<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Nguyễn Kỳ Dzương &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<atom:link href="https://t-van.net/tag/nguyen-ky-dzuong/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://t-van.net</link>
	<description>Văn Học và Đời Sống</description>
	<lastBuildDate>Tue, 27 Aug 2024 21:59:39 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.7.5</generator>

<image>
	<url>https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/02/t-van-favicon.png?strip=all&#038;resize=32%2C32</url>
	<title>Nguyễn Kỳ Dzương &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<link>https://t-van.net</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Nguyễn Kỳ Dzương: NHỮNG PHẦN ĐỜI CỦA ĐỊNH MỆNH (2)</title>
		<link>https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh-2/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Kỳ Dzương]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 20 Aug 2024 06:38:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[hồi ký cải tạo]]></category>
		<category><![CDATA[Nguyễn Kỳ Dzương]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=73605</guid>

					<description><![CDATA[(Tiếp theo Kỳ 1) Phần Hai: “Trăng ơi, nói hộ lòng tôi” Thời gian cứ thế mà trôi qua. Chúng tôi ở trại Trảng Lớn này, thoáng một cái mà đã hơn một tháng. Mấy hôm trước, bất ngờ, đêm đã khuya, chúng tôi nghe vọng trong gió tiếng di chuyển của một đoàn “công [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/08/HOI-KY-CAI-TAO.jpg?strip=all&w=2560"><img fetchpriority="high" decoding="async" width="1002" height="613" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/08/HOI-KY-CAI-TAO.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-73498" style="width:588px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/08/HOI-KY-CAI-TAO-300x184.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2024/08/HOI-KY-CAI-TAO-768x470.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/08/HOI-KY-CAI-TAO.jpg?strip=all 1002w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>(Tiếp theo Kỳ 1)</p>



<p class="has-text-align-center"><strong>Phần Hai: “Trăng ơi, nói hộ lòng tôi”</strong></p>



<p>Thời gian cứ thế mà trôi qua. Chúng tôi ở trại Trảng Lớn này, thoáng một cái mà đã hơn một tháng. Mấy hôm trước, bất ngờ, đêm đã khuya, chúng tôi nghe vọng trong gió tiếng di chuyển của một đoàn “công voa”, cách trại chúng tôi khoảng nửa cây số, đến và đi trong vòng mấy tiếng đồng hồ. Chúng tôi đều hoang mang không biết đây là dấu hiệu gì. Vài hôm sau, khi đi ngang các trại khác, dừng lại hỏi vội nhau mấy câu thì các bạn ấy nói hình như họ chuyển một trại giam nữ quân nhân đi nơi khác. Hình như trại này không nhiều nữ tù cho nên xe đến và đi chỉ trong vòng mấy tiếng đồng hồ. Lúc đó, chúng tôi mới biết là ở trong khu vực này, không chỉ có trại giam nam tù nhân chúng tôi, mà cũng đã từng giam giữ nữ quân nhân của VNCH. Bây giờ không biết họ đã đưa những người này đi đâu. Lúc đó, chúng tôi chưa hề biết là trong chính sách giam giữ tù cải tạo, thỉnh thoảng họ lại phân chia tù ra thành những nhóm khác nhau, mang đi chỗ khác. Không biết là đi tốt hay “được” ở lại thì tốt hơn?</p>



<p>Chúng tôi vẫn phải tiếp tục cuộc sống lay lắt như thế này. Vẫn đi lao động để đạt được chỉ tiêu của “trên” đưa ra. Vẫn tu sửa chỗ ăn, chỗ ở, nhưng vẫn thầm hiểu là sẽ có ngày bị chuyển đi nơi khác. Định mệnh sẽ đưa đẩy mỗi người chúng tôi đến đâu đây?</p>



<p>Chuyện gì đến đã phải đến. Đêm hôm đo, lúc anh em chúng tôi đang ngủ vùi, mệt mỏi vì đã phải cuốc đất, đánh luống trồng bắp suốt ngày. Khoảng hai giờ sáng, họ đánh kẻng ầm ỹ, kêu tất cả chúng tôi thức dậy. Đã có một số đông vệ binh, gườm súng AK 47 đứng gác quanh trại. Một vài ông cán bộ vào trại, bắc loa cầm tay, ra lệnh tất cả chúng tôi phải thức dậy, nhanh chóng thu dọn sắp xếp đồ đạc cá nhân gọn gàng để chuẩn bị được đưa đến một nơi khác, có điều kiện thuận lợi hơn để “học tập”. (Sic.) Ông cho biết phải mang tất cả đồ đạc cá nhân, không để lại bất cứ thứ gì. Tất cả những con dao dùng hàng ngày phải đem nộp cho trại. Ai vi phạm sẽ bị trừng phạt nặng.</p>



<p>Một số những con dao chúng tôi tự chế trong những ngày qua được xếp thành một đống nhỏ trước mặt cán bộ.</p>



<p>Sau khi chúng tôi quơ vội tất cả những thứ vặt vãnh của riêng mình, chúng tôi lại được lệnh phải phụ nhau khiêng bếp, chảo cùng các dụng cụ khác như búa, cuốc xẻng&#8230;</p>



<p>Lúc đó chúng tôi mới để ý là cũng đã có một đoàn xe Molotova đợi lặng lẽ từ hồi nào, ở ngoài cổng trại. Những người bạn thân nhau thì cố dắt díu nhau để có thể cùng lên một xe, may ra thì cùng đến chỗ mới với nhau.</p>



<p>Chuyện đã không xảy ra như ý chúng tôi muốn. Họ cầm theo cả hai danh sách dài. Họ chia sân tập trung thành hai bên. Họ đọc từng danh sách. Ông cán bộ nói:</p>



<p>&#8211; Các anh có tên trong danh sách thứ nhất thì xắp hàng bên này. Các anh được đọc tên trong danh sách thứ hai thì đứng bên này.</p>



<p>Chúng tôi đau khổ nhìn nhau, cầu mong mình có tên trong cùng một danh sách!</p>



<p>Sau khi nhóm chúng tôi (vẫn 4 thằng, Linh, Công, Hải và tôi) được gọi tên và được đứng cùng một bên thì mới thở phào. Chúng tôi não nề leo lên xe. Công và tôi thì thầm dặn nhau như lần trước. Nhìn xuống thì thấy những người đứng bên kia được phép tan hàng, dọn vào nhà. Có lẽ mọi người chúng tôi đều tự hỏi, không biết đi tốt hơn – hay được ở lại tốt hơn? Xe bắt đầu chuyển bánh. Chúng tôi, kẻ ở, người đi, ngẹn ngào vẫy tay chào nhau và thầm chúc nhau may mắn.</p>



<p>Linh và Hải mò tìm tay tôi trong bóng tối như muốn an ủi nhau. Công ngồi bên kia xe, chỉ biết gật đầu nhẹ, ra cái điều thông cảm.</p>



<p>Cũng như cuộc hành trình trước, cách nay hơn một tháng, giã từ Sài Gòn về Trảng Lớn, thỉnh thoảng chúng tôi lại lén vạch tấm bạt phủ sau xe để được hít thở một chút không khí trong lành và cũng để định hướng xem họ chở mình đi đâu. Cứ thế mà truyền tai nhau tên của những địa danh vừa đi qua. Dần dần thì chúng tôi biết họ chở chúng tôi về hướng Long Khánh. Các anh ngày xưa đã từng phục vụ những đơn vị đóng quân ở gần đây đều tỏ ra am tường địa hình, địa vật. Không biết rồi để làm gì? Nhưng chắc chắn một điều là các anh tiên đoán giờ đến nơi gần đúng. Chúng tôi xuất phát từ Trảng Lớn lúc 3 giờ sáng. Các anh bạn này nói:</p>



<p>&#8211; Nếu đúng là họ chở mình đi Long Khánh, thì với khoảng cách hơn 150 cây số, mình sẽ đến đó lúc 8 giờ sáng.</p>



<p>Quả thực, chúng tôi đến “trại” mới ở Long Khánh vào lúc gần 9 giờ sáng. &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</p>



<p>Trời đã sáng bạch nhưng chưa thấy nóng. Đây có lẽ là khu gia binh của một đơn vị Thiết Giáp cũ. Ban quản giáo đã đến đây từ trước. Họ đã cho dựng lên một cổng vào khu trại và có một trạm gác. Ngay bên hông cổng trại là một dãy nhà dành cho cán bộ và vệ binh. Có lẽ họ đã về đây đóng quân lừ lâu. Chúng tôi đã thấy một số chuồng gà và mấy con gà đang bươi tìm thức ăn. Mấy con gà này có vẻ vô tư và đang hưởng sự tự do của chúng. Chúng tôi thấy họ đã phơi quần áo trước cửa nhà. Lòng chúng tôi đau quặn khi thấy một vài cái quần lót, quần đùi của chúng may bằng vải “cờ vàng, ba sọc đỏ”.</p>



<p>Chúng đưa chúng tôi vào sâu bên trong trại. Các căn nhà cho gia đình binh sĩ lúc này gần như tan nát do ảnh hưởng của các trận giao chiến trong vùng vào thời điểm cuối tháng tư. Các mái tôn thì như tổ ong, tường thì lỗ chỗ vết đạn. Cũng may là các bức tường vẫn còn đứng được. Không biết trước chúng tôi, có người ở trong cư xá này không mà đi lượm lặt, nhặt nhãnh mãi vẫn không tìm được cái nồi niêu xoong chảo hay bát đĩa, dụng cụ nào bỏ lại hết. Chúng tôi vào những căn nhà đó và cứ 12 người thì được chiếm một căn nhà. Cán bộ cho chúng tôi hai ngày để “ổn định” chỗ ăn ở. Chúng tôi vừa quét dọn, vừa tiếp tục dáo dác nhìn xem có cái gì có thể còn dùng được thì lượm làm của riêng. Một thanh sắt sau lưng “ba lô” thì trở thành vô cùng quý giá vì sẽ được rèn lại thành con dao nhỏ. Chúng tôi nhặt nhạnh gỗ vụn và ván vụn để ghép lại thành giường ngủ. Khi cán bộ trở lại, họ không cho chúng tôi ngủ riêng trên các cái giường tự đóng mà phải đóng chung nhau thành một tấm phản lớn, trên đó 12 mạng ngủ với nhau. Kết quả là tấm phản được đóng dọc theo chiều dài của căn nhà, chúng tôi chia nhau diện tích chỗ ngủ. Mỗi người chỉ còn được khoảng nửa thước. Những đêm đầu, vừa khó ngủ, vừa thở nặng nhọc sau một ngày đi vơ vét gỗ tạp lỉnh kỉnh, một anh quay lưng sang phải – là mấy anh bên cạnh cũng phải trở mình qua bên phải theo vì không muốn hít hơi thở của nhau!</p>



<p>Trên các cột nhà của chúng tôi (và cả trong “hội trường”) trại có cho gắn một cái loa nhỏ để thông báo kịp thời những chỉ thị mới của trại. Một hôm, chúng tôi nghe thấy tiếng gõ “cộc cộc” trên loa, ra lệnh cho một cải tạo viên có tên Nguyễn Văn Nghỉ mang đồ đạc lên trình diện trại để được về đoàn tụ! Không ai trong chúng tôi dám tin đây là sự thật. Anh em trong tổ muốn an ủi anh này, “chắc không có gì quan trọng đâu”, nhưng Nghỉ này có vẻ rất bình tĩnh. Anh lặng lẽ cuốn gói đồ đạc. Những thứ cảm thấy không cần mang về “làm kỷ niệm”, anh chia lại cho những người ở lại. Anh chào từ biệt chúng tôi và lên trình diện trại. Từ hôm đó, chúng tôi không thấy anh nữa. Nếu thật sự anh Nghỉ đã được thả cho về, thì anh này là người được thả ra sớm nhất. Từ ngày vào trình diện đến nay chỉ mới có hơn ba tháng! Về sau, hình như anh Nghỉ có viết thư vào trại cho người bạn, cho biết là anh có người cha tập kết từ năm 54, nay đã là một sĩ quan cao cấp, bảo lãnh cho anh về sớm.</p>



<p>Mấy hôm sau, tình cờ một cải tạo viên trong chúng tôi, trước đây phục vụ trong ngành truyền tin, được trại cho loa gọi lên để chạy giây lại cho một số phòng trên khu doanh trại của cán bộ. Khi trở về, anh hết hồn kể lại cho chúng tôi là những cái loa này chạy hai chiều, có nghĩa là cái loa này dùng để phát thanh nhưng cũng có thể thâu thanh. Chúng tôi ai cũng toát mồ hôi vì có những lúc vô tình, đứng gần, chửi xấu chế độ, có khi ở trên đó, họ đã nghe được cả? Từ đó trở đi, thỉnh thoảng chúng tôi cố tình đứng gần loa, làm bộ khen đường lối của “cách mạng” và khuyến khích nhau yên tâm học tập. Có một vài anh, bệnh phù thũng vẫn chưa khỏi, trở thành lở loét, đứng cạnh loa, vừa gãi, vừa hát: “Vùng lên, nhân dân Việt Nam oai hùng, vùng lên&#8230;”</p>



<p>Trại bắt đầu phát cho chúng tôi mỗi người một bộ quần áo tù, loại mỏng như quần áo ngủ ở nhà, có sọc màu xanh và trắng. Tôi chưa bao giờ khoác bộ quần áo này lên người!</p>



<p>Chúng tôi cũng tự tổ chức thành tổ, đội, và &#8230; “bếp”! Những cái chảo to mà trại Trảng Lớn cho vác theo, bây giờ lại được trưng dụng để nấu ăn, uống. Trại cũng cho gọi chúng tôi lên gánh gạo, muối (lại muối hột!), bí rợ hay bí đỏ và cá khô về làm thức ăn. Phần trước, tôi có nói về cái loại muối hột đầy đất cát rồi, phải hòa trong nước, đợi cặn lóng xuống, lấy nước trong ở phần trên, nấu lại mới có muối ăn được. Bây giờ phải nói về cái-gọi-là “cá khô”: Những con cá khô này, hồi trước, có lẽ cũng không “nỡ” cho chó ăn! Gọi là “khô” nhưng tất cả đều ẩm ướt, mục rữa và rất nhiều dòi! Những con dòi này có lẽ cũng quen bị quăng, quật nên chúng vẫn thản nhiên bám lấy miếng mồi và chăm chỉ gặm! Chỉ có những trái bí rợ là cứng như đá, không bị bể, không hề hấn gì với thời gian. Chủ vựa bí nào trúng mánh, bán được cho bộ đội mẻ bí này còn sót lại từ năm ngoái, hẳn họ phải ăn mừng. Những trái bí này cứng đến nỗi chúng tôi phải liều lấy búa tạ đập và sau đó, nghiến răng nghiến lợi gọt vỏ. Khi nấu “canh” phải cho bí vào hầm trước. Của đáng tội, nói vậy chứ trong hoàn cảnh này, canh bí cũng ngon thật! Ở Trảng Lớn, ăn canh bắp cải với mì khô mãi cũng chán ngấy rồi!</p>



<p>Chúng tôi cũng được dắt ra ngoài khu gia binh để canh tác. Chỗ thì trồng rau lang, chỗ thì gieo đậu phọng, chỗ khác thì trồng bắp, v&#8230;v&#8230;Tổ nào không bị dắt ra ngoài canh tác thì lo nhặt những mảnh xi măng lót cho đường đi hoặc sàn nhà, sàn hội trường.</p>



<p>Một ngày khoảng giữa tháng Chín (1975) khi chúng tôi ở trong tù đã được 4 tháng. Không biết các bạn tù của chúng tôi đã nhặt được tin đồn ở đâu là nhà nước sắp đổi tiền! Trại cho tập trung giải thích là chuyện này hoàn toàn không có (!). Chúng tôi cũng không mang tiền theo nhiều cho nên cũng không quan tâm. Chuyện này đi vào quên lãng.</p>



<p>Một buổi sáng sớm, loa lại phát thanh, ra lệnh cho chúng tôi tập trung ngoài sân trước cửa mỗi gian nhà chúng tôi ở. Chúng tôi lục tục kéo nhau ra, đang dò hỏi nhau xem có chuyện gì. Không ai biết.</p>



<p>Một lát sau, một số cán bộ vác bao vải đến, chia nhau ra thành từng toán. Họ ra lệnh chúng tôi vào nhà, mang hết tiền, vàng, đồng hồ ra sân. Chúng tôi trở vào làm theo lệnh. Các cán bộ ngồi xuống, lấy giấy ghi biên nhận, đã nhận của cải tạo viên tên gì, những món đồ gì, nói rằng: “Chúng tôi chỉ tạm giữ cho các anh, khi nào được về đoàn tụ với gia đình thì chúng tôi sẽ trả lại!”. Riêng về tiền mặt thì “Các anh được đổi tối đa 100 ngàn tiền cũ lấy 200 đồng tiền Cách Mạng”. Thế là những cải chính trấn an chúng tôi mấy hôm trước, bây giờ thành sự thực! Chúng tôi đi cải tạo, đâu có mang nhiều tiền theo nên chỉ bị lột hết dây chuyền, đồng hồ, nhẫn và cuối cùng, với số tiền ít ỏi mang theo, chúng tôi được cầm mấy đồng tiền mới của “Cách Mạng”. Những đồng tiền mới này có in những cá hình mà chúng tôi chỉ muốn “tiêu” đi cho khuất mắt!</p>



<p>Về đây, trại chỉ cho chúng tôi 50 gram gạo mỗi ngày, mỗi đầu người, thay vì 70 gram theo tiêu chuẩn. Các cán bộ cho biết là “về đây, các anh không phải đi “nao” động xa nên “trên” đã quyết định giảm tiêu chuẩn ăn hàng ngày”. (Sic.) (Các ông không nói, cứ ăn bớt của chúng tôi, chúng tôi cũng chẳng biết đấy vào đâu!)</p>



<p>Theo tiêu chuẩn ăn mới, chúng tôi không có đủ gạo nấu cơm nên buổi sáng, chúng tôi được mấy muỗng cháo cầm hơi, đi làm. Buổi chiều về, chưa ăn cơm thì thấy buồn, ăn cơm rồi thấy buồn hơn&#8230; vì chưa ăn đã hết!</p>



<p>Những ngày đầu phải làm quen với tiêu chuẩn ăn tiết kiệm này, nhiều người khỏe mạnh trong chúng tôi đang làm thì ngã vật – vì chỉ ăn cháo, vừa đói, vừa phải đi đái nhiều quá, mất nước trong người!</p>



<p>Được cái là hồi này, họ không còn gạo hẩm để phát cho chúng tôi ăn nữa. Gạo mới, ăn vẫn ngọt hơn. Chúng tôi đều cùng áp dụng trường phái Oshawa, nhai cơm thật chậm, thật kỹ, và “uống” cơm chứ không phải ăn cơm! Có như thế thì ăn xong mới không “buồn” những nỗi buồn không tên!</p>



<p>Thỉnh thoảng, vài cán bộ “khung” cũng xuống thăm anh em chúng tôi. Các ông này rất lấy làm lý thú, kể cho chúng tôi thành tích “đánh bại Đế Quốc Mỹ” cho chúng tôi nghe. Ông say sưa kể về “chiến sĩ lái” – anh hùng không gian Phạm Tuân – lúc đó, ông lái chiếc Mig của Liên Xô, bay lên trời, tìm một đám mây đen lớn, chui vào đó, tắt máy, ẩn nấp, đợi máy bay B-52 của Mỹ bay ngang qua, lúc đó ông mới mở máy, bay vọt ra. B-52 Mỹ trở tay không kịp, trúng một hỏa tiễn của ông, rớt xuống hồ Trúc Bạch ở Hà Nội! (Tôi không biết máy bay Mig của bác Phạm Tuân này có thể lên được bao nhiêu “feet” (bộ Anh) chứ máy bay B-52 của Mỹ thường bay ở cao độ 30 ngàn feet, Mig của ông làm sao leo lên tới độ cao đó được?!)</p>



<p>Chúng tôi chỉ biết làm bộ tròn xoe mắt, khen: “tài”&#8230; thật!</p>



<p>Như đã nói ở trên, đây có lẽ là khu gia binh cũ nên thực ra cũng gần với dân chúng sống ở bên ngoài. Từ từ rồi dân cũng nhận ra đây là một trại tù. Họ kháo với nhau và tin tức từ đó lan về tới Sài Gòn. Thỉnh thoảng, chúng tôi ngó ra ngoài cổng, thấy mấy bà – có lẽ là mẹ hoặc vợ sĩ quan đi trình diện học tập đã mấy tháng mà chưa có tin tức gì – tụ tập ở ngoài, năn nỉ, ăn vạ, trước cổng trại, đòi thăm chồng con. Mấy tên vệ binh lúng túng, không biết trả lời thế nào. – Các bà biết tụi mày còn non cơ lắm! Cho bà thăm chồng bà đi!</p>



<p>Dĩ nhiên chúng nhất quyết chối, nói: “Đây là doanh trại Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, không có tù nào hết”! Tối rồi, các bà cũng phải bỏ cuộc, ra về.</p>



<p>Ở trong chúng tôi, không biết mấy anh có thấp thoáng nhìn thấy vợ con không mà ôm mặt khóc tức tưởi.</p>



<p>Độc giả không thể nào tin nổi là chúng tôi tự nhiên biến thành những võ sĩ Nhật Bản, đi guốc hết cả đám! Giày dép mà chúng tôi mang đi mấy tháng trước bây giờ rách bươm hết rồi. Chúng tôi kiếm gỗ, đẽo thành guốc, lấy lốp cao su nhặt được, chia nhau ra làm quai. Đi bền ra phết.</p>



<p>Trong số các anh em của tổ 1 ở gian bên cạnh tổ 2 của tôi, có anh bạn tên là TTT, trước đây làm việc trong Nha Báo Chí, Phủ Tổng Thống. Một hôm anh được loa phóng thanh gọi lên gặp cán bộ. Khi lên đến nơi, cán bộ đưa một lá thư ra và hỏi anh:</p>



<p>&#8211; Đây có phải thư của vợ anh không? Anh T nhận là đúng. Vợ anh là nghệ sĩ KC ở Sài Gòn, viết trong thư là “Anh cứ yên trí học tập, em đã nói với chú Trần Văn Trà và chú Thanh Nghị, các chú ấy sẽ bảo lãnh cho anh được về sớm.”</p>



<p>Cán bộ hỏi thêm:</p>



<p>&#8211; Vợ anh là ai mà quen biết với hai người này? Có thật bà ấy nhờ hai người này bảo lãnh anh không?</p>



<p>Anh T trả lời:</p>



<p>&#8211; Đây đúng là vợ tôi, nhưng tôi không biết có thật bà ấy quen họ không?</p>



<p>Cán bộ cho anh cầm thư về, không nói gì thêm. (Chỉ có tụi này mới làm cái trò kiểm duyệt thư đến và thư về nhà như thế này, thật trơ trẽn, không biết ngượng! Theo tôi nhớ, lúc ấy Trần Văn Trà là chủ tịch Ủy Ban Quân Quản thành phố Sài Gòn, còn Thanh Nghị là bộ trưởng Bộ Ngoại Giao).</p>



<p>Về trại, anh T cũng thành thật kể lại câu chuyện. Từ đó, thỉnh thoảng chúng tôi lại hỏi anh:</p>



<p>&#8211; Có thật là nghệ sĩ KC quen hai ông này và gửi gấm anh không? Có bao giờ bà ấy rủ anh vào “bưng” tiếp xúc với họ không?</p>



<p>Anh T trả lời là thực lòng, anh ấy không biết vợ anh là cán bộ vc nằm vùng. Anh cũng khẳng định là chưa bao giờ anh ấy cùng vào “bưng” với vợ.</p>



<p>Ba tuần sau, TTT được gọi lên, cho về!</p>



<p>Chúng tôi được lệnh phá các bức tường của mấy căn nhà liền nhau, chỉ giữ mái và cột, kèo, biến đó thành một cái “hội trường” để chuẩn bị “đi vào học tập”. Chúng tôi cũng khấp khởi mừng thầm: Hay là họ đã thay đổi chính sách, cho chúng tôi học một số lý thuyết cho có lệ, rồi cho về?</p>



<p>Hội trường dĩ nhiên không có bàn ghế. Chúng tôi lại phải đi “săn” gỗ để tự đóng cho mình cái ghế thấp thấp, như ghế của các bà bán cá trong các chợ. Được lệnh tập trung lên hội trường là chúng tôi xỏ đôi guốc vào, xách theo cái ghế, tự động xếp hàng ngay ngắn, ngồi cạnh nhau, người cao, người thấp.</p>



<p>Một hôm, có ba cán bộ, có lẽ ở nơi khác đến, cùng với ông thủ trưởng của trại chúng tôi, kéo nhau vào hội trường. Ông thủ trưởng cầm một mảnh giấy, hỏi:</p>



<p>&#8211; Anh Nguyễn Văn Hảo đâu? Hảo đứng dậy trả lời:</p>



<p>&#8211; Thưa cán bộ, tôi là Nguyễn Văn Hảo. Ông thủ trưởng ôn tồn:</p>



<p>&#8211; Tôi đã gọi anh lên, nói riêng với anh nhiều lần là không được nói xấu cách mạng. Sao anh không nghe lời, hãy còn ngoan cố? Trong thư viết về cho gia đình, đáng lẽ anh chỉ được động viên gia đình sống cho tốt. Ở đây, anh cũng phải học tập tốt để mau chóng trở về. Trong thư, anh nói về những con đười ươi, những con khỉ đột của thời đại mới. Tôi biết anh đang nói về chúng tôi: “Qua quá trình lao động, khỉ biến thành con người”.</p>



<p>Hảo tái mặt vì đúng như vậy, ông thủ trưởng có nói riêng với anh là những chữ anh dùng trong thư không thích hợp nhưng chưa phạt. Hôm nay có cán bộ ở trên xuống, ông không làm ngơ cho anh được. (Ông thủ trưởng này thực ra, cũng là người tốt. Ông có gọi Nguyễn Văn Hảo lên giải thích đường lối của “cách mạng. Nội dung các thư của Hảo không phù hợp, cần phải sửa đổi. Nhưng Hảo vẫn giữ cách viết cũ. Dĩ nhiên, những thư này chưa bao giờ được chuyển đi).</p>



<p>Ông thủ trưởng hỏi:</p>



<p>&#8211; Anh Hảo có muốn nói gì không? Hảo giữ im lặng vì biết nói gì bây giờ cũng sẽ bị trừng phạt, không tránh nổi! Trước khi kết thúc, ông thủ trưởng hỏi:</p>



<p>&#8211; Trong các anh, có ai muốn phát biểu gì không?</p>



<p>Phía gần cuối hội trường, một người tên là Huyến, giáo chức biệt phái, giơ tay, đứng lên nói:</p>



<p>&#8211; Xin tòa án nhân dân trừng phạt tội anh này thích đáng. Tôi đề xuất án tử hình.</p>



<p>Chúng tôi choáng váng. Ông thủ trưởng có lẽ cũng giật mình. Ông không có ý định trừng phạt anh Hảo này đến như vậy! Ông ra lệnh giải tán, không nói thêm tiếng nào, chỉ hất hàm ra lệnh cho hai anh vệ binh.</p>



<p>Hai vệ binh kè hai bên Hảo, đưa lên khu trại cán bộ, nhốt anh vào cái “connex” bằng tôn. Mỗi bữa, chúng tôi thay phiên nhau, đưa cơm vào cho Hảo qua kẽ hở duy nhất, chỉ vừa một bàn tay chui qua. Thỉnh thoảng, chúng tôi có lén nhét một viên thuốc vào dưới cơm để ở trong đó, anh tự chữa bệnh. Đêm thì lạnh, ngày thì nóng, Nguyễn Văn Hảo rên, la, hét trong đó nhưng không ai dám đến giúp anh.</p>



<p>Anh chàng tên Huyến này dáng người to, khỏe. Không biết anh này nhặt được ở đâu mà suốt năm, suốt tháng, anh luôn luôn đội trên đầu cái nón nhựa, loại nón lót bên trong nón sắt của lính khi ra trận.</p>



<p>Một lần đi ra ngoài doanh trại để làm rẫy, anh chàng Bích “Kiến Càng” gọi Huyến lại gần và nói:</p>



<p>&#8211; Hôm nay, tao sẽ đánh cho mày một trận để cho mày chừa cái tội bán đứng anh em. Vừa nói, Bích vừa đập trên đầu Huyến một thanh củi. (Bích thừa biết rằng Huyến đã đội nón nhựa, có lãnh một thanh củi cũng không sao). Một vài anh em khác cũng mang mối hận này sẵn, hùa nhau vào đánh “hôi”, Huyến nhờ cái nón nhựa trên đầu, không đến nỗi bị thương nhưng cũng mềm đòn! Bích nói:</p>



<p>&#8211; Nếu mày có gan lên báo cáo trại, lần sau, tao sẽ đánh mày chết luôn rồi tới đâu thì tới.</p>



<p>Quả nhiên, đợi mãi mà không thấy thủ trưởng ra lệnh tập họp để chửi rủa gì hết. Anh chàng Bích được chúng tôi tặng cái tên “Bích kiến càng” vì hồi trước, anh đã từng dự thi các cuộc thi lực sĩ đẹp. Sau bao nhiêu năm tháng ăn uống kham khổ mà các bắp thịt của anh vẫn cuồn cuộn, tay chân khuỳnh khoàng, oai vệ.</p>



<p>Chừng hai tuần sau, ông thủ trưởng cho gọi hai người chúng tôi lên dìu Hảo về trại. Ở trong tối quá lâu, ăn uống không đủ, lại không vận động gì, hai chân của anh này không đứng được nữa. Chúng tôi phải dìu anh về. Mấy ngày sau, Hảo tương đối khỏe lại, kể chúng tôi về những đòn thù mà anh phải chịu. Những lần anh rên la từ phía đó, không phải vì trong connex quá lạnh, mà vì bị lôi ra đánh! Lúc này Hảo cũng cho chúng tôi biết là tên Huyến này vốn ở cùng xóm với Hảo, ở trại (Công Giáo) An Lạc, Ngã Ba Ông Tạ và đã từng không ưa nhau!</p>



<p>Từ đó, chúng tôi gọi đùa anh chàng này là “tiến sĩ” Nguyễn Văn Hảo. Hảo nhỏ con, rất hiền lành và vui vẻ. Cũng từ đó, thư anh viết về nhà, không còn nói về những con đười ươi nữa! (Không biết thư có được chuyển đi hay không?)</p>



<p>Mùa Giáng Sinh năm đó là mùa Giáng Sinh đầu tiên chúng tôi xa nhà. Chúng tôi lên xin trại cho phép chúng tôi được hát một bài hát của “Liên Xô”. Trại đồng ý. Một anh lấy vài củ khoai gọt thành hình tượng Thánh Gia, có Đức Mẹ, Thánh Giuse, và Chúa Hài Đồng. Đêm đó, chúng tôi cùng hát bài Đêm Thánh Vô Cùng trong nước mắt.</p>



<p>Mùa đó, không hiểu tại sao Long Khánh trở lạnh dữ vậy? Các anh bạn từng đóng quân ở vùng này cũng đồng ý như vậy. May quá, đúng vào mùa lạnh đó, trại kiếm được ở đâu ra những chiếc võng bằng vải dầy, màu xanh, loại may quần “Jean” và phát cho chúng tôi. Nhờ vậy mà chúng tôi có vải lót nằm để ngăn luồng gió lạnh lùa dưới lưng. Sau khi nhận lãnh miếng vải võng để lót nằm cho đỡ lạnh, chúng tôi lại cám ơn thời tiết lạnh này vì nhờ đó mà cái mùi xú uế từ phía nhà xí công cộng bớt nồng nặc đi!</p>



<p>Cho đến bây giờ, chúng tôi đã bị bắt đi xa gia đình được nửa năm. Chúng tôi chưa thấy nói về vấn đề thăm nuôi. Ai cũng bồn chồn, mong ngóng. Thư cũng chỉ mới được viết có vài cái. Nội dung thư đọc chán chết, vì theo lệnh của trại, mọi người đều có bổn phận “động viên” lẫn nhau. Ít ra thì đây cũng là niềm an ủi vì gia đình biết chúng tôi còn sống.</p>



<p>Cứ sống vô vị như thế mà cuối cùng, đúng một năm, họ cho thăm nuôi. Hầu hết, khi viết thư về, anh nào cũng chỉ nhắn gia đình mang cho những thứ lặt vặt, không đáng tiền như bột gạo lức (để chữa bệnh phù thũng), mắm ruốc, tôm khô, muối mè, mắm khô quẹt (vừa rẻ tiền, vừa dễ ăn cơm), một vài loại thuốc tây thông thường và giấy, bút, phong bì. Có người xin thêm quần áo lạnh, v&#8230;v&#8230;</p>



<p>Lần đầu tiên được gặp nhau, hầu như không ai nói được gì nhiều, chỉ hỏi thăm con cái và các người khác trong gia đình. Không ai cầm được nước mắt. Có một ông cán bộ ngồi giữa (“làm chứng” cho những câu trao đổi, động viên nhau) thì ai nói được gì bây giờ hả trời? Lại còn mấy anh vệ binh cầm súng AK 47 đi dạo ngoài sân nữa chứ!</p>



<p>Thế rồi cũng đến lượt tôi được thăm nuôi. Vừa nhìn thấy tôi là vợ tôi đã khóc. Tôi cũng rưng rưng lệ, chưa nói được gì. Vợ tôi đóng đúng vở kịch của con người “Xã Hội Chủ Nghĩa”, ăn mặc nghèo nàn, chân tay đen xạm với đôi guốc sứt mẻ lung tung! Vợ tôi lặng lẽ lôi trong bị cói ra những món “quà” lỉnh kỉnh, nghèo nàn, đúng theo “yêu cầu” của nhà nước. Lần đó, vì là lần đầu tiên được đi thăm chồng, vợ tôi chưa cho hai con đi theo. Mặc dù không nói được nhiều với nhau nhưng chỉ nhìn nhau qua màn lệ mỏng, tình yêu của vợ chồng trẻ lẫn nỗi uất hận dâng lên đầy ắp trong tâm tư chúng tôi. Chưa gì đã hết 30 phút thăm nuôi! Cán bộ đuổi vợ tôi về. Thấy chúng tôi cầm tay nhau bịn rịn, ông với tay giựt lấy cái giỏ trong tay vợ tôi nói nhỏ: “Đúng là tụi tiểu tư sản” và liếc tôi một cái.</p>



<p>Định mệnh ơi, sao khiến cho tôi ngày xưa cố nhồi nhét bao nhiêu chữ nghĩa để bây giờ thua những thằng dốt. Ngày xưa bỏ ra bao nhiêu thì giờ và công sức luyện võ, bây giờ đành phải chịu thua thằng có súng! Những thằng oắt con này, bảy thằng bám cành đu đủ không gãy, cứ thả ra, cho đấu tự do, tôi cũng chấp cả bảy đứa!</p>



<p>Ngày hôm sau, ông vào trại, gặp tôi giữa đám tù, ông mắng nhiếc tôi thậm tệ:</p>



<p>&#8211; Anh có ý nói xấu chúng tôi với vợ anh đấy hẳn? Tôi còn chưa kịp hiểu thì ông lại tiếp:</p>



<p>&#8211; Lúc ra thăm, anh không cắt tóc, cạo râu. Anh muốn nói với vợ anh là chúng tôi bắt anh “nàm” “nao” động quá sức, không còn thì giờ để cạo râu nữa hả?</p>



<p>Tôi minh oan thế nào ông cũng không chịu nghe. Ông bỏ ra về nhưng còn có vẻ hậm hực lắm. Lần đó, tôi chưa bị đánh!</p>



<p>Một chuyện nữa mà tôi phải nói trước khi quên: Đối với các anh bộ đội, có một loại thuốc có thể chữa được tất cả mọi bệnh. Khi chúng tôi đau ốm, nhờ anh tổ trực lên khai bệnh, ông “y sĩ” với tay lấy một lọ thuốc trong tủ, đổ ra cho chúng tôi mấy viên và bảo:</p>



<p>&#8211; Đây, thuốc này của ông Trung Quốc, rất tốt, cứ cầm về mà uống. Chúng tôi tìm hiểu thì được biết tên của loại thuốc này là “Xuyên Tâm Liên”. Không biết nguyên thủy, chúng dùng để chữa bệnh gì nhưng đối với chúng tôi, đây là loại thuốc duy nhất họ cho mỗi khi có ai khai bệnh, bất cứ bệnh gì. Có báo cáo rằng người bệnh vẫn chưa khỏi. Các ông y sĩ Bắc Việt bảo rằng: “Thôi thì chịu khó khắc phục vậy!” Về sau, chúng tôi đặt tên cho loại thuốc này là “KaPê Xiline” Khắc Phục ấy mà!</p>



<p>Một vài ông y tá của chế độ cũ viết trong tờ tự kiểm là đã hành nghề được cả chục năm, bị quản giáo chửi là đồ láo khoét, “nàm” y tá lâu như vậy rồi thì phải thành bác sĩ rồi chứ! Hóa ra, mấy ông “y sĩ” của trại là những người đã làm y tá khá lâu, nay được nhà nước cho trở thành y sĩ!</p>



<p>Dần dần, chúng tôi phải cố thích nghi với cuộc sống đày đọa này, đúng là “sống không bằng chết”. Người nào cũng thất thểu vì buồn, chán, vì đói, và dĩ nhiên vì Tự Do và những quyền căn bản để sống đã bị tước đoạt. Không ai có thể tưởng tượng được tương lai sẽ như thế nào.</p>



<p>Trong nhiều buổi trưa, lúc được nghỉ lao động để ăn cơm, nằm giữa ruộng, ngửa mặt lên trời ngắm nhìn những đám mây trắng bay lững lờ trên bầu trời xanh lơ, trong vắt, tôi thầm so sánh thân phận mình với những người bạn cùng lứa tuổi, giờ này có lẽ mấy đứa nó đang hưởng tràn đầy hạnh phúc, an bình,và nhất là được Tự Do &#8211; ở một xứ sở tân tiến, giàu có nào đó. Tại sao cũng những đám mây trắng lững lờ này, cũng cùng bầu trời trong vắt này mà số phận chúng tôi lại trái ngược nhau? Đời có công bằng không?</p>



<p>Một buổi trưa của một ngày tháng Sáu năm 1976, chúng tôi bất thần nghe những tiếng nổ kinh hồn. Không biết từ đâu nhưng có lẽ cũng gần. Chắc chắn đây phải là một kho đạn vì đủ loại tiếng nổ, lớn nhỏ đều có. Chúng tôi cuống cuồng chạy tìm chỗ ẩn nấp. Thực ra, trong một cái trại nhỏ xíu thế này, người chung sống với nhau lúc nhúc, chả có chỗ nào mà trốn! Người thì chui dưới gầm giường, người thì liều mạng nhảy xuống giếng. Nhiều anh sợ quá, như Đức “già”, giáo sư biệt phái về dạy học ở trường Quốc Gia Nghĩa Tử, vốn đã nhút nhát, đơ cả người, chả biết làm gì nữa. Ai kéo đi đâu thì chạy theo đó. Tiếng nổ cứ lớn dần lên, tiếng đạn nhỏ bay vút vút trong không khí. Những quả đạn pháo binh quật vụt vụt trên bầu trời, bất ngờ rớt ịch ngay cạnh chúng tôi, không nổ.</p>



<p>Tôi không thể nhớ nổi là sự việc này xảy ra trong bao lâu nhưng trong khi co rút người lại tránh đạn, tôi thầm cầu mong đây là quân của tướng Kỳ, trở lại quật ngược thế cờ, lấy lại Miền Nam cho chúng tôi.</p>



<p>Ngày hôm sau, khi hoàn hồn, chúng tôi được miễn lao động nhưng lại bị tập trung lên hội trường. Một cán bộ mỉa mai nói với chúng tôi:</p>



<p>&#8211; Chúng tôi biết các anh vui lắm vì trong “sự cố”hôm qua, không ai trong các anh bị thương nhưng một người của chúng tôi bị thiệt mạng.</p>



<p>Thực sự, chúng tôi đâu có biết chuyện này. Về sau mới được nghe là có một anh vệ binh chuẩn bị đi phép, về Bắc, vừa ló mình ra ngoài cửa xem việc gì đang xảy ra thì một viên đạn pháo bay đến, đập trúng vào ngực anh, chết tại chỗ! &nbsp;&nbsp;</p>



<p>Chỉ một vài ngày sau vụ nổ, không khí thê lương, rờn rợn vẫn còn đâu đây, vào lúc sáng sớm, chúng tôi chưa hoàn toàn tỉnh giấc thì loa lại phát thanh ầm ầm gọi chúng tôi dậy để điểm danh. Có chuyện gì nữa đây?</p>



<p>Chúng tôi tập họp trước sân, sắp hàng ngay ngắn đợi cán bộ xuống. Cán bộ và vệ binh chạy rập rập vào, vừa chạy vừa hét. “Có người trốn trại!”</p>



<p>Chúng tôi điếng hồn. Riêng tôi thì đã biết trước việc này sẽ xảy ra vì người bạn chủ trương trốn trại này nhiều lần bàn với tôi và còn muốn rủ tôi đi trốn cùng.</p>



<p>Trại điểm danh xong thì nêu tên ba người trốn trại: Người thứ nhất là Thái, bạn thân của tôi. Thái cùng sống với tôi trong một gian nhà. Thái nằm sát cạnh tôi bên trái, Linh nằm bên phải và chúng tôi hay rủ nhau đi hái rau lang, luộc rồi ăn cơm cùng nhau. Người thứ hai là Lộc, nằm cùng phản với tôi và Thái, ở cuối dãy. &nbsp;Người thứ ba là Bé. Lộc và Bé đều là phi công lái phản lực A-37 thời VNCH.</p>



<p>Khoảng một tuần sau, trại cho biết là Lộc và Bé đã bị bắn chết. Thái thì chạy thoát nhưng theo ông cán bộ, trước sau gì cũng sẽ bị bắt và phải “đền tội”!!!</p>



<p>Con mắt tôi căm tức nhìn các cán bộ và các anh vệ binh dương dương tự đắc vì thành quả của “cách mạng”. Chắc chúng nó đang nghĩ: “Chúng mày có chạy đàng trời với chúng ông”!</p>



<p>Tối hôm sau, tổ trực chúng tôi bị gọi đi lấy xác của Lộc và Bé. Họ chở chúng tôi trên xe vận tải lớn. Đến bìa rừng thì dân đã khiêng xác hai người ra để sẵn ở đó. Vì trời tối, chúng tôi nhảy xuống xe, vội vã gói xác đầy máu của hai người bạn vào hai chiếc chiếu, khiêng lên xe chạy về trại. Về sân trại, họ không cho chúng tôi khiêng hai cái xác xuống. Họ bắt chúng tôi phải “vứt” xuống sân. Hai cái xác không hồn rớt bịch xuống sân. Cũng may là sân là sân đất nện, tiếng hai cái xác rớt xuống đất không gây nên tiếng động ghê hồn như chúng tôi nghĩ (tiếng của cái sọ đập xuống đất cứng). Nhiều anh em trong chúng tôi phải cố nuốt lệ vào, không dám tỏ ra thương xót bạn mình quá mức!</p>



<p>Trừ tổ trực của tôi được loanh quanh xác của hai đứa bạn, tất cả những tổ khác đều phải ở yên trong nhà, không được đến gần chúng tôi. Các anh bạn này chỉ dám lấp ló ở cửa nhà, phóng mắt ra cố quan sát sự việc qua bóng tối. Trong gian nhà gần nhất, chúng tôi nghe thấy tiếng đọc kinh rì rào của đám Uyển, Linh, Hải, Huy, anh Mai Quang Tuyến, và anh Ninh Thế Đồng. Các bạn này đều là người theo Thiên Chúa Giáo. Giờ này, chắc họ cũng “phó mặc”, bất chấp lệnh của trại, túm tụm nhau đọc một chuỗi kinh cho Lộc và Bé.</p>



<p>Anh Đồng cũng làm gan, chạy nhanh ra đưa cho chúng tôi một lon “gô” nước ấm và một gói mì khô. Chúng tôi bẻ ra, chia nhau mì khô, nhai sống như vậy và uống nước vào cầm hơi. (Bây giờ mới thấy cái hữu ích vô song của lon sữa bột hiệu “Guigoz”. Ở trong trại, nó được chúng tôi sử dụng vào rất nhiều việc, trong này, chúng tôi gọi tắt là lon “gô”)</p>



<p>Chúng tôi được lệnh để nguyên hai cái xác đó, đợi đến sáng, cán bộ xuống sẽ cho lệnh mới. Trong đêm, chúng tôi chia nhau ra canh cho xác hai người bạn đừng bị thú vật quấy phá. Chúng tôi ngấm ngầm đọc kinh theo từng tôn giáo của mỗi người để cầu nguyện cho Lộc và Bé được cứu rỗi và sớm được siêu thoát.</p>



<p>Sáng hôm sau, khi làm nghi thức tẩm liệm cuối cùng cho hai người bạn, chúng tôi giật bắn người vì bây giờ có ánh sáng mới nhìn rõ: mặt của Lộc bị sưng vù, hai bên má bạnh ra, hàm răng nghiến chặt, mắt trợn trừng, biểu lộ sự uất ức tột cùng. Mặt của Bé thì chỉ như đang ngủ yên. Có lẽ nó bị trúng đạn, không kịp biết mình chết? Lúc còn sống, ở cùng gian nhà với chúng tôi, Lộc luôn lạc quan, vui vẻ. Hàm răng của hắn to, khỏe và trắng muốt. Chúng tôi cứ chọc ghẹo hắn là: “mai mốt được tha cho về, mày quảng cáo cho hãng kem đánh răng Hynos là đủ sống!” Ngày xưa, ông Từ Hải của cụ Nguyễn Du cao to cỡ nào chúng tôi không tưởng tượng nổi, nhưng vai của Lộc nở nang, thân hình cao lớn, vạm vỡ. Chúng tôi không dám mở chiếc chiếu ra để xem hai đứa nó lãnh bao nhiêu phát đạn và bị trúng những chỗ nào!</p>



<p>Có lẽ Lộc bị bắn nhưng chưa chết ngay và trong cái cảm tưởng mình bị bắn và sắp chết, cái lạnh của sự chết từ từ chuyển từ dưới chân, lên đùi, lên bụng, ngực, và trong nỗi đau tột cùng ấy, có lẽ Lộc đã nghiến răng nguyền rủa thằng cầm súng bắn vào hắn? Chúng tôi lúc này không còn sợ bị liên lụy nữa, cứ mặc cho nước mắt tuôn trào. Kỳ diệu thay, khi tôi vừa lâm râm khấn vái với Lộc:</p>



<p>&#8211; Lộc ơi, tao không nhớ mày theo tôn giáo nào, nhưng tao chỉ biết cầu xin mày được ra đi thanh thản, sớm được về nơi chốn bình yên vĩnh cửu, và nhớ đến tụi tao với. Khi tôi lấy nước nóng lau mặt cho nó, các bắp thịt trên mặt nó từ từ mềm ra, chúng tôi vuốt mắt và nắn lại gương mặt của nó trở lại bình thường. Lộc ơi, giờ này mày không còn những nỗi bực dọc, phiền não, không còn phải uất ức, phẫn nộ vì những bất công mày đã phải chịu đựng. Thôi, yên nghỉ nhá, tụi tao sẽ cầu nguyện cho mày.</p>



<p>Vừa lúc đó thì cán bộ trại đến nơi, thấy chúng tôi đã bó hai cái xác gọn ghẽ, cho lệnh khiêng hai cái thi thể ra ngoài bờ rào kẽm gai, đào một cái hố chôn chung hai đứa. Chúng tôi có làm một cột mốc ghi dấu, biết đâu mai kia thân nhân của Lộc và Bé, gặp duyên lành, tìm lại được nắm xương tàn của hai đứa nó?*</p>



<p>Những ngày hôm sau thì trời đất cũng như đồng cảm với tâm trạng não nề của chúng tôi. Ban ngày, trời u ám, không một ngọn gió. Ánh trăng ban đêm mang màu xanh rờn rợn. Tôi càng thấy xót thương cho hai người bạn vừa mất. Thấy thương cảm cho Thái, thằng bạn trốn trại mà mãi cho tới nay chưa thấy tin tức gì. Tôi bắc cái ghế đẩu ngồi lặng lẽ trong bóng tối, trước sân nhà. Giờ này, hơn 9 giờ đêm, ban quản giáo đã cúp điện phần trại của chúng tôi – mà có điện đi nữa, cũng chỉ có một ngọn đèn yếu ớt treo trên trần. Nhìn lên ánh trăng, tôi chợt cố hình dung lại những khuôn mặt thân thương, từ bố, mẹ, đến các em, rồi vợ con, v&#8230;v&#8230;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Thương cảm cho chính mình và những người bạn đang trong hoàn cảnh tù đày với mình. Lúc đó, mọi tin tức về cuộc sống ở bên ngoài vẫn hoàn toàn kín bưng. Chúng tôi chưa biết rằng đã bao nhiêu thân xác bị đày đọa, mang ra tận ngoài Bắc, giam trong các trại nổi tiếng tàn nhẫn, ác độc, vào đó rồi không hy vọng còn nguyên vẹn trở về – trong chốn rừng thiêng nước độc.</p>



<p>Ngước lên trời, tôi thì thầm: Trăng ơi, nói hộ lòng tôi.</p>



<p>(Còn tiếp)</p>



<p></p>



<p>*<strong>Chú thích thêm của tác giả</strong>: Tôi viết tập hồi ký này năm 2024. Không biết tôi dùng chữ “định mệnh” nhiều lần trong tập này có đúng là nó đã “vận” vào “mệnh” của tôi hay không?</p>



<p>Một ngày cuối tháng tám, tôi tham dự một sinh hoạt cộng đồng, gặp lại bác Giao Chỉ &#8211; Vũ Văn Lộc ở San Jose, Bắc Cali. Bác VV Lộc là một trong những người “bạn” (vong niên) của tôi cư ngụ ở vùng Thung Lũng Hoa Vàng này. Bác Lộc lôi tôi vào Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân/Việt Nam Cộng Hòa của bác. Bác chỉ những hàng kệ sách cùng những chồng phiên bản Video đang có ở thư viện, bác nói:</p>



<p>&#8211; Tôi biếu ông đấy, ông muốn lấy cái gì thì lấy, muốn lấy bao nhiêu cũng được.</p>



<p>Tôi xin một cuốn sách mang tên Giao Chỉ Văn Tuyển, cuốn số một của bác. Đem về nhà đọc thì tình cờ, cuốn sách này viết lại câu chuyện người hoa khôi trường Nguyễn Bá Tòng năm nào, tên là Nguyễn Thị Ngọc Di, cùng con gái đi về VN nhiều chuyến với mục đích đi tìm xác chồng/cha, nghe nói ngày xưa trốn tù và đã bị bắn chết, Người tù trong chuyện của bà Ngọc Di chính là phi công Nguyễn Văn Lộc, người mà tôi đã sụt sùi kể lại trong tập hồi ký này của tôi. Bà Ngọc Di và cô con gái, bác sĩ Nguyễn Lộc Đan Vi đã tìm được nắm xương tàn của chồng và đã đưa về Mỹ năm 2008.</p>



<p>Chỉ có một chi tiết trong câu chuyện của bà Ngọc Di kể cho bác Lộc nghe và bác ghi lại trong cuốn Giao Chỉ Văn Tuyển của bác – mà tôi muốn mạn phép đính chính dùm. Khi đó, chúng tôi: tác giả NK Dzương, cùng Nguyễn Thái, Nguyễn Văn Lộc, và Lê Văn Bé đang ở trại Long Khánh và ba đứa nó đã trốn từ trại này, không phải từ trại Long Giao như trong chuyện kể.</p>



<p><strong><a href="https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh/">Kỳ 1</a></strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nguyễn Kỳ Dzương: NHỮNG PHẦN ĐỜI CỦA ĐỊNH MỆNH (1)</title>
		<link>https://t-van.net/nguyen-ky-dzuong-nhung-phan-doi-cua-dinh-menh/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Kỳ Dzương]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 12 Aug 2024 06:35:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[hồi ký cải tạo]]></category>
		<category><![CDATA[Nguyễn Kỳ Dzương]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=73484</guid>

					<description><![CDATA[Phần Một Lúc chuẩn bị viết lại tập hồi ký này, tôi biết rằng mình thuộc loại “hybrid”, nửa xăng, nửa điện! Tôi nói như vậy là vì một nửa hồn tôi là của một quân nhân dưới thời Việt Nam Cộng Hòa, một nửa kia của một người chuyên dạy sinh ngữ, dùng vốn [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/08/HOI-KY-CAI-TAO.jpg?strip=all&w=2560"><img decoding="async" width="1002" height="613" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/08/HOI-KY-CAI-TAO.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-73498" style="width:566px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/08/HOI-KY-CAI-TAO-300x184.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2024/08/HOI-KY-CAI-TAO-768x470.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/08/HOI-KY-CAI-TAO.jpg?strip=all 1002w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><strong>Phần Một</strong></p>



<p>Lúc chuẩn bị viết lại tập hồi ký này, tôi biết rằng mình thuộc loại “hybrid”, nửa xăng, nửa điện! Tôi nói như vậy là vì một nửa hồn tôi là của một quân nhân dưới thời Việt Nam Cộng Hòa, một nửa kia của một người chuyên dạy sinh ngữ, dùng vốn liếng chữ nghĩa của mình để sinh sống.</p>



<p>Trong tập hồi ký này, tôi sẽ nói nhiều về nửa hồn con người quân nhân của tôi – mà phần lớn kể về những phần đời của định mệnh, trong đó, tôi là chứng nhân của những sự khổ đau.</p>



<p>Đã từ lâu, tôi muốn viết lại những kinh nghiệm này của cả một quãng thời gian chịu đựng đủ mọi đọa đày. Quãng thời gian này đầy những oái oăm, có lẽ nó là những mảng nối của định mệnh ghép bên nhau và đổ lên đầu những người hoàn toàn không chuẩn bị trước và cũng không có sức kháng cự, như tôi.</p>



<p>Loay hoay mãi mà vẫn không biết nên bắt đầu từ đoạn nào. Muốn viết một bài văn thì cũng phải có phần mở đề chứ! Cuốn tự truyện mà tôi sắp viết có thể sẽ có nhiều trùng hợp về kinh nghiệm sống trong giai đoạn này với rất nhiều những người “trai thời chiến” ở Miền Nam Việt Nam trước và sau năm 1975. Sự chịu đựng nào cũng là chịu đựng. Cái đau nào cũng vò xé tâm can và thân thể của nạn nhân – nhưng mỗi người có cách chịu đựng khác nhau, những cái đau cũng đưa đến những cảm giác khác nhau tùy mỗi người. Mỗi người sẽ kể cho người khác nghe về những nỗi đau này một kiểu khác nhau.</p>



<p>Tôi đợi mãi đến ngày thứ nhì (trong hai ngày) của lệnh trình diện của “Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn” mới rủ hai người bạn cùng đi. Hình như hôm ấy là ngày 26 tháng sáu, 1975. Như vậy là Miền Nam đã mất hơn một tháng rồi!</p>



<p>Sau này, đọc một số tài liệu, tôi đã có được một thống kê với những con số tiêu biểu như sau:</p>



<p><em>Ở Sài Gòn, 443,360 người ra trình diện, trong đó có 28 viên tướng, 362 đại tá, 1,806 trung tá, 3,978 thiếu tá, 39,304 sĩ quan cấp úy, 35,564 cảnh sát, 1,932 nhân viên tình báo các loại, 1,469 viên chức cao cấp trong chính quyền, 9,306 người trong các đảng phái được cách mạng coi là “phản động”. Chỉ 4,162 người phải truy bắt trong đó có một viên tướng và 281 sĩ quan cấp tá.”</em>&nbsp;(Huy Đức,&nbsp;<em>sđd</em>. tr. 37.)</p>



<p>Không biết độ chính xác của tài liệu này như thế nào, nhưng tôi chắc chắn một điều: tôi là một trong những sĩ quan cấp úy của “chế độ cũ” đi trình diện.</p>



<p>Không phải tôi muốn mô tả ngày hôm đó như một ngày thê lương. Nhưng thật ra, hôm đó trời se lạnh, hơi âm u và có vẻ như muốn mưa. Trời đang ở tháng sáu, Sài Gòn dễ mưa lắm. Khi đang sống ở Sài Gòn, tôi đã từng đọc những mẩu chuyện về tù cải tạo ngoài Bắc sau năm 1954, cũng như những câu chuyện khủng khiếp của những người tù dưới thời Mao Trạch Đông khi mới cai trị toàn cõi Hoa Lục (1949), nên linh cảm của tôi ngày hôm đó là “ra đi, không có ngày trở về” (aller sans retour) – mặc dù theo thông cáo chính thức của “nhà nước” thì sĩ quan cấp úy chỉ phải chuẩn bị mang theo mười ngày lương thực và quần áo, so với các sĩ quan cấp tá – đã đi trình diện trước chúng tôi hai mươi hôm – phải mang theo quần áo và lương thực đủ dùng cho một tháng.</p>



<p>Tôi nói với vợ tôi là nhờ bà ngoại đưa hai đứa con trai của tôi (lúc đó lên hai và lên ba tuổi) sang nhà hàng xóm chơi, đừng để tôi nhìn thấy lúc rứt áo ra đi. Hai đứa con đang trong lứa tuổi đáng yêu như vậy mà nhìn thấy trước lúc ra đi thì nỡ lòng nào mà đi cho được?</p>



<p>Vừa lúc đó, Linh và Công, hai người bạn sang nhà tôi để cùng đi trình diện với nhau. Sự có mặt của hai người bạn khiến tôi không thể tỏ ra bịn rịn với vợ tôi. Tôi chỉ còn có thể âm thầm nhìn và ghi nhớ hình ảnh của người đầu ấp tay gối với tôi vào đầu óc và hy vọng sẽ không bao giờ phai mờ trong tâm trí tôi. Vợ tôi đứng trong hàng rào thấp trước cửa nhà, nắm tay tôi mà tay nàng run rẩy và lạnh ngắt. Hai người bạn hình như cũng muốn giúp tôi có cái can đảm ra đi. Họ nói:</p>



<p>&#8211; Bịn rịn làm gì. Chỉ đi học có mười ngày thôi, về ngay đấy mà.</p>



<p>Chúng tôi đều cố tin rằng sau mười ngày, trở về làm một công dân thường trong một đất nước không chiến tranh nữa, gây dựng lại cuộc đời, rồi sẽ sống được.</p>



<p>Ba đứa chúng tôi đi xe lam đến địa điểm trình diện theo như thông báo của địa phương. Đó là trường trung học Lê Văn Duyệt ở Đa Kao. Chúng tôi đến nơi thì người vệ binh gác cổng cho biết là nơi đây đã hết chỗ, chỉ chúng tôi đến nơi trình diện chỗ khác, đó là một trường trung học ở đường Trần Hồng Quân, Chợ Lớn.</p>



<p>Cả ba đứa chúng tôi đều hoảng vì cùng mang ý định níu kéo thời gian tự do ở bên ngoài, cố tình đợi đến lúc gần hết giờ trình diện theo thông cáo của “nhà nước” – mới bước vào. Thế mà bây giờ phải đổi địa điểm, tận trong Chợ Lớn thì không biết có kịp không? Chúng tôi lại đón xe lam chạy sang chỗ mới. May quá, bác tài dường như cũng thông cảm hoàn toàn nên chở chúng tôi đến thẳng đó mà không đón thêm khách nào dọc đường.</p>



<p>Chúng tôi đến địa điểm, vào hỏi thăm thì thở phào, đây vẫn còn tiếp nhận người mới (tự chui đầu vào rọ mà mừng!). Chúng tôi được một anh vệ binh giới thiệu một anh đội trưởng, một trong những sĩ quan vào trình diện sớm hôm đó. Chúng tôi làm quen nhau và kéo nhau vào một phòng học, tìm chỗ sắp xếp đồ đạc mang theo và tìm chỗ ngủ. Anh đội trưởng tên là Hải. Anh ấy nói với chúng tôi là theo lệnh, mọi người phải sớm ổn định chỗ ngủ và mỗi người phải đóng 600 đồng để ban quản giáo đóng cho nhà thầu. Nhà thầu sẽ nấu cơm đem đến cho chúng tôi mỗi ngày. Chúng tôi không phải lo cơm nước gì cả, chỉ yên tâm mà học tập! Hải hối chúng tôi đóng tiền cho trại. Hải nói:</p>



<p>&#8211; Các anh mới vào nên chưa đóng tiền, tất cả mọi người trong này đã đóng hết rồi.</p>



<p>Chúng tôi từ chối không đóng tiền vì chúng tôi đã tự lo lấy thức ăn cho đủ 10 ngày. Hải tìm gặp anh vệ binh, trình bày sự việc. Anh vệ binh nói:</p>



<p>&#8211; Không cần biết. Đây là lệnh của “trên”.</p>



<p>Hải lại trở lại gặp chúng tôi và năn nỉ chúng tôi giúp anh chàng làm tròn bổn phận. Chúng tôi nhất quyết không đóng tiền. Tội nghiệp cho Hải, anh chàng này cứ chạy tới, chạy lui. Càng làm mạnh thì chúng tôi càng lỳ, không làm theo lệnh! Cuối cùng, chúng tôi không mất số tiền oan uổng này!</p>



<p>Khoảng 10 giờ tối, có nhiều tiếng quát tháo:</p>



<p>&#8211; Tất cả các anh ổn định chỗ ngủ. Không được làm ồn. Sáng sớm mai sẽ có cán bộ đến và sẽ bắt đầu “bước vào học tập”.</p>



<p>Giọng nói và cách truyền lệnh không giống như cách các anh này nói với chúng tôi lúc buổi chiều. Chúng tôi đều linh cảm đây không phải là việc bình thường.</p>



<p>Chúng tôi đã trải chăn chiếu, mắc mùng xong nhưng chưa ai có thể ngủ được. Ai cũng có những tâm trạng bất ổn, não nề, tụm nhau lại thì thầm những suy nghĩ của mình. Chúng tôi tìm cách an ủi nhau bằng cái lý luận: “Nhà nước ra thông cáo chính thức trên các hệ thống truyền thông như vậy, có nghĩa là các diễn đàn quốc tế của thế giới này cũng sẽ biết. Họ không thể lừa dối chúng ta. Mười ngày rồi sẽ xong thôi”!</p>



<p>Đúng 12 giờ đêm, lại cùng giọng quát tháo lúc tối:</p>



<p>&#8211; Tất cả các anh thức dậy, cuốn gói đồ đạc, chuẩn bị chuyển trại. Phải tuyệt đối giữ im lặng, không được gây một tiếng động nào.</p>



<p>Chúng tôi lén nhìn ra ngoài đường thì đã thấy một hàng dài xe vận tải nhà binh Molotova của Nga đậu lặng lẽ trong bóng tối. Hình như họ cố tình cúp điện toàn khu vực để bảo mật?</p>



<p>Chúng tôi được lệnh xắp hàng, kẻ trước người sau, cứ đủ 35 người thì tiến ra phía cổng và lặng lẽ leo lên xe. Lúc đó, Hải muốn gia nhập với nhóm 3 người chúng tôi. Tôi và Công đều là sĩ quan Quân Cảnh của Việt Nam Cộng Hòa, chúng tôi đều có một vài ngón nghề, có thể tự vệ khi cần. Hai đứa chúng tôi thì thầm với nhau: Phải cố tình làm bộ leo lên xe chậm chậm, mỗi thằng ngồi một bên, ở sau cùng, sát cạnh anh vệ binh. Ba mươi lăm người chúng tôi chỉ có thể ngồi trên sàn xe. Khi xe chuẩn bị chạy thì tấm bạt sau xe được thả xuống, trở thành bít bùng không thể nhìn ra bên ngoài. Xe chạy vòng vòng trong phố một thời gian ngắn thì bắt đầu đổi hướng, chúng tôi truyền tai nhau, cho biết xe đang chạy về phía Tây Ninh.</p>



<p>Dọc đường, thỉnh thoảng tôi lén vạch tấm bạt sau, vừa để xem tình hình bên ngoài, cũng để định hướng, và cũng để hít thở một chút không khí trong lành bên ngoài. Cứ khoảng nửa cây số thì lại thấy một người lính bộ đội ôm súng, đứng gác lặng lẽ dưới đường. Khi trước, ở Sài Gòn, tôi có xem những phim người Đức chở người Do Thái trên xe như thế này, bất ngờ xe dừng lại, lính gác nhảy xuống và bên đường lính Đức xả súng đại liên, giết chết hết tù nhân Do Thái trên xe. Tôi thì thầm với Công: “Nếu trường họp xe bất ngờ dừng lại thì tao với mày phải giết hai thằng vệ binh ngồi sau, cướp súng, nhảy xuống bắn về phía có tiếng súng bắn mình. Giết được thằng nào thì giết, rồi mình chết cũng chịu”.</p>



<p>Chuyện đã không xảy ra như chúng tôi tưởng tượng. Thỉnh thoảng, xe có dừng lại, cho từng người xuống “tưới cỏ” bên đường. Xe cứ chạy như thế đến gần sáng thì đến Trảng Lớn, Tây Ninh. Chúng tôi được lùa xuống, vào tập trung trong một doanh trại quân đội VNCH ngày xưa. Tôi không biết đó là trại của lực lương nào trước đây, chỉ thấy một cột “ăng ten” bằng sắt, rất lớn, đã bị bắn gãy đổ nằm trong khu vực (Đến đây tôi mới chợt nhớ lại là vì tôi lỳ, không chịu đóng tiền nên không bị mất toi. Mãi cho tới về sau, không hề anh vệ binh hay cán bộ nào nhắc đến chuyện này).</p>



<p>Chỉ mới trải qua một đêm mà định mệnh đã đưa chúng tôi đi quá xa. Cuộc đời chúng tôi đã hoàn toàn thay đổi, khác với tất cả những điều “chính phủ” hứa mấy ngày trước đây.</p>



<p>Chúng tôi được phát chảo, củi, gạo và mì gói để tự nấu cơm. Cái thứ gạo mà họ phát cho chúng tôi là loại gạo hẩm, có lẽ được lấy từ trong “bưng” ra, đã tích trữ ở trong đó cả mấy năm? Gạo vừa mục, vừa đầy bọ, phải sàng rất kỹ trước khi nấu. Cũng may là có vài anh “cải tạo viên” rất tháo vát, đã biết cách trộn đất sét, đắp lò cho vừa những cái chảo to (tôi chưa từng thấy bao giờ) và đã bắt tay vào việc nấu nước cho anh em. Cái chảo sau này được dùng để phục vụ tất cả mọi nhu cầu trong cuộc sống của chúng tôi: từ nấu cơm, nấu canh và nấu nước. “Tổ” nào hôm ấy được cắt đặt nấu cơm thì coi như hôm ấy no. Lý do đơn giản là sau khi phát cơm cho anh em, tổ làm bếp có quyền cạy cháy trong chảo trước khi rửa, để ăn thêm, một hình thức “cải thiện”.</p>



<p>Theo lệnh của trại, chúng tôi tự tổ chức thành những đơn vị, từ tổ, mỗi tổ 15 người, đến đội gồm 4 tổ, tức là 60 người, lên đến đơn vị lớn nhất là “Bếp” có 4 đội, tức là 240 “cải tạo viên”. Chúng tôi nghe không quen chữ Bếp và cũng không thể ngờ được là Miền Bắc, người ta ghép quân số với nhau theo từng Bếp một! Các anh em tình nguyện nấu bếp thường ngày cho anh em thì được gọi là “anh nuôi”. Trong khu trại chúng tôi ở, có lẽ phải có đến vài “bếp” vì nhìn qua các khu khác, anh em, bạn bè cũng rất đông, Chúng tôi không được tiếp xúc với nhau.</p>



<p>Chỉ khoảng một tuần sau là tất cả anh em chúng tôi đều đã thèm ngọt và thèm chất béo. Nhiều anh em như điên khùng vì thất vọng. Đợi mãi mà không thấy nói đến việc “học tập”. Mỗi ngày chỉ được cắt đặt đi làm “nao động”, tức là làm những việc dọn dẹp linh tinh, sửa chữa vớ vẩn, toàn những việc không tên!</p>



<p>Đêm thứ 10, nhiều anh em người miền Nam nằm áp tai xuống đất xem có nghe thấy tiếng đoàn xe lên đón mình về không? Chúng tôi, người Bắc di cư, đã quá biết những sự thật xảy ra ngoài Bắc sau năm ‘54 và đã tiên đoán chuyện này từ trước, cũng buồn chán nhưng không tỏ ra thất vọng gì về việc không có đoàn xe nào đến đón mình về. Đêm hôm đó, nhiều tiếng khóc ấm ức vì thất vọng và nghiệm ra rằng tất cả đã bị lừa!</p>



<p>Từ đêm đó trở đi, nhiều người thất thểu ra mặt, trông như người không hồn. Thỉnh thoảng, một vài cán bộ vào thanh tra “trại”, chúng tôi xúm lại, hỏi bao giờ chúng tôi bắt đầu “bước vào” học tập? Cán bộ tỉnh bơ:</p>



<p>&#8211; Các anh vội gì, nhà nước đã khoan hồng, không bắt các anh tội chết. Nhà nước chủ trương giáo dục qua “nao động”. Các anh cứ yên trí, cải tạo tốt, qua nao động tốt thì chúng tôi sẽ để các anh về, ai giữ các anh ở đây làm gì!!!</p>



<p>Vẫn có những người ngây thơ, hỏi cán bộ:</p>



<p>&#8211; Nếu chúng tôi học tập tốt theo như cán bộ nói thì khoảng bao lâu chúng tôi sẽ được về? Con vẹt lại tuôn ra câu học thuộc lòng:</p>



<p>&#8211; Về sớm hay muộn là tùy các anh thôi!!! Anh ta ung dung chắp tay sau đít rời khỏi trại.</p>



<p>Sau hai tuần, mọi người như đã biết chấp nhận số phận, chăm sóc lại chỗ ngủ của mình vì biết sẽ còn ở đây lâu! Oái oăm một điều là trước cổng trại (tù) của chúng tôi, họ đều chăng tấm biểu ngữ “Không có gì quý hơn Độc Lập, Tự Do”. (Sic.)</p>



<p>Có vài anh kiếm đâu ra được một ít sơn. Lúc rảnh, các anh tìm cách giết thì giờ bằng cách tự trang hoàng bức tường của căn nhà với bức họa một số gia cầm (gà, vịt, chó, mèo, v..v..) sống vui vẻ, hòa mình với con người. Một hôm, tình cờ, một cán bộ nhìn thấy. Anh cho gọi người họa sĩ đến, hỏi:</p>



<p>&#8211; Anh vẽ như thế này có ý gì? Anh xuyên tạc chúng tôi đày đọa các anh sống với chó mèo hay sao? Anh ta ra lệnh xóa ngay lập tức bức tranh đó.</p>



<p>Như tôi đã nói ở trên, mấy ngày liền ăn cơm gạo hẩm. Chán đến phát cáu nhưng chúng tôi đều không còn chọn lựa nào khác. Còn cái gọi là “canh” chỉ là một chảo nước sôi, thảy vào đó hai, ba cái bắp cải, thêm chút muối (hột), cuối cùng, vứt vào một gói mỳ gói. Cái đó gọi là canh! Hoàn toàn không có miếng thịt nào (dĩ nhiên). Cơ thể chúng tôi, người nào cũng cồn cào thèm chất béo và chất ngọt.</p>



<p>Bây giờ cũng phải nói đến “cái khoái thứ tư” của “tứ khoái”, tức là nhu cầu thiết yếu của con người. Đã có cho vào thì cũng phải thải ra. Cả một đám người đông như thế mà không có cái chỗ này thì “sống không bằng chết”.</p>



<p>Một hôm, chúng tôi “phản ảnh” lên trên, yêu cầu cho giải quyết việc (tế nhị) này.</p>



<p>Ông cán bộ gãi cằm ra vẻ suy nghĩ, sau đó ông quyết định:</p>



<p>&#8211; Thôi, các anh theo tôi. Mấy anh tổ trưởng đi theo ông. Đến gần hàng rào kẽm gai của trại, ông nói:</p>



<p>&#8211; Đây, các anh cho đào nhà xí công cộng chỗ này. Hôm nay, chỉ tiêu mỗi người đào ba thước khối đất. Chỗ đất đào lên đắp thành luống, trồng khoai “nang”. Một tổ trưởng gãi đầu:</p>



<p>&#8211; Thưa cán bộ, anh em chúng tôi không được ăn uống đầy đủ mà cuốc xẻng thì chỉ có hai cái, chỉ tiêu cán bộ ra là ba thước khối mỗi người thì khó thực hiện lắm! Ông cán bộ quát:</p>



<p>&#8211; Mỗi người có ba thước khối mà các anh kêu ca cái gì? Đây nhá, chiều này một thước, chiều này một thước, đào xuống một thước nữa, vị chi là ba thước khối, có cái gì là khó đâu?</p>



<p>&#8211; À, thưa cán bộ, như thế thì chúng tôi “nàm” được. Anh tổ trưởng thử áp dụng loại ngôn ngữ mới, anh nói chữ “nàm”, thay vì chữ “làm”. Hình như ông cán bộ không có vẻ ngạc nhiên và ông không có phản ứng gì. Chúng tôi tủm tỉm cười! Cán bộ có vẻ hài lòng, đủng đỉnh ra về. Chúng tôi chỉ đợi có thế. Miễn là họ cho sử dụng miếng đất sát hàng rào kẽm gai làm nơi “xả” thì mọi chuyện sẽ được giải quyết!</p>



<p>(Đây cũng là một trong những cái khổ của chúng tôi sau này. Trong những ngày oi bức, tự nhiên gió đổi chiều, thổi từ phía hàng rào trại vào khu chúng tôi ở thì không có chỗ nào chạy khỏi cái mùi nồng nặc đó!)</p>



<p>Như có thoáng nói ở trên, anh bạn đón chúng tôi ở Sài Gòn buổi chiều hôm chúng tôi trình diện, người năn nỉ chúng tôi đóng tiền để cho anh xong nhiệm vụ, đó là Hải, hắn tốt nghiệp khóa nhạc trưởng quân nhạc từ Mỹ về, phục vụ trong vai trò nhạc trưởng ban quân nhạc cho trường Võ Bị Đà Lạt.</p>



<p>Khi trại bắt chúng tôi phải tập một vài bài hát “cách mạng” để hát cho có “khí thế” lúc “hội thảo” buổi tối. (Chúng tôi nghĩ bụng, cơm không đủ ăn thì tinh thần đâu mà hát?) Tuy vậy, theo lệnh của trại, chúng tôi chọn bài thứ nhất để tập với nhau – trong số các mà bài hát mà trại đưa – bài “Bão nổi lên rồi”, có lời của phần đầu như sau:</p>



<p>Bão nổi lên rồi từ miền Nam quê hương thân yêu<br>Từ Trị Thiên băng qua Tây Nguyên lan tới bưng điền<br>Triệu người bừng bừng cùng Đà Nẵng với Huế chiến thắng<br>Khí thế sôi sục tràn về Sài Gòn<br>Giờ tiến công sục sôi tim muôn người&#8230;..</p>



<p>Hải nhìn bài hát, ướm giọng xướng âm xong thì tập cho chúng tôi câu đầu tiên:</p>



<p>(Hai, ba) Bão nổi (ì) lên rồi&#8230;.</p>



<p>Mấy ngày sau, vào lúc chiều, anh cán bộ sang “thăm” trại và bảo chúng tôi hát thử một khúc nhạc cách mạng xem sao. Chúng tôi cất giọng hát: Bão nổi (ì) lên rồi&#8230; Ông cán bộ ngưng chúng tôi lại, hỏi:</p>



<p>&#8211; Ai tập cho các anh bài này? Hải tái mặt:</p>



<p>&#8211; Thưa cán bộ, tôi. Ông cán bộ hỏi:</p>



<p>&#8211; Anh có biết nhạc không? Hải đáp:</p>



<p>&#8211; Dạ, tôi biết một ít. Ông cán bộ nói:</p>



<p>&#8211; Anh tập cho anh em sai rồi. Bài hát này phải hát là: Bão nổi (í) lên rồi. Chỗ này phải lên giọng mới có khí thế! Hải dạ thưa cho xong. Anh chàng biết tỏng ra là ông nhạc sĩ sáng tác ông ấy muốn hát là Bão nổi (ì) lên rồi. Thôi, tránh voi chẳng xấu mặt nào!</p>



<p>Đến đây, tôi muốn nói cái việc “hội thảo” buổi tối. Đây cũng là một trong những đòn tra tấn của cộng sản. Ngoài những tra tấn thể xác, họ còn bắt chúng tôi ngồi “kiểm điểm, xây dựng” lẫn nhau để khủng bố tinh thần. Ai cũng phải nghĩ ra được một vài khuyết điểm trong ngày, tự nhận lỗi và hứa từ nay sẽ “khắc phục”. Riết rồi chúng tôi không còn nghĩ được gì để “bịa” nữa. Một buồi tối, một ông cán bộ “tham gia” hội thảo để hướng dẫn chúng tôi “đào sâu” suy nghĩ để có thể “thành khẩn” với “cách mạng”. Bí quá, một cải tạo viên trong tổ tôi, thái độ rất thành khẩn, tự kiểm mình và nói:</p>



<p>&#8211; Thưa cán bộ, thưa anh em, hôm nay tư duy của tôi không được tốt. Tôi hãy còn “tiểu tư sản”. Hôm nay, tự nhiên tôi thèm thịt quay quá sức. Anh cán bộ mỉm cười ra về. Hôm sau, anh cho nghỉ “nao” động, tập họp để kiểm điểm. Trước đám đông chúng tôi, anh hùng hồn:</p>



<p>&#8211; Chúng tôi đã biết là không bao giờ có thể cải tạo được các anh. Các anh đã quá quen sống trong xã hội đồi trụy. Bơ thừa sữa cặn của đế quốc Mỹ quen rồi, bây giờ mới ăn uống kham khổ, thắt lưng buộc bụng ở hậu phương để yểm trợ cho tiền tuyến, có mấy ngày thôi mà đã thèm được ăn ngon trở lại! Các anh cứ liệu mà cải tạo để mau chóng trở thành người hữu ích cho xã hội (Anh này học thuộc bài thật nhưng nói không đúng lúc và không đúng chỗ. Giờ này mà còn tiền tuyến nào? Hậu phương nào?). Rõ khổ.</p>



<p>Vì ăn gạo hẩm, không còn vitamine B1 nên đến lúc này thì nhiều anh em chúng tôi bị phù thũng. Chúng tôi lên phản ảnh để xin thuốc. Cán bộ nghe báo cáo như vậy, sang thanh tra trại chúng tôi và “phán” một câu xanh rờn:</p>



<p>&#8211; Các anh ăn ở bẩn thỉu, luộm thuộm thế này thì bị phù thũng là phải rồi. Cải thiện đi cho hợp vệ sinh của xã hội “tiên tiến” mới! (?) (Xin chịu).</p>



<p>Định mệnh cũng đã đưa đẩy tôi, riêng tôi, vào cái hoàn cảnh dễ thở và cũng là cái dịp giúp anh em có thêm sức sống.</p>



<p>Một hôm, có một cán bộ vào trại chúng tôi. Ông hỏi:</p>



<p>&#8211; Trong các anh, có anh nào có tài viết chữ đẹp và vẽ giỏi? Không ai dám giơ tay. Tôi hỏi:</p>



<p>&#8211; Thưa cán bộ, cán bộ cần việc gì? Ông cán bộ nói:</p>



<p>&#8211; Chúng tôi muốn viết một hàng chữ lớn trên cổng trại. Tôi trả lời:</p>



<p>&#8211; Việc này thì tôi làm được. Tôi xin tình nguyện. Ông nói:</p>



<p>&#8211; Đi theo tôi.</p>



<p>Tôi theo ông sang khu trại dành cho cán bộ và vệ binh. Ông giới thiệu tôi với ông thủ trưởng. (Lúc ấy, người Miền Nam chúng tôi không biết chữ “thủ trưởng” này và phân vân, không biết giữa hai ông, ai lớn hơn ai). Ngay sau đó, ông thủ trưởng bảo ông cán bộ kia:</p>



<p>&#8211; Thôi được rồi, đồng chí cứ để anh này ở đây làm việc với tôi. Chú có thể về được rồi. Bây giờ thì tôi hiểu: “Thủ trưởng” lớn hơn ông kia!</p>



<p>Ông thủ trưởng có vẻ “trọng” người tài (?). Ông hỏi tôi ăn gì chưa? Tôi nói:</p>



<p>&#8211; Thưa anh, theo lệnh của trại, không được ăn sáng nên từ sáng tôi chưa có gì. (Thực ra, chúng tôi ở bên trại, không ai bảo ai, nhưng buổi tối, khi ăn phải lén nắm một nắm cơm nhỏ, dấu dưới chăn, sáng có cái mà lót bụng. Như thế mới có sức mà đi lao động chứ?)</p>



<p>Ông thủ trưởng quay vào trong, gọi một anh bếp riêng của ông ra bảo:</p>



<p>&#8211; Mày mang ra đây một hộp sữa, lấy nước nóng pha cho “họa sĩ” một chén rồi lấy cho tao một cái lương khô.</p>



<p>Anh bếp chạy vào trong, bưng ra một nồi nước sôi, một hộp sữa Quân Tiếp Vụ, mở ra, rót vào chén (cái chén sắt, có cái khoen để đeo, màu xanh lá cây mà lính việt cộng mang theo người), pha đầy cho tôi một chén sữa đặc.</p>



<p>Má ôi, chén sữa đặc đó có lẽ là chén sữa ngon nhất trong đời tôi được uống! Sau gần một tháng thèm đường muốn chết, mà bây giờ lại được uống chén sữa đặc quánh như thế này thì có lẽ còn sướng hơn lên thiên đường!</p>



<p>Tôi uống chậm chậm như để thưởng thức “vị ngọt đầu môi” của người yêu.</p>



<p>Ông thủ trưởng có vẻ hài lòng nhìn thái độ “thành khẩn” của tôi. Ông bóc thỏi lương khô đưa cho tôi bảo:</p>



<p>&#8211; Anh uống xong thì ăn thêm miếng lương khô này. Anh sẽ no đến chiều. Có no thì mới làm việc được.</p>



<p>Hôm ấy, hình như ông cũng chưa vội nên không thấy cắt đặt tôi làm việc gì. Lúc ấy cũng là xế trưa, tôi cũng sốt ruột nên hỏi ông:</p>



<p>&#8211; Thủ trưởng muốn tôi làm gì hôn nay?</p>



<p>Ông trả lời:</p>



<p>&#8211; Ừ, hay là hôm nay anh cứ về, tôi còn có việc phải đi. Sáng mai anh sang, bắt đầu làm việc cũng được.</p>



<p>Tôi vừa đi về trại mà vừa lâng lâng, không biết đây có phải là sự thật không?</p>



<p>Anh em trong trại nghe tôi kể mà không người nào tin. Người thì cho là tôi “nổ”. Người khác thì lay tôi dậy, tỉnh lại đi, mày đang mắc ảo tưởng đấy. Tôi cãi:</p>



<p>&#8211; Đây hoàn toàn là sự thật, không ảo tưởng gì hết!</p>



<p>Anh em tản ra, trở về công việc đang làm dở.</p>



<p>Sáng hôm sau, dĩ nhiên, tôi cũng đã “lủm” nắm cơm nắm xong mới đi sang trại cán bộ. Ông thủ trưởng nhìn thấy tôi, có vẻ vui mừng, hỏi:</p>



<p>&#8211; Sao, họa sĩ, ăn gì chưa? Tôi sợ đây là cái bẫy nên cũng trả lời đúng sách vở:</p>



<p>&#8211; Thưa cán bộ, tôi chưa ăn gì. Ông nói:</p>



<p>&#8211; Họa sĩ mà không ăn gì, run tay, làm sao vẽ được? Lại bổn cũ, ông quát anh bếp pha cho tôi chén sữa và cho tôi một phong bánh lương khô. Má ơi, có thật không đây? Sao ông này tốt với mình vậy? Hay là bố của ông ngày xưa ở ngoài Bắc đã từng là một họa sĩ nghèo? Chịu!</p>



<p>Ông dẫn tôi ra cổng trại, chỉ lên cao nói:</p>



<p>&#8211; Tôi muốn viết hàng chữ Doanh Trại Quân Đội Nhân Dân. Anh làm được không? Tôi trả lời:</p>



<p>&#8211; Việc này thì tôi làm được. Anh có sơn và xăng không? Cọ vẽ nữa? Ông hỏi tôi:</p>



<p>&#8211; Sơn thì có, tôi mua sẵn rồi, nhưng xăng để làm gì? Tôi nói:</p>



<p>&#8211; Phải có xăng để rửa cọ và để pha cho sơn loãng bớt ra, vẽ mới nhanh được. Ông nói:</p>



<p>&#8211; Vậy thì để tôi bảo tài xế nó hút một ít xăng trong xe cho anh. Ông không nhắc gì đến cái cọ sơn. Tôi phải tự chế bằng cách cắt một ít tóc, buộc vào một thanh tre, cũng xong</p>



<p>Có một hôm, không biết ông muốn thử tài của tôi hay có ý gì khác. Ông hỏi tôi:</p>



<p>&#8211; Anh có vẽ được chân dung của Bác không? (Dĩ nhiên là trong khả năng, tôi vẽ được nhưng tôi phải tìm cách từ chối vì việc làm này tôi không thích). Tôi đáp:</p>



<p>&#8211; Thưa anh, tôi nghĩ là tôi vẽ được, nhưng mà tôi sợ vẽ không đẹp hoặc là trông không giống, thì không hay. Xin anh tìm người khác hộ. Ông không hỏi gì thêm.</p>



<p>Được vài ba ngày, tôi khỏe hẳn lại vì tự nhiên có của ăn của uống từ trên trời rớt xuống. Vẫn cứ câu giờ, vẽ vời chưa xong. Tôi thấy thương anh em bên trại nên một hôm, ăn uống no nê, thấy ông thủ trưởng cũng có vẻ dễ chịu, tôi đánh bạo nói với ông:</p>



<p>&#8211; Thưa anh, mấy hôm nay, được anh cho ăn uống đầy đủ, tôi rất biết ơn anh. Tôi có một việc muốn xin anh, nhờ anh giúp cho. Ông hỏi:</p>



<p>&#8211; Anh nói thử xem, anh cần gì?</p>



<p>Tôi nói với ông là kể từ ngày mai, tôi chỉ ăn một nửa bánh lương khô, còn nửa kia, xin anh cho tôi mang về giã ra, trộn với muối thay muối mè, cho anh em có thêm tý đường, tý muối, cải thiện thêm một chút. Ông có vẻ không hiểu chữ “muối mè” nhưng ông không hỏi. Có lẽ ông cũng không ngờ là bọn tù này nó thiếu ăn đến vậy. Ông nói:</p>



<p>&#8211; Thôi được, tùy anh. Nhưng nếu trên đường về, anh bị bắt thì anh ráng mà đỡ, tôi không chịu trách nhiệm. Liên hệ giữa cán bộ và cải tạo viên là vi phạm luật của trại. Anh mà khai ra là tôi cho anh, thì tôi cũng mất chức!</p>



<p>Tôi trấn an ông:</p>



<p>&#8211; Có gì thì tôi sẽ hoàn toàn chịu phạt một mình tôi. Ông yên tâm nhưng từ đó ông không dám tỏ ra thân mật, vồn vã với tôi nữa. Một điều tôi nhận xét là ông nói giọng Bắc rất chuẩn, không lẫn lộn giữa “N” và “L”. Ông nói chuyện rất chừng mực, không bao giờ nói chuyện về cuộc chiến, không bao giờ nhắc đến những người của bên thắng trận.</p>



<p>Anh chàng bếp kia thì hay mon men đến chỗ tôi làm việc. Có hôm anh hỏi tôi:</p>



<p>&#8211; Tôi biết là trong Nam, các anh hay chống đối, cãi cọ với chính phủ. Ngoài Bắc chúng tôi, bác Hồ là vị cha già dân tộc, cha nói gì thì các con nghe. Như thế có phải là hay hơn không?</p>



<p>Tôi ớ họng, không dám tranh cãi với anh. Anh hay đến chỗ tôi làm việc, tỏ ra muốn quan sát và khâm phục tài viết chữ của tôi, nhưng kỳ thật, anh ấy nghắm nghía cái đồng hồ Seiko 5 tôi đeo trên tay. Sau cùng, có vẻ như không đợi lâu được nữa, anh vệ binh hỏi tôi:</p>



<p>&#8211; Anh có muốn bán cái đồng hồ của anh không? Tôi trả lời:</p>



<p>&#8211; Tôi không cần bán và không muốn bán. Sáng hôm sau, khi tôi sang làm việc, anh đưa cho tôi 200 đồng, bảo tôi đổi cho anh cái đồng hồ của anh, các thêm tôi số tiền đó, hơn nữa, anh bảo tôi viết thư về nhà, anh sẽ đem tay về tận nơi. Lúc ấy, có lẽ mọi gia đình có chồng con đi học tập đều nóng lòng muốn biết tin tức của thân nhân. Tôi suy nghĩ thật nhanh và nhận lời. Bây giờ mà vợ tôi nhận được tin tức bằng chữ viết tay của tôi thì yên tâm lắm. Tôi về viết một lá thư ngắn, mang sang cho anh, nhận tiền và đổi cái đồng hồ “cà là mèng” của anh ta. Hóa ra tôi bị lừa một vố nữa. Cái thư không bao giờ đến tay vợ tôi. Có lẽ anh chàng vệ binh này biết là sắp bị đổi đi đơn vị khác, hoặc anh ta về phép ngoài Bắc rồi tránh mặt tôi luôn.</p>



<p>Trở lại việc miếng bánh lương khô: Tôi giấu nửa cái bánh kia trên đầu, đội cái mũ lên, ung dung ra về. Anh vệ binh gác cổng ngăn giữa hai khu trại nhìn thấy tôi ra vào mỗi ngày nên cũng không thèm hỏi han, khám xét gì nữa. Bây giờ thì anh em mới tin là tôi nói thật. Tôi không “nổ”. Chúng tôi giã ra, trộn với muối, như một loại muối mè dã chiến. Nhờ thế mà dần dần, các bạn tôi đều hồng hào trở lại. (Trong miếng lương khô mà Trung Cộng viện trợ cho cán binh việt cộng trên đường vượt Trường Sơn đã có nhiều chất dinh dưỡng sẵn rồi).</p>



<p>Mỗi ngày, tôi không phải chui ra hàng rào kẽm gai, tháo mìn hoặc cuốc đất trồng rẫy như các anh em khác, nhưng &nbsp;ngược lại, phải làm việc nhiều giờ hơn vì bên này không có chỉ tiêu. Cứ leo lên leo xuống, mỗi hàng chữ như thế mà mãi vẫn chưa xong!</p>



<p>Tôi cũng cầu công việc lâu xong mà anh em tôi bên trại cũng cầu công việc của tôi còn mãi, chỉ vì ngày nào tôi cũng mang nửa miếng lương khô về cho anh em. Nhưng cũng phải nói thêm là không biết các cán bộ và vệ binh bên trại của họ đã uống hết sữa Quân Tiếp Vụ rồi – hay là ông thủ trưởng muốn giữ khoảng cách với tôi. Ông chỉ cho anh bếp đưa tôi phong bánh mà không còn chén sữa nóng nữa.</p>



<p>Lại nói về loại muối mà họ phát cho chúng tôi. Đó là loại muối hột, lẫn đầy đất cát trong đó, rất bẩn. Chúng tôi phải pha với nước, quậy đều xong, đợi cho đất cát lóng xuống đáy, chỉ lấy phần nước trong bên trên, nấu lại, cho đến khi nước bốc hơi hết, lấy phần muối bên dưới phơi lại mà dùng. Nhờ bánh lương khô của tôi mà trong hũ muối mè, các bạn tôi từ từ bớt lượng muối đi, tăng lượng dinh dưỡng lên. Nhờ thế mà ăn “cơm” ngon miệng hơn nhiều.</p>



<p>Khi dự định viết hồi ký này, tôi luôn tâm niệm là tôi sẽ kể tất cả những sự thật đau đớn mà tôi phải trải qua trong suốt chuỗi ngày định mệnh của tôi. Sự thực đau đớn đầu tiên của tôi (và của hàng ngàn người khác) mà tôi muốn nói đến, chính là sự Tự Do của tôi ngang nhiên bị tước đoạt. Thảo nào, ngày xưa đã có câu: “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại”.</p>



<p>(Còn tiếp)</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>

<!--
Performance optimized by W3 Total Cache. Learn more: https://www.boldgrid.com/w3-total-cache/?utm_source=w3tc&utm_medium=footer_comment&utm_campaign=free_plugin

Page Caching using Disk: Enhanced 

Served from: t-van.net @ 2026-07-06 02:57:04 by W3 Total Cache
-->