Tương bị đánh thức dậy theo hai người lạ ra khỏi nhà, “cấp trên cần gặp mặt”… Bụng Tương đụng phải vật gì cứng nhọn, chừng đưa tay nắm lấy chàng mới biết mũi súng/ -Trói nó lại! Cùng lúc Tương dợm người thối lui, kịp nhận ra giọng thằng Mộc…/ Mày bắt tao hả Mộc?/ … Mày có tội trạng rõ ràng, tự hiểu lấy…/ Tao tội gì? Có phải mầy tư thù việc con Vui không bằng lòng mầy?/ … Sự thật mầy đã phản bội. Mấy hôm nay mầy trốn lên tỉnh tiết lộ bí mật của ủy ban, tội Việt gian, rõ chưa?”.</i></p>
<p>Cuối cùng Tương bị đưa qua sông, bị bắn chết. Nhưng số phận Mộc sau đó cũng không hơn gì những người khác trong làng: “<i>Sau này tôi mới nghe, thằng Mộc, thằng Giảng, thằng Chiêm đều bị bọn cán bộ cao cấp kết tội rồi hạ sát ngay phút đầu lính mình đổ bộ… Anh hỏi vì sao hả? Dã man thật, làm vậy cốt phòng ngừa việc mấy thằng ấy hồi chánh khai toạt những bí mật cơ sở… Những người trong làng bị chôn sống đều do tay thằng Mộc cả, bây giờ hắn chết rồi còn ai biết chỗ lấp xác mà tìm. Ghê quá anh à, hồi kháng chiến cũng có chôn tươi tụi Tây bắt được (chính mắt tui chứng kiến) nhưng đâu có tàn nhẫn ba bốn chục người một hầm bằng thời nầy…</i>”.</p>
<p>Hình như không gian và thời gian mà Lư mô tả trong truyện là một làng quê nào đó ở Thừa Thiên-Huế hồi tết Mậu Thân khiến chúng ta nhớ lại thời kỳ kinh hoàng: Cách mạng văn hóa ở Trung Hoa, Cải cách ruộng đất ở VN. Cũng vẫn những đứa con nít ấy, từ ngây thơ trong trắng bị chuyển qua lòng thù hận bởi những lời ru ngọt-ngào-man-trá, giống như các nhân vật thiếu niên của Khuất Đẩu trong Người Giữ Nhà Thờ Họ, làm rung chuyển cả xóm làng, làm ông cha chồng và nàng dâu hết phen hoảng sợ này tiếp đến những thoi thóp dập dờn khác, bao trùm căn nhà lá mái luôn kín cửa như hầm mộ chôn lấp cả hai cha con trong đó. Truyện Khuất Đẩu viết sau (2004), còn MDSTMN của Lư trước đó 34 năm, nhưng hành động, thái độ thì không khác gì nhau trong cách trui luyện của Cách mạng: “<i>Gìa như tôi sống trải qua biết bao năm giặc giã nhưng chưa có lúc nào loạn lạc bằng thời nầy. Cái bọn con nít nổi lên làm cha chú mình không</i>” (ám chỉ những Giảng, Mộc, Chiêm… &#8211; chú thích của người viết).</p>
<p>Lớp thanh thiếu niên ấy, có người bên này, người bên kia do hoàn cảnh. Nhưng chắc chắn có điều rằng, không ai muốn lao vào chém giết nhau, trừ phi bị thúc ép, bị nhồi nhét. Rồi thì cũng có người tỉnh trí, nhận ra sự việc, có người mãi lú lấp vào những hào quang không thật. Và cũng có người vùng vẫy cố thoát ra khỏi vòng ám chướng vô định như lời kể nhân vật Cưu cho bạn mình nghe chuyện thật bi hài: “<i>Tao đang bị quân cảnh truy tầm… Thằng con bác lớn tồng ngồng mà sửa khai sanh còn mười bốn tuổi. Tụi lính tóm được, lột quần nó lắc đầu chửi thề, đ.m 14 tuổi gì mà… khó coi quá. Nhưng tụi chúng không bắt nó đi quân dịch, lại nghịch ngợm bảo nó phải nhổ sạch lông mới được tha về. Thằng nhỏ cắn răng khóc ngất…</i>” (Sợi Khói Bay Vòng (Văn, số 153 tháng 5.1970).</p>
<p>Truyện này Lư viết trong thời gian dạy học tại quận lỵ heo hút miền núi Củng Sơn và hoàn thành cuối năm 1969 (Sau đó Lư viết tiếp bài thơ nổi tiếng Biên Cương Hành). Có thể coi đây là truyện ngắn chắc tay nhất của Lư, phản ảnh đúng cách nhìn, suy nghĩ và cách sống của tuổi trẻ thời chiến; trong đó là những vòng tròn không lối thoát, là tình yêu bị mất mát cùng những cay đắng về cuộc đời đối với thời cuộc đảo lộn, chiến tranh lan rộng khủng khiếp. Thái độ chán chường mệt mỏi ấy của những nhân vật trong SKBV đã nói lên đúng thực trạng xã hội miền Nam thời bấy giờ. Họ tìm thấy nhan nhản những nhậu nhẹt, đĩ điếm, gái bán bar, lính Mỹ… như những vệt xám ngoét trong tâm trí trên một nửa đất nước này. Nhân vật Bồng tự dưng chán nãn, chạy trốn Cưu, chạy trốn khói thuốc từ người Cưu, nhưng lại mơ hồ nhớ đến những sợi khói ấy, sâu tận đáy lòng: “<i>Bồng hy vọng khi lên tới bến xe sẽ thấy Cưu đứng sẵn ở đó dù nàng sợ vô cùng mùi khói thuốc ngây ngất cuốn lấy mình từng sợi dày hơn cả mảng lưới</i>”. Và rồi một “hắn” nào đó xuất hiện cạnh Bồng trên băng ghế xe đò chạy về T. với gói thuốc đúng với loại thuốc Cưu hút khiến Bồng trở nên hoang mang. “Hắn” xuống xe ở đoạn nào đó cô gái không hay, chỉ còn trơ lại gói thuốc chỉ còn vài điếu lẻ. Cô giữ lấy như nhìn thấy bóng dáng Cưu quanh quất đâu đây. Truyện được đẩy lên thành cao trào ở đoạn cuối, khi “hắn” bất ngờ xuất hiện trong tấm áo choàng, nón nĩ, bị vải đến từ giã Bồng. Còn Bồng thì luôn có sẵn gói thuốc trong người phòng hờ khi gặp “hắn” sẽ trả lại. Hai người gặp nhau và Bồng nói: “<i>Trả lại anh. Ngồi nói chuyện hút cho hết cả bao rồi hãy đi. Tôi thèm ngửi mùi khói này lắm</i>” . Níu kéo chút thực tế để liên tưởng, để nhớ nhung chút khói sương ngày cũ. Nó có thật và cũng là ảo ảnh, không thể nắm bắt trong tay, như “hắn” mệt mói thốt ra với cô gái: “<i>Phải rồi, đời tôi chỉ là một cụm khói, một sợi khói bay vòng. Chẳng tới đâu, chẳng được gì</i>”. Chưa hết, bất ngờ trong một buổi sáng nào đó, Cưu chuẩn bị trình diện nhập ngũ thì gặp Bồng “<i>mặc áo dưỡng thai</i>” đang đi trên đường, coi như mối tình chấm dứt bằng những núi kéo mơ hồ: “<i>Tôi tin rằng tôi chưa mất em dù em đã có chồng…</i>”. Họ xa nhau có vẻ không ray rức, đau khổ mà tỉnh táo, lạnh tanh: “<i>Cưu còn đứng lại rút tấm lệnh gọi cuốn tròn giả làm điếu thuốc giắt lên môi</i>”.</p>
<p>Truyện rất kiệm lời thoại, chỉ là những suy nghĩ, những dằn vặt nội tâm đan xen vào nhau để xô đẩy tâm lý mỗi nhân vật ì ào như những lớp sóng vỗ mãi vào bờ đá… (Lối kết cấu truyện như vậy, bàng bạc đây đó trong các tác phẩm của những nhà văn trẻ trước 75. Đó là sự tỉnh táo ở Y Uyên, nức nở, bi phẫn ở Trần Hoài Thư, nhẩn nha mà dữ dội ở Hồ Minh Dũng, Phan Tấn Uẩn hay bình thản mà sâu lắng như Kinh Dương Vương.v.v. với những bối cảnh là làng quê nghèo khổ, là những người nông dân chất phác, ngơ ngác, là những thanh niên đang là lính trận, mất dần phương hướng, buông xuôi trong tình yêu và cuộc sống, cứ để cho dòng đời xô đi mà không cách gì chống chọi nổi với những cơn lốc tàn bạo của chiến tranh).</p>
<p>Thân phận làm người đã khó, lại làm người trong thời buổi lửa đạn ngút trời càng thê thảm hơn. Đó là truyện Tàn Đông (Bách Khoa số 344) như cuộc đời biếm trích của thầy giáo Kiền và cô bạn y tá trọ chung nhà bị giam hãm ở một quận lỵ miền núi (Củng Sơn) âm u đến ngột ngạt, chỉ có niềm mơ ước nhỏ nhoi là có ngày được về thành phố để thấy ánh đèn, những con đường nhựa, những chùm bông màu vàng… Cả hai đều có một tâm trạng như nhau. “ <i>Chờ một ngày về lại thành phố, trốn thoát khỏi nơi rừng sâu nước độc nầy… phải có cánh mới bay vượt qua khỏi trùng lũy đồi núi chồng chất vây bủa chung quanh. Núi Cấm hiểm trở, núi Một vòi või, núi Lá rậm rì… và rừng Hòa Thán thâm u, rừng Hàm Long điệp điệp</i>”. Sự mong ngóng có ngày được về thành phố như một ám ảnh nặng trĩu, như một hòn đá tảng đè trên vai hai người. Cô y tá: “<i>Thì đành cười nói ra bộ thân mật với ổng một chút để tránh cảnh chầu chực đợi trực thăng cả tuần lễ không được sao?</i>”. Còn thầy giáo Kiền, trong bức thư cho người bạn gái: “<i>Em thử tưởng tượng da dẻ anh đang mốc meo, đóng vảy cá từng bợn dày, có thể lột ra được từng phiến mong mỏng như lớp lụa bọc ngoài củ hành củ tỏi… Em hãy gửi cho anh vài ánh mặt trời, một gói nắng, càng nhiều càng quý. Anh thèm lắm, thèm đến nỗi nhuốm bệnh…</i>”.</p>
<p>Cả hai mang nỗi đều hoài nhớ, mơ ước từ ngày này sang ngày khác trong khung cảnh chật chội cùng những bất trắc có thể đổ ập đến không biết lúc nào, bởi chiến trường không xa mà sát ngay trong thị trấn: “<i>Mé sông ngoài vòng đai chi khu, đạn nổ rát hơn. Súng cối bắn đùng đùng tới tấp, bay vèo vèo trên đầu. Vách nhà rung chuyển liên hồi…Anh lôi bạn xuống khỏi giường, nàng thất thần ngã vào người anh mềm nhũn như kẻ vừa trúng đạn chết không kịp ngáp</i>”.</p>
<p>Sau trận tấn công vào quận lỵ, là quang cảnh đổ nát của ngôi trường Kiền dạy, những khuôn mặt “ngơ ngác” của đám học trò, và những xác chết “nhỏ thó, trẻ măng” ngoài bờ ruộng và kết thúc truyện: “<i>Thằng này là học sinh mới trốn theo <u>nẫu</u></i> (6) <i>dại dột chết uổng. Thầy nhớ nó chứ?/ Kiền nhìn khuôn mặt thâm tái dính đầy máu cục bùn đất, lắc đầu bỏ đ</i>i”.</p>
<p>Có người, khi đọc đến câu cuối ở truyện này đã phê phán tác giả tạo ra nhân vật thầy giáo Kiền đã đánh mất lương tâm khi nhìn thấy đứa học trò cũ bị bắn chết khi tấn công vào quận lỵ, với cái “<i>lắc đầu bỏ đi</i>” là thái độ dửng dưng đứng trên lương thức con người bình thường. Tôi nghĩ “<i>Kiền nhìn khuôn mặt thâm tái dính đầy máu cục bùn đất, lắc đầu bỏ đ</i>i” không hẳn là thái độ có ý thức chính trị rạch ròi như Đỗ Trường nhận định: “…<i>sự chối bỏ không nhận (ra) người học trò của thày giáo Kiền, là thái độ chính trị cũng như tư tưởng yêu ghét rõ ràng của tác giả. Và thông qua hình ảnh cái chết của người học sinh ấy, tác giả còn muốn gửi thông điệp đến người đọc, sự tàn nhẫn của những kẻ dụ dỗ, mua chuộc trẻ em, phụ nữ làm bia đỡ đạn, trong cuộc nội chiến thảm khốc này</i>” (7). Hành vi “lắc đầu bỏ đi” theo tôi, không phải là chối bỏ mà, trước hết là nỗi chán ngán đến cùng cực cuộc chiến tàn khốc này. Hậu quả để lại chỉ là những cái chết oan uổng, những cái chết không đáng chết như đứa học trò kia. Anh không bày tỏ một thái độ chính trị ở đoạn này, và cũng chẳng cần đưa ra một thông điệp nào để lên án chiến tranh. Anh viết và bỏ lửng ở đó để người đọc tự tìm kiếm câu trả lời. Và điều này Lư đã thành công, bởi có nhiều ý kiến trái chiều nhau.</p>
<p>Chiến tranh thoáng hiện thoáng biến vô chừng trong các truyện ngắn của Phạm Ngọc Lư, nhưng bộ mặt thì không rõ rệt như một Phan Nhật Nam, Thảo Trường …hay một vài tác phẩm của Dương Nghiễm Mậu, Nhã Ca, những nhà văn đi trước Lư khá xa. Nó (CT) như một cái cớ để nói về thân phận làm người đang bị lọt thỏm vào vòng xoáy thời cuộc. Thân phận ấy là thanh niên, thầy giáo, công chức, học sinh và nhiều nhất là những người dân nông thôn, đang trong vùng tranh chấp: “<i>Tới cầu sắt Đoan bữa kia.. Tui mới lùa bò qua giữa cầu, chút nữa chết tan xác rồi. Bò kêu rống chen nhau nhảy xuống sông…</i>” (Xóm Ven Rừng, Văn số 170, ngày 15.1.1971).</p>
<p>Trong truyện ngắn Phạm Ngọc Lư, người đọc còn dễ dàng bắt gặp đây đó những lợn cợn tính dục được giấu kín đằng sau cảm giác bất chợt ập tới, nhưng nhẹ nhàng không òa vỡ, ngấu nghiến như các nhà văn trẻ cùng thời: “<i>Cô vợ có chút ít nhan sắc, trung bình thôi, nhưng người tinh mắt ai cũng công nhận với tấm thân no tròn sinh lực ấy, với đôi vú chữ tâm(*), cặp mông no lẳng như thớt ngựa ấy cũng hứa hẹn sẽ đem lại cho ông vài đứa con…</i>” (Xóm Ven Rừng, sđd). Có khi những dục tính được khơi gợi từ những tác động bên ngoài, như cái đêm hai bên đánh nhau trong phố: “…<i>không chừng Cúc lường được mức độ tham lam quá đáng nơi bàn tay Huỳnh, nàng khẽ đẩy chàng ra giành lại tấm chăn cuốn quanh mình… Cúc ôm chầm lấy Huỳnh ghì đầu chàng vào ngực. Huỳnh thử lắng nghe nhịp tim Cúc đập hối hả, ngoạm lấy áo Cúc nhai kín miệng</i>” (Nhà Hầm, Văn số 140. 1969). Và: “<i>Bất ngờ nàng ôm chầm lấy anh lôi ngã sấp lên ngực, hơi thở nóng ran, hổn hển, dồn dập. Kiền nhúc nhích cựa nhẹ mình nhưng không dám gỡ vòng tay bạn đang quấn quýt siết chặt trên lưng</i>” (Tàn Đông, Bách Khoa số 344). Những hành vi trên, phải chăng là tâm thức của những kẻ cô đơn, của những con người bị “lưu đày” nơi đất trích, của những số phận không có ngày mai, đang ở giữa lằn ranh sự sống và cái chết trong gang tấc?</p>
<p>Đôi lúc tác giả đặt lý trí lên trên để kịp dìm nhục cảm xuống và dựng nên một sự tỉnh táo thái quá trong thời khắc mà hai kẻ yêu nhau đang ở một nơi vắng vẻ, gợi tình: “<i>Gió vẫn phơn phớt phe phẩy lá dương chạm vào mặt nhồn nhột, ve vuốt một khoái cảm không rõ tên. Tôi bò tới chỗ Nhan ngồi.</i></p>
<p><i>Thật tình em quá ngây thơ khi có ý ra đây Nhan à!</i></p>
<p><i>-Anh sắp làm gì tôi?</i>” (Cái Đuôi Sao Chổi, sđd).</p>
<p>“Tôi” chẳng làm gì cả, mà “<i>cầm lấy lon coca… uống từng hơi dài</i>” như dằn cơn khoái cảm xuống. Vì vậy, dục tính trong truyện của Lư thường xảy ra do sự tình cờ ngẫu nhĩ, do ngoại cảnh đưa đẩy, tức quán tính trong tình thế “cuối đường”.</p>
<p>Trong số gần 20 truyện Lư để lại, với tôi, có lẽ Mộng Thấy Mình Đã Chết (Ý Thức số 7 ngày15.1.1971) là truyện hay nhất. Anh đan xen giữa hiện sinh và siêu hình cùng chút xa gần trong Nam Hoa Kinh của Trang Tử khiến câu chuyện hư hư thực thực. Mộng và thực ẩn hiện qua từng suy tưởng của nhân vật. Mộng Thấy Mình Đã Chết phần nào phản ảnh tâm trạng lớp thanh niên thời chiến ở miền Nam. Họ hoang mang và tuyệt vọng. Họ luôn luôn đeo mang sự chết trong từng hơi thở, giấc ngủ. Đó là những cái chết tình cờ, có thể đến bất kỳ lúc nào với bất kỳ ai, bất cứ đâu. Nó là nỗi ám ảnh thường xuyên đối với nhân vật xưng tôi. “Tôi” và Muội yêu nhau, nhưng lúc nào “tôi” cũng thấy Muội đã chết. Nàng đến với “tôi” trong cuộc sống thực mà như từ cõi mộng. Mộng và thực luôn trộn lẫn vào nhau ở hai nhân vật này: “<i>Tôi đã chết? Con đò đưa linh hồn thả về bên kia bờ quá khứ cháy bùng lên, chìm xuống mặt biển sóng gió trùng trùng nô giỡn nhẫn tâm giữa nỗi quên lãng mông mênh ngút ngàn thiên địa tận…</i> <i>Anh đã chết vào sáng sớm ngày mồng 7 Tết dưới gốc cây nêu trước ngõ</i>”.</p>
<p>Có lẽ, thảm cảnh Mậu Thân ở Huế, với những gì đã chứng kiến khiến tinh thần Lư bị tổn thương, tạo nên những vết nứt toang hoác trong tâm tưởng anh, kéo dài khá lâu, hằn sâu vào tâm trí để bật ra câu chữ: “<i>Em tưởng anh đã chết trong biến cố Mậu Thân ở Huế. Anh chết vỡ ngực, máu nhuộm đỏ cả chiếc sơ mi trắng nằm trước cổng nhà với cái tay nải còn rơi vướng cạnh đó</i>”. Một đoạn khác: “<i>Quả thật, tôi đã cầu mong cho cả thành phố ấy nổ tung lên. Ghê thay, tôi đã chết theo. Mẹ tôi, sau những ngày chạy loạn, đói, bệnh, thiếu cơm thiếu thuốc đã đau đớn lìa đời tại nhà một người bà con ở vùng quê. Bà chưa kịp về nằm giữa căn nhà đổ nát thở hơi thở cuối cùng như lời mong mỏi trăng trối lúc lâm chung, chưa kịp biết xác tôi có được chôn lấp đàng hoàng chưa hay đã bị heo chó rỉa rói mất rồi…</i>”.</p>
<p>Những gì đã xảy ra ở Huế là những vết thương đen đúa, tím bầm, cứa mãi vào con tim lịch sử dân tộc. Khép lại những dòng cuối cùng, truyện toát ra chút khắc khoải, nghèn nghẹn, như thể chính người đọc bị hóa thân cùng các nhân vật của anh.</p>
<p>Với truyện ngắn, sau năm 1975 Lư buông bút, không viết một dòng nào (ngoại trừ thơ). Lý do cũng đơn giản, như trong thư viết giữa năm 2002 từ Đà Nẵng gửi cho tôi: “<i>Con đường văn chương của tôi quá ngắn ngủi, sau 75, coi như tuyệt lộ. Đáng buồn. Tiếc thay giấc mộng của một thời thanh xuân! Bất phùng thời, đành vậy…không chơi, không tham dự gì với nền văn học nghệ thuật đương đại từ đó đến nay và mãi mãi… Muốn viết văn xuôi lắm nhưng chắc phải “học” lại đã, lâu năm quá, chữ nghĩa sét gỉ hết rồi…</i>”.</p>
<p>Để khép lại bài viết, chúng tôi xin dẫn nhận định sau của nhà biên khảo văn học Nguyễn Vy Khanh về những tác phẩm của Lư: “<i>chúng tôi có cảm tưởng tác phẩm của ông có điểm khác các nhà văn trẻ cùng thời đó. Có chiến-tranh nhưng không nhất thiết là đề tài chính, có tình-yêu nhưng không xuôi chảy, trơn tru, dễ dàng, có hiện thực đời-sống đang xảy ra nhưng rốt cùng chỉ là cái cớ, có triết lý nhưng cũng không phải để thuyết phục người đọc,&#8230; vì thiển nghĩ truyện và thơ ở Phạm Ngọc Lư đã đụng đến cái lõi nhân bản qua các phác thảo, nhận định, đã là những diễn biến tâm sinh lý ông trình bày để nhân-vật tự xuất hiện. Riêng lời văn con chữ mang thi tính đặc sắc, chọn lọc</i>…” (Nguyễn Vy Khanh, Vài Cảm Nghĩ Về Thơ và Truyện Phạm Ngọc Lư, trg 104-105, TQBT số 70, tháng 6.2016).</p>
<p><i>(Viết những dòng này, như những lời vĩnh biệt, nhớ đến Phạm Ngọc Lư, người bạn thân của tôi, cả đời khốn khó).</i></p>
<p><strong>Tuy Hòa, tháng 6.2017</strong></p>
<p>_________</p>
<p align="center">(*)</p>
<p align="center"><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2017/06/clip_image004-1.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image004" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/06/clip_image004_thumb-50x50.jpg?strip=all" alt="clip_image004" width="100" height="67" border="0" /></a> <a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2017/06/clip_image006-1.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image006" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/06/clip_image006_thumb-50x50.jpg?strip=all" alt="clip_image006" width="86" height="69" border="0" /></a></p>
<p align="center">Chữ Tâm viết thường – chữ Tâm cổ</p>
<p>Theo Phạm Ngọc Lư, vú chữ tâm (cổ) là loại vú đẹp của người con gái, giải thích của nhà văn Tô Thẩm Huy và TÂQ.</p>
<p>(1) Đặng Tiến, Vũ trụ thơ, NXB Giao Điểm, SG 1972</p>
<p>(2) https://vietbao.com/p112a268374/nghi-ve-nha-tho-pham-ngoc-lu</p>
<p>(3)<a href="http://webcache.googleusercontent.com/search?q=cache:http://danlambaovn.blogspot.com/2015/06/pham-ngoc-lu-nguoi-van-giu-lua-cho-nen.html">http://webcache.googleusercontent.com/search?q=cache:http://danlambaovn.blogspot.com/2015/06/pham-ngoc-lu-nguoi-van-giu-lua-cho-nen.html</a></p>
<p>(4) Đào Tiềm (365 – 427) tự là Uyên Minh, người đời Đông Tấn, Trung Hoa. Ông làm huyện lệnh ở Bành Trạch, chán cảnh phải luồn cúi quan trên, than thở “<i>ta đâu phải chỉ vì 3 đấu gạo ( tức lương bổng)mà phải khom lưng ư?” </i>bèn cởi trả áo mão cho triều đình, lui về quê ẩn cư, viết bài <i>Quy khứ lai từ</i> để bày tỏ chí hướng.</p>
<p>(5) <a href="http://dutule.com/a7597/bien-cuong-hanh-dia-chan-thi-ca-pham-ngoc-lu-ky-02-">http://dutule.com/a7597/bien-cuong-hanh-dia-chan-thi-ca-pham-ngoc-lu-ky-02-</a></p>
<p>(6) Nẫu: phương ngữ Bình Định, Phú Yên, đại từ ngôi thứ 3 chỉ số nhiều. Ở đây Nẫu chỉ những người lên núi theo VC.</p>
<p>(7)<strong>https://sangtao.org/2016/10/06/vai-suy-nghi%CC%83-ve-ta%CC%A3p-truye%CC%A3n-so%CC%A3i-khoi-bay-vong-cu%CC%89a-pha%CC%A3m-ngo%CC%A3c-lu/</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2017</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/nguyen-le-uyn-nho-pham-ngoc-lu/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>TV&#038;BH: Nhà thơ Phạm Ngọc Lư qua đời</title>
		<link>https://t-van.net/tvbh-nha-tho-pham-ngoc-lu-qua-doi/</link>
					<comments>https://t-van.net/tvbh-nha-tho-pham-ngoc-lu-qua-doi/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[TV và BH]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 27 May 2017 16:20:43 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[nguyễn lệ uyên]]></category>
		<category><![CDATA[phạm ngọc lư]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=31654</guid>

					<description><![CDATA[Nhà văn Nguyễn Lệ Uyên, từ Việt Nam, báo tin nhà thơ Phạm Ngọc Lư vừa qua đời tại Đà Nẵng, Việt Nam ngày 26 tháng 5 năm 2017, hưởng thọ 71 tuổi. Nhà thơ Phạm Ngọc Lưu sinh năm 1946 tại Thừa Thiên, Cựu sinh viên Việt-Hán Đại học Văn Khoa Huế. Tốt nghiệp [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/05/ky-hoa-pnl.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-31655" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/05/ky-hoa-pnl-300x222.jpg?strip=all" alt="ky-hoa-pnl" width="300" height="222" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/05/ky-hoa-pnl-300x222.jpg?strip=all 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/05/ky-hoa-pnl.jpg?strip=all 379w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></a></p>
<p>Nhà văn Nguyễn Lệ Uyên, từ Việt Nam, báo tin nhà thơ Phạm Ngọc Lư vừa qua đời tại Đà Nẵng, Việt Nam ngày 26 tháng 5 năm 2017, hưởng thọ 71 tuổi.</p>
<p>Nhà thơ Phạm Ngọc Lưu sinh năm 1946 tại Thừa Thiên, Cựu sinh viên Việt-Hán Đại học Văn Khoa Huế.</p>
<p id="yui_3_16_0_ym19_1_1495899465605_7765" class="yiv0650051246MsoNormal"><span id="yui_3_16_0_ym19_1_1495899465605_7764">Tốt nghiệp trường Quốc gia Sư phạm Qui Nhơn. Dạy học tại Tuy Hòa, trước 1975 viết trên các tạp chí Nghệ Thuật, Văn, Khởi Hành, Ý Thức, Bách Khoa, Tuổi Ngọc&#8230; </span></p>
<p id="yui_3_16_0_ym19_1_1495899465605_7766" class="yiv0650051246MsoNormal">Tác phẩm đã xuất bản:</p>
<p id="yui_3_16_0_ym19_1_1495899465605_7767" class="yiv0650051246MsoNormal">-Đan tâm</p>
<p id="yui_3_16_0_ym19_1_1495899465605_7768" class="yiv0650051246MsoNormal">-Mây nổi</p>
<p id="yui_3_16_0_ym19_1_1495899465605_7769" class="yiv0650051246MsoNormal"> -Sợi khói bay vòng, tập truyện</p>
<p class="yiv0650051246MsoNormal">Để tưởng nhớ đến một con người tâm huyết với văn học từ hơn 50 năm nay, TV&amp;BH xin giới thiệu dưới đây bài viết của nhà văn Nguyễn Lệ Uyên, trích trong tập thơ &#8220;Đan Tâm&#8221; của Phạm Ngọc Lư, TQBT phát hành tháng 9 năm 2010.</p>
<p class="yiv0650051246MsoNormal">TV&amp;BH xin được chia buồn với gia đình và bạn bè của nhà thơ Phạm Ngọc Lư. Cầu chúc ông tìm thấy được một thế giới tốt đẹp hơn mà ông hằng mơ ước ở bên kia thế giới.</p>
<p class="yiv0650051246MsoNormal">Lễ Chiến Sĩ  Trận Vong 2017</p>
<p class="yiv0650051246MsoNormal">T.Vấn &amp; Bạn Hữu</p>
<h1 id="yui_3_16_0_ym19_1_1495899465605_7833" align="left"><b id="yui_3_16_0_ym19_1_1495899465605_7832"><span id="yui_3_16_0_ym19_1_1495899465605_7834" lang="FR">Nguyễn Lệ Uyên:</span></b></h1>
<h1 align="left"><b id="yui_3_16_0_ym19_1_1495899465605_7832"><span id="yui_3_16_0_ym19_1_1495899465605_7834" lang="FR">Thơ như một định mệnh</span></b></h1>
<h1 id="yui_3_16_0_ym19_1_1495899465605_7831" align="left"><b id="yui_3_16_0_ym19_1_1495899465605_7830"><span id="yui_3_16_0_ym19_1_1495899465605_7829" lang="FR">oan nghiệt</span></b></h1>
<p id="yui_3_16_0_ym19_1_1495899465605_7828" class="yiv0650051246MsoNormal" style="text-align: center;"><span lang="FR"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/05/pnl.jpg?strip=all&fit=191%2C263"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-31657" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/05/pnl.jpg?strip=all&fit=191%2C263" alt="pnl" width="191" height="263" /></a></span></p>
<p class="yiv0650051246MsoNormal" style="text-align: center;"><span lang="FR"> </span><span lang="FR"> <a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/05/dan-tam.jpg?strip=all&fit=181%2C267"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-31658" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/05/dan-tam.jpg?strip=all&fit=181%2C267" alt="dan tam" width="181" height="267" /></a></span><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/05/may-noi.jpg?strip=all&fit=162%2C273"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-31656" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/05/may-noi.jpg?strip=all&fit=162%2C273" alt="may noi" width="162" height="273" /></a></p>
<p id="yui_3_16_0_ym19_1_1495899465605_7824" class="yiv0650051246MsoNormal"><b><span lang="FR">    T</span></b><span id="yui_3_16_0_ym19_1_1495899465605_7826" lang="FR">rong tập tiểu luận Vũ Trụ Thơ, khi viết về Nguyễn Du, nhà phê bình Đặng</span><span id="yui_3_16_0_ym19_1_1495899465605_7823" lang="FR"> Tiến đã khoa lên một kiểu chữ nghĩa mới toanh mà gần gũi, mượt tươi mà trần trụi, khiến nhiều người khi đọc, vừa nhăn mặt thích thú vừa nhếch môi ngạc nhiên: “<i id="yui_3_16_0_ym19_1_1495899465605_7825">Yêu một tác phẩm nghệ thuật giống như yêu một người đàn bà ở điểm là mỗi lần yêu, chúng ta khám phá ở người tình một trinh tiết mới. Yêu một tác phẩm là sáng tạo một trinh tiết mới cho tác phẩm” (1). Dọi lại, trong cuộc đời mỗi</i> chúng ta, khi đọc những tác phẩm nghệ thuật, đã không ít lần lòng ta bỗng rung lên với hàng hàng chữ nghĩa bay lượn trên thảm cỏ xanh rờn; khép trang sách, ta như đang sống cùng những nhân vật ấy, những “trinh tiết mới” ấy. Nhưng cũng không ít tác phẩm, mới giở năm bảy trang đã nghe thấp trhoáng mùi khoai lang sùng, cơm thiu toè khắp các trang giấy trắng tinh. Không phải đẻ non, mà chửa trâu, đẻ quá tháng, bởi anh ta không phải làm nghệ thuật; anh ta dùng nghệ thuật để đẩy nó đi mọt hướng khác!</span></p>
<p class="yiv0650051246MsoNormal"><span lang="FR">     Với Phạm Ngọc Lư, anh chưa có và không bao giờ có được cái ngời ngời của</span><span lang="VI"> những thiên tài</span><span lang="FR"> thi</span><span lang="VI"> ca đi trước</span><span lang="FR">, nhưng với tôi, Lư là người bạn thiết (từ nửa thập niên 60) và chữ nghĩa của Lư  là “người tình” đích thực của tôi, kể từ khi tôi đọc một loạt truyện ngắn anh đăng trên Văn, Bách Khoa. Những nhân vật trong truyện đã mang không khí chiến tranh đi ngao du ca hát khắp cùng trời cuối đất, khi thì dưới một mái trường quê, khi thì một làng ven biển,  lúc thì trong một thị trấn nhỏ miền núi, bị vây phủ tứ bề như một ốc đảo trong sa mạc…họ thuộc thế hệ chúng tôi. Tất cả đều không có giọng điệu gào thét, rên rỉ hay chửi bới dung tục, không có cả tiếng bom đạn ì ầm mà, chỉ có tiếng cười chưa thoát hẳn lồng ngực, những tiếng nói thì thầm của hai kẻ yêu nhau rờn rợn lưỡi gươm lia ngang, xẻ dọc trên đầu; cuộc sống được đếm bằng giây bằng phút. Một cuộc sống mong manh tưởng chừng không với chạm tới ngày mai qua từng câu ngắn ngủn tài hoa… Trong suốt thời gian này , tôi chưa hề thấy anh làm thơ như những người cầm bút khác, cùng thời.</span></p>
<p class="yiv0650051246MsoNormal"><span lang="FR">     Mãi tới cuối năm 70, tôi từ Sài Gòn về từ giã cha mẹ và các em để “xếp bút<i> nghiên…”, </i>buổi tối ngồi uống chén rượu lạt cùng nhau với các bạn văn trước lúc chia tay, giữa chếch choáng men say thế sự, giọng Lư  hốt nhiên vang lên, nấc nghẹn:</span></p>
<p class="yiv0650051246MsoNormal"><i><span lang="FR">Biên cương, biên cương, chào biên cương</span></i></p>
<p class="yiv0650051246MsoNormal"><i><span lang="FR">Chào núi rừng thăm thẳm nhiễu nhương…</span></i></p>
<p class="yiv0650051246MsoNormal"><i><span lang="FR">…Khu chiến ngày tràn lan lửa dậy</span></i></p>
<p class="yiv0650051246MsoNormal"><i><span lang="FR">Đá Vọng Phu mọc khắp biên cương…</span></i></p>
<p class="yiv0650051246MsoNormal"><i><span lang="FR">…Đây biên cương, ghê thay biên cương</span></i></p>
<p class="yiv0650051246MsoNormal"><i><span lang="FR">Tử khí bốc lên dày như sương…</span></i></p>
<p class="yiv0650051246MsoNormal"><i><span lang="FR">                   (Biên cương hành)</span></i></p>
<p class="yiv0650051246MsoNormal"><span lang="FR">     66 câu thơ trong bài hành bắt rờn rợn da gà, gai ốc khắp người tựa hồ có hàng ngàn mũi kim nhọn buốt thịt xương. Tôi ngạc nhiên đến thích thú</span><span lang="VI">.</span><span lang="FR"> Và đã ám ảnh tôi trên 30 năm </span><span lang="VI">qua</span><span lang="FR">; có lẽ cho đến khi nhắm mắt xuôi tay, nỗi ám ảnh ấy chắc sẽ còn “dày như sương”!</span></p>
<p class="yiv0650051246MsoNormal"><span lang="FR">    Ngay đêm ấy, tôi lẩm nhẩm những câu gãy khúc, nghe chừng Biên cương hành, như một dự báo về định mệnh oan nghiệt bắt đầu phủ trùm lên cuộc đời anh và đời thơ: lang thang đến sơn cùng thuỷ tận để mưu sinh, chân tay toé máu qua những tầng đất đá sâu hoắm cuốc đào để nuôi ba miệng ăn trong thời buổi nhiễu nhương. Có lẽ vì thế, nên ngôn ngữ thơ Phạm Ngọc Lư có phong cách rất riêng, “không giống ai”: không ảnh hưởng Thiền, không hoàng phái quý tộc, cũng không viễn mơ, ảo ảnh vu vơ, gào rống ba hoa. Đời đã xô đẩy anh tới tận cùng đáy xã hội để hiểu thấu thế nào là đau, là hận, là nhục… đối với chính bản thân và bạn bè, người thân. Đời sống của anh vốn dĩ rất thực, không màu mè, phỉnh phờ, ma mị, lừa lọc, dối trá với chính mình và với người khác, vì vậy từ đáy lòng, anh đã đẩy những giòng thơ của chính mình lên đến chỗ tận cùng nỗi hoan-lạc-đau<i>-đớn-chua-cay, trộn lẫn chút bụi cát bùi ngùi trong chén cơm hẩm, nước muối</i> chan mặn đắng:</span></p>
<p class="yiv0650051246MsoNormal"><i><span lang="FR">Mười lăm năm nát thân Kiều</span></i></p>
<p class="yiv0650051246MsoNormal"><i><span lang="FR">Còn thân ta nát bao nhiêu năm rồi?</span></i></p>
<p class="yiv0650051246MsoNormal"><i><span lang="FR">Đoạn trường tuế nguyệt gấp đôi</span></i></p>
<p class="yiv0650051246MsoNormal"><i><span lang="FR">Từ đêm trắng mộng, vốn lời trắng tay!</span></i></p>
<p class="yiv0650051246MsoNormal"><span lang="FR">                   (Chỉ còn đan tâm)</span></p>
<p class="yiv0650051246MsoNormal"><span lang="FR">    Có lần Lư viết cho tôi: “ <i>…Nhà</i> <i>thơ = lãng mạn + cô đơn + kiêu hãnh + bi thương, trong đó “cô đơn” là thuộc tính bi thảm nhất. Chính trong cái cô đơn cùng cực, tôi thấy mình chết, ra đi và đã viết:</i></span></p>
<p class="yiv0650051246MsoNormal"><i><span lang="FR">Tâm hồn bật một tiếng kêu</span></i></p>
<p class="yiv0650051246MsoNormal"><i><span lang="FR">Vỡ ra lênh láng giữa chiều tang thương</span></i></p>
<p class="yiv0650051246MsoNormal"><i><span lang="FR">Âm ba đồng vọng mười phương</span></i></p>
<p class="yiv0650051246MsoNormal"><i><span lang="FR">Có ai thiên cổ đoạn trường hồi âm</span></i></p>
<p class="yiv0650051246MsoNormal"><i><span lang="FR">Tay ai nâng nhẹ phù thân</span></i></p>
<p class="yiv0650051246MsoNormal"><i><span lang="FR">Dìu tôi đi giữa phù trầm khổ đau</span></i></p>
<p class="yiv0650051246MsoNormal"><i><span lang="FR">Tôi và nước mắt dìu nhau</span></i></p>
<p class="yiv0650051246MsoNormal"><i><span lang="FR">Bơi qua bể khổ muôn màu lô nhô</span></i></p>
<p class="yiv0650051246MsoNormal"><i><span lang="FR">Tôi và cát bụi ngu ngơ</span></i></p>
<p class="yiv0650051246MsoNormal"><i><span lang="FR">Bay quanh trời đất đợi giờ tương sinh”.</span></i></p>
<p class="yiv0650051246MsoNormal"><span lang="FR">                   (Thư riêng đề ngày 27.10.02)</span></p>
<p class="yiv0650051246MsoNormal"><span lang="FR"> </span><span lang="FR">     Nếu hiểu thơ ca là niềm hoan lạc của loài động vật trong mùa tình động, nhằm cung phụng cho một ý đồ thì quả thực thơ Lư không bao giờ có một chỗ đứng nếu không muốn nói là bị dìm xuống tận đáy thăm thẳm sâu của thứ búa rìu phê phán! Nhưng khốn nỗi và may mắn thay những ý tưởng của Lã Bất Vi cũng chỉ tung hoành một thời gian ngắn ngủi. Thơ ca vẫn cứ là thơ ca, như tiếng lòng trung thực vốn có, không hề méo mó, dị dạng, rống rít trên đường một chiều, để ngày nay thiên hạ vẫn say sưa đọc Thôi Hộ, Lý Bạch, Mạnh Hạo Nhiên… để, Tỳ bà hành, Cung oán ngâm, Truyện Kiều… vẫn sừng sững như một núi đá cao ngất! Và riêng tôi được đọc những câu thơ “cùng khổ” của người bạn thân. Được cùng anh sướng điên lên, đau chùng xuống, la đà cùng hơi men chếnh choáng theo những câu chữ phơi bày cả ruột gan, không thèm thập thò ngần ngại, giả bộ nhắc tuồng, đóng kịch. Bởi Phạm Ngọc Lư là Phạm Ngọc Lư. Thơ Lư là củ</span><span lang="VI">a</span><span lang="FR"> chính hắn ta chứ không phải kẻ nào khác nhảy vào múa may, quay cuồng la hét ỏm tỏi như đám sơn đông mãi võ rao bán thuốc trường sinh. Bởi anh đã nhận ra rằng “<i>cô đơn là thuộc tính bi thảm nhất</i>”, còn tôi thì muốn thêm <i>“…thuộc tính bi thảm nhất của thơ ca”, </i>vì nếu tôi không nhớ lầm, có lần A. Rimbaud cũng đã thốt lên đại khái: “</span><span lang="VI">&#8230;</span><i><span lang="FR">hỡi thi sĩ, ngôi nhà cho ngươi trú ngụ chính là sự cô đơn!”.</span></i></p>
<p class="yiv0650051246MsoNormal"><span lang="FR">     Hơn ai hết, Lư hiểu được thơ ca là cuộc tình thuỷ chung và đau khổ giữa chính nó và người làm thơ, không thể xoá nhoà phân ly. Cả hai “co ro” trong căn lều rơm lạnh để cảm nhận cái đẹp tận cùng niềm hạnh-phúc-khổ-đau</span></p>
<p class="yiv0650051246MsoNormal"><span lang="FR">     Và cũng bởi, chỉ vì anh hiểu ra rằng, thơ ca chẳng những là hệ luỵ nhân sinh mà còn là cuộc rượt tìm cái đẹp đầm đìa máu me cuộc sống, rờ đụng sự tan tác chia lìa trăm năm nhân thế, nếm ngửi, ngụp lặn trong chốn cùng tận ta bà, nên anh có quyền chìm đắm trong cõi hư huyền kia, ngay thẳng thật thà. Vì vậy, khi tôi được đọc thơ Phạm Ngọc Lư, không hề nhìn thấy bị phỉnh phờ bay mây lướt gió mà, ngược lại như cùng được kéo xuống tầng địa ngục sáng-loá-hào-quang-con-người thật, rất thật con người; đến độ có nhiều người đọc hay nghe anh tự đọc thơ mình phải nhắm mắt, bịt tai; thậm chí còn len lén bỏ đi nơi khác:</span></p>
<p class="yiv0650051246MsoNormal"><i><span lang="FR">…Phải ngươi ba chìm bảy nổi</span></i></p>
<p class="yiv0650051246MsoNormal"><i><span lang="FR">Bắt ta mười bến long đong</span></i></p>
<p class="yiv0650051246MsoNormal"><i><span lang="FR">Mây có – gió không</span></i></p>
<p class="yiv0650051246MsoNormal"><i><span lang="FR">Tình câm – thơ điếc</span></i></p>
<p class="yiv0650051246MsoNormal"><i><span lang="FR">Giai nhân còn mà anh hùng hết!</span></i></p>
<p class="yiv0650051246MsoNormal"><i><span lang="FR">Chưa mùa đông sao tóc xanh rơi bạch tuyết</span></i></p>
<p class="yiv0650051246MsoNormal"><i><span lang="FR">Ngũ thập rồi, tay trắng xoá bạch vân.</span></i></p>
<p class="yiv0650051246MsoNormal"><i><span lang="FR">                   </span></i><span lang="FR">(Tuý Hoài)</span></p>
<p class="yiv0650051246gmail-MsoBodyTextIndent"><span lang="FR">     Làm thơ, viết văn bây giờ như một thử thách ghê gớm. N</span><span lang="VI">ói</span><span lang="FR"> như nhà văn Albert Camus trong bài diễn văn đọc tại viện Đại học Upsal Thuỵ Điển khi ông đến nhận Giải Nobel Văn Chương năm 1957, thì: “ <i>Ngày nay, sáng tạo tức là sáng tạo một cách đầy nguy hiểm. Tất cả mọi sự công bố tác phẩm đều là một hành động và hành động ấy gánh chịu mọi dông bão của một thế kỷ không thể nào tha thứ (…) Mọi văn nghệ sĩ đều bị đẩy xuống con thuyền của thời đại của họ. Họ phải bấm bụng mà chịu vậy, dù họ có cho rằng con thuyền ấy tanh ngòm mùi cá, rằng bọn cai tù ở trên thuyền quá nhiều và, tệ hơn nữa, rằng con thuyền đi lạc hướng. Chúng ta đang ở giữa đại dương. Văn nghệ sĩ cũng như mọi người phải bắt tay vào mái chèo, khi đến lượt họ, chèo mà rán đừng chết gục, nghĩa là có thể tiếp tục sống mà sáng tác</i>” (2) .</span></p>
<p id="yui_3_16_0_ym19_1_1495899465605_7819" class="yiv0650051246gmail-MsoBodyTextIndent"><span id="yui_3_16_0_ym19_1_1495899465605_7818" lang="FR">Người bạn của tôi đang bước đi trên con đường chông chênh đầy nguy nan đó để kiếm tìm điều mà chúng ta khao khát <i>Cái Đẹp</i>, để đêm đêm lẫn ngày ngày, một mình ngồi trên bờ đá rêu phong, nghe muôn đời sóng vỗ…</span></p>
<p id="yui_3_16_0_ym19_1_1495899465605_7838" class="yiv0650051246gmail-MsoBodyTextIndent"><i>Mỏi mòn tiếng sóng nghe chung</i></p>
<p id="yui_3_16_0_ym19_1_1495899465605_7839" class="yiv0650051246gmail-MsoBodyTextIndent"><i>Bờ Tây tóc rụng… bờ Đông bạc đầu !</i></p>
<p id="yui_3_16_0_ym19_1_1495899465605_7817" class="yiv0650051246MsoNormal">__</p>
<p id="yui_3_16_0_ym19_1_1495899465605_7816" class="yiv0650051246MsoNormal">(1)            <span id="yui_3_16_0_ym19_1_1495899465605_7815">Đặng Tiến, Vũ Trụ Thơ NXB Giao Điểm, SG 1972</span></p>
<p id="yui_3_16_0_ym19_1_1495899465605_7814" class="yiv0650051246MsoNormal"><span lang="FR">(2)            </span><span id="yui_3_16_0_ym19_1_1495899465605_7813" lang="FR">Albert Camus, Conference du 14 Decembre 1957, Upsal Université.</span></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/tvbh-nha-tho-pham-ngoc-lu-qua-doi/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nguyễn Lệ Uyên: THÁNG NGÀY LẦY LỘI</title>
		<link>https://t-van.net/nguyen-le-uyen-thang-ngay-lay-loi/</link>
					<comments>https://t-van.net/nguyen-le-uyen-thang-ngay-lay-loi/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Lệ Uyên]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 17 Apr 2017 03:06:36 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[30 tháng 4]]></category>
		<category><![CDATA[nguyễn lệ uyên]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=31195</guid>

					<description><![CDATA[Tranh (Trần Thanh Châu) &#160; (…) Tôi bị giam giữ trong căn phòng bốn ngày liền, không bị trói hai tay như trước, cũng không thấy ai kêu lên hỏi han điều gì nữa. Duy nhất có những du kích thay phiên nhau canh gát, nhưng cũng hiếm khi thấy họ lảng vảng trước cửa [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/04/THANGTUDEN-1.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-31196" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/04/THANGTUDEN-1-300x300.jpg?strip=all" alt="THANGTUDEN-1" width="300" height="300" srcset="https://cdn.t-van.net/2017/04/THANGTUDEN-1-150x150.jpg 150w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/04/THANGTUDEN-1-300x300.jpg?strip=all 300w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Tranh (Trần Thanh Châu)</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>(…)</p>
<p>Tôi bị giam giữ trong căn phòng bốn ngày liền, không bị trói hai tay như trước, cũng không thấy ai kêu lên hỏi han điều gì nữa. Duy nhất có những du kích thay phiên nhau canh gát, nhưng cũng hiếm khi thấy họ lảng vảng trước cửa phòng, trừ những lần họ đưa cơm tới. Ngay cả nhu cầu vệ sinh cá nhân hàng ngày dường như họ cũng quên bẵng. Tôi cũng không buồn yêu cầu họ mang đến dụng cụ vệ sinh, cố gắng kềm chế và chỉ khi nào không thể nhịn được nữa mới phải làm công việc không mấy lịch sự như cái ngày đầu tiên tôi bị giam trong căn phòng này. Mỗi ngày tôi chỉ nhận được chén cơm nóng nguội thất thường với mẫu cá khô bốc mùi, hay cục lương khô sản xuất từ Trung quốc. Nước thì chứa trong chiếc ấm nhôm méo mó, ám đen khói. Ăn uống với tôi, bây giờ không còn là điều cần thiết, khi mà không biết được số phận của mình sẽ ra sao.</p>
<p>Trong căn phòng, những người bạn thân thiết, san sẻ cho nhau lúc này là bầy muỗi. Chúng tha hồ bâu bám và đốt. Những tiếng vo ve khó chịu ban đầu, giờ nghe đã quen tai. Để chống lại chúng, tôi dùng những tờ giấy báo thắt thành hình chóp chụp kín xuống tận vai, khoét hai lỗ nhỏ ở hai mắt. Hai tay và chân thọc vào những hộp giấy. Dưới lưng và trên ngực là những tấm bìa carton. Dẫu không thể nhìn thấy được chính mình, nhưng với cách thức đó hẳn tôi giống một tên robot? Những khi nằm ngửa, nhìn lên phía trên, dàn rui kèo và mái tôn dính chặt như bầu trời sà thấp, sắp ôm choàng lấy tôi.</p>
<p>Những lúc hoang mang, tôi thường nghĩ về Hà. Không biết giờ này nàng ở đâu, làm gì? Có thể nàng đã xuống tàu cùng gia đình. Có thể nàng cũng trong tình cảnh như tôi bây giờ, cũng nháo nhác về số phận người cha và anh Tuyên. Cha Hà là công chức cao cấp ở Bộ Thông Tin Chiêu Hồi. Trong những ngày cuối cùng ở mặt trận Thành Sơn, Phan Rang tôi về Sài Gòn gặp ông, nói: “Tình hình có vẻ đen tối quá rồi. Bác liệu tìm cách đưa gia đình…”. Không đợi hết câu, ông gạt phăng: “Tuyên còn ngoài mặt trận, không biết sống chết thế nào, bác không thể bỏ nó. Vả lại, không thể trốn chạy một cách hèn hạ như vậy được. Bác biết chúng sẽ không tha thứ cho đối phương, nhất là những người như bác. Nhưng nếu có chết thì cùng chết, ngẩng cao đầu mà chết”. Một ông già dân khu 5, từng sống và chứng kiến trọn vẹn cuộc khởi nghĩa cướp chính quyền của Việt Minh năm 45 hẳn ông sẽ biết mình cần phải làm gì hơn là lời khuyên của đứa con nít 25 năm trước chưa được sinh ra. Tôi chào ông bước ra cổng. Hà mở cửa. Trông Hà xanh xao vì mất ngủ. Tôi nói: “Em có thể đi loanh quanh đâu đó với anh một lúc không?”. Hà gật đầu. Từ bà Huyện Thanh Quan, chúng tôi đi bộ lên La Pagode. Hai ly cà phê trên bàn kính nhìn chúng tôi. Còn chúng tôi thì nhìn ra ngoài đường. Xe cộ vẫn đều đặn ngược xuôi. Chiến tranh không có mặt trong thành phố. Mọi thứ cứ bình thản trôi đi hay ít ra sự bình thản kia là vòng quay héo mòn, nẫu ruột được giấu kín bên trong không thể nhìn thấy?</p>
<p>“Tuyên bây giờ ở đâu?”. Hà xoay ly cà phê có bụi nước bám ngoài thành ly, buồn bã: “Thư cuối cùng ảnh gửi về là ở Nha Trang, Lần gọi điện cuối cùng về cho ba hình như ở cầu gì đó giữa Cam Ranh và Phan Rang. Em nhớ rồi cầu Du Long. Mẹ em lo quá, khóc suốt”. Tôi bóp nhẹ bàn tay mảnh mai của Hà: “Em chớ lo, anh hiểu Tuyên. Nó là đứa giỏi xoay trở trong những lúc bất trắc. Sống với nó từ nhỏ anh biết”. Hà ngước nhìn tôi với bộ mặt mệt mỏi, thất vọng: “Nhưng tình hình ngày càng đen tối. Sư đoàn nào cũng tan tác cả. Còn Liên đoàn của ảnh hết tăng viện cho chiến trường này lại tăng viện cho chiến trường khác. Ảnh mà có mênh hệ gì thì mẹ em không sống nổi”. Tôi an ủi: “Em chớ nghĩ quẩn. Tình huống xấu nhất là tù binh, mà tù binh thì không thể mang ra xử bắn được. Công ước quốc tế sẽ không buông tha cho những hành vi dã man kia đâu”. Hà bật khóc: “Cái quốc tế mà anh nói đó, lần lượt quay lưng lại với chúng ta khi quyền lợi không còn nữa. Đúng là bi thảm. Một đất nước bi thảm, một dân tộc bi thảm…”</p>
<p>Tiếng mở khoá lách cách cắt đứt dòng hồi tưởng. Cửa mở toang. Một chút ánh sáng yếu ớt hắt vào. Tôi bật dậy. Người du kích lùi lại vài bước, kêu lên khi nhìn thấy lớp bao giấy trên đầu, tay chân tôi:</p>
<p>-Cái gì vậy? Ông làm cái gì vậy?</p>
<p>Vừa tháo lớp giấy bao, tôi giải thích:</p>
<p>-Chống muỗi.</p>
<p>-Ngộ quá héng. Có kiểu chống muỗi thiệt ngộ! – Anh ta nói với giọng hết sức trẻ con và ngạc nhiên như chưa hề trông thấy bao giờ.</p>
<p>Một lát sau:</p>
<p>-Ông rửa mặt mũi, ăn tạm chút lương khô rồi chúng tôi đưa ông lên C.</p>
<p>Tôi không hiểu C là nơi nào, nhưng chắc chắn không phải là chốn bình yên ban đầu, như căn nhà trọ, như ở băng ghế giảng đường. Tôi không buồn hỏi tiếp, bước tới phía khạp nước người du kích dẫn lại, dùng chiếc lon rỉ sét múc từng lon nhỏ. Quấn áo bốc mùi. Nhưng muốn tắm thì không thể, biết vậy nên tôi dùng chiếc khăn tay nhúng nước kỳ cọ khắp người.</p>
<p>Người du kích khoát súng trên vai, miệng phì phèo điếu thuốc nhìn tôi không hề hối thúc. Tôi chậm rãi lau xoáy từng kẽ tay, vành tai… mát mẻ và sảng khoái đến lạ kỳ. Xong việc, tôi nói:</p>
<p>-Xong rồi.</p>
<p>-Ăn đi rồi đi cho sớm – Nói và người du kích thò tay vào túi áo lấy mẫu lương khô ném tung về phía tôi. May mà tôi chụp nắm kịp, nếu không thì khẩu phần ăn trong ngày bị rơi xuống vũng bùn đọng gần khạp nước. Tôi cắn từng miếng nhỏ, nhai mà không nghe thấy mùi vị gì nữa.</p>
<p>Chờ tôi ăn xong, người du kích dẫn tôi ra trước, kêu tôi đứng đợi, còn anh ta thì vào căn phòng phía bên trái, tôi có đủ thời gian để quan sát: hình như đây là một công sở địa phương. Tấm bảng trên nóc đã được sơn lại màu đỏ chót và vẽ dòng chữ Ban quân quản Thạnh Lộc, nét chữ yếu ớt vội vã. Các dãy nhà dân dọc hai bên đường cửa hé mở ngập ngừng. Người qua lại thưa thớt. Chỉ có sự ồn ồn ào từ những chiếc loa sắt treo đâu đó trên cao, nhưng giờ này cũng im bặt.</p>
<p>Đợi một lúc, anh ta trở ra, trên tay cầm mẫu giấy gấp làm tư, vẫy vẫy “đi”. Họ không trói tôi như mấy lần di chuyển trước, hai tay được tự do vung vẩy nên cũng dễ chịu đôi chút. Chúng tôi vòng vèo qua khu nhà dân, các hiệu buôn bán nhỏ đến con lạch có chiếc cầu khỉ. Khi đôi chân chạm lên thân dừa bắc ngang tôi mới biết mỗi một chân mang một loại dép quai nhựa khác nhau, như một nỗi sợ hãi, lúng túng đeo bám bên người.</p>
<p>Đi khoảng mươi phút, chúng tôi đến một bến đò, ở đó đã vài người đứng chờ sẵn: hai người phụ nữ, ba người đàn ông. Tới nơi, tôi nhận ra một trong ba người đàn ông kia là trưởng ty hành chánh ở tỉnh K. Tôi biết anh ta khi còn sinh hoạt trong nhóm du ca thời sinh viên. Anh ta dân miền Trung, hay cãi, cố gắng tận dụng mọi lý lẽ để cãi cho bằng được những vấn đề vô lý nhất. Giờ tôi chắc mẩm những người này đang cùng chung số phận với tôi. Tôi gật đầu chào anh ta. Anh ta chào lại tôi bằng cái nhếch môi nửa như cười nửa mếu, thật khôi hài.</p>
<p>Chúng tôi xuống khoang thuyền nhỏ có gắn đuôi tôm, chạy xuôi dòng, men theo một con sông rộng, hai bên là dừa nước và những cây bần de nhánh tận ra ngoài. Nếu bình thường thì đây có thể gọi là cuộc dã ngoại thú vị. Nắng hiu nhẹ. Gió từ mặt sông đưa hơi nước lên, mát. Tôi ngồi sát bên người phụ nữ, da ngăm đen nhưng rất có duyên nhìn từ đôi mắt, chiếc mũi thẳng và chiếc cằm chẻ, môi trái tim. Hai người du kích ôm súng, một đằng mũi, một sau lái và tiếng máy nổ xì xạch, không khó để tôi bắt chuyện:</p>
<p>-Tôi tên Sơn, giáo sư trung học, dạy ở T. Còn chị?</p>
<p>-Ty nội an. Hoa, Diệu Hoa.</p>
<p>-Chị biết anh bạn ngồi sau lưng bên Ty Hành chánh?</p>
<p>-Tôi học sau ảnh hai khoá.</p>
<p>-Chị mới ra trường năm trước?</p>
<p>-Vâng.</p>
<p>-Chúng tới nhà bắt chị?</p>
<p>-Tôi tới trình diện ở Ban Quân quản theo lệnh phát trên loa chiếc xe jeep chạy vòng vòng quanh phố. Họ giữ tôi hai ngày rồi giờ thì bị đưa đi cùng với các anh. Anh Hoà cũng bị bắt cùng một lúc.</p>
<p>Hoà từ phía sau lưng Diệu Hoa chồm tới:</p>
<p>-Cậu nhớ thằng Vinh không? Vinh ở Luật bị động viên khoá 2/69. Nó chết rồi.</p>
<p>-Sao, anh bảo sao?</p>
<p>-Nó rút súng bắn vào đầu khi ông Dương Văn Minh đọc đến câu cuối cùng lệnh đầu hàng. Câu nói nó để lại cho mọi người đứng gần đó là “quân đốn mạt, bán nước!”.</p>
<p>Cả người tôi lạnh toát như vừa ngâm trong nước đá. Thành chết, Vinh chết. Cả hai chọn lựa cái chết giống nhau, từ sự thúc bách không thể đội nỗi ô nhục trên đầu. Và cả hai, đều là bạn chúng tôi, mặc dù không thân nhau lắm.</p>
<p>Không khí nặng nề bỗng bao trùm khắp mặt sông. Âm thanh xành xạch phát ra từ chiếc máy đuôi tôm nghe như những tràng đạn dài đang lia vào đầu chúng tôi, những tên phản động, ngoan cố? Tôi tưởng tượng cảnh Vinh rút súng ra, bóp cò một cách thản nhiên. Anh ngã xuống bên vũng máu. Hình ảnh đó của Thành của Vinh trong thoáng chốc là danh dự, tổ quốc theo đúng nghĩa, nhưng có cần thiết phải như vậy trong hoàn cảnh này hay không? Chọn lựa cái chết như vậy sẽ giải quyết được gì? Một sự phản kháng tiêu cực khi những bất trắc vẫn đang lù lù ở trước mặt hay đó là hành động chứng minh cho tính chất anh hùng của mình? Mà anh hùng nỗi gì với cách chết như vậy? Những ý nghĩ lộn xộn nhảy múa trong đầu khiến tôi tưởng tượng ra cái chết của Vinh bi thảm và đau đớn không cùng hay là thanh thản nhanh chóng như Thành? Những cái chết cuối cùng hay sẽ còn tiếp diễn nữa, thật phi lý của hàng triệu con người trong cuộc tranh giành quyền lực man rợ này.</p>
<p>***</p>
<p>Tôi không ngờ mình lại được tiếp đãi khá tử tế kể từ sau ngày bị hai du kích đến bắt. Sau khi tra hỏi lý lịch lần cuối cùng ở Ban quân quản tỉnh L. họ đưa tôi đến Ty Giáo dục làm công việc ghi chép, đánh máy văn thư. Chúng tôi ở tạm thời trong thư viện Ty. Trong phòng còn có ba người khác là dân miền Bắc đi B. Trước họ cũng là giáo viên, bị động viên tập thể đưa vào Nam chuẩn bị cho ngày này. Tất cả đều còn trẻ, học xong lớp 10 thêm hai năm sư phạm thành thầy giáo? Nghe họ kể, tôi hơi ngạc nhiên đôi chút về cách đào tạo ở miền Bắc, trái với những gì tôi đọc trước đó trong quyển Mười năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc của linh mục Trương Bá Cần. Qua những kiến thức và cách nói năng rào trước đón sau, tôi phần nào có thể đoán ra cái xã hội mà ông Cần mô tả chỉ là vịt. Trước mắt tôi là những minh chứng trái ngược hẳn với những lời tụng ca, những câu tuyên truyền dối trá về một thiên đường, trong đó người dân sống hạnh phúc, no ấm khi, những lúc rỗi rảnh, họ nhờ tôi tìm mua cho cái đài <em>na-ti-ôn-nan</em>; buổi sáng dẫn họ ra phố uống cà phê lại kêu ly cà-phê-đá-chanh? Họ bảo ở miền Bắc đá sản xuất đầy, dùng không hết mang ra sân kho phơi để xuất khẩu sang các nước XHCN. Nhưng sau đó, họ lại tỏ ra ngạc nhiên với những tô hủ tíu Nam Vang, họ ngơ ngác trước những sạp vải bắt đầu hé cửa mở và những chiếc xe máy chạy trong đường phố…tất cả đều thật mới lạ đối với họ.</p>
<p>Điều làm tôi đau lòng nhất là buổi sáng nọ, khi còn đang nằm trong mùng, anh giáo viên có tên Khoa gọi dậy:</p>
<p>-Nào dậy đi đồng chí, dậy uống chè Bắc.</p>
<p>Tôi lồm cồm bò dậy cùng với tiếng rít xòng xọc vang trong nõ tre. Cả ba đang ngồi trên sàn, vây quanh ấm nước bốc khói và bình trà, khói thuốc lào mù mịt. Vệ sinh xong, tôi bước vào, điều kinh khủng nhất thiếu chút nữa tôi văng ra tiếng chửi thề, là bộ Encyclopédie chẳng những bị lôi ra làm đòn kê đít mà một quyển khác bị xé ra gần hết để thay củi nấu nước! Tôi choáng váng, tối sầm mặt mũi. Cả đời mơ ước chưa mua nổi bộ bách khoa toàn thư này. Vậy mà những người làm công tác giáo dục của chế độ ưu việt kia lại xé rời từng trang nhóm lửa! Tôi lảo đảo ngồi xuống, lòng thắt lại:</p>
<p>-Các anh không biết bộ Bách khoa toàn thư nó quý đến chừng nào sao? Tôi không nói đến giá trị là cả một đống tiền mà là cả một kho tàng tri thức, sao các anh lại nỡ đem đốt nó đi?</p>
<p>Tiếng nõ rít lên liên tục trong khi tôi nói, nên có vẻ như ba người không thể nghe rõ ràng, một trong số họ hỏi lại?</p>
<p>-Cái gì? Đồng chí vừa nói đốt cái gì?</p>
<p>Tôi lặp lại câu than thở khi nãy. Họ cười khẩy:</p>
<p>-Những thứ rác rưởi, đồi truỵ chỉ đáng ném vào sọt rác!</p>
<p>-Không thể như thế được. Ngay cả Tư bản luận của Karl Marx trong này chúng tôi vẫn đọc, đọc công khai, được mang ra dạy trong các giảng khoá ở Đại học Văn khoa kia mà. Chúng tôi cũng được phép vào thư viện Quốc gia đọc các tạp chí ngoài Bắc để làm luận văn tốt nghiệp kia mà. Kho tàng văn hoá, tri thức là của chung của nhân loại, chớ không riêng một cá nhân hay một quốc gia, chế độ nào.</p>
<p>-Những thứ sản xuất từ các nước đế quốc đều là rác rưởi, cặn bã trong thế giới tiến bộ. Nó là rào cản, cần phải đánh đổ, phải xoá sạch.</p>
<p>-Các anh không thể suy nghĩ và hành động một chiều như vậy. Văn minh và văn hoá của nhân loại là tài sản chung.</p>
<p>-Đầu óc đồng chí không tiến bộ được. Cuộc cách mạng hoàn toàn thắng lợi mang lại độc lập, tự do và chủ quyền cho cả đất nước và dân tộc này, đã đổ ra không biết bao nhiêu xương máu, thì tiếc gì những thứ văn hoá độc hại kia?</p>
<p>Tôi thầm nghĩ có tranh luận gì thêm chắc chắn không mở được những cái đầu đã bị nhồi nhét mớ lý thuyết càn bậy nên tôi ngồi im, lòng đau thắt.</p>
<p>Ngồi im và buồn và thất vọng. Ngọn lửa bên trong kia bập bùng, quằn quại hút lấy tôi. Những tiếng cười nói vô cảm như tiếng tru của bầy sói trong cánh rừng hoang cuốn lấy, làm tôi đến khựng lại, ngộp thở. Bầy sói đồng thanh cất lên gào rống, tru tréo một bài hát gì đó, nhảy nhót quanh đống lửa. Những con sói hình người như bầy quỷ nhỏ khạc ra như âm thanh rin rít ghê rợn. Chúng vừa hát vừa thay phiên nhau ném những quyển sách vào lưỡi lửa phều phào run rẩy. Những trang sách toè ra màu máu, chới với bay vào chốn tro bụi.</p>
<p>Nhưng nếu sự việc chỉ dừng lại ở đây không thôi thì nỗi buồn và thất vọng cũng sẽ phôi phai đi ít nhiều. Đằng này, ngày hôm sau, sau khi đánh máy xong mớ công văn, chỉ thị gửi đi các huyện thì có hai người từ bên Ban quân quản tới áp giải tôi sang căn phòng bên toà hành chánh cũ, nơi mà bàn làm việc, bếp đun nước, chiếc giường xếp lẫn mùng màn chăn gối bày ra bừa bộn. Họ chỉ tôi ngồi xuống chiếc ghế đẩu có vai tựa bằng gỗ cách người đàn ông mà họ gọi là thủ trưởng một mặt bàn và thêm sải tay.</p>
<p>Ông thủ trưởng đang phì phèo điếu thuốc trên đôi môi thâm đen, nổi đậm trên khuôn mặt nhợt nhạt. Ông mặc bộ bà ba màu bã trầu. Tấm khăn rằng xộc xệch từ cổ rớt thòng xuống thấp, phía dưới mặt bàn. Ông ngồi yên lặng hút thuốc, làm như không có ai trong căn phòng này, và dĩ nhiên không thèm ngẩng mặt lên nhìn tôi. Còn tôi hết quan sát ông lại đưa mắt đảo quanh căn phòng không rõ là nơi làm việc hay chỗ ngủ? Hình như phong cách từ bưng biền được tất cả cán bộ mang về đặt ngay trong những nơi trước đó rất trang nghiêm, sự trang nghiêm thường thấy nơi các công sở? Tôi cảm thấy rất khó chịu, gần như bị xúc phạm khi ông ta cứ bập phà mẫu thuốc mà không một lời với người đối diện, cho dẫu là kẻ thù. Cái cách ông ngồi chống một chân lên mặt ghế đẩu, chân kia bỏ thõng xuống sàn, cặp mắt ti hí  núp dưới hàng lông mày rậm như con sâu trên khuôn mặt khô tốp và chiếc cằm nhọn, có vẻ như ngày xưa là một tay anh chị ở các bến sông.</p>
<p>Tôi hết quan sát lại nghĩ ngợi lung tung, đặt ra những tình huống xấu nhất và tìm câu trả lời. Hút hết điếu thuốc, ông quăng mẫu tàn xuống sàn, với tay rót bình nước trà đưa lên miệng hớp ngụm đầy, súc òng ọc như trẻ con giỡn nước trước khi nuốt vào bụng. Ông lại nhẩn nha mồi điếu khác gắn lên môi và bất ngờ quay sang tôi:</p>
<p>-Anh tường thuật lại tất cả những gì trong buổi sáng hôm qua.</p>
<p>Ông tiếp tục hút thuốc. Khói bay đầy phòng, trong khi tôi vắn tắt thuật lại việc tranh luận với ba cán bộ chi viện. Nghe xong, ông ngẩng lên, chiếc cằm nhọn chỉa về phía tôi như sẵn sàng lật tung những dề đất khô cứng trên mặt ruộng.</p>
<p>-Anh không thể nhận ra đó là thứ văn hoá nô dịch, đồi truỵ sao?</p>
<p>-Tôi không nghĩ như các ông. Một bộ Bách khoa toàn thư thì không thể gọi là đồi truỵ phản động. Nó không chứa những lý thuyết, những lời kêu gọi để chống đối ai cả. Bộ sách dày hàng ngàn trang kia không ẩn chứa điều mà các ông gọi là đồi truỵ. Rất tiếc là các ông chưa từng đọc nó.</p>
<p>Ông ta nhếch đôi môi mỏng dính lên một cách khó khăn:</p>
<p>-Đọc? Giờ thì anh lại giở giọng tâm lý chiến với chúng tôi?  Vấn đề như vậy đã rõ. Rất rõ về tư tưởng và con người anh. Đúng là một tên tâm lý chiến phản động.  Anh đợi tôi một chút.</p>
<p>Ông ta xô ghế đứng lên, tiến ra phía cửa nói gì đó với hai người áp giải tôi lúc nãy, rồi quay lại, phẩy tay:</p>
<p>-Anh có thể đi đi. Anh sẽ bị xử trị thích đáng</p>
<p>Tôi đứng lên, bước ra khỏi cửa phòng mà không chào ông, mang theo lời hăm doạ nặng nề.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Chúng tôi đi lòng vòng trong khuôn viên toà hành chánh cũ, nay được gọi là Ban Quân quản. Trên thảm cỏ xanh rờn đầy những rác rến. Ở phía sau toà nhà, người ta nối những sợi dây dừa thật dài, mắc lên các cành cây và treo la liệt đủ loại quần áo, khăn tắm cả coóc xê và xì líp phụ nữ. Một vài ba chỗ, họ còn chất những hòn gạch lên cao thành ông táo để nấu nướng, khói mịt mù một góc. Những cành cây khô vất vung vãi, vỏ bao thuốc, hộp giấy, các thứ chất thải la liệt nom như sân sau một khu chợ. Chỗ cửa ra vào toà nhà phía bắc, một phụ nữ đang ngồi chổng mông phù phù thổi bếp lửa chỉ có khói. Khuôn mặt đỏ lên, mồ hôi lấm tấm trên má, thái dương bết dính những sợi tóc như khóc.</p>
<p>Một trong hai người kêu tôi đứng đợi. Tôi lại tiếp tục quan sát cô gái, quan sát cách cô khó khăn làm cho ngọn lửa bùng lên. Biết có người  nhìn về phía mình, cô gái ngẩng lên, quát:</p>
<p>-Nhìn cái gì thế?</p>
<p>Giọng Bắc, nhọn hoắc.</p>
<p>-Trong rừng mà cô làm thế này, địch phát hiện ra mất!</p>
<p>-Anh là ai mà lên giọng với chúng tôi.</p>
<p>-Loại củi còn tươi, cô thổi ba ngày không cháy, mà có khô cũng không dễ gì cháy.</p>
<p>Cô gái đứng bật lên, chống nạnh.</p>
<p>-Giỏi nhỉ! &#8211; Giọng nói kéo dài, khiêu khích dội lên, vừa đúng lúc người áp giải lúc nãy thò đầu qua khung cửa, ra hiệu cho tôi theo anh ta.</p>
<p>Qua hết dãy hành lang dài, chúng tôi bước lên cầu thang cuốn và đứng trước cánh cửa khép hờ. Người dẫn đường gõ mấy tiếng vào cửa, rồi đứng nghiêm:</p>
<p>-Báo cáo thủ trưởng, em đưa người tới.</p>
<p>Giọng nói từ sâu bên trong vọng ra:</p>
<p>-Vào.</p>
<p>Anh ta đứng tránh qua bên nhường đường cho tôi. Căn phòng khá rộng. Toàn bộ đồ đạc vẫn nguyên vẹn. Những chiếc tủ đánh véc ni bóng loáng, bên trong là những cuốn sách xếp ngay ngắn. Trên tường có treo hai bức tranh vẽ thiếu nữ  và cá của hoạ sĩ Nguyễn Trung và bức Cánh đồng lúa mì của Van Gogh, đều là phiên bản, không bị tháo gỡ xuống. Không rõ căn phòng này trước là của thị trưởng hay phó thị trưởng hành chánh. Còn giờ thì người đang ngồi trước chiếc bàn rộng kia hẳn phải là người chỉ huy cao nhất của tỉnh này. Ông ta đang cúi đọc xấp tài liệu dày, tôi không nhìn rõ mặt. Tới khi nghe tiếng dép trên mặt nền, ông ta ngẩng đầu lên. Tôi sửng sốt và không thể tin vào mắt của mình. Sao lại có thể như thế được kia chứ?</p>
<p>Bốn năm trước Hào học Văn Khoa, ở trọ chung nhà, là một trong những thủ lĩnh đấu tranh của SVHS. Cuối năm 73 Hào đã biến mất trước khi cảnh sát đến lục tung căn gác và chỉ thu được những đồ đạc, sách vở của hắn. Tôi và Ngạc đã bị gọi lên xuống không dưới mười lần để thẩm vấn, khai về mối quan hệ cùng những hành tung của Hào. Thật ra, sống cùng nhau, thỉnh thoảng chúng tôi cũng tham gia những cuộc hội thảo, xuống đường với Hào, nhưng chỉ lán mán hắn là con người khuynh tả chứ không ngờ hắn là người của bên kia gài lại, hoạt động trong các tổ chức SVHS. Giờ thì hắn ngồi đó. Không biết thái độ của hắn khi đối mặt với bạn bè cũ thế nào, chứ trước là con người ít nói, đọc nhiều sách, coi ông Nguyễn Văn Trung với giảng khoá triết học Karl Marx là thần tượng.</p>
<p>Lúc ném cây bút chì xuống tập giấy, Hào ngửng lên:</p>
<p>-Trời, cậu! sao lại ra nông nỗi này?</p>
<p>Tôi ngồi xuống ghế, không đợi Hào mời:</p>
<p>-Cũng chẳng biết nữa – Tôi nói.</p>
<p>-Trong lúc sáng tối này, tốt nhất là không nên tranh biện. Không phải cán bộ nào từ khu về cũng có trình độ học vấn như cậu tưởng. Những điều cậu vấp phải với cán bộ cơ sở làm họ khó chịu vì sự thua kém biện luận, nhưng họ không chịu thua cậu về khoản chuyên chính. Tôi đã đọc đầy đủ bản báo cáo về cậu từ các nơi gửi về, nhất là chuyện tầm phào với các cán bộ bên Ty Giáo dục.</p>
<p>-Nhưng bộ Bách khoa toàn thư kia thì tội tình gì, phản động, đồi truỵ ở chỗ nào?</p>
<p>-Cậu luôn thẳng thắn một cách trẻ con như hồi còn đi học. Bao nhiêu năm ra ngoài đời cậu vẫn chưa thể sáng mắt ra được tí nào sao?</p>
<p>-Nghĩa là tôi phải nói dối, phải cong người, phải…</p>
<p>Hào phẩy tay:</p>
<p>-Nói sao cho cậu hiểu bây giờ. Bỏ chuyện đó qua một bên. Ở bên Ty họ giao cậu làm những gì?</p>
<p>-Quan tâm tới bạn bè quá nhỉ?</p>
<p>-Đừng tự ái.</p>
<p>-Đánh máy công văn, chỉ thị và những việc vặt khác, chưa đi đổ bô cho các thủ trưởng.</p>
<p>-Chớ có khiêu khích, chẳng ích lợi gì cả. Mọi chuyện buổi đầu đều bị rối tung lên. Những cuộc cách mạng ở bất kỳ quốc gia nào, buổi đầu vẫn thế, nhưng rồi đâu sẽ vào đó một thời gian ngắn nữa.</p>
<p>-Tức cậu ám chỉ tình trạng vô chính phủ hiện giờ?</p>
<p>-Mới tiếp quản từ tay kẻ địch, bất kỳ đất nước nào cùng rơi vào tình cảnh tương tự.</p>
<p>-Hay quá nhỉ? Vì vậy cho nên bao nhiêu sách quí đều bị xé đốt vì là phản…</p>
<p>-Cậu chớ cay cú những chuyện vừa chứng kiến. Cách mạng có lúc phải biết hy sinh. Giờ thì cậu hãy dẹp qua bên mọi chuyện và uống tách trà nóng cho tỉnh người rồi ta nói chuyện.</p>
<p>Hào nói và tự tay rót tách trà đẩy lên mặt bàn hướng về phía tôi. Tôi cầm lấy và không nghĩ Hào coi tôi như kẻ thù. Có thể không đồng quan điểm, nhưng ít nhất, cái còn lại là tình bạn hữu sống cạnh nhau hàng mấy năm trời. Tuy vậy tôi cũng không buồn hỏi hắn hiện tại đang giữ chức vụ gì, hay nhân cơ hội lấy lòng và xin hắn “giải phóng” cho tôi ra khỏi nơi quỉ ám này. Lòng tự trọng không cho phép tôi mở miệng làm những chuyện điên rồ kia.</p>
<p>Tôi uống từng ngụm nhỏ. Trà ngon. Phải nói là rất ngon. Xưa Hào không bao giờ uống trà hay cà phê. Nhưng sau thời gian biến mất, giờ trước mặt hắn là bình trà, ly tách tinh tươm, gian phòng rộng, sạch sẽ, xem ra hắn là nhân vật quan trọng ở xứ này.</p>
<p>-Bây giờ hãy kể lại tại sao cậu bị đưa tới đây?</p>
<p>Tôi vắn tắt về chuyện hai người du kích trong đó có một là học trò cũ đêm tới nhà kêu “các ông đã bị bắt” và họ đưa đi ít nhất vài ba nơi. Nơi nào cũng cùng một giọng điệu rằng, chúng tôi là những tên phản động, được giao nhiệm vụ kềm kẹp…</p>
<p>Hào chống tay lên cằm chăm chú nghe tôi kể, ra chiều suy nghĩ. Hắn ngồi yên một lúc trong tư thế tay chống cằm rồi mới hất mặt lên.</p>
<p>-Cậu cũng biết ở cơ sở có nhiều sự rối rắm. Họ thi hành lệnh như cái máy. Có nhiều chuyện đáng ra họ có thể tự giải quyết thì tống tất cả lên trên, rồi lại với sâu vào những vụ việc không phải dành cho họ giải quyết. Chúng tôi đã quán triệt cho các địa phương về vấn đề công chức chế độ cũ, đặc biệt là ngành giáo dục &#8211; hắn thở dài &#8211; vậy mà cuối cùng lại làm sai lệch đi.</p>
<p>-Có nghĩa là bản thân những người như tôi không có tội tình gì?</p>
<p>-Cơ bản là vậy. Nhưng cũng tùy theo từng trường hợp cụ thể.</p>
<p>-Tôi hiểu. Tôi nằm trong từng trường hợp cụ thể mà cậu nói?</p>
<p>&#8211; Sau khi tìm thấy hồ sơ lưu trử đầy đủ mới có thể nói chính xác.</p>
<p>Tôi phân vân về câu nói nửa úp nửa mở của hắn. Hồ sơ lưu trử ở đâu nhỉ? Mà ai lưu trử? Bên chính phủ Sài Gòn hay là của bọn họ thiết lập, căn cứ trên những chứng cứ cụ thể trong quá trình đào tạo và thi hành công vụ cho từng công chức? Rõ ràng rằng hắn  cũng không mấy tin vào sự thành thật của người bạn đã từng trọ học nhiều năm liền với hắn. Có một ranh giới thật rõ ràng, không nhầm lẫn.</p>
<p>Tôi nói:</p>
<p>-Vâng, tôi hiểu. Sự nghiệp cách mạng của các cậu thật vĩ đại (lúc đầu tôi định nói là ma mãnh, nhưng kịp sửa để sau đó chính tai tôi nghe câu nói của chính mình lảng xẹt, đến độ không thể ngờ nó lại thốt ra từ miệng của anh thầy giáo là tôi).</p>
<p>-Dường như cậu mắc phải căn bệnh mãn tính “mỉa mai”. Những ngày ở Sài Gòn cậu cũng thốt ra với những lời lẽ như vậy về chế độ Mỹ-Thiệu. Nay cách mạng mới thành công, cơ sở mới chạm vào một chút tự ái, các cậu cũng lại giở những giọng điệu khi xưa. Đúng là thứ vô chính phủ &#8211; hắn giận dữ dằn mạnh mấy chữ cuối câu &#8211; đó là căn bệnh muôn đời của trí thức tiểu tư sản. Bệnh hoài nghi luôn bám đuôi các cậu.</p>
<p>-Hoài nghi? – tôi nhắc lại – Hoài nghi là một tiến trình vận động tích cực thúc đẩy xã hội tiến lên phía trước. Chủ nghĩa của các cậu ấp ủ không đề ra như thế là gì?</p>
<p>-Giờ ta không tranh luận với nhau về phương pháp luận. Tạm thời cậu cứ về bên Ty. Chúng tôi sẽ bàn cụ thể về trường hợp cậu.</p>
<p>-Cải tạo, khổ sai –Tôi cáu lên.</p>
<p>-Rất có thể, nếu cái đầu cậu cứ ngang bướng như thế kia. Với tôi thì không vấn đề gì. Nhưng với người khác cậu nên giữ mồm giữ miệng. Với tôi, cậu là bạn nhưng tôi sẽ không chịu nổi những hành động bậy bạ và những lời nói năng gây sốc cho kẻ khác. Nó đồng nghĩa với sự phỉ báng, với hành động chống phá. Lúc đó tôi và cậu vẫn là bạn, nhưng sự nể vì thì không.</p>
<p>Hắn đứng lên, chìa tay ra cho tôi. Một cái bắt tay sau chừng ấy năm có vẻ gì như gượng gạo, như chiếc ốc vít đã nới lỏng ra khỏi chiếc xe đạp đã sử dụng nhiều năm.</p>
<p><strong><em>(trích từ tự truyện Sau Chiến Tranh)</em></strong></p>
<p><strong>Nguyễn Lệ Uyên</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2017</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/nguyen-le-uyen-thang-ngay-lay-loi/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>

<!--
Performance optimized by W3 Total Cache. Learn more: https://www.boldgrid.com/w3-total-cache/?utm_source=w3tc&utm_medium=footer_comment&utm_campaign=free_plugin

Page Caching using Disk: Enhanced 

Served from: t-van.net @ 2026-08-16 23:30:30 by W3 Total Cache
-->